Cập nhật mới

Khác TRUNG QUỐC XA XƯA

Trung Quốc Xa Xưa
SỐ PHẬN TĂM TỐI VỀ CÁC CÁCH CÁCH CỦA VUA KHANG HY.


Vua Khang Hy sinh được 20 nàng công chúa hay còn gọi là các Cách cách.

Khi còn ở trong cung với vua cha, họ được ví như những bông hoa tỏa hương ngào ngạt với áo váy là lượt, được cưng chiều lên xe xuống ngựa đầy tớ cung phụng.

Họ được ăn ngon mặc đẹp, được học hành đủ lễ nghi, nhưng nỗi thống khổ của họ ít ai hiểu được.

Vua Khang Hy cho con gái xuất giá rất muộn, người nào sớm nhất thì là 19 tuổi còn không thì cũng phải khoảng 22 tuổi.

Việc này chứng tỏ vua cha Khang Hy rất yêu thương và không muốn các nàng sớm rời xa hậu cung để tiện bề chăm sóc.

Tuy vậy, ở một góc độ khác, hoàng đế lại đẩy những đứa con gái của mình vào vai trò "tốt thí" trong các cuộc hôn nhân nhuốm đầy màu sắc chính trị.

Các nàng hầu hết đều bất hạnh vô cùng trong sự cô đơn, gò bó ở gia đình nhà chồng.

Tương truyền, rất nhiều nàng Cách cách đã phải sống trong ấm ức, sầu muộn đến mức chết yểu.

Thêm vào đó, hầu hết các Cách cách nhà Thanh đều không có con.

Hoàng đế thông qua hình thức gả con gái của mình để đạt được liên minh quân sự chính trị với các nước hoặc các bộ tộc, các Cách cách trở thành các sứ giả của vương triều.

Theo thống kê, có 8 nàng công chúa đến tuổi trưởng thành đều được gả chồng vì mục đích chính trị của triều đình.

Thường thì họ sẽ chỉ được biết tên phò mã tương lai cho đến tận ngày cưới.

Và một khi đã được chọn, phò mã không thể chối từ và Cách cách cũng không thể nại ra bất cứ lý do gì để phản đối cuộc hôn nhân sắp đặt này.

Về nghi lễ, hôn lễ trong dân gian thường diễn ra theo "lục lễ": từ Nạp Thái, Vấn sanh, Nạp cát, Nạp lệ, Thỉnh kỳ rồi cuối cùng là Nghinh hôn.

Cứ nhân sự phức tạp này lên bốn năm lần may ra hiểu được cái phức tạp của việc gả chồng cho các Cách cách, và sự xa xỉ trong việc chi tiêu cho "hỷ sự quốc gia" này cũng là vô kể!

Cố Luân Cách cách - công chúa thứ 3, mẹ là thứ phi Mã Giai Thị tức Vinh phi, nàng sinh ngày mùng 6.5.1673 tức năm thứ 12 Khang Hy.

Đến tháng Giêng năm 1691 được phong là Hòa Thạc Vinh Hiến Cách cách và gả cho Ô Nhĩ Cổn của dòng họ Bác Nhĩ Tế Cát Trì, bộ tộc Ba Lâm Mông Cổ khi mới tròn 19 tuổi.

Cách cách thứ 5, mẹ là quý phi Triệu Giai Thị, sinh ngày mùng 6.5.1674 tức năm thứ 13 Khang Hy, đến năm 1692 được phong là Hòa Thạc Đoan Tĩnh Cách cách, tháng 10 cùng năm được gả cho Cát Nhĩ Tang - con thứ của Đỗ Lăng vương của bộ tộc Khách Lạt Sấm Mông Cổ.

Cố Luân Cách cách, công chúa thứ 6, mẹ là quý nhân Quách Lạc La thị sinh ngày 27.5.1679, đến năm 19 tuổi được phong là Hòa Thạc Cách cách được gả cho Đa Bố Đa Nhĩ Tế, Khách Nhĩ Khách quận vương, dòng họ Bác Nhĩ Tế Cát Trì, Mông Cổ.

Cách Cách thứ 9, mẹ là Đức phi Ô Nhã thị, tức Cung Nhân Hoàng hậu, năm thứ 39 Khang Hy nàng tròn 18 tuổi được phong là Hòa Thạc Ôn Hiến Cách Cách và được gả cho Đông Thị Thuấn An Nhan.

Công chúa thứ 10, Cố Luân Cách Cách mẹ là thứ phi Nạp Lạt thị tức Thông phi, sinh ngày 16.2.1685 tức năm thứ 24 Khang Hy, đến năm 22 tuổi được phong là Hòa Thạc Thuần Khác Cách Cách và cùng năm được gả cho Khách Nhĩ Khách Đài Cát Sách Lăng, dòng họ Bác Nhĩ Tế Cát Trì, Mông Cổ.

Công chúa thứ 13 có mẹ thứ phi Chương Giai Thị tức Kính Mẫn hoàng quý phi, nàng sinh ngày 27.11.1687 tức năm thứ 26 Khang Hy, năm 20 tuổi nàng được phong là Hòa Thạc Ôn Khác Cách cách và được gả cho Thương Tân Đỗ Lăng quận vương, dòng họ Bác Nhĩ Tế Cát Trì , bộ tộc Ông Ngưu Đặc, Mông Cổ.

Công chúa thứ 14, mẹ là quý phí Viên thị, sinh ngày mùng 7.12.1689 tức năm thứ 28 Khang Hy, đến năm 18 tuổi ( năm 1706) được phong là Hòa Thạc Khác Tĩnh Cách cách và được gả cho Thừa Vận cháu trai của Tán Trật đại thần nhất đẳng.

Công chúa thứ 15, mẹ là thứ phi Chương Giai Thị, tức Kính Mẫn Hoàng quý phi, nàng sinh ngày mùng 6.1.1691 tức năm thứ 30 Khang Hy và được phong là Hòa Thạc Đôn Khác Cách cách, đến năm 18 được gả cho Đài Cát Đa Nhĩ Tế, dòng họ Bác Nhĩ Tế Cát Trì, bộ tộc Khoa Nhĩ Sấm Mông Cổ.

Thường có câu "con vua không sợ không lấy nổi chồng" nhưng có vẻ như thực tế vẫn chứng minh điều ngược lại khi cũng có rất nhiều nàng Cách cách nhà Thanh phải chịu cảnh "ế".

Nguyên nhân dẫn tới tình trạng này có thể là do số mệnh các nàng Cách cách quá ngắn hoặc không có chàng trai nào chiều chuộng nổi các nàng.

Được sinh ra trong hoàng gia, được ăn uống chăm sóc tốt nhất, có kẻ hầu người hạ, điều kiện y tế tốt nhất thì tuổi thọ phải cao hơn người bình thường chứ tại sao các Cách cách lại chết sớm như vậy?

Có giả thiết cho rằng, họ phần lớn đều chết vì tương tư sầu muộn.

Trong số 20 Cách cách của vua Khang Hy chỉ có 8 nàng sống được đến tuổi trưởng thành còn lại đều chết trẻ.

Có nàng công chúa thứ 18 chết yểu khi chưa đầy tháng.

Những nàng Cách cách trưởng thành cũng chỉ có hai người qua 50 tuổi đó là công chúa thứ 6 thọ 57 tuổi và công chúa thứ 3 được 56 tuổi.

Nếu làm phép tính thì tuổi thọ bình quân của các Cách cách của Khang Hy chỉ có 17 tuổi mà thôi.

Trong số 8 nàng đó, chỉ duy có Cách cách Tuyên Tông lấy phò mã Phù Trân là được hạnh phúc vì nàng là người dám đấu tranh, dám nói ra điều ấm ức của mình với phụ hoàng và được ủng hộ.

Chính vì thế nàng và phò mã đã có cuộc sống hôn nhân viên mãn và sinh được 8 người con.

Như vậy, chuyện tình của các nàng Cách cách đời nhà Thanh xưa không hề lung linh như những câu chuyện trong phim ảnh.

Dù là Hoàng tộc và có địa vị đứng trên vạn người, họ cũng không thể tự quyết định số phận của mình.
 
Trung Quốc Xa Xưa
HOÀNG HẬU VÌ GHEN TUÔNG MÀ TÁT VÀO MẶT CHỒNG.


Vào thời phong kiến xưa kia, vua hay hoàng đế luôn là người đứng đầu của cả một giang sơn, nắm giữ trong tay quyền sinh sát và có được coi là Thiên tử (con trời), do đó bất kể ai ai cũng phải kiêng dè sợ hãi, bởi nếu phạm phải điều gì đắc tội thì vong thân như chơi.

Ấy vậy mà cũng có ngoại lệ, ngoại lệ này lại chính là một vị Hoàng hậu khi không những không kiêng dè, còn ra tay tát chồng mình một phát trời giáng vì ghen tuông, làm chấn động cả chốn cung đình Trung Hoa xưa.

Vị Hoàng hậu đó, không ai khác chính là Quách thị, chính thất của Hoàng đế Tống Nhân Tông.

Quách thị vốn sinh ra đã là một tiểu thư đài các trong một gia đình mấy đời giữ chức quan lại triều đình, ông nội của nàng là Quách Sùng từng giữ chức Tiết độ sứ nhiều người kính nể.

Ngay từ thuở bé, Quách thị đã tỏ ra mình là một nữ nhân cành vàng lá ngọc, tuy xinh đẹp đài các nhưng tính khí thất thường, nắng mưa khó đoán.

Quá khứ tuổi thơ của nàng yên ả cứ thế mà trôi qua với một tương lai đầy màu hồng phía trước.

Đến năm Thiên Thánh thứ 2 (1025), vì là con gái cưng của một gia tộc hiển hách, Quách thị được tiến cung cùng cháu gái của Kỵ Vệ thượng tướng quân là Trương thị, để trở thành Thái tử phi cho Tống Nhân Tông (lúc này ông còn là Thái tử).

May mắn hơn, nàng còn được Lưu Nga hoàng hậu lúc bấy giờ vô cùng yêu mến bởi cách lấy lòng ngọt nhạt khó ai sánh bằng.

Ít lâu sau đó, Tống Chân Tông qua đời, ngai vàng nghiễm nhiên thuộc về Tống Nhân Tông.

Ông đăng cơ vào năm 12 tuổi, tuy nhiên lúc này quyền hành trong cung thật sự lại nằm trong tay Lưu Nga thái hậu.

Vì thế, sau khi thành vua, Tống Nhân Tông có ý lập Trương thị thành Hoàng hậu nhưng Lưu Nga Thái hậu liền phản đối, bắt ông phải lập Quách thị trở thành chính thất mẫu nghi.

Không dám cãi lời bà, Tống Nhân Tông liền ban chiếu lập Quách thị trở thành Hoàng hậu.

Điều này đã khiến Nhân Tông có ý bất mãn.

Còn về phần Quách hoàng hậu, thì biết được Lưu thái hậu tiến cử, nàng sống trong cung muôn phần cao ngạo, lại theo chỉ ý của thái hậu mà hay giám sát hành tung của Nhân Tông, không coi ai ra gì.

Nên dù là người vợ cả gắn bó với Tống Nhân Tông từ thuở chưa lên ngôi, lại thân thiết với thái hậu, nhưng khi Tống Nhân Tông lên ngôi, trái tim vị hoàng đế này cũng không mấy quan tâm đến nàng.

Một phần vì biết tính khí thất thường của vợ, một phần vì ông còn bận mây mưa với biết bao cung tần mỹ nữ trong cung.

Bản thân vị hoàng đế dù được cả thiên hạ ngưỡng mộ vì thương dân như con, lại cần kiệm lo lắng cho bá tánh nhưng lại có một tật xấu đó là đam mê tửu sắc, ông vua đa tình chưa bao giờ biết từ chối trước hàng ngàn mỹ nhân trong cung.

Thế là ngày ngày, sau khi thiết triều lo chuyện chính sự, ông liền lao vào những cuộc vui chốn hậu cung mà không thèm ngó ngàng đến Quách hoàng hậu.

Từ đó, nàng bắt đầu những chuỗi ngày đau khổ buồn bã, sống trong ấm ức bởi mặc dù thân phận lại là một mẫu nghi thiên hạ, lại không giữ được người đàn ông mình yêu.

Cuối cùng, giọt nước cũng tràn ly.

Trong hàng ngàn phi tần trong cung, có hai mỹ nhân, một họ Trương, một họ Dương được Tống Nhân Tông sủng ái nhất.

Hai người này, cũng ỷ lại khi biết mình được sủng ái nên cũng tỏ ra cao ngạo, hỗn láo đủ đường, thậm chí còn ngấm ngầm đấu đá với hoàng hậu Quách thị khi thường xuyên nói xấu về bà sau lưng cho Tống Nhân Tông nghe.

Tất cả những điều này đều nhanh chóng bay đến tai hoàng hậu Quách thị.

Nàng đã rất tức giận khi thấy chồng mình là hoàng đế nhưng đã cưng chiều hai mỹ nhân kia thái quá mà bỏ mặc mình để họ tác oai tác quái, nói xấu mình không ra gì.

Song dù bực tức vậy nhưng với thân thế là vợ cả của hoàng đế, Quách hoàng hậu có muốn cũng không thể chửi mắng hay có hành động gì quá đáng vì sợ ảnh hưởng không hay.

Vì vậy, ở trong cung, nàng đã cố tình làm lơ và nuốt giận vào bên trong, cố gắng chịu đựng những lời nói xấu sau lưng mình, ngày này qua ngày khác.

Nhưng đỉnh điểm của sự việc là khi Quách hoàng hậu có việc nên phải thân chinh đến cung của hoàng đế.

Ngay khi vừa đặt chân tới cửa, bà đã nghe thấy tiếng nô đùa vui vẻ của chồng mình cùng với 2 mỹ nhân kia vang vọng ra từ bên trong.

Rồi nàng càng cay cú, tức giận đến không chịu được khi chính mắt thấy tai nghe được nghe hai mỹ nhân ấy đang nói xấu mình với đức vua bằng những câu chuyện thêu dệt sai sự thật, trong khi Tống Nhân Tông vẫn cứ ậm ừ khoái chí như nghe được một câu chuyện vui.

Tức giận và căm hận, hoàng hậu Quách thị đã lập tức hùng hổ đẩy cửa xông vào, bước thẳng tới phía hai cô mỹ nữ để bắt quả tang tại trận kẻ đang nói xấu sau lưng mình, hòng cho hai ả mỗi người một bạt tai.

Nhưng khi thấy vợ giận dữ như thế, hai mỹ nhân kia lại lo sợ trốn phía sau lưng mình thì Tống Nhân Tông "nổi máu" anh hùng, đứng ra che chắn bảo vệ hai mỹ nữ vợ lẽ.

Và cứ tưởng khi đích thân mình là hoàng đế, lại xả thân như thế thì cơn thịnh nộ của Quách hoàng hậu sẽ nguôi xuống mà nhún nhường bỏ qua, ấy thế mà chuyện xảy ra vô cùng bất ngờ.

Hành động của Hoàng đế Tống Nhân Tông đã làm cho Hoàng hậu Quách thị càng sôi máu, nàng cho rằng ông không coi mình ra gì, lại còn cả gan bao che cho hai mỹ nhân xấu tính, thế là bao nhiêu tức giận uất ức của nàng dồn vào đôi tay.

Hoàng hậu Quách thị dùng hết sức bình sinh tát hoàng đế Tống Nhân Tông một phát trời giáng.

Ông bị vợ tát vừa bất ngờ, lại vừa xây xẩm mặt mày, đến mức bật máu, không nói nên lời.

Cú tát đó còn làm cho cả hoàng cung chao đảo dậy sóng vì có thể nói rằng đây là một màn đánh ghen có một không hai trong lịch sử.

Sau cú tát đó, hoàng hậu Quách thị bỏ về cung từ đó không thèm nhìn mặt hoàng đế Tống Nhân Tông.

Còn về phía Tống Nhân Tông, dù rất tức giận bởi hành vi khi quân phạm thượng của vợ mình đáng lẽ nặng thì phải xử tử, nhẹ là trách phạt thế nhưng ông cũng đành nhắm mắt bỏ qua vì quả thật, ông không thể nào làm phật lòng Lưu Nga thái hậu.

Tuy nhiên, sau đó thái hậu Lưu Nga qua đời, mọi quyền hành trong cung lúc này chính thức nằm trong tay của Tống Nhân Tông.

Ông liền giáng Quách thị hoàng hậu xuống trở thành Tịnh phi, giam lỏng tại Trường Ninh cung.

Cuối cùng, không lâu sau đó, vào năm 1035 Quách Tịnh phi lâm bệnh nặng, qua đời khi tròn 23 tuổi.

Dù giận vợ về cú tát năm xưa, nhưng khi Quách Tịnh phi qua đời, Tống Nhân Tông vẫn truy tặng lại cho nàng thụy hiệu Hoàng hậu thời Bắc Tống.
 
Trung Quốc Xa Xưa
SỐ PHẬN BI THẢM CỦA CUNG NỮ THỜI MINH KHI HOÀNG ĐẾ BĂNG HÀ.


Một vài hoàng đế nhà Minh nạp đến 9.000 thê thiếp, nhiều người trong số cung nữ từng bị bắt cóc khỏi gia đình và bị cấm rời khỏi "nhà tù mạ vàng" trừ khi họ được gọi đến bên long sàn.

Kể từ khi tục bó chân trở nên phổ biến ở triều đại này, người cung nữ cũng không thể chạy đi xa mà chỉ biết xuất hiện trong bộ dạng không mảnh vải che thân trước mắt nhà vua.

Hồng Vũ Đế, người sáng lập ra triều Minh được xem là một trong những vị vua có ảnh hưởng nhất đến tình cảnh thê thảm này.

Ban đầu, với thân phận là một tu sĩ đi lang thang khắp Trung Hoa, ông trở thành một trong những vị vua có quyền lực nhất châu Á.

Vào năm 1368, ông chỉ huy quân đội xâm lược Mông Cổ, những người từng cai trị Trung Hoa suốt cả thế kỷ.

Sau khi lập nên triều đại của riêng mình, ông lấy quốc hiệu là Đại Minh, trong tiếng Trung, từ này có nghĩa là rực rỡ.

Đằng sau những cánh cửa khép kín, không biết bao nhiêu tỳ thiếp bất hạnh đã bị giam chân và phải chịu đựng vô vàn uất ức.

Niềm kiêu hãnh và sự ghen tuông đã đẩy Hồng Vũ Đế đến mức kiểm soát mọi hoạt động trong cuộc sống của cung nữ.

Thậm chí, ông còn ra lệnh rằng, sau khi mình qua đời, những cung phi hầu hạ ông đều phải theo hầu ông ở thế giới bên kia hoặc được chôn sống theo ông.

Nhiều đời hoàng đế tiếp theo vẫn duy trì phong tục khủng khiếp này.

Tuy nhiên, sau đó, thật may mắn, Hoàng đế Chính Thống đã bãi bỏ tục lệ man rợ trên vào năm 1464.

Cũng từ đó, thê thiếp của các vị vua đời sau không còn phải lo sợ sẽ mất mạng khi nhà vua băng hà.

Hoàng đế Chu Đệ trở nên nổi tiếng vì đã tìm ra kinh đô thứ hai cho Trung Quốc ngoài Nam Kinh và đặt tên là Bắc Kinh (theo tên gọi ngày nay).

Ở đây, ông đã xây dựng "Tử Cấm Thành", cung điện nguy nga của triều đình Trung Hoa tại Bắc Kinh (từ năm 1420-1912).

Ông cũng đề ra nhiều cải cách về quân sự, kinh tế và giáo dục theo phong cách độc tài.

Vào năm 1421, ngay sau khi Hoàng đế Chu Đệ mở cửa Tử Cấm Thành vào ngày đầu năm mới, nhiều tin đồn cho rằng, một trong những phi tần được ông sủng ái nhất đã tự tử vì nàng từng tư thông với một thái giám trong nội cung do tình trạng bất lực của nhà vua.

Quá tức giận, vị vua này đã ra lệnh cho tất cả những người biết đến vụ việc đê tiện trên phải giữ im lặng.

Ông hạ lệnh cho phi tần kia được chết và đem 2.800 tỳ thiếp khác ra hành quyết dưới hình thức tùng xẻo man rợ.

Trong lần giết người hàng loạt này, những bé gái vô tội, dù mới chỉ 12 tuổi cũng phải chịu một kết cục bi thảm.

Mặc dù, vụ giết hại đẫm máu này không được lưu truyền trong các tài liệu sử sách chính thức nhưng đã được một tỳ thiếp của hoàng đế Chu Đệ viết lại.

Không lâu sau đó, khi hoàng đế Chu Đệ băng hà, người tỳ thiếp này cùng với 15 phi tần khác của vị vua quá cố đã bị treo cổ bằng nhiều tấm lụa trắng trước các phòng trong Tử Cấm Thành.

Vị hoàng đế thứ 10 của nhà Minh, Chính Đức lên ngai vàng vào năm 1505, cảm thấy quá chán ngán với cảnh cung phụng của đám tỳ nữ và ưa thích trải nghiệm cuộc sống của một người dân thường.

Nhà vua hay lặng lẽ cải trang ra ngoài hoàng cung vào ban đêm và thường lui tới các lầu xanh.

Tuy nhiên, việc này cũng không thể ngăn cản hoàng đế tiếp tục thu nạp thêm nhiều thê thiếp.

Điều đáng nói nằm ở chỗ, một số cung nữ không có chỗ ở tử tế và đã bị bỏ đói cho đến chết.

Người kế vị ông, hoàng đế Gia Tĩnh luôn quan tâm đến việc tìm ra một loại thuốc có thể giúp ông trường sinh bất tử và ông tin rằng, thành phần chính của thần dược này là máu của các trinh nữ.

Trong suốt triều đại của mình, ông đã ra lệnh cho hàng ngàn thiếu nữ còn trinh phải giao nộp lượng máu này cho Tử Cấm Thành.

Để đảm bảo cho sự tinh khiết của thuốc, cơ thể trinh nữ phải sạch sẽ và họ chỉ được ăn dâu và uống sương.

Nhiều thiếu nữ đã chết vì đói khi bị ép thực hiện chế độ ăn này.

Vào năm 1542, một nhóm nữ hiệp khách đã bạo gan thực hiện mưu đồ ám sát hoàng đế Gia Tĩnh và quyết định lẻn vào cung vua đúng lúc nửa đêm.

Khi định ra tay thắt cổ hoàng đế bằng một dải băng thì hoàng đế chợt bừng tỉnh.

Ngay tức khắc, nhà vua ra lệnh trảm nhóm thích khách cùng gia đình của họ.

Mặc dù triều đại nhà Minh tồn tại trong suốt 276 năm (1368 - 1644 sau Công nguyên) luôn được ca ngợi vì đã giữ yên được non sông, gấm vóc, khiến người dân có thể an cư lạc nghiệp và là thời kỳ của những phát minh, nhưng đó là khi người ta chưa nhìn ra những câu chuyện khác của thời đại này.
 
Trung Quốc Xa Xưa
NỮ THÁI GIÁM - NHỮNG NHÂN VẬT BÍ ẨN NHẤT LỊCH SỬ TRUNG HOA.


Chúng ta đều đã quá quen thuộc với hình ảnh của những nam thái giám trong cung đình Trung Hoa xưa với nhiều chức vụ cố định như hỗ trợ hoàng tộc hay cai quản các công việc trong cung...

Thậm chí, một số vị thái giám còn có quyền lực rất riêng, có khả năng làm xáo trộn cung cấm, như An Đức Hải, Lý Liên Anh - những vị thái giám dưới thời nhà Thanh đã được sử sách và một số bộ phim khắc hoạ khá chi tiết.

Qua những ghi chép lịch sử và một số tác phẩm nghệ thuật, có thể thấy các thái giám đều chiếm một vị trí rất nổi bật trong chốn hậu cung, khiến cho nhiều người lầm tưởng ở trong cung, ngoài Vua và các hoàng tử, thái giám ra, thì chỉ còn các nữ nhân là cung phi và nô tì.

Tuy nhiên, họ không biết rằng ở chốn "tôn nghiêm, bất khả xâm phạm" ấy còn có một nhân vật khác có thân phận vừa bí ẩn lại vừa thảm khốc, đó là những nữ thái giám, hay còn được gọi là các nữ quan.

Với một quốc gia ngay từ thời cổ đại đã luôn có tư tưởng trọng nam khinh nữ, việc đưa những người phụ nữ vào cung để "tịnh thân" làm quan có lẽ là một điều ngoại lệ và khó hiểu bậc nhất lịch sử Trung Hoa.

Vậy ở trong cung họ nắm giữ chức vụ cụ thể gì, có quyền lực như thế nào và có khả năng chi phối chốn hậu cung thâm hiểm như các hoạn quan hay không?

Kỳ thực, nữ thái giám đã xuất hiện từ rất sớm trong các triều đại Trung Hoa xưa.

Sử sách nước này có ghi lại một vài nhân vật nổi tiếng như: tài nữ Ban Chiêu đời Hán, Lâm Diệu Ngọc đời Tống, Tiết Đào đời Đường và Vạn Quý Nhi đời Minh.

Thậm chí, trong quy định về chế độ quan chức đời Chu cách đây 3.000 năm đã có ghi chép về nữ quan.

Cuốn sách "Chu lễ, Thiên quan" cũng có mục "Nữ lại", trong đó ghi rõ: Nữ lại là chức lễ chủ quản vương hậu, nắm nội trị, nội chính trong cung.

Nhà Chu đặt ra 8 chức nữ quan.

Đến đời Hán có tổng cộng gần 200 nữ quan.

Khác với những cung tần, mỹ nữ được đưa vào cung nhằm mục đích duy trì nòi giống hoàng tộc, các nữ quan chẳng những "không được phép" đẹp mà đa số còn là những người phụ nữ đã đứng tuổi, sống cô đơn không lập gia đình.

Nhiệm vụ của họ rất phức tạp, mà cũng có thể nói là tạp nham.

Từ việc nắm giữ các loại vân ấn, ghi chép lại lịch trình làm việc, cho tới việc quản lý đời sống phòng the chốn hậu cung, xem xét và báo cáo tình hình thai nghén của các phi tần.

Những nữ thái giám bị ép phải "tịnh thân" với một mục đích duy nhất là đảm bảo họ không thể có thai và sinh con được nữa.

Tuy nhiên, việc "đảm bảo" này không hề đơn giản như nhiều người vẫn nghĩ là chỉ cần uống thuốc vô sinh giống trong các bộ phim mô tả về cuộc chiến tranh sủng chốn hậu cung.

Những nữ thái giám sẽ phải trải qua một quá trình "tịnh thân" đau đớn và ghê rợn hơn nhiều so với các nam thái giám.Các nữ thái giám thường chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và hầu như không nhúng tay vào các vấn đề chính sự, cũng như việc tranh giành sủng ái nơi hậu cung như các nam thái giám.

Vì vậy, họ được hoàng thượng coi là phương án tối ưu để giải quyết những sự xáo trộn chốn cung cấm.

Tuy nhiên, khi nữ thái giám nổi lòng tham, họ có thể cấu kết với các nam thái giám để tác oai tác quái và khiến cung đình dậy sóng.

Sử sách Trung Hoa cũng có ghi chép về những vụ án động trời mà kẻ chủ mưu đứng đằng sau chính là nữ thái giám được hoàng thượng hết lòng tin tưởng.

Như vụ án thời nhà Minh, có nàng công chúa sau khi lấy chồng phải vào sống trong phủ riêng được gọi là Thập Vương phủ, và nơi đây được hoàng thượng giao cho một nữ thái giám cai quản.

Nếu không có lời truyền gọi của vị nữ thái giám này thì phò mã sống bên ngoài khó lòng được vào thăm công chúa.

Vì thế, phò mã phải hối lộ cho nữ thái giám rất nhiều tiền bạc để có thể ngày đêm ở bên vợ mình.

Tuy nhiên, lòng tham của nữ thái giám ngày càng lớn, khiến cho phò mã không thể đáp ứng nổi.

Sau đó, phò mã đã bị cấm túc khỏi công chúa rồi sinh bệnh thần kinh mà chết.

Công chúa cũng vì vậy mà chịu cảnh góa bụa cả đời.

Nhưng dẫu có những biến cố được ghi chép lại về các nữ thái giám ghê gớm, việc một người đàn bà bình thường phải trải qua quá trình "tịnh thân" đầy đau đớn để trở thành người phục vụ cho hoàng cung cũng thật đáng thương.
 
Trung Quốc Xa Xưa
BÍ ẨN VỀ GƯƠNG MẶT CỦA ĐỘI QUÂN ĐẤT NUNG CỦA TẦN THỦY HOÀNG.


Tần Thủy Hoàng (259-210 TCN) là vị hoàng đế có công lao rất lớn khi khuất phục được tất cả các nước chư hầu để thống nhất thiên hạ về một mối.

Cuộc đời của Tần Vương là vô số những truyền thuyết, bí ẩn, ngay cả khi đã chết, lăng mộ của ông cũng khiến giới khoa học gặp không ít bối rối.

Vào năm 1974, người ta phát hiện hơn 8.000 chiến binh đất nung có kích thước tương đương người thật ở trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng ở thành phố Tây An, Trung Quốc.

Đây được xem là một trong những công trình khảo cổ có giá trị nhất thế kỷ 20.

Nhưng điểm đặc biệt hơn cả nằm ở chính những đội quân đất nung đó.

Có tổng cộng hơn 8.000 bức tượng song không có bất cứ khuôn mặt của binh sĩ nào là giống nhau.

Mỗi bức tượng đều có thần thái, nét mặt khác nhau.

Cuộc đời của Tần Thủy Hoàng được coi là một chuỗi những truyền thuyết, bí ẩn, ngay cả nơi an táng ông cũng cực kỳ bí mật và cũng không kém thần bí.

Có quá nhiều bí ẩn trong khi manh mối thì quá ít bởi sau khi lăng mộ hoàn thành, toàn bộ những nhân công, nô lệ, thậm chí cả các kiến trúc sư đều bị giết để bịt đầu mối, giữ bí mật tuyệt đối về thông tin địa điểm hay cách thâm nhập nơi đây.

Phải mất tới hơn 2.000 năm sau, người ta mới tìm được ra vị trí chính xác nhưng các bí ẩn vẫn cứ đánh đố giới khảo cổ.

Ngay trong lăng mộ đó các chi tiết, thiết kế, đồ mai táng, vũ khí đi kèm và đặc biệt là khuôn mặt của các chiến binh đều là những đề tài tranh luận, nghiên cứu của các nhà khoa học.

Và trong tất cả đội quân đất nung đó, không có bất kỳ một khuôn mặt nào xuất hiện hai lần, tất cả đều là duy nhất, độc nhất cho dù là bộ binh, cung thủ hay kỵ binh.Hàng ngàn năm sau, đội quân đó một lần nữa được đưa ra ánh sáng, vẫn còn vô vàn bí ẩn xung quanh chúng cùng các châu báu ngọc ngà được chôn cất cùng, tuy nhiên, riêng về nét mặt, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một số kết luận khá thú vị.

Khuôn mặt của các binh sĩ đất nung sẽ được chia thành 8 loại khác nhau tùy thuộc vào các chi tiết, góc cạnh, nét chính của họ.

Cụ thể: Mặt hình "目", "国", "用", "甲", "田" , "由", "申" và "风"

a.

Mặt chữ "目" - Mục

Đối với những chiến binh đất nung được xếp vào dạng này tuy không giống nhau hoàn toàn nhưng họ lại có điểm chung là khuôn mặt hẹp và dài với các nét nhỏ.

Lông mày mỏng và đôi môi cũng như đôi mắt mảnh mai là nét chính trên khuôn mặt "目".

b.

Mặt chữ "国" - Quốc

Đặc trưng bởi khuôn mặt này hình chữ nhật, xương gò má cao, trán rộng và má hình mặt "国" thể hiện sức khỏe và thể lực.

Đây là nét mặt điển hình của người Tần vào thời bấy giờ, và bạn có thể tìm thấy loại khuôn mặt này thường thấy ở một số vùng nông thôn hiện đại.

c.

Mặt chữ "用" - Dụng

Mặt "用" được biết đến với khuôn mặt dài, má và cằm phẳng, một số chiến binh mặt hình chữ "用" có khuôn mặt to và trán rộng, lông mày mỏng và đôi mắt mảnh mai, trông rất đẹp.

Cũng có một số chiến binh thuộc dạng này có đôi gò má ốm, miệng nhỏ, và môi mỏng.

d.

Mặt chữ "甲" - Giáp

Mặt hình "甲" có khuôn mặt phía trên rộng và dưới hẹp, phần xương nhô ra và cằm nhọn nhỏ, giống như hình dáng hạt dưa, đây cũng là một hình dáng điển hình của người Tần xưa.

e.

Mặt chữ "田" - Điền

Đây là một khuôn mặt tròn với trán nhô ra, đầu mũi và xương gò má trong khi phần mũi, mắt và miệng bị hơi chìm hơn.

Những chiến binh được tạo ra với khuôn mặt này là tương đối dẻo dai với cơ thể mạnh mẽ.

f.

Mặt chữ "由" - Do

Những chiến binh hình mặt "由" có khuôn mặt dài, trán hẹp, má rộng và cằm lớn.

Bên cạnh đó, hình dạng khuôn mặt "由" có phần nhún nhường với đôi mắt nhỏ.

g.

Mặt chữ "申" - Thần

Khuôn hình "申" có mặt hình bầu dục với cả hai đầu hẹp, trán lõm, xương miệng rộng và cằm dài.

Hầu như tất cả các chiến binh với nụ cười '申' khuôn mặt có lông mày cong và mắt to.

h.

Mặt chữ "风" - Phong

Khuôn mặt này có cằm và hàm dưới rộng, gần giống như quả lê.

Về cơ bản, tuy được xếp thành 8 loại hình mặt chính nhưng mỗi binh sĩ đều có những sắc thái khác nhau, mỗi người một vẻ, có tượng toát lên vẻ khôn ngoan, thận trọng, có những cái lại là sự dũng cảm, can trường hay nhiều binh sĩ được tạc một cách trung thực, kiên định...

Vẫn còn rất nhiều điều bí ẩn hiện vẫn đang chờ được khám phá, những bí ẩn sâu xa khác về đội quân đất nung cũng vậy, chúng vẫn chờ được đưa ra ánh sáng trong tương lai.
 
Trung Quốc Xa Xưa
10 BÍ ẨN Ở LĂNG MỘ TẦN THỦY HOÀNG KHIẾN NGƯỜI ĐỜI SAU KHAO KHÁT GIẢI MÃ.


Trước khi chết, ông đã chỉ huy khoảng 700.000 công nhân xây dựng lăng mộ rất lớn cho mình.

Dưới đây là 10 bí mật mà chưa ai có thể lý giải được tại ngôi mộ này.

Bí ẩn thứ nhất: Thi thể của Hoàng đế Tần Thủy Hoàng vẫn còn nguyên vẹn sau hơn 2000 năm?

Năm 1970, cả thế giới đã kinh ngạc khi người ta phát hiện một thi thể phụ nữ nguyên vẹn trong Ngôi mộ Mã Vương Đôi - thời Hán tại thành phố Trường Sa, Trung Quốc.

Xương của cô vẫn được bảo quản tốt.

Đây thực sự là chuyện khá hiếm.

Về mặt công nghệ, nếu cơ thể phụ nữ thời nhà Hán được bảo vệ tốt, thì từ triều đại Tần, chỉ trước thời của phụ nữ Mã Vương Đôi 100 năm, họ cũng đã có thể làm chủ kỹ thuật ướp xác.

Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, thi thể Tần Thủy Hoàng đã bị phân hủy trên đường đi kiểm tra.

Trong những ngày nhiệt độ thời tiết tăng cao, cơ thể của ông có dấu hiệu phân rã trên đường vận chuyển, điều này khiến không ai có thể nhận diện được ông nữa khi họ vận chuyển thi thể tới Hàm Dương.

Vì vậy, có vẻ như thi hài của Hoàng đế Tần Thủy Hoàng đã không được bảo quản ở trạng thái tốt nhất.

Bí ẩn thứ 2: Liệu có thủy ngân chôn trong lăng mộ?

Thông tin về việc sử dụng thuỷ ngân để tạo ra các con sông và biển bên trong ngôi mộ của Tần Thủy Hoàng có thể được tìm thấy trong cuốn sách "Sử ký Tư Mã Thiên".

Một cuốn khác "Hán Thư" cũng có những ghi chép tương tự.

Tuy nhiên, ngôi mộ có thực sự chứa thuỷ ngân hay không vẫn luôn là điều bí ẩn.

Ngày nay, nhờ sự phát triển của khoa học và công nghệ hiện đại, các nhà khảo cổ đã có trong tay những thiết bị tân tiến hơn giúp tìm ra lời giải cho bí ẩn này.

Sau nhiều lần các chuyên gia tới đây lấy mẫu, cùng với những thử nghiệm lặp đi lặp lại, cuối cùng họ đã tìm thấy lượng thủy ngân cao bất thường trong các mẫu đất này.

Trái ngược với các mẫu đất tại các khu vực khác trong lăng mộ, người ta lại không tìm thấy thuỷ ngân ở đây.

Nhưng các nhà khoa học đã đưa ra một kết luận sơ bộ rằng, ghi chép về số lượng lớn thuỷ ngân được chôn cất trong ngôi mộ của Tần Thủy Hoàng là hoàn toàn có cơ sở và đáng tin cậy.

Bí ẩn thứ 3: Lăng mộ sâu đến mức nào?

Khảo sát của các nhà khảo cổ mới đây nhất đã chỉ ra rằng, lăng mộ ngầm của Tần Thủy Hoàng dài 260m từ Đông qua Tây và rộng 160m từ Bắc tới Nam.

Tổng diện tích là 41.600 m2.

Đây là lăng mộ lớn nhất trong triều đại Tần và Hán, kích thước của nó tương đương với 5 sân bóng đá quốc tế.

Các nhà khảo cổ sau này đã sử dụng máy khoan và chứng tỏ rằng, ngôi mộ này được thiết kế theo chiều dọc.

Tư Mã Thiên đã từng nói, chiều dài ngôi hầm mộ này còn dài hơn 3 con sông hợp lại.

Theo cuốn sách "Nghi lễ thời nhà Hán", điểm tận cùng của lăng mộ này không thể đo đếm được.

Điều đó chứng tỏ rằng, lăng mộ đã đạt tới độ sâu nhất có thể với trình độ khoa học công nghệ thời bấy giờ.

Nhưng thực sự lăng mộ sâu đến đâu vẫn chưa ai có được câu trả lời chính xác?

Bí ẩn 4: Bí ẩn về Chiến binh đất nung

Theo các hồ sơ không chính thức, Hạng Vũ - nhà vua nước Chu, người đã lật đổ đế chế nhà Tần, cuối cùng lại bỏ mạng trong tay của "Đội quân đất nung".

Ông đã bị 5 tên lính kỵ binh trừ khử bên bờ sông Ngô Giang.

Chúng là binh lính Tần từ vùng Quan Trung và đã được dùng làm nguyên mẫu cho đội Kỵ binh đất nung của Tần Thủy Hoàng.

Bí ẩn thứ 5: Liệu lăng mộ có "9 tầng địa ngục" hay không?

Từ trên cao nhìn xuống có thể thấy rõ, kim tự tháp có hình vuông, do đó, người Mỹ gọi nó là "kim tự tháp lùn".

Thật nghịch lý là hình dạng kim tự tháp ngược của gò đất dường như trùng với câu nói "9 tầng địa ngục" và điều này hoàn toàn độc đáo trên thế giới.

Tần Thủy Hoàng là một kẻ kỳ quái, bí ẩn này dường như chỉ có thể được tiết lộ bởi các khám phá khảo cổ học.

Bí ẩn thứ 6: Lăng mộ Tần Thuỷ Hoàng có bao nhiêu lối vào?

Theo "Sử ký Tư Mã Thiên", một quyển sách lịch sử vĩ đại do Tư Mã Thiên viết: Khi hoàng đế băng hà, ông được đưa vào lăng mộ.

Sau đó, cửa chính đã đóng lại và cổng bên ngoài cũng được khép lại hoàn toàn.

Tất cả thợ thủ công đều bị chôn vùi cùng hoàng đế.

"Điều này chứng tỏ rằng, lăng mộ có ba cổng: cổng bên ngoài, cổng trung tâm và một cổng bí mật.

Người ta tin rằng, cổng giữa đã được khóa tự động để ngăn chặn bất kỳ sự xâm nhập từ bên trong hay bên ngoài.

Và ba cửa được đặt trên một đường thẳng.

Bí ẩn thứ 7: Cuốn sách lịch sử nổi tiếng "Sử ký Tư Mã Thiên" nói rằng "Ngôi mộ có cả bầu trời và mặt đất."

Điều này nghĩa là gì?

Trong những năm gần đây, một biểu đồ thiên văn học và địa lý đã được phát hiện tại ngôi mộ nhà Hán tại Đại học Giao thông Tây Nam, Trung Quốc.

Phần trên của biểu đồ có mặt trời, mặt trăng và sao, biểu tượng của bầu trời, và phần dưới là núi, sông và động vật đại diện cho mặt đất.

Bằng cách suy luận, các nhà nghiên cứu tìm ra sự kết nối và nhận định, trần nhà của lăng mộ Tần Thủy Hoàng có thể đã được khảm bằng ngọc trai như các ngôi sao, sàn nhà với các ngọn núi và sông chụm thủy ngân.

Trong "vương quốc" ngầm, linh hồn của hoàng đế vẫn cai trị mọi thứ giữa trời và đất.

Bí ẩn thứ 8: Những kho báu được chôn trong lăng mộ?

Theo Sử ký Tư Mã Thiên, lăng mộ Tần Thủy Hoàng có hàng tá các chiến thuyền, đá quý cũng như các kho báu khác được chôn giấu.

Lưu Hướng, một học giả nổi tiếng trước thời Tư Mã Thiên đã nói trong đoạn văn của ông rằng, "Từ thời cổ đại đến nay, không ai có thể được chôn một cách xa hoa như Tần Thủy Hoàng."

Tất cả những mô tả này khiến chúng ta thực sự tò mò về sự giàu có mà Tần Thủy Hoàng đem chôn cùng mình.

Vào cuối những năm 80, một chiếc xe ngựa đồng lớn cùng những vật dụng tang lễ được thiết kế cẩn thận đã được phát hiện ngay bên ngoài lăng mộ.

Điều này thêm một lần nữa kích thích sự hứng thú của thế giới lên mức cao nhất.

Bí ẩn thứ 9: Quan tài của Tần Thủy Hoàng được làm bằng đồng hay bằng gỗ?

Cuốn sách lịch sử "Sử ký Tư Mã Thiên" cho thấy, một số lượng kỷ lục "đồ đồng đặt ngoài quan tài".

Do vậy, một số học giả kết luận rằng, quan tài của hoàng đế được làm bằng đồng.

Tuy nhiên, một cuốn sách lịch sử khác - "Hán Thư" cho biết: "Người xưa dùng đồng ở bên trong và phủ bởi một lớp sơn bên ngoài quan tài để trang trí.

Nhưng mặt khác, quan tài được nạm và đính trang trí bởi rất nhiều ngọc bích và ngọc lục bảo", vậy chất liệu quan tài bên trong cũng rất có thể được làm bằng gỗ (Theo phong tục từ thời xa xưa).

Bí ẩn thứ 10: Bộ phận tự động vẫn còn hoạt động tốt?

Những người cổ xưa thích chôn tài sản của họ trong mộ khi họ qua đời.

Và điều này tất nhiên đã làm cho nạn cướp ngôi mộ trở nên tràn lan.

Để phòng ngừa các cuộc xâm phạm từ bên ngoài, người xưa đã sử dụng nhiều biện pháp phòng ngừa khác nhau.

Người ta nói rằng, ngoài thủy ngân độc hại, các mũi tên kích hoạt tự động cũng được thiết lập để ngăn chặn bọn cướp.

Bất cứ ai cả gan đột nhập vào nơi an nghỉ của vị hoàng đế đều phải chịu cái chết đầy bi thương.

Tuy nhiên, tất cả các loại vũ khí chết người này đã được ẩn trong lăng mộ hơn 2000 năm qua.

Liệu chúng còn có thể hoạt động tốt cho tới nay?
 
Trung Quốc Xa Xưa
CUỘC ĐỜI CHÌM NỔI CỦA VỊ HOÀNG HẬU CUỐI CÙNG ĐỜI THANH.


Hoàng hậu Uyển Dung là vị Hoàng hậu cuối cùng của triều đại nhà Mãn Thanh.

Bà sinh ra vào ngày 13 tháng 11 năm 1906 ở Bắc Kinh, thuộc gia tộc Quách Bố La và có cha là Vinh Nguyên, một đại thần nội vụ của triều đình.

Mẫu thân của bà qua đời ngay sau khi sinh và bà được nuôi lớn bởi kế mẫu Hằng Hương, cũng chính là dì họ của bà.

Uyển Dung lớn lên trong tình yêu thương của cha và kế mẫu.

Cha bà là một quý tộc Mãn Thanh có tinh thần tự do, tân tiến.

Vì thế, dù gia đình có 2 người con trai khác là Nhuận Lương (anh trai lớn) và Nhuận Kỳ (em trai cùng cha khác mẹ) nhưng Uyển Dung vẫn được đến trường và học hành đầy đủ.

Bà theo học ở một trường do Giáo hội Cơ đốc Mỹ thành lập.

Trong suốt thời niên thiếu, bà có cơ hội học tiếng Anh, đàn piano và đặc biệt bà rất hâm mộ nhạc jazz.

Ngoài ra, bà còn được tiếp xúc với văn hóa phương Tây thông qua âm nhạc, hội họa.

Song song với đó, ở nhà, kế mẫu Hằng Hương cũng rất chú tâm dạy dỗ cho bà những phép tắc lễ nghi truyền thống Trung Hoa.

Cô bé Uyển Dung dần trưởng thành và sở hữu những tài năng, nét đẹp hiếm thấy của một cô gái được tiếp thu với hai nền văn hóa.

Đến tuổi cập kê, cộng thêm sức ảnh hưởng của cha bà nên bà trở thành một trong những "ứng cử viên" sáng giá cho vị trí Hoàng hậu, chính thê của vua Phổ Nghi lúc bấy giờ.

Năm 18 tuổi, Uyển Dung được gả cho vua Phổ Nghi.

Lúc đó, triều đình nhà Thanh đã lật đổ và hoàng gia chỉ là bù nhìn.

Tuy thế, họ vẫn được giữ danh hiệu và một số đặc quyền khác; một trong những đặc quyền đó là tổ chức lễ thành hôn trong Tử Cấm Thành.

Chính vì thế, ngày 30 tháng 11 năm 1922, Uyển Dung chính thức trở thành Hoàng hậu của nhà Thanh.

Đây hoàn toàn là một cuộc hôn nhân sắp đặt.

Phổ Nghi được giao một xấp ảnh các tú nữ để chọn ra người vừa ý nhất.

Thế nhưng vị vua trẻ đã gặp không ít khó khăn khi chọn lựa vì chất lượng ảnh thời đó còn rất tệ.

Lúc đầu ông lựa chọn bức ảnh của Văn Tú để lập hậu; tuy nhiên lúc đó Văn Tú mới chỉ 12 tuổi nên những người có quyền lực trong cung là Thuần Thân vương Tải Phong, Kính Ý Hoàng Quý phi, Vinh Huệ Hoàng Quý phi và Đoan Khang Hoàng Thái phi đều phản đối.

Thay vào đó, họ gợi ý cho nhà vua trẻ lựa chọn Uyển Dung - cô gái vừa lớn tuổi hơn, chín chắn và có gia thế phù hợp với hai người mẹ là cách cách còn cha là một đại thần quyền cao chức trọng trong triều.

Để chuẩn bị cho hôn lễ hoàng gia, Uyển Dung phải vào cung và học rất nhiều phép tắc.

Những bài học đó đã khắc nghiệt và khó khăn tới mức khiến cô gái trẻ nhiều lần bật khóc.

Và có vẻ như sự sầu bi này là dấu hiệu báo trước cho những giông tố sắp sửa ập xuống cuộc đời của vị Hoàng hậu tương lai.

Đại hôn của Uyển Dung và Phổ Nghi diễn ra vào ngày 30 tháng 11 năm 1922; tuy nhiên không giống như những vị hoàng hậu khác được rước vào Tử Cấm Thành qua cổng chính Đại Thanh Môn, Uyển Dung phải đi qua cổng phụ là cổng Đông Hoa, chứng tỏ hoàng hậu trong thời điểm này không còn giữ được sự tôn nghiêm như trước kia nữa.

Dù danh vọng và uy tín suy giảm, Uyển Dung vẫn phải chu toàn và tuân thủ theo các lễ nghi cung đình, nếp sống hoàng tộc trong Tử Cấm Thành.

Ngoài những lúc được nhà vua triệu hạnh thì Uyển Dung thường đọc sách, tiểu thuyết, luyện đàn piano và tiếp đón những vị khách trong gia đình.

Trong một số ghi chép, Uyển Dung trong thời gian này có dấu hiệu của bệnh tâm thần và phải được chữa trị bằng thuốc phiện.

Do đó, Phổ Nghi đã cho phép bà sử dụng thuốc phiện và dần dần bà trở nên nghiện ngập, nhất là hút tobaco - một loại thuốc lá nặng.

Năm 1924, Phùng Ngọc Tường gây sức ép và bắt Phổ Nghi cùng Uyển Dung dọn ra khỏi Tử Cấm Thành.

Thế là họ chuyển đến sống ở Thiên Tân, trong một ngôi làng nhỏ và chịu sự quản lý của quân Nhật.

Ở đây, bà được Phổ Nghi đặt tên tiếng anh là Elizabeth nhằm tương xứng với tên tiếng anh Henry của Phổ Nghi.

Đến năm 1930, Phổ Nghi trở thành hoàng đế bù nhìn do quân Nhật dựng lên và từ đây, cuộc sống của họ bị kiểm soát vô cùng gắt gao.

Có thể thấy, cuộc đời của Uyển Dung phải chịu rất nhiều tác động của các thế lực chính trị thời đó.

Đời tư của bà cũng không được suôn sẻ là bao.

Người chồng chính thức, Phổ Nghi hoàng đế không thể thực hiện những "nghĩa vụ" bình thường của một người đàn ông; do đó luôn tỏ ra rất hờ hững và lạnh lùng với hoàng hậu.

Ngoài ra, trong thời gian làm hoàng đế bù nhìn, Phổ Nghi cũng rất nhiều lần đi công tác xa, bỏ lại Uyển Dung một mình.

Có lẽ do quá cô đơn, bà đã ngoại tình với hai phụ tá của Phổ Nghi là Lý Thể Ngọc và Kỳ Kế Trung; thậm chí còn có một đứa con ngoài giá thú.

Chuyện này bị người Nhật phát giác và khiến Phổ Nghi bị khiển trách một cách nặng nề.

Do quá tức giận, Phổ Nghi đã ném đứa trẻ mới sinh vào lò lửa và sau đó thì nói dối Uyển Dung rằng, ngài đã giao đứa bé cho một cặp đôi khác nuôi nấng.

Sau khi biết sự thật về những gì xảy ra với con mình, Uyển Dung trở nên điên loạn.

Bệnh tình của bà ngày một nghiêm trọng và sa vào con đường nghiện ngập.

Bà thường xuyên nói sảng và xa lánh với mọi người.

Trong thời gian những năm 1945, sức khỏe của Uyển Dung kém đi rất nhiều do những cơn đói thuốc hành hạ.

Bà liên tục bị ảo giác và thỉnh thoảng bị các tên lính canh đánh đập.

Cuối cùng, vào ngày 20 tháng 6 năm 1946, hoàng hậu Uyển Dung qua đời do suy dinh dưỡng và thiếu thuốc phiện.

Người ta nói rằng, thi thể của bà được chôn cất trong một ngôi mộ tập thể; tuy nhiên điều này chưa từng được kiểm chứng và đến nay vẫn không ai biết rõ nơi an nghỉ chính xác của vị hoàng hậu xấu số này.

Về phần Phổ Nghi, sau khi nghe tin Uyển Dung qua đời, ông chẳng hề có một chút thương xót.

Trong cuốn hồi ký của mình, ông đã viết, "Tôi nghe nói bà ấy đã chết trong trại giam và cũng chẳng rõ là nguyên nhân gì.

Tuy nhiên, cũng không phải thương tiếc một người đã không biết thương yêu và coi trọng bản thân như người phụ nữ đó.

Bà ấy chỉ là một kẻ nghiện ngập mà thôi".
 
Trung Quốc Xa Xưa
NGÃ RẼ CỦA MỸ NHÂN CHỐN HẬU CUNG SAU KHI HOÀNG ĐẾ QUA ĐỜI.


Được vào cung có lẽ là ước mơ của biết bao nhiêu bậc nữ nhân ở thời phong kiến với chế độ quân chủ, đặc biệt là vùng đất Trung Hoa.

Ấy vậy mà người xưa có câu "đường vào cung sâu tựa biển", điều này quả thật chẳng sai chút nào, bước vào cung, tuy rằng các nữ nhân ấy sẽ có một cuộc đời sung túc, lầu son gác tía, sống trong nhung lụa, thậm chí là có cơ hội lọt vào mắt xanh của hoàng đế, được phong tước, phong vị, hay leo lên được tới vị trí mẫu nghi thiên hạ.

Nhưng liệu có ai biết được rằng, vào cung cũng gần giống như bước vào chốn lao tù muôn đời với bản án chung thân gần như là treo lơ lửng trên đầu, chưa kể để có được một cuộc sống phú quý giàu sang, địa vị uy quyền họ cũng phải đánh đổi bằng những cuộc thanh trừng đẫm máu xoay quanh hai chữ "tranh sủng", thậm chí có người còn đánh đổi bằng cả mạng sống của mình.

Sau đó thì sao, nếu hoàng đế băng hà, liệu có bậc nữ nhân nào lường được thân phận mình sẽ trôi về đâu hay không?

Hoặc chết hoặc buộc phải đi tu hoặc sống cả phần đời còn lại trong những biệt cung lạnh lẽo hoặc tiếp tục sống như một bà hoàng được tân đế yêu thương...

Người ta hay nói, vị trí hoàng hậu là vị trí cao nhất trong hậu cung Trung Hoa, cai quản tam cung lục viện và có quyền lực gần như là tuyệt đối chỉ sau vua.

Ấy vậy mà chắc nhiều người vẫn chưa biết, dù hoàng hậu, hay hoàng đế thì cũng phải kiêng dè với những ai nắm giữ vị trí Hoàng Thái hậu.

Thậm chí, trong lịch sử Trung Hoa phong kiến, thì cũng không hiếm thấy những trường hợp tân đế còn nhỏ, không đủ sức quản việc nước thì chính Thái hậu sẽ là người buông rèm nhiếp chính, có quyền lực vượt qua cả các đấng quân vương, chẳng hạn như Lữ Trĩ (Hoàng hậu của Hán Cao Tổ Lưu Bang), Lý Trang (mẹ ruột Hoàng đế Thuận Trị thời Thanh) hay Từ Hy Thái hậu cuối thời Thanh...

Tuy nhiên, muốn có được vị trí này cũng không phải dễ, duy chỉ có hoàng hậu của tiên đế mới được ngồi vào, hay mẹ ruột của tân đế.

Còn những phi tần của hoàng đế cũ có địa vị thấp hơn thì dù có nằm mơ cũng không bao giờ có được.

Đây cũng là điều mà nhiều phi tần mong ước sau khi hoàng đế qua đời, vậy mà cũng không phải chuyện dễ.

Đặc ân này chỉ dành cho những phi tần sinh được con trai cho hoàng đế, nhưng người con đó không được kế vị như Thái tử nên được hoàng đế phong vương và cấp đất cho ra ngoài lập vương phủ riêng cho mình.

Vì vậy, nếu hoàng đế có băng hà thì mẹ đẻ của những vị thân vương này sẽ được rước ra ngoài phủ của con trai mà sống hết phần đời còn lại, có kẻ hầu người hạ.

Như trường hợp của Bạc Cơ - phi tử của Hán Cao Tổ thời nhà Hán.

Trước khi Hán Cao Tổ qua đời, vì con trai của Bạc Cơ đã được cấp đất và phong vương nên sau khi Hán Cao Tổ quy tiên, thì Bạc Cơ được phép ra ngoài sống với con trai mình và có được địa vị nhất định.

Đặc ân này, tuy cũng chỉ dành cho một số phi tần có thứ bậc cao trong thời nhà Tống và nhà Đường và một số phi tần thứ bậc thấp vào thời nhà Hán nhưng suy xét mà nói, họ cũng sẽ sống trong lầm lũi cô đơn đến cuối phần đời còn lại.

Điều này quả thật buồn thảm, nhất là khi một số phi tần tuổi đời còn rất trẻ, thanh xuân phơi phới mà sẽ bị khóa xuân như một con chim trong lồng hay như một nữ tù nhân với bản án chung thân.

Như thời nhà Thanh, các phi tần được chuyển đến ở biệt cung sau khi hoàng đế mất.

Góc tây bắc của Tử Cấm Thành là nơi chuyên dành cho các phi tần của các đời hoàng đế trước bao gồm Từ Ninh Cung, Thọ Khang Cung, Thọ An Cung, Anh Hoa Điện, Từ Ninh Hoa Viên.

Thông thường hoàng đế mới sẽ phong hiệu và nuôi dưỡng những phi tần của tiên đế đến cuối đời.

Một số khác sau khi hoàng đế băng hà thì trở thành phi tần của tân đế, và đây cũng là một ngã rẽ đau thương cho những phi tần của tiên đế, nhất là những phi tần còn trẻ đẹp và đã một đôi lần hầu hạ gối chăn cho hoàng đế cũ nay lại trở thành phi tần phục vụ cho hoàng đế mới cũng là con trai của chính tiên đế.

Việc "cha con chung vợ" này từng nhiều lần bị lên án trong triều đình phong kiến Trung Quốc vì nó đụng vào một số giới hạn về đạo đức cũng như là trái với luân thường đạo lý muôn đời của con người.

Đơn cử là trường hợp Tùy Dương Đế Dương Quảng từng nạp hai người vợ của cha mình làm phi và sủng ái hết mực.

Hay chính Võ Tắc Thiên – nữ hoàng đế duy nhất của Trung Quốc từng là phi tần của Đường Thái Tông Lý Thế Dân, sau trở thành hoàng hậu của Đường Cao Tông Lý Trị.

Nhưng cũng có một số phi tần của hoàng đế cũ, địa vị thấp hèn, chưa từng được sủng hạnh hay biết mặt hoàng đế cũ, thì sau khi hoàng đế qua đời liền trở thành sủng phi của tân đế, điều này lại trở thành một cơ hội "đổi đời" hiếm có khó tìm của họ.

Luật lệ phi tần xuất gia làm ni cô sau khi hoàng đế qua đời xảy ra ở thời nhà Đường vì ở giai đoạn này, Phật giáo rất phát triển và đa số người dân, quý tộc, quan lại đều sùng đạo Phật trong đó có cả vua chúa và người trong cung.

Vì thế, khi hoàng đế băng hà thì các phi tần có địa vị thấp, chưa sinh được con cho tiên đế sẽ xuống tóc đi tu, bởi nhiều người tin rằng, những phi tần sau khi xuất gia có thể ngày đêm cầu phúc cho tiên đế ở thế giới bên kia.

Chính Võ Tắc Thiên khi còn là "Tài Nhân" (một tước vị phi tần nhỏ) của Đường Thái Tông Lý Thế Dân đã phải lên chùa, xuống tóc làm ni cô sau khi vị hoàng đế này qua đời.

Nếu không có mối nhân duyên với Lý Trị, có lẽ bà đã sống cô quạnh cả đời, làm bạn với khói hương và tiếng tụng kinh gõ mõ.

Đau tương hơn là tuẫn táng theo hoàng đế.

Đây có lẽ là ngã rẽ đau thương và độc ác nhất đối với các bậc nữ nhân trong hoàng cung cấm Trung Hoa xưa và nó chỉ dành cho những phi tần có địa vị thấp, không sinh được con cho hoàng đế hay những phi tần chưa được hoàng đế sủng hạnh lần nào, cũng có người vào cung chưa bao lâu thì phải lãnh án tử.

Vì một số quan niệm khi đó cho rằng, nếu chết theo hoàng đế thì họ có thể sẽ được sang thế giới bên kia mà tiếp tục hầu hạ ngài.

Như Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương sau khi chết có tới 40 phi tần chôn theo ông, thời Minh Thành Tổ thì 30 cung phi phải bỏ mạng.

Hay tại các triều đại trước thời Tần Hán, phong tục này ngày càng phổ biến và thịnh hành.

Phương thức tuẫn táng chủ yếu của các cung phi là tự treo cổ, tuyệt thực, nhưng những điều này ít thấy ghi chép trong chính sử Trung Quốc.

Tuy vậy, trong cuốn "Lý triều thực lục" của Triều Tiên đã ghi chép tỉ mỉ toàn bộ quá trình "tự sát" tập thể của các phi tần tuẫn táng theo Minh Thành Tổ.Ngày Mậu Ngọ, tháng 10 năm Minh Vĩnh Lạc thứ hai mươi hai, hơn ba mươi phi tần được lựa chọn để tuẫn táng dùng cơm tại ngoài điện, sau đó được đưa vào trong điện, lúc này "tiếng khóc của các cung nữ rung cả cung điện".

Trong điện đặt hơn ba mươi chiếc "giường gỗ nhỏ", những phi tần bị buộc đi vào cõi chết đó được lệnh đứng lên giường gỗ, trên đỉnh đầu họ là những sợi dây thừng để tự treo cổ đã chuẩn bị sẵn, "chui đầu vào cái vòng, đạp đổ giường, rồi nghẹt thở mà chết".
 
Trung Quốc Xa Xưa
HOÀNG HẬU XẤU XÍ VÀ HOANG DÂM NHẤT LỊCH SỬ TRUNG HOA.


Giả Nam Phong (257-300) là dưới triều Tấn Huệ Đế trong lịch sử Trung Quốc.

Cha của Giả Nam Phong là Giả Sung, vị công thần có công khai quốc nhà Tây Tấn, giúp cha con Tư Mã Chiêu và Tư Mã Viêm lật đổ nhà Tào Ngụy.

Giả Sung không có con trai, chỉ sinh được bà và một người em gái là Giả Ngọ.

Năm 271, Vũ Đế tính chuyện kén con dâu.

Ban đầu, Vũ Đế định chọn con gái đại thần Vệ Quán cho người con lớn nhất là Tư Mã Trung, nhưng sau đó lại nghe hoàng hậu Dương Diễm khuyên nên lấy con gái Giả Sung.

Lúc đó thái tử Tư Mã Trung lên 13 tuổi, Vũ Đế sai người đến hỏi con gái nhỏ của Giả Sung là Giả Ngọ, khi đó mới 12.

Tuy nhiên vì Giả Ngọ thân hình quá nhỏ bé, nên không mặc vừa áo cưới.

Vì vậy Vũ Đế bèn để cô con gái lớn là Giả Nam Phong, 15 tuổi làm thái tử phi.

Theo sử sách mô tả, Giả Nam Phong xứng đáng nhận danh hiệu "Hoàng hậu xấu nhất lịch sử Trung Hoa".

Bà có dáng người thấp, ngũ quan không cân đối, da đen sạm, răng hô, chân tay thô cứng, dáng người cục mịch.

Không những thế lưng còn gù, khuôn mặt dữ tợn, tính khí hung hăng.

Giả hậu nổi tiếng là một người hoang dâm và độc ác.

Không một đêm nào bà ta ngủ mà thiếu đàn ông.

Để thỏa mãn nhu cầu, Giả hậu sai người ra ngoài cung, tìm kiếm đàn ông cường tráng để phục vụ bà ta.

Thế nhưng, chuyện này không lần nào bị bại lộ, bởi vì mỗi lần "dùng xong", bà đều giết chết bạn tình để diệt khẩu.

Duy chỉ có một nam nhân, có tên Lạc Nam, được Giả hậu coi như "vật báu" nhờ sở hữu diện mạo cuốn hút cùng "kỹ thuật phòng the" siêu đẳng.

Hắn thường được Giả hậu ban tặng rất nhiều vàng bạc châu báu.

Chính điều này khiến các quan lại trong triều sinh nghi.

Một đêm nọ, quan lính canh chừng lúc hắn đem của quý từ trong cung ra ngoài, liền lập tức bắt giữ với tội danh "ăn trộm châu báu".

Hết lời chối cãi, hắn buộc phải khai ra Giả hậu.

Chuyện này sau đó còn lan rộng khắp kinh thành.

Tuy vậy, với thế lực trong tay, Giả hậu đã bắt và xử trảm vị quan xử tội Lạc Nam.

Còn tên dẻo miệng Lạc Nam vẫn ung dung sống để chiều lòng Hoàng hậu.

Trước khi cưới Giả Nam Phong, Tư Mã Trung được vua cha ban cho Tài nhân Tạ Cửu.

Giả Nam Phong chỉ sinh được 4 công chúa, còn Tài nhân Tạ Cửu lại sinh được người con trai là thái tử Tư Mã Duật, nên bà ta đem lòng ghen ghét, đố kỵ.

Tháng 12/299, Giả hậu bày cách hại thái tử, sai người dụ thái tử uống rượu say, rồi lừa viết bức thư phản nghịch.

Thái tử Duật vì quá say, mơ hồ không hiểu chuyện gì, nên cứ thế chép lại nội dung do Giả hậu soạn sẵn.

Giả hậu mang thư cho Huệ Đế xem.

Tấn Huệ Đế vốn là ông vua đần độn, nên nghe theo Giả hậu, phế Tư Mã Duật làm thứ dân, sai mang ra thành Kim Dung an trí, bất chấp những lời can ngăn của cận thần.

Mẹ thái tử là Tạ phi cũng bị tống giam và tra tấn tới chết.

Trước hoàn cảnh này, các đại thần Sĩ Ỷ và Tư Mã Nhã muốn phục ngôi thái tử, bèn nhờ cậy Triệu vương Tư Mã Luân giúp đỡ.

Tư Mã Luân so với Tấn Huệ Đế là thuộc hàng ông, mà so với Tư Mã Duật là đến hàng cụ.

Tư Mã Luân muốn có cớ đánh Giả hậu, lại sợ thái tử là người thông minh, sau khi được phục ngôi thì khó chế ngự, nên nghe theo lời mưu sĩ Tôn Tú, phao tin rằng triều thần muốn phục ngôi thái tử để phế Giả hậu.

Giả hậu sợ hãi, bèn sai người hạ sát thái tử Duật ở nơi giam cầm.

Tháng 4/300, Tư Mã Luân nghe tin thái tử bị giết, bèn lấy cớ báo thù, hợp quân với Tề vương Tư Mã Quýnh đem quân vào triều tiêu diệt các thế lực của Giả hậu, rồi xông thẳng vào cung bắt sống ả, giam ở thành Kim Dung.

Từ đó, loạn bát vương thời Tấn bắt đầu.

Đến tháng 9/4/300, Tư Mã Luân sai người mang rượu độc đến ép Giả hậu tự vẫn.

Năm đó bà mới 44 tuổi.

Sau khi Giả hậu qua đời, loạn bát vương vẫn tiếp diễn nhiều năm sau dẫn tới sự suy sụp của nhà Tây Tấn.

P/S: về câu chuyện hoàng hậu Giả Nam Phong, mình có trích đoạn rõ hơn trong cuốn Lịch sử Trung Quốc 5000 năm mà mình đã đăng.

Các bạn có thể tìm đọc để rõ hơn.
 
Trung Quốc Xa Xưa
TẤM BIA MỘ KHÔNG KHẮC CHỮ CỦA VÕ TẮC THIÊN.


Đến tận bây giờ, bí ẩn xung quanh lăng mộ "vô danh" không khắc bất cứ ký tự nào của Võ Tắc Thiên vẫn khiến mọi người tranh cãi.

Vậy đâu mới là lý do thực sự cho điều này?

Võ Tắc Thiên là nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Hoa.

Từ một tài nhân trong cung, bà trở thành phi tần của Đường Thái Tông Lý Thế Dân, hoàng hậu của Đường Cao Tông Lý Trị và dần dần lên đến ngôi vị hoàng đế.

Sau khi lên ngôi, mặc dù đã làm nhiều chuyện độc ác nhưng bà vẫn được coi là một vị hoàng đế dốc sức vì nước.

Lăng mộ chôn chung của Đường Cao Tông Lý Trị và Võ Tắc Thiên rộng 80 ha được đặt trên núi Lương Sơn, phía Tây Bắc thành phố Tây An.

Phía trước lăng mộ, người xưa dựng hai tấm bia đá cao khoảng 6,3 mét.

Tấm bia chếch về hướng tây là "thuật thánh bi" ca tụng Đường Cao Tông văn trị võ công.

Đích thân "cố hoàng hậu" Võ Tắc Thiên đã soạn ra văn bia để Đường Trung Tông viết lại.

Phía đầu tấm đá đó chỉ khắc 8 đầu rồng quấn vào nhau.

Hai bên thân bia khắc hai con đường, trên con đường đó khắc một con tuấn mã và một con sư tử đực thần thái uy nghiêm.

Thuật điêu khắc tinh vi như vậy quả là thật hiếm có trong lịch sử.

Tất nhiên, việc khiến người đời tranh cãi không phải nét tinh xảo của các đường nét bia mộ của một trong những vị vua đem đến nhiều sự hưng thịnh nhất trong lịch sử Trung Hoa.

Điều đáng nói ở đây là Võ Tắc Thiên đã yêu cầu dùng thụy hiệu "Hoàng hậu đời Đường" và không ghi bất cứ chữ gì trên bia mộ.

Theo nhà sử học Phạm Văn Lan, Tiến Bá Tán, quyết định không ghi tên trên bia mộ chỉ đơn giản là một hành động răn đe tích cực cho con cháu mai này của Võ Tắc Thiên.

Bản thân bà tự cho mình là người quyền cao đức trọng.

Công lao của bà không thể nào ghi hết trên một tấm bia.

Mặc dù thân nữ nhi, nhưng Võ Đế vẫn khẳng định vua Cao Tông là kẻ tầm thường, còn bà tài năng tuyệt đối hơn hẳn.

Hơn nữa, trong thời gian bà chấp chính, xã hội an bình, nhân dân an cư lạc nghiệp, hẳn đã là một chính tích to lớn khiến bất cứ ai cũng phải công nhận.

Quả thực, trong thời gian cai trị, bà đã giúp đỡ kẻ yếu, chống lại cường hào, phát triển khoa cử, khuyến khích trồng dâu nuôi tằm và đạt được thành tựu to lớn.

Trong cuốn "Giản biên lịch sử Trung Quốc", Phạm Văn Lan từng viết: "Võ Tắc Thiên là một chính trị gia vừa mạnh mẽ, vừa tháo vát.

Sau năm 660, Võ Tắc Thiên tham gia công việc triều chính, mặc dù Đường Cao Tông là một hoàng đế bù nhìn nhưng dưới sự cai trị của bà, các thế lực quan lại mục nát không hoành hành và cũng không gây ra loạn lạc vì tranh giành ngôi vị, đất nước thống nhất, thịnh vượng".

Tuy nhiên, lúc bấy giờ, rất nhiều người coi Võ đế là kẻ đi ngược lại giang sơn xã tắc nhà Đường, rằng bà là kẻ phản nghịch cướp ngôi vua.

Đối với công lao của bà, họ coi như không có.

Chính vì thế, Võ Tắc Thiên lập tấm bia trống là hàm ý những công lao to lớn của bà sẽ khiến người đời sau tự kể ra và ghi chép lại.

Một số ý kiến khác lại cho rằng, Võ Tắc Thiên biết mình có tội lớn, thay vì để hậu thế cười chê, chi bằng không chạm chữ nào lên bia.

Theo đó, sau khi Võ Tắc Thiên lập ra triều đại nhà Chu, trong lòng cảm thấy hổ thẹn bất an, bà mặc định rằng sau khi mình chết đi, giang sơn xã tắc sẽ trả về cho dân nhà Đường.

Tốt hơn hết là không xưng danh lên bia mộ.

Nắm quyền trong tay, Võ Tắc Thiên quay lại trừng phạt những người từng phản đối bà.

Có đại thần phải chọn lấy cái chết, có người may mắn hơn chỉ bị giáng chức, cách chức.

Theo Sách Tư trị thông giám, Đường Cao Tông mắc bệnh nặng nên đã giao hết việc triều chính cho Võ Tắc Thiên quản lý.

Cao Tông vốn không có chính kiến, về sau nghe lời các triều thần tố Võ Tắc Thiên lạm quyền để định phế hoàng hậu.

Nhưng vụ việc nhanh chóng đến tai Võ Tắc Thiên, khiến cho chiếu thư dù đã soạn nhưng không bao giờ được ban ra.

Năm 683, Đường Cao Tông băng hà.

Võ Tắc Thiên lần lượt đưa hai con trai của mình lên ngôi hoàng đế nhưng hai vị vua này rút cục đều không vừa lòng bà.

Võ Tắc Thiên tìm cách phế truất Trung Tông và giam lỏng Duệ Tông, để tự mình thiết triều với danh nghĩa Thái hậu.

Bên cạnh việc say mê quyền chức, những bí ẩn chưa rõ thực hư như ra tay sát hại con ruột hay thẳng tay giết hại các đại thần khiến bà không vừa ý đều khiến Võ Tắc Thiên trở thành một trong những vị nữ hoàng "tai tiếng" nhất lịch sử Trung Hoa.

Mao Trạch Đông đã từng nhận xét: "Võ Tắc Thiên không phải là người đơn giản.

Bà ấy có tầm hiểu biết rộng và rất biết cách dùng người.

Nhưng Võ Tắc Thiên cũng đã giết rất nhiều người."

Có phần tương phản hoàn toàn với các quan điểm khác về việc bia mộ không khắc chữ, một ý kiến cho rằng, Võ Tắc Thiên muốn thế hệ mai sau toàn quyền bình xét công trạng và phẩm chất của chính mình.

Theo quan điểm này, Võ Tắc Thiên rất tự hào về bản thân mình.

Không chỉ là một người thuộc hàng nữ lưu sẵn sàng tranh giành chính trị, Võ Tắc Thiên còn rất xuất sắc khi đạt tới đỉnh cao của quyền lực của xã hội phong kiến Trung Hoa.

Bà muốn người đời công bằng bình xét tài năng văn trị võ công của bà.

Ngoài ra, bà còn muốn khẳng định kết luận của người con trai thứ ba Lý Hiển về bà là không khách quan, không công bằng.

Vì vậy, Võ Tắc Thiên muốn giao hết công tội cả đời mình cho người đời sau phán xét.

Quan điểm thứ ba này so với các quan điểm khác đều rất có lý, khiến cho đến thời điểm hiện tại, vẫn chưa có gì chứng tỏ được đâu mới là chủ ý ban đầu của Võ Tắc Thiên.
 
Trung Quốc Xa Xưa
VÌ ĐÂU VÕ TẮC THIÊN TRU DI CẢ HỌ VỊ TRUNG THẦN MỘT LÒNG PHÒ TÁ BÀ?


Cách đây đúng 1300 năm trước, Diêm Thức Vi, một vị đại trung thần có công phò tá Võ Tắc Thiên lên ngôi hoàng hậu và trở thành nữ hoàng đế đầu tiên của triều đại phong kiến Trung Hoa, đã chịu cảnh tru di cả dòng họ một cách thảm khốc.

Bí mật động trời này mới được phát hiện sau khi người ta khai quật được mộ của gia đình ông ở thành phố Tây An, Trung Quốc.

Ẩn mình trong một hang động, ngôi mộ của Diêm Thức Vi chứa hài cốt của ông lẫn người vợ ông.

Trên phiến đá bia còn khắc chữ ghi chép lại cuộc đời của từng thành viên trong gia đình ông, cũng như chính sự nghiệp thăng trầm lên xuống rất đỗi trái ngang của viên tướng hết lòng phụng sự Võ Tắc Thiên này.

Sau khi Vua Đường Cao Tông băng hà vì tuổi cao sức yếu, hoàng hậu Võ Tắc Thiên với uy tài của mình đã giành lấy ngôi báu và cai trị đất nước vào năm 690 sau Công Nguyên.

Từ chỗ chỉ là một phi tần trong cung, Võ Tắc Thiên đã được phong làm Thiên hậu trước khi từng bước trở thành Nữ hoàng đế đầu tiên và cũng là duy nhất trong lịch sử phong kiến 4000 năm của Trung Quốc.

Chính nhờ bà mà nhà Chu được lập nên, tuy rằng triều đại này chỉ tồn tại vỏn vẹn 15 năm.

Những dòng chữ khắc trên tấm bia mộ hé mở một sự kiện chính trị vô cùng quan trọng.

Sau cái chết của Đường Cao Tông và ngay sau đó là Võ Tắc Thiên tuyên bố nhiếp chính cùng với con trai mình là Duệ Tông, không phải bất cứ ai cũng đều hưởng ứng và tán thành với cách sắp đặt đó.

Từ Dương Châu, Lý Kính Nghiệp tỏ thái độ không phục khi dám làm phản, chống lại triều đình còn non trẻ của Võ Tắc Thiên.

Dưới thời loạn lạc ấy, Diêm Thức Vi chỉ là một vị tướng nhỏ nhưng đã tỏ rõ ý chí không quy thuận theo phiến quân phản loạn của Lý Kính Nghiệp.

Thay vào đó, ông thề sẽ trung thành với Võ Tắc Thiên để chiến đấu bảo vệ kinh thành đến cùng.

Trên bia viết: "Ngài (ám chỉ Diêm Thức Vi) cố tình làm gãy tay để từ chối lời dụ dỗ của bè lũ phiến đảng, thể hiện ý nguyện trung thành tuyệt đối không gì lay chuyển được với triều đình".

Nhờ có công lớn đánh bại kẻ thù, Diêm Thức Vi được đề bạt thành quan huyện Lăng Khê, tỉnh Mông Sơn và được phong tước đại thần.

Tuy vậy, ông không thể ngờ rằng, đây chính là thời điểm đánh dấu quãng thời gian đen tối nhất trong cuộc đời của mình về sau.

Sau khi trở thành hoàng đế, Võ Tắc Thiên tích cực củng cố quyền lực và đại thần Diêm dần trở thành cánh tay phải đắc lực của bà trong việc triều chính.

Bất cứ mối đe dọa nào đến ngôi vương đều được vị tướng này giải quyết trong chốc lát, giúp cho nền thống trị nhà Chu được duy trì.

Trích tấm bia mộ cho biết: "Ngài là một người nghiêm khắc như sương sớm mùa thu, ấm áp như ánh nắng đông về, biết cách cảm hóa người khác, dạy họ cách tự hoàn thiện bản thân, từ đó thiết lập trật tự xã hội".

Diêm Thức Vi tiếp tục phụng sự Võ Tắc Thiên thêm 9 năm nữa, cho đến một ngày khi tai họa từ đâu bất chợt giáng xuống.

"Tuy không có chứng cứ rõ ràng nhưng người em trai của Diêm tướng quân là Diêm Trư Vi lại đem lòng tạo phản hoàng đế.

Do bị kết tội đồng lõa nên Diêm Thức Vi cũng phải chịu chung hình phạt tru di dòng họ.

Tất cả các thành viên trong gia đình họ Diêm đều bị xử chém".

Ngoại trừ người vợ của Diêm tướng quân đã qua đời vào năm 691, tất cả những người khác đều bị đem ra hành hình.

Đến khi chết, xác vị trung thần này vẫn bị chôn cất một cách vô cùng sơ sài, như thể đó là một hành vi thể hiện thái độ khinh thường, ngăn cản nghi thức an táng người chết theo đúng phong tục truyền thống.

Sau khi Võ Tắc Thiên bị phế truất bởi người con mà chính tay mình đày ải nhiều năm về trước, bà lập tức lâm bệnh và qua đời không lâu sau đó.

Lúc này nhà Chu chính thức sụp đổ và nhà Đường được khôi phục lại.

Điều này giúp cho thanh danh Diêm Thức Vi được minh oan và nghi thức an táng cho vị tướng quân này được tiến hành lại một cách trang trọng hơn, lần này ngài được chôn cất cùng với chính người vợ hiền của mình.

Khi khai quật được ngôi mộ của Diêm Thức Vi, phần lớn bộ hài cốt không còn gì sót lại, ngoại trừ những hiện vật được thu thập từ năm 2002, bao gồm một loạt những bức tượng nhỏ bằng gốm sáng bóng khắc họa những linh vật, tráng sĩ hay người gác mộ.

Ngoài ra, người ta còn tìm thấy được một mảnh gương bằng vàng, các phiến đá khắc chữ quý hiếm lẫn một chiếc mũ quan không còn lành lặn.

Những gì Võ Tắc Thiên để lại cho đất nước Trung Hoa không chỉ dừng ở việc có công thống nhất giang sơn về một mối mà còn tạo ra nhiều tranh cãi liên quan đến tính cách tàn bạo và độc đoán của người phụ nữ này.

Những vụ tru di cả dòng họ như trên diễn ra phổ biến dưới triều đại của Võ Mị Nương, một phần lý do là bởi bà muốn tiêu diệt bè phái chống đối thông qua hình phạt tử hình hay đày ải.

Ngoài ra, Võ Tắc Thiên còn gián tiếp kiểm soát nền tôn giáo trong nước, rải truyền đơn để củng cố địa vị chính trị cũng như tập hợp một đội quân nội gián riêng chuyên để trừ khử những mối nguy hại có thể làm lung lay ngai vàng của mình.

Tuy vậy, xét một cách công bằng thì rất nhiều chi tiết trong các câu chuyện về Võ Tắc Thiên chỉ là lời kể truyền miệng của dân gian.

Hiện, các nhà khoa học vẫn đang tranh luận và bàn cãi về tính xác thực của những câu chuyện này.
 
Trung Quốc Xa Xưa
NHỮNG BÍ ẨN ĐẰNG SAU LONG BÀO CỦA HOÀNG ĐẾ TRUNG HOA.


Y phục được xem là một biểu tượng đặc trưng cho từng triều đại khác nhau và hơn thế còn thể hiện vị thế của một người trong xã hội.

Điển hình như màu áo vàng phối cùng lông của cáo đen sẽ dành cho các vị quan và các thành viên của gia đình hoàng tộc.

Người dân trong xã hội phong kiến thời bấy giờ không được phép mặc hay thậm chí sở hữu những bộ y phục như vậy, dù họ được cho phép bán chúng.

Bất kì ai vi phạm những điều lệ này sẽ phải chịu hình phạt nặng, thậm chí là xử trảm.

Mặc dù người Mãn Châu từ vùng Đông Bắc tái chiếm và đóng đô ở Bắc Kinh từ tay nhà Minh vào năm 1644 nhưng nếu xét về các khía cạnh văn hoá, phong tục tập quán và lễ nghi, người Mãn Châu phải học rất nhiều từ đất nước phát triển như Trung Hoa.

Họ không những nể phục Trung Hoa bởi thể chế chính trị mà còn khâm phục bởi những lễ nghi, văn hoá, phong tục tập quán và thậm chí tôn giáo của người dân nơi đây.

Sau khi xâm chiếm, dù người Mãn Châu rất khâm phục văn hoá Trung Hoa, nhưng họ vẫn luôn tự hào về cội nguồn của chính mình.

Do đó, việc du nhập những bộ y phục là một trong những yếu tố quan trọng nhất khi người Mãn Châu chuyển đến vùng đất này.

Chúng được làm từ da động vật và có hình dạng của con thú ấy để tận dụng tối đa việc sử dụng nguyên liệu thô.

Y phục hoàng tộc của người Trung Hoa với tay áo hình móng ngựa cùng cổ áo rời và nặng được bắt nguồn từ truyền thống của người Mãn Châu.

Kể từ khi người Mãn Châu sinh sống bằng việc săn bắn ở vùng Đông Bắc, họ phải tìm cách để chống chọi với cái lạnh thấu xương ở vùng đất này.

Do đó, họ mặc những bộ y phục có tay áo dài để che hết phần tay, và cổ áo rời, nặng được dùng để tránh rét trong những chuyến đi dài.

Nhưng sau này, tay áo dài trở nên vướng víu trong cuộc sống thường nhật.

Vì thế, triều đình đã quyết định cuốn tay áo lên, và chỉ thả tay áo xuống khi giao thiệp với một người lạ nào đó.

Truyền thống này xuất phát từ hoàng tộc triều đình và dần dần trở thành nếp sống của tất cả mọi người.

Trước khi chiếc áo long bào được khoác lên long thể của hoàng đế triều Thanh, nó phải qua các công đoạn cầu kì và chỉn chu, có khi mất đến hơn hai năm rưỡi để hoàn thành.

Thậm chí, trong khuôn viên triều đình còn có một nhà may chuyên dụng để may y phục cho nhà vua nói riêng và gia đình hoàng tộc nói chung.

Kiểu mẫu và đường nếp phải nhận được sự chấp thuận của hoàng đế và các vị đại thần trong triều đình trước khi được phép hoàn thành.

Sau đó, kiểu mẫu sẽ được chuyển giao đến các thợ làm lụa.

Sau khi vải đã hoàn tất, một thợ thủ công sẽ cắt vải và sẽ chuyển đến một thợ may tiếp theo để hoàn tất phần thô của chiếc áo long bào.

Sau cùng, chiếc áo sẽ được thêu thêm nhiều hoạ tiết cầu kì.

Chỉ những loại chỉ thượng hạng mới được sử dụng để thêu long bào và thậm chí còn phải làm từ vàng thật.

Hoàng đế sẽ thuê 500 thợ thủ công và thợ thêu để khâu áo và 40 thợ khác để thêu chỉ vàng lên áo.

Các tủ quần áo hoàng gia trong thời nhà Thanh đều là những chiếc áo choàng và áo long bào.

Nhiều long bào được dùng cho những dịp lễ lớn trong triều đình, y phục đi du ngoạn, y phục vào những ngày thời tiết xấu và thậm chí những bộ y phục dùng khi ăn và ra ngoài trời.

Tuỳ vào tình hình thời tiết mà sẽ có áo lót bên trong hay không và sẽ làm bằng những chất liệu khác nhau như lụa, da thuộc hay vải sợi.

Màu sắc được chọn phải phù hợp với màu sắc hoàng gia.

Một trong những màu sắc dành riêng cho hoàng đế là vàng tươi, đỏ, xanh và xanh sáng.

Màu vàng thường được sử dụng trong các buổi lễ.

Những màu sắc còn lại được dùng trong những ngày lễ ở ba ngôi đền lớn: Long bào xanh ở Đền Cung đình, long bào đỏ ở Đền Mặt trời và long bào xanh sáng ở Đền Mặt trăng.

Với mỗi chiếc áo long bào, hoàng đế cũng sẽ đeo đai và mũ phù hợp.

Những chiếc áo long bào được dùng trong những dịp hết sức đặc biệt thường có hoạ tiết con rồng vàng.

Thông thường, hoàng đế chỉ mặc bộ y phục này vào những ngày lễ trọng đại.

Áo long bào của hoàng đế thường mang nhiều hình vẽ hoa mỹ, cầu kì và tinh tế.

Điển hình là hình ảnh con rồng tượng trưng cho sự uy hùng và mạnh mẽ.

Là một yếu tố hết sức quan trọng của Nho giáo, con rồng tượng trưng cho quyền lực của hoàng đế.

Áo long bào thường có chín con rồng, hai con ở hai vai, một ở sau lưng, một phủ lấy phần ngực áo, một phủ lấy phần tà áo, bốn con rồng còn lại sẽ nằm ở phần dưới cùng của chiếc áo long bào.

Hình ảnh con rồng không chỉ đơn thuần là vật trang trí mà còn là biểu tượng của sự thịnh vượng và may mắn đối với mọi người.

Ngoài biểu tượng con rồng, long bào của hoàng đế nhà Thanh còn có mười một biểu tượng thể hiện cho sự may mắn như Mặt trời, Mặt trăng và ngôi sao, ba thứ ánh sáng quyền năng; ngọn núi thể hiện sự bảo toàn ngôi vị hoàng đế từ bốn phương; côn trung tượng trưng cho sự tinh tường của hoàng đế; chén rượu thể hiện sự vững vàng và đạo đức; cỏ nước thể hiện sự thanh khiết; ngọn lửa thể hiện sự thành thực; phấn mễ biểu trưng của sự thịnh vượng; phủ, một loại đồ thêu có màu trắng và đen tượng trưng cho sự quyết đoán và sự dũng mãnh của hoàng đế; phất, một loại đồ thêu khác có màu đen và xanh lá cây, một hình ảnh của lòng trung thực.

Ngoài ra, một biểu tượng khác trên chiếc áo long bào là hình ảnh một con dơi đỏ - từ đồng âm của một nhân vật mang ý nghĩa là "ngập trong trận đại hồng thuỷ của sự may mắn".

Áo lót bên trong cũng có hình ảnh của đại dương và núi non, vì theo quan niệm của người Trung Hoa, hoàng đế là thiên tử, là người có quyền lớn nhất thế gian.
 
Trung Quốc Xa Xưa
SỰ THẬT VỀ VIỆC TẮM RỬA CỦA MỸ NHÂN TRUNG HOA XƯA.


Từ lâu, ngoài những bí ẩn về cuộc đời của những nữ nhân Trung Hoa cổ đại thì chuyện sinh hoạt đời thường như tắm gội của họ cũng khiến không ít người tò mò.

Có người thì cho rằng, với những bộ áo quần, phục trang được tái hiện lại trong những bộ phim cổ trang ngày nay, thì chuyện tắm gội giặt giũ của phụ nữ thời xưa quá cực khổ, cũng có người nói họ chẳng bao giờ tắm gội gì nhiều, nếu có thì cũng chỉ qua loa vì ngày đó làm gì có xà phòng hay sữa tắm như bây giờ, đó cũng chính là lý do nữ nhân cổ đại không được tinh tươm thơm tho như những gì mà ngày nay đồn thổi.

Cũng có một số người bảo, thực chất từ ngày xưa, phụ nữ Trung Hoa đã biết sử dụng những thứ thủ công xung quanh mình để phục vụ cho chuyện tắm gội, và thậm chí họ cũng chăm chỉ tắm gội cho sạch sẽ là đằng khác.Và để giải quyết cho vấn đề này, thì cùng truy tìm một số tài liệu tin cậy để làm rõ bày sự thật này nhé!

Bao lâu phụ nữ Trung Hoa tắm một lần?

Đây chắc có lẽ là câu hỏi khiến đại đa số mọi người thắc mắc khi đề cập tới cái chủ đề tắm gội này của phụ nữ Trung Hoa cổ đại.

Và có một sự thật bất ngờ rằng, họ, những nữ nhân "rườm rà" với những bộ cánh thừa vải rất thường xuyên tắm gội.

Vào đầu thời Tần, những người phụ nữ Trung Hoa thực hiện "ba ngày một lần gội, năm ngày một lần tắm", cho đến thời Hán thì thậm chí họ còn có một ngày riêng để tắm, được gọi là "hưu mộc", 5 ngày một lần, vào ngày này, giống hệt như một ngày nghỉ trong tuần, họ sẽ gác lại hết công việc mà dành phần lớn thời gian cho tắm rửa.

Đến thời Đường thì thời gian được kéo dài ra thành 10.

Có thể nói, phụ nữ xưa nói riêng và toàn thể người dân Trung Hoa cổ đại nói chung, rất coi trọng việc tắm.

Thậm chí vào thời Tây Chu thì có một luật lệ đề ra để giúp người dân coi trọng việc tắm rửa hơn đó là muốn chầu hoàng đế thì trước đó phải tắm gội 3 lần trong 1 ngày.

Tắm bằng đất sét, rửa mặt bằng bùn, gội đầu bằng nước gạo và tro của cây ngải cứu

Tắm thì muôn đời phải dùng nước, nhưng thay vì có nước máy, nước giếng như ngày nay, thì phụ nữ Trung Hoa cổ đại dùng nước ở các sông hồ, chỗ nước trong mà lấy nước tắm hoặc gội.

Chưa kể, cũng từ việc tắm rửa ở ao hồ như vậy, nên vô tình họ đã phát hiện ra loại "xà phòng" vô cùng tốt cho da đó chính là đất sét.

Họ thường dùng đất sét, chà xát lên da sau đó rửa sạch bằng nước.

Nhưng đất sét chỉ có thể làm sạch những vùng da "già" như tay chân, vì thế da mặt họ không thể dùng đất sét để rửa.

Thay vào đó, họ sử dụng bùn trong các ao hồ, ủ qua đêm để loại bỏ các chất gây hại xong sử dụng để rửa mặt.

Thậm chí họ còn dùng loại bùn ủ giàu chất "kiềm" này để giặt đồ và... gội đầu.

Một số tài liệu khác còn ghi chép, trong triều đại nhà Tần (221-206 trước Công nguyên) phụ nữ đã biết tái sử dụng nước gạo để gội đầu và rửa mặt.

Sau đó, họ còn biết sử dụng tro của một số loài thực vật, cụ thể là cây ngải cứu và cây cốt khí củ (một họ của rau răm) để làm sạch những vết dầu mỡ trên quần áo và tay chân.

Sau này cải tiến hơn, họ còn trộn những loại tro trên vào bộ vỏ sò nghiền để phục vụ cho nhu cầu cá nhân tắm giặt.

Sử dụng tuyến tụy của lợn để làm... xà phòng tắm giặt, dùng bồ kết để giữ mái tóc đen tuyền và đánh răng

Thậm chí, về sau, người Trung Hoa cổ đại còn phát minh ra loại "xà phòng" khác có tên là "tảo đậu", bằng cách lợi dụng các enzim tiêu hóa trong tuyến tụy của loài lợn để gây nên hiệu ứng bọt.

Cụ thể là họ tách mỡ hết bao tụy tạng heo, rửa sạch máu bầm, rồi nghiền nát như cháo, sau đó trộn với bột đậu cùng hương liệu, vo viên nhỏ và phơi khô.

Rồi nếu muốn tắm hoặc giặt giũ họ chỉ cần dùng một viên chà xát lên da hoặc ngâm trong nước rồi sử dụng như "xà phòng" ngày nay.

Loại tảo đậu này có công dụng rất tốt cho da, kháng khuẩn, làm sạch quần áo thậm chí là có mùi hương tự nhiên rất dễ chịu dù cho được lấy từ nội tạng lợn.

Nhưng vì làm ra không dễ nên ngày đó, giá thành của loại "xà phòng cổ đại" này hơi cao.

Đến thời nhà Đường, thời đại sản sinh ra nữ hoàng duy nhất của Trung Hoa là Võ Tắc Thiên, người ta đã sáng chế ra một cách khác để làm sạch thân thể khi tắm rửa gội đầu đó là dùng tro của bồ kết.

Họ sớm phát hiện ra rằng, bồ kết có tác dụng rất tốt cho mái tóc, lại sản sinh ra nhiều bọt khi sử dụng vì vậy vào tháng 10 hàng năm họ hay đi thu hoạch trái bồ kết khô về nghiền nát, sau đó đun chín rồi trộn với bột mì và hương liệu, vo thành từng viên rồi mang phơi khô một lần nữa, xong cứ mỗi khi tắm hay gội đầu thì mang ra sử dụng.

Có thể nói tìm ra công dụng quả bồ kết quả là một phát minh vĩ đại của phụ nữ xưa, bởi lẽ cho đến tận ngày nay, quả bồ kết vẫn là sự lựa chọn của rất nhiều phụ nữ yêu mái tóc đen mượt truyền thống!

Về sau, họ còn cải tiến tro của bồ kết để có thể dùng luôn vào việc đánh răng.

Tới thời nhà Tống thì phụ nữ sử dụng sáp ong nấu chảy, xong dùng hương liệu từ tinh dầu của các loại hoa trộn vào, đổ hỗn hợp trên vào khuôn đợi chúng đông đặc lại rồi sau đó cứ thể mà sử dụng như xà phòng ngày nay.

Cuối cùng, mọi chuyện đã phơi bày, có lẽ người Trung Hoa cổ đại đặc biệt là phụ nữ thì coi trọng việc tắm rửa giặt giũ cũng như là vệ sinh thân thể hơn nhiều người ngày nay tưởng tượng.

Tuy tần suất không phải mỗi ngày một hai lần như ngày nay, nhưng rõ ràng, họ đã luôn đẩy mạnh việc vệ sinh cá nhân đó bằng cách cải tiến cũng như là phát minh ra những loại "xà phòng cổ đại" để phục vụ cho nhu cầu sạch sẽ và đẹp đẽ của chính mình.
 
Trung Quốc Xa Xưa
VỤ ÁM SÁT MỘT TRONG NHỮNG HOÀNG ĐẾ TÀN BẠO NHẤT TRUNG HOA.


Trong lịch sử Trung Quốc, chuyện các vị hoàng đế bị ám sát không phải là điều hiếm hoi, tuy nhiên vụ việc của hoàng đế Gia Tĩnh cũng có nhiều điểm đáng chú ý.

Năm 1521, Chu Hậu Thông kế vị hoàng đế Minh Vũ Tông, trở thành hoàng đế thứ 12 của triều đại nhà Minh.

Chu Hậu Thông lấy niên hiệu là Gia Tĩnh, cầm quyền suốt 45 năm, trở thành một trong những ông vua trị vì lâu nhất ở Trung Quốc.

Vào đầu thời gian cầm quyền, hoàng đế Gia Tĩnh được xem là một nhà vua đầy tham vọng và luôn ra sức chăm lo cho đất nước.

Sau khi kế vị, ông đã chấp nhận xung đột với triều đình để ban cho cha mẹ mình (vốn không phải là vua và hoàng hậu) nghi lễ và danh hiệu phù hợp với dòng dõi hoàng gia.

Mặc dù hành động này đã chứng minh được ý chí mạnh mẽ của ông, cũng như thể hiện đức hạnh hiếu thảo nhưng đã khiến ông gặp nhiều trở ngại.

Sau khi bàn bạc, các quan thần triều đình đã chấp nhận yêu cầu của hoàng đế vào cuối năm 1521, nhưng trận hỏa hoạn xảy ra vào tháng 2 năm sau buộc vua Gia Tĩnh phải tạm hoãn việc truy tôn thụy hiệu cho gia đình ông.

Tuy nhiên, cuối cùng nhà vua đã thành công trong việc khôi phục lại vị thế hoàng gia cho gia đình mình vào năm 1524.

Điều này khiến hàng trăm quan thần phản đối quyết định ấy.

Vua Gia Tĩnh đã tống giam những người tham gia nổi loạn, thậm chí nhiều người đã bị đánh đến chết; những người khác đều bị cách chức.

Hành động của vua Gia Tĩnh đối với những người phản đối ông có thể xem là tương đối nhẹ nhàng so với một số vị hoàng đế khác của Trung Quốc, song đó chỉ là sự khởi đầu và vua Gia Tĩnh vẫn luôn được người đời nhắc đến như một vị hoàng đế tàn bạo.

Vua Gia Tĩnh vô cùng sùng bái Đạo giáo, cụ thể hơn là ông mê đắm thuật giả kim với mong muốn có được một loại thuốc trường sinh bất tử.

Khao khát này đã cho thấy bộ mặt tàn ác của hoàng đế Gia Tĩnh, và không ít ý kiến cho rằng, việc ham mê luyện đơn đã làm dấy lên kế hoạch Nhâm Dần cung biến.

Nhâm Dần cung biến diễn ra vào năm 1542 do 16 cung tần mỹ nữ của vua Gia Tĩnh lập mưu ám sát hoàng đế.

Theo một số nguồn tin, để điều chế thuốc bất tử, hoàng đế đã thu gom máu của các thiếu nữ còn trinh và sử dụng nó làm nguyên liệu tạo ra một chất được gọi là "chì đỏ".

Nhiều cô gái tuổi từ 13-14 bị giam giữ và chỉ cho ăn lá dâu, uống nước mưa.

Hoàng đế tin rằng, điều này sẽ giữ cho cơ thể họ trong sạch.

Các thiếu nữ bị đánh đập, bỏ đói và nếu bị bệnh thì họ sẽ bị đuổi khỏi hoàng cung.

Thê thiếp của ông cũng bị hành hạ dữ dội.

Vì thế, không có gì ngạc nhiên khi những người phụ nữ này cùng nhau lập mưu ám sát vị vua tàn bạo này.

16 cung nữ đã hành động vào đêm mà hoàng đế ngự ở cung của Tào Đoàn Phi, phi tần được hoàng đế thịnh sủng nhất thời bấy giờ.

Sau khi Tào Đoàn Phi và các cung nữ theo hầu rời cung, vua Gia Tĩnh ở lại một mình và đây là cơ hội tốt cho các nữ sát thủ.

Nhân lúc vua ngủ say, các cung nữ khác xông vào khống chế hoàng đế, trong khi đó cung nữ Dương Kim Anh cố dùng một dải lụa để siết cổ nhà vua.

Do lo sợ, tay chân luống cuống nên nàng ta buộc dây thòng lọng không thít.

Nhờ vậy, vua Gia Tĩnh có cơ hội thở được ra hơi và liên tục ra sức chống đỡ.

Đúng lúc này, Phương hoàng hậu cùng với các thái giám và thị nữ xuất hiện, giải cứu hoàng đế và bắt giam hung thủ.

Một trong những kẻ tham gia vụ ám sát vừa hoảng sợ vừa kể lại diễn biến sự việc cho Phương hoàng hậu.

Vua Gia Tĩnh đã bất tỉnh cho đến chiều hôm sau, vì thế Phương hoàng hậu đã tự tay xử lý toàn bộ vụ án.

Các cung nữ tham gia ám sát vua đều bị xử "lăng trì", hay còn gọi là "tùng xẻo".

Gia đình của họ cũng bị tru di tam tộc.

Tào Đoàn Phi cũng không thể tránh khỏi tội chết.

Mặc dù không dính líu gì đến âm mưu này nhưng trên thực tế, vụ ám sát đã xảy ra trong cung của Tào Đoàn Phi nên Phương hoàng Hậu đã có đủ lý do để loại bỏ một đối thủ đáng gờm trong cung.

Sau vụ ám sát, vua Gia Tĩnh đã lui về phía tây Tử Cấm Thành, sống tách biệt và ngừng cầm quyền trong hai thập kỷ tiếp theo của triều đại này.

Trong suốt quá trình trị vì của mình, vua Gia Tĩnh tuy đã mang đến một khoảng thời gian thái bình cho nhà Minh nhưng sự suy đồi và bỏ bê chính sự của ông khiến đất nước rơi vào tình trạng suy thoái.

Hoàng đế Gia Tĩnh mất năm 1567 khi mới 59 tuổi.

Theo lời kể lại của người xưa, ông trúng độc thủy ngân chứa trong liều thuốc trường sinh bất tử.

Đây chính là thứ thuốc ông đã uống trong suốt cuộc đời mình.
 
Trung Quốc Xa Xưa
KIẾP CÔ ĐƠN CỦA HOÀNG HẬU TUYỆT SẮC NHƯNG ĐẾN CHẾT VẪN LÀ TRINH NỮ.


Hiếu Huệ Trương (202 TCN - 163 TCN), hay còn gọi Bắc Cung Trương Hoàng hậu, tên thật là Trương Yên.

Bà là hoàng hậu duy nhất của Hán Huệ Đế Lưu Doanh, vị hoàng đế thứ hai của nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc.

Trương Yên vốn là con gái của Trương Ngao và Lỗ Nguyên Công chúa, tức là cháu ngoại của Hán Cao Tổ và Lã Trĩ - phụ mẫu của Lưu Doanh.

Xét về quan hệ huyết thống, Trương Yên chính là cháu gọi Hán Huệ Đế là cậu ruột.

Năm 195 TCN, Hán Cao Tổ băng hà, Hán Huệ Đế Lưu Doanh lên nối ngôi năm 16 tuổi.

Tuy nhiên, Lưu Doanh chẳng khác gì một ông vua bù nhìn bởi mọi quyền thế và việc điều hành triều đình đều nằm trong tay mẫu thân của ông là Thái hậu Lã Trĩ.

Một khi đã thâu tóm quyền lực trong tay thì dĩ nhiên Lã Trĩ sẽ bằng mọi giá giữ vững quyền lực đó.

Vì thế, bà ta đã bỏ rất nhiều công sức tìm kiếm, tuyển chọn một người vợ cho Lưu Doanh nhằm mục đích thông qua cô gái này, bà ta sẽ kiểm soát được tất cả sở tung sở tác của cậu con trai.

Lã Trĩ đã xem xét rất nhiều cô gái, tuy nhiên chưa thể tìm thấy ai vừa ý.

Người thì được bề ngoài nhưng trí tuệ thua kém, người thì sắc sảo nhưng xuất thân tầm thường, kẻ thì xinh đẹp lộng lẫy nhưng chất chứa quá nhiều dã tâm,...

Thế rồi một ngày nọ, bà ta chợt nghĩ đến cô cháu ngoại của mình, hiện đang sống ở kinh thành Trường An với cha mẹ.

Cô bé này tuy còn nhỏ tuổi nhưng xuất thân hiển hách, có cha là Triệu vương còn mẫu thân là công chúa, lại có dung mạo xinh đẹp, tính tình nho nhã, hiểu biết lễ nghĩa, được dạy dỗ tử tế.

Đó chính là cô bé Trương Yên.

Nghĩ đến đây, Lã Trĩ cảm thấy không còn ai có thể phù hợp hơn Trương Yên để ngồi vào bảo tọa Hoàng hậu và thay mình kiểm soát Hoàng đế cả.

Thế là Lã Thái hậu xếp đặt để Trương Yên làm hoàng hậu dù cho hai người đó là cậu - cháu ruột thịt.

Năm 192 TCN, khi Trương Yên mới 10 tuổi, bà trở thành hoàng hậu của Lưu Doanh, bất chấp sự phản đối của Lưu Doanh dù ông rất quý mến Trương Yên, nhưng đó là tình cảm giữa người thân với nhau.

Bản thân ông rất khó lòng chấp nhận việc cháu gái trở thành vợ của mình.

Chuyện này cũng vấp phải sự phản đối kịch liệt của phụ mẫu Trương Yên là công chúa Lỗ Nguyên và Triệu vương Trương Ngao.

Sau khi cuộc hôn nhân diễn ra, Huệ đế Lưu Doanh luôn tỏ ra bất mãn với Lã Thái hậu.

Mọi chuyện trở nên gay gắt hơn khi ông biết chính mẫu thân của mình là người dùng thủ đoạn tàn bạo, biến Thích phu nhân - tình địch của bà năm xưa, thành "người lợn".

Kể từ đó, ông bỏ bê triều chính, ngày đêm chìm đắm trong tửu sắc.

Khi Trương Yên bước sang tuổi 14, bà trở thành một thiếu nữ xinh đẹp.

Tới lúc này, Lã Thái Hậu mới bắt đầu để ý tới cuộc hôn nhân của Hán Huệ đế Lưu Doanh.

Bà phái người giám sát cặp phu thê, ép họ phải ngủ chung với nhau để hoàng hậu sớm có long thai.

Tuy nhiên, Hán Huệ đế Lưu Doanh nhất quyết không chịu làm theo ý bà, kể cả khi Lã Thái hậu tuyên bố sẽ giết hết những phi tần của ông, Lưu Doanh cũng không màng tới Trương Hoàng hậu.

Trương Hoàng hậu đành lặng lẽ, cô đơn, ôm nỗi tủi nhục, nhìn phu quân của mình vui vẻ bên những người phụ nữ khác.

Không bao lâu sau, một phi tần của Hán Huệ Đế mang thai.

Tuy nhiên, Lã Thái hậu lại cho người truyền tin người có long thai là Trương Hoàng hậu.

Khi đứa trẻ được chào đời, Lã Thái hậu đặt tên hoàng tử mới sinh là Lưu Cung, sai người đem đến nơi ở của Trương Hoàng hậu, giả là hoàng hậu vừa sinh được con trai, còn mẹ thật của Lưu Cung bị giết để diệt khẩu.

Năm 188 TCN, Hán Huệ Đế do sức khỏe suy yếu trầm trọng, ông qua đời khi mới 22 tuổi, Thái tử Lưu Cung kế vị.

Trương Hoàng hậu tuy trẻ tuổi nhưng nghiễm nhiên trở thành Thái hậu, còn Lã Trĩ lên ngôi thái hoàng thái hậu.

Thiếu Đế lớn lên, nghe nói mẹ ruột của ông bị Lã Thái hoàng thái hậu giết, còn ông không phải là con của Trương Thái hậu, bèn nói ra miệng ý định trả thù.

Biết tin, Lã Thái hoàng thái hậu lập tức giết Thiếu Đế, lập một người con khác của Huệ đế là Thường Sơn vương Lưu Nghĩa lên ngôi, tiếp tục khống chế triều đình.

Năm 180 TCN, Lã Thái hậu qua đời.

Các đại thần Trần Bình, Chu Bột làm chính biến lật đổ họ Lữ, khôi phục lại hoàng vị cho họ Lưu, lập con thứ của Cao Tổ Hoàng đế Lưu Bang là Đại vương Lưu Hằng, tức Hán Văn Đế.

Trương Thái hậu là chị dâu của Hán Văn Đế, nên lúc này không còn là Thái hậu nữa, mà trở lại làm Trương hoàng hậu, dời sang Bắc cung, bị đổi hiệu thành Hiếu Huệ hoàng hậu, tiếp tục cuộc sống cô đơn.

Tháng 3/163 TCN, Trương Hoàng hậu lặng lẽ qua đời khi mới 36 tuổi.

Tương truyền, khi tắm rửa, thay quần áo cho Trương Hoàng hậu, các cung nữ mới phát hiện ra bà vẫn còn là một trinh nữ.

Thông tin lan truyền, tất cả người dân đều thương xót cho số phận bất hạnh của bà.

Tại nhiều địa phương, nhân dân lập miếu thờ tôn vinh vị hoàng hậu mẫu nghi thiên hạ, đến cuối đời vẫn còn trinh nguyên.
 
Trung Quốc Xa Xưa
THÁI GIÁM HIẾN MỘT PHẦN CƠ THỂ CHO TỪ HY.


Nắm quyền chấp chính của Đại Thanh hơn nửa thế kỷ, Từ Hy vẫn thường được nhắc tới như một trong số những người phụ nữ quyền lực nhất lịch sử Trung Quốc.

Khi nhắc tới giai thoại về Lão Phật gia, bí mật khiến hậu thế không khỏi thắc mắc chính là lý do vì sao người phụ nữ "hét ra lửa" của triều đại Mãn Thanh ấy suốt mấy chục năm trời lại chỉ tin tưởng duy nhất một người là thái giám Lý Liên Anh.

Sử cũ ghi lại, Tây thái hậu từng nhiều lần vì hoạn quan họ Lý mà phá lệ.

Bà thậm chí đã bỏ qua pháp chế quy định thái giám không được làm quan quá tứ phẩm, trực tiếp cất nhắc Lý Liên Anh lên hàng nhị phẩm.

Trong những năm tháng cuối đời, Từ Hy vẫn gắn bó với Lý Liên Anh như hình với bóng.

Điều đáng nói là, thái giám trong hoàng cung vốn không phải ít, mà những kẻ muốn lấy lòng Lão Phật gia lại càng nhiều không đếm xuể, nhưng vì sao chỉ có mình Lý Liên Anh là được sủng ái lâu tới vậy?

Lý Liên Anh sinh năm 1848 trong một gia đình vô cùng nghèo khó.

Vì gia cảnh quá khó khăn, ông đã chấp nhận làm thái giám từ năm lên 9 tuổi, lấy tên là Lý Tiến Hỷ và đi làm thuê cho phủ đệ của một vị vương gia.

Đến năm 16 tuổi, hoạn quan họ Lý mới có cơ hội vào làm chân sai vặt trong cung Từ Hy.

Lúc bấy giờ, Từ Hy chưa phải là Thái hậu, mà thái giám được bà tín nhiệm cũng chưa đến lượt Lý Liên Anh.

Trong suốt những ngày tháng làm việc vặt ở cung Từ Hy, Lý Liên Anh phát hiện ra rằng, người phụ nữ quyền lực ấy đặc biệt coi trọng chuyện làm đẹp, nhất là việc chải đầu.

Người thái giám già được bà sủng ái lúc bấy giờ cũng "phất lên" nhờ tài nghệ chải đầu vô cùng điêu luyện.

Nắm được điểm ấy, Lý Liên Anh ngày đêm khổ luyện kỹ thuật chải tóc, mỗi ngày đều nài nỉ nhiều cung nữ tạo điều kiện cho mình có cơ hội luyện tập.

Cuối cùng, thái giám họ Lý ấy cũng đã rèn được "tuyệt kỹ" chải đầu mà không làm đứt dù chỉ một sợi tóc.

Không chỉ sở hữu kỹ nghệ chải đầu thuộc vào hàng "cao siêu", Lý Liên Anh còn biết làm nhiều kiểu tóc vô cùng đẹp mắt.

Với một người cầu kỳ như Từ Hy, tài năng này đương nhiên sẽ có "đất dụng võ".

Quả nhiên, sau một lần chỉ định Lý Liên Anh hầu hạ việc mình chải đầu, Từ Hy đã "phải lòng" tay nghề của người thái giám ấy.

Lại thêm Lý hoạn quan dung mạo tuấn tú, nói năng khéo léo, luôn miệng tung hô mấy tiếng "Lão Phật gia" khiến bà vô cùng vừa ý.

Kể từ khi có Lý Liên Anh bên mình, việc chải đầu của Từ Hy luôn được chỉ định là công việc dành riêng cho ông.

Mà mấy chữ "Lão Phật gia" do thái giám họ Lý thường tung hô năm nào cũng trở thành danh xưng được Từ Hy yêu thích suốt hàng chục năm trời.

Nhưng nếu chỉ dựa vào tài nghệ chải đầu và nói năng khéo léo, e rằng Lý Liên Anh từ sớm đã bị "đốn ngã" trong chốn hoàng cung chẳng bao giờ thiếu người mới ấy.

Sự sủng ái đặc biệt của Từ Hy dành cho Lý Liên Anh là nhờ vào một sự biến bất ngờ phát sinh trong cuộc đời của Thái hậu.

Trước khi chiến tranh Giáp Ngọ nổ ra, Từ Hy mắc một căn bệnh nghiêm trọng, trị mãi vẫn không khỏi hẳn.

Phải nói rằng, Lão Phật gia là một người phụ nữ hết sức mê tín, vì vậy bà liền phái người tìm khắp bốn phương những phương thuốc bí truyền để chữa bệnh.

Trong số những phương thuốc dân gian được truyền đến tai Thái hậu, có một bài thuốc "kinh dị" ghi rằng ăn thịt đùi của người có quan hệ thân cận nhất với mình thì bệnh ắt sẽ khỏi.

Từ Hy nghe vậy, liền truyền gọi con trai là Hoàng đế Quang Tự tới cung của mình, mập mờ đem chuyện này đề cập với nhà vua.

Thế nhưng vua Quang Tự nghe xong liền "giả bộ hồ đồ" mà không làm.

Nào ngờ Lý Liên Anh vừa nghe được chuyện này, không chút do dự cắt thịt trên đùi của mình để dâng tặng Thái hậu.

Sau đó một thời gian, bệnh của Từ Hy cuối cùng cũng khỏi.

Không ai dám chắc được rằng, bệnh tình của Thái hậu chuyển biến tốt có phải nhờ vào thang thuốc dùng "thịt đùi" của Lý Liên Anh hay không.

Nhưng phàm là người trong cung lúc ấy đều thấy rõ, kể từ sau sự việc này, Từ Hy càng thêm cưng chiều vị thái giám họ Lý, mà sự nghiệp của Lý Liên Anh cũng "phất lên như diều gặp gió".

Bàn luận về giai thoại chốn hậu cung ấy, có người cho rằng Lý Liên Anh hiến thịt cho Thái hậu cũng không phải là việc gì đáng ngợi ca.

Bởi thân phận thái giám đã cướp đi những thứ quý giá nhất của người đàn ông, thì việc mất thêm một miếng thịt cũng nào phải chuyện gì to tát.

Lại có người bình thản đánh giá rằng, Lý Liên Anh từng ở bên cạnh Từ Hy tới hơn 50 năm, bản thân ông là người hiểu rõ tính khí của vị Thái hậu ấy nhất, nên hành động của ông cũng không phải là điều quá bất ngờ.

Nhưng dù hậu thế có nhìn nhận theo cách nào, thì cũng không ai có thể phủ nhận được sự thật rằng Lý Liên Anh là hoạn quan được Từ Hy sủng ái nhất trong cuộc đời nắm quyền của bà.

Đến trước lúc qua đời, Từ Hy vẫn không quên dặn dò Long Dụ Thái hậu phải "chiếu cố" cho vị hoạn quan họ Lý ấy.

Thậm chí tới tận lúc Thái hậu lâm chung, việc rửa mặt, chải đầu cho Từ Hy vẫn do Lý Liên Anh đích thân đảm nhiệm.

Ngay cả quan tài chất đầy kho báu của bà cũng do thái giám họ Lý lựa chọn từng bảo bối và tận tay đặt vào.

Từ đó có thể thấy, sự sủng ái của Từ Hy dành cho Lý Liên Anh từ sớm đã vượt qua ràng buộc của mối quan hệ chủ tử - nô tài thời phong kiến mà giống như tình cảm của những người tri kỷ hiếm có dành cho nhau ở chốn hậu cung.

Đây cũng là lý do mà những câu chuyện về sự yêu mến của Tây thái hậu dành cho hoạn quan thân tín của mình vẫn là đề tài được hậu thế đàm luận trong những lúc trà dư tửu hậu...
 
Trung Quốc Xa Xưa
HOÀNG THÁI HẬU VÀ HOÀNG HẬU TỪ BỎ DANH HIỆU LÀM KỸ NỮ CHỐN LẦU XANH.


Hồ hoàng Hậu là hoàng hậu của Bắc Tề Vũ Thành Đế trong lịch sử Trung Quốc .

Bắc Tề thư và Bắc sử không ghi rõ tên thật của Hồ hoàng hậu, chỉ biết được nguyên quán của bà ở quận An Định , tỉnh Cam Túc.

Cha bà là Hồ Diên Chi, mẹ là Lư thị, quê ở quận Phạm Dương.

Lúc Lư thị có mang, có người đạo sĩ đến cầm theo một chiếc hồ lô, tặng bà và bảo ở phía trong đó có mặt trăng.

Sau đó Lư thị sinh ra bà.

Những năm đầu tiên thời Văn Tuyên Đế nhà Bắc Tề, nhờ sắc đẹp vượt trội, Hồ thị được gả cho Trường Quảng quận vương Bắc Tề là Cao Trạm và trở thành Trường Quảng vương phi.

Năm 556 , bà sinh ra vương tử Cao Vỹ , tức Hậu Chủ nhà Bắc Tề sau này và sau đó sinh ra người con trai thứ hai là Cao Nghiễm.

Năm 560, Cao Diễn – anh trai Cao Trạm phát động chính biến, lên làm Hoàng Đế.

Nhưng chỉ được một năm, Cao Diễn bệnh nặng qua đời.

Năm 561, Cao Trạm giành được ngôi báu, Hồ thị được phong làm Hoàng hậu, con trai Cao Vỹ được phong làm Hoàng tử.

Tuy mang chức danh hoàng hậu nhưng Hồ Thị lại không được hoàng đế quan tâm vì người mà ông sủng ái là một quý phí tên Lý Tổ Nga.

Võ Thành Đế thường ngủ qua đêm trong cung của vị quý phi kia, để Hồ thị cô đơn một mình.

Thấy chồng suốt ngày quấn quýt bên Lý Tổ Nga trong cung Chiêu Tín, Hồ hoàng hậu cũng quyết chẳng chịu cảnh lạnh lẽo "chăn đơn gối chiếc".

Hồ thị tìm đến Hòa Sỹ Khai, vị đại thần thân cận nhất của Vũ Thành Đế, để cùng nhau gian díu.

Vì muốn củng cố địa vị trong triều nên Hoà Sỹ Khai cũng rất vui lòng được kết thân với hoàng hậu.

Là kẻ đầy dã tâm nên sau khi có được Hồ hoàng hậu làm chỗ dựa, Hòa Sỹ Khai không cam chịu phận "thân cận" nữa.

Ông ta liền khuyên Võ Thành Đế truyền ngôi cho con trai của Hồ thị là Thái tử Cao Vỹ rồi làm một Thái thượng hoàng để hưởng lạc.

Võ Thành Đế nghe theo và truyền ngôi cho con trai Cao Vỹ khi ấy mới 8 tuổi lên làm Bắc Tề Hậu Chủ.

3 năm sau thì Thái thượng hoàng Vũ Thành chết ở tuổi 33 do tửu sắc quá độ.

Cao Vỹ sau đó chính thức tôn phong Hồ thị là Hoàng Thái hậu.

Hồ thị và Hoà Sỹ Khai không còn gặp trở ngại gì nữa nên càng thỏa sức hoang dâm vô độ, không coi ai ra gì.

Trong triều, ngoài triều ai cũng đều biết chuyện.

Đắc tội với nhiều người nên không lâu sau Hồ Sỹ Khai vì bị ám sát mà bỏ mạng.

Sau khi Hòa Sỹ Khai bị giết, không chịu nổi cảnh lẻ bóng, Hồ thị lại có quan hệ bất chính với hoà thượng Vân Hiến ở ngôi chùa mà bà ta thường lui đến.

Hồ thị lấy cớ "giảng kinh" để đón Vân Hiến vào trong nội cung.

Một hôm Cao Vỹ vào cung định thỉnh an mẹ, phát hiện thấy cung Thái hậu có hai ni cô xinh đẹp, mặt mày thanh tú, sinh lòng ái mộ bèn lập tức xuống chiếu triệu hai ni cô vào cung để hầu hạ.

Đến tận khi định "ngự hạnh" Cao Vỹ mới bàng hoàng phát hiện ra 2 ni cô này thực chất là hai hòa thượng trẻ bị Hồ thái hậu bắt giả trang vào cung để hầu hạ chăn gối cho mình.

Cao Vỹ tức giận ra lệnh tra xét lai lịch hai ni cô giả, kết quả phát hiện ra cả sự có mặt của hoà thượng Vân Hiến.

Mọi việc sáng tỏ, Cao Vỹ ra lệnh chém đầu Vân Hiến và hai đệ tử, bắt Hồ Thái hậu chuyển vào Bắc Cung giam lỏng, ra lệnh những người hầu kẻ hạ không ai được lui tới chỗ Thái hậu.

Cao Vỹ còn truy xét giết nốt những người từng gian díu với mẹ mình.

Năm 577, nhà Bắc Chu tiêu diệt Bắc Tề, Cao thị hoàng tộc bị thanh trừ, toàn bộ đàn ông trong họ tộc đều bị giết sạch chỉ chừa lại phụ nữ, trừ những người được ban cho đại thần, thì mọi phụ nữ trong dòng tộc đều tự mưu sinh.

Khi đó Hồ Thị mới ngoài 40, tuổi đã trung niên nhưng khát khao chăn gối thì vẫn y nguyên như thuở còn ngồi ở ngôi mẫu nghi thiên hạ.

Vừa để kiếm kế sinh nhai vừa để thỏa mãn dục vọng, Hồ thị đã cùng hoàng hậu của Cao Vỹ khi đó mới ngoài 20 quyết định trở thành kỹ nữ.

Từ khi kỹ viện của hai người mở ra, thông tin cả thái hậu lẫn hoàng hậu Bắc Tề đều trở thành kỹ nữ lan truyền ra cả nước, do đó chả mấy chốc mà nơi đây đã trở thành địa chỉ nổi tiếng của giới ăn chơi.

Việc làm ăn của hai mẹ con họ ăn vô cùng phát triển, tiền thu nhiều vô kể.

Dần dà, Hồ thái hậu cảm thấy vô cùng hứng thú và say sưa với công việc này.

Thậm chí, bà ta còn tỏ phấn khích khi nói với Mục hoàng hậu rằng: "Nếu bây giờ nhìn lại thấy làm kỹ nữ còn vui hơn làm hoàng hậu.

Trong hoàng cung mấy trăm phụ nữ chỉ hầu hạ có một người đàn ông, nhưng bây giờ là một đám đàn ông phải hầu hạ mình ta, nghĩ ra đây mới chính là hợp với đạo trời".

Có lẽ, đây là tuyên ngôn vào loại độc nhất vô nhị trong lịch sử 5.000 năm của Trung Quốc.

Năm 600, sau 10 năm làm kỹ nữ, Hồ thái hậu chết vì bệnh ở Trường An.

Dù cho đã qua đời nhưng tiếng xấu của Hồ thái hậu vẫn còn truyền đến hàng ngàn đời sau.

Từng là hoàng hậu rồi đến Hoàng thái hậu của một thời đại sau cùng lại tự nguyện đi làm kỹ nữ để thỏa mãn dục vọng, đây quả là câu chuyện có một không hai trong lịch sử dài đằng đẵng của Trung Quốc.
 
Trung Quốc Xa Xưa
NHỮNG BÍ ẨN GÂY TRANH CÃI TRONG LỊCH SỬ.


Trong suốt chiều dài hàng thiên niên kỷ, lịch sử Trung Quốc từng để lại nhiều bí mật khơi gợi sự tò mò và trí tưởng tượng của hậu thế.

Có những bí ẩn trải qua hàng ngàn năm cuối cùng cũng đã được người đời sau làm rõ.

Nhưng cũng còn những điều cho tới bây giờ chưa có lời giải thích thỏa đáng.

Vậy những bí mật nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Hoa cho tới ngày nay vẫn chưa có lời giải là gì?

Bí ẩn thứ nhất: Tung tích thi thể Dương Quý Phi

Dương Quý Phi (719 – 756) còn có tên gọi là Dương Ngọc Hoàn.

Bà là ái phi của Hoàng đế Đường Huyền Tông và được lịch sử Trung Quốc ghi nhận là vị cung phi nhận được sủng ái hiếm có.

Với tư sắc diễm lệ của mình, Dương Quý Phi cũng được người đời sau xếp vào danh sách "Tứ đại mỹ nhân" trong lịch sử Trung Hoa cùng với những tên tuổi như Vương Chiêu Quân, Điêu Thuyền, Tây Thi.

Mặc dù sở hữu sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, nhưng số phận của Dương Quý Phi lại có phần bạc mệnh vì bị người thời bấy giờ cho là "họa hồng nhan".

Vào năm 755, An Lộc Sơn khởi binh làm phản, lấy cớ là thanh trừng Dương Quốc Trung (anh trai Dương Quý Phi), sử cũ gọi là An Sử chi loạn.

Khi đó, Đường Huyền Tông buộc phải đem theo Dương Ngọc Hoàn và Dương Quốc Trung chạy trốn.

Bấy giờ Trần Huyền Lễ khi đó cầm đầu đoàn quân binh hộ giá đã thay mặt binh lính lên tiếng cầu xin nhà vua xử tử Quý phi và Dương Quốc Trung.

Đường Huyền Tông vốn muốn ân xá cho ái phi của mình, nhưng sĩ tốt ba quân đều cho rằng Dương Ngọc Hoàn là mối họa vong quốc, An Sử chi loạn vốn là do bà gây ra, không giết khó chấn an tinh thần, khó yên lòng quân, vì vậy liền tiếp tục gây sức ép cho Hoàng đế.

Cuối cùng, Huyền Tông không còn cách nào khác, chỉ bất đắc dĩ đành tiếp nhận lời khuyên của Cao Lực Sĩ, ban cho ái phi của mình một dải lụa trắng.

Tương truyền rằng, vị mỹ nhân được sủng ái nhất thời nhà Đường ấy đã tự kết thúc cuộc sống của mình bằng cách treo cổ ở gốc cây lê trước một Phật đường.

Sau khi bình định An Sử chi loạn, Đường Huyền Tông từng phái người đi tìm di thể của Dương Quý phi nhưng chẳng có lấy một mảnh tin tức.

Nhiều giai thoại truyền lại rằng, rất có thể vị Quý phi ấy đã không tuân theo lệnh vua, bí mật trốn sang Nhật Bản để sống nốt phần đời còn lại ở nơi xa xôi ấy.

Vì vậy, Nhật Bản ngày nay vẫn còn lưu lại một đền thờ được dựng nên để thờ phụng mỹ nhân họ Dương.

Thế nhưng, hầu hết mọi người đều tin rằng Dương Quý Phi quả thực đã qua đời trong trận biến loạn năm ấy.

Chỉ có điều tung tích thi thể của mỹ nhân họ Dương ấy được chôn cất ở nơi đâu thì vẫn chưa một ai dám chắc.

Bí ẩn thứ hai: Lý do Hạng Võ không chịu qua Giang Đông

Nhắc về cái chết của Tây Sở Bá Vương Hạng Võ, người ta lại không khỏi nhớ đến đôi dòng cảm thán của nữ thi sĩ thời nhà Tống là Lý Thanh Chiếu bên bờ Ô Giang:

"Chí kim tư Hạng Võ

Bất khả quá Giang Đông".

(Tạm dịch: "Nay còn nhớ Hạng Vũ.

Chẳng chịu về Giang Đông!").

Sau khi thất thế trong cuộc chiến Hán Sở tranh hùng, Hạng Võ đã quyết định tự sát bên dòng Ô Giang.

Thế nhưng cho tới giờ, lý do vì sao Hạng Võ lại lựa chọn tự sát chứ không qua Giang Đông vẫn là vấn đề tồn tại nhiều tranh cãi.

Có quan điểm cho rằng, Tây Sở Bá Vương quyết định kết liễu cuộc đời bên dòng Ô Giang là bởi mỹ nhân Ngu Cơ đã qua đời trước đó.

Có người lại khẳng định, cái chết của Hạng Võ là phẩm chất của bậc anh hùng, "thà làm ngọc vỡ chứ không làm ngói lành", thà quyên sinh chứ không chịu chạy trốn.

Một số người khác thì đưa ra lời giải thích, quyết định của Hạng Võ là sự hy sinh dành cho con dân trăm họ để sớm chấm dứt nạn binh đao.

Nhưng suy cho cùng, dù các sử gia hay những bậc thi nhân có đưa ra lời giải thích ra sao, thì lý do thực sự vì sao Hạng Võ năm ấy không chịu qua Giang Đông và sự thật phía sau cái chết của ông vẫn là câu hỏi chưa có lời giải chính xác.

Bí ẩn thứ ba: Sự thật về viên dạ minh châu trong lăng mộ Từ Hy

Từ thời xa xưa, dạ minh châu là một loại đá quý nổi tiếng với khả năng phát sáng và được cổ nhân xếp vào hàng báu vật.

Trong số những viên đá được các bậc vua chúa và hoàng thân quốc thích sở hữu, thì viên dạ minh châu nổi tiếng hàng đầu trong lịch sử Trung Hoa lại là vật nằm trong tay của một người phụ nữ quyền lực nhất Thanh triều – Từ Hy Thái hậu.

Tương truyền rằng, viên dạ minh châu có "giá trị liên thành" ấy đặt vào trong miệng của Từ Hy Thái hậu sau khi bà qua đời để thi thể Thái hậu không bị phân hủy.

Trong hồi ức của kẻ cầm đầu vụ trộm táo tợn tại lăng mộ Từ Hy vào thời Dân Quốc là Tôn Điện Anh, thì viên dạ minh châu này được miêu tả là "bị tách ra làm hai miếng, ghép lại thành một quả cầu, khi tách ra thì có ánh sáng trong suốt, lúc ghép lại thì tỏa ra ánh sáng màu xanh lá cây, ban đêm đứng cách trăm thước vẫn có thể soi rõ từng sợi tóc..."

Một số nguồn sử liệu khác cũng ghi lại, viên dạ minh châu ấy có khối lượng khoảng 787.28 carat (hơn 157 gram).

Vào năm 1908, báu vật trong lăng mộ Tây Thái hậu này khi đó đã được định giá là 10,8 triệu lượng bạc, tương đương với 810 triệu NDT hiện nay (hơn 2.855 tỷ VNĐ).

Sau khi rời khỏi lăng mộ Từ Hy, viên dạ minh châu kia từng được truyền tới tay của phu nhân Tống Mỹ Linh - vợ Tưởng Giới Thạch.

Lúc bấy giờ, người phụ nữ quyền lực thời Dân quốc này thậm chí đã dùng viên ngọc quý hiếm ấy để đính lên giày của mình.

Trải qua những cuộc binh biến sau này, viên dạ minh châu có giá trị nghìn tỷ từng thuộc quyền sở hữu của Từ Hy Thái hậu cũng biến mất không rõ tung tích.

Bí ẩn thứ tư: Nguyên nhân Hòa Thân được Càn Long sủng ái

Theo đánh giá của các sử gia Trung Quốc, số lượng minh quân vào thời nhà Thanh thậm chí chỉ "đếm được trên đầu ngón tay", mà Càn Long hoàng đế chính là một nhân vật nổi bật trong số đó.

Nhưng điều khiến cả người xưa và hậu thế ngày nay không thể hiểu được nằm ở chỗ, vì sao một vị hoàng đế anh minh như vậy lại để cho một đại gian thần khét tiếng như Hòa Thân kề cận bên mình?

Phải chăng là bởi sự tính toán của gian thần ấy kỳ thực rất "vừa ý đẹp lòng" với tâm ý của Càn Long.

Ví như chuyến du hành xuống Giang Nam của hoàng đế cũng xuất phát từ chủ ý của vị quan họ Hòa này.

Hay có lẽ, bởi Hòa Thân sở hữu tướng mạo có đôi phần giống với một phi tử của hoàng đế Khang Hy – người từng có mối quan hệ thân thiết với Càn Long lúc còn trẻ?

Có lẽ, chân tướng phía sau sự sủng ái kỳ lạ mà Càn Long dành cho Hòa Thân, họa chăng chỉ có hai nhân vật trong cuộc năm xưa mới thực sự hiểu rõ...
 
Trung Quốc Xa Xưa
PHẠM 2 TỘI ÁC ĐẠI KỴ, VUA ĐƯỜNG LÝ THẾ DÂN CẢ ĐỜI MUỐN CHE GIẤU.


Trong lịch sử Trung Hoa, có hai loại hành vi dã man khiến người đời cảm thấy phản cảm.

Đó là giết kẻ đầu hàng và tàn sát hàng loạt.

Vậy nhưng, một bậc minh quân nổi tiếng như ĐườngThái Tông lúc sinh thời đều từng "phạm" phải hai điều đại kỵ này.

Điều đáng nói là, Lý Thế Dân có gan làm nhưng không có gan chịu, quy mọi tội lỗi cho cha ruột của mình, tức Đường Cao Tổ Lý Uyên.

Điều gì đã khiến cho vị Hoàng đế nổi tiếng "nhân nghĩa" của Trung Hoa tự "nhúng chàm" chính mình bởi những hành vi man rợn như vậy?

Dựa vào trình tự thời gian, sự kiện thảm sát bách tính trong thành Hạ huyện là thảm kịch đầu tiên gây ra bởi tay Lý Thế Dân.

Theo "Tư trị thông giám" của Tư Mã Quang, vào tháng 5 năm 620, "Tần vương Lý Thế Dân dẫn quân tấn công Hạ huyện, tiến hành tàn sát."

Vậy nhưng điều gì đã khiến cho vị Tần vương này ra tay tàn bạo và vô tình đến vậy?

Nguyên nhân bắt nguồn từ những năm cuối thời nhà Tùy, khi thiên hạ đại loạn, Hạ huyện là mảnh đất đã sinh ra một vị hào kiệt có tên Lữ Sùng Mậu.

Sau khi nhà Đường thành lập, thế lực của Lưu Vũ Chu tiếp tục chống lại triều đình.

Trải qua nhiều lần đại bại, quân Đường thực hiện kế sách "vườn không nhà trống", đốt hết lương thảo của bách tính, khiến nhân dân người người oán hận.

Lũ Sùng Mậu nhân cơ hội đó khởi binh ở Hạ huyện, tự xưng là Ngụy vương, công khai ủng hộ Lưu Vũ Chu.

Đường Cao Tổ Lý Uyên từng phái binh đi đánh họ Lữ, nhưng đều bị viện quân của Vũ Chu đánh bại.

Tới năm 620, Lý Uyên lần thứ hai phát binh thảo phạt, Lưu Vũ Chu phái đại tướng Uất Trì Kính Đức dẫn quân viện trợ cho Hạ huyện.

Khi ấy, Cao Tổ âm thầm phái người chiêu hàng Lữ Sùng Mậu hòng diệt trừ Uất Trì Kính Đức.

Vậy nhưng họ Lữ một lòng kiên trung, đem kế hoạch này của quân Đường tiết lộ ra ngoài, giúp Uất Trì tướng quân một phen thoát chết.

Sau khi Uất Trì Kính Đức an toàn rời đi, Hạ huyện tiếp tục chống lại Đường triều, ủng hộ Lưu Vũ Chu.

Chính vì vậy, sau khi phụng mệnh vua cha tiêu diệt Lưu Vũ Chu, bình định vùng Sơn Tây, Lý Thế Dân đương nhiên không bỏ qua cho Hạ huyện.

Thành trì nơi này vốn đã nhỏ bé, hiển nhiên không thể ngăn cản đại quân của triều đình.

Quan quân nhà Đường sau khi công phá thành Hạ huyện đã tiến hành thảm sát, giết chết vô số bách tính trong thành.

Mang tính chất "ăn miếng trả miếng", hành động trả thù này của Lý Thế Dân đã hại chết không ít người vô tội.

Tới lúc đăng cơ, Đường Thái Tông lại tìm mọi cách bưng bít cho hành vi "tắm máu" trên.

Ông ta "đổi trắng thay đen", quy hết trách nhiệm cho tiên đế.

Thậm chí, vị minh quân này lúc đó còn khôn ngoan viện cớ bằng cách vin vào thánh chỉ của vua cha lúc sinh thời.

Theo đó, trong thánh chỉ có đoạn: "...không giết nô tặc, ắt sẽ sinh phiến loạn, nếu không trừng phạt tất cả những kẻ đó, tất sẽ sinh ra hậu họa sau này."

Bởi vậy, Đường Thái Tông một mực dùng lý lẽ "phụng chỉ hành sự" để bao biện cho hành vi tàn ác của mình.

Tội ác thứ 2 là giết người quy hàng vì tư thù.

Nạn nhân của hành động này chính là Đan Hùng Tín, một viên tướng phản Đường nổi tiếng.

Vào năm 621, thế lực cát cứ của Vương Thế Sung ở Lạc Dương quy hàng nhà Đường, trong đó có Đan Hùng Tín.

Sinh thời, họ Đan này từng có mối giao tình với đại tướng Đường triều là Từ Thế Tích.

Vậy nhưng, mặc cho Từ tướng quân một mực cầu xin, Lý Thế Dân vẫn sai thuộc cấp xử tử Đan Hùng Tín.

Vào thời điểm lúc bấy giờ, hành động này vô cùng bất lợi đối với quân triều đình.

Cái chết của Đan Hùng Tín đã khiến nhiều thủ lĩnh của các nghĩa quân vốn có ý định quy hàng, nay lại liều chết nổi dậy chống phá triều đình.

Hành động trên đã làm cho Hà Bắc tiếp tục chìm trong chiến loạn suốt một thời gian dài, đồng thời còn là nguyên nhân gây nên cái chết của viên tướng nổi danh của Đường triều – La Sĩ Tín.

Việc làm bốc đồng này xuất phát từ tư thù của Cao Tổ đối với Đan Hùng Tín.

Khi còn chưa lên ngôi, trong những trận giao chiến với quân của Vương Thế Sung, Đan Hùng Tín đã hai lần suýt lấy mạng của Lý Thế Dân.

Xuất phát từ mục đích trả thù cá nhân, Lý Thế Dân đã bỏ ngoài tai mọi lời khuyên can, bất chấp hậu quả, kiên quyết xử tử người đã xin hàng là Đan Hùng Tín để rửa mối hận năm xưa.

Sau khi lên ngôi, Đường Thái Tông lại một lần nữa để dư luận chĩa mũi nhọn vào Cao Tổ Lý Uyên.

Theo đó, Lý Thế Dân tiếp tục viện cớ, khẳng định việc xử tử Đan Hùng Tín là do vâng lệnh vua cha.

Vậy nhưng, thân là chủ tướng trên chiến trường, bản thân Lý Thế Dân mới đích thực là người nắm quyền sinh quyền sát đối với kẻ quy hàng.

Về hành động bóp méo sự thật của Thái Tông Lý Thế Dân, sử gia Hồ Tam Tỉnh thời Nam Tống từng bình luận: "Khi quan chép sử ghi chép các sự kiện này ở thời Cao Tổ (chỉ Lý Uyên – cha của Lý Thế Dân), Thái Tông vì sợ đánh mất lòng người, ép họ phải ghi thành 'phụng mệnh của Cao Tổ' để che đậy các sai lầm của mình."

Nói một cách khác, hành động của Lý Thế Dân không chỉ mang tính chất trốn tránh trách nhiệm, mà còn là việc làm "gài bẫy" cha ruột của mình.

Lịch sử giống như một tấm gương, chúng ta không thể chỉ biết tôn vinh công trạng của cổ nhân mà phủ nhận những vết đen trong cuộc đờicủa họ.

Hơn nữa, dù Lý Thế Dân là một vị minh quân, nhưng cũng không phải thánh nhân.

Phàm là con người, liệu mấy ai chưa từng phạm sai lầm?

Bởi vậy, ta cần nhìn thẳng vào lỗi lầm của các vĩ nhân để đánh giá họ với tư cách là một con người hoàn chỉnh, chứ không phải nhìn nhận họ giống một bức tượng mà ảo vọng thái quá.
 
Trung Quốc Xa Xưa
NHỮNG BÍ MẬT ĐÁNG SỢ ẨN GIẤU TRONG LĂNG MỘ HOÀNG GIA THANH TRIỀU.


Thanh Đông lăng là quần thể lăng mộ Hoàng gia lớn nhất trong hệ thống lăng tẩm Thanh triều.

Khu lăng mộ này nằm tại núi Xương Thụy, thị trấn Mã Lan, ở vào phía Tây Bắc huyện Tuân Hóa, tỉnh Hà Bắc, cách Bắc Kinh 125km.

Đây là nơi an nghỉ của Thuận Trị, Khang Hy, Càn Long, Hàm Phong, Đồng Trị, an táng hai vị Thái hậu nổi tiếng là Từ An và Từ Hy cùng nhiều thành viên hoàng tộc khác.

Thanh Đông lăng tổng cộng mai táng 160 nhân vật trong hoàng thất nhà Thanh với đủ các phẩm cấp, từ Hoàng đế, Thái hậu cho tới các phi tần, vương gia, cách cách...Sự nổi tiếng của quần thể lăng mộ này không chỉ dựa vào quy mô bề thế, mà còn bởi những câu chuyện thần bí xoay quanh nơi đây.

Vì sao năm xưa Thuận Trị đế cương quyết xây dựng lăng tẩm ở nơi này và cho rằng vị trí của Thanh Đông lăng có liên hệ tới sự thịnh, suy của cả vương triều Đại Thanh?

Hương Phi rốt cục là ai?

Lăng mộ của nàng được đặt tại nơi này?

Đâu là nguyên nhân khiến quan tài bằng đá của Càn Long hoàng đế tự động di chuyển tới cánh cửa bằng đá bên trong mật đạo?

Những bí mật chưa có lời giải này đã biến Thanh Đông lăng trở thành một trong những địa danh huyền bí nhất trong lịch sử Trung Quốc.

1.

Bí ẩn thứ nhất: Huyền cơ về phong thủy

Địa thế của Thanh Đông lăng được xếp vào vị trí tuyệt hảo, ví như mảnh đất "phong thủy bảo địa" trăm năm hiếm gặp.

Tương truyền rằng, nơi đây vốn là mảnh đất từng được hoàng gia Minh triều nhắm tới.

Nhưng sau này, vị trí của Thanh Đông lăng bị quân Thanh chiếm mất, đưa tới kết cục nhà Minh diệt vong.

Cho tới ngày nay, rất nhiều hậu duệ Mãn tộc cho rằng, vị trí của Thanh Đông lăng ở vào nơi khởi đầu của long mạch, hội tụ cả Thủy Long, Sơn Long, là một nơi "kim tỏa ngọc quan".

Nếu quả đúng là vậy, thì tại sao ngay cả khi có được mảnh đất này, Thanh triều vẫn tránh không khỏi kết cục suy vong?

Bí ẩn thứ hai: Lăng mộ không suy chuyển bởi động đất

Trận động đất mang tên "Đường sơn đại địa chấn" xảy ra năm 1976 cho tới nay vẫn là nỗi ám ảnh đối với người dân Trung Quốc vì hậu quả kinh hoàng của nó.

Trong thảm họa ấy, hơn 1,6 triệu ngôi nhà đã bị san thành bình địa chỉ trong chốc lát.

Tất cả các công trình kiến trúc trong phạm vi ảnh hưởng của trận động đất này đều tan hoang.

Chỉ riêng Thanh Đông lăng vốn nằm ở nơi chịu ảnh hưởng nặng nề thì chẳng hề sứt mẻ dù chỉ một viên gạch.

Nguyên nhân của câu chuyện kỳ lạ này cho tới nay vẫn là bí ẩn đang chờ các nhà khoa học giải đáp.

Bí ẩn thứ ba: Vì sao Chiêu Tây lăng xây dựng ở ngoài khuôn viên Thanh Đông lăng?

Chiêu Tây lăng là nơi an nghỉ của Hiếu Trang hoàng thái hậu – chính cung của Hoàng đế Khai quốc Thanh triều là Hoàng Thái Cực.

Theo luật lệ Thanh triều, Hiếu Trang vốn nên được an nghỉ ở phía đông bắc để sum vầy cùng hoàng đế nơi chín suối, hoặc ít ra cũng nên xây cất lăng mộ ở vị trí trọng yếu của khuôn viên Thanh Đông lăng.

Nhưng sự thực là Chiêu Tây lăng lại được xây dựng ở bên ngoài khuôn viên khu lăng tẩm này.

Ẩn tỉnh trong chuyện đó là gì?

Phải chăng việc chọn vị trí cho ngôi mộ của Hiếu Trang hoàng thái hậu có liên quan tới mối quan hệ bí ẩn giữa bà và Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn?

Bí ẩn thứ tư: Cầu Ngũ Âm từ lúc nào trở thành cây cầu "một bước lên mây"?

Cầu Ngũ Âm là công trình phong thủy nổi tiếng, là kiến trúc chủ đạo trong bố cục phong thủy của Thanh Đông lăng.

Những năm gần đây, cây cầu này được nhiều du khách truyền tai nhau dưới cái tên "Bình Bộ Thanh Vân cầu", nghĩa là cây cầu "một bước lên mây".

Có nhiều giai thoại kể lại rằng, người đi qua cây cầu ấy rất nhanh sẽ thăng quan tiến chức.

Cái tên "một bước lên mây" cũng từ đó mà ra.

Bí ẩn thứ năm: Quan tài tự di chuyển của vua Càn Long

Vào năm 1928, Tôn Điện Anh đã đem người tới lăng mộ Càn Long để trộm bảo vật.

Nhưng đội mộ tặc này lại vướng phải một mật đạo có cửa đá phá mãi không được.

Sau khi dùng tới thuốc nổ, cánh cửa đá trên mới bị phá, để lộ ra phòng đặt quan quách của vua Càn Long.

Nhưng điều khiến bọn trộm mộ không khỏi kinh hoàng lại là: Quan tài của nhà vua chẳng biết từ lúc nào đã tự động di chuyển tới phía sau cửa đá để chặn kẻ xâm phạm.

Vào những năm 70 của thế kỷ trước, khi địa cung lăng mộ một lần nữa mở ra, cỗ quan tài này lại dịch chuyển và chặn giữa cửa.

Sự việc này đã gây chấn động dư luận Trung Quốc trong suốt một thời gian dài.

Bí ẩn thứ sáu: Lời nguyền trong lăng mộ Càn Long

Những bức tường bên trong lăng mộ vua càn long được khắc rất nhiều ký tự, trong đó phần lớn đều là những ký tự cổ chưa được giải mã.

Đến nay, các chuyên gia khảo cổ vẫn chưa thể giải thích chính xác được hàm nghĩa được những câu chữ trong lăng mộ nhà vua đề cập tới.

Tuy nhiên, khác với nhiều lời đồn đoán, các chuyên gia khẳng định những câu chữ này đều mang ngụ ý cầu chúc cát tường chứ không phải lời nguyền rủa như mọi người vẫn nghĩ.

Bí ẩn thứ bảy: Thi thể không phân hủy của Từ Hy Thái hậu

Tương truyền rằng, năm xưa mộ tặc Tôn Điện Anh khi trộm lăng mộ Từ Hy đã không khỏi kinh hoảng vì phát hiện thi thể của Thái hậu vẫn nguyên vẹn như lúc còn sống.

Không ngờ rằng, sau khi viên ngọc dạ minh châu đặt trong miệng Từ Hy bị lấy ra, thi thể Thái hậu đã bị phân hủy chỉ trong nháy mắt.

Cho tới ngày nay, đây vẫn là bí ẩn chưa được hậu thế giải đáp.

Bí ẩn thứ tám: Hương phi được chôn ở nơi nào?

Trong những giai thoại lưu truyền lại, Hương Phi được miêu tả là vị phi tần xinh đẹp và tỏa ra mùi hương thơm ngát khiến Càn Long mê đắm.

Trong suốt một thời gian dài, hậu thế đều tin rằng Hương Phi là mỹ nữ đến từ Tân Cương và được an táng tại quê nhà sau khi qua đời.

Nhưng những bằng chứng khảo cổ mới đây đã phát hiện, vị phi tần này được chôn cất trong khuôn viên của Thanh Đông lăng.

Vậy đâu mới là ngôi mộ thực sự của mỹ nữ trong hậu cung Càn Long này?

Phải chăng, hoàng đế sủng ái Hương Phi đến mức muốn an táng nàng trong khuôn viên lăng tẩm để được gặp lại mỹ nữ nơi suối vàng?

Bí ẩn thứ chín: Bảy mươi hai trận mưa mỗi năm

Tương truyền rằng, Thanh Đông lăng nằm ở nơi khởi đầu của long mạch.

Rồng là thần thú hô phong hoán vũ.

Vì vậy, quần thể lăng tẩm hằng năm đều nhận được đúng 72 trận mưa để gột rửa "tà khí", "trọc khí", giúp nơi đây luôn thanh sạch.

Bí ẩn thứ mười: Thanh Đông lăng có chôn kho báu?

Là khu quần thể lăng mộ của hoàng thất, Thanh Đông lăng không ít lần trở thành mục tiêu của mộ tặc.

Đây cũng là lý do khiến nhiều người tin rằng, dưới lòng đất của quần thể lăng mộ hoàng gia ấy chắc chắn có kho báu.

Thế nhưng, kho báu nằm ở nơi nào, chứa bảo vật gì thì vẫn là điều chưa ai dám khẳng định.

Chỉ biết rằng, dân chúng quanh vùng này thi thoảng vẫn đào được cổ vật ở sân vườn.
 
Back
Top Bottom