Khác Quân Gia Bút Ký

  • Người khởi tạo Người khởi tạo [BOT] Wattpad
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu

[BOT] Wattpad

Administrator
25/9/25
59,383
0
0
402624388-256-k912012.jpg

Quân Gia Bút Ký
Tác giả: ShoutaroPhilip
Thể loại: Bí ẩn
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Từ thuở xa xưa, đã có hai gia tộc song song tồn tại: một bên chuyên giữ gìn sự yên nghỉ cho người chết, một bên chuyên phá vỡ những giấc ngủ ngàn thu trong cổ mộ.

Gia tộc mai táng, với những kỳ nhân dị sĩ tinh thông phong thủy, tầm long điểm huyệt, dựng mộ và phong quan, được xem như người bảo hộ của âm phần.

Ngược lại, gia tộc trộm mộ, vì tham lam mà đào xới, vì khát vọng mà phá hoại, đã mang trên mình lời nguyền chết yểu và những kết cục thảm khốc.

Giữa hai dòng máu ấy là mối thù truyền đời, kéo dài qua bao thế hệ không thể hóa giải.

Mỗi cổ mộ được xây dựng là một chiến trường tiềm ẩn, mỗi bí mật được chôn giấu là một ngọn lửa tranh đoạt.

Và trong vòng xoáy ấy, một cô gái mang lời nguyền trường sinh bất lão - Tử Linh - cùng một chàng trai phàm nhân - Quân Ảnh Chiến - sẽ bước vào đây để viết tiếp chương mới cho cuộc chiến chưa từng có hồi kết.

Tác giả: 「Vụ Lý」(Trong sương mù)
Tác phẩm chỉ đăng duy nhất trên Wattpad và trang quangiabutky.wordpress.com, nếu có ở nơi khác thì chỉ sản phẩm ă-n c-ắ-p, xin cảm ơn vì đã đọc.



wattpadvietnam​
 
Có thể bạn cũng thích
  • QUAN ĐỆ LỤC - MỸ NAM QUAN
  • [DÃ SỬ] QUAN SAN NGUYỆT
  • Tướng quân lệnh [edit]
  • Lưu Quang Chi Thành
  • thần tích quan bảy bảo
  • Quan Hạc Bút Ký - Nàng và Đèn
  • Quân Gia Bút Ký
    Quyển 1 Bạch sơn Thần Lĩnh


    Sơ lược quyển 1

    Quân Ảnh Chiến và một cô gái bí ẩn tên Tử Linh cùng nhau lần theo những manh mối của một đoạn ký ức bị chôn vùi.

    Hai mươi năm trước, một đội khảo cổ tiến vào núi Tà Lĩnh để nghiên cứu di tích cổ, nhưng những gì họ gặp phải lại vượt xa phạm vi khảo cổ thông thường và sự biến mất kỳ lạ của cả đoàn đã để lại một khoảng trống không lời giải.

    Hai mươi năm sau, ký ức ấy được kể lại, kéo người nghe bước vào vòng xoáy định mệnh.

    Những manh mối dồn dập dẫn thẳng về núi Tà Lĩnh, nơi sự thật vẫn còn bị phong kín sau cánh cửa đá khổng lồ.

    Một hành trình đã kết thúc, nhưng cánh cửa định mệnh mới chỉ vừa hé mở...
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 1 Vật cũ trả chủ


    "Quay về đi."

    Giọng nói ấy vang lên như một hơi thở lạnh buốt giữa cơn bão tuyết gào thét, không rõ từ đâu vọng tới, như thể chính ngọn núi đang thì thầm.

    "Không thể!

    Tôi phải tìm họ!

    Họ đang gặp nguy hiểm!"

    Tôi hét lên, tiếng gào bị xé vụn bởi màn tuyết mịt mù, như thể chính gió tuyết và đất trời cũng đang nuốt lấy thanh âm của tôi.

    "Quay về đi."

    Lời cảnh báo ấy lặp lại, không hề có cảm xúc, không hề lay chuyển.

    Tôi lao về phía cái bóng mờ đang đứng giữa màn tuyết, nhưng nó tan biến như chưa từng tồn tại.

    Chỉ còn lại ngọn núi trắng xóa, hoang lạnh và tiếng gió rít như tiếng nức nở thất lạc bị chôn vùi.

    Tôi mở mắt.

    Cửa hiệu quen thuộc hiện ra, ánh nắng xuyên qua tấm rèm mỏng phấp phới.

    Tôi tỉnh lại trong cửa hiệu của mình sau cơn mộng mị ngắn ngủi.

    Đầu cổ hơi choáng váng đau nhức vì nằm nghiêng quá lâu.

    Lượm lại chiếc quạt giấy đã rơi xuống đất từ khi nào, tôi khẽ phe phẩy thêm vài cái.

    Duỗi chân một cái, tôi lấy quạt che mắt, lại chuẩn bị ngủ tiếp.

    "Này!

    Này!

    Thằng oắt con, mày trông tiệm như thế hả?"

    "Ôi!

    Mẹ..."

    Lời chửi thề vừa tính văng ra đành phải nuốt ngược lại.

    Tôi vừa nhìn thấy ông lão đang tự mình rót trà ngồi trước mặt liền bật dậy khỏi ghế, cười ngu ngơ nhìn ông.

    "Ông nội!

    Sao nay thăm cháu mà lại không nói trước một tiếng chứ?"

    "Ai thèm đến thăm cái thằng lười nhác nhà mày!

    Ôi, cháu bà Lam còn vừa mới thăng chức phó tổng gì đó.

    Bây giờ bả còn đang ra ngoài mà khoe với mấy ông bà già hàng xóm.

    Đây là đứa cháu thứ ba rồi.

    Hại ông già này tức chết đi được!"

    "Ôi, ông ơi, ông đừng nóng mà.

    Ông uống chén trà cho mát họng, rồi hàn huyên tâm sự gì với thằng cháu bất hiếu này cũng được."

    "Khỏi cần mày nhắc!"

    Ông cụ ngửa cổ uống trong tức tối, nhưng còn chưa kịp nuốt xuống đã phun hết cả ra ngoài.

    "Trời ơi!

    Bao lâu rồi mày còn chưa thay lá trà rồi hả!?"

    Tôi chỉ biết gãi mặt cười ngu, giờ mà bảo với ông rằng ấm trà đó cả tuần không ai buồn rớ đến rồi thì ông xử bắn tôi tại chỗ luôn vẫn còn quá nhân từ.

    "A Cát đâu?"

    Ông hỏi.

    Tôi nhìn về phía cửa, nơi cậu nhân viên thu ngân kiêm kế toán kiêm quét dọn thường hay ngồi thừ người ra chơi bài con nhện trên cái máy tính cổ lỗ sĩ hết chỗ nói.

    "À."

    Tôi giờ mới lờ mờ nhớ ra còn có cậu ta.

    "Bảo là có việc nhà, xin nghỉ từ mấy hôm trước rồi."

    Ông khẽ gật đầu rồi lại quay sang tôi nói: "Chiều nay đóng cửa tiệm sớm, đi qua chỗ ông ăn cơm."

    Tôi thầm kêu rên trong bụng, lại nữa sao?!

    Tôi không còn nhớ nổi tháng này là lần thứ bao nhiêu rồi.

    Tối nay là yến tiệc linh đình của con trai cả nhà bà Hai hay con gái út nhà bà Ba đây!

    "Dạ, cháu biết rồi."

    Tôi cố gắng không tỏ vẻ miễn cưỡng mà rặn ra từng chữ.

    "Lúc về thì mang theo cả cái này, quý lắm đó, làm hỏng một chút thôi là mày không xong với ông đâu!"

    Tôi nhìn qua vai ông, phía sau có dựng một cái khung gỗ được bọc kín giống như tranh.

    Hẳn lại là một món đồ cổ ông mới sưu tầm về.

    Ngồi trên chiếc ghế thắp hương cao đến chín bậc, tôi vừa đóng đinh vừa chỉnh khung tranh cho thật cẩn thận.

    Căn biệt phủ của ông nội như một cung điện thu nhỏ từ thời xưa cũ, toàn gỗ lim bóng loáng theo năm tháng, cửa chính chạm khắc tinh xảo bằng gỗ Hoàng Đàn quý hiếm.

    Ánh nắng chiều lọc qua những ô cửa sổ lưới chạm rồng phượng phai màu, hắt bóng dài ngoằng trên sàn gạch Bát Tràng màu cam đất ấm áp.

    Mùi gỗ cũ quyện lẫn khói hương thoang thoảng từ bàn thờ tổ, gió lùa qua khe cửa mang theo tiếng rít vi vu như lời thì thầm của những thế hệ đã qua.

    Từng cánh cửa, từng khung rèm thêu đều mang dấu ấn bàn tay nghệ nhân xưa, sống động đến mức như thể chúng đang thở theo nhịp thời gian chậm rãi.

    Trước cổng, đôi vòng đá hình sư tử mà ông khoe đồ cổ đấu giá từ người Hoa đủ khiến bất kỳ ai bước vào cũng phải cúi đầu trước sự xa xỉ cổ kính của chủ nhân nơi này.

    Tôi là cháu đích tôn duy nhất của ông, gia đình giờ đây chỉ còn đơn chiếc hai ông cháu, họ hàng cũng không nhiều, cũng ít khi thăm hỏi nhau.

    Nhà tôi khởi nghiệp kinh doanh tính tới đời tôi là đời thứ chín, nhưng tôi lại không có chí lớn gì, học xong đại học thì chỉ tiếp quản một cửa hàng nhỏ nhất nhà, hằng năm lợi nhuận chẳng bao nhiêu.

    Ngày ngày sống ung dung tự tại đích thị một cậu ấm được cưng chiều.

    Sáng sớm có cậu A Cát đúng giờ mở cửa, còn tôi - thân là ông chủ thì ngủ đến mức mặt trời quá đỉnh đầu, chiều chiều xem tí sổ sách rồi lại thiu thiu ngủ dưới bóng mát ngoài sân sau.

    Thỉnh thoảng lại chạy ra ngoài xem mấy cụ già chơi cờ bên bờ hồ rười rượi gió thoảng, chỉ cụ phải tiến quân này phá trận cụ kia.

    Đúng là sung sướng nhàn nhã còn hơn mấy tiên ông trên thiên đình.

    Màn rèm che hạt châu gỗ dưới chân tôi khẽ lay động, có lẽ là có người đang đi qua.

    Tôi chúi đầu xuống tính hỏi ông treo tranh như vậy đã được chưa thì liền khựng lại, mắt đối mắt với người xa lạ đang đứng bên dưới.

    Chỉ vừa nhìn thấy người đó trong vài giây ngắn ngủi, tôi bỗng giật bắn mình.

    Không thể nào!

    Làm sao lại có thể như vậy?!

    "Chiến, xong chưa đấy?"

    Giọng của ông nội vang từ sau lưng, nhưng giây phút này miệng lưỡi giảo hoạt của tôi lại cứng đờ, lắp bắp không ra lấy chữ.

    Trong tranh, người lữ khách đơn độc nhìn về phía ngọn núi tuyết xa xa trập trùng hiểm nguy, chiếc áo choàng đỏ rực như áng hoàng hôn phấp phới theo gió, mũ áo hơi nghiêng ngả theo để lộ ra nửa khuôn mặt nghiêng nghiêng.

    Đôi mắt người ấy thật đặc biệt, như thể nó hoàn toàn tách biệt khỏi bức tranh mà hiện lên sống động trước mắt tôi.

    Đôi đồng tử đen tuyền, sâu thẳm lắng đọng như vùng nước chết, tựa như đã nhìn thấy toàn bộ thế gian rực rỡ nhất cũng như tăm tối nhất.

    Một ánh mắt không có niềm vui, không có đau khổ, không có lấy một tia sáng hi vọng.

    Mọi thứ, mọi thứ cứ xoắn chặt trong con ngươi không thể nhìn thấu đó.

    Cô ấy vừa bước ra từ trong bức tranh này.

    Tôi tự hoảng hốt với suy nghĩ điên rồ ấy, chỉ biết trừng trừng nhìn từ bức tranh xuống người đang đứng dưới.

    Phải hỏi, nhất định phải hỏi!

    Vừa nghĩ thế tôi liền đứng lên theo phản xạ, nhưng vừa làm thế thì tôi mới nhớ ra mình đang ngồi trên cái ghế thang cao đến gần hai mét!

    Đầu thì va thẳng vào khung tranh đau điếng, cơn choáng váng đến nổ đom đóm mắt làm tay chân tôi bủn rủn tê đi hết cả, cứ thế nghiêng người ngã thẳng xuống.

    "Chiến!"

    Ông nội hốt hoảng gọi to.

    "A!"

    Trong khoảnh khắc tưởng sẽ ăn sàn, tôi bỗng rơi vào vòng tay ai đó.

    Tử Linh đã lao tới, lấy thân mình đỡ cả người tôi như một pha cứu giá trong phim hành động.

    Một tay cô còn đưa lên phía trước, chặn đứng cái ghế thang nặng trịch đang lao tới, hoàn toàn mang phong thái anh hùng cô độc không ngại xả thân cứu... một chàng trai yếu ớt đáng thương là tôi đây.

    Nàng tựa vào lồng ngực chàng, đôi mi ươn ướt giữ lại giọt lệ kiên cường không rơi xuống, ngước nhìn chàng như thể đang đóng cảnh cuối của một bộ phim truyền hình dài 120 tập.

    Còn chàng - tức là cô ấy - hiệp khách cẩn mật lạnh lùng tiêu soái, không chút do dự... hất thẳng tôi ra khỏi vòng tay.

    Bữa cơm tối nay của cả ba người trôi qua trong ngượng nghịu khó tả.

    Ông nội không giới thiệu cô gái ấy lấy một lời, cũng chẳng tỏ ra ngạc nhiên khi thấy cô đã ngồi sẵn ở đó từ bao giờ, như thể sự hiện diện của cô là chuyện bình thường trong nhà.

    Ông còn gắp thức ăn cho cô một cách tự nhiên, giọng nói dịu dàng hơn hẳn lúc mắng tôi: "Ăn thêm đi con."

    Tôi ngồi đó mà đầu óc quay cuồng.

    Cô ấy là ai chứ?

    Sao ông nội lại đối xử thân thiết với một người lạ đến thế?

    Hay là... người quen cũ nào đó mà ông chưa từng kể?

    Nhưng nếu vậy thì sao không nói một câu với thằng cháu đích tôn duy nhất là tôi đây?

    Tôi liếc nhìn ông, rồi lại len lén nhìn sang cô, cố tìm chút manh mối trên khuôn mặt ấy, nhưng chỉ nhận lại cái nhìn thoáng qua lạnh lẽo như gió đông.

    Cô ấy là một cô gái khoảng ngoài hai mươi, nhưng đôi khi nhìn cô lại như một thiếu nữ còn đang tuổi học trò với gương mặt thanh tú, làn da trắng nhợt gần như trong suốt dưới ánh sáng mờ, khiến người ta liên tưởng đến những bức tượng ngọc lạnh lẽo trong cung điện cổ.

    Mái tóc đen dài buộc hờ sau gáy rối tung một vẻ hoang dại.

    Khuôn mặt cô sắc nét, sống mũi cao thẳng, đôi môi mỏng khép chặt không chút màu son, nhưng nổi bật nhất là đôi mắt đen sâu thẳm, đồng tử như vùng nước chết không gợn sóng đó.

    Cô mặc áo khoác tối màu, vải dày cổ cao tay ôm gọn, toàn thân toát lên vẻ kín đáo lạnh lùng như bóng đêm.

    Dáng ngồi thẳng lưng, không cứng nhắc nhưng cũng chẳng buông lơi, như một bức tượng sống giữa phòng.

    Có gì đó ở cô khiến tôi cảm thấy thật lạ lùng, không giống người bình thường chút nào.

    Khi tôi rót trà cho cô, tay run nhẹ vì ngượng ngùng, tôi lấy hết can đảm hỏi:

    "À... cô tên là gì vậy?"

    Cô không nhìn tôi, chỉ đáp gọn: "Tử Linh."

    Tôi tự giới thiệu tên mình rồi đỏ mặt lí nhí cảm ơn chuyện vừa nãy, nhưng cô không phản ứng gì, như thể lời nói của tôi chưa từng tồn tại.

    Tôi ngồi xuống, cố gắng không nhìn trộm nữa, nhưng ánh mắt vẫn cứ bị hút về phía cô.

    Cô nâng chén trà lên, không uống ngay mà khẽ nghiêng nhẹ, quan sát màu nước dưới ánh đèn.

    Rồi cô đưa tay gạt nắp, để hơi trà thoát ra, hít một hơi thật chậm.

    Động tác ấy không phải kiểu làm màu, mà là thói quen của người đã quen sống với trà.

    Cô không dùng thìa gạt bã như người bình thường, mà xoay nhẹ chén để bã lắng xuống một bên, rồi mới nhấp môi.

    Mỗi động tác đều vừa đủ, như thể cô đã làm điều này cả nghìn lần.

    Tĩnh lặng đến mức tôi tưởng mình đang nhìn một bức tranh chuyển động.

    Tôi nhìn sang ông nội, ông vẫn đang tự mình dùng trà, ánh mắt rơi vào món đồ trên bàn mà xem xét.

    Tử Linh đặt chén trà đã cạn xuống rồi khẽ đứng dậy, động tác gọn gàng cúi người chào ông tôi.

    Có vẻ cô định rời đi.

    "Khoan đã, Linh."

    Giọng ông vang lên, không lớn nhưng đủ để dừng bước chân cô lại.

    Âm điệu dịu dàng, như thể đang gọi một đứa cháu gái thân thiết trong nhà.

    Ông đẩy món đồ trên bàn về phía trước, để tôi cũng nhìn thấy rõ hơn.

    Đó là một thanh đao cổ, màu đen tuyền như được rèn từ bóng tối.

    Ánh đèn hắt lên lưỡi đao khiến nó ánh lên một sắc lạnh lẽo, như thể đang thở.

    Chuôi đao đã từng được thay mới, tôi có thể nhận ra điều đó ngay từ cái nhìn đầu tiên, nhưng không hề làm giảm đi giá trị hay sự cổ xưa bí ẩn của lưỡi đao.

    Ngược lại, chính sự chắp vá ấy lại khiến nó như mang theo một câu chuyện chưa kể, một vết tích của thời gian.

    Tôi nhìn sang ông, ánh mắt ông không rời khỏi Tử Linh.

    Còn cô thì vẫn im lặng, nhưng ánh mắt khi nhìn thanh đao ấy không phải của người xa lạ.

    Như thể cô đang gặp lại một phần ký ức cũ, một người bạn tri kỷ đã lâu không gặp.

    Tử Linh đưa tay chạm vào thanh đao.

    Tay cô hơi run, rất nhẹ, như một phản xạ vô thức.

    Cô rút tay lại, khẽ nhíu mày.

    Tôi không rõ vì sao, nhưng khoảnh khắc ấy khiến tôi thấy có gì đó vừa lay động trong cô.

    Ông tôi nhìn cô, ánh mắt như đã chờ khoảnh khắc này từ rất lâu.

    Ông nói chậm rãi, giọng trầm xuống như đang kể lại một chuyện xưa cũ:

    "Có những thứ không còn nhớ, nhưng vẫn sẽ quay về.

    Đao này từng có chủ, mà chủ lại chẳng nhớ mình từng có nó."

    Ông đặt tay cô lên chuôi đao, rồi nhìn thẳng vào Tử Linh:

    "Nó tên là Linh Ảnh."

    Ngay khi nghe cái tên ấy, Tử Linh khựng lại.

    Một thoáng choáng váng lướt qua ánh mắt cô, như thể vừa nghe lại một tiếng gọi từ quá khứ.

    Nhưng chỉ trong chớp mắt, cô lấy lại vẻ bình thản, lặng lẽ mang theo nó rời đi.

    Tôi nhìn theo con đường lát đá cô đi ra, nơi ánh trăng phủ một lớp bạc lên mái ngói cổ.

    Trong đầu tôi, hình ảnh cô gái ấy và thanh đao ấy cứ xoắn chặt lấy nhau như một câu hỏi chưa lời giải.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 2 Chợ đồ cổ Hạ Khê


    Tôi như con mèo bám màn cửa, nhoẻn nụ cười chuẩn đứa cháu hiếu thảo đáng yêu với ông cụ đang cau có nhìn ngược lại.

    Cả tuần nay, tôi luôn hiện diện trong tầm mắt ông, mồm miệng nịnh nọt, giọng ngọt như rót mật nhưng bên trong là cả âm mưu dò hỏi.

    Tôi tiến lại gần bàn, khom lưng châm trà, cố ý để ánh mắt ông chạm mặt tôi rồi mỉm cười như vừa phát hiện bí mật gì đó.

    Trong bụng thầm nghĩ: "Ông già rồi, làm sao đấu lại thằng cháu tinh quái này chứ?"

    Ông chậm rãi nhấp ngụm trà, vẻ mặt vẫn khoan thai như thường lệ, nhưng ánh mắt đã bớt lơ đãng khi thấy tôi tiến lại gần.

    Mỗi lần tôi khẽ hỏi một câu, ông lại hắng giọng cố giữ vẻ bình thản, song những nếp nhăn nơi khóe mắt hằn sâu hơn đã tố cáo rằng ông chẳng thích bị dồn vào thế phải trả lời chút nào.

    Tôi buông tiếng cười khẽ, mắt nheo lại, nghiêng đầu như đang cân nhắc một ý tưởng táo bạo.

    "Ông ơi, Tử Linh thân thiết với ông lắm nhỉ?

    Hai người biết nhau bao lâu rồi ạ?

    Ông ơi, nói gì đi chứ, sao ông cứ ngượng ngùng lấp liếm thế này.

    Hay là... bà nội kế của con hả ông?"

    Nếu còn thời trai trẻ khỏe mạnh, ông chắc đã đè đầu tôi xuống bắt tạ tội với bà nội rồi.

    Nghĩ đến đó, tôi chỉ hận không tự vả miệng mình một cái cho tỉnh.

    Ông trợn mắt nhìn tôi, miệng vặn thành nụ cười mệt mỏi, khoé môi run run như cố nuốt lời chửi vào trong.

    Tay ông dừng lại trên quai tách trà, rồi đặt xuống bàn chậm rãi.

    "Thằng này... nói bậy."

    Tôi đổi giọng, hạ thấp thành tiếng thì thầm mềm mại như mật ngọt đang rót vào tai.

    Khuôn mặt thả lỏng, ánh mắt tròn xoe cố tạo vẻ ngây ngô dễ thương - một vai diễn quen thuộc tôi đã tập dượt bao lần.

    "Ông thật sự không muốn kể sao?

    Nếu ông chịu nói, cháu sẽ nấu cơm, dọn dẹp, thậm chí xoa bóp cho ông cả tháng.

    Đảm bảo chu đáo hơn cả dì Thanh giúp việc nữa, cháu hứa đấy!"

    Nụ cười tôi nở ra, vừa nịnh nọt vừa pha chút tinh quái, ngón tay khẽ vén lọn tóc bên má theo thói quen cũ.

    Nghĩ bụng, thằng cháu bất hiếu này hứa suông cũng nhiều lần rồi, ông mà tin mới lạ.

    Ông lấy tay gõ nhẹ lên trán tôi, cái gõ bâng quơ nhưng đủ để tôi biết ông đang mỉm cười thầm trong lòng.

    Mắt ông cong lên vui vẻ, thoáng dịu đi rồi lại trở về nét nghiêm thường ngày.

    "Cơm thì cứ nấu đi.

    Còn chuyện kia, chưa đến lúc."

    Giọng ông bình thản, như khẽ khép một cánh cửa nhỏ giữa hai người.

    Tôi chưa chịu dừng lại.

    Thay vì gặng hỏi thẳng, tôi thả một câu vu vơ như trò chuyện thường: "Cô ấy đứng ở sân sau, đúng chỗ bà hay ngồi ấy.

    Người lạ mà hợp khí nhà mình ghê ha ông?"

    Giọng tôi nhẹ như gió thoảng, nửa đùa nửa thật.

    Tôi nghiêng đầu tựa lưng vào ghế, dáng vẻ ngoan hiền như đang tán gẫu vu vơ.

    Nhưng sau lớp vỏ dịu dàng ấy, ánh mắt tôi vẫn sắc bén, lặng lẽ soi mói từng phản ứng nhỏ nhất trên gương mặt ông.

    Ông nhìn thẳng vào tôi, ánh mắt lặng lẽ mà sâu thẳm, như người đã hiểu rõ mọi chuyện nhưng chọn cách im lặng.

    Lần này ông thở dài, vết chân chim nơi khóe mắt hằn thêm một lớp thời gian.

    "Có những chuyện, càng chạm vào càng trôi xa."

    Lời ông rơi xuống chậm rãi, như tảng đá lăn nhẹ xuống hồ nước sâu không thấy đáy.

    Tôi khẽ nhếch môi, làm ra vẻ chịu thua như đã bỏ cuộc.

    Nhưng trong lòng, từng đường nét, từng chớp mắt, từng nhịp run nhẹ nơi khóe môi ông đều được tôi ghi nhớ cẩn thận.

    Mỗi dấu hiệu nhỏ ấy quý giá như mảnh ghép trong bức tranh bí mật tôi đang lắp ghép.

    Ông càng cố giữ vẻ bình thản, tôi càng nhẹ nhàng phủ thêm lớp giả vờ vô hại: một tiếng cười khẽ, ánh nhìn bâng quơ, vài câu đùa nửa thật nửa chơi.

    Từng chút một, tôi gỡ dần lớp vỏ ông dựng lên, kiên nhẫn như người bóc vỏ hành để lộ phần lõi giấu kín nhất.

    Đêm ấy, tôi mơ thấy sân sau dưới trăng.

    Trăng bạc loang lổ trên mái ngói cổ, gió im phăng phắc, chỉ có tiếng lá xào xạc thì thầm như lời cổ ngữ.

    Ánh sáng mờ ảo rọi xuống bóng một người đứng im lìm giữa sân.

    Tử Linh tay cầm Linh Ảnh, lưỡi đao đen tuyền nuốt lấy ánh trăng, để lại vệt bóng lạnh lẽo trải dài trên nền đất.

    Cô không nói gì, chỉ ngước nhìn trời cao, dáng đứng nghiêm cứng nhưng mong manh yếu ớt, lay động như bóng ma trong gió.

    Tôi bước tới gần hơn.

    Cô vẫn bất động.

    Khi chỉ cách vài bước, cô chậm rãi quay lại.

    Ánh mắt ấy trong mơ xa lạ đến lạnh người như thể tôi đang đối diện một người không hề thuộc về thế gian này.

    Thanh đao nằm im trong tay cô, lặng lẽ như câu trả lời cho một câu hỏi tôi chưa kịp đặt.

    Tôi giật mình tỉnh dậy giữa sáng sớm.

    Căn bếp ngập sương nhẹ buổi mai, ánh sáng dịu dàng chảy qua khung cửa, và ngồi ở bàn là cô - Tử Linh thật sự, không còn là bóng hình mơ hồ nữa.

    Cô khoanh chân, mải mê gọt táo, tay chuyển động chậm rãi nhưng chính xác đến lạ, từng lát vỏ mỏng rơi xuống như mảnh chạm khắc tinh xảo.

    Ánh sáng chiếu lên mái tóc rối của cô, làm nổi bật những đường nét thanh tú trên khuôn mặt tái nhợt.

    Nhìn cô ấy dưới buổi sáng yên bình thế này, tôi bất giác thấy tim như đập nhanh hơn một nhịp.

    Tôi đặt nhẹ chiếc nắp nồi xuống rồi giả vờ vô tình hỏi: "Cô làm nghề điêu khắc à?"

    Cô không ngẩng lên ngay.

    Một lúc sau, cô buông dao, ngước nhìn tôi bằng ánh mắt vừa lạ lẫm vừa bình thản: "Không.

    Tôi không nhớ mình từng làm gì."

    Câu trả lời gọn gàng, giọng phẳng như mặt gương không gợn sóng.

    Ánh mắt ấy khiến tôi vừa lạnh sống lưng vừa muốn lại gần hơn, dù biết chắc sẽ bị cái nhìn lạnh lẽo ấy đẩy ra xa.

    Không khí bếp sáng sớm bỗng vừa đời thường vừa đầy khoảng trống im lặng, nơi những lời chưa nói cứ dày lên, chờ ai đó lấp đầy.

    Bữa sáng hôm đó thật ấm áp.

    Mùi cháo thơm nhẹ, hơi nước bốc lên quanh bát, quyện với mùi hành phi và tiêu rang, tạo thành một lớp hương mỏng như tấm chăn phủ lên căn bếp.

    Tiếng muỗng chạm vào sứ vang lên đều đều, như một nhịp sống cũ đang được lặp lại.

    Ông nội ngồi ở đầu bàn, tay chậm rãi khuấy cháo, ánh mắt lơ đãng nhưng vẫn để ý từng động tác của tôi.

    Tử Linh ngồi đối diện, không nói gì, chỉ cúi đầu ăn từng thìa nhỏ.

    Ánh sáng buổi sớm tràn qua khung cửa, rọi lên mặt bàn một vệt vàng nhạt.

    Trên bàn là lọ tiêu gỗ cũ, một đĩa rau thơm và vài món ăn kèm được xếp ngay ngắn.

    Tất cả đều mang dáng dấp của một buổi sáng đã lặp đi lặp lại hàng chục năm trong nhà tôi.

    Nhưng hôm nay có gì đó khác.

    Không phải vì món ăn, mà vì sự hiện diện của cô.

    Cô không phá vỡ nhịp sống ấy, chỉ giống như một người khách lặng lẽ ngồi vào bàn.

    Cô tựa như một ký ức trở về, vừa thuộc về nơi này vừa không hoàn toàn thuộc về nó.

    Tử Linh đặt thêm một trái táo gọt sạch vào đĩa, vuốt nhẹ mép dao như thói quen cũ.

    Tôi bất giác bị hút hồn vào, một động tác đơn giản như gọt táo sao lại đẹp và thuần thục đến thế, như thể cô đã làm điều này hàng nghìn lần trong một cuộc đời khác.

    Rồi cô khẽ nói với ông: "Tôi muốn đi tìm một thứ."

    Ông không hỏi đó là gì, chỉ cúi đầu mím môi giây lát, rồi hỏi đơn giản: "Đi đâu?"

    "Chợ đồ cổ Hạ Khê."

    Chợ Hạ Khê - khu chợ đồ cổ lớn nhất vùng, mà dân trong giới gọi đùa là "mê cung cổ vật".

    Nó trải rộng hàng chục con phố cũ kỹ, hàng vạn quầy hàng san sát từ sáng đến khuya, từ những cửa tiệm lớn mặt tiền bóng loáng trưng bình sứ men lam, tượng gỗ lim, tranh thư pháp cuốn trục, đến những gian hàng nhỏ lén lút trong ngõ hẻm ngoằn ngoèo sâu hun hút.

    Bề ngoài nhộn nhịp khách du lịch chen chúc mua kỷ niệm dưới mái ngói cong cổ kính, đèn lồng đỏ treo lủng lẳng, tiếng cười nói rộn ràng.

    Nhưng bước sâu vào phía sau là cả một thế giới ngầm khác: hàng quán bí mật chất đầy đồ đồng xanh rỉ thời Đông Sơn, ngọc jade khắc tinh xảo, hoành phi câu đối triều Nguyễn, sách cổ mốc meo, đồ trang sức vàng son.

    Thật giả lẫn lộn không kể xiết, giá cả từ vài đồng đến cả gia tài, chỉ một phút chủ quan là mất trắng.

    Tôi khẽ thở ra, cố giữ vẻ bình thường: "Mấy nơi đó lắm kẻ lừa đảo.

    Cô tính đi một mình sao?"

    Tử Linh quay sang tôi, ánh mắt cảnh giác dò xét một thoáng.

    Tôi vội tìm cớ, giọng hào hứng hơn dự định: "Ngại phiền à?

    Không đâu.

    Nếu cô muốn, tôi đi cùng cho tiện.

    Tôi quen khu đó, biết mấy chỗ đáng tin, nhìn đồ cũng khá."

    Trong lòng tôi háo hức không thôi, đây là cơ hội để hiểu thêm về cô ấy đây mà.

    Ông nội đặt muỗng xuống, nhìn hai đứa chúng tôi giây lát rồi quyết luôn: "Để thằng này đi cùng cũng được.

    Nó hay mò mẫm ở mấy chợ đồ cũ, có mắt nhìn, ít bị lừa hơn."

    Tử Linh im lặng một chút, rồi gật đầu nhẹ.

    Trước khi ra cửa, cô quay lại hỏi ông, giọng khẽ nhưng chắc chắn: "Nếu tôi không tìm được, có nên dừng lại không?"

    Ông nhìn cô, đôi mắt thoáng dịu dàng, rồi trả lời chậm rãi, câu nói khiến tôi linh cảm ông đang giấu điều gì đó khỏi tôi: "Cái gì cần tìm sẽ sớm hiện ra.

    Cứ cẩn trọng."

    Chúng tôi bước vào chợ đồ cổ Hạ Khê, nơi mà từ thời Pháp thuộc đã là "thiên đường đồ cổ" nổi tiếng khắp vùng.

    Ngày ấy, người Pháp đổ xô về đây săn lùng từ đồ châu Âu cũ kỹ lẫn Á Đông quý hiếm, giống như ở Chợ Lớn Sài Gòn hay phố Lê Công Kiều, nơi thương nhân người Việt-Hoa mang về đủ thứ gốm sứ men lam Trung Quốc, đồng hồ Pháp cổ xỉn màu, tượng gỗ lim Việt khắc tinh xảo hay ngọc phỉ thúy chạm rồng phượng từ các chuyến tàu xa xôi.

    Đến nay, chợ vẫn giữ nguyên cái hồn ấy, chỉ thêm phần du khách nhộn nhịp và những câu chuyện đồn đại về món hàng "bị ám" từ thời thuộc địa.

    Đám người mời chào dày đặc như ruồi vo ve quanh đống mật.

    Chợ đồ cổ nơi đây vốn là một thế giới riêng với bề ngoài nhộn nhịp hàng quán hợp pháp, nhưng bên trong là những ngõ hẻm tối tăm đầy giao dịch ngầm, đồ thật đồ giả lẫn lộn.

    Họ vừa nhìn thấy hai thanh niên trẻ như chúng tôi, kiểu "cậu ấm cô chiêu chẳng có mắt nhìn đồ", là lập tức tụ họp lại, giọng lè nhè ngọt như mật pha đường phèn:

    "Cô ơi, vào xem chút đi, đồ này chắc hợp với cô lắm, hàng xịn từ thời nhà Trần đấy!"

    "Đồ tốt đây anh, em bớt cho cô em nhé, giá hữu nghị thôi!"

    Nhìn đám dân buôn này, tôi chợt nhớ lời ông nội từng kể về hồi ông còn trẻ, mới chập chững bước chân vào giới chơi đồ cổ.

    Ngày ấy ông vẫn còn là tay mơ, ham của rẻ nên bị một gã người Hoa láu cá ở Triều Thiên Cung lừa cho một trận nhớ đời.

    Ông mua trọn bộ đồ cổ giả tinh vi, về nhà mới tá hỏa nhận ra.

    Có quay lại mấy lần cũng không tìm ra cái gã chết dẫm ấy.

    Mỗi lần có gã nào dúi một món vào tay Tử Linh, tôi lại đứng ra chắn, lắng nghe chi tiết rồi sắc bén bác bỏ, tuy không to tiếng nhưng đủ để họ giật mình.

    "Đồng mạ điện hiện đại thôi, vết khắc giả lộ liễu quá, máy CNC cắt nét thế này thì làm sao cổ được."

    "Vỏ sơn giả màu ruồi đấy, chứ không phải sơn ta cổ.

    Không tin thì ngửi kỹ đi, mùi hóa chất còn nồng nặc kìa, chứ sơn cổ phải thoang thoảng mùi nhựa thông mới đúng."

    "Cái bình này men rạn giả, vết nứt đều tăm tắp như in luôn."

    Cách tôi nói làm vài gã giật mình lùi lại, vài tên đỏ mặt lắp bắp chữa cháy, số khác vội chuyển hướng nịnh nọt thêm, cố duy trì bộ mặt "đáng tin cậy" của dân buôn chợ đen.

    Nghĩ lại vẫn thấy buồn cười, gã người Hoa lừa ông nội năm xưa sau này còn liều sang Việt Nam tiếp tục hành nghề, rồi bị cảnh sát chìm người Việt bắt quả tang, giao về nước cho hắn bóc lịch vì tội buôn bán hàng giả.

    Ông nội đọc báo hôm ấy hả hê lắm, vừa vỗ đùa vừa bảo "nghiệp quật đấy, thằng khốn!".

    Đám mời chào vẫn dày đặc, nhưng tôi và Tử Linh tiếp tục lách qua, mắt cô lướt nhanh qua từng quầy hàng như đang tìm kiếm điều gì đó đặc biệt.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 3 Bật lửa cổ


    Một gã trung niên ăn mặc giản dị bước tới, nụ cười lộ rõ chiếc răng vàng lóe sáng mỗi lần há miệng ra.

    Gã nhặt sợi dây đứt rơi từ cổ Tử Linh từ lúc nào không hay, móc vào lòng bàn tay rồi đưa lên ngửi ngửi.

    Mùi gỗ ngọc am đặc trưng thoang thoảng lan ra, xộc vào mũi tôi.

    Gã cười nửa miệng, chiếc răng vàng lại lấp lánh.

    "Đồ tốt đấy," gã nói, giọng nhừa nhựa vừa nịnh nọt vừa dò xét.

    Ánh mắt gã liếc nhanh qua cổ tay cô, dừng lại ở vết sờn trên móng tay, rồi lướt xuống những vết sẹo mờ dần trên bàn tay - dấu tích quen thuộc của người từng phá giải hàng tá cơ quan tinh vi, kiểu chỉ thấy trong tiểu thuyết.

    Những vết tróc da trên mặt cô gợi lên hình ảnh ai đó thường bò chui qua khe hẹp, lẩn mình trong bóng tối.

    Gã nhếch môi: "Người quen mấy chuyện mộ cổ thường có dấu này.

    Cô chắc không phải tay mơ."

    Tôi nổi khùng: "Trộm mộ là thất đức.

    Đừng có bôi nhọ cô ấy nghe chưa?"

    Giọng tôi gắt gỏng, mặt nóng bừng vì tức giận.

    Gã răng vàng hạ giọng xoa dịu, giơ tay làm hòa: "Ừ ừ, tao chỉ đoán thôi mà.

    Dân trong nghề hay có kiểu đó.

    Mà thôi, vào tiệm tao đi, thương tình lần đầu gặp, tao bớt giá cho.

    Để tao coi kỹ, biết đâu còn đổi được cho cô bé này mấy món tương tự đẹp hơn."

    Nghe có vẻ tử tế, nhưng cái thớ buôn bán láu cá quen tay của gã vẫn lộ rõ mồn một.

    Tử Linh không trả lời ngay.

    Cô rút nhẹ mảnh gỗ ngọc am từ tay gã, cất kỹ vào túi áo.

    "Nó giống một chiếc bật lửa kim loại," cô nói, giọng điềm tĩnh.

    "Khắc vài chữ lạ.

    Và nó thơm."

    Cách nói đơn giản mà đặc biệt của cô khiến gã cau mày, nét mặt chuyển từ nịnh nọt sang tò mò thật sự.

    Gã dẫn chúng tôi vào một góc chợ tối tăm, nơi tiệm nhỏ chất đầy hộp đồ lẫn lộn, bụi bám dày đặc.

    Gã bày ra bàn đầy những chiếc bật lửa kim loại cổ, mỗi chiếc khắc hoa văn khác nhau, ánh kim loại xỉn màu lấp lánh dưới ánh đèn mờ.

    Tử Linh chạm vào từng cái một, chậm rãi.

    Mỗi lần như thế, cô nhắm mắt giây lát, rồi gật đầu hoặc lắc đầu nhẹ.

    Cô phân loại bằng cách lạ lùng: chạm nhẹ vào thân kim loại, đưa lên ngửi, rồi lắc khẽ lắng nghe tiếng vang bên trong.

    Cái nào kêu độn hoặc không đúng ý, cô lặng lẽ gạt sang một bên.

    Tôi đứng nhìn, mắt mở to không chớp.

    Mỗi lần cô dừng lại nhắm mắt, tôi cảm giác đó không chỉ là nghề như gã nói, mà như một đứa trẻ đang tìm lại món đồ chơi cũ trong hộp ký ức bị lãng quên từ lâu.

    Gã chủ tiệm răng vàng ghé sát thì thầm với tôi: "Mấy món này từ mấy chỗ nhạy cảm cả, người thu thập hay gặp chuyện lạ lắm.

    Muốn giảm giá thì không thành vấn đề, nhưng mấy cô cậu cân nhắc kỹ đi."

    Tôi chỉ đáp bằng nụ cười mỉm, cố kìm sự tò mò đang trào dâng, không muốn quấy nhiễu sự tập trung của cô.

    Tử Linh xếp những món tương tự lại thành đống nhỏ, không nói lời nào, chỉ săm soi chúng như người đang dò tìm một tấm bản đồ cổ xưa.

    Cách cô phân loại, những dấu khắc triện văn tinh xảo, mùi gỗ ngọc am thoang thoảng, cùng ánh mắt lăm le của gã răng vàng.

    Tất cả đã phần nào rọi sáng lên thân phận mờ mịt của cô.

    "Ở đây không có," Tử Linh khẳng định.

    Gã răng vàng liếc cô một cái nhanh như tính toán, rồi ra dấu cho chúng tôi đi theo.

    Gã khẽ vén tấm rèm vải cũ kỹ mốc meo, dẫn vào gian kho chật hẹp tối om.

    Không gian bên trong đậm mùi cũ kỹ, mùi keo dán, mùi gỗ mục và lớp bụi mịn phủ dày như sương mù.

    Gã lôi ra một chiếc hộp vuông, tám mặt dán kín giấy đỏ vẽ đầy ký tự ma quái quỷ dị.

    Nhìn cái hộp ấy làm tôi bất giác lạnh sống lưng.

    Chợ Hạ Khê này đầy lời đồn về "đồ cổ bị ám" từ thời Pháp thuộc, có một câu chuyện khiến tôi đến giờ vẫn ám ảnh thế này.

    Ngày xưa, có một ông thương nhân giàu có mua được một chiếc đỉnh đồng cổ đẹp lung linh.

    Thứ đặc biệt là trong đỉnh có một loại bột hương thơm kỳ lạ, không cần đốt mà vẫn tỏa mùi ngát lạ thường, quyến rũ đến mê hoặc.

    Ông ta mang về đặt ngay trong phòng ngủ, nghĩ rằng đó là bảo vật an thần, giúp vợ chồng ngủ ngon và bổ khí huyết.

    Vợ ông thương nhân khi ấy vừa sinh con.

    Ban đêm, hai vợ chồng cứ nghe tiếng trẻ con khóc thút thít vang lên từ đỉnh đồng.

    Lúc chạy sang phòng vú em xem thì đứa nhỏ vẫn ngủ say sưa.

    Cứ nhiều lần như vậy, nhà cửa bắt đầu lục đục: đồ đạc tự rơi vỡ, gia nhân bỏ việc, con cái ốm đau liên miên.

    Hoảng quá, họ mời thầy phong thủy đến xem.

    Cũng may, lúc ấy nhà có nhận một cặp thầy trò bốc mộ ở nhờ, họ đang làm việc dời mộ tổ cho ông thương nhân.

    Người thầy biết chút phong thủy, thấy chủ nhà gặp chuyện cũng không nề hà gánh thêm việc.

    Vừa bước vào phòng ngủ, thầy đã chú ý ngay đến chiếc đỉnh đồng.

    Thầy mở nắp, ngửi qua một chút rồi lập tức biến sắc.

    Người thương nhân thấy thế liền rối rít hỏi nguyên do.

    "Thứ này là Cốt Tửu Tán!"

    Thầy bốc mộ nói.

    Đó là một loại bột man rợ làm từ thai nhi ngâm rượu thuốc.

    Có những kẻ tin rằng thai nhi là "thần dược", nên chúng lấy chính các thai nhi đã thành hình để làm thuốc bổ.

    Cốt Tửu Tán chia làm hai loại chính, một là loại thai bị sảy ra ngoài, loại ác độc hơn thì mổ sống sản phụ, lấy bào thai còn thoi thóp ngâm vào hũ rượu thuốc đặc chế.

    Sau nhiều ngày, thai nhi kết đặc lại, đập hũ lấy ra nghiền nát thành bột mịn, đổ vào lư hương xông phòng.

    Loại bột ấy càng để lâu càng thơm ngát, được những kẻ mê muội đến tàn ác coi là trân bảo bổ khí huyết, làm tăng tuổi thọ.

    Nhưng đó là tội ác trời không dung đất không tha.

    Pháp luật thời nay đã nghiêm cấm, trải qua nhiều đợt càn quét thị trường để tiêu hủy hết, không hiểu sao tới tận lúc đó vẫn còn sót lại một chiếc đỉnh đồng chứa Cốt Tửu Tán này.

    Hai vợ chồng thương nhân nghe xong suýt ngất.

    Ông ta chạy đi chất vấn chỗ bán, nhưng gã chủ kia cũng chẳng biết gì.

    Nó lẫn trong lô hàng nhập từ nước ngoài, gã cũng tưởng nó hương an thần bình thường.

    Sau này chiếc đỉnh đồng đó được xử lý thế nào thì chẳng ai biết cả.

    Tôi cho rằng, một thứ như vậy chắc chắn đã không còn tồn tại trên đời.

    Tôi rùng mình nhớ lại câu chuyện ấy, nhìn chiếc hộp trước mặt mà tim đập thình thịch.

    Liệu thứ bên trong có phải cũng là một món đồ như thế?

    Khi Tử Linh chạm tay vào nắp, chiếc hộp đột ngột rung lắc điên cuồng, tiếng động khô khốc vang lên như có thứ gì sống dậy bên trong khiến tôi giật bắn mình.

    Cô lập tức phản ứng, thì thầm một câu lạ lùng như đọc chú cổ xưa, giọng nhỏ đến mức chỉ lọt vào tai những người đứng gần.

    Gã răng vàng bỗng biến sắc, mặt tái mét, lùi lại một bước như gặp ma.

    Không chần chừ, cô cắn mạnh đầu ngón tay.

    Máu đỏ tươi bật ra, cô kéo ngón ấy qua nắp hộp, vẽ một vệt ngang dài như dấu ấn máu.

    Chiếc hộp lập tức im bặt, ngừng rung như bị chính máu cô trấn áp hoàn toàn.

    Tử Linh xé từng lá bùa một, bóc mép giấy đỏ phong kín lâu ngày với động tác thận trọng nhưng dứt khoát.

    Khi tấm bùa cuối cùng rơi xuống thành những mẩu vụn tơi tả dưới đất, cô khẽ khàng dùng hai ngón tay nhấc nắp lên.

    Nắp hộp bật mở với âm thanh nhỏ xíu, nghe như tiếng thở dài bị kìm nén quá lâu đột ngột thoát ra.

    Một làn khí lạnh mỏng tỏa ra như từ đáy mộ sâu thẳm, thấm vào da thịt khiến tôi bất giác rùng mình.

    Mùi lá trà ướp cổ lẫn mùi đồng cũ xộc lên nồng nặc, át đi bụi bặm kho hàng, mang theo cảm giác chết chóc khó tả.

    Gã răng vàng lùi lại một bước, tay siết chặt trong vô thức, khớp ngón run lẩy bẩy lộ rõ sự kinh hãi.

    Gã cúi gằm mặt, như sợ thứ trong hộp đang nhìn lại mình.

    Bên trong quả nhiên là một chiếc bật lửa nhỏ xíu, chỉ lớn bằng hai ngón tay, viền bạc đã xỉn màu theo năm tháng.

    Tử Linh cầm nó lên, lắc nhẹ như những lần kiểm tra trước.

    Cô vặn cần, bật vài lần, bánh xe kêu khô khốc, tia lửa lóe lên chớp nhoáng nhưng không bén thành lửa.

    Tôi nghĩ nhiên liệu đã cạn từ lâu, cái thứ người xưa thường đổ vào bật lửa kiểu này: dầu hỏa pha loãng, xăng thơm hay naphtha.

    Mùi nồng ấy thoảng qua trong đầu tôi như ký ức về căn bếp già cỗi ngày xưa, nơi ông nội từng ngồi hút thuốc lào bên lò than đỏ.

    "Đây chính là thứ tôi cần," cô nói bằng giọng chắc chắn.

    "Ra giá thế nào?"

    Tôi quay sang gã răng vàng định hỏi giá, nhưng chỉ thấy gã đã núp dưới gầm bàn từ bao giờ, chỉ ló ra chiếc răng vàng và cái mũ sờn, đôi mắt trợn tròn đầy hoảng loạn.

    Thấy chúng tôi nhìn, gã vội chắp tay van xin:

    "Hai vị cao thủ, lão già này có mắt như mù!

    Hai người mang cái thứ ấy đi, mang đi đi!

    Tiền bạc gì cũng không cần, quên hết đi...

    Xin hai vị tha cho!"

    Giọng gã run rẩy nửa van nài nửa khiếp hãi, ánh mắt vẫn dán chặt vào chiếc bật lửa như thể nó là con quái vật sống dậy, sẵn sàng lao vào xé xác gã nếu rời khỏi tay cô.

    Tử Linh không đáp lời.

    Cô nhét chiếc bật lửa vào túi áo, cử chỉ nhẹ nhàng như cất một viên ngọc quý vào hộp báu.

    Rồi cô quay người, từ tốn bước ra khỏi tiệm, để lại gã răng vàng vẫn lảm nhảm van xin, co rúm dưới gầm bàn như gặp ma.

    Vừa ra khỏi cửa hàng, Tử Linh đột ngột đứng sững, cơ thể căng cứng như dây đàn, mắt liếc nhanh khắp xung quanh đầy cảnh giác.

    Tôi tò mò tiến lại gần, vừa mở miệng thì cô đã kéo tôi sát vào người khiến mặt tôi bất giác nóng ran, cô thì thầm gấp gáp: "Có người đang theo dõi chúng ta."

    Tôi quay phắt đầu nhìn quanh biển người nhộn nhịp, nhưng giữa tiếng rao hàng ồn ào và quầy hàng chất chồng, mọi thứ hỗn loạn đến mức không thể phân biệt ai với ai.

    Ai cơ?"

    Tôi hỏi lại, giọng đầy nghi hoặc.

    Cô không trả lời, chỉ ngoảnh phắt về phía sau một thoáng rồi đẩy mạnh tôi vào con hẻm tối gần nhất.

    Còn một mình, cô lao thẳng vào đám đông như con thú đang thoát khỏi bầy chó săn.

    Trong hẻm, không khí ngột ngạt như bị bóp nghẹt, ánh sáng lọt qua khe mái tôn tạo thành những vệt bạc loang lổ trên bức tường phủ đầy rêu phong.

    Tôi đứng lặng, cố hít thở đều lại, tim đập thình thịch khi thoáng thấy mấy bóng người vụt qua đầu hẻm, chỉ kịp nhận ra áo mũ và những bước chân gấp gáp đuổi theo nhau.

    "Chạy ngược lại!"

    Tiếng cô vang lên giữa hỗn loạn.

    Tôi chấn động, nửa muốn lao theo nhưng chẳng biết đường nào mà lần.

    Con hẻm giữa hai tòa nhà hẹp đến mức phải hóp bụng, nhón chân đi ngang như con cua mới lọt.

    Tay tôi bấu chặt vào tường gạch thô ráp, móng tay ghì sâu đến trắng bệch, mồ hôi túa ra dù không khí lạnh buốt.

    Cuối cùng cũng chui ra được, tôi bất ngờ đâm sầm vào ai đó.

    Định mở miệng xin lỗi thì chợt nhận ra khuôn mặt quen thuộc.

    Gã răng vàng nhìn tôi bằng ánh mắt lấm lét, mặt dính đầy vụn bùa đỏ, miệng lắp bắp: "Mang nó đi đi...

    Đi đi..."

    Tôi cúi xuống nhìn tay mình, không biết từ lúc nào, chiếc bật lửa đã nằm gọn trong lòng bàn tay, lớp hoa văn lạnh ngắt ánh lên sắc bạc mờ ảo dưới ánh nắng chiều lọt qua khe ngõ.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 4 Cuộn da bí tự


    Đã vài ngày trôi qua kể từ hôm ở chợ đồ cổ, nhưng tôi vẫn chưa thể trở lại nhịp sống thường ngày.

    Cửa hàng mở đúng giờ nhờ A Cát lo liệu, bảng hiệu vẫn treo, và chẳng có bóng khách nào ghé qua như mọi ngày.

    Tôi ngồi sau quầy, dưới ánh sáng vàng vọt từ bóng đèn cũ hắt xuống mặt bàn gỗ mộc mạc, tay cầm chiếc bật lửa, ngón cái vô thức lướt qua lớp hoa văn bạc đã xỉn màu theo năm tháng.

    Chiếc bật lửa không hề thay đổi, nhưng tôi thì khác.

    Tôi không chắc mình đang chờ đợi điều gì, một tín hiệu, một lời giải thích, hay chỉ đơn giản là một lần nữa được thấy Tử Linh.

    Ly mì tôi pha từ sáng vẫn nằm nguyên đó, ban đầu còn bốc hơi nghi ngút, giờ đã nguội ngắt, sợi mì nở phồng trương lên như những cánh hoa úa tàn trong chậu nước cũ.

    Tôi nhìn nó mà chẳng thấy đói, chỉ thấy thời gian trôi qua chậm chạp rì rì, nặng trịch như bánh răng đồng hồ cũ kỹ bị bụi thời gian bám đầy.

    Trên sổ ghi chép cửa hàng, giữa những dòng chữ nguệch ngoạc về giá nhập và số lượng hàng tồn, tôi bất giác nhận ra mình đã vẽ một khuôn mặt từ bao giờ.

    Đôi mắt hơi xếch, sống mũi thanh tú, mái tóc buộc hờ rối nhẹ.

    Là Tử Linh.

    Tôi không giỏi vẽ, nét bút run run vụng về, nhưng lại nắm bắt đúng thần thái bí ẩn lạnh lùng của cô, cái ánh mắt sâu thẳm khiến tim tôi bất giác đập nhanh hơn khi nhìn lại những đường nét ấy.

    Tôi lật sang trang mới, rồi lại vẽ tiếp, như thể tay tôi nhớ cô nhiều hơn trí óc, nhớ đến mức không thể dừng bút.

    Tôi ngồi đó, thất thần giữa cửa hàng vắng ngắt không một bóng khách, ly mì nguội ngắt chưa động đũa, cuốn sổ giờ chỉ toàn những nét vẽ vụng về về cô.

    Chiếc bật lửa nằm trong tay, tôi cứ bật tắt liên hồi, những tia lửa lấp lánh tung tóe rồi vụt tắt như những mảnh ký ức về cô, luôn vụt mất trước khi kịp nhóm lên một ngọn lửa thực sự.

    A Cát bỗng ló đầu vào, vẻ mặt nghiêm túc hơn thường lệ nói: "Có người muốn gặp ông chủ."

    Tôi giật mình, vội gấp cuốn sổ giấu vào túi áo.

    Nét vẽ Tử Linh vẫn in mờ trên giấy, lưu luyến trong tâm trí tôi đến mức tôi suýt không nỡ buông, nhưng giờ không phải lúc.

    Tôi đứng dậy, bước ra phía trước tiệm.

    Phúc An Trụ - cái tên nghe như một lời cầu nguyện giản dị.

    "Phúc" là may mắn, vận lành mà ai cũng mong cầu trong đời.

    "An" là bình yên, không phải tĩnh lặng tuyệt đối, mà là cảm giác được che chở giữa những biến động cuộc sống.

    Còn "Trụ" là cây cột chống đỡ, điểm tựa vững chãi giữa những thứ đã cũ kỹ mòn mỏi nhưng vẫn chưa sụp đổ.

    Tuy là cửa hàng nhỏ nhất nhà, nhưng đây vốn là sản nghiệp đầu tiên của ông cố tổ nhà họ Quân chúng tôi.

    Nhờ nó mà cơ nghiệp mới lớn mạnh qua các đời con cháu.

    Thế mà đến tay tôi thì lại thảm hại đến thế này.

    Đôi khi chỉ đứng thắp hương trước bàn thờ tổ thôi, tôi cũng có cảm giác như ai đó đang gõ đầu mình, kiểu: "Mày làm ăn kiểu gì đấy hả con?".

    Tiệm đồ cổ này có giấy tờ hợp pháp đàng hoàng, đóng thuế đầy đủ, khác hẳn với những giao dịch ngầm ngoài chợ đen.

    May mà thế, chứ không thì cảnh sát ghé thăm thường xuyên hơn khách mất.

    Đến lúc ấy chắc tiệm tôi đông vui hẳn, nhưng toàn "khách vip" mặc đồng phục thôi.

    Vì vậy, đồ ở đây chủ yếu là món khách mua về làm kỷ niệm hoặc trang trí, hoặc những thứ ít sinh lời như đồ gia truyền linh tinh, kiểu mà tôi hay để phủ bụi trên kệ cả năm, chờ ngày nào đó "có duyên" mới chịu bán.

    Nghề buôn đồ cổ vốn kỳ lạ lắm.

    Người ta hay nói đùa: bán một món mà đủ ăn ba năm, có khi mở cửa một ngày rồi đóng cửa ba năm sau cũng chẳng sao.

    Thời gian ở đây không chạy theo nhịp đồng hồ, mà trôi theo từng món đồ cũ kỹ.

    Phải chờ đúng người, đúng lúc mới chịu "lên tiếng".

    Tôi đã quen với sự chờ đợi ấy đến mức đôi khi tự hỏi mình có đang sống như một món đồ cổ trong chính tiệm nhà mình hay không.

    Phủ bụi, lười biếng và chỉ tỉnh dậy khi có khách hoặc... khi ông nội gọi điện mắng.

    Tôi bước ra quầy, ánh nắng ngoài trời hắt qua tấm kính mờ đục, chiếu lên những chiếc bình men rạn trên kệ, tượng gỗ đứng lặng, và chiếc đồng hồ quả lắc đã ngừng chạy từ bao giờ.

    Người khách đứng đó, quay lưng lại, dáng người thấp bé, khoác áo gió màu xám tro phai nhạt.

    Tôi hít một hơi sâu, tay đặt lên chiếc bật lửa trong túi để chắc chắn hơn nó vẫn còn ở đó, rồi tiến tới chào vị khách ấy một tiếng.

    Người khách ấy quay lại nhìn tôi.

    Anh ta trạc ngoài ba mươi, dáng người gầy nhưng không yếu, cơ thể như dây đàn thép bị kéo căng quá lâu.

    Ánh mắt mệt mỏi thâm quầng như vừa trải qua một cuộc giằng co dài hơi với chính cuộc đời - kiểu người ta hay gọi là "vật lộn với số phận" mà vẫn chưa chịu thua.

    "Anh cứ gọi tôi là Đăng," anh ta nói, giọng khàn khàn nghe khô khốc, rồi đặt lên mặt quầy một túi vải cũ kỹ, chậm rãi mở ra cuộn giấy da ngả màu vàng sậm, mép sờn cháy xém như vừa thoát khỏi một trận lửa.

    Tôi cúi xuống nhìn kỹ hơn.

    Những cuộn giấy da ấy rõ ràng thuộc về một bộ ghi chép cổ xưa nào đó, bề mặt vàng sậm như da động vật đã qua hàng thế kỷ, mỏng manh nhưng dai dẳng lạ thường.

    Mép giấy sờn rách lởm chởm, vài chỗ cháy xém đen kịt như từng bị lửa liếm qua trong một trận hỏa hoạn xa xưa, vài chỗ khác loang lổ vết nước ngấm sâu, khiến thớ da co lại thành những nếp nhăn kỳ quái.

    Trên bề mặt, những hoa văn uốn lượn được vẽ bằng mực đen đã nhòe mờ theo thời gian, nét bút sắc bén nhưng rối ren, không phải họa tiết trang trí thông thường mà giống như một thứ ngôn ngữ cổ xưa bị bóp méo với đường nét xoáy tròn, chấm nối chấm, gợi cảm giác lạnh lẽo như những con mắt đang nhìn lại từ quá khứ xa xăm.

    Nội dung thì tôi đọc không hiểu nổi.

    Đó là một loại cổ ngữ lạ lẫm, ký tự uốn éo như rễ cây ngoằn ngoèo dưới đất sâu, chưa từng thấy qua trong bất kỳ sách vở hay di vật nào tôi từng tiếp xúc.

    "Thật sự không còn cách nào khác," anh Đăng nói, ánh mắt dò xét cảm xúc trên mặt tôi như muốn đo lường xem tôi có dễ bị thuyết phục không.

    "Nhà tôi đang gặp chút khó khăn, nên mới bất đắc dĩ đem mấy món đồ của ông cố truyền cho ông nội mới mất đi bán."

    Tôi không nói gì, chỉ liếc anh ta một cái.

    Cái lý do "bất đắc dĩ" ấy nghe quen tai quá, kiểu lời biện minh mà người ta hay dùng để hợp lý hóa việc cắt đứt với quá khứ, như thể bán đi không chỉ là đồ vật mà còn là một phần ký ức.

    Tôi không trách anh ta, ai mà chẳng có lúc cùng đường, nhưng cũng chẳng tin hoàn toàn.

    Trong giới đồ cổ này, câu chuyện "đồ quý gia truyền" thường là màn mở đầu cho một cuộc mặc cả dài hơi.

    "Đem đi mấy chỗ rồi," anh ta tiếp lời, giọng hơi run run như cố giấu nỗi thất vọng.

    "Không ai nhận cả.

    Chủ tiệm khác còn bảo là rác rưởi, vứt quách đi cho rồi.

    Nhưng ông nội tôi lúc còn sống cứ luôn miệng khăng khăng đây là vật báu gia truyền."

    Tôi lật một cuộn giấy da lên, để ánh sáng vàng vọt từ bóng đèn cũ hắt xuống mặt giấy.

    Những đường nét mờ mịt lập tức hiện ra rõ hơn, như được đánh thức từ giấc ngủ dài.

    Tay tôi vô thức chạm vào một đoạn hoa văn.

    Những nét vẽ ấy mang một sức hút kỳ quái, lạnh lẽo đến thấu xương.

    Chúng như những con mắt đang chậm rãi mở ra từ mặt giấy, nhìn thẳng vào tôi, khiến sống lưng tôi bất giác lạnh buốt dù không khí trong tiệm vẫn ấm áp như thường.

    "Nó quả là vật báu," tôi nói, giọng không lớn nhưng đủ để anh ta nghe rõ.

    Anh Đăng ngẩng lên nhìn tôi, ánh mắt thoáng ngạc nhiên xen lẫn hy vọng, rồi lại cúi xuống chờ tôi nói thêm.

    Tôi không vội trả lời ngay, mà cúi xuống quan sát kỹ hơn.

    Buôn đồ cổ dạy tôi một điều cơ bản này: đừng bao giờ tin vào vẻ ngoài.

    Tôi lấy kính lúp nhỏ từ ngăn kéo quầy - món đồ ông nội bắt buộc phải mang theo từ thuở mới tiếp quản tiệm - rồi soi từng cuộn giấy da dưới ánh đèn vàng ấm.

    Lớp da khô ráp dưới đầu ngón tay, không bóng loáng như giấy giả hiện đại, mà có độ xù nhẹ tự nhiên của da động vật già nua.

    Mép giấy sờn đều, không sắc nét như cắt máy, vài chỗ cháy xém đen sì như từng bị lửa liếm qua.

    Là dấu vết thời gian thật sự, chứ không phải làm giả bằng axit.

    Tôi khẽ ngửi, mùi cũ kỹ thoang thoảng, lẫn chút da thuộc và mực cổ, không có mùi hóa chất mới tinh nào xen vào.

    Soi ngược ánh sáng, tôi thấy mực thấm đều vào thớ da, phai mờ theo năm tháng chứ không nổi bật như in ấn.

    Và rồi, tim tôi khựng lại.

    Những hoa văn uốn lượn ấy... giống hệt như trên chiếc bật lửa trong túi tôi.

    Không phải trùng hợp ngẫu nhiên, mà là cùng một kiểu ký tự lạ lùng, như được vẽ bởi cùng một bàn tay từ thời xa xưa.

    A Cát đứng bên cạnh, mắt tròn xoe nhìn tôi làm việc, chắc cậu ta hiếm khi thấy ông chủ lười biếng nhà mình chịu khó đến thế.

    Tôi đặt kính lúp xuống, mỉm cười với anh Đăng: "Đồ thú vị đấy.

    Ta nói giá nhé?"

    Tôi và anh Đăng thương lượng giá cả rất nhanh, không vòng vo, chẳng cò kè.

    Tôi đưa ra con số vừa đủ để anh ta không nghi ngờ, nhưng cũng đủ cao khiến A Cát đứng bên trợn tròn mắt, như thể vừa chứng kiến ông chủ bán linh hồn cho quỷ dữ.

    Anh Đăng thì khỏi phải nói, cười tít mắt đến miệng không khép nổi, còn vỗ vai tôi đánh bốp một cái như thể tôi vừa cứu vớt cả cuộc đời anh.

    Chỉ hơn nửa giờ sau, bộ giấy da đã thuộc về tôi.

    Anh cầm tiền, ngẩng cao đầu bước ra khỏi tiệm, dáng đi nhẹ nhàng như gió thoảng, không buồn ngoái lại.

    Tôi còn nghe tiếng huýt sáo khoan khoái của anh vọng từ đầu ngõ, vui vẻ đến mức khiến tôi cũng bất giác mỉm cười theo.

    A Cát lúc này mới chạy lại, mặt vẫn chưa hết ngơ ngác: "Ông chủ, cái này thật sự có giá trị vậy sao?"

    Tôi không trả lời ngay.

    Tay tôi chậm rãi vuốt phẳng cuộn giấy da, ánh mắt dán chặt vào những ký tự mờ nhòe dưới ánh đèn vàng.

    Những nét vẽ ấy không giống bất kỳ loại chữ nào tôi từng gặp, không phải Nôm, không phải Hán hay Phạn, cũng chẳng phải ký hiệu quen thuộc của các bộ tộc cổ.

    Chúng uốn lượn đan xen kỳ quái, như những sợi tơ nhện giăng mắc trong gió, mang một nhịp điệu lạ lùng.

    Tựa hồ một bài hát cổ xưa bị cất giấu kỹ lưỡng trong hình hài ngôn ngữ đã chết từ lâu.

    "Ừ," tôi đáp, giọng khó giấu nổi niềm vui, "anh ta đúng là không hiểu được giá trị của nó."

    A Cát ngồi xuống bên cạnh, ánh mắt vẫn đầy nghi hoặc.

    Tôi không trách cậu ta, người thường nhìn vào chỉ thấy đó là cuộn giấy cũ kỹ sờn mép mốc meo, chẳng khác gì rác rưởi.

    Nhưng tôi thì khác.

    Tôi đã thấy hoa văn trên chiếc bật lửa lạnh lẽo ấy, đã ở bên Tử Linh, cô gái bí ẩn hơn bất cứ ai tôi từng gặp trên đời, đã chạm vào những đường nét giống hệt nhau giữa hai vật tưởng chừng chẳng liên quan gì.

    Và giờ đây, tôi đang cầm trong tay một mảnh ghép quan trọng, như thể số phận vừa thì thầm vào tai rằng mọi thứ đang bắt đầu kết nối.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 5 Hành trình Tà Lĩnh


    Tôi tìm đến một căn nhà nhỏ nằm cuối con hẻm rợp bóng cây cổ thụ, nơi thầy Hồ sống lặng lẽ sau khi nghỉ hưu.

    Căn nhà không lớn, chỉ đủ chỗ cho những kệ gỗ cao ngất đầy sách vở cũ kỹ, bản đồ địa hình cuộn tròn phủ bụi thời gian, vài món đồ cổ nằm im lìm trên giá như đang chờ ai đó chạm vào để kể lại câu chuyện xưa cũ của mình.

    Mùi giấy mục lẫn gỗ lim thoang thoảng quyện với hương trà tàu quen thuộc, khiến không khí nơi đây vừa ấm áp vừa mang chút u hoài của những năm tháng đã qua.

    Thầy Hồ năm nay đã ngoài bảy mươi, mái tóc bạc gần hết, khuôn mặt hằn sâu những nếp nhăn như vết khắc của thời gian và vô số chuyến đi xa vào rừng sâu núi thẳm.

    Ông từng là giáo sư khảo cổ học danh tiếng, người đã dìu dắt cả cha lẫn mẹ tôi thời họ còn là sinh viên đại học.

    Cả hai học chung trường, cùng ngành, và cùng một thầy - một sự trùng hợp mà tôi luôn cảm thấy như định mệnh đã sắp đặt từ lâu, như thể số phận muốn tôi hôm nay ngồi đây, ngay trước mặt ông, để lắng nghe những bí mật mà họ chưa từng kể ra.

    Khi tôi nhắc đến cha mẹ mình, ánh mắt thầy Hồ thoáng chùng xuống, như một vết nứt cũ vừa hé mở trong lớp thời gian dày đặc.

    Ông khẽ cười, giọng ấm áp nhưng mang chút u hoài: "Cứ gọi ông là ông Hồ cho thân mật đi cháu, giờ ông chỉ là một ông già về hưu, ở nhà đọc sách vở linh tinh với nghiên cứu mấy món đồ cũ kỹ thôi."

    Nhưng tôi vẫn giữ thói quen tôn trọng mà gọi ông là "thầy", như những lần tôi tưởng tượng và hình dung cha mẹ thời sinh viên, ríu rít quây quanh ông trong giảng đường, ánh mắt sáng ngời vì những câu chuyện khảo cổ đầy mê hoặc.

    Cái cách gọi ấy với tôi không chỉ là kính trọng, mà còn như một sợi dây mỏng manh kết nối tôi với những năm tháng họ từng sống, những con người vẫn cứ mãi trẻ trung như ngày nào.

    Chúng tôi kể lại chuyện cũ về đội khảo cổ năm xưa mà cha mẹ tôi tổ chức dẫn đầu.

    Hai mươi năm trước, nhóm của cha mẹ tôi, một đội khảo cổ trẻ đầy nhiệt huyết, đã phát hiện ra vài di tích cổ ở vùng ven núi phía Bắc.

    Những dấu tích ấy chưa từng thấy trong bất kỳ sách vở hay tài liệu nào, như thể thuộc về một nền văn minh đã bị lãng quên từ hàng nghìn năm.

    Nếu công bố đầy đủ, chúng có thể làm chấn động cả giới khảo cổ, có lẽ làm thay đổi hoàn toàn hiểu biết về lịch sử cổ đại Việt Nam, thậm chí liên kết với những truyền thuyết mà dân địa phương nơi đó vẫn thì thầm kể lại.

    Nhưng cả nhóm không dừng lại ở đó.

    Cha mẹ tôi cùng vài đồng đội thân cận quyết định đi sâu hơn vào vùng núi tuyết hoang vu - nơi mà dân bản xứ gọi là Tà Lĩnh.

    Họ mang niềm tin rằng phía sau lớp tuyết dày là một di tích lớn lao hơn, có thể là thành trì hoặc cung điện bị chôn vùi của một triều đại thất lạc.

    Từ đó về sau, không một ai quay trở lại.

    Không tin báo, không có dấu vết nào được phát hiện.

    Các đội cứu hộ sau đó chỉ tìm thấy vài dấu chân bị tuyết lấp kín, rồi biến mất như bị chính ngọn núi nuốt chửng.

    Cảnh sát, quân đội, thậm chí các nhóm quốc tế cũng bó tay.

    Chỉ còn lại những câu hỏi không lời giải đáp tới tận giờ đây.

    Đã hai mươi năm trôi qua.

    Tôi lớn lên trong sự im lặng của ông nội, trong những giấc mơ tuyết ám ảnh từ thuở nhỏ.

    Những giấc mơ ấy như lời thì thầm từ cha mẹ, hoặc từ chính ngọn núi kia, vẫn chờ đợi ai đó tìm đến một lần nữa.

    Thầy Hồ nhìn tôi như thể ông đang xuyên qua tôi để tìm thấy bóng dáng ai đó từ quá khứ xa xôi.

    "Cháu có khuôn mặt giống cha cháu, cái nét ranh mãnh bất cần ấy."

    Tôi bật cười khẽ trong lòng, nếu thầy đã nói vậy thì câu tiếp theo chắc chắn sẽ là: "Nhưng đôi mắt thì lại giống mẹ cháu, đó là một đôi mắt biết cười."

    Quả nhiên, ông khẽ mỉm cười, giọng ấm áp xen chút u hoài thốt lên câu ấy.

    Tôi im lặng, cảm giác như có gì đó nghẹn lại nơi cổ họng.

    Lời thầy không chỉ là khen ngợi, mà như một cánh cửa hé mở về những năm tháng tôi chưa từng được chứng kiến.

    Cha mẹ trẻ trung, nhiệt huyết, quây quần bên thầy trong những chuyến khảo cổ đầy mơ mộng.

    Và giờ đây, chính tôi đang ngồi đây, mang theo khuôn mặt ấy, đôi mắt ấy, để nghe tiếp câu chuyện mà họ chưa kịp kể xong.

    Ông chỉnh lại gọng kính trên sống mũi, động tác chậm rãi như cố kéo dài thời gian trước khi đối diện với điều sắp tới.

    Rồi ông cẩn thận mở cuộn giấy da tôi mang đến, ngón tay run nhẹ, tỉ mỉ chạm vào như một người thợ lành nghề đang nâng niu di vật từ quá khứ sâu thẳm.

    Ánh mắt ông dừng lại trên những ký tự lạ lùng, những hoa văn uốn lượn bí hiểm như rễ cây ngoằn ngoèo dưới đất sâu, hoặc như những con mắt đang chậm rãi hé mở từ mặt giấy vàng sậm cháy xém.

    Tôi nhận ra ánh mắt thầy Hồ dừng lại lâu hơn trên một đoạn ký tự ở mép giấy, ngón tay ông khẽ run khi chạm vào đó, như thể vừa chạm phải một vết thương cũ chưa lành.

    Ông không nói gì ngay, chỉ lặng lẽ tháo kính xuống, lau nhẹ bằng góc áo đã sờn theo năm tháng rồi đeo lại.

    Cử chỉ ấy như cần một lớp nhìn khác rõ ràng hơn để đối diện với điều đang hiện ra trước mắt, điều mà có lẽ ông đã chờ đợi, hoặc sợ hãi từ rất lâu.

    "Những ký tự này..." thầy Hồ nói, giọng trầm xuống như từ đáy vực sâu, "từng xuất hiện trên một bản khắc đá mà nhóm khảo cổ của cha mẹ cháu tìm thấy.

    Năm ấy, họ gửi về cho tôi một bản chụp mờ, tôi còn nhớ rõ mồn một.

    Ban đầu, chúng tôi tưởng đó chỉ là ký hiệu của một bộ tộc cổ chưa được ghi nhận.

    Nhưng càng nghiên cứu, càng thấy chúng không giống bất kỳ hệ chữ nào loài người từng biết đến."

    Tôi ngồi im thin thít, không dám chen ngang, chỉ cảm thấy từng lời thầy nói như rút dần hơi ấm khỏi căn phòng, để lại không khí lạnh lẽo len lỏi vào da thịt.

    Thầy Hồ tiếp tục, ánh mắt xa xăm như đang nhìn xuyên qua hai mươi năm thời gian:

    "Sau khi nhóm của họ mất tích, vài người trong giới vẫn cố gắng giải mã.

    Trong đó có một đồng nghiệp của tôi ở Viện Khảo Cổ phía Bắc, và một người bạn ở Đại học Văn hóa.

    Cả hai đều biến mất trong vòng chưa đầy một năm.

    Trước khi mất tích, họ từng thì thầm với tôi rằng: 'Có thứ gì đó không muốn chúng ta hiểu.

    Không phải vì quá phức tạp... mà vì nó không thuộc về thế giới này.'"

    Tôi cảm thấy sống lưng lạnh buốt như có gió tuyết từ Tà Lĩnh thổi vào phòng.

    Những ký tự trên giấy da bỗng như đang sống dậy, thở nhẹ, những con mắt mờ ảo chậm rãi mở ra từ mặt giấy vàng sậm, nhìn thẳng vào tôi với ánh nhìn xa xăm từ một kiếp khác.

    Thầy Hồ đứng dậy, bước chậm rãi đến giá sách gỗ lim cũ kỹ, tay lần mò giữa những cuốn sách phủ bụi thời gian.

    Ông lục lọi một hồi rồi lấy ra một cuốn sổ bìa da sờn rách, trang giấy vàng ố như đã ngấm bao năm tháng ẩm mốc.

    Ông mở đến trang giữa, đưa cho tôi xem mà không nói lời nào.

    Trên đó là những nét vẽ nguệch ngoạc, run rẩy, lặp đi lặp lại một kiểu hoa văn uốn lượn kỳ quái.

    Chúng xoáy tròn như mắt bão, chấm nối chấm như mạch máu khô, giống hệt những ký tự trên tấm giấy da cổ mà tôi vừa mang đến.

    Những nét bút dồn dập, chồng chéo lên nhau, như thể người vẽ đã bị ám ảnh đến mức không thể dừng tay, như đang cố khắc ghi một bí mật kinh hoàng trước khi nó nuốt chửng lấy lý trí.

    "Người vẽ những thứ này là một người may mắn sống sót duy nhất sau khi đến vùng núi tuyết ấy," thầy Hồ nói, giọng trầm xuống như từ đáy vực.

    "Nhưng ông ta không còn tỉnh táo nữa, cứ lang thang khắp nơi, chỉ biết vẽ.

    Vẽ suốt hai mươi năm, ngày nào cũng vậy."

    Tôi nhìn cuốn sổ, rồi ngẩng lên nhìn thầy Hồ, tim đập thình thịch.

    Ông gật đầu chậm rãi, ánh mắt nghiêm nghị hơn bao giờ hết: "Nếu cháu thật sự muốn biết sự thật, thì chỉ còn cách gặp ông ta.

    Tôi sẽ đưa cháu đi."

    Chỉ trong vài ngày sau đó, tôi thu xếp cho A Cát trông tiệm rồi đặt hai vé máy bay đi gấp, vừa xuống sân bay liền chuyển sang tàu hỏa, rồi lại xe khách đường dài.

    Hành trình dài dằng dặc, hầu hết thời gian chúng tôi chỉ ngủ vùi trên xe giường nằm, đầu óc lơ mơ giữa những điểm dừng lạ lẫm không kịp nhớ tên.

    Tôi lo cho sức khỏe thầy Hồ, ông cụ có thân hình gầy guộc đến mức tôi sợ gió núi thổi mạnh một cái là ông bay mất, nên nhiều lần đề nghị dừng lại nghỉ ngơi.

    Nhưng thầy luôn lắc đầu, ánh mắt đầy lo lắng xen lẫn quyết tâm:

    "Lâu như vậy... có khi ông ấy không còn nữa."

    Giọng thầy khàn đi, không phải vì tuổi tác mà vì nỗi gấp gáp khó tả, như thể thời gian đang trôi qua kẽ tay, kéo theo những bí mật sắp sửa chôn vùi mãi mãi dưới lớp tuyết dày của Tà Lĩnh.

    Tôi không còn cách nào khác, đành theo ông thiếp đi trong những chuyến xe lắc lư qua đèo núi, bánh xe nghiến ken két trên đường đá gồ ghề, rung lắc đến mức xương cốt như muốn rời ra.

    Và chính trong những giấc ngủ chập chờn ấy, giữa tiếng động cơ gầm gừ và gió rít ngoài cửa sổ, tôi bắt đầu mơ thấy những cảnh tượng kỳ lạ như có ký ức của ai đó xa xôi đang len lỏi, truyền sang tôi từng mảnh vụn lạnh lẽo.

    Cảm giác lạnh buốt thấm vào tận xương tủy, như tuyết ngàn năm đang tan chảy dưới da thịt.

    Tiếng gió hú vang vọng từ nơi xa xăm, gọi tên tôi bằng giọng thì thầm méo mó, nửa quen thuộc nửa xa lạ, khiến tôi giật mình trong mơ mà không tỉnh nổi.

    Có lần, tôi thấy cha mẹ mình đứng giữa biển tuyết trắng xóa, dáng người mờ ảo trong bão tố, không nói một lời nào, chỉ nhìn tôi bằng ánh mắt sầu thảm man mác, như thể họ đang cố níu kéo tôi khỏi bước chân đang tiến gần hơn đến vực thẳm.

    Có lần khác, tôi thấy chính mình ngồi giữa căn phòng tối om, lạnh lẽo, tay cầm bút vẽ những ký tự uốn lượn trên một tấm giấy da cũ kỹ.

    Nét bút run rẩy nhưng dồn dập, lặp đi lặp lại không ngừng, như bị một bàn tay vô hình thôi miên, ép buộc phải khắc ghi mãi mãi những hoa văn ấy.

    Tôi giật mình ngồi dậy, mắt còn mờ vì ngủ, đầu óc lùng bùng giữa thực tại và những hình ảnh trong mơ.

    Trong khoang xe giường nằm rung lắc, ánh đèn mờ vàng hắt lên hàng ghế trước, tôi thoáng thấy một bóng người khoanh tay ngồi ngủ, chiếc áo khoác trùm mũ kín đầu, dáng hình gầy gò quen thuộc đến lạ.

    Trong cơn mơ màng mới tỉnh, không suy nghĩ nhiều, tôi sỗ sàng bước tới, đưa tay nắm nhẹ vai người ấy, thì thầm gọi tên cô.

    Người đó giật mình tỉnh giấc, mũ áo khoác tuột xuống lộ ra khuôn mặt lạ hoắc.

    Đó là một anh chàng trẻ tuổi, tóc ngắn rối bù, ánh mắt ngái ngủ nhìn tôi đầy ngạc nhiên.

    Cậu thanh niên đeo kính ngồi ở ghế trong rời mắt khỏi tấm bản đồ trên tay, ngẩng đầu nghi hoặc nhìn tôi.

    Tôi cứng đờ người, mặt nóng bừng vì xấu hổ, vội buông tay lùi lại: "Xin lỗi, tôi nhầm người rồi."

    Anh chàng xua tay tỏ vẻ không sao, còn vỗ nhẹ lên đùi cậu thanh niên ngồi bên cạnh như ý bảo "không có gì đâu".

    Cậu thanh niên đeo kính có vẻ cũng không quan tâm nữa, chỉ khẽ nhún vai rồi gọi anh chàng mặc áo trùm mũ: "Mấy chỗ này anh thấy sao?"

    Giọng cậu ta nhỏ nhẹ, mắt lại dán vào tấm bản đồ trải trên đùi, ngón tay chỉ chỉ vào những dấu đỏ mới đánh dấu, như thể cuộc trò chuyện ngắn ngủi vừa rồi chỉ là gió thoảng qua.

    Anh chàng áo trùm mũ cười xòa, kéo mũ lên một chút rồi ghé đầu vào xem, hai người nhanh chóng chìm vào cuộc bàn luận riêng của họ.

    Tôi lặng lẽ trở về chỗ ngồi, mặt vẫn đỏ bừng vì xấu hổ.

    Thầy Hồ bên cạnh không hay biết gì vẫn ngủ say sưa.

    Tôi rút chiếc bật lửa ra khỏi túi, cầm chặt trong tay, thất thần nhìn nó thật lâu dưới ánh đèn xe mờ ảo.

    Lớp hoa văn bạc xỉn màu lấp lánh yếu ớt, như đang thì thầm những bí mật mà chỉ mình tôi nghe thấy.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 6 Thần Lĩnh


    Cuối cùng, chúng tôi cũng đến được vùng ven núi tuyết, nơi từng là điểm tập kết của nhóm khảo cổ năm xưa.

    Trạm nghiên cứu nép mình dưới chân núi, dựng bằng gỗ thông và đá xám, mái tôn hoen gỉ thủng lỗ chỗ như bị gió tuyết gặm nhấm qua bao mùa đông khắc nghiệt.

    Thầy Hồ đẩy cánh cửa gỗ nặng nề, tiếng cót két vang lên khô khốc trong không khí lạnh buốt, rồi mùi ẩm mốc lẫn bụi bặm lập tức tràn ra, dày đặc đến mức như thể nơi này đã nín thở suốt hai mươi năm, chỉ chờ một lần mở cửa để thở ra hơi thở cuối cùng của quá khứ.

    Bên trong là một căn phòng rộng, chia làm ba khu rõ rệt.

    Góc làm việc với bàn ghế gỗ cũ kỹ, góc nghỉ ngơi đơn sơ chỉ vài chiếc giường xếp và bếp lò nhỏ, cùng một gian hẹp dùng để lưu trữ mẫu vật.

    Những chiếc bàn gỗ dài vẫn còn nguyên vẹn như ngày nào, phủ đầy giấy tờ vàng úa, bản đồ địa hình cuộn tròn hoặc trải phẳng với những đường nét mờ nhạt, và hàng loạt ghi chú viết tay bằng mực đã nhòe loang theo năm tháng, như những lời thì thầm bị thời gian làm phai.

    Trên tường treo vài bức ảnh đen trắng đã mờ nhòe vì ẩm mốc và bụi bặm, hình một nhóm người đứng giữa biển tuyết trắng xóa, nụ cười rạng rỡ như thể họ vừa chinh phục được cả thế giới.

    Trong đó có cha mẹ tôi, tôi nhận ra mẹ ngay qua dáng đứng hơi nghiêng quen thuộc và chiếc khăn len quấn cổ dày cộm, còn cha thì đứng sau, tay giơ cao một mẫu đá lấp lánh như khoe chiến tích lớn lao nhất đời mình.

    Tôi đứng chết lặng trước những bức ảnh đen trắng ấy, lần đầu tiên trong đời được nhìn cha mẹ rõ ràng đến thế.

    Những nụ cười rạng rỡ giữa tuyết trắng như thể họ vẫn còn trẻ mãi, vẫn đang chờ tôi ở một nơi nào đó xa xôi.

    Ở nhà ông nội, những tấm hình về họ luôn bị giấu kỹ, khóa trong tủ sắt cũ hoặc cất sâu trong ngăn kéo có cơ quan ẩn mà ông tưởng tôi không biết.

    Ông nuôi nấng tôi từ thuở bé, một tay lo toan mọi thứ, nên tôi hiểu nỗi đau mất mát ấy lớn đến nhường nào.

    Nỗi đau khiến ông không bao giờ nhắc đến họ, chỉ thỉnh thoảng nhìn xa xăm khi thắp hương bàn thờ tổ, như thể sợ rằng chỉ một lời nói thôi cũng sẽ khơi lại vết thương chưa bao giờ lành.

    Tôi vẫn nhớ một đêm mưa cách đây nhiều năm, khi tôi còn nhỏ xíu, lén chạy vào phòng ông vì sợ sấm.

    Thấy ông đang ngồi bên bàn, tay cầm một tấm ảnh cũ, ánh đèn dầu vàng vọt hắt lên khuôn mặt đầy nếp nhăn của ông.

    Tò mò, tôi khẽ hỏi: "Ông ơi, người trong ảnh là ai vậy?".

    Ông giật mình, vội giấu tấm ảnh vào ngăn kéo, rồi ôm tôi vào lòng, giọng trầm trầm: "Là những người ông thương nhất... nhưng họ đi xa rồi, con à.

    Ngủ đi, mai ông kể chuyện cổ cho nghe."

    Nhưng thằng nhóc nghịch ngợm như tôi đâu chịu dừng lại.

    Vài hôm sau, nhân lúc ông đi vắng, tôi lén mò vào phòng, cố mở cái ngăn kéo ấy bằng đủ cách, ấn nút này, xoay lẫy kia, thậm chí dùng que tăm chọc lung tung.

    Kết quả là bị ông bắt quả tang ngay tại trận.

    Ông không mắng mỏ gì cả, chỉ nghiêm mặt đặt một chậu nước đầy lên đầu tôi, bắt đứng yên mấy tiếng liền để "rèn luyện sự kiên nhẫn và tôn trọng bí mật người lớn".

    Giờ nghĩ lại thôi cũng đau hết cả cổ.

    Sáng hôm sau, ông lại như không có chuyện gì mắng tôi vì ngủ nướng, nhưng tôi biết ông đã thức trắng đêm.

    Từ đó, tôi không hỏi gì về những tấm hình nữa.

    Thế mà giờ đây, thật không ngờ, tôi lại tự mình bước vào câu chuyện ấy.

    Qua những mảnh ghép bí ẩn từ tấm giấy da cổ, từ chiếc bật lửa lạnh lẽo, dẫn tôi đến tận nơi này.

    Chiếc ba lô cũ nằm ở góc phòng, phủ một lớp bụi dày, nhưng vẫn hiện rõ dòng chữ thêu tay: “Mộng Kỳ – Khoa khảo cổ 1975”.

    Tôi cúi xuống, nhẹ nhàng nhấc nó lên khỏi sàn.

    Bụi rơi lả tả dưới tay tôi, như những năm tháng ông nội đã cố chôn vùi.

    "Mẹ ơi..."

    Tôi chạm tay vào nó, lòng như bị kéo ngược về hai mươi năm trước.

    Thầy Hồ lặng lẽ đi quanh phòng, thỉnh thoảng dừng lại trước một bản ghi chép.

    Ông nhẹ nhàng nhấc lên một món đồ gỗ nhỏ trên giá, như đang nắm chặt những kỷ niệm quý giá của quá khứ.

    “Họ từng ở đây,” ông nói khẽ, “từng tin rằng mình sắp chạm vào một điều gì đó lớn lao.

    Nhưng có lẽ… chính điều đó đã nuốt chửng họ.”

    Tôi đứng giữa căn phòng, lòng trĩu nặng.

    Mọi thứ ở đây đều quen thuộc đến lạ, như thể tôi đang đi lại đúng con đường mà họ từng bước qua.

    Và tôi biết, mình đang bước lại từng dấu chân của họ, từng bước một, về phía bí mật chưa từng được kể.

    "Năm đó nơi này là trạm dừng chân của đội khảo cổ, có lẽ họ chỉ nghĩ mình đi vào rồi sẽ quay lại đây tiếp tục nghiên cứu thêm như mọi lần trước.

    Nào ngờ..."

    Giọng thầy Hồ nghẹn ngào, tôi cắn răng, quyết không nhìn về phía ngọn núi tuyết kia một lần nào nữa.

    Tà Lĩnh, ngọn núi ấy hiện ra trước mắt tôi như một con rồng khổng lồ cuộn mình giữa trời đất Tây Bắc, thân rồng uốn lượn qua những dãy đá tai mèo sắc nhọn, đuôi vươn dài xuống thung lũng sâu hun hút, còn đầu rồng ngẩng cao hướng thẳng lên bầu trời cao vợi, như đang vọng về mặt trăng tròn trong những đêm đông lạnh giá.

    Người xưa vì thế mà gọi nó là núi Vọng Nguyệt, nơi đầu rồng hướng lên để ngắm ánh trăng.

    Nhưng cái tên Vọng Nguyệt dần phai mờ theo một câu chuyện tình buồn mà dân địa phương vẫn thì thầm kể lại bên bếp lửa những đêm đông.

    Ngày xưa, có một vị thần nữ từ tiên giới hạ phàm xuống vùng đất này, đẹp đến mức núi rừng cũng phải nghiêng mình cúi đầu.

    Nàng yêu một người phàm, trải qua một mối tình vượt qua cả lịch kiếp, vượt qua luật trời đất nghiêm ngặt.

    Thế gian ruồng rẫy họ vì sợ phép màu, tiên giới vứt bỏ nàng vì tội phản nghịch.

    Trong cơn tuyệt vọng, người phàm ấy đã ôm lấy thân thể nát tan của nàng, bước sâu vào núi tuyết nơi hai người từng gặp nhau lần đầu dưới ánh trăng tròn.

    Người phàm không cam lòng để nàng ra đi mãi mãi.

    Chàng đặt thân thể nàng vào hang băng sâu thẳm, nơi gió tuyết không thể chạm tới, rồi một mình lên đường tìm Huyết Liên – loài sen thần mọc trên mộ cổ ở đỉnh núi cao nhất, được đồn đại có thể hồi sinh người chết, nối lại sợi tơ hồng đứt đoạn của hai người.

    Không ai biết chàng đã lang thang bao lâu giữa bão tuyết khắc nghiệt, vượt qua bao vách đá cheo leo và những ngôi mộ cổ bị băng vùi lấp.

    Cuối cùng, chàng cũng tìm thấy đóa Huyết Liên nở đơn độc trên một ngôi mộ cổ phủ băng ngàn năm.

    Nhưng tiên giới không tha thứ.

    Họ giáng sét từ trời cao, thiêu cháy chàng giữa đường tuyết trắng, như muốn xóa sạch dấu vết của mối tình cấm kỵ ấy.

    Trong khoảnh khắc cuối cùng, chàng phun ra dòng máu tươi ấm nóng lên đóa sen thần.

    Đóa Huyết Liên bỗng nở rộ rực rỡ, hấp thụ máu chàng như một lời đáp lại cho sự hy sinh, nhưng chàng đã đổ gục xuống bên cạnh nó, linh hồn vỡ vụn tan nát, chẳng còn cách nào mang hoa về cho nàng nữa.

    Từ câu chuyện ấy, dân địa phương không còn gọi núi là Vọng Nguyệt nữa.

    Họ gọi nó là Thần Lĩnh, ngọn núi của thần nữ, nơi linh hồn nàng vẫn lang thang giữa tuyết trắng, chờ người yêu trở về trong những đêm gió hú vang vọng.

    Người ta kể rằng vào những đêm trăng tròn, thường hay thấy bóng người áo trắng lấp lánh như dệt từ hàng vạn sao trời đứng trên vách đá cao, ngẩng đầu lên ngắm trăng như chính ngọn núi đang vọng về ánh bạc xa xôi.

    Một nỗi chờ đợi vĩnh cửu mà không oán hận, chỉ lặng lẽ hướng mắt về trời cao nơi người yêu đã mất.

    Tôi không mấy tin vào những câu chuyện truyền thuyết kiểu ấy.

    Chúng nghe hay ho, thơ mộng, hợp để kể cho trẻ con nghe hơn là để giải thích những chuyện mất tích thực sự xảy ra trên núi.

    Nhưng rồi theo thời gian, những vụ việc kỳ bí bắt đầu chồng chất.

    Tuyết lở thường xuyên bất ngờ ập xuống, nuốt chửng người đi đường mà không để lại dấu vết, thi thể biến mất như bị đất trời giấu kín, những người may mắn sống sót kể về tiếng khóc văng vẳng trong gió, bóng áo trắng thoáng qua giữa bão tuyết như những bà chúa tuyết chuyên bắt người vào núi.

    Một số ít người bắt đầu thì thầm gọi ngọn núi là Tà Lĩnh, không còn là núi thần nữa mà là núi tà, nơi linh hồn bị ruồng rẫy của thần nữ đã biến thành oan hồn, kéo theo những ai dám bước chân vào.

    Và rồi, sau khi đội khảo cổ của cha mẹ tôi mất tích không dấu vết, cái tên Tà Lĩnh lan ra ngoài nhiều hơn.

    Người ta đồn rằng núi đã nuốt linh hồn họ, như đã nuốt nàng thần nữ năm xưa trong truyền thuyết.

    Dân địa phương tránh nhắc đến nó bằng tên cũ, chỉ thì thầm "Tà Lĩnh" với ánh mắt e dè, như sợ rằng chỉ gọi tên thôi cũng đủ khiến gió tuyết nổi lên, kéo người ta vào khoảng không vĩnh cửu.

    Căn phòng nhỏ trong viện dưỡng lão nồng nặc mùi thuốc sát trùng, thoang thoảng lẫn chút ẩm mốc từ những bức tường cũ kỹ.

    Tôi bước vào, ánh mắt lập tức bị hút về phía người đàn ông ngồi co ro bên bàn gỗ.

    Ông ta chỉ ở độ tuổi trung niên, nhưng thân thể gầy guộc đến mức trông như một ông lão sắp kiệt sức, da bọc xương, vai hẹp, lưng còng như bị gánh nặng vô hình đè xuống suốt bao năm.

    Mái tóc dài chấm vai, bạc gần nửa, rối bù như chưa từng chải, râu ria rũ rượi che kín khuôn mặt hốc hác, khiến thoáng nhìn ông chẳng khác nào bóng quỷ dạ xoa đọa lạc giữa nhân gian.

    “Chú Lăng, đến giờ uống thuốc rồi ạ,” cô y tá trẻ khẽ gọi, giọng dịu dàng như sợ làm ông giật mình.

    Ông ta không đáp, chỉ cắm cúi vào những tờ giấy trải đầy trên bàn.

    Nét bút run rẩy nhưng dồn dập, chồng chéo lên nhau, như thể có bàn tay vô hình nào đó đang điều khiển, ép buộc ông khắc ghi mãi những hoa văn kỳ quái ấy.

    Chú Lăng ngẩng lên chậm rãi, đôi mắt đục mờ như phủ lớp sương dày dừng lại trên khuôn mặt tôi, rồi run rẩy mở miệng: “Thầy…

    Thầy Minh à…”

    Giọng ông ú ớ, đứt quãng, khàn đặc như từ đáy mộ sâu vọng lên, nhưng từng chữ vẫn sắc bén, như lưỡi dao lạnh ngắt đâm thẳng vào tim tôi.

    "Ông biết cha tôi sao?!"

    Tôi buộc miệng hỏi, giọng lạc đi vì sốc, tim đập thình thịch như muốn vỡ tung.

    Bất ngờ, ông ta chộp lấy bàn tay tôi bằng sức mạnh không tưởng từ thân thể gầy guộc ấy, ngón tay xương xẩu siết chặt đến đau điếng như muốn nghiền nát xương tôi.

    Ông cầm bút vẽ vội ký hiệu lạ lùng lên mu bàn tay, nét chồng nét dồn dập, mực đen loang lổ thấm vào da thịt lạnh buốt, giọng khàn đặc thì thầm như lời nguyền không ngừng: “Không được mở...

    Không được mở...”

    Cô y tá hốt hoảng lao vào, cố gỡ tay ông ra, vừa giữ chặt vai ông vừa gọi người giúp.

    Nhưng ông vẫn ghì chặt, vùng vẫy dữ dội, ánh mắt đỏ ngầu hoang dại nhìn tôi như đang thấy bóng ma từ quá khứ xa xôi quay về, miệng lặp lại lời nguyền ấy không ngừng nghỉ.

    Tôi đứng chết lặng, da tay bỏng rát dưới những nét mực loang lổ, cảm giác như ký hiệu ấy đang sống dậy, ngoi ngóp dưới da, nóng rực rồi lạnh buốt, thì thầm cùng tôi một bí mật kinh hoàng từ sâu thẳm quá khứ trước khi cả đội khảo cổ năm ấy biến mất mãi mãi trong Tà Lĩnh.

    Cuối cùng, khi mũi kim an thần xuyên qua da ông, cơ thể gầy guộc dần mềm nhũn, đôi mắt khép lại trong cơn mê thuốc.

    Tôi vẫn đứng đó, nhìn ký hiệu hằn sâu trên tay mình, tim đập thình thịch vì nỗi sợ mơ hồ đang lan tỏa khắp người.

    Thầy Hồ đặt tay lên vai tôi, giọng trầm xuống đầy lo lắng: “Cháu ra ngoài đi.

    Để họ lo cho ông ấy.”

    Rồi ông khẽ nói thêm, chỉ để cho mình tôi nghe: “Ông muốn ghé thăm một người họ hàng gần đây.

    Cháu cứ về trước đi.”

    Tôi ngoái lại lần cuối nhìn qua khung cửa.

    Chú Lăng được đỡ lên giường, cơ thể gầy guộc chìm dần vào giấc ngủ gượng ép dưới tác dụng của thuốc, hơi thở nặng nề như đang vật lộn với một cơn ác mộng không tên.

    Không thể hỏi thêm gì nữa, tôi đành rời khỏi viện dưỡng lão, bước chân nặng trĩu giữa không khí lạnh lẽo của buổi chiều núi.

    Con đường trở lại trạm nghiên cứu bỏ hoang dường như dài hơn bao giờ hết.

    Những vật dụng phủ bụi nơi đó vẫn nằm im lìm, như đang chờ ai đó quay về để đánh thức.

    Tôi biết, chỉ còn cách lật lại từng mảnh ký ức còn sót lại ở đây qua những ghi chép hay hiện vật mà cha mẹ tôi từng chạm tay vào, may ra mới tìm được đầu mối dẫn đến sự thật bị chôn vùi dưới lớp tuyết Tà Lĩnh hai mươi năm qua.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 7 Tái ngộ


    Trên đường quay lại trạm nghiên cứu, tôi bất ngờ khựng lại trước một cảnh tượng kinh hãi.

    Giữa nền tuyết trắng loang lổ vệt máu đỏ tươi, một bầy sói hoang đang rượt đuổi sát nút một người thợ săn.

    Tiếng gầm gừ vang vọng khắp thung lũng, những bóng xám lao vun vút như những mũi tên băng giá.

    Nhưng người thợ săn kia không hề tỏ ra yếu thế.

    Hắn không dùng súng, chỉ rút phắt con dao săn giắt bên thắt lưng, lưỡi thép lóe sáng lạnh lẽo dưới ánh chiều xám xịt.

    Một con sói đầu đàn phóng tới, hàm răng nhe trắng, hắn xoay người chém ngang một nhát dứt khoát, lưỡi dao rạch ngọt qua mắt nó làm máu bắn tung tóe lên tuyết.

    Tiếng tru thảm thiết xé gió vang lên, nhưng hắn không dừng lại, tiếp tục xoay lưỡi dao chống trả từng đợt tấn công, thân thủ gọn gàng, dứt khoát đến mức khiến tôi phải lạnh sống lưng thán phục.

    Tuyết văng tung tóe dưới những bước chân hỗn loạn, trắng xóa nhuộm đỏ vệt máu kéo dài phía sau.

    Người thợ săn kia rõ ràng đã bị thương nặng, máu thấm đẫm vạt áo, nhưng hắn vẫn không hề nao núng.

    Khi đến gần cánh rừng thưa, hắn đột ngột dừng lại, xoay người đối diện thẳng với cả bầy sói đang lao tới điên cuồng.

    Tôi không nhìn rõ gương mặt hắn, chỉ thấy dáng đứng thẳng tắp, bình tĩnh đến lạ lùng, như thể hắn đã chờ đợi chính khoảnh khắc này từ lâu.

    “Hắn điên rồi sao?!”

    Tôi thầm rít lên trong đầu, tim đập dồn dập như muốn vỡ tung trong ngực.

    Bầy sói gầm gừ dữ dội, những hàm răng nhọn hoắt nhe ra trong cái mõm đỏ lòm như chậu máu tươi, lao thẳng tới chuẩn bị xé nát con mồi không còn đường thoát.

    Nhưng đúng lúc ấy, mặt đất rung lên một tiếng “phập” khô khốc, nghe như tiếng xương sống gãy vụn.

    Từ bốn phía, những tấm lưới thép bất ngờ bật lên từ dưới lớp tuyết phủ, đan chéo nhau với tốc độ kinh hoàng, như những chiếc nanh khổng lồ của một con quái thú cổ xưa vừa tỉnh lại từ giấc ngủ ngàn năm.

    Trong chớp mắt, cả bầy sói hơn chục con bị nuốt gọn vào lòng lưới.

    Tiếng tru tréo thảm thiết vang lên điên cuồng, xen lẫn tiếng xương thịt va đập vào thép sắc lạnh.

    Chúng giãy giụa trong vô vọng, hàm răng nhọn hoắt nghiến ken két vào lưới, đôi mắt đỏ ngầu trợn ngược ánh lên nỗi tuyệt vọng nguyên thủy, miệng há ra phun bọt trắng lẫn máu tươi.

    Cảnh tượng ấy giống như một cái mõm quái thú khổng lồ khép lại chậm rãi, nghiền nát xương thịt, nuốt chửng tất cả.

    Tôi thở phào nhẹ nhõm, mồ hôi lạnh rịn ra sau gáy dù gió núi buốt giá.

    Hóa ra hắn đã chuẩn bị bẫy từ trước.

    Từ phía sau, vài thôn dân vội vã chạy ra, hò hét inh ỏi, tay cầm gậy gộc và dây thừng thô ráp.

    Tôi cũng lao theo họ, tim vẫn đập thình thịch không ngừng, hình ảnh người thợ săn đứng bất động giữa tuyết trắng vẫn ám ảnh trong mắt tôi.

    Dáng đứng bình thản đến lạ lùng, như một quân cờ chủ chốt trên bàn cờ đã định sẵn, lặng lẽ nhìn bầy sói lao thẳng vào bẫy mà không chút nao núng.

    Khi chạy đến gần, tôi nghe mấy thôn dân bàn tán xôn xao không ngớt về bầy sói vừa bị tóm gọn, tiếng người át cả tiếng gió rít buốt giá trên sườn núi.

    Tôi túm lấy một thanh niên trạc tuổi mình, hỏi dồn dập:

    “Cả đàn sói hung hãn thế kia, sao người thợ săn lại không dùng súng?”

    Anh ta nhìn tôi với ánh mắt khó hiểu, rồi quắc mắt đáp:

    “Anh là người ngoài nên không biết chứ, ở đây chỉ một tiếng nổ thôi cũng đủ gọi cả ngọn núi đổ ập xuống rồi.

    Tuyết lở nơi này khủng khiếp lắm, nuốt chửng người chỉ trong chớp mắt.

    Cũng may trưởng thôn tìm được người thợ săn giỏi kia, chỉ mới một tuần mà đã tóm gọn cả bầy sói quấy phá vùng này.”

    Tôi lách qua đám đông ồn ào, cố chen lên phía trước để nhìn cho rõ.

    Người thợ săn kia đứng giữa vòng vây thôn dân, được một cụ ông còng lưng chắc là trưởng thôn, bắt tay cảm ơn rối rít, giọng run run vì mừng rỡ.

    Hắn chỉ gật đầu nhè nhẹ, không nói gì, rồi chậm rãi kéo mũ áo khoác xuống, để lộ mái tóc rối tung ướt đẫm mồ hôi và bụi tuyết.

    Những lọn tóc đen dính bết được hắn vén ra sau tai bằng động tác mệt mỏi.

    Tôi chết lặng, máu như đông lại trong người.

    Người này...

    Người này...

    Tử Linh?!

    Tim tôi đập dồn dập, đầu óc trống rỗng đến mức quên cả thở.

    Sao cô lại ở đây, giữa vùng núi tuyết hoang vu này, một mình săn cả bầy sói như quái vật?

    Sao lại trùng hợp đến vậy, như thể số phận cố tình đẩy chúng tôi gặp lại ở nơi tận cùng thế giới này?

    Tử Linh không để ý thấy tôi.

    Cô chỉ tay vào bọc lưới đang quẫy đạp dữ dội, nơi bầy sói bị mắc kẹt giãy giụa điên cuồng, rồi nói dứt khoát, giọng lạnh lẽo không chút cảm xúc:

    “Còn lại để cho các người.”

    Trưởng thôn gật đầu lia lịa, ông quay sang gọi mấy thanh niên khỏe mạnh, trong đó có cả anh chàng tôi vừa hỏi chuyện, cầm những mũi giáo tự chế tiến tới.

    Tiếng tru thảm thiết của bầy sói vang lên điên dại, hòa lẫn với tiếng hò hét phấn khích của đám đông và tiếng lưỡi giáo sắc nhọn xuyên qua da thịt làm máu bắn tung tóe lên tuyết trắng.

    Cảnh tượng ấy ghê rợn đến mức tôi không dám ngẩng đầu nhìn thêm, chỉ cảm thấy dạ dày quặn thắt, mùi máu tanh nồng xộc vào mũi khiến tôi suýt nôn tại chỗ.

    Tử Linh nhận lấy túi tiền từ tay trưởng thôn, gật đầu một cái ngắn gọn rồi quay lưng bỏ đi.

    Cô không buồn ngoái lại, không màng đến tiếng tru thảm thiết đang vang lên phía sau.

    Bóng dáng cô nhanh chóng lẫn vào màn tuyết trắng dày đặc, lạnh lùng và xa cách.

    Như thể việc giết sạch bầy sói chỉ là một công việc bình thường trong ngày, chẳng đáng để cô bận tâm thêm một giây.

    Tôi bối rối chen qua đám đông hỗn loạn, tim như bị một sợi dây vô hình kéo mạnh theo từng bước chân cô.

    Khi bóng tấm áo khoác đen tuyền tả tơi sắp khuất hẳn trong màn sương tuyết, tôi vội vàng chạy theo, bàn tay đưa ra trong vô thức như sợ chỉ chậm một giây thôi là cô sẽ biến mất mãi mãi.

    May thay, tôi kịp chụp lấy tay cô.

    Cái chạm ấy lạnh buốt thấu xương, như chạm vào băng ngàn năm không tan, khiến tôi bừng tỉnh khỏi cơn mê muội.

    Nhưng đồng thời, một nỗi sợ mơ hồ len lỏi khắp người, lan từ đầu ngón tay lên tận tim.

    Tử Linh trước mặt tôi... xa lạ, lạnh lẽo và nguy hiểm hơn bao giờ hết, như thể ngọn núi Tà Lĩnh này đã biến đổi cô thành một phần của chính nó.

    Một bóng ma tuyết trắng, mang theo hơi thở chết chóc từ những linh hồn bị nuốt chửng.

    Tử Linh khựng lại, quay đầu nhìn xuống bàn tay tôi đang siết chặt lấy cổ tay cô, những ngón tay run rẩy vì lạnh.

    Cô chậm rãi ngẩng lên, ánh mắt đen sâu thẳm quét qua khuôn mặt tôi, lạnh lẽo đến mức khiến toàn thân tôi buốt giá, như thể gió tuyết Tà Lĩnh vừa thổi thẳng vào tim.

    Đôi mắt ấy vô cảm, vẫn còn vương lại sát khí tanh nồng từ trận chiến với bầy sói.

    “Tử Linh, là tôi đây…

    Quân Ảnh Chiến,” tôi thì thầm, giọng run rẩy không giấu nổi, vừa khẩn thiết vừa hy vọng mong manh.

    “Cô từng gặp tôi ở nhà ông nội tôi... cô nhớ không?”

    Trong một thoáng, bàn tay cô đặt lên tay tôi, cái chạm nhẹ như lông hồng, nhưng đủ khiến tim tôi nhói lên niềm vui mừng ngây dại, tưởng chừng cô đã nhận ra, đã nhớ lại những ngày cũ ở nhà ông nội, lặng lẽ giữa bữa cơm ngượng ngùng.

    Nhưng ngay sau đó, bàn tay ấy lạnh lùng hất mạnh, gạt bỏ tôi như gạt đi một cọng cỏ khô vướng víu dưới chân.

    Cô xoay người bước đi thẳng, bóng áo khoác đen tuyền tả tơi nhanh chóng hòa lẫn vào màn tuyết trắng dày đặc, như thể núi Tà Lĩnh đang mở rộng vòng tay đón cô về.

    Tôi đứng chết lặng giữa cơn gió buốt cắt da, bàn tay vẫn run rẩy vì cái chạm ngắn ngủi ấy, lạnh buốt thấu xương, nhưng lại cháy bỏng trong ký ức tôi như một vết thương không bao giờ lành.

    Tôi cúi xuống nhìn tay mình, sững người khi nhận ra cả hai bàn tay đã nhuộm đỏ máu tươi.

    Máu từ vết thương của cô đã thấm qua lớp áo dày khi tôi chụp lấy tay cô lúc nãy.

    “Tử Linh!”

    Tôi gọi với theo, giọng lạc đi, vỡ vụn trong gió tuyết gào rít.

    Cô vẫn bước đi, nhưng chưa được bao xa thì đôi chân đã loạng choạng, như thể sức lực cuối cùng cũng cạn kiệt.

    Mỗi bước chân nặng trĩu, hơi thở gấp gáp phả ra thành những đám sương trắng mỏng manh.

    Máu từ vết thương rỉ ra, chảy thành vệt đỏ dài trên nền tuyết trắng xóa, loang lổ như những dấu hiệu báo trước một kết cục chẳng lành.

    Tôi lao tới, kịp vòng tay đỡ lấy thân thể đang chao đảo của cô.

    Bờ vai cô lạnh buốt thấu xương, nhẹ đến mức khiến tôi hoảng sợ.

    Như thể chỉ cần buông tay một giây thôi, cả thân thể ấy sẽ tan biến vào màn tuyết trắng vô tận, hòa lẫn với gió núi, để lại tôi một mình nơi đây.

    Tôi choàng tay cô qua cổ mình, gắng gượng dìu từng bước nặng nhọc trên nền tuyết dày, hướng về phía trạm y tế nhỏ trong thôn.

    Thân thể cô nhẹ đến lạ, nhưng mỗi bước chân tôi lại như gánh thêm đá tảng.

    Máu từ vết thương rỉ ra thấm ướt áo tôi, ấm nóng rồi nhanh chóng lạnh buốt vì gió núi.

    Hơi thở cô phả ra yếu ớt bên tai tôi, mang theo mùi máu tanh nồng lẫn hương tuyết lạnh, khiến tim tôi quặn thắt không yên.

    Người xử lý vết thương cho cô là một bác sĩ trẻ, trạc gần ba mươi, dáng cao gầy với đôi mắt kính cận sáng quắc.

    Anh ta khẽ nhíu mày khi kéo áo cô ra xem những vết thương máu thịt lẫn lộn, rợn người đến mức tôi phải quay mặt đi một thoáng mới dám nhìn lại.

    Da thịt rách toạc, xương ở vài chỗ lộ ra trắng hếu, cũ mới chồng chéo như bản đồ của những trận tử chiến.

    Anh ta quay sang tôi, hạ giọng đầy lo lắng:

    “Những vết thương này có cả cũ lẫn mới, sâu đến tận xương.

    Vừa rồi vận động mạnh, chúng lại toác ra hết.

    Nếu còn tiếp tục thế này, e là khó cầm máu được lâu.

    Anh nên giữ cô ấy nằm yên trên giường, đừng để rời khỏi đây vội.”

    Anh ta có lẽ nghĩ tôi là người thân của cô nên mới dặn dò kỹ lưỡng đến vậy.

    Nhưng khỏi cần anh ta nhắc, tôi cũng đã nghĩ thế.

    Tôi lặng người nhìn Tử Linh nằm đó trên giường bệnh.

    Gương mặt cô tái nhợt như tờ giấy cũ, đôi môi khô nứt không chút máu, mái tóc rối bù dính bết mồ hôi và bụi tuyết.

    Trong đầu tôi chợt hiện lên hình ảnh những con người liều mạng lăn lộn giữa núi rừng hoang vu, săn thú đổ máu chỉ để đổi lấy một bữa ăn đắng chát, cơ thể đầy sẹo là minh chứng cho những trận chiến sinh tồn không ngừng nghỉ.

    Nghĩ đến tình cảnh hiện tại của cô, khi máu trên người vẫn rỉ ra thấm đỏ băng gạc, rồi cúi xuống nhìn lại bộ đồ tinh tươm sạch sẽ trên người mình, một nỗi xót xa dâng lên nghẹn ứ nơi cổ họng, đắng ngắt như nuốt phải tuyết lạnh.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 8 Di vật trong ngọn lửa


    Tiếng rên khe khẽ vang lên khiến tôi giật mình ngẩng đầu.

    Tử Linh khẽ động đậy, đôi mi run run rồi chậm rãi hé mở.

    Ánh sáng vàng vọt từ bóng đèn trần hắt xuống, soi rõ gương mặt tái nhợt của cô.

    “Tử Linh…”

    Tôi gọi khẽ, giọng nghẹn lại vì lo lắng.

    Đôi mắt đen sâu thẳm ấy chậm rãi xoay về phía tôi, nhưng ánh nhìn trống rỗng như thể tôi chỉ là kẻ xa lạ tình cờ ngồi đây.

    Cô cố gượng dậy, bàn tay run rẩy chống xuống giường.

    Tôi vội vàng đỡ lấy, nhưng ngay lập tức bị hất ra.

    Cử chỉ ấy không mạnh, chỉ nhẹ nhàng nhưng dứt khoát đến mức khiến tim tôi nhói buốt.

    Ánh đèn trên trần bất chợt chập chờn, bóng sáng vàng vọt nhấp nháy như sắp tắt hẳn.

    Trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt sững người.

    Bên dưới lớp áo bệnh nhân rộng thùng thình, ngay vai trái của Tử Linh, một phần họa tiết lạ kỳ lấp ló hiện ra dưới lớp băng gạc mỏng.

    Nó uốn lượn như những đường nét cổ xưa, kéo dài xuống lưng, thứ khiến tôi chú ý nhất là một con mắt đỏ rực có những đường vân cong queo như lông vũ bao quanh, đồng tử hừng hực sáng lên như than hồng vừa được thổi bùng trong lò lửa, tỏa ra thứ ánh sáng ma mị khiến không khí phòng bệnh bỗng nặng trịch.

    Đó không phải vết sẹo, cũng chẳng giống hình xăm bình thường.

    Nó như đang sống, đang nhìn lại tôi từ dưới da thịt cô với sức hút kỳ quái khiến tôi không thể rời mắt.

    Tôi còn chưa kịp nhìn rõ hơn thì Tử Linh đã giật mạnh vạt áo, che kín lại.

    Đôi mắt đen của cô xoáy thẳng vào tôi, ánh nhìn cảnh giác lạnh lẽo như lưỡi dao kề sát cổ.

    Tôi không dám hỏi gì thêm, cũng chẳng dám nhìn lâu hơn nữa.

    Cổ họng nghẹn ứ, tôi lúng túng thốt vài câu vu vơ rồi vội vã bước ra ngoài, như thể chỉ cần ở lại thêm một giây thôi, ánh mắt lạnh lẽo ấy sẽ xé toạc tôi ra.

    Đến cửa, tôi gặp lại anh bác sĩ trẻ khi nãy.

    Tôi nhờ anh trông chừng cô giúp, rồi tựa lưng vào bức tường hành lang lạnh ngắt.

    Hơi thở dồn dập, tim đập loạn nhịp như muốn vỡ tung.

    Phải mất một lúc lâu, tôi mới gượng ép bản thân bình tĩnh lại được.

    Tôi đi mua một hộp cháo nóng hổi, cố gắng điều chỉnh khuôn mặt sao cho tự nhiên nhất, như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra.

    Nhưng khi quay lại phòng bệnh, cảnh tượng trước mắt khiến tôi khựng lại ngay ngưỡng cửa.

    Tử Linh đã ăn trước rồi, nhưng không phải tự ăn.

    Anh bác sĩ trẻ kia đang đút cho cô, giọng dịu dàng ngọt ngào như dỗ dành một đứa trẻ.

    Mỗi lần cô miễn cưỡng hé môi đón thìa cháo, anh ta lại nheo mắt cười rạng rỡ, vẻ mặt hân hoan như vừa lập được chiến công lớn lao.

    Tôi chỉ biết dựa người ngoài cửa, lặng lẽ nhìn anh ta chăm sóc cô, tỉ mỉ xem xét lại từng vết thương trên người cô.

    Giọng anh ta trầm ấm, ánh mắt dịu dàng, cô cũng rũ mắt xuống, khẽ gật hoặc lắc đầu trước những câu hỏi thăm của anh.

    Khác hẳn sự lạnh lẽo mà tôi vừa nhận từ cô lúc nãy.

    Một cô y tá đi ngang qua, che miệng cười rồi ghé tai tôi thì thầm mấy câu bâng quơ.

    Từ đó tôi mới biết anh ta là bác sĩ tình nguyện đã ở đây ba tháng nay, được cả thôn từ già đến trẻ quý mến hết lòng.

    Tôi khẽ cười nhạt trong lòng.

    Quý mến thì đã sao chứ?

    Tử Linh chắc chắn sẽ không thích một kẻ như thế.

    Nghĩ vậy, tôi hít một hơi thật sâu, cố lấy lại sự tự tin đang lung lay, rồi đẩy cửa bước vào phòng.

    Không khí trong phòng lập tức khựng lại.

    Tiếng thìa chạm nhẹ vào thành chén sứ vang lên một tiếng khẽ, rồi im bặt hẳn.

    Anh bác sĩ ngẩng đầu lên, nụ cười cong cong lộ ra sau lớp khẩu trang, ánh mắt sáng lên như vừa gặp được điều gì vui vẻ lắm.

    Kiểu ánh mắt ấy khiến tôi bất giác thấy khó chịu, dù chẳng có lý do gì rõ ràng.

    Còn Tử Linh, cô khẽ nghiêng mặt đi, ánh mắt cụp xuống tránh nhìn tôi.

    Vạt áo bệnh nhân rộng thùng thình che kín thân thể gầy gò, chỉ để lộ đôi bàn tay trắng nhợt nằm im trên chăn, những ngón tay thon dài run run như lá thu cuối mùa.

    Tôi bước vào phòng, cố giữ giọng thản nhiên như không có chuyện gì: “Cô ấy thế nào rồi anh?”

    Anh bác sĩ gật đầu, điệu bộ vui vẻ đáp: “Ừ, may mà chịu hợp tác ăn uống.

    Vết thương nặng thế này, phải có sức mới mau lành được.”

    “Cảm ơn anh,” tôi nói, giọng cố bình tĩnh nhưng trong lòng đã dâng lên một nỗi ghen tị mơ hồ khó tả.

    “Từ giờ để tôi lo cho cô ấy.”

    Anh bác sĩ thoáng ngập ngừng, rồi mỉm cười gật đầu, đứng dậy nhường chỗ.

    Nhưng trước khi rời đi, anh ta còn quay lại dặn dò: “Cô ấy cần nghỉ ngơi nhiều, đừng để xúc động mạnh.

    Nếu có gì bất thường, gọi tôi ngay.”

    Cánh cửa khép lại, căn phòng chìm vào tĩnh lặng nặng nề.

    Tôi ngồi xuống bên giường, đưa tay lấy chén cháo cô đang ăn dở, nhưng Tử Linh vẫn xoay mặt đi, không nhìn tôi, ánh mắt lạnh lẽo y hệt lúc cô hất tay tôi trên nền tuyết.

    Tôi thấy cô cứ nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ, ánh mắt như bị hút về một điểm xa xăm nào đó.

    Tôi khẽ hỏi, nhưng cô chỉ im lặng không đáp, hơi thở mỏng manh phả thành làn sương mờ trên khung kính lạnh buốt.

    Bị thôi thúc bởi sự im lặng nặng nề ấy, tôi cũng hướng mắt nhìn theo.

    Giữa màn đêm phủ tuyết dày đặc, những ánh đèn điện yếu ớt của thôn làng lác đác như những đốm lửa nhỏ le lói trong bóng tối.

    Nhưng nổi bật hơn tất cả là một đốm sáng đỏ cam khổng lồ, bốc lên thành cột khói đen cuồn cuộn, rực rỡ và dữ dội như muốn xé toạc cả bầu trời đêm.

    Tôi nhìn một hồi mới nhận ra, tim chợt thắt lại, đó chính là phía trạm nghiên cứu bỏ hoang!

    Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng.

    Tôi hốt hoảng la lên, muốn nói với cô rằng trong đám lửa kia vẫn còn di vật của cha mẹ tôi.

    Những thứ duy nhất còn sót lại sau bao năm tháng dài đằng đẵng, những mảnh ký ức cuối cùng mà tôi chưa từng dám chạm vào.

    Nhưng vì quá hoảng loạn, lời nói cứ vấp vào nhau, rối rắm lẫn lộn, chỉ thành những tiếng ú ớ không trọn vẹn.

    Chưa kịp định thần, Tử Linh đã bật người dậy khỏi giường.

    Tiếng động mạnh đến mức khung giường sắt cũ kỹ rung lên lắc lư, như thể cả căn phòng cũng giật mình theo cô.

    Cô mặc kệ vết thương còn chưa khép miệng, máu lại rỉ ra thấm đỏ băng gạc, mặc kệ đôi dép lê mỏng manh trên chân, lao thẳng về phía cửa sổ như bị một sức mạnh vô hình kéo gọi.

    Chỉ kịp thoáng thấy bóng dáng nhỏ bé ấy vụt qua, tôi đã nghe tiếng cánh cửa gỗ rung lên dữ dội, rồi cô biến mất vào màn tuyết trắng dày đặc ngoài kia, nhanh đến mức như một bóng ma tan vào gió núi.

    Không kịp nghĩ ngợi, tôi lao theo cô ngay lập tức, nhảy phắt qua cửa sổ.

    Thân thể đập mạnh xuống nền tuyết dày, lạnh buốt xuyên thấu lớp áo mỏng.

    Tôi té sấp mặt, tuyết nhồi đầy mũi miệng đến nghẹn thở.

    May mà lớp tuyết mềm đã đỡ lấy cú ngã, chứ không thì xương cốt tôi chắc đã gãy như chơi.

    Tôi lồm cồm bò dậy, tuyết bám đầy tóc tai áo quần, hơi thở phả ra khói trắng đặc quánh.

    Trước mắt, bóng áo bệnh nhân trắng nhờ của cô đang lao vút đi, hướng thẳng về phía đám lửa đỏ rực.

    Tôi cắn chặt răng, dồn hết sức lực còn lại cắm đầu chạy theo sau cô.

    Mỗi bước chân nặng trĩu nhưng tôi không dám dừng lại, vì chỉ cần chậm một giây thôi, có lẽ cô sẽ biến mất trong biển lửa kia, mang theo tất cả những bí mật mà tôi chưa kịp hỏi, và cả phần linh hồn mà tôi đã đánh mất từ ngày gặp cô.

    Khi chạy đến gần trạm nghiên cứu, ngọn lửa đã bốc cao ngùn ngụt, đỏ rực cả một góc trời đêm.

    Hơi nóng hầm hập táp vào mặt khiến tôi nghẹt thở, phổi như muốn nổ tung sau quãng đường dài lao đi không ngừng nghỉ.

    Tôi chống tay xuống đầu gối, thở hổn hển, mồ hôi hòa lẫn tuyết tan chảy thành dòng nóng lạnh trên gò má.

    Ngẩng lên, tôi chỉ kịp nhìn thấy bóng dáng Tử Linh lao vút vào đám lửa, nhanh như một mũi tên băng xuyên qua màn khói đen đặc cuồn cuộn.

    Trong khoảnh khắc ấy, một ý nghĩ lóe lên trong đầu tôi như tia chớp giữa bão lửa.

    Lẽ nào cô ấy đã nhớ ra tôi?

    Lẽ nào cô lao vào đó là để lấy lại di vật của cha mẹ tôi sao?

    Niềm hy vọng bất chợt ấy khiến tôi choáng váng, như thể giữa biển lửa ngùn ngụt vẫn còn một ngọn đèn nhỏ le lói chỉ dành riêng cho tôi, yếu ớt nhưng đủ để sưởi ấm trái tim đang lạnh cóng vì sợ hãi này.

    Nhưng ngay lập tức, tôi thấy chính mình thật ngu ngốc.

    Tôi muốn tự vả mạnh vào miệng mình để tỉnh ra, muốn xóa sạch cái ý nghĩ ngây dại vừa nhen nhóm lên đó.

    Tôi lao theo hướng Tử Linh, nhưng chỉ cách vài bước, khói đen đã cuồn cuộn tràn ra như quái vật sống dậy, mùi gỗ cháy khét lẹt xộc thẳng vào mũi khiến tôi ho sặc sụa, phổi bỏng rát như bị lửa liếm.

    Tôi đưa tay che miệng, nhưng khói vẫn len lỏi vào trong, cay xè mắt đến mức nước mắt trào ra không ngừng, làm mờ mịt mọi thứ xung quanh.

    Tiếng nổ lách tách vang lên từ bên trong, từng mảnh gỗ cháy đỏ rơi xuống như mưa than hồng, nóng rực chạm vào da thịt khiến tôi rùng mình né tránh.

    Bỗng một tiếng răng rắc khô khốc vang lên, dầm gỗ trên cao gãy vụn, kéo theo cả mảng trần bốc cháy đổ sập xuống như thác lửa, tiếng gỗ vỡ nát hòa lẫn tiếng lửa gầm gừ nuốt chửng mọi thứ.

    Tôi loạng choạng lùi lại, mắt cay mù vì khói dày đặc, chỉ còn thấy những vệt sáng đỏ rực nhảy múa điên cuồng trước mặt như những bóng ma lửa đang vẫy gọi từ địa ngục.

    Tim tôi đập thình thịch vì sợ hãi, Tử Linh đang ở trong đó, một mình giữa biển lửa kia, và tôi chỉ biết bất lực đứng đây, để mặc hơi nóng hầm hập táp vào mặt như muốn thiêu cháy cả linh hồn.

    Nhưng may thay, trước khi tôi kịp bất chấp liều mình lao vào biển lửa, bóng dáng Tử Linh đã bất ngờ xuất hiện giữa màn khói đen đặc cuồn cuộn.

    Cô dẫm mạnh lên cây dầm gỗ cháy sém còn sót lại, mượn lực bật nhảy vọt ra ngoài cửa sổ vỡ nát, thân người xoay tròn uyển chuyển giữa không trung cắt qua lửa đỏ.

    Cô rơi xuống nền tuyết dày, lăn lộn vài vòng để dập tắt những đốm tàn lửa còn bám trên áo, để lại vệt dài ngoằng đầy tro bụi xám xịt lẫn máu đỏ tươi hằn sâu trên mặt tuyết như những vết thương của chính ngọn núi đang rỉ máu.

    Cô chống tay ngồi dậy, hơi thở gấp gáp phả ra thành những đám khói trắng mỏng manh trong không khí lạnh buốt, mái tóc rối tung dính đầy bụi tro và mồ hôi, vài lọn dính bết trên khuôn mặt tái nhợt.

    Bờ vai cô vẫn còn vương những tàn lửa đỏ rực lấp lánh, cháy âm ỉ như không muốn tắt.

    Một chân co lại làm trụ vững chãi, chân kia duỗi thẳng ra trên tuyết, dáng vẻ kiệt sức nhưng vẫn kiên cường đến không tưởng.

    Trong vòng tay run rẩy của cô, tôi thấy rõ ràng một xấp giấy tờ cũ nát, mép giấy cháy sém đen kịt như vừa bị lửa liếm qua, cùng một khung ảnh kính vỡ tan tành.

    Những mảnh thủy tinh sắc nhọn còn sót lại trên người cô rơi lả tả xuống nền tuyết, lấp lánh phản chiếu ánh lửa lập lòe từ đống đổ nát phía sau như những mảnh linh hồn vỡ vụn đang cố níu kéo chút ánh sáng cuối cùng.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 9 Người dẫn đường


    Tôi dìu cô trở lại trạm y tế, từng bước chân nặng nề lún sâu vào tuyết dày, cảm giác tội lỗi đè nặng trong lòng như tảng đá tảng.

    Hơi thở cô gấp gáp, đôi khi khẽ rít lên vì đau, ánh mắt khép hờ mệt mỏi dưới lớp tóc rối bù, nhưng bàn tay vẫn siết chặt những thứ lấy từ trạm nghiên cứu vào ngực như ôm lấy báu vật cuối cùng của một quá khứ đang cháy rụi.

    Anh bác sĩ tình nguyện lại là người xử lý vết thương cho cô.

    Lần này, ánh mắt anh ta cau có hơn hẳn, như muốn xuyên thấu qua tôi để lôi ra nguyên nhân khiến cô ra nông nỗi này.

    Tôi không nói gì, chỉ lặng lẽ lùi lại một bước, nhìn từng động tác của anh: tháo băng cũ loang máu, lau sạch những vết rách sâu hoắm, rồi thay gạc mới một cách tỉ mỉ, cẩn thận.

    Khi cô đã thiếp đi trên giường bệnh, hơi thở dần đều đặn hơn, tôi mới lặng lẽ bước ra ngoài.

    Tôi khẽ khép cửa lại, cẩn thận đến mức không để phát ra một tiếng động nhỏ, như sợ chỉ một chút xáo trộn thôi cũng sẽ đánh thức những cơn đau đang ngủ yên trong cô.

    Anh bác sĩ đứng ngay ngoài hành lang, đôi tay khoanh trước ngực, ánh mắt vẫn đầy trách móc không giấu diếm.

    Tôi biết mình chẳng có gì để biện minh, vì thế, khi anh ta bắt đầu trách mắng về việc để bệnh nhân mạo hiểm, về nguy cơ nhiễm trùng từ những vết thương toác lại, tôi chỉ im lặng nhận hết, nửa chữ cũng không dám phản bác.

    Tôi cúi đầu, cảm giác tội lỗi như một tảng đá nặng trĩu đè lên ngực, khiến hơi thở cũng trở nên khó khăn.

    Tôi quay trở lại giường bệnh của cô, nhẹ nhàng gom lại những thứ may mắn lấy ra được từ trạm nghiên cứu rồi gói gọn chúng vào một túi vải cũ kỹ.

    Ngón tay tôi vô thức chạm vào mép giấy loang lổ vết cháy, một cảm giác giằng xé dâng lên khiến tôi muốn mở ra xem ngay lập tức, nhưng lại sợ rằng những bí mật bên trong sẽ đốt cháy tôi như ngọn lửa vừa rồi.

    Tôi bước đến bên cửa sổ, nhìn ra màn đêm ngoài kia.

    Đám lửa đã dần lụi tắt, ánh sáng đỏ cam rực rỡ ban nãy biến mất, chỉ còn lại đám khói mù mịt cuồn cuộn bốc lên từ nền tuyết, xám xịt và nặng nề như một hồn ma chưa siêu thoát.

    Mọi thứ diễn ra nhanh quá, con quái vật hừng hực vừa nhăm nhe nuốt chửng chúng tôi giờ chỉ còn là bóng ma lặng lẽ tan biến vào màn đêm lạnh lẽo, để lại mùi khét lẹt và nỗi bất an vẫn âm ỉ trong lòng tôi.

    Xe cứu hỏa vừa rời đi, để lại những vệt bánh xe hằn sâu trên lớp tuyết dày.

    Tôi khép cửa sổ lại, chặn đứng hơi lạnh đang len lỏi vào phòng.

    Đêm nay, tôi không sao chợp mắt nổi.

    Mọi chuyện xảy ra từ lúc đặt chân đến chân núi Tà Lĩnh đến giờ cứ hỗn loạn quay cuồng trong đầu.

    Tôi nhìn sang giường bệnh, cô đang ngủ say sưa như một đứa trẻ vô tư, hơi thở đều đặn nhẹ nhàng, gương mặt bình yên đến lạ lùng dưới ánh đèn mờ vàng.

    Không biết trong giấc mơ của cô có gì, là ác mộng đen tối kéo dài vô tận như những vết thương chồng chất trên người, hay những tầng mây mơ màng không điểm dừng, nơi cô là một thiên thần tự do trước khi bị cơ thể đớn đau này giam cầm?

    Sáng hôm sau, thầy Hồ tìm đến tôi trong trạm y tế, khuôn mặt rạng rỡ khác hẳn vẻ mệt mỏi thường ngày.

    Thầy báo một tin vui bất ngờ, y tá ở viện dưỡng lão vừa gọi điện, nói chú Lăng muốn gặp chúng tôi.

    Dường như cuộc gặp hôm trước đã khơi dậy điều gì đó trong ký ức ông.

    Thầy vội vã đi trước, giục tôi thu xếp rồi đến sau.

    Tôi quay lại phòng bệnh của Tử Linh, chỉ vơ vội chiếc áo khoác ngoài rồi chạy theo thầy.

    Nhưng vừa bước vào, tôi thấy cô đã tỉnh dậy từ lúc nào, đôi mắt mở to, ánh nhìn tuy còn mệt mỏi nhưng sáng lên một thứ ánh sáng lạ lùng, như vừa tìm thấy lối đi trong bóng tối kéo dài.

    Tôi lúng túng dúi hộp đồ ăn sáng đã chuẩn bị vào tay cô, dặn rằng mình sẽ ra ngoài một lát rồi quay về ngay.

    Thế nhưng cô khẽ lắc đầu từ chối, bàn tay lạnh buốt nhẹ nhàng đẩy nó lại về phía tôi, ánh mắt đen sâu thẳm nhìn thẳng vào tôi như thể cô đang cố tìm kiếm điều gì đó.

    "Tôi muốn gặp Tần Khải Lăng."

    Tôi chết lặng, như có một luồng băng giá thổi thẳng vào tim.

    Cái tên ấy, họ tên đầy đủ của chú Lăng, tôi chưa từng nhắc đến trước mặt cô dù chỉ một lần.

    Làm sao cô biết được?

    Còn chưa kịp định thần, cô đã tiếp lời, giọng chậm rãi nhưng chắc nịch đến lạ:

    "Ông ta là người dẫn đường của hai mươi năm trước.

    Bây giờ không còn thời gian nữa… anh phải đưa tôi đi gặp ông ta ngay."

    Tôi nhìn cô, ngỡ ngàng đến mức không thốt nổi một lời.

    Những gì cô vừa nói khiến đầu óc tôi quay cuồng như bị cuốn vào bão tuyết, hai mươi năm trước, di tích trong núi tuyết, đội khảo cổ của cha mẹ tôi, và chú Lăng...

    Tất cả đột nhiên xâu chuỗi lại thành một bí ẩn khổng lồ, sâu thẳm và lạnh lẽo hơn bất kỳ điều gì tôi từng dám nghĩ tới.

    Bên ngoài, ánh sáng ban mai dịu dàng rọi qua khung cửa sổ, hắt lên gương mặt tái nhợt của cô.

    Tôi chợt nhận ra, từ giây phút này, mọi chuyện đã không còn đơn giản là một cuộc gặp gỡ tình cờ nữa.

    Tôi, thầy Hồ và Tử Linh ngồi quanh chú Lăng chờ đợi.

    Chú Lăng bảo y tá ra ngoài, để lại trong phòng chỉ còn bốn người chúng tôi.

    Căn phòng bỗng chốc trở nên ngột ngạt.

    Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo tường vang lên rõ rệt, như từng nhát gõ vào tâm trí tôi.

    Chú Lăng run rẩy nắm chặt tay Tử Linh, đôi mắt đục mờ vì tuổi tác bỗng ánh lên tia sáng kỳ lạ, vừa mừng rỡ vừa hoảng loạn.

    “Linh!

    Là cô sao?”

    Giọng ông khàn đặc, như bật ra từ tận cùng ký ức.

    Tử Linh cứng ngắc gật đầu.

    Tôi chết lặng.

    Một phần trong tôi muốn gạt phắt đi, muốn hét lên rằng điều đó không thể nào đúng được.

    Nhìn đi nhìn lại cô cũng chỉ tới hai mươi tuổi là cùng, đôi khi còn nhìn như học sinh.

    Hai mươi năm trước, cô ấy chỉ là một đứa trẻ còn đang tập đi, thậm chí còn chưa chào đời.

    Vậy mà giờ đây trước mắt tôi, cô lại gật đầu xác nhận như thể đang thừa nhận một sự thật hiển nhiên, một sự thật mà lý trí tôi không thể nào chấp nhận nổi.

    “Cô phải nói họ quay về, không được đi tiếp nữa.

    Có nguy hiểm, có nguy hiểm…”

    Chú Lăng lặp đi lặp lại, giọng ông dồn dập, bàn tay gầy guộc siết chặt đến mức các khớp xương kêu răng rắc.

    Tử Linh chỉ nhìn ông trân trân, đôi mắt xa xăm như xuyên qua ông của hiện tại, xuyên qua cả thời gian để nhìn ông của quá khứ, không đáp một lời.

    “Cô Mộng Kỳ không nghe lời tôi đâu… cô giỏi như vậy, xin cô hãy cản họ lại đi mà!”

    Ông gần như bật khóc, giọng lạc đi trong tuyệt vọng, nước mắt lăn dài trên khuôn mặt hốc hác.

    Tôi giật mình, như có lưỡi dao lạnh lẽo đâm thẳng vào tim.

    Mộng Kỳ, đó chính là tên mẹ tôi.

    Tôi quay sang nhìn Tử Linh, nhưng cô vẫn im lặng, chỉ để mặc bàn tay già nua run rẩy của ông ghì chặt lấy tay mình.

    “Không đúng... không đúng!

    Chỉ còn cô và tôi sao?

    Họ đâu cả rồi?”

    Chú Lăng gào lên, đôi mắt đỏ ngầu trợn ngược, như vừa nhận ra một sự thật kinh hoàng vừa nuốt chửng mình.

    Tử Linh khẽ quay đầu, ánh nhìn hướng ra cửa sổ.

    Bên ngoài, ngọn núi Tà Lĩnh sừng sững trong ánh sáng nhợt nhạt của buổi sớm, mờ ảo như một bóng ma khổng lồ.

    Cô vẫn không nói gì, nhưng trong khoảnh khắc ấy, tôi có cảm giác như cô đang trò chuyện với chính ngọn núi kia, với những linh hồn còn mắc kẹt trong màn tuyết của hai mươi năm trước.

    Chú Lăng bỗng run bắn, toàn thân co giật, miệng lắp bắp những từ ngữ rời rạc.

    Thầy Hồ vội lao tới giữ chặt vai ông, ra hiệu cho tôi đỡ lấy phía bên kia.

    Trong lúc hỗn loạn ấy, Tử Linh khẽ thì thầm, giọng mơ hồ như vọng về từ một nơi xa xăm:

    “Họ chưa bao giờ rời khỏi núi cả…”

    Tôi sững sờ, câu nói ấy như một nhát búa giáng xuống khiến mọi giả thuyết trong đầu tôi vỡ vụn, tan thành tro bụi.

    Bên ngoài, ngọn núi Tà Lĩnh vẫn sừng sững, lạnh lùng, như đang lặng lẽ chứng kiến tất cả.

    Tử Linh bắt đầu dịu giọng, từng lời nói chậm rãi và cẩn thận, như sợ chỉ một chút sơ suất thôi cũng sẽ khiến chú Lăng thêm kích động.

    Cách cô đặt tay lên cánh tay gầy guộc của ông, ánh mắt bình thản, giọng điệu trấn an nhẹ nhàng, tất cả khiến tôi bất giác liên tưởng đến những y tá trong viện dưỡng lão, những người đã quen trò chuyện với những tâm hồn già nua và mong manh.

    Thầy Hồ cũng dần thả lỏng, còn tôi trong khoảnh khắc ấy cảm thấy lòng mình lắng xuống, như mọi cơn bão tố trong đầu vừa tạm thời tan biến.

    Một ý nghĩ bất chợt lóe lên.

    Có lẽ mục đích của cô khi đến đây cũng giống tôi, cố tìm kiếm sự thật về nguyên nhân mất tích của người thân, dù quá khứ ấy có đau đớn đến đâu.

    Chú Lăng ngồi lặng người một lúc lâu, ánh mắt đục mờ lạc vào khoảng không, rồi ông bắt đầu kể, từng chữ từng chữ chậm rãi, khàn khàn, như kéo cả căn phòng này trở về trạm nghiên cứu cũ kỹ của hai mươi năm trước, nơi những bí mật kinh hoàng vẫn còn nằm im dưới lớp tuyết dày.

    Tần Khải Lăng sẽ không bao giờ quên được ngày hôm đó, ngày mà ông, một chàng trai mới ngoài đôi mươi, lần đầu tiên bước chân vào thế giới hoàn toàn khác biệt với cuộc sống thôn quê giản đơn của mình.

    Hôm ấy, như mọi khi, ông ngồi trong trạm nghiên cứu tạm bợ dựng bên sườn núi, giữa đám sinh viên khảo cổ trẻ trung và háo hức.

    Không khí cả đội rộn ràng tiếng cười nói, trông như một chuyến dã ngoại hơn là công việc khảo cổ nghiêm túc.

    Dẫn đầu là Mộng Kỳ, cán bộ Viện Khảo cổ học xinh đẹp năng động, và Quân Ảnh Minh, vị giáo sư trẻ cũng thuộc chuyên ngành.

    Hai người khi ấy còn chưa tới ba mươi, lại là vợ chồng son sắt mới cưới nên lúc nào cũng ríu rít chuyện trò, thỉnh thoảng trao nhau những ánh mắt nồng nàn không giấu diếm, khiến cả đội ai nấy đều phải cười tủm tỉm mà kiếm trò trêu chọc.

    Chính sự trẻ trung và nhiệt huyết của họ đã góp phần làm không khí cả nhóm lúc nào cũng tràn đầy sức sống, như thể ngọn núi lạnh lẽo kia cũng phải ấm lên vài phần.

    Còn ông, Tần Khải Lăng, vốn chẳng có gì đặc biệt ngoài đôi chân quen đường rừng núi và đôi mắt tinh tường của một thợ săn từ nhỏ.

    Từ bé đã hay theo cha lên núi săn thú, ông thuộc lòng từng con đường mòn, từng vách đá cheo leo, và cũng nằm trong số ít thợ săn địa phương dám đi sâu vào lòng Thần Lĩnh nhất.

    Lần đầu tiên đặt chân đến vùng đất này, đội khảo cổ tìm thẳng đến nhà trưởng thôn trước tiên.

    Họ đưa ra tờ giấy phép có dấu mộc đỏ chót của chính phủ, cho phép lập đội nghiên cứu khảo sát.

    Trong cái thôn nghèo quanh năm chỉ biết săn thú với trồng ngô, tờ giấy ấy như một tấm chiếu chỉ từ triều đình, khiến ai nấy đều nể phục, mắt sáng lên vì hy vọng có chút tiền công rơi vãi từ "người thành phố".

    Hồi đó, ngọn núi vẫn được gọi là Thần Lĩnh.

    Tuy chưa có truyền thuyết nuốt người kinh hoàng, nhưng dân trong vùng cũng ít ai dám bén mảng sâu.

    Địa thế hiểm trở, sát vùng biên giới, tuyết lở bất ngờ ập xuống như trời sập, lại thêm những vực sâu hun hút đen ngòm không đáy.

    Chỉ có vài thợ săn lão luyện hoặc bọn săn trộm thú hiếm mới dám liều mạng đi sâu vào lòng núi.

    Cha ông từng là một trong số đó, nhưng chẳng may vừa bị gãy chân trong chuyến đi rừng gần nhất nên giờ nằm nhà không nhúc nhích nổi.

    Thế là cơ hội bất ngờ rơi xuống đầu ông, Tần Khải Lăng khi ấy còn trẻ, đầy háo hức trước số tiền công dày cộp, và cũng không giấu nổi lòng tham lóe lên trong mắt khi nghĩ đến cuộc sống khá giả hơn cho mấy miệng ăn đang trông chờ vào người con trai này.

    Sao lại gọi đó là một món hời?

    Vì cái phong bì mà họ đưa ra hôm ấy dày đến mức khiến bất cứ ai trong thôn cũng phải hoa mắt.

    Số tiền ấy đủ để một gia đình sống sung túc cả mấy năm trời, đủ sửa lại mái nhà dột nát lâu ngày, đủ mua thêm vài con trâu béo tốt để cày ruộng.

    Trong cái thôn nghèo xác xơ, ai mà chẳng thèm muốn giành lấy giấc mơ đổi đời rơi từ trên trời xuống này.

    Ban đầu, đám thợ săn nhao nhao tranh nhau, kẻ nào cũng tự nhận mình quen núi nhất, giỏi đường nhất, giọng oang oang như sợ người khác không nghe thấy.

    Nhưng Mộng Kỳ không vội.

    Cô lắng nghe từng người một, hỏi han kỹ lưỡng, rồi bàn bạc riêng với trưởng thôn.

    Cuối cùng, ánh mắt cô dừng lại ở ông – chàng trai trẻ dáng người rắn rỏi, đôi mắt sáng quắc và bước chân chắc chắn, như thể đã sinh ra để thuộc lòng từng ngóc ngách của Thần Lĩnh.

    “Anh ta,” Mộng Kỳ nói, giọng dứt khoát như một mệnh lệnh không thể kháng cự.

    Từ khoảnh khắc ấy, số phận Tần Khải Lăng đã gắn chặt với chuyến đi định mệnh năm đó.

    Ông không hề hay biết rằng cái phong bì dày cộp kia không chỉ là món hời bất ngờ cho một gã thợ săn nghèo, mà còn là tấm vé một chiều đưa ông bước vào vòng xoáy bí mật kinh hoàng, một ký ức đeo bám gặm nhấm suốt cả cuộc đời còn lại, đến tận lúc này khi ông chỉ còn là bóng hình run rẩy trong viện dưỡng lão.
     
    Quân Gia Bút Ký
    Chương 10 Khởi hành


    Ngày đầu tiên đội khảo cổ tiến vào Thần Lĩnh là một ngày nắng ấm hiếm hoi, khiến lớp tuyết dưới chân núi tan chảy lấp lánh dưới ánh mặt trời.

    Cảnh sắc đẹp đến nao lòng, đẹp đến mức trong đầu ông, một thôn dân chỉ quen nghĩ đến củi gạo muối dầu cũng không tìm ra lời nào để tả xiết.

    Không khí cả đội huyên náo chẳng khác một chuyến dã ngoại vui vẻ.

    Đám sinh viên trẻ tuổi vừa đi vừa ríu rít chụp ảnh, tiếng máy ảnh lách tách vang lên liên hồi, xen lẫn với tiếng gió thổi hun hút qua khe núi.

    Mộng Kỳ và Quân Ảnh Minh đi đầu, tay cầm bản đồ, thỉnh thoảng dừng lại chỉ cho mọi người những vách đá kỳ thú với hình thù lạ lùng, hay những thân cây cổ thụ phủ đầy rêu xanh vừa hé lộ từ lớp tuyết tan.

    Con đường mòn dẫn sâu vào núi mở ra một khung cảnh hùng vĩ đến nghẹt thở.

    Những vách đá dựng đứng như bức tường thành khổng lồ của trời đất, thác nước trắng xóa đổ xuống từ độ cao hàng chục mét, hơi nước nóng từ mạch núi bốc lên mờ ảo như sương tiên.

    Những mảng tuyết còn sót lại phủ loang lổ trên triền núi, phản chiếu ánh nắng chói lòa thành những vệt sáng lấp lánh.

    Cảnh sắc ấy khiến ai nấy đều ngỡ như đang bước vào một bức tranh thủy mặc sống động, nơi núi rừng và tuyết trắng hòa quyện thành một thế giới riêng biệt, vừa đẹp đẽ vừa mang chút lạnh lẽo khó tả.

    Thế nhưng, giữa khung cảnh rực rỡ ấy, Tần Khải Lăng lại thoáng thấy những điều khiến lòng ông bất an, như một luồng gió lạnh vô hình len lỏi qua lớp áo mỏng.

    Ông ngẩng đầu nhìn lên, thấy một dải mây xám mỏng vắt ngang đỉnh núi, lẫn trong ánh nắng vàng ấm.

    Nó không dày đặc, không đen kịt, nhưng lại đứng yên bất động giữa bầu trời trong xanh, như một vết sẹo dài hằn sâu trên da thịt của trời đất.

    Có lúc gió thổi qua khe núi mang theo âm thanh rền rĩ kéo dài, nghe như tiếng ai đó than khóc vọng lại từ xa xăm, nửa như người nửa như thú, khiến da gà ông nổi lên dù không khí vẫn còn cái ấm áp từ nắng hạ.

    Càng đi sâu, không khí càng lạnh buốt bất thường, ánh sáng mặt trời bị những vách đá cao ngất che khuất, để lại những khoảng tối âm u lặng lẽ lan rộng dưới chân.

    Đám sinh viên vẫn vô tư cười đùa, chụp ảnh, ghi chép hăng say, chẳng ai để ý đến sự thay đổi ấy.

    Còn ông thì lặng lẽ siết chặt con dao săn bên hông, ngón tay bấu vào cán dao đến trắng bệch.

    Ông không phải người mê tín, nhưng trong khoảnh khắc ấy, ông chợt thấy mình như một kẻ xâm phạm lén lút bước vào lãnh địa cấm kỵ.

    Thần Lĩnh không chỉ là một ngọn núi đá lạnh lẽo.

    Nó giống như một sinh thể khổng lồ đang ngủ vùi từ thuở hồng hoang, hơi thở của nó là những cơn gió rít hun hút qua khe đá, mạch máu là dòng suối ngầm róc rách dưới lớp băng dày, và mỗi bước chân của đội khảo cổ dù nhẹ nhàng đến đâu, cũng như những cái chạm vô tình đánh thức nó dậy khỏi giấc ngủ ngàn năm.

    Đêm đầu tiên trong Thần Lĩnh buông xuống nhanh hơn họ tưởng.

    Mặt trời vừa khuất sau dãy núi, bóng tối đã tràn xuống như một tấm màn dày đặc, nuốt chửng con đường mòn chỉ trong chớp mắt.

    Đội khảo cổ vội dựng trại bên khoảng đất bằng cạnh khe suối, ánh lửa bập bùng hắt lên những gương mặt trẻ trung vẫn còn đầy hứng khởi dù mệt mỏi.

    Tiếng cười nói, tiếng chén bát va nhau vang vọng giữa núi rừng, nghe như một khúc nhạc lạc lõng giữa không gian tĩnh mịch bao la, nơi chỉ có gió rít và tiếng suối róc rách làm bạn.

    Cả đội tuy đã kiệt sức sau ngày dài đi đường, nhưng họ vẫn ríu rít kể chuyện, thậm chí còn hát vài câu hát vui nhộn để át đi cái lạnh đang len lỏi vào xương tủy.

    Mộng Kỳ và Quân Ảnh Minh ngồi sát nhau bên lửa, vừa ghi chép vừa bàn bạc sôi nổi, ánh mắt sáng rực dưới ánh lửa lập lòe.

    Họ tin rằng ngày mai sẽ tiến sâu hơn, sẽ tìm thấy những dấu tích khảo cổ quan trọng, những mảnh ghép có thể thay đổi cả lịch sử.

    Nhưng với Tần Khải Lăng, ngọn lửa ấy không đủ xua tan cái lạnh đang lan dần trong lồng ngực.

    Ông ngồi hơi chếch ra ngoài vòng sáng, mắt dõi về phía rừng sâu tối om, nơi những thân cây cổ thụ sừng sững như những bóng người khổng lồ đứng im lìm canh giữ.

    Thỉnh thoảng gió thổi qua, lá cây xào xạc, nhưng xen lẫn trong đó là âm thanh khác mơ hồ, kéo dài như tiếng rên rỉ vọng từ lòng núi.

    Ông khẽ cau mày, tay vô thức chạm vào con dao săn bên hông.

    Đêm nay mới chỉ là khởi đầu.

    Tần Khải Lăng tin rằng không chỉ mình ông cảm thấy lạc lõng giữa đám người trẻ trung náo nhiệt ấy.

    Bởi trong đội, vẫn còn một người khác mang dáng vẻ xa cách không kém.

    Cô sinh viên ấy ngồi lặng lẽ ở một góc, chậm rãi ăn phần cơm của mình.

    Không nói, không cười, chẳng tham gia vào những câu chuyện rộn rã quanh đống lửa.

    Ánh mắt cô hướng về phía đỉnh núi phủ mây xa xăm, trầm mặc và mơ màng, như thể tâm trí đã rời khỏi nơi này từ lâu, lạc vào một thế giới riêng biệt mà chỉ mình cô thấy được.

    Mọi người trong đội gọi cô là A Linh.

    Cái tên ấy vang lên giữa tiếng cười đùa rộn rã nghe vừa lạc lõng vừa lạnh lẽo, như một hơi thở từ nơi xa xôi lạc vào không khí ấm áp tạm thời của buổi tối núi rừng.

    Không ai để ý đến sự im lặng của cô, cũng chẳng ai hỏi han.

    Họ chỉ nghĩ đó là tính cách khép kín thường thấy ở những sinh viên ít nói, nên cứ để mặc cô ngồi đó như một bóng hình mờ nhạt giữa ánh lửa bập bùng.

    Tần Khải Lăng thoáng ngẩng lên, bắt gặp ánh mắt của cô gái.

    Giữa tiếng cười nói huyên náo, chỉ có hai ánh mắt ấy lặng lẽ giao nhau tựa hai kẻ lạc lõng vô tình tìm thấy nhau giữa đám đông ồn ào.

    Một gã thợ săn quê mùa và một cô gái trẻ mang ánh nhìn u uẩn.

    Ông không nói gì, cô cũng không.

    Nhưng trong sự im lặng ấy, Khải Lăng cảm thấy một sợi dây vô hình vừa được dệt nên, mỏng manh, khó nắm bắt, nhưng đủ để khiến ông bớt đi phần nào cảm giác đơn độc giữa núi rừng lạnh lẽo này.

    Đêm trong Thần Lĩnh càng về khuya càng lạnh, gió núi rít qua khe đá như tiếng thở dài của đất trời.

    Trong ánh lửa đỏ vàng bập bùng, những gương mặt trẻ trung hồng hào lên vì mệt mỏi xen lẫn hứng khởi, như thể ngọn lửa ấy đang sưởi ấm cả những giấc mơ khảo cổ đầy nhiệt huyết của họ.

    Mộng Kỳ đi kiểm tra từng lều một, chốt lại lịch trình ngày mai, thỉnh thoảng dừng lại dặn dò mọi người về an toàn, tránh lửa, tránh thú dữ, tránh những bất ngờ từ núi rừng.

    Quân Ảnh Minh ngồi bên đống lửa, vừa ghi chép tỉ mỉ vừa phác thảo vài nét trên sổ tay.

    Những cậu sinh viên nam nói năng to hơn mức cần thiết, kể nhau nghe chuyện trường lớp, chuyện đô thị ồn ào, rồi giúp nhau xoa tay cho bớt lạnh.

    Ở đầu kia, Mỹ Lan cười khanh khách, đôi khi xoay người để ánh lửa hắt lên sống mũi thon thả, mái tóc dài xõa xuống buông hờ trên vai như một tấm lụa mềm.

    Cô hỏi han các bạn nam bằng giọng dịu nhẹ, thỉnh thoảng như vô tình chạm tay vào cánh tay ai đó khi cười khúc khích, vẻ thích thú lộ rõ trong đôi mắt long lanh dưới ánh lửa.

    Trong khi mọi người tụ tập quanh đống lửa, chỉ có A Linh ngồi hơi chếch ra ngoài vòng sáng.

    Tấm bản đồ trải trên đầu gối cô, bút chì gõ nhẹ lên mép giấy theo nhịp suy nghĩ chậm rãi.

    Ánh mắt cô hướng về dãy núi tối thẫm phía xa, như vẫn còn dõi theo dải mây xám mỏng vắt ngang đỉnh núi từ hồi chiều.

    Thi thoảng, cô cúi xuống đánh dấu một điểm nhỏ, viết vài ký tự kín đáo bằng nét bút sắc gọn, rồi lại im lặng nhìn vào lửa, khuôn mặt không lộ chút cảm xúc.

    Ẩn dưới cổ áo cô là một sợi dây kết chỉ đỏ sẫm, phần mặt được giấu kỹ, chỉ ló ra một đoạn sau gáy như vệt máu khô dưới ánh lửa lập lòe.

    Mộng Kỳ xếp xong danh sách người trực đêm thì bước vào lều, quay lại dặn Quân Ảnh Minh: “Anh coi chừng đống lửa nhé.”

    Ông giáo gật đầu, cười ấm áp: “Có anh ở đây, lửa của chúng ta không tắt đâu.”

    Đám trẻ lại cười ồ lên, có người ném thêm vài khúc củi vào, lửa bùng lên mạnh mẽ, hắt những tia sáng run rẩy lên mái bạt lều, chiếu những cái bóng dài ngoằng của mọi người lên nền đất lạnh.

    Chỉ vài phút sau, một tiếng kêu thất thanh xé toạc bầu không khí ấy.

    "Trời ơi!

    Sợi dây chuyền của tôi đâu rồi?"

    Tiếng Mỹ Lan bật ra từ trong lều, cao vút và sắc nhọn như dao cắt, khiến mấy cậu sinh viên gần đó giật bắn mình.

    Mỹ Lan ló đầu ra, cô xốc tấm bạt lều, lục lọi túi vải một cách cuồng loạn, rồi ngẩng lên nhìn quanh đám đông với vẻ mặt đầy nghi ngờ.

    "Ai có thấy sợi dây chuyền của tôi không?

    Dây bạc, mặt đá xanh!

    Tôi để trong túi, ngay góc lều thôi mà giờ mất biến rồi!"

    Quân Ảnh Minh ngẩng lên khỏi sổ tay, điềm tĩnh lắc đầu: "Tôi không thấy.

    Bình tĩnh đã, có thể cô để lẫn đâu đó thôi."

    Mấy cậu sinh viên nam nháo nhào đứng dậy, đèn pin quét lia lịa: "Để bọn tớ soi xung quanh xem!"

    Đèn pin bật lên liên hồi, ánh sáng trắng cứng cáp cắt ngọt vào bóng tối, quét lia lịa qua mép lều, quanh đống đồ lộn xộn.

    Tiếng lá khô xào xạc dưới chân, tiếng gọi nhau dồn dập, tiếng thở gấp gáp của cả đội hòa quyện, khiến bầu không khí vốn yên tĩnh của đêm núi bỗng chốc bị khuấy đảo, căng thẳng như dây đàn sắp đứt.

    Mỹ Lan bước ra thêm một bước, ánh mắt quét một vòng đầy nghi ngờ rồi dừng lại ở A Linh.

    Cô thấy đối phương vẫn ngồi yên bất động ở đó, tay cầm bút, mắt dán chặt vào bản đồ trải trên đầu gối, chẳng hề ngẩng lên dù chỉ một lần.

    Sự bình thản lạnh lùng ấy như một cái tát thẳng vào lòng tự ái của Mỹ Lan.

    "A Linh!"

    Cô gọi lớn, giọng gằn lại sắc nhọn.

    "Cô ngồi đó làm gì?

    Cả đội đang tìm giúp tôi, còn cô thì thản nhiên như không có chuyện gì xảy ra.

    Hay là..."

    Mỹ Lan cố ý bỏ lửng câu nói, ánh mắt lóe lên tia thách thức, như muốn ép A Linh phải phản ứng, phải lộ ra chút sơ hở nào đó trong vẻ im lặng chết chóc kia.

    A Linh ngẩng mắt lên, ánh nhìn lạnh như nước suối đêm, trôi qua mặt Mỹ Lan mà không hề dừng lại dù chỉ một giây.

    Cô chỉ nhìn như thế rồi lập tức cúi xuống, bút chì đánh thêm một ký hiệu nhỏ trên bản đồ, động tác chậm rãi nhưng dứt khoát, như thể mọi ồn ào xung quanh chỉ là gió thoảng.

    Chính thái độ bình thản ấy khiến Mỹ Lan bùng nổ, mặt đỏ bừng vì giận dữ và xấu hổ.

    "Cô có ý gì hả?

    Tôi mất đồ, cả đội đang tìm giúp, mà cô ngồi đó thản nhiên như không có chuyện gì?!"

    Đám sinh viên nam vốn đã quen với sự làm dáng của Mỹ Lan liền hùa theo ngay, tiếng xì xào dồn dập như đổ dầu vào lửa:

    "Đúng rồi, lúc nãy chỉ có A Linh quay lại lều lấy đồ thôi."

    "Ít nói thế, trông đáng ngờ lắm."

    "Chắc giấu ở đâu rồi..."

    Tiếng thì thầm lan nhanh, ánh mắt mọi người đổ dồn về phía A Linh với vẻ nghi ngờ và thù địch ngày càng lộ liễu, như thể cô đã trở thành mục tiêu dễ dàng nhất để trút giận trong đêm núi lạnh lẽo này.

    Sự phân vai trong đám sinh viên ấy khi đó rõ rệt đến lạ.

    Một bên là Mỹ Lan, luôn biết cách kéo mọi ánh mắt về phía mình bằng nụ cười rạng rỡ và giọng nói ngọt ngào, như thể cả thế giới này chỉ xoay quanh cô.

    Bên kia là A Linh, chọn cách lùi sâu vào im lặng, lạnh lùng như tấm đá băng giữa đêm núi, dùng sự thờ ơ ấy để tự vệ trước mọi con mắt dò xét.

    Giữa hai thái cực ấy, đám trai trẻ nhanh chóng bị hút về phía ồn ào, như bầy thú hoang bị ánh lửa mê hoặc, lao vào mà không kịp nghĩ ngợi.
     
    Back
    Top Dưới