Cập nhật mới

Khác Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện

Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Ngô Tà tư gia bút ký - Chương 29: Minh Công Thương Vương Địa Thư


我把殇王地书能够看懂的部分抄录了下来,有些字迹不明,有些字过于执拗电脑无法显示,我都转换成了现代的汉语。殇王,姓(姓)氏,讳(名字),年二十五,父卒,继为大司马,领军发冢,所得金银宝货,悉充军饷,以助征伐,于国颇有功。初,王发一古冢,其冢不知何朝也,开棺而视,棺内盘有巨蛇,昂首欲噬王。王胆气素壮,提剑斩蛇,又思巨蛇卧棺,必有妖孽,剖蛇腹,得紫金匣,百法莫能启。

Tôi đem tất cả những phần mà mình đọc hiểu được của Minh Công Thương Vương địa thư ghi ra, có một số chữ không rõ mấy, và một số chữ rất ngang không có cách nào làm nó hiển thị trên máy tính được, vì thế tôi đều chuyển hết thành tiếng Trung hiện đại.

Thương Vương, họ, tên, năm hai mươi lăm tuổi, cha ông ta qua đời, vì vậy được kế thừa họ lớn là Tư Mã, dẫn dắt binh lính đi phát mộ, đoạt được rất nhiều đồ vàng bạc châu báu, đóng góp cho quân đội, để trợ giúp chinh phạt, rất có công với đất nước.

Một lần, Thương Vương phát một cổ mộ, cũng không biết nó là từ triều đại nào, khai quan để xem, thì bên trong có một con cự xà, ngẩng đầu muốn cắn ông ta.

Xưa này dũng khí của Thương Vương vốn rất lớn, liền lấy kiếm chém cự xà, lại nghĩ rằng con cự xà này nằm trong quan tài, nhất định là yêu quái, sau đó mổ bụng rắn, lấy được hộp kim tử, bên trong hướng dẫn một trăm phép thuật.

是夜,有白须臾入梦,怒问王曰:因何杀我?王性暴戾,多行杀戮,斥白须臾曰:想杀便杀!何问之有!白须臾大怒,化为日间巨蛇,张口来吞王。王拔剑伤蛇,脚踏蛇首,曰:尔剖腹不死,今割尔头,尚能活否?蛇做人言,乞怜曰:愿献二宝,以换一命。王许之,蛇乃告以紫金匣开启之法,又授以匣中宝物之用。王熟记于心,自思此事宜秘,只可我知,遂斩蛇首。及王之醒,身在血泊之中,乃悟所梦非虚,依梦中之法,紫金匣果应手而开,其中宝物,一如所言。王不欲人知,尽诛左右随从,并其家属,虽襁褓之中,犹且不免。

Ban đêm, có một ông cụ râu tóc bạc trắng xuất hiện trong giất mơ của ông ấy, giận dữ hỏi Thương Vương: "Vì sao lại giết ta?".

Thương Vương tính vốn thô bạo, chém giết rất nhiều, liền trả lời trả lời ông già đó: "Muốn giết thì giết!

Hỏi để làm gì!", ông già liền giận dữ, hoá thân thành con cự xà ban sáng, há mồn xông đến đớp Thương Vương.

Ông ta rút kiếm chém cự xà bị thương, đạp chân lên đầu rắn, nói: "Ta mổ bụng ngươi vẫn không chết, vậy bây giờ ta cắt đầu ngươi, để xem ngươi có thể còn sống được nữa hay không?", Cự xà thấy vậy liền cầu xin ông ta thương xót nói: "Tôi muốn lấy hai bảo vật trao đổi, để giữ lại mạng sống."

Thương Vương chấp nhận, lúc này cự xà mới nói phương pháp mở hộp tử kim, và dạy ông ta cách sử dụng bảo vật trong hộp.

Sau khi ông ta đã ghi nhớ kĩ, đột nhiên lại nghĩ chuyện này cần phải giữ bí mật, chỉ cần một người biết thôi, ngay lập tức vung kiếm chét đứt đầu rắn.

Đúng lúc đó Thương Vương tỉnh giất, thì thấy mình đang ở trong vũng máu, mới hiểu ra rằng giấc mơ này không phải là giả, ngay lập tức y liền làm theo phương pháp trong mơ, quả nhiên có thể mở được hộp kim tử, bảo vật bên trong, giống y như lời con cự xà kia đã nói.

Vì ông ta không muốn cho người khác biết chuyện này, cho nên đã tàn sát hết những tuỳ tùng mà mình đã đem theo, kể cả người nhà của họ, ngay cả đứa trẻ còn mặc tã, cũng không buông tha.

王自得二宝,逢凶化吉,无往不胜,国之大权,集于一身,帝深赖之。后,王老迈,遂大病,多方延医,皆曰不可治。异日,王再梦巨蛇,曰:君死期到也。随蛇而至者,皆其平日妄杀之人,不知千万。王醒而惧。

Sau khi có được hai bảo vật, hiển nhiên ông ta gặp dữ hóa lành, đi đến đâu thắng đến đó, quyền cao chức trọng đều gom hết vào mình, lại được hoàng đế tín nhiệm nhờ cậy rất nhiều.

Về sau, khi ông ta già, bị bệnh nặng, đã tìm đến rất nhiều thầy thuốc giỏi chữa trị, nhưng tất cả đều nói không có cách nào có thể chữa khỏi.

Không lâu sau, Thương Vương lại một lần nữa mơ thấy cự xà, nói: "Cuối cùng ngươi cũng đã đến lúc tận mạng.

Ta và rất nhiều người đang đợi ngươi tới đây, đều là những người mà ngươi thường ngày giết bừa, không biết là có mấy ngàn vạn người".

Ông ta tỉnh giất vô cùng sợ hãi.

王有幕僚,人称铁面先生,精命理堪舆,当世无比,语王曰:臣闻,上古有玉俑,得而衣之,可得长生。可惜世间早已绝迹,惟有地下古冢中或存。王宁信其有,遍翻古籍,果于残简中见一巨冢,乃前朝旧陵,似有玉俑踪迹。遂发丁三千,开山半年,探得皇陵所在。墓洞内有巨树,名九头蛇楠,树下有玉床,其上打坐男尸,着黑色金缕玉衣,皮包骨头,形如骷髅。铁面先生喜曰:此即玉俑是矣。此尸似死非死,是为血尸。其生前必为枯朽老者,自下葬以来,每隔百年,则褪死皮,长新皮,此尸也随之年轻十岁。

Thương Vương có một người trợ tá, tên là Thiết Diện tiên sinh, tinh thông mệnh lý phong thuỷ, vào thời đó không ai có thể sánh bằng, nói cho ông ta biết: "Thần có nghe nói, thời thượng cổ có một loại áo ngọc, nếu có được bộ áo ngọc này, sẽ được trường sinh bất lão.

Đáng tiếc đã mất tích từ rất lâu, e rằng chỉ còn tồn tại ở trong cổ mộ dưới lòng đất mà thôi".

Ông ta không biết là chuyện đó là có thật hay không, nhưng đó vẫn là một tia hy vọng, nên đã lục lọi trong sách cổ ở khắp nơi, quả nhiên trong một quyển thẻ tre tàn đã thấy có ngôi mộ rất lớn, chính là một lăng mộ vào triều đại trước, hình như có dấu vết của áo ngọc.

Tiếp đó, ông ta dùng hơn ba ngàn người, phá núi cả nửa năm trời, thăm dò vị trí của hoàng lăng.

Bên trong cổ mộ có một cây đại thụ, tên là Cửu đầu xà bách, dưới tàng cây đặt giường ngọc, trên đó là một thi thể thanh niên đang ngồi thiền, mặc một bộ áo liệm bằng ngọc đen tuyền, chỉ còn da bọc xương, gần như là bộ xương khô.

Thiết Diện tiên sinh nhìn thấy vui mừng nói: "Cái này nhất định là áo ngọc rồi.

Lúc này tử thi này nhìn như chết nhưng thực chất không chết, mà chính là huyết thi.

Nhất định là khi còn sống đã tự mình hạ táng xuống đây, cứ cách một trăm năm, lại bong ra một lớp da chết, đồng thời cũng sinh ra một lớp da mới, cho nên thi thể mới có vẻ ngoài vẫn còn là thanh niên chứ không nhất định là một ông lão già khú."

铁面先生以奇术克制血尸,将其自玉俑中取出,封入副墓石棺。王则依铁面先生之计,吞假死药,报丧于皇帝。皇帝素闻王有异能,于阴阳两界来去自如,私心甚畏,特下优诏,谥曰殇王,葬仪之制,逾于诸侯,比于天子。于是修陵于皇陵之上,多布疑阵机关,又为假棺七,而王之真身,藏于皇陵内千年古树之中。陵成之日,尽诛修陵工匠,以河水葬之。王生前随从,皆令服毒殉葬,惟留男女亲信二人,敛毕,二人亦服毒死也。

Thiết Diện tiên sinh lấy kỳ thuật của mình để khắc chế huyết thi, lấy ra khỏi áo ngọc, rồi niêm phong vào thạch quan.

Thương Vương chỉ làm theo kế sách của Thiết Diện tiên sinh, uống thuốc giả chết, báo tang cho hoàng đế.

Hoàng đế nghe Thương Vương có năng lực khác thường, có thể tự nhiên đi lui tới giữa hai thế giới âm dương, trong lòng quá mức kinh sợ, đặc biệt hạ chiếu thư ưu đãi, ban danh Thương Vương, được an táng theo nghi lễ quy định, vượt hơn các chư hầu, mà có thể so với thiên tử.

Vì vậy cho tu sửa lăng mộ như hoàng lăng, bày rất nhiều nghi trận và cơ quan, rồi làm Thất tinh quan giả dạng, còn Thương Vương thực sự, thì nấp ở bên trong thân cổ thụ ngàn năm trong hoàng lăng.

Ngày lăng được xây dựng xong, toàn bộ công nhân xây dựng đều bị giết hết để tuẫn táng, an táng ở dưới sông.

Những người đi theo ông ta lúc còn sống, đều hạ lệnh cho uống thuốc độc tuẫn táng hết, chỉ giữ lại hai người một nam một nữ thân cận nhất, sau khi hoàn tất mọi chuyện, hai người cũng uống thuốc độc tự vẫn.

其他部分很难读懂,或者说几乎读不懂,因为秦始皇焚书坑儒之后,商周春秋下来的很多东西都失传了。特别是很多的生僻字,即使放到中科院去也可能要花上几十年的才能完全解出。

Còn những phần khác đọc rất khó hiểu, hoặc là nói đúng hơn là gần như đọc không hiểu được gì cả, vì khi Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn cùng với nhà Nho, bởi vậy rất nhiều thứ từ thời nhà Thương Chu Xuân Thu trở về sau đều bị thất truyền.

Đặc biệt thì có rất nhiều chữ lạ hiếm gặp, cho dù có đi tới thư viện mà tra thì cũng phải mất mấy chục năm mới có thể giải hết toàn bộ được.

当时我没法发现其中的差别,到了三叔说起,我才发现,这部分古文的阅读性和其他部分是有一些区别的,不过,老实说,当时只有国学大师在场才能避免,我们这些人,真的只能认中计。

Khi đó tôi không có cách nào phát hiện được sự khác biệt trong đó, cho đến khi Tam thúc nói tôi mới phát hiện ra được, những phần cổ văn này đúng là thấy có một chút khác biệt so với những phần khác, chỉ có điều, thật sự mà nói thì lúc đó chỉ có bậc thầy quốc học có mặt ở đó mới có thể tránh khỏi, còn những người như chúng tôi, thực sự chỉ có thể chấp nhận bị trúng kế mà thôi.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Ngô Tà tư gia bút ký - Chương 30: Những Loại Quái Vật Đã Gặp


001尸鳖(附尸鳖插图)

Thi biệt (bọ ăn xác)

尸鳖是一种带甲的昆虫,感觉很像龙虱科和水蜈蚣的结合体,不过尸鳖和龙虱不同的是,尸鳖的前足特别的锋利有力,而且个头更大,喜阴暗,怕光。

Thi biệt là một loại côn trùng giáp xác, cảm giác nó rất giống một hợp thể của con rận nước và rết nước.

Nhưng nó lại rất khác với long sắt khoa ở chỗ, hai chân trước của chúng vô cùng sắc bén và mạnh mẽ, hơn nữa cái đầu cũng lớn hơn nhiều, chỉ sống trong bóng tối, sợ ánh sáng.

这种大虫子的行动非常迅捷,而且水陆两栖。以腐尸和误入水中的小型生物为食,常常积聚在浮水尸的四周,聚集成堆,并互相捕食同类。

Loại côn trùng này di chuyển cực kỳ mau lẹ, mà còn là động vật lưỡng cư, thức ăn của chúng là thi thể bị thối rữa và những sinh vật nhỏ sống ở trong nước, bình thường thì luôn tập trung thành đàn bơi xung quanh thi thể, tụ tập thành nhóm, và chúng cũng ăn thịt đồng loại.

我被这种虫子袭击过,感觉它们不太可能对有着厚厚皮甲的动物产生威胁,比如说下水洗澡的犀牛,但是对于人类确实威胁很大,因为它们有攻击腹部等薄弱部位的本能。如果不能及时上岸,它们会钻破腹部导致大出血致人死亡。

Tôi đã từng bị loại sâu này tấn công, cảm thấy chúng nó không có quá nhiều khả năng sinh ra mối đe doạ quá lớn đối với động vật có lớp da dày, nói thí dụ như tê giác xuống nước tắm sẽ không có vấn đề gì.

Nhưng đối với con người, thực sự là một sự uy hiếp rất lớn, bởi vì bọn chúng luôn theo bản năng tấn công vào vùng bụng chính là vùng yếu nhất của con người.

Nếu như không thể lên bờ đúng lúc, chúng sẽ chui vào phá bụng dẫn đến chảy máu quá nhiều mà gây chết người.

尸鳖多出现于深山河渠或者沼泽中,在山洪或者泥石流的时候,会大量出现。

Thi miết có rất nhiều ở sông hồ sâu trong núi hoặc là ở vùng đầm lầy, có lẽ là do khi lũ quét hoặc lỡ đất, mới xuất hiện một lượng lớn như vậy.

002血尸(附血尸插图)

Huyết thi:

很多地方都有血尸的传说,血尸墓其实指代的是地层下有保护层的墓穴。一般比如说设置了火顶,酸顶,或者朱砂顶的古墓,用洛阳铲探出来都是红色的,特别是酸顶那红土是如鲜血一般,其实都是因为里面含有大量的朱砂。这些古墓有这些构造,就表示规格很高,所以别人才会形成血尸墓下面都是宝贝的说法。

Rất nhiều vùng có truyền thuyết nói về huyết thi.

Mộ có huyết thi thật ra cũng chỉ là một loại cơ quan để bảo vệ huyệt mộ dưới lòng đất mà thôi.

Chẳng hạn như là loại cơ quan lửa, hay là acid, hoặc là chu sa, khi dùng xẻng Lạc Dương sạn thăm dò, đất sẽ xuất hiện màu đỏ.

Đặc biệt là cơ quan acid, đất sẽ có màu đỏ tươi như máu, thật ra là do bên trong có chứa một lượng chu sa rất lớn. thường những cổ mộ có cấu trúc như vậy, chứng tỏ cổ mộ đó quy cách rất cao, cho nên mới hình thành câu nói mộ có huyết thi thì bên dưới toàn là bảo bối.

而为何他们会认为血尸墓下面会有血尸,一方面可能是以讹传讹,一方面,朱砂为驱邪之物,在古墓的土层里使用朱砂,肯定是希望能对古墓中某些东西进行阻隔,所以使用朱砂封墓的古墓,尸体必然有些异变。而事实上,血尸并不如它的名字般是血红色的,而是酱紫色的。

Vậy thì làm sao họ có thể biết được cổ mộ bên dưới sẽ có huyết thi?

Một mặt có thể là do nghe nhầm đồn bậy, còn về phương diện khác, chu sa là một vật dùng để trừ tà, cho nên cổ mộ sử dụng tầng chu sa dưới đất, nhất định là muốn làm cản trở một thứ gì đó bên trong cổ mộ, vì sử dụng chu sa để niêm phong cổ mộ, thi thể đương nhiên sẽ có chút dị biến.

Mà trên thực tế, huyết thi cũng không hẳn là giống như tên của nó là đỏ tươi như máu, mà lại có màu đỏ tía.

003青眼狐狸尸(附青眼狐狸尸插图)

Hồ ly mắt xanh:

这具古尸之恐怖诡异,难以言喻,人竟然可以长的像一只秃毛狐理,这可能不仅仅是畸形所能办到的。我无法想像这具古尸在没有腐朽脱水前是什么样子。

Khối xác ướp cổ này thực rất kinh khủng và quỷ dị, rất khó để diễn tả được.

Đó đương nhiên là người thế mà có thể phát triển giống như một con hồ ly bị trụi lông, e rằng không chỉ do bị di dạng mà có khả năng trở thành như vậy được.

Tôi không thể tưởng tượng ra được khối xác ướp cổ này trước khi nó bị mục nát và khô quắc là có bộ dạng gì nữa.

胖子说这是中了邪的原因,不过从大量查证的理论上来说,这应该是一种罕见的畸形,要归类的话,应该是一种小脑症。发育的畸形使得人的脸部奇长。也有可能和印加和埃及一样,从小使用夹板使得人的脸部和头部变形。这是一种人为的神话现象,相信在战场上,敌人看到这样的怪物,肯定会闻风丧胆。

Bàn Tử nói nguyên nhân ở đây là do trúng tà, nhưng theo một lượng lớn các lý thuyết đã kiểm chứng thì có thể nói, đây cũng là một loại dị dạng hiếm gặp, nếu muốn phân loại, chắc do là một chứng bệnh ở tiểu não, có thể khiến cho gương mặt phát triển đặc biệt dài.

Cũng có khả năng giống như người Inca và Ai Cập, từ nhỏ đã sử dụng một loại phiến nẹp có thể làm cho đầu và gương mặt thay đổi.

Bởi có một thần thoại sinh ra hiện tượng này, bởi vì người xưa tin rằng khi đang ở chiến trường, kẻ địch nhìn thấy một quái vật như vậy, nhất định vừa nghe thấy đã sợ mất mật.

面具最主要的功能是神祗的象征,也就是,鲁殇王一部至少是信奉狐理图腾的。历史上好像只有藏族的一支也信奉狐理,这十分奇特。

Công dụng chủ yếu của mặt nạ chính là tượng trưng cho thần, hoặc cũng có thể nói theo cách khác, Lỗ Thương Vương là một trong số bộ phận rất ít thờ phụng vật tổ là hồ ly.

Trong lịch sử hình như chỉ có phần nhỏ dân tộc người Tây Tạng tin và thờ phụng hồ ly, chuyện này thực sự là vô cùng kỳ lạ.

(附面具和各种动物图腾插图)

(Kèm theo hình minh họa mặt nạ và các linh vật động vật khác nhau)

004九头蛇柏(附九头蛇柏插图和细节图)

Cửu đầu xà bách:

我无法查到任何关于这种植物的资料,非正规资料有一些,关于能够消化动物组织的树或其它大型植物。有一种学名叫做:食人树,CARNIVOROUSTREES。

Tôi không hề tìm được bất kì tài liệu nào nói về loại thực vật này, chỉ có một ít tài liệu không chính quy, có nói về hệ thống các loại thực vật ăn thịt cỡ lớn khác, trong đó có một loại cây ăn thịt người có tên khoa học: Carnivorous trees.

在国外的传说中,类似九头蛇柏的树被称为"章鱼树",它能缠续靠近的猎物并杀死消化它,这种树往往被当地人称呼为"恶魔之树"。德国探险家在考察日记中最后分析,这种树攻击动物的方式源于传播种子的本能,好比苍耳会粘在动物的皮毛上一样,这种树会缠绕并杀死一切靠近它的东西。

Trong truyền thuyết nước ngoài, cùng loại với Cửu đầu xà bách được gọi "Chưng ngư thụ", nó có thể liên tục quấn chặt để giết chết con mồi rồi tiêu hoá nó, loại cây này thường được người địa phương gọi là "Ác ma chi thụ".

Cuối cùng trong quyển nhật ký của một nhà thám hiểm người Đức khi đang điều tra thực tế có phân tích, cách tấn công của loại thực vật này căn bản xuất phát từ bản năng của giống loài, cũng giống như bệnh tai xanh chỉ mắc phải trên da động vật có bộ lông thưa, tương tự, loại thực vật này cũng sẽ theo bản năng quấn lấy và giết chết bất kì thứ gì đến gần nó.

我认为如果这种树真是存在,它很可能就是九头蛇柏,这种树的生态特征很可能是这样的,杀死动物,借由腐烂的动物来吸引昆虫,传播授粉。尸鳖被树上的尸体吸引,聚集在蛇树周围,从我的经验来看,蛇柏并不能杀死猎物,猎物的死亡往往是尸鳖造成的,这是一种很巧妙的共生关系。同时尸鳖的粪便又是极好的养料,比腐烂的尸体更加细腻适合植物的生长。

Tôi cho rằng, nếu loại cây trong truyền thuyết này thực sự tồn tại, rất có khả năng nó chính là Cửu đầu xà bách, đặc trưng sinh thái của nó đại khái là: Sau khi giết chết động vật, nó sẽ dựa vào mùi thối rữa thi thể mà dẫn dụ côn trùng tới, truyền bá thụ phấn.

Bọ ăn xác bị thi thể trên cây hấp dẫn, tụ tập ở chung quanh cây, hơn nữa theo kinh nghiệm của tôi thì thấy, Cửu đầu xà bách cũng không thể tự mình giết chết con mồi được, con mồi chết thường là do bọ ăn xác gây nên, đây thực sự đúng là một mối quan hệ cộng sinh xảo diệu.

Đồng thời chất thải của thi miết cũng một nguồn dinh dưỡng cực tốt, so với thi thể bị thối rữa thì thích hợp hơn cho thực vật phát triển.

这种共生关系同样存在于很多动植物中间,不过在这里,我觉得这种关系可能是有人设计好的。好比有人设计的水稻田养鱼一样,这是一种农业社会的智慧。

Loại quan hệ cộng sinh này bên trong cũng sẽ có nhiều loại động thực vật khác giống vậy, chỉ là ở trong này, tôi cảm thấy có khả năng quan hệ cộng sinh này là do con người sắp xếp.

Giống như là nuôi cá ở trong ruộng lúa nước, đây chính là kiến thức nông nghiệp.

005禁婆(附禁婆正面免冠照、海斗禁婆壁画以及其趴地勾魂照)

Cấm bà:

禁婆的传说普遍存在于南方少数民族,从云南的苗瑶部落到海南的渔民之间,禁婆一直是传说经常出现的概念。

Truyền thuyết nói về cấm bà rất phổ biến ở dân tộc thiểu số phía Nam, từ bộ tộc Miêu Dao ở Vân Nam cho đến ngư dân ở Hải Nam khi đó, cấm bà vẫn thường xuyên xuất hiện trong khái niệm trong những truyền thuyết của họ.

在海南的渔民之间,禁婆代表着是一种疾病、灾难的象征,而禁婆形象往往是大肚子、潮湿,这和海啸过后,海滩上出现的大量浮水尸很像,而大量尸体的聚集容易产生瘟疫的流行。所以,我推测禁婆的产生可能来自于几千年来渔民把浮水尸和灾难的印象加工而得的产物,当时的人们不明白死人、灾难和疾病的关系,于是就虚构了如此的一个神祗[注:台版是"怪物"]形象。

Vào lúc đó ngư dân ở Hải Nam cho rằng, cấm bà chính là một thứ đại diện cho tật bệnh, tai nạn, hình tượng của cấm bà là một người phụ nữ mang thai, cả người ẩm ướt, thứ này cùng với mỗi lần sóng thần đi qua, trên bãi biển liền xuất hiện rất nhiều xác chết trôi giống như vậy, mà nhiều thi thể tụ tập lại một chỗ nhất định sẽ gậy ra bệnh dịnh hoành hành.

Cho nên tôi đoán, cái được gọi là cấm bà, có thể là do ấn tượng của ngư dân về thi thể chết trôi và tai nạn mấy ngàn năm nay mà hư cấu tạo thành.

Vào thời đó mọi người không biết là người chết, tai nạn và bệnh tật là có liên quan với nhau.

我们进入墓道后遇到的那个全是头发的怪物禁婆,完全就像是在水里泡了很长时间的尸体,就是它搞得我现在只要看到很多头发的女人心里就发毛。

Sau khi chúng tôi đi vào cổ mộ dưới đáy biển nhìn thấy quái vật cấm bà đầy tóc kia, hoàn toàn giống y như là thi thể đã bị ngâm trong nước thời gian rất dài, khiến cho tôi tới bây giờ chỉ cần nhìn thấy thấy quá nhiều tóc người thì trong lòng ngay lập tức cảm thấy sợ hãi.

我已经无法记清楚那东西到底是个什么样子了

Tôi đã không thể nhớ rõ được cái thứ đó trông như thế nào nữa rồi.

006海猴子(附海猴子插图,很有看头)

Hải hầu tử:

在沿海地带经常听到的传说中的生物,据说在广西的水库清理时候还真发现过,在长沙水猴子被称为露首鬼,在桂林叫做水狮鬼。

Ở vùng ven biển vẫn thường nghe nói tới truyền thuyết nói về một sinh vật, nghe nói ở đập lọc nước Quảng Tây quả thực là đã từng phát hiện qua.

Ở Trường Sa, hải hầu tử được gọi là "Lộ thủ quỷ", ở Quế Lâm lại kêu "Thủy sư quỷ".

这种传说中的生物和其他生物不同的是,它的传说几乎所有的地方都有,这就很耐人寻味,也许是因为人类对于水下未知的恐怖,这种动物在老人的嘴巴里几乎存在于所有有水的地方,水井,甚至水缸。

Loại sinh vật trong truyền thuyết này khác với những loại động vật bình thường khác, truyền thuyết nói về nó gần như ở vùng nào cũng có, cái này thực sự ý vị quá sâu xa, có lẽ nói cho đúng thì con người đối với sinh vật dưới nước này không biết là có kinh sợ hay không.

Người già mỗi lần nói đến hầu như là đều có tồn tại ở những nơi có nước, bao gồm giếng nước, thậm chí là lu nước.

所有的传说细节都不相同,但是有一点是共同的,就是这种东西是人形的,在水中力大无穷。不过,说实话,在我脑海里的想像,远没有我看到的那东西的恐怖。

Chi tiết của những truyền thuyết này không hề giống nhau, tuy nhiên vẫn có một vài điểm chung, chính là loại động vật này có hình người, ở trong nước sức mạnh vô cùng lớn.

Nhưng mà, nói thật, so với hình ảnh tôi tưởng tượng trong đầu, thì vẫn còn kém xa thứ to lớn đáng sợ kia.

007人面鸟(附各种人面鸟形象插图)

Nhân diện điểu:

几乎世界上所有的文明,都提到过人面鸟。包括所有的宗教和神话中都有这种生物的出现。特别是中国和印度历史上尤甚,这不是因为中国受到佛教的影响很深造成的,仔细观察可以发现,在中国的黄帝传说中,已经有人面鸟身的九天玄女出现,之后两汉之间佛教才开始传入中国,到魏晋南北朝,佛教才开始发展,所以佛教中的"妙音鸟"迦陵频伽应该不会是中国神话传说中九天玄女的原型。(虽然山海经中有大量对人面鸟的记载,但是山海经据传后几卷都为后世伪作,所以这里我不作采信。)

Hầu như tất cả những nền văn mình trên thế giới, đều có nhắc đến nhân diện điểu.

Kể cả trong tôn giáo hay thần thoại đều có loại sinh vật này xuất hiện.

Đặc biệt trong lịch sử Trung Quốc và Ấn Độ thì càng thêm nổi bật.

Vấn đề này cũng không phải do Trung Quốc bị Phật giáo ảnh hưởng quá sâu, chỉ cần cẩn thận quan sát sẽ phát hiện, ngay cả truyền thuyết của hoàng đế Trung Hoa, còn có xuất hiện nhân diện điểu Cửu Thiên Huyền Nữ.

Khi đó Phật giáo vào thời Lưỡng Hán mới bắt đầu được truyền vào Trung Quốc, đến triều đại Ngụy Tấn Nam Bắc, Phật giáo mới thực sự phát triển, cho nên hình mẫu đầu tiên của nhân diện điểu Cửu Thiên Huyền Nữ chắc chắn không phải là Già Lăng Tần Già trong "Diệu Âm điểu" Phật giáo. (Tuy rằng trong "Sơn hải kinh" có ghi chép rất nhiều về nhân diện điểu, thế nhưng từ những truyện ở phần sau quyển sách đều là những tác phẩm giả của đời sau viết, vì vậy tôi cũng không thể tin tưởng được.)

现存中国最早的人面鸟的形象,是在内蒙古老哈河北沙漠腹地毛瑙海山"红山文化"遗址发现,属于新石器时代,考古人员认为这是一种古代鸱枭,现在已经灭绝的酷似人面的鸟类。

Hiện tại ở Trung Quốc có tượng hình nhân diện điểu lâu đời nhất, được phát hiện ở trong di tích"Hồng sơn văn hóa" nằm ở giữa vùng sa mạc Mao Não Hải Sơn thuộc vùng Nội Mông Cổ Lão Hắc Hà Bắc, thuộc thời đại đá mới.

Các chuyên gia khảo cổ cho rằng đây là một loại chim si kiêu cổ đại, hiện tại đã bị tuyệt chủng có ngoại hình rất giống nhân diện điểu.

Si kiêu là một giống cú tai mèo hoặc được gọi là miêu đầu ưng.

在古代,内蒙古远离中原文化,属于北侉之地,但是靠近东北,不知道我们在长白山底所见的,是否就是这种鸱枭。

Vào thời cổ đại, vùng Nội Mông Cổ cách xa nền văn hoá của Trung Nguyên, thuộc về cùng đất phía Bắc rộng lớn, nhưng mà nằm gần sát vùng Đông Bắc, không rõ loại nhân diện điểu mà chúng tôi nhìn thấy ở núi Trường Bạch, có phải là loại si kiêu này hay không?

在大量的传说中,人面鸟都担任着一些类似于"福音"传播者的角色,无论是九天玄女授予黄帝战书,还是迦陵频伽传播佛家妙音,都带着将上天的文化向大地民众传播的感觉。而比较奇怪的,中国还有凡人的人面鸟形象,比如说神医扁鹊就是人面鸟身的。后来我发现,这其实是一个概念的混淆。

Ở trong phần lớn truyện thần thoại, nhân diện điểu cũng giống như trong "Giáo lý Phúc Âm" đều là một nhân vật có trách nhiệm truyền đạt, bất kể là Cửu Thiên Huyền Nữ trao tặng chiến thư cho hoàng đế, hoặc là Già Lăng Tần Già truyền đạt Phật Gia Diệu Âm, tất cả đều mang tinh thần hướng tới văn hoá trời cao mà truyền đạt rộng rãi cho người dân.

Mà tương đối kỳ quái là, Trung Quốc còn có tượng hình nhân diện điểu của người trần, chẳng hạn như thần y Biển Thước cũng chính là một nhân diện điểu.

Sau này tôi mới biết được, cái này chỉ là một quan niệm không cố định.

扁鹊其实有很多,在春秋时代,其实名医一律都被称呼为扁鹊,真正的名医扁鹊为轩辕时代神话中的人物,和黄帝属于同一系,所以我很怀疑人面鸟身的扁鹊是否就是九天玄女同一类的生物。

Trên thực tế thì Biển Thước có rất nhiều, vào thời Xuân Thu, danh y đều được gọi chung là Biển Thước.

Mà danh y Biển Thước thật sự là một nhân vật trong thần thoại vào thời đại Hiên Viên, và cũng thuộc hàng giống như hoàng đế, vì thế tôi nghi ngờ rằng nhân diện điểu thần y Biển Thước và Cửu Thiên Huyền Nữ là cùng một loại sinh vật.

而因为在部落战争中,这种鸱枭频频出现,作为一方势力,可能运输了大量情报和药品,使得其他不知情部落者误以为这是一种神祗。

Ở trong thần thoại Trung Hoa các hình tượng như vậy rất phổ biến, không khó làm cho con người sinh ra liên tưởng.

Dựa vào lo lắng hiện nay, tôi cảm thấy có thể là có một nền văn minh cổ đại nào đó mà chúng tôi vẫn chưa phát hiện ra hay không, người như thế nào mới thuần dưỡng được nhân diện điểu si kiêu, đồng thời đối với quá trình huấn luyện, ở trong chiến tranh, hay trong quá trình vận chuyển thật sự là có tác dụng vô cùng to lớn.

而因为在部落战争中,这种鸱枭频频出现,作为一方势力,可能运输了大量情报和药品,使得其他不知情部落者误以为这是一种神祗。

Trong trận chiến giữa các bộ tộc, loại si kiêu này liên tục xuất hiện, là một trong những lực lượng, có khả năng vận chuyển được một lượng lớn tin tức và thuốc men, có thể vì các bộ tộc khác không biết nó mới khiến cho họ lầm tưởng chúng là hiện thân của thần linh.

这种神秘的古代文明,显然非常的低调,或者因为其神秘主义的性格,使得留存于世上的资料全部湮灭,那长白山下的青铜巨门,可能是他们为数不多的遗存,而他们训练的人面鸟,也在文明灭绝后走向灭绝,只留下少数的幸存者还在地底守护着他们主人最后的痕迹。

Nền văn minh thần bí cổ đại này, tuy rằng vô cùng khiêm tốn, cũng có lẽ là do họ theo chủ nghĩa thần bí, làm cho toàn bộ tư liệu được lưu lại trên đời dần dần bị mai mục.

Phía sau cánh cửa Thanh Đồng khổng lồ kia, có thể là một phần không nhiều lắm còn sót lại.

Nhân diện điểu mà bọn họ huấn luyện, cũng đã tuyệt chủng khi nền văn minh của họ suy tàn, chỉ còn lại một số ít may mắn sống sót tiếp tục ở lại trong lòng đất để bảo vệ di tích cuối cùng của chủ nhân mình.

听起来有点扯淡,但是我感觉挺有道理,而且,使用鸱枭来传播信息,让我想起了欧洲中世纪的巫婆的形象,那里的巫婆都有一只鸱枭宠物,这有点好玩,难道那青铜巨门的后面,会是霍格沃茨的魔法世界?

Nghe như vậy đúng là có chút vô nghĩa, nhưng mà tôi vẫn cảm giác rất có đạo lý, hơn nữa, sử dụng si kiêu để truyền đạt tin tức, làm tôi nhớ tới hình ảnh thầy phù thuỷ ở Âu Châu vào thời Trung Cổ.

Nơi đó tất cả thầy phù thuỷ đều có một con si kiêu làm sủng vật, cái này đúng là có chút thú vị.

Chẳng lẽ phía sau cánh cửa Thanh Đồng cửa cực lớn kia, là thế giới ma pháp Hoắc Cách Ốc Tì sao?

008千手观音尸(附千手观音尸插图)

Thiên thủ Quan Thế Âm thi:

这是一具让人浮想联翩的尸体,不光是其诡异的蜘蛛一样的多手,我不知道这是一种罕见的畸形还是什么病变,但是这些手看上去非常的灵活和有力,至少不会是妨碍生活质量的病变。当然我无法去想像控制这么多手会是什么感觉,但是很显然,如果是生活在山脊峭壁中,这种畸形会使得人的活动如鱼得水。

Đây là một khối thi thể làm cho người ta phải suy nghĩ không ngừng, không riêng gì việc nó có nhiều tay giống như một con nhện.

Tuy tôi không biết đây có phải là một loại dị dạng hiếm gặp hay là một loại bệnh lý dị biến nào khác, thế nhưng nhìn qua thì các cánh tay đó vô cùng linh hoạt và mạnh mẽ, ít nhất cũng sẽ không gây trở ngại gì cho chất lượng sinh hoạt của họ.

Tất nhiên tôi không thể nghĩ ra được phải khống chế nhiều tay như vậy thì sẽ có cảm giác gì, song rất dễ nhận ra, nếu là sinh sống trong vách đá triền núi, kiểu dị dạng này ngược lại có thể khiến cho hoạt động của họ như cá gặp nước.

这会否是一种进化,还是人为的一种选择,比如说,在万奴王的氏族里,地位是背后的手的数量决定的,只有两只手的人是比较低等的,随着手的数量增多,也就是畸形的程度严重,人的地位会越来越高,所以氏族里的人,都希望自己的孩子能和手更多的人结合,而手越多的人,地位越高,所得的妻妾也就越多。

Đây là không phải là một sự tiến hóa, hoặc cũng là vì một sự lựa chọn?

Nói ví dụ như, ở trong thị tộc của Vạn Nô Vương, địa vị được quyết định bởi số tay sau lưng.

Chỉ hai cánh tay có vẻ thấp hơn, số lượng tay càng nhiều, đồng thời mức độ dị dạng càng nặng, ngược lại địa vị sẽ càng cao, chính vì nguyên nhân đó mọi người trong tộc luôn hy vọng đứa con của mình sẽ có thật nhiều tay, bởi vì tay càng nhiều địa vị càng cao, thê thiếp đoạt được cũng càng nhiều hơn.

好比非洲部落里,有些土著人崇拜白化病一样,白化病人在部落里受到神一样的待遇,他们力求使白化病人通婚而获得全白皮肤的"神",所以当他们看到神一样的白人出现的时候,一下就屈服了,几乎不敢反抗。

Cũng như các bộ lạc ở Châu Phi, có một số bộ lạc trong vùng tôn thờ người mắc chứng bệnh bạch tạng, vì người bị bệnh bạch tạng ở trong bộ lạc sẽ được đãi ngộ giống như thần thánh, nên bọn họ luôn cố gắng để cho người bị bạch tạng thông hôn với nhau để có được làn da trắng bạch của "Thần".

Cũng vì lẽ đó, khi bọn họ nhìn một người màu trắng giống như thần xuất hiện, lập tức khuất phục ngay, hầu như cũng không dám phản kháng.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Ngô Tà tư gia bút ký - Chương 31: Những Người Tôi Đã Gặp


001闷油瓶

Muộn Du Bình:

我碰到一个很讨厌的小子,我从来没见过这种人,他肯定是一个嗜睡症的中度患者,我看他除了要走路的时候,其他能睡的时候都在睡觉,即使是走路的时候他也闷声不吭,没睡醒的样子。

Tôi đụng phải một thằng cha rất là đáng ghét, từ xưa tới nay tôi chưa từng gặp phải người nào như vậy, khẳng định là tên này bị mắc chứng bệnh thèm ngủ cực kỳ nghiêm trọng!

Tôi thấy anh ta ngoại trừ lúc đi đường, thì vào những khoảng thời gian khác đều chỉ thấy ngủ, cho dù là khi đi dọc đường cũng không thèm nói một câu, bộ dạng lúc nào cũng như còn đang ngái ngủ.

(附张秃子和瓶子对比插图)

(Kèm theo hình minh họa so sánh giữa Trương Hói và Bình Tử)

我给他起了个外号,叫做闷声不吭的拖油瓶,我不喜欢在背地里骂人,但是这人实在是过份。怎么说我也算是个善于结交人的人,但是他的态度,完全就是一副没有必要和我产生任何关系的样子。

Vì thế tôi đặt cho anh ta một biệt danh, là Muộn Du Bình.

Tuy rằng tôi không thích mắng chửi sau lưng người khác, nhưng mà người này thật sự là quá mức đáng ghét.

Nói gì thì nói tôi cũng là một người rất giỏi về giao thiệp, thế nhưng thái độ của anh ta, hoàn toàn chính là một bộ dạng: không cần các người phải nảy sinh một mối quan hệ gì với tôi hết.

不过有他在一边,总有一种很异样的安心,可能是沉默的人总让人有很nb的错觉。我很想知道他的眼神下面藏着什么。

Có điều, chỉ cần có anh ta ở bên cạnh, tôi luôn luôn có một cảm giác an tâm rất đặc biệt, có thể là những người trầm mặc thường làm cho người khác bị ảo giác rằng anh ta rất lợi hại.

Tôi thực sự rất muốn biết ẩn sâu bên trong ánh mắt kia rốt cuộc là cái gì?

002阿宁

A Ninh:

不可否认我对她有一些好感,不管是因为身材,还是因为她那种暖昧的态度,不过理智告诉我,必须离她远点。

Không thể phủ nhận, tôi đối với cô gái này có chút thiện cảm, bất kể là vì dáng người, hay là vì thái độ ấm áp của cô ấy, thế nhưng lý trí nói cho tôi biết, phải tránh xa cô ấy một chút.

这个女人精力充沛得让人羡慕,我觉得把她踢下水让她跟着船游她都不会被落下,看着那种活力我就考虑是否要把自己在躺椅上打瞌睡的时间用到锻炼上,不过我看她的神情,总觉得她有一些落寞。

Nhiệt huyết của cô gái này quá mức dư thừa thực làm cho người ta phải hâm mộ, thậm chí tôi còn có cảm giác, đem cô ấy đá xuống nước cho bơi theo thuyền thì cũng sẽ không bị chết chìm, thấy cái loại sức sống này tôi nhịn không được mà bắt đầu lo lắng không biết là có nên đem thời gian mình ngồi trên ghế ngủ gà ngủ gật mà đi rèn luyện thể lực hay không?

Chỉ là nhìn vào ánh mắt của cô ấy, tôi vẫn mơ hồ cảm thấy cô ấy có chút cô đơn.

003胖子

Bàn Tử:

我们去永兴岛接的竟然是胖子。也不知道是不是上辈子和他结过梁子。看来从鲁王宫出来之后他过的还不错,好像又变胖了。

Người mà chúng tôi đi đón ở đảo Vĩnh Hưng đương nhiên chính là Bàn Tử.

Cũng không biết kiếp trước tôi với anh ta có "kết quá lương tử" hay không nữa.

Xem ra sau khi đi ra khỏi Lỗ Vương Cung anh ta cũng không tệ lắm, mà hình như còn mập hơn.

这丫一上船就报怨潮得身上都要长蘑菇了。喝多了,他还想冒充一下世界之王。

Vừa lên thuyền thì đã cằn nhằn mọi người trên thuyền đều là đồ lề mề rồi.

Sau khi uống xong, anh ta còn muốn giả làm vua của thế giới một chút.

这不是我第一次见他,不过我到现在才有兴趣仔细来打量他一下。可惜实在是什么好说的。

Đây không phải là lần đầu tiên tôi gặp anh ta, chẳng qua đến bây giờ mới có hứng thú ngồi quan sát anh ta tỉ mỉ một chút.

Đáng tiếc, thực sự mà nói thì cũng có cái quái gì đâu.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Ngô Tà tư gia bút ký - Chương 32: Cổ quốc Sơn Đông


一、姬姓国。姬姓相传为黄帝后裔,山东地区的姬姓国,大都是周武王灭商后分封的同姓诸侯。有鲁国、曹国、滕国、郕国、 郜国、茅国、阳国、遽国、邢国。

I.

Nước họ Cơ (姬姓国).

Họ Cơ tương truyền là hậu duệ của Hoàng Đế.

Các nước họ Cơ ở Sơn Đông phần lớn là các chư hầu cùng họ được Chu Vũ Vương phong sau khi diệt nhà Thương.

Gồm có: Nước Lỗ, Tào, Đằng, Thành, Cảo, Mao, Dương, Cự, Hình.

1.鲁国—始封祖是周公旦长子伯禽(封伯爵)。建都曲阜(今曲阜市)。是西周初年分封时最大的诸侯国之一,(现在人们仍用"鲁"作为山东省的简称)文化典籍众多,礼乐制度全备。春秋时期,又诞生了著名的思想家、教育家孔子,文化高度发达,以礼仪之邦著称于世。其国北凭泰山,东依大海,拥有今山东南部的广大地区,是周王室的重藩。西周至春秋初期为东方强国,颇有与当时的强国齐国争雄之势。鲁国共传26代,34位国君,约800年,春秋中期以后国力渐衰,鲁顷公24年(公元前249年),为楚所灭,成为鲁县。

1.

Nước Lỗ (鲁国)

Thủy Tổ phong tước: Bá Cầm (伯禽), con trai trưởng của Chu Công Đán (tước Bá).

Kinh đô: Khúc Phụ (nay là thành phố Khúc Phụ).

Tóm tắt: Một trong những nước chư hầu lớn nhất thời Tây Chu sơ kỳ. (Hiện nay, người ta vẫn dùng chữ "Lỗ" làm tên gọi tắt của tỉnh Sơn Đông).

Nước này có nhiều điển tịch văn hóa, lễ nhạc hoàn chỉnh.

Thời Xuân Thu, nhà tư tưởng và giáo dục nổi tiếng Khổng Tử ra đời tại đây, văn hóa phát triển cao độ, nổi tiếng là quốc gia của lễ nghi.

Nước Lỗ phía Bắc dựa vào Thái Sơn, phía Đông tựa vào biển, chiếm giữ khu vực rộng lớn phía Nam Sơn Đông ngày nay, là một phên giậu quan trọng của vương thất nhà Chu.

Từ Tây Chu đến đầu Xuân Thu là một cường quốc phương Đông, có thế tranh hùng với nước Tề.

Nước Lỗ truyền được 26 đời, 34 vị quốc quân, kéo dài khoảng 800 năm.

Sau giữa Xuân Thu, quốc lực suy yếu dần.

Năm Lỗ Khoảnh Công thứ 24 (năm 249 TCN), nước Lỗ bị nước Sở tiêu diệt, trở thành huyện Lỗ.

2.曹国—始封君为周文王之子叔振铎(封伯爵)。建都于陶丘 (今荷泽定陶西北),其国拥有今山东的西南部地区,处于齐、鲁、宋、卫国之间,国力较弱。传25世,至曹伯阳15年(公元前487年),被宋国灭掉。

2.

Nước Tào (曹国)

Thủy Tổ phong tước: Thúc Chấn Đạc (叔振铎), con trai của Chu Văn Vương (tước Bá).

Kinh đô: Đào Khâu (nay là phía Tây Bắc Định Đào, Hà Trạch).

Tóm tắt: Chiếm hữu khu vực Tây Nam Sơn Đông ngày nay, nằm giữa các nước Tề, Lỗ, Tống, Vệ, quốc lực yếu.

Truyền được 25 đời, đến năm Tào Bá Dương thứ 15 (năm 487 TCN) bị nước Tống diệt.

3.滕国—始封祖是文王之子错叔绣(封侯爵)。今滕县西南14里处有古滕城遗址。该国与鲁国关系密切,并依附于宋、晋国,参加大国的会盟和战争。公元前415年为越国所灭,不久复国。后又被宋(一说齐)灭掉。共传23世。

3.

Nước Đằng (滕国)

Thủy Tổ phong tước: Thác Thúc Tú (错叔绣), con trai của Chu Văn Vương (tước Hầu).

Tóm tắt: Di chỉ cổ thành Đằng cách Tây Nam huyện Đằng ngày nay 14 dặm.

Nước này có quan hệ mật thiết với nước Lỗ, và phụ thuộc vào nước Tống, Tấn, tham gia các hội minh và chiến tranh của các nước lớn.

Năm 415 TCN bị nước Việt diệt, nhưng không lâu sau phục quốc.

Sau lại bị nước Tống (có thuyết nói là Tề) diệt.

Truyền tổng cộng 23 đời.

4.郕国—始封君为(伯爵)周文王之子叔武。史不载其世系与国君号谥。1975年陕西岐山县董家村发现成伯孙父鬲,或疑郕国本封于西周畿内,春秋时改封于山东。地在今宁阳县东北(一说在河南范县)。鲁庄公8年(公元前686年)鲁、齐围攻郕,郕降于齐。

4.

Nước Thành (郕国)

Thủy Tổ phong tước: Thúc Võ (叔武), con trai của Chu Văn Vương (tước Bá).

Tóm tắt: Sử không ghi chép thế hệ và tên thụy của quốc quân.

Năm 1975, phát hiện Thành Bá Tôn Phụ Lịch tại thôn Đổng Gia, huyện Kỳ Sơn, Thiểm Tây.

Có nghi vấn nước Thành ban đầu được phong ở nội vi Tây Chu, thời Xuân Thu mới dời đến Sơn Đông.

Địa phận nay ở Đông Bắc huyện Ninh Dương (có thuyết ở huyện Phạm, Hà Nam).

Năm Lỗ Trang Công thứ 8 (năm 686 TCN), Lỗ và Tề vây đánh Thành, Thành đầu hàng Tề.

5.郜国—封子爵,始封祖是周文王之子(名不详)。国境在今成武县东南约于春秋初年为郑国所灭。传世器有郜史硕父鼎及郜仲尊。

5.

Nước Cảo (郜国)

Phong tước: Tử tước.

Thủy Tổ: Con trai của Chu Văn Vương (không rõ tên).

Tóm tắt: Lãnh thổ nay ở Đông Nam huyện Thành Võ, bị nước Trịnh tiêu diệt vào khoảng đầu Xuân Thu.

Có các cổ vật truyền thế như Cảo Sử Thạc Phụ Đỉnh và Cảo Trọng Tôn.

6.茅国—亦作茆。始封君为周公旦之子(名不详)。在今金乡县西南。后入为邾国(按:后叙)。

6.

Nước Mao (茅国)

Tên khác: Mão (茆).

Thủy Tổ: Con trai của Chu Công Đán (không rõ tên).

Tóm tắt: Nay ở Tây Nam huyện Kim Hương.

Sau bị nhập vào nước Chu (sẽ nói sau).

7.阳国—(或说为偃姓,又说为御姓),封侯爵。故城在今沂水县西南。鲁闵公2年(公元前660年),齐国逼徙其民而取地。一说本在今青州市东南,齐国逼迁于此。

7.

Nước Dương (阳国)

Tên khác: Có thuyết là họ Yển, có thuyết là họ Ngự.

Phong tước: Hầu tước.

Tóm tắt: Cố thành nay ở Tây Nam huyện Dịch Thủy.

Năm Lỗ Mẫn Công thứ 2 (năm 660 TCN), nước Tề bức dân dời đi và chiếm đất.

Một thuyết nói ban đầu ở Đông Nam thành phố Thanh Châu, bị Tề bức dời đến đây.

8.遽国—乃鲁附属国,在今金乡县稍东。鲁隐公2年(公元前721年),为鲁占有。

8.

Nước Cự (遽国)

Tóm tắt: Là nước phụ thuộc của Lỗ, nay ở hơi phía Đông huyện Kim Hương.

Năm Lỗ Ẩn Công thứ 2 (năm 721 TCN) bị nước Lỗ chiếm hữu.

9.邢国—始封君为周公旦之子(名不传)。本在今河北邢台市。公元前662年,翟攻邢,后齐桓公联合宋、曹救邢,将它迁往夷仪(今聊城西南)。前635年被卫所灭。

9.

Nước Hình (邢国)

Thủy Tổ: Con trai của Chu Công Đán (không truyền tên).

Tóm tắt: Ban đầu ở thành phố Hình Đài, Hà Bắc ngày nay.

Năm 662 TCN, Địch tấn công Hình, sau Tề Hoàn Công liên hợp Tống, Tào cứu Hình, dời nó đến Di Nghi (nay là Tây Nam Liêu Thành).

Năm 635 TCN bị nước Vệ tiêu diệt.

二、任姓国。任(或作妊)姓,亦传为黄帝后裔。夏以前即生活于山东南部地区。有薛国、邿(音shi)国、铸国、过国。

II.

Nước họ Nhâm (任姓国)

Họ Nhâm (hoặc Nhiệm - 妊) cũng tương truyền là hậu duệ của Hoàng Đế.

Trước thời Hạ đã sinh sống ở khu vực phía Nam Sơn Đông.

Gồm có: Nước Tiết, Thì (邿 - âm shi), Chú, Quá.

1.薛国—始封祖为夏朝车正奚仲(侯爵)。今滕县南30里有薛国故城遗址。后迁邳,亦曰下邳,在今江苏邳县东北。不久又迁上邳,即今微山西北,奚仲之后仲虺居薛,为商汤左相。周武王灭商,复封其后裔于薛。春秋以后,薛又迁下邳。薛国历夏、 商、周三代,可考者凡64世。战国时(或疑齐湣王3年,即前298年)灭亡,入为齐邑。传世器有薛侯匜、薛侯鼎、薛仲铜簠。

1.

Nước Tiết (薛国)

Thủy Tổ phong tước: Hề Trọng (奚仲), quan Xa Chính thời nhà Hạ (tước Hầu).

Tóm tắt: Di chỉ cố thành Tiết cách phía Nam huyện Đằng ngày nay 30 dặm.

Sau dời đến Phi, còn gọi là Hạ Phi, nay ở Đông Bắc huyện Phi, Giang Tô.

Không lâu sau lại dời đến Thượng Phi, tức Tây Bắc Vi Sơn ngày nay.

Hậu duệ của Hề Trọng là Trọng Khôi ở Tiết, làm Tả Tướng của Thương Thang.

Chu Vũ Vương diệt Thương, lại phong hậu duệ của họ ở Tiết.

Sau thời Xuân Thu, Tiết lại dời về Hạ Phi.

Nước Tiết trải qua ba triều đại Hạ, Thương, Chu, có thể khảo cứu được 64 đời.

Thời Chiến Quốc (có nghi vấn là năm Tề Mẫn Vương thứ 3, tức năm 298 TCN) bị diệt, nhập vào nước Tề.

Có các cổ vật truyền thế như Tiết Hầu Di, Tiết Hầu Đỉnh, Tiết Trọng Đồng Phủ.

2.邿国—亦作诗、寺。鲁之附庸国,其境在今济宁市南50里处。鲁襄公13年(公元前560年)发生内乱,分裂为三,被鲁国趁机攻取。传世器有邿伯鼎、邿遣簋、寺季鼎、寺季簋。

2.

Nước Thì (邿国)

Tên khác: Thi (诗), Tự (寺).

Tóm tắt: Nước phụ thuộc của Lỗ, lãnh thổ cách phía Nam thành phố Tế Ninh 50 dặm.

Năm Lỗ Tương Công thứ 13 (năm 560 TCN) xảy ra nội loạn, chia làm ba, bị nước Lỗ thừa cơ đánh chiếm.

Có các cổ vật truyền thế như Thì Bá Đỉnh, Thì Khiển Quỹ, Tự Quý Đỉnh, Tự Quý Quỹ.

3.铸(一说祁姓;亦作祝)国—封公爵。武王灭商后受封建国。 地在今肥城县南大汶河北岸。或疑后来为齐所灭。

3.

Nước Chú (铸国)

Tên khác: Có thuyết là họ Kỳ, cũng viết là Chúc (祝).

Phong tước: Công tước.

Tóm tắt: Được phong lập quốc sau khi Vũ Vương diệt Thương.

Địa phận nay ở phía Nam huyện Phì Thành, bờ Bắc sông Đại Vấn.

Có nghi vấn sau bị nước Tề diệt.

4.过(一说猗姓)国—夏代部落国家。地在今掖县(莱州)西北近海处。后为夏帝杼所灭。

4.

Nước Quá (过国)

Tên khác: Có thuyết là họ Y.

Tóm tắt: Quốc gia bộ lạc thời nhà Hạ.

Địa phận nay ở Tây Bắc huyện Dịch (Lai Châu), gần biển.

Sau bị Hạ Đế Trữ tiêu diệt.

三、姜姓国。姜姓相传是炎帝之后。山东地区的姜姓国,一部分是周初分封的,一部分则是夏、商时代就以立国的。有齐国、纪国、州国、莱国、鄣(zhang)国、向国、巽(xun)国、逢国。

Họ Khương tương truyền là hậu duệ của Viêm Đế.

Các nước họ Khương ở Sơn Đông, một phần được phong vào đầu thời Chu, một phần đã lập quốc từ thời Hạ, Thương.

Gồm có: Nước Tề, Kỷ, Châu, Lai, Chương (鄣 - âm zhang), Hướng, Tốn (巽 - âm xun), Bồng.

1.齐国—春秋战国时期强国。排"战国七雄"之首。开国君主为姜尚(即《封神演义》中的姜子牙),封侯爵。在今山东北部,建都营丘(后称临淄),即今淄博市临淄区。春秋初期,继齐僖公小霸以后,齐桓公任用管仲改革,国富民强,九合诸侯,称霸天下。齐灵公15年(公元前567年)灭莱,国土扩张到今胶东半岛。其疆域东到渤海之滨,西至黄河,南到泰山,北到滨州市无棣北(今河北盐山县南)。春秋末期,君权渐被陈氏(即田氏)所夺。战国初期,田和列为诸侯,迁齐康公于海上,姜齐遂亡。

1.

Nước Tề (齐国)

Tóm tắt: Cường quốc thời Xuân Thu Chiến Quốc.

Đứng đầu trong "Bảy hùng mạnh thời Chiến Quốc".

Khai quốc quân chủ là Khương Thượng (tức Khương Tử Nha trong Phong Thần Diễn Nghĩa), tước Hầu.

Ở phía Bắc Sơn Đông ngày nay, đóng đô ở Doanh Khâu (sau gọi là Lâm Tri), tức quận Lâm Tri, thành phố Truy Bác ngày nay.

Đầu Xuân Thu, tiếp nối Tề Hy Công xưng bá nhỏ, Tề Hoàn Công dùng Quản Trọng cải cách, nước giàu dân mạnh, chín lần hội chư hầu, xưng bá thiên hạ.

Năm Tề Linh Công thứ 15 (năm 567 TCN) diệt Lai, lãnh thổ mở rộng đến bán đảo Giao Đông ngày nay.

Cương vực phía Đông đến bờ biển Bột Hải, phía Tây đến Hoàng Hà, phía Nam đến Thái Sơn, phía Bắc đến Bắc Vô Đệ, thành phố Tân Châu (nay là phía Nam huyện Diêm Sơn, Hà Bắc).

Cuối Xuân Thu, quyền lực quân chủ dần bị họ Trần (tức họ Điền) đoạt.

Đầu Chiến Quốc, Điền Hòa được liệt vào chư hầu, dời Tề Khang Công ra biển, nước Khương Tề diệt vong.

2.纪(亦作己)国—侯爵。西周初年受封立国,其地在今寿光县南纪台村。与齐为世仇,一直受其威胁。齐襄公8年(公元前690年),终被齐灭掉。传世器有己侯钟、己侯簋、己侯貉子簋。

2.

Nước Kỷ (纪国)

Tên khác: Kỷ (己).

Phong tước: Hầu tước.

Tóm tắt: Được phong lập quốc đầu thời Tây Chu, nay ở thôn Kỷ Đài phía Nam huyện Thọ Quang.

Là thù địch truyền kiếp với Tề, luôn bị Tề đe dọa.

Năm Tề Tương Công thứ 8 (năm 690 TCN), cuối cùng bị Tề diệt.

Có các cổ vật truyền thế như Kỷ Hầu Chung, Kỷ Hầu Quỹ, Kỷ Hầu Hạc Tử Quỹ.

3.州国—或称淳于。公爵。建都淳于(今安丘东北)。春秋初年为杞吞并,成为杞都。

3.

Nước Châu (州国)

Tên khác: Thuần Vu.

Phong tước: Công tước.

Tóm tắt: Đóng đô ở Thuần Vu (nay là Đông Bắc An Khâu).

Đầu Xuân Thu bị nước Kỷ thôn tính, trở thành kinh đô của Kỷ.

4.莱国—亦作郲、釐。封子爵。殷商时即已存国。今龙口市东南有莱子城,即古莱国。一说在今昌邑县东南。莱与齐比邻,常有矛盾和冲突。莱共公时(公元前567年),被齐灵公攻灭。

4.

Nước Lai (莱国)

Tên khác: Lại (郲), Li (釐).

Phong tước: Tử tước.

Tóm tắt: Đã tồn tại từ thời nhà Ân Thương.

Phía Đông Nam thành phố Long Khẩu ngày nay có thành Lai Tử, tức nước Lai cổ.

Một thuyết nói ở Đông Nam huyện Xương Ấp ngày nay.

Lai gần Tề, thường có mâu thuẫn và xung đột.

Thời Lai Cung Công (năm 567 TCN), bị Tề Linh Công đánh diệt.

5.鄣国—纪附庸国。或说为纪邑。今东平县东60里旧有鄣城集。齐桓公22年(公元前664年),鄣被迫降于齐国。

5.

Nước Chương (鄣国)

Tóm tắt: Nước phụ thuộc của Kỷ.

Có thuyết là ấp của Kỷ.

Cách phía Đông huyện Đông Bình 60 dặm có tập Chương Thành cũ.

Năm Tề Hoàn Công thứ 22 (năm 664 TCN), Chương buộc phải đầu hàng nước Tề.

6.向国—今莒县南70里旧有向城,即此。公元前721年为莒国所灭。

6.

Nước Hướng (向国)

Tóm tắt: Cách phía Nam huyện Cử 70 dặm có Hướng Thành cũ, chính là nước này.

Năm 721 TCN bị nước Cử tiêu diệt.

7.巽(亦作其)国—存在于殷商至春秋时代。地在今沂水县东70里。传世器有巽公作叔姜匜等。

7.

Nước Tốn (巽国)

Tên khác: Kỳ (其).

Tóm tắt: Tồn tại từ thời Ân Thương đến Xuân Thu.

Địa phận nay ở phía Đông huyện Dịch Thủy 70 dặm.

Có các cổ vật truyền thế như Tốn Công Tác Thúc Khương Di...

8.逢国—商代诸侯。周灭商,地入齐国。

8.

Nước Bồng (逢国)

Tóm tắt: Chư hầu thời nhà Thương.

Chu diệt Thương, đất đai nhập vào nước Tề.

四、风姓国。风姓相传为太皞之后。太暤相传是东夷首领,其活动中心本在陈(今河南淮阳县),后向北发展,逐渐控制了济水流域。有宿国、任国、须句国、颛臾国。

IV.

Nước họ Phong (风姓国)

Họ Phong tương truyền là hậu duệ của Thái Hạo.

Thái Hạo tương truyền là thủ lĩnh Đông Di, trung tâm hoạt động ban đầu ở Trần (nay là huyện Hoài Dương, Hà Nam), sau phát triển về phía Bắc, dần dần kiểm soát lưu vực sông Tế.

Gồm có: Nước Túc, Nhâm, Tu Cú, Chuyên Du.

1.宿国—封男爵。地在今东平县东南20里。公元前684年,宋国派兵迁其民而取其地。后入齐为邑。

1.

Nước Túc (宿国)

Phong tước: Nam tước.

Tóm tắt: Địa phận nay ở phía Đông Nam huyện Đông Bình 20 dặm.

Năm 684 TCN, nước Tống phái binh dời dân và chiếm đất.

Sau nhập vào Tề thành ấp.

2.任国—在今济宁市。战国时仍存。或说任即夏代的仍。

2.

Nước Nhâm (任国)

Tóm tắt: Nay ở thành phố Tế Ninh.

Vẫn tồn tại đến thời Chiến Quốc.

Có thuyết Nhâm chính là nước Nhưng (仍) thời nhà Hạ.

3.须句国—亦作须朐。封子爵。在今东平县西北,或说东南。鲁僖宗21年(公元前639年)为邾所灭,次年鲁以须句乃婚姻之国伐邾,送须句君回国复位,后又灭于邾。鲁文公7年(前620年),鲁再伐邾,取须句,二国终为鲁地。

3.

Nước Tu Cú (须句国)

Tên khác: Tu Cừ (须朐).

Phong tước: Tử tước.

Tóm tắt: Nay ở Tây Bắc (hoặc thuyết là Đông Nam) huyện Đông Bình.

Năm Lỗ Hy Tông thứ 21 (năm 639 TCN) bị nước Chu tiêu diệt.

Năm sau, Lỗ lấy lý do Tu Cú là nước thông gia để phạt Chu, đưa quân chủ Tu Cú về phục vị, sau lại bị Chu diệt.

Năm Lỗ Văn Công thứ 7 (năm 620 TCN), Lỗ lại phạt Chu, lấy Tu Cú, hai nước cuối cùng thành đất của Lỗ.

4.颛臾国—鲁之附庸国。今费县西南80里旧有颛臾城。地在鲁国封疆内,其君为鲁国社稷之臣,曾受鲁命主蒙山之祭祀。

4.

Nước Chuyên Du (颛臾国)

Tóm tắt: Nước phụ thuộc của Lỗ.

Cách Tây Nam huyện Phí 80 dặm có Chuyên Du thành cũ.

Địa phận nằm trong cương giới nước Lỗ, quân chủ nước này là bầy tôi xã tắc của Lỗ, từng nhận mệnh Lỗ chủ trì việc tế Mông Sơn.

五、己姓国。己姓相传是东夷族首领少皞的后代,被华夏族视为蛮夷(或东夷)。有莒国、郯(tan)国。

V.

Nước họ Kỷ (己姓国)

Họ Kỷ tương truyền là hậu duệ của Thiếu Hạo, thủ lĩnh tộc Đông Di.

Bị tộc Hoa Hạ coi là Man Di (hoặc Đông Di).

Gồm có: Nước Cử, Đàm (郯 - âm tan).

1.莒(或说曹姓)国—子爵,开国君主为兹舆期。旧都介根(亦作计斤,在今胶州市西南),春秋初年迁于莒(今莒县)。有今安丘、诸城、沂水、莒县、日照等市县地。其君无谥,多以地名为生号。春秋时,屡遭齐国攻伐。公元前431年为楚所灭。

1.

Nước Cử (莒国)

Tên khác: Có thuyết là họ Tào.

Phong tước: Tử tước.

Khai quốc quân chủ: Tư Dư Kỳ (兹舆期).

Tóm tắt: Kinh đô cũ là Giới Căn (cũng viết là Kế Cân, ở Tây Nam thành phố Giao Châu ngày nay), đầu Xuân Thu dời đến Cử (nay là huyện Cử).

Chiếm hữu đất đai các thành phố, huyện như An Khâu, Chư Thành, Dịch Thủy, Cử, Nhật Chiếu ngày nay.

Quân chủ nước này không có tên thụy, thường lấy địa danh làm sinh hiệu.

Thời Xuân Thu, nhiều lần bị nước Tề tấn công.

Năm 431 TCN bị nước Sở tiêu diệt.

2.郯(或说嬴姓)国—子爵,在今郯城县北。史不传其世系名号。其君曾朝鲁。战国初年(公元前414年)为越所灭。或疑后又复国。

2.

Nước Đàm (郯国)

Tên khác: Có thuyết là họ Doanh.

Phong tước: Tử tước.

Tóm tắt: Nay ở phía Bắc huyện Đàm Thành.

Sử không truyền thế hệ danh hiệu.

Quân chủ từng triều kiến Lỗ.

Đầu Chiến Quốc (năm 414 TCN) bị nước Việt tiêu diệt.

Có nghi vấn sau lại phục quốc.

六、曹姓国。曹姓本自颛顼,相传其玄孙陆终生六子,第五子名安,为曹姓始祖。有邾国、小邾国。

VI.

Nước họ Tào (曹姓国)

Họ Tào vốn là tự Chuyên Húc, tương truyền Huyền Tôn Lục Chung sinh sáu con, con thứ năm tên An, là thủy tổ họ Tào.

Gồm có: Nước Chu, Tiểu Chu.

1.邾国—亦称邾娄、邹。子爵。开国君主是挟。据有今费、 邹、滕、金乡等县和济宁市区。建都于邾(今曲阜东南南陬村),公元前614年,邾文公把都城迁往绎(今邹县东南纪王城)。 邾虽被华夏诸侯视为蛮夷小国,但其国力之强和文化之盛,在山东地区仅次于齐、鲁两国,曾多次参与列国会盟和战争,出兵侵伐邻近国家。战国时为楚所灭。

1.

Nước Chu (邾国)

Tên khác: Chu Lâu, Trâu.

Phong tước: Tử tước.

Khai quốc quân chủ: Hiệp (挟).

Tóm tắt: Chiếm giữ các huyện Phí, Trâu, Đằng, Kim Hương và khu vực thành phố Tế Ninh ngày nay.

Đóng đô ở Chu (thôn Nam Trâu phía Đông Nam Khúc Phụ).

Năm 614 TCN, Chu Văn Công dời đô đến Dịch (thành Kỷ Vương phía Đông Nam huyện Trâu).

Tuy bị các chư hầu Hoa Hạ coi là tiểu quốc Man Di, nhưng quốc lực và văn hóa của Chu chỉ đứng sau Tề, Lỗ trong khu vực Sơn Đông, từng nhiều lần tham gia hội minh và chiến tranh của các nước, xuất binh xâm lược các nước lân cận.

Thời Chiến Quốc bị nước Sở tiêu diệt.

2.小邾国—亦称小邾娄、郳。子爵。本出于邾。周宣王时,邾君夷父颜(挟的五世孙)封子友(亦作肥)于郳(或作倪、儿,今滕县东南),为附庸国。友的后代曾跟从齐桓公尊扶王室,周天子命之为小邾子。与鲁国关系密切。战国时为楚国所灭。

2.

Nước Tiểu Chu (小邾国)

Tên khác: Tiểu Chu Lâu, Nghê (郳).

Phong tước: Tử tước.

Tóm tắt: Vốn xuất phát từ nước Chu.

Thời Chu Tuyên Vương, Chu quân Di Phụ Nhan (cháu 5 đời của Hiệp) phong con trai Hữu (友, cũng viết là Phì) tại Nghê (hoặc Ni, Nhi - nay là Đông Nam huyện Đằng), là nước phụ thuộc.

Hậu duệ của Hữu từng theo Tề Hoàn Công tôn phù vương thất, Thiên tử nhà Chu mệnh là Tiểu Chu Tử.

Có quan hệ mật thiết với nước Lỗ.

Thời Chiến Quốc bị nước Sở tiêu diệt.

七、妘姓国。妘姓相传为帝高辛氏火正祝融的后代。有偪阳国、鄅国、夷国、寒国。

VII.

Nước họ Uấn (妘姓国)

Họ Uấn tương truyền là hậu duệ của Hỏa Chính Chúc Dung thời Đế Cao Tân thị.

Gồm có: Nước Bức Dương, Ủng, Di, Hàn.

1.偪阳国—亦作傅阳。子爵。在今枣庄市南。与邾、小邾相邻。故城遗址周围九里,基身宏阔。鲁襄公10年(公元前563年)被晋悼公会合宋、鲁等国攻灭,土地并入宋国,其族嗣远徙晋国霍人邑(今山西繁峙县东郊)。

1.

Nước Bức Dương (偪阳国)

Tên khác: Phó Dương (傅阳).

Phong tước: Tử tước.

Tóm tắt: Nay ở phía Nam thành phố Tảo Trang.

Giáp với Chu, Tiểu Chu.

Di chỉ cố thành chu vi chín dặm, nền móng rộng lớn.

Năm Lỗ Tương Công thứ 10 (năm 563 TCN) bị Tấn Điệu Công hợp lực với Tống, Lỗ và các nước khác đánh diệt, đất đai nhập vào nước Tống, tộc nhân dời xa đến ấp Hoắc Nhân của nước Tấn (nay là ngoại ô phía Đông huyện Phồn Trì, Sơn Tây).

2.鄅国—子爵。在今临沂市北。鲁昭公18年(公元前524年)邾人袭入鄅,鄅国君民被掠往邾。次年,宋以婚姻之国伐邾,使邾尽归鄅俘,鄅复存。后土地入于鲁。

2.

Nước Ủng (鄅国)

Phong tước: Tử tước.

Tóm tắt: Nay ở phía Bắc thành phố Lâm Nghi.

Năm Lỗ Chiêu Công thứ 18 (năm 524 TCN), người Chu tập kích vào Ủng, quân dân nước Ủng bị bắt sang Chu.

Năm sau, Tống lấy lý do nước thông gia để phạt Chu, khiến Chu phải trả lại tất cả tù binh Ủng, Ủng phục quốc.

Sau đất đai nhập vào nước Lỗ.

3.夷(后或称子)国—伯爵。在今即墨市西60里壮武故城。古彝器有夷伯簋。

3.

Nước Di (夷国)

Tên khác: Sau có thể gọi là Tử (子).

Phong tước: Bá tước.

Tóm tắt: Nay ở cố thành Tráng Võ, cách Tây thành phố Tức Mặc 60 dặm.

Có cổ vật Di Bá Quỹ truyền thế.

4.寒国—夏代部落国家。在今潍坊市寒亭区。寒浞即出于此。

4.

Nước Hàn (寒国)

Tóm tắt: Quốc gia bộ lạc thời nhà Hạ.

Nay ở khu Hàn Đình, thành phố Duy Phường.

Hàn Trác (寒浞) xuất thân từ đây.

八、妫姓国。妫姓相传为虞舜之后。有遂国、齐国。

VIII.

Nước họ Khuê (妫姓国)

Họ Khuê tương truyền là hậu duệ của Ngu Thuấn.

Gồm có: Nước Toại, Tề (Điền thị).

1.遂国—亦作隧国,地在今费城市南。公元前681年为齐所灭。

1.

Nước Toại (遂国)

Tên khác: Toại Quốc (隧国).

Tóm tắt: Địa phận nay ở phía Nam thành phố Phí Thành.

Năm 681 TCN bị nước Tề tiêu diệt.

2.齐国—即战国时田氏齐国。公元前386年齐国大臣田和被周王室列为诸侯,彻底取代了姜姓政权,但仍以"齐"为国号,都临淄。齐为战国七雄之一,曾败魏灭宋,长期与秦东西对峙,多次左右战国局势。齐缗王17年(公元前284年),燕、秦、晋联合攻齐,燕将乐毅率先破临淄,从此以后国势渐衰。齐王建45年(前221年),终被秦始皇所灭。

2.

Nước Tề (齐国)

Tóm tắt: Tức là nước Tề của họ Điền thời Chiến Quốc.

Năm 386 TCN, đại thần nước Tề là Điền Hòa được vương thất nhà Chu liệt vào chư hầu, thay thế hoàn toàn chính quyền họ Khương, nhưng vẫn lấy "Tề" làm quốc hiệu, đóng đô ở Lâm Tri.

Tề là một trong Bảy hùng mạnh thời Chiến Quốc, từng đánh bại Nguỵ, diệt Tống, đối đầu lâu dài với Tần ở phía Đông, nhiều lần xoay chuyển cục diện Chiến Quốc.

Năm Tề Mẫn Vương thứ 17 (năm 284 TCN), Yên, Tần, Tấn liên hợp đánh Tề, tướng Yên là Nhạc Nghị dẫn đầu phá Lâm Tri, từ đó về sau quốc thế dần suy yếu.

Năm Tề Vương Kiến thứ 45 (năm 221 TCN), cuối cùng bị Tần Thủy Hoàng tiêu diệt.

九、姚姓国。姚姓亦传为虞舜之后裔。缗国—即有婚。夏代部落国家。在今金乡县东北25公里处,旧名婚城阜。《左传·昭公四年》:"夏桀为仍之会,有婚之。"又《昭公十一年》:"桀克有婚,以亡其国。"

IX.

Nước họ Diêu (姚姓国)

Họ Diêu cũng tương truyền là hậu duệ của Ngu Thuấn.

Nước Mân (缗国) - tức Hữu Hôn (有婚).

Tóm tắt: Quốc gia bộ lạc thời nhà Hạ.

Nay ở Đông Bắc huyện Kim Hương 25 km, tên cũ là Hôn Thành Phụ.

Tả Truyện - Chiêu Công tứ niên chép: "Hạ Kiệt hội họp tại Nhưng, có Hữu Hôn."

Lại Chiêu Công thập nhất niên: "Kiệt khắc Hữu Hôn, lấy đó làm vong quốc."

十、姒姓国。姒姓传为夏虞之后。有杞国、鄫国、斟灌国、斟寻国。

X.

Nước họ Tị (姒姓国)

Họ Tị tương truyền là hậu duệ của Hạ Ngu.

Gồm có: Nước Kỷ, Tằng (鄫), Châm Quán, Châm Tầm.

1.杞国—伯爵。商汤时就已受封立国。周武王克商后,寻夏禹后裔,封东楼公于杞,是为重封,故亦称夏。初都雍丘(今河南杞县)。后受淮夷威胁,西周末期开始北迁,或以为今新泰市曾为杞都所在。杞成公(公元前654-637年在位)得齐桓公之助,迁都缘陵(今昌乐县东南)。杞文公(前549-536年在位)时又迁于淳于。杞简公元年(前445年)为楚惠王所灭。传世器有杞伯鼎、杞伯豆等。

1.

Nước Kỷ (杞国)

Phong tước: Bá tước.

Tóm tắt: Được phong lập quốc từ thời Thương Thang.

Chu Vũ Vương khắc Thương, tìm hậu duệ Hạ Vũ, phong Đông Lâu Công ở Kỷ, đây là lần phong lại, nên còn gọi là Hạ.

Ban đầu đóng đô ở Ung Khâu (nay là huyện Kỷ, Hà Nam).

Sau bị Hoài Di đe dọa, cuối thời Tây Chu bắt đầu dời về phía Bắc, có thuyết cho rằng thành phố Tân Thái ngày nay từng là kinh đô của Kỷ.

Kỷ Thành Công (trị vì 654-637 TCN) được Tề Hoàn Công giúp đỡ, dời đô đến Duyên Lăng (nay là Đông Nam huyện Xương Lạc).

Thời Kỷ Văn Công (549-536 TCN) lại dời đến Thuần Vu.

Năm Kỷ Giản Công thứ nhất (năm 445 TCN) bị Sở Huệ Vương tiêu diệt.

Có các cổ vật truyền thế như Kỷ Bá Đỉnh, Kỷ Bá Đậu.

2.鄫(亦作缯、曾)国—子爵。故城在今枣庄市东,苍山县稍北。曾一度为鲁国附庸。鲁襄公6年(公元前567年),被莒灭掉, 昭公4年(前538年)鲁取其地。后又属齐国。

2.

Nước Tằng (鄫国)

Tên khác: Tăng (缯), Tăng (曾).

Phong tước: Tử tước.

Tóm tắt: Cố thành nay ở phía Đông thành phố Tảo Trang, hơi phía Bắc huyện Thương Sơn.

Từng là nước phụ thuộc của Lỗ.

Năm Lỗ Tương Công thứ 6 (năm 567 TCN), bị nước Cử tiêu diệt.

Năm Lỗ Chiêu Công thứ 4 (năm 538 TCN), Lỗ chiếm đất đai.

Sau lại thuộc về nước Tề.

3.斟灌国—夏代部落国家。在今寿光县东北。夏帝相曾居此。后为寒浞之子浇攻灭。

3.

Nước Châm Quán (斟灌国)

Tóm tắt: Quốc gia bộ lạc thời nhà Hạ.

Nay ở Đông Bắc huyện Thọ Quang.

Hạ Đế Tướng từng ở đây.

Sau bị con trai Hàn Trác là Kiêu tấn công tiêu diệt.

4.斟寻国—夏代部落国家。在今潍坊市东南。夏太康曾居此。后亦被寒浇攻灭。

4.

Nước Châm Tầm (斟寻国)

Tóm tắt: Quốc gia bộ lạc thời nhà Hạ.

Nay ở Đông Nam thành phố Duy Phường.

Hạ Thái Khang từng ở đây.

Sau cũng bị Hàn Kiêu tấn công tiêu diệt.

十一、子姓国。子姓相传为商祖契之后。谭国—亦作鄣。子爵。今章丘县西旧有谭城,抗战前曾发掘出遗址。地当齐国东西通道,公元前684年被齐国借故灭掉。

XI.

Nước họ Tử (子姓国)

Họ Tử tương truyền là hậu duệ của Khế, tổ tiên nhà Thương.

Nước Đàm (谭国).

Tên khác: Chương (鄣).

Phong tước: Tử tước.

Tóm tắt: Phía Tây huyện Chương Khâu cũ có Đàm Thành, từng được khai quật di chỉ trước kháng chiến.

Địa phận nằm trên đường thông Tây-Đông của nước Tề.

Năm 684 TCN bị nước Tề lấy cớ diệt.

十二、偃姓国。偃姓相传为皋陶之后。有鬲国—夏代部落国家,在今德州市北。太康失国,夏贵族大臣靡逃奔至此,收集残余势力,援助少康恢复夏朝统治。

XII.

Nước họ Yển (偃姓国)

Họ Yển tương truyền là hậu duệ của Cao Dao.

Nước Cách (鬲国).

Tóm tắt: Quốc gia bộ lạc thời nhà Hạ, nay ở phía Bắc thành phố Đức Châu.

Thái Khang mất nước, quý tộc đại thần nhà Hạ là Mễ (靡) chạy đến đây, thu thập tàn dư thế lực, giúp Thiếu Khang phục hưng triều đại nhà Hạ.

十三、嬴姓国。嬴姓相传是伯益的后裔。奄国—亦作盖。在今曲阜旧城东,伯益曾居于此。后成为殷商盟国。周成王时随商纣王之子武庚叛乱,反抗周朝,后为周公所灭,其地入鲁国。

XIII.

Nước họ Doanh (嬴姓国)

Họ Doanh tương truyền là hậu duệ của Bá Ích.

Nước Yểm (奄国).

Tên khác: Cái (盖).

Tóm tắt: Phía Đông thành cổ Khúc Phụ.

Bá Ích từng ở đây.

Sau trở thành minh quốc của Ân Thương.

Thời Chu Thành Vương, theo con trai Thương Trụ Vương là Vũ Canh làm phản, chống lại nhà Chu.

Sau bị Chu Công tiêu diệt, đất đai nhập vào nước Lỗ.

十四、漆姓国。漆姓相传为防风氏之后。鄋瞒国—长荻的一支。西周至春秋时代活动于今济南市以北的山东境内,大约处在部落向国家的过渡阶段。

XIV.

Nước họ Tất (漆姓国)

Họ Tất tương truyền là hậu duệ của Phòng Phong thị.

Nước Sưu Man (鄋瞒国).

Tóm tắt: Một nhánh của Trường Địch.

Từ Tây Chu đến Xuân Thu hoạt động ở Sơn Đông, phía Bắc thành phố Tế Nam ngày nay, khoảng giai đoạn chuyển tiếp từ bộ lạc sang quốc gia.

十五、东夷国。东夷是远古时代就活动于山东地区的古老民族, 后渐于华夏族融合。有介国、根牟国。

XV.

Quốc gia Đông Di (东夷国)

Đông Di là dân tộc cổ đại hoạt động ở khu vực Sơn Đông từ thời xa xưa, sau dần hòa nhập với tộc Hoa Hạ.

Gồm có: Nước Giới, Căn Mưu.

1.介国—或说在今胶州市西南。其君葛卢曾朝见鲁僖公,并率师远袭宋邑。

1.

Nước Giới (介国)

Tóm tắt: Có thuyết ở Tây Nam thành phố Giao Châu ngày nay.

Quân chủ Cát Lư (葛卢) từng triều kiến Lỗ Hy Công, và dẫn quân đánh xa ấp Tống.

2.根牟国—鲁附庸国,其地在今沂水县南。鲁宣公9年(公元前600年),被鲁国攻取。

2.

Nước Căn Mưu (根牟国)

Tóm tắt: Nước phụ thuộc của Lỗ, địa phận nay ở phía Nam huyện Dịch Thủy.

Năm Lỗ Tuyên Công thứ 9 (năm 600 TCN) bị nước Lỗ đánh chiếm.

十六、未详祖姓的国家。

XVI.

Quốc gia chưa rõ tổ họ

Gồm có: Nước Quách, Vu Dư Khâu, Mưu, Chước, Sằn, Bồ Cô.

1.郭国—伯爵,地在今聊城市东北。存在于西周至春秋初期。 约在齐桓公以前灭亡。有器物传世。

1.

Nước Quách (郭国)

Phong tước: Bá tước.

Tóm tắt: Địa phận nay ở Đông Bắc thành phố Liêu Thành.

Tồn tại từ Tây Chu đến đầu Xuân Thu.

Bị diệt vong khoảng trước thời Tề Hoàn Công.

Có cổ vật truyền thế.

2.於余丘国—或作余丘。在今临沂市境,一说在章丘县。鲁庄公二年(公元前692年)曾遭鲁国攻伐。

2.

Nước Vu Dư Khâu (於余丘国)

Tên khác: Dư Khâu (余丘).

Tóm tắt: Nay ở địa phận thành phố Lâm Nghi, một thuyết ở huyện Chương Khâu.

Năm Lỗ Trang Công thứ 2 (năm 692 TCN) từng bị nước Lỗ tấn công.

3.牟国—封子爵。其故城在今莱芜市东二十里处。鲁之附庸国,与鲁通婚。其君曾朝见鲁桓公。

3.

Nước Mưu (牟国)

Phong tước: Tử tước.

Tóm tắt: Cố thành nay ở phía Đông thành phố Lai Vu 20 dặm.

Là nước phụ thuộc của Lỗ, có thông hôn với Lỗ.

Quân chủ từng triều kiến Lỗ Hoàn Công.

4.鄟国—鲁附庸国。在今郯城县东北30余里。鲁成公6年(公元前585年)为鲁所灭。

4.

Nước Chước (鄟国)

Tóm tắt: Nước phụ thuộc của Lỗ.

Nay ở Đông Bắc huyện Đàm Thành 30 dặm.

Năm Lỗ Thành Công thứ 6 (năm 585 TCN) bị nước Lỗ tiêu diệt.

5.莘国—亦作有莘。夏、商时期的部落国家,在今曹县北。与商汤通婚。伊尹即出于此。

5.

Nước Sằn (莘国)

Tên khác: Hữu Sằn (有莘).

Tóm tắt: Quốc gia bộ lạc thời Hạ, Thương, nay ở phía Bắc huyện Tào.

Có thông hôn với Thương Thang.

Y Doãn (伊尹) xuất thân từ đây.

6.蒲姑国—亦作亳姑、薄姑。在今滨州市博兴县东南。周成王即位时,因参与武庚和东夷叛乱,被周公灭掉,地入齐地。

6.

Nước Bồ Cô (蒲姑国)

Tên khác: Bạc Cô (亳姑), Bạc Cô (薄姑).

Tóm tắt: Nay ở Đông Nam huyện Bác Hưng, thành phố Tân Châu.

Khi Chu Thành Vương lên ngôi, vì tham gia phản loạn của Vũ Canh và Đông Di, bị Chu Công tiêu diệt, đất đai nhập vào đất Tề.

──摘自老窑《山东境内的古国》

(Trích từ "Các nước cổ đại trong phạm vi Sơn Đông" của Lão Diêu)
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Ngô Tà tư gia bút ký - Chương 33: Danh Sách Đội Khỏa Cổ Tây Sa


在鬼船上发现的笔记有待继续研究,三叔有做笔记的习惯,而且做事情也很认真,但是笔记的内容看到后来,我发现严谨得过分,这些笔记很可能是三叔在文锦的监督下记下的。(注:台版同处内容为"文锦显然有做笔记的习惯,在鬼船上发现的她留下的笔记,还有待继续研究。")

Quyển bút ký tìm được ở trên thuyền quỷ còn phải tiếp tục nghiên cứu, Tam thúc luôn có thói quen viết bút ký, hơn nữa là bất kì chuyện tình gì cũng rất nghiêm túc, nhưng mà sau khi tôi xem nội dung trong quyển bút ký thì, đã quá mức nghiêm túc cẩn thận, quyển bút ký này có thể là trong lúc Tam thúc đang giám sát Văn Cẩm ghi lại.

笔记内容重抄:

Nội dung của bút ký:

海底考古区域分布图:

Bố trí khu vực khảo cổ dưới đáy biển

一共为七个区域,瓷器散布在大概3000平方米的区域内,沉船位于中心的礁石左侧30米处。

Tổng cộng có bảy khu vực, đồ gốm rải rác trong khu vực rộng khoảng 3000 mét vuông, vị trí thuyền chìm nằm cách trung tâm bãi đá ngầm 30 mét.

日期一

Ngày đầu tiên

在这样的海底条件下,传统的田野考古的办法完全不可用,我们只有使用自己创作的方法,不过海洋和大地虽然环境截然不同,但是使用的办法还是殊途同归,现在不确定海底埋的东西的具体形状和大小,第一步应该是使用洛阳铲,先把大概的勘探区域确定下来。

Ở điều kiện dưới đáy biển như thế này, các biện pháp khảo cổ truyền thống hoàn toàn không thể sử dụng được, chúng tôi chỉ có thể sử dụng biện pháp nghiên cứu tự mình sáng tạo ra.

Tuy rằng hoàn cảnh của đại dương và lục địa rõ ràng là rất khác nhau, thế nhưng các biện pháp được sử dụng vẫn là trăm sông đổ về một biển.

Hiện tại không thể xác định được thứ bị chôn vùi dưới đáy biển kia có hình dạng và kích thước như thế nào, bước đầu tiên cần phải sử dụng xẻng Lạc Dương, để thăm dò đại khái khu vực đó rồi mới có thể khẳng định tiếp được.

海底不比陆地,具体使用的效果还不清楚,不过我感觉问题应该不是很大。

Ở dưới đáy biển không giống như trên mặt đất, hiệu quả sử dụng cụ thể ra sao vẫn không được rõ ràng lắm, nhưng tôi cảm thấy vấn đề cũng không quá lớn.

前期打捞上来的瓷器,确定时期为永乐,这是个鼓舞人心的消息,这一批瓷器,按照沉般的位置,我们估计来自于景德镇的官窑,样式以青花带金彩为主,部分埋在海沙深处,保存完好。这批瓷器的样式,应该是运往马尼拉,最终到达当时的墨西哥。如果判断正确,那么这艘沉船上运输的最大宗的货物应该是丝绸。可惜,在海水中我们基本没有希望能够看到保存至今的丝织品痕迹。

Đồ gốm vớt lên được hôm trước, nhất định là vào thời kì Vĩnh Lạc, đó là một tin tức có thể khích lệ lòng người.

Vậy số đồ gốm này, dựa theo vị trí bị chìm thì thấy, chúng tôi đoán chừng là đến từ lò gốm Cảnh Đức Trấn Quan, lấy kiểu dáng Thanh Hoa chỉ vàng làm chủ, bộ phận chôn sâu ở trong cát biển, được bảo tồn rất hoàn hảo.

Dựa theo kiểu dáng của những đồ sứ này, chắc là vận chuyển đi Manila, rồi đến địa điểm cuối cùng là Mêhicô.

Nếu tôi phán đoán chính xác, vậy thì chắc chắn chiếc thuyền chìm này chủ yếu là chở hàng tơ lụa.

Chỉ tiếc là, ở trong môi trường nước biển chúng tôi vốn không có hy vọng tìm được dấu vết của hàng tơ lụa còn sót lại cho đến bây giờ.

日期二

Ngày thứ hai

洛阳铲的使用遇到了一些问题,在水下作业需要更大的力气,原来配备的木锤无法使用,我们只得使用水下的岩石,牡蛎很锋利,很多人的手都受了伤。

Sử dụng xẻng Lạc Dương gặp một chút vấn đề, làm việc ở dưới nước cần nhiều sức lực hơn nữa, bởi vì vốn không thể sử dụng kết hợp với búa gỗ được, nên chúng tôi phải sử dụng một loại đá ở dưới biển, con hàu rất sắc bén, làm tay nhiều người bị thương.

在水下使用洛阳铲,在水深不是特别深的地方,建议在船上作业,船上两人水下一人,这样效率更高,在水深的地方,建议采用机械作业,因为水下的关系,洛阳铲主要的作用在于判断海底海沙之下的地质成份,定出"问题区域"的边界可以使得考察工作更有效的进行,所以其实完全可以使用改装的地质钻头。

Sử dụng xẻng Lạc Dương, ở dưới vùng nước sâu mà cũng không phải nơi đặc biệt sâu, thì có thể đề nghị kết hợp với trên thuyền làm việc, ở trên thuyền hai người, dưới nước một người, như vậy hiệu quả sẽ rất cao, còn nếu ở vùng nước sâu hơn, thì nên đề xuất với bọn họ sử dụng máy móc để làm việc.

Bởi vì với điều kiện ở dưới nước, tác dụng quan trọng nhất của xẻng Lạc Dương cũng chỉ là để đánh giá thành phần địa chất của cát dưới đáy biển, để đưa ra "Vấn đề khu vực" và xác định được ranh giới cho phép để giúp công việc khảo sát được tiến hành hiệu quả hơn, cho nên hoàn toàn có thể đổi lại sử dụng mũi khoan địa chất.

我们只需要确定钻头带回的样本的大概成分就可以。海底下如果有沉船,就会有钙化或者珊瑚化的木头成份,和陆地不同,我们不需要根据木头的情况来判断沉船的年代。现在阶段,国内还没有人力物力可以整体保护或者开掘沉船遗迹。

Chúng tôi chỉ cần quan sát mẫu vật mũi khoan mang về là đã có thể đánh giá sơ sơ được thành phần địa chất dưới đáy biển rồi.

Nếu như dưới đáy biển có thuyền chìm, sẽ có thành phần của gỗ bị vôi hoá hoặc là san hô hóa.

Và khác với mặt đất là, chúng tôi không cần căn cứ vào tình hình của gỗ để phán đoán niên đại của chiếc thuyền chìm này.

Ở giai đoạn hiện tại, trong nước không người nào có năng lực và của cải có thể hoàn toàn bảo vệ hoặc khai quật được di tích thuyền chìm dưới đáy biển.

另外,很让人意外,勘探出来的形状完全不是船形,而是土字形,海底理了一个土字形的坚硬物体,大小惊人,在这远离近海的地方在海底应该不会发现地基,那么,这些海沙下面埋的庞然大物是什么呢?暂时我们都不敢下定论,不过我有一种预感,如果真如我所料,事情就好玩了。

Hơn nữa, điều khiến cho mọi người bất ngờ nhất chính là, sau khi thăm dò thì hoàn toàn không phải là hình thuyền, mà là đổi thành hình chữ "Thổ", vật thể ở dưới đáy biển lại đổi thành một hình chữ "Thổ" cứng rắn, kích cỡ khác thường, ở nơi này cách xa vùng duyên hải cũng sẽ không thể phát hiện một cái nền như vậy, vậy thì, vậy thứ to lớn chôn phía dưới lớp cát biển kia là cái gì chứ?

Tạm thời chúng tôi cũng chưa dám đưa ra kết luận, chẳng qua tôi có một linh cảm mơ hồ, nếu đúng như tôi dự đoán, sự tình thực sự rất thú vị.

日期三

Ngày thứ ba

考古队配备的区域条带在海水环境下基本不能发挥作用。布条太宽在海水的涌动下会把固定在海底的标志杆从海沙中扯出,最后还是使用了鱼船上的锚绳。以后的海洋考察,应该配备专业的用于水下作业的标志带。锚绳因为吸水,在水下重量很大,不易被水波带动,可以使用锚绳类似的材质,涂以显眼的颜色,以便在船上也能更好的观测水底。

Những trang bị của đội khảo cổ mang theo ở trong nước biển cơ bản hoàn toàn không thể phát huy tác dụng.

Mảnh vải bố quá rộng khi bắt đầu di chuyển dưới nước sẽ làm cho cái cọc đánh dấu được cố định ở đáy biển dấu kéo ra, cuối cùng vẫn phải sử dụng dây thừng mỏ neo trên thuyền cá.

Sau này đi khảo sát dưới biển, cần phải mang theo trang bị chuyên dụng để làm việc ở dưới nước.

Sợi dây neo vì bị thấm nước, ở dưới nước trọng lượng thực sự rất nặng, không dễ bị sóng nước kéo đi, có thể một sợi dây thường neo thuyền khác tương tự bằng chất liệu gỗ, có sơn màu sắc rõ ràng, để ở trên thuyền có thể quan sát dưới đáy nước tốt hơn.

通过标带最后确定的形状,我基本能确定,这应该是一座巨大的海葬古墓,其规模完全不可推测,而且在远离近海如此远的地方,这会是谁的墓地?

Sau khi thông qua hình dạng sợi dây cuối cùng cũng xác định được hình dáng, tôi có thể khẳng định, đây là một tòa cổ mộ hải táng rất lớn, quy mô của nó hoàn toàn không thể đoán được, hơn nữa nằm ở một nơi cách xa vùng duyên hải như vậy, vậy thì đây là một của ai?

日期四

Ngày thứ tứ

从海底取样回来的木板中,发现了渔网和灰泥混台的浆土的痕迹,这是渔船用来封船缝和修补船体裂缝的粘合剂,如此说来,古墓有可能做过密封措施,那么很可能水下的古墓中,局部还存有空气。而最有可能存有空气的位置,在A和B两点,这两个配室相对较小,而且空间相对独立。

Từ trong một mảnh gỗ mẫu vật được lấy dưới đáy biển, phát hiện được đấu vết của lưới đánh cá và tro bui lẫn lộn với đất nhão, đây là thuyền đánh cá dùng để niêm phong thân tàu và dính lại các khe hở.

Nói vậy thì, cổ mộ đã được xử lý để hoàn toàn phong kín lại rồi, thì rất có khả năng bên trong cổ mộ dưới biển kia, vẫn sẽ còn không khí.

Mà có khả năng đang có không khí nhất là nằm ở, hai điểm A và B, bởi vì hai cái phòng này tương đối nhỏ hơn, hơn nữa không gian cũng khá độc lập.

现在最大的问题是,如何在水压环境下,进入到古墓中而不破坏气闭环境,传统意义上要实现这样的功能,需要一个气密舱,也许我们必须凿沉一艘船。为此必须做船老大的工作。

Vấn đề lớn nhất lúc này, là làm sao có thể tiếp cận được trong điều kiện dưới nước, đi vào trong cổ mộ mà không phá hỏng không gian có không khí được phong kín đây?

Muốn thực hiện được một chức năng truyền thống có tác dụng như vậy, cần phải có một khoang thuyền trống bí mật, e rằng chúng tôi phải đục một cái lỗ trên chiếc thuyền chìm này.

Vậy thì phải làm công việc của thuyền trưởng.

日期五

Ngày thứ năm

7月21日,我们准备第一次进海底墓穴,入口我已经找到,想通之后,这个古墓并不复杂。

Ngày 21 tháng 7, chúng tôi chuẩn bị lần đầu tiên đi vào cổ mộ dưới đáy biển, thông đạo đi vào tôi đã tìm được, sau khi nghĩ thông suốt sau liền hiểu được, cổ mộ này thực ra cũng không quá phức tạp.

7月24日,我们进去了一次,在里面发现了一个奇怪的现象,看样子,这古墓也不"干净"。

Ngày 24 tháng 7, lần đầu chúng tôi đi vào trong, phát hiện bên trong cổ mộ có hiện tượng kỳ quái, xem ra, cổ mộ này cũng không " Sạch sẽ"

名单:

Danh sách thành viên đội khảo cổ Tây Sa:

Họ tên/姓名 Giới tính/性别

Ngô Tam Tỉnh/吴三省 Nam/男

Trần Văn Cẩm/陈文锦 Nữ/女

Trương Khởi Linh/张起灵 Nam/男

Giải Liên Hoàn/解连环 Nam/男

Lý Tứ Địa/李四地 Nam/男

Tề Vũ/齐羽 Nam/男

Hoắc Linh/霍玲 Nữ/女

Thi thể người đàn ông được đem trở về/带着尸体回去的人男

Người không biết thứ 2/未知人二号 Nam/男

Người không biết thứ 3/未知人三号 Nam/男

Người không biết thứ 4/未知人四号 Nữ/女
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Ngô Tà tư gia bút ký - Chương 34: Một Số Tài Liệu Có Liên Quan


奇门遁甲

Thuật kì môn độn giáp

休门、生门、伤门、杜门、景门、死门、惊门、开门图。

Nghỉ môn, Sinh môn, Thương môn, Đỗ môn, Cảnh môn, Tử môn, Kinh môn, Khai môn đồ

奇门遁甲的传说:

Kỳ môn độn giáp thuật lại:

"奇门遁甲"的含义是什么呢?就是由"奇"、"门"、"遁甲"三个概念组成。"奇"就是乙、丙、丁三奇;"门"就是休、生、伤、杜、景、死、惊、开八门;"遁"是隐藏的意思,"甲"指六甲,即甲子、甲戌、甲申、甲午、甲辰、甲寅,"遁甲"是在十干中最为尊贵,它藏而不现,隐遁于六仪之下。"六仪"就是戊、己、庚、辛、壬、癸。隐遁原则是甲子同六戊,甲戌同六己,甲申同六庚,甲午同六辛,甲辰同六壬,甲寅同六癸。另外还配合蓬、任、冲、辅、英、芮、柱、心、禽九星。奇门遁甲的占测主要分为天、门、地三盘,象征三才。天盘的九宫有九星,中盘的八宫(中宫寄二宫)布八门,地盘的八宫代表八个方位,静止不动,同时天盘地盘上,每宫都分配着特定的奇(乙、丙、丁)仪(戊、己、庚、辛、壬、癸六仪)。这样,根据具体时日,以六仪、三奇、八门、九星排局,以占测事物关系、性状、动向,选择吉时吉方,就构成了中国神秘文化中一个特有的门类—-奇门遁甲。

"Kỳ môn độn giáp" có ý nghĩa sâu xa gì?

Chính là do "Kỳ", "Môn", "Độn giáp" ba khái niệm tạo thành."

Kỳ" là Ất, Bính, Đinh là ba Kỳ.

"Môn" là Hưu, Sinh, Thương, Đỗ, Cảnh, Tử, Kinh, Khai gồm tám Môn.

"Độn" có nghĩa là ẩn dấu, "Giáp" là chỉ Lục Giáp, chính là Giáp Tử, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thần, Giáp Dần, "Độn Giáp" là ở giữa Thiên Can tôn quý nhất, nó ẩn mà cũng không hiện, ẩn trốn ở bên dưới Lục Nghi."

Lục nghi" chính là Mậu (ngôi thứ năm trong Thiên Can), Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.

Nguyên tắc của Độn chính là Giáp Tử và Lục Mậu, Giáp Tuất và Lục Kỷ, Giáp Thân và Lục Canh, Giáp Ngọ và Lục Tân, Giáp Thần và Lục Nhâm, Giáp Dần và Lục Quý.

Ngoài ra còn có phối hợp với Bồng, Nhậm, Xung, Phụ, Anh, Nhuế, Trụ, Tâm, Cầm Cửu Tinh.

Kỳ Môn Độn Giáp chiêm trắc chủ yếu chia thành Thiên, Môn, Địa Tam Bàn, Tượng Chinh Tam Tài.

Thiên Bàn Cửu Cung có chín ngôi sao, Trung Bàn Bát Cung (Trung Cung đặt ở Nhị Cung) Bố Bát Môn, địa bàn Bát Cung đại diện cho tám hướng, yên tĩnh bất động, trên địa bàn song song của Thiên Bàn, mỗi cung đều chia thành Cơ (Ất, Bính, Đinh) Nghi (Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý Lục Nghi).

Như vậy, căn cứ vào thời gian cụ thể, với Lục Nghi, Tam Cơ, Bát Môn, Cửu Tinh Bài Cục, dùng Chiêm Trắc để xem quan hệ của các sự vật, tính chất và trạng thái, hướng đi, lựa chọn để lựa chọn giờ lành cát phương, thì hợp thành một trong Môn trong văn hoá thần bí Trung Hoa — Kỳ Môn Độn Giáp.

双面人身蛇纹

Hai mặt nhân thân xà văn (phụ tương quan tranh minh hoạ)

看了这些东西,我很怀疑人是否为蛇的后代?

Nhìn mấy thứ này, tôi rất hoài nghi đó có phải là người hay là đời sau của rắn hay không?

在中国古代历史上,有一个奇怪的现象,和蛇有关的神灵数量极其多,在《山海经》中所记载的454个人物中与蛇形有关的人物就达到138个,其中被提到过蛇身记载的神灵就有伏羲,女娲,黄帝甚至西王母。

Ở trong lịch sử cổ đại Trung Quốc, có một hiện tượng kỳ quái, và rắn có liên quan tới vô cùng nhiều thần linh, ở trong《 Sơn Hải Kinh 》ghi lại 454 nhân vật có 138 nhân vật có hình dạng liên quan đến rắn, trong đó những vị thần có thân rắn được nhắc tới là: Phục Hy, Nữ Oa, Hoàng Đế thậm chí cả Tây Vương Mẫu.

(我特别惊讶的是,西王母在最初的记载中,也是人首蛇身,和伏羲女娲属于同一形象。)

(Điều làm tôi đặc biệt biệt kinh ngạc nhất chính là, Tây Vương Mẫu được ghi chép lúc ban đầu trong đó, cũng là đầu người thân rắn, và có hình ảnh thuộc loại giống như Phục Hy Nữ Oa)

按照现在一般的推测,这种人首蛇身的形象,都是部落图腾演化而来,那么西王母从人首蛇身变化到人首豹身,是否是因为西王母部落属性的变更。

Dựa vào suy đoán hiện tại vậy hình tượng người đầu người thân rắn đều là do vật tổ của các bộ tộc được biến đổi mà ra, thế tức là từ hình mẫu của Tây Vương Mẫu biến đổi đầu người thân rắn đến đầu người thân báo, có phải là vì thuộc tính của bộ lạc Tây Vương Mẫu thay đổi hay không.

也就是西王母原来是属于伏羲部落的成员,在某种条件下反水自立了门户,西去成立了自己的政权?

Có lẽ ban đầu Tây Vương Mẫu cũng là thành viên thuộc bộ tộc Phục Hy, rồi ở dưới tình hình nổi loạn tự mình lập bộ lạc nào đó, Tây Vương Mẫu đi thành lập chính quyền của riêng mình?

这就不得而知。

Cái này thì không thể nào biết được.

双身蛇,代表着男性的生殖器,好大一条,果然这种东西还是越大越好。有两条这么大的就更好了。可以打蝴蝶结玩儿。

Rắn song thân, đại biểu cho cơ quan sinh dục của nam giới, một cái thật lớn, quả nhiên loại vật này vẫn là càng lớn càng tốt.

Có hai cái lớn như vậy thì tốt hơn.

Khả dĩ đả hồ điệp kết ngoạn nhi.

厍国

Xá Quốc

古时候陕西到湖北之间生活的一个叫做"厍国"的古国,这个国家在二千年前,突然就消失了。

Vào thời cổ đại ở Thiểm Tây đến Hồ Bắc vào lúc đó cố một quốc gia cổ tên là " Xá Quốc ", quốc gia này tồn tại vào hai ngàn năm trước, rồi đột nhiên thì biến mất.

这个国家的历史时断时显,零星出现于不少古简之中,西周早期似乎有过一段时间的突然繁盛,然后西周中期,就突然消声灭迹了,似乎是在十年到二十年的时间里,迅速地消失在原始丛林里了。

Rõ ràng đoạn lịch sử vào lúc đó của quốc gia này, lại xuất hiện lặt vặt trong không ít thẻ tre cổ, vào giai đoạn đầu nhà Tây Chu hình như đã từng trải qua một đoạn thời gian bỗng nhiên trở nên hưng thịnh, sau đó giai đoạn giữa nhà Tây Chu, lại đột nhiên im lặng biến mất, hình như là ở trong từ mười đến hai mươi năm, rồi lại nhanh chóng biến mất ở trong rừng rậm nguyên thuỷ.

在很多神话传说中都有他们的存在,山海经里也有大量的篇幅记载,其中提到的川外"蛇国",应该就是这个国家,厍是蛇的谐音,这个民族把一种人面两个身体的蛇当作神灵,所以很多装饰上,都有双身蛇的纹路。

Ở trong rất nhiều truyền thuyết đều có nhắc đến sự tồn tại của bọn họ, trong "Sơn Hải Kinh" cũng có ghi chép một lượng lớn, ngoài ra trong đó còn thường xuyên nhắc tới "Xà Quốc", chắc hẳn chính là quốc gia này, Xá chính là đồng âm của Xà (rắn), dân tộc này đem một loại người có mặt người và hai thân thể là rắn được xem như là thần linh, vì thế trên rất nhiều thứ trang sức, đều có hoa văn rắn hai thân.

现在研究这个国家历史的人,大部分认为,这"厍国"是神秘"华胥古国"分裂出来的后裔,其前身要推到母系社会的时候,这个国家以双身人面蛇为图腾,主要是因为"华胥古国"有"伏羲人面蛇身"的传说。

Hiện nay những nhà nghiên cứu lịch sử của quốc gia người cổ đại này, phần lớn đều cho rằng, vậy "Xá Quốc" thần bí này chính là hậu duệ của "Hoa Tư cổ quốc" chia ra, đời trước của bọn họ khi đó có quan hệ mẫu hệ, quốc gia này lấy vật tổ là người mặt người hai thân rắn, chủ yếu nếu là vì "Hoa Tư cổ quốc" có truyền thuyết của "Phục Hy nhân diện xà thân".

因为这些资料都是来自古籍和出土的文书,所以这个国家是不是真的存在,学界一直都有争议。

Bởi vì những tài liệu này đều là đến từ trong sách cổ và tài liệu khai quật, cho nên quốc gia này có thực sự tồn tại hay không, giới khoa học vẫn luôn có tranh cãi.

云顶天宫壁画

Bích hoạ ở Vân Đỉnh Thiên Cung

海底墓中的壁画

Bích hoạ trong cổ mộ dưới đáy biển

阿宁在海底墓穴中拍摄的关于天宫的15张壁画照片中的一些。

Những ảnh chụp của A Ninh về 15 bức bích hoạ dưới đáy biển
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Ngô Tà tư gia bút ký - Chương 35: Một Số Tài Liệu Có Liên Quan 2


资料:

Tư liệu:

书中很少提到东夏这么一个女真族政权的存在,作为一个国家实体,于金朝衰亡之际,为求女真的复兴,脱而自立,存在了七十余年,领土包括吉林、黑龙江两省大部,曾与蒙古共享高丽的纳供,称雄于辽东地区。国号初名大真,后为东夏,朝鲜史籍称之为东真。

Trong sử sách rất ít nhắc tới bộ tộc Nữ Chân tồn tại ở Đông Hạ, quốc gia đó có thật, vào thời kỳ nhà Kim suy vong, để tìm cách phục hưng bộ tộc Nữ Chân, họ đã ly khai và trở thành quốc gia tự trị, tồn tại hơn bảy mươi năm.

Lãnh thổ trải dài từ Cát Lâm tới một phần lớn sông Hắc Long Giang, từng cùng với Mông Cổ chia sẻ cống phầm từ Triều Tiên, xưng bá toàn bộ khu vực Liêu Đông.

Lấy quốc hiệu ban đầu là Đại Chân, về sau đổi Thành Đông Hạ, sách sử Triều Tiên còn gọi là Đông Chân.

一、蒲鲜万奴

Thứ nhất, Bồ Tiên Vạn Nô:

首先,有必要介绍一下它的创立者──蒲鲜万奴,在我国东北的历史上他堪称是有数的杰出人物,然而《金史》《元史》均未为之立传,仅有散见于《纪》、《传》中某些零星事迹,这可能与史家对他怀有"逆贼"、"叛臣"的成见有关,另是修史,材料已然残缺不备,故直到几百年后的《新元史》《元书》等才为之补写专传。

Đầu tiên, cần phải giới thiệu qua một chút về người thành lập quốc gia cổ đó- Bồ Tiên Vạn Nô, trong lịch sử Đông Bắc nước ta có đề cập tới đây là một nhân vật kiệt xuất, nhưng trong "Kim sử"*, "Nguyên sử"** thì lại không có truyền lại, chỉ có thể thấy được ở một vài "ghi chép", hoặc "giai thoại" thưa thớt là đề cập tới.

Có thể là những sử gia thời kỳ này còn định kiến với ông ta, coi là "nghịch tặc", "phản thần", xa rời thực tế sửa đổi lịch sử, tài liệu về sau không được trọn vẹn, từ đó tới mấy trăm năm sau trong " tân Nguyên sử"*** "Nguyên thư" mới có thể bổ khuyết vào đó.

* "Kim sử":Kim sử là một bộ sách lịch sử trong 24 bộ sách sử của Trung Quốc (Nhị thập tứ sử), doThoát Thoát biên soạn năm 1345.

Tổng cộng có 135 quyển và viết từ sự ra đời cho đến khi diệt vong của nhà Kim.

** "Nguyên sử":Nguyên sử (tiếng Trung: 元史, bính âm: Yuán Shǐ) là một tác phẩm doTống Liêm (1310-1381) và một số quan lại khác phụng mệnh Minh Thái TổChu Nguyên Chương biên soạn năm 1370.

Do thời gian biên soạn ngắn, nên chất lượng Nguyên sử bị đánh giá là thấp nhất trong Nhị thập tứ sử.

Đến thời sau, Trung Quốc đã phải biên soạn bộ Tân Nguyên sử để sửa những sai sót của Nguyên sử.

注:说不通,既然在《金史》《元史》事后都已经材料残缺不备,为何几百年后还能为其补写专传?如此说来,补写的专传是虚构为主的?那还不如前世的记载零星更加的严谨。此外,史学家的成见也说不通,因为历史就是要记录正面和反面,历史不记录的原因只能有一个,就是这个人物无关紧要。如果真的是很无比,更应该写下劣迹让他遗臭万年才对。

Chú thích: Nói như vậy cũng không rõ ràng, nếu ở "Kim sử" "Nguyên sử" các tài liệu về sau đều không trọn vẹn, vậy vì sao trong mấy trăm năm sau còn có thể bổ khuyết thêm giai thoại vào đó?

Nói vậy, các sự kiện được thêm vào phải chăng là hư cấu?

Nếu thế còn không chặt chẽ bằng những ghi chép tản mạn trước đó.

Ngoài ra, thành kiến của sử gia cũng rất khó hiểu, vì sử sách làm ra cái chính là để ghi lại mặt tốt mặt xấu, nguyên nhân mà lịch sử không ghi chép lại chỉ có duy nhất một điều, chính là nhân vật này không quan trọng.

Nếu quả thực là như vậy, ngược lại viết xuống những việc xấu chẳng phải sẽ khiến ông ta lưu tiếng ác muôn đời mới đúng.

这段历史,要么就是史学家认为无关紧要,要么就是完全没有任何资料,使得连杜撰都不可能。

Giai đoạn lịch sử này, chẳng hay là sử gia cho rằng không quan trọng, nên không muốn để lại bất kỳ một tư liệu nào, có muốn bịa đặt ra cũng không thể.

蒲鲜万奴,祖籍辽人,历来对他有两种评价:一是否定的,认为他是个人野心家,在搞叛乱,使金朝分裂内讧,削弱了抵抗蒙古的力量,应该批判;二是肯定的,称赞他是"辽东怪杰",甚至誉其可"媲美阿骨打"。由于史料的缺乏,以至于其家世在文献上渺然无存,即便是姓名也歧说不一,也有记作完颜万奴、夫合讷、富鲜万奴、布希万奴、秃珠大石、万家奴、也奴、萧万奴、万肃奴等。"夫合"、"富鲜"、"布希"为"蒲鲜"的别称,"讷"为"万奴"的急读。"完颜"可能是金之赐姓。

Bồ Tiên Vạn Nô, Nguyên quán là người Liêu, trước vẫn tồn tại hai trường phái đánh giá đối với ông ta: một là phản diện, cho rằng ông ta là một người đầy dã tâm, thân làm phản loạn, trong sử sách triều nhà Kim có nội chiến phân tranh, lực lượng chống quân Mông Cổ suy yếu, hẳn là có ý phê phán.

Hai là chấp nhận, tán thưởng ông ta là "Liêu Đông quái kiệt", thậm chí tiếng tăm của ông còn "sánh ngang A Cốt Đả"*.

Bởi tư liệu lịch sử bị khuyết thiếu nên tài liệu về thời kỳ này không được bảo tồn lại, mặc dù danh tính của nó không đồng nhất, còn có bản viết là Hoàn Nhan Vạn Nô, Phu Hợp Nột, Phú Tiên Vạn Nô, Bố Hi Vạn Nô, Ngốc Châu Đại Thạch, Vạn Gia Nô, Dã Nô, Tiêu Vạn Nô, Vạn Túc Nô Đẳng.

"Phu Hợp", "Phú Tiên", trong đó "Bố Hi" và "Bồ Tiên" là biệt hiệu, "Nột" và "Vạn Nô" là tùy vào cách đọc.

"Hoàng Nhan" có thể là được vua Kim ban cho.

* A Cốt Đả: Kim Thái Tổ (chữ Hán: 金太祖, 1 tháng 8 năm 1068 – 19 tháng 9 năm 1123) là miếu hiệu của vịhoàng đế khai quốc của nhà Kim tronglịch sử Trung Hoa, trị vì từ ngày 28 tháng 1 năm 1115 cho đến ngày 19 tháng 9 năm 1123.

Tên thật của ông là Hoàn Nhan A Cốt Đả (chữ Hán: 完顏阿骨打, bính âm:Wanyan Aguda), có tên Hán là Hoàn Nhan Mân.

Ông là người sáng lập và là vị hoàng đế đầu tiên của triều đại nhà Kimtrong lịch sử Trung Quốc.

注:也就是说,现在记载的历史可能是无数可以混同发音姓名者的集合体。这是典型的历史谬误,就是把两个名字类似的人理解成一个人。

Chú thích: Nói cách khác, lịch sử hiện tại ghi lại có thể là do vô số lần phát âm nhầm tên họ mà tập hợp thành.

Đây là điển hình của sai phạm trong sử sách, hay như hai người tên giống nhau thành ra lý giải làm cùng một người.

他初见于史籍记载,在金章宗泰和六年(1206),以尚厩局使(尚厩局是职司御马调习牧养的机构,次官为"使",从五品)作为右翼都统完颜赛不的副统与宋军作战(《金史》卷12《章宗纪四》;卷113《完颜赛不传》),万奴出奇兵,配合完颜赛不的正面进攻,取得击溃宋军主力皇甫斌所部步骑数万的巨大胜利。卫绍王大安三年(1211)被任命为招讨使的监军,驻守于野狐岭,由于主帅无能,被蒙古军战败,精锐尽没。同年,耶律留哥起兵叛金,契丹族群起响应。至宁元年(1213)他受咸平路招讨使,驻屯咸平(辽宁开原)平叛。一战迪吉脑儿(辽宁昌图附近),大败,卫绍王再次宽谅了他,并擢任咸平路宣抚使。金宣宗贞祐二年(1214),任辽东宣抚使,成为辽东地区的最高军事行政长官。当年,与留哥二战归仁,因轻敌而大败,退入东京。

Ông ta xuất hiện lần đầu trong sử sách là ở chương Tông Thái năm thứ sáu (1206) của Kim sử, với Thượng cứu cục sứ ( Thượng cứu cục là chức ti ngự mã điều tập mục dưỡng ky cấu, thứ bậc là "đi sứ", hàng ngũ phẩm) làm cánh phải Đô thống Hoàn Nhan Tái Bất trong trận chiến với quân Tống ("Kim sử" quyển 12 "chương tông kỷ tứ"; quyển 113 "Hoàn Nhan Tái Bất truyện"), Vạn Nô thần binh, phối hợp với Hoàn Nhan Tái Bất tiến công chính diện, thành công đánh tan chủ lực của nhà Tống do Hoàng Phủ Bân cùng mấy vạn kỵ binh giành thắng lợi lớn.

Vì người cầm quân bất tài nên Mông Cổ bại trận, quân cạn khí kiệt.

Cùng năm, Gia Luật Lưu Ca khởi binh phản Kim, dân tộc Khiết Đan khởi quân hưởng ứng.

Tới năm Ninh Nguyên (1213) ông ta thảo ra Bình Lộ Chiêu Thảo Sứ, đóng quân yên ổn tại Hàm Bình (Liêu Linh, Khai Nguyên).

Đánh trận Địch Cát Não Nhi( Liêu Ninh cạnh Xương Đồ), đại bại, Vệ Thiệu Vương* lần thứ hai khoan nhượng tha cho ông ta, giáng chức làm Bình lộ tuyên phủ sứ.

Năm Kim Tuyên Tông Trình Hữu thứ hai (1214), nhậm chức Liêu Đông tuyên phủ sứ, trở thành đại quan của đặc khu quân sự tối cao tỉnh Liêu Đông.

Cùng năm, phái Lưu Ca lần thứ hai đánh chiếm Quy Nhơn (Bình Định, Việt Nam), do khinh địch mà đại bại, thoái lui tới Đông Kinh.

* Vệ Thiệu Vương(1168?—11 tháng 9,1213), tự là Hưng Thắng, húy Hoàn Nhan Doãn Tế, sau vì kiêng húy Hoàn Nhan Doãn Cung nên cải thành Hoàn Nhan Vĩnh Tế, là hoàng đế thứ 7 của nhà Kim, tại vị trong 5 năm (29/12/1208 – 11/9/1213)

二、建国称王

Thứ hai, dựng nước xưng vương.

1214年金宣宗逃往南京(开封),中都(北京)陷落,金朝覆亡已成定局,由于陆路交通联系断绝,辽东已成孤悬海外的一隅飞地,处境更为危难,"时金主御下严刻,万奴畏罪不自安,又闻东驾迁汴,不暇东顾,思乘间据地自擅"。(《蒙兀尔史记\蒲鲜万奴传》)二次败于留哥亦使他认识到金朝已无挽回中兴的可能,因而唯有改图另举,别建新业,或可振奋人心,又可免受金的制约。

Năm 1214 Kim Tuyên Tông* chạy về phía Nam Kinh (Khai Phong), Trung Đô (Bắc Kinh) định trệ, Kim triều diệt vong kết cục đã định, vì giao thông đường bộ bị cắt đứt mà Liêu Đông trở thành một quốc gia thuộc địa nước ngoài, tình cảnh càng nguy nan, "triều Kim cai quản rất nghiêm, Vạn Nô lấy làm sợ trong lòng không yên, nên khi nghe nói đã di giá về phía đông – Biện Khai Phong ( tỉnh Hà Nam), không có thì giờ gặp mà quay đầu lại nhìn chủ, vào lúc suy tính đã vô tình chiếm cứ các vùng lân cận" ("Mông Ngột Nhĩ sử ký/ Bồ Tiên Vạn Nô truyện" ) lần thứ hai bại vào tay Lưu Ca khiến cho ông ta nhận ra rằng nhà Kim đã vĩnh viễn không thể phục hưng lại được, cho nên chỉ có thể thay đổi kế hoạch khác, xây dựng một sự nghiệp mới hoàn toàn tách biệt, có thể vừa vực dậy lòng dân, lại vừa thoát khỏi những quy định của nhà Kim.

* Kim Tuyên Tông (金宣宗) là một vị hoàng đế của nhà Kim trong lịch sử Trung Hoa.

Tên thật của ông làHoàn Nhan Ngô Đổ Bổ (完顏吾睹補), sau đổi thành Hoàn Nhan Tuần (完顏珣), sau lại đổi thành Hoàn Nhan Tòng Gia (完颜從嘉), cuối cùng lại đổi thành Hoàn Nhan Tuần.

Ông là vị hoàng đế thứ 8 trong số 10 vị hoàng đế của nhà Kim.

Hoàn Nhan Tuần trị vì từ năm 1213 đến năm 1224.

Các niên hiệu trong thời kỳ trị vì của ông là Trinh Hữu (1213-1217), Hưng Định (1217-1222), Nguyên Quang (1222-1223).

Miếu hiệu của ông là Kim Tuyên Tông.

金宣宗贞祐三年(1215)春,万奴发动兵变,分兵两路,一路南下为偏师,一路北上是主力,以攻取上京为战略目标,迅速占领了咸平、东京、沈、澄等州,接着又进攻婆速府路,攻掠上京城等地。不久留哥趁机袭破东京,建国号"辽",万奴妻李仙娥被可特哥强娶。但留哥无意久居,劫掠一番后离去,万奴才得以收复东京。

Mùa xuân năm Kim Tuyên Tông Trịnh Hựu thứ ba (1215), Vạn Nô phát động binh biến, chia làm hai đạo, một đạo yểm trợ xuôi xuống phía Nam, một đạo chủ lực chạy lên phía Bắc, nhằm đánh chiếm mục tiêu chiến lược là Thượng Kinh (Bắc Kinh), cấp tốc chiếm Liễu Hàm Bình, Đông Kinh, Thẩm Dương, rừng Đằng Châu, tiếp theo lại tiến công thần tốc vào phủ, đánh qua kinh thành.

Không lâu sau Lưu Ca nhân cơ hội tập kích Đông Kinh, lập quốc lấy tên "Liêu", vợ Vạn Nô là Lý Tiên Nga có thể là bị ép gả.

Nhưng Lưu Ca lại vô ý lưu lại quá lâu, cướp bóc một phen sau mới rời đi, Vạn Nô lúc đó đã có thể thu phục Đông Kinh,

注:可怜的李仙娥,强娶是个暧昧的词语,真实如何大家都知道。

Chú thích rằng: Đáng thương thay Lý Tiên Nga, ép gả là một từ ngữ ám muội, chân thực như thế nào hẳn mọi người đều biết.

起兵之初,虽取得"沈、澄诸州,及猛安谋克人亦多从之者",但不久就连遭挫折,连已经归附的宾哥、出台、按出等十一个猛安又转投比他职位低的多的纥石烈桓端,更严重的是根据地东京的丧失,经过几个月的经验教训,使万奴认识到辽东宣抚使的名义已不起多大作用,必须改弦更张,树立起建国称王的新旗号,重振女真民族精神,才能起到诱发辽东将士,收揽辽东人心的目的。乙亥年(公元1215年,金宣宗贞祐三年)十月,在东京建都自立为天王,国号"大真",年号天泰,谋求女真之复兴。

Khởi binh lần thứ nhất, mặc dù đạt được "Thẩm Dương, rừng Gia Châu, thành công mục đích khắc chế người tài phò tá", nhưng không lâu sau lại vấp phải sự cản trở, sau đó phải quy phục Tân Ca, công khai hoạt động ,nghiêm trọng hơn là căn cứ ở Đông Kinh đã mất, trải qua mấy tháng giáo huấn kinh nghiệm, Sử Vạn Nô nhận thức được cái danh nghĩa tuyên phủ sứ Liêu Đông kia không có bao nhiêu tác dụng, phải thay đổi quy chế, xây dựng lại một quốc gia mới phất cờ xưng vương.

Nặng về tinh thần dân tộc Nữ Chân, lại có thể tạo được nhuệ khí trong lòng tướng sĩ Liêu Đông, mục đích mua chuộc lòng dân.

Năm Ất Hợi (Công Nguyên năm 1215, năm Kim Tuyên Tông Trinh Hữu thứ ba), tháng mười, ở Đông Kinh lập lên một thủ đô đặt là Thiên Vương, quốc hiệu "Đại Chân",niên hiệu Thiên Thái, mưu cầu tộc Nữ Chân được phục hưng.

注:从这里看来,并没有多少军事才能,反而是那种乘乱捞小便宜的人,现在捞了之后又没有能力保有,最后只好放弃之前一切原则的小人。属于枭雄中野心大于能力的那一类野心家,自然对于我他是一个英雄,但是在当时那种时代,他的光芒可能只能衬托其他人的伟大而已。

Chú thích rằng: Từ đây có thể thấy được, cũng không có bao nhiêu tài năng quân sự, ngược lại đây là kiểu thừa loạn lạc mà chiếm tiện nghi của kẻ tiểu nhân, tại lúc đó muốn vơ vét cũng không có khả năng, cuối cùng không thể làm gì khác hơn là đành buông tay trước tất cả những nguyên tắc hèn mọn.

Trong cái dã tâm của kẻ kiêu hùng cũng bao hàm cả điều đó, tất nhiên đối với tôi ông ta vẫn là một anh hùng, nhưng vào cái thời thế lúc bấy giờ, hào quang đó của ông ta chắc chỉ có thể phụ trợ cho sự vĩ đại của những người khác mà thôi.

三、曲降蒙古

Thứ ba, lý do đầu hàng Mông Cổ

大真建立之初,处境艰难,被蒙、金、辽三国所围困,阻隔了与外界联系的陆路通道。辽东南部和东部的金朝成为它最近的敌人,遭受最紧迫的威胁,金廷以曲赦辽东路许以高官诱使分裂的策略,图谋笼络和瓦解其军心,从内部搞垮,更调整辽东部署,"诏谕辽东诸将共讨之"。而辽由于内部的自相残杀,又迁居辽西之地,留哥更是投降蒙古,成为其附庸,虽仍有威胁,但已退居此要地位。故对大真而言,最大最危险的敌人当是兵锋正急的蒙古。如与之硬抗,必将败亡,若伪降,还可保存实力,蜷伏待机。于是,1216年10月间,递出降表,以其子帖哥为人质入侍御营。

Buổi sơ khai khi Đại Chân được thành lập, tình cảnh gian nan, mông muội, Kim, Liêu bi cục diện Tam Quốc vây khốn, cách trở đường bộ liên lạc với bên ngoài.

Nam Liêu Đông và đông Kim triều trở thành địch nhân gần nhất, trong lúc bị uy hiếp quẫn bách đó, triều đình nhà Kim liền lấy lý do ân xá cho Liêu Đông mà thi hành sách lược phân tách, mưu đồ lung lạc và tan rã tâm lý quân sĩ, phá đổ từ bên trong, lại thêm điều chỉnh Liêu Đông Bộ Thư, "chiếu dụ chư tướng Liêu Đông cùng chí hướng".

Mà nội bộ Liêu đang tự chém giết lẫn nhau, còn di dời sang địa phận Liêu Tây, Lưu Ca liền đầu hàng Mông Cổ, trở thành một nước thuộc địa.

Mặc dù bị uy hiếp nhưng địa vị đã chuyển xuống thứ yếu.

Vì thế đối với Đại Chân mà nói, địch nhân nguy hiểm nhất chính là quân tiên phong tới từ Mông Cổ.

Nếu như vẫn giữ thái độ cứng rắn thì chắc chắn sẽ bại vong, nếu giả hàng thì còn có thể bảo tồn thực lực, nằm im chờ thời.

Vì vậy,đương lúc tháng Mười năm 1216 liền gửi thư xin hàng, nhận Tử Thiếp Kha làm người cai quản.

注:果然。

Chú thích: quả nhiên.

四、东迁立夏

Thứ tư, Đông chuyển thành Hạ

蒲鲜万奴通过麻痹蒙古,使之松懈了对自己的防范,降后不久即趁隙"率众十余万,遁入海岛"(《元史.木华黎传》),故作局促蜷伏,无意卷土重来之态,进行了一次大的军事转移,保存、休整了部属。1217年2月辽东蒙军统帅木华黎转向南伐,进图中原,未留相应的兵力守备。万奴以为机会已到,遂起兵杀死监军耶律捏儿哥,踏上了东迁的路程,大致由南北两路同时进行。

Bồ Tiên Vạn Nô mất cảnh giác với Mông Cổ, buông lỏng hoàn toàn phòng bị, sau một thời gian đầu hàng không lâu liền thừa cơ "đem hơn mười vạn người, trốn ra hải đảo" (" Nguyên sử, Mộc Hoa Lê truyện"), giả vờ co quắp nằm im, thái độ vô ý quay đầu trở lại, tiến hành một cuộc di dời quân sự tầm cỡ, bảo tồn, dưỡng sức thuộc hạ.

Tháng 2 năm 1217 Liêu Đông thống soái quân Mông Mộc Hoa Lê chuyển hướng nam phạt, tiến hành âm mưu thôn tính Trung Nguyên, không để lại binh lực dự phòng tương ứng.

Vạn Nô cho rằng cơ hội đã tới, lập tức khởi binh giết chết giám quân Da Luật Niết Nhi Kha, lên đường đi Đông Thiên, đại khái là hai hướng nam bắc đồng thời cũng tiến hành.

先转战于鸭绿江下游一带,四月攻破大夫营,万奴率主力北上进攻隆安府(吉林农安),金辽东、上京等路宣抚使兼左副元帅蒲察移剌都弃城逃往汴京。既而进军上京,上京行省太平与之通,焚宗庙,执元帅承充,取上京,杀留守温迪罕老儿,然承充之女代父坚守,又得援兵,不克,于是撤军东去曷懒路、速频路交界地区。主力于1218年12月以前基本完成东迁。然其残余势力继续在辽东南部活动了一段时间。于1217年六、七月间,再度自立,改国号为东夏,年号仍延用天泰,建都开元城(其地今址众说不一)。也有说其国号本为大夏,因地处东方,为别于西夏故而名之。朝鲜史籍称之为东真。

Trước vẫn là liên tục chiến đấu ở các chiến trường xung quanh hạ du Lục Giang, tháng tư công phá doanh trại đại phu, Vạn Nô dẫn theo quân chủ lực chạy lên bắc thượng tiến công phủ Long An (Cát Lâm, Nông An), Kim Liêu, quan phủ Bắc Kinh chức tuyên phủ sứ kiêm tả phó nguyên soái Bồ Sát bỏ thành tháo chạy tới Biện Kinh (Khai Phong).

Lát sau quân tiến vào thủ phủ Bắc Kinh, một đường yên bình thông suốt, đốt miếu thờ vua, bắt nguyên soái Thừa Sung, đoạt được thành Bắc Kinh, giết thủ quân đồn trú Hãn Lão Nhi, nhưng Thừa Sung khi đó vẫn cố thủ, về sau được thêm viện binh, không thành công.

Vì vậy quân rút về hạt Lại Lộ, rồi nhanh chóng tiến về giáp danh Tần Lộ.

Chủ lực vào tháng 12 năm 1218 trên cơ bản đã thành công chiếm được Đông Thiên.

Nhưng thế lực còn sót lại tiếp tục kế thừa những hoạt động ở Nam Liêu Đông trong một khoảng thời gian.

Tới năm 1217, giữa tháng Bảy, lần thứ hai độc lập sửa quốc hiệu thành Đông Hạ, niên hiệu vẫn giữ là Thiên Thái, lập thủ đô Nguyên Thành (địa danh này ở nhiều bản ghi không đồng nhất.).

Cũng phải nói quốc hiệu ban đầu là Đại Hạ, mà nơi đây là ở Đông phương, tên như vậy là để phân biệt với Tây Hạ.

Sử sách Triều Tiên gọi là Đông Chân.

注:这一段打了一个时间差,甚好,显然蒲鲜万奴本身的能力是具备的,如果发展的好,这一次就能获得喘息的机会,利用更好的资源迅速巩固城防,扩展军队,等到其他几方势力反应过来,可能已经晚了,一个强大的敌人已经出现了。

Chú thích: Đoạn này thời gian chiến tranh chênh lệch, cũng tốt, rõ ràng là năng lực của Bồ Tiên Vạn Nô khá đầy đủ, nếu như phát triển tốt, lúc này đây có thể tạm thời nhàn hạ, lợi dụng tài nguyên cấp tốc củng cố phòng thủ Thành Đô, mở rộng quân đội, tới khi các thế lực khác kịp hành động, xem chừng đã chậm, một địch nhân cường đại đã xuất hiện.

五、威震辽东

Thứ năm, uy chấn Liêu Đông

东夏立国,金廷以蒲察五斤为辽东行尚书省,又改调至上京,同时诏捕治辽东受伪署官家属皆残酷杀害,但金军仅能退处婆速一路,艰撑危局而已,哪有与东夏对抗的实力?此时,蒙古正用兵西夏,又与金力争中原,也无暇分兵辽东,为东夏的发展壮大赢得了时机。短短几年时间,经过不断的用兵,势力所及,包有了金的曷懒路、速频路和胡里改路地区,疆域范围大致为东至渤海,西北至胡里改城(黑龙江依兰),西至张广才龄,南至婆速府与朝鲜青州(朝鲜咸镜北道一带),最盛时达到南起西逾大龄中经定平东止都连浦的朝鲜古长城东段,北至今黑龙江巴彦、依兰以北至黑龙江下游地区,西起今吉林中部偏西至黑龙江南部当中一带(后期包括金上京城在内),东至日本海。耶律留哥起兵之后,其众劝自立,却降了蒙古,部下多叛,其中一部分进入高丽境内辗转侵扰,威胁王都,高丽便希望蒙古、东夏"领兵来救,一扫其类"(《高丽史》)。1218年成吉思汗派元帅哈真和扎剌,领兵一万与留哥的余部相合开赴高丽,蒲鲜万奴亦遣元帅胡土率军二万,共有十万之众,高丽自出兵四十万,共讨于江东城下,1219年春正月,其首领喊舍自杀,余者出降,遂平。高丽为表感谢之意,向两国呈献岁贡,还约定两国遣使至高丽受纳贡物。此后,蒙古派往高丽督催贡物的使臣均取道东夏国境,与东夏的使臣常来往同行,亲如一家。蒙军元帅哈真曾对朝鲜言:"果与我结好,当先遥礼蒙古皇帝,次则礼万奴皇帝"(《高丽史》),表示蒙古已经承认了蒲鲜万奴的自立称帝。东夏以派遣使节跋涉万里前往成吉思汗西征驻跸之地朝觐,表达了大的礼节。这种友好关系一直维持到1224年,前后达六年之久。

Đông Hạ lập quốc, triều đình nhà Kim chọn Bồ Sát Ngũ Cân làm thượng thư tỉnh Liêu Đông, bố trí lại Bắc Kinh, trong khi Liêu Đông cai trị vùng đất Vu gia đã ra tay tàn sát dã man, nhưng quân Kim bấy giờ không thể nhanh chóng trở lại, gian nan chống đỡ tình thế nguy hiểm, làm thế nào có thể chiến đấu với sức mạnh của nước Đông Hạ kia?

Tại thời điểm này, Mông Cổ là lực lượng quân sự của Tây Hạ, còn với nhà Kim tại Trung Nguyên, Liêu Đông quá bận rộn để phân chia lực lượng của mình cho sự phát triển và mở rộng của Đông Hạ.

Chỉ với thời gian một năm, thông qua phát triển lực lượng quân sự, đạt được thế lực tầm cỡ, so với sự biếng nhác của quân Kim, liên tiếp thay đổi và phát triển khu vực, ranh giới của phạm vi mở rộng tới vùng Bột Hải (vùng biển giữa bán đảo Sơn Đông và bán đảo Liêu Đông Trung Quốc), phía Tây bắc của thành phố lan ra tận hồ Lý Cải Thành (Hắc Long Giang, Y Lan), tây tới Trương Quải Tài Linh, nam tới Triều Tiên Thanh Châu (Triều Tiên khu vực Bắc Nhất Đài), mở rộng nhất là phía nam từ phía tây kéo dài tới phía đông sát với Triều Tiên, phía bắc chạy đến hạ du Hắc Long Giang, khu vực Hắc Long Giang ở hạ lưu Y Lan, từ phía tây đến phía nam của trung tâm Cát Lâm, trong khu vực Hắc Long Giang (bao gồm cả bên trong thành Bắc Kinh), phía đông tới vùng biển Nhật Bản.

Da Luật Lưu Ca khởi binh, tất cả đều là tự lực kêu gọi, lại đầu hàng Mông Cổ, thủ hạ phản bội, một phần trong số chúng đã xâm nhập vào lãnh thổ của Triều Tiên, đe dọa nhà vua, Triều Tiên hy vọng Mông Cổ, Đông Hạ " dẫn quân đến cứu viện, quét đi lũ phản tặc" ("Triều Tiên sử").

Năm 1218 Thành Cát Tư Hãn phái Nguyên soái Hắc Chân và Trát Lạt, dẫn theo mười ngàn binh sĩ tiến quân sang tương trợ Triều Tiên, theo lời đề nghị tới thành Gian Đông, tháng Giêng xuân 1219, thủ lĩnh đối phương Hảm Xá tự tử, trong khi những người còn lại ra hàng, dẹp loạn thành công.

Triều Tiên là tỏ ý cảm tạ nên hằng năm đem cống phẩm tới hai nước, hai nước cũng đã đồng ý phái đại sứ đến Triều Tiên thu lạp cống phẩm.

Kể từ đó, Mông Cổ phái người tới Triều Tiên đốc thúc và giám sát giao nộp đốc cống phẩm, cũng cho sứ thần giao thiệp qua lại với biên giới Đông Hạ, thân nhau như người một nhà.

Nguyên soái Mông Cổ Cáp Chân Tằng đã từng nói với Triều Tiên: "Cùng nhau giao hảo, trước là tới lễ hoàng đế Mông Cổ, sau là tới lễ hoàng đế Vạn Nô "(" Triều Tiên sử"), điều đó chỉ ra rằng Mông Cổ đã công nhận Bồ Tiên Vạn Nô tự xưng đế.

Đông Hạ gửi phái viên bôn ba ngàn dặm tới triệu kiến Thành Cát Tư Hãn, thể hiện phép lịch sự.

Điều này đã duy trì được mối quan hệ thân thiết cho đến năm 1224, sáu năm trước."

注:可惜,被蒙古的怀柔政策所蒙蔽了。此时的万奴王恐怕已经不敢想象和蒙古作对是一种什么状态,他所有的经历可能都维持在这种平衡上了。不过,高丽在当时并不靠谱,在蒙古的强悍下,高丽的立场并不决绝,也是一种两难的局面。

Chú thích: Thật không may, bị các chính sách dụ dỗ của Mông Cổ che mắt.

Lúc này Vạn Nô vương sợ không dám nghĩ tới mình và Mông Cổ nếu đối đầu tình hình sẽ như thế nào, mọi sự diễn ra ông ta đều chỉ muốn duy trì ở thế cân bằng.

Tuy nhiên, Triều Tiên thời điểm đó không phải là đồng minh đáng tin cậy, dưới một Mông Cổ cường hãn như vậy, Triều Tiên lập trường cũng không vững chắc, cục diện cũng trở lên tiến thoái lưỡng nan.

六、东夏国破

Thứ sáu Đông Hạ sụp đổ

然东夏与蒙古之间的友好关系只是表面上的亲善,一种政治上暂时的妥协,实际上却是尔虞我诈、勾心斗角,都在拉拢、压迫高丽以孤立或打击对方。面对蒙古的强大,东夏不但没有与高丽联手共抗,反而不断派兵侵扰其边境劫掠,致使两国时常处于小规模的战争状态,消耗了国力,却毫无所得。1223年木华黎经略中原未成,死于山西。1224年东夏与蒙古的关系出现新的转折,1月,东夏致高丽文二道:"其一曰:'蒙古成吉思,师老绝域,不知所存,讹赤忻贪暴不仁,已绝旧好';其一曰:'本国于青州,贵国于定州,各自榷场,依前买卖'"(《高丽史》)。从此,蒙古使者不再经东夏国境而从婆速路出入。双方关系的交恶,东夏由于错误地估计形势应负主要责任,但是蒙古皇太弟斡赤斤(讹赤忻)的贪暴不仁,对东夏肆意索贡,也是原因之一。两国关系破裂,但并未因此而激化。1227年成吉思汗死,窝阔台即位,经过三峰山之战,金国仅存的主力覆亡,蒙古的对外扩张政策有所改变,开始在东北地区大举用兵,两国关系又开始紧张起来。1233年2月,元太宗"诏诸王,议伐万奴,遂命皇子贵由(即:元定宗)及诸王按赤带,将左翼军讨之"(《元史》)。参加的还有多人,隶属关系如下:

Tuy nhiên, quan hệ hữu nghị giữa Đông Hạ và Mông Cổ chỉ là thiện chí ngoài mặt, thỏa hiệp chính trị tạm thời, thực tế chỉ là lừa bịp, đấu đá nội bộ, là để giành chiến thắng, áp bức Triều Tiên cô lập đối phương.

Đối mặt với Mông Cổ cường đại, vẫn tiếp tục gửi quân sang xâm nhập cướp bóc biên giới đối phương, dẫn đến việc hai nước thường nổ ra chiến tranh quy mô nhỏ, tiêu hao lực lượng quốc gia, nhưng không đạt được thêm điều gì.

Năm 1223 Mộc Hoa Lê* chiếm Trung Nguyên không thành, chết ở Sơn Tây.

Trong năm 1224 quan hệ Đông Hạ với Mông Cổ xuất hiện của bước ngoặt mới, chỉ trong một tháng, Đông Hạ gửi Triều Tiên hai công văn: "Thứ nhất là:" Thành Cát Tư Hãn Mông Cổ , lão tướng ở nơi xa xôi, không biết có còn tại thế, Ngoa Xích Hãn tham bạo bất nhân, cắt đứt mối hữu hảo ngày trước'; Thứ hai là: "Bản quốc ở Thanh Châu, quý quốc ở Định Châu, đều tự có lập trường, buôn bán như trước kia" ("Triều Tiên sử").

Từ đó, sứ giả Mông Cổ không còn thông qua biên giới Đông Hạ.

Mối quan hệ song phương thù địch, Đông Hạ do tính sai tình hình nên chịu trách nhiệm chính, nhưng hoàng đế Mông Cổ Oát Xích Cân (Ngoa Xích Hãn) tàn bạo bất nhân, lại đối với Đông Hạ cướp cống phẩm bừa bãi, cũng là một trong những nguyên nhân.

Quan hệ hai nước tan vỡ, nhưng chưa vì vậy mà dẫn tới gay gắt.

Năm 1227 Thành Cát Tư Hãn chết, Oa Khoát Thai tại vị, trải qua ba trận chiến lớn, chủ lực nhà Kim diệt vong, Mông Cổ thay đổi chính sách đối ngoại mở rộng, bắt đầu từ các lực lượng quân sự lớn đông bắc, các mối quan hệ dần căng thẳng.

Trong tháng Hai năm 1233, Nguyên Thái Tông "Chiếu chư vua, đề nghị phạt Vạn Nô, toại mệnh hoàng tử Quý Do** (tức là: Nguyên Định Tông).

Và chư vương Án Xích Đài, dẫn cánh tả quân dẹp loạn "(" Nguyên sử ") cũng như sự tham gia của nhiều người, quan hệ như sau:

* Mộc Hoa Lê (Muqali, tên theo chữ Hán: 木華黎) (1170-1223), là một trong tứ kiệt (hay tứ dũng) của Thành Cát Tư Hãn, gồm có bốn chiến binh có sức mạnh và đồng thời là bốn vị chiến tướng anh dũng, thiện chiến trên chiến trường là Xích Lão Ôn, Bác Nhĩ Truật, Bác Nhĩ Hốtvà Mộc Hoa Lê.

Ông là một trong những vị tướng vĩ đại nhất đã theo Thành Cát Tư Hãn chinh chiến đông tây đặc biệt là ông đã phò tá cho Thành Cát Tư Hãn thống nhất đất nước, và đảm nhiệm vị trí chủ lực trong cuộc chinh phạt nhà Kim.

Ông là một người tham gia trong nhiều trận đánh ở Thành Cát Tư Hãn thống nhất vùng Trung Á vàĐông Á.

** Đại hãn Quý Do(tiếng Mông Cổ: Гүюг хаан, Güyük qaγan; chữ Hán: 貴由; 1206 – 1248) làKhả hãn thứ 3 của Đế quốc Mông Cổ, trị vì từ năm 1246 – 1248.

Sau này khi người em họ Hốt Tất Liệt thống nhất Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, đã truy thụy hiệu cho Quý Do là Nguyên Định Tông.

(一)皇子贵由

(Nhất) Hoàng tử Quý Do

(1)国王塔思

(1) Quốc vương Tháp Tư

A、石抹查剌

a, Thạch Mạt Tra Lạt

B、石抹孛迭尔

b, Thạch Mạt Bột Điệt Nhĩ

(2)兀良合台

(2) Ngột Lương Hợp Thai

(二)诸王按赤带(台)移剌买奴(左翼军

(Nhị) Chư vương Án Xích Đài (Đài Châu- Chiết Giang Trung Quốc) Di Lạt Mãi Nô (Quân cánh tả)

(三)王荣祖(先"伐高丽",后"进讨万奴擒之")

(Tam) Vương Vinh Tổ (Trước "tiến quân sang Triều Tiên ", sau "chinh phạt Vạn Nô")

蒙古大军取道高丽,北进东夏境内。1233年9月包围南京,虽然"城坚如立铁"(《元史》),终因寡不敌众,城陷,蒲鲜万奴被擒(一说被杀)。蒙军继续前进,攻占"开元(黑龙江省牡丹江东部)、恤品(绥芬河流域中下游),东土悉平"(《元史》)。东夏国亡,立国一十九年。

Đội quân Mông Cổ qua Triều Tiên, tiến vào nội quốc Đông Hạ.

Tháng 9 năm 1233 bao vây Nam Kinh, mặc dù là "thành trì cứng như sắt dựng" ("Nguyên sử"), kết quả cuối cùng mãnh hổ nan địch quần hồ, mất thành, Bồ Tiên Vạn Nô bị bắt (có ghi chép là đã chết ).

Quân Mông Cổ tiếp tục tiến tới, chiếm lấy "khai Nguyên ( đông Mẫu Đơn Giang, tỉnh Hắc Long Giang, ), vật phẩm tiếp tế (lưu vực sông Tuy Phân), lãnh thổ phía đông đã được san phẳng hoàn toàn" ("Nguyên sử").

Đông Hạ mất, mười chín năm lập quốc.

注:这就是云顶天宫壁画上所描绘的最后一战,当时对于东夏这样的小国,承载的是整个民族最后的尊严,必然是全国死战,可以想象当时如日中天的蒙古人和死战不留的女真人会有多么惨烈的交锋,这段血腥的记忆必然深深地留在了幸存的女真人的心里。

Chú thích: Trận chiến cuối cùng được miêu tả trên bích họa ở Vân đỉnh thiên cung, Đông Hạ khi đó là một tiểu quốc, danh dự cuối cùng của cả dân tộc đó là quyết tử cho đất nước, có thể tưởng tượng rõ ràng cảnh chiến tranh giữa người Mông Cổ và người Nữ Chân thảm thiết tới mức nào.

Đoạn ký ức tanh mùi máu đầy bi thảm đó sẽ còn lưu lại vĩnh viễn trong lòng người dân tộc Nữ Chân.

七、政权仍存

Thứ bảy, chế độ vẫn còn

过去都认为东夏随万奴的被擒而灭亡,但自康熙二十五年(1686)发现刻有"大同"年款的官印以来,对东夏国的存亡又有新说。据王国维的考证:"《高丽史》多记东真即大真与高丽交涉事,自太宗癸巳(1233)以后,至世祖至元之末(1294),凡二十见。意万奴既擒之后,蒙古仍用之,以镇抚其地,其子孙承袭如藩国然,故尚有东真之称"(《黑鞑事略笺证》)。另外在《高丽史》和《元史》1233年后多年的记载中仍使用"贵国"、"东夏万奴国"的称谓。1234年2月,"蒙古留百余骑于东真,余皆引还"(《高丽史》)。1235年设开元、南京二万户府,后者总管可能即东夏国王兼任。东夏的旧属继续维持管理着该地区的政务,而使用的年号就是"大同",于当地出土了多颗不同年份的大同年号官印,足以证明。作为藩国的东夏,自此对蒙古一直归顺服从,并协助蒙军镇压高丽的反叛。

Quá khứ cho rằng Đông Hạ theo Vạn Nô bị bắt chắc chắn diệt vong, nhưng hai mươi lăm năm kể từ khi triều đại của hoàng đế Khang Hy (1686) thấy rằng các con dấu chính thức khắc hình "Đại đồng*" tới nay, cho thấy sự tồn tại của Đông Hạ.

Theo nghiên cứu của Vương Quốc Duy : "" Triều Tiên sử " có nhắc tới Đông Chân tức Đại Chân từng có giao thiệp qua lại với Triều Tiên, kể từ Thái Tông Quý Tị (1233) sau đó tới thế tổ các đời Nguyên Mạt (1294), có tầm hai mươi ý kiến.

Cho rằng lúc Vạn Nô bị bắt, Mông Cổ vẫn còn sử dụng ông ta để trấn an đất nước của họ, con cháu của họ được thừa hưởng các nước chư hầu, nguyên nhân còn từng gọi Đông Chân "(" Hắc Thát tóm lược sử ").

Cũng trong" Triều Tiên sử "và" Nguyên sử " ở năm 1233 sau nhiều năm ghi chép vẫn sử dụng danh hiệu "quý quốc", "Vạn Nô nước Đông Hạ".

Tháng 2 năm 1234.

", Mông Cổ để lại hơn trăm kỵ binh Đông Chân, còn lại rút sạch" ("Triều Tiên sử").

Năm 1235 thiết khai nguyên, Nam Kinh hai triệu hộ dân, người sau có thể là kế nhiệm quốc vương Đông Hạ.

Đông Hạ kế tục duy trì quản lý địa khu hành chính, tại nơi sử dụng "Đại đồng" khai quật được một số các quan ấn có niên đại khác nhau, đủ để chứng minh.

Làm nước chư hầu Đông Hạ, từ đó đối với Mông Cổ vẫn một lòng quy thuận phục tùng, muốn được tương trợ quân Mông trấn áp phản loạn Triều Tiên.

注:汪藏海生活在明末,显然这个政权在逐步萎缩的过程中并没有消失,而是从国逐渐消减成城邦,又从城邦消减成部落。

Chú thích: Uông Tàng Hải sống trong những năm cuối nhà Minh, rõ ràng là trong quá trình chính quyền mục nát nhà nước đó cũng không hề biến mất, mà từ một nước dần dần tiêu giảm thành một tỉnh, lại từ tỉnh tiêu giảm thành bộ tộc.

1235年蒙古三伐高丽,东夏军即作为前导,攻下了龙津镇、镇溟城等地(《高丽史》)1236年蒙军再入高丽,曾派援兵百余骑,侵入高丽东北境,自耀德、静边趋永兴仓(《高丽史》)。到了蒙哥统治时期,蒙古再度大规模用兵高丽,东夏又成为蒙军进兵的通路。

Năm 1235 Mông Cổ lần ba chinh phạt Triều Tiên, quân Đông Hạ dẫn đường, dẹp xong thị trấn Long Tân, trấn Minh Thành và các địa điểm khác ("Triều Tiên sử") .

Tháng 6 năm 1236, quân Mông tái chiếm Triều Tiên, đã gửi hàng trăm kỵ binh tiếp viện, xâm nhập đông bắc Triều Tiên, từ Diệu Đức, Tĩnh Biên tới Vĩnh Hưng đều nhanh chóng bị chiếm cứ ("Triều Tiên sử").

Đến thời kỳ Mông Cổ thống trị, lần thứ hai Mông Cổ mở đại chiến dịch tại Triều Tiên, Đông Hạ trở thành quân tiên phong cho quân Mông .

据《高丽史》记载,自1249年至1259年,每年都有东夏的兵马入境侵扰。1257年,入登州的一次多至三千余骑,1258年还出舟师围攻高城县的松岛。直至蒙古出面干预,才停止。元世祖即位后,开始逐步加强对东夏的控制。至元三年(1266)二月,曾设立过东京、开元、恤品、合懒、婆速等路宣抚司。至元二十年(1283)五月,又增设海西辽东提刑按察司。恤品、合懒两路是东夏的领地,海西当谓包括东夏在内,可见已一律与国内地区统治管辖。至1287年后,似不再有"东真"、"东夏"之名,想东夏藩国当撤于前。

Theo "Triều Tiên sử" ghi lại, từ năm 1249 đến năm 1259, hàng năm đều có binh mã Đông Hạ nhập cảnh quấy nhiễu.

Năm 1257, châu Nhập Đăng có tới hơn ba nghìn kị binh, năm 1258 huyện Tùng Đảo bị thuyền vây chặt.

Cho đến khi Mông Cổ đứng ra can thiệp và thì mới dừng lại.

Sau khi Nguyên Thế Tổ lên ngôi, bắt đầu từng bước tăng cường khống chế Đông Hạ.

Tới năm thứ ba triều Nguyên (1266) trong tháng Hai, đã thiết lập qua Đông Kinh, Khai Nguyên, Tuất Phẩm, Hợp Lại.

Tới năm hai mười triều Nguyên (1283) tháng năm, lại thêm Thiết Hải Tây Liêu Đông phủ tư pháp.

Tuất Phầm, kết hợp hai lãnh thổ của Đông Hạ, Hải Tây nhậm chức bao gồm cả khu vực trong Đông Hạ, có thể thấy được rằng đó giống như cai quản một địa hạt trong nước.

Đến năm 1287 sau, có vẻ như không còn cái tên "Đông Chân", "Đông Hạ", nước chư hầu Đông Hạ đã bị triệt tiêu.

注:可怜的高丽,此时东夏的国的残余必然已经退入长白山,进入了隐蔽的生活。

Chú thích: Đáng thương cho Triều Tiên, lúc này tàn dư của Đông Hạ đã thoái lui vào dãy Trường Bạch, bắt đầu cuộc sống ẩn dật.

八、历史遗迹

Thứ tám, di tích lịch sử

1、城子山山城

1, Thành phố núi Thành Tử

为了防范蒙古的东侵,针对该地区多山地的特点,东夏国城市多建在山上,成为山城。位于延吉市东郊延吉市与图们市交界处。城内有少量渤海国遗迹和大量东夏国遗迹。城垣依山势以石材修筑,呈不规则椭圆形,周长4454米。有门址崐4处,其中3处有瓮城。城内地势开阔,中央有宫殿基址,呈阶梯状,共9阶,每阶宽10米,长17米,其上础石排列有序。殿址周围散布有大量的建筑瓦件。城内出土有玉带饰,玉鸳鸯佩饰、玛瑙佩饰、东夏国官印、铜镜、占卜器、磕码、母子小铜造像以及数百枚唐、宋、金铜钱。该城是东夏国的南京,东夏国王蒲鲜万奴曾一度居于城中,公元1233年蒲鲜万奴在城中被蒙古军兵俘虏,东夏国灭亡。是研究东夏国政治、经济、文化等最为重要的文化遗存,具有较高的独特的历史和科学价值。

Để đề phòng bị Mông Cổ xâm lược, dựa vào địa hình nhiều núi đặc biệt, Đông Hạ xây dựng Thành Đô chủ yếu ở trên núi, trở thành thành phố núi.

Tại ngoại vi phía đông thành Duyên Cát có biên giới qua lại với thành Đồ Môn.

Bên trong thành còn vài di tích Bột Hải và một lượng lớn di tích thuộc quốc gia Đông Hạ.

Tường thành dựa vào thế núi để xây dựng, hình bầu dục bất quy tắc, chu vi dài khoảng 4454m.

Có bốn cửa, trong đó ba chỗ là Ủng thành (bức thành nhỏ ở ngoài cổng thành).

Bên trong thành địa thế trống trải, chính giữa là tàn tích cung điện,hình cầu thang, có chín bậc, mỗi bậc khoảng 10 m, dài 17 m, trên đá có hàng chữ.

Xung quanh nền điện còn rải rác một vài kiến trúc bằng ngói.

Bên trong thành khai quật có trang sức đai ngọc, ngọc bội uyên ương, mã não, quan ấn Đông Hạ, gương đồng, dụng cụ bói toán, đồ đạc sứt mẻ, tượng mẫu tử tiểu đồng cùng với mấy trăm đồng xu thời Đường, Tống, Kim.

Thành Nam Kinh thuộc cai quản của nước Đông Hạ, quốc vương Đông Hạ là Bồ Tiên Vạn Nô từng ở trong thành, Công Nguyên năm 1233 Bồ Tiên Vạn Nô bị Mông Cổ quân binh bắt tù binh, Đông Hạ đi tới diệt vong.

Theo nghiên cứu về chính trị, kinh tế, văn hóa của Đông Hạ thì di sản trọng yếu nhất còn để lại, có tương đối cao giá trị lịch sử và khoa học.

2、浴池山

2, Dục Trì sơn

位于延吉市东约10公里,隔一山谷与城子山相对。山顶有一圆形水池,山峦山有一烽火台。水池据传为东夏国国王蒲鲜万奴洗浴之处。

Tại phía đông Duyên Cát khoảng 10 km, cách tương đối xa thành tử sơn còn một tòa núi khác.

Đỉnh núi có một cái ao hình tròn, trên núi có một phong hoả đài (nơi người ta đốt lửa ám hiệu khi thấy giặc tới).

Tương truyền rằng ao kia là nơi quốc vương nước Đông Hạ Bồ Tiên Vạn Nô tắm rửa.

3、克拉斯诺雅尔山城

3, Sơn thành Khắc Lạp Tư Lặc Nhã Nhĩ

位于绥芬河南岸今俄罗斯乌苏里斯克附近的克拉斯诺雅尔山上,周长16华里,呈环形,依山随势而建。从山脚至山顶共三层城墙,高5米,城墙附近还有壕堑等辅助设施。最高处是一座"禁城",四周隔一道内墙,城内有许多豪华的宫殿式建筑遗迹。

Tại vùng nam ngạn nay là Ussuriysk ngay gần núi Khắc Lạp Tư Nặc Nhã Nhĩ , chu vi khoảng 16 dặm Trung Quốc, trình vòng tròn, dựa vào tùy thế mà xây.

Từ chân núi tới đỉnh núi giống ba tầng tường thành, cao 5m, tường thành xung quanh còn có chiến hào cùng phương tiện phụ trợ.

Chỗ cao nhất của thành là "cấm thành", bốn phía cách một vách tường, bên trong thành có thật nhiều kiến trúc di tích cùng cung điện sang trọng.

4、延边古长城

4, Biên giới Trường Thành cổ kéo dài

延边古长城处于八道沟的双峰山和延吉市北的平峰山山脊上,它西起和龙县土山乡东山村二道沟的山坡上,蜿蜒经过于河龙市的西城、龙门乡、龙井市的细鳞河、桃园、铜佛、延吉市的八道、烟集、长安乡等的崇山峻岭中,消失在东距延吉市15公里的磨盘山附近。长城多为土筑,也有石筑,全长约150公里,已发现烽火台17座。最长的一段是从细鳞河至老头沟镇的一段,约长10公里;保存最好的一段在老头沟的官船村,尚存高约3米左右。

Biên giới Trường Thành cổ kéo dài bị vây bởi tám con kênh, hai ngọn núi và Duyên Cát trên sườn núi Bắc Bình Phong, bắt nguồn từ phía tây cùng hai con rạch trên sườn núi thôn Đông Sơn, uốn qua sông Long Thị, huyện Long Môn, trấn Long Tĩnh ở cạnh sông, Đào Viên, Đồng Phật, thành Duyên Cát, Yên Tập, trấn Trường An giữa núi non trùng điệp, biến mất ở phía đông Duyên Cát 15 km cạnh núi Mã Bàn.

Trường Thành phần lớn được xây bằng đất, cũng có chỗ bằng đá, toàn bộ dài chừng 150 km, phát hiện được 17 phong hoả đài.

Đoạn dài nhất là từ sông tế lân tới rạch lão đầu, ước chừng 10 km; đoạn bảo tồn tốt nhất là lão đầu thôn Quan Thuyền rạch Lão Đầu, còn giữ được độ cao chừng 3m.

古长城无文献记载。据研究认为是东夏国的江城。也有认为始建于渤海,其与珲春的"边壕"一起是渤海中京和东京的拱卫之城,后为东夏国利用并改建为防御工程。还有认为它是金代长城或高句丽时期长城。

Cổ Trường Thành không có ghi chép văn hóa.

Theo nghiên cứu cho rằng đây là Trường Giang của nước Đông Hạ.

Cũng có người cho rằng ban đầu được xây ở Bột Hải, nơi này và Hồn Xuân "biên hào" giống như là thành bảo bệ Bột Hải ở Bắc Kinh và Đông Kinh, về sau Đông Hạ cải tiến thành công trình phòng ngự.

Còn có ý kiến cho rằng đó là trường thành nhà Kim hoặc trường thành của Triều Tiên.

5、镜泊边墙

5, Vách tường Kính Bạc

它位于镜泊湖中南段的东岸上,在江山娇林场施业区内。土石结构,依山向东南走向而蜿蜓,发现长度为4.5公里。西段湖岸段有堆石外,其余多为土筑或土石混筑,每隔50–80米有马面突出墙体。高2米左右,基阔1.5米,顶宽0.8米,石筑段落保存较好。群众反映:此边墙可达吉林。初步考查认定为金末东夏国的遗存,即为金代小长城,是防蒙古军南下的军事工程。1990年经批准为省级文物保护单位。

Kính Bạc tại bờ đông Hồ Nam, bên trong là vùng làm lâm trường tuyệt đẹp.

Xây bằng đất đá, chạy quanh hướng đông nam , thời điểm phát hiện dài khoảng 4, 5 km.

Phía tây hồ có đắp đá, còn lại đa số xây bằng đất hoặc đất đá lẫn lộn, cách mỗi 50–80m lại có mặt tường lớn nhô ra.

Cao 2m, rộng rãi khoảng 1.

5 m, trần rộng 0.

8 m, đoạn xây bằng đá được bảo tồn tốt hơn.

Quần chúng phản ánh: thử biên tường có thể kéo dài tới Cát Lâm.

Điều tra sơ bộ nhận định là được để lại Đông Hạ từ cuối thời Kim, tức là tiểu Trường Thành nhà Kim, công trình quân sự để phòng quân Mông Cổ xuôi nam xâm lược.

Năm 1990 thông qua phê chuẩn được trở thành văn vật cấp tỉnh cần được bảo hộ.

6、斐优城

6, Thành Phỉ Ưu

坐落在风景秀丽的图们江畔之左岸,位于三家子满族乡古城村所在地的东城,隔江相望即是朝鲜的塞别尔郡市。该城周长2023米,墙高3-4米,基宽9米,东西南北各一门,具有角楼、马面等辽金古城的典型特点,是辽金古城中保存较完整的一座。该城内曾出土过十枚铜印,其中一枚为金代晚期的铜印,一枚无年号的铜印和两枚纽小铜印外,其余均为蒲鲜万奴建立东夏国的铜印。铜印为两种:一种是东夏国"天泰"年号的铜印;另一种为东夏国"大同"年号的铜印。因此认为,该城为金代晚期和东夏国的城址。有人考证,该城为东夏国的"东京"。

Tọa lạc tại phong cảnh tú lệ tả ngạn bờ sông Đồ Môn, một trong ba quê hương của dân tộc Mãn thôn Cổ Thành nay là Đông Thành, là khu vực tách biệt bị ngăn cách bởi Trường Giang gần với Triều Tiên.

Chủ vi dài khoảng 2023 m, tường cao 3-4 m, trần rộng 9 m, đông tây nam bắc đều có một cửa, có chỏi gác, bề ngoài mang dáng dấp cổ thành Liêu Kim, đât là một tòa Liêu Kim cổ thành được bảo tồn hoàn chỉnh nhất.

Tại bên trong thành từng khai quật được mười chiếc ấn đồng, trong đó có một chiếc là ấn cuối của triều Kim, một chiếc không rõ niên hiệu và hai một chiếc có tay cầm bên ngoài, còn lại đều là ấn đồng của Bồ Tiên Vạn Nô khai quốc Đông Hạ.

Ấn đồng có hai loại: một loại là ấn đồng "Thiên Thái" của nước Đông Hạ; một loại khác là ấn đồng niên hiệu "Đại đồng".

Bởi vậy cho rằng, thành trì thời kỳ cuối nhà Kim là nền tảng cho quốc gia Đông Hạ.

Có người lại chứng mình, thành trì của Đông Hạ là "Đông Kinh".

──《东夏史料》无尽的旅途

──《 Đông Hạ tư liệu lịch sử 》Hành trình vô tận

在格尔木的地下室,可以说是我自从卷入这个巨大的谜题以来,第一次了解了如此之多的秘密。

Ở tầng hầm Cách Nhĩ Mộc, có thể nói là tại đây tôi bị cuốn vào câu hỏi lớn nhất từ trước tới giờ, cũng là lần đầu tôi được biết tới nhiều bí mật như vậy.

(附疗养院走廊、房间、地下室插图及平面图)

(Kèm theo bản vẽ mặt phẳng tranh minh hoạ hàng lang, gian phòng, tầng hầm ngầm trại an dưỡng)

我一直想写下些什么,但是我一直不敢动笔。

Tôi vẫn muốn viết xuống chút gì, thế nhưng bản thân lại không dám viết.

我不知道我现在所作的,是否是正确的,是否应该为其他人所知道,如果有人通过我的这些文字,也走入了这片旋涡,对于他来说,应该是意味着无妄之灾。而我作为这些文字的始作俑者,也恐怕难逃策划者的恶名。

Tôi không biết việc mình đang làm có phải chính xác không, cũng không biết có nên để cho những người khác biết không, nếu có người đọc được những văn tự này, phải bước vào vòng xoáy như vậy đối với người đó mà nói, hẳn sẽ giống như tai bay vạ gió.

Mà tôi là người khởi xướng viết lại những văn tự này, cũng sợ rằng khó thoát được phải mang danh kẻ ác.

在这大大小小被包裹着的谜团中,我既在谜团内,又在谜团外,我甚至自己都无法确定,自己到底是局内人还是局外人。

Trong tất cả những bí ẩn lớn nhỏ được giấu kín tại đây, tôi đã xâm nhập được vào, nhưng lại đứng ngoài những bí ẩn đó, thậm chí tôi cũng không cách nào xác định được mình rốt cuộc là người trong cuộc hay là người ngoài cuộc.

一切如斯,在莲花的层层花瓣之后,我总是看到所有的一切如旧摆在那里,我也许进了一步,然而终究也进的不多,这一切似乎是无尽,又似乎是一个轮回。

Tất cả những điều này, như trong tầng tầng những cánh hoa, cuối cùng thì tôi cũng thấy hết thảy tất cả chúng phô bày ra trước mắt, tôi đã nghĩ rằng mình bước vào nội cục rồi, nhưng mà chung quy chỉ tiến không được nhiều lắm, đây hết thảy dường như là vô tận, lại dường như là một vòng luân hồi.

没有人知道未来会如何,我也只能不停地走下去。

Không có ai biết tương lai sẽ ra sao, bản thân cũng chỉ có thể không ngừng bước tiếp.

吴邪──2005年于格尔木

Ngô Tà ── năm 2005 tại Cách Nhĩ Mộc

按:这是我最后写下的一篇,接下来,我要重新启程去柴达木的深处,我不知道自己是否能回来,如果我一去不回,那么这本东西,能够让别人知道,我到底发生了什么事情。

Dựa theo: đây là phần tôi viết xuống sau cùng, kế tiếp, tôi muốn một lần nữa lên đường rời khỏi sài đạt mộc, tôi không biết mình có thể trở về được không, nếu như tôi một đi không trở lại, vậy thì quyển bút ký này có thể để cho người khác biết, tôi rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì.

记住,如果你无法理解我写的东西,也请你不要深究,因为之后,是一个巨大的深渊。<全书完>

Nhớ kỹ, nếu như bạn không thể lý giải những điều do tôi viết, cũng đừng nên miệt mài theo đuổi, bởi vì đó là một vực sâu vô cùng. < toàn bộ thư hoàn >
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2009 - Chương 1: Khởi Nguyên


事情发生在一年的元旦之后,具体是几号我已经记不清楚了,那天很冷,冰冻天气,本来这种季节我肯定是呆在杭州,猫在家里,要么偶尔去一下铺子,总之我是不太会在这种情况下出远门的,不过那年是一个例外,那年我不得不和家里人一起,长途跋涉,回到长沙边缘的一个山村里。

Sự việc xảy ra sau Tết Dương lịch một năm, cụ thể là ngày nào tôi đã không còn nhớ rõ.

Hôm đó trời rất lạnh, thời tiết băng giá.

Thông thường, vào mùa này tôi chắc chắn sẽ ở lại Hàng Châu, cuộn tròn trong nhà, hoặc thỉnh thoảng ghé qua cửa hàng.

Tóm lại, tôi không mấy khi đi xa trong hoàn cảnh như vậy.

Nhưng năm đó là một ngoại lệ, năm đó tôi buộc phải cùng gia đình, vượt đường dài, trở về một ngôi làng miền núi ở rìa Trường Sa.

那个村子是我们的祖村,名字叫冒沙井。

Ngôi làng đó là tổ thôn của chúng tôi, tên là Mạo Sa Tỉnh

外表看起来,这村子和现在新农村没什么区别,农民房雷起来老高,搞的花里胡哨的瓷片,往里面一点是老村子,顺着山势有很多老黄泥房,那是真的很老的房子,最初的梁子是什么时候立起来几乎不可考究,这些大部分是老人住的,有些已经没有人了,变成无主的孤房,整个房子都是斜的,看上去随时会塌的样子。

Nhìn bề ngoài, ngôi làng này không khác gì những ngôi làng nông thôn mới bây giờ, nhà nông dân xây cao vút, dán những viên gạch hoa văn loè loẹt.

Đi sâu vào bên trong một chút là làng cũ, dọc theo triền núi có rất nhiều ngôi nhà tường đất sét vàng cũ kỹ.

Đó là những ngôi nhà thực sự rất cổ, gần như không thể xác định được những thanh xà đầu tiên được dựng lên từ bao giờ.

Hầu hết những ngôi nhà này là nơi người già sinh sống, một số đã không còn ai ở, trở thành những ngôi nhà cô đơn vô chủ, toàn bộ ngôi nhà đều nghiêng hẳn đi, trông có vẻ sắp sập bất cứ lúc nào.

我们到祖村来,并不是来叙旧过年的,事实上我从出身到现在,回老家的次数没有超过一只手,特别是大学之后就更不愿意回来,这里十里八乡的什么都没有,电视台也只有这么几个,我自然是不愿意呆。

Chúng tôi về tổ thôn không phải để thăm hỏi ngày Tết hay ôn chuyện cũ.

Trên thực tế, từ khi sinh ra đến nay, số lần tôi về quê không quá một bàn tay, đặc biệt là sau khi vào đại học thì càng không muốn về.

Ở đây chẳng có gì trong phạm vi hàng chục dặm xung quanh, đài truyền hình cũng chỉ có mấy kênh, tôi đương nhiên không muốn ở lại.

不过这一次却不得不回来,不仅是我,就连三叔,二叔,我老爹都必须得回来。

Thế nhưng lần này lại buộc phải trở về, không chỉ tôi, ngay cả chú Ba, chú Hai, cha tôi đều phải về.

表面上看上去,似乎是村子里出了什么大事情,然而实际的原因却很让人无语,回来的原因是因为这里修高速公路,正好过了老墓地,所以家里的祖坟要迁,否着就要给推土机铲平了。

Bề ngoài trông có vẻ là trong làng xảy ra chuyện lớn gì đó, nhưng nguyên nhân thực tế lại rất khó nói.

Lý do về là vì đường cao tốc đang được xây dựng, đi ngang qua khu mộ cũ, vì vậy phải dời mộ tổ của gia đình, nếu không sẽ bị máy ủi san bằng.

这种在于我看来非常无奈的事情,村子里的老头子们却是很看重的,签主坟就是要换风水,还要扰先人,总之是大事,我老爹是长子,我们一家又是村里吴家那一支最兴旺的,所以我爹他们三兄弟一定得回来主持大局,其实也就是掏大头的钱。

Chuyện này đối với tôi mà nói là rất bất đắc dĩ, nhưng những ông già trong làng lại rất coi trọng.

Chuyển mộ chính là đổi phong thủy, còn làm phiền đến tổ tiên, tóm lại là chuyện lớn.

Cha tôi là trưởng tử, gia đình chúng tôi lại là chi nhánh thịnh vượng nhất của Ngô gia trong làng, vì vậy ba anh em cha tôi nhất định phải về để chủ trì đại cục, thực chất cũng là để chi tiền nhiều nhất.

我爹出了名的好说话,也就答应了,说也顺便着让我和几个堂兄弟认主归宗。这才回到了这里。

Cha tôi nổi tiếng là người dễ nói chuyện, nên đã đồng ý, nói rằng cũng nhân tiện để tôi và mấy người anh em họ nhận tổ quy tông.

Thế là chúng tôi trở về đây.

本来我还有一点祈望,就是这一次这么多人一起回来,有可能会比之前有意思,因为到底是山里头,你要是有伴儿,那还是能搞点乐子出来的,我记得表公那边可能还有老猎枪,要是能打猎,也算是不错的消遣。

Ban đầu tôi còn có chút hy vọng, lần này nhiều người về cùng nhau như vậy, có thể sẽ thú vị hơn trước, vì dù sao cũng là trong núi, nếu có bạn đồng hành thì vẫn có thể tìm được niềm vui.

Tôi nhớ bên nhà ông cậu có lẽ còn có súng săn cũ, nếu có thể đi săn, cũng coi như là một thú tiêu khiển không tồi.

没想到二叔到了就给抓去给人看风水了,三叔是这里的地头,一年要跑五十多回,所以到了也就找人搓麻将去了。我父亲给几个本家的老头抓去商量事情,老爹知道我不安生,就不让我乱跑,他们在祠堂前商量事情,我就给一个人撂在祠堂里闲晃悠。

Nào ngờ, chú Hai vừa về đã bị lôi đi xem phong thủy, chú Ba là người thạo đất ở đây, một năm chạy đi chạy lại hơn năm mươi lần, nên vừa đến đã đi tìm người đánh mạt chược rồi.

Cha tôi bị mấy ông già trong tộc giữ lại để bàn bạc chuyện, cha biết tôi không an phận nên không cho tôi chạy lung tung.

Khi họ bàn chuyện trước từ đường, tôi bị bỏ lại một mình, lảng vảng trong từ đường.

我家的祠堂在老村子的地界,那是间大房子,不过和那些电视里的古宅不同的是,这件老房子也是黄泥抹起来的,没有白墙黑瓦,进去先是一个院子,中间有一个亭子一样的戏台,在在里面就是灵堂,灵堂又高又大,但是往上看屋顶,星星点点全是破洞,下雨天肯定不会安生,祖先的灵牌就放在灵堂的尽头,墙壁上挖了好多的佛龛一样的洞,每个洞里两个牌,都是老祖宗的名字,面前是供桌,不过蜡烛都是用电了。

Từ đường nhà tôi nằm trong khu vực làng cũ, đó là một ngôi nhà lớn, nhưng khác với những ngôi nhà cổ trong phim ảnh, ngôi nhà cũ này cũng được trát bằng đất sét vàng, không có tường trắng ngói đen.

Bước vào trước tiên là một cái sân, ở giữa có một sân khấu giống như đình, đi vào bên trong nữa là linh đường.

Linh đường cao lớn, nhưng nhìn lên mái nhà thì lốm đốm toàn lỗ thủng, ngày mưa chắc chắn sẽ không yên ổn.

Bài vị tổ tiên được đặt ở cuối linh đường, trên tường đào nhiều hốc giống như khám thờ Phật, mỗi hốc có hai bài vị, đều là tên của tổ tông, phía trước là bàn thờ, nhưng nến thì đã dùng điện rồi.

这祠堂还是我爷爷出资复修的,所以年代也比较久了,吴家的人丁本来就不是很兴旺,加上最兴旺的一支迁在杭州,所以这个祠堂的这个情形,还算是过的去了。我找了一下爷爷的牌子,也是块大牌子,其实爷爷是入赘到杭州的,应该不能上这个祠堂,现在上了,必然是爷爷生前搞的手脚。

Từ đường này là do ông nội tôi bỏ tiền ra trùng tu, nên cũng đã lâu năm.

Dòng họ Ngô vốn dĩ không được hưng thịnh lắm, cộng thêm chi nhánh thịnh vượng nhất lại chuyển đến Hàng Châu, nên tình trạng của từ đường này vẫn coi như là ổn.

Tôi tìm kiếm bài vị của ông nội, đó cũng là một bài vị lớn.

Thực ra ông nội tôi là người ở rể tại Hàng Châu, lẽ ra không được lên từ đường này, việc được thờ ở đây chắc chắn là do ông nội đã sắp xếp lúc sinh thời.

在这种地方是极无聊的,加上天气寒冷,祠堂里又没人,我就耐不住,开始四处摸摸碰碰。读读对联,看看功德碑,这时候,我忽然就发现祠堂的边上,有一道走廊,通到一个门,出去之后就是祠堂后面的空地,那里有间老茅草屋子。

Ở nơi như thế này vô cùng nhàm chán, thêm vào thời tiết lạnh lẽo, trong từ đường lại không có ai, tôi không thể chịu nổi, bắt đầu đi sờ soạng khắp nơi.

Đọc câu đối, xem bia công đức.

Lúc này, tôi chợt phát hiện bên cạnh từ đường có một hành lang, dẫn đến một cánh cửa, đi ra ngoài chính là khoảng đất trống phía sau từ đường, ở đó có một căn nhà tranh cũ kỹ.

当时我也没有多想什么,就走了过去,一方面空地上有太阳,另一方面茅草屋子看上去挺古老的,还锁着大铁链锁,看着听吸引人。

Lúc đó tôi cũng không nghĩ nhiều, liền đi tới, một mặt là vì ngoài sân trống có nắng, mặt khác là căn nhà tranh trông có vẻ rất cổ kính, lại còn bị khóa bằng xích sắt lớn, nhìn rất hấp dẫn.

走到边上看锁的样子,就发现果然应该锁着有年头了,窗户就是两个大窟窿,窗框上糊着非常古老的报纸,显然原来是有窗的。

Đi đến gần xem kiểu khóa, quả nhiên thấy nó đã bị khóa từ rất lâu rồi.

Cửa sổ là hai lỗ thủng lớn, trên khung cửa dán những tờ báo rất cũ, rõ ràng là ban đầu có cửa sổ.

我百无聊赖,就探头往里面看去,里面很暗,但是能看到里面全是干柴,地是泥地,在干柴的上面,是一只满是干泥的大头棺材。

Tôi buồn chán không có việc gì làm, bèn thò đầu nhìn vào bên trong.

Bên trong rất tối, nhưng có thể thấy toàn là củi khô, nền là đất bùn.

Trên đống củi khô, là một chiếc quan tài đầu to bám đầy đất bùn khô.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2009 - Chương 2: Quan Tài


茅草屋里光线晦涩,我只能看清那是一只老式的棺材,一头大一头小的大木匣子,体积并不大,不像那些电视里放出来的大户人家的棺材,棺材上全是泥,几乎已经看不清棺材本身的纹路。

Ánh sáng trong căn nhà tranh rất lờ mờ, tôi chỉ có thể nhìn rõ đó là một chiếc quan tài kiểu cũ, một cái hộp gỗ lớn, một đầu to một đầu nhỏ.

Kích thước của nó không lớn lắm, không giống những chiếc quan tài của các gia đình giàu có thường thấy trên TV.

Quan tài phủ đầy bùn đất, gần như không thể nhìn rõ hoa văn nguyên bản của nó.

这只棺材让我有点心跳加快,一下激起了我无限的联想,虽然记忆不是很清晰,但是好像祠堂本来和棺材就有着千丝万缕的关系,家族葬礼,祠堂就是古法礼中停死人的地方,我还记得爷爷死的时候,就是在这里停尸,当时还是盛夏,有道士封臭做法,大体是繁琐的仪式,我已经完全记不清楚了。所以这里有棺材,应该不算奇怪。

Chiếc quan tài này khiến tim tôi đập nhanh hơn một chút, khơi dậy vô số liên tưởng trong tôi.

Mặc dù ký ức không còn rõ ràng, nhưng hình như từ đường vốn có mối quan hệ ngàn tơ vạn sợi với quan tài.

Trong các nghi lễ tang lễ cổ xưa của gia tộc, từ đường là nơi đặt tử thi.

Tôi còn nhớ khi ông nội tôi mất, thi thể đã được đặt ở đây.

Lúc đó là giữa mùa hè, có đạo sĩ làm phép phong mùi hôi thối, đại khái là các nghi thức rườm rà, tôi đã hoàn toàn không nhớ rõ nữa.

Vì vậy, việc có quan tài ở đây có lẽ không phải là điều kỳ lạ.

问题是,为什么这只棺材会被放在祠堂后的这个茅草屋里,而且上面全是干泥,看这屋里蜘蛛网和灰尘的样子,以及锁生锈的程度,这只棺材停在这里已经有相当长的岁月了。是在十年前,还是几十年前,因为什么原因,这只棺材被抬到了这里,一直放到现在呢?这棺材里有尸体吗?又是谁呢?

Vấn đề là, tại sao chiếc quan tài này lại được đặt trong căn nhà tranh phía sau từ đường, hơn nữa trên đó lại phủ đầy bùn khô?

Nhìn vào mạng nhện và bụi bẩn trong nhà, cùng với mức độ rỉ sét của ổ khóa, chiếc quan tài này đã được đặt ở đây trong một khoảng thời gian khá dài.

Là mười năm trước, hay vài chục năm trước?

Vì lý do gì mà chiếc quan tài này lại được khiêng đến đây, rồi để yên cho đến tận bây giờ?

Trong quan tài này có thi thể không?

Và đó là ai?

我在一瞬间心里闪过了很多念头,有点心痒痒的,看来这祠堂和这茅草屋,以及里面的古旧的棺材,这些东西背后必然有一个故事。

Trong khoảnh khắc, vô số ý nghĩ lướt qua tâm trí tôi, cảm giác ngứa ngáy trong lòng.

Xem ra, từ đường này, căn nhà tranh này, và chiếc quan tài cũ kỹ bên trong, tất cả những thứ này nhất định ẩn chứa một câu chuyện phía sau.

无奈,我身上穿的是前几天新买的ME&CITY,我的身手又比较迟钝,否则我肯定会爬进去仔细的瞧瞧,不过,我知道即使是进去我也瞧不出什么,我总不能撬开这是棺材,谁知道这里面会是什么东西?

Thật bất đắc dĩ, tôi đang mặc chiếc áo mới mua của ME&CITY vài ngày trước, lại thêm thân thủ của tôi khá vụng về, nếu không tôi chắc chắn sẽ trèo vào xem xét kỹ lưỡng.

Tuy nhiên, tôi biết ngay cả khi vào được tôi cũng chẳng thể nhìn ra điều gì.

Tôi đâu thể cậy mở chiếc quan tài này, ai mà biết bên trong sẽ là thứ gì?

瞧了半天,我悻然而回头,绕过了茅草屋继续往后,就是一片农田,已经荒废了很久,里面杂草丛生,我顺着田埂往里走,发现没种东西的大概有四五亩那么多,这应该是我们家分到的祖地了,可惜我老爹父亲三个都不是种田的料,这地竟然长成这样了。

Nhìn ngó hồi lâu, tôi đành buồn bã quay lại, vòng qua căn nhà tranh tiếp tục đi về phía sau, đó là một khoảnh ruộng đã bị bỏ hoang từ lâu, cỏ dại mọc um tùm.

Tôi đi dọc theo bờ ruộng vào trong, phát hiện có khoảng bốn, năm mẫu đất chưa được trồng trọt.

Đây chắc hẳn là đất tổ mà nhà chúng tôi được chia.

Đáng tiếc là ba anh em cha tôi đều không phải là người biết làm ruộng, nên mảnh đất này mới trở nên tồi tệ như vậy.

再往前就是别人的地了,后面能看到地的尽头,那是山坡,有小路往下,下面是梯田的下一段。

Đi tiếp về phía trước là đất của người khác.

Phía sau có thể nhìn thấy cuối mảnh đất là sườn đồi, có một lối mòn đi xuống, bên dưới là đoạn ruộng bậc thang tiếp theo.

再走也就是这个样子了,我心里一边盘算,这些地到了杭州能值多少钱,一边往回走去,老爹他们不知道完了没有,如果还没,我就在边上听着,顺便锻炼一下长沙话听力,怎么样也比在这里闲逛要好。路过那茅草屋的时候,我顺着又往里看了一眼。

Đi tiếp cũng chỉ đến thế mà thôi, trong lòng tôi vừa tính toán xem mấy mảnh đất này về đến Hàng Châu sẽ đáng giá bao nhiêu tiền, vừa quay trở lại.

Không biết cha tôi và các chú đã bàn xong chưa.

Nếu chưa, tôi sẽ đứng bên ngoài nghe, nhân tiện luyện nghe tiếng Trường Sa, dù sao cũng tốt hơn là lang thang ở đây.

Đi ngang qua căn nhà tranh đó, tôi lại nhìn vào bên trong một lần nữa.

阳光暗淡了一点,屋子里更暗了,我什么都没有看清楚。

Ánh nắng đã mờ đi một chút, bên trong nhà càng tối hơn, tôi không nhìn rõ bất cứ điều gì.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hại Tuế Thiên 2009 - Chương 3: Chuyện Xưa


当天吃晚饭的时候,我向表公打听那棺材的来历。

Tối hôm đó, lúc ăn cơm, tôi hỏi thăm ông cậu (biểu công) về lai lịch của chiếc quan tài.

表公算是这里老资格的了,现年79岁,除了赶集,他基本上没离开过村子,然而问起这个事情来,他也不是十分的清楚,那祠堂的后面的茅草屋里面有一只老棺材,村里人都知道,不过,这棺材是从什么时候出现的,他们都没有什么印象,平日里也没有什么人经常经过那一带。

Ông cậu được coi là người già dặn ở đây, năm nay đã 79 tuổi.

Ngoại trừ việc đi chợ phiên, ông ấy cơ bản chưa từng rời khỏi làng.

Tuy nhiên, khi được hỏi về chuyện này, ông ấy cũng không hoàn toàn rõ ràng.

Trong làng ai cũng biết có một chiếc quan tài cũ nằm trong căn nhà tranh phía sau từ đường, nhưng họ đều không có ấn tượng gì về việc chiếc quan tài đó xuất hiện từ khi nào, và ngày thường cũng không có ai thường xuyên đi qua khu vực đó.

还听更老的一些人说,这茅草屋还是盖在这祠堂之前的,当时那里是一片废弃的土房,给吴家买了下来,全推平了盖了祠堂,就唯独剩下那一间,一直留到了现在。至于这茅草屋原先是谁盖的,里面的棺材的来历,就无从考证了。算起来,这大约是六十年前的事情。

Còn nghe một số người già hơn kể lại, căn nhà tranh đó được dựng lên trước cả từ đường.

Lúc bấy giờ, khu vực đó là một mảnh đất đầy nhà đất hoang phế, được nhà họ Ngô mua lại, san bằng hoàn toàn để xây từ đường, chỉ còn sót lại duy nhất căn nhà đó, và được giữ nguyên cho đến tận bây giờ.

Còn về việc căn nhà tranh ban đầu do ai xây, và lai lịch của chiếc quan tài bên trong thì không thể khảo chứng được.

Tính ra, việc này đã xảy ra khoảng sáu mươi năm trước.

六十年前表公是19岁,这时间实在是太久远了,他也不记不清楚是当时那棺材已经在那茅草屋里,还是之后的60年间有人放进去的。不过看这棺材的样子,本身就很古老,具体到底是什么时候的棺材也不好说了,想着我心里有点慎,越发觉得这里面有故事。

Sáu mươi năm trước ông cậu mới 19 tuổi.

Thời gian này thực sự quá lâu rồi, ông ấy cũng không nhớ rõ là lúc đó chiếc quan tài đã có trong nhà tranh chưa, hay là có người đặt vào trong 60 năm sau đó.

Tuy nhiên, nhìn bề ngoài chiếc quan tài thì bản thân nó đã rất cổ xưa, cụ thể là quan tài từ thời nào thì cũng khó mà nói được.

Nghĩ đến đây, trong lòng tôi càng thêm cẩn trọng, càng cảm thấy bên trong nó ẩn chứa một câu chuyện.

我们吃饭是在祠堂吃的大桌饭,和村里的其他亲戚一起吃的,表公的身体很硬朗,吃晚饭打着水烟就回去喂鸡,我老爹让我送送,我就跟着去了,路上表公就对我说,如果我真的赶兴趣,可以去另一个村问一个叫徐阿琴的老人,他是当年吴家请来管祠堂的,吴家祠堂刚修的时候,他就在这个村子里给人当长工,这祠堂他也帮手盖了,后来第二年就土地革命了,他分了很大一块地就回去了,算起来到现在可能有100多岁,要说这事情有人记得,那也就只可能是他了。不过也好看运气, 100多岁了,鬼知道他现在是什么情形。

Chúng tôi ăn cơm tối ở từ đường, cùng bàn với các họ hàng khác trong làng.

Ông cậu có sức khỏe rất tốt, ăn xong liền hút thuốc lào rồi về cho gà ăn.

Cha tôi bảo tôi tiễn ông ấy, tôi liền đi theo.

Trên đường đi, ông cậu nói với tôi rằng, nếu tôi thực sự quan tâm, có thể đi đến làng bên cạnh hỏi thăm một ông lão tên là Từ A Cầm.

Ông ấy là người mà Ngô gia đã thuê đến quản lý từ đường ngày xưa.

Khi từ đường Ngô gia mới được xây, ông ấy làm thuê cho người ta ở làng này, và cũng có phụ giúp xây từ đường.

Sau đó, năm thứ hai là Cách mạng Ruộng đất, ông ấy được chia một phần đất đai lớn rồi trở về.

Tính đến nay, ông ấy có lẽ đã hơn 100 tuổi.

Nếu nói có ai nhớ được chuyện này, thì chỉ có thể là ông ấy.

Nhưng cũng phải xem may mắn, hơn 100 tuổi rồi, quỷ mới biết hiện tại ông ấy ra sao.

我心说我又不是吃饱了空,而且我也没多少和百岁老人打关系的经验,心说算了,也就点头敷衍了过去。

Tôi nghĩ thầm: mình đâu có rảnh rỗi đến mức đó, hơn nữa tôi cũng không có kinh nghiệm gì trong việc giao thiệp với người trăm tuổi.

Tôi nghĩ thôi bỏ đi, liền gật đầu qua loa cho xong chuyện.

在整件事情中,这是我犯的第一个错误,然而却是最严重的一个。

Trong toàn bộ sự việc này, đây là sai lầm đầu tiên tôi mắc phải, tuy nhiên, nó lại là sai lầm nghiêm trọng nhất.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2009 - Chương 4: Di Quan


吴家的祖坟是在一座岩山的阳面,山大概有200多米高,并不壮观,那里也并不止吴家一座坟头,正面山坡上零零落落,不同的位置大概有四五个各种样子的坟包。都是村里大户人家的阴宅。上山有一道土道,因为平时走的人不多,杂草丛生,好在现在是冬天,人穿的多草也稀,走起来不是很困难。

Mộ tổ của Ngô gia nằm ở mặt phía dương của một ngọn núi đá.

Ngọn núi này cao khoảng hơn 200 mét, không đồ sộ lắm.

Nơi đó cũng không chỉ có mộ nhà họ Ngô, rải rác trên sườn núi phía trước có khoảng bốn năm nấm mồ với nhiều hình dạng khác nhau.

Đó đều là âm trạch của các gia đình giàu có trong làng.

Có một con đường đất dẫn lên núi, vì ít người đi lại nên cỏ dại mọc um tùm.

May mắn là đang vào mùa đông, người mặc quần áo dày và cỏ cũng thưa thớt nên việc đi lại không quá khó khăn.

这座岩山的面前,本来是一条很大的山溪,所谓风水宝地,当时的人也就是前水后山这么一个概念,不过现在上有有人建了小水电,还有人挖沙,山溪早就干涸了。

Phía trước ngọn núi đá này ban đầu là một khe suối lớn.

Cái gọi là đất phong thủy, người xưa chỉ có khái niệm trước là nước, sau là núi mà thôi.

Nhưng bây giờ có người xây nhà máy thủy điện nhỏ phía trên, lại có người đào cát, khe suối đã cạn khô từ lâu.

移棺的仪式选在了我到村子第三天的上午,看黄历是个好日子,所以不止我们一家,很多其他的村民也在准备,岩山密密麻麻,这里一堆那里一群都是人。

Nghi thức dời quan tài được chọn vào sáng ngày thứ ba sau khi tôi đến làng.

Xem lịch thì đó là một ngày tốt, vì vậy không chỉ gia đình chúng tôi mà nhiều người dân làng khác cũng đang chuẩn bị.

Trên núi đá chật ních người, chỗ này một nhóm, chỗ kia một đám.

我属于长子嫡孙里排的上号的,老早就跪到了坟头前,一边的道士还在做前期的准备工作,四周有此起彼伏的鞭炮声。

Tôi thuộc hàng cháu đích tôn có thứ bậc, đã quỳ gối trước mộ từ rất sớm.

Một vị đạo sĩ đang làm công tác chuẩn bị ban đầu, xung quanh vang lên tiếng pháo nổ liên tục.

我之前一直很有兴趣的是,土夫子的坟会是什么样子的,不过看了真是大失所望,和普通的农民墓差不多,水泥浇起来的一个扇形屏风一样的坟头,前面是一块大水泥碑,后面是和山连起来的封土,全是杂草,如果没有那水泥的部分,你绝看不出来那里有个坟。

Trước đây tôi luôn rất tò mò không biết mộ của những kẻ trộm mộ sẽ trông như thế nào, nhưng sau khi xem thì thực sự thất vọng.

Nó cũng giống như mộ của nông dân bình thường, một nấm mộ hình quạt được đổ bằng xi măng, phía trước là một tấm bia xi măng lớn, phía sau là phần đất đắp nối liền với sườn núi, toàn là cỏ dại.

Nếu không có phần xi măng kia, bạn tuyệt đối không thể nhận ra đó là một ngôi mộ.

三叔告诉我,咱们家的祖坟算是村里老的了,在清朝的时候还有乡绅重修过,这水泥的是建国后浇上去的,爷躺的那层是修在老墓上面的,这老墓下面的大概六七米才是祖宗的坟,是个什么样子,他们都还没见过,不过绝不会有地宫,叫我就别指望了,干这一行的,但求有个全尸,这种大兴土木的事儿是不会干的。

Chú Ba nói với tôi rằng, mộ tổ nhà chúng ta được coi là cũ trong làng, thời nhà Thanh từng được một vị hương thân trùng tu.

Phần xi măng này được đổ lên sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Lớp mà ông nội tôi nằm được xây trên ngôi mộ cũ.

Khoảng sáu, bảy mét dưới ngôi mộ cũ này mới là mộ của tổ tiên, trông như thế nào thì họ cũng chưa từng thấy, nhưng tuyệt đối sẽ không có địa cung, bảo tôi đừng mong đợi.

Những người làm nghề này, chỉ mong có được một cái xác toàn vẹn, sẽ không làm những chuyện động thổ lớn như vậy.

我听了戚戚然,忽然感觉很好笑,这里一群跪的大概一半都是挖别人坟的,等一下起坟不知道会不会是他们动手,想着这批人忽然掏出一大溜折叠铲来的画面我就忍俊不禁。盗墓贼迁祖坟和法医验自己亲戚的尸体,恐怕都是无奈居多吧。

Tôi nghe xong thấy buồn bã, chợt cảm thấy buồn cười.

Một nửa số người đang quỳ ở đây có lẽ đều là những kẻ chuyên đào mộ người khác, lát nữa khi đào mộ không biết có phải họ sẽ ra tay không.

Nghĩ đến cảnh nhóm người này đột nhiên rút ra một loạt xẻng gấp, tôi không nhịn được cười.

Kẻ trộm mộ dời mộ tổ và pháp y khám nghiệm tử thi người thân của mình, e rằng đều là bất đắc dĩ nhiều hơn.

在哪里一直跪了两三个钟头,敲敲打打冻的我直打哆嗦,一直到快11点了,那穿着nike的道士才干完法事,我父亲带头几个亲戚叔叔先起了墓碑,然后开始用石工锤开始开坟。

Quỳ ở đó suốt hai, ba tiếng đồng hồ, tiếng gõ gõ đập đập khiến tôi run rẩy vì lạnh.

Mãi đến gần 11 giờ, vị đạo sĩ mặc áo Nike mới làm xong pháp sự.

Cha tôi dẫn đầu, mấy người chú và họ hàng bắt đầu nhổ bia mộ trước, sau đó dùng búa đá bắt đầu phá mộ.

这完全是没技术性的活儿,一直砸了两个小时,在把坟窟砸通,那是四个并列的水泥洞,棺材就塞在里面,两个洞是空的,那可能是给我奶奶和我老爹准备的,另外两个里面是两具木棺材,我知道其中有一具是我爷爷躺的,另外一具是谁的就不知道了。

Đây hoàn toàn là công việc không cần kỹ thuật.

Đập liên tục hai tiếng đồng hồ mới phá thông được hầm mộ, đó là bốn cái lỗ xi măng nằm song song.

Quan tài được nhét bên trong.

Hai cái lỗ trống, có lẽ là chuẩn bị cho bà nội và cha tôi, hai cái còn lại chứa hai chiếc quan tài gỗ.

Tôi biết một chiếc là của ông nội, chiếc kia là của ai thì không rõ.

二叔清点了墓碑上的名字,这里追溯上去,和族谱一对,里面应该有9具棺材,三叔说有些肯定是衣冠冢,比如说太爷爷的和太太公,这个辈分太大了,再往上我也不知道怎么叫,不知道那些老棺材的情况,如果散架了就更麻烦。

Chú Hai kiểm kê tên trên bia mộ, truy ngược lên, đối chiếu với gia phả, bên trong lẽ ra phải có chín chiếc quan tài.

Chú Ba nói một số chắc chắn là y quan trủng, ví dụ như mộ của ông cố và ông tổ.

Thế hệ này quá xa xôi rồi, xa hơn nữa thì tôi cũng không biết gọi là gì, không biết tình trạng của những chiếc quan tài cũ đó ra sao, nếu bị rã ra thì còn rắc rối hơn.

两只棺材被抬了出来,接着老爹把上面的水泥坟窟全砸平了,就开始挖下面的山泥,那就是三叔他们的强项,一支的烟的功夫就挖了下去很深,很快就戳到了青砖,那就是老祖坟的顶了。

Hai chiếc quan tài được khiêng ra.

Tiếp đó, cha tôi phá bằng tất cả hầm mộ xi măng phía trên, rồi bắt đầu đào lớp đất núi bên dưới.

Đó là sở trường của chú Ba và những người họ hàng.

Chỉ trong chốc lát hút thuốc, họ đã đào xuống rất sâu, và nhanh chóng chạm vào gạch xanh, đó chính là đỉnh của mộ tổ.

接下去的过程我就没资格看了,被老爹他们叫了出去,接着他们跳下去,开始启开坟顶,道士开始念经撒纸钱。

Quá trình tiếp theo tôi không có tư cách để xem nữa, bị cha tôi và những người khác gọi ra ngoài.

Tiếp theo, họ nhảy xuống, bắt đầu mở nắp mộ.

Đạo sĩ bắt đầu niệm kinh và rắc tiền giấy.

我不知道老坟里的情况,不过看样子年代是过于长远,有点不好弄,一直到太阳下山,才有第一只棺材被抬了上来,那是一只已经霉烂的不成样子的老棺材,一看就知道不是现代的,一落地就散发出一股让人不舒服的味道,那应该是地下泥土特有的气息。

Tôi không biết tình trạng trong mộ cũ ra sao, nhưng xem ra niên đại quá lâu đời, có chút khó khăn.

Mãi đến khi mặt trời lặn, chiếc quan tài đầu tiên mới được khiêng lên.

Đó là một chiếc quan tài cũ đã mục nát không ra hình dạng, vừa nhìn đã biết không phải thời hiện đại.

Vừa đặt xuống đất đã tỏa ra một mùi hương khó chịu, đó chắc là mùi đặc trưng của đất dưới lòng đất.

接着就是一只接一只,有些还在趟着泥水,很快,9具棺材全部都被抬了出来,一字排开放在山坡平坦的地方。四周有人用水喷棺材的头部,那里有刻着棺主的名字。然后道士开始做记录。

Sau đó là chiếc này nối tiếp chiếc kia, một số còn dính bùn nước.

Chẳng mấy chốc, chín chiếc quan tài đã được khiêng ra hết, đặt thẳng hàng trên bãi đất bằng phẳng trên sườn núi.

Xung quanh có người dùng nước xịt vào phần đầu quan tài, nơi có khắc tên người chết.

Sau đó đạo sĩ bắt đầu ghi chép.

我几乎要冻僵了,虽然第一次看到这种场面,但是我却一点也提不起兴趣来,这山上是在是太冷了,看到最后一具棺材被提起来,我心里总算一安,心说他娘的总算完了,这狗日的还真是个大工程,不比下地轻松。

Tôi gần như bị đóng băng.

Mặc dù lần đầu tiên thấy cảnh tượng này, nhưng tôi lại không hề cảm thấy hứng thú chút nào, trên núi thực sự quá lạnh.

Thấy chiếc quan tài cuối cùng được khiêng lên, lòng tôi cuối cùng cũng yên tâm.

Tôi nghĩ thầm, mẹ nó, cuối cùng cũng xong rồi, cái công trình chết tiệt này quả thực là một dự án lớn, không hề dễ dàng hơn việc xuống đất chút nào.

接下就是把棺材稍微洗一下,要抬到祠堂里去放一段时间,因为是祖宗先走,所以要先把最老的棺材抬起,后面的才能跟着,所以我们还得等那记录名字的人找到老祖宗。

Tiếp theo là công đoạn rửa sơ quan tài, rồi khiêng về từ đường đặt một thời gian.

Vì tổ tiên đi trước, nên phải khiêng chiếc quan tài cổ nhất trước, những chiếc sau mới được đi theo.

Vì vậy, chúng tôi phải chờ người ghi chép tên tìm ra vị tổ tiên già nhất.

就在所有人都松了口气的时候,忽然就听到我爹吆喝了一声,我们转头向他们看去,就看到在坟窟里的人还在不停的拉着什么。

Ngay khi tất cả mọi người vừa thở phào nhẹ nhõm, đột nhiên nghe thấy cha tôi hô lớn một tiếng.

Chúng tôi quay đầu nhìn về phía họ, và thấy những người trong hầm mộ vẫn đang không ngừng kéo thứ gì đó.

太阳快下山了,天色越来越黑,表公用长沙话大声吆喝了一下,问是怎么回事情?

Mặt trời sắp lặn, trời càng lúc càng tối.

Ông cậu dùng tiếng Trường Sa gọi to, hỏi xem có chuyện gì.

"还有一具!"我老爹大叫道。

"Vẫn còn một chiếc nữa!"

Cha tôi lớn tiếng kêu lên.

"啊?"人群里一下发生了骚动,大家都看着那边,接着,我们都看到又有一只棺材,从哪里被抬了上来。

"Hả?"

Đám đông chợt xôn xao, mọi người đều nhìn về phía đó.

Tiếp theo, chúng tôi đều thấy lại có thêm một chiếc quan tài nữa được khiêng lên từ nơi đó.

"怎么可能?"表公看了看墓碑,又看了看陈列着的那些棺材,莫名其妙道"奇怪,怎么多了一具?"

"Sao có thể?"

Ông cậu nhìn bia mộ, rồi nhìn những chiếc quan tài đang được bày ra, khó hiểu nói: "Kỳ lạ, sao lại dư ra một chiếc?"
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2009 - Chương 5: Sai Lầm


吴家祖坟的黄土之下,按照墓碑上的名字,和族谱里的记载,一共是九具棺材,这不同与数黄豆,很难出现偏差,因为祖先就这么几个,多出了一具棺材,实在是不可思议的事情。

Dưới lớp đất vàng của mộ tổ Ngô gia, theo tên trên bia mộ và ghi chép trong gia phả, tổng cộng có chín chiếc quan tài.

Chuyện này khác với việc đếm hạt đậu, rất khó xảy ra sai sót, bởi vì tổ tiên chỉ có bấy nhiêu người, việc dư ra một chiếc quan tài thực sự là một điều không thể tin nổi.

这事情一下就在人群拍起轩然大波,在场帮忙的,围观的那一批人一下气窃窃私语,交头接耳。

Sự việc này ngay lập tức gây nên một làn sóng xôn xao trong đám đông.

Những người giúp đỡ và những người đứng xem đều thì thầm, bàn tán.

当然最震惊的还是表公那一批在村里的老吴家代表,他们算是土生土长,这种事情他们从来没有听说过,自然很难接受。

Đương nhiên, những người kinh ngạc nhất là nhóm đại diện lão làng của Ngô gia trong làng như ông cậu.

Họ là người sinh ra và lớn lên ở đây, chưa từng nghe nói đến chuyện như vậy, đương nhiên rất khó chấp nhận.

这时候我也顾不上什么资格不资格了,也凑过去看坟窟,只看到坑挖的很深,大量的老黑砖裹着烂泥草根翻在一边,根本不到墓穴本来的面貌。

Lúc này, tôi cũng chẳng còn bận tâm đến chuyện tư cách hay không tư cách nữa, cũng chen vào xem hầm mộ.

Chỉ thấy cái hố đào rất sâu, một lượng lớn gạch đen cũ kỹ lẫn lộn bùn nát và rễ cỏ bị lật sang một bên, hoàn toàn không còn hình dạng ban đầu của ngôi mộ.

十具棺材给排到了缓坡上,排了一下,就发现最后发现的那一具,没有任何的标记和名字,但是这一具棺材是并列排在墓底的四具最老的棺材之一,如果是挖到了无主孤棺的可能性也不大。因为墓窟的周围围的青砖头。

Mười chiếc quan tài được xếp trên sườn dốc.

Sau khi sắp xếp lại, người ta phát hiện ra chiếc quan tài được tìm thấy sau cùng không có bất kỳ dấu hiệu hay tên tuổi nào, nhưng chiếc quan tài này lại nằm song song với một trong bốn chiếc quan tài cổ nhất dưới đáy mộ.

Khả năng đào trúng một chiếc quan tài vô chủ, cô đơn là rất thấp, bởi vì xung quanh hầm mộ được bao bọc bởi gạch xanh.

表公和另外一个老头(我是在叫不出他的名字)只商量了一下,就让人立即把十具棺材全部先抬回到祠堂去,找了人日夜把守,这边的仪式照做,总之要关门琢磨。

Ông cậu và một ông lão khác (tôi thực sự không nhớ nổi tên ông ấy) chỉ bàn bạc một lát, rồi lập tức yêu cầu mọi người khiêng tất cả mười chiếc quan tài về từ đường trước, tìm người canh giữ ngày đêm.

Nghi thức bên ngoài vẫn tiếp tục làm theo đúng thủ tục, tóm lại là phải đóng cửa lại để suy tính.

我们小辈自然这时候完全插不上话来,只感觉一下气氛就变了,此事对于吴家的脸面显然也是大事情,如果族谱有错,那就要重修,那也是很大的事情,可能在海外的那一批人也得要回来才行。但是这事情的可能性太小了,除非这祖坟的事情有着什么我们不知道的隐情。

Chúng tôi là lớp trẻ đương nhiên không thể xen vào cuộc thảo luận lúc này, chỉ cảm thấy không khí bỗng nhiên thay đổi.

Rõ ràng, chuyện này cũng là đại sự đối với thể diện của Ngô gia.

Nếu gia phả có sai sót, thì phải tu sửa lại, đó cũng là chuyện rất lớn, có lẽ cả nhóm người ở nước ngoài cũng phải quay về.

Nhưng khả năng này là quá nhỏ, trừ khi chuyện mộ tổ này có ẩn tình nào đó mà chúng tôi không biết.

我老爹也是丈二和尚摸不着头脑,一路上一言不发,道士开道,天已经全黑,漆黑的山路和寒冷的气候让我不由自主的发抖,脑子里却总是不由自主的浮现出在祠堂后面那荒废茅草屋里的古棺,果然到了这个村子,想摆脱棺材是不太可能的了。

Cha tôi cũng bối rối như sư sãi bị sờ vào đầu (không hiểu chuyện gì), suốt đường đi không nói một lời.

Đạo sĩ dẫn đường, trời đã tối hẳn.

Con đường núi tối đen và thời tiết lạnh giá khiến tôi run rẩy không tự chủ, nhưng trong đầu lại luôn hiện lên chiếc quan tài cổ trong căn nhà tranh hoang phế sau từ đường.

Quả nhiên, khi đã về đến ngôi làng này, việc muốn thoát khỏi quan tài là điều không thể.

晚上大家照例在祠堂里吃大桌饭,祖宗规矩,今天吃素,吃了一桌子的豆腐菜,之后点了炭炉取暖,他们开始琢磨这些棺材。

Buổi tối, mọi người theo lệ ăn cơm trên bàn lớn trong từ đường.

Theo quy tắc của tổ tiên, hôm nay ăn chay, ăn một bàn toàn món đậu hũ.

Sau đó, họ đốt lò than sưởi ấm, và bắt đầu bàn bạc về những chiếc quan tài này.

棺材都摆在灵堂,我第一次得以靠近的看,发现太太公和爷爷的棺材,都还保存的可以,封的都严丝合缝,但是那些老棺材,全部都带着干泥,还没干透,木皮都烂的呈现出一种极深的墨绿,看上去十分的恶心,我都不敢靠太近。

Mười chiếc quan tài đều được đặt trong linh đường.

Lần đầu tiên tôi được đến gần để xem, tôi thấy quan tài của ông tổ và ông nội vẫn còn được bảo quản khá tốt, niêm phong kín kẽ.

Nhưng những chiếc quan tài cũ kỹ kia, tất cả đều dính bùn khô chưa kịp khô hẳn, lớp gỗ mục nát hiện lên một màu xanh rêu thâm đen cực kỳ ghê tởm, tôi không dám lại gần quá.

最老的四具棺材之一,时间应该要推算到解放前很久,在晚清年那一次重修变的十分的可疑,但是当时能记事的人已经一个也不在了,族谱上也是简单的一句,基本上当时的情况都不可考,但是,让人诧异的是,口口相传的信息也没有,表公和所有的老人都表示没有听上一代提过任何和这个有关系的事情。

Chiếc quan tài thứ mười là một trong bốn chiếc quan tài cổ nhất, niên đại nên được truy ngược lại rất lâu trước giải phóng.

Lần trùng tu vào cuối thời nhà Thanh trở nên vô cùng đáng ngờ.

Tuy nhiên, những người còn nhớ chuyện lúc đó đã không còn ai.

Gia phả cũng chỉ ghi chép đơn giản, về cơ bản tình hình lúc bấy giờ đều không thể khảo cứu.

Nhưng điều đáng ngạc nhiên là, ngay cả thông tin truyền miệng cũng không có.

Ông cậu và tất cả các cụ già đều nói chưa từng nghe thế hệ trước nhắc đến bất kỳ chuyện gì liên quan đến việc này.

我老爹听着就面露愁容,面色不太好,我当时一直不知道他在担心什么,后来才知道里面的猫腻。

Cha tôi nghe xong lộ vẻ ưu tư, sắc mặt không tốt.

Lúc đó tôi không biết ông đang lo lắng điều gì, sau này mới biết được ẩn tình bên trong.

吴家的族例里,祖坟里都是长子嫡孙,也就是老二老三都要重新立坟,所以一般情况下爷爷是入不了主坟的,不过我爷爷那一代情况实在是太特殊了,往上三代都死绝了,而爷爷的哥哥又无后,这样我爷爷才能由往下的接上去,否则祖坟就没人装了。

Theo tộc lệ của Ngô gia, trong mộ tổ chỉ chôn trưởng tử và cháu đích tôn, tức là con thứ và con thứ ba đều phải lập mộ riêng.

Vì vậy, trong trường hợp bình thường, ông nội tôi không thể được chôn trong mộ chính.

Tuy nhiên, thế hệ ông nội tôi tình hình lại quá đặc biệt, ba đời trên đều đã mất hết, hơn nữa anh trai ông nội lại vô hậu.

Nhờ vậy, ông nội tôi mới có thể kế thừa và được chôn ở đó, nếu không mộ tổ sẽ không còn ai để an táng.

所以我老爹是吴氏的正宗,并不算名正言顺,虽然吴家没有多少主业,我爹也基本上不当家了,但是,这名头在村里是占着好处的,无论是分地还是决定什么事情,都得我父亲先首肯,所以这事情一出,可能有闲人会兴风作浪。

Do đó, dù cha tôi là người thừa kế chính thống của Ngô thị, nhưng lại không hoàn toàn danh chính ngôn thuận.

Mặc dù Ngô gia không còn nhiều sản nghiệp chính, cha tôi về cơ bản cũng không còn quản lý gia tộc, nhưng danh tiếng này vẫn mang lại lợi ích trong làng.

Dù là phân chia đất đai hay quyết định chuyện gì, đều phải có sự đồng ý của cha tôi trước.

Vì vậy, chuyện này xảy ra, có khả năng sẽ có những người rảnh rỗi thêu dệt thị phi.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2009 - Chương 6: Khai Quan


这方方面面牵涉了很多的事情,比如说三叔在这里的生意,我们家和老家人的关系,我老爹作为这一脉的当家人自然是要小心处理。然而他又是那种老实路线的人,兢兢业业死而后已的标准老派共产党员,这种复杂的情况他自然是不擅长处理,所以我看他是有点担心那种焦头烂额的情况会出现。

Chuyện này liên quan đến nhiều khía cạnh, ví dụ như công việc kinh doanh của chú Ba ở đây, mối quan hệ giữa gia đình chúng tôi và những người già trong làng, và cha tôi là người đứng đầu chi nhánh này đương nhiên phải xử lý cẩn thận.

Tuy nhiên, ông lại là kiểu người theo đường lối trung thực, là một Đảng viên Cộng sản kiểu cũ chuẩn mực, làm việc chăm chỉ đến chết.

Ông ấy tự nhiên không giỏi xử lý những tình huống phức tạp như thế này, nên tôi thấy ông có chút lo lắng rằng tình trạng bối rối, đau đầu sẽ xảy ra.

这方面我也帮不了我老爹,一方面我对于情势不了解,家里一溜老头,谁大谁小我都分不清楚,所以也只有假装不知道,另一方面,就算是有什么尴尬的事情出来,反正吴家的祖业说是在的也只有这一间祠堂好管理,你又不能卖了它,所以也没什么东西好损失的,我老娘说起来,早该和这写事情划清界线,吃力不讨好。

Về mặt này tôi cũng không giúp được cha tôi.

Một mặt, tôi không rõ tình hình, trong nhà một loạt các cụ già, ai lớn ai nhỏ tôi còn không phân biệt được, nên chỉ có thể giả vờ không biết.

Mặt khác, cho dù có chuyện gì khó xử xảy ra đi nữa, xét cho cùng, phần tài sản tổ tiên của Ngô gia còn sót lại duy nhất là cái từ đường này, dễ quản lý hơn, bạn lại không thể bán nó đi, nên cũng chẳng có gì để mất.

Mẹ tôi từng nói, đáng lẽ phải vạch rõ ranh giới với những chuyện này từ lâu rồi, vừa tốn công lại không được lòng.

不过这事情挺吸引人的,他们在那里一边烤火一边吸烟琢磨这个事情,我就夹在中间听着,也算是听个乐子。

Tuy nhiên, câu chuyện này lại khá hấp dẫn.

Họ đốt lò than sưởi ấm, vừa hút thuốc vừa suy nghĩ về chuyện này, còn tôi thì kẹp giữa nghe, cũng coi như là nghe chuyện vui.

表公就说了一个可能性:这具棺材压在最底下的一层,那是最老的那一批,是曾曾祖那一辈,是嘉庆时候的事情了,可能是曾曾祖有什么偏房,比较受宠爱,虽然不能入族谱上墓碑,还是偷偷葬进祖坟里。

Ông cậu đưa ra một khả năng: Chiếc quan tài này nằm ở tầng dưới cùng, là lô cổ xưa nhất, thuộc đời Tằng Tằng Tổ (Ông Tổ đời thứ ba của Ngô Tà), là chuyện từ thời Gia Khánh rồi.

Có thể Tằng Tằng Tổ có vợ bé, được sủng ái hơn, dù không thể vào gia phả hay lên bia mộ, vẫn được lén lút chôn vào mộ tổ.

一查族谱,就发现是不可能的,因为曾曾祖死在了曾曾祖母前头,丧事是曾曾祖母操办的,按照当时的社会伦理,那就不太可能会发生这种事情。而且干这一行的一但富贵,就是拼命的取老婆,怕绝后。我奶奶是大家闺秀,还一直生了三个,那农村里肯定就一窝一窝的生了,爱情这种东西基本上不会是当时的生活成分。

Nhưng sau khi tra gia phả, phát hiện ra điều đó là không thể, bởi vì Tằng Tằng Tổ mất trước Tằng Tằng Tổ Mẫu, tang lễ do Tằng Tằng Tổ Mẫu lo liệu.

Theo luân thường đạo lý xã hội lúc bấy giờ, chuyện đó khó có thể xảy ra.

Hơn nữa, những người làm nghề này, một khi giàu có là họ ra sức cưới vợ, sợ tuyệt hậu.

Bà nội tôi là tiểu thư khuê các, còn sinh được ba người con, vậy thì ở nông thôn chắc chắn phải sinh nhiều hơn, tình yêu nam nữ cơ bản không phải là thành phần trong cuộc sống lúc đó.

又说会不会是尸体残了?可能是下斗的时候出了事情,起出来的尸体不全,先葬了,后来又挖出了剩余的部分,才分葬进两具棺材,二叔就摇头说扯蛋,这种情况绝对要开棺重新敛葬的,祖坟又不是冰箱,脑袋放上格屁股放下格,要换你你乐意嘛?

Lại có người nói, liệu có phải là thi thể bị tàn khuyết?

Có thể khi đi xuống mộ (đấu), xảy ra chuyện, thi thể được đưa lên không còn nguyên vẹn, chôn trước một lần, sau đó lại đào được phần còn lại, mới chia ra chôn vào hai chiếc quan tài.

Chú Hai lắc đầu nói vớ vẩn, tình huống này nhất định phải mở quan tài làm lễ nhập liệm lại, mộ tổ đâu phải là tủ lạnh, đầu đặt ngăn trên mông đặt ngăn dưới, đổi lại là ông thì ông có chịu không?

这一说就不对了,下面人眉头皱起来,烟都快抽的比烧的香还呛了。

Lời này vừa nói ra là không đúng rồi, những người bên dưới nhíu mày, khói thuốc sắp cay hơn cả khói hương đang cháy.

我自己在那里琢磨,感觉最奇怪的是,这具棺材没有名字——按照这里的习俗,棺材上不刻名字是很作践人的事情,既然棺材有资格葬在祖坟里,那就不可能受到这种待遇。如此说来,我就感觉这具多出来的棺材里,或许没有死人也说不定。

Tôi tự mình suy nghĩ ở đó, cảm thấy điều kỳ lạ nhất là chiếc quan tài này không có tên – theo phong tục ở đây, quan tài không khắc tên là một sự sỉ nhục rất lớn đối với người đã khuất.

Một khi quan tài có đủ tư cách được chôn trong mộ tổ, thì không thể nhận sự đối xử như vậy.

Nếu nói như vậy, tôi cảm thấy chiếc quan tài thừa ra này, có lẽ không có người chết bên trong cũng nên.

想着就觉得没意义,对于当时的情况,这里基本上没有任何可以参考的根据,这么想,到后来完全就是在瞎猜。

Nghĩ thế lại thấy vô nghĩa.

Với tình hình lúc bấy giờ, nơi đây cơ bản không có bất kỳ căn cứ nào để tham khảo, suy nghĩ như vậy, đến cuối cùng hoàn toàn là đoán mò.

这时候,三叔忽然就提出了一个可能性:"咱们的祖宗是干哪一行的大家心里都明白,你说会不会是哪一代的老爷子,因为某种原因,藏了什么东西在祖坟里?"

Đúng lúc này, chú Ba đột nhiên đưa ra một khả năng: "Tổ tiên nhà chúng ta làm nghề gì, mọi người trong lòng đều rõ.

Các người nói xem, liệu có phải là có một đời tổ tiên nào đó, vì lý do nào đó, đã giấu thứ gì đó trong mộ tổ không?"

三叔说完,下面人都有些变色。

Chú Ba vừa dứt lời, sắc mặt những người bên dưới đều thay đổi.

这说法虽然听起来骇人听闻,倒也是有可能的事情,因为干这一行的,确实会做出出格的事情出来。而且比起瞎想那些,我倒感觉还是这可能性大一点。

Mặc dù lời nói này nghe có vẻ kinh khủng, nhưng cũng là một khả năng, bởi vì những người làm nghề này quả thực sẽ làm ra những chuyện vượt quá giới hạn.

Hơn nữa, so với những suy đoán lung tung kia, tôi lại cảm thấy khả năng này lớn hơn một chút.

所有人你看看我,我看看你,不知道如何反应,二叔就啧了一声,似乎还想反驳,表公忽然就站起来,对我们道:"他娘的别想了,打开来看看就知道了。"

Mọi người nhìn nhau, không biết phản ứng ra sao.

Chú Hai "chậc" một tiếng, dường như vẫn muốn phản bác, nhưng ông cậu đột nhiên đứng dậy, nói với chúng tôi: "Mẹ nó, đừng nghĩ nữa, mở ra xem là biết ngay!"
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2009 - Chương 7: Càn Khôn


我现在还记得表公说完那句话之后,祠堂里的气氛,头顶的灯瓦数不够,烤火的炉光又是暗暗的,光线非常的晦涩,外面是风声,所有人都是一种很僵硬的表情。我说不出那是一种什么味道,但是我意识到这气氛不太对的。

Bây giờ tôi vẫn còn nhớ không khí trong từ đường sau khi ông cậu nói câu đó.

Bóng đèn trên trần nhà không đủ công suất, ánh lửa từ lò sưởi lại mờ ảo, ánh sáng vô cùng u ám.

Bên ngoài là tiếng gió, tất cả mọi người đều mang một vẻ mặt rất căng thẳng.

Tôi không thể nói rõ đó là cảm giác gì, nhưng tôi nhận ra bầu không khí này không ổn.

按照道理来说,这时候肯定有人会跳出来说:"不行,这是大逆不道的事情云云。"电视剧里都是这么演,这时候却没有一点反对的声音,隔了半响才有人道:"谁开?"

Theo lẽ thường, lúc này chắc chắn sẽ có người nhảy ra nói: "Không được, đây là chuyện đại nghịch bất đạo,..."

Phim truyền hình đều diễn như vậy.

Thế nhưng lúc này lại không có một tiếng phản đối nào.

Sau một hồi im lặng, mới có người hỏi: "Ai mở?"

这话一出又是骚动,三叔就冷笑了一声道:"我大哥是当家,当然是我们开。"

Lời này vừa thốt ra lại gây ra một sự xôn xao.

Chú Ba cười khẩy một tiếng nói: "Anh cả tôi là đương gia, đương nhiên là chúng tôi mở."

此话一出,我一下就知道这气氛是怎么回事情了,不由也觉得僵硬起来。

Câu nói này vừa ra, tôi lập tức hiểu ra bầu không khí căng thẳng kia là vì sao, không khỏi cảm thấy cứng người.

这吴家的祖业一路分家分下来,其实已经基本上名存实亡了,我老爹的当家也当的有名无实,最多算是个名誉为主带个投票权的族长身份,即使是这样,前面也说了也有不少闲言闲语,如今三叔一说这是棺材可能是祖宗藏了什么东西,一下子大概这里所有人第一想到的就是:

Tài sản tổ tiên của Ngô gia cứ thế phân chia qua các đời, trên thực tế đã gần như chỉ còn danh nghĩa.

Chức đương gia của cha tôi cũng chỉ còn hư danh, nhiều nhất là một vai trò tộc trưởng danh dự kèm theo quyền bỏ phiếu.

Ngay cả như vậy, như đã nói ở trên, vẫn có không ít lời đàm tiếu.

Nay chú Ba vừa nói chiếc quan tài này có thể là do tổ tiên giấu thứ gì đó, điều đầu tiên mà có lẽ tất cả mọi người ở đây nghĩ đến là:

难不成是前几代的老爷子,把一些当时不能脱手的明器埋到自己的祖坟里去了?

Chẳng lẽ là tổ tiên đời trước nào đó, đã chôn giấu những món minh khí không thể rao bán lúc bấy giờ vào mộ tổ của mình?

那个盗墓猖獗的年代和现在不同,那时候技术实力有限,渠道也没有这么通畅,所以很多好东西都是那个时候启出来的,当时都不敢出手的东西,必然是价值连成。这批人竟然是起了贪念了。

Cái thời kỳ trộm mộ hoành hành đó khác với bây giờ.

Lúc đó, năng lực kỹ thuật có hạn, kênh tiêu thụ cũng không thông suốt, nên rất nhiều thứ tốt được lấy ra từ mộ.

Những món mà lúc đó không dám ra tay, chắc chắn là vô giá.

Nhóm người này quả nhiên đã nảy sinh lòng tham.

然而是自己的祖坟,也不能放肆,这情形才会显得如此奇怪。不过,三叔的那句话,足以将矛头挑起来了。看来这事情已经超出我老爹能控制的范畴了。

Nhưng đó lại là mộ tổ của chính mình, cũng không thể làm càn, nên tình cảnh mới trở nên kỳ quái như vậy.

Tuy nhiên, câu nói của chú Ba đã đủ để khơi mào mâu thuẫn.

Xem ra chuyện này đã vượt quá phạm vi kiểm soát của cha tôi rồi.

果然,三叔说完还没收了尾音,就有人跳了起来:"凭什么?祖坟我们就没份啦!"

Quả nhiên, chú Ba còn chưa dứt lời, đã có người nhảy dựng lên: "Dựa vào cái gì?

Mộ tổ chúng tôi không có phần sao!"

三叔看了那人一眼:"我操曹二刀子,你他娘的都跟你娘改姓了,什么时候你又改回来啦?轮得到你在这里放屁?"话音没落另一个又叫起来:"这事情儿是吴家的事情,姓吴的都有份。"

Chú Ba liếc nhìn người đó: "Tao khinh mày Tào Nhị Đao Tử, mày theo mẹ mày đổi họ rồi, khi nào mày đổi lại đây?

Đến lượt mày phóng uế ở đây à?"

Lời vừa dứt, một người khác lại kêu lên: "Chuyện này là chuyện của Ngô gia, người họ Ngô đều có phần!"

三叔呸了一口,看也不看:"那姓吴的海了去了,我和你说三表,这开棺的就得我们兄弟三个,这事情你没处讲理去,要怨就怨你太爷爷投胎的时候跑的太慢。"

Chú Ba "phì" một tiếng, không thèm nhìn: "Người họ Ngô nhiều lắm!

Tao nói với mày Tam Biểu (tên gọi họ hàng), chuyện mở quan tài chỉ có ba anh em bọn tao làm.

Chuyện này mày không thể lý lẽ được đâu, muốn trách thì trách ông cố mày đầu thai chạy quá chậm."

"嬲你妈妈别!!老子抽死你!"那人一下就骂开了,喝茶的碗一摔站起来就想上来,三叔是狠角色,"呯"一下把桌子几乎拍裂了,站起来就对他大吼道:"你他妈的试试!"

"Đ.M mày!

Lão tử đánh chết mày!"

Người đó lập tức chửi bới, đập mạnh chén trà đứng dậy muốn lao tới.

Chú Ba là một tay dữ dằn, "Ầm" một tiếng, chú ấy vỗ mạnh xuống bàn gần như làm nứt cả bàn, đứng dậy gầm lên với người kia: "Mày thử xem!"

三叔声色俱厉,加上他在这里的名声,跟他混的那一批人一下全部站了起来,另一边则更多人,跟着骂人的人也站了起来,一时骂声四起,刚才还在互相敬酒的两帮人马上对立起来,只要稍微有人一动手就可能打起来。

Giọng chú Ba đầy vẻ nghiêm khắc, cộng thêm danh tiếng của chú ấy ở đây, nhóm người hay đi theo chú ấy lập tức đứng dậy hết.

Phía bên kia thì có nhiều người hơn, những người chửi bới cũng đứng lên.

Trong chốc lát, tiếng chửi rủa nổi lên khắp nơi, hai nhóm người vừa rồi còn cụng ly mời rượu nay đã đối đầu nhau, chỉ cần một người động thủ là có thể đánh nhau.

我老爹脸色木讷,完全处理不了眼前的情况,一看这事情,不由拍脑门叹气,就在要大打出手之际,忽然表公就站了起来,走前几步一脚就把取暖的炉子踢翻了,火红的炭灰一下子喷了开来,朝人群里扑去,把所有人都逼退了几步,接着拿他的竹拐杖往桌子上狠一鞭,"贼麻匹,反了你们了?"

Cha tôi mặt đờ đẫn, hoàn toàn không xử lý được tình huống trước mắt.

Nhìn thấy cảnh này, ông không khỏi vỗ đầu thở dài.

Ngay lúc sắp xảy ra đánh lộn, đột nhiên ông cậu đứng dậy, bước vài bước, đá đổ cái lò sưởi đang cháy.

Than hồng rực lửa đột nhiên bắn tung tóe, bay về phía đám đông, buộc tất cả mọi người lùi lại vài bước.

Sau đó ông ấy lấy cây gậy trúc của mình quật mạnh xuống bàn một cái: "Thằng ranh con, làm phản hết rồi à?"

"表公!吴三省这匹儿——"有一个就叫起来,还没说完表公又是一鞭,那声音极响,抽的所有人都缩了一下脖子,接着他对我们道:"这是吴家的祖棺,就算开出什么东西,也得给我原封不动的葬回去,谁也别想打注意,老规矩长子长孙开棺捡骨,其他人都退出去!"说着抡起来就打人。

"Ông cậu!

Ngô Tam Tỉnh cái thằng chó này..."

Một người kêu lên, chưa nói hết, ông cậu lại quất thêm một roi nữa.

Âm thanh cực kỳ lớn, khiến tất cả mọi người đều rụt cổ lại.

Sau đó, ông ấy quay sang nói với chúng tôi: "Đây là quan tài tổ tiên của Ngô gia.

Dù có mở ra được thứ gì, cũng phải chôn lại y nguyên cho tao, không ai được phép có ý đồ gì hết!

Theo lệ cũ, trưởng tử trưởng tôn mở quan tài nhặt cốt, những người khác đều lui ra ngoài!"

Vừa nói, ông ấy vừa vung gậy đánh người.

这是老辈,谁也不能得罪,给打的也只有自认倒霉,一帮人全给赶到了祠堂门口,三叔还想耍赖,也给几棍子打了出去,祠堂里一下只剩下我爹和几个老头子。

Đây là bậc tiền bối, ai cũng không dám đắc tội.

Những người bị đánh chỉ đành tự nhận xui xẻo, một nhóm người đều bị đuổi ra ngoài cửa từ đường.

Chú Ba còn muốn làm mình làm mẩy, cũng bị mấy gậy đánh ra ngoài.

Trong từ đường lúc này chỉ còn lại cha tôi và mấy ông già.

表公气的够呛,赶完人后就坐下来喘气,我老爹赶紧给他顺气,一边的我们叫矮子太公的不知道是什么级别的亲戚就劝他:"犯得着嘛,犯得着嘛?一把年纪了,你想把自己气死啊?"

Ông cậu giận đến mức thở hổn hển.

Sau khi đuổi người xong, ông ngồi xuống thở dốc.

Cha tôi vội vàng xoa dịu ông ấy.

Một người họ hàng bên cạnh (người chúng tôi gọi là Thái Công Lùn, tôi không rõ thuộc cấp bậc nào) khuyên can: "Có đáng không, có đáng không?

Lớn tuổi rồi, ông muốn tự làm mình tức chết à?"

"是啊,犯不着!"我老爹也说,"您缓缓,缓缓。"

"Đúng vậy, không đáng đâu!"

Cha tôi cũng nói: "Ông bình tĩnh, bình tĩnh đi."

表公喘着喘着平复了起来,站起来看了看外面,再折回来,就正色对我爸轻声道:"阿穷,这事我给你摆平了,咱说在前面,这棺材里要是有好东西,你得匀我们一半!"

Ông cậu thở dốc một lúc rồi bình tĩnh lại, đứng dậy nhìn ra ngoài, rồi quay lại, nghiêm nghị nói nhỏ với cha tôi: "A Cùng, chuyện này tôi giải quyết giúp cậu rồi.

Chúng ta nói thẳng, nếu trong quan tài này có đồ tốt, cậu phải chia cho chúng tôi một nửa!"
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2009 - Chương 8: Bên Trong


想起表公当时的嘴脸,我现在还感觉哭笑不得,不过他自己感觉上这事情似乎是再正常不过,一点也没有觉得脸面有什么问题,而且那表情还出奇的认真。说完也不等我老爹有反应,表公已经迫不及待的朝那棺材走去。另两个老头一个守着门,一个就去拿家伙去了。

Nhớ lại vẻ mặt của ông cậu lúc đó, bây giờ tôi vẫn cảm thấy vừa buồn cười vừa bất lực.

Tuy nhiên, bản thân ông ấy lại cảm thấy chuyện này dường như là quá đỗi bình thường, hoàn toàn không cảm thấy có vấn đề gì về thể diện, hơn nữa vẻ mặt còn nghiêm túc đến lạ.

Nói xong, ông ấy không đợi cha tôi phản ứng, đã vội vã đi về phía chiếc quan tài.

Hai ông lão kia, một người canh cửa, một người đi lấy dụng cụ.

我和老爹相对苦笑,表公就招手让我们过去帮忙,把无名的棺材抬起来,抬到灯下面。我抬了一下,发现那棺材极重,如果里面有死人,必然是奥尼尔级别的。我和老爹根本就抬不动,也不知道那些抬回来的人到底是什么身板。没办法也没法叫外面的人来帮忙,表公就把那火盆子重新点了起来,压了柴进去,纸钱往里一倒烧的旺起来,把长凳搬过来放上面当照明。

Cha tôi và tôi nhìn nhau cười khổ.

Ông cậu vẫy tay bảo chúng tôi qua giúp đỡ, khiêng chiếc quan tài vô danh lên, đưa đến dưới ánh đèn.

Tôi cố gắng nâng lên, phát hiện chiếc quan tài cực kỳ nặng.

Nếu bên trong có người chết, thì chắc chắn phải là cỡ lực lưỡng như O'Neal.

Cha tôi và tôi hoàn toàn không nhấc nổi, không biết những người khiêng nó về lúc nãy có thân hình thế nào.

Không còn cách nào khác, cũng không thể gọi người bên ngoài vào giúp, ông cậu đành phải nhóm lại cái chậu than sưởi ấm, chất củi vào, đổ tiền giấy vào đốt cho cháy bùng lên, rồi bê cái ghế dài đặt lên trên để làm ánh sáng.

我想到要开棺材,整个人都悚了起来,即兴奋又有些害怕,大学课程里可没这个教学,而且这还是古棺,少说也有100年了。看着那棺材,我忽然就觉得这房间冷了几分。

Nghĩ đến việc sắp phải mở quan tài, toàn thân tôi dựng tóc gáy, vừa phấn khích lại vừa có chút sợ hãi.

Giáo trình đại học của tôi đâu có dạy về cái này, hơn nữa đây lại là quan tài cổ, ít nhất cũng đã 100 năm rồi.

Nhìn chiếc quan tài đó, tôi đột nhiên cảm thấy căn phòng này lạnh hơn vài phần.

村子不大,不一会儿三根撬杆就拿了过来,如果是三叔在那是一点问题也没有,不过我老爹和我完全不行,撬杆都拿反,我举着那撬杆的动作,表公就笑我说你他娘的准备打台球是怎么的。最后还是三个老头自己动手,他们早就等不及了,三下五初二,"嘎吧"几下,就把棺钉全起了出来,接着三个人到一边,三根撬杆一起插进缝隙里,用力一抬。

Làng không lớn, chẳng mấy chốc đã mang đến ba cây xà beng.

Nếu là chú Ba ở đây thì không thành vấn đề, nhưng cha tôi và tôi thì hoàn toàn không ổn, thậm chí còn cầm ngược cả xà beng.

Thấy động tác tôi giơ xà beng lên, ông cậu cười nói: "Mày mẹ nó định đánh bi-a đấy à?"

Cuối cùng, ba ông lão đành tự mình ra tay.

Họ đã chờ đợi quá lâu rồi, chỉ trong chớp nhoáng, "cạch cạch cạch cạch" vài tiếng, đã cạy hết đinh quan tài ra.

Sau đó ba người đứng sang một bên, ba cây xà beng cùng cắm vào khe hở, dùng sức nâng lên.

整个棺材发出"啪啪啪啪"一连串木头爆裂的声音,接着棺盖翘了起来翻了下去,顿时一股奇怪的中药味道就扑鼻而来。

Toàn bộ chiếc quan tài phát ra một loạt tiếng gỗ "rắc rắc rắc rắc" vỡ vụn, rồi nắp quan tài bật lên và lật xuống.

Ngay lập tức, một mùi thuốc Bắc (thuốc Đông y) kỳ lạ xộc thẳng vào mũi.

表公拉进火盆照明,我们都朝棺材靠去,就看到棺材里面,是一棺材的黑水,几乎没到了棺口。

Ông cậu kéo chậu than lại gần để chiếu sáng.

Chúng tôi đều xúm lại gần quan tài, chỉ thấy bên trong quan tài là một lượng nước đen, gần như đã ngập đến miệng quan tài.

我们从来不知道棺材里的情况,也不知道这算不算正常,看表公的表情,却也是一脸疑惑。他转头问老爹道:"坟里有积水吗?"

Chúng tôi chưa từng biết tình trạng bên trong quan tài, cũng không biết điều này có được coi là bình thường hay không.

Nhìn vẻ mặt ông cậu, ông ấy cũng đầy vẻ nghi ngờ.

Ông quay đầu hỏi cha tôi: "Trong mộ có bị tích nước không?"

我老爹摇头:湿是湿的,没积水。

Cha tôi lắc đầu: "Có ẩm ướt, nhưng không tích nước."

"咦,这奇怪了,这棺材里的水是哪儿来的?"表公道。

"Ê, lạ thật, nước trong quan tài này từ đâu ra?"

ông cậu hỏi.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2009 - Chương 9: Nước Đen


棺材里面有液体,其实是比较常见的事情,因为棺材封棺的时候,都会用木钉钉死,然后用胶泥石灰和着烂渔网做成的一种类似水泥的东西封住所有的分析,如果这道手续做的很完美,那么尸会在一个绝对封闭的空间里腐烂,尸体里所有的水分都会溜在棺材里。

Việc có chất lỏng bên trong quan tài thực ra là điều khá phổ biến.

Khi đóng nắp, họ sẽ dùng đinh gỗ đóng kín, sau đó dùng một hỗn hợp tương tự xi măng làm từ đất sét, vôi và lưới đánh cá mục nát để bịt kín tất cả các kẽ hở.

Nếu thủ tục này được thực hiện hoàn hảo, thi thể sẽ phân hủy trong một không gian hoàn toàn kín, và tất cả độ ẩm từ cơ thể sẽ đọng lại trong quan tài.

人身上大概有60~70%都是水,这个水量是比较惊人的,特别是尸体腐烂之后剩下的骨架很小,骨头就容易没在水下。

Cơ thể người có khoảng 60% đến 70% là nước, lượng nước này khá đáng kinh ngạc.

Đặc biệt sau khi thi thể phân hủy chỉ còn bộ xương rất nhỏ, xương sẽ dễ dàng bị ngập dưới nước.

这种水叫做尸液,也叫做棺液。当然,也有的棺材封闭的不言,其中也有水分,那大部分是墓室积水导致的,这种情况下棺液的量很多,所以表公才有此一问。

Loại nước này được gọi là thi dịch, hay quan dịch (nước quan tài).

Đương nhiên, cũng có những chiếc quan tài không được niêm phong kín, bên trong có chất lỏng, phần lớn là do nước tích tụ trong mộ thất, trong trường hợp này lượng quan dịch rất nhiều, đó là lý do ông cậu mới hỏi câu đó.

不然我老爹回到的很确定,我也大约有瞄到两眼,主坟之内确实是没有积水的,所以这棺液必然不是雨水,而更不可能是尸液了,因为这么多的水,尸体恐怕得比奥尼尔还胖。

Câu trả lời của cha tôi rất chắc chắn, và tôi cũng đã nhìn thấy, trong mộ chính thực sự không có nước tích tụ, vì vậy quan dịch này chắc chắn không phải là nước mưa, càng không thể là thi dịch, bởi vì để có lượng nước nhiều như vậy, thi thể có lẽ phải béo hơn cả O'Neal.

这个两个都不可能,那就只有一个极端的情况,就是这些液体可能是葬下的时候灌入棺材的防腐药水,这确实比较可能,因为这一棺材黑水散发着浓烈的中药的臭味。

Nếu cả hai khả năng này đều không thể, thì chỉ còn một trường hợp cực đoan duy nhất: chất lỏng này có thể là thuốc chống phân hủy (thuốc bảo quản) được đổ vào quan tài khi chôn cất.

Điều này khá có khả năng, bởi vì cả chiếc quan tài chứa nước đen này tỏa ra một mùi hôi nồng nặc của thuốc Đông y.

这里还有一个比较有趣的一说,我之前也提过,就是在中国古代,是有人用棺液来做药引的,这听起来匪夷所思,其实起起源还是比较合理的,因为这种防腐的药水中含有一种非常罕见的中药,到了明朝后期已经失传了,后市人如果要使用这种药物,只有让病人去古墓中寻找含有这种成分的棺液。

Ở đây còn có một thuyết khá thú vị mà tôi từng đề cập, đó là trong y học cổ đại Trung Quốc, có người đã dùng quan dịch làm dược dẫn.

Nghe có vẻ khó tin, nhưng nguồn gốc ban đầu của nó khá hợp lý, vì loại thuốc chống phân hủy này có chứa một vị thuốc Đông y rất hiếm, đã bị thất truyền vào cuối thời nhà Minh.

Sau này, nếu muốn sử dụng loại thuốc này, người ta chỉ còn cách để bệnh nhân đi tìm quan dịch có chứa thành phần đó trong các ngôi mộ cổ.

不过当时庸医太多,以讹传讹,结果很多病人因为吃了古尸的体液而上吐下泻,更有在棺材中放置砒霜朱砂防虫干燥的棺液含有剧毒,直接把人吃挂掉。这种恶习流传到近代,鲁迅先生也深受其害,他这么讨厌中医是有原因的。

Tuy nhiên, lúc bấy giờ có quá nhiều lang băm, lời đồn đại sai lệch lan truyền, kết quả là nhiều bệnh nhân bị nôn mửa và tiêu chảy vì uống phải dịch cơ thể của xác chết cổ.

Hơn nữa, quan dịch từ những quan tài có đặt thạch tín (arsenic) hoặc chu sa (cinnabar) để chống côn trùng và làm khô lại chứa kịch độc, trực tiếp khiến người ta tử vong.

Hủ tục này lưu truyền đến tận thời cận đại, Lỗ Tấn tiên sinh cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc, việc ông ghét y học cổ truyền cũng có nguyên nhân.

我看着黑水就浑身不自在,这棺材里的东西必然沉在水底,不知道会是什么情形,而且那种水满的快一出来的感觉,看上去就让人毛骨悚然,我总有幻觉这水下有什么可怕的东西。

Nhìn vào lớp nước đen, toàn thân tôi thấy không thoải mái.

Những thứ trong quan tài chắc chắn chìm dưới đáy nước, không biết sẽ là cảnh tượng gì.

Hơn nữa, cái cảm giác nước đầy đến mức sắp tràn ra ngoài đó khiến người ta rợn tóc gáy, tôi luôn có ảo giác rằng có thứ gì đó kinh khủng ở dưới lớp nước này.

表公他们自然是不怕,他们放下撬杆,就凑到棺材边上,仔细的往黑水中看去。

Ông cậu và những người khác đương nhiên không sợ.

Họ đặt xà beng xuống, ghé sát mép quan tài, cẩn thận nhìn vào lớp nước đen.

说是黑水,必然不是墨汁,而是因为光线和浑浊的关系形成的错觉,表公点起一边的值钱照明,贴近水面。

Nói là nước đen, nhưng đó chắc chắn không phải là mực tàu, mà là ảo giác do ánh sáng và độ đục tạo nên.

Ông cậu dùng tiền giấy đốt cháy để chiếu sáng, ghé sát mặt nước.

我远远的看着,就看到黑水之下,被火光照耀下,幽深无比,竟然好像没有底一样。

Tôi đứng từ xa nhìn, chỉ thấy dưới lớp nước đen, được ánh lửa chiếu rọi, sâu thẳm vô cùng, cứ như thể không có đáy.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2009 - Chương 10: Vực Sâu


那一棺材水,给人的感觉非常的奇怪,在上面看下去,不像是在看一个容器,而像是看一口井的感觉。水并不纯,能够看到水下有杂质漂浮着,但是再往深里看,就看不到棺材的底,一片漆黑,犹如深渊,让我有一种错觉,就是这棺材连着另外一个世界。

Lớp nước trong chiếc quan tài đó mang lại một cảm giác vô cùng kỳ lạ.

Nhìn từ trên xuống, không giống như đang nhìn vào một vật chứa, mà giống như đang nhìn vào một cái giếng.

Nước không trong, có thể thấy các tạp chất trôi nổi dưới mặt nước, nhưng nhìn sâu hơn nữa thì không thấy đáy quan tài, một màu đen kịt, tựa như vực sâu, khiến tôi có một ảo giác rằng chiếc quan tài này đang nối liền với một thế giới khác.

当然这是不可能的,棺材并不深,一只胳膊左右的高度,这水又不像是墨黑的水,怎么会造成这种现象呢?我感觉可能是因为沉淀的关系,这黑水底部可能沉积了大量的杂质,所以光线没法透过。

Đương nhiên điều này là không thể.

Quan tài không sâu, chỉ bằng chiều dài của một cánh tay, mà loại nước này lại không giống nước mực đen, tại sao lại tạo ra hiện tượng như vậy?

Tôi cảm thấy có lẽ là do sự lắng đọng, dưới đáy lớp nước đen này có thể đã lắng đọng một lượng lớn tạp chất, nên ánh sáng không thể xuyên qua được.

表公用撬杆伸进去,搅动了一下,果然如此,一下整棺的水都黑了起来,可以看到很多的漂浮物。中药的臭味更加浓郁起来。

Ông cậu dùng cây xà beng chọc vào, khuấy động một chút.

Quả nhiên là vậy, toàn bộ nước trong quan tài ngay lập tức trở nên đen hơn, có thể thấy rất nhiều vật thể trôi nổi.

Mùi thuốc Bắc càng trở nên nồng nặc hơn.

不知道这棺液里有没有毒,不过无论里面有什么,用裸手去碰肯定是不明智的,表公嘀咕了几声就招呼我老爹帮忙,他要把水放干净。

Không biết quan dịch này có độc hay không, nhưng dù bên trong có gì, dùng tay không chạm vào chắc chắn là không khôn ngoan.

Ông cậu lẩm bẩm vài tiếng rồi gọi cha tôi giúp đỡ, ông ấy muốn xả hết nước đi.

说着他就拿起地上烧纸钱的脸盆,把纸灰扒掉,用来放水,接着另一个老头用撬杆插进棺材的缝隙咬牙用力,嘎吱一声,把棺材的侧面撬出一条缝隙来,那棺液立即从缝隙里流出来,流到脸盆里。

Nói rồi, ông ấy cầm cái chậu đựng tiền giấy đang cháy trên mặt đất, gạt tro giấy đi, dùng để hứng nước.

Tiếp đó, một ông lão khác dùng xà beng cắm vào khe hở của quan tài, nghiến răng dùng sức.

"Cọt kẹt" một tiếng, ông ấy cạy được một khe hở ở mặt bên quan tài.

Quan dịch lập tức chảy ra từ khe hở, chảy vào chậu.

我老爹过去帮忙,用三只脸盆换着,满了就往祠堂的后门外的沟渠里倒。我觉得恶心,还是远远看着,就看着棺液慢慢的降了下去。

Cha tôi tiến tới giúp đỡ, dùng ba cái chậu thay phiên nhau hứng, chậu đầy thì đổ ra rãnh nước phía sau cửa từ đường.

Tôi thấy ghê tởm, nên đứng từ xa nhìn.

Cứ thế, tôi nhìn lớp quan dịch từ từ hạ xuống.

首先露出来的,是一只往上伸出的手,泡在水里腐烂发黑了,手呈现爪状,似乎想伸出水面抓住什么东西。

Thứ đầu tiên lộ ra là một cánh tay đưa lên, đã bị thối rữa và đen thui vì ngâm trong nước.

Bàn tay nắm lại thành hình móng vuốt, dường như muốn vươn ra khỏi mặt nước để tóm lấy thứ gì đó.

显然这具尸体死状并不安详,一般死人放进棺材里都会平躺着,这姿势总让人感觉不对。

Rõ ràng, thi thể này chết trong tình trạng không được yên bình.

Người chết bình thường khi đặt vào quan tài sẽ nằm ngửa phẳng phiu, nhưng tư thế này luôn khiến người ta cảm thấy bất ổn.

表公的眉头就皱了起来,他凑过去仔细看那只手,看了半天,忽然就吸了口冷气,道:"咦?"

Lông mày ông cậu nhíu lại.

Ông ấy cúi xuống nhìn kỹ cánh tay đó.

Sau khi nhìn một lúc lâu, đột nhiên ông ấy hít một hơi khí lạnh, nói: "Ê?"

其他人都转头看他,他就到一边拿起一双筷子,从那手上夹起一个东西,晃到我们面前:"你们看这是什么?"

Những người khác đều quay sang nhìn ông ấy.

Ông cậu đi sang một bên lấy một đôi đũa, gắp một thứ gì đó từ trên cánh tay, rồi lắc lư trước mặt chúng tôi: "Các cậu xem đây là gì?"

我们凑上去,就发现那竟然是一只指甲大小的螺蛳。鳃盖还没合上,竟然是活的。

Chúng tôi xúm lại, kinh ngạc phát hiện ra đó lại là một con ốc nhỏ, kích thước bằng móng tay.

Nắp mang của nó còn chưa đóng lại, thế mà lại là một con sống.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2009 - Chương 11: Ốc Nhỏ


世界上匪夷所思的事情不少,不过这一次自己碰到,倒是第一次。几个人盯着那只泥螺,仔细的看,都说不出话里。

Trên đời có không ít những chuyện không thể tưởng tượng nổi, nhưng đây là lần đầu tiên tôi tự mình chạm mặt.

Mấy người chúng tôi nhìn chằm chằm vào con ốc bùn đó, xem xét kỹ lưỡng, không ai nói nên lời.

棺材是完全密封的,抬过来一路上一点水也没有撒出来,这只泥螺必然是本来就在棺材里的,可是这只棺材在底下埋了快100年了,泥螺怎么可能还是活的。

Chiếc quan tài được niêm phong hoàn toàn, trên đường khiêng về không hề bị rớt một giọt nước nào.

Con ốc bùn này chắc chắn vốn đã ở trong quan tài.

Nhưng chiếc quan tài này đã được chôn dưới đất gần 100 năm, làm sao con ốc bùn này có thể vẫn còn sống được.

"难道,咱们吴家的祖坟,真的——?"一边一个老头就轻声嘀咕了一声,表公就啧了一声,将螺蛳放到一边的烟灰缸里。道:"别声张,再看看。"

"Chẳng lẽ, mộ tổ của Ngô gia chúng ta, thực sự—?"

Một ông lão bên cạnh khẽ lầm bầm một tiếng.

Ông cậu "chậc" một tiếng, đặt con ốc sên vào gạt tàn thuốc bên cạnh, rồi nói: "Đừng lớn tiếng, xem xét thêm đã."

我们继续看着棺材,一边一盆水已经满了在溢出来,几个人无暇顾及,只得继续去倾倒。

Chúng tôi tiếp tục nhìn vào quan tài.

Bên cạnh, một chậu nước đã đầy và đang tràn ra.

Mấy người không kịp để ý, chỉ đành tiếp tục đổ nước đi.

不到十分钟,尸体的全貌便露了出来。

Chưa đầy mười phút, toàn bộ thi thể đã lộ ra.

我们低头看去,只看了一眼,所有人都陷入了深深的沉默。

Chúng tôi cúi đầu nhìn xuống, chỉ một cái nhìn, tất cả mọi người đều rơi vào im lặng sâu sắc.

我不知道怎么来形容我看到的东西,那是一具身材矮小的湿尸,因为防腐药水的关系,尸体没有完全的腐烂,而是保持着大概的形态。然而,让我们毛骨悚然的是,尸体的身上,竟然附着着大量大大小小的泥螺,黑白斑斓,几乎吸满整具尸体,使得第一眼看上去,就好像尸体身上长满了脓包一样。

Tôi không biết phải mô tả thứ mình nhìn thấy như thế nào.

Đó là một thi thể ẩm ướt, thấp bé.

Nhờ có thuốc chống phân hủy, thi thể không bị thối rữa hoàn toàn, mà vẫn giữ được hình dạng đại khái.

Tuy nhiên, điều khiến chúng tôi rợn tóc gáy là, trên người thi thể, lại bám đầy vô số ốc bùn lớn nhỏ, đen trắng loang lổ, gần như hút kín toàn bộ thi thể, khiến thoạt nhìn, trông cứ như là trên người thi thể mọc đầy mụn mủ vậy.

我老爹看了几眼就吐了,几乎要晕倒,立即跌跌撞撞的,也不管什么长尊礼仪,直接冲出了祠堂到院子里吐了起来。我是完全吓麻了,只感觉浑身都炸,连动也动不了。

Cha tôi nhìn vài lần thì nôn thốc nôn tháo, gần như ngất xỉu, lập tức lảo đảo chạy thẳng ra khỏi từ đường ra sân nôn mửa, không còn để ý đến lễ nghi tôn ti gì nữa.

Tôi thì hoàn toàn sợ đến đơ người, chỉ cảm thấy toàn thân tê cứng, ngay cả cử động cũng không nổi.

尸体呈现着一个奇怪的姿势,双手成爪,显然死的并不安详,我看到它张的巨大的嘴巴里几乎全部是螺蛳,只觉得自己的嘴巴不舒服。

Thi thể nằm trong một tư thế kỳ lạ, hai tay tạo thành hình móng vuốt, rõ ràng là chết không an lành.

Tôi thấy cái miệng há to của nó gần như toàn là ốc sên, chỉ cảm thấy miệng mình cũng khó chịu.

表公用筷子再次夹出来一只,我们清晰的而看到鳃盖合拢,都感觉到背脊发凉:这些泥螺竟然全是活的。

Ông cậu lại dùng đũa gắp ra một con nữa.

Chúng tôi nhìn rõ thấy nắp mang đã đóng lại, đều cảm thấy lạnh sống lưng: Tất cả những con ốc bùn này đều là sinh vật sống.

它们是怎么活下来的,他娘的就算是可以吃尸体,但是这棺材里的氧气也不够啊。更何况这种浑浊的水质可能有毒。

Làm sao chúng có thể sống sót được?

Mẹ kiếp, cho dù chúng có thể ăn xác chết, nhưng lượng oxy trong quan tài này cũng không đủ.

Hơn nữa, chất lượng nước đục ngầu này có thể còn có độc.

沉默了好久,表公就把那只泥螺又放进了烟灰缸里。然后对边上一人道:"老四头,要不你去把吴三省和曹二刀子进来。"

Im lặng rất lâu, ông cậu lại đặt con ốc bùn đó vào gạt tàn thuốc.

Sau đó, ông quay sang nói với một người bên cạnh: "Tứ Đầu, hay là cậu đi gọi Ngô Tam Tỉnh và Tào Nhị Đao Tử vào."

老四头愣了一下:"为什么,阿表,这两个是刺头嘛。"

Tứ Đầu sửng sốt: "Tại sao vậy, A Biểu?

Hai người đó là thành phần gây rối mà."

表公道:"让他们进来自己看看,不然我也不知道怎么让他们相信,咱们老祖宗留了一棺材螺蛳给我们,他们要争,让他们每人捞一盘回去自己炒。"说着把筷子往火盆里一扔,就到灵位前跪了下来,给灵位上香。

Ông cậu nói: "Để chúng nó vào tự mình xem.

Nếu không, tôi cũng không biết làm sao để chúng tin rằng tổ tiên chúng ta đã để lại cho chúng ta một quan tài ốc sên.

Chúng nó muốn tranh giành, cứ bảo mỗi đứa vớt một đĩa về tự xào ăn đi."

Nói rồi, ông ấy ném đôi đũa vào chậu than, rồi đi đến trước linh vị quỳ xuống, thắp hương cho tổ tiên.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2009 - Chương 12: Thương Lượng


之后的事情,我不甚了解,因为三叔和那个曹二刀子几乎是带人冲了进来,现场一片混乱,表公气的差点吐血,二叔看着就让我先扶着我老爹回去,不要头乱了。

Những chuyện sau đó, tôi không rõ lắm, bởi vì chú Ba và Tào Nhị Đao Tử gần như dẫn người xông thẳng vào, hiện trường trở nên hỗn loạn.

Ông cậu giận đến mức suýt thổ huyết.

Chú Hai thấy vậy liền bảo tôi đỡ cha tôi về trước, tránh để bị rối trí.

我一看事情完全失控,立即就开溜了,我刚走就看到祠堂外面一片狼藉,显然他们已经干过一架了。

Tôi thấy mọi việc hoàn toàn mất kiểm soát, lập tức chuồn đi.

Vừa mới đi, tôi đã thấy bên ngoài từ đường một bãi chiến trường, rõ ràng là họ đã đánh nhau một trận.

这事情闹的沸沸扬扬,一直到第三天早上我才再次看到三叔,他脑袋已经破了,包着纱布,在那里自己蹲在门槛上吃早饭,我就忙拿了我自己的那份也蹲过去,问他后来的情况。

Chuyện này ồn ào đến mức phải đến sáng ngày thứ ba tôi mới gặp lại chú Ba.

Đầu chú ấy đã bị rách, quấn băng gạc, đang ngồi xổm trên bậc cửa tự ăn sáng.

Tôi vội vàng lấy phần của mình ra, cũng ngồi xổm xuống hỏi chú ấy tình hình sau đó.

三叔吃的米兹,吃着和着白粥就骂开了,说太他娘的晦气了,没想到那棺材里啥也没有,害他和曹二刀子打的脑袋都破了。他娘的还真都是自己人不好下杀手,不然他怎么可能吃这个亏。

Chú Ba vừa ăn bún (mì sợi), vừa mắng chửi cùng với bát cháo trắng.

Chú ấy nói quá xui xẻo, không ngờ trong chiếc quan tài đó chẳng có gì, hại chú ấy và Tào Nhị Đao Tử đánh nhau đến rách cả đầu.

Mẹ nó, thật may là toàn người nhà nên không thể ra tay giết người, nếu không làm sao chú ấy có thể chịu thiệt thòi này.

我说你也太贪了,这不是自家的祖坟嘛,你连自己家的也不放过。

Tôi nói chú ấy quá tham lam, đây không phải là mộ tổ nhà mình sao, chú ngay cả mộ tổ cũng không buông tha.

三叔骂道:"你懂个屁,你三叔我还不是为了你老爹争脸,他娘的要不是老子这么在村里横着走,你老爹那族长还呆的下去,况且了,曹二刀子那赔钱货老早就看你三叔我这风光不爽了,老子看着一家的份上也不和他计较,狗日的,咱们家没把他踢出去,他他娘的倒来和我们争东西了,要说那祖坟,我埋都轮不到他,他要埋只能埋厕所边上。"

Chú Ba mắng: "Mày biết cái quái gì!

Chú Ba mày đây không phải là vì muốn giữ thể diện cho cha mày sao?

Mẹ nó, nếu không phải tao đi ngang đi dọc trong làng thế này, cha mày còn giữ được chức tộc trưởng à?

Hơn nữa, cái thằng phá của Tào Nhị Đao Tử đó đã chướng mắt cái sự phong quang của chú Ba mày từ lâu rồi.

Tao nể mặt người nhà nên không chấp nhặt với nó.

Cái thằng chó đó, nhà mình không đá nó ra ngoài đã là may rồi, vậy mà nó lại dám đến tranh đồ với mình.

Nói về mộ tổ, đến lượt tao chôn còn chưa đến, nó chỉ có thể chôn ở cạnh nhà vệ sinh thôi."

三叔骂了两声,二叔的声音就从屋子里传了过来,他骂道:"你少糊弄你侄子,什么为了大哥,你还能有这心?你不知道咱们老大最怕这中场面吗?"说着二叔端着一只竹矮椅出来,二叔过的是神仙一样的生活,起的早,吃的也少,早就打完了太极拳,就坐到椅子上,在我们边上喂鸡。

Chú Ba mắng chửi vài tiếng, giọng chú Hai đã vọng ra từ trong nhà.

Chú ấy mắng: "Mày bớt bịp bợm cháu mày đi, gì mà vì anh cả?

Mày còn có cái tâm đó sao?

Mày không biết anh cả chúng ta sợ nhất là những cảnh thế này à?"

Nói rồi, chú Hai bưng một cái ghế tre lùn ra, chú Hai sống cuộc sống như tiên, dậy sớm, ăn ít, đã tập Thái Cực Quyền xong xuôi.

Chú ấy ngồi xuống ghế, cho gà ăn bên cạnh chúng tôi.

三叔对二叔没脾气,嘀咕了一声就道:"干老子这一行的,就是不能在人前吃亏,说回来,要是那棺材里真是好东西呢?老子还以为当时兵荒马乱的,真的有东西藏在下面,没想到是臭泥螺。"

Chú Ba không hề tức giận với chú Hai, lẩm bẩm: "Làm nghề của tao đây, chính là không thể chịu thiệt trước mặt người khác.

Nói lại, nhỡ đâu trong quan tài đó thực sự có đồ tốt thì sao?

Tao cứ nghĩ hồi đó binh đao hỗn loạn, tổ tiên thực sự có giấu thứ gì bên dưới.

Ai ngờ toàn là ốc bùn thối."

我知道二叔见多,就问他道:"二叔,您看的书,您以前听说过这事没有?"

Tôi biết chú Hai đọc nhiều sách, bèn hỏi: "Chú Hai, những cuốn sách chú đọc, chú từng nghe nói đến chuyện này chưa?"

二叔收起米糠,想了想,道:"你别说,这事情还真不是第一次,我记得杭州凤凰山就挖出来过一个古墓,是南宋年间一个太监的,里面有一池活鱼,五彩斑斓,据说那池子也是封闭的,后来有人吃了一条,结果暴毙。"他皱起眉头,急的那些鸡咯咯叫:"不过,那是在墓室里,兴许有原因,在棺材里,真的还没有。"

Chú Hai thu dọn cám gạo, suy nghĩ một lát, nói: "Mày đừng nói, chuyện này không phải là lần đầu tiên xảy ra.

Tao nhớ ở núi Phượng Hoàng, Hàng Châu, từng đào được một ngôi mộ cổ thời Nam Tống của một thái giám, bên trong có một hồ cá sống, sặc sỡ màu sắc.

Nghe nói cái hồ đó cũng được phong kín, sau này có người ăn thử một con, kết quả chết bất đắc kỳ tử."

Chú ấy cau mày, làm lũ gà kêu quang quác: "Tuy nhiên, đó là ở trong mộ thất, có thể có nguyên nhân.

Còn ở trong quan tài, thì thực sự chưa từng có."

我看向三叔,问他倒斗有没有碰到过,他也摇头:"哪有经常碰到这种事的道理,这种事情,老天爷自己在玩,别去想,就当不知道。咱在斗里碰到事情多了,多去想,那你三叔我就成哲学家了。"说着暗指了二叔一下,意思是你二叔就是想带太多了。

Tôi nhìn sang chú Ba, hỏi chú ấy đã từng gặp chuyện tương tự khi "xuống đấu" chưa, chú ấy cũng lắc đầu: "Làm gì có chuyện thường xuyên gặp phải loại này.

Chuyện này là do Trời đất tự mình bày trò, đừng nghĩ nhiều, cứ coi như không biết.

Chú mày gặp nhiều chuyện trong mộ rồi, nếu cứ nghĩ nhiều, thì chú Ba mày đã thành nhà triết học rồi."

Nói rồi, chú ấy liếc chú Hai một cái, ý là chú Hai hay nghĩ quá nhiều.

我又道:"那后来,这棺材怎么样了?"

Tôi lại hỏi: "Vậy sau đó, chiếc quan tài đó được xử lý như thế nào rồi?"

三叔叹气道他也走的很早,脑袋给曹二刀子打了,那具尸体是具无名女尸,弄清身份之前不能妄动,"那死人的动作很不妥,我怀疑是或者给封进棺材里的,保不齐是给人害死的。"

Chú Ba thở dài, nói chú ấy cũng về sớm.

Đầu bị Tào Nhị Đao Tử đánh.

Thi thể đó là một nữ thi vô danh, trước khi làm rõ thân phận thì không thể manh động.

"Tư thế của người chết rất bất ổn, tao nghi ngờ là bị niên phong vào trong quan tài khi còn sống, rất có thể là bị người khác hại chết."

"害死?"

"Hại chết?"

"就是给人强迫封进去淹死的,那时候这种事情多的是,表公说的也许是对的,可能是个丫鬟或者偏方。"三叔叹了口气"管他呢,这么多年了,谁知道是怎么回事。"

"Tức là bị người ta ép buộc phong kín vào trong quan tài rồi dìm chết.

Hồi đó chuyện này xảy ra nhiều lắm.

Ông cậu nói có lẽ đúng, có thể là một nha hoàn hay vợ bé gì đó."

Chú Ba thở dài: "Mặc kệ đi, bao nhiêu năm rồi, ai mà biết được là chuyện gì."

"那现在他们怎么处理?"

"Vậy bây giờ họ xử lý thế nào?"

"清了棺材,里面铺了石灰,尸体重新放了进去,螺蛳全捡了出来,请了道士在搞法事。"三叔狠狠咬了一口米兹,"表老头说,要是实在查不出来,就原封不动葬回去,就当不知道。"

"Họ tẩy rửa quan tài, rải vôi bột bên trong, thi thể được đặt lại vào, ốc sên được nhặt hết ra ngoài, mời đạo sĩ về làm pháp sự."

Chú Ba cắn mạnh một miếng bún: "Ông cậu nói, nếu thực sự không tra ra được, thì cứ chôn lại y nguyên, coi như không biết gì."

二叔不管他,自顾自喂鸡,一边悻然道:"那那些螺蛳呢?表公不是让你拿回来酱爆吗?"

Chú Hai mặc kệ chú Ba, tự lo cho lũ gà, vừa làm vừa nói vẻ bất mãn: "Vậy còn lũ ốc sên đó?

Ông cậu không bảo mày mang về kho tương ăn à?"

"操,他要吃给他吃,吃死那个老不死的。"三叔道。"昨天全倒到溪里去了,看着就恶心。"

"Khốn kiếp, ông ta muốn ăn thì tự ông ta ăn, ăn chết cái lão già đó đi."

Chú Ba nói.

"Hôm qua đổ hết xuống khe suối rồi, nhìn đã thấy ghê tởm."

"咦,他们怎么可以怎么样!"我恶心道:"那谁还敢下水去摸螺蛳吃?"

"Ê, sao họ có thể làm thế!"

Tôi kinh tởm nói: "Vậy còn ai dám xuống nước bắt ốc ăn nữa?"

"那道士说的,要放生,我他娘的有什么办法。"三叔骂了一声。

"Ông đạo sĩ nói phải phóng sinh, mẹ nó, tao có làm được gì đâu."

Chú Ba chửi thề một tiếng.

这时候院子里就走冲进来一个人,跑到我面前就急冲冲的问我:"你老爹呢?"

Đúng lúc này, một người đàn ông chạy vội vào sân, chạy đến trước mặt tôi hỏi gấp: "Cha cậu đâu rồi?"

我老爹受了刺激,一直没缓过来,我还没回答,三叔就踢了来人一脚叫:"黑皮,什么事情?"

Cha tôi bị kích động, vẫn chưa hoàn hồn.

Tôi chưa kịp trả lời, chú Ba đã đá người đến một cái, hỏi: "Hắc Bì, có chuyện gì?"

"表公让吴邪老爹马上去溪边上,他娘的,溪里好像出了什么东西。"

"Ông cậu bảo cha của Ngô Tà lập tức ra bờ suối, mẹ nó, dưới suối hình như có cái gì đó xảy ra rồi."
 
Đạo Mộ Bút Ký - Ngoại Truyện
Hạ Tuế Thiên 2009 - Chương 13: Khe Suối


那条山溪流经村子的部分是一个哦米噶形,村子就在半o性的中间,下雨天或者上有谁把放水的时候溪流会很大,但是一版时候溪水很浅,大概只到膝盖处,溪的底部全是乱石头,早几年这里挖沙的人很多,连稍微小点的卵石都被卖了,所以现在下面都是脸盆大小没棱角的大石头,上面全是绿水毛。

Dòng suối đó chảy qua làng tạo thành hình chữ Omega (Ω).

Ngôi làng nằm ở giữa hình bán nguyệt đó.

Khi trời mưa hoặc khi có người xả nước từ thượng nguồn, dòng suối sẽ rất lớn, nhưng bình thường nước suối rất cạn, chỉ đến đầu gối.

Dưới đáy suối toàn là đá lộn xộn.

Mấy năm trước, có rất nhiều người khai thác cát ở đây, ngay cả những viên sỏi nhỏ cũng bị bán hết, nên bây giờ dưới đáy chỉ còn lại những tảng đá lớn bằng cái chậu rửa mặt, không có góc cạnh, và bên trên bám đầy rêu xanh.

虽然村里有自来水,但是这溪水还是大部分倒马桶,洗衣服+洗澡的场所,溪水的干净程度取决于你上游人家的数量,我就曾今在游泳的时候看到一驮大便从我面前漂过。所以虽然溪水清澈的吓人,在城市人根本看不到,但是我对这溪还是没有什么好感。

Mặc dù trong làng có nước máy, nhưng dòng suối này vẫn là nơi chủ yếu để đổ đồ vệ sinh, giặt quần áo và tắm rửa.

Độ sạch của nước suối phụ thuộc vào số lượng nhà ở phía thượng nguồn.

Tôi đã từng thấy một cục phân lớn trôi qua trước mặt khi đang bơi.

Vì vậy, mặc dù nước suối trong đến đáng sợ, điều mà người thành phố hoàn toàn không thấy được, tôi vẫn không có thiện cảm gì với dòng suối này.

我老爹肯定是不能去了,小黑说那怎么办,表公催的急了,我们哪里还管这事,三叔和我立即就扔下饭碗,往溪边跑去看。把二叔的鸡吓的乱飞。

Cha tôi chắc chắn không thể đi được.

Tiểu Hắc hỏi vậy thì làm sao bây giờ, ông cậu đang giục gấp.

Chúng tôi nào còn quản chuyện ăn uống, chú Ba và tôi lập tức bỏ dở bữa ăn, chạy thẳng ra bờ suối để xem.

Điều đó làm lũ gà của chú Hai sợ hãi bay tán loạn.

村子很小,几下就到了,这时候正是水位低的时候,溪边一大片干石摊,表公他们都在,围了好几个人。看我们冲过来,就让了一下,表公问我道:"你爹呢?"

Ngôi làng rất nhỏ, chỉ chạy vài bước là đến nơi.

Lúc này là lúc mực nước thấp, dọc bờ suối là một bãi đá khô lớn.

Ông cậu và mọi người đều ở đó, vây quanh thành một nhóm.

Thấy chúng tôi chạy tới, họ nhường đường một chút.

Ông cậu hỏi tôi: "Cha cậu đâu?"

我说没醒呢,三叔就已经拨开了人群往溪水里看,一边问:"怎么了怎么了?溪里有什么?"

Tôi nói cha tôi chưa tỉnh.

Chú Ba đã chen qua đám đông nhìn xuống dòng suối, vừa hỏi: "Sao thế, sao thế?

Dưới suối có gì?"

几个人都脸色铁青,表公指着水中一块巨石,"你们站过去,看水里就知道了。"

Mặt mấy người đều tái mét.

Ông cậu chỉ vào một tảng đá lớn giữa dòng nước: "Hai đứa bước qua đó, nhìn xuống nước là biết."

那巨石冒在水的中间,能站好几个人,上面已经有一个人趴着在看,我和三叔跳过去,也学那个人趴了下来,往水里看去。

Tảng đá đó nổi lên giữa dòng nước, đủ chỗ cho vài người đứng.

Trên đó đã có một người đang nằm sấp nhìn xuống nước.

Chú Ba và tôi nhảy qua, cũng bắt chước người đó nằm sấp xuống, nhìn vào dòng nước.

水无比清澈,就算天阴着水底也看的一清二楚,我一看,顿时就出了一身的冷汗。三叔也骂了一声。

Nước vô cùng trong, dù trời âm u nhưng vẫn nhìn rõ mồn một dưới đáy.

Tôi vừa nhìn thấy, lập tức toát mồ hôi lạnh toàn thân.

Chú Ba cũng chửi thề một tiếng.

只见在那石头下的水底,密密麻麻的聚满了泥螺,黑白斑斓,让人毛骨悚然的是,这些泥螺不是无规则的吸在水底,而是竟然聚成了一个无比诡异的形状。

Chỉ thấy dưới đáy nước, ngay dưới tảng đá, ốc bùn tụ lại dày đặc, đen trắng loang lổ, khiến người ta rợn tóc gáy là ở chỗ, những con ốc bùn này không bám ngẫu nhiên dưới đáy, mà lại tụ tập thành một hình thù vô cùng quái dị.

那形状,看上去竟然活似一个人的黑影,想要爬到岸上来。

Hình thù đó, nhìn vào cứ như là bóng đen của một người đang muốn bò lên bờ.

"妈的,这是谁他娘的干的。"三叔就怒了,他大概以为这是恶作剧。

"Mẹ kiếp, thằng cha nào làm trò quỷ này!"

Chú Ba nổi giận, chú ấy có lẽ cho rằng đây là trò đùa ác ý.

"谁干的?"表公在岸上就冷笑道:"不是你干的吗?"

"Ai làm?"

Ông cậu đứng trên bờ cười lạnh: "Không phải mày làm sao?"

"放屁!"三叔跳上岸去。

"Nói bậy!"

Chú Ba nhảy lên bờ.

"如果不是你吴三省神通那么广大,那么这就不是人干的了。"表公阴阴·道:"我们在这里蹲了三个消失了,这形状一点也没散过。"

"Nếu không phải Ngô Tam Tỉnh mày thần thông quảng đại như vậy, thì chuyện này không phải do con người làm rồi."

Ông cậu nói bằng giọng âm u: "Chúng tôi đã rình ở đây ba tiếng đồng hồ rồi, cái hình thù này vẫn không hề tan rã."
 
Back
Top Bottom