Điền Văn Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 60: 60: Bánh Quy Hình Thú


Mà đã sống lại rồi, vậy thì vẫn phải tiếp tục làm việc.
Cứ đến mùa hè, người dân miền núi, thợ săn và nông dân đều có những công việc làm mãi mà vẫn không thấy xong.
Bọn họ cứ như đang chạy đua với thời gian vậy, bởi vì nếu thu thập đủ thức ăn trước khi mùa đông đến, họ sẽ có nhiều cơ hội sống sót hơn.
Hà Điền và Dịch Huyền dắt theo Lúa Mì, chèo thuyền, thả lưới trên sông, rồi chèo thuyền ra nhánh sông để nâng lồng cá và bẫy nhánh lên.
Có thể là do lần trước họ bỏ xác dế vào lồng cá làm mồi nên một lồng cá bắt được cả chục con, mỗi con lớn bằng lòng bàn tay.
Mang cá về nhà, họ lại chèo thuyền đến những vùng đầm lầy và ao hồ để thu hoạch thức ăn thô xanh và quả mọng.
Sẵn tiện hái luôn lá dâu tằm.
Lúc này không chỉ cần những lá non mềm mà còn cần cả những lá già xanh đậm.

Nếu không, "giấy vệ sinh" sẽ sớm hết sạch.
Sau khi lá dâu già được phơi trong bóng râm, lá vẫn mềm, là thứ thay thế tuyệt vời cho giấy vệ sinh.
Một loại lá thích hợp khác là lá thầu dầu.
Cây thầu dầu thấp, sau khi ra hoa sẽ kết một loại quả rất dễ thương, trông giống như một chiếc đèn lồng origami phẳng vậy, với những hạt thầu dầu ẩn trong từng nếp uốn.
Tranh thủ lúc quả còn xanh thì hái xuống, bóc lấy hạt trắng mềm, nhai trong miệng có mùi thơm nhẹ, vị bùi bùi khó tả, hơi giống quả óc chó tươi xắt nhỏ, nhưng lại nhiều nước hơn.
Chúng là một món quà khi tìm lá thầu dầu.
Lá thầu dầu có thể to bằng một cái dĩa nhỏ nhưng loại lá này càng lớn thì lại càng khó dùng, đường gân của lá lớn to nên rất dễ bị rách, lá có kích thước bằng lòng bàn tay là thích hợp nhất.
Nếu không có lá dâu tằm, lá thầu dầu, hoặc là các loại lá thích hợp khác gần nhà, vậy thì cứ mặc sức mà suy nghĩ để tìm ra cách.
Trong nhà vệ sinh của một số người có treo vài mảnh vải với nhiều màu sắc khác nhau, mỗi người một mảnh, sau khi lau thì đem đi rửa sạch sẽ.
Nhà vệ sinh của một số người thậm chí còn mang phong cách cổ điển hơn.

Khi mở cửa bước vào, trên tường trong nhà vệ sinh có những mảnh vụn — như là một đoạn tre hoặc một cành cây đánh bóng, thậm chí có người còn treo sợi dây gai dầu.
Nếu muốn đặc biệt hơn, có thể dành thời gian để làm giấy.
Nhà của Hà Điền cũng có một bộ công cụ làm giấy.
Ngâm lá dâu tằm, lá gai, cỏ nhọ nồi, cỏ nhung,...!cho đến khi mềm nhũn rồi dùng máy trộn cho thật nhuyễn, sau đó đổ vào một cái chậu lớn, dùng hai khung gỗ kẹp một lớp nan tre đan dạng lưới, hoặc là màn trúc thật nhỏ, nhấn vào trong chậu, lắc qua lắc lại rồi vớt lên, trên nan lưới được phủ một lớp bả lá, gọi là bột giấy, tháo nan lưới và bột giấy ra, sau khi hơi ẩm trong bột giấy chảy ra hết thì nhẹ nhàng tách ra khỏi nan lưới.

Bột giấy sau khi khô sẽ trở thành giấy.

Để làm cho giấy mềm hơn, canh lúc giấy mới khô khoảng 80% thì đem hơ trên bếp, giấy sẽ trở nên mịn và mềm.
Loại giấy này đương nhiên thấm nước và tiện lợi hơn lá, nhưng làm rất rắc rối, Hà Điền chỉ dùng khi cô đến tháng.
Thực tế thì trong rừng có rất nhiều nguyên liệu làm giấy.

Có thể xay tre và các mảnh gỗ nhỏ rồi đun sôi để làm sợi gỗ mềm đi, sau đó đem đi làm giấy.

Hoặc cũng có thể bóc vỏ của một số thân cây cũng được.

Để tăng độ mềm, có thể thêm một ít bông vải hoặc lá dâu tằm, hoặc cho vào những mảnh vải vụn cũ, lông tơ sẽ giúp giấy mềm hơn, mỏng hơn và thấm hút hơn, nếu muốn giấy có màu thì thêm nước ép hoa, còn nếu muốn đẹp mắt, khi trộn bột giấy cũng có thể thêm cánh hoa vào...
Nhưng những thứ này phải có thời gian rảnh mới làm được.

Bởi vì làm giấy rất tốn thời gian.
Bây giờ, họ chỉ cần hái thêm lá dâu tằm là được.
Lá dâu hái về rửa sạch, trải lên một chiếc phên tre lớn, ép chặt cành tre rồi cho vào xưởng gốm để hong khô.

Tường di động hai bên được thay bằng cọc tre ngắn hơn, vừa thông thoáng, mát mẻ, lại không có quá nhiều gió thổi lá dâu bay mất.
Những lá dâu tằm khô được gói trong những tờ giấy đã làm trước đó, cho vào hộp gỗ, đặt ở nhiều góc nhà.
Tất nhiên, trong nhà vệ sinh cũng có một hộp.
Cứ mỗi hè là nhà Hà Điền lại phải thực hiện dự án nhà vệ sinh.

Thu gom lá dâu tằm và lá thầu dầu chỉ là một phần của dự án này mà thôi, và nó còn là phần dễ dàng nhất.
Vất vả nhất chính là cải tạo nhà vệ sinh.
Đây thật sự không phải là một công việc dễ chịu gì, thế nhưng nhất định phải làm.
Mặt nạ phòng độc đi núi lửa thu lưu huỳnh lại được đưa vào sử dụng.
Nhà vệ sinh của nhà Hà Điền là một cái nhà nhỏ có thể tháo rời, cách làm tương tự như xưởng gốm nhưng vách của nó được làm bằng gỗ, bền và chịu được lạnh.

Nhưng vì diện tích của nó nhỏ nên việc tháo lắp cũng không quá tốn công.
Sau khi mái nhà vệ sinh và bốn bức tường được dỡ bỏ, chỉ còn lại một cái bục bằng gỗ úp ngược như hình hộp.

Dưới bục có hai chiếc vại gốm được chôn dưới đất, được nối với hai cái thùng trên ván gỗ.

Còn có một cánh cửa có thể mở ra ở một bên của bục, thường thì sau khi Hà Điền dọn phân của Gạo xong, cô sẽ mở cái cửa này ra và đổ phân vào vại gốm.
Chỉ cần tháo thùng ngồi ra là có thể tháo toàn bộ phần bục.
Phần bục của bồn cầu cũng là một kết cấu gỗ hình vuông, hai khúc gỗ dài được để nguyên, hai người lần lượt nhấc hai khúc gỗ này lên là có thể nhấc cả chân bục lên một cách dễ dàng, sau đó để sang một bên.
Nếu nhà vệ sinh quá nhỏ, có thể nâng luôn cả mái và bốn bức tường cùng một lúc, chuyển sang một bên.
Kế tiếp, có thể đeo mặt nạ phòng độc vào.
Đầu tiên kéo vại gốm đã thu gom chất lỏng trong một năm từ dưới bồn cầu và nhấc nó lên xe kéo để Gạo kéo đến một bãi đất trống gần vườn rau.
Lúc này, Dịch Huyền mới phát hiện ra rằng nắp của chiếc vại gốm này được làm rất đặc biệt, bên dưới cái nắp nhỏ có một tấm hình tròn giống như một cái nắp lớn.

Nhấc phần nắp lớn ra, miệng của vại gốm có kích thước gần bằng với thân vại.
Ban ngày đem phơi nắng, ban đêm thì đậy nắp lại, sau khi phơi một thời gian thì chất lỏng bay hơi hết, thành phần chính của bột còn sót lại dưới đáy bình là nitrat.

Để sản xuất □□, thuộc da, đều cần phải dùng đến nitrat.
Nitrat được chiết xuất theo cách này còn cần phải tiếp tục tinh chế mới có thể tạo ra □□.
Cách khử nitrat của Hà Điền là cắt một củ cải lớn thành từng lát, cho vào thùng sắt đem đun với dung dịch nitrat, củ cải sẽ hấp thụ các tạp chất trong đó, sau khi sôi thì vớt củ cải ra, phơi lại bột cho khô, quá trình thanh lọc hoàn tất.
Còn cách xử lý cái vại gốm để ở dưới bồn cầu thì đơn giản và thô sơ hơn nhiều.
Kéo nó đến sườn núi nơi có đủ loại cành chết, cỏ dại thối rữa, và những đám rau xơ xác, đào một cái hố lớn, lật úp vại gốm lại, dùng cuốc đập vỡ rồi dùng xẻng xúc các mảnh vỡ của vại vào một cái giỏ tre, đem vứt ở bên bờ sông.
Sau khi tất cả các chất trong vại được đổ vào hố, gom tất cả các cành và lá chết xung quanh đẩy hết vào, cuối cùng là phủ đất lên.
Đến cuối thu, tất cả các loại cây trồng trong vườn đều đã thu hoạch xong, lúc xới đất thì có thể đào cái hố này lên, lấy phân bón đã ủ tốt đem bón cho đất.

Năm nay có thêm vịt và thỏ nên cái hố này phải đào to hơn một chút.
Đến thời điểm này, phần khó nhất của công trình nhà vệ sinh đã hoàn thành.
Tiếp theo, đặt một chiếc vại mới vào bồn cầu một lần nữa, sau đó kiểm tra xem phần gỗ trên bục có bị mục nát hay bị côn trùng phá hoại hay không.
Khi xây nhà vệ sinh, bởi vì lo lắng phần gỗ ở phía dưới dễ bị ẩm, vỏ của cả bốn khúc gỗ đều đã được cacbon hóa, giờ chỉ cần tháo một số tấm gỗ trên sàn rồi thay bằng những tấm gỗ mới là được.
Trong số gỗ khô năm nay có không ít gỗ tốt, lúc này vừa vặn lấy ra dùng.
Khi cưa gỗ, mùn cưa rơi ra tỏa một mùi thơm rất nhẹ, đây là giây phút thoải mái nhất từ lúc bắt tay vào làm đến giờ.
Đóng đinh sàn xong, nâng bục lại, đặt trở lại vị trí ban đầu, dùng vồ dập cho phẳng, đặt thùng ngồi đã được làm sạch, lắp mái và tường cả bốn phía vào.
Phần cuối cùng của dự án nhà vệ sinh là làm xà phòng.
Hai nguyên liệu quan trọng nhất để làm xà phòng là dầu mỡ và tro thực vật.
Tro thực vật chứa kiềm, thực chất là kali hydroxit.
Không khó để chiết xuất kali hydroxit từ tro thực vật.

Trong kho chứa tro thực vật của nhà Hà Điền có một vật chứa, dưới đáy cùng là một cái lọ có đầu hình phễu.

Tro thực vật được cho vào thường xuyên, thêm nước rồi lọc, từ từ chảy xuống đáy.

Kết quả có được dung dịch giàu kali hydroxit.
Mỡ, thu được từ con mồi.
Mỡ của ngỗng trời và chim nhạn thì dùng để nấu ăn, còn mỡ của các loài động vật khác thì được lọc và tinh chế, cho vào bình đậy kín, bảo quản trong hầm hoặc nơi thoáng mát.
Từ mùa thu năm ngoái đến giờ, trong nhà tích góp được không ít dầu mỡ, có một số đã bị oxy hóa.

Một khi dầu mỡ bị oxy hóa, xà phòng làm ra sẽ có mùi lạ, mặc dù vẫn có thể khử độc, nhưng ai mà thích dùng xà phòng có mùi? Vì vậy cho nên, sau khi dầu mỡ được tinh luyện, cần phải đem làm thành xà phòng càng sớm càng tốt.
Cách làm xà phòng không khó, đặt một thùng sắt lớn trên bãi đất trống, nhóm lửa ở dưới, cho dầu mỡ vào thùng đun chảy, thêm kali hiđroxit chiết xuất từ tro thực vật vào, không ngừng khuấy đều, hoặc là để cho Gạo hỗ trợ, khuấy thêm vài tiếng, dung dịch xà phòng rốt cuộc cũng làm xong.
Tuy nhiên, cường độ của dung môi, thời gian khuấy, chất lượng của dầu mỡ, nhiệt độ trong quá trình đun...!đều ảnh hưởng đến chất lượng cuối cùng của xà phòng.

Khi Hà Điền mang dung dịch natri hydroxit ra, cô tìm một củ cà rốt có độ to đồng đều, cắt một đoạn dài năm cm, rồi đặt nó vào dung dịch theo chiều dọc để đánh giá xem cường độ của dung dịch có đúng theo ý của cô hay chưa.
"Nếu như một nửa của cà rốt nổi trên mặt nước, có nghĩa là nồng độ vừa phải." Hà Điền nói với Dịch Huyền.
Dịch Huyền lắc đầu cười: "Không phải quá mê tín sao?"
"Cái này gọi là kinh nghiệm!"
Dù là kinh nghiệm hay là một loại ma thuật nào đó, thì cường độ của dung dịch quả thật vừa phải, dung dịch xà phòng làm rất thành công.
Rửa chén, giặt giũ, dùng nước xà phòng sẽ tiện hơn.
Có thể đổ nước xà phòng vào một ống tre nhỏ, khoét một lỗ hình chữ V trên vành ống tre, đậy nắp lại rồi treo lên thành bồn rửa.

Cũng có thể thêm một vòng dây da vào nắp để có thể đậy nắp kín hơn.
Có thể đun sôi lại dung dịch xà phòng đã chuẩn bị, rồi thêm muối vào, nước xà phòng sẽ từ từ đặc lại, sau đó đổ vào khuôn, để qua một ngày là có thể làm thành bánh xà phòng.
Cả nước xà phòng và bánh xà phòng đều có thể được thêm hương liệu, nhưng bánh xà phòng cũng có thể được thêm hoa khô và trái cây khô vào để làm đẹp hơn.
Ví dụ như xà phòng mà Dịch Huyền thích dùng để tắm có thêm cỏ roi ngựa, hoa oải hương và một số loại hoa dại màu tím khác, xà phòng trắng kem có màu tím nhạt, khi dùng có thể nhìn thấy cánh hoa, mùi thơm cũng rất được.
Loại mà Hà Điền thích là bột đậu xám, trông không nhã nhặn, giống như một cục xà phòng đông lạnh có vài đốm đen nhỏ, nhưng sau khi tắm xong, mùi thơm ngào ngạt có thể lưu lại rất lâu.
Nếu thích màu sắc tươi sáng, có thể thêm một ít hoa hồng vào xà phòng, còn nếu thích mùi thơm nhẹ, thì thêm hoa cúc dại và hoa tầm xuân.

Loại yêu thích của bà Hà Điền là loại có bột linh sam.
Hà Điền cũng làm một vài cục bằng bột lưu huỳnh.

Dùng xà phòng này tắm cho Gạo và Lúa Mì, có thể xua đuổi côn trùng và chữa bệnh ngoài da, đặc biệt là đối với Gạo.

Thường xuyên chải lông bằng xà phòng lưu huỳnh có thể giúp nó ngăn ngừa bệnh nấm ngoài da và lúc kiếm ăn trong mấy bụi cỏ không bị rệp cây cắn.
Nếu ngại mùi lưu huỳnh quá khó chịu, vậy thì có thể thêm một ít bột linh sam hoặc bột làm từ lá thông vào, để mùi lưu huỳnh trở nên nhẹ hơn.
Khuôn làm xà phòng cũng được đặt trong xưởng gốm.

Bây giờ Dịch Huyền mới biết rằng căn nhà này được thiết kế đặc biệt để phơi nhiều thứ khác nhau vào mùa hè.

Tường hai bên được dựng lên và biến thành hai mái hiên, không gian phơi đồ được nhân đôi.

Nó thông thoáng, không sợ mưa, chỉ cần hạ tường xuống là có thể che mưa gió.
Khuôn xà phòng được làm bằng gỗ, trông giống như một cái thang nhỏ, mỗi ô có kích thước như nhau, bằng nửa lòng bàn tay.

Một phần khác của khuôn là một tấm ván gỗ rộng hơn một chút so với "chiếc thang nhỏ", có đóng đinh tre vào bốn góc, vừa đủ để cố định chiếc thang nhỏ trên tấm gỗ đó.
Dùng cọ nhúng một ít tinh bột khoai tây rồi thoa một lớp mỏng lên khuôn, đặt phẳng, đổ dung dịch xà phòng vào, đợi xà phòng đặc rồi thì lấy ra.
Đầu tiên, tháo tấm ván dưới cùng ra trước.

Nếu có xà phòng chưa tách khỏi khuôn, vậy thì dùng một cái vồ nhỏ gõ nhẹ vào, nó sẽ rơi ra.
Xà phòng đã làm xong được đặt trong hộp gỗ chứa đầy dăm bào, có thể bảo quản được lâu.

Tuy nhiên, nếu thêm hoa khô, sau một năm, màu sắc của xà phòng sẽ phai dần đi.
Sau một ngày làm việc, nhìn những bánh xà phòng đủ màu sắc, hoa văn đang chờ phơi khô, ký ức về việc phải đeo mặt nạ phòng độc đi chôn phân lúc nãy cũng không còn nữa.

Ngoài những chiếc khuôn xà phòng hình bậc thang nhỏ, Hà Điền còn tìm được một bộ khuôn nhỏ gọn và tinh tế hơn.

Chúng được đặt trong một hộp gỗ có kích thước 20 x 20 cm và cao từ hai đến ba cm.

Tất cả đều được làm bằng lá sắt mỏng.

Cái lớn nhất nhỏ hơn lòng bàn tay một chút và có thể cầm hoàn toàn trong lòng bàn tay.

Cái nhỏ nhất thì không lớn hơn lòng đỏ trứng gà.
"Cái này do ông tôi làm, tái chế từ vỏ của hộp sắt." Hà Điền bày khuôn ra.

Có rất nhiều hình hoa khác nhau, cũng như sóc, thỏ, chim, ếch, vịt, cáo và các động vật khác.
Đổ dung dịch xà phòng vào hộp gỗ đựng khuôn sắt, sau khi dung dịch lỏng hơi cứng, lần lượt đặt các khuôn sắt lên trên dung dịch xà phòng đã đông đặc, dùng nắp hộp ấn đều xuống, khuôn sắt sẽ cắt vào xà phòng.

Sau khi xà phòng hoàn toàn khô thì mở bốn mặt của hộp gỗ, lật úp, gõ vào đáy, những cục xà phòng nhỏ nhiều hình thù sẽ rơi ra, nếu không được thì đeo bao tay da vào, giữ cạnh khuôn sắt, dùng ngón tay cái nhẹ nhàng đẩy xà phòng ra.
Các mảnh vụn có thể được cho lại vào xô xà phòng và đun nóng để làm tan chảy trở lại.

Loại xà phòng nhỏ này có tính thú vị nhiều hơn là tính thực dụng.

Tuy nó rất dễ mang theo - Hà Điền và Dịch Huyền đều đeo một túi rơm nhỏ với một cục xà bông nhỏ bên trong, một đầu túi là một sợi dây rơm dài buộc vào thắt lưng - nhưng mà những cục xà phòng nhỏ xinh đẹp đến thế, bỏ ở trong túi cỏ thì có thể nhìn thấy được sao? Mà cho dù có để ở nhà dùng thì các hình hoa và động vật cũng sẽ dần mờ đi sau một vài lần sử dụng.
Nhưng, trong cuộc sống mà không có những điều thú vị này thì còn có ý nghĩa gì nữa?
Dịch Huyền nhìn mấy cục xà phòng hình cánh hoa anh tự làm, có cục có hoa khô màu tím nhạt, có cục như sữa trứng vị bạc hà, màu xanh lá cây nhạt, có cục màu hồng nhạt, có cánh hoa hồng ở các góc.
"Nhìn giống kẹo ghê." Nói xong, anh còn nuốt nước miếng.
Hà Điền lập tức nở nụ cười: "Nhìn anh thèm kìa, để tôi làm cho anh một ít bánh quy."
Sau đó anh mới nhận ra rằng bộ khuôn này thực chất là khuôn làm bánh quy.
Lần này Hà Điền dùng sữa đặc để nhào bột mì, còn hào phóng thêm mỡ ngỗng, đường và mứt hoa hồng.
Lúc này, mứt hoa đã chuyển sang dạng sệt, có độ bóng sáng, hương thơm đậm đà và màu sắc tươi sáng của hoa hồng được bảo quản rất tốt, lúc ăn có vị hơi chát, nhưng đối với Dịch Huyền thì như vậy cũng đã rất ngon rồi.
Bột nhào được một lúc, vo thành khối dày chưa đến 1 cm, dùng khuôn sắt ấn vào khuôn để tạo thành các hình bông hoa và hình thú khác nhau.

Nướng trên khay nướng có quét mỡ.

Sau mười lăm phút, có ngay một khay bánh quy vàng óng.
Hương thơm của những chiếc bánh quy mới nướng thật không thể cưỡng lại được, vốn dĩ Hà Điền còn muốn rắc thêm một lớp đường lên trên, nhưng Dịch Huyền đã bốc một miếng rồi.
"Ngon quá!" Anh lấy tay che miệng bị bánh quy nóng hổi làm phỏng, thổi rồi tiếp tục cắn bánh quy trong tay: "Thật sự rất ngon."
Những chiếc bánh quy nướng lên tỏa ra mùi thơm của sữa đặc, hoa hồng, béo ngậy; toàn bộ thân bánh vàng óng, được trang trí bằng những cánh hoa hồng, giòn tan, ngọt ngào.
Hà Điền pha hai ly trà lá tre, cùng Dịch Huyền mỗi người một miếng, rốt cuộc ăn hết một dĩa bánh quy.
Sau khi ăn xong, Dịch Huyền thỏa mãn thở dài, còn nói: "Không biết lần sau làm bánh quy cho thêm lòng đỏ trứng muối vào bột thì vị sẽ thế nào nhỉ?"
"Anh còn muốn ăn vị lòng đỏ trứng muối nữa hả?" Hà Điền cười ha ha: "Vừa mới ăn xong một dĩa bánh quy luôn đó.".
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 61: 61: Tôm Bóc Vỏ Xông Lá Liễu


Công việc của mùa hè dường như không bao giờ kết thúc.
Thật ra, Hà Điền cũng hy vọng nó sẽ không bao giờ kết thúc, có nghĩa là mùa hè vẫn còn.

Bởi vì một khi mùa hè kết thúc, có rất nhiều việc muốn làm nhưng không thể nào làm được.
Từ mùa thu năm ngoái đến giờ, da thú tích cóp cả năm trời cũng đã đến lúc đem ra thuộc da nhân lúc ánh nắng dồi dào.
Thu đông năm ngoái Hà Điền đã bắt được ba con hoẵng, một con chó lửng và một con gấu mèo, vài con thỏ và sóc.

Cô cũng để lại một vài mảnh lông chồn, tất cả đều bị hư tổn.

Những người thu mua lông chồn kia sẽ ra giá rất thấp, tốt hơn hết là giữ lại cho mình dùng.
Hơn nữa với số lông chồn tích lũy được trong những năm này, cô muốn làm một chiếc áo ngoài cộc tay cho Dịch Huyền.

Những bộ quần áo anh mặc vào mùa đông năm ngoái đều được sửa lại từ quần áo cũ.

Năm nay dù sao cũng phải làm một số quần áo mới chứ nhỉ?
Áo cộc tay lông chồn khoác ngoài áo đơn, sau đó khoác thêm lớp áo khoác bông, rất ấm.

Lúc ra ngoài thì khoác thêm áo lông hươu, tuy trông béo như một con gấu nhưng lại vô cùng ấm áp.

Áo cộc tay không có tay áo, có thể bảo vệ nhiệt độ của cơ thể mà không làm cho cánh tay khó cong hơn.

Điều này đặc biệt quan trọng khi hoạt động ở bên ngoài.
Thuộc da cũng có một xưởng chuyên dụng.
Xưởng này đơn giản hơn xưởng gốm rất nhiều, được xây dựng cách vườn rau đi hơn mười phút, nằm cạnh rừng cây ven sông.
Dịch Huyền sẽ sớm hiểu tại sao xưởng đồ da lại được xây dựng ở đây.
Trong tự nhiên, sau khi bắt được con mồi thì phải nhanh chóng l*t s*ch da, loại bỏ máu và nội tạng càng sớm càng tốt, nếu không thịt có thể bị bở và có mùi vị không ngon.

Nếu gần đó có những động vật săn mồi lớn, mùi máu của con vật bị săn bắt có khả năng sẽ thu hút chúng, đến lúc đó có thể người thợ săn sẽ trở thành con mồi và bị săn đuổi.
Cho nên cần phải xử lý con mồi càng sớm càng tốt, giấu thịt và cuộn da lại với lớp da hướng ra ngoài rồi mang về nhà.
Da sau khi bóc ra thường vẫn còn nhiều mỡ và thịt dư, sau khi đem phơi ngoài trời cho khô, có thể thấy được chúng đã chuyển thành một lớp màng màu vàng nhạt.
Trước khi thuộc da, lớp da này khô cứng như vỏ cây vậy.

Phải đem chúng đi ngâm cho mềm rồi mới thực hiện bước tiếp theo.
Ngay khi mở xưởng, đầu tiên họ lăn mấy thùng gỗ lớn ra, lấy nước sông đổ vào, sau đó cho da cứng vào, dùng đá to đè lên, để cho ngập hẳn trong nước rồi mới đậy tấm che bằng tre bên trên.
Sau hai hoặc ba ngày ngâm nước, Hà Điền và Dịch Huyền quay trở lại, từ xa họ đã có thể ngửi thấy một mùi rất gay mũi.

Ruồi vo ve quanh thùng, bu trên tấm che bằng tre không chịu rời đi.
Hà Điền lấy hai miếng gạc thật mỏng, đội nón rồi trùm nó lên đầu, cột chặt quanh cổ, sau đó nhét vào cổ áo.
"Làm vậy thì lũ ruồi không bay đến mặt anh được." Cô cười hì hì, cầm miếng gạc thắt nút dưới cổ Dịch Huyền.
Ngăn cách bởi hai lớp sợi lưới, cô cũng có thể nhìn thấy sự khó chịu của anh.
Cô thậm chí còn cố tình trêu anh: "Tất cả những đồ lông thú anh mặc đều được làm như thế này đấy!"
"Tôi biết chứ!"
"Vậy thì mau đi làm!"

Như Hà Điền nói, ngay sau khi tấm che bằng tre được nhấc lên, một bầy ruồi bay điên cuồng và liên tục va vào lưới trước mặt anh.
Đầu tiên cả hai chuyển một chiếc thùng gỗ đến trước cửa xưởng, nghiêng thùng xuống, đổ nước hôi bên trong rồi cho da vào một cái giỏ, đem ra sông rửa sạch.
Trên đường đi, nước hôi trong giỏ nhỏ xuống, ruồi nhặng bám theo, sau khi nhúng giỏ xuống nước chúng cũng không muốn rời, bay vo ve trên mặt nước.
Sau khi rửa lại, mùi da nhẹ đi rất nhiều, nhiều mỡ và thịt thối cũng trôi theo sông trong quá trình rửa.

Sau đó cho da vào giỏ và mang về xưởng.
Tiếp theo sẽ cạo da.

Mặc dù bây giờ da trông sạch sẽ hơn nhiều, nhưng vẫn còn rất nhiều mỡ, mô và thịt dư trên đó, tất cả đều bị ngâm nước đến mềm nát.
Nơi cạo là một chiếc cọc gỗ lớn được đóng vào giá gỗ chắc chắn, nghiêng bốn mươi lăm độ.

Đặt miếng da ướt lên, mặt da hướng lên trên, mặt lông hướng xuống, các góc thì được cố định trên giá.
Hà Điền đưa cho Dịch Huyền một cái đồ cạo bằng xương: "Cái này làm bằng xương chân tuần lộc.

Rất dễ cạo."
Bản thân cô cũng dùng một cái dao tre trông giống như vầng trăng khuyết.
Lần đầu tiên cô làm mẫu cho Dịch Huyền xem, hai tay cầm hai bên dao cạo, ấn vào da, dùng lực cạo từ trên xuống dưới, lưỡi dao tre ngay lập tức đẩy ra một lớp mỡ dầy, nơi mà dao tre lướt qua trông khác hẳn với những chỗ chưa được cạo.
Di chuyển da, cạo toàn bộ rồi đem xuống sông rửa sạch, sau đó lại cạo lại.
Đây là một công việc đòi hỏi rất nhiều thể lực, Hà Điền cạo xong một miếng da hoẵng, sau đó mang tấm da ra sông, lúc này đã bắt đầu thở hổn hển.
Còn Dịch Huyền thì khác, anh chỉ cần cạo vài cái là xong, sức của anh rất mạnh, lực tay lại đều, cạo rất sạch.
Không biết có phải là do sử dụng dao điêu luyện hay không nữa? Hà Điền nói thầm trong lòng.
Kể từ khi Dịch Huyền đến nhà Hà Điền, chỉ cần là công việc thủ công, như là bện giày rơm, lột da chồn, làm đồ gốm, thậm chí đốt lửa nấu ăn, anh không thể nào làm được một cách nhuần nhuyễn, khiến anh cả ngày nghi ngờ có phải là tay chân mình vụng về hay không? Hoặc là do mình không khéo tay? Hôm nay là lần đầu tiên! Đây là lần đầu tiên anh học làm thủ công vừa học đã biết, thậm chí còn giỏi hơn Hà Điền! Đúng thật là trò giỏi hơn thầy mà!
Anh còn chưa kịp đắc ý thì đã nghe thấy Hà Điền hỏi: "Anh vẫn thường mang theo hai con dao bên mình sao?"
Anh cười khẽ: "Đâu có!" Anh duỗi tay đến trước mặt Hà Điền: "Cô tự nhìn xem!"
Dưới tay áo mỏng, thật sự không nhìn thấy bất kỳ con dao nào cả.
"Anh giấu dao ở đâu vậy?" Hà Điền rất tò mò về điều này.
Nhà của họ nói lớn cũng không lớn, chỉ là một căn nhà gỗ rộng mười mét vuông, hầu như đồ đạc, vật dụng đều được sử dụng hàng ngày, không có không gian dư thừa để giấu đồ.

Mà nói nhỏ thì kỳ thật cũng không nhỏ.

Bên ngoài nhà gỗ có vài cái kho.

Chứa cỏ khô, dụng cụ, bình gốm...!Còn cả một cánh rừng rộng lớn, nếu muốn giấu hai con dao nhỏ, ở đâu mà chẳng được.
Dịch Huyền cười đắc chí: "Cô đoán đi."
Hà Điền đoán vài chỗ, nhưng anh vẫn lắc đầu, cười càng lúc càng vui vẻ.
Hà Điền thầm nghĩ, như vậy cũng tốt, chọc cho anh vui vẻ, không cần phải suốt ngày cau mày khó chịu nữa.
"Nói cho cô biết, tôi không chỉ có hai con dao kia thôi đâu!"
"Hả? Không thể nào! Lúc tôi cõng anh về..." Hà Điền nhớ lại: "Tôi lật người anh một lượt...!hình như không có."
Dịch Huyền quay đầu lại nhìn cô, đột nhiên nói với một giọng điệu kỳ lạ: "Chắc là cô mò không đúng chỗ rồi."
Hà Điền sửng sốt trong chốc lát, đột nhiên cười đến kỳ quái: "Hahahaha, hahaha!"
Dịch Huyền khó hiểu: "Cô cười gì?" Tại sao lại có phản ứng này? Kỳ lạ.
Hà Điền nín cười, như tên trộm tiến lại gần Dịch Huyền, thì thầm: "Đại hiệp à, ngài đã nghe qua câu chuyện về Ngư trường kiếm* chưa?"
* 鱼肠剑: Kiếm ngư trường, một thanh kiếm nổi tiếng thời cổ đại, có thể gọi là dao găm thì đúng hơn, bởi vì nó ngắn, được Chuyên Chư giấu ở trong bụng cá để ám sát vua nước Ngô.

Trong câu này của Hà Điền chắc còn mang một hàm ý nào đó?!
Dịch Huyền giật mình, lúc này mới hiểu Hà Điền đang ám chỉ cái gì, anh bị giỡn ngược lại rồi!
Anh bực mình buông đồ cạo trong tay xuống, túm lấy Hà Điền, cô cũng đã đoán được chuyện chẳng lành từ lâu nên đã quăng dao tre bỏ chạy.
Cả hai cười đùa chạy vào lùm cây, ngồi trên một tảng đá, nhìn nhau cười khúc khích.
Dịch Huyền đột nhiên cười to, chỉ vào đầu mình: "Cô biết không, hai chúng ta bây giờ đó hả, trông không khác gì một chum sốt tương lên men vậy."
"Hả, nhà mình không có tương lên men.

Khoan? Chờ đã, anh cũng biết tương lên men nữa sao? Vậy mà anh còn nói với tôi là nước sốt đậu cay được làm bằng đậu nành? Người ta làm bằng đậu tằm đó!"
Nói đến đây, Dịch Huyền cũng hơi ngượng ngùng nhưng không nhắc đến tương đậu nữa: "Thành phố nơi tôi sống có bãi cát ven sông.

Hàng năm trồng rất nhiều dưa hấu.

Đến hè, mọi người thường hay trộn đậu nành hấp rồi ủ trong chậu cho lên men, sau đó cho dưa hấu vào, làm ra sốt tương có màu đỏ, dùng để xào thịt ăn rất ngon.

Nhưng mà mùi của sốt tương khi lên men cũng không thua kém gì thùng gỗ ngâm da, thu hút rất nhiều ruồi, nên phải dùng gạc quấn chum lại." Anh lại chỉ vào chiếc nón phủ đầy vải gạc của họ.
Hà Điền tưởng tượng ra cảnh tượng đó, cười cười cởi nón trên đầu xuống, nắm lấy trong tay quạt nhẹ: "Đợi dưa hấu chín, chúng ta cũng sẽ làm sốt tương.

Này, anh chắc chắn là loại tương này làm từ đậu nành đúng không?"
"Chắc chắn! Cô đừng nghĩ tôi chỉ biết ăn thôi có được không vậy? Tôi biết ba cách làm bánh trứng đường lận đó!"
"Lý thuyết, anh chỉ biết lý thuyết suông thôi."
"Đợi nhặt trứng xong, tôi sẽ làm cho cô xem!"
"Ừ đợi thì đợi!"
Trong rừng có gió nhẹ, cả hai nói chuyện một lúc, nghỉ ngơi một hồi rồi lại đội nón lên quay lại cạo da.
Hà Điền nhìn thấy kỹ năng cạo da của Dịch Huyền, lại nghĩ đến chủ đề vừa rồi, không nhịn được đánh giá Dịch Huyền một lượt.
Anh đang mặc quần áo mùa hè do cô may.

Đó là một chiếc áo dài tay và một chiếc quần dài bằng vải lanh mua của nhà Tam Tam.

Để tiết kiệm vải, mặt trước của áo khoác, từ đường ngực đến đường viền cổ được làm bằng hai tấm vải hình thang.

Dưới đường ngực là toàn bộ mảnh vải được may thành hình trụ, kiểu cắt này thường được người miền núi sử dụng, nam nữ đều mặc được, nhưng có lẽ nó chỉ hợp với những người có vai rộng và eo thon như anh.
Quần áo rất mỏng, khi Dịch Huyền cạo da, vải kéo lên những nếp gấp nông, cô có thể lờ mờ nhìn thấy cử động của cánh tay, cơ ngực và lưng.

Nếu con dao được giấu trong quần áo như vậy thì không thể nào không có dấu vết gì được.
Cô lại nhìn vào thắt lưng của anh.
Để mang theo các loại dụng cụ, thắt lưng mà Hà Điền làm cho mình và Dịch Huyền đều rộng 15 cm, mùa thu đông thì làm bằng da, mùa hè thì dùng hai lớp vải, đục lỗ rồi khâu làm thắt lưng.

Họ có thể treo một con dao, kéo tre, một ống trúc nhỏ đựng diêm vào thắt lưng, hoặc thậm chí là một số rìu nhỏ (chỉ có Hà Điền làm vậy).

Nếu đi ra ngoài, còn có thể treo túi rơm đựng xà phòng, hoặc túi chứa dược liệu xua đuổi côn trùng.

Lúc Đoan ngọ thì đeo chuỗi dây gói nhỏ làm từ lá hương bồ.
Vòng eo của Dịch Huyền rất gầy, đặc biệt là khi nó được kết hợp bởi bờ vai rộng, trông càng gầy hơn.

Rõ ràng là trên thắt lưng cũng không có.
Vậy thì...
Đột nhiên cô lại nghĩ đến bộ dạng không mặc áo của anh.
Ừm......
Có lẽ anh đã giấu con dao ở nơi có đuôi rồng rồi.
Cô nghĩ như vậy, không tự chủ được cười khẽ một tiếng.
Dịch Huyền quay đầu nhìn cô một cách khó hiểu.
Lúc đầu Hà Điền cũng có chút chột dạ, nhưng khi nhìn thấy bộ dạng trùm vải gạc giống "chum tương" của anh, cô liền cảm thấy an tâm, mạnh dạn nhìn lại anh.
Dù sao thì cách hai lớp vải gạc, anh cũng không thể nhìn thấy tôi đang nhìn gì!
"Cô đang nhìn gì vậy?" Dịch Huyền hỏi.
Hà Điền cười: "Ha ha, tôi không nhìn gì cả."
Cô quay mặt đi, cúi đầu nén cười rồi tiếp tục cạo da.
"Nếu chỉ muốn da thì bây giờ có thể cạo hết lông ở trên da đi.

Còn muốn có lông thì chúng ta cũng bớt việc được một chút."
"Vậy thì lấy lông!" Dịch Huyền cũng bắt đầu cảm thấy mệt mỏi.
"Ừ.

Nhưng da thỏ và da sóc này thì phải cạo đi.

Tôi muốn dùng chúng để làm bao tay và giày."
Sau khi cạo da xong bước đầu tiên.

Tiếp theo sẽ đến phần kinh tởm nhất.
Thuộc da.
Bôi đều thuốc dùng để nitrat hóa lên da, sau đó dùng đinh tre đục một lỗ nhỏ trên mép da rồi cố định trên tấm ván bạch dương mỏng, hoặc dùng dây thừng xuyên qua lỗ và căng da quanh một vòng tre tròn.
Miếng da cố định được treo ngoài không khí, sau khi khô thì bôi một lớp thuốc, sau đó lau khô, rồi lặp lại vài lần.
Thuốc có mùi rất hắc, nếu phải cùng lúc thuộc nhiều tấm da, mắt cũng sẽ bị làm cho cay đến ch** n**c mắt.
Nitrat, muối, phèn,...!đều có thể tạo thành dung dịch nitrat hóa, nếu thật sự không có những thứ này thì ngâm da vào trong nước cỏ cây thối rữa cũng được.

Còn nếu không có gì cả, có một trong những phương pháp kinh tởm nhất, đó là dùng óc động vật, thêm nước, nghiền nát, trộn thành hỗn hợp sền sệt rồi đắp lên da.
Phương pháp nitrat hóa này rất khó chịu.

Nhưng da sau khi thuộc xong lại mềm nhất.
Sau khi nitrat hóa xong thì xoa da, để da phục hồi độ đàn hồi.
Đối với những miếng da lớn như da hoẵng, da hươu, da sói, hai người mỗi người cầm một bên rồi đặt miếng da lên giá gỗ đã cạo, với mặt da hướng xuống và mặt lông hướng lên trên, kéo căng cứng rồi kéo qua kéo lại.

Lúc kéo thì dùng sức căng da ra, da sẽ trở nên mềm và mịn hơn.
Đối với da nhỏ hơn, chẳng hạn như da thỏ, thì chỉ có thể tự làm.

Tìm một cái cây có độ to thích hợp, sau đó quấn da quanh thân cây rồi kéo qua kéo lại.

Còn đối với loại da lông mịn như lông chồn thì cần phải dùng đầu gối kéo.
Bước này là công đoạn tốn nhiều công sức và thời gian nhất.
Đối với những loại lông thú cao cấp như chồn hương thì mọi công đoạn phải cẩn thận hơn và mất nhiều thời gian hơn.
Sau khi da chồn được thuộc da xong, mỗi tối trước khi đi ngủ, Hà Điền sẽ mang về cất trong nhà, một là cô sợ bị con vật nào đó cắn, mặt khác cô sẽ nhân lúc thời gian rảnh mà lấy da chồn ra đặt trên đầu gối mình để kéo căng.

Sau khi kéo da, vẫn còn một quá trình khác, đó là xông khói lạnh.
Cạnh xưởng có một cái kho nhỏ, tương tự như cái kho thịt xông khói, nhưng nhỏ hơn nhiều.

Trên xà nhà có treo sẵn dây thừng cột một tấm lưới tre đan rất thưa, tấm da vốn đã mềm được cố định bên dưới tấm lưới tre đó.

Giữa xưởng nhỏ có một đống đá chất thành một hố lửa, đi hái vài cành bạch dương tươi hoặc cành dương đỏ trên rừng về, bỏ cỏ khô vào rồi đốt lửa lên, cành cây nhiều nước sẽ không cháy, mà chỉ từ từ nhả khói.
Nhiệt độ của khói không cao và sẽ không gây hại cho da.

Tùy theo độ lớn của da, sau khi xông khói một hoặc hai ngày, lấy ra, lông có mùi khói thoang thoảng và da hơi ngả sang màu vàng.
Tại thời điểm này, toàn bộ quá trình nitrat hóa đã hoàn tất.
Bước xông khói lạnh này cũng không cần thiết, nhiều người sẽ bỏ qua bước này.

Nhưng da lông sau khi xông khói sẽ không bị ẩm mốc hoặc bị côn trùng cắn.
Da lông thành phẩm mềm, dày, đàn hồi tốt, bề mặt da mịn như lụa, có thể dùng để may các loại quần áo.
Bị k*ch th*ch bởi câu nói "anh chỉ biết ăn, chỉ biết lý thuyết suông" của Hà Điền, vào ngày hoàn tất công việc thuộc da, Dịch Huyền đã chủ động đề nghị sẽ nấu bữa tối.
Vì vậy, khi Hà Điền đang bận cắt đồ da ở nhà, anh nấu một nồi cơm rồi cầm rổ đi ra ngoài.
Khoảng hơn chục con tôm mà họ bắt được lần trước đã nhả hết bùn cát, giờ đã có thể ăn được.
Dịch Huyền nhấc chúng lên bờ suối, bỏ đầu, dùng dao rạch lưng, l*t s*ch vỏ rồi cạo hết đường cát trên lưng đi, rửa sạch, sau đó để ráo.
Đồ da xông khói lạnh đã truyền cảm hứng cho Dịch Huyền và nhắc anh nhớ đến một món ăn mà trước kia anh đã từng ăn.
Anh dùng mấy hòn đá dựng một đống lửa bên bờ suối, nổi lửa lên, anh lại bẻ nhiều cành liễu trong rừng cây bên sông về, một nữa đan thành tấm vỉ lưới hình tròn, một nửa thì cho vào lửa.

Chẳng mấy chốc, lá trên cành liễu cuộn tròn rồi chuyển sang màu vàng, ngọn lửa cũng phụt tắt, khói bốc lên.
Dịch Huyền chặt hai nhánh cây, cắt thành hình chữ Y rồi c*m v** hai bên của đống lửa, gác tấm vỉ tròn bằng cành dương liễu lên, rồi cẩn thận đặt những con tôm đã lột vỏ lên trên.
Sau đó, anh xách rổ ra vườn hái dưa leo và củ cải đỏ rồi rửa sạch bên khe suối, lúc này tôm trên cành dương liễu cũng đã được xông khói xong rồi.
Tôm sau khi bỏ đầu và bỏ vỏ ban đầu có màu trắng như tuyết, nhưng giờ đã teo lại một chút, uốn cong và trở thành màu trắng sữa pha chút vàng xanh.

Anh cho một con tôm vào miệng, nhai vài cái rồi mỉm cười hài lòng.
Dịch Huyền mang lưới và rổ về nhà, cơm cũng đã chín.
Thủ pháp của anh luôn không thể chê vào đâu được, củ cải và dưa leo được anh cắt thành những lát tròn có độ dày bằng nhau, sau đó được xếp thành hình xoắn ốc trên một chiếc dĩa sứ, rồi đặt tôm lên.
Bới hai chén cơm xong, anh tự hào thông báo: "Hà Điền, đến giờ ăn tối rồi."
Hà Điền vừa nhìn vào dĩa liền phải thốt lên lời thán phục.

Những lát dưa leo xanh và củ cải tím hồng rực rỡ trên các cạnh được sắp xếp phức tạp, hiệu ứng hình ảnh thật tuyệt vời.

Những con tôm trông có màu trắng hồng nhưng lại có mùi thơm hơi nhạt của cây cỏ.
Dịch Huyền gắp một con tôm lên đút cho cô.
Hà Điền nếm kỹ thì thấy tôm bóc vỏ vẫn giữ được độ đàn hồi, mọng nước và dày thịt, chỉ cần nêm chút muối, nhưng lại có mùi thơm nhẹ làm nổi bật vị ngọt của tôm: "Làm thế nào vậy?"
Dịch Huyền đắc ý cười: "Hừ, đây là món tôm xông khói lạnh lá liễu.

Thế nào, không tệ đúng không?!"
Hà Điền nở nụ cười: "Thật sự là ngon hơn mì anh nấu nhiều!"
Sau khi ăn xong Dịch Huyền mới nói với Hà Điền món ăn này nấu như thế nào.
"Dùng những lá trà ngon cho vào nồi khô rang trên lửa nhỏ, đặt vỉ sắt lên trên và xông khói cho đến khi tôm uốn cong thì dọn ra đĩa.

Ở đây không có trà nên tôi nghĩ đến việc dùng lá liễu."
Hà Điền nuốt nước miếng: "Tôi thật sự chưa nghĩ tới cách ăn này.

Lá liễu có thể xào ăn hay phơi khô để pha trà được không?"
"Cô có thể thử!" Dịch Huyền tích cực hưởng ứng, trong lòng thầm nói, ha ha, Hà Điền, thời gian để tôi thống lĩnh nhà bếp sắp đến rồi!.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 62: 62: Mật Ong


Đến giữa tháng bảy, cuối cùng thì họ cũng đã có thể đi lấy cửa sổ về.
Trong hai tuần qua, Hà Điền và Dịch Huyền đã hoàn thành rất nhiều công việc: Cắt thật nhiều cỏ khô, dựng một cái kho, làm vài hũ mứt, sửa sang nhà vệ sinh, phơi khô hai hộp lá dâu tằm lớn, cũng làm xà phòng đủ dùng cho cả một năm, xử lý số da lông thu được từ năm ngoái, còn nung được một hầm đồ gốm.
Thoạt nhìn thì làm được nhiều việc đấy, nhưng mà nghĩ kỹ lại thì vẫn còn rất nhiều việc cần phải làm.
Gần một nhánh sông gần nhà họ có một khu rừng, ở đó có anh đào, hạnh và mận, nếu còn không đi hái chúng về thì sẽ sớm bị thú nhỏ ăn hết mất.
Ngoài ra, con sông gần đó giờ hẳn là đã tập trung rất nhiều cá hồi di cư.

Đi đến nhánh hạ lưu của nó là có thể bắt gặp cá hồi bạc, và nếu đi từ đó vào rừng nhiệt đới, đi dần lên núi, sẽ có thể bắt gặp được cá hồi hồng ở các thác nước và suối trên núi.
Tất nhiên, những nơi này có thể sẽ xuất hiện gấu, nhưng so với các thung lũng ở suối nước nóng, xác suất có gấu nhỏ hơn nhiều, rất đáng để họ mạo hiểm.
Một con cá hồi có thể nặng tới mười lăm ký, nếu bắt được thêm cá hồi làm thức ăn dự trữ thì mùa đông năm nay họ sẽ không cần phải đục băng, kéo lưới như năm ngoái nữa.
Năm ngoái, Hà Điền đã không thể bắt được cá hồi.
Để đi bộ đến được nơi có cá hồi thì cần phải mất một ngày hành trình, và nếu trong vòng một ngày mà bắt đủ số cá họ cần thì cũng phải mất ít nhất ba ngày cả đi lẫn về.
Vào mùa hè, với thời gian ba ngày, cá sẽ bị ươn thối hết.

Vì vậy, cá hồi sau khi đánh bắt phải mổ lấy nội tạng, cắt thành phi lê và xông khói ngay tại chỗ càng sớm càng tốt để mang về.

Nhưng việc xông cá hồi hoặc bất kỳ thứ gì ở bên ngoài đều rất nguy hiểm.
Mùi khói sẽ thu hút những động vật săn mồi tìm đến, sẽ vô cùng nguy hiểm nếu như không có bạn đồng hành cùng quan sát và giúp đỡ.
Nhưng bây giờ thì đã khác.
Hà Điền tự tin lấy bản đồ ra và đưa cho Dịch Huyền xem, sau khi lên kế hoạch cho lộ trình, họ định lấy cửa sổ về xong thì sẽ lên đường đi bắt cá ngay.
Một ngày trước khi đi lấy cửa sổ, Hà Điền và Dịch Huyền mang theo sự mong đợi và hồi hộp mở cửa lò nung ra.
Kéo tấm sắt nơi đưa củi vào ra, những viên gạch bịt kín ở đó vẫn còn hơi âm ấm khi chạm vào.
Lấy từng viên một xuống, ánh sáng dần dần tràn vào trong lò nung, trái tim hai người cũng đập càng lúc càng kịch liệt.

"Nhìn thấy không? Không thấy hả? Vậy có cần mở cái lỗ nhỏ trên nóc lò ra luôn không?" Dịch Huyền hiển nhiên đang rất sốt ruột.
"Làm đi!"
Dịch Huyền trèo lên nóc lò lấy gạch ra khỏi lỗ, lò lại sáng hơn, Hà Điền lấy gạch xuống cũng càng lúc càng nhanh, đợi anh trèo xuống thì cả hai lần lượt bước vào.
Dịch Huyền cẩn thận cầm một cái chén lên, trước tiên là cầm lên xem xét, sau đó mới dám dùng ngón tay búng nhẹ lên mép chén, chén gốm phát ra âm thanh rất vui tai, vẫn còn nguyên vẹn.
"Haha! Nung được rồi! Thành công rồi!" Anh xoay người lại ôm lấy Hà Điền.
"Cần phải chuyển ra ngoài càng sớm càng tốt!" Hà Điền cũng rất hào hứng, đây là mẻ gốm đầu tiên cô phụ trách nung đó!
Hai người lần lượt vào trong lò, lấy đồ gốm đã nung ra đặt trên khoảng đất trống trước lò nung, Lúa Mì cũng đi theo xem náo nhiệt, nó lại gần một cái vại nước, ngửi thử, cái mũi dính lọ đen thui.
Củi trong lò đều đã thành tro, sau khi dọn đồ gốm ra thì bàn tay ai nấy cũng đều đen sì, tuy chật vật nhưng vẫn luôn một mực nở nụ cười.
Hai người cười ngây ngô nhìn đống đồ gốm chất đầy một chỗ, hết sờ cái này rồi lại sờ cái kia, trầm trồ cả buổi.
Cuối cùng cũng bình tĩnh lại sau cơn hưng phấn của mình, Hà Điền kêu Dịch Huyền đi lấy một ít cỏ khô đến.
Cô dạy anh lần lượt rút cỏ khô ra, xoắn hai sợi lại thành sợi dây cỏ to bằng ngón tay.
Đầu tiên là đặt một nắm cỏ vào giữa hai cái chén gốm, xếp nhiều cái tùy theo kích thước thành một chồng, dùng dây cỏ này cột lại rồi nhấc lên.

Sau khi cột dây, việc vận chuyển và cầm nắm sẽ dễ dàng hơn rất nhiều, đồng thời nó cũng có thể ngăn chúng bị đóng băng và nứt bể trong mùa đông khắc nghiệt, cũng như bảo vệ chúng không dễ bị đứt khi mang đi.
Đặt đồ gốm được cột bằng dây cỏ vào một cái sọt, từ từ vận chuyển đến kho đồ gốm bằng một chiếc xe đẩy nhỏ, cẩn thận đặt lên giá gỗ.
Chum sành, bình đất nung, đối với loại đồ gốm có kích cỡ lớn này, mỗi chiếc sẽ được cột hai nút chéo ở bên ngoài bình bằng dây cỏ rồi mới vận chuyển.
Những món cuối cùng mà họ mang về nhà là chén dĩa và đồ dùng cần sử dụng.
Dịch Huyền vận chuyển tất cả những thứ này đến ven suối rửa sạch, sau đó vận chuyển trở lại nhà gỗ, đặt ở trên bàn ngắm nghía.
Hà Điền rất thích tách hoa sen do Dịch Huyền làm, cô dùng khăn vải lau khô nó, sau đó cho vài quả việt quất khô vào, đổ nước đun sôi để nguội lên trên rồi cho một muỗng mật ong vào khuấy đều.
Cô bưng tách cười hì hì đi đến trước bàn, ngồi xuống uống một hớp: "Dùng tách mới, ngay cả nước cũng ngon hơn hẳn."
Ngoài những tác phẩm thành công này, họ còn nung một số chuông gió.

Mỗi chiếc chuông gió đều trông giống như một chiếc ly nhỏ bị đảo ngược, bởi vì hầu hết chúng đều được tạo ra bởi sự biến đổi của những chiếc ly thất bại của Dịch Huyền.

Để làm chuông gió, họ còn nung một số hạt gốm.
Dưới đáy ly gốm có một cái lỗ để làm thành chuông gió, lấy một sợi dây rơm, đầu tiên xỏ một hạt gốm vào dây và thắt nút mỗi bên để cố định hạt, sau đó luồn vào lỗ của chuông gió để treo lên hàng rào, hoặc dưới mái hiên.

Buộc một khối gỗ nhỏ vào đuôi sợi dây rơm, khi có gió thổi, khối gỗ sẽ đung đưa qua lại, hạt gốm cũng sẽ va vào vách chuông gió khiến nó không ngừng kêu leng keng, doạ cho lũ chim và đám sóc không dám chạy đến, có thể dùng nó để bảo vệ vườn rau.
Nhưng mà đêm đến, chỉ với một chút gió nhẹ thôi, chuông gió cũng sẽ vang lên không ngừng.
Ngày hôm sau trên đường chèo thuyền đi lấy cửa sổ, Hà Điền cứ có cảm giác dường như tiếng chuông gió vẫn còn đang văng vẳng bên tai.

Đến nhà bác thợ mộc già, ông ấy đang đóng thuyền trong sân.

Gỗ bạch dương mà họ nhìn thấy lần trước giờ đã hoàn toàn trở thành một cái khung rỗng, đã có thể nhìn ra hình dạng của chiếc thuyền.

Người thợ mộc già ghép các mảnh ván vào khung thuyền rỗng đó, đẩy các thân cây tròn ra ngoài và thay thế lần lượt bằng các tấm ván dài hơn.

Mặt cắt của thân cây dần dần chuyển từ hình tròn khuyết thành hình khum, chiếc thuyền về cơ bản đã hoàn thành.
Hà Điền và Dịch Huyền đứng trong sân nhìn một lúc, người thợ mộc già sửa lại một tấm ván của con thuyền xong rồi mới dẫn họ đi nhìn cửa sổ mới đóng.
Cửa sổ bằng gỗ mới được quét một lớp dầu bóng, nó được chia thành mười hai ô như trước và được lắp kính.
Sau khi thanh toán tiền, Hà Điền sờ túi tiền xẹp lép của mình, cảm thấy thật sầu não.
Mong rằng từ nay đến mùa xuân năm sau sẽ không có chuyện gì xảy ra nữa.

Số tiền còn lại thật sự không còn nhiều nữa.
Hà Điền cũng không có lập tức khiêng cửa sổ gỗ đi, cô và Dịch Huyền đi đến nhà của Tam Tam.
Ngoài cổng nhà của Tam Tam có treo một chiếc chuông đồng, Hà Điền nhìn thấy chiếc chuông này thì quay sang nhìn Dịch Huyền cười.
Dịch Huyền cũng cười, anh nói: "Đêm nay sẽ cất chuông gió đi." Anh đưa tay giật sợi dây gai đang treo trên chiếc chuông đồng, tiếng khung cửi ngoài sân ngừng lại, một lúc sau, Tam Tam ra mở cửa.
Lúc mở cửa, trên môi cô ấy vẫn luôn nở nụ cười, khi nhìn thấy Dịch Huyền, nụ cười của cô ấy trở nên bàng hoàng, nhìn chằm chằm vào anh ngây người trong vài giây rồi mới phục hồi tinh thần lại, bảo họ vào.

"Hai người đến đây để giao cây lanh sao? Thu hoạch sớm như vậy? Hay là lại muốn mua thêm một ít vải?" Cô ấy vén rèm cửa lên, dẫn bọn họ vào một gian phòng phía Đông, mời họ ngồi xuống chiếc bàn nhỏ rồi rót trà cho họ.
Căn phòng này rõ ràng là nơi mà những mảnh vải của Tam Tam được làm ra.

Căn phòng rất rộng, có cửa sổ lớn ở hai bên, bên dưới cửa sổ phía Nam là khung dệt của cô ấy, còn dưới cửa sổ bên kia là một chiếc giường mây và một chiếc bàn gỗ nhỏ, trên đó đặt nhiều dụng cụ và một cái khay đan có đựng chỉ lanh.
Hà Điền vốn rất tò mò về cách dệt vải lanh, cô đến đây với sự háo hức, nhưng bây giờ, khi nhìn thấy Tam Tam nhìn Dịch Huyền không rời mắt, hết bưng trà cho anh, lại hỏi anh có muốn ăn hạt dưa hay quả óc chó hay không, rồi lại còn nói trong bếp có quả đào vừa mới hái hôm qua, vô cùng ân cần nhiệt tình, cô không còn hứng thú đi xem quy trình dệt sợi lanh nữa.
Nhìn bộ dạng phấn khích và đỏ mặt của Tam Tam, Hà Điền lại càng không vui.
Có lẽ vì phải dệt vải lanh ở nhà cả ngày nên da của Tam Tam không hơi nâu do nắng như hầu hết các cô gái miền núi khác mà rất trắng.

Nếu nhìn kỹ, hình như cô ấy còn vẽ gì đó lên lông mày.

Nhìn bên dưới ánh nắng mặt trời, lông mày có một màu xanh sẫm óng ánh như lông quạ, khiến đôi mắt cô ấy trông sáng hơn, và đôi môi thì càng thêm đỏ mọng.
Cũng may là phản ứng của Dịch Huyền rất lạnh lùng, mỗi lần Tam Tam hỏi anh có muốn ăn gì không, anh sẽ lập tức quay đầu lại nhìn Hà Điền: "Muốn ăn không?"
Ngay sau đó Tam Tam cũng biết ý mà chuyển sự chú ý sang Hà Điền.
Hà Điền đè nén chút không hài lòng trong lòng, lấy từ trong túi ra hai bó tơ đặt trên bàn: "Cây lanh còn chưa trồng được, nhưng cô có nhận cái này không?"
Đó là tơ quay ra từ kén mà họ đem về khi hái lá dâu, quay đi quay lại nhiều lần, cuối cùng chỉ được một ít như thế này.
Kỹ thuật ươm tơ của Hà Điền đương nhiên không được tốt cho lắm, nhưng độ sáng bóng và cảm giác mềm mại chỉ có ở tơ lụa vẫn rất hấp dẫn người khác.
Tam Tam cẩn thận sờ hai bó tơ rồi hỏi Hà Điền: "Là tơ tằm? Cô tự làm sao? Trên núi có cây dâu ư? Là tằm cô nuôi hay là tằm hoang vậy?"
Nếu không phải vì đột ngột chi một khoản tiền lớn để làm cửa sổ và thu nhập từ việc bán trứng cá muối quá thấp, Hà Điền cũng không nghĩ đến việc quay tơ để bán.

Tất nhiên, cô sẽ không nói cho Tam Tam biết cây dâu và con tằm ở đâu.

Nếu không, sao cô có thể kiếm tiền được nữa?
Tam Tam cũng nhanh chóng bình tĩnh lại: "Đúng là thứ tốt, nhưng mà quá ít.

Trước đây tôi chưa từng dệt lụa, nó đối với tôi vô dụng."
Dịch Huyền mỉm cười nói: "Dệt lụa chắc chắn là không đủ, nhưng nếu nó được kết hợp với sợi lanh thì sao?" Anh cũng phổ cập cho Tam Tam về những ưu điểm của vải pha lẫn giữa lụa và lanh, cũng khuyến khích cô ấy: "Những người thu gom lông chồn có thể sẽ rất thích loại vải này đấy."
Tam Tam v**t v* sợi tơ, trong lòng cũng rục rịch.

Vải lanh dù có tốt đến đâu đi chăng nữa thì trong mắt những người giàu có, nó vẫn khó có thể trở nên thanh lịch, nhưng tơ lụa thì lại khác.

Ngay cả các thành phố lớn ở phía Nam cũng không hình thành nghề dệt lụa quy mô lớn, nghe nói công nghệ sản xuất tơ tằm và trứng tằm do một số gia tộc lớn độc quyền.

Còn mấy loại lụa, sa tanh gấm dày, giá cả của nó tương đương với lông chồn loại lớn.
Ánh mắt cô ấy từ từ sáng lên: "Tôi sẽ mua tơ của các anh, nói giá đi."

Dịch Huyền lại cười: "Không.

Chúng tôi không bán nó."
Tam Tam nhíu mày: "Vậy..."
"Chúng ta hợp tác.

Chúng tôi cung cấp tơ, cô dệt vải, sau khi bán vải được rồi, sẽ chia phần trăm."
Sau khi bàn bạc một lúc, Tam Tam đồng ý hợp tác, nhưng cô ấy cũng không chắc mình có thể dệt được loại vải pha tơ lụa và lanh hay không, vì vậy cô ấy phải làm thử trước.
Bên phía Hà Điền cũng không biết liệu họ có thể tiếp tục lấy được tơ hay không.

Tuy đã từng nuôi tằm, nhưng cô cũng chỉ là nuôi cho vui khi còn nhỏ, ai biết được nuôi chuyên nghiệp có thành công hay không, còn phải xem sao đã.
Cuối cùng, lần đầu tiên hợp tác, Tam Tam bỏ ra một số tiền nhỏ mua hai bó tơ, nếu thí nghiệm thành công thì đợi đến khi tấm vải bán được, nếu bán chạy thì sẽ chia một phần tư số tiền cho Hà Điền và Dịch Huyền.
Quay trở lại nhà bác thợ mộc lấy cửa sổ và lên thuyền, Hà Điền sờ vào túi tiền vẫn chưa phồng lên, thở dài cùng Dịch Huyền chèo thuyền về nhà.
Cửa sổ mới là thứ tuyệt đối không được làm hư, nó có thể sẽ bị vỡ, lại rất nặng, lỡ xui rơi từ trên thuyền xuống sông thì rất khó tìm lại được, nên lần này Hà Điền và Dịch Huyền không dừng lại cắt cỏ, giữa chừng họ chỉ dừng lại nghỉ ngơi một lúc, ăn một chút lương khô, rồi lại vội vàng về nhà.
Khi về đến nhà, Lúa Mì ở nhà giữ nhà cũng đang lo lắng chờ đợi, không hiểu sao hôm nay anh chị chủ lại không mang theo nó ra ngoài.

Đương nhiên, cái đứa to xác kia cũng không được đi, điều này làm nó cảm thấy an ủi một chút.
Nó nghe thấy tiếng Hà Điền và Dịch Huyền, liền từ mái hiên lao xuống núi, mông lắc như gắn động cơ điện, kêu ư ử theo chân họ từ bờ sông về đến tận nhà.
Giữa chừng đặt cửa sổ xuống để nghỉ ngơi, cả hai đều rất thận trọng, vì sợ bước cuối cùng này kiếm củi ba năm thiêu một giờ.
Đem cửa sổ đặt xuống hiên nhà, lau mồ hôi, hai người nhanh chóng tháo tấm ván che trên cửa sổ xuống, lắp cửa sổ mới vào.
Gắn cửa sổ xong thì cũng đã hơn sáu giờ chiều.
Hà Điền và Dịch Huyền ăn một ít lương khô cho bữa chiều, đeo dụng cụ lên lưng rồi lại đi ra ngoài.

Lần này, Lúa Mì lại bị bỏ ở nhà.
Nó gừ gừ tỏ ý bất mãn, nhưng vẫn ngoan ngoãn không đi theo.
Lần này, Hà Điền và Dịch Huyền đi lấy mật ong, không thể mang nó theo được.
Gần nhà có hai tổ ong, tổ gần hơn nằm ở bên cạnh rừng dâu tằm mọc um tùm.

Ở đó có một cây thông lớn đã đổ lâu ngày, thân cây có một đoạn bị rỗng, ong làm tổ bên trong đó.
Chèo thuyền đến bìa rừng, Hà Điền và Dịch Huyền bẻ một số cây liễu đang rủ bên bờ, bện chúng thành một chiếc vỉ tròn đơn giản, rồi cột bốn cành liễu vào vỉ để mang đi.
Lúc họ đến được nơi có tổ ong thì đã hơn bảy giờ, nhưng vẫn còn rất nhiều ong bay vo ve ra vào tổ.
Họ nhúm một đống lửa bằng đá, dựng một giàn thiêu và nhóm lửa lên, nhưng củi họ dùng đều được nhặt một cách ngẫu nhiên, nửa khô nửa ướt, cháy được một lúc thì tắt ngúm, bốc khói dày đặc.
Đặt chiếc vỉ làm bằng cành dương liễu xuống đất, dùng cành cây lấy một ít củi hun khói trong đống lửa đặt lên vỉ, sau đó mặc bộ quần áo chuyên dụng để lấy mật vào - là một tấm vải xô lớn được cắt lỗ tròn ở phần nách.
Đầu tiên trùm tấm vải lên nón, sau đó đeo kính tre và mặt nạ phòng độc vào, đội nón lên, kéo tấm vải phủ xuống, giang hai tay ra khỏi khe hở hai bên, thắt đai ngang lưng rồi đeo găng tay vào.

Bộ quần áo này dùng để chống ong đốt rất tốt, tuy đơn giản nhưng lại hiệu quả.
Hai người nâng vỉ cành dương liễu đến gần tổ ong, lúc này tổ ong đã náo loạn, nhiều con ong bay ra, rất nhiều ong vò vẽ bò trên cành cỏ, cũng có nhiều con bay đến trên người họ.
Cũng may là họ đã đeo kính và đeo mặt nạ phòng độc, nếu không thì cũng sẽ bị khói hun cho nước mắt chảy ròng.
Bọn họ cầm vỉ dương liễu nghi ngút khói quơ tới quơ lui, tổ ong dần dần trở lại yên tĩnh, trên cỏ là một lớp ong ong choáng váng rơi xuống.
Một lúc sau, Hà Điền nhặt một khúc củi hun khói tiến đến gần tổ ong, những con ong đang bò trên đó ngoe nguẩy một cách đáng thương, bị khói hun cho choáng váng, chúng hoặc tránh ra, hoặc rơi xuống đập cánh yếu ớt trong hốc cây, phát ra tiếng kêu vo ve.
Lúc này tổ ong đã lộ hẳn ra ngoài, các lỗ hình lục giác dày đặc được phủ một lớp mật gần như có màu đen, mùi thơm nồng.
Lúc này đàn ong hoàn toàn mất đi khả năng phòng thủ, Hà Điền và Dịch Huyền dùng nước dập tắt khúc củi đang bốc khói đi, cởi dây thừng trên thắt lưng ra, hai tay thò vào tấm màn, tháo kính và mặt nạ.

Nào màn nào kính, thật sự là khó nhìn thấy đường.
Hà Điền lấy một con dao tre ra và bắt đầu cắt mật ong.
Ngay khi tổ ong bị phá hủy, mật ong lập tức chảy xuống, Dịch Huyền ở bên cạnh vội mở một hũ thủy tinh lớn ra hứng, một miếng mật lớn rơi vào, trên đó còn có vài con ong đang bất tỉnh.
"Tại sao màu của mật ong này lại đen như vậy?" Anh hỏi Hà Điền.
Cô cắt một miếng mật ong khác cho vào hũ: "Bởi vì ở đây có rất nhiều mâm xôi.

Mật hoa của quả mâm xôi có màu này."
Dịch Huyền cẩn thận ngửi, quả thực có mùi thơm của quả mâm xôi trong mật ong.
Cái hũ gần đầy, Hà Điền không cắt nữa.

Cần để lại hơn nửa tổ ong cho lũ ong nhỏ này để chúng tiếp tục sống khỏe mạnh, vậy thì hàng năm đều sẽ có mật.
Mật ong trong hũ thủy tinh đặc dính và trong suốt, các mảnh vụn của tổ ong từ từ nổi lên trên bề mặt của mật ong, không khí lẫn vào khi mật chảy ra tạo thành bọt khí trong mật.
Thành phần chính của tổ ong là sáp ong, cô sẽ đem tổ ong về nhà rồi vắt hết mật ra, sau khi rửa sạch thì cho thêm thuốc bắc và mỡ vào đun nóng, khuấy đều rồi đổ vào hộp tre nhỏ, làm thuốc mỡ dùng để bảo vệ môi vào mùa đông.
Sau khi lấy mật, họ đi bộ đến con suối gần rừng dâu tằm.

Bọn họ không thể cứ thế này về nhà được, đặc biệt là Hà Điền, trên người cô dính đầy mật, nếu thu hút những con ong và côn trùng khác, bị chúng đốt thì sẽ rất thảm.
Khi đến suối, Dịch Huyền làm theo chỉ dẫn của Hà Điền đặt hũ mật ong vào cỏ trước, sau đó xé vài lá dâu tằm để lau sạch mật ong trên hũ, rồi dùng cỏ nhúng nước lau sạch hũ.
Đặt hũ đã rửa sạch vào trong nón rơm, như vậy sẽ không sợ bị va đập.
Hà Điền rửa sạch dao tre và bao tay bên suối, lấy nón lưới xuống, vui vẻ ngồi trước hũ mật ong, mở nắp ra, đưa ngón trỏ vào mật ong khuấy đều: "Haha, để tôi nếm thử mật ong năm nay xem nào!"
Mật ong đặc dính trên đầu ngón tay cô từ từ chảy xuống, cô đưa ngón tay vào miệng, nheo mắt lại nói một cách say sưa: "Ngọt quá! Anh cũng thử đi!" Cô nói với Dịch Huyền.
Nắng chiều khiến khuôn mặt anh ửng hồng, anh nhìn Hà Điền: "Nếm thử như thế nào?"
"Dùng cái này đó!" Hà Điền giơ ngón tay lên lắc lắc: "Chúng ta cần gì phải mang theo muỗng? Dù sao thì mật ong này cũng cho chúng ta ăn mà, chẳng lẽ còn ngại ngón tay của mình bẩn? Hơn nữa không phải vừa mới rửa sạch rồi sao?"
"À." Dịch Huyền nở nụ cười.
Hà Điền nghĩ nụ cười này có chút kỳ quái, lại nhìn thấy Dịch Huyền nắm lấy tay cô, kéo đến trước mặt anh, mở miệng, ngậm ngón tay cô vào.
Anh, anh, anh đang làm cái gì vậy?
Cô choáng váng như bị sét đánh.
"Ừ.

Đúng là rất ngọt." Dịch Huyền nhả ngón tay ra, mỉm cười với cô.
Hà Điền cảm thấy ngón tay trên bàn tay phải không phải là của mình nữa, cô không thể co hay rút lại được.

Cô ngây người nhìn Dịch Huyền một lúc, mặt và tai càng lúc càng đỏ: "Tôi...!ý của tôi là...!anh dùng tay của anh đi...!Tôi cũng không chê anh bẩn."
Anh cười "phì" một tiếng, rồi nhấc tay cô lên lắc lắc: "Cô vừa rửa tay rồi mà?"
Lúc này họ đang ngồi kề vai cạnh nhau, nhưng không hiểu sao giọng nói của cả hai đều rất nhỏ, như là đang thì thầm.
Hà Điền muốn rút tay lại nhưng Dịch Huyền đã giữ chặt cổ tay cô, anh cứ nhìn chằm chằm vào cô mà cười, khuôn mặt cô càng lúc càng nóng hơn, ngượng ngùng hất tay anh ra với vẻ khó chịu.

Không ngờ, anh lại dùng lực giữ chặt lấy cô, tiếp cận đến gần.
Tự nhiên như cánh bướm đậu trên nụ hoa, môi anh cũng nhẹ nhàng đậu trên môi cô.
Dòng suối chảy róc rách, thảm thực vật phơi nắng cả ngày tỏa hương thơm ngát, vài chú ong chăm chỉ tranh thủ những tia nắng cuối cùng vo ve bay trong đám cỏ.
Trong rừng luôn luôn có tiếng động, nhưng lúc này đây, hai người ngồi trong rừng chỉ có thể nghe thấy tiếng nhịp tim của nhau.
Nụ hôn này nhẹ và nông, nhưng, có vị ngọt đậm đà của mật..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 63: 63: Quả Hạnh Và Quả Anh Đào


Trên đường từ trên thuyền trở về nhà, Hà Điền đều rũ mắt không nói gì, đỏ mặt xấu hổ.
Dịch Huyền thì cứ mỉm cười, kể cả khi Hà Điền phớt lờ anh, anh vẫn vui vẻ, cứ như thể mọi thứ xung quanh anh đều đẹp đẽ và vô cùng mới lạ.
"Này, em nhìn con chuồn chuồn đỏ với đôi cánh màu vàng kia xem, thật đẹp."
"Hoàng hôn trên mặt nước đẹp quá."
"Ở đây hẳn là có rất nhiều ếch? Em còn muốn bắt ếch nữa không?"
Cuối cùng, Hà Điền không nhịn được, cau mày trừng anh: "Sao anh lại nói nhiều vậy hả?"
Dịch Huyền cười đến mức mắt cong lên: "Vậy còn em? Sao em lại không nói gì?"
Hà Điền đỏ mặt phớt lờ anh.
Không ngờ một lúc sau anh lại nói: "Tôi nói nhiều là vì được ăn mật nên vui đó."
Khi Hà Điền nghe thấy từ "mật", máu trên người đều đổ dồn hết lên mặt, cô kêu lên một tiếng "A" rồi thả mái chèo xuống, che mặt lại.
Dịch Huyền sững người một lúc, muốn cười nhưng lại không dám cười, anh mím chặt môi, nhẹ nhàng nhặt mái chèo mà Hà Điền thả xuống lên, cố định thân thuyền, từ từ chèo thuyền đi.
Sau một thời gian chung sống với Hà Điền, anh phát hiện ra cô tuy sống ở trên núi nhưng lại có phần hơi "rụt rè".
Người rụt rè là người như thế nào?
Nhiều người đã hiểu sai từ "rụt rè" này, cho rằng họ là người không chịu được khó khăn, một khi điều kiện vật chất không đáp ứng được mong muốn của họ thì họ sẽ tiếp tục than thở hoặc tự thương hại mình, thực tế thì ngược lại, dù vật chất có kém đi chăng nữa thì cuộc sống của những người "rụt rè" cũng sẽ không vì điều này mà trôi qua một cách khô khan, mà trái lại, vẫn tràn đầy niềm vui thú.
Đây là những gì Dịch Huyền nhìn ra được khi thấy nhà của Hà Điền cũng cắm hoa khô vào mùa đông, và cả lúc cô dùng hoa sen khô để c*m v** bình.
Thế giới nội tâm của một người như vậy rất phong phú.

Nói cách khác, họ là người có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm và có yêu cầu cao về đời sống tình cảm.

Đối với cùng một sự kiện, người bình thường có thể cảm thấy như ném một muỗng đường vào tách trà, nhưng đối với họ, đó có thể là một tảng đá lớn từ trên đỉnh núi lăn xuống sông, có khi còn là một trận tuyết lở.
Ví dụ, bây giờ đây, sự thẹn thùng này của Hà Điền nằm ngoài dự đoán của Dịch Huyền.
Ngoài sự thẹn thùng, cô còn có vẻ hơi tức giận, và có một số cảm xúc mà có khi ngay cả chính cô cũng không thể nói rõ thành lời.
Dịch Huyền chưa có kinh nghiệm kết thân với người khác giới cùng tuổi nên anh chỉ có thể dựa vào cảm tính mà làm.
Chèo thuyền một hồi, anh trầm giọng hỏi cô: "Em giận tôi sao?" Thật ra anh không nghĩ Hà Điền sẽ tức giận, nụ hôn không hề báo trước của anh quả thật khiến cô sợ hãi và xấu hổ, nhưng cô cũng không đẩy anh ra giống như lần trước.
Hà Điền lắc đầu, chống hai tay lên đầu gối, quay mặt sang một bên, nhìn xuống dòng sông bên mạn thuyền.
Thấy cô lắc đầu, Dịch Huyền lập tức vui vẻ, chèo thuyền một hồi rồi lại hỏi: "Vậy thì...!em không thích tôi làm vậy với em?"
Anh đợi thật lâu, nhịp tim càng lúc càng mạnh, lông mày cau lại, mới thấy Hà Điền chậm rãi lắc đầu.
Hiện tại Dịch Huyền rất kích động, anh muốn bỏ mái chèo xuống, nhào tới ôm lấy cô, lúc này Hà Điền mới quay mặt sang nói nhỏ: "Tôi...!thích."

Những lời này như đổ thêm dầu vào lửa, Dịch Huyền làm sao có thể kìm lại được, chiếc thuyền đã bị anh làm cho lắc lư, Hà Điền sợ đến mức ôm lấy hũ mật mà hét lên: "Giữ mái chèo! Mái chèo sắp rơi rồi!"
Dịch Huyền bị Hà Điền vừa xấu hổ vừa tức giận nhìn mình, không dám gây chuyện nữa, cười toe toét cầm chắc mái chèo kéo mạnh.
Về đến nhà đã gần chín giờ, cả hai đều đói bụng, bột mà Hà Điền nhào trước khi ra ngoài đã nở, cô bôi dầu lên tay nhào lại bột cho đều, chuẩn bị làm chút đồ ăn khuya.
"Chúng ta ăn gì vậy?" Dịch Huyền cười hỏi.
"Bánh đường nâu rán." Hà Điền xụ mặt đáp.
Anh chủ động muốn hỗ trợ, đi qua đi lại quanh Hà Điền, cứ như là trên người Hà Điền có nam châm hút anh lại vậy, nhưng không ngờ anh lại vô tình giẫm phải chân của Lúa Mì, nó đau đến mức sủa um lên, anh vội ngồi xổm xuống ôm nó: "Ôi, xin lỗi, xin lỗi! Nào, xoa xoa cho Lúa Mì.

Không đau, không đau nữa."
Hà Điền từ lâu đã bị ánh nhìn đăm đăm của anh làm cho vừa thẹn vừa giận, lúc này nhíu mày xẵng giọng nói: "Khóe miệng anh không đau sao?"
"Tại sao lại đau?" Dịch Huyền cũng biết khóe miệng của mình không chịu nằm yên, không ngừng nhếch lên trên, thật ra dù có muốn thì anh cũng không làm cho nó bình thường trở lại được, chỉ cần nhìn Hà Điền, rất nhiều cơ bắp trên người anh đều trở nên không thả lỏng được, khóe mắt khóe mày đều không tự chủ được mỉm cười.

Anh cười, nắm lấy chân trước của Lúa Mì vẫy vẫy với Hà Điền.
Hà Điền không biết phải làm sao nên chỉ còn cách xụ mặt, gọi Dịch Huyền đến cắt bột thành từng miếng nhỏ rồi vo thành từng viên tròn, giờ cô phải làm nhân bánh.
Cô dùng bốn phần đường nâu và một phần bột năng, trộn đều rồi nấu với mỡ đã đun nóng, dùng bột gói lại như bánh bao vậy, nắn chặt chỗ hở, ấn xuống cho dẹp rồi cho vào chảo, đợi cho vàng rồi thì lật sang mặt sau.
Bánh này của Hà Điền nhỏ hơn lòng bàn tay, một chảo có thể rán được mười hai cái, khi rán, chính giữa chiếc bánh tròn nhỏ phồng lên, cả căn nhà đều là mùi thơm ngào ngạt.
Phần da bánh giòn rụm, phần nhân đường tan chảy từ từ chảy ra như nham thạch nóng sau một lần cắn.

Bánh mới rán xong sẽ rất nóng, để qua một đêm ăn vào thì sẽ hơi dính răng, thành một hương vị khác.
Vừa vặn có thể làm lương khô ngày mai mang theo đi hái quả dại.
Sáng sớm hôm sau, sau khi hoàn thành các công việc hàng ngày, họ chèo thuyền ra ngoài.
Hôm nay Lúa Mì tội nghiệp lại phải trông nhà.

Bởi vì tổ ong còn lại nằm ở trong rừng trái cây dại.

Mặc dù bây giờ nghe thấy từ "mật" là cô chỉ muốn che mặt mà khóc thét, nhưng cô vẫn phải đi lấy mật về càng sớm càng tốt.
Rừng trái cây nằm trong một thung lũng được hình thành bởi một phụ lưu của sông.

Trước khi đến bờ, họ có thể nhìn thấy màn sương trắng giăng đầy trên thung lũng sông, những đám mây và sương mù bị ánh nắng đầu tiên thiêu đốt nhanh chóng bốc hơi, không khí trên sông ẩm ướt, thoang thoảng mùi hương của trái cây.
Lên bờ sông, trên cành cỏ và bụi rậm vẫn còn rất nhiều giọt sương đọng lại, làm ướt hết cả áo quần và giày dép của họ.

Dịch Huyền đi theo Hà Điền đi qua những bụi cây, đi được mười phút, ánh nắng mặt trời cuối cùng cũng xuyên qua đám mây trên thung lũng này, ở một khoảng cách xa, có thể nhìn thấy trên những nhánh cành của cây cối trước mặt nặng trĩu quả.
Màu vàng cam với một chút hồng hồng là quả hạnh, đỏ và tím đen là quả anh đào.
Đi vào, còn có thể thấy một số cây cao hơn những cây ăn quả khác đang trĩu quả xanh, đó là mận (mơ).
Phần lớn mận vẫn còn xanh, một ít quả đã hơi ửng hồng, giống như vết ửng hồng trên mặt Hà Điền khi thẹn thùng vậy.
Lớp cỏ bên dưới phủ đầy quả rụng, đã hư thối thành quả nát, tỏa ra mùi thơm của hơi cồn, thu hút rất nhiều ruồi giấm nhỏ màu đen.
Có một số quả trên cành bị chim mổ, một số thì chỉ còn lớp da dày chưa đầy một cm, phần thịt bên trong đã bị chim mổ hết.
Dụng cụ mà Hà Điền sử dụng để hái quả là một túi lưới lớn bằng rơm và một chiếc sào tre.
Túi lưới có đường kính bảy mươi cm, nhưng cán không dài, sào tre có hai đoạn, mỗi đoạn dài một mét rưỡi, chấp lại có thể dài tới gần ba mét, một đầu của sào được xẻ thành hình chữ V ngược, xẻ giữa, tạo thành vết nứt sâu năm cm, gặp được trái cây khó bẻ thì kẹp cành vào vết nứt ở ngọn và vặn sào tre để làm gãy cành và mang quả xuống.
Hai người đến dưới gốc cây hạnh, Hà Điền dùng sào tre đập vào nhánh cây sai quả, quả chín sẽ rơi xuống, Dịch Huyền thì cầm theo một chiếc túi lưới để hứng.
Sau một hồi "mưa hạnh", họ lại nhặt những quả rơi trên bãi cỏ.
Hà Điền cầm quả trong túi lưới lên nhìn, thở dài nói: "Đến mùa thu phải cưa cho cây hạnh thấp xuống một chút, nếu không quả sẽ càng ngày càng nhỏ."
Họ lại ngồi lựa một lúc, loại bỏ những quả bị thối, đốm đen, hỏng, còn lại thì cho vào sọt tre.
Hà Điền lấy khăn lau hạnh rồi đưa cho Dịch Huyền: "Ăn thử đi, so với khẩu vị của anh thì có thể hơi chua."
Dịch Huyền cầm lấy quả và nhìn sơ qua, quả có màu vàng hơi đỏ chỉ lớn hơn quả hồ đào một chút, một tay có thể cầm được ba bốn quả, đỉnh quả có màu hồng cam, cầm vào tay hơi mềm, trên da có một lớp lông tơ nhỏ mỏng trong mờ, cắn một cái là thịt quả tách khỏi lõi, không có nhiều nước, thịt quả hơi cát, chua và ngọt.
Hà Điền cũng ăn một quả, quả của cô rõ ràng là chua hơn quả của Dịch Huyền, đến nỗi cô phải nhăn mũi lại, vừa cắn một miếng đã ném đi.
Dịch Huyền đưa quả hạnh trong tay cho cô: "Quả của tôi ngọt này."
Cô nhận lấy và cắn một miếng: "Thật vậy."
Hai người nhìn nhau cười.
"Haizz, mong là đem về nhà cất qua một thời gian sẽ ngọt hơn.

Nếu không được thì cứ làm mứt vậy."
"Ừ.

Mứt hạnh cũng rất ngon! À, còn có thể làm điểm tâm ngọt nữa."
"Hạnh sấy khô thì coi như là món ăn nhẹ lúc mùa đông, hoặc là cắt nhỏ ra trộn với hạt thông, quả óc chó làm bánh mì nướng cũng được."
Hai người bàn bạc một lúc xem sẽ ăn nó như thế nào, rồi hái thêm một ít hạnh nữa, sau khi chất đầy một cái sọt tre thì mới dừng.
Rừng trái cây dại này là một món quà quý giá và hào phóng mà thiên nhiên ban tặng, nếu còn phàn nàn về việc quả không đủ ngọt, vậy thì cũng quá không biết thế nào là đủ rồi.
Khi ông bà của Hà Điền khám phá ra khu rừng này cách đây hàng chục năm, ở đây chỉ có khoảng chục cây ăn quả, xen lẫn với nhiều cây bách và bạch dương.

Họ đã chặt bỏ rất nhiều cây khác và đã cố gắng hết sức chăm sóc chúng trong nhiều năm.

Dần dần mới hình thành mảnh rừng trái cây này.
Sau khi hái hạnh xong, Hà Điền đưa Dịch Huyền đi hái anh đào.
Anh đào cũng có thể rung được, nhưng anh đào rụng nếu không còn cuống thì sẽ rất nhanh hư, nên cần chịu khó hơn một chút, dùng sào tre để xoắn chùm anh đào ra khỏi cành và lá.
Hà Điền xách sọt còn Dịch Huyền thì cầm sào tre, cả hai cùng ngẩng đầu dưới một vài cây anh đào, đi lòng vòng tìm quả chín.
"Ở đây, ở đây này!"
"Mấy chùm này chắc là đã hái được?"
"Mấy chùm này chưa chín, quả còn vàng mà!"
Phải hơn một tiếng đồng hồ mới hái được một sọt anh đào nhỏ, cổ hai người đều đau nhức, mặt trời càng lúc càng lên cao, rừng cây cũng càng lúc càng nóng, và càng có nhiều bọ nhỏ xuất hiện, có lúc chúng cuống lên, bay loạn vào mặt họ, lơ là một chút là sẽ hít chúng vào mũi và miệng ngay, họ phải lấy khăn vải che miệng và mũi của mình lại.
Nhặt được một lúc, Hà Điền xoay cổ: "Mệt quá!"
Dịch Huyền vội nói: "Chúng ta nghỉ ngơi một chút đi?"
Rừng trái cây cũng không phải là nơi nghỉ ngơi thích hợp, bên cạnh rừng bách nguyên sinh có một con suối nhỏ, đi xuyên qua rừng bách có thể nhìn thấy một cây liễu to nằm ngang suối, cành liễu theo gió nhẹ nhàng đong đưa trên mặt suối, tạo thành những vòng tròn nhỏ.
Hà Điền nói với Dịch Huyền: "Khi còn nhỏ, tôi theo ông bà đến đây hái quả, ông bà cho tôi ngồi trên thân cây liễu để câu cá.

Ở đây có một loại cá nhỏ, nấu canh ăn rất ngon.

Hoặc là tôi sẽ dùng cành liễu làm một số giỏ nhỏ cho ông bà đựng quả dại."
Dịch Huyền nhìn cây liễu: "Chúng ta cũng lên đó ngồi đi."
"Được!" Hà Điền cười leo lên trước.
Thân cây liễu nằm ngang suối to gần như hai người ôm mới xuể.

Muôn vàn cành xanh rủ xuống như những tấm rèm che nắng, những ngọn non đong đưa bay nhẹ theo làn gió.

Ngồi ở bên trên còn có thể ngâm chân vào trong suối, vô cùng mát mẻ và thoải mái.
Dịch Huyền lựa một ít anh đào và hạnh mềm, rửa sạch dưới dòng suối, đưa cho Hà Điền, sau đó leo lên ngồi bên cạnh cô.
Các quả anh đào đều ngọt, vỏ mỏng và thịt dày, khi cắn một miếng nước màu đỏ đậm ứa ra.
Bọn họ vừa ăn anh đào vừa nói chuyện: "Nếu mấy cây này được trồng gần nhà thì quá tốt rồi."
"Ông tôi đã thử nhiều lần rồi, nhưng không thành công.

Ông nói rằng có thể là do thung lũng sông ấm áp và ẩm hơn nên cây mới có thể phát triển tốt như vậy."
Dịch Huyền im lặng một lúc rồi nói: "Nếu ở chợ có bán sách thì tốt rồi.

Chúng ta mua một số sách về trồng cây ăn quả, đợi làm được nhà kính, bốn mùa đều có thể ăn anh đào."
Hà Điền cười: "Mua sách cũng không dễ đâu.

Ai mà muốn mang sách đến đây bán chứ? Người mua thì ít mà cũng chẳng kiếm được bao nhiêu.

Hầu hết sách trong nhà của tôi đều do tổ tiên truyền lại.

Có một số bộ phận sách bị hỏng, phải chép lại để bổ sung vào.

Cũng có một số tình cờ đổi được từ người khác.

Và...!" Cô cười ranh mãnh: "Trước đây có một người thu mua lông thú rất thích bà tôi.

Năm nào bà tôi cũng nhờ ông ấy mang đến một ít sách.

Nhiều cuốn sách tôi đọc khi còn nhỏ đều có được từ cách này."
"Dùng mỹ nhân kế!"
"Anh nói gì vậy hả? Cái này gọi là người có sức cuốn hút."
Nghỉ ngơi một lúc, cả hai quay lại rừng trái cây dại, tiếp tục hái quả.
Lúc này mặt trời đã lên rất cao, dù có cây trái sum suê cành lá che phủ trên đầu, nhưng một lúc sau vẫn sẽ bị phơi nắng đến hoa mắt, mồ hôi muốn chảy cả vào trong mắt, mà đội nón rộng vành lên thì lại khó thấy đường.
Dịch Huyền bện hai cái vòng tròn bằng cành liễu mang về.

Đội nó trên đầu có thể che bớt ánh nắng mặt trời mà không cản trở tầm nhìn.
Dưới gốc cây anh đào, Dịch Huyền vươn sào tre lên vặn quả, Hà Điền vỗ vỗ cánh tay anh: "Mấy quả này còn chưa chín đâu!"
Anh nhặt những chùm anh đào nửa đỏ nửa trắng này lên, mỉm cười c*m v** vòng tròn bằng cành liễu trên đầu Hà Điền: "Tôi biết chứ."
Hà Điền sửng sốt, nở nụ cười, lấy vòng tròn đan bằng liễu trên đầu xuống: "Đẹp quá." Bỏ qua khả năng thực tế, trình độ thẩm mỹ của Dịch Huyền đúng là không thể nghi ngờ.
Dịch Huyền mím môi cười, lại hái một chùm anh đào để trang trí cho vòng liễu: "Bây giờ thứ mà em đang đội là vòng hoa."
Họ hái rất lâu, cuối cùng quả anh đào cũng đã lấp đầy sọt tre, chất thành một đống cao cao nhọn nhọn.
Những quả anh đào chín tỏa mùi thơm hấp dẫn một vài con ong ăn quả bay đến, Hà Điền lấy khăn vải phủ lên sọt để chúng không cắn phá.
Dịch Huyền có chút tiếc nuối, nếu vài tháng trước họ đến đây thì đã có thể nhìn thấy phong cảnh đẹp hơn, hoa hạnh và hoa anh đào treo đầy cành, trên cỏ cũng phủ một lớp cánh hoa, anh và Hà Điền có thể ngồi ở trên cỏ ăn cơm dã ngoại.
Năm sau đi, năm sau họ nhất định sẽ dành thời gian để đến đây ngắm hoa..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 64: 64: Quả Mận


Hái mận thì lại càng không dễ dàng.

Nếu may mắn thì mới gặp được một vài quả mận chín trên những cành thấp.
Cây mận cao hơn các loại cây trái khác, nếu muốn lặt ở cành cao hơn thì phải trèo lên cây hoặc bắc thang lên cành thì mới có thể đứng vững được.
Thang gỗ được làm bằng cách chặt hai cây bách nhỏ gần đó, nó được đặt ở trên bãi cỏ giữa hai cây mận, trải qua nhiều năm đã có chỗ mục nát, bên trên mọc vài đám nấm mèo.
Hà Điền vừa cắt nấm vừa nói: "Luộc rồi cắt nhỏ làm rau trộn hoặc xào hay hầm đều ngon cả."
Tất cả các tài nguyên đều phải được tận dụng một cách triệt để.

Nấm sau khi phơi khô có thể bảo quản được lâu, sau khi ngâm sẽ nở ra, ăn vẫn rất ngon.
Sau khi cắt nấm xong, hai người tìm mấy cái thang ở gần đó, dùng một ít gỗ gia cố lại rồi bắt đầu hái mận.
Mận ít khi được ăn trực tiếp vì nó chua lắm, mà mận trên những cây này thì vẫn còn xanh, phải đợi vài tuần nữa chúng mới ngả sang màu vàng, có điều vẫn rất chua.
Nhưng mận đã qua chế biến thì lại có một mùi thơm rất độc đáo, vị chua ngọt, có thể dùng để chế biến nhiều món ăn khác nhau.
Hà Điền khích lệ Dịch Huyền mặt mày đang nhễ nhại mồ hôi: "Anh nghĩ thử xem mấy quả mận này có thể làm được món ngon gì?! Hay là mình ngâm nó với mật ong và muối làm nước mận mật ong đi, đợi đến mùa đông cho một quả vào ly rồi chế nước nóng lên, vừa thơm vừa ngọt! Đến hè thì làm nước mận uống cũng ngon lắm.

Đổ nước mận vào trong bình gốm hoặc ống tre, đem treo ở trên nhánh cây ngâm vào trong nước suối một buổi trưa, chiều làm xong về nhà uống một ly, ta nói, một ngày mệt nhọc cũng đều sẽ tan biến hết! Còn có món vịt hầm mận nữa!"
Dịch Huyền cũng khích lệ Hà Điền vẫn luôn một mực ngước cổ lên: "Cũng có thể phơi khô để làm mứt mận và...!À, đúng rồi, rượu mận! Em đã từng uống rượu mận chưa? Một loại rượu được làm từ mận và mật ong, có màu hổ phách, uống vào có vị ngọt, còn trơn như lụa...!"
"Rượu mận hả? Tôi chưa từng được uống." Rượu là thứ xa xỉ phẩm tương đương với "lãng phí lương thực", chỉ có những nơi dư thừa lương thực mới có thể làm ra rượu.

Khi ông cô còn sống, năm nào ông cũng mua một ít rượu về nhà, nhưng Hà Điền đã nếm loại rượu đó rồi, rất cay và chẳng ngon nghẻ gì.
Dịch Huyền vừa hái mận vừa nói với Hà Điền về các loại rượu mà anh đã từng uống.
"Bia có độ cồn thấp, chỉ 6-7 độ.

Nó có màu vàng óng, nổi nhiều bọt mịn, rất hợp với mùa hè.

Ăn gà rán, tôm chiên, thịt nướng...!uống cùng với bia, rồi ngồi bên bờ sông..."
"Rượu thì có nhiều loại, màu sắc từ vàng nhạt, hồng hồng đến đỏ đậm.

Loại tôi thích là rượu đỏ làm từ một loại trái cây thơm nồng, nhưng độ ngọt không quá cao, uống vào trong miệng có cảm giác hơi chua nhưng hương vị sẽ thay đổi ngay, rất khó tả...!"
"Chúng ta có thể thử làm rượu gạo! Không phải có thể mua được men rượu sao? Rượu gạo vừa mới làm có vị ngọt.

Mùa đông buổi sáng dùng để luộc trứng, ăn xong cả người toàn thân từ trong ra ngoài đều trở nên ấm áp.

Buổi tối lúc ăn khuya thì nấu một chén cơm rượu, viên cơm rượu được làm bằng gạo nếp...!"
"Rượu gạo ngọt để lâu sẽ trở nên cay và sau khi chưng cất, nó sẽ trở thành rượu trắng đấy."
"Những loại rượu này làm như thế nào? Tôi đâu có biết làm!"
Mặc dù không biết phương pháp cụ thể để làm rượu mận, nhưng vì loại thức uống thượng hạng huyền thoại "màu như hổ phách, uống vào trơn như tơ lụa" này, họ lại hái thêm một sọt mận nữa.
Họ chuyển những sọt quả trở lại bờ sông, cắt một số cỏ dại và cành lá trên bờ phủ lên sọt, rồi quay trở lại rừng để lấy mật.
Cả hai xuyên qua rừng cây ăn quả và rừng bách theo một hướng khác, địa hình càng đi càng lên cao, leo lên sườn núi, tổ ong nằm ở bìa rừng.

Chỗ đó rất cao, có vách núi sừng sững.
Đứng bên bờ sông nhìn ra xa có thể thấy được vách núi này, nó tựa như bức tường sắt từ trên trời rơi xuống, giống như một hàng kiếm sắc bén cắm xuống đất, sừng sững trong mây, cao ba bốn trăm mét kéo dài không ngừng, hai bên đều nhìn không thấy điểm cuối.
Có thể là nhờ bức tường núi này mà không khí ấm và ẩm trong thung lũng đã được giữ lại.
Khi bước xuống vách núi, càng cảm nhận được sự kỳ vĩ và sự khéo léo của thiên nhiên, ngẩng đầu nhìn lên nhưng không thấy đỉnh núi, đập vào mắt là những tảng đá gồ ghề màu đen xám và cây cỏ mọc ngoan cường trong khe đá.
Tổ ong nằm trong một khe nứt trên vách núi, cách mặt đất ba bốn mét.
Một bên vách núi có hai cái thang gỗ cũng được làm từ nhiều năm trước, cũng có rất nhiều nấm, còn có một số dây leo bò lên thang.
Trước tiên họ chuyển thang lại và đặt chúng xuống đất kiểm tra thật kỹ, đảm bảo chúng còn nguyên vẹn và chắc chắn.

Bọn họ cũng không muốn đang leo giữa chừng thì thang bị gãy.
Sau khi cắt mấy loại nấm ăn được xong, họ gia cố thang bằng vật liệu tại chỗ rồi đặt chúng bên cạnh tổ ong.

Chỉ cần bước lên bậc thang và leo lên đến điểm cao nhất là đã có thể chạm vào tổ ong.
Tổ ong này trông đáng sợ hơn nhiều so với tổ ong giấu trong hốc cây hôm qua, đứng trên mặt đất nhìn lên, nếu Hà Điền không chỉ ra thì Dịch Huyền cũng không nhìn thấy được.
Tổ ong này rất lớn, cao gần một mét, rộng gần nửa mét, khó có thể thấy được độ dày của nó, lớp bên ngoài sẫm màu hòa quyện với màu đá xung quanh một cách hoàn hảo.
Tập trung nhìn vào, dường như có thể thấy được lớp đen kia đang run lên nhẹ nhàng, và khi nhìn kỹ hơn nữa, da gà đều nổi cả lên — tất cả những con ong đều đang bu trên tổ ong! Nó dày đặc với hàng trăm nghìn con.
Lớp màu đen có chút ánh kim loại là màu đen ở mép cánh của con ong, vì chúng nằm cạnh nhau dày đặc bên ngoài tổ nên chỉ có thể nhìn thấy được phần cánh.

Đôi cánh của những con ong này sẽ thường xuyên run lên, nhìn từ xa, tổ ong dường như là một sinh vật sống đang hô hấp.
Nếu là người bị mắc chứng ám ảnh kinh hoàng, nhìn thấy điều này chắc chắn sẽ chết ngất tại chỗ.

Dịch Huyền không bị chứng ám ảnh này nhưng da đầu cũng phải run lên.
Nhưng trong mắt của Hà Điền, tổ ong xấu xí giống quái vật này là mật vàng.
Cô vui vẻ thực hiện công việc của mình một cách bài bản.
Trùm vải xô lên, tìm cành khô, cỏ dại có độ ẩm thích hợp rồi cột thành hai bó, đốt lên, đặt dưới vách đá, đeo mặt nạ phòng độc vào, tìm vài chiếc lá to và quạt vào đống củi để khói bốc lên càng nhanh càng tốt, hun cho lũ ong choáng váng.

Chờ một lúc, cô bỏ một số củi vào vỉ hun khói đan bằng nhành liễu, leo lên thang, hun khói tổ ong.
Đứng trên mặt đất, Dịch Huyền nhìn lên và thấy một trận mưa ong, những con ong canh gác bên ngoài tổ ong rơi xuống đập vào nón của anh.
Lúc này, tổ ong cũng lộ ra ngoài.
Hà Điền treo vỉ khói lên bậc thang và lấy con dao tre ra lấy mật.
Dịch Huyền nhanh chóng cầm theo hũ thủy tinh trèo lên một cái thang khác để hứng lấy mật ong mà Hà Điền đã cắt.
Cô cắt một phần đáy tổ ong, mật ong bên trong tuôn ra như nước, tất cả đều được Dịch Huyền hứng vào hũ.
"Năm ngoái chỉ có một mình tôi thôi, biết bao nhiêu là mật bị thất thoát!"
Hũ mật ong nhanh chóng được hứng đầy, Hà Điền ra hiệu cho Dịch Huyền, đã thành công, rút lui!
Lần này hũ mật được đựng trong một cái túi rơm, giờ đã bị dính rất nhiều mật, họ phải nhanh chóng đến bên suối thay túi rơm khác.
Họ vừa leo xuống thang, những con ong trên vách đá đã bắt đầu thức giấc, một đàn ong vo ve bay lượn, đuổi theo họ.
"Chạy! Chạy mau!"
Hai người chạy trối chết, bầy ong không ngừng đuổi theo sau lưng họ, thẳng cho đến khi họ chạy khỏi khu rừng mới thôi.
Hà Điền cởi bỏ vải che mặt, thở ra một hơi: "Nguy hiểm thật! Đàn ong này khó đối phó ghê, chắc là do số lượng quá nhiều nên cho dù có hun khói như thế nào thì chúng cũng đều tỉnh lại rất nhanh..."
Khi đang nói chuyện, cô nghe thấy Dịch Huyền "Ui" một tiếng rồi lấy tay che nửa cổ bên trái của mình lại.

Anh đã bị ong đốt.
"Đừng cử động!" Hà Điền vừa hét lên, Dịch Huyền đã dùng tay xoa vết ong đốt trên cổ mình rồi.
Hà Điền vội vàng kéo anh đến bên bờ suối, mở tấm vải trùm ra, thấy trên cổ Dịch Huyền sưng lên một cục màu đỏ.
Hai nách của tấm vải có lỗ thủng, ong đã chui vào từ đó.
Hà Điền rửa sạch tay, cẩn thận rút kim ong ra, rửa sạch bằng xà phòng và nước, sau đó thấm ướt một chiếc khăn vải rồi đắp lên vết thương cho Dịch Huyền.
"Anh chườm lạnh trước, sẽ không đau lắm đâu."
Cô lấy lọ thuốc mỡ vạn năng luôn mang theo bên mình ra, vén khăn vải ra, quét một miếng lớn rồi bôi lên cổ Dịch Huyền, thổi nhẹ vào vùng da sưng đỏ ấy: "Còn đau không?"
"..." Dịch Huyền nhìn Hà Điền, sau đó do dự một lúc rồi nói nhỏ: "Đau.

Rất đau.

Đặc biệt đau.

Từ trước đến giờ tôi chưa từng đau đến vậy."
Hà Điền nghe vậy có chút áy náy, bất tri bất giác ôm lấy anh như đang dỗ dành một đứa trẻ, đặt lòng bàn tay phải lên lưng của anh không ngừng v**t v*, lại thổi thổi cho anh, nhẹ giọng an ủi: "Không sao, sáng mai sẽ ổn thôi.

Lúc nhỏ tôi cũng bị ong đốt qua rồi.

Dù sao thì chúng ta cũng lấy được mật ong, có bị đốt một cái cũng đáng giá mà, đúng không nào? Anh có muốn thử chút mật ong không? Hương vị của mật ong này không giống với mật ngày hôm qua đâu."
Mật ong lấy lần này có màu vàng vàng, giống như một chất lỏng ngưng tụ lại từ ánh sáng mặt trời, mùi thơm rất khác với mật lấy được hôm qua, mỗi loại có một đặc điểm riêng, mặc dù tổ ong này nằm gần chỗ trái cây rừng, nhưng mùi thơm của mật ong lại có mùi của hoa nhiều hơn.
Dịch Huyền gật đầu, thuận thế dựa vào vai Hà Điền một cách yếu ớt: "Được rồi.

Vậy em cho tôi ăn chút mật ong đi."
Hà Điền nghe xong liền đỏ mặt nhìn Dịch Huyền, thấy hai hàng lông mi dài của anh rũ xuống, đôi mắt chó con với khóe mắt cụp xuống càng ngây thơ và đáng yêu, khóe miệng cũng vì không vui mà trệ xuống, sắp biến thành hình tam giác luôn rồi, nhưng mà - lông mi anh run lên, tròng mắt đen xoay lại, liếc sang nhìn cô, cơ miệng khẽ kéo như cố kìm lại nụ cười.
Sau đó cô mới nhận ra rằng không biết Dịch Huyền đã dựa vào vai mình từ lúc nào.
Cô đỡ vai anh, lùi về phía sau một chút, để anh ngồi thẳng lưng lại: "Tự mình ăn đi, đút cái gì mà đút? Anh là con nít sao?"
Biết khổ nhục kế không thành công, Dịch Huyền mím miệng "hừ" một tiếng, đứng dậy, xuống suối rửa tay.

Anh nhổ một ít cỏ nhúng vào trong nước, lấy túi cỏ trên hũ mật nhúng xuống suối, lau hũ sạch sẽ.
Hà Điền nhìn anh, trong lòng có chút lo lắng, nghĩ thầm, có phải anh giận rồi không? Rồi lại nghĩ, anh giận cái gì chứ?
Lúc này Dịch Huyền đã ôm hũ mật trở về, anh ngồi xuống đối diện với Hà Điền, mở nắp hũ ra, giơ ngón trỏ lên lắc lắc với Hà Điền, sau đó nhúng đầu ngón tay vào hũ rồi lấy ra đưa vào miệng ngậm: "Ngon thật."
Khi làm điều này, và cả khi nói câu "Ngon thật" kia, anh vẫn luôn xụ mặt.
Hà Điền vừa bực mình mà cũng vừa buồn cười: "Anh làm sao vậy hả?".

Truyện Đô Thị
Dịch Huyền tủi thân ôm cổ: "Ui da, đau quá, sưng lên một cục to rồi." Anh xếch mắt nhìn Hà Điền: "Mới rồi em còn đẩy tôi một cái thật mạnh, suýt nữa thì ngã xuống đất luôn."
Dù biết anh đang giả vờ nhưng Hà Điền vẫn không nhịn được cười, cô c*n m** d***, nhưng miệng vẫn nhếch lên, nhìn khuôn mặt đẹp trai của Dịch Huyền.

Làm sao có thể tức giận được nữa?
Cô vẫy tay với anh: "Được rồi, được rồi, cho anh ăn mật, đừng giận nữa.

Anh thiệt là, không ngại ngón tay của người khác bẩn sao? Anh là Lúa Mì hả? Thích l**m tay chủ?"

Cô nhúng ngón trỏ vào một ít mật ong, mỉm cười đưa lên trước mặt Dịch Huyền lắc lắc: "Chó con, đừng cắn chị nha!"
Dịch Huyền bắt lấy cổ tay cô, cười tủm tỉm đặt nó bên môi, cong môi nhẹ chạm lên đầu ngón tay cô...
Anh ngậm ngón tay cô dùng sức m*t mạnh một cái, còn chưa kịp đắc ý, đột nhiên có hơi --
Một mùi vị lạ khó tả từ đầu lưỡi chạy thẳng lên đến đầu, nước mắt muốn chực trào ra!
"A ----" Dịch Huyền hét lên rồi bật dậy, chạy đến bên dòng suối liên tục súc miệng.
Hà Điền trố mắt sửng sốt, bật cười ha ha.
Cô quên mất ngón tay này vừa mới bôi thuốc mỡ cho anh!
Cô vẫn còn đang cười, Dịch Huyền lao trở về như một cơn lốc, ôm lấy hai vai cô đem cô áp đảo, nước suối lạnh buốt trên môi anh như những hạt mưa nhỏ không ngừng rơi xuống miệng, trán, má, mũi và mí mắt của cô.
Cô cười giãy giụa muốn né tránh, lại nghe thấy anh hung dữ nói: "Không thể để tôi chịu thiệt một mình được, em cũng nên nếm thử cái vị này đi."
Hà Điền giờ phút này còn muốn cười, anh định cho tôi nếm thử kiểu gì? Cũng sẽ quẹt một mẩu thuốc mỡ rồi nhét nó vào miệng tôi sao?
Khoảnh khắc tiếp theo, cô liền biết.
Lúc mới đầu Dịch Huyền cũng thật sự có chút tức giận muốn trả đũa, có lẽ vì đây là lần đầu tiên anh làm vậy, cho nên không hề có tổ chức, chỉ có thể mạnh mẽ làm tới.

Hà Điền cũng sợ ngây người một lúc, về sau cũng không biết là do bị mùi thuốc còn sót lại k*ch th*ch, hay là vì vừa thẹn vừa xấu hổ nên mới phản kháng giãy giụa, khiến anh chỉ có thể dùng sức mạnh bản năng trấn áp cô lại, nhưng rồi cô cũng không vùng vẫy nữa, anh cũng trở nên dịu dàng.
Anh lén mở mắt ra nhìn cô lần nữa, thấy hai má cô đỏ bừng như được tô vẽ, lông mi không ngừng run rẩy, lập tức cảm thấy trái tim mình như đang ngâm trong nước nóng.

Loại nước này có thể là nước mật ong đun nóng, dinh dính và ngọt ngào.
Một lúc sau, anh nghe thấy tiếng th* d*c của cô, sợ cô phát hiện mình có phản ứng khác thường rồi khó chịu đẩy anh ra giống như lần trước lúc anh để cô ngồi trên đùi mình, cũng có chút sợ mình sẽ đè nặng cô, nên anh ôm eo cô lăn sang một bên, để cô nằm nghiêng, sau đó nắm lấy hai bàn tay nhỏ đang ấn trước ngực mình của cô kéo lên quấn quanh cổ.
Hà Điền mở to mắt, cùng Dịch Huyền mặt đối mặt, nhìn thấy trong con ngươi đen sáng ngời của anh có hình ảnh thu nhỏ của mình, rồi bất giác mỉm cười, có lẽ anh cũng nhìn thấy chính mình phản chiếu trong con ngươi của cô.
Anh áp sát lại gần cô, dùng đầu mũi cọ vào mũi cô, rồi lại dùng bờ môi chạm vào bờ môi.
Hà Điền nghĩ, khi một con bướm đậu trên một bông hoa, nó sẽ luôn vỗ cánh vài cái, là đang chào bông hoa sao? Giống như bây giờ vậy?
Cô không biết bông hoa đáp lại con bướm như thế nào, còn cô thì, khẽ mở đôi môi của mình ra.
Gió rừng hiu hiu thổi, đàn ong vo ve bay về, bóng cây chầm chậm lay động dưới ánh nắng.
Nụ hôn mang một chút dịu dàng và hiếu kỳ với nụ hôn của loài động vật nhỏ kia kết thúc, bọn họ ôm nhau ngồi xuống, đám cỏ bị nghiền nát tỏa ra một mùi thơm ướt át, trên quần áo của họ vươn một chút cỏ cây màu xanh, đầu tóc cũng bù xù, dính đầy cỏ khô và những chiếc lá nhỏ.
Hai người nhìn nhau, đều không nhịn được bật cười.

Hà Điền xõa bím tóc ra, Dịch Huyền ngồi ở sau lưng cô, nhặt những chiếc lá nhỏ dính trên tóc cô xuống, dùng một chiếc lược nhỏ chải và tết lại tóc cho cô.

Anh rất tự tin về việc này, lúc làm dây thừng mây đã luyện tập rất thành thục.
"Em có biết không, Hà Điền, bất kể là ngồi cùng em ở trong bụi hồng, bên cạnh hũ mật ong, hay lúc dọn nhà vệ sinh để làm phân bón, hoặc là lúc cạo lớp da lông thối không thể chịu được kia, trong lòng anh vẫn luôn vui vẻ." Anh vuốt tóc của cô, ghé vào trên vai, áp trán vào bên thái dương cô, thì thầm: "Bởi vì anh thích em."
Sau đó, anh lại đặt vòng hoa làm bằng cành liễu lên đầu cô, hái một vài bông hoa dại bên cạnh, cài lên vòng hoa.
Lúc này Hà Điền mới quay đầu lại, nhìn anh: "Em cũng thích anh.".
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 65: 65: Cá Hồi Nướng


Trên đường chèo thuyền mang mấy sọt trái cây và mật ong về nhà, Dịch Huyền hỏi Hà Điền: "Hôm qua em sao vậy?"
Cô biết anh đang hỏi gì, sau khi suy nghĩ, cô nói: "Em không hề giận, chỉ là...!em hơi bối rối mà thôi.

Em vẫn chưa nghĩ ra phải đối xử với anh như thế nào nữa."
"Vậy bây giờ em đã nghĩ ra chưa?"
Cô bật cười: "Còn chưa nghĩ ra."
Dịch Huyền cũng cười: "Vậy thì em cứ từ từ mà suy nghĩ!"
"Được."
Những ngày hai người yêu nhau sẽ như thế nào?
So với hoa còn đẹp, so với mật còn ngọt ngào hơn.
Cho dù làm gì cũng đều cảm thấy vui vẻ.
Đúng như Dịch Huyền nói, dù là sửa nhà vệ sinh, hay là thuộc da thì họ cũng đều cảm thấy vui, chưa kể những lúc xử lý hạt hạnh, hoa quả sấy khô, anh đào ngâm, hay mận tẩm mật ong thì càng khỏi phải nói.
Sau khi Hà Điền không còn tỏ ra khó chịu và phản kháng với việc "hôn môi" nữa, Dịch Huyền, người vừa mới biết được "mùi vị của tủy", luôn muốn nắm bắt mọi cơ hội để được hôn.

Buổi sáng khi Hà Điền vừa thức dậy, anh sẽ muốn hôn lên mái tóc mềm mại như nhung và khuôn mặt nhỏ nhắn còn chưa tỉnh ngủ của cô.

Mỗi lần muốn ăn cơm hay ăn mừng, ăn sáng gì đó, anh đều muốn hôn lên vành tai và tóc mai của cô, sau khi ăn xong, để tỏ lòng biết ơn đôi bàn tay bé nhỏ này đã làm ra những món ăn ngon, anh còn kéo tay cô đến trước mặt mình, hôn hoài hôn mãi.
"Nhìn đi, em xem, trên mu bàn tay của em còn có một cái lúm nhỏ này, giống như bàn tay em bé vậy!" Nói xong còn nắm chặt ở trong tay xoa xoa bóp bóp.

Mỗi lúc như vậy, Hà Điền đều nhìn về phía Lúa Mì, cảm thấy rất đồng cảm với nó.
Trước đây Dịch Huyền thường hay bóp chân của Lúa Mì, dạy nó cách bắt tay.

Sau khi bắt tay, anh sẽ bóp chân nó mà nói: "Đệm thịt nhỏ đáng yêu quá!"
Nếu không phải cô đứng thẳng cao bằng vai anh, cô đoán có lẽ mình cũng sẽ bị bắt phải làm những động tác giống như Lúa Mì, nhếch cái mũi, chấp tay đứng hai chân này nọ cũng không chừng.
Những điều này đều ổn, ít nhất là không ảnh hưởng đến công việc hàng ngày.
Nhưng mà có điều...!quá lãng phí thời gian.
Lúa Mì, kẻ bất ngờ bị thất sủng, hoàn toàn cảm nhận được sự cay đắng của một "cẩu độc thân".

Khi hai người chủ ôm nhau hôn hít này nọ, nó thường ngồi dưới chân họ và phát ra âm thanh r*n r*, như thể nó không hiểu chuyện gì đang xảy ra, hoặc là đang theo dõi và bình luận.
Đôi khi, nó sẽ có vẻ hơi bồn chồn, quay từ bên này sang bên kia, vòng quanh họ, ngửa mặt chó lên tò mò và phát ra những tiếng kêu kỳ quái.

Không biết nếu dịch từ ngôn ngữ của chó ra thì, có phải cũng sẽ giống với cái giọng mà nó đã dùng khi Dịch Huyền nâng nó lên cao hay không?
Một lần, Hà Điền lại nghe thấy tiếng Lúa Mì kêu một cách kỳ lạ, cô bối rối giãy giụa khỏi vòng tay của Dịch Huyền: "Lúa Mì đang nhìn kìa."
Dịch Huyền ôm cô không buông, nhìn Lúa Mì rồi cười nói với Hà Điền: "Chắc hẳn là nó ngửi được mùi gì đó rồi."
"Mùi gì?"
Anh cười nhìn cô, siết chặt tay hơn: "Theo em là gì? Là Pheromone* đó."
* Ở trường hợp này có thể được hiểu là chất hấp dẫn sinh dục.
Hà Điền đưa tay lên vả nhẹ vào mặt anh.

Anh cũng không dám nói bậy nữa.
Dịch Huyền muốn giảm bớt nỗi đau khổ cho "cẩu độc thân" Lúa Mì, anh để Hà Điền ở một bên chỉ đạo, còn mình thì làm chuồng cho nó.
Loại chuồng này khá tân tiến, cách xây dựng giống hệt như xây nhà gỗ, nhưng gỗ mà họ đang sử dụng nhỏ hơn nhiều.
Hà Điền đoán là Dịch Huyền muốn học cách xây nhà nên bây giờ làm mô hình nhỏ để luyện tay nghề một chút.
Cái chuồng được dựng và đặt ở hiên nhà, và Lúa Mì đáng thương đã bị đuổi ra ngoài, không còn đặc quyền vào nhà bất cứ lúc nào cũng được nữa.

Bây giờ nó đã có kích thước gần bằng một con chó săn trưởng thành, làm hư hết hai cái giỏ, lẽ ra phải nên dọn ra từ lâu rồi.
Nhưng nó vẫn kháng nghị một cách giận dữ trong vài ngày, phớt lờ Dịch Huyền, người đã xây chuồng chó và chuyển nó ra ngoài.
Ngay sau khi thu số quả đã phơi khô lại xong, đã có thể đi bắt cá hồi.
Họ cũng chế tạo ra vài máy cho ăn tự động, đặt chúng trong kho nơi nuôi thỏ và vịt.
Máy cho ăn tự động được chế tạo theo nguyên tắc cài đặt thời gian nhỏ giọt cổ xưa.

Một số ống tre sẽ được nâng lên bằng giá đỡ, các giọt nước nhỏ dần xuống chiếc phễu lớn của ống tre bên dưới, khi nước trong ống tre đạt đến độ cao nhất định, ống tre sẽ nghiêng và nhỏ giọt vào phễu tiếp theo, nước từ ống tre cuối cùng sẽ đẩy một ống tre xuống, viên bi nhỏ trong ống lăn đi và làm bật một cái chốt mở.

Ống tre chứa thức ăn sẽ được đổ vào máng treo bên ngoài chuồng mỗi ngày.
Mặc dù phương pháp này có hơi rườm rà, nhưng nó hoạt động tốt và rất dễ thực hiện.
"Mấy ngày này tụi mày chỉ có thể ăn cỏ khô thôi!" Đêm trước khi khởi hành, Hà Điền và Dịch Huyền đã bổ sung thêm thức ăn giàu protein cho vịt và thỏ.

Có năm máy cho ăn tự động được xếp thành hàng trong kho.

Hầu như không còn chỗ trống để đứng nữa.
Sáng sớm hôm sau, họ mang theo Gạo, Lúa Mì, lều và dụng cụ lên đường.
Thực ra, Hà Điền lo lắng cho mấy cây trồng ở nhà hơn là vịt và thỏ.

Bởi vì kê, khoai tây và khoai lang là những thực phẩm chủ yếu trong mùa đông này.

Còn củ cải trắng, cà rốt và cải thảo là những loại rau dự trữ cho mùa đông, cũng như bắp cải, ớt, cà chua, dưa leo...!thứ nào cũng đều đang trong giai đoạn tươi ngon hết.
Dù đã có hàng rào bao quanh và treo chuông gió, cối xay gió, nhưng ai mà biết được trong những ngày khi họ không có ở nhà này, những "vị khách" không mời mà đến có chạy ra đất trồng của họ nhai phá hay không?
"Có một năm, em và bà đi bắt cá, khi trở về thì đất trồng kê đều đã bị lật lên hết, là heo rừng kéo đến phá.

Mùa đông năm đó, chúng em chỉ có thể dùng củ cải trắng để làm lương thực chính." Hà Điền lo lắng nói.
Dịch Huyền hỏi: "Làm cách nào mà có thể sử dụng củ cải trắng như lương thực chính được?"
"Thì ngâm gạo tạp qua đêm rồi nấu với củ cải đã cắt, làm cơm củ cải.

Củ cải nấu chín mềm, vị cay bị gạo tạp hút hết cả rồi, nhiều khi còn bị gạo đen, gạo tím nhiễm màu, ăn cùng với cá xông khói...!" Hà Điền cười: "Thực ra nó khá là ngon đó."
Dịch Huyền hỏi vậy là vì muốn làm cho cô vui vẻ: "Vậy thì năm nay chúng ta cũng làm một ít ăn đi."
"Được thôi."
Bọn họ vẫn qua sông bằng cầu dây.
Lần này khi qua cầu, Gạo đã biết cầu an toàn, tuy còn sợ hãi nhưng nó chỉ đứng giữa cầu một lúc đợi cầu bớt lắc, rồi qua cầu một cách trôi chảy.
Sau khi qua cầu, tiếp tục đi trong khu rừng rậm và đi về hướng Bắc theo con suối nhỏ khoảng một tiếng đồng hồ nữa, khu rừng bỗng mở ra, cây cối đột ngột thưa thớt, nắng gắt hơn hẳn.
Tương tự như đường lên núi lửa, ở đây cũng đã mở ra một con đường.
Con đường mòn nhân tạo này rộng chừng một mét, gần như thẳng tắp, những cây giữa đường đã bị đốn hạ, chỉ còn trơ lại một vài gốc cây, nhưng giờ cũng đã mọc đầy cành và lá mới.
Hà Điền và Dịch Huyền vừa đi vừa chặt bỏ những cành lá mọc trên những gốc cây đó.

Lúc này, Gạo cũng đã biết tự giác, khi bọn họ chặt cành, nó sẽ nghênh ngang tiến về phía trước, vừa đi vừa ăn những cành mới và lá non trên gốc cây.
Cây cối hai bên đường cũng đã được cắt tỉa, những cành cây cách mặt đất bốn năm mét đã bị chặt hết, cao thẳng tắp, những tán cây hai bên trái phải đã sắp muốn chạm vào nhau, đến lúc đó, trên đường sẽ hình thành một cái mái che tự nhiên.

Và sau khi bị cản nắng, những gốc cây trên con đường này sẽ khó có thể mọc lại cành và lá mới được nữa.
Có một số gốc cây ven đường do không được tiếp xúc với ánh nắng, ẩm thấp, nên đã trở thành nơi trú ngụ mới của rêu xanh và nấm mốc.
Khi Hà Điền nhìn thấy các loại nấm có thể ăn được, cô sẽ chỉ cho Dịch Huyền xem, nào là nấm sừng hươu, nấm thịt, nấm hương, nấm có tán...
Con đường này có chiều dài dài hơn một km, vừa đi vừa tỉa lại cành, hái nấm, nên họ đi rất chậm.
Phải mất hai tiếng đồng hồ mới đi xong con đường này.
Cuối lối đi có một lùm cây, vì năm ngoái Hà Điền không đến được nên lùm cây này đã lan ra lối đi; dây leo, cỏ dại, cây non, hoa dại và nhiều cây mâm xôi chen chúc nhau khiến họ không thể đi qua được.
Lùm cây này ngăn con đường dẫn ra một con sông nhỏ, Hà Điền và Dịch Huyền chỉ có thể dùng một cái lưỡi liềm lớn để phát cây, tìm đường ra, mới có thể đến được bờ sông.

Cuối cùng cũng đến được bờ sông, mặt trời đã lên cao, thời gian nóng nhất trong ngày cũng bắt đầu.
Lúc này rất thích hợp để qua sông.
Con sông nhỏ này chỉ rộng ba bốn mét, nước trong suốt như pha lê, dưới đáy sông là những viên đá màu xám hình tròn, nơi sâu nhất có thể không tới eo của Hà Điền, và nước chảy cũng không gấp lắm, có thể đi bộ băng qua.
Hà Điền tháo túi trên lưng Gạo xuống, trong đó là quần áo thay và túi ngủ của họ: "Tiếp theo chúng ta phải nhấc túi qua sông chứ nếu để Gạo mang qua, em sợ túi sẽ bị ướt."
Vừa nói, cô vừa c** th*t l*ng, quàng qua cổ, sau đó c** q**n dài và vớ ra, cho vào túi rồi lại mang giày rơm vào.
Cô vốn tưởng rằng Dịch Huyền cũng sẽ làm như vậy, nhưng khi cô ngẩng đầu lên, Dịch Huyền lại lộ ra một bộ dạng đã lâu không xuất hiện, đỏ mặt nhìn ngón chân của cô, đừng nói là quần, ngay cả thắt lưng cũng còn chưa cởi nữa.
Sau một hồi thì anh cũng cởi vớ ra cất kỹ, đeo thắt lưng và các đồ dùng lên vai như Hà Điền đã làm, rồi buộc khẩu súng ngắn ngang vai: "Đi thôi, lát nữa anh sẽ thay quần sau."
Hà Điền nhìn anh từ trên xuống dưới, có chút tò mò, cười hỏi: "Anh sao vậy?"
Dịch Huyền nghiêng mắt qua nhìn cô: "Không sao cả."
Nước trong sông nhỏ là nước tuyết tan từ trên núi chảy xuống, ngay giữa trưa mùa hạ mà vẫn lạnh thấu cả xương.

Dưới đáy sông có rất nhiều sỏi đá, sỏi nhỏ sẽ theo cát tiến vào trong giày, xen vào kẽ các ngón chân, sỏi lớn thì trơn trượt, may mà đế giày rơm tạo lực bám tốt nên họ mới không dễ dàng bị ngã.
Sau khi qua sông, họ lại gặp phải một lùm cây rậm rạp khác, cây thấp nhất cũng cao khoảng sáu mét.
Hà Điền lấy quần áo sạch trong túi ra đưa cho Dịch Huyền, nhìn anh một chút, liền đỏ mặt nở nụ cười.
Anh nhìn ra được lý do vì sao cô lại cười, cũng trừng mắt làm ra vẻ cảnh cáo cô, rồi cũng cười theo.
Quần làm bằng vải lanh ngâm nước đã hoàn toàn dính vào người, thật ra cũng không khác biệt gì mấy so với không mặc.
Khi Dịch Huyền thay quần áo, Hà Điền không khỏi suy nghĩ, có phải c** q**n ra rồi thì có thể nhìn thấy đuôi rồng không?
Quần áo ướt có thể đem phơi trên bụi cây, còn giày thì đổi một đôi khác, Dịch Huyền đang sửa sang lại quần áo thì nghe thấy Hà Điền hét lên: "Cá! Cá tới rồi!"
Cô rút vợt cá từ trong túi đựng trên lưng Gạo ra, nhảy xuống sông, nhấn vợt vào trong nước.
Dịch Huyền vội vàng đến giúp, nước bắn tung tóe thành một đám sương mù trắng xóa, anh và Hà Điền cùng nhau nắm tay cầm của vợt cá cố nhấc nó lên.

Bên trong vợt là một con cá hồi đang điên cuồng vặn vẹo, lớp vảy màu bạc sáng lấp lánh bên dưới ánh mặt trời.
Cả hai lôi vợt vào bờ, kinh ngạc hét lên.
Con cá hồi bạc này nặng ít nhất một chục ký, dài gần bằng cánh tay của Dịch Huyền, có đầy vảy bạc nhỏ và một số mảng màu xám gần lưng.
Cá được kéo vào bờ vẫn còn đang không ngừng giãy, vợt cá cũng theo đó mà nẩy lên theo.
Hà Điền đè đầu con cá, ấn đầu gối vào mình nó, dùng ngón tay ngoáy vào mang cá, xé rách mang màu đỏ, con cá chết ngay sau đó.

Cô mang cá đến bên sông rửa sạch, lấy dao rạch bụng và lấy nội tạng cá ra.
Đây là cá trống, bên trong bụng có rất nhiều mỡ.
Vậy là cơm trưa hôm nay đã có rồi.
Dịch Huyền tìm một ít củi khô, xếp đá, dựng một đống lửa rồi nhóm lửa lên, sau đó anh tìm hai cành cây dài, chặt ngọn của nó thành hình chữ Y, c*m v** hai bên đống lửa.

Hà Điền lấy hai miếng thịt cá ra xiên vào hai cành cây.

Đặt hai xiên cá cạnh nhau trên giá rồi nướng.
Đầu cá và xương cá đều bỏ đi, ném xuống sông, mỡ cá thì cho Lúa Mì ăn.
Cá hồi chỉ sau vài phút nướng là đã có thể ăn được, thịt cá ban đầu có màu cam giờ đã chuyển sang màu hồng nhạt, mỡ chảy ra, mùi thơm phức, rắc một chút muối lên, nhẹ nhàng thổi thổi, ăn ngon cực kỳ.
Từ lúc này trở đi, khi ăn, hai người đều sẽ ngồi đối diện nhau và phải luôn tỉnh táo.

Bởi vì nơi này gần với địa bàn của loài gấu.
Bữa trưa này đến rất kịp thời và ngon miệng, duy nhất không được hoàn mỹ chính là họ chỉ có thể ngồi ăn ngoài nắng.
Lúc chặt củi Dịch Huyền cũng đã cắt một vài ngọn cỏ và treo chúng lên nón của hai người để tạo ra một chút mát mẻ.

Gạo vui vẻ nghỉ dưới gốc cây, Lúa Mì thì vì bơi qua sông mà ướt cả người nên giờ đang nằm phơi nắng, tội nghiệp vô cùng, may mắn là có đồ ăn ngon, Hà Điền cho nó một miếng cá sống lớn, còn có mỡ cá vừa ngon vừa bổ dưỡng nữa.
Ăn no rồi, vừa vặn có sức mà chặt cây dọn đường.
Phía sau có một khu rừng, trong rừng còn có một con đường do ông bà của Hà Điền mở ra, có thể giảm thiểu thời gian băng rừng rất nhiều.
Đến chiều tối, họ đến một thung lũng sông, ở đây có nhiều thác nước lớn nhỏ, thượng nguồn là con sông với rất nhiều cá chết mà họ đã trú lại lúc mùa đông, các con sông ở hạ lưu liên tục tách ra rồi lại nối nhau kéo dài hàng trăm km, dẫn ra biển.

Cứ đến mùa hè, cá hồi và các loài cá di cư nở ra ở các suối trên núi sẽ lội ngược dòng, trở về nơi sinh sản và đẻ trứng tại đó.
Bọn họ đã tìm được một nơi thích hợp trong khu rừng để trú lại, dựng một chiếc lều bên sông.
Trong vài ngày tới, họ sẽ bắt càng nhiều cá hồi càng tốt, đảm bảo một mùa đông không lo rầu về cái ăn cái mặc..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 66: 66: Mì Cá Hồi Và Nấm Dại


Sáng sớm hôm sau, Hà Điền nấu một nồi trà gừng táo tàu đỏ lớn rồi cho vào bình bỏ vào áo khoác bông để giữ ấm, cô treo nó ở trước ngực, bên hông còn đeo một khẩu súng ngắn, bởi vì lúc này muốn bắt cá hồi không chỉ có mỗi mình bọn họ.
Bắt cá hồi không khó, mà nói dễ cũng không dễ.
Cá hồi di cư giống như một con tằm chui ra khỏi kén, nhiệm vụ duy nhất còn lại trong cuộc đời của nó là hoàn thành quá trình sinh sản.

Vì vậy, chúng không kiếm ăn, ngày đêm lội ngược dòng và không ngừng bơi về dòng nước ngọt, nơi chúng được sinh ra.

Những tảng đá to dưới sông, dòng chảy mạnh và cả cái miệng của loài gấu đáng sợ cũng không thể nào ngăn cản được chúng.
Do đó, không thể sử dụng mồi để câu cá được.

Chỉ có thể dùng lưới để vớt.
Mà khó khăn nhất là ở chỗ cá hồi trưởng thành phần lớn đều nặng hơn chục ký, có con mười lăm ký cũng rất bình thường, có loại hai mươi ký, ba mươi ký, thậm chí còn nặng hơn nữa.

Chúng tràn đầy năng lượng, có thể nhảy cao hơn một mét, lúc vặn mình cũng dùng rất nhiều lực.

Trên người chúng là lớp vảy tinh tế tỉ mỉ cùng với một lớp chất nhầy, điều này làm cho việc bắt chúng càng trở nên khó khăn hơn.

Hãy tưởng tượng thử mà xem, muốn nâng một cục xà phòng dài cỡ cánh tay và nặng mười lăm kg lên khỏi mặt nước có dễ hay không? Chưa nói đến cục xà phòng to đùng này còn liên tục giãy giụa, nếu bị cái đuôi của chúng quất một cái thôi thì cũng đủ khiến cho người ta choáng váng, chảy cả máu mũi.
Nhưng mà thịt chúng rất ngon...
Thịt cá sau khi ướp và xông khói có thể ăn được cả một mùa đông, nếu có chúng thì mùa đông này họ không cần phải đục băng câu cá nữa, lúc nào muốn ăn cá tươi thì chỉ cần bắt vài con là được.

Vừa nghĩ đến việc không cần phải kéo lưới đánh cá trong thời tiết âm ba mươi độ, Hà Điền cảm thấy vui lắm.
Hôm qua sau khi dựng lều xong, Hà Điền đã ráp một cái lưới vợt cá khác.
Chiếc vợt cá hồi này được làm bằng thân tre cực kỳ cứng cáp, đường kính vòng lưới hơn nửa mét, dây lưới cũng đặc biệt chắc chắn.
Cá hồi là loài động vật hoạt động theo nhóm, khi xuất hiện ở sông thường thành đàn, gặp đàn cá thì đừng có mà phân vân, dùng lưới vớt một cái là có thể tóm được ngay.

Thường thì có thể bắt được hai con cá hồi trong một mẻ lưới, nhưng để đưa hàng chục kg cá hồi sống vào bờ thì không hề dễ dàng gì, lòng sông đầy đá trơn, nếu không cẩn thận sẽ ngã xuống ngay, cá vừa mới đến tay sẽ lại tuột mất.
Trước khi mặt trời mọc, họ ăn lót dạ trước, sau đó cho hết lương khô vào trong túi và cột lại, cột một sợi dây vào túi, một đầu cột một hòn đá, đem phần có hòn đá ném về phía cành cây lớn, khi đá treo trên cành rồi buông xuống, lúc này cầm lấy đá và dây kéo túi lên rồi cột chặt dây vào thân cây, vậy là túi đựng thức ăn đã được treo chắc trên cành cây.
Làm vậy không chỉ để bảo vệ thức ăn mà còn để ngăn những động vật săn mồi bị mùi thức ăn thu hút tìm đến nữa.
"Chắc anh cũng không muốn vừa mở cửa lều ra thì đã thấy ngay một con gấu đang nằm ở trong đó, ăn hết đồ ăn khô làm món khai vị, rồi chờ bữa ăn chính là chúng ta đâu ha!"
Hà Điền nói một hơi, thắt chặt dây thừng, rồi hướng dẫn cho Dịch Huyền làm theo, luyện tay trước, bởi vì khi bắt được cá hồi họ cũng phải cho cá vào túi rồi treo lên cây giống vậy.
Hiện sông vẫn còn đang rất lạnh, phải đợi một lúc nữa thì mới xuống nước được.
Trong lúc chờ đợi họ cũng không nhàn rỗi, đi nhặt một ít củi khô đem về để sử dụng dần, cũng chặt một vài cây nhỏ để chuẩn bị làm chòi xông khói cho cá.
Lúc kiếm củi, Hà Điền liên tục nhìn ra dòng suối, thì thầm: "Cá hồi, mau đến đây! Mau đến đây đi!"
Mọi thứ đã sẵn sàng, mặt trời đã lên cao, Hà Điền xắn ống quần lên, cột chặt đôi giày rơm lại, xách vợt cá xuống sông.

Nước lạnh khiến cô cứ rùng mình mãi, may mà có bình nước trước ngực tỏa ra hơi ấm.
Không ai biết bao giờ cá mới đến, cho nên họ chỉ có thể chờ thủ thế ở nơi này mà thôi.
Sau nửa tiếng, mặt trời càng lúc càng lên cao, cuối cùng thì cá cũng đã đến!
Dịch Huyền nhìn thấy bóng lưng màu xám bạc của chúng từ xa, đang tung tăng nhảy trong dòng nước.

Anh nắm lấy tay cầm của vợt cá, căng lưới dưới dòng nước mà cá phải vượt qua, rồi dùng sức nhấc lên, con cá hồi nằm trong lưới không ngừng giãy giụa, từng tràng nước bắn lên tung tóe, Lúa Mì đứng trên bờ cũng sủa vui mừng.
Anh giơ cao vợt bước từng bước vào bờ, dòng nước còn khá xiết, nước không ngập đến đùi, bước đi không mấy dễ dàng.
Anh vừa vào đến bờ, Hà Điền cũng bắt được hai con cá.
Cô vui vẻ ra mặt, lôi một cái giỏ tre to hình chữ nhật xuống sông, bỏ hai tảng đá to vào rồi cẩn thận cho từng con cá vào, đậy kín giỏ lại.
Trên nắp giỏ có hai vòng dây, có thể cột chặt vào mép giỏ để cá bên trong không nhảy ra ngoài.
Trong giỏ có thể chứa được hơn chục con cá, Hà Điền muốn chờ bắt thêm nhiều cá rồi mới đem giết một lượt, sau đó xông khói.

Bây giờ thì tạm thời rọng nó trong một cái giỏ tre trước.
Họ lại quay trở lại sông, đợt cá này đã bơi đi rồi, phải đợi đợt cá tiếp theo.
Lần này, phải đợi hơn nửa tiếng.
Giờ thì Dịch Huyền đã hiểu tại sao Hà Điền lại nấu canh gừng, đôi chân của anh lúc này đã hoàn toàn mất đi tri giác luôn rồi.
Trong sông có nhiều tảng đá lớn, nước sông va đập vào đá tạo thành sương mù, rất nhanh đã khiến cho tóc và cơ thể họ đều ướt hết.

Dù trên đầu có nắng to chiếu xuống nhưng họ vẫn rất lạnh.
Dịch Huyền thấy môi Hà Điền đã trắng bệt, nên nói: "Mình nghỉ ngơi một lát đi em."
Ngay cả nướu răng của Hà Điền cũng đều đang run lên, nhìn mặt nước không thấy cá đến, cô đành phải tạm thời lên bờ, uống một chút nước nóng và ăn một ít bánh mì khô để bổ sung năng lượng.
"Lát nữa có trứng cá, chúng ta sẽ làm trứng cá muối ngay!"
"Nếu có rượu trắng, bây giờ nhấp một ngụm thì người sẽ ấm lên liền."
"Có ủng với áo liền quần cao su thì tốt rồi.

Trước đây ngư dân đều mặc như vậy cả."
"Dù có mặc áo liền quần cao su thì đứng trong nước vẫn lạnh lắm."
Sau một lúc nghỉ ngơi, họ quay trở lại con suối.
Cũng may là sau khi chờ đợi chưa đầy nửa tiếng, một đợt cá khác lại bơi đến.
Lần này họ không kéo vợt cá lên bờ nữa, Hà Điền mang theo một cái túi vải, cô và Dịch Huyền bắt cá trong lưới vợt cho vào chiếc túi ấy.

Túi vải được cột chặt bằng dây và treo trên thắt lưng của Dịch Huyền.

Sau khi cho cá vào túi thì thả xuống nước, cá có thể tiếp tục sống.
Điều này có thể tiết kiệm được thời gian và cho phép họ bắt thêm một vài con khi đàn cá xuất hiện, nhưng mỗi lần cho cá vào túi rất cực, đặc biệt là khi trong túi có nhiều hơn ba con cá, việc này gần như là không thể nào làm được.

Dịch Huyền bị đuôi cá đập mạnh vào cánh tay, Hà Điền thì suýt bị trượt chân, mặc dù vịn được tảng đá lớn bên cạnh nên không ngã xuống suối nhưng quần áo của cô gần như là ướt hết.
Hai người kéo túi vải lên bờ, đổ cá vào trong sọt, bên trong sọt lại là một trận khổ chiến, một con cá suýt nữa thì nhảy ra ngoài.
Hà Điền bực mình: "Nhảy ra con nào thì làm thịt con đó ngay!"
Tất nhiên là chỉ nói vậy mà thôi.
Nhưng mà trên người và đầu cổ hai người đều đã ướt sũng hết, lạnh đến răng run cầm cập, chỉ có thể đốt tạm một đống lửa bên bờ sông, thay quần áo, phơi quần áo ướt dưới nắng cho khô rồi ngồi hơ bên đống lửa, uống chút canh gừng cho cơ thể ấm lên rồi lại tiếp tục đi bắt cá.
Đến cuối ngày, nhìn vào thành quả thu được, lần lượt đem những con cá hồi béo mập này đi cạo vảy và làm sạch, rồi mổ xẻ, cảm giác đạt được thành tựu và thỏa mãn đã bù đắp hết cho cái rét lạnh và sự mệt mỏi mà họ đã trải qua.
Mặt trời lặn xuống núi, khắp nơi trong rừng bắt đầu xuất hiện một loại muỗi đen nhỏ, từng bầy từng bầy đen nghịt bay vờn quanh họ.
Mũi của Lúa Mì và Gạo bị cắn đến chảy cả máu.
Hà Điền kêu Dịch Huyền đốt một vài đống lửa xung quanh lều, cô tìm một số cây bạch dương, bóc một phần vỏ cây và cắt một vài cành có lá, đốt chúng lên.
Khói làm muỗi không dám đến gần, Gạo và Lúa Mì cuối cùng cũng được yên ổn một chút.
Những lát cá được cắt đôi theo chiều ngang được ướp vài tiếng trong nước ấm pha muối loãng, sau đó đem đi xông khói.
Khi ướp cá, có thể thêm các gia vị khác tùy theo sở thích của mình, Hà Điền cho thêm muối, đường, nước tương và một ít bột lạ vào.
Dịch Huyền hỏi cô trong bột có gì, cô trả lời một cách rất là đắc ý: "Đây là bí mật của em."
Anh dùng đầu ngón tay chấm một ít bột, nếm thử, chỉ có thể nếm được mùi của hoa tiêu, còn cái gì nữa thì anh thật sự đoán không ra.
Sau khi mặt trời lặn, trong lòng sông càng lạnh hơn nữa, đứng mười phút ở trong nước sông mà đã lạnh run người.
Đợi Dịch Huyền bắt được một con cá nữa, anh gọi Hà Điền: "Nghỉ thôi em! Lạnh quá rồi."
Hà Điền lắc đầu: "Chúng còn đến nữa, em muốn đợi thêm một lát." Cô mặc áo khoác lông hươu nhưng vẫn run rẩy hết cả người, trên môi không có một chút sắc máu nào.
Dịch Huyền cũng không thèm nói nhảm với cô, sau khi cho cá vào túi vải, nhét vợt sau thắt lưng, anh đi thẳng tới, đặt hai tay dưới nách cô, nâng cô lên, vác lên vai rồi đi lên bờ.
Hà Điền sợ hãi hét lên một tiếng, không dám giãy giụa vì sợ hai người đều sẽ ngã nhào, cô nằm trên vai Dịch Huyền tức giận vỗ nhẹ vào lưng anh: "Sao lại ôm em như vậy? Em đâu phải Lúa Mì!"
Trước kia cô đã nghĩ sai rồi, cho dù chỉ đứng tới vai anh, nhưng chỉ cần Dịch Huyền muốn, cô vẫn có thể bị anh nhấc lên cao giống như là Lúa Mì thôi.
Dịch Huyền bật cười, anh bị cô đánh vào lưng, trong tiếng cười của anh còn mang theo một chút âm thanh chấn động.
Khi lên đến bờ, anh đặt cô xuống đất, nắm lấy bàn tay lạnh ngắc của cô: "Em xem, em lạnh thế này rồi, bắt được thêm vài con cá nữa thì cũng có ích gì? Em là con gái, không thể để bị lạnh được."
Hà Điền để cho anh nắm tay mình, gật đầu: "Dạ."
Trở lại lều, Hà Điền đốt lửa lên, Dịch Huyền mang một thùng nước về.
Họ bắc một cái nồi lên bếp, đun nước sôi rồi cho hai cuộn mì vào.

Những sợi mì này to đến một cm và được cố tình ép cho thật dẹp để thuận tiện cho việc mang theo, sợi mì dù có bị nát cũng không ảnh hưởng đến hương vị sau khi nấu.

Nếu là loại sợi mì trắng giống như Dịch Huyền đã nói thì có khi đã bị biến thành bột luôn rồi cũng không chừng.
Mì đã chín, họ vớt ra cho vào nồi sắt đổ đầy nước lạnh, để ráo, sau đó bắc chảo lên, cho miếng mỡ ngỗng vào đun trên lửa, rồi cho vài miếng nấm đã hái ở dọc đường vào, xào đều.
Loại nấm rừng này muốn ăn cũng rất phiền phức, vì chúng mọc sát đất, khi mưa hạt mưa tạt xuống, bùn bắn tung tóe đều văng hết lên nấm.

Nấm mọc gần gốc cây cũng vậy, cát và vụn vỏ từ trên thân cây đều sẽ rơi xuống ô nấm nhỏ, nên trước khi ăn phải dùng bàn chải nhỏ chà sạch cẩn thận, nhưng một khi đã cho vào chảo dầu, mùi thơm bốc lên, những thứ vụn vặt tầm thường kia đều trở nên đáng giá.
Đem nấm rừng xào chín vàng rồi cho hai khoanh cá dày nhất vào.

Sau khi cá được chiên lên, đợi thịt cá có màu cam hồng với vân mỡ trắng đẹp mắt thì cho mì vào chảo xào sơ qua cho mì thấm nước dùng của cá và nấm, cuối cùng cho thêm một chút muối vào là có thể ăn được.
Ăn no rồi, họ lại ăn thêm mấy quả mâm xôi hái hôm qua nữa, sau đó đun một nồi nước lớn, đổ vào thùng gỗ, cho chân vào ngâm một lúc, chút hơi lạnh còn sót lại trong khớp xương cuối cùng cũng đều tan biến hết.
Lúc này, những miếng thịt cá ướp trong nước muối đã có thể mang đi xông khói.
Bó ba cộc gỗ đã chặt buổi sáng lại, bung ra rồi dựng trên mặt đất thành hình nón, sau đó đậy một miếng vải dầu lên trên để tạo thành một chiếc lều nhỏ.
Cách mặt đất hơn một mét, họ kê một tấm lưới tre trên ba cộc gỗ, bên trên đặt đều những lát cá đã cắt sẵn, bên dưới thì bắt đầu nổi lửa.

Những cành dương và bách đỏ vẫn còn ướt chẳng mấy chốc đã tỏa ra khói xanh, lúc này đậy kín tấm vải dầu lại, chiếc lều nhỏ trở thành một túp lều thịt xông khói tạm bợ.
Sáng sớm ngày hôm sau, Hà Điền và Dịch Huyền đã có một đêm thật ngon giấc, cá thì cũng đã được xông khói xong.
Thịt cá hồi xông khói vẫn giữ được màu đỏ cam tươi, trở nên cứng hơn và teo lại rất nhiều, hơi ẩm trong cá cũng bay đi trong quá trình xông khói.

Thịt cá có thể được xông khói tiếp và trở nên cứng hơn nữa, hoặc cũng có thể mang về nhà bỏ vào trong hũ thủy tinh chứa đầy nước muối, điều này sẽ giúp thịt cá mềm và bảo quản được lâu hơn.
Hôm nay, bữa sáng của họ là trà nóng với bánh mì và cá xông khói, cùng với một muỗng trứng cá muối.
Trứng cá hồi cũng có màu cam rất đẹp, thậm chí còn có một số trứng cá hồi màu đỏ tươi.
Trứng cá hồi có kích thước bằng hạt đậu Hà Lan khô, ngọt và ngon hơn trứng cá chó nhiều.
Sau khi ăn no, họ mang theo dụng cụ, Gạo và Lúa Mì xuất phát đi về phía thượng du.
Tối hôm qua sau khi thảo luận, cả hai quyết định mạo hiểm ngược dòng để bắt cá.
Sông ở đó rộng hơn, nước chảy êm hơn, có rừng tre, họ có thể chặt một ít tre làm tấm lưới lớn hình chữ nhật, dùng đá và cọc gỗ cột lại thành hình chữ V ngược rồi cố định xuống sông, khi bầy cá bơi đến trước lưới sẽ không thể bơi tiếp được nữa, lúc đó thì, ha ha ha ha, tha hồ mà bắt.
Điều này cũng có phần nguy hiểm, bởi vì nơi đó cũng là địa điểm bắt cá yêu thích của gấu nâu.
Sau khi cho những miếng thịt cá xông khói vào một cái túi vải dầu rồi treo trên cây, họ bắt đầu lên đường.
"Nếu mọi việc suôn sẻ, chúng ta có thể làm lưới trước buổi trưa, buổi chiều thì bắt cá." Trong rừng tre, Hà Điền và Dịch Huyền cũng rất thận trọng, lúc nói chuyện cả hai đều hạ giọng xuống, Gạo và Lúa Mì cũng vậy.
Đặc biệt là Gạo, ở nơi này nó đã bị xếp vào loại chuỗi lương thực cấp thấp, do đó cần phải thật thận trọng.
Những cành lá cao trong rừng tre rậm rạp che khuất bầu trời, làm cho tầm nhìn kém đi rõ ràng, phạm vi quan sát cũng thu nhỏ lại, còn có lá rụng dày đặc, đá rêu, tre gãy...
Khi Hà Điền và Dịch Huyền chặt tre, họ phải thay phiên nhau cúi xuống, để một người đứng thẳng và cảnh giác xung quanh.
Lúc này vai trò của Lúa Mì rất quan trọng.

Mũi của chó săn rất nhạy cảm, chúng không chỉ ngửi được mùi từ cách xa vài km, mà nếu trời không mưa, chúng còn có thể ngửi thấy mùi còn lưu lại hơn mười tiếng, thậm chí là vài ngày trước.

Nếu Lúa Mì không có biểu hiện gì bất thường thì thường có nghĩa là các con thú dữ chưa đi vào phạm vi hoạt động của họ.
Làm lưới tre cũng không cần nhiều tre, chỉ cần hai cây cao năm hoặc sáu mét, to cỡ bằng hai bàn tay chụm lại là đủ rồi.
Nhanh chóng chặt tre, họ chuyển tre ra sông và bắt đầu đan lưới tre.
Con sông nhỏ này rộng sáu bảy mét, nước chảy êm đềm hơn so với con sông nhỏ hôm qua nhiều, dưới lòng sông không còn tảng đá lớn, nước sâu đến thắt lưng và rất trong.
Đầu tiên Hà Điền và Dịch Huyền cưa một cây tre thành hai đoạn dài ba mét, sau đó cô dạy anh chẻ tre thành những dải rộng bằng ngón tay.

Họ tìm thấy một số củi gần đó, đốt lửa và đặt những đoạn tre đã chẻ lên lửa để hơ, làm vậy tre sẽ đàn hồi hơn, dễ uốn cong, có thể uốn thành hình vòng cung.
Cây tre còn lại thì chẽ làm sáu lát lớn bằng cỡ ba ngón tay, sau đó cột phần đầu, đuôi và giữa của mỗi hai lát lại với nhau.
Sáu lát tre chia thành ba nhóm được đặt song song trên mặt đất, tiếp đó lần lượt đem các lát tre cắm xen kẽ vào cặp lát tre đã cột trước đó, những chỗ giao nhau được cột chặt bằng dây thừng, dần dần tạo thành một lưới tre.

Giữa những dải tre uốn cong là những lỗ trống, kích thước lỗ phải nhỏ hơn thân của cá hồi, vừa đủ để ngăn chúng lại.

Phương pháp này cũng có thể được sử dụng để làm hàng rào tre, nhưng các dải tre thì được chẻ nhỏ và đan khít hơn.

Lưới tre để bắt cá thì không cần phải tỉ mỉ như vậy, chỉ cần có thể ngăn chúng tiếp tục bơi về phía trước là được.
Làm lưới tre xong thì cũng đã gần trưa.
Hôm nay Hà Điền không còn lo lắng như hôm qua nữa, sau khi cùng Dịch Huyền ăn bánh mì và uống một chút trà gừng thì bắt đầu tìm đá và cộc gỗ để cố định lưới tre lại.
Sau đó, họ cùng nâng tấm lưới tre lên, Dịch Huyền ở phía trước còn Hà Điền thì ở phía sau, đi về phía trung tâm của con sông.
Khi đến giữa sông, đầu tiên họ cố định một cộc gỗ và dùng nó chặn thẳng ở trước lưới tre, tiếp đó thì sẽ dễ dàng xử lý hơn.

Lưới tre thưa rất dai và dễ uốn cong, sau khi cấm thêm hai cộc gỗ ở hai bên tấm lưới, bị lực của nước sông đẩy, tấm lưới tre dần được cố định lại, sau mười phút, một hình chữ V ngược được tạo thành.
Lưới tre chắn một lượng nước nhất định, nước sông lướt qua hai bên hông, càng khiến cho hình chữ V này dần trở nên kiên cố hơn.
Trên sông có đàn cá lướt qua, bị lưới tre chặn lại, chẳng mấy chốc đã tụ tập thật đông trước lưới.
Hà Điền và Dịch Huyền lấy túi lưới lớn từ phía sau lưng ra, bắt đầu bắt cá!
Công việc chuẩn bị đầy đủ suốt buổi sáng rõ ràng là không hề uổng công, họ chỉ mất nửa tiếng là đã bắt được ba mươi mốt con cá.
Những con cá này đều được cho vào một cái sọt trên lưng Gạo, đưa về lều để chế biến.
Gạo đã nhàn nhã gần một ngày, bất mãn vì trọng lượng trên lưng càng lúc càng nặng, mũi thở phì phì.
Ngay khi Hà Điền và Dịch Huyền xuống sông bắt cá lần nữa, Lúa Mì trên bờ đột nhiên sủa vào khu rừng bên bờ đối diện, nhe hàm răng nhọn hoắt màu trắng, đuôi dựng đứng lên.
Hà Điền lập tức cảnh giác nhìn về phía bên kia, cô nhanh chóng kéo cánh tay của Dịch Huyền và nói nhỏ: "Gấu."
Dịch Huyền đang cầm tay cầm của vợt lưới, cứng người nhìn về hướng Hà Điền đang nhìn, quả nhiên trong rừng có một con gấu nâu to lớn, cao gần hai mét, đó là một con gấu mẹ, phía sau nó, hai con gấu nhỏ theo sau.
Lúc này Hà Điền đã cầm súng lên.
"Làm sao bây giờ?" Dịch Huyền nhỏ giọng hỏi cô.
"Chúng ta vừa lui vừa quan sát."
Dịch Huyền nhét túi lưới sau lưng, giương súng rồi cùng Hà Điền từ từ rút vào bờ.
Gấu mẹ và gấu con đứng trong rừng, nhìn họ qua sông, và cũng rất cảnh giác.
Lên bờ, Hà Điền kéo Gạo đi nhanh vào rừng cây, Dịch Huyền vừa lui vừa nhìn, không dám thả lỏng.
Tốc độ của gấu có thể dễ dàng đạt tới 50 km / h khi chạy hết sức, nếu bây giờ gấu mẹ muốn đuổi theo thì con sông nhỏ này chỉ có thể giúp họ trì hoãn không tới nửa phút.
Ngay cả khi có súng, còn chưa kịp cầm súng lên nhắm thì nó đã nhảy ngay đến trước mặt rồi, kết quả thật khó mà đoán trước được.
May mắn thay, nó đã không đuổi theo.
Có thể là vì con của nó háo ăn, hoặc cũng có thể vì đã có đủ thức ăn nên tạm thời nó không thèm quan tâm đến những con thú hai chân xâm phạm vào lãnh thổ của nó nữa.

Nhìn thấy bọn họ chạy vào rừng khoảng mấy trăm mét, gấu mẹ liền dẫn gấu con xuống sông, thưởng thức bữa tiệc buffet cá hồi trong lưới tre.
Thật tiếc là bữa tiệc buffet không kéo dài.
Hà Điền và Dịch Huyền trốn trên một khu đất cao, nhìn mấy chú gấu con nghịch ngợm chẳng mấy chốc đã đẩy ngã lưới tre, đàn cá hồi bơi ngược dòng vội vàng lao đi.

Mặt của hai chú gấu con bị đuôi cá quật trúng, chúng gào lên, trốn sau lưng gấu mẹ.
"Ha ha ha!"
"Gấu con ngốc!"
Sau khi thoát khỏi nguy hiểm, nhìn những con thú dữ hoang dã làm những việc ngốc nghếch ở khoảng cách gần như thế này, cũng thật là thú vị..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 67: 67: Canh Bá Vương


Chỉ trong hai ngày họ đã bắt được gần năm mươi con cá hồi.

Hà Điền quyết định, nhiệm vụ đánh bắt cá hồi năm nay đã hoàn thành.
Sáng hôm sau, họ quay trở về.
Tất nhiên là họ có thể tiếp tục chấp nhận rủi ro, nhưng sau khi tính toán thì cho dù mỗi ngày đều ăn cá, năm mươi con cá đó họ có thể ăn được trong gần ba tháng.

Huống chi họ còn có rất nhiều thịt xông khói.
Như vậy là đủ rồi.
Cuộc hành trình này kéo dài tổng cộng bốn ngày, họ trở về nhà vào tối ngày thứ tư.
Về đến nhà, thấy hoa màu trong vườn phát triển tốt nên họ cũng phần nào yên tâm, sau đó đi kiểm tra vịt và thỏ.

Máy cho ăn tự động vẫn đang hoạt động bình thường, trong đó còn một mẩu thức ăn khô đang sắp tuột vào trong máng.

Thoạt nhìn chúng đều rất tốt, nhưng mà trong chuồng hôi thối không chịu được.
Dịch Huyền thả tất cả vịt ra để Lúa Mì lùa chúng bơi trong ao, thực ra thì cũng không cần phải lùa, vịt bị nhốt lại ba bốn ngày, ngay khi cửa lồng mở ra, chúng lao ra và lắc lư chạy về phía ao.
Những con thỏ thì cũng được mang ra bãi đất có rau hư nát để chúng hoạt động gân cốt.
Với lượng rau thu hoạch ngày càng nhiều, họ đã mở thêm một khu nhỏ gần đất trồng rau, đem những lá rau hư nát, dưa leo mướp già, cà chua hỏng, cà rốt và củ cải trắng còn sót lại...!ném vào bên trong.

Hà Điền và Dịch Huyền dứt khoát đóng luôn vài hàng rào tre xung quanh mảnh đất này, gọi nó là vòng thỏ.
Cỏ dại mọc trên mặt đất cũng không thành vấn đề, dù sao thì thỏ cũng sẽ ăn hết.

Thỏ thả rông kiếm ăn trong khu đất nhỏ này, phân và lá rau thối trộn lẫn với nhau, cứ vài ngày chúng lại được bới tung lên, đợi đến mùa xuân, đất đai sẽ rất màu mỡ.
Hai người chia nhau ra, một người đi dọn chuồng vịt và thỏ, người kia thì đi sắp xếp cá xông khói mang về, một nửa treo vào kho thịt xông khói để tiếp tục xông, nửa còn lại thì cho vào hũ thủy tinh hoặc vại sành đựng đầy nước muối, đậy kín rồi cho vào hầm.
Mỗi khi Hà Điền trèo xuống hầm, cô đều có cảm giác hài lòng thỏa mãn, thích nhìn những giá gỗ trong hầm dần chất đầy các loại thực phẩm lưu trữ.

Thỉnh thoảng cô cũng cầm theo ngọn đèn dầu để xem xét, ngắm nghía từng ngăn kệ, đếm xem có những thực phẩm nào, có bao nhiêu cái, rồi xếp bình, hũ lên kệ cho gọn gàng hơn.
Vậy nên, khi nhận thấy số lượng một loại thực phẩm nào đó đang giảm đến mức báo động, lòng cô vô cùng khủng hoảng.
"Chúng ta chỉ còn lại một hũ trứng vịt muối."
Ngay khi Dịch Huyền trở về sau khi quét dọn chuồng vịt, Hà Điền trông không khác gì một con chuột từ trong hầm trèo lên, nói một câu như vậy.
Anh bước tới cầm lấy ngọn đèn dầu, kéo cô lên: "Vậy phải làm sao bây giờ?"
"Haizz, mấy con vịt này cũng đã nuôi được hai tháng rồi.

Không biết đến khi nào thì chúng mới bắt đầu đẻ trứng?" Hà Điền thở dài, rồi quyết định: "Vài ngày nữa mình đi đào trứng rùa."
Trứng rùa không phải ở đâu cũng có.
Loại rùa mai mềm mà Hà Điền nói có nhiều nhất ở thung lũng bên dưới núi lửa.

Có thể nhìn thấy chúng trên bãi cát quanh hồ và trên cồn đất nhỏ trong hồ.

Cứ đến mùa hè, chúng sẽ chui vào bãi cát để đẻ trứng, nếu đẻ nhiều, số lượng có thể lên đến gần trăm trứng, còn ít thì cỡ trên hai mươi.
Trứng rùa nhỏ cỡ gần một nửa quả trứng vịt, vỏ màu trắng, ăn rất ngon...
"Ngon như trứng vịt vậy!" Hà Điền nói với Dịch Huyền: "Thịt rùa cũng ngon lắm."
"Em đã nói một lần rồi." Dịch Huyền vẫn không thể nào tưởng tượng ra được vị của thịt rùa ăn sẽ ra sao.

Anh chưa từng ăn thịt rùa.

Ở thành phố nơi anh từng sống không có ai bán thịt rùa cả.
Có phải hấp trên nồi hấp như cua không? Đặt một hòn đá trên nắp để ngăn nó bò ra ngoài à? Hay là dùng rìu chặt thành từng miếng rồi xào lên ăn?
Ngoài thung lũng suối nước nóng, gần hồ nước của núi gần đó cũng có rùa mai mềm.
Thật ra thì bọn họ đã từng đi qua hồ nước này rồi.

Lúc đó là đến núi lửa để lấy lưu huỳnh.
Bây giờ có cầu rồi, đi chỉ mất khoảng một ngày mà thôi.
Tuy nhiên, họ còn có nhiều việc quan trọng hơn cần phải làm trước khi đi tìm trứng rùa.
Trên bãi đất đầy nắng trên sườn núi, bên cạnh mảnh đất trồng cà chua và dưa leo, họ đã mở thêm một mảnh đất khác.
Nhưng mà mảnh đất này cũng không cần phải đào sâu, chỉ cần đem gạch nung đến đắp thành cái hồ dài bốn mét, rộng hai mét, rồi dùng xe kéo đất đào từ ao lên, cho Gạo chuyển từng chuyến từng chuyến đến, chất đống bên cạnh hồ, sau đó bóp nát những cục đất khô, nhặt sỏi đá cành lá cây khô nát ra, rồi trộn với đất giàu mùn lọc ra trong đất làm gốm, xúc hết vào hồ.
Hồ ban đầu chỉ cao bốn mươi cm, khi lấp gần hết đất thì đắp vòng tròn chung quanh, cứ tiếp tục lấp đất như vậy, lặp lại nhiều lần cho đến khi chiều cao của hồ gần bảy mươi cm.
Đây là một vườn ươm cây giống.
Với độ cao này, khi đợt sương giá đầu tiên đến, rễ cây trồng trong đó sẽ không bị đóng băng như các loại cây trồng dưới đất khác.
Những củ khoai tây mùa xuân của Hà Điền đã phát triển to bằng nắm tay và chỉ sau vài tuần nữa là đã có thể thu hoạch được.
Cô dự định trồng thêm một lứa khoai tây, đậu nành và hành tây, đến mùa thu thì có thể thu hoạch một lượt.
Sau khi làm xong vườn ươm, nếu thời tiết lạnh, còn có thể đậy một tấm che bằng tre trên nền gạch đất nung rồi dùng mành rơm che lại để giữ ấm vào ban đêm.
Thật ra thì theo kế hoạch ban đầu của Dịch Huyền, anh định sẽ làm hai vườn ươm như vậy cạnh nhau, chừa khoảng cách năm mươi cm làm lối đi.

Còn nếu dựng thêm tấm che hình bán nguyệt xung quanh vườn ươm thì cần phải dùng vải dầu, rồi làm một cửa ở bên hông để làm lối ra vào, vậy thì sẽ thành một cái nhà kính.
Nhưng khi Hà Điền tính toán xem phải cần đến bao nhiêu vải dầu, họ đã từ bỏ ý định này.
Tuy ít tốn kém hơn so với việc xây dựng một nhà kính bằng kính, nhưng vải dầu cũng không hề rẻ.
Vải dầu thật ra là một loại vải bông rất dày, đã được xử lý đặc biệt để có chức năng chống thấm nước nhất định và chống gió.

Lều dùng để cắm trại của Hà Điền, túi để đựng cá và thức ăn đều được làm bằng loại vải này.
Nhưng căn lều chỉ dài hai mét, rộng hai mét, cao bảy mươi cm, về cơ bản thì nó chỉ có công dụng là để ngủ.

Làm túi thì cần ít vải dầu hơn, mảnh vải dầu duy nhất còn sót lại trong nhà Hà Điền cũng chỉ rộng bằng cái cửa sổ.

Dịch Huyền không nản chí cũng không bỏ cuộc: "Nếu không có vải dầu, chúng ta có thể mua một tấm vải trắng rẻ nhất và phổ biến nhất, mang về nhà rồi phủ một lớp sáp lên trên, làm vậy thì sẽ không bị gió lùa, và vẫn nhìn xuyên thấu được.

Vậy chẳng phải được rồi sao?"
Anh cũng không ngừng đưa ra thêm ý tưởng: "Nếu thật sự không hiệu quả, chúng ta làm mái thành hình tam giác, giống như mái nhà vậy.

Bốn bức tường làm bằng vải, còn mái nhà thì để rỗng, chỉ có những tấm lưới gỗ hình vuông.

Đợi đến mùa đông băng đóng lại thì chúng ta lại làm một số khuôn vuông, đổ nước vào, đông lạnh chúng thành những viên ngói bằng băng đá, rồi lấp từng viên từng viên lên mái nhà, nhìn cũng đâu khác gì thủy tinh?"
Hà Điền tính toán lại, cảm thấy phương pháp này khả thi hơn: "Độ dày của ngói băng phải được tính toán cho thật kỹ.

Nếu như quá dày thì mái nhà nhất định sẽ rất nặng đúng không?! Hơn nữa còn có tuyết rơi nữa!"
Một trận tuyết rơi nhiều có thể làm cho lớp tuyết trên mái nhà dày đến nửa mét chỉ sau một đêm, ngoài sức nặng của ngói băng, tường và dầm của nhà kính cũng rất nặng, cho nên việc làm sạch tuyết trên mái nhà cũng là một vấn đề nan giải.

Nếu ngói băng bị vỡ thì phải làm sao? Làm thế nào để bổ sung?
Bây giờ, Hà Điền đã hiểu lý do tại sao Dịch Huyền lại làm chuồng cho Lúa Mì.
Những vấn đề này để sau hãy nhắc đến.
Hiện tại, họ phải tận dụng chút nắng ấm còn lại để trồng vườn ươm mới.
Trước khi bắt cá, Hà Điền đã cho các loại hạt giống vào dĩa để ươm mầm, lúc này mầm khoai tây cũng đã sẵn sàng.
Sau khi đem cây giống trồng xong, làm giàn, treo chong chóng và chuông gió lên để đuổi chim, việc của vườn ươm đã tạm xong.
Họ nướng một ít bánh mì, mang theo một miếng thịt xông khói lớn, kèm theo một túi dưa leo và cà chua mới hái, vậy là đã có thể lên đường đi đào trứng rùa.
Rút kinh nghiệm của chuyến đi lần trước, lần này trước khi khởi hành, cả hai đã đặt một chiếc "máy xử lý phân tự động" tại khu chuồng nuôi vịt và thỏ.

Nguyên lý hoạt động của máy cũng giống như máy cho ăn, đó là thức ăn thô xanh được thay thế bằng tro thực vật, được đổ vào khay chứa phân dưới đáy chuồng theo chu kỳ đều đặn.
Mặc dù không thể phủ đều hết tất cả phân, nhưng ít nhất thì nó cũng có thể hấp thụ nước tiểu của thỏ và khử một chút mùi hôi.
Lần trước khi mở cửa chuồng, mùi xú uế gần như khiến họ xây xẩm mặt mày.
Sau khi Dịch Huyền và Hà Điền thảo luận với nhau, cả hai quyết định sau khi vịt bắt đầu đẻ trứng, họ sẽ xây một chuồng vịt khác gần ao, phải rộng, thoáng, nhiều ánh sáng và sạch sẽ.
Đối với thỏ thì...
Mặc dù thỏ ăn rất ngon, lớn nhanh và sinh sản nhanh sau khi trưởng thành, nhưng thỏ nhốt trong lồng thật sự rất nặng mùi! Đợi đến mùa đông họ sẽ chỉ giữ lại một cặp, còn tất cả những con khác thì sẽ làm thịt rồi đem đông lạnh hết.

Băng qua cây cầu dây vào khu rừng bên kia sông, Hà Điền và Dịch Huyền kéo theo Gạo và dẫn Lúa Mì, đi về hướng Tây Bắc dọc theo ngọn núi.
Thế núi càng lúc càng cao, cánh rừng càng lúc càng rậm rạp, ngày cũng càng lúc càng lạnh.
Buổi trưa, dù mặt trời ở trên đỉnh đầu nhưng họ vẫn phải mặc một chiếc áo khoác da hoặc áo bông mỏng bên ngoài áo lông.
Nhưng phong cảnh trên đường đi lại rất tuyệt vời.
Dịch Huyền thấy được những thác nước từ vách đá đổ xuống, những con suối và những ngọn núi với màu xanh của cây lá, và những hồ nước mọc đầy rêu xanh cùng với ao đầm.
"Đến mùa thu sẽ còn đẹp hơn nữa." Hà Điền chỉ vào hàng cây bên ao: "Đây là những cây phong, lá của chúng sẽ chuyển sang màu đỏ sau khi sương giá."

Dịch Huyền tưởng tượng đến hình ảnh dòng nước trong và lá đỏ, rừng sâu tĩnh mịch, đúng là rất đẹp.
Sau khi nghỉ trưa xong lại đi bộ thêm một tiếng, họ đến được con đường mà ông và bà Hà Điền đã mở ra.
Dịch Huyền quay đầu lại nhìn vào khu rừng mà anh đã đi qua, anh không thể tin được rằng trước đây mình đã từng đến nơi này.
Mùa đông năm ngoái họ cũng đi bộ qua khu rừng này, nhưng lúc đó tuyết phủ trắng các thác nước và hồ, suối và núi bị đóng băng dưới lớp băng tuyết, rất khác so với thời điểm này.
Cây cối hai bên lối đi trong rừng đã ra nhiều nhánh mới, bọn họ vừa đi vừa dọn lại cành.

Vì đã dọn một lần lúc mùa đông nên lần này cũng không mất quá nhiều thời gian.
Cuối con đường mòn dẫn đến một hồ nước trong xanh.
Dịch Huyền nhớ lần trước khi đến đây, hồ nước chỉ trông như một cái ao.
Lượng nước dồi dào vào mùa xuân và mùa hè đã khiến nước hồ dâng cao gấp mấy lần so với trước đây.
Mặt hồ rộng lớn có bán kính ít nhất cũng phải từ hai đến ba cây số, ven bờ mọc nhiều bụi rậm, cỏ dại xanh vàng đung đưa trước gió.
Đi qua bãi cỏ và bụi rậm, có một bãi cát rộng ba bốn mét.
Hà Điền thả Gạo ra để nó tự động tìm kiếm thức ăn.

Cô lấy túi lưới và giỏ tre, dẫn Lúa Mì và Dịch Huyền đi tìm trứng rùa trên cỏ.
Mặc dù Lúa Mì không ăn cỏ nhưng nó cũng thích nơi này như Gạo, chạy trước chạy sau vui đùa thích thú.
Một lúc sau, Lúa Mì sủa vào trong bụi cỏ, Hà Điền và Dịch Huyền chạy tới, Lúa Mì khuỵu người, nhe răng đối mặt với một con chó lửng.

Con chó lửng to hơn Lúa Mì rất nhiều, cũng nhe răng ra gừ lại, thấy Lúa Mì có người giúp đỡ, nó liền nhảy vào bụi cỏ chạy mất.
Hà Điền thấy vậy thì mừng lắm, họ chưa tìm thấy trứng rùa nhưng con chó lửng này thì đã tìm được rồi.
Cô ngăn Lúa Mì đang muốn đuổi theo con chó lửng lại, cầm lấy một cái trứng rùa bị hỏng, sờ sờ đầu của nó: "Lúa Mì, chúng ta muốn tìm thứ này này!" Cô lại chỉ vào những quả trứng còn lại trong ổ cát.
Rùa mai mềm lên bờ đẻ trứng, chúng sẽ tìm một bãi cát có cỏ xung quanh, dùng móng đào hố, đẻ trứng vào đó rồi lấp hố lại.

Cát nóng lên cung cấp độ ấm cho trứng, sau hai mươi ngày, trứng sẽ nở ra rùa con.
Chó lửng có thị lực kém, nhưng khứu giác thì lại rất nhạy bén.

Trứng rùa bị giấu trong cát, làm sao có thể tránh thoát được cái mũi nhỏ của bọn chúng?
Con chó lửng xui xẻo vừa rồi chỉ vừa mới ăn được một quả trứng trong ổ thì đã bị Lúa Mì phát hiện ra.
Trong ổ này có hơn hai mươi quả trứng, Hà Điền cho Lúa Mì hai quả, số còn lại thì cô bỏ vào giỏ tre.
Sau khi nếm trứng rùa xong, Lúa Mì sẽ hiểu, họ đang tìm kiếm thứ này.
Ngay sau đó, nó lại sủa vào trong cỏ.
Trước khi Hà Điền và Dịch Huyền đến, nó đã bắt đầu bới cát.
Trứng rùa lấy được mà không hề tốn công sức gì, rất nhanh họ đã nhặt được hơn hai trăm quả, hai cái giỏ đều đầy ắp.
Bởi vì lần này đi nhặt trứng không phải chèo thuyền mà là đi bộ, nên khi xếp trứng vào giỏ, họ đã cố tình trải một lớp cỏ mềm để lót trứng.
Sau khi nhặt được hai giỏ trứng, Hà Điền không nhặt nữa.
Lúc này chỉ mới 5, 6 giờ chiều, trời không gắt nắng, mặt hồ phẳng lặng.
Hà Điền lại để cho Dịch Huyền đi đốt lửa lên, còn cô thì lấy cần câu, tìm một chỗ thích hợp rồi gắn miếng thịt còn sót lại từ đêm qua vào lưỡi câu.
Dịch Huyền vừa mới đốt lửa xong thì đã nghe thấy tiếng Hà Điền reo hò, cô kéo cần câu lên, dùng vợt lưới bắt được thứ gì đó.
Anh lại gần nhìn, thấy trong vợt là một con rùa mai đen có móng vuốt nhọn.
Anh khó hiểu nhìn Hà Điền: "Nó là rùa mai mềm?"
"Đúng vậy!" Hà Điền vẫn còn đang rất hưng phấn, cô nâng vợt lên, cẩn thận đưa ngón tay xuyên qua lớp lưới, chọt mai rùa cho anh xem: "Anh xem nè, rất mềm! Cái mai mềm này ăn ngon lắm.

Chờ lát nữa anh sẽ biết ngay thôi!"
Thành phố nơi Dịch Huyền sống không ăn loại thức ăn này.
Thứ này chủ yếu được dùng để mắng chửi người.
Dịch Huyền khịt mũi coi thường: "Thôi đi, nó là vương bát* mà."
*王八[wáng·ba]: ý mắng chửi người- đồ(tên) khốn.
Hà Điền cũng khịt mũi coi thường: "Anh cũng thôi đi, đồ ăn ngon như vậy mà không biết ăn!"
Cô cảm thấy cần phải để cho Dịch Huyền nhìn thấy tận mắt mới mở mang được kiến thức: "Tối nay ăn món này đi!"
Con rùa vừa bắt được này còn được gọi là rùa mai mềm, hoặc ba ba, nặng khoảng một kg, rất hung dữ, sau khi bị ném xuống đất từ trong vợt, nó nhanh chóng bò về phía mép nước, Lúa Mì muốn bắt nó lại còn suýt bị nó cắn.
Hà Điền chạy đến, bẻ một cành cây bụi nhỏ chặn ngang trước mũi nó, con rùa há miệng cắn luôn vào cành cây, Hà Điền lại kéo cành cây, cổ rùa chui ra khỏi mai, lúc này cô mới lấy con dao ra, lưu loát chặt đầu của nó.
Cô xách đuôi rùa lên, nhỏ máu của nó vào một ống tre, sau khi máu đông lại, cô sẽ móc nó vào móc câu làm mồi câu rùa.
Đợi Dịch Huyền đặt nồi nước ở trên lửa cho sôi, để nguội một lúc, Hà Điền ném con rùa đã chết vào nồi.

Ngâm hơn mười phút, rồi lại vớt ra để nguội.

Lúc này đã có thể xử lý.
Hà Điền gọi Dịch Huyền đến xem: "Không phải anh luôn tò mò muốn biết làm cách nào để ăn nó sao?"
Dịch Huyền quan sát thao tác của Hà Điền, mới biết được, thì ra là trên bụng của nó có một đường chữ thập, chỉ cần dùng dao tách một cái là mở ra được.
Từ vết cắt này lấy nội tạng ra, sau đó cạo sạch lớp da sần sùi ở đuôi và cổ, rửa sạch mai trên lưng, vậy là đã có thể đem rùa đi nấu!
Hà Điền bẻ nhỏ nấm hương đem ngâm cho nở, sau đó cho vào nồi sắt nhỏ, lại cắt chút gừng, vài quả hoa tiêu mới hái, cho nước và một ít muối vào, đặt rùa lên trên rồi nấu hơn nửa tiếng đồng hồ là chín.
Mặc dù từ đầu đến cuối Dịch Huyền đều có vẻ rất ghét bỏ, nhưng khi nấu được giữa chừng, anh vẫn phải thừa nhận rằng, thơm quá là thơm.
Đợi cho rùa hầm mềm rồi, Hà Điền cười mở nắp nồi ra, nháy mắt với Dịch Huyền: "Mời anh xem - canh bá vương!"
Dịch Huyền ghé sát vào nhìn kỹ hơn, cười đẩy cô một cái.
Hơi nước bốc lên, anh thấy được con rùa này đang ngóc đầu, miệng mở rộng trông vô cùng dữ tợn.
Thì ra Hà Điền đã lén chặt một nhánh cây nhỏ, hơ trên lửa cho vàng, nhét vào cổ rùa rồi lấy phần đầu đã cắt bỏ c*m v** làm giống như một bá vương đang ngẩng đầu há miệng cười.
Canh rùa mai mềm nấu rất thơm, thịt cũng ngon, thích nhất là "váy rùa" mềm mềm, trắng nõn mập mạp, như là xương sụn, nhưng lại rất mềm.
Chấm bánh mì với canh, rất nhanh đã ăn xong một chén.
Mặc dù trên mặt Dịch Huyền thể hiện sự ghét bỏ, nhưng cơ thể của anh lại rất thành thật.
Anh ăn xong một chén canh thịt rùa một cách thần tốc.
Sau đó, anh ngoan ngoãn cầm cần câu lên đi câu rùa với Hà Điền.
Dây câu dùng để câu rùa khác với dây câu dùng để câu cá, ở đầu dây của dây câu cá có nhiều lưỡi câu, còn dây câu rùa thì có năm hoặc sáu dây mảnh, mỗi dây có một lưỡi câu.
Treo một miếng máu rùa đã hơi đông cứng lên móc rồi ném xuống, chỉ một lúc sau đã thu hút được một đàn rùa tìm đến.
Chúng rất hiếu chiến, khi xô đẩy nhau, có mấy con rùa bị mắc vào lưỡi câu hình quạt, là một cặp rùa rất thông thường.
Hà Điền và Dịch Huyền mỗi người bắt được hai con rùa, nhốt chúng trong vợt lưới, đưa lên bờ, cắm tay cầm của vợt vào đất, chờ ngày mai mang về nhà.
Rùa là một con vật rất dễ nuôi, dù không cho ăn cũng sống được rất lâu.
Trước khi đi ngủ, Dịch Huyền ngồi xổm trước vợt quan sát những con rùa này: "Không biết chúng ta có thể nuôi vài con trong ao được không nhỉ?" Anh vẫn muốn mở rộng chăn nuôi.
"Chắc là không được đâu.

Bọn chúng sẽ ăn hết cá con." Hà Điền cau mày: "Anh đừng có gặp con gì cũng muốn đem về nuôi hết có được không hả!"
"Ha ha.

Anh lo xa thôi mà!".
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 68: 68: Trứng Bá Vương


Hà Điền vốn nghĩ rằng bắt được bốn con rùa là đủ rồi, nhưng không ngờ sáng hôm sau cô lại tìm thấy một con khác trên bãi cỏ.
Suýt nữa thì Gạo đã giẫm phải con rùa này.
Dịch Huyền vừa thấy, còn không thèm đeo bao tay vào, vui vẻ nắm đuôi rùa ném vào giỏ: "Nếu nhặt được thì cứ đem về nhà thôi."
Chuyến đi này chỉ mất hai ngày một đêm, nhưng thu hoạch lại rất phong phú.
Về đến nhà, mới hơn bốn giờ chiều.
Sau khi giải quyết xong mấy công việc vặt vãnh trong nhà, Hà Điền và Dịch Huyền đã làm ổ cho năm con rùa ở bên cạnh ao.
Đầu tiên, Dịch Huyền đào một cái vũng ở một bên của ao, cái vũng này không sâu cũng không bằng phẳng, nó được đào một cách ngẫu nhiên, chỗ sâu nhất sâu khoảng nửa mét, là một hình bầu dục không đều có kích thước khoảng một mét vuông, cỏ dại và cây bụi mọc xung quanh đó cũng không cần dọn sạch.
Sau khi đào xong, lấy một ít đất đã đào trước đó trộn với cỏ khô, thêm nước rồi đổ vào thùng gỗ lớn, dùng que gỗ khuấy đều, sau đó bước vào thùng gỗ giẫm một lúc, bùn cùng với cỏ khô đều được trộn đều thành bùn nhão.
Sau đó Hà Điền dùng xe đẩy một số đá về, đầu tiên là đặt những cục đá lớn xuống đất, đổ một lớp bùn hỗn hợp lên trên những cục đá đó, đợi cho bùn ngừng chảy, sau đó đặt một lớp đá lên trên rồi đổ tiếp, bằng cách này, hai lớp đá được bùn dính lại với nhau, và các khe hở giữa các cục đá cũng được lấp đầy.
Dịch Huyền cũng làm cùng, rất nhanh hai người đã xây xong một bức tường tròn cao nửa mét xung quanh ao mới.
Anh lấy hai ba thùng nước trong ao, đổ xuống ao mới rồi kê một tấm gỗ mục bắt ngang qua, chỗ ở của năm con rùa đã làm xong.
Rùa vừa ưa nước vừa ưa nắng, những tấm ván gỗ mục nát trên ao rất thích hợp để chúng tắm nắng.
Hà Điền và Dịch Huyền thả năm con rùa ra khỏi túi lưới.

Những con rùa với hàm răng và móng vuốt mò mẫm quanh quẩn trong ổ của chúng một lúc, có con trèo xuống vũng bùn, có con thám hiểm dọc theo bức tường tròn, có con thì trốn trong cỏ và dưới bụi cây.

Hiện tại, có vẻ như tất cả bọn chúng đều khá hài lòng với ngôi nhà mới này.
Hai người rửa tay bên suối, Hà Điền xách giỏ ra vườn rau, Dịch Huyền thì về nhà nấu cháo.
Sau hai ngày ăn bánh mì khô, bọn họ đều muốn ăn một chút cháo và vài món đạm bạc.
Rất nhanh Hà Điền đã mang về một giỏ rau mới hái.
Có ớt, dưa leo, đậu đũa, một ít hoa bí và một quả bí đỏ non.
Bí đỏ mọc thật sự rất tốt.

Chỉ một dây mà mọc ra rất nhiều quả.

Cô chọn những quả ngon nhất giữ lại, còn những quả còn lại thì hái đem xào hết.
Quả bí đỏ non này có hình thuôn dài, mông mập, lớn bằng cổ tay, dài khoảng hai mươi centimet, vỏ màu xanh đậm, có một số đốm vàng, thân có nhiều gai nhỏ.
Hà Điền rửa sạch bí đỏ, sắt sợi, thịt bí có màu xanh lam, ruột bí thì mềm hơn, có màu xanh vàng nhạt, bên trong có thể thấy rõ hạt, nhưng lúc này hạt của nó vẫn còn mềm, bóp một cái là nát ngay.
Sau đó, Hà Điền đập một ít trứng rùa mang về, thêm một chút muối vào khuấy đều, đổ vào tô bí đỏ, thêm một chút bột mì, dùng muôi gỗ trộn đều.
Cô cho mỡ vào chảo, giảm lửa, dùng muôi lớn múc một muôi hỗn hợp trứng và bí đỏ đổ vào chảo, một lần đổ năm hoặc sáu muôi, chiên cho đến khi vàng một mặt là có thể ăn được.
Món này cũng có thể thay thế bằng quả bầu, bầu mềm cắt sợi, ăn có vị giòn và sảng khoái hơn, còn dùng bí đỏ non thì ăn phần gần vỏ sẽ giòn, phần gần ruột thì sẽ mềm hơn.
Hoa bí được nhúng với trứng rồi chiên giòn, khi dùng đũa gắp lên vẫn thấy được màu vàng của trứng, cho hết vào dĩa.
Dưa leo đập dập rồi cắt khúc, đậu đũa luộc qua rồi cắt nhỏ, ớt sừng cắt sợi nhỏ, cho dầu óc chó ép hồi năm ngoái, đường, muối và một ít nước tương vào trộn đều, món ăn kèm cho bữa ăn này đã sẵn sàng.
Dịch Huyền gắp rau trộn lên ăn một miếng, bí đỏ non tươi ngọt, còn trứng rùa thì bùi bùi vàng ươm, ăn có vị không khác gì trứng vịt.
Hà Điền lại nháy mắt với anh: "Thế nào? Có muốn ăn thử lòng đỏ trứng muối làm từ vương bát không?"

Dịch Huyền cũng cười: "Làm đi! Nhưng mà em đừng có gọi vương bát này nọ nữa, khó nghe lắm, đó là lời mắng người."
"Vậy thì gọi là gì?" Hà Điền không khỏi bật cười, lúc đầu là do anh gọi đó thôi, nhưng bây giờ lại muốn đổi?
Dịch Huyền nói: "Trứng bá vương."
"Phụt——"
Trứng rùa - Không, bây giờ là trứng bá vương rồi, mãi cho đến giữa tháng tám cũng vẫn còn.

Trứng nhặt được cho vào hầm có nhiệt độ tối đa dưới năm độ, tự nhiên sẽ không nở, nếu bảo quản đúng cách có thể bảo quản được gần một tháng giống như trứng vịt, trứng ngỗng.
Khi đợt trứng bá vương cuối cùng kết thúc, sẽ là giữa tháng chín, hy vọng là đến lúc đó những con vịt sẽ bắt đầu đẻ trứng.
Cuộc khủng hoảng về trứng tạm thời được giải quyết, Hà Điền và Dịch Huyền tiếp tục cuộc sống bận rộn hàng ngày với công việc thu gom cỏ dại; thu thập quả mọng và hoa quả tươi, sấy khô và làm mứt; đậu đũa, ớt, cà chua, đậu Hà Lan và bắp cải đều đã lớn, hái xuống phơi khô, hoặc làm đồ chua và đem ngâm; rồi còn phải kiếm thêm củi nữa.
Nếu vịt có thể sống sót qua mùa đông, có thể họ sẽ xây một cái lò trong kho chuồng để giữ ấm cho chúng.
Sau khi bước sang tháng tám, mặc dù ngày dài đêm ngắn nhưng thời gian nắng thu hẹp lại nhanh chóng ở mức có thể cảm nhận được.

Mỗi tuần, thời gian trời tối cũng tăng thêm khoảng nửa giờ.
Lúc này, anh đào trong rừng quả đã rụng hết, vẫn còn một ít mơ, mận xanh bắt đầu ngả sang màu vàng, nhưng cắn vào thì vẫn còn rất chua, dâu trong rừng dâu cuối cùng cũng đã chín, quả màu tím đen.
Quả dâu tằm trông hơi giống quả mâm xôi đen.

Quả là những chùm quả tròn nhỏ chụm lại với nhau, mọc thành hình thuôn dài, giữa các múi quả có những sợi lông nhỏ màu đen.

Khi hái xuống, nước quả sẽ ngấm vào, nhuộm cho tay dính đỏ.
Vị của nó chua chua, ngọt ngọt, còn có một mùi thơm ngát.
Nhưng Dịch Huyền không thích loại quả này.

Theo lời của anh, trông nó giống như một con sâu lông.
Khi nhìn thấy những con giòi ruồi đục quả có kích thước bằng đầu kim bò ra khỏi cùi dâu tằm, anh càng ghét bỏ loại quả này hơn.
Hà Điền rất thích dâu tằm.

Cô cho dâu tằm tươi vào rọ tre, ngâm vào trong nước suối, vậy là sẽ được rửa sạch rồi! Nhưng mà lúc ăn vào rồi thì miệng cũng sẽ bị nhuộm cho tím đen.
Lần nào Dịch Huyền cũng túm lấy cô, đặt hai tay lên má rồi ép hai má cô lại, làm cho miệng cô chu lên, hôn thật mạnh, rồi cười lớn: "Bây giờ trông em không khác gì Lúa Mì luôn!"
Miệng Lúa Mì cũng đen.
Mặc dù thời gian trời nắng đang dần ngắn đi và thời tiết mát mẻ hơn nhưng tháng tám là thời điểm dồi dào nhất của các loại rau củ.
Cải trắng với bắp cải thì khỏi phải nói, đem xào với thịt hoặc xào không ăn cũng rất ngon.

Bắp cải đem cắt thành sợi nhỏ rồi khuấy với bột, trứng chiên trên chảo, lá vẫn còn xanh hoà cùng với lớp trứng vàng bên trên vừa thơm, vừa giòn, có thể ăn như một món ăn vặt hoặc ăn khi uống trà chiều với trà táo gai.
Ớt cay, chọn loại to nhất, màu xanh màu đỏ gì cũng được, ngắt bỏ cuống, lấy phần lõi và hạt ra, rửa sạch những hạt còn sót lại trong đó, dùng cá tươi cắt lấy phần thịt phi lê và dùng muỗng sắt nạo lấy phần thịt.

Trộn đều thịt cá với lòng trắng trứng và gia vị rồi cho vào ruột ớt cho đến khi phần nhân cá hơi nhô lên.
Quả ớt to cỡ ngón tay được chiên từ từ trong chảo cho đến khi bề mặt của ớt bắt đầu cháy, hương vị của cá và ớt hòa quyện vào nhau, ăn rất ngon.
Ớt to hơn thì có thể hấp và cắt thành lát dày trước khi chiên.

Hình dáng bên ngoài đẹp hơn, bề mặt cắt của ớt hơi giống quả hồng, các góc bo tròn, vỏ xanh đỏ tươi, bên trong là nhân cá trắng, mềm, sau khi chiên một chút phần giữa trở nên vàng rộm, nhìn thôi là đã khiến người ta ch** n**c miếng rồi.
Tất nhiên là có thể thay thế bằng các loại thịt khác.
Cũng có thể chế biến món cà tím theo cách này nhưng thịt của cà tím dày hơn nhiều và có thể chế biến được nhiều món hơn.

Cắt cà tím theo chiều ngang thành sợi tròn to bằng ngón tay, sau đó cắt từng miếng từ giữa, không cắt rời, làm nhân thịt, dùng đũa lấp đầy vết cắt rồi nhúng cà tím vào trứng sau đó chiên lên, thành món cà tím nhồi.
Món cà tím nhồi này có thể làm nhiều hơn một chút, phần còn lại đem cất trong hầm, có thể bảo quản được trong hai ba ngày.
Khi muốn ăn thì lấy ra hấp lại, tuy lớp vỏ ngoài của cà tím không còn giòn nhưng thịt cà tím thì lại mềm và ngon hơn.
Cà tím và ớt nhồi thịt có thể được ăn chung với mì.

Nấu một tô mì nước trắng, đặt hai miếng lên trên rồi rắc một ít đậu đũa ngâm chua cắt nhỏ, là món hoàn hảo cho bữa tối.
Đậu Hà Lan cũng đã lớn.
Chọn một ít quả đậu Hà Lan, bóc vỏ lấy hạt đem đi xào với tôm.

Đây là sự kết hợp hoàn hảo giữa các loại rau theo mùa và đồ tươi sông nước, một món ngon đặc biệt chỉ có ở mùa hè.
Ngoài đậu Hà Lan tươi, vỏ đậu hà lan non cũng là một loại rau ngon.
Lúc này, vỏ đậu dày từ một đến hai milimet, có màu xanh, mọng nước, bên trong hạt đậu vẫn mềm, không nên hái quả dài, hạt đậu bên trong chỉ nên to cỡ hạt đậu xanh, hái xuống, một số đuôi của vỏ vẫn còn nguyên cuốn hoa chưa rụng, đem đi xào với rau xanh, xào với tôm, xào với ớt đều ngon.
Thật ra thì ăn trực tiếp cũng ngon.

Nếu có nước sốt thịt, nhúng vỏ đậu đã rửa sạch vào nước sốt, cắn một miếng giòn rụm.

Vỏ đậu nhiều nước, rất ngọt, hạt đậu nhỏ cũng ngọt.

Cho dù ăn với cháo, cơm hay bánh rán cũng đều ngon cả.
Ngoài mấy loại rau này ra, dưa hấu cuối cùng cũng chín.
Dịch Huyền không thích dâu tằm, nhưng anh rất thích dưa hấu.
Dưa hấu mà họ trồng cuối cùng cũng đã có thể hái được.
Bởi vì không biết cách chăm sóc nên dưa hấu phát triển không được lớn lắm.

Lúc đầu, Hà Điền nghĩ là sẽ còn lâu nữa mới ăn được, nhưng không ngờ một hôm đang tưới nước, cô vô tình đụng phải một quả dưa hấu, làm nó lăn luôn xuống sườn đồi! Hóa ra là dưa đã chín rồi.
Quả dưa hấu này bị tảng đá lớn trên sườn đồi chặn lại, vỡ ra, lộ thịt quả đỏ tươi, mùi thơm ngào ngạt, Hà Điền buồn bực đem về, dùng nước suối rửa sạch, cuối cùng múc được hai chén dưa, cùng Dịch Huyền ăn.

Quả dưa hấu này tuy chỉ to bằng đầu của Gạo nhưng lại rất ngọt.
Cô lại ra vườn nhìn một lượt, thấy có ba bốn trái dưa đã chín.
Dưa hấu nhỏ bị cắt làm đôi, mỗi người cầm trên tay một nửa dùng muỗng múc, chỉ trong tích tắc đã ăn xong.
Có vẻ như năm nay không có dưa hấu để làm tương rồi.
Thành ra dư lại rất nhiều đậu nành.
Hà Điền cũng chọn những quả đậu nành còn non hái xuống.
Lúc này đậu vẫn còn xanh.

Trước đây lúc nhà Hà Điền trồng nhiều đậu nành cũng sẽ hái xuống ăn như thế này.
Đậu nành non bấm một cái liền gãy, xào với thịt xắt hạt lựu và một ít hành lá thái nhỏ, ăn vô cùng ngon.

Đậu nành non giòn, mềm, mới đầu ăn vị hơi giống với đậu tằm, nhưng lại dai hơn.
Tuy nhiên, dù đã có rất nhiều rau sạch nhưng Dịch Huyền vẫn rất tiếc vì mùa hè này mình đã không ăn được củ sen: "Nếu đậu nành mà đem xào với củ sen thì sẽ rất tuyệt! Màu sắc nhìn cũng rất đẹp.

Ừm, hoặc là đem xào với đậu tằm cũng được." Anh lại trầm ngâm suy nghĩ:" Thật ra, rắc một chút đường lên củ sen ăn cũng rất ngon...!"
Tóm lại, củ sen là thứ tốt nhất trong lòng anh.
Hà Điền đã đồng ý với anh là cho dù mùa đông này không cần phải lấy lưu huỳnh thì họ cũng sẽ đến thung lũng suối nước nóng để đào củ sen, và cũng sẽ nghĩ biện pháp để trồng chúng trong ao ở nhà.
Đến giữa tháng tám, trời mưa to.
Trước khi đi ngủ, trời bắt đầu đổ mưa.

Nửa đêm, Hà Điền đột nhiên bị đánh thức bởi hàng loạt tiếng nổ vang trời, cô bàng hoàng nghe tiếng nổ lộp bộp trên mái nhà, đó là tiếng hạt mưa nặng hạt không ngừng đập vào mái nhà.
Cô đang sững sờ, trước mắt chợt lóe lên một tia chớp, tia chớp lọt vào phòng, tiếp theo là tiếng sấm nổ vang, rồi tiếng mưa rơi.
Cô nằm một hồi, nghe thấy tiếng mưa càng lúc càng lớn, vươn tay với qua rèm đẩy Dịch Huyền, cũng không biết cô đã đẩy vào đâu mà nghe anh rầu rĩ hừ một tiếng.
"Dịch Huyền?" Cô nhỏ giọng gọi anh: "Dậy đi anh, trời mưa lớn lắm."
Anh mơ hồ lẩm bẩm điều gì đó, rồi nắm lấy tay cô ôm vào lòng.
"Dậy đi, chúng ta phải đi che mành lại!" Lúc này Hà Điền đã hoàn toàn tỉnh ngủ.
Những cây con trong vườn ươm không thể chịu được mưa to gió lớn như vậy.
Cô chăm chú lắng nghe, dường như có tiếng cành cây gãy và đá lăn xuống sườn núi.
Cô ngồi dậy, kéo rèm cửa lên, tìm được chiếc đèn pin, quơ vài cái đánh thức Dịch Huyền: "Trời đang mưa lớn.

Em sợ nước trong ao sẽ dâng cao."
Cả hai vội vàng leo xuống, đội nón và mặc áo mưa vải dầu vào, mang theo hai ngọn đèn dầu.

Ngay khi cánh cửa được mở ra, một cơn gió cuốn theo những hạt mưa táp vào người họ.

Dưới mái hiên trông không khác gì thác nước.
Họ chạy đến kho lấy mành cỏ.
Lúa Mì cũng chạy ra khỏi căn nhà gỗ của mình, đi theo họ trong mưa.
Lúc này mưa rơi xối xả, hạt mưa to cỡ đầu ngón tay, lại bị gió thổi nghiêng gần bốn mươi lăm độ, ánh đèn dầu chỉ chiếu tới khoảng một mét.
Vào đến kho, trên người cả hai đều ướt hết cả, nước mưa chảy ướt dọc theo ống quần, nhỏ xuống đất.
Họ lấy một ít mành cỏ che lên vườn ươm, vừa mới che lên thì suýt nữa là mành đã bị gió thổi bay đi mất, phải dùng dây cột chặt lại.

Sau khi che cho vườn ươm xong, cả hai lại lao về phía ao để xả nước.
Còn chưa đến nơi, Dịch Huyền đã nói: "Không được rồi."
Thật sự là không còn kịp nữa, nước trong suối đã tràn ra, chảy xiết cả mặt đất, trên mặt đất gần suối, dù là khúc dốc thì nước cũng đã sâu cỡ một bước chân.
Nhưng Dịch Huyền vẫn để cho Hà Điền cầm đèn, còn anh thì nhảy xuống mép vực, mở cống, rồi lấy những chiếc lá rơi chắn lối thoát nước ra.
Nhìn lại ổ của năm con rùa, nó còn bị hư hại nghiêm trọng hơn.

Bức tường bị mất một lỗ, nước trong trũng bùn tràn đầy, và các tấm ván gỗ cũng đã mất, nước sâu đến mức khó có thể nhìn thấy còn bao nhiêu con rùa trong đó.
Hà Điền chạy đi lấy vợt lưới để bắt cá đến, còn Dịch Huyền thì chạy vào vùng nước bùn, cuối cùng tìm được ba con rùa.
Hai con còn lại thì chỉ có thể dựa vào may rủi.

Không chừng đợi tạnh mưa rồi, trời hửng nắng, có thể nó sẽ từ rừng cây bò ra hoặc bị tìm thấy, cũng có khi bị trôi xuống dòng sông dưới núi.
Bây giờ chỉ có thể tạm thời cho ba con rùa này vào chuồng vịt và thỏ, đợi đến khi mưa tạnh.
Về đến nhà, cả người hai người đều ướt sũng từ đầu đến chân.
Dịch Huyền để Hà Điền lên thay quần áo trước còn mình thì đi đốt lửa lên.
Anh ngồi ở trước bếp lửa, châm củi, nước mưa trên người nhỏ xuống sàn nhà cả một vũng.
Hà Điền thò đầu ra khỏi bậc thang trên gác, ném cho anh một chiếc khăn vải: "Anh lau trước đi."
Dịch Huyền trùm khăn vải lên đầu, cởi áo ra, dùng ống tre thổi lửa, cởi giày rồi ném ra cửa.
Hà Điền thản nhiên lấy một bộ quần áo mặc vào, ném quần áo ướt xuống, nhìn thấy Dịch Huyền ở trần, đôi mắt rồng như lấp lánh dưới ngọn lửa.
Cô còn đang sững sờ, Dịch Huyền đột nhiên ngẩng đầu nhìn cô cười: "Em đang nhìn gì vậy hả?"
Hà Điền đỏ mặt: "Em không thấy gì hết.

Anh mau thay quần áo đi, em đun nước cho."
Anh "Ừm" một tiếng, đổ đầy nước vào ấm đồng rồi đặt ở trên lửa: "Đừng xuống, để anh làm."
Anh nói xong, đứng dậy đi tới cầu thang, Hà Điền cảm thấy cổ họng mình đột nhiên khô khốc: "Vậy thì để em canh lửa và thêm củi." Cô đang định đỡ thang bước xuống thì Dịch Huyền đã bước đến đỡ cô, nhìn cô mỉm cười.
Để tiết kiệm diện tích, thang có tay vịn chỉ rộng nửa mét, một bên kê sát với bức tường.

Hà Điền co người vào tường thì thào: "Anh nhường đường đi."
Dịch Huyền nhỏ giọng hỏi cô: "Nếu anh không nhường thì sao?"
Tim Hà Điền đập thình thịch, nắm lấy tay vịn, cẩn thận nhướng mi nhìn Dịch Huyền: "Thì...!thì..."
Nữa rồi! Nữa rồi! Lại như vậy nữa rồi! Cũng chính cái cảm giác ngại ngùng và sợ hãi này đã khiến một nơi nào đó trong lòng cô có cảm giác như đang run rẩy.
Ngay khi Hà Điền cảm thấy rằng mình có thể sẽ khóc trong một giây tới, hoặc là khi sắp muốn đánh người rồi, thì Dịch Huyền lại nghiêng người về phía trước, tay trái đặt trên lưng cô, ngăn cô lại, nhẹ nhàng và linh hoạt dùng một tay ôm cô leo lên trên gác.
Anh vẫn mặc chiếc quần ướt sũng, da ngực và cánh tay cũng lạnh buốt, lúc đè lên người Hà Điền khiến cô khẽ run như ớn lạnh, sau đó toàn thân lại nóng bừng lên.
Anh ôm cô nằm nghiêng, lấy khăn vải trên đầu ném sang một bên, trầm giọng hỏi cô: "Có phải em luôn muốn biết đuôi rồng nằm ở đâu đúng không? Anh sẽ cho em xem."
Lúc này Hà Điền cảm thấy rất khó chịu, cô muốn che mắt càng sớm càng tốt, nhưng lại nhịn không được mà mở mắt ra.
Trong phòng có hai nguồn sáng, một là từ bếp lửa ở tầng dưới, hai là ngọn đèn dầu treo trên nóc gác.
Dưới ánh lửa mờ ảo này, mọi thứ trông thật mơ hồ và huyền bí.
Ngọn lửa đỏ rực cũng khiến mọi thứ trở nên ấm áp hơn, dù chỉ là khẽ nhấp nháy.
Con rồng đen hung dữ to lớn từ vai trái lùi về phía sau, quấn trên lưng, uốn khúc từ phần hông bên phải xuống bụng dưới, cuối cùng quấn lấy chân phải của anh.
Sống động như thật..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 69: 69: Cà Chua


Sau cơn mưa nặng hạt này, mùa thu lặng lẽ đến.
Thời gian ban ngày càng dài hơn, kéo dài từ sáu bảy giờ sáng đến bảy tám giờ tối, nhưng sau một trận mưa thì hầu như ve sầu đều đồng loạt ngừng kêu.
Khu rừng trở nên yên tĩnh hơn rất nhiều.
Chẳng bao lâu sau khi tiếng ve sầu biến mất, lá cây cũng dần đổi màu.
Đầu tiên chuyển sang màu vàng là lá cây bạch dương và cây dương.

Những chiếc lá rụng lúc đầu có màu xanh, sau chuyển sang màu vàng xanh, về sau nữa, cả những chiếc lá trên cành cũng chuyển sang màu vàng xanh.
Cái nắng nóng cũng theo tiếng ve tan biến.

Ngay cả vào buổi trưa cũng không còn bị đổ mồ hôi vì ánh nắng mặt trời.

Khi mặc quần áo mỏng và đi vào nơi có bóng râm còn sẽ cảm thấy lạnh.
Cùng lúc đó, các loại rau màu trong lòng đất dường như cũng biết được rằng hơi ấm quý giá và ánh nắng mặt trời sắp biến mất, đang tuyệt vọng hấp thụ chất dinh dưỡng cuối cùng này.
Mỗi ngày Hà Điền đều thu hoạch một số loại rau củ, rửa sạch rồi phơi khô, để riêng ra cất.
Năm nay, cô trồng hai loại cà chua, một là cà chua chùm, quả đỏ, mỗi quả chỉ to bằng lòng đỏ trứng gà nhưng có vị chua ngọt, có thể cắt đôi ăn cùng các loại rau khác, hoặc cũng có thể hái thành từng chùm, phơi cho đến khi quả teo lại rồi đem cất, hoặc là hái thêm một ít ớt đỏ đem phơi cho đến khi khô, cắt khúc, cho ít muối vào cùng với cà chua rồi xóc đều, cho vào hũ thủy tinh hoặc niêu đất, đổ mỡ vào bên trong ngâm.

Sau khi để vài ngày, ớt và cà chua chìm xuống đáy hũ, màu mỡ cũng thêm chút đỏ.
Loại cà chua ngâm trong mỡ này có thể được lấy ra khi nấu ăn và thêm vào các món ăn để tăng thêm hương vị, hoặc có thể lấy chúng ra trộn với rau và thịt.
Một loại đồ ngâm khác là ngâm nước muối.

Cho cà chua vào chậu, đổ nước sôi vào ngâm một lúc, vớt ra bóc bỏ vỏ rồi cho vào hũ ngâm nước muối, đậy kín nắp để bảo quản.
Khi lấy những quả cà chua ngâm như vậy ra, quả cà chua vẫn tròn, tuy có vị mặn hơn một chút nhưng đến mùa đông thì lại là của hiếm, dù là nấu mì hay hầm, chỉ cần thêm một hai quả, lập tức làm tăng khẩu vị ngay.
Một loại cà chua khác được Hà Điền trồng có thể cho trái rất lớn.

Năm nay, quả cà chua to nhất phải cỡ bằng hai nắm tay.

Nó nặng đến mức gần như muốn chạm mặt đất.
Từ khi nó vẫn còn xanh, mỗi lần Hà Điền và Dịch Huyền đi đến vườn rau cũng đều đặc biệt chú ý đến nó, lần nào cũng phải thảo luận một phen: "Trời, nó vẫn còn lớn nữa hả?", "Có khi nào còn chưa chín thì đã rụng luôn rồi không? Nó lớn lắm rồi."
Sau khi quả bắt đầu chuyển sang màu đỏ, mỗi buổi sáng Dịch Huyền sẽ chạy đến xem nó trước, sau đó chạy về báo cáo: "Nó vẫn đang phát triển!"
Khi quả cà chua này chín, màu sắc không phải là màu đỏ tươi của cà chua nho mà là màu hồng, gần đầu quả có một lỗ nhỏ, da ở đây đặc biệt mỏng, gần như có thể nhìn thấy thịt quả bên trong, và còn nổi lên một viên thịt quả nhỏ như hạt sạn.

Hương vị cũng rất ngọt ngào.
Cà chua to chín hầu như không có vị chua, có màu hồng trong mờ, trên cuống chỉ có một chút màu vàng xanh, sau khi rửa sạch có thể ăn trực tiếp như trái cây, cắn một miếng thì nước trong miệng cũng ngọt.
Khi ăn loại cà chua này, hãy cố gắng hấp thụ nước quả càng nhiều càng tốt trong miếng đầu tiên, nếu không, nước chua ngọt sẽ chảy ra khắp nơi.

Trong nước quả còn kèm theo những hạt cà chua xanh vàng, hạt không cứng mà hơi dai.
Nếu cho cà chua vào chén, rắc một muỗng đường, rồi cẩn thận dùng muỗng cắt nhỏ ra, ăn cùng với đường, ngon đến mức không thể dừng lại được.
Lần đầu tiên nhìn thấy Hà Điền ăn cà chua như thế này, Dịch Huyền cảm thấy rất mới lạ, trước đây anh không nghĩ cà chua có thể ăn được như trái cây, nhưng sau khi ăn một quả, suốt mấy ngày liền anh đều ăn cà chua để tráng miệng.
Đáng tiếc là cà chua ngon như vậy nhưng lại không dễ bảo quản.
Đem phơi khô, quả to quá, phơi còn chưa khô thì thường đã bị hỏng mất, nếu cắt thành miếng hoặc lát thì không giữ được chất nước như cà chua nho nữa.

Còn đem đi ngâm nước muối thì kích thước lớn quá không dễ ngâm, một hũ không đựng được hai quả.
Cách duy nhất là chế biến nó thành nước sốt cà chua.
Cho cà vào nước sôi một lúc, lột bỏ vỏ, dùng tay tách bỏ cuống, bỏ cùi rồi cho vào nồi, không thêm một giọt nước nào, nấu trên lửa nhỏ, rắc muối, đường và các hương liệu tùy thích, đun sôi cho đến khi nước bay hơi hết, cà chua sền sệt thì có thể đổ vào hũ thủy tinh.

Sau khi nguội thì đậy kín rồi đem cất vào trong hầm, ăn được đến tận mùa xuân hè năm sau.
Đem nấu mì hoặc xào với nước sốt thịt, hương vị sẽ thay đổi khác hẳn đi.
Khi làm bánh mì yến mạch cũng có thể cho vào bột, thêm một ít quả óc chó nghiền vào để khi ăn có mùi thơm dịu.
Dịch Huyền nếm thử một miếng sốt cà chua và đề nghị thêm một số nấm dại và nấm hương vào.

Hà Điền ăn thử thì thấy nó ngon hơn, vì vậy cô đã làm vài hũ nước sốt này.
Đậu đũa cũng là một loại rau dễ bảo quản.
Ngoài việc phơi khô, nó cũng có thể được lên men như cải muối, khi ăn thì vớt ra, ngâm với nước trong một lúc, để ráo rồi cắt thành từng miếng vuông nhỏ, cho thịt đã thái hạt lựu vào xào cùng, hương vị rất ngon.
Hà Điền cũng ngâm một ít dưa leo.
Sau khi thời tiết chuyển lạnh, dây leo mất sức, dưa leo cũng không lớn thêm được nữa.
Hà Điền hái những quả dưa leo dài bằng ngón tay và ướp chúng với đường và muối rồi cho vào hũ.

Dưa leo muối chua giòn ăn sống là món ăn kèm rất ngon miệng, ăn kèm với cháo rau củ và bánh bao gạo tạp rất là ngon.
Hoặc cũng có thể cắt thành từng khối vuông nhỏ, cho hỗn hợp trứng vào xào, trứng bông lên còn dưa leo thì giòn, ăn với cơm hoặc là khi ra ngoài thì bọc trong cơm nắm.
Nếu dưa leo muối được ngâm trong hũ, đậy kín cẩn thận thì có thể để được khoảng sáu tháng.
Năm ngoái, Hà Điền không có nhiều sức lực và thời gian để chăm sóc cây trồng, cà chua và dưa leo đều không thể bảo quản trong hũ được.

Đây là một điều rất đáng tiếc.

Cho nên năm nay cô sẽ làm nhiều hơn một chút.
Bí đỏ to nhất cũng đã nặng gần bằng một con vịt.

Hà Điền và Dịch Huyền không biết những quả bí đỏ này sẽ lớn đến mức nào.

Họ để lại bốn năm quả để quan sát, số còn lại thì hái về thái mỏng để làm rau khô.

Bí đỏ phơi nắng nhàu nát, lên màu cũng không được đẹp.

Vì năm nay mới trồng lần đầu nên họ cũng không biết mùi vị của loại rau khô này để lâu sẽ như thế nào.
Suốt tháng tám, khoảng không gian trống trải trước căn nhà gỗ đầy những dãy kệ, những mẹt tre được đặt trên hai chiếc ghế đẩu để phơi nhiều loại rau củ quả trên đó.
Những quả táo trên cây giờ đã to bằng nắm tay, những cây táo tàu và cây hồng cũng trĩu quả, chỉ cần một hai tuần nữa là có thể hái được.
Ngoài những loại trái cây này, thực phẩm chủ yếu của nhà Hà Điền là kê cũng sai hạt trĩu cành.
Mùa thu rất ngắn ngủi, trời sẽ có mưa to bất chợt hoặc có thể có tuyết rơi bất ngờ.
Hà Điền và Dịch Huyền mỗi ngày đều bận rộn, vội vàng chuẩn bị cho mùa đông.
Mặc dù bây giờ vẫn có thể mặc quần áo đơn và mang giày rơm, nhưng có lẽ sau một trận mưa, trời sẽ lạnh đến mức họ cần phải mặc quần áo da.
Hà Điền có quần áo và giày cũ từ những năm trước, nhưng Dịch Huyền thì không.
Giày mùa hè rất dễ làm.
Nhà Hà Điền cũng như những người dân miền núi quanh đây đều đi giày rơm vào mùa hè.
Cắt lá hương bồ dọc những ao đầm về, phơi khô rồi vê cho mềm, sau đó làm giày rơm.
Tuy nhiên, giày mùa hè hoàn toàn khác với giày mùa đông.

Giày rơm mùa đông sử dụng phần thân to sát gốc, mỗi thân to đến nửa centimet, sau khi phơi khô rất cứng.
Còn giày rơm mùa hè thì chỉ cần bện bằng lá cây tươi, lá sau khi phơi khô và vê cho mềm, một sợi chỉ dày cỡ hai ba li, bện thật chặt thật kỹ làm đế giày, để lại sáu sợi dây.
Đặt đế trên trụ gỗ rồi dùng chùy gõ nhẹ, sau đó bện phần trên.

Gót giày là một đoạn, dùng hai sợi còn lại ở gót kéo dài sợi dây rơm lên, bện cao đến mắt cá chân thì ngừng, thắt lại đường bện, từ mũi chân đến mu bàn chân là một đoạn nữa, cả hai đoạn đều bện và thắt lại, sáu sợi dây vừa vặn gom lại ở mắt cá chân, làm khóa thắt dây giày.

Dây giày được cắt theo độ dài thích hợp, khóa giày thì được làm phức tạp hơn một chút, một bên thì bện thành một sợi dày có lỗ, bên còn lại bện thành một nút nhỏ, vừa đủ để nhét qua lỗ bên đầu dây kia.
Những đôi giày mà Hà Điền mang khi còn nhỏ có những chiếc nút được ông bà cô cắt bằng gỗ, có khi được cắt thành hình bông hoa nhỏ, có khi được cắt thành hình con ong và con bướm, rồi được sơn màu, tuy nhỏ nhưng chúng rất lạ mắt và tinh xảo.
Bên trong giày rơm còn phải mang vớ.

Dù một số người không mang nhưng nhà Hà Điền vẫn làm vớ để thoải mái và không bị côn trùng đốt.
Đi trên đường núi, giày rơm phải chắc chắn và vừa vặn với gót chân, chính vì vậy, trên giày rơm của Hà Điền, giữa ngón chân cái và ngón chân thứ hai có một sợi dây dọc được bện xuyên qua đế.

Khi mang vào thì dây sẽ cố định giữa các ngón chân, không sợ bị tuột.
Đi đôi giày này, tất nhiên, vớ cũng phải được làm đặc biệt.
Vớ đơn giản hơn giày, dùng ba miếng vải, miếng to hơn là đế bàn chân, hai miếng bên hông là mu bàn chân, khi may thì may chừa một đường làm khe hở giữa ngón chân cái và ngón thứ hai, xỏ chân vào, ngón chân có thể tự do cử động.
Những đôi vớ như vậy được gọi là vớ đầu quạ, một kiểu vớ rất cổ xưa.
Sau khi Dịch Huyền nhìn thấy đôi giày bằng rơm của Hà Điền, còn muốn cô làm cho anh một đôi giày có quai chữ V ngược, vừa bước vào nhà là anh lấy ra mang ngay, Hà Điền đã đi thử, nó thật sự rất thoải mái, vì vậy cô cũng làm cho mình một đôi.
Mặc dù bện giày có hơi mất thời gian nhưng dùng giày rơm thì hầu như không mấy tốn kém.

Giày rơm có bị ướt cũng không sợ, chỉ cần phơi khô là được, hai đôi giày có thể dùng suốt cả một mùa hè.

Nếu muốn kỹ hơn thì có thể lót dăm gỗ và guốc dưới đế của giày, có thể mang được vài năm.
Giày mùa thu thì không dễ làm như vậy.
Bởi vì trong rừng có rất nhiều sương và muốn mua vải thì phải tốn tiền nên hầu hết người dân miền núi đều sử dụng da của con mồi bắt được để làm giày da.
Có rất nhiều cách làm giày da.
Cách đơn giản nhất là cắt miếng da thành hai dây da, bẻ cong lại thành hình chữ U rồi may hai đầu vào đế, một bên trên và một bên dưới, là giày nhưng hơi giống dép.
Năm ngoái Hà Điền đã làm một đôi giày da thỏ cho Dịch Huyền, chỉ mang ở nhà vào mùa đông, khi trèo lên gác thì bỏ giày ra, lúc xuống thang thì chỉ cần xỏ chân vào, rất thuận tiện.
Phần lông thỏ nằm bên trong, mang vào chân, kể cả khi chân không mang vớ cũng rất mềm và êm, rất thoải mái, về phần da thỏ bên ngoài, nếu dính bụi bếp hay gì đó thì chỉ cần lấy khăn lau sạch là được.
Đôi giày mà Hà Điền mang ở nhà được làm tinh tế và bắt mắt hơn, chúng được làm từ lông ở cổ chân của tuần lộc.

Phần lông trên chân tuần lộc được cắt và may thật chặt, nó giống như một đôi ủng ngắn, cũng mềm và ấm, với mặt da hướng ra ngoài và mặt lông hướng vào trong.

Giày của Hà Điền rất tiện lợi, có thể xem như vớ, sau khi xỏ chân vào giày là có thể đi ra ngoài.
Nhưng mà giày mùa thu thì phải được làm phức tạp hơn, dù sao thì họ cũng phải đi tới đi lui trong rừng, không thể làm một cách qua loa được.
Ngay sau khi da được thuộc xong, Hà Điền bắt đầu làm giày.
Cô đã tìm ra cuốn sách dạy làm giày tại nhà, sách nói về các phương pháp làm giày khác nhau, da được cắt thành hình gì, cách may, cách đục lỗ, cách làm đế da...
Cô để cho Dịch Huyền lựa chọn, vì vậy anh đã chọn hai kiểu, một kiểu có dây cột và kiểu còn lại là bốt đến mắt cá chân.
Dụng cụ làm giày da khiến Dịch Huyền được mở mang tầm mắt.

Trước đây giày mà anh mang đều được người khác đưa đến đặt ngay trước mặt để anh lựa chọn.

Anh chưa bao giờ biết rằng để có được một đôi giày lại phải làm nhiều bước đến vậy.

Phải dùng dùi và các công cụ định vị như com-pa, kéo, kìm, đồ bảo vệ ngón tay này nọ.
Để làm ra đôi giày có dây cột, chỉ riêng phần mặt giày thôi đã phải cắt bảy miếng da, Hà Điền đã dùng một miếng da hoẵng trên phần chân có nhiều lông, theo cô thì loại da này ít thấm nước.
Dịch Huyền cảm thấy nếu kết hợp màu sắc thì sẽ càng đẹp hơn nữa.
Phần bề mặt giày khá dễ làm, phần đế trông giống như một mảnh, nhưng thực chất là một lớp da nhiều lớp, được dán lại với nhau bằng keo bong bóng cá, đập cho dính chặt rồi phơi khô...!Phải trải qua nhiều trình tự mới hoàn thành được, vừa cứng vừa nặng.
Nhà của Hà Điền có một miếng da đế giày như vậy được làm từ nhiều năm trước, nó được làm từ 5 tấm da hươu dày có kích thước tương tự nhau, dày gần bằng ngón tay và cực kỳ nặng.
Cắt đế và may đế đều là những công việc tốn nhiều công sức.
Dịch Huyền và Hà Điền lấy miếng da ra khỏi kho, để trong bóng râm một thời gian rồi dùng than củi vẽ hình lên đó, tiếp đến dùng dao to và nhọn khoét lỗ, đục lỗ, khâu mặt giày vào, quét một lớp keo bong bóng cá, hong khô, thêm phần đế và phần gót giày bằng gỗ, sau đó dùng dùi đập đập gõ gõ một phen, cuối cùng thì hoàn thành.
Hai đôi giày này phải làm từ mùa hè cho đến mùa thu mới xong.
Sau khi làm xong hai đôi giày, cô còn phải may một số quần áo mùa thu.
Quần áo của người trên núi rất trung tính, với lại quần áo của người già cũng không rực rỡ, nhưng Hà Điền cảm thấy không phải lúc nào Dịch Huyền cũng có thể mặc lại quần áo cũ của bà cô được.
Cô lấy hết đống vải mua lúc mùa xuân ra, rồi giở sách về quần áo nam ra cho anh lựa kiểu dáng.
Phải may hai bộ quần áo, vì dù sao thì cũng phải có một bộ để thay.
Vì vậy, Hà Điền đã dùng loại vải thật dày may cho anh hai chiếc áo khoác và hai chiếc quần dài.

Tạm thời không cần phải may áo khoác lông vì không có đồ da thích hợp, anh có thể mặc lại đồ cũ của bà cô.

Nếu mùa đông này có thể bắt được con mồi lớn, tốt nhất là nai, sang năm cô sẽ làm cho anh.
Áo khoác một cái được làm thành kiểu ngắn, dài đến hông và được may bằng vải bông dày màu xanh đen, chiếc còn lại thì may bằng vải dầu màu lạc đà sẫm, được làm thành kiểu dài, dài trên đầu gối.

Kiểu áo này còn có nón trùm đầu.
Cả hai chiếc áo khoác đều được làm lớn hơn một chút và có thể mặc áo lông bên trong khi trời hơi lạnh.
Sau khi làm quần áo xong, Hà Điền lại làm một lớp lót bằng vải bông có thể tháo ra được.

Riêng quần áo mùa thu của cô cũng có lớp lót bên trong, khi trời se lạnh thì lót thêm vào.

Với những chiếc cúc được may ở viền mép áo trong và cài cúc là những vòng vải nhỏ trong áo, áo có thể mặc lâu hơn và dễ giặt hơn.
Áo lót bên trong không có cổ áo và hơi nhỏ hơn so với áo bên ngoài, giữa hai lớp vải bông này là một lớp bông mỏng và lông tơ vịt, được may thành dạng ô lưới, làm vậy thì lớp bông và lông tơ bên trong không chạy lung tung.
Sau khi may xong áo khoác vẫn còn sót lại vài miếng vải lẻ, Hà Điền nhớ đợt ở chợ xuân đã từng nhìn thấy chiếc áo khoác nhiều màu do Tam Tam làm, lúc đó Dịch Huyền có vẻ rất thích, nên cô đã làm cho anh một chiếc nón nhiều màu dạng chóp giống nón của mấy đứa trẻ phát báo.
Anh rất thích chiếc nón này, quần áo mới vẫn chưa được mặc nên cả ngày cứ đội nón mãi.
Quần áo, giày dép đã kịp làm xong, vừa xong thì trời lại đổ mưa.
Cơn mưa không quá nặng hạt, nhưng sau một trận mưa, cả ngày trời đều âm u.
Sau trận mưa này, lá rụng trong rừng càng vàng và kém xanh hơn..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 70: 70: Mì Trứng Xào Cà Chua


Cà chua và dưa leo ngâm đã làm xong, quần áo và giày dép cũng đã có.

Hà Điền đếm số thịt gà, vịt và cá trong kho thịt xông khói, tháo một vài dãy giá đỡ xuống, lấy thịt treo trên đó, mỗi thứ một ít, chia thành năm phần.

Đây là chuẩn bị cho năm nhà nghỉ săn bắn mà cô sẽ đến.
Tranh thủ lúc tuyết còn chưa rơi, đường trong rừng còn dễ đi, họ phải nhanh chóng chuyển thực phẩm, củi khô, quần áo ấm và một số đồ dùng hàng ngày đến từng nhà nghỉ săn bắn, rồi kiểm tra các bẫy vòm thông đã làm lúc mùa xuân, sau đó xem xét xem có cần sửa lại nhà nghỉ hay không, chuẩn bị cho chuyến đi săn mùa đông.
Năm ngoái, phải đến cuối mùa thu cô mới chuẩn bị đồ ăn đem đến nhà nghỉ, hơn nữa cũng không chuẩn bị nhiều.
Điều này thật sự rất mạo hiểm.

Nếu trong lúc đi săn mà bất ngờ gặp phải một trận bão tuyết, rất có thể cô sẽ bị mắc kẹt trong nhà nghỉ hơn một tuần, không cầm cự nổi có khi còn chết cóng và chết đói ở đó.
Ngoài thịt và đồ ngâm, Hà Điền còn dự định mang theo một ít mì khô, rau khô và hoa quả sấy khô.

Hồi năm ngoái đi săn ở nhà nghỉ, mấy món "xa xỉ" này chỉ có thể vừa ăn củ cải khô ngâm vừa tưởng tượng ra mà thôi, năm nay thì ăn thoải mái.
Nhà nghỉ bên này thì không sao, nhà nghỉ bên kia sông thì cần phải mang một số ấm chén, tô gốm mới làm năm nay qua đó.

Cỏ khô cũng cần chuyển qua một ít.

Rồi cũng phải đổi mấy cái chăn nệm, đệm thành mới hết.

Trong số bốn nhà nghỉ ở đó, chỉ có một nhà nghỉ là có hai bộ chăn ga gối đệm tốt.

Năm ngoái Hà Điền và Dịch Huyền phải vác chăn mền trên lưng đi qua đi lại giữa các nhà nghỉ, rất cực.
Sau khi chuẩn bị thức ăn và mang theo chăn bông mới may, Hà Điền và Dịch Huyền lại dẫn Gạo và Lúa Mì ra ngoài.
Đầu tiên họ đến nhà nghỉ gần nhà.
Khi trời không có tuyết, đi bộ từ nhà đến vùng rừng này chỉ mất chưa đầy hai tiếng đồng hồ.
Vì là gần nhà nhất nên căn nhà nhỏ này thường xuyên được sửa chữa.
Nhìn từ xa thấy cửa ra vào và cửa sổ của nhà nghỉ vẫn còn nguyên vẹn, chiếc rương đựng đồ treo trên cây trước cửa cũng không bị động vật nhỏ làm hư hại gì, Hà Điền tạm thời cảm thấy an tâm.

Khi đến gần, cô cười khổ.
Gần mặt đất trên thân cây đặt rương bảo quản có bọc một lớp vỏ cây bạch dương cỡ một mét, được bôi mỡ lên để cây trơn trượt, ngăn động vật như sóc, chuột leo lên, đi vào rương lưu trữ phá hủy đồ đạc.
Nhưng bây giờ, có một con sóc đang bị dính vào vỏ bạch dương quấn trên cây, xác đã khô héo chỉ còn lại bộ lông và xương, bốc ra mùi hôi thối.

Nó dường như đã chết ít nhất hai tháng.

Có khả năng là sau khi Hà Điền đặt bẫy mới vào mùa xuân, mỡ trên vỏ cây bạch dương bị ánh nắng mặt trời làm dịu đi, và rồi nó leo lên.

Mà lần leo này, không thể nào xuống được nữa.
Hà Điền kêu Dịch Huyền mở cửa ra vào và cửa sổ của căn nhà ra, để nhà nghỉ thoáng khí trước, rồi mới dùng xẻng đem xác của con sóc chết trong tư thế thê thảm này vứt đi.
Vứt con sóc xong, Dịch Huyền xách xô ra suối sau nhà lấy nước, Hà Điền đặt thang gỗ bên cạnh cái cây, lấy bộ đồ giường trong rương gỗ ra, cột một sợi dây giữa hai cái cây rồi tháo chăn bông ra, treo lõi chăn bông và nệm lông hươu lên rồi vỗ nhẹ và hong khô.
Lúc này đã là buổi trưa, trời nắng chói chang, chăn bông nhanh chóng phồng lên, lông tơ trên nệm lông hươu cũng óng ả.
Trước tiên, Hà Điền mở túi rau khô mang theo, lấy một ít ra và cho vào một cái hộp đất nung hình chữ nhật, sau đó đặt bốn cuộn mì vào một hộp đất nung dài; hai con cá muối, hai miếng thịt khô và bốn cái chân vịt thì được đặt trong hai chiếc hộp bình vuông.

Tất cả các hộp đất nung đều được cột chặt bằng dây, sau đó xếp chồng lên nhau ngay ngắn.

Lấy một sợi dây dài xuyên qua lỗ trên rương đựng đồ rồi xếp chồng hộp đất nung vào, cột chặt cùng với rương đựng đồ.
Cô lấy từ trong sọt trên lưng Gạo ra một hũ tương cà và một hũ dưa leo muối.

Cổ của hai hũ đất nung này từ lâu đã được cột bằng dây bện làm bằng cỏ khô, làm thành quai xách, rất dễ xách đi.
Hà Điền đặt chúng vào rương đựng đồ chìm ở giữa sàn nhà nghỉ.

Rương này giống như một chiếc tủ lạnh tự nhiên, nhiệt độ tương tự như hầm rượu.

Vì chứa nhiều nước nên không thể để chúng ở ngoài trời được, sợ trời lạnh sẽ khiến hũ gốm bị đông đá rồi nứt bể.
Lúc này, Dịch Huyền mang nước về, họ đun một nồi nước nóng, ăn một ít lương khô mang theo rồi tiếp tục làm việc.
Lúc mùa xuân Hà Điền đã chặt một cái cây gần nhà nghỉ để làm bẫy vòm thông, sau đó cùng Dịch Huyền chặt cây thành nhiều khúc và chất thành đống trong chái củi bên ngoài bức tường phía Nam của căn nhà.

Bây giờ gỗ đã khô, đã có thể chặt thành củi và chất thành từng chồng, gỗ vụn thì dùng để nhóm lửa.

Củi và vụn gỗ nhóm lửa đều được đặt cạnh bếp sắt, cũng để sẵn một ít cỏ khô, để khi vừa bước vào nhà thì đã có thể nhanh chóng đốt lửa lên cho ấm.
Dịch Huyền bổ củi xong, Hà Điền đang kiểm tra lại những cái bẫy mà họ cất kỹ, đệm chăn cũng đã được phơi khô.
Anh giúp Hà Điền nhét chăn bông sạch sẽ vào vỏ chăn, gấp lại rồi cất vào rương cất giữ, sau đó tìm một lon mỡ và một chiếc cọ từ chái sau nhà, lại một lần nữa quét mỡ lên thân cây.
Hà Điền nói trong bất lực: "Đợi đến mùa đông thì tốt rồi.

Chỉ cần đổ một ít nước lên thân cây thì nó sẽ đóng thành một lớp băng, sóc sẽ không thể trèo lên được nữa."
Họ dập lửa, đóng chặt các cửa ra vào và cửa sổ, cùng Lúa Mì và Gạo quay trở lại cầu dây, đi về phía nhà nghỉ săn bắn ở bên kia sông.
Sau khi băng qua sông, họ đi bộ trong rừng khoảng ba bốn tiếng, cuối cùng đến được nhà nghỉ trước khi mặt trời lặn.
Trong rừng rậm, ánh sáng mặt trời rất ít, khi họ đến nơi thì trong rừng chỗ nào cũng lạnh lẽo và u ám, cũng không biết có động vật săn mồi nào đang ẩn náu đâu đó hay không.
Dịch Huyền đi lấy nước, Hà Điền kêu anh dẫn Lúa Mì theo, đồng thời dặn dò: "Nhất định phải cẩn thận."
Anh xách hai xô nước về, ngăn Hà Điền trèo lên thang, kêu cô đốt lửa nấu nước: "Bên ngoài lạnh lắm.

Em ở trong nhà đi.

Cũng chỉ là bổ sung đồ đạc mà thôi, cũng không phải là việc khó khăn gì, để anh!" - Vừa nói anh vừa đẩy cô vào nhà.
Sau đó, anh bước lên bậc thang, trước tiên là quét sạch bụi và lá rụng tích tụ trong rương chứa hàng tháng trời, rồi treo chăn mền lên cây cho khô.

Lúc này không có nắng, nhưng để cho gió núi thổi, thoát một chút hơi ẩm cũng tốt.
Sau đó, anh đặt thức ăn vào theo cách tương tự.
Khi anh bửa củi được một lúc thì trời đã tối hẳn, mùi thức ăn thoang thoảng cũng từ trong nhà nghỉ bay ra.
Hà Điền nấu một nồi mì, múc ra tô, bên trên là trứng xào cà chua.
Sau khi mặt trời lặn, khu rừng nhanh chóng trở nên lạnh lẽo, lúc này được ăn một tô mì nóng hổi, toàn thân cũng càng ấm áp hơn.
Trước khi đi ngủ, Dịch Huyền dắt Gạo vào nhà, vỗ nhẹ lên đầu nó: "Mày không được ị nhiều phân đâu đó."

Lúa Mì nhìn thấy Hà Điền ôm một ít cỏ khô đặt ở góc nhà, tưởng là cho mình, đang hưng phấn nằm trên đống cỏ khô chơi, lúc này nhìn thấy Dịch Huyền dẫn kẻ to xác kia vào thì liền sủa.
Hà Điền chỉ vào cái giỏ tre dưới bàn: "Lúa Mì, lại đây, đêm nay cưng ngủ ở đây này."
Giỏ được làm mới dựa theo hình thể của Lúa Mì, bên trong có hai tấm lông thỏ, bên ngoài giỏ là hai ống tre, một lớn và một nhỏ, một cái để đựng nước và một cái để đựng bánh bột bắp, ngoài ra Dịch Huyền còn mang món đồ chơi yêu thích mà nó giấu trong ổ theo - là quả bóng đuôi thỏ.
Lúa Mì sủa gâu gâu với Gạo một hồi rồi gừ gừ, nhưng Gạo thì cứ dửng dưng.
Lúa Mì bất mãn vì tự dưng lại mất cái đặc quyền "được ngủ chung nhà với chủ", nhưng không còn cách nào khác, nó rất hài lòng với chiếc giường mới này, nên đành phải nhẹ gầm gừ dọa Gạo một lúc rồi trèo vào ổ.
Một đêm này chắc chỉ có Gạo là ngủ ngon giấc.
Cuộc sống bận rộn hàng ngày không khác nhiều so với mùa hè, chẳng qua là mặt trời ló rạng trễ một chút, trời tối sớm một chút mà thôi, nên thành ra thời gian ngủ cũng dài ra một cách vô thức.
Ăn ngủ tốt, thời tiết không quá lạnh cũng không quá nóng nên họ như có thêm năng lượng.
Lúc này, cẩu độc thân Lúa Mì cũng quá là thê lương.
Nó nằm trong ổ mới, chán nản quay đầu lại nhìn cái kẻ to xác trong góc vẫn đang không ngừng nhai cỏ khô kia, nhe răng gừ gừ, sau đó nhảy ra khỏi ổ chạy đến chân cầu thang, nghiêng đầu thắc mắc: Hai anh chị chủ đang làm gì ở trên gác vậy kìa? Sao cứ ríu ra ríu rít một hồi, rồi lại cười khúc kha khúc khích một lúc vậy ta?
Kể từ khi Dịch Huyền cho Hà Điền thấy bộ dạng của con rồng đen kia, thậm chí còn dụ dỗ cô chạm vào nó, tấm rèm treo giữa các thanh gỗ đã trở thành thứ có cũng như không.
Mà trong nhà nghỉ săn bắn này cũng không có rèm che, còn có gì có thể cản được anh nữa?
Ban đầu Hà Điền cũng chỉ tò mò thôi, dù sao thì cô cũng đã từng xem qua những bức hình giải phẫu trong sách, nhưng sức ảnh hưởng của đồ thật vẫn rất lớn, Dịch Huyền quá đẹp, chỉ cần anh làm nũng một tí thôi thì cô khó lòng mà chống cự nổi.
Hôm đó, anh nắm tay cô, tươi cười hỏi: "Em có muốn chạm vào mắt và sừng của rồng không?"
Muốn! Sao lại không muốn được chứ! Khi cô còn nghĩ anh là con gái, thỉnh thoảng cứ nhìn chằm chằm vào anh, huống chi là bây giờ.
Vì vậy, Hà Điền cũng đã chạm vào mắt rồng và cơ ngực dưới sừng của con rồng.
Dịch Huyền lại nói: "Em có biết rồng không? Nó khác với rồng phun lửa có đôi cánh dơi và bụng to trong thần thoại phương Tây.

Rồng này là một con vật trong thần thoại Đông Á.

Nó là sự kết hợp của chín con vật, em xem, nó có sừng hươu và cả bờm sư tử nữa này."
Vì vậy, anh lại nắm tay Hà Điền để cô chạm vào bờm sư tử của rồng.
Hà Điền cũng không biết hình dáng của con rồng này bao gồm chín con vật nào, nên dựa theo chỉ dẫn của Dịch Huyền mà xem móng vuốt đại bàng.
Sau đó là tay hổ, bụng trai, thân rắn, vảy cá...!và những họa tiết nước như tranh vẽ bằng mực.

Về phần đuôi rồng ở đâu, cô đã thấy, và cũng đã sờ qua.
Sau những va chạm và cú sốc quá lớn do đồ thật mang lại, Hà Điền cảm thấy thật mới lạ và thú vị.

Hơn nữa Dịch Huyền lôi kéo tay của cô, lúc thì nhỏ giọng năn nỉ, lúc thì làm ra vẻ cô mà không thuận theo thì không yên với anh đâu...!Bộ dạng này hoàn toàn quá khác biệt so với vẻ ngoài lạnh lùng của anh những lúc bình thường, rồng đen với hình dáng dữ tợn trên người cũng tương phản cực lớn, ừm...!nó khiến cô có chút tự hào và cảm giác thành tựu.

Vì vậy, cô cũng vui vẻ mà thỏa mãn anh.

Nhưng nếu Dịch Huyền muốn thăm dò cô, cô sẽ ngay lập tức thẹn quá hoá giận.

Vì có tiền án đã lừa dối cô nửa năm nay, và cũng vì sợ mình không kiềm chế được nên anh cũng không dám đi quá xa.
Trong thời đại này, Durex có sẵn ở trên kệ trong siêu thị đã không còn tồn tại nữa.
Mà ở trong rừng rậm, việc mang thai, sinh nở, nuôi dạy con cái cũng khó khăn hơn rất nhiều so với những nơi khác.
Trước hết, họ khó có thể tìm được người đỡ đẻ.

Nơi gần nhất để tìm bà đỡ là ở một thị trấn nhỏ ở hạ lưu sông.
Ở trong làng của Tam Tam nếu có người sinh con, cũng phải tìm đến bà đỡ này.
Đúng vậy, chỉ có một bà đỡ.
Hầu như tất cả mọi người trong thị trấn và làng mạc thôn xóm đều được bà ấy đỡ đẻ.
Còn về phần các bác sĩ phụ khoa, có thể họ đang ở các thành phố lớn.
Ngoài việc sinh nở, hậu sản là một cửa quỷ khác đối với phụ nữ.

Nhiễm trùng, tai nạn và các biến chứng sau đó trong quá trình chuyển dạ, tất cả đều đe dọa đến tính mạng của phụ nữ.
Mỗi khi tà niệm trỗi dậy và không thể không kiềm chế bản thân, Dịch Huyền lại rất khao khát cái cuộc sống có thể mua được các sản phẩm cao su ở khắp mọi nơi trước khi cái lạnh khắc nghiệt ập đến.

Vì vậy, trong một cuộc trò chuyện nhỏ, Hà Điền đã hỏi anh: "Nếu như cho anh một thứ gì đó có từ trước khi cái lạnh khắc nghiệt ập đến, và anh có thể sử dụng nó như trước, anh sẽ chọn cái gì?" Anh buột miệng: "Durex!" Sau đó anh lập tức hứng một cái tát của Hà Điền.
"Em tưởng anh sẽ chọn điện thoại thông minh!"
"Vậy thì phải có mạng, có WiFi, điện mới dùng được!"
"Em đã nói anh có thể sử dụng nó như trước đây, nên anh không cần phải suy nghĩ đến chuyện này! Kể cả khi anh có chọn máy bay, máy tính và máy ảnh cũng vậy." Hà Điền khinh thường liếc nhìn anh: "Cho anh chọn lại đó, lần này nhất định phải là thứ thể hiện được trình độ tiên tiến của nền văn minh nhân loại trước cái lạnh khắc nghiệt."
"Được."
Dịch Huyền suy nghĩ một lúc, nói một cách nghiêm túc: "Anh muốn có một nhà máy sản xuất Durex."
"Xéo!" Hà Điền cười mắng, nhéo một miếng thịt dưới xương sườn của anh.
"Ui da!" Dịch Huyền nắm lấy tay Hà Điền đặt lên bụng con rồng, nói lời nguỵ biện mà còn ra vẻ nghiêm túc: "Nhà máy này...!có dây chuyền lắp ráp! Từ khâu xử lý nguyên liệu đến sản xuất đóng gói đều tự động hóa.

Phải sử dụng rất nhiều điện, và cũng có một số bộ thiết bị được dùng cho nhiều mục đích khác nhau nữa.

Như vậy mà còn không cho thấy được trình độ phát triển của nền văn minh nhân loại sao?"
Hà Điền bị anh chọc cho bật cười..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 71: 71: Gan Heo Xào Cải Thảo


Sau khi kiểm tra tất cả các nhà nghỉ, đặt vật tư và thực phẩm, và tuần tra các bẫy ở bãi săn, Hà Điền và Dịch Huyền mang Gạo và Lúa Mì về nhà.
Đợi thu hoạch đợt ngũ cốc cuối cùng của mùa thu xong, họ sẽ lại đến, mang theo khoai, kê thu hoạch năm nay, yến mạch và lúa hoang được thu gom ở các ao và đầm lầy.
Về đến nhà, Hà Điền chạy đi xem ruộng kê và vườn rau trước.
Nhìn thấy mọi thứ đều bình thường, không có con thú lớn nào tới phá, trái tim vốn treo lơ lửng cũng coi như được thả xuống.
Có một năm vào mùa thu, một con heo rừng kéo theo già trẻ lớn bé của nhà mình đến.

Chúng coi nơi đây như một quán ăn tự phục vụ và tàn phá một cách trắng trợn.
Lúc cả nhà Hà Điền trở về, quả thật là khóc không ra nước mắt, kê đã trổ hạt bị giẫm xuống đất, hạt lúa sắp chín đều tiêu tùng, khoai tây, khoai lang, củ cải, cà rốt đều bị nhổ ra gậm cắn, toàn bộ cải thảo đều bị giẫm nát vụn.

Không còn cách nào khác, mùa đông năm đó họ chỉ ăn mỗi cải thảo.
Trong các loài động vật rừng, heo rừng là loài khiến cho người ta phải đau đầu nhất.
Chúng có khứu giác nhạy bén và rất lanh lợi.

Đừng thấy chúng mập mạp mà lơ là, chúng di chuyển rất nhanh, heo rừng trưởng thành có thể dài tới gần 2m.

Khi chạy hết sức mình thì tốc độ của chúng rất đáng kinh ngạc.

Hơn nữa với thể trọng vài trăm kg và những chiếc răng nanh, lực phá hoại của chúng rất lớn.
Trong rừng, có người thợ săn đi bắt heo rừng, bị heo rừng đực đâm chết.
Ngôi làng dưới núi cũng bị heo rừng hoành hành.

Không hiểu sao heo rừng rất thích ăn bắp, năm nào thôn dân cũng trồng một ít bắp, vốn tưởng rằng năm nay sẽ thu hoạch được nhiều loại lương thực thì đến cuối mùa hè, khi bắp đã có thể hái được thì heo rừng lại bắt đầu đến thăm.

Mấy mẫu bắp bị ủi chỉ trong một đêm, chỉ còn lại vài lõi bắp tròn không nguyên vẹn.
Gần nhà của Hà Điền cũng có heo rừng.

Ngay tại vùng đất ngập nước, nơi họ đi săn vịt trời lúc mùa xuân.
Sau đợt nước lên lúc mùa xuân, các vùng đất ngập nước có rất nhiều cây thân rễ mềm và mọng nước, dưới nước có ốc sên, ốc nước ngọt và nhiều ấu trùng côn trùng.

Mà heo rừng thì lại thích lăn lộn trong hố bùn.

Các đầm lầy là môi trường sống lý tưởng của chúng.

Mùa xuân năm nay, lúc họ đi săn đã từng nhìn thấy một con heo mẹ dẫn theo năm sáu con heo con đang kiếm ăn trong bãi cỏ bên kia sông.
Heo con có sọc và đốm trên cơ thể, lông màu nâu nhạt trông rất dễ thương.
Thậm chí Dịch Huyền đã nghĩ đến việc bắt một hai con về nuôi, nhưng Hà Điền đã cố gắng thuyết phục anh.

Heo mẹ dữ hơn vịt mẹ rất nhiều, heo con thì vốn tính ham ăn, chăm chỉ nuôi nó lớn rồi nó lại đập phá chuồng heo rồi chạy ra ủi hết đất trồng trong nhà, nên họ đã từ bỏ ý định này.

Tuy nhiên, Hà Điền nói với anh rằng bây giờ đã biết môi trường sống của heo rừng ở đâu, đến mùa thu, họ sẽ đến đó bắt một con về.
Thật ra không phải là không có ai nuôi heo rừng, nhà họ Phổ luôn nuôi heo.

Họ đặt bẫy vào mùa xuân hàng năm, và nếu bắt được heo rừng, họ sẽ thiến chúng.

Sau khi thiến, heo đực trở nên thuần hóa và dễ nuôi thịt.

Đến mùa thu, một con heo có thể lớn đến hai trăm ký, nếu là heo đã nuôi hai năm thì càng nặng hơn nữa.
Ngày trước, khi ông bà của Hà Điền vẫn còn sống, cứ đến mùa thu là gia đình cô sẽ lại đến nhà họ Phổ để đổi nửa con heo.

Họ có thể dùng đồ gốm, thuốc nổ, xà phòng, thuốc mỡ hoặc hoa màu họ trồng, mật ong thu được, trái cây khô hoặc cá hồi và vịt trời mà họ bắt được để trao đổi.

Nếu còn sót lại lông chồn hương thì còn tốt hơn nữa.
Năm ngoái, anh em nhà họ Phổ đã từ chối bán chó cho Hà Điền tại hội chợ mùa xuân, nên mùa thu này cô không định đến nhà họ để đổi thịt heo nữa.
Dịch Huyền nói đúng, Hà Điền là một người hơi "rụt rè".

Nhưng cho dù có rụt rè thì cô cũng có trong mình sự kiêu ngạo.
Hà Điền nghĩ, nhà họ Phổ có thể đặt bẫy để bắt heo rừng, vậy thì cô cũng có thể.
Vì vậy, lúc mùa hè, Hà Điền đã chú ý đến hướng di chuyển của heo rừng ở các đầm lầy gần đó, và cô cũng đã nghĩ ra nhiều cách để bắt heo rừng.
Đến mùa thu, cô đặt một cái bẫy ở nơi heo rừng thường lui tới, và cô cũng đã thuận lợi bắt được một con heo rừng, tuy rằng nó chỉ là một con heo nhỏ nhưng cũng đủ cho cô ăn rồi.

Ai ngờ sau này lại nhặt được Dịch Huyền.
Năm nay, Hà Điền không định dùng con mồi và thu hoạch của mình để đổi thịt heo với nhà họ Phổ nữa.
Sau khi trở về từ nhà nghỉ săn bắn, cách vài ngày thì trời lại đổ mưa.
Mưa mùa thu lúc nào cũng như vậy.

Từ sáng trời đã u ám, mây mù âm u tưởng chừng như sắp nhỏ giọt, không khí cũng ẩm ướt nhưng lại không mưa, thẳng đến giữa trưa mới không nhanh không chậm mưa xuống, hạt mưa rơi tí ta tí tách, đến 7, 8 giờ tối mới ngừng.

Thời tiết trời không nắng ráo như thế này đáng lẽ ra không khiến người ta vui vẻ gì, nhưng Hà Điền lại rất vui, bởi vì đây là thời tiết thích hợp để đặt bẫy.
Buổi sáng, sau khi ăn cơm xong, cô lấy một củ cà rốt ra băm nhỏ rồi trộn cùng với bột mì và đậu nành xay, cũng đem nước dùng và bã thịt còn sót lại hồi đêm qua trộn chung nhào thành một cục tròn, nặn thành mấy ổ bánh nhỏ rồi cho vào hấp trong lồng.
Lúa Mì tưởng là nấu cho nó, đứng ở ngoài rèm vẫy vẫy đuôi.
Hà Điền để lại một ít cho nó, số còn lại thì gói trong lá tre, bỏ vào trong túi.
Cô và Dịch Huyền kéo từ trong kho ra một vài tấm gỗ lớn rồi đóng đinh chúng thành một tấm bảng vuông có kích thước 1,5 x 1,5 mét.

Họ lấy một cái xẻng, một cái cuốc, đeo một khẩu súng ngắn trên lưng rồi chèo thuyền đến vùng đất ngập nước.
Lúa Mì thì ở nhà trông nhà.
Bây giờ nó đã là một con chó săn trưởng thành, mặc dù có rất ít kinh nghiệm nhưng nó đã có thể hoàn thành nhiệm vụ cơ bản là trông nhà.

Chỉ cần không phải là gấu, còn các động vật hoang dã khác muốn đến ăn trộm thức ăn trong khi mọi người đi vắng, Lúa Mì đều có thể xua đuổi hết.
Hai người Hà Điền chèo thuyền trên sông được một lúc thì trời bắt đầu đổ mưa.

Mưa rơi trên mặt sông nổi lên gợn sóng lăn tăn.
Kiểu thời tiết này rất thích hợp để ngủ, muông thú không muốn ra ngoài, xung quanh yên tĩnh hơn, thỉnh thoảng còn có thể nhìn thấy chim đậu trên cành.
Sau khi đến vùng đất ngập nước, Dịch Huyền cấm cọc thuyền vào bùn dưới đáy sông, cột thuyền lại, cùng Hà Điền nhặt tấm ván gỗ lên, lấy dụng cụ, đi vào trong lùm cây.
Một nhà heo rừng đều quanh quẩn ở đây.
Heo rừng thích đi kiếm ăn vào sáng sớm hoặc ban đêm, ban ngày chúng lăn lộn trong đầm lầy, trườn lên bùn, sau đó ẩn mình dưới bóng cây râm mát.

Heo rừng đực sẽ chà xát da trên đá và thân cây, để làm cho da trở nên dày và cứng, chuẩn bị cho trận chiến trong tương lai với những con heo rừng đực khác để tranh giành quyền lực.
Dịch Huyền đi theo Hà Điền trong lùm cây một lúc, cô chỉ vào bãi cỏ trước mặt, nói nhỏ: "Anh nhìn này, có một con heo rừng vừa đi ngang qua đây."
Bụi cỏ cao đến đùi bị tách ra thành một con đường rộng nửa mét, cây cỏ bị xới tung hai bên, Hà Điền dẫn anh đi dọc theo con đường, chẳng mấy chốc đã nhìn thấy phân và nước tiểu của heo rừng.
Họ đi về phía trước một lúc, và khi đến cạnh lùm mâm xôi, Hà Điền nói: "Chắc chắn rồi."
Cả hai đặt tấm ván xuống và bắt đầu đào một cái hố bên cạnh lùm mâm xôi.
Hố này được đào sâu hơn một mét, chiều dài và chiều rộng khoảng 1,5 mét, nhỏ hơn một chút so với tấm ván.

Vừa đào, cả hai vừa rắc đất đào xung quanh.
Sau khi đào xong hố, trời mưa không nhỏ, bùn ở mép hố theo mưa chảy xuống hố.
Hà Điền và Dịch Huyền mỗi người một bên, nhấc tấm gỗ lên đặt trên miệng hố.
Tấm ván này lớn hơn so với hố một chút, có thể đậy kín mép hố lại.
Sau khi đậy tấm ván, Hà Điền dùng mặt sau của cái xẻng đập dọc theo mép tấm ván để đảm bảo nó nằm chắc trên hố.

Sau đó, họ nhặt một số cành cây gần đó trải lên ván gỗ, rồi lại đặt số cỏ còn nguyên rễ với đất vừa đào xong lên cành, nhìn từ xa, thật sự không nhìn ra được bất kỳ sự khác lạ nào ở đây cả.
Hà Điền mở túi, lấy một ổ bánh ra, vò nát rồi rắc rải rác trên cỏ dại trên ván gỗ, lại đưa cho Dịch Huyền một cái, hai người ở trước sau trên ván gỗ, dọc theo đường đi của heo rừng đi ra, rắc đều bánh bột bắp.
"Xong rồi.

Chúng ta trở về thôi."
Hà Điền rất hài lòng với công việc ngày hôm nay.
Ngày hôm sau, mưa tạnh.
Họ lại chèo thuyền đến nơi đã đặt bẫy.
Nhìn lại, bánh bắp trên đường cùng trên ván gỗ đã bị ăn hết từ lâu, cỏ cây và cành lá trên ván gỗ đều bị xáo trộn, ván gỗ cũng lộ ra.
Hà Điền và Dịch Huyền lại đặt cành cây và cỏ lên.
Cỏ khi đào lên vẫn còn nối rễ với đất, ngày hôm qua lại mưa dầm, lá cỏ vẫn còn rất xanh.
Sau khi bố trí bẫy xong, Hà Điền lại rắc bánh bắp lên.
Hôm đó trời mưa, mùi của nhóm Hà Điền lưu lại khi đào hố đã bị mưa cuốn trôi đi không ít, hai ngày sau, mỗi ngày đều có thể tìm được đồ ăn ở đây, heo rừng cũng thả lỏng cảnh giác.
Ai ngờ, đến ngày thứ ba, nơi đây không có món gì ngon nữa cả!
Con heo rừng ủi tung cành lá trên ván gỗ, thất vọng bỏ đi.
Hai ngày sau, khi sáng sớm đang đi tìm thức ăn, từ xa ngửi thấy mùi thức ăn ngon, nó vội hừ hừ phì phì chạy đến, nhấm nháp thức ăn vương vãi trong cỏ, rồi lại nhìn, vẫn còn một đống thức ăn dưới cành lá nữa, nó vui sướng nhảy dựng lên——
Rắc, rắc, rắc.
Cành cây đều gãy, heo rừng rơi xuống hố, nửa số cành cây khô và cỏ, đồ ăn ngon đều rơi xuống đầu nó như mưa.
Bây giờ nó đã tìm được thứ gì đó để ăn, nhưng cũng bị mắc kẹt trong cái hố lớn này và không thể nào thoát ra được nữa.
r*n r* thảm thiết trong hố cả đêm, sáng hôm sau, heo rừng tuyệt vọng nhìn thấy hai người tươi cười đứng bên hố cùng một con chó.
Sau khi được ăn ngon hai ngày liền, con heo rừng đã thả lỏng cảnh giác, Hà Điền và Dịch Huyền quay lại lần nữa, họ lấy tấm ván gỗ đậy trên hố đi.
Được bao phủ bởi một lớp cành lá, cỏ đào ra chưa héo nên vẫn được phủ lên trên như thường, rồi để mồi ngon vào.
Khi heo rừng đến, chỉ cần đứng ở đó, mấy cành cây nào có thể chịu được sức nặng của nó, răng rắc gãy, và thế là heo rừng bị rơi xuống hố.
Hố không quá sâu, nhưng dù sao thì heo rừng cũng không thể nào trèo lên được.
Hà Điền vui vẻ nói với Dịch Huyền: "Í chà, con heo này nặng ít nhất cũng bảy mươi đến tám mươi kg ấy nhỉ?"
Đây là lần đầu tiên Dịch Huyền và Lúa Mì nhìn thấy một con heo rừng ở khoảng cách gần như vậy.

Hai người họ ngồi xổm bên hố để quan sát anh chàng da nâu đen này kỹ hơn.
Lúa Mì sủa vang, vô cùng thích thú.
Dịch Huyền hỏi: "Chúng ta làm cách nào mang nó về được?"
Hà Điền cầm súng ngắn lên: "Bắn cho nó chết trước, rồi nhảy xuống hố, lột da, xẻ thịt, bỏ vào túi đem lên từ từ.

Năm ngoái em cũng làm vậy."
Với thực lực của Hà Điền, cô không thể nhấc con mồi nặng như vậy lên khỏi hố được, vận chuyển nó từ đây lên sông rồi từ sông về nhà là điều rất khó.

Nhưng cắt thành từng miếng nhỏ rồi vận chuyển từ từ, không có vấn đề gì.
Cô cười tủm tỉm, sau đó nhìn vẻ mặt của Dịch Huyền, vội nói: "Đây là một con heo rừng đã trưởng thành, lại là heo đực, sẽ không lớn thêm bao nhiêu nữa đâu, anh đừng nói muốn đem về nhà nuôi!"
Dịch Huyền xấu hổ cười cười: "Anh không nghĩ vậy.

Muốn nuôi thì phải nuôi heo nái và heo con, hơn nữa chúng ta hiện tại cũng không có chuồng heo."
Hà Điền nghe vậy thì tự nghĩ, cô còn không biết Dịch Huyền là một anh nông dân cuồng chăn nuôi chắc? Con gì anh cũng muốn mang về nhà nuôi hết.

Lần trước khi bắt cá hồi, nhìn thấy hai chú gấu con do gấu mẹ dắt theo trông khờ khạo và hoạt bát, vậy mà cũng nói: "Ôi, dễ thương quá!"
Hà Điền bắn chết heo rừng, để cho Dịch Huyền cắm cái xẻng ở bên miệng hố.

Cô nhảy xuống hố cột một sợi dây vào hai chân sau của con heo, rồi đưa dây cho Dịch Huyền để anh kéo từ từ lên cho đến khi con heo rừng bị treo ngược, sau đó cột dây vào một đoạn gỗ đã được vuốt nhọn cắm xuống đất.
Dịch Huyền muốn xuống giúp đỡ, Hà Điền vội vàng ngăn anh lại: "Anh mà nhảy xuống thì nếu có người tới, chúng ta cũng sẽ giống như con heo rừng này vậy."
Dịch Huyền đành phải ngồi cạnh hố và canh gác cùng Lúa Mì.
Sau khi con heo rừng bị treo ngược, Hà Điền bắt đầu lột da heo.
Khi săn mồi, tốt nhất là nên bắn vào đầu con mồi, như vậy thì mới có thể lột da trước, da còn nguyên vẹn không dính quá nhiều máu và vết bẩn.
Bắn vào trái tim của con mồi là lựa chọn tốt thứ hai.

Còn tệ nhất là bắn vào bụng của con mồi, thức ăn trong ruột chưa kịp tiêu hóa, phân chưa kịp thải ra ngoài, trong đó vẫn còn rất nhiều men và vi sinh vật, chúng sẽ nhanh chóng làm nhiễm độc nội tạng và thịt, khi đó phải mổ ruột trước, lấy nội tạng ra, còn về phần chất lượng da thì phải tùy vào vận may.
Con heo rừng này bị một phát đạn bắn trí mạng vào đầu.

Đầu tiên, Hà Điền dùng dao cắt cổ rồi dùng thùng gỗ hứng máu.

Sau đó, cô lột da từ phần bụng dưới kéo dài lên đến cổ, rồi cắt đầu heo ra, để sang một bên, gập đôi da rồi cuộn lại, cho vào giỏ rơm chung với đầu heo.
Sau khi vào thu, muỗi và ruồi đều biến mất trong một đêm, khiến họ cảm thấy dễ chịu hơn, nhưng khi lấy nội tạng heo rừng ra, mùi hôi rất khó ngửi.
Hà Điền cất kỹ tim và gan heo, ném những bộ phận nội tạng khác sang một bên, Dịch Huyền nhanh chóng chỉ vào thận và ruột heo hỏi: "Những thứ đó đều vứt đi?"
Hà Điền nhìn một cái, chọn lấy phần tuyến tụy cầm lên: "Cái này có thể giữ lại.

Khi làm xà phòng thì thêm một chút vào, xà phòng càng tốt".

Tuyến tụy có nhiều enzym hoạt động, sau khi rửa sạch và phơi khô thì có thể dùng được.
Dịch Huyền chỉ vào đống ruột heo: "Những thứ này cũng có thể ăn được! Ruột có thể dùng làm lạp xưởng."
Hà Điền nhăn mặt không thể tin được: "Những thứ này?"
Dịch Huyền nói cho cô biết lạp xưởng là gì và nó ăn ngon như thế nào, Hà Điền đành phải bịt mũi nhét ruột heo vào một cái túi.

Trên đường về, đặt nó ở chỗ đuôi thuyền phía xa.
Khi trở về nhà, Hà Điền để cho Dịch Huyền xử lý ruột heo, còn mình thì rửa sạch tay nhiều lần, trở vào nhà, thay đồ, nhóm lửa nấu cơm trước, sau đó rửa sạch gan heo rồi cho vào nước sôi trụng sơ.

Lúc rửa thì vò nhẹ để loại bỏ lớp màng nhầy bám trên đó, sau đó cắt gan heo tươi thành từng lát và xào cùng với cải thảo, không cần xào lâu, vừa chuyển màu là đã có thể cho ra dĩa.
Máu còn lại trong tim heo được vắt ra hết, cắt làm đôi, một nửa thì thái miếng mỏng, ướp mỡ và muối, dùng que tre xiên rồi bỏ vào chảo, chiên trên lửa một lúc thì mùi thơm tỏa ra bốn phía, có thể dọn ra dĩa.
Nửa còn lại thì ướp nước tương, tương đậu, đường rồi cho vào niêu đất ướp đến tối, sơ chế đầu heo xong cũng cho vào ướp chung..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 72: 72: Bánh Trung Thu Nhân Thịt Tươi


Dịch Huyền rửa ruột heo hồi lâu, cuối cùng nhận ra rằng lạp xưởng không dễ làm.
Lúc Hà Điền gọi anh đi ăn cơm, anh vẫn còn đang "chiến đấu hăng hái" với số ruột heo bên suối.
Hà Điền nhìn thử, chất bẩn trong ruột đã được rửa sạch, nhưng lớp màng bên trong vẫn còn dinh dính, còn lâu mới đem đi nấu được, huống chi là làm thành vỏ lạp xưởng.
Cô biết tính khí của Dịch Huyền, nên cẩn thận hỏi anh xem vỏ lạp xưởng trông như thế nào, sau đó nhìn vào phần ruột trong giỏ chưa được làm sạch: "Hẳn là chỉ dùng ruột non.

Phần ruột già nên để sang một bên."
Cô nghĩ ngợi rồi đem một hộp tro thực vật nhỏ đến, trước tiên dùng móc tre lật ngược ruột non lại, rửa sạch phần bên trong, sau đó để ruột trên một cái nia tre cùng Dịch Huyền xả nước.

Khi gần khô thì lại rắc một lớp tro thực vật lên nữa.
Hà Điền nói: "Ăn cơm trước đi.

Đợi ăn xong thì tro thực vật cũng đã hút hết chất trơn rồi, sẽ rất dễ rửa sạch."
Thật vậy, ăn cơm xong quay lại, tro dính vào lớp màng mỡ bên trong, dùng tay vò nhiều lần rồi dùng dao tre cạo sạch, rửa nước, vậy là ruột đã được làm sạch.
Đoạn ruột non này khi lấy ra khỏi bụng heo cảm thấy không dài bao nhiêu, giờ căng ra hết, cũng dài cả hơn chục mét.
Dịch Huyền và Hà Điền treo ruột heo đã làm sạch lên một chiếc cọc tre để hong khô, sau đó nhóm lửa trên bãi đất trống bên cạnh đất trồng rau.

Họ dùng một chiếc cây xiên cá để cắm đầu heo vào, đặt nó lên giá đỡ hình chữ Y và xoay cán của chiếc xiên.

Ngọn lửa sẽ đem toàn bộ số lông tơ trên đầu con heo thiêu rụi.

Tất nhiên là mùi của nó không được dễ chịu cho lắm.
Dịch Huyền ở lại xử lý đầu heo.

Hà Điền đi lấy một thùng nước và một chậu sắt lớn đến.

Sau khi làm sạch đầu heo, đặt chậu sắt lên bếp lửa, thêm nước, sau đó trụng da heo trong nước sôi để làm sạch máu bẩn, sau khi vớt ra để ráo thì dùng dây làm bằng sợi bông kéo căng trên một vòng tre lớn.
Hà Điền tìm phần da cổ của con heo, dùng một con dao nhỏ cạo sạch lông bờm rồi cho vào một chiếc hộp tre nhỏ.
Những sợi lông này có thể được sử dụng để làm bàn chải đánh răng và bàn chải với nhiều kích cỡ khác nhau.
Bàn chải đánh răng của nhà Hà Điền đều do họ tự làm.
Làm cũng không khó.

Cắt tre thành cán, lắp kim khoan nhỏ đường kính một milimét vào máy khoan cầm tay, dùng thước để đo, khoan ngay ngắn năm lỗ nhỏ trên đầu bàn chải đánh răng, mỗi hàng dọc mười lỗ, phần tay cầm này coi như đã xong.
Lông bàn chải đánh răng sử dụng hai loại lông, phần ở giữa thì dùng lông cứng còn cả hai bên thì dùng phần lông mềm hơn.

Các sợi lông được cột thành chùm bằng sợi tơ và thắt nút ở giữa, nhét vào các lỗ trên cán cây đánh răng.

Khi xỏ chỉ thì bắt đầu từ phần dưới cùng của mặt chính, luồn chỉ lên trên, đến phần cuối thì xỏ vòng lại, khi luồn đến cuối, cột một nút thắt, tất cả các chùm lông đều được cố định lại.
Lúc này, bàn chải đánh răng cơ bản đã hoàn thành, trước khi dùng thì luộc qua nước sôi pha muối, để khô.
Một cái bàn chải đánh răng có thể sử dụng được từ ba đến bốn tháng.
Mà lông của một con heo có thể làm được hàng trăm cái bàn chải đánh răng.
Ngoài bàn chải đánh răng, tùy theo độ cứng mềm của lông mà có thể chế tạo ra nhiều loại bàn chải có kích cỡ và mục đích sử dụng khác nhau.
Bàn chải chải lông cho Gạo cũng được làm bằng lông heo, dùng loại gỗ dày và lông cứng nhất làm thành, có thể loại bỏ hết bụi bẩn, cát sỏi bám trên người nó, cả những loại hạt nhỏ, rồi rệp, ve, vân vân...
Loại bàn chải này sau khi dùng xong thì treo ở nơi khô ráo thoáng mát, có thể sử dụng được những hơn chục năm.
Năm ngoái, Hà Điền chỉ mang bộ lông heo về nhà, còn da và phần lớn nội tạng thì đều được chôn ngay tại chỗ.
Đợi cô cạo hết lông heo xong, Dịch Huyền mang da heo đến xưởng đồ da và ngâm chúng vào bồn nước trước.
Thuộc da vào mùa thu không có nhiều muỗi như lúc mùa hè, chỉ lo là đang thuộc da mà trời mưa thì da sẽ bị mốc.
Sau khi tất cả những thứ này được xử lý xong, Hà Điền và Dịch Huyền chuyển sang một cái nồi lớn, thêm nước, muối, hoa tiêu và ớt, rồi cho đầu heo vào nấu.
Hai người dựng một cái giá bên đống lửa, gác chân heo lên rồi bắt đầu cắt thịt heo ra.
Thứ đầu tiên cần lấy là lớp mỡ dính trên da, và lớp mỡ dạng lưới ở phần bụng.
Mỡ heo là nguồn chất béo rất quan trọng, rửa sạch rồi cho vào chậu, chờ lọc dầu sau.
Mỡ heo tinh luyện sau khi đông đặc có màu trắng tuyết và có mùi rất thơm.

Cho vào hũ gốm đậy kín rồi cất vào trong hầm, ăn được rất lâu.
Đợi đến mùa xuân năm sau, vịt trời và ngỗng trời bay đến, sẽ lại có nguồn mỡ tươi mới.
Tiếp theo, chặt từng phần thịt, chặt hai miếng sườn, để riêng một miếng, cho vào hầm tạm cho tươi, phần còn lại cho vào chậu lớn, phủ lên trên hỗn hợp muối và bột hoa tiêu rồi treo lên hong gió.

Mỡ trên mấy miếng thịt nhỏ cũng đều được cắt ra, ném vào chậu mỡ.
Hà Điền để lại một ít thịt nửa nạc nửa mỡ, hỏi Dịch Huyền: "Trước đây anh ăn bánh trung thu là vị mặn hay vị ngọt?"
Dịch Huyền cười: "Cả hai.

Sao vậy, em muốn làm bánh trung thu?"
Hà Điền gật đầu: "Em thấy hạt kê đã có thể thu hoạch được rồi.

Thu hoạch hạt kê xong, chúng ta sẽ làm bánh trung thu."
Trong rừng, mùa xuân đến muộn, còn mùa thu thì đến sớm.
Nếu thật sự phải đợi đến Tết Trung thu theo âm lịch, sợ rằng thứ đợi được không phải là trăng, mà là tuyết.
Vì vậy, mỗi năm khi thu hoạch hạt kê xong.

Bất kể mặt trăng tròn hay khuyết, nhà Hà Điền cũng đều làm bánh trung thu trước.

Đồ ăn theo mùa thì có sẵn.

Khi trăng tròn, nếu thời tiết không quá lạnh, cũng có thể đặt một cái bàn nhỏ ở trước hiên, người một nhà vừa ăn bánh trung thu, vừa ngắm trăng.
Dịch Huyền từng sống ở một thành phố phía Nam, khí hậu ở đó khá khác biệt so với nơi đây, mặc dù mùa hè nóng nhất chỉ từ hai mươi bốn đến hai mươi lăm độ, và mùa đông cũng âm hai mươi độ, nhưng mùa thu thì lại đến muộn hơn nơi của Hà Điền gần một tháng.

Ngoài việc ăn bánh trung thu trong ngày Tết Trung thu, họ còn có thể ngắm hoa quế.
Khí hậu khác biệt, dựa vào thức ăn có thể thấy được.
Dịch Huyền liệt kê những loại bánh trung thu mà anh đã từng ăn: "Bánh trung thu nhân ngũ vị này, nhân lòng đỏ trứng hạt sen này, còn có bánh trung thu nhân thịt tươi vỏ bánh xốp giòn nữa.

Vỏ bánh được xếp từng lớp, khi chạm vào sẽ rơi ra như bông tuyết, cho vào miệng thì tan ngay...!"
Hà Điền tiếp lời: "Em cũng có thể làm được da bánh xốp giòn.

Gọi là da giấy, chỉ cần thêm nhiều mỡ heo vào là được."
Dịch Huyền nghe vậy thì rất hứng thú: "Vậy chúng ta cũng làm đi." Anh còn nói thêm những loại bánh trung thu khác: "Có nhân trái cây, nhưng anh không thích.

Nó quá ngọt, không có một chút vị trái cây nào.

Nhưng mà có loại nhân trà xanh rất ngon, vỏ ngoài trong, mờ đục...!"
"Vậy nhất định là được làm bằng bột nếp rồi." Bây giờ Hà Điền đã có kinh nghiệm, đồ ăn dù có tinh xảo đến đâu thì trên thế giới này cũng chỉ có bấy nhiêu nguyên liệu đó mà thôi.
"Ừ." Dịch Huyền giơ ngón cái và ngón trỏ lên ước lượng kích cỡ: "Lớn hơn thế này một chút, da bánh trong và mờ như sương, bên trong là phần nhân màu xanh nhạt, nhìn thôi cũng đã thấy thích rồi, vị không quá ngọt ngấy, ăn lành lạnh, ừm...!chắc là có bỏ lá bạc hà vào?"
Hà Điền ngẫm nghĩ: "Da thì dễ nhưng nhân thì hơi khó làm.

Ở đây chúng ta không có trà." Thứ mà họ thường uống chỉ là lá liễu và lá tre hái vào mùa xuân được phơi khô và ủ, còn có lá thông, hoa hồng, bạc hà, hoa cúc, táo khô, trà táo tàu đỏ, v.v.
Cô suy nghĩ một lúc rồi nói: "Em sẽ cố gắng thử làm bánh trung thu nhân trà xanh mà anh đã nói trong vài ngày tới.

Còn bây giờ nhân lúc nguyên liệu còn mới, chúng ta làm mấy cái bánh trung thu nhân thịt tươi ăn."
"Được!" Nói đến ăn, Dịch Huyền luôn vui vẻ.

Hai người cắt thịt ra, xương lớn cạo sạch cũng cho vào một cái chậu.

Họ làm một cái bếp ở bãi đất trống, đặt một cái nồi lớn rồi hầm toàn bộ xương heo, ngoại trừ nước, chỉ cho một ít muối vào.
Sau khi thu dọn dao nhỏ và muôi hồ lô xong, nồi đầu heo gần như đã sôi ùng ục, Hà Điền gọi Dịch Huyền đến lấy đầu heo ra để vào trong một chiếc giỏ tre.
Lúc này đã hơn bốn giờ chiều, rừng cây bắt đầu trở nên lạnh dần.
Dịch Huyền thúc giục Hà Điền đi mặc thêm quần áo.

Anh thì mặc một chiếc tạp dề da vào, nâng đầu con heo đã ráo nước đặt lên trên đầu gối rồi dùng một chiếc kẹp tre nhỏ để nhổ phần lông mịn trên tai heo đi, sau đó cắt hai lổ tai ra, cắt thành sợi, ướp chung vào trong nước sốt đang ướp nửa quả tim heo kia.
Đầu heo đã được nấu cả buổi, lúc này rất dễ tách ra.
Hà Điền dạy Dịch Huyền cách tách đầu heo thành bốn phần: "Trước tiên anh hãy rút hàm dưới ra, sau đó tách ra như thế này, chúng ta không cần mắt heo!"
Não heo từ lúc mổ heo đã cho Lúa Mì ăn rồi, bây giờ thứ cần xử lý là mũi và lưỡi heo.
Cô nhìn Dịch Huyền: "Chắc anh chưa ăn món này bao giờ."
Dịch Huyền gật đầu cười: "Đúng là không có."
"Lưỡi của tuần lộc còn ngon hơn lưỡi heo nữa.

Chỉ cần luộc rồi lột lớp da lưỡi ra, không cần muối cũng ngon." Hà Điền lột da của lưỡi heo ra, bày lên dĩa: "Nếu anh muốn thì lát nữa thử sẽ biết."
Dịch Huyền khá sẵn lòng với việc thử đồ ăn mới.
Dù sao thì ngay cả nhộng tằm, rùa và trứng rùa anh cũng đều đã ăn rồi.

Heo rừng thì cũng chỉ là heo mà thôi.
Liên tiếp mấy ngày nay, ngay cả Lúa Mì cũng được ăn rất nhiều đồ ăn ngon.
Đầu heo l*t s*ch xương, cắt nhỏ, ướp chung với tim và tai heo.
Món canh hầm lần này rất ngon, chỉ dùng xương heo, không cho thêm gì khác, nồi được đặt trên bãi đất trống, dùng một khúc gỗ to đun một ngày một đêm.

Xương được hầm mềm rục, nước canh có màu trắng sữa.
Lúc hầm thì cho thêm đường nâu, gừng, mấy quả ớt khô, muối, nước tương vào, rồi lại nấu thêm một ngày nữa, đứng từ xa cũng có thể ngửi thấy mùi thơm.
Vì được hầm trên bãi đất trống nên Hà Điền luôn lo rằng mùi này sẽ thu hút những con thú như gấu đến.
Về phần ruột non thì làm sạch từ trong ra ngoài, ngâm với nước muối loãng một ngày một đêm, cắt khúc rồi treo lên sào tre cho khô.

Phần ruột non nửa khô giờ trông rất giống với loại ruột mà Dịch Huyền biết, nó trở thành một loại giấy mềm mại và trong suốt với những đường vân giống mạng nhện bên trong, không có bất kỳ mùi khác thường gì.
Đợi đến khi ruột heo khô kỹ, canh hầm chín, họ cũng đã thu hoạch hạt kê xong.
Mấy ngày nay thời tiết vẫn ổn, Hà Điền và Dịch Huyền cùng nhau cầm liềm, đứng mỗi người một đầu rồi bắt đầu cắt, sau đó họ gặp nhau, bỏ kê vào trong giỏ rồi cắt một đường khác.
Vì Dịch Huyền muốn ở lại nên năm nay Hà Điền đã trồng nhiều thêm một chút kê, khi những hạt kê còn đang ở trên những phiến lá xanh tươi, thoạt nhìn thì có vẻ nhiều hơn những năm trước, thế nhưng sau khi cắt xong, gom hết chúng lại, thì lại chẳng được bao nhiêu.
Hà Điền hơi lo lắng không biết năm nay có đủ thức ăn hay không nữa.
Dịch Huyền thì lạc quan hơn nhiều: "Nếu không có đủ thức ăn, em có thể trao đổi một số lông thú hoặc đồ ăn dân dã với những người khác.

Không phải em đã nói sau vụ thu hoạch sẽ còn có một phiên chợ nữa sao?"
Có một phiên chợ khác sau khi thu hoạch vụ mùa được người dân miền núi tổ chức tự phát, và nơi đó vẫn là bãi sông của phiên chợ xuân.
Không phải gia đình nào cũng có thể bắt được mọi loại mồi, nếu gia đình nào được mùa cá thì có thể đem cá đi đổi với gia đình được mùa vịt trời hoặc là gia đình được mùa lương thực.
Năm ngoái Hà Điền không có gì thừa để trao đổi, lại nghĩ gặp phải anh em nhà họ Phổ đáng ghét kia nên cũng không thèm đi.
"Đúng vậy!" Hà Điền lại vui vẻ: "Năm nay chúng ta có rất nhiều thịt heo có thể mang đi đổi."

Cô không biết nhà họ Phổ bắt được heo rừng như thế nào.

Cũng giống như bẫy vòm thông mà gia đình cô dùng để bắt chồn vậy, đều là tay nghề gia truyền.

Nhưng mà cô cũng đã bắt được heo rừng rồi đó thôi, còn là một con rất to nữa!
Hừ hừ, cô rất nóng lòng muốn gặp cả nhà họ Phổ để nhìn thấy vẻ mặt vừa ngạc nhiên vừa tức giận của họ khi thấy cô cũng mang heo rừng đến đổi.
Hà Điền nói với Dịch Huyền: "Lúc trước, khi ông nội em vẫn còn, mối quan hệ giữa nhà họ và chúng em khá tốt.

Trong rừng, một người hàng xóm tốt còn có ích hơn một vài khẩu súng ngắn tốt nữa, nhưng sau khi ông em ngã bệnh và qua đời, gia đình họ bắt đầu gây khó dễ với chúng em."
Mỗi năm đến đổi thịt heo, họ đều đòi hỏi nhiều thứ hơn cả năm trước, sau này còn có ý đồ với Hà Điền.
Trước đây, dù nhà họ Phổ xây nhà hay trồng rau, làm đất thì gia đình của Hà Điền đều sẽ đến giúp đỡ, hai gia đình vẫn thường lui tới vào dịp năm mới.
Ở trong rừng, những người hàng xóm gần bạn nhất cũng thường phải đi bộ gần cả ngày trời mới đến được nhà, dù vậy, có người trông chừng giúp đỡ cũng tốt hơn rất nhiều, nhưng không ngờ nhà họ Phổ lại phá hỏng mối quan hệ láng giềng tốt đẹp này.

Tại hội chợ mùa xuân, nếu không có Dịch Huyền ở đó, có lẽ Hà Điền sẽ phải trở mặt với họ.
"Luôn có người như vậy em à." Dịch Huyền v**t v* đầu Hà Điền: "Nhà đó ai cũng hồ đồ."
Kê thu hoạch xong được tuốt ra khỏi thân và lá, sau khi phơi khô thì có thể chà thành hạt kê.
Tất nhiên máy chà kê vẫn phải nhờ đến sức kéo của Gạo, loại máy này so với máy tích hợp chà bằng điện trước đợt giá lạnh khắc nghiệt phải nói là rất đơn, nhưng so với cối chà bằng đá thì dể dùng hơn nhiều, chỉ cần một người cứ vài phút lại cho một hồ lô kê vào phễu lớn trên máy là được.
Gạo kéo thanh gỗ liên tục xoay quanh, Hà Điền chịu trách nhiệm cho kê vào, Dịch Huyền thì ngồi bên cạnh không ngừng quay chiếc quạt q*** t**, ba cánh quạt to bằng dải tre trên quạt cứ quay liên tục, trấu và cám rơi ra từ đáy khe bị thổi bay đi, cuối cùng chỉ còn lại những hạt kê rơi vào chậu gốm.
Cám có thể gom lại, trộn với bột xương và cỏ khô, cho vịt và Gạo ăn.
Khi kê được thu hoạch cũng là lúc Gạo được hưởng thụ xa hoa nhất.

Sau khi chà kê xong, Hà Điền sẽ đem nó cột vào ruộng kê, để nó ăn hết số kê xanh còn lại.

Dù có ị nhiều cũng không bị la, bởi vì đó đều là phân bón.
Tối hôm đó, Hà Điền làm bánh trung thu nhân thịt tươi.
Ngoài bánh trung thu, tất nhiên là cũng có làm đồ ăn, nhưng mà, đối với Dịch Huyền mà nói, tất cả đều chỉ là phù du, bánh trung thu mới là quan trọng nhất.
Nhân bánh trung thu thịt tươi dĩ nhiên là thịt heo rừng.

Hà Điền chọn loại thịt mỡ, cắt thành từng miếng cỡ hạt dẻ, cho vào chậu gốm, ướp với đường nâu, muối và nước tương trong một ngày một đêm.
Lớp da giấy được làm bằng mỡ heo mới thắng, nhào với bột mì và một ít bột hạt dẻ, còn chưa nướng đã ngửi được mùi thơm rồi.
Sau đó băm một miếng thịt ba chỉ và một nắm hành lá tươi, rồi lại cắt một ít dưa leo muối thành hạt lựu, điều chỉnh hương vị, trộn đều để làm nhân thịt.
Cô lấy một muỗng thịt băm nhuyễn, vo thành viên tròn, cho miếng thịt đã ướp vào giữa rồi bọc lại bằng bột da giấy, để một lúc rồi quết một lớp hỗn hợp lòng đỏ trứng và đường lên da.
Hà Điền để lại một nửa bánh trung thu không quét trứng, trước khi cho bánh trung thu vào lò nướng, cô lấy một con dấu bằng gỗ ra, lấy một dĩa mứt hoa hồng nhỏ, nhúng con dấu vào mứt hoa hồng rồi ấn nhẹ lên từng chiếc bánh trung thu, để lại một dấu tròn.
Dịch Huyền nhìn thấy hình tròn đó là mặt trăng, bên trong là một chú thỏ nghịch ngợm với nụ cười vui nhộn, dưới chân thỏ có vài đám mây.
Cho bánh trung thu vào khay sắt tráng mỡ và nướng trong vòng hai mươi phút là xong.
Những chiếc bánh trung thu được nướng lên trông rất đẹp mắt, bên trên có một lớp da vàng hoặc hình mặt trăng và thỏ màu đỏ nhạt.

Trước khi bánh nguội hoàn toàn, Dịch Huyền cầm một cái lên cắn một miếng, quả nhiên, lớp da xốp giòn rơi xuống từng lớp từng lớp như tuyết thổi, nước thịt thơm ngon, giữa phần nhân là miếng thịt nhỏ béo ngậy, càng ngon!.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 73: 73: Bánh Mì Kẹp Thịt Và Lạp Xưởng


Hà Điền còn tưởng hôm sau có thể mang theo mấy cái bánh ra ngoài, lại không ngờ cái tên Dịch Huyền háo ăn này lại thả rông bụng mà ăn, mười cái bánh trung thu chỉ còn lại ba cái, đoán chừng sáng mai cũng chỉ đủ để anh no lửng bụng mà thôi.
Tối qua ăn bao nhiêu là bánh trung thu quên trời quên đất, lúc ngủ anh còn hừ hừ ôm bụng kêu no, Hà Điền phải xoa bụng cho thì anh mới ngủ được.

Lần xoa này xoa mãi xoa miết, xoa đến nỗi có chuyện luôn.
Khẩu vị của người trẻ tuổi rất tốt, sáng sớm hôm nay, cái người háo ăn này lại tung tăng vui vẻ, ăn được uống được.
Đầu tiên anh uống một chén cháo kê mới nấu với đồ ăn kèm gồm dưa leo và củ cải ngâm, sau đó nhìn ba chiếc bánh trung thu trên dĩa, hỏi Hà Điền: "Trưa nay chúng ta ăn gì?"
Hà Điền bất mãn liếc anh một cái, quay sang bếp bĩu môi nói: "Bánh nướng."
Trong nhà còn rất nhiều bột mì, Hà Điền luôn lo lắng nó sẽ bị hỏng nên sau mùa hè, cô đã làm rất nhiều mì và phơi khô, tuy nhiên, sau mùa thu, thời tiết chuyển lạnh và khoai tây cũng đã bắt đầu thu hoạch được rồi, nên mì cũng được ăn ít lại.
Theo nhận thức của Hà Điền, bột mì và gạo luôn là "hàng hóa cao cấp", nếu không, mấy con vật trong nhà sẽ không được đặt tên là Lúa Mì và Gạo.
Dịch Huyền nghe cô nói đến hàng hóa cao cấp thì cũng chỉ cười cười, anh vẫn muốn hỏi, vậy, chỉ ăn bánh nướng thôi sao?
Hà Điền chỉ cần nhìn thôi là cũng biết anh đang nghĩ gì: "Yên tâm đi, không để anh gậm bánh khô đâu, bánh nướng này có kẹp thịt."
Sau khi thu hoạch kê, Hà Điền cảm thấy nhiệm vụ trồng trọt trong năm nay đã hoàn thành hơn phân nửa.

Cô đem số hạt kê đã chà cho vào vò rồi cất ở trong hầm và kho.

Số lượng vò kê đã tăng gấp đôi năm ngoái, lo lắng ban đầu đã hoàn toàn biến mất, bởi vì số lương thực chính này đủ để họ ăn rồi.
Hơn nữa, ngoài kê còn có đậu nành, khoai tây và khoai lang, tất cả đều có thể làm lương thực chính, rồi lại đến đồng cỏ ven hồ hái một ít lúa dại ( hoang) và yến mạch nữa, mùa đông năm nay sẽ có đủ lương thực.
Ăn sáng xong, Dịch Huyền ra vườn hái rau, Hà Điền lấy bánh nướng ra khỏi khay nướng, rồi lấy nồi thịt hầm ra, gắp một miếng thịt hầm đặt lên thớt, cắt thành từng miếng nhỏ.

Cô dùng dao rạch một đường nhỏ ở giữa bánh nướng, cho thịt và chang nước hầm vào.
Khi Dịch Huyền trở về, Hà Điền chọn hai quả ớt xanh lớn, rửa sạch rồi cắt thành sợi, cũng cho vào ổ bánh nướng.
Mang theo bữa trưa và dẫn theo Gạo và Lúa Mì, họ đi đến khu rừng vân sam ở bên kia sông.
Trước khi trời đổ tuyết, Dịch Huyền muốn thay thế tấm ván gỗ của cầu dây.

Nếu không, họ sẽ phải đợi đến mùa xuân năm sau sau khi băng tan mới làm được.
Không ai có thể đảm bảo được rằng sau khi băng tan và nước dâng cao vào mùa xuân năm sau, số ít cây cối bị đổ trên bờ sẽ vẫn còn ở đó.
Khi họ đi qua khu rừng, khung cảnh khác hẳn với khi họ đến nhà nghỉ săn bắn một tuần trước.
Lá của rất nhiều cây đã chuyển sang màu đỏ, lá màu đỏ cam trôi theo dòng suối róc rách, rừng cây phản chiếu dưới mặt nước lộng lẫy như gấm như vóc; màu đỏ, màu vàng, màu xanh lá mạ, đều là màu của lá, nhìn từ xa dường như có thể thấy được mây trắng và bầu trời xanh đang từ từ chuyển động trong dòng suối đầy màu sắc này.
Dịch Huyền và Hà Điền vừa đi vừa thu thập không ít lá đỏ tuyệt đẹp.

Điểm khác biệt là Hà Điền lần lượt bẻ các cành cây, còn Dịch Huyền thì nhặt từng lá từng lá một.
Cô tò mò hỏi anh: "Em mang về nhà phơi khô rồi cấm vào bình, còn anh sao lại nhặt những thứ này? Anh làm kẹp sách hả?"
Mỗi chiếc lá Dịch Huyền nhặt lên đều được lựa chọn rất cẩn thận, anh còn mang theo một chiếc hộp tre để đựng những chiếc lá đỏ này.
Anh cười nhìn Hà Điền: "Tạm thời không nói cho em biết được."
Tiết trời se lạnh, những bông hoa dại trên núi cũng như ve sầu đều dần dần biến mất, chỉ còn những bông cúc dại là vẫn còn khoe sắc.
Hà Điền lại hái vài bông hoa cúc dại màu vàng, màu tím: "Sau khi phơi khô thì có thể cấm chúng vào bình, hoặc cột thành chùm rồi treo lên mái nhà."
Đến rừng vân sam, vẫn để Lúa Mì trông chừng Gạo như cũ, Hà Điền và Dịch Huyền đeo dụng cụ trên lưng trèo xuống dốc núi, đi ra sông.
Đầu tiên hai người gỡ bỏ một số cọc gỗ cố định mà lần trước họ đã làm, để hai cây ở trên cùng lăn xuống, rồi lại đóng cọc cố định lại.
Họ lần lượt cưa bỏ cành của hai cây, chỉ để lại thân gỗ trơ trụi, dài chừng sáu bảy mét.
Đến trưa, cả hai khúc gỗ đều đã được cưa xong, Hà Điền và Dịch Huyền ngồi ở trong rừng vân sam ăn trưa.
Lúc này nước hầm cũng đã làm cho bánh nướng mềm đi, cắn một miếng, lớp vỏ bên ngoài của bánh vẫn còn cứng nhưng bên trong thì lại mềm giống như bọt biển, tất cả đều là vị của nước thịt mặn mặn đậm đà.

Thịt hầm trong nồi này chủ yếu là thịt đầu heo, vì có nhiều da nên nó đặc biệt béo, thêm vào đó là ớt xanh cắt sợi giòn, có thêm chút cay cay, dù để lạnh nhưng vẫn rất thơm, ăn vào bụng cũng thấy ấm áp.
Sau khi ăn trưa và nghỉ ngơi xong, Hà Điền và Dịch Huyền đã đẩy hai khúc gỗ xuống sông, để chúng trôi xuôi dòng.

Bây giờ họ đang quay trở lại bên cạnh cầu dây.
Quay lại cầu dây và đợi một lúc, hai khúc gỗ lần lượt trôi và bị một tảng đá lớn trên sông cách cầu dây vài mét chặn lại.
Dịch Huyền ném sợi dây thừng có gắn móc sắt ra, móc sắt cắm sâu vào gỗ, hai người cùng Gạo kéo gỗ lên bờ.
Sau đó, gỗ sẽ được xẻ thành các đoạn có chiều rộng tương đương với mặt cầu.
Sau khi cưa xong một khúc gỗ, đã hơn bốn giờ chiều, trời cũng bắt đầu trở nên âm u.
Hà Điền và Dịch Huyền đã chặt tại chỗ hai cây nhỏ để làm rào chắn chắn khúc gỗ lại.
Công việc của ngày hôm nay phải kết thúc.
Cho dù có là một thợ săn đầy kinh nghiệm thì việc băng qua rừng sau khi trời tối cũng rất nguy hiểm.
Rạng sáng ngày hôm sau, họ quay lại và tiếp tục hoàn thành công việc của ngày hôm qua.
Hà Điền dạy Dịch Huyền dùng đầu gỗ để làm cái nêm, sau đó đặt một đoạn gỗ nằm ngang trên mặt đất, sau khi chém một đường thì cắm cái nêm vào đường chém đó, đảo ngược lưỡi rìu và dùng mặt sau của rìu gõ vào đường chém, gỗ sẽ dựa theo vết nứt tự động tách ra.
"Tấm ván làm bằng cách này tương đối bằng phẳng, nên không cần cưa, tiết kiệm được rất nhiều công sức.

Nếu dùng để làm đồ đạc thì cần phải dùng đến bàn bào, nhưng tấm ván làm cầu thì không cần quá nhẵn."
Dịch Huyền đã xem kỹ và làm thử, tưởng chừng như dễ nhưng làm rất khó.

Hà Điền ở một bên quan sát, cẩn thận chỉ dẫn cho anh.
So với bện giày rơm thì xẻ gỗ dễ hơn rất nhiều.

Sau khi Dịch Huyền thành thạo kỹ năng mới này, hai người họ cùng nhau làm, đến hơn hai ba giờ chiều thì cũng đã xẻ xong một cây.
Tấm ván được xẻ dọc theo thớ dọc của gỗ, trên đó có những vân gỗ dài và sâu, khi đặt tấm gỗ nằm ngang trên mặt cầu, còn có tác dụng tăng cường độ ma sát.
Bọn họ lại tốn thời gian một ngày để thay thế toàn bộ ván tre trên cầu thành ván gỗ.
Cầu dây cũng đã được sửa xong.
Danh sách những việc cần làm của Hà Điền lại có thêm một việc bị gạch bỏ.
Cầu dây vừa sửa xong thì trời lại đổ mưa.
Cơn mưa này kéo dài đến hai ngày.
Sau khi trời quang mây tạnh, trời lại trở nên lạnh hơn.
Khi Hà Điền và Dịch Huyền ra ngoài lần nữa, họ phải mặc quần áo dày vào.
Con người có thể mặc quần áo khi trời lạnh, nhưng vịt và thỏ thì lại không có quần áo để mặc.

Cô chỉ có thể đặt thêm cỏ khô vào ổ của chúng mỗi đêm.
Ba con rùa thì sống sót dễ dàng hơn nhiều, chúng đào các lỗ trong vòng đá, lần lượt trốn vào các lỗ để ngủ đông.
Mỗi buổi sáng Lúa Mì thường chạy đến nằm trên bức tường đá để nhìn rùa.

Ngày nào mà không thể nhìn thấy chúng, nó sẽ gấp đến độ sủa gâu gâu lên.
Họ lại chèo thuyền, chở Gạo và Lúa Mì đến vùng đất ngập nước ở các nhánh sông.

Phong cảnh xung quanh không được đẹp cho lắm.
Cỏ xanh giờ đã chuyển sang màu xanh vàng, có một số cây phần gốc vẫn còn xanh, lá đã héo vàng, cũng có một số thì ngược lại, phần gốc đã ngả sang màu vàng đất, hòa quyện với đất cát bên dưới, nhưng ngọn lá thì vẫn còn một mảng xanh cuối cùng của mùa hạ.
Cỏ dại lúc này không còn ngon ngọt như mùa hè, sau khi Gạo dạt vào bờ, nó liền tìm kiếm những thứ ngon hơn trong cỏ, chẳng hạn như lúa dại, yến mạch hoặc là quả của các loại cây cỏ khác.
Giống như lần mang Gạo vào rừng tìm rau dại lúc mùa xuân, hôm nay Hà Điền và Dịch Huyền mang nó đến cũng là vì mục đích này.
Gạo đáng thương tìm được một mảnh yến mạch hoang, còn chưa kịp nhai vài miếng thì đã bị người chủ tàn nhẫn đuổi đi.
Hà Điền chỉ cho Dịch Huyền: "Anh nhìn này, hạt yến mạch có giống như đuôi chim én không?"
Các hạt yến mạch chưa bóc vỏ có màu xanh lam, ở phía dưới đuôi hạt có một cái nĩa giống như đuôi chim én.

Yến mạch cũng ra bông giống như kê, lúa và lúa mì, nhưng một cây chỉ có vài nhánh, và mỗi nhánh chỉ có năm hoặc sáu hạt.
Hà Điền không quan tâm đến những thứ này, dù sao nó cũng chỉ là yến mạch mọc hoang dã, cô không cần phải chăm sóc, nên sao cũng được.
Gạo lại tìm thấy một mảnh yến mạch lớn, cô mừng rỡ đuổi nó đi, cùng Dịch Huyền đeo một cái giỏ vào ngang hông, tuốt yến mạch bỏ vào giỏ.
Tuy gọi lúa dại là lúa nhưng thực chất lúa dại là một loại cỏ, nhìn bề ngoài gần giống với gạo đã xát vỏ, đánh bóng, nhưng hạt của nó lại dài, mỏng và có màu nâu sẫm.

Ưu điểm lớn nhất của nó là có thể ăn trực tiếp mà không cần chế biến như bóc vỏ, chà này nọ.
Lúa dại rất khó nấu, phải ngâm qua đêm mới được, lúa dại sau khi nấu chín sẽ tách ra từ giữa, lộ ra phần thịt màu trắng, vị hơi giống quả hạch, vỏ dai, bên trong mềm.
Vì các loại hạt khác khi nấu với lúa dại cũng sẽ bị nhiễm màu tím sẫm hoặc nâu đỏ, nên Hà Điền rất thích dùng lúa dại để làm cơm nắm.
Đã có Gạo dẫn đường, Hà Điền và Dịch Huyền tiết kiệm được rất nhiều việc.

Họ không cần phải tìm kiếm lúa dại và yến mạch, chỉ cần thu hoạch chúng là được.
Dịch Huyền biết cây yến mạch, ở chỗ của anh có ruộng trồng yến mạch, nhưng chúng không phải dành cho người ăn, mà được sử dụng làm cỏ nuôi ngựa.
Anh không ngờ là yến mạch cho ngựa ăn sẽ được nghiền và nướng rồi thêm vào trong bánh mì, bánh ngọt, cháo và cơm mà anh ăn thường ngày, còn khá ngon nữa.
Sau một ngày bận rộn, đến chạng vạng tối, yến mạch và lúa dại đều đã đầy giỏ, Dịch Huyền ước lượng, mỗi loại có thể nặng khoảng hai ba ký.
Ngoài yến mạch và lúa dại, họ cũng đi theo sau Gạo thu thập hạt của một số loại cỏ dại khác.

Hà Điền không thể gọi tên chúng, người không thể phân biệt được ngũ cốc như Dịch Huyền thì thôi khỏi nhắc đến.

Một loại sau khi bóc vỏ có hạt tròn màu trắng, loại còn lại thì có hình thuôn dài với một chấm vàng nhạt ở một đầu.
Hai loại này cô vẫn thường hay ăn, loại trước nấu cháo ăn khá dai, loại sau thì Hà Điền từng gói bánh ú, dẻo và ngọt.
Về đến nhà, Hà Điền dắt Gạo về chuồng, vuốt đầu nó, lấy một nắm bông yến mạch trong túi vải bỏ vào máng.
Lúc này bầu trời đầy mây hoàng hôn, thật ra chưa tới sáu giờ, nhưng sắc trời đã chuyển sang màu xanh xám rồi.
Thừa dịp trời vẫn còn có ánh sáng, Hà Điền và Dịch Huyền đi đến kho thịt xông khói, chọn một xâu lạp xưởng mang về nhà.
Ngay sau khi hoàn thành phần ruột và treo lên cọc tre để hong khô, Dịch Huyền đã háo hức muốn làm lạp xưởng ngay khi thịt heo vẫn còn tươi.
Tất nhiên là anh chỉ có thể mô tả bề ngoài và mùi vị của lạp xưởng, anh không biết làm thế nào để làm ra nó cả.
Sau khi thảo luận với Hà Điền, đầu tiên anh chọn một số thịt mỡ băm nhỏ làm nhân thịt, rồi thêm gia vị như muối, đường và nước tương.

Dịch Huyền đưa ngón tay vào nhân thịt, sau đó cho vào miệng nếm thử: "Đáng tiếc không có rượu.

Xem ra vẫn còn thiếu một chút hương vị."
Hà Điền suy nghĩ một chút, mở hũ mận ngâm mật ong ra, đổ một ít nước chua ngọt vào: "Tạm thời mình cứ làm thử vậy đi.

Đừng dùng hết vỏ ruột một lúc.

Lần sau chúng ta lại chỉnh lại gia vị.

Hoặc là xuống núi mua một chút rượu về."
Dịch Huyền khuấy nhân bánh xong.

Hà Điền kêu anh bỏ thịt băm vào hầm sau một ngày đêm rồi hẳn lấy ra.

Thịt băm chuyển sang màu đỏ sẫm và có mùi rất thơm, nhưng theo trí nhớ của anh, nó vẫn còn thiếu một chút gì đó.
Dịch Huyền nảy ra một ý tưởng khác, anh nói: "Hay là đổ một ít nước mứt hoa hồng vào thử? Những cây lạp xưởng anh từng ăn đều có màu đỏ."
Hà Điền gãi gãi mặt: "Vậy thì thêm một ít vào đi.

Nhưng mà lạp xưởng anh từng ăn có thể là có thêm bột màu."
Dịch Huyền cảm thấy Hà Điền đang tiết mứt hoa hồng của mình: "Đảm bảo với em, món lạp xưởng này sau khi làm xong sẽ rất ngon."
Hà Điền thở ra một hơi: "Anh thật đúng là tự tin."
Tự tin hay không tự tin cũng được, dù sao thì cũng đã thêm vào rất nhiều nguyên liệu ngon, hơn nữa còn có thịt heo rừng siêu tươi rất hiếm, bỏ ra nhiều nguyên liệu nấu ăn như vậy, Hà Điền cũng không thể để cho nó hỏng bét được.
Cô chưa từng nhìn thấy hay ăn lạp xưởng, nhưng sau khi nghe Dịch Huyền mô tả, cô nghĩ rằng có hai loại lạp xưởng, một loại không trải qua quá trình hong khô, và đây là xúc xích ăn sáng mà Dịch Huyền nói, xào với cà chua và nấm thái miếng vừa ăn, sau đó dùng với bánh mì lát và nước trái cây; loại còn lại thì giống như thịt xông khói, thịt muối, sau một thời gian xông khói và phơi khô trong không khí, nó sẽ trở nên cứng và có thể cắt lát xào rau hoặc là hấp chín ăn với cơm.
Thịt được thêm mứt hoa hồng có mùi thơm hơn, lên màu đẹp hơn.
Hà Điền lấy cái phễu, đổ thịt vào bên trong, Dịch Huyền cầm ruột bọc quanh miệng phễu, dùng đũa nhấn thịt từ từ vào trong phần ruột heo.
Lúc đầu, ruột bị rách ngay hoặc có không khí bên trong, sau vài lần thử, cả hai đã thành thạo phương pháp và càng làm ra lạp xưởng đẹp hơn.

Dịch Huyền tự nhận tay nghề của anh cũng không hề kém gì với tay nghề của mấy người thợ trong cửa hàng lạp xưởng cả.
Một đoạn ruột dài hơn một mét đã được sử dụng hết, Hà Điền để lại bốn cái và treo trên xà nhà, những chiếc còn lại thì được đưa vào kho xông khói như thịt.
Sáng hôm sau, cô lấy lạp xưởng trên xà nhà xuống, đem chiên cùng với trứng rùa và cà chua tươi, nhét đầy vào trong những lát bánh mì vuông*.
*Bánh mì làm sandwich.
Dịch Huyền hô to thành công rồi, anh và Hà Điền cách bàn ăn đập tay với nhau.
Cả hai đều cười tươi rói, Hà Điền cũng rất đắc ý: "Món ngon gì chúng ta cũng đều làm được hết!"
Sau khi thu hoạch yến mạch về nhà, Hà Điền đếm ngày, lạp xưởng xông khói đã treo được mấy ngày, cô lấy một cây xuống nhìn thử.
Trên thực tế, lạp xưởng vẫn chưa đạt đến thời điểm tốt nhất, nhưng Hà Điền và Dịch Huyền cũng đã khá hài lòng.
Lạp xưởng cắt ra thật sự trông giống như đá cẩm thạch đỏ và trắng mà Dịch Huyền đã nói, mỡ trở nên trong mờ, thịt nạc thì trở nên đỏ, đem xào với ớt xanh, vỏ đậu Hà Lan và hành lá, mùi thơm tỏa ra bốn phía.
Sau vài ngày xông sấy, vị ngọt trong lạp xưởng càng nhiều, hương hoa hồng cũng đậm hơn.
Trước khi đi ngủ, Hà Điền ngâm một nắm lúa dại mà hôm nay thu hoạch được, chuẩn bị để trưa mai nấu cơm với lạp xưởng.
Toàn bộ con heo chỗ nào cũng quý báu hết! Hay là sang năm họ cũng nuôi heo? Hà Điền vừa nghĩ vừa tiến vào mộng đẹp..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 74: 74: Bí Đỏ Và Khoai Lang


Sau khi thu hoạch lúa dại và yến mạch, cũng đã đến lúc thu hoạch khoai lang.
Một buổi sáng, khi Hà Điền thức dậy, cô nhìn thấy sương giá trong sân.
Là tiết Sương Giáng.
Cô vội vàng trèo lên gác, lấy từ trên kệ ra một cuốn sổ ghi chép, viết ngày hôm nay vào.

Đợt sương giá đầu tiên trong năm nay là vào ngày mười sáu tháng chín, sớm hơn năm ngày so với năm ngoái.
Sương đêm trải qua nhiệt độ thấp biến thành sương giá, bao trùm khắp cả khu rừng.

Trên những chiếc lá rụng trên mặt đất là từng lớp từng lớp sương bạc, vì vẫn luôn có lá từ trên cành rụng xuống.

Mà lá đỏ được phủ một lớp sương bạc như vậy, trông càng đẹp.
Lớp sương giá này kéo dài từ mặt đất đến mép hiên và bên dưới ngưỡng cửa sổ.
Nếu trời càng lạnh, sương giá sẽ đóng thành băng.
Hoa băng còn đẹp hơn nữa, những chùm tinh thể trắng nhỏ ngưng tụ trên kính cửa sổ, một số thì kết tủa, một số lại là những bông hoa hình xoắn ốc khó tả.
Mặt trời vừa ló dạng, sương liền tan.
Khí trắng lượn lờ giữa cánh rừng.
Khoai lang không chịu được cái lạnh, lá bị chết cóng, lập tức èo uột ngay.

Lúc này có thể cắt bỏ phần lá trên mặt đất trước, còn củ khoai thì cứ để đó trong đất một hai ngày, sẽ trở nên ngọt hơn.
Vì vậy, đến ngày thứ ba sau tiết Sương Giáng, Hà Điền bắt đầu thu hoạch khoai lang.
Cô và Dịch Huyền mỗi người mang theo một cái xẻng tre và ghế nhỏ ngồi trên ruộng khoai lang, một tay họ nắm lấy những dây khoai lang, tay còn lại thì dùng xẻng tre đào xuống đất, đào những chùm củ to mọng lôi ra khỏi đất.
Khoai đào ra sẽ được lặt bỏ cuống và lá, cho vào sọt tre, ngâm ở trong suối.
Họ lại ngồi trên ghế, dùng bàn chải lông heo để chà sạch từng củ khoai lang, những củ to, tròn thì bỏ vào một sọt, còn những củ nhỏ, dài, trầy sướt thì cho vào một sọt khác.
Những củ khoai đã rửa sạch đều được cho vào nia tre để phơi, sau khi khô ráo, những củ mập mạp sẽ được đem vùi vào thùng đựng đầy mùn cưa và cát rồi cho vào hầm khoai.

Hầm khoai lang bây giờ đã treo đầy thịt khô và thịt muối, vốn không cần dự trữ nhiều khoai cho mùa đông, chỉ cần ba thùng gỗ là đủ, trong đó có một thùng để dành cho năm sau trồng.

Nhưng năm nay có thêm một người, còn là người đặc biệt ham ăn nữa, nên Hà Điền trồng rất nhiều khoai lang, bỏ thêm một thùng vào hầm.
Khi đang thu hoạch khoai lang, cô hỏi Dịch Huyền: "Có phải năm ngoái anh ăn không đủ nhưng vẫn giả vờ no đúng không?"
Dịch Huyền xấu hổ: "Ừ."
"Anh thật là...!Em sẽ chán ghét anh ăn quá nhiều sao?"
"Lúc đó anh với em không quen biết.

Làm sao anh có thể không biết xấu hổ mà đi nói là anh ăn không đủ no? Mà anh cũng đã ăn gần gấp đôi so với em rồi!" Dịch Huyền nhớ lại bữa ăn đầu tiên khi vừa được cứu là cháo kê và đậu đỏ.

Khi đó, ánh mắt Hà Điền lộ rõ vẻ kinh ngạc, chỉ thiếu điều muốn thốt lên: "Trời ơi, sao cô có thể ăn nhiều như vậy."
Hà Điền nhớ tới chuyện lúc đó, cúi đầu cười khúc khích: "Hèn gì anh lại nặng như vậy, khuôn mặt nhìn thanh tú nhã nhặn nhưng tay chân thì lại to đùng, nhất là bàn chân, giống như chân gấu vậy đó."
Năm nay nắng mưa vừa phải, sản lượng khoai cao hơn những năm trước, Hà Điền trồng rất nhiều, cô và Dịch Huyền gọt vỏ và cắt nhỏ mấy củ khoai lang xấu nhất rồi đổ vào thùng gỗ lớn.
Thùng gỗ đặt trên giá đỡ máy giặt, bên dưới đặt một cái chậu sắt, dưới đáy thùng có nhiều lỗ, cho nước vào rồi để Gạo đến kéo bàn xay, chẳng bao lâu nước sẽ liên tục chảy ra và nhỏ xuống chậu sắt.
Khi nước ngừng nhỏ giọt thì đổi sang một bộ dụng cụ khác, rồi lại để cho Gạo phụ giúp ép và nghiền cho đến khi khoai lang trong thùng được nghiền thành bã và tinh bột trong khoai lang cũng chảy theo nước xuống chậu sắt.
Bã khoai lang còn sót lại được cho tạm vào nồi đất, có thể cho các nguyên liệu khác vào, nấu thành món ăn ngon.
Khi cặn trắng trong chậu sắt lắng xuống, dùng gáo bầu gạn bỏ lớp nước bên trên, trải một miếng vải lên mảng tre có lưới nhỏ, dùng muôi gỗ xúc tinh bột lên mảng tre, làm phẳng, đặt ở nơi thoáng mát để phơi khô, đó là tinh bột khoai lang.
Hoặc cũng có thể đặt một tấm vải lên nồi hấp, cho trực tiếp tinh bột vào, dùng sạn gỗ nén chặt, đặt lên xửng hấp chín, rồi nhấc tấm vải ra, đã có được một khối bột khoai lang hấp.
Bột khoai lang hấp có thể được cắt thành từng miếng nhỏ đem xào cùng với rau và thịt, ăn có cảm giác trơn và dai, hoặc cũng có thể được làm thành miến khoai lang.
Đặt bột hấp lên nia tre một buổi sáng, đợi đến khi trên da xuất hiện những vết nứt nhỏ thì có thể cạo để lấy sợi miến.
Dao cạo này là do ông của Hà Điền chế tạo ra.

Lưỡi dao mỏng và sắc, được làm từ tấm thiếc của hộp thiếc.

Các mảnh nhỏ được uốn cong và gắn trên một tấm gỗ.

Giữ cục bột khoai ở giữa hai đầu gối, dùng hai tay giữ mép tấm gỗ của đồ cạo rồi tiếp tục cạo dọc theo mép của khối bột dày về phía mình, những sợi lớn nhỏ được cạo ra là những sợi miến khoai lang.
Sợi miến được cạo theo cách này có mặt cắt ngang hình bán nguyệt, và mỗi sợi thì bằng nửa chiều dài của khối bột, khoảng năm mươi cm.

Miến được xếp trên nia tre, phơi nơi thoáng gió, khi khô cứng rồi thì chỉ cần gập lại sẽ gãy ngay, hơi ẩm đều đã bay hết, có thể bảo quản trong hộp gỗ có lót cỏ khô.
Muốn sợi miến dài hơn thì phải dùng máy ép miến chuyên dụng.
Cái máy này thật ra giống một cái giá đỡ hơn.

Đặt một cái nồi sắt to lên bếp lửa.

Giá đỡ bốn chân được cố định trên bếp lửa, sao cho cái đấu gỗ đặt bột trên giá đỡ nằm ngay chính giữa nồi sắt.
Lấy một ít tinh bột khoai lang khô đổ vào nước sôi khuấy đều, khi bột hơi nguội thì cho vào đấu gỗ, dưới đáy đấu gỗ có nhiều lỗ nhỏ, tay cầm điều khiển nối với nắp, dùng sức ấn tay cầm xuống, bột bị lực ép làm cho thoát ra khỏi lỗ ở đáy đấu gỗ và rơi xuống chiếc nồi sắt lớn bên dưới.

Nước trong nồi đang sôi, chỉ cần đợi miến rơi xuống thì dùng đũa liên tục khuấy đều.
Miến vớt ra cho vào chậu nước lạnh, sau đó cột thành từng bó treo trên cọc tre cho khô, chuyển sang màu nâu nhạt mờ.
Miến khoai lang có màu này.
Khi ăn thì cho trực tiếp vào nước sôi nấu chín, sẽ thấy trong mờ trở lại, khi nhai cảm giác được độ trơn, không có vị ngọt nhiều nhưng có thể thấm vị nước canh tốt hơn miến khoai tây.
Hà Điền thích thêm miến khoai lang vào canh gà rừng nấm hương.

Hương vị đó, chỉ một từ thôi, ngon.
Trong sách dạy nấu ăn trước đây của Dịch Huyền có rất ít món có khoai lang.

Vụ thu hoạch khoai lang của Hà Điền năm ngoái cũng ở mức trung bình, hầu như không nỡ ăn mà để dành làm giống, vì vậy nên cô không nghĩ đến việc sẽ làm miến khoai lang, đây là lần đầu tiên Dịch Huyền nhìn thấy món này, anh cảm thấy mới lạ, chủ động đảm nhận công việc làm miến khoai lang.
Vài ngày sau, lại thu hoạch khoai tây, Hà Điền nói sẽ làm miến khoai tây, anh còn làm rất chuyên nghiệp.
Khi Dịch Huyền ép miến, anh nghĩ đến vào thời điểm này năm ngoái, Hà Điền ở nhà một mình, không có chó, việc thu hoạch, dọn dẹp, phân loại, phơi khô, bảo quản, cắt khoai tây, ép tinh bột, ép miến...!đều chỉ có một mình cô.

Lúc nhìn cô, trong ánh mắt tràn ngập sự yêu thương.
Khi anh và Hà Điền treo miến khoai lên sào tre để phơi, Dịch Huyền đột nhiên cúi đầu hôn lên trán cô, Hà Điền nhìn anh cười ngây ngô, anh nói: "Anh sẽ không bao giờ để em phải tự làm những công việc này nữa."
Hà Điền mím môi cười, một lúc lâu mới phát ra tiếng "ừm" rất trầm.

Sau đợt sương giá đầu tiên, Hà Điền và Dịch Huyền đi đến mảnh đất trồng bí đỏ và thấy rằng, mặc dù lá và quả bí đỏ cũng bị đóng băng, nhưng sau khi mặt trời ló dạng chúng đều sẽ tươi tốt trở lại.

Trái bí đỏ lớn nhất hiện tại nặng ít nhất là mười kg, phần mông đầy đặn có màu vàng vàng, màu xanh lá cây đậm gần cuống, màu xanh sẫm và hoa văn vàng ở phần bụng.
Hà Điền nói với Dịch Huyền: "Chúng ta sẽ giữ trái bí đỏ vua này lại để nó già đi, những hạt bên trong sẽ là hạt giống cho năm sau."
Tất cả kiến thức và kỹ thuật trồng trọt của Dịch Huyền đều do Hà Điền dạy, anh cảm thấy cô nói gì thì cũng đều đúng hết: "Được."
Mùi vị và vẻ ngoài của bí đỏ già khác với bí đỏ non.

Dịch Huyền lấy một quả bí đỏ già nhỏ hơn bí đỏ vua một chút, cắt bỏ phần đuôi trước, bọc phần còn lại bằng cỏ khô rồi cho vào hầm.
Phần giữa quả bí già rỗng, bên trong có cùi màu vàng tươi, có vân và các khía đều là những hạt bí to bằng móng tay.
Dịch Huyền nói: "Hạt bí đỏ có thể được ăn như đồ ăn vặt, chúng khá ngon."
Hà Điền nghe vậy thì nhanh chóng lấy hết hạt bí ra, cho vào một cái rổ tre nhỏ, dùng nước rửa sạch những sợi còn dính rồi đổ lên nia tre phơi nắng.
Dịch Huyền chỉ mới ăn qua các món ngon làm từ bí đỏ, về phần nó được làm từ bộ phận nào và làm như thế nào thì anh không rõ.
Hà Điền ngửi thấy mùi thơm ngọt ngào của bí đỏ, nói: "Em nghĩ có thể nấu bí đỏ với cháo."
Điều này khiến Dịch Huyền nhớ lại: "Súp bí đỏ ăn cũng rất ngon, nước súp có màu vàng óng, phủ nhục quế và kem tươi lên, ăn khi còn nóng, nó thơm và mịn như lụa vậy đó."
Hà Điền tưởng tượng một chút, đã đoán được đại khái: "Cũng không khó mấy.

Bí đỏ gọt vỏ hấp chín rồi nghiền nhuyễn, sau khi rây thì đem nấu với gia vị."
Tối đó, cô làm món súp bí đỏ.
Không có nhục quế, Hà Điền rắc một ít bột đậu xám xay mịn lên súp, càng thơm.
Tất nhiên, cô cũng có bí quyết nấu súp riêng của mình, lúc nghiền bí đỏ bằng máy trộn, cô cho thêm một chút mỡ heo vào khuấy đều.

Nước súp làm theo cách này rất thơm và mịn.
Ngoài súp bí đỏ, Dịch Huyền còn cực lực đề cử món bánh bí đỏ.
Hà Điền hỏi bánh bí đỏ ngọt hay mặn, bánh dày bao nhiêu, màu sắc, mùi vị ra sao, nhân bánh mềm hay cứng, trong lòng thì đã có tính toán.
Cô hấp chín một miếng bí đỏ, bóc lấy phần thịt và nghiền nhuyễn, sau đó cho lòng đỏ của ba quả trứng, mật ong và đường vào trộn đều, còn lòng trắng trứng thì giao cho Dịch Huyền.
Bí đỏ đã nghiền nhuyễn, đổ lên rây tre có lỗ nhỏ rồi dùng sạn gỗ nghiền qua lại, sau khi rây bí thật nhuyễn mịn thì cho lòng trắng trứng đã đánh vào khuấy đều.
Hà Điền đoán là thành phố nơi Dịch Huyền từng sống có nhiều bò nên sẽ có rất nhiều sản phẩm từ sữa.

Đồ ngọt như bánh bí đỏ này nọ nhất định đều có thêm sữa và kem vào.

Cô không có sữa và kem nên dùng lòng trắng trứng cũng không sao.

Chỉ cần làm cho bánh mịn và mềm hơn là được.
Muốn làm cho da bánh xốp giòn thì cũng đơn giản, chỉ cần trộn bột mì với mỡ và đường rồi đem nướng là được, sự khác biệt về độ dày và hương vị nằm ở tỷ lệ bột, dầu và đường.
Cô không có khay nướng sáu centimet, nhưng lúc trước ông nội cô có dùng đáy lon sắt chế tạo lại, đường kính khoảng tám đến mười centimet, phần mép hơi chỉa ra ngoài, cũng làm thành hình gợn sóng.
Dùng mỡ tráng khay nướng, cho phần bột đã nhào xong vào, nhẹ nhàng dùng muỗng ấn cho bột dẹp xuống vừa với khuôn, xé bỏ phần bột thừa ở mép rồi dùng nĩa chọc các lỗ nhỏ ở đáy, để mặt dưới của bánh được nướng chín đều hơn.
Hà Điền đặt một vài khay bánh lên vỉ rồi cho vào lò nướng.
Những lúc như thế này, cô vô cùng tưởng niệm đến thời đại có thể sử dụng điện.

Đối với bếp sử dụng củi làm nguồn nhiệt, cô chỉ có thể tăng giảm nhiệt độ bằng cách tăng giảm củi, hơn nữa còn phải có kinh nghiệm dày dặn.
Sau năm sáu phút, cô kéo vỉ nướng ra, mùi thơm của bánh toả ra bốn phía.
Hà Điền dùng nĩa chọc vào đáy bánh, rồi lại đẩy vỉ nướng vào, nướng thêm ba bốn phút, sau đó lấy ra để nguội, đổ bí đỏ nghiền nhuyễn vào, cho vào nướng tiếp.
Lần này nướng được mười phút, cô lại chỉnh nhỏ lửa, nướng thêm mười phút nữa, lôi vỉ nướng ra, vậy là món bánh bí đỏ đã thành công rồi!
Bánh ngọt vàng ươm, phần nhân chính giữa vàng óng, sau khi lấy bánh ra khỏi khay, Hà Điền rắc một lớp đường áo và đặt một miếng lá bạc hà nhỏ lên trên.
Dịch Huyền khen ngợi: "Vừa nhìn đã thấy ngon rồi!"
"Nếu có quả mâm xôi tươi thì đặt một hoặc hai quả lên, sẽ càng đẹp hơn nữa." Hà Điền cười, lấy bánh bí đỏ đặt lên chiếc dĩa nhỏ mà họ vừa mới làm.
Bộ dĩa thô này do Dịch Huyền làm, chuyên dùng để ăn điểm tâm.

Một bộ sáu cái, mỗi cái là một loại hoa, rau củ và trái cây khác nhau.

Hà Điền đưa cho anh một cái trông giống như đáy của một quả bí đỏ, bên cạnh dĩa còn trang trí một quả bí đỏ nhỏ.

Chẳng giống với bí đỏ họ trồng chút nào cả.
Từ khi thân phận bị bại lộ, hiếm thấy anh nhận đồ ăn mà không vội ăn ngay, nhẹ nhàng cầm dĩa bánh xoay xoay, đánh giá món bánh này.

Nhìn ngang thì trông bánh càng đẹp hơn nữa.

Lớp vỏ bánh phồng lên khoảng hai, ba centimet bao phủ lớp thạch màu vàng cam dày cỡ hai ngón tay, cực kỳ tinh tế tỉ mỉ, dùng nĩa nhỏ cắt xuống, nhiệt trắng nhẹ nhàng tỏa ra, lớp đường trên bề mặt dường như lại có chút tan chảy.
Anh xắn một miếng nhỏ bỏ vào miệng, nheo mắt thốt ra một tiếng "a" thật thấp.
Hà Điền vẫn luôn mỉm cười, cũng đưa một miếng bánh bí đỏ vào miệng, nhìn thấy Dịch Huyền như vậy, rồi lại nghe thấy tiếng "a" trầm thấp của anh, không biết nghĩ tới điều gì mà mặt lại thoáng cái đỏ lên..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 75: 75: Sườn Hầm Bí Đỏ


Sau đợt sương giá, phải tranh thủ thu hoạch táo.
Hai cây táo của nhà Hà Điền đã trồng được hơn mười năm.

Cây giống được ông cô dùng lông chồn đổi lấy, mỗi bộ đổi được một cây, bốn cây chỉ còn sống được hai.

Từ năm thứ ba sau khi trồng táo, mỗi mùa thu Hà Điền đều có táo tươi để ăn.
Hai cây táo này mùa xuân năm nay nở hoa trắng muốt, cả vườn tỏa hương thơm thu hút rất nhiều ong bướm.

Đến hè, trên mỗi cây có hàng trăm hạt nhỏ màu xanh ngọc bích, nhưng Hà Điền cũng không tham lam, mỗi cành chỉ để lại một ít trái phát triển tốt nhất, còn lại thì sớm lặt bỏ đi.
Sau bao tháng nắng mưa, những hạt nhỏ màu xanh ngọc bích giờ đây đã lớn thành những quả táo màu đỏ đậm.
Khi hái táo, không được rung thân cây như hái hạnh, táo ta, hoặc là dùng sào tre đập cho rụng xuống.

Táo có vỏ mỏng, thịt dày và to, nhiều nước.

Nếu chúng rơi xuống đất như hạnh, táo ta, thì thịt quả sẽ sớm bị dập, đổi màu, và sau đó là thối rữa.
Chỉ có thể hái bằng cách dùng sào tre có khe hở trên đầu để vặn cành, hái luôn cành và lá xuống.
Sau khi hái hết táo, Hà Điền tiếp tục đếm, năm nay hái được tổng cộng hai trăm bảy mươi tám quả, hơn hai mươi ba quả so với năm ngoái.

Kích cỡ trái trung bình so với năm ngoái cũng lớn hơn nhiều.
Hà Điền cũng ghi lại dữ liệu này vào sổ tay của mình.
Táo vừa hái có mùi thơm đặc trưng, Dịch Huyền đem hai quả đến suối rửa sạch, vừa ăn vừa xoa cái cổ đau.
Vỏ táo của nhà Hà Điền mỏng, mọng nước và rất ngọt.

Sau khi ăn, môi dường như được phủ một lớp mật và hơi dính.

Điều này cho thấy trong táo rất giàu pectin và fructose (chất dính và đường trái cây).
Thu hoạch táo xong, tâm trạng họ vẫn luôn phơi phới.
Họ chọn những quả táo ngon nhất, cho vào thùng gỗ chứa đầy cát và mùn cưa rồi mang xuống hầm.

Táo thường dễ bảo quản hơn các loại trái cây khác, bảo quản trong hầm, cách một thời gian lại mở thùng gỗ ra xếp ngược lại một lần, có thể bảo quản đến tận mùa hè năm sau hoặc đến khi đợt táo mới bắt đầu chín.
Những quả còn lại có quả bị sâu đục, có vết rỗ, hoặc bị va chạm mà dập.

Hà Điền lấy luôn quả có cành và lá đặc vào một cái giỏ tre nhỏ, đem vào nhà, đặt ở trên bàn.

Rồi lại rửa sạch khoảng mười quả, cắt thành từng lát, phơi khô để dành nấu trà, hoặc mùa đông khi nấu cháo sẽ cho vài lát vào để tăng thêm độ ngọt.
Sau khi đem táo đặt ở trong nhà, ngoài hương hoa cúc dại còn có thêm hương trái cây thơm phức.
Dịch Huyền nghĩ, đây chính là mùi của mùa thu.
Vừa thu hoạch táo xong, trời lại đổ mưa.
Lúc này nhiệt độ ngoài trời có lẽ đang dưới mười độ, cho dù là ở trong nhà, nếu như không đốt lửa thì cũng sẽ lạnh cóng.
Hà Điền và Dịch Huyền ngồi ở trong nhà, nhóm lửa, cùng nhau vá lưới đánh cá.
Lưới đánh cá là một công cụ rất quan trọng của người dân miền núi.

Dây của lưới đánh cá được làm bằng sợi bông đặc chế, có phủ một lớp sáp nên rất chắc chắn.

Nhưng thứ này chỉ mua được ở chợ xuân.

Hầu hết các loại lưới mà Hà Điền dùng để đánh cá đều sử dụng các dây như vậy, bởi vì những loại lưới này lớn hơn nên đòi hỏi độ bền của dây cao hơn.

Giống như lồng cá ném xuống sông và ao nhỏ, sợi dây được sử dụng là do chính cô xoắn ra.
Cỏ nhung thu hoạch lúc cuối hè bây giờ được mang ra đặt trên trụ gỗ và đập liên hồi, thân cây cỏ dần dần tách ra, cọng cỏ dày một hai li tách ra thành hàng chục sợi, nối từng sợi một lại với nhau có thể làm ra một sợi chỉ dài, có thể dùng nó để may vá, hoặc là xoắn to hơn để đan các đồ dùng khác nhau.
Sợi dây dùng để đan lồng cá to khoảng ba mm và rất bền, Hà Điền xát sợi dây với nến trắng mua về một lần, sợi dây dính sáp sẽ không dễ dàng bị hỏng.
Sau một thời gian, hầu hết các ao ở sông nhỏ, đầm lầy, và nước gần bờ đều sẽ bị đóng băng, lồng cá không còn đất dụng võ nữa.

Những lồng cá đã sử dụng được vài tháng cũng nên cất đi, mấy chiếc vòng tre và lưới trên đó bị ngâm nước mấy tháng, cũng phải được thay mới.
Lúc này họ xoắn dây thật ra là để chuẩn bị cho năm sau.
Cuộc sống trong rừng là như vậy, mùa nào cũng có thời gian biểu nhất định.

Nếu không tuân theo nó, không làm gì cả, thì đến mùa sau phải mò mẫm mà làm.
Ví dụ như lồng cá, nếu mùa hè không cắt cỏ nhung phơi khô thì đến mùa thu sẽ không thể nào xoắn dây để làm lại lồng cá được, mùa xuân năm sau không thể bắt cá trong sông và ao nhỏ.

Nếu lồng cá làm năm đầu không chắc chắn thì cá, tôm, cua khi nhấc lên sẽ chạy thoát, thu hoạch sẽ không được tốt.
Công việc xoắn dây không đau mắt hay tốn nhiều công sức gì cả, nhưng sau khi làm được một lúc, các ngón tay của Dịch Huyền không chỉ mỏi mà còn bị chuột rút.

Hà Điền dạy anh kỹ xảo: "Nếu mỏi tay thì dùng lòng bàn tay xoắn cũng được."
Sau khi xoắn một lúc, lòng bàn tay và các ngón tay đều khô ráp, da có vẻ như bị nứt nẻ, lúc này phải bôi một ít "kem chuyên dụng thoa tay khi xoắn dây" làm bằng sáp ong và mỡ.
Phần dây xoắn được quấn quanh một cuộn dây làm bằng ống tre nhỏ, sau khi quấn nhiều vòng, khi xoắn dây có thể dùng sức nặng của cuộn dây để giúp xoắn hai sợi dây lại với nhau.
Đến gần trưa, cuối cùng thì Dịch Huyền cũng thành thạo kỹ thuật này.
Hà Điền vỗ đầu: "Thật ra em quên mất, chúng ta có một cái máy xoắn dây nhỏ."
Cô nhìn Dịch Huyền cười một cách vô tội, anh bật dậy, ôm đầu cô vào lòng vò loạn: "Em cố ý! Cố ý đúng không!"
Hà Điền cười phản bác: "Dù sao thì trước tiên cũng phải dạy anh nguyên lý làm dây cơ bản mà!"
Nguyên lý xoắn dây rất đơn giản nên máy xoắn dây cũng không quá phức tạp.

Chính là, hai người phải phối hợp với nhau.
Hà Điền kéo hai sợi chỉ, Dịch Huyền q*** t** cầm, cuộn chỉ trên máy quay với tốc độ đều, hai sợi chỉ xoắn lại với nhau và quấn vào trục quay.
Đang quấn dây, Dịch Huyền đột nhiên cúi xuống, hôn vài cái lên chỗ tóc mai của Hà Điền: "Sau này anh sẽ không để em phải tự xoắn dây một mình nữa."
Hà Điền mỉm cười: "Em tưởng anh định hỏi em trưa ăn gì."
Dịch Huyền cũng cười, lại hôn vài cái lên mặt cô, hỏi: "Vậy trưa nay ăn gì?"
"Ăn bí đỏ."
"Lại ăn bí?!" Dịch Huyền chu miệng.
Bí to tuy ngọt, dẻo và thơm, nhưng có một nhược điểm là phải ăn càng sớm càng tốt.
Quả bí to mà họ hái lần trước nặng cả chục ký, phải ăn một thời gian mới hết được.
Họ đã thử làm súp và bánh bí đỏ, hôm nay Hà Điền lại làm món sườn hầm bí đỏ.
Sườn heo rừng vừa mới được xông khói không lâu nhưng do được ướp gia vị và bị khói hun nên khi lấy ra khỏi kho nó có màu đen sẫm.
Dùng xơ mướp chà xát mới lộ ra phần thịt đỏ.
Sườn chặt nhỏ, xào với tỏi, củ hành, sau khi nước sôi thì đun nhỏ lửa khoảng nửa tiếng rồi cho bí đỏ đã cắt khúc vào nấu khoảng mười phút, thịt sườn giòn và mềm, nước dùng rất ngon, bí đỏ thấm vị mặn thơm trong thịt, thịt thì có thêm chút ngọt của bí.

Lúc hầm canh thì bắc một chiếc nồi hấp lên, hấp hai chén cơm.
Dịch Huyền khá hài lòng với bữa trưa này.
Nhưng mà— "Buổi tối có thể không ăn bí đỏ không?"
"Em chưa ăn bí đỏ bao giờ nên không biết cách chế biến ngon.

Bây giờ em đang tìm tòi học hỏi mà!" Hà Điền cười nhìn anh hỏi: "Bí đỏ có thể làm bún không?"
"Anh chưa nghe qua."

"Vậy thì...!những phương pháp bảo quản khác thì sao?"
"...Anh không biết."
Hà Điền hơi bĩu môi: "Hồi mùa xuân, lúc anh xúi em mua hạt bí cũng không có nói như vậy."
Dịch Huyền vội cười: "Thật ra bí đỏ là một thứ tốt.

Chúng ta có thể ăn nó như một loại rau vào mùa hè, mùa thu thì có thể làm món tráng miệng, làm lương thực chính, để được lâu, sau khi hái thì cất trong hầm.

Ước chừng có thể giữ được cả mùa đông ấy chứ."
Anh không dám nói rằng, là vì anh nghĩ việc trồng bí đỏ không mấy tốn công sức, và vì rất muốn ăn bánh bí đỏ nên mới mua hạt giống.
Sau bữa trưa, mưa vẫn rơi tí tách.
Dịch Huyền mang Lúa Mì đi tuần tra một vòng rồi kéo Gạo ra ngoài, để nó gặm số rơm còn sót lại trên ruộng kê, thỉnh thoảng, nó vươn đầu vào vòng rào nhốt thỏ và ăn một vài mẩu củ cải.

Dưới trời mưa nhẹ, nó chớp chớp đôi mắt to, trông rất thoả mãn.
Thỏ không thích những ngày mưa.
Cả bọn xúm xít rút vào chuồng ở góc vòng rào để trú mưa.
Chuồng của những chú thỏ nhỏ không thể so sánh được với chuồng của chú chó Lúa Mì.

Thật ra thì nó chỉ có một mái che, bên dưới mái che là bảy ống tre to được cột lại với nhau.

Mấy con thỏ thích trốn trong số ống tre này, có lẽ vì chúng nghĩ rằng môi trường này giống như một cái hang thỏ, sẽ an toàn hơn.
Đôi khi ở mỗi bên của ống tre là một con thỏ.
Dịch Huyền thấy thỏ không thích mưa nên đã làm nắp đậy ở mặt trước và mặt sau của ống tre, làm vậy thì khi nhấc chuồng thỏ nhỏ đem về lồng trong kho chuồng sẽ tiện hơn.
Anh thích thỏ hơn Hà Điền, còn đặt tên cho từng con một nữa.
Lần lượt đưa thỏ vào lồng tre, ôm ôm sờ sờ, rồi thêm một nắm cỏ khô vào mỗi lồng, Dịch Huyền mới dẫn Lúa Mì đi.

Gạo thì vẫn còn để lại đó để nó ăn lá rau, củ cải mà thỏ chưa ăn hết.
Dịch Huyền dẫn Lúa Mì đứng bên suối quan sát một lúc, lượng nước và tốc độ dòng chảy của suối đều tăng lên, nhưng xem ra tạm thời không có gì nguy hiểm.
Vịt rất thích mưa, có không ít vịt con nằm trên chuồng vịt bên ao, hầu như tất cả chúng đều bơi trong ao, sải cánh và mổ, rỉa lông.
Hai ngày trước, một con ngỗng trời đã bay đi.
Lúc này Hà Điền và Dịch Huyền mới nhớ ra, ừm, lần cuối cùng họ cắt cánh cho chúng là khi nào?
Những con vịt bị cắt cánh không thể bay quá cao, hơn nữa dường như chúng đã quen với cuộc sống ở đây, cho dù trời có lạnh hơn, chúng cũng sẽ không bao giờ nghĩ tới chuyện sẽ đào tẩu như những con ngỗng hoang không chịu thua số phận kia.
Thực vật thủy sinh và cây ưa nước trồng được lúc hè trong ao đã qua cắt tỉa bổ sung mấy lần đều đang phát triển tốt, tôm cá nhỏ trong ao cũng sống sót, dần dần có môi trường sinh thái khép kín, chỉ là trận mưa lớn vừa rồi đã cuốn trôi rất nhiều bèo và tôm cá nhỏ.
Dịch Huyền lúc ấy có chút tiếc hận, Hà Điền an ủi anh: "Ngay cả ao hồ tự nhiên cũng đều như vậy mà anh.

Nước dâng lên, rồi mưa to, sinh vật mới có thể theo dòng nước mà lan rộng ra."
Dịch Huyền lại vui trở lại.

Anh dẫn Lúa Mì trở về nhà, Hà Điền gọi anh: "Đến đây, ngồi xuống, em làm cho anh một đôi bao tay mới."
Trên bàn đặt một miếng da trơn hai mặt, bây giờ Dịch Huyền đã là một người thuộc da có tay nghề, anh có thể nhận ra ngay đó là một miếng da thỏ.
Hà Điền kêu anh đặt tay lên tấm da và xòe năm ngón tay ra, cô dùng một miếng than vẽ quanh bàn tay anh: "Được rồi."
Dịch Huyền lấy tay ra, Hà Điền gấp miếng da cách đầu ngón tay giữa khoảng một cm, lấy kéo, dựa theo đường vẽ bằng than, chừa ra khoảng một cm rồi cắt.
Bây giờ đã có hai miếng da hình lòng bàn tay được cắt ra và đặt chồng lên nhau, chỉ cần khâu chúng lại với nhau, về cơ bản thì chiếc bao tay đã được tạo thành.
Loại bao tay da mỏng này được sử dụng phổ biến nhất khi làm các công việc nhà nông.

Vì để cho ngón tay cử động linh hoạt hơn, mặt trong của bao tay phải được cắt một đường dọc theo đường vân của ngón tay cái rồi may thêm một miếng da nhỏ vào.
Ở phần cổ tay, Hà Điền thích cắt một lỗ trên đó, làm vậy thì chỉ cần móc ngón tay vào kéo một cái là có thể tháo bao tay ra.
Loại bao tay này được Hà Điền gọi là "bao tay lao động", về cơ bản chúng được làm từ da thỏ và da sóc, một là vì loại da này dễ kiếm hơn và chúng không có giá trị cao, hai là do da của thỏ và sóc rất mỏng, bao tay sẽ không ảnh hưởng đến sự linh hoạt của các ngón tay.
Để chống mài mòn, Hà Điền cũng khâu trên các đầu ngón tay cái, ngón trỏ và ngón giữa những miếng da hình bầu dục.
Mùa đông năm ngoái Dịch Huyền đã đeo đôi bao tay cũ của bà nội cô, anh cũng có một đôi bao tay da dê, nhưng nó rất đẹp, không phù hợp với công việc lao động.
Có ba loại bao tay lao động, một loại dùng trong thời tiết nắng nóng, làm bằng vải bạt hoặc vải vụn quần áo cũ, mùa hè dùng để làm ruộng, nhổ cỏ, hái trái, cắt cỏ khô.

Đến đầu thu và đầu đông, rồi sang xuân năm sau, tuy bao tay da mỏng cũng có thể giữ ấm, nhưng nếu trời lạnh hơn thì phải mang thêm một lớp bao tay bông dày.
Bao tay bông cũng tương tự như bao tay chống nóng treo trong nhà bếp.

Mập mập dày dày.
Có điều bao tay cách nhiệt được làm từ chất liệu vải bông từ trong ra ngoài, được khâu theo kiểu lưới kim cương, bên trong hai lớp vải có chứa chất cách nhiệt như bông gòn.
Bao tay ngoài lớp vải bông và lông vịt ra thì còn có một lớp lông bên ngoài, thường thì mu bàn tay của bao tay có lông nên chống thấm và chống tuyết tốt hơn, lòng bàn tay thì là lớp da lông nên rất mềm mại.

Mang bao tay này, bất kể là cầm cọc gỗ đục vào lỗ băng hay kéo lưới đánh cá, lái xe tuần lộc, cũng không cần lo bị tuột khỏi tay.
Nhưng khi tuyết rơi nhiều, nếu dùng đến xe trượt thì phải mang lồng tay.
Hà Điền vừa chỉnh sửa đôi bao tay để vừa với tay của Dịch Huyền, vừa trò chuyện với anh: "Điều đầu tiên em học được khi còn nhỏ là làm lồng tay, rất dễ làm, chỉ cần cắt một miếng da thành hình chữ nhật rồi khâu lại, chừa lỗ ở hai bên là được."
Dịch Huyền cười nói: "Vậy thì năm nay em cũng làm cho anh một cái lồng tay đi, rồi lúc lái xe trượt để anh đứng phía trước.

Anh cao hơn, có thể che chắn gió cho em."
Hà Điền cười: "Ừ."
Cô nắm tay Dịch Huyền, sờ lòng bàn tay của anh, gang tay và đầu ngón tay xuất hiện vết chai mà lúc trước không có, tâm trạng cô có chút phức tạp.
Đương nhiên, dù có bị chai thì đây vẫn là một đôi bàn tay đẹp hiếm có, mười ngón thon gọn, da thịt đều, ngay cả ngón tay cũng thuôn dài một cách tinh xảo, dù móng tay rất ngắn, nhưng đầu ngón tay vẫn đẹp, vòng cung hơi nhọn.
Dịch Huyền luôn biết rằng Hà Điền thích bàn tay của mình, nên khi thấy cô nắm tay anh nhìn tới nhìn lui, anh đưa tay còn lại lên, đặt ngón trỏ lên môi cô rồi nhẹ nhàng lướt dọc theo đường vòng cung của môi trên, thầm thì: "Lại đây, cho em ăn cái này."
Hà Điền đỏ bừng mặt, buông tay ra, trừng mắt nhìn anh: "Tối nay ăn cháo bí đỏ!"
Dịch Huyền vội vàng tìm cách cứu vớt, nhưng khi nghiêng đầu nhìn Hà Điền, trong lòng cảm giác như có một cục bông cọ cọ, ý xấu nổi lên, anh cười hỏi: "Nè...!hay là, anh cho em ăn chút mật ong nhé?"
"Buổi tối ăn cháo bí đỏ mật ong!"
"Ôi, không! Cho dù đồ ăn có ngon đến đâu đi nữa thì ba ngày, một ngày ăn ba lần - sao chịu nổi!".
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 76: 76: Bánh Trung Thu Ngọt Ngào


Sau đợt sương giá đầu tiên, ánh sáng ban ngày rút ngắn với tốc độ rất nhanh, nhiệt độ cũng càng ngày càng thấp.
Một tuần sau, sáng nào trên mặt đất cũng có một lớp sương bạc.
Màu sắc của lá mùa thu trong rừng cũng ngày càng trở nên rực rỡ hơn.
Vườn rau của Hà Điền hiện chỉ có cà rốt là vẫn đang phát triển.

Chúng chịu rét rất tốt.

Sau đợt thu hoạch lúc hè họ lại trồng thêm một đợt nữa.

Đến cuối thu, khi cây cỏ bên suối đều kết băng hết, còn có thể thu hoạch thêm một lần nữa.
Các loại rau khác như cải thảo, bắp cải, cải xoăn, đậu Hà Lan,...!đều sẽ bị khô héo hết, nói chi đến cà chua và dưa leo.

Bây giờ trên đất trồng cũng chỉ còn sót lại đậu nành và đậu đỏ là chưa có thu hoạch mà thôi.
Thừa dịp trời không có mưa, Hà Điền và Dịch Huyền tranh thủ dùng cào xới lại ruộng kê mấy lần, cột rơm lại thành bó rồi treo lên phơi khô, chuẩn bị thức ăn mùa đông cho gia súc.
Mùa này đối với Gạo và thỏ mà nói rất chi là tốt đẹp, những phần lá và gốc của cải thảo, bắp cải và cải xoăn còn xót lại trong đất, cũng như đậu nành, đậu Hà Lan và các loại đậu khác rơi trên mặt đất mà con người không phát hiện ra, cà chua và dưa leo đậu đũa bị dạt bỏ, đều là đồ ăn ngon cả.
Gạo nhìn Hà Điền đang hái cải thảo, liếc nhìn những con thỏ đang ăn cùng mình, nghĩ thầm, mấy đứa ngu, mấy ngày nữa ngày nào cũng sẽ có cải thảo giòn ngọt để ăn! Mấy cái cây vụn này thì tính là gì.
Khi thu hoạch cải thảo và bắp cải, không cần phải đào cả cây, chỉ cần dùng một tay giữ phần ngọn của rau rồi dùng dao cắt phần gốc là được.

Gốc và lá rau đã bung ra nằm trên mặt đất thì không cần lấy.
Cả cải thảo và bắp cải đều có thể bảo quản trong hầm như củ cải.

Củ cải thì phải vùi vào cát, còn cải thảo thì đơn giản hơn, chỉ cần trải một lớp cỏ khô lên các tấm gỗ nâng rồi chất đống là được, đậy thêm một tấm mành rơm, vậy là có thể giữ được cả mùa đông.

Lúc ăn thì lấy ra, lột bỏ lớp lá héo bên ngoài là được.

Cải thảo bảo quản trong mùa đông quan trọng nhất là phần lá, nhưng nước bên trong lá sẽ giảm dần, khi mùa xuân đến, Hà Điền cảm thấy cải thảo trong hầm còn không ngon bằng cải thảo ngâm trong chum.
Cho nên mỗi năm cô đều sẽ làm hai chum cải thảo ngâm lớn.

Ngay cả trong mùa xuân và mùa hè, vẫn có thể ăn.
Lúc ngâm cải thảo, nhân tiện cũng ngâm luôn một ít củ cải trắng.
Hà Điền và Dịch Huyền dọn hai cái chum lớn ra, rửa sạch bằng nước suối trên núi, rồi úp ngược chúng trên vài cục gạch để ráo dần.
Hà Điền dạy Dịch Huyền chọn cải thảo to mập nhất, cắt đôi từ giữa, tách lá cải ra, rồi bôi muối, đường, ớt băm và hạt hoa tiêu lên từng lớp lá một.
"Nước ướp phải bôi đều, phải bôi từng lá, như vậy món cải muối mới ngon." Hà Điền dạy bí quyết.
Lúc trước mùa đông Dịch Huyền đều thường ăn rau trồng trong nhà kính.

Năm ngoái lần đầu tiên ăn cải thảo muối anh thấy rất thích.

Nhưng thứ anh ăn là thành phẩm, vậy nên anh rất tò mò về quy trình chế biến, cẩn thận lắng nghe hướng dẫn của Hà Điền, thử làm mấy cây, trông cũng ra gì lắm.
Cải thảo đã tẩm ướp được cho vào chum, ấn một viên đá lớn, sau một tuần sẽ thấy bọt nổi lên trong chum, chứng tỏ rau muối đã được lên men thành công.
Lúc này, vớt rau ra, cho vào hũ nhỏ, thêm ít nước màu đỏ, ngâm tiếp, khi nào muốn ăn thì vớt ra, vắt bớt nước, cắt miếng nhỏ vừa ăn.
Củ cải muối cũng làm với quy trình tương tự.
Cải thảo và củ cải ngoài việc bảo quản trong hầm còn có thể đem muối, nhưng bắp cải và cải xoăn thì không có nhiều lựa chọn.
Khi hái bắp cải, nên để lại nhiều lá, cột dây và treo ngược lên trên cho khô, đảm bảo toàn bộ bắp cải khô ráo mới được cất vào hầm, nếu không sẽ sinh nấm mốc và lây nhiễm sang các đồ ăn khác trong hầm.
Vì vậy mỗi năm Hà Điền không trồng nhiều bắp cải.
Cải xoăn sau khi hái về thì cắt từng lá ra, cho vào lồng cá vừa làm, treo dưới mái hiên cho khô.

Khi nào muốn ăn thì chỉ cần ngâm với nước trước.
Lá cải xoăn tươi dùng để cuốn thịt ăn rất ngon.

Rau quả sau khi phơi khô có rất nhiều cách nấu ngon.

Ví dụ, điều mà Hà Điền và Dịch Huyền thích nhất là quét một lớp mỡ mỏng trên lá cải xoăn đã khô, cho vào khay nướng rồi nướng, kéo ra, lật ngược lại rồi nướng tiếp, khi ăn thì rắc một chút muối và mấy hạt mè lên, vừa giòn vừa thơm, lá vừa chạm vào lưỡi thì như một lớp giấy, nháy mắt tan ra ngay.
Ngoài những lá cải xoăn to, còn có rất nhiều rau củ, cỏ khô được treo dưới mái hiên; những trái ớt đỏ được cột từng chùm một bằng dây rơm rồi xâu thành chuỗi, những chùm củ hành tây còn lá chờ khô được quấn với cỏ khô và treo lên; nấm hoa và nấm hương được luồn qua phần thân bằng một sợi dây làm từ cỏ nhung; nấm mối, nấm sừng hươu cắt miếng, còn có những lát táo, khoai lang và khoai tây, tất cả đều được phơi trong lồng cá để chim chóc không ăn được.
Sau khi thu hoạch lứa cải thảo, bắp cải vừa rồi, cơ bản thì vườn rau sẽ bị bỏ hoang.
Hà Điền và Dịch Huyền thu hoạch rau xong, chất chúng sang một bên rồi xới đất lên mấy lần.
Sau đó, họ tháo hàng rào nhốt thỏ ra, đào số đất màu mỡ bên trong vào thùng đem đến ruộng rau, rắc lên đất trồng rồi xới lại một lần nữa, sau đó dùng mành rơm che lại.

Đến mùa xuân năm sau, ruộng rau sẽ lại phì nhiêu trở lại.
Đất trồng kê cũng được bón phân và che mành giống vậy.
Còn lá bị gió thổi bay đến thì không cần quản.
Vườn rau cách đây một tháng còn xanh tươi, nay chỉ còn lại màu vàng úa của lớp mành che, lập tức trở nên đìu hiu.
Trước nhà, cây táo đã thu hoạch quả xong, giờ thì lá cây cứ liên tục rụng xuống.
Những quả táo đỏ hồng chỉ sau một đêm đã biến mất, chỉ còn lại cây hồng, cây táo tàu là đang trĩu quả, nhưng cũng sẽ sớm không còn nữa thôi.
Hà Điền tìm một ngày nắng đẹp, cùng Dịch Huyền lấy sào tre đập táo tàu, những quả táo tàu xanh đỏ lăn lóc khắp sân nhà, khiến cho Lúa Mì rất thích thú.
Những quả táo tàu sau khi thu hoạch được xếp vào nia tre rồi phơi nắng cho khô.
Táo tàu xanh sau khi phơi nắng chẳng mấy chốc đã đỏ ửng lên, lớp vỏ mịn màng cũng nhăn lại.

Nhưng đồng thời, độ ngọt của chúng cũng tăng lên.
Táo sống là táo tàu chưa phơi khô, ăn trực tiếp rất ngon, nhưng không được ăn nhiều nếu không sẽ bị tiêu chảy.
Hà Điền rất thích táo tàu đỏ, vì vậy khi phơi nắng cô rất cẩn thận, cô để Dịch Huyền cứ cách hai tiếng lại di chuyển nia tre lớn phơi táo tàu một lần, sau đó lật táo tàu lại để chúng khô đều.
Đối với các loài động vật nhỏ, táo tàu đỏ khô là một sự cám dỗ khó lòng mà cưỡng lại được.
Hà Điền ngồi ở bên cửa sổ, nhìn thấy một vài con sóc trên ngọn cây đang rình rập, còn có một con lớn gan nhảy khỏi cây chạy về phía cái nia tre.

Lúa Mì đang nằm ở trước hiên nhà gầm gừ lao ra, mấy con sóc liền bỏ chạy tứ tán.
Kết quả là con sóc dạn dĩ nhất đã bị cắn chết.
Hà Điền đưa con sóc cho Dịch Huyền, để anh ngồi ở hiên nhà, cầm một cái chậu, thử lại kỹ thuật lột da.
Hà Điền đã nếm qua thịt sóc, món này hơi giống thịt gà rừng có bỏ thêm lá thông.
Bởi vì nhìn không ngon nên cô và Dịch Huyền cũng không thích ăn.
Sau khi Dịch Huyền thực hành kỹ thuật lột da, phần thịt sóc còn lại được nướng trên bãi đất trống, và nó được đưa cho Lúa Mì.
Sau khi táo tàu được phơi nắng và nhăn lại, thật ra trong đó vẫn còn khá nhiều nước, có thể đem phơi thêm một lần nữa cho khô.
Hà Điền lấy hai chiếc túi vải làm từ vải xô ra, bỏ táo vào đó rồi treo chúng dưới mái hiên.
Táo tàu đỏ phơi khô có thể bảo quản được rất lâu.

Cô vẫn còn rất nhiều táo tàu đỏ được thu hoạch hồi năm ngoái.
Hà Điền rửa những quả táo tàu đỏ từ năm ngoái này rồi ngâm trong chậu.

Sau khi ngâm chúng có hơi đàn hồi lại.

Khi thịt quả đã mềm, để ráo nước rồi cho vào tô gốm.

Khi nấu cháo cho bữa tối, để táo vào lồng hấp rồi đặt lên nồi hấp trong mười phút.
Đồng thời, cô cũng cho một củ khoai tây vào lồng hấp.
Sau bữa tối, khoai tây táo tàu cũng đã nguội, cô và Dịch Huyền ngồi vào bàn, mỗi người một chén nhỏ và một lát tre mỏng, cẩn thận gọt bỏ vỏ táo tàu, bỏ hạt, phần cùi táo tàu còn lại thì dùng muỗng gỗ tán nhuyễn, rồi cho thêm một ít mỡ heo vào và tiếp tục khuấy đều.
Sau đó, bẻ khoai tây thành hai nửa, dùng muỗng nạo lấy phần thịt ở giữa rồi cũng nghiền mịn, trộn với táo tàu đã nghiền.
Đương nhiên là Dịch Huyền đã ăn món bánh có nhân thịt với táo tàu rồi, nhưng anh không ngờ rằng bánh nhân táo tàu lại được làm như thế này: "Sao còn trộn với khoai tây nghiền?"
Hà Điền liếc anh một cái, mím môi cười: "Vậy là anh không biết rồi, bánh trung thu anh ăn, nhân táo tàu nghiền, nhân đậu đỏ, rồi nhân trái cây, tất cả đều có khoai tây nghiền."
Anh lấy một cái muỗng nhỏ nếm thử, mềm mịn tinh xảo, thật sự không thể nếm được vị của khoai tây trong đó.

Anh suy nghĩ một lúc thì nói: "Vậy, bánh nhân sen có phải cũng không chỉ có hạt sen thôi, đúng không?"
"Điều này thì em thật sự không biết.

Thật ra, nhân bánh trung thu được trộn với khoai tây nghiền là vì để làm cho nhân bánh dẻo và ngon hơn." Hà Điền điều chỉnh vị của nhân thịt và táo tàu xong còn phải cho vào chảo xào với mỡ heo, vậy thì nhân mới thơm hơn.
Cô cũng làm nhân đậu đỏ, tất nhiên là không thể thiếu lòng đỏ trứng muối.
Trứng rùa đã muối xong rồi, tuy lòng đỏ hơi nhỏ nhưng ăn rất ngon.
Hà Điền luộc một nồi trứng muối, để cho Dịch Huyền tách phần lòng đỏ ra.
Hà Điền đã chuẩn bị sẵn bột làm bánh trung thu, phủ một lớp vải lên trên, để trong chậu khoảng hai tiếng.
Khuôn bánh trung thu nhà cô được tạc bằng gỗ, hơi giống chiếc vợt bóng bàn nhưng mặt vợt dày bằng ba ngón tay, bên trong đục một rãnh tròn có khắc hoa văn.

Hoa văn rất đơn giản và ngộ nghĩnh, tất cả đều là đường vòng cung, có thỏ đang nhảy múa trên mây trong ánh trăng tròn, nhưng cũng có cái là một cặp thỏ, ôm ấp, nheo mắt không biết xấu hổ, hôn lên cái miệng nhỏ của nhau.
Dịch Huyền đã rất vui khi nhìn thấy khuôn bánh này, anh kéo lấy Hà Điền đặt cô lên đùi mình, vòng tay ôm cô, đầu tiên là hôn lên đôi tai nhỏ của cô, sau đó trán kề trán hỏi cô: "Em nói xem hai con thỏ này, con nào là con đực, con nào là con cái?"
Hà Điền cười gian: "Có khi đều là con đực cũng không chừng."
Dịch Huyền giỡn với cô một hồi lâu mới chịu buông ra, cả hai tiếp tục làm bánh trung thu.
Bánh trung thu và bánh bao, bánh hấp thật ra cũng đều giông giống nhau, nhân được nặn thành từng viên rồi gói bột lại, tuy nhiên bánh trung thu có thêm công đoạn ép khuôn, bột gói xong phải cho vào khuôn và nén chặt, sau đó úp khuôn gỗ xuống, dùng sức đập xuống bàn, bánh trung thu rơi ra, mặt trên là hình hoa văn trong khuôn.
Nhưng nói thì dễ hơn làm, Dịch Huyền đã thử mấy lần, anh dùng sức quá mạnh, bánh trung thu rơi xuống bàn không ra hình thù gì, phải làm đi làm lại, sợ đến mức không dám dùng sức, bánh trung thu lại dính chặt vào khuôn không rơi ra ngoài.
Hà Điền dạy anh kỹ thuật: "Anh rắc một ít bột nếp vào, thổi một cái, bột lan đều, bánh sẽ dễ dàng rơi ra."
"Vừa rồi anh có rắc rồi."
"Vậy thì...!Anh thử thêm vài lần nữa xem, chỉ cần kiểm soát lực của tay là được."
Dịch Huyền nhanh chóng tìm được cách, anh nghiêng khuôn gỗ, bang bang bang gõ lên bàn vài cái, sau đó dùng tay đập vào mặt sau khuôn gỗ, chiếc bánh trung thu cuối cùng cũng rơi xuống bàn một cách hoàn hảo.
Hà Điền cười không nổi nữa: "Thảo nào người ta gọi làm bánh trung thu là đập* bánh trung thu.

Thì ra phải đập như vậy mới ra!"
*打: đánh, đập, cũng có nghĩa là làm.
Dịch Huyền cắn môi, kéo Hà Điền ôm vào lòng x** n*n.
Lúa Mì nằm bên bếp lửa thờ ơ lạnh nhạt nhìn, nếm mùi cay đắng của một con chó độc thân.
Những chiếc bánh trung thu đã tách khuôn được đặt vào khay nướng đã phết mỡ và nướng trong vòng hai mươi đến ba mươi phút thì chín.
Vỏ bánh vàng óng và mềm, nhân đậu và lòng đỏ trứng là món yêu thích của Dịch Huyền, nhưng sau khi nếm một nửa bánh lòng đỏ trứng táo tàu, anh phải thừa nhận rằng bánh trung thu nhân táo tàu ngon hơn.
Nhân bánh trung thu đều là nhân ngọt, tất nhiên là có đường trong bột bánh, dù có trung hòa được vị mặn của lòng đỏ trứng thì vẫn có chút ngọt và béo; nhân táo tàu có vị hơi đắng nhẹ, cân bằng lại vị ngọt.
Trong nhà tràn ngập hương bánh trung thu ngọt ngào, giữa trời thu là ánh trăng tròn tựa như tảng băng..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 77: 77: Cơm Niêu


Ăn hết bánh trung thu thì cũng đã qua Trung thu, buổi sáng khi Dịch Huyền ra suối lấy nước, thấy hai bên bờ suối hình thành một lớp băng mỏng, rộng chừng lòng bàn tay, kéo dài từ những tảng đá bên suối đến trong dòng nước chảy, tất cả những chiếc lá và cỏ dại bên bờ đều bị những hạt băng đọng trên đầu lá đè nặng rũ xuống mặt đất.
Xách nước trở về, lớp băng trên mặt đất vừa dày vừa trơn trượt.
Anh thở dài nói với Hà Điền: "Chỉ mới vừa qua Trung thu mà thôi."
Hà Điền cười nói: "Không phải có câu, Hồ Thiên tháng tám tuyết bay sao? Hôm nay chúng ta dọn vại nước vào nhà, bắt mấy con cá nhỏ bỏ vào nuôi ở trong vại.

Mấy ngày nữa sợ là sông nhỏ và ao đầm đều sẽ bị kết băng hết, muốn ra ngoài thì chỉ có thể đi bộ mà thôi."
Ăn sáng xong, cả hai chuyển vại nước trong kho ra rửa sạch.
Lúc này, cho dù có rửa gì đi chăng nữa thì một lúc sau bàn tay cũng sẽ đỏ lên vì lạnh, lạnh giống như kim châm, đầu ngón tay đều tê cứng.
Dịch Huyền không để Hà Điền chạm vào nước: "Em cứ ở trong nhà đi.

Anh cần thì sẽ gọi em."
Hà Điền còn đang do dự, Dịch Huyền lại thúc giục cô: "Không phải sáng nay em vẫn luôn nói đau bụng sao? Vào nhà đi."
Hà Điền đỏ mặt, "ừ" một tiếng rồi đi về trước.
Cô lấy một ít cỏ khô, định về nhà sẽ đan một miếng lót rơm, bọc nửa dưới của vại nước để giữ ấm một chút, vại nước sẽ không sợ bị đông và nứt.
Dịch Huyền mang vại nước vào nhà, cùng Hà Điền lót tấm phủ rơm vào vạc, sau đó đặt lên bốn khối gỗ vuông, đặt ở cạnh bếp lò.
Không biết có phải là do ngâm mình trong nước lạnh khi bắt cá hồi không mà lần này đến tháng Hà Điền đau kinh khủng, sáng nay tỉnh dậy với cơn đau quặn thắt ở bụng dưới.
Sáng sớm Dịch Huyền đã dậy, châm lửa đun nước, đổ vào bình nước bằng đồng, dùng bông bọc lại, để Hà Điền ôm một lúc.

Trên trán cô có một lớp mồ hôi, bụng cô cũng cảm thấy đỡ hơn, nhưng vẫn không được như lúc thường.
Dịch Huyền nhìn thấy đôi môi của cô đã trở nên hồng nhạt, khuôn mặt nhỏ nhắn cũng trắng bệt, rất đau lòng, nhưng anh cũng không biết phải làm sao.
Anh băm gừng, cắt táo tàu đỏ thành sợi, đun một cái nồi lớn, thêm đường nâu, nấu cho Hà Điền uống một chén, phần còn lại đổ vào ấm để giữ ấm, để cô ôm vào lòng: "Em cứ nằm ngủ đi, trưa anh sẽ nấu cơm."
Hà Điền làm sao có thể chịu được, cô uống vài ngụm trà gừng táo tàu đỏ, lắc đầu: "Tranh thủ hôm nay ngày nắng, em may vá một chút.

Chứ nằm như thế này suốt cũng không thoải mái."
Dịch Huyền không biết phụ nữ đang trong giai đoạn này nằm nhiều có không thoải mái hay không, nhưng anh cũng không phản đối, chỉ nói: "Nếu mệt thì ngủ một lát."
Sau vụ thu hoạch mùa thu, vườn rau trên cơ bản đã không còn công dụng, nhưng họ vẫn có một vườn ươm nhỏ, bên trong trồng một ít khoai tây và đậu nành, cùng với một số loại rau thử nghiệm như ớt và cải thảo này nọ.
Trên vườn ươm có che mành, mỗi ngày chỉ được kéo xuống sau khi mặt trời mọc, sau khi mặt trời lặn thì che lại ngay, tuy không tốt bằng nhà kính hay nhà ấm nhưng đến nay cây trồng bên trong vẫn phát triển khá tốt.

Khoai tây củ to nhất đã bằng nắm tay, cây ớt thì kết rất nhiều quả nhỏ như hạt ngọc, một số còn đang nở hoa, dây đậu Hà Lan, đậu nành thoạt nhìn cũng rất có sức sống.
Dịch Huyền lấy dụng cụ đi đến chỗ rào nhốt thỏ đào một ít phân bỏ vào thùng đem về vườn ươm, mở mành ra, dùng xẻng tre và cào tre nhỏ cẩn thận xới đất.

Theo anh thì loại vườn ươm này rất tốt, không cần cúi người, thoải mái hơn nhiều so với làm ruộng rau, thật sự là nên làm thêm mấy cái nữa.
Nhưng năm nay thì không được rồi.

Sau tiết Sương Giáng, đất đai dần dần cứng lại, chẳng bao lâu nữa sẽ đến thời kỳ mặt đất đóng băng, khi đó nó sẽ cứng như đá, và những củ cà rốt duy nhất còn lại trong đất cũng sẽ phải đóng băng cùng với đất.
Anh nhìn xung quanh một lượt, cảm thấy rất khả thi.

Sang năm anh nhất định phải xây dựng một nhà kính.
Nghĩ đến đây, anh lại nhìn về phía nhà vệ sinh.
Mùa đông đến, nước trong bồn cầu cũng sẽ đóng băng, mỗi lần đi vệ sinh phải mang từ nhà theo một thùng nước nóng, sau khi đi vệ sinh xong thì nước trong thùng nhỏ cũng ấm đi, vừa vặn dùng để rửa tay và giội nước.
Nhưng như vậy thật bất tiện.
Nếu xây bếp bên ngoài nhà vệ sinh thì sao? Vại nước đặt trên đó sẽ luôn ấm, lúc đi vệ sinh cũng sẽ không bị lạnh run.
Hay là dứt khoát xây nhà có hệ thống sưởi sàn rồi làm nhà vệ sinh trong nhà luôn?
Dịch Huyền vừa xới đất cho vườn ươm, vừa vẽ ra nhiều bản thiết kế khác nhau trong đầu.
Về đến nhà, Hà Điền đang ngồi ở trước bàn, lông chồn đã được cắt may khéo léo, chiếc áo ghi lê cũng sắp hoàn thành, cô đang khâu viền cổ áo.
Dịch Huyền tìm thấy chiếc bàn cát, san phẳng cát rồi dùng cành tre vẽ tới vẽ lui.
Sau một lúc, Hà Điền bị thu hút, hỏi anh: "Đây là loại nhà gì? Dưới lòng đất là gì vậy anh?"
"Em có nghe nói qua giường sưởi và sàn ấm chưa?"
"Chưa.

Anh nói em nghe đi."
Dịch Huyền liền giới thiệu với Hà Điền về những lợi ích của việc làm giường sưởi và hệ thống sàn ấm.
"Giường sưởi nói trắng ra thì chính là một cái bàn lớn bằng đất rỗng, bên trong có ống khói hình gấp khúc.

Em cứ tưởng tượng một cái bếp dài khoảng hai ba mét, rộng hai mét là sẽ ra ngay.

Một bên được nối với bếp, khi bếp cháy, luồng khí nóng thổi vào giường, ngồi trên đó sẽ cảm nhận được độ nóng, ngủ rất ấm.

Trong nhà có giường sưởi, vừa bước vào cửa, mọi người đều ngồi trên giường, ban ngày kê một chiếc bàn nhỏ - một chiếc bàn chân ngắn, dùng để viết chữ, ăn cơm, uống trà, cắt vải khâu quần áo, chuẩn bị bữa ăn...!Khi muốn đi ngủ thì chỉ cần chuyển bàn sang một bên, đặt chăn ra gối đệm, buổi sáng thức dậy thì xếp chăn bông lại cất vào rương."
Hà Điền nghe vậy liền nhớ đến cái giường mây bên cửa sổ ở nhà Tam Tam, chân cô ấy không tiện, nên cũng ngồi trên giường mây làm việc.
"Hệ thống sàn ấm thậm chí còn tốt hơn! Hệ thống sàn ấm tương đương với toàn bộ ngôi nhà là một cái giường sưởi.

Nguyên tắc cũng giống như giường sưởi.

Dưới sàn nhà làm một ống khói, một bên của ống khói được nối với bếp.

Ống khói có hình dạng như một thước cong và được bao phủ bởi một lớp đá.

Chúng ta không có đá, nhưng không phải chúng ta đã nói sẽ làm xi măng sao? Có tro núi lửa, đừng nói là tấm xi măng, hồ xi măng và núi xi măng chúng ta cũng có thể làm được! Sau đó chúng ta lại lót một lớp sàn gỗ lên, đến mùa đông sàn nhà rất ấm, nên khi ngủ chỉ cần lót chăn ra gối đệm trên sàn nhà là có thể ngủ được rồi."
Hà Điền nghe thấy mà cũng phải "Chà" vài lần, hứng thú hỏi: "Nhà anh ở lúc trước có giường sưởi không?"
"Không có.

Nhưng có hệ thống sàn ấm.

Còn giường sưởi thì...!Anh đã nhìn thấy nhà của người ta làm." Người nghèo không có nhiều tiền như vậy, cho nên họ chỉ có thể làm giường sưởi.
Hà Điền quan tâm đến giường sưởi hơn là sàn ấm.

Vì để làm được hệ thống sưởi dưới sàn thì phải xây dựng lại cả một căn nhà.

Tuy giường sưởi cũng không hề đơn giản, nhưng nó đơn giản hơn nhiều so với việc xây nhà mới.
Sau khi Dịch Huyền nói xong, Hà Điền nhìn vào vị trí bếp lò của họ.
Làm thế nào để xây dựng một chiếc giường sưởi?
Gạch gốm, họ có, nhưng không đủ.

Còn phải dùng để làm vườn ươm nữa.

Nếu muốn làm giường sưởi, vậy thì phải phá bỏ vườn ươm.

Sau đó thì chuyển bếp ra ngoài, vậy có cần phải mở rộng bếp ra thêm không? Hay là bây giờ làm một cái giường sưởi ở ngay cửa hiện tại, di chuyển bếp qua, dẹp cái cửa đi, thay đổi bếp ban đầu thành cửa?
Với lại, dưới giường sưởi có thể làm sàn gỗ không?

Hà Điền suy tư cả buổi, có chút ủ rũ: "Dù sao thì cũng phải đợi sang năm mới tính được."
Dịch Huyền không chút nào chán nản: "Đừng nói sang năm, năm sau, hay ba năm sau nữa cũng đều được, chỉ cần có quyết tâm thì nhất định cũng sẽ làm được, hai chúng ta đồng lòng thì có chuyện gì mà không thành!?"
Hà Điền ngẫm lại, thấy cũng đúng, ông bà cô lúc trước xây nhà cũng đâu chỉ ngày một ngày hai là xong?
Dịch Huyền vẽ sơ đồ giường sưởi và sàn ấm ra trước, sau đó nói với Hà Điền về việc lắp thêm một cái bếp nhỏ bên ngoài nhà vệ sinh, việc này đương nhiên nhận được sự đồng ý.
Hai người cùng nhau lên kế hoạch, Dịch Huyền cũng không quên làm bữa trưa.

Đầu tiên anh lấy một nắm đậu Hà Lan khô ngâm chung với gạo, rồi lại lấy một ít lạp xưởng, cắt thành từng khúc, bí đỏ thì cắt thành miếng, trộn hết lại với gạo, đến giữa trưa thì đem đi nấu.
Cơm được nấu chín và dọn ra trông rất ngon, những hạt đậu màu xanh, lạp xưởng màu đỏ, và những miếng bí vàng ươm kết hợp với những hạt cơm bóng lưỡng như ngọc.
Hà Điền nhìn cơm trên bàn, cười nói: "Anh nấu kiểu này gọn ghê ha!"
Dịch Huyền dường như không nghe ra là Hà Điền đang trêu chọc mình, tự hào đắc ý: "Tất nhiên rồi.

Còn đầy đủ chất dinh dưỡng nữa, có protein, carbohydrate, vitamin, và chất xơ thực vật.

Vừa có rau vừa có thịt."
Nhưng mà cơm nấu bằng cách này ăn cũng rất ngon.
Vị mặn, béo của lạp xưởng quyện với cơm đậu cộng với vị ngọt của bí đỏ, ngon vô cùng.
Hà Điền ăn cơm, chợp mắt một lúc, tỉnh dậy lại tiếp tục khâu áo lông chồn.

Thời tiết ngày một lạnh dần, sắp phải mặc rồi.
Dịch Huyền thì cầm theo công cụ đi đến con đường xuống bờ sông để sửa đường.
Con đường này được lát bằng đá, trải qua một năm giẫm đạp cùng với mưa to cọ rữa, có nhiều chỗ đá đã bị cuốn trôi, có chỗ trũng xuống, có chỗ mắc lại bên lề đường hoặc cọc gỗ bên bậc đã mục nát.

Thừa dịp bây giờ còn chưa có tuyết, phải nhanh chóng sửa chữa.
Anh còn đang bận rộn, Hà Điền cầm theo áo đến tìm: "Em muốn anh mặc thử."
Mũi và trán của Dịch Huyền ướt đẫm mồ hôi, thấy Hà Điền đến thì mỉm cười, sau đó đưa đầu về phía cô, làm nũng: "Lau mồ hôi cho anh đi."
Hà Điền cười cười, kẹp chiếc áo ghi lê nhỏ dưới nách, lấy khăn tay ra lau mồ hôi cho anh.
Dịch Huyền ngẩng cổ lên: "Ở đây nữa!"
Hà Điền lại lau cổ cho anh, sau đó thuận tay sờ vào yết hầu của anh, bắt chước tiếng vịt kêu: "Cạp cạp—"
Yết hầu nhô ra như vậy, sao lúc trước cô lại không nhận ra vậy kìa? Rồi còn cho rằng anh chàng này là một chị gái trẻ đẹp nữa?
Chỉ tại làn da của Dịch Huyền quá trắng quá đẹp mà ra cả.
Hai người đùa giỡn một lúc, Dịch Huyền thử áo, Hà Điền đứng một bên chỉ điểm: "Đất phải đào tơi xốp rồi mới lấp, sau đó đập cho phẳng, nếu không đất mới sẽ dễ bị sói mòn, sau một thời gian sẽ lõm xuống ngay."
"Anh đang nghĩ, có nên ấn một tấm ván ở chỗ mép bậc thang không?" Dịch Huyền hỏi cô.
Hà Điền xua tay đúng như dự đoán: "Bình thường thì không sao, nhưng mùa đông chúng ta đi đường này lấy nước, lúc xách thùng lên dốc chắc chắn sẽ bị vẩy một ít nước ra, nước sẽ kết băng trên ván, rất trơn.

Hơn nữa băng ngày càng dày, đến lúc tuyết rơi, vỏ hạt dẻ trên đó sẽ đông cứng lại.

Mà trên vỏ lại có nhiều gai nhỏ, sẽ dễ trượt lắm."
Dịch Huyền suy nghĩ một chút: "Em cũng có thể đan một vài sợi dây thừng to và đóng băng chúng trên đó.

Khi đó các bậc thang sẽ có góc cạnh, độ ma sát sẽ lớn hơn."
Hà Điền cười: "Đúng ha, tại sao em lại không nghĩ ra!"
Hai người nói chuyện một hồi, Lúa Mì nằm ở bên cạnh vẫy đuôi, nhìn hai người kia ôm ấp ngọt ngào mà không khỏi r*n r*.
Nó vừa kêu, Hà Điền không khỏi cảm thấy xấu hổ, sau khi giãy giụa một lúc, cô thì thầm với Dịch Huyền: "Buông em ra.

Đang ở bên ngoài."
Dịch Huyền liếc nhìn Lúa Mì, cũng không quan tâm, cười trêu chọc Hà Điền: "Bên ngoài thì làm sao? Có người còn tắm rửa ở bên ngoài nữa mà! Còn muốn anh chà lưng cho nữa!"
Mặt Hà Điền ngay lập tức nóng ran, đẩy Dịch Huyền ra, quay lưng bỏ đi.
Dịch Huyền vẫn còn ở sau lưng cô cười.
Hà Điền đi đến kho nơi đặt cỏ khô, mới phát hiện Lúa Mì cũng chạy lại theo mình.
Cô ngồi xổm xuống sờ sờ đầu Lúa Mì: "Lúa Mì, em không được giống anh ấy đâu đó."
Lúa Mì rất ngoan, ngẩng mặt lên, lắc đuôi.
Hà Điền mang một ít cỏ khô về nhà, đeo găng tay, xoắn cỏ thành chùm rồi xoắn thành những sợi dây rơm, mỗi sợi dây rơm chỉ làm dài chừng bậc thang và thắt chặt ở hai đầu.

Loại dây này không cần làm quá cẩn thận, chỉ một lúc mà cô đã làm được hơn chục cái.
Dịch Huyền đào tất cả các chỗ lõm giữa các bậc thang lên, xới đất, xách hai giỏ đất từ gò đất bên bờ suối xuống bờ sông, rồi rắc từng lớp từ trên xuống dưới, trộn với đá nhỏ, sau đó và dùng xẻng đập phẳng chúng.
Anh tự mình đi vài vòng, cảm thấy khá bằng phẳng, lại đi hỏi Hà Điền: "Có cần làm phẳng nhiều không? Muốn dùng cọc gỗ không?"
"Không cần đâu.

Chỉ cần đóng chắc mấy cọc nhỏ bên cạnh là được rồi."
Hà Điền bảo anh ngồi xuống nghỉ ngơi, rồi rót cho anh một ly trà hoa hồng: "Sao anh không mang theo bình nước?"
"Anh muốn chạy về gặp em một chút!" Anh cười đùa tí tửng.
Dịch Huyền uống trà, nhìn sắc trời rồi vội vã ra ngoài gõ cọc.
Chỉ sửa đường thôi mà đã cực như thế này rồi, cũng không biết Hà Điền sửa đường như thế nào khi chỉ có một mình.
Nghĩ đến việc ông bà của cô đã biến nơi này từ một khu rừng trở thành nhà ở, và sống một cuộc sống muôn màu muôn sắc, Dịch Huyền không khỏi ngưỡng mộ hai người lớn chưa từng gặp mặt này.
Kiểm soát một thành phố, mở rộng và thôn tính nó, để cho tất cả những người chống lại mình phải cúi đầu xưng thần, tất nhiên là điều tuyệt vời.

Nhưng đó là cuộc đấu tranh giữa người với người.

Còn biến rừng thành nhà của chính mình thì phải hợp tác, chiến đấu với trời đất, dù thành quả chỉ là một miếng đất, một ngôi nhà, để gia đình và bản thân được sống một cuộc sống ấm no, tự do thoải mái, lại là một điều không thể khinh thường..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 78: 78: Quả Óc Chó Hạt Dẻ Hồng Và Táo Gai


Không đợi thể chất của Hà Điền hoàn toàn bình phục, trận tuyết đầu tiên của năm nay đã ập đến.
Ba bốn giờ chiều, mây mù bao phủ khắp trời, Hà Điền thở ra, hơi thở liền biến thành khí trắng.

Cô kêu Dịch Huyền đặt nông cụ xuống: "Sắp có tuyết rồi.

Anh ra sông kéo thuyền lên đi, đừng để bị đóng băng, em sẽ che mành lên.

Sau đó chúng ta đi lấy một ít nước cho vào vại."
Dịch Huyền ngẩng đầu nhìn trời, vẫn không tin: "Có thể là trời chỉ sắp mưa thôi." Nhưng anh vẫn đi đến chân núi theo lời Hà Điền nói.
Lúc anh đang kéo chiếc thuyền nhỏ vào bờ thì thấy bông tuyết rơi lất phất xuống mặt sông.
Dịch Huyền lẳng lặng nhìn mặt sông, thoáng ngẩn ngơ.
Gần một năm rồi.
Tuyết rơi xuống mặt sông tạo thành những gợn sóng nhỏ, nước vẫn ào ạt trôi đi, nhưng dãy núi bên kia sông thì ảm đạm, chỉ có những cây tùng và cây bách vẫn xanh tươi, những cây còn lại đều có màu nâu hoặc đỏ sẫm, cây cỏ bên bờ cũng ngả màu vàng, trên thân lá cỏ đọng lại một ít tuyết.
Trận tuyết đầu tiên không mang theo mùa đông, nó chỉ có thể được coi như một lời chào nho nhỏ của mùa đông mà thôi.
Tuyết tích tụ trên mặt đất một hai cm, đến sáng hôm sau, các mép của dấu chân đã đóng băng cứng trên mặt đất tuyết, nhưng đến trưa, nó bắt đầu tan ra.
Ngoài nhà tuyết tan rét lạnh, mà lúc này Hà Điền lại kỵ lạnh, Dịch Huyền thấy thương cô, nửa đêm trèo xuống gác thêm củi vào bếp lò.

Trong nhà đốt củi không ngớt suốt cả ngày, rất ấm.
Vì vậy cho nên, Lúa Mì rất thông minh ở lì trong nhà không ra ngoài.
Hà Điền tranh thủ trời nắng trở lại, nhanh chóng lấy hết quần áo lông thú sẽ mặc trong mùa đông ra, đem phơi ở trong sân, giũ đập.
Ai biết được khi nào trận tuyết tiếp theo sẽ đến, và nó sẽ rơi bao nhiêu?
Nhưng không ngờ là sau trận tuyết đó, thời tiết lại tốt và ấm áp trở lại.
Dịch Huyền rất vui khi thấy khoai tây trong vườn ươm đang phát triển rất tốt: "Nếu thời tiết cứ như thế này thêm hai ba tuần nữa thì tốt rồi."
Hà Điền thở dài: "Em chỉ sợ là trời quang trước bão."
Dù không được lạc quan như Dịch Huyền, nhưng cô đã tranh thủ lúc trời quang đãng đưa Dịch Huyền đi nhặt quả óc chó và hạt dẻ.
Quả óc chó là loại quả to màu xanh, hình tròn nhỏ hơn quả táo, rất cứng, nếu không may người hoặc động vật đi ngang qua ngay lúc chúng rơi xuống, trúng vào đầu thì có thể sẽ bị choáng váng cả đầu óc luôn.

Những quả óc chó rơi xuống đất một thời gian, cũng có thể nhặt về.
Lúc này, phần thịt xanh của quả đã chuyển sang màu đen và thối, để lộ lớp vỏ hạt màu nâu nhạt bên trong.
Đây là lần đầu tiên Dịch Huyền nhìn thấy một quả óc chó, anh đưa một quả cho Gạo, nó xoay đầu đi với vẻ ghét bỏ, anh tiện tay ném đi rồi ra lệnh cho Lúa Mì nhặt về.
Lúa Mì được sinh ra để làm điều này, nó ngay lập tức hạnh phúc lao đi, mang quả óc chó về.
Dịch Huyền ngồi xổm xuống xoa đầu nó, lại khen: "Lúa Mì là một cậu bé ngoan!" Nói xong lại ném đi kêu nó đi nhặt.
Nhặt được mấy lần, hai bên miệng của Lúa Mì đã ngả sang màu nâu đen do nước từ vỏ ngoài của quả óc chó tiết ra.
Hà Điền đang bận công việc, khi ngẩng lên lần nữa thì thấy Lúa Mì đang nhoẻn miệng cười, quanh miệng đều bị nhuộm đen, cô vừa tức vừa buồn cười gọi Lúa Mì: "Lại đây!"
Lúa Mì lập tức vẫy đuôi chạy đến chỗ Hà Điền, đưa cho cô quả óc chó trong miệng, Hà Điền dạy nó nhặt bỏ vào giỏ tre, Lúa Mì ngoan ngoãn làm theo, ngặm quả óc chó dưới gốc cây rồi chạy về, đứng ở bên mép giỏ tre rồi nhả quả óc chó vào.
Điều này thật sự khiến Dịch Huyền không phục, rõ ràng là anh đối xử với Lúa Mì rất tốt, nhưng Lúa Mì lại nghe theo lệnh của Hà Điền hơn anh.
Hà Điền mím miệng khẽ cười: "Đương nhiên là bởi vì nó thông minh, biết ai mới là nốc nhà."
Dịch Huyền hừ khẽ một tiếng, không hề phản bác, trong lòng còn rất thích.
Rất nhanh đã nhặt được hai sọt quả óc chó, lại để cho Gạo chở về nhà, chôn ở trong ruộng rau, mấy ngày sau mới lấy ra, lớp vỏ dày bên ngoài sẽ thối rữa và bung ra.

Nếu còn sót cùi thì đổ quả óc chó vào một cái thùng lớn, trộn với tro và nước, ngâm vài ngày rồi đổ bỏ nước đi, hạt óc chó sẽ sạch.
Hạt óc chó đã được rửa sạch bằng máy bóc vỏ có đường kính từ ba đến bốn cm, được cho vào túi lưới đan bằng rơm, treo dưới mái hiên để phơi khô từ từ, có thể bảo quản được cực kỳ lâu.
Hạt dẻ dễ xử lý hơn quả óc chó một chút.

Hạt dẻ mọc thành từng chùm, mỗi chùm có bốn năm hạt dẻ, sau khi chín thì rụng cả cụm, vỏ ngoài có gai nứt ra để lộ nhân hạt dẻ màu nâu đỏ bên trong.
Vỏ của hạt dẻ tươi có độ bóng như sáp và rất đẹp.

Lớp vỏ này mỏng hơn nhiều so với lớp vỏ hạt óc chó nhưng không dễ tách ra, phần vỏ là một lớp vỏ màu nâu dạng sợi dính vào thịt hạt dẻ.
Hà Điền dùng chiếc rìu nhỏ cô mang theo rạch một đường chéo ở đầu vỏ hạt dẻ, cho vào khay nướng, nướng khoảng năm sáu phút, sau đó vớt ra, đổ vào nước lạnh đảo nhẹ, hạt dẻ sẽ phát ra tiếng nổ tanh tách nhỏ.

Sau khi để ráo nước thì sẽ dễ tách vỏ hơn nhiều, vỏ và thịt hạt liên kết với nhau, khi bẻ nhẹ theo vết nứt chéo sẽ tách ra làm đôi, để lộ phần thịt hạt dẻ màu vàng tươi.
Hạt dẻ sau khi phơi khô sẽ có nhiều nếp nhăn, cho vào túi vải nhỏ treo dưới mái hiên cho đến khi cứng như đá, đem cất trong hầm, có thể bảo quản được một hai năm, khi muốn ăn thì ngâm với nước qua đêm trước, sẽ lại no tròn trở lại.
Nhưng hương vị của hạt dẻ phơi khô, tẩm sấy luôn kém hơn nhiều so với hạt dẻ tươi.

Sau khi đem hạt dẻ mới nhặt về nhà, Hà Điền liền làm hạt dẻ đường, cô nấu đậu đỏ mới thu hoạch năm nay, sau đó đem hạt dẻ đã bóc vỏ luộc chín, khi hạt đậu có thể dùng tay bóp nát thì cho đường nâu vào nấu thêm một lúc nữa.
Hạt dẻ luộc ăn với đậu đỏ dẻo ngọt, bụng thấy rất ấm áp và dễ chịu.
Ngoài nấu với đậu đỏ, Hà Điền còn nấu một ít bằng nước trắng, cho vào hũ rồi cất trong hầm.
Vỏ gai của hạt dẻ cũng là một nguồn tài nguyên rất quan trọng.

Năm ngoái Hà Điền dùng nó để lát đường rất thành công, năm nay chuẩn bị thêm một ít, lúc đi săn bắn cô sẽ lấy ra rải trên đường.
Vỏ hạt dẻ cũng là một công cụ quan trọng để chẻ cỏ nhung.

Một bó cỏ nhung được cột chặt và treo trên khung gỗ, sau khi chải nhiều lần bằng bàn chải gỗ đóng đinh vào vỏ hạt dẻ thì chúng sẽ tách ra, càng chải nhiều thì cỏ càng tơi.
Thỉnh thoảng nhặt được những viên gai hạt dẻ vẫn còn xanh ngọc, Hà Điền sẽ đặt chúng vào một chiếc dĩa trên bàn cùng với vài quả hồng còn cành và lá.
Sau tuyết sương giáng lá của cây hồng đã từ từ chuyển sang màu đỏ, sau khi trận tuyết đầu tiên kết thúc, tuyết trắng kết hợp với lá đỏ, rất đẹp.
Năm nay hồng rất nhiều quả, có những quả vẫn còn xanh xanh, Hà Điền hái luôn cành và lá xuống, đem vào nhà, xếp chung một chỗ với táo.

Đêm ngủ, cô sẽ trải rơm lên bếp rồi xếp hồng lên.

Sau khi sấy vài lần, quả hồng từ từ chuyển sang màu đỏ.

Khi quả hồng đã đỏ hết, vỏ cũng mềm dần, sấy một thời gian, lớp da dày có ánh sáp sẽ trở nên dễ nứt, dùng đầu ngón tay xé ra, mỏng như một lớp màng.

Thịt quả lúc này đã trở nên mềm và bán lỏng.

Loại hồng này rất ngọt, đặc biệt chỗ gần hạt hồng ăn có cảm giác hơi dai.
Những quả hồng của nhà Hà Điền rất to, mỗi quả to bằng nắm tay nhỏ.

Đây là lần đầu tiên Dịch Huyền nhìn thấy cô ăn quả hồng mềm, không nghĩ đến thịt quả hồng lại chảy ra khắp tay như vậy, Hà Điền cười nói: "Quả này để em ăn, em lấy cho anh quả khác."

Cô đặt một quả hồng mềm vào một cái dĩa nhỏ, lấy từ trong ngăn tủ ra một ống trúc nhỏ, rút cuống quả hồng ra, cắm ống trúc vào trong quả hồng, đưa cho Dịch Huyền.
Dịch Huyền ngậm ống trúc hút nhẹ, nước của quả hồng ngọt ngào và trơn tuột trượt vào trong miệng.
Hồng giòn là những quả hồng đỏ được hái trên cây.

Những quả hồng này được cắt thành từng múi, ngoài da đôi khi còn có hơi chát, ngọt giòn.
Hà Điền cũng dạy Dịch Huyền làm hồng khô.

Gọt bỏ vỏ quả hồng đỏ, để nguyên cuống, dùng dây rơm cột thành dây rồi treo lên phơi khô.

Sau khi phơi khoảng mười ngày, bên ngoài quả hồng xuất hiện một lớp đường fructose giống như sương giá, thì có thể đem cất.
Quả hồng phơi khô hơi giống quả mơ khô, thịt quả mềm, đàn hồi.
Hồng phơi đủ nắng thì vị càng ngọt, do phần da của quả hồng đã được gọt bỏ nên không hề có một chút vị chát nào.
Gỡ từng quả từng quả xuống, cho vào hộp gỗ lót cỏ khô rồi đem cất vào hầm.
Nếu cẩn thận hơn thì khi lấy xuống, xếp các quả hồng lại thành từng cặp, mông đối diện với mông, dùng hai ngón tay cái giữ cuống hồng, tám ngón tay còn lại thì đè ở phía bên kia của cuống, ấn nhẹ, hai quả hồng về cơ bản đã có bộ dạng của một chiếc bánh tròn.
"Hồng mà mùa đông năm ngoái chúng ta ăn đều được hái từ cây này đó!" Hà Điền cười híp mắt dạy Dịch Huyền cách bóp quả hồng.

Ngón tay của anh dài nhọn, khi làm trông rất đẹp.
Hà Điền cũng để lại một vài quả hồng treo trên cây.

Những quả hồng chín nhỏ nhắn, xinh xắn như những chiếc đèn lồng đỏ bé nhỏ đáng yêu.
Dịch Huyền cho rằng những chiếc lá đỏ trên cây hồng và những quả hồng đỏ cam là những màu sắc tươi đẹp cuối cùng của mùa thu.
Nhưng khi chèo thuyền đến nhánh của con sông nhỏ ở hạ lưu và đi vào rừng cây ở đó, anh mới nhận ra rằng, quả táo gai vẫn còn đỏ au kia kìa.
Cây táo gai này rất cao, nhìn xa xa có thể thấy những quả đỏ treo trên cây, giống như một chuỗi hạt san hô.

Khi đến gần hơn, có thể thấy quả màu đỏ trên cây to bằng quả óc chó đã bóc vỏ.
Có thể là do ở hạ lưu, lại là vùng rừng trũng nên lá cây của phiến rừng này vẫn còn xanh rất nhiều.
Chỉ mất có một tiếng đi thuyền, nhưng cảm giác cứ như thể đã trải qua những hai mùa.
Dịch Huyền nhớ đến chuyến đi chợ lúc mùa xuân, khi lên đường họ đều mặc áo bông, lúc về đến hạ nguồn thì hai bên bờ hoa nở như gấm, yến vũ oanh ca, cho dù chỉ mặc một chiếc áo mỏng cũng không hề thấy lạnh.
Táo gai rất chua, Hà Điền về cơ bản chỉ đem chúng đi phơi nắng rồi dùng làm gia vị khi pha trà hoặc hầm thịt, nếu không thì ăn một hai lát khi khó tiêu, nên cô cũng không định hái nhiều.
Trước đây Dịch Huyền sống xa hoa hơn cô rất nhiều, đời sống vật chất của anh cũng phong phú đến mức Hà Điền không thể tưởng tượng nổi, nhưng - nhưng anh là một người cố chấp, nhất định phải mang được nhiều thứ tốt trở về, tốt nhất là đem về nuôi luôn.

Lúc vừa tiến vào rừng, thấy một con nai hoảng sợ bỏ chạy, anh còn muốn bắn hạ nó làm lương thực dự trữ, Hà Điền liền ấn vào cánh tay anh ngăn lại: "Thịt muối, thịt khô chúng ta còn chưa ăn hết, vậy thì cần gì phải giết nó? Trải qua mùa đông, nói không chừng sang năm nó sẽ sinh ra nai con nữa đó."
"Đó là một con nai đực."
"Không có nai đực thì nai cái lấy gì sinh nai con?"
Thời điểm đi săn vịt trời lúc mùa xuân, Hà Điền phát hiện khi nhìn thấy vịt thì Dịch Huyền sẽ ngay lập tức nổ súng.

Lúc đó, cô chỉ nghĩ rằng anh đã hình thành thói quen khi mới đến nhà cô, sợ rằng mình sẽ trở thành gánh nặng cho mình nên làm gì cũng càng cố gắng hết sức, sau này thì chăn vịt, nuôi thỏ, bắt cá hồi, nhặt trứng rùa, cô đã nhìn ra, đối với Dịch Huyền, miễn là không ảnh hưởng đến sức khỏe và an toàn của bản thân, bắt được càng nhiều con mồi thì càng tốt.
Cô cẩn thận nói với anh: "Hầm của chúng ta đã đầy thức ăn rồi, anh không thấy đã không xuống lọt nữa rồi sao? Những thức ăn này sẽ được cất giữ cho đến tận năm sau, nhưng rồi sẽ lại có những cái mới, vậy thì ai còn muốn ăn đồ ăn của năm trước nữa?"
"Chỉ hai chúng ta thì có thể ăn bao nhiêu trong một mùa đông? Cho dù không đi săn nữa thì dự trữ hiện tại cũng đã đủ cho chúng ta trải qua cả mùa đông này rồi.

Huống chi, chúng ta cũng có thể đi săn mà? Thỉnh thoảng cũng muốn ăn một ít cá tươi, thỏ, gà rừng này nọ mà đúng không?"
Dịch Huyền như có điều suy nghĩ.
Hà Điền giang hai tay ra vẽ một vòng tròn: "Trong bán kính một trăm km quanh đây chỉ có nhà chúng ta mà thôi, còn nhà họ Phổ thì có một bãi săn khác của họ.

Từ lúc đầu xuân đến giờ chẳng phải chúng ta cũng chưa từng gặp lại bọn họ nữa đó sao?"
"Đúng thật là vậy." Dịch Huyền nghĩ đến hai anh em nhà kia, may mắn là không để cho anh gặp lại họ.
"Cho nên, tất cả những thứ ở đây, cỏ dại, tôm cá, vịt trời, ngỗng, gà gô, con hoẵng, heo rừng và nai, cũng như hoa quả trên cây, gỗ trên khắp mặt đất, đều là do ông trời ban cho chúng ta.

Chúng ta chỉ cần thu hoạch số lượng đủ dùng là được, tại sao phải vội vàng sử dụng tất cả mọi thứ cùng một lúc?"
Dịch Huyền cười, ôm Hà Điền đang mang vẻ mặt nghiêm túc nhấc lên cao: "Anh biết rồi! Em cũng là của ông trời ban cho anh!"
Hà Điền kéo lỗ tai của anh: "Đáng ghét! Bỏ em xuống! Em không phải Lúa Mì!"
Lúa Mì vốn dĩ đang yên phận làm một con "cẩu độc thân" ngồi ở một bên, nhưng khi nghe thấy Hà Điền gọi tên nó, nó liền bật dậy sủa gâu gâu.
Dịch Huyền đặt Hà Điền xuống đất, sau đó xoa đầu cô rối tung lên, cười toe toét: "Anh hiểu rồi.

Nhưng chúng ta hái thêm táo gai đi.

Em đã nghe nói đến táo gai ngào đường chưa?"
"Hử?"
"Nó ngon lắm." Dịch Huyền nói một cách nghiêm túc: "Cũng chưa ăn thử mứt táo gai bao giờ à?"
Vì vậy, cuối cùng bọn họ đã hái thêm một sọt táo gai..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 79: 79: Phiên Chợ Mùa Thu


Phiên chợ mùa thu cũng giống như phiên chợ mùa xuân, vào một ngày nắng đẹp, sáng sớm có vài tiếng nổ lớn, pháo sáng đỏ rực trên vùng đồng bằng, người dân miền núi gần đó, thợ săn và nông dân, nếu ai còn dư một chút đồ thì cầm theo, chạy ra bãi sông để trao đổi.
Hà Điền nhớ năm ngoái nhìn thấy □□, nhưng cô không có gì để đổi nên đành ở nhà sửa chữa đường ra bờ sông, nhìn lại năm nay thu hoạch dồi dào, không chỉ có thịt cá mà còn có chó, và thêm một anh trai đẹp nữa!
Tâm trạng lúc này, phải nói là hăng hái vô cùng.
Dịch Huyền nghe lời thuyết phục của Hà Điền, kiểm tra hàng tồn ở trong kho.

Anh lấy hai mươi miếng cá hồi hun khói, một số gà, vịt, ngan và mấy miếng thịt heo xông khói lớn ra, chuẩn bị đem đi đổi.
Hà Điền cũng định mang theo một túi kê và một túi táo đỏ, nói không chừng cũng có người thích hạt kê thì sao? Nếu nhà ai mà vừa mới sinh con, món cháo kê táo đỏ là món ăn rất tốt cho bà bầu.
Sau đó lại mang thêm một số trái cây khô, hồng khô cũng mang theo một hộp, táo tươi thì một túi.

Ngoài hai thùng lớn trong hầm, ở trong nhà cũng có rất nhiều, tuy táo tươi dễ bảo quản, nhưng hai người cũng không thể mỗi ngày ăn ba bốn quả được, nhân lúc táo còn chưa bị khô, nhăn nheo, một số còn mang theo lá, đỏ tươi thơm phức, đem đến chợ đổi lấy một thứ khác.
Ngoài ra còn có nồi, bình, chén dĩa nung.
Năm nay là năm đầu tiên Hà Điền tự mình mở lò nung, không biết tỷ lệ thành công là bao nhiêu.

Dịch Huyền thì là lần đầu tiên học cách làm gốm nên rất hào hứng, vì vậy hai người làm rất nhiều đồ, đặc biệt là chén dĩa, ly, hộp làm bằng khuôn.
Những món đồ dễ vỡ này đều được cột lại bằng dây rơm và để trong hai chiếc sọt tre.
Hàng hóa cần đổi đã được đóng gói, Hà Điền mang thêm một ít da thỏ và cây lanh đã thu hoạch được.
Số hạt lanh lấy từ chỗ của Tam Tam về đã bị cô lấy làm đồ ăn hết một nữa, nửa còn lại thì đem rắc trên khoản đất rộng hai mét vuông, cô không chăm sóc gì nhiều, nhưng nó thật sự phát triển khá tốt, có lẽ vì lanh là một loại cỏ dại mà đất đai của nhà Hà Điền thì lại màu mỡ, còn có hệ thống tưới tiêu tự động.
Bây giờ tất cả đã trưởng thành, được thu hoạch, phơi khô, giữ lại hạt giống, còn lại thì được cột thành từng bó, khi Gạo giặt quần áo thì rải xung quanh máy giặt để Gạo có thể giẫm lên.
Cây lanh sau khi bị Gạo giẫm lên xẹp đi rất nhiều, khi cho lên thuyền cũng không tốn diện tích.
Hà Điền và Dịch Huyền mang Lúa Mì và một chiếc thuyền chở đầy hàng hóa xuôi dòng, đến chợ trên bãi sông thì cũng đã gần trưa.
Điều khiến Dịch Huyền khó hiểu là lá cây ở đây vẫn còn xanh, nhưng tại sao lau sậy trên bãi sông lại khô héo và úa vàng?
Hà Điền giải thích rằng cây cối càng gần bờ sông thì càng có thể cảm nhận được những thay đổi của thời tiết sớm hơn.
Những cây sậy vàng úa, héo tàn cũng được người dân chặt bỏ, bó thành từng bó và chất thành đống hình chiếc nón.

Bây giờ nó đã trở thành màu vàng xám.
Nơi mọi người buôn bán là vòng tròn lớn có những bó sậy hình nón bao quanh, mọi người chặt cây sậy gần đó chất thành đống, đem hàng hóa cần trao đổi đặt ở trên.
Hà Điền nhìn thấy Tam Tam và anh trai của cô ấy từ xa.
Họ lập một sạp hàng và đang bán quần áo vải bông.
Xung quanh có rất nhiều người, Tam Tam thì đang lớn tiếng hô lên: "Các dì các chị, đến xem thử đi.

Quần áo đệm bông năm nay mới đẹp và ấm lắm.

Giá cả cũng phải chăng! Người lớn, trẻ em đều có, phong cách nam nữ đủ cả."
Hà Điền và Dịch Huyền kéo thuyền vào bờ, để Lúa Mì ngồi ở trên thuyền canh đồ gốm, hai người bọn họ xách túi lớn túi nhỏ đi qua đó trước, tìm một khoảng trống, đặt đồ đạc xuống rồi chặt một ít lau sậy làm sạp hàng.
Lúc này lau sậy đã rất khô, họ cầm liềm chặt gốc, chặt khoảng chục cây thì dùng lá sậy bó lại, đặt xuống đất, cột vài cọng lá, dùng liềm cắt những bó sậy thành đoạn, đặt dưới đất rồi xếp liền kề nhau, để hơn chục ký đồ lên cũng không thành vấn đề.
Những bó sậy còn lại thì được đặt theo chiều ngang, cột siết hơn, có thể ngồi lên.
Có Hà Điền hướng dẫn cộng thêm kỹ năng dùng dao của Dịch Huyền, cả hai đã nhanh chóng làm xong sạp hàng, đầu tiên đặt thịt gà, vịt và cá lên, sau đó đặt quả khô và kê ở hai bên.
Dịch Huyền để Hà Điền bày hàng, còn anh thì đi mang đồ gốm còn lại đến.
Còn chưa đến bờ sông, anh đã nghe thấy tiếng Lúa Mì sủa, và khi nhìn qua, anh thấy hai anh em nhà họ Phổ đang đứng bên thuyền với một con chó lớn bên cạnh, không biết đang muốn làm gì.
Dịch Huyền bước nhanh qua đó: "Này—"
Hai anh em kia nhìn thấy anh thì hồn xiêu phách lạc, lập tức muốn chạy, Dịch Huyền cười lạnh một tiếng: "Đứng lại."
Hai người bọn họ run rẩy, trong lòng cực sợ Dịch Huyền, nhưng mà bọn họ đang đứng bên bờ thì biết chạy đường nào? Chẳng lẽ nhảy xuống sông?
"Hai anh muốn làm gì?"
"Tôi...!tôi thấy không có ai trông đồ đạc trên thuyền, nên mới đến trông giúp." Phổ anh nói.
Dịch Huyền phớt lờ họ, xách đồ gốm lên rồi mang Lúa Mì đi.
Hai anh em nhà họ Phổ đợi anh đi xa, được đại xá thì nhanh chóng tìm đến một nơi thật xa dựng sạp hàng.
Hà Điền và Dịch Huyền dựng sạp hàng không bao lâu thì đã có người lần lượt đến đổi đồ.
Đầu tiên đến là một người đàn ông lớn con, đổi một túi hạt bắp lấy số hạt kê tương đương: "Vợ tôi vừa mới sinh, thật đúng lúc."
Hà Điền lấy một nắm táo tàu đưa cho anh ta: "Chúc mừng anh!"
Dịch Huyền vui vẻ hỏi người nọ: "Là trai hay gái?"
"Là một bé gái mập mạp!" Người đàn ông cười không khép được miệng, tiện tay ném táo tàu vào trong túi kê, hỏi: "Anh bạn, quả này ăn như thế nào?"
Dịch Huyền thầm nghĩ, thì ra anh ta không biết nó là táo tàu.

Vì vậy anh bắt đầu phổ cập kiến thức: "Táo tàu có thể bổ máu, dưỡng khí, nấu chung với cháo kê là bổ dưỡng nhất, rất thích hợp cho sản phụ.

Người già táo bón ăn xong cũng có thể nhuận tràng.

Anh đem nấu cùng với trà gừng, mùa đông cả nhà mỗi người uống một ly, ấm người lắm."
Hà Điền đưa cho anh ta thêm vài quả: "Anh ăn thử đi.

Rất ngọt."

Người đàn ông ăn một quả: "Ồ, cũng được đó!" Anh ta lấy từ phía sau ra một cái túi da lớn hơn một bàn tay đưa cho Dịch Huyền: "Anh bạn, nếm thử loại rượu này đi, nếu thích, tôi sẽ dùng nó đổi lấy một ít táo."
Dịch Huyền mở nút chai ra, ngửi thấy một mùi thơm nồng của rượu.

Có thể thấy đây là một loại rượu có độ tinh khiết cao.
Anh và Hà Điền nhìn nhau, lập tức ăn ý.
Hà Điền mỉm cười đem túi táo tàu đổ vào túi kê: "Chúng tôi đổi."
"Cô gái này thật rốp rẻng." Người đàn ông lớn con dùng rượu và túi rượu để đổi lấy một túi quả ngọt chưa từng nhìn thấy qua cũng rất vui mừng, quả này tuy có thể không tốt như lời hai người này nói, nhưng nhìn rất ngon, lại còn rất ngọt, ăn cũng được lắm.
Hà Điền cảm thấy mình chiếm tiện nghi của người ta nên có hơi ngại.
Làm một cái túi rượu không dễ đâu, để đổ đầy một túi rượu thì cần phải tốn biết bao nhiêu là lương thực? Cây táo của họ không cần chăm sóc, cùng lắm thì chỉ bón phân dưới gốc cây mà thôi.
Vì vậy, cô lấy thêm một miếng thịt heo rừng nữa đưa cho người đàn ông, người đàn ông cũng không kỳ kèo, cầm lấy rồi đi.
Kê và táo tàu đỏ đã hết, những người khác lại tiếp tục đổi cá, thịt heo rừng và các loại hàng hóa khác.
Không ngờ, chén và bình gốm lại được ưa chuộng hơn họ tưởng, có rất nhiều người dân trong làng đến đổi.
Có người dùng hai mét vải bông nhà mình đổi bốn cái chén, hai cái dĩa lớn, có người dùng một túi gạo đổi lấy vài cái chén, dĩa, tách trà và một hộp gốm nhỏ hình chữ nhật.

Còn có người đem một cái bếp nhỏ làm từ hộp sắt đổi lấy một ấm trà và bốn cái tách.
Có nhiều người đứng trước sạp hàng, và sự nổi tiếng càng lúc càng tăng, thu hút thêm càng nhiều người đến, chẳng mấy chốc đồ gốm cũng gần được đổi hết.
Đây là lần thứ hai Dịch Huyền tham gia loại thị trường mặc cả này, đợt chợ xuân, bởi vì hầu hết mọi người đều bán lông chồn nên buôn bán vẫn có thể dùng đến tiền, nhưng lần này, không ai có một xu để đổi lấy.

Đồ dùng để đổi đều là những hàng hóa kỳ lạ hiếm có, không biết phải định giá thế nào, tất cả đều do Hà Điền quyết định.
Còn Hà Điền, cô cảm thấy người ta sẽ không hơi đâu mà lừa gạt họ, chỉ cần không phải những thứ đã có trong nhà hoặc là không cần thiết, cô đều sẽ đồng ý đổi tất cả những thứ không có trên quầy hàng.
Sau một lúc, hàng hóa mà họ mang đến càng ít dần đi, táo, hồng khô, hoa quả khô, gà vịt, cá đều hết sạch.
Nhưng hàng hóa trên sạp lại không hề giảm, một bộ sáu cái tách nhỏ bằng inox, một chiếc hộp vuông bằng đồng, vài mảnh vải bông, trong đó có một số do chính tay cô dệt, một số là mua hồi lúc xuân không dùng hết, còn có một ít da gấu mèo và da sói, da dê, một ít nhân sâm khô (chất lượng không tốt), một ít đường trắng và một túi muối.
Có một cô bé đợi cho đến khi đám đông giải tán, cầm nắm lông chim trĩ vàng đến, ngại ngùng hỏi cô có thể đổi lấy một chiếc ly gốm không, và họ cũng đổi cho cô bé luôn.

Miệng của chiếc ly này hơi vểnh, không ai muốn đổi cả, Hà Điền lại đưa thêm cho cô bé một chiếc lược gốm nhỏ.
Hà Điền nói với Dịch Huyền: "Sau khi đổi xong thì ngồi đợi thêm một một lúc nữa.

Có thể sẽ lại có người đến đổi thứ gì đó."
Lần trao đổi này thì còn cần phải phụ thuộc vào việc món đồ đó có hữu dụng với họ hay không.
Dịch Huyền im lặng quan sát, đếm số lượt người đến và đi, đại khái thấy được người đến chỗ của họ đều là người dân miền núi và những người từ các làng và thị trấn lân cận, cũng chừng khoảng hơn ba trăm người.

Người đến người đi, đổi qua đổi lại, có vật đổi chủ vài lần, cuối cùng ai cũng đổi được thứ mà mình hài lòng.
Khi Hà Điền rảnh rỗi, cô nhìn lướt qua sạp hàng của Tam Tam, hầu hết mọi người đều dùng thịt và ngũ cốc để đổi lấy quần áo bông, rất nhiều thịt cá và thịt heo rừng của họ sau khi bị qua tay vài lần, cuối cùng được chuyển cho cô ấy.
Tam Tam cũng đã nhìn thấy Hà Điền và Dịch Huyền từ lâu.
Hai người họ ai cũng đẹp, cho dù có ngồi yên một chỗ cũng rất dễ gây chú ý, huống chi bọn họ còn là hộ duy nhất đổi đồ gốm ở chợ.
Quần áo bông của cô ấy cũng đã bán gần hết, ở từ xa đã vẫy tay với họ, mỉm cười chào.
Hà Điền cầm bó lanh cùng một ít da thỏ qua đó, hàn huyên đôi câu trước rồi đưa bó lanh cho cô ấy: "Cô còn thu cây lanh không?"
Tam Tam nở nụ cười: "Lúc nào cũng nhận hết."
Cô ấy cho Hà Điền xem tấm vải mới dệt của mình, loại vải này cũng đã được rất nhiều người dùng để đổi đồ, có người đã lấy nó để đổi đồ với Hà Điền.
"Vải bông kết hợp với lanh, bền hơn chất liệu bông nhiều." Tam Tam nói về tơ và lanh: "Tôi đã thử dệt tơ vài lần và đã dệt ra một tấm vải, ước chừng có thể may được một chiếc váy mùa hè, đúng thật là vừa mỏng vừa mượt.

Tôi đem gửi bán ở chỗ chị Hoàng, tháng trước bán được rồi!"
Cô ấy viết một con số lên tay Hà Điền: "Tôi sẽ đưa tiền cho cô.

Chị Hoàng có tính phí ký gửi.

Cô bán trứng cá muối cho chị ấy nên chắc là cũng biết."
Hà Điền gật đầu, khá hài lòng với con số này.
Tam Tam lại nói: "Tôi nghĩ, nếu sang năm có thêm nhiều tơ hơn thì tôi sẽ thử dệt một ít vải pha tơ và bông, rồi cả một ít tơ và lanh, trực tiếp làm quần áo len luôn."
Có vẻ như Tam Tam rất xem trọng cái nghề dệt may này của mình.
Hà Điền đưa cho cô ấy vài tấm da thỏ: "Năm nay tôi nuôi thỏ, nếu những tấm da thỏ này bị chuột cắn thì thật đáng tiếc.

Tuy rằng không đáng tiền, nhưng mà tay cô khéo như vậy, đồ bình thường trong tay tôi, qua tay cô lại có thể biến thành đồ tốt, tôi tặng cho cô này, cô cầm lấy rồi xem muốn làm gì thì làm!"
Lúc xuân, Hà Điền đã nhìn thấy Tam Tam mặc một chiếc áo lông thỏ, cô đoán trong nhà cô ấy chắc là không có ai đi săn.
Nhưng mà Tam Tam khéo tay, áo lông thỏ cũng làm đẹp hơn so với người khác.
Hôm nay cô ấy và anh mình mặc áo bông của nhà làm coi như là quảng cáo trực tiếp, cổ áo bông được gắn một lớp lông tơ, là lông thỏ.
Lông thỏ tuy không đáng giá nhưng Tam Tam phối màu rất tốt, quần áo may sẵn trông rất đẹp và ấm áp.

Trong số khách hàng ở đây, có ai mà lại đi chê quần áo lông thỏ không đẹp?!
Tam Tam rất vui, v**t v* mấy tấm da thỏ mềm mại: "Bộ lông thỏ này thật dày, da thuộc cũng tốt.

Đối với cô, có lẽ vì không dùng đến, mà bỏ thì tiếc nên mới đưa cho tôi, nhưng với tôi, nó là thứ tốt.

Nhà tôi chỉ có anh trai và tôi.

Anh tôi tuy có thể làm ruộng và đi săn, nhưng kể từ sau khi ba mẹ mất đi anh ấy không còn lên núi nữa.

Anh ấy nói, nếu anh ấy xảy ra chuyện gì, vậy thì ai sẽ chăm sóc cho tôi?"
Tam Tam nhìn Dịch Huyền đang ngồi ở đằng xa, rồi nhìn Hà Điền: "Tôi biết ngày hôm đó cô có chút không vui.

Nhưng cô nhìn người đàn ông của cô đi, người gì mà như châu như ngọc, ai nhìn thấy mà không ngó thêm mấy lần?"
Hà Điền nghe Tam Tam nói Dịch Huyền như châu như ngọc, trong lòng rất vui, không so đo với cô ấy chuyện đó nữa.
Tam Tam nắm lấy tay cô, lại nhỏ nhẹ nói: "Mặc dù anh tôi không thể đi săn, nhưng chúng tôi cũng không ngu ngốc.

Tôi đã dùng tiền bán vải mua một cặp dê trắng.

Hiện tại dê cái đang mang thai, đến đầu xuân dê sinh con rồi, cô đến nhà tìm tôi, tôi cho cô sữa dê.

Có dê con rồi, tôi cũng không lo sau này không có da làm quần áo nữa."
Hà Điền quay về kể lại với Dịch Huyền.

Dịch Huyền rất kỳ vọng: "Nếu chúng ta cũng có thể mua một cặp dê thì tốt quá! Phô mai sữa dê ăn ngon lắm."
Chờ Dịch Huyền nói xong về các loại và lý thuyết về phô mai sữa dê với Hà Điền thì cũng đã hơn hai giờ chiều, những người trên núi ở xa lần lượt ra về.
Hà Điền và Dịch Huyền cũng chuẩn bị về nhà.

Gà, vịt, cá, đồ gốm, hoa quả khô và tươi mà họ mang theo giờ đã được thay thế bằng một vài cuộn vải bông, một tấm vải dầu và một vài tấm da sói dày, da lửng, da chồn, rồi nhiều loại thực phẩm khác mà họ không trồng được, như hạt bắp và bột bắp, đậu phộng, hạt mè đen và trắng, đậu đen, gạo nếp cẩm, kiều mạch, một gói trà lúa mạch nhỏ, một hộp đường mạch nha, rồi cả các loại rau và đậu khô, ngoài ra còn có các loại kim chỉ linh tinh này nọ.

Khi họ quay về, lượng hàng ít hơn nhiều nhưng chủng loại thì lại phong phú hơn trước.
Hà Điền đặc biệt thích cái bếp nhỏ làm bằng sắt kia: "Cái này vừa nhẹ vừa dễ mang theo, lúc đi ra ngoài cấm trại thì có thể trực tiếp nhét củi, cỏ khô vào rồi đốt lên, so với dựng bếp bằng gạch đá và dập lửa thì dễ dàng hơn nhiều."
Cô cũng đổi bốn miếng thịt cá và mười quả táo để lấy mười củ khoai lang.

Chỉ là, những củ khoai lang này khác với những củ khoai lang to trong nhà, thịt củ có màu tím.
Hà Điền rất vui, cô lựa vài củ to và đầy đặn ra, dự định sẽ để làm giống, sang năm cô cũng sẽ trồng khoai lang tím.
Lúc này đã năm giờ chiều, trời nhá nhem tối, cả hai chèo thuyền ngược dòng, Hà Điền cắm cọc tre hai bên mạn thuyền, treo đèn dầu lên.
Cho dù đã treo hai ngọn đèn thì tất cả những gì mà họ có thể thấy được cũng chỉ trong phạm vi hai mét tính từ tâm thuyền mà thôi.
Khi đến, nước sông trong như pha lê, lúc này dường như đã chuyển sang màu đen, cây cỏ hai bên sông cũng biến thành bóng đen khi lướt qua.
Nhưng bầu trời thì lại trong trẻo và đầy sao.
Rốt cuộc cũng về đến nhà, Hà Điền lấy đồng hồ ra nhìn, đã gần mười giờ.
Xách hàng hóa về nhà, kéo thuyền vào bờ, cho Gạo, vịt và thỏ ăn, dọn dẹp chuồng, công việc xong xuôi thì cũng đã gần nửa đêm.
Đêm đã về khuya.
Trong căn nhà nhỏ, lửa cháy đều đều, trên bếp đun một nồi nước nhỏ, Hà Điền thả hai cuộn mì vào nồi, đang chuẩn bị chiên một miếng cá để ăn kèm thì Dịch Huyền kích động chạy đến, đưa tay ra, trên tay đang cầm một thứ gì đó: "Vịt đẻ trứng rồi!".
 
Back
Top Bottom