Cập nhật mới

Khác TRUNG QUỐC XA XƯA

Trung Quốc Xa Xưa
LỜI TRĂNG TRỐI CỦA TỪ HY THÁI HẬU KHIẾN HẬU THẾ GIẬT MÌNH.


Trong suy nghĩ của nhiều người Trung Quốc, Từ Hy chỉ là một phụ nữ nhu nhược, chỉ biết cầu hòa.

Vì ký kết nhiều hòa ước bất bình đẳng, chấp nhận phần thua thiệt, lại là người ưa hưởng thụ quyển lực nên bà bị dân chúng coi là kẻ thống trị đáng ghê tởm nhất lịch sử Thanh triều.

Tuy nhiên trên thực tế, trong mắt người nước ngoài, Từ Hy thái hậu được đánh giá là một phụ nữ vĩ đại.

Nhận xét này khiến đa số người dân Trung Quốc "ngã ngửa" vì bất ngờ, bởi có nghĩ tích cực thế nào, họ cũng không thấy sự vĩ đại của Từ Hy.

Một văn nhân người Nhật Bản trong cuốn "Từ Hy trong mắt người Nhật Bản" đã viết rằng: "Nhắc đến Tây thái hậu, không nên 'vẽ rắn thêm chân", (ý là không cần thêm thắt những điều không phù hợp).

Bà là Hoàng thái hậu buông rèm nhiếp chính của Thanh triều, từ cổ chí kim, là một chính trị gia không người phụ nữ nào có thể so sánh.

Điều này có lẽ không ai là không biết."

Tờ "Đức văn tân báo" của Thượng Hải từng đăng tải một bài viết dài có tựa đề "Tây Thái hậu của Trung Quốc", tán dương Từ Hy là một nữ anh hùng hào kiệt phi thường.

Từ năm Quang Tự thứ 9 đến năm thứ 11, Trung Quốc nổ ra cuộc chiến tranh Trung - Pháp.

Trong khi Lý Hồng Chương liên tục đề xuất phương án hiệp hòa, Từ Hy kiên quyết phản đối, quyết cùng Hồng Tử Tài và Lý Bỉnh Hằng khai chiến với người Pháp.

Thông qua hành động này, có thể thấy rằng Thái hậu của Đại Thanh không hẳn là người chỉ biết cầu hòa.

Đại đa số các học giả đều cho rằng, Từ Hy đã cứu Đại Thanh không dưới 10 lần.

Học giả Authur Smith trong cuốn "Trung Quốc biến động" đã bình luận về người phụ nữ quyền lực nhất Thanh triều như sau: "Cánh cổng của Trung Quốc đối diện với thế lực đối đầu nhưng từ trước tới nay, nó chưa bao giờ bị phá (cổng).

Trong lịch sử Trung Quốc cổ đại, điều này có thể gọi là độc nhất vô nhị.

Nếu tìm một nguyên nhân, tôi cho rằng chỉ có thể khẳng định, nhân vật trị vì đất nước có một tài năng và phẩm hạnh khác người."

Công sứ người Mỹ Charles cũng từng nói rằng: "Tây Thái hậu là một trong những đại quân chủ của thế giới, nhờ có người phụ nữ tài ba này mà một đế quốc sắp rơi vào trạng thái diệt vong có thể 'kết bạn' với những nước lớn".

Một trong những hành động cho thấy Từ Hy có suy nghĩ khá "thoáng", đó là cho phép người Mãn và người Hán kết hôn, cấm phụ nữ bó chân, mặc dù những quy định này "bất thành văn".

Bà từng ra ý chỉ: "Tất cả quan dân Mãn - Hán được phép kết hôn, đối với phụ nữ người Hán, hầu hết đều có thói quen bó chân, tục này duy trì đến nay đã quá lâu, làm tổn thương sự hài hòa của tạo vật, vì thế cần từ bỏ".

Từ những phương diện nói trên, có thể thấy, trong mắt người nước ngoài, Từ Hy Thái hậu được đánh giá khá cao.

Lúc còn sống và kể cả sau khi đã qua đời, Từ Hy Thái hậu từng nhận được vô số lời chỉ trích.

Điều này có thể thấy ngay trong cách bà được xưng hô, ví von như "yêu quái già", "Thái hậu khác người", "tội đồ bán nước" hay "người có công lớn trong việc khiến Đại Thanh sống lay lắt trong 30 năm"...

Tuy nhiên, người xưa có câu: "Chim muông lúc gần chết, tiếng kêu thê lương, người trước khi chết, những lời nói ra đều là điều thiện".

Ngẫm nghĩ lại di ngôn của Từ Hy Thái hậu trước lúc lâm chung, thực sự có những điều hậu thế cần nghĩ lại về người phụ nữ quyền lực này.

Sáng sớm ngày 15/11/1908, Từ Hy dậy sớm như thường lệ.

Trước đó một ngày, Hoàng đế Quang Tự băng hà.

Cả ngày hôm đó, bà bận bịu với việc lo hậu sự cho đế vương, hầu như không có thời gian ngơi nghỉ, đến tận đêm khuya mới về phòng ngủ.

Tuy nhiên không biết vì lý do gì, khí sắc người phụ nữ này không những không bị ảnh hưởng, mà thậm chí còn trở nên mặn mà hơn.

Hằng ngày, mỗi sáng ngủ dậy, việc đầu tiên của Từ Hy là chải tóc.

Ở bên ngoài cửa cung, thái giám chuyên chải tóc cho Thái hậu đã đợi sẵn từ lâu.

Do Từ Hy Thái hậu vô cùng chú ý đến việc chăm sóc tóc, đến nỗi mỗi ngày, thời gian chải tóc của bà kéo dài rất lâu.

Sau khi công đoạn làm đẹp cho mái tóc Thái hậu kết thúc, một thái giám hô lớn: "Vén rèm".

Thái giám chuyên trách công việc này liền thoăn thoắt làm ngay.

Cùng lúc đó, tất cả các thái giám đồng thanh "Lão tổ tông cát tường".

Màn "chào buổi sáng" kết thúc cũng là lúc Từ Hy bắt đầu vào bữa sáng.

6h sáng, bà bắt đầu triệu kiến Quân cơ đại thần cùng Hoàng hậu (vợ vua Quang Tự - Diệp Hách Na La thị), Nhiếp chính vương Tải Phong và nhiều nhân vật cốt cán trong triều.

Sau một hồi bàn bạc khá lâu, cuối cùng, dưới danh nghĩa tân quốc quân, Từ Hy Thái Hậu được tôn lên làm Thái hoàng thái hậu, Hoàng hậu được tôn làm Thái hậu.

Chính ngọ – thời điểm bắt đầu ăn cơm trưa, Thái hoàng thái hậu vẫn ăn uống bình thường.

Tuy nhiên khá bất ngờ, vẫn trong bữa cơm, bà bắt đầu cảm thấy hoa mày chóng mặt.

Trạng thái này kéo dài khá lâu.

Với những người sắp qua đời, bản thân họ hiểu hơn ai hết trạng thái của mình.

Từ Hy ngay lập tức triệu tập một hội nghị khẩn, giao phó trọng trách quản lý việc trọng yếu cho Thái hậu và Nhiếp chính vương Tải Phong.

Thượng dụ vừa được ban, bệnh tình của Từ Hy trở nên nguy kịch.

Bà liền lệnh cho Quân cơ đại thần khởi thảo viết di chiếu.

Sau khi di chiếu được viết xong, Thái hoàng thái hậu xem lướt qua, đã yêu cầu sửa vài chỗ như "không thể không tái thực hiện việc buông rèm nhiếp chính", "hồi niệm 50 năm qua"...

"Ta buông rèm nhiếp chính nhiều lần, những người không hiểu cho rằng ta là người tham quyền lực.

Thế nhưng trên thực tế, tất cả là vì thời thế ép buộc, không thể không làm vậy".

Từ Hy nói với những người thân tín, minh mẫn hệt như không có chuyện gì xảy ra.

Không lâu sau, "lão phật gia" bắt đầu hôn mê sâu.

Nhưng rất nhanh sau đó, bà mở mắt trở lại, để lại trăng trối cuối cùng trước lúc ra đi.

"Từ nay về sau, phụ nữ không được phép can dự vào triều chính.

Như vậy là trái với gia pháp của bản triều, cần nghiêm khắc ngăn chặn.

Đặc biệt là cần đề phòng nghiêm ngặt, không để được các thái giám lạm quyền.

Thời nhà Minh mạt vận là một bài học".

5h chiều ngày hôm đó, Từ Hy thái hậu qua đời.

Lời nói cuối cùng trước khi chết của bà khiến người đời kinh ngạc và để lại những câu hỏi khiến hậu thế phải suy nghĩ về người phụ nữ này một cách "đa diện".

Giải thích cho di ngôn này, đã từng có rất nhiều giả thiết được đưa ra.

Trong số đó, có ý kiến cho rằng, Từ Hy thực sự không đánh giá cao năng lực của phụ nữ, nhất là sau khi bà đã ở trên đỉnh cao quyền lực trong suốt 50 năm.

Trong lịch sử cũng không ít người phụ nữ tranh quyền đoạt vị nhưng cuối cùng cũng đều bị thất bại.

Từ Hy Thái hậu vốn hiểu rõ những điều đó.

Một người phụ nữ thông minh, sắc sảo và quyết đoán như bà, ắt hẳn phải lường hết những yếu điểm của nữ giới khi đứng ra nắm quyền triều chính, cai quản thiên hạ trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ.
 
Trung Quốc Xa Xưa
SỰ THẬT VỀ CUNG NỮ ĐƯỜNG TRIỀU.


Tục ngữ có câu "Hậu cung phấn đại tam thiên" (ý nói trong cung có tới ba nghìn cung tần mỹ nữ).

Nhưng trên thực tế, lượng cung nữ của một số triều đại thậm chí còn vượt xa con số này.

Theo các tài liệu lịch sử, vào thời Đường Thái Tông, cung nữ trong hậu cung lên tới hàng vạn.

Đến khi Đường Huyền Tông tại vị, tầng lớp này còn chạm mốc 6 vạn người.

Dựa vào sự bất đồng về địa vị, ta có thể phân chia cung nữ Đường triều thành hai nhóm.

Nhóm thứ nhất là những nữ quan có phẩm cấp.

Nhóm còn lại chiếm đại đa số trong hậu cung, phần lớn bao gồm các cung nữ thông thường.

Dưới triều nhà Đường, nữ quan được gọi là "cung quan".

Bên cạnh Hoàng hậu và các phi tần, những người này cũng thuộc tầng lớp cao cấp trong hậu cung, đứng trên hàng ngàn hàng vạn cung nữ khác.

Với số lượng cung nữ khổng lồ như vậy, để duy trì được cung quy, tầng lớp cai trị đặt ra hệ thống luật lệ nghiêm ngặt và chặt chẽ về thứ bậc.

Phẩm cấp của hậu cung được gọi là "hậu đình", mô phỏng theo "Tiền đình" (phẩm cấp của quan viên trên triều).

Theo đó, hậu cung có 9 cấp bậc từ nhất phẩm cho tới cửu phẩm.

Trong số này, địa vị từ nhất phẩm đến ngũ phẩm hầu hết là các phi tần của Hoàng đế.

Một số nữ quan có phẩm giá và lai lịch đặc biệt sẽ được phong lên hàng ngũ phẩm, lục phẩm cho tới cửu phẩm.

Số còn lại là những cung nữ thông thường, không có phẩm cấp.

Những người này sau khi qua đời, bia mộ không được phép khắc danh tính.

Bởi vậy, cuộc đời của họ càng được ít người biết đến.

Đẳng cấp trong hậu cung thường đi liền với xuất thân.

Cách thức nhập cung của cung nữ sẽ quyết định địa vị của họ sau này.

Tầng lớp cung nữ phần lớn đều phải trải qua tuyển chọn để được tiến cung.

Theo đó, những người đức hạnh, tài hoa, xuất thân đàng hoàng sẽ có cơ hội được phong làm nữ quan.

Bên cạnh đó, có một bộ phận những cung nữ bị ép phải nhập cung do phạm tội hoặc có người nhà, gia tộc là tội nhân.

Trong hậu cung, họ có địa vị thấp kém nhất, phải làm những công việc hạ đẳng nhất.

Còn có một số ít cung nữ là cống phẩm của chư hầu, quan viên hoặc hoàng thân dâng tặng cho nhà vua.

Những người này thường rất tài hoa, xinh đẹp, nhờ vậy mà được Hoàng đế để mắt, sau đó tấn phong làm phi tần.

Trong số này cũng có một số kẻ trở thành gian tế bên cạnh Hoàng đế.

Năm xưa, Thái Bình công chúa từng cử tay sai vào hậu cung làm cung nữ để thám thính hành động và mưu hại Đường Huyền Tông nhưng bất thành.

Chức trách của cung nữ là hầu hạ Hoàng đế và các phi tần.

Để thỏa mãn lối sống an nhàn, xa xỉ của chủ nhân, họ phải gánh vác những công việc rất khó khăn, vất vả.

Trách nhiệm của họ bao quát trong phạm vi hậu cung, từ lo liệu y phục, thức ăn, đi lại, cho đến gánh vác nhiệm vụ mua vui như biểu diễn, ca múa, tấu hài...

Bất luận là công việc nào, cuộc sống của các cung nhân đều rất khó khăn, khổ cực.

Điều này từng được phản ánh trong không ít thi phẩm của các thi nhân đương thời.

Nhà thơ Vương Kiến trong tập "Cung từ nhất bách thủ" từng viết:

"Vũ lai hãn thấp la y triệt

Lâu thượng nhân phù hạ ngọc thê."

Câu thơ trên miêu tả lại cảnh người cung nữ múa đến mức y phục thấm đẫm mồ hôi, trong khi đó chủ nhân ngồi xem ở lầu trên ngay cả bước xuống thang cũng cần người đỡ.

Phạm vi sinh hoạt của cung nữ trong thành Trường An năm xưa chỉ giới hạn đến Dịch Đình.

Ngoại trừ những người có thân phận hoặc nhiệm vụ đặc biệt, số còn lại đều không được bước chân ra ngoài nửa bước.

Phần lớn các cung nữ đều chịu cảnh "lúc vào mười sáu, nay đã sáu mươi".

Tuổi xuân của họ ngày ngày trôi qua sau bức tường thành, lúc cuối đời chỉ có thể ở am ni cô mà đèn sách tụng kinh, hoặc về lăng tẩm thờ phụng tiên vương cho tới khi chết.

Thời nhà Đường từng có chế độ "xuất cung" dành cho cung nữ.

Lệnh ân xá này thường được ban bố khi có thiên tai hoặc lúc tân đế kế vị.

Việc thả cung nữ tùy theo sở thích của Hoàng đế mà chọn lựa.

Nếu quân vương cảm thông với thân phận của những người này thì sẽ cho thả nhiều.

Ví dụ như Đường Cao Tổ và Đường Cao Tông mỗi lần đều cho rất nhiều cung nữ xuất cung.

Trong khi đó, Đường Huyền Tông lại thả ít hơn.

Sau khi xuất cung, có người trở thành "biệt trạch phụ" của những kẻ có tiền.

Họ được người giàu bao nuôi, trở thành tình nhân, bị quy vào tội "thông dâm" thời bấy giờ, nếu bắt được ắt phải chịu phạt.

Dù vậy, nhiều người vẫn mong muốn có cơ hội được xuất cung.

Bởi việc ở lại hậu cung đồng nghĩa với việc họ phải chết già tại đây, thậm chí bia mộ cũng không được đề tên, chỉ có mấy chữ như "cung nhân tà" hay "dã hồ lạc".

Vào cung năm 16 tuổi, đúng độ xuân thì, "mặt tựa phù dung, người tựa ngọc", nhưng các cung nữ lại phải chịu cảnh cô độc, chứng kiến bản thân nhan sắc phai tàn, chôn vùi cả đời sau bức tường thành.

Đó chính là cái xót xa, đau đớn của "phận cung nữ".

Đối với thân phận cung nữ mà nói, không chiếm được sủng hạnh của Hoàng đế là điều đáng buồn, vậy nhưng được nhà vua để mắt lại chưa hẳn đáng mừng.

Sử cũ từng ghi lại: Tùy Văn Đế Dương Kiên có 5 Hoàng tử, 2 công chúa.

Tất cả đều là con của vợ cả - tức Hoàng hậu Độc Cô thị.

Đây là một điều xưa nay hiếm, nhưng cũng là việc dễ hiểu, bởi Độc Cô Hoàng hậu là một nữ nhân tàn độc.

Vị Hoàng hậu này chưa bao giờ để cho Dương Kiên có cơ hội để mắt nữ nhân khác.

Có lần, nàng phát hiện ra Hoàng đế vừa mắt một cung nữ, liền ngay lập tức đem cô gái này bức tử bằng cực hình.

Một Hoàng hậu khác có "máu ghen" không kém chính là Lý Phượng Nương – vợ của Quang Tông Hoàng đế triều Nam Tống.

Khi xưa, vua Quang Tông từng vô tình khen đôi tay của cung nữ hầu hạ mình tắm rửa.

Lời khen này nhanh chóng đến tai Lý Hoàng hậu.

Ngay sau đó, Phượng Nương đã sai người chặt tay cung nữ nọ, bỏ vào hộp đồ ăn, đưa tới cho Quang Tông.

Hoàng đế sau khi mở ra đã hoảng hồn đến nỗi suýt nữa bất tỉnh.

"Đường ngữ lâm" có viết: Đường Tuyên Tông từng vô cùng sủng ái một cung nữ, nhưng nhớ tới vua Huyền Tông trước kia chung tình với Dương Quý phi, bản thân vô cùng bứt dứt.

Hạ thần khuyên ông thả cung nữ kia, Tuyên Tông lại nói: "Thả nàng về ta sẽ nhớ nhung, chi bằng ban cho nàng một chén rượu độc."

Sau đó, vị cung nữ xấu số bị ép phải tự vẫn.

Khi nhập cung, các cung nữ phải đánh mất tự do, chấp nhận thân phận hèn mọn, từ bỏ phụ mẫu, sống cảnh không người chăm sóc, có người chọn kết duyên cùng thái giám.

Trong hoàn cảnh như vậy, việc họ nương tựa vào hoạn quan – tầng lớp có địa vị và hoàn cảnh tương tự - cũng là điều dễ hiểu.

Có hoạn quan làm chỗ dựa, cung nữ sẽ không phải chịu cảnh áp bức, chỉ trích, thậm chí các cung phi còn phải nể mặt vài phần.

Bởi lẽ, hoạn quan chính là người thân cận bên cạnh Hoàng đế.

Phi tần có được sủng hạnh hay không đều phải qua tay của những người này.

Mối quan hệ giữa hoạn quan và cung nữ được gọi là "đối thực".

Hình thức này xuất hiện sớm nhất vào thời nhà Hán.

Lý giải theo lối chiết tự, "đối thực" chỉ đơn giản là hoạn quan và cung nữ cùng nhau ăn cơm chứ không ngủ chung, cũng không bao gồm chuyện giường chiếu.

Kiểu quan hệ này từng được ghi lại trong cuốn "Cung từ" thời Tùy – Đường.

Tới Minh triều, "đối thực" càng trở nên phổ biến.

Tới thời nhà Minh, "thái hộ" là từ dùng để chỉ sự thân mật như vợ chồng giữ cung nữ và thái giám.

Những năm đầu triều, Chu Nguyên Chương vô cùng căm ghét hành vi này, từng ban lệnh cấm hai đối tượng trên kết đôi, nếu bắt được sẽ bị lột da.

Tới năm Vĩnh Lạc đế tại vị, lệnh cấm này mới được bác bỏ.

Trở thành "thái hộ" của nhau đồng nghĩa với việc thái giám và cung nữ phải thề nguyện chung thủy với nhau suốt đời.

Nếu một người chết trước, người còn lại sẽ không "đi bước nữa".

Cuốn "Vạn Lịch dã hoạch biên" từng ghi chép: năm xưa, có người học trò từng tò mò tìm đến một ngôi miếu kỳ lạ ở ngoại thành.

Khi bước vào bên trong, người nọ mới phát hiện ra nơi này đều thờ bài vị của các cung nữ.

Người thủ từ ở đây kể lại, mỗi khi tới ngày giỗ của các cung nữ, "thái hộ" của họ là những hoạn quan đều tới đây thắp hương, tưởng niệm, cảnh tượng vô cùng bi thương, tình cảm còn thắm thiết hơn cả những cặp phu thê bình thường.
 
Trung Quốc Xa Xưa
ĐẠI THẢM ÁN CHỐNG "THAM NHŨNG" CHẤN ĐỘNG LỊCH SỬ TRUNG QUỐC.


Thời kỳ đầu dưới triều đại nhà Minh là quãng thời gian hoạt động chống tham nhũng diễn ra tương đối hiệu quả nhưng song song với đó cũng là những cuộc thanh trừng gây rúng động lịch sử Trung Hoa.

Cho đến ngày nay, vì việc này mà Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương còn lưu danh thiên hạ là một người tàn bạo khét tiếng.

Theo nhà nghiên cứu sử học nổi tiếng của Trung Quốc Kỳ Liên Hải, Minh triều là một vương triều khá đặc thù.

Vì Chu Nguyên Chương không biết chữ nên để có được thiên hạ trong tay, ông ta cần phải dựa vào hai nhóm đối tượng, đó là văn thần và võ tướng.

Văn thần là những người sau này mới được Minh Thái Tổ vời đến còn các võ tướng hầu hết đều là bạn đồng niên, đồng hương, lớn lên cùng Chu Nguyên Chương từ nhỏ và đều là người An Huy.

Khi dấy binh thu phục thiên hạ, những người này cùng chung lòng hợp sức, phối hợp rất ăn ý.

Tuy nhiên, khi đã trị vì thiên hạ, văn thần, võ tướng đều bị "bạn hiền" họ Chu giết hại không nương tay.

Trong vụ việc này, không thể không nhắc lại câu chuyện của Lưu Bá Ôn.

Khi thành Bắc Kinh được xây dựng, vào một ngày năm 1375, Bá Ôn bị cảm nhẹ.

Trong ngày hôm đó, ông đã cùng Tể tướng khi đó là Hồ Duy Dung đi thăm thành.

Ngay ngày hôm sau, Lưu Bá Ôn qua đời.

Trên thực tế, Chu Nguyên Chương đã rất nghi ngờ cái chết đột ngột của Lưu Bá Ôn nhưng không xử lý.

Sau đó, vị Hoàng đế này nghĩ rằng, nếu sau này sự việc tương tự tiếp diễn, triều đình sẽ ra sao?

Đây chính là nguồn cơn sâu xa dẫn đến sự xuất hiện của Hồ Lam chi ngục (hai vụ án chính trị kinh thiên động địa dưới triều đại nhà Minh có liên quan đến hai công thần là Hồ Duy Dung và Lam Ngọc).

Trong vụ đại thảm án này, đã có tất cả 45.000 người, hầu hết đều là công thần, thấp nhất cũng là quan thất phẩm bị giết hại.

Trong lịch sử Trung Quốc kéo dài hàng ngàn năm, đây được đánh giá là vụ án tham những nhưng cũng là cuộc thanh trừng tàn khốc nhất với số người bị giết nhiều nhất.

Theo sử sách Trung Quốc, Minh Thái Tổ là một người hà khắc, bội bạc và đa nghi.

Cùng với sự củng cố quyền lực ngày càng vững chắc, sự nghi ngờ của ông đối với các công thần ngày càng lớn.

Nguyên nhân là bởi trên thực tế, đã có công thần cậy công ngang ngược bất chấp luật pháp, thậm chí còn kéo bè kéo phái, uy hiếp đến quyền lợi của vua và triều đình.

Một phần nguyên nhân khác, là vì Chu Nguyên Chương muốn dọn đường cho con cháu nối ngôi được dễ dàng.

Điều này được chính Chu Nguyên Chương nói ra và còn được ghi lại trong cuốn "16 hoàng đế nhà Minh".

"Đại nhân vật" nằm trong danh sách những người bị "khử" đầu tiên là Tể tướng Hồ Duy Dung.

Năm Hồng Vũ thứ 13 (1380), sau khi có người mật báo Hồ Duy Dung mưu phản, Minh Thái Tổ liền lập tức lấy cớ này, ra lệnh hạ sát Tể tướng cùng họ tộc và các thuộc hạ, số người chết lên đến hàng chục nghìn người.

Sau vụ việc này, "Hồ đảng" trở thành một thứ công cụ để tru diệt các công thần.

Cách vài năm, triều đình lại lôi ra một nhóm "Hồ đảng" để xử trảm.

Đến năm 1393, Lương quốc công Lam Ngọc cũng bị tố cáo mưu làm phản.

Cả gia tộc 3 đời nhà họ Lam cùng các tùy tùng, thuộc cấp lên đến 15 nghìn người đều bị giết, vụ này được gọi là "Lam ngục".

Theo thống kê, trong vòng 14 năm, số người chết dưới tay Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương lên đến 45.000 người, chủ yếu là các công thần, lão tướng và họ hàng thân tộc của họ.

Đại thảm án này được người đời sau gọi là "Hồ Lam chi ngục".

Trải qua hai lần thanh trừng lớn này, khai quốc công thần của Minh triều chẳng còn lại mấy người.

Dân tố cáo quan là hiện tượng từng tồn tại trong lịch sử Trung Quốc.

Một ví dụ cực đoan phải kể đến, đó là thời kỳ Chu Nguyên Chương trị vì thiên hạ.

Ông ra quy định, bất cứ người dân nào, chỉ cần cảm thấy quan lại có hành vi tham ô, dù không có chứng cứ cụ thể, cũng có thể tập trung một nhóm người, áp giải viên quan nọ lên kinh thành xử lý.

Và trên thực tế, đã có quan lại từng bị dân áp tải vào kinh thành luận tội.

Theo nhà nghiên cứu lịch sử Kỷ Liên Hải, quan viên Minh triều có lẽ là những người nghèo nhất trong lịch sử thế giới từ trước đến nay, với đồng lương vô cùng ít ỏi.

Dưới triều Minh, làm quan thực sự là một dạng tín ngưỡng, nếu không phải vì điều đó, hẳn sẽ không có người làm quan để rồi bất cứ lúc nào cũng bị áp giải vào cung đình.

Dưới thời Chu Nguyên Chương nắm quyền điều hành thiên hạ, ông đã đưa ra một loạt khẩu hiệu trong đó có: "diệt trừ những kẻ 'ngoại đạo' (người Mông Cổ, người Mãn Thanh) khôi phục Trung Hoa".

Vì thế, sau khi giải quyết mâu thuẫn dân tộc, vị Hoàng đế đầu tiên của Minh triều mới đưa ra nhiều chính sách, biện pháp đến vậy và trên thực tế, những giải pháp này đã thu về thành quả nhất định.

Những người tự xưng là người Hán khi đó cũng như có lý do để tự hào, phấn khởi và việc làm quan giúp cho họ trở thành người đức cao vọng trọng hơn.

Nếu không vì lý do này, tìm được người làm quan dưới thời kỳ đầu Minh triều khai quốc, e là việc không đơn giản.

Tuy nhiên, những vấn đề cực đoan ngày càng nảy sinh nhiều, đẩy cái gọi là tín ngưỡng ban đầu vào quá khứ.

Những người làm quan, vì lợi ích của mình mà không ngần ngại hãm hại người khác.

Điển hình nhất là vào những năm cuối của Minh triều, đã xảy ra cuộc tranh giành quyền lợi giữa "ngũ đảng" trong triều đình.

Mỗi đảng đều muốn bảo vệ lợi ích của tiêng mình, nên sau vô số lần phân tách, hổ hợp, đã hình thành nên 2 đảng phái lớn là Yêm đảng và Đông Lâm đảng.

Vì quyền lợi sát sườn, Đông Lâm đảng không cho Hoàng đế thu thuế của các doanh nghiệp công thương.

Mọi sưu cao thuế nặng từ đó dồn lên đầu người nông dân.

Chính vì lẽ đó mà các sử gia nhận định, sự diệt vong của Minh triều, chính là do những phần tử trí thức.

Nếu không, triều đại này có thể sẽ tồn tại được lâu hơn nữa chứ không dễ dàng để đất nước rơi vào tay Lý Tự Thành.
 
Trung Quốc Xa Xưa
VỊ VUA ĐA TÌNH BẬC NHẤT TRUNG HOA - KHANG HI.


Ông tên thật là Ái Tân Giác La Huyền Diệp, sinh năm 1654 và mất năm 1722, là một trong những vị vua thọ nhất triều đại nhà Thanh.

Dù lên ngôi khi còn rất nhỏ, chỉ mới 8 tuổi trong tình cảnh đất nước nhiều rối ren nhưng Khang Hi đã dùng cả cuộc đời để cho thấy sự tài giỏi trong cả chính trị lẫn quân sự để cuối cùng đưa đất nước bước vào thời kỳ thịnh trị trước khi truyền lại cho đời sau.

Thường thì các hoàng đế nhà Thanh sẽ có khoảng 10 phi tần nhưng trong cuốn sách "Khang Hi toàn truyện", các sử gia đã ghi lại rằng trong hậu cung của ông có đến 49 vị từ quý nhân trở lên, 67 người nhận sắc phong chính thức còn những người từng hầu hạ vua nhưng lại ở phân vị thấp thì có không dưới 200.

Tính về con cái thì ông có đến 55 người con, 35 hoàng tử và 20 công chúa.

Thậm chí cho đến khi về già, nhà vua vẫn không ngừng triệu các mỹ nữ từ vùng Giang Nam vào cung hầu hạ mà hoàn toàn không phải để sinh con cho hoàng thất.

Nhiêu đó thôi cũng đủ để thấy mức độ phong lưu của vị vua này rồi.

Vì một số lý do chính trị mà Khang Hi buộc phải lập hậu khi ông mới chỉ 12 tuổi.

Thê tử kết tóc đầu tiên của hoàng đế là Hiếu Thành Nhân hoàng hậu Hách Xá Lý thị .

Dù nhập cung khi còn nhỏ tuổi nhưng hoàng hậu ngày càng tỏ rõ nhân cách tốt đẹp, cử chỉ đoan trang, lại hiệp trợ nhà vua không ít trong quản lý hậu cung, cũng rất cung kính với Thái hậu và Thái hoàng thái hậu.

Vì vậy, nàng rất được lòng bề trên, tình cảm phu thê vì thế mà vô cùng tốt đẹp.

Nhưng mà vị hoàng hậu trẻ tuổi này lại chẳng thọ mệnh.

Bà có với Khang Hi hai người con trai, người con đầu tiên qua đời chỉ trong 4 năm kể từ ngày sinh ra.

Khi bà sinh người con thứ hai thì lại băng huyết mà nhanh chóng ra đi lúc mới 21 tuổi.

Cái chết của bà để lại nỗi đau buồn sâu sắc trong lòng Khang Hi, dù sau này ông có nạp bao nhiêu phi tần nhưng chẳng có ai được ông đối xử trân trọng như với bà.

Thậm chí với đứa con mới ra đời mà đã mồ côi mẹ, Khang Hi cũng phá lệ mà đem vào tẩm cung của mình để nuôi dưỡng, còn đặc cách phong làm Thái tử từ khi mới 2 tuổi.

Vốn là sau sự ra đi của bà, Khang Hi không muốn lập hậu nữa.

Tuy nhiên Thái hoàng thái hậu Hiếu Trang buộc nhà vua phải có tân hậu; vì thế 3 năm sau khi bà mất, ông lập một phi tần thuộc dòng họ Nữu Hỗ Lộc làm kế hậu.

Tuy nhiên chỉ 6 tháng sau khi ngồi lên phượng vị, Nữu Hỗ Lộc thị cũng qua đời, nguyên nhân không được sử sách ghi chép lại.

Vị hoàng hậu thứ ba của Khang Hi là Đông Giai thị, bà này được phong làm Hoàng quý phi, quản lý hậu cung sau khi Nữu Hỗ Lộc thị hoàng hậu qua đời.

Hoàng quý phi chỉ có một người con gái, thế nhưng công chúa lại đoản mệnh, chết non ngay khi mới sinh.

Quá đau buồn nên bà cũng sinh bệnh ngày càng trở nặng.

Thấy vậy, nhà vua bèn nghĩ cách "trùng hỉ" để mong bệnh tình bà giảm nhẹ.

Ông lập tức sắc phong cho bà làm hoàng hậu thế nhưng đau đớn thay, vào đúng ngày sắc phong thì Đông Giai Hoàng quý phi hương tiêu ngọc vẫn.

Đại điển sắc phong đột nhiên biến thành tang lễ, đau thương bàng hoàng bao trùm hoàng cung nhà Thanh.

Từ đó trở đi, Khang Hi đế không lập thêm bất kỳ hoàng hậu nào nữa.

Mãi sau khi Khang Hi băng hà, tứ a ca Dận Chân nối ngôi trở thành Ung Chính đế mới tôn mẫu thân của mình là Ô Nhã thị thành hoàng thái hậu, tức vị hoàng hậu thứ tư của Khang Hi.

Nhưng mà tiếc rằng lúc này Khang Hi đã mất trước khi biết.

Dưới triều nhà Minh, số người được sắc phong trong hậu cung không vượt quá 19 người.

Nhiều hoàng đế Minh triều chỉ có 2-3 phi tần, thậm chí có người suốt đời chỉ "một vợ một chồng" như Minh Hiếu Tông.

Ngược lại dưới Thanh triều lại đặt ra luật lệ tất cả các cô gái phải được hoàng đế tuyển chọn qua mới được đi lấy chồng.

Nếu muốn thì hoàng đế có thể lấy cả nữ nhân từ Hán tộc.

Các hoàng đế nhà Thanh có không dưới 10 phi tần, trong đó có Khang Hi là sắc phong với số lượng đông đảo nhất.

Dưới thời Khang Hi có đến gần 70 phi tần được sắc phong chính thức, nhưng đây mới chỉ là con số ước lượng dựa trên số lượng trong lăng mộ còn số liệu thực tế thì chưa một sử gia nào có thể khẳng định chắc chắn.

Từ chức quý nhân trở lên thì trong hậu cung của nhà vua có 49 người, được sắc phong có 67 người còn số lượng các "đáp ứng" hay "thường tại" - phi tần có địa vị thấp thì chắc chắn không dưới 200 người.

Khi đã về già thì Khang Hi còn liên tục triệu triệu các mỹ nữ vùng Giang Nam vào cung hầu hạ; hoàn toàn không phải để sinh hoàng tử, công chúa bởi số lượng con của vị vua này lúc đó đã không ai sánh kịp.

Sở dĩ Khang Hy rất yêu thích các mỹ nữ Giang Nam bởi trong những năm trị vì đất nước, ông đã rất nhiều lần vi hành tới đây và lần nào cũng bị đắm chìm bởi vẻ đẹp của một cô gái nào đó thuộc vùng "sơn thủy hữu tình" này.

Có thể nói, đối với những phi thiếp thì Khang Hi lại dùng tình cảm chân thành mà đối đãi, quan tâm.

Sinh thời ông hay đi vi hành, mỗi khi đến một địa phương nào thì ông đều cho người gửi những đặc sản của địa phương đó về cho những ái phi ở hậu cung đang ngóng chờ.

Khi hoàng hậu đầu tiên của nhà vua là Hách Xá Lý thị qua đời, Khang Hi ra lệnh ngừng lâm triều trong 5 ngày để tổ chức lễ tang cho hoàng hậu.

Trong 25 ngày tế lễ nhà vua tự mình khóc thương đến 20 ngày.

Đến khi Nữu Hỗ Lộc hoàng hậu ra đi, nhà vua đau buồn, mỗi ngày cứ từ giờ Thìn đến giờ Dần, ông đều đến nơi quản thi hài của bà mà ngồi đó ngây ngốc.

Đối với những phi tần khác, Khang Hi cũng rất quan tâm đến sắp xếp cho họ sau khi bản thân đã ra đi.

Ông đã từng hạ lệnh chôn cất hai hoàng hậu trong địa cung của Cảnh Lăng, vì thế sau khi ông băng hà thì các phi tần qua đời sau đó cũng đều được an táng nơi đây.

Cứ như vậy, lăng mộ của Khang Hi trở thành nơi án táng của rất nhiều hậu phi.

Thường thì phong lưu đa tình thường gắn liền với những hôn quân, như Trụ vương say mê Đắc Kỷ mà vương triều nhà Trụ sụp đổ hay Ngô vương Phù Sai vì ham mê sắc đẹp của Tây Thi mà để cho Việt vương Câu Tiễn nhân thời cơ đoạt lại quyền lực.

Thế nhưng điều này lại không đúng với vua Khang Hi triều Thanh.

Dù bao quanh ông có rất nhiều bóng hồng, giai nhân tuyệt sắc nhưng mà ông vẫn rất tỉnh táo khi nói đến những chuyện quốc gia đại sự.

Một vị giáo sĩ phương Tây đã từng kể rằng trong lần hoàng đế tới Nam Kinh thì người ta dâng cho ông 7 mỹ nữ.

Nhưng hoàng đế chỉ nhìn một lần rồi từ chối luôn, đồng thời phạt tất cả những kẻ to gan đó.

Điều này cho thấy sự cảnh giác cao độ của ông trước việc các đại thần muốn dùng sắc đẹp để lung lạc nhà vua.

Một cận thần của hoàng đế cũng kể lại rằng khi tuần phủ Giang Đông nghênh giá ở Khánh Đô thì cũng dâng lên 4 cô gái đẹp; nhà vua nổi trận lôi đình, còn bí mật cho điều tra thêm thì thấy thuộc hạ đều được tặng những "món quà" như vậy bèn hạ lệnh nghiêm trị đối với vị quan này.

Chính sự tỉnh táo, cứng rắn, dù yêu thích nhưng không mê đắm trong sắc đẹp là điểm khác biệt của Khang Hi, khiến ông trở thành một trong những vị vua vĩ đại nhất trong các triều đại phong kiến Trung Hoa.
 
Trung Quốc Xa Xưa
QUYẾT ĐỊNH GIÚP NHÀ MINH TỒN TẠI GẦN 300 NĂM TRONG LỊCH SỬ.


Bắc Kinh nằm ở vùng đồng bằng Hoa Bắc, phía tây bắc là sơn mạch núi Yến, phía tây nam có sơn mạch núi Thái Hành, mặt nam là bình nguyên Hoa Bắc, hướng Đông lại có vịnh Bột Hải.

Ngoài ra quanh đây còn có hai bán đảo Sơn Đông và Liêu Đông ôm lấy Bột Hải, tạo thành tấm lá chắn bảo vệ vững chắc.

Thành này phía Bắc dựa vào núi hiểm, phía Nam khống chế bình nguyên, xung quanh lại có nhiều tiểu bình nguyên, địa thế từng được rất nhiều bậc cao nhân coi trọng.

Thời đầu nhà Nguyên, một Ba Đồ Lỗ từng tiến cử với Hốt Tất Liệt: "Yến Kinh (tên cũ của Bắc Kinh) nằm ở nơi hiểm yếu, phía bắc có núi non hùng vĩ, phía nam có thể khống chế Trung Nguyên, lại thông với vùng Giang Hoài, liền với sa mạc.

Thiên tử phải ở đó trị vì thiên hạ.

Nếu vương muốn làm chủ thiên hạ, thì không thể không định đô ở đất Yên".

Hốt Tất Liệt vì vậy quyết định chọn nơi này làm kinh đô.

Bắc Kinh từ đó trở thành thủ phủ của Nguyên triều.

Sau này, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đem quân tiến đánh thành Bắc Kinh, Nguyên triều suy vong, giang sơn đổi chủ.

Minh triều lúc đầu định đô tại Nam Kinh nên đã tiến hành dỡ bỏ cung điện của của nhà Nguyên để triệt hạ nguyên khí, tránh tiền triều có cơ hội phục hưng.

Tới khi Minh Thành Tổ Chu Đệ sau khi chiếm đoạt ngôi báu thành công đã quyết định dời đô về Bắc Kinh và tiến hành tu sửa, quy hoạch kinh đô này.

Quyết định táo bạo này của Chu Đệ một phần bắt nguồn từ việc Bắc Kinh năm xưa vốn là đất phong của ông khi còn làm vương.

Chu Đệ vì vậy mà tin rằng nơi đây có "long yểm" (rồng ẩn).

Trong "Minh thực lục" phần "Thái Tông thực lục" cũng có viết:"Bắc Kinh là đất long hưng của Thánh thượng, phía bắc gối đầu lên Cư Dung, phía tây tựa vào Thái Hành, phía đông nối liền Sơn Hải, bao quát Trung Nguyên, đất đai màu mỡ, địa thế sơn xuyên, đủ đế khống chế tứ di, làm chủ thiên hạ, có thể giữ ngôi vương muôn đời."

Cuốn Vạn Lịch biên soạn thời nhà Minh có đánh giá nơi đây "Xung quanh có biển làm thành trì, có núi Thái Hành che chở, lại gối đầu lên ải Cư Dung, ở giữa khống chế bên ngoài", còn là nơi "vạn năm cường ngự, muôn đời trị an".

Xuyên suốt các triều đại phong kiến trong lịch sử Trung Hoa, không ít bậc cổ nhân đã từng ca ngợi Bắc Kinh là vùng đất "phong thủy bảo địa", là nơi thích hợp nhất để định làm kinh đô.

Việc kinh thành này từng trụ vững sau bao cuộc binh biến đã chứng minh mảnh đất này được "trời định" làm kinh đô.

Hai nguy cơ quân sự từng phát sinh dưới thời Đại Minh này cũng là minh chứng rõ cho sự tất yếu, đúng đắn và sáng suốt trong quyết định dời đô của Minh Thành Tổ Chu Đệ.

Sau khi Nguyên triều diệt vong, quân Nguyên dồn về thảo nguyên Mông Cổ, nhưng vẫn không ngừng mở các đợt tấn công hòng tái chiếm lại các mảnh đất do Minh triều cai quản.

Do đó, việc dời đô về phía Bắc nằm trong toan tính của Chu Đệ, nhằm trấn áp các cuộc nổi dậy của những người ủng hộ Nguyên triều.

Trước khi được chính thức chọn làm kinh đô, Hoàng đế vẫn thường xuyên lưu lại Bắc Kinh, nhiều quan lại trong triều vì vậy mà được bố trí thuyên chuyển công tác đến nơi đây.

Bắc Kinh dần dần trở thành trung tâm chính trị của nhà Minh.

Khi chính thức được chọn làm nơi định đô, Minh Thành Tổ Chu Đệ đã tiếp thu kinh nghiệm từ những triều đại đi trước, quy hoạch lại nội thành Bắc Kinh một cách khang trang, bề thế.

Chỉ vỏn vẹn trong 30 năm, Minh Thành Tổ đã tu sửa và kiến tạo nơi đây trở thành một kinh đô tân tiến bậc nhất và sở hữu hệ thống cơ sở hạ tầng, công trình kiến trúc tân tiến nhất trong số các kinh đô của những nước khác trên thế giới thời bấy giờ.

Việc lựa chọn Bắc Kinh làm trung tâm chính trị, quân sự không chỉ bắt nguồn từ yếu tố phong thủy mà còn để chống lại sự tấn công của Mông Cổ, đảm bảo sự toàn vẹn của giang sơn, lãnh thổ.

Nếu không có bước đi đột phá này, Minh triều chưa chắc đã làm chủ giang sơn Trung Hoa lâu đến vậy.

Việc Bắc Kinh trụ vững sau hai nguy cơ quân sự to lớn dưới đây là minh chứng cho thấy quyết định dời đô của Minh triều là hoàn toàn đúng đắn.

Hai cuộc binh biến xảy ra vào năm 1449 và 1550, chỉ cách nhau 101 năm.

Nguy cơ quân sự lớn đầu tiên được sử cũ nhắc đến với tên gọi "Sự biến Thổ Mộc Bảo".

Bấy giờ, Mông Cổ có bộ tộc Ngõa Lạt hết sức lớn mạnh, người đứng đầu của tộc này là Dã Tiên.

Năm đó, Dã Tiên đem quân đánh nhà Minh, lực lượng vô cùng hùng mạnh, một mặt tấn công Liêu Đông, mặt khác lại công kích Đại Đồng Sơn Tây.

Hoàng đế Minh triều bấy giờ là Minh Anh Tông - một vị vua trẻ còn chưa có nhiều kinh nghiệm thực chiến.

Bấy giờ, Minh Anh Tông nghe theo lời xúi giục của Vương Chấn, tên hoạn quan vẫn tìm cách xu nịnh, che mắt Hoàng đế, lũng đoạn triều chính.

Kết quả là đại quân bị giết, Anh Tông bị quân địch bắt sống, còn Vương Chấn chôn thây nơi chiến trường.

Hay tin Hoàng đế bị bắt, Bắc Kinh rơi vào tình trang vô cùng hỗn loạn.

Trong thành lúc này chỉ còn lại tàn binh già yếu, lại như rắn mất đầu, tình thế nguy cấp, nhiều quan viên thậm chí còn tìm cách chạy nạn.

Khi đó, những người sinh ra ở phía nam đề nghị hoàng tộc dời đô về Nam Kinh vì cho rằng Bắc Kinh nhất định sẽ thất thủ.

Trước luồng ý kiến này, Binh bộ Thị lang Vu Khiêm kiên quyết phản đối, vì ông tin rằng thành Bắc Kinh đủ sức trụ vững.

Trong khi đó, việc dời đô về Nam Kinh sẽ khiến cả khu vực Hoàng Hà trở về phía Bắc nhất định đều lâm nguy.

Chủ trương của Vu Khiêm được em ruột Anh Tông là Thành vương Chu Kỳ Ngọc ủng hộ.

Vì vậy, Vu Khiêm được hoàng tộc giao trọng trách tổ chức bảo vệ kinh đô.

Vu Khiêm trước nhất tổ chức lực lượng quân sự, bố trí việc phòng ngự, phối hợp với dân chúng thủ thành.

Trước khi Ngõa Lạt đổ bổ tới gần kinh đô, Vu Khiêm thông báo với tất cả các tướng sĩ: "Chúng ta hiện tại đã có Hoàng đế mới (ý chỉ Chu Kỳ Ngọc lên ngôi thay anh trai), phải thủ vững kinh thành".

Quả nhiên sau đó, Dã Tiên bắt Anh Tông đến bên ngoài cổng thành và nói: "Hoàng đế của các người đã trở về, mau chóng mở cổng thành ra".

Dã Tiên và Ngõa Lạt vốn định dùng Anh Tông làm con cờ để có thể chiếm thành Bắc Kinh mà không phải đổ máu.

Nhưng quan binh thủ thành đã theo lệnh của Vu Khiêm mà đáp trả: "Chúng ta nay đã có vua mới rồi"."

Trận chiến thành Bắc Kinh xảy ra trong hoàn cảnh như vậy.

Quân Minh dưới sự chỉ huy của Vu Khiêm đã chống trả vô cùng mãnh liệt và giành thắng lợi trong cuộc chiến thủ thành.

Đúng lúc này, viện quân từ khắp nơi cũng lũ lượt đổ về.

Dã Tiên nhận thấy tình thế không ổn, liền quyết định lui binh.

Kinh đô Bắc Kinh được giữ vững, cả khu vực phía Bắc Hoàng Hà cũng được an toàn.

Từ sự biến quân sự trên, có thể thấy rõ nếu năm xưa Minh Thành Tổ Chu Đệ không dời đô về Bắc Kinh, thì có lẽ đến năm 1449, nhà Minh khó có thể chống lại sự tấn công của quân đội Ngõa Lạt.

Hơn một thế kỷ sau, tức năm 1550, một nguy cơ quân sự khác lại đe dọa tới sự tồn vong của Minh triều.

Đó là thế lực khác từ Mông Cổ, do Yểm Đáp thủ lĩnh, sử cũ gọi đây là "Loạn Yểm Đáp".

Đội quân này xuất binh bay vây Bắc Kinh, tình thế kinh đô lúc đó phải dùng cụm từ "ngàn cân treo sợi tóc" để miêu tả.

Nhưng trải qua đấu tranh gian khổ, thành Bắc Kinh vẫn trụ vững trước mưa tên bão đạn của quân địch.

Sau cùng, quân đội Yểm Đáp chỉ có thể lui binh.

Bắc Kinh có thể trụ vững sau hai thử thách binh biến này, đủ để thấy nơi đây quả thực là kinh đô "trời định" của Trung Hoa, cũng là minh chứng cho thấy việc Minh triều dời đô về nơi đây là quyết định tất yếu và sáng suốt.
 
Trung Quốc Xa Xưa
ÂM MƯU TANH MÁU CỦA GIAN THẦN KHÉT TIẾNG NHẤT LỊCH SỬ TRUNG QUỐC.


Ở vào thời điểm hoàng quyền suy sụp, ta thường bắt gặp những nhân vật thâu tóm triều chính, vượt mặt thiên tử.

Đó có thể là Thái hậu, hoạn quan, nhưng phổ biến hơn cả chính là những kẻ mang danh "quyền thần".

Những "quyền thần" này nắm trong tay quyền lực to lớn áp đảo mọi thế lực, tự mình quyết định triều chính, phế lập hoàng đế, tru diệt đại thần...

Cũng đã từng ghi nhận không ít "quyền thần"lộng hành khét tiếng như Đổng Trác, Tào Tháo, Ngao Bái...

Nhưng trong số đó, kẻ "bá đạo" hơn cả lại là Vũ Văn Hộ - người nhiếp chính những năm đầu của nhà Bắc Chu.

Vũ Văn Hộ tự là Tát Bảo, cháu trai của Vũ Văn Thái – thượng trụ nhà Tây Ngụy.

Khi Bắc Ngụy phân thành Đông Ngụy và Tây Ngụy, Vũ Văn Thái bận việc triều chính, chinh chiến, thường giao cho cháu trai là Vũ Văn Hộ quản lý chuyện gia sự, sau còn giao cho Hộ xử lý nhiều việc quân chính.

Tháng 10 năm 556, Vũ Văn Thái bệnh thập tử nhất sinh.

Người con thứ ba của ông là Vũ Văn Giác mới chỉ 14 tuổi, chưa đủ khả năng kế nhiệm chức vị và quyền lực của cha.

Khi ấy, Thái chỉ còn cách ủy thác mọi việc cho người cháu trai Vũ Văn Hộ.

Nhờ vậy, Hộ thuận lợi kế thừa quyền hành của người chú ruột.

Vậy nhưng, uy tín và vị thế trong triều của Vũ Văn Hộ còn thua kém nhiều so với những đại thần thuộc trụ cột

Để tạo quyền uy cho bản thân mình, Vũ Văn Hộ ngang nhiên phế bỏ Tây Ngụy Hoàng đế Thác Bạt Khuếch, đưa em họ Văn Giác (con trai thứ ba của Vũ Văn Thái) lên ngôi vua, thành lập chính quyền nhà Bắc Chu.

Không lâu sau đó, Thác Bạt Khuếch bị Vũ Văn Hộ trừ khử.

Sau khi đăng cơ, chứng kiến cảnh Vũ Văn Hộ chuyên quyền, tiểu Hoàng đế Vũ Văn Giác vô cùng bất mãn, liền tìm cách tính kế để diệt trừ người anh họ đã có công đưa mình lên ngôi này.

Vậy nhưng, vây cánh của Hộ vô cùng đông đảo, âm mưu non nớt của hoàng đế nhanh chóng bị bại lộ.

Tại vị chưa đầy một năm, Vũ Văn Giác bị phế truất, một tháng sau đó bị giết chết.

Sau đó, Vũ Văn Hộ tiếp tục đưa Văn Dục (anh trai Văn Giác,con trưởng của người chú Vũ Văn Thái) lên ngai vàng để "thế chỗ" em trai.

Khi đăng cơ, Vũ Văn Dục đã 25 tuổi.

Hộ thấy hoàng đế trưởng thành, giả bộ muốn trao trả quyền lực, nhưng thực chất vẫn nắm hết mọi chuyện triều chính trong tay.

Sinh thời, chẳng có vị Thiên tử nào muốn sống dưới thân phận một con rối, Vũ Văn Dục cũng không phải ngoại lệ.

Hiểu rõ suy nghĩ của hoàng đế, lại thêm kinh nghiệm rút ra từ những lần phế lập trước đó, "quyền thần" Vũ Văn Hộ đã "tiên hạ thủ vi cường" (ra tay trước để chiếm lấy lợi thế).

Tháng 4 năm 560, Hộ hạ độc vào đồ ăn của hoàng đế.

Biết mình bị anh họ hạ thủ, Văn Dục cố gắng chống đỡ, chỉ kịp để lại di chiếu.

Vị vua này không truyền ngôi cho con trai của mình, mà chỉ định người em trai thứ 4 là Vũ Văn Ung kế vị.

Sau khi an vị trên ngai vàng, Văn Ung luôn tìm cách giấu mình, nhất mực tỏ vẻ cung kính Vũ Văn Hộ.

Một tay giết chết ba vua, lại thấy tân đế biết an phận, Hộ lại tiếp tục làm theo ý mình, nắm hết mọi quyền hành trong triều.

Có thể khẳng định, Vũ Văn Hộ là "quyền thần" đã mưu hại nhiều hoàng đế nhất trong lịch sử Trung Hoa.

Nắm trong tay quyền lực vượt mặt thiên tử, Vũ Văn Hộ luôn tìm mọi cách để khiến cho những người chống đối mình phải nhận nhiều kết cục bi thảm.

Ngoài việc trừ khử ba vua, có không ít các đại thần đã vong mạng trong tay của kẻ "quyền thần" này.

Dưới thời của Hoàng đế Vũ Văn Giác, có hai vị đại thần từng ra mặt bất mãn với Vũ Văn Hộ.

Đó là Triệu Quý và Độc Cô Tín.

Sau đó, Triệu Quý âm thầm tính toán kế hoạch trừ khử Hộ.

Nhưng sự tình không may bại lộ, vị đại thần này bị Hộ thẳng tay trừ khử.

Độc Cô Tín cũng bị Vũ Văn Hộ ép phải tự sát không lâu sau đó.

Tới khi Võ đế Văn Ung tại vị, có một vị là Hầu Mạc Trần Sùng vẫn ngầm bất mãn với Văn Hộ.

Có lần, hoàng đế trong lúc đi tuần lại phải đột ngột hồi cung ngay trong đêm.

Hầu Mạc Trần Sùng vô tình nói ra suy đoán, cho rằng Vũ Văn Hộ đã chết: "Ta trước đây có nghe lời của thầy bói, Tấn công (chỉ Hộ) năm nay không may, xa giá bây giờ quay về giữa đêm, chẳng qua là Tấn công chết rồi."

Kết quả, có người tố giác câu nói này, Văn Hộ ép Trần Sùng phải tự sát ngay trong đêm ấy.

Triệu Quý, Độc Cô Tín và Hầu Mạc Trần Sùng là ba vị "đại trụ"bị "quyền thần" trên trừ khử.

Bên cạnh đó, còn không ít triều thần như Lý Viễn, Hạ Nhã Đôn... vong mạng dưới tay Văn Hộ.

Vậy nhưng, "quyền thần" tàn độc này có nằm mơ cũng không nghĩ rằng mình sẽ thua trong tay vị hoàng đế tưởng như an phận kia.

Tháng 3 năm 572, theo sự bố trí của Bắc Chu Võ đế Vũ Văn Ung, Hộ được vời vào trong cung.

Thừa dịp kẻ "quyền thần" này không đề phòng, Văn Ung tự mình cầm ngọc đĩnh đánh cho Hộ ngã xuống đất.

Ngay sau đó, em trai của Ung là Vũ Văn Trực xông ra, lập tức đâm chết người anh họ đã lộng hành 16 năm qua.

Công bằng mà nói, tuy là một kẻ độc tài, nhưng Vũ Văn Hộ không hề có dã tâm đoạt vị.

Tiếc rằng, Võ đế của nhà Bắc Chu vốn là một bậc "hùng tài đại lược", không thể bỏ qua cho hành động độc đoán, chuyên quyền của Hộ.

Cho tới lúc chết, Vũ Văn Hộ vẫn không hiểu được rằng: kẻ làm quyền thần vốn chỉ có hai con đường để lựa chọn, một là đoạt vị, hai là chờ chết.

Tránh được hai kết cục ấy, có lẽ cả Trung Hoa chỉ có Gia Cát Lượng là ngoại lệ mà thôi.
 
Trung Quốc Xa Xưa
CĂN BỆNH "BẤT LỰC" CỦA VUA PHỔ NGHI VÀ VẾT NHƠ CỦA HOÀNG TỘC THANH TRIỀU.


Trong lịch sử cận đại Trung Quốc, Phổ Nghi được nhận định là một nhân vật chính trị quan trọng, đồng thời cũng là một vị vua có cuộc đời bi kịch.

Vị Hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh lần đầu lên ngôi vào năm 3 tuổi, tới 6 tuổi thì buộc phải thoái vị, 10 tuổi lại bị đuổi khỏi Tử Cấm Thành.

Sau này, ông bị biến thành con rối bù nhìn trong tay Nhật Bản với cái danh "Quốc trưởng Mãn Châu Quốc".

Vì sao lại nói Phổ Nghi là một vị vua có số phận bi kịch?

Đó không chỉ vì ông đã buộc phải từ bỏ cơ nghiệp hơn 2 thế kỷ của tổ tông, mà còn bởi ông sở hữu cuộc sống hôn nhân đầy bất hạnh.

Nhắc tới sự truân chuyên trong đời sống vợ chồng của Phổ Nghi, hậu thế không khỏi nhớ ngay đến việc nhà vua bị chính Hoàng hậu của mình "cắm sừng" vì bị... vô sinh!

Nhưng điều cay đắng hơn nằm ở chỗ, ông thậm chí còn buộc phải bỏ tiền ra cho tình nhân của vợ để cứu vãn danh dự hoàng tộc.

Có lẽ, Phổ Nghi là vị vua hiếm hoi trong lịch sử Trung Quốc từng bị vợ công khai ly hôn.

Mà người đó không ai khác chính là Thục phi Văn Tú.

Trên thực tế, vị Hoàng đế cuối cùng của Thanh triều từng có tới 5 bà vợ, nhưng lại không có lấy nổi một mụn con để nối dõi tông đường.

Có ý kiến cho rằng, những truân chuyên trong hôn nhân của Phổ Nghi thực chất bắt nguồn từ việc ông vua này gặp vấn đề về khả năng sinh lý.

Phổ Nghi kết hôn cùng Hoàng hậu Uyển Dung vào năm 16 tuổi.

Khi đó, ông là một thiếu niên đang tuổi tráng kiện, bừng bừng sức sống.

Nhưng điều kỳ quái nằm ở chỗ, vào đêm ngày cưới, Hoàng đế và Hoàng hậu lại không hề động phòng.

Theo hồi ức của thái giám cuối cùng trong lịch sử Trung Hoa là Tôn Diệu Đình, vào tối ngày 30/11/1922 (ngày thành thân của Hoàng đế), Phổ Nghi chỉ đưa Uyển Dung tới hoan phòng ở Khôn Ninh Cung rồi không ở lại mà đến Dưỡng Tâm điện chơi cùng các thái giám nhỏ tuổi đến khi trời sáng.

Hai người trẻ tuổi vào đêm tân hôn lại không động phòng.

Điều này khiến người đời không khỏi nghi ngờ rằng: Phải chăng Phổ Nghi về phương diện giường chiếu quả thực có điểm "không được"?

Đối với tin đồn ấy, thái giám Tôn Diệu Đình cũng ngầm tỏ vẻ đồng tình.

Ông cho biết: "Trước kia, thái giám trong cung vì lười biếng muốn trốn việc nên thường xuyên đưa cung nữ cho Phổ Nghi chơi đùa từ lúc nhà vua mới lên 10.

Đến năm 12, 13 tuổi, cơ thể của Hoàng đế từ sớm đã vì lao lực phòng the quá độ mà trở nên bất lực."

Trong cuốn hồi ký của mình, Phổ Nghi cũng đích thân kể lại rằng, từ khi mới lên 10 tuổi ông đã "biết mùi đàn bà".

Thậm chí có những đêm, nhà vua cùng lúc được 2-3 cung nữ "phục vụ".

"Sáng hôm sau tỉnh dậy, ta thấy hoa mắt, chóng mặt, nhìn mặt trời và mọi thứ xung quanh đều ra màu vàng ệch".

Đó chính là những lời mà Phổ Nghi viết trong hồi ký của mình.

Chính bởi "lao lực" phòng the quá độ khi chưa trưởng thành, Phổ Nghi từ sớm đã bị yếu sinh lý và thường xuyên phải sử dụng các loại thuốc trợ dương.

Trong một cuốn sách được xuất bản bởi chuyên gia nghiên cứu lịch sử Thanh triều là Giả Anh Hoa, nhà sử học này đã đưa ra bằng chứng thuyết phục nhất trước tin đồn Phổ Nghi bị yếu sinh lý.

Theo đó, vào năm 1962, khi Phổ Nghi đang điều trị tại Bệnh viện Hiệp Hòa (Bắc Kinh), bệnh lý ghi lại tình trạng của ông có viết rõ:

"Bệnh nhân khi lên ngôi Hoàng đế vào 30 năm trước đã bị liệt dương, dù liên tục điều trị nhưng không khả quan.

Người bệnh còn có thói quen hút thuốc, đã vài lần kết hôn nhưng không có con..."

Từ những cứ liệu lịch sử này, có thể thấy rằng việc vị Hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh bị yếu sinh lý có lẽ không chỉ là tin đồn.

Vì những năm tháng niên thiếu không biết tiết chế ham muốn của bản thân, nên ở vào thời điểm kết hôn cùng Uyển Dung năm 16 tuổi, Phổ Nghi từ sớm đã mất đi khả năng sinh lý.

Hoàng hậu Uyển Dung bằng tuổi Phổ Nghi.

Xuất thân trong gia đình danh giá, lại là một cô gái đương độ thanh xuân phơi phới, thế nhưng Hoàng hậu lại phải chịu cảnh vò võ một mình nơi cấm cung.

10 năm sau ngày thành hôn cùng Hoàng đế, Uyển Dung vẫn còn là một trinh nữ.

Vì không chịu đựng được cảnh quạnh hiu nơi khuê phòng, nên bà đã tư thông cùng 2 hậu vệ thân tín của nhà vua.

Năm 1935, Uyển Dung sinh hạ con gái đầu lòng.

Thế nhưng phải đến thời điểm trước khi đứa bé ra đời, Phổ Nghi mới hay tin mình sắp "làm cha".

Biết được tin này, Hoàng đế giận dữ hét lớn.

Bởi ông hiểu rõ hơn ai hết, con của Hoàng hậu chắc chắn không phải là giọt máu của mình.

Chuyện Phổ Nghi không có khả năng sinh dục mặc dù người ngoài bán tín bán nghi, nhưng điều đó từ lâu đã trở thành một bí mật không công khai mà người trong hoàng thất ai cũng biết.

Vậy cha ruột của đứa bé ấy là ai?

Sau khi cho người bí mật điều tra, vị Hoàng đế ấy mới "ngã ngửa" khi biết rằng, đứa bé Hoàng hậu sinh lại là giọt máu của thị vệ thân tín nhất bên nhà vua – Lý Thể Dục.

Nhưng sự việc chưa dừng lại ở đó, điều khiến Phổ Nghi càng thêm căm giận hơn là Uyển Dung không chỉ tư thông với người này, mà còn có quan hệ bất chính với một thị vệ khác là Kỳ Kế Trung.

Lúc mới biết được chân tướng, Phổ Nghi giận sôi máu, cảm thấy bản thân bị "cắm sừng" đến mức không còn mặt mũi nào.

Ông vốn định rút súng bắn chết hai kẻ Lý – Kỳ, nhưng lại sợ tin đồn lan xa làm ảnh hưởng đến thể diện hoàng thất.

Cuối cùng, Hoàng đế không những không thể xuống tay với tình nhân của vợ, mà còn buộc phải "xuất quỹ" cho hai kẻ ấy đến 400 đồng bạc Đông Dương để "ém miệng" và cho chúng cao chạy xa bay.

Về số phận của người con gái mà Hoàng hậu sinh ra, có giai thoại truyền lại rằng, Phổ Nghi vì tức giận mà đã ném đứa bé vào lò lửa ngay sau khi mới chào đời, rồi tống Uyển Dung vào lãnh cung.

Cũng kể từ đó, vị Hoàng hậu bất hạnh ấy lao vào những cuộc vui với thuốc phiện cho tới lúc tạ thế

Trong cuốn hồi ký của mình, Phổ Nghi kể lại rằng:

"Tôi nghe nói Uyển Dung ngày đêm làm bạn với thuốc phiện.

Bà ấy hút thuốc phiện thay ăn cơm, uống nước..."

Kể từ sau ngày biết được việc Hoàng hậu phản bội mình, Phổ Nghi từ lâu đã không còn màng tới sống chết của người vợ cả ấy.

Ông cho rằng, việc một bậc mẫu nghi thiên hạ lại đi tư thông với hộ vệ của chồng vốn là một điều không thể tha thứ.

Nhìn lại cuộc sống hôn nhân cũng như những bà vợ của Phổ Nghi, không khó để có thể nhận thấy rằng, chẳng mấy ai trong số họ thực sự có được hạnh phúc.

Mà một trong những nguyên nhân dẫn đến bất hạnh của những người trong cuộc, có lẽ cũng phần nào bắt nguồn từ sự "bất lực" về nhiều mặt của Phổ Nghi...
 
Trung Quốc Xa Xưa
CÁCH HOÀNG ĐẾ CHỌN NGƯỜI ĐỂ ÂN ÁI GIỮA HÀNG NGÀN MỸ NỮ TRONG CUNG.


Nói đến hậu cung Trung Hoa xưa, thì không thể nào không nhắc đến những cụm từ mang nhiều ý nghĩa mường tượng khổng lồ như "tam cung lục viện", hay "3 vạn mỹ nữ".

Thành thử ra mà nói, vua chúa hay hoàng đế Trung Hoa có lẽ là những người đàn ông có nhiều vợ (cả chính và phi) nhất trong lịch sử nhân loại.

Tuy nhiên, có lẽ nhiều người sẽ thắc mắc rằng, nếu có hàng ngàn người vợ như thế thì Hoàng đế biết chọn ai để ân ái mỗi đêm?

Câu trả lời của câu hỏi đó dưới đây chắc chắn sẽ khiến nhiều người bất ngờ.

Nói việc được hoàng đế "lâm hạnh" là một ván bài của 3 vạn mỹ nữ trong hậu cung Trung Hoa xưa quả không có gì sai, bởi không ai biết rằng điều này tùy thuộc vào vận may rất lớn của mỗi người khi sử dụng những "công cụ tuyển chọn" hết sức may rủi.

Chẳng hạn như những năm Khai Nguyên dưới thời nhà Đường, viên xúc xắc đóng vai trò như một "bà mối" để quyết định ai sẽ là người có được ân sủng đó.

Lý do là bởi hoàng đế không thích vì việc thị tẩm mà hao tâm tốn sức, liền cho các cung phi đổ xúc xắc để quyết định người được sủng hạnh.

Tuy nhiên, cách thức cụ thể không còn được ghi chép nhiều nên sử liệu về chúng hoàn toàn trống vắng, nhưng chỉ cần biết "quyền năng" của viên xúc xắc lúc bấy giờ có thể thay đổi hoàn toàn vận mệnh của một mỹ nhân hậu cung thì cũng đủ để thấy, đẹp là một chuyện, tài giỏi là một chuyện còn được lâm hạnh hoặc được mang long thai hay không lại là một chuyện khác.

Có một trò may rủi khác cũng khá tương tự như việc đổ xúc xắc như trên nhưng lại có tên và cách thức hoa mỹ hơn, đó chính là "điệp hạnh", tức là quyết định hoàng đế sẽ được ai "hầu hạ" dựa vào... con bươm bướm.

Việc tuyển chọn kỳ lạ này cũng diễn ra dưới thời nhà Đường, cụ thể là thời đại của Đường Huyền Tông Lý Long Cơ.

Sử liệu chép rằng, cách thức này diễn ra hết sức đơn giản, các phi tần trong cung cài hoa tươi lên đầu, sau đó người hầu của nhà vua sẽ thả bươm bướm.

Con bươm bướm này đậu vào đóa hoa trên đầu ai thì người đó sẽ được hoàng đế qua đêm.

Ngoài cách thức thú vị và hoa mỹ như trên, Lý Long Cơ còn nghĩ ra một cách khác hay ho không kém, tất nhiên, cách này cũng dựa vào vận may rất lớn.

Đó là "đầu tiễn đổ tẩm", theo đó, nhà vua sẽ ngẫu hứng ném một đồng tiền để các phi tần tranh nhau nhặt.

Ai nhặt được đồng tiền ấy sẽ may mắn được hoàng đế sủng hạnh một đêm.

Tuy vậy, cách thức này vô tình tạo ra nhiều điều không hay, như những phi tần tranh nhau nhặt đồng tiền mà nảy sinh hiềm khích, hay có cả những hành vi tranh giành không đẹp mắt trước mặt Hoàng đế.

Một vài cách khác để chọn người "lâm hạnh" như bắn tên, chọn đèn lồng hay cưỡi xe dê.

Giống như việc tung xúc xắc, "điệp hạnh", "đầu tiễn đổ tẩm", những phương pháp lựa chọn như "huỳnh hạnh" (bắt đom đóm), "hương hạnh" (bắt túi thơm) cũng có bản chất may rủi tương tự.

Riêng Đường Kính Tông Lý Đam đã tìm ra một cách độc đáo để chọn người ân ái đó là dùng "phong lưu tiễn", tức là mũi tên làm từ giấy có bọc xạ hương bên trong, cung làm bằng vỏ trúc.

Bằng cách này, tất cả phi tần sẽ được tập trung và xếp hàng tại một chỗ, đợi hoàng đế bắn mũi tên giấy về phía họ.

Mũi tên hướng vào ai thì người đó được chọn.

Còn ở thời nhà Minh thì có quy tắc "đèn lồng đỏ treo cao".

Tức là khi ánh mặt trời vừa tắt, màn đêm buông xuống thì các phi tần trong hậu cung vội treo 2 chiếc đèn lồng đỏ trước cửa cung của mình.

Đến giờ "lâm hạnh" hoàng đế sẽ lựa chọn ngẫu nhiên tùy hứng, cũng có thể tùy vào cảm xúc của ông khi đó, ông sẽ chọn đến cung có cặp đèn lồng vừa ý và tất nhiên, chủ nhân của cung đó sẽ được hoàng đế "lâm hạnh" và 2 chiếc đèn lồng treo ở cửa được tắt đi.

Cũng trong lúc này, thái giám sẽ thông báo ở cách cung khác rằng hoàng thượng đã có chỗ nghỉ trong đêm nên các phi tần còn lại hãy tắt đèn mà đi ngủ, đừng chờ đợi phí công.

Những việc tuyển chọn trên, như đã nói là phụ thuộc rất lớn vào may mắn của mỗi người.

Tuy nhiên, nhiều mỹ nhân ôm mộng đổi đời lại không chấp nhận xuôi theo số mệnh, liền dùng đủ mọi thủ đoạn để có được ân sủng của hoàng đế.

Đơn cử là vị Phan Thục phi của Tống Văn Đế, thời Nam Triều.

Thời đó, Tống Văn Đế quyết định việc "lâm hạnh" ai bằng phương cách "dương xe vọng hạnh".

Tức là hoàng đế sẽ cưỡi một chiếc xe do dê kéo trong hậu cung của mình, xe dê chạy tới trước cung của phi tần nào thì phi tần đó được ân sủng.

Về phần Phan Thục phi thì nàng lại là một người có nhiều quỷ kế, dã tâm độc chiếm ngôi vị được Tống Văn Đế ân sủng nên đã dụ bầy dê kéo xe bằng những món khoái khẩu của chúng.

Nàng trồng trước cung của mình những khóm trúc tươi tốt, cộng thêm việc rắc nước muối trước cửa cung, thế là nghe mùi hai thứ "ngon lành" này tất nhiên đàn dê sẽ kéo đến và đêm đó Phan Thục phi sẽ được "lâm hạnh".

Tống Văn Đế nói với Phan Thục Phi: "Dê còn bồi hồi vì ngươi, huống chi ta" rồi thường xuyên đến chỗ Thục Phi để qua đêm.

Phan Thục Phi tất nhiên không bỏ lỡ cơ hội, trang điểm thật đẹp, học cách yêu chiều, Văn Đế rất hài lòng, sau trao cho nàng quyền cai quản cả hậu cung.

Đặc biệt nhất, riêng triều đại nhà Thanh, thì để tránh việc một người được chuyên sủng thì hoàng đế cũng có cách lựa chọn đặc biệt nhằm không vấp phải vấn đề này.

Sau khi hoàng đế dùng bữa tối, vị quan chuyên phụ trách việc chọn người "lâm hạnh" sẽ đưa cho hoàng đế một khay bạc.

Trong khay bạc này có khoảng 10 thẻ bài màu xanh.

Trên thẻ bài có ghi tên của các phi tần dự kiến được sủng hạnh đêm đó.

Hoàng đế sẽ chọn một thẻ bài đại diện cho phi tần được "lâm hạnh".

Tuy vậy, việc lật thẻ bài hay không còn phụ thuộc vào tâm trạng của hoàng đế.

Nếu nhà vua không có hứng thú, khay kim bài ấy liền đặt về chỗ cũ.

Và thẻ bài ứng với tên của một phi tần nào được chọn, còn phải qua một lần "kiểm duyệt" của hoàng hậu.

Nếu hoàng hậu không đồng ý thì hoàng thượng sẽ phải chọn lại.

Sau khi được chọn, tú nữ sẽ được tắm rửa, trang điểm và nằm trên giường chờ đợi.

Khi được đưa đến "lâm hạnh", tú nữ sẽ không mặc gì, thái giám bịt mắt mình và cuộn chăn bao ngoài người tú nữ rồi vác đến cung cho hoàng đế.

Ấy vậy mà, sau khi vượt qua được hết các quy tắc và chắc chắn đã tìm được người cho hoàng đế ân ái, thì mọi việc sau đó còn phải được ghi chép lại cẩn thận bởi Kính Sự Phòng.

Đây là cơ quan chịu sự quản lý của Phủ Nội vụ, chuyên phụ trách ghi chép, quản lý việc thị tẩm cung tần của nhà vua.

Mỗi lần có phi tần được sủng hạnh, thái giám của Kính Sự phòng đều ghi chép cẩn thận ngày tháng để đối chiếu, nghiệm chứng nếu vị phi tần ấy có diễm phúc mang long thai.
 
Trung Quốc Xa Xưa
HÒA THÂN - NGƯỜI TÌNH ĐỒNG TÍNH ĐẸP NHƯ MỸ NHÂN CỦA CÀN LONG.


Nhắc đến Hòa Thân và những điển tích tham lam vô độ của vị đại thần này chẳng ai kể hết.

Nhờ sự sủng ái của Càn Long, con đường quan lộ thăng tiến của Hòa Thân cứ không ngừng mở rộng.

Dù bị gắn với danh xưng tham quan nhưng ít ai dám phủ nhận tài năng của "người tình đồng giới" của Càn Long.

Tạm bỏ qua những nghi vấn về mối tình với Càn Long, tuy nhiên ai cũng hiểu rằng nhờ mối tình này mà cuộc đời của Hòa Thân phất lên như diều gặp gió.

Cả đời Hòa Thân từng giữ và kiêm nhiệm đến hơn 6 chức quan trọng yếu.

Điều này một phần cũng xuất phát từ tài năng hiếm ai có của vị đại thần này.

Hòa Thân tinh thông 4 loại văn tự là: Mãn, Hán, Mông Cổ, Tây Tạng và có biệt tài trong việc quản lý tài chính.

Dưới bàn tay của Hòa Thân, tài chính trong cung Càn Long bao giờ cũng được đảm bảo.

Không những thế, ông còn là một chính trị gia, một nhà ngoại giao, một nhà kinh tế, một nhà thơ, một người am hiểu nghệ thuật...Nhờ công của Hòa Thân mà rất nhiều bộ sách quý được lưu giữ lại.

Trong hơn 20 năm, Hòa Thân được thăng chức 47 lần.

"Sở văn lục" viết: "Đời Thanh Cao Tông Càn Long, Hòa Thân làm quan, quyền thế khuynh đảo thiên hạ.

Kết bè kết đảng, đi lệch chính đạo mà kẻ sĩ trong triều chẳng dám ngăn trở".

Có rất nhiều dị bản kể về mối tình Càn Long - Hòa Thân, nhưng có một câu chuyện mà nhiều tài liệu ghi lại nhất chính là việc Hòa Thân chính là truyền kiếp của phi tử bị chết vì Càn Long hóa thành.

Theo một số lời kể cho biết, vì vô tình vung lược đập trúng mặt Càn Long (lúc này đang là thái tử) khiến Càn Long bị một vết đỏ ở mặt nên phi tử của Ung Chính (cha Càn Long) đã bị thái hậu ban cho cái chết.

Càn Long rất đau khổ vì điều này nên đã dùng ngón tay đánh dấu vết đỏ lên cổ người phi tử này và hứa hẹn sau này phi tử này đầu thai sẽ gặp nhau.

Không biết thực hư ra sao nhưng sau khi trở thành vua nhà Thanh, Càn Long gặp Hòa Thân phát hiện trên cổ của vị đại thần này có một vết bớt đỏ hình ngón tay và cho rằng đây chính là người phi tử đầu thai.

Khác với rất nhiều tạo hình Hòa Thân trong phim, nhiều tài liệu ghi lại rằng Hòa Thân sở hữu dung mạo rất đẹp, trắng trẻo, môi đỏ, khuôn mặt sắc nét rất quyến rũ.

Sử sách cũng ghi lại "Hòa Thân có dung mạo trắng trẻo, da trắng môi đỏ, cử chỉ trang nhã xinh đẹp chẳng khác gì nữ nhân".

Khi gặp Càn Long, Hòa Thân đang ở độ tuổi 20, Sử Trung Quốc là: diễm lệ hơn cả phi tần của Càn Long.

Ngoài việc sở hữu diện mạo giống người phi tử yêu quí, Hòa Thân còn tinh thông vạn việc khiến Càn Long càng ngày càng sủng hạnh.

Dù có hàng trăm phi tần xinh đẹp xung quanh nhưng Càn Long vẫn suốt ngày quấn quýt lấy Hòa Thân.

Nhiều tài liệu ghi lại rằng nếu ngày nào mà Càn Long không gặp được Hòa Thân sẽ không chịu được nên hằng ngày vị đại thần này phải vào hầu hạ và thăm nom.

Sự sủng hạnh của Càn Long dành cho Hòa Thân không có gì phải bàn cãi và ngược lại Hòa Thân cũng cực kỳ yêu thương người tình đồng tính của mình.

Không những hết lòng phục vụ mà Hòa Thân còn coi Càn Long như "người yêu" của mình, quấn quýt hầu hạ còn hơn bất cứ tên thái giám nào trong cung.Càn Long vi hành nơi đâu cũng đem theo Hòa Thân theo.

Vì vậy mà có tư liệu cho rằng Hòa Thân là hoạn quan.

Để chứng minh cho "tình yêu" của mình Càn Long còn gả đệ nhất công chúa mà ông nhất mực yêu thương cho con trai Hòa Thân và phong hiệu"Phong Thân Ân Đức".

Một số tài liệu còn ghi rằng Càn Long còn có ý định nhường ngôi cho Hòa Thân và việc này đã khiến vị vua sau này là Gia Khánh vô cùng tức giận.

Tài liệu ghi lại rằng sau này khi Hòa Thân bị xử chết tại pháp trường có làm một bài thơ với nội dung rằng: nếu có kiếp sau ông cùng xin được làm thần tử hầu hạ cho Càn Long.

Lịch sử đã qua và ít ai có thể khẳng định những nghi án kia là sự thật.

Tuy nhiên, những tài liệu để lại không phải là điều vô căn cứ.

Chẳng phải tự nhiên mà Càn Long để cho Hòa Thân sắm đầy túi riêng của mình như vậy.

Tổng cộng gia sản của Hòa Thân ước lượng vào khoảng 1.100 triệu lạng bạc, nhiều lời đồn cho rằng nó còn tương đương số tiền mà quốc khố nhà Thanh phải mất 15 năm mới thu được.

Tuy nhiên, một điều mà ít ai nghĩ tới chính là việc Hòa Thân lại sở hữu dung mạo mỹ miều như những nữ nhân để khiến Càn Long mê mẩn cả đời.
 
Trung Quốc Xa Xưa
NGUYỄN AN - KIẾN TRÚC SƯ TRƯỞNG ĐẠI TÀI NGƯỜI VIỆT XÂY DỰNG TỬ CẤM THÀNH.


Nguyễn An (1381 – 1453) quê vốn là người Hà Đông.

Từ thưở nhỏ, ông đã nổi tiếng khắp vùng với tài hoa và đôi tay khéo léo, bản lĩnh chính trực, liêm khiết của mình.

Năm 1397, khi chưa đầy 16 tuổi, tiếng lành đồn xa, ông được có mặt trong kịp thợ khéo để xây dựng các công trình cung điện tuyệt tác nhà Trần (dưới đời vua Trần Thuận Tông).

Thật đáng tiếc, danh tiếng lan ra trong thời buổi loạn lạc như vậy, chỉ mang lại nguy hiểm trùng trùng.

Minh sử ghi lại, vào tháng 12 năm Bính Tuất (1406), nhà Minh mang danh nghĩa "phù Trần diệt Hồ" xâm lược nước ta.

Cha con Hồ Quý Ly lên ngôi không được lòng dân nên liên tiếp thua trận.

Năm 1407, nhà Hồ thất thủ, nước Đại Việt chính thức bước vào một thời kì đô hộ đầy máu và nước mắt.

Đại Việt sử ký toàn thư có ghi lại:

"Người Minh lùng tìm những người ẩn dật ở rừng núi, người có tài có đức, thông minh chính trực, giỏi giang xuất chúng, thông kinh giỏi văn, học rộng có tài, quen thuộc việc quan, chữ đẹp tính giỏi, nói năng hoạt bát, hiếu để lực điền, tướng mạo khôi ngô, khỏe mạnh dũng cảm, quen nghề đi biển, khéo các nghề nung gạch, làm hương... lục tục đưa dần bản thân họ về Kim Lăng.

Như vậy, cùng với Nguyễn An, có hàng ngàn thợ khéo, người tài mà tiêu biểu như Hồ Nguyên Trừng (con trai Hồ Quý Ly, sau thành ông tổ pháo thần công), Phạm Giằng, Vương Cẩn,...

đã bị đưa sang đất Bắc.

Nhân tài Đại Việt còn như "lá mùa thu".

Còn đau đớn hơn, Nguyễn An khi sang đất Bắc, bị lựa chọn đem đi hoạn, trở thành thái giám trong cung cấm Trung Hoa.

Bị nhục nhã về thân phận, chà đạp lên con người, điều duy nhất để có thể sống sót và không bị biến chất là bộc lộ tài hoa của mình.

Nguyễn An đến đất Bắc trong thời điểm Minh Thành Tổ lên trị vì và đang gấp rút cho xây dựng một kinh đô mới ở Bắc Bình, nay là Bắc Kinh.

Việc xây dựng một tòa cung cấm mới đòi hỏi một nhân tài kiến trúc, còn có một tấm lòng ngay thẳng chính trực không vụ lợi.

Biết Nguyễn An là người công minh chính trực, lại có tài thiết kế, vua Minh đã cho A Lưu (tên tiếng Hán của Nguyễn An) là tổng công trình sư, chịu trách nhiệm thiết kế, quán sát, đôn đốc xây dựng cung đình.

Như vậy, Nguyễn An là người chịu trách nhiệm quyết định tối cao cho công trình, chỉ sau Minh Thành Tổ.

Quá trình thiết kế và xây dựng Tử Cấm Thành đòi hỏi rất nhiều công sức và tiền của.

Bản thân Nguyễn An cũng liên tục chịu sức ép mạnh mẽ từ một vị hoàng đế độc đoán, tham vọng.

Truyền thuyết kể rằng, khi xây dựng tòa thành đặt tại bốn góc Tử Cấm Thành, Nguyễn An đã trình hết bản thiết kế này tới bản thiết kế khác nhưng vẫn không được chấp thuận.

Trong cơn nóng giận, Minh Thành Tổ đã ra lệnh nếu Nguyễn An không thể đưa ra bản thiết kế khiến hắn vừa ý, ngày mai đầu vị kiến trúc sư này sẽ lìa khỏi cổ.

Tuyệt vọng, Nguyễn An đã làm việc suốt đêm đó.

Cuối cùng, ông thiết kế ra tòa thành có mái xếp tầng tầng lớp lớp, dựa trên ý tưởng chiếc lồng nuôi dế ông đang nuôi.

Và đến nay, tòa thành đó được coi như biểu tượng đặc trưng của Tử Cấm Thành.

Bên cạnh thiết kế công trình, Nguyễn An còn tham gia quản lý công trình xây dựng.

Tài năng của ông càng được bộc lộ rõ thông qua cách vận chuyển những khối đá nguyên khối về điêu khắc cho hoàng cung.

Những phiến đá này nặng gần 80 tấn, và đến nay để di chuyển về cũng rất khó khăn.

Nguyễn An, nhờ óc quan sát tinh tế của mình, đã tìm ra một phương pháp mà đến nay hậu thế vẫn còn thán phục.

Nhận thấy khu khai thác đá nằm ở khu vực có nhiệt độ luôn ở khoảng -20oC, ông đã chỉ đạo đào một rãnh nước rộng bằng chiều ngang của tảng đá, sau đó đổ nước sông lên.

Nước sông nhanh chóng bị đông cứng, tạo thành một đường trượt dài từ mỏ đá đến kinh thành, dễ dàng di chuyển những khối đá to và nặng về tới nơi xây dựng công trình.
 
Trung Quốc Xa Xưa
BÍ ẨN NHỮNG ĐỘI QUÂN BẢO VỆ HOÀNG ĐẾ TRUNG QUỐC.


Nhà Tống và đội cấm vệ quân đồ sộ nhất trong lịch sử Trung Hoa

Khai quốc hoàng đế Tống triều là Triệu Khuông Dẫn từng giữ chức "Điện tiền đô điểm kiểm" (tướng lĩnh cấm vệ quân thời Hậu Chu).

Sau khi phát động chính biến để đoạt ngôi hoàng đế, Tống Thái Tổ càng hiểu rõ vai trò trọng yếu của đội cảnh vệ hoàng cung.

Vì vậy, vị vua này đã "phá lệ" coi trọng đội cấm vệ quân.

Ông cho xây dựng một đội cấm vệ tinh nhuệ, sau đó hợp nhất quân địa phương, mở rộng đội cấm quân tại trung ương, xây dựng một đội cảnh vệ có quy mô khổng lồ trong lịch sử Trung Quốc.

Năm Khai Bảo dưới thời Triệu Khuông Dẫn, toàn quốc có 37,8 vạn quân nhân, trong đó có 19,4 người thuộc đội cấm vệ.

Các vị hoàng đế Tống triều sau đó đều rất coi trọng việc kiến thiết đội quân bảo vệ này.

Dưới thời Tống Thái Tông, quân đội trong toàn quốc lên tới 66,6 vạn người, trong đó có 35,8 vạn quân cấm vệ.

Đến năm Khánh Lịch dưới thời Tống Nhân Tông, số quân cấm vệ đã lên tới 82,6 vạn người.

Điều đáng lưu ý là cấm vệ quân Tống triều không chỉ tập trung bảo vệ hoàng đế, mà còn chịu trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ quốc gia, có thể vì nước xuất chinh bất kỳ lúc nào.

Vì vậy, ngoài đại bộ phận ở lại bảo vệ kinh thành, một số lượng cấm vệ quân khác còn được điều động tới các địa phương.

Công tác huấn luyện luôn được coi trọng hàng đầu đối với các thành viên trong đội cấm vệ.

"Thủy Hử truyện" từng miêu tả đội quân này: "Thường luyện tập trong khu rừng thuộc thành Biện Kinh, công phu võ nghệ đều vô cùng xuất sắc."

Trong số đó, "kinh quân" là những người đặc biệt tinh nhuệ, chịu trách nhiệm bảo vệ sự an nguy của hoàng đế.

Những người trong đội "tinh binh" này hằng ngày đều phải luyện tập với cường độ cao: kỵ binh mỗi ngày luyện tập 5 lần, bộ binh mỗi ngày 4 lần.

Lãnh đạo của cấm vệ quân Tống triều là "Tam nha cấm quân", gồm có: Điện tiền ti, Thị vệ ti, Ngự tiền trung tá quân đầu ti, Hoàng thành ti, Kỳ ký viện.

Các ti, viện này bên trong lại được phân chia thành các đơn vị nhỏ hơn, đảm nhiệm các nhiệm vụ cảnh vệ khác nhau.

Cảnh vệ thân cận của hoàng đế và trong hoàng cung đều là những thành phần tinh anh nhất được tuyển chọn từ đội cấm vệ.

Những người này chia thành hai nhóm "ban", "trực" thay phiên nhau làm nhiệm vụ.

Tuy nhiên, cấm vệ quân thời nhà Tống nhiều khi lại bị nghi thức hóa hoặc dùng để phô trương.

Trên thực tế, lực lượng này càng đông đảo, sức mạnh quốc gia lại càng đi xuống, thậm chí đến cả quân lương cũng không đủ.

Tống Thần Tông Triệu Húc từng vì điều này mà sầu não: "Chúng ta nước nghèo, người nghèo, cũng vì thừa binh."

Từ sau đó, triều đình mỗi năm sẽ tiến hành chỉnh đốn lại đội cấm vệ quân.

Đến triều Nam Tống, số lượng của đội quân này đã giảm đi đáng để.

Mặc dù sở hữu một đội quân cảnh vệ hùng hậu bậc nhất như vậy, nhưng Tống triều lại không chống đỡ được những cuộc xâm lược của ngoại tộc.

Triều đại này đã từng chứng kiến ba vị hoàng đế từng bị bắt là Tống Huy Tông, Tống Khâm Tông và Tống Cung Đế.

Hai vị vua Huy – Khâm bị bắt trong sự kiện Tĩnh Khang, còn Tống Cung Đế bị bắt khi còn là một đứa trẻ do Nam Tống đầu hàng Nguyên triều.

Đội quân bí mật chỉ nghe lệnh Hoàng đế Minh triều

Đối với công tác bảo hộ hoàng đế, Minh triều tiến hành vô cùng nghiêm ngặt.

Triều đại này còn sáng tạo ra một sáng kiến an ninh mới: đó chính là hệ thống cảnh vệ hiện đại mang tên "cảnh vệ bí mật".

Khi chưa xưng đế, Chu Nguyên Chương đã tự mình thành lập đội cảnh vệ dưới quyền có tên là "Thị vệ thượng trực thân quân củng vệ ti".

Sau khi lên ngôi, ông cho mở rộng đội quân này thành "Thân quân đô đốc phủ."

Các đơn vị quân sự dưới thời Minh được chia thành nhiều vệ, sở.

Người phụ trách các "vệ" là "Vệ chỉ huy sứ".

Vào năm Hồng Vũ thứ 15 (năm 1382), Chu Nguyên Chương khi ấy đã giải tán đội cận vệ cũ là "Nghi loạn ti" và "Thân quân đô đốc phủ", sáng lập nên một đội tên hoàn toàn mới là "Cẩm y vệ".

Sau này, Minh Thái Tổ còn xây dựng "kỳ thủ vệ", "phủ tiền quân vệ" và tổ chức đội quân 12 vệ, gọi tắt là "Thập nhị vệ".

Đội quân này chỉ trực tiếp nghe chỉ thị của hoàng đế, ngay cả "Ngũ quân đô đốc phủ" cũng không có quyền ra lệnh.

Trong hệ thống "Thập nhị vệ", đội Cẩm y vệ là lợi hại hơn cả.

Lực lượng này chuyên đảm nhận việc "tuần tra, truy bắt", chức vị tương đương với "Tú y chỉ huy sứ" dưới thời Hán Vũ Đế, thậm chí còn có quyền lực lớn hơn.

Minh Thành Tổ Chu Đệ cũng rất mực ưu ái đối với hệ thống an ninh này.

Sau khi soán ngôi đoạt vị, Chu Đệ khôi phục đội Cẩm y vệ từng bị Chu Nguyên Chương hủy bỏ, đưa "thập nhị vệ" mở rộng thành "nhị thập nhị vệ" (22 vệ).

Có thể nói, Chu Đệ đã thành lập một đội cảnh vệ tân tiến hơn hẳn so với Hán, Đường, lại đem quân đội và cảnh sát kết hợp để tạo hệ thống bảo vệ kiên cố cho chính mình.

Chưa dừng lại ở đó, Chu Đệ còn sắp đặt một tổ chức bí mật chỉ trực tiếp nghe lệnh của hoàng đế có tên là "Đông xưởng".

Người đứng đầu tổ chức này chính là thái giám thân tín bên cạnh hoàng thượng.

Chu Kiến Thâm sau khi lên ngôi đã lập ra tổ chức "Tây xưởng".

Tổ chức bí mật này cũng có tính chất và chức năng tương đương "Đông xưởng".

Những người nằm trong các tổ chức trên đều là những cảnh vệ bí mật của hoàng đế, phụ trách việc tuần tra và giữ gìn trị an và thu thập tin tức trong kinh thành.

Cẩm y vệ, Tây xưởng và Đông xưởng đều là những lực lượng cảnh vệ tinh nhuệ chịu trách nhiệm bảo hộ cho người đứng đầu Minh triều.

Dưới sự bảo vệ của những đội quân như vậy, nhưng Minh triều vẫn ghi nhận tới 5 vị hoàng đế từng bị bắt.

Đó là Minh Anh Tông, Hoằng Quang, Long Vũ, Thiên Vũ, Vĩnh Lịch.

Trong đó, Anh Tông từng bị người Mông Cổ bắt làm tù binh, sau lại được thả.

Bốn vị vua còn lại đều bị Thanh triều xử tử sau khi bắt giữ.

Triều đại nhà Thanh sau đó đã kế thừa chế độ an ninh của Minh triều, còn đặc biệt đặt ra những quy định nghiêm ngặt và cường điệu về xuất thân khi tuyển chọn cảnh vệ cho hoàng đế.

Theo đó, những người thân cận bên hoàng thượng từ thị vệ, người hầu cho đến người dắt ngựa...đều phải xuất thân từ Mãn tộc và là con cháu của các quan lại trong triều.
 
Trung Quốc Xa Xưa
CÂU CHUYỆN TỪ HY.


Từ Hy Thái hậu có lẽ là cái tên không còn lạ lẫm với nhiều người Việt Nam.

Người phụ nữ này dựa vào sắc đẹp của mình mà lọt vào mắt xanh của Hàm Phong Hoàng đế.

Sau khi nhà vua qua đời, bà lại dựa vào "trí thông minh và tài năng" của mình khống chế 8 vị phụ chính đại thần, tự mình buông rèm nhiếp chính, độc lãm đại quyền.

Trong thời gian Từ Hy nắm quyển hành trong tay, Viên Minh Viên bị đốt, buộc Thái hậu của Thanh triều phải ký hòa ước Tân Sửu với mức tiền bồi thường lớn nhất trong lịch sử.

Sau vụ việc này, dân chúng bắt đầu dành cho Từ Hy Thái hậu những tình cảm yêu, ghét trái chiều, nhưng ghét nhiều hơn yêu.

Điều này cũng là dễ hiểu, bởi chỉ nói đến thói xa hoa của bà ta, cũng đủ khiến Thanh triều mục rỗng.

Tắm rửa cầu kỳ

Là một phụ nữ vừa "mỹ miều và tài năng", Từ Hy thái hậu sinh thời có một niềm đam mê lớn, đó là làm đẹp, đặc biệt, bà có thói quen tắm rửa vô cùng cầu kỳ.

"Công cuộc" tắm rửa của người phụ nữ quyền lực này có thể tổng kết bằng một số điểm nổi bật như: phần thân thể phía trên và phía dưới, được phân tách ra tắm làm hai công đoạn khác nhau;

Thời gian tắm của bà cũng không cố định, tùy vào cảm hứng; tất cả những chiếc khăn tắm của Từ Hy đều chỉ được sử dụng một lần duy nhất và mỗi lần tắm, cần đến nhiều loại khăn khác nhau.

Bàn về việc tắm rửa tách bạch giữa phần thân trên và thân dưới của Từ Hy thái hậu, trang mạng Qianqu (Trung Quốc) dẫn tư liệu lịch sử viết rằng, theo Từ Hy, một nửa bộ phận thuộc phần thân trên là trời và phần còn lại trên cơ thể là đất.

Đất không bao giờ bao phủ được trời, vì thế cho nên khi tắm, cần phải phân tách hai phần cơ thể ra để tắm riêng.

Và khi chuyển sang tắm phần thân dưới, các nữ tì buộc phải dùng một bộ công cụ tắm mới.

Đây chính là cái gọi là phân tách cơ thể làm hai bộ phận để tắm riêng.

Về thời gian tắm rửa, Từ Hy cũng rất chú trọng.

Vào những ngày nóng bức, tần suất tắm nhiều hơn, ngày nào bà cũng tắm nhưng vào ngày đông lạnh, cách 3 ngày bà mới tắm một lần.

Hoạt động này, bất luận vào mùa nào trong năm cũng diễn ra vào buổi tối, bởi trong cung, việc tắm rửa không được thực hiện vào ban ngày.

Do đó, Từ Hy thường tắm sau bữa ăn tối một tiếng.

Tuy nhiên, không có một sự cố định về giờ giấc trong việc làm sạch cơ thể của người phụ nữ quyền lực nhất Thanh triều.

Chỉ cần bà muốn lúc nào, sẽ được phục vụ lúc đó.

Theo quy định của Từ Hy Thái hậu, những chiếc khăn tắm của bà, một khi đã được làm ướt và vớt lên, tuyệt đối không được phép để lại vào trong nước.

Điều đó có nghĩa là, mỗi chiếc khăn chỉ được bà dùng một lần trước khi vứt bỏ.

Vì thế cho nên, mỗi lần Từ Hy tắm xong, nước trong chậu vẫn trong không gợn bẩn.

Cũng vì cách tắm cầu kỳ của người phụ nữ ưa sạch sẽ này, mà sau mỗi lần tắm, Từ Hy lãng phí rất niều khăn, với số lượng lên đến 100 chiếc.

Từ 4 đặc điểm khác người trên của Thái hậu Thanh triều, đã có thể thấy công cuộc tắm rửa cuả Từ Hy xa xỉ đến mức nào.

Tuy nhiên, đó mới chỉ là những vật dụng cần dùng khi tắm, chứ chưa nói đến lực lượng hùng hậu, phục vụ bà làm sạch cơ thể mỗi ngày và những công đoạn tắm vô cùng đặc biệt.

Thông thường, mỗi lần tắm rửa của Từ Hy Thái hậu bao gồm 4 bước.

Bước đầu tiên là chà cơ thể.

Bốn tì nữ với 4 chiếc khăn trong tay, chậm rãi, nhẹ nhàng chà từ ngực cho đến lưng, nách, hai vai.

Bốn người, mỗi người đảm nhiệm một vị trí khác nhau trên cơ thể thái hậu, mỗi công đoạn làm từ 6 - 7 lần.

Bước thứ 2 là xoa xà phòng thơm.

Loại xà phòng này là xà phòng hoa hồng, được ngự chế trong cung.

Khăn tắm sau khi được làm ướt, sẽ được vắt khô và thoa xà phòng.

4 nữ tì với 4 chiếc khăn, liên tục chà lên người thái hậu, dùng 1 lần sẽ bỏ, tiếp tục thay chiếc khác.

Bước thứ 3 là làm khô cơ thể.

Sau khi đã tắm với xà phòng thơm, Từ Hy sẽ được làm sạch cơ thể bằng khăn ẩm chứ không dùng nước dội.

Đây là công đoạn khá mất thời gian và tốn khăn.

Nguyên nhân là bởi thông thường khi tắm, việc xả sạch cơ thể bằng nước sẽ nhanh sạch hơn rất nhiều so với việc dùng khăn ẩm lau xà phòng đến khi sạch mới thôi.

Sau khi mọi công đoạn tắm rửa hoàn tất, thái hậu sẽ được xức nước hoa toàn thân.

Tuy nhiên, đến đây công đoạn tắm cũng vẫn chưa kết thúc.

Trước khi mặc đồ ngủ để lên giường, các tì nữ bắt buộc phải thực hiện thêm một bước đó là dùng khăn khô, lau toàn bộ cơ thể.

Đến đây, hoạt động tắm rửa mới hoàn thành.

Cầu kỳ từ việc...

đi vệ sinh!

Ngay từ khi còn trẻ, Từ Hy thái hậu đã rất quan tâm tới việc dưỡng sinh, dưỡng nhan.

Chính vì vậy những thói quen sinh hoạt thường ngày của bà đều rất tinh tế, cẩn trọng.

Khi mở nắp quan tài của vị Tây Thái hậu này, Tôn Điện Anh và quan quân Quốc dân Đảng đều bị bất ngờ khi thấy thi thể được bảo quản hoàn hảo tới kỳ lạ.

Sở dĩ thi thể con người bị hư thối là do những thức ăn trong dạ dày bị đẩy ra ngoài sau khi hệ tiêu hóa ngừng hoạt động.

Tuy nhiên thi thể của Từ Hy không hề có mùi phân hủy, đó chính là nhờ thói quen sinh hoạt cá nhân cẩn trọng của bà khi còn sống.

Thời phong kiến không có nhà xí cố định.

Thái hậu mỗi lần muốn đi vệ sinh đều phải truyền gọi "quan phòng" (một loại bồn cầu không cố định).

"Quan phòng" của thái hậu được làm từ gỗ bạch đàn thơm, bên ngoài khắc một con thằn lẳn lớn, bốn chân của nó chạm xuống đất và cũng chính là chân đế của bồn cầu.

Miệng thằn lằn mở rộng để ngậm giấy, đuôi cuộn tròn lại làm tay nắm, bụng thằn lằn chính là đồ đựng, bên trong đặt rất nhiều vụn gỗ thơm sạch sẽ.

Khi Từ Hy đại tiện, tiện vật liền bị vùi lấp vào trong dòng vụn gỗ đó, bị vụn gỗ đó bọc chặt, vì thế mà không thể nhìn thấy vật bẩn, đương nhiên cũng sẽ không có mùi hôi thối.

Khi thái hậu đi vệ sinh, trước và sau đều có rất nhiều thái giám cung nữ lo việc xử lý quan phòng, thay y phục, rửa tay ...

Thái hậu chuộng "giày cao gót"

Khi Tôn Điện Anh mở nắp quan tài, thấy Từ Hy vẻ mặt vẫn hồng hào như lúc còn sống, phía trên đầu có phỉ thúy hình lá sen, trên kê miếng ngọc hoa sen.

Đặc biệt, chân của thái hậu tương đối nhỏ (cỡ giày 38), tuy nhiên lại đi một đôi giày có đế rất cao.

Sinh thời, Từ Hy có niềm yêu thích đặc biệt với "hoa bồn để".

Đây là loại giày đế cao phổ biến trong hậu cung Thanh triều, có phần đế gỗ giống như chậu hoa.

Khác với kiểu giày có dáng đổ dốc của phụ nữ hiện đại, giày đế cao thời Thanh có gót ở chính giữa.

Kiểu giày "hoa bồn để" sẽ không làm bàn chân bị biến dạng.

Khi "diện" loại giày này, người phụ nữ buộc phải thẳng lưng, chân bước khoan thai, toàn thân toát lên vẻ phong nhã nhẹ nhàng.

Nếu gấp gáp lắm, chỉ có thể đi từng bước ngắn mới giữ được thăng bằng.

Loại giày này được làm bằng gỗ, bên ngoài bao bằng các loại vải thêu tinh xảo.

Phía trên mũi giày thường đính đá quý hay bảo thạch.

Phụ nữ Mãn Châu thường không có tục bó chân nên mới sử dụng được "Hoa bồn để".

Đối với phụ nữ người Hán có tục bó chân, việc đi giày cao gót thường không phổ biến

Điều này cũng bắt nguồn từ quê hương của người Mãn.

Ở vùng quan ngoại (Sơn Hải Quan, Gia Cốc Quan), vì khí hậu quanh núi Trường Bạch tương đối ẩm ướt, nên phụ nữ Mãn Châu đã sử dụng giày đế cao như một cách để tránh ướt ống quần.

Sau này, "hoa bồn để" dần trở thành thứ giày dành riêng cho phụ nữ quý tộc.

Loại giày này đi lại tương đối bất tiện, nên dần trở nên không phổ biến, tới triều Thanh chỉ còn được sử dụng trong hoàng gia.

Bản thân Từ Hy khi vua Văn Tông còn tại thế cũng không hay sử dụng loại giày này.

Chỉ khi Văn Tông qua đời, thái hậu làm chủ hoàng cung, Từ Hy mới phổ biến hóa giày cao gót trong triều đình.

Cho tới những năm cuối đời, Từ Hy vẫn sử dụng loại giày này.

Trong các bức ảnh chụp cho thấy, "Lão Phật gia" không chỉ ưa chuộng giày cao gót, mà còn sử dụng loại đế rất cao.

Dựa theo tính cách của Từ Hy, việc chuộng giày cao gót rất có thể là do bà muốn tận hưởng cảm giác từ trên cao nhìn xuống soi xét xuống quần thần.

Bí quyết chăm sóc da từ đá quý và phân chim

Thuở thiếu thời, Từ Hy có làn da vô cùng thô ráp.

Nhưng sau này, làn da của thái hậu lại nổi tiếng trắng trẻo, mềm mịn.

Thậm chí tới lúc lớn tuổi, bà vẫn sở hữu nước da căng mịn như thiếu nữ đôi mươi.

Để có được làn da như vậy, Từ Hy phải sử dụng cách thức dưỡng da vô cùng cầu kỳ.

Mỗi khi rảnh rỗi, thái hậu thường dùng các loại bảo ngọc, cẩm thạch hình tròn lăn qua lăn lại trên da mặt.

Bà còn kết hợp với loại kem dưỡng da đặc biệt làm từ bạch đinh hương, ưng điều bạch, cáp điều bạch.

Thực chất, bạch đinh hương, ưng điều bạch và cáp điều bạch là phân của chim ma tước, chim ưng và chim bồ câu.

Từ Hy đã dùng 3 loại phân chim này để tiêu trừ các vết nám hoặc đồi mồi trên da và ngăn ngừa hữu hiệu các nếp nhăn.

Ngoài ra, Từ Hy còn dùng một loại phấn do ngự y trong cung đặc chế là hoắc hương phấn, đinh hương phấn...

Những thứ phấn này không chỉ có công dụng làm đẹp mà còn dưỡng nhan rất tốt.

Chú trọng tới cả "chân răng kẽ tóc"

Khi khai quật mộ của Từ Hy, các nhà khảo cổ đã tìm thấy trong tay phải của bà có một chiếc túi nhỏ, trong đó đựng một chiếc răng và hai chiếc móng tay.

Tây Thái hậu có thói quen nuôi móng tay, nhưng mỗi bàn tay chỉ nuôi ba móng ở ngón cái, ngón út và áp út.

Mỗi chiếc móng tay của bà đều có riêng một cung nữ phụ trách chăm sóc.

Tuy nhiên khi đến một độ dài nhất định, móng tay sẽ tự gãy.

Vì vậy Từ Hy đã đặc biệt yêu cầu ngự y đặc chế một loại thuốc dưỡng móng đặc biệt.

Loại thuốc này khiến móng tay mềm hơn và khó gãy.

Ngoài ra việc dũa, tỉa móng tay cho thái hậu cũng vô cùng công phu.

Bên cạnh một loạt các dụng cụ như kim móc, bàn chải, kéo nhỏ... mọi loại tinh dầu từ phương Tây du nhập đều được chuyển tới cung thái hậu trước tiên.

Từ Hy còn có thói quen dùng những chiếc ống nhỏ như tháp bút chụp lên đầu các ngón tay để bảo vệ móng tay.

Những chiếc ống này được thay đổi tùy theo thời tiết: mùa đông dùng gấm, mùa hè dùng cẩm thạch, còn lại hầu hết đều dùng vàng khảm ngọc thạch, đá quý.

Nhờ dốc lòng bảo dưỡng, móng tay của Từ Hy có thể dài tới hơn 15cm (5 thốn).

Tuy nhiên khi liên quân tám nước đế quốc đánh vào Bắc Kinh, móng tay dài đã trở thành đặc điểm nhận diện để truy bắt Từ Hy thái hậu.

Vì muốn an toàn, Từ Hy phải đổi thường phục, đồng thời cũng phải đem móng tay cắt bỏ.

Cung nữ thân cận khi cắt móng tay cho bà còn không khỏi rơi nước mắt.

Sau này những chiếc móng tay được an táng cùng Thái hậu.

Sinh thời, Từ Hy vô cùng quý trọng mái tóc của mình, cũng rất kiêng kỵ việc chải đứt tóc.

Lý Liên Anh trước kia trở thành tâm phúc của thái hậu chính là nhờ công phu chải đầu không rụng một sợi tóc của mình.

Từ Hy thường xuyên yêu cầu ngự y chế ra các thứ cao, bột để gội đầu, đồng thời còn hay xoa bóp da đầu, cũng rất hạn chế để tóc bị gãy rụng.

Tương truyền rằng mỗi lần nhìn thấy tóc rụng, Từ Hy đều rất buồn vì cảm thấy bản thân già đi từng ngày.

Thái giám cung nữ trong cung đều cẩn thận lặng lẽ thu từng sợi tóc rụng để thái hậu bớt u sầu.

Hàm răng cũng được Từ Hy chú ý chăm sóc.

Trước khi ăn cơm thái hậu có thói quen nhai cau để tránh răng ê buốt.

Sau khi ăn xong, bà thường uống nước trà.

Nhờ vậy mà tới lúc qua đời, hàm răng của Từ Hy vẫn rất chắc khỏe.

Một quốc gia dưới sự trị vì của một thái hậu có cuộc sống sa hoa cỡ đó, chẳng trách Thanh triều đại bại dưới tay Nhật Bản trong cuộc chiến tranh Giáp Ngọ.

Từ điểm này có thể thấy, cho dù Từ Hy có cống hiến lớn cỡ nào, cũng không chuộc được những tội lỗi mà bà đã phạm phải.

Năm 1928, Tôn Điện Anh và quân Quốc Dân Đảng trong khi đào trộm mộ thái hậu đã không khỏi bất ngờ: thi thể của Thái hậu không hề bị phân hủy, dung nhan vẫn hồng hào như đang ngủ.

Rất có thể nhờ lối sống và các biện pháp chăm sóc cầu kỳ như vậy, Từ Hy không chỉ giữ được nhan sắc trẻ đẹp khi đã lớn tuổi, mà thi thể của bà cũng được bảo quản một cách hoàn hảo đến khó tin!
 
Trung Quốc Xa Xưa
HOÀNG ĐẾ CÂM DUY NHẤT VÀ CÁI CHẾT BÍ ẨN TRONG LỊCH SỬ TRUNG HOA.


Đường Thuận Tông Lý Tụng (8/1/761 – 806) là con trưởng của vua Đường Đức Tông Lý Thích.

Trước khi chính thức được sắc phong Thái tử vào năm 779, ông từng được phong là Tuyên vương.

Sau hơn 20 năm chờ đợi, vào năm 805, thái tử Lý Tụng kế vị vua cha, đổi miếu hiệu là Thuận Tông.

Nhiều năm bị kìm kẹp trong cuộc sống với đầy đủ các nghi lễ, phép tắc trong cung đình, trong lòng Lý Tụng sớm đã này sinh nhiều u uất cực đoan.

Thêm vào đó, tháng 9/804, ông đột ngột bị trúng gió.

Sau tai nạn này, Lý Tụng vĩnh viễn trở thành người câm, mất hẳn khả năng ngôn ngữ và bị liệt nửa người.

Vào thời điểm này, vua Đường Đức Tông cũng đã ở tuổi gần đất xa trời, nên càng thêm lo lắng về sức khỏe của con trai.

Không chỉ thường xuyên ghé qua thăm con, ông còn lệnh cho quan quân tìm kiếm danh y khắp thiên hạ vào cung chữa bệnh cho thái tử.

Tuy nhiên, kết quả không thực sự lý tưởng.

Việc Lý Tụng mắc bệnh nặng, nhanh chóng được truyền đi khắp nơi.

Cuối năm 804, sức khỏe Đức Tông bắt đầu xuống dốc.

Hoàng đế và thái tử cùng lúc lâm trọng bệnh khiến không khí trong cung vô cùng nặng nề, mọi công tác triều chính đình trệ không có người giải quyết.

Do bệnh nặng nên trong hội triều vào mùa xuân năm 805, thái tử Lý Tụng không thể tham gia.

Đức Tông vì thế càng não lòng khiến bệnh tình thêm nguy kịch và qua đời vào ngày 25/2/805.

Theo đúng quan niệm cha truyền con nối, Lý Tụng lên ngôi vua vào năm 805.

Tuy nhiên, quãng thời gian tại vị của ông ngắn đến mức khó tin.

Tại vị vẻn vẹn 8 tháng, Lý Tụng bị ép phải thoái vị truyền ngôi cho thái tử Lý Thuần, còn mình tự xưng là Thái thượng hoàng.

Ngày rằm tháng giêng năm 806, Đường Thuận Tông qua đời, ở tuổi 46.

Trước khi qua đời 1 ngày, Hiến Tông tuyên bố với bên ngoài rằng Thuận Tông mắc trọng bệnh.

Ngay ngày hôm sau, ông băng hà.

Điều này khiến người đời cảm thấy cái chết của vị vua đoản mệnh không khác nào một vở kịch.

Có người thậm chí còn dùng văn thơ để nói về nguyên nhân cái chết khó hiểu của Lý Tụng.

Họ cho rằng ông đã bị Hiến Tông và các hoạn quan hại chết.

Cũng có người không đồng tình cho rằng Thuận Tông và Hiến Tông quan hệ hài hòa, về cơ bản không có lý do gì để con phải hại chết cha.

Về cái chết của Thuận Tông, các cuốn "Cựu Đường thư", "Tư trị thông giám" đều có ghi chép nguyên nhân và những nguyên nhân này không khiến nhiều người nghi ngờ.

Tuy nhiên, đến những năm 60 của thế kỷ trước, thông qua việc nghiên cứu các ghi chép chính thức và tiểu thuyết chép tay, các nhà sử học đã đưa ra kết luận, rằng Thuận Tông đã bị hại chết, chứ không chết vì căn bệnh ông mang trong người khi đó.

Nhà sử học Trung Quốc Biện Hiếu Huyên trong cuốn "Lưu Thuộc Tích niên phả" đã lần đầu tiên đề cập đến quan điểm vua Thuận Tông bị giết.

Ông cho rằng, Thuận Tông khi đó chết rất đột ngột, đây là một nghi án trong lịch sử.

Trong một số cuốn sách khác như "Lưu Thuộc Tích bình truyện", Biện Hiếu Huyên lại tiếp tục nhắc lại quan điểm của mình.

Ông cho rằng Lý Tụng là con trai trưởng của Đường Đức Tông.

Sau khi được sắc phong thái tử, vua cha từng có lần muốn phế ông vì nghe lời xu nịnh và của đám hoạn quan – những kẻ muốn đưa một người tên là Lý Nghị lên thao túng quyền lực triều đình.

Đó là vào năm 785, Đức Tông có lần bị ốm, muốn gặp Lý Tụng nhưng không được.

Khi đó, Lý Tụng dù không bị bệnh liệt giường nhưng không thể đến thăm cha do bị hoạn quan ngăn cản.

Sau khi vua cha qua đời, ban đầu, các hoạn quan cho rằng thái tử có bệnh không thể nối ngôi, nhưng Vệ Thứ Công khi đó cho rằng, thái tử tuy có bệnh nhưng là đích trưởng, lòng người đều hướng về, vả lại cũng không đến nỗi hoàn toàn bất lực.

Nếu lập người khác e sẽ sinh loạn.

Trong bối cảnh tình hình thực sự không cho phép, người kế nhiệm sẽ là Hoàng thái tôn Quảng Lăng vương Lý Thuần.

Các đại quan nghe vậy thì vỗ tay vui mừng, chỉ có đám hoạn quan là tối sầm mặt mũi.

Thuận Tông sau khi kế vụ, từng áp dụng hàng loạt các biện pháp nhằm trấn áp thế lực của hoạn quan trong triều.

Cách làm này đã làm nảy sinh thù hận, có những hoạn quan hận ông đến xương tủy.

Đây được cho là nguyên nhân khiến dã tâm phế vua của đám hoạn quan trở nên lớn dần.

Tuy nhiên, do hai lần tìm cách phế vị Lý Tụng bất thành, Thư vương Lý Nghị lại không phải là con đẻ của Đức Tông, danh phận cũng không rõ ràng nên vấp phải sự phản đối.

Lần này, đám hoạn quan quyết định chọn Lý Thuần.

Thàng 3/805, Lý Thuần được lập thái tử và được giao trọng trách xử lý việc quân đội, triều chính vào tháng 7 cùng năm.

Một tháng sau, người này tiếp tục được đưa lên làm hoàng đế, đẩy Lý Tụng lên chức Thái thượng hoàng.

Nhìn bề ngoài, việc lập Lý Thuần lên ngôi có vẻ như là ý chỉ của Thuận Tông nhưng trên thực tế, đám hoạn quan khi đó đã ép ông buộc phải làm vậy.

Những hoạn quan đóng vai trò quan trọng trong việc phế vua khi đó phải kể đến Lưu Quang Kỳ, Cụ Văn Chân, Tiết Doanh Chân, Tây Môn đại phu...
 
Trung Quốc Xa Xưa
"HỒ SƠ ĐEN" CỦA THÁI GIÁM LỘNG QUYỀN NHẤT TRUNG QUỐC.


Ngụy Trung Hiền tên thật là Lý Tiến Trung, người Túc Ninh tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc.

Thời trẻ, Ngụy Trung Hiền nổi tiếng mê cờ bạc và phải trốn chủ nợ đến Bắc Kinh, sau đó được tuyển vào cung làm thái giám.

Khi mới vào cung, công công này có tên là Ngụy Tiến Trung.

Dù một chữ bẻ đôi không biết, nhưng nhờ lắm mưu nhiều kế, họ Ngụy nhanh chóng đạt tới đỉnh cao quyền lực.

Trên bước đường tiến thân của Ngụy Trung Hiền, phải kể tới sự hậu thuẫn đắc lực của Khách thị - vú nuôi của vua Hy Tông.

Sự nghiệp của ông ta càng trở nên thuận buồm xuôi gió khi vị vua này lên ngôi.

Ngụy Trung Hiền được phong làm Bỉnh bút Thái giám - đứng đầu các hoạn quan trong vương triều, được ở gần hoàng thượng, phê đáp tấu chương, truyền đạt thánh chỉ.

Hắn lôi kéo nhà vua trẻ vào các cuộc ăn chơi, bỏ bê triều chính, được vua ban cho hai chữ "Trung Hiền" quyền hành ngang với Tể tướng.

Không dừng lại ở đó, Ngụy Trung Hiền từ khi được vua Hy Tông tin tưởng giao cho việc trông coi Đông Xưởng, cơ quan đặc vụ của triều đình vào năm Thiên Khải thứ 3 (1623), thế lực của ông ta càng được củng cố và lớn mạnh.

Đầu tiên, thái giám này sử dụng những kẻ mặt dày mày dạn, một lòng trung thành giao cho những công việc quan trọng trong triều, đưa họ lên những chức vụ cao trong guồng máy, trong đó gian ác nhất là "ngũ hổ" và "ngũ báo".

"Ngũ hổ" do Thôi Trình Tú, một quan văn đứng đầu, "ngũ báo" do Điền Nhĩ Canh, một quan võ đứng đầu.

Mười nguời này đều vô sỉ, coi Ngụy Trung Hiền như cha mẹ, ra sức thị uy, hoành hành cả trong lẫn ngoài triều đình.

Từ Nội các, Lục bộ cho đến Tổng đốc, Tuần phủ... khắp nơi trong triều đều là vây cánh của tên hoạn quan nham hiểm.

Nội các Minh triều trở thành cơ quan của riêng nhà họ Ngụy.

Trong khoảng thời gian đó, thái giám này được coi là người có quyền lực thứ hai sau vua Hy Tông Chu Do Hiệu.

Nắm quyền lực trong tay, lại sẵn tâm địa độc ác, Ngụy Trung Hiền càng trở nên hách dịch và tàn nhẫn.

Tuy là người mù chữ nhưng thái giám này là người lắm mưu kế, nhiều thủ đoạn.

Các hoạn quan Ngụy Triều, Vương An - những người đã từng tiến dẫn Ngụy Trung Hiền đã bị ông ta trở mặt hại chết.

Song, việc làm độc ác nhất của Ngụy Trung Hiền là việc bức hại những người thuộc phái Đông Lâm – những người ra mặt chống đối thái giám này.

Bất bình trước hành vi ngang ngược, độc tài, thao túng nội các của hoạn quan họ Ngụy, các nho sĩ phái Đông Lâm ra mặt chỉ trích Ngụy Trung Hiền, dâng sớ, vạch 24 tội ác của ông ta trước triều đình, trong đó có tội giết người và bắt hoàng hậu phá thai.

Để đối phó lại với thế lực thù địch, họ Ngụy liền bày mưu, chỉ đạo các quan lại trong triều vu cáo lẫn nhau, dùng nhục hình ép cung, tố cáo phái Đông Lâm và biến đây thành vụ án lớn.

Năm 1625, Ngụy Trung Hiền cho bắt Uông Văn Ngôn người phái Đông Lâm, dùng nhục hình tra khảo ép ngụy tạo khẩu cung.

Người này thà chết không nghe theo liền bị bức chết.

Sau đó, thái giám "quái thai" tiếp tục làm giả khẩu cung, hại 6 vị quan khác với các tội danh bao che cho tướng bại trận ở Liêu Đông là Dương Hạo, Hùng Đình Bật, tội hối lộ tham ô...

Những người đứng đầu phái này đều bị bắt, tra tấn cho tới chết.

Vụ án oan của Đông Lâm khi đó làm cho dân chúng nổi dậy ở khắp nơi như Giang Âm, Tô Châu...

Sau khi bức hại người của phái Đông Lâm, Ngụy Trung Hiền huênh hoang tự xưng là "Cửu thiên tuế".

Năm 1626, một tuần phủ Chiết Giang thậm chí đã khởi xướng việc xây dựng sinh từ, thờ sống Ngụy Trung Hiền.

Sau đó, khắp nơi dưới triều nhà Minh đều lập thờ để thờ ông ta.

Từ đường thờ tượng của Ngụy Trung Hiền, ai đi qua cũng phải lạy 5 lạy, hô to "Cửu thiên tuế".

Tại thời điểm ấy, Trung Quốc chỉ có Đức Khổng Tử mới được lập đền thờ.

Một thời gian dài, Cẩm y vệ của Đông Tây Xưởng tung đi khắp nơi, hoành hành khắp nơi khiến nguời nguời gặp nguy.

Hễ cứ ai mở miệng nói xấu, than oán Ngụy Trung Hiền, chỉ cần lời đó lọt đến tai quan nha là có chuyện lớn.

Sử sách Trung Quốc từng ghi lại một số câu chuyện về việc này như sau.

Có một viên quan tên gọi Ngô Hoài Hiền, ở nhà ngẫu nhiên đọc được tấu chương của Dương Liên, nói thành lời, thế là bị giết và tịch thu gia sản.

Ở Tín Dương, Hà Nam, có một nguời khi qua sông, thấy trên thuyền có một nguời Bắc Kinh bèn trò chuyện: "Ngụy Thái giám ức hiếp triều thần, không biết gần đây thế nào?"

Nguời nghe bỗng nhiên nổi giận nói: "Ngụy Thượng công là Thánh nhân trời sinh, sao anh cả gan vu cáo".

Người kia vội vã xin xỏ, rồi đưa lễ vật để chuyện này không bị rò rỉ ra ngoài.

Tuy nhiên, thế lực đồ sộ mà Ngụy Trung Hiền dày công xây dựng cũng không bảo toàn được lâu.

Hy Tông mất sau 7 năm lên ngôi, thọ 23 tuổi.

Năm 1627, em trai Hy Tông là Tín vương Chu Do Kiểm lên ngôi.

Đây chính là vua Sùng Trinh – vị vua cuối cùng của Minh triều.

Ngụy Trung Hiền từ đây bị thất sủng.

Các quan lại đứng lên tố cáo 10 trọng tội đòi xử tử viên thái giám này.

Ngay lập tức, họ Ngụy bị phế truất, đày đến giữ mộ ở đất Phụng Dương.

Sau khi đi được nửa đường, hắn phải nhận lệnh bị truy bắt lại.

Ngụy Trung Hiền sợ tội, thắt cổ chết, kết thúc tham vọng vương quyền của hoạn quan họ Ngụy.
 
Trung Quốc Xa Xưa
LY KỲ CHUYỆN THÁI GIÁM CÓ KHẢ NĂNG "HỒI XUÂN".


Chốn hậu cung Trung Hoa từ xưa tới nay liệu có thực sự tồn tại "quy tắc ngầm" giữa thái giám và các phi tần?

Những kẻ thân làm "hoạn quan" này làm cách nào để tư thông với phi tử của hoàng đế?

Tiếp xúc với việc sinh hoạt vợ chồng của hoàng đế một cách thường xuyên có sức kích thích rất lớn đối với các thái giám.

Cũng có người cho rằng đây chính là nguyên nhân khiến nhiều thái giám muốn...cưới vợ!

Nhìn từ góc độ khác, trong cung một năm có vô vàn những phi tần không được hoàng đế sủng hạnh.

Đó là lý do mà các hoạn quan quanh năm nhận được quà "hiếu kính" của các phi tử.

Đồng thời cũng có một số thái giám cũng sẽ nhân cơ hội này để tư thông với...vợ vua.

Thẻ tên của các vị cung phi nếu muốn có cơ hội đặt trên mâm để hoàng thượng chọn lựa, trước hết đều phải qua tay thái giám.

Nhờ có đặc quyền này mà không ít hoạn quan đã có cơ hội "hạ thủ" với một số phi tần của nhà vua.

Đương nhiên "một số phi tần" này không bao gồm những người còn trong trắng.

Nhưng số "xử nữ" này sau khi được hoàng đế lâm hạnh sẽ như được "khai sáng", dần nảy sinh ham muốn tình dục.

Tới khi các nàng "dục niệm tràn đầy" sẽ không tránh khỏi việc "bụng đói ăn quàng", lên giường với cả thái giám.

Chung quy lại, thái giám vẫn là đàn ông.

Một người đàn ông trong thời kỳ trưởng thành lại được phái đi hầu hạ một vị quý phi, khó có thể tránh khỏi "lâu ngày sinh tình", chuyện tư thông cũng vì thế mà xảy ra.

Quý phi cô độc nơi thâm cung khó tránh khỏi sinh lòng ham muốn.

Đối với quý phi mà nói, việc vụng trộm với thái giám cũng tương đối thú vị.

Nhiều thái giám trẻ tuổi, dung mạo tuấn tú sẽ nhận được cơ hội thân cận cùng một vài phi tần, sau đó trở thành "thái giám trên giường".

Đây chính là "bí mật công khai" tồn tại trong hậu cung của các hoàng đế Trung Quốc.

Một học giả Nhật Bản khi nghiên cứu về vấn đề này đã đưa ra thuyết "thoát khỏi tâm lý cô độc" để giải thích cho việc thái giám thích cưới vợ và quan hệ tình dục.

Terao Yoshio trong tác phẩm nghiên cứu "Hoạn quan vật ngữ" đã từng viết: "Thái giám lập gia đình chủ yếu là vì muốn thoát khỏi tâm lý cô độc.

Bọn họ cùng lúc phải chịu những ánh mắt khinh thường từ người đời, vì vậy mong muốn nhận được tình cảm ấm áp từ người vợ cũng là điều dễ hiểu".

"Vợ" của các thái giám có thể là các nữ quan trong cung.

Đó cũng là những người hiếm hoi có thể thấu hiểu và tình nguyện gắn kết cùng các hoạn quan.

Việc thái giám cưới vợ được sử sách Trung Quốc ghi nhận từ rất sớm.

Cuốn "Sử ký" phần "Lý Tư liệt truyện" từng ghi lại việc thái giám thời Tần là Triệu Cao có "con rể" tên Diêm Nhạc nhậm chức Hàm Dương lệnh.

Nếu có con rể, hoạn quan này ắt phải có con gái.

Nhưng Triệu Cao trong sử sách có ghi rõ là "bị thiến từ nhỏ", con gái hẳn là "dưỡng nữ" (con nuôi).

Từ đó mới thấy nếu thái giám đã có thể nhận con nuôi, thì việc lập gia thất cũng không phải là không được.

Những thời đại sau đó, việc thái giám lập gia thất được ghi lại ngày càng nhiều.

Tới thời Đông Hán, thế lực của thái giám bành trướng nhanh chóng, còn xuất hiện tình hình "thường thị hoàng môn diệc quảng thê thú" (thái giám lấy nhiều vợ đẹp).

Theo quan niệm khi ấy, việc cưới nhiều mỹ nữ chính là một cách thể hiện bản thân và thể diện của mình.

Từ đó, việc cưới vợ, nạp thiếp đã trở thành đặc quyền hợp pháp cho các thái giám trong thời kỳ này.

Sau khi nhà Đường được thành lập, chuyện thái giám lập gia đình càng trở nên phổ biến.

Thái giám thân cận của Đường Huyền Tông là Cao Lực Sĩ vì say mê con gái của Lữ Huyền Ngộ nên đã cưới về làm vợ.

Lữ Huyền Ngộ sau đó nhanh chóng được thăng chức làm "thiếu khanh", sau còn làm tới chức Thứ sử.

Hoạn quan Lý Phụ Quốc từng được vua Lệ Tông sủng ái, sau này đã cưới con gái của Nguyên Trạc làm vợ.

Nguyên Trạc cũng nhờ đó mà làm quan tới chức Thứ sử Dương Châu.

Đại thái giám thời "Lục triều" là Cừu Thế Lương từng làm đến chức Ngự sử đại phu, còn được vua ban cho con gái của Hồ Thượng Thư làm vợ.

Người vợ Hồ thị của ông sau này còn được phong là "Lỗ quốc phu nhân."

Có ý kiến cho rằng: việc thái giám cưới vợ có liên quan tới các yếu tố về sinh lý.

Đó là trường hợp thái giám bị thiến không triệt để hoặc có khả năng "hồi xuân".

Hoạn quan Thanh triều Tiểu Đức Trương từ nhỏ đã bị thiến để vào cung.

Nhưng tới tuổi trưởng thành, vị thái giám này lại có hứng thú đặc biệt với phụ nữ, sau đó còn cưới tới mấy người vợ.

Chuyện này khiến nhiều người suy đoán các thái giám có thể bị "thiến không triệt để".

Danh y kiêm sử gia Trung Quốc – Trần Tồn Vong – khi nghiên cứu về vấn đề này đã cho rằng: Nếu như các thái giám bị thiến không triệt để, dương vật rất có khả năng sẽ sống lại, cũng sẽ nảy sinh các nhu cầu về tình dục.

Theo luật lệ cung đình, các hoạn quan cứ ba năm sẽ phải kiểm tra thân thể một lần để chắc chắn rằng dương vật không tiếp tục phát triển.

Tuy nhiên chuyện chốn thâm cung không thể dùng lẽ thường để suy đoán.

Nếu như một vị quý phi nào đó yêu thích một tiểu thái giám, chỉ cần nói một tiếng "miễn", việc kiểm tra thân thể của thái giám kia liền thuận lợi trót lọt.

Kể từ đó, thái giám này có thể an tâm mà "phát triển", trở thành một người đàn ông nam tính bình thường.

Ngoài ra còn một thủ thuật khác có thể dùng để qua mắt triều đình trong kỳ tuyển thái giám.

Những kẻ nuôi ý đồ sẽ dùng một bé trai mới sinh, lại đặc biệt thuê một người phụ nữ biết thủ thuật để "giải phẫu".

Như vậy, dương vật của đứa bé sơ sinh dù bề ngoài bị teo lại, nhưng đến thời kỳ dậy thì sẽ phát dục bình thường.

Những tiểu thái giám nhập cung khi còn nhỏ như vậy nhiều khả năng sẽ được chọn làm hầu cận của Thái tử, việc kiểm tra thân thể cũng được thả lỏng.

Trong quá trình "tịnh thân" (thiến) cho thái giám cũng có nhiều "quy tắc ngầm".

Nếu một kẻ chưa dậy thì được đưa vào cung, người phụ trách lại được nhận tiền hối lộ, thì "thái giám" này sẽ được nhân nhượng "thiến không triệt để", vẫn giữ lại bộ phận gốc.

Dương vật nhờ vậy mà có khả năng "sống lại".

Nhìn từ góc độ y khoa, nếu thái giám nhập cung trước thời kỳ phát dục, lại "thiến không triệt để", công năng của dương vật rất có khả năng sẽ khôi phục trở lại.

Như vậy, "thái giám" này đã không còn là một hoạn quan chân chính.

Việc này cũng không đơn thuần chỉ là suy đoán.

Cuốn "Tảo lâm tạp trở" thời Minh đã ghi nhận trường hợp thái giám Ngụy Trung Hiền có "ngọc hành sống lại" (ngọc hành là cách gọi khác của dương vật).

Sinh lý học lại dùng thuyết pháp của "tính gen khởi động" để giải thích vấn đề này.

Loại thuyết pháp này đã từng gây chấn động y khoa toàn thế giới cách đây gần ba thập kỷ.

Vào năm 1988, y học thế giới ghi nhận một trường hợp bé trai bị tai nạn mất đi dương vật.

Để đảm bảo cho cuộc sống sau này của đứa trẻ, các bác sĩ đã quyết định loại bỏ hoàn toàn bộ phận sinh dục nam, đồng thời tiêm hooc – môn kích thích để cậu bé lớn lên như một bé gái.

Trường hợp này so việc với "tịnh thân" cho các thái giám thời phong kiến rõ ràng là biện pháp triệt để hơn nhiều.

Mặc dù được nuôi dạy như một bé gái và lớn lên dưới hình hài một thiếu nữ, nhưng khi trưởng thành, "cô gái" này lại có hứng thú với những người đồng giới và khao khát được sống như một người đàn ông.

Ví dụ này được dùng để minh họa cho "tính gen khởi động" và lý giải việc các thái giám có khả năng "hồi xuân".

Ngoài ra còn có một kiểu người được trời phú cho hai cơ quan sinh dục trên cùng một cơ thể - "người lưỡng tính".

Cũng có những trường hợp "lưỡng tính" như bề ngoài giống nữ trong khi sở hữu cơ quan sinh dục nam hay ngược lại.

Tuy nhiên các trường hợp này thường có cơ quan sinh dục bị khiếm khuyết hoặc dị dạng.

Thái giám sau khi bị thiến sẽ phát sinh nhiều biến đổi lớn trên cơ thể.

Sự thay đổi về sinh lý sẽ kéo theo những biến đổi về mặt tâm lý.

Vì vậy, tính cách của hoạn quan cũng không thể dùng quan điểm bình thường để đánh giá.

Theo đó, các hoạn quan vừa bị mất đi năng lực của phái mạnh, nhưng cũng không hoàn toàn nữ tính, nên tâm lý thường vặn vẹo, méo mó.

Tính cách của các vị thái giám này cũng rất bất thường.

Họ có thể vô cớ mà khóc, lại có lúc cáu giận không rõ nguyên nhân, hỉ nộ vô thường.

Những người này thấy kẻ mạnh hơn sẽ nịnh hót lấy lòng, khúm núm hùa theo, thể hiện ra mặc cảm tự ti và tính cách mềm yếu.

Chính vì tính cách "biến thái" này mà có rất ít người muốn bầu bạn với các thái giám.
 
Trung Quốc Xa Xưa
MUÔN KIỂU SÁT HẠI HOÀNG ĐẾ TRONG LỊCH SỬ TRUNG QUỐC.


Một thống kê sơ bộ cho thấy số hoàng đế bị giết trong lịch sử Trung Quốc lên tới 31%, số hoàng đế không sống qua 40 tuổi chiếm 50% và số lượng các vị vua thọ hơn 60 tuổi chỉ chiếm 15%.

Nếu như tính tất cả những người từng xưng đế, bắt đầu tính từ thời Tần Thủy Hoàng tới thời nhà Thanh, Trung Quốc tổng cộng có 408 người từng ngồi trên ngai vàng.

Trong số này, có 61 người bị giết hại.

Thậm chí có những trường hợp không chỉ Hoàng đế bị giết hại, mà cả gia tộc cũng phải chịu kết cục bi thảm như gia sản bị tịch biên, đoạn tử tuyệt tôn, phải mai danh ẩn tích...

Trong lịch sử Trung Quốc, bậc đế vương nắm trong tay quyền sinh quyền sát.

Thế nhưng hoàng đế lại luôn phải đối mặt với tình cảnh tứ phía hiểm nguy, lúc nào cũng có thể mất đầu, thậm chí có thể chết trong tay đám người tưởng như vô hại là cung nữ, thái giám.

Qua thống kê sơ bộ cho thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc 61 vị Hoàng đế bị sát hại trong lịch sử Trung Hoa.

Lấy "hung thủ" làm chủ thể, có thể liệt kê một số cách sát hại hoàng đế đã từng xảy ra tại quốc gia đông dân nhất thế giới hiện nay.

Bị cận thần giết hại

Kiểu hạ sát này chính là một loại "phạm thượng", cũng là "kẻ dưới giết người trên", là hiện tượng thường thấy trong lịch sử Trung Quốc.

Vào thời kỳ Thập lục quốc, Nam Bắc triều, Ngũ Đại Thập quốc, hay ở các triều đại khác, việc "thần tử hành thích vua" đã xảy ra nhiều lần.

Có thể nói, giết một hoàng đế khi ấy còn dễ hơn chém một giặc cỏ.

Thời Thập lục quốc có Hán Ẩn hoàng đế Lưu Xán là con trai của Chiêu Võ đế Lưu Thông.

Lúc đầu Hoàng thái tử Lưu Xán nhiếp chính, cho tới tháng 7 năm 318 mới chính thức kế vị.

Nhưng vào tháng 9 năm 318, chỉ sau 2 tháng sau khi đăng cơ, Lưu Xán đã bị Đại tướng quân nắm binh quyền khi ấy là Lục thượng thư Cận Chuẩn sát hại.

Sau đó họ Lưu cả trai lẫn gái, không phân biệt già trẻ, lớn bé, đều bị chém đầu ở khu chợ phía đông.

Cận Chuẩn còn quật mộ tiên đế Lưu Thông, đem thi thể chém làm hai đoạn, sau đó đốt cháy tông miếu họ Lưu, tự mình lên làm hoàng đế.

Vào thời Thập lục quốc, có nhiều Hoàng đế bị thủ hạ mưu sát.

Chính vì vậy nên thời đại này mới có nhiều tiểu quốc, vương triều xuất hiện.

Tùy Dạng Đế Dương Quảng (569 – 618), lên ngôi vào năm 604, tại vị được 15 năm.

Vào năm 618, Dương Quảng ở Giang Đô bị Vũ Văn Hóa Cập giết chết, thọ 50 tuổi.

Trong khi đó, lịch sử cũng ghi chép lại cái chết của Đường Chiêu Tông Lý Diệp và Mạt đế Lý Chúc.

Cả hai đều bị thần tử Chu Ôn giết chết.

Chu Ôn vốn là cấp dưới của Hoàng Sào, vào năm 882 làm phản, dấy binh hàng phục nhà Đường.

Đường triều sau đó giao cho Chu Ôn giữ chức Hữu kim Ngô đại tướng quân, sau phong là Lương vương.

Nhưng họ Chu này vẫn không bằng lòng, ngày đêm nuôi binh, có ý đồ soán ngôi hoàng đế.

Vào năm Thiên Phục thứ tư (năm 904), Chu Ôn ép Lý Diệp rời đô về Lạc Dương.

Thánh 8 cùng năm, ông ta hạ sát Lý Diệp.

Không soán ngôi ngay, nhân vật này đưa Lý Chúc lên làm hoàng đế trong vòng 3 năm.

Tới tháng 1 năm 907, Lý Chúc bị ép phải quy y cửa phật và ba tháng sau đó, hoàng đế chính thức từ ngôi.

Sau khi nắm giữ ngai vàng, việc đầu tiên Chu Ôn làm là đổi tên chữ thành Chu Hoảng, sửa niên hiệu thành Khai Nguyên và sửa quốc hiệu thành Đại Lương.

Trung Quốc từ đây phải tiễn biệt triều đại thịnh trị nhất trong lịch sử để bước vào thời kỳ phân tranh loạn lạc – thời Ngũ đại thập quốc.

Bị hoạn quan giết

Đây là kiểu giết vua thường thấy trong lịch sử Trung Quốc, cũng là kiểu sát hại "có truyền thống", hầu như có thể tìm thấy ở mỗi vương triều.

Hậu họa bắt nguồn từ việc để thái giám tham gia vào chuyện chính sự.

Tiêu biểu nhất phải kể đến cái chết của Tần Thủy Hoàng - vị Hoàng đế đầu tiên của Trung Hoa cổ đại.

Doanh Chính đã bị một hoạn quan đoạt mệnh, đó chính là thái giám Triệu Cao.

Vào năm 210 TCN, Doanh Chính trên đường tuần tra thì lâm bệnh nặng.

Khi ấy, Tần Vương ở tại hành cung Sa Khâu để dưỡng bệnh, nhưng đột nhiên băng hà khi vừa bước sang tuổi 50.

Chính sử ghi chép rằng Tần Thủy Hoàng bị bệnh qua đời, nhưng không ít học giả cho rằng vị hoàng đế này bị sát hại bởi thái giám Triệu Cao - người đã phát động chính biến.

Lúc ấy, Thái tử đương triều là Phù Tô.

Bản thân Doanh Chính cũng không có ý muốn truyền ngôi lại cho con thứ là Hồ Hợi.

Triệu Cao lo lắng Phù Tô kế vị sẽ gây bất lợi cho mình, nên đã lợi dụng việc hoàng đế đi tuần, cho Hồ Hợi có cơ hội đi theo để mưu đồ chính biến.

Doanh Chính qua đời, Hồ Hợi thuận lợi kế vị.

Nhưng vị tân hoàng đế này vẫn phải chịu số phận bị hoạn quan giở trò, còn bị chính Triệu Cao làm hại.

Vào tháng 8 năm 207 TCN, trong khi Hạng Vũ và Lưu Bang đang đối đầu, Triệu Cao cùng với con rể là Diêm Nhạc mưu đồ bí mật, thừa dịp Hồ Hợi đang ở cung Trai Giới, đã cho quân vây cung, ép vua tự vẫn.

Triệu Cao có ý đồ tự xưng làm vua, nhưng triều thần không phục, đành phải đưa con của tiên đế là Tử An lên làm Tần vương.

Sau này, Triệu Cao cũng không được chết tử tế.

Tháng 9 cùng năm, thái giám này bị xử tử, còn lĩnh án tru di tam tộc.

Bị con giết

Giết cha và hành thích vua đều là "thiên hạ đệ nhất tội", là đại nghịch bất đạo, là tội ác tày trời.

Mặc dù có kỷ cương quân – thần, có quy củ phụ - tử, nhưng việc trái với luân thường đạo lý vẫn thường xuyên phát sinh.

Đặc biệt trong dòng tộc đế vương, việc con giết cha để lên ngôi cũng không phải là chuyện mới xảy ra lần đầu.

Dân gian Trung Quốc vẫn lưu truyền rộng rãi án giết cha của hoàng đế hoang dâm Dương Quảng.

Dương Quảng vốn là con thứ của Dương Kiên.

Theo phong tục cũ thì ngôi hoàng tử "lập trưởng không lập ấu" (chỉ lập con trưởng, không lập con thứ), nên Thái tử chính là huynh trưởng Dương Dũng, còn Quảng vốn không có cơ hội làm hoàng đế.

Nhưng Dương Quảng mưu đồ thâm độc, trước mặt cha mẹ tỏ ra muôn phần hiếu thuận, một mặt lại lập mưu rêu rao Thái tử muốn cho phụ hoàng chết sớm.

Dương Kiên nghe xong vô cùng giận dữ, đã phế ngôi Thái tử của Dương Dũng, đưa con thứ lên thay thế.

Tháng 7 năm 604, Dương Kiên lâm trọng bệnh.

Dương Quảng cho rằng thời cơ làm hoàng đế đã tới, nên lên mưu đoạt quyền, không ngờ sự việc bại lộ, bị vua cha phát hiện.

Điều càng làm cho Dương Kiên căm tức là Dương Quảng còn tư thông với sủng phi của cha - Hoa phu nhân Trần thị.

Dương Kiên quyết định phế Dương Quảng, truyền ngôi cho Dương Dũng.

Kết quả sự việc rò rỉ, đêm hôm ấy Dương Quảng xuống tay trước, đầu độc Dương Kiên chết trên giường bệnh ở hành cung Nhân Thọ, sau đó kế vị, xưng là Tùy Dạng Đế.

Một án giết cha nổi danh khác là Đường Thế Tông Lý Thế Dân.

Lý Thế Dân là vị vua có tầm ảnh hưởng lớn trong lịch sử Trung Quốc, được đánh giá là một vị hoàng đế tốt.

Nhưng vị hoàng đế tốt này cũng không từ thủ đoạn để có được ngôi báu.

Tháng 6 năm Võ Đức thứ 9 (năm 626), Lý Thế Dân phát động binh biến ở cung Huyền Vũ, đem Thái tử Lý Kiến Thành, Tề vương Lý Nguyên Cát và toàn bộ các hoàng tử khác giết chết.

Sử cũ gọi đây là sự kiện "binh biến Huyền Vũ môn".

Dưới tình huống như vậy, ngày 7 tháng 6, Lý Uyên buộc phải lập Lý Thế Dân làm Thái tử.

Hai tháng sau, Lý Uyên nhường ngôi cho con, lui về làm Thái thượng hoàng, nhưng thực chất là bị giam lỏng.

Tháng 5 năm Trinh Quán thứ 9 (năm 635), Lý Uyên qua đời.

Khi ấy có người hoài nghi tiên đế chết vì Lý Thế Dân mưu sát.

Tuy nhiên vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh giả thuyết này.

Xoay quanh cái chết của Thanh Thái Tổ Huyền Diệp – tức Khang Hy Hoàng đế - cũng có người cho rằng ông bị con thứ tư là Ung Chính sát hại.

Huyền Diệp (1654 – 1722) là vị vua thứ 8 của Thanh triều.

Ông được đánh giá là vị hoàng đế có thành tựu lớn nhất của Đại Thanh, đồng thời là người khai sáng thời đại "Khang – Càn thịnh thế", cũng là vị vua ở ngôi lâu nhất trong lịch sử Trung Hoa với 62 năm tại vị.

Sau khi qua đời, ông được an táng tại Cảnh Lăng.

Cái chết của Huyền Diệp vẫn để lại nhiều nghi hoặc đối với hậu thế.

Trước khi ông qua đời, một cuộc tranh đoạt ngôi vị của các hoàng tử đã diễn ra hết sức kịch liệt.

Sau này, Tứ hoàng tử Dận Chân dựa vào thế lực của cậu ruột, lại có Niên Canh Nghiêu viện binh lực, đã lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Ung Chính.

Chính sử ghi rằng, Dận Chân kế vị theo đúng di chiếu của tiên đế, nhưng dân gian lại lưu truyền giai thoại cho thấy ông ta nhờ mưu sát cha đẻ mới được lên ngôi làm hoàng đế.

Bị chú giết

Truyền thống thừa tự của đế vương là "lập trưởng không lập ấu", "truyền đích bất truyền thứ" (chỉ lập con trưởng, chỉ truyền ngôi cho dòng trưởng).

Cho dù người anh trai làm hoàng đế đã qua đời, thì ngay cả em ruột cũng không có cơ hội lên ngôi, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt như Tống Thái Tông Triệu Quang Nghĩa, hay Tự Thái Tổ Triệu Khuông Dận.

Chính sự tồn tại của của truyền thống thừa tự này đã dẫn đến bi kịch cung đình.

Minh Thành Tổ Chu Đệ, so về vai vế chính là ở ngôi "thúc thúc" (chú ruột) của Kiến Văn đế Chu Doãn Văn.

Sau khi Hồng Vũ đế băng hà, Chu Doãn Văn lên làm hoàng đế.

Khi chuẩn bị tiến hành đăng cơ để từng bước diệt trừ chú ruột, thì người chú Chu Đệ (con thứ tư của Chu Nguyên Chương, em trai Hồng Vũ đế) đã khởi binh, phát động "Tĩnh nan chi dịch".

Chu Đệ sau khi vào thành, việc đầu tiên là đi tìm Chu Doãn Văn, nhưng khi đó hậu cung bị hỏa hoạn, nên không tìm thấy được thi thể của Kiến Văn đế.

Tới vài năm sau, việc tìm kiếm thi thể của cháu ruột vẫn được Chu Đệ tiến hành.

Có người còn cho rằng việc nhà thám hiểm Trịnh Hòa đến đại dương phía Tây thực chất cũng có mục đích tìm kiếm Kiến Văn đế.

Vào năm 1402, Chu Đệ lên ngôi hoàng đế, năm sau đó sửa cũng tăng cường sức mạnh cho Minh triều.

Mặc dù là kẻ soán ngôi đoạt vị, nhưng Chu Đệ vẫn được đánh giá là một vị minh quân lưu danh sử sách, còn vị Minh Huệ đế Chu Doãn Văn thậm chí không được chính sử nhớ tới.

Huynh đệ tương tàn

Cũng chính vì truyền thống thừa tự "lập trưởng không lập ấu", "lập đích không lập thứ", nên dù rằng nhiều hoàng tử sinh sau đẻ muộn có tài năng, nhưng cũng không thể lên làm hoàng đế.

Hình thức chọn lựa người kế vị này dẫn đến việc bi kịch huynh đệ tương tàn.

Vào thời Thập lục quốc, sau khi Hán Hoàng đế Lưu Uyên qua đời, Thái tử Lưu Hòa kế vị.

Kết quả là người em trai Lưu Thông không cam lòng, đem ca ca Lưu Hòa giết chết, tự mình lên ngôi hoàng đế.

Nam Hán Thương đế Lưu Phân (920 – 943) kế vị vào năm 942, sau khi Cao Tổ Lưu Nham qua đời.

Kết quả là năm thứ hai tại vị đã bị em trai là Tấn vương Lưu Hoằng Hi giết chết.

Khi ấy, Lưu Phân mới 24 tuổi.

Lưu Hoằng Hi lên ngôi hoàng đế, sử gọi là Trung Tông.

Sau khi Lưu Phân bị giết, Lưu Hồng Hi tôn làm Thương đế (hoàng đế chết non), không có lăng tẩm an táng.

Hoàng đế Mân Tông Hoàn Nhan Đản của nhà Kim Tống là cháu trưởng của Kim Thái Tổ Hoàn Nhan A Cốt Đả, 17 tuổi đã lên ngôi.

Từ nhỏ, Nhan Đản lớn lên cùng anh trai là Hoàn Nhan Lượng (Hải Lăng vương).

Vào tháng 12 năm Hoàng Thống thứ 9 (năm 1149), Hoàn Nhan Lượng bí mật lẻn vào trong cung, cấu kết cùng thị thần, một đao giết chết em trai Hoàn Nhan Đản.

Khi ấy, Mân Tông Nhan Đản 31 tuổi, sau được an táng tại Vu Tư lăng.

Bị mẹ giết

Tục ngữ có câu "hổ dữ không ăn thịt con".

Nhưng đối mặt với sự mê hoặc của ngôi vị "chí cao vô thượng" hoàng đế, người mẹ vốn hiền lành cũng có thể trở thành hung ác.

Trong lịch sử Trung Quốc, "độc mẫu" (người mẹ độc ác) vốn không ít, ví như đệ nhất Hoàng hậu Tây Hán Lữ Trĩ, hay Đại Đường đệ nhất Hoàng hậu Võ Tắc Thiên, Đại Thanh đệ nhất Hoàng hậu Từ Hy,...

Túc Tông Nguyên Hủ (510 – 528) là con trai thứ hai của Võ Tông Nguyên Khác.

Nguyên Hủ 6 tuổi đã được làm hoàng tử kế vị, nhưng mẹ ông là Hồ Thái hậu vì đam mê quyền lực, lấy lý do hoàng đế còn nhỏ để lâm triều nhiếp chính.

Sau này, Hồ thái hậu thẳng tay hạ độc giết chết con đẻ của mình.

Nguyên Hủ qua đời khi mới 19 tuổi.

Thái hậu còn giữ lại một chút mẫu tính, cho người xây dựng lăng tẩm an táng con trai, gọi là Định Lăng.

Bị vợ giết

Có câu "phu quý thê vinh" (chồng phú quý thì vợ được vinh hiển), có được người chồng làm hoàng đế, đó chính là chuyện vẻ vang nhất thiên hạ.

Nhưng trong lịch sử, có vị "đệ nhất phu nhân" vẫn không an phận.

Đường Trung Tông Lý Hiển (656 – 710), là con ruột của Cao Tông Lý Trị và Võ hậu Võ Tắc Thiên.

Sau khi Lý Trị qua đời, Hoàng thái tử Lý Hiển khi ấy 28 tuổi được kế vị.

Võ Tắc Thiên lâm triều xưng đế, sửa quốc hiệu thành "Chu".

Lý Hiển sau đó bị phế làm Lư Lăng vương, được đưa về châu Thiên Phòng (Hồ Bắc ngày nay) để giam lỏng.

Vào năm Thánh Lịch thứ 2 (698), Lý Hiển được đưa trở lại Đông Cung, phục hồi chức danh Thái tử.

Vào năm Thần Long thứ nhất (705), Thừa tướng Trương Giản Chi nhân lúc Võ Tắc Thiên bệnh nặng, ủng hộ Lý Hiển lên làm vua, khôi phục quốc hiệu "Đường".

Sau khi trở lại làm hoàng đế, Lý Hiến yêu thương Vi hoàng hậu không kém gì Cao Tông Lý Trị sủng ái Võ Tắc Thiên năm xưa.

Không chỉ vậy, ông còn cho vợ mình tham gia việc triều chính, lại phong vương cho cha vợ.

Nhưng Vi hoàng hậu vì muốn làm hoàng đế như Võ Tắc Thiên, nên đã làm ra chuyện tàn ác hơn cả Võ hậu.

Vào năm Cảnh Lục thứ 6 (710), Vi hoàng hậu bị tố dâm loạn trong hậu cung, vì lo lắng Lý Hiển truy cứu, nên đã liên thủ cùng Thái Bình công chúa cho độc dược vào bánh dâng lên Lý Hiển.

Vị hoàng hậu này vì ham muốn quyền lực đã ra tay giết chết chồng mình để lâm triều nhiếp chính.

Bị cha giết

Trong lịch sử Trung Quốc, việc phụ thân giết nhi tử là điều hiếm thấy.

Tuy nhiên cũng có trường hợp hoàng đế giết thái tử.

Vào thời Ngũ đại thập quốc có vị vua thứ hai của Bắc hán là Duệ Tông Lưu Quân.

Lưu Quân 15 tuổi kế thừa ngôi vị của Lưu Mân, vậy nhưng lại tôn Liêu chúa làm phụ hoàng.

Ông yên phận làm "vua bù nhìn", làm "con trai của Hoàng đế" nước Liêu, qua đời năm 43 tuổi.

Việc Lưu Quân qua đời vẫn bị nghi ngờ là do "phụ hoàng" là vua Liêu bày kế hãm hại.

Lưu Quân cũng không có con ruột, chỉ có con nuôi là Lưu Kế Ân kế vị, nhưng Lưu Kế Ân làm vua chưa được 60 ngày đã bị giết chết.

Bị bà nội giết

Gia đình truyền thống của Trung Quốc là kiểu "cách đại thân" (gia đình nhiều thế hệ), nên ông bà nhiều khi còn gắn bó với cháu hơn cả cha mẹ.

Nhưng lịch sử Trung Quốc từng ghi lại việc hoàng đế bị chính bà nội giết chết.

Người "bà nội" này chính là Lữ hậu – Lữ Trĩ.

Hán Cao Hoàng hậu họ Lữ tên Trĩ (241 – 180 TCN), là hoàng hậu của Hán Cao Tổ Lưu Bang (202 – 195 TCN).

Sau khi Cao Tổ qua đời, bà được tôn làm Hoàng Thái hậu.

Đây chính là vị Hoàng hậu và Hoàng Thái hậu đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử Trung Quốc.

Đồng thời bà cũng là người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử nắm quyền chuyên chế, trị vì Hán triều tới 16 năm.

Sau khi Hán Cao Tổ băng hà, con trai 8 tuổi là Lưu Doanh kế vị, sử gọi là Hán Huệ Đế.

Lưu Doanh tuổi còn nhỏ, nên quyền hành đều nằm trong tay Lữ hậu.

Vào năm 188 TCN, Lưu Doanh khi ấy chỉ mới 21 tuổi đã đột ngột qua đời.

Lữ hậu liền lập một Thiếu Đế, tiếp tục nắm quyền triều chính trong 8 năm.

Lưu Doanh vốn không có con, để quyền lực không rơi vào tay người khác, Lữ Trĩ đã sai một cung nữ đưa một em bé mới sinh vào cung, tuyên bố với thiên hạ rằng đây là con của Lưu Doanh và Hoàng hậu mới sinh, cũng là cháu ruột của mình.

Lữ Trĩ làm việc rất nhanh gọn, đem mẹ đẻ của đứa bé cùng cung nữ diệt khẩu.

Sau này, Thiếu Đế biết Lữ hậu giết mẹ ruột của mình, trong lòng không phục, buông lời oán hận.

Điều này khiến Lữ Trĩ lo lắng Thiếu Đế sau này sẽ khó điều khiển, nên đã tìm cách đầu độc Thiếu Đế, sau đó đưa một đứa trẻ khác là Thường Sơn vương Lưu Nghĩa lên ngôi, còn bản thân tiếp tục giữ việc triều chính.

Bị ông ngoại giết

Theo lẽ thường, việc lựa chọn hoàng đế không bao giờ có phần ông ngoại.

Nhưng vào năm 581, một người ông đã nhẫn tâm giết cháu ruột để tự mình lên làm hoàng đế.

Người ông ngoại lòng dạ như lang sói này chính là vị vua khai quốc của nhà Tùy – Tùy Cao Tổ Dương Kiên.

Dương Kiên (541 – 604) là cha vợ của Tuyên đế Bắc Chu Vũ Văn Vân (Bắc Chu thuộc Bắc triều vào thời Nam – Bắc triều), là cha ruột của hoàng hậu Dương thị.

Tháng 2 năm 579, Vũ Văn Vân tự xưng làm Thiên Nguyên Hoàng đế, nhường ngôi cho Thái tử Vũ Văn Diễn khi đó mới 7 tuổi.

Vì Văn Diễn còn nhỏ, nên ông ngoại là Dương Kiên lo việc phụ tá triều chính, nhưng thực chất là nắm toàn bộ quyền hành.

Tháng 2 năm 581, Dương Kiên trực tiếp phế cháu mình là Vũ Văn Diễn, ép Văn Diễn đi tu.

Ba tháng sau, Văn Diễn qua đời, nhà Bắc Chu diệt vong.

Dương Kiên khi đó 41 tuổi, tự lập quốc hiệu là "Tùy", thành lập nên nhà Tùy tồn tại 38 năm trong lịch sử Trung Quốc.
 
Trung Quốc Xa Xưa
VỊ VUA CUỐI CÙNG TRONG LỊCH SỬ TRUNG QUỐC.


Lịch sử phong kiến Trung Quốc khép lại hàng ngàn năm tồn tại dưới thời nhà Thanh, vào những năm vị vua cuối cùng của Thanh đại này là Phổ Nghi sở hữu "hư danh" cai quản triều đình.

Sinh năm 1906, Phổ Nghi là cháu trai của vua Quang Tự và là con đẻ của Thuần Thân vương Tải Phong.

Tháng 11/1908, Hoàng đế Quang Tự và Từ Hy Thái hậu lần lượt qua đời chỉ cách nhau 1 ngày, Phổ Nghi khi đó chưa tròn 3 tuổi được đưa lên kế thừa ngôi báu.

Một năm sau đó, ông vua "miệng còn hơi sữa" được đổi niên hiệu thành Tuyên Thống, mọi chuyện lớn nhỏ trong thiên hạ đều do cha đẻ là Thuần Thân vương điều hành.

Tháng 10/1911, khởi nghĩa Vũ Xương sau khi bùng phát đã tác động đến các địa phương, làn sóng cách mạng nổ ra như vũ bão trên toàn Trung Quốc và chỉ một năm sau đó, triều đình nhà Thanh buộc phải tuyên bố Phổ Nghi thoái vị.

Vương triều Mãn Thanh thống trị Trung Hoa trong vòng hơn 260 năm chính thức bị lật đổ, kết thúc hơn 2000 năm chế độ phong kiến tại quốc gia này.

Sau cách mạng Tân Hợi, theo "điều luật ưu đãi" do Viên Thế Khải làm môi giới trung gian với Triều đình ở Bắc Kinh và những người làm cách mạng, Phổ Nghi dù thoái vị vẫn được giữ lại tước vị và được chính quyền Dân quốc đối xử như một ông vua ngoại quốc.

Ngoài điện Thái Hòa, điện Trung Hòa và điện Bảo Hòa, Phổ Nghi và triều đình vẫn được phép sử dụng những nơi còn lại trong Cố Cung để... sống tạm.

Đến năm 1917, được quân phiệt Trương Huân và một nhóm người khác hỗ trợ, Phổ Nghi đã tuyên bố phục vị.

Tuy nhiên, quãng thời gian này chỉ kéo dài vỏn vẹn 12 ngày do làn sóng phản đối diễn ra khắp Trung Hoa.

7 năm sau đó, Phổ Nghi bị trục xuất khỏi Tử Cấm Thành bởi một quân phiệt có tên Phùng Ngọc Tường.

Sau sự cố này, vào năm 1925, vị vua cuối cùng của Trung Hoa tiếp tục tìm đến Thiên Tân với ý đồ gây khôi phục vị thế của mình.

Đến năm 1931, nhờ quân Nhật Bản chống lưng, Phổ Nghi dời đến Đông Bắc và được dựng lên làm Hoàng đế của Mãn Châu quốc - một ngôi vị bị nhiều nhà sử học coi là nhà bù nhìn của Đế quốc Nhật Bản.

Tuy nhiên, "ngai vàng ảo" này của Phổ Nghi cũng chỉ duy trì được 12 năm cho đến khi quân Nhật Bản đầu hàng đồng minh.

Ngày 17/8/1945, khi ông đang định chạy sang Nhật thì bị quân Liên Xô bắt giữ và phải 5 năm sau đó, nhân vật lịch sử này mới được trao trả cho chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Trải qua 10 năm trong Trại cải tạo Phủ Thuận, tỉnh Liêu Ninh cho đến khi được tuyên bố là đã được cải tạo xong, năm 1959, Phổ Nghi đến Bắc Kinh.

Nhờ có sự cho phép đặc biệt của Chủ tịch Mao Trạch Đông, ông vua hết thời này đã cùng một người em gái sống trong một căn hộ bình thường ở Bắc Kinh trong vòng 6 tháng trước khi bị chuyển đến một khách sạn do Chính phủ tài trợ.

Vào năm 1962, Phổ Nghi đã kết hôn với một y tá tên là Lý Thục Hiền và bắt đầu xây dựng một cuộc sống gia đình viên mãn.

Một người nước ngoài từng hỏi vị vua cuối cùng của Trung Quốc rằng: "Ông không cảm thấy tự hào khi trước đây đã từng làm hoàng đế sao"?

Và Phổ Nghi đã đáp lại rằng: "Hoàng đế ư, đây là danh hiệu mà tôi cho là đáng xấu hổ nhất.

Điều khiến tôi cảm thấy tự hào là hôm nay tôi đã trở thành một công dân Trung Quốc".

Tuy nhiên, cuộc sống mới của Phổ Nghi bắt đầu chưa lâu, ông được phát hiện mắc bệnh ung thư thận và qua đời vào ngày 17/10/1967, hưởng thọ 60 tuổi.

Là một hoàng đế song vị vua này chưa một ngày nắm quyển lực trong tay.

Sống trong một thời kỳ dài loạn lạc, Phổ Nghi cũng không thể phát huy được vai trò của bản thân trong thời cuộc rối ren.

Ông là vua của một triều đại bị diệt vong và bất chấp đạo lý dấn thân vào con đường phản quốc.

Tuy nhiên sau cùng, con người này lại trở thành một tấm gương điển hình cho cái gọi là "cải tà quy chính".

Đây chính là điều tốt đẹp và may mắn nhất mà vị vua cuối cùng của đất nước Trung Quốc giữ được cho mình trước khi về với tiên tổ của dòng họ được ghi dấu trong lịch sử Trung Hoa.
 
Trung Quốc Xa Xưa
MUÔN KIỂU KIỂM TRA "SỰ TRONG TRẮNG" CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ TRUNG HOA XƯA.


Dùng bà đỡ

Thời xưa, người phụ trách công việc kiểm tra trinh tiết của tân nương trước khi về nhà chồng chính là bà đỡ.

"Bà đỡ" này thường là người thân thuộc với họ nhà trai hoặc do bà mối kiêm nhiệm.

Cuốn "Kiến sinh văn" từng ghi lại: Trong lịch sử Trung Quốc, người đầu tiên tiến hành công việc "nghiệm thân" (kiểm tra thân thể) này chính là tác giả của "Tạp dư bí tân".

Cuốn sách trên viết lại sự việc Hoàng hậu của Hán Hoàn Đế là Lương Oánh từng phải kiểm tra thân thể trước khi được tấn phong.

Sở dĩ đế vương lập hậu vô cùng coi trong việc trinh tiết là bởi Hoàng đế muốn "long chủng" của mình chắc chắn mang dòng máu hoàng tộc, liền phái Ngô Câu đi kiểm tra.

Theo đó, công việc đầu tiên trong quá trình này là kiểm tra tổng thể về tướng mạo, hình dáng.

Cuốn sách ghi lại rằng: Lương Oánh Hoàng hậu có nét mặt "tựa như ánh bình minh trong tuyết, tươi đẹp đến mức khiến người ta khó lòng nhìn thẳng."

Về ngũ quan, Lương Oánh có "con mắt trong veo, hàng mi cong dày, bờ môi đỏ tươi, răng trắng, vành tai thon gọn, sống mũi cao, hai má hài hòa".

Sau đó, Ngô Câu cởi y phục của Lương Oánh, thấy thân thể nàng tỏa ra mùi hoa cả dìu dịu, da dẻ thanh thuần, bầu ngực mới phát triển, vùng kín hồng hào, màng trinh còn nguyên vẹn.

Thủ thuật kiểm tra của các bà đỡ thời xưa chủ yếu là xem kỹ bộ phận sinh dục, kiểm tra màng trinh, không khác nhiều so với công việc của các bác sĩ phụ khoa ngày nay.

"Lạc hồng"

Tuy rằng bà đỡ đã có thể thông qua ngoại hình để giám định sự trong trắng của người con gái nhưng các nam tử thời xưa do vốn kiến thức về sinh lý có hạn, nên họ chỉ còn cách trông chờ vào "đêm đầu tiên" để khẳng định xem vợ mình còn trinh hay không.

Đàn ông thời xưa lấy vợ, đêm tân hôn có thấy được "lạc hồng" (máu đỏ) trên khăn trắng hay không là điều mà gia đình hai bên quan tâm hơn cả.

Nếu như tân nương trong đêm đầu tiên sinh hoạt vợ chồng có "chảy máu", thì ngay ngày thứ hai gia đình nhà trai sẽ phát "thiệp báo hỉ".

Trên tấm thiệp ghi rõ lời ca ngợi: "khuê môn hữu xuyên, thục nữ khả khâm" để gửi về cho nhà gái.

Tuy nhiên dùng "lạc hồng" để nhận biết trinh nữ cũng tồn tại nhiều vấn đề.

Thứ nhất, người phụ nữ không chảy máu trong lần đầu quan hệ chưa hẳn là "không còn trong trắng."

Bởi màng trinh có thể vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà bị rách.

Thứ hai, việc chảy máu trong đêm đầu tiên cũng chưa thể khẳng định hoàn toàn rằng người con gái đó chưa bao giờ quan hệ tình dục.

Hiện tại, nhiều cơ sở y khoa có thể tiến hành tiểu phẫu "vá màng trinh" cho phụ nữ.

Trên thực tế, hình thức "vá cái ngàn vàng" đã có từ thời cổ đại.

Khi đó, để "chỉnh hình" cho màng trinh, tân nương sẽ dùng một khối tiết gà cuốn trong khăn trắng, sau đó dùng chiếc khăn có máu gà này để đổi trắng thay đen.

Một cách khác để ngụy trang hoàn hảo hơn là dùng miếng tiết gà đựng vào bong bóng cá, sau đó cẩn thận đặt vào âm đạo để ngụy tạo.

Kiểm tra qua thân thể, tướng mạo

Người Trung Quốc thời xưa từng dựa vào "tướng mạo" để phân biệt người con gái còn trinh tiết hay không.

Theo đó, muốn kiểm tra người con gái còn trong trắng hay không, cổ nhân sẽ nhìn vào đuôi mắt.

Nếu đuôi mắt có màu hồng hoặc hơi đỏ, thì cô gái này chỉ vừa mới mất đi trinh tiết.

Ngược lại nếu đuôi mắt có màu đen chứng tỏ người phụ nữ đó từ lâu đã không còn trong trắng.

Tuy nhiên hình thức xem đuôi mắt này chỉ có thể dùng với các cô gái trẻ tuổi và hoàn toàn vô dụng với phụ nữ trung niên.

Người xưa còn có quan niệm: nếu là cô gái còn trinh, sau khi quan hệ tình dục, thân thể sẽ để lại nhiều vết hồng.

Cuốn "Ma y tương pháp hoàn thư" đưa ra quan điểm: "ánh mắt như nước, nam nữ đa dâm"; "tóc mai nặng dày, mắt lé đích thị là đa dâm".

"Cổ kim đồ thư tập hành" thì cho rằng: "Tinh thần thẳng thắn nhưng không quyến rũ, biết cười giấu răng, vai nhô cao như rùa, đích thị là xử nữ.

Ngược lại, cử chỉ không ngay thẳng, phong thái quyến rũ ắt là kẻ phong trần."

Cuốn "thụ đàm nguyệt khuyết phụ nhân" lại đưa ra quan điểm: "Nữ nhân khi ngồi mà hay rung đầu gối, miệng rộng buông xuống thì không nên lấy."

Một số tài liệu khác thì cho rằng: đàn bà, con gái mà "đứng nghiêng người dựa cửa, thấy người đến thì đảo mắt, xoa má cũng cắn ngón tay, vô cớ chỉnh quần áo, lúc ngồi hay rung đùi...ắt là đã từng tư thông."

Có người còn cho rằng: xử nữ có lông mi cong, ngực căng tròn, mềm mại.

Người không còn trong trắng thì lông mi cụp xuống, ngực thường mềm rũ.

Thủ cung sa

Đây chính là phương pháp "nghiệm thân" được biết đến nhiều nhất dưới thời phong kiến Trung Quốc.

Thủ cung sa được làm từ thạch sùng cái.

Những con thạch sùng này sẽ được cho ăn chu sa, lâu ngày thân thể sẽ biến thành màu đỏ.

Sau đó dùng thạch sùng phơi khô, xay nhuyễn, tạo thành một loại bột phấn.

Loại bột phấn này sẽ được tô lên tay hoặc cơ thể của người con gái dùng để "nghiệm thân".

Nếu sau đó người con gái này phát sinh quan hệ nam nữ, thủ cung sa sẽ lập tức phai màu.

Trên thực tế, có nhiều vị vua còn dùng chiêu thức này để quản giáo hậu cung ba nghìn cung tần mỹ nữ bằng cách dùng thủ cung sa làm phấn trang điểm.

Cuốn "Phòng thuật huyền y trung kỵ" từng nói về một loại thuốc khác có công dụng tương tự như thủ cung sa.

Loại thuốc này từng được "Tần Thủy Hoàng dùng để giám sát hành vi thường ngày của các phi tần."

Thành phần của loại thuốc gồm có "mật đà tăng", "càn son", "chu sa".

Sau khi xay nhuyễn còn pha thêm máu dơi rồi điểm lên người phi tần.

Nếu ai có hành vi tư thông, dấu vết này sẽ lập tức phai đi.

Thử máu

Trung Hoa cổ đại còn sử dụng thử máu như một phương pháp để giám định trinh tiết phụ nữ.

Học sĩ thời nhà Thanh là Thái Hành Tử đã từng ghi lại trong cuốn "Trùng minh man lục" về sự việc này.

Theo cuốn sách trên, người con gái lúc đầu bị nghi oan là tư thông với hàng xóm.

Gia đình nhà trai vì muốn kiểm tra trinh tiết con dâu nên đã chuốc rượu say, sau đó trích máu tay của nàng để thả vào trong nước.

Kỳ lạ thay giọt máu này không những không tan mà còn ngưng lại như hòn ngọc.

Theo quan niệm của những người dùng phương pháp thử máu: nếu nhỏ máu của cô gái còn trinh trắng vào trong nước, thì máu không hề bị hòa tan mà sẽ ngưng tụ lại.

"Gió hắt hơi"

"Phún đế phong" (gió hắt hơi) là phương pháp kiểm tra trinh tiết kỳ lạ từng được sử dụng trong xã hội phong kiến Trung Quốc.

Khi dùng phương pháp này, cô gái cần kiểm tra sẽ phải đứng trước một chậu than và không được mặc đồ lót.

Sau đó sẽ có người đốt giấy, thổi khói lên mũi để gây ngứa.

Khi ấy, cô gái không tránh khỏi việc hắt hơi.

Nếu như trong lúc hắt hơi, phía dưới có một luồng gió thổi làm lay động chậu than, như vậy cô gái sẽ bị coi là không còn trong trắng.

Ngược lại, nếu luồng gió vô cùng yếu ớt, cô gái sẽ được khẳng định là xử nữ.
 
Trung Quốc Xa Xưa
LÃNH CUNG.


Là nơi sinh sống của gia đình hoàng tộc dưới hai triều đại nhà Minh và Thanh, có tuổi đời lên tới hơn 560 năm, Tử Cấm Thành từ lâu đã trở thành biểu tượng của nền phong kiến Trung Hoa.

Công trình kiến trúc vĩ đại này có diện tích khoảng 720.000 m2 chia ra cho hơn 8600 gian phòng.

Phải trải qua đến 24 đời vua thì mới hoàn thiện xong Tử Cấm Thành, thế nên khỏi phải nói cũng biết được nơi đây đã chứng kiến biết bao sự kiện lịch sử quan trọng và cũng là nơi lưu giữ những gì tuyệt vời nhất từ những ngày tháng vàng son của các triều đại phong kiến.

Từ đằng sau cánh cổng Thiên An, biết bao quyết định mang tính lịch sử đã được truyền ra, biết bao đại lễ đã cử hành và cũng biết bao đời vua chúa đã thay nhau lên nắm quyền.

Tường thành ở đây trải dài hơn 3000m, cao gần 10m và bao quanh là một con sông đầy cá sấu hung dữ, sâu 6m để bảo vệ an ninh cho thành do đây là nơi ở của hoàng đế và hoàng gia.

Tương truyền ngoài những nhân vật có thân phận cao quý thì chỉ có cung nữ và thái giám mới được quyền sinh sống trong Tử Cấm Thành.

Nam nhân bình thường tuyệt đối không được phép có mặt ở nơi đây, chỉ trừ những người thường đưa than, chất đốt đến hoàng cung, người chuyên cung cấp hoa và quân nhân vào dọn tuyết.

Còn phụ nữ thì chỉ có vú nuôi cho các hoàng tử, công chúa hoặc các bà lang tinh thông y thuật và bà đỡ thì mới được trực tiếp ra vào Tử Cấm Thành; tuy nhiên cũng phải tuân thủ theo những luật lệ cực kỳ ngặt nghèo.

Tử Cấm Thành được chia làm hai phần: tiền triều và hậu cung.

Hậu cung có lẽ là khu vực mà người ta tò mò nhất.

Sở dĩ như vậy là vì đây là nơi ở của hoàng hậu và các phi tần của hoàng đế, cũng là nơi đã diễn ra biết bao nhiêu câu chuyện bí ẩn mà vẫn được đồn thổi cho đến ngày nay.

Ngoài hoàng hậu thì các phi tần, cứ ai đắc sủng thì sẽ được ban cho cung điện nguy nga lộng lẫy, có vị trí đẹp và gần gũi với hoàng đế.

Còn đối với những phi tần phạm tội nhưng chưa đến mức khi quân hay xui xẻo thất sủng thì họ sẽ bị đẩy vào lãnh cung.

Chính những lãnh cung này cũng là đề tài mà rất nhiều người muốn biết và tìm hiểu.

Sau một quá trình nghiên cứu thì các học giả cho rằng, trên thực tế, lãnh cung không chỉ nói tới một cung điện cụ thể nào cả mà chỉ là tên gọi ám chỉ nơi dùng để giam giữ những phi tần, cung nữ phạm trọng tội.

Như vậy thì lãnh cung ở nơi nào hoàn toàn là do hoàng đế chỉ định.

Nếu hoàng đế đời sau có muốn chọn một cung khác làm lãnh cung thì đó cũng là điều hợp lý.

Dưới thời nhà Minh, cung Càn Tây ở phía tây của Ngự Hoa Viên được chọn làm lãnh cung để giam giữ bất cứ những ai dám phản nghịch lại ý muốn của Khách thị - nhũ mẫu của hoàng đế Minh Hy Tông.

Bà này đã cấu kết với thái giám Ngụy Trung Hiền để thâu tóm hoàng quyền và ngang nhiên ra lệnh giam bất cứ ai vào lãnh cung.

Đến cả phi tần của hoàng đế nhà Minh là Trương Dụ phi cũng bị Khách thị hãm hại.

Bà ta tâu với nhà vua rằng, đứa con của Trương Dụ phi không mang dòng máu hoàng gia, khiến nhà vua nổi giận và đày phi tần này vào cung Càn Tây.

Ở đây, Khách thị lại cố tình không cho người mang đồ ăn đầy đủ khiến Trương Dụ phi cuối cùng chết vì đói ở lãnh cung.

Thành phi, một phi tử khác của Hy Tông cũng không thoát khỏi kiếp nạn bị giam giữ nơi lãnh cung.

Chứng kiến nỗi oan khuất của Trương Dụ phi, Thành phi có ý định đem chân tướng tâu lên hoàng đế.

Rủi thay việc này bị Khách thị biết được nên đã nhanh chóng ra tay tống Thành phi vào lãnh cung phía sau Ngự Hoa Viên.

Thế nhưng do Thành phi đã sớm biết trước nên giấu sẵn đồ ăn trước khi bị giam và thoát được cảnh chết đói.

Đến thời Minh Hiến Tông có Vạn Quý phi hoành hành, mạnh tay đàn áp cả hậu cung, hãm hại các phi tần đang mang thai của nhà vua.

Kỷ thị - một phi tần của Hiến Tông không thoát khỏi số phận nên đã bị giam giữ ở lãnh cung.

Thế nhưng nhờ sự giúp đỡ của các thái giám mà bà này đã sinh hạ một hoàng tử cho nhà vua ở ngay nơi lãnh cung khắc nghiệt, gian nan!

Hoàng tử này được đặt tên là Chu Hựu Đường, cũng chính là Minh Hiếu Tông trong tương lai.

Trong 6 năm đầu đời, ông sống cùng thân mẫu ở nơi lãnh cung đầy khổ ải, tuy thiếu thốn nhưng đổi lại được an toàn.

Mãi sau này ông mới được các thái giám đưa vào chính cung để nhận cha.

Đến thời nhà Thanh, Trân phi - ái phi của Quang Tự cũng bị Từ Hy Thái Hậu giam lỏng ở một gian phòng phía bắc của Các Cảnh Kỳ, rồi sau đó vị hoàng phi này đã bị ép nhảy xuống giếng mà chết.

Trên thực tế, không chỉ có phi tần, cung nữ phạm tội mới bị tống vào lãnh cung mà những cung tần, thiếp thất của một vị vua đã băng hà cũng sẽ chịu chung cảnh ngộ này.

Thông thường, sau khi hoàng đế cưỡi hạc về trời thì những phi thiếp còn trẻ của họ cũng không được tái giá mà bắt buộc phải ở vậy thờ chồng cho đến hết đời.

Vậy những người phụ nữ này sẽ được xếp ở đâu?

Câu trả lời là họ sẽ được phân vào những cung điện dành riêng cho các quả phụ như Từ Ninh cung, Thọ An cung hay Thọ Khang cung.

Một khi đã bước vào nơi đây thì họ sẽ dành phần đời còn lại của mình chỉ để đi ra đi vào, đọc sách ngâm thơ hoặc ngắm hoa thưởng nguyệt, sống một cuộc đời lặng lẽ, tẻ nhạt.

Có lẽ cũng vì lý do này mà những thái phi, thái tần đều có chung tâm trạng u uất, chán nản, tuyệt vọng, dẫn đến nhiều chứng bệnh mà trong đó nổi bật là bệnh mất ngủ, bệnh liên quan đến gan và dạ dày.

Có một điều ít ai biết, đó là đôi khi nam giới cũng thường bị giam vào lãnh cung.

Trong lịch sử các triều đại Trung Hoa, có không ít nam nhân đã chôn vùi cuộc đời ở nơi cung điện hẻo lánh, khắc nghiệt.

Thế nhưng người ta lại có một cái tên riêng dành cho lãnh cung của những nam nhân, đó là cung Tiêu Diêu.

Trái khoáy thay, tiêu diêu lại mang ý nghĩa hạnh phúc.

Lúc đầu, Tiêu Diêu vốn được đặt tên cho một căn lầu.

Người đầu tiên cho xây dựng Tiêu Diêu lầu đó là Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương.

Ông vốn là người có tuổi thơ cơ cực nên sau này rất ghét những kẻ lười biếng, ham chơi hơn ham làm.

Phàm là những ai lông bông, mê cờ bạc hay rỗi rãi dắt chó, cầm lông chim đi dạo thì đều bị vị vua này ra lệnh tống vào Tiêu Diêu lầu, ý là biến nơi hạnh phúc thành nơi những kẻ lười biếng chịu chết đói.

Sau này khi nhà Minh dời đô về Bắc Kinh thì xây dựng cung Tiêu Diêu.

Trải qua hết đời nhà Minh đến nhà Thanh, nó không chỉ là nơi giam giữ các thường dân phạm tội mà thỉnh thoảng còn là lãnh cung của thái giám, phạm nhân khác.

Bất cứ ai bị đày vào cung này thì đều bị bỏ đói cho đến chết.
 
Trung Quốc Xa Xưa
NHỮNG VỊ HOÀNG ĐẾ ĐỒNG TÍNH TRỜI SINH CỦA TRUNG QUỐC.


Đồng tính luyến ái vốn không phải là chuyện ngày nay mới có mà là hiện tượng xuất hiện từ rất xa xưa trong lịch sử loài người.

Ở Trung Quốc, ngay từ thời thượng cổ Thương Chu, những mối tình đồng tính đã không phải là hiếm thấy trong các sách sử.

Điều khiến người ta kinh ngạc là mặc dù sở hữu "tam cung lục viện, bảy mươi hai phi tần" với những mỹ nữ đẹp nhất đế chế thế nhưng không ít những vị hoàng đế Trung Quốc lại là những người đồng tính...

Số lượng các vị hoàng đế đồng tính của Trung Quốc không hề ít.

Từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc đã có "mối tình chia đào" của Vệ Linh Công, chuyện "mê Long Dương" của Ngụy vương.

Đến thời thịnh vượng như triều Hán, những cuộc tình đồng tính của các đế vương càng trở nên phổ biến.

Từ đời Hán về sau, số lượng các vị hoàng đế đồng tính có giảm nhưng không phải là hoàn toàn biến mất.

Ngay cả Càn Long, vị vua được coi là "thập toàn", vị "đại đế" của triều Thanh cũng có một mối tình tai tiếng với người đồng giới.

Những người tình đồng tính của các bậc thiên tử chủ yếu có hai loại.

Một loại là những kẻ hầu hạ trong hậu cung sở hữu một khuôn mặt đẹp khiến hoàng đế ưa nhìn, bao gồm cả bọn thị vệ lẫn thái giám.

Một loại khác là những kẻ có "nhan sắc" sống ở bên ngoài hậu cung của hoàng đế.

Loại này bao gồm từ các quan đại thần trong triều cho tới những thiếu niên tuấn tú, "xinh đẹp" sống ở kinh thành.

Một loại đặc biệt khác là những người bạn "nối khố" với hoàng đế từ thời còn để chỏm, là người bạn rất được hoàng đế yêu mến thuở thiếu thời, đến khi hoàng đế lên ngôi, trở thành chúa tể thiên hạ mới bắt đầu thực hiện ước nguyện một thời.

Có điều, dù xuất thân từ "loại nào" thì những người tình đồng tính của các vị hoàng đế hầu như không có kết cục tốt đẹp.

Sử sách từ thời trước công nguyên của Trung Quốc đã ghi lại nhiều chuyện tình đồng tính khá tai tiếng của các bậc thiên tử.

Trong đó những mối tình đồng tính của Vệ Linh Công được người ta nhắc tới nhiều nhất.

Vệ Linh Công là vua nước Vệ ở thời Xuân Thu.

Mặc dù cũng "tam cung lục viện" như ai, thế nhưng vị vua này lại đặc biệt sủng ái một người đàn ông tên là Di Tử Hà.

Di Tử Hà thông minh, vô cùng khôi ngô tuấn tú, lại là họ hàng thân thích của Tử Lộ, một học trò giỏi của Khổng Tử, vì vậy Vệ Linh Công rất cưng chiều anh ta.

Không chỉ ăn ngủ cùng, Vệ Linh Công sẵn sàng tha thứ cho Di Tử Hà dù anh ta có phạm lỗi gì đi nữa.

Sử chép, một ngày, Di Tử Hà nhận được tin mẹ của anh ta bị bệnh nặng.

Di Tử Hà rất lo lắng nên không hỏi han gì đã tự ý lấy xe của Vệ Linh Công ra khỏi cung thăm mẹ.

Theo pháp luật của nước Vệ lúc bấy giờ, nếu như lấy trộm xe của vua phải chịu hình phạt chặt chân.

Nhưng nghe được tin Di Tử Hà lấy xe của mình đi thăm mẹ, Vệ Linh Công không những không giận mà còn lớn tiếng ca tụng rằng: "Thật là một người hiếu thuận, vì mẹ của mình mà không màng gì đến nguy hiểm như vậy".

Một lần khác, Di Tử Hà theo Vệ Linh Công đi tản bộ trong vườn hoa, nhìn thấy một trái đào trên cây đã chín mới đưa tay hái xuống cho vào miệng ăn rất ngon lành.

Cắn xong một miếng mới đưa quả đào cho Vệ Linh Công, nói: "Gia thần xin hiến đại vương một quả bích đào.

Thần nghĩ, hôm nay trời vẫn lạnh, cây cỏ vẫn chưa sinh, đây nhất định là đào tiên nên đặc biệt hiến đại vương hưởng thụ".

Theo luật pháp lúc bấy giờ, ăn trước vua là tội khi quân, có thể mất mạng như chơi, thế nhưng Vệ Linh Công không những không giận Di Tử Hà mà còn khen ngợi hết lời.

"Khó mà có được tấm lòng trung như ái khanh", Vệ Linh Công vừa ăn quả đào đã cắn dở vừa nói.

Sau đó rất lâu mọi người cũng đã quên đi việc này thế nhưng Vệ Linh Công thì không.

Gặp ai Vệ Linh Công đều khoe: "Di Tử Hà rất yêu quý ta, một quả đào ngon cũng không ăn một mình mà chia cho ta ăn cùng".

Người đời sau vì thế mà gọi mối tình đồng tính giữa Vệ Linh Công và Di Tử Hà là "mối tình chia đào".

Hoa không thể nở cả trăm ngày, thời gian qua đi, Vệ Linh Công dần dần cũng sinh ra chán ghét đối với Di Tử Hà.

Có một ngày, trong cung có người nói với Vệ Linh Công rằng: "Thần nằm mơ về đại vương, thấy một cái bếp, rồi lại mơ thấy một người ngồi ở trước cái bếp ấy".

Vệ Linh Công vô cùng giận dữ nói: "Ta chỉ nghe thấy khi mơ về quân vương thì mơ thấy mặt trời, chưa từng nghe nói mơ thấy cái bếp bao giờ".

Người kia đáp: "Mặt trời chiếu khắp thiên hạ, bất cứ vật gì tồn tại trên mặt đất đều được hưởng ánh sáng của nó.

Còn như cái cửa bếp, nếu có một người ngồi tại cửa thì chỉ có một mình người đó được hưởng ánh sáng và hơi ấm mà thôi, còn những người khác muốn có ánh sáng và hơi ấm cũng không được".

Lời nói của vị đại thần kia chính là ám chỉ việc Linh Công chỉ sủng ái một mình Di Tử Hà, nhiều khi quên cả việc triều chính, lo cho trăm họ.

Vệ Linh Công biết vậy nên sau đó đã phải tìm cớ đuổi Di Tử Hà ra khỏi cung.

Thế nhưng, Di Tử Hà đâu phải là mối tình duy nhất của ông vua nước Vệ.

Sau khi Di Tử Hà bị đuổi ra khỏi cung, Vệ Linh Công lại sủng ái một người thanh niên khác là đại phu Công Tử Triều.

Nhờ được Vệ Linh Công sủng hạnh nên công Tử Triều được phép tự do ra vào cung cấm.

Khi một người đàn ông đẹp được phép tự do ra vào hậu cung, đương nhiên sẽ gây ra những chuyện phong lưu ầm ĩ.

Ngoài mối tình với Vệ Linh Công, Công Tử Triều đem lòng yêu một người khác giới trọng hậu cung của người tình.

Trớ trêu đó không phải là một cung nữ hay một phi tần bị nhà vua ghẻ lạnh mà lại chính là vương hậu Nam Tử của Vệ Linh Công.

Công Tử Triều và vương hậu Nam Tử tư thông với nhau trong một thời gian dài mà Vệ Linh Công không dám nói nửa lời khiến cả triều thần chán ghét vì thế mới dẫn đến động loạn, Vệ Linh Công phải trốn khỏi cung cấm.

Sau khi Vệ Linh Công dẹp loạn trở về ngôi cao, Công Tử Triều và Nam Tử đã cùng nhau chạy trốn sang nước Tấn.

Thế nhưng Vệ Linh Công vẫn còn luyến tiếc Công Tử Triều, muốn có anh ta ở cạnh vì vậy mới lấy cớ là mẫu hậu tưởng nhớ con dâu là nàng Nam Tử, gọi Công Tử Triều về nước Vệ.

Thời Xuân Thu – Chiến Quốc, việc các hoàng đế có "sủng nam" không hiếm, song vẫn là chuyện khá đặc biệt.

Tuy nhiên, đến thời đại sau đó là nhà Hán thì chuyện đồng tính của các vị hoàng đế trở thành chuyện rất phổ biến và bình thường.

Theo ghi chép của Sử ký và Hán thư, những bộ sử sớm nhất trong lịch sử Trung Quốc, trong số 25 ông vua triều Hán, thì có tới 10 vị có các "sủng nam".

Điều đó có nghĩa rằng, có tới gần một nửa số con cháu của Lưu Bang có khuynh hướng yêu người cùng giới.

Thành ra, nhiều người gọi triều đại nhà Hán là triều đại của những Hoàng đế đồng tính.

Trong số đó, nổi tiếng nhất với những chuyện tình đồng tính chính là Hán Văn Đế Lưu Hằng và Hán Ai Đế Lưu Hân.

Trong lịch sử Hán Văn Đế được coi là một vị hoàng đế anh minh và hiếu thuận.

Ông là người có công tạo lập nên thời thịnh trị Văn Cảnh, một trong những thời kỳ phát triển nhất của triều Hán.

Tuy nhiên, đây cũng là vị hoàng đế nổi tiếng với những cuộc tình đồng tính.

Trong số đó, câu chuyện nổi tiếng nhất chính là mối quan hệ đồng giới giữa Văn Đế và anh phu chèo thuyền Đặng Thông.

Ban đầu, Đặng Thông là phu thuyền, mỗi khi anh ta chèo thuyền ra ngoài, thường cắm một lá cờ vàng ở mui thuyền vì thế mọi người mới gọi là Hoàng đầu lang (anh chàng đầu vàng).

Bởi vì Đặng Thông rất giỏi chèo thuyền nên mới được triệu vào cung làm thủy thủ cho ngự thuyền của Hán Văn Đế.

Cho tới một đêm, Hán Văn Đế nằm mộng thấy mình đang lên trời nhưng dùng sức của 9 trâu và 2 hổ mà vẫn không thể tiếp cận được Nam Thiên Môn nên cuối cùng vẫn không thể lên vào được cửa trời.

Đúng lúc đó có một người đầu quấn khăn vàng đứng sau lưng đẩy Văn Đế, mới giúp Văn Đế lên được thiên giới.

Văn Đế quay đầu nhìn lại người đã đẩy mình, chỉ nhìn thấy quần áo người đó được buộc quấn lại phía sau lưng.

Văn Đế đang muốn gọi anh ta trở lại thì bị tiếng gà gáy đánh thức.

Ngày hôm sau, Hán Văn Đế đi chơi Tây Cung nhìn thấy một người thủy thủ trên thuyền ngự đầu quấn khăn vàng, đai áo được buộc ra phía sau lưng, giống hệt như người Văn Đế thấy trong giấc mộng hôm trước.

Gọi tới hỏi mới biết người đó tên là Đặng Thông.

Văn Đế nghĩ, hắn đã có khả năng đẩy ta lên trời, hẳn là có kỳ tài.

Mà họ Đặng và "đăng" (bước lên) là đồng âm, Đặng Thông cũng có thể là "đăng thông" (chỉ việc lên trời trót lọt, dễ dàng), nên Văn Đế cho rằng người giúp ông lên trời trong giấc mơ không ai khác chính là Đặng Thông.

Cũng vì đắc ý việc mình đã phát hiện ra Đặng Thông nên Văn Đế cực kỳ sủng ái ông ta.

Đi đâu Văn Đế cũng gọi Đặng Thông đi theo, đêm còn cho ngủ chung giường.

Đặng Thông được sủng ái tới mức, Hán Văn Đế vốn sống rất nghiêm cẩn và tiết kiệm, một cái áo bị rách cũng quyết không vứt đi thế nhưng đối với Đặng Thông, Văn Đế lại đối xử hào phóng vô cùng.

Trên thân của Đặng Thông, không thể đếm nổi đã tiêu phí bao nhiêu ngọc vàng châu báu.

Nhờ có Văn Đế, Đặng Thông trở thành kẻ giàu có nhất thiên hạ thế nhưng cuối cùng lại bị bỏ đói mà chết.

Có một lần Văn Đế cử Hứa Phụ một người đương thời rất nổi tiếng về việc đoán số đến gặp Đặng Thông.

Sau khi Hứa Phụ gặp Đặng Thông về nói với Văn Đế rằng: "Đặng Thông sau này sẽ bị lạnh bị đói mà chết".

Văn Đế nghe xong rất không vui nói: "Có thể cho Đặng Thông giàu có, hạnh phúc hay khốn cùng chỉ có một mình ta.

Chẳng lẽ chính ta lại cho ông ta sự khốn cùng đó hay sao?".

Vì thế, Văn Đế lệnh lấy một núi đồng ở Nghiêm Đạo, quận Thục ban thưởng cho Đặng Thông, còn cho phép ông ta tự mình đúc lấy tiền đồng để tiêu.

Từ đó Đặng Thông trở nên phát tài, tiền đồng do ông ta tạo ra được tiêu khắp thiên hạ.

Sau đó, có lần trên lưng của Văn Đế đột nhiên xuất hiện một cái nhọt, máu mủ chảy ra không ngừng.

Đặng Thông cảm thấy rằng cơ hội để mình bày tỏ sự hiếu thuận với những ân sủng mà Văn Đế đã ban cho mình nên ngày ngày vào cung, tự thân mình ngồi bên hoàng đế hầu bệnh hỏi thuốc, vô cùng ân cần.

Thậm chí để giảm đau đớn cho Văn Đế, Đặng Thông không quan tâm đến sự tanh hôi của máu mủ đã dùng miệng hút máu mủ ra ngoài.

Sự ân cần của Đặng Thông khiến Văn Đế vô cùng cảm động.

Có một ngày sau khi Đặng Thông hút xong máu mủ ở vết thương, Văn Đế mới hỏi Đặng Thông rằng: "Thiên hạ ai là người yêu ta nhất?".

Đặng Thông ngoan ngoãn đáp rằng: "Phải nói là không có ai yêu bệ hạ được bằng Thái tử".

Văn Đế nghe xong không vui song cũng đáp lại lời nào.

Có một lần Thái tử Lưu Khải, con của Văn Đế vào thăm bệnh của vua cha.

Văn Đế muốn thử lòng hiếu thuận của con nên nhờ Lưu Khải hút mủ trong nhọt của mình.

Thái tử nhìn thấy máu mủ ở miệng nhọt, tanh hôi khó chịu sợ ghê người nhưng không dám kháng mệnh chỉ còn biết cách cắn răng mà hút, vẻ mặt vô cùng khó coi.

Văn Đế nhìn thấy tình cảnh đó không kìm được lòng nên than rằng: "Đặng Thông còn yêu ta hơn cả thái tử".

Lúc ấy thái tử mới biết chuyện Đặng Thông hàng ngày hút máu mủ ở nhọt cho Văn Đế, trong lòng cảm thấy rất hổ thẹn nhưng cũng vì thế mà ông ta sinh ra oán hận Đặng Thông.

Và điều này dẫn tới cái chết thê thảm của Đặng Thông sau đó.

Sau khi Văn Đế chết, Lưu Khải lên ngôi vua, sử sách gọi là Hán Cảnh Đế.

Ngay khi Cảnh Đế lên ngôi liền bãi miễn chức quan của Đặng Thông cho ông ta về quê hưởng tuổi già.

Không lâu sau có người tố cáo Đặng Thông tổ chức đúc tiền trộm ở bên ngoài.

Cảnh Đế phái người điều tra kết quả phát hiện đó là sự thực nên ra lệnh tịch thu toàn bộ gia sản của Đặng Thông.

Đặng Thông biến thành kẻ nghèo nàn còn bị nợ mất trăm vạn.

Trưởng công chúa, chị của Cảnh Đế, nhớ lại di ngôn của Văn Đế không để cho ông ta chết đói bèn chu cấp cho ông ta một ít tiền.

Nhưng các quan chức dùng số tiền được ban thưởng này để gán nợ nên tiền ban thưởng đều không đến được chỗ của Đặng Thông.

Sau đó trưởng công chúa biết được mới sai thủ hạ mang cho Đặng Thông một ít quần áo và lương thực nhưng cũng bị các quan chức tịch thu mất.

Cứ như thế, người tình của Hán Văn Đế, kẻ từng giàu có nhất thiên hạ Đặng Thông cuối cùng lại chết vì đói rét.

Cũng giống như tổ tiên của mình, Hán Ai Đế Lưu Hân trót đem lòng yêu một người thanh niên tuấn tú tên là Đổng Hiền.

Thế nhưng, nếu như Hán Văn Đế chỉ đem cho Đặng Thông một núi đồng để ông ta đúc tiền tiêu thì Lưu Hân còn định đem cả thiên hạ giao cho sủng nam của mình.

Đổng Hiền tự là Thánh Khanh người vùng Vân Dương, cha là Đổng Cung từng làm đến chức ngự sử.

Vào thời đó, Đổng Hiền còn là một người hầu bên cạnh thái tử.

Ban đầu, Đổng Hiền không được chú ý nhiều.

Cho đến một hôm, Đổng Hiền đang làm việc trong cung, đúng lúc dừng lại ở trước điện thì Ai Đế, khi đó đã là hoàng đế nhìn thấy.

Chỉ nhìn một cái, Ai Đế đã phát hiện, dường như mấy năm không gặp vì Đổng Hiền đã trưởng thành, tuấn tú hẳn lên và nếu đem so với những cung nữ phấn sáp trong lục viện thì anh ta còn kiều diễm hơn.

Ai Đế không cầm được sự vui mừng lệnh cho Đổng Hiền theo sau mình để hầu hạ.

Từ đó Ai Đế ngày càng sủng ái Đổng Hiền.

Ngồi cùng xe, ngủ cùng giường, làm gì cũng không rời xa Đổng Hiền.

Ông ta còn phong cho Đổng Hiền làm Hoàng Môn Lang, bắt Đổng Hiền lúc nào cũng phải ở bên cạnh mình.

Cha của Đổng Hiền là Đổng Cung cũng được thăng lên Bá Lăng Lệnh rồi Quang Lộc đại phu, đều là những chức quan to dưới thời nhà Hán.

Theo sử sách còn ghi chép lại, Đổng Hiền không chỉ có khuôn mặt của một mỹ nhân mà từ ngôn ngữ cử chỉ đều giống phụ nữ, "tính tình dịu dàng", "giỏi quyến rũ".

Cũng vì thế Ai Đế rất cưng chiều Đổng Hiền.

Có một lần ngủ trưa, Đổng Hiền gối lên cánh tay áo của Ai Đế mà ngủ.

Ai Đế muốn quay người nhưng cũng không muốn làm tỉnh giấc của Đổng Hiền nên lấy kiếm cắt đứt cánh tay áo của mình.

Thế nên người đời sau mới gọi mối tình của Ai Đế và Đổng Hiền là mối tình "cắt áo" hay sách vở Trung Quốc sau này gọi những mối tình đồng giới nam là "đoạn tay áo".

Ân sủng trong hậu cung còn chưa đủ, Ai Đế còn muốn người được mình yêu thương có một địa vị đứng đầu trong triều chính.

Ai Đế muốn phong Đổng Hiền tước hầu nhưng mãi vẫn chưa tìm được cơ hội thích hợp.

Sau đó vừa lúc thừa tướng Vương Gia chết, trong triều giảm đi một thế lực phản đối Đổng Hiền, Ai Đế đã bãi miễn chức Đại tư mã đang do một người họ ngoại đảm nhiệm, phong cho Đổng Hiền chức vị này.

Đây là chức quan cao nhất trong triều đình nhà Hán.

Lúc bấy giờ Đổng Hiền mới bước vào tuổi 22 mà đã là Đại tư mã, một chức vị có quyền lực rất lớn, cơ hồ đã có thể chia đôi thiên hạ cùng với hoàng đế.

Theo sử sách còn ghi chép lại thời đó có một vua của Hung Nô đến để triều kiến hoàng đế triều Hán.

Ông ta thấy người giữ chức Đại tư mã quyền lực nhất triều lại là một thiếu niên tuấn tú, bất giác cảm thấy kinh hãi vô cùng.

Khi ông ta hỏi dò, hoàng đế mới đáp rằng: "Tuy Đại tư mã tuổi còn rất trẻ nhưng là người hiền đức nhất nước này.

Vì tài năng mới được thăng chức vị cao như vậy".

Kết quả , Thiền Vu của Hung Nô tin đó là sự thật mới kính cẩn hướng về phía Đổng Hiền hành đại lễ còn chúc mừng hoàng đế triều Hán có được một hiền thần tuổi rất trẻ như Đổng Hiền.

Sau đó, tình yêu của Ai Đế dành cho Đổng Hiền dường như không cồn biết làm thể nào bày tỏ nữa.

Cuối cùng, vào một ngày, Ai Đế mở yến tại điện Kỳ Lân cùng các quan, sau khi uống vài cốc , đột nhiên Ai Đế nhìn Đổng Hiền bằng đôi mắt đầy thâm tình rồi cười nói rằng: "Trẫm muốn theo vua Nghiêu vua Thuấn thực hiện việc nhường ngôi, liệu có được không?".

Ý của câu này chính là Ai Đế muốn học theo cách làm của các vua thời trước lấy ngai vàng của mình nhường lại cho Đổng Hiền.

Câu nói của Ai Đế khiến cả triều văn võ bá quan ngỡ ngàng, nói cũng không thành lời.

Mãi một lúc sau mới có một người mới tiến lên phía trước nói: "Thiên hạ này là thiên hạ của Cao hoàng đế chứ không phải là thiên hạ của bệ hạ.

Bệ hạ chỉ là người kế thừa lại thiên hạ này của tổ tôn.

Nếu truyền lại ngôi vị thì chỉ có thể truyền lại cho con cháu đời đời mà thôi.

Bệ hạ là vua một nước, cần phải biết rằng thiên tử không nói đùa, cho nên ngàn vạn lần không nên nói những lời như vậy!".

Ai Đế nghe lời nói này, im lặng không nói thêm lời nào nữa nhưng hiển nhiên là không còn hứng thú gì.

Sau đó Ai Đế lệnh đuổi người đó ra khỏi bữa tiệc và về sau có mở yến tiệc cũng không cho ông ta tham gia nữa.

Ai Đế khi đó còn rất trẻ nhưng đã sớm nghĩ đến những ngày sau khi mình chết đi sẽ không còn Đổng Hiền nữa, thấy rất thương tâm.

Ai Đế bèn lệnh cho các đại thần xây dựng bên cạnh lăng mộ của mình một phần mộ khác để chuẩn bị sau này nếu Đổng Hiền có chết thì sẽ an táng bên cạnh phần mộ của mình.

Ý muốn của ông ta là sau khi chết cũng muốn được chôn cùng người yêu của mình, "sống thì cùng giường, chết thì cùng huyệt".

Nhưng điều đó là chưa kịp thực hiện thì ngày họ phải chia tay đã sớm đến.

Tháng 6 năm Nguyên Thọ thứ hai, Ai Đế mới chỉ 26 tuổi mắc bạo bệnh mà chết.

Thái hoàng thái hậu để cho Vương Mãng làm chủ việc triều chính.

Vương Mãng cực lực phản đối Đổng Hiền, có ý muốn loại bỏ ông ta.

Đổng Hiền cũng biết mình gặp đại họa đến nơi rồi, vì thế ông ta đã tự sát tại nhà để tránh hậu hoạ và cũng là để đáp lại mối tình của Ai Đế dành cho mình.

Càn Long là vị Hoàng đế nổi tiếng bậc nhất của triều đình Mãn Thanh, vương triều cuối cùng ở Trung Quốc.

Nhắc tới vị hoàng đế này, người ta thường gắn liền với mỹ từ "Đại đế", chỉ những hoàng đế có công trạng lớn.

Tuy nhiên, ít người biết rằng, vị đại đế oai hùng của mình lại cũng là một người "thích đàn ông".

Và điều người ta ít ngờ tới nhất chính là, người tình đồng tính của Càn Long đại đế chính là đại gian thần nổi tiếng không kém gì ông vua: Hoạn quan Hòa Thân.

Câu chuyện bắt đầu từ thời Thanh Thế Tông (Ung Chính Hoàng đế).

Ung Chính có một người vợ bé, dung mạo vô cùng xinh đẹp.

Khi đó Càn Long mới 15 tuổi, còn là Thái tử được ở bên cạnh bà phi này.

Một lần Càn Long nhìn thấy phi tử này chải đầu, không cầm được lòng mới từ phía sau bịt mắt phi tử này để trêu đùa.

Phi tử không biết đó là thái tử, bị Càn Long bịt mắt như vậy, vùng một cái rồi thuận tay đánh cái lược chải tóc trên đầu ra phía sau đập trúng ngay mặt của Càn Long.

Càn Long bị đau lập tức phải buông tay ra.

Ngày hôm sau, Thế Tông phát hiện ra trên mặt Càn Long có một vết tấy đỏ mới hỏi vì sao, Càn Long không dám nói.

Sau đó bị quở trách rất nghiêm khắc, Càn Long mới nói ra sự thật.

Thái hậu nghe xong lại nghi ngờ rằng người phi tử nọ đình đùa bỡn với thái tử, lập tức ban cái chết cho người phi tử dung mạo kiều diễm kia.

Càn Long khóc lớn, lấy một ngón tay nhuộm đỏ bôi vào cổ người phi tử kia nói: "Là do ta hại chết nàng, nếu như linh hồn nàng linh thiêng, hai mươi năm sau chúng ta sẽ gặp lại nhau".

Dưới triều đại do Càn Long trị vì, Hòa Thân xuất thân từ một trường đào tạo quan chức của Mãn Thanh được vào cung giữ chức Loan Nghi Vệ, công việc cụ thể là khiêng kiệu.

Có một ngày, Càn Long muốn ra ngoài, trong lúc vội vã tìm không thấy cái lọng vàng, Càn Long mới hỏi: "Đây là lỗi của ai?".

Lúc đó Hòa Thân vội vã nói: "Người giữ điển lễ không thể tránh khỏi trách nhiệm".

Càn Long thấy tiếng nói, quay lại nhìn thì thấy Hòa Thân rất quen như là mình đã gặp qua ở đâu rồi.

Sau khi về cung, nhớ lại những sự việc khi còn nhỏ bất giác cảm thấy Hòa Thân và vị phi tử vì mình mà chết năm xưa dung mạo rất giống nhau.

Vì thế mới bí mật gọi Hòa Thân vào cung, xem kĩ cổ của ông ta phát hiện ra một vết ngón tay.

Càn Long cho rằng trước mắt mình là người phi tử thuở trước đầu thai, từ đó sự sủng hạnh của Càn Long đối với Hòa Thân ngày càng gia tăng.

Được sự sủng ái của hoàng đế, hoạn lộ của Hòa Thân lên như diều gặp gió.

Từ một người khiêng kiệu ông ta được thăng lên đến chức Tể tướng.

Lại thêm bản tính gian ngoan, giỏi vơ vét, Hòa Thân trở thành người giàu có nhất dưới triều Càn Long.

Trước khi Càn Long nhường ngôi cho con là Gia Khánh, có nói với Hòa Thân rằng: "Ta và khanh quan hệ không hề bình thường, người đời sau sẽ không tha cho khanh".

Quả nhiên sau khi Gia Khánh lên ngôi không lâu đã ra lệnh giết Hòa Thân.

Người tình nổi tiếng của Đại đế Càn Long cuối cùng đã phải nhận một kết cục thê thảm.
 
Back
Top Bottom