Điền Văn Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 100: 100: Súp Trứng Khoai Lang


Sau khi Hà Điền cải tiến phương pháp chế tạo tấm ván gỗ, Dịch Huyền bắt đầu chăm chỉ luyện cưa.
Nhà kho chứa những dụng cụ để đó không dùng đến được biến thành xưởng mộc, trên sàn nhà đầy mùn cưa, tiếng cưa gỗ vang lên suốt hai ngày.
Sau khi tạnh mưa, trên bàn tay của Dịch Huyền nổi một vài vết rộp vì quá trình luyện cưa cuồng nhiệt của mình.

Hà Điền cấm không cho anh cầm cưa nữa, để phân tán sự chú ý của anh, cô để anh lùa Gạo đi cày ruộng trồng kê và vườn rau lên mấy lần, chuẩn bị trồng mấy cây cà rốt trước.
Cà rốt là loại cây trồng chịu rét rất tốt, hàng năm đều được trồng đầu tiên và thu hoạch sau cùng.
Một phần rau trong nhà cũng được chuyển về vườn ươm lần nữa, đợi cho kỳ sương giá kết thúc, họ sẽ dỡ gạch, rồi lại xới đất lên, trồng rau.

Hà Điền khâu nhiều tấm mành cỏ lại với nhau, cũng gắn một thanh tre mảnh nhỏ ở phía dưới, cột dây thừng vào, khi mặt trời lặn thì gỡ dây ra, tấm mành cỏ sẽ trượt xuống từ mái nhà và thả xuống cho đến khi chạm đất, buổi sáng sau khi mặt trời mọc thì kéo dây lên, mành có thể gấp thành nhiều nếp, sau khi kéo lên mái nhà thì chỉ cần quấn dây quanh trụ là được.
Dịch Huyền cảm thấy phương pháp này rất hay: "Đợi chúng ta bắt đầu xây nhà cũng sẽ dùng vải dầu làm một tấm mành lớn và treo nó như vậy.

Nếu trời có mưa thì nền cũng không bị ướt."
"Vậy thì phải mua bao nhiêu tấm vải dầu mới đủ..." Hà Điền chỉ nghĩ thôi mà đã thấy thịt đau.
"Mấy tấm mành che này sau khi chúng ta xây nhà xong vẫn còn dùng tiếp được mà em.

Đủ để mình che một cái nhà kính lớn luôn!" Dịch Huyền vỗ vai Hà Điền, lời nói thấm thía: "Em phải nhìn vấn đề với góc độ phát triển và lâu dài."
"Ừ.

Anh thì biết nhìn xa trông rộng lắm.

Lúc bẫy heo rừng còn lấy ruột heo để phơi khô nữa mà.

Em cứ tưởng là anh muốn làm lạp xưởng."
"Đang muốn thương lượng với em chuyện này đây, chúng ta cũng nên sớm đi đặt bẫy heo rừng tiếp, hoặc là tranh thủ thời gian đến nhà Tam Tam để xem dê của nhà họ đã bị giết thịt chưa, chứ ruột khô sắp hết đến nơi rồi!"
Hai người nói đùa một lúc rồi đến xưởng gốm lấy mấy bó gai dầu mà ngày hôm đó đã nhét đại vào ra, tranh thủ thời tiết đẹp đem đi phơi khô, chứ nếu bị mốc hết thì không thể dùng làm chất độn được.
Khi đến xưởng, việc đầu tiên họ làm là nhặt số đá bọt bên cạnh đống cây gai dầu và cho lại vào bao.
Hà Điền đang nhặt thì thấy bã vụn của cây gai dầu trên mặt đất đã biến thành một ít đất sét cứng, hơi giống bê tông khô, vội gọi Dịch Huyền lại gần để quan sát.
Hôm đó trời mưa không ngớt, để tiết kiệm thời gian, Dịch Huyền lấy hai bao đá bọt, mở bao ra rồi đổ đại đá xuống đất, bột đá lẫn một ít tro núi lửa, thêm độ ẩm và kết hợp với bã gai dầu đã biến thành một mảng bê tông hữu cơ.
Hai người nghiên cứu trong chốc lát, tim nhỏ đập loạn xạ cả lên, đây là loại vật liệu xây dựng mới, độ cứng không cao lắm nhưng thoáng khí, hút nước, có thể điều tiết độ ẩm, cách nhiệt rất tốt.

Nếu dùng tre hoặc ván gỗ làm khung phụ trợ rồi đổ bê tông vào, nén chặt, vậy chẳng phải là làm được thứ giống như đất nện rồi sao?
Hai người vội vàng lấy một bó cây gai dầu, vứt hết hạt và lá khô đi, chỉ để lại phần thân, cho từng cây vào máy cắt cỏ khô cắt thành đoạn, sau đó chuyển đến chỗ cối xay rồi đổ vào.

Cột dây thừng vào người Gạo để nó kéo cối xay, chỉ một lúc sau, một bó gai dầu đã được xay thành từng đoạn nhỏ dài khoảng một cm.
Sau khi cắt nát, khối lượng cây gai dầu bung ra rất nhiều.
Sau đó, họ đập vỡ một số viên đá bọt.
Kết cấu của đá bọt giòn, dễ vỡ hơn so với vỏ quả óc chó và vỏ hạt thông, sau khi cho vào máy xay thì ngay lập tức bị xay thành mảnh nhỏ.
Vì không có công cụ đo lường chính xác, Hà Điền và Dịch Huyền đã sử dụng một ống tre được cắt từ một khúc tre như một công cụ để đo các loại vật liệu dạng bột và lỏng khác nhau.
Sau đó, họ mang khuôn làm gạch đá đến, sau khi bàn bạc, họ sửa lại một chút, độ sâu của khuôn được thay đổi thành mười lăm cm, rồi lại mang một chiếc máy trộn bê tông vào.

Sau khi thêm tro núi lửa, bột đá bọt và lượng nước phù hợp, trộn thành một hỗn hợp sền sệt, họ đặt một thùng gỗ lớn bên dưới thùng phuy, lắc tay cầm, nghiêng miệng thùng phuy xuống dưới rồi đổ tất cả hỗn hợp vào thùng gỗ.
Sau khi đổ hỗn hợp vào khuôn, ghi lại thời gian và lượng vật liệu sử dụng, đợi cho những viên "gạch bê tông hữu cơ mới" này hoàn toàn đông kết và hình thành là có thể tiến hành các thử nghiệm chịu nhiệt độ cao, giữ nhiệt và nén.
Nhân lúc thời gian còn sớm, Dịch Huyền và Hà Điền chèo thuyền đi vớt lồ ng cá ở hạ lưu sông, nhân tiện trồng một ít hạt sen trong các ao, đất trũng và đầm lầy gần đó luôn.

Do số lồ ng cá thả lần này đều được cố định vào gốc cây bên bờ sông nên cũng không bị nước dâng do mưa lớn cuốn trôi đi, ngược lại còn rất có thu hoạch.
Sau khi đặt lại lồ ng cá, họ ra vịnh cạn của bãi sông đào hai thùng cát.
Cát được đựng ở trong thùng gỗ, nước rỉ ra từ các khe nứt, gõ nhẹ vào đáy thuyền.
Dịch Huyền chỉ dẫn Hà Điền chèo thuyền đến một khúc quanh, nơi này ở rất gần nhà, nhưng trên sông đột nhiên xuất hiện một vài tảng đá to lớn, như nêm vào lòng sông, khiến cho dòng sông chuyển hướng.

Đoạn bờ sông này nhiều cây cối rậm rạp, một số cây mọc ở trong nước, nửa ngâm mình khi nước dâng cao.
Hai người neo thuyền ở bên bờ, Dịch Huyền nhảy xuống thuyền: "Năm ngoái không phải anh đã trộm một động cơ kim loại sao? Anh giấu nó ở đây."
Lúc này Hà Điền mới nhớ tới, ừ ha, đúng rồi, ngoài thứ này, anh còn lấy trộm một chiếc thuyền không rõ nguồn gốc, cũng như quần áo và tiền của một người lính nữa.
"Sao bây giờ anh lại muốn tìm thứ này?" Dù sao thì Dịch Huyền cũng không thể nào trả lại những thứ này cho chủ nhân của nó được.
Anh nắm tay Hà Điền đi qua khu rừng: "Anh cưa gỗ suốt hai ngày nay thấy khó chịu lắm.

Anh nghĩ cưa máy là một thứ tốt, vì vậy anh tự hỏi liệu mình có thể sử dụng cái này để làm cưa máy được không."
Hà Điền nghiêm túc suy nghĩ về khả năng này: "Động cơ kim loại chỉ đơn giản là một cánh quạt xoáy.

Khi cánh quạt quay nhanh...!nếu nó có răng cưa vòng, tất nhiên là cũng khả thi.

Nhưng mà, chúng ta phải mua dầu diesel."

Dịch Huyền giấu động cơ dưới đống đá, bánh xe có cánh quạt và vỏ bọc kim loại đã hơi han rỉ ở các cạnh nhưng ngay khi kéo dây thì vẫn quay được, có vẻ như các nhà bán lẻ thời đó đã thật sự không thổi phồng chất lượng sản phẩm của mình.
Về nhà, Hà Điền tháo mô tơ, gỡ cánh quạt ra, cẩn thận bảo dưỡng một lượt, tìm thấy một lưỡi cưa vòng.

Lỗ trong của đ ĩa cưa nhỏ hơn lỗ trong của bánh xe có cánh quạt một chút, cô dùng giũa giũa lại, thay đổi kích thước, lắp dây xích và đặt một miếng đệm vòng vào lỗ trong, rồi cố định lại.
Để đề phòng tai nạn, Hà Điền và Dịch Huyền đều đeo kính bảo hộ vào.
Chiếc lưỡi cưa vòng này là do ông nội cô đổi với người ta mới có được, là đồ cổ hàng thật giá thật, một sản phẩm trước thời kỳ lạnh giá, nó vốn phải được lắp vào máy cưa.
Sau khi ông nội Hà Điền có được chiếc lưỡi cưa vòng này, ông đã từng lắp nó vào một thanh gỗ, thanh gỗ được nối với trục quay của máy trộn, khi sử dụng nó, một người sẽ điên cuồng đạp vào bàn đạp của trục quay, còn một người thì giúp đặt máy cưa lên gỗ, vậy là đã có thể cưa được.
Tỷ lệ sử dụng của bộ công cụ này rất thấp, vì loại máy cưa qu@y tay này còn lâu mới đạt được tốc độ mà cưa máy chạy bằng động cơ nhiên liệu có thể đạt được, lại phải cần đến hai người, vậy không bằng hai người cùng cưa tay cho khỏe.
Họ cũng nghĩ đến việc cải tiến nó để dùng sức kéo của động vật, nhưng trừ khi tuần lộc chạy hết sức mình, còn không thì tốc độ còn kém xa.
Cho nên, cái thứ lưỡi cưa vòng này thật sự vô dụng.
Cách đây gần mười năm, có một thành phố đã cải tiến công nghệ sản xuất dầu diesel sinh học từ dầu mỡ động thực vật, điều này làm tăng sản lượng dầu diesel lên rất nhiều.

Thành phố này cách đây 500 km, gần với nơi có nhiều con sông hợp lại thành biển, dựa vào việc sản xuất dầu diesel mà phát triển nhanh chóng.
Việc cải tiến công nghệ đã làm giảm giá dầu diesel sinh học và đánh thức nhiều ngành công nghiệp.

Dần dần, nhiều người có thể sử dụng máy có động cơ đốt trong và động cơ diesel.
Thực tế đã chứng minh, với việc bổ sung một động cơ chạy bằng dầu diesel, lưỡi cưa vòng quay với tốc độ đáng kinh ngạc, nó có thể dễ dàng cắt một tấm gỗ dày 3 cm, các cạnh vừa thẳng vừa mỏng.
Hà Điền cưa thử một đoạn gỗ, dừng cưa vòng lại: "Anh nói xem, tại sao thương nhân không đến đây bán cưa máy chạy bằng dầu diesel? Thứ này so với động cơ kim loại có khi còn bán chạy hơn đó chứ!".

Dùng cái cưa này để cưa củi, cưa cây, làm đồ gỗ, bớt biết bao nhiêu là sức lực.
Dịch Huyền cầm thứ đồ chơi mới này, hai mắt sau cặp kính cong như trăng lưỡi liềm: "Không phải thương nhân nào cũng thông minh đâu em.

Có thể là do động cơ bán không chạy nên họ mới đem đến đây chào hàng.

Nói không chừng năm nay họ sẽ mang cưa máy đến bán."
Anh thử thêm vài lần nữa, cũng tự tin hơn nhiều: "Nếu dùng thứ này sớm hơn thì tay anh đã không bị phồng rộp lên rồi."
Cưa máy công suất nhanh, không tốn sức nhưng khi cưa gỗ, mùn cưa sẽ bay tứ tung, cần phải đeo kính bảo hộ, tốt nhất là đeo cả khẩu trang vào.
Hà Điền và Dịch Huyền thử nghiệm công cụ mới được cải tạo này, chỉnh sửa lại, cuối cùng chế tạo ra một chiếc máy tiện bằng gỗ rất chắc chắn.
Trong danh sách mua sắm năm nay của mình, Hà Điền có thêm một thứ cần thiết phải mua: Dầu diesel.

Cô chưa từng sử dụng qua loại năng lượng cao cấp này, về nhà giở sách ra xem, rồi lại hỏi Dịch Huyền, sau đó dành một chỗ trong kho đựng đồ gốm để trữ dầu diesel.
Có dụng cụ mới, cả hai như được tiếp thêm sức mạnh, đối với mục tiêu "năm nay xây nhà mới" càng có tự tin hơn.
Ngày hôm sau, những viên gạch bê tông hữu cơ mới đã hoàn toàn cứng lại, Hà Điền và Dịch Huyền xây một cái bếp bằng đá đơn giản với vài viên gạch đá, đốt lửa, đặt một cái thùng sắt đầy nửa thùng nước lên nấu thử xem phải mất bao lâu thì nước mới sôi.
Một số viên gạch đá khác thì được chia ra thử nghiệm, dùng búa lớn đập thử, loại gạch đá này có độ đàn hồi tốt và không có vết nứt nào cả.
Củi đã cháy hết, nước bên trong thùng cũng chỉ âm ấm, nhưng sau khi dỡ gạch đá ra, đến tối sờ vào thì thấy vẫn còn hơi ấm.

Điều này cho thấy hiệu quả cách nhiệt của bê tông hữu cơ này cũng không tệ.
Hà Điền rất vui: "Chúng ta làm loại gạch này nhiều một chút nha anh, có thể dùng để xây chuồng cho gia súc." Vậy thì mùa đông năm nay không cần phải tiếp tục đốt bếp lò sưởi ấm cho mấy con vịt nữa.
Dịch Huyền nghĩ đẹp hơn: "Chúng mình làm lại khuôn mới, sao cho mấy viên gạch trông giống như các khối Lego có thể ghép lại với nhau.

Ở giữa để lại một vài cái lỗ để đặt thanh tre vào, như vậy sẽ dễ dàng hơn trong việc lắp ghép.

Về sau muốn mở rộng hay phá dỡ cũng đều thuận tiện hơn."
"Ý kiến hay!" Hà Điền lại đề nghị: "Trước tiên chúng ta xây một cái chuồng nhỏ bằng loại gạch này thử xem sao, nếu kết quả tốt thì dùng gạch này làm vườn ươm cũng được lắm."
Nói về Lego thì Hà Điền chỉ thấy qua những bức hình trong sách, nhưng ông của cô đã làm cho cô một bộ gỗ.
Trở lại nhà, Hà Điền trèo lên gác, lấy ra một cái hộp gỗ từ bên trong tủ bảo quản, đổ lên trên thảm, cho Dịch Huyền chiêm ngưỡng: "Ông em làm đó.

Lợi hại không?"
Hai người ngồi trên gác chơi xếp gỗ một lúc, rồi cùng nhau vẽ phác thảo, thảo luận và cân nhắc, cuối cùng quyết định chọn loại gạch mới với chiều dài, chiều rộng và chiều cao giống như gạch nung và gạch bê tông hiện có, trên đầu của viên gạch có hai hình trụ nhô cao 3 cm, đường kính của hình trụ cũng khoảng 3 cm, tương ứng với hai chỗ lõm ở mặt sau có cùng kích thước.
Sau khi lên bản vẽ, Hà Điền và Dịch Huyền quay trở lại xưởng mộc, lấy tấm ván, khoan lỗ rồi tìm một đoạn tre có đường kính gần 3 cm, cưa hai khúc, đặt chúng lên tấm ván và dùng than vẽ vòng quanh, sau đó đục một lỗ dọc theo đường vẽ đó, dùng giũa chà phẳng lỗ rồi nhét ống tre vào.

Đây là tấm trên cùng của khuôn.
Tấm dưới của khuôn cũng tương tự như tấm trên, dùng ống tre cùng kích thước, cưa dọc khớp tre, mài nhẵn rồi ghép vào ván.

Phần còn lại của cách tạo khuôn mẫu giống với cách làm khuôn gạch nung.
Dùng dây thừng buộc chặt và cố định mấy khối khuôn lại là có thể đổ hỗn hợp bùn vào.
Dịch Huyền cũng đã thử làm hai chiếc khuôn, kết quả xem như khá tốt.
Sau khi làm thành công mẻ gạch mới đầu tiên, Hà Điền và Dịch Huyền háo hức xây dựng những "khối nhà".

Họ dùng vài cọc tre và khoảng 20 viên gạch Lego, chưa đầy 10 phút họ đã xây được một góc, vừa đẩy vừa đá vài cái để thử độ bền, vì tre được chèn làm khung để cố định nên những viên gạch Lego đã che lấp nó.

Các bức tường là khá mạnh mẽ.
Hai người vỗ tay ăn mừng, đang cao hứng cười nói, đột nhiên phía xa vang lên ba tiếng nổ lớn.
Hai người vừa ngẩng đầu lên thì liền nhìn thấy hướng hạ lưu trên bầu trời có vài viên đạn tín hiệu màu đỏ bay lên, kéo theo sau nó là một đường khói màu nâu đỏ, lao thẳng lên trời.
Đó là tín hiệu do thuyền buôn gửi đi sau khi đến bãi sông, nói cho những người thợ săn miền núi gần đó biết rằng: Chợ xuân đã mở.

Tối hôm đó, Dịch Huyền và Hà Điền đã làm tốt chuẩn bị cho phiên chợ vào ngày mai.
Hà Điền lấy rương gỗ long não đựng lông chồn từ trên gác xuống, lại chịu khó chải số lông chồn muốn bán kia một lần nữa, để đảm bảo ngày mai trông chúng vẫn luôn ở trong trạng thái đẹp nhất.

Mặt khác, cô lại chọn ra hai bộ lông chồn có màu sắc và kích thước không mấy tệ, chuẩn bị đổi một con dê với Tam Tam.
Hà Điền ngồi ở trước bàn, tay cầm một chiếc dùi nhỏ bằng gỗ để cố định từng tấm lông chồn, còn Dịch Huyền thì đang nấu bữa tối và cả thức ăn mang theo vào ngày mai.
So với bánh rán, Dịch Huyền thích dùng bánh nướng nhỏ làm thức ăn khô hơn.
Anh cho bốn chén bột mì vào một cái chậu gốm, thêm men, rồi lại thêm hai muỗng canh rượu ngọt, một muỗng mỡ ngỗng mới chế biến vào.

Trước tiên trộn bột lên, sau đó thêm nước từng chút một, nhào thành cục.

Lần này, dưới sự giám sát của Hà Điền, cuối cùng thì anh cũng không làm gì sai sót, sau đó lặp lại những hành động phi thường như "loãng quá thì thêm bột, đặc quá thì thêm nước" nữa, vô cùng thuận lợi nhào ra một cục bột bóng loáng, ngay cả trên thành chậu cũng sạch bong, không hề dính lại bột mì.
Sau khi nhào bột xong, anh thấm ướt một chiếc khăn vải, đậy lên chậu rồi đặt lên cạnh bếp để chậu gốm hấp thụ nhiệt dư và bột nở nhanh hơn.

Đợi anh chuẩn bị những đồ ăn khác xong cả rồi, bột cũng đã nở, anh chia bột thành từng khối nhỏ, lăn qua mè rồi cho vào khay nướng để nướng.
Sau đó, anh rửa một củ khoai lang, gọt vỏ, cắt thành từng miếng, cho vào nồi hai chén nước, sau khi nước sôi thì cho khoai vào.
Anh lại lấy non nửa chén bột mì khác, cho vào một cái tô sành, thêm một ít nước rồi dùng đũa khuấy đều, khuấy cho đến khi bột đặc dính, anh lại cho thêm một ít nước vào tiếp tục khuấy cho đến khi cầm đũa lên thì bột nhỏ giọt kéo thành sợi mịn thì coi như xong.
Mở nắp nồi ra, lật qua lật lại miếng khoai lang, dùng đũa chọc vào, nếu thấy dễ dàng chọc thủng thì có thể đổ bột vào.
Ngay khi đổ bột vào, nước sôi trong suốt trong nồi lập tức chuyển thành "Dung nham" màu trắng đục, sủi bọt khí, lúc này phải nhanh tay khuấy đều dưới đáy vài lần, nếu không bột có thể sẽ dính vào đáy nồi.

Giảm lửa vừa, để nước bột sôi một lúc rồi đập một quả trứng vào tô vừa đựng bột, khuấy đều lên, sau đó đặt đũa lên thành tô, nghiêng tô cho nước trứng chảy vào nồi.

"Dung nham" trắng như tuyết ban đầu bắt đầu xuất hiện những tia hoa trứng màu vàng nhạt.
Bây giờ, món bột trứng khoai lang đã sẵn sàng.
Bột được khuấy nhiều lần, gluten tiết ra, khi đổ vào nồi sẽ tạo thành những giọt bột rất nhỏ, hơn nữa còn có trứng, cứ thế mà trôi tuột vào bụng mà gần như không cần phải nhai, vị ngọt của khoai lang cũng đều tiết ra hết.

Tô bột nấu ngọt này kết hợp với thịt xông khói xào ớt xanh, cải thảo muối cay và bánh mè nướng, hợp vô cùng.
Hà Điền thấy Dịch Huyền làm đâu ra đấy, không nhanh không chậm thì rất hài lòng, sau khi nếm thử đồ ăn, sự hài lòng của cô càng cao thêm một bậc nữa.
Sau bữa ăn, Dịch Huyền xẻ ít bánh mè nướng còn lại ra, nhồi thịt xông khói xào ớt vào, làm đồ ăn khô cho ngày mai.
Ngoài những thứ này, anh còn dùng một ống tre để đựng một ít bột củ sen.
Điểm hay nhất của món bột củ sen là chỉ cần pha với nước sôi, nó sẽ ngay lập tức trở thành một món súp nóng hổi, ngọt ngọt, rất tiện lợi.
Bây giờ, chỉ cần đợi bình minh lên là họ có thể lên đường.
Tác giả: Gạch bê tông gai dầu của Hà Điền và Dịch Huyền thật ra là bê tông Hempcrete, khá phổ biến ở nước ngoài.

Nó là một vật liệu rất ấm áp..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 101: Chợ phiên 1


Đầu tháng năm, thời gian nắng rất dài, nếu thời tiết tốt thì sau sáu giờ là trời đã tảng

sáng rồi, ánh sáng ban ngày kéo dài đến năm sáu giờ chiều.

Khi Hà Điền và Dịch Huyền lên đường, bầu trời vẫn còn thẫm tím, có vài ngôi sao treo lơ lửng trên bầu trời, trên mặt sông sương mù lượn lờ, cây cỏ hai bên sông đều là bóng mờ mờ ảo. Xung quanh thật yên tĩnh, chỉ có tiếng mái chèo của họ va vào mặt nước, và cả tiếng nước chảy, va vào bờ sông và những tảng đá lớn dưới nước.

Sau hơn 1 tiếng đồng hồ, trời hửng sáng, nhưng sương mù trên sông lại nhiều hơn. Khi đi ngang qua cồn đất nhỏ giữa lòng sông, có thể nhìn thấy những giọt nước óng ánh đọng trên thân và lá của những cây nước ven bờ, thỉnh thoảng còn có thể nhìn thấy những con vịt trời và các loài chim nước khác kiếm ăn trên cỏ.

Lúc sương mù tan hết, Dịch Huyền và Hà Điền cũng cởi áo khoác nặng nề ra. Ánh nắng mặt trời rọi xuống mặt nước lung linh, cỏ cây hai bên xanh tươi, chim bay rộn ràng hót vang trong rừng.

Lúa Mì nhìn thấy một con gà rừng đang đậu trên cành cây, nó sủa lên rồi nhảy xuống nước, Hà Điền đành phải giơ súng lên bắn chết con gà rừng kia, tạm dừng thuyền lại, chờ cho Lúa Mì gặm được con mồi rồi bơi trở về thuyền.

“Lúa Mì ơi! Hôm nay chúng ta không đến đây để đi săn.” Hà Điền sờ đầu và lấy khăn vải lau bộ lông ướt của nó. Lúa Mì cười toe toét, thoạt nhìn rất đắc ý.

Dịch Huyền chộp lấy chiếc khăn vải, gấp thành hình tam giác rồi cột lên đầu nó: “Lúa Mì, khăn trùm đầu này nhìn cũng được lắm đó!”

Lúa Mì đội khăn xếp hoa nâng mặt chó lên: “Gâu gâu!” Nó hoàn toàn không biết rằng chủ nhân đang trêu chọc mình.

Dần tiến gần đến bãi sông nơi có chợ, trên sông có nhiều thuyền hơn.

Hà Điền nhìn Dịch Huyền, Dịch Huyền lắc đầu cười khẽ: “Không sao đâu.”

Anh cũng không kéo khăn lên che mặt.

Từ nơi này đã có thể nhìn thấy những chiếc tàu buôn lớn. Cũng như năm ngoái, một số tàu lớn được hơn chục người gác chắn, hai thuyền nhỏ đậu trên mặt nước cách tàu vài mét, trên tàu treo một cột cờ và một lá cờ đỏ. Lá cờ tung bay trong gió, chính giữa được thêu họa tiết hình tròn lá thông màu xanh lá đậm trên nền xanh nước biển. Trên tất cả các tàu buôn lớn đều treo lá cờ tương tự.

Trước hai chiếc thuyền nhỏ này còn có hai cọc tre dài cậm ở trên bờ, cột dây treo cờ nhỏ nhiều màu sắc, khoanh vùng sông nơi tàu buôn đậu thành hình vuông.

Dịch Huyền nhìn lá cờ từ xa với vẻ mặt bình thản.

Lúc này người miền núi đến cũng không nhiều, thuyền các loại lần lượt cập bờ, xếp hàng và đăng ký vào bờ giống như năm ngoái.

Tuy nhiên, năm nay có hai bãi đậu, dưới hai cây tre dài cắm cờ kia có một cái.

Trên bờ, lều lớn của lái buôn cũng có màu đỏ như năm ngoái, hình vuông, xung quanh là các rạp hàng của tiểu thương, nơi buôn bán tự do của người miền núi thì nằm ở ngoài góc Tây Bắc của nơi này.

Mọi thứ đều vào nếp, trật tự có vẻ tốt hơn năm ngoái, đặc biệt không khí cũng thoải mái hơn năm ngoái rất nhiều. Hà Điền và Dịch Huyền chèo thuyền một đường đến đây, vậy mà không thấy lính tuần tra.

Lúc xếp hàng lên bờ, Dịch Huyền không thể nhịn được kéo khăn cổ lên che miệng lại.

Không phải anh sợ ai đó sẽ nhận ra anh, chỉ là mùi thật sự rất khó chịu.

Những chiếc thuyền xếp hàng vào bờ giống như đàn kiến nhỏ túm tụm lại, mạn thuyền đụng vào mạn thuyền, ồn ào và bốc mùi. Suốt cả một mùa đông dài, có nhiều, thậm chí là rất nhiều người miền núi không tắm rửa. So sánh mà nói, hai anh em nhà họ Phổ có khi còn sạch sẽ hơn!

Một số thợ săn già thậm chí còn hút thuốc tẩu. Không biết họ đã hút loại thuốc lá gì, nhưng mùi thuốc lá và mùi cơ thể trộn lẫn với nhau khiến nó càng khó ngửi hơn.

Hà Điền sớm đã có chuẩn bị, thấy Dịch Huyền cố gắng hết sức để không cau mày hay tỏ vẻ khó chịu, cô lấy từ trong túi ra hai cái khẩu trang, đưa cho anh một cái: “Đeo cái này đi!”

Dịch Huyền oán trách: “Sao em không lấy ra sớm!”

Trước khi lên núi lửa, Hà Điền đã nghĩ đến việc chuẩn bị khẩu trang cho Gạo và Lúa Mì nên đã làm thêm hai cái nữa. Cái đưa cho Dịch Huyền được làm từ những mảnh ghép còn sót lại khi làm nón, còn cái của cô được làm từ một mảnh vải trắng có họa tiết hoa anh đào.

Dịch Huyền phát hiện ra bên trong khẩu trang còn có kẹp một túi đựng hoa cúc dại khô và hoa xô thơm, vậy là đã có thể yên tâm hít thở.

Người phụ trách đăng ký năm nay là một thanh niên khoảng hai mươi tuổi, anh ta cũng đeo khẩu trang!

Hà Điền và Dịch Huyền nhìn nhau, trong mắt đầy ý cười.

Người phụ trách hỏi một vài câu theo thông lệ, đến bán lông chồn? Có bao nhiêu người và bao nhiêu thuyền?

Thấy Lúa Mì, anh ta lại hỏi: “Con chó bao nhiêu tuổi? Đã uống thuốc tẩy giun bao giờ chưa? Hiệu thuốc trong chợ có bán đấy.”

Anh ta cũng hỏi những câu hỏi không có trong lần đăng ký năm ngoái. Anh chị định mua gì? Những thứ muốn mua nhưng không mua hồi năm ngoái là gì? Muốn ở lại chợ giao dịch vài ngày hay là về ngay trong ngày? Nếu ở lại thì sẽ ở đâu? Đến thị trấn hay tìm nơi ngủ trọ trong làng, hay là cắm trại dã ngoại gần đây?

Sau khi hỏi một vài câu hỏi, người phụ trách nhìn họ: “Hai người có biết chữ không?”

Hà Điền do dự, người phụ trách đưa cho cô một tờ giấy: “Nếu cô biết chữ, hãy điền vào cái này khi ra khỏi chợ, có thể nhận được một món quà nhỏ.” Anh ta dừng lại rồi nói tiếp: “Cô không biết cũng không sao. Nơi giao nhận sẽ có người điền vào bảng câu hỏi giúp cô, vẫn có thể nhận được quà tặng.”

Hà Điền nhìn vào, tờ giấy này liệt kê tất cả các câu hỏi tương tự, hầu hết là các câu khảo sát về chủng loại và giá cả của hàng hóa thị trường, cũng như một số câu hỏi về mức độ hài lòng.

Người phụ trách thấy Hà Điền như vậy thì biết cô biết chữ, nhìn kỹ thì thấy đường nét lộ ngoài khẩu trang của cô gái trẻ này đẹp như tranh vẽ, làn da trắng ngần. Anh ta nghĩ thầm, hai nam nữ thanh niên này khá là sạch sẽ…

Anh ta liếc nhìn Hà Điền vài lần: “Cô tháo mặt nạ ra.”

Dịch Huyền lập tức tiến lên một bước, trầm giọng hỏi: “Anh muốn làm gì?”

Giọng anh thay đổi, Lúa Mì đang ngồi yên lặng dưới chân anh cũng lập tức nhe răng và phát ra tiếng gầm gừ đe dọa.

Người phụ trách bị khí thế kia làm cho hoảng sợ, có chút bực bội: “Không, tôi không muốn làm gì cả, đây là… kiểm tra theo thông lệ.”

Hà Điền nắm cổ tay Dịch Huyền, kéo khẩu trang xuống, rồi lại kéo nó lên, hỏi người phụ trách: “Được rồi chứ?”

Người phụ trách thấy Dịch Huyền không dễ chọc, vì vậy anh ta phất tay, đưa cho Dịch Huyền một tấm thẻ gỗ: “Được rồi, được rồi, đây là thẻ số của các người!”

Hà Điền kéo Dịch Huyền đi, người phụ trách nhìn theo bóng lưng của họ, không ngờ ở cái nơi thâm sơn cùng cốc này vậy mà lại có người đẹp như vậy!

Anh ta xoa xoa tay, hét lên: “Người tiếp theo!”

Xếp ở phía sau là hai tên đàn ông to con, bọn họ còn chưa đến gần, người phụ trách đã không dám thở mạnh.

Anh ta đưa tay bịt khẩu trang: “Má ơi, mấy ông anh, mấy ông đã không tắm bao lâu rồi vậy!”

Hai anh to con không cảm thấy bị xúc phạm chút nào, cười ha ha, vui vẻ nói: “Trời lạnh mà tắm kiểu gì!”

Bị mùi cơ thể nồng nặc của những gã to xác này vây bủa, người phụ trách cũng nhanh chóng quên mất người đẹp đeo khẩu trang vừa rồi.

Những chiếc khẩu trang mà Hà Điền và Dịch Huyền đeo rất bắt mắt, chúng không như được dùng để che giấu vẻ ngoài mà giống như một món đồ trang trí hơn, thành ra không khơi dậy sự nghi ngờ.

Hai người bán được bốn trăm bộ lông chồn, lúc thanh toán người lái buôn đưa cho Hà Điền một tấm danh thiếp: “Cô gái, nếu năm sau cô lại tới chỗ tôi bán lông chồn, tôi sẽ trả thêm 10%.”

Dịch Huyền cười hỏi: “Còn năm nay?”

Người lái buôn cười nói: “Chàng trai này, cậu còn biết làm ăn hơn tôi đấy. Tôi cũng chỉ là làm việc cho chủ thôi. Tôi thấy lông chồn của hai người tốt quá, nên mới hứa trước với hai người, chờ tôi mang hàng cho chủ xem thử, sang năm mới lên giá được!”

Hà Điền không ưa bộ dạng này của ông ta ta, dùng khẩu khí giống của Dịch Huyền vừa rồi hỏi lại: “Còn năm nay thì sao?”

Ý là, năm nay ông không để tôi được lợi, vậy thì tại sao năm sau tôi phải đến chỗ của ông?

“Năm nay thì… lát nữa cô cầm danh thiếp của tôi đi mua đồ, sẽ được giảm giá 10%.” Người lái buôn trấn an Hà Điền: “Chúng tôi với những rạp hàng này có liên kết với nhau.”

Hà Điền bán tín bán nghi: “Được rồi, để tôi thử xem.”

Người lái buôn này thật sự không có lừa họ.

Hà Điền và Dịch Huyền đi mua muối và đường trước, hai thứ này đều cần thiết, đặc biệt là muối. Đường còn có thể dùng mật ong thay thế, chứ muối thì không thể.

Ngoài muối ăn, Dịch Huyền còn mua ba túi muối thô lớn.

Muối thô là muối biển khô, tất cả đều là dạng tinh thể nhỏ khoảng một cm. Giá của muối thô rẻ hơn so với muối tinh. Tiêu chế đồ da và làm xà phòng đều cần dùng đến. Tuy nhiên, năm nay họ mua muối thô là để chuẩn bị lúc làm sàn sưởi sẽ dùng, sau khi hoàn thành ống khói, họ sẽ rải trên mặt đất một lớp muối thô để hút nước và điều chỉnh độ ẩm.

Ngoài muối và đường, họ còn mua gạo và bột cùng với rất nhiều gia vị, cũng như bột men, men rượu, v.v.

Lúc thanh toán, người bán nhìn thấy danh thiếp của người buôn lông thú, thật sự đã giảm giá cho họ 10%.

Họ không mang đống đồ này đi ngay mà tạm gửi ở rạp hàng, đến lúc gần về sẽ đến lấy sau. Người bán hàng kiếm được một số tiền lớn thế này, nên sao có thể từ chối cho được. Bọn họ dọn đống đồ này vào một góc, tìm một mảnh bao đậy lên, viết biên lai đưa cho Hà Điền: “Cô gái, khi nào cô đến lấy hàng thì đưa biên lai này cho nhân viên trong rạp hàng xác minh nhé, tránh thất thoát hàng của cô.”

Sau khi hoàn thành giao dịch quan trọng nhất này, Hà Điền và Dịch Huyền bắt đầu đi dạo xem. Lúc này đã quá trưa một chút, cả hai rủ nhau đi đến một rạp hàng bán mứt, bánh kẹo và đồ hộp. Mỗi người được nhận một chén súp ngọt miễn phí, họ lấy bánh nướng mè kẹp thịt trong túi ra, vừa đi ăn vừa.

Thứ đầu tiên thu hút sự chú ý của họ chính là rạp hàng bán mô tơ nắp kim loại hồi năm ngoái kia, năm nay sản phẩm chính của họ vậy mà lại là máy cưa!

Dịch Huyền và Hà Điền nhìn nhau cười, đúng là buồn ngủ lại gặp chiếu manh mà!

Rạp hàng đó đã chật cứng người từ lâu, Hà Điền và Dịch Huyền cũng chen vào, xem anh chàng bán hàng giới thiệu sản phẩm của rạp hàng nhà mình. Dịch Huyền sợ Lúa Mì bị người khác giẫm phải nên ôm nó lên, một người đứng bên cạnh đang quan sát người bán hàng rao “Cưa của chúng tôi rất sắc, bền và tiết kiệm nhiên liệu…”, chợt nghe văng vẳng bên tai tiếng “ù ù ù ù”, còn bốc hơi nóng nữa, vừa quay đầu lại thì đối mặt với một con chó, sợ tới mức hét lên, nhảy dựng về sau.

Dịch Huyền và Hà Điền vội vàng xin lỗi người ta, người nọ ha ha cười rộ lên: “Hai người là người bán đồ gốm đợt mùa thu đây mà!” Mọi người chào hỏi rồi cùng nhau xem rao hàng.

“… Lắp các đĩa cưa khác nhau vào là có thể cưa cây, có thể làm mộc, có thể mài, có thể đánh bóng!” Người bán hàng biểu diễn quá trình máy cưa cắt gỗ, loại gỗ này dày hai ngón tay, rộng 10 cm, cùng với tiếng máy cưa phát ra rè rè, mùn cưa bay tán loạn, chỉ vài giây đã cưa xong, anh ta giơ hai tấm ván gỗ lên chỉ cho mọi người xem: “Mọi người nhìn mặt cắt này đi, có phải rất đều không? Tôi không phải là thợ mộc, chỉ mới học dùng cái cưa này hai ngày trước, vậy mà đã có thể cưa được như thế này rồi!” Sau đó anh ta thay đĩa cưa, đổi thành mài một tảng đá: “Hãy xem tác dụng của đĩa mài này.”

Tảng đá được mài trong vài giây, người bán hàng đặt nó và tấm ván lại với nhau để so sánh: “Nhìn xem, chắc là trong số mọi người ở đây cũng có không ít người đã làm một số công việc mộc. Vậy thì phải mất bao lâu mới đánh bóng được những tấm ván thô như thế này?”

Sau khi buổi biểu diễn kết thúc, người bán hàng lại thay đĩa mài và đánh bóng.

Đám đông người xem đều ồn ào nghị luận.

“Nếu mà tự làm đồ đạc thì dùng chiếc cưa này rất tiện.”

“Tiết kiệm năng lượng và thời gian ghê!”

“Không biết có làm được mấy chi tiết tinh vi tỉ mỉ không nữa…”

Người bán hàng nghe vậy thì liền lập tức thay đổi đĩa cưa: “Ông anh này hỏi có thể làm được mấy chi tiết tỉ mỉ hay không, để xem nào!” Anh ta lắp đĩa cưa vào rồi gắn một lớp sắt lên đĩa cưa: “Khung thép không gỉ này có thể điều chỉnh độ sâu của vết cắt răng cưa. Ví dụ như nếu anh muốn cắt một miệng hình vuông với độ sâu một cm, nếu bình thường, chắc là anh sử dụng một cái đục, đúng không? Đã có cưa của chúng tôi rồi, anh không cần đến nó nữa đâu!”

Anh ta lắp khung vào và cho mọi người xem: “Mọi người có thể điều chỉnh nhiều kích cỡ khác nhau.”

Trên khung cưa có một thanh sắt kề sát vào tấm gỗ, chỉ có răng cưa của thanh sắt tiếp xúc mới có thể cắt vào gỗ, càng lộ ra thì vết cắt càng sâu.

Người bán hàng đặt tấm gỗ vừa dùng lên máy và dùng thước thợ mộc vẽ một đường trên mép tấm gỗ: “Tôi sẽ cắt một rãnh vuông cỡ một cm.”

Anh ta lấy cưa, cắt dọc, lật ngược tấm ván, kẻ một đường trên mặt ván cách mép một cm, rồi dùng cưa cắt theo đường thẳng, thổi mùn cưa, nhẹ nhàng bẻ ra, một thanh gỗ vuông một cm tách rời khỏi tấm ván.

Người bán hàng đặt chiếc cưa xuống, cầm tấm ván và thanh gỗ đưa cho mọi người xem, đám đông người xem trầm trồ tán thưởng.

Anh ta thay đĩa cưa nhiều lần, ngoài lưỡi cưa vòng, lưỡi mài, lưỡi đánh bóng, máy cưa động lực còn có thể được trang bị các mũi khoan có độ to nhỏ khác nhau, ngoài ra còn có các đầu cùn có thể cắt trực tiếp rãnh vuông, rãnh bán nguyệt và đường cong.

Ngoài cưa đĩa còn có cưa xích. Hiệu quả của lưỡi cưa xích còn tuyệt vời hơn, có thể cưa cả gốc cây to đùng thành đống gỗ chỉ trong vài phút. Hai nhân viên bán hàng còn cùng nhau biểu diễn cách dùng cưa xích để cưa rễ cây thành hình một cây đinh.

Đám đông người xem cũng muốn mua lắm, nhưng khi nghe người bán hàng nói đến giá cả, rồi tính giá dầu diesel cho một giờ cưa hoạt động, đám đông đang vây quanh đột nhiên giải tán, chỉ còn lại vài người.

Dịch Huyền thảo luận với Hà Điền, cả hai tự mình thử nghiệm một lúc. Hà Điền quyết định: “Cho chúng tôi một cái giống vậy. À, đĩa cưa này nọ đều lấy một cái — không, lấy hai cái. Mấy loại thường dùng như mũi khoan, đĩa mài, đánh bóng thì lấy luôn mấy cái!” Tất nhiên là còn phải mua vài thùng dầu diesel nữa.

Người bán hàng nghe xong, thấy hai người này là khách hàng cao cấp thì liền lập tức ân cần đưa họ vào trong rạp hàng để lựa chọn, nhân tiện giới thiệu một chiếc động cơ siêu bền: “Hai vị đều là người biết nhìn hàng cả, loại động cơ này khá tốt, tháo lắp rất dễ dàng. Không dùng thì cứ xách về nhà, còn muốn dùng liền thì đặt ở đuôi thuyền, khởi động lên thì thuyền sẽ chạy nhanh ngay!”

Hà Điền vỗ vỗ túi tiền của mình: “Tôi cũng muốn lắm, nhưng không có tiền!”

Người bán hàng vẫn không chịu từ bỏ cơ hội kinh doanh khác: “Vậy cô mua một chiếc công xôn cánh quạt đi, dùng cho máy cưa cũng được. Dù không dễ dùng như động cơ siêu bền nhưng thuyền cũng có thể chạy nhanh lắm.”

Dịch Huyền tỏ ra thích thú, người bán hàng lập tức mang cái gọi là “công xôn cánh quạt” ra, thực chất nó là một cánh quạt nối với bánh đai. Đặt bánh đai vào rôto của máy cưa giống như thay đĩa cưa, sau khi khởi động, rôto quay với tốc độ nhanh, bánh đai liền kéo cánh quạt, tạo nên lực đẩy cho thuyền.

Dịch Huyền nghĩ động cơ nắp kim loại ở nhà cũng cần phải có một cánh quạt để thay thế, nên anh đã mua một công xôn cánh quạt, một cánh quạt dự phòng và cả dây đai.

Hà Điền lấy danh thiếp của người lái buôn đồ da ra, chủ cửa hàng giảm giá 15%, còn tặng một vài đĩa cưa, đĩa đánh bóng, dầu diesel 50 lít mua năm thùng tặng một thùng, ngoài ra còn tặng mặt nạ chống bụi và nút tai giảm tiếng ồn, găng tay làm mộc, kính bảo hộ và các vật dụng khác. Có điều kính bảo hộ của họ không tốt bằng kính của Hà Điền làm.

Sau khi mua xong, Hà Điền nhận biên lai, tạm gửi đồ ở rạp hàng rồi tiếp tục đi xem những mặt hàng khác.

Mua xong hai chiếc máy cưa, một nửa thu nhập coi như vỗ cánh mà bay, kế tiếp họ cần phải lên kế hoạch cẩn thận hơn. Đừng quên, ngôi nhà mới xây còn phải lắp cửa sổ bằng kính nữa.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 102: Chợ phiên 2


Diện tích chợ năm nay không lớn hơn năm ngoái nhưng mặt bằng buôn bán lại nhiều hơn, có cả một gian hàng bán gia cầm, gia súc sống trên không gian thoáng đãng được bao bọc bởi bốn phía lều bạt.

Trong năm chiếc lồng chất chồng lên nhau toàn là tiếng gà gáy, vịt ngỗng kêu cạc cạc, bên cạnh còn có mấy con dê con cừu con, có cả lừa và ngựa con nữa. Lúc trước ở chợ không có những hình ảnh như thế này.

Bởi vì quy mô của nó lớn nên có rất nhiều người vây xem. Hà Điền và Dịch Huyền đến gần, nghe người bán hàng nói là ở đây không chỉ có cừu, lừa và ngựa, họ còn có cả bò và heo nữa. Mấy con vật lớn đều được nhốt bên ngoài cổng phía Tây Bắc của chợ.

Dịch Huyền thấy mấy con vật này thì không chịu đi đâu nữa hết, trước tiên là lôi kéo Hà Điền đi xem gà.

Có vài loại gà, như gà rừng lông đỏ, lông trắng pha đen, trắng tuyền. Có một con gà trống đang được nhốt trong lồng một mình, rất đẹp, lông đuôi xanh đen, thiên về màu đen bóng.

So với những chiếc máy cưa đắt tiền, người miền núi hứng thú với những con gà có thể đẻ trứng hơn, mấy người bán bận rộn đến mức Dịch Huyền và Hà Điền đợi một lúc mới có người chào hỏi: “Gà mái nhỏ của chúng tôi đều là gà ba tháng tuổi, rất nhanh sẽ đẻ trứng. Gà này thật sự rất dễ nuôi, mùa đông nhốt ở trong nhà, chỉ cần lót cỏ khô là có thể sống sót.”

Hà Điền có chút lo lắng, mấy con gà này không phải giống địa phương, phải nuôi như thế nào?

Người bán nói với cô: “Mua ba con gà sẽ được tặng một cuốn sách chăn nuôi gà! Từ cách phối trộn thức ăn, cách giữ con giống, cách làm sao để gà đẻ nhiều trứng, cách ấp gà đến cả cách làm chuồng gà!”

Dịch Huyền hỏi: “Chúng tôi có thể đọc cuốn sách đó trước không?”

Người bán vội đưa cho anh một cuốn sách mỏng.

Hà Điền và Dịch Huyền xem qua một lúc, chất lượng giấy của cuốn sách này rất kém, mực in không rõ ràng, nhưng sách chăn nuôi gà hoàn toàn xứng đáng với tên gọi của nó, ngay cả cách chữa một số bệnh thông thường cho gà cũng được viết vào.

Dịch Huyền lại hỏi: “Chúng tôi còn muốn mua vài con vịt. Anh có sách chăn nuôi vịt không?”

“Có!” Người bán đưa cho anh một cuốn sách khác.

Dịch Huyền được nước lấn tới: “Xin lỗi, anh có thể cho tôi xin một quyển về chăn nuôi cừu được không? Tôi về nhà xem tình hình thế nào, nếu được tôi sẽ đến mua cừu.”

Dịch Huyền thảo luận với Hà Điền, họ mua bốn con gà mái và một con gà trống nhỏ, lấy một vài cuốn sách.

Họ hỏi về giá của cừu con và cừu mẹ cho sữa, định lát nữa gặp Tam Tam xem có thể thương lượng giá cả được không.

Hà Điền lấy danh sách mua sắm ra, cô dùng than gạch bỏ muối, đường và dầu diesel mà họ đã mua đi. Nhìn lại, vẫn còn rất nhiều thứ cần mua.

Thuốc men là thứ nhất định phải mua. Hầu hết các loại thuốc đều có hạn sử dụng, vì vậy để đảm bảo an toàn, hàng năm nhà Hà Điền đều mua một số loại thuốc thường dùng, chẳng hạn như cồn y tế, thuốc cảm, ho, hạ sốt, giảm đau, thuốc trị tiêu chảy và đau dạ dày.

Giá của những loại thuốc này không quá đắt, chỉ bằng với giá của ba bộ lông chồn là có thể mua được toàn bộ. Vì trong nhà đã có thuốc mỡ vạn năng trị được các vết bầm tím, vết cắt và phỏng cho nên bớt được một khoản tiền.

Bên cạnh hiệu thuốc có bán các sản phẩm dành cho phụ nữ, ngoài những miếng băng vệ sinh nhỏ có thể sử dụng nhiều lần được bán năm ngoái, năm nay có một sản phẩm mới là băng vệ sinh tiện lợi.

Dịch Huyền dừng lại bên ngoài rạp hàng, Hà Điền nhìn ra anh không được tự nhiên: “Anh đi xem chỗ khác đi, rồi đến tìm em sau.”

Dịch Huyền cầu còn không được, lập tức xách theo chuồng gà dắt Lúa Mì đi.

Băng vệ sinh dạng miếng lót cánh tiện lợi có cái tên nghe qua loa và mới lạ nhưng thực chất nó chỉ là một loại băng vệ sinh thông thoáng hơn, phần vải ở mặt sau được xử lý đặc biệt, tương tự như vải dầu, không thấm nước, khi sử dụng vẫn cần phải lót bông hoặc các chất liệu thấm hút khác.

Nhưng sau khi bà chủ cho xem thử, những người phụ nữ trong rạp hàng đều cảm thấy thứ này quả thực phi thường.

Bà chủ đặt miếng băng vệ sinh cực lớn để trưng bày trên miệng ly sắt, dùng dây da đàn hồi cột chặt ly sắt lại. Dù có lắc đến đâu thì nước trong ly vẫn không chảy ra. Sau đó, cô ấy đốt một bếp cồn nhỏ rồi đặt chiếc ly bằng sắt lên đun nóng, chỉ một lúc sau, hơi nước nóng thoát ra qua lớp vải.

“Bây giờ các chị đã thấy điều đặc biệt ở loại vải của băng vệ sinh này chưa? Đúng, nó rất thoáng khí!” Bà chủ lấy băng vệ sinh ra và đưa cho người đứng ở hàng đầu tiên xem: “Chất liệu này được làm từ nhựa thông và một số loại tảo biển. Sau một quá trình đặc biệt, họ đã chiết suất ra một loại gel, nó có khả năng chống thấm nước và thoáng khí! Lúc trước tôi đã từng sử dụng vải dầu hoặc vải tẩm nhựa của cây trẩu làm vải nền cho băng vệ sinh. Chao ôi, vào những ngày đó mỗi tháng, nếu thời tiết mát mẻ thì không sao, chứ còn trời nóng hơn một chút hoặc đang làm việc thì thấy khó chịu lắm… Mọi người đều là phụ nữ, chắc là cũng sẽ hiểu được. Nó không chỉ khó chịu mà còn dễ sinh vi khuẩn. Nếu không may có khi còn sinh bệnh! Loại làm bằng chất liệu thông khí và chống nước này thì khác, sau khi mặc vào, chỉ cần thay đệm hai tiếng một lần, cảm giác thoải mái dễ chịu tựa như gió nhẹ thổi qua… “

Chất liệu bổ sung cũng có thể mua tại đây, đều là dạng bông nén được khử trùng ở nhiệt độ cao, miếng ngắn dài 17 cm thích hợp dùng hàng ngày, miếng dài 24 cm thích hợp dùng ban đêm, ngoài ra còn có miếng đuôi cong 28 cm sử dụng ban đêm, đảm bảo cho bạn một đêm an giấc.

Tất cả những miếng bông chỉ dày chưa đầy năm mm, không biết họ đã ép bằng máy gì mà thành những đường vân dọc, hút nước rất mạnh, bà chủ nhỏ vài giọt thuốc nhuộm đỏ vào ly sắt, rồi đổ nửa ly nước lên miếng bông. Miếng bông phồng lên một chút, nhưng nước đều được hút hết vào.

Sau đó, bà chủ cầm miếng băng đã đổ nước lên cho mọi người xem, rồi dùng một miếng băng vệ sinh khác chà xát vào, quả nhiên không có giọt nào bị rò rỉ.

Đã có màn chào hàng chất lượng như vậy, cộng với lời lẽ xác thực của bà chủ, dù giá không hề rẻ một chút nào, nhưng quần chúng cũng tới tấp bỏ tiền ra.

Ngoài băng vệ sinh mới, còn có loại băng vệ sinh bông m.út, nhưng sản phẩm này không được nhiều người đón nhận cho lắm.

Hà Điền mua băng vệ sinh và miếng bông, sau đó tham khảo ý kiến về băng vệ sinh dạng ống. Người bán đưa cho cô một chiếc hộp xem thử: “Thật ra sản phẩm này rất tốt. Bản thân tôi cũng dùng cái này, nhưng hơi phiền phức. Trước khi dùng cô phải rửa tay sạch sẽ qua nước ấm, sau khi lấy ra phải rửa sạch với nước muối loãng và phơi khô càng sớm càng tốt.” Băng vệ sinh dạng ống có ba loại, loại dùng hàng ngày ngắn nhất chỉ dài năm cm, loại dài nhất cũng chỉ cỡ ngón tay đeo nhẫn của Hà Điền.

Ngoài bông m.út tự nhiên, còn có loại làm bằng len, nhưng loại này không ai hỏi đến cả.

Cuối cùng Hà Điền đã mua một vài miếng băng vệ sinh bông m.út sử dụng hàng ngày.

Đeo túi trên lưng, cô nhanh chóng tìm thấy Dịch Huyền. Anh đang đứng trước một rạp hàng bán hạt giống.

Kê năm ngoái thu hoạch rất tốt, Hà Điền đã để lại một hũ hạt căng tròn để làm hạt giống; bắp cải, cải thảo, cải xoăn, ớt, cà chua, đậu đũa, dưa leo, bầu bí và bí đỏ cô cũng giữ lại nhiều hạt. Hai người nhìn đi nhìn lại, cuối cùng chọn một ít hạt dưa hấu, lại mua thêm một ít hạt cà rốt, hạt hướng dương, một vài loại hạt giống rau và một túi hạt dâu tây nhỏ.

Mùa hè năm ngoái Hà Điền có đưa Dịch Huyền đi hái dâu rừng. Quả dâu rừng rất nhỏ, chỉ to hơn đầu ngón tay một chút, ăn có vị chua chua ngọt ngọt chứ không ngọt nhiều như việt quất.

Ra khỏi rạp hàng bán hạt giống, hai người đi đến bên chỗ bán vải.

Rạp hàng vải lúc nào cũng có nhiều người tụ tập, là nơi rất được hoan nghênh.

Hà Điền và Dịch Huyền không đến rạp hàng bán quần áo các loại, mà đến rạp hàng bán vải dầu gần nhất.

Vải dầu cũng là thứ chiếm một khoản chi lớn cho những thứ cần mua năm nay.

Một khi đã tận hưởng được lợi ích mà nhà kính mang lại, cộng với việc có sẵn ngân sách, Hà Điền cũng không ngần ngại mà bỏ tiền ra mua vải dầu về.

Nhưng mà lúc hai người đi đến trước rạp thì lại thấy những người trong rạp hàng đang cãi nhau, cũng có rất nhiều người vây xem.

Đến gần, Hà Điền hỏi một bác gái, sau khi nghe ngóng được, à, thì ra là đang tranh chấp bản quyền.

Hàng giả, hàng nhái, những loại hàng này đã phổ biến trước thời kỳ giá rét khắc nghiệt lâu rồi. Một số đôi giày cao gót nhái còn có chất lượng tốt hơn cả hàng chính hãng. Ngay cả những chuyên gia đánh giá hàng đầu cũng không thể nào chắc chắn được 100% về chất lượng. Mặc dù chất lượng còn là một ẩn số, nhưng họ cũng dám hô hào “Mời cửa hàng chính hãng đến đây mà xác nhận” đối với mặc hàng đó.

Hai cửa hàng bán vải dầu này cũng vậy. Một cái là cửa hàng năm nào cũng có mặt, chất lượng rất được người dân miền núi ưa chuộng. Cái còn lại thì là thuộc dạng mới có tiếng gần đây, lần đầu tiên đến nơi này. Tuy nhiên, họ lại đưa ra những mặt hàng khai trương giảm giá. Cùng một mặt hàng nhưng lại bán với giá rẻ hơn một phần ba so với những rạp hàng khác, hơn nữa chất lượng cũng không hẳn là tệ. Cả hai người bán hàng đều đang cố gắng thu hút khách hàng về bên mình nên đã gây ra một cuộc cãi vã.

Dịch Huyền và Hà Điền lắng nghe lời giải thích của bác gái thích hóng chuyện kia, sau đó đi xem tấm vải dầu của rạp hàng mới, lập tức quyết định mua hàng nhái!

Bên trong rạp hàng bán đồ nhái còn có một loại vải dầu nhái chất lượng cao – loại vải dầu này nhìn thì nhẹ hơn vải dầu thông thường, nếu dùng để làm lều trại khi xếp lại thì khối lượng chỉ bằng một phần ba so với loại vải dầu thông thường. Cái chính là nó rẻ.

Hà Điền và Dịch Huyền thương lượng với nhau, cảm thấy nếu đem tấm vải này ngâm trong dầu mỡ và làm thành một tấm mành lớn, thì việc dùng nó để che rạp trên công trường không phải rất có lý sao?

Mua xong hai loại vải dầu, tiền trong tay họ vơi đi rất nhiều. Hà Điền rất muốn rời khỏi chợ ngay. Bạn biết đấy, họ còn phải giữ lại một phần tiền để dự phòng, nếu người mà họ nhờ vả không muốn lấy đồ ăn, đồ da lông, chỉ muốn lấy tiền thì làm sao bây giờ?

Thế nhưng hai người bọn họ rất nhanh đã nhìn thấy một rạp hàng nhỏ ế ẩm, không đi được nữa.

Rạp hàng đó bán cửa sổ kính.

Cửa sổ khung gỗ có rất nhiều kích thước, hoặc cũng có thể tự đưa ra kích thước tại chỗ.

Trong rạp hàng chỉ có hai người, hình như là một đôi vợ chồng, vì không có ai đến hỏi nên hai người họ đứng ở trước bàn làm việc, vừa đập vừa gõ.

Hà Điền và Dịch Huyền lặng lẽ quan sát một lúc, cảm thấy rất lôi cuốn.

So với người thợ mộc già, tốc độ làm cửa sổ của hai vợ chồng phải nói là như Lúa Mì chạy đua với ốc sên vậy – nếu con ốc sên ấy có thể chạy được.

Gỗ mà họ sử dụng để làm vật liệu đều là những tấm gỗ được cắt sẵn và đánh bóng, những thanh gỗ ấy có hình vuông, dày cỡ hai ngón tay, cứ cách 15 cm thì sẽ có một lỗ khảm hình thang, cửa sổ là một ô vuông có kích thước 15X15cm. Bàn làm việc của họ cũng được làm theo kích thước này, trên mặt bàn gỗ có rãnh cạn, chỉ cần đặt một hàng thanh gỗ lên bàn làm việc theo kích thước của cửa sổ, sau đó lần lượt đặt các thanh ngang vào là xong.

Sau đó, lại nhấc khung cửa sổ lên rồi đẩy mạnh lớp kính đã cắt sẵn gắn vào khung gỗ, vậy là kính đã được lắp vào.

Tất nhiên, kính cũng được cắt sẵn dựa theo kích thước của khung cửa sổ, từng tấm một được đẩy xuống các ô, sau khi lắp được một ô thì phết một lớp keo vào khe giữa kính và ô để lắp tiếp ô khác. Sau khi toàn bộ kính đã được lắp xong, gắn thanh gỗ cuối cùng vào để khóa lại, một cái cửa sổ mới đã được hoàn thành.

Hà Điền kéo kéo cánh tay của Dịch Huyền, nói nhỏ: “Chúng ta cũng sử dụng phương pháp này để xây nhà.”

“Ừ.” Dịch Huyền đáp một tiếng, lại nói: “Tường nội thất và cửa ra vào trong nhà cũng có thể làm như vậy.” Thật ra, anh còn nghĩ họ cũng có thể làm được cửa sổ kính như vậy.

Dịch Huyền bắt chuyện với chủ rạp hàng, giá của cửa sổ kính được tính theo “ô”, sẽ lấy giá của một ô nhân với số ô trên cửa sổ. Hoặc họ cũng có thể tự mua nguyên liệu và mang về nhà làm. Tất nhiên, giá không rẻ hơn bao nhiêu, vẫn dựa trên số lượng ô vuông mà tính.

Sau khi rời khỏi cửa hàng, Dịch Huyền và Hà Điền không muốn đi mua sắm nữa. Họ vừa đi vừa tính xem số lượng cửa sổ cần thiết cho ngôi nhà mới là bao nhiêu, so với mua sản phẩm làm sẵn và mua kính về tự làm khung và ô gỗ thì cái nào đỡ tốn kém hơn. Chẳng mấy chốc đã đến cổng phía Tây Bắc của chợ. Sau khi điền vào bảng câu hỏi, mỗi người nhận được một cái khăn có in logo của rạp hàng khăn.

Đến khu chợ riêng của người dân miền núi, Hà Điền nhìn thoáng qua là thấy ngay sạp hàng của Tam Tam và anh trai cô ấy, Tam Bảo.

Hai người họ mặc quần áo của nhà mình bán, Tam Tam còn mặc một chiếc áo khoác lông thỏ vô cùng độc đáo. Không biết cô ấy đã dùng phương pháp gì mà lông thỏ trên áo có dạng hình thoi căng phồng. Viền và cổ áo đứng thì dùng vải lanh màu đỏ sẫm có gắn lông thỏ màu trắng đen xen kẽ. Nhìn rất đẹp.

Năm nay Tam Tam không chỉ bán vải và quần áo mùa xuân, mà ngay cả quần áo mùa hè cô ấy cũng đã làm trước. Hai bên của xe ba gác chở quần áo vải được gắn một cái sào tre, dùng móc áo treo một số bộ có kiểu dáng và màu sắc khác nhau lên đó. Quần áo mùa hè của nam giới chủ yếu là áo và quần dài, phụ nữ thì ngoài áo và quần còn có cả váy, kiểu dáng thì chỉ có hai loại.

Đồ trên xe hàng của họ đã ít đi hơn phân nửa, phía trước còn có rất nhiều người, có vẻ như việc kinh doanh rất tốt.

Tam Tam trông thấy Hà Điền và Dịch Huyền, cô ấy vẫy tay với cô và nói điều gì đó với anh trai của mình, anh trai cô ấy cũng ngẩng lên nhìn Hà Điền, khẽ gật đầu.

Tam Tam treo túi vải đựng tiền lên người anh mình, rồi tự mình bước qua, còn vừa đi vừa vẫy tay với Hà Điền, bước chân của Hà Điền cũng nhanh hơn, bước tới nói chuyện với cô ấy.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 103: Chợ phiên 3


Hai cô nàng vừa gặp là đã khen ngợi lẫn nhau ngay, Tam Tam nhìn chiếc khẩu trang của Hà Điền và Dịch Huyền: “Cái này làm rất tỉ mỉ, cũng thiết thực nữa. Ừm, chắc tôi cũng sẽ làm cho mình và anh trai một cái.” Cô ấy nói xong thì nhíu mày, đưa tay lên trước mũi mình quạt vài cái, cười cười.

Hà Điền tháo khẩu trang đưa cho Tam Tam xem, không nhịn được đưa tay sờ vạt áo khoác của cô ấy: “Áo này làm như thế nào vậy? Cô khéo tay thật.”

Tam Tam mỉm cười lật vạt áo khoác lên để Hà Điền s.ờ soạng tìm đường khâu dưới lớp lót: “Không khó gì đâu, trước tiên là khâu một lớp thun lên bề mặt da, chừa đầu sợi rồi thắt từng cái một thì sẽ ra hình như thế này thôi. Bằng cách này, lông thỏ sẽ phồng lên, trông dày và to hơn. Nói đến còn phải cảm ơn da thỏ của cô nhiều lắm.” Cô ấy nói xong, lật phần viền của khẩu trang ra xem, khen ngợi: “Ý tưởng này của cô thông minh lắm. Tôi về nhà cũng sẽ làm một cái như vậy. Mà cô cho hương liệu gì vào vậy?”

“Chỉ là hoa cúc núi và cây xô thơm trắng bình thường thôi.”

Hai người trò chuyện vài câu, Hà Điền nói với Tam Tam về việc xây nhà của họ trong năm nay.

“Mấy ngày này tôi muốn nhờ anh trai cô giúp đỡ, nhưng không biết hai người có tiện không?” Lúc đến đây Hà Điền và Dịch Huyền đã bàn bạc giá cả mà họ có thể chi trả được, nếu như trả bằng tiền thì cũng chỉ có thể trả một ngày bằng với giá của một bộ lông chồn đen mà thôi: “Đây là mức thù lao mà chúng tôi có thể đưa ra. Nếu hai người đồng ý, nghĩ kỹ, rồi nói cho chúng tôi biết.”

Vậy mà Tam Tam lại rất dứt khoát. Cô ấy lấy sổ tay từ trong túi ra lật xem: “Tuần đầu tiên của tháng sáu, anh tôi có thể đi được. Thù lao thì… Chúng tôi thảo luận xong thì sẽ bàn lại với cô sau. Cô cũng biết hoàn cảnh của nhà chúng tôi rồi đó. Tuy nói có tiền thì muốn mua gì cũng được, nhưng tôi vẫn muốn đặt mua những thứ đồ da tốt của cô.”

Cô ấy lại vuốt áo ghi lê trên người mình: “Nếu tôi mà có mấy tấm lông chồn rồi làm thành mấy kiểu quần áo mới lạ này, bán không biết được bao nhiêu tiền mà nói.”

Hà Điền gật đầu: “Được. Nếu các cô biết người nào đáng tin cậy thì cũng có thể giới thiệu cho chúng tôi.”

Sau một hồi suy nghĩ, Tam Tam có một ứng cử viên: “Gia đình mà cô đến mua vôi lần trước có một đứa con trai tên là Tát Sa, chắc anh ấy sẽ đồng ý giúp. Mùa thu năm ngoái anh ấy có mua đồ gốm của các cô. Anh ấy là người rất đáng tin cậy, còn có tay nghề nữa. Mấy năm nay tường đất nện trong thôn đều là do anh ấy làm cả, chuồng dê nhà chúng tôi cũng là do anh ấy làm đó. Nhưng nếu hai người muốn nhờ anh ấy, vậy thì phải trả thù lao khác.”

Hà Điền hơi giật mình: “Vậy anh ấy muốn thế nào?”

“Nếu tôi là anh ấy, tôi sẽ nhờ hai người dạy cách làm đồ gốm. Dùng kỹ thuật đổi lấy thù lao.” Tam Tam rất tự tin vào nhận định của mình: “Nhà của họ có một lò nung vôi. Cô biết đó, họ cũng đã từng nung đồ gốm. Nhưng chất lượng đồ nung ra gọi là đồ gốm thì cũng chưa tới, chỉ có thể coi là đồ nung mà thôi, nếu học được tay nghề gốm thì sau này gia đình họ sẽ có thêm thu nhập. Nung vôi với nung đồ gốm không phải đều dùng lò để nung sao?”

Hà Điền có chút ngượng ngùng: “Tôi mà có thể dạy được ai? Năm ngoái là lần đầu tiên tôi tự mình nung đấy, trước đây đều là ông và bà của tôi làm, tôi chỉ trợ giúp mà thôi.”

“Nhưng đồ gốm của cô thật sự rất tốt. Cho dù không thể so sánh với đồ sành sứ mà lái buôn bán, nhưng đối với chúng tôi thì nó là đồ được nung tốt nhất. Với lại, đồ sứ sản xuất hàng loạt có giá bao nhiêu? Đồ gốm của cô thì có giá bao nhiêu?” Tam Tam không nghĩ vậy: “Dù có là lần đầu tiên cô nung gốm, nhưng vẫn luôn do cô tự làm cả mà, đúng không?”

“Ừ.” Hà Điền nghĩ lại, quả thật, cô và Dịch Huyền đã làm tất cả mọi việc, từ làm sạch đất làm gốm, tạo khuôn, sửa phôi cho đến nung. Nghĩ đến đã thấy tự hào rồi.

“Vậy cô còn ngại gì nữa. Nếu như cô đồng ý dạy, tôi sẽ kêu anh mình nói chuyện với anh ấy, còn nếu cô không muốn truyền bá tay nghề làm gốm của mình thì thôi quên đi.”

Hà Điền thật sự chưa từng nghĩ đến việc giữ bí mật về kỹ thuật gì cả. Nhà cô nung gốm đều để tự dùng, mấy năm mới nung một lần, năm nay do bọn cướp nên nồi chén bị vỡ nhiều, nếu không nung gốm thì phải dùng đồ làm bằng tre, gỗ. Cô là người mới, sợ xảy ra sơ suất này nọ, Dịch Huyền thì cũng ham vui nên đã nung rất nhiều, sau đó là đem đến chợ phiên mùa thu để trao đổi. Cô chưa từng nghĩ đến việc dùng kỹ thuật này để kiếm tiền, nhưng vẫn cảm thấy mình nên thảo luận với Dịch Huyền trước đã. Vì vậy, cô nói với Tam Tam: “Chúng tôi bàn lại rồi trả lời cô sau.”

“Được rồi, không vội.” Tam Tam lại cho cô một ý kiến: “Nếu như cô có dạy anh ấy thì phải làm giá một chút. Không những để anh ấy làm việc cho mình, mà còn phải tính tiền học phí. Có vậy anh ấy mới tôn trọng cô.”

Cô ấy vỗ ngực tự hào: “Trong thôn và cả trên thị trấn, có nhiều người muốn gửi con mình cho tôi để học nghề dệt sợi lắm, tôi đã nói với họ, có thể, nhưng mà phải học nghề ba năm, ăn ở tự lo, không có lương, còn phải nghe lời tôi, Tết phải biếu quà, chưa kể còn phải thi nữa! Thi đậu mới được vào, cuối năm lại thi, ai thi rớt thì về nhà. Điều kiện này quá hà khắc đúng không? Nhưng vẫn có rất nhiều người đến cầu xin tôi. Bây giờ tôi cũng đã có đến hai học trò rồi!”

Hà Điền rất phục sự khéo léo của Tam Tam trong việc dệt vải lanh và may quần áo: “Tay nghề của cô tốt. Họ muốn học nghề thì tất nhiên phải nghe lời cô rồi. Thi cũng đúng. Không thể nhận người tay chân vụng về được, ai không siêng năng, không hiếu học thì đuổi đi sớm, tránh phiền phức sau này.”

Hai người nói chuyện một lúc, Tam Tam hỏi Hà Điền họ mua gì, cô ấy hơi tò mò khi thấy hai người chỉ mang theo một chiếc túi nhỏ.

Hà Điền nói với cô ấy, Tam Tam nghe xong: “Nhiều như vậy? Làm sao mà hai người mang về được?”

“Tạm gửi trong rạp hàng rồi quay lại lấy sau.” Hà Điền cũng có chút lo lắng vì thuyền của họ hơi nhỏ.

Lúc hai người bọn họ đang nói chuyện, Dịch Huyền xách theo lồng gà và dẫn Lúa Mì đứng ở một bên.

Lúa Mì nhìn thấy người quen, hai anh em nhà họ Phổ cũng tới, họ dắt theo một chú chó đen rất đẹp.

Anh em nhà họ Phổ thấy Dịch Huyền thì như chuột thấy mèo, nhưng lại không dám giả vờ như không nhìn thấy anh, đành cắn răng cam chịu bước tới chào hỏi.

Dịch Huyền nhắc nhở họ đừng quên chuyện làm việc trả nợ, vừa nói được vài câu thì nghe thấy hai tiếng chó sủa, Lúa Mì đè con chó của nhà họ Phổ xuống, vừa ôm hông vừa nhún eo.

Nhưng… nhưng chó của người ta là chó đực mà!

Tình huống này thật xấu hổ.

Lúa Mì thỏa mãn rồi, nó trưng ra bộ mặt của kẻ chuyên bắt nạt, leo xuống, ngồi lại dưới chân Dịch Huyền.

Lúc này đây, Dịch Huyền vô cùng không muốn mọi người biết mình là chủ của Lúa Mì một chút nào.

Hai anh em nhà họ Phổ nhìn Dịch Huyền mặt lạnh căm, trong lòng không khỏi nghĩ đến chuyện năm ngoái trong đám lau sậy, sau đó nghĩ đến chuyện mà Lúa Mì vừa làm, thật đúng là chủ nào chó nấy mà… Hai anh em run lên, tranh thủ chạy sớm.

Bên kia, quần áo của nhà Tam Tam cũng đã được bán hết.

Dịch Huyền dẫn Lúa Mì đến, đi thẳng vào vấn đề: “Anh Tam Bảo, cừu nhà anh không bị giết hết chứ? Chúng tôi muốn mua một cặp.”

Tam Bảo ngạc nhiên, cười nói: “Không có. Vẫn còn giữ lại vài con.”

Dịch Huyền lại nói với Tam Bảo về việc họ muốn nhờ người hỗ trợ xây nhà.

Tam Bảo gãi đầu: “Đầu tháng sáu tôi có thể rảnh một tuần, nhưng em gái tôi chân tay không thuận tiện. Cậu biết đó, tôi phải bàn với con bé trước.”

“Được.” Dịch Huyền nhìn Hà Điền và Tam Tam từ xa, cảm thấy vấn đề này coi như đã được giải quyết. Về phần thù lao, Tam Bảo không thể đi săn trên núi, nhà bọn họ hiện tại nuôi dê, thịt lông cũng không thiếu, có lẽ chỉ có thể trả bằng chồn hoặc tiền mặt.

Dịch Huyền giúp Tam Bảo dọn hàng, Tam Bảo đẩy xe, Tam Tam thì ngồi trên cạnh xe, bốn người họ đi bộ trên con đường nhỏ trong đám lau sậy trở về làng.

Đến nhà của Tam Tam, Tam Bảo đưa Dịch Huyền và Hà Điền đi xem chuồng cừu và chọn cừu.

Giá anh đưa ra rẻ hơn so với rạp hàng súc vật ngoài chợ. Tuy nhiên, cừu ở chợ được năm sáu tháng tuổi, còn cừu của anh ấy thì chỉ mới ba bốn tháng tuổi.

Chuồng cừu ở góc Tây Bắc sân được đắp bằng đất, trong chuồng cừu cũng có một gian nhà nhỏ cũng bằng đất, mái lợp bằng rơm khô.

Tam Bảo ít nói, chỉ khi Dịch Huyền và Hà Điền đặt câu hỏi mới trả lời, nếu là Dịch Huyền hỏi thì anh ấy có thể nói thêm vài câu, còn nếu Hà Điền hỏi thì anh ấy lại tích chữ như vàng, cũng không dám nhìn cô. Nói thêm vài câu mà mặt và cổ đều đỏ bừng cả lên.

Hà Điền thấy tình hình này bèn đến chỗ Tam Tam trò chuyện với cô ấy.

Tam Tam mời Hà Điền vào phòng của mình, rót hai ly nước nóng và lấy một dĩa đồ ăn nhẹ cho cô ăn.

Cô ấy lại bước đến chiếc giường mây cạnh cửa sổ, mở một chiếc hộp nhỏ, lấy một chiếc túi nhỏ bằng lông thỏ đưa cho Hà Điền: “Cái này cho cô. Nếu không phải da thỏ của cô rất mềm, Tôi cũng không thể làm được.”

Hà Điền nhìn vào chiếc túi, nhịn không được mà “wow” một tiếng.

Cái túi nhỏ này chỉ lớn hơn nắm tay một chút, rất tinh xảo, nhìn giống như một nụ hoa úp ngược vậy, từng nhúm lông thỏ màu trắng được làm thành cánh hoa, úp xuống thì cánh hoa sẽ rũ xuống. Quai túi được đan từ bốn sợi dây lanh màu đỏ sẫm, đan chéo vào thân túi, đeo ở trên người, chiếc túi nhỏ vừa vặn rũ xuống bên hông.

Tam Tam là một người khôn khéo, cũng rất biết điều, Hà Điền đã tặng cho cô ấy bộ da thỏ, cô ấy liền có qua có lại mới toại lòng nhau.

Hà Điền cầm cái túi nhỏ trong tay, trầm trồ một hồi: “Sao cô không đem đến chợ bán?”

Tam Tam cười khẽ: “Theo cô thì cái này nên bán giá bao nhiêu?”

Hà Điền hiểu ngay. Một thứ thủ công như vậy, cho dù được làm tinh xảo, rốt cuộc cũng chỉ là một cái túi nhỏ, tính trang trí nhiều hơn là tính thực dụng.

“Nếu gửi bán trong tiệm của chị Hoàng thì sao?”

“Tôi đã gửi hai cái, nhưng tôi nghĩ, nếu muốn bán loại đồ tinh xảo này, cô phải sẵn lòng bỏ vốn liếng ra, phải có loại da tốt nhất, ít nhất phải là lông cáo. Nếu là lông cáo thì sẽ bán chạy hơn, tôi đã từng mạo hiểm làm bằng lông chồn. Nhưng mà… làm bằng lông thỏ, tôi có thể nhuộm màu, làm thành màu hồng, màu vàng nhạt này nọ. Còn lông chồn? Làm hoa mẫu đơn đen à? Hay là làm thành ô vuông hình thoi? Dùng da tốt nên ngay cả vải lót cũng phải là loại tốt. Tôi nên dùng gì đây? Lụa và vải lanh đều đã bán hết rồi!”

Hà Điền nghĩ đến những con thỏ nhỏ ở nhà: “Thỏ tôi nuôi một mùa đông mà đẻ được những ba lứa. Lần sau tôi sẽ mang cho cô. Cô muốn dùng bao nhiêu thì dùng. Còn về phần sợi tơ, năm nay tôi vẫn sẽ mang đến. Cô cứ yên tâm.”

Tam Tam không ngừng cảm ơn, lại hỏi Hà Điền cách nuôi thỏ.

Hai người ngồi trong phòng nói chuyện, Dịch Huyền thì đi theo Tam Bảo đến chuồng cừu chọn cừu con.

Chỉ có một mình Dịch Huyền nên Tam Bảo cũng tự nhiên hơn. Anh chỉ cách cho cừu con ăn, cách phòng bệnh, ăn thức ăn gì, nên xây chuồng cừu ở đâu,… có sao nói vậy, không hề giấu diếm: “Hai người nuôi cừu là muốn ăn thịt hay là lấy sữa? Ở đây tôi có hai giống, một loại thì chất lượng thịt ngon nhưng không cho nhiều sữa, một loại thịt không ngon nhưng cho nhiều sữa. Mỗi ngày tôi có thể vắt được một xô sữa cừu nhỏ. Cậu có thể nuôi hai con cừu con, nhưng nếu muốn giữ lại cho chúng sinh sôi nảy nở thì tốt nhất là nên lấy cùng một loại giống. Những con cừu con do giao phối cận huyết dễ bị dị tật di truyền tự nhiên lắm.”

Những con cừu trong chuồng thuộc nhiều giống khác nhau, có con có màu trắng như tuyết, có con thì màu nâu, xen kẽ những mảng trắng hoặc nâu trên cơ thể.

Dịch Huyền lại hỏi cách vắt sữa cừu, Tam Bảo xách theo xô nhỏ và ghế, đưa anh vào chuồng, làm mẫu ngay tại chỗ: “Người mới làm có thể vặn một chiếc thòng lọng thành hình số tám rồi tròng hai chân sau của cừu vào, nó sẽ không đá người. Sau đó, cứ vậy mà vắt… “

Sữa cừu phun vào chiếc xô sắt nhỏ, gõ vào thành xô phát ra tiếng khe khẽ.

“Sau khi vắt xong thì cần phải cẩn thận hơn. Nhấc xô ra trước rồi mới tháo dây thòng lọng. Đừng để nó đạp vào chiếc xô. Tốt nhất là cậu nên cột chiếc thòng lọng thành nút rút, kéo một cái là mở được ngay. Cừu núi là một loài vật rất ngoan, đợi cậu và nó quen thuộc nhau rồi, nó sẽ không đá lung tung nữa. Chỉ cần cho nó một chút cỏ khô, nó bận ăn cỏ nên sẽ không sao hết.”

Sau khi Tam Bảo làm mẫu xong, Dịch Huyền chủ động nhấc cái xô cùng ghế nhỏ lên, hỏi: “Các anh xử lý sữa dê như thế nào?”

Tam Bảo hơi thắc mắc: “Xử lý như thế nào? Thì đun sôi lên, để nguội rồi uống chứ sao. Con dâu của thím Liễu sinh em bé không có đủ sữa cho con, vì vậy mỗi tối thím ấy sẽ đến mua một ít. Còn dư lại thì chúng tôi tự uống. Làm trà sữa hay là bánh ngọt gì cũng đều ngon cả.”

Dịch Huyền nghe xong, thì ra bọn họ không biết cách làm phô mai sữa cừu. Anh muốn nói với Tam Bảo là sữa cừu có thể làm thành phô mai, thứ này có thể bảo quản lâu hơn, nhưng chính anh còn chưa làm thành công thì phải nói thế nào đây?

Tam Bảo dẫn Dịch Huyền đến nhà bếp của họ, đổ sữa cừu vào nồi sắt, đun trên lửa nhỏ rồi đổ vào bình đồng có miệng mỏng và bụng sâu.

Nhà bếp của nhà Tam Tam nằm ở phía Tây của cổng sân. Bếp rất lớn. Nhìn kỹ hơn thì thấy có hai bếp cạnh nhau, có thể nấu hai nồi lớn cùng lúc. Giữa hai cái nồi lớn còn có một cái nắp tròn nhỏ, khi mở ra thì thấy một cái xô tròn bằng sắt đựng đầy nước, bên cạnh là cái muôi bằng tre. Nước bọn họ thường uống được đun sôi và múc vào xô sắt tròn này để giữ ấm. Ở góc Tây Bắc của nhà bếp thì có một cái bể thấp, trong đó có giếng bơm tay, nước mà họ dùng đều lấy từ đây.

Dịch Huyền khá hứng thú với giếng bơm tay, lại hỏi Tam Bảo về việc lấy nước.

Nhiều người dân trong làng đã khoan giếng trong sân nhà mình, nước mà họ lấy là nước ngầm. Có một số người sẽ xây một cái mái che nhỏ bên ngoài giếng, một số thì mở giếng trong nhà bếp giống như của nhà Tam Tam.

Giếng bơm tay trông giống như một cái cột đồng đứng trong một cái ao thấp, bên trong rỗng, một đầu thông với một chỗ dưới lòng đất vài mét, cột rỗng ở đầu kia là đầu giếng, bên trong là một van pít-tông làm bằng da tròn được nối với tay cầm, khi ấn tay cầm lên xuống, bên trong cột hút được chân không, bơm nước ngầm lên.

Theo sự chỉ dẫn của Tam Bảo, Dịch Huyền đổ một gáo nước nhỏ vào đầu giếng áp, từ từ nâng tay cầm bằng sắt lên, rồi từ từ ấn xuống, ấn lên xuống vài lần, phía đầu ra của ống đồng phun ra một dòng nước, chảy vào xô.

Anh bơm nửa xô nước, đang thảo luận với Tam Bảo về cách bảo quản da tốt hơn thì Tam Tam và Hà Điền đến.

Tam Tam nói với anh trai mình về việc sẽ đến nhà Hà Điền để phụ xây nhà vào đầu tháng sáu. Tam Bảo đã nhận lời, và cũng hứa sẽ nhờ những người trẻ khác trong làng xem có thể giúp đỡ được không.

Hà Điền lại bổ sung thêm: “Đừng quá nhiều người, ba người là đủ rồi. Nhiều người hơn nữa tôi không có tiền đâu.”

Tam Bảo và Tam Tam đều cười lên.

Đã 3 giờ rưỡi chiều, Hà Điền và Dịch Huyền định sẽ dẫn hai con cừu, sau đó cầm máy cưa về nhà trước, nên chào tạm biệt.

Tam Tam hỏi anh mình: “Anh ơi, anh còn thịt cừu hôm qua không? Cắt một miếng đưa cho Điền Điền và Dịch Huyền mang về nhà nếm thử.”, “À, còn sữa cừu nữa. Mùa thu năm ngoái tôi đã nói là sẽ mời cô sữa cừu mà!” Những lời này là nói với Hà Điền.

Anh cô ấy đáp một tiếng rồi đi đến hầm lấy thịt cừu.

Dịch Huyền đột nhiên nghĩ đến điều gì đó, nhanh chóng đi theo, thấp giọng hỏi: “Anh Tam Bảo, anh vừa mới mổ cừu à?”

“Đúng vậy, tôi vừa mới giết đêm qua.”

“Nội tạng còn không? Cả ruột non nữa?”

Tam Bảo sửng sốt: “Ruột cừu? Có chứ, cậu muốn sao? Tôi còn chưa rửa sạch. Không thể ăn đâu!”

Dịch Huyền lắc đầu: “Không phải để ăn. Mà là để dùng.” Anh nhỏ giọng giải thích vài câu, Tam Bảo hiểu ra, “Ồ” lên một tiếng rồi lại đỏ mặt. Ngũ quan của Tam Bảo và Tam Tam trông giống nhau, nhưng anh ấy làm ruộng quanh năm, mặt mày vàng như màu lúa mì, giờ đỏ mặt lên, trông cứ như quả mơ phơi nắng.

Một lúc sau, Dịch Huyền cười tủm tỉm cầm theo một gói lá tre cùng Tam Bảo ra khỏi hầm, Tam Tam hơi ngạc nhiên tại sao anh trai cô ấy không xẻ thịt cừu cho Dịch Huyền, nhưng cô ấy cũng không hỏi.

Cô ấy đưa cho Hà Điền một ống tre to và đổ đầy sữa cừu mới vắt vào. Lúc rót sữa cừu, Lúa Mì, kẻ vẫn luôn ngoan ngoãn ngồi ở cửa bếp từ lúc bước vào cửa, đứng dậy vẫy đuôi với Tam Tam.

Tam Tam lấy một cái chén tre nhỏ, đổ sữa vào cho nó. Lúa Mì chẹp chẹp liế.m uống.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 104: Bơ và phô mai


Hà Điền và Dịch Huyền về đến nhà thì cũng đã hơn 7 giờ tối.

Họ mang gà và cừu trở lại chợ lấy máy cưa, nhân viên trong rạp hàng cũng rất có trách nhiệm, phụ giúp họ mang túi lớn túi nhỏ dụng cụ và sáu thùng dầu diesel lớn đến bờ sông, cũng giúp họ lắp đuôi tôm vào, đặt ở đuôi thuyền.

Với sự trợ giúp của cánh quạt ở đuôi thuyền, thuyền chạy trên sông rất nhanh.

Khi ngược dòng nước, từ đuôi thuyền rẽ ra tia nước màu bạc hình chữ V, như thể một mảnh sa tanh mềm màu xanh lá cây sẫm bị cắt ra bởi một chiếc kéo sắc bén.

Nhưng cứ với tốc độ này, lúc đầu còn cảm thấy thú vị, chứ một lúc sau thì không thoải mái chút nào.

Nhất là khi mặt trời sắp lặn, gió trên sông lạnh đến mức phả vào mặt khiến họ không thể mở mắt. Hà Điền và Dịch Huyền nhanh chóng đeo kính râm do cửa hàng dụng cụ đưa cho vào.

Động cơ và cánh quạt phát ra âm thanh ù ù. Lúc còn ở khúc sông đông đúc thì không thấy gì, nhưng khi đến đoạn sông thưa thớt dân cư, tất cả các loài động vật ẩn trên cành cây, trên bãi cỏ, trên bờ đều bị doạ sợ chạy mất hút!

Hơn nữa, động cơ chỉ có thể chạy liên tục nhiều nhất là nửa giờ thì phải dừng lại, nếu không, vỏ máy sẽ bắt đầu nóng đến phỏng tay.

Hà Điền và Dịch Huyền vẫn còn phải trông cậy vào công cụ mới này để xây nhà, nên cần phải chăm sóc chúng cẩn thận, cứ 20 phút thì ngừng một lần, chuyển sang chèo bằng tay.

Mới đầu vừa nghe đến âm thanh ù ù của động cơ Lúa Mì còn sợ hãi một lúc, tốc độ lái siêu nhanh của con thuyền khiến nó không thích ứng được, nó đứng trên mũi thuyền hứng gió một lát, rồi nằm xuống, nôn mửa.

Những con vật khác trên thuyền – hai con cừu con và một con gà trong lồng, cũng có những biểu hiện hoảng sợ khác nhau. Gà thì co mình lại một cục kêu gào, hai chú cừu con thì cứ kêu be be be be muốn nhảy lung tung, Hà Điền và Dịch Huyền đành phải dừng thuyền lại, cột bốn chân cừu vào một thanh gỗ bằng dây thừng, để chúng ngoan ngoãn nằm đó.

Còn nữa, sau khi tốc độ thuyền tăng lên, trên đoạn sông có dòng chảy ổn định thì không sao, nhưng khi gặp đoạn sông có sóng thì thuyền sẽ dội lên trên mặt sông như đậu rang trong chảo sắt, đừng nói Lúa Mì, mà ngay cả Hà Điền cũng muốn nôn luôn.

Việc nhảy vọt từ sức người sang động cơ diesel không phải là điều có thể thích ứng trong một sớm một chiều được.

Vì vậy, con thuyền chuyển đổi giữa hai loại động lực, lúc thì nhanh lúc thì chậm.

Được cái là hành trình trở về kéo dài gần năm tiếng đồng hồ đã được rút ngắn một nửa.

Lúc về đến nhà, những ngôi sao trên bầu trời xanh tím sẫm phản chiếu xuống dòng sông và vỡ tan thành những dải ngân hà lấp lánh khi con thuyền đi qua.

Cuối cùng cũng đến bờ sông nhà mình, Hà Điền có cảm giác như dẫm phải bông, thứ cảm giác này từ khi cô sáu bảy tuổi chưa từng xuất hiện nữa.

Dịch Huyền dắt hai con cừu tội nghiệp lên bờ và cởi dây trói ra, chúng loạng choạng một lúc thì mới trở lại bình thường.

Hà Điền muốn nhốt chúng với Gạo, nhưng vừa nhìn thấy hai tên xâm lược nhỏ này thì Gạo liền khó chịu mà thở phì phò, còn cúi đầu xuống, bày ra bộ dạng như một tên lưu manh đang chuẩn bị đánh nhau, nên hai con cừu nhỏ đành phải bị nhét cùng với gà vịt và thỏ.

Sau một ngày bận rộn, Hà Điền và Dịch Huyền rất mệt mỏi, nhưng cũng rất phấn khích, họ bỏ dầu diesel vào kho đồ gốm rồi mang máy cưa trở về nhà. Đây là tài sản quý giá nhất của họ lúc này.

Hai người ngồi xuống uống trà nóng, ăn một ít da đậu hũ chiên như một món ăn vặt, cuối cùng cũng lấy lại được chút năng lượng. Dịch Huyền đem sữa cừu vào hầm, mang đèn dầu và một thùng tro ra sông để rửa ruột cừu, Hà Điền thì ở nhà nấu một nồi mì thịt bằm cải thảo cay.

Sau khi ăn tối, nghỉ ngơi một chút, Dịch Huyền lấy sữa cừu trong hầm ra, đổ bốn chén vào nồi nhỏ, từ từ đun nóng, đun đến khi trên bề mặt sữa nổi lên vài bọt nhỏ thì bớt lửa, cho thêm giấm chua vào.

Sau khi thêm giấm, sữa cừu trắng nhanh chóng đông đặc thành những cục nhỏ, váng sữa và một phần protein trong sữa được tách ra, dùng muỗng gỗ khuấy nhẹ, váng sữa có màu vàng nhạt trong suốt và protein dạng bông trắng tách ra nhanh hơn.

Hà Điền đặt một cái rây tre lên một cái tô gốm lớn và đặt một miếng vải gạc lên trên rây, Dịch Huyền nhấc nồi nhỏ lên đổ sữa đã đông đặc và váng sữa còn lại vào. Nước sữa chảy ra từ khe giữa vải gạc và rây tre. Đổ xong thì gom bốn gốc của vải gạc lại rồi siết chặt để vắt hết nước còn sót lại, sau đó dùng dây rơm cột chặt gạc lại rồi treo lên tô lớn để nước còn lại và váng sữa trong phô mai tiếp tục chảy ra.

Một nửa sữa cừu còn lại cũng được chế biến giống hệt như vừa rồi, cũng là bốn chén sữa cừu cộng với ba muỗng giấm trắng, nhưng lại có thêm một thứ khác — đó là chất nhầy được cạo từ dạ dày của cừu.

Ngoài ruột cừu, Dịch Huyền còn hỏi xin Tam Bảo dạ dày cừu.

Trong dạ dày của cừu và dê có rất nhiều men tiêu hóa, một trong số đó là men dịch vị, ngay cả khi đem dạ dày phơi khô, bột thu được bằng cách cạo thành dạ dày cũng rất giàu men dịch vị, sau khi cho vào sữa tươi, nó có thể khiến cho protein trong sữa đông tụ lại và tách váng sữa ra.

Dịch Huyền chia sữa ra làm theo hai cách là vì muốn quan sát sự khác biệt về chất lượng giữa hai loại phô mai được làm với cùng một lượng sữa cừu.

Trong ống tre vẫn còn một ít sữa cừu, Dịch Huyền đổ hết vào hũ thủy tinh, sau khi vặn chặt nắp, anh dùng một miếng vải gạc lớn quấn nó lại, sau đó cột một sợi dây rơm ở đáy hũ và trên miệng hũ rồi dùng hai tay cầm hai đầu của vải gạc quay theo hướng từ trong ra ngoài. Khi gạc đã được vặn chặt thì buông ra để cho hũ xoay tự do, sau khi ngừng quay thì nắm hai đầu để quay tiếp, lặp lại điều này trong hơn mười phút thì mở vải gạc ra, sữa cừu bên trong hũ thủy tinh đã xuất hiện rất nhiều cợn nhỏ, và đó là váng sữa cừu, cũng chính là bơ. Chất lỏng còn lại là sữa đặc.

Mở nắp hũ thủy tinh, tách váng sữa và sữa đặc ra, cho váng sữa vào vải gạc vắt bớt nước, rồi đặt vào hộp tre nhỏ ép thành hình chữ nhật, vậy là bơ đã được làm xong.

Tuy gọi là “bơ” nhưng bơ làm từ sữa cừu không có màu vàng nhạt mà có màu trắng ngà, thoáng có quầng vàng nhẹ và có mùi rất thơm.

Đêm tháng năm vẫn còn khá lạnh, đem bơ để ở bên ngoài, đợi nửa tiếng là bơ đã cứng lại rồi, sau đó lại cắt thành miếng nhỏ, một ít thì cất ở trong hầm, một ít thì để lại ăn khuya.

Lúc này đã gần mười giờ, Hà Điền lấy vài lát bánh mì khô cho vào khay nướng cho hơi nóng rồi phết một lớp bơ mới làm lên. Bánh mì nướng giòn tan, lớp bơ thì thơm phức. Ăn vậy thôi mà đã thấy hài lòng lắm rồi, nếu quết thêm một lớp mứt việt quất lên nữa thì lại càng tuyệt vời hơn.

Vì không cho thêm muối khi làm nên bơ thành phẩm phải ăn càng sớm càng tốt, dù bảo quản trong hầm nhưng tốt nhất nên ăn trong vòng một tuần, nếu không, mùi vị sẽ thay đổi. Nếu có thêm muối, thời hạn sử dụng có thể lâu hơn.

Ngày hôm sau, miếng phô mai được treo qua đêm cũng đã sẵn sàng cho bước tiếp theo.

Mở vải gạc ra, bên trong là những cục phô mai vụn màu trắng, mềm mịn, có thể vo thành nhiều hình dạng như nhào bột, hoặc cho vào khuôn để tạo thành hình, còn có thể thêm các loại hạt và trái cây sấy khô vào.

Dịch Huyền chọn một vài quả hạnh khô, cắt nhỏ rồi nhào với một miếng phô mai. Sau khi nhào đều thì kéo chúng thành những dải dài 4 hoặc 5 cm, dùng dao cắt thành những miếng to cỡ ngón tay, đưa cho Hà Điền: “Em nếm thử xem.”

Đêm qua Hà Điền đã bị chinh phục khi ăn bánh mì bơ, lúc này nếm thử một miếng phô mai sữa dê hạnh khô, chỉ cảm thấy trong miệng đầy hương thơm, vị ngọt của quả hạnh và vị ngọt dịu của sữa cừu rất vừa miệng.

Dịch Huyền tự mình ăn một miếng, rất hài lòng: “Thế nào? Đợi cừu của chúng ta lớn lên, mỗi ngày đều sẽ có gần hai lít sữa cừu, ngày nào cũng có thể ăn phô mai!”

Sau đó anh lại lấy một củ gừng, tách lấy chỗ non mềm, gọt vỏ, cắt miếng nhỏ, nhào vào chung với phô mai và hạnh khô, rồi cũng kéo thành sợi dài.

Hà Điền nếm thử, cảm thấy loại có thêm gừng này ăn càng ngon. Sữa cừu và hạnh khô đều có vị ngọt thanh, lúc ăn thì không cảm nhận được, nhưng sau khi ăn thì dư vị có chút ngán, gừng vừa vặn có thể trung hòa độ ngấy này, mà mùi thơm của gừng và hạnh khi kết hợp với nhau cũng rất kỳ diệu.

Sau đó, Dịch Huyền cắt nhỏ một ít hành lá và lá rau cần, thêm chút muối rồi nhào với phô mai, sau khi nhào thành sợi dài, anh còn nghiền một ít than tre rồi rắc lên thớt, lăn vài lần trên đó, lớp da của phô mai trở nên xám và bóng.

Món phô mai mặn này Hà Điền không đánh giá cao, nhưng lại là món khoái khẩu của Dịch Huyền.

Được thưởng thức món phô mai mới làm với nhiều hương vị khác nhau, cộng thêm mấy miếng bánh mì yến mạch dày cộm cùng với một ly trà lá tre nóng hổi. Sau khi ăn bữa sáng đầy calo này, thẳng đến buổi chiều họ cũng không thấy đói.

Ăn xong bữa sáng thì trời đã sáng choang, Hà Điền và Dịch Huyền tràn đầy năng lượng bắt tay vào làm chuồng cừu.

Hôm qua sau khi chứng kiến cảnh hai vợ chồng người thợ kia làm cửa sổ kính, hai người họ đã rất hứng khởi và thảo luận với nhau. Sau đó đưa ra kết luận là: Nếu muốn tăng tốc độ kỹ thuật, thì phải sử dụng các bộ phận tiêu chuẩn.

Bộ phận tiêu chuẩn là gì? Đó là các bộ phận có kích thước đồng nhất, chẳng hạn như các thanh gỗ được hai vợ chồng người làm cửa sổ đã sử dụng. Mỗi thanh dài một mét, có cùng kích thước mặt cắt ngang, cứ mười lăm cm lại có một rãnh hình thang, theo cách này, nếu muốn làm cửa sổ có chiều dài dưới một mét, vậy thì chỉ cần cưa bớt phần gỗ thừa, còn nếu muốn làm cửa sổ dài hơn, thì cưa sao cho dài hơn thanh gỗ gốc.

Các tấm lỗ mộng do Hà Điền làm lúc trước dùng để xây tường bên ngoài của ngôi nhà cũng có bản mẫu tiêu chuẩn như thế này, nhưng lúc đó cô cũng không để tâm cho lắm, vì trên thực tế, kích thước của gạch đều như nhau, nên nó cũng được xem là thước đo tiêu chuẩn.

Hà Điền vẽ lại bản vẽ, sửa đổi hình thức của các tấm, rồi lại ôm mấy viên gạch bê tông gai dầu đến, cùng Dịch Huyền xây thử một lúc, thảo luận một hồi, rồi vẽ lại bản vẽ và làm khuôn mới.

Chiều cao của bức tường gạch bê tông gai dầu mà họ làm thử đã được tăng lên 75 cm, chiều rộng của gạch là 15 cm và chiều cao cũng là 15 cm. Mặt trong của viên gạch được chia thành ba ô lưới rỗng, độ dày của lớp gạch là 3 cm, gạch có một đầu lồi và một đầu lõm, khi xây tường, các viên gạch sẽ được ghép lại cho khớp và khóa chặt lại với nhau. Khi cần dùng đến các độ dài khác nhau, chỉ cần cắt dọc theo lớp ruột rỗng để được các viên gạch có độ dài hai mươi lăm hoặc năm mươi. Ở đầu và cuối viên gạch có một lỗ có đường kính 2 cm, sau khi tường được xây một lớp, cứ cách một khoảng thì chèn một thanh tre vào, giống như các thanh thép được sử dụng xây nhà bê tông, để làm cho tường chắc chắn và ổn định hơn. Sau khi lát gạch xong, đổ xi măng vào những chỗ rỗng của viên gạch, thay vì dùng xi măng để trát từng viên gạch như xây bằng gạch xây truyền thống, cách làm này tiết kiệm được nhiều thời gian hơn. Ngay cả khi không phải là một thợ xây lành nghề, bạn cũng có thể xây một bức tường chỉ với thời gian ngắn.

Sau khi xác định bản vẽ, hai người bắt đầu làm khuôn mẫu.

Làm xong khuôn gỗ, họ không trộn bê tông gai dầu mà trộn bê tông sa thạch bazan. Lần này họ định thay khuôn mẫu từ gỗ thành khuôn bê tông, để mỗi lần đổ không cần phải cố định khuôn gỗ nữa.

Sau khi đổ hỗn hợp vào khuôn gỗ, Dịch Huyền cưa hai đoạn tre, Hà Điền cầm hai đầu đoạn tre hơ lửa ở giữa đoạn tre một lúc, để cho nó uốn cong lại, sau đó cưa hai đầu cho đồng đều, chờ cho đến khi bê tông ở trạng thái bán rắn thì cắm hai đoạn tre ở hai đầu viên gạch để làm hai tay cầm. Sau khi bê tông đóng rắn hoàn toàn, tay cầm bằng tre được tích hợp chắc chắn với khuôn bê tông. Muốn lật ngược khuôn hay tháo khuôn thì chỉ cần nắm tay cầm là được, rất dễ dàng thao tác.

Đổ xong một cặp khuôn, họ ăn trưa đơn giản rồi lại lên đường đến chợ phiên.

Lần này đến chợ, Hà Điền và Dịch Huyền làm tới luôn, họ đã mua cánh công xôn và máy cưa chạy bằng động cơ diesel rồi, vậy nên không sợ người khác thấy thuyền của họ chạy nhanh nữa. Động cơ siêu bền trộm lần trước cũng được lắp vào, đổ đầy dầu diesel, thay phiên sử dụng, lúc gần đến bãi sông thì tháo ra cất đi.

Có động cơ, thời gian đi và đến chợ được rút ngắn rất nhiều, nhất là khi đến đó, lộ trình hai đến ba tiếng đồng hồ giảm còn bốn mươi phút!

Lúc đến bãi sông cũng chỉ mới một giờ trưa.

Một lần nữa ngồi trên thuyền máy, Lúa Mì và cả Hà Điền đều đã thích nghi hơn ngày hôm qua nhiều.

Đến chợ, hai người tách riêng ra, Hà Điền mang theo hai miếng phô mai, một hộp bơ nhỏ, một lồng thỏ con rồi tiếp tục lái thuyền đi tìm Tam Tam trong làng, Dịch Huyền thì dẫn Lúa Mì vào chợ xem một chút, sau đó đi lấy vải dầu, muối, đường, bột gửi ở rạp hàng, rồi ra bến của chợ đợi Hà Điền.

Hà Điền đến bến thuyền của làng, tháo động cơ bỏ vào túi, xách lồng thỏ đi đến nhà Tam Tam.

Lúc này đã là buổi trưa, hầu hết người trong làng đều đã đến chợ, trong làng vô cùng yên tĩnh, tiếng lách cách của khung cửi nhà Tam Tam truyền đi rất xa.

Hà Điền kéo dây chuông cửa, người mở cửa là Tam Bảo, Tam Tam nghe thấy Hà Điền đến nên cũng đi ra.

Cô ấy nhìn con thỏ Hà Điền mang đến một hồi, hỏi phải nuôi nó như thế nào, lại kêu anh trai mình đi lấy mấy cọng cỏ cho cừu ăn để trêu chọc con thỏ, còn ôm trong tay vu.ốt ve: “Dễ thương quá.”

“Ăn cũng ngon nữa!” Hà Điền thấy Tam Tam như vậy, có chút sợ cô ấy đi theo con đường tà đạo “nuôi nhưng không ăn” của Dịch Huyền, liền nhanh chóng tiêm phòng cho cô ấy và Tam Bảo: “Thỏ sinh sản rất nhanh. Một tháng đẻ một lứa, một lứa ít nhất đến bảy tám con. Hai người nên chuẩn bị tâm lý đi!”

Hà Điền lại cho họ xem phô mai: “Món này chúng tôi làm từ sữa cừu. Là ý tưởng của Dịch Huyền đó. Anh ấy muốn nói với hai người ngày hôm qua kìa, nhưng đây là lần đầu tiên chúng tôi làm thử nên cũng không biết có làm được hay không. Anh ấy thảo ăn lắm, hôm nay làm xong liền kêu tôi đem hai miếng biếu hai người.”

Tam Bảo và Tam Tam quan sát phô mai rắn và bơ, sau đó lấy một lát bánh và trát chúng theo lời chỉ của Hà Điền rồi nếm thử. Họ rất ngạc nhiên. Họ có hai con cừu đang cho sữa, mỗi ngày thu gần hai lít, sau khi thời tiết ấm lên, sản lượng sữa của cừu cũng sẽ tăng lên, họ đang lo lắng không biết phải làm sao, bỏ thì tiết mà không bỏ thì uống không hết, dù có cất ở trong hầm thì cũng không giữ được vài ngày.

Nếu nó có thể làm thành phô mai, thời hạn sử dụng sẽ lâu hơn, còn có thêm một khoản thu nhập nữa.

Trước Khi đến Hà Điền đã viết sẵn phương pháp làm phô mai và bơ, lúc này đưa cho Tam Tam: “Dịch Huyền nói sau khi thêm muối vào phô mai, đặt nó vào trong khuôn gỗ rồi dùng đá và vật nặng đè lại, để ở nơi râm mát và thoáng khí, phô mai càng ít độ ẩm thì thời gian bảo quản sẽ càng lâu. Có điều chúng tôi vẫn chưa có thời gian làm thử nên hai người hãy tự mình tìm hiểu đi nhé. Anh ấy còn nói loại phô mai cứng nhất cứng như đá vậy đó, khi ăn phải dùng bàn bào sắt bào thành vụn.”

Dịch Huyền cũng nói, bơ cũng có thể được thêm muối để kéo dài thời gian bảo quản, ngoài ra, dùng bơ nhào bột có thể làm được rất nhiều món bánh ngon.

Đang nói chuyện, lại có người gõ cửa, Tam Bảo vừa mở cửa, Hà Điền sửng sốt, cười hỏi: “Sao anh lại đến đây?”

Đứng ngoài cửa là Dịch Huyền.

Bên cạnh anh là một người đàn ông thô kệch cao gần hai mét.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 105: Bánh xoắn ốc vàng


Dịch Huyền và Hà Điền vừa tách ra, mới bước vào chợ đang đi dạo xung quanh thì có người gọi to: “Chú em gì đó ơi! Chú em bán táo tàu đỏ ơi!”

Lúc này anh vẫn không biết là đang gọi mình, đi được vài bước thì có người chạy đến phía sau anh, khi anh quay đầu lại thì thấy một người đàn ông cao lớn đang khoa tay múa chân cười với mình.

“Chú em! Còn nhớ tôi không? Tôi là người đã đổi táo tàu với chú ở hội chợ mùa thu năm ngoái này!” Người đàn ông hớn hở nói.

Dịch Huyền ngay lập tức nhớ ra, người đàn ông cao lớn này đã dùng một túi da đựng rượu mạnh đổi lấy táo tàu với họ.

Dịch Huyền cười đáp lại: “Nhớ chứ. Vợ anh đã sinh cho anh một bé gái mũm mĩm, họ có khỏe không?”

Ông anh cao lớn đưa bàn tay to như cái quạt ra chỉ vào rạp hàng bán đồ phụ nữ: “Khỏe cả! Vợ, mẹ và em gái tôi đều đang mua sắm ở đằng kia!” Anh ấy lại kéo ngực áo, áo khoác da mở ra, để lộ một cái túi treo, trong đó là một em bé mũm mĩm đang ngủ say sưa chảy cả nước miếng: “Con gái tôi này! Xinh không? Khà khà.”

Lần đầu tiên Dịch Huyền thấy có người treo trẻ con trước ngực bằng túi vải như vậy, anh nhìn kỹ hơn, đứa bé có đôi má ửng đỏ, mái tóc dày đen óng ả, phần đuôi tóc còn xoăn xoăn, bàn tay hơi mập nắm chặt lại, trong miệng thì ngậm n.úm vú cao su, trên cổ đeo yếm, nước miếng lấp lánh đang chảy từ khóe miệng xuống chiếc yếm đó, trông ngộ nghĩnh và dễ thương làm sao, quả thật có hơi giống một món đồ chơi nhồi bông.

Dịch Huyền cúi xuống nhìn chằm chằm cô bé mũm ma mũm mĩm hồi lâu, trên khuôn mặt không khỏi lộ ra nụ cười khi nhìn thấy những thứ ngộ nghĩnh, mặc dù anh chưa đáp lại người đàn ông kia rằng con gái của anh ấy có xinh hay không, nhưng biểu cảm này còn hơn cả khi nói “xinh” gấp trăm lần. Điều này làm cho anh ấy rất vui vẻ.

“Sao, anh cũng muốn hả? Anh với vợ anh sinh một đứa đi!” Người đàn ông sợ con gái mình lạnh nên đóng cổ áo khoác lại.

Dịch Huyền đứng thẳng người, cười nói: “Vợ tôi còn nhỏ, không vội.”

Người đàn ông mới nhớ ra: “Vợ anh đâu?”

“Cô ấy vào trong làng tìm người làm ít chuyện rồi.”

Hai người đang nói chuyện, vợ của người đàn ông bước đến, Dịch Huyền sửng sốt. Không phải chứ, bụng của vợ ông anh này lại bự nữa rồi.

Ba người phụ nữ trong nhà người đàn ông chào hỏi với Dịch Huyền rồi lại quay trở lại rạp hàng vải vóc một lần nữa.

Lúc này Dịch Huyền mới hỏi người đàn ông: “Anh này, vợ của anh… lại có nữa?”

Nhắc tới vấn đề này, người đàn ông có chút sầu muộn: “Ừ, đúng vậy. Cái gì mà trong thời gian cho con bú sẽ không mang thai, toàn gạt người cả!”

Khi con gái của anh ấy được gần 6 tháng, vợ anh ấy cạn dần sữa, rồi phát hiện mình lại có thai. Cũng may là lúc này em bé đã bắt đầu ăn dặm, cháo, khoai lang nghiền, kê mà Dịch Huyền đổi cho cũng có thể nấu cháo, nếu không thì con gái anh ấy sẽ phải chịu đói rồi.

“Tôi hơi sợ vợ tôi sinh gần quá sẽ bị tổn thương cơ thể. Nhưng chúng tôi còn trẻ và khỏe mà, sao có thể không làm chuyện kia được, đúng không?” Người đàn ông rất buồn rầu: “Chuyện này nếu không nghĩ cách thì sẽ lại có nữa. Phải làm sao bây giờ? Cái thứ bong bóng cá kia không phải lúc nào cũng có thể dùng được. Mùi của nó khó ngửi vô cùng, làm mất cả hứng! Thêm một điều nữa là, tôi phải giết bao nhiêu con cá mới được một con có bong bóng cá phù hợp chứ!” Anh ấy nói xong thì vỗ vai Dịch Huyền, thở dài.

Người đàn ông chẳng qua chỉ là thuận miệng thổ lộ chút chuyện đau khổ của những người đàn ông với Dịch Huyền mà thôi, nhưng anh ấy không ngờ rằng cuộc nói chuyện này lại gặp đúng người rồi.

Đây là lần đầu tiên Dịch Huyền nghe nói bong bóng cá cũng có thể được sử dụng theo cách này, tưởng tượng một chút, cũng hiểu được bong bóng cá có kích thước phù hợp thật sự rất khó tìm.

Truyền bá các biện pháp tránh thai đúng cách và an toàn trong thời đại thiếu bác sĩ, thiếu thuốc, thiếu lương thực thực phẩm quả thật chính là cứu người khỏi lửa bỏng, vậy nên anh đã rất nhiệt tình chia sẻ phương pháp của mình.

Sau đó, người đàn ông đưa đứa bé cho vợ và đi theo Dịch Huyền đi tìm Tam Bảo.

Tam Tam nhìn người đàn ông và Dịch Huyền đang kẹp anh trai mình ở giữa, đứng bên chuồng cừu thì thầm gì đó, nhíu mày hỏi nhỏ Hà Điền: “Họ đang nói về cái gì vậy?”

Hà Điền nghĩ đến số ruột cừu đang chờ phơi khô ở nhà, đỏ mặt nói: “Chắc là cũng muốn mua một con cừu.”

Một lúc sau, người đàn ông cao lớn xách theo gói lá tre chào tạm biệt mọi người, trước khi đi còn vỗ vai Dịch Huyền: “Dịch Huyền, cậu đừng lo, ngày 1 tháng 6 tôi nhất định sẽ đến dưới núi nhà cậu. Đến lúc đó nhớ ra bờ sông đón tôi đấy!” Sau đó vỗ vỗ vai Tam Bảo: “Anh Tam Bảo, đến lúc đó tôi sẽ đến nhà của anh trước, chúng ta cùng nhau đi.”

Trên đường đi tìm Tam Bảo, Dịch Huyền nói với người đàn ông rằng anh sẽ xây một ngôi nhà mới, người đàn ông ngay lập tức chủ động gia nhập. Nhà của anh ấy ở vùng đồng bằng phía hạ lưu của làng, muốn đến đây phải chèo thuyền ngược dòng nước mất ba bốn tiếng đồng hồ. Nói cách khác, anh ấy sẽ phải mất hai ngày mới đến được nhà của Dịch Huyền và Hà Điền. Những gì phía Dịch Huyền có thể cung cấp đó là trả công một con chồn cho một ngày làm việc. Muốn nhiều hơn nữa, bọn họ không thể.

Dịch Huyền giải thích tình hình cho anh ấy, người đàn ông xua tay: “Chuyện nhỏ. Chú nói với tôi mấy cái này mới là chuyện lớn đó! Vợ tôi mà biết thì cũng sẽ vậy thôi. Dùng biện pháp mà chú chỉ, sau này chúng tôi cũng thuận tiện hơn rất nhiều, vợ tôi cũng sẽ muốn cảm ơn hai người. Lần này chờ vợ tôi sinh xong, dù là trai hay gái cũng sẽ nghỉ ngơi hai ba năm rồi lại tính tiếp. Chú không biết đâu, đàn bà sinh con bị ảnh hưởng nhiều lắm. Vợ tôi trước đây tóc rất dài, vừa đen vừa bóng. Giờ sinh con xong, tóc rụng đến mức trông thấy cả da đầu. Vừa mới dưỡng không bao lâu thì giờ lại mang bầu tiếp. Vì chuyện này mà cả hai chúng tôi cũng đều không thoải mái. Giờ thì có cái này, coi như được cứu rồi. Hà hà hà!”

Người đàn ông tạm biệt rồi chạy trở lại chợ để mua cừu.

Dịch Huyền đưa ra ý tưởng với Tam Bảo, đề nghị anh ấy bắt đầu kinh doanh ruột cừu. Có lẽ sẽ kiếm được một khoản lợi nhuận khác nếu đem nó bán ở chợ mùa thu.

Lần này Dịch Huyền đi chợ cũng không phải về tay không, mà mua mấy thứ linh tinh này nọ.

Trên đường về nhà Hà Điền và Dịch Huyền nhìn thấy một vài tổ chim, nhưng họ không dừng lại để nhặt trứng.

Sau đầu mùa xuân, vịt rất tích cực đẻ trứng, một ngày tám con vịt đẻ đến mười quả.

Trứng ở nhà còn ăn không hết, nhặt thêm về để làm gì?

Sau khi đọc Bách khoa toàn thư về chăn nuôi gà, họ nhận ra rằng gà và vịt không đẻ trứng vào mùa đông khi thời gian nắng ngắn, nhưng nếu được chiếu sáng nhân tạo, chúng vẫn sẽ đẻ.

Hà Điền và Dịch Huyền đặt một cái lò sắt trong chuồng là vì sợ vịt bị chết cóng, nhưng nhờ bếp sắt phát sáng cả ngày lẫn đêm nên lần này vịt tăng gia sản xuất là nhờ vào tình huống bất ngờ này.

Suốt cả chặng đường không ngừng không nghỉ, về đến nhà mới ba bốn giờ chiều.

Trước khi rời đi, Tam Tam đã đổ cho Hà Điền hai ống sữa cừu đầy, về đến nhà, Hà Điền và Dịch Huyền dọn máy trộn bê tông ra, thay bằng thùng gỗ đựng thức ăn, nấu một ống tre đựng sữa dê rồi đổ vào thùng, phủ một tấm vải gạc lên trên, sau đó để Gạo kéo trộn sữa lên. Trộn xong rồi thì sữa sẽ trở thành bơ! Ống sữa cừu còn lại thì cất tạm ở trong hầm.

Hai người đem muối, đường, gia vị mua được đi cất hết, sau đó mở tấm vải dầu ra, đo kích thước, lại tìm trong kho vật liệu gỗ vài cây tre, rồi đứng ở hiên nhà cắt tấm vải dầu ra. Họ muốn làm hai tấm mành vải dầu để che trên rạp gỗ nhà kính.

Đầu tiên cắt tấm vải dầu theo chiều cao của tường và chiều dài gấp đôi chiều dài của đỉnh nghiêng, ở giữa may một nếp gấp rộng hai cm, cắm cọc tre vào, sau đó cắt dọc thành ba miếng, đo từ giữa ra hai bên, cứ 50 cm thì tạo một nếp gấp và xỏ cọc tre vào, sau khi đóng mép, khâu bốn vòng tre dưới mỗi nếp gấp, sau đó dùng dây thừng to luồn qua vòng tre trên cùng, thắt nút để cố định rồi luồn vào cây tre tiếp theo. Cứ làm như vậy cho đến cây trên cùng nhất, khi kéo dây, mành sẽ được gấp lại nhiều đoạn, khi muốn thông gió thì cứ kéo lên và cột dây vào rạp là được. Cách làm này cũng giống như mành rơm treo trên rạp gỗ bây giờ, nhưng vải dầu màu trắng so với mành rơm thì sáng hơn, ban ngày cũng không cần kéo mành lên.

Về phần mái nhà hình tam giác ở hai bên rạp gỗ, Hà Điền và Dịch Huyền trải tấm vải dầu trên mặt đất, cắt hai hình tứ giác theo kích thước rồi cắt thêm bốn hình tam giác nữa, lấy cái thùng sắt nhỏ đựng keo bong bóng cá ra rồi đun cho nóng chảy, thoa keo, dán các mảnh gỗ lên rạp, sau đó đóng đinh thêm một lớp tre cho chắc.

Hai bên rạp gỗ cũng đã được phủ rèm che lên, sau khi tất cả đều được cột chặt lại, rạp gỗ lại trở thành một không gian kín, Hà Điền và Dịch Huyền đứng bên trong cảm nhận một lúc.

Lúc này, mặt trời đã sớm lặn xuống núi, bầu trời thì chuyển sang màu xanh xám nên tạm thời không nhìn thấy được cường độ ánh sáng của nhà kính mới, cả hai nhìn nhau cười, cất công cụ trở về nhà chuẩn bị cơm tối.

Nhìn Gạo thì thấy anh chàng này đã ngừng lại không chịu đi nữa, Hà Điền gỡ vải gạc ra, vì trời nhá nhem tối nên không nhìn rõ được bơ trong thùng đã như thế nào rồi.

Cô xách cái thùng về nhà, lấy một cái chậu đất, đặt một cái rây tre và gạc lên, lọc lấy phần bơ còn chưa thành hình trong sữa.

Lần này, sau khi vắt hết độ ẩm trong bơ, cô cho bơ vào hộp tre mà họ dùng để làm đậu hũ, dùng gạc đậy lại, ấn một viên đá lớn lên rồi đặt lên hai thanh gỗ gác ở trên chậu gốm để có thể bài trừ nước sữa nhiều hơn.

Khi làm đậu hũ, chất cặn sau khi tách sữa đậu nành có thể dùng để làm đậu hũ, còn váng sữa và sữa đặc trong sữa cừu có thể dùng để làm món gì?

Hà Điền đổ váng sữa và sữa đặc còn sót lại từ quá trình làm phô mai và bơ vào các hũ thủy tinh đậy kín rồi cất tạm trong hầm.

Bữa tối do Dịch Huyền làm.

Sau hai ngày bôn ba đi tới đi lui, anh cảm thấy cần phải ăn cái gì đó ngon một chút. Vì vậy, anh không ngần ngại bắt tay vào nấu nướng.

Đầu tiên anh nấu một nồi cháo khoai lang. Khoai lang gọt vỏ, cắt miếng vừa ăn, cho vào nồi đất cùng gạo, thêm nước, nấu từ từ.

Khi cháo đang nấu, anh dùng phần sữa đặc còn sót lại khi làm bơ để nhào bột, không hề thêm một giọt nước nào cả, bột sau khi nhào xong thì da sáng bóng, ngửi được mùi thơm của sữa. Để một lúc cho bột dậy rồi cắt một miếng bơ có kích thước tương đương với miếng bột, khi thấy bột hơi mềm nhưng khi bên trong vẫn còn cứng thì dùng cây lăn cán dẹt miếng bột thành hình chữ nhật, cho bơ vào miếng bột rồi cán mỏng, gấp miếng bột lại, cán mỏng rồi lại gập đôi, sau vài lần thì để bột sang một bên để cho bột nghỉ.

Thời gian để bột thư giãn không nên quá lâu. Chỉ cần mười phút là được. Cắt thành những viên nhỏ, kéo rồi cuộn lại sau đó cho vào khay nướng. Sau khi nướng khoảng mười phút, mùi thơm bắt đầu thoảng qua mũi là có thể lấy bánh ra khỏi lò.

Lúc này bột đã thành một cái bánh nhỏ hình xoắn ốc, bề mặt có màu vàng vàng, từng lớp từng lớp giòn xốp.

Tiếp theo sẽ nấu món chính.

Con gà rừng mà hôm qua đã bắt được trên đường đi chợ phiên đã được vặt lông và làm sạch, Dịch Huyền chặt làm đôi, lấy phần ức gà băm nhuyễn, sau đó lấy một miếng đậu hũ đã làm trước đó dùng tay trực tiếp bóp nhuyễn luôn, cho gà đã bằm nhuyễn vào, thêm muối, đường vừa ăn rồi đập trứng vào khuấy đều thành hỗn hợp đặc sệt.

Anh lấy một củ khoai tây lớn, gọt vỏ rồi cắt thành sợi, ớt đỏ ớt xanh anh cũng cắt sợi luôn.

Cháo đã chín, nhấc qua một bên, tiếp đó bắc chảo lên bếp, đổ một lớp mỡ ngỗng vào chảo. Lấy một chút đậu hũ thịt gà vo thành viên sau đó lăn lên ớt và khoai tây thái sợi một lượt, trên viên thịt liền dính một lớp rau củ đủ màu sắc, bỏ vào chảo chiên từ từ. Sau khi cho hết viên thịt vào chảo, rưới một muôi lớn nước vào, đậy nắp rồi nấu khoảng vài phút. Chờ cho đến khi nước cạn là có thể ăn được.

Lúc ăn cơm, Hà Điền tỏ ra hài lòng với món cháo khoai lang và bánh hình xoắn ốc vàng xốp có độ ngọt vừa phải kia, còn món chính thì… cũng coi như là khích lệ.

“Thật sự ý tưởng này của anh khá hay. Nhưng nếu nấu thịt viên thì anh nên chiên ngập dầu ấy, vậy thì rau củ sẽ không dính vào nồi.”

Dịch Huyền mím nhẹ cái miệng nho nhỏ của mình: “Tại anh sợ nhiều dầu mỡ quá thôi.” Món bánh xoắn ốc vàng vốn đã thơm và béo ngậy rồi, nếu món chính lại chiên nữa thì sẽ quá ngấy.

Món chính của anh lúc bày ra, mười viên thì đã có đến tám viên có bề ngoài không đẹp rồi, sợi khoai tây bị dính vào chảo.

Nhưng anh lại lập tức vui vẻ trở lại ngay, cầm một cái bánh xoắn ốc màu vàng lên chiêm ngưỡng: “Chắc là anh có thiên phú làm bánh hay sao ấy? Mới làm lần đầu mà đã thành công rồi này!”
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 106: Gà rừng xào măng tươi


Sau khi từ chợ phiên trở về, liên tiếp mấy ngày nay thời tiết rất tốt.

Đất ở ruộng rau và ruộng kê cũng đã trở nên mềm, có thể bắt đầu gieo hạt được rồi.

Hà Điền và Dịch Huyền lấy chiếc vại đất đựng hạt từ trong hầm ra, đem những hạt nhỏ đã nảy mầm cho vào một chiếc hộp gỗ, nhấc đến bên mép đất, trước tiên trải một lớp cỏ, sau đó cứ cách một khoảng thì khoét một lỗ nhỏ, dùng ngón trỏ chọc một lỗ trên đất lộ ra, cho hạt vào và phủ một lớp đất mỏng lên.

Củ khoai tây cũng đã có thể trồng được, đeo lưỡi cày vào cho Gạo để nó đi mấy vòng trong đất, sau khi xới đi xới lại nhiều lần, đất đã được làm mới, lớp phân bón mùa thu năm ngoái được chôn bên dưới làm cho đất màu mỡ, lớp tuyết trắng bao phủ cả mùa đông thì hóa thành nước, tạo độ ẩm cho đất.

Tiếp đó, họ lấy hết ống tre, nứa dùng để tưới tiêu cất ở trong kho ra, kiểm tra rồi dựng lại.

Ruộng bí đỏ trên sườn đồi cũng phải cày lên lại.

Mảnh đất đó là sườn dốc, năm ngoái trồng bí, họ chỉ rải hạt lung tung mặc kệ hên xui, lúc nhớ đến mới ra tưới nước, nhưng không ngờ bí lại phát triển tốt đến vậy. Năm nay sẽ dồn sức vào nó nhiều hơn.

Mảnh đất trồng bí đỏ vô cùng ngổn ngang, trên mặt đất có rất nhiều đá, nguyên nhân là do nó nằm ở dưới sườn núi, cành lá khô theo nước tuyết tan chảy lăn từ rừng trên núi xuống, dồn thành một lớp dày.

Hà Điền và Dịch Huyền dọn sạch những cành khô và lá mục này để ở một góc, sau đó dùng số đá nhặt từ trong đất chất quanh đống lá mục đó rồi dùng một tấm mành tre mục nát phủ lên, dằn vài viên đá lên trên.

Kế tiếp lại phải nhờ đến Gạo, cho nó cày đất. Dịch Huyền xới đất lên một lần, xúc đầy một giỏ phân bón mà năm ngoái họ đã đổ ở góc vườn rau về, rắc xuống đất rồi xới lại một lần nữa.

Hà Điền lôi mấy cây tre về, đứng ngay cạnh đất trồng chẻ ra, đặt vào mép suối, đắp kênh dẫn dòng để đem nước từ suối núi về tưới cho đất trồng.

Cày bừa vụ xuân là một giai đoạn rất bận rộn.

Đúng là năm nay Hà Điền và Dịch Huyền vô cùng bận rộn.

Cả hai dọn dẹp đất trồng bí xong, lại vào rừng tre chặt tre.

Trong nhà có rất nhiều động vật nhỏ, chúng không thể không có sân bãi để hoạt động, cũng không thể để cho chúng xông vào đất mới trồng rau tàn phá được, nên họ muốn làm rào chắn trong rừng, để hai con cừu đi lại tự do hơn. Lại dùng đến phương pháp nuôi vịt, thỏ thả rong năm ngoái, là làm thêm vài hàng rào bằng tre, nứa cột lại với nhau tạo thành một cái hàng rào siêu lớn, rồi cho gà vịt, thỏ vào chung luôn.

Vào rừng chặt tre đương nhiên không thể chỉ mang tre về không mà còn phải hái một ít nấm tre, đào một ít măng và hái một ít lá tre tươi nữa.

Trở về từ rừng tre với đủ thứ đồ, trời đã hơn trưa một chút, trước khi đi Hà Điền đã nấu sẵn một nồi cơm, lúc Dịch Huyền đang chẻ tre ở khoảng đất trống trước nhà gỗ, cô lột hai cây măng tươi và lấy từ hầm ra nửa con gà rừng, ngâm nở vài cây nấm hương, vài trái ớt đỏ cắt sợi, măng và gà rừng tươi cắt miếng vừa ăn, cho mỡ ngỗng vào nồi, phi thơm lát gừng, tỏi rừng, thêm một muỗng hoa tiêu, xào lên, cho nước vào nấu một lúc, món gà rừng xào măng tươi thơm lừng đã hoàn tất.

Gạo hôm nay ăn là gạo mới mua. Năm ngoái Dịch Huyền mua nhiều gạo quá, đến giờ vẫn còn dư một túi lớn, năm nay lại mua gạo mới nữa. Nhưng nói gì thì nói, dù sao thì gạo cũng đã cũ rồi, trước hết ăn thử gạo thu hoạch hồi mùa thu năm ngoái cái đã.

Lúc nấu cơm Hà Điền cũng cho thêm một củ khoai lang vào nấu cùng, khoai lang được cắt thành từng miếng vuông, xếp chỉnh tề ngang năm dọc năm, trên mỗi miếng khoai lang là một hạt đậu đỏ ngọt.

Cơm khi chín nhìn rất ngon, vị ngọt của khoai thấm vào cơm càng ngọt ngào hơn nữa, những miếng khoai vàng cam và hạt cơm trắng sáng có màu sắc tương phản rõ rệt, làm tăng cảm giác ngon miệng hơn. Măng tươi, gà rừng, ớt đỏ đều là những nguyên liệu tươi ngon nhất, hương vị phải nói là rất tự nhiên.

Sau bữa cơm trưa ngon tuyệt, lại chợp mắt một lúc, Hà Điền và Dịch Huyền ôm tre đã chẻ và mang theo một giỏ dây thừng thô đến khu rừng bên kia suối.

Họ dự định khoanh một khu đất trong rừng để cừu có thể tự do đi lại. Bắt đầu từ sườn núi, đi bộ khoảng mười lăm mét vào rừng, chọn hai cây, cột hai dải tre rộng bằng lòng bàn tay vào gốc cây, chiều cao cách mặt đất khoảng 1,5m, độ thấp cách mặt đất khoảng 40 cm. Sau khi cột chặt, họ cột vài hình chữ X vào giữa hai dải tre với những dải tre hẹp hơn để cố định.

Sau khi cột chắc một đoạn hàng rào, tìm tiếp một cái cây phù hợp với khoảng cách và gần như có thể nằm trên một đường thẳng, làm thêm một hàng rào khác theo cách tương tự.

Rừng ven suối núi là rừng tự nhiên, cây cối không mọc thành hàng dài, gọi nó là suối núi, cũng vì địa thế chảy xuôi, chính giữa hơi chút uốn lượn, nên hàng rào do Hà Điền và Dịch Huyền làm ra cũng là hình đa giác, một bên là suối núi, một bên là ao nước, nhìn qua trông giống như một hình vuông có cạnh dài khoảng mười lăm mét.

Lúc hàng rào hoàn thành thì đã gần bốn giờ.

Mặt trời bắt đầu khuất về phía Tây, rừng cây trở nên lạnh lẽo, Dịch Huyền lần lượt dắt hai con cừu bị trói trong chuồng đến mép suối. Cừu con kêu be be vài tiếng, có vẻ như rất thích môi trường mới này, cúi đầu gặm cỏ, đi đi lại lại giữa những tán cây.

Để chúng di chuyển một lúc, trời tối vẫn phải đưa chúng về lại chuồng.

Mặc dù trời đã gần tối nhưng công việc của Hà Điền và Dịch Huyền vẫn chưa kết thúc.

Họ lắp động cơ vào thuyền, mang theo Lúa Mì đi đến rừng dâu tằm.

Những khóm mâm xôi, việt quất xung quanh rừng dâu vừa mới mọc lá xanh, chớm nở vài bông hoa nhỏ với nhụy vàng trắng, còn lâu mới kết thành quả, nhưng đàn ong thì lại rất chịu khó bay tới bay lui lượn quanh lùm cây.

Trên những cành dâu đều là những chiếc lá lớn nhỏ, vẫn chưa được tươi tốt cho lắm, giữa đám lá xanh là những nụ lá vàng nhạt ẩn hiện.

Hà Điền và Dịch Huyền đã đến được dưới cây dâu tằm, họ cột một cái giỏ tre nhỏ quanh eo, bắt đầu hái lá dâu.

Thứ này không phải là thức ăn cho họ, mà là thức ăn cho những con tằm sắp nở.

Năm ngoái, khi Hà Điền thu thập kén tằm hoang, cô đã chọn ra những kén lớn và đẹp nhất, để chúng phát triển thành bướm tằm và đẻ trứng.

Đây đều là những trò mà cô đã chơi khi còn nhỏ, làm rất điêu luyện, trước khi sâu tằm phá nhộng, cô trải một lớp giấy lên một cái nia tre lớn, tốt nhất nên đặt những nia tre đó trong một không gian tương đối kín. Làm vậy thì mấy con bướm tằm mới không bị phân tâm, lao vào tò te tí te này nọ sau đó đẻ nhiều trứng hơn!

Sau khi tằm giao phối, tằm đực ngủm, tằm cái sau khi đẻ hàng trăm trứng cũng ngủm luôn. Hà Điền chồng mấy tờ giấy dính đầy trứng tằm vào một chiếc hộp gỗ nhỏ rồi cho vào rương nơi cô để chăn bông và quần áo trên gác.

Sau khi xuân về hoa nở, lấy giấy có dính trứng tằm ra, xé thành từng miếng lớn bằng lòng bàn tay, cho vào một cái hộp sắt nhỏ, xâu lại bằng dây, treo quanh cổ như một sợi dây chuyền, để sát với cơ thể. Trứng tằm sau khi cảm nhận được nhiệt độ cơ thể không bị gián đoạn sẽ dần nở. Những quả trứng to bằng hạt kê chuyển từ màu trắng vàng sang màu xám nhạt rồi chuyển sang màu đen, sau đó, những con tằm giống nhỏ xíu chui ra khỏi trứng.

Hôm nay vào buổi trưa, lúc nghỉ ngơi Hà Điền mở hộp sắt ra xem thì hét lên kinh ngạc, Dịch Huyền nhìn thấy những con bọ đen nhỏ này thì nhíu mày nhếch miệng, cái tay đang gắp thịt muối cũng đơ luôn.

Kiến tằm nhỏ vừa chui ra còn rất yếu ớt, Hà Điền cho chúng vào một cái hộp nhỏ bằng tre có lót một lớp bông dưới đáy hộp, trên hộp lại quấn thêm một lớp vải gạc, chúng vẫn được đặt trên gác, bên cạnh gối nằm của cô.

Dịch Huyền khá phản đối với sự sắp xếp này: “Em không thể đặt chúng ở bên cạnh bếp sao?”

“Đợi chúng lớn thêm một tí nữa đi!” Hà Điền nhìn mấy con bọ nhỏ này, nở nụ cười yêu thương của một người mẹ giống như khi Dịch Huyền nhìn đám thỏ con: “Phải nhanh chóng chuẩn bị đồ ăn cho chúng mới được.”

Buổi sáng có sương trên lá dâu, kiến tằm con vừa nở ra không thể ăn được, chỉ có thể cho chúng ăn thức ăn tươi và khô hoàn toàn.

Hái lá dâu xong, Hà Điền về nhà, trèo thẳng lên gác, xé lá dâu thành từng miếng nhỏ rồi nhẹ nhàng đặt bên cạnh kiến tằm.

Lúc này con tằm chỉ dài hai ba mm, to chưa đến một mm, trông giống như những con kiến nhỏ nên được gọi là kiến tằm.

Nhưng đừng có thấy chúng nhỏ xíu mà lầm, sức ăn của chúng không hề nhỏ chút nào, có lá dâu là chúng bắt đầu ăn ngay.

Hơn chục con bọ đen nhỏ tập trung trên mép lá dâu, mép lá nhanh chóng bị chúng gặm thành một lỗ nhỏ.

Đêm nay trước khi đi ngủ, Hà Điền bỏ thêm hai mảnh giấy tằm vào hộp sắt, cũng chuẩn bị cho Dịch Huyền một cái luôn.

Cô vừa sờ loạn vào mắt, đuôi và râu rồng, vừa nhẹ nhàng cắn nhẹ lên vành tai mỏng của Dịch Huyền, dụ dỗ anh: “Anh thử ấp trứng một lần đi! Vài ngày nữa thời tiết sẽ ấm hơn, không cần anh ấp nữa!”

Chờ Dịch Huyền từ trong hưng phấn mơ màng tỉnh lại, trên cổ anh đã đeo một chiếc hộp sắt đựng trứng tằm.

Thôi rồi, bị mỹ nhân kế rồi!

Mùa xuân thật sự là một mùa bận rộn.

Trồng trọt, chăn nuôi, săn bắn, bảo quản thực phẩm bằng nhiều cách khác nhau, đốn cây, chuẩn bị củi…

Để xây một căn nhà mới, Hà Điền và Dịch Huyền phải làm thêm rất nhiều việc.

Sau khi mua máy cưa về, họ bắt đầu tích cực thử nghiệm.

Tấm mộng và lỗ mộng được làm lại lần thứ hai rất gần với khái niệm “bộ phận tiêu chuẩn”. Sau khi nhìn thấy phương pháp làm việc của hai vợ chồng trong rạp hàng cửa kính, Hà Điền đã cải tiến lại bản vẽ. Thiết kế của các tấm bên không thay đổi, các tấm chèn dùng để cố định hai tấm bên được thay đổi hình dạng giống nhau, tốc độ làm cũng nhanh hơn.

Để sử dụng máy cưa thuận tiện hơn, Hà Điền và Dịch Huyền đã đặc biệt chế tạo một chiếc máy tiện.

Máy tiện này được làm bằng một khúc gỗ to. Sau khi cưa mặt phẳng, sử dụng hai khúc gỗ to làm đệm, sau đó đục một rãnh ở bên trái và bên phải của máy tiện, có thể đem cưa và máy cưa cố định trên cả hai mặt của máy tiện.

Đầu tiên là dựa theo yêu cầu của tấm mà cắt ra tấm gỗ có kích thước cần dùng, sau đó cố định máy cưa để kiểm soát độ cắt sâu của răng cưa, đồng thời khởi động hai cái cưa, đặt tấm gỗ lên máy tiện và đẩy từ từ, tấm gỗ bị đẩy qua lưỡi cưa, hai bên cũng sẽ bị cắt ra, tạo thành lỗ khảm sử dụng cho mối ghép mộng.

Sau đó, lại dựa theo tiêu chuẩn mà cắt tấm ván dài thành nhiều miếng, có thể tiết kiệm được nhiều thời gian và công sức.

Nếu một tấm ván dài có chiều dài năm mét, chỉ cần mất mười phút là có thể tạo ra mười tấm ván gỗ tiêu chuẩn làm tấm bên. Còn nếu cần miếng chèn, thì chỉ cần dựa theo chiều dài mà cắt là được.

Sau khi các tấm gỗ tiêu chuẩn được cắt xong, thay thế đĩa răng cưa và điều chỉnh rôto cho máy cưa để cắt các rãnh vuông. Nó cũng được cố định trên máy tiện, sau đó các tấm gỗ được đẩy lên trên máy tiện để cắt các lỗ khảm cố định cần thiết cho hai tấm gỗ tiêu chuẩn.

Tiếp theo, chỉ cần hai tấm bên được đặt song song và sau đó gõ miếng chèn vào rãnh giữa hai tấm bên, một tấm có cấu trúc mộng và lỗ mộng đã hoàn thành.

Khi làm tường, dùng bốn cây gỗ thô tròn làm khung, sau đó chia tường thành nhiều ô lưới và gắn từng tấm có kết cấu tiêu chuẩn vào từng phần, vậy là xong.

Mỗi lần đặt từng phần lên, họ đổ chất độn vào, hoàn thành lớp cách nhiệt của tường.

Vấn đề chất độn đổ vào cũng được giải quyết, khi xẻ ván văng ra rất nhiều mùn cưa, họ gom lại, trộn chung với lông vũ, cỏ khô và cây gai dầu dại.

Trong lúc làm tấm ngăn, Hà Điền và Dịch Huyền đã tiến hành một số thí nghiệm, và quy mô của mỗi lần thí nghiệm càng lúc càng được mở rộng hơn. Ban đầu, họ chỉ xây một bức tường rộng khoảng hai mét vuông, sau đó là sáu mét vuông, và cuối cùng thì xây một bức tường dài năm mét, cao sáu mét, tính cả khung gỗ và những vật liệu được thêm vào.

Cuộc thử nghiệm rất thành công. Hai người cùng nhau xây bức tường này, từ lúc dựng khung gỗ, lần lượt dùng ván gỗ che bức tường rỗng, đổ chất độn vào tường, cuối cùng là lấp kín, toàn bộ không đến hai tiếng đồng hồ!

Lần này, lòng tin của hai người tăng lên rất nhiều.

Hà Điền rất vui, cô ôm Dịch Huyền cười, hét lên: “Chúng ta làm được rồi!”

Bề ngoài Dịch Huyền rất bình tĩnh, chỉ nở một nụ cười nhạt, nhưng sự ngây ngất trong lòng anh lại vượt xa cả Hà Điền. Ban đầu anh nghĩ rằng công trình do mình thiết kế quá lớn. Nếu đến cuối hè mà có thể đào được phần móng và dựng giàn giáo lên thì cũng không đến nỗi, nếu lắp luôn được khung gỗ thì quá tốt, hoàn toàn không ngờ đến phần tường tốn nhiều thời gian nhất lại có thể rút ngắn giờ làm đến mức này.

Anh kiềm chế sự hưng phấn của mình, ôm vai của Hà Điền vỗ nhẹ: “Ừ. Chúng ta làm được rồi.”
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 107: Tôm xiên nướng


Mùa xuân là mùa tràn đầy sức sống và hy vọng.

Hà Điền tin vào điều này.

Giữa tháng năm, trời đổ mấy lần mưa, nhưng nhiệt độ lại tăng lên thay vì giảm xuống. Mưa xuân liên tục đã xúc tác đến tốc độ phát triển của mầm hạt, nhiều loại cây con trong đất trồng đều cao lên sau mỗi trận mưa.

Khoai tây, cà rốt, củ cải trắng, bắp cải, cải thảo, cà chua, dưa leo, mướp, đậu Hà Lan… đua nhau mọc lên, nhìn từ xa, những đám rau là những sắc xanh khác nhau và tràn đầy sức sống.

Hạt kê cũng thuận lợi nảy mầm. Hà Điền dự định trong tuần này sẽ trồng hai loại khoai lang.

Điều khiến cô vui nhất là một số hạt sen được cô đặt trên giá gỗ để ươm cây giống cuối cùng cũng chui ra khỏi bùn với những chiếc đầu nhỏ. Khi chèo thuyền ra các con sông đầm lầy của các nhánh sông hạ lưu để nâng lồng cá, thì những hạt sen trồng trong đầm, ao mấy tuần trước cũng đã nảy mầm, những gốc sen trồng trong vũng, hố bùn ở nhà cũng mọc lên những ngó sen nhỏ mới.

Nếu như mọi việc suôn sẻ, mùa hè hoặc mùa thu năm nay, họ có thể thu hoạch những củ sen gần nhà!

Hà Điền và Dịch Huyền vui mừng chuyển những chồi nhỏ từ hạt sen vào hai vạc nước nhỏ.

Những hạt sen này được trồng trong những chiếc sọt, rổ nhỏ đan bằng cỏ khô. Khi dời chỗ trồng, Dịch Huyền lại đào một ít bùn từ ao ở nhà lên, tạm đổ trước nửa vạc bùn, để trong bóng cây râm mát vài ngày rồi mới đem rổ nhỏ ươm những mầm hạt sen bỏ vào.

Sau khi cây sen phát triển mạnh hơn, anh sẽ cho thêm nước vào vạc và thả vài con cá nhỏ vào đó.

Đợi đến mùa hè, hoa sen trong vạc nở ra, còn những con cá nhỏ thì ẩn mình trong lá sen, chỉ nghĩ thôi mà đã thấy thật đẹp.

Sau khi dựng thành công toàn bộ bức tường bằng gỗ, Hà Điền và Dịch Huyền dành thời gian mỗi ngày để cắt gỗ thành những miếng tiêu chuẩn. Đồng thời, họ đã làm hàng chục viên gạch bê tông gai dầu và dựng một bức tường bằng phương pháp thử tương tự, khá lý tưởng, họ làm thêm một vài khuôn gạch bê tông, tiếp tục đổ gạch bê tông gai dầu, và bắt đầu thu thập những cây tre có kích thước thích hợp.

Thời tiết ngày càng ấm áp, khi đã làm được hai trăm viên gạch bê tông gai dầu, Dịch Huyền và Hà Điền bắt đầu xây chuồng vịt bên cạnh ao nước.

Đầu tiên đào đất, đóng cọc gỗ, sau đó đào rãnh hình chữ nhật dài 2 m x 4 m trên mặt đất, rãnh sâu 30 cm, rộng 30 cm, làm móng chuồng vịt thì độ sâu này là đủ.

Sau đó, hai người chuyển những bao cát, tro núi lửa, vôi, đá nhỏ đựng trong thùng gỗ,… đến bãi đất trống này, dựng một cây cầu tạm bằng vài tấm gỗ dày trên lòng suối, đem máy trộn trục lăn và Gạo đến, trộn bê tông và đổ móng.

Lúc đổ móng, họ chia từng công đoạn ra làm. Dùng miếng gỗ lấp vào hai đầu rãnh rồi dựa theo khoảng cách giữa các lỗ trên hai viên gạch bê tông gai dầu mà đào một lỗ lớn hơn lỗ trên mặt đất một chút— ước chừng khoảng 40 cm. Những lỗ này tương đối sâu, mỗi lỗ sâu 60 cm, sau khi đào lỗ, họ đổ một ít xi măng và cắm các cọc tre vào.

Các cọc tre này đều được chọn lựa cẩn thận, đường kính khoảng 3 cm, được cưa thành các đoạn dài ba mét.

Tuy nhiên, cọc tre cắ.m vào hố sâu của móng chỉ dài chín mươi centimet, vừa bằng phẳng với mặt đất.

Sau khi cắm một hàng cọc tre, đổ khoảng mười centimet xi măng xuống rãnh, rồi đặt một chiếc lồng tre hình vuông dài mảnh mai làm bằng sáu cọc tre mỏng vào trong xi măng. Sau đó tiếp tục đổ xi măng cho đến khi bằng với mặt đất.

Đường kính của những cọc tre mỏng này khoảng hai centimet, có chúng, nền bê tông trở nên chắc chắn hơn.

Trước thời kỳ giá lạnh khắc nghiệt, các tòa nhà ở nhiều thành phố đều sử dụng phương pháp tương tự, nhưng trong bê tông là một cái lồng làm bằng thép và dây sắt. Loại tòa nhà này là một tòa nhà bê tông cốt thép.

Tre có độ dẻo dai bền bỉ, tuy không bằng thép nhưng nhà mà Hà Điền xây không phải nhà chọc trời, việc thay thép bằng tre là hoàn toàn khả thi. Tất nhiên, họ đã thử nghiệm trước khi làm như vậy.

Nền được đổ, sau khi đông cứng thì có thể đắp gạch.

Hà Điền và Dịch Huyền đã thử nhiều lần, lúc này họ đã rất thành thạo khi xây gạch, cứ mỗi một lớp họ lại cho chất độn giữ ấm vào các viên gạch rỗng và trát xi măng lên xung quanh viền của hai đầu viên gạch, sau đó cắm cọc tre vào các lỗ trong viên gạch. Bởi vì tất cả các viên gạch đều có cùng kích thước nên khi xây tường họ có thể kiểm tra xem các lỗ giữa hai lớp gạch có khớp với nhau không, cọc tre cắ.m vào có thuận lợi không, vì vậy sau khi hoàn thành một bức tường, tất cả đều được cắt sẵn. Từng chiếc cọc tre xuyên qua lỗ trên viên gạch một cách êm ái, lộ ra một chút ở trên cùng.

Trong quá trình đóng cọc tre này, nếu để bệnh nhân bị chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế nhìn thấy nhất định là sẽ cảm thấy khá dễ chịu.

Những chiếc cọc tre được đặt, đổ xi măng và cố định, bức tường được ốp bằng “gạch bê tông hữu cơ” đã trở nên kiên cố.

Bức tường nơi cửa còn lại được xây dựng theo một cách hơi khác.

Khung cửa làm sẵn gồm bốn trụ gỗ vuông vức sử dụng kết cấu mộng, bề ngang của các trụ gỗ bằng ba lỗ vuông bên trong ốp gạch tường. Sau khi ốp lớp gạch đầu tiên, đầu tiên đặt hai trụ khung cửa dọc nơi định đặt cửa, đặt vào các lỗ vuông của gạch tường, gõ chắc chắn, đổ xi măng, sau đó lấy hai trụ ngang dưới đáy khung cửa ra, dùng vồ đập hết cỡ rồi gõ vào trụ ngang ở đầu khung cửa.

Sau đó, gạch được lát lên tường từ hai bên đến cửa, khi gạch đến khung cửa thì có thể đập bỏ phần thừa ra khỏi mép lỗ vuông, sau đó đổ xi măng vào chỗ trống. Vì các kích thước đã được tính toán nên cột ngang ở đầu khung cửa và mặt gạch nằm trên một đường thẳng.

Hà Điền cũng sợ nó không chắc chắn nên đã khoan lỗ đóng cọc tre ở những cột ngang ở đầu khung cửa, những viên gạch bên trên cũng có cọc tre cố định.

Vì là chuồng vịt nên không có cửa sổ, cả bốn bức tường chỉ chừa một lỗ gạch để thông gió.

Tất cả bốn bức tường đã làm xong, tiếp đó có thể đặt các dầm.

Dầm được làm bằng bốn khúc gỗ tròn tiết diện vuông, đặt vào các khe dành riêng giữa các viên gạch rồi cố định bằng xi măng.

Chuồng vịt không lớn, Hà Điền và Dịch Huyền chỉ mất một buổi chiều để xây bốn bức tường và dựng mái.

Khung tam giác dùng làm mái nhà cũng được làm sẵn, làm bằng gỗ dày ba centimet, rộng sáu centimet, vẫn có kết cấu mộng, có hình dạng “ô dù” rất truyền thống, ba cái được xếp thẳng hàng trên xà nhà. Các thanh xà đều đã được xẻ rãnh sẵn, khi khung mái đã được dựng lên, hai người đứng trên thang bên hai bức tường và dùng vồ lớn gõ vào, cố định khung.

Phần khung mái là phần tốn nhiều công sức nhất của toàn bộ công trình.

“Anh muốn có một cái cần cẩu ghê!” Lúc kéo khung gỗ lên, Dịch Huyền than thở.

Khi đặt khung gỗ đầu tiên lên, họ đã đánh giá thấp sự khó khăn của việc nâng khung gỗ lên ba mét, nhưng một khi các khớp mộng đã được đóng chặt, không thể mở chúng ra được, và họ không còn cách nào khác ngoài việc kiên trì làm tiếp. Đầu tiên họ dựng khung gỗ vào tường, sau đó hai người trèo lên xà nhà và dùng dây thừng kéo lên, nhanh chóng vòng sợi dây trên tay để thắt nút trên thanh xà.

Khi khung gỗ thứ hai được dựng lên, hai người đã có kinh nghiệm, đầu tiên Dịch Huyền trèo lên xà, cột một sợi dây vào xà, sau đó chầm chậm kéo khung gỗ hình chiếc ô được ghép từ năm thanh gỗ lên, Hà Điền cũng leo lên, đặt một tấm ván giữa các dầm, lắp khung gỗ vào, thế là xong.

Bận đến khi mặt trời nghiêng về phía Tây, hai người vừa mệt vừa đói, họ lấy một tấm vải dầu lớn che ở trên nóc nhà, cột chắc lại, công việc hôm nay tạm dừng.

Dịch Huyền đã sớm đoán được rằng chiều nay sẽ rất mệt, nhưng không ngờ lại mệt đến vậy.

Cũng may anh đã chuẩn bị kỹ càng, lúc trưa dùng rượu ngọt nhào với bột, sau khi nghỉ trưa nhào thành màn thầu, lúc này những chiếc màn thầu nhỏ trắng nõn trong lồng hấp đã phình lên, mập mạp, cho củi vào bếp lò nấu, hai mươi phút sau lấy những chiếc màn thầu hấp thơm lừng này ra, ăn trước một cái lấp đầy bao tử đã rồi tính sau.

Anh đổ nước nóng dùng để hấp màn thầu vào xô, xách đến nhà tắm nhỏ, đổ vào bồn rồi đậy nắp bồn lại để giữ ấm.

Sau đó, anh trở về nhà và lấy những xiên thịt đã được ướp qua đêm cất ở trong hầm ra.

Cách đây vài ngày, khi nhấc lồng cá lên, họ thu hoạch được rất nhiều tôm sông lớn cỡ lòng bàn tay, chúng được nhốt trong rọ tre hai ngày ở suối trên núi, sau khi nôn ra hết bùn cát, chúng bị lột vỏ và bỏ ruột, đầu và đuôi tôm vẫn còn. Cứ hai con hai con mà cắ.m vào thanh tre, tẩm muối đường gia vị, để trong một cái tô gốm lớn và ướp trong hầm.

Hà Điền làm một bếp nướng ở khoảng trống bên ngoài nhà tắm, cắm cành cây, đặt từng xiên tôm lên, quét một lớp mỡ rồi nhẹ nhàng xoay đều, một lúc sau, hương thơm tỏa ra.

Dịch Huyền đun một nồi nước khác rồi đổ vào bồn, cả hai nhảy vào bồn ngâm mình, ăn tôm nướng và uống một chút rượu gạo ngọt, cực kỳ thỏa mãn.

Hà Điền hiếm khi ngâm mình ngoại trừ mùa đông. Vào mùa lạnh, ngâm mình trong nước nóng một lúc sẽ rất thoải mái, nhưng khi trời ấm, tắm xong cô sẽ trèo ra ngay, nên đây vẫn là một trải nghiệm khá mới lạ đối với cô.

Khi sắc trời tối dần đi, đống lửa trên bãi đất trống vẫn từ từ cháy, gỗ phát ra âm thanh bong tróc nhẹ, và những tia lửa nhỏ bốc lên từng đợt, nổ tung rồi biến mất vào màn đêm sâu thẳm. Mặt trăng ló dạng, bóng của cây cối xung quanh cũng theo đó mà lớn dần lên trên mặt đất. Gió kéo đến, cành lá rung rinh, bóng của nó cũng lắc lư theo, ngọn lửa trong đống lửa cũng rung chuyển, b.ắn ra hàng loạt tia lửa nhỏ.

Dịch Huyền đặt hai bồn tắm cạnh nhau, thấy Hà Điền nhìn chằm chằm vào đống lửa, anh cười quấn lọn tóc ướt sau lưng cô vào đầu ngón trỏ của mình nghịch: “Này, đến hè sẽ còn thích hơn nữa. Em có thể nhìn thấy đom đóm, có đủ loại côn trùng nhỏ kêu, nếu như đặt bồn tắm bên ngoài, ngẩng đầu có thể thấy được ánh trăng, mà cúi xuống cũng có thể thấy.”

Hà Điền tưởng tượng ra cảnh tượng mà anh miêu tả, rất cám dỗ: “Giờ thì em đã đã hiểu tại sao anh lại muốn xây một nhà tắm xa hoa rồi.”

Dịch Huyền tiếp tục động viên cô: “Em cũng có thể xây một phòng tắm hơi! Vào mùa đông, chúng ta ngồi trong một phòng tắm hơi làm bằng gỗ thông. Giữa phòng là một bếp than được làm từ một phiến đá. Bên cạnh đặt một cái thùng nhỏ, dùng gáo bằng tre múc nước đổ lên phiến đá nóng — xì một tiếng, cả căn phòng tràn ngập hơi nước nóng, mọi lỗ chân lông đều được mở ra!”

“Anh nói sao giống với khi tắm trong suối nước nóng ghê! Trong thung lũng suối nước nóng cũng có những mạch nước phun như vậy, phát ra tiếng xì, tỏa ra hơi nước nóng hổi.”

“Còn thoải mái hơn suối nước nóng nhiều! Chúng ta cũng có thể xây một cái đình, làm bồn tắm và đặt ở giữa cái đình đó. Bồn tắm được làm kiểu chìm. Bếp lò được nối với đáy, đốt lửa lên, nước trong bồn luôn nóng. Chúng ta ngồi ở bên trong, ngâm nước nóng ấm áp, còn bên ngoài đình là những bông tuyết nhỏ lững lờ bay… “

“Có thể không ngâm khi trời có tuyết không? Tốn biết bao nhiêu là củi!”

“Như vậy mới gọi là xa hoa chứ! Ai cũng có thể làm như vậy thì còn gì là xa hoa nữa?” Miệng Dịch Huyền cong lên, tiếp tục mơ tưởng: “Nếu có thể uống rượu nữa, thì quá tốt.”

Hà Điền lắc đầu: “Quá xa hoa dâ.m đãng.”

Dịch Huyền cười toe toét thì thầm vào tai cô vài câu: “Như thế này mới gọi là xa hoa d.âm đãng.”

Hà Điền bụm một nhúm nước, mỉm cười hất vào mặt anh.

Hai người cười đùa trong chốc lát, Hà Điền hỏi anh: “Có bê tông, xây bồn tắm chìm không khó. Nhưng xây bồn tắm xong rồi, anh định xả nước ra ngoài như thế nào? Đến mùa đông dùng cách nào để chống rét? Dù có đậy mành cỏ lên giữ ấm thì cũng sẽ bị nứt thôi.”

Dịch Huyền vừa nghe là biết cô đã bị thuyết phục rồi, anh nắm lấy bàn tay nhỏ bé của Hà Điền, vỗ về: “Chúng mình thông minh tài giỏi như vậy, nhất định sẽ tìm ra cách!” Anh chỉ về phía khe suối: “Nếu lúc trước có người nói với em, chỉ cần vài tiếng là có thể xây xong một căn nhà nhỏ, em có tin không? Nhưng hôm nay cả hai chúng ta đã làm được! Đúng không nào?”

Nhắc đến việc này Hà Điền cảm thấy rất tự hào, từ trong bồn tắm chồm lên, ôm lấy vai Dịch Huyền hôn lên má anh: “Đúng!”

Chuồng vịt vốn không cần phải làm quá chi tiết, nhưng họ muốn thử quy trình xây dựng một căn nhà với khái niệm “các bộ phận tiêu chuẩn”.

Căn nhà này chỉ là một thử nghiệm cho ngôi nhà mới mà họ sắp xây.

Dưới ánh trăng, bóng của nhà tắm dựng bên ao nước đổ dài trên mặt đất, chỉ nhìn cái bóng thôi, trông không khác nhà gỗ là mấy.

Khe suối chảy róc rách.

Cách đó không xa là tiếng cười của Hà Điền và Dịch Huyền.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 108: Biến cố


Bốn bức tường bao đã làm xong, mái che và khung cửa cũng đã được lắp vào, kế tiếp, chỉ cần che phần đầu hồi nữa là xong việc.

Khi dùng gạch bê tông gai dầu để ốp bức tường đầu hồi, Hà Điền và Dịch Huyền vẫn sử dụng phương pháp tương tự, nhưng lần này họ khoan lỗ trên xà, cắm một cây cọc tre rồi xếp gạch lên. Ở những khoảng trống giữa hai cạnh của hình tam giác, họ cắt gạch thành từng miếng nhỏ theo các lỗ vuông bên trong rồi lấp vào, sau đó trám xi măng.

Đầu hồi làm theo cách này, trên thực tế trông vẫn còn hơi thô. Cả hai đã thảo luận và kết luận rằng họ không phải là những người thợ xây lành nghề, vấn đề tương tự có thể không quá lớn khi xây dựng một ngôi nhà bằng gỗ. Sau khi lắp sẵn dầm và mái cho nhà gỗ, các tấm cần thiết cho các góc của vách tường có thể được cắt trước.

Bây giờ, phải làm mái cho chuồng vịt xa hoa này.

Thẳng đến bước làm mái nhà, hai người vẫn chưa thống nhất được cách làm mái.

Hà Điền đề nghị cứ đóng đinh một lớp ván gỗ, sau đó phủ lên chúng một lớp bùn ấm trộn cỏ khô, lông vũ và rêu, rồi phủ tiếp một lớp lưới rơm đan. Sau khi rêu và cỏ mọc lại, mái rùa xanh sẽ mọc lên. Có thể chống thấm, không sợ mưa to, giống với mái nhà mà họ đang ở.

Nhưng Dịch Huyền thì lại không từ bỏ việc muốn sử dụng vật liệu mới.

Những gì anh nghĩ đó là, có thể làm gạch bê tông gai dầu, vậy thì cũng có thể làm được ngói bê tông gai dầu, hoặc đơn giản là làm các tấm đúc sẵn và che chúng lên mái từng miếng một. Lúc trước từng có rất nhiều căn nhà nhỏ được lợp bằng mái tôn xập xệ.

Mối quan tâm của Hà Điền là vật liệu bê tông gai dầu rốt cuộc vẫn là một vật liệu mới và nhiều đặc tính cần một thời gian dài để thử nghiệm vẫn chưa được kiểm chứng. Ví dụ: Mặc dù bền, chịu được động đất và cách nhiệt nhưng liệu nó có dễ tích tụ bụi và mọc cỏ như bức tường đất không? Rốt cuộc thì nó cũng vẫn là nguyên liệu hữu cơ mà, không phải sao?

Thậm chí, cô cho rằng sau khi xây nhà xong, nên trộn cát, vôi với bùn làm lớp sơn bên ngoài.

Do có những bất đồng, phương pháp thỏa hiệp tạm thời được áp dụng. Đầu tiên, mái nhà được che bằng một tấm mành đan bằng lau sậy và cố định bằng dây thừng, sau đó lại cột cọc tre lên mành, chia thành các ô nhỏ, tiếp đó, phủ một lớp vữa bê tông gai dầu vào từng ô lưới đó.

Chuồng vịt và thỏ làm lúc mùa đông năm ngoái đã bị dỡ bỏ, những tấm che bằng sậy cũ và mới được Dịch Huyền làm đều được dán hết lên phía ngoài bức tường. Màu sắc của tấm che cũ và mới không đồng nhất, tấm che mới có màu vàng xám, còn tấm che cũ thì vì trải qua gió tuyết mùa đông nên có màu xám đen.

Cửa cũng được làm bằng vách sậy, dùng một đoạn tre nhỏ quấn dây gai làm tay nắm cửa.

Vào mùa ấm áp, làm vậy là ổn.

Ngoài chuồng vịt, họ còn xây một bức tường vây để tạo thành một cái chuồng rộng bốn mét vuông. Tường vây được xây bằng những viên gạch gai dầu đầu tiên và những viên gạch vụn còn sót lại, chỉ cao hơn nửa mét, cắm cọc tre vào những lỗ gạch ở trên cùng, rồi che một tấm lưới bằng dây rơm lên cọc tre.

Lúc Dịch Huyền nhìn thấy chú gà trống nhỏ bay thẳng từ chuồng gà lên một cái cây cao bốn năm mét, anh đã cùng Hà Điền bắt đầu “Dự án lưới trời”! Che một tấm lưới lớn phía trên chuồng gà, nối với lưới trên hàng rào.

Nhìn không đẹp, nhưng gà vịt thì lại không bay ra ngoài được.

Hà Điền có rất nhiều ý kiến với kiểu chuồng lưới này, cho rằng nó phá hư phong cảnh. Nếu con gà thích bay, thì cứ để cho nó bay đi. Trong chuồng có thức ăn ngon và cả đám hậu cung gà mái của nó. Nó còn muốn đi đâu nữa? Bay đi rồi, rồi cũng sẽ bay về thôi.

Vài ngày sau, chính Dịch Huyền cũng cảm thấy tấm lưới quá xấu xí nên đã gỡ bỏ nó.

Tấm lưới lớn này ban đầu được Hà Điền làm để trùm cây gai dầu, bây giờ lại lấy về dùng, gom cỏ thu hoạch từ các bãi sông và vùng đầm lầy.

Trong suốt tháng năm, Hà Điền và Dịch Huyền đều bận rộn.

Họ chặt thêm gỗ, làm khô ván, lên rừng vân sam thượng nguồn vài lần, chặt vài cây lung lay muốn ngã, thả trôi sông rồi kéo vào bờ phơi khô. Đây sẽ là củi của họ trong mùa đông này.

Họ cũng đúc sẵn các vật liệu xây dựng khác nhau, chẳng hạn như gạch bê tông bazan dùng để làm ống khói, gạch bê tông sợi gai, và các tấm gỗ dùng để ốp tường của căn nhà gỗ. Rất nhiều gỗ hiện có cũng được xẻ ra để làm khung và dầm của ngôi nhà. Gỗ tròn vuông to thì làm cột, làm khung cửa ra vào và cửa sổ, làm ván gỗ lát sàn, làm khung mái…

Việc xây dựng được tiến hành một cách nhanh chóng, vật liệu xây dựng cũng vì vậy mà tiêu hao rất nhanh.

Cát và sỏi chẳng mấy chốc đã không đủ dùng, Hà Điền và Dịch Huyền lái thuyền máy, đến bãi sông lấy cát.

Còn chưa đến bãi sông, họ nhìn thấy hai bóng dáng quen thuộc, đúng vậy, chính là hai anh em nhà họ Phổ.

Hai người họ dẫn theo ba người, đang ở bên kia sông, có người ngồi xổm, có người thì đứng, hình như đang đào cát, nhưng lại có vẻ như đang cẩn thận quan sát thành phần của cát.

Hà Điền và Dịch Huyền nhìn nhau, không hẹn mà cùng cầm khẩu súng đặt dưới đáy thuyền lên.

Ở khoảng cách hơn hai mươi mét, họ có thể nhìn rất rõ ràng. Mặc dù quần áo ba người kia mặc là của người miền núi, nhưng giày trên chân họ đều là những đôi ủng đen bóng, là đồng phục thống nhất.

Nhìn vào vũ khí mà họ mang theo, Hà Điền càng chắc chắn hơn – những người này cùng nhóm với bọn cướp mà họ gặp vào mùa hè năm ngoái.

Mục đích của họ đều như nhau, vì vàng.

Đối với Hà Điền, vàng chỉ là những viên đá nhỏ nằm trên bãi cát trong lòng sông, có một số nhìn rất đẹp nhưng cũng không có gì đặc biệt cả.

Nhưng cách hiểu của Dịch Huyền về vàng thì lại khác. Ngay cả trong thời kỳ giá lạnh khắc nghiệt, vàng vẫn là một kim loại quý, và ở một số nơi, nó là đồng tiền mạnh. Cũng giống như Hà Điền và những người dân ở đây, sử dụng chồn làm đơn vị đo lường khi tính toán giá trị của một mặt hàng nhất định. Thì vàng, là phương tiện giao dịch duy nhất được tất cả các bên công nhận trong các giao dịch vũ khí lớn, giao dịch năng lượng và thậm chí cả giao dịch dân số.

Anh em nhà họ Phổ và ba người kia nói gì đó, bọn họ cùng cười lên, một người trong số họ nhìn về phía Hà Điền, cười và làm dấu tay tục tĩu.

Tên đàn ông đang cười dâ.m đãng nhìn người phụ nữ xinh đẹp ngồi trên thuyền thì bỗng “phịch” một tiếng, lồng ng.ực của hắn ta bị một cây cọc gỗ lớn đập mạnh, còn chưa kịp hét lên thì cơ thể đã bay về phía sau.

Hai tên bạn đồng hành của hắn ta bị kinh hãi, hai người trên thuyền ra tay mà không nói trước một lời nào, lại còn là một kích trí mạng, hơn nữa vũ khí họ sử dụng cũng không kém cạnh chúng!

Hai tên kia vội giương súng bắn trả, nhưng đâu còn kịp nữa.

Hà Điền và Dịch Huyền đã sớm biết ý đồ của chúng, sau khi nhìn thấy một tên làm hành động khiêu khích như vậy thì biết rằng nhóm người này không có ý tốt, đâu có ngu đâu mà chờ đợi bọn chúng ra tay trước? Dịch Huyền ngay lập tức giơ súng lên bắn chết một tên.

Hà Điền thấy anh ra tay, cô cũng bắn liên tiếp hai phát súng, kết quả là hai tên còn lại cũng thiệt mạng.

Tất cả chỉ diễn ra trong nháy mắt, hai anh em nhà họ Phổ vốn đứng ở phía sau tương đối xa, bọn họ còn đang cười dâ.m đãng theo bọn kia, chỉ nghe được vài tiếng vù vù, ba tên phía trước cùng nhau ngã xuống đất, một tên ngã vào người anh em họ, ở vị trí trái tim b.ắn ra một tia máu, phun khắp mặt mày bọn họ.

Họ sững người thêm vài giây rồi mới giật mình hét lên, Phổ em gào thét đẩy người đàn ông đã chết trên người mình ra. Lòng bàn chân anh ta giẫm phải chân anh mình, hai anh em lăn lông lốc thành một đống, cổ họng kêu gào giống như đang thi đấu vật.

Dịch Huyền thầm nói trong lòng, thật đáng tiếc. Nếu hai tên này cứng rắn hơn và cầm súng tiếp tục chiến đấu với anh, thì anh sẽ có lý do để giết hai tên ngốc này. Nhưng nghĩ lại thì, ôi thôi quên mất, nếu đi đâu xa thì còn có thể nhờ chúng đến cho gia cầm ăn, giữ lại mạng cho chúng vậy.

Khi nhìn thấy những người này từ xa, anh và Hà Điền đã tắt động cơ, lúc này, cô kéo dây động cơ, thuyền cắt qua sông, lao về phía bên kia sông như một mũi tên sắc bén.

Hai anh em nhà họ Phổ đang ngồi trên bãi cát trên bãi sông, họ thậm chí không thể đứng dậy, ngồi trên mặt đất, tay chân còn đang đá loạn thì thuyền của Hà Điền đã đến ngay trước mặt.

Dịch Huyền nhảy lên bờ kéo Phổ anh thì anh ta mới đứng lên được, run rẩy, quần cũng ướt một mảng lớn, bốc mùi, không chỉ ướt sũng bởi nước bùn trên bãi sông.

“Đừng giết tôi! Đừng giết tôi!”

Đây là lần đầu tiên Hà Điền nhìn thấy hai anh em họ hoảng sợ như vậy.

Cô nghĩ, hai người các người sợ như vậy, sao lúc trước còn muốn khi dễ tôi? Nghĩ thứ tôi đang cầm là súng đồ chơi chắc?

Dịch Huyền nói mấy lần “Tôi sẽ không giết các anh”, hai anh em nhà này vẫn gào thét điên cuồng, anh bực mình đấm cho mỗi tên một đấm, cuối cùng cả hai cũng im lặng, ngồi trên bãi sông thở hổn hển và run rẩy.

Dịch Huyền thấy họ đã hơi bình tĩnh lại, hỏi: “Bọn chúng có bao nhiêu người? Đang ở cùng ba của các anh à?”

Anh em nhà họ Phổ ngập ngừng, nhìn về phía Hà Điền.

Hà Điền lo lắng nhóm người này có nhiều hơn những người này, có lẽ chúng đang ở gần đây, cũng không dài dòng mà nói thẳng với họ: “Những tên này không phải người tốt. Mùa hè năm ngoái chúng tôi đã gặp một nhóm. Có thể ba Phổ đã gặp nguy hiểm.”

Phổ anh nói: “Còn hai tên nữa, một tên bị thương ở chân và đang nghỉ tại nhà tôi, tên còn lại, cũng ở nhà tôi. Ba tôi đang nấu ăn cho chúng ở nhà.”

Dịch Huyền lắc đầu, kéo anh ta: “Nhanh lên, chúng ta về nhà anh đi, hy vọng sẽ không quá muộn.” Không phải là anh muốn cứu ba Phổ, mà là muốn tranh thủ thời cơ, giết luôn hai tên còn lại, để sau này không gặp rắc rối nữa.

Nhà họ Phổ cách bãi sông này không xa lắm, có một con đường trong rừng có thể đi thẳng xuyên rừng, đi nửa tiếng đồng hồ là đến, nhưng ở giữa có một bức tường đá cao hơn hai mét, từ trên đỉnh núi kéo dài xuống dưới chân núi, ngăn cách hai bên, như thể bị thần ma dùng một chiếc rìu khổng lồ chia thành hai mảnh, hoặc như là một con quái vật đang ngủ say trên sườn đồi, với chiếc đuôi đầy gai kéo trên mặt đất và nhô ra khỏi sườn đồi nhúng xuống sông.

Bức tường đá này không phải là một bức tường hẹp, mà là một đống đá dài bốn năm mét, trải qua bao năm mưa gió, toàn bộ bên trong các khe nức của bức tường đá đều mọc lên những cây cỏ dại nhỏ, và sức mạnh của bộ rễ đã tách đá ra từng khối.

Trèo qua bức tường đá này, nhà họ Phổ nằm sau một khu rừng nhỏ cách đó vài trăm mét.

Nhà họ Phổ đi con đường này quanh năm, hai bên tường đá có đặt đá và thang gỗ, một nhóm người băng qua khu rừng với tốc độ rất nhanh mới đến được bức tường đá, lúc này Dịch Huyền yêu cầu mọi người dừng lại nghỉ ngơi.

Trên đường đi, Dịch Huyền hỏi bằng cách nào mà anh em họ đã gặp những người này.

Sáng hôm qua, hai anh em đi đặt bẫy bắt heo rừng ở vùng đầm lầy hạ lưu thì gặp năm người này. Một trong số chúng đã giẫm phải cái bẫy mà họ đặt và bị thương ở chân. Những người này không những không trách bọn họ mà còn cho bọn họ tiền, muốn ở tạm nhà bọn họ.

Tất nhiên là hai anh em đã đồng ý và đưa những tên này về nhà. Ba Phổ nấu cơm cho chúng ăn, tiếp đãi nồng hậu, ăn cơm xong, rượu vào lời ra, họ moi được tin tức, những tên này là thợ đào vàng! Trên núi có vàng! Không chỉ trên núi, mà ở trong cát trên bãi sông cũng có! Những hạt cát vàng đó là vàng! Vậy mà họ lại dùng nó để trộn với mùn cưa chôn khoai tây! Đó đều là tiền cả!

Mấy người nhà họ Phổ ngay lập tức rục rịch, họ đồng ý sẽ đưa những tên này đến tận nơi đào cát.

Mặc dù bọn họ biết đào cát ở đâu, nhưng làm thế nào để tìm ra những hạt cát nhỏ bằng đầu kim từ một đống cát lớn, và làm thế nào để đổi tiền sau khi có được vàng, tất cả đều phải phụ thuộc vào người khác.

Dịch Huyền nghe đến đây không khỏi cười mỉa: “Nếu anh đào được vàng, anh có chia nó cho người khác không?”

Anh em nhà họ Phổ lúc này mới nghĩ ra, tất nhiên là không!

Nghĩ đi nghĩ lại, những tên này cùng họ đi đến một số bãi sông, lần nào cũng ghi lại địa hình một cách chi tiết. Tất nhiên là vì để lần sau quay lại không cần người hướng dẫn nữa.

Nghĩ đến vũ khí mà những tên đó mang theo, hai anh em họ đổ mồ hôi lạnh. Lúc này mới thật sự lo lắng cho an nguy của ba Phổ, cấm đầu chạy, vừa thở hổn hển vừa gào khóc.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 109: Biến cố 2


Khi đến trước bức tường đá, anh em họ nửa sợ, nửa lo, gần như ngã quỵ, nghe Dịch Huyền nói dừng lại nghỉ ngơi một lát, cả hai gấp đến độ giậm chân: “Ba tôi…”

Dịch Huyền ngăn không cho họ nói tiếp, anh hạ giọng: “Bây giờ tay của hai người run như vậy sao cầm súng được. Bình tĩnh lại đi. Những người đó không dễ đối phó đâu.”

Anh ngẩng đầu nhìn lên bầu trời: “Đợi thêm chút nữa.”

Phổ anh nhìn vũ khí mà Dịch Huyền và Hà Điền đã cướp được từ ba tên đàn ông to lớn kia, rồi lại nhìn khẩu súng trên thắt lưng của mình. Cho dù có ngu đến mấy thì cũng phải hiểu được rằng, nếu như lúc này gào thét lao ra, hơn phân nữa là thành mục tiêu sống cho người ta ngay. Trên vũ khí của người ta được trang bị một thứ giống như kính viễn vọng nhỏ, có thể nhìn rõ chuyển động cách những vài trăm mét.

Vừa rồi Dịch Huyền và Hà Điền nắm được thế chủ động, thực hiện một đòn chí mạng, bằng không, nếu thật sự đánh nhau, thuyền của bọn họ hiện tại hẳn là đã chìm xuống đáy sông.

Bốn người ngồi dựa vào tường đá, tim ai nấy cũng đều đập dồn dập.

Đừng nói hai anh em nhà họ Phổ, ngay cả Hà Điền cũng cảm thấy miệng mình khô khốc, cô lặng lẽ đặt lòng bàn tay mình lên chân, lau mồ hôi trên lòng bàn tay.

Dịch Huyền thì trông vẫn rất bình tĩnh, anh dạy Hà Điền cách sử dụng kính nhắm: “Em có nhìn thấy cây thánh giá nhỏ trong ống kính không? Đây là đầu ruồi súng. Nhắm được rồi thì chỉ cần bóp cò là được.”

Lúc họ gặp nhau trên bãi sông thì đã hơn bốn giờ chiều. Lúc này, bầu trời đã âm u, rừng cây vắng lặng, chỉ thỉnh thoảng có tiếng chim hót, cành cây bị gió thổi nhẹ đung đưa, mang theo tiếng lá xào xạc.

Bức tường đá phủ lên đầu bốn người một cái bóng cực lớn, một lúc sau, mồ hôi trên đầu và mặt đều biến mất, toàn thân như ngâm trong nước lạnh.

Họ vểnh tai lên, muốn nghe thấy điều gì đó ở phía bên kia của bức tường đá.

Nhưng, không thể nghe thấy gì cả.

Một lúc sau, Dịch Huyền đứng dậy: “Đi thôi.”

Lúc này sắc trời xám xịt, đang ở thời khắc từ hoàng hôn chuyển giao sang đêm.

Hà Điền và Dịch Huyền để anh em nhà họ Phổ dẫn đường, đi theo họ vòng qua khu rừng gần ngôi nhà gỗ của họ.

Còn chưa đến phía sau nhà gỗ, Hà Điền chợt nghe thấy tiếng nói chuyện, cô siết chặt khẩu súng trong tay, mở chốt.

Vẻ mặt Dịch Huyền trở nên nghiêm nghị, nhìn Hà Điền và khẽ gật đầu.

Dịch Huyền ra hiệu với anh em nhà họ Phổ, cả bốn người họ tản ra, nấp sau những tảng đá hoặc bụi cây.

Giọng hai người đang nói chuyện càng lúc càng rõ ràng, tiếng bước chân trên lá càng lúc càng gần.

Một tên nói: “Sao đến giờ mà bọn Cách Lý còn chưa quay lại? Đừng nói là xuống thượng du tìm phụ nữ trước rồi đi?”

“Không đâu. Nhưng có điều đúng là bọn nó muốn đoạt hết công lao. Tao đoán chắc bọn nó đã viết lại lộ trình và giết hai đứa ngu ngốc kia rồi. Vậy thì sẽ chỉ có mình bọn nó biết nơi nào gần đây có bãi cát thích hợp để đãi vàng. Hừ.”

Chúng nói chuyện rồi bước vào kho để củi, lấy củi.

Dịch Huyền như một con mèo nhảy ra khỏi bụi cây, nhanh chóng chạy đến kho bên cạnh.

Hà Điền và hai anh em theo sát phía sau.

Trong kho củi, hai tên kia vẫn đang nói chuyện.

Một tên hít hà một tiếng, hình như là bị động đến vết thương: “Thằng chó già nhà này đúng là khó đối phó, mẹ nó, lát nữa lột da hai thằng chó kia nướng ăn luôn, cánh tay của tao cũng sắp bị cắn đứt luôn rồi.”

Hai anh em nhà họ Phổ nhìn nhau, mặt tái mét, biết ba mình tám phần lành ít dữ nhiều.

Trước đây không lâu, Hà Điền và Dịch Huyền nói nhóm người này không phải là người tốt, trong lòng bọn họ vẫn còn một tia hy vọng, bọn họ cảm thấy là do những tên đó muốn khi dễ Hà Điền, cho nên hai phe mới xử nhau, chứ bọn họ vẫn luôn phối hợp hết mình, ông ba còn nấu cơm cho chúng ăn nữa, tại sao lại muốn giết bọn họ?

Một tên khác khịt mũi chửi: “Thằng chó già đáng chết! Sắp chết còn cố ôm hộp tiền. Tao còn tưởng trong đó có nhiều tiền nữa kìa. Mẹ, còn không đủ để tao ngủ với một ả ở Phiêu Hương Viện nữa!”

“Không phải hai thằng ngu kia nói cách mười km ở phía đối diện thượng du có nhà của một cặp vợ chồng trẻ, con vợ rất đẹp sao? Ngày mai chúng ta đến đó đi!”

“Hahahaha!”

Dịch Huyền nghe vậy thì tức điên người, dùng mu bàn tay tát vào trên mặt Phổ anh. Anh ta “Ui da” một tiếng. Hai tên ở trong kho củi đều cả kinh, hỏi: “Ai?”

Nhà kho chứa củi của nhà họ Phổ được làm bằng chiếu sậy. Có thể là từ lúc làm xong đến giờ vẫn chưa được tu bổ cho nên lúc này bị thủng lỗ chỗ. Dịch Huyền đã sớm đâm họng súng vào khe hở trên vách kho củi, nếu muốn làm thịt hai tên này thì dễ như trở bàn tay, nhưng anh muốn nghe thử xem bọn chúng sẽ nói tiếp những gì, biết đâu có thể nghe được một số thông tin hữu ích. Lúc này anh bóp cò, cổ tay xoay trái xoay phải—

Đùng đùng đùng đùng——

Tiếng hét thảm thiết kéo dài, khắp nơi trong kho củi tối tăm đều bị bắ.n ra tia lửa.

Chỉ vài giây, tiếng hét đã dừng lại.

Dịch Huyền nghiêm mặt, chĩa súng về phía anh em nhà họ Phổ, hất cằm gọi Phổ anh: “Anh, lại đây.”

Chân của Phổ anh như muốn nhũn ra, nhưng có muốn nhũn cũng không được, anh ta chỉ có thể co vai và xoay người lại, bị Dịch Huyền nắm lấy cổ áo kéo đi về phía kho củi.

Hà Điền chĩa súng về phía Phổ em, cười lạnh: “Chúng tôi nuôi các người cả một mùa đông, các người trả ơn như vậy đó sao?”

Sắc mặt Phổ em như màu đất, há hốc miệng không nói nên lời.

Dịch Huyền lấy Phổ anh làm lá chắn thịt, bước vào kho củi, hai tên tự xưng là chuyên gia đào vàng nằm dưới đất, củi rơi vãi khắp người.

Dịch Huyền bắn vào đầu mỗi tên một phát súng nữa, dùng sức đẩy Phổ anh, anh ta sợ hãi hét lên, ngã xuống trên hai xác chết, đối diện với đôi mắt trừng của một trong số chúng.

Hà Điền nhanh chóng nhặt hai khẩu súng trên mặt đất lên, không muốn nhìn hai anh em, nói với Dịch Huyền: “Đi thôi.”

Dịch Huyền không lên tiếng, một lúc sau mới nói: “Còn chưa xử lý thi thể.”

Anh khịt mũi gọi hai anh em: “Còn không đi tìm ba của các anh đi?”

Hai người họ đều nơm nớp lo sợ, không biết hôm nay là lần thứ mấy tiểu ở trong quần, rụt cổ, run rẩy rời khỏi kho củi chạy về nhà gỗ của mình.

Họ vào nhà trước, trên sàn trước bếp có một vũng máu, dấu vết kéo lê, vết máu kéo dài đến tận mép hầm.

Hai anh em vừa gào khóc vừa mở nắp hầm ra, dưới ánh trăng mờ, họ thấy ba Phổ nằm ngửa trong tư thế lạ, hai tay dang rộng, cổ tay trái như sắp đứt lìa, bàn tay rũ xuống ở cổ tay, chỉ được nối với nhau bằng một lớp da thịt, máu thịt be bét, trên cổ ông có vết thắt cổ màu tím đen, chết không nhắm mắt. Bên cạnh ông là xác của hai con chó săn trong nhà, đầu của một con chó săn nằm trên mặt đất, nó đã bị chặt đầu, một con khác thì đầu bị đập nát, thấy được răng trắng lởm chởm. Rõ ràng, hai chú chó đã liều lĩnh chiến đấu với kẻ cướp để cứu chủ, nhưng tiếc thay, chủ vẫn không được cứu.

Phổ anh ngồi trên mặt đất, đánh mạnh loạn xạ vào ngực và mặt mình, gào khóc: “Ba ơi — con đã hại ba rồi! Ba ơi —”

Phổ em cũng khóc lóc thảm thiết, anh ta vừa khóc vừa nhảy xuống hầm, ôm xác ba mình mà khóc.

Hà Điền nhìn bọn họ khóc thét, mặc dù cực kỳ ghét họ nhưng cô cũng cảm thấy có chút đáng thương.

Dịch Huyền chỉ lạnh lùng nhắc nhở họ: “Kéo ba Phổ lên trước đã.”

Phổ anh khóc một hồi mới đứng lên, xách thang từ tường chuồng heo đặt xuống hầm, để em mình cõng xác ba trèo lên.

Hà Điền nhìn thi thể của ông Phổ, nhớ lại đủ thứ chuyện ngày còn bé khi ông ta đến nhà mình, chỉ có thể khẽ thở dài.

Cho dù nhà họ Phổ không dẫn sói vào nhà, nhưng đụng phải nhóm người này rồi thì e rằng cũng sẽ không có kết quả gì tốt.

Bọn chúng có năm người.

Giống như lần trước.

Người miền núi sống ở trong rừng, hiếm có gia đình nào trên năm người hết.

Cô đã đọc trong các cuốn sách về quân đội rằng nhiều tiểu đội xung kích sẽ thực hiện các hoạt động với từ năm đến sáu người, thực hiện các cuộc điều tra, yểm hộ, đột kích và tình báo.

Vũ khí và trang bị của hai nhóm người này cũng cho thấy chúng không phải là đám ô hợp, cũng không phải là cướp biển trốn vào núi để trốn truy đuổi. Hơn nữa nhóm người thứ hai cũng đã nói với nhà họ Phổ mục đích của chúng: Tìm vàng.

Vậy thì, sẽ còn có các đội nhóm năm người khác lần lượt vào rừng? Và lần này sẽ có bao nhiêu tiểu đội năm người nữa?

Tiếc là họ không thể giữ lại người sống.

Cũng không thể trách Dịch Huyền được.

Cả cô và anh em nhà họ Phổ đều là những người dân miền núi bình thường, các cô có thể săn bắt, lột da, lột xác con mồi và sử dụng súng ngắn để bảo vệ bản thân khi gặp gấu sói, nhưng các cô chưa từng học được cách giết người.

Dịch Huyền phải đối đầu với hai đối thủ đã học kỹ năng giết người như anh, và thậm chí có thể chúng còn thành thạo hơn anh nhiều, anh chỉ có thể dựa vào các đòn đánh lén.

Giống như lần trước.

Để cứu Hà Điền, anh sẽ bất chấp tất cả liều mình lao ra, nhưng đối với ba Phổ thì không. Hơn nữa, khi nghe được tin ông ở nhà cùng với hai tên nữa, thì anh đã có kết luận rằng ông ấy đã chết. Nếu không phải nhất định phải giết hai tên còn lại, thì anh cũng sẽ không đến.

Thật sự rất khó để thực hiện một cuộc đánh lén mà vẫn giữ lại người còn sống. Súng đạn vốn không có mắt.

Anh em nhà họ Phổ vừa khóc sướt mướt vừa lau người cho ba mình, dùng bông vải quấn vết thương rồi thay quần áo sạch. Nhà của họ tin vào đạo Trời, nếu một người muốn lên thiên đường thì trong vòng mười hai tiếng sau khi chết, thi thể phải được đem thiêu.

Nếu trên thi thể có máu và là chết oan thì phải thiêu xác và rải tro xuống sông trước khi mặt trời mọc tiếp theo, nếu không, linh hồn người chết sẽ trở nên tàn ác và quấy phá con cháu.

Bọn họ vừa thay quần áo cho ba mình xong, cổ tay quấn băng lại chảy máu.

Hai anh em lại lớn tiếng khóc: “Ba ơi, ba oán hận lắm đúng không?! Ba, chúng con có lỗi với ba! Là do chúng con tham tiền nên hại đến ba!”

Khi thiêu xác không được có máu, nếu không sẽ đại hung.

Hà Điền đang cùng Dịch Huyền xem hành lý của năm người trong căn nhà gỗ, đang cố gắng tìm chút manh mối, nghe thấy tiếng khóc rung trời, thở dài nói: “Em ra ngoài xem thử.”

Cô kêu anh em nhà họ Phổ lấy một ít tro trong bếp cho vào chén, thêm ít đất trộn với nước tạo thành hỗn hợp sền sệt, khi định bôi vào cổ tay gần như bị đứt lìa của ba Phổ, cô nảy ra một ý, gọi anh em họ lại: “Hai người nhổ nước miếng vào trong này đi.”

Phổ em lập tức nhổ, Phổ anh thì hỏi: “Tại sao?”

Hà Điền nói: “Tai họa này không phải là do hai người tự chuốc lấy sao? Mấy tên này không phải do hai người đón về? Trong nước miếng có tinh khí, đợi chôn ba các anh rồi, ông ấy sẽ không oán hận nữa.”

Phổ anh cũng nhổ nước miếng vào, Hà Điền dùng đũa khuấy lên, kêu anh em họ mở miếng vải băng ra, đổ lên vết thương của ông ấy một lớp thật dày, sau đó quấn vải lại.

Lần này, thật sự không còn chảy máu nữa.

Hai anh em vừa khóc vừa dọn một ít củi đặt lên con dốc hướng về phía mặt trời, lúc mẹ và ông bà nội họ mất cũng được thiêu ở đây.

Chất xong đống củi, rưới chút mỡ lên, đặt xác ba Phổ rồi đặt xác hai con chó cưng bên cạnh, họ khóc một hồi, sau đó ném đuốc lên đống củi.

Khắp nơi trên giàn hỏa đều là mỡ, ngay lập tức cháy bừng lên, lưỡi lửa lan nhanh từ nơi cháy sang ba Phổ, bao trùm lấy ông và hai con chó cưng của ông.

Hai anh em ngồi bên đống lửa lại bắt đầu khóc.

Dịch Huyền bước ra ngoài cửa, từ xa nhìn giàn hỏa thiêu, lòng bỗng buồn vô cớ.

Nhìn ngọn lửa nhấn chìm xác ba Phổ, Hà Điền không đành lòng, cô gọi hai anh em họ: “Đi thôi, ba các anh đã lên trời rồi, đừng nhìn nữa.”

Mắt đỏ hoe, hai anh em đi theo Hà Điền trở lại nhà gỗ.

Dịch Huyền nhắc nhở họ: “Xác của hai tên này xử lý như thế nào?”

Hai người bọn họ hoàn toàn không để tâm tới, Phổ em nói: “Hay là chôn đi?”

Phổ anh lắc đầu: “Không được. Chúng ta đang ở trong rừng. Chôn xong rồi thì sẽ lại có động vật moi lên ngay thôi. Đừng có mà kéo gấu đến! Kéo chúng ra sông rồi ném xuống sông như ba tên kia ấy.”

Gia đình họ thường chỉ uống nước từ con suối gần đó, muốn đi bộ đến sông phải mất hai mươi phút, họ không nuôi gia súc lớn, khiêng hai con heo đến bờ sông thì không sao, nhưng nếu vác xác hai người đàn ông to khỏe đến tận đó, nghĩ thôi đã thấy sợ rồi.

Vì vậy Phổ anh nhanh chóng từ bỏ phương pháp mà mình đề xuất.

“Hay là đem thiêu?” Phổ em hỏi.

“Không được! Trên người bọn chúng không khác gì cái tổ ong vò vẽ. Đem thiêu để chúng biến thành hung thần ám ảnh chúng ta à?” Phổ anh nghiến răng nghiến lợi: “Tao hận không thể đem chúng băm thành thịt vụn! Tao hận không thể xé chúng ra mà nhai nuốt! Hừ! Đem thiêu? Lãng phí củi lửa của tao!”

Dịch Huyền nhìn vào chuồng heo nhà họ, nói: “Hiện tại nhà các anh có bao nhiêu con heo?” Những con heo đó đã đói một ngày và không ngừng kêu. Mấy con heo rừng vừa bị bắt vẫn liên tục đập vào cửa gỗ của chuồng.

“Tám con.”

“Toàn heo lớn?”

“Đúng vậy. Năm con heo rừng đực, một con mới thiến năm ngoái và hai con heo nái.”

Mấy con heo con nuôi năm ngoái đều bị đè chết, nên năm nay nhà họ Phổ lại bắt nhiều heo rừng về.

Dịch Huyền chỉ vào xác của hai tên cướp: “C.ởi quần áo của chúng, chặt xác thành từng mảnh rồi ném vào chuồng heo.” Anh quay mặt về phía Hà Điền, nói: “Em đi nấu chút gì ăn đi.”

Anh em nhà họ Phổ trước đây rất sợ Dịch Huyền, nhưng thỉnh thoảng lại nảy sinh ý định xấu, sau khi bị Dịch Huyền đập một trận thì thành thật một thời gian nhưng chẳng mấy chốc lại có ý định xấu tiếp, nhưng sau đêm nay, bọn họ không dám ho he gì nữa.

Họ đã bị sự hiểu biết về cấu trúc cơ thể con người của Dịch Huyền doạ sợ.

Phải cắt sao để giảm thiểu lượng máu chảy ra, đến chỗ gân, khớp ngón tay phải dùng dao như thế nào. Đáng sợ nhất là khi đứng bên chỉ huy họ, anh vẫn bình thản như khi dạy họ cách cho cỏ vào máy cho ăn tự động và cách xử lý phân trong chuồng thỏ.

Trong lòng hai anh em mơ hồ có một ý nghĩ, có lẽ đối với Dịch Huyền, giết người và phân xác chẳng khác nào làm công việc đồng áng bình thường.

Trên mặt đất bên ngoài chuồng heo có trải hai tấm mành cỏ còn dính chút máu, hai thi thể đặt trên mành cỏ đã biến mất, trong chuồng không ngừng vang lên tiếng heo rừng gặm thức ăn.

Hai anh em kinh hồn bạt vía, nhưng Dịch Huyền dường như không bị ảnh hưởng gì cả, thấy họ nhìn chằm chằm vào mình, anh thờ ơ nói: “Đi chất một đống củi, bọc quần áo và hành lý của chúng trong mành rồi thiêu hủy hết đi.”

Ngay sau đó, dưới bầu trời đêm, một đống lửa khác bốc lên ở bìa rừng.

Sau khi lửa tắt đi, dấu vết của năm người kia cũng hoàn toàn biến mất.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 110: Pudding đen


Chuyện một lần nữa gặp phải kẻ “đào vàng” đã khiến cho mùa xuân này tràn ngập sự lo ngại.

Chúng có vũ khí chuyên nghiệp và mục đích rõ ràng, điều đáng lo ngại nhất là chúng đến thám hiểm một cách có tổ chức và có kế hoạch.

Những kẻ này chắc chắn sẽ còn đến nữa.

Liệu khi những kẻ này xuất hiện trở lại, Hà Điền và Dịch Huyền có còn may mắn như hai lần trước nữa không?

Hà Điền không biết.

Điều mà cô có thể chắc chắn là, cô, Dịch Huyền, hai anh em nhà họ Phổ, những người miền núi khác, những người thợ săn, và những người dân trong các thôn làng quanh đây đều rất khó khăn khi phải đối đầu với một nhóm cướp được huấn luyện bài bản với vũ khí chuyên nghiệp.

Độ chính xác và hỏa lực của vũ khí của thợ săn không thể so sánh với vũ khí của kẻ cướp, và không ai được đào tạo để tấn công người, nhưng không phải là họ không có lợi thế. Rừng, đầm, hồ, sông chằng chịt chỉ là sân sau của riêng người miền núi, nhưng chúng có thể là cái bẫy chết người đối với những người không thông thạo địa hình.

Hơn nữa, bọn cướp đến thăm dò con đường khai thác vàng chỉ có thể đến vào mùa xuân và mùa hè, một khi thời tiết trở nên lạnh giá, cho dù được dẫn dắt bởi những thợ săn miền núi có kinh nghiệm thì xứ tuyết này cũng là một vùng đất đầy chết chóc.

Mà lúc này đây, những gì Hà Điền có thể làm là tranh thủ lúc mùa xuân vẫn còn tươi đẹp, làm tốt chuẩn bị, sẵn sàng cho một mùa đông lạnh giá tiếp theo.

Kể từ bây giờ, khi cô và Dịch Huyền ra ngoài, họ sẽ mang theo vũ khí mà họ đã thu giữ được từ bọn cướp. Để thích nghi với vũ khí mới, Hà Điền đã luyện tập nhiều lần trong khu rừng gần nhà. Dưới sự hướng dẫn của Dịch Huyền, rất nhanh cô đã học được cách sử dụng ống ngắm, nhanh chóng tháo rời và thay băng đạn, thích nghi với độ giật.

Một tuần trước ngày đã ước định, họ lại đến nhà Tam Tam.

Lúc họ đến nơi thì đã trưa, Tam Bảo vừa về đến nhà, hai người học việc của Tam Tam đã chuẩn bị bữa trưa và đang đi ra khỏi bếp. Tam Tam nói với một cô gái lớn tuổi hơn: “Em nấu thêm hai món và hấp một lồng bánh nữa đi.” Hà Điền vội xua tay: “Chúng tôi ăn trên đường rồi. Vì nghĩ anh Tam Bảo chắc sẽ về nhà để ăn trưa nên mới đến vào giờ này.”

Dịch Huyền hỏi Tam Bảo: “Anh Tam Bảo, lần này tôi muốn mua thêm vôi. Chuyện lần trước anh với Tát Sa nói thế nào rồi?”

Tam Bảo cầm một cái màn thầu trên tay, cắn một ngụm: “Nói rồi! Tát Sa đồng ý. Lát nữa hai người đến nhà cậu ấy để tính chuyện học phí đi. Cậu ấy cũng đang ở nhà đó, vừa rồi ở ngoài ruộng với tôi.”

Nói chuyện xong, Hà Điền và Dịch Huyền cũng không muốn quấy rầy nữa, cáo từ muốn đến nhà của Tát Sa. Tam Tam kêu người học việc xuống hầm lấy một ống tre đựng sữa cừu đưa cho họ, Hà Điền lúng túng: “Sao có thể lần nào đến nhà cô cũng đều lấy này lấy nọ được!”

Tam Tam cười nói: “Hai người đừng khách sáo. Cô cũng cho tôi thỏ đó thôi. Tôi chỉ có thể cho lại cô sữa cừu mà thôi. Còn phải cảm ơn cô vì công thức phô mai mà cô đã cho nữa. Tôi làm một ít, rất ngon, cho cô hai miếng về ăn thử.”

Hà Điền cũng không muốn dài dòng, cô nhận đồ, cảm ơn Tam Tam và Tam Bảo, hẹn gặp nhau vào ngày một tháng sáu rồi đến chỗ bán vôi nhà Tát Sa.

Đang lúc cày bừa vụ xuân, chỉ có buổi trưa ở trong làng mới có nhiều người, mọi người từ ngoài đồng về nhà ăn cơm, một số nhà có ít người lao động, ngay cả về nhà ăn uống, ngủ trưa cũng không luôn, họ sẽ chuẩn bị trước bữa ăn cùng với nước uống, đem luôn ra ngoài ruộng.

Tát Sa thấy Hà Điền và Dịch Huyền thì rất vui, sau khi nói chuyện thì mọi người quyết định: Tát Sa đến nhà họ phụ việc trong một tuần, phần thưởng là Hà Điền sẽ dạy anh ấy cách làm đồ gốm. Tuy nhiên, ba đống củi dùng trong lò phải do nhà của Tát Sa cung cấp. Chờ nhà họ mang đủ củi đến rồi thì Hà Điền sẽ bắt đầu dạy.

Xét về thời gian và sức lực cần thiết để đào đất sét và nung lò, gia đình Hà Điền chỉ có thể đốt lò mỗi năm một lần. Vì vậy, nếu năm nay không học được thì năm sau Tát Sa có thể học lại miễn phí, nhưng vẫn phải tự tay chuẩn bị củi và chuyển đến nhà Hà Điền.

Sau khi thương lượng xong cả rồi, Dịch Huyền mua hai bao vôi lớn, Tát Sa không giảm giá cho họ mà dùng xe đẩy giúp họ vận chuyển vôi đến bến thuyền nhỏ trong làng.

Con thuyền được trang bị một động cơ chạy băng băng như bay, chưa đầy hai tiếng đã về đến nhà.

Hai người đem vôi về nhà cất đi, lấy một ít về nhà gỗ.

Vôi mua lần này không chỉ dùng để làm vật liệu xây dựng.

Trong cuốn Từ điển bách khoa chăn nuôi gà có một chương đề cập đến cách bảo quản trứng, một trong những phương pháp là “Phương pháp nước vôi trong”, trộn vôi sống và nước theo tỷ lệ 1:50, sau đó khuấy tan rồi để lắng và đợi lấy nước vôi trong. Sau đó đổ vào thùng rồi nhẹ nhàng thả trứng vào, để mặt nước vượt quá mặt trứng khoảng 10 cm, vi khuẩn trong nước vôi không sống được nữa và thời hạn sử dụng của trứng có thể kéo dài thêm mười tháng.

Tuy nhiên, khi bảo quản trứng trong nước vôi, có một điều cần phải lưu ý là, nhất định phải sử dụng trứng chưa rửa.

Trên bề mặt quả trứng chưa rửa có một lớp màng dầu tự nhiên lấp đầy các lỗ nhỏ trên vỏ trứng, nếu rửa sạch, nước vôi trong sẽ thấm vào trứng từ các lỗ nhỏ đó. Tất nhiên là không thể ăn được nữa.

Sau khi chuồng vịt được xây dựng xong, Dịch Huyền đã đào một cái vũng nhỏ ở góc trống của chuồng vịt, dùng đá đào được lúc đào ao đặt vào, sau đó phủ sỏi và cát lên rồi đổ nước vào, vũng nước này ngay lập tức trở thành nơi yêu thích của lũ vịt. Hà Điền lại làm theo hướng dẫn trong sách chăn nuôi gà, chất đống cát và mùn cưa ở góc bãi trống, đặt một số gốc cây đã chặt. Những cư dân mới này vui vẻ hơn, như muốn báo đáp lại cho họ, cũng có thể là do thức ăn phong phú, mà bốn con gà mái non tích cực đẻ trứng, cộng với số trứng do đàn vịt đóng góp, mỗi ngày có hơn chục quả.

Nhưng đến giữa hè, có thể sẽ phải dùng cát lấp vũng nước nhỏ này lại. Vì mùa hè có một loại côn trùng nhỏ màu đen bay khắp nơi trong rừng cây, chúng thích cắn người và động vật, thích nhất là nước tù đọng.

Năm nay Hà Điền không có ý định đốt lại bếp lò cho chuồng vịt, nên sản lượng trứng vào mùa đông sẽ giảm rất nhiều, nếu mùa xuân hè có thể bảo quản được trứng, đến lúc đó họ vẫn có thể ăn trứng mỗi ngày.

Gà, vịt đều nuôi ở trong chuồng, năm nay họ không cần phải ra đầm lầy và bãi cỏ bên ao để nhặt trứng nữa, thời gian tiết kiệm được có thể dùng để thu gom địa y và rêu cần thiết để xây nhà, cỏ mà vật nuôi trong nhà cần trong mùa đông, và cả lá dâu để nuôi tằm.

Hà Điền chẻ một số dải tre mỏng hơn ngón tay một chút, rồi uốn cong làm thành “vỏ bọc” cho cánh quạt công xôn, sau khi bổ sung thêm lớp vỏ bọc này thì không cần lo cánh quạt bị rong trong nước quấn vào hay va vào đá ngầm ở đáy sông, mắc kẹt vào cành gỗ dưới lòng sông nữa.

Đã ba, bốn tuần kể từ khi lứa tằm đầu tiên nở ra, ngoại hình của các con tằm thay đổi rõ rệt, chúng lột da nhiều lần, mỗi lần lột da lại lớn hơn, màu sắc cũng càng ngày càng trắng, từ những con kiến tằm đen xấu xí khi mới nở đã biến thành những con tằm trắng như tuyết dài ba bốn centimet.

Khi nở lứa thứ hai và lứa thứ ba, thời tiết ấm hơn, không cần dùng nhiệt độ cơ thể người để ấp nữa, chỉ cần phơi nắng vài ngày là chúng sẽ phá vỏ mà ra.

Ngày càng có nhiều tằm con, nhu cầu về lá dâu cũng ngày càng nhiều.

Hà Điền và Dịch Huyền cũng đặc biệt chặt một số cây tre, chẻ chúng thành những dải tre mỏng và làm một số nia tre lớn có đường kính 1,5 mét, làm nhà mới cho các em bé tằm.

Khi các con tằm lớn lên từng ngày, có thể cần thêm nhiều nia tre để chúng không bị chật chội.

Nếu đông quá, tằm con có thể bị chết do tranh giành thức ăn. Mỗi con tằm đều là một báu vật quý giá, Hà Điền mong rằng chúng sẽ tạo ra những chiếc kén đẹp để có thể ươm thành những cuộn tơ sáng bóng, vậy thì Tam Tam mới có thể dệt những sợi tơ này thành lụa và bán lấy tiền.

Vì đặt những chiếc nia tre nuôi tằm, trong nhà càng thêm chật chội. Mặc dù họ đã làm một số giá tre có thể chứa bốn hoặc năm lớp nia tre, nhưng số lượng con tằm tăng lên, mỗi ngày khi ăn cơm đều phải dời tới dời lui.

Thời tiết ấm hơn, Hà Điền và Dịch Huyền dọn luôn bàn ăn ra ngoài hiên để ăn cơm.

Lúc này, họ mới thấy hối hận khi phá bỏ chuồng vịt và thỏ cũ, nếu không thì đã có chỗ đặt tằm rồi.

Khi những người giúp đỡ đến, trong nhà từ hai người tăng lên bảy người, để đun nước và nấu ăn cho nhiều người, Hà Điền và Dịch Huyền đã dựng một căn bếp tạm thời trên một bãi đất trống cạnh suối. “Bếp” là một cái chòi được dựng bằng cọc tre, bốn góc được đào bốn lỗ, cắm cọc tre, đổ xi măng, cố định khung, ba vách và mái thì lợp bằng chiếu sậy, bên trong dùng gạch tấm và bùn xây, làm hai cái bếp lò, có thể đốt cùng lúc hai bếp, giữa hai bếp đào hai lỗ tròn nhỏ, bên trong đặt một thùng sắt nhỏ để nấu nước sôi. Bên cạnh bếp treo một tấm gỗ, chính là thớt, kế bên là vại nước.

Ngoài bếp ăn tạm bợ, họ còn phải chuẩn bị chỗ ở tạm cho những người phụ giúp.

Anh em nhà họ Phổ đáng lẽ cũng có thể sống ở đây, nhưng ba Phổ vừa mới mất, bọn họ đành phải đi đi về về, nếu không thì không ai cho heo ăn.

Cho nên, họ chỉ cần chuẩn bị chỗ ở cho ba người.

Hà Điền suy nghĩ một hồi rồi dọn dẹp xưởng lông thú gần sông, thùng gỗ và giá gỗ bên trong được đem ra ngoài, dùng mành cỏ đậy lại, mở cửa xưởng ra để thông gió, trộn tro có thêm một ít vôi sống vào cát rồi rắc lên tường và sàn để thoát hơi ẩm và mùi hôi. Quét đất cát hết ra khỏi nhà, dùng tre và ván gỗ làm thành một cái giường lớn, đủ cho Tam Bảo và Tát Sa dùng. Nếu người đàn ông to con cũng đến thì vẫn có thể ở cùng.

Nơi này rất gần nhà của họ, nhưng cũng cách nhà gỗ nơi họ sống một khoảng, ở gần sông, đi tiểu vệ sinh này nọ hoặc ra sông tắm rửa rất thuận tiện.

Về việc người đàn ông to con có đến được không, hai người họ cũng không có nhiều hy vọng. Tát Sa muốn cầu cạnh họ, còn Tam Bảo thì thường xuyên qua lại với họ và cũng đã thương lượng mức thù lao từ trước. Anh em nhà họ Phổ thì đã nhận được một khoản “đặt cọc” lúc mùa đông, cộng thêm cái chết của ba Phổ, họ mong muốn cải thiện mối quan hệ với Hà Điền và Dịch Huyền nên chắc chắn họ sẽ quay trở lại. Còn về anh to con, họ cũng chỉ gặp qua có hai lần, giao tình không mấy thân. Tất nhiên có thể đến thì tốt, nhưng nếu người ta không đến thì cũng có thể thông cảm được.

Tất cả đều đã được chuẩn bị kỹ càng, tiếp theo sẽ chuẩn bị đồ ăn.

Hà Điền và Dịch Huyền đã thảo luận rất lâu, họ muốn làm một danh sách món ăn, chọn ra vài món luân phiên nấu là được. Thức ăn trước hết phải bổ dưỡng, vì xây nhà, đặt móng đều là công việc khó khăn, nếu không có đủ thức ăn thì không được. Thứ hai, thức ăn phải dễ chế biến và có thể chuẩn bị nhanh. Tất nhiên, ngoài đáp ứng được hai điều kiện này, điều tiên quyết nhất là không được quá tốn kém. Cho sáu bảy người ăn cơm và mì trắng mỗi ngày thì không phải là không cam nổi, nhưng họ sẽ phải giật gấu vá vai, nghèo cháy túi. Với lại, Hà Điền và Dịch Huyền còn phải để dành một số tiền cho những trường hợp khẩn cấp. Đến mùa thu, nói không chừng họ cần phải mua thêm một số thứ gì đó, cửa sổ cũng chưa có làm, rồi đồ đạc dùng trong nhà mới nữa?

Sau khi kiểm tra đồ ăn ở nhà, cả hai cũng lên một danh sách, trong nhà kho thịt xông khói hiện có hơn bốn mươi con vịt và ngỗng hoang đã được muối, hơn một chục miếng cá, trong hầm vẫn còn một số cá hồi từ mùa thu năm ngoái. Ngoài ra còn có rất nhiều trứng, dưa chua, mì gạo và các loại ngũ cốc. Kể từ khi nhà kính được chuyển đổi thành “nhà kính vải dầu”, nhiệt độ trong nhà kính không đổi ở mức 22 ° C, rau và trái cây bên trong đã bước vào hình thức mùa hè. Tin chắc rằng vài tuần nữa sẽ có rau tươi trở lại.

Để đảm bảo nguồn thịt, Hà Điền quyết định mùa xuân năm nay sẽ đi bắt heo rừng.

Họ lại đặt bẫy và kiên nhẫn chờ đợi.

Hai ngày sau, cô bắt được một con heo rừng nặng trên trăm kg.

Lần này họ đã có chuẩn bị trước, mang theo mấy ống tre to và một chiếc xe đẩy nhỏ.

Sau khi con heo rừng bị bắn chết, nó bị treo ngược trong bẫy, cắt cổ và lấy máu cho vào hai ống tre lớn, nội tạng bên trong cũng không bỏ, tất cả đều được cho vào ống tre, sau đó lột da, cắt thịt chia thành nhiều phần, lần lượt đem về thuyền để Lúa Mì trông coi.

Sau khi vận chuyển heo rừng về nhà, đầu tiên nhấc hai ống tre to đựng máu heo ra ven suối, đặt vào trong nước một cái giỏ tre lớn, rồi đặt ống tre vào, để ngập khoảng hơn phân nửa ống, cho vào mỗi ống một muỗng muối, khuấy đều, đợi nửa tiếng. Máu heo trong ống tre dần đông lại, lúc này máu heo hơi đặc được đổ vào một cái chậu gỗ có lỗ,’ để nước lạnh trong suối rửa sạch một lúc.

Trong khoảng thời gian này, cho phần thịt heo mỡ nhất vào nồi, rang vàng, lọc lấy mỡ, cho vào niêu đất đậy nắp kín lại, về phần tép mỡ thì cắt nhỏ ra để dùng sau.

Sau khi huyết heo đông lại thành từng cục nhỏ, nhấc chậu gỗ lên khỏi khe suối, để ráo nước, rồi đổ huyết heo vào nồi lớn, khuấy đều, cho hạt yến mạch đã giã nhỏ và lúa hoang đã ngâm nở vào, thêm tép mỡ, gia vị, xào thành hỗn hợp sền sệt, khi nguội một nửa thì dùng phễu đổ vào ruột sấy, cột thành từng đoạn nhỏ dài chừng mười centimet như lạp xưởng, treo vào kho thịt xông khói.

Dịch Huyền để lại hai cái lạp xưởng huyết* cho vào chảo và chiên cùng với một miếng thịt mỡ, sau khi chiên đến khi lớp da vàng đều thì gắp chúng ra dĩa, đợi nguội bớt thì có thể cắt thành những lát dày cỡ ngón tay.

*Dồi.

Món lạp xưởng huyết của Dịch Huyền được anh gọi là “Pudding đen”, ăn cùng với bánh mì làm từ tinh bột khoai tây và nấm chiên là một bữa sáng rất chắc bụng. Huyết heo rất giàu sắt và canxi. Ngoài ra còn có một nguyên tố vi lượng coban không có trong các loại thực phẩm khác, giá trị dinh dưỡng của nó khá cao.

Nhưng Hà Điền thì lại cảm thấy, trong lạp xưởng huyết có thêm bột yến mạch và lúa hoang ăn rất dai, cộng với các gia vị như đường, muối, nước tương và tóp mỡ rất thơm. Nếu không nói với cô rằng nó được làm từ huyết heo, cô sẽ chỉ nghĩ rằng đó là một loại bánh gạo tạp có mùi thơm đặc biệt, ăn khá ngon. Về hình thức, cô cho rằng màu nâu đen này không phải là không thể chấp nhận được. Có thể cho thêm bột than tre vào như lúc làm phô mai để có màu đậm hơn.

Vì vậy, món pudding đen đã xác lập được vị trí của mình trong công thức bữa sáng.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 111: Thực đơn


Vì mỗi ngày đều có thêm hơn chục quả trứng, Hà Điền và Dịch Huyền cũng đưa trứng vào thực đơn mà họ chuẩn bị trong quá trình xây nhà.

Mỗi bữa sáng có thể làm cho mỗi người một quả trứng luộc, hoặc là đánh lên, chiên với pudding đen cắt thành từng miếng, ăn với bánh mì yến mạch và uống một ly trà.

Một thực đơn dành cho bữa sáng khác là cháo hạt, trứng luộc, bánh hấp, và các món ăn kèm làm từ cải thảo muối cay và củ cải ngâm chua.

Loại thứ ba là bánh mì khoai tây, phi lê cá hồi muối và trà nóng.

Về phần cơm trưa, không phải họ đã bẫy được một con heo rừng lớn đó sao, vậy coi như là giải quyết xong.

Món mà Hà Điền nghĩ đến đầu tiên dành cho bữa trưa chính là thịt heo kho ăn cùng bánh mì nướng. Bánh mì nướng sau khi để nguội có thể cho vào túi vải treo trong hầm bảo quản, khi muốn ăn thì chỉ cần lấy ra và làm nóng là được, dùng dao làm bếp cắt một bên của bánh để cho thịt và rau vào. Đến lúc đó, bánh mì nóng hổi với thịt và rau, kèm theo một chén canh rau rừng nấm núi lớn, trong canh cho thêm một quả trứng, chính là một bữa trưa tuyệt vời, không mất thời gian mà lại còn ăn ngon.

Nếu ăn canh rau rừng, nấm núi với miến khoai lang thì thịt kho và bánh mì nướng có thể để làm bữa ăn tối.

Còn nếu đi làm về mệt, bất cứ lúc nào họ cũng có thể ăn bánh mì nướng để bổ sung năng lượng, và khi những người hỗ trợ này xuống núi thì cũng có thể để họ mang theo làm lương khô ăn trên đường.

Ngẫm lại thì, bánh mì nướng thật đúng là thứ tốt.

Hà Điền định sẽ làm xong một trăm cái bánh mì nướng trước khi khởi công, cô cảm thấy chuẩn bị trước như vậy mới không bị rối, đến lúc đó mọi người đều phải dùng đến sức lực, không phải lúc nào cô cũng có thể làm được đồ ăn ngon cho họ.

Vì vậy, trước vài ngày, cô đã xay bột để làm bánh nướng.

Họ chuyển máy xay ra, cho hạt bắp, yến mạch, lúa hoang, kê và các loại đậu vào một cái thùng lớn, rồi để Gạo kéo cột gỗ quay trong hơn một tiếng, sau khi sàng bột, ngày hôm sau, lấy tỷ lệ 1-1 trộn với bột mì rồi lại cho vào một cái thùng to, lần này thay lưỡi dao xay bằng lưỡi dao tre, cho men, một chén đường vào bột, thêm một thùng nước lã, rồi lại để cho Gạo kéo trộn đều thành bột bánh. Trong quá trình trộn, thỉnh thoảng Hà Điền sẽ đến kiểm tra xem có nên thêm nước hay không.

Sau khi bột được trộn đều, cô và Dịch Huyền sẽ nhấc thùng ra và phân thành nhiều phần, đổ bột vào chậu, sau đó phủ một miếng vải ngâm lên trên để bột tiếp tục lên men.

Để làm ra những chiếc bánh mì nướng, lần này Dịch Huyền xuất hết vốn liếng. Anh xuất trận, làm một cái lò lớn ngoài trời.

Phần đáy của chiếc lò này cũng giống như một cái bếp thông thường, nó là một cái bàn vuông nhưng được làm lớn hơn, với chiều dài cạnh là một mét năm và chiều cao gần một mét. Trên mặt bếp là hình bán cầu, trông giống như một cái lều tuyết do người Inuit xây dựng, có phần mở hình vòm ở phía trước và một ống khói nhỏ ở gần cửa.

Chiếc bếp này trông không phức tạp lắm. Nhưng khi chứng kiến toàn bộ quá trình làm, Hà Điền biết rằng sự thật hoàn toàn trái ngược. Dịch Huyền đang tận dụng hết kiến thức và kinh nghiệm về kiến trúc La Mã cổ đại của mình!

Trước khi xây bếp, anh đã đặt nền móng trước.

Làm móng không khó, anh san phẳng một mảnh đất, đóng cọc tre ở bốn góc, cột dây thừng vào giữa làm mốc, đào một hình vuông sâu mười centimet trên mặt đất dọc theo bốn đường này, san phẳng đất, cố định bốn phía bằng ván gỗ có cùng chiều cao, tiếp đó đổ xi măng đã trộn vào, rồi trải một lớp lát tre mỏng đan thành lưới đan chéo làm phần lõi, rồi lại đổ tiếp một lớp xi măng, dùng gỗ làm phẳng, sau đó cùng Hà Điền mỗi người ngồi xổm một bên, dùng một thanh gỗ vuông đẩy một lần, bề mặt xi măng liền trở nên trơn nhẵn.

Sau khi nền xi măng được làm kiên cố, Dịch Huyền dùng gạch và xi măng để ốp bếp, gạch được dùng làm bàn bếp là gạch đá bazan đã làm từ trước.

Sau khi gạch đá và bàn bếp đã khô, anh bắt đầu xây dựng “nhà tuyết nhỏ”.

Có vẻ như anh rất thích thú với quá trình xây dựng, lần nào Hà Điền chạy qua cũng đều thấy anh cười cả.

Mặc dù quá trình xây dựng phần đáy tròn của nhà nhỏ này có chút khó khăn nhưng nếu so với độ khó của việc xây dựng phần mở hình vòm trên mái thì điều này không đáng để nhắc tới.

Đầu tiên Dịch Huyền cố định hai tấm gỗ hình bán nguyệt bằng một vài cột gỗ nhỏ dài mười centimet. Khung gỗ này là công cụ quan trọng nhất để làm vòm cuốn.

Tiếp theo, anh đặt hai khối gỗ vuông ở hai bên khe hở rồi đặt một khung gỗ bằng ván hình bán nguyệt vào, sau đó ốp lần lượt các viên gạch theo đường vòng cung của khung gỗ, dùng xi măng cố định các viên gạch lại. Khi xi măng khô thì tháo khung gỗ ra, vòm cuốn đã sẽ được dựng xong.

Nhiều công trình kiến trúc vĩ đại ở La Mã cổ đại – Khải hoàn môn, kênh dẫn dòng, đường hầm vòm, đấu trường… đều dùng đến phương pháp xây dựng này.

Tiếp đó, Dịch Huyền sử dụng một kỹ thuật xây dựng khiến Hà Điền kinh ngạc hơn nữa – anh dùng các dải tre để làm khung đỡ, xếp từng lớp từng lớp gạch lên, “nhà tuyết nhỏ” dần được tạo thành, càng chất lên cao thì vòng tròn càng nhỏ dần, lúc chỉ còn lại một cái hình tròn nhỏ trên đỉnh, Hà Điền không khỏi đưa tay ra chạm vào phần đỉnh trước khi xi măng khô.

“Đền Pantheon cũng được xây dựng bằng cách này đúng không anh?”

Khi xi măng khô, tháo các giá đỡ dùng để đỡ kết cấu bên trong mái vòm ra, phần mái vòm hoàn thiện không hề có bất kỳ trụ đỡ nào.

“Đúng vậy.” Phần này được Dịch Huyền hoàn thiện với tốc độ nhanh hơn. Có thể thấy được rằng trước đây anh đã thực hiện việc này rất nhiều lần. “Điện Pantheon ở Rome, Nhà thờ Santa Maria del Fiore ở Florence, Nhà thờ St. Paul ở London, Nhà Trắng ở Hoa Kỳ… Cũng đều sử dụng kỹ thuật tương tự.”

Anh đặt viên gạch cuối cùng vào: “Thật sự là… của văn minh nhân loại.” Anh mím môi, như muốn nở nụ cười, hoặc cũng có thể là đang bối rối, cuối cùng, anh lắc đầu, tiếp tục trát đều xi măng.

Hà Điền hiểu điều anh muốn nói nhưng không nói ra được, chỉ biết thở dài là gì.

Những công trình kiến trúc, thành phố và kỳ quan tráng lệ do con người tạo ra đã bị bào mòn tàn nhẫn theo dòng chảy của thời gian và thiên nhiên, chỉ để lại chút di tích cho hậu thế tôn thờ và liên tưởng. Và có lẽ, trước thời kỳ lạnh giá, có rất nhiều nơi như vậy.

Cái lò này có thể dễ dàng cho một lúc mười cục bột đường kính chừng mười centimet vào, củi sẽ được chất thành đống ở trong cùng, sau khi cháy hết thì dùng xẻng tán cho đều ra một chút. Mặt bàn đá càng lúc càng nóng, lúc này giội một gáo nước lên, khi nước lập tức bốc hơi thành hơi nước thì có thể dùng xẻng gỗ để chuyền bột bánh mì vào lò nướng hình bán cầu này.

Xẻng gỗ tất nhiên cũng được làm đặc biệt, xẻng có hình vuông, nhìn từ bên hông, hai bên được cắt thành độ nghiêng mười lăm độ, giúp cho việc xúc và cho bột vào dễ dàng hơn.

Hà Điền dùng hai chiếc ghế đẩu nhỏ đặt ở bên cạnh lò, đặt khay tre, cái còn lại thì đặt một cái thớt, bên trên đặt một cái chậu và bột mì, Dịch Huyền sẽ nhào bột ở đây.

Bánh mì sau khi chín sẽ được lấy ra bằng xẻng gỗ, sau đó sẽ được cho vào khay tre để tản nhiệt, rồi lại dùng xẻng gỗ cho bột mới vào.

Sau một buổi chiều bận rộn, họ đã làm được hơn một trăm ổ bánh mì.

Cũng dùng bếp lò mới kho hai nồi thịt heo.

Hai nồi thịt kho này không chỉ có thịt đầu, tai, lưỡi, đuôi mà còn có cả tim, ruột và bao tử heo.

Bánh mì vừa mới nướng da vàng óng, thơm, giòn, cắt ra, cho một muôi thịt heo đã kho vào, thêm ít ớt xanh cắt nhỏ, ngon không tả nổi.

Một lựa chọn ăn trưa tiết kiệm thời gian và công sức khác mà lại cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và cân đối cho người lao động chân tay là mì.

Cho xương heo, xương vịt, gà rừng, và xương của những con cá lớn còn dính chút thịt vào nồi lớn, rồi lại thêm nấm hương, nấm dại, măng khô thu hoạch năm ngoái vào, sau đó nhét hai khúc củi vào bếp lò hầm từ từ trong hai tiếng, mùi thơm của nước canh bay khắp cả sân, làm cho Lúa Mì phải ngẩng đầu hít hít cái mũi thèm thuồng.

Sau khi nước canh nấu xong, để nguội rồi dùng rây tre lọc lại, sau đó đổ vào bình đất, có thể bảo quản ở trong hầm cả một tuần.

Khi nào muốn nấu mì thì lấy ra, nước dùng đậm đặc trong bình đất đã chuyển sang dạng sền sệt màu vàng nhạt, cho nước dùng vào nồi, thêm nước, sau khi nấu sôi thì cho mì vào, thêm một ít lá rau tươi, ăn với thịt heo kho hoặc cá tươi, rồi lại thêm một vài quả trứng ngâm nữa.

Mì sợi cũng làm sẵn đó.

Khuấy bột tương tự như khi làm bánh mì, nhưng lần này không cho men vào, mà có thể cho thêm vài quả trứng để bột co giãn hơn.

Rải một lớp tinh bột khoai tây hoặc tinh bột khoai lang lên thớt, cán mỏng bột ra, dùng dụng cụ làm mì ấn thành sợi to nhất rồi treo lên cọc tre cho khô. Khi khô được 80% thì lấy xuống, xoắn mì thành từng chùm hình số 8, đặt ở trong hộp gỗ có lót một lớp cỏ khô và tiếp tục phơi nắng. Lần này, phải phơi đến khi sợi mì bóp một cái là nát ngay mới đem bỏ vào hầm.

Ngoài bánh mì và mì sợi, họ còn làm mười mấy cái bánh màn thầu lớn và mười mấy cái bánh cuốn hoa.

Bánh làm với số lượng lớn không cần quá tỉ mỉ, sau khi nhào bột thành dải dài, dùng dao cắt thành từng miếng bằng nhau, bánh làm theo cách này có hình chữ nhật với các góc hình bầu dục.

Bột làm bánh cuốn hoa thì sẽ được cán thành một miếng tròn to, phủ hành lá xắt nhỏ đã xào với mỡ heo vào, cuộn lại từ một bên, lăn cho bánh tròn thành hình trụ rồi cắt thành các phần bằng nhau như cách cắt bột làm màn thầu, dùng đũa ấn vào giữa, giữ hai đầu, xoay và kẹp lại là xong.

Có bánh màn thầu và bánh cuốn hoa, có thêm nhiều sự lựa chọn hơn cho bữa sáng, hơn nữa, bánh màn thầu và bánh cuốn hoa cũng có thể được dùng để làm thức ăn chính cho bữa trưa và bữa tối cùng với rau, thịt và canh.

Có điều, kết cấu của chúng mềm hơn bánh mì rất nhiều, không gây cảm giác đói như bánh mì.

Thêm một sự lựa chọn thực phẩm chủ yếu khác cho bữa trưa nữa là cơm.

Nhưng trong cơm có trộn lẫn rất nhiều loại hạt. Bởi vì gạo không hề rẻ, đừng nói là đãi cho những người đến hỗ trợ ăn cơm trắng, ngay cả chính Hà Điền và Dịch Huyền cũng hiếm khi không cho hạt linh tinh này nọ vào nấu chung với gạo.

Mùa hè khi nông dân vùng miền núi đi làm đồng, mỗi buổi sáng nhiều người sẽ chuẩn bị cơm nắm mang theo, trong cơm có lẫn cả các loại đậu và hạt khác, được vo thành hình tròn hoặc hình tam giác, hình vuông, nếu nhà có điều kiện thì sẽ cho thịt hoặc trứng vào giữa nắm cơm.

Việc này không cần phải chuẩn bị trước, chỉ cần ngâm gạo một ngày trước khi làm cơm nắm là được.

Năm ngoái Hà Điền và Dịch Huyền thu hoạch được rất nhiều quả óc chó và hạt thông, cũng như rất nhiều đậu Hà Lan, đậu đỏ và bắp. Hà Điền dự định sẽ ngâm những thứ hạt này để làm cơm nắm. Đến lúc đó thịt heo rừng mà cô ướp cũng đã thấm rồi, cô sẽ lấy một miếng ra nấu, hoặc là nấu thịt xông khói, hay gói trực tiếp thịt kho ở bên trong nắm cơm, dùng lá dâu tằm tươi bao lại, rồi rưới nước mận đã ngâm gần một năm lên…

Nghĩ đến đây, Hà Điền không ngừng nuốt nước miếng, cô kêu Dịch Huyền đi nấu một bình trà mận chua, lúc nước sôi thì thêm mật ong vào, rồi họ đặt công việc xuống, ngồi ở hiên nhà mỗi người uống một ly, hứng làn gió rừng nhẹ thổi bay bay, tắm mình trong nắng xuân tươi đẹp và ấm áp.

Một nguyên liệu khác được họ chuẩn bị rất nhiều là đậu hũ.

Lần này làm đậu hũ cũng lại nhờ hết vào sức của Gạo, xay đậu, bỏ bã, ép hơi nước, tất cả đều phải dùng đến máy xay.

Sau khi làm khuôn gạch bê tông, Dịch Huyền làm thêm một vài viên gạch để ép đậu hũ. Viên gạch được làm từ các hạt bazan và tro núi lửa, bên trên được gắn hai tay cầm bằng tre cong cong. Sau khi đậu hũ được quấn kỹ bằng vải gạc và đặt trong hộp tre, nhấc tay cầm để xách gạch đặt lên trên đậu hũ, lúc xách lên cảm thấy thuận tiện hơn rất nhiều so với lúc trước, hơn nữa đậu hũ ép ra cũng đều hơn.

Đậu hũ trứng, đậu hũ khô, tàu hũ ky, đậu hũ non đều có thể nấu chung với thịt, sau khi nấu có thể ăn với thịt và rau khi còn nóng hoặc vớt ra làm rau trộn, ăn cùng với măng tươi và rau rừng luộc, thêm vào một ít dầu óc chó, một ít đường và một ít hạt óc chó giã nhỏ, ăn rất ngon.

Trong quá trình chuẩn bị thức ăn, Hà Điền và Dịch Huyền cũng dành một chút thời gian để đan một vài tấm thảm rơm, dù sao thì cũng không thể để mấy người hỗ trợ ngủ trên ván gỗ cứng được. Chỉ khi nghỉ ngơi hợp lý, người ta mới có nhiều năng lượng để giúp họ làm việc chứ!

Với lại cũng không thể để mọi người đứng ăn phải không? Họ bèn dựng một cái chòi rơm bên cạnh bếp ngoài trời, kê một cái bàn dài bằng ván gỗ, rồi lại làm thêm mấy cái ghế tre nữa.

Mọi thứ đều đã sẵn sàng, rất nhanh đã đến ngày một tháng sáu.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 112: Mì xào và cháo bột


Đầu tháng sáu, thời gian nắng càng kéo dài, đến bảy, tám giờ tối vẫn còn có nắng, không khí ẩm và ấm, dù cho có mưa thì đa phần đều bắt đầu từ khoảng mười giờ tối và sẽ tạnh trước bình minh, trong rừng đâu đâu cũng đều thấy nấm, lá hương bồ, rau cần ta mọc ở trong ao hồ, đầm lầy vừa non vừa ngọt, dùng lưới thả đại ở trong sông trong suối cũng bắt được nào tôm nào cá, tuyệt vời nhất là bây giờ là khoảng thời gian hiếm hoi và thoải mái trong năm không gặp phải mấy con bọ đáng ghét luôn bay khắp nơi chích người và động vật kia.

Lúc này, tất cả các loại cây trồng đều đã và đang phát triển mạnh mẽ, bà con nông dân có thể thư thả một chút, dành chút thời gian để làm thêm một số công việc. Chẳng hạn như, xây nhà.

Khoảng mười giờ sáng ngày một tháng sáu, Tam Bảo, Tát Sa và người đàn ông to con ấy đã đến chân núi nhà Hà Điền như đã hẹn.

Tát Sa cũng mang theo một thuyền củi.

Hà Điền và Dịch Huyền cũng không nghĩ cái anh to con kia sẽ đến thật, ngoài sự bất ngờ và vui mừng ra, họ càng đối xử với anh ấy nhiệt tình hơn.

Ông anh to con này có một cái tên tao nhã không phù hợp với ngoại hình của mình một chút nào: Sở Vân Tây.

Anh ấy được sinh ra trong một buổi chiều tà, trên bầu trời lúc ấy xuất hiện một đám mây rực rỡ, ba anh ấy như được truyền cảm hứng, và đã đặt cho anh ấy một cái tên tao nhã như vậy.

Sở Vân Tây đến nhà Tam Bảo hồi tối hôm qua, ngoài việc mang theo nệm và quần áo của chính mình, anh ấy còn mang theo một túi bánh bột bắp. Lên bờ rồi, anh ấy đưa túi đồ ăn cho Hà Điền, không hề khách khí nói với cô: “Em gái, về nhà nấu một ít canh nóng và trà cho bọn tôi đi! Ở đây không cần cô.”

Hà Điền không còn cách nào khác là phải về nhà, giao công việc chuyển củi và dụng cụ cho mấy ông lớn này.

Tam Bảo mang đến cho họ hai ống tre sữa cừu lớn mà họ đã vắt sáng nay. Hà Điền đem về nhà cất tạm trong hầm.

Hai anh em nhà nhà họ Phổ hôm nay đến rất sớm, lúc này cũng cùng mọi người chuyển củi.

Hà Điền nghĩ, bọn họ đi ngược dòng đến đây, tuy thuyền của Tát Sa được trang bị động cơ diesel nhưng ước tính cũng tốn rất nhiều công sức, lúc này có lẽ họ đã đói rồi. Vì vậy, cô bắt đầu chuẩn bị làm đồ ăn, để bọn họ ăn chút gì đó bổ sung năng lượng trước.

Cô đốt hai cái bếp, một cái thì bắt một cái nồi, bên trong đáy nồi là bánh mì, cô chỉ đốt vài nắm cỏ khô để làm cho bánh nóng lại, còn một cái nồi còn lại thì đựng đầy bột mì, bỏ thêm chút đường nâu. Đun lửa nhỏ xào một lúc, bột mì chín vàng, có mùi thơm như caramen thì bắc nồi xuống, múc vào sáu chiếc chén lớn, sau đó đổ một giá nước sôi vào chén, vừa đổ vừa khuấy đều để nó trở thành cháo, rắc một ít đậu phộng, quả óc chó, và hạt thông rang rồi đặt trên bàn tre bên ngoài căn bếp tạm.

Cuối cùng, Hà Điền lấy những ổ bánh mì nóng hổi ra cắt một đường, cho một giá tương mè vào mỗi ổ bánh.

Sáu người chuyển củi xong, Dịch Huyền mang mấy người Tam Bảo đến chỗ tạm trú đã làm, họ nói chuyện rôm rả suốt dọc đường, ngồi xuống là có đồ ăn nóng hổi để ăn.

Trước khi ngồi xuống, hai em nhà họ Phổ đều nhìn về phía Dịch Huyền, thấy anh gật đầu thì mới dám ngồi.

Ông anh Sở Vân Tây ăn một nửa ổ bánh mì, bưng chén lên uống một hơi nửa chén cháo bột, sau đó khen Hà Điền: “Em gái, tay nghề của cô giỏi ghê.”

Gia đình anh ấy sống ở vùng đồng bằng thấp hơn, mặc dù ở gần đó có rừng cây nhưng phong cảnh và khí hậu rất khác so với chỗ của nhà Hà Điền, độ cao so với mặt biển chênh lệch gần cả một nghìn mét chứ đùa! Trên đường đi anh ấy đã hỏi Tát Sa và Tam Bảo rất nhiều câu hỏi, bây giờ đến nhà Hà Điền, ngoại trừ lúc ăn ra thì miệng không hề ngừng nghỉ, còn không hề khách sáo yêu cầu Dịch Huyền đưa mình đi tham quan một lượt. Vì vậy, mấy người Tam Bảo cũng đi theo luôn.

Nhìn thấy nhà kính mà họ xây, rau quả trong đó đều phát triển hơn cả mong đợi, anh em nhà họ Phổ đã thấy hồi mùa đông rồi nên không có gì ngạc nhiên cả, nhưng mấy người Tam Bảo thì lại lạ lẫm vô cùng.

Náo nhiệt một lúc lâu, mọi người mới chú tâm lại vào việc xây nhà.

Dịch Huyền lấy từ trong nhà ra một khay gỗ lớn đặt lên bàn, mọi người nhìn vào, đều biết nhà của Hà Điền muốn xây kiểu gì và xây ở đâu ngay — vì họ đã làm một mô hình nhỏ.

Những ngọn núi, rừng cây, nhà gỗ, và thậm chí cả căn nhà tạm nơi họ đang ngồi bây giờ cũng đều có hết.

Con sông gần nhà Hà Điền chảy từ Bắc xuống Nam. Nhà Hà Điền thì ở bờ Tây của con sông. Ngôi nhà gỗ hiện tại của cô quay mặt về hướng Nam, cửa ra vào và cửa sổ cũng quay về hướng Nam. Những mảnh đất trồng rau đều nằm trên sườn đồi gần sông, giữa chúng và nhà gỗ là một số kho nhỏ nằm rải rác xung quanh. Cách nhà gỗ hơn hai mươi mét về phía Nam là một con suối quanh co uốn lượn, con suối chảy theo đường chéo từ Tây Bắc xuống Đông Nam dọc theo thế núi chảy xuống gặp con sông dưới núi. Mặt khác của con suối được nối thẳng với một cái ao trước nhà, nhìn kỹ thì thấy nó được đào thủ công, cái ao là một hình tròn không đều, góc Đông Nam là chuồng vịt mới xây, phía ngoài chuồng vịt được ngăn bằng cọc tre. Gà, vịt, thỏ, dê đều đi lại tự do trong khu rừng đó.

Mà căn nhà mới muốn làm nằm ngay góc Đông Bắc của căn nhà gỗ hiện tại, sát vách phía Đông, tường của nhà cũ và nhà mới cách nhau khoảng hai mét, được nối với nhau bằng một hình ô lưới nhỏ, phần lưới này chỉ có mặt phía Nam là có tường hoàn chỉnh, ba mặt còn lại được mở hoàn toàn, tức là ở phía Tây của hình lưới, bức tường của căn nhà gỗ hiện tại cần phải được cưa mở. Mọi người nhìn đến đây, đều không khỏi quay đầu nhìn về phía ngôi nhà gỗ ọp ẹp của Hà Điền, quả nhiên, họ nhìn thấy một hình vuông dài được vẽ bằng vôi trên tường gỗ, ở đó sẽ được cưa ra, làm cửa. Phía Đông lưới, trên vách nhà gỗ mới xây cũng có cửa. Còn cửa ở phía Bắc lưới dẫn đến một ô vuông nhỏ vẽ biểu tượng ngọn lửa.

“Đây là cái gì?” Tát Sa chỉ vào ký hiệu ngọn lửa nhỏ, hỏi. Anh ấy đã giúp dân làng xây dựng nhiều căn nhà và chuồng dê bằng đất, nhưng chưa từng thấy kiểu mô hình như thế này bao giờ.

“Đó là một bếp lửa.” Dịch Huyền trả lời.

Lúc này Sở Vân Tây và Tam Bảo cũng thắc mắc “Sao lại đặt bếp ở bên ngoài nhà?” “Trong nhà gỗ không phải đã có bếp rồi sao?”

Dịch Huyền lấy một cuốn sổ bìa da và mở nó ra, bên trong là những bức vẽ khác nhau do anh vẽ. Anh mở hình ảnh mặt cắt của phòng sưởi sàn và giải thích: “Cái bếp này được dùng để làm ấm sàn nhà.”

Một đám người nhìn hình rồi lại nhìn nhau, một mặt cho rằng ý tưởng này rất tốt, nếu xây thì nhà sẽ rất ấm, mặt khác thì lại phân vân, có thể xây được không đây? Họ thậm chí còn chưa nghe nói về nó bao giờ, bây giờ muốn họ xây như vậy có được không?

Nhưng rồi họ lại khôi phục sự tin tưởng với Dịch Huyền. Dịch Huyền nói tất cả đều đã được anh mô phỏng lại thành mô hình nhỏ bằng gỗ, bao gồm cả cái chòi tranh nhỏ mà bọn họ đang ngồi bây giờ. Anh lấy mái của nhà gỗ ra, bên trong có sàn, khung, xà, tường ngăn, cầu thang, sau khi tháo hết thì sàn nhà cũng có thể mở ra được, thì ra ván gỗ được khoét rỗng và được khảm theo mô hình làm từ các mảnh gỗ nhỏ, cái gọi là tấm sưởi sàn này vốn là các ống nối được nối với bếp lò bên ngoài nhà gỗ, khi có lửa, hơi nóng sẽ theo ống nối tỏa ra, sưởi ấm toàn bộ sàn nhà.

Đây cũng không phải là phần đáng ngạc nhiên nhất.

Sở Vân Tây đã tự mình xây nhà gỗ, khi nhìn thấy mô hình và bản vẽ do Dịch Huyền thực hiện này, anh ấy lo lắng nói: “Chú em, kế hoạch này của chú tốt đó, nhưng tôi sợ sẽ không hoàn thành nó trong năm nay được đâu. Với lại, vừa rồi lúc giúp Tát Sa chuyển củi, tôi đã xem xét, số gỗ mà chú chuẩn bị có thể sẽ thiếu khoảng mười bốn mười lăm cây. Hay là chú nghĩ lại đi, bây giờ xây một tầng trước, sang năm lại xây thêm một tầng nữa?”

Hà Điền liền cho họ xem các mối ghép mộng tiêu chuẩn mà họ đã làm, chỉ cách sử dụng vật liệu này để ốp tường, và dùng những vật liệu gì để lấp vào.

Điều này lại khiến Sở Vân Tây ngạc nhiên, sau khi cầm trên tay một vài bộ phận tiêu chuẩn và nghiên cứu một lúc, anh ấy lại ghé thăm xưởng gỗ, rồi phất tay gọi mọi người: “Tranh thủ bắt tay vào làm thôi nào!”

Mọi thứ đều đã được chuẩn bị đầy đủ, Sở Vân Tây, Tát Sa, Tam Bảo và hai anh em nhà họ Phổ đều mang theo những dụng cụ tiện dụng thường ngày của mình. Đêm qua Dịch Huyền và Hà Điền đã cắm hơn chục cọc tre xuống đất, giăng dây và phân chia nơi cần đào đất. Dịch Huyền giải thích cách đào, Sở Vân Tây rất có ý thức bắt đầu đóng vai trò quản đốc, dẫn dắt mọi người đào và chuyển đất.

Hà Điền cũng đã sớm lấy găng tay lao động và ủng bảo hộ bằng mây do cô làm ra, nón bảo hộ thì hiện tại không cần thiết. Mấy người họ khá hài lòng với những công cụ phụ trợ này.

Tiến độ công việc rất nhanh.

Đến một giờ chiều, một cái hố hình chữ nhật đã được đào trong khu vực được bao quanh bởi cọc tre và dây, hố nơi đặt bếp lửa và ống khói đã bắt đầu hình thành. Hai rãnh sâu ở bốn phía để làm nền đã được đào, thành và đáy của rãnh cũng được nén chặt. Sở Vân Tây và Tát Sa là người có hình thể cao lớn nhất, họ rất có ý thức tự giác đảm nhận việc đóng cọc gỗ, hai người thay phiên hô hào, đóng những chiếc cọc gỗ xuống hố.

Lúc này Hà Điền cũng đã chuẩn bị bữa trưa cho bọn họ.

Cô nghĩ, lúc sáng đã cho mọi người ăn bánh mì rồi, vậy bữa trưa sẽ ăn gì đó khác, vậy nên cô đã nấu cơm gạo tạp, làm một món thịt và một món rau.

Trong gạo có trộn khoai lang cắt khúc, đậu đỏ, đậu Hà Lan ngâm, hai củ cà rốt rửa sạch cắt miếng nhỏ cỡ hạt đậu, cho hết vào một cái tô lớn đặt vào lồng hấp, bên trên lồng đậy một tấm vải gạc. Sau khi được hấp, những viên khoai lang và đậu bên trong tô lớn màu đen trông rất đẹp mắt, khí trắng tỏa ra trong không khí, mùi thơm rất đỗi ngọt ngào.

Cô làm hai món, một món kho gồm trứng, đậu hũ, lạp xưởng, và gan, món còn lại là rau trộn, gồm khoai tây, cà rốt và đậu hũ khô cắt sợi, trang trí thêm chút ớt xanh.

Sở Vân Tây ngồi xổm bên suối rửa tay, khen Hà Điền trước mặt Dịch Huyền: “Vợ của chú đảm đang thật đó, làm đồ ăn ngon thì thôi khỏi nói, ngay cả mấy cục xà phòng nhỏ này mà cũng làm thật tinh xảo.”

Khi phát găng tay lao động, giày và nón bảo hộ, Hà Điền cũng đưa cho mọi người mỗi người một cục xà phòng, được cho vào túi rơm nhỏ và cột vào thắt lưng để tiện sử dụng bất cứ lúc nào. Nhân khẩu trong nhà đông lên, cần phải chú ý vệ sinh, nếu không lỡ mà bị bệnh truyền nhiễm thì coi như tiêu tùng.

Dịch Huyền nghe mọi người khen Hà Điền, còn hãnh diện hơn cả người được khen, nhưng anh vẫn làm ra vẻ khiêm tốn đáp lại: “Nào có giỏi như anh nói, cô ấy chỉ làm cho vui thôi.”

Tát Sa vẫn một mực nghĩ về việc nung gốm, lúc sáng cập vào bờ của bến thuyền nhà Hà Điền, Dịch Huyền hướng dẫn mọi người trực tiếp chuyển số củi mà anh ấy đã mang đến vào kho củi cạnh lò gốm. Anh ấy nhìn vào lò gốm cũng thấy không có gì đáng ngạc nhiên cả, anh ấy không nói gì mà thầm dặn lòng phải quan sát nhiều hơn, chú ý hơn.

Bản thân anh ấy là người có tay nghề nên anh ấy cũng biết một đạo lý, là “Trò đến tìm thầy chứ thầy nào đi tìm trò”. Sau khi ăn uống xong, anh ấy nhìn tô chén của nhà Hà Điền, xà phòng cô dùng để rửa tay và những cục xà phòng đông cứng thành những bông hoa khác nhau kia, trong lòng thoáng có chút mông lung, đồ gốm có đẹp hay không có lẽ còn phụ thuộc vào gu thẩm mỹ của mỗi người. Có lẽ chính vì những thứ nhỏ nhặt cần dùng trong cuộc sống hàng ngày này chẳng cần đến yếu tố thẩm mỹ đẹp đẽ gì nên đồ gốm do họ làm ra mới bền và chắc như vậy.

Năm người họ vừa ăn vừa hỏi một loạt câu hỏi như trứng kho đậu hũ là trứng gì, cách làm như thế nào, sợi đậu hũ trong rau trộn là gì, nhà kính làm như thế nào, rồi lại thở dài cảm thán, mùa này mà có ớt ăn quả là không đâu có được.

Mọi người đều đã no nê, trà do Hà Điền pha không nóng cũng không lạnh, mấy người họ đi làm về mệt mỏi, chẳng mấy chốc đã uống cạn một ấm trà lá tre.

Uống trà xong, mấy người Tam Bảo đi vào căn nhà được sửa sang lại tạm thời từ xưởng làm đồ da nghỉ ngơi, lúc này Hà Điền và Dịch Huyền mới nhớ ra rằng họ không có chuẩn bị chỗ nghỉ ngơi cho anh em nhà họ Phổ. Họ không về nhà vào buổi trưa, phải có một nơi để họ có thể nằm xuống chợp mắt.

Cái này cũng dễ xử lý, hai cái bàn gỗ mọi người ngồi ăn cơm vừa rồi được ghép lại với nhau, trải mấy lớp mành cỏ và hai cái rèm cửa mùa đông lên, rất mềm mại, bên trên có mái cỏ che, hai người họ nằm trên đó nghỉ ngơi cũng rất thoải mái. Anh em nhà họ Phổ nghĩ nó khá ổn, rèm cửa đã được giặt và phơi khô, mùi còn thơm hơn cả mùi trên người họ nữa.

Sau khi nghỉ ngơi xong, sáu tên đàn ông quay trở lại tiếp tục làm việc.

Thẳng đến giờ ăn cơm tối, bọn họ đã đào gần hết phần móng, đường ống thông với bếp và hố sâu cần thiết cho ống khói của căn nhà.

Bếp lò thấp hơn nền nhà mấy chục cm, có một đường ống xiên lên trên nối với ống khói, phía trên là lò sưởi thông tầng.

Sau khi hoàn thành phần này, họ còn phải đặt một vài tảng đá lớn bên dưới bếp và ống khói.

Đến bữa tối, Hà Điền bắt một cái nồi lớn lên luộc mì, đập một chục quả trứng vào một cái tô, khuấy hỗn hợp trứng xong rồi cho vào chảo xào lên, sau đó mở một hũ thủy tinh đựng cà chua, cắt nhỏ ra xào chung với trứng. Mì chín rồi thì vớt ra, rưới trứng xào cà chua lên, thêm ít thịt viên và rắc hành lá thái nhỏ.

Bữa ăn tối này cũng làm cho mọi người rất hài lòng.

Cà chua mà Hà Điền ngâm trong hũ vẫn ăn rất ngon, vị chua ngọt càng kíc.h thích vị giác của người ăn.

Anh em nhà họ Phổ ăn tối xong thì chèo thuyền về nhà, bọn họ phải về nhà cho heo ăn và dọn dẹp một chút.

Mấy người Tam Bảo cơm nước xong thì ngồi vận động một lúc rồi mạnh ai nấy nghỉ ngơi.

Dịch Huyền rất hài lòng với tiến độ ngày hôm nay, anh mở sổ ghi chép và đánh dấu vào lịch trình.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 113: Pizza


Sau khi mặt trời lặn, những người đến hỗ trợ có thể nghỉ ngơi, nhưng Hà Điền và Dịch Huyền thì vẫn còn bận rộn.

Hai ống sữa cừu lớn mà Tam Bảo mang đến phải được làm thành phô mai càng sớm càng tốt.

Việc làm phô mai của họ chẳng mấy chốc lại thu hút những người kia.

Tam Bảo đã làm phô mai nhiều lần, vì vậy anh ấy đã giải thích quy trình chế biến cho Sở Vân Tây và Tát Sa.

Lần trước Sở Vân Tây mua một con cừu mẹ ở chợ vì lo con gái mình không đủ dinh dưỡng, hơn nữa sau khi sinh lỡ mà vợ anh ấy không đủ sữa thì có sữa cừu rồi, không cần phải lo lắng nữa.

Với lại mẹ và mẹ vợ của anh ấy cũng đã nhiều lần nói phụ nữ sinh con nhiều lần, cho con bú nhiều sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến cơ thể, anh ấy sợ vợ mình mất sức sau sinh, dự định sau khi sinh con thì sẽ cho con uống một nửa sữa mẹ một nửa sữa cừu, lúc này thấy được quy trình làm phô mai, yên lặng ghi nhớ ở trong lòng.

Dịch Huyền chỉ vào váng sữa đã được lọc, nói với Sở Vân Tây: “Có người bị đầy hơi và tiêu chảy khi uống sữa bò và sữa cừu. Đó là do bị dị ứng với đạm sữa, bên trong váng sữa không có đạm sữa, nhưng vẫn có rất nhiều chất dinh dưỡng, có thể cho họ uống thứ này.”

Váng sữa cũng có thể làm thành phô mai.

Hà Điền có cất hai hũ thủy tinh lớn đựng váng sữa và sữa bơ ở trong hầm, từ sau khi Tam Tam cho họ sữa cừu, cô đã nghĩ sẽ đổ chất này vào sữa đậu nành khi làm đậu hũ. Thử xem có thể làm ra món ăn khác nữa không. Nhưng bởi vì thấy sữa cừu quý quá nên khi trộn hai chất lỏng lại với nhau, Hà Điền đổ hai hũ thủy tinh lớn vào nồi, sau đó thêm hai ly sữa cừu vào trộn đều.

Dịch Huyền đứng ở bên cạnh nhìn, đột nhiên la lên làm Hà Điền giật mình.

Anh chạy đi lấy giấm trắng: “Anh quên mất, váng sữa cũng có thể làm phô mai!”

Thêm giấm trắng vào váng sữa và đun đến 70 hoặc 80 độ C để tạo ra váng sữa phô mai. Đạm trong váng sữa sẽ từ từ cứng lại thành cục, phô mai được chế biến theo cách này hầu như không chứa Casein, thích hợp cho những người không dung nạp được Lactose.

Váng sữa phô mai này được gọi là Ricotta, trong tiếng Ý có nghĩa là “Re-cook”, ý là “Nấu lại”.

Dịch Huyền nhớ lại cách làm váng sữa phô mai. Bọc phô mai đông lại bằng vải gạc rồi vắt khô nước. Anh cười nói với Hà Điền: “Tốt hơn là nên để phô mai ở trong một cái ống nhỏ bằng dây mây rồi treo lên, hơi ẩm sẽ chảy ra từ các kẻ hở trên dây mây, phô mai thành phẩm sẽ có đường vân.”

Hà Điền đã thật sự làm ra một vài ống nhỏ bằng dây mây như Dịch Huyền mô tả. Phô mai thành phẩm được nén chặt trong đó và treo ở nơi thoáng mát và thông gió. Sau khi váng sữa phô mai hơi cứng lại thì lấy ra, toàn thân có màu trắng tinh, ăn vào không có mùi sữa đậm đặc như phô mai sữa cừu, vị nhạt, hơi giống đậu hũ.

Tam Bảo và Sở Vân Tây vừa xem vừa đặt câu hỏi, Dịch Huyền và Hà Điền trả lời từng câu một.

Sau khi phô mai đặc lại, hai người đã cho ba người bọn họ nếm thử hai loại phô mai khác nhau, mọi người thay phiên cho ý kiến, bình luận rất sôi nổi.

Nước vắt ra khi làm váng sữa phô mai cũng không để lãng phí, lúc này đun ở trên lửa lớn, sau đó hạ lửa nấu sôi, không đậy nắp nồi, để nước bay hơi càng nhiều càng tốt, thỉnh thoảng thì khuấy đều. Khi nước đã cạn gần đáy nồi, trên thành nồi xuất hiện nước ngưng tụ như váng đậu, đó là chất đạm còn lại trong váng sữa.

Khi nước trong nồi cạn hoàn toàn, Hà Điền dùng chổi tơ tre quét lớp bột trắng lại với nhau, xúc vào một cái nia tre, lấy một miếng vải gạc đậy lại, sau đó dùng dây da buộc cố định mép gạc trên nia tre, rồi cùng Dịch Huyền chuyển nia tre ra chỗ trống.

Sau khi phơi một hoặc hai ngày, nước đã bay hơi hết, có thể quét lớp bột trắng trong nia tre lại và bảo quản trong hộp kín.

Những loại bột đạm này có thể được thêm vào bột mì như một chất bổ sung dinh dưỡng khi làm mì, bởi vì không có mùi vị gì nên sau khi thử một lần, Hà Điền không có khuynh hướng coi nó như thức ăn. Nhưng mấy loại bột đạm này có thể được trộn vào thức ăn của gia cầm và gia súc để bổ sung chất dinh dưỡng cho chúng trong mùa đông.

Sau khi xem xong toàn bộ quá trình chế biến, Sở Vân Tây đã vô cùng kinh ngạc: “Hai người thật đúng là sống không uổng cuộc đời mà! Một chút cũng không lãng phí.” Anh ấy nhìn Tam Bảo và Tát Sa: “Chúng ta đến đây không chỉ để hỗ trợ thôi đâu, còn học được rất nhiều thứ đó chứ.”

Mấy người nói chuyện phiếm một hồi, đêm đã sâu, Hà Điền cất túi vải gạc bọc phô mai và ống mây vào nhà, mọi người giúp đỡ thu dọn rồi về ngủ tiếp.

Sáng sớm hôm sau, sau khi ăn sáng xong, công việc lại bắt đầu.

Nơi làm nhà, tiếng đập gõ xen lẫn với tiếng hô hào của Sở Vân Tây và Tát Sa liên tục vang lên, lúc Hà Điền nấu cơm trong căn bếp tạm bợ hay khi đang làm việc trong nhà kính và trên đất trồng, thỉnh thoảng cô sẽ cảm thấy dưới lòng bàn chân mình chấn động theo, đó là do họ đang làm móng nhà.

Đến trưa, Hà Điền bảo họ tạm dừng công việc để ăn cơm.

Mọi người rửa tay rửa mặt bên suối núi, khi bước vào bếp tạm, tất cả đều rất thích thú.

Chu Vân Tây chỉ vào tám cái bánh tròn to đùng trên bàn cười nói: “Em gái, bánh cô làm khá là to đó, còn to hơn cả cái đầu của bọn tôi nữa! Hahaha!”

Hà Điền ngồi xuống với họ, cầm một miếng bánh lên nói: “Đây là bánh pizza đó! Dịch Huyền đã dạy tôi làm. Tôi đã dùng phô mai đã làm hồi hôm qua.”

Đừng nói Sở Vân Tây chưa từng nhìn thấy qua bánh gì tên pizza, cả Tam Bảo, Tát Sa và hai anh em nhà họ Phổ cũng chưa từng nhìn thấy loại bánh pizza này bao giờ.

Mỗi chiếc bánh có đường kính gần ba mươi centimet, được đặt trong một chiếc dĩa gốm lớn, cắt thành dấu + và X, chia làm tám miếng, cầm một miếng bánh lên, thế mà lại kéo ra từng sợi màu trắng dinh dính, khí trắng tỏa ra, còn mùi thơm thì ngào ngạt.

“Đây là phô mai chúng ta làm tối hôm qua?” Vẻ mặt Sở Vân Tây hết sức kinh ngạc: “Không phải đều bị ép thành từng cục sao? Sao lại kéo sợi thế này?

Anh ấy lại nhìn những miếng bánh đã cắt: “À, ra là bánh bột mì.”

Lò nướng bằng đá cũng không phải xây chuyên dụng để nướng bánh mì không thôi.

Dịch Huyền nhiệt tình lắm, nhà có sẵn phô mai và nước sốt cà chua, ba nguyên liệu quan trọng nhất để làm bánh pizza đều đã đủ cả, chỉ cần một chiếc lò nướng bằng đá nữa thôi là đủ để làm ra bánh pizza chính tông rồi!

Khi bếp đá đã sẵn sàng, trước tiên nướng một ít bánh mì đã, sau đó rồi mới thử làm bánh pizza.

Anh và Hà Điền nhào bột, cán bánh, phết một lớp sốt cà chua lên mặt bánh, rắc phô mai, cuối cùng cắt vài lát lạp xưởng lên trên, dùng xẻng gỗ cho vào lò đá nung nóng. Sau khi nướng một lúc, dùng xẻng gỗ xúc bánh lên rồi lật ngược một chút để bánh pizza chín đều hơn, sau hai mươi phút là bánh pizza nóng hổi, thơm phức được lấy ra khỏi lò!

Khi Hà Điền ăn pizza lần đầu tiên, cô đã rất ngạc nhiên khi phô mai tan chảy và trở thành những sợi đàn hồi, mà sự kết hợp mới lạ giữa sốt cà chua và phô mai thì lại càng tuyệt vời hơn nữa.

Sau khi ăn qua một lần, Hà Điền càng thêm ngưỡng mộ người dân La Mã.

Không hổ là một quốc gia có thể vì ăn bánh mì mà xây dựng cả một đền thờ.

Hôm qua lúc ăn tối, Hà Điền thấy mọi người đều thích ăn trứng xào cà chua, nên sau khi làm phô mai xong, cô đã nghĩ trưa hôm nay sẽ làm pizza!

Ăn ngon và nghỉ ngơi đầy đủ, tinh thần của mọi người cũng đều rất tốt, tốc độ làm việc cũng nhanh theo.

Đến cuối ngày kết thúc công việc, phần móng của ngôi nhà đã được đào xong, nền đất và bốn rãnh sâu bên rìa cũng đã được làm kiên cố.

Ngày hôm sau, khi đã đến lúc đặt nền móng, sáng sớm Hà Điền và Dịch Huyền đã lấy chiếc máy trộn thùng phuy dùng để trộn xi măng ra, điều này khiến mọi người vô cùng ngạc nhiên.

Tiếp đó, Dịch Huyền hướng dẫn mọi người loại bỏ tro núi lửa, vôi, cát, hạt bazan và đá bọt, bắt đầu trộn xi măng dùng để đổ nền.

Hà Điền và Tát Sa dọn những chiếc cọc tre mà họ đã chuẩn bị từ sớm để làm phần lõi ra, ở ngay bên cạnh, cứ mười hai cây mà cột thành một cái lồng dài.

Sở Vân Tây đã chấp nhận việc Hà Điền và Dịch Huyền có suy nghĩ khác người thường, nhưng trong lòng anh ấy không khỏi có chút lo lắng: “Chú em, cần phải đặt mấy tảng đá lớn vào thì mới chắc chắn chứ!”

Dịch Huyền cười nói: “Có cả đá nữa, anh đừng lo.”

Đúng thật, sau khi xi măng đã được trộn đều, Dịch Huyền thêm đá vào rồi tiếp tục để Gạo đẩy cây sào gỗ trộn lên.

Sau đó, anh nghiêng thùng phuy, xi măng trộn bên trong rơi ầm ầm xuống xe gỗ nhỏ bên dưới, rồi đẩy xe xuống nền và đổ vào rãnh sâu, mọi người vội vàng dùng sạn, xẻng san đều ra, rồi lại dùng ván gỗ đẩy cho bằng phẳng, Hà Điền và Tát Sa đặt khung tre vào, đổ tiếp xi măng đã trộn lên.

Sau khi đổ một rãnh xong, Dịch Huyền lấy ra sáu khối gỗ vuông có mặt cắt ngang đường kính ba mươi centimet và chiều dài bốn mươi centimet, đặt chúng vào xi măng theo vị trí được đánh dấu trên cọc tre và dây.

Những khối gỗ này được đóng đinh bằng đinh sắt, sau khi xi măng đông kết lại thì có thể lấy ra.

Đổ xong bốn móng thì trời cũng đã xế trưa.

Sau bữa trưa, Dịch Huyền đưa mọi người ra bờ sông để kéo gỗ. Họ chọn bảy, tám cây gỗ lớn dài khoảng sáu bảy mét kéo về nhà, đầu tiên là vào xưởng chế biến gỗ, cưa hai cây gỗ thành những cột gỗ vuông, có mặt cắt ngang bốn mươi centimet.

Hai cây cột gỗ này là khung ngang trên và dưới của bức tường. Sau khi cưa và bào, Dịch Huyền đục sáu lỗ vuông có đường kính hai mươi centimet trên một trong số chúng và để cho bọn họ khoét phần gỗ bên trong và mài nhẵn. Cây còn lại cũng được đục ở cùng vị trí, nhưng lỗ hình vuông này chỉ có đường kính mười centimet.

Số gỗ còn lại đều được xẻ thành các trụ vuông đường kính hai mươi centimet, dài sáu mét. Sau khi cưa, vẽ một hình vuông có đường kính mười centimet vào một đầu của mỗi cột, và cưa dọc theo bốn cạnh để tạo thành một lỗ mộng hình vuông có đường kính mười centimet.

Đến lúc này thì Tát Sa đã hiểu rồi, sau khi lấy những khối gỗ trong móng ra, đặt khung ngang lên trên móng, lỗ vuông trên khung ngang và lỗ vuông trên móng hoàn toàn đối diện nhau, sau khi khung dưới cùng được cắ.m vào theo chiều dọc thì đổ xi măng để cố định, dựng khung trên, nối khớp mộng của các trụ đứng và các rãnh trên khung trên là hoàn thành kết cấu tường.

Ngoài ra còn có các lỗ khảm được đục ở một bên của trụ ngang trên và dưới, chắc là để nối các trụ tường lại với nhau.

Phương pháp xây dựng này thật sự thông minh.

Để bào và xẻ gỗ phải mất thời gian cả một ngày.

Đến trưa ngày hôm sau, phần móng đã cứng hoàn toàn, có thể lấy cọc gỗ đóng trên khung móng ra ngoài.

Dịch Huyền và mấy người họ đặt các cột gỗ khung ngang lên hai xe đẩy bằng gỗ, đẩy chúng đến bên cạnh nơi thi công, và nâng chúng lên khung nền xi măng đã đông cứng.

Họ đặt các cột gỗ thẳng đứng sao cho khớp với lỗ vuông, sau đó dọc theo trong và ngoài khung đóng hai lớp ván gỗ, đổ xi măng vào rồi cố định khung ngang.

Bây giờ có thể đổ xi măng xuống rãnh sâu còn lại và đặt một cái khung bằng cọc tre vào.

Đổ móng xong, mọi người lại ra bờ sông mang gỗ về, lại bào, lại đẽo.

Những mảnh dăm, mùn cưa từ việc cưa gỗ cũng được quét dọn cẩn thận, cho vào những chiếc sọt tre lớn, chất vào kho.

Dịch Huyền nói, đây sẽ là vật liệu dùng để làm tường.

Đợi đến khi đổ xong bốn khung móng và đặt khung dưới cùng của các cột gỗ, Sở Vân Tây, người từng nghi ngờ rằng nhà của Dịch Huyền có thể đến mùa thu cũng không thể cất nóc được đã bị thuyết phục. Giờ đây, cũng như những người khác, anh ấy tin chắc rằng ngôi nhà này có thể cất nóc trước khi họ rời đi.

Làm đến ngày thứ tư, khung gỗ trên bốn bức tường đều đã được dựng lên.

Khung gỗ làm mái nhà đã được Hà Điền và Dịch Huyền làm sẵn, lúc này trên khung gỗ đã kê một vài tấm gỗ dài, chỉ cần cột dây rồi kéo lên, lắp ráp vào, gõ khớp nối, kết chặt chúng lại với nhau.

Nháy mắt, ngôi nhà đã được dựng xong.

Sở Vân Tây và Tam Bảo cùng cảm thán: “Thật không thể ngờ!”

Thật ra trong lòng họ vẫn còn nghi ngờ, liệu nhà xây theo cách này có vững chắc như nhà gỗ do ông và bà Hà Điền xây dựng không đây?

Khung mái gỗ vừa mới lắp xong, gió rừng thổi lồng lộng, trời kéo mây đen.

Hà Điền vội nhờ Tát Sa giúp cô lấy những tấm vải dầu đã chuẩn bị sẵn từ trong kho ra, chuyển từng cuộn từng cuộn cho những người đứng trên mái nhà, còn cô thì vội vã chạy đi che mành cỏ cho ruộng kê.

Dịch Huyền hướng dẫn mọi người treo tất cả vải dầu lên, ngay khi họ vừa trèo xuống thì cơn mưa ập đến.

Những hạt mưa lớn như hạt đậu rơi trên mặt đất, làm tung tóe bùn đất, nền đất mềm xốp bị mưa xối thành những hố nhỏ.

Tất cả mọi người ngồi ở trong chòi bên căn bếp tạm bợ, uống trà nóng và ngắm nhìn ngôi nhà trùm áo mưa vải dầu.

Tam Bảo sờ ly trà, nói: “Hai người thật đúng là chuyện gì cũng đều nghĩ ra được.”
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 114: Miến thịt heo


Nhà mới của Hà Điền và Dịch Huyền thành hình với tốc độ đáng kinh ngạc, bởi vì công việc chuẩn bị được thực hiện rất tốt, đến ngày thứ bảy khi những người trợ giúp đến, không chỉ phần khung cơ bản của ngôi nhà đã được dựng xong, mà tính năng quan trọng nhất của nhà mới là lò sưởi sàn, cũng được dàn đều.

Lúc thực hiện khâu này, tất cả mọi người, kể cả Hà Điền, đều chỉ có thể nghe theo sự chỉ huy của Dịch Huyền. Chỉ có mỗi mình anh là biết cấu tạo của lò sưởi sàn trông như thế nào mà thôi.

Đầu tiên, rải một lớp cát mịn bên trong nhà, sau đó dùng gạch xếp thành đường dẫn hình thước gấp, một đầu nối với lò lửa mới xây bên ngoài nhà, đầu còn lại nối với ống khói bên kia nhà.

Ống khói cao ba mươi centimet, có khe hở ở giữa năm mươi centimet, đi vào từ góc Tây Bắc của ngôi nhà và thoát ra từ góc Đông Bắc, khoảng cách giữa các ống thoát là năm mươi centimet, trông giống như một con rắn cố thủ bên dưới sàn nhà.

Sau khi đường ống quanh co này được che đậy lại, Dịch Huyền đã dẫn mọi người rắc một lớp cát trộn sỏi, mảnh đá bọt, mảnh gốm vỡ, hạt gốm nhỏ và những khối muối thô vào trong đường ống, ngoài ra cũng đào một cái hố tại bốn góc nhà, đặt chậu gốm rỗng vào, sao đó cho những hạt gốm và khối muối vào trong chậu.

Dịch Huyền nói rằng làm vậy là để điều chỉnh độ ẩm trong ống khói. Nếu khói nóng quá thì gạch sẽ nứt, khói thoát ra từ các khe nứt sẽ bay lên, không chỉ khiến cho nhà mù mịt khói mà ngay cả nhiệt lượng vốn có cũng sẽ mất đi. Tất nhiên, ống khói cũng không được quá ẩm.

Sau khi trải lớp sỏi này, Dịch Huyền hướng dẫn mọi người phủ một lớp gạch đá lên đường ống và bịt đường ống thật kỹ bằng bùn và bê tông. Lớp gạch đá này đương nhiên là gạch đá bê tông bazan do anh và Hà Điền đã làm.

Lúc này mấy người Sở Vân Tây, Tam Bảo mới được nhìn thấy loại vật liệu xây dựng mới này. Gạch làm từ đá bazan dày, chắc, bề mặt phẳng đen xen lẫn những hạt thủy tinh bazan nhỏ, đơn giản mà đẹp mắt.

Sau khi ống khói được đóng lại, đợi một đêm và sau đó là bắt đầu thí nghiệm.

Bản thân Dịch Huyền sáng hôm đó cũng khá lo lắng, anh ném củi vào lò lửa mới, đốt lửa và hồi hộp chờ đợi cùng mọi người.

Tuy rằng ngoài mặt vẫn vô cùng bình tĩnh, nhưng Hà Điền biết trong lòng anh thì không như vậy, bởi vì anh đang siết chặt tay cô, làm cô cảm thấy hơi đau.

Sự chờ đợi của những người trông đợi dường như dài vô tận, thực tế thì cũng chỉ trong hơn một phút mà thôi, khói xanh đã xuất hiện từ ống khói bên kia ngôi nhà.

Những người hỗ trợ cùng nhau reo hò, Dịch Huyền thì lại thở hắt ra, sau đó quay sang Hà Điền, cùng cô nhìn nhau cười.

Ống khói đã được chế tạo thành công.

Sau đó, Dịch Huyền hướng dẫn mọi người lấp đầy các khoảng trống giữa các đường ống lại bằng cát, rồi san bằng mặt đất.

Nếu như sự chỉ huy trước đây của Dịch Huyền chỉ khiến cho mấy người Tam Bảo nghĩ rằng là do họ không quen với các kỹ năng xây dựng, thì giờ đây, mỗi một việc làm của anh đều khiến cho họ liên tưởng đến một kiểu phép thuật nào đó.

Dịch Huyền chặt nhiều cành và lá bách tươi về, tướt thành từng nhúm, trải phẳng trên mặt đất phủ một lớp bùn, rồi dùng một lớp bùn nữa đắp lên.

Sở Vân Tây hỏi anh: “Chú em, cành bách này dùng để làm gì vậy?”

Dịch Huyền nghiêm túc trả lời: “Chống ẩm.”

Sở Vân Tây, Tam Bảo và Tát Sa nhìn nhau, trên mặt cả ba người đều như đang viết “Có ma mới tin!” “Nhất định là bùa phép chắc luôn!” “Mê tín.”

Nhưng bất kể có thế nào thì chủ nhà cũng là lớn nhất.

Cả ba người họ cũng không xoắn xuýt về việc cành và lá của cây bách tươi làm sao mà chống ẩm được nữa, thành thật giúp Dịch Huyền trải sàn nhà.

Khi lớp bùn này đã khô hoàn toàn thì có thể đặt một tấm khung gỗ và lót sàn gỗ lên.

Trong khi chờ bùn khô, Hà Điền và Dịch Huyền bắt đầu lát tường.

Họ lấy những tấm tường tiêu chuẩn đã hoàn thiện ra, ghép các khớp nối của hai lớp gỗ dọc theo khung, sau một lúc, họ đã làm được một bức tường dài hơn hai mét và cao hơn một mét. Sau đó thì đổ đầy mùn cưa, rêu khô và lông chim vào.

Trong số những người giúp đỡ này, Tát Sa là người có kinh nghiệm xây nhà phong phú nhất, nhìn thấy thao tác này cũng phải tặc lưỡi.

Sở Vân Tây cũng không khác gì, anh ấy thương lượng với Dịch Huyền và Hà Điền: “Hai người cho tôi ở lại thêm một ngày nữa được không? Tôi rất muốn xem nhà của hai người xây như thế nào. Ngày mai không cần trả tiền cho tôi đâu, cho ăn cơm là được.”

Ngay khi anh ấy nói xong, Tát Sa và Tam Bảo cũng cùng suy nghĩ đó.

Dịch Huyền và Hà Điền không ngờ phương pháp xây nhà “từng phần tiêu chuẩn” này của họ lại được hoan nghênh đến vậy, bàn bạc xong xuôi, trong nhà có đủ đồ ăn nên đã đồng ý.

Tuy nhiên, nói trước sợ mất lòng, qua ngày hôm nay ba người bọn họ không phải là người hỗ trợ nữa, bọn họ ở đây xem kỹ thuật mới, cho nên mọi việc mà họ làm không phải là giúp đỡ nữa, mà là luyện tập kỹ thuật mới. Nuôi cơm thì cũng được, nhưng chỉ có thể chăm chước thêm ba ngày nữa mà thôi, nếu muốn tiếp tục ở lại học hỏi kỹ thuật thì không được.

Một là Hà Điền và Dịch Huyền không có đủ thức ăn, hai là muốn học bất kỳ kỹ thuật nào thì cũng đều có cái giá của nó!

Mọi người thương lượng xong, ba người bọn họ đồng ý ở thêm ba ngày, anh em nhà họ Phổ thì không có hứng thú tìm hiểu kỹ thuật mới gì, nhưng được lo cơm nước nên bọn họ cũng ở lại luôn. Dù sao thì trong khoảng thời gian này họ cũng không có nhiều công việc đồng áng, chiều tối ăn cơm xong thì về nhà, cho heo ăn, tưới rau trồng rồi làm cỏ mà thôi.

Giờ đây, lực lượng lao động đã dư thừa rất nhiều so với kế hoạch ban đầu của Dịch Huyền, tất nhiên việc xây dựng nhà sẽ nhanh hơn nhiều so với kế hoạch ban đầu.

Ba ngày sau, nhìn căn nhà mới chỉ cần lắp cửa ra vào và cửa sổ vào nữa là hoàn thành, Hà Điền và Dịch Huyền đều cảm thấy không thể nào tin được.

Tường, mái và sàn đều đã làm xong hết rồi!

Tát Sa bây giờ ngưỡng mộ Hà Điền đến cực điểm.

Dịch Huyền nói với anh ấy rằng những tấm ván gỗ tiêu chuẩn bao phủ các bức tường và mái nhà kia đều do Hà Điền làm cả.

Nhìn thấy ánh mắt sùng bái của Tát Sa, Dịch Huyền nhếch miệng cười đắc ý.

Ngôi nhà mới về cơ bản đã hoàn thiện xong, nhưng bên trong thì lại rỗng tuếch.

Tầng hai của ngôi nhà cũng đã được xây nhưng thô sơ hơn, cầu thang không có tay vịn, chỉ là một tầng sàn, không có rào chắn, vì phòng mưa, mấy ô vuông chưa lắp cửa sổ đều được che bằng vải dầu trắng. Khả năng truyền sáng rất tốt và điều đó cũng chứng tỏ biện pháp thi công mới “vách gỗ rỗng và có thêm vật liệu cách nhiệt” thật sự hữu ích, giúp ngôi nhà trở nên ấm áp.

Về phần phải xây tường bên trong như thế nào, Hà Điền và Dịch Huyền vẫn chưa nghĩ ra.

Ngôi nhà gỗ từ thời thơ ấu của Hà Điền không có tường bên trong. Chỗ ngủ ở phía trên gác và có thang lên xuống đơn giản. Nhà bếp, phòng khách và phòng ăn đều ở tầng dưới. Trước khi bắt đầu trồng trọt vụ xuân, không gian này sẽ được dọn gọn lại để nuôi cây con.

Theo cô, việc tận dụng không gian mở là vấn đề cần phải được ưu tiên nhất.

Ngoài ra, tuy là nhà mới nhưng diện tích tầng một không lớn hơn nhiều so với nhà cũ. Đây cũng là điều dễ hiểu, bởi vì vào mùa đông lạnh giá, nhà càng rộng thì cũng càng cần nhiều nhiệt thì mới có thể giữ ấm được.

Vì vậy đối với không gian khoảng 30m2, cô nghĩ không cần thiết phải xây tường trong để ngăn chia phòng làm gì. Có một điều ở ngôi nhà ban đầu khiến cô cảm thấy khó chịu từ lâu là khi nấu đồ chiên này nọ sẽ bốc mùi lên gác, nhưng điều này đã được giải quyết. Họ dự định sẽ nấu ăn trong nhà cũ, mùa xuân cũng sẽ ươm giống ở đó. Toàn bộ nhà mới sẽ là phòng ngủ và phòng khách. Thậm chí cô còn cảm thấy nhà mới không cần thiết phải làm thành hai tầng.

Nhưng, rõ ràng, suy nghĩ của Dịch Huyền khác với của cô.

Trước khi sống với Hà Điền, Dịch Huyền gần như chưa từng sống chung với ai. Giống như những người giàu có ở tất cả các thành phố, chỗ ở của anh được chia thành nhiều phòng với các chức năng khác nhau, bao gồm nhà vệ sinh, phòng tắm, phòng ăn, phòng ngủ, phòng làm việc và sinh hoạt, thậm chí là phòng chơi game. Vì chi phí sưởi ấm không hề có trong phạm vi cân nhắc của những người sống trong loại nhà này nên những căn nhà này đều có cửa sổ lớn có thể mang lại nhiều ánh sáng và một số phòng thậm chí còn có nhiều hơn một cửa sổ lớn.

Tất nhiên là ở trong rừng thì không thể làm cửa sổ lớn được.

Cửa sổ lớn hơn đồng nghĩa với việc tản nhiệt nhiều hơn, và đồng thời, nó cũng rất nguy hiểm. Gấu không thể phá tường nhà gỗ, nhưng phá cửa sổ thì rất dễ dàng.

Vì vậy, sau nhiều lần thảo luận, anh muốn có một bức tường bên trong có thể di chuyển được, có thể phân chia không gian thành các mục đích sử dụng khác nhau và cũng có thể cất đi một cách tiện lợi.

Điều khiến Dịch Huyền và Hà Điền ngạc nhiên là Tát Sa đã cung cấp cho họ một ý tưởng mới.

Thứ mà Tát Sa am hiểu nhất chính là xây dựng nhà bằng đất. Nói là nhà thì có hơi hơi nói quá, nhưng anh ấy đã xây dựng rất nhiều kho chuồng bằng đất, bốn phía là tường đất nện, thêm một cái mái nhà, hoặc nên nói là ba bức tường rưỡi. Vì nhiều chủ nhà không cần cửa để tiết kiệm chi phí và thấy phiền phức nên chỉ xây một nửa tường, nửa tường còn lại để gia súc biết nơi ra vào.

Trong hàng ngàn năm trước khi xuất hiện cái lạnh khắc nghiệt, đất nện đã được sử dụng rộng rãi. Một số thành phố cổ được xây dựng bằng đất vẫn còn tồn tại đến hàng nghìn năm sau, bên trong một số bức tường còn được đóng thêm cọc tre hoặc gỗ để tăng cường chống đỡ.

Vật liệu để làm đất nện dễ kiếm nên giá thành thấp hơn nhiều so với nhà gỗ, nhà gạch; tường đất nện có ưu điểm mà một số vật liệu không có được là hấp thụ nhiệt. Ban ngày phơi nắng hấp thụ nhiệt, ban đêm tỏa nhiệt chậm như tản nhiệt nên rất thích hợp làm nhà ở những vùng lạnh khắc nghiệt. Nhưng nó cũng có nhiều khuyết điểm, ngại mưa, mọc cỏ, không đủ đẹp.

Nhưng nếu để nó ở trong nhà thì sao?

Nó sẽ là vách ngăn di động trong nhà, mùa hè gấp lại, mùa đông lại lôi ra, đặt ở nơi trực tiếp với cửa sổ, đến tối sẽ từ từ tỏa nhiệt đã hấp thụ cả một ngày.

Về phần đẹp xấu, Tát Sa không nghĩ đây sẽ là vấn đề. Đồ gốm do Hà Điền làm có màu sắc rất đẹp. Hầu hết chúng đều có màu đen sẫm nguyên thủy với kết cấu mịn. Họ có thể sử dụng cùng một loại đất, thêm đất trắng, cát sỏi hay một số hạt thủy tinh bazan và thủy tinh núi lửa nhỏ, đất được nện ra đại khái cũng có màu sắc và kết cấu tương tự như gạch đá bê tông, bình hoa và chậu mà họ đã làm trước đây.

“Dụng cụ để làm đất nện tôi đều có đủ cả, lần sau đến tôi sẽ mang theo.” Tát Sa cũng đã tính trước cho họ.

Dịch Huyền và Hà Điền nhìn nhau, đạt được đồng thuận.

Hà Điền hỏi Tát Sa: “Anh dạy chúng tôi làm đất nện, vậy muốn thù lao như thế nào?”

Quả nhiên, Tát Sa nói: “Tôi muốn học kỹ thuật xây tường ngoài của cô.” Anh ấy dừng lại rồi nói thêm, chỉ vào chuồng vịt ở phía đối diện suối núi: “Không chỉ vậy, tôi thấy chuồng vịt cũng rất đặc biệt. Tôi muốn biết nó được xây dựng như thế nào.”

Anh ấy vừa nói xong, Sở Vân Tây cùng Tam Bảo và hai anh em nhà họ Phổ cẩn thận nhìn chuồng vịt một lượt, đúng thật là ngôi nhà nhỏ màu đen xám này trông rất khác với những ngôi nhà bình thường.

Dịch Huyền cười nói: “Anh thật đúng là cái gì cũng muốn học. Như vậy đi, chúng tôi có thể dạy cho anh, lấy cách thức trao đổi, anh dạy lại chúng tôi cách làm đất nện, nếu được thì đến đây ở một tuần.”

Tát Sa suy nghĩ một lúc, ngay lập tức đồng ý.

Kỹ thuật làm đất nện đã có từ rất lâu đời, không phải chỉ có mỗi mình anh ấy biết, nhưng các bộ phận mộng và mộng tiêu chuẩn mà Hà Điền làm ra lại là kỹ thuật độc nhất quanh đây.

Chiều hôm đó, ngôi nhà của Hà Điền và Dịch Huyền đã cơ bản hoàn thành, phần còn lại là trang trí nội thất và sản xuất đồ đạc họ đều phải tự mình làm. Công việc của những người trợ giúp đến đây coi như đã xong.

Chiều nay, Hà Điền nấu một nồi thịt heo lớn, thêm nấm núi và nấm hương đã ngâm vào, nấu từ lúc ăn cơm trưa xong đến giờ ăn cơm chiều mới cho thêm miến khoai lang.

Cô cũng đã hấp bốn lồng bánh cuốn hoa lớn. Một nửa của bánh là bột mì trắng như tuyết, và một nửa là bột mì trộn nhiều loại hạt có màu vàng nâu, hai loại bột này được xếp chồng lên nhau trông khá đẹp mắt.

Miến thịt heo dọn ra mỗi người một tô, cùng với một lồng bánh cuốn hoa to đùng, ai ăn thì lấy, bữa tối này ăn cũng rất ngon.

Một lồng bánh cuốn hoa sẽ dành cho bữa sáng ngày mai, hai lồng còn lại thì cho mấy người bọn họ mang đi trên đường. Anh em nhà họ Phổ thì không có đãi ngộ này.

Ngoài bánh cuốn hoa, Hà Điền cũng hấp cho Tát Sa, Tam Bảo và Sở Vân Tây một miếng thịt xông khói lớn, còn cho họ mỗi người một ống tre nhỏ đựng củ cải khô và cải thảo ngâm.

Chiều hôm đó, sau khi thảo luận về lần gặp tiếp theo với Tát Sa, Hà Điền và Dịch Huyền đã cùng nhau đưa những người trợ giúp trở lại chỗ ở tạm của họ.

Trên đường về, hai người nắm tay nhau, nhìn ngôi nhà mới của mình trong ánh chiều tàn, rồi nhìn lẫn nhau, lòng thấy xúc động và có cả tự hào.

Màn đêm càng lúc càng trầm, trong rừng cây ngoài cửa sổ, vài con côn trùng nhỏ ríu rít ngân nga.

Mùa hè lặng lẽ đến rồi.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 115: Ngó sen trộn


Tiếng côn trùng kêu đầu tiên trong rừng đánh dấu sự xuất hiện chính thức của mùa hè.

Rất nhanh, đủ loại côn trùng nhỏ xuất đầu lộ diện.

Ong, bướm, dế, bọ rầy, bọ xén tóc, châu chấu… những loài côn trùng này cứ bay quanh vườn rau. Những con ong thì bận rộn thu thập mật hoa, còn mấy con khác tuy rằng cũng giúp thụ phấn, nhưng mục đích chính của chúng là gặm nhấm tất cả các loại rau mà Hà Điền đã dày công trồng trọt.

Những năm trước, Hà Điền sẽ rất buồn rầu đi bắt sâu bọ, hay là nấu một nồi nước ớt và tiêu lớn, để nguội rồi xịt lên lá để xua đuổi lũ côn trùng này thì năm nay, bọn họ không còn phải vất vả như vậy nữa.

Mỗi sáng, Lúa Mì đều chủ động nhảy qua con suối, háo ha háo hức đứng ở cửa chuồng vịt, Dịch Huyền mở cửa, nó hào hứng nhảy vào, một lúc sau, đàn vịt hốt hoảng chạy thành đàn, lắc lư theo chiếc cầu gỗ nhỏ dựng gần suối và chuồng vịt chạy ra vườn rau.

Những con vịt được Lúa Mì lùa vào ruộng kê, chúng loạng choạng giữa những cây mạ, vỗ cánh, những con bọ nhỏ ẩn trên lá kê cả một đêm đều giật mình bay ra, bất kể là trứng, ấu trùng rơi xuống đất hay là con trưởng thành muốn bay đi, thậm chí cố gắng chui vào đất thật nhanh, đều chẳng mấy chốc mà đã chui vào cái miệng bẹt bẹt của lũ vịt.

Sau đó, Lúa Mì sẽ lùa đàn vịt ra khỏi ruộng kê chạy đến vườn rau sau hiệu lệnh của chủ.

Vịt không thích bới đất như gà. Bàn chân có màng và mỏ bẹt của chúng không thích hợp để bươi bới. Nếu thả gà vào ruộng rau, sức phá hoại của chúng có khi còn hơn cả đám côn trùng.

Khi vịt kết thúc công việc diệt bọ hàng ngày, Lúa Mì sẽ sủa và lại làm nhiều hành động đe dọa để xua lũ vịt ra khỏi vườn rau.

Nó lượn vòng sau mông vịt, hễ con vịt nào bị bỏ lại hoặc không nghe lời, nó sẽ lập tức lao vào đe dọa một cách hung dữ khiến vịt vỗ cánh kêu la.

Hà Điền đứng ở cửa lắc đầu: “Đúng là chó sủa vịt kêu. Om sòm.”

Sau khi bước vào mùa hè, mỗi buổi sáng đều bắt đầu một cách náo nhiệt như vậy.

Mấy con côn trùng nhỏ ăn chay này vẫn dễ dàng đối phó, nhưng còn mấy con côn trùng nhỏ hút máu thì thật sự là một vấn đề đau đầu.

Hà Điền đặt một vài miếng vỏ cây bạch dương đã cắt từ mùa xuân lên bếp để nướng, sau đó úp nồi sắt lên trên vỏ cây, khói từ nhựa trong vỏ cây nhanh chóng chuyển thành màu đen nâu dinh dính bám vào thành nồi. Đem chất này cạo ra, pha loãng với mỡ rồi bôi vào người Gạo, Lúa Mì, và lên mặt mũi, cũng như những phần bụng, chân tay có ít lông của hai con cừu để tránh muỗi đốt.

Thuốc mỡ này rất hiệu quả để xua đuổi côn trùng, nhưng năm ngoái Dịch Huyền đã kiên quyết từ chối sử dụng. Anh thà quấn thêm một chiếc khăn vải quanh cổ và chịu đựng cái nóng hơn là bôi thuốc mỡ có mùi thối hoắc này lên người.

Mùi thuốc mỡ thật sự không được dễ chịu cho lắm, bởi vì mỡ dùng để nấu chảy đều là mỡ động vật còn sót lại. Đối với gia súc thì không sao, nhưng sao lại dùng nó cho người?

Vì vậy, năm nay Hà Điền đã đặc biệt cải tiến công thức, sử dụng sáp ong thay vì mỡ, cộng với bột mịn nghiền từ các loại cây có mùi thơm như cây xương bồ, bạc hà, cúc núi, xô thơm,… để làm thuốc mỡ chống côn trùng cho người.

Thuốc mỡ còn chưa có làm xong, Dịch Huyền đã vào trong kho gốm tìm ra hai chiếc hộp gốm hoa nhỏ tinh xảo, sau khi rửa sạch chúng, anh cột một sợi dây da vào mép nắp, đổ thuốc đã hoàn thành vào. Sau khi đông đặc lại, nó trở thành một loại thạch màu hổ phách đậm, khi xoa lên cổ còn ngửi được mùi thơm.

Vì có mùi thơm nên anh thoa rất thường xuyên, mới mấy ngày mà đã dùng hết một hộp.

Hà Điền phải đưa anh và Lúa Mì đến khu rừng bạch dương gần nhà, cắt một vài mẩu vỏ cây về để làm thuốc mỡ.

Lần này làm thuốc mỡ, theo yêu cầu của Dịch Huyền, Hà Điền cũng cho nước ép hoa hoắc hương tím và hoa hồng vào. Ý định ban đầu của Dịch Huyền là làm cho màu của thuốc mỡ trông đẹp hơn, nhưng màu thành phẩm lại đậm hơn trước, nhìn gần giống với loại bọn Lúa Mì đang dùng, có điều mùi thì lại thơm hơn.

Để dễ mang theo, anh đã làm hai chiếc hộp nhỏ bằng những ống trúc, rồi lại dùng lá của cây hương bồ đan thành một chiếc lồng nhỏ và treo nó trên thắt lưng.

Vì xây nhà và công tác chuẩn bị nên từ hơn mười ngày trước hè họ đã rất bận rộn, ban ngày anh chỉ đạo và tham gia xây nhà, Hà Điền thì chịu trách nhiệm nấu nướng, chăm sóc cây trồng trong nhà, cho gia súc ăn, hiện tại nhà đã được xây xong, nhưng công việc dồn dập trong mùa hè năm nay vẫn còn chưa hoàn thành kịp, mái nhà cũ cần phải sửa sang, mái nhà mới thì phải được trát bùn, giờ nuôi thêm hai con vật ăn cỏ, số lượng cỏ khô chuẩn bị cho mùa đông càng tăng thêm nữa.

Nhà đã xây xong nhưng vẫn chỉ là một cái vỏ rỗng mà thôi. Họ cần phải làm một số đồ nội thất, cửa ra vào và cửa sổ mới, cũng như thanh vịn cho các bức tường di động và một mái hiên bên ngoài nhà để kết nối nhà cũ và nhà mới lại với nhau, vân vân và vân vân.

Bởi vậy mà danh sách việc cần làm trên sổ tay ngày càng dài ra, thu thập ý dĩ, chuẩn bị dây gói bánh ú nhỏ, và làm nhiều đồ trang trí khác nhau cho Tết Đoan Ngọ. Mức độ ưu tiên của những việc này càng ngày càng thấp.

Tuy nhiên, đối với Hà Điền, Tết Đoan Ngọ là một trong những ngày lễ quan trọng nhất trong năm như Xuân phân, Trung thu, Đông chí, Tết Dương lịch, có thể giản lược nhưng không bao giờ bỏ sót.

Vì vậy, vào một ngày mùa hè đầy nắng, trước khi mặt trời mọc, cô đã mang Lúa Mì và Dịch Huyền, chèo thuyền đến hồ nước cạnh hạ lưu sông để thu thập lá và cây hương bồ.

Mười mấy ngày nay bận rộn xây nhà, Hà Điền hầu như không ra ngoài thu cá, nên khi nhìn thấy những chiếc lá xanh kỳ lạ to tròn mọc trên dòng sông quen thuộc, cô sững sờ.

Những chiếc dĩa xanh lớn nhỏ này nằm ép sát vào nhau, trên lá là những giọt nước tròn căng lấp lánh, hơn nữa trên sông lúc này còn có sương, trông thật là ảo diệu làm sao.

“Đây là gì vậy anh?”

“Đó là lá sen!” Dịch Huyền kích động nắm lấy vai Hà Điền lắc lắc vài cái: “Chúng ta đã thành công! Chúng ta trồng được củ sen rồi!”

“Hả…? Chúng ta trồng nhiều như vậy?” Hà Điền cố gắng nhớ lại, đúng là bọn họ đã hái rất nhiều đài sen trở về, rất nhiều đài sen đã bị ném xuống suối để chúng trôi dạt tự do, sau đó lúc đi bắt cá, bọn họ cũng đã ném không ít hạt sen, còn đào một vài cái vũng và hố bên cạnh đầm lầy và ao…

Vậy tức là nói… phương pháp gieo hạt hên xui lại thành công hơn là họ tận lực đào hầm đào hố? Mấy cái chậu đặt ở trong nhà chăm như bảo bối thì lại không lớn được bao nhiêu, lá to nhất cũng không hơn lòng bàn tay, thân cây thì mỏng manh, khi có gió thổi qua thì đung đưa như một thiếu nữ yếu ớt.

Dịch Huyền siết chặt mái chèo chèo vài cái, đưa thuyền đến bên mép lá xanh, anh ghé vào mạn thuyền, xắn tay áo, dọc theo lá cây thò vào trong nước, có tiếng động nhẹ, sóng nước rung chuyển, anh cầm trong tay một đoạn rễ to cỡ bằng ngón tay, rửa sạch trong nước, đưa cho Hà Điền.

Hà Điền cầm lấy thân rễ màu trắng như tuyết, nhìn kỹ: “Đây không phải là củ sen sao? Nhưng rất nhỏ!”

“Ừ, thứ này gọi là ngó sen, ăn ngon lắm! Như rau vậy!” Dịch Huyền cười cười, vươn tay thăm dò trong nước: “Sau khi ngó sen lớn lên sẽ trở thành củ, chính là củ sen.”

Hà Điền nghe vậy, lập tức cảm thấy ngó sen trong tay trở nên quý giá tựa như vàng ngọc: “Anh ngắt nó đi như vậy, không phải sẽ không thể trở thành hoa sen và củ sen nữa sao?”

“Đúng vậy, cho nên ngó sen quý hơn củ sen rất nhiều, hơn nữa chỉ có thời điểm này mới có.” Dịch Huyền vừa nói vừa ngắt thêm vài cọng ném vào trong khoang thuyền.

Hà Điền vội vàng nắm lấy cánh tay của anh ngăn lại: “Đừng ngắt nữa! Chúng vẫn còn chưa lớn mà!”

Bây giờ chưa phải là lúc để ăn đâu! Cọng này, cọng này nữa, toàn bộ trước mặt đều là bột củ sen, củ sen kẹp, bánh củ sen và canh sườn củ sen đó! Sao anh có thể đối xử với chúng như vậy?!

Dịch Huyền ôm Hà Điền lại, cười hôn lên môi cô hai cái: “Em cuống cuồng làm gì? Chúng ta chỉ nhổ ở nơi này thôi. Em thấy đó, trong ao và đầm còn nhiều lắm!”

Hà Điền thấy tiếc đứt ruột, nhưng cũng thật sự tò mò không biết món ăn quý giá như vậy có mùi vị như thế nào.

Dịch Huyền nhổ non nửa giỏ tre ngó sen, cùng Hà Điền tiếp tục chèo thuyền đi nhấc lồng cá lên.

Họ đã không đến đây gần hai mươi ngày rồi. Dù là trong lồng cá hay bẫy bằng cành cây, cái nào cũng đầy ấp cá. Ngoài ra còn có vài con lươn và cá chạch, chúng trườn trên đáy thuyền, Lúa Mì vừa sủa vừa chụp, nhưng cũng không thể bắt được bọn trơn trượt này.

Hái ngó sen, thu hoạch cá, Dịch Huyền và Hà Điền lại cắt rất nhiều cây xương bồ và ngải cứu, đồng thời cắt hai bó cỏ lớn, cột chặt đặt trên mũi thuyền, sau đó chèo thuyền về nhà.

Vì cưa gỗ tiêu thụ nhiều dầu diesel nên chỉ khi quay về họ mới sử dụng động cơ máy.

Sau khi trở về nhà, Dịch Huyền vui vẻ nhấc một giỏ ngó sen đến mép suối, đậy nắp giỏ lại và nhúng giỏ vào nước, để nước chảy rửa sạch ngó sen.

Năm nay lá hương bồ cắt về không được xé thành sợi mà là xé thành từng dải to bằng ngón tay rồi đan thành một chiếc “bánh ú” to hơn nắm tay. Chiếc “bánh ú” này chứa đầy lá ngải cứu và hoa cúc dại, có mùi thơm rất dễ chịu.

Hà Điền làm hơn chục chiếc bánh ú lớn, sau đó dùng khoảng chục chiếc lá hương bồ còn lại cột thành chùm để làm tua và gắn chúng bên dưới những chiếc bánh ú bằng lá hương bồ này.

Những chiếc bánh ú lá to này được xâu thành nhiều sợi bằng dây chỉ đỏ và treo dưới mái hiên của hai ngôi nhà gỗ, dưới cửa sổ, trong gió mang theo hương thơm thoang thoảng của cây cỏ.

Hà Điền cột ngải cứu thành nhiều bó rồi treo dưới cửa sổ và hai bên cửa ra vào.

Ngay khi mùa hè bắt đầu, trên cửa nhà phải được treo rèm tre.

Trước khi nhà mới được xây dựng, cô và Dịch Huyền đã chặt tre và đan một vài tấm rèm tre mới, hôm nay vừa lúc thay luôn.

Rèm tre mới chưa bị phơi nắng, vẫn là màu xanh nguyên bản, Hà Điền suy nghĩ một chút, liền lấy một ít xà phòng hoa làm năm ngoái ra, tìm một vài cục có cánh hoa hồng, khoan lỗ, cột dây rồi treo lên rèm.

Dịch Huyền nhìn nhìn: “Trông khá đẹp đó. Hay là mình cũng treo thêm vài cục dưới mái hiên.”

Năm ngoái họ đã làm rất nhiều nước xà phòng. Một đứa bé tò mò như Dịch Huyền đương nhiên là phải ra vài chiêu, chỉ riêng xà phòng hoa thôi mà đến giờ vẫn còn cả một hòm gỗ.

Hà Điền thật sự chọn một ít xà phòng hoa sáng màu, khoan lỗ, xỏ dây vào.

Xà phòng có một số là hình hoa cúc, một số có hình hoa mận và một số thì có hình lá. Chúng có các màu khác nhau. Một số loại có cỏ roi ngựa màu tím, hoắc hương và hoa cúc dại, cánh hoa hồng đỏ và hoa hồng cam, và có loại là lá xanh mướt như bạc hà, treo lên còn có tác dụng trang trí rất tốt.

Hai người đứng dưới mái hiên chiêm ngưỡng, một lúc sau Hà Điền mới lo: “Đẹp thì có đẹp, nhưng lỡ trời mưa thì sao?”

“Trời mưa thì mình lấy xuống.”

“Đi lại phải cẩn thận nha anh. Xà phòng mà nhỏ giọt trên sàn gỗ, phịch một cái – hahaha!” Cô còn chưa nói hết lời, Dịch Huyền đã nhẹ nhàng kéo vai cô ra sau, không biết bằng cách nào đó đã đá vào gót chân cô một cái, Hà Điền không tự chủ được ngã về phía sau, vừa vặn ngã vào trong vòng tay của Dịch Huyền, nhìn thấy anh cười xấu xa: “Cứ như vậy mà ngã ngửa! Hahaha!”

Hai người trêu đùa một lúc, đã đến giờ ăn trưa.

Bữa trưa hôm nay được nấu trên bếp lửa hồng trước khi đi ra ngoài vào buổi sáng. Trong nồi là vịt hầm cà rốt, trên nồi là lồng tre hấp cơm đậu mật hạt dẻ.

Dịch Huyền cắt ngó sen đã rửa sạch thành những lát mỏng theo chiều xiên, lại thêm một nắm hạt đậu Hà Lan non mềm, cho một chút giấm, muối đường và rắc một chút dầu mè rồi trộn lên, đổ ra dĩa gốm màu đen. Có màu xanh của đậu Hà Lan non phụ trợ, màu trắng như tuyết của ngó sen càng thêm óng ánh, nhìn là mê ngay.

Hà Điền gắp một đũa, cho vào miệng nhai, không cần phải nói hương vị giòn tan, quan trọng hơn là trong ngó sen có nước ngọt, mùi thơm lan từ miệng đến khoang mũi, hương thơm ngào ngạt khiến cô không thể không nhắm mắt và hít thở sâu để cảm nhận nó.

“Thế nào? Ăn ngon không em?”

“Ngon!”

Dịch Huyền cười híp mắt: “Lúc nãy đến nhà kính hái rau, anh thấy mấy quả đậu Hà Lan cũng sắp ăn được rồi. Dùng chúng kết hợp với ngó sen. Nếu có thể bắt được một con gà rừng thì tốt quá. Mà ngó sen xào thịt ăn cũng ngon.”

Hà Điền ước tính rằng những ngọn ngó sen còn lại nếu đem ngâm trong dòng suối lạnh giá trên núi thì có thể bảo quản được trong khoảng một tuần.

Trong khoảng thời gian một tuần này, dư sức để bắt gà rừng, dù không được cũng không phải là có thỏ đó sao? Thịt thỏ ăn ngon lắm.

Sau bữa trưa, Dịch Huyền vừa cười vừa bưng hai cái chén nhỏ tới.

Anh đưa cho Hà Điền một chén: “Em ăn thử đi!”

Trong chén nhỏ có đường, có một cây ngó sen nhìn giống trâm cài, chấm trực tiếp vào đường cắn thử, mùi thơm ngọt ngào thật không thể nào hình dung được.

Mùa hè thật đúng là một mùa tuyệt vời.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 116: Canh đậu hũ đầu cá và bánh ú đặc biệt


Mùa hè ở trong rừng, nhiệt độ cao nhất có thể lên đến 26 độ vào buổi trưa. Mặc dù nhiệt độ thấp nhất vào ban đêm vẫn dưới chục độ.

Đồng thời, thời gian nắng càng ngày càng dài, mặt trời mọc trước năm giờ sáng, đến buổi tối □□ giờ mà trời vẫn còn sáng.

Tận hưởng ánh nắng ấm áp và thời gian nắng dài, các loại cây trái và rau không ngừng phát triển.

Những lứa tằm đầu tiên do Hà Điền ấp ra cũng đã hoàn thành lần lột xác cuối cùng và bắt đầu leo núi.

Tằm leo núi, nói đúng hơn là tằm con sắp nhả tơ và kết kén.

Vậy tại sao lại gọi là “Leo núi”?

Theo cuốn sách trang rách trang mất có nói về cách nuôi tằm của nhà Hà Điền thì đó là do ngày xưa, vì để dễ dàng cho việc thu kén nên người nuôi tằm đã sử dụng những dải tre, rơm lúa mì, cành cây và các vật liệu khác để làm ra những thứ trông giống như một chiếc chổi ngược, đặt trong nia tre nơi chúng sống từ nhỏ đến lớn. Khi tằm sắp thành kén sẽ trèo lên những chiếc chổi nhỏ úp ngược trông giống như những cành cây tự nhiên này, cứ như thể chúng đang leo lên một ngọn núi nhỏ làm bằng cỏ cây vậy.

Để thuận tiện cho việc lấy kén tằm và hình thành kén, người nuôi tằm sẽ dựa trên kinh nghiệm của mình mà đắp “núi” thành hình chữ X.

Hà Điền cũng chọn phương pháp này.

Cô tìm một vài thanh tre mỏng nhất, hai cây đan chéo vào nhau, cắm chặt vào chiếc nia tre nơi tằm sống trong vài tháng. Căn cứ vào kích thước của chiếc nia tre và số lượng tằm, sẽ có từ ba đến năm chiếc nia tre.

Những con tằm muốn kết kén sẽ không còn ăn uống gì nữa, chúng cứ loanh quanh bò lổm ngổm trong nia tre, gặp “ngọn núi” làm bằng cành tre, chúng lập tức trèo lên theo bản năng và tìm một vị trí thích hợp giữa các cành, bắt đầu nhả tơ.

Khi mới bắt đầu nhả tơ, chúng sẽ kéo một mạng lưới giữa các cành cây, trông giống như một mạng nhện rất lộn xộn. Sau đó, con tằm ở lại giữa các mạng nhện và tiếp tục nhả tơ. Ngay sau đó, hình dạng cơ thể của chúng biến mất sau từng lớp tơ đó, nhanh thì chừng vài tiếng đồng hồ, lâu thì cả một đêm, không còn thấy tăm hơi đâu nữa, tấm lưới lộn xộn ban đầu đã trở thành một cái kén tơ thuôn dài.

Hầu hết các kén tạo thành đều có màu trắng như tuyết, vì năm ngoái Hà Điền đã chọn những kén to nhất, đầy đặn nhất và bóng bẩy nhất nên trứng do những con tằm ấy đẻ ra cũng giống như chúng, đều cho ra những chiếc kén to tròn và đẹp.

Nhưng mà vẫn có một số ít kén tằm có màu vàng vàng, hồng và xanh nhạt.

Hà Điền xem kỹ lại sách, tìm phần nói về di truyền của tằm, nhưng tiếc rằng phần nói về cách sàng lọc tuyển chọn tằm bị thiếu.

Tuy nhiên, sách cũng chỉ ra cho người nuôi tằm biết những phong tục và điều kiêng kỵ khi tằm leo núi, ví dụ như muốn được tằm nữ hoàng thì không được làm ồn khi tằm đang leo núi, nếu không kén tằm sẽ không được tròn, đẹp, v.v. Nhưng cuốn sách này cũng nói đó chẳng qua cũng chỉ là phong tục và tin đồn thú vị mà thôi, tất nhiên Hà Điền chỉ đọc chơi thôi.

Nhưng riêng đối với Tết Đoan Ngọ, từ trước đến nay cô vẫn đều rất nghiêm túc.

Năm nay tiếng ếch kêu đầu tiên bắt đầu sớm hơn năm ngoái bốn ngày.

Hà Điền đã trịnh trọng ghi ngày tháng vào sổ tay của mình, ngâm gạo nếp qua đêm, chuẩn bị gạo, đậu, thịt và các nguyên liệu khác, để ngày hôm sau gói bánh ú.

Bánh ú năm nay vẫn được làm bằng hai loại lá. Lá cây hương bồ được dùng chủ yếu để làm bánh ú nhân ngọt, nhân đậu mật và nhân đậu lòng đỏ trứng muối; lá tre có lốm đốm to thì dùng để gói thịt xông khói. Con heo rừng bắt được lúc trước khi xây nhà sau khi được xẻ thịt thì đã để dành lại vài miếng thịt mỡ mỏng, cất ở trong hầm đông lạnh, lúc này lấy một miếng ra rã đông, ướp với tương đen, đường nâu, muối, gừng, dầu mè để qua đêm, thêm vào đậu phộng và đậu đỏ ngâm, lại đặt nửa miếng nấm hương lên, gói lại thành một chiếc bánh ú lớn; lá tre xanh mềm, rộng chưa đến ba ngón tay thì dùng để gói gạo nếp và táo tàu đỏ. Sau khi gói xong, bánh nhỏ xinh, đem nấu trong nồi riêng, chín rồi thì gỡ lá tre ra, gạo nếp cũng thấm màu xanh lam, ở giữa bánh là táo tàu đỏ, mùi thơm ngát xông vào mũi.

Ngoài mấy loại bánh ú này, Hà Điền còn làm bánh ú nhân thịt hạt dẻ lòng đỏ trứng muối theo yêu cầu của Dịch Huyền, cô thấy ngán vô cùng, nhưng Dịch Huyền thì lại ăn rất ngon lành.

Hà Điền đã làm ra một loại bánh ú bằng gạo và đậu, ngoài gạo nếp, cô còn cho thêm một ít hạt kê, bắp, đậu đỏ và đậu mắt đen*. Đậu mắt đen được cô đổi ở chợ hồi mùa thu năm ngoái. Loại đậu này thoạt nhìn giống hạt đậu tương, nhưng trên “rốn” hạt đậu có một đốm đen, trông giống như mắt chim, những người đổi đậu cho rằng đây là loại đậu mắt đen. Đậu mắt đen sau khi ngâm, dù nấu cháo hay hấp cơm đều ngon, nấu với bánh ú cũng rất ngon.

*Đậu trắng.

Dịch Huyền vốn dĩ không thích loại bánh ú nhân đậu không ngọt mà cũng không mặn này, nhưng ngay khi bóc lá bánh ú ra, thấy gạo nếp óng ánh với nhiều màu sắc đẹp mắt, anh liền cầm một cái chấm đường ăn thử.

Sau khi ăn được một nửa, anh lại đổi sang chấm với nước tương.

Cuối cùng, anh kết luận: “Nếu luộc đậu trước, sau đó xào với tỏi, tép mỡ, tôm khô, nấm hương thái sợi làm nhân thì bánh ú sẽ càng ngon hơn.”

Hà Điền đành phải dựa theo yêu cầu của anh mà chế ra một nồi bánh ú đậu.

Dịch Huyền ăn rất thỏa mãn: “Đây là bánh ú chay!”

“Chay kiểu gì? Còn có tép mỡ và tôm khô mà.” Hà Điền lắc đầu. Nhưng cô cũng đã nếm thử hương vị của món bánh ú này rồi, quả thật là có một không hai. Nếu bàn về kinh nghiệm ăn uống thì phải nói là Dịch Huyền đầy cả một bụng.

Sáng sớm ngày thứ hai sau Tết Đoan Ngọ, hai anh em nhà họ Phổ đến.

Kể từ sau cái chết của ba Phổ, hai gia đình dần khôi phục lại mối quan hệ láng giềng hòa thuận trước đây.

Anh em nhà họ Phổ không còn có ý nghĩ xấu về Hà Điền và Dịch Huyền nữa, nhất là đối với Dịch Huyền, ngay cả nịnh bợ cũng còn không dám.

Con người là những sinh vật rất kỳ lạ. Khi mà ta nhận ra rằng những người trước đây mà mình ganh ghét đã đứng ở nơi ngoài tầm với của mình rồi thì tất cả sự ghen tị, không phục và hận thù đều biến thành sự kính sợ.

Phải nói là hai anh em nhà họ Phổ hiếu kính với Dịch Huyền còn hơn là với ba của họ trước đây nữa.

Theo thỏa thuận lúc mùa đông năm ngoái, sau khi xây nhà cho Hà Điền xong thì cứ cách một tuần họ sẽ lại đến phụ việc một lần.

Lần này vừa lúc ngay sau Tết Đoan Ngọ, hai anh em họ cũng mang theo một số quà – một vài bó ngải cứu, một bó tỏi rừng nhỏ, một giỏ rau dớn và một nắm cây xô thơm trắng.

Dịch Huyền nhận quà, sau đó dẫn họ đi đến chỗ làm.

Hai anh em đi theo Dịch Huyền đến một bãi đất trống ở rìa núi, khi Dịch Huyền giở bức mành cỏ trên mặt đất ra, họ thấy rất khó hiểu. Phiến đá đen lớn này dùng để làm gì?

Dịch Huyền và Hà Điền làm gạch đá bằng bê tông, họ đã thấy rồi, nhưng chúng được tạo ra như thế nào thì họ hoàn toàn không biết.

Phiến đá lớn nằm trên mặt đất bây giờ có vẻ to bằng ba khối gạch đá, dài hơn cả khối gạch đá 1,5 mét, nhưng mỏng hơn rất nhiều, dày nhất chỉ bằng hai ngón tay.

Dịch Huyền yêu cầu hai anh em cột những phiến đá lớn lại bằng dây thừng, dùng một thanh gỗ to nâng chúng lên và cẩn thận đưa xuống suối trong núi.

Phiến đá này còn khá nặng.

Ở nơi mà Dịch Huyền muốn đặt đá xuống đã có sẵn hai khung gỗ chắc chắn, vừa đủ để đỡ phiến đá không bị ngập trong lòng suối, dòng chảy cũng chậm.

Sau khi đặt phiến đá xuống, hai anh em không khỏi hỏi: “Anh định làm gì?” Muốn rửa phiến đá thì chỉ cần rửa bằng nước là được mà?

Dịch Huyền đưa cho họ cả khẩu trang và tạp dề bằng da: “Mặc vào. Đánh bóng.”

Cả hai đeo khẩu trang và đeo tạp dề quanh cổ, vẫn còn đang ngơ ngác, Dịch Huyền mang theo hai chiếc máy cưa, nói là cưa, nhưng đĩa quay lúc này đã được đổi thành đĩa mài.

Dịch Huyền khoanh chân ngồi ở bên suối, cũng đeo khẩu trang vào: “Nhìn kỹ xem tôi làm như thế nào.”

Anh kéo cưa và đặt đĩa mài đang liên tục quay nhanh vào phiến đá, đĩa mài lập tức biến dòng nước chảy qua phiến đá thành những hình tròn giọt nước, những hạt mịn màu trắng xám từ phiến đá chảy xuống lập tức bị nước cuốn trôi.

Giờ thì anh em nhà họ Phổ đã hiểu “đánh bóng” nghĩa là gì. Dịch Huyền muốn mượn dòng nước để làm sạch phiến đá.

Hai anh em họ mỗi người cầm một cái máy cưa, chia nhau ra ngồi ở hai bên suối mài hai mặt của phiến đá.

Cứ cách một lúc Dịch Huyền sẽ đi qua xem xét và chỉ dẫn một chút.

Công việc này dễ dàng hơn nhiều so với việc chuyển gạch, xây nhà và đổ móng, nhưng nước văng ra sẽ làm ướt tay áo. Cũng may bây giờ là mùa hè.

Sau ba bốn mươi phút đánh bóng, Hà Điền kêu họ nghỉ ngơi và làm nóng một dĩa bánh ú cho họ ăn.

Sau khi nghỉ ngơi xong, Dịch Huyền nghiệm thu thành quả, đổi sang đĩa mài mịn hơn và tiếp tục đánh bóng.

Đến buổi trưa, phiến đá này đã khác hoàn toàn so với lúc sáng!

Nhấc lên khỏi mặt nước, những giọt nước còn sót lại trên phiến đá lập tức tụ lại thành những hạt tròn nhỏ, màu đen của đá nhìn rất tự nhiên, còn có nhiều hạt nhỏ lấp lánh, sờ vào cảm giác còn láng hơn cả đồ gỗ đã được cọ xát nhiều năm ở nhà.

“Cái này để làm gì?” Ngay cả Phổ anh thô kệch cũng nghĩ phiến đá này thật đẹp.

“Làm mặt bàn bếp.” Dịch Huyền mỉm cười vuố.t ve phiến đá, rồi híp mắt nhìn nghiêng, cố gắng tìm ra khuyết điểm, nhưng hahaha, quá hoàn hảo, quá đẹp!

Đến bữa trưa, Hà Điền giết hai con cá nuôi trong vại nước và hầm một nồi canh lớn với đậu hũ, hẹ tây, gừng thái sợi và nấm hương, mỗi người một chén, ăn với cơm trộn đậu.

Đây là lần đầu tiên anh em nhà họ Phổ được ăn đậu hũ mềm, thoạt đầu họ tưởng là cá, dùng đũa gắp lên thì thấy miếng đậu hũ nát ra, nhìn không giống cá chút nào, chẳng lẽ là cua? Ăn vào thấy trơn và tan ngay khi ngậm, tất cả đều là vị của canh cá.

Họ hỏi Hà Điền, chỉ biết rằng nó được làm bằng đậu nành.

Cách làm đậu hũ không khó, chỉ cần đậu ngâm nước và xay nhuyễn, lọc sền sệt cho giấm vào khuấy đều.

Anh em họ nghĩ, cũng đơn giản thôi, về nhà thử xem sao.

Đến buổi chiều, Dịch Huyền lại yêu cầu họ đánh bóng một phiến đá có cùng kích thước tương tự.

Đã có kinh nghiệm buổi sáng, họ chỉ mất hai tiếng để mài phiến đá này.

Dịch Huyền và họ đặt hai phiến đá lại với nhau, khi độ ẩm trên bề mặt khô đi, họ phủ một tấm mành cỏ lên và tiếp tục phơi trong bóng râm.

Sau đó, thứ mà anh yêu cầu họ đánh bóng là một cái chậu đá hình vuông.

Nói đó là một cái chậu đá hình vuông, thật ra là một phiến đá nhỏ hình chữ nhật, bên trong là một hình chữ nhật rỗng được tạo ra cách bốn phía năm sáu centimet, dưới đáy chậu đá còn có một lỗ tròn.

Anh em nhà họ Phổ không thể hiểu đây là gì.

Dịch Huyền nói với họ rằng đây là bồn để rửa chén rửa rau.

Anh dứt khoát vén tất cả những tấm mành cỏ che bên cạnh chậu đá lên, đó là những đồ dùng bằng đá đang chờ đánh bóng, có hai cái chậu vuông nhỏ hơn và hai cái chậu tròn, đều có lỗ ở đáy, cũng có cái không có, nhưng kích thước nhỏ hơn, ngoài những cái chậu này còn có những cái bình hình hộp, cái thố sâu như cối giã tỏi, và một đống đồ kỳ quái không biết dùng để làm gì.

“Hai người chỉ cần đánh bóng những thứ này là được.” Dịch Huyền chỉ vào những đồ vật lớn hơn và mở tấm mành cỏ cuối cùng ra: “Và cái này.”

Hai anh em gần như á khẩu khi nhìn thấy thứ dưới tấm mành.

Cái gì đây? Còn nói chỉ những thứ này là được rồi? Chúng tôi tình nguyện đánh bóng đống đồ nhỏ kia còn hơn!

Dưới tấm mành cỏ là một cái chậu hình chữ nhật rất lớn.

Nói nó là một cái bồn khổng lồ quả thật cũng không ngoa chút nào.

Cái bồn đó dài gần hai mét, sâu gần nửa mét và rộng sáu mươi hay bảy mươi centimet gì đó.

Cái thứ này vừa đủ để nấu một con heo luôn đó chứ!

“Cái này… cái này để làm gì?” Phổ anh hỏi.

Dịch Huyền lạnh lùng nói: “Anh chỉ cần đánh bóng nó là được.” Anh dừng lại, sau đó nói thêm: “Cũng đâu có bắt anh làm xong trong hôm nay.”

Anh em nhà họ Phổ không dám nói lại nữa, thành thật nhấc bồn rửa lên đến bên cạnh suối, Dịch Huyền điều chỉnh khoảng cách giữa hai khung gỗ trong lòng suối và kêu họ đặt bồn rửa lên đó.

Hai anh em đánh bóng chậu xong, sắp đến giờ cơm tối.

Lúc này Dịch Huyền đang bận rộn trong vườn rau, Hà Điền thì đang đập đập gõ gõ trong xưởng chế biến gỗ, con chó cô nuôi cứ chốc lát là chạy đến nhìn hai anh em họ, chốc lát lại đến chuồng vịt để xem gà vịt, rồi chạy vào rừng tìm cừu và tuần lộc, một lát sau, nó đến nằm trên phiến đá cạnh bức tường tròn bên bờ ao, sau đó chạy đến chỗ Dịch Huyền vẫy đuôi, cũng bận rộn không kém ai.

Lúc hai anh em họ ra về, Hà Điền đã nhét đầy một túi bánh ú cho họ. Những chiếc bánh ú lớn nhỏ, cột thành mấy xâu, chắc là mỗi xâu mỗi vị.

Hai anh em cảm ơn rồi mang theo bánh ú xuống núi, lên thuyền ngoảnh lại thì thấy khói bốc lên từ sườn núi, không biết Hà Điền nấu món gì cho bữa tối.

Lúc chèo thuyền về nhà, Phổ em nói: “Chúng ta đã nhiều năm không được ăn bánh ú.”

“Ừ.” Phổ anh hơn em mình hai tuổi, anh ta vẫn còn nhớ một số chuyện về bà Hà Điền, trước đây, mỗi dịp Tết Đoan Ngọ, bà Hà Điền thường làm cho hai anh em họ mỗi đứa một đôi giày rơm cùng với túi thơm ngải cứu. Có khi có cả một xâu bánh ú nữa.

Nếu gia đình họ vẫn như xưa, sống hòa thuận với nhà Hà Điền và giúp đỡ lẫn nhau thì sẽ như thế nào?
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 117: Bánh đúc khoai lang


Mùa hè năm nay bận rộn hơn năm ngoái.

Sau khi những con tằm do Hà Điền nuôi liên tiếp leo núi tạo kén, công việc đóng tủ và cửa sổ mới phải tạm gác lại.

Nhộng tằm phát triển âm thầm trong kén tằm, khoảng mười lăm ngày sau sẽ biến thành bướm tằm trắng, chúng sẽ cắn nhộng tằm, bò ra ngoài, run cánh tán tỉnh nhau.

Muốn ươm tơ thì phải tranh thủ trước khi kén tằm bị cắn nát, nếu không, một khi kén bị rách thì không thể quay tơ được.

Nhưng mười lăm ngày cũng chỉ là một ước tính mà thôi. Có một số con chỉ sau một tuần đã chui ra khỏi kén.

Vì thế cho nên, trong cuốn sách viết về việc nuôi tằm của Hà Điền cũng có ghi lại một số kinh nghiệm của người nuôi tằm thời bấy giờ trong việc phán đoán sự phát triển của nhộng trong kén tằm, và cách trì hoãn sự thoát kén của chúng.

Bởi vì một số lứa tằm con không được nở ra cùng một lúc, nên tất nhiên là chúng không leo núi cùng một lúc, nên những phương pháp phán đoán này đều vô dụng.

Cô không dám mạo hiểm, bởi vì vẫn còn ba nia tre tằm chưa leo núi nữa, cô gỡ những kén tằm hiện có, còn những con khác thì để lại.

Dịch Huyền lấy máy ươm tơ từ trong kho dụng cụ ra, đun nước nóng trong nồi lớn, khi nước sôi, những chiếc kén tội nghiệp được đổ vào nồi, Hà Điền lấy chiếc chổi tre nhỏ cuộn tròn tơ trong nước, được một nhúm tơ thì gắn vào trục tre trên đầu máy ươm tơ, liên tục q*** t** cầm thì sẽ có được những sợi tơ màu trắng như tuyết.

Dịch Huyền lấy sổ tay của mình ra, ngồi bên cạnh Hà Điền quan sát một lúc rồi luyện tập một chút, rồi lại vẽ và viết vào sổ.

“Năm sau chúng ta sẽ làm thêm một chiếc máy ươm tơ nữa.” Dịch Huyền đưa cuốn sổ cho Hà Điền, rồi ngồi trước máy ươm tơ để cô nghỉ ngơi.

Ươm tơ không phải là một công việc đòi hỏi nhiều sức lực, chỉ là phải đun bằng nước sôi, bị hơi nước nóng xông lên, hai bên thái dương của Hà Điền đều đầy mồ hôi, má thì đỏ bừng.

Cô lau mồ hôi: “Làm thêm một cái cũng không sao. Nhưng chúng ta chỉ có một chút kén mà thôi, không cần thiết.”

Dịch Huyền không nghĩ vậy.

“Ai biết được, có thể năm sau chúng ta sẽ có số kén nhiều hơn gấp đôi năm nay cũng không chừng. Không chỉ phải chế tạo thêm một cái máy ươm tơ nữa, mà còn phải tìm cách cải tạo nó, không cần đến sức người. Em này, theo em thì có thể dùng sức nước được không? Dẫn kênh bên suối, hoặc trực tiếp dựng xưởng ươm tơ bên dòng nước, dẫn nước vào, đẩy guồng nước, và rồi tơ sẽ được quay!”

Anh nói xong, Hà Điền dùng than vẽ vào sổ của anh.

Bọn họ vừa nói và vừa suy nghĩ về nó. Càng nghĩ càng thấy muốn thử.

“Trước kia có nhiều nhà máy xay bột được xây ở sát dòng nước, sau này không xay bột, đều biến thành kéo sợi bông. Không phải cũng dùng đến sức nước sao? Việc ươm tơ chắc chắn cũng được.”

“Nhưng phải cần rất nhiều, rất nhiều rất nhiều kén mới được! Chút tằm này của chúng ta, cho dù sang năm có tăng gấp đôi cũng không đủ.” Hà Điền nói liên tục ba lần “rất nhiều” để nhấn mạnh, cô vung bàn tay nhỏ bé của mình lên: “Đừng có xây xưởng này nọ gì gấp. Bây giờ chúng ta dời mấy cây dâu tằm về trồng. Khi có một khu rừng dâu tằm gần nhà rồi thì xưởng kéo tơ mới trở nên hữu dụng.”

Dịch Huyền ngừng quay tơ, nhìn Hà Điền cười: “Em đã tìm ra cách dời cây dâu về chưa?”

Hà Điền cười tự tin: “Tất nhiên rồi. Em đã nghiên cứu kỹ về sách dạy trồng dâu nuôi tằm rồi!”

Dịch Huyền trêu chọc cô: “Cái cuốn sách te tua, thiếu trang ít góc kia đó hả? Phương pháp có đáng tin cậy không?”

Thật sự không đáng tin cho lắm.

Sách tuy nói về phương pháp di dời. Nhưng lại nói là thời gian tốt nhất để dời cây là vào mùa thu. Chỉ là khi đến thu thì mặt đất đã đóng băng, chắc chắn là không thể làm được.

Một phương pháp khác là chiết nhánh. Nói trắng ra là cắt một cành dâu tằm, đem về nhà cho vào thau nước ngâm, cắ.m vào bình hoa chờ nó bén rễ, cây non sau khi bén rễ có thể chọn ngày đẹp trời mà tìm một chỗ đất tốt đào lỗ lên, trồng cây.

Dịch Huyền cau mày sau khi đọc cuốn sách bảo bối kia: “Trong này viết là nên được ngâm trong nước thuốc để thúc đẩy sự ra rễ, nhưng nước thuốc đó được bào chế như thế nào lại hoàn toàn không đề cập đến.”

Hà Điền thì lại khá tự tin: “Muốn thúc đẩy sự phát triển của thân rễ thực vật chủ yếu là dựa vào phân lân mà? Chẳng lẽ chúng ta lại không tự chế được? Xương cá còn lại này nọ, không phải đều được chúng ta nghiền thành bột để chuẩn bị cho vịt và dê trong mùa đông đó sao? Lấy một ít ngâm nước rồi lọc chắc là đủ. Ngay cả hoa sen củ sen chúng ta cũng trồng được, dâu tằm thì sợ gì chứ?”

Thật ra, từ khi nhìn thấy ngôi nhà mới của họ được xây dựng với tốc độ thần kỳ, lòng tự tin của Hà Điền đã bành trướng đến mức chưa từng có, cô cảm thấy chỉ cần hai người kề vai sát cánh thì căn bản không có gì là không làm được.

Vì vậy, sau khi ươm tơ, Hà Điền và Dịch Huyền đã mang Lúa Mì đến rừng dâu tằm.

Trong rừng dâu năm nay vẫn còn rất nhiều tằm hoang, vì nhiệt độ ngoài trời không ổn định như trong nhà nên trên cây không có nhiều kén, một số con cũng rất lớn và tròn, Hà Điền đã bắt xuống, mang về nhà chuẩn bị làm giống.

Họ lựa một vài cành cây khỏe mạnh, cẩn thận chặt xuống, dùng cỏ bó lại rồi đem về nhà.

Thời gian mùa hè rất quý giá, mỗi lần ra ngoài họ đều phải tận dụng thu gom hết mức có thể, cho nên họ đã cắt rất nhiều cỏ, cột lại và chất ở trên thuyền.

Trên đường về nhà, Hà Điền xoa xoa phần eo phía sau lưng: “Anh cũng đừng vội chế tạo máy ươm tơ hay xưởng ươm tơ bằng guồng nước. Trước tiên làm một chiếc máy cắt cỏ cái đã rồi tính.”

Dịch Huyền nhìn cô hơi nhíu mày đấm vào eo, trên khuôn mặt tuấn tú lộ ra nụ cười tà mị, anh nhìn cô, trầm giọng hỏi: “Sao vậy? Đau eo hả em?”

Hà Điền nhìn anh chằm chằm, trừng mắt một hồi khóe miệng không khỏi nhếch lên, tàn nhẫn trầm giọng: “Hừ, đêm nay sẽ cho anh biết thế nào là sự lợi hại của em!”

“Làm ơn cho anh biết ngay bây giờ đi mà!” Dịch Huyền quăng mái chèo chồm về phía trước, chiếc thuyền đầy cỏ lắc lư dữ dội.

“Á, buông em ra, thuyền sắp lật rồi!”

“Lật rồi thì lật lại!”

“Lúa Mì sắp rớt rồi!”

“Nó có thể bơi mà!”

“Cỏ sắp đổ kìa!”

“Thôi anh đợi vậy.”

Lúa Mì ngồi ở đuôi thuyền: Tui còn không bằng một bó cỏ?!

Nó có thể hiểu được, cỏ sẽ bị phân tán khi rơi xuống nước, không thể nhặt về được. Còn nó thì cho dù có rơi xuống ở đâu thì cũng đều có thể bơi về.

Về đến nhà, cả hai mang cỏ về nhà gỗ trước, cột thành bó rồi treo lên giá tre cho khô, kiểm tra kỹ những cành dâu đã cắt, mấy con tằm mang về thì được nuôi ở trên nia tre. Họ tuốt 70% đến 80% lá trên nhánh rồi đem ngâm trong chậu nước đặt trong bóng râm. Trước đó họ đã có cho thêm hai muỗng tre bột xương vào trong nước và khuấy đều.

Đã bốn, năm giờ chiều, tơ quay xong đã được phơi khô, Hà Điền cẩn thận cất kỹ, Dịch Huyền thu nhộng tằm trong máy ươm tơ lại cất vào hầm, máy ươm tơ thì được đẩy vào xưởng mộc, sau đó anh lục lọi tìm kiếm trong số những dụng cụ nhàn rỗi, muốn tìm xem có dụng cụ hoặc bộ phận nào thích hợp để làm một chiếc máy cắt cỏ hay không.

Khi cắt cỏ, thu hoạch kê đều phải cúi lưng, dùng một tay giữ thân cây kê sát mặt đất, giữ chặt, tay còn lại thì cầm liềm cắt.

Nếu có thể chế tạo thành công một chiếc máy cắt cỏ, thì không chỉ hữu ích cho mỗi việc cắt cỏ và thu hoạch kê, mà Dịch Huyền còn muốn làm thêm gạch bê tông gai dầu, cũng có thể dùng nó để cắt sợi gai.

Trong khi anh đang tìm tòi nghiên cứu ở trong xưởng thì Hà Điền xách giỏ ra vườn rau.

Năm nay bí đỏ cũng phát triển rất tốt. Mà đó cũng là điều tất yếu, vì trước khi trồng bí đỏ họ đã đem đất trồng dọn một lượt. Mặc dù quả bí to nhất chỉ mới cỡ ngón tay út nhưng những bông bí vàng rực có ở khắp nơi, từng chùm từng chùm nở rộ giữa những chiếc lá to xanh thẫm.

Hà Điền hái mười mấy bông bí đỏ, bỏ vào giỏ, đứng trên dốc nhìn xuống.

Cô đột nhiên lắc đầu: “Ngốc quá, ngốc quá đi mất!”

Nói xong cô xách giỏ chạy đi tìm Dịch Huyền: “Anh, sao hai người chúng ta không nghĩ đến việc trồng cỏ ở sườn bãi sông?”

Dịch Huyền đang trèo lên một chiếc thang gỗ để tìm kiếm gì đó, nghe vậy thì sững sờ, rồi bật cười: “Đúng vậy! Sau này chúng ta cũng sẽ không chỉ nuôi mỗi hai con cừu!” Anh nhảy xuống thang, nắm chặt tay Hà Điền cười ngây ngô: “Vợ này, em có muốn cùng anh mở trang trại và làm nông dân không?”

Gần sông là một mảnh đất dốc rộng lớn, rải rác đá cuội lớn nhỏ, một số lũa, cành chết, lá theo gió bay đến, dưới lớp đá cuội là một lớp phù sa.

Bởi vì mực nước của sông dao động theo thời gian trong năm, Hà Điền chưa từng nghĩ đến việc sẽ trồng cây gì trên đó.

Tuy nhiên, trong các khe nứt giữa các bãi đá cuội, cỏ dại và một số cây cỏ vẫn mọc um tùm.

Dịch Huyền đứng trên sườn dốc chỉ tay: “Ngày mai chúng ta sẽ đào một số loại cỏ dại mà chúng ta thích trồng bên sông, đem chúng về rồi ném xuống dưới dốc trước.”

Nơi mà anh đang nói đến là con đường nơi sườn đồi tiếp nối với đá cuội, một bên là bãi cỏ xanh, bên kia là bãi đá cuội xanh xám.

“Được rồi. Trồng hên xui vậy! Sống được hay không thì tùy duyên.”

Với kinh nghiệm từ việc những hạt sen được ném xuống sông và suối phát triển tốt hơn những hạt được chăm sóc cẩn thận ở nhà, giờ thì Hà Điền là một người trồng có suy nghĩ rất thoáng, tùy duyên.

Sau khi thảo luận, cả hai quay lại làm việc.

Dịch Huyền tiếp tục lục lọi các hộp và tủ, Hà Điền thì đến nhà kính và chọn một số quả dưa leo đầu tiên phát triển trong năm nay.

Cô rửa sạch dưa leo và hoa bí ở trong nước suối, đem về đặt ở trên bàn bếp, sau đó lấy tinh bột khoai lang làm hồi năm ngoái ra.

Cô múc ba chén tinh bột khoai lang, đổ vào chậu, thêm gần bốn chén nước lạnh rồi khuấy đều, sau khi khuấy xong lại cho qua rây. Sau đó bắc một cái nồi lớn lên bếp, tăng lửa, cho hai chén nước vào, đợi nước sôi thì rút củi, đổ từ từ hỗn hợp bột khoai lang đã khuấy đều vào, vừa nấu vừa khuấy.

Sau khi nấu một lúc, tinh bột khoai lang còn trắng như tuyết trước đó không lâu dần trở nên sền sệt, màu trở nên sẫm hơn, dần trở nên trong mờ.

Sau khi tất cả bột dính trong nồi trở nên trong suốt và có màu nâu nhạt, Hà Điền lấy nồi ra và đổ tất cả vào một cái hộp sắt vuông có tráng một lớp mỡ mỏng.

Cô dùng khăn vải bọc chiếc hộp sắt lại rồi cho vào thùng lạnh trong hầm.

Vì muốn nấu ăn cho mấy người đến hỗ trợ và dự trữ thịt tươi nên khi mùa xuân bắt đầu, Hà Điền và Dịch Huyền đã vớt rất nhiều tảng băng lớn dày gần chục cm từ sông rồi cho lên xe kéo về nhà.

Những khối băng luôn được bọc trong cỏ khô và đặt trong hầm. Bên dưới được lót bao cát để phòng ngừa rò rỉ nước. Về sau, sau khi thử những tấm vách tường rỗng đợt đầu tiên, Hà Điền nảy ra ý tưởng, tại sao không làm những khối này thành thùng lạnh?

Vì vậy, họ đã sử dụng một số tấm gỗ để làm hai cái thùng lớn và nhỏ, đục các khối băng theo kích thước yêu cầu, bọc chúng bằng cỏ khô và lấp chúng vào các khoảng trống giữa hai lớp thùng để tạo thành thùng lạnh.

Thùng lạnh được ốp gỗ và phủ một lớp vải bông đã dùng cả một mùa đông để tận dụng một cách tốt nhất.

Sau khi để thạch vào thùng lạnh gần một tiếng, đến bữa tối, hỗn hợp thạch đã đông lại hoàn toàn.

Hà Điền úp ngược chiếc hộp sắt lên thớt, và sau một tiếng “bốp”, một chiếc bánh đúc trong suốt hình vuông, màu nâu nhạt rơi ra.

Cô dùng dao cắt bánh đúc thành những lát dày hai hoặc ba milimét, dùng tay nắm lấy chúng rồi thả vào hai chiếc tô lớn bằng gốm đen, sau đó múc một muỗng lớn thịt hầm từ nồi bên cạnh cho vào.

Tiếp đó, cô cắt dưa leo thành những sợi mỏng, rắc lên trên, trộn với dầu mè, muối, một chút đường, thêm một muỗng giấm, một muỗng ớt băm nhỏ chiên trong dầu.

Cô nếm thử một sợi, “ừm” một tiếng, sau đó nếm thử một sợi nữa, cảm thấy hương vị thiếu một chút gì đó, cô đi đến nhà kính ngắt một nắm ngò, rửa sạch rồi để lên bánh đúc.

Cuối cùng, cô xé nhỏ hoa bí và rắc lên tô.

Dịch Huyền rất ngạc nhiên khi nhìn thấy tô đồ ăn này, anh gắp một sợi lên, thấy thứ trong suốt, trơn trượt và run rẩy này có chút quen thuộc: “Nó là gì vậy em?”

Sau khi ăn một miếng, dưa leo non lúc hái vẫn còn dính hoa vàng nhỏ vừa giòn vừa thơm. Hoa bí sau khi thấm nước gia vị có mùi vị rất khó tả, bên trong cánh hoa vẫn còn một ít phấn hoa, ở giữa giòn và cánh hoa thì mềm, có vị ngọt nhẹ và thơm.

Dịch Huyền ăn hết nửa tô bánh đúc rồi mới đưa ra kết luận: “Làm từ tinh bột khoai lang!”

Hà Điền cười: “Đúng vậy!”

“Sao năm ngoái em không làm món này?”

“Năm ngoái ở chợ thu, người đổi khoai lang tím đã chỉ cho em phương thức này đó, hôm nay mới thử lần đầu.”

Dịch Huyền khá là hãnh diện khi có một người vợ thông minh như vậy.

Trong một buổi tối mùa hè cả người đầy mồ hôi, được ăn một tô bánh đúc chua cay như thế này, thật đúng là quá tuyệt vời.

Những cành dâu mang về nhà ngâm một ngày đêm rồi được chuyển vào đất trồng.

Hà Điền đã dùng những cây sậy chẻ đôi để đan nhiều chiếc sọt lỏng lẻo, bên trong được lót một lớp cỏ khô, đất trồng thì được đào từ bìa rừng dâu tằm mang về, hy vọng rằng điều này sẽ giúp những cành đã trồng bén rễ càng nhanh.

Những chiếc sọt này được đặt ở những vị trí bất đồng để chúng có thể tiếp xúc với các cường độ ánh sáng mặt trời khác nhau. Sau khi quan sát thấy nơi nào cành khỏe nhất thì di chuyển các sọt còn lại.

Khoảng một tuần sau, gần một nửa số cành dâu mọc chồi lá mới, điều này cho thấy việc chiết cành đã thành công.

Hà Điền vui vẻ ôm Dịch Huyền: “Em biết mà! Em biết chúng ta có thể thành công!”

Năm sau, khi cây dâu lớn lên, họ sẽ khai khẩn một mảnh rừng gần nhà và biến nó trở thành rừng dâu.

Tiếng ếch nhái trong đêm hè nối tiếp nhau, trong căn nhà gỗ văng vẳng tiếng nói cười.

Diện mạo của khu rừng này đã thay đổi rất nhiều kể từ khi ông bà của Hà Điền đến định cư, và sắp tới đây, hai bạn trẻ này sẽ còn mang đến rất nhiều thay đổi khác.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 118: Xôi sườn heo hấp lá sen


Sau Tết Đoan Ngọ, thời tiết nóng lên từng ngày, trong rừng ngày càng xuất hiện nhiều côn trùng, điều này khiến chim chóc có rất nhiều lựa chọn về thức ăn, vườn rau và ruộng kê của Hà Điền không còn bị phá nữa, nhưng những sợi dây rơm, dải vải trên những cọc tre cắm trên đất trồng vẫn bay múa trong gió, không bị cất đi.

Chuông gió dưới mái hiên, trên hàng rào tre cao cao của vườn rau cũng khẽ reo theo làn gió.

Tại phiên chợ mùa thu năm ngoái, Hà Điền và Dịch Huyền đã bán gần hết chuông gió bằng gốm. Năm nay, họ làm một số chiếc mới bằng trúc.

Chuông gió bằng trúc trông giống như một chiếc ô nhỏ không mở, rất dễ chế tạo, chỉ cần cưa một đoạn tre thành các đoạn dài khác nhau, khoan lỗ trên đầu rồi gắn thành vòng tròn, sau đó lấy một sợi dây xỏ qua một lát trúc được cắt thành hình tròn, luồn qua các ống trúc đó, trên đuôi dây có treo một sợi lông vịt và gà rừng, khi có gió thổi, những sợi lông này tung bay, làm cho những lát trúc đập vào ống trúc, phát ra âm thanh giống như tiếng sáo.

Ống tiêu là một loại nhạc cụ mà Hà Điền chưa bao giờ nghe nói đến.

Theo lời Dịch Huyền, nó cũng là một loại nhạc cụ hơi bằng trúc, giống như sáo, nhưng âm thanh không trong và cao như sáo mà nhẹ và trầm hơn. Thậm chí có một chút hàm xúc bi thương ai oán.

Những ống trúc làm chuông gió được cưa thành từng đoạn dài ngắn khác nhau, nên âm thanh phát ra cũng có âm vực.

Thấy Hà Điền thích chuông gió bằng trúc, Dịch Huyền đã làm một chiếc xylophone khác.

Chiếc đàn làm bằng ống trúc cũng rất đơn giản. Cố định tám ống trúc có độ dài khác nhau trên một ống trúc dài, làm giá đỡ đơn giản, sau đó dùng muỗng hoặc búa nhỏ làm từ hai thanh tre nhỏ, nhẹ nhàng gõ lên, vậy là đã có thể chơi nhạc.

Đối với Dịch Huyền, đây chỉ là những thủ thuật nhỏ, nhưng Hà Điền thì lại rất ấn tượng. Không ai trong gia đình cô có thể chơi được một loại nhạc cụ nào cả, nhiều nhất họ chỉ có thể hát một vài bài hát ru và các bài hát thiếu nhi.

Cô lấy một thanh trúc nhỏ do Dịch Huyền làm, gõ gõ dừng dừng, đặt ra rất nhiều câu hỏi——

“Tên bài nhạc anh chơi vừa rồi là gì?”

“Thang âm là gì? Nhạc phổ? Tiết tấu? Nhịp?”

Hà Điền rất thích món đồ chơi mới này, đêm ngủ còn xách nó lên gác và gõ vài cái, cô phớt lờ câu nói “Đó là nhạc cụ dành cho trẻ con” của Dịch Huyền, đã là nhạc cụ thì không có sự phân biệt lớn nhỏ nào hết!

Sau một tuần, Dịch Huyền bắt đầu rầu rĩ.

Anh hầu như không có gì để dạy cho Hà Điền nữa.

Hà Điền ôm chiếc xylophone bằng trúc và học chơi gần như tất cả các bài nhạc mà anh nhớ và có thể hát – dù cho nó có là nhạc cụ chỉ có tám thang âm của con nít và còn không chuẩn nữa!

Dịch Huyền vuốt tóc Hà Điền, vẻ mặt vừa ân cần vừa tiếc nuối: “Em là thiên tài âm nhạc đã bị chậm trễ!”

Nhận ra mình có tài năng về âm nhạc, điều tưởng tượng phi thực tế khi lần đầu tiên nhìn thấy Dịch Huyền hôn mê trong tuyết của Hà Điền cũng đã tan thành mây khói – mặc dù có một đôi tay mảnh mai và xinh đẹp, nhưng anh ấy không giỏi chơi bất kỳ loại nhạc cụ nào cả.

Đánh giá của Dịch Huyền về trình độ chơi nhạc của mình cũng giống như với kèn xylophone bằng trúc vậy: Đẳng cấp con nít.

Nhưng anh vẫn khẳng định trình độ đánh giá của mình vẫn rất cao.

Bên cạnh âm thanh của tiếng đàn và tiếng chuông gió bằng trúc, trong mùa hè này, khu rừng của gia đình Hà Điền còn thoang thoảng hương hoa sen.

Hoa sen cô trồng trong hai cái vại lúc đầu nhô lên khỏi mặt nước với một góc nhọn nhỏ, đầu tiên nó chỉ là một búp nhỏ không lớn hơn hạt đậu phộng, sau đó lớn lên nhanh chóng từng ngày với tốc độ có thể nhìn thấy bằng mắt thường, trở thành một cái búp nhỏ hơn quả trứng một chút.

Ngày nào Hà Điền cũng lẩm bẩm với nụ hoa duy nhất này: “Khi nào thì cưng mới nở? Cưng màu gì?”

Có thể nhìn thấy một màu vàng nhạt mơ hồ từ những kẽ hở giữa búp xanh. Nhưng Dịch Huyền nói là phần lớn hoa sen đều có màu hồng, trắng, còn vàng và tím thì chỉ có hoa súng mới có màu này.

Cuối cùng, vào một buổi sáng, Hà Điền rời khỏi chỗ ngủ, đứng giữa khoảng không trước cửa và duỗi tay chân đón ánh mặt trời đang mọc. Ánh nắng vàng cuối tháng sáu như những chùm mũi tên nhọn, phản chiếu qua những kẽ hở trên tán lá xanh tươi, khi một trong những tia sáng chiếu lên trên nụ hoa, như được tác động từ một điều gì đó, đột nhiên nó bung ra.

Khi đó, Dịch Huyền vừa cho hai con cừu ăn xong, vừa định kéo vào rừng để chúng tự do di chuyển thì nghe được tiếng hét lớn của Hà Điền, không kịp chứng kiến khoảnh khắc thần kỳ này.

Anh lo lắng chạy về, thấy Hà Điền đang ngồi chồm hổm trước vại nước, nhẹ nhàng cầm bông hoa to hơn miệng chiếc tách trà ở nhà một chút, dùng giọng điệu mà anh cảm thấy có chút quen thuộc, nói: “Thì ra bé có màu hồng mà cứ để chị thấy màu vàng để chọc ghẹo chị. À, ý chị không phải màu vàng không đẹp, bé màu gì chị cũng thấy đẹp hết! Chao ôi, sao em đẹp quá vậy nè? Còn thơm nữa… Chị chưa từng thấy một bông hoa nào to và đẹp như bé… “

Anh cúi đầu xuống, thấy đám lông trên cánh tay mình dựng hết cả lên.

Bữa sáng ngày hôm đó, Hà Điền nhất định ăn ở chiếc bàn tạm bợ ngoài trời – không, không phải ăn mà là thưởng thức. Ăn sáng trước một bông hoa thơm ngát và đẹp đẽ như vậy không phải là thưởng thức thì như thế nào mới gọi là thưởng thức?

Vì vậy, trong lúc ăn sáng, Dịch Huyền không thể không hỏi Hà Điền: “Cái giọng điệu đó có phải giống với khi anh nói chuyện với Lúa Mì và mấy con mắt to dơ hầy mà em từng nói không?”

Hà Điền vẻ mặt tốt bụng cười nói: “Chính xác!”

Dịch Huyền nuốt khan một cái.

Theo ý kiến của anh, hoa sen muộn này thật ra không lớn. Hoa sen này có lẽ do trồng không đúng cách nên đã trở thành sen mini, không những lá sen chỉ to hơn cái chén để ăn ở nhà mà những bông hoa cũng rất nhỏ.

Những bông sen trong nhà đều đang nở rộ, sen trôi theo dòng nước ở sông, đầm, ao cũng tranh nhau đua nở.

Khi Hà Điền và Dịch Huyền chèo thuyền đi lấy lồng cá một lần nữa thì thấy trong ao cách đó không xa, xen kẽ trong lá sen xanh kéo dài hơn mười mét đều đầy là hoa sen, màu hồng màu trắng, có hoa đã nở bung và bắt đầu tàn, hình thành những đài sen xanh nhạt, có hoa vừa mới bắt đầu nở, to hơn so với nắm tay của Hà Điền. Trong đám lá xanh chỉ có một chút nụ hoa màu hồng, phần gần chính giữa là hoa sen trắng…

Trước khi thuyền đến gần, hương hoa sen phảng phất từ xa đã thu hút rất nhiều ong, bướm và côn trùng nhỏ không thể gọi tên.

“Những bông hoa này -” Dịch Huyền chỉ vào những bông hoa to lớn, so sánh kích thước của chúng với bàn tay của mình: “Mới thật sự là hoa sen.”

Hà Điền mặc kệ anh, hoa do tự tay cô trồng lớn và đám hoa bờ cỏ bụi này sao có thể giống nhau được?

Có điều, khi Dịch Huyền nói về việc dùng hoa sen làm thức ăn, cô cũng không có phản đối.

Dịch Huyền hái hai lá sen to, cho mình và Hà Điền mỗi người một cái, đội úp lên đầu, tựa như một cái nón, vừa đủ che mát, anh cũng không quên Lúa Mì, đội lên đầu nó một lá. Lúa Mì cào lá sen xuống, vồ lấy chơi rồi xé thành từng mảnh.

Chọn những lá sen tròn trịa, có kích thước vừa phải, có thể dùng tươi hoặc phơi khô để dành dùng sau, làm xôi gà lá sen, lá sen hấp thịt hoặc thái sợi nhỏ nấu cháo. Đối với hoa sen thì chỉ cần nụ hoa loại chưa nở, cánh hoa tách ra rửa sạch có thể chế biến các món trộn, gói trà vào túi gạc, đặt vào trong hoa cột lại, sau hai ba ngày thì lấy ra, trà sẽ có hương thơm hoa sen; đài sen lớn hơn nắm tay một chút thì có thể hái xuống, lấy hạt sen bên trong, bóc vỏ, ăn sống rất thơm, nấu hạt sen thành món nhân sen như nhân đậu đỏ làm nhân bánh ăn rất ngon, cũng phải nói một câu là, bánh trung thu nhân hạt sen và lòng đỏ trứng muối là ngon nhất! Hạt sen sau khi tách vỏ và phơi khô có thể bảo quản được lâu, khi muốn ăn thì chỉ cần ngâm vào nước như các loại ngũ cốc, gạo, đậu khác. Món canh hạt sen táo đỏ cũng ngon…

Dịch Huyền nói liên miên dài lê thê, Hà Điền không khỏi ngạc nhiên: “Lúc đầu đào củ sen, anh cũng toàn nói về đồ ăn, nhưng khi đó em nhớ là anh chỉ biết mình đang ăn gì và có mùi vị ra sao chứ đâu có biết cách làm.”

“Khụ, giờ anh khác xưa rồi!” Nay anh đã là một người đàn ông kinh nghiệm bếp núc đầy mình! Chỉ cần hiểu rõ các phương pháp và quy luật cơ bản khi nấu ăn, sau đó nhớ lại hương vị và mùi vị của món ăn đã ăn trước đây, thì tất nhiên không khó để biết chúng được chế biến như thế nào.

Anh vô cùng tự tin hái rất nhiều lá sen, chuẩn bị về nhà và trổ tài.

Thu hoạch cá và lá sen xong, Hà Điền và Dịch Huyền lên bờ để chạy thử máy cắt cỏ mà họ đã làm.

Hai chiếc máy cắt cỏ này rất đơn giản, phía dưới là một ống tre to đường kính khoảng 16 hoặc 7 cm, phần có các khớp tre ở hai bên được khoét đặc biệt, các khớp tre được khoan lỗ tròn và đặt một cành tre mỏng, mài nhẵn. Cành tre sau khi lộ ra được nung nóng và uốn thành hình chữ nhật hơi cong, cho hai đầu vào lỗ khoan hai bên cột tre, cố định, sau đó đẩy cọc tre, ống tre to ở phía dưới có thể chuyển động được.

Thiết kế này thật ra giống với thiết kế của cọ lăn được nhiều họa sĩ sử dụng để vẽ các bức tường cao, có điều, họ đã dùng ống tre lăn thay thế cho chổi lăn, trên ống tre còn được khảm hai miếng sắt sắc bén – từ hộp sắt bỏ đi. Sau khi cắt, hai lưỡi dao quay theo hình xoắn ốc dọc theo thân ống tre, trên đó có răng cưa, đẩy mạnh vào đám cỏ, chẳng mấy chốc đã cắt được một hàng, nhưng sau khi cắt xong hàng cỏ đầu tiên thì phải nâng máy cắt cỏ lên một chút, rồi lại dùng lực, đẩy.

Sau khi thử nhiều lần, cả hai thất vọng nhận ra rằng chiếc máy cắt cỏ này có lẽ chỉ thích hợp để cắt những loại cỏ ngắn mà thôi. Loại cỏ mà họ dùng để nuôi gia súc cao đến đầu gối, dùng chiếc máy cắt cỏ này có vẻ không khả thi.

Nhưng hai người cũng không nản lòng, họ có rất nhiều thời gian để làm một cái khác.

“Có lẽ chúng ta nên làm một cái tay cầm dài rồi gắn máy cưa vào, sau đó—” Hà Điền nắm chặt hai tay trước bụng, vặn eo qua lại: “Như thế này, vừa đi vừa xoay trái phải. Trên cưa gắn đĩa cưa tròn hoặc là đĩa có cánh quạt tựa như là lưỡi dao vậy!”

Dịch Huyền nghiêng đầu tưởng tượng: “Có thể thử xem sao. Nhưng tốt nhất là chúng ta nên đi ủng bảo hộ khi cắt cỏ. Nếu lưỡi cưa chạm vào một tảng đá trong cỏ, răng rắc — gãy rời, bay ra rồi trúng vào chân thì không phải chuyện đùa đâu.”

Trục lăn mà họ đang sử dụng được thiết kế dựa trên nền đất không bằng phẳng, sẽ có rễ cỏ, rễ cây và khối đá, thiết kế này không sợ lưỡi dao sẽ làm tổn thương người.

Dù là đầm lầy hay bờ sông, mặt đất cỏ dại sẽ không bằng phẳng như con đường ở trước nhà. Mỗi mùa xuân, các dòng sông băng tan chảy không chỉ mang theo lũa từ trên núi cao xuống mà còn có rất nhiều đá và nhánh rễ.

“Vậy dễ rồi.” Hà Điền cười vỗ vai Dịch Huyền: “Mình quyết định dùng động cơ nha anh!”

“Ừ!”

Hai người vui vẻ được một lúc, rồi lại bắt đầu lo lắng: “Nhưng vậy thì phải dùng đến dầu diesel.”

“Haizz… Nguồn năng lượng luôn là vấn đề muôn thuở của loài người.”

“Trước khi mua nhiên liệu diesel chúng ta đã nhất trí là sẽ chỉ sử dụng nó khi cưa gỗ và đi thuyền. Bây giờ lại thêm một cái là thu hoạch, vậy sau này có khi nào sẽ dùng để sưởi ấm luôn hay không?”

“Cũng có thể lắm. Trừ khi chúng ta tìm thấy các nguồn năng lượng khác, chẳng hạn như than đá.”

“Còn có khí nữa!”

“Hoặc chúng ta tự làm một hầm khí sinh học.”

“Khó làm hầm biogas lắm. Quá trình lên men khí biogas phải cần đến nhiệt độ, nhưng chỗ của chúng ta một năm có phân nửa thời gian là lạnh giá rồi, nhiệt độ không đủ.”

“Haizz, đừng nói ở đây, nơi anh từng sống trước đây cũng có người làm hầm khí sinh học. Kết quả là sau một mùa đông, các hầm khí sinh học chôn lấp đều bị nứt, mực nước sông vào mùa xuân tăng lên. Haha, thôi không nói đến nữa.”

“Hay là đào một ít cỏ mang về nhà trước đã.”

Họ đặt chiếc máy cắt cỏ hỏng trở lại thuyền, lấy xẻng và cuốc, tìm một bãi đất tương đối bằng phẳng, đầu tiên họ nhặt những tảng đá lớn trên mặt đất, những gốc cỏ và rễ cây vướng víu, sau đó đào năm mảng cỏ bên trên. Mỗi phần cỏ dày chừng mười cm đất, sáu mươi đến bảy mươi cm vuông.

Từ phía mặt cắt, có thể nhìn thấy những rễ tơ trắng mịn như mạng nhện.

Sau khi mang những mảng cỏ về nhà, cả hai trải chúng trên một bãi đất gần con dốc.

Đá, lũa, cành cây chết trên bãi sông đã được dọn sạch, Hà Điền còn dắt Gạo đến để nó cày qua cày lại nhiều lần rồi rắc một ít phân tinh luyện lên.

Sau khi trải cỏ xong, Hà Điền vung xẻng để làm phẳng và nén chặt chúng, hy vọng rễ cỏ có thể tiếp xúc với đất mới.

Dịch Huyền xách nước từ sông lên nhiều lần rồi đổ xuống, sau đó, cả hai nhấc tấm mành cỏ đặt ở một bên, phủ nhẹ lên khoảng trống trên bãi cỏ mới trồng và dằn thêm vài tảng đá lên. Nếu trời mưa, họ hy vọng rằng điều này sẽ bảo vệ lớp cỏ mới cấy không bị mưa cuốn trôi.

Che mành cỏ xong, Dịch Huyền bắt đầu chế biến món ăn mới.

Đầu tiên anh ngâm hai chén gạo nếp, một ít nấm hương, sau đó ra vườn rau nhổ vài củ hành tây nhỏ. Những củ hành tây lúc này chỉ to bằng quả trứng, lá vẫn đang xanh mướt.

Sau đó, anh đi đến hầm, lúc này mới phát hiện ra rằng họ không có thịt gà.

Đừng nói là thịt gà tươi, ngay cả thịt gà đã xông khói cũng không có.

“Năm nay săn không được nhiều lắm.” Dịch Huyền thở dài, mở thùng lạnh ra, tìm một miếng sườn heo, lấy ra rã đông, chặt thành miếng nhỏ, ướp với nước tương, muối, bột canh, còn hào phóng cho thêm mấy muỗng rượu ngọt vừa mới làm.

Khoảng một tiếng sau, gạo nếp đã ngâm nở, nước trong nồi Dịch Huyền bắc lên cũng đã sôi.

Anh lấy nồi hấp ra, trải một tấm vải gạc lớn lên trên, đổ gạo nếp vào, dàn đều rồi dùng ngón tay chọc vài lỗ để gạo nếp chín đều hơn khi hấp.

Sau khi gạo nếp hấp chín, anh bắc chảo lên bếp, cho mỡ heo, hành khô băm nhỏ vào xào sơ qua, đổ gạo nếp đã hấp chín vào xào cùng nấm hương, sườn.

Hà Điền ngửi thấy mùi hương liền chạy tới xem náo nhiệt: “Thơm quá đi.”

Dịch Huyền bật cười: “Đợi lát nữa ăn vào còn thơm hơn nữa.”

Xào được một lúc, anh tắt bếp, lấy lá sen đem về ra, xé dọc theo gân lá thành những chiếc quạt nhỏ, xúc một muỗng lớn gạo nếp rồi đổ lên lá, gấp lá nhiều lần thành một gói nhỏ hơn lòng bàn tay một chút, sau đó cho những chiếc bánh lá sen nhỏ này vào nồi hấp cách thủy trong nửa tiếng.

Gạo nếp xương sườn gói trong lá sen ăn vào thật đúng là thơm hơn cả lúc ngửi!

Những hạt gạo nếp và sườn heo quyện với hương thơm đặc trưng của lá sen, khác hẳn so với hương vị của bánh ú gói bằng lá tre.

Hà Điền liế.m nếp dính trên ngón tay: “Chất béo và đường thật đúng là mỹ vị trời ban mà.”

Dịch Huyền cười đắc ý, ăn thêm một miếng nữa thì mới nhớ ra: “Mà này, em nên cho thêm một lòng đỏ trứng muối vào nữa!”

Hà Điền cười: “Sao lúc nào anh cũng trứng muối trứng muối vậy hả?”
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 119: Mướp và tôm bóc vỏ


Nháy mắt đã đến tháng bảy, Hà Điền và Dịch Huyền càng ngày càng bận rộn hơn.

Ngoài việc hoàn thành công việc trồng trọt và chăm sóc gia súc gia cầm trong nhà (và rùa), họ còn phải nuôi tằm, dời trồng cỏ nuôi, và tiếp tục trang trí nhà cửa, làm đồ đạc.

Nhà cũ và nhà mới nối liền với nhau.

Ở góc Đông Bắc của nhà gỗ cũ, họ làm một cánh cửa.

Muốn làm cửa và cửa sổ trên tường gỗ vừa phải chú ý đến kỹ thuật, vừa phải tính đến vấn đề chịu lực của tường. Nếu muốn làm cửa sổ, tốt hơn hết là nên chuẩn bị trước khung cửa sổ. Sau khi dùng than vẽ lên tường gỗ, đầu tiên là dùng đục khoét rãnh theo đường vẽ, sau đó đục lỗ, cưa gỗ, nói không chừng còn phải dùng rìu chặt vài đường, sau khi cưa gỗ ra, mài nhẵn cái lỗ đã khoét ở trên tường, lấp khung cửa sổ vào, lấp khoảng trống bằng vữa trát rêu.

Còn nếu muốn làm cửa mới thì càng phải cẩn thận hơn, vì kích thước của cửa lớn hơn, để chống sập (mặc dù khả năng tương đối thấp), trước khi lắp khung cửa mới phải được đỡ bằng vài cột gỗ to. Giữa khung cửa trên và dưới được mở ra.

Điều này đòi hỏi họ phải chuẩn bị trước ít nhất hai trụ gỗ hình chữ nhật ngắn hơn khung cửa một chút so với khung cửa trong thiết kế. Sau khi cưa lỗ, các trụ gỗ được dựng lên ở hai bên cửa mở, mặt trên và mặt dưới được gắn chặt chẽ lại với nhau.

May mắn thay, Hà Điền và Dịch Huyền có hai chiếc máy cưa nên công việc này không quá khó khăn.

Cửa của nhà gỗ mới mở ở góc Tây Nam của ngôi nhà, ngay đối diện với cửa của nhà gỗ cũ.

Nền đất giữa hai cánh cửa lúc mới xây móng đã bị đầm, lần lượt là một lớp đá nhỏ, một lớp cát, một lớp rêu khô, và cuối cùng là một lớp sỏi, sau khi được nện phẳng thì đặt một khung gỗ đặc rộng và hẹp khoảng mười centimet lên, trên đó đặt những viên gạch đá bê tông chưa mài nhẵn.

Nơi này là lối vào.

Hàng hiên này được bao quanh bởi cửa ra vào ở tất cả các phía, phía Đông là cửa vào của nhà gỗ mới, phía Tây là cửa vào của nhà gỗ cũ đã được cải tạo thành nhà bếp và phòng ăn, phía Nam là lối vào, khi cánh cửa nhỏ phía Bắc mở ra thì sẽ thấy ngay bếp lò cung cấp hệ thống sưởi sàn cho nhà gỗ mới.

Cửa này cũng là cửa vào sân trong.

Đúng vậy, ngôi nhà mới do Dịch Huyền thiết kế có sân trong. Anh dự định xây một nhà kính mới ở phía Bắc của ngôi nhà gỗ cũ và mới. Một bên của nhà kính mới nằm sát bức tường phía Bắc của nhà gỗ mới, và ống khói sưởi sàn được đặt ở góc để nhiệt thải từ việc sưởi ấm có thể được cung cấp cho cây trồng trong nhà kính. Các bức tường cách nhiệt tuyệt vời của nhà gỗ mới cũng có thể giữ ấm cho nhà kính.

Chiều dài của nhà kính này sẽ bằng chiều dài của nhà gỗ mới và cũ. Nó kéo dài từ bức tường phía Đông của nhà mới đến bức tường phía Tây của nhà gỗ ban đầu. Ban đầu nó vốn là một kho để củi và cỏ, sau này được tân trang lại. Căn đối diện với bếp sưởi sàn là kho củi, giữa kho củi và nhà kính là nhà vệ sinh trong nhà trong dự án của Dịch Huyền. Không gian giữa bếp sưởi sàn và nhà kính đương nhiên là nhà tắm trong nhà. Bằng cách này, nước tắm có thể được dẫn trực tiếp vào nhà tắm từ lò sưởi sàn, và nước đã sử dụng có thể được đưa vào nhà kính để tưới. Nhà vệ sinh phía đối diện sử dụng nước từ nhà bếp tu sửa từ nhà gỗ cũ, nhà vệ sinh được nâng lên, bên dưới xây một bể thu gom chất thải kiểu ngăn kéo, có thể kéo ra và đổ vào hố phân ở góc nhà kính bất cứ lúc nào.

Tuy nhiên, nhà vệ sinh sẽ hoạt động như thế nào, phương pháp thu gom và sử dụng chất thải này có khả thi hay không, và liệu hố phân và thùng thu gom có thể chịu được cái lạnh khắc nghiệt hay không hiện vẫn còn chưa biết.

Hà Điền vẫn không đồng tình với quan điểm “có nhà vệ sinh trong nhà”. Nhưng cô không phản đối thử nghiệm của Dịch Huyền, dù sao những căn nhỏ như kho củi, nhà vệ sinh, nhà tắm, nhà kính đều là những công trình hoàn toàn độc lập, nếu không hiệu quả thì chỉ cần phá bỏ đi và thay thế bằng thứ khác là được.

Thiết kế của Dịch Huyền nhìn từ mặt bằng là một vài hình vuông so le, giữa bếp lò trong nhà tắm, nhà bếp và nhà vệ sinh có một không gian mở hình chữ nhật nhỏ có kích thước ba mét x bốn mét, đây là sân trong.

Dịch Huyền dự định sẽ lát những viên đá nhỏ trên sàn của sân trong, đến mùa xuân và mùa hè thì đặt thêm chậu hoa vào, cũng có thể thêm nhiều bể nước cho sen và cá nhỏ.

Thiết kế của anh khá đẹp, nhưng Hà Điền nghe anh giải thích xong, cười hỏi: “Mùa đông nơi này sẽ không sao cả?”

“Đúng vậy.”

“Vậy anh có nghĩ đến mùa đông sẽ xúc tuyết như thế nào không?”

“……”

“Còn nữa.” Hà Điền chỉ vào kho củi, nhà vệ sinh, nhà tắm và lò sưởi sàn trên bản vẽ: “Làm thế nào để làm sạch tuyết ở những nhà nhỏ này?”

“……”

“Và, nhà kính thông với nhà, tuyết trên mái nhà phải xử lý sao?”

“……”

“Nếu mùa hè và mùa thu có mưa to thì làm sao để thoát nước?”

“… thì xây cống thoát nước để dẫn nước mưa vào nhà kính, trong nhà kính… sẽ đào một cái hố lớn để chứa nước!”

“Lá trôi vào sân, bít lối vào cống, thì phải làm sao?

“……”

Dịch Huyền hoang mang trước chuỗi câu hỏi này, anh gãi gãi đầu, muốn nói, nhưng mà nhà anh từng ở cũng có thiết kế tương tự như thế này! Cái giếng trời còn lớn hơn nữa kìa. Khi tuyết rơi, trẻ em có thể làm người tuyết và ném tuyết ở đó. Sau khi trời ấm thì mỗi sáng có thể tập võ ở đó. Đến mùa hè và mùa thu, cứ chiều chiều anh sẽ ngồi ở trên hành lang, ngắm các cô gái xinh đẹp múa hát luyện tập bài mới. Trong sân còn có những loài hoa và cây cối khác nhau. Khung cảnh từ cửa sổ nhìn ra vào mỗi mùa cũng khác……

Anh suy nghĩ một hồi, cuối cùng nhận ra rằng lúc đó, thật ra có một sinh vật ngày nào cũng đều bận rộn nhưng lại hiếm khi xuất hiện trước mắt anh: Người giúp việc.

Lá rụng, tuyết đọng và nước mưa, tất cả đều được những người này dọn sạch trước khi anh xuất hiện.

Anh thở dài thườn thượt, nghiêng người nằm xuống nệm rơm.

Một lúc sau, Hà Điền vuốt tóc anh, bên tai anh thì thào nói nhỏ: “Đừng nản lòng, chúng ta cùng nhau tìm cách.”

Phương pháp trước mắt mà họ nghĩ ra là xây một cống thoát nước ngầm trong sân nhỏ. Vật liệu làm cống thoát nước có thể là gốm, tre, nứa, gạch.

Ngoài ra còn phải làm cho mặt đất có một góc nghiêng nhất định. Để nước chảy về một chỗ.

Nếu mà thật sự không được nữa thì chỉ có thể tạm thời sửa đổi kế hoạch để thu nhỏ nhà kính sao cho nó chỉ dài bằng nhà gỗ mới. Bằng cách này, làm thế nào để làm sạch tuyết trên mái của các căn nhà độc lập này không còn là vấn đề nữa. Tuyết trên tất cả các căn nhà đều có thể được đập xuống, dù là chất thành đống trong sân, hoặc là quét đến bất cứ đâu cũng đều được.

Vì chiều cao của nhà mới là gần sáu mét, nên mái nhà kính, nhà tắm, nhà đặt bếp lò chỉ cần gắn vào tường của nhà mới, tạo thành một độ dốc, tuyết đọng có thể dễ dàng quét sạch.

Dịch Huyền vốn là muốn ngăn nhà kính bằng tường thấp, bên cạnh nơi trồng rau quả, bên kia tường thấp là nơi trú đông của vật nuôi, rau quả già trong nhà kính có thể dễ dàng ném cho những con vật bên kia bức tường hưởng dụng. Mà phân của động vật sau khi được dọn dẹp và thu gom, cũng có thể dễ dàng di chuyển đến hố phân bón gần nhà vệ sinh trong nhà kính.

Họ vẫn không muốn từ bỏ kế hoạch này. Chỉ nghĩ đến thôi là đã cảm thấy thoải mái dễ chịu rồi. Đến lúc mùa đông lạnh giá, họ không còn cần phải chạy tới chạy lui nữa! Khi bão tuyết ập đến, cũng không phải lần mò nắm dây thừng trên những chiếc cọc gỗ bị đóng băng sợ hãi bước đi trong màn tuyết nguy hiểm. Nếu có thể đúng như kế hoạch ban đầu, chiều dài của nhà kính sẽ được kéo dài ngang với hai ngôi nhà. Dài hơn, vậy thì sẽ thoải mái hơn, vì theo cách này, toàn bộ khu vực sinh hoạt là một hình vuông không có lỗ thông hơi, nhưng nếu nhà kính được thu ngắn lại, sân giữa nhà tắm và nhà vệ sinh sẽ trở thành một lỗ thông hơi hướng về phía Bắc đầu gió, tuyết sẽ không ngừng bị thổi bay và chất đống dưới tường nhà, sau đó xây thêm một bức tường chắn gió nữa.

Hai người thảo luận và cân nhắc nhiều lần, đầu tiên là vẽ trên bàn cát, sau đó là vẽ vào sổ, cuối cùng họ vẫn cảm thấy cứ dựa theo kế hoạch ban đầu mà hoàn thiện trước, làm tốt hệ thống thoát nước dưới sân, nếu có thể chịu được mưa bão vào mùa hè này thì sẽ làm nhà kính lớn hơn, còn nếu không được, vậy thì chỉ có thể xây dựng hai bức tường chắn gió.

Dù sao, điều mà bọn họ không sợ nhất chính là thử nghiệm.

Sau khi dựng khung cửa mới xong, muốn làm loại cửa như thế nào thì từ bây giờ cho đến khi bước vào mùa thu có thể lại tiếp tục thảo luận.

Hà Điền thích những cánh cửa bằng gỗ bình thường, nhưng Dịch Huyền thì lại đưa ra một số lựa chọn khác. Chẳng hạn như cửa sổ kính từ trần đến sàn được làm bằng gỗ và kính. Thậm chí anh còn đề nghị đóng một đường ray trên tường của nhà gỗ, làm thành cửa trượt bằng kính.

Sau khi dựng xong cửa trước, nhà mới của họ ngày càng ra dáng hơn.

Chỉ tiếc là cửa sổ của nhà mới chưa làm xong nên họ chỉ có thể kê tạm một khung gỗ mỏng có mảnh vải dầu trắng vào khung cửa sổ.

Sau khi quan sát cách cặp vợ chồng thợ làm cửa sổ chuyên nghiệp làm cửa sổ, Hà Điền và Dịch Huyền về nhà tham vọng thực hành, vốn nghĩ rằng nó có khó gì đâu, không phải chỉ là cắt gỗ thành những dải gỗ có mộng và lỗ mộng rồi lắp từng ô kính nhỏ vào thôi sao? Thực tế chứng minh, nghề thủ công mà người ta dám mang ra bán và kiếm sống nhìn thì đơn giản đó, nhưng cũng có những bí mật không thể để lộ ra. Ví dụ như góc nghiêng của các nan khung cửa sổ bằng gỗ, độ khô và ướt của gỗ, cách sửa kính ở bước cuối cùng đều có những mánh khóe mà họ không nhìn ra được.

Nhưng mà đã mua kính hết cả rồi, bây giờ muốn đi đặt làm cửa sổ vậy thì không khác gì ném tiền qua cửa sổ, cho nên, Hà Điền và Dịch Huyền quyết không bỏ cuộc.

Ngoài ra, họ dự định sẽ làm cửa sổ thành hai lớp, để không gian giữa hai lớp cửa sổ có thể cách nhiệt và làm cho ngôi nhà ấm áp hơn.

Trước khi làm ra chiếc cửa sổ hoàn hảo, họ chỉ có thể làm những gì có thể làm trong lúc dò dẫm.

Cũng giống như ngôi nhà gỗ ban đầu, hai cửa sổ của ngôi nhà mới được mở về hướng Nam, trên cửa sổ làm một mái hiên. Mái hiên mới kéo dài từ cửa sổ đến đường thẳng ngang mép mái hiên của nhà gỗ cũ. Tuy nhiên, mái hiên này lại có một huyền cơ, ở phía sát bên ngoài, mái hiên rộng một mét có thể di chuyển được, chỉ cần tháo giá đỡ trên hiên, phần hiên này có thể được gập vào trong một góc 90 độ, và được khóa lại để tạo thành một bức tường kín chắn gió.

Sau khi làm xong mái hiên, Dịch Huyền và Hà Điền đã thí nghiệm thử. Khi thả tấm ván có thể di chuyển xuống, Hà Điền “wow” một tiếng: “Giống cầu treo của lâu đài trong truyện cổ tích ghê.” Khi gấp tấm cửa thành bức tường kín chắn gió, cô lại “wow” một tiếng nữa, ngồi xổm chồm lên khoảng trống của tấm ván và nhìn ra ngoài: “Em thấy mình bây giờ giống một cung thủ cổ đại. Lúc thủ thành, em sẽ bắn những mũi tên lạnh lẽo từ đây và g.iết chế.t tướng lĩnh của đối phương.”

Ai cũng có trong mình một tính cách trẻ con.

Hiên nhà đã xong xuôi, Dịch Huyền mang hai chiếc ghế ra, Hà Điền thì mang một khay gỗ lớn với một ấm trà táo tàu đỏ bạc hà và một dĩa bánh quy lá hẹ với hành lá mới cắt từ vườn rau.

Hai người ngồi trên ghế, uống trà và ăn bánh, đối diện là ao nhà, vài con vịt đang thả mình trên mặt nước, trên ao còn có lá sen xanh, vài bông hoa sen sắp hé nở duyên dáng yêu kiều.

Hà Điền hít một hơi nhìn cảnh đẹp trước mặt: “Em muốn chuyển qua nhà mới ngay tối nay!”

“Không có tiền đồ.” Dịch Huyền “xuỳ” một tiếng. Anh lại bắt đầu tỏ ra đặc biệt thờ ơ: “Đây đã là gì? Chờ làm cửa sổ xong, chúng ta ngồi ở trong nhà cũng có thể nhìn thấy ao, còn nữa, ngoài cửa sổ còn có cây táo, đến mùa xuân, cây táo nở đầy hoa, em tưởng tượng thử xem, mình đặt một chiếc ghế dưới cửa sổ, ngồi đọc sách, uống trà và nhìn khung cảnh bên ngoài… … À, đúng rồi, mùa thu này chúng ta bắt một con mồi lớn nào đó, hươu, nai này nọ, đem lột da làm một tấm thảm rồi trải dưới chân, vậy mới thoải mái!”

Hà Điền cười hì hì: “Ừ, mình thắp thêm vài ngọn nến thơm, mấy viên hương thơm này kia… rồi gõ đàn nhỏ, như vậy mới gọi là hưởng thụ anh ha!”

Dịch Huyền nghe ra Hà Điền đang trêu chọc mình, cũng không giận, mò lại gần, nắm lấy bàn tay nhỏ bé của cô mà mập mờ sờ mó, rồi vu.ốt ve khuôn mặt cô: “Lại đây, anh sẽ cho em biết thế nào là hưởng thụ… …”

Mặt Hà Điền đột nhiên đỏ bừng lên, cô tức giận vươn tay đặt lên mũi Dịch Huyền: “Hừ!”

Hai người cười đùa trong chốc lát, bóng mặt trời đung đưa, Dịch Huyền vào rừng mang hai con cừu và Gạo về nhà, còn Hà Điền thì ở nhà chuẩn bị bữa tối.

Mấy hôm trước bắt được một mẻ tôm sông mập mạp, đựng trong rọ tre, ngâm xuống suối cho chúng nhả bùn, hôm nay đã ăn được rồi!

Khi Dịch Huyền trở lại, cháo đã nấu sẵn đặt ở trên bàn, Hà Điền bưng một dĩa đồ ăn đến, Dịch Huyền trông mong nhìn theo, lập tức nhăn nhó: “Mướp hả?”

Những khối nhỏ trong suốt trong dĩa chính xác là mướp.

“Lần này chắc chắn không giống sâu bướm đâu! Em đảm bảo.” Hà Điền cười dùng đũa gắp một miếng đút cho Dịch Huyền.

Mướp lần này quả thật ngon hơn rất nhiều, Hà Điền đã lựa ra những thớ thịt mướp béo ngậy và mềm, chỉ còn lại những khoanh tròn mềm mại và tươi mát cùng với những con tôm trắng hồng. Tôm tươi kết hợp với rau tươi, lại rưới một lớp nước sốt trứng pha tinh bột khoai tây, màu vàng nhạt kết hợp với màu xanh biếc trắng hồng, màu sắc vô cùng đẹp mắt, cũng vô cùng tươi ngon.

Dịch Huyền quả nhiên rất hài lòng: “Em mà sớm làm món này thì anh đã thích ăn mướp rồi!” Anh lại gắp thêm hai miếng, cười tủm tỉm ăn xong, nói: “Nếu đặt thêm một quả kỷ tử vào giữa con tôm, thì quá tuyệt.”

“Kỷ tử là gì?”

“Kỷ tử là một loại dược liệu, trước thời kỳ lạnh giá có đoạn thời gian bất kể là mùa đông hay mùa hè, ai ai cũng cầm bình giữ nhiệt, bên trong ngâm kỷ tử, quả tươi có màu đỏ và hơi mờ, bên trong có nhiều hạt nhỏ màu vàng. Nói thật là không thể ăn như hoa quả, nhưng cho dù là tươi hay khô thì lúc nấu canh hay pha trà, bỏ vài quả vào, ngọt lịm. Có điều, món ngon nhất là mầm cây kỷ tử, mùa hè đem xào với dầu và muối— “

“Anh lừa em! Cái này viết ở sách nào!”

“Thật sự ngon lắm, không lừa em đâu.”

Hai người ăn uống vui vẻ, bàn bạc xem nên chắn toàn bộ cửa căn nhà gỗ cũ như thế nào, hay là chắn một nửa, để nửa còn lại làm cửa sổ, nếu là cửa sổ thì cần bao nhiêu kính.

Lúa Mì nằm ở một bên vừa ăn thức ăn cho chó, đầu nhỏ cũng đang nhẩm tính, sau khi xây nhà mới thì nó sẽ sống ở đâu? Cạnh cửa có một bếp lửa, hẳn đó là nơi ấm áp nhất nhà! Hay nó vẫn nên ở nhà cũ?

Ở đây cũng có bếp lửa mà.

Nếu Lúa Mì là một con mèo, có thể nó sẽ nghĩ rằng, con sen của trẫm xây cái nhà vừa cao vừa lạnh lẽo kia, chuyển ra ngoài, tất nhiên, hẳn là vì muốn để nhà này lại cho trẫm chứ còn gì nữa.
 
Back
Top Bottom