Cập nhật mới

Khác TRUNG QUỐC XA XƯA

Trung Quốc Xa Xưa
PHÒ MÃ DƯỚI THỜI NHÀ THANH.


Cổ nhân có câu: "Con gái của Hoàng đế không lo gả".

Câu nói ấy mang hàm ý rằng, được làm Phò mã để kết thân với hoàng tộc là một đặc quyền mà đàn ông trong thiên hạ ai cũng muốn hướng tới.

Thế nhưng sự thực liệu có phải như vậy?

Phò mã sau khi lấy công chúa liệu có được hưởng vinh hoa phú quý cả đời như hậu thế vẫn thường ngưỡng mộ?

Kỳ thực, làm phò mã vốn là chuyện chẳng dễ dàng, còn làm phò mã dưới thời nhà Thanh lại càng "khó sống".

Vậy đâu là nguyên nhân khiến Thanh triều trở thành "ác mộng" của các vị phò mã?

Bí mật phía sau những luật lệ khắt khe của triều đại này với con rể nhà vua sẽ được bật mí ngay sau đây.

Chế độ "thử" phò mã cho các Cách cách Thanh triều

Vào thời cổ đại, nam nữ thường kết hôn khi tuổi tác còn chưa lớn, con cháu hoàng thất cũng không phải ngoại lệ.

Dưới thời nhà Thanh, các nam tử hoàng tộc buộc phải thành hôn trước năm 15 tuổi, với các công chúa thì độ tuổi gả chồng còn có thể sớm hơn.

Thanh triều cũng là triều đại sáng tạo ra một chế độ để "thử" phò mã, có tên gọi là "chế độ thí hôn".

Theo đó, người làm nhiệm vụ này sẽ là một cung nữ được Thái hậu hoặc Hoàng hậu đặc biệt tuyển chọn và phong làm "thí hôn cách cách".

Nhiệm vụ của người này là giúp công chúa "thử" phò mã để xem con rể của hoàng đế có gặp phải vấn đề sinh lý gì khó nói hoặc có bệnh kín nào hay không.

Theo đó, "thí hôn cách cách" sẽ được phái đi "động phòng" với phò mã một đêm.

Vào ngày hôm sau, người này sẽ bẩm báo lại với Thái hậu và Hoàng hậu.

Nếu phò mã không gặp phải vấn đề gì khó nói, hoàng đế mới đồng ý gả cách cách cho người này.

Sau khi hỷ sự đã xong xuôi, vị cung nữ giúp hoàng tộc "thử" con rể kia sẽ trở thành tiểu thiếp hoặc thị nữ thân cận của phò mã.

Có thể thấy, để trở thành con rể của các vị hoàng đế nhà Thanh, những đấng phu quân tương lai của cách cách phải trải qua nhiều bài kiểm tra khắt khe của hoàng tộc.

Phò mã muốn gặp vợ phải... xin phép!

Theo quy định của hoàng tộc nhà Thanh, cách cách sau khi xuất giá sẽ không được ở cùng người nhà của Phò mã mà được vua cha ban cho phủ đệ.

Đấng phu quân của các nàng sẽ chuyển tới ở tại nơi này, nhưng phải ở một khu riêng biệt nằm tại ngoại viện.

Ngay cả khi đã trở thành vợ chồng, cách cách và phò mã vẫn phải chịu rất nhiều ràng buộc.

Bởi hai người không được phép tự ý gặp mặt nhau chứ chưa nói đến chuyện chung chăn gối.

Nếu không có tuyên chiếu, phò mã sẽ không được phép tự tiện gặp vợ, mà các vị cách cách cũng không có quyền tự ý tuyên chiếu để gặp phu quân của mình.

Người được quyền "tuyên chiếu" là nhũ mẫu bên cạnh cách cách.

Mặc dù xuất thân là một "bà vú" chốn cung đình, nhưng những vị nhũ mẫu này lại chính là các bà quản gia quyền lực trong phủ đệ của cách cách và phò mã.

Nếu muốn được gặp ái thê của mình, các vị phò mã sẽ phải bỏ ra nhiều tiền bạc để được nhũ mẫu "tuyên chiếu".

Ngược lại, nếu không có gì hối lộ, thì mỗi lần phò mã muốn gặp cách cách đều sẽ bị nhũ mẫu sỉ vả thậm tệ, thậm chí báo lại cho hoàng cung.

Cũng vì chế độ này mà các cách cách Thanh triều rất ít người có thể sinh con.

Hậu duệ của những vị phò mã phần lớn đều do các tiểu thiếp bên ngoài sinh ra.

Bởi vậy nên các cách cách nhà Thanh cứ 10 người thì có tới 9 người qua đời vì u sầu.

Thậm chí, những "phi vụ" cưới hỏi của các cách cách không bao giờ được phép khiến hoàng tộc thua thiệt.

Nếu cách cách không may qua đời trước, phò mã sẽ bị đuổi ra khỏi phủ và trả lại toàn bộ tài sản cho hoàng cung.

Những người nghiên cứu lịch sử Trung Quốc đều cho rằng, phò mã vốn là một danh xưng chẳng dễ làm, nhất là phò mã Thanh triều.

Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử của triều đại cuối cùng trong lịch sử Trung Quốc, họa chăng chỉ có một vị phò mã "số hưởng" nhất.

Đó không ai khác chính là con trai của Hòa Thân – Phong Thân Ân Đức.

Năm xưa, Càn Long từng gả cô con gái mà ông yêu mến nhất là Cố Luân Hòa Hiếu công chúa cho con trai của đại thần Hòa Thân.

Xuất thân trong gia tộc họ Hòa khét tiếng giàu có và quyền lực, lại lấy được con gái cưng của hoàng đế, cuộc sống của Phò mã Phong Thân Ân Đức quả thực là vẹn cả đôi đường.

Sau này, mặc dù Gia Khánh triệt hạ gia tộc họ Hòa và tịch thu toàn bộ tài sản, nhưng vẫn lưu lại cho cách cách và chồng mình một vài phủ đệ để sinh sống.

Số phận của Phong Thân Ân Đức vì vậy có thể xem là may mắn nhất trong số các Phò mã Thanh triều.
 
Trung Quốc Xa Xưa
CUỘC ĐỜI VỊ VUA TRẺ KHỞI XƯỚNG TẾT HÀN THỰC TRUNG QUỐC.


Tấn Văn Công, tên thật là Cơ Trùng Nhĩ, là con trai của Tấn Hiến Công của nước Tấn thời Xuân Thu - Chiến Quốc.

Ông không phải là con trưởng mà chỉ là con thứ do mẹ ông, Hồ Cơ hạ sinh.

Năm Trùng Nhĩ 19 tuổi, cha ông mới được lập làm Thái tử và đến năm ông 21 tuổi thì mới lên ngôi trở thành Tấn Hiến Công.

Lúc đó, một người anh em khác của Trùng Nhĩ là Thân Sinh được lập làm thế tử.

Sau này, cha ông lại sủng ái một vị phu nhân khác nên tìm cách đưa con trai của bà ta là Hề Tề lên vị trí kế thừa.

Nhưng do Hề Tề còn nhỏ mà các con trai khác, trong đó có cả Trùng Nhĩ đều đã trưởng thành nên Hiến Công tìm cách sai họ đi trấn thủ ở những vùng đất xa xôi.

Về phần Trùng Nhĩ, ông được lệnh đến trấn thủ thành Bồ ở phía Bắc.

Thế rồi sau này Hiến Công lại nghe lời gièm pha của sủng thiếp Ly Cơ mà giết thế tử Thân Sinh.

Lúc đó Trùng Nhĩ cũng bị liên lụy mà phải sợ hãi bỏ chạy về nơi đang trấn thủ.

Sau đó, Tấn Hiến Công tức giận vì con trai tự ý bỏ về nên đã điều quân đánh đất Bồ và đất Khuất.

Trùng Nhĩ bị ép tự sát nhưng đã kịp vượt tường bỏ trốn, tìm đường sang quê mẹ ở đất Địch.

Đặc biệt, trong lần trốn thoát này, Trùng Nhĩ cũng được rất nhiều nhân tài của nước Tấn, những kẻ đã mến mộ tài đức và trí tuệ của ông đi theo phò trợ.

Trong đó phải kể đến những thủ hạ như Triệu Thôi (tổ tiên nước Triệu), Hồ Uyển, Cổ Đà, Tiên Chẩn hay Ngụy Vũ tử (tổ tiên nước Ngụy).

Dù đã lưu vong ở đất Địch nhưng Cơ Trùng Nhĩ vẫn không thoát khỏi sự truy đuổi của vua cha.

Tấn Hiến Công đã đem quân đánh nước Địch nhằm bảo vệ ngôi vị thái tử cho con trai là Hề Tề.

Vì thế mà Trùng Nhĩ bắt buộc phải chạy sang một nước khác lớn hơn và đang phát triển mạnh mẽ, đó là nước Tề.

Khi tới nước Tề, Trùng Nhĩ cùng những người đi theo được Tề Hoàn Công đối xử rất tốt và trọng dụng.

Thế nhưng sau đó 2 năm, Tề Hoàn Công qua đời và kéo theo đó là cuộc đua tranh quyền lực từ rất nhiều thế lực khác nhau nổ ra.

Đến lúc này, các thuộc hạ của Trùng Nhĩ cho rằng nếu cứ ở lại nước Tề thì sẽ không có tương lai nên thương lượng với nhau tìm cách rời Tề để tìm một thế lực khác.

Trùng Nhĩ tiếp tục đến nước Tào thế nhưng ở đây ông lại không được quân chủ Tào Cung công coi trọng, thậm chí còn vì tò mò mà đường đột thất lễ với ông.

Trong khi đó, đại phu nước Tào là Hi Phu Kỵ lại lấy lễ mà hậu đãi Trùng Nhĩ, lấy cớ mang thực phẩm cho Trùng Nhĩ mà giấu vàng bạc ở bên dưới.

Trùng Nhĩ nhận thực phẩm còn trả lại vàng bạc rồi rời khỏi nước Tào, đến nước Tống.

Ở đất Tống, đoàn người của Trùng Nhĩ rất được Tống Tương Công coi trọng; mặc dù đất nước vừa mới bại trận dưới tay nước Sở, tình hình còn khó khăn nhưng Tống Tương Công vẫn đối đãi với Trùng Nhĩ rất mực hậu hĩnh.

Hiềm nỗi Tống chỉ là một nước nhỏ, thế lực yếu nên khó có thể giúp được Trùng Nhĩ.

Thế là ông lại lên đường tìm đến nước Trịnh.

Cũng giống như khi ở đất Tào, Trùng Nhĩ cũng không hề được Trịnh Văn Công đối đãi tử tế mà rất thờ ơ, qua loa.

Thế rồi ông lại phải đến nước Sở.

May mắn thay, lần này ông được Sở Thành Vương vô cùng hậu đãi, trọng dụng; hai người còn cùng nhau đàm đạo, đưa ra những thỏa ước mà sau này đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa Tấn và Sở.

Sau khi ở nước Sở được vài tháng thì Trùng Nhĩ nhận tin Tấn Huệ Công qua đời, thế tử Ngữ đang làm con tin tại Tần lại bỏ trốn về nên Tần Mục Công vô cùng tức giận, mới cho đón Trùng Nhĩ về và ủng hộ ông lên ngôi vua.

Lúc này, sau gần 20 năm lưu lạc từ khi 43 tuổi đến khi đã 60 thì Trùng Nhĩ mới nhìn thấy cơ hội trở về cố hương.

Sau đó, Trùng Nhĩ về lại đất Tấn, lên ngôi vua và trở thành Tấn Văn Công - vị vua thứ 24 của nước Tấn và cai trị trong 8 năm, cho đến khi nhắm mắt xuôi tay.

Người đời sau nhận xét Tấn Văn Công có một sự nghiệp hết sức đáng chú ý, các thủ hạ của ông sau này đều dần có thế lực mà tạo nên 3 quốc gia Tam Tấn nổi tiếng thời Chiến quốc.

Ông được xếp vào trong Ngũ Bá thời Xuân Thu.

Trong cuộc đời bôn ba lưu lạc của mình, Tấn Văn Công đã từng lấy rất nhiều vợ.

Có người là do chính bản thân ông lấy về, mà cũng có người do vua của nước đó vì quý mến ông mà gả.

Khi ông ở nước Tần, Tần Mục Công vừa thấy đã hài lòng nên đem 5 người con gái trong họ của mình gả cho ông.

Trong số họ có nàng Hoài Doanh là con gái của chính Tần Mục Công, đồng thời cũng là vợ thế tử Ngữ trước đây.

Nay thế tử Ngữ chạy về Tấn nên đã bỏ nàng Hoài Doanh ở lại.

Đối với Trùng Nhĩ thì việc tiếp nhận người vợ mới này vô cùng khó khăn do tính về vai vế thì thế tử Ngữ chính là cháu trai của ông, do đó Hoài Doanh là cháu dâu.

Hơn nữa phu nhân của Tần Mục Công mà sinh ra Hoài Doanh còn là chị gái cùng cha khác mẹ với Trùng Nhĩ nên nhìn thế nào thì Hoài Doanh cũng là thế hệ con cháu của ông, mà lại thêm tuổi của ông lúc này đã xấp xỉ 60 nên hai người lại càng không xứng đôi vừa lứa.

Ngoài ra, Hoài Doanh vốn là vợ của một kẻ đã bỏ trốn về nước Tấn, chẳng thèm đoái hoài tới mà nay Trùng Nhĩ lại đi lấy Hoài Doanh nên trong thâm tâm ông cũng cảm thấy không thoải mái.

Sau đó, Tần Mục Công có cho mời ông đến mà nói rằng, Hoài Doanh là người con gái được ông ta yêu thương nhất, muốn đem gả cho Trùng Nhĩ nhưng sợ Trùng Nhĩ mang tiếng xấu nên mới cho cùng 4 cô gái khác trong họ theo hầu, cũng chỉ muốn tìm cho con gái một đấng phu quân tốt đẹp sau cuộc hôn nhân thất bại lần trước.

Chẳng thể từ chối được nên Trùng Nhĩ đành nhận lời, nhưng trong hôn lễ ông tỏ ra rất thờ ơ, hờ hững với người vợ mới này và khiến nàng chịu ấm ức.

Thế nhưng khi ông đem chuyện này ra bàn với các thuộc hạ thì họ đều khuyên ông chấp nhận cuộc hôn nhân với Hoài Doanh, trăm lợi mà không hại.

Như Tư Không Lý Tử nói rằng, dù Trùng Nhĩ và thế tử Ngữ có chung họ nhưng không cùng chí hướng, tâm tráng, tài đức.

Giờ đây, nếu lấy người mà hắn ta bỏ lại để hoàn thành đại nghiệp thì vừa có lợi, vừa có mỹ danh.

Trùng Nhĩ hỏi Hồ Yển thì Hồ Yển tâu rằng: "Sắp cướp nước của y (thế tử Ngữ) thì vợ của y sao không thể lấy được" rồi bảo bản thân Yển chủ trương tuân theo chủ ý của Tần vương.

Vẫn chưa bị thuyết phục, Trùng Nhĩ tới tìm tới gặp Triệu Suy thì Suy khuyên nhủ ông rằng, muốn người khác yêu mình thì phải yêu người ta trước.

Không làm điều gì cho người ta mà lại muốn người ta phục vụ thì đó chính là một điều trái với luân lẽ, đạo lý thông thường, là tội ác.

Giờ nếu Trùng Nhĩ thành thân với công chúa nước Tần, nhận được sự ủng hộ và cảm kích từ quân chủ nước Tần, chính là việc rất có lợi.

Cuối cùng, Trùng Nhĩ quyết định chính thức lấy Hoài Doanh làm vợ, thậm chí còn dùng lễ chính thức để đón nàng vào cửa thay vì lén lút như lời đề nghị của Tần vương.

Điều này vượt quá kỳ vọng của Tần Mục Công nên khiến ông ta vui mừng khôn tả, lại rất khoản đãi Trùng Nhĩ và bảo đảm rằng sẽ ủng hộ Trùng Nhĩ lên ngôi ở nước Tấn.

Sau này, nàng Hoài Doanh trở thành phu nhân của nước Tấn, hay còn được biết đến dưới cái tên Văn Doanh.

Trong những ngày lưu lạc của Tấn Văn Công, ông có thu nạp một hiền sĩ tên là Giới Tử Thôi.

Trên đường lánh nạn, đoàn người của Trùng Nhĩ gặp phải nạn đói, lương thực cạn kiệt đã qua nhiều ngày.

Thấy Trùng Nhĩ sắp ngất đi vì đói, Giới Tử Thôi bèn lặng lẽ cắt thịt ở đùi mình và nấu một bát cháo nóng dâng cho chủ nhân.

Sau này Trùng Nhĩ biết việc đó và vô cùng cảm kích.

Giới Tử Thôi phò trợ Trùng Nhĩ trong 19 năm trời, nếm trải biết bao gian khổ, bao phen vào sinh ra tử, thoát chết trong gang tấc.

Về sau Trùng Nhĩ lên ngôi, trở thành Tấn Văn Công và đã phong thưởng rất hậu hĩnh cho những người có công khi lưu vong, thế nhưng không hiểu vì lý do gì ông lại quên mất công lao của Giới Tử Thôi.

Giới Tử Thôi cũng không oán hận chúa công mà quay về quê nhà, đưa mẫu thân vào núi Điền Sơn mai danh ẩn tích.

Về sau, vào một ngày xuân nọ, Tấn Văn Công nhớ ra một công thần có tên Giới Tử Thôi bèn cho người đi tìm.

Giới Tử Thôi không chịu rời núi để quay về triều đình, cực chẳng đã Tấn Văn Công bèn hạ lệnh đốt 3 mặt rừng nhằm ép Giới Tử Thôi phải chạy ra.

Thế nhưng sau nhiều ngày mà vẫn không thấy bóng dáng của Giới Tử Thôi xuất hiện.

Tấn Văn Công trở nên lo lắng mà cho quân đi tìm thì phát hiện ra ông đã cõng mẹ mà chết cháy trong khi đang chạy.

Tấn Văn Công vô cùng hối hận, cho lập miếu thờ Giới Tử Thôi trên núi và đổi tên núi này thành Giới Sơn.

Ông còn hạ lệnh cho bách tính trăm họ kiêng đốt lửa trong 3 ngày, từ ngày mồng 3 tháng 3 đến mồng 5 tháng 3 Âm lịch.

Vì thế, trong những ngày này, người dân chỉ ăn đồ ăn nguội đã nấu sẵn và dần dần tên gọi Tết Hàn thực ra đời.
 
Trung Quốc Xa Xưa
CUỘC ĐỜI THĂNG TRẦM CỦA THÁI BÌNH CÔNG CHÚA.


Võ Tắc Thiên và Đường Cao Tông Lý Trị có 4 người con, 2 trai, 2 gái, trong đó, Võ Tắc Thiên đặc biệt yêu chiều con gái út, Thái Bình công chúa.

Sử sách chưa rõ năm sinh của bà, nhưng ước tính rằng, công chúa sinh vào khoảng từ năm 660 đến năm 665, và mất năm 773.

Tương truyền, nhờ được thừa hưởng trí tuệ và sự nhanh nhạy của mẹ nên công chúa Thái Bình cũng là một người có nhiều mưu mô và tham vọng.

Ngày từ buổi đầu khi Võ Tắc Thiên mới lên nắm quyền, với bản tính mạnh mẽ, Thái Bình thường xuyên tỏ ý định muốn được can dự vào công việc triều chính của mẹ.

Tuy vậy, Võ Tắc Thiên lại thường xuyên ngăn cản, không cho phép con gái mình được tham gia công khai trong các buổi thiết triều với quần thần.

Điều này khiến công chúa phải chịu ít nhiều sự bức bối.

Mãi tới lúc về già, Võ Tắc Thiên mới nhờ tới sự giúp đỡ của Thái Bình công chúa trong các việc lớn.

Do có sẵn mối thù hằn với mẹ, Thái Bình công chúa đã cho gài người thân cận vào làm nội gián để nhằm theo dõi toàn bộ nhất cử nhất động của mẹ ruột mình.

Biết được Võ Tắc Thiên là một người vô cùng đam mê nhục dục, Thái Bình đã lựa thời cơ để cống nạp lên hoàng hậu 2 người đàn ông mang tên Trương Xương Tông và Trương Dịch Chi.

Được sự sủng ái của chính hoàng đế, hai người này cậy thế lộng hành, làm đủ mọi chuyện trái với luân thường đạo lý ở trong cung mà không ai hay biết.

Lợi dụng tình hình lúc đó, Thái Bình công chúa đã đứng đằng sau xúi giục, để Trương Xương Tông và Trương Dịch Chi đứng lên làm phản.

Trong số những việc mà 2 kẻ này làm, nổi bật nhất chính là việc chúng khiến Thiệu Vương Lý Trọng Thuận cùng em gái là quận chính Vĩnh Thái và em rể và Võ Diên Cơ bị bỏ tù tới chết, chỉ vì xen vào chuyện cá nhân riêng tư của họ.

Điều này không chỉ xúc phạm đến nhà họ Lý, mà còn khiến cho nhà họ Võ cảm thấy tức giận.

Năm 705, Trương Giản Chi cùng tướng quân Lý Đa Tộ đứng lên khởi binh, trừng trị anh em nhà họ Trương, ép Võ Tắc Thiên phải nhường ngôi lại cho Thái tử Lý Hiển, đăng cơ với niên hiệu là Đường Trung Tông.

Anh em Lý Trọng Nhuận đều là con của Đường Trung Tông Lý Hiển, sau này Lý Trọng Nhuận được truy phong làm Ý Đức thái tử, Vĩnh Thái quận chúa được truy phong làm Vĩnh Thái công chúa.

Về phần công chúa Thái Bình, tuy mang tiếng là đứng đằng sau thao túng toàn bộ cuộc chính biến lịch sử này, nhưng bà chỉ đóng vai trò nhỏ đó là thuyết phục mẹ mình từ bỏ ngai vàng và trở thành Thái Thượng Hoàng chứ chưa hề có hành động gì nổi bật.

Ban đầu Võ Tắc Thiên một mực không đồng ý, nhưng cuối cùng vẫn phải chịu nhún nhường trước áp lực của kẻ thù lẫn con gái ruột.

Sau thắng lợi này, bà được sắc phong là Trấn Quốc Thái Bình công chúa, được lập phủ riêng, ăn lộc năm nghìn hộ.

Cũng kể từ đó, Thái Bình công chúa bắt đầu nhúng tay nhiều hơn vào công việc chính sự.

Xét về góc độ lịch sử, một trong những lý do khiến Thái Bình công chúa có hành động như vậy là bởi bà là người con trong gia đình nhà họ Lý đồng thời cũng là con dâu của nhà họ Võ (Võ Tắc Thiên từng gả bà cho Vũ Du Kị, người cháu gọi bà bằng cô).

Do đó, bà không thể khoanh tay đứng nhìn anh em nhà họ Trương lộng quyền.

Thêm vào nữa, Trương Xương Tông là người trực tiếp ám hại Cao Tiển – người tình của Thái Bình – và nhốt Cao Tiển vào ngục.

Chính những lý do cả khách quan lẫn chủ quan ấy, cộng với tính cách ngang tàng mạnh mẽ, đã giúp Thái Bình có cơ hội "đục nước thả câu" nhằm tranh quyền thế vị thời điểm đó.

Vị thế của Thái Bình công chúa không ngừng lớn mạnh, trở thành công chúa có quyền lực cao nhất của nhà Đường.

Sau khi Đường Trung Tông lên ngôi, vì muốn trở thành "Võ Tắc Thiên thứ hai" nên Thái Bình đã không ngừng bành trướng thế lực của mình.

Năm 706, bà bắt đầu gây dựng phe cánh cho mình, thậm chí còn công khai đối đầu với công chúa An Lạc, con của Đường Trung Tông.

Vì vậy bà đã phối hợp với anh trai mình là Tương vương Lý Đán và con trai ông là Lý Long Cơ để chống lại Vi hoàng hậu và công chúa An Lạc.

Năm 710, Vi hậu và công chúa An Lạc hạ độc Đường Trung Tông, lập Ôn vương Lý Trọng Mậu lên làm vua, còn bản thân buông rèm nhiếp chính.

Sau đó, Vi hậu lại âm mưu giết chết tiểu hoàng thượng, tìm cách loại trừ Tương vương và Thái Bình công chúa.

Với sự hỗ trợ của bà, Lý Đán đã đăng cơ sau khi lật đổ âm mưu của Vi Hậu và công chúa An Lạc và truất ngôi tiểu hoàng đế.

Nhờ ngăn chặn được âm mưu của Vi hậu và có công phò tá, bà được phong làm Vạn hộ và trở thành công chúa quyền lực nhất triều đại nhà Đường.

Khi Lý Đán đăng cơ thường xuyên bàn bạc việc quân cơ với bà, mỗi lần Thái Bình công chúa vào triều bàn việc đều ngồi trò chuyện với Lý Đán rất lâu.

Nếu Thái Bình công chúa không lên triều Lý Đán sẽ phái Tể tướng đến chỗ bà để xin ý kiến.

Theo sử sách ghi chép lại: "Thái Bình công chúa phái con trai là Võ Tiết Sùng trực tiếp tham gia, chứ nào chỉ làm người cố vấn thông thường.

Bà muốn vừa có thể cho nhà họ Lý nắm quyền, vừa cho nhà họ Võ được lợi mà không để nhà họ Vi độc chiếm thiên hạ".

Tuy vậy, điều mà Thái Bình công chúa không ngờ tới, đó là đây cũng chính là thời điểm mà bà rơi vào một trong những biến cố lớn nhất của cuộc đời, không những khiến bà phải bỏ mạng mà còn hủy hoại cả cơ đồ chính trị đang trên đà lớn mạnh.

Cuộc tranh giành quyền lực cuối cùng mà Thái Bình công chúa tham gia chính là cuộc chiến ác liệt nhằm chống lại Lý Long Cơ - người muốn chiếm ngôi vua và cũng là đồng minh trước đó của bà.

Tuy nhiên, vị công chúa mưu lược lại muốn giúp anh trai giữ vững ngai vàng nên mới khuyên Lý Đán phế truất đối phương bằng cách rêu rao rằng: "Lý Long Cơ không phải con trưởng của Đường Duệ Tông nên không thích hợp làm thái tử".

Nhưng nào ai ngờ, người này lại được truyền ngôi báu vào năm 712, lấy hiệu là Đường Huyền Tông.

Thái Bình công chúa quyết định khởi binh nhằm tiêu diệu Lý Long Cơ và tìm cách nắm giữ ngự lâm quân.

Nhưng tướng chỉ huy ngự lâm quân đã bị Lý Long Cơ giết chết ngay sau khi kế hoạch trên bị bại lộ.

Do quá hoảng hốt nên bà phải chạy lên núi Nam Sơn lẩn trốn suốt ba ngày.

Đồng thời, dù Thái thượng hoàng Duệ Tông xin Đường Huyền Tông tha chết cho em gái nhưng yêu cầu đó không được chấp thuận.

Cuối cùng, Thái Bình công chúa phải tự tìm tới cái chết.

Tuy nhiên, từ sau sự việc này, nhà Đường không chứng kiến sự xuất hiện của bất kỳ người phụ nữ nào thích can thiệp vào triều chính như vậy nữa.

Vì vậy, có thể nói, cái chết của bà là sự kết thúc cho thời đại "phụ nữ can thiệp triều chính" trong lịch sử nhà Đường.

p.s: thực sự đọc xong mình cũng chả nắm được tình tiết như thế nào, cái ghi chép này có vẻ khó hiểu!!!!!
 
Trung Quốc Xa Xưa
VẬT TÙY THÂN THÁI GIÁM THANH TRIỀU NÀO CŨNG MANG THEO ĐỂ TRÁNH MẤT MẠNG.


Thái giám là một "sản phẩm" của xã hội phong kiến và được sử dụng như công cụ tượng trưng cho sự chèn ép của giai cấp thống trị với các tầng lớp dưới quyền.

Ngày nay, giai thoại về những hoạn quan lộng hành trong lịch sử Trung Quốc vẫn lưu truyền rộng rãi, nhưng đó chỉ là một vài ngoại lệ hiếm hoi.

Trên thực tế, cuộc sống của thái giám trong hoàng cung thời xưa đều hết sức bi thảm.

Câu chuyện của hoạn quan cuối cùng thời nhà Thanh sẽ phần nào minh chứng cho điều đó.

Hoạn quan cuối cùng trong lịch sử Trung Quốc còn sống đến ngày nay chính là Tôn Diệu Đình.

Vị thái giám thời nhà Thanh này từng hầu hạ Đoan Khang Hoàng Quý phi, Hoàng hậu Uyển Dung và Hoàng đế Phổ Nghi.

Chính ông đã từng nhìn thấy rất nhiều câu chuyện kỳ lạ bên trong Cố cung, đã từng tận mắt chứng kiến cảnh Hoàng đế Phổ Nghi bị đuổi khỏi Tử Cấm Thành.

Và bản thân ông cũng hiểu rõ hơn ai hết các quy củ, luật định phức tạp nơi hoàng cung.

Tôn Diệu Đình xuất thân trong một gia đình vô cùng nghèo khổ.

Cha ruột của ông không còn cách nào khác, buộc phải đưa cậu bé Diệu Đình mới 9 tuổi đi tịnh thân (thiến) để chuẩn bị vào cung làm thái giám.

Sau khi trải qua quá trình đau đớn ấy, Tôn Diệu Đình hôn mê 3 ngày 3 đêm.

Nhưng tới lúc tỉnh dậy, tin Tuyên Thống Hoàng đế Phổ Nghi thoái vị lại khiến cậu bé họ Tôn năm ấy không khỏi bàng hoàng.

Thế nhưng, mặc dù đã thoái vị, Phổ Nghi cùng một số hoàng thất vẫn được sống trong cung và cần đến người hầu hạ.

Không lâu sau, Tôn Diệu Đình được đưa đến phủ của Thuần Thân Vương làm việc, năm thứ hai thì được tiến cử và nhập cung.

Sau khi được vào cung, Tôn Diệu Đình luôn theo sát thầy dạy mình, thái độ bưng trà, rót nước vô cùng cung kính với mong muốn được người này chỉ bảo.

Thế nhưng người đó dù hướng dẫn ông làm việc, nhưng lại chẳng tiết lộ cho Tôn Diệu Đình chút nào về quy củ hay cách ứng xử trong cung.

Bởi lẽ, tầng lớp thái giám cũng tồn tại không ít sự cạnh tranh, giành giật.

Có một lần, Tôn Diệu Đình được chỉ định đứng hầu ngoài cửa phòng của Quý phi vào ban đêm, chỉ cần có lệnh liền lập tức vào hầu hạ.

Nhưng hôm ấy, thái giám họ Tôn vì vất vả làm việc cả ngày, nay lại phải đi trực đêm nên đã vô tình ngủ gật ở ngoài cửa.

Kết quả là hôm đó, ông bị Tổng quản thái giám đi tuần bắt quả tang và phải chịu một trận đòn thừa sống thiếu chết.

Sau lần ấy, Tôn Diệu Đình không bao giờ dám ngủ gật trong lúc đi trực đêm.

Nhưng ông lại có một thắc mắc rằng, làm thế nào những cung nhân, hoạn quan khác làm việc cả ngày lẫn đêm mà vẫn có thể tỉnh táo như vậy?

Và bí mật ấy đã được Tôn Diệu Đình tình cờ khám phá không lâu sau đó.

Lần ấy, Tôn Diệu Đình có dịp uống rượu cùng thái giám hướng dẫn mình.

Bữa rượu đã tàn, người kia cũng say túy lúy, Tôn Diệu Đình đỡ ông ta lên giường.

Đến khi giúp người nọ cởi giày, hoạn quan họ Tôn dường như không tin vào mắt mình.

Bởi bên trong đế giày của người ấy có đặt quả "thương nhĩ".

"Thương nhĩ" chính là tên gọi trong tiếng Trung của quả ké đầu ngựa.

Loại quả này mình đầy gai nhọn, chạm nhẹ vào cũng có thể gây ra đau đớn.

Cũng từ sự việc tình cờ này, Tôn Diệu Đình mới phát hiện ra bảo bối giúp thái giám làm đêm không bị ngủ gật.

Bởi lẽ, đem loại quả có gai ấy đặt trong đế giày, mỗi một bước đi chẳng khác nào bị kim đâm vào da thịt, đau đớn vô cùng, dù có buồn ngủ, thái giám cũng chẳng thể nào nhắm mắt được vì bị những cơn đau hành hạ.

Thế nhưng, cơn đau do quả ké đầu ngựa mang lại vẫn chưa thấm vào đâu nếu so sánh với những trận đòn roi trừng phạt nơi cung cấm này.

Bởi vậy, thái giám làm việc trong cung thời xưa đều cắn răng đặt vào đế giày của mình những quả ké đầu ngựa trước mỗi lần đi trực đêm để có thể bảo toàn tính mạng...

Từ câu chuyện được tiết lộ bởi vị thái giám cuối cùng, hậu thế mới thấy được cuộc sống nơi cung cấm của tầng lớp ấy vốn chưa bao giờ là dễ dàng...
 
Trung Quốc Xa Xưa
HOẠN QUAN TRIỀU MINH SÁNH NGANG THAM QUAN HÒA THÂN.


Từng sánh ngang với tên tuổi của đại tham quan Hòa Thân về mức độ giàu có, hoạn quan khét tiếng Minh triều này thậm chí đã lọt vào danh sách 50 nhân vật giàu nhất trong 1000 năm qua.

Đó không ai khác chính là thái giám được mệnh danh "Hoàng đế đứng" một thời - Lưu Cẩn.

Lưu Cẩn (1451-1510) là một thái giám làm việc dưới thời nhà Minh và có mặt trong danh sách các hoạn quan "tác oai tác quái" nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Hoạn quan này vốn họ Đàm, là người Hưng Bình (Thiểm Tây, Trung Quốc).

Năm 6 tuổi, ông được thái giám Lưu Thuận nhận nuôi và đổi họ, chẳng bao lâu sau đó thì tịnh thân (thiến) để vào cung làm việc.

Lúc Minh Hiếu Tông còn tại vị, Lưu Cẩn được phân phó theo hầu Thái tử Chu Hậu Chiếu.

Hơn ai hết, hoạn quan họ Lưu vô cùng quý trọng cơ hội này.

Lưu Cẩn hiểu rõ, tương lai chủ nhân đăng cơ kế vị thì một người ngày đêm tận tâm hầu hạ như mình có được quyền thế, phú quý sẽ dễ như trở bàn tay.

Vì thế, thái giám này nghĩ ra đủ mọi cách để lấy lòng vị Thái tử mới 10 tuổi lúc bấy giờ.

Năm 1505, Minh Hiếu Tông qua đời vì bạo bệnh.

Thái tử Chu Hậu Chiếu thuận lợi đăng cơ, trở thành Minh Vũ Tông.

Lưu Cẩn cậy Vũ Tông trọng dụng, liền tìm cách kết bè kết phái, liên tục củng cố thế lực của mình trong triều đình.

Phe cánh của y không ngừng áp bức dân chúng, tham ô hủ bại, khiến triều đình ngày càng nhiễu loạn.

Thậm chí, bách tính bấy giờ thường truyền tai nhau câu nói: Thời nay có hai vị Hoàng đế, một người họ Chu ngồi trên ngai vàng, một người họ Lưu đánh cạnh ngai vàng.

Danh hiệu "Hoàng đế đứng" này không ai khác chính là Lưu Cẩn.

Dưới những năm Chính Đức, Lưu Cẩn nhân cơ hội quan lại các nơi ba năm vào kinh một lần để báo cáo công việc, liền trắng trợn đặt ra luật ngầm: Người nào có ít thì nộp 1000 lượng bạc, nhiều thì nộp 5000 lượng bạc, người nộp nhiều thì thăng chức, kẻ không nộp bị giáng chức.

Cứ như vậy, Lưu Cẩn lợi dụng quyền lực và chức vụ của mình để thiết lập một mạng lưới tham ô trắng trợn với nhận hối lộ với mức giá thuộc hàng "cắt cổ".

Những hành vi độc ác này của thái giám họ Lưu đã khiến cho một hoạn quan khác là Trương Vĩnh vô cùng căm giận.

Năm 1505, Trương Vĩnh qua điều tra đã nắm được nhược điểm chí mạng của Lưu Cẩn, đồng thời khéo léo lợi dụng những chứng cớ này để tố cáo tội ác của ông ta với hoàng thượng.

Hết thảy những chứng cứ mà Trương Vĩnh tố cáo đều đủ để khép Lưu Cẩn vào tội khi quân phạm thượng, xử chết ngàn lần cũng không hết tội.

Trong những chứng cứ Trương Vĩnh đưa ra, có bằng chứng phát hiện Lưu Cẩn làm giả ngọc tỷ, cất giấu vũ khí trái phép.

Số châu báu, vàng bạc mà hoạn quan này tham ô có giá trị tương đương với hơn thu nhập tài chính của hơn 150 năm của thời kỳ đó cộng lại.

"Nhị thập nhị sử trát ký" của Thanh Triệu Dực cũng ghi lại, khi tra xét nhà Lưu Cẩn, triều đình tìm thấy hơn 250 vạn lượng vàng, hơn 5000 vạn lượng bạc cùng các loại châu báu nhiều không kể xiết.

Theo "Kế tục kỷ văn", con số thống kê được ghi nhận vào năm Gia Tĩnh thời nhà Minh cho thấy tài sản của Lưu Cẩn kỳ thực phải lên tới con số 1205.85 vạn lượng vàng và 2.59 vạn lượng bạc.

Chỉ riêng số bạc trong gia tài ấy cũng đã gấp 6 lần quốc khố Minh triều vào thời điểm đó.

Vào năm 2001, tờ The Wall Stress Journal Asia đã đưa Lưu Cẩn vào danh sách 50 người giàu có nhất thế giới trong vòng 1000 năm qua.

Gia tài của thái giám này cũng sánh ngang với nhiều nhân vật lớn như Thành Cát Tư Hãn, Hòa Thân, Tống Tử Văn...

Sau khi nhận được chứng cứ tố cáo của Trương Vĩnh, Hoàng đế Chu Hậu Chiếu vô cùng tức giận, ra lệnh lăng trì Lưu Cẩn.

Hình thức xử tử ấy khiến phạm nhân phải chịu đau đớn từ việc bị tùng xẻo cho tới khi tắt thở.

Theo luật pháp thời nhà Minh, những kẻ mắc trọng tội sẽ bị xử lăng trì, tội càng nặng thì số lần cắt càng nhiều.

Riêng trường hợp của Lưu Cẩn, vị "Hoàng đế đứng" khét tiếng một thời ấy phải chịu tổng cộng 3357 nhát lăng trì và tiến hành trong vòng 3 ngày.

Vào ngày hành hình thứ nhất, Lưu Cẩn phải nhận 357 dao, sau khi đưa về nhà lao vẫn có thể húp hết một bát cháo lớn.

Những ngày sau đó, số đao mà kẻ này phải nhận lên tới hàng nghìn, cuối cùng khiến Lưu Cẩn chết trong đau đớn.
 
Trung Quốc Xa Xưa
TRIỀU ĐẠI HIẾU CHIẾN NHẤT TRUNG QUỐC SỤP ĐỔ VÌ MỘT TÊN THÁI GIÁM NGOẠI QUỐC.


Phác Bất Hoa (Park Bul-hwa) vốn gốc Cao Ly, được lịch sử ghi nhận là thái giám ngoại quốc đầu tiên tại Trung Quốc và cũng là sủng thần bậc nhất dưới thời Nguyên Thuận Đế.

Nhờ công "mai mối" Thuận Đế cho Kỳ Lạc Hoàng hậu (Ki -Yang), Phác Bất Hoa nhanh chóng thăng tiến, thậm chí trở thành quyền thần khuynh đảo triều đình, lũng đoạn dân chúng.

Sinh vào những năm đầu của thời Nguyên Văn Tông, năm mới lên 7 tuổi, Phác Bất Hoa "ngẫu nhiên" bị tịnh thân.

Kể từ đó, đứa trẻ Cao Ly năm ấy đã bén duyên với hoàng cung, trở thành một tiểu thái giám của triều đình nhà Nguyên.

Khi mới bước chân vào hoàng cung, Phác Bất Hoa chỉ là một hoạn quan "vô danh tiểu tốt", chủ yếu làm tạp vụ với các công việc chính là gánh nước pha trà và quét dọn bàn ghế.

Không lâu sau đó, tiểu thái giám họ Phác vô tình quen biết và nhanh chóng thân thiết với cô bé Kỳ Lạc – người trở thành ái thiếp của Hoàng tử Thỏa Hoan sau này.

Không lâu sau khi Hoàng tử Thỏa Hoan lên ngôi, trở thành Nguyên Thuận Đế, Kỳ Lạc cũng trở thành vị Hoàng hậu của Nguyên triều.

Nhờ có mối giao tình với Kỳ Lạc, Phác Bất Hoa nhanh chóng được cất nhắc.

Từ một thái giám "dị quốc" vô danh tiểu tốt, họ Phác sau này được vào làm việc trong cung của Hoàng hậu, còn được tấn thăng làm Vinh Lộc Đại phu kiêm Tư Chính Viện Sứ.

Từ Chính Viện vốn là cơ quan quản lý tài chính trung ương dưới thời nhà Nguyên, tương đương với Bộ Tài chính hiện nay.

Được làm việc tại cơ quan này, Phác Bất Hoa chẳng khác nào "chuột sa chĩnh gạo".

Có Hoàng hậu nâng đỡ, hoạn quan người Cao Ly này chiếm được cả lòng tin của Hoàng đế, nhanh chóng bước vào con đường tắt để đi tới trung tâm quyền lực của Nguyên triều.

Thuận Đế vốn chán ghét chính sự, yêu thích hưởng lạc, Phác Bất Hoa càng được dịp can dự sâu vào chuyện triều chính, thậm chí trở nên chuyên quyền, độc đoán.

Lúc bấy giờ, phàm là việc thăng quan, bãi chức của các quan lại lớn nhỏ, đều phải qua tay Phác Bất Hoa.

Ngay tới các chế định của Nguyên triều cũng nằm trong quyền quyết định của thái giám ngoại quốc này.

Cũng bởi vây cánh của hoạn quan ỷ thế làm bậy, Nguyên triều lúc bấy giờ không có lấy một ngày yên ổn, triều chính rối ren, các thế lực phản loạn liên tục nổi dậy, bách tính lầm than...

Thấy thế lực của mình đã lớn mạnh, lại lợi dụng tình cảnh nội bộ hỗn loạn, Phác Bất Hoa từ sớm đã liên thủ cùng Hoàng hậu Kỳ Lạc và thân tín là Tể tướng Sóc Tư Giám để lên kế hoạch ép Thuận Đế nhường ngôi cho Thái tử.

Tuy nhiên, khi âm mưu chưa thành, họ Phác này đã bị tố giác và chết thảm trong ngục.

Phác Bất Hoa vừa chết không lâu, quân khởi nghĩa của Chu Nguyên Chương đã đánh tới kinh đô.

Mắt thấy cơ nghiệp Nguyên triều đã không thể cứu vãn, Nguyên Thuận Đế uất hận nói với Kỳ Lạc và Thái tử: "Thiên hạ của nhà Nguyên bị hủy trong tay mẹ con nhà ngươi rồi!"

Kỳ thật, nguyên nhân trực tiếp khiến Nguyên triều trượt dài trên con đường diệt vong âu cũng tại Thuận Đế quá tin tưởng hoạn quan ngoại quốc Phác Bất Hoa mà ra.

Cái chết của thái giám ngoại quốc đầu tiên tại Trung Quốc này đã kéo sự diệt vong của vương triều ngoại tộc hùng mạnh và hiếu chiến nổi tiếng trong lịch sử.

Không chỉ là nhân vật "máu mặt" trên võ đài chính trị, nhiều người còn tin rằng Phác Bất Hoa là một "cao thủ võ lâm", thậm chí còn chính là tác giả của bí kíp nổi tiếng – "Quỳ Hoa bảo điển".

Trên thực tế, sự tồn tại của "Quỳ Hoa bảo điển" tới nay vẫn là một ẩn số gây nhiều tranh cãi.

Có một số ý kiến cho rằng "Quỳ Hoa bảo điển" là do cặp vợ chồng tiền nhân phái Hoa Sơn sáng tạo nên.

Số khác lại khẳng định tuyệt kỹ võ công ấy thực chất là tác phẩm của một thái giám trong cung vua, nên muốn luyện thành thì việc đầu tiên là phải "dẫn đao tự cung" (tự thiến).

Bí kíp võ công này cũng được Kim Dung đề cập trong tiểu thuyết "Tiếu ngạo giang hồ".

Nhiều người khẳng định bộ truyện này lấy bối cảnh thời đại nhà Thanh.

"Tiếu ngạo giang hồ" cũng có đoạn phương trượng Thiếu Lâm đánh giá "Quỳ Hoa bảo điển" là thứ võ công "ba trăm năm qua chưa có ai đủ sức luyện thành".

Như vậy, nếu dựa vào niên đại của Thanh triều, "ba trăm năm trước" trong câu nói của phương trượng chính là giai đoạn cuối triều đại nhà Nguyên, vừa vặn trùng hợp với thời đại "làm mưa làm gió" của Phác Bất Hoa.

Bởi vậy, nhiều người tin rằng Phác Bất Hoa chính là "Quỳ Hoa lão tổ", chủ nhân của tuyệt kỹ từng gây náo loạn giang hồ - Quỳ Hoa bảo điển.

Tuy nhiên, có nhiều nhà nghiên cứu võ thuật đã lên tiếng phủ nhận sự tồn tại của "Quỳ Hoa bảo điển".

Bản thân nhà văn Kim Dung cũng khẳng định tác phẩm "Tiếu ngạo giang hồ" của mình chỉ tạo dựng nên một khung cảnh võ hiệp mang hơi hướng cổ trang, chứ không lấy nguyên mẫu từ triều đại cụ thể nào.

Do đó, việc Phác Bất Hoa có thực sự là "cao thủ võ lâm" sáng tạo nên "Quỳ Hoa bảo điển" hay không cho tới nay vẫn còn là một ẩn số.
 
Trung Quốc Xa Xưa
TỤC TUẪN TÁNG MAN RỢ CỦA NGƯỜI TRUNG HOA XƯA.


Trong lịch sử Trung Hoa, một trong những tập tục ghê rợn và độc ác nhất chính là chôn sống theo người chết để thờ phụng.

Vào thời Tần Hán, tuẫn táng cực kỳ thịnh hành.

Theo quan điểm của người xưa, tuẫn táng là cách để đảm bảo người chết dù sang đến thế giới bên kia vẫn luôn được hầu hạ và sống sung sướng như lúc sinh thời.

Ngoài việc chôn các vật dụng hàng ngày hay đồ trang sức đắt tiền thì những người giàu có, quyền lực còn chôn súc vật hay người sống theo cùng để bảo vệ lăng mộ của mình không bị người đời sau quấy phá.

Bên cạnh ép uống thuốc độc, đổ thủy ngân cũng rất thông dụng.

Theo dân gian, người nhiễm độc thủy ngân mà chết thân thể không bị mục rữa, dù qua trăm ngàn năm hình dáng vẫn trẻ trung hệt như còn sống.

Những người được lựa chọn sẽ bị đưa vào một căn phòng, cho uống nước trà có thuốc mê.

Chờ những cung tần này đã ngủ say, thái giám sẽ cắt da trên đỉnh đầu thành hình chữ thập.

Người thi hành tay cầm thìa đồng, rót từng thìa thủy ngân vào vết cắt.

Sau khi rót vào số lượng thủy ngân nhất định sẽ dùng kim chỉ khâu chỗ cắt lại.

Công việc hoàn thành cũng là lúc những phi tần này bị nhiễm độc thủy ngân mà chết.

Còn có một loạt cách tuẫn táng đặc biệt khác là chuốc thuốc mê rồi trói tay chân người bị lựa chọn, bẻ thành những tư thế nhất định, sau đó chôn sống.

Trong nhiều lăng mộ, các nhà khảo cổ cũng phát hiện những thi thể nữ tay chân có dấu vết bị trói, cơ thể bị bẻ cong, đầu quay sang một phía cực kỳ quái dị.

Không ít lần người ta còn phát hiện cả hài cốt trẻ con.

Các chuyên gia khẳng định đây cũng là một hình thức tuẫn táng với mục đích canh giữ lăng mộ.

Dù tuẫn táng được coi là hành vi dã man nhưng trong nhiều tình huống vẫn có những cung tần chủ động chết để theo hầu đế vương, điển hình là Nỗ Nhĩ Cáp Xích, thủ lĩnh của bộ tộc Nữ Chân vào cuối thời nhà Minh.

Ngoại trừ đại phi A Ba Hợi bị ép phải tuẫn táng thì 4 cung nữ của ông đều xin tự sát để theo hầu.

Với họ được chết theo đại hãn là quyền lợi và vinh dự.

Những vụ tuẫn táng người sống với quy mô lớn gây tranh cãi trong giới khảo cổ học có thể kể đến như sau:

1.

Tần Thủy Hoàng: Số lượng người tuẫn táng nhiều không đếm xuể

Theo sử sách, Tần Thủy Hoàng Doanh Chính là vị hoàng đế có số lượng phi tần, cung nữ tuẫn táng nhiều nhất.

Thuở sinh thời, Tần Thủy Hoàng mỗi lần đánh thắng một quốc gia đều thu nạp thêm rất nhiều người đẹp.

Vì dàn hậu cung khổng lồ của mình thiếu chỗ ở nghiêm trọng mà ông phải cho người xây dựng thêm rất nhiều cung điện hoa lệ.

Khi Tần Thủy Hoàng băng hà, tất cả những phi tần từng theo ông mà chưa có con đều không được thả ra mà phải tuẫn táng.

Nhiều sử sách mô tả khung cảnh ấy lúc cực kỳ bi thảm và kinh khủng: "Tiếng khóc làm rung động đất trời, ai vô tình nghe thấy cũng sợ đến bay cả hồn vía".

Tư Mã Thiên từng mô tả rằng số lượng người tuẫn táng theo Tần Thủy Hoàng nhiều đến mức chẳng thể nào đếm nổi.

Ngoài các vị cung tần, trong lăng mộ của Tần Thủy Hoàng còn có không ít binh lính và những người thợ tham gia quá trình xây mộ cho ông.

2.

Chu Nguyên Chương: 46 vị phi tần tuẫn táng

Minh Thái Tổ - Chu Nguyên Chương sau khi chết có đến 46 vị phi tần phải tuẫn táng.

Ngoại trừ 2 người chết trước Thái tổ thì 2 bên lăng mộ của ông người phát hiện có đến hàng chục ngôi mộ nhỏ vây quanh.

Dựa vào truyền thuyết và sử sách, các nhà sử học suy đoán đây chính là nơi yên nghỉ của các phi tần tuẫn táng theo Chu Nguyên Chương.

Theo truyền thuyết, lúc Chu Nguyên Chương hạ táng, người ta đã lập một "mê hồn trận".

Cùng ngày, 13 cửa lớn của kinh thành đồng loạt được mở ra để vận chuyển quan tài phi tần ra lăng mộ.

Theo giới phong thủy , đây là một thủ phép dùng để che mắt người đời khi hạ táng lăng mộ.

Bằng cách này người ta có thể chống lại những kẻ đào trộm mộ.

Các lăng mộ của dàn phi tần tuẫn táng cũng được dùng để đánh lạc hướng những kẻ đạo trộm mộ, giúp giấc ngủ thiên thủ của Hoàng đế không bị quấy rầy.

Để an ủi gia đình của các phi tần, Chu Duẫn Văn - cháu trai của Chu Nguyên Chương, người được Chu Nguyên Chương truyền ngôi - còn tiến hành khen thưởng sau khi Chu Nguyên Chương qua đời.

Những vị quan lớn có con gái bị lựa chọn tuẫn táng theo vua đều được phong thưởng làm "thiên hộ", "bách hộ" và được phép cha truyền con nối.

3.

Chu Lệ: 30 cung tần chết theo vua

Theo sử sách Triều Tiên ghi chép, số lượng cung tần chết theo Thành Tổ Chu Lệ lên đến 30 người.

Phương thức chủ yếu được lựa chọn là tự vẫn và tuyệt thực tập thể.

Trong số đó có 2 người do Triều Tiên cống nạp là Hàn thị và Thôi thị.

Tới gần giờ phải "tự vẫn", Hàn thị đã quỳ gối hướng về phía Minh Nhân Tông cần xin được đưa về quê hương để phụng dưỡng mẹ già nhưng không thành.

Vào giữa trưa, hơn 30 người cung tần được lựa chọn đều bị đưa ra ngoài điện để ăn cơm lần cuối, sau đó đưa vào điện thờ.

Nhắc đến cảnh tượng này, người ta từng miêu tả là "tiếng khóc làm rung chuyển cung đình".

Trong điện có 30 tấm ván gỗ được xếp cẩn thận, các phi tần này đều đứng trên ván gỗ, trên đầu là những sợi dây "tự vẫn" đã được chuẩn bị sẵn: "Đưa đầu vào tròng, rút đi ván gỗ, tất cả đều bị gãy cổ, nghẹt thở mà chết".
 
Trung Quốc Xa Xưa
VỊ PHI TẦN DUY NHẤT TRONG LỊCH SỬ TRUNG HOA DÁM LY HÔN VỚI HOÀNG ĐẾ.


Ngạch Nhĩ Đức Đặc Văn Tú (1909-1953), được biết đến với tên gọi Thục phi Văn Tú, là Hoàng phi của vua Phổ Nghi, vị Hoàng đế cuối cùng của triều đại nhà Thanh cũng như trong lịch sử Trung Quốc.

Năm 1931, Thục phi Văn Tú trở nên nổi tiếng với danh hiệu "Hoàng phi cách mạng" vì là vị phi tần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa chủ động ly hôn với Hoàng đế.

Văn Tú sinh ra trong một gia đình quý tộc quan lại giàu có thuộc Tương Hoàng Kỳ của Mãn Châu.

Tuy nhiên, đến đời cha Văn Tú là Đoan Cung thì cơ nghiệp gia đình bất đầu sa sút dần.

Mẹ Văn Tú là Tưởng thị, vợ thứ của Đoan Cung, có hai người con gái với ông là Văn Tú và Văn Sách.

Đến khi Đoan Cung mắc bệnh qua đời, mẹ Văn Tú phải một mình nuôi hai con gái ruột và người con gái của vợ cả đã mất từ sớm của Đoan Cung.

Năm 1921, Hoàng đế Phổ Nghi tròn 16 tuổi và bắt đầu việc tuyển vợ.

Trong vô số những bức ảnh các cô gái danh giá được gửi về cho Hoàng đế lựa chọn thì có hai cô lọt vào mắt xanh của ngài, chính là Uyển Dung và Văn Tú.

Kết quả, Uyển Dung khi đó 17 tuổi được lựa chọn làm Hoàng hậu còn Văn Tú mới chỉ 14 tuổi được lựa chọn làm Hoàng phi.

Thục Phi Văn Tú được đưa vào hậu cung ngày 29 tháng 11 năm 1922, trước Uyển Dung một ngày nhưng đêm động phòng Phổ Nghi lại không sủng hạnh bà vì sáng hôm sau còn phải cử hành đại hôn với Hoàng hậu Uyển Dung.

Uyển Dung sau khi được phong hậu, luôn lấy thân phận chính thất để lấn lướt, tranh đoạt sủng ái của Phổ Nghi với Văn Tú.

Uyển Dung thậm chí còn chủ trương chỉ nên một vợ một chồng, do vậy cực lực phản đối chuyện Hoàng đế lấy vợ bé.

Đến bữa, Văn Tú không được ăn cùng Hoàng đế và Hoàng hậu mà phải ăn một mình.

Tiếng là vợ chồng nhưng Văn Tú chưa một lần được yêu mà phải cô quạnh sống trong cung như chiếc bóng.

Sau đó, Phổ Nghi cũng động lòng với hoàn cảnh của Văn Tú vì vậy đã mời một giáo viên tới dạy tiếng Anh cho Hoàng phi của mình.

Văn Tú học rất chăm, tiến bộ rất nhanh, tư tưởng cũng từ đây mà bắt đầu trở nên cởi mở hơn.

Văn Tú cũng dần dần nuôi dưỡng niềm yêu thích với văn học, các loại sách văn học đã trở thành người bạn của Văn Tú suốt những tháng ngày phải sống cô độc trong hoàng cung nhà Thanh.

Tuy nhiên quãng thời gian bình yên bên kiến thức sách vở của Văn Tú không kéo dài được bao lâu thì Hoàng thất nhà Thanh bị quân phiệt Phùng Ngọc Tường ép rời khỏi Hoàng cung, kết thúc thời kỳ hoàng kim của Hoàng thất nhà Thanh vào ngày 5/11/1924.

Sau khi rời khỏi cung, Phổ Nghi đã không ít lần kêu gọi sự tương trợ của Nhật Bản để giúp mình đòi lại vương vị.

Bằng kiến thức cũng như sự uyên bác của mình, Văn Tú đã nhiều lần khuyên nhủ Phổ Nghi không nên làm vậy vì cho rằng quân Nhật chắc hẳn cũng không tốt đẹp gì, bởi chả mấy ai tự nhiên chịu giúp đỡ người khác không công.

Tuy nhiên, Phổ Nghi một mực đối đầu với Văn Tú trong tư tưởng, ông cho rằng Văn Tú là phụ nữ không biết gì mà lại đòi xen vào chuyện chính trị.

Cũng từ thời điểm này, ông dần dần ghét bỏ và đối xử tồi tệ với Văn Tú.

Cảm thấy không thể chịu đựng cuộc sống như thế này thêm được nữa, Văn Tú liền tìm hiểu luật và phát hiện ra rằng khi Phổ Nghi rời khỏi cung thì ông cũng như một công dân bình thường của Trung Hoa dân quốc, chưa kể thời điểm bấy giờ chế độ bình quyền và bài trừ phân biệt đối xử cũng được chính phủ nêu cao.

Đánh liều một phen, Văn Tú trốn ra ngoài và đệ đơn kiện lên tòa án yêu cầu ly hôn với Phổ Nghi.

Trong đơn kiện có viết như sau:

"Kiện Phổ Nghi ngược đãi Văn Tú đến mức không thể chịu đựng được nữa.

Phổ Nghi mắc bệnh yếu sinh lý, ở cùng nhau 9 năm mà chưa từng sủng hạnh Văn Tú lần nào.

Vì thế, Văn Tú quyết định ly hôn và yêu cầu mỗi tháng Phổ Nghi phải cung cấp 500 ngàn tiền sinh hoạt phí".

Đơn kiện của Văn Tú khiến Phổ Nghi vừa giận vừa thẹn vì nó làm tổn thương nghiêm trọng tới sĩ diện của hoàng thất triều Thanh cũng như thân phận "hoàng thượng" của ông.

Tuy nhiên, mặc cho thái độ của Phổ Nghi ra sao, các tờ báo tại Nam Kinh và Thiên Tân vẫn liên tục cho đăng tải các thông tin liên quan tới việc Văn Tú đòi ly hôn với cựu hoàng Phổ Nghi, gọi cô là một "Hoàng phi cách mạng".

Chính nhờ sức mạnh của dư luận, Văn Tú đã thắng kiện, kết quả là vào ngày 22/10/1931, sau nhiều ngày đàm phán, cuối cùng Phổ Nghi cũng ký vào tờ giấy ly hôn gồm 3 điều kiện kèm theo:

Một là, sau khi ly hôn Phổ Nghi phải cung cấp cho Văn Tú 550 ngàn tiền sinh hoạt phí; hai là, Phổ Nghi phải đồng ý để Văn Tú mang theo những đồ dùng và quần áo thường ngày của mình; ba là, sau khi Văn Tú về Bắc Bình sống nhất định không được làm việc gì ảnh hưởng tới danh dự của Phổ Nghi.

Sau ly hôn, Văn Tú đã chuyển đi sống nhiều nơi, làm qua nhiều công việc nhờ trí thông minh và sự nhanh nhẹn của mình.

Tuy nhiên cảm thấy dư luận làm ảnh hưởng nhiều tới cuộc sống, cuối cùng cô chuyển tới một căn nhà nhỏ ở Bắc Bình, kết hôn cùng người đàn ông tên Lưu Chấn Đông.

Ngày 18/9/1953, vị Hoàng phi cuối cùng trong lịch sử Trung Quốc qua đời trong căn nhà vẻn vẹn 10 mét vuông.

Năm đó, Văn Tú mới 45 tuổi.
 
Trung Quốc Xa Xưa
CHUYỆN GIƯỜNG CHIẾU CỦA HOÀNG ĐẾ TRUNG HOA.


Trong suy nghĩ của người đời, hoàng đế thường là những người háo sắc nhất thiên hạ với hậu cung có đến hàng trăm, hàng nghìn mỹ nhân.

Tuy nhiên không phải ai cũng biết được dù làm "người đứng đầu triều đại" nhưng hầu hết các hoàng đế Trung Hoa đều không được chủ động và thoải mái trong chuyện giường chiếu .

Mỗi triều đại, các hoàng đế này lại phải chịu đựng những quy định khác nhau khiến họ bất mãn không thôi.

Triều đại nhà Thanh rất coi trọng sổ "ghi chép giường chiếu".

Theo Thanh Đại Dã Ký, hoàng cung có một bộ phận riêng chuyên quản chuyện ân ái của hoàng đế được gọi là Kính sự phòng.

Những người này sẽ đảm nhận công việc ghi chép và lưu giữ mọi thông tin từ lúc hoàng đế sủng ái cung tần cho đến khi kết thúc.

Nếu là hoàng đế cùng hoàng hậu, thái giám thường không được hỏi nhiều mà chỉ ghi chép những thông tin cơ bản như ngày, tháng, năm và giờ.

Còn nếu là phi tần thì mọi thứ sẽ khắt khe hơn.

Đầu tiên sau khi hoàng đế ăn cơm chiều, thái giám sẽ mang một cái khay đặt rất nhiều thẻ bài ghi tên của các phi tần có thể hầu hạ hoàng đế (những ai đến kỳ kinh nguyệt hay bị ốm, bị phạt đều bị loại thẻ bài).

Sau khi hoàng đế lật một thẻ bài, thái giám sẽ hiểu ý mà ra truyền tin cho vị phi tần đó để chuẩn bị.

Việc hoàng đế sủng hạnh phi tần cũng có rất nhiều quy định.

Phi tử phải không mặc quần áo rồi tự quấn mình trong một tấm chăn, sau đó 2 thái giám sẽ đưa đến cung của hoàng đế.

Đây được coi là cách để phòng ngừa hoàng đế sa đà vào chuyện giường chiếu.

Thái giám sẽ đứng gần giường ngủ để ghi chép, từ thời gian hành sự cho đến tư thế để lưu lại.

Mỗi hoàng đế cũng chỉ được hưởng thụ trong thời gian nhất định.

Nếu quá giờ, thái giám sẽ lớn tiếng hô: "Đến lúc rồi".

Nếu hoàng đế vẫn bất chấp sủng ái phi tần thì thái giám sẽ kiên trì hô to 5 - 7 lần liên tục, cho đến khi nào hoàng đế xấu hổ cho phi tử đi mới thôi.

Sau khi phi tần được vác ra ngoài, thái giám sẽ hô to hỏi hoàng đế: "Giữ hay không giữ?".

Nếu hoàng đến nói: "Giữ", thái giám sẽ ghi lại: "Giờ này ngày này tháng này năm này, hoàng đế sủng hạnh vị phi tần này", còn nếu là: "Không giữ", thái giám sẽ cho người bấm vào một huyệt sau cổ của phi tần để tránh thai hoặc cho phi tần này uống thuốc phòng ngừa.

Không những thế các hoàng tử và hoàng đế của nhà Thanh trước khi chính thức nạp thiếp hay cưới vợ đều phải trải qua một khóa học đặc biệt về chuyện giường chiếu.

Chỉ khi nào thông thạo thì mới được coi là trưởng thành và được phép có vợ hay thiếp.

Theo nhiều sử gia, việc dùng sổ ghi chép chuyện giường chiếu và các quy định nghiêm ngặt về chuyện giường chiếu của hoàng đế vốn xuất phát từ hoàng gia nhà Minh.

Nhà Thanh chỉ bắt chước theo.

Thông qua cuốn sổ này hoàng đế hay hoàng hậu có thể kiểm soát được các phi tần chốn hậu cung, phòng tránh việc họ "cắm sừng" hoàng đế và làm lẫn lộn huyết thống của hoàng gia.

Điểm khác biệt giữa nhà Thanh và nhà Minh là hoàng hậu có quyền lực rất lớn.

Trong khi hoàng đế nhà Thanh có thể chọn lựa bất cứ phi tần nào mình thích thì hoàng đế nhà Minh lại không được phép.

Theo nhiều chuyên gia sử học, mỗi lần hoàng đế nhà Minh lựa chọn ai đều phải báo trước cho hoàng hậu.

Nếu hoàng hậu đồng ý mới ra văn kiện thông báo cho phi tần, những văn kiện thông báo này phải có dấu ấn tín của hoàng hậu mới được coi là có hiệu lực.

Thậm chí vì hoàng hậu không cho phép mà nhiều hoàng đế còn bị hạn chế chuyện nạp thêm phi tần.

Thời nhà Đường hoàng đế cũng không được phép lựa chọn phi tần để ân ái.

Theo quy định của tổ tiên, hoàng đế phải sủng hạnh tất cả phi tần của mình, không được bỏ rơi bất cứ người nào.

Chính vì vậy mà thay vì hưởng thụ chuyện ái ân, nhiều hoàng đến nhà Đường cảm thấy đây là gánh nặng khiến họ sợ hãi và mệt mỏi vì phải làm việc này liên tục trong 9 ngày.

Mỗi khi đến ngày quy định, hoàng đế sẽ được phòng bếp chuẩn bị món ăn để bồi bổ sức khỏe.

Hoàng đế không được lựa chọn sẽ qua đêm với ai mà do thái giám hay hoàng hậu chuẩn bị.

Trong hậu cung có 81 phi tần có phẩm cấp và danh hiệu, mỗi đêm họ sẽ chọn ra 9 người để hầu hạ trên giường.

Nhiệm vụ của hoàng đế là làm mọi cách để trong 1 đêm có thể sủng ái cả 9 người này, không được thiên vị ai hay bỏ rơi ai.

Sau 9 ngày liên tục như vậy, hoàng đế mới được phép nghỉ ngơi để phục hồi sức lực.

Nếu quá mệt mỏi thì những ngày còn lại họ không cần phải ân ái với bất cứ phi tần nào.

Hoặc nếu còn sức khỏe thì họ có thể dành thời gian trống này cho phi tần mà mình yêu thích.
 
Trung Quốc Xa Xưa
HƯƠNG PHI - PHI TẦN NHIỀU HUYỀN SỬ NHẤT CỦA VUA CÀN LONG.


Tam cung lục viện Trung Hoa xưa vốn có rất nhiều điều bí ẩn mà hậu thế ngày nay vẫn không thể nào lý giải được.

Trong đó, có một số câu chuyện và nhân vật trôi qua cùng năm tháng, dưới sự tác động của thời gian, cộng thêm sự thêu dệt đồn đoán của nhiều thế hệ mà đã trở nên huyền sử, mờ ảo hơn bao giờ hết.

Hương Phi - vị phi tần của Thanh Cao Tông Càn Long Đế là một ví dụ điển hình.Bà không những khiến nhiều nhà sử học Trung Quốc ngày nay đau đầu đi tìm lời giải về thân thế và sự tồn tại của mình trong Hậu cung nhà Thanh.

Mà còn làm biết bao người thắc mắc, hoài nghi về thứ mùi hương huyền thoại, đầy quyến rũ, gắn liền với tên tuổi của bà qua bao câu chuyện truyền miệng xuyên suốt hàng trăm năm qua.

Ban đầu, câu chuyện về Hương Phi vốn được xem là thần thoại, được xây dựng dựa trên nhân vật có thật trong lịch sử Hậu cung nhà Thanh, xuất thân từ miền viễn Tây của Trung Quốc - Dung Phi Hòa Trác thị.

Tuy nhiên, về sau này, các nhà sử học dựa trên các nghiên cứu trong những sử liệu hiếm hoi còn sót lại, đã cho rằng Dung Phi sống trong Hậu cung nhà Thanh 28 năm mà không hề có ai gọi nàng là "Hương Phi".

Thậm chí, trong "Thanh sử cảo" (bản thảo một bộ tư liệu lịch sử về thời nhà Thanh) có chép rất nhiều về Dung Phi nhưng tuyệt nhiên không dính dáng gì đến chữ "Hương", như vậy chắc chắn Dung Phi không phải Hương Phi.

Đây là hai nhân vật hoàn toàn khác nhau.

Ấy thế, dù đã khẳng định được đây là hai nhân vật khác nhau, nhưng câu hỏi về thanh thế và sự tồn tại thật sự của Hương Phi, vị phi tần nổi tiếng có mùi hương quyến rũ bậc nhất trong Hậu cung của triều đại phong kiến Trung Hoa cuối cùng này vẫn còn bỏ ngỏ.

Có chăng chỉ là những giả thuyết và đồn đoán, thực ảo đan xen lẫn nhau.

Theo như trong dị bản và các câu chuyện huyền sử của người Hán.

Hương Phi vốn là một vị phi tần người Duy Ngô Nhĩ, có tên là Y Mạt Nhĩ Hãn, sinh ra và lớn lên ở vùng Tân Cương.

Ngay từ sớm, vì gia cảnh nghèo khó, nên nàng đã được gả làm thiếp cho Hoắc Tập Chiêm, thủ lĩnh Tiểu Hòa Trác ở Khách Thập địa khu (nay là Khu tự trị dân tộc Uyghur Tân Cương, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa).

Đến khi Đại tướng quân Triệu Huệ đánh bại được Hoắc Tập Chiêm, liền nhận thấy Y Mạt Nhĩ Hãn có vẻ đẹp mong manh và toàn thân lại tỏa ra một mùi hương quyến rũ đầy mê hoặc nên Triệu Huệ liền bắt giữ nàng, xem nàng như một cống phẩm dâng cho Càn Long Đế.

Trên đường về kinh để nhập cung, Y Mạt Nhĩ Hãn được hộ tống rất cẩn thận.

Thậm chí còn tắm rửa hằng ngày bằng sữa lạc đà để không làm mất đi thứ hương thơm bí ẩn của mình.

Sau khi về đến Tử Cấm Thành, nàng liền ra mắt Càn Long Đế.

Và không ngoại dự đoán, mùi hương cộng với nhan sắc của nàng liền khiến bậc Thiên tử này phải xiêu lòng.

Y Mạt Nhĩ Hãn ngay lập tức được phong làm Hương Phi và gần như trở thành vị phi tần độc sủng trong Hậu cung nhà Thanh lúc bấy giờ.

Thế nhưng, do quá thương nhớ quê hương cùng người chồng Hoắc Tập Chiêm, nên Hương Phi suốt ngày ủ rũ, buồn bã như một con chim thảo nguyên bị vây hãm trong chốn cấm cung.

Nàng không buồn ăn uống, không buồn giao tiếp nói chuyện với bất kỳ ai, kể cả khi gặp Càn Long, nàng cũng chẳng thèm hành lễ.

Càn Long thấy vậy mà cũng thương nàng hơn, tìm mọi cách để chiều lòng mỹ nhân như xây dựng thánh đường, kiến tạo ốc đảo,... nhằm tái hiện lại khung cảnh quê hương để Hương Phi vơi đi u sầu.

Đáng tiếc, nàng vẫn không mảy may vui vẻ.

Cho đến khi, Càn Long Đế sai sứ giả đến quê hương của Hương Phi, mang về cho nàng một cây táo mọc những trái táo vàng, nàng mới chính thức "ngã vào lòng" đấng quân vương cho tận đến khi qua đời.

Sau khi chết, thi hài của Hương Phi được Càn Long ra lệnh đem về cố hương của nàng để mai táng.

Đoàn diễu hành đưa thi hài Hương Phi lên đến 120 người di chuyển trong suốt 3 năm mới đến nơi.

Tuy nhiên, cũng có nhiều tài liệu cho rằng, thực chất quan tài được Càn Long sai người đem về Tân Cương, bên trong chỉ là một bức tượng điêu khắc giả, còn xác thật của nàng đã sớm được Càn Long cho đem nhập táng ở viên Phi lăng tẩm của Hậu cung nhà Thanh.

Dị bản của người Duy Ngô Nhĩ cũng có phần giống như dị bản của người Hán, nhưng đáng tiếc là cái kết lại không có hậu như vậy.

Và dị bản này cũng được nhiều sử gia và tài liệu lịch sử Trung Hoa tin tưởng hơn và nghiên cứu kỹ để công khai các số liệu cụ thể về lai lịch của Hương Phi.

Theo nhà nghiên cứu sử học Chung Lâm, Hương Phi có tên thật là Y Mạt Nhĩ Hãn ra đời khoảng năm 1745, trong một gia đình nghèo thuộc dân tộc Hồi, người Duy Ngô Nhĩ ở Khát Thập, khu tự trị Tân Cương.

10 tuổi nàng đã trở thành thiếp của Hoắc Tập Chiêm.

Năm 1758, Hoắc Tập Chiêm làm phản, chống đối triều đình nhà Thanh.

Hay tin, Thanh Cao Tông Càn Long Đế tức giận, sai quân tới Tân Cương diệt trừ phản loạn.

Tháng 11 năm ấy, chiến sự công thành, Hoắc Tập Chiêm bị đánh bại.

Riêng Y Mạt Nhĩ Hãn bị bắt giải về Tử Cấm Thành dâng cho Càn Long.

Trong lần đầu gặp mặt, Càn Long đã mê đắm Y Mạt Nhĩ Hãn vì nàng có mùi hương quá sức quyến rũ mà Hậu cung hơn 40 phi tần thê thiếp của ông lúc bấy giờ không ai có được.

Ông liền phong nàng thành Hương Phi và cho đến sống ở Tây Uyển.

Ban đầu, Hương Phi không biết rằng chồng mình đã chết nên cứ u sầu ũ rủ.

Càn Long lại tưởng nàng buồn vì nhớ quê hương nên ra lệnh tì nữ hầu hạ phải phục vụ Hương Phi đúng theo phong cách truyền thống của người Hồi, món ăn kiểu Hồi, trang phục kiểu Hồi, thậm chí xây cả một lễ đường Hồi giáo trong Tây Uyển.

Đáng tiếc Hương Phi vì thương nhớ chồng mà nhất quyết cự tuyệt Càn Long.

Thậm chí, Hương Phi còn lên kế hoạch giết Càn Long Đế để trả thù việc nhà Thanh đã chiếm giữ quê hương Tân Cương của mình, cũng như là để bảo vệ sự trong trắng.

Kế hoạch thất bại, Càn Long Đế biết chuyện, nhưng đã bị quyến rũ bởi sắc đẹp của Hương Phi nên không đành ra tay.

Để rồi cuối cùng, nàng đã bị Sùng Khánh Hoàng Thái hậu ban chết.

Theo Trung Quốc Hoàng đế toàn truyện (NXB Giáo Dục tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, 1996), phần "Cao Tông Ái Tân Giác La Hoằng Lịch", mục "Hương Phi tuẫn tiết" có chép:

Năm 1765 xảy ra cuộc phản kháng vũ trang lớn của người Hồi ở Ô Thập, Tân Cương.

Càn Long hạ lệnh trấn áp thật nghiêm, cuộc chém giết lần này khiến vô số người Hồi mất mạng.

Hương Phi biết tin rất bi thương, nung nấu ý định giết Hoàng đế trả thù cho mẫu tộc mình.

Năm ấy, Càn Long thực hiện chuyến Nam tuần, du ngoạn Tô Châu, Hàng Châu, có đưa Hương Phi đi theo.

Tại Hàng Châu, bị Càn Long cố tâm chiếm đoạt, Hương Phi rút dao ngắn trong tay áo đâm Càn Long nhưng không thành.

Hoàng hậu Ô Lạt Na Lạp thị biết được, lập tức truyền giết Hương Phi tội mưu sát Hoàng đế, nhưng Càn Long không nghe.

Hoàng hậu vô cùng tức giận dùng kéo cắt đi mái tóc của mình (đây là hành động đại kỵ của dân tộc Mãn Châu).

Mùa đông năm ấy, Càn Long đến Thiên đàn cử hành đại lễ tế cáo trời đất ở Viên Khâu, Thái hậu sai người đưa Hương Phi vào cung Từ Ninh rồi ra lệnh khóa hết cửa lại, dù Hoàng đế cũng không cho vào, hỏi Hương Phi rằng: "Ngươi trước sau không chịu khuất, vậy rốt cục là muốn cái gì?".

Hương Phi đáp: "Chỉ muốn chết mà thôi".

"Vậy hôm nay ta sẽ cho ngươi toại nguyện, thế nào?", Thái hậu tức giận nói.

Hương Phi lập tức quỳ xuống dập đầu cảm tạ: "Thái hậu cho thần thiếp được tròn chí nguyện, ơn đức lớn như trời đất".

Nói rồi nước mắt như mưa, Thái hậu sai đưa qua gian phòng đã có sẵn dây, Hương Phi treo cổ tự vẫn.
 
Trung Quốc Xa Xưa
TẦN THỦY HOÀNG - VỊ VUA DUY NHẤT MẶC LONG BÀO MÀU ĐEN!


Trong ấn tượng của hậu thế, long bào của các Hoàng đế Trung Hoa thường lấy màu vàng làm chủ đạo.

Cũng bởi vậy mà đã từng có giai đoạn màu sắc này được xem như tượng trưng của bậc Thiên tử cửu ngũ chí tôn.

Thế nhưng ít ai biết rằng, vị Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc lại chọn một màu sắc đặc biệt cho long bào của mình.

Năm xưa trong nghi lễ lên ngôi, Tần Thủy Hoàng đã lựa chọn một bộ long bào màu đen.

Cũng trong giai đoạn đó, màu sắc này đã đóng vai trò chủ đạo trong những bộ y phục của ông.

Điều đáng nói là từ sau khi Tần triều suy vong, các Hoàng đế đời sau dần dần không còn dùng màu sắc trên để tạo tác long bào.

Liệu rằng có phải chiếc long bào màu đen của Tần Thủy Hoàng ẩn chứa huyền cơ gì khiến các hậu nhân đều phải kiêng kỵ?

Trong lịch sử phong kiến Trung Hoa, Tần Thủy Hoàng được coi là vị Hoàng đế đầu tiên thống nhất thiên hạ.

Mặc dù sự thống trị của ông bị đánh giá là tàn bạo, nhưng ít ai có thể phủ nhận được một số thành tựu nổi bật của vị vua được mệnh danh là là "thiên cổ nhất đế" này.

Thông qua những tranh vẽ còn sót lại cũng như các bộ phim tái hiện lịch sử Tần triều, những người tinh ý sẽ dễ dàng nhận ra rằng Thủy Hoàng từ sau khi lên ngôi thường xuyên mặc long bào màu đen.

Từ thời xa xưa, long bào không chỉ tượng trưng cho Hoàng quyền mà còn được coi là vật có quan hệ mật thiết với quốc gia đại thể.

Đây cũng là lý do mà màu sắc và thiết kế của loại trang phục này đều vô cùng được chú trọng.

Vậy nguyên nhân nào đã khiến vị Hoàng đế ấy lại chọn màu đen làm màu chủ đạo cho long bào?

Việc Tần Thủy Hoàng mặc áo bào màu đen là kết quả của quá trình tính toán dựa trên Ngũ hành.

Vào thời bấy giờ, thuật âm dương cùng học thuyết Ngũ đức rất được xem trọng.

"Sử ký" của Tư Mã Thiên có ghi lại, Tần Thủy Hoàng cho rằng các triều Hạ, Thương, Chu, Tần lần lượt ứng với Mộc Đức, Kim Đức, Hỏa Đức, Thủy Đức.

Như vậy Tần triều thuộc Thủy Đức, mà theo học thuyết trên thì màu đen đại diện cho nước, cho nên liền lấy màu sắc này để may long bào để thể hiện Thủy Hoàng lên ngôi là thuận theo ý trời.

Cách giải thích này được phần đông học giả đồng tình.

Cách giải thích thứ hai cũng có liên quan tới Ngũ hành, tuy nhiên lại đề cập nhiều hơn tới sự nghiệp của Thủy Hoàng.

Năm xưa, Tần Thủy Hoàng từng thống nhất lục quốc.

Sáu nước này trong mắt ông chính là những ngọn lửa tản mác đang bùng cháy.

Theo quan niệm của thuật âm dương thời bấy giờ, Tần Thủy Hoàng ứng với thủy đức nên Tần quốc có thể ví như nước làm dập tắt những ngọn lửa tản mác kia.

Nước dập hết lửa có lúc sẽ để lại một số vệt đen, cho nên lựa chọn màu đen làm màu sắc chủ đạo của long bào cũng tượng trưng cho việc Tần quốc thống trị thiên hạ, sáu nước kia sẽ chẳng có cơ hội "tro tàn cháy lại".

Theo một số giai thoại dân gian, Thủy Hoàng vốn mang họ Doanh.

Tương truyền rằng tổ tiên của ông năm xưa từng có công giúp Đại Vũ trị thủy cho nên được Thuấn Đế ban họ này.

Bởi cơ nghiệp của gia tộc Thủy Hoàng có liên quan đến nước nên người Tần quốc năm xưa vốn vô cùng coi trọng yếu tố nước trong Ngũ hành.

Vì vậy màu đen không chỉ được Thủy Hoàng yêu thích mà còn được bách tính hoan nghênh.

Dưới thời kỳ Tần triều trị vì, màu đen không chỉ được dùng riêng cho long bào mà còn phổ biến trong văn hóa đại chúng.

Các quan lại thời bấy giờ khi lên thiết triều vẫn thường mặc triều phục màu đen.

Cờ xí và vải lều trại sử dụng trong quân đội cùng các trang sức nơi hoàng cung phần lớn đều lấy màu này làm chủ đạo.

Tương truyền rằng năm xưa Thủy Hoàng từng hạ lệnh, nếu phát hiện người nào dám dùng loại cờ có màu sắc khác thì sẽ lập tức bị xử tử, kể cả đó có là họ hàng thân thích của Hoàng đế.

Sau khi Thủy Hoàng qua đời, giang sơn Tần triều rất nhanh đã đến hồi mạt vận và bị lật đổ bởi Lưu Bang – Hạng Võ.

Sau này, Hạng Võ bại trong tay Lưu Bang, Hán triều kế thừa giang sơn, thay Tần triều cai quản thiên hạ.

Có giai thoại truyền lại rằng, Lưu Bang một mực tin tưởng chính vì Thủy Hoàng chọn màu đen làm long bào nên triều đại nhà Tần mới diệt vong nhanh chóng như vậy.

Vì nghĩ màu đen là màu sắc mang đến sự xui xẻo, tang tóc, từ thời nhà Hán trở đi, các Hoàng đế dần dần ít sử dụng loại màu sắc này để may long bào.

Một lý giải khác dựa trên học thuyết Ngũ Đức thì khẳng định, Tần triều ứng với Thủy Đức, Hán triều lại thuộc Hỏa Đức.

Màu biểu trưng cho hỏa là màu đỏ, vì vậy các Hoàng đế nhà Hán lấy sắc đỏ làm màu chủ đạo của long bào để thuận theo âm dương ngũ hành, còn màu đen chỉ mang công dụng "làm nền".

Cũng có ý kiến cho rằng, Tần Thủy Hoàng vốn có uy danh lẫy lừng.

Các vua đời sau biết rằng họ khó có thể đạt tới thành tựu như vị "thiên cổ nhất đế" ấy, cho nên dần đổi long bào thành những màu sắc khác để tỏ lòng tôn kính.

Dù có nhiều cách giải thích khác nhau, tuy nhiên sự thực là sau khi Tần Thủy Hoàng qua đời, Tần triều diệt vong, long bào màu đen cũng dần dần thất sủng.

Mặc dù màu sắc này vẫn xuất hiện trên trang phục của Hoàng đế, tuy nhiên không còn đóng vai trò chủ đạo, cũng không mang ý nghĩa tôn quý hay được hoan nghênh như vào thời nhà Tần.

Tới thời nhà Tùy, màu vàng mới dần được sử dụng để may y phục cho nhà vua.

Và phải đến khi Thanh triều cai trị Trung Hoa, màu sắc này mới thực sự trở thành biểu tượng của Hoàng đế cùng hoàng tộc.
 
Trung Quốc Xa Xưa
7 PHI TẦN CÓ KẾT CỤC BI ĐÁT NHẤT HẬU CUNG NHÀ THANH.


Là vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Trung Hoa, không hề khó hiểu khi những giai thoại hậu cung của Thanh triều lại thường xuyên trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm phim ảnh.

Thế nhưng ít ai biết rằng, khác với kết cục trong những bộ phim cung đấu, không ít những phi tần nhà Thanh đều đã trải qua cuộc sống bi thảm ngay cả khi được sủng ái hay bị thất sủng.

Trong số đó, những phi tử có kết cục éo le nhất phải kể tới 7 nhân vật nổi danh dưới đây.

Đại phi A Ba Hợi (phi tử của Nỗ Nhĩ Cáp Xích): Buộc phải tự vẫn để tuẫn táng!

Đại phi Ô Lạp Na Lạp A Ba Hợi (1590 – 1626) là một trong số những phi tần tiếng tăm nhất dưới thời Thanh Thái tổ Nỗ Nhĩ Cáp Xích.

Bà là sinh mẫu của Nhiếp Chính vương Đa Nhĩ Cổn dưới thời Thuận Trị đế.

A Ba Hợi là vị phi tử thứ tư từng được truy tôn ngôi vị Hoàng hậu của Nỗ Nhĩ Cáp Xích và cũng là một trong những phi tần được Thanh Thái Tổ sủng ái hơn cả.

Chỉ tiếc rằng chính sự ân sủng đặc biệt ấy đã trở thành nguyên nhân khiến A Ba Hợi buộc phải bỏ mạng.

Năm Thiên Mệnh thứ 11 (1626), Nỗ Nhĩ Cáp Xích đột ngột lâm bệnh nặng.

Trong di ngôn cuối đời mình, ông đã đặc biệt dặn dò muốn Đại phi A Ba Hợi tuẫn táng.

Ngay sau khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích qua đời, vị Đại phi này đã bị chính những người con của chồng mình bức tử để tiến hành nghi thức tuẫn táng trong lễ tang.

Năm ấy, A Ba Hợi mới 37 tuổi.

Vào thời điểm cha qua đời, mẹ bị bức tử, người con trai thứ hai của họ là Đa Nhĩ Cổn chỉ mới 15.

Có giai thoại còn truyền lại rằng, A Ba Hợi lúc sinh thời thậm chí còn tư thông với chính những người con của chồng mình.

Giả thuyết khác lại khẳng định, vì mẹ con Đại phi từng rất được Nỗ Nhĩ Cáp Xích sủng ái lúc còn tại thế, cho nên Hoàng Thái Cực đã bày mưu ép bà phải tự vẫn theo cha để người em Đa Nhĩ Cổn không còn chỗ dựa, từ đó loại bỏ một đối thủ trong công cuộc tranh đoạt ngai vàng.

Trang phi Bác Nhĩ Cát Tể Đặc (phi tử của Hoàng Thái Cực): Đến lúc chết vẫn không muốn an táng cùng chồng!

Hiếu Trang Văn Hoàng hậu Bác Nhĩ Cát Tể Đặc (1613 – 1688), là một phi tần của Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực, cũng thân mẫu của Thuận Trị đế và tổ mẫu của Hoàng đế Khang Hi.

Vào năm Thiên Mệnh thứ 10, bà được Nỗ Nhĩ Cáp Xích chỉ hôn làm trắc phúc tấn của Hoàng Thái Cực.

Tới năm Sùng Đức nguyên niên, Hoàng Thái Cực xưng đế, bà cũng được tấn phong làm Trang Phi.

Vào năm Sùng Đức thứ 3, Trang phi sinh hạ Hoàng cửu tử Phúc Lâm - tức Thuận Trị đế sau này.

Khi Thuận Trị kế vị, bà được tôn làm Thánh mẫu Hoàng Thái hậu.

Một trong những giai thoại nổi tiếng nhất về cuộc đời của vị phi tần này phải kể tới mối quan hệ tình cảm giữa bà và Nhiếp Chính vương Đa Nhĩ Cổn.

Điểm đáng nói còn nằm ở chỗ, trước lúc qua đời, bà từng đặc biệt trăng trối với Khang Hi về việc không an táng mình với người phu quân Hoàng Thái Cực.

Theo đó, vào năm Khang Hi thứ 26 (1687), Thái Hoàng thái hậu lâm trọng bệnh nguy kịch.

Trước lúc qua đời đã để lại di ngôn với Khang Hi đế:

"Thái Tông (chỉ Hoàng Thái Cực) cung phụng an cửu đã lâu, tránh vì ta mà kinh động đến.

Huống hồ tâm huyết của ta dành trọn cho hai cha con Hoàng đế, chỉ cần an táng gần Hiếu lăng là ta mãn nguyện rồi".

Vì vây, Khang Hi đã hạ táng bà gần Hiếu lăng của Thuận Trị Đế chứ không hợp táng cùng Hoàng Thái Cực như những phi tần khác.

Di ngôn kỳ lạ của Trang phi và mối quan hệ cùng Đa Nhĩ Cổn đã khiến hậu thế đặt ra không ít giả thiết về cuộc đời được cho là có nhiều ẩn tình của vị phi tử này.

Hiếu Hiến Đoan Kính Hoàng hậu Đổng Ngạc thị (phi tử của Thuận Trị Đế): Được sủng ái vẫn qua đời trong u sầu!

Hiếu Hiến Đoan Kính Hoàng hậu Đổng Ngạc thị (1639 – 1660) có xuất thân chính bạch kỳ Mãn Châu, là con gái của đại thần Ngạc Thạc.

Bấy giờ, hậu cung của Thuận Trị đế vốn không thiếu mỹ nhân giai lệ, nhưng người được nhà vua coi trọng và sủng ái hơn cả lại là Đổng Ngạc phi vốn ốm yếu nhiều bệnh.

Ngày 24 tháng 1 năm 1658, Hoàng tứ tử không may yểu mệnh qua đời.

Sự ra đi đột ngột của người con trai này đã trở thành một cú sốc lớn đối với Đổng Ngạc phi và khiến sức khỏe của bà giảm sút đáng kể.

Tới năm Thuận Trị thứ 17 (năm 1660), sau một thời gian dài gắng gượng, Hoàng quý phi Đổng Ngạc thị đã qua đời khi chỉ vừa 21 tuổi.

Cái chết của vị ái phi ấy là một đả kích rất lớn đối với Thuận Trị đế.

Vị Hoàng đế này đau lòng tới nỗi ngừng thiết triều trong 4 tháng để để tang cho Đổng Ngạc thị.

Thậm chí lúc bấy giờ, Thanh cung còn phải cắt cử người trông chừng Thuận Trị cả ngày lẫn đêm nhằm đề phòng Hoàng đế tự vẫn vì quá đau lòng.

Tới ngày 21 tháng 8 năm ấy, Thuận Trị ra chỉ dụ truy phong Đổng Ngạc Hoàng Quý phi làm Hoàng hậu.

Chỉ 1 năm sau, vị Hoàng đế si tình ấy cũng buông tay trần thế khi mới chỉ 22 tuổi.

Đức phi Ô Nhã thị (phi tần của Khang Hi): Nghi án bị con trai ruột bức tử!

Đức phi Ô Nhã thị (1660 – 1723) là phi tần của Thanh Thánh Tổ Khang Hi và là thân mẫu của Thanh Thế Tông Ung Chính đế.

Mặc dù là mẹ của vị Hoàng tử kế thừa ngôi vị, nhưng Ô Nhã thị lúc còn tại thế chưa bao giờ được ở ngôi Hoàng hậu mà chỉ được truy phong ngôi vị này khi đã qua đời.

Trong lịch sử hậu cung Thanh triều, bà được biết tới là vị Thái hậu yểu mệnh nhất, cũng là người có cái chết mang nhiều điểm nghi vấn.

Sinh thời, Ô Nhĩ thị không có xuất thân danh giá mà từng là một cung nữ bưng trà rót nước.

Trải qua nhiều năm tranh đấu, bà từ thân phận nô tài đã bước lên vị trí chủ tử của Vĩnh Hòa cung.

Sử cũ ghi lại, mối quan hệ của Đức phi cùng người con trai Ung Chính vốn từng nảy sinh không ít bất hòa.

Theo đó, sau khi Ung Chính kế vị, Ô Nhã thị từng khẳng định rằng việc con trai thừa kế đại cục "kỳ thực không phải là mong muốn cả ta".

Thậm chí, vị phi tần này từng có ý muốn quyên sinh để chết theo Khang Hi đế nhưng bị Ung Chính ngăn cản.

Sau này, bà từng cự tuyệt sắc phong Hoàng Thái hậu và từ chối đến ở Từ Ninh Cung.

Hết thảy những sự từ chối thẳng thừng này đã khiến không ít người nghi ngờ về tính hợp pháp trong việc kế thừa ngai vị từ di chiếu vua cha của Ung Chính đế.

Chỉ vài tháng sau khi con trai đăng cơ, Đức phi đột ngột lâm bệnh qua đời.

Có nhiều giai thoại còn khẳng định bà bị con trai ruột là Ung Chính bức tử.

Hoàng Quý phi Niên thị (phi tần của Ung Chính): Nỗi đau mất con kéo theo cả cuộc đời bất hạnh!

Niên Quý phi (?-1725) là phi tần được sủng ái dưới thời Ung Chính và cũng là em gái của Niên Canh Nghiêu – một trọng thần nổi bật thời bấy giờ.

Sinh thời, Niên thị xuất thân trong một gia đình hiển hách, có cha ruột là Nhất đẳng Công, Tuần phủ Hồ Quảng, các anh trai đều nắm giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình.

Khi Khang Hi còn tại vị, bà từng là người được đích thân Hoàng đế chỉ hôn làm trắc phúc tấn của Tứ a ca Dận Chân – tức Ung Chính đế sau này.

Năm Ung Chính nguyên niên, ngay sau khi kế thừa ngai vị, Ung Chính đã phong bà làm Quý phi, địa vị trong hậu cung chỉ đứng sau duy nhất Hoàng hậu Ô Lạp Na Lạp thị.

Các tài liệu về Thanh cung miêu tả, Niên thị sinh thời thân thể yếu ớt, khi mang thai hoàng tử thứ chín lại đúng vào lúc đại tang Khang Hi.

Bấy giờ, việc lao lực quá độ lại thêm phải cúi đầu hành lễ đã khiến Niên Quý phi động thai, dẫn tới sanh khó và khiến Cửu a ca vừa ra đời đã yểu mệnh.

Tháng 11 năm Ung Chín thứ ba, Quý phi Niên thị lâm bệnh nặng, không lâu sau đó thì qua đời và được truy phong Đôn Túc Hoàng Quý phi.

Trong lịch sử nhà Thanh, ngoài Đổng Ngạc thị Hoàng Quý phi của Thuận Trị đế được truy phong Hoàng hậu, thì Niên thị là phi tần đầu tiên qua đời với tư cách Hoàng Quý phi.

Thế nhưng sắc phong dù có cao quý tới đâu cũng không thể làm nguôi ngoai nỗi đau mất con của vị phi tần vốn được nhà vua sủng ái ấy.

Kế hậu Ô Lạp Na Lạp thị (phi tử của Càn Long): Chết trong ghẻ lạnh vì một lần cắt tóc!

Kế Hoàng hậu Ô Lạp Na Lạp thị (1718-1766), xuất thân Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, là vị Hoàng hậu thứ hai của vua Càn Long.

Bà vốn là con gái của Tá Lĩnh Nạp Nhĩ Thái, dưới thời Ung Chính được chỉ hôn cho Bảo Thân vương Hoằng Lịch (Càn Long sau này) làm trắc phúc tấn.

Vào thời kỳ đầu khi Càn Long mới lên ngôi, Ô Lạp Na Lạp thị từng được phong làm Nhàn phi và sau đó là Nhàn Quý phi.

Tới khi Phú Sát Hoàng hậu qua đời, bà tiếp tục được tấn phong làm Hoàng Quý phi, đồng thời được giao quyền cai quản lục cung.

Đến năm Càn Long thứ 15, vị Hoàng Quý phi này mới chính thức được sắc phong làm Hoàng hậu.

Thế nhưng ít ai ngờ rằng ngôi vị mẫu nghi thiên hạ ấy lại đem tới cho Ô Lạp Na Lạp thị không ít bất hạnh.

Vào tháng giêng năm Càn Long thứ 30, Kế hậu và Hoàng đế đã nảy sinh mâu thuẫn trong chuyến đi nam tuần.

Trong giây phút phẫn bách, Ô Lạp Na Lạp thị đã cắt đi mái tóc của mình.

Đây vốn là việc làm đại kỵ trong phong tục của người Mãn Châu và bị xem là hành động đại bất kính đối với Hoàng đế.

Ngay sau đó, bà bị đưa trở về kinh thành trước thời hạn và giam vào lãnh cung để rồi chết trong sự ghẻ lạnh.

Trong số các phi tần của Càn Long, Kế Hoàng hậu có lẽ chính là người duy nhất dám công khai làm ra một hành động phản kháng lại Hoàng đế như vậy.

Thế nhưng cái giá mà bà phải trả cho việc làm liều lĩnh ấy là quá đắt.

Mặc dù từng được sắc phong Hoàng hậu, nhưng lễ tang của bà chỉ được cử hành một cách qua loa theo nghi thức dành cho Hoàng Quý phi.

Thậm chí Càn Long còn tuyệt tình tới nỗi thu hồi 4 đạo sắc phong từng ban cho và hủy nhiều tranh chân dung của Ô Lạp Na Lạp thị.

Từ Kế trong cách gọi dành cho bà cũng không phải thụy hiệu mà chỉ đơn thuần mang hàm nghĩ là Hoàng hậu kế tiếp của Càn Long.

Ô Lạp Na Lạp thị cũng là vị Hoàng hậu duy nhất trong lịch sử Thanh triều không được truy phong thụy hiệu sau khi qua đời.

Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị (phi tần của Gia Khánh): Phúc trạch thâm hậu vẫn không thể an hưởng phú quý!

Nữu Hỗ Lộc thị (1776 – 1850) là Hoàng hậu thứ hai của Gia Khánh đế, còn được gọi là Cung Từ Hoàng Thái hậu.

Khi Gia Khánh còn là Thân vương, Nữu Hỗ Lộc thị từng được chỉ hôn cho ông làm Trắc phúc tấn.

Khi nhà vua kế vị, bà được phong làm Quý phi.

Sau khi Hoàng hậu tiền nhiệm qua đời, Nữu Hỗ Lộc thị được tấn phong làm Hoàng Quý phi và chính thức trở thành Hoàng hậu vào năm Gia Khánh thứ 6.

Mặc dù là một phi tử trong hậu cung, nhưng từ thời Gia Khánh, sự suy vong ngày một hiện rõ của Thanh triều từ lâu đã trở thành một thanh kiếm đâm xuyên qua những bức tường thành, ngay tới Tử Cấm Thành cũng không thể giấu hết bao lục đục, rối ren của tầng lớp thống trị, và cả đại dương vạn dặm sóng gió ngoài kia cũng không thể trở thành tấm bình phong che chở vương triều khỏi đại bác xâm lược của Tây dương.

Cho nên mặc dù được xem là một vị Hoàng Thái hậu có phúc trạch thâm hậu, nhưng chung quy Nữu Hỗ Lộc thị vẫn bị coi là phi tần có cuộc đời bất hạnh khi không được thanh thản hưởng phúc như những phi tần, thái hậu khác mà còn phải chứng kiến cơ nghiệp giang sơn trượt dài trên con đường suy vong....
 
Trung Quốc Xa Xưa
BÍ MẬT PHÍA SAU DI THỂ TRINH TRẮNG CỦA CÁC PHI TẦN TRUNG QUỐC!


Trong xã hội phong kiến Trung Hoa, hoàng quyền được xem là chí cao vô thượng, Hoàng đế cũng vì vậy mà trở thành người nắm giữ quyền lực cao nhất thời bấy giờ.

Nhờ vào địa vị vững chắc của Thiên tử, các thê thiếp trong hậu cung nhà vua thường được ví như những vị tiểu chủ nhân với thân phận cao quý và cuộc đời tưởng như vô cùng hoa lệ.

Thế nhưng ít ai biết rằng, cuộc sống của họ ở chốn thâm cung cũng có không ít ẩn tình khó nói.

Chỉ tới khi khai quật lăng mộ của các phi tần thời phong kiến, đặc biệt là các khu lăng mộ của vương triều nhà Thanh, người ta đã phát hiện ra một sự thật khó có thể tin nổi.

Đó chính là trong số họ có không ít những hậu phi cho đến lúc qua đời vẫn còn là trinh nữ.

Liệu đâu là lý do khiến những người phụ nữ mang thân phận thê thiếp của Hoàng đế lại phải sống trong cảnh "hữu danh vô thực" tới hàng chục năm như vậy?

Thực tế, việc phi tần cả đời không được nhà vua lâm hạnh vốn chẳng phải là chuyện hiếm trong lịch sử phong kiến Trung Hoa.

Chính sử nhà Hán từng ghi lại, năm xưa dưới thời Hán Huệ Đế, có một vị Hoàng hậu từng lên ngôi mẫu nghi thiên hạ từ năm 12 tuổi, thế nhưng tới lúc qua đời vào năm 40 tuổi, bà vẫn là một cô gái trinh trắng.

Câu chuyện tưởng như đùa này lại xảy ra với chính Trương Yên Hoàng hậu – cháu ruột và cũng là vợ cả trên danh nghĩa của Hán Huệ Đế Lưu Doanh.

Theo đó sau khi Hán Cao Tổ qua đời, Lữ hậu đã thao túng quyền hành trong triều và đưa người con trai là Lưu Doanh lên ngôi, sử cũ gọi là Hán Huệ Đế.

Để bảo vệ quyền lực cho mình và con trai, Lữ hậu đã sắp xếp cho Huệ Đế lấy cháu ruột của ông, tức Trương Yên Hoàng hậu.

Về phần Lưu Doanh, có lẽ vì quá bất mãn với cuộc hôn nhân loạn luân này nên ông chưa bao giờ lâm hạnh vị Hoàng hậu ấy.

Sau này Huệ Đế qua đời trong u sầu, tức tưởi, Trương Yên Hoàng hậu cũng thủ tiết tới năm 40.

Chỉ đến khi được các thị nữ đem thi thể đi khâm liệm, người ta mới phát hiện bà vẫn là một cô gái trinh trắng.

Hoàn cảnh éo le này cũng lặp lại gần như tương tự với cặp phu thê là Hoàng đế Quang Tự và Long Dụ Hoàng hậu.

Nếu xét về vai vế, Quang Tự và Long Dụ đều là cháu ruột của Từ Hy.

Điều này đồng nghĩa với việc cặp vợ chồng này thực chất là chị em họ.

Vì củng cố quyền lực chính trị của mình, Từ Hi đã ép vua Quang Tự phải chấp nhận cuộc hôn nhân với chị họ.

Và cũng giống như Hán Huệ Đế, vị vua trẻ tuổi ấy luôn mang nội tâm bất bình với mối quan hệ trái luân thường đạo lý ấy, cho nên Quang Tự chưa từng động phòng với Long Dụ Hoàng hậu.

Sau đó, ông có thêm hai vị phi tử là Trân phi và Cẩn phi.

Thế nhưng người trong cung vẫn luôn truyền tai nhau về tin đồn nhà vua chưa từng thị tẩm một lần với Hoàng hậu của mình.

Ngoài ra, hậu cung Thanh triều còn từng truyền tai nhau về giai thoại của một vị phi tần đến hơn 90 tuổi vẫn còn trinh trắng.

Người này chính là Uyển Phi – một người thiếp của Càn Long đế.

Uyển phi vốn mang họ Trần và từng xuất thân làm thị nữ trong phủ Bảo Thân vương từ lúc Hoằng Lịch còn chưa lên ngôi.

Sau khi Càn Long kế vị, bà được nhà vua miễn cưỡng phong làm Đáp ứng vì đã có công theo hầu trong nhiều năm.

Một năm sau, Trần thị được thăng lên làm Quý nhân, và phải tới 10 năm sau mới được thăng lên Tần vị, hiệu là Uyển tần.

Mặc dù có danh nghĩa là thê thiếp của nhà vua, nhưng Trần thị chưa từng chính thức ra mắt Hoàng đế.

Đây cũng là lý do vì sao mà phải đến năm 77 tuổi, bà mới được phong làm Uyển phi.

Có giai thoại truyền lại rằng, Uyển phi năm xưa vốn không có xuất thân tốt, lại hiểu rõ Hoàng đế không thích mình, cho nên chưa từng tranh sủng, cũng chưa từng được Càn Long thị tẩm.

Có lẽ cũng nhờ đức tính không màng danh lợi ấy nên bà mới có thể yên ổn trụ vững trong chốn thâm cung xô bồ, để rồi cuối cùng qua đời trong thầm lặng ở tuổi 92 và trở thành phi tử sống thọ nhất của Càn Long Hoàng đế.

Lý giải về hiện tượng vì sao có nhiều phi tử trong hậu cung tới lúc qua đời vẫn còn là trinh nữ, một số học giả hiện đại đã đưa ra những nhận định dưới đây.

Lý do thứ nhất: Không có cơ hội gặp mặt Hoàng đế

Mỗi khi nhắc tới hậu cung của vua chúa thời xưa, nhiều người thường nghĩ đó là nơi có tam cung lục viện, mỹ nữ ba ngàn.

Mặc dù con số thê thiếp thực tế không mấy khi lên tới hàng ngàn, nhưng chung quy Hoàng đế vẫn thường có không ít phi tử.

Ở nơi vốn chẳng thiếu mỹ nhân giai lệ như vậy, việc có những người thậm chí cả đời không có cơ hội gặp mặt Hoàng đế cũng là chuyện rất đỗi bình thường.

Họ có thể là những phi tử mang xuất thân bình thường, sở hữu dung nhan không nổi bật, hoặc đơn giản là không muốn tranh sủng giống như Uyển phi của vua Càn Long.

Dù nguyên nhân thực sự phía sau đó có là gì, thì việc không được diện kiến long nhan vẫn là một trong những lý do thường gặp nhất khiến các phi tần này cả đời không được sủng hạnh.

Nguyên nhân thứ hai: Mắc bệnh kín

Vào thời đại y học còn lạc hậu như giai đoạn phong kiến, tỷ lệ phụ nữ mắc các bệnh khó nói hoặc sở hữu một số đặc điểm cơ thể gây mặc cảm cũng không phải là hiếm.

Ngay cả khi có cơ hội chữa khỏi, thì họ cũng đã bị coi là những người có "tỳ vết" và hoàn toàn yếu thế hơn so với các phi tần khác.

Đây cũng là một trong những lý do khiến những hậu phi này vì mặc cảm mà trốn tránh việc thị tẩm, hoặc khiến cho Hoàng đế e dè không muốn lâm hạnh họ.

Nguyên nhân thứ ba: Bị Hoàng đế chán ghét

Hôn nhân của hoàng tộc dù ít dù nhiều luôn bị chi phối bởi yếu tố chính trị.

Hoàng đế càng không phải ngoại lệ.

Thực tế lịch sử cũng đã chứng minh, không ít thê thiếp của các vị Hoàng đế đều mang xuất thân từ những gia tộc có thế lực vào thời bấy giờ.

Sở hữu một xuất thân vững chắc có thể đem lại cho các vị phi tử này địa vị mà không ai dám tùy tiện động tới.

Thế nhưng gia thế tốt cũng giống như con dao hai lưỡi.

Bởi một khi nhà ngoại bị thất sủng hoặc không may phạm tội, vị phi tần kia cũng sẽ bị Hoàng đế chán ghét.

Cũng có trường hợp nhà vua chấp nhận cho họ những danh phận cao quý, nhưng lại buộc họ phải sống cuộc đời hữu danh vô thực chỉ để duy trì sự yên ổn trong triều.

Trớ trêu hơn, họ có thể được nhà vua sủng ái trong một thời gian ngắn, sau đó vì gia tộc thất thế mà bị lạnh nhạt hoặc thậm chí bị bức tử.
 
Trung Quốc Xa Xưa
4 LĂNG TẨM ĐẾ VƯƠNG ĐÁNG SỢ NHẤT TRUNG QUỐC!


Trong lịch sử phong kiến Trung Hoa, Hoàng đế được xem là những người nắm trong tay quyền lực và địa vị tối cao.

Thế nhưng sự thực là dù cho có ở ngôi cửu ngũ chí tôn, họ cũng không thể đứng ngoài vòng tuần hoàn của sinh – lão – bệnh – tử.

Khác với quan niệm chết đi là "về với đất" của thường dân bách tính, các vị vua thời xưa cho rằng cái chết chỉ là sự khởi đầu cho một cuộc sống huy hoàng mới ở thế giới bên kia.

Cũng bởi vậy mà không ít bậc Thiên tử của Trung Quốc thời xưa đều đã huy động rất nhiều nhân lực và tài lực để xây dựng cho mình những nơi an nghỉ đồ sộ, bề thế.

Cho tới ngày nay, giai thoại về những câu chuyện ly kỳ xoay quanh các lăng tẩm đế vương Trung Hoa vẫn là đề tài rất được hậu thế quan tâm, chú ý.

Và trong số những ngôi mộ hoàng tộc ẩn chứa nhiều bí ẩn đó, 4 lăng mộ dưới đây được xem là nơi sở hữu nhiều điều kỳ lạ tới nỗi phải dùng tới hai chữ "nghịch thiên" để hình dung.

Vị trí thứ 4: Càn lăng của Võ Tắc Thiên

Nhìn lại suốt chiều dài của lịch sử Trung Hoa, không khó để nhận thấy hầu hết các vị vua dưới chế độ phong kiến tại đất nước này đều là nam Hoàng đế.

Thế nhưng vào thời nhà Đường, sử sách đã ghi nhận sự xuất hiện của vị Nữ đế.

Đó chính là Võ Tắc Thiên – người sáng lập ra vương triều Võ Chu.

Sau khi kết thúc cuộc đời đầy thăng trầm của mình, Võ Tắc Thiên đã được hợp táng cùng chồng là Đường Cao Tông tại Càn lăng – khu lăng mộ tọa lạc tại huyện Càn, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc.

Nơi an nghỉ của đôi vợ chồng hiếm hoi đều ở ngôi đế vương này có quy mô hết sức đồ sộ với kiểu cách mô phỏng lại kiến trúc của kinh đô Trường An.

Điểm đáng nói hơn còn nằm ở chỗ, Càn lăng từng trải qua 17 lần cướp phá, trong đó lần quy mô nhất có tới 400.000 người tham gia.

Nhưng dù xâm phạm nơi an nghỉ của Võ Tắc Thiên vì lý do gì, thì những kẻ này vẫn chưa bao giờ đạt được mục đích.

Nhiều giai thoại ly kỳ còn truyền lại rằng, lăng mộ này có khả năng "hô mưa gọi gió" để cản trở kẻ xâm phạm.

Thậm chí ngay tới súng đạn và thuốc nổ cũng chẳng thể khiến cho cánh cửa vào địa cung có chút suy chuyển nào.

Bởi vậy trải qua nhiều thế kỷ, khu lăng mộ nói trên vẫn "thi gan cùng tuế nguyệt".

Địa cung chứa di thể của Võ Tắc Thiên cùng chồng và khối kho báu khổng lồ cũng chưa từng được mở ra.

Vị trí thứ 3: Thập Tam lăng nhà Minh

Minh Thập Tam lăng là quần thể tập hợp các lăng mộ được xây dựng bởi chính các Hoàng đế thuộc triều đại nhà Minh trong lịch sử phong kiến Trung Hoa.

Đây cũng là nơi an nghỉ của 13 vị vua trên tổng số 16 vị Hoàng đế thuộc vương triều này.

Vị trí tọa lạc của Thập Tam lăng ngày nay nằm tại Xương Bình, cách trung tâm Bắc Kinh khoảng 42 km về phía tây bắc.

Quần thể kiến trúc nói trên cũng được đánh giá là khu lăng mộ bảo quản tốt nhất và chôn cất nhiều Hoàng đế nhất Trung Quốc.

Tương truyền rằng, quần thể lăng mười ba vua nhà Minh được xây dựng theo bố cục phong thủy hết sức chặt chẽ.

Do đó nơi đây còn được tin là có thể hóa giải ma quỷ và phong tà từ phương Bắc xuống.

Không chỉ dừng lại ở đó, một trong những yếu tố khiến Thập Tam lăng lọt vào danh sách những ngôi mộ đế vương "nghịch thiên" nhất Trung Quốc chính là nhiều giai thoại tâm linh ly kỳ xoay quanh quần thể kiến trúc này.

Trong số đó, nổi tiếng hơn cả phải kể tới "lời nguyền" lăng mộ của Hoàng đế Vạn Lịch.

Nơi an nghỉ của vị Hoàng đế này là một trong những ngôi mộ lớn nhất Thập Tam lăng, được khai quật vào năm 1956 do đội khảo cổ của Quách Mạt Nhược tiến hành.

Tuy nhiên không ít người tham gia cuộc khai quật ngày ấy đã liên tiếp gặp phải những chuyện xui xẻ: Vợ của Quách Mạt Nhược treo cổ tự tử chết trong nhà, 2 con trai của ông cũng mất mạng do tự sát, người chỉ huy công tác khai quật thì bất ngờ gặp tai nạn máy bay, người khởi xướng ý tưởng khai quật thì tự vẫn trong ngục...

Không chỉ dừng lại ở đó, một vài người dân địa phương cũng gặp phải những điều bất thường khi lấy gỗ quý từ quan tài của nhà vua về dùng.

Nhiều người trong số họ và người thân đều phải chịu những cái chết đột ngột hoặc những tai nạn nghiêm trọng mà chẳng rõ nguyên nhân.

Hàng loạt giai thoại ly kỳ này đã khiến Thập Tam lăng nhà Minh trở thành nỗi ám ảnh của giới khảo cổ Trung Quốc.

Vị trí thứ 2: Lăng mộ Tần Thủy Hoàng

Được xây dựng ròng rã trong suốt 38 năm, lăng mộ Tần Thủy Hoàng từ lâu đã được biết tới là một trong những ngôi mộ đế vương nổi tiếng nhất Trung Quốc.

Địa danh này nằm tại phía bắc núi Ly Sơn, thuộc huyện Lâm Đồng, thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây.

Mặc dù danh tiếng của lăng mộ và vị chủ nhân nằm bên trong từ sớm đã vang xa, thế nhưng sự thực là cho tới ngày nay, lăng Tần Thủy Hoàng vẫn chưa được khai quật hoàn toàn.

Có lẽ cũng bởi địa cung bên trong chưa từng được mở ra, nên nơi an nghỉ của vị vua được mệnh danh là "thiên cổ nhất đế" ấy vẫn tồn tại không ít những giai thoại rùng rợn, đáng sợ.

Nhiều người tin rằng, bên trong địa cung của lăng Tần Thủy Hoàng được bao quanh bởi một dòng sông thủy ngân khiến cho nơi đây trở nên "bất khả xâm phạm".

Không chỉ vậy, có giai thoại còn truyền lại rằng lăng mộ này còn được thiết lập vô số những cạm bẫy nguy hiểm và có thể lấy mạng bất cứ kẻ nào cả gan quấy phá giấc ngủ của Hoàng đế.

Bên cạnh đó, những câu chuyện về tượng binh mã từng chôn người sống bên trong cùng hàng loạt đồn đoán đặt ra về kho báu khổng lồ của lăng Tần Thủy Hoàng đã khiến hậu thế càng dành nhiều sự quan tâm và chú ý đối với địa danh bí ẩn này.

Vị trí thứ nhất: Lăng mộ Hiên Viên Hoàng Đế

Hoàng Đế (hay còn gọi là Hiên Viên Hoàng Đế) là một vị quân chủ huyền thoại, anh hùng văn hóa của nền văn minh Trung Hoa, và cũng được xem như thủy tổ của Hán tộc.

Hiên Viên Hoàng Đế cũng là người đứng đầu trong Ngũ đế của dân tộc Hoa Hạ từ thời viễn cổ.

Lăng mộ của ông vì vậy cũng được tôn làm "Hoa Hạ đệ nhất lăng".

Do được xem là một vị vua dường như chỉ tồn tại trong truyền thuyết, cho nên nơi an nghỉ của Hiên Viên Hoàng Đế thực chất là nơi thờ phụng của hậu nhân dựng nên.

Lăng mộ của ông nằm tại núi Kiều Sơn (Hoàng Lăng – Thiểm Tây – Trung Quốc) được xây dựng từ thời nhà Hán.

Nơi đây còn được nhiều người ví von là "thế giới của loài cây bách" nhờ sở hữu một rừng bách bạt ngàn thuộc vào hàng lớn nhất Trung Quốc.

Nhiều người cho rằng, rừng bách ở Kiều Sơn dường như mọc lên để che phủ riêng cho nơi an nghỉ của Hoàng Đế.

Có giai thoại còn truyền lại rằng, cây bách lớn nhất ở đền Hiên Viên dưới chân ngọn núi này cao tới hơn 19m, thân cây phải 8 người mới ôm xuể.

Điều đáng nói hơn còn nằm ở chỗ, không ít người tin rằng cây bách lên tới mấy ngàn năm tuổi ấy vốn được trồng bởi chính tay Hoàng Đế - nhân vật dường như không chỉ tồn tại ở trong các huyền thoại.

Ngay cả khi chỉ là một địa danh để thờ phụng chứ không an táng di thể, thì lăng Hoàng Đế vẫn được xem là một nơi bất khả xâm phạm.

Từ cổ chí kim, đây đều là nơi được các vương triều cử hành đại tế.

Trải qua nhiều triều đại, số lượng tài vật bên trong đã lên tới số lượng nhiều không đếm xuể.

Tuy nhiên giới mộ tặc từ xưa vốn đã không có kẻ nào dám cả gan đạo lăng Hoàng Đế.

Bởi chủ nhân ngôi mộ này vốn được người Hoa xem như thủy tổ của chính họ.
 
Trung Quốc Xa Xưa
4 CÁI CHẾT LY KỲ NHẤT CỦA CÁC HOÀNG HẬU NHÀ THANH!


Đại Thanh là vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Trung Hoa, tồn tại 276 năm với 11 đời Hoàng đế.

Nói về đời tư của các Thiên tử thuộc triều đại này, không khó để nhận thấy Hoàng hậu của họ cũng là những người được sử sách rất mực coi trọng với số lượng tư liệu ghi chép nhiều hơn hẳn so với các phi tần khác.

Tuy nhiên trên thực tế, Thanh triều vẫn có tới 4 vị Hoàng hậu sở hữu cái chết hết sức ly kỳ và bí ẩn.

Việc sử liệu không ghi lại về nguyên nhân qua đời của họ đã để lại cho hậu thế nhiều câu hỏi cho tới ngày nay vẫn chưa có lời giải đáp.

Phế hậu Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị (vua Thuận Trị)

Hoàng hậu Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị là chính thê đầu tiên của Thuận Trị đế.

Theo sử liệu ghi lại, bà là người sở hữu dòng máu thuần khiết của quý tộc Mông Cổ và là cháu gái của Hiếu Trang Hoàng hậu (mẹ thân sinh ra vua Thuận Trị).

Vào thời bấy giờ, những cuộc hôn nhân giữa họ hàng vẫn thường diễn ra vì nhiều động cơ chính trị khác nhau.

Tuy nhiên bản thân Thuận Trị đế hết sức bất mãn trước mối hôn sự với người chị họ này.

Ông hiểu rõ hơn ai hết, cuộc hôn nhân giữa mình và Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị vốn là do Thái hậu cùng Nhiếp chính vương an bài dựa trên việc cân nhắc các mục tiêu chính trị chứ không xét tới phương diện tình cảm.

Cứ như vậy, Thuận Trị đế và Hoàng hậu đầu tiên của mình tổ chức hôn sự vào năm ông mới 14 tuổi.

Cuộc sống vợ chồng không mấy hạnh phúc của họ cũng vì thế mà chẳng được bền lâu.

Chỉ vẻn vẹn 2 năm sau khi thành thân, vua Thuận Trị đã công khai phế bỏ Hoàng hậu Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị, giáng bà xuống làm Tĩnh phi.

Có giai thoại truyền lại rằng, Thuận Trị bất mãn trước việc Hoàng hậu thường đố kỵ với các phi tần xinh đẹp, lại mang lòng dạ ác độc.

Không chỉ dừng lại ở đó, ông còn cảm thấy Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị sống quá mức xa xỉ, phô trương lãng phí, ngay tới dụng cụ sinh hoạt hằng ngày đều phải làm bằng vàng bạc đá quý, căn bản không có phong thái của bậc mẫu nghi.

Chính những lý do này đã khiến cho vị Hoàng đế trẻ ấy bất chấp sự phản đối của triều thần và cương quyết muốn phế hậu.

Sau khi bị phế, cuộc sống của Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị chẳng còn được mấy ai ngó ngàng tới.

Ngay tới việc bà qua đời bởi nguyên nhân gì cũng không hề được sử liệu ghi lại.

Điểm đáng chú ý nằm ở chỗ, tất cả các phi tần của Thuận Trị đế sau khi qua đời đều được chôn tại Thanh Đông Lăng, ngay tới tên tuổi cũng đều có ghi lại đầy đủ, duy chỉ riêng Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị là không có.

Về kết cục của vị phế hậu này, có giai thoại còn truyền lại rằng sau khi bị giáng làm Tĩnh Phi, Bác Nhĩ Tề Cát Đặc thị đã trở về nhà mẹ đẻ dù biết bản thân đã mang thai.

Sau đó, bà sinh hạ được một người con trai, thế nhưng kết cục của họ ra sao, qua đời trong hoàn cảnh thế nào và vì nguyên nhân gì thì vẫn còn là điều bí ẩn.

Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị (vua Đạo Quang)

Hiếu Toàn Thành Hoàng hậu Nữu Hỗ Lộc thị (1808 – 1840) là vị Hoàng hậu thứ ba của Hoàng đế Đạo Quang và cũng là mẹ ruột của vua Hàm Phong.

Cũng bởi là vị Hoàng hậu được sắc phong về sau nên tuổi tác của bà với Đạo Quang có chênh lệch không nhỏ.

Trên thực tế, vị Hoàng hậu này kém đức phu quân của mình tới...

26 tuổi.

Sử liệu ghi chép, Nữu Hỗ Lộc thị là con gái của Nhị đẳng thị vệ Càn Thanh môn.

Bà sinh thời nổi tiếng là thông minh cơ trí, lại khéo léo, hiểu chuyện nên rất được sủng ái.

Tuy nhiên điểm kỳ lạ lại nằm ở chỗ, vị Hoàng hậu được người người yêu quý và ngưỡng mộ này lại đột nhiên qua đời khi chưa mới ngoài 30 tuổi, hơn nữa nguyên nhân cái chết còn rất mực bí ẩn.

Dã sử truyền lại rằng, năm xưa Nữu Hỗ Lộc thị vì muốn con trai kế vị nên đã tổ chức một buổi yến tiệc có tên là "độc ngư yến".

Trong buổi cung yến hôm đó, bà đã sai người hạ độc vào tất cả các món cả để thanh trừng các Hoàng tử khác nhằm mục đích dọn đường cho con ruột của mình lên ngôi.

Thế nhưng người con do Nữu Hỗ Lộc thị thân sinh lại quá mức trung hậu, liền âm thầm báo cho các huynh đệ về âm mưu của mẹ mình.

Sau khi sự việc bại lộ, Thái hậu đương triều đã giận dữ ép Hoàng hậu phải tự vẫn.

Mặc dù chỉ là giai thoại truyền miệng, thế nhưng đây cũng có thể xem là một giả thiết có phần hợp lý trong việc giải thích lý do vị Hoàng hậu này đột ngột qua đời một cách bí ẩn khi mới ngoài 30.

Từ An Hoàng hậu (vua Hàm Phong)

Hiếu Trinh Hiển Hoàng hậu Từ An (1837 – 1881) là vị Hoàng hậu thứ hai dưới thời Hàm Phong đế.

Năm xưa, bà được xem là một trong những nhân vật truyền kỳ nơi hậu cung với con đường bước lên ngai vị mẫu nghi thuận lợi tới mức khó có thể tưởng tượng.

Tháng 2 năm Hàm Phong thứ hai, Từ An được phong làm Trinh Tần.

Tháng 5 năm ấy, bà tiếp tục được tấn phong làm Quý phi và cuối cùng được sắc phong làm Hoàng hậu chỉ 5 tháng ngay sau đó ở tuổi 16.

Tới năm Hàm Phong thứ 11, Tiên đế đột ngột qua đời, Đồng Trị kế vị khi còn nhỏ tuổi.

Bên cạnh Thái hậu danh chính ngôn thuận là Từ An, các đại thần còn tôn mẹ ruột của nhà vua là Ý Quý phi (tức Từ Hi) làm Thái hậu.

Cũng bởi vậy mà Thanh triều bấy giờ tồn tại cùng lúc hai vị Thái hậu, sử cũ gọi là Lưỡng cung Thái hậu, bao gồm Từ An Đông Thái hậu và Từ Hi Tây Thái hậu.

Không lâu sau, Lưỡng cung Thái hậu cấu kết với Cung Thân vương phát động chính biến, nắm giữ thực quyền, buông rèm nhiếp chính.

Tới năm 19 tuổi, Đồng Trị đột ngột qua đời, Từ Hi tiếp tục nâng đỡ con trai 3 tuổi của Thân vương Tải Điềm lên ngôi, sử cũ gọi là Quang Tự đế.

Ngày 11 tháng 3 năm Quang Tự thứ 7, Từ An Thái hậu đột ngột qua đời ở tuổi 44.

Cái chết đột ngột của vị Thái hậu vốn đang khỏe mạnh ấy đã khiến cho nhiều người không khỏi nghi ngờ.

Vào thời bấy giờ, bách tính còn lưu truyền giai thoại về việc Từ An bị đối thủ Từ Hi hại chết.

Theo giả thiết này, năm xưa Hàm Phong trước khi qua đời đã để lại cho Từ An một đạo thánh chỉ, giao cho bà quyền lực áp chế Từ Hi.

Từ Hi sau khi phát hiện đã cố tình diễn một màn khổ nhục kế khiến cho Từ An tin tưởng và đốt đạo thánh chỉ kia đi.

Khi đã không còn thứ gì đe dọa, Từ Hi cuối cùng chẳng chút kiêng kỵ mà đầu độc chết đối thủ chính trị đáng gờm này.

Tuy nhiên cũng có không ít ý kiến cho rằng đây chỉ là giả thiết không đáng tin.

Bởi lẽ Từ An Thái hậu trên thực tế cũng không thể áp chế một Từ Hi với bản lĩnh chính trị xuất chúng, do đó việc Từ Hi phải ra tay trừ khử đối thủ không xứng tầm này là điều không cần thiết.

Hoàng hậu A Lỗ Đặc thị ( vua Đồng Trị)

Hiếu Triết Nghị Hoàng hậu A Lỗ Đặc thị (1854 – 1875) là Hoàng hậu duy nhất của vua Đồng Trị, xuất thân trong một gia đình có cha là Trạng Nguyên Mãn Châu nổi tiếng.

Năm xưa khi Lưỡng cung Thái hậu tuyển tú cho nhà vua, nàng được Từ An Thái hậu nhìn trúng, trong khi đó Từ Hi lại vừa mắt Phú Sát thị.

Sau cùng, Đồng Trị đã chọn A Lỗ Đặc thị làm Hoàng hậu.

Tình cảm vợ chồng giữa nàng và Hoàng đế cũng rất mực gắn bó, khăng khít.

Tuy nhiên do không phải là con dâu được đích thân Từ Hi chọn, A Lỗ Đặc thị đã không ít lần bị người mẹ chồng này gây khó dễ.

Trước mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu căng thẳng, Hoàng đế Đồng Trị ngày càng chán nản, bỏ bê hậu cung lẫn chính sự, ngày đêm sa vào tửu sắc, cuối cùng bị mắc phải bệnh hoa liễu vì thường trốn đi... kỹ viện.Có giai thoại còn truyền lại rằng, khi Đồng Trị bệnh nặng hấp hối, Từ Hi còn cố tình nắm tóc, bạt tai Hoàng hậu A Lỗ Đặc thị trước mặt nhà vua.

Sau khi Đồng Trị băng hà, A Lỗ Đặc thị cũng không được tôn làm Thái hậu theo đúng quy củ mà chỉ được sắc phong thành "Gia Thuận Hoàng hậu".

Bấy giờ, người nhà nhìn thấu được ác ý của Từ Hi nên đã khuyên nàng quyên sinh theo Hoàng đế.

Thế nhưng Thanh cung vốn có quy định cấm phi tần tự tử, vì vậy A Lỗ Đặc Hoàng hậu chỉ còn nước tuyệt thực mà chết, cũng có giai thoại truyền lại rằng bà nuốt kim tự vẫn.

Cuối cùng, vị Hoàng hậu ấy qua đời chỉ sau khi Đồng Trị đế băng hà đúng 75 ngày.

Nguyên nhân thực sự phía sau cái chết đầy ẩn tình ấy có lẽ chỉ có Lưỡng cung Thái hậu lúc bấy giờ là hiểu rõ hơn ai hết...
 
Trung Quốc Xa Xưa
CHUYỆN ĐI VỆ SINH TRONG CÁC BUỔI THƯỢNG TRIỀU


CÁC QUY ĐỊNH HÀ KHẮC KHIẾN QUAN LẠI VẤT VẢ KHI THAM GIA CÁC BUỔI THƯỢNG TRIỀU THỜI PHONG KIẾN

Thời cổ đại, các vị đại thần mỗi ngày phải dậy từ sáng sớm tinh mơ, đứng đợi bên ngoài Ngọ Môn để chờ Hoàng thượng "mở họp", việc này được gọi là thượng triều hoặc là buổi chầu sớm.

Thời nhà Minh, các vị đại thần phải có mặt từ lúc 3 giờ sáng (giờ Bắc Kinh) đứng đợi bên ngoài cửa cung để chờ Hoàng thượng lên triều.

Có phải bạn cảm thấy 3 giờ sáng là quá sớm?

Nhưng thực tế các vị đại thần còn thức dậy sớm hơn như thế.

Bởi vì thời xưa, quan lại khi thượng triều nhất định phải ăn mặc chỉnh tề.

Trong khi đó, quan phục lên triều của các đại thần rất phức tạp, vì thế họ phải dậy từ sớm, chải chuốt gọn gàng, ăn mặc chỉnh tề.

Với các vị quan nhà ở xa cung cấm thì còn phải dậy sớm hơn, thậm chí 12 giờ đêm đã phải chuẩn bị lên đường rồi.

Vậy mới thấy, làm quan cũng thật cũng không phải là chuyện quá sung sướng.

Tuy nhiên dưới thời phong kiến, sinh hoạt của người dân khác với hiện nay.

Trời vừa tối, đa phần mọi người sẽ chuẩn bị đi ngủ.

Vậy nên, các vị đại thần dù phải thức dậy sớm nhưng họ vẫn được ngủ đủ giấc, hơn thế họ cũng có giờ nghỉ trưa chứ không phải cả ngày đều phải xử lý công vụ.

Điều khó khăn nhất khi lên triều sáng sớm đó chính là thời tiết.

Bởi vì có một số vị đại thần tuổi già sức yếu, nếu như vào mùa đông, phải đứng chờ hai ba canh giờ trước cửa cung trong cái gió lạnh mùa đông quả thực là không cần nghĩ cũng biết vất vả đến mức nào..

Điều khiến người ta khó chịu đựng hơn nữa là nếu buổi thượng triều không có chuyện gì quan trọng thì thường có thể kết thúc vào buổi trưa, khi ấy quan lại có thể quay về nhà ngủ bù.

Nhưng cũng sẽ có những buổi thượng triều kéo dài từ lúc 4, 5 giờ sáng đến tận buổi chiều, diễn ra khoảng mười mấy tiếng đồng hồ.

Luật pháp Đại Minh quy định, trước khi vào thượng triều, các vị đại thần phải có mặt bên ngoài Ngọ Môn từ lúc 3 giờ sáng, đợi đến khi chuông trên Ngọ Môn vang lên thì tức là buổi thượng triều bắt đầu.

Các vị đại thần sẽ lần lượt vào cung theo thứ bậc, xếp hàng ngay ngắn trước thềm Thái Hòa điện, thực hiện đại lễ quỳ gối dập đầu ba lần.

Tiếp sau đó là thời gian thượng triều buồn tẻ nhất, khó khăn nhất.

Trong các bộ phim truyền hình, chúng ta thường thấy cảnh các vị đại thần lên triều bên trong Thái Hòa điện, nhưng trên thực tế lại không được tốt đẹp như vậy.

Toàn thể văn võ bá quan đều phải hứng gió lạnh đứng trên sân của Thái Hòa điện để bẩm tấu chuyện quốc gia đại sự, bởi một đoàn người đông như vậy Thái Hòa điện làm sao chứa hết?

Thậm chí, đến thời nhà Thanh, tất cả quan lại đều phải quỳ khi lên triều.

Điều này gây khó khăn cho các vị đại thần đã cao tuổi.

Chính bởi thế họ mới nghĩ ra dụng cụ bao đầu gối, nhờ nó sẽ giúp đầu gối bớt đau và khó chịu khi phải quỳ liên tục.

Các quan lại trẻ tuổi, thân thể khỏe mạnh thì xem như có thể chịu đựng được, nhưng những vị quan già yếu thì làm sao có thể chịu đựng được kiểu giày vò người như thế?

Thử nghĩ xem, suốt từ lúc 3 giờ sáng đến tận trưa, không được ăn uống gì, không được đi vệ sinh, thì sẽ khó chịu đến cỡ nào?

Nhưng vậy vẫn chưa hết, trong lúc thượng triều, nếu các có vị nào vô tình ho hay khạc nhổ hay đứng không vững đều sẽ bị ghi lại với tội danh khinh nhờn Thánh thượng.

Trong thời gian thượng triều sẽ có một chức vị là Ngự sử chuyên duy trì trật tự, có nhiệm vụ ghi chép lại các hành động khiếm nhã, vô lễ của các vị đại thần.

Chỉ cần bạn lỡ gây ra tiếng động thì đã bị chỉ mặt phê bình chứ đừng nói đến chuyện xin ra ngoài để đi vệ sinh.

Cũng bởi thế nên khi thượng triều các vị quan viên đều không dám hít thở mạnh, muốn động đậy cũng không dám, nó cũng gần giống với khi chúng ta đi học quân sự, yêu cầu phải đứng nghiêm chỉnh, đúng tư thế, nhưng còn nghiêm khắc hơn như vậy nhiều.

QUAN LẠI SẼ LÀM GÌ ĐỂ ỨNG PHÓ VỚI TÌNH HUỐNG MÓT ĐI VỆ SINH ĐÚNG LÚC THƯỢNG TRIỀU?

Nhưng tục ngữ có câu: "Con người có ba cái gấp", nếu như bị đau bụng hay mót tiểu không thể nhịn được nữa thì phải làm thế nào?

Các vị quan viên đều biết thời gian thượng triều không hề dễ chịu, cho nên trước buổi thượng triều, các vị quan viên sẽ cố gắng "bài tiết cho bằng hết, không ăn không uống", dù bản thân có bị đói cũng tuyệt không thể thất lễ trước mặt Hoàng thượng.

Bên cạnh đó, họ cũng đều có mánh khóe riêng của bản thân.

Ví dụ như sẽ dùng vài mẹo nhỏ để tránh cho cơ thể bài tiết trong thời gian lên triều.

Theo lời đồn, có một loài chim sống trên cây trinh nam, khi nước miếng của nó rơi xuống cây, nếu dùng chỗ gỗ đó, đốt lên ngậm trong miệng sẽ giúp giảm bớt tốc độ bài tiết của cơ thể.

Còn một cách khác đó là uống thuốc.

Với các vị quan đã lớn tuổi, sức khỏe yếu, lại phải đứng lâu trong gió lạnh, không ăn không uống một thời gian dài sẽ rất dễ bị đột quỵ, cho nên trước khi lên triều họ sẽ ngậm trong miệng một miếng nhân sâm, giúp tăng cường thể lực cho bản thân.

Song, dù cho đã chuẩn bị bằng nhiều cách kỹ càng như thế, nhưng vẫn sẽ xảy ra chuyện ngoài ý muốn.

Ví dụ như một vị quan viên nào đó tối hôm trước ăn đồ hỏng bị đau bụng hoặc bất ngờ gặp "sự cố" không thể chịu đựng được thì phải làm như thế nào?

Trong tình huống này, các vị quan viên cũng sẽ không tự làm khó chính mình, nếu không chịu được nữa thì không cần chịu, cũng giống như chúng ta ngày nay, khó khăn quá thì chọn xin nghỉ!

Cũng có đôi khi xin nghỉ không được hoặc không kịp xin nghỉ trước thì đành phải liều mình mà đi vì chẳng còn cách nào khác.

Các vị quan có chức vị cao thì có thể ngồi kiệu đến, trong kiệu được chuẩn bị bệ xí, trên đường đi hoặc trong thời gian chờ trước khi lên triều cũng sẽ dễ dàng giải quyết hơn.

Nhưng các chức vị thấp hơn thì không được như thế, họ không có kiệu cũng chẳng có bệ xí, cách duy nhất đó là âm thầm cầu trời khấn phật để bản thân không bất ngờ bị đau bụng.

Nếu như không thể chịu đựng được nữa, thì họ sẽ dùng cách nói bóng gió, ẩn ý để bày tỏ nhu cầu của bản thân.

Hoàng thượng tất nhiên cũng biết "người có ba việc gấp", nên khi được nguyện vọng của họ sẽ căn cứ tình huống cụ thể mà cho phép ra ngoài đi vệ sinh hoặc cho quay về nhà tìm đại phu khám bệnh.

Nhưng nói đến đây lại có một vấn đề nữa đó là: Trong Hoàng cung không có nhà vệ sinh.

Thời phong kiến, người ta quan niệm rằng vật bài tiết là thứ không sạch sẽ, cho nên không được phép xuất hiện trong Hoàng cung, làm ô uế không khí Hoàng tộc, bởi vậy nên trong cung không có nơi gọi là "nhà vệ sinh".

Nếu Hoàng đế hoặc các vị quan viên muốn đi vệ sinh trong cung thì phải dùng một cái thùng gỗ gần giống cái bệ xí, được gọi là "cái bô".

Những "cái bô" này sau khi được cọ rửa sạch sẽ sẽ được cất gọn trong Cung Phòng.

Nếu ai muốn đi vệ sinh thì có thể sai người đến Cung Phòng lấy cái bô đến để dùng.

Một vấn đề nữa đó là: Nếu như Hoàng đế không cho phép vị đó ra ngoài đi vệ sinh thì phải làm thế nào?

Thực ra tình huống này rất khó có thể xảy ra.

Chỉ cần Hoàng đế là người có thể kiên trì thượng triều thì đều là bậc minh quân một thời, trong lòng chắc chắn sẽ quan tâm đến quan viên dân chúng, người như vậy thì làm sao có thể làm khó quan viên của mình khi ấy được?

Nếu một vị Hoàng đế không để tâm đến quốc gia, đến quan viên, vậy thì Hoàng đế đó sao có đủ kiên nhẫn để thượng triều?

Chẳng bằng dùng thời gian ấy ngủ thêm một giấc có phải tốt hơn không?

Nếu Hoàng đế nhận ra quan viên đáng ám chỉ nhu cầu gấp gáp của mình trên buổi thượng triều thì chắc chắn sẽ không cần suy nghĩ mà phê chuẩn cho người đó ra ngoài.

Một Hoàng đế tốt phải là người có thể hiểu được nhu cầu của quan viên kịp thời, ví dụ như Chu Nguyên Chương, Khang Hi, Ung Chính,... họ hầu như không làm khó quan viên, luôn quan tâm thiên hạ bách tính, có thể thấu hiểu được sự khó khăn và vất vả của các vị quan trong triều.

Song trong lịch sử cũng có một số vị quan rất nổi tiếng, một khi bọn họ "gấp" rồi thì ngay cả Hoàng thượng cũng không quan tâm mà trực tiếp cáo lui, Hoàng thượng cũng chẳng thể làm gì họ ví dụ như Tào Tháo, Đổng Trác, Vương Mãng, Tư Mã Ý, ...,

Song những chuyện như vậy quả thực không có nhiều.

Thậm chí nếu đã không còn có thể chịu đựng được nữa, Hoàng thượng sẽ cho phép họ đi vệ sinh ngay trước mặt mọi người, trên triều cũng không ai dám phản đối.

Dĩ nhiên là những chuyện như vậy chỉ là trường hợp rất cá biệt, vì thông thường trong những buổi lên triều sớm cũng sẽ chẳng xuất hiện những lần "gấp gáp" như thế, nếu như không chịu đựng được nữa thì Hoàng đế cũng chỉ mắng chút thôi chứ sẽ không trách phạt, sẽ coi đó như chuyện ngoài ý muốn rồi cho qua.

Các vị quan viên khi thượng triều có thể "gấp", vậy Hoàng thượng thì thế nào?

Thân là ngôi vị cửu ngũ chí tôn, là người có quyền lực tối cao, chắc chắn sẽ không thể hiện ra việc mình bị đau bụng cần đi vệ sinh với bề tôi của mình, vì như thế sẽ làm mất thể diện Hoàng gia.

Vậy Hoàng đế khi "gấp" thì sẽ làm thế nào?

Rất đơn giản, Hoàng đế chỉ cần nói một câu sẽ hóa giải mọi chuyện đó là: "Có việc thì bẩm tấu, không việc thì bãi triều"

Những đại thần có chuyện quan trọng cần bẩm tấu sẽ ở lại đợi báo cáo, như vậy Hoàng đế có thể thoải mái "giải quyết nỗi buồn" của bản thân.
 
Back
Top Bottom