资料:
Tư liệu:
书中很少提到东夏这么一个女真族政权的存在,作为一个国家实体,于金朝衰亡之际,为求女真的复兴,脱而自立,存在了七十余年,领土包括吉林、黑龙江两省大部,曾与蒙古共享高丽的纳供,称雄于辽东地区。国号初名大真,后为东夏,朝鲜史籍称之为东真。
Trong sử sách rất ít nhắc tới bộ tộc Nữ Chân tồn tại ở Đông Hạ, quốc gia đó có thật, vào thời kỳ nhà Kim suy vong, để tìm cách phục hưng bộ tộc Nữ Chân, họ đã ly khai và trở thành quốc gia tự trị, tồn tại hơn bảy mươi năm.
Lãnh thổ trải dài từ Cát Lâm tới một phần lớn sông Hắc Long Giang, từng cùng với Mông Cổ chia sẻ cống phầm từ Triều Tiên, xưng bá toàn bộ khu vực Liêu Đông.
Lấy quốc hiệu ban đầu là Đại Chân, về sau đổi Thành Đông Hạ, sách sử Triều Tiên còn gọi là Đông Chân.
一、蒲鲜万奴
Thứ nhất, Bồ Tiên Vạn Nô:
首先,有必要介绍一下它的创立者──蒲鲜万奴,在我国东北的历史上他堪称是有数的杰出人物,然而《金史》《元史》均未为之立传,仅有散见于《纪》、《传》中某些零星事迹,这可能与史家对他怀有"逆贼"、"叛臣"的成见有关,另是修史,材料已然残缺不备,故直到几百年后的《新元史》《元书》等才为之补写专传。
Đầu tiên, cần phải giới thiệu qua một chút về người thành lập quốc gia cổ đó- Bồ Tiên Vạn Nô, trong lịch sử Đông Bắc nước ta có đề cập tới đây là một nhân vật kiệt xuất, nhưng trong "Kim sử"*, "Nguyên sử"** thì lại không có truyền lại, chỉ có thể thấy được ở một vài "ghi chép", hoặc "giai thoại" thưa thớt là đề cập tới.
Có thể là những sử gia thời kỳ này còn định kiến với ông ta, coi là "nghịch tặc", "phản thần", xa rời thực tế sửa đổi lịch sử, tài liệu về sau không được trọn vẹn, từ đó tới mấy trăm năm sau trong " tân Nguyên sử"*** "Nguyên thư" mới có thể bổ khuyết vào đó.
* "Kim sử":Kim sử là một bộ sách lịch sử trong 24 bộ sách sử của Trung Quốc (Nhị thập tứ sử), doThoát Thoát biên soạn năm 1345.
Tổng cộng có 135 quyển và viết từ sự ra đời cho đến khi diệt vong của nhà Kim.
** "Nguyên sử":Nguyên sử (tiếng Trung: 元史, bính âm: Yuán Shǐ) là một tác phẩm doTống Liêm (1310-1381) và một số quan lại khác phụng mệnh Minh Thái TổChu Nguyên Chương biên soạn năm 1370.
Do thời gian biên soạn ngắn, nên chất lượng Nguyên sử bị đánh giá là thấp nhất trong Nhị thập tứ sử.
Đến thời sau, Trung Quốc đã phải biên soạn bộ Tân Nguyên sử để sửa những sai sót của Nguyên sử.
注:说不通,既然在《金史》《元史》事后都已经材料残缺不备,为何几百年后还能为其补写专传?如此说来,补写的专传是虚构为主的?那还不如前世的记载零星更加的严谨。此外,史学家的成见也说不通,因为历史就是要记录正面和反面,历史不记录的原因只能有一个,就是这个人物无关紧要。如果真的是很无比,更应该写下劣迹让他遗臭万年才对。
Chú thích: Nói như vậy cũng không rõ ràng, nếu ở "Kim sử" "Nguyên sử" các tài liệu về sau đều không trọn vẹn, vậy vì sao trong mấy trăm năm sau còn có thể bổ khuyết thêm giai thoại vào đó?
Nói vậy, các sự kiện được thêm vào phải chăng là hư cấu?
Nếu thế còn không chặt chẽ bằng những ghi chép tản mạn trước đó.
Ngoài ra, thành kiến của sử gia cũng rất khó hiểu, vì sử sách làm ra cái chính là để ghi lại mặt tốt mặt xấu, nguyên nhân mà lịch sử không ghi chép lại chỉ có duy nhất một điều, chính là nhân vật này không quan trọng.
Nếu quả thực là như vậy, ngược lại viết xuống những việc xấu chẳng phải sẽ khiến ông ta lưu tiếng ác muôn đời mới đúng.
这段历史,要么就是史学家认为无关紧要,要么就是完全没有任何资料,使得连杜撰都不可能。
Giai đoạn lịch sử này, chẳng hay là sử gia cho rằng không quan trọng, nên không muốn để lại bất kỳ một tư liệu nào, có muốn bịa đặt ra cũng không thể.
蒲鲜万奴,祖籍辽人,历来对他有两种评价:一是否定的,认为他是个人野心家,在搞叛乱,使金朝分裂内讧,削弱了抵抗蒙古的力量,应该批判;二是肯定的,称赞他是"辽东怪杰",甚至誉其可"媲美阿骨打"。由于史料的缺乏,以至于其家世在文献上渺然无存,即便是姓名也歧说不一,也有记作完颜万奴、夫合讷、富鲜万奴、布希万奴、秃珠大石、万家奴、也奴、萧万奴、万肃奴等。"夫合"、"富鲜"、"布希"为"蒲鲜"的别称,"讷"为"万奴"的急读。"完颜"可能是金之赐姓。
Bồ Tiên Vạn Nô, Nguyên quán là người Liêu, trước vẫn tồn tại hai trường phái đánh giá đối với ông ta: một là phản diện, cho rằng ông ta là một người đầy dã tâm, thân làm phản loạn, trong sử sách triều nhà Kim có nội chiến phân tranh, lực lượng chống quân Mông Cổ suy yếu, hẳn là có ý phê phán.
Hai là chấp nhận, tán thưởng ông ta là "Liêu Đông quái kiệt", thậm chí tiếng tăm của ông còn "sánh ngang A Cốt Đả"*.
Bởi tư liệu lịch sử bị khuyết thiếu nên tài liệu về thời kỳ này không được bảo tồn lại, mặc dù danh tính của nó không đồng nhất, còn có bản viết là Hoàn Nhan Vạn Nô, Phu Hợp Nột, Phú Tiên Vạn Nô, Bố Hi Vạn Nô, Ngốc Châu Đại Thạch, Vạn Gia Nô, Dã Nô, Tiêu Vạn Nô, Vạn Túc Nô Đẳng.
"Phu Hợp", "Phú Tiên", trong đó "Bố Hi" và "Bồ Tiên" là biệt hiệu, "Nột" và "Vạn Nô" là tùy vào cách đọc.
"Hoàng Nhan" có thể là được vua Kim ban cho.
* A Cốt Đả: Kim Thái Tổ (chữ Hán: 金太祖, 1 tháng 8 năm 1068 – 19 tháng 9 năm 1123) là miếu hiệu của vịhoàng đế khai quốc của nhà Kim tronglịch sử Trung Hoa, trị vì từ ngày 28 tháng 1 năm 1115 cho đến ngày 19 tháng 9 năm 1123.
Tên thật của ông là Hoàn Nhan A Cốt Đả (chữ Hán: 完顏阿骨打, bính âm:Wanyan Aguda), có tên Hán là Hoàn Nhan Mân.
Ông là người sáng lập và là vị hoàng đế đầu tiên của triều đại nhà Kimtrong lịch sử Trung Quốc.
注:也就是说,现在记载的历史可能是无数可以混同发音姓名者的集合体。这是典型的历史谬误,就是把两个名字类似的人理解成一个人。
Chú thích: Nói cách khác, lịch sử hiện tại ghi lại có thể là do vô số lần phát âm nhầm tên họ mà tập hợp thành.
Đây là điển hình của sai phạm trong sử sách, hay như hai người tên giống nhau thành ra lý giải làm cùng một người.
他初见于史籍记载,在金章宗泰和六年(1206),以尚厩局使(尚厩局是职司御马调习牧养的机构,次官为"使",从五品)作为右翼都统完颜赛不的副统与宋军作战(《金史》卷12《章宗纪四》;卷113《完颜赛不传》),万奴出奇兵,配合完颜赛不的正面进攻,取得击溃宋军主力皇甫斌所部步骑数万的巨大胜利。卫绍王大安三年(1211)被任命为招讨使的监军,驻守于野狐岭,由于主帅无能,被蒙古军战败,精锐尽没。同年,耶律留哥起兵叛金,契丹族群起响应。至宁元年(1213)他受咸平路招讨使,驻屯咸平(辽宁开原)平叛。一战迪吉脑儿(辽宁昌图附近),大败,卫绍王再次宽谅了他,并擢任咸平路宣抚使。金宣宗贞祐二年(1214),任辽东宣抚使,成为辽东地区的最高军事行政长官。当年,与留哥二战归仁,因轻敌而大败,退入东京。
Ông ta xuất hiện lần đầu trong sử sách là ở chương Tông Thái năm thứ sáu (1206) của Kim sử, với Thượng cứu cục sứ ( Thượng cứu cục là chức ti ngự mã điều tập mục dưỡng ky cấu, thứ bậc là "đi sứ", hàng ngũ phẩm) làm cánh phải Đô thống Hoàn Nhan Tái Bất trong trận chiến với quân Tống ("Kim sử" quyển 12 "chương tông kỷ tứ"; quyển 113 "Hoàn Nhan Tái Bất truyện"), Vạn Nô thần binh, phối hợp với Hoàn Nhan Tái Bất tiến công chính diện, thành công đánh tan chủ lực của nhà Tống do Hoàng Phủ Bân cùng mấy vạn kỵ binh giành thắng lợi lớn.
Vì người cầm quân bất tài nên Mông Cổ bại trận, quân cạn khí kiệt.
Cùng năm, Gia Luật Lưu Ca khởi binh phản Kim, dân tộc Khiết Đan khởi quân hưởng ứng.
Tới năm Ninh Nguyên (1213) ông ta thảo ra Bình Lộ Chiêu Thảo Sứ, đóng quân yên ổn tại Hàm Bình (Liêu Linh, Khai Nguyên).
Đánh trận Địch Cát Não Nhi( Liêu Ninh cạnh Xương Đồ), đại bại, Vệ Thiệu Vương* lần thứ hai khoan nhượng tha cho ông ta, giáng chức làm Bình lộ tuyên phủ sứ.
Năm Kim Tuyên Tông Trình Hữu thứ hai (1214), nhậm chức Liêu Đông tuyên phủ sứ, trở thành đại quan của đặc khu quân sự tối cao tỉnh Liêu Đông.
Cùng năm, phái Lưu Ca lần thứ hai đánh chiếm Quy Nhơn (Bình Định, Việt Nam), do khinh địch mà đại bại, thoái lui tới Đông Kinh.
* Vệ Thiệu Vương(1168?—11 tháng 9,1213), tự là Hưng Thắng, húy Hoàn Nhan Doãn Tế, sau vì kiêng húy Hoàn Nhan Doãn Cung nên cải thành Hoàn Nhan Vĩnh Tế, là hoàng đế thứ 7 của nhà Kim, tại vị trong 5 năm (29/12/1208 – 11/9/1213)
二、建国称王
Thứ hai, dựng nước xưng vương.
1214年金宣宗逃往南京(开封),中都(北京)陷落,金朝覆亡已成定局,由于陆路交通联系断绝,辽东已成孤悬海外的一隅飞地,处境更为危难,"时金主御下严刻,万奴畏罪不自安,又闻东驾迁汴,不暇东顾,思乘间据地自擅"。(《蒙兀尔史记\蒲鲜万奴传》)二次败于留哥亦使他认识到金朝已无挽回中兴的可能,因而唯有改图另举,别建新业,或可振奋人心,又可免受金的制约。
Năm 1214 Kim Tuyên Tông* chạy về phía Nam Kinh (Khai Phong), Trung Đô (Bắc Kinh) định trệ, Kim triều diệt vong kết cục đã định, vì giao thông đường bộ bị cắt đứt mà Liêu Đông trở thành một quốc gia thuộc địa nước ngoài, tình cảnh càng nguy nan, "triều Kim cai quản rất nghiêm, Vạn Nô lấy làm sợ trong lòng không yên, nên khi nghe nói đã di giá về phía đông – Biện Khai Phong ( tỉnh Hà Nam), không có thì giờ gặp mà quay đầu lại nhìn chủ, vào lúc suy tính đã vô tình chiếm cứ các vùng lân cận" ("Mông Ngột Nhĩ sử ký/ Bồ Tiên Vạn Nô truyện" ) lần thứ hai bại vào tay Lưu Ca khiến cho ông ta nhận ra rằng nhà Kim đã vĩnh viễn không thể phục hưng lại được, cho nên chỉ có thể thay đổi kế hoạch khác, xây dựng một sự nghiệp mới hoàn toàn tách biệt, có thể vừa vực dậy lòng dân, lại vừa thoát khỏi những quy định của nhà Kim.
* Kim Tuyên Tông (金宣宗) là một vị hoàng đế của nhà Kim trong lịch sử Trung Hoa.
Tên thật của ông làHoàn Nhan Ngô Đổ Bổ (完顏吾睹補), sau đổi thành Hoàn Nhan Tuần (完顏珣), sau lại đổi thành Hoàn Nhan Tòng Gia (完颜從嘉), cuối cùng lại đổi thành Hoàn Nhan Tuần.
Ông là vị hoàng đế thứ 8 trong số 10 vị hoàng đế của nhà Kim.
Hoàn Nhan Tuần trị vì từ năm 1213 đến năm 1224.
Các niên hiệu trong thời kỳ trị vì của ông là Trinh Hữu (1213-1217), Hưng Định (1217-1222), Nguyên Quang (1222-1223).
Miếu hiệu của ông là Kim Tuyên Tông.
金宣宗贞祐三年(1215)春,万奴发动兵变,分兵两路,一路南下为偏师,一路北上是主力,以攻取上京为战略目标,迅速占领了咸平、东京、沈、澄等州,接着又进攻婆速府路,攻掠上京城等地。不久留哥趁机袭破东京,建国号"辽",万奴妻李仙娥被可特哥强娶。但留哥无意久居,劫掠一番后离去,万奴才得以收复东京。
Mùa xuân năm Kim Tuyên Tông Trịnh Hựu thứ ba (1215), Vạn Nô phát động binh biến, chia làm hai đạo, một đạo yểm trợ xuôi xuống phía Nam, một đạo chủ lực chạy lên phía Bắc, nhằm đánh chiếm mục tiêu chiến lược là Thượng Kinh (Bắc Kinh), cấp tốc chiếm Liễu Hàm Bình, Đông Kinh, Thẩm Dương, rừng Đằng Châu, tiếp theo lại tiến công thần tốc vào phủ, đánh qua kinh thành.
Không lâu sau Lưu Ca nhân cơ hội tập kích Đông Kinh, lập quốc lấy tên "Liêu", vợ Vạn Nô là Lý Tiên Nga có thể là bị ép gả.
Nhưng Lưu Ca lại vô ý lưu lại quá lâu, cướp bóc một phen sau mới rời đi, Vạn Nô lúc đó đã có thể thu phục Đông Kinh,
注:可怜的李仙娥,强娶是个暧昧的词语,真实如何大家都知道。
Chú thích rằng: Đáng thương thay Lý Tiên Nga, ép gả là một từ ngữ ám muội, chân thực như thế nào hẳn mọi người đều biết.
起兵之初,虽取得"沈、澄诸州,及猛安谋克人亦多从之者",但不久就连遭挫折,连已经归附的宾哥、出台、按出等十一个猛安又转投比他职位低的多的纥石烈桓端,更严重的是根据地东京的丧失,经过几个月的经验教训,使万奴认识到辽东宣抚使的名义已不起多大作用,必须改弦更张,树立起建国称王的新旗号,重振女真民族精神,才能起到诱发辽东将士,收揽辽东人心的目的。乙亥年(公元1215年,金宣宗贞祐三年)十月,在东京建都自立为天王,国号"大真",年号天泰,谋求女真之复兴。
Khởi binh lần thứ nhất, mặc dù đạt được "Thẩm Dương, rừng Gia Châu, thành công mục đích khắc chế người tài phò tá", nhưng không lâu sau lại vấp phải sự cản trở, sau đó phải quy phục Tân Ca, công khai hoạt động ,nghiêm trọng hơn là căn cứ ở Đông Kinh đã mất, trải qua mấy tháng giáo huấn kinh nghiệm, Sử Vạn Nô nhận thức được cái danh nghĩa tuyên phủ sứ Liêu Đông kia không có bao nhiêu tác dụng, phải thay đổi quy chế, xây dựng lại một quốc gia mới phất cờ xưng vương.
Nặng về tinh thần dân tộc Nữ Chân, lại có thể tạo được nhuệ khí trong lòng tướng sĩ Liêu Đông, mục đích mua chuộc lòng dân.
Năm Ất Hợi (Công Nguyên năm 1215, năm Kim Tuyên Tông Trinh Hữu thứ ba), tháng mười, ở Đông Kinh lập lên một thủ đô đặt là Thiên Vương, quốc hiệu "Đại Chân",niên hiệu Thiên Thái, mưu cầu tộc Nữ Chân được phục hưng.
注:从这里看来,并没有多少军事才能,反而是那种乘乱捞小便宜的人,现在捞了之后又没有能力保有,最后只好放弃之前一切原则的小人。属于枭雄中野心大于能力的那一类野心家,自然对于我他是一个英雄,但是在当时那种时代,他的光芒可能只能衬托其他人的伟大而已。
Chú thích rằng: Từ đây có thể thấy được, cũng không có bao nhiêu tài năng quân sự, ngược lại đây là kiểu thừa loạn lạc mà chiếm tiện nghi của kẻ tiểu nhân, tại lúc đó muốn vơ vét cũng không có khả năng, cuối cùng không thể làm gì khác hơn là đành buông tay trước tất cả những nguyên tắc hèn mọn.
Trong cái dã tâm của kẻ kiêu hùng cũng bao hàm cả điều đó, tất nhiên đối với tôi ông ta vẫn là một anh hùng, nhưng vào cái thời thế lúc bấy giờ, hào quang đó của ông ta chắc chỉ có thể phụ trợ cho sự vĩ đại của những người khác mà thôi.
三、曲降蒙古
Thứ ba, lý do đầu hàng Mông Cổ
大真建立之初,处境艰难,被蒙、金、辽三国所围困,阻隔了与外界联系的陆路通道。辽东南部和东部的金朝成为它最近的敌人,遭受最紧迫的威胁,金廷以曲赦辽东路许以高官诱使分裂的策略,图谋笼络和瓦解其军心,从内部搞垮,更调整辽东部署,"诏谕辽东诸将共讨之"。而辽由于内部的自相残杀,又迁居辽西之地,留哥更是投降蒙古,成为其附庸,虽仍有威胁,但已退居此要地位。故对大真而言,最大最危险的敌人当是兵锋正急的蒙古。如与之硬抗,必将败亡,若伪降,还可保存实力,蜷伏待机。于是,1216年10月间,递出降表,以其子帖哥为人质入侍御营。
Buổi sơ khai khi Đại Chân được thành lập, tình cảnh gian nan, mông muội, Kim, Liêu bi cục diện Tam Quốc vây khốn, cách trở đường bộ liên lạc với bên ngoài.
Nam Liêu Đông và đông Kim triều trở thành địch nhân gần nhất, trong lúc bị uy hiếp quẫn bách đó, triều đình nhà Kim liền lấy lý do ân xá cho Liêu Đông mà thi hành sách lược phân tách, mưu đồ lung lạc và tan rã tâm lý quân sĩ, phá đổ từ bên trong, lại thêm điều chỉnh Liêu Đông Bộ Thư, "chiếu dụ chư tướng Liêu Đông cùng chí hướng".
Mà nội bộ Liêu đang tự chém giết lẫn nhau, còn di dời sang địa phận Liêu Tây, Lưu Ca liền đầu hàng Mông Cổ, trở thành một nước thuộc địa.
Mặc dù bị uy hiếp nhưng địa vị đã chuyển xuống thứ yếu.
Vì thế đối với Đại Chân mà nói, địch nhân nguy hiểm nhất chính là quân tiên phong tới từ Mông Cổ.
Nếu như vẫn giữ thái độ cứng rắn thì chắc chắn sẽ bại vong, nếu giả hàng thì còn có thể bảo tồn thực lực, nằm im chờ thời.
Vì vậy,đương lúc tháng Mười năm 1216 liền gửi thư xin hàng, nhận Tử Thiếp Kha làm người cai quản.
注:果然。
Chú thích: quả nhiên.
四、东迁立夏
Thứ tư, Đông chuyển thành Hạ
蒲鲜万奴通过麻痹蒙古,使之松懈了对自己的防范,降后不久即趁隙"率众十余万,遁入海岛"(《元史.木华黎传》),故作局促蜷伏,无意卷土重来之态,进行了一次大的军事转移,保存、休整了部属。1217年2月辽东蒙军统帅木华黎转向南伐,进图中原,未留相应的兵力守备。万奴以为机会已到,遂起兵杀死监军耶律捏儿哥,踏上了东迁的路程,大致由南北两路同时进行。
Bồ Tiên Vạn Nô mất cảnh giác với Mông Cổ, buông lỏng hoàn toàn phòng bị, sau một thời gian đầu hàng không lâu liền thừa cơ "đem hơn mười vạn người, trốn ra hải đảo" (" Nguyên sử, Mộc Hoa Lê truyện"), giả vờ co quắp nằm im, thái độ vô ý quay đầu trở lại, tiến hành một cuộc di dời quân sự tầm cỡ, bảo tồn, dưỡng sức thuộc hạ.
Tháng 2 năm 1217 Liêu Đông thống soái quân Mông Mộc Hoa Lê chuyển hướng nam phạt, tiến hành âm mưu thôn tính Trung Nguyên, không để lại binh lực dự phòng tương ứng.
Vạn Nô cho rằng cơ hội đã tới, lập tức khởi binh giết chết giám quân Da Luật Niết Nhi Kha, lên đường đi Đông Thiên, đại khái là hai hướng nam bắc đồng thời cũng tiến hành.
先转战于鸭绿江下游一带,四月攻破大夫营,万奴率主力北上进攻隆安府(吉林农安),金辽东、上京等路宣抚使兼左副元帅蒲察移剌都弃城逃往汴京。既而进军上京,上京行省太平与之通,焚宗庙,执元帅承充,取上京,杀留守温迪罕老儿,然承充之女代父坚守,又得援兵,不克,于是撤军东去曷懒路、速频路交界地区。主力于1218年12月以前基本完成东迁。然其残余势力继续在辽东南部活动了一段时间。于1217年六、七月间,再度自立,改国号为东夏,年号仍延用天泰,建都开元城(其地今址众说不一)。也有说其国号本为大夏,因地处东方,为别于西夏故而名之。朝鲜史籍称之为东真。
Trước vẫn là liên tục chiến đấu ở các chiến trường xung quanh hạ du Lục Giang, tháng tư công phá doanh trại đại phu, Vạn Nô dẫn theo quân chủ lực chạy lên bắc thượng tiến công phủ Long An (Cát Lâm, Nông An), Kim Liêu, quan phủ Bắc Kinh chức tuyên phủ sứ kiêm tả phó nguyên soái Bồ Sát bỏ thành tháo chạy tới Biện Kinh (Khai Phong).
Lát sau quân tiến vào thủ phủ Bắc Kinh, một đường yên bình thông suốt, đốt miếu thờ vua, bắt nguyên soái Thừa Sung, đoạt được thành Bắc Kinh, giết thủ quân đồn trú Hãn Lão Nhi, nhưng Thừa Sung khi đó vẫn cố thủ, về sau được thêm viện binh, không thành công.
Vì vậy quân rút về hạt Lại Lộ, rồi nhanh chóng tiến về giáp danh Tần Lộ.
Chủ lực vào tháng 12 năm 1218 trên cơ bản đã thành công chiếm được Đông Thiên.
Nhưng thế lực còn sót lại tiếp tục kế thừa những hoạt động ở Nam Liêu Đông trong một khoảng thời gian.
Tới năm 1217, giữa tháng Bảy, lần thứ hai độc lập sửa quốc hiệu thành Đông Hạ, niên hiệu vẫn giữ là Thiên Thái, lập thủ đô Nguyên Thành (địa danh này ở nhiều bản ghi không đồng nhất.).
Cũng phải nói quốc hiệu ban đầu là Đại Hạ, mà nơi đây là ở Đông phương, tên như vậy là để phân biệt với Tây Hạ.
Sử sách Triều Tiên gọi là Đông Chân.
注:这一段打了一个时间差,甚好,显然蒲鲜万奴本身的能力是具备的,如果发展的好,这一次就能获得喘息的机会,利用更好的资源迅速巩固城防,扩展军队,等到其他几方势力反应过来,可能已经晚了,一个强大的敌人已经出现了。
Chú thích: Đoạn này thời gian chiến tranh chênh lệch, cũng tốt, rõ ràng là năng lực của Bồ Tiên Vạn Nô khá đầy đủ, nếu như phát triển tốt, lúc này đây có thể tạm thời nhàn hạ, lợi dụng tài nguyên cấp tốc củng cố phòng thủ Thành Đô, mở rộng quân đội, tới khi các thế lực khác kịp hành động, xem chừng đã chậm, một địch nhân cường đại đã xuất hiện.
五、威震辽东
Thứ năm, uy chấn Liêu Đông
东夏立国,金廷以蒲察五斤为辽东行尚书省,又改调至上京,同时诏捕治辽东受伪署官家属皆残酷杀害,但金军仅能退处婆速一路,艰撑危局而已,哪有与东夏对抗的实力?此时,蒙古正用兵西夏,又与金力争中原,也无暇分兵辽东,为东夏的发展壮大赢得了时机。短短几年时间,经过不断的用兵,势力所及,包有了金的曷懒路、速频路和胡里改路地区,疆域范围大致为东至渤海,西北至胡里改城(黑龙江依兰),西至张广才龄,南至婆速府与朝鲜青州(朝鲜咸镜北道一带),最盛时达到南起西逾大龄中经定平东止都连浦的朝鲜古长城东段,北至今黑龙江巴彦、依兰以北至黑龙江下游地区,西起今吉林中部偏西至黑龙江南部当中一带(后期包括金上京城在内),东至日本海。耶律留哥起兵之后,其众劝自立,却降了蒙古,部下多叛,其中一部分进入高丽境内辗转侵扰,威胁王都,高丽便希望蒙古、东夏"领兵来救,一扫其类"(《高丽史》)。1218年成吉思汗派元帅哈真和扎剌,领兵一万与留哥的余部相合开赴高丽,蒲鲜万奴亦遣元帅胡土率军二万,共有十万之众,高丽自出兵四十万,共讨于江东城下,1219年春正月,其首领喊舍自杀,余者出降,遂平。高丽为表感谢之意,向两国呈献岁贡,还约定两国遣使至高丽受纳贡物。此后,蒙古派往高丽督催贡物的使臣均取道东夏国境,与东夏的使臣常来往同行,亲如一家。蒙军元帅哈真曾对朝鲜言:"果与我结好,当先遥礼蒙古皇帝,次则礼万奴皇帝"(《高丽史》),表示蒙古已经承认了蒲鲜万奴的自立称帝。东夏以派遣使节跋涉万里前往成吉思汗西征驻跸之地朝觐,表达了大的礼节。这种友好关系一直维持到1224年,前后达六年之久。
Đông Hạ lập quốc, triều đình nhà Kim chọn Bồ Sát Ngũ Cân làm thượng thư tỉnh Liêu Đông, bố trí lại Bắc Kinh, trong khi Liêu Đông cai trị vùng đất Vu gia đã ra tay tàn sát dã man, nhưng quân Kim bấy giờ không thể nhanh chóng trở lại, gian nan chống đỡ tình thế nguy hiểm, làm thế nào có thể chiến đấu với sức mạnh của nước Đông Hạ kia?
Tại thời điểm này, Mông Cổ là lực lượng quân sự của Tây Hạ, còn với nhà Kim tại Trung Nguyên, Liêu Đông quá bận rộn để phân chia lực lượng của mình cho sự phát triển và mở rộng của Đông Hạ.
Chỉ với thời gian một năm, thông qua phát triển lực lượng quân sự, đạt được thế lực tầm cỡ, so với sự biếng nhác của quân Kim, liên tiếp thay đổi và phát triển khu vực, ranh giới của phạm vi mở rộng tới vùng Bột Hải (vùng biển giữa bán đảo Sơn Đông và bán đảo Liêu Đông Trung Quốc), phía Tây bắc của thành phố lan ra tận hồ Lý Cải Thành (Hắc Long Giang, Y Lan), tây tới Trương Quải Tài Linh, nam tới Triều Tiên Thanh Châu (Triều Tiên khu vực Bắc Nhất Đài), mở rộng nhất là phía nam từ phía tây kéo dài tới phía đông sát với Triều Tiên, phía bắc chạy đến hạ du Hắc Long Giang, khu vực Hắc Long Giang ở hạ lưu Y Lan, từ phía tây đến phía nam của trung tâm Cát Lâm, trong khu vực Hắc Long Giang (bao gồm cả bên trong thành Bắc Kinh), phía đông tới vùng biển Nhật Bản.
Da Luật Lưu Ca khởi binh, tất cả đều là tự lực kêu gọi, lại đầu hàng Mông Cổ, thủ hạ phản bội, một phần trong số chúng đã xâm nhập vào lãnh thổ của Triều Tiên, đe dọa nhà vua, Triều Tiên hy vọng Mông Cổ, Đông Hạ " dẫn quân đến cứu viện, quét đi lũ phản tặc" ("Triều Tiên sử").
Năm 1218 Thành Cát Tư Hãn phái Nguyên soái Hắc Chân và Trát Lạt, dẫn theo mười ngàn binh sĩ tiến quân sang tương trợ Triều Tiên, theo lời đề nghị tới thành Gian Đông, tháng Giêng xuân 1219, thủ lĩnh đối phương Hảm Xá tự tử, trong khi những người còn lại ra hàng, dẹp loạn thành công.
Triều Tiên là tỏ ý cảm tạ nên hằng năm đem cống phẩm tới hai nước, hai nước cũng đã đồng ý phái đại sứ đến Triều Tiên thu lạp cống phẩm.
Kể từ đó, Mông Cổ phái người tới Triều Tiên đốc thúc và giám sát giao nộp đốc cống phẩm, cũng cho sứ thần giao thiệp qua lại với biên giới Đông Hạ, thân nhau như người một nhà.
Nguyên soái Mông Cổ Cáp Chân Tằng đã từng nói với Triều Tiên: "Cùng nhau giao hảo, trước là tới lễ hoàng đế Mông Cổ, sau là tới lễ hoàng đế Vạn Nô "(" Triều Tiên sử"), điều đó chỉ ra rằng Mông Cổ đã công nhận Bồ Tiên Vạn Nô tự xưng đế.
Đông Hạ gửi phái viên bôn ba ngàn dặm tới triệu kiến Thành Cát Tư Hãn, thể hiện phép lịch sự.
Điều này đã duy trì được mối quan hệ thân thiết cho đến năm 1224, sáu năm trước."
注:可惜,被蒙古的怀柔政策所蒙蔽了。此时的万奴王恐怕已经不敢想象和蒙古作对是一种什么状态,他所有的经历可能都维持在这种平衡上了。不过,高丽在当时并不靠谱,在蒙古的强悍下,高丽的立场并不决绝,也是一种两难的局面。
Chú thích: Thật không may, bị các chính sách dụ dỗ của Mông Cổ che mắt.
Lúc này Vạn Nô vương sợ không dám nghĩ tới mình và Mông Cổ nếu đối đầu tình hình sẽ như thế nào, mọi sự diễn ra ông ta đều chỉ muốn duy trì ở thế cân bằng.
Tuy nhiên, Triều Tiên thời điểm đó không phải là đồng minh đáng tin cậy, dưới một Mông Cổ cường hãn như vậy, Triều Tiên lập trường cũng không vững chắc, cục diện cũng trở lên tiến thoái lưỡng nan.
六、东夏国破
Thứ sáu Đông Hạ sụp đổ
然东夏与蒙古之间的友好关系只是表面上的亲善,一种政治上暂时的妥协,实际上却是尔虞我诈、勾心斗角,都在拉拢、压迫高丽以孤立或打击对方。面对蒙古的强大,东夏不但没有与高丽联手共抗,反而不断派兵侵扰其边境劫掠,致使两国时常处于小规模的战争状态,消耗了国力,却毫无所得。1223年木华黎经略中原未成,死于山西。1224年东夏与蒙古的关系出现新的转折,1月,东夏致高丽文二道:"其一曰:'蒙古成吉思,师老绝域,不知所存,讹赤忻贪暴不仁,已绝旧好';其一曰:'本国于青州,贵国于定州,各自榷场,依前买卖'"(《高丽史》)。从此,蒙古使者不再经东夏国境而从婆速路出入。双方关系的交恶,东夏由于错误地估计形势应负主要责任,但是蒙古皇太弟斡赤斤(讹赤忻)的贪暴不仁,对东夏肆意索贡,也是原因之一。两国关系破裂,但并未因此而激化。1227年成吉思汗死,窝阔台即位,经过三峰山之战,金国仅存的主力覆亡,蒙古的对外扩张政策有所改变,开始在东北地区大举用兵,两国关系又开始紧张起来。1233年2月,元太宗"诏诸王,议伐万奴,遂命皇子贵由(即:元定宗)及诸王按赤带,将左翼军讨之"(《元史》)。参加的还有多人,隶属关系如下:
Tuy nhiên, quan hệ hữu nghị giữa Đông Hạ và Mông Cổ chỉ là thiện chí ngoài mặt, thỏa hiệp chính trị tạm thời, thực tế chỉ là lừa bịp, đấu đá nội bộ, là để giành chiến thắng, áp bức Triều Tiên cô lập đối phương.
Đối mặt với Mông Cổ cường đại, vẫn tiếp tục gửi quân sang xâm nhập cướp bóc biên giới đối phương, dẫn đến việc hai nước thường nổ ra chiến tranh quy mô nhỏ, tiêu hao lực lượng quốc gia, nhưng không đạt được thêm điều gì.
Năm 1223 Mộc Hoa Lê* chiếm Trung Nguyên không thành, chết ở Sơn Tây.
Trong năm 1224 quan hệ Đông Hạ với Mông Cổ xuất hiện của bước ngoặt mới, chỉ trong một tháng, Đông Hạ gửi Triều Tiên hai công văn: "Thứ nhất là:" Thành Cát Tư Hãn Mông Cổ , lão tướng ở nơi xa xôi, không biết có còn tại thế, Ngoa Xích Hãn tham bạo bất nhân, cắt đứt mối hữu hảo ngày trước'; Thứ hai là: "Bản quốc ở Thanh Châu, quý quốc ở Định Châu, đều tự có lập trường, buôn bán như trước kia" ("Triều Tiên sử").
Từ đó, sứ giả Mông Cổ không còn thông qua biên giới Đông Hạ.
Mối quan hệ song phương thù địch, Đông Hạ do tính sai tình hình nên chịu trách nhiệm chính, nhưng hoàng đế Mông Cổ Oát Xích Cân (Ngoa Xích Hãn) tàn bạo bất nhân, lại đối với Đông Hạ cướp cống phẩm bừa bãi, cũng là một trong những nguyên nhân.
Quan hệ hai nước tan vỡ, nhưng chưa vì vậy mà dẫn tới gay gắt.
Năm 1227 Thành Cát Tư Hãn chết, Oa Khoát Thai tại vị, trải qua ba trận chiến lớn, chủ lực nhà Kim diệt vong, Mông Cổ thay đổi chính sách đối ngoại mở rộng, bắt đầu từ các lực lượng quân sự lớn đông bắc, các mối quan hệ dần căng thẳng.
Trong tháng Hai năm 1233, Nguyên Thái Tông "Chiếu chư vua, đề nghị phạt Vạn Nô, toại mệnh hoàng tử Quý Do** (tức là: Nguyên Định Tông).
Và chư vương Án Xích Đài, dẫn cánh tả quân dẹp loạn "(" Nguyên sử ") cũng như sự tham gia của nhiều người, quan hệ như sau:
* Mộc Hoa Lê (Muqali, tên theo chữ Hán: 木華黎) (1170-1223), là một trong tứ kiệt (hay tứ dũng) của Thành Cát Tư Hãn, gồm có bốn chiến binh có sức mạnh và đồng thời là bốn vị chiến tướng anh dũng, thiện chiến trên chiến trường là Xích Lão Ôn, Bác Nhĩ Truật, Bác Nhĩ Hốtvà Mộc Hoa Lê.
Ông là một trong những vị tướng vĩ đại nhất đã theo Thành Cát Tư Hãn chinh chiến đông tây đặc biệt là ông đã phò tá cho Thành Cát Tư Hãn thống nhất đất nước, và đảm nhiệm vị trí chủ lực trong cuộc chinh phạt nhà Kim.
Ông là một người tham gia trong nhiều trận đánh ở Thành Cát Tư Hãn thống nhất vùng Trung Á vàĐông Á.
** Đại hãn Quý Do(tiếng Mông Cổ: Гүюг хаан, Güyük qaγan; chữ Hán: 貴由; 1206 – 1248) làKhả hãn thứ 3 của Đế quốc Mông Cổ, trị vì từ năm 1246 – 1248.
Sau này khi người em họ Hốt Tất Liệt thống nhất Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, đã truy thụy hiệu cho Quý Do là Nguyên Định Tông.
(一)皇子贵由
(Nhất) Hoàng tử Quý Do
(1)国王塔思
(1) Quốc vương Tháp Tư
A、石抹查剌
a, Thạch Mạt Tra Lạt
B、石抹孛迭尔
b, Thạch Mạt Bột Điệt Nhĩ
(2)兀良合台
(2) Ngột Lương Hợp Thai
(二)诸王按赤带(台)移剌买奴(左翼军
(Nhị) Chư vương Án Xích Đài (Đài Châu- Chiết Giang Trung Quốc) Di Lạt Mãi Nô (Quân cánh tả)
(三)王荣祖(先"伐高丽",后"进讨万奴擒之")
(Tam) Vương Vinh Tổ (Trước "tiến quân sang Triều Tiên ", sau "chinh phạt Vạn Nô")
蒙古大军取道高丽,北进东夏境内。1233年9月包围南京,虽然"城坚如立铁"(《元史》),终因寡不敌众,城陷,蒲鲜万奴被擒(一说被杀)。蒙军继续前进,攻占"开元(黑龙江省牡丹江东部)、恤品(绥芬河流域中下游),东土悉平"(《元史》)。东夏国亡,立国一十九年。
Đội quân Mông Cổ qua Triều Tiên, tiến vào nội quốc Đông Hạ.
Tháng 9 năm 1233 bao vây Nam Kinh, mặc dù là "thành trì cứng như sắt dựng" ("Nguyên sử"), kết quả cuối cùng mãnh hổ nan địch quần hồ, mất thành, Bồ Tiên Vạn Nô bị bắt (có ghi chép là đã chết ).
Quân Mông Cổ tiếp tục tiến tới, chiếm lấy "khai Nguyên ( đông Mẫu Đơn Giang, tỉnh Hắc Long Giang, ), vật phẩm tiếp tế (lưu vực sông Tuy Phân), lãnh thổ phía đông đã được san phẳng hoàn toàn" ("Nguyên sử").
Đông Hạ mất, mười chín năm lập quốc.
注:这就是云顶天宫壁画上所描绘的最后一战,当时对于东夏这样的小国,承载的是整个民族最后的尊严,必然是全国死战,可以想象当时如日中天的蒙古人和死战不留的女真人会有多么惨烈的交锋,这段血腥的记忆必然深深地留在了幸存的女真人的心里。
Chú thích: Trận chiến cuối cùng được miêu tả trên bích họa ở Vân đỉnh thiên cung, Đông Hạ khi đó là một tiểu quốc, danh dự cuối cùng của cả dân tộc đó là quyết tử cho đất nước, có thể tưởng tượng rõ ràng cảnh chiến tranh giữa người Mông Cổ và người Nữ Chân thảm thiết tới mức nào.
Đoạn ký ức tanh mùi máu đầy bi thảm đó sẽ còn lưu lại vĩnh viễn trong lòng người dân tộc Nữ Chân.
七、政权仍存
Thứ bảy, chế độ vẫn còn
过去都认为东夏随万奴的被擒而灭亡,但自康熙二十五年(1686)发现刻有"大同"年款的官印以来,对东夏国的存亡又有新说。据王国维的考证:"《高丽史》多记东真即大真与高丽交涉事,自太宗癸巳(1233)以后,至世祖至元之末(1294),凡二十见。意万奴既擒之后,蒙古仍用之,以镇抚其地,其子孙承袭如藩国然,故尚有东真之称"(《黑鞑事略笺证》)。另外在《高丽史》和《元史》1233年后多年的记载中仍使用"贵国"、"东夏万奴国"的称谓。1234年2月,"蒙古留百余骑于东真,余皆引还"(《高丽史》)。1235年设开元、南京二万户府,后者总管可能即东夏国王兼任。东夏的旧属继续维持管理着该地区的政务,而使用的年号就是"大同",于当地出土了多颗不同年份的大同年号官印,足以证明。作为藩国的东夏,自此对蒙古一直归顺服从,并协助蒙军镇压高丽的反叛。
Quá khứ cho rằng Đông Hạ theo Vạn Nô bị bắt chắc chắn diệt vong, nhưng hai mươi lăm năm kể từ khi triều đại của hoàng đế Khang Hy (1686) thấy rằng các con dấu chính thức khắc hình "Đại đồng*" tới nay, cho thấy sự tồn tại của Đông Hạ.
Theo nghiên cứu của Vương Quốc Duy : "" Triều Tiên sử " có nhắc tới Đông Chân tức Đại Chân từng có giao thiệp qua lại với Triều Tiên, kể từ Thái Tông Quý Tị (1233) sau đó tới thế tổ các đời Nguyên Mạt (1294), có tầm hai mươi ý kiến.
Cho rằng lúc Vạn Nô bị bắt, Mông Cổ vẫn còn sử dụng ông ta để trấn an đất nước của họ, con cháu của họ được thừa hưởng các nước chư hầu, nguyên nhân còn từng gọi Đông Chân "(" Hắc Thát tóm lược sử ").
Cũng trong" Triều Tiên sử "và" Nguyên sử " ở năm 1233 sau nhiều năm ghi chép vẫn sử dụng danh hiệu "quý quốc", "Vạn Nô nước Đông Hạ".
Tháng 2 năm 1234.
", Mông Cổ để lại hơn trăm kỵ binh Đông Chân, còn lại rút sạch" ("Triều Tiên sử").
Năm 1235 thiết khai nguyên, Nam Kinh hai triệu hộ dân, người sau có thể là kế nhiệm quốc vương Đông Hạ.
Đông Hạ kế tục duy trì quản lý địa khu hành chính, tại nơi sử dụng "Đại đồng" khai quật được một số các quan ấn có niên đại khác nhau, đủ để chứng minh.
Làm nước chư hầu Đông Hạ, từ đó đối với Mông Cổ vẫn một lòng quy thuận phục tùng, muốn được tương trợ quân Mông trấn áp phản loạn Triều Tiên.
注:汪藏海生活在明末,显然这个政权在逐步萎缩的过程中并没有消失,而是从国逐渐消减成城邦,又从城邦消减成部落。
Chú thích: Uông Tàng Hải sống trong những năm cuối nhà Minh, rõ ràng là trong quá trình chính quyền mục nát nhà nước đó cũng không hề biến mất, mà từ một nước dần dần tiêu giảm thành một tỉnh, lại từ tỉnh tiêu giảm thành bộ tộc.
1235年蒙古三伐高丽,东夏军即作为前导,攻下了龙津镇、镇溟城等地(《高丽史》)1236年蒙军再入高丽,曾派援兵百余骑,侵入高丽东北境,自耀德、静边趋永兴仓(《高丽史》)。到了蒙哥统治时期,蒙古再度大规模用兵高丽,东夏又成为蒙军进兵的通路。
Năm 1235 Mông Cổ lần ba chinh phạt Triều Tiên, quân Đông Hạ dẫn đường, dẹp xong thị trấn Long Tân, trấn Minh Thành và các địa điểm khác ("Triều Tiên sử") .
Tháng 6 năm 1236, quân Mông tái chiếm Triều Tiên, đã gửi hàng trăm kỵ binh tiếp viện, xâm nhập đông bắc Triều Tiên, từ Diệu Đức, Tĩnh Biên tới Vĩnh Hưng đều nhanh chóng bị chiếm cứ ("Triều Tiên sử").
Đến thời kỳ Mông Cổ thống trị, lần thứ hai Mông Cổ mở đại chiến dịch tại Triều Tiên, Đông Hạ trở thành quân tiên phong cho quân Mông .
据《高丽史》记载,自1249年至1259年,每年都有东夏的兵马入境侵扰。1257年,入登州的一次多至三千余骑,1258年还出舟师围攻高城县的松岛。直至蒙古出面干预,才停止。元世祖即位后,开始逐步加强对东夏的控制。至元三年(1266)二月,曾设立过东京、开元、恤品、合懒、婆速等路宣抚司。至元二十年(1283)五月,又增设海西辽东提刑按察司。恤品、合懒两路是东夏的领地,海西当谓包括东夏在内,可见已一律与国内地区统治管辖。至1287年后,似不再有"东真"、"东夏"之名,想东夏藩国当撤于前。
Theo "Triều Tiên sử" ghi lại, từ năm 1249 đến năm 1259, hàng năm đều có binh mã Đông Hạ nhập cảnh quấy nhiễu.
Năm 1257, châu Nhập Đăng có tới hơn ba nghìn kị binh, năm 1258 huyện Tùng Đảo bị thuyền vây chặt.
Cho đến khi Mông Cổ đứng ra can thiệp và thì mới dừng lại.
Sau khi Nguyên Thế Tổ lên ngôi, bắt đầu từng bước tăng cường khống chế Đông Hạ.
Tới năm thứ ba triều Nguyên (1266) trong tháng Hai, đã thiết lập qua Đông Kinh, Khai Nguyên, Tuất Phẩm, Hợp Lại.
Tới năm hai mười triều Nguyên (1283) tháng năm, lại thêm Thiết Hải Tây Liêu Đông phủ tư pháp.
Tuất Phầm, kết hợp hai lãnh thổ của Đông Hạ, Hải Tây nhậm chức bao gồm cả khu vực trong Đông Hạ, có thể thấy được rằng đó giống như cai quản một địa hạt trong nước.
Đến năm 1287 sau, có vẻ như không còn cái tên "Đông Chân", "Đông Hạ", nước chư hầu Đông Hạ đã bị triệt tiêu.
注:可怜的高丽,此时东夏的国的残余必然已经退入长白山,进入了隐蔽的生活。
Chú thích: Đáng thương cho Triều Tiên, lúc này tàn dư của Đông Hạ đã thoái lui vào dãy Trường Bạch, bắt đầu cuộc sống ẩn dật.
八、历史遗迹
Thứ tám, di tích lịch sử
1、城子山山城
1, Thành phố núi Thành Tử
为了防范蒙古的东侵,针对该地区多山地的特点,东夏国城市多建在山上,成为山城。位于延吉市东郊延吉市与图们市交界处。城内有少量渤海国遗迹和大量东夏国遗迹。城垣依山势以石材修筑,呈不规则椭圆形,周长4454米。有门址崐4处,其中3处有瓮城。城内地势开阔,中央有宫殿基址,呈阶梯状,共9阶,每阶宽10米,长17米,其上础石排列有序。殿址周围散布有大量的建筑瓦件。城内出土有玉带饰,玉鸳鸯佩饰、玛瑙佩饰、东夏国官印、铜镜、占卜器、磕码、母子小铜造像以及数百枚唐、宋、金铜钱。该城是东夏国的南京,东夏国王蒲鲜万奴曾一度居于城中,公元1233年蒲鲜万奴在城中被蒙古军兵俘虏,东夏国灭亡。是研究东夏国政治、经济、文化等最为重要的文化遗存,具有较高的独特的历史和科学价值。
Để đề phòng bị Mông Cổ xâm lược, dựa vào địa hình nhiều núi đặc biệt, Đông Hạ xây dựng Thành Đô chủ yếu ở trên núi, trở thành thành phố núi.
Tại ngoại vi phía đông thành Duyên Cát có biên giới qua lại với thành Đồ Môn.
Bên trong thành còn vài di tích Bột Hải và một lượng lớn di tích thuộc quốc gia Đông Hạ.
Tường thành dựa vào thế núi để xây dựng, hình bầu dục bất quy tắc, chu vi dài khoảng 4454m.
Có bốn cửa, trong đó ba chỗ là Ủng thành (bức thành nhỏ ở ngoài cổng thành).
Bên trong thành địa thế trống trải, chính giữa là tàn tích cung điện,hình cầu thang, có chín bậc, mỗi bậc khoảng 10 m, dài 17 m, trên đá có hàng chữ.
Xung quanh nền điện còn rải rác một vài kiến trúc bằng ngói.
Bên trong thành khai quật có trang sức đai ngọc, ngọc bội uyên ương, mã não, quan ấn Đông Hạ, gương đồng, dụng cụ bói toán, đồ đạc sứt mẻ, tượng mẫu tử tiểu đồng cùng với mấy trăm đồng xu thời Đường, Tống, Kim.
Thành Nam Kinh thuộc cai quản của nước Đông Hạ, quốc vương Đông Hạ là Bồ Tiên Vạn Nô từng ở trong thành, Công Nguyên năm 1233 Bồ Tiên Vạn Nô bị Mông Cổ quân binh bắt tù binh, Đông Hạ đi tới diệt vong.
Theo nghiên cứu về chính trị, kinh tế, văn hóa của Đông Hạ thì di sản trọng yếu nhất còn để lại, có tương đối cao giá trị lịch sử và khoa học.
2、浴池山
2, Dục Trì sơn
位于延吉市东约10公里,隔一山谷与城子山相对。山顶有一圆形水池,山峦山有一烽火台。水池据传为东夏国国王蒲鲜万奴洗浴之处。
Tại phía đông Duyên Cát khoảng 10 km, cách tương đối xa thành tử sơn còn một tòa núi khác.
Đỉnh núi có một cái ao hình tròn, trên núi có một phong hoả đài (nơi người ta đốt lửa ám hiệu khi thấy giặc tới).
Tương truyền rằng ao kia là nơi quốc vương nước Đông Hạ Bồ Tiên Vạn Nô tắm rửa.
3、克拉斯诺雅尔山城
3, Sơn thành Khắc Lạp Tư Lặc Nhã Nhĩ
位于绥芬河南岸今俄罗斯乌苏里斯克附近的克拉斯诺雅尔山上,周长16华里,呈环形,依山随势而建。从山脚至山顶共三层城墙,高5米,城墙附近还有壕堑等辅助设施。最高处是一座"禁城",四周隔一道内墙,城内有许多豪华的宫殿式建筑遗迹。
Tại vùng nam ngạn nay là Ussuriysk ngay gần núi Khắc Lạp Tư Nặc Nhã Nhĩ , chu vi khoảng 16 dặm Trung Quốc, trình vòng tròn, dựa vào tùy thế mà xây.
Từ chân núi tới đỉnh núi giống ba tầng tường thành, cao 5m, tường thành xung quanh còn có chiến hào cùng phương tiện phụ trợ.
Chỗ cao nhất của thành là "cấm thành", bốn phía cách một vách tường, bên trong thành có thật nhiều kiến trúc di tích cùng cung điện sang trọng.
4、延边古长城
4, Biên giới Trường Thành cổ kéo dài
延边古长城处于八道沟的双峰山和延吉市北的平峰山山脊上,它西起和龙县土山乡东山村二道沟的山坡上,蜿蜒经过于河龙市的西城、龙门乡、龙井市的细鳞河、桃园、铜佛、延吉市的八道、烟集、长安乡等的崇山峻岭中,消失在东距延吉市15公里的磨盘山附近。长城多为土筑,也有石筑,全长约150公里,已发现烽火台17座。最长的一段是从细鳞河至老头沟镇的一段,约长10公里;保存最好的一段在老头沟的官船村,尚存高约3米左右。
Biên giới Trường Thành cổ kéo dài bị vây bởi tám con kênh, hai ngọn núi và Duyên Cát trên sườn núi Bắc Bình Phong, bắt nguồn từ phía tây cùng hai con rạch trên sườn núi thôn Đông Sơn, uốn qua sông Long Thị, huyện Long Môn, trấn Long Tĩnh ở cạnh sông, Đào Viên, Đồng Phật, thành Duyên Cát, Yên Tập, trấn Trường An giữa núi non trùng điệp, biến mất ở phía đông Duyên Cát 15 km cạnh núi Mã Bàn.
Trường Thành phần lớn được xây bằng đất, cũng có chỗ bằng đá, toàn bộ dài chừng 150 km, phát hiện được 17 phong hoả đài.
Đoạn dài nhất là từ sông tế lân tới rạch lão đầu, ước chừng 10 km; đoạn bảo tồn tốt nhất là lão đầu thôn Quan Thuyền rạch Lão Đầu, còn giữ được độ cao chừng 3m.
古长城无文献记载。据研究认为是东夏国的江城。也有认为始建于渤海,其与珲春的"边壕"一起是渤海中京和东京的拱卫之城,后为东夏国利用并改建为防御工程。还有认为它是金代长城或高句丽时期长城。
Cổ Trường Thành không có ghi chép văn hóa.
Theo nghiên cứu cho rằng đây là Trường Giang của nước Đông Hạ.
Cũng có người cho rằng ban đầu được xây ở Bột Hải, nơi này và Hồn Xuân "biên hào" giống như là thành bảo bệ Bột Hải ở Bắc Kinh và Đông Kinh, về sau Đông Hạ cải tiến thành công trình phòng ngự.
Còn có ý kiến cho rằng đó là trường thành nhà Kim hoặc trường thành của Triều Tiên.
5、镜泊边墙
5, Vách tường Kính Bạc
它位于镜泊湖中南段的东岸上,在江山娇林场施业区内。土石结构,依山向东南走向而蜿蜓,发现长度为4.5公里。西段湖岸段有堆石外,其余多为土筑或土石混筑,每隔50–80米有马面突出墙体。高2米左右,基阔1.5米,顶宽0.8米,石筑段落保存较好。群众反映:此边墙可达吉林。初步考查认定为金末东夏国的遗存,即为金代小长城,是防蒙古军南下的军事工程。1990年经批准为省级文物保护单位。
Kính Bạc tại bờ đông Hồ Nam, bên trong là vùng làm lâm trường tuyệt đẹp.
Xây bằng đất đá, chạy quanh hướng đông nam , thời điểm phát hiện dài khoảng 4, 5 km.
Phía tây hồ có đắp đá, còn lại đa số xây bằng đất hoặc đất đá lẫn lộn, cách mỗi 50–80m lại có mặt tường lớn nhô ra.
Cao 2m, rộng rãi khoảng 1.
5 m, trần rộng 0.
8 m, đoạn xây bằng đá được bảo tồn tốt hơn.
Quần chúng phản ánh: thử biên tường có thể kéo dài tới Cát Lâm.
Điều tra sơ bộ nhận định là được để lại Đông Hạ từ cuối thời Kim, tức là tiểu Trường Thành nhà Kim, công trình quân sự để phòng quân Mông Cổ xuôi nam xâm lược.
Năm 1990 thông qua phê chuẩn được trở thành văn vật cấp tỉnh cần được bảo hộ.
6、斐优城
6, Thành Phỉ Ưu
坐落在风景秀丽的图们江畔之左岸,位于三家子满族乡古城村所在地的东城,隔江相望即是朝鲜的塞别尔郡市。该城周长2023米,墙高3-4米,基宽9米,东西南北各一门,具有角楼、马面等辽金古城的典型特点,是辽金古城中保存较完整的一座。该城内曾出土过十枚铜印,其中一枚为金代晚期的铜印,一枚无年号的铜印和两枚纽小铜印外,其余均为蒲鲜万奴建立东夏国的铜印。铜印为两种:一种是东夏国"天泰"年号的铜印;另一种为东夏国"大同"年号的铜印。因此认为,该城为金代晚期和东夏国的城址。有人考证,该城为东夏国的"东京"。
Tọa lạc tại phong cảnh tú lệ tả ngạn bờ sông Đồ Môn, một trong ba quê hương của dân tộc Mãn thôn Cổ Thành nay là Đông Thành, là khu vực tách biệt bị ngăn cách bởi Trường Giang gần với Triều Tiên.
Chủ vi dài khoảng 2023 m, tường cao 3-4 m, trần rộng 9 m, đông tây nam bắc đều có một cửa, có chỏi gác, bề ngoài mang dáng dấp cổ thành Liêu Kim, đât là một tòa Liêu Kim cổ thành được bảo tồn hoàn chỉnh nhất.
Tại bên trong thành từng khai quật được mười chiếc ấn đồng, trong đó có một chiếc là ấn cuối của triều Kim, một chiếc không rõ niên hiệu và hai một chiếc có tay cầm bên ngoài, còn lại đều là ấn đồng của Bồ Tiên Vạn Nô khai quốc Đông Hạ.
Ấn đồng có hai loại: một loại là ấn đồng "Thiên Thái" của nước Đông Hạ; một loại khác là ấn đồng niên hiệu "Đại đồng".
Bởi vậy cho rằng, thành trì thời kỳ cuối nhà Kim là nền tảng cho quốc gia Đông Hạ.
Có người lại chứng mình, thành trì của Đông Hạ là "Đông Kinh".
──《东夏史料》无尽的旅途
──《 Đông Hạ tư liệu lịch sử 》Hành trình vô tận
在格尔木的地下室,可以说是我自从卷入这个巨大的谜题以来,第一次了解了如此之多的秘密。
Ở tầng hầm Cách Nhĩ Mộc, có thể nói là tại đây tôi bị cuốn vào câu hỏi lớn nhất từ trước tới giờ, cũng là lần đầu tôi được biết tới nhiều bí mật như vậy.
(附疗养院走廊、房间、地下室插图及平面图)
(Kèm theo bản vẽ mặt phẳng tranh minh hoạ hàng lang, gian phòng, tầng hầm ngầm trại an dưỡng)
我一直想写下些什么,但是我一直不敢动笔。
Tôi vẫn muốn viết xuống chút gì, thế nhưng bản thân lại không dám viết.
我不知道我现在所作的,是否是正确的,是否应该为其他人所知道,如果有人通过我的这些文字,也走入了这片旋涡,对于他来说,应该是意味着无妄之灾。而我作为这些文字的始作俑者,也恐怕难逃策划者的恶名。
Tôi không biết việc mình đang làm có phải chính xác không, cũng không biết có nên để cho những người khác biết không, nếu có người đọc được những văn tự này, phải bước vào vòng xoáy như vậy đối với người đó mà nói, hẳn sẽ giống như tai bay vạ gió.
Mà tôi là người khởi xướng viết lại những văn tự này, cũng sợ rằng khó thoát được phải mang danh kẻ ác.
在这大大小小被包裹着的谜团中,我既在谜团内,又在谜团外,我甚至自己都无法确定,自己到底是局内人还是局外人。
Trong tất cả những bí ẩn lớn nhỏ được giấu kín tại đây, tôi đã xâm nhập được vào, nhưng lại đứng ngoài những bí ẩn đó, thậm chí tôi cũng không cách nào xác định được mình rốt cuộc là người trong cuộc hay là người ngoài cuộc.
一切如斯,在莲花的层层花瓣之后,我总是看到所有的一切如旧摆在那里,我也许进了一步,然而终究也进的不多,这一切似乎是无尽,又似乎是一个轮回。
Tất cả những điều này, như trong tầng tầng những cánh hoa, cuối cùng thì tôi cũng thấy hết thảy tất cả chúng phô bày ra trước mắt, tôi đã nghĩ rằng mình bước vào nội cục rồi, nhưng mà chung quy chỉ tiến không được nhiều lắm, đây hết thảy dường như là vô tận, lại dường như là một vòng luân hồi.
没有人知道未来会如何,我也只能不停地走下去。
Không có ai biết tương lai sẽ ra sao, bản thân cũng chỉ có thể không ngừng bước tiếp.
吴邪──2005年于格尔木
Ngô Tà ── năm 2005 tại Cách Nhĩ Mộc
按:这是我最后写下的一篇,接下来,我要重新启程去柴达木的深处,我不知道自己是否能回来,如果我一去不回,那么这本东西,能够让别人知道,我到底发生了什么事情。
Dựa theo: đây là phần tôi viết xuống sau cùng, kế tiếp, tôi muốn một lần nữa lên đường rời khỏi sài đạt mộc, tôi không biết mình có thể trở về được không, nếu như tôi một đi không trở lại, vậy thì quyển bút ký này có thể để cho người khác biết, tôi rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì.
记住,如果你无法理解我写的东西,也请你不要深究,因为之后,是一个巨大的深渊。<全书完>
Nhớ kỹ, nếu như bạn không thể lý giải những điều do tôi viết, cũng đừng nên miệt mài theo đuổi, bởi vì đó là một vực sâu vô cùng. < toàn bộ thư hoàn >