Cập nhật mới

Khác TRUNG QUỐC XA XƯA

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
142608326-256-k666708.jpg

Trung Quốc Xa Xưa
Tác giả: riri_pipi
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Góp nhặt một số bài viết, kiến thức về lịch sử Trung Quốc xa xưa...



tiểu-thuyết-lịch-sử​
 
Trung Quốc Xa Xưa
HOẠN QUAN NỔI TIẾNG ĐỜI THANH - LÝ LIÊN ANH VÀ NGÔI MỘ KHIẾN HẬU THẾ SỬNG SỐT.


Được biết là thái giám khét tiếng nhất thời kỳ Mãn Thanh, trong suốt hàng chục năm phục vụ hậu cung của mình, Lý Liên Anh đã đút túi một mớ gia sản kếch xù với những bảo vật không thua gì hoàng thân quốc thích.

Thậm chí đến khi nhắm mắt xuôi tay, hoạn quan họ Lý vẫn không quên mang theo kho báu đã gom góp cả đời cùng mình sang thế giới bên kia.

Đây chính là lý do vì sao vào năm 1966, giới khảo cổ Trung Quốc không khỏi chấn động trước thông tin mộ Lý Liên Anh được khai quật và phát hiện ra nhiều bảo vật có giá trị.

Lý Liên Anh tên thật là Lý Tiến Hỉ, từ năm 9 tuổi đã nhập cung làm thái giám và phụng sự hậu cung Thanh triều suốt 4 đời vua (từ đời Hàm Phong đến đời Phổ Nghi).

Ông là cánh tay phải đắc lực của Từ Hy thái hậu và đã theo hầu hạ bà suốt 50 năm trời.

Chỉ sau khi Từ Hy thái hậu qua đời, Lý Liên Anh mới rời chốn hoàng cung sống mai danh ẩn tích và qua đời một cách lặng lẽ.

Vào khoảng giữa của thế kỷ trước, khuôn viên ngôi trường mang tên Lục Nhất thuộc nội thành Bắc Kinh thời bấy giờ có một ngôi mộ cổ hoành tráng.

Quy mô đồ sộ của ngôi mộ khiến người thời bấy giờ không khỏi "đoán già đoán non" về thân thế của chủ nhân nơi ấy.

Nhưng dù trí tưởng tượng của hậu thế có phong phú tới đâu, thì cũng không một ai có thể ngờ rằng, đó lại là nơi an nghỉ của 1 thái giám, mà không ai khác chính là Tổng quản nội cung Lý Liên Anh khét tiếng 1 thời.

Phần mộ của thái giám họ Lý tọa lạc trên mảnh đất rộng hơn 20 mẫu, thậm chí còn có 1 nhà bia được dựng trang trọng bằng đã ngọc trắng thời nhà Hán.

Năm 1966, khi ngôi mộ này bắt đầu được tiến hành khai quật, người ta phát hiện ra 1 quan tài làm từ gỗ kim ty nam màu đỏ tím vô cùng hiếm có, phần đầu trên được tạo tác kim hoa tinh xảo.

Phía trên "giường đá" đặt quan tài được đúc bằng đá bạch ngọc, bên trên đục 1 lỗ tròn, bên trong treo 1 hầu bao đựng ngọc và ít tiền đồng.

Đây chính là quy cách của hình thức "Kim tỉnh ngọc táng" - một cách mai táng cao quý thời bấy giờ.

Sự xa hoa này đã ngầm khẳng định rằng, ngay cả khi đã ly khai hoàng cung, Lý Liên Anh vẫn có 1 cuộc sống vô cùng sang quý.

Trong quá trình khai quật ngôi mộ của thái giám Lý Liên Anh, giới chuyên gia còn phát hiện ra nhiều bảo vật có giá trị khổng lồ, trong đó quý phái nhất phải kể đến một thanh đoản đao nạm ngọc có niên đại từ thời nhà Hán, một vòng tay nạm ngọc thời nhà Tống và một chiếc nhẫn ngọc phỉ thúy.

Tương truyền rằng, chiếc nhẫn ngọc phỉ thúy nằm trong ngôi mộ của Lý Liên Anh chính là bảo vật mà Cung thân vương Dịch Hân lúc sinh thời vô cùng quý trọng, nhưng sau này bị thái hậu Từ Hy lấy đi và ban thưởng cho hoạn quan tâm phúc của mình.

Ngày nay, chiếc nhẫn ấy vẫn được trưng bày tại bảo tàng Cố cung (Bắc Kinh).

Mặc dù là ngôi mộ cổ cất giấu kho báu bạc tỷ, nhưng điều khiến hậu thế quan tâm về nơi an nghỉ của Lý Liên Anh không chỉ là cổ vật mà lại là tung tích về thi thể của vị hoạn quan này.

Năm 1966, khi mở nắp quan tài chôn cất Lý Liên Anh, đội khảo cổ không khỏi hoàng hồn khi phát hiện phía bên trong không có thi thể mà chỉ có một xương sọ với phần xương gò má cao, hàm răng vẩu, bên ngoài còn có bọc một lớp da.

Vậy phần thân của Lý Liên Anh rốt cuộc được chôn cất tại nơi nào?

Vì sao ngôi mộ đồ sộ đầy cổ vật kia lại chỉ là nơi chôn cất phần đầu của hoạn quan khét tiếng ấy?

Đáp án cho những câu hỏi ấy vẫn đang chờ cho hậu thế giải đáp...

Lý Liên Anh là thái giám đã phụng sự hậu cung nhà Thanh qua 4 đời vua, vì vậy cũng có thể coi vị Tổng quản này là "nguyên lão tứ triều".

Từng đảm nhiệm Đại tổng quản nội cung, chức vị của Lý Liên Anh cũng không phải chỉ là hư danh.

Sinh thời, vị thái giám nổi tiếng lắm mưu nhiều kế vốn có năng khiếu thiên bẩm trong việc quản lý mọi việc chốn hậu cung.

Đặc biệt, việc bài trí vật phẩm cũng như thứ tự chuẩn bị lễ vật luôn được thái giám họ Lý ấy nằm lòng.

Những hoạn quan khác mỗi khi gặp phải việc gì khó khăn vẫn thường phải nhờ đến sự chỉ giáo của Lý tổng quản.

Những dịp hậu cung có việc lớn, tài năng của Lý Liên Anh lại có đất dụng võ, nhờ vậy mà mọi bữa tiệc trong hậu cung được an bày dưới tay ông đều diễn ra một cách thuận lợi.

Thế nhưng những giai thoại về tài năng quản lý của Tổng quản Lý Liên Anh thì ít, mà câu chuyện về sự sủng ái của Từ Hy thái hậu dành cho ông lại nhiều đếm không xuể.

Trong số đó, có 1 giai thoại nổi tiếng truyền lại rằng, lý do Lý Liên Anh năm xưa được Lão phật gia cưng chiều thực chất bắt nguồn từ tay nghề chải tóc trình độ thượng thừa của hoạn quan này.

Theo đó, Từ Hy thái hậu lúc còn trẻ đã vô cùng coi trọng việc chải đầu.

Kể từ lần được Lý thái giám bên người, mọi kiểu tóc của thái hậu đều do Lý Liên Anh đích thân lo liệu.

Cũng từ lúc đó, ân sủng mà Từ Hy dành cho Lý Liên Anh ngày càng nhiều hơn, mà sự nghiệp của họ Lý trong hậu cung cũng phất lên như diều gặp gió.

Trên thực tế, số lượng tâm phúc bên người Từ Hy vốn không hề ít.

Nhưng những kẻ ấy cứ đến rồi lại đi, chỉ có Lý Liên Anh là người duy nhất cả đời trung thành với Từ Hy.

Lý Liên Anh vào cung từ năm 9 tuổi, theo hầu Từ Hy thái hậu khi mới lên 14.

Trong suốt cuộc đời làm thái giám của mình, ông đã theo hầu Lão phật gia tới nửa thế kỷ.

Đến tháng 10/1908, Từ Hy qua đời, Lý tổng quản mới xuất cung về quê dưỡng lão.

Sau khi trở về cố hương, Lý Liên Anh ngày đêm ăn chay niệm phật, không màng thế sự.

3 năm sau, ông cũng đi theo Lão phật gia mà buông tay trần thế.

Xung quanh cái chết của vị thái giám khét tiếng nhất thời Thanh cũng tồn tại nhiều giả thuyết ly kì.

Nhưng dù những giả thuyết ấy là đúng hay sai, thì khi nhắc tới Lý Liên Anh, ấn tượng của hậu thế về thái giám ấy chính là 1 tâm phúc tận tụy nhất bên cạnh Từ Hy thái hậu.
 
Trung Quốc Xa Xưa
HOÀNG HẬU VÔ ĐẠO BẬC NHẤT TRUNG HOA XƯA - PHÙNG NHUẬN.


Thời phong kiến với quan niệm "trọng nam khinh nữ" nặng nề, người phụ nữ dù bất kể tầng lớp nào cũng chỉ có giá trị như một người để duy trì nòi giống, không được phép làm những chuyện vô đạo như ngoại tình và phải luôn luôn giữ gìn phẩm hạnh cao đẹp, mặc cho chồng mình có năm thê bảy thiếp đi chăng nữa.

Nhưng chuyện gì cũng có ngoại lệ, kể cả phụ nữ phong kiến ở chế độ quân chủ, dù cho có ngồi lên được vị trí mẫu nghi cũng vẫn không hiếm có những sự vụ "vượt rào" gây chấn động lịch sử.

Và câu chuyện về vị hoàng hậu họ Phùng là một câu chuyện như thế, thậm chí còn ghê gớm hơn khi nàng đã dám qua mặt hoàng đế mà lén phén với thái giám trong cung.

Chưa kể, trước đó, nàng còn nhẫn tâm hãm hại em gái cùng cha khác mẹ của mình vốn là hoàng hậu tiền nhiệm, mặc cho người em này đã từng yêu thương giúp đỡ nàng đặt chân vào cung sau một thời gian dài quy ẩn.

Vị hoàng hậu đó không ai khác chính là Phùng Nhuận, hay còn được gọi là Phùng hoàng hậu, nàng là vợ của Hiếu Văn Đế triều đại Bắc Ngụy.

Sử liệu ghi chép về tuổi thơ và xuất thân của nàng khá sơ sài, chỉ biết nàng sinh ra trong một gia đình thuộc hoàng tộc với cha là Thái sư Phùng Hi - anh trai ruột của Phùng thái hậu quá cố triều Bắc Ngụy.

Mẹ nàng là Thương thị, cũng là một người thuộc dòng dõi đài các quyền lực.

Tuổi thơ của nàng êm đềm với gia đình cho đến khi năm 13 tuổi, nàng cùng người em gái ruột được nhập cung làm phi của Hiếu Văn Đế, và bằng cốt cách của một tiểu thư đài các và đoan trang, nàng và em cũng sớm được hoàng đế sủng ái.

Tuy nhiên, không lâu sau đó, em gái nàng lâm bệnh nặng và qua đời, bản thân nàng thì buồn trước cái chết của em và cũng mắc bệnh lạ, nên đành phải rời cung để về nhà tịnh dưỡng.

Một thời gian ngắn sau nàng xuất gia đi tu quy ẩn từ bỏ hồng trần.

Cứ tưởng trang đời của nàng sẽ cứ an yên từ đây, vui vầy với cỏ cây sống đời đạo thanh sạch.

Nhưng không, chẳng bao lâu nàng lại hồi cung do người em gái cùng cha khác mẹ với nàng, lúc này là một hoàng hậu mẫu mực, cai quản chu toàn mọi việc trong cung, lại được lòng tất cả bá tánh, đã khuyên Hiếu Văn Đế rước chị mình về lại để làm tròn bổn phận của một phi tần dang dở xưa kia.

Thế là mùa hè năm 496, Phùng Nhuận hồi cung, được Hiếu Văn Đế sắc phong làm Chiêu nghi.

Nàng tiếp tục trở thành một sủng phi của hoàng đế.

Tuy nhiên, do bản tính tham lam đố kỵ, nên dù được em gái hoàng hậu cùng cha đối đãi như một người chị ân tình ruột thịt, nàng Phùng Chiêu nghi vẫn cho rằng bản thân mình là chị gái, lại vào cung từ sớm năm 13 tuổi, bây giờ lại phải chịu thua vai vế trong cung với em gái.

Thế là Phùng chiêu nghi bày mưu hãm hại hoàng hậu.

Nàng đã vu khống em gái mình là một người ngoan cố, cứng đầu, dám chống lại các chính sách của hoàng đế.

Thế là sau nhiều lần nỉ non với Hiếu Văn Đế, đồng thời loan tin xấu hãm hại hoàng hậu.

Cuối cùng, mùa thu cùng năm 496, Hiếu Văn Đế phế truất hoàng hậu.

Hoàng hậu uất ức, lập tức rời cung.

Sang năm 497 thì Hiếu Văn Đế sắc phong Phùng chiêu nghi trở thành hoàng hậu thay thế.

Từ đó nàng chính thức trở thành mẫu nghi thiên hạ của cả một giang sơn Bắc Ngụy.

Vốn Phùng Nhuận nổi tiếng thông minh lại biết cách nói lời ngon ngọt lấy lòng người khác, vì thế suốt thời gian làm hoàng hậu, nàng đã được hoàng đế sủng ái hết mực.

Hai người gắn bó với nhau như hình với bóng, sống vô cùng hạn phúc bên nhau.

Không bao lâu sau, Bắc Ngụy gặp chuyện binh biến, Hiếu Văn Đế phải rời cung, thân chinh xuất binh chống giặc.

Hoàng cung lúc này chỉ còn lại Phùng Nhuận.

Sống cảnh thiếu vắng chồng, lại không chịu nổi cảnh cô độc quạnh quẽ phòng the, Phùng Nhuận liền tìm cách gian díu với một thái giám tên là Cao Bồ Tát.

Thực chất, đây là một tên hoạn quan trá hình, bởi hắn ta đã lách luật, vượt qua vòng "tịnh thân" để trà trộn vào hoàng cung làm thái giám, mưu cầu chút quyền lực và giàu sang.

Thêm vào đó, Cao Bồ Tát lại là một kẻ rất khôi ngô tuấn tú, thân hình vạm vỡ, tráng kiện nên càng dễ làm Phùng hoàng hậu động lòng.

Sử sách chép rằng, trong suốt thời gian Văn Đế xa hoàng cung sống ở Nhữ Nam, Phùng thị gần như công khai qua lại với Cao Bồ Tát trong chốn hậu cung.

Cao Bồ Tát tuy chỉ là một thái giám trong cung nhưng đã sớm thành lập 1 thế lực cho riêng mình.

Phùng Nhuận cũng chẳng vừa khi cấu kết chia bè chia phái trong cung suốt thời gian Hiếu Văn Đế xuất cung đánh trận bên ngoài.

Vì thế, khi hai người đứng đầu của hai thế lực này hợp lại, dù có trái với luân thường đạo lý đi chăng nữa, có lộ liễu đi chăng nữa thì cũng không ai dám hó hé nửa lời với Hiếu Văn Đế.

Tuy vậy, cái kim trong bọc cũng có ngày lòi ra khi Phùng Nhuận ngày càng tác oai tác quái.

Nàng đã dùng quyền lực của một hoàng hậu mà bắt ép Bành Thành công chúa - một cô công chúa vô cùng xinh đẹp nhưng đã sớm trở thành góa phụ vì chồng qua đời sớm - gả cho em trai của mình là Phùng Túc, mặc cho công chúa hết lời cự tuyệt.

Thế là, biết không thể nào chống lại Phùng hoàng hậu, công chúa đã âm thầm sai người mật báo với Hiếu Văn Đế ở xa để cho hay rằng hoàng hậu trong cung lạm dụng quyền lực, ép người quá đáng và ngoại tình với một tên thái giám.

Văn Đế nghe xong, vừa sững sờ vừa giận dữ, tuy nhiên cho rằng em gái vì không muốn cưới Phùng Túc nên mới nghĩ ra chuyện này.

Thế nhưng sau đó, một hoạn quan thân tín của Hiếu Văn Đế là Lưu Đằng đã tới mật báo với Hiếu Văn Đế chuyện tư tình của Phùng hoàng hậu.

Tới lúc này, ảo tưởng của Hiếu Văn Đế về mỹ nhân họ Phùng mới thật sự tan vỡ.

Hoàng đế bản lĩnh một thời ngã vật xuống đất ngay trong doanh trại của quân đội hùng mạnh.

Phùng hoàng hậu cũng nhanh chóng biết được chuyện tư thông của mình bị bại lộ nên tìm gặp mẹ đẻ của mình là Thương thị để tìm cách đối phó.

Hai mẹ con họ Phùng quyết định mời một nữ phù thủy vào cung tìm cách yểm bùa, nguyền rủa Hiếu Văn Đế sớm chết để mình có thể thâu tóm quyền lực trong triều đình.

Sau đó, để thám thính tình hình, Phùng hoàng hậu cử rất nhiều tâm phúc của mình tới doanh trại của Hiếu Văn Đế để "thăm nom".

Để khỏi rút dây động rừng, Hiếu Văn Đế giả như không biết chuyện gì đang xảy ra trong cung.

Tới năm 499, Hiếu Văn Đế bí mật đột ngột quay trở lại kinh đô Lạc Dương.

Sau đó ông liền cho người bắt Cao Bồ Tát lại thẩm vấn để xác thực chuyện gian díu với hoàng hậu.

Chịu không nổi đòn roi, Cao Bồ Tát đành khai hết tất cả với Hiếu Văn Đế, khai cả chuyện hoàng hậu dùng bùa chú để hãm hại hoàng đế.

Thế là, Hiếu Văn Đế nghe xong đau đớn như đứt từng khúc ruột, điên tiết cho người bắt Phùng hoàng hậu khám xét, lúc này trong người Phùng Nhuận rơi ra một đoản đao có khắc chữ tà thuật.

Đau đớn trước người vợ mình yêu thương vốn đã gian díu mang tội tày trời, lại còn cả gan dùng tà thuật hãm hại mình, Hiếu Văn Đế liền sai người chém đầu Phùng Nhuận.

Tuy nhiên, Phùng hoàng hậu không phục trước cái chết ban cho mình, nàng liền khóc lóc, van xin nỉ non với Hiếu Văn Đế.

Cuối cùng vì quá thương vợ, Hiếu Văn Đế đành tha cho nàng.

Tuy nhiên, ông vẫn cho người giam nàng vào lãnh cung và không bao giờ nhìn đến mặt nàng một lần nào nữa.

Cuối cùng, vì sốc trước những chuyện vô đạo mà hoàng hậu làm sau lưng mình dù mọi chuyện có thể coi như đã được giải quyết, sức khỏe Hiếu Văn Đế vẫn ngày càng suy kiệt.

Đến lúc gần lâm chung, sợ rằng sau này khi mình chết đi, Phùng hoàng hậu lại tác oai tác quái mà không ai cản được, ông mới ra lệnh: "Sau khi ta chết, sợ rằng không có ai khống chế được hoàng hậu, các ngươi hãy dùng di lệnh của ta ban chết cho bà ta.

Tuy nhiên, vẫn tổ chức tang lễ như của hoàng hậu, đừng làm bại hoại thanh danh nhà họ Phùng".

Sau khi Văn Đế qua đời, một số thân vương tuân theo di mệnh, ban thuốc độc cho Phùng Nhuận uống.

Tuy nhiên, đến nước này Phùng hoàng hậu vẫn một mực không chịu uống.

Không còn cách nào khác, các thân vương đành sai người ép đổ vào miệng nàng ta.

Sau đó, Phùng Nhuận qua đời nhưng vẫn được ân huệ cuối cùng là được tổ chức tang lễ theo đúng nghi thức cung đình, và được ban cho thụy hiệu U Hoàng hậu.

Kết thúc cuộc đời của một đài các tuy quyền lực, được yêu thương nuông chiều nhưng lại vô đạo, bất nhân bất nghĩa đến độ hiếm có trong dòng lịch sử Trung Hoa phong kiến.
 
Trung Quốc Xa Xưa
QUÝ PHI VẠN TRINH NHI - NGƯỜI BẢO MẪU HƠN 19 TUỔI KHIẾN HOÀNG ĐẾ SI MÊ.


Xưa nay, bậc đế vương thường say mê tuyệt sắc giai nhân.

Thế nhưng thời nhà Minh đã từng có vị hoàng đế yêu thương bảo mẫu của mình, mà người này không phải mỹ nhân, tính tình tàn độc lại hơn hoàng đế tận 19 tuổi.

Vậy rốt cuộc người đàn bà này có quyền năng như thế nào mà lại khiến bậc đế quân si mê đến vậy?

Người đàn bà được nhắc ở đây có tên Vạn Trinh Nhi - tức Vạn quý phi của Minh Hiến Tông Chu Kiến Thâm.

Mối duyên của bà và hoàng đế bắt đầu khi Tôn thái hậu chỉ định cô cung nữ họ Vạn làm nhũ mẫu cho thái tử Chu Kiến Thâm.

Từ đó trở đi, Vạn thị trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc đời vị thái tử trẻ tuổi, ở bên ông trong suốt quá trình trưởng thành, đi qua mọi thăng trầm.

Trong thời gian Minh Hiến Tông còn là thái tử, phụ hoàng của ông là Minh Anh Tông từng thân chinh dẫn quân đi chinh chiến với quân Mông Cổ và bị bắt làm tù binh.

Lúc này, chú của ông là Minh Đại Tông được lập lên ngôi thay thế cho Anh Tông.

Cùng với sự thay đổi này là vị trí thái tử của Minh Hiến Tông cũng bị phế truất, đi kèm với đó là mọi vinh hoa bổng lộc đều tan vào hư không.

Những lúc chán chường như thế này, bên thái tử luôn có Vạn thị túc trực, hầu hạ, an ủi, che chở cho vị thiếu niên trẻ tuổi.

Có thể nói lúc đó, nàng vừa là chị, là mẹ, là bạn, là nô tì - nguồn an ủi lớn lao không kể xiết.

Mãi đến sau này khi Anh Tông lần nữa lên ngôi thì địa vị thái tử của Chu Kiến Thâm mới được khôi phục.

Về phần Vạn thị, nàng vẫn là bảo mẫu thế nhưng vị trí của nàng trong lòng nhà vua tương lai quan trọng hơn bao giờ hết.

Năm 1464, thái tử Chu Kiến Thâm lên ngôi, tức Minh Hiến Tông và sắc phong thái tử phi Ngô thị làm hoàng hậu.

Lúc này thì Vạn thị tìm đến tân đế mà than khóc là tuy được sủng hạnh nhiều năm mà giờ lại không có thân phận gì.

Thế là bất chấp tuổi nàng lúc đó đã là 36, Hiến Tông ra lệnh phong nàng làm phi tử, hết mực thương yêu và chiều chuộng.

Đương kim hoàng hậu thấy vậy thì không thể tránh khỏi cảm thấy ghen tị.

Cơn ghen cứ tích tụ dần dần và một ngày nọ, hoàng hậu ra tay hãm hại Vạn thị nhưng không thành.

Cuối cùng chính hoàng hậu lại là người bị phế truất còn Vạn thị vẫn không hề hấn gì, vẫn được sủng ái như trước, thậm chí còn nhiều hơn.

Sau khi nhận sắc phong, Vạn thị có sinh cho nhà vua 1 tiểu hoàng tử, tuy nhiên mới sinh được một tháng thì hoàng tử này lại chết yểu.

Từ đó trở đi bà không thể mang thai và sinh thêm lần nào nữa.

Nhưng mà Hiến Tông cũng không vì thế mà ghét bỏ bà ta, ngược lại càng thêm yêu thương.

Cậy vào sự sủng ái của nhà vua, Vạn thị đều tìm cách hãm hại mọi phi tần mà bà ta biết là đang mang long thai cho thỏa lòng độc ác.

Một lần, trong cung xuất hiện một cung nữ họ Kỷ, trong một lần vô tình gặp nhà vua thì được nhà vua để mắt đến rồi sau đó thì nhanh chóng mang thai.

Biết chuyện, Vạn thị bèn sai cung nữ mang bát thuốc phá thai đến, bắt Kỷ cung nữ này uống hòng triệt hạ cái thai trong bụng nàng.

May mắn thay, có 1 thái giám tên Trương Mẫn đã giúp đỡ Kỷ thị, che giấu nàng ở An Lạc Đường để chờ đến ngày sinh nở.

Không lâu sau, Kỷ thị sinh ra 1 hoàng tử và Trương thái giám đã đem hoàng tử này bí mật nuôi dưỡng ở Tây Cung.

Mãi sau này, khi nhà vua đã già mà vẫn chưa có người nối dõi, tỏ ra vô cùng sầu não và đau lòng thì Vạn thị mới cho phép đón vị hoàng tử này về nuôi dưỡng.

Còn về phần sinh mẫu Kỷ thị của tiểu hoàng tử cũng được đón về cung và nhận phong phi.

Thế nhưng Vạn quý phi lúc này ghen ghét do nàng vừa sinh được hoàng tử và thỉnh thoảng thì hoàng đế vẫn ghé qua cung của nàng thưởng rượu.

Thế là bà ta tìm mọi cách triệt hạ Kỷ thị; mọi hành động xảy ra ngay trước mắt của Hiến Tông thế nhưng ông không thể nói gì.

Sự si mê của Hiến Tông dành cho vị Vạn quý phi này đã đặt ra câu hỏi cho rất nhiều cho thế hệ sau.

Nếu nói là về nhan sắc thì người đàn bà này cũng không được tính là đẹp nghiêng nước nghiêng thành.

Nếu nói là về tính tình, phẩm chất thì bà ta trong suốt quãng thời gian sống chung với vua đã ngang nhiên ra tay tàn hại biết bao phi tần, hoàng tử.

Vậy thì nguyên nhân bà ta vẫn được sủng ái là do đâu?

Nhiều người nói đó là do lúc sinh thời Vạn quý phi rất giỏi ngón nghề "phòng trung thuật".

Theo sử sách có chép lại thì chính Hiến Tông đã từng 1 lần thú nhận rằng, không có Vạn thị ở bên cạnh thì không thể ngủ được.

Không biết độ xác thực của thông tin này đến đâu, tuy nhiên nó cũng có thể lý giải một phần cho sự sủng ái bền vững mà Vạn quý phi có được.

Cũng có 1 giả thuyết khác cho rằng, do Vạn thị đã ở bên vua từ ngày ông còn nhỏ xíu, chăm sóc ông trưởng thành, bao bọc che chở lúc hoạn nạn nên đã hiểu rất rõ về tính cách và con người ông.

Vì độ hiểu biết sâu rộng, không ai sánh bằng đó mà bà ta có thể duy trì được sức hấp dẫn đối với vị vua, bất chấp khoảng cách tuổi tác.

Dù là nguyên nhân gì thì lịch sử cũng đã cho thấy rằng, Hiến Tông chưa bao giờ dừng việc sủng ái Vạn quý phi.

Ngay cả đến khi Vạn quý phi đã 58 tuổi, nhan sắc tàn phai, cơ thể trở nên sồ sề, phục phịch thì nhà vua vẫn yêu thương và nể vị quý phi này.

Đến 1 ngày nọ, Vạn thị qua đời do bị bệnh gan.

Nhà vua hay tin thì vô cùng đau khổ, ra lệnh ngừng thiết triều trong 7 ngày liền rồi nói rằng, Vạn quý phi không còn thì bản thân ông ta cũng sẽ nhanh chóng ra đi thôi.

Quả nhiên, chỉ mấy tháng sau đó, Minh Hiến Tông cũng đột ngột băng hà ở tuổi 40.
 
Trung Quốc Xa Xưa
CHUYỆN ĂN CỦA TỪ HY THÁI HẬU.


Nếu nói tới những bậc nữ quân vương nổi tiếng trong triều đại Trung Hoa phong kiến thì tất nhiên không thể không kể tới Võ Tắc Thiên.

Tuy vậy, ngoài nữ chủ Võ Hậu, thì cò 1 người phụ nữ khác cũng nổi tiếng không kém trong dòng lịch sử phong kiến của đất nước này, đó chính là Từ Hy thái hậu (29/11/1835 - 15/11/1908) - đời nhà Thanh, vị thái hậu có quyền lực bậc nhất, xa xỉ nhất và cũng lắm những điều bí ẩn huyền sử trong lối sống mà cho đến tận ngày nay, vẫn không ít người tỏ ra bất ngờ khi được biết đến.

Và trong tất cả những điều bí ẩn đó, thì chuyện ăn uống thường ngày của bà cũng được nghiên cứu với những tình tiết khá ly kì, hấp dẫn.

Dưới triều nhà Thanh, mọi bữa ăn trong hoàng tộc đều do phủ nội vụ đảm trách bao gồm các phòng như: phòng bếp, phòng trà, phòng bánh, phòng rượu, kho thực phẩm và rất nhiều các gian phòng khác.

Trong đó, bếp với hơn 370 người hầu cùng hàng chục thái giám là quan trọng nhất.

Những người này đều phải được tuyển chọn vô cùng kỹ lưỡng với những lương dân từ khắp nơi trên đất nước Trung Hoa.

Riêng ở thời Từ Hy thái hậu, gian bếp riêng chuẩn bị món ăn cho bà tập trung những đầu bếp giỏi nhất Trung Hoa, nguyên liệu được đưa từ khắp các nơi tuyển chọn về để làm ra những món ăn ngon nhất với vô vàn cách thức chế biến cầu kì.

Mỗi ngày bà ăn 2 bữa ăn chính.

Theo quy định, mỗi bữa ăn phải bao gồm 100 món khác nhau.

Ngoài ra, mỗi ngày còn ăn 2 bữa ăn nhẹ với 40 đến 50 món, ít nhất phải bao gồm 20 đĩa thức ăn.

Theo sử liệu ghi chép thì những bữa ăn xa xỉ và thú vị nhất của Từ Hy thái hậu phải kể đến là những lần bà sử dụng tàu hỏa để đi thưởng ngoạn xa.

Sẽ có 4 toa được dành cho phòng bếp, 1 toa chứa 50 cái bếp lò, mỗi bếp phục trách nấu 2 món ăn, đầu bếp đi theo lên đến 100 người không kể phục vụ.

Mỗi bữa ăn có 100 món chính, 100 loại hoa quả và bánh ngọt các loại để đảm bảo cho bà vẫn luôn ngon miệng trong suốt chuyến đi và không gặp chuyện gì bất trắc liên quan đến ẩm thực.

Thời gian biểu của các bữa ăn ở nhà Thanh cũng được quy định rõ ràng, bữa sáng bắt đầu từ 6 giờ và kéo dài đến 7 giờ; bữa trưa bắt đầu từ 12 giờ trưa đến 2 giờ chiều; 6 giờ tối là bữa tối.

Vào những khoảng thời gian khác có thể tùy vào yêu cầu để phục vụ.

Đối với Từ Hy thái hậu thì bữa sáng là quan trọng nhất, vì vậy bữa ăn này của bà phải luôn luôn được đảm bảo từ khâu nguyên liệu cho đến khâu chế biến.

Được biết, mỗi bữa ăn của thái hậu trong 1 ngày bao gồm dê 2 con, gà 5 con, vịt 3 con, thịt thái lát 11kg, mỡ lợn 2 kg, rau xanh các loại 8,5kg; củ cải 3kg, su hào, rau muối 5 loại, hành 3kg.

Một số loại nguyên liệu khác thì gồm có rượu Ngọc Tuyền, Tương Thanh Tương Cách 1,5kg, dấm 1kg; 240 loại bánh sử dụng 16kg bột mỳ, tinh dầu thơm thực phẩm 4kg, đường trắng làm từ quả óc chó và hắc táo cách 4kg, mè...

Tuy nhiên, những con số và các loại thực phẩm trên sẽ khác tùy thuộc vào địa vị và chức vụ của những người khác nhau trong hoàng tộc, nhưng thái hậu Từ Hy có thể nói là người được đặc quyền có những bữa ăn hoành tráng nhất trong ngày.

Bữa ăn của hoàng tộc được phòng bếp lên thực đơn trước, giao cho Phủ nội vụ phê duyệt, sau đó phòng bếp mới được bắt tay vào chuẩn bị.

Từ Hy thái hậu sẽ dùng bữa một mình, thức ăn được bày trên bàn hoặc đặt trong các hộp ngọc, sau đó được thị vệ chuyển đến nơi bà dùng bữa, trong khi các cung nữ thân cận hầu hạ cho bà thì chỉ được phép đứng ăn hoặc ăn sau khi bà đã ăn xong.

Sau khi thức ăn được bày ra, các thái giám sẽ dùng trâm bạc kiểm tra xem thức ăn có chứa độc không và trực tiếp nếm thử, sau đó bà mới tiến hành dùng bữa.

Trong khi dùng bữa, Từ Hy thái hậu ngồi ở phía bắc và quay mặt về phía nam.

Trước mặt bày 1 chiếc bàn vuông, trên dưới 2 tầng bày đầy cao lương mỹ vị, thái giám giới thiệu tên từng món ăn và chỉ gắp vào bát những món ăn vừa ý của thái hậu.

Tuy nhiều thức ăn như vậy nhưng thái hậu chỉ ăn những món ở gần mình, những thứ khác ăn rất ít, thậm chí không động đũa.

Với những món ăn thái hậu ưa thích nhưng ở quá xa sẽ có thái giám đến để dâng lại gần, mỗi bữa ăn thái hậu chỉ ăn từ 3 đến 4 món, những thứ còn lại sẽ được dọn đi sau khi dùng bữa.

Còn những đồ ăn dư thừa hoặc đổ đi hoặc đem thưởng cho cung nữ, thái giám; phần lớn đồ ăn đó vẫn còn nguyên vẹn như lúc dâng lên.

Vào những ngày lễ như tết Trùng Dương (một ngày lễ của người cao tuổi ở Trung Quốc), phòng bếp chuẩn bị thêm hoa cúc, táo, cháo bát bửu cùng rất nhiều các loại điểm tâm khác dâng lên thái hậu.

Tương truyền vào ngày này, thái hậu thường đến Di Hòa viên ngắm mây và đến Bài Vân điện thưởng thức món bánh nướng thịt mà bà yêu thích.

Với món ăn này, đầu bếp phải dùng gỗ của cây tùng để nướng.

Những món ăn vặt được thái hậu yêu thích có "tiểu oa đầu" (một món ăn của Trung Quốc được làm từ bột ngô), đậu phụ thối.

Trong đó, đậu phụ thối phải là đậu phụ thối Ngọc Trí Hòa được mang về từ "Ngọc Trí Hòa Nam Tương Viên" (một địa danh của Trung Quốc) ngay trong ngày.

Về đồ uống, Từ Hy thái hậu thích các loại trà hoa và đặc biệt kỹ tính trong việc thưởng trà.

Nước dùng để pha trà phải được lấy về trong ngày từ núi Ngọc Tuyền; các loại hoa dùng để ướp trà như hoa hồng, hoa nhài phải là hoa tươi vừa được hái sau đó được trộn với trà khô, khi pha vừa có hương thơm của hoa quyện trong hương trà.

Thái hậu dùng ly bạch ngọc uống trà, trên khay vàng đặt 3 chiếc ly bạch ngọc, ở giữa là trà, 2 bên đặt hoa, 2 thái giám dâng khay trà lên bẩm rằng: "Lão phật gia, trà đã được rồi!".

Sau khi thái giám bẩm vậy, Từ Hy mới bắt đầu uống trà.

Và tuy là 1 bà hoàng với việc ăn uống cầu kỳ xa xỉ như vậy, nhưng thật tình mà nói, lượng kiến thức của Từ Hy thái hậu có được về ẩm thực cũng không phải dạng vừa, sự am hiểu của bà có thể khiến cho nhiều đầu bếp nổi tiếng phải kinh ngạc.

Trong "Thanh cung thập tam hoàng triều" có viết lại về chuyện này như sau: "Từ Hy am hiểu ẩm thực, sự hiểu biết của bà về ẩm thực đều khiến cho những bậc chuyên gia phải kinh ngạc.

Thái hậu thích ăn vịt hầm, tức là vịt sau khi được rửa sạch, tẩm ướp gia vị, cho vào lọ lín, thêm nước và hầm trong 3 ngày cho đến khi cả thịt và xương mềm, sau đó thái hậu chỉ ăn phần da vịt.

Thái hậu cũng thích món vịt quay, lợn sữa quay, gà đen, chân cừu non.

Thái hậu từng nói, khi còn trẻ bà thích ăn nhất bì lợn quay giòn.

Khi tuổi đã cao, các món ăn chế biến từ anh đào trở thành niềm yêu thích".

Minh chứng cho những sử liệu được ghi chép lại phía trên về sự am hiểu về ẩm thực của Từ Hy thái hậu thì rõ ràng, những món ăn do chính bà nghĩ ra dùng để thiết đãi cho các sứ thần phương Tây trong bữa tiệc hoành tráng bậc nhất trong lịch sử Trung Hoa vào ngày 23 tháng Chạp năm 1873 phải nói là vô cùng đặc sắc, tuy nhiên cũng không kém phần kinh dị như món chuột bao tử sống đại bổ, món óc khỉ tươi, hay món sơn dương trùng là lũ hồi sinh ra từ xác loài dê Thiên Tân sau khi được ăn Đông Trùng Hạ Thảo, cỏ phương chi - loại cỏ chỉ mọc lên vào những năm nhuần ở vùng núi Thái Hoàng, tinh tượng là những tai yến to tốt được nấu với nước nhân sâm và đường Cao Ly, trứng chim công quý hiếm, hay món heo sữa Phúc Châu trước khi đem nấu chỉ có ăn loại củ quý hiếm mọc ở đồi Châu Tịch Xương.
 
Trung Quốc Xa Xưa
HOÀNG HẬU GIAN DÍU VỚI ANH RỂ, SAU SA CƠ PHẢI HẦU HẠ BẠO CHÚA.


Trong lịch sử phong kiến Trung Hoa xưa, ở hoàng cung không hiếm những mối tình ngang trái.

Và kết cuộc của những chuyện tình đó, tốt đẹp có, bi kịch có nhưng hiếm khi nào lại mang đến cho người trong cuộc một kết quả hết sức bi thương như chuyện tình của vị hoàng hậu trót đem lòng yêu anh rể dưới đây.

Thậm chí, trước khi đi đến vạch mốc thê thảm cuối cùng, nàng hoàng hậu này còn bị chị gái từ mặt, cả thiên hạ bỉ bai không thương tiếc.

Vị hoàng hậu đó chính là Chu Gia Mẫn (cũng có sử sách gọi là Chu Vy).

Nàng sinh năm 950, là vị hoàng hậu thứ 2, kế nhiệm chị gái mình của hoàng đế Nam Đường Lý Hậu Chủ - Lý Dục.

Ngoài ra, sử sách ngày nay còn nhắc đến nàng với cái tên "Tiểu Chu Hậu", để phân biệt với "Đại Chu Hậu" - tức là danh xưng của chị gái tiền nhiệm vị trí mẫu nghi thiên hạ của mình trước khi qua đời.

Sinh thời, chị em nàng là 2 cô tiểu thư đài các trứ danh khắp vùng với cốt cách hơn người cùng dung nhan kiều diễm.

Vì thế, cả 2 đã sớm được các nam nhân từ khắp nơi săn đón, chờ ngày đủ tuổi để cầu hôn.

Tuy nhiên, trong 2 chị em, chị gái của Chu Gia Mẫn lại có được may mắn sớm hơn khi lọt vào mắt xanh của hoàng đế Lý Dục và nàng đã xuất giá nhập cung, trở thành mẫu nghi thiên hạ.

Thực chất, trong 2 chị em, hoàng đế Lý Dục thích cốt cách của Chu Gia Mẫn hơn là người chị.

Tuy nhiên, khi hoàng đế Lý Dục bị các quan đại thần đốc thúc tìm người làm chủ hậu cung, Chu Gia Mẫn lại còn quá nhỏ tuổi nên ông đành rước chị nàng vào cung trước.

Anh hùng khó qua khỏi ải mỹ nhân, hình bóng của Chu Gia Mẫn vẫn suốt ngày đeo bám theo hoàng đế Lý Dục khiến cho ông mặc dù đã có cô chị nhưng vẫn thèm khát có được cô em.

Thế rồi, chuyện gì đến cũng đến, khi Chu Đại Hậu lâm trọng bệnh, ít ra khỏi cung; hoàng đế Lý Dục nhân cơ hội qua lại tình tứ với em vợ.

Ông thậm chí còn đưa em vợ Chu Gia Mẫn vào hậu cung để làm phi tần.

Sau đó ít lâu, Chu Đại Hậu nghe tin em gái mình đã nhập cung để trở thành phi tần của chồng, nàng đâm ra buồn bã và đi điều tra kỹ lưỡng về mối quan hệ không thuận đạo lý này.

Chu Đại Hậu liền triệu gọi em gái tới với cớ chị em lâu ngày không gặp, rồi lập tức tra hỏi em gái Gia Mẫn của mình.

Nàng hỏi: "Muội đến đây lúc nào?".

Lúc này, Chu Gia Mẫn chỉ mới 15 tuổi, cái tuổi còn ngây thơ hồn nhiên chưa thấu chuyện đạo lý ở đời, nghe chị ruột hỏi thế, nàng cũng thật thà đáp rằng đã vào cung rất nhiều ngày rồi.

Lúc này, Chu Đại Hậu mới vỡ lẽ là trong thời gian nàng mang bạo bệnh, người chồng nàng vốn yêu thương đã lén lút qua lại với em gái mình.

Đau lòng khôn xiết, nàng quyết từ mặt người chồng hoàng đế và cả cô em gái bé bỏng.

Không lâu sau đó, vì uất ức mà bệnh tình thêm trầm trọng, nàng cũng sớm qua đời.

Mãn tang 3 năm Chu Đại Hậu, hoàng đế Lý Dục cũng không còn kiêng nể ai, ngang nhiên thể hiện tình cảm yêu thương mật ngọt với người vợ trẻ của mình.

Ông đã cùng Chu Gia Mẫn ngày đêm vui vẻ, cuộc sống vô cùng hạnh phúc bên nhau trong thành Kim Lăng.

Mối tình anh rể em vợ này kéo dài chưa bao lâu thì tai họa ập tới.

Năm 976, Tống Thái Tổ - Triệu Khuông Dẫn đem quân chinh phạt Nam Đường.

Hoàng đế Lý Dục của Nam Đường lúc này do mải mê bên người đẹp mà không quan tâm lắm tới chuyện giữ nước, chống giặc xâm lăng, ngoài ra ông cũng không hề có tài thao lược mà chỉ có văn hay chữ tốt.

Thế là không bao lâu sau, Triệu Khuông Dẫn đánh tới thành Kim Lăng, buộc Lý Dục phải quy hàng.

Triệu Khuông Dẫn không như các bạo chúa khác khi vừa xâm lăng, vừa giết hại bá tánh và truy cùng giết tận dòng dõi tiền triều.

Trái lại, để thu phục lòng người, ông đã ban cho cựu hoàng đế Lý Dục 1 chức quan nhỏ cùng 1 số bổng lộc nhất định để sống an nhàn quãng đời còn lại bên người em vợ Chu Gia Mẫn.

Nhưng đến mùa đông năm 976, Triệu Khuông Dẫn qua đời thì cơn ác mộng mới thực sự bắt đầu với cặp đôi trái khoáy Lý Dục - Chu Gia Mẫn.

Thay thế vị trí của Triệu Khuông Dẫn, em trai của ông tức là Triệu Quang Nghĩa lên kế nghiệp nối ngôi, lấy hiệu Tống Thái Tông ngay sau đó.

Và vốn để ý nàng Chu Gia Mẫn từ lâu nên ông đã làm mọi cách để bắt nàng bỏ chồng Lý Dục để vào cung hầu hạ mình.

Lý Dục lúc này biết mình sa cơ lỡ vận, không còn quyền lực trong tay nên chỉ buồn bã nhìn vợ mình bị đưa vào cung hầu hạ cho tân đế Triệu Quang Nghĩa.

Nhưng lâu ngày, cảm xúc kìm nén khi lúc nào Lý Dục cũng bị ám ảnh bởi cảnh người vợ Chu Gia Mẫn xinh đẹp tuyệt trần của mình bị giày vò bởi hoàng đế Triệu Quang Nghĩa béo ú.

Ông đã tức cảnh sinh tình mà làm 1 bài thơ mang tên "Lãng đào sa lệnh" để gửi gắm nỗi sầu muộn của mình như sau:

"Rả rích mưa tuôn

Lòng những đau thương

Vạt là không ấm suốt canh tàn

Trong mộng nào hay mình ở trọ,

Chợt thấy vui tràn.

Một mình tựa lan can,

Bát ngát giang sơn,

Chia tay thì dễ, gặp lại khó khăn.

Nước trôi hoa rụng xuân qua đó,

Trời đất miên man."

Bài thơ ai oán về cảnh nước mất nhà tan, lại bị kìm kẹp dưới ách thống trị của triều đại mới này của Lý Dục đã tới tai Triệu Quang Nghĩa.

Vị tân hoàng đế này liền nổi giận đùng đùng và sai người ban chết cho Lý Dục bằng 1 ly rượu độc, thực chất đây là 1 loại thuốc độc mang tên "khiên cơ dược" đã được thí nghiệm nhiều lần, ai uống vào sẽ bị co giật, co quắp tứ chi, đầu gập vào chân không thể cưỡng lại cho đến khi chết hẳn.

Lý Dục không dám trái lệnh, uống thuốc xong và chết đau đớn, hờn tủi, không có vợ kề bên.

Về phần Chu Gia Mẫn, sử sách cũng ghi chép lại về cái chết của nàng rằng, không lâu sau cái chết của chồng, nàng cũng đã lìa đời ở tuổi 28.

Nguyên nhân vì sao nàng chết, vì thương nhớ chồng quyết định quyên sinh hay cũng bị Triệu Quang Nghĩa giết bằng rượu độc, không một ai biết, sử sách cũng không ghi chép lại rõ ràng.

Vì vậy đến nay, cái chết của vị hoàng hậu có kết cuộc bi thương vì trót yêu anh rể này vẫn còn là một điều bí ẩn đến tận ngày nay.
 
Trung Quốc Xa Xưa
HOÀNG HẬU DUY NHẤT TRONG LỊCH SỬ TRUNG HOA MÙ MỘT BÊN MẮT, LIỆT MỘT BÊN CHÂN.


Minh Anh Tông là vị vua hiếm hoi trong lịch sử phong kiến Trung Quốc mà từng ở ngôi vua 2 lần.

Lần đầu ông lên ngôi từ khi còn nhỏ và ở ngôi cho đến năm 22 tuổi.

Sau này, ông lại một lần nữa ngồi vào ngai vàng khi đã 30 tuổi và làm hoàng đế cho đến khi ngã bệnh, ra đi năm 38 tuổi.

Ông được hậu thế đánh giá là 1 vị vua chung thủy, có tình nghĩa, nhất là đối với người vợ đầu tiên của mình.

Dù sau này bà có trở nên bệnh tật, tàn phế nhưng Minh Anh Tông vẫn giữ ngôi hoàng hậu cho bà và đối xử với bà càng thâm tình.

Thậm chí, trước khi ra đi ông còn hạ lệnh hợp táng cùng bà trong cùng 1 lăng mộ.

Người phụ nữ đặc biệt này của Minh Anh Tông chính là Tiền hoàng hậu, xuất thân từ Tiền thị ở vùng Hải Châu và có cha là 1 quan võ thuộc hàng Chính nhị phẩm.

Bà được tuyển vào cung năm 1444 thông qua kỳ tuyển tú cho nhà vua lúc đó đã 15 tuổi.

Thấy bà là một người dù có xuất thân không nổi bật nhưng nhân phẩm lại xuất chúng nên Thái hoàng thái hậu của Minh Anh Tông là Trương thị đã chọn bà làm chính cung hoàng hậu cho vị vua trẻ tuổi.

Đại điển sắc phong nhanh chóng được cử hành hết sức long trọng, về phần nhà vua có được người vợ thông tuệ, hết mực nết na thì rất vui sướng.

Hai người sống những ngày tháng tân hôn vô cùng hạnh phúc, vui vẻ.

Một lần, Minh Anh Tông chợt để ý rằng gia tộc của hoàng hậu đều chỉ giữ những chức quan khá tầm thường, không quan trọng, thế nên ông muốn cất nhắc phong tước một số người trong gia tộc Tiền thị để hoàng hậu được nở mày nở mặt.

Thế nhưng khi nhà vua đề cập việc này với hoàng hậu thì hoàng hậu ngay lập tức từ chối.

Bà nói rằng trong gia tộc chưa ai có công lao, đóng góp to lớn trong triều đình hoặc có tài năng xuất chúng để xứng đáng được phong tước cả.

Về sau, nhà vua cũng nhắc lại việc này thêm vài lần nữa và lần nào hoàng hậu cũng một mực khước từ, qua đó mà Anh Tông càng hiểu thêm về tấm lòng và tính cách công bằng, chính trực của bà.

Tình cảm đế hậu từ đó mà càng trở nên sâu nặng, thắm thiết.

Như vậy, gia tộc của Tiền hoàng hậu trở thành một trong những gia tộc ít ỏi của hoàng hậu triều Minh mà không nhận sắc phong.

Chỉ có 1 điều đáng tiếc, đó là dù nhà vua hết mực sủng ái và rất mong chờ, tuy nhiên trong suốt thời gian sinh sống cùng nhau, Tiền hoàng hậu vẫn không thể sinh cho ông 1 vị hoàng tử nào.

Đây là 1 điều vô cùng hệ trọng vì nó liên quan trực tiếp đến dòng dõi đế vương và sự ổn định, vững chắc của ngai vàng.

Trong suốt triều đại nhà Minh, quân Mông Cổ luôn là 1 lực lượng uy hiếp ở phía bắc lãnh thổ.

Các đời vua nhà Minh cũng có nhiều lần phải thân chinh cầm quân xuất trận để bảo vệ bờ cõi trước sự xâm lược của các bộ lạc Mông Cổ.

Đến thời Minh Anh Tông, tình hình quân đội nhà Minh trở nên suy yếu do nguyên nhân từ nhiều phía.

Trong lúc đó, bộ tộc Ngõa Lạc - một trong những bộ tộc của Mông Cổ lại dần trở nên lớn mạnh.

Nhân lúc tình trạng nhà Minh đang rối ren, thái sư Dã Tiên của tộc Ngõa Lạc đem quân xâm chiếm, nhằm khôi phục lãnh thổ của nhà Nguyên trước đây.

Dưới sự giật dây của thái giám Vương Chấn, Minh Anh Tông quyết định thân chinh cầm quân ra trận, trực tiếp nghênh chiến với quân Mông Cổ mặc cho sự can ngăn của các đại thần trong triều.

Ỷ vào sự tin tưởng của nhà vua với mình, Vương Chấn còn dám tùy tiện chỉ huy quân đội, bưng bít các thông tin quan trọng với nhà vua, dẫn đến việc quân đội nhà Minh chịu thiệt hại nặng nề.

Mãi cho đến khi thấy tình hình chiến sự trở nên vô cùng bất lợi, Vương Chấn bèn tìm cách thoát ly khỏi nhà vua.

Thế nhưng trên đường tẩu thoát, hắn bị quân Mông Cổ bắt được và giết chết.

Về phần Minh Anh Tông, ông bị bắt giữ làm tù binh.

Sử gọi sự kiện này là "Sự biến Thổ Mộc bảo".

Khi nhà vua bị bắt và không rõ tung tích, triều đình nhà Minh vô cùng hoảng loạn và rối ren.

Để đối phó với tình hình, Tôn thái hậu lúc đó gấp gáp lập em trai của Minh Anh Tông là Chu Kì Ngọc lên ngôi, tức Minh Đại Tông nhằm ổn định tình hình, tổ chức đánh trả quân Mông Cổ.

Nhận được hung tin chồng bị bắt làm tù binh, rồi anh và em trai đều bỏ mạng nơi chiến trường, Tiền hoàng hậu đau đớn gần như chẳng thiết sống.

Dù rằng rất muốn cứu chồng và tìm lại người thân nhưng 1 người phụ nữ yếu đuối trước giờ chỉ giam mình chốn hậu cung thì có thể làm gì?

Điều duy nhất mà bà có thể làm đó là ngày ngày quỳ gối trước Phật, thành tâm khẩn cầu hy vọng trượng phu có thể bình an trở về.

Thế rồi mùa đông với cái lạnh cắt da cắt thịt tràn về, Tiền hoàng hậu vẫn ngày ngày quỳ lạy, ngày ngày hy vọng.

Sức khỏe của bà suy giảm đến mức giờ đây hoàng hậu đã chẳng thể tự đứng dậy được.

Thế nhưng chưa một ngày nào mà bà ngừng quỳ trước Phật để cầu nguyện.

Cứ như vậy, một con mắt và một bên chân của bà trở nên yếu đi và cuối cùng là tật nguyền vĩnh viễn.

Năm đó hoàng hậu chỉ mới 24 tuổi.

Có lẽ, tấm lòng son sắt, kiên trinh của Tiền hoàng hậu đã lay động trời xanh nên Minh Anh Tông cuối cùng cũng được quân Mông Cổ trao trả cho nhà Minh.

Thế nhưng lúc này, ông bị đặt vào một tình thế vô cùng nhạy cảm khi bản thân cũng là vua mà triều đình đã có một ông vua mới.

Rồi sau đó, Minh Anh Tông bị đưa đến Nam Cung, giam lỏng ở đó.

Thế là Tiền hoàng hậu lại tiếp tục dọn đến Nam Cung, sống cùng trượng phu thêm vài năm gian khó, thậm chí phải có lúc bán đồ thêu để có tiền sinh sống qua ngày.

Thế nhưng dù có khổ, dù nhan sắc có tàn phai, thân thể tàn tật, bà vẫn được trượng phu hết lòng yêu thương, trân trọng.

Hai người sống những ngày tháng tuy gian nan mà cũng rất mực hạnh phúc.

Vài năm sau đó, Minh Đại Tông bỗng nhiên mắc bệnh và trở nên ngày càng nguy kịch.

Trước tình hình đó, một số đại thần trong triều tiến về phía Nam Cung, khẩn cầu Minh Anh Tông quay về trị vì đất nước.

Thế là một lần nữa, Minh Anh Tông ngồi lên ngai vàng trở thành hoàng đế.

Lúc này, nhà vua cần sắc phong một vị hoàng hậu mới.

Mọi người đều nghĩ quý phi Chu thị, người đã sinh ra trưởng tử Chu Kiến Thâm sẽ ngồi lên ngôi vị hoàng hậu.

Thành thật mà nói, so với Tiền thị tàn tật, không sinh cho nhà vua một đứa con nào thì quý phi Chu thị có ưu thế hơn hẳn: không những có nhan sắc mà lại sinh cho nhà vua đến 3 hoàng tử, trong đó có Chu Kiến Thâm mà sau này được phong là thái tử.

Thật bất ngờ, lúc này Minh Anh Tông vẫn sắc phong cho Tiền thị ở ngôi hoàng hậu.

Với ông, tình nghĩa sâu nặng và tấm lòng son sắt của Tiền thị vượt lên trên tất thảy những tính toán thông thường.

Dù rằng bà không có con nhưng sự trân quý của nhà vua dành cho bà chưa khi nào suy chuyển.

7 năm nữa trôi qua, Minh Anh Tông cũng dần trở nên yếu đi và ngã bệnh.

Có lẽ biết rằng bản thân sẽ không qua khỏi, ông lo lắng cho cuộc sống của Tiền thị khi không còn mình bên cạnh.

Vì thế mà ông đã ra chỉ dụ rằng: "Hoàng hậu tha nhật thọ chung, nghi hợp táng", tức là khi bà ra đi thì phải dùng danh nghĩa hoàng hậu mà chôn cùng lăng tẩm với ông.

Minh Anh Tông qua đời, thái tử Chu Kiến Thâm lên ngôi là Minh Hiến Tông và tôn sinh mẫu Chu quý phi là hoàng thái hậu.

Hành động này vấp phải sự phản đối kịch liệt từ triều thần do nó chống lại di ngôn của Tiên đế.

Vì thế nên cuối cùng, Hiến Tông đành tôn phong hiệu cho Tiền hoàng hậu, gọi là Từ Ý hoàng thái hậu.

4 năm sau, Tiền thái hậu qua đời ở tuổi 42; lúc này Chu thái hậu lại ngang nhiên bất tuân di mệnh của tiên đế và không cho Tiền thái hậu hợp táng với Minh Anh Tông.

Kết quả là chúng đại thần khóc lóc ngoài cửa thành Văn Hoa cả một ngày trời, gây sức ép khiến nhà vua phải đưa ra một biện pháp thay thế, đó là phân lăng tẩm thành 3 điện, để Chu thái hậu và Tiền thái hậu có thể được an táng chung với tiên đế.

Dù vậy, Chu thái hậu vẫn nuôi lòng uất ức, bí mật sai người bịt kín đường thông giữa điện của Minh Anh Tông và Tiền thái hậu.

Mãi đến sau này khi Chu thái hậu qua đời thì sự việc mới được phát hiện.

Minh Hiếu Tông đã có ý sửa lại cho thông hầm mộ của Tiền thái hậu và Anh Tông thế nhưng Âm dương gia không tán thành nên đành thôi.

Như vậy, đường thông của Tiền thái hậu mãi mãi bị ngăn, không được thông suốt với phần mộ của Anh Tông hoàng đế.
 
Trung Quốc Xa Xưa
VÌ SAO TẦN THỦY HOÀNG CHƯA MỘT LẦN LẬP HẬU?


Hoàng đế thì nhất định phải lập hậu.

Đó gần như là quy tắc bắt buộc dưới mọi triều đại phong kiến Trung Hoa.

Từ thời Chiến quốc, Tần Hiếu Công đã đặt ra quy tắc vàng, 1 hoàng đế nhất định phải chỉ định 1 vị hoàng hậu làm chủ hậu cung.

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, quy tắc này lại càng được củng cố, cụ thể là người vợ đầu tiên của hoàng đế được phong là hoàng hậu, còn mẹ đẻ của vua sẽ được tôn là Hoàng thái hậu.

Thế nhưng trong suốt 39 năm trị vì, Tần Thủy Hoàng chưa một lần phong hậu cho bất kì vị thê thiếp nào.

Ông là vị vua duy nhất trong lịch sử Trung Quốc không có hoàng hậu dù trong hậu cung chưa bao giờ thiếu vắng những mỹ nhân tuyệt sắc.

Vì sao như vậy?

Người đời sau đã đưa ra rất nhiều lý do thế nhưng đến nay chưa ai chứng minh được giả thuyết nào mới là thực sự cả.

Tần Thủy Hoàng bắt đầu nắm lấy vương quyền từ năm 22 tuổi và theo quy tắc thì tân đế sẽ có 3 năm để lựa chọn 1 cô gái thành hoàng hậu.

Thế nhưng trong 9 năm tiếp theo ông không hề phong hậu cho bất cứ mỹ nhân nào.

17 năm sau đó là khoảng thời gian Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, tuy nhiên không vì thế mà ông bận bịu đến mức không có thời gian tuyển hậu.

Nhưng một lần nữa, không có cô gái nào trở thành "người được chọn".

Không có một văn bản hay ghi chép lịch sử nào giải thích rõ ràng hay đề cập đến việc vì sao vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc này không có hoàng hậu cả.

Vì thế, đã có rất nhiều nhà sử học thực hiện các công trình nghiên cứu và xác định 4 nguyên nhân như sau.

Nguyên nhân đầu tiên, cũng là nguyên nhân có khả năng cao nhất, đó là những chấn thương tinh thần Tần Thủy Hoàng đã phải chịu từ lúc nhỏ, khi ông tận mắt chứng kiến những hành vi tư thông phóng túng của mẫu thân mình.

Thân mẫu của Tần Thủy Hoàng - Triệu Cơ, vốn là thiếp thất của Lã Bất Vi - thương nhân nổi tiếng thời Chiến Quốc.

Về sau vì mục đích chính trị, Lã Bất Vi đã dâng Triệu Cơ cho Dị Nhân (tức Tần Trang Tương Vương).

Khi ấy, Triệu Cơ đang mang thai.

Sau khi Tần Trang Tương Vương qua đời, bà ta vẫn tiếp tục tư thông qua lại với Lã Bất Vi.

Không dừng lại ở đó, bà ta còn tiếp tục gian díu với Lao Ái và thậm chí đã có với người này 2 đứa con trai.

Tính phóng túng này của hoàng thái hậu đã khiến cho Tần Thủy Hoàng vô cùng bẽ mặt, và trong cơn thịnh nộ, ông đã ra lệnh giết chế Lao Ái cùng 2 đứa em trai cùng mẹ khác cha rồi áp giải Triệu Cơ ra khỏi hoàng cung.

Song song với đó, ông cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ hành động của Triệu Cơ, dần dần hình thành thái độ coi thường nữ nhân và chỉ dùng mỹ nhân để giải quyết nhu cầu sinh lý.

Sự kiện này cũng là khởi nguồn của nguyên nhân thứ 2, đó là sự thật vị vua này không hề tin tưởng vào nữ giới.

Theo ông, việc chỉ định 1 hoàng hậu sẽ khiến cho tất cả các phi tần tranh giành, đấu đá nhau để trở thành mẫu nghi thiên hạ.

Vì thế, rất có thể Tần Thủy Hoàng sẽ phải bận tâm, lao lực giải quyết những cuộc chiến ngầm nơi hậu cung thay vì tập trung vào quốc sự.

Nguyên nhân thứ 3, theo các nhà sử học, bắt nguồn từ niềm kiêu hãnh quá cao của vị hoàng đế này.

Ông cho là thành tựu mình đạt được vô cùng vĩ đại, vì thế nên không một ai trong dàn hậu cung đủ tư cách để sánh bước với ông cả.

Không một ai có đủ tài trí, nhan sắc và vị thế để làm hoàng hậu, đứng ngang hàng với Tần Thủy Hoàng.

Cuối cùng, Tần Thủy Hoàng nổi danh là vị hoàng đế ham mê sự bất tử.

Giấc mơ về sự bất tử đã hoàn toàn choán hết tâm trí khiến ông bỏ bê những việc khác, bao gồm cả việc lập hậu.

Ngoài ra, người ta còn đồn rằng, vị hoàng đế này vốn khinh rẻ và coi thường nữ nhân, nhất là những kẻ luôn tìm mọi cách để gây được sự chú ý từ đàn ông hay làm tất cả bất chấp mọi thứ để có được sử sủng ái của trượng phu.

Vì thế nên ông chẳng bao giờ sắc phong một phi tần nào thành hoàng hậu của mình cả.
 
Trung Quốc Xa Xưa
HOÀNG HẬU PHÓNG TÚNG BẬC NHẤT TRIỀU NAM TỀ.


Trong lịch sử Trung Hoa phong kiến, chuyện một vị hoàng hậu nào đó hoang dâm vô độ, ngoại tình sau lưng chồng mình là hoàn toàn không hiếm.

Tuy nhiên, việc vị hoàng hậu ở triều Nam Tề dưới đây công khai dâm ô trước mặt hoàng đế, còn ngang nhiên quyến rũ bạn bè của ông có thể nói là có một không hai trong lịch sử triều đại này.

Bất ngờ hơn nữa, là dù cho hoàng hậu của mình lộng hành trắc nết như vậy nhưng hoàng đế vẫn không những không xử tội mà còn hết mực cưng chiều sủng ái, thậm chí còn đối đãi với nhà vợ mình rất tốt, ban thưởng rất nhiều tài lộc phú quý khiến ai ai biết chuyện cũng rất lấy làm kỳ lạ.

Vị hoàng hậu đó không ai khác chính là Hà Tịnh Anh - vợ của hoàng đế thứ 3 triều Nam Tề, Tiêu Chiêu Nghiệp.

Nàng được sinh ra trong một gia đình danh gia vọng tộc thời đó, có ông nội làm quan tới chức Tư không, một chức quan to thuộc "ngũ quan".

Còn cha nàng là Hà Trấp cũng làm tới chức Phủ quân tướng quân.

Tuổi thơ của nàng không được ghi chép nhiều, chỉ biết nàng có một thuở thiếu thời đầy màu hồng, xứng danh tiểu thư cành vàng lá ngọc được bao người mơ ước.

Vào năm 484, khi Tiêu Chiêu Nghiệp mới 11 tuổi, cha của ông lúc này còn là một thái tử muốn tìm vợ cho con trai mình nên đã nhờ cận thần tìm kiếm những gia đình môn đăng hộ đối, có con gái tiểu thư khuê các muốn gả vào hoàng cung.

Và rồi cuối cùng, sau một hồi đắn đo lựa chọn, cộng với được sự khuyên nhủ của nhiều quan văn trung tín, Hà Tịnh Anh chính thức là người may mắn được "điểm chỉ" nhập cung, làm vợ của Tiêu Chiêu Nghiệp.

Một năm sau đó, nàng vào cung với danh phận Vương phi, hứa hẹn một tương lai đầy hoa mộng và ngày trở thành hoàng hậu cũng không còn xa.

Vậy mà cứ tưởng sinh ra trong 1 gia đình quyền quý, nàng phải thấu hiểu những chuyện đạo lý ở đời, nhưng không, vào cung ít lâu, Hà Tịnh Anh bắt đầu bộc lộ bản chất dâm loạn của mình khi cả gan lén phéng qua lại với thủ hạ của chồng là Mã Trừng.

Thậm chí nàng còn không ít lần ngang nhiên bất chấp tất cả, hễ thấy người bạn nào của chồng có tướng mạo khôi ngô tuấn tú là tìm mọi cách để quyến rũ rồi tư thông bằng được.

Trong số tất thảy những người bạn của chồng đó, Hà Tịnh Anh rất mực yêu thương Dương Mân, vì vậy nàng đã cho phép y ra vào phủ Nam quân vương một cách tự do thoải mái để dễ bề gần gũi.

Điều này đã khiến nhiều người trong hoàng cung lúc đó bất ngờ, bàn tán xôn xao.

Tuy nhiên, vì với danh phận quyền quý còn tiến xa hơn nữa của Hà Tịnh Anh mà không ai dám đắc tội, nên cũng chẳng ai dám lên tiếng nhỏ to tố cáo nàng với nhà chồng.

Riêng về phần Tiêu Chiêu Nghiệp, tuy mang tiếng là cháu đích tôn của hoàng đế lúc bấy giờ nhưng rốt cuộc cũng chỉ là một tiểu tử thích ăn chơi quậy phá, nên các chuyện trái khuấy của vợ mình, Tiêu Chiêu Nghiệp đều biết nhưng lại bỏ ngoài tai, không quan tâm đến.

Hay đúng hơn là Tiêu Chiêu Nghiệp muốn nhờ cậy mẹ vợ của mình để làm một chuyện "khi quân phạm thượng" nên chẳng dám đả động đến Hà Tịnh Anh.

Chuyện "khi quân phạm thượng" đó là Tiêu Chiêu Nghiệp muốn mẹ của Hà Tịnh Anh - tức là Dương thị, một nữ thầy tế chuyên dùng bùa phép, giúp mình yểm bùa hãm hại làm cho cha và ông nội chết sớm, để mình sớm ngồi vào vị trí hoàng đế.

Tất nhiên, nếu chuyện này xảy ra thì Hà Tịnh Anh cũng được ngồi vào vị trí mẫu nghi thiên hạ, vì vậy yêu cầu của người con rễ bất hiếu này đã được Dương thị chấp nhận.

Chẳng biết run rủi, trùng hợp thế nào, ngay sau đó, cha và ông nội của Tiêu Chiêu Nghiệp lần lượt mắc bệnh và qua đời, ngai vàng giờ đây chính thức rơi vào tay của Tiêu Chiêu Nghiệp và vị trí hoàng hậu cũng thuộc về Hà Tịnh Anh.

Ngày Hà Tịnh Anh đăng cơ hoàng hậu, đã có 1 chuyện lạ xảy ra là chiếc gương tay của nàng bỗng dưng rơi xuống đất vỡ tan.

Điều này được xem là điềm gở nhất vào thời đó, làm cho Hà Tịnh Anh cũng có một chút lo sợ trong lòng.

Ấy vậy mà vẫn chứng nào tật nấy, Hà Tịnh Anh ngay khi trở thành mẫu nghi thiên hạ, vị trí được biết bao người dòm ngó vẫn cứ tự tiện công khai qua lại với Dương Mân.

Họ quấn quýt lấy nhau suốt ngày như 2 vợ chồng trẻ mà chẳng coi hoàng đế Tiêu Chiêu Nghiệp ra gì.

Đến độ, nhiều người còn nói, trong hậu cung của Tiêu Chiêu Nghiệp lúc bấy giờ, người ta không biết ông hay là Dương Mân mới là chồng của Hà Tịnh Anh.

Nhưng vị tân đế trẻ tuổi Tiêu Chiêu Nghiệp nào có quan tâm, một phần ông xem việc ăn chơi rượu chè thú vị hơn chuyện vui đùa với mỹ nhân, một phần ông rất nể sợ mẹ vợ Dương thị, ông nghĩ rằng người đàn bà này có thể dễ dàng giúp mình nhưng cũng có thể dễ dàng hại mình bằng những loại bùa phép huyễn hoặc nên ông luôn tỏ ra sủng ái hoàng hậu Hà Tịnh Anh, thậm chí là coi còn coi cuộc tình trái khuấy của vợ mình là một trò vui chốn hậu cung.

Chưa hết, Tiêu Chiêu Nghiệp còn cho phép cả họ hàng nhà vợ chuyển vào hoàng cung sinh sống để thỏa sức hưởng thụ bạc vàng châu báu.

Đáng nói, ông bố trí cho gia đình vợ ở ngay trong linh điện của ông nội Vũ Đế vừa mới nhắm mắt xuôi tay.

Quả thật, trong lịch sử các triều đại Trung Hoa phong kiến, nếu kể ra danh sách những vị hoàng đế bất hiếu bậc nhất, thì có lẽ phải xếp Tiêu Chiêu Nghiệp vào hàng đầu.

Nhưng sự dâm loạn bất chấp mọi lễ nghi của Hà Tịnh Anh với Dương Mân đương nhiên không được các triều thần bỏ qua như Tiêu Chiêu Nghiệp.

Rất nhiều người từng liều chết đến gặp vị hoàng đế của mình, xin Chiêu Nghiệp hãy thẳng tay xử lý chuyện dâm loạn làm ô uế hậu cung của hoàng hậu Hà Tịnh Anh.

Tuy nhiên, Tiêu Chiêu Nghiệp trước sau đều rất trung kiên bảo vệ cho cuộc tình của Hà Tịnh Anh và Dương Mân.

Chính sự ấu trĩ này của Tiêu Chiêu Nghiệp đã đẩy ông đến 1 cái kết vô cùng bi thảm.

Mùa thu năm 494, vì thấy tân đế Tiêu Chiêu Nghiệp không có khả năng trị nước, lại còn bao che cho hoàng hậu hoang dâm nên các thân vương, quần thần đã nổi dậy, giết chết Tiêu Chiêu Nghiệp, song lại không ra tay trừ khử hoàng hậu Hà Tịnh Anh.

Nàng chỉ bị giáng chức làm Uất Lâm vương phi, sống trong cảnh bị quản thúc chặt chẽ cho đến khi qua đời.
 
Trung Quốc Xa Xưa
ĐẾ VƯƠNG MỘT VỢ, HẬU CUNG KHÔNG TỲ THIẾP.


Lịch sử ghi chép lại rằng, thiết quân luật tối cao mà vị hoàng đế này ban hành là luật "một vợ một chồng".

Điều này thật khó mà tin được, bởi trong lịch sử phong kiến, vị vua nào khi đăng cơ cũng đều có 1 hậu cung đông đảo cung tần, mỹ nữ xinh đẹp, hiếm ông vua chịu cảnh mỗi đêm chỉ ăn nằm với một người phụ nữ.

Nhưng ít nhất đã có 1 vị vua làm chuyện ngược đời như vậy.

Đó là vị vua đời thứ 9 của nhà Minh, hoàng đế Hoằng Trị (tên húy Chu Hiệu Đường), lấy hiệu Minh Hiếu Tông, trị vì từ năm 1487 đến năm 1505.

Thưở nhỏ, vị vua này đã bị ám ảnh bởi cuộc tàn sát, tranh giành quyền lực chốn hậu cung, khiến mẫu thân mình phải chết tức tưởi.

Khi lên ngôi, ông quyết định chỉ chung chăn gối với một người phụ nữ duy nhất, để đảm bảo an toàn cho bản thân cũng như dập tắt những mầm mống tranh quyền đoạt vị sau này.

Các hoàng đế Trung Hoa thường có rất nhiều vợ cùng hàng trăm cung tần mỹ nữ hầu hạ.

Trước để đảm bảo có người nối dõi, sau để phục vụ chuyện phòng the.

Tiến sĩ Kanneth Swope đến từ đại học Southern Mississippi, cho rằng cuộc sống một vợ một chồng của hoàng đế Hoằng Trị có thể liên quan mật thiết đến câu chuyện đau buồn của mẹ ông.

Câu chuyện kinh khủng đã ám ảnh vị hoàng đế từ thuở nhỏ tới khi làm vương thiên hạ.

Theo luật nhà Minh, từ thời Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương lập quốc, nếu vị vua đã 40 tuổi mà chưa có con trai nối dõi, vị vua có quyền lập thêm một vương phi, được người vợ cả chọn lựa (cần phân biệt rõ ràng giữa cung tần mỹ nữ và vương phi, dù tất cả có thể ở hậu cung nhưng vương phi là người được vua ưu ái dựng làm vợ lẽ).

"Một vị hoàng đế có thể có tới 10 nghìn cung tần, mỹ nữ trong hoàng cung", tiến sĩ Swope cho biết.

Chắc chắn không phải người nào cũng có cơ hội được hầu hạ vua, có thể mỗi đêm vị vua ngủ cùng nhiều người, nhưng rốt cuộc chỉ có khoảng vài chục người thường xuyên được gọi, trong số ấy cũng chỉ 5,6 người vua thực sự sủng ái.

Hoàng đế Hoằng Trị không hề có con ngoài giá thú và cũng không có quan hệ ngoài hôn nhân, ông nhất nhất chung chăn gối với đúng một người là hoàng hậu của mình.

Điều này rất khác thường.

Điều gì đã khiến hoàng đế Hoằng Trị có quyết định lạ lùng bậc nhất lịch sử Trung Hoa như vậy?

Câu hỏi sẽ được trả lời khi lật lại lịch sử triều Minh thời Thuần đế Hiến Tông, trị vì từ năm 1464 - 1487, thời điểm những âm mưu thâm độc chốn hậu cung khiến cả vương triều hùng mạnh bỗng trở nên hỗn loạn tới mức có nguy cơ sụp đổ.

Hoàng đế Hoằng Trị là con trai thứ 3 của hoàng đế Thành Hóa (tên húy Chu Kiến Thâm), hiệu Minh Hiến Tông và Hiếu Mục hoàng hậu (tên húy Thục Kỷ), vốn là phi tần trong hậu cung.

Khi đó, vua Thành Hóa có con trai với Vạn quý phi, người rất được vua sủng ái.

Tuy nhiên, vị hoàng tử ấy chết yểu, Vạn quý phi tính tình hiểm độc, lập dã tâm không để bất cứ vị phi tần nào sinh con.

Vạn quý phi giết tất cả đứa trẻ là con của hoàng đế với các cung phi.

Chỉ cần phát hiện cung phi nào mang thai, bà lập tức bỏ thuốc độc, ép phá thai, thậm chí còn giết chế người đó, thủ đoạn vô cùng thâm độc.

Như số trời đã định, chỉ có duy nhất 1 đứa trẻ thoát khỏi nanh vuốt của Vạn quý phi, đó là Chu Hựu Đường (hoàng đế Hoằng Trị sau này).

Mẹ ruột của Hựu Đường là Kỷ thục phi, người đã che giấu kĩ càng thân phận của vị vua tương lai trong 5 năm, nhờ sự giúp đỡ của 1 thái giám thân tín và cả hoàng hậu Hiếu Trinh Thuần.

Sau khi nhận ra con cái của mình bỗng dưng chết yểu, hoàng đế Thành Hóa vô cùng hoảng loạn, ông bắt đầu chú trọng hơn tới những sự việc xảy ra trong cung cấm.

Tới khi Hựu Đường xuất hiện sau thời gian dài ở ẩn, Minh Hiến Tông vô cùng vui mừng, lập tức chọn vị hoàng tử nhỏ tuổi làm người kế nhiệm.

Đến lúc này, Vạn quý phi muốn hạ sát Hựu Đường cũng không thể.

Bà tức giận ra lệnh giết chết Kỷ thục phi.

Kể từ giây phút đó, Hựu Đường biết chắc rằng, triều đình tương lai của mình sẽ không tồn tại hậu cung.

"Nói cách khác, khi hoàng tử Hựu Đường lớn lên, ông khắc cốt ghi tâm kinh nghiệm sống còn là chế độ đa thê đa thiếp tương đương với loạn lạc, giết người, có thể đẩy cả vương triều đến bờ diệt vong" - học giả Schneewind cho biết.

Hoàng đế Hoằng Trị muốn tất cả con đẻ và vợ mình được sống yên bình, ông cũng không muốn lo lắng về việc các cung tần của mình giết hại lẫn nhau vì chuyện kế vị.

Rốt cuộc, hoàng đế chỉ muốn chung chăn gối với một người duy nhất.

Tất cả những cải cách, đổi mới nhằm chống tham nhũng, suy đồi khiến hoàng đế Hoằng Trị trở thành vị vua công minh và ít tai tiếng bậc nhất triều Minh.

Trong đạo Nho, lòng trung thành luôn được coi trọng đăc biệt.

Đàn ông Trung Hoa theo đạo Nho sẽ được người đời tán dương vì chung thủy với một người vợ duy nhất, dù người vợ đó đã chết hoặc sống trong tình trạng tàn tật.

Triều đại kéo dài 276 năm trong lịch sử Trung Hoa nhờ thế được lưu truyền tiếng thơm đến tận ngày nay là vì đã đem đến luồng gió mát của Nho giáo thay thế cho Đạo giáo cứng nhắc.

Những giá trị truyền thống này được hoàng đế Hoằng Trị tôn trọng hết mực.

Thêm vào đó, theo lời khuyên của các thầy lang thời Minh, quan hệ tình dục quá nhiều sẽ khiến cơ thể đàn ông suy nhược, lúc nào cũng cảm thấy yếu đuối, mệt mỏi.

Nếu mục đích của việc lập phi tần chỉ là sinh con nối dõi thì hoàng đế Hoằng Trị cũng không cần đoái hoài.

Bởi ông đã có 2 người con trai và 3 con gái với người vợ duy nhất của mình, Hiếu Thành Kính hoàng hậu (tên húy Trương thị).

Người đời có thể thấy, hoàng đế Hoằng Trị lập dị khó hiểu nhưng rõ ràng, cách sống của ông là cách sống đi trước thời đại, chỉ có hạnh phúc, bình yên, không thị phi, loạn lạc.
 
Trung Quốc Xa Xưa
THÁI HẬU SI TÌNH, LÀM HẠI CON RUỘT ĐỂ BẢO VỆ TÌNH NHÂN.


Người ta hay nói hổ dữ không ăn thịt con, tuy vậy mà đã có không ít câu chuyện ly kỳ đến mức thất nhân thất đức xoay quanh vấn đề này xảy ra ngay tại chốn cung cấm Trung Hoa xưa.

Và trong số đó, nổi tiếng nhất là phải kể đến sự vụ Võ Tắc Thiên tự tay giết con, nhưng nếu Võ hậu mượn cái chết của con để mở đường thăng tiến quyền lực thì vụ việc bà hoàng thái hậu dưới đây giết con, đồng thời cũng là hoàng đế chỉ để thoải mái hưởng lạc, bảo vệ người tình thì quả là hiếm có, đi ngược lại mọi quy chuẩn đạo đức của loài người.

Vị thái hậu đó không ai khác chính là Hồ thái hậu ở thời Bắc Ngụy.

Theo sử liệu ghi chép thì tuổi thơ, năm sinh và thân mẫu của Hồ thị vẫn còn rất mơ hồ và chưa có tài liệu tin cậy.

Chỉ biết Hồ thị có cha là một quan Tư đồ làm trong triều đình, và vào ngày Hồ thị sinh ra đã xảy ra 1 hiện tượng lạ là 4 góc trời bỗng dưng ửng đỏ khiến toàn thể dân chúng rất lấy làm hiếu kì.

Một số thầy tướng thì bảo rằng, Hồ thị có số đại quý, sẽ sớm làm mẹ của thiên hạ.

Lớn lên, Hồ thị là 1 cô gái vô cùng xinh đẹp, lại hiền đức, thông minh.

Vì thế, không bao lâu sau, tin tức về nữ nhân Hồ thị đã lọt tới tai Tuyên Vũ Đế, ông liền cho gọi Hồ thị tiến cung và phong làm Thừa hoa - một tước hiệu dành cho phi tần của hoàng đế trong thời Bắc Ngụy và sớm nhận được sự sủng ái của hoàng đế.

Không lâu sau, Hồ thị sinh được 1 con trai tên là Nguyên Hủ và người con này cũng sớm được sắc phong làm thái tử, được chọn vào vị trí nắm giữ quyền kế thừa ngai vàng sau khi vua cha qua đời.

Trước đó, nhà Bắc Ngụy từng có trường hợp thái hậu lộng quyền, làm đảo điên triều chính nên mới có luật lệ giết chết mẹ thái tử để tránh lặp lại chuyện này.

Nhưng vì yêu thương Hồ thị, cũng là vì nàng sở hữu sự thông minh lại hiền đức nên Tuyên Vũ Đế đã sớm bỏ đi quy định đó để giữ mạng cho Hồ thị.

Sau cơ may thoát chết, Hồ thị liền được Tuyên Vũ Đế sắc phong lên thêm 1 bậc, từ Thừa hoa thành Sung hoa, nàng sống những ngày tháng hạnh phúc vì con được làm thái tử, còn mình thì được hoàng đế sủng ái, ban cho rất nhiều đặc quyền cũng như là vàng bạc châu báu.

Tuy nhiên, đến năm 515, Bắc Ngụy Tuyên Vũ Đế qua đời, con trai Hồ thị là Nguyên Hủ lên ngôi khi vừa tròn 6 tuổi.

Vì chưa phải hoàng hậu nên bà chỉ được phong làm Hồ thái phi.

Sau đó, thái hậu tức là vợ của tiên đế là Cao thị có ý định giết Hồ thị vì cho rằng nếu con trai Hồ thị lên ngôi vua trong khi còn quá nhỏ thì quyền lực chắc chắn sẽ rơi vào tay của Hồ thị.

Sau bao lần tìm cách giết Hồ thị bất thành, Cao thị bất mãn rời bỏ chốn thâm cung để đi tu; Hồ thị liền được phong làm Hồ thái hậu.

Mọi vây cánh chống lại mình dường như đã rụng hết, Hồ thị như cá được nước nên nhanh chóng thay con trai mình nắm giữ quyền lực tối cao và tham gia vào những buổi thiết triều, nhiếp chính trị nước.

Có thể nói, cuộc đời Hồ thị cũng không hề thua kém gì Võ Tắc Thiên.

Ban đầu Hồ thị được quần thần gọi là Hoàng thái hậu điện hạ, sau đó lại đổi thành Hoàng thái hậu bệ hạ và bà cũng tự xưng là trẫm (tiếng xưng danh riêng cho vua).

Hồ thái hậu được đánh giá là người thông minh, có khả năng thông hiểu mọi sự việc một cách nhanh chóng, song bà lại quá nhân hậu và khoan dung với tội tham nhũng, vì thế vô tình trong thời gian nắm quyền, Hồ thị đã khiến triều đại Bắc Ngụy suy yếu dần.

Lương dân thì lầm than, gian thần lộng hành cướp bóc mà không sợ phải mang tội.

Chưa hết, dù nắm quyền lực trong tay với danh xưng Hoàng thái hậu nhưng thực chất Hồ thị chỉ vừa mới 33 tuổi.

Không chịu nổi cảnh buồng the lạnh lùng, chăn gối đơn chiếc, Hồ thị ra sức "sưu tầm" tình nhân để thỏa mãn cuộc sống trong cung cấm vô vị của mình.

Hồ thái hậu còn "nhiệt tình" tìm kiếm đến mức nghe tin có mỹ nam từ ở đâu cũng liền cho người triệu gọi vào cung để gặp mặt.

Và cũng đã có không ít những nam tử được thái hậu triệu gọi vào cung mà sợ quá bỏ trốn.

Trong số người tình của Hồ thái hậu thì người nổi tiếng nhất có thể nói là Nguyên Dịch.

Đây là 1 nam tử trẻ trung lại thông minh tài giỏi, đẹp trai ngời ngời.

Khi rơi vào tay Hồ thái hậu, bà đã nhanh chóng yêu chiều người này bằng cách cho anh ta rất nhiều quyền lực, đến mức gần như là bao trùm cung cấm, lấn át cả 2 đại trung thần của triều Bắc Ngụy.

Điều này đã gây ra không ít sự gai mắt đối với những bậc quan văn võ trong triều đình.

Tháng 7 năm 520, Nguyên Xoa liên kết với Lưu Đằng (2 vị đại thần trong triều) tố cáo Nguyên Dịch mưu phản, cướp ngôi rồi lấy cớ đó tiến hành 1 cuộc chính biến chống lại Hồ thái hậu và Nguyên Dịch, đưa quân vào điện Hiển Dương.

Nguyên Dịch bị giết chết còn Hồ thái hậu bị quản thúc trong cung.

Hồ thái hậu bị giam trong cung suốt 5 năm (520 - 525).

Trong suốt thời gian này, Nguyên Xoa lộng hành nắm quyền nhiếp chính, hoàng đế Nguyên Hủ như 1 con bù nhìn không hơn không kém.

Sau đó, vì đã lớn, Nguyên Hủ hiểu ra tình cảnh của mình và mẹ mình tức là Hồ thái hậu, thế là 2 mẹ con liên kết với nhau, lập mưu chống lại Nguyên Xoa.

Kết quả Nguyên Xoa bị bắt và xử tử, Hồ thái hậu trở lại nắm quyền hành.

Tuy vậy, cứ tưởng sự vụ bị giam cầm suốt 5 năm trong cung sẽ làm Hồ thái hậu thức tỉnh mà biết nắm quyền để phục vụ cho lợi ích giang sơn.

Nhưng không, ngựa quen đường cũ, thậm chí còn ghê gớm hơn xưa khi bà tiêu xài hoang phí, ban phát bổng lộc cho quan quân vây cánh của mình một cách vô tội vạ.

Thói hoang dâm vẫn y như xưa và bà lại trao quyền lực vào tay 1 tình nhân khác có tên là Trịnh Nghiễm.

Lúc này, Nguyên Hủ Hiếu Minh Đế đã lớn, không cam chịu bị Hồ thái hậu sai khiến.

Những hành động hưởng lạc tư tình của mẹ diễn ra quá công khai và càng ngày trụy lạc đã khiến cho Hiếu Minh Đế không thể chấp nhận được.

Hồ thái hậu thấy được ý phản đối của Hiếu Minh Đế, liền tìm cách gạt bỏ hoặc giết chết những người gần gũi với vua nên quan hệ mẹ con ngày càng xấu.

Năm 528, do căm ghét Trịnh Nghiễm, Hiếu Minh Đế yêu cầu cứu viện 1 tướng ở ngoại thành đưa quân đánh vào triều đình để giết Trịnh Nghiễm.

Tuy nhiên, trước khi quân cứu viện vào tới cung, thì chuyện đã tới tai Hồ thái hậu, bà liền hạ độc giết chết Nguyên Hủ Hiếu Minh Đế - người con trai mà bà đứt ruột đẻ ra.

Năm đó, Nguyên Hủ vừa tròn 19 tuổi.

Quân cứu viện hay tin, liền được nước hùng hổ kéo quân vào triều đình để hỏi về cái chết của tiên đế Nguyên Hủ.

Thấy tình hình nguy cấp, Trịnh Nghiễm vội cao chạy xa bay, bỏ mặc người tình Hồ thái hậu bơ vơ.

Bà sợ quá phải xuống tóc đi tu để trốn, nhưng vẫn bị bắt lại.

Kết quả là bà bị dìm nước sông Hoàng Hà cho đến chết.

Kết thúc cuộc đời của 1 người đàn bà nhiều dục tính mà ít nhân tính, tàn nhẫn giết chết chính đứa con ruột của mình chỉ để bảo vệ tình nhân.
 
Trung Quốc Xa Xưa
HOÀNG HẬU VỆ TỬ PHU.


Trong lịch sử Trung Hoa phong kiến, những hoàng hậu có xuất thân là những vũ nữ, ca kỹ không phải là quá hiếm.

Tuy nhiên, những người này đa phần đều là những nữ nhân mưu mô xảo trá, dùng sắc đẹp và tài năng ca hát của mình để quyến rũ hoàng đế, mưu cầu địa vị, quyền lực và sự giàu có cho bản thân.

Duy chỉ có 1 ngoại lệ duy nhất, đó chính là vị hoàng hậu cũng có xuất thân từ một vũ nữ "xướng ca vô loài" thấp hèn trong xã hội lúc bấy giờ, nhưng lại hiền thục nết na, được hoàng đế vô cùng yêu chiều sủng ái, và cũng nhờ vậy mà nàng đã đưa cả gia tộc của mình rạng danh trong thời nhà Hán.

Tuy vậy mà, cũng vì ngôi vị này lại khiến nàng phải chết một cái chết bi thương nhất.

Vị hoàng hậu đó chính là Vệ Tử Phu, 1 ca kỹ có xuất thân bần hàn một bước lên được ngôi mẫu nghi thiên hạ, song lại phải trải qua biết bao nhiêu biến cố, sóng gió chốn hậu cung đầy thị phi và ghen tuông hiểm ác, để ngồi vững ở vị trí hoàng hậu trong suốt 38 năm.

Đồng thời, nàng cũng được coi là hoàng hậu tại vị lâu nhất triều đại nhà Hán.

Tuổi thơ của nàng không được sử sách ghi chép nhiều, chỉ biết mẫu thân của nàng là Vệ Âu, vốn cũng là 1 tỳ nữ lâu năm trong phủ Bình Dương của Bình Dương công chúa.

Vệ Âu vốn là 1 tỳ nữ nhưng lại có tài múa hát, lại có máu lẳng lơ.

Bà đã không ít lần lén lút qua lại với 1 chấp sự trong cung, sinh ra 1 con trai, 1 con gái và người con gái ra đời trong hoàn cảnh "hư thân" của mẹ mình không ai khác chính là Vệ Tử Phu.

Có cha nhưng không được công nhận, nên nàng sinh ra được lấy họ của mẹ.

Cứ thế, Vệ Tử Phu lớn lên trong những năm tháng tuổi thơ cơ cực, nhưng vì sở hữu tài năng ca hát mua vui giống mẹ mình nên nàng nối nghiệp trở thành 1 tỳ nữ ca múa hát trong cung của Bình Dương công chúa.

Trong thời điểm đó, hoàng đế của nhà Hán lúc này chính là Hán Vũ Đế, 18 tuổi đã có hoàng hậu là Trần A Kiều, nhưng vì đã kết hôn từ lâu nhưng Trần A Kiều vẫn không có con nối dõi, điều này đã làm Hán Vũ Đế cùng văn võ bá quan trong cung rất đau đầu.

Và trong 1 lần tình cờ, năm 139 TCN, Hán Vũ Đế đi tuần du về có ghé ngang sang phủ của chị gái mình, chính là công chúa Bình Dương để dự yến tiệc.

Công chúa sai các mỹ nhân trong phủ ra chào nhưng Hán Vũ Đế không để ý đến ai.

Sau đó, công chúa sai Vệ Tử Phu ra múa hát và rót rượu.

Lúc này, Hán Vũ Đế chợt bần thần trước dung mạo hơn người của Vệ Tử Phu, nàng có kỹ năng ca múa phải nói là uyển chuyển dịu dàng, lại vô cùng xinh đẹp.

Chưa kể, mái tóc đen dài mà vẫn rất mượt mà của nàng đã vô tình làm Hán Vũ Đế đắm say ngay trong lần đầu chạm mặt.

Sau đó, Hán Vũ Đế giả vờ đi thay áo để rời tiệc.

Công chúa biết ý, giục Vệ Tử Phu vào hầu hạ.

Vệ Tử Phu được hoàng đế sủng hạnh ngay trong phòng thay đồ.

Rồi khi rời phủ Bình Dương về cung, Hán Vũ Đế cũng mang theo nàng Vệ Tử Phu theo cùng.

Sau đó, cứ tưởng sẽ là chuỗi ngày huy hoàng của Vệ Tử Phu khi từ 1 nữ nhân thấp hèn đã được hoàng đế lâm hạnh rồi sủng ái, mang về cung cho một chút địa vị.

Nhưng không, mới về cung Vệ Tử Phu liền bị hoàng đế làm lơ, không ngó ngàng tới.

Cộng thêm việc hoàng hậu Trần A Kiều biết chuyện giữa chồng mình và Vệ Tử Phu, nên đâm ra ghen ghét.

Bà đã giáng Vệ Tử Phu làm tỳ nữ do mình trực tiếp quản giáo và giao cho nàng làm những công việc khổ cực suốt cả năm trời.

Hơn 1 năm sau, viên thái giám theo lệnh thường niên, chọn ra các cung nữ đã lớn tuổi cho xuất cung về quê.

Vệ Tử Phu thấy mình không còn cơ hội gặp vua, lại sống cảnh khổ cực vất vả nên nàng cũng xin với viên hoạn quan đưa vào danh sách ra khỏi cung.

Tuy nhiên, trước khi các cung nữ rời cung, viên thái giám đưa họ tới gặp Hán Vũ Đế lần cuối để xem mặt.

Trông thấy Vũ Đế, người nàng từng ngưỡng mộ và yêu thương nhưng cũng vô tình đẩy nàng vào hoàn cảnh bi đát, Vệ Tự Phu đã bật khóc.

Thế là gương mặt xinh đẹp, đôi mắt đỏ hoe đầy tình cảm nhưng cũng lắm điều oan khúc đã được Hán Vũ Đế để ý tới và sực nhớ đây chính là cô ca kỹ năm nào mình từng lâm hạnh tại phủ Bình Dương.

Thế là Hán Vũ Đế cho người đưa Vệ Tử Phu về lại cung.

Từ đó, nàng cũng bắt đầu được đắc sủng trở lại.

Không lâu sau, Vệ Tử Phu liền mang long thai, nàng lại càng được hoàng đế sủng ái hơn nữa, có thể nói trong cung lúc này, địa vị của nàng chỉ đứng sau hoàng hậu.

Tuy vậy, do bản tính đố kỵ ghen ghét, lại không thể mang thai cho hoàng đế, vì vậy hoàng hậu Trần A Kiều đã năm lần bảy lượt phối hợp với mẹ mình để hãm hại Vệ Tử Phu nhưng không thành.

Đến năm 130 TCN, hoàng hậu nghe lời của gian thần, dùng thuật vu cổ - 1 loại tà thuật rất nổi tiếng thời Trung Hoa phong kiến để ám hại Vệ Tử Phu.

Song bị Hán Vũ Đế phát giác, Hán Vũ Đế tức giận phế bỏ ngôi vị hoàng hậu của bà.

Và sau khi sinh được cho hoàng đế 3 cô công chúa, thì 2 năm sau, tức năm 128 TCN, Vệ Tử Phu sinh cho ông 1 hoàng tử có tên là Lưu Cứ.

Không lâu sau đó nữa, thì hoàng tử Lưu Cứ được sắc phong làm thái tử, đứng đầu bảng kế vị ngôi hoàng đế sau khi cha mình qua đời.

Còn về phần Vệ Tử Phu thì nàng được phong làm hoàng hậu thay cho Trần A Kiều.

Vì vậy có thể nói, mọi chuyện đến với Vệ Tử Phu như 1 cơ duyên may mắn, từ việc lọt vào mắt xanh của hoàng đế bằng nhan sắc và tài nghệ, cho tới việc được sắc phong hoàng hậu do bị hoàng hậu tiền nhiệm hãm hại.

Tiếp đó, có thể nói là chuỗi ngày huy hoàng mà Vệ Tử Phu hằng mong ước khi được hoàng đế vô cùng sủng ái.

Tuy vậy, suốt những tháng ngày nắm giữ ngôi vị chủ hậu cung, nàng cũng tỏ ra an phận thủ thường, hiền lành nết na, không thị uy quyền lực hay trừng phạt bất cứ một nô tỳ hay thái giám nào.

Vì vậy, hậu cung lúc này, ngoài hoàng đế ra thì nàng còn được lòng của tất cả mọi người.

Chưa kể, cũng nhờ nàng được ân sủng mà tiểu đệ Vệ Thanh của nàng cũng được Hán Vũ Đế trọng dụng, thân cận như một người em vợ thực thụ, thậm chí Vệ Thanh còn được trở thành chồng sau của Bình Dương công chúa.

Ngoài ra, ca ca của Vệ Tử Phu là Vệ Trường Quân cũng nhanh chóng được hoàng đế triệu vào cung, trở thành tay sai đắc lực.

Vậy là từ một kiếp ca kỹ thấp hèn, hoàng hậu Vệ Tử Phu đã góp phần khiến cho cả gia tộc của mình được hưởng vinh hoa phú quý mà có đến nằm mơ cũng khó thấy được.

Nhưng lòng người khó đoán, long ý lại càng khó dò.

Khi Hán Vũ Đế về già, tâm tính ông thay đổi, trở thành một con người hoàn toàn khác, điều này vô tình đã đẩy hoàng hậu đoan thục Vệ Tử Phu ngày nào phải tự tìm đến cái chết trong đau thương.

Về già, Hán Vũ Đế đổi khác, trở thành ông vua suốt ngày chỉ biết hưởng lạc.

Về phần mình, Vệ Tử Phu tuy đi theo ông nhiều năm, lại chưa từng có 1 lần làm ông giận, tính khí của nàng lại không bon chen, lúc nào cũng nết na thùy mị nhưng thời gian trôi qua, nàng cũng sớm không còn trẻ đẹp như trước.

Hán Vũ Đế bắt đầu chán nàng và sủng ái những phi tần trẻ đẹp khác.

Vào những tháng năm này, Hán Vũ Đế bắt đầu có cái tính mê tín dị đoan.

Và trong 1 lần nghe lời gian thần rằng có người đang muốn diệt đế cướp ngôi, ông liền cho người đi điều tra.

Sau đó, ông hiểu lầm con trai Lưu Cứ của mình chính là người âm mưu hại cha, vì vậy ông tức giận truất ngôi thái tử, sai người bắt Lưu Cứ.

Biết chuyện, Lưu Cứ bỏ trốn khỏi cung, sống ngoài thành Trường An.

Chưa nguôi cơn giận vì Lưu Cứ bỏ trốn được, ông liền quay sang trút giận lên người Vệ Tử Phu.

Ông sai người tịch thu phụng ấn của hoàng hậu, cắt hết bổng lộc của gia tộc họ Vệ.

Hoàng hậu uất ức, liền tìm tới cái chết bằng cách tự sát.

Thế là gia tộc họ Về một thời lẫy lừng bị diệt vong.

Thi hài Vệ Tử Phu chỉ được an táng một cách vội vã với 1 áo quan nhỏ bên vệ đường phía đông cạnh đại lộ bên ngoài thành Trường An.

Đây có thể nói là một cái kết bi thảm nhưng đầy oan khuất của một vị hoàng hậu có xuất thân ca kỹ, lại đoan chính, hiền thục hơn người, tại vị ngôi Quốc mẫu lâu nhất trong triều đại nhà Hán lên tới 38 năm.
 
Trung Quốc Xa Xưa
HOÀNG HẬU VỚI CHIÊU ĐÁNH GHEN ĐỘC NHẤT TRONG LỊCH SỬ TRUNG HOA.


Có lẽ cho đến tận ngày nay, thông tin về tam cung lục viện có hàng trăm mỹ nữ của các hoàng đế Trung Hoa không còn làm chúng ta quá bất ngờ.

Và tất nhiên, thời nào cũng vậy, người ta nói nữ nhân một khi đã sống chung với nhau thì có khối chuyện xảy ra, thì nói chi đến hàng trăm phi tần chốn hậu cung lại chung chồng và đua nhau tranh sủng, nào là đố kỵ, ghen ghét, thậm chí là đánh ghen diễn ra mỗi ngày khiến hậu cung vô tình trở thành 1 chiến trường mà người thường bên ngoài ít được biết đến.

Những màn đánh ghen đó, có lẽ chúng ta đã biết phần nhiều, nào là phá thai, nào là vu khống hãm hại đối thủ, cho đến dùng thuốc độc kết liễu mạng sống của tình địch cũng không phải hiếm.

Tuy nhiên, giữa những trò đánh ghen cay độc đẫm máu đó, cũng có không ít màn đánh ghen phải gọi là...văn minh hơn, không máu me, không bạo lực như màn đánh ghen có một không hai của vị hoàng hậu triều đại Nam - Bắc Triều của Trung Hoa phong kiến dưới đây, nhưng cái giá phải trả cho màn đánh ghen này quá đắt.

Vị hoàng hậu đó không ai khác chính là Viên hoàng hậu.

Sử sách không ghi chép nhiều về lai lịch cũng như tuổi thơ của bà, chỉ biết bà có tên là Viên Tề Quy, sinh vào khoảng năm 405 trong một gia đình quan viên, với cha là Viên Đam, mẹ là Viên thị.

Bà được hứa hôn từ nhỏ với Lưu Nghĩa Long hoàng tử (tức Lưu Tông Văn Đế sau này) bởi cha bà và Lưu Tông Vũ Đế - cha của Lưu Nghĩa Long là 2 người bạn rất thân thiết.

Việc hứa hôn này luôn là 1 việc phải nói là hết sức bình thường vào thời đó.

Sau này chính thức kết hôn, bà trở thành Hoàng tử phi và được chồng yêu thương hết mực.

Sau đó, Lưu Tông Vũ Đế qua đời vào năm 422, huynh trưởng của Lưu Nghĩa Long là thái tử Lưu Nghĩa Phù lên ngôi, lấy hiệu là Lưu Tông Thiếu đế.

Tuy nhiên, chưa tròn 2 năm sau, Lưu Tông Thiếu đế bị một số quan đại thần phế vị, vì cho rằng ông không đủ khả năng trị nước, chỉ lo ham chơi suốt ngày.

Và thế là Lưu Nghĩa Long chính thức lên ngôi, lấy hiệu là Lưu Tông Văn Đế, còn Viên Tề Quy chính thức trở thành mẫu nghi thiên hạ.

Bà hạ sinh cho chồng được 2 người con là thái tử Lưu Thiệu và công chúa Lưu Anh Nga.

Câu chuyện cuộc đời bà có thể nói là yên ả và bình thường trong khoảng thời gian này, vì trước sau chồng bà vẫn yêu thương bà hết mực, sủng ái và vô cùng chiều chuộng bà.

Tuy nhiên, sóng gió kéo tới khi có sự xuất hiện của một phi tần khác, chính vị phi tần này là nguồn cơn của đòn đánh ghen "hòa bình" của Viên hoàng hậu, khiến bà phải trả giá bằng chính mạng sống của mình.

Vị phi tần kia chính là Phan Thục phi, một người phụ nữ nham hiểm nhưng rất khéo léo, có tài ăn nói lại trẻ trung xinh đẹp muôn phần, ăn đứt chánh cung hoàng hậu Viên thị.

Vì thế, dù mới vào cung, Phan Thục phi rất được Lưu Tông Văn Đế sủng ái.

Về phần Phan thị thì ngoài ngọt nhạt để lấy lòng hoàng đế, cô ta còn có một sở thích khác đó chính là châm chọc Viên thị hoàng hậu.

Ả luôn ba hoa khắp tam cung lục viện về tình yêu và sự sủng ái của Lưu Tông Văn Đế dành cho mình, có lần ả còn nói rằng, sẽ có ngày mình soán được ngôi hoàng hậu và leo lên vị trí mẫu nghi thiên hạ.

Một lần, trước mặt Viên hoàng hậu, Phan Thục phi khoe rằng, một khi cô ta cần tiền thì hoàng đế sẽ không bao giờ từ chối, dù số tiền cô ta muốn là bao nhiêu.

Hoàng hậu Viên thị vô cùng tức giận, vì bình thường, bà biết chồng Lưu Nghĩa Long Văn Đế của mình là người rất tiết kiệm, mỗi lần ban cho hoàng hậu chỉ được khoảng vài ba vạn đồng là nhiều thì hà cớ gì có thể tặng cho Thục phi một số lượng tiền bất kể số lượng kia.

Để giải tỏa sự ngờ vực và ấm ức trong lòng, đồng thời muốn làm bẽ mặt Phan Thục phi vì cô ta dám nói xằng nói bậy về chồng, hoàng hậu Viên thị liền bày kế thử lòng Lưu Nghĩa Long.

Hoàng hậu mượn danh của Phan Thục phi ngỏ ý đòi hoàng đế cho 30 vạn đồng, số tiền phải nói là gấp 10 lần Lưu Nghĩa Long hay ban cho hoàng hậu.

Ngờ đâu, chẳng mấy chốc sau đó Lưu Nghĩa Long đã đưa ngay đến 30 vạn đồng không thiếu một xu nào.

Và rồi, Viên hoàng hậu nhìn số tiền mà thẫn thờ, uất nghẹn không nói nên lời.

Từ đó, cho hả cơn giận chồng, bà cho người báo với Lưu Nghĩa Long rằng mình đang mang bệnh nặng, không muốn gặp ai, cũng không muốn nói chuyện với bất kỳ ai.

Bà luôn tìm cách tránh gặp mặt Lưu Nghĩa Long, ông đến cung thì bà đóng cửa, ông cho gọi thì bà cáo bệnh, ông xuất hiện ở đâu thì bà tránh tới nơi đó.

Chưa kể cơn giận của bà còn lây sang tới người con trai thái tử, bà đã tránh gặp mặt và nói chuyện với con luôn.

Và suốt những tháng ngày vì giận chồng, sống trong nỗi cô đơn buồn bã, không giao thiệp, tiếp xúc hay ăn uống gì nhiều, bà đã lâm bệnh nặng và qua đời.

Thậm chí, tới tận khi nhắm mắt xuôi tay, bà vẫn kiên quyết không làm hòa với người chồng hoàng đế của mình.

Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Văn Đế Lưu Nghĩa Long nắm chặt tay hoàng hậu Viên thị, hỏi bà có muốn nhắn nhủ điều gì với ông không, nhưng bà chỉ nhìn chồng bằng ánh mắt căm hờn, rồi kéo chăn che kín mặt, kiên quyết không thèm nhìn mặt ông.

Bà qua đời khi chỉ mới 36 tuổi.

Sau khi Viên hoàng hậu qua đời, nghe kể lại cơ sự về cái chết của mẹ mình, thái tử Lưu Thiệu rất giận dữ và thề quyết tâm trả thù cho mẹ mình.

Thái tử đã bày mưu tạo phản không lâu sau đó, tự tay giết chết cha ruột và vị Phan Thục phi nham hiểm ngày nào.

Cái giá phải trả cho đòn đánh ghen có một không hai trong lịch sử Trung Hoa này phải nói là quá đắt.

Thế đấy, thời nào cũng vậy, dù hoàng hậu, cung tần mỹ nữ hay nữ tử dân thường đi chăng nữa thì cũng đều là đàn bà, cũng đều biết giận hờn và ghen tuông.

Nhưng im lặng đến chết có lẽ là đòn đánh ghen vừa độc vừa lạ, lại vừa hiếm có ai dám làm.

Bởi khi im lặng là tự chuốc vào mình những nỗi uất ức, buồn bã và những cơn giận dữ thấu trời xanh không sao xả ra được để gây đòn tâm lý khiến đối phương phải bị giày vò về mặt tinh thần, cuối cùng ai cũng phải trả giá và cái giá lại rất đắt, chính là mạng sống.
 
Trung Quốc Xa Xưa
5 NGƯỜI PHỤ NỮ XẤU XÍ NHẤT TRUNG HOA.


Nếu như Tứ đại mỹ nhân trong thời phong kiến Trung Hoa đại diện cho 4 người phụ nữ đẹp nhất trần đời có dung mạo khiến "hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh", thì trái lại, Ngũ đại xú nhân là một mục xếp hạng để chỉ ra 5 người phụ nữ xấu xí nhất trần đời.

Tuy nhiên, ngoài vẻ xấu xí đó thì 5 người phụ nữ này lại có tài năng, đức độ được nhiều người thuộc nhiều thời đại ca ngợi.

Không chỉ vậy, thậm chí có người còn trở thành hoàng hậu mà phò tá giúp vua giữ nước.

Vậy 5 người phụ nữ đó là ai?

CHUNG VÔ DIỆM.

Chung Vô Diệm có tên thật là Chung Li Xuân, người đất Vô Diệm (nay thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc).

Bà có tên thường gọi là Chung Li Vô Diệm, là vợ của Tề Tuyên Vương Điền Tịch Cương, tức là hoàng hậu nước Tề thời Chiến quốc.

Nhan sắc xấu xí của bà được sử sách ghi lại như sau: "Chung hậu sinh ra trán cao, mắt sâu, bụng dài, chân thô, mũi hếch, xương cổ lòi ra, cổ to, tóc thưa, bụng phệ, lưng gù, da đen đúa...".

Tuy nhiên trái với vẻ ngoài không được ưa mắt này, bà lại là 1 người phụ nữ vô cùng thông minh, thường xuyên phò tá và làm quân sư cho chồng trong việc trị nước, chống giặc giữ cả giang sơn.

Thế nhưng câu chuyện về việc trở thành hoàng hậu của bà hiện vẫn gây ra khá nhiều tranh cãi, hình thành 2 giai thoại đáng tin cậy.

Giai thoại thứ nhất cho rằng Tề Tuyên vương là 1 ông vua háo sắc, vì vậy ngay từ lần đầu gặp Chung Vô Diệm, lúc này bà đang xin tiến cung thì ông tỏ ra khinh khi, từ chối, ấy vậy mà bà đã can đảm quỳ xuống và nói rõ ra tất cả những thói hư tật xấu của Tề Tuyên Vương khiến ông bừng tỉnh.

Nhận ra bà là 1 người phụ nữ đặc biệt dù cho vẻ ngoài xấu xí, thế là ông liền đưa bà trở thành hoàng hậu.

Giai thoại thứ 2 nói rằng thực chất trước khi tiến cung làm vương hậu của Tề Tuyên Vương bà là người rất xinh đẹp.

Do từ nhỏ đã theo kỳ nhân dị sĩ học đạo nên Chung hậu đã luyện "Tuyệt tình công", tức là đoạn tuyệt mọi tình cảm trai gái.

Sau này vì bà nảy sinh tình cảm với Tuyên Vương, phạm vào điều cấm kỵ của tu đạo nên Chung Vô Diệm phải gánh chịu hậu quả là trên má trái của bà xuất hiện 1 cái bớt đỏ, khiến gương mặt xinh đẹp của bà trở nên xấu xí.

HOÀNG NGUYỆT ANH.

Hoàng Nguyệt Anh chính là vợ của Khổng Minh Gia Cát Lượng thời Tam quốc.

Theo sử liệu ghi chép, nhan sắc của bà không được đề cập nhiều, chỉ nói rằng bà là 1 người phụ nữ xấu xí với mái tóc vàng và nước da đen đúa.

Cũng có sách tả bà dáng người cao, thon thả nhưng mặt đen đúa đầy mụn nhọt trông rất khó coi.

Sách khác lại tả bà hình dáng thô kệch, thấp bé đen gầy, khuôn mặt đầy rỗ.

Tuy nhiên lại có thuyết kể rằng, Hoàng Nguyệt Anh thực ra là người phụ nữ vô cùng xinh đẹp, nhưng mỗi khi ra ngoài bà đều mang mặt nạ để tránh gây sự chú ý.

Bỏ qua hết những vẻ ngoài trên, thì Hoàng Nguyệt Anh là 1 người phụ nữ rất dịu dàng và chu đáo.

"Khổng Minh đại truyện" ghi rõ, thừa tướng Gia Cát sau khi xuất sơn, mọi việc ở nhà đều được Gia Cát phu nhân chu toàn tất cả, vợ chồng kính nhau như khách, chưa bao giờ xảy ra mâu thuẫn hay xung đột gì.

Nếu không nhờ có bà làm hậu phương vững chắc phía sau, Khổng Minh tiên sinh chưa chắc đã có thể toàn tâm phù trợ cho Lưu Bị.

Thế mới biết câu "tề gia trị quốc bình thiên hạ" là một thứ tự có cơ sở.

MÔ MẪU.

Mô Mẫu có thể coi là người phụ nữ xấu nhất Trung Hoa cổ đại, với sử sách ghi chép lại chỉ dùng vài chữ để khắc họa dung nhan của bà trong quyển "Tứ tử giảng đức luận" của Vương Tứ Uyên đời Hán như sau: "Mô Mẫu người lùn tịt, mặt rỗ chằng chịt!".

Thậm chí, trong lịch sử Trung Hoa, người ta còn ví bà với quỷ dạ xoa, nhưng bà là người hiền đức, thông minh hơn người.

Chính vì vậy, hoàng đế đã lấy bà làm vợ.

Trong "Cửu chương, tích vãn nhật", Khuất Nguyên đã đánh giá Mô Mẫu rất cao về đức độ, trí thông minh cũng như là tấm lòng nhân hậu của bà.

Thậm chí bà còn được nhiều người phụ nữ đương thời kính trọng.

Một số giai thoại xưa cũng có nói, Hoàng đế đánh bại Viêm đế, diệt Xi Vưu, đều có công của Mô Mẫu giúp đỡ bên trong.

Cũng có giai thoại nói rằng, Mô Mẫu còn là người phụ nữ đầu tiên trên thế giới làm ra chiếc gương soi.

MẠNH QUANG.

Tương truyền, Mạnh Quang là vợ của Lương Hồng, đồng thời bà còn là người phụ nữ xấu xí với dáng người to béo, da dẻ lại ngăm đen; thậm chí bà còn có sức mạnh ngang với đàn ông khi bê nổi cả một cối đá.

Trong khi đó, người chồng Lương Hồng của bà là một người vô cùng có danh tiếng về trí tuệ.

Trước khi lấy vợ, có rất nhiều con gái nhà danh giá muốn gả cho ông, ông đều từ chối và chỉ lấy Mạnh Quang về làm vợ.

Trung Quốc có câu "Cử án tề mi" (dâng mâm lên ngang mày) chính là câu chuyện trong đời sống vợ chồng của Lương Hồng và Mạnh Quang.

Mỗi lần Lương Hồng đi làm về, nàng Mạnh Quang lo cơm nước chu tất, dâng thức ăn ngang mày mời chồng ăn.

Nói thế để thấy, đôi khi nhan sắc không là gì cả trong mối quan hệ hôn nhân gắn kết bất kể thời nào.

Sau ngày cưới, Mạnh Quang bỏ khăn che mặt, mặc quần áo hàng ngày để làm việc nhà.

Cũng có khi, nàng cùng chồng lên núi ở, chồng cày cấy, vợ dệt vải, ngày ngày ngâm thơ đàn hát, sống cuộc sống thanh bần mà hạnh phúc.

NGUYỄN THỊ.

Nguyễn thị vốn là con gái của Nguyễn Đức Uy, không rõ tên thật là gì, sử sách cũng không ghi chép nhiều về dung mạo của bà; tuy nhiên nằm trong "ngũ xú" này thì chắc chắn bà cũng phải là một người có nhan sắc kém xinh.

Kém xinh tới mức, tương truyền bà được gả cho Hứa Doãn, và vào đêm tân hôn, bà đã khiến Hứa Doãn phải bỏ chạy nhiều lần vì dung mạo "kinh dị" của mình.

Tuy nhiên, trong một lần ngồi lại bên vợ, Hứa Doãn có hỏi Nguyễn thị rằng: "Trong tứ đức thì nàng có mấy đức?".

Nguyễn thị trả lời: "Thiếp chỉ thiếu đức dung".

Sau đó, Nguyễn thị lại hỏi Hứa Doãn: "Người quân tử có 100 đức, chàng có được bao nhiêu đức?".

Hứa Doãn trả lời: "Ta có đủ 100 đức".

Nguyễn thị nói: "Trong 100 đức, chữ đức đứng đầu.

Chàng ham sắc mà khinh tài, vậy có thể coi là đủ một trăm đức không?".

Hứa Doãn không nói được gì và từ đó về sau chàng yêu mến và quý trọng vợ hơn bởi màn đối đáp tài tình ngày nào.
 
Trung Quốc Xa Xưa
MỸ NHÂN LÀM HẬU HAI NƯỚC KHÁC NHAU: LẬP 7 LẦN, PHẾ 5 LẦN.


Theo sử liệu ghi lại, thì dưới thời Tây Tấn, ở đất nước Trung Hoa cổ đại xảy ra rất nhiều biến cố, nhất là những biến cố trong chốn cung cấm.

Trong số đó, việc hoàng hậu Giả Nam Phong - người phụ nữ được xếp hàng xấu xí và tàn ác bậc nhất trong lịch sử Trung Hoa, lộng hành triều chính, hoang dâm vô độ được xem là vết nhơ to lớn nhất ở triều đại này.

Tuy nhiên, may mắn thay, sau khi bị giết, vị trí hoàng hậu của bà ta đã được thay bằng một mỹ nhân thích hợp hơn, với xuất thân danh giá, dung mạo tuyệt trần cùng cốt cách hơn người.

Nói tóm lại, vị mỹ nhân này hoàn toàn phù hợp để trở thành mẫu nghi thiên hạ.

Ấy vậy mà người đời có câu "hồng nhan bạc phận" quả không sai, bởi ngay khi ngồi vào vị trí hoàng hậu thay cho Giả Nam Phong, cuộc đời của nàng vô tình bị ứng vận vào hai chữ "truân chuyên".

Vị hoàng hậu này chính là Dương Hiến Dung, vợ của Tấn Huệ Đế.

Nàng sinh năm 280, trong 1 gia đình quyền quý mấy đời làm quan trong triều đình.

Ông nội của nàng làm quan tới chức Thượng thư Hữu bốc xạ thời Tấn Vũ Đế, cha của nàng cũng làm đến chức Thượng thư lang.

Chính vì có xuất thân như vậy nên ngay khi Giả Nam Phong bị trừ khử, ngay lập tức, nàng được đưa vào cung để thay thế cho vị trí hoàng hậu.

Chỉ tiếc là khi được gả vào cung làm hoàng hậu, nàng đang ở tuổi 20 - lứa tuổi phải nói là xuân sắc nhất của cuộc đời của một người con gái, trong khi chồng nàng là Tấn Huệ Đế đã bước sang tuổi 40.

Đã vậy, vị hoàng đế này còn mắc bệnh ngờ nghệch bẩm sinh, suốt ngày chỉ biết khóc cười ngớ ngẩn.

Thế nên, có thể nói ngay từ đầu dù có được vị trí mà bao nữ nhân cùng thời mơ ước, nhưng nàng đã thiệt thòi khi không có được niềm hạnh phúc của một người vợ, một người mẫu nghi thực sự.

Có lẽ, điều này đã sớm được báo ngay trước vào ngày nàng bước lên kiệu hoa để nhập cung.

Sử sách chép lại, vào đúng ngày tổ chức lễ rước Dương Hiến Dung vào cung đã xảy ra 1 chuyện rất kỳ lạ.

Khi cô dâu mặc xong lễ phục và chuẩn bị vào cung thì bỗng nhiên chiếc áo cưới bốc cháy ngùn ngụt.

Mọi người dự lễ đều hoảng hốt xông vào ứng cứu.

Rất may không có ai bị thương, song những người có mặt đều lo sợ cho rằng đây chính là điềm báo không hay cho cuộc đời của Dương Hiến Dung sau này.

Thật vậy, điềm báo xấu về cuộc đời của Dương Hiến Dung không chỉ dừng lại ở việc làm vợ của 1 hoàng đế già mà nó liên tục tiếp diễn chỉ sau 1 năm nàng nhập cung.

Vào năm 301, Triệu vương Tư Mã Luân - người nắm thực quyền trong triều đình lúc bấy giờ muốn "sát long đoạt vị" nên đã âm thầm sai người bắt Tấn Huệ Đế và Dương Hiến Dung giam vào ngục, ép Tấn Huệ Đế phải thoái vị nhường ngôi cho hắn.

Cùng với đó, Dương Hiến Dung bị mất ngôi vị hoàng hậu lần thứ nhất.

Khi sự việc này tới tai của gia tộc Tư Mã liền khiến nhiều người tức giận, họ cho rằng đây là 1 hành động "khi quân phạm thượng" làm xấu mặt gia tộc.

Thế là nhanh chóng, gia tộc Tư Mã với sự dẫn đầu của các thân vương gồm Thành đô vương Tư Mã Dĩnh, Tề vương Tư Mã Quýnh, Trường Sa vương Tư Mã Nghệ phát binh tấn công kinh thành Lạc Dương.

Tư Mã Luân thất bại, bị giết.

Tề vương cho đón Huệ Đế và Dương hậu về cung phục vị.

Những tưởng mọi chuyện đã êm đẹp trở lại thì 3 vị thân vương trên lại nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp quyền lực lẫn nhau khiến nội bộ gia tộc Tư Mã đã xảy ra không ít cuộc chiến đẫm máu.

Cuối cùng, năm 303, sau khi giết chết được 2 người anh em của mình, Tư Mã Dĩnh chính thức trở thành người nắm quyền thực sự của triều đình lúc bấy giờ.

Sau đó, hắn ép Tấn Huệ Đế phải phế truất ngôi vị của Dương Hiến Dung, đưa nàng từ mỹ nhân có vị trí cao quý trở thành thường dân.

Và rồi nỗi buồn này chưa nguôi thì nỗi đau khác ập tới.

Trong khoảng thời gian bị phế truất lần 2 này, Dương Hiến Dung hay tin cha mẹ mình bị giết chết ở quê nhà.

Nhưng không lâu sau đó, Tư Mã Dĩnh bị nhiều người phò tá cho hoàng đế đánh bại, Tấn Huệ Đế liền đưa Dương Hiến Dung về cung, khôi phục ngôi vị hoàng hậu cho nàng.

Sóng gió vẫn chưa dừng lại, Tư Mã Dĩnh lại một lần nữa khởi binh phục phù sau khi bị đánh bại chưa lâu khiến cho chốn cung cấm tiếp tục binh biến.

Lần này, dưới sự hỗ trợ của quân đồng minh do Tư Mã Ngung dẫn đầu, Tư Mã Dĩnh đã chiến thắng.

Tuy nhiên lúc này, quyền lực lại rơi vào tay của Tư Mã Ngung, và chẳng hiểu vì lý do gì, Tư Mã Ngung tiếp tục ép Tấn Huệ Đế phế truất Dương Hiến Dung, làm nàng đánh mất ngôi vị hoàng hậu lần thứ 3.

Về sau, Tư Mã Ngung thấy thành Lạc Dương bị tàn phá, không đủ lương, bèn mang Tấn Huệ Đế về Trường An, đồng thời lấy Trường An làm kinh đô.

Tháng 11 năm 304, tại Trường An, Tư Mã Ngung cho phép Dương Hiến Dung phục vị ngôi hoàng hậu.

Nhưng đến tháng 1 năm 305, sau khi được phục vị chưa lâu, Dương Hiến Dung thêm 1 lần nữa bị Tư Mã Ngung ép Tấn Huệ Đế phế truất mà không rõ lý do.

Đây là lần thứ 4 nàng bị phế.

Tới tháng 11 cùng năm, tướng Chu Quyền tiến vào thành Trường An giải cứu thành công Tấn Huệ Đế khỏi sự kiềm kẹp của Tư Mã Ngung.

Ngôi vị hoàng hậu cho Dương Hiến Dung cũng vì vậy mà được khôi phục.

Sau đó, thủ hạ của Tư Mã Ngung dẫn quân phục thù Chu Quyền.

Chu Quyền bại trận, Tư Mã Ngung phế truất Dương Hiến Dung lần thứ 5.

Thậm chí lần này, nàng còn suýt bị hạ độc giết chết.

Đến cuối năm 305, Đông Hải vương Tư Mã Việt giành thắng lợi trong cuộc giao tranh với Tư Mã Ngung, giải cứu Tấn Huệ Đế, chuyển kinh đô về lại Lạc Dương.

Đến tháng 6 năm 306, Tư Mã Việt hạ lệnh phục lại ngôi vị hoàng hậu cho Dương Hiến Dung.

Lần này, cứ tưởng sau 6 lần lập, 5 lần phế, cuộc đời của vị hoàng hậu xinh đẹp này sẽ có được sự bình yên về sau nhưng chẳng bao lâu sau, biến cố lại ập đến khi chính Tư Mã Việt đã hạ độc giết chết Tấn Huệ Đế.

Tiếp đó, Hoàng thái đệ Tư Mã Xí được nối ngôi trở thành hoàng đế, lấy hiệu Tấn Hoài Đế.

Và vì Dương Hiến Dung không phải mẹ ruột của tân đế nên nàng không được trở thành Hoàng thái hậu, từ đó trở đi nàng chuyển sang Hoàng Huấn cung sinh sống.

Nhưng vì trải qua bao cuộc nội chiến của gia tộc Tư Mã, nên dù có lên ngôi hoàng đế đi chăng nữa, Tấn Hoài Đế vẫn không thể nào cứu vãn được tình trạng lụng bại của vương triều Tây Tấn.

Nó cứ yếu dần yếu dần cho đến năm 311, sau khi Tấn Hoài Đế lên ngôi được 5 năm, hậu duệ Hung Nô đã sáng lập đế quốc Hán Triệu là Lưu Diệu đã triệt hạ được kinh đô Lạc Dương, bắt sống Tấn Hoài Đế.

Tiếp đó, Lưu Diệu vì nghe danh cựu hoàng hậu triều Tây Tấn - Dương Hiến Dung nổi tiếng xinh đẹp, quyền quý từ lâu nên liền nạp nàng trở thành thiếp của mình.

Từ đó, cuộc sống của Dương Hiến Dung bước sang một trang mới, hạnh phúc hơn, bình yên hơn.

Không chỉ vậy, bằng sự khéo léo trong cách ăn nói nên Dương Hiến Dung càng ngày càng khiến cho Lưu Diệu sủng ái mình hơn.

Nàng còn sinh cho Lưu Diệu 3 người con là Lưu Hi, Lưu Tập và Lưu Xiển.

Đến năm 318, hoàng đế nhà Hán Triệu là Lưu Thông qua đời, Lưu Diệu thân là tướng quân nên đứng ra dẫn quân dẹp loạn, xong ông còn tự mình xưng đế và lập Dương Hiến Dung trở thành hoàng hậu.

Đây cũng chính là lần thứ 7 nàng được ngồi vào vị trí mẫu nghi thiên hạ.

Đồng thời, sự kiện này cũng khiến nàng trở thành mỹ nhân duy nhất trong lịch sử Trung Quốc phong kiến là hoàng hậu của 2 quốc gia khác nhau.

Cuộc đời của nàng cứ thế trôi đi trong bình yên và quyền quý cho đến năm 322 thì qua đời, thọ 42 tuổi.
 
Trung Quốc Xa Xưa
"MẬT THƯ" TIẾT LỘ NỖI ÁM ẢNH LỚN NHẤT CỦA TẦN THỦY HOÀNG.


Các nhà nghiên cứu tìm thấy "mật thư" tiết lộ Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc, đã từng ra lệnh ráo riết tìm kiếm thuốc trường sinh vì ám ảnh về sự bất tử.

Theo đó, phát hiện khảo cổ mới này đã góp phần làm sáng tỏ bí ẩn về công cuộc tìm kiếm sự sống vĩnh cửu của Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế có ảnh hưởng rất lớn trong lịch sử Trung Quốc và là người tạo ra đội quân đất nung kỳ bí trong lăng mộ để đời của mình.

Tân Hoa Xã đưa tin, các nhà khảo cổ phát hiện thấy 1 bộ thẻ gỗ ở tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc có chứa mệnh lệnh từ hoàng đế Tần Thủy Hoàng, yêu cầu về việc tìm kiếm thuốc trường sinh trên phạm vi quy mô toàn đất nước, cùng với nhiều tấu sớ phản hồi từ các quan lại địa phương.

Thẻ gỗ được xâu chuỗi với nhau bằng dây buộc.

Đây là kỹ thuật viết chữ và lưu giữ văn bản phổ biến nhất ở Trung Quốc cổ đại trước khi ra đời giấy viết.

Zhangchunlong, một nhà nghiên cứu ở Viện khảo cổ Hồ Nam cho biết rằng, chiếu chỉ về tham vọng bất tử của hoàng đế được truyền đến tất cả vùng biên giới xa xôi và những ngôi làng hẻo lánh nhất.

Ông Zhang nhận định: "Việc xây dựng chính quyền tập trung dưới thời Tần Thủy Hoàng không hề dễ dàng và việc truyền tải thông điệp và mong muốn của hoàng đế trên phạm vi toàn đất nước ở thời cổ đại đòi hỏi nỗ lực rất nhiều, trong khi mạng lưới giao thông và thông tin liên lạc vẫn còn khá thô sơ và chưa phát triển".

Sau khi tiến hành nghiên cứu 36.000 thẻ gỗ tìm thấy ở đáy một giếng nước tại tỉnh Hồ Nam vào năm 2002, các khảo cổ học không chỉ phát hiện thấy sắc lệnh tìm kiếm thuốc trường sinh mà còn lộ diện cả những tấu sớ ngượng ngùng, bối rối của các quan lại địa phương, những người phải chật vật và lo sợ tìm cách đáp ứng yêu cầu của hoàng đế.

Cụ thể, 1 ngôi làng có tên Duxiang trình tấu lên Tần Thủy Hoàng về việc không thể tìm thấy loại thuốc trường sinh, nhưng vẫn đang tiếp tục cho người tìm kiếm.

Một ngôi làng khác tên là Langya (ngày nay thuộc tỉnh Sơn Đông) thì lại trình báo rằng loại thảo mộc được hái trên "một ngọn núi lành ở địa phương" có thể có tác dụng trường sinh.

Sinh năm 259 TCN và lên ngôi từ khi còn rất nhỏ, Tần Thủy Hoàng trở thành vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc, được lịch sử ca ngợi với công lao thống nhất 6 nước chư hầu, chấm dứt hơn 200 năm binh đao loạn lạc.

Ngoài ra, Tần Thủy Hoàng cũng là người xây dựng và thống nhất hệ thống đo lường, mạng lưới giao thông và hợp nhất tiền tệ cách đây khoảng 2200 năm.

Tuy rất nỗ lực nhưng mong ước bất tử của Tần Thủy Hoàng lại không thành hiện thực.Ông qua đời vào năm 210 TCN, sau 11 năm thống nhất giang sơn, trị vì đất nước Trung Hoa rộng lớn.

Mặc dù nhà Tần chỉ tồn tại trong thời gian ngắn nhưng cũng ghi được những dấu ấn đậm nét như xây dựng hệ thống y tế phức tạp, chữa trị được nhiều loại bệnh, dù bệnh nhân hầu hết chỉ là người thuộc tầng lớp giàu có.

Zhou Qi, trợ lý nghiên cứu tại Viện khoa học Trung Quốc cho biết những người ở thời đó đã biết các phương pháp điều trị khác nhau của y học cổ truyền Trung Quốc như bấm huyệt, châm cứu, sử dụng thảo mộc làm thuốc trị bệnh...

Phát hiện về thánh chỉ tìm kiếm thuốc trường sinh của các nhà khảo cổ học còn hé mở mô hình chính quyền tập trung mà Tần Thủy Hoàng dày công xây dựng khi ông trở thành hoàng đế đầu tiên thống nhất Trung Hoa.

Triều đại nhà Tần vốn để lại rất ít những tài liệu, ghi chép cụ thể.

Do đó, phát hiện mới này đã làm sáng tỏ phần nào về những bí ẩn của lịch sử y học Trung Quốc thời cổ đại và lấp đầy một số nghi vấn về các khoảng trống liên quan đến việc quản trị và điều hành đất nước của hoàng đế.

Không chỉ nối tiếng với ảo vọng bất tử, Tần Thủy Hoàng còn là ông hoàng của những công trình xây dựng quy mô lớn, kỳ vĩ, bí ẩn và có một không hai trên thế giới.

Trong số đó, nổ tiếng bậc nhất là Vạn lý trường thành và khu lăng mộ khổng lồ dưới lòng đất ở phía bắc núi Ly Sơn, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc.

Đặc biệt, lăng mộ khổng lồ và vô cùng phức tạp của Tần Thủy Hoàng đến nay vẫn còn rất nhiều bí ẩn mà các nhà khảo cổ học, sử gia và nhà khoa học chưa thể lý giải.

Cụ thể, đội quân đất nung gồm hơn 8000 binh sĩ với kích thước như người thật và những vũ khí trang bị có sức sát thương lớn trong lăng mộ vẫn còn không ít bí ẩn mà các nhà nghiên cứu chưa tìm ra.

Thậm chí, kể từ khi phát hiện lần đầu năm 1974, các chuyên gia thật sự vẫn chưa khám phá hết bí ẩn về đội quân đất nung được coi là lực lượng bảo vệ hoàng đế Tần Thủy Hoàng ở thế giới bên kia.

Cuộc đời và lăng mộ kỳ bí, hoành tráng của Tần Thủy Hoàng thực sự vẫn còn là một nghi vấn quá lớn cho hậu thế.
 
Trung Quốc Xa Xưa
BÍ ẨN NHỮNG CÁI BẪY TRONG LĂNG MỘ HƠN 2000 NĂM CỦA TẦN THỦY HOÀNG.


Không ít giai thoại về dòng sông thủy ngân và những cái bẫy hiểm hóc ở bên trong nơi yên nghỉ của vị hoàng đế đầu tiên của Trung Hoa vẫn còn là bí ẩn mà hậu thế chưa thể chạm tới.

Cuộc đời hiển hách, quyền lực và đầy tham vọng của Tần Thủy Hoàng luôn có sức hút rất lớn đối với hậu thế và các nhà nghiên cứu trên thế giới.

Có lẽ vì vậy mà dù đã ra đi hơn 2000 năm nhưng lăng mộ của vị hoàng đế khét tiếng trong lịch sử Trung Quốc vẫn không tránh được mọi phiền toái của những con người tò mò.

Trên thực tế, kể từ cơ duyên phát hiện đội quân đất nung lần đầu tiên vào năm 1974, các nhà khảo cổ, sử gia và không ít các nhà khoa học đã rất cố gắng nhưng mới khai quật thấy hơn 8000 bức tượng binh sĩ và nhiều đồ tạo tác trong lăng mộ.

Thậm chí, những bức tượng đất nung có gương mặt chẳng ai giống ai và nhiều cổ vật quý giá cũng chưa được giải mã hết.

Tìm kiếm hơn 40 năm, nhưng các nhà nghiên cứu vẫn chưa thể chạm tới ngọn đồi nơi có cung điện nguy nga đặt thi hài của hoàng đế Tần Thủy Hoàng.

Điều này không chỉ cần sự cho phép của chính quyền Trung Quốc mà còn phụ thuộc vào sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật.

Bởi vì nếu không biết cách bảo quản thì "tuyệt phẩm" trong lăng mộ hoàng đế cổ đại có thể bị hỏng ngay tức khắc khi tiếp xúc với điều kiện không khí và thời tiết bên ngoài.

Kristin Romey, một chuyên gia khảo cổ, đồng thời là cố vấn cho cuộc triển lãm chiến binh đất sét ở thành phố New York nhận định: "Quả đồi lớn, nơi vị hoàng đế được chôn - chưa có ai từng chạm đến được".

Ông Romey giải thích, một phần do người Trung Quốc kính trọng tiền nhân, nhưng lý do quan trọng là chưa có công nghệ nào hiện có trên thế giới có thể xâm nhập và khám phá nơi này.

Quần thể lăng mộ Tần Thủy Hoàng rất rộng lớn (khoảng 50 km2) , nằm ở chân núi Ly Sơn, thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc.

Đây được coi là một địa điểm khảo cổ vô cùng hấp dẫn với nhiều chuyên gia và du khách trên toàn thế giới.

Có lẽ chưa tìm thấy nơi chôn cất vị hoàng đế nổi tiếng nên tồn tại không ít giai thoại ly kỳ.

Theo đó, người ta tin rằng, ngôi mộ của hoàng đế Tần Thủy Hoàng được bao quanh bởi một dòng sông thủy ngân rộng lớn và hàng loạt những cái bẫy chết người, có thể kết liễu bất cứ kẻ nào dám xâm phạm "giấc ngủ" của bậc đế vương.

Bằng cách sử dụng công nghệ quét 3D, các nhà nghiên cứu cho rằng cung điện tráng lệ đặt thi hài của Tần Thủy Hoàng chiếm một không gian khổng lồ, khoảng 170.000 m3.

Con số này tương ứng với ¼ kích thước của Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh.

Cung điện hoành tráng này được cho là cao 76 mét, nằm sâu bên dưới mặt đất và được giữ khô ráo nhờ một hệ thống thoát nước phức tạp.

Chắc hẳn do nhiều nghi ngờ nên các nhà khảo cổ học vẫn chưa dám động tới phần trung tâm của lăng.

Chia sẻ với một tờ báo ở Tây Ban Nha, các nhà khảo cổ tham gia khai quật lăng mộ Tần Thủy Hoàng trong một thời gian dài, chia sẻ: "Bí ẩn đó giống như một món quà được đặt ở trong nhà, biết rằng bên trong là thứ bạn muốn nhưng lại không thể mở nó".

Dù rất muốn, nhưng có lẽ không ai muốn trở thành người đầu tiên bước vào bên trong lăng mộ vì nghi ngại những cái bẫy nguy hiểm.

Nhiều chuyên gia phương tây cho rằng những cái bẫy trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng có thể không còn hoạt động được sau quãng thời gian hơn 2.000 năm.

Tuy nhiên, Guo Zhikun, một sứ giả Trung Quốc lại tin rằng những cỗ máy cổ đại có thể vẫn còn hoạt động.

Bất cứ kẻ nào xâm phạm sẽ có thể phải chịu kết cục bi thảm.

Người ta tin rằng trong lăng mộ của Tần Thủy Hoàng có ẩn chứa những cỗ máy bắn tên tự động được cài đặt khéo léo và có thể đoạt mạng những tên trộm dám cả gan xâm phạm.

Thậm chí ngay cả khi những cái bẫy không hoạt động thì kẻ xâm phạm cũng khó sống vì nồng độ thủy ngân quá cao trong lăng mộ.

Dù có không ít giai thoại và lời đồn đoán về những cái bẫy chết người trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng nhưng chưa tìm thấy một văn bản hay tài liệu lịch sử ghi chép chi tiết về chúng.

Giống như những lăng mộ kỳ bí ở Ai Cập, người ta tin rằng nơi yên nghỉ của Tần Thủy Hoàng không chỉ có các cái bẫy chết người mà còn ẩn chứa những lời nguyền "uy lực".

Theo các sử gia thời cổ đại ghi chép rằng vị Hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc đã tạo ra cả một vương quốc và cung điện ngầm bên dưới lòng đất.

Công trình kỳ công đến mức vòm lăng mộ còn cả một bầu trời đêm và nhiều ngọc trai làm tinh tú.

Người xưa tin rằng có một dòng sông thủy ngân bao quanh mộ của Tần Thủy hoàng để bảo vệ sự bất tử của hoàng đế.

Nhưng cũng có báo cáo cho rằng hoàng đế chết vì nuốt một lượng lớn thủy ngân với hy vọng trường sinh do ám ảnh bởi cái chết khi cuối đời.

Đó cũng là lý do ông bất ngờ ra đi khi mới 49 tuổi, để lại cả một vương quốc vô cùng rộng lớn.

Trên thực tế, trong quá trình khai quật (bên ngoài), các nhà khoa học nhận thấy lượng thủy ngân ở đây cao gấp 280 lần bình thường.

Điều này khá trùng hợp với những ghi chép trong bộ sử ký Tư Mã Thiên về dòng sông thủy ngân bên trong lăng mộ.

Ngoài ra, "kho báu" khổng lồ được bồi táng theo Tần Thủy Hoàng có thể là nằm trong ngọn đồi chứa cung điện rộng lớn.

Tuy nhiên rất có thể nơi đó ẩn giấu những cái bẫy chết người để bảo vệ giấc ngủ và của cải ở thế giới bên kia của hoàng đế.

Lăng mộ Tần Thủy Hoàng được coi là một trong những công trình kỳ bí nhất trong thời cổ đại và đến nay vẫn còn là một bài toán vô cùng khó giải và bí ẩn đối với hậu thế.
 
Trung Quốc Xa Xưa
GIẢI MÃ BÍ ẨN VỀ VŨ KHÍ CỦA QUÂN ĐỘI ĐẤT NUNG TRONG LĂNG MỘ TẦN THỦY HOÀNG.


Đội quân đất nung có lẽ là một trong những công trình khảo cổ bí ẩn nhất thế giới.

Kể từ năm 1974, các chuyên gia khảo cổ đã phát hiện thấy hơn 8000 bức tượng chiến binh đất nung, có kích cỡ tương đương người thật trong lăng mộ của hoàng đế Tần Thủy Hoàng ở thành phố Tây An, Trung Quốc.

Tuy nhiên, phải mất gần 3 thập kỷ sau, các nhà nghiên cứu mới ngỡ ngàng phát hiện thấy vũ khí của "đội quân đất nung" trong lăng mộ của vị hoàng đế nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử Trung Hoa, hóa ra là đồ thật chứ không phải phiên bản mô phỏng hay chế tác.

Điều bất ngờ hơn là những vũ khí của đội quân trong lăng mộ kỳ bí còn rất tinh xảo với cung tên đủ mạnh để đâm xuyên qua áo giáp và lấy mạng kẻ địch.

Theo các chuyên gia, đội quân đất nung có niên đại khoảng 2.200 năm, nằm trong quần thể lăng mộ rộng tới 50 km2 để chuẩn bị và bảo vệ cho cuộc sống vĩnh hằng ở thế giới bên kia của Tần Thủy Hoàng, vị Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử có công thống nhất Trung Quốc.

Các nhà nghiên cứu cho rằng mục đích chế tác đội quân đất nung là để đảm bảo cho sự an toàn vĩnh viễn của hoàng đế trong hành trình sang thế giới bên kia khỏi những bất trắc.

Theo một báo cáo trên tạp chí Archaeology International, có khoảng hơn 40.000 vũ khí bằng đồng được trang bị cho các chiến binh trong lăng mộ.

Trong đó, đầu mũi tên là vũ khí phổ biến nhất được tìm thấy.

Chúng được xếp nằm trong từng bó 100 chiếc, đại diện cho số tên trong bao của mỗi chiến binh.

Theo đó, mỗi cung tên bao gồm có đầu bắn hình tam giác giống kim tự tháp, và phần chuôi giúp lắp tên vào một thanh tre hoặc gỗ, với một chiếc lông chim gắn ở đuôi.

Các nhà khảo cổ cho hay, những bộ phận kim loại của cung tên (gồm mũi tên và chuôi) là phần duy nhất còn nguyên vẹn.

Các nhà khoa học tại Đại học London và Bảo tàng Đội quân đất nung đã tiến hành tái tạo lại các mũi tên có niên đại từ những năm 200 trước Công nguyên – thời điểm chế tác nên công trình kỳ vĩ này.

Sau đó, các chuyên gia đã bắn thử bằng chiếc cung tên thời kỳ đó.

Kết quả thật bất ngờ.

Mũi tên dễ dàng xuyên qua bộ áo giáp vốn được sử dụng vào thế kỷ thứ hai trước Công nguyên và có thể gây ra vết thương chí mạng cho người giao chiến.

Mike Loades, nhà sử học đồng thời là chuyên gia về vũ khí cổ đại, nhận định: "Những chiếc cung tên này đã có trình độ chế tác vượt xa thời đại của chúng hai thiên niên kỷ".

Dù "ngủ sâu" trong lăng mộ của Hoàng đế Tần Thủy Hoàng hơn 2.000 năm nhưng khả năng sát thương và uy lực của những vũ khí của đội quân đất nung thật đáng kinh ngạc.

Lăng mộ của Tần Thủy Hoàng nằm ở chân núi Ly Sơn, thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, có tổng diện tích "khổng lồ", rộng gấp 200 lần so với Thung lũng các vị vua ở Ai Cập.

Trước đó, vào tháng 10/2016, một số chuyên gia khảo cổ tin rằng đội quân đất nung trong lăng mộ Hoàng đế Tần Thủy Hoàng được lấy cảm hứng từ nghệ thuật điêu khắc của Hy Lạp cổ đại.

Phát hiện này sẽ góp phần giúp các nhà nghiên cứu hé mở ra nhiều bí ẩn về đội quân đất nung (tuyệt tác thời cổ đại) và lăng mộ của Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế quyền lực và huyền bí bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc.
 
Trung Quốc Xa Xưa
HOÀNG HẬU DA ĐEN ĐỘC NHẤT LỊCH SỬ TRUNG HOA.


Người ta thường biết tới danh xưng Hoàng hậu Trung Hoa phong kiến xưa là những người đứng đầu hậu cung, cai quản cả hàng ngàn nô tì, hàng trăm phi tần khác của Hoàng thượng.

Những vị Hoàng hậu đó, nếu không có cả một thế lực gia tộc quyền quý sau lưng để làm bệ đỡ chính trị thì cũng là một nữ nhân cực kỳ xinh đẹp, dung nhan ngời sáng, khiến Hoàng đế say mê, nếu muốn ngồi lên ngai vị mẫu nghi thiên hạ.

Tuy nhiên, cái gì cũng có ngoại lệ, và vị Hoàng hậu da đen độc nhất trong lịch sử Trung Hoa phong kiến dưới đây là một ngoại lệ như thế.

Bà vốn chỉ xuất thân là một nô tì, là người nước ngoài, gia đình không hề quyền thế, đã vậy dung nhan còn thô kệch đến mức nghĩ suốt đời này mình chẳng có thể có được một tấm chồng.

Vị Hoàng hậu ấy chính là Lý Lăng Dung, vợ của Đông Tấn quốc Giản Văn Đế Tư Mã Dục (320 - 372), vị vua thứ 8 của triều Đông Tấn (317 - 420).

Theo lịch sử ghi lại, thì với dáng người cao to, nước da đen khỏe khoắn, tóc lại xoăn của Lý Lăng Dung chứng minh bà hoàn toàn không phải là người Trung Nguyên.

Có sách chép lại, bà đến từ một vùng đất xa xôi, sinh ra trong tộc người Lâm Ấp, một tộc người từng sống ở Ấn Độ, Trung Đông và miền nam châu Phi.

Tộc người này chịu ảnh hưởng rất lớn từ văn hóa cũng như tôn giáo Trung Quốc, vì vậy ngay từ thời xa xưa, đã có sự giao thương và chắc cũng vì thế mà Lý Lăng Dung đã vào Trung Nguyên ngay từ nhỏ.

Vì một vài lý do gì đó, ngay từ khi còn là một cô bé, Lý Lăng Dung đã bị bán vào vương phủ nhà Tư Mã Dục, để làm một nô tì chuyên dệt vải, lai lịch không rõ ràng.

Từ những ngày đầu vào phủ, bà luôn bị ánh mắt coi thường dè bỉu của những người cung nữ khác vì ngoại hình khác biệt hoàn toàn với chuẩn mực vẻ đẹp khi đó của người Trung Hoa.

Lý Lăng Dung rất muộn phiền, buồn bã, không gia đình, không người thân lại bị khinh khi xem thường.

Thậm chí bà còn bị mọi người gọi với cái tên "nô tì Côn Lôn".

Bấy giờ, trước khi làm vua, Tư Mã Dục chỉ là Cối Kê Vương.

Ông có 3 người con trai nhưng đều yểu mệnh chết sớm, các phi tần khác thì dù cố gắng nhưng Tư Mã Dục vẫn không có thêm một người con nào.

Lo lắng cho chuyện này, Tư Mã Dục còn nghi ngờ khả năng "đàn ông" của chính mình, khi trong phủ có biết bao nhiêu thê thiếp mà tìm một người con trai để kế nghiệp nối dõi sau này cũng không xong.

Cuối cùng, trong lúc bế tắc, ông đã tìm đến các thầy tướng số nhờ đoán vận mệnh.

Các thầy tướng số nói rằng, Tư Mã Dục hãy triệu gọi tất cả phi tần thê thiếp đến để xem tướng, rồi sẽ cho biết nên lập ai làm hậu.

Nghe lời, Tư Mã Dục liền triệu gọi tất cả tập trung trước phủ.

Tuy nhiên, sau khi xem qua vài lần, các thầy tướng số tử vi đều lắc đầu bảo không ai có khả năng sinh con trai nối dõi nữa.

Buồn bã trước lá số "bạc mệnh" của chính mình, Tư Mã Dục liền thử thêm một lần nữa bằng cách mở rộng phạm vi tìm kiếm, ông liền gọi thêm tất cả các cung nữ vào.

Các cung nữ xem đây là cơ hội hiếm có để mình một bước đổi đời, ai ai cũng xúng xính áo quần, trang điểm tươi tắn đến cho thầy tử vi xem tướng, trong số đó có cả Lý Lăng Dung.

Tuy nhiên, khác với những cung nữ ôm mộng giàu sang khác, bà chỉ đến vì lệnh chủ khó chống chứ không phải trông mong điều gì.

Vì quả thật, với dung nhan bà có, cùng vẻ thô kệch quê mùa sao lại có thể trở thành vợ của chủ tướng.

Trái lại, thật bất ngờ, vừa khi bà đến, các thầy tử vi nhìn bà rồi một mực chỉ tay, đồng thanh nói: "Chính là người này".

Từ đó, chỉ bằng một lần Tư Mã Dục mạnh dạn mở rộng phạm vi tìm kiếm, chỉ bằng một câu nói của thầy tử vi, nô tì Lý Lăng Dung xấu xí ngày nào đã chính thức bước lên vị trí cao hơn mấy bậc.

Bà được Tư Mã Dục phong thiếp ngay sau lần chạm mặt đó.

Sự kiện này được đánh giá là chấn động cả Trung Hoa lúc bấy giờ, vì không ai nghĩ một nô tì thô kệch như Lý Lăng Dung lại có thể vượt qua hàng trăm nữ nhân xinh đẹp khác trong vương phủ nhà Tư Mã Dục để được lập thiếp.

Mặt khác, theo một số quan niệm thời đó, khi làm thê thiếp của các đấng quân vương thì ít ra phải có đủ công dung ngôn hạnh, nói nôm na là vừa xinh đẹp vừa biết chăm lo gia đình.

Trong khi đó, Tư Mã Dục lại cao to tuấn tú, dũng mãnh kiêu hùng, là hình mẫu của biết bao nhiêu cô gái trẻ.

Quả thật đây có lẽ là "đôi đũa lệch" nổi tiếng nhất lịch sử Trung Hoa phong kiến.

Vậy mà, bỏ ngoài tai những lời dè bỉu bàn tán của mọi người, không bao lâu sau bà mơ thấy hai con rồng quỳ lạy mình, cho đó là điềm lành.

Đến năm 362, Lý Lăng Dung hạ sinh vương tử Tư Mã Diệu rồi sang năm 364 thì hạ sinh vương tử thứ hai, đặt tên là Tư Mã Đạo Tử, sau đó lại sinh ra một người con gái là Bà Dương công chúa.

Cũng từ đó, thân phận của bà trong vương phủ cũng được coi trọng hơn rất nhiều.

Năm 371, Tư Mã Dục lên ngôi vua khi bước sang tuổi 51, lấy hiệu là Giản Văn Đế, sắc phong Lý Lăng Dung làm Thục phi.

Tư Mã Dục không lập ai làm Hoàng hậu chính thức nên Lý Lăng Dung làm chủ hậu cung không khác gì một Hoàng hậu thực thụ.

Hai năm sau, Tư Mã Dục qua đời.

Sau đó, con trai đầu Tư Mã Diệu của bà lên làm vua khi chỉ mới 10 tuổi, Lý Lăng Dung Thục phi ngày nào liền được phong làm Hoàng thái phi.

Mãi cho đến hai mươi năm sau, Tư Mã Diệu nghe lời em trai mình là Tư Mã Đạo Tử mới chính thức lập mẹ lên làm Hoàng Thái hậu.

Sau đó, Tư Mã Diệu qua đời, con trai là Tư Mã Đức Tông kế vị, lập bà nội Lý Lăng Dung của mình trở thành Thái Hoàng Thái hậu.

Đến năm 400, Lý Lăng Dung qua đời ở tuổi 51 được truy tôn là Văn Hoàng Thái hậu và được chôn cất tại Mục Bình Lăng, kết thúc cuộc đời của một vị hoàng hậu ngoại lai độc nhất lịch sử Trung Hoa phong kiến.

Tuy nhiên, cho đến tận ngày nay, vị trí danh phận cũng như chức vụ của bà trong thời kỳ này vẫn còn gây nhiều tranh cãi trong giới sử học.

Bởi lẽ, nhiều giả thuyết được đặt ra rằng, Lý Lăng Dung không đơn giản chỉ là có màu da đặc biệt, số phận đặc biệt và may mắn, mà bà còn là một người mẹ, một mẫu nghi thiên hạ thực thụ.

Có giả thiết cho rằng, dù xuất thân là nô tì dệt vải, nhưng bà lại có tư chất vô cùng thông minh.

Sinh thời, hai người con trai của bà không mấy thuận hòa, và bằng trái tim người mẹ cũng như sự khôn khéo trong cách ứng xử, bà đã can thiệp vào chuyện tranh giành quyền lực của hai người con trai ruột, tránh cảnh "nồi da xáo thịt", đưa nhà Đông Tấn vào thời kỳ hưng thịnh.
 
Trung Quốc Xa Xưa
SỐ PHẬN CỦA MỸ NHÂN TRUNG HOA 6 ĐỜI CHỒNG, 6 LẦN ĐỀU LÀ VỢ VUA.


Chắc người ta không còn xa lạ gì với tứ đại mỹ nhân Trung Hoa với những cái tên như Tây Thi, Vương Chiêu Quân, Điêu Thuyền và Dương Quý phi.

Họ được mệnh danh là những bậc nữ nhân có dung nhan tuyệt trần thời phong kiến Trung Hoa, khiến nam nhân nào nhìn thấy cũng say mê muôn phần.

Tuy nhiên, cũng có một người phụ nữ nằm ngoài danh sách trên, nhưng nhắc đến ai ai cũng tán thưởng không thua gì vì nhan sắc và khí chất của nàng đã làm mê mẩn đến tận 6 bậc quân vương trong hơn 6 thập kỷ - điều mà xưa nay khó có một mỹ nhân nào làm được.

Người phụ nữ đó, không ai khác chính là Tiêu Hoàng hậu, sinh năm 566, mất ngày 17 tháng 4 năm 648, không rõ tên thật.

Vốn là công chúa của nhà Tây Lương, nhưng kể từ khi sinh ra, cùng với nhan sắc hiếm có thì bà cũng đã bị gán cho một phần số đặc biệt, một phần số mà khi các thầy tử vi coi cho bà từ khi còn bé đã phải thốt lên 8 chữ rằng: "Mẫu nghi thiên hạ, mệnh đới đào hoa".

Và cũng chính từ 8 chữ này, cuộc đời bà phải chịu biết bao nhiêu sóng gió, cứ trôi đi như cành hoa rơi xuống dòng dữ, va vào tảng đá này rồi lại vấp phải bến bờ khác...

Lời nói của thầy tướng số tử vi năm xưa ứng nghiệm vào năm Tiêu thị lên 9 tuổi.

Năm đó, nhà Tùy ra thông báo tuyển vợ cho hoàng tử khắp các nước láng giềng, trong đó có nhà Tây Lương, nơi cô công chúa nhỏ Tiêu thị đang sống những ngày tuổi thơ êm đềm.

Ngay sau khi thông tin tuyển vợ cho hoàng tử nước bên tới tai cha của Tiêu thị, ông liền gả con gái sang với hai mục đích, một là vì nàng quá đẹp, đẹp kể cả khi còn là một cô công chúa nhỏ nhưng lại mang vận mệnh tai ương nên phải đẩy đi trừ hậu họa, hai là vì chính cái sự tai ương trong tướng số đó của Tiêu thị, biết đâu có thể làm nhà Tùy tan tác vì vốn nhà Tùy với nhà Tây Lương chỉ bằng mặt chứ không bằng lòng.

Thế là chính vì những mưu đồ chính sự như vậy, mà nàng đã rơi vào vòng xoáy buồn thảm sau này.

Nàng chính thức trở thành chính thất của hoàng tử nhà Tùy – Dương Quảng vào năm 9 tuổi, khi đó chỉ là hoàng tử nhưng Dương Quảng vẫn ôm mộng nắm ngôi sau này nên kể từ khi có một cô vợ 9 tuổi mang lá số "mẫu nghi thiên hạ", Dương Quảng quý như vàng mà cưng chiều hết mực, vì cho rằng, nếu Tiêu thị là mẫu nghi thiên hạ thì chắc chắn chồng của mẫu nghi sẽ là vua và mình sẽ lên ngôi báu.

Nhưng lời tiên đoán đằng sau 4 chữ tiếp đó, có lẽ nhà Tây Lương đã giấu nhẹm đi, không cho Dương Quảng biết, đó là "mệnh đới đào hoa", ý chỉ sự lận đận, bấp bênh nhân duyên tình ái.

Quả nhiên, ngay sau đó, anh của Dương Quảng là thái tử vì một sự cố nhỏ nên bị phế truất, vị trí đó được thay bằng Dương Quảng và Tiêu thị nghiễm nhiên trở thành thái tử phi.

Và sau cùng, khi vua Tùy và hoàng hậu băng hà thì Dương Quảng lên ngôi, Tiêu thị chính thức trở thành mẫu nghi thiên hạ.

Vế đầu của 8 chữ cái trong lá số tử vi năm nào đã ứng nghiệm, và đây cũng là thời điểm vế sau bắt đầu linh ứng.

Có được ngôi vua, Dương Quảng bắt đầu sa đà vào tửu sắc, không màng chính sự.

Điều này đã làm một số đại thần không vừa mắt, nhen nhóm ý định tạo phản, trong đó nổi bật nhất chính là Vũ Văn Hóa Cập, người không chỉ dòm ngó ngôi vua mà còn "thèm muốn" chiếm lấy cả Tiêu Hoàng hậu xinh đẹp.

Và chuyện gì đến cũng đến, trong một lần khởi binh, Vũ Văn Hóa Cập đã giết chết Dương Quảng, chiếm lấy ngôi vua và ép Tiêu Hoàng hậu phải làm thiếp cho mình.

Từ đó Tiêu thị trở thành vợ của một người khác.

Lúc bấy giờ, dù sát vua Tùy chiếm ngôi nhưng dưới sự bành trướng của đội quân đang làm mưa làm gió tại Trung Nguyên do Đậu Kiến Đức cầm đầu thì Vũ Văn Hóa Cập cũng đành chịu thua.

Sau những bại trận dưới tay Đậu Kiến Đức, Vũ Văn Hóa Cập đành lùi về huyện Thủ Nguyện, vẫn xưng vương nhưng đổi Tiêu Hoàng hậu thành Thục phi.

Tuy nhiên, cuối cùng Thủ Nguyện vẫn bị đánh chiếm, Vũ Văn Hóa Cập một lần nữa phải bỏ chạy, dẫn theo Tiêu thị về Liêu Thành.

Nhưng không lâu sau, cả Tiêu Thành cũng bị Đậu Kiến Đức tiêu diệt, Vũ Văn Hóa Cập không tránh khỏi cái chết.

Tiêu thị hai lần mất chồng, nhưng quả thực nhan sắc vẫn còn mặn mà, toát lên thần khí của một bậc mẫu nghi, khiến Đậu Kiến Đức vừa vung gươm đòi chém đã phải mê đắm lòng, và lập Tiêu thị trở thành hoàng phi của mình.

Và có lẽ, lời nguyền "mệnh đới đào hoa" đã ăn sâu vào mệnh vận của Tiêu thị nên ngay khi được lên làm hoàng phi, Tiêu thị đã khiến Đậu Kiến Đức giống hệt Dương Quảng năm xưa, tức là chỉ đam mê tửu sắc, suốt ngày quấn quýt không rời, chẳng màng việc nước, bỏ quên đi ý định chinh phục Trung Nguyên.

Thế là, thế lực của Đậu Kiến Đức ngày càng suy yếu, suy yếu ngay cả khi vị hoàng phi Tiêu thị mang vận tai ương không cần phải làm gì, vì như một lời nguyền, ai có được bà thì cũng sẽ nát tan sự nghiệp.

Lúc này, thế lực của người Đột Quyết ở phương Bắc bỗng dưng lớn mạnh, và đang thao túng cả Trung Nguyên.

Thủ lĩnh của người Đột Quyết tức là Khả Hãn có hôn ước với em gái của Dương Quảng, tức là Nghĩa Thành công chúa, em chồng đầu tiên của Tiêu thị, vì vậy vị công chúa này đã sai người đến đón Tiêu thị tránh khỏi can qua.

Trước thế lực hùng mạnh của người Đột Quyết, Đậu Kiến Đức cũng răm rắp nghe theo, đành ngậm ngùi chia tay Tiêu thị.

Và thật không ngờ, ngay sau khi đến với xứ sở của người Đột Quyết, Tiêu thị đã làm xao xuyến biết bao nhiêu con tim.

Qua 3 đời chồng, Tiêu thị không những không già nua xấu xí đi mà còn quyến rũ thêm muôn phần.

Và chính bằng nhan sắc và khí chất bẩm sinh này, Tiêu thị tiếp tục trở thành sủng phi của người chồng thứ 4 - Xử La Khả Hãn, sau đó là người chồng thứ 5 – Hiệt Lợi Khả Hãn, cả hai người đàn ông này đều là vua của cả một tộc người Đột Quyết.

Mười năm sau, tức năm Trinh Quán thứ 4, quân của ĐườngThái Tông Lý Thế Dân đánh bại người Đột Quyết.

Tiêu thị cũng nhờ vậy mà có cơ hội được hồi hương.

Khi đó, trong một lần có dịp gặp mặt, hoàng đế Lý Thế Dân lại "bại trận" trước dung nhan quá đỗi tuyệt vời của Tiêu thị.

Khi đó Lý Thế Dân mới 33 tuổi, nhưng Tiêu thị đã 48, dù vậy mệnh trời khó tránh, cành hoa rơi xuống dòng dữ lại thêm một lần cập vào bến bờ mới.

Vì Tiêu thị có thai nên Lý Thế Dân mủi lòng đã đưa bà vào cung, sắc phong làm Chiêu Dung.

Lý Thế Dân còn tổ chức một bữa tiệc xa hoa chào đón nàng.

Hoàng đế cho thắp đèn sáng rực khắp cung điện, ca nữ đàn hát cả ngày, bàn tiệc bày đầy cao lương mỹ vị.

Lúc này, hoàng đế Lý Thế Dân mới hỏi Chiêu Dung rằng: "Ngươi thấy cảnh tượng hôm nay thế nào so với Tùy cung năm xưa?".

Kỳ thực, trước câu hỏi này, vốn trong lòng Tiêu thị đã có câu trả lời, vì rõ ràng, về mức độ xa hoa so với Tùy đế Dương Quảng (chồng đầu của Tiêu thị) năm nào thì Lý Thế Dân không bằng một nửa.

Nhưng nàng vẫn khôn khéo mà đáp rằng: "Bệ hạ là Hoàng đế khai quốc, sao lại đem mình đi so sánh với một vị vua làm mất nước?".

Lý Thế Dân nghe vậy liền rất mực hài lòng và thêm sủng ái Tiêu Chiêu Dung.

Và chính bằng kinh nghiệm từng trải qua 5 đời chồng, sự khôn khéo thông minh cộng vào nhan sắc đã giúp Tiêu Chiêu dung sống trọn những năm tháng an ổn bên người chồng thứ 6 Lý Thế Dân đây, mặc dù trong hậu cung nhà Đường lúc này, Võ Tắc Thiên đang là một mầm dữ tác oai tác quái.

Cuối cùng, mệnh trời cũng đã định, Tiêu thị đã làm tròn vế sau quẻ bói 8 câu năm nào "Mẫu nghi thiên hạ, mệnh đới đào hoa" khi trải qua 6 đời chồng.

Năm 648, sau 18 năm sống bình yên trong hậu cung nhà Đường, Tiêu Chiêu Dung qua đời ở tuổi 67..

Cái chết của Tiêu thị đã chấm dứt cuộc đời của một hồng nhan mang gánh phần số tai ương, mà lịch sử Trung Hoa phong kiến nói riêng và cả thế giới cổ đại nói chung, khó có một người thứ hai.

Trải qua 67 năm sống trên đời, mỹ nhân họ Tiêu đã làm xao xuyến 6 bậc quân vương trong hơn 6 thập kỷ.

Từ Hoàng hậu củaTùy Đế - Dương Quảng tới Thục phi của Vũ Văn Hóa Cập, từ sủng thiếp của Đậu Kiến Đức lại trở thành Vương phi củaa hai đời Khả Hãn Đột Quyết.

Sau cùng là dừng chân tại hậu cung của nhà Đường, làm phi tần của hoàng đế Lý Thế Dân với hiệu là Tiêu Chiêu Dung.
 
Back
Top Bottom