Khác Quân Gia Bút Ký

  • Người khởi tạo Người khởi tạo [BOT] Wattpad
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu

[BOT] Wattpad

Administrator
25/9/25
177,795
0
0
402624388-256-k912012.jpg

Quân Gia Bút Ký
Tác giả: ShoutaroPhilip
Thể loại: Bí ẩn
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Từ thuở xa xưa, đã có hai gia tộc song song tồn tại: một bên chuyên giữ gìn sự yên nghỉ cho người chết, một bên chuyên phá vỡ những giấc ngủ ngàn thu trong cổ mộ.

Gia tộc mai táng, với những kỳ nhân dị sĩ tinh thông phong thủy, tầm long điểm huyệt, dựng mộ và phong quan, được xem như người bảo hộ của âm phần.

Ngược lại, gia tộc trộm mộ, vì tham lam mà đào xới, vì khát vọng mà phá hoại, đã mang trên mình lời nguyền chết yểu và những kết cục thảm khốc.

Giữa hai dòng máu ấy là mối thù truyền đời, kéo dài qua bao thế hệ không thể hóa giải.

Mỗi cổ mộ được xây dựng là một chiến trường tiềm ẩn, mỗi bí mật được chôn giấu là một ngọn lửa tranh đoạt.

Và trong vòng xoáy ấy, một cô gái mang lời nguyền trường sinh bất lão - Tử Linh - cùng một chàng trai phàm nhân - Quân Ảnh Chiến - sẽ bước vào đây để viết tiếp chương mới cho cuộc chiến chưa từng có hồi kết.

Tác giả: 「Vụ Lý」(Trong sương mù)
Tác phẩm chỉ đăng duy nhất trên Wattpad và trang quangiabutky.wordpress.com, nếu có ở nơi khác thì chỉ sản phẩm ă-n c-ắ-p, xin cảm ơn vì đã đọc.



wattpadvietnam​
 
Có thể bạn cũng thích
  • Thiên Quan Tứ Phúc
  • [BHTT - EDIT HOÀN] SAU KHI TRỞ THÀNH ĐẠI HỘ -...
  • TINH LẠC NGƯNG THÀNH ĐƯỜNG (Quyển 1) - Nhất Độ Quân Hoa
  • [BHTT][EDIT] Dò Hư Lăng - Quân Sola (Cổ Đại)
  • [Hoàn-đang chỉnh sửa] Quỷ phi trọng sinh- Ai dám...
  • Sau Khi Kết Hôn Cùng Đại Gia Che Giấu Thân Phận -...
  • Quân Gia Bút Ký
    Quyển 1 Bạch sơn Thần Lĩnh


    Sơ lược quyển 1

    Quân Ảnh Chiến và một cô gái bí ẩn tên Tử Linh cùng nhau lần theo những manh mối của một đoạn ký ức bị chôn vùi.

    Hai mươi năm trước, một đội khảo cổ tiến vào núi Tà Lĩnh để nghiên cứu di tích cổ, nhưng những gì họ gặp phải lại vượt xa phạm vi khảo cổ thông thường và sự biến mất kỳ lạ của cả đoàn đã để lại một khoảng trống không lời giải.

    Hai mươi năm sau, ký ức ấy được kể lại, kéo người nghe bước vào vòng xoáy định mệnh.

    Những manh mối dồn dập dẫn thẳng về núi Tà Lĩnh, nơi sự thật vẫn còn bị phong kín sau cánh cửa đá khổng lồ.

    Một hành trình đã kết thúc, nhưng cánh cửa định mệnh mới chỉ vừa hé mở...
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 1 Vật cũ trả chủ


    "Quay về đi."

    Giọng nói ấy vang lên như một hơi thở lạnh buốt giữa cơn bão tuyết gào thét, không rõ từ đâu vọng tới, như thể chính ngọn núi đang thì thầm.

    "Không thể!

    Tôi phải tìm họ!

    Họ đang gặp nguy hiểm!"

    Tôi hét lên, tiếng gào bị xé vụn bởi màn tuyết mịt mù, như thể chính gió tuyết và đất trời cũng đang nuốt lấy thanh âm của tôi.

    "Quay về đi."

    Lời cảnh báo ấy lặp lại, không hề có cảm xúc, không hề lay chuyển.

    Tôi lao về phía cái bóng mờ đang đứng giữa màn tuyết, nhưng nó tan biến như chưa từng tồn tại.

    Chỉ còn lại ngọn núi trắng xóa, hoang lạnh và tiếng gió rít như tiếng nức nở thất lạc bị chôn vùi.

    Tôi mở mắt.

    Cửa hiệu quen thuộc hiện ra, ánh nắng xuyên qua tấm rèm mỏng phấp phới.

    Tôi tỉnh lại trong cửa hiệu của mình sau cơn mộng mị ngắn ngủi.

    Đầu cổ hơi choáng váng đau nhức vì nằm nghiêng quá lâu.

    Lượm lại chiếc quạt giấy đã rơi xuống đất từ khi nào, tôi khẽ phe phẩy thêm vài cái.

    Duỗi chân một cái, tôi lấy quạt che mắt, lại chuẩn bị ngủ tiếp.

    "Này!

    Này!

    Thằng oắt con, mày trông tiệm như thế hả?"

    "Ôi!

    Mẹ..."

    Lời chửi thề vừa tính văng ra đành phải nuốt ngược lại.

    Tôi vừa nhìn thấy ông lão đang tự mình rót trà ngồi trước mặt liền bật dậy khỏi ghế, cười ngu ngơ nhìn ông.

    "Ông nội!

    Sao nay thăm cháu mà lại không nói trước một tiếng chứ?"

    "Ai thèm đến thăm cái thằng lười nhác nhà mày!

    Ôi, cháu bà Lam còn vừa mới thăng chức phó tổng gì đó.

    Bây giờ bả còn đang ra ngoài mà khoe với mấy ông bà già hàng xóm.

    Đây là đứa cháu thứ ba rồi.

    Hại ông già này tức chết đi được!"

    "Ôi, ông ơi, ông đừng nóng mà.

    Ông uống chén trà cho mát họng, rồi hàn huyên tâm sự gì với thằng cháu bất hiếu này cũng được."

    "Khỏi cần mày nhắc!"

    Ông cụ ngửa cổ uống trong tức tối, nhưng còn chưa kịp nuốt xuống đã phun hết cả ra ngoài.

    "Trời ơi!

    Bao lâu rồi mày còn chưa thay lá trà rồi hả!?"

    Tôi chỉ biết gãi mặt cười ngu, giờ mà bảo với ông rằng ấm trà đó cả tuần không ai buồn rớ đến rồi thì ông xử bắn tôi tại chỗ luôn vẫn còn quá nhân từ.

    "A Cát đâu?"

    Ông hỏi.

    Tôi nhìn về phía cửa, nơi cậu nhân viên thu ngân kiêm kế toán kiêm quét dọn thường hay ngồi thừ người ra chơi bài con nhện trên cái máy tính cổ lỗ sĩ hết chỗ nói.

    "À."

    Tôi giờ mới lờ mờ nhớ ra còn có cậu ta.

    "Bảo là có việc nhà, xin nghỉ từ mấy hôm trước rồi."

    Ông khẽ gật đầu rồi lại quay sang tôi nói: "Chiều nay đóng cửa tiệm sớm, đi qua chỗ ông ăn cơm."

    Tôi thầm kêu rên trong bụng, lại nữa sao?!

    Tôi không còn nhớ nổi tháng này là lần thứ bao nhiêu rồi.

    Tối nay là yến tiệc linh đình của con trai cả nhà bà Hai hay con gái út nhà bà Ba đây!

    "Dạ, cháu biết rồi."

    Tôi cố gắng không tỏ vẻ miễn cưỡng mà rặn ra từng chữ.

    "Lúc về thì mang theo cả cái này, quý lắm đó, làm hỏng một chút thôi là mày không xong với ông đâu!"

    Tôi nhìn qua vai ông, phía sau có dựng một cái khung gỗ được bọc kín giống như tranh.

    Hẳn lại là một món đồ cổ ông mới sưu tầm về.

    Ngồi trên chiếc ghế thắp hương cao đến chín bậc, tôi vừa đóng đinh vừa chỉnh khung tranh cho thật cẩn thận.

    Căn biệt phủ của ông nội như một cung điện thu nhỏ từ thời xưa cũ, toàn gỗ lim bóng loáng theo năm tháng, cửa chính chạm khắc tinh xảo bằng gỗ Hoàng Đàn quý hiếm.

    Ánh nắng chiều lọc qua những ô cửa sổ lưới chạm rồng phượng phai màu, hắt bóng dài ngoằng trên sàn gạch Bát Tràng màu cam đất ấm áp.

    Mùi gỗ cũ quyện lẫn khói hương thoang thoảng từ bàn thờ tổ, gió lùa qua khe cửa mang theo tiếng rít vi vu như lời thì thầm của những thế hệ đã qua.

    Từng cánh cửa, từng khung rèm thêu đều mang dấu ấn bàn tay nghệ nhân xưa, sống động đến mức như thể chúng đang thở theo nhịp thời gian chậm rãi.

    Trước cổng, đôi vòng đá hình sư tử mà ông khoe đồ cổ đấu giá từ người Hoa đủ khiến bất kỳ ai bước vào cũng phải cúi đầu trước sự xa xỉ cổ kính của chủ nhân nơi này.

    Tôi là cháu đích tôn duy nhất của ông, gia đình giờ đây chỉ còn đơn chiếc hai ông cháu, họ hàng cũng không nhiều, cũng ít khi thăm hỏi nhau.

    Nhà tôi khởi nghiệp kinh doanh tính tới đời tôi là đời thứ chín, nhưng tôi lại không có chí lớn gì, học xong đại học thì chỉ tiếp quản một cửa hàng nhỏ nhất nhà, hằng năm lợi nhuận chẳng bao nhiêu.

    Ngày ngày sống ung dung tự tại đích thị một cậu ấm được cưng chiều.

    Sáng sớm có cậu A Cát đúng giờ mở cửa, còn tôi - thân là ông chủ thì ngủ đến mức mặt trời quá đỉnh đầu, chiều chiều xem tí sổ sách rồi lại thiu thiu ngủ dưới bóng mát ngoài sân sau.

    Thỉnh thoảng lại chạy ra ngoài xem mấy cụ già chơi cờ bên bờ hồ rười rượi gió thoảng, chỉ cụ phải tiến quân này phá trận cụ kia.

    Đúng là sung sướng nhàn nhã còn hơn mấy tiên ông trên thiên đình.

    Màn rèm che hạt châu gỗ dưới chân tôi khẽ lay động, có lẽ là có người đang đi qua.

    Tôi chúi đầu xuống tính hỏi ông treo tranh như vậy đã được chưa thì liền khựng lại, mắt đối mắt với người xa lạ đang đứng bên dưới.

    Chỉ vừa nhìn thấy người đó trong vài giây ngắn ngủi, tôi bỗng giật bắn mình.

    Không thể nào!

    Làm sao lại có thể như vậy?!

    "Chiến, xong chưa đấy?"

    Giọng của ông nội vang từ sau lưng, nhưng giây phút này miệng lưỡi giảo hoạt của tôi lại cứng đờ, lắp bắp không ra lấy chữ.

    Trong tranh, người lữ khách đơn độc nhìn về phía ngọn núi tuyết xa xa trập trùng hiểm nguy, chiếc áo choàng đỏ rực như áng hoàng hôn phấp phới theo gió, mũ áo hơi nghiêng ngả theo để lộ ra nửa khuôn mặt nghiêng nghiêng.

    Đôi mắt người ấy thật đặc biệt, như thể nó hoàn toàn tách biệt khỏi bức tranh mà hiện lên sống động trước mắt tôi.

    Đôi đồng tử đen tuyền, sâu thẳm lắng đọng như vùng nước chết, tựa như đã nhìn thấy toàn bộ thế gian rực rỡ nhất cũng như tăm tối nhất.

    Một ánh mắt không có niềm vui, không có đau khổ, không có lấy một tia sáng hi vọng.

    Mọi thứ, mọi thứ cứ xoắn chặt trong con ngươi không thể nhìn thấu đó.

    Cô ấy vừa bước ra từ trong bức tranh này.

    Tôi tự hoảng hốt với suy nghĩ điên rồ ấy, chỉ biết trừng trừng nhìn từ bức tranh xuống người đang đứng dưới.

    Phải hỏi, nhất định phải hỏi!

    Vừa nghĩ thế tôi liền đứng lên theo phản xạ, nhưng vừa làm thế thì tôi mới nhớ ra mình đang ngồi trên cái ghế thang cao đến gần hai mét!

    Đầu thì va thẳng vào khung tranh đau điếng, cơn choáng váng đến nổ đom đóm mắt làm tay chân tôi bủn rủn tê đi hết cả, cứ thế nghiêng người ngã thẳng xuống.

    "Chiến!"

    Ông nội hốt hoảng gọi to.

    "A!"

    Trong khoảnh khắc tưởng sẽ ăn sàn, tôi bỗng rơi vào vòng tay ai đó.

    Tử Linh đã lao tới, lấy thân mình đỡ cả người tôi như một pha cứu giá trong phim hành động.

    Một tay cô còn đưa lên phía trước, chặn đứng cái ghế thang nặng trịch đang lao tới, hoàn toàn mang phong thái anh hùng cô độc không ngại xả thân cứu... một chàng trai yếu ớt đáng thương là tôi đây.

    Nàng tựa vào lồng ngực chàng, đôi mi ươn ướt giữ lại giọt lệ kiên cường không rơi xuống, ngước nhìn chàng như thể đang đóng cảnh cuối của một bộ phim truyền hình dài 120 tập.

    Còn chàng - tức là cô ấy - hiệp khách cẩn mật lạnh lùng tiêu soái, không chút do dự... hất thẳng tôi ra khỏi vòng tay.

    Bữa cơm tối nay của cả ba người trôi qua trong ngượng nghịu khó tả.

    Ông nội không giới thiệu cô gái ấy lấy một lời, cũng chẳng tỏ ra ngạc nhiên khi thấy cô đã ngồi sẵn ở đó từ bao giờ, như thể sự hiện diện của cô là chuyện bình thường trong nhà.

    Ông còn gắp thức ăn cho cô một cách tự nhiên, giọng nói dịu dàng hơn hẳn lúc mắng tôi: "Ăn thêm đi con."

    Tôi ngồi đó mà đầu óc quay cuồng.

    Cô ấy là ai chứ?

    Sao ông nội lại đối xử thân thiết với một người lạ đến thế?

    Hay là... người quen cũ nào đó mà ông chưa từng kể?

    Nhưng nếu vậy thì sao không nói một câu với thằng cháu đích tôn duy nhất là tôi đây?

    Tôi liếc nhìn ông, rồi lại len lén nhìn sang cô, cố tìm chút manh mối trên khuôn mặt ấy, nhưng chỉ nhận lại cái nhìn thoáng qua lạnh lẽo như gió đông.

    Cô ấy là một cô gái khoảng ngoài hai mươi, nhưng đôi khi nhìn cô lại như một thiếu nữ còn đang tuổi học trò với gương mặt thanh tú, làn da trắng nhợt gần như trong suốt dưới ánh sáng mờ, khiến người ta liên tưởng đến những bức tượng ngọc lạnh lẽo trong cung điện cổ.

    Mái tóc đen dài buộc hờ sau gáy rối tung một vẻ hoang dại.

    Khuôn mặt cô sắc nét, sống mũi cao thẳng, đôi môi mỏng khép chặt không chút màu son, nhưng nổi bật nhất là đôi mắt đen sâu thẳm, đồng tử như vùng nước chết không gợn sóng đó.

    Cô mặc áo khoác tối màu, vải dày cổ cao tay ôm gọn, toàn thân toát lên vẻ kín đáo lạnh lùng như bóng đêm.

    Dáng ngồi thẳng lưng, không cứng nhắc nhưng cũng chẳng buông lơi, như một bức tượng sống giữa phòng.

    Có gì đó ở cô khiến tôi cảm thấy thật lạ lùng, không giống người bình thường chút nào.

    Khi tôi rót trà cho cô, tay run nhẹ vì ngượng ngùng, tôi lấy hết can đảm hỏi:

    "À... cô tên là gì vậy?"

    Cô không nhìn tôi, chỉ đáp gọn: "Tử Linh."

    Tôi tự giới thiệu tên mình rồi đỏ mặt lí nhí cảm ơn chuyện vừa nãy, nhưng cô không phản ứng gì, như thể lời nói của tôi chưa từng tồn tại.

    Tôi ngồi xuống, cố gắng không nhìn trộm nữa, nhưng ánh mắt vẫn cứ bị hút về phía cô.

    Cô nâng chén trà lên, không uống ngay mà khẽ nghiêng nhẹ, quan sát màu nước dưới ánh đèn.

    Rồi cô đưa tay gạt nắp, để hơi trà thoát ra, hít một hơi thật chậm.

    Động tác ấy không phải kiểu làm màu, mà là thói quen của người đã quen sống với trà.

    Cô không dùng thìa gạt bã như người bình thường, mà xoay nhẹ chén để bã lắng xuống một bên, rồi mới nhấp môi.

    Mỗi động tác đều vừa đủ, như thể cô đã làm điều này cả nghìn lần.

    Tĩnh lặng đến mức tôi tưởng mình đang nhìn một bức tranh chuyển động.

    Tôi nhìn sang ông nội, ông vẫn đang tự mình dùng trà, ánh mắt rơi vào món đồ trên bàn mà xem xét.

    Tử Linh đặt chén trà đã cạn xuống rồi khẽ đứng dậy, động tác gọn gàng cúi người chào ông tôi.

    Có vẻ cô định rời đi.

    "Khoan đã, Linh."

    Giọng ông vang lên, không lớn nhưng đủ để dừng bước chân cô lại.

    Âm điệu dịu dàng, như thể đang gọi một đứa cháu gái thân thiết trong nhà.

    Ông đẩy món đồ trên bàn về phía trước, để tôi cũng nhìn thấy rõ hơn.

    Đó là một thanh đao cổ, màu đen tuyền như được rèn từ bóng tối.

    Ánh đèn hắt lên lưỡi đao khiến nó ánh lên một sắc lạnh lẽo, như thể đang thở.

    Chuôi đao đã từng được thay mới, tôi có thể nhận ra điều đó ngay từ cái nhìn đầu tiên, nhưng không hề làm giảm đi giá trị hay sự cổ xưa bí ẩn của lưỡi đao.

    Ngược lại, chính sự chắp vá ấy lại khiến nó như mang theo một câu chuyện chưa kể, một vết tích của thời gian.

    Tôi nhìn sang ông, ánh mắt ông không rời khỏi Tử Linh.

    Còn cô thì vẫn im lặng, nhưng ánh mắt khi nhìn thanh đao ấy không phải của người xa lạ.

    Như thể cô đang gặp lại một phần ký ức cũ, một người bạn tri kỷ đã lâu không gặp.

    Tử Linh đưa tay chạm vào thanh đao.

    Tay cô hơi run, rất nhẹ, như một phản xạ vô thức.

    Cô rút tay lại, khẽ nhíu mày.

    Tôi không rõ vì sao, nhưng khoảnh khắc ấy khiến tôi thấy có gì đó vừa lay động trong cô.

    Ông tôi nhìn cô, ánh mắt như đã chờ khoảnh khắc này từ rất lâu.

    Ông nói chậm rãi, giọng trầm xuống như đang kể lại một chuyện xưa cũ:

    "Có những thứ không còn nhớ, nhưng vẫn sẽ quay về.

    Đao này từng có chủ, mà chủ lại chẳng nhớ mình từng có nó."

    Ông đặt tay cô lên chuôi đao, rồi nhìn thẳng vào Tử Linh:

    "Nó tên là Linh Ảnh."

    Ngay khi nghe cái tên ấy, Tử Linh khựng lại.

    Một thoáng choáng váng lướt qua ánh mắt cô, như thể vừa nghe lại một tiếng gọi từ quá khứ.

    Nhưng chỉ trong chớp mắt, cô lấy lại vẻ bình thản, lặng lẽ mang theo nó rời đi.

    Tôi nhìn theo con đường lát đá cô đi ra, nơi ánh trăng phủ một lớp bạc lên mái ngói cổ.

    Trong đầu tôi, hình ảnh cô gái ấy và thanh đao ấy cứ xoắn chặt lấy nhau như một câu hỏi chưa lời giải.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 2 Chợ đồ cổ Hạ Khê


    Tôi như con mèo bám màn cửa, nhoẻn nụ cười chuẩn đứa cháu hiếu thảo đáng yêu với ông cụ đang cau có nhìn ngược lại.

    Cả tuần nay, tôi luôn hiện diện trong tầm mắt ông, mồm miệng nịnh nọt, giọng ngọt như rót mật nhưng bên trong là cả âm mưu dò hỏi.

    Tôi tiến lại gần bàn, khom lưng châm trà, cố ý để ánh mắt ông chạm mặt tôi rồi mỉm cười như vừa phát hiện bí mật gì đó.

    Trong bụng thầm nghĩ: "Ông già rồi, làm sao đấu lại thằng cháu tinh quái này chứ?"

    Ông chậm rãi nhấp ngụm trà, vẻ mặt vẫn khoan thai như thường lệ, nhưng ánh mắt đã bớt lơ đãng khi thấy tôi tiến lại gần.

    Mỗi lần tôi khẽ hỏi một câu, ông lại hắng giọng cố giữ vẻ bình thản, song những nếp nhăn nơi khóe mắt hằn sâu hơn đã tố cáo rằng ông chẳng thích bị dồn vào thế phải trả lời chút nào.

    Tôi buông tiếng cười khẽ, mắt nheo lại, nghiêng đầu như đang cân nhắc một ý tưởng táo bạo.

    "Ông ơi, Tử Linh thân thiết với ông lắm nhỉ?

    Hai người biết nhau bao lâu rồi ạ?

    Ông ơi, nói gì đi chứ, sao ông cứ ngượng ngùng lấp liếm thế này.

    Hay là... bà nội kế của con hả ông?"

    Nếu còn thời trai trẻ khỏe mạnh, ông chắc đã đè đầu tôi xuống bắt tạ tội với bà nội rồi.

    Nghĩ đến đó, tôi chỉ hận không tự vả miệng mình một cái cho tỉnh.

    Ông trợn mắt nhìn tôi, miệng vặn thành nụ cười mệt mỏi, khoé môi run run như cố nuốt lời chửi vào trong.

    Tay ông dừng lại trên quai tách trà, rồi đặt xuống bàn chậm rãi.

    "Thằng này... nói bậy."

    Tôi đổi giọng, hạ thấp thành tiếng thì thầm mềm mại như mật ngọt đang rót vào tai.

    Khuôn mặt thả lỏng, ánh mắt tròn xoe cố tạo vẻ ngây ngô dễ thương - một vai diễn quen thuộc tôi đã tập dượt bao lần.

    "Ông thật sự không muốn kể sao?

    Nếu ông chịu nói, cháu sẽ nấu cơm, dọn dẹp, thậm chí xoa bóp cho ông cả tháng.

    Đảm bảo chu đáo hơn cả dì Thanh giúp việc nữa, cháu hứa đấy!"

    Nụ cười tôi nở ra, vừa nịnh nọt vừa pha chút tinh quái, ngón tay khẽ vén lọn tóc bên má theo thói quen cũ.

    Nghĩ bụng, thằng cháu bất hiếu này hứa suông cũng nhiều lần rồi, ông mà tin mới lạ.

    Ông lấy tay gõ nhẹ lên trán tôi, cái gõ bâng quơ nhưng đủ để tôi biết ông đang mỉm cười thầm trong lòng.

    Mắt ông cong lên vui vẻ, thoáng dịu đi rồi lại trở về nét nghiêm thường ngày.

    "Cơm thì cứ nấu đi.

    Còn chuyện kia, chưa đến lúc."

    Giọng ông bình thản, như khẽ khép một cánh cửa nhỏ giữa hai người.

    Tôi chưa chịu dừng lại.

    Thay vì gặng hỏi thẳng, tôi thả một câu vu vơ như trò chuyện thường: "Cô ấy đứng ở sân sau, đúng chỗ bà hay ngồi ấy.

    Người lạ mà hợp khí nhà mình ghê ha ông?"

    Giọng tôi nhẹ như gió thoảng, nửa đùa nửa thật.

    Tôi nghiêng đầu tựa lưng vào ghế, dáng vẻ ngoan hiền như đang tán gẫu vu vơ.

    Nhưng sau lớp vỏ dịu dàng ấy, ánh mắt tôi vẫn sắc bén, lặng lẽ soi mói từng phản ứng nhỏ nhất trên gương mặt ông.

    Ông nhìn thẳng vào tôi, ánh mắt lặng lẽ mà sâu thẳm, như người đã hiểu rõ mọi chuyện nhưng chọn cách im lặng.

    Lần này ông thở dài, vết chân chim nơi khóe mắt hằn thêm một lớp thời gian.

    "Có những chuyện, càng chạm vào càng trôi xa."

    Lời ông rơi xuống chậm rãi, như tảng đá lăn nhẹ xuống hồ nước sâu không thấy đáy.

    Tôi khẽ nhếch môi, làm ra vẻ chịu thua như đã bỏ cuộc.

    Nhưng trong lòng, từng đường nét, từng chớp mắt, từng nhịp run nhẹ nơi khóe môi ông đều được tôi ghi nhớ cẩn thận.

    Mỗi dấu hiệu nhỏ ấy quý giá như mảnh ghép trong bức tranh bí mật tôi đang lắp ghép.

    Ông càng cố giữ vẻ bình thản, tôi càng nhẹ nhàng phủ thêm lớp giả vờ vô hại: một tiếng cười khẽ, ánh nhìn bâng quơ, vài câu đùa nửa thật nửa chơi.

    Từng chút một, tôi gỡ dần lớp vỏ ông dựng lên, kiên nhẫn như người bóc vỏ hành để lộ phần lõi giấu kín nhất.

    Đêm ấy, tôi mơ thấy sân sau dưới trăng.

    Trăng bạc loang lổ trên mái ngói cổ, gió im phăng phắc, chỉ có tiếng lá xào xạc thì thầm như lời cổ ngữ.

    Ánh sáng mờ ảo rọi xuống bóng một người đứng im lìm giữa sân.

    Tử Linh tay cầm Linh Ảnh, lưỡi đao đen tuyền nuốt lấy ánh trăng, để lại vệt bóng lạnh lẽo trải dài trên nền đất.

    Cô không nói gì, chỉ ngước nhìn trời cao, dáng đứng nghiêm cứng nhưng mong manh yếu ớt, lay động như bóng ma trong gió.

    Tôi bước tới gần hơn.

    Cô vẫn bất động.

    Khi chỉ cách vài bước, cô chậm rãi quay lại.

    Ánh mắt ấy trong mơ xa lạ đến lạnh người như thể tôi đang đối diện một người không hề thuộc về thế gian này.

    Thanh đao nằm im trong tay cô, lặng lẽ như câu trả lời cho một câu hỏi tôi chưa kịp đặt.

    Tôi giật mình tỉnh dậy giữa sáng sớm.

    Căn bếp ngập sương nhẹ buổi mai, ánh sáng dịu dàng chảy qua khung cửa, và ngồi ở bàn là cô - Tử Linh thật sự, không còn là bóng hình mơ hồ nữa.

    Cô khoanh chân, mải mê gọt táo, tay chuyển động chậm rãi nhưng chính xác đến lạ, từng lát vỏ mỏng rơi xuống như mảnh chạm khắc tinh xảo.

    Ánh sáng chiếu lên mái tóc rối của cô, làm nổi bật những đường nét thanh tú trên khuôn mặt tái nhợt.

    Nhìn cô ấy dưới buổi sáng yên bình thế này, tôi bất giác thấy tim như đập nhanh hơn một nhịp.

    Tôi đặt nhẹ chiếc nắp nồi xuống rồi giả vờ vô tình hỏi: "Cô làm nghề điêu khắc à?"

    Cô không ngẩng lên ngay.

    Một lúc sau, cô buông dao, ngước nhìn tôi bằng ánh mắt vừa lạ lẫm vừa bình thản: "Không.

    Tôi không nhớ mình từng làm gì."

    Câu trả lời gọn gàng, giọng phẳng như mặt gương không gợn sóng.

    Ánh mắt ấy khiến tôi vừa lạnh sống lưng vừa muốn lại gần hơn, dù biết chắc sẽ bị cái nhìn lạnh lẽo ấy đẩy ra xa.

    Không khí bếp sáng sớm bỗng vừa đời thường vừa đầy khoảng trống im lặng, nơi những lời chưa nói cứ dày lên, chờ ai đó lấp đầy.

    Bữa sáng hôm đó thật ấm áp.

    Mùi cháo thơm nhẹ, hơi nước bốc lên quanh bát, quyện với mùi hành phi và tiêu rang, tạo thành một lớp hương mỏng như tấm chăn phủ lên căn bếp.

    Tiếng muỗng chạm vào sứ vang lên đều đều, như một nhịp sống cũ đang được lặp lại.

    Ông nội ngồi ở đầu bàn, tay chậm rãi khuấy cháo, ánh mắt lơ đãng nhưng vẫn để ý từng động tác của tôi.

    Tử Linh ngồi đối diện, không nói gì, chỉ cúi đầu ăn từng thìa nhỏ.

    Ánh sáng buổi sớm tràn qua khung cửa, rọi lên mặt bàn một vệt vàng nhạt.

    Trên bàn là lọ tiêu gỗ cũ, một đĩa rau thơm và vài món ăn kèm được xếp ngay ngắn.

    Tất cả đều mang dáng dấp của một buổi sáng đã lặp đi lặp lại hàng chục năm trong nhà tôi.

    Nhưng hôm nay có gì đó khác.

    Không phải vì món ăn, mà vì sự hiện diện của cô.

    Cô không phá vỡ nhịp sống ấy, chỉ giống như một người khách lặng lẽ ngồi vào bàn.

    Cô tựa như một ký ức trở về, vừa thuộc về nơi này vừa không hoàn toàn thuộc về nó.

    Tử Linh đặt thêm một trái táo gọt sạch vào đĩa, vuốt nhẹ mép dao như thói quen cũ.

    Tôi bất giác bị hút hồn vào, một động tác đơn giản như gọt táo sao lại đẹp và thuần thục đến thế, như thể cô đã làm điều này hàng nghìn lần trong một cuộc đời khác.

    Rồi cô khẽ nói với ông: "Tôi muốn đi tìm một thứ."

    Ông không hỏi đó là gì, chỉ cúi đầu mím môi giây lát, rồi hỏi đơn giản: "Đi đâu?"

    "Chợ đồ cổ Hạ Khê."

    Chợ Hạ Khê - khu chợ đồ cổ lớn nhất vùng, mà dân trong giới gọi đùa là "mê cung cổ vật".

    Nó trải rộng hàng chục con phố cũ kỹ, hàng vạn quầy hàng san sát từ sáng đến khuya, từ những cửa tiệm lớn mặt tiền bóng loáng trưng bình sứ men lam, tượng gỗ lim, tranh thư pháp cuốn trục, đến những gian hàng nhỏ lén lút trong ngõ hẻm ngoằn ngoèo sâu hun hút.

    Bề ngoài nhộn nhịp khách du lịch chen chúc mua kỷ niệm dưới mái ngói cong cổ kính, đèn lồng đỏ treo lủng lẳng, tiếng cười nói rộn ràng.

    Nhưng bước sâu vào phía sau là cả một thế giới ngầm khác: hàng quán bí mật chất đầy đồ đồng xanh rỉ thời Đông Sơn, ngọc jade khắc tinh xảo, hoành phi câu đối triều Nguyễn, sách cổ mốc meo, đồ trang sức vàng son.

    Thật giả lẫn lộn không kể xiết, giá cả từ vài đồng đến cả gia tài, chỉ một phút chủ quan là mất trắng.

    Tôi khẽ thở ra, cố giữ vẻ bình thường: "Mấy nơi đó lắm kẻ lừa đảo.

    Cô tính đi một mình sao?"

    Tử Linh quay sang tôi, ánh mắt cảnh giác dò xét một thoáng.

    Tôi vội tìm cớ, giọng hào hứng hơn dự định: "Ngại phiền à?

    Không đâu.

    Nếu cô muốn, tôi đi cùng cho tiện.

    Tôi quen khu đó, biết mấy chỗ đáng tin, nhìn đồ cũng khá."

    Trong lòng tôi háo hức không thôi, đây là cơ hội để hiểu thêm về cô ấy đây mà.

    Ông nội đặt muỗng xuống, nhìn hai đứa chúng tôi giây lát rồi quyết luôn: "Để thằng này đi cùng cũng được.

    Nó hay mò mẫm ở mấy chợ đồ cũ, có mắt nhìn, ít bị lừa hơn."

    Tử Linh im lặng một chút, rồi gật đầu nhẹ.

    Trước khi ra cửa, cô quay lại hỏi ông, giọng khẽ nhưng chắc chắn: "Nếu tôi không tìm được, có nên dừng lại không?"

    Ông nhìn cô, đôi mắt thoáng dịu dàng, rồi trả lời chậm rãi, câu nói khiến tôi linh cảm ông đang giấu điều gì đó khỏi tôi: "Cái gì cần tìm sẽ sớm hiện ra.

    Cứ cẩn trọng."

    Chúng tôi bước vào chợ đồ cổ Hạ Khê, nơi mà từ thời Pháp thuộc đã là "thiên đường đồ cổ" nổi tiếng khắp vùng.

    Ngày ấy, người Pháp đổ xô về đây săn lùng từ đồ châu Âu cũ kỹ lẫn Á Đông quý hiếm, giống như ở Chợ Lớn Sài Gòn hay phố Lê Công Kiều, nơi thương nhân người Việt-Hoa mang về đủ thứ gốm sứ men lam Trung Quốc, đồng hồ Pháp cổ xỉn màu, tượng gỗ lim Việt khắc tinh xảo hay ngọc phỉ thúy chạm rồng phượng từ các chuyến tàu xa xôi.

    Đến nay, chợ vẫn giữ nguyên cái hồn ấy, chỉ thêm phần du khách nhộn nhịp và những câu chuyện đồn đại về món hàng "bị ám" từ thời thuộc địa.

    Đám người mời chào dày đặc như ruồi vo ve quanh đống mật.

    Chợ đồ cổ nơi đây vốn là một thế giới riêng với bề ngoài nhộn nhịp hàng quán hợp pháp, nhưng bên trong là những ngõ hẻm tối tăm đầy giao dịch ngầm, đồ thật đồ giả lẫn lộn.

    Họ vừa nhìn thấy hai thanh niên trẻ như chúng tôi, kiểu "cậu ấm cô chiêu chẳng có mắt nhìn đồ", là lập tức tụ họp lại, giọng lè nhè ngọt như mật pha đường phèn:

    "Cô ơi, vào xem chút đi, đồ này chắc hợp với cô lắm, hàng xịn từ thời nhà Trần đấy!"

    "Đồ tốt đây anh, em bớt cho cô em nhé, giá hữu nghị thôi!"

    Nhìn đám dân buôn này, tôi chợt nhớ lời ông nội từng kể về hồi ông còn trẻ, mới chập chững bước chân vào giới chơi đồ cổ.

    Ngày ấy ông vẫn còn là tay mơ, ham của rẻ nên bị một gã người Hoa láu cá ở Triều Thiên Cung lừa cho một trận nhớ đời.

    Ông mua trọn bộ đồ cổ giả tinh vi, về nhà mới tá hỏa nhận ra.

    Có quay lại mấy lần cũng không tìm ra cái gã chết dẫm ấy.

    Mỗi lần có gã nào dúi một món vào tay Tử Linh, tôi lại đứng ra chắn, lắng nghe chi tiết rồi sắc bén bác bỏ, tuy không to tiếng nhưng đủ để họ giật mình.

    "Đồng mạ điện hiện đại thôi, vết khắc giả lộ liễu quá, máy CNC cắt nét thế này thì làm sao cổ được."

    "Vỏ sơn giả màu ruồi đấy, chứ không phải sơn ta cổ.

    Không tin thì ngửi kỹ đi, mùi hóa chất còn nồng nặc kìa, chứ sơn cổ phải thoang thoảng mùi nhựa thông mới đúng."

    "Cái bình này men rạn giả, vết nứt đều tăm tắp như in luôn."

    Cách tôi nói làm vài gã giật mình lùi lại, vài tên đỏ mặt lắp bắp chữa cháy, số khác vội chuyển hướng nịnh nọt thêm, cố duy trì bộ mặt "đáng tin cậy" của dân buôn chợ đen.

    Nghĩ lại vẫn thấy buồn cười, gã người Hoa lừa ông nội năm xưa sau này còn liều sang Việt Nam tiếp tục hành nghề, rồi bị cảnh sát chìm người Việt bắt quả tang, giao về nước cho hắn bóc lịch vì tội buôn bán hàng giả.

    Ông nội đọc báo hôm ấy hả hê lắm, vừa vỗ đùa vừa bảo "nghiệp quật đấy, thằng khốn!".

    Đám mời chào vẫn dày đặc, nhưng tôi và Tử Linh tiếp tục lách qua, mắt cô lướt nhanh qua từng quầy hàng như đang tìm kiếm điều gì đó đặc biệt.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 3 Bật lửa cổ


    Một gã trung niên ăn mặc giản dị bước tới, nụ cười lộ rõ chiếc răng vàng lóe sáng mỗi lần há miệng ra.

    Gã nhặt sợi dây đứt rơi từ cổ Tử Linh từ lúc nào không hay, móc vào lòng bàn tay rồi đưa lên ngửi ngửi.

    Mùi gỗ ngọc am đặc trưng thoang thoảng lan ra, xộc vào mũi tôi.

    Gã cười nửa miệng, chiếc răng vàng lại lấp lánh.

    "Đồ tốt đấy," gã nói, giọng nhừa nhựa vừa nịnh nọt vừa dò xét.

    Ánh mắt gã liếc nhanh qua cổ tay cô, dừng lại ở vết sờn trên móng tay, rồi lướt xuống những vết sẹo mờ dần trên bàn tay - dấu tích quen thuộc của người từng phá giải hàng tá cơ quan tinh vi, kiểu chỉ thấy trong tiểu thuyết.

    Những vết tróc da trên mặt cô gợi lên hình ảnh ai đó thường bò chui qua khe hẹp, lẩn mình trong bóng tối.

    Gã nhếch môi: "Người quen mấy chuyện mộ cổ thường có dấu này.

    Cô chắc không phải tay mơ."

    Tôi nổi khùng: "Trộm mộ là thất đức.

    Đừng có bôi nhọ cô ấy nghe chưa?"

    Giọng tôi gắt gỏng, mặt nóng bừng vì tức giận.

    Gã răng vàng hạ giọng xoa dịu, giơ tay làm hòa: "Ừ ừ, tao chỉ đoán thôi mà.

    Dân trong nghề hay có kiểu đó.

    Mà thôi, vào tiệm tao đi, thương tình lần đầu gặp, tao bớt giá cho.

    Để tao coi kỹ, biết đâu còn đổi được cho cô bé này mấy món tương tự đẹp hơn."

    Nghe có vẻ tử tế, nhưng cái thớ buôn bán láu cá quen tay của gã vẫn lộ rõ mồn một.

    Tử Linh không trả lời ngay.

    Cô rút nhẹ mảnh gỗ ngọc am từ tay gã, cất kỹ vào túi áo.

    "Nó giống một chiếc bật lửa kim loại," cô nói, giọng điềm tĩnh.

    "Khắc vài chữ lạ.

    Và nó thơm."

    Cách nói đơn giản mà đặc biệt của cô khiến gã cau mày, nét mặt chuyển từ nịnh nọt sang tò mò thật sự.

    Gã dẫn chúng tôi vào một góc chợ tối tăm, nơi tiệm nhỏ chất đầy hộp đồ lẫn lộn, bụi bám dày đặc.

    Gã bày ra bàn đầy những chiếc bật lửa kim loại cổ, mỗi chiếc khắc hoa văn khác nhau, ánh kim loại xỉn màu lấp lánh dưới ánh đèn mờ.

    Tử Linh chạm vào từng cái một, chậm rãi.

    Mỗi lần như thế, cô nhắm mắt giây lát, rồi gật đầu hoặc lắc đầu nhẹ.

    Cô phân loại bằng cách lạ lùng: chạm nhẹ vào thân kim loại, đưa lên ngửi, rồi lắc khẽ lắng nghe tiếng vang bên trong.

    Cái nào kêu độn hoặc không đúng ý, cô lặng lẽ gạt sang một bên.

    Tôi đứng nhìn, mắt mở to không chớp.

    Mỗi lần cô dừng lại nhắm mắt, tôi cảm giác đó không chỉ là nghề như gã nói, mà như một đứa trẻ đang tìm lại món đồ chơi cũ trong hộp ký ức bị lãng quên từ lâu.

    Gã chủ tiệm răng vàng ghé sát thì thầm với tôi: "Mấy món này từ mấy chỗ nhạy cảm cả, người thu thập hay gặp chuyện lạ lắm.

    Muốn giảm giá thì không thành vấn đề, nhưng mấy cô cậu cân nhắc kỹ đi."

    Tôi chỉ đáp bằng nụ cười mỉm, cố kìm sự tò mò đang trào dâng, không muốn quấy nhiễu sự tập trung của cô.

    Tử Linh xếp những món tương tự lại thành đống nhỏ, không nói lời nào, chỉ săm soi chúng như người đang dò tìm một tấm bản đồ cổ xưa.

    Cách cô phân loại, những dấu khắc triện văn tinh xảo, mùi gỗ ngọc am thoang thoảng, cùng ánh mắt lăm le của gã răng vàng.

    Tất cả đã phần nào rọi sáng lên thân phận mờ mịt của cô.

    "Ở đây không có," Tử Linh khẳng định.

    Gã răng vàng liếc cô một cái nhanh như tính toán, rồi ra dấu cho chúng tôi đi theo.

    Gã khẽ vén tấm rèm vải cũ kỹ mốc meo, dẫn vào gian kho chật hẹp tối om.

    Không gian bên trong đậm mùi cũ kỹ, mùi keo dán, mùi gỗ mục và lớp bụi mịn phủ dày như sương mù.

    Gã lôi ra một chiếc hộp vuông, tám mặt dán kín giấy đỏ vẽ đầy ký tự ma quái quỷ dị.

    Nhìn cái hộp ấy làm tôi bất giác lạnh sống lưng.

    Chợ Hạ Khê này đầy lời đồn về "đồ cổ bị ám" từ thời Pháp thuộc, có một câu chuyện khiến tôi đến giờ vẫn ám ảnh thế này.

    Ngày xưa, có một ông thương nhân giàu có mua được một chiếc đỉnh đồng cổ đẹp lung linh.

    Thứ đặc biệt là trong đỉnh có một loại bột hương thơm kỳ lạ, không cần đốt mà vẫn tỏa mùi ngát lạ thường, quyến rũ đến mê hoặc.

    Ông ta mang về đặt ngay trong phòng ngủ, nghĩ rằng đó là bảo vật an thần, giúp vợ chồng ngủ ngon và bổ khí huyết.

    Vợ ông thương nhân khi ấy vừa sinh con.

    Ban đêm, hai vợ chồng cứ nghe tiếng trẻ con khóc thút thít vang lên từ đỉnh đồng.

    Lúc chạy sang phòng vú em xem thì đứa nhỏ vẫn ngủ say sưa.

    Cứ nhiều lần như vậy, nhà cửa bắt đầu lục đục: đồ đạc tự rơi vỡ, gia nhân bỏ việc, con cái ốm đau liên miên.

    Hoảng quá, họ mời thầy phong thủy đến xem.

    Cũng may, lúc ấy nhà có nhận một cặp thầy trò bốc mộ ở nhờ, họ đang làm việc dời mộ tổ cho ông thương nhân.

    Người thầy biết chút phong thủy, thấy chủ nhà gặp chuyện cũng không nề hà gánh thêm việc.

    Vừa bước vào phòng ngủ, thầy đã chú ý ngay đến chiếc đỉnh đồng.

    Thầy mở nắp, ngửi qua một chút rồi lập tức biến sắc.

    Người thương nhân thấy thế liền rối rít hỏi nguyên do.

    "Thứ này là Cốt Tửu Tán!"

    Thầy bốc mộ nói.

    Đó là một loại bột man rợ làm từ thai nhi ngâm rượu thuốc.

    Có những kẻ tin rằng thai nhi là "thần dược", nên chúng lấy chính các thai nhi đã thành hình để làm thuốc bổ.

    Cốt Tửu Tán chia làm hai loại chính, một là loại thai bị sảy ra ngoài, loại ác độc hơn thì mổ sống sản phụ, lấy bào thai còn thoi thóp ngâm vào hũ rượu thuốc đặc chế.

    Sau nhiều ngày, thai nhi kết đặc lại, đập hũ lấy ra nghiền nát thành bột mịn, đổ vào lư hương xông phòng.

    Loại bột ấy càng để lâu càng thơm ngát, được những kẻ mê muội đến tàn ác coi là trân bảo bổ khí huyết, làm tăng tuổi thọ.

    Nhưng đó là tội ác trời không dung đất không tha.

    Pháp luật thời nay đã nghiêm cấm, trải qua nhiều đợt càn quét thị trường để tiêu hủy hết, không hiểu sao tới tận lúc đó vẫn còn sót lại một chiếc đỉnh đồng chứa Cốt Tửu Tán này.

    Hai vợ chồng thương nhân nghe xong suýt ngất.

    Ông ta chạy đi chất vấn chỗ bán, nhưng gã chủ kia cũng chẳng biết gì.

    Nó lẫn trong lô hàng nhập từ nước ngoài, gã cũng tưởng nó hương an thần bình thường.

    Sau này chiếc đỉnh đồng đó được xử lý thế nào thì chẳng ai biết cả.

    Tôi cho rằng, một thứ như vậy chắc chắn đã không còn tồn tại trên đời.

    Tôi rùng mình nhớ lại câu chuyện ấy, nhìn chiếc hộp trước mặt mà tim đập thình thịch.

    Liệu thứ bên trong có phải cũng là một món đồ như thế?

    Khi Tử Linh chạm tay vào nắp, chiếc hộp đột ngột rung lắc điên cuồng, tiếng động khô khốc vang lên như có thứ gì sống dậy bên trong khiến tôi giật bắn mình.

    Cô lập tức phản ứng, thì thầm một câu lạ lùng như đọc chú cổ xưa, giọng nhỏ đến mức chỉ lọt vào tai những người đứng gần.

    Gã răng vàng bỗng biến sắc, mặt tái mét, lùi lại một bước như gặp ma.

    Không chần chừ, cô cắn mạnh đầu ngón tay.

    Máu đỏ tươi bật ra, cô kéo ngón ấy qua nắp hộp, vẽ một vệt ngang dài như dấu ấn máu.

    Chiếc hộp lập tức im bặt, ngừng rung như bị chính máu cô trấn áp hoàn toàn.

    Tử Linh xé từng lá bùa một, bóc mép giấy đỏ phong kín lâu ngày với động tác thận trọng nhưng dứt khoát.

    Khi tấm bùa cuối cùng rơi xuống thành những mẩu vụn tơi tả dưới đất, cô khẽ khàng dùng hai ngón tay nhấc nắp lên.

    Nắp hộp bật mở với âm thanh nhỏ xíu, nghe như tiếng thở dài bị kìm nén quá lâu đột ngột thoát ra.

    Một làn khí lạnh mỏng tỏa ra như từ đáy mộ sâu thẳm, thấm vào da thịt khiến tôi bất giác rùng mình.

    Mùi lá trà ướp cổ lẫn mùi đồng cũ xộc lên nồng nặc, át đi bụi bặm kho hàng, mang theo cảm giác chết chóc khó tả.

    Gã răng vàng lùi lại một bước, tay siết chặt trong vô thức, khớp ngón run lẩy bẩy lộ rõ sự kinh hãi.

    Gã cúi gằm mặt, như sợ thứ trong hộp đang nhìn lại mình.

    Bên trong quả nhiên là một chiếc bật lửa nhỏ xíu, chỉ lớn bằng hai ngón tay, viền bạc đã xỉn màu theo năm tháng.

    Tử Linh cầm nó lên, lắc nhẹ như những lần kiểm tra trước.

    Cô vặn cần, bật vài lần, bánh xe kêu khô khốc, tia lửa lóe lên chớp nhoáng nhưng không bén thành lửa.

    Tôi nghĩ nhiên liệu đã cạn từ lâu, cái thứ người xưa thường đổ vào bật lửa kiểu này: dầu hỏa pha loãng, xăng thơm hay naphtha.

    Mùi nồng ấy thoảng qua trong đầu tôi như ký ức về căn bếp già cỗi ngày xưa, nơi ông nội từng ngồi hút thuốc lào bên lò than đỏ.

    "Đây chính là thứ tôi cần," cô nói bằng giọng chắc chắn.

    "Ra giá thế nào?"

    Tôi quay sang gã răng vàng định hỏi giá, nhưng chỉ thấy gã đã núp dưới gầm bàn từ bao giờ, chỉ ló ra chiếc răng vàng và cái mũ sờn, đôi mắt trợn tròn đầy hoảng loạn.

    Thấy chúng tôi nhìn, gã vội chắp tay van xin:

    "Hai vị cao thủ, lão già này có mắt như mù!

    Hai người mang cái thứ ấy đi, mang đi đi!

    Tiền bạc gì cũng không cần, quên hết đi...

    Xin hai vị tha cho!"

    Giọng gã run rẩy nửa van nài nửa khiếp hãi, ánh mắt vẫn dán chặt vào chiếc bật lửa như thể nó là con quái vật sống dậy, sẵn sàng lao vào xé xác gã nếu rời khỏi tay cô.

    Tử Linh không đáp lời.

    Cô nhét chiếc bật lửa vào túi áo, cử chỉ nhẹ nhàng như cất một viên ngọc quý vào hộp báu.

    Rồi cô quay người, từ tốn bước ra khỏi tiệm, để lại gã răng vàng vẫn lảm nhảm van xin, co rúm dưới gầm bàn như gặp ma.

    Vừa ra khỏi cửa hàng, Tử Linh đột ngột đứng sững, cơ thể căng cứng như dây đàn, mắt liếc nhanh khắp xung quanh đầy cảnh giác.

    Tôi tò mò tiến lại gần, vừa mở miệng thì cô đã kéo tôi sát vào người khiến mặt tôi bất giác nóng ran, cô thì thầm gấp gáp: "Có người đang theo dõi chúng ta."

    Tôi quay phắt đầu nhìn quanh biển người nhộn nhịp, nhưng giữa tiếng rao hàng ồn ào và quầy hàng chất chồng, mọi thứ hỗn loạn đến mức không thể phân biệt ai với ai.

    Ai cơ?"

    Tôi hỏi lại, giọng đầy nghi hoặc.

    Cô không trả lời, chỉ ngoảnh phắt về phía sau một thoáng rồi đẩy mạnh tôi vào con hẻm tối gần nhất.

    Còn một mình, cô lao thẳng vào đám đông như con thú đang thoát khỏi bầy chó săn.

    Trong hẻm, không khí ngột ngạt như bị bóp nghẹt, ánh sáng lọt qua khe mái tôn tạo thành những vệt bạc loang lổ trên bức tường phủ đầy rêu phong.

    Tôi đứng lặng, cố hít thở đều lại, tim đập thình thịch khi thoáng thấy mấy bóng người vụt qua đầu hẻm, chỉ kịp nhận ra áo mũ và những bước chân gấp gáp đuổi theo nhau.

    "Chạy ngược lại!"

    Tiếng cô vang lên giữa hỗn loạn.

    Tôi chấn động, nửa muốn lao theo nhưng chẳng biết đường nào mà lần.

    Con hẻm giữa hai tòa nhà hẹp đến mức phải hóp bụng, nhón chân đi ngang như con cua mới lọt.

    Tay tôi bấu chặt vào tường gạch thô ráp, móng tay ghì sâu đến trắng bệch, mồ hôi túa ra dù không khí lạnh buốt.

    Cuối cùng cũng chui ra được, tôi bất ngờ đâm sầm vào ai đó.

    Định mở miệng xin lỗi thì chợt nhận ra khuôn mặt quen thuộc.

    Gã răng vàng nhìn tôi bằng ánh mắt lấm lét, mặt dính đầy vụn bùa đỏ, miệng lắp bắp: "Mang nó đi đi...

    Đi đi..."

    Tôi cúi xuống nhìn tay mình, không biết từ lúc nào, chiếc bật lửa đã nằm gọn trong lòng bàn tay, lớp hoa văn lạnh ngắt ánh lên sắc bạc mờ ảo dưới ánh nắng chiều lọt qua khe ngõ.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 4 Cuộn da bí tự


    Đã vài ngày trôi qua kể từ hôm ở chợ đồ cổ, nhưng tôi vẫn chưa thể trở lại nhịp sống thường ngày.

    Cửa hàng mở đúng giờ nhờ A Cát lo liệu, bảng hiệu vẫn treo, và chẳng có bóng khách nào ghé qua như mọi ngày.

    Tôi ngồi sau quầy, dưới ánh sáng vàng vọt từ bóng đèn cũ hắt xuống mặt bàn gỗ mộc mạc, tay cầm chiếc bật lửa, ngón cái vô thức lướt qua lớp hoa văn bạc đã xỉn màu theo năm tháng.

    Chiếc bật lửa không hề thay đổi, nhưng tôi thì khác.

    Tôi không chắc mình đang chờ đợi điều gì, một tín hiệu, một lời giải thích, hay chỉ đơn giản là một lần nữa được thấy Tử Linh.

    Ly mì tôi pha từ sáng vẫn nằm nguyên đó, ban đầu còn bốc hơi nghi ngút, giờ đã nguội ngắt, sợi mì nở phồng trương lên như những cánh hoa úa tàn trong chậu nước cũ.

    Tôi nhìn nó mà chẳng thấy đói, chỉ thấy thời gian trôi qua chậm chạp rì rì, nặng trịch như bánh răng đồng hồ cũ kỹ bị bụi thời gian bám đầy.

    Trên sổ ghi chép cửa hàng, giữa những dòng chữ nguệch ngoạc về giá nhập và số lượng hàng tồn, tôi bất giác nhận ra mình đã vẽ một khuôn mặt từ bao giờ.

    Đôi mắt hơi xếch, sống mũi thanh tú, mái tóc buộc hờ rối nhẹ.

    Là Tử Linh.

    Tôi không giỏi vẽ, nét bút run run vụng về, nhưng lại nắm bắt đúng thần thái bí ẩn lạnh lùng của cô, cái ánh mắt sâu thẳm khiến tim tôi bất giác đập nhanh hơn khi nhìn lại những đường nét ấy.

    Tôi lật sang trang mới, rồi lại vẽ tiếp, như thể tay tôi nhớ cô nhiều hơn trí óc, nhớ đến mức không thể dừng bút.

    Tôi ngồi đó, thất thần giữa cửa hàng vắng ngắt không một bóng khách, ly mì nguội ngắt chưa động đũa, cuốn sổ giờ chỉ toàn những nét vẽ vụng về về cô.

    Chiếc bật lửa nằm trong tay, tôi cứ bật tắt liên hồi, những tia lửa lấp lánh tung tóe rồi vụt tắt như những mảnh ký ức về cô, luôn vụt mất trước khi kịp nhóm lên một ngọn lửa thực sự.

    A Cát bỗng ló đầu vào, vẻ mặt nghiêm túc hơn thường lệ nói: "Có người muốn gặp ông chủ."

    Tôi giật mình, vội gấp cuốn sổ giấu vào túi áo.

    Nét vẽ Tử Linh vẫn in mờ trên giấy, lưu luyến trong tâm trí tôi đến mức tôi suýt không nỡ buông, nhưng giờ không phải lúc.

    Tôi đứng dậy, bước ra phía trước tiệm.

    Phúc An Trụ - cái tên nghe như một lời cầu nguyện giản dị.

    "Phúc" là may mắn, vận lành mà ai cũng mong cầu trong đời.

    "An" là bình yên, không phải tĩnh lặng tuyệt đối, mà là cảm giác được che chở giữa những biến động cuộc sống.

    Còn "Trụ" là cây cột chống đỡ, điểm tựa vững chãi giữa những thứ đã cũ kỹ mòn mỏi nhưng vẫn chưa sụp đổ.

    Tuy là cửa hàng nhỏ nhất nhà, nhưng đây vốn là sản nghiệp đầu tiên của ông cố tổ nhà họ Quân chúng tôi.

    Nhờ nó mà cơ nghiệp mới lớn mạnh qua các đời con cháu.

    Thế mà đến tay tôi thì lại thảm hại đến thế này.

    Đôi khi chỉ đứng thắp hương trước bàn thờ tổ thôi, tôi cũng có cảm giác như ai đó đang gõ đầu mình, kiểu: "Mày làm ăn kiểu gì đấy hả con?".

    Tiệm đồ cổ này có giấy tờ hợp pháp đàng hoàng, đóng thuế đầy đủ, khác hẳn với những giao dịch ngầm ngoài chợ đen.

    May mà thế, chứ không thì cảnh sát ghé thăm thường xuyên hơn khách mất.

    Đến lúc ấy chắc tiệm tôi đông vui hẳn, nhưng toàn "khách vip" mặc đồng phục thôi.

    Vì vậy, đồ ở đây chủ yếu là món khách mua về làm kỷ niệm hoặc trang trí, hoặc những thứ ít sinh lời như đồ gia truyền linh tinh, kiểu mà tôi hay để phủ bụi trên kệ cả năm, chờ ngày nào đó "có duyên" mới chịu bán.

    Nghề buôn đồ cổ vốn kỳ lạ lắm.

    Người ta hay nói đùa: bán một món mà đủ ăn ba năm, có khi mở cửa một ngày rồi đóng cửa ba năm sau cũng chẳng sao.

    Thời gian ở đây không chạy theo nhịp đồng hồ, mà trôi theo từng món đồ cũ kỹ.

    Phải chờ đúng người, đúng lúc mới chịu "lên tiếng".

    Tôi đã quen với sự chờ đợi ấy đến mức đôi khi tự hỏi mình có đang sống như một món đồ cổ trong chính tiệm nhà mình hay không.

    Phủ bụi, lười biếng và chỉ tỉnh dậy khi có khách hoặc... khi ông nội gọi điện mắng.

    Tôi bước ra quầy, ánh nắng ngoài trời hắt qua tấm kính mờ đục, chiếu lên những chiếc bình men rạn trên kệ, tượng gỗ đứng lặng, và chiếc đồng hồ quả lắc đã ngừng chạy từ bao giờ.

    Người khách đứng đó, quay lưng lại, dáng người thấp bé, khoác áo gió màu xám tro phai nhạt.

    Tôi hít một hơi sâu, tay đặt lên chiếc bật lửa trong túi để chắc chắn hơn nó vẫn còn ở đó, rồi tiến tới chào vị khách ấy một tiếng.

    Người khách ấy quay lại nhìn tôi.

    Anh ta trạc ngoài ba mươi, dáng người gầy nhưng không yếu, cơ thể như dây đàn thép bị kéo căng quá lâu.

    Ánh mắt mệt mỏi thâm quầng như vừa trải qua một cuộc giằng co dài hơi với chính cuộc đời - kiểu người ta hay gọi là "vật lộn với số phận" mà vẫn chưa chịu thua.

    "Anh cứ gọi tôi là Đăng," anh ta nói, giọng khàn khàn nghe khô khốc, rồi đặt lên mặt quầy một túi vải cũ kỹ, chậm rãi mở ra cuộn giấy da ngả màu vàng sậm, mép sờn cháy xém như vừa thoát khỏi một trận lửa.

    Tôi cúi xuống nhìn kỹ hơn.

    Những cuộn giấy da ấy rõ ràng thuộc về một bộ ghi chép cổ xưa nào đó, bề mặt vàng sậm như da động vật đã qua hàng thế kỷ, mỏng manh nhưng dai dẳng lạ thường.

    Mép giấy sờn rách lởm chởm, vài chỗ cháy xém đen kịt như từng bị lửa liếm qua trong một trận hỏa hoạn xa xưa, vài chỗ khác loang lổ vết nước ngấm sâu, khiến thớ da co lại thành những nếp nhăn kỳ quái.

    Trên bề mặt, những hoa văn uốn lượn được vẽ bằng mực đen đã nhòe mờ theo thời gian, nét bút sắc bén nhưng rối ren, không phải họa tiết trang trí thông thường mà giống như một thứ ngôn ngữ cổ xưa bị bóp méo với đường nét xoáy tròn, chấm nối chấm, gợi cảm giác lạnh lẽo như những con mắt đang nhìn lại từ quá khứ xa xăm.

    Nội dung thì tôi đọc không hiểu nổi.

    Đó là một loại cổ ngữ lạ lẫm, ký tự uốn éo như rễ cây ngoằn ngoèo dưới đất sâu, chưa từng thấy qua trong bất kỳ sách vở hay di vật nào tôi từng tiếp xúc.

    "Thật sự không còn cách nào khác," anh Đăng nói, ánh mắt dò xét cảm xúc trên mặt tôi như muốn đo lường xem tôi có dễ bị thuyết phục không.

    "Nhà tôi đang gặp chút khó khăn, nên mới bất đắc dĩ đem mấy món đồ của ông cố truyền cho ông nội mới mất đi bán."

    Tôi không nói gì, chỉ liếc anh ta một cái.

    Cái lý do "bất đắc dĩ" ấy nghe quen tai quá, kiểu lời biện minh mà người ta hay dùng để hợp lý hóa việc cắt đứt với quá khứ, như thể bán đi không chỉ là đồ vật mà còn là một phần ký ức.

    Tôi không trách anh ta, ai mà chẳng có lúc cùng đường, nhưng cũng chẳng tin hoàn toàn.

    Trong giới đồ cổ này, câu chuyện "đồ quý gia truyền" thường là màn mở đầu cho một cuộc mặc cả dài hơi.

    "Đem đi mấy chỗ rồi," anh ta tiếp lời, giọng hơi run run như cố giấu nỗi thất vọng.

    "Không ai nhận cả.

    Chủ tiệm khác còn bảo là rác rưởi, vứt quách đi cho rồi.

    Nhưng ông nội tôi lúc còn sống cứ luôn miệng khăng khăng đây là vật báu gia truyền."

    Tôi lật một cuộn giấy da lên, để ánh sáng vàng vọt từ bóng đèn cũ hắt xuống mặt giấy.

    Những đường nét mờ mịt lập tức hiện ra rõ hơn, như được đánh thức từ giấc ngủ dài.

    Tay tôi vô thức chạm vào một đoạn hoa văn.

    Những nét vẽ ấy mang một sức hút kỳ quái, lạnh lẽo đến thấu xương.

    Chúng như những con mắt đang chậm rãi mở ra từ mặt giấy, nhìn thẳng vào tôi, khiến sống lưng tôi bất giác lạnh buốt dù không khí trong tiệm vẫn ấm áp như thường.

    "Nó quả là vật báu," tôi nói, giọng không lớn nhưng đủ để anh ta nghe rõ.

    Anh Đăng ngẩng lên nhìn tôi, ánh mắt thoáng ngạc nhiên xen lẫn hy vọng, rồi lại cúi xuống chờ tôi nói thêm.

    Tôi không vội trả lời ngay, mà cúi xuống quan sát kỹ hơn.

    Buôn đồ cổ dạy tôi một điều cơ bản này: đừng bao giờ tin vào vẻ ngoài.

    Tôi lấy kính lúp nhỏ từ ngăn kéo quầy - món đồ ông nội bắt buộc phải mang theo từ thuở mới tiếp quản tiệm - rồi soi từng cuộn giấy da dưới ánh đèn vàng ấm.

    Lớp da khô ráp dưới đầu ngón tay, không bóng loáng như giấy giả hiện đại, mà có độ xù nhẹ tự nhiên của da động vật già nua.

    Mép giấy sờn đều, không sắc nét như cắt máy, vài chỗ cháy xém đen sì như từng bị lửa liếm qua.

    Là dấu vết thời gian thật sự, chứ không phải làm giả bằng axit.

    Tôi khẽ ngửi, mùi cũ kỹ thoang thoảng, lẫn chút da thuộc và mực cổ, không có mùi hóa chất mới tinh nào xen vào.

    Soi ngược ánh sáng, tôi thấy mực thấm đều vào thớ da, phai mờ theo năm tháng chứ không nổi bật như in ấn.

    Và rồi, tim tôi khựng lại.

    Những hoa văn uốn lượn ấy... giống hệt như trên chiếc bật lửa trong túi tôi.

    Không phải trùng hợp ngẫu nhiên, mà là cùng một kiểu ký tự lạ lùng, như được vẽ bởi cùng một bàn tay từ thời xa xưa.

    A Cát đứng bên cạnh, mắt tròn xoe nhìn tôi làm việc, chắc cậu ta hiếm khi thấy ông chủ lười biếng nhà mình chịu khó đến thế.

    Tôi đặt kính lúp xuống, mỉm cười với anh Đăng: "Đồ thú vị đấy.

    Ta nói giá nhé?"

    Tôi và anh Đăng thương lượng giá cả rất nhanh, không vòng vo, chẳng cò kè.

    Tôi đưa ra con số vừa đủ để anh ta không nghi ngờ, nhưng cũng đủ cao khiến A Cát đứng bên trợn tròn mắt, như thể vừa chứng kiến ông chủ bán linh hồn cho quỷ dữ.

    Anh Đăng thì khỏi phải nói, cười tít mắt đến miệng không khép nổi, còn vỗ vai tôi đánh bốp một cái như thể tôi vừa cứu vớt cả cuộc đời anh.

    Chỉ hơn nửa giờ sau, bộ giấy da đã thuộc về tôi.

    Anh cầm tiền, ngẩng cao đầu bước ra khỏi tiệm, dáng đi nhẹ nhàng như gió thoảng, không buồn ngoái lại.

    Tôi còn nghe tiếng huýt sáo khoan khoái của anh vọng từ đầu ngõ, vui vẻ đến mức khiến tôi cũng bất giác mỉm cười theo.

    A Cát lúc này mới chạy lại, mặt vẫn chưa hết ngơ ngác: "Ông chủ, cái này thật sự có giá trị vậy sao?"

    Tôi không trả lời ngay.

    Tay tôi chậm rãi vuốt phẳng cuộn giấy da, ánh mắt dán chặt vào những ký tự mờ nhòe dưới ánh đèn vàng.

    Những nét vẽ ấy không giống bất kỳ loại chữ nào tôi từng gặp, không phải Nôm, không phải Hán hay Phạn, cũng chẳng phải ký hiệu quen thuộc của các bộ tộc cổ.

    Chúng uốn lượn đan xen kỳ quái, như những sợi tơ nhện giăng mắc trong gió, mang một nhịp điệu lạ lùng.

    Tựa hồ một bài hát cổ xưa bị cất giấu kỹ lưỡng trong hình hài ngôn ngữ đã chết từ lâu.

    "Ừ," tôi đáp, giọng khó giấu nổi niềm vui, "anh ta đúng là không hiểu được giá trị của nó."

    A Cát ngồi xuống bên cạnh, ánh mắt vẫn đầy nghi hoặc.

    Tôi không trách cậu ta, người thường nhìn vào chỉ thấy đó là cuộn giấy cũ kỹ sờn mép mốc meo, chẳng khác gì rác rưởi.

    Nhưng tôi thì khác.

    Tôi đã thấy hoa văn trên chiếc bật lửa lạnh lẽo ấy, đã ở bên Tử Linh, cô gái bí ẩn hơn bất cứ ai tôi từng gặp trên đời, đã chạm vào những đường nét giống hệt nhau giữa hai vật tưởng chừng chẳng liên quan gì.

    Và giờ đây, tôi đang cầm trong tay một mảnh ghép quan trọng, như thể số phận vừa thì thầm vào tai rằng mọi thứ đang bắt đầu kết nối.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 5 Hành trình Tà Lĩnh


    Tôi tìm đến một căn nhà nhỏ nằm cuối con hẻm rợp bóng cây cổ thụ, nơi thầy Hồ sống lặng lẽ sau khi nghỉ hưu.

    Căn nhà không lớn, chỉ đủ chỗ cho những kệ gỗ cao ngất đầy sách vở cũ kỹ, bản đồ địa hình cuộn tròn phủ bụi thời gian, vài món đồ cổ nằm im lìm trên giá như đang chờ ai đó chạm vào để kể lại câu chuyện xưa cũ của mình.

    Mùi giấy mục lẫn gỗ lim thoang thoảng quyện với hương trà tàu quen thuộc, khiến không khí nơi đây vừa ấm áp vừa mang chút u hoài của những năm tháng đã qua.

    Thầy Hồ năm nay đã ngoài bảy mươi, mái tóc bạc gần hết, khuôn mặt hằn sâu những nếp nhăn như vết khắc của thời gian và vô số chuyến đi xa vào rừng sâu núi thẳm.

    Ông từng là giáo sư khảo cổ học danh tiếng, người đã dìu dắt cả cha lẫn mẹ tôi thời họ còn là sinh viên đại học.

    Cả hai học chung trường, cùng ngành, và cùng một thầy - một sự trùng hợp mà tôi luôn cảm thấy như định mệnh đã sắp đặt từ lâu, như thể số phận muốn tôi hôm nay ngồi đây, ngay trước mặt ông, để lắng nghe những bí mật mà họ chưa từng kể ra.

    Khi tôi nhắc đến cha mẹ mình, ánh mắt thầy Hồ thoáng chùng xuống, như một vết nứt cũ vừa hé mở trong lớp thời gian dày đặc.

    Ông khẽ cười, giọng ấm áp nhưng mang chút u hoài: "Cứ gọi ông là ông Hồ cho thân mật đi cháu, giờ ông chỉ là một ông già về hưu, ở nhà đọc sách vở linh tinh với nghiên cứu mấy món đồ cũ kỹ thôi."

    Nhưng tôi vẫn giữ thói quen tôn trọng mà gọi ông là "thầy", như những lần tôi tưởng tượng và hình dung cha mẹ thời sinh viên, ríu rít quây quanh ông trong giảng đường, ánh mắt sáng ngời vì những câu chuyện khảo cổ đầy mê hoặc.

    Cái cách gọi ấy với tôi không chỉ là kính trọng, mà còn như một sợi dây mỏng manh kết nối tôi với những năm tháng họ từng sống, những con người vẫn cứ mãi trẻ trung như ngày nào.

    Chúng tôi kể lại chuyện cũ về đội khảo cổ năm xưa mà cha mẹ tôi tổ chức dẫn đầu.

    Hai mươi năm trước, nhóm của cha mẹ tôi, một đội khảo cổ trẻ đầy nhiệt huyết, đã phát hiện ra vài di tích cổ ở vùng ven núi phía Bắc.

    Những dấu tích ấy chưa từng thấy trong bất kỳ sách vở hay tài liệu nào, như thể thuộc về một nền văn minh đã bị lãng quên từ hàng nghìn năm.

    Nếu công bố đầy đủ, chúng có thể làm chấn động cả giới khảo cổ, có lẽ làm thay đổi hoàn toàn hiểu biết về lịch sử cổ đại Việt Nam, thậm chí liên kết với những truyền thuyết mà dân địa phương nơi đó vẫn thì thầm kể lại.

    Nhưng cả nhóm không dừng lại ở đó.

    Cha mẹ tôi cùng vài đồng đội thân cận quyết định đi sâu hơn vào vùng núi tuyết hoang vu - nơi mà dân bản xứ gọi là Tà Lĩnh.

    Họ mang niềm tin rằng phía sau lớp tuyết dày là một di tích lớn lao hơn, có thể là thành trì hoặc cung điện bị chôn vùi của một triều đại thất lạc.

    Từ đó về sau, không một ai quay trở lại.

    Không tin báo, không có dấu vết nào được phát hiện.

    Các đội cứu hộ sau đó chỉ tìm thấy vài dấu chân bị tuyết lấp kín, rồi biến mất như bị chính ngọn núi nuốt chửng.

    Cảnh sát, quân đội, thậm chí các nhóm quốc tế cũng bó tay.

    Chỉ còn lại những câu hỏi không lời giải đáp tới tận giờ đây.

    Đã hai mươi năm trôi qua.

    Tôi lớn lên trong sự im lặng của ông nội, trong những giấc mơ tuyết ám ảnh từ thuở nhỏ.

    Những giấc mơ ấy như lời thì thầm từ cha mẹ, hoặc từ chính ngọn núi kia, vẫn chờ đợi ai đó tìm đến một lần nữa.

    Thầy Hồ nhìn tôi như thể ông đang xuyên qua tôi để tìm thấy bóng dáng ai đó từ quá khứ xa xôi.

    "Cháu có khuôn mặt giống cha cháu, cái nét ranh mãnh bất cần ấy."

    Tôi bật cười khẽ trong lòng, nếu thầy đã nói vậy thì câu tiếp theo chắc chắn sẽ là: "Nhưng đôi mắt thì lại giống mẹ cháu, đó là một đôi mắt biết cười."

    Quả nhiên, ông khẽ mỉm cười, giọng ấm áp xen chút u hoài thốt lên câu ấy.

    Tôi im lặng, cảm giác như có gì đó nghẹn lại nơi cổ họng.

    Lời thầy không chỉ là khen ngợi, mà như một cánh cửa hé mở về những năm tháng tôi chưa từng được chứng kiến.

    Cha mẹ trẻ trung, nhiệt huyết, quây quần bên thầy trong những chuyến khảo cổ đầy mơ mộng.

    Và giờ đây, chính tôi đang ngồi đây, mang theo khuôn mặt ấy, đôi mắt ấy, để nghe tiếp câu chuyện mà họ chưa kịp kể xong.

    Ông chỉnh lại gọng kính trên sống mũi, động tác chậm rãi như cố kéo dài thời gian trước khi đối diện với điều sắp tới.

    Rồi ông cẩn thận mở cuộn giấy da tôi mang đến, ngón tay run nhẹ, tỉ mỉ chạm vào như một người thợ lành nghề đang nâng niu di vật từ quá khứ sâu thẳm.

    Ánh mắt ông dừng lại trên những ký tự lạ lùng, những hoa văn uốn lượn bí hiểm như rễ cây ngoằn ngoèo dưới đất sâu, hoặc như những con mắt đang chậm rãi hé mở từ mặt giấy vàng sậm cháy xém.

    Tôi nhận ra ánh mắt thầy Hồ dừng lại lâu hơn trên một đoạn ký tự ở mép giấy, ngón tay ông khẽ run khi chạm vào đó, như thể vừa chạm phải một vết thương cũ chưa lành.

    Ông không nói gì ngay, chỉ lặng lẽ tháo kính xuống, lau nhẹ bằng góc áo đã sờn theo năm tháng rồi đeo lại.

    Cử chỉ ấy như cần một lớp nhìn khác rõ ràng hơn để đối diện với điều đang hiện ra trước mắt, điều mà có lẽ ông đã chờ đợi, hoặc sợ hãi từ rất lâu.

    "Những ký tự này..." thầy Hồ nói, giọng trầm xuống như từ đáy vực sâu, "từng xuất hiện trên một bản khắc đá mà nhóm khảo cổ của cha mẹ cháu tìm thấy.

    Năm ấy, họ gửi về cho tôi một bản chụp mờ, tôi còn nhớ rõ mồn một.

    Ban đầu, chúng tôi tưởng đó chỉ là ký hiệu của một bộ tộc cổ chưa được ghi nhận.

    Nhưng càng nghiên cứu, càng thấy chúng không giống bất kỳ hệ chữ nào loài người từng biết đến."

    Tôi ngồi im thin thít, không dám chen ngang, chỉ cảm thấy từng lời thầy nói như rút dần hơi ấm khỏi căn phòng, để lại không khí lạnh lẽo len lỏi vào da thịt.

    Thầy Hồ tiếp tục, ánh mắt xa xăm như đang nhìn xuyên qua hai mươi năm thời gian:

    "Sau khi nhóm của họ mất tích, vài người trong giới vẫn cố gắng giải mã.

    Trong đó có một đồng nghiệp của tôi ở Viện Khảo Cổ phía Bắc, và một người bạn ở Đại học Văn hóa.

    Cả hai đều biến mất trong vòng chưa đầy một năm.

    Trước khi mất tích, họ từng thì thầm với tôi rằng: 'Có thứ gì đó không muốn chúng ta hiểu.

    Không phải vì quá phức tạp... mà vì nó không thuộc về thế giới này.'"

    Tôi cảm thấy sống lưng lạnh buốt như có gió tuyết từ Tà Lĩnh thổi vào phòng.

    Những ký tự trên giấy da bỗng như đang sống dậy, thở nhẹ, những con mắt mờ ảo chậm rãi mở ra từ mặt giấy vàng sậm, nhìn thẳng vào tôi với ánh nhìn xa xăm từ một kiếp khác.

    Thầy Hồ đứng dậy, bước chậm rãi đến giá sách gỗ lim cũ kỹ, tay lần mò giữa những cuốn sách phủ bụi thời gian.

    Ông lục lọi một hồi rồi lấy ra một cuốn sổ bìa da sờn rách, trang giấy vàng ố như đã ngấm bao năm tháng ẩm mốc.

    Ông mở đến trang giữa, đưa cho tôi xem mà không nói lời nào.

    Trên đó là những nét vẽ nguệch ngoạc, run rẩy, lặp đi lặp lại một kiểu hoa văn uốn lượn kỳ quái.

    Chúng xoáy tròn như mắt bão, chấm nối chấm như mạch máu khô, giống hệt những ký tự trên tấm giấy da cổ mà tôi vừa mang đến.

    Những nét bút dồn dập, chồng chéo lên nhau, như thể người vẽ đã bị ám ảnh đến mức không thể dừng tay, như đang cố khắc ghi một bí mật kinh hoàng trước khi nó nuốt chửng lấy lý trí.

    "Người vẽ những thứ này là một người may mắn sống sót duy nhất sau khi đến vùng núi tuyết ấy," thầy Hồ nói, giọng trầm xuống như từ đáy vực.

    "Nhưng ông ta không còn tỉnh táo nữa, cứ lang thang khắp nơi, chỉ biết vẽ.

    Vẽ suốt hai mươi năm, ngày nào cũng vậy."

    Tôi nhìn cuốn sổ, rồi ngẩng lên nhìn thầy Hồ, tim đập thình thịch.

    Ông gật đầu chậm rãi, ánh mắt nghiêm nghị hơn bao giờ hết: "Nếu cháu thật sự muốn biết sự thật, thì chỉ còn cách gặp ông ta.

    Tôi sẽ đưa cháu đi."

    Chỉ trong vài ngày sau đó, tôi thu xếp cho A Cát trông tiệm rồi đặt hai vé máy bay đi gấp, vừa xuống sân bay liền chuyển sang tàu hỏa, rồi lại xe khách đường dài.

    Hành trình dài dằng dặc, hầu hết thời gian chúng tôi chỉ ngủ vùi trên xe giường nằm, đầu óc lơ mơ giữa những điểm dừng lạ lẫm không kịp nhớ tên.

    Tôi lo cho sức khỏe thầy Hồ, ông cụ có thân hình gầy guộc đến mức tôi sợ gió núi thổi mạnh một cái là ông bay mất, nên nhiều lần đề nghị dừng lại nghỉ ngơi.

    Nhưng thầy luôn lắc đầu, ánh mắt đầy lo lắng xen lẫn quyết tâm:

    "Lâu như vậy... có khi ông ấy không còn nữa."

    Giọng thầy khàn đi, không phải vì tuổi tác mà vì nỗi gấp gáp khó tả, như thể thời gian đang trôi qua kẽ tay, kéo theo những bí mật sắp sửa chôn vùi mãi mãi dưới lớp tuyết dày của Tà Lĩnh.

    Tôi không còn cách nào khác, đành theo ông thiếp đi trong những chuyến xe lắc lư qua đèo núi, bánh xe nghiến ken két trên đường đá gồ ghề, rung lắc đến mức xương cốt như muốn rời ra.

    Và chính trong những giấc ngủ chập chờn ấy, giữa tiếng động cơ gầm gừ và gió rít ngoài cửa sổ, tôi bắt đầu mơ thấy những cảnh tượng kỳ lạ như có ký ức của ai đó xa xôi đang len lỏi, truyền sang tôi từng mảnh vụn lạnh lẽo.

    Cảm giác lạnh buốt thấm vào tận xương tủy, như tuyết ngàn năm đang tan chảy dưới da thịt.

    Tiếng gió hú vang vọng từ nơi xa xăm, gọi tên tôi bằng giọng thì thầm méo mó, nửa quen thuộc nửa xa lạ, khiến tôi giật mình trong mơ mà không tỉnh nổi.

    Có lần, tôi thấy cha mẹ mình đứng giữa biển tuyết trắng xóa, dáng người mờ ảo trong bão tố, không nói một lời nào, chỉ nhìn tôi bằng ánh mắt sầu thảm man mác, như thể họ đang cố níu kéo tôi khỏi bước chân đang tiến gần hơn đến vực thẳm.

    Có lần khác, tôi thấy chính mình ngồi giữa căn phòng tối om, lạnh lẽo, tay cầm bút vẽ những ký tự uốn lượn trên một tấm giấy da cũ kỹ.

    Nét bút run rẩy nhưng dồn dập, lặp đi lặp lại không ngừng, như bị một bàn tay vô hình thôi miên, ép buộc phải khắc ghi mãi mãi những hoa văn ấy.

    Tôi giật mình ngồi dậy, mắt còn mờ vì ngủ, đầu óc lùng bùng giữa thực tại và những hình ảnh trong mơ.

    Trong khoang xe giường nằm rung lắc, ánh đèn mờ vàng hắt lên hàng ghế trước, tôi thoáng thấy một bóng người khoanh tay ngồi ngủ, chiếc áo khoác trùm mũ kín đầu, dáng hình gầy gò quen thuộc đến lạ.

    Trong cơn mơ màng mới tỉnh, không suy nghĩ nhiều, tôi sỗ sàng bước tới, đưa tay nắm nhẹ vai người ấy, thì thầm gọi tên cô.

    Người đó giật mình tỉnh giấc, mũ áo khoác tuột xuống lộ ra khuôn mặt lạ hoắc.

    Đó là một anh chàng trẻ tuổi, tóc ngắn rối bù, ánh mắt ngái ngủ nhìn tôi đầy ngạc nhiên.

    Cậu thanh niên đeo kính ngồi ở ghế trong rời mắt khỏi tấm bản đồ trên tay, ngẩng đầu nghi hoặc nhìn tôi.

    Tôi cứng đờ người, mặt nóng bừng vì xấu hổ, vội buông tay lùi lại: "Xin lỗi, tôi nhầm người rồi."

    Anh chàng xua tay tỏ vẻ không sao, còn vỗ nhẹ lên đùi cậu thanh niên ngồi bên cạnh như ý bảo "không có gì đâu".

    Cậu thanh niên đeo kính có vẻ cũng không quan tâm nữa, chỉ khẽ nhún vai rồi gọi anh chàng mặc áo trùm mũ: "Mấy chỗ này anh thấy sao?"

    Giọng cậu ta nhỏ nhẹ, mắt lại dán vào tấm bản đồ trải trên đùi, ngón tay chỉ chỉ vào những dấu đỏ mới đánh dấu, như thể cuộc trò chuyện ngắn ngủi vừa rồi chỉ là gió thoảng qua.

    Anh chàng áo trùm mũ cười xòa, kéo mũ lên một chút rồi ghé đầu vào xem, hai người nhanh chóng chìm vào cuộc bàn luận riêng của họ.

    Tôi lặng lẽ trở về chỗ ngồi, mặt vẫn đỏ bừng vì xấu hổ.

    Thầy Hồ bên cạnh không hay biết gì vẫn ngủ say sưa.

    Tôi rút chiếc bật lửa ra khỏi túi, cầm chặt trong tay, thất thần nhìn nó thật lâu dưới ánh đèn xe mờ ảo.

    Lớp hoa văn bạc xỉn màu lấp lánh yếu ớt, như đang thì thầm những bí mật mà chỉ mình tôi nghe thấy.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 6 Thần Lĩnh


    Cuối cùng, chúng tôi cũng đến được vùng ven núi tuyết, nơi từng là điểm tập kết của nhóm khảo cổ năm xưa.

    Trạm nghiên cứu nép mình dưới chân núi, dựng bằng gỗ thông và đá xám, mái tôn hoen gỉ thủng lỗ chỗ như bị gió tuyết gặm nhấm qua bao mùa đông khắc nghiệt.

    Thầy Hồ đẩy cánh cửa gỗ nặng nề, tiếng cót két vang lên khô khốc trong không khí lạnh buốt, rồi mùi ẩm mốc lẫn bụi bặm lập tức tràn ra, dày đặc đến mức như thể nơi này đã nín thở suốt hai mươi năm, chỉ chờ một lần mở cửa để thở ra hơi thở cuối cùng của quá khứ.

    Bên trong là một căn phòng rộng, chia làm ba khu rõ rệt.

    Góc làm việc với bàn ghế gỗ cũ kỹ, góc nghỉ ngơi đơn sơ chỉ vài chiếc giường xếp và bếp lò nhỏ, cùng một gian hẹp dùng để lưu trữ mẫu vật.

    Những chiếc bàn gỗ dài vẫn còn nguyên vẹn như ngày nào, phủ đầy giấy tờ vàng úa, bản đồ địa hình cuộn tròn hoặc trải phẳng với những đường nét mờ nhạt, và hàng loạt ghi chú viết tay bằng mực đã nhòe loang theo năm tháng, như những lời thì thầm bị thời gian làm phai.

    Trên tường treo vài bức ảnh đen trắng đã mờ nhòe vì ẩm mốc và bụi bặm, hình một nhóm người đứng giữa biển tuyết trắng xóa, nụ cười rạng rỡ như thể họ vừa chinh phục được cả thế giới.

    Trong đó có cha mẹ tôi, tôi nhận ra mẹ ngay qua dáng đứng hơi nghiêng quen thuộc và chiếc khăn len quấn cổ dày cộm, còn cha thì đứng sau, tay giơ cao một mẫu đá lấp lánh như khoe chiến tích lớn lao nhất đời mình.

    Tôi đứng chết lặng trước những bức ảnh đen trắng ấy, lần đầu tiên trong đời được nhìn cha mẹ rõ ràng đến thế.

    Những nụ cười rạng rỡ giữa tuyết trắng như thể họ vẫn còn trẻ mãi, vẫn đang chờ tôi ở một nơi nào đó xa xôi.

    Ở nhà ông nội, những tấm hình về họ luôn bị giấu kỹ, khóa trong tủ sắt cũ hoặc cất sâu trong ngăn kéo có cơ quan ẩn mà ông tưởng tôi không biết.

    Ông nuôi nấng tôi từ thuở bé, một tay lo toan mọi thứ, nên tôi hiểu nỗi đau mất mát ấy lớn đến nhường nào.

    Nỗi đau khiến ông không bao giờ nhắc đến họ, chỉ thỉnh thoảng nhìn xa xăm khi thắp hương bàn thờ tổ, như thể sợ rằng chỉ một lời nói thôi cũng sẽ khơi lại vết thương chưa bao giờ lành.

    Tôi vẫn nhớ một đêm mưa cách đây nhiều năm, khi tôi còn nhỏ xíu, lén chạy vào phòng ông vì sợ sấm.

    Thấy ông đang ngồi bên bàn, tay cầm một tấm ảnh cũ, ánh đèn dầu vàng vọt hắt lên khuôn mặt đầy nếp nhăn của ông.

    Tò mò, tôi khẽ hỏi: "Ông ơi, người trong ảnh là ai vậy?".

    Ông giật mình, vội giấu tấm ảnh vào ngăn kéo, rồi ôm tôi vào lòng, giọng trầm trầm: "Là những người ông thương nhất... nhưng họ đi xa rồi, con à.

    Ngủ đi, mai ông kể chuyện cổ cho nghe."

    Nhưng thằng nhóc nghịch ngợm như tôi đâu chịu dừng lại.

    Vài hôm sau, nhân lúc ông đi vắng, tôi lén mò vào phòng, cố mở cái ngăn kéo ấy bằng đủ cách, ấn nút này, xoay lẫy kia, thậm chí dùng que tăm chọc lung tung.

    Kết quả là bị ông bắt quả tang ngay tại trận.

    Ông không mắng mỏ gì cả, chỉ nghiêm mặt đặt một chậu nước đầy lên đầu tôi, bắt đứng yên mấy tiếng liền để "rèn luyện sự kiên nhẫn và tôn trọng bí mật người lớn".

    Giờ nghĩ lại thôi cũng đau hết cả cổ.

    Sáng hôm sau, ông lại như không có chuyện gì mắng tôi vì ngủ nướng, nhưng tôi biết ông đã thức trắng đêm.

    Từ đó, tôi không hỏi gì về những tấm hình nữa.

    Thế mà giờ đây, thật không ngờ, tôi lại tự mình bước vào câu chuyện ấy.

    Qua những mảnh ghép bí ẩn từ tấm giấy da cổ, từ chiếc bật lửa lạnh lẽo, dẫn tôi đến tận nơi này.

    Chiếc ba lô cũ nằm ở góc phòng, phủ một lớp bụi dày, nhưng vẫn hiện rõ dòng chữ thêu tay: “Mộng Kỳ – Khoa khảo cổ 1975”.

    Tôi cúi xuống, nhẹ nhàng nhấc nó lên khỏi sàn.

    Bụi rơi lả tả dưới tay tôi, như những năm tháng ông nội đã cố chôn vùi.

    "Mẹ ơi..."

    Tôi chạm tay vào nó, lòng như bị kéo ngược về hai mươi năm trước.

    Thầy Hồ lặng lẽ đi quanh phòng, thỉnh thoảng dừng lại trước một bản ghi chép.

    Ông nhẹ nhàng nhấc lên một món đồ gỗ nhỏ trên giá, như đang nắm chặt những kỷ niệm quý giá của quá khứ.

    “Họ từng ở đây,” ông nói khẽ, “từng tin rằng mình sắp chạm vào một điều gì đó lớn lao.

    Nhưng có lẽ… chính điều đó đã nuốt chửng họ.”

    Tôi đứng giữa căn phòng, lòng trĩu nặng.

    Mọi thứ ở đây đều quen thuộc đến lạ, như thể tôi đang đi lại đúng con đường mà họ từng bước qua.

    Và tôi biết, mình đang bước lại từng dấu chân của họ, từng bước một, về phía bí mật chưa từng được kể.

    "Năm đó nơi này là trạm dừng chân của đội khảo cổ, có lẽ họ chỉ nghĩ mình đi vào rồi sẽ quay lại đây tiếp tục nghiên cứu thêm như mọi lần trước.

    Nào ngờ..."

    Giọng thầy Hồ nghẹn ngào, tôi cắn răng, quyết không nhìn về phía ngọn núi tuyết kia một lần nào nữa.

    Tà Lĩnh, ngọn núi ấy hiện ra trước mắt tôi như một con rồng khổng lồ cuộn mình giữa trời đất Tây Bắc, thân rồng uốn lượn qua những dãy đá tai mèo sắc nhọn, đuôi vươn dài xuống thung lũng sâu hun hút, còn đầu rồng ngẩng cao hướng thẳng lên bầu trời cao vợi, như đang vọng về mặt trăng tròn trong những đêm đông lạnh giá.

    Người xưa vì thế mà gọi nó là núi Vọng Nguyệt, nơi đầu rồng hướng lên để ngắm ánh trăng.

    Nhưng cái tên Vọng Nguyệt dần phai mờ theo một câu chuyện tình buồn mà dân địa phương vẫn thì thầm kể lại bên bếp lửa những đêm đông.

    Ngày xưa, có một vị thần nữ từ tiên giới hạ phàm xuống vùng đất này, đẹp đến mức núi rừng cũng phải nghiêng mình cúi đầu.

    Nàng yêu một người phàm, trải qua một mối tình vượt qua cả lịch kiếp, vượt qua luật trời đất nghiêm ngặt.

    Thế gian ruồng rẫy họ vì sợ phép màu, tiên giới vứt bỏ nàng vì tội phản nghịch.

    Trong cơn tuyệt vọng, người phàm ấy đã ôm lấy thân thể nát tan của nàng, bước sâu vào núi tuyết nơi hai người từng gặp nhau lần đầu dưới ánh trăng tròn.

    Người phàm không cam lòng để nàng ra đi mãi mãi.

    Chàng đặt thân thể nàng vào hang băng sâu thẳm, nơi gió tuyết không thể chạm tới, rồi một mình lên đường tìm Huyết Liên – loài sen thần mọc trên mộ cổ ở đỉnh núi cao nhất, được đồn đại có thể hồi sinh người chết, nối lại sợi tơ hồng đứt đoạn của hai người.

    Không ai biết chàng đã lang thang bao lâu giữa bão tuyết khắc nghiệt, vượt qua bao vách đá cheo leo và những ngôi mộ cổ bị băng vùi lấp.

    Cuối cùng, chàng cũng tìm thấy đóa Huyết Liên nở đơn độc trên một ngôi mộ cổ phủ băng ngàn năm.

    Nhưng tiên giới không tha thứ.

    Họ giáng sét từ trời cao, thiêu cháy chàng giữa đường tuyết trắng, như muốn xóa sạch dấu vết của mối tình cấm kỵ ấy.

    Trong khoảnh khắc cuối cùng, chàng phun ra dòng máu tươi ấm nóng lên đóa sen thần.

    Đóa Huyết Liên bỗng nở rộ rực rỡ, hấp thụ máu chàng như một lời đáp lại cho sự hy sinh, nhưng chàng đã đổ gục xuống bên cạnh nó, linh hồn vỡ vụn tan nát, chẳng còn cách nào mang hoa về cho nàng nữa.

    Từ câu chuyện ấy, dân địa phương không còn gọi núi là Vọng Nguyệt nữa.

    Họ gọi nó là Thần Lĩnh, ngọn núi của thần nữ, nơi linh hồn nàng vẫn lang thang giữa tuyết trắng, chờ người yêu trở về trong những đêm gió hú vang vọng.

    Người ta kể rằng vào những đêm trăng tròn, thường hay thấy bóng người áo trắng lấp lánh như dệt từ hàng vạn sao trời đứng trên vách đá cao, ngẩng đầu lên ngắm trăng như chính ngọn núi đang vọng về ánh bạc xa xôi.

    Một nỗi chờ đợi vĩnh cửu mà không oán hận, chỉ lặng lẽ hướng mắt về trời cao nơi người yêu đã mất.

    Tôi không mấy tin vào những câu chuyện truyền thuyết kiểu ấy.

    Chúng nghe hay ho, thơ mộng, hợp để kể cho trẻ con nghe hơn là để giải thích những chuyện mất tích thực sự xảy ra trên núi.

    Nhưng rồi theo thời gian, những vụ việc kỳ bí bắt đầu chồng chất.

    Tuyết lở thường xuyên bất ngờ ập xuống, nuốt chửng người đi đường mà không để lại dấu vết, thi thể biến mất như bị đất trời giấu kín, những người may mắn sống sót kể về tiếng khóc văng vẳng trong gió, bóng áo trắng thoáng qua giữa bão tuyết như những bà chúa tuyết chuyên bắt người vào núi.

    Một số ít người bắt đầu thì thầm gọi ngọn núi là Tà Lĩnh, không còn là núi thần nữa mà là núi tà, nơi linh hồn bị ruồng rẫy của thần nữ đã biến thành oan hồn, kéo theo những ai dám bước chân vào.

    Và rồi, sau khi đội khảo cổ của cha mẹ tôi mất tích không dấu vết, cái tên Tà Lĩnh lan ra ngoài nhiều hơn.

    Người ta đồn rằng núi đã nuốt linh hồn họ, như đã nuốt nàng thần nữ năm xưa trong truyền thuyết.

    Dân địa phương tránh nhắc đến nó bằng tên cũ, chỉ thì thầm "Tà Lĩnh" với ánh mắt e dè, như sợ rằng chỉ gọi tên thôi cũng đủ khiến gió tuyết nổi lên, kéo người ta vào khoảng không vĩnh cửu.

    Căn phòng nhỏ trong viện dưỡng lão nồng nặc mùi thuốc sát trùng, thoang thoảng lẫn chút ẩm mốc từ những bức tường cũ kỹ.

    Tôi bước vào, ánh mắt lập tức bị hút về phía người đàn ông ngồi co ro bên bàn gỗ.

    Ông ta chỉ ở độ tuổi trung niên, nhưng thân thể gầy guộc đến mức trông như một ông lão sắp kiệt sức, da bọc xương, vai hẹp, lưng còng như bị gánh nặng vô hình đè xuống suốt bao năm.

    Mái tóc dài chấm vai, bạc gần nửa, rối bù như chưa từng chải, râu ria rũ rượi che kín khuôn mặt hốc hác, khiến thoáng nhìn ông chẳng khác nào bóng quỷ dạ xoa đọa lạc giữa nhân gian.

    “Chú Lăng, đến giờ uống thuốc rồi ạ,” cô y tá trẻ khẽ gọi, giọng dịu dàng như sợ làm ông giật mình.

    Ông ta không đáp, chỉ cắm cúi vào những tờ giấy trải đầy trên bàn.

    Nét bút run rẩy nhưng dồn dập, chồng chéo lên nhau, như thể có bàn tay vô hình nào đó đang điều khiển, ép buộc ông khắc ghi mãi những hoa văn kỳ quái ấy.

    Chú Lăng ngẩng lên chậm rãi, đôi mắt đục mờ như phủ lớp sương dày dừng lại trên khuôn mặt tôi, rồi run rẩy mở miệng: “Thầy…

    Thầy Minh à…”

    Giọng ông ú ớ, đứt quãng, khàn đặc như từ đáy mộ sâu vọng lên, nhưng từng chữ vẫn sắc bén, như lưỡi dao lạnh ngắt đâm thẳng vào tim tôi.

    "Ông biết cha tôi sao?!"

    Tôi buộc miệng hỏi, giọng lạc đi vì sốc, tim đập thình thịch như muốn vỡ tung.

    Bất ngờ, ông ta chộp lấy bàn tay tôi bằng sức mạnh không tưởng từ thân thể gầy guộc ấy, ngón tay xương xẩu siết chặt đến đau điếng như muốn nghiền nát xương tôi.

    Ông cầm bút vẽ vội ký hiệu lạ lùng lên mu bàn tay, nét chồng nét dồn dập, mực đen loang lổ thấm vào da thịt lạnh buốt, giọng khàn đặc thì thầm như lời nguyền không ngừng: “Không được mở...

    Không được mở...”

    Cô y tá hốt hoảng lao vào, cố gỡ tay ông ra, vừa giữ chặt vai ông vừa gọi người giúp.

    Nhưng ông vẫn ghì chặt, vùng vẫy dữ dội, ánh mắt đỏ ngầu hoang dại nhìn tôi như đang thấy bóng ma từ quá khứ xa xôi quay về, miệng lặp lại lời nguyền ấy không ngừng nghỉ.

    Tôi đứng chết lặng, da tay bỏng rát dưới những nét mực loang lổ, cảm giác như ký hiệu ấy đang sống dậy, ngoi ngóp dưới da, nóng rực rồi lạnh buốt, thì thầm cùng tôi một bí mật kinh hoàng từ sâu thẳm quá khứ trước khi cả đội khảo cổ năm ấy biến mất mãi mãi trong Tà Lĩnh.

    Cuối cùng, khi mũi kim an thần xuyên qua da ông, cơ thể gầy guộc dần mềm nhũn, đôi mắt khép lại trong cơn mê thuốc.

    Tôi vẫn đứng đó, nhìn ký hiệu hằn sâu trên tay mình, tim đập thình thịch vì nỗi sợ mơ hồ đang lan tỏa khắp người.

    Thầy Hồ đặt tay lên vai tôi, giọng trầm xuống đầy lo lắng: “Cháu ra ngoài đi.

    Để họ lo cho ông ấy.”

    Rồi ông khẽ nói thêm, chỉ để cho mình tôi nghe: “Ông muốn ghé thăm một người họ hàng gần đây.

    Cháu cứ về trước đi.”

    Tôi ngoái lại lần cuối nhìn qua khung cửa.

    Chú Lăng được đỡ lên giường, cơ thể gầy guộc chìm dần vào giấc ngủ gượng ép dưới tác dụng của thuốc, hơi thở nặng nề như đang vật lộn với một cơn ác mộng không tên.

    Không thể hỏi thêm gì nữa, tôi đành rời khỏi viện dưỡng lão, bước chân nặng trĩu giữa không khí lạnh lẽo của buổi chiều núi.

    Con đường trở lại trạm nghiên cứu bỏ hoang dường như dài hơn bao giờ hết.

    Những vật dụng phủ bụi nơi đó vẫn nằm im lìm, như đang chờ ai đó quay về để đánh thức.

    Tôi biết, chỉ còn cách lật lại từng mảnh ký ức còn sót lại ở đây qua những ghi chép hay hiện vật mà cha mẹ tôi từng chạm tay vào, may ra mới tìm được đầu mối dẫn đến sự thật bị chôn vùi dưới lớp tuyết Tà Lĩnh hai mươi năm qua.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 7 Tái ngộ


    Trên đường quay lại trạm nghiên cứu, tôi bất ngờ khựng lại trước một cảnh tượng kinh hãi.

    Giữa nền tuyết trắng loang lổ vệt máu đỏ tươi, một bầy sói hoang đang rượt đuổi sát nút một người thợ săn.

    Tiếng gầm gừ vang vọng khắp thung lũng, những bóng xám lao vun vút như những mũi tên băng giá.

    Nhưng người thợ săn kia không hề tỏ ra yếu thế.

    Hắn không dùng súng, chỉ rút phắt con dao săn giắt bên thắt lưng, lưỡi thép lóe sáng lạnh lẽo dưới ánh chiều xám xịt.

    Một con sói đầu đàn phóng tới, hàm răng nhe trắng, hắn xoay người chém ngang một nhát dứt khoát, lưỡi dao rạch ngọt qua mắt nó làm máu bắn tung tóe lên tuyết.

    Tiếng tru thảm thiết xé gió vang lên, nhưng hắn không dừng lại, tiếp tục xoay lưỡi dao chống trả từng đợt tấn công, thân thủ gọn gàng, dứt khoát đến mức khiến tôi phải lạnh sống lưng thán phục.

    Tuyết văng tung tóe dưới những bước chân hỗn loạn, trắng xóa nhuộm đỏ vệt máu kéo dài phía sau.

    Người thợ săn kia rõ ràng đã bị thương nặng, máu thấm đẫm vạt áo, nhưng hắn vẫn không hề nao núng.

    Khi đến gần cánh rừng thưa, hắn đột ngột dừng lại, xoay người đối diện thẳng với cả bầy sói đang lao tới điên cuồng.

    Tôi không nhìn rõ gương mặt hắn, chỉ thấy dáng đứng thẳng tắp, bình tĩnh đến lạ lùng, như thể hắn đã chờ đợi chính khoảnh khắc này từ lâu.

    “Hắn điên rồi sao?!”

    Tôi thầm rít lên trong đầu, tim đập dồn dập như muốn vỡ tung trong ngực.

    Bầy sói gầm gừ dữ dội, những hàm răng nhọn hoắt nhe ra trong cái mõm đỏ lòm như chậu máu tươi, lao thẳng tới chuẩn bị xé nát con mồi không còn đường thoát.

    Nhưng đúng lúc ấy, mặt đất rung lên một tiếng “phập” khô khốc, nghe như tiếng xương sống gãy vụn.

    Từ bốn phía, những tấm lưới thép bất ngờ bật lên từ dưới lớp tuyết phủ, đan chéo nhau với tốc độ kinh hoàng, như những chiếc nanh khổng lồ của một con quái thú cổ xưa vừa tỉnh lại từ giấc ngủ ngàn năm.

    Trong chớp mắt, cả bầy sói hơn chục con bị nuốt gọn vào lòng lưới.

    Tiếng tru tréo thảm thiết vang lên điên cuồng, xen lẫn tiếng xương thịt va đập vào thép sắc lạnh.

    Chúng giãy giụa trong vô vọng, hàm răng nhọn hoắt nghiến ken két vào lưới, đôi mắt đỏ ngầu trợn ngược ánh lên nỗi tuyệt vọng nguyên thủy, miệng há ra phun bọt trắng lẫn máu tươi.

    Cảnh tượng ấy giống như một cái mõm quái thú khổng lồ khép lại chậm rãi, nghiền nát xương thịt, nuốt chửng tất cả.

    Tôi thở phào nhẹ nhõm, mồ hôi lạnh rịn ra sau gáy dù gió núi buốt giá.

    Hóa ra hắn đã chuẩn bị bẫy từ trước.

    Từ phía sau, vài thôn dân vội vã chạy ra, hò hét inh ỏi, tay cầm gậy gộc và dây thừng thô ráp.

    Tôi cũng lao theo họ, tim vẫn đập thình thịch không ngừng, hình ảnh người thợ săn đứng bất động giữa tuyết trắng vẫn ám ảnh trong mắt tôi.

    Dáng đứng bình thản đến lạ lùng, như một quân cờ chủ chốt trên bàn cờ đã định sẵn, lặng lẽ nhìn bầy sói lao thẳng vào bẫy mà không chút nao núng.

    Khi chạy đến gần, tôi nghe mấy thôn dân bàn tán xôn xao không ngớt về bầy sói vừa bị tóm gọn, tiếng người át cả tiếng gió rít buốt giá trên sườn núi.

    Tôi túm lấy một thanh niên trạc tuổi mình, hỏi dồn dập:

    “Cả đàn sói hung hãn thế kia, sao người thợ săn lại không dùng súng?”

    Anh ta nhìn tôi với ánh mắt khó hiểu, rồi quắc mắt đáp:

    “Anh là người ngoài nên không biết chứ, ở đây chỉ một tiếng nổ thôi cũng đủ gọi cả ngọn núi đổ ập xuống rồi.

    Tuyết lở nơi này khủng khiếp lắm, nuốt chửng người chỉ trong chớp mắt.

    Cũng may trưởng thôn tìm được người thợ săn giỏi kia, chỉ mới một tuần mà đã tóm gọn cả bầy sói quấy phá vùng này.”

    Tôi lách qua đám đông ồn ào, cố chen lên phía trước để nhìn cho rõ.

    Người thợ săn kia đứng giữa vòng vây thôn dân, được một cụ ông còng lưng chắc là trưởng thôn, bắt tay cảm ơn rối rít, giọng run run vì mừng rỡ.

    Hắn chỉ gật đầu nhè nhẹ, không nói gì, rồi chậm rãi kéo mũ áo khoác xuống, để lộ mái tóc rối tung ướt đẫm mồ hôi và bụi tuyết.

    Những lọn tóc đen dính bết được hắn vén ra sau tai bằng động tác mệt mỏi.

    Tôi chết lặng, máu như đông lại trong người.

    Người này...

    Người này...

    Tử Linh?!

    Tim tôi đập dồn dập, đầu óc trống rỗng đến mức quên cả thở.

    Sao cô lại ở đây, giữa vùng núi tuyết hoang vu này, một mình săn cả bầy sói như quái vật?

    Sao lại trùng hợp đến vậy, như thể số phận cố tình đẩy chúng tôi gặp lại ở nơi tận cùng thế giới này?

    Tử Linh không để ý thấy tôi.

    Cô chỉ tay vào bọc lưới đang quẫy đạp dữ dội, nơi bầy sói bị mắc kẹt giãy giụa điên cuồng, rồi nói dứt khoát, giọng lạnh lẽo không chút cảm xúc:

    “Còn lại để cho các người.”

    Trưởng thôn gật đầu lia lịa, ông quay sang gọi mấy thanh niên khỏe mạnh, trong đó có cả anh chàng tôi vừa hỏi chuyện, cầm những mũi giáo tự chế tiến tới.

    Tiếng tru thảm thiết của bầy sói vang lên điên dại, hòa lẫn với tiếng hò hét phấn khích của đám đông và tiếng lưỡi giáo sắc nhọn xuyên qua da thịt làm máu bắn tung tóe lên tuyết trắng.

    Cảnh tượng ấy ghê rợn đến mức tôi không dám ngẩng đầu nhìn thêm, chỉ cảm thấy dạ dày quặn thắt, mùi máu tanh nồng xộc vào mũi khiến tôi suýt nôn tại chỗ.

    Tử Linh nhận lấy túi tiền từ tay trưởng thôn, gật đầu một cái ngắn gọn rồi quay lưng bỏ đi.

    Cô không buồn ngoái lại, không màng đến tiếng tru thảm thiết đang vang lên phía sau.

    Bóng dáng cô nhanh chóng lẫn vào màn tuyết trắng dày đặc, lạnh lùng và xa cách.

    Như thể việc giết sạch bầy sói chỉ là một công việc bình thường trong ngày, chẳng đáng để cô bận tâm thêm một giây.

    Tôi bối rối chen qua đám đông hỗn loạn, tim như bị một sợi dây vô hình kéo mạnh theo từng bước chân cô.

    Khi bóng tấm áo khoác đen tuyền tả tơi sắp khuất hẳn trong màn sương tuyết, tôi vội vàng chạy theo, bàn tay đưa ra trong vô thức như sợ chỉ chậm một giây thôi là cô sẽ biến mất mãi mãi.

    May thay, tôi kịp chụp lấy tay cô.

    Cái chạm ấy lạnh buốt thấu xương, như chạm vào băng ngàn năm không tan, khiến tôi bừng tỉnh khỏi cơn mê muội.

    Nhưng đồng thời, một nỗi sợ mơ hồ len lỏi khắp người, lan từ đầu ngón tay lên tận tim.

    Tử Linh trước mặt tôi... xa lạ, lạnh lẽo và nguy hiểm hơn bao giờ hết, như thể ngọn núi Tà Lĩnh này đã biến đổi cô thành một phần của chính nó.

    Một bóng ma tuyết trắng, mang theo hơi thở chết chóc từ những linh hồn bị nuốt chửng.

    Tử Linh khựng lại, quay đầu nhìn xuống bàn tay tôi đang siết chặt lấy cổ tay cô, những ngón tay run rẩy vì lạnh.

    Cô chậm rãi ngẩng lên, ánh mắt đen sâu thẳm quét qua khuôn mặt tôi, lạnh lẽo đến mức khiến toàn thân tôi buốt giá, như thể gió tuyết Tà Lĩnh vừa thổi thẳng vào tim.

    Đôi mắt ấy vô cảm, vẫn còn vương lại sát khí tanh nồng từ trận chiến với bầy sói.

    “Tử Linh, là tôi đây…

    Quân Ảnh Chiến,” tôi thì thầm, giọng run rẩy không giấu nổi, vừa khẩn thiết vừa hy vọng mong manh.

    “Cô từng gặp tôi ở nhà ông nội tôi... cô nhớ không?”

    Trong một thoáng, bàn tay cô đặt lên tay tôi, cái chạm nhẹ như lông hồng, nhưng đủ khiến tim tôi nhói lên niềm vui mừng ngây dại, tưởng chừng cô đã nhận ra, đã nhớ lại những ngày cũ ở nhà ông nội, lặng lẽ giữa bữa cơm ngượng ngùng.

    Nhưng ngay sau đó, bàn tay ấy lạnh lùng hất mạnh, gạt bỏ tôi như gạt đi một cọng cỏ khô vướng víu dưới chân.

    Cô xoay người bước đi thẳng, bóng áo khoác đen tuyền tả tơi nhanh chóng hòa lẫn vào màn tuyết trắng dày đặc, như thể núi Tà Lĩnh đang mở rộng vòng tay đón cô về.

    Tôi đứng chết lặng giữa cơn gió buốt cắt da, bàn tay vẫn run rẩy vì cái chạm ngắn ngủi ấy, lạnh buốt thấu xương, nhưng lại cháy bỏng trong ký ức tôi như một vết thương không bao giờ lành.

    Tôi cúi xuống nhìn tay mình, sững người khi nhận ra cả hai bàn tay đã nhuộm đỏ máu tươi.

    Máu từ vết thương của cô đã thấm qua lớp áo dày khi tôi chụp lấy tay cô lúc nãy.

    “Tử Linh!”

    Tôi gọi với theo, giọng lạc đi, vỡ vụn trong gió tuyết gào rít.

    Cô vẫn bước đi, nhưng chưa được bao xa thì đôi chân đã loạng choạng, như thể sức lực cuối cùng cũng cạn kiệt.

    Mỗi bước chân nặng trĩu, hơi thở gấp gáp phả ra thành những đám sương trắng mỏng manh.

    Máu từ vết thương rỉ ra, chảy thành vệt đỏ dài trên nền tuyết trắng xóa, loang lổ như những dấu hiệu báo trước một kết cục chẳng lành.

    Tôi lao tới, kịp vòng tay đỡ lấy thân thể đang chao đảo của cô.

    Bờ vai cô lạnh buốt thấu xương, nhẹ đến mức khiến tôi hoảng sợ.

    Như thể chỉ cần buông tay một giây thôi, cả thân thể ấy sẽ tan biến vào màn tuyết trắng vô tận, hòa lẫn với gió núi, để lại tôi một mình nơi đây.

    Tôi choàng tay cô qua cổ mình, gắng gượng dìu từng bước nặng nhọc trên nền tuyết dày, hướng về phía trạm y tế nhỏ trong thôn.

    Thân thể cô nhẹ đến lạ, nhưng mỗi bước chân tôi lại như gánh thêm đá tảng.

    Máu từ vết thương rỉ ra thấm ướt áo tôi, ấm nóng rồi nhanh chóng lạnh buốt vì gió núi.

    Hơi thở cô phả ra yếu ớt bên tai tôi, mang theo mùi máu tanh nồng lẫn hương tuyết lạnh, khiến tim tôi quặn thắt không yên.

    Người xử lý vết thương cho cô là một bác sĩ trẻ, trạc gần ba mươi, dáng cao gầy với đôi mắt kính cận sáng quắc.

    Anh ta khẽ nhíu mày khi kéo áo cô ra xem những vết thương máu thịt lẫn lộn, rợn người đến mức tôi phải quay mặt đi một thoáng mới dám nhìn lại.

    Da thịt rách toạc, xương ở vài chỗ lộ ra trắng hếu, cũ mới chồng chéo như bản đồ của những trận tử chiến.

    Anh ta quay sang tôi, hạ giọng đầy lo lắng:

    “Những vết thương này có cả cũ lẫn mới, sâu đến tận xương.

    Vừa rồi vận động mạnh, chúng lại toác ra hết.

    Nếu còn tiếp tục thế này, e là khó cầm máu được lâu.

    Anh nên giữ cô ấy nằm yên trên giường, đừng để rời khỏi đây vội.”

    Anh ta có lẽ nghĩ tôi là người thân của cô nên mới dặn dò kỹ lưỡng đến vậy.

    Nhưng khỏi cần anh ta nhắc, tôi cũng đã nghĩ thế.

    Tôi lặng người nhìn Tử Linh nằm đó trên giường bệnh.

    Gương mặt cô tái nhợt như tờ giấy cũ, đôi môi khô nứt không chút máu, mái tóc rối bù dính bết mồ hôi và bụi tuyết.

    Trong đầu tôi chợt hiện lên hình ảnh những con người liều mạng lăn lộn giữa núi rừng hoang vu, săn thú đổ máu chỉ để đổi lấy một bữa ăn đắng chát, cơ thể đầy sẹo là minh chứng cho những trận chiến sinh tồn không ngừng nghỉ.

    Nghĩ đến tình cảnh hiện tại của cô, khi máu trên người vẫn rỉ ra thấm đỏ băng gạc, rồi cúi xuống nhìn lại bộ đồ tinh tươm sạch sẽ trên người mình, một nỗi xót xa dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng, đắng ngắt như nuốt phải tuyết lạnh.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 8 Di vật trong ngọn lửa


    Tiếng rên khe khẽ vang lên khiến tôi giật mình ngẩng đầu.

    Tử Linh khẽ động đậy, đôi mi run run rồi chậm rãi hé mở.

    Ánh sáng vàng vọt từ bóng đèn trần hắt xuống, soi rõ gương mặt tái nhợt của cô.

    “Tử Linh…”

    Tôi gọi khẽ, giọng nghẹn lại vì lo lắng.

    Đôi mắt đen sâu thẳm ấy chậm rãi xoay về phía tôi, nhưng ánh nhìn trống rỗng như thể tôi chỉ là kẻ xa lạ tình cờ ngồi đây.

    Cô cố gượng dậy, bàn tay run rẩy chống xuống giường.

    Tôi vội vàng đỡ lấy, nhưng ngay lập tức bị hất ra.

    Cử chỉ ấy không mạnh, chỉ nhẹ nhàng nhưng dứt khoát đến mức khiến tim tôi nhói buốt.

    Ánh đèn trên trần bất chợt chập chờn, bóng sáng vàng vọt nhấp nháy như sắp tắt hẳn.

    Trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt sững người.

    Bên dưới lớp áo bệnh nhân rộng thùng thình, ngay vai trái của Tử Linh, một phần họa tiết lạ kỳ lấp ló hiện ra dưới lớp băng gạc mỏng.

    Nó uốn lượn như những đường nét cổ xưa, kéo dài xuống lưng, thứ khiến tôi chú ý nhất là một con mắt đỏ rực có những đường vân cong queo như lông vũ bao quanh, đồng tử hừng hực sáng lên như than hồng vừa được thổi bùng trong lò lửa, tỏa ra thứ ánh sáng ma mị khiến không khí phòng bệnh bỗng nặng trịch.

    Đó không phải vết sẹo, cũng chẳng giống hình xăm bình thường.

    Nó như đang sống, đang nhìn lại tôi từ dưới da thịt cô với sức hút kỳ quái khiến tôi không thể rời mắt.

    Tôi còn chưa kịp nhìn rõ hơn thì Tử Linh đã giật mạnh vạt áo, che kín lại.

    Đôi mắt đen của cô xoáy thẳng vào tôi, ánh nhìn cảnh giác lạnh lẽo như lưỡi dao kề sát cổ.

    Tôi không dám hỏi gì thêm, cũng chẳng dám nhìn lâu hơn nữa.

    Cổ họng nghẹn ứ, tôi lúng túng thốt vài câu vu vơ rồi vội vã bước ra ngoài, như thể chỉ cần ở lại thêm một giây thôi, ánh mắt lạnh lẽo ấy sẽ xé toạc tôi ra.

    Đến cửa, tôi gặp lại anh bác sĩ trẻ khi nãy.

    Tôi nhờ anh trông chừng cô giúp, rồi tựa lưng vào bức tường hành lang lạnh ngắt.

    Hơi thở dồn dập, tim đập loạn nhịp như muốn vỡ tung.

    Phải mất một lúc lâu, tôi mới gượng ép bản thân bình tĩnh lại được.

    Tôi đi mua một hộp cháo nóng hổi, cố gắng điều chỉnh khuôn mặt sao cho tự nhiên nhất, như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra.

    Nhưng khi quay lại phòng bệnh, cảnh tượng trước mắt khiến tôi khựng lại ngay ngưỡng cửa.

    Tử Linh đã ăn trước rồi, nhưng không phải tự ăn.

    Anh bác sĩ trẻ kia đang đút cho cô, giọng dịu dàng ngọt ngào như dỗ dành một đứa trẻ.

    Mỗi lần cô miễn cưỡng hé môi đón thìa cháo, anh ta lại nheo mắt cười rạng rỡ, vẻ mặt hân hoan như vừa lập được chiến công lớn lao.

    Tôi chỉ biết dựa người ngoài cửa, lặng lẽ nhìn anh ta chăm sóc cô, tỉ mỉ xem xét lại từng vết thương trên người cô.

    Giọng anh ta trầm ấm, ánh mắt dịu dàng, cô cũng rũ mắt xuống, khẽ gật hoặc lắc đầu trước những câu hỏi thăm của anh.

    Khác hẳn sự lạnh lẽo mà tôi vừa nhận từ cô lúc nãy.

    Một cô y tá đi ngang qua, che miệng cười rồi ghé tai tôi thì thầm mấy câu bâng quơ.

    Từ đó tôi mới biết anh ta là bác sĩ tình nguyện đã ở đây ba tháng nay, được cả thôn từ già đến trẻ quý mến hết lòng.

    Tôi khẽ cười nhạt trong lòng.

    Quý mến thì đã sao chứ?

    Tử Linh chắc chắn sẽ không thích một kẻ như thế.

    Nghĩ vậy, tôi hít một hơi thật sâu, cố lấy lại sự tự tin đang lung lay, rồi đẩy cửa bước vào phòng.

    Không khí trong phòng lập tức khựng lại.

    Tiếng thìa chạm nhẹ vào thành chén sứ vang lên một tiếng khẽ, rồi im bặt hẳn.

    Anh bác sĩ ngẩng đầu lên, nụ cười cong cong lộ ra sau lớp khẩu trang, ánh mắt sáng lên như vừa gặp được điều gì vui vẻ lắm.

    Kiểu ánh mắt ấy khiến tôi bất giác thấy khó chịu, dù chẳng có lý do gì rõ ràng.

    Còn Tử Linh, cô khẽ nghiêng mặt đi, ánh mắt cụp xuống tránh nhìn tôi.

    Vạt áo bệnh nhân rộng thùng thình che kín thân thể gầy gò, chỉ để lộ đôi bàn tay trắng nhợt nằm im trên chăn, những ngón tay thon dài run run như lá thu cuối mùa.

    Tôi bước vào phòng, cố giữ giọng thản nhiên như không có chuyện gì: “Cô ấy thế nào rồi anh?”

    Anh bác sĩ gật đầu, điệu bộ vui vẻ đáp: “Ừ, may mà chịu hợp tác ăn uống.

    Vết thương nặng thế này, phải có sức mới mau lành được.”

    “Cảm ơn anh,” tôi nói, giọng cố bình tĩnh nhưng trong lòng đã dâng lên một nỗi ghen tị mơ hồ khó tả.

    “Từ giờ để tôi lo cho cô ấy.”

    Anh bác sĩ thoáng ngập ngừng, rồi mỉm cười gật đầu, đứng dậy nhường chỗ.

    Nhưng trước khi rời đi, anh ta còn quay lại dặn dò: “Cô ấy cần nghỉ ngơi nhiều, đừng để xúc động mạnh.

    Nếu có gì bất thường, gọi tôi ngay.”

    Cánh cửa khép lại, căn phòng chìm vào tĩnh lặng nặng nề.

    Tôi ngồi xuống bên giường, đưa tay lấy chén cháo cô đang ăn dở, nhưng Tử Linh vẫn xoay mặt đi, không nhìn tôi, ánh mắt lạnh lẽo y hệt lúc cô hất tay tôi trên nền tuyết.

    Tôi thấy cô cứ nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ, ánh mắt như bị hút về một điểm xa xăm nào đó.

    Tôi khẽ hỏi, nhưng cô chỉ im lặng không đáp, hơi thở mỏng manh phả thành làn sương mờ trên khung kính lạnh buốt.

    Bị thôi thúc bởi sự im lặng nặng nề ấy, tôi cũng hướng mắt nhìn theo.

    Giữa màn đêm phủ tuyết dày đặc, những ánh đèn điện yếu ớt của thôn làng lác đác như những đốm lửa nhỏ le lói trong bóng tối.

    Nhưng nổi bật hơn tất cả là một đốm sáng đỏ cam khổng lồ, bốc lên thành cột khói đen cuồn cuộn, rực rỡ và dữ dội như muốn xé toạc cả bầu trời đêm.

    Tôi nhìn một hồi mới nhận ra, tim chợt thắt lại, đó chính là phía trạm nghiên cứu bỏ hoang!

    Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng.

    Tôi hốt hoảng la lên, muốn nói với cô rằng trong đám lửa kia vẫn còn di vật của cha mẹ tôi.

    Những thứ duy nhất còn sót lại sau bao năm tháng dài đằng đẵng, những mảnh ký ức cuối cùng mà tôi chưa từng dám chạm vào.

    Nhưng vì quá hoảng loạn, lời nói cứ vấp vào nhau, rối rắm lẫn lộn, chỉ thành những tiếng ú ớ không trọn vẹn.

    Chưa kịp định thần, Tử Linh đã bật người dậy khỏi giường.

    Tiếng động mạnh đến mức khung giường sắt cũ kỹ rung lên lắc lư, như thể cả căn phòng cũng giật mình theo cô.

    Cô mặc kệ vết thương còn chưa khép miệng, máu lại rỉ ra thấm đỏ băng gạc, mặc kệ đôi dép lê mỏng manh trên chân, lao thẳng về phía cửa sổ như bị một sức mạnh vô hình kéo gọi.

    Chỉ kịp thoáng thấy bóng dáng nhỏ bé ấy vụt qua, tôi đã nghe tiếng cánh cửa gỗ rung lên dữ dội, rồi cô biến mất vào màn tuyết trắng dày đặc ngoài kia, nhanh đến mức như một bóng ma tan vào gió núi.

    Không kịp nghĩ ngợi, tôi lao theo cô ngay lập tức, nhảy phắt qua cửa sổ.

    Thân thể đập mạnh xuống nền tuyết dày, lạnh buốt xuyên thấu lớp áo mỏng.

    Tôi té sấp mặt, tuyết nhồi đầy mũi miệng đến nghẹn thở.

    May mà lớp tuyết mềm đã đỡ lấy cú ngã, chứ không thì xương cốt tôi chắc đã gãy như chơi.

    Tôi lồm cồm bò dậy, tuyết bám đầy tóc tai áo quần, hơi thở phả ra khói trắng đặc quánh.

    Trước mắt, bóng áo bệnh nhân trắng nhờ của cô đang lao vút đi, hướng thẳng về phía đám lửa đỏ rực.

    Tôi cắn chặt răng, dồn hết sức lực còn lại cắm đầu chạy theo sau cô.

    Mỗi bước chân nặng trĩu nhưng tôi không dám dừng lại, vì chỉ cần chậm một giây thôi, có lẽ cô sẽ biến mất trong biển lửa kia, mang theo tất cả những bí mật mà tôi chưa kịp hỏi, và cả phần linh hồn mà tôi đã đánh mất từ ngày gặp cô.

    Khi chạy đến gần trạm nghiên cứu, ngọn lửa đã bốc cao ngùn ngụt, đỏ rực cả một góc trời đêm.

    Hơi nóng hầm hập táp vào mặt khiến tôi nghẹt thở, phổi như muốn nổ tung sau quãng đường dài lao đi không ngừng nghỉ.

    Tôi chống tay xuống đầu gối, thở hổn hển, mồ hôi hòa lẫn tuyết tan chảy thành dòng nóng lạnh trên gò má.

    Ngẩng lên, tôi chỉ kịp nhìn thấy bóng dáng Tử Linh lao vút vào đám lửa, nhanh như một mũi tên băng xuyên qua màn khói đen đặc cuồn cuộn.

    Trong khoảnh khắc ấy, một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi như tia chớp giữa bão lửa.

    Lẽ nào cô ấy đã nhớ ra tôi?

    Lẽ nào cô lao vào đó là để lấy lại di vật của cha mẹ tôi sao?

    Niềm hy vọng bất chợt ấy khiến tôi choáng váng, như thể giữa biển lửa ngùn ngụt vẫn còn một ngọn đèn nhỏ le lói chỉ dành riêng cho tôi, yếu ớt nhưng đủ để sưởi ấm trái tim đang lạnh cóng vì sợ hãi này.

    Nhưng ngay lập tức, tôi thấy chính mình thật ngu ngốc.

    Tôi muốn tự vả mạnh vào miệng mình để tỉnh ra, muốn xóa sạch cái ý nghĩ ngây dại vừa nhen nhóm lên đó.

    Tôi lao theo hướng Tử Linh, nhưng chỉ cách vài bước, khói đen đã cuồn cuộn tràn ra như quái vật sống dậy, mùi gỗ cháy khét lẹt xộc thẳng vào mũi khiến tôi ho sặc sụa, phổi bỏng rát như bị lửa liếm.

    Tôi đưa tay che miệng, nhưng khói vẫn len lỏi vào trong, cay xè mắt đến mức nước mắt trào ra không ngừng, làm mờ mịt mọi thứ xung quanh.

    Tiếng nổ lách tách vang lên từ bên trong, từng mảnh gỗ cháy đỏ rơi xuống như mưa than hồng, nóng rực chạm vào da thịt khiến tôi rùng mình né tránh.

    Bỗng một tiếng răng rắc khô khốc vang lên, dầm gỗ trên cao gãy vụn, kéo theo cả mảng trần bốc cháy đổ sập xuống như thác lửa, tiếng gỗ vỡ nát hòa lẫn tiếng lửa gầm gừ nuốt chửng mọi thứ.

    Tôi loạng choạng lùi lại, mắt cay mù vì khói dày đặc, chỉ còn thấy những vệt sáng đỏ rực nhảy múa điên cuồng trước mặt như những bóng ma lửa đang vẫy gọi từ địa ngục.

    Tim tôi đập thình thịch vì sợ hãi, Tử Linh đang ở trong đó, một mình giữa biển lửa kia, và tôi chỉ biết bất lực đứng đây, để mặc hơi nóng hầm hập táp vào mặt như muốn thiêu cháy cả linh hồn.

    Nhưng may thay, trước khi tôi kịp bất chấp liều mình lao vào biển lửa, bóng dáng Tử Linh đã bất ngờ xuất hiện giữa màn khói đen đặc cuồn cuộn.

    Cô dẫm mạnh lên cây dầm gỗ cháy sém còn sót lại, mượn lực bật nhảy vọt ra ngoài cửa sổ vỡ nát, thân người xoay tròn uyển chuyển giữa không trung cắt qua lửa đỏ.

    Cô rơi xuống nền tuyết dày, lăn lộn vài vòng để dập tắt những đốm tàn lửa còn bám trên áo, để lại vệt dài ngoằng đầy tro bụi xám xịt lẫn máu đỏ tươi hằn sâu trên mặt tuyết như những vết thương của chính ngọn núi đang rỉ máu.

    Cô chống tay ngồi dậy, hơi thở gấp gáp phả ra thành những đám khói trắng mỏng manh trong không khí lạnh buốt, mái tóc rối tung dính đầy bụi tro và mồ hôi, vài lọn dính bết trên khuôn mặt tái nhợt.

    Bờ vai cô vẫn còn vương những tàn lửa đỏ rực lấp lánh, cháy âm ỉ như không muốn tắt.

    Một chân co lại làm trụ vững chãi, chân kia duỗi thẳng ra trên tuyết, dáng vẻ kiệt sức nhưng vẫn kiên cường đến không tưởng.

    Trong vòng tay run rẩy của cô, tôi thấy rõ ràng một xấp giấy tờ cũ nát, mép giấy cháy sém đen kịt như vừa bị lửa liếm qua, cùng một khung ảnh kính vỡ tan tành.

    Những mảnh thủy tinh sắc nhọn còn sót lại trên người cô rơi lả tả xuống nền tuyết, lấp lánh phản chiếu ánh lửa lập lòe từ đống đổ nát phía sau như những mảnh linh hồn vỡ vụn đang cố níu kéo chút ánh sáng cuối cùng.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 9 Người dẫn đường


    Tôi dìu cô trở lại trạm y tế, từng bước chân nặng nề lún sâu vào tuyết dày, cảm giác tội lỗi đè nặng trong lòng như tảng đá tảng.

    Hơi thở cô gấp gáp, đôi khi khẽ rít lên vì đau, ánh mắt khép hờ mệt mỏi dưới lớp tóc rối bù, nhưng bàn tay vẫn siết chặt những thứ lấy từ trạm nghiên cứu vào ngực như ôm lấy báu vật cuối cùng của một quá khứ đang cháy rụi.

    Anh bác sĩ tình nguyện lại là người xử lý vết thương cho cô.

    Lần này, ánh mắt anh ta cau có hơn hẳn, như muốn xuyên thấu qua tôi để lôi ra nguyên nhân khiến cô ra nông nỗi này.

    Tôi không nói gì, chỉ lặng lẽ lùi lại một bước, nhìn từng động tác của anh: tháo băng cũ loang máu, lau sạch những vết rách sâu hoắm, rồi thay gạc mới một cách tỉ mỉ, cẩn thận.

    Khi cô đã thiếp đi trên giường bệnh, hơi thở dần đều đặn hơn, tôi mới lặng lẽ bước ra ngoài.

    Tôi khẽ khép cửa lại, cẩn thận đến mức không để phát ra một tiếng động nhỏ, như sợ chỉ một chút xáo trộn thôi cũng sẽ đánh thức những cơn đau đang ngủ yên trong cô.

    Anh bác sĩ đứng ngay ngoài hành lang, đôi tay khoanh trước ngực, ánh mắt vẫn đầy trách móc không giấu diếm.

    Tôi biết mình chẳng có gì để biện minh, vì thế, khi anh ta bắt đầu trách mắng về việc để bệnh nhân mạo hiểm, về nguy cơ nhiễm trùng từ những vết thương toác lại, tôi chỉ im lặng nhận hết, nửa chữ cũng không dám phản bác.

    Tôi cúi đầu, cảm giác tội lỗi như một tảng đá nặng trĩu đè lên ngực, khiến hơi thở cũng trở nên khó khăn.

    Tôi quay trở lại giường bệnh của cô, nhẹ nhàng gom lại những thứ may mắn lấy ra được từ trạm nghiên cứu rồi gói gọn chúng vào một túi vải cũ kỹ.

    Ngón tay tôi vô thức chạm vào mép giấy loang lổ vết cháy, một cảm giác giằng xé dâng lên khiến tôi muốn mở ra xem ngay lập tức, nhưng lại sợ rằng những bí mật bên trong sẽ đốt cháy tôi như ngọn lửa vừa rồi.

    Tôi bước đến bên cửa sổ, nhìn ra màn đêm ngoài kia.

    Đám lửa đã dần lụi tắt, ánh sáng đỏ cam rực rỡ ban nãy biến mất, chỉ còn lại đám khói mù mịt cuồn cuộn bốc lên từ nền tuyết, xám xịt và nặng nề như một hồn ma chưa siêu thoát.

    Mọi thứ diễn ra nhanh quá, con quái vật hừng hực vừa nhăm nhe nuốt chửng chúng tôi giờ chỉ còn là bóng ma lặng lẽ tan biến vào màn đêm lạnh lẽo, để lại mùi khét lẹt và nỗi bất an vẫn âm ỉ trong lòng tôi.

    Xe cứu hỏa vừa rời đi, để lại những vệt bánh xe hằn sâu trên lớp tuyết dày.

    Tôi khép cửa sổ lại, chặn đứng hơi lạnh đang len lỏi vào phòng.

    Đêm nay, tôi không sao chợp mắt nổi.

    Mọi chuyện xảy ra từ lúc đặt chân đến chân núi Tà Lĩnh đến giờ cứ hỗn loạn quay cuồng trong đầu.

    Tôi nhìn sang giường bệnh, cô đang ngủ say sưa như một đứa trẻ vô tư, hơi thở đều đặn nhẹ nhàng, gương mặt bình yên đến lạ lùng dưới ánh đèn mờ vàng.

    Không biết trong giấc mơ của cô có gì, là ác mộng đen tối kéo dài vô tận như những vết thương chồng chất trên người, hay những tầng mây mơ màng không điểm dừng, nơi cô là một thiên thần tự do trước khi bị cơ thể đớn đau này giam cầm?

    Sáng hôm sau, thầy Hồ tìm đến tôi trong trạm y tế, khuôn mặt rạng rỡ khác hẳn vẻ mệt mỏi thường ngày.

    Thầy báo một tin vui bất ngờ, y tá ở viện dưỡng lão vừa gọi điện, nói chú Lăng muốn gặp chúng tôi.

    Dường như cuộc gặp hôm trước đã khơi dậy điều gì đó trong ký ức ông.

    Thầy vội vã đi trước, giục tôi thu xếp rồi đến sau.

    Tôi quay lại phòng bệnh của Tử Linh, chỉ vơ vội chiếc áo khoác ngoài rồi chạy theo thầy.

    Nhưng vừa bước vào, tôi thấy cô đã tỉnh dậy từ lúc nào, đôi mắt mở to, ánh nhìn tuy còn mệt mỏi nhưng sáng lên một thứ ánh sáng lạ lùng, như vừa tìm thấy lối đi trong bóng tối kéo dài.

    Tôi lúng túng dúi hộp đồ ăn sáng đã chuẩn bị vào tay cô, dặn rằng mình sẽ ra ngoài một lát rồi quay về ngay.

    Thế nhưng cô khẽ lắc đầu từ chối, bàn tay lạnh buốt nhẹ nhàng đẩy nó lại về phía tôi, ánh mắt đen sâu thẳm nhìn thẳng vào tôi như thể cô đang cố tìm kiếm điều gì đó.

    "Tôi muốn gặp Tần Khải Lăng."

    Tôi chết lặng, như có một luồng băng giá thổi thẳng vào tim.

    Cái tên ấy, họ tên đầy đủ của chú Lăng, tôi chưa từng nhắc đến trước mặt cô dù chỉ một lần.

    Làm sao cô biết được?

    Còn chưa kịp định thần, cô đã tiếp lời, giọng chậm rãi nhưng chắc nịch đến lạ:

    "Ông ta là người dẫn đường của hai mươi năm trước.

    Bây giờ không còn thời gian nữa… anh phải đưa tôi đi gặp ông ta ngay."

    Tôi nhìn cô, ngỡ ngàng đến mức không thốt nổi một lời.

    Những gì cô vừa nói khiến đầu óc tôi quay cuồng như bị cuốn vào bão tuyết, hai mươi năm trước, di tích trong núi tuyết, đội khảo cổ của cha mẹ tôi, và chú Lăng...

    Tất cả đột nhiên xâu chuỗi lại thành một bí ẩn khổng lồ, sâu thẳm và lạnh lẽo hơn bất kỳ điều gì tôi từng dám nghĩ tới.

    Bên ngoài, ánh sáng ban mai dịu dàng rọi qua khung cửa sổ, hắt lên gương mặt tái nhợt của cô.

    Tôi chợt nhận ra, từ giây phút này, mọi chuyện đã không còn đơn giản là một cuộc gặp gỡ tình cờ nữa.

    Tôi, thầy Hồ và Tử Linh ngồi quanh chú Lăng chờ đợi.

    Chú Lăng bảo y tá ra ngoài, để lại trong phòng chỉ còn bốn người chúng tôi.

    Căn phòng bỗng chốc trở nên ngột ngạt.

    Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo tường vang lên rõ rệt, như từng nhát gõ vào tâm trí tôi.

    Chú Lăng run rẩy nắm chặt tay Tử Linh, đôi mắt đục mờ vì tuổi tác bỗng ánh lên tia sáng kỳ lạ, vừa mừng rỡ vừa hoảng loạn.

    “Linh!

    Là cô sao?”

    Giọng ông khàn đặc, như bật ra từ tận cùng ký ức.

    Tử Linh cứng ngắc gật đầu.

    Tôi chết lặng.

    Một phần trong tôi muốn gạt phắt đi, muốn hét lên rằng điều đó không thể nào đúng được.

    Nhìn đi nhìn lại cô cũng chỉ tới hai mươi tuổi là cùng, đôi khi còn nhìn như học sinh.

    Hai mươi năm trước, cô ấy chỉ là một đứa trẻ còn đang tập đi, thậm chí còn chưa chào đời.

    Vậy mà giờ đây trước mắt tôi, cô lại gật đầu xác nhận như thể đang thừa nhận một sự thật hiển nhiên, một sự thật mà lý trí tôi không thể nào chấp nhận nổi.

    “Cô phải nói họ quay về, không được đi tiếp nữa.

    Có nguy hiểm, có nguy hiểm…”

    Chú Lăng lặp đi lặp lại, giọng ông dồn dập, bàn tay gầy guộc siết chặt đến mức các khớp xương kêu răng rắc.

    Tử Linh chỉ nhìn ông trân trân, đôi mắt xa xăm như xuyên qua ông của hiện tại, xuyên qua cả thời gian để nhìn ông của quá khứ, không đáp một lời.

    “Cô Mộng Kỳ không nghe lời tôi đâu… cô giỏi như vậy, xin cô hãy cản họ lại đi mà!”

    Ông gần như bật khóc, giọng lạc đi trong tuyệt vọng, nước mắt lăn dài trên khuôn mặt hốc hác.

    Tôi giật mình, như có lưỡi dao lạnh lẽo đâm thẳng vào tim.

    Mộng Kỳ, đó chính là tên mẹ tôi.

    Tôi quay sang nhìn Tử Linh, nhưng cô vẫn im lặng, chỉ để mặc bàn tay già nua run rẩy của ông ghì chặt lấy tay mình.

    “Không đúng... không đúng!

    Chỉ còn cô và tôi sao?

    Họ đâu cả rồi?”

    Chú Lăng gào lên, đôi mắt đỏ ngầu trợn ngược, như vừa nhận ra một sự thật kinh hoàng vừa nuốt chửng mình.

    Tử Linh khẽ quay đầu, ánh nhìn hướng ra cửa sổ.

    Bên ngoài, ngọn núi Tà Lĩnh sừng sững trong ánh sáng nhợt nhạt của buổi sớm, mờ ảo như một bóng ma khổng lồ.

    Cô vẫn không nói gì, nhưng trong khoảnh khắc ấy, tôi có cảm giác như cô đang trò chuyện với chính ngọn núi kia, với những linh hồn còn mắc kẹt trong màn tuyết của hai mươi năm trước.

    Chú Lăng bỗng run bắn, toàn thân co giật, miệng lắp bắp những từ ngữ rời rạc.

    Thầy Hồ vội lao tới giữ chặt vai ông, ra hiệu cho tôi đỡ lấy phía bên kia.

    Trong lúc hỗn loạn ấy, Tử Linh khẽ thì thầm, giọng mơ hồ như vọng về từ một nơi xa xăm:

    “Họ chưa bao giờ rời khỏi núi cả…”

    Tôi sững sờ, câu nói ấy như một nhát búa giáng xuống khiến mọi giả thuyết trong đầu tôi vỡ vụn, tan thành tro bụi.

    Bên ngoài, ngọn núi Tà Lĩnh vẫn sừng sững, lạnh lùng, như đang lặng lẽ chứng kiến tất cả.

    Tử Linh bắt đầu dịu giọng, từng lời nói chậm rãi và cẩn thận, như sợ chỉ một chút sơ suất thôi cũng sẽ khiến chú Lăng thêm kích động.

    Cách cô đặt tay lên cánh tay gầy guộc của ông, ánh mắt bình thản, giọng điệu trấn an nhẹ nhàng, tất cả khiến tôi bất giác liên tưởng đến những y tá trong viện dưỡng lão, những người đã quen trò chuyện với những tâm hồn già nua và mong manh.

    Thầy Hồ cũng dần thả lỏng, còn tôi trong khoảnh khắc ấy cảm thấy lòng mình lắng xuống, như mọi cơn bão tố trong đầu vừa tạm thời tan biến.

    Một ý nghĩ bất chợt lóe lên.

    Có lẽ mục đích của cô khi đến đây cũng giống tôi, cố tìm kiếm sự thật về nguyên nhân mất tích của người thân, dù quá khứ ấy có đau đớn đến đâu.

    Chú Lăng ngồi lặng người một lúc lâu, ánh mắt đục mờ lạc vào khoảng không, rồi ông bắt đầu kể, từng chữ từng chữ chậm rãi, khàn khàn, như kéo cả căn phòng này trở về trạm nghiên cứu cũ kỹ của hai mươi năm trước, nơi những bí mật kinh hoàng vẫn còn nằm im dưới lớp tuyết dày.

    Tần Khải Lăng sẽ không bao giờ quên được ngày hôm đó, ngày mà ông, một chàng trai mới ngoài đôi mươi, lần đầu tiên bước chân vào thế giới hoàn toàn khác biệt với cuộc sống thôn quê giản đơn của mình.

    Hôm ấy, như mọi khi, ông ngồi trong trạm nghiên cứu tạm bợ dựng bên sườn núi, giữa đám sinh viên khảo cổ trẻ trung và háo hức.

    Không khí cả đội rộn ràng tiếng cười nói, trông như một chuyến dã ngoại hơn là công việc khảo cổ nghiêm túc.

    Dẫn đầu là Mộng Kỳ, cán bộ Viện Khảo cổ học xinh đẹp năng động, và Quân Ảnh Minh, vị giáo sư trẻ cũng thuộc chuyên ngành.

    Hai người khi ấy còn chưa tới ba mươi, lại là vợ chồng son sắt mới cưới nên lúc nào cũng ríu rít chuyện trò, thỉnh thoảng trao nhau những ánh mắt nồng nàn không giấu diếm, khiến cả đội ai nấy đều phải cười tủm tỉm mà kiếm trò trêu chọc.

    Chính sự trẻ trung và nhiệt huyết của họ đã góp phần làm không khí cả nhóm lúc nào cũng tràn đầy sức sống, như thể ngọn núi lạnh lẽo kia cũng phải ấm lên vài phần.

    Còn ông, Tần Khải Lăng, vốn chẳng có gì đặc biệt ngoài đôi chân quen đường rừng núi và đôi mắt tinh tường của một thợ săn từ nhỏ.

    Từ bé đã hay theo cha lên núi săn thú, ông thuộc lòng từng con đường mòn, từng vách đá cheo leo, và cũng nằm trong số ít thợ săn địa phương dám đi sâu vào lòng Thần Lĩnh nhất.

    Lần đầu tiên đặt chân đến vùng đất này, đội khảo cổ tìm thẳng đến nhà trưởng thôn trước tiên.

    Họ đưa ra tờ giấy phép có dấu mộc đỏ chót của chính phủ, cho phép lập đội nghiên cứu khảo sát.

    Trong cái thôn nghèo quanh năm chỉ biết săn thú với trồng ngô, tờ giấy ấy như một tấm chiếu chỉ từ triều đình, khiến ai nấy đều nể phục, mắt sáng lên vì hy vọng có chút tiền công rơi vãi từ "người thành phố".

    Hồi đó, ngọn núi vẫn được gọi là Thần Lĩnh.

    Tuy chưa có truyền thuyết nuốt người kinh hoàng, nhưng dân trong vùng cũng ít ai dám bén mảng sâu.

    Địa thế hiểm trở, sát vùng biên giới, tuyết lở bất ngờ ập xuống như trời sập, lại thêm những vực sâu hun hút đen ngòm không đáy.

    Chỉ có vài thợ săn lão luyện hoặc bọn săn trộm thú hiếm mới dám liều mạng đi sâu vào lòng núi.

    Cha ông từng là một trong số đó, nhưng chẳng may vừa bị gãy chân trong chuyến đi rừng gần nhất nên giờ nằm nhà không nhúc nhích nổi.

    Thế là cơ hội bất ngờ rơi xuống đầu ông, Tần Khải Lăng khi ấy còn trẻ, đầy háo hức trước số tiền công dày cộp, và cũng không giấu nổi lòng tham lóe lên trong mắt khi nghĩ đến cuộc sống khá giả hơn cho mấy miệng ăn đang trông chờ vào người con trai này.

    Sao lại gọi đó là một món hời?

    Vì cái phong bì mà họ đưa ra hôm ấy dày đến mức khiến bất cứ ai trong thôn cũng phải hoa mắt.

    Số tiền ấy đủ để một gia đình sống sung túc cả mấy năm trời, đủ sửa lại mái nhà dột nát lâu ngày, đủ mua thêm vài con trâu béo tốt để cày ruộng.

    Trong cái thôn nghèo xác xơ, ai mà chẳng thèm muốn giành lấy giấc mơ đổi đời rơi từ trên trời xuống này.

    Ban đầu, đám thợ săn nhao nhao tranh nhau, kẻ nào cũng tự nhận mình quen núi nhất, giỏi đường nhất, giọng oang oang như sợ người khác không nghe thấy.

    Nhưng Mộng Kỳ không vội.

    Cô lắng nghe từng người một, hỏi han kỹ lưỡng, rồi bàn bạc riêng với trưởng thôn.

    Cuối cùng, ánh mắt cô dừng lại ở ông – chàng trai trẻ dáng người rắn rỏi, đôi mắt sáng quắc và bước chân chắc chắn, như thể đã sinh ra để thuộc lòng từng ngóc ngách của Thần Lĩnh.

    “Anh ta,” Mộng Kỳ nói, giọng dứt khoát như một mệnh lệnh không thể kháng cự.

    Từ khoảnh khắc ấy, số phận Tần Khải Lăng đã gắn chặt với chuyến đi định mệnh năm đó.

    Ông không hề hay biết rằng cái phong bì dày cộp kia không chỉ là món hời bất ngờ cho một gã thợ săn nghèo, mà còn là tấm vé một chiều đưa ông bước vào vòng xoáy bí mật kinh hoàng, một ký ức đeo bám gặm nhấm suốt cả cuộc đời còn lại, đến tận lúc này khi ông chỉ còn là bóng hình run rẩy trong viện dưỡng lão.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 10 Khởi hành


    Ngày đầu tiên đội khảo cổ tiến vào Thần Lĩnh là một ngày nắng ấm hiếm hoi, khiến lớp tuyết dưới chân núi tan chảy lấp lánh dưới ánh mặt trời.

    Cảnh sắc đẹp đến nao lòng, đẹp đến mức trong đầu ông, một thôn dân chỉ quen nghĩ đến củi gạo muối dầu cũng không tìm ra lời nào để tả xiết.

    Không khí cả đội huyên náo chẳng khác một chuyến dã ngoại vui vẻ.

    Đám sinh viên trẻ tuổi vừa đi vừa ríu rít chụp ảnh, tiếng máy ảnh lách tách vang lên liên hồi, xen lẫn với tiếng gió thổi hun hút qua khe núi.

    Mộng Kỳ và Quân Ảnh Minh đi đầu, tay cầm bản đồ, thỉnh thoảng dừng lại chỉ cho mọi người những vách đá kỳ thú với hình thù lạ lùng, hay những thân cây cổ thụ phủ đầy rêu xanh vừa hé lộ từ lớp tuyết tan.

    Con đường mòn dẫn sâu vào núi mở ra một khung cảnh hùng vĩ đến nghẹt thở.

    Những vách đá dựng đứng như bức tường thành khổng lồ của trời đất, thác nước trắng xóa đổ xuống từ độ cao hàng chục mét, hơi nước nóng từ mạch núi bốc lên mờ ảo như sương tiên.

    Những mảng tuyết còn sót lại phủ loang lổ trên triền núi, phản chiếu ánh nắng chói lòa thành những vệt sáng lấp lánh.

    Cảnh sắc ấy khiến ai nấy đều ngỡ như đang bước vào một bức tranh thủy mặc sống động, nơi núi rừng và tuyết trắng hòa quyện thành một thế giới riêng biệt, vừa đẹp đẽ vừa mang chút lạnh lẽo khó tả.

    Thế nhưng, giữa khung cảnh rực rỡ ấy, Tần Khải Lăng lại thoáng thấy những điều khiến lòng ông bất an, như một luồng gió lạnh vô hình len lỏi qua lớp áo mỏng.

    Ông ngẩng đầu nhìn lên, thấy một dải mây xám mỏng vắt ngang đỉnh núi, lẫn trong ánh nắng vàng ấm.

    Nó không dày đặc, không đen kịt, nhưng lại đứng yên bất động giữa bầu trời trong xanh, như một vết sẹo dài hằn sâu trên da thịt của trời đất.

    Có lúc gió thổi qua khe núi mang theo âm thanh rền rĩ kéo dài, nghe như tiếng ai đó than khóc vọng lại từ xa xăm, nửa như người nửa như thú, khiến da gà ông nổi lên dù không khí vẫn còn cái ấm áp từ nắng hạ.

    Càng đi sâu, không khí càng lạnh buốt bất thường, ánh sáng mặt trời bị những vách đá cao ngất che khuất, để lại những khoảng tối âm u lặng lẽ lan rộng dưới chân.

    Đám sinh viên vẫn vô tư cười đùa, chụp ảnh, ghi chép hăng say, chẳng ai để ý đến sự thay đổi ấy.

    Còn ông thì lặng lẽ siết chặt con dao săn bên hông, ngón tay bấu vào cán dao đến trắng bệch.

    Ông không phải người mê tín, nhưng trong khoảnh khắc ấy, ông chợt thấy mình như một kẻ xâm phạm lén lút bước vào lãnh địa cấm kỵ.

    Thần Lĩnh không chỉ là một ngọn núi đá lạnh lẽo.

    Nó giống như một sinh thể khổng lồ đang ngủ vùi từ thuở hồng hoang, hơi thở của nó là những cơn gió rít hun hút qua khe đá, mạch máu là dòng suối ngầm róc rách dưới lớp băng dày, và mỗi bước chân của đội khảo cổ dù nhẹ nhàng đến đâu, cũng như những cái chạm vô tình đánh thức nó dậy khỏi giấc ngủ ngàn năm.

    Đêm đầu tiên trong Thần Lĩnh buông xuống nhanh hơn họ tưởng.

    Mặt trời vừa khuất sau dãy núi, bóng tối đã tràn xuống như một tấm màn dày đặc, nuốt chửng con đường mòn chỉ trong chớp mắt.

    Đội khảo cổ vội dựng trại bên khoảng đất bằng cạnh khe suối, ánh lửa bập bùng hắt lên những gương mặt trẻ trung vẫn còn đầy hứng khởi dù mệt mỏi.

    Tiếng cười nói, tiếng chén bát va nhau vang vọng giữa núi rừng, nghe như một khúc nhạc lạc lõng giữa không gian tĩnh mịch bao la, nơi chỉ có gió rít và tiếng suối róc rách làm bạn.

    Cả đội tuy đã kiệt sức sau ngày dài đi đường, nhưng họ vẫn ríu rít kể chuyện, thậm chí còn hát vài câu hát vui nhộn để át đi cái lạnh đang len lỏi vào xương tủy.

    Mộng Kỳ và Quân Ảnh Minh ngồi sát nhau bên lửa, vừa ghi chép vừa bàn bạc sôi nổi, ánh mắt sáng rực dưới ánh lửa lập lòe.

    Họ tin rằng ngày mai sẽ tiến sâu hơn, sẽ tìm thấy những dấu tích khảo cổ quan trọng, những mảnh ghép có thể thay đổi cả lịch sử.

    Nhưng với Tần Khải Lăng, ngọn lửa ấy không đủ xua tan cái lạnh đang lan dần trong lồng ngực.

    Ông ngồi hơi chếch ra ngoài vòng sáng, mắt dõi về phía rừng sâu tối om, nơi những thân cây cổ thụ sừng sững như những bóng người khổng lồ đứng im lìm canh giữ.

    Thỉnh thoảng gió thổi qua, lá cây xào xạc, nhưng xen lẫn trong đó là âm thanh khác mơ hồ, kéo dài như tiếng rên rỉ vọng từ lòng núi.

    Ông khẽ cau mày, tay vô thức chạm vào con dao săn bên hông.

    Đêm nay mới chỉ là khởi đầu.

    Tần Khải Lăng tin rằng không chỉ mình ông cảm thấy lạc lõng giữa đám người trẻ trung náo nhiệt ấy.

    Bởi trong đội, vẫn còn một người khác mang dáng vẻ xa cách không kém.

    Cô sinh viên ấy ngồi lặng lẽ ở một góc, chậm rãi ăn phần cơm của mình.

    Không nói, không cười, chẳng tham gia vào những câu chuyện rộn rã quanh đống lửa.

    Ánh mắt cô hướng về phía đỉnh núi phủ mây xa xăm, trầm mặc và mơ màng, như thể tâm trí đã rời khỏi nơi này từ lâu, lạc vào một thế giới riêng biệt mà chỉ mình cô thấy được.

    Mọi người trong đội gọi cô là A Linh.

    Cái tên ấy vang lên giữa tiếng cười đùa rộn rã nghe vừa lạc lõng vừa lạnh lẽo, như một hơi thở từ nơi xa xôi lạc vào không khí ấm áp tạm thời của buổi tối núi rừng.

    Không ai để ý đến sự im lặng của cô, cũng chẳng ai hỏi han.

    Họ chỉ nghĩ đó là tính cách khép kín thường thấy ở những sinh viên ít nói, nên cứ để mặc cô ngồi đó như một bóng hình mờ nhạt giữa ánh lửa bập bùng.

    Tần Khải Lăng thoáng ngẩng lên, bắt gặp ánh mắt của cô gái.

    Giữa tiếng cười nói huyên náo, chỉ có hai ánh mắt ấy lặng lẽ giao nhau tựa hai kẻ lạc lõng vô tình tìm thấy nhau giữa đám đông ồn ào.

    Một gã thợ săn quê mùa và một cô gái trẻ mang ánh nhìn u uẩn.

    Ông không nói gì, cô cũng không.

    Nhưng trong sự im lặng ấy, Khải Lăng cảm thấy một sợi dây vô hình vừa được dệt nên, mỏng manh, khó nắm bắt, nhưng đủ để khiến ông bớt đi phần nào cảm giác đơn độc giữa núi rừng lạnh lẽo này.

    Đêm trong Thần Lĩnh càng về khuya càng lạnh, gió núi rít qua khe đá như tiếng thở dài của đất trời.

    Trong ánh lửa đỏ vàng bập bùng, những gương mặt trẻ trung hồng hào lên vì mệt mỏi xen lẫn hứng khởi, như thể ngọn lửa ấy đang sưởi ấm cả những giấc mơ khảo cổ đầy nhiệt huyết của họ.

    Mộng Kỳ đi kiểm tra từng lều một, chốt lại lịch trình ngày mai, thỉnh thoảng dừng lại dặn dò mọi người về an toàn, tránh lửa, tránh thú dữ, tránh những bất ngờ từ núi rừng.

    Quân Ảnh Minh ngồi bên đống lửa, vừa ghi chép tỉ mỉ vừa phác thảo vài nét trên sổ tay.

    Những cậu sinh viên nam nói năng to hơn mức cần thiết, kể nhau nghe chuyện trường lớp, chuyện đô thị ồn ào, rồi giúp nhau xoa tay cho bớt lạnh.

    Ở đầu kia, Mỹ Lan cười khanh khách, đôi khi xoay người để ánh lửa hắt lên sống mũi thon thả, mái tóc dài xõa xuống buông hờ trên vai như một tấm lụa mềm.

    Cô hỏi han các bạn nam bằng giọng dịu nhẹ, thỉnh thoảng như vô tình chạm tay vào cánh tay ai đó khi cười khúc khích, vẻ thích thú lộ rõ trong đôi mắt long lanh dưới ánh lửa.

    Trong khi mọi người tụ tập quanh đống lửa, chỉ có A Linh ngồi hơi chếch ra ngoài vòng sáng.

    Tấm bản đồ trải trên đầu gối cô, bút chì gõ nhẹ lên mép giấy theo nhịp suy nghĩ chậm rãi.

    Ánh mắt cô hướng về dãy núi tối thẫm phía xa, như vẫn còn dõi theo dải mây xám mỏng vắt ngang đỉnh núi từ hồi chiều.

    Thi thoảng, cô cúi xuống đánh dấu một điểm nhỏ, viết vài ký tự kín đáo bằng nét bút sắc gọn, rồi lại im lặng nhìn vào lửa, khuôn mặt không lộ chút cảm xúc.

    Ẩn dưới cổ áo cô là một sợi dây kết chỉ đỏ sẫm, phần mặt được giấu kỹ, chỉ ló ra một đoạn sau gáy như vệt máu khô dưới ánh lửa lập lòe.

    Mộng Kỳ xếp xong danh sách người trực đêm thì bước vào lều, quay lại dặn Quân Ảnh Minh: “Anh coi chừng đống lửa nhé.”

    Ông giáo gật đầu, cười ấm áp: “Có anh ở đây, lửa của chúng ta không tắt đâu.”

    Đám trẻ lại cười ồ lên, có người ném thêm vài khúc củi vào, lửa bùng lên mạnh mẽ, hắt những tia sáng run rẩy lên mái bạt lều, chiếu những cái bóng dài ngoằng của mọi người lên nền đất lạnh.

    Chỉ vài phút sau, một tiếng kêu thất thanh xé toạc bầu không khí ấy.

    "Trời ơi!

    Sợi dây chuyền của tôi đâu rồi?"

    Tiếng Mỹ Lan bật ra từ trong lều, cao vút và sắc nhọn như dao cắt, khiến mấy cậu sinh viên gần đó giật bắn mình.

    Mỹ Lan ló đầu ra, cô xốc tấm bạt lều, lục lọi túi vải một cách cuồng loạn, rồi ngẩng lên nhìn quanh đám đông với vẻ mặt đầy nghi ngờ.

    "Ai có thấy sợi dây chuyền của tôi không?

    Dây bạc, mặt đá xanh!

    Tôi để trong túi, ngay góc lều thôi mà giờ mất biến rồi!"

    Quân Ảnh Minh ngẩng lên khỏi sổ tay, điềm tĩnh lắc đầu: "Tôi không thấy.

    Bình tĩnh đã, có thể cô để lẫn đâu đó thôi."

    Mấy cậu sinh viên nam nháo nhào đứng dậy, đèn pin quét lia lịa: "Để bọn tớ soi xung quanh xem!"

    Đèn pin bật lên liên hồi, ánh sáng trắng cứng cáp cắt ngọt vào bóng tối, quét lia lịa qua mép lều, quanh đống đồ lộn xộn.

    Tiếng lá khô xào xạc dưới chân, tiếng gọi nhau dồn dập, tiếng thở gấp gáp của cả đội hòa quyện, khiến bầu không khí vốn yên tĩnh của đêm núi bỗng chốc bị khuấy đảo, căng thẳng như dây đàn sắp đứt.

    Mỹ Lan bước ra thêm một bước, ánh mắt quét một vòng đầy nghi ngờ rồi dừng lại ở A Linh.

    Cô thấy đối phương vẫn ngồi yên bất động ở đó, tay cầm bút, mắt dán chặt vào bản đồ trải trên đầu gối, chẳng hề ngẩng lên dù chỉ một lần.

    Sự bình thản lạnh lùng ấy như một cái tát thẳng vào lòng tự ái của Mỹ Lan.

    "A Linh!"

    Cô gọi lớn, giọng gằn lại sắc nhọn.

    "Cô ngồi đó làm gì?

    Cả đội đang tìm giúp tôi, còn cô thì thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra.

    Hay là..."

    Mỹ Lan cố ý bỏ lửng câu nói, ánh mắt lóe lên tia thách thức, như muốn ép A Linh phải phản ứng, phải lộ ra chút sơ hở nào đó trong vẻ im lặng chết chóc kia.

    A Linh ngẩng mắt lên, ánh nhìn lạnh như nước suối đêm, trôi qua mặt Mỹ Lan mà không hề dừng lại dù chỉ một giây.

    Cô chỉ nhìn như thế rồi lập tức cúi xuống, bút chì đánh thêm một ký hiệu nhỏ trên bản đồ, động tác chậm rãi nhưng dứt khoát, như thể mọi ồn ào xung quanh chỉ là gió thoảng.

    Chính thái độ bình thản ấy khiến Mỹ Lan bùng nổ, mặt đỏ bừng vì giận dữ và xấu hổ.

    "Cô có ý gì hả?

    Tôi mất đồ, cả đội đang tìm giúp, mà cô ngồi đó thản nhiên như không có chuyện gì?!"

    Đám sinh viên nam vốn đã quen với sự làm dáng của Mỹ Lan liền hùa theo ngay, tiếng xì xào dồn dập như đổ dầu vào lửa:

    "Đúng rồi, lúc nãy chỉ có A Linh quay lại lều lấy đồ thôi."

    "Ít nói thế, trông đáng ngờ lắm."

    "Chắc giấu ở đâu rồi..."

    Tiếng thì thầm lan nhanh, ánh mắt mọi người đổ dồn về phía A Linh với vẻ nghi ngờ và thù địch ngày càng lộ liễu, như thể cô đã trở thành mục tiêu dễ dàng nhất để trút giận trong đêm núi lạnh lẽo này.

    Sự phân vai trong đám sinh viên ấy khi đó rõ rệt đến lạ.

    Một bên là Mỹ Lan, luôn biết cách kéo mọi ánh mắt về phía mình bằng nụ cười rạng rỡ và giọng nói ngọt ngào, như thể cả thế giới này chỉ xoay quanh cô.

    Bên kia là A Linh, chọn cách lùi sâu vào im lặng, lạnh lùng như tấm đá băng giữa đêm núi, dùng sự thờ ơ ấy để tự vệ trước mọi con mắt dò xét.

    Giữa hai thái cực ấy, đám trai trẻ nhanh chóng bị hút về phía ồn ào, như bầy thú hoang bị ánh lửa mê hoặc, lao vào mà không kịp nghĩ ngợi.
     
    Quân Gia Bút Ký [Quyển 1]
    Quyển 1 Cổ lâu Hoàn trạch


    Năm 1990, vào những ngày Tết cổ truyền đang cận kề, Quân Ảnh Chiến rời khỏi tiệm đồ cổ nhỏ của mình ở thị trấn, trở về Xóm Bến Nước nơi anh đã lớn lên từ thuở bé để ăn Tết cùng ông nội.

    Tại đây, anh gặp lại Hoàn Văn Toàn – người bạn thân từ thuở cởi truồng tắm mưa, và tình cờ quen biết Linh, một cô gái bí ẩn vừa mới đến xóm trong những ngày cuối năm.

    Chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, cả ba bất ngờ vướng vào chuỗi chuyện quái dị kỳ lạ xoay quanh căn nhà cháy tan hoang đã hai mươi năm của ông cố Toàn – nơi vẫn còn lưu giữ rất nhiều bí mật chưa từng được hé mở của dòng họ quyền quý một thời.

    Cùng nhau, họ lần lượt khám phá những dấu vết quá khứ, những bí ẩn được chôn giấu qua bao thế hệ trong chính ngôi nhà cổ ấy.

    Chân thực đến mức gần gũi, dân dã trong từng câu chuyện đời thường, xen lẫn tiếng cười hài hước nhưng không kém phần rùng rợn và ám ảnh.

    Đó chính là những gì Cổ Lâu Hoàn Trạch mang đến cho người đọc ngay từ những trang đầu tiên của Quân gia bút ký.
     
    Quân Gia Bút Ký [Quyển 1]
    Chương 1 Đường về Bến Nước


    Tôi tỉnh dậy giữa tiếng ríu rít ồn ào của bầy chim sẻ ngoài sân sau.

    Những tiếng líu lo chen chúc, the thé, vang vọng khắp khoảng sân nhỏ hẹp.

    Chắc hẳn lại là A Cát đang rải cơm thừa phơi khô cho chúng ăn như mọi khi.

    Cậu nhân viên cửa hàng của tôi vốn tính tình vui vẻ, hòa đồng, suốt ngày hay cười nói không ngớt miệng, thích làm mấy chuyện linh tinh thế này.

    Đầu tôi vẫn còn choáng váng, cổ và vai đau nhức vì nằm nghiêng trên ghế xếp quá lâu.

    Không khí oi nồng của buổi chiều khiến mồ hôi dính nhớp nháp trên lưng áo thun mỏng.

    Tôi nằm dài người ra, lười biếng không muốn động đậy, tay chân duỗi thẳng cho đỡ ê ẩm.

    Chiếc quạt giấy đã rơi xuống nền gạch từ lúc nào không hay.

    Tôi với tay nhặt lên, khẽ phe phẩy vài cái.

    Luồng gió mát thoảng qua mặt, mang theo mùi bụi đất lẫn chút mùi cơm khô thoang thoảng.

    Cảm giác dễ chịu khiến tôi lim dim mắt, duỗi chân thêm một cái thật dài, rồi lấy quạt che kín mặt, chuẩn bị chợp mắt ngủ tiếp.

    Ngay lúc ấy tiếng chuông điện thoại bàn trong nhà đột ngột vang lên, khô khốc và chói tai, cắt ngang giấc ngủ nửa vời của tôi một cách phũ phàng.

    Tôi cằn nhằn một tiếng trong cổ họng, lười biếng đến mức không buồn ngồi dậy.

    Cái bàn trà gỗ thấp cũ kỹ đặt cách ghế xếp chừng một mét rưỡi, điện thoại bàn nằm ngay ngắn trên mặt bàn, chuông vẫn réo inh ỏi không ngừng.

    Bình thường tôi với tới được, nhưng hôm nay nằm nghiêng mãi, tay chân tê cứng, lười đến mức chỉ muốn giả vờ không nghe thấy.

    Thôi thì… tôi vặn người một chút, duỗi tay thật dài hết cỡ.

    Ngón tay vừa chạm được mép bàn, suýt nữa thì té luôn ghế.

    Dùng sức kéo mạnh một cái.

    Cái bàn trà kêu cọt kẹt, chân bàn trượt trên nền gạch, kéo theo cả cốc trà nguội và chồng báo cũ trên mặt bàn rung lắc lia lịa.

    Một ít nước trà loang ra, suýt tí nữa đổ luôn cả điện thoại xuống đất.

    Tôi vội vàng chộp lấy ống nghe trước khi cả chồng báo đổ sụp.

    “Alô?”

    Tôi nói vào ống nghe, giọng còn ngái ngủ và hơi cáu kỉnh.

    Bên kia đầu dây, một giọng nói già nua ấm áp vang lên, mang theo chút trách móc thân thương mà tôi đã thuộc lòng từ lâu:

    “Chiến à… năm nay sao lại không về thăm ông một chuyến?”

    Lòng tôi chợt bùi ngùi.

    Tiếng ông nội tôi, dù đã ngoài bảy mươi nhưng vẫn sang sảng, đầy tình thương.

    Cha mẹ tôi đã bất hạnh qua đời từ nhiều năm trước trong một tai nạn không may, họ hàng thân thích cũng chẳng còn mấy người.

    Gần như chỉ còn lại thằng cháu này để ông mong ngóng mỗi dịp lễ tết.

    Tôi có thể hình dung ông đang ngồi trong gian thờ tối om của ngôi nhà gỗ năm gian, tay cầm ống nghe, lưng hơi còng, ánh mắt nhìn về phía sân trong như chờ tôi xuất hiện.

    Tôi ngồi thẳng dậy trên ghế xếp, tay siết chặt ống nghe hơn một chút, giọng dịu lại hẳn:

    “Ông… con bận chút việc ở tiệm.

    Để cuối tuần con về thăm ông nhé.”

    Ông cười khẽ, tiếng cười khàn khàn xen lẫn tiếng ho nhẹ, rồi đột ngột nổ ra một câu chửi quen thuộc:

    “Tiên sư cha mày!

    Mày còn biết ông là ai không hả thằng chết tiệt?”

    Tôi giật bắn người, suýt đánh rơi ống nghe xuống đất.

    Ông tiếp tục gầm gừ, giọng cáu kỉnh như đang cắn răng nghiến lợi:

    “Chỗ mày cách chỗ tao có cái thị trấn chút ét, sắp giao thừa tới nơi rồi, vậy mà vẫn chưa chịu lết xác về nhà làm nghĩa vụ thờ cúng của thằng đích tôn nữa hả?

    Ông già này ngồi đây chờ mày về thắp nén nhang cho tổ tiên, mày lại đang nằm ườn ở tiệm như heo nằm!”

    Tôi ngượng cười cứng đờ, tay gãi đầu lia lịa cố chữa cháy:

    “Ông ơi… con bận thật mà…

    Để con thu xếp xong việc ở tiệm là con về liền ạ…”

    Mắt tôi liếc ra sân sau qua khung cửa sổ.

    A Cát đang cặm cụi xếp lên mấy kệ tre không biết bao nhiêu nong phơi cơm.

    Những chiếc nong tre đan mịn, vòng tròn vàng óng dưới nắng chiều, xếp chồng cao ngất ngưởng.

    Cậu ta lau mồ hôi nhễ nhại, miệng vẫn cười toe toét, chắc đang lo cho đàn chim sẻ trước khi nghỉ Tết vài ngày tới.

    Tôi thầm nghĩ thằng nhóc này may mắn thật, chỉ lo mỗi chuyện chim chóc, chứ không phải bị ông nội chửi như tôi.

    Tôi hứa đi hứa lại một lúc lâu, nịnh nọt đủ kiểu, nói mãi ông mới chịu cúp máy trong tiếng cằn nhằn lẩm bẩm:

    “Thằng bất hiếu… về muộn là ông quăng hết quần áo của mày ra đường cho chó tha luôn đấy!”

    Tôi vừa cúp máy, còn đang ngồi ngẩn ngơ trên ghế xếp thì tiếng còi xe hơi vang lên ngoài cổng tiệm.

    Tiếng còi trầm và sang, không phải loại còi xe máy rè rè mà là tiếng còi Peugeot đặc trưng, nghe như một ông già ho khan nhắc nhở.

    Chú Tài đã đến.

    Tôi vội vã xỏ dép, khoác áo khoác mỏng lên vai rồi bước ra.

    Chiếc Peugeot 504 màu đen bóng loáng đang đậu ngay trước cửa tiệm, thân xe dài và thấp, bốn đèn pha tròn xếp đôi sáng quắc dưới nắng chiều.

    Chú Tài ngồi sau tay lái, mặc áo sơ mi trắng ngắn tay, thấy tôi thì cười toe, vội mở cửa xe từ bên trong.

    “Cháu lên xe đi, ông chờ cháu từ sáng rồi đấy.”

    Sau khi thu xếp cho A Cát về chuyện của tiệm xong.

    Tôi ngồi vào ghế sau, mùi da ghế cũ kỹ xen lẫn mùi xăng dầu thoang thoảng.

    Ghế êm đến mức tôi suýt ngả người ra sau.

    Chú Tài nổ máy, tiếng động cơ gầm gừ trầm ấm, xe từ từ lăn bánh.

    Trên con đường đất đỏ dẫn ra khỏi thị trấn, tôi đưa mắt nhìn ra ngoài cửa kính.

    Mấy đứa trẻ đang chơi đá bóng bên lề đường ngừng lại, miệng há hốc.

    Bà bán nước chè đầu ngõ ngẩng phắt lên, tay cầm ấm nước quên cả rót.

    Một anh xe thồ đang chở hai bao gạo cũng dừng lại, mắt dán chặt vào chiếc xe đen bóng.

    Ai cũng trầm trồ, có người còn chỉ tay thì thầm với nhau.

    Tôi thầm cười trong bụng.

    Chiếc Peugeot 504 này tuy là hàng cũ, mua lại từ một gia đình người Tây về nước sau năm 75, nhưng thời ấy mà có được nó thì phải giàu lắm mới dám nghĩ tới.

    Ông nội tôi mua lại năm 86, lúc đó cả thị trấn chỉ có đúng ba chiếc xe hơi tư nhân, mà hai chiếc kia là Lada của cán bộ.

    Peugeot 504 của ông nổi bật hơn hẳn vì dáng xe Pháp sang trọng, ghế da thật, chạy êm ru.

    Mỗi lần chú Tài lái ra đường là cả xóm lại xúm lại xem như xem kịch.

    Tôi ngồi trong xe mà vẫn cảm nhận được những ánh mắt đó, vừa kiêu hãnh vừa hơi ngại.

    Chú Tài liếc nhìn tôi qua gương chiếu hậu, cười lớn một tiếng:

    “Mới bị ông chửi cho một trận phải không cháu?”

    Tôi cười ngượng, gật đầu:

    “Phải ạ.”

    Chú Tài lắc đầu cười, tay cầm vô-lăng vững vàng, giọng ấm áp như đang kể chuyện xưa:

    “Hồi chú còn chở cháu đi học, mỗi lần lên xe là cháu phải kiễng chân hết cỡ, chú phải đỡ mông mới leo nổi.

    Giờ nhìn lại, cháu cao lớn thế này rồi, thời gian qua nhanh thật.”

    Tôi dựa lưng vào ghế, nhìn ra ngoài cửa kính, để mặc gió chiều lùa vào.

    Chú Tài tiếp tục, giọng vừa nói vừa cười:

    “Dù trong nhà có không ít người làm, nhưng cháu là người thân duy nhất của ông, nên ông mới hay bắt cháu về ăn cơm cùng.

    À, chú nghĩ tốt hơn hết là cháu nên cưới sớm một cô tiểu thư xinh xinh nào đó, để ông sớm được bế cháu.

    Dạo này chú thấy ông hay tranh bế mấy đứa cháu hàng xóm lắm, nhìn ông thấy mà thương ghê.”

    Tôi cười cảm ơn chú Tài, miệng nói “Vâng ạ, cháu sẽ suy nghĩ”, nhưng trong lòng lại ngán ngẩm hẳn.

    Khác với những cậu ấm cô chiêu mà tôi biết, tôi coi như là một ngoại lệ hiếm hoi.

    Thời ấy, hôn nhân là chuyện của cha mẹ, không phải của con cái.

    Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy.

    Trai gái chưa từng gặp mặt, chưa từng nói một câu chuyện riêng, vẫn phải làm lễ thành hôn chỉ vì hai chữ “trách nhiệm gia đình”.

    Nhà này nợ ơn nhà kia, hoặc để giữ thể diện hai bên, hoặc để củng cố quan hệ buôn bán, làm ăn…

    đủ lý do.

    Tôi từng nghe kể không ít cặp vợ chồng sống với nhau cả đời mà chẳng có lấy một ngày hạnh phúc thật sự.

    Họ cưới nhau vì nghĩa vụ, sinh con vì nghĩa vụ, rồi già đi cùng nhau cũng vì nghĩa vụ.

    Ly hôn thì gần như không ai dám nghĩ tới, vì sợ mang tiếng “bất hiếu”, sợ xã hội xì xào, sợ làm nhục mặt mũi hai họ.

    May mắn thay, ông nội tôi chưa bao giờ ép tôi chuyện đó.

    Ông bảo “đời mày, mày tự chọn”.

    Thế nhưng… mãi mà chẳng có ai lọt vào mắt tôi.

    Bạn bè nghe tôi tâm sự chỉ lắc đầu bảo:

    “Mày tiêu chuẩn cao quá rồi.

    May ra có Bồ tát sống mới chiều nổi mày đấy.”

    Tôi thầm cười khổ, nhìn ra cánh đồng lúa chín vàng đang trôi ngược ra sau xe.

    Cưới vợ… nghe thì dễ, nhưng với tôi, nó vẫn còn xa vời vợi lắm.

    Khi chiếc Peugeot 504 rẽ vào con đường đất đỏ dẫn vào Xóm Bến Nước, tôi vô thức đưa mắt nhìn ra ngoài.

    Con đường quen thuộc chạy dọc bờ rạch, hai bên là hàng dừa cao vút và vườn chuối um tùm.

    Bóng dáng một người quen thuộc đang đi bộ một mình, vai vác cái túi vải cũ kỹ, bước chân hơi vội.

    Tôi liền quay sang chú Tài:

    “Chú Tài, dừng xe một chút!”

    Chú Tài nhẹ nhàng đạp phanh, xe từ từ dừng lại bên vệ đường.

    Tôi với tay xuống dưới cửa, nắm lấy cái gạt quay tay bằng kim loại mát lạnh, quay mạnh vài vòng.

    Tiếng “cạch cạch” vang lên khô khốc, kính cửa từ từ hạ xuống, gió sông ùa vào mang theo mùi phù sa và khói bếp chiều.

    Tôi thò đầu ra ngoài, hú một tiếng lớn:

    “Ê Toàn!

    Đi đâu đấy!?”

    Người kia giật mình quay lại, thấy tôi thì cười toe toét, lộ hàm răng trắng đều:

    “Trời đất ơi, mày về hả?

    Tao đang xuống xóm dưới cúng cho bà Năm nhà cuối rạch.

    Bà bị đau bụng kinh niên, nhà kêu cúng gỡ vía.”

    Tôi cười lớn:

    “Tao vừa bị ông chửi cho một trận, đang trên đường về nhà đây.”

    Toàn lắc đầu, giọng vẫn giữ nụ cười:

    “Từ hồi mày đi đại học trên Sài Gòn tới giờ ít thấy mày ghê.

    Về chơi được vài ngày không?”

    “Ừ, tao ở lại ăn Tết với ông.

    Hết Tết tao mới về thị trấn.

    Mày rảnh thì xuống tiệm tao xem phong thủy giúp một tay nhen, dạo này đồ đạc cứ lung tung hết cả, tao thấy hơi lạ lạ.”

    Thằng bạn thân này tên đầy đủ là Hoàn Văn Toàn, hơn tôi mấy tuổi, trông trẻ trung thế thôi chứ đã là thầy cúng có tiếng trong xóm từ lâu.

    Từ hồi còn cởi truồng tắm mưa chung rạch đến giờ, chúng tôi vẫn chơi với nhau như anh em ruột.

    Mỗi tội nó cứ ở mãi trong cái nhà cháy tan hoang của ông cố để lại, dù tôi chắc chắn nó dư tiền mua đất xây một căn nhà gạch khang trang giữa xóm.

    Tôi không hiểu sao nó lại thích sống ở đó thế.

    Tôi liếc đồng hồ đeo tay, sợ làm nó trễ giờ nên vội nói:

    “Thôi mày đi nhanh đi kẻo bà Năm đợi.

    Tao cũng phải về nhà ông đây, lát nữa gặp lại.”

    Toàn vẫy tay, cười lớn:

    “Ừ, lát nữa tao qua nhà mày chơi!

    Tối nay cả xóm chắc lại kéo đến xem tivi nhà ông mày rồi, tao cũng ghé luôn.”

    Xe lại lăn bánh đều đều trên con đường đất đỏ.

    Tôi ngả người ra ghế sau, để mặc gió từ khe kính lùa vào mát rượi, tiếng động cơ gầm gừ trầm ấm như ru tôi thiu thiu ngủ.

    Bất chợt chú Tài đạp phanh nhẹ, xe dừng lại êm ru bên vệ đường.

    Tôi mở mắt, hơi ngạc nhiên hỏi:

    “Chú dừng lại chi vậy?”

    Chú Tài quay đầu nhìn tôi, cười hiền:

    “Cậu Hai à, ông Hai dặn chú đến đây đón khách của ông.

    Ông bảo khách đến bằng đò, chú phải chờ sẵn ở bến này.”

    Tôi ngạc nhiên nhưng không hỏi thêm, quay sang nhìn ra cửa sổ.

    Dưới con đường đất đỏ là bờ ghe lợp lá dừa nước đơn sơ, mái che xiêu vẹo, vài thanh tre già chống đỡ tạm bợ.

    Bờ đất được đắp cao chừng một mét rưỡi, mặt bờ loang lổ vết chân trâu và dấu dép cao su in hằn sâu.

    Ven bờ là những bậc thang đất dốc thoai thoải, xen lẫn vài viên gạch tàu vỡ và đá ong xếp chông chênh, nước rạch lúc lên lúc xuống làm bậc thang lúc lộ lúc ngập.

    Mấy cây cọc tre to cắm nghiêng nghiêng xuống lòng sông, dây neo cũ kỹ quấn quanh thân cọc, dây thừng sờn màu nâu đỏ vì nắng gió.

    Dưới chân bờ, nước phù sa đục ngầu lăn tăn vỗ nhẹ vào những đám bèo tây và lá chuối mục nổi lềnh bềnh.

    Không khí ẩm mốc, mùi đất sông xen lẫn khói bếp từ những ngôi nhà xa xa bay tới.

    Từ phía xa xa, dưới ánh nắng chiều vàng vọt, tôi nhìn thấy bóng một chiếc đò máy đang từ từ tiến lại.

    Người lái đò đứng sau lái, tay cầm cần ga, khói máy bay trắng xóa.

    Trên mũi đò, một bóng người nhỏ nhắn đứng im lìm như thể không thuộc về thế giới này.

    Cô mặc chiếc áo khoác cũ kỹ sờn vai, không kéo khóa, để mặc gió sông thổi mạnh làm vạt áo bay phần phật ra sau lưng.

    Mái tóc đen dài bay rối bời, từng lọn tóc quất mạnh vào khuôn mặt nhợt nhạt, dưới ráng chiều đỏ rực như đang nhuộm cả mặt sông thành một màu máu loãng kỳ lạ.
     
    Quân Gia Bút Ký [Quyển 1]
    Chương 2 Khách lạ ở xóm Bến


    Đò từ từ áp sát bờ ghe.

    Tiếng máy giảm dần, tiếng nước vỗ mạnh vào mạn thuyền "ầm ầm" như tiếng trống trầm.

    Người lái đò ném sợi dây neo lên bờ, chú Tài nhanh tay bắt lấy, kéo mạnh một cái khiến đò sát hẳn vào bậc thang đất dốc.

    Sóng rạch vẫn còn lăn tăn, làm chiếc đò khẽ đu đưa.

    Bóng người nhỏ nhắn trên mũi đò khẽ cúi người, bước chân phải chạm xuống bậc thang đất trước.

    Cô bước lên bờ chậm rãi, chắc chắn, như thể đã quen thuộc với những bậc thang lởm chởm này từ lâu.

    Chiếc áo khoác jean màu đen xám không kéo khóa, gió sông thổi mạnh làm vạt áo bay phần phật, lộ ra lớp lót bên trong hơi sờn cũ.

    Chú Tài vội vàng bước tới, cúi xuống xách giúp cái túi vải nặng trĩu hành lý của cô, giọng ấm áp:

    "Cô Linh phải không ạ?

    Ông Hai dặn tôi đón cô.

    Mời cô lên xe, trời chiều lạnh lắm."

    Cô gái tên Linh đó theo chú Tài bước về phía chiếc Peugeot 504 đang đậu bên vệ đường.

    Tôi vội nép người sang một góc ghế sau, nhường chỗ cho cô ngồi ngay bên tay trái mình.

    Ghế da cũ kêu kẽo kẹt nhẹ khi cô ngồi xuống.

    Cô mặc chiếc quần bò mới cứng, ống quần thẳng tắp không một nếp gấp, áo sơ mi dài tay sọc xanh nhạt, cổ áo hơi cao.

    Vừa ngồi xuống, cô đưa tay túm vội đuôi tóc dài ra sau, cài bằng chiếc kẹp tóc càng cua màu đen đơn giản.

    Một lọn tóc vẫn còn vương trên vai, bay nhẹ trong gió lùa qua khe kính.

    Cô liếc qua nhìn tôi một cái, không nói gì, chỉ khẽ gật đầu chậm rãi như một lời chào lặng lẽ.

    Tôi cũng gật đầu đáp lại, cố gắng giữ giọng từ tốn và lịch sự như cách ông nội dạy từ nhỏ:

    "Chào cô."

    Xe lại lăn bánh chậm rãi trên con đường đất đỏ.

    Sau câu chào ấy, tôi chẳng thốt ra nổi thêm lời nào.

    Không khí trong xe đột nhiên im lặng đến lạ, chỉ còn tiếng động cơ gầm gừ trầm ấm và tiếng gió lùa qua cửa sổ.

    Tôi giả vờ quay mặt nhìn ra ngoài cửa sổ, ngắm những bụi chuối xanh um tùm và đọt dừa non hai bên đường.

    Thật ra chúng trông chẳng khác gì nhau, nhưng tôi vẫn cứ chăm chú nhìn, chỉ để có cớ không phải quay sang bên trái.

    Thế mà thỉnh thoảng tôi vẫn không kiềm được, liếc nhanh một cái về phía người ngồi cạnh.

    Cô ngồi cách tôi chỉ một khoảng giữa chiếc ghế da cũ.

    Khuôn mặt cô hiện rõ dưới ánh chiều tà lọt qua kính xe.

    Đôi mắt hơi xếch, khép hờ như đang mệt mỏi sau chuyến đường dài.

    Mũi cao thẳng, má hơi đầy, tròn trịa.

    Lông mày dài, mượt mà, mọc xuôi theo chiều mắt một cách tự nhiên.

    Môi không tô son mà vẫn ửng hồng nhạt, nhìn đầy khỏe khoắn.

    Nhìn tổng thể, cô cũng chỉ chừng mười chín, hai mươi tuổi là cùng.

    Tôi nhìn cô, chợt tưởng tượng ra cảnh ông nội đang bế từ đứa cháu này sang đứa cháu khác, miệng cười toe toét.

    Một cô gái trẻ như vậy là khách của ông à?

    Chắc không phải chuyện làm ăn.

    Lẽ nào... là vợ tương lai của tôi đó chăng?

    Tự nhiên mặt tôi nóng bừng lên, tai cũng đỏ lựng.

    Tôi cố kiềm chế nhưng vẫn không nhịn được mà liếc nhìn cô thêm một cái nữa.

    Đúng lúc ấy, ánh mắt cô cũng quay sang.

    Tôi giật bắn mình, vội quay phắt ra ngoài cửa sổ, tim đập thình thịch như trống đánh.

    Cả người nóng ran, cứ như thiếu nữ mới biết yêu lần đầu bị người ta bắt gặp đang ngắm trộm.

    Hôm nay ông nội cho người mang ti vi ra ngoài sớm hơn thường lệ.

    Vừa bước qua cổng nhà cùng Linh, tôi đã nhìn thấy hai thằng ở đang đẩy chiếc ti vi màu cồng kềnh ra giữa sân.

    Dưới đế có gắn bốn bánh xe nhỏ, nhưng chiếc máy vẫn nặng trịch, hai thằng phải vừa đẩy vừa giữ hai bên cho cân bằng, bộ dáng lom khom lóng ngóng nom ngứa cả mắt.

    Bà Quản đang bưng khay nước đi ngang qua, liếc thấy cảnh đó thì dừng chân, cau mày nhìn hai thằng một lúc, rồi không nhịn được mà gắt lớn:

    "Đẩy cái gì mà lom khom như rùa bò thế hả?

    Cẩn thận cái ti vi chứ, không phải ghế đâu mấy đứa!

    Sơ sẩy một cái là bán thân cả đời cũng không trả nổi đấy!"

    Hai thằng ở lập tức khựng lại, cúi gập người xuống, dạ ran:

    "Dạ... dạ...

    Bà quản đừng giận ạ... tụi con cẩn thận lắm ạ..."

    Bà Quản hừ một tiếng, lườm thêm một cái nữa rồi mới tiếp tục đi, để lại hai thằng ở vẫn đứng im thin thít, mặt mày tái mét, tay vẫn giữ chặt hai bên ti vi như sợ nó bay mất.

    Vừa thấy người bước vào sân, bà Quản đã cười tươi rói, nhanh chân tiến đến trước mặt chúng tôi.

    Bà khẽ cúi đầu chào tôi trước, giọng ấm áp:

    "Cậu Hai mới về rồi ạ."

    Rồi bà quay sang Linh, giọng nhẹ nhàng và lịch sự:

    "Cô Linh mới đến phải không ạ?

    Mời cô vào nhà nghỉ ngơi cho đỡ mệt."

    Tôi tươi cười gọi một tiếng:

    "Dì Thanh!"

    Nghe tôi gọi, dì Thanh cười tít cả mắt, nếp nhăn quanh khóe mắt hiện rõ.

    Dì là quản gia cho ông nội tôi từ trước cả khi tôi sinh ra.

    Nhà dì đã mấy đời làm giúp việc cho nhà tôi, giờ dì đang có một cậu con trai đang du học bên Tây, hình như năm sau là được về nước rồi.

    Đang lúc đó, chú Tài từ phía sau bước tới, cười ha hả, giọng kéo dài nũng nịu như trẻ con:

    "Thanh àaaa~"

    Dì Thanh lập tức trừng mắt nhìn chồng, giọng nhỏ nhưng sắc lẹm:

    "Đang có khách mà lớn tiếng lên chi vậy?

    Không biết xấu hổ à?

    Cô Linh mới đến, chú im cái miệng lại đi!"

    Chú Tài mới xa vợ có mấy tiếng đồng hồ mà đã ra vẻ chia ly nhung nhớ, lập tức xụ mặt xuống, hai vai rũ thõng, miệng méo xẹo, nhìn vợ bằng ánh mắt đau khổ như kiểu "sắp xa nhau cả đời".

    Trông chú buồn thiu, thảm hại đến mức tôi không nhịn được, bật cười khùng khục.

    "Thôi mà dì, chú Tài cũng mới về thôi."

    Nói xong, tôi vô thức đưa tay ra.

    Ngón tay tôi khẽ chạm vào mu bàn tay Linh, làn da cô mát lạnh và mềm mại đến bất ngờ.

    Không kịp suy nghĩ gì nhiều, tôi chậm rãi luồn các ngón tay vào lòng bàn tay cô, khẽ khép lại, nắm nhẹ lấy.

    Tay cô nhỏ nhắn, vừa vặn trong lòng bàn tay tôi, hơi run run một chút.

    Tôi siết nhẹ một cái rồi dẫn cô bước nhanh vào nhà tìm ông nội.

    Cử chỉ ấy diễn ra quá tự nhiên, đến mức chính tôi cũng không nhận ra mình vừa nắm tay một cô gái xa lạ chỉ mới gặp vài phút trước.

    Sân sau nhà ông rộng thênh thang, lát gạch tàu cũ, mấy chậu mai vàng đang hé nụ được xếp ngay ngắn dọc hành lang.

    Ông nội đang đứng cúi người, một tay cầm kéo cắt tỉa, tay kia cầm chổi lông gà quét lá thừa.

    Áo bà ba xám cũ kỹ, ống quần xắn qua mắt cá chân, trông ông vừa chăm chút vừa lẩm bẩm gì đó.

    Tôi hít một hơi thật sâu, rồi hét lớn một tiếng:

    "Ông nội!

    Con về rồi ạ!"

    Ông giật bắn mình, kéo cắt suýt rơi xuống đất.

    Ông quay ngoắt lại, đôi mắt tròn xoe nhìn thằng đích tôn vừa hét vừa chạy ùa tới.

    Ánh mắt ông lúc đầu ngạc nhiên, sau đó chuyển sang cáu kỉnh, lườm tôi từ đầu đến chân như muốn lấy ngay cây chổi lông gà đang cầm trên tay vụt cho vài phát thật mạnh vào mông thằng đích tôn này.

    "Thằng chết tiệt!

    Về nhà mà hét um lên như hát cải lương vậy hả?

    Ông già này suýt đứt tim vì mày đấy!"

    Tôi cười hì hì quay sang nhìn Linh, miệng há ra định hỏi ông nội một chút về lai lịch của cô.

    Nhưng ngay khoảnh khắc ấy, tôi đột nhiên cứng đờ như bị đóng băng.

    Tay tôi... vẫn đang nắm chặt tay cô.

    Trời đất ơi!

    Năm ngón tay tôi quấn chặt lấy bàn tay nhỏ nhắn mát lạnh của Linh như sợ cô chạy mất.

    Lòng bàn tay tôi nóng ran như đang cầm than hồng.

    Tôi ngỡ ngàng giơ tay mình lên nhìn cho rõ, rồi ngẩng đầu nhìn cô.

    Khuôn mặt ấy vẫn hoàn toàn không có bất kỳ biểu cảm nào.

    Đôi mắt hơi xếch chớp một cái, nhìn tôi bình thản, không ngạc nhiên, cũng không khó chịu, như thể việc bị nắm tay là chuyện bình thường đến mức không đáng để ý.

    Tim tôi suýt ngừng đập.

    Má tôi nóng bừng bừng như bị ai châm lửa.

    Tôi hoảng loạn giật tay ra mạnh đến mức suýt làm cả hai chúng tôi loạng choạng, vội vàng chắp hai tay trước ngực, lắp bắp rối rít như cái cát sét hỏng:

    "Xin lỗi!

    Xin lỗi cô!

    Tôi... tôi không cố ý... thật mà... tôi... trời ơi... tay tôi... nó... nó tự động...

    à không, là tôi... xin lỗi...!"

    Nói xong tôi lùi dần về phía ông nội, bước chân thụt lùi lom khom như cua bò ngang.

    Chân phải tôi bất ngờ vấp phải mép một chậu mai đang hé nụ, suýt chút nữa thì ngã nhào ra sân, cả chậu mai lắc lư kêu răng rắc.

    Tôi hoảng hốt vung tay quơ quào giữ thăng bằng, mặt đỏ bừng, tai nóng ran, không dám ngẩng mặt lên nhìn Linh nữa.

    Lúc này tôi chỉ muốn độn thổ luôn cho xong chuyện.

    Tầm tám giờ tối, khi phần phim hoạt hình dành cho trẻ con đã kết thúc, không khí sân nhà ông tôi bắt đầu nhộn nhịp hẳn lên.

    Người lớn trong xóm lục tục kéo đến.

    Ai cũng mang theo chiếu cói hoặc ghế tre, trải đều trên nền gạch tàu trước sân.

    Tiếng cười nói râm ran, tiếng trẻ con chạy lon ton, tiếng bà con chào hỏi ông nội vọng từ ngoài cổng vào.

    Chỉ trong chốc lát, sân nhà vốn rộng thênh thang đã chật kín người, ai nấy đều háo hức chờ đoạn nhạc mở đầu của bộ phim Hồng Kông dài tập.

    Tôi ngồi trên ghế gỗ dài, liếc sang bên cạnh.

    Linh đã thay bộ đồ ngủ lụa dài tay màu kem nhạt, chất liệu mỏng nhẹ, rộng rãi và thoải mái.

    Cô ngồi tựa lưng vào bộ ghế đá cổ, hai chân khẽ co lại, một tay chống cằm, ánh mắt chăm chú nhìn lên màn hình ti vi Sony Trinitron đang sáng rực giữa sân.

    Đoạn nhạc mở đầu vang lên, giai điệu trầm buồn đặc trưng của phim Hồng Kông, kèm theo tiếng sáo trúc réo rắt.

    Ánh sáng xanh lạnh từ màn hình hắt lên khuôn mặt cô, làm đôi mắt hơi xếch của cô long lanh lạ thường trong bóng tối.

    Cô không nói gì, chỉ ngồi yên lặng, chống cằm nhìn chăm chú vào từng khung hình mở đầu, như thể đang lạc vào thế giới khác.

    Tôi ngồi bên cạnh, bất giác cũng im lặng theo, chỉ nghe tiếng xì xào náo nức của cả xóm xung quanh.

    Theo lời ông kể, Linh chính là thợ đồ cổ mà ông mời về để tu bổ lại bức tranh khảm tường đã giữ mấy đời trong nhà.

    Nhắc tới ba chữ "thợ đồ cổ", trong đầu tôi lập tức hiện lên hình ảnh những ông lão râu tóc bạc phơ, ngồi khom lưng trong xưởng tối om, tay cầm đục, dao, cặm cụi chạm khắc từng đường nét tinh xảo dưới ánh đèn dầu leo lét.

    Tôi chưa từng nghĩ một cô gái trẻ trung như cô lại làm được nghề đòi hỏi sự kiên nhẫn và kỹ thuật cao đến vậy.

    Thực ra, cách gọi "thợ đồ cổ" chỉ là tên dân gian thông dụng.

    Chính xác hơn thì nên gọi là "thợ phục chế cổ vật" hoặc "thợ tu bổ cổ vật".

    Trong làng nghề, người ta phân loại rất rõ theo từng chuyên môn, tùy thuộc vào chất liệu và công đoạn họ am hiểu sâu nhất.

    Có người chuyên chạm khắc phục chế gỗ, tượng thần, hoành phi, câu đối – vừa khôi phục lại hình dáng cũ, vừa tái tạo những hoa văn bị mòn hoặc gãy vụn một cách tinh xảo.

    Có người khéo léo trong nghề sơn son thếp vàng, làm mới lại đồ thờ cúng, bàn thờ, tượng Phật với từng lớp sơn đỏ tươi và thếp vàng lá mỏng manh.

    Lại có người lành nghề khảm xà cừ, khảm trai, ghép những mảnh vỏ trai óng ánh để tạo nên những bức tranh lấp lánh như bức tranh trong gian thờ nhà tôi.

    Bên cạnh đó là những thợ nung men sứ cổ, có khả năng phục chế gốm sứ thời xưa mà không làm sai lệch màu men.

    Và cũng có những người chuyên đúc đồng, pha hợp kim theo đúng công thức cổ xưa để khôi phục chuông đồng, đỉnh đồng, tượng đồng bị hư hỏng.

    Tôi liếc nhìn Linh lần nữa, lòng thầm nghĩ, một cô gái trẻ như cô mà đã làm được nghề khó nhằn và đòi hỏi sự kiên nhẫn đến vậy, quả là không đơn giản chút nào.

    Bỗng nhiên có bàn tay ai đó từ dưới chiếu chụp mạnh lấy cẳng chân tôi.

    Tôi giật bắn mình, suýt nhảy dựng lên khỏi ghế.

    Hóa ra là thằng Toàn.

    Nó đang ngồi xổm dưới chiếu cói, ngẩng mặt lên nhìn tôi cười toe toét.

    Nó liếc về phía Linh rồi ghé sát hỏi nhỏ:

    "Ai lạ quắc vậy mày?

    Bạn gái mày hả?"

    Tôi cười khẩy, đáp lại ngay lập tức:

    "Vợ sắp cưới.

    Tao vừa dẫn về ra mắt ông nội xong.

    Mày thấy cổ đẹp không?"

    Toàn chăm chú quan sát Linh một lúc lâu, rồi gật gù, giọng nghiêm túc:

    "Cô ấy có nửa phần lạnh lùng, nửa phần quyến rũ, nửa phần dịu dàng, nửa phần sắt đá, nửa phần thanh lịch...

    Nói chung là đẹp theo kiểu rất khó tả."

    Tôi càng nghe càng chau mày:

    "Rốt cuộc là đẹp hay không đẹp?"

    Toàn cười gian xảo, giọng hạ thấp đầy ý tứ:

    "Nể tình nghĩa anh em biết bao nhiêu năm, mày se duyên cho tao với Linh đi!"

    Tôi trợn mắt, vơ ngay cái dĩa sứ đựng kẹo bánh trên bàn cạnh ghế, giơ lên dọa:

    "Mày muốn chết hả thằng khốn nạn!"

    Cả xóm đang xem phim bỗng quay đầu lại.

    Mấy bà mấy cô tốt bụng đã nhổm dậy, sẵn sàng can:

    "Ê ê, hai thằng làm gì đó!

    Đừng có đánh nhau!"

    Toàn hoảng hồn giơ hai tay đầu hàng, rối rít:

    "Tao đùa thôi!

    Đùa thôi mà!"

    Khi mọi người thấy không có chuyện gì, quay lại chú ý đến màn hình, Toàn mới ghé sát tai tôi, giọng nhỏ xíu:

    "Nói nghiêm túc nè, tao có chuyện cần mày giúp."

    Nó lén lút đưa cho tôi một cái bọc nhỏ gói bằng vải cũ, vừa bằng lòng bàn tay.

    Tôi sờ nắn thử, bên trong cứng cứng, không rõ là thứ gì.

    Toàn thì thầm:

    "Để qua Tết rồi xem, không cần gấp gáp đâu."
     
    Quân Gia Bút Ký [Quyển 1]
    Chương 3 Cái bóng trong lu


    Tôi nhớ rõ không khí Tết Canh Ngọ năm ấy, miền Nam mang một màu sắc khác hẳn những năm trước, như thể cả vùng sông nước đang trút bỏ được một gánh nặng nặng nề mà người ta đã gồng mình suốt hơn một thập kỷ.

    Từ ngày hai mươi ba tháng Chạp, sau khi cúng Ông Táo xong, nhà nhà đã tất bật dọn dẹp nhà cửa, lau chùi bàn thờ ông bà với niềm vui rõ rệt.

    Công cuộc Đổi Mới đã bắt đầu phát huy hiệu quả thật sự: tem phiếu dần được bãi bỏ, thịt heo, đường, bánh kẹo, vải vóc, xe máy... không còn là thứ xa xỉ hiếm hoi như trước nữa.

    Phụ nữ ngồi vo bánh tét, ngâm đậu xanh, thái thịt heo ướp gia vị kho tàu trong tiếng cười nói rộn ràng.

    Đàn ông sửa sang mái lá, sơn lại cửa gỗ, cắm cành mai vàng trước sân.

    Mùi lá chuối tươi, mùi nếp mới và thịt kho đậm đà lan tỏa khắp các con rạch nhỏ, quyện với hương hoa mai đang hé nụ và mùi mứt dừa, mứt bí ngọt lịm bay ra từ những nồi đồng sôi sùng sục.

    Không khí năm ấy có một thứ gì đó đầy hy vọng, khác hẳn những cái Tết thiếu thốn, lo âu của những năm trước.

    Đêm giao thừa là khoảnh khắc thiêng liêng và xúc động nhất.

    Cả xóm quây quần ăn bữa tất niên sum vầy, sau đó mọi người mang ghế ra sân hoặc ra bờ rạch cúng giao thừa dưới ánh pháo giấy nổ ran trời đất.

    Năm ấy, niềm vui được nhân đôi vì đây là Tết đầu tiên sau khi Việt Nam rút quân hoàn toàn khỏi Campuchia.

    Những người con trai, người chồng, người cha đã trở về nhà sau hơn mười năm xa cách, nên tiếng cười xen lẫn tiếng khóc mừng vui, tiếng chúc tụng vang vọng suốt dọc bến nước.

    Nhiều bà mẹ lau nước mắt, ôm con trai vừa mới giải ngũ mà vẫn không dám tin là con đã thực sự ở nhà.

    Tiếng pháo, tiếng cười nói, tiếng trẻ con reo hò chạy nhảy với những phong bao lì xì đầu năm khiến cả xóm như bùng nổ trong niềm vui sum họp.

    Sang mùng Một, người ta thường ở nhà sum vầy với gia đình ruột thịt, chúc Tết ông bà cha mẹ, thắp hương tổ tiên và thưởng thức những món ngon ngày Tết một cách chậm rãi, trân trọng.

    Không khí trang nghiêm mà ấm áp, ai nấy đều mặc áo mới, trẻ con chạy lon ton xin lì xì, tiếng cười vang vọng khắp xóm.

    Đến mùng Hai thì bắt đầu những chuyến viếng thăm họ hàng nội tộc – ông bà, chú bác, anh em ruột thịt – với những giỏ quà bánh kẹo, trái cây tươi và những lời chúc tụng chân thành.

    Mùng Ba sang họ ngoại, thăm thầy cô giáo và những người bạn thân thiết, những cuộc gặp gỡ kéo dài với ly trà nóng, bánh tét thịt kho và đủ thứ chuyện xuân.

    Từ mùng Tư trở đi, đường làng, bến sông trở nên tấp nập hơn bao giờ hết.

    Mọi người mặc áo mới sặc sỡ, đi chơi xuân, ngắm hội hoa xuân rực rỡ với đủ loại mai vàng, cúc vàng, đào phai; dạo chợ Tết mua sắm thêm vài thứ lặt vặt, thăm viếng bạn bè xa gần.

    Không khí năm ấy còn có thêm một niềm vui khác khi quan hệ với nhiều nước bắt đầu ấm lên, người dân cảm nhận được tương lai đang sáng sủa hơn, hy vọng một năm mới sẽ bình an, no ấm và thịnh vượng thực sự.

    Tết Canh Ngọ vì thế mà kéo dài suốt nửa tháng Giêng, với những cuộc gặp gỡ, ăn uống, vui chơi không ngớt, mang theo một thứ hy vọng mới mẻ mà cả xóm ai cũng cảm nhận được rõ ràng trong từng hơi thở.

    Tôi lặng lẽ bước vào gian thờ chính.

    Linh đang ngồi trên một chiếc ghế thang cao nhiều bậc để với tới phần trên của bức tranh khảm xà cừ lớn treo sau bàn thờ.

    Bức tranh cao gần hai mét, nên cô phải leo lên bậc thứ tư, thân người hơi nghiêng về phía trước.

    Một con ở đứng sát bên dưới, hai tay nắm chặt hai chân ghế thang, mắt không rời khỏi Linh, sẵn sàng giữ chắc nếu ghế bị lung lay.

    Vì cả hai tay cô đều đang cầm dụng cụ — một tay là chiếc nhíp mảnh, tay kia là cây cọ lông mềm — nên cô không thể tựa tay vào bất cứ thứ gì, hoàn toàn phụ thuộc vào người giữ ghế phía dưới.

    Cô làm việc rất chậm, rất nhẹ, như sợ làm tổn thương dù chỉ một mảnh xà cừ nhỏ nhất.

    Tôi đứng yên ở cửa, quan sát cô.

    Là người buôn bán cổ vật, tôi đã từng thấy không ít người làm nghề này ở các làng nghề, nên tôi hiểu rõ công việc của một thợ khảm xà cừ khó khăn và tỉ mỉ đến mức nào.

    Quy trình phục chế một bức tranh khảm đòi hỏi sự kiên nhẫn gần như tuyệt đối.

    Trước tiên phải kiểm tra từng milimet dưới ánh sáng nghiêng mạnh để phát hiện những mảnh xà cừ bị rơi, bị nứt viền, bị ẩm mốc trắng xóa hay keo cũ đã khô cứng và bung ra.

    Sau đó là công đoạn làm sạch cẩn thận: dùng bàn chải lông mềm nhất, kết hợp dung dịch chuyên dụng pha rất loãng để lau nhẹ nhàng từng mảnh, vừa loại bỏ bụi bẩn và nấm mốc, vừa giữ nguyên lớp óng ánh tự nhiên mỏng manh như cánh bướm.

    Phần nền gỗ nếu bị mối mọt hoặc cong vênh thì phải khoét bỏ phần hỏng, thay bằng gỗ mới cùng loại, rồi chà nhám nhiều lần cho thật phẳng và đều màu.

    Những mảnh khảm bị mất hoặc hỏng nặng được thay bằng mảnh mới cắt gọt thủ công cho vừa khít đến mức không thấy vết nối, sau đó dán bằng keo đặc chế rồi dùng kẹp gỗ giữ chặt suốt nhiều giờ liền cho keo ngấm sâu.

    Cuối cùng là ghép lại toàn bộ bức tranh, sơn phủ nhiều lớp sơn bảo vệ trong suốt mỏng như sương, rồi đánh bóng bằng sáp ong và bột đánh bóng chuyên dụng đến khi toàn bộ bề mặt lấp lánh trở lại như ngày mới.

    Nhìn Linh đang tập trung cao độ trên ghế thang, với con ở đứng im thin thít phía dưới giữ ghế, tôi càng hiểu vì sao ông nội lại dám tin tưởng giao cho cô một bức tranh quý giá đã gắn bó với gia tộc chúng tôi qua bao thế hệ.

    Ở một cô gái còn rất trẻ, tôi thấy được một sự cẩn trọng gần như thiêng liêng – thứ tôn trọng sâu sắc với những di vật của quá khứ, điều mà ông nội tôi luôn coi trọng hơn cả kỹ năng thuần túy, hơn cả tài năng, và có lẽ cũng hơn cả tuổi tác.

    Tôi lặng lẽ bước lại gần hơn, đứng cách Linh chỉ chừng hai bước chân để quan sát rõ hơn.

    Đúng lúc ấy, một con ở khác nhẹ nhàng bước vào gian thờ, hai tay bưng khay đồng đựng vài chiếc bánh ngọt và ly nước.

    Thấy tôi đứng đó, nó vui vẻ định mở miệng chào "Cậu Hai...", nhưng tôi nhanh chóng đưa ngón tay lên môi, ra dấu im lặng, đồng thời liếc mắt về phía Linh một cái rõ ràng.

    Con ở lập tức hiểu ý, ngậm miệng lại, chỉ khẽ gật đầu.

    Tôi đưa tay lấy ly chanh muối đá trên khay.

    Ly thủy tinh lạnh buốt, sương trắng đọng dày đặc trên thành ly, vài hạt muối và cặn chanh nhỏ nổi lơ lửng.

    Dùng que tre khuấy nhẹ một vòng cho đường và muối tan đều, tôi bước sát bên ghế thang, giơ tay đưa ly nước lên đúng tầm tay Linh.

    Cô không quay đầu, cũng không nhìn xem ai đưa cho mình.

    Tay phải vẫn cầm nhíp, cô chỉ khẽ buông cọ để sang một bên tay kia, ngón tay thon dài đưa ra nhận lấy ly từ tay tôi.

    Không một lời cảm ơn, không một ánh mắt liếc qua.

    Cô đưa ly lên môi, uống một hớp thật chậm, thật khẽ, để cho vị chua mặn thanh mát lan tỏa trong khoang miệng.

    Ly nước vẫn được cô giữ nguyên trong tay, ngón cái và ngón trỏ khẽ siết nhẹ thành ly, như thể đang cần một chút mát lạnh để giữ cho tay mình vững hơn trong lúc làm việc.

    Ánh mắt cô vẫn không rời khỏi bức tranh, chăm chú theo dõi từng đường nét xà cừ đang được phục chế, như thể cả thế giới lúc này chỉ còn lại mình cô và những mảnh khảm óng ánh ấy.

    Không khí trong gian thờ vẫn im lặng như cũ, chỉ có tiếng que tre khẽ chạm vào thành ly vang lên rất nhỏ, rất nhẹ, cùng với tiếng thở đều đều của Linh.

    Trong những năm ấy, phong tục kiêng kỵ của người miền Nam vẫn được giữ rất nghiêm ngặt.

    Từ Giao thừa cho đến hết mùng ba, thậm chí nhiều nhà kiêng đến mùng bảy, người ta tuyệt đối tránh mọi việc sửa chữa nhà cửa, đóng đinh, sơn tường hay bất kỳ động tác nào có thể phát ra tiếng động lớn.

    Họ tin rằng những hành động ấy sẽ "động thổ", làm xáo trộn khí tốt đang hội tụ đầu năm, khiến cả năm không yên ổn.

    Cũng không ai dám đào đất, san lấp, xây dựng hay trồng cây mới, vì sợ phá hoại long mạch, ảnh hưởng đến vận khí gia đình và con cháu sau này.

    Quan trọng nhất là việc động đến bàn thờ tổ tiên – điều được coi là kiêng kỵ nặng nề nhất.

    Không được lau chùi mạnh tay, không di chuyển bài vị, không thay nước hoa quả hay lau bụi sâu, và tuyệt đối không được sửa chữa, tu bổ bất kỳ vật thờ nào như hoành phi, câu đối, tượng gỗ hay bức tranh khảm tường.

    Người ta tin rằng ông bà tổ tiên đang nghỉ ngơi, hưởng lộc đầu năm, nếu động chạm sẽ làm các cụ phật lòng, mang lại xui xẻo cho cả năm.

    Thế nên, dù bức tranh khảm tường đã hỏng khá nặng, ông nội vẫn kiên nhẫn chờ mãi tới hết mùng 7, Linh mới chính thức bắt đầu việc tu sửa.

    Hôm Linh vừa đến nhà, tôi cứ ngỡ năm nay ông nội sẽ có thêm một người ăn Tết cùng.

    Tôi đã lén tưởng tượng cảnh giao thừa cả nhà quây quần bên mâm cơm nóng hổi, ông nội cười nói rộn ràng, dì Thanh bưng thêm một bộ chén đũa, còn tôi thì ngồi đối diện với cô gái lạ mặt, tìm cách bắt chuyện.

    Nhưng hóa ra mọi thứ không như tôi nghĩ.

    Mấy ngày ở nhà ông, Linh hầu như chỉ xuất hiện vào buổi chiều muộn.

    Cô lặng lẽ bước ra sân, chọn một góc ghế đá hoặc ghế tre khuất bóng, ngồi xem truyền hình chung với cả xóm.

    Không nói chuyện với ai, không cười khi mọi người cười, không nhận lì xì dù mấy bà mấy cô tốt bụng có chủ động đưa.

    Giao thừa và mùng Một, cô mới miễn cưỡng ra ngoài ăn chung một bữa cơm với mọi người.

    Ngồi ở góc bàn xa nhất, cô ăn rất ít, rất nhanh, như thể chỉ làm cho xong chuyện.

    Thái độ lạnh nhạt và xa cách của cô khiến không khí xung quanh cũng trở nên im lặng hơn thường lệ.

    Cô không đi chơi xuân, không dạo chợ Tết, thậm chí chẳng thấy một nụ cười nào trên môi suốt những ngày ấy.

    Tôi càng nhìn càng thấy lạ.

    Một cô gái trẻ như vậy mà lại cô độc đến mức ấy, như thể Tết với cô chỉ là một khoảng thời gian phải chịu đựng chứ không phải để vui vẻ.

    Nhân lúc rảnh, tôi len lén hỏi ông nội.

    Ông kể rằng nghe người trong làng nghề giới thiệu, Linh là trẻ mồ côi từ nhỏ, không còn người thân.

    Tính tình ít nói ít cười, nhưng tay nghề thì cực giỏi, lại còn tinh thông nhiều thứ.

    Ông cố ý mời cô ấy đến vào những ngày cận Tết, hy vọng kéo dài thời gian sửa tranh, để cô ấy có chỗ ăn Tết đàng hoàng chứ không phải lang thang một mình giữa những ngày lễ.

    Ông còn dặn tôi rảnh rỗi thì dắt cô ấy ra dạo chợ, đi chơi xuân cho khuây khỏa.

    Những ngày sau đó, tôi tìm đủ cớ để đến gần cô: bảo đi xem hội hoa xuân, bảo đi ăn chè đậu đen, thậm chí bảo đi dạo bến nước ngắm đò bè...

    Nhưng mỗi lần tôi vừa mở miệng, Linh đã lắc đầu từ chối.

    Có lần cô còn quay mặt đi, ánh mắt lộ rõ vẻ khó chịu, khiến tôi đứng hình tại chỗ, cảm giác như vừa bị tạt một gáo nước lạnh vào mặt.

    Cô không chỉ xa cách, mà dường như còn không muốn ai tiếp cận.

    Mỗi lần bị từ chối, tôi lại thấy rõ hơn sự cô độc lạnh lẽo bao quanh cô, như một lớp băng mỏng mà không ai có thể chạm vào.

    Tôi đứng đó, nhìn bóng lưng cô quay đi, lòng chợt thấy nặng trĩu một cảm giác khó tả.

    Tôi ngồi trong gian nhà nhỏ của thằng Toàn, hai thằng ngồi trên chiếc ly quăng uống rượu cùng chút đồ nhắm.

    Gian nhà cháy cũ của nó trông chẳng khác gì sắp sụp xuống bất cứ lúc nào.

    Vách gỗ đen sì vì khói, mái ngói vỡ loang lổ, những mái che chắp vá tạm bợ để chắn mưa chắn gió.

    Không khí bên trong ẩm mốc nặng, lẫn với mùi giấy mã tươi mới và keo dán còn vương lại.

    Giữa khoảng không gian chật hẹp ấy, chiếc li quăng gỗ lim chiếm gần phân nửa gian nhà, trở thành thứ lạc quẻ nhất trong căn nhà đổ nát.

    Chiếc li quăng này vốn là đồ của ông cố Toàn để lại sau vụ cháy năm xưa.

    Được làm từ gỗ lim tốt, khung dày dặn, mặt giường căng dây dù chắc chắn, nó vẫn còn khá nguyên vẹn dù đã trải qua lửa đỏ.

    Mấy năm trước, tôi đã sửa chữa cho nó.

    Giờ nhìn kỹ cũng khó nhận ra nó từng bị cháy đen ra than, chỉ còn vài vết xém mờ mờ ở chân ghế như những vết sẹo cũ kỹ mà thời gian cố tình giữ lại.

    Ban ngày, Toàn dùng chính chiếc li quăng ấy làm bàn làm việc.

    Hầu hết sinh hoạt của nó đều diễn ra trên mặt giường gỗ rộng lớn: cắt giấy màu, in chữ ngân hàng âm phủ, gấp từng xấp tiền vàng mã, dán thành bộ quần áo, giày dép, nhà lầu, xe hơi...

    Toàn làm nghề vàng mã để bán sỉ cho các tiểu thương ngoài chợ.

    Mỗi ngày nó hoàn thành vài chục bộ, đóng gói cẩn thận rồi mang ra chợ đầu mối hoặc bán cho những người buôn rong.

    Đây chính là nguồn thu nhập ổn định nhất của nó, bên cạnh nghề thầy cúng không đều đặn.

    Ban đêm, nó chỉ cần trải một tấm chiếu mỏng, giăng cái màn cũ kỹ là ngủ ngay tại đó.

    Chiếc ly quăng vừa là bàn làm việc, vừa là giường ngủ, vừa là nơi tiếp khách – thứ tài sản quý giá nhất còn sót lại trong căn nhà cháy này.

    Khi Toàn phát hiện ra tôi đã sửa chữa chiếc li quăng và vài thứ đồ khác trong nhà nó, nó đứng sững lại hồi lâu.

    Đôi mắt nó đỏ hoe rưng rưng, ánh nhìn nhìn thẳng vào tôi đầy xúc động.

    Lúc chào Toàn để về nhà, tôi ghé qua cái lu nước lớn đặt ngoài hiên để rửa mặt cho tỉnh táo.

    Đêm khuya, gió sông se lạnh thổi qua, làm mặt nước trong lu khẽ gợn sóng.

    Tôi cúi xuống, hai tay húp nước vỗ mạnh lên mặt vài cái, cố xua đi chút men rượu còn đọng lại.

    Khi ngẩng lên, tôi nhìn bóng mình phản chiếu trong lu nước dưới ánh trăng mờ.

    Da tôi dường như trắng hơn bình thường, trắng một cách lạ lùng, mịn màng như vừa được tắm sữa.

    Tóc cũng dài hơn, xõa xuống qua vai gọn gàng.

    Tôi ngẩn người, đưa tay lên sờ mái tóc mình, miệng lẩm bẩm tự khen:

    "Trời ơi, uống rượu gì mà da trắng như gái, tóc dài như mỹ nam thế này?

    Hay là mình ngộ độc rượu rồi đẹp trai quá đà?

    Đẹp trai thế này mà trước nay không biết, đúng là lãng phí..."

    Cái bóng trong lu nước cũng đưa tay lên y hệt, sờ tóc theo tôi một cách y chang.

    Nhưng mái tóc tôi không dài đến thế.

    Tim tôi thắt lại.

    Men rượu tan đi hơn phân nửa trong khoảnh khắc.

    Tôi cúi sát hơn, trừng trừng nhìn xuống mặt nước.

    Đó là mái tóc dài đen nhánh của một người con gái, xõa xuống vai, che khuất một phần khuôn mặt.

    Cô ta chậm rãi ngẩng mặt lên.

    Dù bóng tối và mặt nước gợn sóng khiến khuôn mặt không rõ nét, tôi vẫn thấy rõ cô ta đang nhìn thẳng vào tôi.

    Rồi khóe miệng cô ta đột ngột kéo rộng ra một cách quái dị, nhoẻn một nụ cười lạnh lẽo, méo mó, không một tiếng động.

    Nụ cười ấy kéo dài bất thường, như thể đang rất khoái trá vì đã bị tôi phát hiện, rồi cô ta tan biến như khói, để lại mặt nước phẳng lặng chỉ còn phản chiếu bóng tôi – tóc ngắn, da rám nắng, mặt tái mét.
     
    Quân Gia Bút Ký [Quyển 1]
    Chương 4 Bông sen đen


    Tôi ngồi đó, một mình trong phòng tối, vẫn còn run.

    Cả người tôi lạnh buốt, mồ hôi lạnh túa ra dọc sống lưng dù đêm đang se se.

    Tim đập thình thịch như muốn vỡ ra, hình ảnh trong lu nước vẫn lởn vởn trước mắt, không chịu tan đi.

    Tôi co ro trên mép giường, hai tay nắm chặt tấm nệm giường, cố gắng hít thở đều nhưng càng cố càng thấy nghẹt thở.

    Bỗng một ánh sáng vàng ấm le lói bùng lên trong góc phòng.

    Linh đang lặng lẽ châm lửa cho cây đèn dầu thủy tinh cũ kỹ đặt trên bàn nhỏ cạnh giường.

    Ngọn lửa vàng vọt leo lét, lan tỏa khắp gian phòng, xua đi phần nào bóng tối nặng nề.

    Mặc dù xóm Bến Nước đã có điện từ vài năm nay, nhưng nguồn điện ở đây vẫn rất bất ổn, thường xuyên bị cúp đột ngột vào ban đêm.

    Vì vậy, đèn dầu vẫn được sử dụng phổ biến trong hầu hết các ngôi nhà.

    Thắp xong, Linh nhẹ nhàng đặt cây đèn xuống, rồi lặng lẽ ngồi xuống chiếc ghế gỗ cạnh bàn nhỏ.

    Hai tay cô đặt nhẹ trên đùi, ánh mắt bình thản nhìn tôi, không nói một lời.

    Tôi vẫn run không ngừng, ánh lửa vàng vọt nhảy múa trên tường, chiếu lên khuôn mặt cô một cách mờ ảo.

    Linh khẽ lên tiếng, giọng nhẹ nhưng rõ ràng:

    "Ấn đường của anh... bỗng chuyển sắc đen."

    Tôi giật mình, ngẩng phắt lên.

    Câu nói ấy quá bất ngờ, khiến tôi lắp bắp hỏi lại: "Em có mắt tướng sao?"

    Linh không trả lời, cô chỉ ngồi yên lặng nhìn tôi bằng ánh mắt bình thản.

    Lòng tôi bỗng dấy lên một cảm giác lạ lùng.

    Mắt tướng, hay còn gọi là tâm nhãn, là khả năng nhìn thấu những thay đổi rất nhỏ trên khuôn mặt người khác, đặc biệt là ấn đường – vùng giữa hai chân mày được coi là cửa sổ tâm hồn và vận mệnh chi môn.

    Người sở hữu tâm nhãn thường bẩm sinh đã nhạy cảm với khí và linh lực, hoặc sau nhiều năm rèn luyện thiền định và học nhân tướng học mới mở được khả năng ấy.

    Họ có thể nhận ra sự biến đổi màu sắc, độ sáng tối, nếp nhăn trên ấn đường – mỗi thay đổi đều báo hiệu một điều khác nhau về vận hạn, sức khỏe, sự nghiệp hoặc tai ương sắp đến.

    Người thường thì không thấy được những biến đổi ấy, vì não bộ không tập trung phân tích những chi tiết nhỏ trên khuôn mặt, hoặc đơn giản là chưa mở được khả năng ấy.

    Tôi lại gần ngồi đối diện cô.

    Lúc này tôi đã bình tĩnh trở lại phần nào, nhưng trong lòng vẫn còn chút bối rối.

    Một thằng đàn ông trưởng thành mà chỉ vì nhìn thấy cái bóng lạ trong lu nước đã hoảng loạn chạy như bị ma đuổi, đúng là chẳng ra thể thống gì.

    Linh ngồi yên lặng một lúc, rồi cô khẽ lên tiếng:

    "Có thứ gì trên người anh vậy?"

    Tôi giật thót, tim đập mạnh.

    Trong khoảnh khắc hoảng loạn, đủ thứ ý nghĩ hỗn loạn ùa đến.

    Thằng Toàn tuy biết chút chuyện âm dương, nhưng cũng chỉ cảm nhận được điềm dữ chứ không có mắt tướng để thấy trực tiếp vong linh.

    Lẽ nào cô sắp nói tiếp là: "Có cô gái áo trắng, tóc đen xõa dài không thấy mặt, đang đu trên vai anh kìa?!"

    Nghĩ đến đó, tôi lại cảm thấy lạnh sống lưng, như sắp lên cơn rét run.

    Linh vẫn nhìn tôi, giọng đều đều tiếp tục:

    "Trên người anh có luồng khí đen lạ, không nhiều, nhưng rất dễ thu hút những thứ cô hồn bóng quế.

    Có lẽ là do anh đang mang theo vật gì đó có tà khí."

    Nghe vậy, tôi thầm thở phào một hơi dài, cảm giác như tảng đá đè nặng trong ngực vừa được nhấc ra.

    May mà không phải thứ gì ghê gớm hơn như tôi vừa tưởng tượng trong đầu.

    Tôi chợt nhớ đến cái bọc vải Toàn đưa cho mình.

    Không nói gì, tôi nó lấy ra từ túi quần, đặt trước mặt cô.

    Linh nhìn cái bọc, rồi lại nhìn tôi, gật đầu nhẹ một cái.

    "Không thể nào!"

    Đây là thứ mà Toàn đưa cho tôi.

    Nó là bạn thân thiết nhất của tôi từ nhỏ đến lớn, sao lại có thể hại tôi được chứ?

    Nhớ lại hồi chiều, khi hai thằng ngồi trên li quăng uống rượu, tôi đã hỏi nó về nguồn gốc của cái bọc vải nhỏ này.

    Toàn kể rằng nó tìm thấy trong đống đồ cũ khi dọn dẹp nhà cửa đón Tết.

    Ban đầu nó chẳng để ý, chỉ nghĩ là một món đồ linh tinh bị bỏ quên từ thời ông cố.

    Toàn nghi ngờ đây có thể là một món cổ vật gia truyền nào đó của dòng họ, nên muốn nhờ người am hiểu về đồ cổ là tôi xem qua để giám định.

    Nếu chỉ là vật trang trí bình thường thì nó sẽ cho tôi luôn.

    Linh khẽ lên tiếng, giọng vẫn bình thản như mọi khi:

    "Cho tôi xem qua được không?"

    Tôi gật đầu ngay lập tức, không do dự.

    Tay hơi run khi mở nút bọc vải cũ kỹ, lấy ra vật bên trong và đưa cho cô.

    Linh nhận lấy bằng hai tay, nhẹ nhàng nhưng chắc chắn, rồi bắt đầu quan sát tỉ mỉ dưới ánh đèn dầu.

    Đó là một khối hợp kim đen tuyền, nhỏ vừa lòng bàn tay, được đúc tinh xảo thành hình bông sen đang nở rộ.

    Toàn bộ khối có màu đen sâu thẳm, không một tia sáng phản chiếu, như thể nó hút hết mọi ánh sáng xung quanh vào lòng mình.

    Cánh sen mỏng manh nhưng cứng cáp, từng đường gân cánh hoa được khắc cực kỳ tinh tế, đến mức nếu không nhìn kỹ sẽ tưởng là sen thật.

    Nhụy hoa ở giữa hơi lõm xuống, tạo thành một khoảng trống nhỏ hình tròn hoàn hảo.

    Khi cầm trên tay, nó nặng hơn vẻ ngoài rất nhiều, lạnh buốt đến mức khiến da thịt tê dại.

    Bề mặt có những vết xước rất nhỏ theo thời gian, chứng tỏ nó đã tồn tại qua rất nhiều năm tháng.

    Tôi ngồi yên, quan sát Linh chăm chú xem xét khối hợp kim đen tuyền ấy.

    Tôi đã xem qua trước đó và nhận ra đây là đồng đen, niên đại cũng không thấp.

    Đồng đen là một loại hợp kim đồng đặc biệt, được người xưa đúc và xử lý bằng kỹ thuật bí truyền để tạo ra lớp gỉ đen cổ bóng hoặc đen xỉn tự nhiên.

    Ở Việt Nam, nó xuất hiện từ thời Đông Sơn và phát triển mạnh mẽ qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn.

    Người thợ khéo léo pha đồng với thiếc, chì và một số kim loại khác, sau đó hun khói hoặc dùng phương pháp oxy hóa cổ xưa để tạo lớp bảo vệ chống ăn mòn cực kỳ bền vững.

    Nhờ vậy mà nhiều món đồ cổ bằng đồng đen vẫn còn nguyên vẹn sau hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm.

    Từ những chiếc chuông chùa ngân vang trầm ấm, những bức tượng Phật uy nghi, đến các đỉnh đồng, lư hương và đồ thờ cúng trong cung đình nhà Nguyễn.

    Chúng không chỉ mang giá trị nghệ thuật cao mà còn gắn liền với phong thủy và tín ngưỡng thờ cúng của người Việt.

    Tôi nghĩ bông sen này có lẽ chỉ là một phần nhỏ trong một bộ đồ trang trí tinh xảo nào đó từ thời xưa.

    Dù chưa biết rõ công dụng thực sự, tôi vẫn định mua lại từ thằng Toàn để sưu tầm.

    Dù gì cũng là món đồ cổ bằng đồng đen quý hiếm, tôi không muốn để nó thiệt thòi gì với món đồ này.

    Linh ngắm nghía khối hợp kim đen tuyền ấy một lúc lâu, ánh mắt chăm chú di chuyển trên từng đường khắc tinh xảo.

    Rồi cô đột nhiên ngẩng lên, nói:

    "Anh có đèn pin không?

    Tốt nhất là loại đèn pin sắt có thể vặn đầu đèn."

    Tôi hơi ngạc nhiên trước câu hỏi bất ngờ ấy.

    Thời ấy, đèn pin có chức năng vặn đầu để điều chỉnh phạm vi chiếu sáng khá phổ biến.

    Loại đèn pin sắt thân dài là loại dân dã nhất, bền bỉ, dễ tìm, chỉ cần vặn đầu đèn là có thể thay đổi từ chùm sáng rộng sang tia sáng tập trung mạnh.

    Đây là loại được dùng nhiều ở vùng quê vì rẻ tiền, dễ sửa chữa và ánh sáng ổn định.

    Ngoài ra còn có những loại cao cấp hơn như Maglite của Mỹ – đèn pin nhôm chắc chắn, vặn đầu đèn mượt mà, sáng mạnh và bền bỉ, thường chỉ những người có điều kiện mới sở hữu qua đường xách tay.

    Một số đèn pin Liên Xô cũ cũng có cơ chế tương tự, dù vặn hơi thô sơ hơn.

    Tôi gật đầu nhanh:

    "Có, để anh lấy ngay."

    Tôi lật đật chạy ra ngoài tìm, rồi mau chóng mang lại cho cô chiếc Maglite của Mỹ – cây đèn pin nhôm bóng loáng mà tôi mua được từ một người quen buôn hàng xách tay.

    Cô đột nhiên cúi xuống thổi nhẹ một hơi, tắt ngọn đèn dầu.

    Ngay lập tức, mọi thứ trong gian phòng chìm hoàn toàn vào bóng tối sâu thẳm.

    Linh nhận lấy chiếc Maglite từ tay tôi, ngón tay cô vô tình chạm nhẹ vào mu bàn tay tôi một thoáng.

    Cô cầm đèn pin, dựng thẳng đứng cây đèn lên trên mặt bàn gỗ.

    Ngọn sáng trắng mạnh từ đầu đèn chiếu thẳng lên trần nhà, tạo thành một vòng tròn sáng lớn và rõ nét.

    Không khí trong phòng đột nhiên trở nên căng thẳng hơn, chỉ còn tiếng thở nhẹ của hai chúng tôi và tiếng đèn pin kêu tách một tiếng nhỏ khi cô vặn nhẹ nút bật.

    Sau đó, Linh chậm rãi đặt khối hợp kim đen tuyền hình bông sen lên ngay trên luồng sáng.

    Khối kim loại nằm gọn trong vòng sáng trắng, bóng của nó đổ xuống bàn một cách sắc nét.

    Cô dừng lại một giây, như đang cân nhắc.

    Rồi ngón tay cô bắt đầu từ từ vặn đầu đèn pin.

    Chùm sáng vốn rộng lớn dần co lại, thu hẹp từng chút một.

    Vòng sáng trên trần nhà nhỏ dần, tập trung hơn, trở thành một tia sáng mảnh và mạnh mẽ.

    Linh điều chỉnh rất chậm, rất cẩn thận, mắt không rời khỏi nhụy hoa ở giữa bông sen.

    Tôi ngồi yên, không dám thở mạnh, mắt dán chặt lên trần nhà.

    Hình bóng bắt đầu hiện ra.

    Đầu tiên chỉ là những đường nét mờ ảo, chồng chéo lên nhau.

    Rồi dần dần, theo từng milimet cô vặn đèn, những đường nét ấy trở nên rõ ràng hơn, sâu hơn, như một bản vẽ lập thể đang từ từ hiện hình từ trong bóng tối.

    Tôi há hốc miệng, kinh ngạc đến mức không thể thốt nên lời.

    Trên trần nhà gỗ cũ kỹ, một hình ảnh đang dần lộ ra.

    Phức tạp, chi tiết và hoàn toàn vượt ngoài dự đoán của tôi.

    Tôi nín thở, hoàn toàn bị hút vào đó.

    Sáng hôm sau, Linh xách chiếc túi vải cũ kỹ, đã chuẩn bị sẵn sàng để rời đi.

    Cô đứng ngay ngoài cổng nhà ông nội, dáng vẻ rõ ràng là đã quyết tâm lên đường.

    Tôi hoảng hốt lao ra từ trong nhà, suýt vấp ngã vì chiếc dép lê, chạy đến chặn ngay trước cổng.

    Tim tôi đập thình thịch, miệng lắp bắp, tay run run níu lấy vạt áo khoác của cô không buông:

    "Linh ơi...

    ở lại đây thêm một ngày thôi mà!

    Dù chỉ một ngày cũng được!

    Anh... anh chưa kịp dẫn em đi đâu hết...

    Em đừng đi vội vậy mà..."

    Tôi nói lia lịa, giọng thảm thiết như thằng chồng bị vợ bỏ, tay vẫn nắm chặt vạt áo cô không buông.

    Mặt tôi méo xẹo, mắt long lanh, thậm chí còn cố tình đứng chắn ngang cổng, không cho cô bước ra, trông chẳng khác gì một thằng đàn ông bị vợ sắp bỏ đi mà van xin thảm thiết.

    Linh đứng yên, ánh mắt bình thản nhìn tôi đang níu áo mình một cách thảm hại.

    Cô khẽ hít một hơi, giọng lạnh tanh và dứt khoát, mang theo chút khó chịu rõ rệt:

    "Tôi đã xong việc rồi.

    Thả tay ra."

    Linh nói ngắn gọn, giọng lạnh tanh không mang chút cảm xúc.

    Tôi vẫn nắm chặt vạt áo cô, đầu óc quay cuồng trong vài giây.

    Rồi tôi buột miệng năn nỉ, giọng run run đầy tuyệt vọng:

    "Em ở lại đây thêm vài ngày nữa đi...

    Anh muốn nhờ em cùng khám phá bí mật trong nhà ông cố của thằng Toàn.

    Nhà cháy ấy có rất nhiều chuyện lạ, anh không dám đi một mình..."

    Linh khẽ chau mày, ánh mắt vẫn bình thản nhưng đã lộ rõ vẻ khó hiểu.

    Cô dừng bước, quay nhẹ người nhìn tôi:

    "Vậy thì liên quan gì đến tôi?"

    Tôi ấp úng một hồi, miệng lắp bắp không thành câu, mặt nóng bừng.

    Sau vài giây lúng túng, tôi mới nuốt nước bọt, nói nhỏ như thì thầm:

    "Vì... vì anh sợ ma..."

    Linh đột ngột quay ngoắc lại một vòng, miệng buột ra tiếng ngạc nhiên:

    "Hả?!"
     
    Quân Gia Bút Ký [Quyển 1]
    Chương 5 Chợ gà đêm


    Trong dân gian Việt Nam, gà trống từ lâu được xem là biểu tượng của dương khí mạnh mẽ.

    Truyền thuyết kể rằng Thiên Lôi, vị thần cai quản sấm sét trên trời cao, từng đánh lầm một người trần vô tội đang cày ruộng giữa cánh đồng rộng lớn.

    Hôm ấy, người nông dân đang dắt trâu kéo cày trên thửa ruộng vào buổi chiều muộn.

    Ông ta vừa cắm cổ cày vừa đi chậm rãi, không hay biết gì về những chuyện trên trời.

    Lúc đó Thiên Lôi đang truy đuổi một con yêu quái đang lẩn trốn xuống hạ giới.

    Trong lúc nóng giận, Thiên Lôi vung tay ném một quả sét xuống đất.

    Quả sét lại trúng thẳng vào người nông dân đang cày ruộng, khiến ông ta chết ngay tại chỗ.

    Ngọc Hoàng biết được việc Thiên Lôi đã hại oan một người lương thiện, bèn phán phạt Thiên Lôi phải nằm co ro bất động ở một góc trời xa xăm để chuộc tội suốt ngày đêm.

    Để nghiêm trị và canh chừng không cho Thiên Lôi trốn tránh hay tái phạm, Ngọc Hoàng sai gà thần xuống trần gian làm nhiệm vụ.

    Đó là một con gà trống oai phong lẫm liệt với bộ lông đỏ rực như lửa bình minh vừa ló dạng sau dãy núi, mỏ vàng chóe sắc nhọn và đôi chân chắc nịch như trụ đồng.

    Tiếng gáy của nó vang vọng xa hàng ngàn dặm, từng tiếng như sấm rền báo hiệu dương thế trở lại.

    Mỗi buổi sáng, khi bóng tối còn chưa kịp tan hẳn, gà thần lại vỗ cánh bay vút lên trời cao, lao thẳng đến góc trời nơi Thiên Lôi đang co ro, rồi mổ mạnh một phát vào thân vị thần sấm sét khiến Thiên Lôi phải run bần bật và co rúm lại không dám cựa quậy.

    Từ đó Thiên Lôi sợ tiếng gà gáy đến mức chỉ cần nghe một tiếng vang lên từ mặt đất là lập tức thu mình lại.

    Dân gian truyền rằng chính vì thế mà tiếng gáy của gà trống trở thành vũ khí tự nhiên mạnh mẽ để xua đuổi âm khí.

    Ma quỷ và những linh hồn lang thang trong bóng tối nghe tiếng gà gáy là phải chạy trốn về âm phủ.

    Thế nhưng loài gà cũng có mặt tối khác, được lưu truyền qua câu chuyện về Bạch Kê Tinh, con gà trắng sống nghìn năm trên núi Thất Diệu đã tu luyện thành tinh quái.

    Vào thời An Dương Vương dựng nước Âu Lạc, nhà vua chọn đất Phong Khê để xây thành Cổ Loa hình xoắn ốc như vỏ ốc, mong muốn tạo nên một pháo đài bất khả xâm phạm.

    Ban ngày, hàng vạn quân lính hò reo cuốc xẻng đào đất, khiêng đá đắp thành cao ngất ngưởng, tường dày vững chãi như núi non.

    Công trình tiến triển nhanh chóng đến mức ai nấy đều tin chắc chỉ trong vài tháng là thành sẽ hoàn tất.

    Thế nhưng cứ vừa chập tối, khi bóng đêm bao trùm sông nước, toàn bộ thành lại sụp đổ tan tành.

    Đất đá lởm chởm, tường thành nứt toác như bị ai xé toạc, công sức một ngày trời tan biến chỉ trong chớp mắt.

    Quân lính kiệt sức ngã quỵ bên bờ sông, nhiều người thì thầm rằng đây là điềm trời tru đất diệt.

    An Dương Vương lo lắng cho vận nước, ngày đêm không yên thì thần Kim Quy hiện lên mặt nước mách bảo rằng thủ phạm chính là Bạch Kê Tinh ở núi Thất Diệu.

    Con gà trắng ấy đã tu luyện hàng nghìn năm với bộ lông trắng muốt không một vết bẩn, thân hình to lớn gấp mấy lần gà thường và đôi mắt đỏ như máu tươi.

    Nó dẫn đầu bọn oan hồn oán hận, những linh hồn bị hại từ kiếp trước, bay xuống chân thành mỗi đêm.

    Chúng dùng phép ma quỷ thổi gió đen lay chuyển nền đất khiến tường thành đổ sụp như bọt biển.

    Bạch Kê Tinh còn thường biến hóa xuống chân núi, lúc hiện thân thành một khách bộ hành khất thực lang thang, lúc lại nhập vào thân xác cô con gái xinh đẹp của lão chủ quán trọ Ngộ Không ngay dưới chân núi Thất Diệu.

    Lão Ngộ Không nuôi một con gà trắng to lớn chính là hang ổ của tinh quái.

    Những ai lỡ ngủ lại quán trọ đều gặp tai ương.

    Ban đêm họ nghe tiếng gà kêu thảm thiết vang vọng suốt dãy núi, sáng ra người đã chết, thi thể nằm cứng ngắc trên giường.

    An Dương Vương quyết tâm trừ hại, cải trang cùng thần Kim Quy xuống tận quán trọ.

    Nhà vua giả làm khách quen, bảo lão Ngộ Không hiến con gà trắng để tế trời đất cầu bình an cho công trình xây thành.

    Lão chủ quán run run đưa con gà trắng ra sân.

    Khi dao sắc vừa chạm vào cổ con gà trắng, nó kêu lên một tiếng vang vọng suốt dãy núi Thất Diệu.

    Cùng lúc đó, cô con gái trong nhà cũng lăn ra chết.

    Sau khi diệt được Bạch Kê Tinh, nhà vua sai quân đào tung núi Thất Diệu, tìm ra hang ổ sâu hun hút chứa đầy tà khí còn sót lại.

    Từ đó thành Cổ Loa mới xây dựng xong, tường thành xoắn ốc kiên cố vững chãi qua bao năm tháng, trở thành biểu tượng bất diệt của nước Âu Lạc.

    Vậy mà giờ đây, hai vị yêu thần trong chuyện xưa lại đang chọi nhau ngay giữa sông nước.

    Chúng đứng chông chênh trên tấm sàn đấu ghép bằng ván thuyền cũ kỹ, lắc lư theo từng đợt sóng như hai ông võ sĩ già cố giữ thăng bằng sau vài chén rượu.

    Con gà thần ngày xưa từng oai phong mổ Thiên Lôi trên trời cao, giờ phải lạch bạch đá chân với Bạch Kê Tinh – kẻ từng làm sụp tan cả thành Cổ Loa.

    Hai con xông xáo vào nhau túi bụi, vừa đá vừa loạng choạng vì sàn nổi cứ nhún nhảy không ngừng.

    Xung quanh là tiếng reo hò cổ vũ om sòm từ đám người ngồi trên các nhà bè.

    Tôi rút trong túi ra mấy tò tiền giấy mới cứng, đưa cho ông gác ngồi ngay đầu cụm nhà nổi.

    Ông khoảng năm mươi tuổi, da rám nắng, ngồi trên chiếc ghế tre cũ kỹ.

    Gọi là dãy nhà nổi nghe có vẻ ít ỏi, nhưng thực ra đây gần như là cả một xóm nhà bè nhóm lại giữa sông.

    Hàng chục chiếc nhà nổi được nối với nhau bằng dây thừng to và những tấm ván nhỏ, tạo thành một cụm lềnh bềnh trôi nổi trên mặt nước đen ngòm, lung linh ánh đèn dầu và vài ngọn đèn pin soi cá lập lòe trong đêm.

    Ông gác nhét tiền vào túi áo, rồi vẫy tay gọi một thằng nhỏ chừng mười tuổi đang ngồi co ro ở góc tối.

    Thằng bé da đen nhẻm, miệng ngậm que kẹo mút đỏ chót, chỉ mặc độc mỗi cái quần đùi ngắn cũ kỹ bị giặt đến mức không còn nhận ra màu sắc ban đầu.

    Nó liếc tôi và Linh một cái, gật đầu không nói, rồi quay người dẫn đường.

    Những chiếc nhà bè kết lại với nhau trông như một mê cung chằng chịt lối đi.

    Tôi theo sát thằng nhỏ bước sâu vào trong, phải cực kỳ cẩn thận từng bước chân.

    Thi thoảng tôi khom người chui qua những sợi thừng bện to tướng nối ngang giữa các bè, có lúc phải nhón gót bước trên một khúc ván hẹp chỉ vừa đủ rộng cho bàn chân.

    Có đoạn không có ván nối, tôi phải nhảy nhẹ từ nhà bè này sang nhà bè khác, tay vịn chặt vào dây neo để giữ thăng bằng.

    Dưới chân là mặt sông đen ngòm, tiếng nước vỗ nhẹ vào thân bè kêu ầm ầm liên hồi.

    Không khí ẩm ướt, nặng mùi phù sa lẫn khói dầu đèn và một chút mùi thuốc lá thoang thoảng.

    Ngay lúc tôi nhảy từ nhà bè này sang nhà bè khác, chân phải bất ngờ trượt trên lớp ván ướt nhẹp.

    Toàn thân tôi loạng choạng như con gà mắc mưa, hai tay quơ quào giữa không trung trong tư thế cực kỳ thiếu thẩm mỹ, suýt nữa thì ngã sấp mặt xuống khoảng nước đen ngòm giữa hai bè.

    May thay Linh đã nhanh tay chụp gọn cổ tay tôi, kéo mạnh một cái khiến tôi đứng vững trở lại.

    "Cảm ơn em," tôi nói vội, cố nặn ra nụ cười tự tin hết mức, còn phủi phủi quần áo như chẳng có chuyện gì.

    "Anh chỉ lỡ chân tí xíu thôi.

    Đi trên mấy cái bè này anh quen lắm, không phải lần đầu đâu."

    Vừa dứt lời, một cơn gió lớn thổi ập tới, mạnh đến mức như muốn hất tung cả xóm nhà bè.

    Sàn gỗ dưới chân chúng tôi đột ngột nhún lên rồi nghiêng hẳn sang một bên, lắc lư dữ dội như chiếc thuyền con đang gặp sóng lớn.

    Tôi cảm thấy lòng bàn chân trượt nhẹ, cơ thể mất thăng bằng hoàn toàn.

    Không kịp suy nghĩ gì, hai chân tôi mềm nhũn, quỳ sụp một gối xuống sàn.

    Tay tôi theo phản xạ vòng qua eo Linh, kéo cô sát lại để giữ thăng bằng, đầu vô tình áp chặt vào hông cô.

    Cái cảm giác lênh đênh, nước sông đen ngòm chỉ cách vài tấc dưới chân khiến tôi ghét cay ghét đắng đến mức muốn độn thổ luôn cho xong.

    Thằng nhỏ dẫn đường vừa lấy lại thăng bằng, quay phắt lại nhìn cảnh đó.

    Mặt nó nhăn nhở, mắt long lanh khoái chí, miệng há to cười toe toét đến mức que kẹo mút suýt rơi tõm xuống sông, rõ ràng đang cười ngặt nghẽo vì thấy tôi còn chẳng bằng chị gái đi bên cạnh.

    Tôi nghiêng đầu qua, lườm thằng ranh con một cái thật mạnh, rồi dùng khẩu hình miệng nói: "Vợ tao, tao ôm.

    Mày có vợ chắc?"

    Thằng nhỏ vẫn cười toe toét, nhưng không dám lên tiếng, chỉ quay người tiếp tục dẫn chúng tôi đi sâu hơn vào giữa cụm nhà bè.

    Càng đi, không khí càng náo nhiệt hẳn lên.

    Giờ đây chúng tôi đã đứng ngay khoảng giữa xóm nổi, nơi trông chẳng khác gì một khu chợ đêm thu nhỏ giữa sông.

    Những chiếc đèn lồng giấy đủ màu treo lủng lẳng trên các mái nhà bè, ánh sáng vàng vọt lung linh phản chiếu xuống mặt nước đen ngòm, tạo thành hàng trăm đốm sáng nhảy múa theo từng đợt sóng.

    Khói dầu đèn lẫn mùi thuốc lào thoang thoảng, xen lẫn tiếng cười nói râm ran và tiếng xèo xèo của vài con cá nướng trên vỉ than, mùi thịt cá thơm phức quyện với hương bánh tét chiên giòn và vài xiên chả giò đang rán sôi sùng sục trên bếp dầu.

    Ở chính giữa là tụ đá gà.

    Tấm sàn đấu được ghép cực kỳ khéo từ tám tấm ván gỗ dày ba phân, loại ván thuyền cũ lấy ra từ những chiếc ghe hỏng, xếp vuông vức khoảng bốn mét mỗi chiều.

    Dưới sàn, người ta kê bốn cái thùng phi rỗng đã bịt kín, nâng mặt sàn nổi cao hơn mặt nước chừng bốn mươi phân, vừa đủ để lắc lư theo sóng mà không bị ướt.

    Trên mặt ván, họ rải thêm một lớp cót tre mỏng và chút cát sông để chống trơn, vì nước sông bắn lên liên tục.

    Để giữ sàn không trôi, họ neo bằng sáu dây thừng tàu cũ to bằng ngón tay cái, buộc chặt từ bốn góc và hai cạnh giữa, kéo ra tám chiếc ghe bè xung quanh tạo thành hình sao.

    Còn thêm hai dây chéo chạy chéo nhau như lưới bắt cua, ngăn sàn xoay vòng.

    Vì sông chỗ này nông, độ sâu chưa tới ba mét, họ còn đóng thêm bốn cọc tre lớn đường kính mười phân xuống lòng sông ngay bốn góc sàn, buộc dây neo vào cọc để cố định tuyệt đối.

    Nhờ vậy, dù sóng đánh mạnh, sàn cũng chỉ nhún nhảy nhẹ, đủ chỗ cho hai con gà đá thoải mái và một ông trọng tài đứng giữa.

    Xung quanh sàn, người xem ngồi chi chít trên mui ghe và nhà bè, cách sàn khoảng một sải tay.

    Có người ngồi ghế đẩu thấp, có người trải chiếu cói ngay trên sàn gỗ, vài ông lớn tuổi còn ngồi xổm trên những chiếc ghe to hơn, gần sàn nhất để nhìn rõ từng miếng đá.

    Ánh đèn lồng và vài ngọn đèn pin soi cá chiếu thẳng xuống sàn, làm mặt nước lấp lánh như dát bạc, vừa đủ sáng để xem gà mà vẫn giữ được vẻ bí mật của một tụ đá chui giữa dòng sông.

    Vì chỗ ngồi trên các ghe thuyền xung quanh sàn đấu đã kín cứng, chúng tôi chỉ còn cách ngồi tạm ở mép một nhà bè trông như cái quán ăn vỉa hè nổi.

    Nhà bè này khá nhỏ, mái lợp tôn cũ kỹ đã ngả màu nâu đỏ vì mưa nắng, chỉ treo mỗi một cái biển gỗ nhỏ viết nguệch ngoạc hai chữ "Cá nướng" bằng sơn đỏ đã phai.

    Dưới ánh đèn lồng vàng vọt treo lủng lẳng, cái biển lúc ẩn lúc hiện theo gió sông.

    Vài bộ bàn ghế tre thấp kê sát lan can, ghế đẩu nhựa xanh loang lổ, và một bếp than nhỏ đặt ngay góc bè, khói bay nghi ngút.

    Tôi gọi hai phần cá nướng muối ớt và một đĩa chả giò nóng hổi.

    Bà chủ quán là một người phụ nữ trung niên da rám nắng, mặc áo bà ba sờn cũ.

    Chỉ một lúc sau đã bưng ra hai đĩa cá vàng ruộm, thơm phức mùi muối ớt và mỡ hành phi, kèm theo vài xiên chả giò giòn tan vừa mới chiên xong, vẫn còn sôi sùng sục.

    Chúng tôi ngồi trên những chiếc ghế đẩu tre thấp ngay cạnh lan can nhà bè, cách sàn đấu chừng hơn chục mét.

    Từ vị trí này vẫn có thể nhìn khá rõ trận đấu, dù phải hơi nghiêng người một chút.

    Gió sông mát lạnh thổi qua, mang theo mùi phù sa lẫn hương cá nướng và khói than, khiến không khí vừa ấm cúng vừa mang chút vị mặn mòi đặc trưng của sông nước.

    Tôi cầm đũa gắp một miếng cá nóng hổi bỏ vào miệng, thịt cá giòn ngoài mềm trong, vị muối ớt chua cay lan tỏa.

    Bên cạnh, Linh cũng ăn chậm rãi, ánh mắt vẫn hướng về sàn đấu.

    Tôi liếc sang cô, giọng hơi tò mò: "Sao em dẫn anh đến đây vậy?"

    Linh nhai xong một miếng cá, nuốt nhẹ rồi khẽ đáp: "Để lựa gà."

    Tôi ngạc nhiên, nhíu mày: "Lựa gà?

    Anh tưởng em chỉ muốn xem cho vui thôi chứ."

    Linh quay sang nhìn tôi, ánh mắt bình thản dưới ánh đèn lồng hơi rực sáng sắc vàng cam: "Chẳng phải anh vẫn đang sợ mấy chuyện ma quỷ đó sao?"

    Cô dừng một chút rồi tiếp nhẹ nhàng, "Gà trống là linh vật mang dương khí mạnh, có vai trò đặc biệt trong việc khắc chế tà ma.

    Cứ mua về một hai con cho chắc, thế nào cũng có tác dụng gì đó."

    Tôi gãi đầu, vẫn chưa hiểu hết: "Nhưng sao không ra chợ mua luôn cho tiện?

    Ở đây lỡ bị công an hốt thì sao?"

    Linh lắc nhẹ đầu: "Mấy con ngoài chợ chủ yếu được vỗ béo để thịt thôi, không bằng mấy con gà chọi được huấn luyện đàng hoàng."

    Cô ghé sát tôi hơn một chút, giọng hạ thấp chỉ đủ hai chúng tôi nghe: "Tôi đã hỏi thăm rồi.

    Ở đây không chỉ đá gà ăn tiền, họ còn bán luôn gà cựa.

    Xem coi có con nào vừa mắt không, lát nữa còn có đấu giá."

    Tôi gật gù đồng ý, nhưng trong lòng thì... choáng thật sự!

    Tôi vốn tưởng đây chỉ là một tụ đá gà chui bình thường như bao tụ khác ven sông.

    Vài chục người dân chài ngồi xem cho vui, hai con gà đá vài miếng rồi kết thúc, thắng thua cũng chỉ vài trăm bạc lẻ, xong rồi ai về nhà nấy.

    Ai ngờ, tụ này lại hoàn toàn khác.

    Đây không phải nơi đá gà giải trí thông thường.

    Đây rõ ràng là một "chợ đen" chuyên gà cựa thật sự, nơi người ta mua bán những con gà đã được huấn luyện kỹ càng, những con gà mang dương khí mạnh mà cô tin rằng có thể dùng để khắc chế tà ma.

    Đấu giá công khai nữa chứ!

    Tôi liếc quanh một lượt, thấy mấy ông khách ngồi trên những chiếc ghe to hơn, áo sơ mi cũ nhưng túi áo phồng lên vì tiền mặt, ánh mắt sắc lạnh, tay cầm cựa sắt bóng loáng đang thì thầm to nhỏ với nhau.

    Có người còn lấy đèn pin soi kỹ từng con gà đang chờ đấu giá, kiểm tra cựa, xem lông, xem dáng.

    Rồi nhìn xuống sàn đấu, nơi hai con gà vẫn đang lao vào nhau dưới ánh đèn pin soi cá lập lòe.

    Tôi đột nhiên thấy lạnh sống lưng.

    Hóa ra tụ đá gà giữa sông nước mà tôi tưởng chỉ để tiêu khiển, lại là nơi cô đang nghiêm túc tìm "vũ khí" trừ tà.

    Tôi nuốt nước bọt đánh ực, cố giữ vẻ mặt bình tĩnh, nhưng miếng chả giò đang cầm trên tay suýt rơi tõm xuống sông.

    Quay sang nhìn Linh, cô vẫn thong thả gắp cá nướng ăn như không có chuyện gì.
     
    Quân Gia Bút Ký [Quyển 1]
    Chương 6 Hai con gà trống


    Bỗng nhiên một giọng đàn ông từ bàn bên cạnh vang lên, trầm trầm mang chút khẩu âm miền Tây kéo dài:

    “Này hai đứa, đi chơi khuya quá vậy?”

    Tôi giật mình quay phắt sang.

    Ông anh ngồi cách chúng tôi chỉ một cái bàn nhỏ, đeo chiếc mũ lưỡi trai kéo hơi thấp che khuất nửa khuôn mặt.

    Ánh đèn lồng vàng vọt lúc mờ lúc tỏ làm tôi không nhìn rõ nét, chỉ thấy anh ta mặc áo sơ mi cũ sờn, tay cầm ly rượu nhỏ, dáng ngồi thong thả nhưng ánh mắt lại lóe lên sự sắc sảo khó tả.

    Anh ta không giống kiểu người hay gây sự, nhưng cái cách anh ta lên tiếng khiến tôi thoáng thấy lạ.

    Ông anh hơi nghiêng người sang phía Linh, giọng vẫn giữ nụ cười nửa miệng:

    “Em gái, đi đêm vậy về có bị ba má rầy không đó?”

    Tôi mở miệng định trả lời thay ngay, nhưng chưa kịp thốt ra nửa câu thì Linh đã nhanh tay chụp gọn bàn tay tôi.

    Ngón tay cô đan chặt vào kẽ tay tôi, ấm áp, kiên quyết và… không cho tôi rút ra được.

    Cô quay sang ông anh, nở nụ cười rạng rỡ như mọi cô gái mới lớn đang cố chứng tỏ mình đã trưởng thành, giọng ngọt ngào xen lẫn chút nũng nịu rất tự nhiên:

    “Gì chứ anh?

    Bây giờ là thời nào rồi mà không cho con gái lớn đi chơi đêm?

    Hơn nữa có anh Long ở đây bảo vệ em mà!”

    Tôi suýt phun miếng chả giò đang nhai dở.

    Anh Long?

    Tôi tên Chiến cơ mà!

    Tôi định mở miệng sửa lại ngay lập tức thì Linh bỗng cọ nhẹ đầu ngón tay cái vào lòng bàn tay tôi, một cái cọ rất khẽ, rất chậm, như lông vũ lướt qua da thịt.

    Cái cảm giác ấy lạ lùng đến mức tôi cứng đờ cả người.

    Tim đập thình thịch, mặt nóng bừng lên như bị ai châm lửa, hơi thở cũng rối loạn.

    Tôi thề mình là đàn ông đích thực, nhưng chỉ một cái cọ nhẹ nhàng ấy thôi đã khiến cả ba chân tôi đều mềm nhũn, suýt nữa thì không ngồi vững trên ghế đẩu nữa.

    Miệng tôi cứng lại, chữ gì đó định thốt ra thì kẹt cứng ở cổ họng.

    Linh vẫn giữ nụ cười tươi tỉnh, ánh mắt long lanh nhìn ông anh như chẳng có chuyện gì xảy ra.

    Ông anh cười khẽ một tiếng, rồi nghiêng người hỏi tiếp, giọng mang chút tò mò xen lẫn thăm dò:

    “Cô trông lạ mặt lắm, không phải dân ở đây phải không?”

    Linh gật đầu nhẹ, không vội vàng cũng không lúng túng, giọng vẫn ngọt ngào và tự nhiên như đang trò chuyện với người quen:

    “Dạ đúng rồi anh.

    Em mới về quê không lâu.

    Em về ra mắt gia đình ảnh, hai nhà đang bàn chuyện cưới xin.

    Sáng em đi chợ nghe bà con bảo tối nay có hội chợ gì đó nên rủ anh Long đi cùng cho vui.

    Ai ngờ lại là tụ gà chọi này chứ ạ!

    Em cũng ngạc nhiên lắm luôn.”

    Cô nói xong còn khẽ cười khúc khích, vai hơi run run như đang ngại ngùng, tay vẫn đan chặt vào tay tôi.

    Anh Long?

    Tôi suýt nữa thì phì cười vì cái tên giả đó, nhưng Linh siết tay tôi thêm một chút, nhắc nhở tôi phải giữ bình tĩnh.

    Ông anh gật đầu chậm rãi, ánh mắt hơi đăm chiêu một lúc, như đang cân nhắc từng lời cô nói.

    Anh ta khẽ xoay ly rượu trong tay, rồi cười lớn hơn một chút, giọng mang chút thân tình xen lẫn khuyên bảo như người lớn tuổi:

    “Ở đây chán thế thì hai đứa em về nhà đi, kẻo ba má lại lo.

    Người lớn mà, họ cứ coi mình như con nít vậy đó.

    Đi đêm khuya thế này, sông nước nhiều thứ khó nói lắm.”

    Linh vui vẻ gật đầu ngay: “Dạ, tụi em về liền đây anh.

    Cảm ơn anh đã nhắc nhở tụi em nha!

    Anh ở lại uống rượu vui vẻ nhé.”

    Lúc ông anh quay mặt đi, ngửa cổ uống thêm một ngụm rượu trắng, Linh mới ghé sát tai tôi.

    Mái tóc cô chạm nhẹ vào má tôi, hơi thở ấm áp phả vào tai khiến tôi giật mình khẽ.

    Giọng cô hạ rất thấp, chỉ đủ hai chúng tôi nghe, rõ ràng từng chữ:

    “Ông anh đó là tất xanh.

    Giả vờ ngồi đây chơi thêm một lát rồi về mau đi.

    Có khi đêm nay tụ gà chọi này phải dẹp rồi.”

    Tôi suýt nữa thì giật bắn người.

    Hóa ra ông anh vừa nói chuyện thân thiện, cười ha hả kia lại chính là người đang theo dõi tụ đá gà chui này.

    Tim tôi đập mạnh, mồ hôi lạnh toát ra sống lưng dù không khí đêm sông vẫn se se.

    Chỉ mới vài phút trước tôi còn tưởng đây là tụ đá gà dân dã bình thường, ai ngờ lại có “tất xanh” ngồi ngay bàn bên cạnh, đang quan sát từng người, từng con gà.

    Tôi liếc nhanh sang ông anh, anh ta vẫn ngồi đó, lưng dựa vào lan can, tay cầm ly rượu, ánh mắt lướt qua sàn đấu một cách thong thả.

    Nhưng tôi biết, chỉ cần một tín hiệu nhỏ là cả tụ này có thể tan tác trong chớp mắt.

    Linh vẫn ngồi thẳng, nụ cười vẫn còn đọng trên môi, như thể vừa nói chuyện thời tiết chứ không phải chuyện “tất xanh” đang ngồi cách đó chưa đầy hai mét.

    Còn tôi thì chỉ biết gật đầu thật khẽ, nuốt nước bọt đánh ực, và thầm cầu mong ông anh kia đừng quay sang nhìn chúng tôi lần nữa.

    Chúng tôi rời khỏi chỗ ngồi, để lại tiếng reo hò om sòm phía sau.

    Lối về lúc này vắng vẻ hơn hẳn, chỉ còn vài người lác đác đi ngược chiều.

    Chúng tôi đang đi song song thì từ phía sau, một gã đàn ông to con mặc chiếc áo ba lỗ vội vã lách người qua.

    Vai gã húc mạnh vào vai Linh, khiến cô khẽ nghiêng người.

    Gã đang kẹp nách hai con gà trống to lớn, lông vẫn còn dính máu và lông gà từ trận vừa rồi.

    Tôi nhận ra ngay đó chính là hai con gà vừa chọi nhau lúc nãy ở trận đấu mà chúng tôi chứng kiến khi mới vào.

    Kết quả cuối cùng là hai con hòa, không bên nào chịu thua.

    Gã quay ngoắc lại, giọng thô lỗ quát lớn: “Cái cặp đôi này sao mà lề mề quá!

    Đi mau cho người khác còn đi nào!”

    Linh không nói gì, chỉ khẽ vung ống tay áo.

    Một thứ gì đó lóe sáng bạc rơi đánh lách cách xuống sàn gỗ dưới chân gã.

    Cô quay lại, giọng ngọt ngào lạ thường: “Anh gì đó ơi, lượm giùm em chiếc lắc bạc được không?

    Tại em đeo lỏng tay quá.”

    Gã hừ một tiếng, mặt lộ rõ vẻ khó chịu: “Phiền thật!”

    Nhưng vẫn chuyển một con gà sang tay bên kia, khom người xuống định lượm.

    Vừa cúi đầu nhìn rõ vật nằm dưới sàn, gã đột ngột cứng đờ như bị sét đánh.

    Mặt gã chuyển từ đỏ au sang trắng bệch chỉ trong chớp mắt.

    Hai con gà trong nách gã giãy giụa điên cuồng, kêu quang quác inh ỏi như đang chế giễu chính chủ nhân của chúng, lông gà bay tứ tung khắp nơi.

    Gã không dám chạm tay vào, chỉ đứng khom người run lẩy bẩy, mồ hôi túa ra ướt đẫm trán, miệng há hốc, mắt trợn tròn như vừa nuốt phải con ếch sống.

    Còng số 8 nó xiết tay anh.... =]]]

    Siết mấy đời trai trong ngục tù

    Mai kia chúng giải anh đi, quan tòa mà tòa tuyên án…

    Gã ngẩng đầu lên chậm rãi, ánh mắt hoảng loạn nhìn thẳng vào Linh.

    Nhưng chỉ trong tích tắc, cơ mặt gã đột nhiên giãn ra như có ai kéo giãn từng nếp nhăn.

    Miệng gã nở nụ cười hì hì, hai hàng răng vàng khè lóe lên dưới ánh đèn lồng.

    Giọng gã chuyển sang dịu dàng, nói liên thanh như sợ chậm một giây là bị bắt:

    “Chị hai à… lúc nãy chị với anh cảnh bàn bên đùa nhau đấy hả?

    Hóa ra hai bên đang trao đổi ám hiệu với nhau, em nghe mà không nhận ra bất thường luôn đấy.

    Đúng là công an Việt Nam mà!

    Giỏi thật, giỏi thật!”

    Tôi đứng sau suýt phì cười.

    Gã này bịp trẻ con quá trời.

    Linh lạnh tanh cắt ngang lời nịnh của gã: “Nói nhiều.

    Hai con gà đó giá sao?”

    Gã vội vàng gật đầu lia lịa, hai con gà trong nách vẫn còn giãy giụa kêu quang quác:

    “Hai con này đấy hả?

    Chỉ là mấy đồng bạc lẻ thôi mà chị!

    Chị ưng nó thì em tặng chị luôn.

    Coi như là quà gặp mặt!

    Không lấy tiền đâu, tặng hết!”

    Tôi làm bộ gãi mũi, che miệng cười khẽ.

    Tuy mấy con gà chọi chẳng đáng cả gia tài, nhưng chắc chắn chẳng đơn giản là “mấy đồng bạc lẻ” như gã nói.

    Tôi liếc Linh một cái, thấy cô vẫn bình thản như không.

    Linh hất cằm ra hiệu cho gã mau đi.

    Gã không dám nói thêm nửa lời, vội vàng nhét hai con gà vào tay cô rồi quay ngoắt bỏ chạy, chân dài chân ngắn như bị ma đuổi.

    Hai con gà bỗng ngừng kêu hẳn, ngơ ngác quay đầu nhìn theo bóng dáng chủ cũ của chúng đang bỏ của chạy lấy người.

    Chúng cứ chớp mắt ngây ngô, như thể vẫn còn quá ngây thơ để hiểu nổi chuyện gì vừa xảy ra.

    Tôi cúi xuống lượm lại cái còng số 8 nằm chỏng chơ dưới chân.

    Cầm trên tay, tôi xoay qua xoay lại, ước lượng một chút thì giật mình.

    Trời ơi, thứ này giống đồ thật đến mức kinh ngạc, kim loại nặng trịch, lạnh buốt, bề mặt bóng loáng như vừa được đánh xi, khóa cài mượt mà không một vết xước, thậm chí còn có cả số seri mờ mờ ở cạnh, in rất nhỏ nhưng rõ ràng.

    Tôi sờ sờ cái chốt, thử kéo thử đẩy, cảm giác y chang còng sắt thật mà mấy ông công an hay dùng.

    “Cái này em mua ở đâu vậy?

    Sao giống thật quá trời luôn?”

    Linh tỉnh bơ, không thèm nhìn tôi, chỉ khẽ đáp:

    “Tôi lấy của ông anh hồi nãy.”

    “Hả?!”

    Từ phía tụ đá gà bỗng nhốn nháo lạ kỳ.

    Một tiếng hét the thé cắt ngang không khí:

    “Bỏ mẹ!

    Có công an!!!”

    Cả xóm nổi như bị ném một quả pháo vào ổ kiến.

    Người ta la hét om sòm, ghế đẩu bay tứ tung, đĩa cá nướng đổ loang lổ trên sàn, mấy ông đang đặt tiền lớn vội vàng nhảy sang ghe bên cạnh, kéo dây neo chạy tán loạn.

    Tiếng chân chạy rầm rập, tiếng ghế đổ, tiếng chửi thề vang vọng khắp mặt sông.

    Nhưng chưa kịp chạy được bao xa, từ bốn phía nhà bè đã có những bóng người mặc sắc phục xanh ùa vào như thủy triều.

    Tiếng còi huýt inh ỏi, tiếng chân giày đinh dẫm lên ván gỗ rầm rập, tiếng hô “Đứng lại!

    Đứng lại hết!” vang lên khắp nơi.

    Công an!

    Họ đánh úp nhanh đến mức không ai kịp trở tay.

    Trong mớ hỗn loạn ấy, tôi thấy rõ ông anh tất xanh lúc nãy đang khống chế một gã đàn ông béo mập đội mũ phớt.

    Gã béo giãy giụa điên cuồng, hai tay vẫy vùng như muốn bơi giữa không trung, chiếc mũ phớt bay ra, rơi tõm xuống sông, nổi lềnh bềnh giữa dòng nước đen ngòm.

    Ông anh tất xanh bẻ quặc tay gã ra sau lưng, ép chặt xuống sàn gỗ, giọng lạnh tanh:

    “Cuối cùng tao cũng bắt được mày, Tư Gà!”

    Tư Gà ngừng giãy giụa, ngẩng mặt lên cười lớn, ngạo nghễ như tên tướng cướp có danh có tiếng:

    “Không thể ngờ được… cuối cùng người tóm được tao lại là mày.

    Bạn thân của tao!”

    Ông anh tất xanh hừ một tiếng, lạnh lùng nói:

    “Muốn nói gì thì lên đồn nói!”

    Rồi anh ta buông một tay, lục túi áo tìm còng sắt.

    Nhưng móc hoài không thấy.

    Ông anh ngẩn ra một giây, mặt lộ rõ vẻ khó hiểu.

    Đúng lúc đó, từ xa có thứ gì đó được ném tới vèo một cái.

    Ông anh theo phản xạ giơ tay chụp gọn.

    Vừa nhìn xuống thì mặt tái mét, đó chính là cặp còng số 8 của anh ta.
     
    Back
    Top Dưới