Điền Văn Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 120: Gà xé trộn tàu hủ ky


Đảo mắt lại qua một tuần, cuối cùng thì Hà Điền và Dịch Huyền cũng hoàn thành cửa sổ kính ưng ý đầu tiên của họ.

Họ gắn cửa sổ kính này vào khung cửa sổ được tu sửa lại từ cửa của nhà gỗ cũ.

Cánh cửa che mưa che nắng bao nhiêu năm cũng không bị Hà Điền vứt bỏ hay làm thành đồ đạc khác này sau khi dỡ bỏ được xẻ thành hai tấm ván vuông vắn, khung cửa nguyên bản được gắn thêm ô gỗ, tường thì vẫn ốp ván gỗ tiêu chuẩn. Cách làm là bọc nó lại, lấp đầy nó bằng vật liệu cách nhiệt, đóng đinh tấm cửa ban đầu vào tường, và cuối cùng lắp đặt khung cửa sổ và cửa sổ kính. Bằng cách này, bất kể là nhìn từ bên trong hay bên ngoài ngôi nhà, nó trông giống như một cánh cửa nửa gỗ nửa kính.

Sau khi cánh cửa nguyên bản biến thành cửa sổ, Hà Điền nhìn cửa sổ hồi lâu, trong lòng cảm xúc lẫn lộn.

Các tủ và kệ trước đây cũng được dỡ bỏ.

Những chiếc tủ này đã bị hư hại nghiêm trọng khi bị bọn cướp tấn công hồi năm ngoái, không cửa nào là không có lỗ đạn, có cái còn bị biến thành tổ ong bắp cày và chỉ có thể dùng làm củi đốt, thậm chí cả cái bếp bằng đất nung cũng bị vỡ vài chỗ, chỉ có thể dùng bùn trám lại.

Hà Điền và Dịch Huyền tháo dỡ tủ chén cũ xuống, trong đó có hai cái cửa còn nguyên vẹn nên họ giữ lại, sau đó làm lại cửa tủ mới, đánh bóng mặt bàn của bàn ăn cũ.

Sau đó, họ lần lượt lắp hai chiếc tủ dưới cửa sổ và cố định mặt bàn đã được làm mới lên trên, làm thành chỗ ăn uống. Họ có thể vừa ăn vừa ngắm nhìn khung cảnh bên ngoài cửa sổ, nếu như chế biến những món ăn phức tạp, vậy thì một người ngồi ở đây xử lý nguyên liệu, còn người kia thì đứng trước bếp lửa nấu ăn.

Tủ mới, bàn bếp đặc chế và chậu rửa bằng đá mài cũng được lắp đặt.

Họ lắp tủ mới vào hai bên bếp vốn có, sau đó lát mặt bàn bằng đá mài nhẵn sáng bóng. Chậu rửa lắp ở bên phải bếp, tủ bên dưới để trống, bên trong không có vách ngăn. Sau khi cửa được mở ra thì có một tấm kéo nhỏ có bánh xe bằng gỗ, trên đó có một khung gỗ hình tròn, bên trong đặt một cái chậu để tiếp nước thải.

Dịch Huyền cũng từng nghĩ đến việc cạy sàn nhà gỗ lên và lắp một đường ống dẫn nước bằng bê tông vào bên trong, có thể dẫn nước thải trực tiếp ra khỏi nhà, nhưng sau nhiều lần thử nghiệm, anh đã bỏ cuộc. Phương pháp này chỉ dùng được khi trời ấm, sau mùa đông đường ống dễ đóng băng và nứt vỡ, nếu làm đường ống to hơn thì có thể tránh được vấn đề này, nhưng phải nâng nền nhà và đào sâu trước khi lát.

Hơn nữa, nước thải sẽ chảy đi đâu vào mùa đông? Không phải cũng sẽ đóng thành băng sao? Vậy băng tích tụ có phải còn phải xử lý nữa không?

Có quá nhiều vấn đề có thể xảy ra, họ chỉ có thể từ từ khám phá và thử nghiệm.

Nhưng cả Dịch Huyền và Hà Điền đều tin rằng những ngày tháng thoải mái sau này đều đang từng bước từng bước đến gần. Không sao cả, từ từ sẽ đến.

Năm nay không có đường ống xử lý nước thải, không có nghĩa là năm sau vẫn không có.

Hai chiếc tủ cạnh hai bên bếp cũng trống trơn, mở cửa ra sẽ thấy một tấm kéo ròng rọc, trên đó là một vại nước, trên cửa tủ có một cái móc nhỏ treo hồ lô để múc nước. Mùa đông đến, vại nước đặt cạnh bếp lửa sẽ hấp thụ nhiệt thải, nhiệt độ nước trong vại sẽ không quá thấp, độ ấm nhất định cũng có thể bảo đảm nguồn nhiệt cho ngôi nhà.

Cầu thang lên gác trước đây được cố định trên bức tường nơi đặt bếp nấu, nhưng bây giờ chúng đã được cố định trên bức tường hướng ra cửa sổ. Ở vị trí ban đầu của chiếc thang, bọn họ cưa ra một cái cửa nhỏ, cánh cửa này sẽ dẫn vào kho củi chưa xây, để mùa đông thuận tiện lấy củi.

Cánh cửa này cưa không quá lớn, khe cửa và ba mặt của cửa đều được phủ một lớp lông sóc phế thải, mặt lông hướng ra ngoài, làm vậy thì gió lạnh từ trong kho củi muốn tràn vào nhà bếp cũng khó.

Gác vốn được dùng làm chỗ ngủ tạm thời cũng không có thay đổi gì, nhưng sách vở, gia vị, quần áo, chăn mền, vải,… đặt trên đó đều đã được mang đi, chuyển vào tủ cất giữ của nhà mới.

Bàn ăn duy nhất với nhiều công năng cuối cùng cũng khôi phục lại công năng ban đầu, đặt ở giữa phòng bếp mới, trên bàn có một cái bình bê tông bazan lớn do Hà Điền làm, bên trong là một bó hoa dại và mặt bàn được phủ bằng một tấm khăn trải bàn bằng ren do bà Hà Điền dệt bằng sợi bông trắng.

Hà Điền sờ lên tấm vải ren, xúc động nói: “Cứ đến mùa đông là bà em sẽ trải một lớp khăn trải bàn màu đỏ lên bàn, sau đó phủ cái này lên, trông rất đẹp.”

Dịch Huyền lặng lẽ ôm và hôn lê.n đỉnh đầu cô.

Trên bức tường nơi cửa ra vào thông với nhà mới, Dịch Huyền và Hà Điền đặt hai chiếc tủ cao giống hệt nhau, nửa dưới là cửa tủ và nửa trên là kệ gỗ. Một số nguyên liệu, gia vị, đồ dùng nhà bếp, chén dĩa và khăn trải bàn không thường dùng đều được đặt bên dưới. Còn trên kệ là tất cả những đồ vật yêu thích của họ, chẳng hạn như dĩa gốm, lọ hoa, lư hương nhỏ và lẵng hoa nhỏ bằng dải tre, có cả một mảnh thủy tinh núi lửa lớn mà Dịch Huyền mang từ dưới núi lửa về, anh nghĩ rằng việc nhặt các hòn đá có hình thù kỳ lạ và rễ cây lũa trông rất hay. Có cả một đống dĩa kim loại bạc cũ xì mà cô đã trao đổi được khi theo ông bà mình đến chợ, hộp bánh quy bằng sắt có hoa văn, và một bộ động vật rừng và nấm nhỏ được tạc từ xương tuần lộc mà Hà Điền dùng làm đồ chơi khi còn nhỏ…

Đủ thứ linh tinh.

Hà Điền rất tin tưởng gu thẩm mỹ của Dịch Huyền, lần này anh cũng không làm cô thất vọng. Với một mớ đồ lộn xộn như vậy, giao cho Dịch Huyền bài trí, trông cũng khá đẹp.

Hà Điền khen ngợi anh, anh vẫn rất khiêm tốn mà nói: “Chủ yếu là do gỗ tủ tốt, tay nghề người làm cũng giỏi.”

Cái tủ này không phải do anh làm sao?

Nhà cũ đã thế này, nhà mới cũng có thể tưởng tượng được.

Sau khi tạo được cửa sổ ưng ý đầu tiên, mọi thứ sau đó đều rất dễ dàng.

Lấp hai cửa sổ cho nhà mới xong, Dịch Huyền và Hà Điền vui tươi hớn hở dọn vào.

Vì có hệ thống sưởi dưới sàn, mùa đông ngủ ở trên sàn là ấm nhất nên chiều cao của đồ đạc ở đây tương đối thấp.

Dịch Huyền và Hà Điền đã làm rất nhiều tủ thấp với 3 ngăn kéo, vì không có thanh sắt làm tay cầm nên tay nắm của những ngăn tủ này đều được thiết kế chìm, một số tủ được làm trực tiếp thành hai cánh cửa trượt với ba ngăn kệ bên trong. Trên đó đặt những chiếc giỏ nhỏ bằng mây, tre, nứa, rơm có kích thước thích hợp, một bên giỏ có tay cầm bằng dây. Khi kéo ra, nó không khác gì một ngăn kéo. Vải, da, kim, chỉ, vv đều có thể bỏ vào.

Ngoài ra, Dịch Huyền còn làm mấy cái giá sách, xếp cạnh nhau dọc theo bức tường phía Đông, và dưới cửa sổ ở góc phía Đông Nam, có một chiếc ghế bành chân thấp đặc chế, bên trên là hai cái đệm dựa nhét đầy lông vũ, phía trước ghế còn có một ghế đôn nhỏ, cũng lót đệm lông vũ.

Vỏ của những chiếc đệm lông vũ này là một loại vải nhung mà anh đặc biệt mua ở chợ hồi mùa xuân, màu xanh ngọc lam và xanh lục, khi vuốt sẽ đổi màu, rất đẹp.

Lúc Dịch Huyền lật tấm vải ra và yêu cầu Hà Điền làm đệm cho mình, Hà Điền há hốc miệng và nhìn chằm chằm anh năm sáu giây.

“Phá của quá đi… loại vải này người ta mua để may quần áo mặc ngày Tết, anh định dùng làm gì? Nói lại lần nữa xem.”

“Đệm và đệm dựa! Cả rèm cửa nữa!”

Dịch Huyền vẫn dứt khoát cố chấp.

Anh có lý lẽ của mình: “Vải này có đẹp không, em nói đi! Đẹp đúng không. Em làm thành quần áo, chỉ có lúc mặt vào mới có thể thưởng thức được vẻ đẹp nó, chứ bình thường cũng cất nó vào tủ. Ai mà thấy được? Còn làm rèm đệm thì ngày nào cũng thấy, không chỉ mình em mà mọi người ai ai cũng thấy, cũng chiêm ngưỡng không phải sao?”

Hà Điền chỉ có thể bị những lời ngụy biện này thuyết phục.

Chiếc đệm mà Dịch Huyền muốn không dễ làm lắm, anh nói cả buổi, nào là nếp gấp, nào là hình thoi, trong đầu Hà Điền chỉ có thể tưởng tượng ra một cái bánh bao vải nhung.

Cuối cùng, anh phải vẽ ra giấy: “Em thấy không, là như vậy đó. Làm vậy thì lông vũ trong đó không bị dồn cục, khi ngồi tựa vào sẽ luôn mềm và êm.”

Hà Điền cầm lên xem, cân nhắc một chút, lúc làm thì có Dịch Huyền ở một bên hướng dẫn, cuối cùng thật sự làm ra một chiếc đệm ghế dựa và đệm ghế lót chân hình thoi giống như mẫu. Đệm lông vũ sau khi may xong còn phải dùng mấy miếng gỗ vụn làm thành nút, dùng vải nhung bọc lại, khâu ở điểm giao nhau của các đường lưới hình thoi.

Cuối cùng, theo yêu cầu đặc biệt của Dịch Huyền, những chiếc tua được làm bằng những sợi chỉ mảnh có màu sắc tương tự và khâu ở bốn góc của tấm đệm.

“Chậc chậc, rất là quý phụ phu nhân luôn!” Mỗi lần nhìn thấy chiếc ghế và đệm để chân này, trong lòng Hà Điền không khỏi nghĩ như vậy.

Có điều, đệm lông vũ làm theo cách này quả thật rất thoải mái, vải nhung rất dày dặn, ít có tình trạng lông bay ra ngoài đệm.

Đệm làm xong, Dịch Huyền đã được như nguyện ngồi trên đó, vỗ nhẹ vào đầu gối mình: “Lại đây!”

Hà Điền quay đầu lại thì mới nhận ra là cô đang tự mình đa tình, cứ tưởng anh đang gọi mình, không ngờ lại thấy Lúa Mì nhảy lên đùi Dịch Huyền, quay một vòng rồi thoải mái ngồi xuống.

Bây giờ Lúa Mì đã là một con chó trưởng thành, một con chó săn trưởng thành như nó thể trọng dao động từ 25 đến 30 kg. Khi nó đi lại trên đôi chân của con người, chẳng khác nào que tre chọc vào thịt cả, nào dễ chịu gì, vừa thốn vừa đau.

Dịch Huyền bị Lúa Mì giẫm, la toáng lên, người và chó cùng kêu gào.

Chiếc ghế bành với đệm nhung xanh ngọc này bị Dịch Huyền coi như là ngai vàng. Tuyên bố rằng ngồi trên đó cảm giác cứ như mình là vua vậy.

Có ghế vua thì tất nhiên phải có ghế hoàng hậu. Chiếc ghế bành kia anh làm cũng có chiều cao bằng chiếc ghế này, thấp hơn một chút, lưng ghế làm thành hình trái tim, trên trái tim được làm một chiếc vương miện nhỏ, trông rất nữ tính.

Phần đệm của chiếc ghế này cũng được làm thành hình trái tim theo yêu cầu của anh.

Hai chiếc ghế quan trọng nhất đã làm xong, đã đến lúc làm rèm.

Hà Điền rất tiếc số vải này, cô ngồi xuống đất với Dịch Huyền, chỉ vào cửa sổ nói với anh: “Anh xem, hay là mình đừng làm rèm rủ đến mặt đất nữa. Mùa đông đặt một vài chậu cây nhỏ dưới cửa sổ là được rồi. Hoặc là chuyển giá sách đến đây cũng được. Rèm cửa dài như vậy, rủ trên mặt đất, nhìn thoáng qua, cảm giác như có ai đó đang ẩn nấp phía sau vậy. Em sợ.” Cô nói xong, nắm lấy cánh tay Dịch Huyền bằng cả hai tay và dựa về phía anh, nhìn anh bằng đôi mắt hạnh.

Dịch Huyền đã thật sự bị đánh bại bởi làn sóng tấn công này, ngay lập tức từ bỏ ý định làm rèm che cửa sổ đến sát đất.

Đêm treo rèm lên, cả hai lần đầu tiên dọn vào nhà mới ngủ.

Họ trải một tấm nệm bông mới trên nền nhà sạch sẽ và êm ái, đặt hai chiếc gối mới vào. Bên trong và bên ngoài hai chiếc gối đều mới tinh. Áo gối bằng vải bông màu trắng được hai người chọn mua hồi lúc xuân, còn trong ruột gối thì được nhồi những bông cúc khô, những cành cúc dại được cắt khúc hai ba li và những bông cát tằm do tằm tạo ra, mềm mại và thơm ngát. Chăn mền cũng đều mới cả.

Hai người ôm gối mới, xoa chăn mới, rồi nhìn căn nhà mới, không cần nói cũng biết họ rất phấn khích và vui mừng.

Một lúc sau, hai người nằm ôm nhau, Hà Điền nhìn ngắm cửa sổ, rồi chợt mỉm cười.

Dịch Huyền nhìn xuống cô vợ đang nằm trong vòng tay mình: “Em cười gì vậy hả?”

“Từ bé đến giờ nhà em chưa từng treo rèm cửa sổ bao giờ, nhìn vẫn thấy lạ lẫm quá.”

Nhà gỗ ban đầu của Hà Điền có cửa sổ nhỏ. Nhưng ban đêm khi ngủ, nhà cô sẽ lắp vách ngăn bằng gỗ để ngăn gấu. Cho nên tất nhiên là không cần rèm.

Còn bây giờ thì đã khác, mặc dù có cửa chớp có thể khóa bằng cách trượt ở bên ngoài cửa sổ, nhưng rèm cửa vẫn có thể được dùng để trang trí, giống như Dịch Huyền đã nói, một tấm vải đẹp như vậy, nhìn vào rất thích thú.

Hà Điền vòng tay qua cổ Dịch Huyền, thì thầm với anh: “Em rất thích nhà của chúng ta!”

“Anh cũng thích.”

Nhà của chúng ta.

Ngày dọn đến nhà mới, hai người đều bận rộn và phấn khích, cũng rất mệt mỏi, không có ý định ăn mừng này nọ, ngày hôm sau chỉ đơn giản là nghỉ ngơi, làm chút đồ ăn ngon để tự thưởng cho mình, sẵn tiện khai trương nhà bếp mới luôn!

Đến gần giữa trưa, Hà Điền mang con gà rừng đã bắt được hai ngày trước ra khỏi hầm, cắt bỏ đầu và chân, rửa sạch lại rồi đun một nồi nước lớn, trong nước chỉ có vài lát gừng, một nắm hoa tiêu và một cây hành lá, sau khi nước sôi, cho cả con gà vào, đậy nắp nồi lên, rồi bớt lửa.

Sau bốn mươi phút, thịt gà được nấu chín, rất ngon ngọt và mềm.

Hà Điền gắp gà ra dĩa để nguội, lấy hai miếng tàu hũ ky, ngâm vào nước nóng vừa mới luộc gà, đợi đến khi lớp vỏ tàu hũ ky mềm thì vớt ra để ráo. Lúc này gà không còn nóng nữa.

Sau đó, Hà Điền lấy một vài quả trứng, đập ra đánh tan, bắc chảo mỡ lên lửa, đổ hỗn hợp trứng vào, nhẹ nhàng nhấc chảo lên và lắc đều để hỗn hợp trứng vàng mỏng dưới đáy chảo. Cô đặt chảo xuống, đặt một chiếc đũa tre dài vào giữa chảo rồi đỡ vào thành chảo, dùng xẻng nhấc mép miếng trứng lên, đặt lên chiếc đũa rồi dùng một chiếc đũa khác giữ lại, bắt đầu cuộn, trứng tráng liền trở thành trứng cuộn.

Hà Điền gắp cuộn trứng ra đặt lên thớt, rút đũa ra, cắt trứng thành sợi mỏng, sau đó gấp tàu hủ ky thành nhiều lớp rồi cũng cắt thành sợi, gà cũng xé thành sợi rồi đặt chung với nhau trong một cái tô gốm lớn, lấy thêm hai quả dưa leo hái từ vườn rau sáng nay, ngắt bỏ những bông hoa vàng ở trên cùng, vuốt những chiếc gai nhỏ trên quả rồi cắt thành sợi nhỏ, bỏ chung cùng với gà xé và tàu hủ ky. Cho dầu mè, muối, đường, giấm và nước tương, sau đó cho một muỗng nhỏ ớt vào, đảo đều tay và cuối cùng rắc một nắm nhỏ mè lên.

Màu sắc trong chiếc tô gốm bây giờ rất đẹp, vàng, xanh, có tàu hủ ky và gà xé, mùi rất thơm.

Tô đồ trộn lớn này chính là bữa trưa hôm nay.

Trong khi thưởng thức bữa trưa, hai người ngồi cạnh nhau ở chiếc bàn dài dưới cửa sổ bếp mới được cải tạo lại từ bàn bếp cũ, họ nhìn thức ăn trong tô và khung cảnh bên ngoài cửa sổ, rồi lại nhìn nhau cười ngọt ngào.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 121: Gà kho măng với hèm rượu


Thời gian bận rộn luôn trôi qua nhanh chóng.

Bất giác, đã cuối tháng bảy.

Hai anh em nhà họ Phổ có ý nghĩ muốn học hỏi Hà Điền và Dịch Huyền, cứ cách vài ngày họ sẽ đến mà không cần thương lượng trước. Nói là trả món nợ lương thực đã vay hồi mùa đông năm ngoái.

Mỗi lần đến, họ sẽ mang theo một số thứ nhỏ nhặt, chẳng hạn như nấm hái gần nhà, gà rừng và vịt hoang có bộ lông rất đẹp, và quả sồi và quả phỉ mà họ hái trong rừng. Có hôm thật sự không có gì để mang theo, họ bèn cạo một ít lông heo mang đến.

Mặc dù những món quà này không có giá trị hay mang tính bất ngờ gì, nhưng chúng luôn tốt.

Theo lời của Dịch Huyền: “Em cho rằng các hoàng đế trong quá khứ thật sự hiếm lạ chút thổ sản từ các nước phụ thuộc tiến cống sao?”

Hà Điền cũng không để bọn họ ra về tay không, mỗi lần như vậy đều tặng lại một ít quà nhỏ. Bọn họ tặng nấm, cô cho lại một hộp miến khoai tây nhỏ, họ tặng hạt phỉ, cô cho lại một ít trứng vịt.

Với sự giúp đỡ của họ, tiến độ của công việc thật sự nhanh hơn rất nhiều. Bất kể họ có chân thành sẵn sàng báo đáp hay là đang bị Dịch Huyền đe dọa, tóm lại, Hà Điền rất biết ơn sự giúp đỡ của họ.

Nhưng điều này không có nghĩa là Hà Điền đã bỏ cảnh giác với họ.

Cô đã huấn luyện đặc biệt cho Lúa Mì để đảm bảo rằng nó chỉ ăn thức ăn do cô và Dịch Huyền đưa. Còn đồ của những người khác cho, nó có thấy cũng làm như không thấy.

Là một con chó săn trưởng thành có giống tốt, hàm răng sắc bén và bộ hàm khỏe mạnh của nó có thể dễ dàng cắn đứt xương cánh tay của một người. Nếu nó chạy trốn thì người khác cũng không thể nào đuổi kịp. Dựa vào những lợi thế tự nhiên này, nếu gặp kẻ gian ác ý thì khả năng tự vệ của Lúa Mì vẫn rất cao.

Ngôi nhà mới của Hà Điền và Dịch Huyền cũng ngày càng đẹp hơn.

Sau khi mái hiên của nhà mới được hoàn thành, mỗi khi đi ra ngoài, dù là săn bắn, cắt cỏ hay hái quả dại, họ đều tranh thủ đào một số loại cây mình thích mang về nhà trồng.

Hà Điền cũng đã có kế hoạch cả rồi, đợi làm nhà kính mới xong, cô sẽ dành ra một khu vực để trồng những loại hoa và cây này. Sau đó còn sẽ chia thành nhiều luống, một số thì trồng cây thuốc, và một số thì trồng làm cây cảnh.

Ngay cả hoa sen mà cô cũng trồng được đó thôi, bây giờ cô khá là tự tin vào kỹ năng trồng trọt của mình.

Nhiều loài thực vật mang về đã phát triển rất tốt, chẳng hạn như hoa cúc dại có thể nhìn thấy ở khắp mọi nơi trong rừng.

Khi bà Hà Điền còn sống, trong nhà cũng trồng hoa cúc dại, nhưng chúng được trồng trên mặt đất bên ngoài bức tường phía Nam của nhà gỗ. Sau khi bà của cô qua đời, Hà Điền vì bận bịu đấu tranh sinh tồn mà bỏ bê chúng trong một thời gian dài. Mùa hè năm sau, nhìn lác đác vài bông cúc dại nhỏ bé, cô mấy lần thở dài xúc động, rồi lại tiếp tục mải mê săn bắn, trồng trọt, tích trữ lương thực cho mùa đông mà không thể dành nhiều tâm huyết hơn cho chúng.

Lúc xây nhà mới, những bông hoa cúc dại này đã chìm vào trong đám cỏ hoang.

Hoa cúc dại ở các khu rừng và đầm lầy gần đó chỉ có các màu trắng, vàng và tím nhạt. Hà Điền và Dịch Huyền mang về mỗi loại một ít, chọn những cây có hoa to và hương thơm nồng.

Một trong những vấn đề nan giải của việc dời cây trồng đó là phải chọn như thế nào.

Lần nào mang những cây có hoa to hơn về trồng, lần sau ra ngoài họ lại gặp được loại có hoa to và nhiều cánh hơn, lần sau nữa lại gặp loại có đầu cánh hoa hơi cong, rồi còn gặp loại có hoa sặc sỡ hơn, hương hoa càng nồng nhiều hơn…

Phải làm thế nào? Mang về hết.

Cúc dại là một loài hoa ngoan cường, rất dễ trồng.

Thế nhưng hiên nhà không thể đặt được nhiều chậu hoa như vậy, Hà Điền và Dịch Huyền cũng không có thời gian để chăm sóc chúng cả ngày, vì vậy họ phải đưa ra quyết định giữ hay bỏ, chọn ra năm sáu chậu hoa cúc dại đẹp nhất để lại, còn lại những chậu bình thường hơn thì lại một lần nữa dời đi, trồng trên bờ cỏ mới cấy ở bãi sông hoặc khoảng đất trống giữa các cây trên sườn đồi.

Phải nói rằng cỏ dại phát triển rất tốt.

Hà Điền và Dịch Huyền đào mảng cỏ bên cạnh các ao hồ khác nhau tổng cộng hết năm lần, mỗi lần hơn hai mét vuông, sau khi được mang về nhà, chúng được trải vào nơi những tảng đá trên bãi sông đã bị chuyển đi, tưới nước, sau ba đến năm ngày thì rễ cỏ đâm sâu vào đất mới.

Có một lần sau khi dời cỏ thì ngày hôm sau trời đổ mưa to, Hà Điền thầm nhủ, thôi rồi, lần này coi như đi tông. Không ngờ là vài ngày sau, đám cỏ này cũng vẫn mọc lên.

Hiện tại, trên bãi sông một màu xanh mướt, đứng trên sườn đồi mà nhìn, cách bờ sông ba đến năm mét là một đường xanh dài mười mét phân biệt rõ ràng với bãi đá cuội xanh xám, đến gần sẽ phát hiện ra rằng màu xanh lá này còn đang lan rộng thêm.

Nhặt đá trên bãi sông, chuyển chúng lên sườn đồi, xới đất đều là những công việc tốn nhiều thời gian, nhờ anh em nhà họ Phổ mà Hà Điền mới có thể trồng được một đồng cỏ nhanh chóng như vậy.

Nhưng mảnh cỏ này còn lâu mới đáp ứng được kích thước lý tưởng mà hai người họ mong muốn.

Hai con cừu, cộng với Gạo, một ngày một đêm có thể ăn hết cả số cỏ cắt trong đồng cỏ rộng sáu bảy mét vuông.

Tất nhiên, nếu chúng có thể tự do lang thang trong rừng để tìm kiếm thức ăn, còn có thể ăn chút lá, gặm nhấm vỏ cây và cành non. Nhưng vào mùa đông, cừu nhỏ hơn Gạo rất nhiều, dù có đứng trên tuyết thì nó cũng khó mà chạm được vào thân cây, không gặm vỏ cây, không chạm tới cành cây được. Phải nói rằng mùa đông là mùa bận rộn nhất trong năm của Gạo, ngoài thức ăn thô là cỏ thì còn cần bổ sung đạm đậu nành và bột xương cho nó nữa.

Hơn nữa, Dịch Huyền cũng tin tưởng hai con cừu này sẽ lớn rất nhanh, sang năm sẽ có cừu con và sữa cừu để uống, mà một khi có thêm cừu con thì chắc chắn sẽ phải cần thêm thức ăn cho gia súc.

Do đó, để tạo một đồng cỏ có thể đáp ứng nhu cầu của ba hoặc bốn động vật ăn cỏ, ngay cả khi áp dụng phương pháp chăn thả luân phiên, họ sẽ phải mở rộng đồng cỏ hiện có ít nhất thêm ba hoặc bốn lần nữa.

Trong tất cả những cây mang về nhà trồng, quý nhất là mười mấy cây dâu tằm. Sau vài lần giâm cành, mười lăm mười sáu cây đã được trồng thành công, có ba bốn cây trong số chúng không được tốt cho lắm.

Hà Điền chọn ba cây từ những cây khỏe nhất rồi trồng chúng trong rừng.

Bọn họ phỏng theo rừng dâu, chặt một khoảng rừng ở gần suối núi, sau khi đào đất xong, trồng ba cây dâu này xuống.

Cho đến hiện tại thì trông chúng phát triển khá tốt.

Cuối cùng thì kén tằm cũng đã hoàn thành việc ươm tơ. Hà Điền đã tính toán thời gian từ lúc kiến tằm nở đến bước cuối cùng là kết kén. Cô lo là nếu ấp một lứa tằm khác thì khi chúng lột da lần cuối, thời tiết bắt đầu lạnh thì chúng sẽ chết hết, nên đợi năm sau lại làm tiếp.

Những quả trứng tằm năm nay thu được đều được để ở trên giấy trắng tự chế mà cô đã làm lúc trước, đem cất ở tầng trên của nhà mới.

Sau khi lứa tằm cuối cùng đẻ trứng xong, Hà Điền chỉ còn lại mười mấy tờ giấy trắng.

Vì vậy, việc làm giấy đã được ưu tiên đặt lên hàng đầu trong danh sách việc cần làm.

Có rất nhiều nguyên liệu cần thiết để làm giấy. Đặc biệt là năm nay cô đã cắt một số chăn bông, đệm bông cũ, loại bỏ tất cả số bông vải bị ố vàng, quá cứng, tất cả những thứ này đều có thể cho hết vào bột giấy.

Ngoài ra, do xây nhà nên họ còn nhiều vỏ cây, mùn cưa, dăm bào. Với cả còn có cỏ khô, lá tre khô, lá dâu phơi khô, tất cả đều có thể làm giấy.

Những nguyên liệu thô này đầu tiên được ngâm trong một cái vạc lớn trong vài ngày, sau khi vỏ và dăm trở nên mềm đi, có thể tiến hành bước chế biến tiếp theo.

Đầu tiên lấy một cái thùng sắt lớn từ kho dụng cụ kê lên bếp đá, đổ một nồi nước sôi lớn, đốt lửa bên dưới thùng, đổ hỗn hợp nguyên liệu vào, thêm một ống tre to đựng vôi bột rồi đeo kính bảo hộ và khẩu trang vào, vừa đun vừa thỉnh thoảng khuấy vài cái.

Thùng hỗn hợp này phải được đun nhỏ lửa trong nhiều tiếng.

Cái thùng to đậy bằng nắp gỗ, cứ mười phút lại mở nắp ra khuấy, nếu cạn nước thì thêm nước và củi vào.

Đến tối, đổ thêm nước vào thùng vừa đủ, đút củi vào để lửa tiếp tục cháy suốt đêm.

Sáng hôm sau khuấy lại, thêm nước, nấu tiếp.

Buổi tối không cần thêm củi nữa.

Trước khi đi ngủ, khuấy đều một lần nữa, hỗn hợp trong thùng lớn lúc này đã trở thành một thùng bột nhão.

Sau khi để qua đêm, họ chuyển thùng lên xe gỗ để Gạo kéo xuống vùng hạ lưu con suối, sau đó đặt một cái sàng tre lên miệng thùng, nghiêng từ từ để đổ nước trong thùng ra ngoài.

Sau khi đổ nước xong, họ dựng thùng lên, lấy sàng tre ra, rồi úp thùng xuống để trúc hết hỗn hợp trong thùng vào sàng tre, lúc này nước vẫn còn đang nhỏ giọt.

Đổ hết chúng vào một cái giỏ tre lớn, dùng cọc gỗ đập để vắt kiệt nước, sau đó nhấc cái giỏ tre lớn đó xuống suối, ngâm hỗn hợp chưa thành bã này vào nước, lợi dụng lực chảy của nước để rửa sạch.

Đậy sàng tre và để giỏ tre lớn dưới suối trong hai ba ngày, khi mở ra lần nữa thì bông vải, vỏ cây, lá và dăm đều mất đi hình dạng ban đầu, trở thành từng cục từng cục, cầm một cục lên vê trong nước, có thể thấy được rằng vỏ cây và dăm bào đã biến thành những sợi tơ mịn, đó là những sợi gỗ.

Tiếp theo, nhấc giỏ tre lớn khỏi nước, để ráo rồi lại đổ hỗn hợp vào thùng, nhưng lần này là thùng gỗ.

Công đoạn này những năm trước là công đoạn tốn nhiều thời gian và công sức nhất, mọi thứ trong thùng đều phải được nghiền nhỏ thành bột giấy đồng nhất thì mới làm giấy được.

Năm nay, tiết kiệm được rất nhiều công sức.

Khi chế tạo máy cắt cỏ, Hà Điền đã gắn thêm một công xôn vào máy cưa, gắn một chiếc cưa tròn nhỏ lên đó, chỉ cần kéo cưa, xì xì è è, toàn bộ đều bị xay nát thành bột.

Cô cầm cưa bằng cả hai tay và xoay theo chiều kim đồng hồ ở giữa thùng như xay đậu, sau mười phút thì nghỉ ngơi, lấy cưa ra xem độ mịn của bột giấy có đủ yêu cầu hay chưa, chưa thì chuyển sang cho Dịch Huyền, tiếp tục xay một lúc nữa.

Làm xong một thùng bột giấy, đã có thể lấy dụng cụ làm giấy ra.

Dịch Huyền cứ tung tăng tung ta như chim sẻ.

Lúc sửa sang lại kho dụng cụ, nhìn thấy những thứ này, lúc đó anh còn nghĩ đó là khung cửi bị thiếu một bộ phận nào đó. Nó là một máng gỗ được đóng đinh bằng thanh gỗ hình chữ nhật, phía trên có treo một thanh xà bằng dây thừng, còn được trang bị thêm bốn năm khung rây hình chữ nhật lớn và nhỏ, cũng như một số thanh gỗ giống như chày cán có kích thước khác nhau. Vốn là dụng cụ để làm giấy.

Ngoài những thứ này, Hà Điền còn kêu anh lấy ba cái bàn gỗ lúc trước từng được dùng để làm bàn ăn tạm cho mấy người đến hỗ trợ ra, sau đó là vài tấm gỗ lớn và sáu viên gạch đá bazan. Cuối cùng, cô còn tìm trong kho mấy cuộn mành tre nữa.

Những tấm mành tre này có cùng kích thước và được đan rất tỉ mỉ bằng những dải tre dày hai hoặc ba mm.

Hà Điền múc mấy hồ lô bột giấy đổ vào cái máng gỗ hình chữ nhật, thứ mà Dịch Huyền nói là “Giống như khung cửi bị thiếu bộ phận”, cầm một cái khung rây giấy lên, chỉ vào hai bên của cái khung, hỏi anh: “Anh đã từng thấy thứ này chưa?”

Hai bên khung rây được đóng đinh bằng hai bánh xe gỗ nhỏ bằng ngón tay cái cao hai centimet, ở giữa lõm và hai bên lồi, được quấn dây treo cố định vào khung gỗ, kéo khung lên rồi nhúng vào bột giấy, sau đó lại từ từ kéo lên, trên máng có đặt một thanh gỗ giống như chày cán, đặt khung rây lên đó lắc đều, trên lưới rây lập tức phủ đều một lớp bột giấy.

Chờ một lát, lấy một tấm mành tre đã được làm sạch trải nhẹ lên khung rây, nén chặt, úp ngược xuống mặt bàn gỗ rồi gõ “cạch cạch”, một “Tờ giấy” còn ướt vừa mới ra đời.

Hà Điền làm mẫu mấy lần rồi mới đưa cho Dịch Huyền, từ nãy đến giờ vẫn ngồi không yên, muốn thử.

Cũng giống như mọi khi, anh chỉ cần thử vài lần là quen thuộc ngay, trên ba cái bàn đều được đặt kín, mành tre cũng đã dùng hết.

Hà Điền nhìn mảnh giấy đầu tiên, nói với Dịch Huyền cách xác định xem độ ẩm của giấy ở mức độ nào thì có thể treo lên được, rồi để cho anh xếp những sào tre dùng để phơi cỏ khô ra, cột một sợi dây vào giữa các sào.

Dịch Huyền làm xong việc của mình, anh thấy Hà Điền đặt khung rây sang một bên, đang lấy một vài chiếc lá nhỏ của hoa cúc dại đặt lên đó, sau đó dùng khăn nhẹ nhàng ấn xuống, rồi cô lại ngắt một bông hoa cúc dại màu tím khác, tách các cánh hoa đặt lên tờ giấy còn ướt đó.

“Đây là giấy in nổi, rất thú vị đúng không?” Hà Điền đặt những cánh hoa còn lại vào tay Dịch Huyền và kêu anh thử: “Hồi nhỏ em còn dùng giấy này để làm đèn lồng nữa đó.”

“Nó rất đẹp!” Tất nhiên Dịch Huyền cũng thấy nó thú vị: “Anh đã thấy loại đèn lồng mà em nói rồi! Sau khi thắp nến, hoa và lá trông càng đẹp hơn nữa. Với lại, anh còn dùng giấy này làm sổ tay. Lúc anh ba của anh mười ba, mười bốn tuổi cũng đã biết dùng loại giấy này để viết thư tình cho một vũ nữ mà ba nuôi anh yêu thích!”

Hà Điền hơi giật mình, nhưng Dịch Huyền dường như không để ý đến những gì mà mình vừa nói, anh hào hứng đặt từng cánh hoa và từng chiếc lá, thỉnh thoảng còn lùi lại quan sát một chút.

Sau khi giấy đã thành hình và từ từ khô dần, có thể xếp chồng từng tờ một, lấy khăn phủ lên, dùng ván gỗ đè lại và dùng đá ép cho phẳng.

Hoặc nếu muốn thật đặc biệt thì có thể dùng bàn ủi để ủi trực tiếp, lúc ủi xịt chút nước có bỏ thêm hương liệu thì giấy thành phẩm sẽ có mùi thơm.

Hôm đó hai người làm một số việc xong, trong lúc nghỉ ngơi tranh thủ làm một chút giấy.

Nước trong bột giấy trong máng gỗ sẽ chảy dần ra từ các khe hở trên máng gỗ, sau đó bay hơi một chút, đến trưa sẽ trở thành bùn, nếu khô quá thì cũng không sao, chỉ cần đổ thêm nước vào khuấy đều là được.

Nếu muốn làm giấy trắng như tuyết thì có thể cho giấm trắng vào bột giấy, còn muốn làm giấy có màu thì cũng đơn giản, đâm nát củ dền, cà rốt, cải bó xôi,… vắt lấy nước rồi pha vào bột giấy để làm giấy màu đỏ, cam, xanh. Lượng nước cho vào khác nhau thì màu sắc của giấy cũng sẽ khác nhau.

Dịch Huyền vì muốn làm giấy có hình vân lá trúc nên dẫn Lúa Mì vào rừng tre trúc. Thuận tiện bắt được một con gà rừng mang về.

Buổi tối, Hà Điền hầm một nồi gà với hèm rượu và măng.

Sau khi mỡ trong nồi nóng, cho gừng và hành lá vào xào chín, đổ thịt gà ướp với hèm và nước tương vào, thêm măng và nấm hương đã ngâm, một chén nước nhỏ, đun thêm một lúc nữa, nước cạn dần, hương vị đậm đà xông vào mũi.

Món này ăn kèm với lúa hoang nấu đậu đỏ, cho dù đang là giữa hè cũng làm cho người ăn cảm thấy rất là ngon miệng.

Buổi tối lúc đi ngủ, Dịch Huyền thì thầm nói với Hà Điền: “Mình cũng làm đèn lồng giấy nha em?”

Hà Điền cọ trán mình vào trán của anh: “Ừ. Làm mấy cuốn sổ tay nữa.”
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 122: Bánh mì nướng với cà chua và phô mai


Hái quả dại, lấy mật ong và sáp ong, canh tác ruộng kê, cho gia cầm ăn, rồi đem quả anh đào và quả mơ đã hái đem ngâm, làm mứt, phơi khô. Mỗi khi thu hoạch rau trong vườn, họ cũng sẽ chọn ra một ít cắt miếng phơi khô, hoặc là làm thành đồ ngâm, bảo quản từng loại giống như cỏ khô.

Đây là công việc hàng ngày của Hà Điền và Dịch Huyền.

Trong cái bận rộn ngày qua ngày, nháy mắt đã trôi qua gần hết mùa hè, đã là tháng tám.

Không có sự thay đổi về ánh nắng và nhiệt độ trong tháng tám, nhưng những con côn trùng trong rừng dường như đã cảm nhận được trước mùa thu, không biết từ lúc nào, những con bọ hút máu khó chịu đó đã biến mất không còn thấy tâm hơi.

Khoảng mười giờ sáng ngày 3 tháng 8, Tát Sa mang hai thuyền củi đến sườn núi nhà Hà Điền.

Lúc thuyền còn chưa dừng lại, nhìn từ xa, anh ấy luôn tự hỏi liệu mình có đi nhầm đường hay không? Hay là còn chưa đến nhà của Hà Điền, hoặc anh ấy đã đi qua mất rồi? Sao mới có hai tháng mà chỗ những tảng đá trên bãi sông đã phủ đầy cỏ dại?

Anh ấy cho thuyền giảm tốc độ và nhìn kỹ hơn, thấy thuyền đậu bên bờ và những bậc thang kéo dài từ sườn núi, mới tin chắc rằng mình không đi sai.

Thuyền của Tát Sa được trang bị động cơ, kêu inh ỏi suốt cả quãng đường. Lúa Mì đã sớm nghe thấy và dẫn Dịch Huyền ra sông đón.

Dịch Huyền đợi Tát Sa xuống thuyền, cột thuyền vào bờ, dỡ động cơ và cất đi.

Khoảng mười phút sau, anh em nhà họ Phổ cũng đến.

Bốn người cùng nhau di chuyển hai thuyền củi, chất tạm trong chái củi cạnh lò gốm.

Lần này, có đến tận bốn đống củi đầy.

Ba đống là để Tác Sa học làm gốm, và một đống còn lại thì coi như để trả tiền ăn và một phần học phí của mình trong suốt thời gian học tập ở đây.

Trong điều khoản trao đổi mà hai bên đã thống nhất, ngoài đống củi này, Tát Sa còn phải dạy Hà Điền và Dịch Huyền cách xây một ngôi nhà bằng đất nện. Vì vậy, anh ấy cũng mang theo một bộ công cụ để làm đất nện.

Ngoài những thứ này ra, Tát Sa còn được Tam Bảo và Tam Tam giao phó, mang cho Hà Điền và Dịch Huyền sáu ống tre to đựng sữa cừu vừa mới vắt sáng nay. Mùa hè mỗi con cừu cái có thể vắt hơn hai lít sữa một ngày, còn đến mùa đông, hoặc khi cừu cái mang thai, lượng sữa sẽ giảm đi hoặc thậm chí là hết hoàn toàn.

Sau khi chuyển củi xong thì cũng đã gần mười một giờ, Hà Điền cắt một ít bánh mì yến mạch mà lúc sáng đã nướng trong lò đá, những lát bánh mì dày được phủ một lớp sốt cà chua làm tối qua và rắc một ít phô mai ricotta đem nướng ở trong lò nướng, lúc lấy ra phô mai thơm phức, bánh mì giòn rụm, bên trên trang trí hai ba lá bạc hà xanh; ba màu đỏ, trắng, xanh tươi sáng và mùi thơm của nguyên liệu hòa quyện vào nhau khiến ngón trỏ của họ không ngừng di chuyển, đút đồ ăn vào miệng.

Bốn người họ ngồi dưới giàn mướp, mỗi người ăn một lát bánh mì thơm, kèm theo một ly trà lá tre.

Tát Sa vừa ăn vừa quan sát nhà mới của Hà Điền và Dịch Huyền.

Hai anh em nhà họ Phổ cứ cách vài ngày lại đến nên không thấy ngạc nhiên gì cả, chỉ có Tát Sa là không khỏi trầm trồ. Hai căn nhà đã được thông nhau, cửa nhà cũ đã đổi thành cửa sổ, bức tường bên cạnh cửa sổ cũng được kê ván gỗ, dùng làm bàn ăn sáng. Không chỉ có hiên nhà có vài chậu hoa mà trên lan can hiên cũng có treo, hoa mà họ trồng không hiếm, chẳng qua chỉ là một số loại hoa cúc dại thông thường, nhưng đủ màu sắc và nở rộ, thu hút bướm và ong lần lượt vây quanh. Hầu hết các chậu hoa là chậu đất sét, nhưng họ cũng đặt một chiếc giỏ bằng những lát tre bên ngoài chậu nên trông tinh tế hơn rất nhiều. Dưới một cửa sổ của nhà mới cũng có một vại nước lớn, trong vại có hai bông hoa lớn màu hồng đứng thẳng, những chiếc lá xanh như mâm tròn nổi trên mặt nước, một vài con cá nhỏ dài chưa đến ngón tay đang đùa giỡn giữa đám lá.

Tát Sa mỉm cười với Hà Điền và Dịch Huyền, chỉ vào nhà, Dịch Huyền tìm được đối tượng để khoe khoang, lập tức đứng dậy, làm động tác “Xin mời” rồi đưa Tát Sa đi tham quan.

Điều đầu tiên khiến Tát Sa chú ý chính là những khung treo hoa hình chữ nhật làm bằng ván gỗ rộng treo trên lan can mái hiên nhà cũ, mỗi khung có treo hai ba chậu hoa, tuy nhiên trên mái hiên nhà mới không có hàng rào, nói là hiên nhà, đúng hơn, nó là một ban công bằng gỗ với lan can được làm ở trên cửa ra vào. Trên ban công, vị trí đặt những chậu hoa hình như đang ngụ ý một điều gì đó.

Khi nhìn kỹ hơn, anh ấy hiểu ra: “Mái hiên này có thể nâng lên và kéo xuống đóng lại được?”

“Đúng vậy. Để phòng gấu.”

Dịch Huyền mở cửa và dẫn anh ấy vào nhà.

Tát Sa vừa bước vào cửa thì lại thấy sững sờ.

Trong làng cũng có một số ngôi nhà gỗ còn cầu kỳ hơn, sau cửa vào là hành lang, hai bên hành lang có phòng, thường một bên là bếp, một bên là phòng khách, nếu có tiền hơn thì xây thành nhà hai tầng, một bên hành lang là cầu thang, và tầng trên là một số phòng ngủ. Nhà của anh ấy cũng được bố trí như vậy, còn nhà của Dịch Huyền và Hà Điền thoạt nhìn có vẻ giống với bố cục này, tuy nhiên, hành lang của họ dài và hẹp, chỉ rộng hơn một mét, chung quanh đều có cửa. Hơn nữa nền đất được họ làm thấp hơn gần chục cm so với mặt bằng của những căn phòng hai bên, nền nhà không lát gỗ mà là sử dụng loại gạch đá đen xám họ dùng để che lò, xen kẽ những khoảng trống đều được lấp đầy bằng xi măng và làm nhẵn.

Anh ấy lại nhìn các phía xung quanh, và cũng hiểu ra. Ở phía bên trái, bên bức tường của căn bếp mới, có một chiếc tủ dài nằm ngang, trên đó có đặt một tấm đệm vải hình chữ nhật được khâu rất đẹp, trang trí bằng những chiếc tua làm bằng vải cùng màu và được tạo hình mạng lưới kim cương. Có vẻ như nó không chỉ có thể đựng đồ, mà còn có thể ngồi lên khi thay giày, nhìn thoáng qua mới biết trong tủ có hai đôi ủng an toàn bằng mây. Lần trước khi đến phụ việc Hà Điền cũng đã tặng anh ấy một đôi giống vậy, chỉ có điều là không được tinh xảo như hai đôi này. Chiều cao của tủ so với mặt đất vừa đủ để đặt những đôi ủng vào.

Đó là nơi thay giày.

Ngoài ra ở bên kia bức tường còn có tủ treo được chia làm bốn tầng, tầng trên cùng và tầng giữa không có cửa tủ, trên mỗi tầng có đặt một vài khối đá nhỏ. Tát Sa thấy một khối đá nhỏ trông giống như cái chậu tự nhiên đựng một đống sỏi nhỏ, trên đó có mọc rêu xanh và những bông hoa màu đỏ tím nhỏ hơn hạt kê. Trong mấy khối đá khác là giống cây địa y và những bông hoa nhỏ đang nở.

Tát Sa thầm hét lên trong lòng: “Đời này sống không uổng mà.” Khi nghĩ đến điều này, vẻ mặt tán thưởng và thích thú tất nhiên là đều xuất hiện hết trên khuôn mặt. Dịch Huyền nhìn thấy vậy, khỏi phải nói là đắc ý đến cỡ nào.

Đầu tiên anh đưa Tát Sa đến phía trước và đẩy cánh cửa nhỏ đối diện với họ ra: “Đây là sân.” Dịch Huyền chắc chắn sẽ không từ bỏ việc làm một cái sân trong!

Tát Sa vừa nhìn, anh ấy thấy cánh cửa này được làm rất thú vị. Nửa dưới được làm bằng ván gỗ dày. Khi nhìn kỹ hơn, nó được làm bằng ván mộng và lỗ mộng do Hà Điền thiết kế. Đẩy lên thì cảm giác nhẹ hơn rất nhiều, chắc hẳn là được làm rỗng ruột và chứa đầy vật liệu ấm. Nửa cửa trên gấp ba lần phần cửa dưới, được gắn thanh gỗ và lắp kính, còn là kính hai lớp.

Bằng cách này, ánh sáng có thể đi vào từ sân trong, và tình hình ở trong sân cũng có thể được nhìn thấy rõ ràng từ đây.

Tát Sa rất thích cánh cửa gỗ này, nhưng vẫn có chút lo lắng: “Mùa đông sẽ không lạnh sao?”

Dịch Huyền khá lạc quan: “Về mặt lý thuyết thì không. Nếu trời thật sự lạnh thì sẽ tìm cách giải quyết khác.”

Từ cửa chính đến cánh cửa này khoảng cách là gần 2,5 mét, trên tường hai bên cũng có một số đồ trang trí, từ sừng của một con hươu to lớn đã tuyệt chủng, đến những khẩu súng hỏa mai cổ mà anh ấy cũng không biết là có còn dùng được hay không. Không phải rất đặc biệt, nhưng mọi vật trang trí đều phù hợp với bức tường gỗ thô và sàn đá thô đen xám này.

Dịch Huyền kéo cửa ra, Tát Sa vừa nhìn, gần như không khỏi bật cười. Đó là không gian mở phía sau hai ngôi nhà! Bên phải của họ có một căn phòng nhỏ, là phòng đặt bếp lò để sưởi ấm cho nhà mới, trong đó đặt một ít củi, trên vách là một cửa sổ trượt nhỏ đang mở.

Dịch Huyền mỉm cười: “Không phải anh nói muốn học cách xây nhà bằng gạch rỗng trong vòng một ngày sao? Đây, ở đây nữa, vừa có thể học được cách đốt lò mà cũng vừa học được cách xây nhà luôn.” Anh chỉ tay: “Cách học này không phải rất thực tế sao?”

Tát Sa cũng cười: “Anh thật đúng là khôn khéo, làm như tôi không biết anh đang dụ dỗ để tôi làm việc cho anh chắc?”

Vậy mà Dịch Huyền vẫn còn cười được: “Có khi làm xong mấy việc này, anh còn muốn học thêm nhiều thứ nữa đó chứ.”

Tát Sa theo Dịch Huyền đến “Sân nhỏ”, và đã tin ngay từ cái nhìn đầu tiên, Dịch Huyền thật sự đúng là không có thổi phồng. Trên phần mở rộng của bức tường của hai ngôi nhà, một dãy hố sâu đã được đào ra, xem ra là muốn đặt nền, trên tường của ngôi nhà cũ có một hàng cọc vuông bằng gỗ, tre, và một vài sọt đá.

“Tôi cứ nghĩ không biết mấy tảng đá trên bãi sông đã biến đi đâu mất rồi, không ngờ là chúng đều được anh chuyển đến đây!” Tát Sa cười nói.

Dịch Huyền cũng cười: “Rồi anh sẽ biết, những tảng đá này cũng có công dụng của riêng nó, tuyệt đối sẽ không để anh phải làm việc không công đâu.”

Anh dẫn Tát Sa trở lại hành lang, trước tiên đưa anh ấy đến ngôi nhà gỗ cũ đã được tân trang lại.

Một cánh cửa được mở ra trên bức tường ban đầu của nhà gỗ cũ, cánh cửa này hoàn toàn đối diện với cánh cửa còn lại của nhà mới, hai cánh cửa cũng được làm rất giống nhau, nửa dưới đều là ván gỗ và nửa trên là hai lớp kính thủy tinh hình chữ nhật có kích thước gấp ba lần bên dưới. Hai cánh cửa này đều dẫn ra “Sân” giống nhau, cánh cửa được kéo vào phía trong, tay nắm cửa không phải là tay nắm bằng gỗ mà Tát Sa thường thấy, thay vào đó trên tấm cửa được khoan hai cái lỗ và xỏ một tay nắm đan bằng tre trúc. Có lẽ, chất liệu sẽ được thay đổi theo mùa, và khi đến mùa đông, nó có thể sẽ được thay thế bằng da của động vật có lông.

Trước khi vào cửa, Dịch Huyền cởi giày, Tát Sa cũng cởi giày theo, trước cửa có một tấm thảm gỗ được cưa và mài nhẵn từ gỗ trôi, tấm thảm lớn này dày năm centimet, dưới sự bào mòn nặng nề của nước chảy, những đường vân uốn cong rất mềm mại. Ngoài ra còn có một số lỗ nhỏ bị các hạt cát trong nước bào mòn, khi bước lên chúng rất êm và không hề thấy lạnh.

Tát Sa đoán, có thể khi thời tiết trở lạnh, hai đôi giày mềm làm bằng lông thỏ hoặc nỉ sẽ được đặt trên tấm thảm gỗ này, và khi bước vào nhà thì sẽ thay sang giày dép khác ngay. Có lẽ Hà Điền sẽ làm hai đôi dép lê bằng sợi mây, bởi chúng lúc nào cũng mềm mại, lúc muốn đến bếp lò thêm củi sẽ vừa đá vừa kéo dép đi.

Sàn bếp lại được đánh bóng một lần, từ màu nâu đen cũ chuyển sang màu gỗ nguyên bản, Tát Sa lại quay đầu nhìn cánh cửa kính: “Chà.” Bức tường nhà cũ bao quanh hành lang thật sự đã được đánh bóng, sao cho phù hợp với màu sơn tường của ngôi nhà mới nhất có thể.

Sàn và tường trải qua quá trình đánh bóng, màu sáng hơn rất nhiều, vì độ nhẵn nên phản chiếu ánh sáng từ hai cửa sổ vào trong phòng, cả căn phòng như bừng sáng lên. Cũng vì cánh cửa gỗ ban đầu chuyển thành cửa sổ đối diện với bàn bếp và bếp nấu nên dù mặt bàn làm bằng đá đen xám cũng không có cảm giác tối.

Tát Sa cẩn thận quan sát mặt bàn, dùng tay sờ lên rồi dán sát vào, nhìn nghiêng: “Đây là cả một tảng đá! Anh lấy nó ở đâu vậy? Ôi trời ơi, cái này nặng đến cỡ nào chứ… Mà khoan đã! Cái này là do anh làm đúng không? Nó cùng chất liệu với gạch đá ở cửa, gạch đá dùng để xây lò sưởi! Rốt cuộc thì làm như thế nào vậy?”

Dịch Huyền không giấu được niềm tự hào: “Muốn học sao? Vậy thì phải trả học phí!”

Tát Sa thật sự muốn học.

Toàn bộ mặt bàn gần như là một bộ thống nhất, phần gạch gốm nguyên bản trên mặt bếp đã hư hỏng, sau khi sửa chữa cũng lát thêm một lớp gạch đá đen, chết người nhất là ngay cả bồn rửa rau, chén dĩa cũng làm bằng chất liệu này! Còn rất lớn nữa!

Loại gạch đá đen xám này sau khi được mài nhẵn bóng đẹp, trên bề mặt có một số hạt sáng nhỏ, vân mịn và tinh tế hầu như không có lỗ nhỏ.

Đầu óc của Tát Sa vẫn luôn vận dụng để tìm hiểu xem thứ này được tạo ra như thế nào, nhưng sau khi đến tham quan nhà mới, anh ấy không còn có quá nhiều hứng thú nữa. Nói cho cùng, đồ mộc và đồ đạc đều là những thứ có thể nhìn thấy ở đời thường, cho dù Dịch Huyền và Hà Điền có chế tạo ra một số thứ khéo léo và tinh xảo, thì rốt cuộc nó vẫn là đồ mộc, không giống như việc chế tạo đá.

Sau chuyến tham quan, trong đầu Tát Sa chỉ có một ý nghĩ, nhanh lên, bắt đầu dạy tôi đi!

Hà Điền đưa bốn người bọn họ đến một khu rừng gần sông, trên một con dốc đầy nắng, cô cột một sợi dây vào giữa một vài cái cây, bao quanh một hình vuông dài khoảng mười lăm mét vuông, nói với Tát Sa: “Chúng ta sẽ đào đất làm gốm ở đây. Bây giờ chặt cây trước rồi đào bốn sọt đất.”

Sau đó Dịch Huyền chỉ đạo mọi người bắt đầu.

Anh em nhà họ Phổ không đòi hỏi gì cả. Họ chỉ đi làm để trả nợ thôi, nhặt đá trên bãi sông, chặt cây và đào đất, cho vịt và thỏ ăn gì cũng được.

Mấy người bọn họ đem mười mấy cái cây lớn nhỏ trong phạm vi vòng dây chặt hạ và kéo sang một bên. Hà Điền gửi Lúa Mì đến thông báo: Đã đến giờ ăn trưa!

Lúa Mì sủa một tràng, sau đó cái mông động cơ không ngừng lắc, vây quanh Dịch Huyền, rồi dẫn đầu chạy ra khỏi rừng trước.

Sau khi ăn trưa và nghỉ ngơi, Dịch Huyền lại dẫn mọi người vào rừng đào đất.

Đất đào lên mang theo rễ cỏ và rễ cây lẫn lộn đều được chất thành đống.

Để đào được đất, họ phải loại bỏ từng tảng đá to và rễ cây bị đứt trong đất.

Điều này khó hơn nhiều so với tưởng tượng ban đầu của Tát Sa.

Thật vất vả đào được bốn sọt đất, đã đến giờ ăn cơm tối, mảnh đất này cũng đã được lật lên một lượt.

Tát Sa nghĩ, nếu không phải mùa hè đã kết thúc thì có lẽ bây giờ họ đã trồng một số cây gì đó ở đây rồi.

Anh ấy đã thật sự đúng.

Sau bữa tối, anh em nhà họ Phổ mang theo một vài miếng bánh mì yến mạch Hà Điền nướng lúc sáng và một hũ tương cà, một hộp phô mai nhỏ chào tạm biệt ra về. Dịch Huyền và Hà Điền mang theo Lúa Mì lên thuyền nhỏ, lại để cho Tát Sa lái thuyền của mình theo cùng. Họ đến khúc quanh của bãi sông phía hạ lưu, đào mấy thùng cát bằng gỗ rồi dẫn anh ấy đến các ao, đầm đào thật nhiều cỏ dại mang về nhà.

Sau đó, bọn họ đem số cỏ dại này trồng trên mặt đất mà hôm nay đã xới lên.

Tát Sa cảm thấy mình bị lợi dụng một cách thật là triệt để.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 123: Bánh mì


Trong những ngày tiếp theo, mỗi ngày, Tát Sa đều bị lợi dụng một cách triệt để.

Có điều, Hà Điền và Dịch Huyền cũng không giấu nghề, dạy cho anh ấy từng chi tiết về cách nung đồ gốm và xây nhà.

Từ cách chọn đất sét, đến cách nâng cao chất lượng đất sét đều được họ dạy chi tiết từng bước. Hà Điền cũng đưa cho anh ấy một cuốn sổ tay do cô làm và một cây viết than được bọc bằng vải màu xanh: “Nhớ kỹ không bằng nhớ lâu. Ban ngày anh nhìn một lần, buổi tối nhớ lại những điều mà mình đã học được hôm nay và viết hết vào đây. Anh sẽ biết mình chưa nhớ được những chỗ nào.”

Tát Sa đã thử phương pháp học này và nhận thấy rằng có một số chi tiết của các bước thật sự không nhớ nổi, hoặc là lúc đó nhìn và có câu hỏi, nhưng không có thời gian để hỏi hoặc là không muốn hỏi.

Sau khi đợi đất sét được rửa sạch, sàng và để khô, trộn với cát đã sàng, cuối cùng Hà Điền đã đưa ra công thức bí mật để trộn đất sét – bột xương.

Lượng bột xương phù hợp được thêm vào đất sét để làm cho đồ gốm bền hơn và kết cấu cũng tinh tế hơn.

Tiếp theo chính là mở lại xưởng gốm.

Hà Điền đã liên tiếp dạy Tát Sa cách sử dụng khuôn để đổ và cách tạo khuôn, cách bó khuôn – khi sản xuất hàng loạt và cách sử dụng bộ kéo phôi – khi tự tay làm.

Cuối cùng, cô dạy Tát Sa cách sửa chữa phôi gốm.

Trong khi đợi phôi gốm khô, Hà Điền nhờ Tát Sa hỗ trợ xay hạt, nhào bột mì và nướng một vài chiếc bánh mì trong lò đá. Bởi vì sau khi đốt lò lên làm gì có thời gian để kịp chuẩn bị ba bữa cơm.

Tận dụng thời gian này, Dịch Huyền và Hà Điền có thể dạy Tát Sa cách làm gạch rỗng và cách xây nhanh một ngôi nhà bằng gạch rỗng.

Tát Sa rất thông minh, lại có hứng thú với đồ gốm và kiến trúc, đồng thời học rất nhanh.

Nhưng mà có một điều là khi thấy Hà Điền dùng tre để làm khung xương cho ngôi nhà thì có phần lo lắng: “Tuy rằng tre bền dẻo hơn gỗ, nhưng ở gần làng của chúng tôi không có nhiều tre. Không thể tìm được từng ấy tre được.”

“Vậy thì dùng gỗ thay thế. Mà này, anh không thấy chúng tôi cấy đồng cỏ, trồng dâu tằm và các loại hoa dại khác nhau sao? Anh cũng có thể trồng tre mà.” Hà Điền nói.

Độ cao bên dưới núi thấp hơn nhiều so với mực nước biển, khí hậu ôn hòa hơn nên cũng thích hợp cho tre phát triển hơn.

Khu rừng này có rất nhiều tre trúc, nhưng năm ngoái đến khai thác gỗ ở rừng tuyết tùng, họ thấy độ cao ở đó cao hơn vài trăm mét so với ở đây, không tìm thấy tre. Thung lũng suối nước nóng bên dưới núi lửa thì có khí hậu ấm hơn, nhưng có lẽ do ở trên cao nên cũng không có tre.

Tát Sa vẫn còn đang ngập ngừng, Dịch Huyền đã cười nói trước: “Này, anh có muốn học cấy ghép không? Trả học phí đi.”

Tất nhiên chỉ là nói đùa thôi.

Hà Điền đã tổng kết hết những kinh nghiệm cấy ghép thành công gần đây của cô vào sổ tay, và lấy nó ra giảng cho Tát Sa một chút, bắt đầu từ việc trồng hoa sen cho đến việc trồng đồng cỏ nuôi gia súc.

“Tôi đã nói trên đường đến đây làm sao lại có rất nhiều lá và hoa to trong một số ao đầm mà tôi chưa từng thấy qua như vậy. Hóa ra là do hai người trồng!” Tát Sa chỉ vào hoa sen trong ao nhà họ: “Tôi còn tưởng chúng là giống cây đặc thù ở đây! Ra là của hai người trồng!”

Hà Điền và Dịch Huyền rất hãnh diện.

Kinh nghiệm của Hà Điền được tóm tắt ngắn gọn chỉ một câu, mạnh dạn đề xuất và thử nghiệm một cách cẩn thận.

Ngay cả cách trồng hoa sen cô cũng viết dày đặc cả hàng chục trang. Hạt giống và cây trồng được trồng theo các phương pháp canh tác khác nhau, sau đó được phân chia ở các môi trường và chất dinh dưỡng riêng biệt, quan sát, điều chỉnh kịp thời, cuối cùng rồi sẽ tìm được phương pháp phù hợp.

Tát Sa tiếp thu một cách sâu sắc.

“Sau khi về nhà tôi sẽ nghiên cứu cách trồng tre.”

“Thật ra, nếu không có tre thì dùng gỗ cũng được. Nhà mà chúng ta thường xây cũng đâu có cao bao nhiêu.”

“Có thể cột cây sậy vào nhau không?”

“Không được.” Dịch Huyền lắc đầu: “Tuy rằng hơi giống tre, nhưng mật độ sợi lại khác nhau.”

“Anh không thể đưa ra kết luận nhanh như vậy được.” Hà Điền nghiêm túc nói: “Tát Sa, anh về dùng thanh sậy bó lại làm thử thì sẽ biết được thôi.”

“Thử như thế nào?” Tát Sa chưa làm qua.

Hà Điền nghiêm túc suy nghĩ: “Việc này, anh phải dùng chính bộ não của mình. Thế này đi, tối nay anh trở về viết báo cáo thí nghiệm, viết một số phương pháp, ngày mai cho tôi xem.”

Dịch Huyền dạy Tát Sa sử dụng gạch rỗng để xây nhà, đầu tiên anh giải thích lý thuyết, sau đó cho anh ấy xem thành phẩm hiện có – là chuồng vịt, sau đó yêu cầu anh ấy kết hợp lý thuyết với thực hành để xây một ngôi nhà ở không gian mở phía sau nhà.

Lúc này Tát Sa cũng hiểu được phương pháp dạy này là hiệu quả nhất, tuy rằng trong lòng vẫn sẽ thầm mắng vài câu “xảo quyệt”, nhưng cũng nghiêm túc cùng Dịch Huyền và Hà Điền xây nhà.

Công trình đầu tiên được xây dựng là một kho củi bên cạnh nhà gỗ cũ.

Nhà kho này mượn một bức tường của ngôi nhà gỗ cũ, Dịch Huyền nói rằng sau này sẽ mở một cánh cửa nhỏ trên vách nhà gỗ để nối với kho củi, để củi không bị đông cứng vào mùa đông.

Sau khi đặt móng, bức tường trong sân cũng sẽ mở một cánh cửa, hướng phía đối diện bếp lửa.

Tát Sa cho rằng sự sắp xếp này khá hợp lý.

Tường của kho chứa củi đối diện với bếp lò cao hơn hai bức tường kia năm mươi cm, mái nhà không phải dạng hình chiếc ô mà là dốc thẳng xuống, làm vậy thì tuyết trên nóc kho củi sẽ được quét trực tiếp ra bên ngoài, sẽ không rơi trong sân.

Sau khi xây kho củi xong, họ lại xây nhà vệ sinh bên cạnh kho củi.

Giống như Hà Điền, Tát Sa không thể chấp nhận được khái niệm này.

Mặc dù có hai tầng nhưng nhà vệ sinh của nhà Tát Sa lại nằm ở góc phía Tây Bắc của sân nhà, bên cạnh mấy chuồng nuôi gà và cừu.

Trên vách tường còn có một cửa nhỏ dùng chung kho củi và nhà vệ sinh, tức là nếu đi vệ sinh vào mùa đông thì có thể đi qua bếp rồi qua kho củi mà không bị gió tuyết thổi bay.

Ý tưởng này tuy là khá hay, nhưng không biết nó sẽ như thế nào trong thực tế.

Sàn kho củi và nhà vệ sinh được nâng lên, kho chứa củi có chống ẩm, dưới sàn nhà vệ sinh còn có một bí mật nữa là có một cánh cửa nhỏ được mở trên một bức tường, sau khi mở ra sẽ có một tấm kéo có bánh xe, các vại nước thải có thể dễ dàng kéo ra và làm sạch.

Ngoài ra trên tường hướng ra sân của nhà vệ sinh cũng có một cánh cửa, cửa ra vào đã làm xong, hơn phân nửa đều là khung rỗng, cũng có một cửa sổ nhỏ với những nét chạm khắc đơn giản, nhưng cửa sổ này không phải bằng kính, mà dùng vỏ sò được mài nhẵn và đánh bóng. Họ mua nó từ nhà của Tát Sa.

Loại vỏ sò này sau khi mài bỏ lớp vỏ ngoài màu nâu sẫm, một số có màu hồng tím bóng loáng. Một số thợ mộc dùng loại vỏ sò này để đẽo hình và khảm lên gỗ để làm vật trang trí.

Hà Điền đã chọn tất cả những cái đẹp nhất và đắt tiền nhất, nhưng không ngờ là lại dùng chúng để làm cửa sổ. Cũng có người dùng loại vỏ sò này để làm cửa sổ, nhưng không ai làm tinh xảo như thế kia mà đem đi lắp trên cửa nhà vệ sinh cả.

Cửa sổ vẫn là loại hai lớp, có thể đẩy và kéo cả hai bên, điều thông minh là sau khi kéo so le, không khí có thể lưu thông, nhưng cửa sổ vẫn trong mờ, giúp bảo vệ sự riêng tư.

Tát Sa không đồng ý với việc sử dụng vật liệu tinh xảo và đắt tiền để làm nhà vệ sinh. Nhưng dù sao đi nữa thì nhà vệ sinh này cũng không phải của nhà anh ấy, kệ đi.

Đối diện với nhà vệ sinh, bên cạnh bếp lửa, Hà Điền và Dịch Huyền còn xây một nhà tắm.

Đi ra từ hành lang, bên trái là kho củi và nhà vệ sinh, bên phải là bếp nấu và nhà tắm.

Sau khi hai ngôi nhà nhỏ này được xây dựng, chúng trùng với bức tường phía Bắc của nhà mới. Bởi vì diện tích của kho củi lớn hơn nhiều so với bếp nấu, cho nên nhà tắm bên kia cũng lớn hơn nhiều so với nhà vệ sinh.

Để xây nhà tắm, bọn họ phải đợi anh em nhà họ Phổ đến thì mới bắt đầu. Không có họ thì không thể đẩy bồn tắm lớn vào trước khi xây bức tường bên ngoài.

Theo quan điểm của Tát Sa, xây một nhà tắm là không cần thiết.

Nhà bọn họ đến mùa đông đều tắm luôn trong nhà bếp.

Đun sôi hai nồi nước lớn trên bếp, cho vào thùng tắm, nếu muốn nước lạnh thì đổ nước từ giếng áp lực vào, còn muốn nước ấm thì múc nước nóng từ nồi lớn.

Tuy nhiên, vì nhà Hà Điền ở trên núi nên không thể có giếng như trong làng của họ, cho nên điều này cũng dễ hiểu!

Nhà tắm này cũng được nâng lên, và có một đường ống lớn kết nối với bồn tắm ẩn dưới sàn. Đường ống này được làm bằng đá bê tông có đường kính 15 hoặc 16 cm, dài hơn một mét, thật sự không thể tưởng tượng nổi họ đã tạo ra nó như thế nào.

Tát Sa hỏi, Dịch Huyền trả lời: “Thì dùng khuôn! Sau đó dùng xi măng nối chúng lại với nhau, lặp lại nhiều lần và sau đó kiểm tra xem có rò rỉ không.”

Lúc này, Tát Sa thật sự hối hận vì lần trước về nhà sớm. Anh ấy nên ở lại để xem họ làm những thứ này bằng bê tông như thế nào.

Thật ra nào có dễ dàng như Dịch Huyền nói.

Để làm ra một đường ống bê tông không thấm nước, anh và Hà Điền đã dùng mẻ tro núi lửa và sỏi bazan mang về từ mùa đông, bắt đầu thử đi thử lại nhiều lần.

Để đặt đường ống này, họ đào một rãnh dưới lòng đất, dẫn ra sau nhà, cuối rãnh còn đào một hố sâu, đại khái là để chứa nước.

Tát Sa lại hỏi Dịch Huyền: “Anh định đặt cái gì trong cái hố này? Chậu gỗ? Vạc gốm?”

Câu trả lời của Dịch Huyền suýt nữa lại khiến Tát Sa tức điên: “Tôi vẫn chưa nghĩ ra. Nếu cuối cùng vẫn còn vật liệu dư, tốt nhất là nên dùng bê tông để làm vật chứa. Đồ gốm muốn nung lớn như vậy không dễ, và cũng không chắc bằng bê tông.”

Tát Sa câm nín, không còn câu hỏi nào nữa! Hỏi gì đây? Bồn tắm lớn và các đường ống chôn của nhà người ta đều được làm bằng bê tông cả đó!

Phá của. Thật là phá của mà.

Hà Điền chỗ nào cũng tốt, nhưng lại tìm phải một tên đàn ông phá của. Còn hùa mà phá theo anh ta.

Dù sao thì bồn tắm cũng của người ta, tên đàn ông đó cũng của người ta, Tát Sa còn nói gì được nữa, im miệng thôi.

Để thoát nước cho bồn tắm, sàn nhà tắm cũng có huyền cơ của nó.

Sau khi thi công xong, trên cùng của sàn nhà tắm là một lớp ván tuyết tùng được đánh bóng cho nhẵn, mịn, mỗi tấm rộng tám cm, giữa chúng có những khoảng cách nhỏ để nước dễ chảy xuống dưới.

Mặt dưới của ván gỗ được đặt trên khung gỗ, khung gỗ nằm trên một lớp gạch đá, bên dưới lớp gạch đá là một lớp đá cuội nhỏ trộn sỏi, bên dưới nữa là đường ống. Để giữ ấm cho đường ống, trên lớp chôn lấp đường ống có một số bao tải nhỏ đựng vật liệu lấp đầy. Những bao tải lớn nhỏ chất trên đường ống này được đổ đầy cát mịn, trộn với mùn cưa và thân cây gai dầu khô cắt nhỏ.

Bốn góc của lớp này cũng được sử dụng thủ thuật như khi Dịch Huyền đặt đường ống cho sàn ấm, anh đặt bốn cái bình nhỏ, trong đó đựng đầy những mảnh gốm vỡ, hạt gốm và muối thô.

Trên đường ống có hai ống nhỏ, một ống nối với đáy bồn tắm, ống còn lại cao hơn một chút, gần như được đặt ngang bằng với sàn gỗ.

Tát Sa đang thắc mắc thì thấy Dịch Huyền xẻ một hình vuông trên sàn gỗ, lấy ra một viên gạch đá vuông, phủ lên sàn rồi dùng vồ đập vào.

Viên gạch đá nhỏ này khác với những viên gạch đá khác, chính giữa của nó là hình tròn có lỗ nhỏ bên trong. Rõ ràng, đó là lối thoát nước.

“Cái này được gọi là cống thoát sàn.” Dịch Huyền giải thích: “Nếu có quá nhiều nước trên sàn, nó có thể chảy xuống đây.”

Sau khi bồn tắm được lắp đặt xong, họ thử thêm nhiều lần nữa để xem nước có thể chảy trôi chảy xuống hố lớn hay không.

Thử nghiệm thành công, sau đó họ bắt đầu xây tường.

Dịch Huyền đã mở một khe hở hình vuông trên bức tường cạnh bếp, và thêm một đường ống để chuyển hướng nước nóng.

Ống này là ống tre có đường kính 15, 16 cm.

Tát Sa tò mò: “Tại sao đường ống nước nóng không dùng bê tông?”

Dịch Huyền liếc nhìn anh ấy, tiếc nuối nói: “Tôi nghĩ anh hơi thiếu gu thẩm mỹ rồi đó.”

Tát Sa gần như ngã ngửa vì tức.

Với các đường ống ở vị trí cũ, Dịch Huyền và Hà Điền đặt một dãy ván gỗ khác để chia phòng tắm thành hai phần. Phần gần bếp nấu là một căn phòng nhỏ với gỗ thông và vân sam trên trần, được đóng đinh vào nhau. Một chiếc ghế dài bằng gỗ được đóng đinh vào tường, giữa sàn được đào một rãnh vuông, trên đó chất một đống đá cuội lớn.

Dạng phòng nhỏ hộp gỗ này được làm đối diện với bồn tắm. Có một cửa sổ nhỏ trên cửa, ánh sáng có thể chiếu vào từ cửa sổ phòng tắm, không hoàn toàn tối đen.

Tát Sa hỏi Hà Điền: “Đây là cái gì?”

Hà Điền lắc đầu: “Đừng hỏi tôi, tôi cũng không biết. Dịch Huyền nói đó là phòng tắm hơi. Sẽ đặt những viên đá nóng vào đó, sau đó lấy một thùng nước và đổ một gáo nước lên những viên đá nóng đó. ‘Xèo xèo xèo’.” Cô nghiêm mặt khoa tay múa chân: “Cả phòng đều là hơi nước. Nghe nói là hưởng thụ gì đó.”

Tát Sa: “……”

Hưởng thụ hả?

Quên đi. Dù sao thì đó cũng là nhà của người ta.

Cửa sổ nhà tắm hướng ra phía sau nhà, không xa bên dưới là hố lớn, nơi xả nước thải.

Tát Sa muốn hỏi, lắp cửa sổ này ở đây nhằm mục đích gì? Thì thấy Dịch Huyền nhấc chân ngồi vào trong bồn tắm, tựa đầu vào thành bồn, mỉm cười nói nhỏ với Hà Điền đang ngồi xổm trên sàn: “… Có thể đem mấy loại hoa cỏ đó trồng ở đây. Về sau sẽ trồng hoa sen trong hồ chứa, chúng ta ngồi trong bồn tắm cũng có thể ngắm…”

À. Thì ra là định thiết kế như vậy.

Nhưng khoan, không phải anh làm nhà tắm là vì để tắm lúc mùa đông sao?

Sau đó, Tát Sa còn biết được rằng, Dịch Huyền chỉ mới thực hiện được nửa chặng đường của dự án mà thôi, người ta còn muốn xây một nhà kính lớn ở phía sau nhà nữa kìa.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 124: Sữa gừng và bánh đậu đỏ lạnh


Biết cái “Sân” của Dịch Huyền ban đầu vốn đã có dự định như vậy, Tát Sa há hốc miệng hồi lâu. Phía sau nhà sẽ xây một cái nhà kính, và phía sau nhà kính sẽ xây một khu chăn nuôi.

Nhưng, vẫn là câu nói kia, nhà của người ta, muốn làm gì là quyền của họ.

Lúc trước Tát Sa cũng giống Hà Điền, điều đầu tiên anh ấy nghĩ đến là làm thế nào để thoát nước cho sân trong khi nhà kính được xây dựng, và làm thế nào để làm sạch tuyết trên nóc nhà kính vào mùa đông.

Mái của kho củi và nhà vệ sinh là dạng dốc, tuyết có thể rơi ra ngoài sân ngay khi quét xuống. Nhưng căn bếp và nhà tắm ở phía đối diện dù sao cũng không lớn, còn nhà kính này trông thật sự rất lớn, cho dù có làm mái dốc cho nó đi nữa thì làm sao có thể thoát nước khi trời mưa?

Dịch Huyền đã sớm tìm ra biện pháp đối phó.

Hai ngày sau anh em nhà họ Phổ lại đến, Dịch Huyền dẫn mọi người ra sân, trên mặt đất đã cắm sẵn cây, dùng dây rơm kéo dây, rắc vôi dọc theo dây.

Dịch Huyền chỉ vào những vạch vôi trắng trên mặt đất: “Đào đi.”

Anh em nhà họ Phổ và Tát Sa có chút hoảng hốt: “Đào cái gì?”

“Cống thoát nước.” Dịch Huyền lại chỉ vào những viên đá chất đống trên mặt đất nhặt từ bãi sông về: “Sau khi đào xong thì đổ đá vào.”

Họ đào bốn rãnh thoát nước ở bốn phía của sân, mỗi rãnh rộng năm mươi centimet, sâu bảy mươi centimet, rải đầy đá lớn nhỏ, cuối cùng phủ sỏi. Sau khi san phẳng thì trải một lớp gạch bê tông lên.

Những viên gạch này cũng được làm thành một hình vuông có kích thước 50 x 50 cm, nhưng loại đá được chọn là đá bọt, thô và xốp, và có hai mươi lăm lỗ vuông 5 x 5 trên viên gạch.

Rãnh thoát nước sau khi làm xong nhìn bề ngoài bằng phẳng, trên thực tế mỗi rãnh đều có độ dốc nhất định, bốn rãnh thoát nước tạo thành hình chữ nhật có góc nghiêng để nước trong sân chảy ra từ góc sau nhà vệ sinh.

Bốn người đàn ông phải mất một buổi sáng mới đào và lấp xong bốn đường rãnh này.

Sau bữa trưa, Tát Sa trở về xưởng làm đồ da nghỉ ngơi, hai anh em nhà họ Phổ cũng mệt mỏi ngủ gục bên bàn ăn.

Dịch Huyền đánh thức họ dậy, Hà Điền mang ra một bình trà mật ong pha với lá bạc hà và những lát dưa heo ngâm trong suối, mọi người uống hết trà rồi lại được dẫn vào sân.

Trên khoảng không gian mở hướng ra sân trong, lại xuất hiện một vài đường kẻ trắng bằng vôi. Dịch Huyền cười nói với mấy người Tát Sa: “Chúng ta tiếp tục đào thôi nào!”

Chiều hôm đó, họ đã đào ba đường rãnh thoát nước dài hơn.

Phần đất này sẽ được sử dụng làm nhà kính. Ba rãnh thoát nước chạy theo hướng Đông Tây, đáy rãnh dốc từ Tây sang Đông, nếu trong nhà kính có nước thì nước sẽ chảy theo hướng Đông. Suối núi cũng chảy theo hướng Đông, cho đến tận chân núi.

Đối với chất lượng của ba rãnh thoát nước này, Dịch Huyền không mấy yêu cầu cao bằng so với sân trong, ba rãnh nước này chỉ được làm phẳng, cuối cùng là trải một lớp sỏi và vỏ cây bên trên, không lát gạch đá. Vì họ không còn gạch đá nữa.

Dịch Huyền nói với Tát Sa rằng rãnh thoát nước này có thể vẫn chưa ở dạng cuối cùng, mặc dù anh và Hà Điền đã làm thử trên mô hình quy mô nhỏ, nhưng thực hư có tốt hay không thì phải sau trận mưa lớn đầu mùa thu mới biết được.

Xây những gian nhà nhỏ này xong, Hà Điền và Dịch Huyền đã đem tất cả tro núi lửa và đá bọt còn lại làm thành những viên gạch rỗng, sau đó chất đống chúng trên bãi đất trống đã được chuẩn bị làm nhà kính, phơi khô để sau này dùng đến.

Nhưng nhìn là biết, chỉ sợ là mấy viên gạch này không đủ để xây khu nhà kính và khu chăn nuôi theo đúng kế hoạch.

Anh ấy bày tỏ sự lo lắng với Dịch Huyền, Dịch Huyền cười nói: “Ai nói những thứ này được dùng để xây nhà kính? Tôi làm vườn ươm mà.”

Lúc này Tát Sa mới nhớ ra, đúng vậy, anh ấy đã đến thăm nhà kính của họ, và cây được trồng trong vườn ươm cao hơn mặt đất khoảng một mét, làm vậy thì đất trong vườn ươm mới không bị đóng băng vào mùa đông.

“Vậy… hai người định làm nhà kính như thế nào?” Tát Sa thấy tro núi lửa đã hết sạch rồi. Và anh ấy cũng đã biết rằng gạch để xây chuồng vịt được làm bằng cây gai dầu khô, còn sàn thì được lát bằng đá bazan cùng với đá thủy tinh núi lửa cứng và hạt mịn. Gạch đá để làm vườn ươm thì được làm bằng đá bọt, nhưng tất cả gạch đều phải có tro núi lửa và vôi, nếu tro núi lửa đều đã dùng hết thì tất nhiên không có cách nào để làm gạch được.

Chẳng lẽ họ định xây nhà kính bằng gỗ?

Hay là vẫn làm giống như nhà kính nhỏ bây giờ, chỉ có khung gỗ, và phủ những tấm vải dầu trắng trên tường và mái nhà?

Nhưng vải dầu trắng sẽ không giữ ấm vào mùa đông được… Ít nhất cũng phải xây một nửa bức tường chứ?

Tát Sa đang suy nghĩ theo cách làm của một người thợ xây, Dịch Huyền vỗ vai anh ấy, cười ôn hòa nói: “Đừng lo, chúng tôi đang chờ anh dạy cách làm đất nện mà. Anh không thể chỉ dạy lý thuyết mà không dạy thực hành đúng không?”

Tát Sa sửng sốt, trong lòng kêu gào: Mình bị lừa rồi!

Lúc dạy anh ấy nung đồ gốm, Hà Điền cũng cùng Dịch Huyền làm một ít. Tất nhiên, cô không làm nhiều, chủ yếu là muốn cho anh ấy xem, có khi cô còn sửa chữa những thứ anh ấy làm.

Về sau cô và Dịch Huyền dạy anh ấy làm ván mộng và lỗ mộng, trộn xi măng, sử dụng khuôn để làm gạch rỗng và dùng gạch rỗng để xây nhà. Tất cả đều tham gia thực hành.

Lúc này, Tát Sa cảm thấy, nếu anh ấy

không cùng họ tham gia làm đất nện, vậy coi sao được.

Tát Sa tự nhủ với bản thân mình, những gì anh ấy học được thật sự nhiều hơn rất nhiều so với những gì anh ấy mong đợi trước khi đến.

Ví dụ: Anh ấy hỏi Hà Điền và Dịch Huyền cách làm nhiều viên gạch rỗng cùng một lúc, họ cũng không giấu giếm mà đem phương pháp này dạy cho anh ấy luôn. Anh ấy cảm thấy lúc làm đất nện hoặc làm đồ gốm đều có thể dùng đến.

Họ dùng Gạo làm động lực chính, để nó kéo cần của máy trộn quay liên tục, sau khi trộn tất cả các nguyên liệu lại với nhau, họ đổ chúng vào một cái khuôn gỗ trông giống như hộp gỗ lớn, đổ một nửa hỗn hợp thì ngừng, đặt chín tấm sắt mỏng vào các rãnh nhỏ dành riêng trên mép khuôn rồi đổ hỗn hợp còn lại vào, chín tấm sắt này có kích thước và hình dạng giống hệt nhau, mặt trên có chỗ nhô lên, có đục lỗ khoan. Một thanh gỗ xỏ qua chín lỗ này, lúc lấy thành phẩm ra khỏi khuôn thì nhấc thanh gỗ này lên, tất cả các tấm sắt đều bung lên, mở hộp gỗ ra, gõ nhẹ vào tất cả các mặt, sau đó lấy ba tấm gỗ xung quanh ra, liền tạo thành mười viên gạch cùng một lúc.

Tuy nhiên, nhìn thì dễ mà làm thì khó. Tát Sa phải thực hành nhiều lần thì mới thành thạo được, nếu không những viên gạch anh ấy làm ra viên thì bị khuyết góc, viên thì có bọt khí.

Hai người bọn họ đã vất vả dạy anh ấy như vậy, nếu anh ấy không dạy lại họ một cách nghiêm túc thì thật là xấu hổ.

Vả lại, những phôi gốm anh ấy làm ra đã gần khô rồi, còn chưa có đem nung nữa!

Làm đất nện cũng phải có trình tự làm việc giống như làm đồ gốm và nung gốm.

Vì vậy, khi Tát Sa dạy Hà Điền và Dịch Huyền làm đất nện, anh ấy cũng dạy lý thuyết trước, sau đó giải thích cách sử dụng các công cụ và cách chế tạo chúng, rồi cùng họ làm một bộ công cụ nện đất, cùng nhau thu thập nguyên liệu.

Kiếm nguyên liệu thì dễ hơn một chút. Khi Dịch Huyền đào ao, đống đất ấy vẫn còn chưa dùng hết.

Đất nện là đất sét trộn với cát, vôi, và những thứ khác nếu cần thiết, sau đó trộn với nước theo tỷ lệ rồi trải qua quá trình đập, nện.

Cũng có thể thêm những mảnh rơm nhỏ hoặc cỏ khô vào đất.

Nghe nói rằng trong quá khứ, một số công trình xây dựng bằng đất đặc biệt, chẳng hạn như tường thành, được trộn với nước và có khi còn thêm cả nước gạo xay vào, họ cho rằng điều này sẽ làm cho tường thành kiên cố và vững chắc hơn.

Một số công trình kiến trúc cổ thật sự đã trải qua hàng nghìn năm và vẫn còn di tích, nhưng không thể xác minh được liệu bên trong tường có nước gạo hay không.

Còn có một cách khác để xây một ngôi nhà bằng đất nện, cách làm này có thể nói là đơn giản hơn nhiều.

Chuẩn bị một số bao tải có kích thước tương tự rồi đổ đầy cát và bùn đất vào, khi xây nhà thì chất từng lớp bao cát như là gạch, sau đó dán một lớp bùn dày lên là xong.

Loại phương pháp này không phải là không thể xây dựng được một ngôi nhà vững chắc, chỉ cần các cột gỗ hoặc tre được chèn vào giữa các bao cát, nó cũng có thể đóng vai trò gia cố. Ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là nhanh chóng. Nguyên liệu cần chuẩn bị trước cũng vậy: Bao tải.

Nhưng dùng đất nện hoặc đất sét để xây nhà lại có một ưu điểm mà các vật liệu khác không thể so sánh được, đó là hình dạng của ngôi nhà hoàn toàn không bị giới hạn.

Để không bị mất mặt, trước khi bắt đầu buổi học Tát Sa đã chuẩn bị rất nghiêm túc, anh ấy vẽ rất nhiều hình ảnh vào sổ tay mà Hà Điền đưa.

Những ngôi nhà trong hình vẽ thật sự rất đa dạng, sức tưởng tượng có bao nhiêu thì hình dạng của những ngôi nhà này trông cũng khó tả bấy nhiêu. Cái mái vòm hình chóp này căn bản là không có cách nào tạo hình được. Bạn đã bao giờ nhìn thấy một ngôi nhà hình con ốc chưa? Còn cái hình cà rốt này nữa?

Tát Sa kết luận: “Tôi nghĩ những bức tượng bằng đất sét trong các ngôi đền ngày xưa thật ra cũng được làm giống như phương pháp xây dựng một ngôi nhà bằng đất. Đầu tiên là sử dụng các vật liệu chắc chắn như dây kẽm, tre và gỗ để làm giá đỡ, sau đó trát đất sét lên và cuối cùng là trang trí mặt ngoài.”

Sau khi giao lưu học thuật, bọn họ bắt tay vào luyện tập.

Tát Sa hoàn toàn không phải là một kẻ ngu ngốc, nhìn những công cụ mà anh ấy sử dụng để làm đất nện thì biết.

Công cụ làm đất nện rất đơn giản, đó là một chiếc búa gỗ lớn, đất trộn được đập nhiều lần để tạo hình dần, sau đó phơi khô, có thể dùng như gạch.

Các công cụ của Tát Sa là bán tự động.

Dụng cụ này được chia làm hai phần chính, một phần là khung gỗ, có thể điều chỉnh độ rộng, dưới khung gỗ có một cánh quạt bằng gỗ, một nửa khung gỗ được đặt trong dòng nước chảy, nước đẩy cánh quạt và dây đai có thể quay trục liên tục. Bộ phận khác của máy nện là khuôn để nện đất.

Cho đất nhão đã trộn vào khuôn gỗ, dòng nước đẩy cánh bơm, cánh bơm làm trục quay nhanh dần, búa gỗ to phía trên khuôn gỗ không ngừng đập xuống, đập vào đất nhão trong khuôn gỗ.

Cái máy này giống như là máy giã gạo. Có điều, máy giã gạo được sử dụng trong nhà máy của làng chỉ là một dãy cột và máng gỗ lớn, nhà Tát Sa cũng có một cái.

Trải qua mấy tháng rèn luyện, trình độ làm nghề mộc của Dịch Huyền và Hà Điền đã vượt trội rất nhiều, họ đã sớm tự chế tạo được máy nện của riêng mình. Khuôn gỗ này nọ đều đủ cả, quan trọng nhất là nó có cả trục quay và cánh quạt.

Có nguyên liệu và dụng cụ, sau khi nắm vững phương pháp thì việc làm đất nện không còn quá khó. Nhưng cũng giống như bất kỳ kỹ thuật nào, nếu muốn thành thạo nó thì cần phải thực hành thật nhiều.

Thầy giáo Tát Sa mang những viên gạch đất do hai học trò của mình làm ra bày đầy ở khoảng đất trống trước và sau ngôi nhà, đợi chúng khô.

Khi phơi gạch đất nện cũng nên quan tâm đến ánh nắng mặt trời, không nên để bề mặt gạch khô quá nhanh, nếu không gạch rất dễ bị nứt. Lúc này gạch phải được che bằng mành cỏ.

Nếu thời tiết quá nóng hoặc nhiều gió, phải tưới một ít nước lên mành cỏ để giữ ẩm.

Theo Tát Sa, sau khi thành thạo kỹ thuật này, một người có thể làm hơn sáu trăm viên gạch mỗi ngày.

Cũng có thể sử dụng đất nện bằng khuôn lớn hơn. Chẳng hạn như khuôn tường.

Khuôn tường là gì? Đó là dựng một bức tường rỗng bằng ván gỗ, đổ đất nhão đã trộn vào, nện chặt, khi đất khô thì lấy khuôn ra, vậy là tường đã làm xong.

Thủ thuật này đặc biệt hữu ích khi xây nhà.

Sau khi phôi gốm khô, Hà Điền hướng dẫn Tát Sa đặt một cái bàn nhỏ trước lò nung, trên bàn đặt một cái dĩa nhỏ, bên trong chứa đầy cát và ba viên hương hình nón, vẻ mặt nghiêm túc dâng hương cầu nguyện.

Nghi thức này khiến Tát Sa vô cùng kinh ngạc.

Suy cho cùng, chuyện gì sẽ xảy ra sau khi đóng cửa lò, tất cả đều phụ thuộc vào con người và cả ông trời. Có thể nung được một món đồ gốm đẹp hay là những mảnh gốm vỡ, trong thời đại này mà nói, có quá nhiều yếu tố không thể nào chắc chắn được. Một cơn mưa lớn bất chợt, một miếng gạch lò bị bong tróc, đều sẽ gây ra những hậu quả đáng thất vọng.

Mỗi bước tiếp theo đều rất quan trọng.

Đầu tiên, Hà Điền dạy Tát Sa đặt phôi gốm vào lò nung, cách đặt củi vào giữa phôi gốm và kệ, chọn miếng gỗ to như thế nào thì phù hợp, tất cả đều phải xem xét đến hướng của ngọn lửa và luồng khí, còn lại thì chỉ có thể dựa vào sức tưởng tượng và kinh nghiệm của người thợ.

Sau khi đặt phôi gốm vào, bắt đầu châm lửa.

Từ giờ trở đi, Hà Điền chỉ có thể dựa vào những công cụ này: Khoan sắt dùng để đẩy tấm sắt đậy miệng lò; xẻng để đúc củi; một cái quạt thổi khí bằng da cũ, trông giống như một chiếc đàn accordion mỏ nhọn; rồi một cái rìu nhỏ để bửa củi.

Ngoại trừ những thứ đó ra, cô còn phải dùng đến đôi mắt của chính mình.

Khi lò đã đạt đến nhiệt độ nhất định, mở tấm sắt ra có thể thấy được màu vàng cam rất tươi, màu càng nhạt thì nhiệt độ trong lò càng cao.

Đúng như những gì cô đã nói trước đây, chỉ cần lò còn cháy, họ phải tiếp tục thêm củi, thêm củi, và thêm củi, không có thời gian để nghỉ ngơi.

Trong hai ngày đầu, Hà Điền và Dịch Huyền thay phiên nhau canh gác, Tát Sa thì quan sát và nghiên cứu, đợi khi Tát Sa bắt đầu quen dần rồi thì sẽ để anh ấy luân phiên canh hai hoặc ba tiếng mỗi đêm.

Hà Điền dựng một cái chòi tạm trước lò, hầu như cả ngày lẫn đêm đều canh giữ ở đó.

Đối với cô, lô đồ gốm này có thành công hay không, so với trước đây, vô cùng quan trọng. Bởi nó còn liên quan đến danh dự của cô nữa.

Ba bữa ăn mỗi ngày của họ đều do Dịch Huyền nấu.

Trước đó Hà Điền đã chuẩn bị rất nhiều bánh mì yến mạch, có bữa Dịch Huyền sẽ hầm một nồi canh thịt, có thịt có rau, cho vào một chiếc nồi đất nhỏ rồi mang đến cho họ. Xé bánh mì ra nhúng vào canh, hoặc là làm thành bánh mì kẹp táo và sữa đặc, bánh mì kẹp dưa leo sốt mayonnaise trứng.

Táo được bảo quản trong hầm, thùng lạnh, nếu bảo quản đúng cách thì có thể ăn đến mùa thu năm sau lúc táo lại chín, nên cũng không quá hiếm, nhưng riêng sốt mayonnaise thì là lần đầu tiên Tát Sa được ăn. Cách làm không khó, chỉ cần cho giấm trắng và một chút đường vào lòng đỏ, cùng với mỡ, khuấy đều là được.

Anh ấy rất hài lòng với đồ ăn do Dịch Huyền chuẩn bị. Có điều, khi thấy môi của Hà Điền trở nên khô nứt, ăn không ngon, Dịch Huyền thấy thương vợ mình lắm, đối với chuyện ăn uống càng dụng tâm hơn nữa.

Hôm nay là mì lạnh với dưa leo và ớt xanh, ngày mai là cơm nắm ức vịt ướp ô mai, ngày tiếp theo nữa lại bưng tới sữa gừng.

Vì vậy Tát Sa cũng may mắn được nếm thử món ăn mới lạ này.

Dịch Huyền nghiền nhuyễn gừng, vắt lấy nước, cho vào ba cái chén nhỏ để dùng sau. Sữa cừu được lấy ra khỏi thùng lạnh trong hầm và đun nóng cho đến khi thấy những bọt khí nhỏ bằng lỗ kim nổi lên ở thành nồi. Sau khi nguội, dùng giá tre múc một giá, từ từ đổ vào chén nhỏ đựng nước gừng, dưới tác dụng của men protease của gừng, sữa trong chén trở thành dạng bán đông. Để biết sữa gừng thành công hay không cũng rất đơn giản, chỉ cần đặt một chiếc muỗng tre nhỏ nhẹ nhàng lên bề mặt sữa, nếu muỗng không bị chìm xuống là đã thành công.

Lúc này lại đem chén nhỏ đặt trong thùng lạnh một lúc, ăn rất ngon, mát và trơn mịn, ngọt ngào.

Ngoài sữa gừng, Dịch Huyền còn làm thạch anh đào và bánh đậu đỏ lạnh.

Lấy một miếng gelatin làm từ da và xương heo hoặc một ít bột thạch, đun chảy trong nước ấm và chia thành hai phần, một phần pha với nước ép anh đào, phần còn lại thì pha với một muỗng mật ong và một vài lá bạc hà.

Trước tiên đổ nước ép anh đào vào một cái chén nhỏ, đổ ngập nửa chén là được, sau đó cho vào thùng lạnh.

Một giờ sau lấy ra, nước trong chén đã đông lại thì cho một quả anh đào, một lá bạc hà thái nhỏ, đổ thêm một phần nước mật ong với gelatin vào chén, rồi lại tiếp tục cho vào thùng lạnh.

Sau đó lại lấy ra, úp ngược chiếc chén nhỏ vào dĩa sẽ được một lớp thạch hai màu, nửa đỏ sẫm, nửa trong như pha lê, có thể thấy rõ những quả anh đào đỏ tươi và lá bạc hà xanh trong thạch.

Còn bánh đậu đỏ lạnh thực chất cũng là một loại thạch.

Đem đậu đỏ luộc chín, thêm gelatin hoặc bột thạch vào khuấy đều, sau đó để nguội, định hình, cắt thành từng miếng nhỏ, hoặc dùng khuôn sắt hoa để cắt thành hình bông hoa. Đậu đỏ ngọt mát, ăn nghe sừng sực. Món bánh này không quá lạnh làm đau bụng, lại rất bổ dưỡng.

Mỗi lần thấy Dịch Huyền bày ra một món ăn ngon, Tát Sa đều sẽ chủ động cảm ơn Hà Điền: “Nhờ phúc của cô cả.”

Với sự giúp đỡ của Dịch Huyền, việc đốt lò diễn ra suôn sẻ.

Không ngờ, vào ngày đóng cửa lò, Hà Điền vừa ra khỏi nóc lò thì một cơn gió mát bất ngờ nổi lên.

Cô cau mày hít sâu một hơi: “Trời sắp mưa to rồi.”

Dịch Huyền và Tát Sa nhìn nhau, đều thấy ưu sầu.

Quả nhiên, chẳng mấy chốc, mây đen kéo đầy trời, mưa gió bão bùng.

Lúc này đây, tất cả những gì họ có thể làm là chờ đợi. Và cả cầu nguyện.

“Xem ra ông bà tổ tiên không muốn nghề này bị truyền ra ngoài rồi!” Dịch Huyền vỗ vai Tát Sa, nhìn anh ấy một cách đầy tiếc nuối.

Tát Sa không phục trừng mắt nhìn anh: “Vậy sao truyền cho anh được?”

Dịch Huyền hừ lạnh một tiếng, đẩy Tát Sa ra, ôm Hà Điền, hôn lên mái đầu xơ xác của cô: “Tôi đâu có phải người ngoài.”

Tát Sa bực mình lắc đầu.

Sau khi cơn mưa qua đi, trời quang mây tạnh, nhưng tâm trạng của mọi người lại không có theo thời tiết sáng sủa lên.

Thời điểm mở lò nung, Hà Điền có hơi lo lắng, đứng ngây ra ở cửa lò.

Dịch Huyền kéo tay cô: “Hay là để anh mở?”

Hà Điền lắc đầu, tự mình lấy những viên gạch đậy lò nung ra.

Cô cũng không quên dặn Tát Sa phải làm gì khi mở lò và chỉ cách lấy từng món đồ gốm ra.

Tất cả những viên gạch bịt kín miệng lò đều được dỡ bỏ, Hà Điền bước vào lò, cầm một món đồ gốm lên, vuốt nhẹ, rồi lại ấn mạnh vào, nở nụ cười.

Thật bất ngờ, hoặc cũng có thể nói là hợp tình hợp lý, lò đồ gốm này đã được nung thành công!

Tát Sa phấn khích đến mức chạy vòng tròn, siết chặt tay và la hét, Hà Điền và Dịch Huyền cũng cảm thấy nhẹ nhõm và thư thái hẳn ra.

Lấy từng món từng món đồ gốm ra, Hà Điền lại lấy cỏ khô dạy Tát Sa cách cột từng chồng chén dĩa.

Đến lúc này, việc dạy học của cô coi như đã hoàn thành.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 125: Bánh bột củ sen lạnh và củ sen chiên


Đợi Tát Sa phụ Dịch Huyền và Hà Điền làm nhà kính và khu chăn nuôi xong thì sẽ mang đồ gốm mình làm xuống núi về nhà.

Như Dịch Huyền đã nói lúc đầu, để học hỏi thêm nhiều thứ, anh ấy ước gì được ở lại thêm vài ngày nữa.

Nhà kính mà Hà Điền và Dịch Huyền xây dựng đúng là giống như Tát Sa đã hình dung ban đầu. Để đón nhiều ánh sáng nhất có thể, nó chỉ có một nửa là tường, sử dụng những viên gạch đất nện ghép lại với nhau.

Khi bắt đầu làm những viên gạch đầu tiên, Hà Điền đã làm nhiều loại khác nhau. Phần lớn được thêm cỏ khô và một ít rơm lúa mạch mà Tát Sa mang đến, một số thì thêm cỏ khô và lông vũ.

Phơi những loại gạch này xong, họ tiến hành thử nghiệm khả năng chống cháy và cách nhiệt, sau khi so sánh kết quả thử nghiệm, họ tiếp tục làm gạch, thêm một lượng rơm lúa mạch và lông vũ vào đất sét nhão.

Mặc dù nhà kính là dự án lớn nhất trong tất cả các dự án xây dựng hiện tại của nhà Hà Điền, nhưng vì có anh em nhà họ Phổ đến giúp đỡ nên rất nhanh đã được làm xong.

Nửa trên của bức tường của nhà kính được làm bằng vải dầu màu trắng. Loại vải dầu trắng này Tát Sa cũng đã thấy ở chợ mùa xuân, do một nhà sản xuất nhái lại, có lẽ là vì muốn mở rộng thị trường, những sản phẩm này rẻ hơn nhiều so với loại vải dầu được làm ra từ nhà máy tồn tại hơn hàng chục năm. Loại mà Hà Điền mua là loại rẻ nhất, và tất nhiên, cũng là loại mỏng nhất.

Tấm vải dầu có hình vuông, được gấp lại làm tư, loại dày nhất và đắt nhất thì giá gấp đôi so với tấm vải dầu này.

Nhưng loại vải dầu này cũng rất bền.

Khâu hai lớp vải dầu lại với nhau, khâu các hình vuông năm mươi x năm mươi cm ở giữa, chừa một khoảng trống rộng khoảng ba ngón tay ở bốn cạnh của mỗi hình vuông, sau đó dồn một ít lông vũ vào. Số lông này có màu hơi nhạt, chủ yếu là phần lông ở bụng của ngỗng và vịt hoang.

Khoảng trống giữa các ô vuông là dành cho khung gỗ trong vách đất, sau khi làm vải dầu xong, hai người đứng trên thang cầm tấm vải dầu, đặt khoảng trống giữa tấm vải lên khung gỗ vuông và kéo từ từ xuống, bức tường này liền đã xong. Sau đó, đóng đinh ba khung gỗ song song ở cả hai bên để cố định.

Phần mái của nhà kính cũng làm như vậy.

Để thuận tiện cho việc dọn tuyết, phần mái của nhà kính cũng được làm dốc, nhưng có một điều đặc biệt là mái nhà được chia làm bốn tấm. Tời được cố định vào vách trong, mái đối diện với tời sẽ được kéo lên giống như nhịp cầu treo, khi nghiêng lên trên, tuyết phủ vẫn chưa bị đóng thành băng sẽ dễ dàng tuột xuống đất.

Nhìn từ bên trong nhà kính, cơ chế này rõ ràng hơn, có những sợi dây gai cỡ bằng ngón tay trên khung hình tam giác của mái nhà bốn tấm và cả bánh xe kim loại không biết đã được tháo ra từ một loại máy móc nào đó.

Đến lúc này, Tát Sa hoàn toàn phục Dịch Huyền luôn rồi. Làm như vậy có khác nào là đang đắp chăn lông cho mái nhà kính đâu kia chứ? Lần trước Tát Sa đến đây, anh ấy hỏi Hà Điền cái túi treo dưới gốc cây dùng để phơi gì, Hà Điền nói đó là lông tơ và lông vũ, lông tơ mềm sát với da của chim nhất, nhét vào trong chăn mền hoặc quần áo, vừa nhẹ vừa ấm, lông vũ lớn hơn thì dùng làm vật liệu khác.

Lúc này, đều được đem ra hết.

Nhưng anh ấy vẫn hỏi: “Sao ngoài mái hiên nhà hai người không có bánh xe kim loại?”

Dịch Huyền lập tức mím môi: “Vốn đã lắp rồi, nhưng bánh xe kim loại không đủ, vì vậy tôi phải tháo nó xuống lắp vào đây.”

Hà Điền vội nói: “Bánh xe kim loại lắp trên sân thượng mà gặp trời mưa gió thì không tốt cho lắm. Mình làm loại tre và gỗ lại thấy tốt hơn. Đúng không anh?” Cô cười ngọt ngào với Dịch Huyền. Vẻ mặt của Dịch Huyền lật còn nhanh hơn lật bánh tráng. Bộ mặt vốn lầm lầm lì lì (góc nhìn của Tát Sa), thoáng một cái liền trở nên ấm áp và tràn đầy tình cảm (vẫn là góc nhìn của Tát Sa).

Chậc. Khoe khoang sắc đẹp quá rồi đó, khó trách có thể lừa một cô gái lương thiện và có năng lực như Hà Điền đi theo mình phá của!

Bên trong nhà kính còn được dựng một bức tường thấp, chia không gian thành một phần lớn và một phần nhỏ, phần nhỏ hơn cách xa ngôi nhà được Hà Điền và Dịch Huyền chuẩn bị cho gia súc trong nhà. Tát Sa đoán là có thể họ sẽ thêm một chút chi tiết, chẳng hạn như sử dụng hàng rào gỗ hoặc hàng rào tre để ngăn cách các loài động vật với nhau, sau đó làm cửa nhỏ này nọ, nói không chừng còn chừa ra một chỗ để chất cỏ và thức ăn cho gia súc. Hừm… tốt hơn hết là nên đặt ở hai bên khu chăn nuôi để giữ ấm hơn… Tát Sa suy ngẫm một lúc, chợt nhận ra mình lại đang lo xa chuyện nhà người ta.

Thật sự không cần anh ấy phải lo lắng về điều này. Hà Điền và Dịch Huyền đã suy tính kỹ lưỡng kể cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất. Sau khi làm tường thấp xong, bên trên sẽ dùng tre và dây rơm để làm hàng rào, đảm bảo rằng gà và vịt sẽ không bay đến khu vực trồng cây.

Ngoại trừ khu vực vách ngăn, bức tường thấp bằng đất trong nhà kính này cũng hấp thụ ánh sáng mặt trời vào ban ngày và từ từ tỏa nhiệt vào ban đêm. Cây trồng và vật nuôi trong nhà kính cũng nhờ vậy mà ấm hơn.

Về khu vực trồng cây cũng được chia thành nhiều phần, khu vườn ươm không phải toàn là vuông vắn như nhà kính nhỏ, các khối vuông đều tập trung ở hai bên nhà kính, các khối gần cửa sổ phòng tắm thì được tạo thành nhiều hình bán nguyệt và hình bầu dục. Cũng có những cái cong một cách ngẫu nhiên, và đường đi trong vườn ươm được phủ bởi một lớp vỏ cây khô và sỏi đập nhỏ, uốn lượn theo hình dạng của vườn ươm.

Ở đầu nước chảy ra từ nhà tắm, một cái hồ đá lớn bằng bê tông bazan được đặt vào, một nửa chôn xuống đất và một nửa lộ bên trên, cái hồ này được tạo ra một cách có chủ ý, nếu không tận mắt chứng kiến thì Tát Sa sẽ nghĩ cái hồ đó được đục từ đá tự nhiên. Nó nặng gần bằng một phiến đá tự nhiên, anh ấy và anh em nhà họ Phổ phải đẩy hết cỡ, bốn người dùng dây thừng rơm và thanh gỗ để khiêng, tốn rất nhiều công sức mới chuyển được.

Hồ nước tạm thời để trống, nhưng có thể tưởng tượng được rằng sắp tới họ sẽ trồng cây thủy sinh, nuôi thêm vài con cá, và có thể dùng nước trong hồ để tưới cây.

Nghĩ đến đây, Tát Sa nhìn vào căn nhà kính vẫn còn đang trống không, tưởng tượng đến cảnh tượng sau này vườn ươm hai bên nhà kính sẽ được trồng rau, và những chỗ trống không đều ở giữa vườn ươm có lẽ sẽ được trồng nhiều loại hoa và cây cảnh. Ừm, lại chuyển hai vại nước vào, trồng hoa sen, trong hồ…

Anh ấy không khỏi có chút ghen tị với Hà Điền và Dịch Huyền: “Hai người thật biết cách sống.”

Có thể không thích hợp khi nói “biết cách sống”, mà nên nói là “biết hưởng thụ cuộc sống”.

Điều khiến Tát Sa ngạc nhiên nhất là Hà Điền và Dịch Huyền đã làm hai bức tường bằng đất nện và đặt chúng trong ngôi nhà mới của họ.

Loại phương pháp sử dụng này thật sự chưa từng thấy qua.

Hà Điền và Dịch Huyền giải thích rằng đất nện là vật liệu có chất lượng nhiệt cao và có thể điều chỉnh độ ẩm trong nhà. Các đường ray được lắp trên trần nhà và hai bức tường có thể di chuyển được, chúng được đẩy vào giữa phòng vào ban ngày để trở thành một đường thẳng, chia căn nhà thành hai, ánh nắng xuyên qua cửa sổ sẽ chiếu trực tiếp lên nó, ban đêm hai bức tường được đẩy thành hình chữ L để ngăn thành phòng ngủ nhỏ ấm áp, tường đất lại từ từ tỏa ra lượng nhiệt hấp thụ lúc ban ngày, không phải là càng ấm hơn sao?

Đến mùa hè cũng có thể gấp hai vách lại đẩy về hai góc phòng, vừa thông thoáng vừa mát mẻ, tường đất còn điều tiết được độ ẩm, dù trời mưa, không sưởi ấm sàn nhà cũng không có cảm giác ẩm ướt.

Sau khi nghe xong, Tát Sa cảm thấy cũng có lý. Hơn nữa tường đất sợ nhất chính là nước, tiếp đó là sợ cỏ mọc, đặt ở trong nhà thì giải quyết được vấn đề này.

Vì vậy, anh ấy đã cùng Hà Điền và Dịch Huyền làm “bức tường đất di động”.

Nói là hai bức tường có thể di chuyển được, nhưng chúng thực chất là mười hai tấm tường có thể di chuyển, mỗi tấm dày năm sáu centimet, được bao quanh bởi một khung gỗ làm bằng cây tuyết tùng được đánh bóng nhẵn, các khung gỗ được lắp vào ròng rọc và được lắp trên trần nhà. Nó chạy rất êm, cho nên ngay cả khi đẩy nhiều tấm tường đất vào nhau, cũng không cảm thấy nặng nề.

Hơn nữa, sau khi đến nhà của Hà Điền và Dịch Huyền, Tát Sa mới biết được rằng, tường đất nện cũng có thể làm đẹp đến vậy.

Sau khi thử nghiệm, họ đã chèn mấy viên sỏi nhiều màu sắc để trang trí vào tường đất, đường nét của các viên sỏi trên mỗi tấm tường đều khác nhau, khi ghép chúng lại với nhau có thể thấy hai vòng cung uốn lượn nhiều màu sắc.

Hai vạch màu này vừa tầm mắt nhìn, đường nét uyển chuyển, khiến cảm giác nặng nề của mảng tường đen xám đất biến mất. Những viên sỏi màu này đều là thủy tinh núi lửa mà cả hai cùng nhặt về.

Đặc biệt khi ánh nắng chiếu trực tiếp vào tường, những viên đá màu trong mờ tỏa ra điểm sáng rất lộng lẫy, hắt lên sàn nhà và đồ đạc.

Ngoài ra, họ còn làm một chân đế hoa văn hình lá cao ba mươi bốn centimet ở phía dưới tấm tường để làm cho tường đẹp hơn.

Bức tường đất bây giờ được gấp lại đặt ở góc nhà. Lúc này thứ họ dùng là một bức tường di động được làm bằng tre và giấy hoa.

Thứ này càng thanh nhã hơn. Kích thước của mỗi tấm tường giấy hoa bằng tre giống như tường đất di động nhưng mỏng hơn rất nhiều, khung tre chỉ dày một đốt ngón tay, vừa bằng với kích thước của trục bánh đà, tường được hai dải tre mỏng chia thành ba tấm ô vuông, các ô vuông ở hai đầu cao ba mươi bốn mươi cm, ở giữa là những ô vuông cao hơn, nói là tường có thể di chuyển nhưng lại trông giống bức bình phong hơn, giấy thì được làm thủ công, màu trắng ngà, bên trên có ép lá trúc và cánh hoa rải rác, thanh nhã tươi mát.

Dịch Huyền nói nó được dùng để che nắng, nhưng Tát Sa cảm thấy nó giống như một vật trang trí hơn.

Ánh mặt trời chiếu lên trên tường giấy, bóng lá trúc trên giấy chiếu xuống mặt đất, mờ ảo, rất đẹp.

Tát Sa biết rất có thể không có dịp dùng đến những kỹ thuật này, nhưng anh ấy vẫn ghi những chi tiết này vào sổ tay của mình.

Anh ấy biết giấy được tạo ra như thế nào, vì Hà Điền đã cho anh ấy một cuốn sổ cô làm, nhưng anh ấy vẫn muốn xem quy trình làm giấy.

Nhưng đáng tiếc là Hà Điền nói năm nay không làm giấy nữa. Nếu muốn học thì năm sau lại đến.

Khi rời đi, Hà Điền đưa cho anh ấy một chiếc hộp gỗ nhỏ và nhờ anh ấy chuyển nó cho Tam Tam.

Trong hộp gỗ là tơ năm nay thu được và một bức thư.

Ngoài ra, Hà Điền còn nhờ Tát Sa mang cho Tam Tam và Tam Bảo một ống tre đựng bột củ sen và một hũ mật ong.

Tát Sa chưa từng thấy hoa sen bao giờ, và dĩ nhiên anh ấy cũng không biết bột củ sen là gì, khi mở ống ra chỉ cảm nhận được mùi thơm, bột trong ống rất mịn, không trắng lắm.

Anh ấy cho rằng đó là thứ bột mà con gái dùng để bôi lên mặt, chợt nghe Hà Điền nói: “Cách ăn tôi cũng đã ghi lại trong sổ tay rồi.”

Sau khi nghe Dịch Huyền giải thích, Tát Sa không muốn rời đi nữa: “Hai người dẫn tôi đi đào củ sen đi! Sau đó dạy tôi cách làm bột củ sen nữa! Năm nay nhà tôi gặt lúa, sẽ dùng hai túi gạo đổi với hai người.” Túi mà người miền núi nói là bao gai to, một túi gạo khoảng hai mươi lăm ký.

Dịch Huyền nghĩ đi nghĩ lại thấy cũng có thể giao dịch nên dẫn Tát Sa đến một cái ao gần đó đào hai sọt củ sen về, một sọt để anh ấy chia cho nhà Tam Tam, sọt còn lại làm thành bột củ sen cho anh ấy xem.

Đào củ sen và làm bột củ sen mất cả một ngày.

Tất nhiên, không thể thiếu việc dạy Tát Sa cách ăn và trồng củ sen.

Số củ sen còn lại, Hà Điền băm nhỏ trộn với nhân thịt, nhúng qua một lớp trứng, lăn qua bột mì, rồi lại nhúng qua một lớp trứng nữa, lăn vào vụn bánh mì, sau đó cho vào chảo chiên. Ăn giòn đến nỗi Tát Sa gần như muốn cắn luôn lưỡi của mình.

Mẻ bột củ sen mới vẫn còn chưa khô nên Hà Điền dùng đến số bột củ sen mà họ đã làm trước đó.

Ngoài cách pha với nước sôi, Hà Điền còn làm một số món bánh củ sen.

Cách làm bánh củ sen cũng rất đơn giản, tráng khuôn bằng mỡ, khuấy đều bột củ sen với nước ấm, thêm chút bột thạch hoặc gelatin đã đun chảy, đổ vào khuôn, cho lên xửng hấp, hấp hai mươi phút, lấy ra để nguội. Sau khi tháo khuôn, có thể cắt thành các hình dạng tùy thích.

Nếu muốn đặc biệt hơn thì cũng có rất nhiều cách.

Vì bột củ sen sau khi nấu sẽ trong mờ nên khi khuấy đều với nước có thể cho thêm cánh hoa hồng hoặc hoa quả thái hạt lựu vào.

Theo Dịch Huyền, mùi thơm ngọt của hoa quế rất hợp với bột củ sen. Hoa quế và đường phèn ngào thành đường hoa quế ngọt thơm, rưới lên bánh củ sen, hương vị thanh tao, ngọt hậu, đọng lại lâu.

Nhưng vì mùa đông năm ngoái đến quá đột ngột nên Hà Điền không đưa Dịch Huyền đi xem loài cây có thể là “Hoa quế” được, cho đến nay họ vẫn chưa hái được hoa quế, nên lúc làm bánh ngọt vẫn dùng hoa hồng.

Màu sắc của những cánh hồng khô vẫn đẹp được điểm thêm vào bên trong bánh củ sen trong mờ không chỉ làm tăng thêm vẻ đẹp của món ăn mà còn lẫn cả hương thơm thanh tao nữa.

Cuối cùng, Tát Sa mang theo một hộp bánh củ sen lạnh và một hộp bánh củ sen cánh hoa hồng, mãn nguyện rời đi.

Anh ấy xuôi theo dòng nước, đến con sông dài đầy lá và hoa sen, dừng thuyền lại, đào một số củ sen cùng với bùn theo phương pháp của Dịch Huyền dạy, rồi lại hái một vài đài sen già, định trồng thử ở mảnh ruộng cằn cỗi nhất nhà mình. Anh ấy suy nghĩ một chút, hái thêm một ít hoa sen sắp nở, tặng cho Tam Tam.

Nhà Tát Sa có bốn anh trai, anh cả lớn hơn anh ấy mười bốn tuổi. Dưới sự dẫn dắt của ba mình, nhiều năm không ngừng khai khẩn, trong nhà có mấy sào ruộng lớn, lúa gạo cũng không thiếu, tất cả anh em trong nhà đều hy vọng Tát Sa có thể học thêm nghề thủ công này, vậy thì sau khi ba mẹ qua đời, Tát Sa sẽ không tranh giành ruộng đất trong nhà với họ.

Anh em nhà họ Phổ đương nhiên không có mặt dày như Tát Sa, dám chủ động đòi ăn, nói cái gì mà: “Cho tôi một hộp bánh ngọt nữa.”, nhưng lúc ra về họ cũng rất vui vẻ.

Vì thành tích tốt của họ trong giai đoạn này, Dịch Huyền và Hà Điền quyết định năm nay sẽ đưa một trong số họ đi bắt cá hồi. Người còn lại ở nhà, mỗi ngày đến một lần để chăm sóc gia súc, rau củ, cá đánh bắt được sẽ chia đều cho hai bên.

Tiễn hai anh em nhà họ Phổ và Tát Sa đi, việc xây nhà về cơ bản đã hoàn thành, Hà Điền và Dịch Huyền cuối cùng cũng có thể nghỉ ngơi một chút. Tiếp theo, họ sẽ đi bắt cá hồi.

Tối hôm đó, hai người ăn tối xong, cùng nhau ngớ ngẩn ngồi chen chúc trong bồn tắm uống rượu gạo, nhìn qua cửa sổ nhà tắm nhìn ra nhà kính trống không không có trồng trọt gì, đồng thanh nói: “Anh (em) rất thích nhà của chúng ta.”
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 126: Một ngụm thịt thỏ, một ngụm dưa leo giòn


Nửa tháng tám trôi qua trong nháy mắt, trong rừng không có lịch, nhưng mọi thứ đều đang ám chỉ thời gian chuyển dời.

Điều đầu tiên có thể cảm nhận được là màu sắc của lá đang dần thay đổi.

Khu rừng giữa mùa hạ, lọt vào trong tầm mắt lúc đó tràn ngập nào là màu xanh ngọc bích, xanh thẫm, cũng như xen kẽ chút màu xanh vàng dịu dàng của những chồi lá mới mọc, gió thổi vi vu, dưới tán lá cây bạch dương là một màu xanh xám…

Mà giờ đây, mép của nhiều lá cây đã dần chuyển sang vàng. Có loại ngả sang màu vàng, có loại có đốm rám nắng hoặc có mảng nâu đỏ, mỗi sáng sớm họ phải mất nhiều thời gian hơn để dọn dẹp lá rụng trên ban công và hiên nhà.

Dịch Huyền thu nhặt rất nhiều lá rụng, dùng dây rơm xỏ thành từng sợi rồi treo lên hàng rào tre, dọa cho lũ chim trong vườn rau sợ hãi.

Quả trên cây táo cũng bắt đầu đỏ rực. Đặc biệt là những quả táo trổ đầy ở hướng mặt trời, quả màu xanh nhạt lúc đầu đã lộ ra một chút màu hồng, giống như khuôn mặt e thẹn của một cô gái, sau đó vết ửng hồng từ từ lan ra, toàn bộ quả táo chuyển sang màu đỏ, vỏ trông như sáp càng thêm rực rỡ, bên trên có một lớp phấn mờ trông giống như sương giá, không thể rửa sạch bằng nước mà phải dùng khăn bông lau thì mới sạch. Sau khi lau sạch lớp phấn trắng này đi, quả táo liền trở nên sáng bóng.

Mặc dù Hà Điền bảo anh đợi một tuần nữa hãy hái táo, nhưng Dịch Huyền không thể đợi táo chín hẳn, anh hái hai quả táo còn cành và lá, đặt trên chiếc bàn nhỏ trước cửa sổ phòng ngủ, buổi tối đi ngủ cũng có thể ngửi thấy mùi thơm ngát của táo.

Đến giữa cuối tháng tám cũng là thời điểm cuối cùng bắt được cá hồi.

Trong một tuần nữa, sẽ khó có thể nhìn thấy đàn cá lội ngược dòng. Nhiệt độ cũng đã giảm xuống, và thậm chí có thể bắt đầu xuất hiện mưa và tuyết.

Vào buổi sáng ngày bắt đầu đi bắt cá hồi, trời còn chưa sáng hẳn thì anh em nhà họ Phổ đã đến rồi. Dịch Huyền dặn dò Phổ anh vài câu rồi bọn họ lên đường.

Do sự cố lương thực vào mùa đông năm ngoái và chuyện ba mất hồi đầu hè, hai anh em nhà này nay đã chịu khó hơn rất nhiều. Từ lúc mùa xuân bắt đầu, họ bắt được rất nhiều heo rừng. Heo đực thì đem thiến, đợi đến mùa thu sẽ làm thịt rồi ướp gia vị hoặc đem xuống chợ đổi, heo nái và heo con thì giữ lại. Heo đực sau khi thiến không còn hung dữ nữa, chúng háu ăn, có thể tăng hàng chục kg trong vài tháng.

Họ đã chứng kiến và tham gia vào quá trình xây nhà cùng với Hà Điền và Dịch Huyền, nên cũng có động lực hơn, về cải tạo lại căn hầm và nhà gỗ của mình. Ngoài một ít rau, khoai, củ cải lương thực chính cho mùa đông, họ còn trồng thêm một mớ bắp.

Bắp được họ đổi với nông dân ở phiên chợ mùa thu năm ngoái, họ đổi cả quả nguyên, hạt nào khi tách ra cũng căng mọng.

Thấy nhà Hà Điền trồng bí đỏ, kê và khoai lang ngoài cà rốt và khoai tây, họ cũng muốn trồng thêm mấy loại lương thực khác ngoài khoai tây.

Hai anh em nhớ lại bác nông dân trồng bắp có nói đây là thứ dễ chăm sóc, năng suất cao, sau khi thu hoạch có thể cất giữ được lâu, rồi còn bất kể có là trên núi hay là đất đá thì cũng trồng được hết. Bọn họ cảm thấy mình nên chọn loại cây này, nhưng không ngờ là những cây bắp vất vả mới trồng được này tuy là cao lớn và trổ hoa, nhưng mà lõi bắp lại không mọc ra hạt.

Có cây tốt hơn một chút, đã mọc hạt, nhưng trên một quả lại chỉ có loe ngoe vài hạt mà thôi.

Lúc này anh em nhà họ Phổ mới nhận ra, chưa nói đến người trên núi, ngay cả dân làng dưới chân núi cũng có rất ít người trồng bắp.

Chỉ ở những vùng đồng bằng cách sông từ 30 đến 40 km như gia đình Sở Vân Tây, người dân mới trồng bắp với quy mô lớn.

Nhưng đã quá muộn để trồng các loại cây khác vào thời điểm này.

Anh em nhà họ Phổ hy vọng lần này đi theo Hà Điền và Dịch Huyền có thể bắt được nhiều cá hồi một chút, có như vậy thì họ mới có thể trao đổi nhiều thứ hơn với người ta tại hội chợ mùa thu. Cho dù là không đổi được thì cũng có thể giữ nó cho mình ăn.

Ba người bọn họ dắt Gạo và Lúa Mì băng qua rừng, băng qua cây cầu dây, đi về phía rừng sâu.

Lúa Mì luôn đi đầu trong đội. Nó rất thích thú và hưởng thụ mỗi khi được ra ngoài thế này.

Trên đường đi, Lúa Mì bắt được một con thỏ rừng và phát hiện hai con gà rừng, ba thợ săn liên tục thu hoạch con mồi, chiếc sọt trên lưng Gạo càng lúc càng nặng hơn.

Đến trưa, phải qua sông, Dịch Huyền tháo hai cái sọt bên hông Gạo xuống, cùng với Phổ em mỗi người cõng một sọt qua sông, còn Gạo thì sẽ để Hà Điền cưỡi qua.

Hà Điền thật sự cảm thấy đây là chuyện không cần thiết, chỉ vẽ vời cho thêm chuyện.

“Sông không sâu, mình cùng nhau qua một lượt là được mà.”

Dịch Huyền kiên quyết nói: “Nước không sâu, nhưng lạnh lắm! Lên nhanh đi, anh kéo Gạo đi từ từ, nhất định không để em rơi xuống đâu.”

Hà Điền có chút sợ Gạo sẽ hất mình xuống sông, cô miễn cưỡng nằm ở trên lưng Gạo, ôm cổ nó: “Gạo, phải đi chậm rãi vững vàng nghe chưa!”

Phổ em nhìn Lúa Mì, Lúa Mì cũng mặt chó nhìn anh ta, thè lưỡi thở hổn hển, nhìn cái gì vậy? Chú chưa từng thấy “cẩu độc thân” bao giờ à?!

Dịch Huyền kéo Gạo, Gạo chở Hà Điền, hai người thì thầm cười nói đi phía trước, hai “cẩu độc thân” đi ở phía sau, Phổ em nhọc nhằn cõng đồ đạc nặng trĩu trên lưng, Lúa Mì đi đến chỗ nước sâu thì còn phải bơi chó.

Sau khi băng qua sông, Hà Điền đốt lửa tại chỗ, Dịch Huyền và Phổ em thay quần áo ướt treo lên cành cây cho khô, cô lột da thỏ rồi làm sạch đặt lên vỉ nướng, thịt thỏ chín rồi thì dùng dao cắt thành từng miếng, mở hành lý, lấy một chồng bánh kếp ra, kẹp thịt vào ăn.

Đồ ăn do Hà Điền mang đến còn có một ít dưa leo nhỏ vẫn còn gai nhỏ và cuống hoa, họ lấy ra ăn với bánh kẹp thịt thỏ, một ngụm bánh thịt béo ngậy thơm lừng, một ngụm dưa leo sống giòn rụm.

Sau giờ nghỉ trưa, bọn họ tiếp tục tiến sâu vào khu rừng rậm.

Đây là lần đầu tiên Phổ em bước vào con suối trong rừng rậm đầy gấu này, anh ta vác chiếc túi lều ngủ trên lưng và bám sát phía sau Gạo, sợ bị bỏ lại.

Đến buổi tối, họ đến gần con suối nơi bắt được cá hồi năm ngoái, họ vẫn dựng lều ở nơi dựng trại năm ngoái, tìm củi khô và đốt lửa trại lên.

Vì có thêm người trợ giúp, Hà Điền dự định năm nay sẽ đan lưới, đặt ở trong dòng suối.

Nhân lúc trời còn chưa tối hẳn, Dịch Huyền và Phổ em đi chặt tre kéo về, Hà Điền thì ở lại trại chuẩn bị bữa tối.

Lưới tre không cần phải đan quá kỹ, ba người ăn uống xong, chẻ tre ra, đan lưới tre bên đống lửa.

Sáng sớm hôm sau, họ dọn dẹp lều trại, treo đầy thức ăn lên cành cây, rồi ba người mang lưới tre ra suối.

Đến giữa tháng tám, mặt trời mọc muộn hơn nhiều, hơn sáu giờ sáng rồi mà bầu trời vẫn còn là màu xám xanh.

Mà cho dù trời vẫn còn chưa sáng rõ, họ vẫn có thể nhìn thấy cá hồi trong suối đang lội ngược dòng nước, hăng hái nhảy qua các tảng đá trong suối, đuôi cá xám bạc vẫy đập b.ắn ra nước tung tóe.

Họ chặt tại chỗ một vài cây nhỏ, chặt bỏ cành, cắt một đoạn thân cây thành hình nón để cố định lưới chắn.

Sau khi lưới được đóng đinh vào dòng suối, không mất nhiều thời gian, một số lượng lớn cá hồi chen chúc nhau trước lưới, chúng liên tục nhảy lên, cố gắng lao qua lưới, dòng suối chảy róc rách lúc này giống như một nồi nước sôi, trước tấm lưới đều là bọt nước do cá hồi tạo ra, nước bắn tung tóe tạo ra âm thanh kỳ lạ.

Dịch Huyền và Phổ em đều mặc quần yếm làm bằng da heo rừng, mang theo một chiếc vợt cá lớn và liên tục vớt cá hồi lên.

Một con cá hồi trưởng thành có thể nặng từ 15 kg trở lên, chúng vật lộn và xoắn trong vợt cá, Dịch Huyền phải dùng sức toàn thân để nhấc vợt và bước đi trong dòng nước để vào bờ.

Hà Điền cầm sẵn một cái túi lớn bằng vải dầu đứng ở trên bờ, bao túi vào vợt, lúc này Dịch Huyền mới dám đổ cá vào.

Anh và Phổ em bận rộn một lúc, trước lưới lại chật ních những chú cá hồi háo hức lội ngược dòng.

Ba người bắt cá gần nửa tiếng, đều thấm mệt, nhưng lúc này lại là thời điểm cá tập trung lại nhiều nhất, ai biết khi nào thì cá mới lại đến nữa, một tiếng sau? Hay là một ngày sau?

Dù kiệt sức nhưng cả ba vẫn tập trung tinh thần và cố gắng phối hợp với nhau để có thể bắt được nhiều cá nhất có thể.

Cho đến khi ba túi đầy cá được đặt trên bờ, Dịch Huyền nói: “Nghỉ một chút thôi”

Cả ba ngồi xuống bờ, đều thở hổn hển.

Hà Điền lấy bình giữ nhiệt ra, rót một ly trà gừng đường nâu nóng cho mọi người.

Trong lúc uống trà cô nắm chặt tay Dịch Huyền, lòng bàn tay anh vẫn còn ấm, lúc này cô mới yên tâm.

Những chiếc quần làm bằng da heo rừng nguyên tấm có vẻ hữu dụng.

Sau khi làm quần xong, Hà Điền còn cố tình bôi keo bong bóng cá cả bên trong và bên ngoài, sau đó hong khô, khiến chiếc quần trở nên cứng, giống như lúc chưa thuộc da. Dịch Huyền hay nói đùa rằng đặt nó ở trên mặt đất nó có thể tự mình đứng thẳng được luôn.

Xấu thì hơi xấu thật, nhưng mà nó không thấm nước.

Hà Điền cũng từng nghĩ đến việc dùng vải dầu dày làm quần chống thấm nước, nhưng dù vải dầu có dày đến đâu thì dù sao nó cũng là vải, sau khi xuống nước, vải mềm sẽ bị nước làm cho dính sát vào chân, mặc dù không thấm nước nhưng vẫn thấy lạnh.

Trải qua quá trình xử lý đặc biệt, quần da heo rừng vốn cứng như bìa cứng khi chạm vào nước suối cũng trở nên khá hơn một chút.

Bên trong mặc thêm một lớp quần làm bằng lông và vải dầu mỏng, càng ấm áp hơn nữa.

Nhưng Dịch Huyền lại kiên quyết không mặc quần lông gì gì đó vào, chỉ vào phần đùi của mình: “Anh thấy nó quá gò bó.”

“Vậy thì mặc quần khác vào!” Hà Điền giúp anh nghĩ cách.

“Mặc nhiều như vậy làm gì? Anh còn phải đi lại dưới suối nữa mà! Nặng nề lắm.” Dịch Huyền vẫn không vui.

Cuối cùng, anh chỉ mặc một chiếc quần dài bên trong quần da heo rừng.

Phổ em rất hài lòng với chiếc quần da heo rừng này. Da mà nhà anh ta dùng để làm quần áo thu đông chủ yếu là da heo rừng trơn hai mặt.

Ban đầu Hà Điền làm chiếc quần này cho chính mình, sau khi quyết định cho anh ta tham gia đánh bắt cá hồi, cô đã làm chiếc quần dài hơn rồi đưa cho anh ta.

Cả ba nghỉ ngơi một lúc, uống trà gừng đường nâu, ăn một lát bánh mì bơ sữa cừu dày và bánh mì hạt óc chó hạnh nhân. Nhân lúc người còn đang ấm, cá tập trung trước lưới còn nhiều, tranh thủ vớt thêm một ít nữa.

Đến gần trưa, Lúa Mì và Gạo dường như đánh hơi được mùi gì đó, chúng bày ra tư thế cảnh giác, Hà Điền vội vàng gọi hai người trong suối: “Đi thôi. Sợ là có gấu rồi.” Cô đã cầm súng lên.

Rừng cây hai bên suối lờ mờ, trên cành cây, phiến đá, đều là rêu xanh. Cho dù dùng ống nhắm, Hà Điền vẫn không thể biết được mối đe dọa đang ẩn náu ở đâu.

Nếu một con gấu lao ra khỏi rừng vào lúc này, bọn Dịch Huyền đang đứng dưới suối nhất định là sẽ không có sức phản kháng.

Mặc dù không thấy bóng dáng của gấu đâu, Hà Điền vẫn nghĩ rằng họ nên tin vào khứu giác nhạy cảm của Lúa Mì và Gạo, rời đi trước khi những con gấu xuất hiện. Nếu không, khi nó xuất hiện thật rồi, rất có thể đang ở rất gần với họ.

Dịch Huyền và Phổ em vội vàng lên bờ, cá trong vợt cũng không cần nữa, anh đặt túi vải xuống đất bỏ vào sọt trên lưng gạo, cầm súng lên, rời đi một cách thận trọng và nhanh chóng.

Về đến trại, họ ngỡ ngàng.

Khi họ đang bắt cá, rõ ràng là những vị khách không mời đã đến đây.

Những chiếc lều đã cột đều bị giẫm lên, thùng nước, nồi sắt dùng để nấu nướng bị ngã trái ngã phải, trên cây lớn treo thức ăn có vết xước, tàn tro của lửa trại để lại dấu chân rõ ràng của vị khách không mời: Một con gấu.

Hà Điền ngồi xổm bên cạnh dấu chân và so sánh lòng bàn tay của mình với dấu chân đó.

Dấu chân lớn gần gấp đôi lòng bàn tay cô.

Điều này cho thấy chủ nhân của những dấu chân có khả năng là một con gấu đực trưởng thành với chiều cao hơn hai mét, thậm chí là ba mét và nặng từ ba đến bốn trăm kg.

Cô đứng dậy và dứt khoát nói: “Chúng ta đi thôi. Về nhà ngay.”

“Hả?” Phổ em nhìn túi cá, có chút không muốn.

Mới chỉ đến trưa mà họ đã bắt được sáu túi cá lớn, lúc này vẫn còn rất nhiều cá trước lưới chắn… giờ lại đi về?

Anh ta do dự: “Chúng ta không thể đổi chỗ sao? Xung quanh đây không có chỗ khác bắt cá nữa sao?”

Dịch Huyền cũng do dự, anh nhìn Hà Điền.

Hà Điền cau mày nói: “Có thì có. Nhưng mà… tôi có cảm giác con gấu này đã đi theo chúng ta. Nó đã phát hiện ra chỗ cắm trại từ trước, hoặc là đêm qua mới phát hiện ra, nhưng chắc là vì sợ lửa nên đợi đến sáng mới đến. Rồi nó theo mùi của chúng ta, đến nơi chúng ta đang bắt cá.”

Câu nói của cô khiến Phổ em dựng tóc gáy.

Trong ba người, chỉ có Hà Điền là có kinh nghiệm chiến đấu với gấu, Phổ em suy nghĩ lại, cảm thấy nên nghe theo lời cô.

Nhưng anh ta lại nghĩ, đừng nói là Hà Điền bị con gấu làm cho sợ xanh mặt rồi chứ?

Tất cả bọn họ đều mang theo súng, hơn nữa cũng đâu phải là súng thường, chúng là hàng cao cấp có kính nhắm.

Phổ em lại suy nghĩ lại: “Kể cả bây giờ mình bỏ đi, còn cá bắt được thì sao?” Cá sẽ chết ngay sau khi rời khỏi mặt nước, nếu không mổ cá để loại bỏ nội tạng và mang ngay, thịt sẽ nhanh chóng có mùi.

Lúc này Dịch Huyền không còn do dự nữa: “Cho vào túi một ít nước, sau đó mang ra khỏi rừng.”

Anh nói xong liền bắt đầu thu dọn lều trên mặt đất.

Phổ em thở dài, trong lòng đột nhiên có dũng khí: “Hai người thu dọn trước đi, tôi lại chạy tới bờ sông xem thử, nếu không đi tôi thấy thật không cam lòng.” Anh ta cầm súng chạy đi.

Hà Điền tức đến mức muốn đánh anh ta, vội đuổi theo: “Anh trở về đây!”

Dịch Huyền giữ cô lại, hét lên sau lưng Phổ em: “Chúng tôi dọn lều xong thì sẽ đi ngay. Đến lúc đó nếu anh mà còn không quay lại thì ở lại một mình đó.”

Phổ em chạy chậm lại rồi lại chạy nhanh hơn: “Tôi chỉ xem qua rồi quay lại ngay! Nếu không, tôi không có cách nào nói với anh mình.”

Hà Điền mắng: “Con heo ngu ngốc.”

Mắng thì mắng nhưng sau khi thu dọn lều xong, Hà Điền và Dịch Huyền vẫn ngóng trông về phía rừng, mong rằng Phổ em sẽ sớm trở lại.

Họ đổ đầy nước vào tất cả các xô sắt vốn được dùng để ướp các miếng cá và đặt chúng vào các sọt trên lưng Gạo, sau đó treo một vài túi cá lên trên. Con cá trong túi trên không chạm vào nước, nhảy loạn giãy giụa, rơi xuống đất mấy lần.

Hà Điền bực mình, muốn dùng gậy gỗ đánh chết hết cá trong túi cho rồi, lúc này thì Phổ em chạy về, mặt mày xanh mét, giang hai tay ra ước lượng: “Cỡ này, lớn cỡ này này! Một con gấu nâu! Đi mau! Đi mau!”

Xác định mối đe dọa tồn tại, bọn họ cấp tốc xuyên qua cánh rừng.

Họ cứ đi thẳng, cho đến khi đến một con suối tương đối vắng mới không thể không dừng lại nghỉ ngơi.

Phổ em còn chưa tỉnh hồn, thở hổn hển: “Tôi còn không dám lại gần. Con gấu đó to thật đấy! Nó to lắm!” Anh ta chạy đi không lâu thì thấy hối hận rồi, nhưng giờ mà chạy về thì nhục lắm. Anh ta đang tiến thoái lưỡng nan thì nhìn thấy một con gấu to đang đứng dưới suối, từ đầu đến chân cao khoảng 3m, nó lật ngang lưới chắn và đang nhai cá hồi ở đó.

Đại khái là do con gấu đang tập trung ăn nên không có phát hiện ra Phổ em, anh ta may mắn chạy như bay trở về, bình an vô sự.

Ba người bọn họ từ sáng sớm thức dậy đã đi bắt cá, vừa chạy vừa căng thẳng sợ hãi, chưa nói đến cơm trưa còn không ngừng ăn lương khô, lúc này mới thật sự là kiệt sức, quyết định nghỉ ngơi lâu hơn bên suối, ăn uống rồi làm cá.

Hà Điền cạo sạch vảy mịn của một đầu cá hồi, cho vào nồi, thêm hai cây nấm hương với một chút muối, nấu một nồi canh đầu cá, mỗi người một chén, ăn với mì.

Sau khi làm cá, trọng lượng nhẹ hơn rất nhiều. Hà Điền không màng đến việc tạo ra thứ nước bí mật cho món cá ướp nữa, rắc từng lớp một với muối thô rồi gói kỹ lại, nhân lúc trời còn chưa tối sẽ đi ngay

Phổ em vốn tưởng đêm nay sẽ ở lại đây, nhưng Hà Điền nói với anh ta rằng họ vẫn còn chưa ra khỏi địa bàn của gấu và sẽ gặp lại gấu bất cứ lúc nào. Tốt nhất là đến được con sông kia rồi qua sông mới được coi là an toàn.

Ba người một chó một tuần lộc tiếp tục chạy, cuối cùng lao ra sông, vượt sông trước khi trời tối.

Phổ em ngồi trên mặt đất, đấm bóp hai cái chân đau nhức của mình, trong lòng thở dài, cá hồi tuy là ngon thật, nhưng mà mạo hiểm và vất vả quá!
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 127: Hoa sen xốp giòn


Hôm sau trở về nhà, Phổ anh không ngờ họ lại về sớm như vậy, đang cho gà vịt ăn thì nghe tiếng gì đó nên chạy ra ngoài, chưa kịp hỏi gì thì em của anh ta đã kể về chuyện họ gặp phải một con gấu cao đến ba mét.

Kinh hãi nhất là con gấu này như sắp thành tinh rồi, nó luôn theo dõi bọn họ, hôm sau còn vào lều lật tung lên rồi bí mật đi theo! Có khi buổi tối hôm trước còn đứng từ xa quan sát họ nữa kìa. Cũng may là cả ba người họ thay phiên nhau châm củi, lửa trại suốt đêm không tắt, nếu không thì bị gấu cắn đứt đầu khi ngủ mê man rồi cũng không chừng.

Phổ anh nghe xong, nghĩ thôi cũng đã sợ.

Hai nhà chia đều số cá ướp, anh em nhà họ Phổ vui vẻ về nhà, trước khi đi Phổ anh còn đối với Hà Điền và Dịch Huyền ngàn ân vạn tạ, tuy rằng không được nhiều cá nhưng cuối cùng cũng mang được em của anh ta trở về an toàn.

Những miếng cá mang về nhà chỉ mới ướp muối thô, muốn món cá ướp ngon thì phải làm thật nhanh, với căn bếp rộng lớn như bây giờ thì tiện hơn trước rất nhiều.

Hà Điền và Dịch Huyền lấy một vài thùng gỗ ra, thêm nước suối từ suối núi, muối, đường, ớt bột và công thức bí mật của Hà Điền. Trộn đều chúng lên, sau đó cho cá đã ráo nước vào và đậy kín cả ngày lẫn đêm. Một phần được làm ráo nước để làm món cá xông khói, phần còn lại thì cho vào chum ngâm rồi đặt trong hầm.

Xử lý xong cá ướp, mùa thu hoạch cũng sắp bắt đầu.

Mùa hè năm nay trời không mưa nhiều, có thể coi là mưa thuận gió hòa, các loại rau quả đều phát triển khá tốt.

Đặc biệt là bí đỏ.

Bí đỏ trồng năm nay đến hè là đã có thể ăn được. Hoa bí và bí non có thể ăn như rau, bí hơi già hơn thì để hầm canh, hấp với cơm hoặc là hấp chín rồi nhào với bột, làm mì.

Tính từ đầu mùa hè, những cây bí này đã cho ra được cả hàng trăm quả.

Lúc này trên dây bí vẫn còn hơn mười mấy hai mươi quả, Hà Điền dự định sẽ giữ lại những quả lớn nhất để chúng lớn hơn nữa, khi sương giá rơi xuống sẽ hái về, giữ làm thức ăn cho mùa đông, còn những quả bí nhỏ khác thì hái sớm, cắt thành từng lát, phơi làm rau khô.

Lúc này trong nhà kính rộng lớn không có trồng rau, không có mưa gió, không có côn trùng chim chóc vào ăn, trở thành nơi tốt nhất để phơi rau khô.

Ngoài bí đỏ non thì đậu Hà Lan, đậu nành, ớt, cà tím, hành tây, tỏi, cà chua nhỏ, cũng như khoai tím, khoai tây, củ cải, vv… cũng có thể đặt hết trong nhà kính để làm khô. Rau, dưa, hoa quả sấy khô đều sạch sẽ, phơi xong là có thể đem bảo quản ngay mà không cần phải làm sạch gì nữa cả.

Hà Điền dự định sau khi thu hoạch táo và hồng xong thì cũng sẽ đặt ở trong nhà kính phơi khô.

Sau khi về nhà, mấy ngày nay phạm vi hoạt động chính của họ đều diễn ra ở trong nhà kính. Trong khi phơi rau khô để trữ đông, họ gieo hạt vào vườn ươm. Trước khi đi bắt cá hồi, Hà Điền đã chọn một số hạt để tiến hành ươm giống, mấy ngày nay đã có cây con nảy mầm, có thể đem trồng được rồi.

Tranh thủ lúc này trời đẹp và đủ nắng, phải gấp rút tách cây giống, cấy nhanh, sau đó chuyển một số cây đã phát triển tốt sang vườn ươm mới trong nhà kính.

Không biết khi mùa đông đến nhiệt độ trong nhà kính mới có thể cao đến mức nào, nhưng hiện tại, nếu như một ngày một đêm không mở cửa thông gió ở phía trước và sau thì nhiệt độ trong nhà kính có thể sẽ vượt quá 30 độ.

Quá nóng hoặc quá lạnh đều không có lợi cho sự phát triển của thực vật, để theo dõi nhiệt độ của nhà kính, Hà Điền đã dựng một cột gỗ bên cạnh lối đi ở giữa nhà kính, gắn nhiệt kế mua lúc mùa xuân lên đó, còn làm một cái ẩm kế, cũng treo lên luôn.

Cửa trước và cửa sau của nhà kính được mở ra, mái nhà cũng được nhấc cao lên một chút để thổi gió mát vào.

Cây con trong nhà kính vừa mới gieo được một tuần thì kê cũng đã chín.

Lúc đầu, Hà Điền muốn dùng phương pháp truyền thống là cúi xuống để thu hoạch, nhưng khi nhìn thấy Dịch Huyền dùng chiếc máy cắt cỏ được sửa đổi bằng máy cưa, chẳng mấy chốc đã cắt đến chỗ của cô rồi, cô chỉ biết thở dài, đấm bóp cái lưng đau nhức của mình, cũng cầm máy cắt cỏ lên.

Có máy cắt cỏ chạy bằng động cơ diesel, ruộng kê mà Hà Điền trồng nháy mắt đã thu hoạch xong.

Sau khi kê được thu hoạch, việc tuốt hạt, tách vỏ và các quy trình khác có thể được hoàn thành bằng máy bán tự động, và tất nhiên, Gạo chính là nguồn động lực chính.

Vừa thu xong kê, mùa thu cũng lặng lẽ đến.

Cơn mưa đầu thu đến một cách bất ngờ.

Khi trời sắp sáng, đột nhiên Hà Điền nghe thấy tiếng mưa rơi.

Cô mở mắt ra, vươn tay lần mò một lúc vẫn không tìm thấy quần áo, cánh tay lại bị Dịch Huyền kéo vào trong chăn.

Anh dựa vào phía sau cô, dụi mặt vào giữa đầu và cổ cô, nhẹ giọng hỏi: “Em muốn đi đâu?”

“Trời mưa. Em muốn ra ngoài xem một chút.”

“Xem cái gì? Kê đều đã gặt xong, trong vườn rau cũng chỉ còn lại chút ít thôi.” Dịch Huyền nói xong, chống đỡ nửa người, thò tay sờ mò: “Có mệt không? Ngủ thêm một hồi nữa đi em?”

Lần này họ ngủ đến gần trưa.

Hà Điền lại mở mắt ra, sắc trời đã sáng rõ, ánh sáng chiếu qua bức tường giấy in nổi cũng không chói mắt, cô không thể biết được là do trời vẫn còn đang kéo mây, hay thật ra cô dậy cũng không muộn mấy.

Cô dụi mắt, lật người, Dịch Huyền mở cửa giấy bước vào.

Hai người họ nằm nói lời ong tiếng ve một lúc mới bắt đầu công việc hôm nay.

Ăn sáng xong, Dịch Huyền kéo Gạo đi cày ruộng kê, những thân lá kê còn sót lại trên ruộng đều là thức ăn gia súc tốt. Rũ sạch đất, cột thành từng bó rồi treo lên giá phơi khô, sau đó có thể cột chặt lại thành bó lớn rồi chất vào kho.

Sau khi cày xong thì rắc phân chuồng lên, cày lại một lần nữa, phủ một lớp đất lên trên.

Tuyết mùa đông sẽ phủ lên đất một lớp chăn dày, và đến khi mùa xuân tới, đất sẽ lại phì nhiêu, ẩm ướt.

Khoai tây, củ cải, khoai lang và khoai lang tím trong vườn đều được đào lên hết. Cà rốt thì phải chờ thêm một thời gian, sau đợt sương giá đầu tiên mới đào.

Khoai tây được phân loại theo kích cỡ, những củ tốt nhất được chọn ra và cất trong hầm, chuẩn bị cho năm sau làm giống. Những cũ không hoàn chỉnh bị xẻng cắt trúng trong lúc đào thì sẽ được ném vào một cái sọt lớn bằng mây, mang xuống suối để cho nước suối rửa sạch.

Khoai lang và khoai lang tím cũng được xử lý theo cách tương tự.

Sau bữa trưa, mặt trời ló dạng, nắng vàng chiếu vào rừng cây, không biết từ lúc nào, nhiều chiếc lá đã lặng lẽ chuyển thành màu vàng xanh, vàng vàng, đỏ cam, đỏ nâu.

Hà Điền và Dịch Huyền mang khoai tây và khoai lang đã rửa sạch ra, đặt vào trong kho nơi họ làm việc. Hai người ngồi vào bàn, Hà Điền gọt khoai, còn Dịch Huyền thì cắt khoai ra thành từng miếng.

Đổ khoai tây đã cắt nhỏ vào cối xay lớn, cho Gạo một cũ cà rốt nhỏ, để nó kéo thanh gỗ liên tục đi vòng quanh, thêm nước vào cối xay, khoai tây bị nghiền ép sẽ chiết ra cùi trắng và chảy vào trong thùng gỗ đặt bên dưới cối xay.

Phần cùi trắng giàu tinh bột được để yên và tách lọc, sau đó có thể tạo ra nhiều loại miến khoai tây khác nhau.

Khoai lang cũng được làm theo cách tương tự.

Khoai lang tím là giống mới được thu hoạch năm nay, vị không ngọt hơn khoai lang đỏ mà Hà Điền đang trồng, chẳng qua là màu sắc có phần đặc biệt.

Bởi vì số lượng không nhiều lắm nên Hà Điền không muốn sử dụng nó làm tinh bột.

Họ nhóm lửa bếp ngoài trời, đặt dụng cụ làm miến trên nồi, đun cho nước sôi lên, từng cục bột trắng như tuyết bị ép thành sợi, lần lượt rơi vào nồi, đun sôi một lúc, vớt lên, treo lên giá, đem phơi nắng cho khô.

Sau cơn mưa mùa thu này, những con côn trùng ríu rít dần biến mất, khu rừng dường như yên tĩnh hơn rất nhiều.

Mùa thu năm nay, còn một loại lương thực nữa cần thu hoạch – hạt sen.

Hà Điền và Dịch Huyền chèo thuyền đến các nhánh sông và ao ở hạ lưu để hái đài sen.

Lá sen xanh biếc lúc hè giờ cũng như những lá cây khác trong rừng, vàng hơn, kém xanh hơn, có vẻ như độ che phủ của mùa thu trong rừng đang lan dần xuống sông.

Thế nhưng, đài sen vẫn duyên dáng yêu kiều, giống như một chiếc trâm cài tóc màu lục lam cắm ngược trong nước.

Hà Điền chỉ mới nếm hạt sen tươi vào đợt hè. Chẳng trách Dịch Huyền cứ nói mãi về món canh hạt sen, vị hạt sen hóa ra lại ngọt đến vậy.

Hạt sen tươi đáng yêu như hạt ngọc, có tâm sen xanh ở giữa, sau khi phơi khô có thể dùng làm trà, nhưng vị rất đắng.

Hạt sen phơi khô có thể bảo quản được lâu, sau khi ngâm thì đun với táo tàu đỏ, có tính bột và sáp, Hà Điền cảm thấy mùi vị của nó hơi giống hạt dẻ nấu chín.

Hạt sen sau khi nấu trên lửa nhỏ, có thể chế biến thành nhân hạt sen giống như nhân đậu đỏ vậy, dùng làm nhân cho các món bánh.

Ngay khi làm ra nồi nhân hạt sen đầu tiên, Dịch Huyền đã nóng lòng muốn trổ tài.

Anh sẽ làm một món ăn vặt mà anh rất yêu thích để khoe khoang với Hà Điền.

Để đạt được kết quả tốt nhất, anh còn đặc biệt kêu Hà Điền ép một ít nước củ dền để làm chất tạo màu thực phẩm tự nhiên.

Anh làm da giấy và da giấy nước. Da giấy anh dùng mỡ heo để nhào với bột mì, còn da giấy nước thì ngoài mỡ heo còn có nước, nhưng Dịch Huyền không hề dùng bất kỳ giọt nước nào cả, toàn bộ bột mì được nhào với nước củ dền, nước củ dền có màu tím sẫm, sau khi nhào bột sẽ có màu hơi nhạt, giống như màu của hoa hồng vậy.

Sau nhiều lần nhào, rồi kiên nhẫn đợi bột nghỉ, chia thành nhiều viên nhỏ, ép thành từng miếng mỏng, đắp bốn lớp da giấy và da giấy nước xen kẽ, nhào thành viên, màu chuyển nhạt hơn một chút, nhưng vẫn khác xa với màu hồng của hoa sen.

Nặn một lỗ ở giữa viên bột nhỏ, cho nhân hạt sen vào, tất nhiên là có cả lòng đỏ trứng muối giã nhỏ.

Cuối cùng, dùng dao rạch ba đường trên quả bóng nhỏ, chia phần da của quả bóng thành sáu phần bằng nhau.

Sau khi những quả bóng nhỏ được nhồi đầy và giãn nở trở lại, Dịch Huyền bắt chảo mỡ lên, khi mỡ đã nóng bảy tám phần thì cho từng quả bóng nhỏ vào.

Nhìn đến đây, Hà Điền “ồ” ra tiếng, thấy những viên nhỏ trong chảo mỡ lần lượt bung ra theo vết dao, biến thành bông sen nhỏ sáu cánh. Giống như khi họ đang chèo thuyền trên sông vào sáng sớm mùa hè, khi tia nắng đầu tiên chiếu xuống mặt nước, rất nhiều hoa sen bắt đầu nở rộ.

Chiên cho đến khi các “cánh hoa” nở từng lớp, Dịch Huyền dùng vợt tre để vớt những hoa sen nhỏ ra, cho vào dĩa để ráo mỡ.

Anh cười với Hà Điền: “Đây là bánh hoa sen xốp giòn.”

Hình thù của bánh hoa sen xốp giòn rất giống với hoa thật, trước khi chiên nước củ dền và bột vẫn có màu đỏ tím, sau khi chiên thì màu nhạt dần, ngược lại càng giống màu hoa sen hơn, và màu vàng điểm nhấn trong tâm hoa là lòng đỏ trứng muối.

“Đẹp quá, em không nỡ ăn chút nào!” Hà Điền cẩn thận cầm hoa sen nhỏ lên nhìn, mặc dù rất cẩn thận nhưng vẫn có da bánh bị đụng vào rơi xuống.

Dịch Huyền không khách sáo như vậy, anh ngắt một cánh hoa ra nhai, đối với hương vị này rất hài lòng: “Đúng là rất giòn.”

Đây là một món tráng miệng có giá trị thẩm mỹ rất cao và lượng calo cũng cao chót vót.

Nhưng mà nó ngon.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 128: Bánh trung thu


Vừa thu hoạch xong khoai và kê, trời liên tiếp đổ xuống hai trận mưa.

Mưa còn chưa tạnh hẳn, họ tranh thủ thời gian hái táo.

Sản lượng táo năm nay ít hơn năm ngoái khoảng năm mươi quả.

Kích cỡ có nhỏ hơn một chút, nhưng độ ngọt dường như cao hơn. Cũng không biết có liên quan gì đến việc nhiệt độ giảm đột ngột vào mùa thu hay không.

Hai cơn mưa mùa thu đến một cách ào ạt, mang theo rất nhiều cát, sỏi, cành lá khô từ trên đỉnh núi xuống, nước trong lòng suối dâng cao gần đầy, cơ hồ có thể tràn cả ra ngoài. May mắn là vị trí của nhà Hà Điền tương đối cao, kê và khoai lang đều đã được thu hoạch xong.

Mặt ao cũng dâng cao, sau hai ngày tháo nước liên tục, số tôm cá trong ao đã biến mất gần như một nửa, nhiều cây thủy sinh cũng trôi theo dòng nước.

Ở chuồng vịt bên kia ao, đàn vịt rất vui, nhưng cừu và đàn gà thì không vui như vậy.

Cừu thích môi trường sống khô ráo, Hà Điền lo rằng nửa đêm mưa lớn sẽ cuốn trôi gà, vịt, cừu nên cô đã lùa chúng vào khu chăn nuôi trong nhà kính từ trước.

Cơn mưa mùa thu kéo dài vài ngày, cuối cùng trời cũng tan.

Khi đến bờ sông, nước dâng lên rất nhiều, những bãi cỏ vất vả trồng lúc hè nay đã ngập trong nước sông đục ngầu. Nước dâng cao như thế này thì đến mùa hè năm sau mực nước mới xuống, ai biết được những ngọn cỏ đã từng khổ cực trồng xuống kia có mọc lại được nữa hay không.

Hà Điền nhìn bờ sông thở dài, cô biết việc trồng cỏ bên bờ sông rất rủi ro, nhưng cũng nên thử một lần.

Đất trên bờ thì không bị sao cả. Hai chú cừu vẫn có thể đến đây gặm cỏ vào những ngày nắng. Cũng không thể chặt hết cây cối gần nhà để trồng cỏ được.

Tranh thủ thời tiết nắng ráo, Hà Điền và Dịch Huyền vội chuyển số cỏ dự trữ cho mùa đông vào khu chăn nuôi.

Khu chăn nuôi được chia thành nhiều khu nhỏ bằng mành sậy và cọc tre, cỏ khô được chất ở hai đầu ngoài cùng để có thể giữ ấm và lúc lấy dùng cũng thuận tiện. Ngoài cỏ khô, các chất phụ gia thức ăn chăn nuôi được làm từ bột xương và đậu nành nghiền, cũng như đạm váng sữa, cũng được lưu trữ tại đây.

Gạo cũng có nhà mới trong khu chăn nuôi, ngay cạnh kho cỏ khô. Bên cạnh chuồng của Gạo là hai con cừu. Ngoài cỏ khô và thức ăn gia súc, Gạo và cừu mỗi con còn có một khối muối lớn, được đặt bên cạnh máng của chúng. Bên cạnh cừu là gà, sau đó là vịt.

Về phần rùa, Hà Điền tạm thời để chúng ở khu vực trồng trọt.

Tuy rằng sức lực của rùa không nhỏ, nhưng chân chúng ngắn, không thể leo lên vườn ươm cao một mét được, tất nhiên là không thể hại đến cây con, cây cối trồng trong vườn ươm.

Tại khu vực gieo trồng, dưới bức tường gần nhà vệ sinh có hai cái hố lớn, trong đó có chôn những chiếc vại sành, vốn dùng để tích phân, nhưng trước mắt chỉ còn trơ lại một số cành lá khô chất thành đống, mấy con rùa bò lổm ngổm trong vườn, có đôi khi chui vào vại và ẩn mình dưới những cành, lá khô ấy.

Màu sắc của mai rùa rất giống với đá lát đường, vỏ cây, cành lá khô, nếu không nhìn kỹ sẽ khó phát hiện ra chúng, nhưng đừng lo, đã có Lúa Mì.

Kể từ khi rùa chuyển nhà, ngày nào Lúa Mì cũng canh giữ ở lối vào nhà kính và vẫy đuôi vẫy mong điên cuồng, sau đó ngoắc đầu, rên ư ử, háo hức nhìn Dịch Huyền, hy vọng anh có thể mở cửa cho nó vào.

Sau khi thực hiện các thủ thuật như bắt tay, lăn lộn, giả chết, cuối cùng Lúa Mì cũng được phép lao vào vườn, hít mũi tìm rùa. Mỗi khi tìm thấy một con nào, nó sẽ sủa lên.

Tìm kiếm ba con rùa, là trò chơi yêu thích của Lúa Mì gần đây.

Mỗi khi nhìn thấy Lúa Mì giả vờ lăn lộn và giả chết bất chấp phẩm giá của một con chó săn, Hà Điền đều cau mày, rồi cất giọng phản đối: “Này–“

Dịch Huyền giả vờ như không nghe thấy gì.

Sau khi thu hoạch táo xong, liên tiếp mấy ngày sau trời đều nắng.

Hà Điền và Dịch Huyền vào rừng nhặt quả óc chó, hạt dẻ và táo gai, lúc này quả hồng ở nhà cũng đã chuyển đỏ.

Khi hồng chín đỏ, vậy là có thể làm nhân bánh trung thu rồi.

Không cần phải nói, bánh trung thu năm nay có nhân là nhân sen.

Trong khi chuẩn bị nhân bánh trung thu, thời tiết lại trở nên nóng bức bất thường.

Họ đã mặc những chiếc áo khoác dày rồi, chẳng sớm thì muộn rồi cũng sẽ phải khoác thêm một chiếc áo lông ba lỗ mềm mại khi trời lạnh nhất, nhưng bây giờ họ còn phải cởi nó ra. Mấy ngày nay, cứ đến giữa trưa, họ chỉ cần mặc một chiếc áo mỏng và áo lót bông là đã được rồi.

Thời tiết đột nhiên nóng nực như vậy, lúc làm bánh trung thu, Hà Điền và Dịch Huyền bày thêm một số trò.

Đầu tiên họ pha bột thạch với nước và mật ong, khuấy đều rồi đổ vào khuôn bánh trung thu, chỉ đổ nửa chừng là được, sau đó đem đi ướp lạnh.

Đợi nước mật ong trong khuôn đông đặc lại thì lấy ra và cho nhân vào.

Loại bánh trung thu đặc biệt này thì nhân bánh cũng phải đặc biệt. Dù hương vị thế nào thì trước hết màu sắc phải đẹp cái đã.

Sau khi thảo luận, họ đã làm ra mấy loại nhân khác nhau.

Đầu tiên là nhân khoai lang tím trước. Khoai lang tím sau khi gọt vỏ đem hấp chín ép nhuyễn, cho một ít đường và bơ vào rồi khuấy đều, khoai lang tím cũng giống như khoai lang đỏ, thịt khoai sẽ có những đường gân mịn, phải đảo qua rây một lần để khoai được nhuyễn mịn.

Nhào khoai lang tím thành một viên nhỏ, cho vào giữa khuôn bánh trung thu rồi đổ nước mật ong đã pha với bột thạch vào, lúc này thì đổ ngập cả khuôn, đem khuôn đi ướp lạnh rồi đập bánh ra, vậy là đã có được bánh trung thu trong suốt.

Bên trong bánh trung thu trong suốt là màu tím đậm, không cần phải nói nhìn đã thấy ngon, và tất nhiên là ăn cũng ngon.

Một loại bánh trung thu trong suốt khác có nhân là anh đào và táo gai. Gọi là bánh trung thu nhưng thật ra thì giống thạch hơn. Vị của mức anh đào năm ngoái vốn đã rất đậm đặc, nếu ăn trực tiếp thì sẽ quá ngọt. Cho mấy quả táo gai vào nồi nhỏ đun sôi với anh đào một lúc, có vị chua của táo gai thêm vào, vị chua ngọt cũng cân bằng.

Sau khi nấu anh đào và táo gai thành nước đường, thêm bột thạch vào làm thành thạch, sau khi đổ khuôn xong sẽ được cắt thành những trái tim nhỏ màu đỏ bằng khuôn sắt kiểu mới, loại bánh trung thu trong suốt này bất kể mùi vị có thế nào đi chăng nữa thì cũng là loại dễ thương nhất trong số còn lại.

Khuôn bánh trung thu của Hà Điền chính là đôi thỏ con không biết xấu hổ hôn nhau, giữa hai chú thỏ lại thêm một trái tim màu đỏ khiến họ không nỡ ăn chút nào.

Sau khi làm thành công hai loại bánh trung thu này, Dịch Huyền lại làm thêm nhân đậu hoa hồng và nhân mứt việt quất.

Anh rất thích nhân như nhân đậu hoa hồng, mứt việt quất, táo gai. Khi làm bánh trung thu bằng bột, anh cũng sử dụng chúng.

Sau khi làm xong bánh trung thu, lại thấy anh em nhà họ Phổ lúng ta lúng túng đến thăm Hà Điền và Dịch Huyền.

Tết Trung thu những năm trước, hai gia đình cũng có giao lưu với nhau, nhưng sau này lại trở mặt. Kể từ khi ba Phổ mất, mối quan hệ giữa nhà họ Phổ và gia đình Hà Điền đã ngày một tốt lên.

Hai anh em họ cũng không đến tay không, mùa màng không được tốt lắm, trồng bắp thì thất bại, nhưng gần nhà họ có nhiều cây hồ đào, nên hai anh em mang theo hai sọt hồ đào nhỏ, một cái quạt sườn, một bộ đồ lòng, một cuộn da, một cặp móng và một cái đầu heo lớn đến.

Hà Điền khách sáo nhận quà của họ, cũng chuẩn bị một chút quà đáp lễ hậu hĩnh.

Dịch Huyền thấy hồ đào mà bọn họ đưa đến đều được l.ột sạch vỏ và rửa sạch, da và đầu heo đều được làm sạch, anh cũng tương đối hài lòng, trước khi họ về còn đưa thêm một túi kê và một giỏ rau khô.

Đã năm sáu năm nay anh em nhà họ Phổ không được ăn bánh trung thu, Hà Điền và Dịch Huyền đặt hai chiếc bánh trung thu do mình làm vào hộp tre đưa cho bọn họ.

Hai anh em xuống núi, ngồi trên thuyền của mình, Phổ em mở hộp ra, ngạc nhiên: “Anh ơi, nhìn cái bánh trung thu này, nó sáng giống như băng vậy. Làm sao có thể làm được nhỉ?”

Phổ anh lấy một miếng nếm thử: “Ngon quá, rất ngọt, chỉ là lớp da có vị như thịt đông lạnh vậy.”

Em trai anh ta trợn mắt nói: “Thôi đi ông! Cái này gọi là thạch!”

Tết Trung thu năm nay của nhà Hà Điền rộn ràng hơn những năm trước, ngoài làm bánh trung thu họ còn treo lồng đèn.

Khi Dịch Huyền đề nghị làm một số lồng đèn để trang trí, Hà Điền có chút bối rối: “Lồng đèn? Không phải ngày 15 tháng Giêng âm lịch mới treo lồng đèn sao?”

Dịch Huyền nghe vậy, cũng rất khó hiểu: “Không phải ngày rằm tháng Giêng chỉ ăn chè trôi nước thôi sao? Có đèn lồng nữa hả? Vậy sao đợt Nguyên tiêu anh không thấy em treo lồng đèn?”

“Chỉ có trẻ con mới chơi thứ đó thôi!” Hà Điền nói tới nói lui, lôi từ trong kho ra một cái rương gỗ đựng đủ thứ đồ cũ, trong đó có mấy cái lồng đèn làm bằng giấy và mấy lát trúc.

Trong đó có hai cái mà khi còn nhỏ cô thích nhất, một là thỏ trắng với hai mắt đỏ, và một là cá vàng đầu to.

Hai chiếc lồng đèn rất tinh xảo, đầu, tai và đuôi của thỏ trắng vẫn còn được bao phủ bởi một lớp lông thật, bây giờ vẫn còn cảm giác mềm mại. Lồng đèn cá vàng thì sử dụng giấy in nổi, vây và đuôi cá làm bằng lá đỏ, trên bụng cá thì dán cánh hoa hồng, khi cầm lên, đầu và đuôi cá còn có thể lắc qua lắc lại.

Dịch Huyền cẩn thận lấy hai chiếc lồng đèn ra, nghiên cứu một lúc lâu, anh chẻ đôi những lát tre, bắt chước làm như hai cái cũ, sau đó đặt những ngọn nến nhỏ vào, thắp sáng rồi treo chúng dưới hiên nhà.

Anh còn muốn làm thêm vài chiếc lồng đèn để treo trong sân và nhà kính, Hà Điền vội khuyên anh: “Hai chúng ta cộng lại cũng chỉ có bốn mắt, có ai xem nữa đâu! Nhà đều làm bằng gỗ, tường và mái nhà kính thậm chí còn dễ bắt lửa hơn, cứ để vậy đi, cho an toàn.”

Dịch Huyền ảo não than một tiếng: “Anh luôn cảm thấy thiếu thiếu một cái gì đó. Bây giờ em nhắc thì anh mới nhớ, chúng ta nên làm một vài chiếc đèn bằng đá!”

“Đèn đá?” Đây là lần đầu tiên Hà Điền nghe nói đến thứ cao cấp này.

Dịch Huyền thậm chí còn nói bằng cử chỉ, còn dùng que tre vẽ một vài bức phác thảo trên bàn cát cho cô xem: “Trong sân, trên lối đi trong vườn đều có thể đặt đèn bằng đá. Gọi là đèn nhưng thực ra nó là một cái chụp bằng đá. Đặt nến bên trong sẽ không sợ hỏa hoạn, nhà mình năm nào cũng có nhiều mỡ không dùng hết, làm thành đèn đặt ở ngoài trời, không phải quá được sao? Chúng ta có tro núi lửa, làm đèn bằng đá cũng dễ như một cái vung tay mà thôi!”

Hà Điền chợt nghĩ ý tưởng này cũng hay.

Nếu có thể đặt một ngọn đèn thường xuyên ở trong khuôn viên nhà kính thì quả thật rất tiện.

Đèn làm bằng mỡ động vật khi cháy sẽ có mùi lạ nhưng đặt ở ngoài trời cũng không sao, hơn nữa bọn họ còn có thể cải tiến cách chế tạo mà, chẳng hạn như dùng một cây gậy làm bằng sậy có tẩm dầu mỡ để chiếu sáng? Hoặc thêm một thứ gì đó khác để làm chất dẫn cháy.

Hà Điền và Dịch Huyền thảo luận, trước tiên là làm một số đèn có thể cố định trên mặt đất trước.

Cô tìm một vài chiếc dĩa nhỏ, lấp đầy cát rồi tạo một lỗ nhỏ ở giữa, sau đó đặt một ngọn nến vào, lại cùng Dịch Huyền dùng thanh tre tạo thành một vài hình trụ, ở hai bên của hình trụ để lại một đoạn tre dài, cắt giấy hoa rồi dán lên lồng tre, cắm hai đoạn tre dài vào đất, sau khi thắp nến xong thì đặt chiếc dĩa nhỏ vào trong hình trụ, như vậy thì sẽ không sợ gió thổi làm đèn ngã rồi gây hỏa hoạn.

Đèn lồng hình trụ trên mặt đất cũng rất đẹp, ánh nến nhảy múa, bóng của hoa lá trên hoa giấy đung đưa theo ánh lửa, phát ra một ánh sáng mờ nhạt.

Dịch Huyền lại tìm một vài chiếc lá khô lớn nhúng vào sáp rồi dán chúng lại với nhau, ở giữa những chiếc lá cố định một ngọn nến nhỏ, đặt ở trong hồ đá trong nhà kính, ngọn nến phản chiếu trong nước, nhìn cũng rất đẹp.

Anh thử nghiệm thành công, liền làm vài cái nữa đặt ở trong ao nước trước cửa, bên ngoài có gió, đèn nhỏ nổi trên mặt nước chậm rãi trôi theo gió và làn nước, tựa như ánh sao rơi.

Hà Điền và Dịch Huyền ngồi trước hiên nhà, ăn bánh trung thu và thảo luận về những việc cần làm trong năm tới. Nhất định là phải đi lấy thêm một ít tro núi lửa, làm một vài chiếc đèn và ghế bằng đá, rồi cả bồn nước bằng đá nữa. Nếu sang năm có làm đồ gốm thì sẽ làm thêm một vài chiếc dĩa chuyên dùng để đựng nến, tốt nhất là có thể nổi trên mặt nước. Nếu có thể dời một tổ ong tới đây thì quá tốt, ngoài tiện lợi lấy mật còn có sáp ong, vậy là có thể làm mấy cây nến thơm rồi? Nhưng ong làm tổ là chuyện có thể gặp nhưng không thể cầu, còn phải xem sao đã… Năm nay vì xây nhà nên không thể ngắm hoa đào, nhưng chắc chắn năm sau sẽ được ngắm… À đúng rồi, năm nay còn có thể ngắm hoa quế nữa! Nhưng cũng không biết nó có phải là cây quế không nữa! Nếu mà có hoa quế thì có thể làm rượu hoa quế, kẹo hoa quế, bánh bột củ sen hoa quế…

Hai người ngồi sát gần nhau, xung quanh là hương hoa cúc dại nở rộ thơm ngát, bầu trời trăng sáng tựa như tảng băng, trước mặt có chút ánh sáng lơ lửng, bên tai là tiếng nước chảy róc rách.

Ngày tốt cảnh đẹp, đẹp không sao tả xiết.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 129: Hai cây trở thành rừng, hai người trở thành rừng


Tết Trung thu vừa kết thúc, chợ mùa thu mở ra.

Những thứ mà năm nay Hà Điền và Dịch Huyền mang đến chợ để trao đổi cũng gần giống như năm ngoái, chẳng hạn như kê, táo tàu, táo, các loại rau khô và đồ ngâm, cũng như cá và vịt xông khói. Khi dạy cho Tát Sa làm gốm, họ cũng đã làm một số tô chén, ly tách và khay. Năm nay Hà Điền đã làm giấy và mấy cuốn sổ tay. Ban đầu cô định giữ lại sử dụng cho riêng mình. Giấy được lưu giữ ở nơi khô ráo và thoáng khí có thể sử dụng được trong nhiều năm lận đấy. Nhưng, sau khi đưa cho Tát Sa một cuốn sổ, nhìn cái cách mà anh ấy trân quý nó, Hà Điền nảy ra ý định, cô sẽ làm một mớ sổ nữa rồi đem đến chợ trao đổi với mọi người.

Những cuốn sổ tay này rất dễ làm, đầu tiên là ủi phẳng giấy rồi cắt theo khuôn giấy có sẵn, sau đó dùng dùi đâm thủng, một sắp mười tờ, dùng chỉ sáp khâu lại, cứ mười sắp làm thành một cuốn, sau khi khâu chỉ xong, quét một lớp bong bóng cá lên mặt sau, đợi khô rồi thì lại dán bìa da vào.

Sổ da cũng có đến mấy loại, một loại được may bằng số da hỏng trong nhà, bề mặt da còn được trang bị dây da, có thể cột dây da để giấy bên trong không bị cuộn lại, không dễ bị hỏng. Một loại khác thì làm bằng giấy dày có in nổi hoa lá, như lá trúc, lá đỏ và những cánh hoa rực rỡ đủ màu sắc.

Sổ làm bằng da có thể tháo rời, khi sử dụng hết sổ có thể thay giấy mới, sử dụng được nhiều năm.

Ngoài sổ tay, cô và Dịch Huyền còn làm một số đèn lồng bằng giấy in nổi có thể gấp lại. Đèn lồng khi gấp lại đều có hình chữ nhật, các mép của mỗi chiếc đều được đục lỗ, cột lại bằng dây rơm thành nút hình chữ X. Khi không sử dụng có thể ép thành miếng mỏng rất dễ cất giữ.

Sáng sớm ngày phiên chợ mở cửa, Hà Điền và Dịch Huyền chèo thuyền, chất đầy hàng hóa lên, mang theo Lúa Mì xuôi dòng.

Khi bọn họ đến bãi sông của chợ thì nhiều người đã dọn sạp và bắt đầu buôn bán. Từ mấy tuần trước dân làng đã chặt lau sậy và đặt sẵn vài tấm ván trên bờ để mọi người dừng thuyền và chuyển hàng hóa dễ dàng hơn.

Hà Điền và Dịch Huyền cũng nhanh chóng chọn một nơi, chặt một ít lau sậy, cột thành bó rồi chất thành từng đống, sau đó sắp xếp từng món đồ mà họ mang đến ra.

Năm nay khi bày hàng Dịch Huyền có phần để tâm hơn, anh không chặt sậy rồi chất thành chiều cao ngang bằng nhau giống như mọi người, mà thay vào đó, anh chất chúng thành từng bậc cao dần. Bằng cách này, các chiều cao so le nhau, dù đứng xa cũng có thể nhìn rõ những gì có ở trên sạp.

Sau khi dựng sạp xong, cả hai trở lại bờ sông, Lúa Mì vẫn còn đang canh giữ trên thuyền.

Trên thuyền có một cái lò đất, được đặt trong chiếc giỏ mây rách nát.

Hà Điền lấy một thanh gỗ dưới đáy thuyền luồn qua hai tay cầm của chiếc giỏ mây, hai người lần lượt nhấc chiếc giỏ mây lên.

Sau khi đặt lò đất xuống phía sau sạp hàng của mình, Dịch Huyền lại đi xuống thuyền đem một cái nồi sắt lên.

Hà Điền tuốt một vài cọng lá sậy khô, nhét vào lò rồi đốt lửa.

Cái nồi sắt to mà họ mang đến là một nồi đồ ăn đã được nấu chín, sau khi đun nóng, một lúc sau đã tỏa ra mùi thơm hấp dẫn.

Sáng sớm mùa thu, cho dù ở dưới chân núi thì trời cũng đã bắt đầu se lạnh.

Nhiều người miền núi sống ở vùng hạ du trời còn chưa sáng đã phải chèo thuyền ngược dòng, đến chợ không chỉ mệt mà còn đói, lúc này ngửi thấy mùi thức ăn thơm phức liền tìm đến sạp hàng của Hà Điền và Dịch Huyền tụ họp.

“Cô gái, các cô có bán đồ ăn nấu trong nồi này không?”

“Có thể đổi không? Đổi thế nào?”

“Hai người nấu món gì vậy?”

Hà Điền và Dịch Huyền đeo khẩu trang lên, mở nồi ra cho mọi người xem.

“Là món phá lấu, có thịt đầu heo, đậu hũ, trứng, nội tạng heo!” Dịch Huyền dùng cái giá lớn khuấy trong nồi, múc một giá đồ ăn đã nấu lên, mùi thơm lập tức nồng hơn, Hà Điền thì giở vải bông đậy hộp gỗ ra, bên trong là mấy chồng bánh nướng: “Bánh nướng kẹp phá lấu! Đều nóng hổi!”

“Bán thế nào!”

“Có cái gì thì đổi cái đó?” Hà Điền cười: “Cả hai chúng tôi cũng đều không nghĩ đến việc kiếm tiền. Vốn là cảm thấy ăn món này rất tiện, sáng sớm chèo thuyền tới đây, đến được nơi thì mồ hôi mồ kê cũng đổ đầy cả người, mà trời thì lạnh, nếu có thể ăn được món gì đó nóng thì còn gì bằng?! Nghĩ vậy nên chúng tôi làm nhiều thêm một chút rồi mang theo. Cũng coi như là chia sẻ với mọi người.”

Khi cô nói vậy, những người vây xem cũng yên tâm hơn, vì đã đến thu rồi, mọi người thật sự không còn dư dả gì.

Vì vậy, ngay lập tức có một cô gái trẻ dùng một bó bắp đổi lấy hai cái bánh nướng kẹp phá lấu của Hà Điền.

Bánh của Hà Điền mới nướng hồi tối qua, sau khi cắt một đường để tạo khe hở thì nhét phá lấu đã nấu nhừ vào, rồi lấy một miếng lá sen khô gói lại, có thể vừa đi vừa ăn.

Cô gái kia còn quảng cáo bắp nhà mình với Hà Điền: “Bắp nhà tôi là bắp hai màu và có giá trị dinh dưỡng cao! Cô nhìn đi, có phải chúng có hai màu không? Cô phơi khô rồi đem cất, đến mùa xuân năm sau thì có thể mang ra trồng. Đem luộc ăn vừa mềm, dẻo và ngọt lắm.”

Quả thật là như vậy. Đây là lần đầu tiên Hà Điền nhìn thấy loại bắp hai màu này, có nhiều hạt màu tím sẫm xen lẫn các hạt màu vàng nhạt, căng mọng, còn có một mùi ngòn ngọt.

Hà Điền thầm thấy tiếc, dựa vào thất bại của anh em nhà họ Phổ thì có thể chứng minh được rằng ở trên núi không thể trồng bắp được. Nhưng mà, nếu trồng một hai cây ở trong nhà kính, biết đâu lại có thể thành công? Mà đợi đã, làm thế nào để bắp thụ phấn? Trồng ở trong nhà kính thì làm sao mà thụ phấn được? Mà cũng không sao, đến lúc đó mở mái che ra thì bướm ong vẫn bay vào được, nhưng làm kiểu này thì sâu bệnh lại khó trị… Cô vừa suy nghĩ, vừa không ngừng làm bánh cho mọi người. Dịch Huyền thì phụ trách nhận và đổi hàng hóa với bánh nướng.

Vốn dĩ họ muốn sử dụng phương pháp này để thu hút sự chú ý, vì vậy họ không từ chối thứ gì cả, người ta đưa cái gì bọn họ cũng đều đồng ý đổi hết.

Sau khi đổi bánh nướng, mọi người cũng không vội rời đi ngay, còn có người xếp hàng để xem sạp hàng của Hà Điền và Dịch Huyền có gì, kết quả là có không ít người vừa ăn bánh thịt, vừa đổi đồ này nọ với họ.

Đúng là không kiếm được bao nhiêu tiền từ việc bán bánh thịt, nhưng mà chẳng mấy chốc mà sạp hàng của Hà Điền và Dịch Huyền đã trở nên đông khách vô cùng, hai người họ bận rộn đến mức hận không thể có thêm một cái miệng và mọc thêm hai cánh tay.

Chỉ nửa tiếng, một nồi phá lấu đã được bán hết, chỉ còn thừa lại mấy cái bánh nướng.

Những thứ trên sạp hàng của Hà Điền và Dịch Huyền cũng đã thay đổi rất nhiều.

Kê đã trở thành mè, đậu phộng, đậu tạp, và một túi củ to tròn màu trắng mà Hà Điền và Dịch Huyền đều chưa từng thấy qua, người đổi nó gọi nó là “củ sắn” (củ đậu), có thể nấu chín ăn như món chính, hoặc cũng có thể cắt thành lát và ăn sống như trái cây. Loại củ này có thể bảo quản lâu trong hầm.

Trong lúc trao đổi, người đàn ông cắt một củ ra cho họ ăn thử, dưới lớp vỏ mỏng màu đất, củ sắn giòn ngọt với phần thịt trắng ngần.

“Nó có vị hơi giống lê, nhưng không ngọt và mọng nước như lê, cũng không có bã.” Dịch Huyền ăn xong đưa ra kết luận.

Hà Điền cho rằng thứ này đổi có hơi lỗ, nó kém ngon hơn nhiều so với táo. Nhưng mà, đối với những thứ mới lạ như thế này, nên thử.

Thịt cá, vịt xông khói, thịt heo cũng được đổi thành da lông, hai tấm da sói, một tấm da trâu đen và trắng, và một số loại da khác, chẳng hạn như da cáo.

Đồ gốm là thứ có giá trị nhất, họ đổi một bộ hai mươi bốn chiếc chén, dĩa lấy một thùng dầu diesel khoảng 20 lít, đồ gốm vụn vặt linh tinh này nọ cũng được đổi lấy một vài vật dụng hữu ích.

Các loại mứt và trái cây khô, son dưỡng môi làm bằng sáp ong và thảo mộc, sổ da, đèn lồng giấy in nổi, v.v., cũng đã được thay thế bằng nhiều thứ khác nhau, có đồ ăn, đồ hữu dụng, v.v..

Vì vậy, đến trưa, bọn họ lại bày đầy vải bông, đồ ăn các loại, đậu phộng, dầu thực vật tinh luyện từ bắp, các loại đồ ngâm, v.v.. tiếp tục trao đổi với những người khác.

Trong lúc Hà Điền và Dịch Huyền đổi bánh thịt với người khác, Tam Tam và Tam Bảo cũng đến.

Họ cũng rất bận rộn.

Năm nay Tam Tam may rất nhiều quần áo bông để bán, nhưng hầu hết quần áo bông năm nay của cô ấy đều dành cho trẻ em hoặc những cô gái yêu cái đẹp.

Những người mua quần áo bông của cô ấy năm ngoái, nếu nhà có trẻ nhỏ thì hầu hết họ sẽ lại đến chỗ của cô ấy mua, nhưng người lớn trong nhà thì không phải năm nào cũng có quần áo bông mới để mặc.

Tam Tam rất thông minh. Cô ấy đã nghĩ ra điều này từ sớm. Ngoài việc bán quần áo bông cho trẻ em, cô ấy còn may một số áo khoác lông cừu. “Các cô các dì rất thích loại này. Áo khoác này có thể mặc được cả hai mặt, một bên là vải bông dày và một bên là lông cừu. Khoác ở bên ngoài áo bông, trời nóng thì cởi áo bông ra, mặc như áo dày cũng được. Thấy mặt da khó chịu, mặc ngược lại sẽ thành một kiểu áo khác ngay! Mua cái này, một năm có thể mặc những bốn đến năm tháng!”

Một bộ quần áo có thể mặc được bốn năm tháng, vậy thì hời quá còn gì!

Rất nhiều bác gái, cô dì nghe xong đều muốn mua.

Hơn nữa, hai năm nay Tam Tam đều sống bằng cái nghề thợ may này, có lượng khách quen, những người từng mua quần áo của cô ấy đều biết quần áo cô ấy may rất dày, đường may đẹp và kiểu dáng ưa nhìn, không cần cô ấy phải nói nhiều lôi kéo, tự động cũng có khách vây quanh chật kín.

Đến trưa, quần áo đã bán hết sạch sẽ, đổi thành đủ loại hàng hóa, Tam Tam và Tam Bảo chọn những thứ họ cần, số còn lại thì trao đổi với người khác.

Lúc này Tam Tam đang rảnh rỗi, đứng từ xa mỉm cười coi như chào hỏi Hà Điền, Hà Điền bước đến, hai cô gái nhỏ ngồi ở khoảng đất trống sau sạp hàng của Tam Tam, nói chuyện riêng.

Hà Điền hất cằm về phía sạp hàng của Tam Tam, cười nói: “Anh ấy để sạp hàng của mình một bên mặc kệ, chạy đến chỗ cô hỗ trợ hả?”

Tam Tam đỏ mặt.

Tát Sa giúp Tam Bảo trông sạp hàng.

Còn sạp hàng của anh ấy thì để cho ba anh ấy trông coi.

Hà Điền lắc đầu vài cái: “Không ngờ luôn, cô tiến cử Tát Sa học làm gốm, hóa ra là có tâm tư riêng nhé.”

Tam Tam bị cô nói nên ngượng ngùng, hơi cúi đầu xuống, cười nói: “Cô đừng có vu oan cho tôi, lúc đó tôi với anh ấy còn chưa thân nhau mà.”

“À. Vậy bây giờ thân hơn chưa?”

Tam Tam mím môi cười mà không nói gì, trên má cũng không hề bôi phấn, vậy mà đã thoáng hiện lên một vệt ửng hồng.

Hai người đang nói chuyện thì ông anh to con Sở Vân Tây cũng đi tới.

Dịch Huyền đưa một túi táo tàu đỏ và một túi kê cho anh ấy: “Anh Sở, chị dâu sinh chưa? Chuẩn bị sẵn cho anh này.”

Sở Vân Tây đỏ mặt, nói: “Sinh rồi! Lần này vợ tôi sinh được một thằng nhóc! Hai mẹ con đều khỏe cả!” Anh ấy đưa cho Dịch Huyền một cái túi da lớn đựng rượu có độ tinh khiết cao.

Hai người nói chuyện một lúc, Sở Vân Tây lại cùng Tam Bảo trò chuyện.

Sở Vân Tây, Tam Bảo và Tát Sa đã lâu không gặp nhau nên có rất nhiều điều để nói.

Đầu tiên Tát Sa cho Sở Vân Tây xem đồ gốm mà anh ấy làm, sau đó nói về căn nhà mới xây của Hà Điền và Dịch Huyền trông như thế nào, rồi mấy người họ lại kéo nhau đến sạp hàng của Hà Điền và Dịch Huyền để tiếp tục nói chuyện.

Sở Vân Tây xoa tay hâm mộ, nắm lấy cánh tay Dịch Huyền, nói với anh: “Chú em, năm nay xem ra là không được rồi. Sang năm sau đi, sang năm tôi có thể đưa người nhà mình đến nhà chú xem được không?”

“Tất nhiên là được rồi!” Dịch Huyền cười nói: “Đến lúc đó nhớ mang vợ con theo cùng nhé.”

Sở Vân Tây vội vàng xua tay: “Như vậy không được đâu! Trẻ con chưa tiêm thuốc không thể chạy lung tung được.” Nói đến đây, người ba to con này mang vẻ mặt vui mừng, nói: “Chỗ của chúng ta ấy, vốn là nơi không ai quản lý, cuối mùa hè năm nay lại được chủ thành của thành Song Hà hợp nhất lại, tất cả mọi người đều có hộ khẩu rồi. Mặc dù sau này sẽ phải nộp thuế cho chủ thành, nhưng mùa xuân hàng năm trong thành phố sẽ cử các đoàn y tế đến chữa bệnh. Có hộ khẩu thì có thể tiêm phòng cho trẻ em và chữa bệnh cho người lớn. Mặc dù không được miễn phí – thành thật mà nói thì nó còn khá đắt, nhưng không còn phải lo lắng về việc gặp phải những thầy thuốc lang băm vì tiền mà hại chết người nữa. Vợ chồng tôi đang tiết kiệm tiền… “

Dịch Huyền nghe xong cười một tiếng: “Chủ thành mới này so với lần trước còn có năng lực hơn.”

Sở Vân Tây tự hỏi: “Chủ thành đã thay đổi? Khi nào vậy?”

Dịch Huyền cười nhạt: “Có lẽ là mùa đông năm ngoái.”

Sở Vân Tây cẩn thận ngẫm lại: “Ừ… chẳng trách ở hội chợ mùa xuân năm nay, tôi thấy họ bày binh bố trận không giống với năm ngoái. Vậy mà lại không nhìn ra được sự khác biệt.”

Tát Sa và Tam Bảo nhìn nhau, rồi nhìn Dịch Huyền: “Nói không chừng đến mùa xuân năm sau, chủ thành sẽ nhân lúc thị trường mở cửa mà hợp nhất chúng ta lại.”

Việc này là tốt hay xấu đây?

Dân làng dưới núi hầu hết là nông dân lao động tự do và không chịu sự quản chế của ai, nếu có tranh chấp xóm giềng, cầu tàu, làm đường, cải tạo đất thì đều sẽ do ban quản lý phụ trách.

Về phần thợ săn trên núi thì lại càng là người ngoài vòng pháp luật, cái mà họ tuân theo là quy luật của tự nhiên, không tranh chấp với đời.

Nếu chủ thành muốn sáp nhập và yêu cầu họ nộp thuế, rồi có khi sau này còn bắt họ phải đi lính luôn không? Tham chiến để giúp anh ta giành lãnh thổ?

Dịch Huyền thấy sắc mặt Tát Sa và Tam Bảo trông nghiêm trọng, cười an ủi: “Tôi nghĩ chuyện thuế má không dễ thu đâu. Nếu tôi là chủ thành thì vẫn sẽ giống như hai năm qua, tiếp tục thu thuế của những người buôn bán ở chợ, hạn chế bọn họ, việc này dễ dàng hơn nhiều so với việc quản lý chúng ta. Về phần nghĩa vụ quân sự, còn khó hơn nữa. Tại sao tất cả mọi người đều sống ở đây? Không phải là vì trốn trong núi và đầm lầy để khỏi bị kiểm soát sao?”

Tát Sa và Tam Bảo ngẫm lại, quả thật thấy có lý.

Nếu chủ thành thật sự muốn bọn họ đóng thuế, vậy thì chỉ có thể như đám người Chu Vân Tây, nộp thuế, làm vậy cũng có lợi, hiện tại không thấy có nhiều lợi ích gì, nhưng mà có thể đi khám chữa bệnh cũng tốt. Nếu lúc nhỏ Tam Tam có thể được tiêm vắc xin phòng bệnh bại liệt từ sớm thì có lẽ đã không bị tàn tật như bây giờ.

Về việc liệu trong tương lai có thay đổi chủ thành nữa hay không, thuế suất có tăng lên không, chính sách y tế có lợi cho người dân hay không thì bọn họ chỉ có thể chờ thời gian trả lời.

Hà Điền và Dịch Huyền đã đổi được hàng hóa ưng ý, mang theo những túi lớn nhỏ, còn có hai túi gạo mới mà Tát Sa đã hứa cho, chở Lúa Mì, ngược dòng đi thuyền về nhà.

Khi họ đến, trời còn chưa sáng, cảnh vật hai bên bờ chìm trong màn sương mờ ảo, đầy những vệt khói xanh đen, khi họ trở về nhà thì đã là bốn năm giờ chiều, ánh chiều tà buông trên sông, mặt nước và bầu trời trùng điệp, cỏ mùa thu hai bên như được nhuộm màu bởi mặt trời lặn, những tán cây trong rừng trên nền trời xanh, nhìn từ xa trông như có ai đó không tiếc sắc màu, rắc đủ màu sắc lộng lẫy lên cành lá mùa thu, vàng đỏ, vàng cam, xanh đậm, xanh lá cây… Nhiều lớp màu trải dài trong rừng sâu, và cuối cùng chuyển thành màu xanh đen giống với khu rừng được nhìn thấy vào buổi sáng sớm.

Hà Điền và Dịch Huyền về đến nhà, đem hàng hóa chuyển xuống thuyền, cười cười nói nói đi lên trên núi.

Hai bóng người cũng như cái đuôi lay lắt của Lúa Mì dần biến mất trong sắc trời mùa thu.

Năm này qua năm khác, sức người có thể thay đổi cảnh vật trong thiên nhiên, rừng rậm có thể trở thành ruộng bậc thang, vách đá nhô thẳng lên mây có thể bị san phẳng, sông có thể bị chuyển hướng và biến thành hồ chứa, thậm chí cả khí hậu, bốn mùa dài ngắn đều có thể được thay đổi bởi con người.

Nhưng không có thiên nhiên, con người có thể đi về đâu?

Ở bên trong từng lớp cây rừng, Hà Điền và Dịch Huyền tiếp tục bận rộn, sống, cười, tận hưởng, dựa dẫm và bảo vệ khu rừng này.

Hai cây thành rừng, hai người thành rừng.

(Hết)
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 130: Phiên ngoại


Trước mười chín tuổi, Dịch Huyền chưa từng để ý đến ngoại hình của mình. Cần phải nói rằng, anh rất tự tin vào diện mạo của chính anh.

Không ai khen anh đẹp, nhưng Dịch Huyền không hề mù, cũng không ngốc.

Từ năm mười ba, mười bốn tuổi, anh đã quen với việc nhìn thấy người giúp việc nữ và nhóm ca sĩ ngượng ngùng nhìn mình.

Thế mà, sau khi gặp Hà Điền, sự tự tin về ngoại hình của anh đã bị lung lay.

Một người vốn có ý định chết, cam chịu số phận nằm ở trong tuyết, dần dần mất đi ý thức, tưởng rằng cuộc đời của mình cứ kết thúc như vậy, ai ngờ sau khi tỉnh lại thì đã được người cứu sống, còn chưa chết cóng. Có được vận may này, tâm lý muốn tìm đến cái chết tất nhiên đã không còn nữa.

Nhưng Dịch Huyền không bao giờ ngờ được rằng anh không chỉ thoát chết, mà còn phải cố gắng thích nghi với giới tính mới của mình.

Thiên thần nhỏ đã cứu anh khỏi đống tuyết đưa về nhà không biết vì sao lại tin chắc rằng anh là con gái.

Không chỉ là một cô gái, mà còn là một cô gái đẹp.

Khi lần đầu tiên nhận ra rằng Hà Điền đã nhận định sai giới tính của mình, tâm trạng của Dịch Huyền khá phức tạp. Anh nhất thời không thể nào hiểu nổi, nếu như cô cho rằng anh là một người đàn ông xấu xí, có lẽ anh sẽ cảm thấy tốt hơn.

Khi cô cứu anh về là lúc cuối thu. Trên núi đã có tuyết rơi, và con đường vào rừng rất nhanh thôi sẽ bị chặn bởi tuyết dày, sẽ không ai có thể đến được đây cho đến mùa xuân năm sau.

Trong thế giới bị phong kín bởi băng và tuyết này, vấn đề lớn mà anh cần phải đối mặt đó là, làm thế nào để tồn tại.

Giới tính gì, quá khứ thế nào không còn quan trọng nữa, chỉ cần nghĩ xem bữa sau ăn gì là tốt rồi.

Hà Điền đã sửa lại quần áo cũ của bà cô cho anh mặc. Cô ghép nhiều bộ quần áo cũ lại với nhau, tách một bộ ra và dùng số vải đó để nối dài tay áo và vạt áo của những bộ quần áo khác.

Khi nhận lấy bộ quần áo cũ của người bà đã khuất ấy, Dịch Huyền tự nhủ với mình, “mọi thứ đều là vì để tồn tại”, và khi ngủ trên gác với Hà Điền, anh cũng tự nhũ với lòng mình như vậy.

Cô dẫn anh đi đục băng, lấy nước. Rồi từ trên sông băng đục ra hai lỗ băng, đem lưới đánh cá thả vào trong một lỗ, hai ngày sau mới lôi lên từ lỗ băng còn lại.

Hơi thở trắng xóa mà anh và cô thở ra đều đông lại thành băng, mồ hôi bám đầy trên mặt, trên thái dương và cả cổ cũng đông cứng lại.

Mỗi khi nhận được thức ăn, bất kể là lúc đang nấu hay là lúc đang ăn, anh đều sẽ thành tâm biết ơn.

Mọi thứ đều là vì để tồn tại.

Cuộc sống của Hà Điền khá khác so với nơi mà anh đã sống trước đây.

Mỗi ngày của cô dường như chỉ xoay quanh thức ăn và sinh tồn, lấy nước, lưới cá và bắt chồn, tất cả đều để đáp ứng những nhu cầu sinh tồn cơ bản nhất. Thậm chí, khi anh hỏi lấy tiền bán lông chồn rồi sẽ làm gì, cô trả lời rất đơn giản, gieo hạt xong, mùa đông năm sau sẽ có hạt, có rau, đổi muối – ướp đồ ăn, nấu thức ăn, rồi còn phải chuẩn bị một lượng muối lớn cho con tuần lộc gọi là Gạo kia nữa, đổi thuốc, những người đi săn trong rừng biết một số loại cây thuốc, nhưng nếu nhức đầu, vậy thì thuốc viên sẽ hiệu quả hơn…

Cuộc sống của cô, có thể nói rất hèn mọn và nhỏ bé, giống như côn trùng, chim thú, phải không?

Không phải đâu.

Hà Điền rất biết quý trọng cuộc sống.

Cuộc sống của cô nhỏ bé và bình thường, nhưng dưới sự chăm chỉ của cô, nó cũng rất độc đáo và hạnh phúc. Cô dành nhiều thời gian vào mùa thu để sưu tầm hoa và cây cỏ, làm thành hoa khô, mùa đông thì lấy ra cắ.m vào bình và đặt lên bàn để trân trọng. Cô cũng làm rất nhiều giỏ hoa nhỏ bằng tre với hoa khô thơm và treo chúng ở bốn góc của gác ngủ. Ngay cả cửa của nhà nghỉ săn bắn trong rừng cũng được trang trí bằng những chiếc gõ (bộ gõ cửa) làm bằng cành và quả thông.

Vật chất mà cô sở hữu chắc chắn không dư dả, nhưng khẩu vị và tinh thần cũng không cằn cỗi.

Còn cuộc sống của anh thì sao?

Theo như những gì anh có thể nhớ, mỗi ngày anh đều phải học rất nhiều.

Mỗi khi đến mùng một và ngày rằm, giáo viên của anh sẽ tập hợp tất cả các học sinh lại, để họ so tài.

So tài là gì? Không chỉ phải kiểm tra, mà còn phải so sánh.

Anh không chỉ phải học, mà còn phải học giỏi hơn những người khác.

Mỗi khi thi võ, người nào đạt điểm cao nhất sẽ nhận được phần thưởng đặc biệt.

Anh sẽ được đưa đến một căn phòng có bốn bức tường giấy, và sẽ được xăm bởi một nghệ nhân xăm hình già có bộ râu và mái tóc bạc trắng.

Hình xăm là một tác phẩm nghệ thuật hiển thị trên cơ thể con người.

Để hoàn thành một tác phẩm nghệ thuật như vậy không chỉ đòi hỏi một nghệ nhân xăm phải có tay nghề cao mà còn cần phải có một cơ thể người hoàn hảo để làm vật dẫn, ngoài ra còn cần thời gian dài cùng với sự kiên nhẫn.

Để thể hiện được các vân nước và vân mây hoàn hảo và sống động nhất, cần phải bắt đầu từ khi người được xâm còn rất nhỏ.

Những đứa trẻ may mắn được chọn đều khác với những đứa trẻ cùng tuổi.

Chúng biết cách chịu đựng, và càng hiểu rõ hơn vinh dự là gì.

So với vinh dự, nỗi đau do hình xăm gây ra dường như được thay thế thành một loại k.ích thích.

Khi Dịch Huyền mười ba, mười bốn tuổi, anh bắt đầu xăm vảy rồng.

Lúc này, không chỉ có kim nhỏ và mực màu mà cả dao cũng được sử dụng.

Lưỡi dao được thợ xăm sử dụng được mài từ một chiếc vỏ trai rất đẹp.

Nghe nói, nó là vỏ của một loài trai biển có thể tạo ra những viên ngọc trai lớn. Con dao đó có hình lưỡi liềm, giống như một vảy cá lớn, dưới ánh sáng, nó đẹp như một viên ngọc trai, sáng bóng hơn bất kỳ viên ngọc trai lớn nào mà Dịch Huyền đã từng thấy.

Nhưng lưỡi của loại dao này rất cùn, mỗi lần hạ dao phải cắt vài lần thì mới rạch được da thịt.

Không giống như con dao mà anh bắt đầu luyện tập khi đó, nó mỏng và sắc như lá liễu, như một mảnh băng, có đôi khi dùng sức quá mức, anh sẽ tự cắt vào mình, đến khi máu chảy xuống cánh tay và thấm vào quần áo, anh mới phát hiện ra, mới cảm thấy đau.

Sau khi bị dao vỏ trai này cứa đứt, da sẽ bị viêm trong thời gian ngắn. Sau khi da lành sẽ hình thành một vết sẹo hình vòng cung, trên vết sẹo có xăm hình vảy rồng, trông như vảy thật.

Dịch Huyền và Hà Điền sống với nhau đã lâu, cô không để ý đến hình xăm trên cơ thể anh.

Và cũng chưa từng nghi ngờ về giới tính của anh.

Có một lần, anh thức dậy muộn, chưa kịp dùng dao cạo tỉa râu, cô nhìn chằm chằm vào bờ môi anh thật lâu, hai hàng lông mày nhỏ cau lại.

Anh nghĩ: “Ha, bây giờ thì tốt rồi, cuối cùng cũng bại lộ rồi!” “Hừ, từ nay về sau không cần phải ngồi trên bồn cầu đi tiểu hay ngồi xổm xuống bồn cầu với tư thế kỳ lạ nữa!” “Không cần phải tranh thủ dậy sớm mỗi ngày để chỉnh trang lại khuôn mặt, ha, thật nhẹ nhõm… “

Không ngờ Hà Điền lại lên tiếng, trước tiên cô cười, sau đó nói với giọng hơi an ủi: “Bà của tôi cũng là một người đẹp có lông rậm! Bà có một loại thuốc mỡ bôi ở ria mép, sau khi tẩy lông con sẽ rất mềm, cũng có thể tẩy ở quai hàm, khi tẩy xong mặt sẽ như trái đào chín mọng, lông mềm như nhung luôn, thích lắm! Cô có muốn thử không?”

Dịch Huyền cắn phần thịt trong của môi dưới, mỉm cười với cô: “Không cần đâu. Cảm ơn. Tôi có cách giải quyết của riêng mình.”

Hà Điền bĩu cái miệng nhỏ nhắn đỏ ửng của mình: “À. Vậy được rồi… Nhưng mà nè, tôi từng nghe bà tôi nói nếu nhổ bằng nhíp thì sau này lông sẽ cứng, dài và nhọn đó…”

Chắc do lúc này sắc mặt anh không được tốt cho lắm, cô thông minh cúi đầu xuống không nói gì nữa.

Lúc đó Dịch Huyền thật sự bực mình mà nghĩ trong lòng, hừ, tôi còn có thứ lông rất là dài và cứng đây này, cô có muốn…?

Có muốn… Về sau, nghĩ đến điều này, khi nhìn Hà Điền, anh không thể nào tự chủ được mình nữa. Anh luôn muốn ôm và ghì siết lấy cô. Tốt nhất là siết chặt cô lại, để cô đột ngột th.ở dốc, phát ra những tiếng hét nhỏ tức giận, khó chịu, muốn cười, muốn đánh anh. Giống như con tiểu Bác mà anh đã nuôi khi còn nhỏ. Chú chó nhỏ đáng yêu kia sau khi trêu đùa nhiều sẽ luôn phát ra tiếng kêu thảm thiết, gầm gừ rồi nhảy dựng lên định cắn anh, nhưng chẳng qua cũng chỉ là dùng răng nanh nhỏ của nó kẹp lấy ngón tay anh mà thôi, không hề dùng sức.

Đây là một suy tưởng khó nói thành lời.

Ngay cả khi sau này Hà Điền đã thân mật với anh, Dịch Huyền cũng chỉ áp dụng qua một lần.

Phản ứng của cô tương tự như phản ứng của tiểu Bác, hay nói cách khác, giống với những gì mà anh mong đợi. Cô trầm giọng sợ hãi hét lên, nói là sợ hãi, chẳng qua là bị siết hông đột ngột nên bị đau, Dịch Huyền vừa buông tay ra, cô lập tức dùng tay đánh anh một cái, cau mày mắng: “Dịch Huyền!” Khuôn mặt nhỏ nhắn của cô đỏ bừng, không biết là do tức giận hay là đang khó thở.

Anh bật cười, để mặc cô đánh mình, cười rồi ôm cô lên, đạp tung cánh cửa rồi ôm cô vào trong.

Cô đã hoàn toàn làm thay đổi cuộc đời anh.

Có lần, anh nói với cô như vậy, cô cười: “Anh cũng đã thay đổi cuộc đời em.”

Có đúng không?

Cuộc sống của Hà Điền sẽ ra sao nếu không có anh?

Anh không thể tưởng tượng nổi.

Trước khi gặp cô, anh chưa bao giờ nghĩ rằng được làm người của núi rừng là hạnh phúc lớn nhất của đời mình.

Vào mùa xuân năm thứ tư sống cùng cô, tại phiên chợ mùa xuân, bọn họ đã tìm được anh.

Anh không quá ngạc nhiên khi nhìn thấy họ.

Bọn họ gật đầu, dùng ánh mắt để trao đổi.

Dịch Huyền lặng lẽ đi đến một chiếc tàu buôn cỡ vừa bên cạnh hạm đội để tìm người nọ.

Anh ba thấy anh đến cũng không mấy bất ngờ, chỉ vào chiếc bàn gỗ nhỏ trên ghế sa lông thấp: “Là loại trà trắng mà cậu thích trước đây. Ướp hoa sen.”

Dịch Huyền mỉm cười, ngồi xuống, cầm tách trà nhỏ lên: “Không ngờ anh sẽ đích thân đến.”

Anh ba, hoặc, phải nên gọi là, chủ thành của hai cửa sông, mỉm cười: “Cậu là em trai nhỏ nhất của anh. Từ khi còn nhỏ hai chúng ta thân với nhau nhất. Tất nhiên anh phải đích thân đến chứ.”

Những người được anh ba cử đến đã nhìn thấy chiếc băng đô mà Hà Điền mang ở chợ mùa thu năm ngoái và ngay lập tức cảm thấy quen thuộc.

Dịch Huyền đã làm băng đô cho cô từ chiếc áo cũ của mình. Lụa đỏ được dệt bằng những sợi vàng, làm thành một đóa hoa, phản chiếu dưới ánh mặt trời.

Họ theo dõi cô và tìm thấy anh một cách suôn sẻ.

Anh ba chậm rãi nhấp một ngụm trà: “Cậu có dự định gì không?”

Họ không thể hiểu được ý định của Dịch Huyền.

“Cậu thật sự muốn sống ở đây mãi sao?”

“Cũng không hẳn! Nếu sau này vợ em có thai và sinh con, nơi có bác sĩ và thuốc sẽ an toàn hơn.”

“Vợ của cậu?” Anh ba nhắc đến Hà Điền, chậc chậc hai tiếng: “Năm ngoái khi người của anh quay lại báo cáo, anh đã tự nghĩ, không thể nào — làm sao Huyền Huyền có thể tìm một cô gái nông thôn cho được! Giờ thì anh đã hiểu rồi.”

Anh ấy nghiêng đầu nhìn Dịch Huyền: “Sao cậu lại may mắn vậy hả? Cô gái nông thôn nào cũng đều đẹp như vậy cả à?”

Dịch Huyền không tự chủ được nở nụ cười, nói với anh ba của mình: “Lần đầu tiên gặp, cô ấy đã đào em ra khỏi tuyết. Em lúc ấy đã mê sảng, cho rằng đã nhìn thấy một thiên thần nhỏ. Cô ấy cưỡi một con hươu trắng, hai má ửng hồng, mặc một chiếc áo khoác lông dày, tựa như một con búp bê Nga… Em… “

Lúc này Dịch Huyền đột nhiên nghĩ, Hà Điền có đẹp không? Xác thực là rất đẹp.

Nhưng anh cũng không phải là chưa từng nhìn thấy người đẹp nào. Trong nhà ba nuôi có rất nhiều ca sĩ và vũ công, anh ba từ nhỏ đã viết thư tình cho bọn họ, thỉnh thoảng còn sai anh đưa thư. Những người đẹp này dùng sắc đẹp để phục vụ người khác, họ có nhan sắc trời cho, lại trải qua ngày ngày chăm sóc bảo dưỡng, thậm chí càng nổi bật hơn.

Nhưng… khi đối mặt với những người đẹp đó, anh chưa từng có cảm giác giống như khi ở bên Hà Điền.

Anh há miệng, sững người một lúc, cuối cùng cười ha ha nói: “Dù sao thì bây giờ em và cô ấy đang sống một cuộc sống thần tiên.”

“Thần tiên, khi nào thì cậu định có thần tiên nhỏ?”

“Không vội.” Dịch Huyền đặt tách trà xuống: “Chủ thành, nhờ anh một chuyện.”

“Chuyện gì? Người biết cậu đều nói cậu là người có năng lực, cậu còn có điều gì mà không làm được?”

Dịch Huyền nghiêm túc nói: “Sau này khi thương đội đến thì hãy mang theo một số nhu yếu phẩm nữa đến bán!”

“Dầu, muối, tương, giấm, thuốc, vải vóc đều có cả mà!” Anh ba cho rằng mình là một chủ thành xứng chức, không những không thu thuế tiêu dùng một cách vô lý, lại còn kiểm soát chặt chẽ giá cả các sản vật dân sinh.

Dịch Huyền trợn tròn mắt: “Bấy nhiêu đó sao mà đủ được!” Anh sợ phiền chứ gì!

Anh ba: “…”

Dịch Huyền xuống thuyền và về nhà với Hà Điền.

Có lẽ Hà Điền đã nhìn ra gì đó, hơi lo lắng hỏi anh: “… Anh ổn chứ?”

“Ừ.” Dịch Huyền mỉm cười: “Mọi thứ đều ổn cả.”

Lúc hạ chí, Tát Sa đến nhà Hà Điền để lấy tơ, nói với họ rằng chủ thành đã cử một bác sĩ đến trong làng.

Sau này mỗi năm sẽ có bác sĩ thay phiên nhau đến đây.

Dân làng rất mừng và đang xây nhà mới cho bác sĩ.

“Cho dù chủ thành có tăng thuế cũng không thành vấn đề.” Tát Sa cũng rất vui. Anh ấy và Tam Tam đã kết hôn rồi, bọn họ tự xây nhà và có một gia đình nhỏ, không chừng vài năm nữa sẽ có con.

“Ông anh chủ thành này thật giỏi thu mua lòng người.” Dịch Huyền khẽ cười, trong lòng tính toán định hôm nào sẽ vào làng một chuyến, có thể người bác sĩ này có mang theo thứ gì đó đến cho anh cũng không chừng?

———
 
Back
Top Bottom