Cập nhật mới

Khác Nguyệt Minh Thiên Lý

Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 40: Phật an bài


Một năm trước ở Trường An, Dao Anh cầu y cho mẹ, ở chùa Đại Từ Ân gặp Đề Bà Mông Đạt.

Lúc đó, nàng là công chúa cao quý, trong chùa Từ Ân mấy ngàn gốc hoa hạnh đua nhau nở rộ, xum xuê tươi tốt, sắc màu rực rỡ.

Một năm sau ở Tây Vực, Dao Anh cầu sự che chở, lại trùng phùng với Đề Bà Mông Đạt ở Vương cung Thánh Thành.

Giờ phút này, nàng lưu lạc ở vực ngoại, cách quê nhà 8,800 dặm mỗi bước đi liên tục gặp khó khăn, không biết khi nào mới có thể về nhà đoàn tụ với Lý Trọng Kiền.

Mười mấy tháng, như đã qua mấy đời.

Tất cả thấp thỏm đau khổ như thuỷ triều chậm rãi rút đi, Dao Anh mỉm cười, thương cảm đã thu lại trong một khắc nhận ra Đề Bà Mông Đạt đột nhiên lại trào lên, đứng dưới thềm, cao quý như Thất công chúa Lý gia Đề Bà Mông Đạt gặp lần đầu.

"Pháp sư thỏa mãn tâm nguyện, thật đáng mừng."

Ánh mắt nàng sáng tỏ, cười nói.

Con ngươi màu nâu nhạt của Đề Bà Mông Đạt nhìn Dao Anh mãi lâu, mặt hiện vẻ thổn thức.

Trong thời loạn, dấu chân ông in qua Trung Nguyên Tây Vực, gặp rất nhiều quý nhân gặp vận rủi, ông những tưởng vị công chúa mảnh mai gặp đầy trắc trở này hẳn sẽ nước mắt lưng tròng, nhào dưới chân mình xin giúp đỡ.

Nhưng nàng không có.

Nàng đứng đó mỉm cười, đôi mắt xanh sáng như sao trời, chân thành chúc mừng ông đạt thành tâm nguyện.

Khổ nạn trải qua với nàng như chỉ là một cuộc trui luyện, dưới vẻ yếu đuối xinh đẹp bên ngoài là một tâm hồn cứng rắn nhất.

Đề Bà Mông Đạt chậm rãi nói: "Vạn phát duyên sinh, đều là duyên phận, duyên tụ duyên tan, như mây như khói, sinh ly tử biệt, thiên đạo tự nhiên.

Công chúa và bần tăng quen biết ở Trường An lại trùng phùng tại Vương Đình này, có lẽ là ý trời.

"

Dao Anh nghe không hiểu lời kinh của ông có điều vẫn cảm nhận được ý an ủi: Đây đều là mệnh số, công chúa không cần đau buồn.

Dao Anh mỉm cười: "Có lẽ."

Số mạng đối với nàng mà nói, nàng tin —— Lý Huyền Trinh và Chu Lục Vân chẳng phải nhảy nhót loạn xạ kiểu gì cũng không chết được đấy thôi!

Còn mỗi khi nàng muốn thay đổi vận mệnh của mẹ hay anh trai, đều sẽ nhận trừng phạt.

Vậy thì có sao?

Tin là một chuyện, tuân theo số trời là một chuyện khác!

Nàng vẫn muốn cắn răng chống đỡ.

Nhất điểm hạo nhiên khí, thiên lý khoái tai phong, thừa phong hảo khứ, trường không vạn lý, trực thượng thanh vân.*

Không thể làm đại bàng bay thẳng cánh, cũng nên ra sức vỗ cánh bay cao.

Nếu quả thật đến lúc hết đường để đi, thì không bằng cứ sống trọn như Lưu Linh* thời Tấn, chết thì chôn ta!

*chỉ cần sống khẳng khái, là có thể thản nhiên ngàn dặm đón gió lớn mây cao, dù trong cảnh ngộ nào cũng thấy vô cùng sảng khoái.

Thủy điệu ca đầu – Tô Thức.

Lưu Linh: từng theo quân kiến quốc, thích uống rượu, theo tư tưởng Trang Tử và tình thú phóng túng quá chén, tỏ vẻ miệt thị Lễ pháp, không để ý đến tài sản của cải, hay ôm bầu rượu, bảo người hầu: "Chết thì chôn ta".

Chắc vậy có câu "đệ tử Lưu Linh" chỉ mấy ông xỉn tối ngày nhỉ.

Cho nên lời của Pháp sư cũng không thể dỗ đến nàng.

Đề Bà Mông Đạt cảm khái một lúc, nhìn thân binh mũm mĩm đứng cạnh mặt luôn cảnh giác: "Bát Nhã, Thất công chúa là khách của Phật Tử, các ngươi phải chăm sóc công chúa cho thật tốt, không thể lạnh nhạt."

Bát Nhã hét lên bằng tiếng Hồ: "Pháp sư, ngài không biết cái cô này làm gì Vương đâu!"

Cậu nhớ tới Dao Anh cũng biết tiếng Hồ, đổi sang tiếng Phạn la hét tiếp, bô lô ba la chuyện cầu hôn hôm đó của Dao Anh trước đám đông.

"Cái cô người Hán này dám trước mặt mọi người sỉ nhục Vương!

Còn nói muốn làm Ma Đăng Già nữ!

Cô ta...

Cô ta..."

Bát Nhã "Cô ta" một hồi thật lâu, giậm chân: "Cô ta phóng đãng!

Cô ta vô sỉ!

Nếu Nhiếp Chính Vương ở đây, đã chặt đầu cô ta từ lâu rồi!"

Đề Bà Mông Đạt lộ vẻ vẻ kinh ngạc.

Dao Anh dù không hiểu tiếng Phạn nhưng quan sát cậu thân binh nghiến răng nghiến lợi đầy phẫn hận là biết đang kể tội mình, hơi xấu hổ, quay sang Đề Bà Mông Đạt cười cười: "Hôm đó gặp nguy, bất đắc dĩ đã khinh bạc Phật Tử, vạn hạnh Phật Tử từ tâm, ra tay giúp đỡ, ta muốn gặp Phật Tử giải thích rõ ràng, mong Pháp sư có thể làm trung gian giúp đỡ."

Đề Bà Mông Đạt như vừa kịp lướt qua một vòng chấn kinh, đôi đồng tử màu nâu chớp chớp trong màn đêm, hiền hòa nói: "Công chúa không cần để ý, nếu không phải Phật Tử mới nhắc tới công chúa với bần tăng, bần tăng cũng không biết công chúa tới Vương Đình."

Dao Anh chưa phản ứng, Bát Nhã đã trợn to mắt không dám tin: "Gì?

Là Vương bảo Pháp sư tìm gặp cô người Hán này á?"

Sao Vương có thể nhớ ra cô này!

Chả nhẽ Vương bị cái cô gái Hán vô sỉ này đả động mất rồi?

Đề Bà Mông Đạt gật đầu: "Không sai, Phật Tử nói, trên dưới Vương Đình, không thể lạnh nhạt với công chúa Ngụy triều."

Bát Nhã nghẹn họng nhìn trân trối.

Dao Anh cũng rất kinh ngạc, nàng còn tưởng ngài Phật Tử thánh khiết lạnh lùng kia vốn chẳng nhớ rõ nhân vật nàng, ai ngờ ngài ấy vừa về tới Vương Đình đã hạ lệnh này.

Bát Nhã run rẩy, ngón tay chỉ vào Dao Anh, giận dữ: "Yêu nữ!"

Mặc y phục nô lệ còn có thể làm hồn xiêu phách lạc, trên đường về Vương Đình, từ quan tướng, binh sĩ đến nô lệ cũng không dám nhìn cô ta lâu hơn một chút, nếu mà thay y phục đẹp có phải náo lật trời không?

Dao Anh vô tội nháy mắt mấy cái, sóng mắt lưu chuyển, nhìn trong bóng đêm chỉ thấy một đôi mắt đẹp có mấy phần quyến rũ.

Lòng Bát Nhã như bị vuốt mèo cào mấy lần, khuôn mặt tức đến đỏ bừng, rồi phát xanh phát tím, sau một chốc lại trắng lóa như tuyết, bỗng xoay người chạy về cung điện.

Cô gái Hán này là ma nữ làm hỏng Phật Tử tu hành!

Cậu phải đi ngăn cản Phật Tử!

Đề Bà Mông Đạt lắc đầu, ra hiệu Dao Anh đi theo mình: "Tối nay Phật Tử vội vàng về cung, không rảnh gặp công chúa, bần tăng dẫn công chúa đi nghỉ ngơi trước."

Dao Anh theo sau, đến một gian đình viện trống, trong vườn hình như có trồng cây, tối quá nàng cũng không nhận ra cây gì, chỉ nghe một mùi thơm thoang thoảng.

Cấm vệ cũng dẫn đám Tạ Thanh đến, Dao Anh vô cùng cảm kích, Đề Bà Mông Đạt xoa dịu vài câu rồi cáo từ rời đi.

Sống sót sau tai nạn, gặp được người quen, đám thân binh nhỏ giọng reo hò, mệt mỏi mấy ngày liên tiếp trỗi dậy, vừa nằm xuống không đầy một lát đã khò khò.

Dao Anh xin ít thuốc chỗ cấm vệ bôi cho Tạ Thanh, thấy nàng ngủ yên ổn hơn mấy hôm trước, thở phào.

Dưới cửa sổ tiếng ngáy liên tiếp.

Dao Anh xoa xoa bả vai đau buốt, tựa trước cửa sổ, cười cười, đã rất nhiều ngày cho đến mãi hôm nay, lần đầu tiên nàng có thể thả lỏng.

Đàm Ma La Già quả nhiên là một người tốt có lòng từ bi.

Dao Anh chợp mắt thiếp đi.

Bỗng nhiên, trong đêm yên tĩnh như nước vang lên liên tiếp tiếng gọi to nhỏ, tiếng bước chân lộn xộn.

Dao Anh vã mồ hôi lạnh, giật mình ngồi dậy, nắm chặt chủy thủ giấu ở trên người nghe ngóng, phát hiện những tiếng động này không đi về hướng mình, chậm rãi thở hắt ra.

Hải Đô A Lăng bình thường bận rộn việc quân nhưng mỗi khi rảnh rỗi thường cố ý trêu đùa nàng, xem thái độ kinh hoàng của nàng làm vui.

Mỗi đêm trước khi ngủ nàng đều phải đề phòng Hải Đô A Lăng đến, trong đêm nghe tiếng động bừng tỉnh ngay.

Sát vách truyền đến tiếng la: "Pháp sư!

Pháp sư!"

Thì ra là tìm Đề Bà Mông Đạt.

Dao Anh ngủ tiếp, thiếp đi chưa đầy một lát, ngoài viện bỗng có tiếng bước chân, lúc này là cửa sân của nàng bị đập vang.

"Thất công chúa!

Pháp sư cho mời!"

Dao Anh đứng dậy mở cửa, đệ tử Đề Bà Mông Đạt trực tiếp đưa nàng đến chính điện, cửa chính trong điện đóng chặt, họ qua cửa hông nhỏ vào vườn sau chính điện, bên trong u ám, hương thơm xông vào mũi, có vẻ trong vườn trồng không ít hoa cỏ.

Địa thế Vương cung của Vương Đình rất cao, cung điện cũng xây trên những mỏm đá cao, Dao Anh theo đệ tử trèo lên thềm đá cao.

Trước bậc có một đốm đuốc chập chờn, Đề Bà Mông Đạt chờ ở dưới hiên vẻ lo lắng: "Bần tăng có chuyện thỉnh giáo công chúa, mong công chúa chia sẻ."

Dao Anh gật đầu.

Đề Bà Mông Đạt mồ hôi đầu đầy: "Lúc bần tăng từ Trường An lên đường, công chúa từng tặng cho bần tăng mấy bình thuốc viên, trong đó một vị thuốc tên là An tức hoàn, người hầu của công chúa nói thuốc này có công hiệu tiêu sưng giảm đau...

Công chúa người có biết toa điều chế An tức hoàn không?"

Dao Anh khẽ giật mình, suy nghĩ mấy vòng, trầm ngâm một lát, ánh mắt vượt qua hành lang u ám nhìn về phía cửa cung chính điện đóng chặt, nhẹ giọng hỏi: "Phật Tử bệnh à?"

Đề Bà Mông Đạt cứng đờ trong chớp mắt, thở dài: "Công chúa đã đoán được, bần tăng cũng nói rõ, lúc bần tăng vừa tới Vương Đình, Phật Tử bệnh nặng, bần tăng thử qua rất nhiều phương thuốc, sau đó trong lúc vô tình để Phật Tử dùng vài viên An tức hoàn."

Lúc ấy kỵ binh Bắc Nhung khí thế rào rạt, liên kết các bộ tộc khác tiến đánh Thánh Thành, Đàm Ma La Già ngày giờ không nhiều, biết nếu tin mình bệnh nặng truyền ra, Vương Đình chắc chắn sẽ bại, dứt khoát ngựa chết chữa như ngựa sống, thuốc gì cũng uống.

Kết quả uống mấy viên An tức hoàn, chuyển biến tốt như có kỳ tích.

An tức hoàn lấy từ chỗ Dao Anh, Đề Bà Mông Đạt không biết toa điều chế, thấy sắp hết bình An tức hoàn đành phái người đi Trung Nguyên xin thuốc, mặt khác nghĩ cách khác ổn định bệnh tình của Đàm Ma La Già, nhưng chiến sự căng thẳng, Đàm Ma La Già vốn không thể trốn mãi trong Thánh Thành dưỡng bệnh.

Chàng cố nén đau đớn xuất chinh, chống đỡ đến cùng ký kết minh ước Bắc Nhung, gượng đến dọa lui Hải Đô A Lăng, trở lại Thánh Thành, cuối cùng vẫn không chịu đựng nổi.

Đề Bà Mông Đạt nói xong, thở dài: "Phật Tử mới vừa phát bệnh, An tức hoàn bần tăng đem từ Trung Nguyên đã hết..."

Nghi hoặc trong lòng Dao Anh lập tức khai sáng.

Không ngờ một động tác tình cờ một năm trước của nàng lại ảnh hưởng đến chiến cuộc tám ngàn dặm bên ngoài.

Đàm Ma La Già cứu nàng, không phải bởi vì bị nàng đả động mà là nghe nàng nói ra thân phận công chúa Ngụy triều, ngài uống An tức hoàn có chuyển biến tốt, chắc chắn Đề Bà Mông Đạt có nhắc tới nàng.

Đề Bà Mông Đạt nói cơ duyên, thì ra là vậy.

Dao Anh nghĩ thông suốt rất nhiều chuyện.

Hèn gì Đàm Ma La Già vội vã chạy về Thánh Thành, còn phải chờ trời tối mới vào thành, bệnh của ngài, hơn nữa là bệnh rất nặng, sợ bị người nhìn ra.

Cho nên dọc đường nàng không thấy được thành bang bộ lạc lớn, tuyến đường Đàm Ma La Già về Thánh Thành cố ý tránh thành trì đông người.

Vốn chàng định mang nàng về Thánh Thành, từ từ sẽ hỏi thăm toa thuốc An tức hoàn.

Không ngờ đột nhiên phát bệnh, tính mạng đang như ngàn cân treo sợi tóc, Đề Bà Mông Đạt không thể không mời nàng đêm khuya tới đây, mạo hiểm nói ra tình trạng bệnh nặng của chàng.

Nỗi lo âu của Đàm Ma La Già không phải vô cớ, chàng là thần trong mắt dân chúng Tây Vực, còn sống thêm một ngày, Vương Đình còn phồn vinh yên ổn, sau khi chàng chết Vương Đình lập tức sụp đổ, ngắn ngủi một tháng đã thần phục Bắc Nhung, toà Phật quốc ngàn dặm từ đó hoàn toàn tiêu vong trong dòng sông lịch sử.

Tin tức truyền ra, Vương Đình chắc chắn loạn.

Dao Anh thở dài: "Pháp sư, ta biết toa điều chế An tức hoàn nhưng dược liệu đều trồng ở Trung Nguyên, coi như Pháp sư có biết, ngay lúc này cũng không cách nào điều chế thuốc được."

Sốt ruột trong đôi mắt màu nâu của Đề Bà Mông Đạt từ từ giảm đi, đứng trước bậc, thở dài.

"Công chúa chê cười, bần tăng đúng là bất lực.

Phật Tử sớm thông minh, thiên tư khí khái, thuộc lòng điển tịch, giả như có thêm thời gian, hẳn là một tài năng vĩ đại của cửa Phật, đại hưng Phật pháp, phổ độ chúng sinh, bần tăng không đành lòng thấy ngài ấy trước khi đại đạo chưa thành bị rơi vào nỗi khổ luân hồi."

Dao Anh cũng không hi vọng Đàm Ma La Già mất sớm đến thế...

Nàng nghĩ nghĩ, nói: "Pháp sư, ta có thể viết đơn thuốc ra đại khái, có khi có thể thay thế bởi dược liệu Tây Vực?"

Đề Bà Mông Đạt là vị sư, coi nhẹ sinh tử, nếu không phải thực sự tán thưởng tư chất tài hoa của Đàm Ma La Già, sẽ không nói nhiều với Dao Anh vậy, đang muốn từ bỏ, nghe vậy, mừng rỡ.

Trường An và Thánh Thành cách xa tám ngàn dặm, thuốc Thất công chúa tiễn ông vừa vặn có thể làm chậm nỗi đau của Đàm Ma La Già, giờ Thất công chúa lại nhân duyên trùng hợp xuất hiện ở Thánh Thành —— có lẽ tất cả đều là Phật an bài.

Đề Bà Mông Đạt dẫn Dao Anh xuyên qua một hành lang thật dài, qua cửa hông vào trong điện.

Tầng tầng màn tơ vàng nặng nề dày đặc buông, nhìn từ bên ngoài, trong điện đen kịt một màu.

Người hầu xốc màn che, từng luồng sáng vàng rực rỡ chợt trút.

Dao Anh đưa tay che mắt, từ từ thích ứng với luồng sáng trước mặt.

Trong điện mấy trăm ngọn nến cháy rực, ánh nến rực rỡ thoáng như ban ngày.

Trên mặt đất trải thảm dệt Ba Tư thêu hình thú, đạp lên như đặt chân lên đám mây mềm mại, bốn phía rèm châu khảm đá quý nhẹ nhàng lắc lư, lộng lẫy hoa lệ, tỏa ra ánh sáng lung linh, trên vách tường treo bức bích họa sơn khắc vàng tinh tế giống như có ánh sáng vàng nhấp nháy, sắc sảo sinh động.

Ánh sáng làm Dao Anh hoa mắt —— trong bóng đêm quờ quạng vào Thánh Thành, không thấy được toàn cảnh Vương cung, nàng nghĩ Vương cung cũng hùng vĩ lạnh lẽo như sườn núi bên ngoài, không ngờ chính điện xa hoa mỹ lệ như vậy.

Có thể thấy Vương Đình giàu có bực nào.

Khó trách hai đời Khả Hãn Bắc Nhung đều nhất định phải có được Vương Đình.

Bát Nhã và mấy thân binh khác quỳ gối trước giường trong nội điện, vẻ mặt bi thương, hai mắt khóc đỏ bừng, nhìn thấy Dao Anh được đưa vào, lập tức nhảy dựng.

"Yêu..."

Dao Anh không để ý, đi đến cạnh thư án, vung bút viết luôn ra đơn thuốc nàng biết.

Đề Bà Mông Đạt cầm lấy xem kỹ, thất vọng lắc đầu: "Trong phương thuốc này có thành phần khó kiếm là Thủy mãng thảo*,...

Tất cả dược liệu bần tăng mang tới không có thứ có thể thay thế được."

tên khoa học Lôi Công đằng ( Tripterygium wilfordii ), rễ cây có tính kịch độc, có biệt danh đoạn trường thảo, Lôi Công đằng là thuốc truyền thống đặc hiệu trị liệu bệnh viêm khớp mãn tính, phong thấp, có tác dụng rất mạnh kháng sưng...

"Thủy mãng thảo?"

Dao Anh ánh mắt lóe lên.

Giường bên cạnh truyền đến tiếng khóc lớn, Bát Nhã kêu to: "Pháp sư!"

Đề Bà Mông Đạt bước nhanh đến trước giường, nhìn mặt Đàm Ma La Già vàng như giấy vàng, thở một hơi thật dài.

Dao Anh từ sau lưng ông nhô ra nửa cái đầu, ánh mắt rơi xuống khuôn mặt Đàm Ma La Già.

Ánh nến chiếu rọi, chàng nằm đắp tấm chăn nỉ nền trắng thêu chỉ vàng, đáy mắt xanh đen, đôi môi trắng bệch, trên khuôn mặt tuấn mỹ rịn đầy mồ hôi, hai chân mày rậm nhíu chặt, rõ ràng đang chịu đựng nỗi đau đớn cực hạn nhưng không hề phát ra một tiếng.

Một góc chăn xốc lên một góc lộ hai chân chàng sưng đến gần như đen thui —— mấy ngày qua, với đôi chân thế này, ngài ngồi trên lưng ngựa hiệu lệnh ngàn quân sao?

Nếu không phải tận mắt nhìn thấy, Dao Anh không thể tin được người đàn ông mạng sống như treo trên sợi tóc này chính là Phật Tử mới vài hôm trước dẫn thiên quân vạn mã dọa lùi Hải Đô A Lăng.

Trên những cồn cát cong cong di chuyển như dòng lũ kia, chỉ một mình ngài thân cà sa đỏ thẫm, chói lóa, bễ nghễ giữa thiên hạ.

Dáng người trong trẻo mà vĩ đại.

Có ai biết lúc ấy ngài đang cắn răng chịu tra tấn của đau đớn?

Ý chí của người đàn ông này cứng cỏi chừng nào, mới chống đỡ được tới hôm nay?

Ngài là Vương của Thánh Thành, là thần trong mắt của dân chúng Tây Vực, cho nên dù đau tới mức không muốn sống, ngài cũng phải một vai nâng Phật quốc mà trong chú định vẫn sẽ chết.

Dao Anh không khỏi sinh lòng cảm khái, tiến lên mấy bước, kéo lộ chăn gấm.

Bát Nhã la lên: "Cô muốn làm gì?!"

Dao Anh không nhìn cậu ta, vén cà sa của Đàm Ma La Già, ngón tay sờ lên đôi chân sưng của chàng, "Lấy ít nước nóng tới."

Bát Nhã kêu to bảo thân vệ đuổi nàng.

Đề Bà Mông Đạt ngăn lại, hỏi Dao Anh: "Nước nóng?

Làm vậy sẽ không sưng thêm sao?"

Dao Anh nhìn Đàm Ma La Già, mấy hôm nay nàng không thể tiếp cận chàng, mỗi ngày chỉ từ đội phía sau từ xa nhìn vóc dáng xuất trần thoát tục cao ngạo của chàng, giờ đứng gần, nàng phát hiện chàng còn tuấn tú to lớn hơn trong tưởng tượng, dù đang bệnh, khuôn mặt vẫn như vẽ.

Nàng nói: "Lúc trước ở Xích Bích ta có gặp một vị thần y chẩn trị cho người nọ, tình trạng không khác với ngài lắm, ngâm nước nóng, châm cứu... tạm thời có thể giảm bớt đau đớn cho ngài ấy."

Coi như không cứu sống được ngài thì chí ít có thể khiến hòa thượng lòng hoài từ bi bớt đau đớn chút ít.

Đề Bà Mông Đạt có nghe nói qua châm cứu, "Trong chùa có vị sư người Hán biết châm cứu, mời ông ta đến Vương cung!"

Giờ cách gì cũng thử, không có An tức hoàn, chỉ còn cách phó thác cho trời.

Đám thân vệ nhìn nhau, từ niềm tin đối với Đề Bà Mông Đạt, nhận lệnh đi.

Người hầu rất nhanh mang nước nóng đến, Dao Anh chỉ huy họ dùng dược liệu, lau đắp cho Đàm Ma La Già trước.

Sau nửa canh giờ, vị sư người Hán mới vội vàng chạy tới, Dao Anh đem khẩu quyết nhớ được nói hết cho ông, người rửa tay, khử châm, bắt đầu châm cứu cho Đàm Ma La Già.

Ánh nến lẳng lặng cháy, chân sưng của Đàm Ma La Già vẫn chưa bớt nhưng lòng bàn tay đã không còn lạnh như trước, sắc môi cũng hồi phục chút ít.

Dao Anh ở bên cạnh giúp đỡ, cầm khăn gấm lau mồ hôi lạnh cho Đàm Ma La Già.

Sau nửa đêm, nến trong điện cháy chỉ còn một nửa, mi mắt nàng mệt mỏi sụp xuống, vô thức dựa giường ngủ thiếp đi.

Trong mông lung, đột nhiên bị một tràng bước chân nặng nề bừng tỉnh.

Dao Anh mở to mắt, chợt chìm vào trong một tầm mắt tĩnh mịch như vực sâu.

Một đôi mắt màu xanh thẫm đang lẳng lặng nhìn nàng.

Đôi mắt này cơ trí lạnh trong, như sáng tỏ cả âm u, như có thể hiểu thấu đáo mọi vật thế gian, rõ ràng là ung dung nhìn nàng, lại làm nàng cảm thấy rất áp lực, không chỗ lẩn trốn.

Giống như trong trong ngoài ngoài, từ thân thể đến linh hồn, đều bị người này nhìn thấu.

Dao Anh giật mình, lấy lại tinh thần, trấn định che tay áo lau đi nước bọt bên môi, nhẹ nhàng đứng lên, đánh thức Đề Bà Mông Đạt ở một bên nhắm mắt tĩnh tọa: "Pháp sư, Phật Tử tỉnh rồi."
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 41: Chứng thực tai tiếng


Đề Bà Mông Đạt đứng dậy nhìn hai chân của Đàm Ma La Già, sắc mặt đông cứng lại.

Bát Nhã và hai thân binh khác vây quanh cạnh giường, thảo luận mấy câu với Đề Bà Mông Đạt.

Ai nấy đều ảm đạm.

Vẻ mặt người bệnh nặng Đàm Ma La Già trái lại bình tĩnh nhất, ánh mắt trong lạnh đảo qua mặt mấy người, thấp giọng dặn dò gì đó.

Bát Nhã vừa lau nước mắt vừa gật đầu vâng dạ.

Họ nói tiếng Phạn, Dao Anh nghe không hiểu, chỉ nghe giọng khàn khàn của Đàm Ma La Già tuy đang bệnh bằng cách nào đó vẫn có vần luật ưu nhã.

Tiếng bước chân càng lúc càng gần làm nàng bừng tỉnh, một thân binh xốc màn trướng bước nhanh vào trong, nói tiếng Hồ: "Vương, đám người Đại tướng đến, họ kiên trì đòi phải vào điện yết kiến Vương!"

Mấy người Bát Nhã nhìn nhau.

"Không thể để họ vào!"

Bát Nhã ngăn trước giường, hỏi, "Nhiếp Chính Vương đâu?"

Thân binh nói: "Cách đây không lâu Tô tướng quân đi Cao Xương, còn chưa về."

"Công chúa Xích Mã đâu?"

"A Sử Na tướng quân hộ tống công chúa Xích Mã đi Vân Phù Thành, họ cũng không ở trong thành, đã phái người đi mời rồi."

Thân binh rịn đầy mồ hôi, "Mấy người Đại tướng đang định xông vào!"

Mấy thân binh luống cuống, Đề Bà Mông Đạt không muốn nhúng tay vào triều đình chính sự của Vương Đình, bất đắc dĩ thở dài.

Đè nén trong yên lặng, Đàm Ma La Già mê man trên giường lại gượng dậy, bờ vai thon gầy căng thành một đầu cung, trên khuôn mặt tái nhợt không chút bối rối, nói khẽ: "Đỡ ta đi chính điện."

Giọng vẫn ung dung không vội.

Bát Nhã xoa khóe mắt, xoay người dìu Đàm Ma La Già, động tác thành thạo vô cùng, như làm vô số lần.

Dao Anh tiến lên một bước, "Tốt nhất ngài đừng xuống đất."

Đàm Ma La Già nâng tầm mắt, đôi mắt xanh thẳm chăm chú nhìn nàng.

Ánh mắt chàng nhìn người cũng trong lạnh như chàng, như đang nhìn người, mà cũng như xuyên thấu qua người nhìn vật khác, như vạn vật trong thế gian trong mắt chàng đều là tục vật.

Một thứ uy áp vô hình quanh quẩn quanh người chàng, cũng không sắc bén, như có như không.

Dao Anh và chàng nhìn nhau hồi lâu, ánh mắt rơi xuống trên đùi chàng, lông mày nhẹ chau lại, dùng tiếng Hồ không sõi lắm nói: "Chân ngài sưng thế này, tuyệt đối phải nằm tĩnh dưỡng trên giường, xuống đất thì cho dù giờ có An tức hoàn, đôi chân này cũng hoàn toàn bỏ đi đấy."

Nàng không biết Đàm Ma La Già chết bệnh ra sao, chỉ biết lần cuối cùng ngài công khai giảng kinh được tín đồ đỡ lên Pháp đàn, giờ nhìn chân ngài, nàng suy đoán hẳn khi đó chân ngài đã hỏng.

Bát Nhã kinh hãi, thút thít hỏi: "Vương, nói với mấy Đại tướng sự thật đi!"

Đàm Ma La Già cụp mắt nhìn hai chân mình, mi mắt rung động, thản nhiên nói: "Không chuyện gì."

Bắc Nhung đang dòm ngó, thế cục trong triều bất ổn, tin chàng bệnh nặng không thể tiết lộ ra ngoài.

Bát Nhã và thân binh nhìn nhau, không dám nói thêm, chỉ đỡ chàng.

Mày Dao Anh càng nhíu chặt.

Đàm Ma La Già đã không thương tiếc thân thể của mình, người bên cạnh thật coi ngài là thần sao?

Ngài ấy là người.

Nghe các nô lệ nói, Vương Đình từ quý tộc đến bình dân đều thù người Hán, chỉ có hòa thượng lòng dạ từ bi, không chỉ xem tất cả nô lệ đều là con dân của mình, đối xử tốt với dân các tộc, còn cổ vũ tín đồ bình đẳng chung sống hòa bình cùng Hỏa giáo, Ma Ni giáo, Cảnh giáo*.

*Cảnh giáo, đạo Cơ Đốc truyền vào TQ thời Đường, từ Hy Lạp chính giáo phân ra, khởi nguồn là giáo sĩ Syria Constantine thành lập giáo hội ở Ba Tư (~428-431).

*Ma Ni giáo, Manichaeism-Minh Giáo, nguyên từ Hỏa Giáo Ba Tư xưa, người Ba Tư (Mani) sáng lập giữa TK III.

Có hấp thu Cơ Đốc giáo, có tín ngưỡng riêng, tiếp thu Zoroastre và Phật giáo.

GIáo lý chủ yếu là nhị tông tam tế luận, có giới luật và chùa chiền thể chế riêng.

Người này sống thêm một ngày, Bắc Nhung không cách nào tấn công Vương Đình, cũng sẽ không thể rút chủ lực tiến đánh Trung Nguyên.

Lòng Dao Anh chuyển tính mấy vòng, ngăn Bát Nhã lại, nói: "Vương của các ngươi hiện giờ không thể xuống đất, tìm lý do đuổi mấy người Đại tướng đi."

Bát Nhã cảnh giác nhìn nàng mấy lần: "Đại tướng cố chấp, lý do bình thường không ngăn được ngài ấy..."

"Ta chính là lý do."

Dao Anh ngắt lời, đưa tay vuốt tóc mai, đuôi mắt hoạt bát hơi kéo lên, sóng mắt trong như nước hồ thu sóng sánh, giống như nhành hoa đầy nụ bỗng nhiên trong tích tắc mỉm cười hé nhuỵ, trời quang mây tạnh, dung mạo rực rỡ, khiến người không dám nhìn gần.

Thoáng chốc, cả phòng như vào xuân.

"Ngươi ra ngoài nói với Đại tướng, công chúa Đại Ngụy một lòng say mê, đau khổ quấn lấy Phật Tử, Phật Tử thoát thân không được."

Bát Nhã đỏ mặt, cúi đầu nhìn Đàm Ma La Già.

Đàm Ma La Già không ngẩng nhìn Dao Anh, đôi mắt buông xuống, nhìn giày cỏ mài đến rách trên chân thiếu nữ.

Dọc đường chàng quên căn dặn bộ hạ chăm sóc vị công chúa Ngụy triều, đi chung với mấy nô lệ hẳn nàng chịu không ít khổ.

Đàm Ma La Già ho khan một tiếng, nói: "Không cần, việc này không liên quan đến Thất công chúa."

Dao Anh kinh ngạc phát hiện chàng nói tiếng phổ thông Bắc Trung Nguyên, mà so ra còn lưu loát hơn Đề Bà Mông Đạt cái người Thiên Trúc ở Trung Nguyên khá lâu, một chút khẩu âm cũng không có.

Nghe nói ngài thông minh từ nhỏ, mười mấy tuổi đã thành thạo bảy tám ngôn ngữ, không ngờ gồm cả Hán ngữ.

Người như ngài nếu đơn thuần làm một nhà sư dốc lòng tu tập, nghiên cứu Phật lý, chắc hẳn sẽ không vất vả thế này.

Dao Anh cảm khái trong lòng, cười cười, không hề lo lắng nói: "Khi ta bị rơi vào nguy hiểm, Phật Tử cứu ta từ trong nước lửa, ta nên báo đáp."

Nói xong, nàng ngồi xổm xuống, đối mặt với Đàm Ma La Già, con ngươi đen nhánh tỏa sáng phản chiếu lên bộ mặt tái nhợt của đối phương.

"Chân của ngài thành thế này, không được đi sẽ động."

Không đợi chàng kịp nói gì, Dao Anh đứng lên, tháo dây buộc tóc, cởi đôi giày cỏ rách rưới, chân trần giẫm trên thảm, tóc dài xõa vai, từng bước một đi ra ngoài, từng bước sen nở, bóng lưng thướt tha.

Giữa hoa văn hình thú rực rỡ một đôi chân ngọc trắng sáng bóng trơn mềm, ẩn hiện mấy phần hương sắc khiến người miệng đắng lưỡi khô.

Thân vệ trong phòng trợn mắt há mồm.

Ngoài chính điện, một đám trung niên bốn mươi năm mươi tuổi sải bước xuống thềm đá.

Người dẫn đầu chính là Đại tướng Vương Đình Khang Mạc Già, người mặc áo bào ngắn cổ bẻ tay bó hoa văn chim đối xứng, thắt lưng rộng, giày ống cao, bên hông đeo bảo đao, tóc quấn dải lụa màu cột sau ót, vừa đi vừa quát lớn thân vệ: "Đêm qua Vương đã về, sao không lập tức triệu kiến đại thần?"

Bát Nhã tiếp đón, chỉ vào Dao Anh đang chặn trước cửa điện đang nước mắt lưng tròng: "Đại tướng có chỗ không biết, công chúa Nguỵ triều muốn tìm cái chết, nhất định phải gả cho Vương, Vương thực sự không thể phân thân."

Khang Mạc Già sững sờ, theo hướng ngón tay cậu nhìn lại.

Nhìn từ bên là một vóc người nhỏ yếu xinh đẹp, tươi tắn sáng rỡ, phong thái càng sâu hơn hẻm núi rộ hoa nở đầu xuân.

Đám người chỉ thoáng nhìn ngắn ngủi, đã không khỏi thả nhẹ một hơi.

Dao Anh đón ánh mắt dò xét, hu hu khóc ròng, khóc càng thêm thương tâm.

Khang Mạc Già đã từ miệng tư binh nghe nói chuyện công chúa Nguỵ triều cầu hôn trước vạn quân, nghĩ tư binh phóng đại, giờ phút này gặp được người thật, mới phát hiện thì ra tư binh miêu tả không nổi một nửa sắc đẹp của công chúa Nguỵ triều.

Nhưng mỹ nhân này mắt kém quá, đi coi trọng một người xuất gia không bị sắc đẹp đả động.

Con mắt Khang Mạc Già chợt đảo, cười nói: "Thế gian lại có tuyệt sắc nhường ấy."

Cả đám trố mắt nhìn nhau.

Vương là Phật Tử, ngài bị một mỹ nhân quấn quýt si mê, giây phút xấu hổ bực này, bọn họ có nên đi vào không?

"Tụi tôi không ngăn được công chúa Ngụy triều."

Đám thân vệ đều làm ra vẻ lo lắng, "Ngài ấy là phụ nữ, lại là công chúa Trung Nguyên, tụi tôi không dám đả thương ngài, chỉ cần Vương vừa xuất hiện, ngài ấy liền một tấc không rời theo sát Vương, Vương hết cách, chỉ còn cách trốn trong tẩm điện."

Đám người hiểu ý cười khẽ: Được một mỹ nhân tuyệt sắc dây dưa, Vương còn có cách nào?

Đổi lại là bọn họ, đã sớm thành chuyện tốt, cũng chỉ có Vương mới chống được cám dỗ này.

Bát Nhã thẳng tắp lưng, nói: "Xin chư vị đại thần về đi, chờ Vương giải quyết xong chuyện cô công chúa Trung Nguyên sẽ tự triệu kiến mọi người."

Khang Mạc Già nhắm cặp mắt lại.

Mấy người khác cười ra tiếng, Phật Tử lục căn thanh tịnh, mà cũng gặp chuyện thế này: "Bọn ta chỉ muốn đến xác nhận có phải Vương đã an toàn về thành chưa, Vương an toàn rồi thì, bọn ta cáo lui."

Cả đám nháy mắt với Khang Mạc Già: "Đại tướng, yết kiến bây giờ không phải lúc."

Ánh mắt Khang Mạc Già dừng trên người Dao Anh thật lâu, đáy mắt thoáng một tia lạnh, cùng quay người rời đi.

Mãi đến bóng dáng họ khuất sau cửa cung không thấy nữa, Bát Nhã mới lặng lẽ thở hắt ra.

Ra cửa cung, Khang Mạc Già cáo biệt với đám người, gọi tùy tùng đến: "Báo cho Tiết Tướng quân, trong thành có một mỹ nhân tuyệt sắc đến, hơn nữa còn là một cô gái người Hán."

Tùy tùng nhận lệnh đi đi.

Bát Nhã xác định Đại tướng rời đi thật rồi mới trở lại trước cửa điện, vẻ hơi mờ mịt: "Đại tướng cứ vậy mà đi nhỉ."

Dao Anh đứng lên, phủi nhẹ nước mắt, vén mớ tóc dài.

Đám đại thần không hề lo lắng sự tồn tại của nàng có tổn hại tiếng tăm của Đàm Ma La Già không, mà ngược lại từng người đều biểu lộ vẻ cười khi người gặp họa.

Xem ra triều đình của Vương Đình cũng không ổn định, một nước mà Quân chủ đề phòng đại thần trong triều, đại thần thì ngầm mang tâm tư.

Khó trách Đàm Ma La Già vừa chết, Vương Đình liền chia năm xẻ bảy.

Dao Anh trở lại nội điện, trong màn trướng yên tĩnh, chỉ có tiếng nến cháy.

Đàm Ma La Già đã ngủ mê man.

Bát Nhã chạy về trước giường quỳ xuống, quay nhìn Đề Bà Mông Đạt, mặt tràn đầy hi vọng.

Đề Bà Mông Đạt thở dài: "Châm cứu chỉ làm chậm nỗi đau thôi."

Dao Anh gật đầu: "Châm cứu chỉ kéo một thời gian, ngài ấy sẽ không chống đỡ được quá lâu.

Người ngài phái đi Trung Nguyên xin thuốc khi nào có thể về Vương Đình?"

Đề Bà Mông Đạt đau xót lắc đầu: "Nhiếp Chính Vương sợ bị lộ tin tức nên chỉ bí mật phái người trà trộn vào đội buôn đi về phương Đông gặp cơ hội tìm thuốc.

Trước sau cậu ta phái đi tất cả hơn mươi người, bây giờ đường đi buôn bán đã bị Bắc Nhung cắt đứt, thương đội đi Trung Nguyên không hề có tung tích, duy nhất chỉ một đội bình an trở về là đội đi qua Thổ Phiên, thân vệ đó không mang được dược liệu cần thiết về."

Dao Anh nhớ lại đoạn đường đã qua, đội buôn Vương Đình mà Đại Vương tử Diệp Lỗ tru sát kia rất có thể có thân vệ của Đàm Ma La Già tìm thuốc.

Bắc Nhung vắt ngang giữa Tây Vực và Trung Nguyên, đường xá cách trở, Vương Đình muốn từ Trung Nguyên thuận lợi mang thuốc về khó như lên trời, đám thân vệ dữ nhiều lành ít.

Vả lại cũng không kịp.

Dao Anh nói: "Ta biết một nơi ở Tây Vực có Thủy mãng thảo."

Trong mắt Bát Nhã và Đề Bà Mông Đạt đồng thời dâng lên nỗi sợ hãi lẫn vui mừng.

Dao Anh nhìn họ: "Trong doanh địa của Hải Đô A Lăng."

Nàng sinh thiếu tháng, điều dưỡng rất nhiều năm không thể dừng thuốc, vị thuốc chính trong Ngưng lộ hoàn chính là Thủy mãng thảo.

Lúc gả đi Diệp Lỗ, của hồi môn nàng đem theo có một lượng lớn dược liệu quý hiếm và một số thuốc viên đã điều chế.

Lúc nàng và thân binh chạy khỏi Diệp Lỗ chỉ kịp mang ít Ngưng lộ hoàn, còn lại để lại bộ lạc.

Mà cuối cùng, toàn bộ Diệp Lỗ lại về tay Hải Đô A Lăng.

Dao Anh chắc chắn: "Ta nghe ngóng, của cải mà Hải Đô A Lăng vơ vét đều lục tục vận chuyển về giấu ở trong doanh địa."

Con trai Ngõa Hãn Khả Hãn sẽ không vì vài lời đồn mà đánh lén Hải Đô A Lăng, trong doanh địa của y giấu không ít của cải tơ lụa vét từ Trung Nguyên.

Đề Bà Mông Đạt ngơ ngẩn.

Dược liệu có thể chữa khỏi Phật Tử đang ở Bắc Nhung?

"Bắc Nhung sẽ không tốt bụng mà đưa ra, chúng ta cũng không thể để lộ mấy vị thuốc đó quan trọng với Vương chừng nào."

Bát Nhã đứng lên, mặt ủ dột, "Chúng ta cũng không thể ra tay chiếm đoạt, Vương Đình vừa ký minh ước với Bắc Nhung, không thể tiến đánh chúng."

Đề Bà Mông Đạt lặng thinh, dính đến đại sự nước nhà, xưa nay ông không há miệng.

Bát Nhã gấp gáp đi tới đi lui: "Nhiếp Chính Vương lúc này không có đây!

A Sử Na tướng quân cũng không có đây!

Một người có thể quyết định đều không có!

Nên làm gì đây?"

Dao Anh nhìn Đàm Ma La Già trên giường, nói: "Vương Đình không cần đánh Bắc Nhung đâu, đó là đồ cưới của ta."

Bát Nhã quay nhìn nàng.

Dao Anh đi đến trước thư án, cầm bút viết trên gấm lụa một bức thư: "Ta lấy thân phận công chúa Đại Ngụy, yêu cầu Khả Hãn Bắc Nhung trả lại của hồi môn cho ta."

Nàng dừng lại giây lát, nhướng mày ngó Bát Nhã.

"Còn Bắc Nhung có thành thành thật thật trả lại hay không thì phải xem thư này là do ai đưa đi.

Nếu người đưa tin là Trung quân của Vương Đình, nói không chừng Khả Hãn Bắc Nhung sẽ đích thân đốc thúc Hải Đô A Lăng trả lại."

Bát Nhã hiểu rõ lời nàng.

Vương Đình thay mặt công chúa Ngụy triều tìm Bắc Nhung đòi của hồi môn, không phải tương đương nói rõ ràng với thiên hạ: Phật Tử nhận lời cầu hôn của công chúa Ngụy triều rồi?

Vậy cô người Hán này chẳng phải có thể quang minh chính đại vô lại ngồi lỳ không đi?

"Không được!"

Bát Nhã quả quyết lắc đầu.

Dao Anh buông tay: "Giờ tính mạng Phật Tử đang như ngàn cân treo sợi tóc, thuốc duy nhất có thể cứu ngài gần ngay trước mắt, ta vô binh vô tướng, Bắc Nhung sẽ không vì một bức thư của ta mà trả đồ, rốt cuộc nên làm gì, các ngươi tự quyết định."

Dù sao lúc này người cần Thủy mãng thảo không phải nàng.

Mạng Đàm Ma La Già như treo trên sợi tóc là thứ nhất, đám đại thần mới vừa vặn đuổi đi, không quá mấy ngày họ sẽ yêu cầu gặp mặt Quân chủ nữa.

Họ không có đường lui.

Vẻ mặt Bát Nhã biến đổi, lúc thì tức giận lúc thì lo lắng rồi do dự, quay lại nhìn Đàm Ma La Già vẫn mê man, vùng vẫy mãi mới nhận tin từ tay Dao Anh.

"Cô gái Hán kia, ngươi dám thề lời ngươi nói đều là thật không?"

Dao Anh cười khì, nhìn Đề Bà Mông Đạt: "Pháp sư, từng câu ta thực lòng."

Đề Bà Mông Đạt chắp tay trước ngực: "Bần tăng tin tưởng công chúa."

Nói rồi gật đầu với Bát Nhã nói mấy câu tiếng Phạn.

Bát Nhã siết chặt tin, ngón tay dùng sức đến vặn vẹo, nhướng cổ: "Được!

Ta đi Vân Phù Thành tìm công chúa Xích Mã và A Sử Na tướng quân thương lượng, nếu công chúa và tướng quân cũng đồng ý, ta tự mình đi đưa thư!"

Cậu cắn răng, quay người xông ra ngoài.

Thân binh khác dẫn Dao Anh đến một gian phòng khác ở thiên điện, Đề Bà Mông Đạt áy náy nói: "Mong công chúa thứ lỗi, chuyện Phật Tử bệnh tình nguy kịch không thể truyền ra."

Dao Anh hiểu điều cố kỵ, cười lắc đầu, ra hiệu không việc gì.

Giờ đây họ là người cùng thuyền, nàng cũng hy vọng Đàm Ma La Già có thể vượt qua cửa ải khó khăn này.

Hy vọng từ Bắc Tây Vực về lại Trung Nguyên của nàng gửi gắm vào người ngài ấy.
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 42: Cầm về


Bát Nhã cưỡi ngựa ra Thánh Thành, thẳng tiến Vân Phù Thành, nửa đường vừa vặn gặp Xích Mã công chúa hướng đối diện đang về Vương Đình.

Trên đường cái cát bụi cuồn cuộn, đi đầu đội xe là một thanh niên mũi cao mắt sâu, cao lớn mạnh mẽ cưỡi tuấn mã, hông đeo trường đao, một thân trường bào gấm màu lam cánh tay thêu khổng tước, chân mang ủng cao, đai lưng dắt một thanh dao găm ngắn, khoác choàng trắng thêu chỉ vàng ngắn tay, là y phục tướng của Trung quân Vương Đình.

Bát Nhã nghênh đón: "Tướng quân A Sử Na!"

A Sử Na Tất Sa nhận ra Bát Nhã, nới lỏng dây cương, đôi mắt màu xanh biếc hiện lên vẻ lo lắng: "Sao ngươi lại rời khỏi Vương?"

*Mai quỡn: tên của anh í được lấy từ tiếng Suguda, cổ Ba Tư, rất có nội hàm.

Ý nghĩa: người đặc sắc – rất ưu nhã rất cao quý rất có ý nghĩa!

Bát Nhã ruổi ngựa tiến lên, nức nở: "Pháp sư Đề Bà Mông Đạt nói, Vương không cầm cự được mấy ngày nữa!"

A Sử Na Tất Sa ngẩng đầu nhìn về hướng Vương Đình, chực trào nước mắt, tay nắm thành quyền.

Bát Nhã quệt khóe mắt, lấy bức thư Lý Dao Anh ra: "Giờ chỉ có tìm Thủy mãng thảo mới cứu được Vương, công chúa Ngụy triều này nói trong đống hồi môn của cô ta có Thủy mãng thảo, Vương tử Bắc Nhung Hải Đô A Lăng đã cướp mất, chúng ta phải đoạt về thì mới lấy được mấy dược liệu."

Cậu tóm tắt mấy câu.

Giữa lúc hai người trò chuyện, đội xe dừng lại, tóc đỏ mắt nâu, lụa mỏng che mặt Xích Mã công chúa được thị nữ đỡ xuống xe, khẽ cau mày hỏi: "Sao dừng xe lại?"

Tất Sa ra hiệu thị nữ lui xuống, nói rõ chuyện Thủy mãng thảo cho Xích Mã công chúa.

Bát Nhã gấp gáp cào đầu: "Công chúa, giờ nên làm gì đây?

Thử cách của cô công chúa Ngụy triều được không?

Pháp sư nói, lúc trước nếu không phải công chúa Ngụy triều giúp ngài giấy thông quan, còn hào phóng tặng ngài người ngựa đi đường, ngài ấy không thể nào vượt qua tầng tầng phong tỏa mà đi Vương Đình, ngài nói mọi việc đây đều là Phật an bài."

Tất nhiên cậu phẫn nộ vì Lý Dao Anh khinh bạc Phật Tử nhưng sống chết trước mắt, cậu thà tin mọi thứ giống như truyền thuyết: Phật Tử là A Nan, công chúa Ngụy triều chính là Ma Đăng Già Nữ của Phật Tử, nàng là do Phật phái tới để khảo nghiệm Phật Tử.

Vậy chứng tỏ Phật Tử còn cứu được, A Nan cuối cùng vượt qua khảo nghiệm, Phật Tử cũng có thể!

Thư của Dao Anh viết bằng chữ Hán và chữ Đột Quyết, Tất Sa là hậu duệ của Vương tộc Đột Quyết, dĩ nhiên nhận ra tiếng Đột Quyết.

Hắn cúi đầu xem tin, lông mày xoắn lại trầm ngâm.

Xích Mã công chúa lạnh lùng quét mắt Bát Nhã một vòng, cả giận nói: "La Già là Vương tử Vương Đình, là Phật Tử cao quý, sao có dính dáng đến gái Hán thế!"

Tất Sa nghe vậy, ngẩng đầu, ánh mắt lạnh lùng: "La Già bệnh nặng, chỉ có An tức hoàn mới tạm làm chậm nỗi đau của ngài ấy."

Xích Mã công chúa cười lạnh: "Đàm Ma ta một tộc trên dưới hơn hai trăm người chết dưới tay người Hán, người Hán là kẻ địch của Vương Đình, ta hận không thể ăn sạch thịt chúng!

Uống cạn máu chúng!

La Già là Quân chủ của Vương Đình, nó không được quên nợ máu đó!"

Bát Nhã nhớ tới thân thế của Đàm Ma La Già, không dám lên tiếng.

Tất Sa mặt không đổi sắc, thúc ngựa chuyển hướng, "Công chúa, người biết vì sao La Già bảo ta đưa người đi Vân Phù Thành không?"

Xích Mã công chúa không lên tiếng.

Tất Sa nhét tin vào ngực, chậm rãi nói: "Ta là kỵ sĩ của Trung quân, đáng lý nên theo sát hộ giá, La Già sợ lần này ngài không giữ được Vương Đình, lo cho người sẽ bị Bắc Nhung khi dễ, bảo ta đưa người đi Vân Phù Thành, mãi đến khi ký minh ước xong với Bắc Nhung mới để người về.

Có minh ước rồi, dù ngài sống hay chết, trước sau người đều là công chúa nhà Đàm Ma, dù thành phá, Ngõa Hãn Khả Hãn cũng sẽ đối xử tử tế với người."

Hắn dừng một lát, quay nhìn Xích Mã công chúa.

"Giờ tính mạng của La Già đang như ngàn cân treo sợi tóc, chỉ có thuốc của công chúa người Hán mới cứu được ngài, người chỉ nhớ thù hận với người Hán mà không suy nghĩ chút nào cho La Già à?

Mấy năm qua ngài ấy sống ra sao, người cũng thấy rồi đó."

Xích Mã công chúa không nói, khuôn mặt dưới khăn che mặt lạnh như sương.

Tất Sa giục ngựa đi đến trước đội, gọi phó tướng đưa tín vật của mình: "Phái người đưa công chúa về thành.

Ngươi đi triệu tập người ngựa đợi hiệu lệnh của ta ở Sa Thành.

Ta đưa phong thư này đi Bắc Nhung."

Hắn chuyển sang tùy tùng của mình, "Nếu Bắc Nhung không nhận nợ, ta tự mình dẫn Trung quân đi nha trướng Bắc Nhung đòi lại của hồi môn của công chúa Ngụy triều!

Trung quân Vương Đình vĩnh viễn trung thành với Phật Tử!"

"Trung với Phật Tử!"

Đám người cao giọng nghe lệnh, vang rung tận trời.

Bát Nhã đuổi sát Tất Sa: "Cần cho người đi Cao Xương báo Nhiếp Chính Vương không?"

Quyền hành quân chính ở Vương Đình nằm trong tay Nhiếp Chính vương Tô Đan Cổ.

Tất Sa cứng người, nhẹ thở dài: "Không cần, Tô Đan Cổ không ở Cao Xương...

Nếu hắn ở đây cũng sẽ quyết định như ta.

Phật Tử hi sinh nhiều cho Vương Đình như vậy...

Chỉ cần cứu Phật Tử, mọi tội lỗi ta gánh chịu."

Nếu tin là giả, hắn có nắm chắc toàn thân trở ra không.

Nếu tin là thật, dù cược tính mạng cũng phải cướp Thủy mãng thảo về!

Bát Nhã vâng đáp: "Công chúa Ngụy triều nói, nàng sẽ nghĩ kỹ danh sách rồi giao tùy tùng đưa đến Trung quân, nếu Bắc Nhung muốn quỵt nợ, tùy tùng nàng ấy có thể xác nhận với Vương tử Bắc Nhung, nàng ấy từng bị Vương tử Bắc Nhung cầm tù, tùy tùng kia biết chỗ giấu của cải."

Tất Sa nhíu mày, hắn định đi lấy Thủy mãng thảo, cũng không nghĩ tới.

"Vị công chúa Ngụy triều này rất thông minh."

Bát Nhã khinh miệt bĩu môi.

Tất Sa không dám chậm trễ, ra roi thúc ngựa, không tới mấy ngày tìm đến nha trướng của Ngõa Hãn Khả Hãn, đơn thân độc mã xông vào đại doanh Bắc Nhung, dâng tin.

Ngõa Hãn Khả Hãn vừa mới rời Sa Thành đang chuẩn bị đi Tây Châu, xem xong thư, hết sức kinh ngạc.

A Lăng giam một vị công chúa Ngụy triều hồi nào thế?

Tất Sa đứng trước mặt Ngõa Hãn, đúng mực nói: "Bảo Hải Đô A Lăng ra đối chất với ta!

Tùy tùng của công chúa Ngụy triều đang ở Sa Thành, bọn họ có thể làm chứng, Hải Đô A Lăng giam giữ khách của Vương Đình bọn ta cả nửa năm!

Còn giữ hồi môn của công chúa nữa!

Vương Đình ta chưa từng làm khó thương đội Bắc Nhung, dù hai nước đang giao chiến, thương đội Bắc Nhung cũng có thể đi Thánh Thành trao đổi hàng hóa, Đại Hãn, xin ngài tuân thủ minh ước, trả lại của hồi môn cho công chúa."

Mấy vị Vương tử vừa vặn cũng đang ở trong trướng, nghe vậy, trao đổi ánh mắt.

Tiểu Vương tử đi đến cạnh Ngõa Hãn nhỏ giọng nói: "Phụ Hãn, cách đây không lâu đúng là Hải Đô A Lăng giấu một mỹ nhân tuyệt sắc trong doanh địa, con nghe nói mỹ nhân đó do anh ta bắt từ Trung Nguyên, không ngờ là một vị công chúa."

Mặt Ngõa Hãn Khả Hãn trầm xuống.

Tiểu Vương tử cười lạnh mấy tiếng: "Phụ Hãn, Hải Đô A Lăng lòng lang dạ thú, ngài còn không tin sao?

Anh ta giấu không phải mỹ nhân bình thường, mà là đích công chúa Ngụy triều, là khách của Phật Tử Vương Đình!

Anh ta giấu diếm ngài lâu như vậy, lòng tham không nhỏ!

Còn nữa, thân là Vương tử Bắc Nhung mà gom góp của cải!

Là muốn tạo phản chăng?"

Con ngươi màu nâu nhạt của Ngõa Hãn Khả Hãn lạnh lùng nhìn thằng con.

Sắc mặt Tiểu Vương tử tái nhợt.

Ngõa Hãn Khả Hãn thu hồi tầm mắt, tia nhìn lấp lóe mấy lần, nhanh chóng ra quyết định, nhìn Tất Sa cười ha ha: "Không hổ là con cháu A Sử Na, quả nhiên anh dũng!

Chắc là hiểu lầm thôi."

Dứt lời, sai người mời Hải Đô A Lăng.

Chỉ lát sau, Hải Đô A Lăng đến, nhìn thấy Tất Sa tóc vàng mắt xanh dáng vẻ lẫm liệt, con ngươi màu vàng nhạt hơi nheo lại.

Ngõa Hãn ôn tồn hỏi: "Lang nô, ngươi từng giam giữ công chúa Ngụy triều à?"

Từ giây phút Lý Dao Anh được Đàm Ma La Già cứu, Hải Đô A Lăng biết cô gái ấy sẽ không từ bỏ, thấy Tất Sa tìm tới cửa, biết đương nhiên gạt không được, không phủ nhận, ngả ngớn hỏi: "Hiện giờ không phải công chúa Ngụy triều đang ở bên Phật Tử à?

Sao nào, Phật Tử đây là muốn vì một người phụ nữ mà trở mặt với Bắc Nhung chăng?"

Vẻ mặt Ngõa Hãn Khả Hãn vẫn hòa hoãn nói: "Lang nô, ta đã ký minh ước với Quân chủ Vương Đình, còn lập lời thề sẽ không làm khó gia quyến đối phương.

Công chúa Ngụy triều ngưỡng mộ Quân chủ Vương Đình, ngàn dặm xa xôi theo đến, đồ cưới cô ta bị ngươi giữ lại, nên Quân chủ Vương Đình cho người đến đòi, ngươi xem nên làm gì?"

Vẻ mặt ông hiền hoà, trong mắt thậm chí còn có mấy phần ý cười, nhưng người có mặt đều hiểu nụ cười của Đại Hãn đại biểu cho cái gì.

Đám người trong trướng mồ hôi đầm đìa.

Hải Đô A Lăng tức điên trong lòng nhưng trên mặt vẫn cung kính, không hề do dự, chỉ thuận theo nói: "Dĩ nhiên là trả lại đủ số rồi."

Ngõa Hãn Khả Hãn gật đầu, nụ cười tràn đầy nhưng đáy mắt lại có một chút âm đọc lướt qua.

Hải Đô A Lăng nhìn Tất Sa, đột ngột đổi chủ đề, "Xin hỏi Quân chủ Vương Đình lấy thân phận gì đến đòi đồ cưới của công chúa Ngụy triều?"

Tất Sa bình tĩnh nói: "Công chúa Ngụy triều nguyện gả cho Vương chúng ta."

Hải Đô A Lăng khẽ nhếch khóe miệng: "Ồ, thế nên Vương các ngươi định phá giới chăng?"

Tất Sa khoanh tay đứng: "Vương là người xuất gia, không thể cưới công chúa, công chúa cũng không đòi hỏi, tự nguyện làm cô gái Ma Đăng Già, tu tập vì Vương, Vương đã nhận lời, đây cũng là khảo nghiệm của Phật với ngài ấy."

Con ngươi Hải Đô A Lăng chợt co rút: Đàm Ma La Già thật sự nhận lời cầu hôn ngày đó của Lý Dao Anh?

Nhận Lý Dao Anh vào chùa tu tập, không phải nghĩa là giấu mỹ nhân bên cạnh sao?!

Hắn không sợ tin tức truyền khắp Vương Đình, lòng người dao động sao?

Hải Đô A Lăng nhanh chóng suy tính: Lúc trước Khả Hãn Diệp Lỗ chỉ mới thoáng thấy Lý Dao Anh đã dùng Lương Châu để cầu hôn, y khuyên thế nào đều vô dụng.

Mấy vương tử Diệp Lỗ sau đó thấy lý Dao Anh cũng thèm thuồng muốn rớt cả mắt.

Chính hắn đây, cũng vì sắc đẹp của Lý Dao Anh mà phá lệ kiên nhẫn với nàng.

Chả nhẽ Đàm Ma La Già cũng bị sắc đẹp Lý Dao Anh mê hoặc?

Y đúng là đã xem thường cô gái kia, cứ nghĩ đưa nàng ta ra Tây Vực ngoài tám ngàn dặm sẽ khiến nàng ta triệt để tuyệt vọng, mà thành thật thần phục, không ngờ nàng ta quen biết Phật Tử, ngay cả Phật Tử giờ cũng khuynh đảo vì nàng.

Hải Đô A Lăng thầm cười lạnh.

Đã thế, y càng muốn chiếm được cô gái này.

Tất Sa đạt được lời hứa của Ngõa Hãn Khả Hãn cũng không dây dưa lâu, cáo từ rời đi.

Bóng lưng anh ta vừa mới biến mất sau màn cửa, Hải Đô A Lăng lập tức cúi lạy Ngõa Hãn Khả Hãn, vẻ đầy xấu hổ: "Lúc chất nhi còn ở Trung Nguyên, gặp vị công chúa Ngụy triều kia tuyệt sắc nhân gian liền bắt về trong trướng, định kính hiến cho Đại Hãn, ai ngờ cô ta có liên quan đến Phật Tử, nửa đường chạy mất.

Chất nhi trước lớn mật làm bậy, sau lại vô năng, xin Đại Hãn trách phạt!"

Đám người trong trướng trợn trắng mắt.

Ngõa Hãn Khả Hãn lặng thinh không nói.

Hải Đô A Lăng quỳ trên mặt đất, không nhúc nhích.

Một sự yên lặng như vùng nước sâu.

Sau một lúc lâu, Ngõa Hãn Khả Hãn đứng dậy, đỡ Hải Đô A Lăng dậy, sâu xa nói: "Được rồi, ngươi đây là lòng có hiếu."

Hải Đô A Lăng ra vẻ hết sức lo sợ: "Đa tạ Đại Hãn thông cảm!"

Ngõa Hãn Khả Hãn vỗ vỗ bờ vai y, cười cười, "Mấy năm nay chư quốc Tây Vực dâng mỹ nhân bảo vật đếm không hết, Phật Tử chưa hề động tâm, giờ chỉ vì của hồi môn của một người phụ nữ mà hắn lại làm to chuyện, xem ra ánh mắt của ngươi rất tốt, vị công chúa Ngụy triều đúng là tuyệt sắc."

Mi tâm Hải Đô A Lăng run rẩy, cười lạnh: "Là mỹ nhân quốc sắc thiên hương đó ạ."

Ngõa Hãn Khả Hãn gật đầu: "Lang nô, dù mỹ nhân kia là từ đâu tới, cũng mặc kệ ngươi có cam tâm nhường mỹ nhân cho người không, giờ đây mỹ nhân đã thành người của Phật Tử, hẳn sẽ có trướng ngại cho thanh danh hắn, với Bắc Nhung ta chỉ có chỗ tốt."

Hải Đô A Lăng cúi đầu, trên khuôn mặt tuấn lãng mây đen bao phủ: "Chất nhi hiểu ạ, chất nhi không chỉ không thể ngăn cản Vương Đình ra mặt cho cô gái kia mà còn nên đem chuyện đại sự này rêu rao ra ngoài, tốt nhất để từng người đều biết Phật Tử thánh khiết cam tâm trầm luân vì một cô gái người Hán."

Ngõa Hãn Khả Hãn thỏa mãn gật đầu.

Cha con, chú cháu mấy người ở trong lều bàn một hồi, Hải Đô A Lăng cáo lui ra ngoài.

Tiểu Vương tử lập tức nhảy dựng: "Phụ Hãn!

Hải Đô A Lăng nói bậy!

Anh ta giấu giếm thân phận công chúa Ngụy triều là vì không muốn giao mỹ nhân ra đó!

Phụ Hãn là người anh dũng nhất đời, đàn bà đẹp nhất dưới gầm trời này phải nên đưa đến giường Phụ Hãn chứ, Hải Đô A Lăng giấu riêng mỹ nhân là bất kính với ngài!"

Ngõa Hãn Khả Hãn mở to mắt, giận dữ mắng: "Bây là con trai của Thần Lang, trong người là máu của thần Lang chảy!

Sao lại như đàn bà vô tri, ngay trước mặt cha mình mà châm ngòi ly gián?"

Tiểu Vương tử hừ nhẹ, ngượng ngùng ngậm miệng.

Ngõa Hãn Khả Hãn nhìn một vòng, nhìn tâm phúc giữ cạnh màn cửa.

Tâm phúc nhỏ giọng nói: "Vương tử Hải Đô A Lăng trực tiếp về trướng, không dừng lại."

Ngõa Hãn Khả Hãn khẽ vuốt cằm.

Tiểu Vương tử tỉnh táo lại, chảy mồ hôi lạnh kinh sợ ướt sũng cả người.

Ngõa Hãn Khả Hãn nhìn thằng con, lắc đầu: "Bây quá non nớt, không phải đối thủ của Lang nô, Lang nô là đứa nhỏ sói nuôi lớn, sói dạy nó đi săn, ta dạy nó lãnh binh chiến đấu, giờ nó vẫn còn trẻ, lỗ mãng, kiêu ngạo, đến lúc nó chân chính trưởng thành, chắc chắn sẽ thay thế ta."

Tiểu Vương tử cứng cổ: "Con cũng là con được Phụ Hãn dạy dỗ mà!"

Ngõa Hãn Khả Hãn chỉ liếc mắt nhìn trời.

Ngài là một con sói đầu đàn hung mãnh của một tộc đàn lớn mạnh, nuôi lớn một bầy con, dẫn tộc nhân thống nhất thảo nguyên, ngài cảm thấy mình còn rất khỏe mạnh, còn tiếp tục chinh phạt được.

Nhưng mà đám sói trẻ đã đợi không kịp, chúng đều muốn khiêu chiến với sói đầu đàn ngài, trở thành sói đầu đàn mới.

Kẻ mạnh là vua.

Các con ngài cũng là sói, đáng tiếc chúng quá ngu xuẩn, hẳn sẽ chết trong tay Hải Đô A Lăng đang muốn trở thành sói đầu đàn.

Ngõa Hãn Khả Hãn cũng không ghét Hải Đô A Lăng khiêu chiến, nhưng ông không thích Hải Đô A Lăng giấu giếm tâm tư.

Bức thư từ công chúa Ngụy triều đã thức tỉnh ông, Hải Đô A Lăng vụng trộm chiếm đoạt Hà Lũng, Bắc Mạc, giữ riêng ngựa và binh khí, nuôi dưỡng tư nô, dã tâm của nó rốt cuộc lớn đến bực nào?

Ngõa Hãn Khả Hãn trầm ngâm hồi lâu.

Ông đang đề phòng sói con được chính sói nuôi lớn.

Hôm nay ông bức bách Hải Đô A Lăng trả lại đồ cưới cho công chúa Ngụy triều, giữa Hải Đô A Lăng và Phật Tử Vương Đình kết tử thù, nếu sau này thật sự Hải Đô A Lăng phản loạn, mấy đứa con nhu nhược vô dụng của ông có thể chạy trốn tới Vương Đình tránh họa.

Trong lòng Ngõa Hãn Khả Hãn không khỏi cảm thán, đời này người ông kiêng kỵ nhất là Đàm Ma La Già, người muốn đánh nhất bại nhất cũng là hắn, người tín nhiệm nhất... haizzz cũng là hắn.

Phật Tử là chân quân tử, sẽ không giết hại thần dân ông.

...

Tất Sa từ đại trướng ra, lập tức cho người đi Sa Thành báo tin.

Thân binh đã đuổi tới Sa Thành, nghe thấy bèn mang danh sách Dao Anh tự tay viết vào doanh địa kiểm kê đồ cưới, phó tướng Trung quân phái ra hai trăm người hộ tống bọn họ.

Lúc Hải Đô A Lăng nhìn thấy thân binh cầm danh sách, con mắt hẹp dài màu vàng óng lạnh lùng nhìn thân binh chằm chằm, hẩy khóe môi phẩy tay áo bỏ đi.

Tất Sa dẫn người áp giải đồ cưới.

Ra khỏi doanh địa, thân binh lập tức tìm từng rương dược liệu, nộp hết cho Tất Sa.

Tất Sa cầm thuốc phi ngựa nhanh hết mức chạy về Thánh Thành.

...

Dao Anh và mấy thân binh còn lại vẫn bị giam giữ, có điều đổi qua căn phòng rộng rãi sáng sủa hơn.

Đề Bà Mông Đạt bốc thuốc cho Tạ Thanh, được chăm sóc thích đáng, vết thương nàng rốt cục từ từ phục hồi, sắc mặt ngày càng tốt.

Dao Anh đếm từng ngày, nghĩ thầm hẳn Bát Nhã đã cầm tới Thủy mãng thảo, không biết Đàm Ma La Già có chuyển biến tốt đẹp không.

Hôm đó, nàng đang cùng học tiếng Phạn với tiểu sa di trông chừng mình, đệ tử Pháp sư bỗng vội vã đi vào viện, mời nàng tranh thủ thu dọn đồ đạc, đi viện tử của Đề Bà Mông Đạt tránh né mấy ngày.

"Sao thế?"

Giọng đệ tử phát run: "Công chúa đi theo tôi là được, là Pháp sư căn dặn."
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 43: Thề


Dao Anh tin Đề Bà Mông Đạt sẽ không hại mình, theo đệ tử đi, vừa bước xuống thềm đá, cửa sân đã bị người chặn.

Có người cao giọng la lối bằng tiếng Hồ, các sư ra sức ngăn cản, họ vẫn lớn tiếng quát, đập cửa gỗ váng trời.

Thấy cửa bị phá nát, đệ tử hoảng sợ đưa Dao Anh lui về phòng: "Ngoài đó là Tiết Duyên Na tướng quân!

Gã dẫn người xông vào!"

Dao Anh nhíu mày hỏi: "Sao Tiết Tướng quân lại xông vào đây?"

Mấy hôm nay nàng luôn ở thiên điện trong Vương cung, bắt chuyện với các nhà sư, nghe ngóng rất nhiều chuyện của Vương cung, đã từng nghe về Tiết Duyên Na.

Vương Đình xưa nay do họ Đàm Ma thống trị, mấy mươi năm trước, Đàm Ma suy sụp, thế gia nắm giữ triều đình.

Đàm Ma La Già năm đó năm tuổi, thị tộc Trương thị tàn nhẫn tru sát Đàm Ma thị để thay thế, dân chúng Vương Đình ca thán sôi trào, Trương thị bất đắc dĩ đành phải giữ lại chị em Xích Mã công chúa và Đàm Ma La Già.

Đàm Ma La Già đăng cơ tuổi thiếu niên, bị Trương thị cầm tù trong Phật Tự tu tập Phật pháp.

Mãi đến năm mười ba tuổi, Bắc Nhung xâm lấn đầy quy mô, thế gia bỏ thành chạy, đức Vương bù nhìn này lấy thân là Phật Tử dẫn Trung quân đánh lui Ngõa Hãn Khả Hãn, danh chấn Tây Vực, uy vọng chưa từng có, thừa cơ đoạt lại vương quyền.

Sau đó, Đàm Ma La Già chèn ép thế gia, thu lại vương quyền, bổ nhiệm tùy tùng Tô Đan Cổ là Nhiếp Chính Vương, vừa nghiên cứu Phật pháp, vừa giáo dưỡng dân chúng, danh vọng ngày hưng thịnh.

Nhưng đám đại thế gia Vương Đình vẫn không cam lòng thất thế.

Tướng quốc Khang Mạc Già, đại tướng quân Tiết Duyên Na, thống lĩnh Hữu quân An Du Nhạc, phụ quốc Mạnh Vân Hán và mấy gia tộc lớn sau lưng bất mãn với Đàm Ma La Già đối xử tử tế với các bộ tộc khác, thường thầm than phiền.

*Mai: truyện hư cấu lịch sử, đang sử dụng mấy họ Khang, An, Mạnh,...phổ biến của người Hồ.

Đàm Ma La Già là Phật Tử, đời này không thể lấy vợ, huyết mạch Vương thất chỉ còn lại ngài và Xích Mã công chúa, Vương Đình không có người thừa kế, mấy năm nay bệnh tình ngài ngày càng nặng, dù cố hết sức giấu diếm vẫn lọt phong thanh, tâm tư đám thế gia càng linh động.

Trong đó, Tiết Duyên Na ngang ngược táo bạo nhất, dường như chưa từng che giấu ý đồ không tốt.

Tính gã thích câu dẫn sắc đẹp, thường xuyên làm nhục nữ nô, vì ngược sát nô lệ người Hán nô lệ mà từng mấy lần xung đột với Đàm Ma La Già.

Không biết nghe ở đâu rằng Dao Anh ở trong Vương cung, mấy ngày trước tìm tới, la hét muốn gặp mỹ nhân như tiên.

May Dao Anh lanh trí, đang ngồi giải khuây trên lầu các thấy gã người Hồ to cao đen hôi như gấu ở bên ngoài tò mò, biết kẻ đến không có gì tốt, lập tức nhắc nhở mấy sư đi mời Đề Bà Mông Đạt.

Ông kịp thời đến khuyên Tiết Duyên Na rời đi và cho tăng cường trông chừng các nơi.

Sau Tiết Duyên Na còn đến mấy lần, gặp thủ vệ và mấy sư nghiêm khắc, không xông vào.

Hôm nay gã lại trực tiếp dẫn người vào nội viện định xông vào tới nơi.

Đệ tử gấp gáp mồ hôi đầy đầu: "Tiểu tăng cũng không biết gã vào bằng cách nào!"

Phịch một tiếng, cửa gỗ phá nát, tiếng người Hồ quát tháo ngày càng gần.

Đệ tử thất kinh: "Pháp sư đi phòng trữ thuốc lấy thuốc, ít nhất phải nửa canh giờ mới đến được!"

Dao Anh quyết định thật nhanh: "Đi lầu các, nơi đó có mấy gian bí mật, tránh mặt trước."

Ngày đầu nàng bị giam giữ đã đi khắp để quen thuộc địa hình, phòng tình huống khẩn cấp có thể tạm thời tránh né.

Mấy thân binh đuổi theo Dao Anh, trèo lên lầu các trốn vào mật thất, căn phòng này vốn dùng để làm tháp canh, sau bỏ xó, hành lang thông tới mấy tầng giấu ở góc hẻo lánh chật chội, bình thường không nhìn kỹ sẽ không để ý.

Tạ Thanh canh cạnh cửa, lắng nghe động tĩnh dưới lầu, ngón tay đặt trên chuôi đao.

Dao Anh đè tay nàng lại: "Giờ chúng ta đang ở Vương cung Vương Đình, không phải vạn bất đắc dĩ, đừng đả thương người."

Đối mặt một Tiết Duyên Na thì họ có thể tự vệ, nhưng Tiết Duyên Na là trọng thần Vương Đình, hơn nữa Tiết gia có mấy vạn kỵ binh Tả quân đều là người nước khác, họ đang ở Vương Đình không thể gây chuyện.

Tạ Thanh gật đầu.

Dưới lầu bát nháo la hét ầm ĩ, chỉ sau chốc lát, nghe Tiết Duyên Na nổi giận rống lên: "Công chúa người Hán đâu?"

Không ai đáp.

Mấy sư đứng dưới hiên, chắp tay trước ngực, cúi đầu tụng kinh văn.

Vương Đình sùng Phật, họ là tăng nhân, Tiết Duyên Na to gan mấy cũng không dám nhấc đao lên người các sư.

Tiết Duyên Na dẫn binh tìm một vòng trong viện tử không thấy bóng dáng Dao Anh, giận tím mặt, một đao chém nát cửa gỗ, rống to: "Ai dám giấu cô gái Hán, ta vặn đầu hắn!"

Trên lầu các, Dao Anh rất gấp.

Họ sẽ không tránh được bao lâu, cũng không biết chừng nào Đề Bà Mông Đạt mới đến.

Tiết Duyên Na xách trường đao đi qua đi lại, cặp mắt sắc bén vòng đi vòng về, ánh mắt dừng lại trên lầu các.

Đám đệ tử tăng nhân không kìm lòng hơi run.

Tiết Duyên Na nhe răng cười, co cẳng xông lên lầu hai.

Lúc này, đột nhiên hướng cửa sân vang lên tiếng bước chân dồn dập.

Thường cùng đứng cạnh Bát Nhã là cận vệ Trung quân Duyên Giác bước nhanh vào viện tử, lạnh lùng quét mắt một vòng tìm binh sĩ rồi nhìn về phía Tiết Duyên Na trên bậc thang.

"Tiết Tướng quân, Vương triệu kiến ngài."

Tiết Duyên Na tiếp tục bước lên.

Duyên Giác cao giọng: "Tiết Tướng quân, ngài nhớ Nhiếp Chính Vương xử lý chú ngài thế nào không?"

Bầu không khí thoáng chốc ngưng trệ, binh sĩ trong viện nhìn nhau.

Tiết Duyên Na đột nhiên dừng bước, khí thế cuồng nộ đầy người thu lại mấy phần, quay người đi xuống cầu thang, liếc nhìn một vòng, ánh mắt dừng trên mặt Duyên Giác.

"Nhiếp Chính Vương từ Cao Xương về rồi à?"

Giọng gã có ý thăm dò.

Duyên Giác lạnh lùng nói: "Hành tung của Nhiếp Chính Vương nào để chúng ta nghe ngóng?"

Trên mặt Tiết Duyên Na lộ ra vẻ kiêng kị, nghĩ rồi tức giận tra đao vào vỏ: "Vương thân là Phật Tử, vậy mà lại giấu gái Hán xinh đẹp trong Vương cung, tâm Phật không thành!

Ta đi gặp Vương hỏi cho rõ!"

Nói xong, nghênh ngang rời đi.

Duyên Giác ở lại, ngẩng đầu cất cao giọng: "Văn Chiêu công chúa, Vương mời ngài đi chính điện."

Dao Anh từ chỗ nấp đi tới, nhìn Duyên Giác: "Bát Nhã và Tướng quân A Sử Na đem thuốc về rồi à?"

Đàm Ma La Già triệu kiến Tiết Duyên Na có phải chuyển biến tốt hơn rồi?

Duyên Giác lắc đầu, da mặt căng cứng, giọng khẽ run lại có xót xa và bối rối: "Mãi không có tin tức, các sư trong chùa đều đã đến."

Các sư đến để làm Pháp sự cho Quân chủ bọn họ.

Dao Anh nhẹ thầm thở dài —— không phải vì mất đi sự che chở mà buồn rầu chỉ đơn thuần tiếc thương cho Đàm Ma La Già.

Ngài thiên tư thông minh, nổi tiếng khắp Tây Vực, vốn có thể làm một vị cao tăng xa rời trần thế nhưng khi Bắc Nhung tiến đánh Thánh Thành, thế gia đã bỏ thành đào vong, Phật Tử lại thừa dịp loạn ra mặt, các sư đã khuyên ngài đi xa tránh họa nhưng thiếu niên ấy quả quyết cự tuyệt, dẫn Trung quân bảo vệ Vương Đình, cứu vớt mấy vạn bách tính.

Dao Anh nhìn thấy trên người Đàm Ma La Già bóng dáng rất nhiều người, nàng nhớ tới Cậu Tạ Vô Lượng, Chu thị, từng chí sĩ yêu nước lớp trước ngã xuống lớp sau tiếng lên trong thời loạn.

Dù là Trung Nguyên hay Tây Vực, mỗi khi sơn hà vỡ vụn, lê dân đồ thán, luôn có anh hùng dứt khoát đứng ra, dùng máu thịt của họ để đem lại cho kẻ yếu một hi vọng sống.

Đàm Ma La Già là một vị cao tăng chân chính, không chỉ có thành tựu Phật pháp cực sâu, còn dùng cả đời đưa tín ngưỡng của ngài đến thực tiễn, bảo vệ vạn dân, phổ độ chúng sinh.

Đáng tiếc căn bệnh quái ác quấn lấy, đã định trong mệnh mất sớm khi còn trẻ.

Trước kia Dao Anh chưa gặp Đàm Ma La Già, không cảm thấy gì, giờ chính là người vừa mới cứu nàng không lâu sắp chết đi, vô thức trong lòng nàng sinh mấy phần thẫn thờ.

Nàng mang mạng che mặt, đi theo Duyên Giác đến chính điện.

Tiết Duyên Na và đám binh sĩ đi trước mặt bọn họ, đang từng bước mà lên bậc thang.

Cửa chính điện đóng chặt, chỉ mở một khe nhỏ bên cửa hông, sư tăng người mặc áo cà sa nửa cánh tay, thông vai, từ hai bên hành lang lần lượt vào điện.

Tiết Duyên Na một hơi leo lên đài, cả giận: "Vương đã triệu kiến ta sao còn không mở cửa?"

Không ai trả lời gã, đột nhiên vang tiếng bước chân, hai đội kỵ sĩ Trung quân áo lam bào trắng từ bốn phương tuôn ra, xuống hành lang, vây Tiết Duyên Na và tùy tùng vào chính giữa.

Tiết Duyên Na cười lạnh: "Ta phạm vào tội gì?"

Các kỵ sĩ lặng thinh không nói.

Tiết Duyên Na hừ lạnh, tiếp tục tiến lên: "Cút!"

Bỗng một luồng sáng vàng lóe lên, một bóng đen gầy thoăn thoắt từ trên trời phóng xuống, như tia chớp nhào tới Tiết Duyên Na.

Trên đài cao yên lặng một chốc, rồi vang lên tiếng gào thảm thiết xé lòng.

Cách đó không xa Dao Anh giật nảy mình, vô thức lùi nửa bước.

Tiết Duyên Na vẻ đầy hoảng sợ, tay trái máu me đầm đìa, giữa đám tùy tùng đông đúc lảo đảo lùi lại, lại bị kỵ sĩ áo lam ép quay về chỗ.

Gã nhịn đau ngẩng nhìn bốn phía, gương mặt co rút mấy lần, trong hốt hoảng nhấc đao chém lung tung.

Bóng đen đứng thẳng dậy vọt lên, linh hoạt tránh đi trường đao, há cái mồm rất to đầy máu, cắn kẻ tùy tùng cạnh gã.

Người tùy tùng ngã nhào xuống đất chưa kịp kêu đã co quắp toàn thân, máu tươi tràn ra từ cuống họng, không còn hơi thở.

Mấy tùy tùng khác suýt nữa không cầm nổi đao, vây chặt quanh Tiết Duyên Na, mặt trắng bệch.

Bóng đen trên đất buông gã tùy tùng ra, ngẩng cái mặt nhuộm đầy máu tươi.

Dao Anh đứng trước bậc, tim nhảy thình thịch.

Đó là một con báo đốm sắc vàng, màu lông bóng loáng lộng lẫy, đốm vằn vện như những đồng tiền cổ.

Nó cắn một đoạn cổ của người tùy tùng, lắc lắc cái đuôi, ngồm xổm cạnh cái xác nhìn về phía tháp cao chỗ chính điện, thè đầu lưỡi đỏ quạch liếm láp cái cẳng trước nhuốm máu.

Yên tĩnh như bãi nước đọng trước điện.

Tiết Duyên Na mồ hôi lạnh ròng ròng, nhìn qua kẻ hầu chết dưới miệng báo, rồi nhìn về phía tháp.

Mặt trời chiều ngả về Tây, lầu các trong cung điện rải đầy ánh vàng rực rỡ, trước cửa sổ sơn nhũ vàng dường như có một bóng người cao ngất đứng, người mặc cẩm bào đen, dáng thon gầy như con báo săn mồi đang phục trong chỗ tối.

Tiết Duyên Na gầm lên: "Tô Đan Cổ!

Ngươi giết người của ta!"

Bóng người hào sảng đứng khoanh tay, như hoàn toàn không để Tiết Duyên Na vào mắt.

Trán gã Tiết Duyên Na nổi gân xanh.

Dao Anh hơi động trong lòng.

Tô Đan Cổ, là người thay mặt Đàm Ma La Già nhiếp chính?

Đàm Ma La Già là thần trong mắt người dân Tây Vực, Tô Đan Cổ là Nhiếp Chính Vương nắm giữ đại quyền trong thế tục ở Vương Đình, rất khác với một Đàm Ma La Già khoan hòa tình cảm, anh ta mạnh mẽ độc đoán, tàn nhẫn vô tình, dân chúng lén gọi đùa là Tu La kim cương bảo vệ Phật Tử.

*A Tu La: Asura nguyên là thần viễn cổ Ấn Độ nghĩa quả báo, phi thiên (không phải trời), tồn tại đối lập với đức trời, Deva.

Dễ giận, hung mãnh, hiếu chiến, đánh nhau với Deva nhiều lần, được coi là ác thần

Quỷ dạ xoa Tu La, hung ác hiếu chiến, dữ tợn kinh khủng, dọa con nít ngừng khóc đêm.

Tô Đan Cổ hành tung bất định, nghe nói đang đi Cao Xương, mấy hôm nay Dao Anh hay nghe mấy vị sư nhắc tên.

Cận vệ Trung quân dài cổ ngóng Tô Đan Cổ về sớm chút, đại thần trong triều thì ngược lại, sợ Tô Đan Cổ về —— khó trách họ sợ Tô Đan Cổ, ngày đầu anh ta vừa về Vương Đình đã hủy Tiết Duyên Na một cánh tay.

Tay trái của Tiết Duyên Na be bét máu thịt, ráng gượng đứng vững, rống về phía chính điện: "Tô Đan Cổ, ngươi dám giết người trước điện, ngươi đặt Vương ở đâu?!"

Người đàn ông đứng ở lầu tháp như chẳng nghe thấy, quay đi, báo săn trên đất nhảy một cái phóng lên hành lang, bóng dáng lộng lẫy thả người mấy bận đã biến mất giữa vườn trong cung.

Sau lưng để lại mấy dấu cào đỏ tươi.

Cửa điện mở, cận vệ Trung quân đi ra.

Vết thương tay trái của Tiết Duyên Na đau đớn, cả giận nói: "Các ngươi không thấy Tô Đan Cổ vừa làm gì à?

Súc sinh hắn nuôi giết người của ta đó!"

Cận vệ ngạo nghễ nhìn Tiết Duyên Na, cao giọng: "Mấy hôm nay Tiết Tướng quân mấy lần tự tiện xông vào Vương cung, quấy nhiễu khách quý, Nhiếp Chính Vương chỉ trừng phạt nhẹ để cảnh cáo, Vương biết rồi, Vương còn nói, nếu sau này còn có người tự tiện xông vào Vương cung, thì Nhiếp Chính Vương có thể xử quyết ngay tại chỗ!"

Chữ chữ câu câu, nói đầy khí phách.

Tiết Duyên Na giận run người, xanh lè mặt.

Cận vệ Trung quân chậm rãi rút trường đao, tiến gần một bước.

Ánh đao trước bậc lấp lóe.

Cận vệ nói: "Vương muốn bàn chuyện với Nhiếp Chính Vương, Tiết Tướng quân cáo lui thôi."

Tùy tùng run rẩy, nhỏ giọng khuyên Tiết Duyên Na: "Tướng quân, ngài bị thương, về trị thương trước quan trọng hơn...

Nghe nói Nhiếp Chính Vương nuôi báo săn răng có độc..."

Lời còn lại tùy tùng không dám nói ra miệng: sở dĩ Nhiếp Chính Vương dám đả thương người ở trước điện, còn không phải để cảnh cáo tướng quốc Khang Mạc Già mấy hôm nay nhiều lần tự tiện xông vào Vương cung sao!

Vương là Phật Tử, chưa từng sát sinh chứ Nhiếp Chính Vương là Dạ Xoa giết người như ngóe đó!

Tướng quân hoàn toàn là tự làm tự chịu rồi...

Tiết Duyên Na trợn mắt trừng trừng, thở hổn hển như trâu, người lảo đảo, vết thương càng lúc càng đau, không khỏi nghi ngờ con báo đốm có độc thật không, cắn răng nói: "Một ngày nào đó, ta nhất định phải tự tay giết Tô Đan Cổ!"

Tùy tùng liên tục phụ họa, đỡ Tiết Duyên Na chật vật rời đi.

Kỵ sĩ áo lam kéo cái xác đi, nô lệ xách thùng nước tới rất nhanh dọn dẹp vết máu trên đất.

Dao Anh đi qua từ hành lang dài, cảm giác cái bóng đen trong lầu tháp kia vẫn còn nhìn, nhớ lại cảnh tượng con báo đốm cắn cổ người tùy tùng mà lòng bàn tay lạnh buốt.

Nhiếp Chính Vương Tô Đan Cổ, quả nhiên danh bất hư truyền.

Duyên Giác dẫn Dao Anh vào điện.

Trong điện màn trướng buông, hương xông mờ mịt, các thứ trang trí châu báu đá quý đều bị lấy xuống, sau hành lang cột ánh sáng chập chờn, các sư mặc pháp y ngồi xếp bằng, thấp giọng niệm kinh bằng tiếng Phạn lẫn tiếng Hồ.

Bốn góc điện đốt hương nến, trước án bày biện hoa quả tươi, trong không khí đậm mùi đàn hương thuần hậu.

Tiếng tụng kinh trang nghiêm lạnh lẽo, Dao Anh không ngẩng nhìn nhiều, đi vào nội điện.

Trước giường cũng lớp lớp màn lụa kim văn, đã xế chiều, một luồng nắng cuối cùng nghiêng nghiêng từ cửa sổ lọt vào trong điện, chụp trên gạch vàng mấy đốm sáng, ánh sáng bồng bềnh, bụi khí chuyển động.

Một giọng nói yếu ớt từ sau màn truyền đến: "Đại thần Vương Đình vô lễ, đã làm Văn Chiêu công chúa sợ hãi."

Lạnh lùng, như không có chút cảm xúc, nhưng khiến người nghe chấn động.

Dao Anh ngơ ngẩn.

Đàm Ma La Già sắp không được, cố ý mời nàng tới, là muốn nói với nàng câu này.

Trong phút chốc nàng không biết nên đáp gì

Sau tấm màn, Đàm Ma La Già thấp giọng hỏi Duyên Giác: "Công chúa Xích Mã đâu?"

Duyên Giác mời Dao Anh tránh qua một bên, đáp: "Công chúa Xích Mã sắp đến rồi ạ."

Vừa dứt lời, có tiếng bên cửa hông, hai tỳ nữ trắng như tuyết vây quanh công chúa Xích Mã vào điện.

Công chúa Xích Mã tóc đỏ mắt nâu, nét mặt sắc sảo, dáng người lả lướt, đi đến trước màn lụa, ánh mắt khẽ quét qua người Dao Anh, mới đầu hững hờ, rồi kịp phản ứng, ánh mắt lạnh như băng quay lại khóa trên người nàng, biến sắc.

Dao Anh đã nghe chuyện vương thất Đàm Ma chết thảm dưới đao của Trương thị, không bất ngờ trước ánh mắt như đao của Xích Mã công chúa, trong lòng nghi ngờ: Đàm Ma La Già đang định làm gì thế?

Công chúa Xích Mã còn kinh ngạc hơn cả Dao Anh, cả giận: "La Già, ngài gọi ả người Hán tới đây làm gì!"

Sau màn truyền ra tiếng của Đàm Ma La Già, vẫn trong lạnh như nước, không chút gợn sóng: "Xích Mã, Tiết Duyên Na do người xúi vào Vương cung phải không?"

Công chúa Xích Mã sửng sốt, đoạn cười lạnh: "Sao ngài biết là ta?"

Đàm Ma La Già không nói.

Công chúa Xích Mã giật mạng che mặt xuống, ngẩng đầu, đôi mắt nâu đầy ánh giận dữ, xúc động phẫn nộ: "Không sai, ta cố ý xúi Tiết Duyên Na vào cung đấy, ta còn bảo thị nữ báo cho gã là ả công chúa Hán đang ở thiên điện Vương cung.

La Già, sao ngài lại muốn bảo vệ một ả người Hán chứ?

Ngài quên thù hận của nhà Đàm Ma rồi à?

Hơn hai trăm tính mạng...

Hơn hai trăm người sống đó!

Đó là trưởng bối, anh chị em của ta và ngài,...

Là người thân của chúng ta, ngay trước mặt chúng ta người Trương gia giết từng người từng người một, mỗi đêm ta đều mơ thấy những người đã khuất, ta hận Trương thị!

Hận tất cả người Hán!"

Cận vệ đứng hầu trước trướng đều cúi đầu.

Trong điện lặng ngắt như tờ.

"Tru sát người nhà Đàm Ma là Trương thị."

Sau màn lụa vang lên vài tiếng ho đứt quãng, Đàm Ma La Già lạnh nhạt, "Liên can gì đến Văn Chiêu công chúa?"

Công chúa Xích Mã cứng đờ người.

Dao Anh nâng tầm mắt, nhịn không được liếc qua màn lụa.

Công chúa Xích Mã nhắm mắt, như khóc như cười.

"La Già, ngài là thánh nhân, là Phật Tử, từ nhỏ đọc nhiều kinh văn, lòng dạ từ bi, ngài chặt đứt trần duyên, là Vương tử nhà Đàm Ma nhưng trong lòng vốn không có Vương thất Đàm Ma này!

Không có người chị này!

Trong mắt ngài chỉ có Phật pháp chí cao vô thượng, chỉ có những kẻ xa lạ không quan hệ với ngài!

Trương thị giết người thân của chúng ta, ngài vẫn cứ đối xử tốt với người Hán... chúng sinh bình đẳng, ngài xem tất cả đều là thần dân của mình, còn ta thì ở đâu?

Tộc Đàm Ma ở đâu?

Xem chúng ta là gì?"

Cô ta cười ha hả.

"Ta không phải là ngài!

Ta là công chúa của tộc Đàm Ma!

Là phàm phu tục tử!

Ta hận không thể giết sạch tất cả người Hán ở Vương Đình, lấy xương cốt chúng để tế điện cho gia tộc Đàm Ma!"

Bỗng cô ta bước tới, xốc màn lụa rủ, nhào tới trước giường: "Ngài mở mắt ra nhìn kìa, ả là gái Hán!

Là người Hán ở ngay trước mặt ngài tàn nhẫn giết chết mẹ của chúng ta, sát hại anh chị em của chúng ta!"

Màn lụa vén lên, cận vệ không kịp ngăn cản, Xích Mã công chúa nhào lên giường nhìn thấy đệ đệ ngồi xếp bằng, trợn mắt.

Dao Anh mở to hai mắt.

Đàm Ma La Già cả người cà sa đỏ thẫm, ngồi dựa vào bảo tháp, hai tay rũ xuống một bên chân, trên cổ tay đeo một chuỗi cầm châu màu tối sáng bóng, sắc mặt trắng bệch, vẻ rất tiều tụy, chỉ có đôi mắt xanh thẫm sâu lắng còn được vài phần sinh khí.

Công chúa Xích Mã sửng sốt thật lâu, vẻ điên cuồng trên mặt vẻ từ từ rút đi.

"La Già, đệ sắp chết."

Cô ta lạnh nhạt.

Đàm Ma La Già rũ mắt bình thản nói: "Sinh lão bệnh tử, như khói tản mây tan."

Giọng trong trẻo, như tụng kinh văn.

Công chúa Xích Mã lùi hai bước, cười nhẹ: "Ngài sắp chết rồi còn vì một ả Hán mà chỉ trích ta...

Ngài cũng sắp chết rồi!

La Già, sao đệ có thể tuyệt tình thế?

Đệ tu Phật, là thật sự cắt hết trần duyên, dứt bỏ chuyện nhà Đàm Ma ư?"

Đàm Ma La Già chậm rãi ngước mắt, nhìn Xích Mã công chúa.

"Văn Chiêu công chúa là khách của Vương Đình, là ân nhân của Pháp sư...

Xích Mã, người hãy thề dưới Phật Đà, sau này không thể vô cớ tổn thương Văn Chiêu công chúa."

Công chúa Xích Mã ngẩn ra, nhìn ánh mắt đứa em trai như đang nhìn một kẻ điên.

"La Già, ta là chị ngài."

Đàm Ma La Già nhìn chị gái mình, hơi thở mong manh, giọng lại nặng như vạn tấn: "Xích Mã, ta là Quân chủ của người."

Cận vệ xung quanh nhìn công chúa Xích Mã.

Cô ta nhìn quanh một vòng, ha ha cười lạnh, xoay người định đi.

Cận vệ tiến lên, chặn đường.

Công chúa Xích Mã quay lại, tức giận nhìn Đàm Ma La Già.

Đàm Ma La Già cụp mắt không nói.

Xích Mã công chúa giận quá thành cười, "Được, Đàm Ma Xích Mã ta từ hôm nay thề, nếu như có lòng hại Văn Chiêu công chúa, sẽ gặp phản phệ, vĩnh viễn đọa lạc vào nỗi khổ luân hồi, không được siêu sinh!"

Hai mắt trợn tròn, cô hậm hực trừng Đàm Ma La Già: "Vương, ngài hài lòng chưa?"

Đàm Ma La Già liếc nhìn cô ta, thở dài một hơi, mệt mỏi thu tầm mắt lại.

Công chúa Xích Mã run cả người, gần như sắp không khống chế nổi vẻ mặt, hung hãn xéo xắt nhìn Dao Anh rồi phẩy tay áo bỏ đi.

Dao Anh trong lòng ngũ vị tạp trần, thật lâu không nói.

Đàm Ma La Già rũ mắt như thiếp đi, giống như thật sự rời trần thế.

Ánh mắt nàng dừng trên gương mặt tiều tụy của chàng thật lâu, đang muốn mở miệng thì mi mắt chàng lại nâng lên, con ngươi xanh thẫm nhìn nàng.

"Văn Chiêu công chúa, người có thể theo Pháp sư Đề Bà Mông Đạt về Thiên Trúc, rồi từ đường biển về nhà."

Dao Anh run rẩy trong lòng.

Đúng là nàng có quyết định này —— nếu Đàm Ma La Già chết.
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 44: Được cứu rồi


Trong điện quanh quẩn tiếng kinh Phật trang nghiêm.

Hoa thơm xếp như núi, tượng Bồ Tát đắp đầy vàng bạc một tay cầm nhánh sen, một tay nâng hoa sen, ánh mắt rủ xuống, vẻ thương xót.

Trên bảo tháp*, Đàm Ma La Già khoác cà sa, tướng mạo gầy gò, mắt sâu thẳm, quanh người như có ánh sáng Phật mờ nhạt, nhìn qua còn giống một tòa Phật thiền định hơn cả bức tượng vàng trên bàn thờ.

*tạm hiểu là giường.

(minh: Ở nhiều nơi người thành kính hay dán vàng giấy lên người bức tượng mỗi khi thăm viếng, là vàng thật, càng nhiều càng thành ý.)

Chàng nhìn Dao Anh, ánh mắt an tĩnh giống như đang từ trên mây quan sát chúng sinh.

"Vương Đình không phải chỗ công chúa an thân, sáng mai Đề Bà Mông Đạt sẽ rời Vương Đình, công chúa hãy đi với ông ấy, thân vệ Duyên Giác của ta sẽ hộ tống công chúa đến Thiên Trúc."

Lông mi Dao Anh chao nhẹ, đôi mắt thon dài quyến rũ lặng đi nhìn Đàm Ma La Già.

Bắc Nhung tuần tự bại ba lần dưới tay của Đàm Ma La Già, Ngõa Hãn Khả Hãn và Hải Đô A Lăng tạm thời không dám tiến đánh Vương Đình.

Nàng trốn tới Vương Đình, có sự che chở của Đàm Ma La Già tạm thời có thể thở phào, nhưng Đàm Ma La Già bệnh nặng, phía Bát Nhã mãi không có tin tức, nếu Đàm Ma La Già chết, Vương Đình lâm nguy như đống trứng xếp chồng, Hải Đô A Lăng sẽ không bỏ qua nàng.

Mấy hôm nay Dao Anh đã cân nhắc, nếu Đàm Ma La Già vẫn không thoát khỏi bi kịch chết bệnh, nàng sẽ cùng Đề Bà Mông Đạt đi Thiên Trúc, sau đó từ đường biển về Trung Nguyên.

Chỉ cần Hải Đô A Lăng còn sống, nàng vĩnh viễn không thể chọn tuyến đường từ Hà Lũng về quê nhà, mà gián tiếp vòng qua Thiên Trúc, nếu không sẽ lại rơi vào tay Hải Đô A Lăng.

Những quyết định này là nàng đã suy tính rất lâu.

Nên bữa giờ bị giam giữ nàng không hề rảnh, ngày ngày lôi thân binh cùng học tiếng Phạn với mấy sư.

Không ngờ Đàm Ma La Già cũng nghĩ đến.

Ngài là Quân chủ Vương Đình, không thân cũng chẳng quen nàng, sao lại tính toán giúp nàng chu toàn đến thế?

Mới cả chuyện ai hộ tống nàng đi Thiên Trúc cũng thu xếp xong.

Chẳng còn sống mấy ngày, vẫn không quên suy nghĩ cho người xa lạ như nàng.

Ánh mắt Dao Anh dừng trên đùi Đàm Ma La Già.

Áo cà sa thùng thình che khuất cặp chân bị sưng, nhìn qua như chàng chỉ đang ngồi xếp bằng tham thiền.

Người này còn sống vì tín ngưỡng của vạn dân, cả đời canh giữ Vương Đình, chết rồi vẫn giữ tư thế ngồi tĩnh tọa.

Đến khi người Bắc Nhung công chiếm Thánh Thành xông vào Phật Tử, nhìn thấy xác ngài không kẻ nào dám tiến lên, đến Hải Đô A Lăng cũng phải lần đầu nhân từ một lần, dẫn binh lùi khỏi Phật Tự.

Dân chúng Tây Vực nói Đàm Ma La Già là Phật A Nan hóa thân, nên thân xác không thối rữa, tọa hóa đắc đạo*.

*chỉ hòa thượng chết trong tư thế ngồi, đắc đạo thành Phật.

Dao Anh chưa từng thấy cao tăng tọa hóa, nàng nhìn gương mặt Đàm Ma La Già đẹp trầm tĩnh, tưởng tượng cảnh ngài ấy giấu diếm bệnh tình của mình, ngày ngày suy yếu tiều tụy, trút mọi tâm huyết vào Vương Đình, mãi cho đến lúc cô độc chết đi, trong lòng tự dưng chua xót.

Từ bé, cả họ bị Trương thị tàn sát chết thảm, công chúa Xích Mã vì đó mà căm hận người Hán, ngài cũng không giận chó đánh mèo vô tội, một mực nhân từ.

Mười mấy năm qua Dao Anh và anh mình vì cha con Lý Đức, Lý Huyền Trinh giận cá chém thớt mà phải sống để ý từng chút một, gặp được Đàm Ma La Già trải qua lao đao vẫn là một Quân chủ giữ một lòng khoan hậu ôn hòa trong thời loạn lạc, không khỏi xúc động.

Nàng kính ngưỡng những người như thế.

Đáng tiếc nàng không giúp được gì ngài.

Dao Anh ngẩn ra hồi lâu, tiến lên một bước, ngồi quỳ bên giường, cầm lấy khay gỗ đựng hoa tươi nở rộ trên bàn bên, phủ miếng lụa mỏng, gấp thành hình một gối dựa, nhẹ nhàng nhét vào cạnh cà sa của Đàm Ma La Già, cẩn thận đặt sát chân ngài.

Mấy cận vệ xung quanh đầy kinh ngạc, không biết nàng muốn làm gì, trong phút chốc đứng hình.

Đàm Ma La Già giật mình.

Dao Anh nhô nửa người tới trước, cẩn thận điều chỉnh vị trí mâm gỗ, tóc mai đen nhánh rớt vài lọn phất phơ dưới ánh nến, da thịt tuyết trắng, dây lụa buộc tóc màu đỏ thắm thả xuống cần cổ, khiến làn da trắng bóng như tỏa sáng.

Trong mùi thơm nồng của cả căn phòng, vẫn nghe được mùi ngọt thanh nhẹ trên người nàng.

"Pháp sư, ngài thử xem, thế này sẽ giúp ngài dễ chịu đôi chút."

Dao Anh ngẩng nhìn Đàm Ma La Già cười cười, đôi mắt sáng cong thành hai vầng trăng khuyết.

Lúc nhỏ nàng không thể xuống đất bước đi, mỗi ngày chỉ nằm, đây là cách đại phu chỉ nàng.

Đáy mắt của Đàm Ma La Già có nét kinh ngạc —— nhưng vẫn chỉ lộ vẻ hờ hững, như mây trôi phớt qua bầu trời quang đãng, không thấy gợn sóng.

Chàng hiểu ra, chắp tay trước ngực.

Dao Anh lùi về làm lễ rồi đứng dậy rời đi.

Nàng không thể làm gì cho ngài ấy, chỉ hy vọng trước khi lâm chung người đàn ông này bớt đau đớn đi chút ít.

Duyên Giác đưa Dao Anh ra chính điện.

Lúc hai người đi tới hành lang, đột nhiên trong góc khuất vang lên mấy tiếng ùng ục.

Binh sĩ phòng thủ nhao nhao lùi lại.

Tiếng ùng ục ngày càng trầm thấp hơn, mang ý thị uy.

Dao Anh ngẩng lên mà rùng mình cả người.

Một con báo đốm hoa văn như tiền cổ đứng ở chỗ tối đầu tường, trên cao nhìn xuống đám người, con mắt màu vàng nhạt trong sắc tối lờ mờ phát ra ánh lân tinh khiếp người.

Duyên Giác che trước người Dao Anh, khẩn trương nuốt ngụm nước miếng.

"Đây là báo Nhiếp Chính Vương nuôi, dã tính chưa dứt, chỉ nghe lời ngài ấy...

Công chúa, ngài tuyệt đối đừng động đậy, đừng nhìn nó!"

Dao Anh dời ánh mắt, không nhúc nhích —— nhìn thấy con báo đốm mai phục chỗ tối hai chân nàng như nhũn ra, muốn động cũng không động được.

Người và báo giằng co một lát, từ chỗ sâu hành lang có tiếng bước chân, một bóng người cao gầy ẩn hiện.

Duyên Giác vội vàng nhỏ giọng hô: "Nhiếp Chính Vương, A Ly ở đây!"

Bóng người lay động mấy lần, bội đao bên hông sáng loáng, xoay người đi hướng khác, báo đốm thẳng người dậy nhảy xuống tường cao, đi theo.

Dao Anh thở phào.

Trong cung Thái Cực Trường An nuôi dưỡng không ít chim quý thú lạ, rảnh rỗi Lý Trọng Kiền thường dẫn nàng đi nghịch, trong đó cũng có báo, có điều đám đó đều là cống phẩm được hiến tới đã nuôi thuần, nàng chưa từng gặp con báo còn hung tàn như thế.

Đêm nay, Bát Nhã và A Sử Na Tất Sa không về Thánh Thành.

Ánh nến chính điện cháy cả đêm, kỵ sĩ Trung quân Thánh Thành chạy về Vương cung, trong cung cấm vệ rất nghiêm.

Chưa đến hai canh giờ, tin Nhiếp Chính Vương hủy cánh tay của Tiết Duyên truyền khắp Thánh Thành, tạm thời đại thần trong triều yên ắng, lặng lẽ triệu hồi thám tử còn chờ ngoài cung, kẻ nhát gan còn thu xếp hậu lễ đưa đến Vương cung.

Trong khi các vị sư đang tụng niệm cầu khẩn cho Đàm Ma La Già, Đề Bà Mông Đạt về viện tử của mình thu xếp hành trang, triệu tập đệ tử tùy tùng, chuẩn bị lên đường.

Dao Anh cũng gói ghém xong hành lý, chuẩn bị rời đi cùng sư đồ Đề Bà Mông Đạt.

Ra tới cửa cung, Đề Bà Mông Đạt nhìn lại Vương cung sau lưng thở dài: "Bần tăng vô năng, không thể cứu chữa cho Phật Tử."

Dao Anh cỡi ngựa đuổi theo ông, hỏi: "Sao không chờ thêm vài ngày?"

Đề Bà Mông Đạt quay đầu, chắp tay trước ngực: "Không còn thời gian."

Dao Anh lặng người.

Đề Bà Mông Đạt nói tiếp: "Phật Tử từ bi, lo đại thần Vương Đình sẽ xử khó bần tăng và công chúa.

Ngày bần tăng vừa tới Vương Đình từng cùng Phật Tử tranh luận kinh văn, thua dưới Phật Tử, bần tăng và ngài ấy đã lập ước định ở lại chẩn trị cho ngài ấy, hôm nay vừa mãn hạn, đi lúc này, đại thần Vương Đình không có lý do tạm giam bần tăng."

Nếu đúng quy định của tranh luận kinh văn, ông thua Đàm Ma La Già sẽ phải bái Đàm Ma La Già làm thầy.

Nhưng Đàm Ma La Già nói kinh Phật họ nghiên cứu khác biệt, giải thoát theo đuổi cũng khác, không dám nhận ông làm đệ tử, chỉ yêu cầu ông ở lại làm Ngự y trong cung hết thời hạn có thể đi.

Dao Anh biết Phật giáo từ Thiên Trúc vẫn để tóc, truyền bá vào Tây Vực, Trung Nguyên giao hòa với tín ngưỡng bản địa phức tạp, trải qua mấy trăm năm phát triển dần dần phân hoá, giáo phái khác biệt.

Ở Tây Vực, Phật giáo chiếm địa vị thống trị, cao tăng xuất hiện lớp lớp, tháp chùa san sát, từ quốc vương đến nô lệ đều là tín đồ thành tín nhất, các nước Tây Vực xây dựng rất nhiều chùa chiền, để lại một lượng lớn Phật kinh điển tịch, mỗi năm đều hành lễ Phật rất trọng thể, còn được các sư tăng ở Trung Nguyên gọi là "Tiểu Tây Thiên".

Mà ở Thiên Trúc quê hương của Đề Bà Mông Đạt, Phật giáo đã có dấu hiệu suy yếu.

Dao Anh nhớ rõ trước kia Đề Bà Mông Đạt dù muôn vàn khó khăn cũng muốn đến Tây Vực, sao ông chỉ ở Tây Vực chưa đến một năm đã đi?

Nàng hỏi ra nghi vấn của mình.

Đề Bà Mông Đạt mỉm cười: "Bần tăng gặp được Phật Tử, biết sở cầu xưa nay của mình cũng không phải là hư ảo, Phật độ chúng sinh, đều có nhân duyên, ứng với hình thức độ nào sẽ có hình thức độ thoát đó, Tây Vực không phải nơi bần tăng hội tụ."

Dao Anh nhớ tới đôi mắt xanh sâu hun hút như che phủ hoa sen của Đàm Ma La Già, hỏi: "Tu hành mà Phật Tử theo đuổi, là độ thoát loại nào?"

Đề Bà Mông Đạt chần chừ, như không tìm được từ ngữ để hình dung, lặng đi mãi mới nói: "Phật Tử lựa chọn một con đường tu hành rất khó khăn."

Dao Anh thầm than.

Nàng nghĩ Đàm Ma La Già thờ phụng có thể là giáo nghĩa Đại Thừa.

Phật giáo chia làm Tiểu thừa và Đại Thừa, nói thông tục thì, Phật giáo Tiểu thừa cho rằng người bình thường không thể thành Phật, cường điệu tự thân tu luyện, mong bản thân đắc đạo giải thoát, là xuất thế.

Phật giáo Đại Thừa lại cho rằng thập phương tam kiếp có vô số Phật, Thích Ca Mâu Ni chỉ là một trong số đó, người người đều có Phật tính, ngoài tự độ mình còn theo đuổi phổ độ chúng sinh.

Đàm Ma La Già bảo vệ Vương Đình, lòng mang vạn dân, hiển nhiên là giáo phái Đại Thừa.

Họ rời Vương cung, xuyên qua mấy vách tường đá, trải qua một con đường rải đá xuyên qua một cái hang âm u chật hẹp thật dài, rồi thấy phía trước có ánh sáng rộng mở, ánh sáng nóng bỏng chiếu vào, trong gió có tiếng người ồn ã.

Ngày Dao Anh vào Thánh Thành đã là đêm khuya, rồi ở mãi trong Vương cung, đến giờ chưa được ngắm nhìn Thánh Thành vào ban ngày, nghe thấy tiếng người, tò mò nhìn quanh.

Một ánh nhìn này, không khỏi làm nàng nín thở.

Nắng sớm tinh mơ, bầu trời mênh mông, ngàn dặm không một bóng mây, xanh trong veo vẻo.

Nơi chân trời là dãy núi tầng tầng lớp lớp chập chùng, cao vút trong mây, nắng sớm nghiêng chiếu, quét lên đỉnh núi quanh năm tuyết phủ một mảng vàng sáng chói, rực rỡ hùng tráng không tả xiết.

Giữa sườn núi từng mảng lớn xanh biếc đậm nhạt, mây lẫn sương mù, diễm lệ ướt át, mơ hồ nhìn thấy ẩn giữa núi rừng là cổ tháp trong hang đá.

Dưới chân hẻm núi tĩnh mịch, lòng chảo sông chảy quanh tạo những hồ nước to nhỏ xanh ngọc như đá quý khảm giữa thiên nhiên, phản chiếu sắc trời xanh thẳm, cỏ xanh rì bên hồ như tấm nệm rất nhẹ nhàng.

Dao Anh đi về phía Nam nhìn lại, sóng lúa cuồn cuộn mênh mông vô bờ ngàn dặm màu mỡ đập vào mi mắt nàng.

Cuối nơi phì nhiêu đó, là Thánh Thành mà Đàm Ma La Già canh giữ.

Ấy là một tòa đô thành to lớn phồn hoa, rộng trải từ Tây sang Đông, tường thành cao lớn vững chải vòng quanh, bốn góc tường là tháp cao sừng sững, khí thế bàng bạc.

Trong thành bố cục tề chỉnh giống như Trường An, san sát khắp nơi, phía Nam là khu phố chợ náo nhiệt chập trùng theo địa thế, phía Bắc nhà ở dày đặc.

Ở cực Bắc là tầng tầng bậc cấp lên điện, bao quanh bảo vệ hơn ngàn tòa Già Lam đứng sừng sững trên cao, lầu cao điện tiếp điện, mái hiên răng lược, thoáng nhìn, Phật đường chùa chiền một tòa cạnh một tòa, mấy trăm tòa Phật tháp cao tới mấy trượng sừng sững đứng lẫn, vàng son lộng lẫy, trang nghiêm hùng vĩ, tuyên bố uy nghiêm ở Vương Đình.

Đó là Phật Tự của Đàm Ma La Già.

Trong thành xe ngựa đầy đường, dòng người như dệt, mặc đủ trang phục khác nhau, nhiều nhóm người đến từ nhiều bộ lạc khác nhau ghé qua phố lớn ngõ nhỏ, trên con đường lớn phía ngoài thành cát bụi cuồn cuộn, lạc đà, voi, ngựa, bò yak của thương nhân vội vàng vào thành, tiếng tì bà vui vẻ xen lẫn tiếng cười nói, một cảnh tượng rất giàu có phồn hoa.

Dao Anh ghìm ngựa dừng lại, nhìn dưới chân Thánh Thành, cảm xúc vô cùng, thật lâu không nói gì.

Thế núi hùng vĩ, sơn cốc xanh biếc, đô thành phồn hoa, nhà cửa san sát, Phật tháp cao thấp chập chùng, non sông tươi đẹp, nhân gian khói lửa thái bình yên vui, như những bức tranh tráng lệ đang chậm rãi trải ra di chuyển trước mắt.

Trong hoang mạc xa cách Trung Nguyên tám ngàn dặm, nàng lại có thể nhìn thấy được cảnh giàu có đào mận nở rộ, đất đai trù phú.

Nếu không phải xa xa kia là núi tuyết chen lớp lớp mây mù, ngoài sông dài kia là biển cát vàng bát ngát, chùa chiền Phật tháp san sát trong thành khác hẳn với Trung Nguyên nhắc nhở, Dao Anh ngỡ như đã trải qua hết con đường gian khổ dài đằng đẵng và lập tức về đến Kinh Nam.

Quốc gia cạnh ốc đảo sa mạc này lại giàu có phồn hoa đến thế.

Khó trách Bắc Nhung luôn ép Vương Đình vào thế khó, hèn gì Đàm Ma La Già nhiều năm qua đau đớn chèo chống, canh giữ toà đô thành này...

Dao Anh ngắm nhìn tòa Thánh Thành trong nắng mai, quanh quẩn như thấy cả một cuộc đời cô độc của Đàm Ma La Già.

Đám Đề Bà Mông Đạt đã đi xa, nàng vẫn còn dừng trước cửa hang ngây ra nhìn cảnh tượng trước mắt.

Thân binh cũng chấn kinh như nàng, thật lâu không bình tĩnh nổi.

Dao Anh cúi xuống, phát hiện bản thân họ đang ở một vùng đất cao treo trên sườn núi, dưới là vách đá dốc đứng, sóng nước vỗ động từ lòng sông uốn lượn qua vách núi, gió thổi vù vù.

Đêm đó đợi trời tối hẳn Đàm Ma La Già mới đưa người về thành, chọn đường nhỏ khuất, trực tiếp trèo từ thềm đá sau núi vào Vương cung.

Nàng chỉ kịp thấy sườn núi cao ngất và con sông lớn rộng chừng mấy chục trượng, cứ ngỡ Thánh Thành chỉ là một tòa thành nhỏ cạnh ốc đảo bình thường.

Thì ra Thánh Thành dựng sâu trong thung lũng, bốn phía sườn núi bao bọc tạo thành một tấm bình phong thiên nhiên, hẳn địa hình đặc biệt này cũng là một trong những nguyên nhân mà Bắc Nhung mấy lần tiến đánh đều không được.

Đáng tiếc thật, sau khi Đàm Ma La Già chết nó vẫn phải chôn dưới gót sắt Bắc Nhung.

Dao Anh thúc ngựa quay đầu.

Các thân binh lần lượt đuổi theo nàng.

Họ xuống tới một khe núi yên tĩnh, lúc quay lại đã không còn nhìn thấy những tòa Phật tháp cao ngất kia nữa.

Đoàn người dừng lại nghỉ ngơi, Dao Anh cho ngựa mình ăn hai bánh cỏ, phía trước bỗng nhiên vang tiếng vó ngựa như mưa.

Cát bụi đầy trời, một người một ngựa nhanh như tia chớp vụt tới, tiếng vó ngựa quanh quẩn giữa những vách đá cao.

Duyên Giác hộ tống Dao Anh đi Thiên Trúc bỗng nhảy dựng, chỉ vào người cưỡi trên lưng ngựa, mừng rỡ vô cùng: "Là A Sử Na tướng quân!

A Sử Na tướng quân đã về!"

Dao Anh nhìn theo tầm mắt cậu, vị Tướng quân trẻ tuổi kia đã kịp chạy đến gần nàng, là một người đàn ông hơn hai mươi, tóc vàng mắt xanh, nét mặt sâu sắc, trường bào trắng tuyết phần phật trong gió.

Ánh mắt hai bên chạm nhau, A Sử Na Tất Sa thoáng thất thần nhưng không dừng lại, phóng ngựa vọt qua.

Dao Anh ngẩn người, đột nhiên thấy ánh mắt đối phương hơi quen thuộc.

Anh ta cũng có một đôi mắt màu xanh biếc.

...

A Sử Na Tất Sa kịp thời chạy về, Đề Bà Mông Đạt lập tức quay lại Vương cung.

Đàm Ma La Già được cứu rồi.

Dao Anh không do dự, cùng theo về Thánh Thành.

Từ Thiên Trúc đi đường biển về Trung Nguyên có thể thoát khỏi Hải Đô A Lăng, nhưng đường xá xa xôi, vô cùng nguy hiểm, vạn bất đắc dĩ nàng vẫn hy vọng có thể đi từ Hà Lũng về Trung Nguyên.

Vì nàng sợ bỏ lỡ Lý Trọng Kiền.

Nàng rời đi lâu thế này, anh trai chắc chắn sẽ đến tìm nàng, dù vết thương của anh có xấu cỡ nào, tin Diệp Lỗ bị hủy diệt có đến được Trường An hay không, Dao Anh vững tin, chỉ cần anh còn sống nhất định sẽ tìm nàng.

Đàm Ma La Già đã có thể cứu, nàng nên ở lại tìm cơ hội vậy.

Hải Đô A Lăng sớm muộn sẽ đánh Trung Nguyên, so với lo sợ nơm nớp mỗi ngày, chi bằng chuẩn bị sớm.

Hiện giờ y chỉ đang là một Vương tử Bắc Nhung căn cơ chưa ổn, u ám táo bạo, còn thua xa y đa mưu túc trí của mấy chục năm sau, đã là địch thủ của y vậy chi bằng khi y còn chưa lớn mạnh thì chặt đứt cánh chim hẵng tính!

*Minh: chương này đọc bản QT tg dài dòng lặp đi lặp lại muốn chết, mình tiện tay cắt bớt, bả cũng có giải thích vì muốn Dao Anh nhìn rõ Vương Đình, nhìn rõ cuộc đời La Già. nhưng ước gì bả trau chuốt lại tí.
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 45: Kết minh


Ngày thứ ba A Sử Na Tất Sa quay lại Thánh Thành, Vương cung ra bố cáo, vào khoảng đầu tháng sau cử hành Lễ hành tượng, Đàm Ma La Già sẽ xuất hiện ở Pháp hội.

Mới vừa ký minh ước với Bắc Nhung lại sắp đón lễ hội lớn, dân chúng trong thành vui mừng khôn xiết.

Còn chưa tới ngày, từ Vương cung đến nhà dân bắt đầu chuẩn bị, lau chùi đình viện, treo màn, hết sức náo nhiệt.

Tiểu sa di dạy tiếng Phạn cho Dao Anh nói, hàng năm vào lễ hành tượng, hàng ngàn người Thánh Thành đổ xô ra đường chen chúc nhau đến mức thường có chuyện người bị giẫm chết.

"Xem hành tượng có thể giảm bỏ tội ác, tích phúc đức, công chúa cũng tham gia Pháp hội đi, đến lúc đó cầu nguyện, linh nghiệm hơn bình thường!"

Dao Anh nhớ tới Pháp hội Phật đản ở Cung Thái Cực năm ngoái, không mấy hứng thú.

Ánh mắt tiểu sa di cuồng nhiệt: "Ngày lễ hành tượng á, Phật Tử sẽ về Phật Tự, khai đàn giảng kinh, tranh luận Phật Pháp với cao tăng của Quy Tư, Cao Xương, Sơ Lặc, là lễ lớn trăm năm khó gặp đó!

Tôi có nói với sư huynh quét rác trong chùa rồi, nhờ chừa cho một chỗ tốt!"

Mắt Dao Anh lộ vẻ kinh ngạc: "Phật Tử muốn khai đàn giảng pháp à?"

A Sử Na Tất Sa cầm Thủy mãng thảo về đã hoãn được nỗi đau của Đàm Ma La Già, nhưng mới ba ngày thôi mà!

Mấy ngày ngắn ngủi, mới vừa từ cảnh sắp chết khôi phục chút sinh khí, đã chuẩn bị tranh biện với một đám cao tăng, là không chỉ khảo nghiệm trí tuệ mà còn thể lực của ngài đó ngài.

Cao tăng Tây Vực đều là cao thủ tranh biện, ngài ứng phó được à?

Tiểu sa di gục gặc, nhìn Dao Anh, "Công chúa, có phải ngài rất muốn xem Phật Tử tranh biện kinh Phật?"

Dao Anh nhẹ rớt khóe miệng, Đàm Ma La Già với cao tăng tranh biện kinh Phật không phải dùng tiếng Phạn thì cũng dùng tiếng Hồ, một câu nàng còn không hiểu, đương nhiên không muốn đi, nàng chỉ kinh ngạc vì nghị lực của Đàm Ma La già thôi.

Sau một trận sóng gió biến thành vô hình, dân chúng Vương Đình lòng đầy chờ mong lễ hội đến, vĩnh viễn không biết Phật Tử của họ cửu tử nhất sinh, mỗi một khắc đều chịu đủ dày vò ra sao.

Vẻ mặt nàng đầy thương tiếc, tiểu sa di nhìn nàng mấy lần, mắt đảo mấy vòng: Công chúa Trung Nguyên đối với Phật Tử đúng là một lòng say mê, nhắc tí đã bắt đầu mất hết hồn vía.

Đêm đó, lời đồn vì Đàm Ma La Già mà Dao Anh cơm nước không ăn, dùng nước mắt rửa mặt truyền khắp Vương cung.

Dao Anh không để ý đến, nghe Đề Bà Mông Đạt nói kỵ sĩ Trung quân đã mang đồ cưới về, dẫn theo thân binh ra đón.

A Sử Na Tất Sa cầm Thủy mãng thảo trực tiếp vào cung trước, còn lại xe ngựa vận chuyển vải vóc tơ lụa, thư tịch điển chương, tượng Phật châu báu bốn ngày sau mới đến Thánh Thành, người phụ trách vận chuyển là Bát Nhã.

Cậu giao sổ cho Dao Anh, vỗ ngực: "Mời công chúa tra sổ kiểm kê nè, trừ Thủy mãng thảo mọi thứ đều đủ."

Dao Anh cám ơn cậu, chẳng thèm kiểm, trực tiếp bảo kỵ sĩ kéo xe ngựa vào nhà kho của Vương cung.

Bát Nhã bàn giao xong lập tức về Vương cung, thấy Đàm Ma La Già đúng là có chuyển biến tốt đẹp, niệm Phật không thôi.

Hôm sau, lời đồn lan đến tai cậu.

Bát Nhã vừa tức vừa gấp tìm đến Dao Anh, xỉa ngón tay chỉ vào nàng, run cả người.

Dao Anh chả hiểu gì, hỏi: "Phật Tử có chỗ không ổn hả?"

Thủy mãng thảo có độc tính rất lớn, có thể cứu người nhưng dùng nhiều sẽ có hại, sở dĩ thuốc Ngưng lộ hoàn mà nàng uống đắt đỏ cũng bởi vì phải dùng rất nhiều dược liệu giảm bớt độc tính của nó.

Vẻ lo lắng của Dao Anh không giống giả vờ, Bát Nhã không khỏi khẽ giật mình, nhớ lời dặn dò của Đàm Ma La Già, miễn cưỡng nuốt xuống bụng trách móc đang sôi trào.

Được, vị công chúa này dù mặt dày vô sỉ, nhưng ngưỡng mộ Vương là thật lòng, nếu không có đồ cưới của cô ta, sao Vương thoát hiểm được?

Bát Nhã cứng mặt nói: "Vương khỏe nhiều rồi."

Dao Anh mờ mịt, ồ một tiếng, nói: "Pháp sư cát nhân thiên tướng*."

*người hiền gặp lành

Bát Nhã trừng trộ: "Ta nghe nói, mỗi ngày cô quấn lấy mấy vị sư nghe ngóng bệnh tình của Vương...

Cô không nên hóng chuyện của Vương khắp nơi thế, đồn ra làm xấu mặt Vương, có gì thì cứ đến hỏi ta!"

Dao Anh phút chốc câm nín: ơ hóng chuyện Đàm Ma La Già khắp nơi hồi nào?

Trên dưới Vương cung ai cũng sùng bái Đàm Ma La Già, câu nào cũng không tách khỏi Phật Tử, nàng đâu có cố ý nghe ngóng.

Bát Nhã lại cho rằng Dao Anh vẫn trăm phương ngàn kế tiếp cận Đàm Ma La Già, cảnh cáo: "Cô đừng nghĩ thừa cơ tiếp cận Vương nha, thuốc cô mang tới đúng là cứu được Vương, Vương rất cảm kích cô nhưng ngài sẽ không bị cô đả động đâu!"

Cậu vừa dứt lời, bóng Duyên Giác đã xuất hiện trước cửa sân.

"Công chúa, Vương mời ngài đi chính điện."

Bát Nhã rớt mồm.

Dao Anh giang tay ra, "Là Vương của mấy người mời ta nha."

Bát Nhã không cãi được, vặn vẹo cổ, không nói gì.

Dao Anh đi ngang qua người cậu, theo Duyên Giác đến chính điện.

Lúc tới tiền đình, trước cửa hiên vắng vẻ ánh lên sắc vàng, con báo đốm lộng lẫy không một tiếng động từ trên tường nhảy xuống, một vuốt đè dây leo quấn trước bậc.

Duyên Giác dừng chân ra hiệu Dao Anh đừng hoảng hốt.

Mấy hôm nay Dao Anh thường xuyên gặp con báo đốm chưa hết dã tính này nên không còn sợ nhiều, thu tầm mắt, không nhúc nhích.

Báo đốm nhắm mắt, nhảy lên hành lang, rủ thấp đuôi, đi về phía Dao Anh.

Mặt Duyên Giác biến đổi.

"A Ly!"

Một tiếng gọi mang theo ý cười vang lên, tướng quân Trung quân tóc vàng mắt xanh từ nội điện bước nhanh ra, chặn trước Dao Anh khua tay với con báo, "Không được dọa Văn Chiêu công chúa!"

Báo đốm liếc anh ta ra vẻ khinh thường, quay người nhảy xuống thềm đá, lười biếng chợp mắt trong bóng râm của mớ dây leo bò.

A Sử Na Tất Sa quay lại mỉm cười với Dao Anh: "Công chúa, không dọa cô sợ chứ?"

Dao Anh nhìn đôi mắt xanh biếc của anh ta, lắc đầu.

Mẹ của A Sử Na Tất Sa là công chúa Đột Quyết, cha là quý tộc Vương Đình, dáng cao vút, khuôn mặt rất lãng tử.

Hôm nọ thoáng nhìn nàng thấy nét mặt anh ta hơi giống Đàm Ma La Già nhưng giờ nhìn kỹ lại, thật ra chẳng giống, trừ màu mắt.

Tất Sa cười cười, nụ cười rực rỡ như ánh nắng ngoài kia, rõ ràng rất lãng tử nhưng giọng nói thì chân thành đến chất phác: "Nếu không nhờ Thủy mãng thảo của công chúa, Vương khó thoát kiếp nạn này, công chúa là khách quý của Vương Đình, sau này Tiết Duyên Na mà còn dám mạo phạm công chúa, công chúa không cần sợ, bảo người báo tin cho tôi là được."

Dao Anh cám ơn, đi vào nội điện.

Tất Sa đứng trong cửa hiên nhìn bóng lưng nàng, ngẩn ra một lúc, gãi đầu rồi lắc đầu bật cười, tiếp tục canh giữ.

Trong điện trống trải sáng sủa, tượng Phật dát đầy vàng, hương án đều được dọn đi, trong không khí chỉ còn mùi nhang trầm quanh quẩn.

Đàm Ma La Già xếp bằng trên nệm nỉ, cà sa trắng chỉ vàng, một chuỗi cầm châu trong tay, trong trẻo xuất trần.

Hai người hầu quỳ một bên dâng thuốc, chàng bưng chén uống một hơi cạn sạch, rất nhanh, cũng rất tao nhã.

Người hầu bưng chén không lui ra.

Dao Anh dừng ánh mắt trên mặt Đàm Ma La Già, khí sắc chàng đã khá hơn nhiều, mặt như trăng lạnh, ánh mắt thanh tịnh, có lẽ vẻ mặt chàng luôn an tĩnh nhẹ nhàng nên rất khó đoán lúc nào chàng đang bị nỗi đau tra tấn.

Đàm Ma La Già nâng tầm mắt ra hiệu Dao Anh ngồi xuống.

Dao Anh ngồi quỳ chân đối diện chàng, bình thường nàng lười làm nhưng trước mặt vị Phật này không tự chủ thẳng tắp sống lưng, ngồi rất tề chỉnh.

Đàm Ma La Già cụp mắt: "Sao công chúa không đi Thiên Trúc?" một giọng rất bình thản, như vô tình vô dục, nhưng nhẹ nhàng mang mấy phần áp đảo, Dao Anh ngồi càng ngay ngắn, không trả lời mà hỏi lại: "Xin Pháp sư thứ ta mạo muội, sao Pháp sư lại phái Nhiếp Chính Vương Tô Đan Cổ đi Cao Xương?"

Đàm Ma La Già yên lặng không nói.

Dao Anh nhẹ giọng hỏi: "Có phải Pháp sư định kết minh với Cao Xương không?"

Ánh mắt Đàm Ma La Già đặt lên nàng.

Dao Anh đối mặt với chàng, chậm rãi nói: "Quốc chủ và quý tộc ở Cao Xương phần lớn là vọng tộc từ Hà Tây, là người Hán, Cao Xương bắt chước lễ chế của Vương triều Trung Nguyên, Nho học hưng thịnh, phong tục lễ nghi giống Trung Nguyên, Vương Đình thù người Hán, nên Pháp sư đành bí mật để Nhiếp Chính Vương đi dò xét ý đồ của Quốc chủ Cao Xương."

Tô Đan Cổ một mình đi Cao Xương, chắc chắn theo mật lệnh, lúc đó Bắc Nhung đang muốn xâm lấn Vương Đình, Dao Anh suy đoán Đàm Ma La Già có lẽ biết mình không còn nhiều thời gian định tính một đường lui cho Vương Đình nên sai Tô Đan Cổ đi Cao Xương cầu viện.

Vẻ mặt Đàm Ma La Già xác nhận suy đoán của Dao Anh.

Lời nàng xoay chuyển: "Ta đoán, Cao Xương cự tuyệt Nhiếp Chính Vương."

Đàm Ma La Già im lặng không nói, đáy mắt xanh thẫm có một tia kỳ lạ thoáng qua.

Dao Anh đón ánh mắt chàng, nói: "Nước nhỏ dân ít, đạo lập quốc của Cao Xương là phải thuận lợi mọi bề, lấy thần phục từng Vương triều lớn mạnh mà đổi lấy sinh tồn, giờ đây Bắc Nhung cường thịnh, Cao Xương đã xưng thần với Bắc Nhung, Vương Đình dù phồn hoa nhưng binh lực có hạn, Cao Xương sẽ không dại gì nhận lấy nguy hiểm với Bắc Nhung mà kết minh với Vương Đình."

Cao Xương Đông nối với Trung Nguyên, Tây thông với Tây Vực, Nam chặn bởi con đường tơ lụa, Bắc chận bởi thảo nguyên, đường xá ngang dọc, bộ lạc hỗn tạp, vị trí địa lý quyết định nó có thể công không thể giữ.

Từ xưa đến nay, quốc gia cạnh ốc đảo trên con đường tơ lụa này luôn khó khăn, luôn cố gắng sinh tồn giữa khe hở của các chính quyền và thế lực.

Vương triều Trung Nguyên từng coi Cao Xương là Châu huyện, đặt binh trấn giữ, sau đó Trung Nguyên đại loạn, không rảnh củng cố phía Tây, Tây Vực rơi vào phân loạn, Cao Xương và những tiểu quốc Tây Vực không thể khai thông với Trung Nguyên nữa, mạnh ai nấy quản.

Dao Anh đã nghe ngóng, Quốc chủ Cao Xương hiện tại mang họ Uất Trì, là vọng tộc sau này của Lũng Tây.

Cao Xương thần phục với Bắc Nhung, hai năm trước Quốc chủ Uất Trì cưới cháu gái của Ngõa Hãn Khả Hãn Bắc Nhung làm phu nhân.

Nàng nhìn Đàm Ma La Già, cười cười, lúc này mới bắt đầu trả lời câu hỏi ban nãy: "Pháp sư, ta ở lại Vương Đình, có thể đi sứ Cao Xương cho Vương Đình."

Trong điện không biết đốt nhang gì, mùi thơm nhẹ bay lượn lờ.

Đàm Ma La Già nhìn Dao Anh, đôi mắt sâu thẳm, hơi kinh ngạc.

Dao Anh trịnh trọng: "Cao Xương từng là Châu huyện dưới Trung Nguyên, Quốc chủ quý tộc vẫn còn nhớ về Trung Nguyên, ta là công chúa Đại Ngụy, ta đi sứ Cao Xương hẳn phần thắng lớn hơn Nhiếp Chính Vương."

Cao Xương không muốn đắc tội Bắc Nhung, nhưng Cao Xương cũng sẽ không chân chính thần phục Bắc Nhung, Quốc chủ quý tộc họ luôn hy vọng có thể khôi phục kết nối với Vương triều Trung Nguyên, nàng là công chúa Đại Ngụy, đi sứ Cao Xương nói không chừng Quốc chủ Cao Xương sẽ cân nhắc đề nghị của Đàm Ma La Già.

Dao Anh dừng lại một chút, nói tiếp: "Có thể ta không thuyết phục được Quốc chủ Cao Xương nhưng chí ít Cao Xương sẽ không thành kẻ địch của Vương Đình.

Trước mắt, Đông từ Liêu Hải, Tây đến Tây Hải, Nam đến Hà Lũng, Bắc đến Bắc Hải, đều thần phục Bắc Nhung, lực lượng một nước Vương Đình khó mà chống lại Bắc Nhung, cho dù câu trả lời của Cao Xương là gì, Đại Ngụy nguyện cùng Vương Đình kết minh, cùng nhau chống Bắc Nhung."

Đàm Ma La Già nhìn Dao Anh thật lâu.

Giọng người thiếu nữ mềm mại uyển chuyển, điệu bộ bình thản, như hoàn toàn không biết lời nàng nói đại biểu cho chuyện gì.

Từ Đông đến Tây, Đại Ngụy, Vương Đình, Cao Xương... còn nhiều những tiểu quốc phía Đông nữa, nếu đồng minh thật sự đạt được, sẽ thay đổi không phải chỉ vận mệnh của Vương Đình, cũng không phải chỉ bố cục Tây Vực, mà là thiên hạ đại thế.

Đàm Ma La Già nhớ tới năm mười ba tuổi, lúc kỵ binh Bắc Nhung đánh vào Thánh Thành, gió thốc cát đầy trời, chàng chỉ thầm niệm kinh trong lòng, dẫn đầu Trung quân đón đầu quân địch như dòng lũ hủy trời diệt đất.

Từ một khắc đó, chàng nhất định gánh vác quốc gia này, cho đến chết.

Chàng là Phật Tử, là Quân chủ, nhưng vị công chúa trước mắt này chỉ là một thiếu nữ mảnh mai xinh đẹp đang lưu lạc ngoài vực, con đường phía trước mịt mờ.

Cầm châu trong tay Đàm Ma La Già di chuyển, nhẹ giọng hỏi: "Vì đâu công chúa muốn kết minh với Vương Đình?"

Dao Anh nhẹ vểnh khóe môi, đôi mắt lặng yên nhìn Đàm Ma La Già, mỉm cười: "Bởi vì ngài."

Đàm Ma La Già khẽ giật mình.
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 46: Có tiền


"Bởi vì Quân chủ Vương Đình là Phật Tử, nên ta dám cùng Phật Tử lập ước định này."

Dao Anh cười, nói khẽ.

Nàng vẽ ra tấm bánh nướng cho Đàm Ma La Già.

Ăn được hay không, không ai nói chắc.

Cao Xương sẽ bằng lòng kết minh chứ?

Bọn họ có thể đưa tin thuận lợi về Trung Nguyên không?

Cách xa ngàn núi vạn sông, đến khi tin tức của họ đưa được đến Trung Nguyên, ai biết còn có biến cố gì?

Đều là biến số.

Nhưng chỉ cần họ có thêm một hướng để bước đi, là thêm một phần hy vọng.

Nếu Vương Đình vẫn do đám đại thần quý tộc Khang Mạc Già nắm triều chính, Dao Anh tuyệt đối không đưa ra lời kết minh với Vương Đình, vì đám đó chỉ lo tới lợi ích gia tộc vốn chẳng để ý đến Vương triều Trung nguyên tám ngàn dặm xa kia, đề nghị của nàng chẳng những chẳng được coi trọng mà còn chỉ đổi lấy chế giễu.

Hơn nữa kết minh với đám Khang Mạc Già, nàng còn phải đề phòng bị đối phương lợi dụng hãm hại.

Đàm Ma La Già không giống, ngài ấy đặt sống chết của dân chúng Vương Đình vào trong lòng, tầm nhìn lâu dài khoáng đạt, thông minh như ngài ấy chắc chắn biết là hy vọng xa vời chừng nào nhưng nhất định ngài sẽ muốn thử một lần — thêm một bạn tốt, là bớt một kẻ thù, ngài không biết mình còn chống chọi bao lâu, càng cần nhiều bạn tốt.

Nên Dao Anh chẳng cần nói hoa nói hòe, cũng không cần đưa cam kết gì.

Mặc cho kết quả cuối cùng là gì, Đàm Ma La Già sẽ không làm khó nàng, kể cả khi ngài ấy không có ý định kết minh với Trung Nguyên.

Dao Anh chắc chắn điểm này.

Người đàn ông trước mắt này làm nàng rất an tâm, nửa năm lưu lạc đến Tây Vực này, mỗi ngày nàng phập phồng lo sợ, mãi đến khi bước vào Vương Đình mới ngủ được một giấc ngon, không mộng mị kinh hoàng hàng đêm.

Ngài ấy có một đôi mắt sâu thẳm như nhìn thấu mọi thứ, đối mặt với ngài, nàng không cần che dấu, không cần tính toán, chỉ cần nói ra suy nghĩ trong lòng là được.

Dao Anh nói tiếp: "Thượng binh phạt mưu, kỳ thứ phạt giao, kỳ thứ phạt binh, kỳ hạ công thành*.

Lấy mưu lược phe ta để đánh địch, không đánh mà thắng là vì binh, là vì binh trên hết, Phật Tử lòng dạ từ bi, hẳn đồng ý điểm này."

*Binh pháp Tôn Tử: dùng mưu kế đập địch trước, mới đến ngoại giao đấu tranh giành chủ động, rồi mới đến dùng binh, cuối cùng mới là công thành – cách bất đắc dĩ nhất.

Thiếu nữ tuổi mười lăm, đương thanh xuân rực rỡ nhất, tóc mai đen nhánh, dây buộc tóc màu đỏ rủ trên cần cổ trắng, da thịt như tuyết, mặt rạng rỡ như hoa dâm bụt, xinh đẹp đến sáng trưng cả nội địa.

Giống như Trung Nguyên có câu tả, đông phong dạ phóng hoa thiên thụ*.

*Thanh Ngọc Án – thơ Nam Tống – đại ý gió đông thổi, hoa đăng thả đêm nguyên tiêu rực rỡ như hoa nở trên ngàn gốc cây.

Nắng chiếu vào bốn bức tường trắng trong điện như chơi trốn tìm, vàng rực trước trường án, một quyển kinh thư mở ra trên bàn, trang giấy ố vàng.

Đàm Ma La Già dừng tầm mắt trên quyển kinh.

"Đợi sau Pháp hội hành tượng, A Sử Na Tất Sa sẽ hộ tống công chúa đi Cao Xương."

Mặt Dao Anh lộ vẻ rạng rỡ: Vầy là ngài đồng ý nhỉ!

"Chuyện không được truyền ra ngoài, thiệt thòi cho Văn Chiêu công chúa rồi."

Dao Anh gục gặc: "Pháp sư không cần lo, ta biết chừng mực, ước định này chỉ giữa ta và ngài."

Nàng thở hắt một hơi, cười cười.

"Ta rời xa Trung Nguyên, không binh không tướng, Pháp sư bằng lòng tin tưởng ta, ta rất cảm kích, thiệt là thiệt thế nào?

Nếu có thể trở lại Trung Nguyên, ta sẽ vô cùng cố gắng thúc đẩy minh ước."

Đầu ngón tay Đàm Ma La Già nhẹ lật quyển kinh, yên tĩnh một lúc, nói: "Công chúa không cần tự coi nhẹ mình."

Phần dũng khí và ánh mắt nhạy cảm này của nàng, đáng giá sự tin cậy của chàng.

Năm mười ba tuổi chàng dẫn chỉ mấy ngàn kỵ sĩ Trung quân đánh đâu thắng đó, chưa từng thua Bắc Nhung, thời điểm đó chàng cũng là không nắm chút phần thắng nào, nhưng cuối cùng vẫn thắng.

Đàm Ma La Già che miệng ho khan, giữa hai đầu lông mày in dấu mệt mỏi.

Dao Anh đảo mắt qua lại trên mặt chàng, khẽ hỏi: "Dạo này Pháp sư có hay bị tim đập nhanh, nóng sốt, đêm đổ mồ hôi trộm không?"

Đàm Ma La Già ngước nhìn nàng.

Dao Anh vẻ đầy lo lắng, nhìn kỹ sắc mặt của chàng, lộ rõ ân cần: "Thuỷ mãng thảo có độc, không thể dùng lâu dài, nếu Pháp sư thấy khó chịu nhất định phải báo cho Đề Bà Mông Đạt."

Đàm Ma La Già vâng nhẹ nhàng.

Dao Anh nhớ tới chàng còn mang bệnh nặng chưa khoẻ, đứng dậy cáo từ: "Pháp sư còn phải chuẩn bị cho đại hội tranh biện kinh thư, ta không quấy rầy Pháp sư suy nghĩ."

Sau lưng không một tiếng động, trước khi ra cửa nàng đưa mắt nhìn lại, Đàm Ma La Già cúi đầu xem kinh thư trên bàn, ánh nắng vàng mênh mông phác hoạ một nét thon gầy của sườn mặt chàng.

Dao Anh trở lại chỗ nghỉ, lục danh sách hồi môn, dặn thân binh lọc ra tất cả Phật kinh điển tịch, đưa tới chỗ Phật Tử.

"Kinh Phật lưu truyền ở Trung Nguyên và Tây Vực có khác biệt, Pháp sư và các vị sư trong chùa vài hôm còn luận bàn về kinh Phật với tăng nhân các nước, mấy quyển kinh Phật này có khi phát huy tác dụng."

Ngoài kinh Phật, nàng còn dặn thân binh đưa qua chỗ Phật Tử toàn bộ các tượng Phật vàng ngọc lớn nhỏ, sẵn trên dưới Vương Đình đều đang chuẩn bị cho lễ Hành tượng, mấy bức tượng này giữ lại cũng không có chỗ dùng, không bằng tặng đi.

Vương Đình sùng Phật, khắp trong thành đều có thạch tháp Phật Tử, tượng Phật Dao Anh tặng đi cũng chẳng lạ, nhưng mấy quyển kinh Phật rất nhanh được các sư trong chùa chú ý, tranh nhau truyền tay đọc mấy bản chép tay bằng tiếng Phạn, kịch liệt thảo luận về chân ý nghĩa trong kinh thư.

Bát Nhã biết được, quá sợ hãi, chạy vội tới chủ trì Phật Tự: "Mấy bức tượng Phật mà Văn Chiêu công chúa tặng đâu?

Gom đủ nguyên vẹn trả về đi!"

Chủ trì đáp: "Còn mấy ngày đã tới Pháp hội, Văn Chiêu công chúa gửi tới đều là những bức tượng Phật sắc sảo, đã mang đi bố trí công đường, công chúa hào phóng, còn tặng vài tượng vàng trong đó để bách tính thờ cúng, họ đều rất cảm kích công chúa."

Bát Nhã giẫm chân thở dài, vò đầu bứt tai: "Còn mớ kinh thư Văn Chiêu công chúa tặng đâu?

Mấy người lấy hết à?

Tranh thủ trả lại!"

"Kinh thư mà công chúa tặng câu từ đẹp đẽ, ý nghĩa sâu sắc, mấy sư trong chùa nghiên cứu đến quên cả ăn, thiền sư đã mấy ngày rồi không dạy thiền pháp."

Bát Nhã vô cùng tuyệt vọng: "Các người, các người còn nhận của cổ bao nhiêu thứ nữa vậy?"

Chủ trì nghĩ nghĩ đáp: "Hôm kia thì công chúa gửi tới một xe tơ lụa cao cấp để các vị tăng nhân cắt may Pháp y dùng trong Pháp hội...

Hôm qua thì hộ vệ của công gửi tiền bố thí..."

Nói ngắn gọn, tiền đã nhận, tượng Phật đã trưng dùng, sách đã xem, Pháp y cũng may luôn.

Vậy thì trả gì.

Chủ trì chắp tay trước ngực, ngại ngùng lắc đầu.

Không thể.

Bát Nhã đầu váng mắt hoa, lảo đảo mấy lần, khóc không ra nước mắt.

Lần này hay rồi, không chỉ mỗi Vương dùng Thuỷ mãn thảo trong mớ đồ cưới mà Phật Tử còn nhận nào tương Phật, sách kinh, tơ lụa,... công chúa tặng, đến cả dân chúng cũng cầm đồ cưới của cổ rồi luôn rồi!

Lòng như lửa đốt Bát Nhã quay về Vương cung, vào nội điện, bước chân nặng nề.

"Vương, Văn Chiêu công chúa có ý đồ, đồ cưới cô ta gửi qua hết rồi!

Tôi nghi cô ta cố tình, muốn ngài chịu trách nhiệm cả đời!"

Đàm Ma La Già mặc cà sa tuyết trắng ngồi trước cửa sổ xem kinh thư, nghe vậy ngẩng đầu, nhẹ nhăn mày.

"Mời Văn Chiêu công chúa tới."

Dao Anh còn tưởng Đàm Ma La Già muốn thương lượng chuyện nàng đi Cao Xương, không ngờ khi bước vào nội điện, đã thấy rất nhiều người đứng, A Sử Na Tất Sa, tổng quản Vương cung, mấy người đều khoanh tay đứng hầu vẻ hơi ngượng ngùng.

Bát Nhã, Duyên Giác và thân binh khác đứng trước cửa, bầu không khí trong điện như ngừng trôi.

Ngồi trên bảo tháp, Đàm Ma La Già tay cầm một quyển kinh văn đang đọc, rất thanh nhã.

Đám dưới điện mồ hôi đầy đầu.

Trong điện yên tĩnh, tiếng kim rơi còn nghe được.

Tất Sa thấy Dao Anh bước vào, lặng lẽ thở hắt, gãi đầu, ôm quyền chào nàng, nói: "Công chúa, là ta sơ sót, chăm sóc không chu toàn."

Tổng quản Vương cung cũng quay sang Dao Anh thở dài.

Dao Anh ngơ ngác, vội cuống quýt đáp lễ.

Tất Sa quay lại nhìn Đàm Ma La Già, nói: "Vương, sách quý do công chúa mang từ Trung Nguyên tới thì vẫn còn, còn mấy thứ kia không thể trả lại nữa, tôi sẽ đưa công chúa đến khố phòng, mời công chúa tùy ý chọn bảo vật, không để công chúa bị thiệt thòi ạ."

Đàm Ma La Già không nói gì, phất tay áo.

Đám Tất Sa cung kính hành lễ với ngài rồi nháy mắt ra hiệu Dao Anh cùng lui ra.

"Công chúa, mời đi lối này."

Tất Sa dẫn Dao Anh đi bảo khố Vương cung.

"Công chúa đã bỏ ra bao nhiêu thứ, giá trị bao nhiêu, cứ nói hết với tôi, không cần khó xử.

Thủy mãng thảo với mấy vị thuốc hẳn rất đắt nhỉ?

Mới cả kinh thư quý báu rồi tơ lụa cao cấp nữa, ở Tây Vực, lụa Trung Nguyên một thớt giá trị trăm vàng đó.

Đồ cưới của công chúa là vĩnh viễn thuộc về người, không nên bị người Vương Đình chiếm dụng.

Ban nãy Vương mới trách phạt tôi với tổng quan Vương cung đấy."

Dao Anh dở khóc dở cười: "Nhờ ngài nhắn dùm Pháp sư, tổng quản Vương cung không hề ghẻ lạnh với ta, còn mớ sách kinh tơ lụa là ta tự nguyện gửi, không liên quan đến tổng quản."

Tất Sa cười cười: "Vương biết tượng Phật, kinh thư, tơ lụa và tiền cúng đều do công chúa tự nguyện đưa ra, không ai ép buộc mà."

Dao Anh khẽ giật mình: "Vậy sao Pháp sư còn trách phạt tổng quản?"

Nét cười tràn đầy trên mặt Tất Sa, "Công chúa một thân một mình ở nước khác, suy nghĩ nặng lòng, gửi đi đồ cưới là muốn cuộc sống ở Vương Đình thoải mái hơn chút."

Dao Anh gật gật, lại lắc lắc: "Nếu không có sự hỗ trợ của Vương Đình thì ta đâu thể đoạt lại mấy thứ đó?

Ta gửi kinh sách và tượng Phật vì muốn mở rộng thiện duyên, cũng bởi vì cảm kích Phật Tử, tuyệt đối không có gì khó xử."

Mi dài Tất Sa hơi nhíu, "Công chúa thật sự buông được à?"

Dao Anh cười khẽ: "Ta giữ được mạng này, lòng đã vô cùng cảm kích rồi."

Đúng là có người ở Vương Đình ngấp nghé xe của cải khi Trung quân từ Bắc Nhung đưa về, nàng nhanh tay gửi đi hết, ngoại trừ ngoài mặt cảm tạ Đàm Ma La Già cũng có lo nghĩ cho bản thân, nào có chỗ khó xử.

Gửi đi càng có lợi hơn mà.

Ánh mắt Tất Sa lộ vẻ tán thưởng: Công chúa quả nhiên thông minh.

Hàng xe xe chứa đầy châu ngọc của cải đánh vào Vương cung, ngày nào không bị bao nhiêu ánh mắt dòm ngó, của cải động lòng người, sớm muộn cũng có người có chủ ý nhằm vào đống này.

Công chúa chủ động bố thí hết, đưa qua cả chỗ Vương Phật Tử, ai dám ra tay nữa?

Vậy thì chẳng phải nàng không chỉ bảo toàn chính mình, có tiếng tốt, lại không để đại thần tham lam có cơ hội ra tay, một công nhiều việc ư.

Tất Sa vỗ tay nói: "Công chúa thật quả quyết giữ hay bỏ, tôi rất bội phục!

Có điều Vương nói, người là khách của Vương Đình cũng không thể để người phải ra quyết định thế này, mới cả Vương đã dùng thuốc của người cũng nên đền bù chút đỉnh."

Anh ta ra hiệu tổng quản mở ra khố phòng Vương cung.

"Công chúa nhìn trúng vật gì, cứ việc chọn nhé!"

Dao Anh theo vào khố phòng, trước mắt ánh vàng lấp lánh, đầy mùi bảo vật.

Dù nàng vẫn luôn thường thấy hào nhoáng phú quý nhân gian, vẫn không khỏi ngẩn ngơ.

Hòa thượng có tiền ghê!
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 47: Tô Đan Cổ


Vàng bạc ngọc quý, châu báu quý hiếm, san hô cao mấy thước, đèn lưu ly tinh xảo đặc sắc, tỏa ra ánh sáng lung linh, rực rỡ muôn màu.

Trên mặt đất rương đựng của cải lộn xộn chất đống phát ra từng luồng hào quang, suýt lóa cả mắt Dao Anh.

Tất Sa đứng bên cạnh đưa tay mời: "Công chúa tùy ý chọn, bên ngoài đã chuẩn bị sẵn mấy xe ngựa, chỉ cần công chúa thích thì có thể lấy dùng."

Dao Anh lấy lại tinh thần, thầm nghĩ: Đàm Ma La Già có tiền vầy thì nàng không cần khách khí.

Lia mắt một vòng, ánh mắt dừng lại trên một chiếc hộp con, ngơ ngẩn, trong lòng như sóng biển dâng trào, bước tới cầm lấy chiếc hộp, chóp mũi cay xè, mắt hơi ửng đỏ.

"Vậy thứ này đi."

Giọng nàng nghe mềm mại khàn khàn.

Tất Sa sửng sốt một lát định nói lại thôi, về nội điện nhận lệnh.

Trong điện lặng ngắt như tờ, hương khói lượn lờ, Đàm Ma La Già đang chìm trong một chùm sáng mát lạnh, không lên tiếng.

Tất Sa đợi một lúc thấy ngài xem sách kinh đến nhập thần không dám quấy rầy, lui ra.

Bát Nhã ngăn ngoài cửa điện, rất khẩn trương hỏi: "Văn Chiêu công chúa lấy bao nhiêu thứ thế?"

Tất Sa quay nhìn Đàm Ma La Già trên bảo tháp, ra chiều suy nghĩ, hững hờ nói: "Văn chiêu công chúa chỉ lấy một vật."

Bát Nhã gấp đến sắp bốc khói, hỏi luôn một tràng: "Công chúa lấy gì?"

Tất Sa quay lại, nói: "Một viên Dạ quang bích, có vẻ công chúa rất thích nó."

Bát Nhã dậm chân nói: "Sao chỉ lấy Dạ quang bích nhỉ?"

Tất Sa liếc cậu, ánh mắt lạnh như băng: "Sao hả, cậu chê công chúa lấy nhiều quá à?"

Bát Nhã gấp gáp đấm ngực: "Tôi ngại công chúa lấy ít thì có!

Mấy vị thuốc kia đâu chỉ đáng một viên Dạ quang bích!

Sao cô ta chẳng lấy nhiều hơn nhỉ!"

Tất Sa nhếch miệng cười ra tiếng: "Cô ấy lấy ít cậu nổi điên làm gì?

Ta nhớ cậu rất không thích công chúa Văn Chiêu mà."

Bát Nhã ai oán nguýt anh: "Tướng quân còn cười được à?

Đồ cưới của Văn Chiêu công chúa đưa hết qua Phật tự, giờ cả thành đồn công chúa một lòng say mê Vương, bỏ hết vật ngoài thân chỉ vì đi theo Vương!

Cô ta lại có cớ quấn lấy Vương tiếp ấy!"

Tất Sa cười cười, "Cậu sợ cái gì?

Văn Chiêu công chúa si tâm ra sao, chỉ cần Vương không động tâm, sau một năm thì cô ấy sẽ rời đi.

Cô ấy là người giữ lời, sẽ không quấn quýt si mê Vương đâu."

Cô gái Ma Đăng Già vì gả cho A Nan nguyện tu hành một năm, Lý Dao Anh đã thề, làm theo Ma Đăng Già, chỉ ở Vương Đình đợi một năm.

Trừ phi Đàm Ma La Già động tâm với nàng ấy.

Bát Nhã hất cằm: "Đương nhiên Vương không động tâm rồi!"

Vương là A Nan chuyển thế, lúc sinh ra Thánh Thành mây ngũ sắc đầy trời, Vương cung ẩn hiện tiếng Phật.

Vương cao quý thánh khiết, thanh tịnh cách dục, sao bị một công chúa Hán dẫn dụ được?

Dù có nghiêng nước nghiêng thành đi nữa...

Tất Sa trêu: "Vậy cậu đang sợ chuyện gì?"

Bát Nhã ngơ ra.

...

Dao Anh cầm hộp quý về viện tử, ngồi trong góc khuất hành lang nhìn viên Dạ quang bích bên trong đến ngơ ngẩn.

Tạ Thanh đang luyện quyền trong đình thấy đôi mắt nàng đỏ bừng, bèn bước lên thềm đá, chau mày: "Công chúa, ai làm khó ngài?"

Dao Anh lấy lại tinh thần, cười cười, chùi khóe mắt: "Không có, ta nhớ anh ta."

Viên Dạ quang bích của Vương Đình màu sắc trơn bóng, còn muốn lớn hơn viên anh cho nàng nhưng nàng vẫn thích viên kia nhất.

Giờ, không rõ nó rơi vào tay ai rồi.

Như thường lệ, mặt Tạ Thanh không lộ cảm xúc an ủi Dao Anh: "Chắc chắn người sẽ bình an về lại Trung Nguyên, đoàn tụ với Tần Vương."

"Giờ anh không còn là Tần Vương, là Vệ Quốc Công rồi."

Chắc chắn anh rất lo cho nàng, nàng cần về sớm chút.

Dao Anh thở ra một hơi thật dài, thu nỗi muộn phiền, tự phấn chấn tinh thần triệu tập thân binh, căn dặn: "Chờ Pháp hội kết thúc, Tạ Bằng, Tạ Xung và A Thanh theo ta đi Cao Xương."

Các thân binh đáp vâng, Tạ Thanh hỏi: "Vương của Cao Xương sẽ giúp công chúa ạ?"

Dao Anh nói: "Đi mới biết được."

Mấy thân binh im lặng.

Dao Anh nhìn qua đám thân binh ủ rũ cúi đầu, cất cao giọng: "Ban Siêu* đời Hán đi sứ Tây Vực, chỉ mang ba mươi sáu người, không mất một binh một tốt của triều đình mà thu phục hơn sáu mươi nước Tây Vực."

"Vương Huyền Sách** đời Đường đi sứ Thiên Trúc, sứ đoàn bị bắt, ngài may mắn trốn thoát, mượn binh Thổ Phiên dẫn quân đánh Thiên Trúc, chém đầu hàng ngàn, bắt sống Quốc vương Thiên Trúc A La Na và bộ hạ, tiếng tăm khắp nơi, hơn năm trăm tòa thành Thiên Trúc quy hàng."

*nhà quân sự, ngoại giao, sử học nổi tiếng Đông Hán, phụng mệnh đi sứ Tây Vực, trong 31 năm thu phục hơn 50 nước Tây Vực, có nhiều cống hiến lớn, phong Định Viễn Hầu.

**người Lạc Dương, quan triều Đường, nhà ngoại giao, mấy lần đi sứ Ấn Độ.

Lần thứ hai bị vua mới lên của Thiên Trúc cho người cướp sứ đoàn.

Nàng dừng lại, ánh mắt lướt qua từng gương mặt thân binh, "Trước mắt chúng ta dù đang chịu nạn ở Tây Vực cũng chưa hẳn không thể thoát, triều đình vẫn luôn hy vọng có thể khôi phục lại con đường nối kết với Tây Vực mà chư quốc Tây Vực cũng ngóng có ngày thuộc Đông, đi sứ Cao Xương, chính là thời cơ tốt cho các ngươi thi thố tài năng!"

Thân đang ở ngoại vực xa xôi, con đường phía trước xa vời, ngôn ngữ không hiểu, đám thân binh sĩ khí đang não nề, nghe xong đột nhiên cảm thấy tầm mắt được khai sáng, nhiệt huyết sôi trào, nếu họ cũng học Ban Siêu, Vương Huyền Sách giúp triều đình thu phục Tây Vực, chẳng phải sẽ có thể vang danh sử sách, vinh quang gia tộc ư?

Họ nhìn công chúa, trong mắt dần cháy lên hai ngọn lửa đỏ rực.

Dao Anh đứng trước bậc vẻ rất trịnh trọng: "Bắc Nhung đang dòm ngó Trung Nguyên, sớm muộn gì chúng ta cũng phải dùng vũ lực với họ.

Lần này đi Cao Xương, nếu không thể đạt được bất kỳ trợ giúp từ Vương của Cao Xương thì chí ít cũng nhiều ít thám thính được quân tình, biết người biết ta, mới thêm một phần thắng."

Đám người cao giọng đã rõ, khí thế ngùn ngụt, hận không thể lập tức xuất phát.

Dao Anh thấy họ kích động mà cười cười.

Thân binh nửa năm bị cầm tù của nàng đang suy sụp, tinh thần sa sút, giờ lại thấy vài phần nhiệt huyết hào hùng nam nhi sao không mang ngô câu*, dù họ có lập được chiến công xuất thế hay không, khí phách và khát vọng trước mắt này, là họ đã nhặt lại lòng tin, bình tĩnh ứng đối mọi nguy hiểm.

*Ngô Câu là một loại loan đao thời Xuân Thu, đúc bằng đồng thau, là vũ khí rất điển hình, tràn ngập vẻ truyền kỳ, sau được các văn nhân lớn đưa vào thơ, trở thành vật tượng trưng cho tinh thần xông pha chiến trường, dốc lòng báo quốc.

Càng trong lúc bị vây hãm, càng không thể mất ý chí chiến đấu.

"Vương Đình có thể nhiều lần ngăn cản đại quân Bắc Nhung, hẳn họ có cách chiến thắng, trên đường đi Cao Xương, các ngươi phải chú ý quan sát Trung quân Vương Đình, học tập sở trường của họ."

Mấy thân binh đồng thanh vâng lời, đưa mắt nhìn Dao Anh về phòng, nháy mắt với Tạ Thanh vẫn một vẻ bộc trực: "Sao cô không đi theo?"

Tạ Thanh ngơ ngác.

Tạ Xung ầy một tiếng, nói: "Công chúa nhớ Vệ Quốc Công, tâm tình không tốt, cô theo mà an ủi công chúa, đừng để người thương tâm khổ sở, bọn ta chắc chắn sẽ đưa người về nhà!"

Tạ Thanh xụ mặt: "Sao lại nghĩ ta phải đi an ủi công chúa?"

Đám thân binh cũng chả rõ tự dưng nàng nổi đóa, nhìn nhau.

Tạ Thanh chụp lấy thanh kiếm gỗ luyện võ, khẽ xoay cổ tay chĩa mũi kiếm về đám thân binh.

"Là vì các ngươi cho ta là con gái nên khi công chúa buồn rầu thì cứ phải bảo ta đi dỗ à, vậy ta có cần thay đồ con gái, ngồi thêu hoa cùng, uống trà khóc lóc cùng với người để người bớt buồn không?"

Đám thân binh đau đớn hét rầm, vừa ôm đầu né vừa xin tha "Đại ca!

Đại tỷ!

Đại nương!

Tụi tôi sai rồi!

Tụi tôi sai rồi!"

Tạ Thanh tiếp tục đuổi đánh, cười lạnh: "Vốn các ngươi chẳng thấy có lỗi!"

"Ta nói này, dù ta có là thân gái, vẫn là hộ vệ của công chúa!

Là đội trưởng của các ngươi!

Có thể đánh bọn ngốc các ngươi không còn sức chống đỡ đó!"

Đám thân binh bị dồn vào góc tường hết chỗ trốn, dứt khoát ngã xuống đất, kêu rên liên tục, khóc xin tha: "Vâng!

Phải rồi!

Chúng ta là đồ ngốc!"

Tạ Thanh chém xuống, kiếm gỗ gọt sạch sợi tóc của tên thân binh.

Tạ Bằng Tạ Xung ôm nhau một chỗ run lẩy bẩy.

Tạ Thanh xách kiếm, đá tên thân binh nhào vào ôm chân mình một cái bay tưng: "Dù ta là nam hay nữ, công chúa xem ta là hộ vệ của người, còn người là chúa công, các ngươi nhớ kỹ, ta là đội trưởng của các ngươi, không phải thị nữ của công chúa!

Ta trung thành phụng dưỡng công chúa thế nào, không tới phiên các ngươi chỉ điểm!"

Cả đám mặt mũi bầm dập, lòng đầy ấm ức.

Tạ Xung khóc ròng: "Đại ca!

Đại gia!

Tổ tông!

Tụi tôi thật sự đâu có ý xem nhẹ chọc ghẹo gì cô!

Xưa nay thấy cô gần gũi với công chúa nên mới bảo cô đi an ủi người, công chúa tôn quý, mấy tên thô lậu tụi tôi vừa thấy đã không nói ra lời, khuyên là khuyên làm sao..."

Đám kia vội vàng phụ họa.

Tạ Thanh dịu cơn giận chút, thu kiếm gỗ, "Từ rày bớt chỉ huy ta đi!"

Đám người nằm rạp trên mặt đất, gật đầu như giã tỏi.

Chờ tiếng kêu la xin tha ngoài kia lắng xuống, Dao Anh nhô nửa người ra hành lang nhìn lướt, cười nhẹ nhàng, nheo khóe mắt, thật dễ thương.

Tạ Thanh lầm lì, vóc người cao lớn, mặt gãy gọn, nhìn góc nào cũng không giống con gái.

Dao Anh nhẹ giọng gọi nàng: "A Thanh, đừng nóng giận."

Tạ Thanh không nói.

Dao Anh ghé vào trước cửa sổ, khẽ nói: "Đám Tạ Bằng ỉu xìu suốt, cô đánh họ một trận cũng hay, ta thấy tinh thần họ lên gân nhiều đó."

Thấy nàng không có ý trách tội, mặt Tạ Thanh vẫn bơ bơ, chỉ yên lặng ưỡn ngực thẳng tắp.

Đám thân binh hết bị đánh, thấy mất mặt trước Dao Anh, nóng lòng biểu hiện, đột nhiên phấn khởi như được ăn tiên đan, trời chưa sáng đã rời giường luyện võ.

Dao Anh bị đánh thức mỗi sớm: ...

Nàng thật thèm cảm giác ngủ say sưa.

Lễ hành tượng đã gần đến, không khí chào mừng trong thành ngày càng đậm, mấy thân binh tinh lực cả người không biết xài vào đâu, tò mò muốn xem Pháp hội Phật quốc náo nhiệt.

Tạ Xung đến xin Dao Anh: "Công chúa cùng đi với tụi tôi xem tí đi."

Công chúa cành vàng lá ngọc bị nhốt ở doanh địa của Hải Đô A Lăng gần nửa năm thế nào, họ nhìn rất đau lòng, giờ ở Vương Đình cả, người Bắc Nhung không dám làm loạn, công chúa có thể ra ngoài hít không khí.

Dao Anh cũng ngại cả ngày ở mãi một góc trong cung, nhưng đang ăn nhờ ở đậu nàng không muốn ra ngoài nhỡ đụng phải Tiết Duyên Na ngoài cung, cười nói: "Các ngươi đi chơi đi."

Nàng cho Tạ Thanh phát mỗi người vài đồng bạc có thể lưu thông ở Tây Vực, một đồng có thể mua không ít thứ.

Tạ Thanh căn dặn thân binh: "Luôn phải tỉnh táo đừng chuốc thêm phiền cho công chúa."

Thân binh cười hì hì nhận tiền, cam đoan luôn miệng, cặp kè ra cung, trong đêm quay về ôm theo một đống đồ chơi mới lạ chưa thấy bao giờ cho Dao Anh giải buồn.

Hôm nay, đám thân binh tiếp tục dậy luyện quyền lúc trời còn chưa sáng, ăn xong ra cung xem náo nhiệt.

Dao Anh đang chuẩn bị để đi Cao Xương, gói ghém hành lý, kiểm kê sổ sách, bận đến chiều, bỗng Tạ Xung từ ngoài chạy xông vào viện: "Công chúa, mấy đứa Tạ Bằng bị bắt!"

Tạ Thanh ra đón: "Xảy ra chuyện gì?

Ai bắt?

Các ngươi gây tai hoạ gì rồi?"

Quần áo Tạ Xung lộn xộn, cả người thương tích, cúi đầu trước Dao Anh mới bước ra khỏi phòng, áy náy nói: "Công chúa, đám Tạ Bằng không cẩn thận phạm luật của Vương Đình, bị dẫn đến chỗ Nhiếp Chính Vương."

Dao Anh biến sắc.

Phật tử Đàm Ma La Già lấy nhân đức được vạn dân kính ngưỡng, còn Nhiếp Chính Vương Tô Đan Cổ thì trấn áp lòng người bằng giết chóc, hắn tàn nhẫn vô tình, chấp chưởng quyền sinh sát, tự mình xử tử Vương công đại thần hết người này đến người khác, đại thần trong triều nghe đến tên hắn liền đau tim, nghe tin đã sợ mất mật, còn dân chúng sợ hắn như hổ sói.

Ngay cả mấy người trung thành với Đàm Ma La Già như Bát Nhã, Duyên Giác cũng rất sợ Tô Đan Cổ, thấy hắn máu lạnh giết chóc, tội nghiệt quá nặng, dù họ thường xuyên dùng Tô Đan Cổ dọa Tiết Duyên Na nhưng bình thường kiệm lời chẳng muốn nhắc đến hắn.

Trên dưới Vương Đình không ai dám đi gần Tô Đan Cổ.

Chỉ đến khi cần hù người mới nhắc đến cái tên này.

Mấy đứa Tạ Bằng rơi vào tay Tô Đan Cổ, dữ nhiều lành ít.

Năm đó chú của Tiết Duyên Na định phát động phản loạn, ép đại thần ủng hộ hắn lên ngôi, vị Nhiếp Chính Vương này đến một tên hộ vệ cũng không đem, một mình một đao giết vào triều đình Vương Đình, ngay trước mặt văn võ quần thần chém đầu chú Tiết Duyên Na, vác ra trước cửa cung, thét lớn lệnh thống lĩnh Tả quân Tiết gia đầu hàng, hung tợn ngập trời như Tu La.

Tiết Duyên Na sợ đến mềm nhũn chân tay, từ đó về sau, chỉ cần nghe cái tên Tô Đan Cổ đã túa mồ hôi lạnh ướt sũng cả người.

Tạ Bằng phạm luật Vương Đình gì mà bị bắt vào trong tay Tô Đan Cổ nhỉ?

Dao Anh ổn định tinh thần, hỏi Tạ Xung: "Rốt cuộc đám Tạ Bằng phạm vào tội gì?"

Mỗi một thân binh đều trung thành tuyệt đối trải qua long đong cùng nàng, nàng không thể đứng nhìn họ bị Tô Đan Cổ xử quyết.

Nhưng hiện đang ở Vương Đình phải nên nhập gia tùy tục, đúng là đám Tạ Bằng đã làm sai trước.

Phải hỏi rõ ràng trước thì mới có cách giải quyết.

Tạ Xung nghiến răng nghiến lợi, cả giận nói: "Gần đây trong thành rất náo nhiệt, có rất nhiều đội buôn sẵn dịp lễ vào thành bán hàng, tụi tôi nghe nói thương lái Thành Nam bán ngựa tốt nên qua tìm thử, ai ngờ nơi đó không chỉ bán ngựa..."

Hai mắt cậu đỏ rực, "Chúng còn bán người!

Bán toàn là người Hán!"

Dao Anh khẽ thầm thở dài.

Buôn bán người là một trong những mối buôn bán kiêm lợi nhiều nhất ở Tây Vực, gần như tất cả nhà buôn ở Tây Vực đều buôn bán nữ nô.

Thường ngày bán ở Trung Nguyên phần lớn là gái Hồ có khuôn mặt xinh đẹp, còn ở Tây Vực này, là tù binh bị mấy bộ lạc cướp bóc lẫn nhau trói bằng dây cỏ như súc vật, trong đó có một lượng lớn là người Hán.

Vương triều Trung Nguyên suy sụp, địa vị người Hán ở Tây Vực rớt xuống ngàn trượng, biến thành dân đen, bị ép cắt đứt mọi liên hệ với Trung Nguyên, nói tiếng Hồ, theo tục lệ người Hồ, tết tóc, mặc áo cài bên trái, mặc cho mua bán.

Tạ Xung quỳ trước mặt Dao Anh, mắt cọp rưng rưng: "Công chúa, tôi với Tạ Bằng cũng hiểu tình cảnh của chúng ta bây giờ, không muốn đụng tới, ban đầu định lặng lẽ lùi ra... nhưng có một lão giả nghe tụi tôi nói thì tự nhiên khóc xông ra..."

Lão giả tóc trắng xoá, gầy như một bộ khung xương khoác tấm da người, té nhào xuống dưới chân Tạ Bằng, ngón tay khô đét nắm chặt vạt áo cậu ấy, mở miệng, bằng tiếng phổ thông chính gốc: "Ông trời có mắt!

Ông trời có mắt mà!

Trương Tùng ta trước khi lâm chung có thể nghe được giọng quê nhà!"

Tạ Xung với Tạ Bằng đỡ lão dậy.

Lão hỏi thăm thì biết họ từ Trung Nguyên đến, sửng sốt mãi rồi đột nhiên bật khóc.

"Hoàng đế Trung Nguyên còn nhớ những người dân bọn ta này hay không?

Bọn ta khổ sở đợi chờ vương sư thu phục non sông, chờ đã mấy chục năm rồi đó!"

Hai người Tạ Xung đỏ mắt, không nói nên lời.

Lúc Chu thị tiền triều lập quốc đã từng nghĩ đến việc thu phục Tây Vực, nhưng binh lực chưa đủ, mâu thuẫn trong triều lớn, chưa đến mấy đời đã mất nước.

Hoàng đế bản triều Lý Đức và Thái tử Lý Huyền Trinh đều muốn thu phục Hà Lũng nhưng Đại Ngụy mới dựng nước một thời gian ngắn lại đứng trước loạn trong giặc ngoài, không hiểu rõ tình thế ở Tây Vực, tạm thời không dám tùy tiện phát binh.

Hai người không biết trả lời sao, lão giả cũng không nghĩ sẽ nghe được một câu khẳng định, tuyệt vọng khóc rống.

Đúng lúc này, tên buôn người Hán mới một roi đánh tới, lão giả bị đánh ngã ngửa.

Tạ Bằng không đành lòng nhìn lão giả chịu nhục mới dùng tiền mua nhưng tên buôn người lại cố ý khó dễ vì họ là người Hán nên đánh chết tươi lão giả trước mặt hai người!

Một ông lão xuất thân từ vọng tộc Hà Tây, lúc còn trẻ bị bắt cóc đến Tây Vực, làm nô lệ mấy mươi năm vẫn chưa quên giọng nói quê hương, chỉ mong đến ngày binh đoàn đánh đến, cứ thế đã bị đánh chết tươi!

Nói đến đây, hai tay Tạ Xung nắm chặt, run cả người, cố nén phẫn nộ và bi thương, nói: "Tạ Bằng muốn cứu lão giả nên đã xung đột với tên buôn người, không cẩn thận đả thương gã, binh sĩ Phường thị đã bắt đi, bảo họ phạm giới luật, theo luật chém!

Rồi bị giải đến chỗ Nhiếp Chính Vương!"

Dao Anh thở dài.

Họ quá manh động rồi.

Nàng tính toán thật nhanh, gọi mấy thân binh khác tới dặn: "Các ngươi nhanh tới khố phòng, lựa ít vải vóc tơ lụa, châu báu ngọc thạch, đưa đến nhà gã buôn người kia nói chuyện.

Hỏi thăm ở chỗ Phường thị xem có dùng tiền chịu tội thay được không."

Thân binh đáp lời, chia ra làm việc.

Dao Anh đem theo Tạ Thanh nhanh chân đi chính điện, lúc sắp đến hành lang thì dừng lại.

Đàm Ma La Già cao quý thuần khiết vậy sẽ rảnh rỗi đi giải quyết mấy việc này chăng?

Mấy hôm nay ngài bận rộn chuẩn bị biện kinh ở Pháp hội, nghe nói đã bế quan, ai cũng không gặp.

Dao Anh chần chừ một lát, quay lại viện tử, nghe ngóng chỗ thủ vệ: "Hôm nay Tướng quân A Sử Na có trực ở đây không?"

Vệ sĩ lập tức nói: "Công chúa chờ chút, tôi đi mời Tướng quân A Sử Na."

Dao Anh sửng sốt.

Một người khác giải thích: "Tướng quân A Sử Na đã dặn kỹ, nếu công chúa có đến hỏi ngài thì dù có trực hay không cũng phải lập tức thông báo."

Bóng dáng cao lớn khỏe mạnh của A Sử Na Tất Sa rất nhanh hiện ở cửa sân, nắng chiếu trên mái tóc tết bím vàng óng ánh như muốn lu mờ mấy phần.

"Công chúa tìm tôi à?"

Anh ta cười hì hì hỏi.

Dao Anh bước tới nói qua chuyện Tạ Bằng đánh người: "Thân binh của ta vi phạm luật của quý quốc, lẽ ra phải chịu phạt theo luật nhưng vì họ trung thành tuyệt đối, cùng trải qua bao trắc trở với ta nên thực sự ta không đành lòng nhìn họ bỏ mình phương xa, mới cả họ cũng chưa làm tổn thương tới tính mệnh, thực sự tội không đáng chết, không biết có cách gì cứu vãn không nhỉ?"

Tất Sa thu vẻ đùa giỡn, khẽ cau mày: "Họ được đưa qua chỗ Tô Đan Cổ à?"

Tạ Xung đứng một bên gật đầu.

Tất Sa thở dài, cười khổ nói: "Tính tình của Nhiếp Chính Vương...

E không dễ."

Tim Dao Anh siết chặt.

Tất Sa cúi nhìn nàng, thấy cặp lông mày nhẹ nhăn, mặt tái đi, đôi mắt sáng long lanh yên lặng nhìn mình, khuôn mặt thanh tú như vẽ, thấy cả người mềm nhũn ra, gãi gãi đầu, giọng cũng mềm nhũn theo: "Cũng không ảnh hưởng tính mạng hay thương tổn gì, thật ra không phải chuyện gì lớn, công chúa đi theo tôi, tôi đi xin Nhiếp Chính Vương."

Nói xong, sợ Dao Anh lo, bổ sung, "Công chúa đừng sợ, có tôi đây rồi!"

Dao Anh lặng lẽ thở phào, cảm ơn trước rồi theo ra Vương cung.

Chỗ xử quyết phạm nhân ở cửa thành, là khu vực tất cả thương nhân ra vào Thánh Thành phải đi qua, người đến người đi, ngựa xe như nước, mỗi khi Nhiếp Chính Vương xử quyết phạm nhân, dưới cửa thành chật cả người.

Hôm nay Tô Đan Cổ giám sát xử trảm một đám cướp tàn nhẫn giết chết cả một bộ lạc, bố cáo đã dán từ lâu, đường cái ngay cửa thành đã chật ních dân chúng vây xem, tiếng người ồn ã.

Dao Anh đi theo sau Tất Sa, cưỡi ngựa ra Vương cung.

Thủ vệ cửa thành nhận ra Tất Sa, trò chuyện với anh ta mấy câu rồi để họ qua cửa.

Trước cửa thành một đám phạm nhân bị trói gô ngồi xổm, bên cạnh có binh sĩ canh giữ.

Một tiếng hô lớn, ngoài cửa thành đột nhiên im ắng lại, hai binh sĩ bước tới, lôi hai kẻ cao lớn vạm vỡ trong đám tòng phạm lên thành lâu.

Bầu không khí nặng nề nghiêm trọng, sau chốc lát, lại vang lên tiếng hô từ cổng tò vò.

Hai tên cướp bị xử tử.

Tim Dao Anh đập thình thịch, nhìn quanh một vòng tìm thấy bóng Tạ Bằng trong đám người, mặt tái nhợt.

Tạ Bằng cũng nhìn thấy nàng, lập tức sắc mặt thay đổi rõ, bờ môi ngập ngừng mấy lần, đầy xấu hổ cúi đầu.

Rồi bỗng ngẩng đầu, lắc đầu với nàng.

Công chúa, đừng cứu tôi.

Dao Anh không tiến lên, ổn định lại mình rồi vội vàng đi theo Tất Sa lên cầu thang.

Mấy thân binh chặn lại lại, rung trường đao trong tay, nghiêm nghị quát: "Là ai?"

Tất Sa ngẩng đầu: "Là ta, ta muốn gặp Nhiếp Chính Vương."

Giọng thân binh lạnh lùng: "Nhiếp Chính Vương đang xử quyết phạm nhân!

Sau nửa canh giờ tướng quân hãy quay lại!"

Tất Sa cười xuề xòa, "Ngươi cứ đi thông báo một tiếng, bảo Tất Sa đến có việc rất quan trọng cần báo cáo, hẳn Nhiếp Chính Vương sẽ gặp ta."

Thân binh do dự rồi xoay người thông báo, lát sau quay lại, tránh đường, chắp tay mời.

Tất Sa vội dẫn Dao Anh lên thành lâu, chuyển qua tháp canh, một cơn gió đậm mùi tanh tưởi đánh thẳng vào mặt.

Dao Anh nghẹn thở, cố nén cơn buồn nôn tiếp tục đi.

Roạt, có thứ gì tung tóe bắn ra tưới lên khăn che mặt, quần áo, trên váy nàng, thấm ướt rồi từ từ nhỏ xuống tóc tóc.

Hơi lạnh từ sống lưng mà vọt lên, Dao Anh cứng cả người, cúi nhìn dưới chân mình.

Một cái đầu người trơ trọi lăn đến cạnh giày nàng, tóc dài rối tung, mặt mũi dữ tợn, đầu lưỡi thè ra, máu nhuốm đỏ đầy đất.

Sau yên ắng như vũng nước đọng, dưới cổng thành vỡ lên tiếng la như sấm sét, dân chúng đang vỗ tay reo hò.

Tô Đan Cổ vừa mới xử tử một tên cướp.

Tất Sa giật mình, quay lại nhìn, cả người Dao Anh dính đầy máu, mạng che mặt còn bị nhuộm đỏ, vừa điên người, vừa xót vừa áy náy, vội vươn tay đỡ nàng, vừa quay sang trách Tô Đan Cổ: "Nhiếp Chính Vương, ngài dọa Văn Chiêu công chúa rồi!"

Tay chân Dao Anh mềm oặt đi, nhờ Tất Sa đỡ từ từ bước qua.

Trước thành lâu, một người đàn ông mặc cẩm bào màu đen xách cây đao đứng đó, dáng cao ngất thon gầy, còn gầy hơn cả Tất Sa, nhưng cả người như một cây cung kéo căng, tràn đầy sức lực bàng bạc, khí thế lạnh lẽo hung hãn, hai tay thon dài, thắt lưng gấm siết eo, vẽ nên đường cong của cơ bắp, nhìn là biết thành thạo cung ngựa.

Chính là chấp chưởng đại quyền quân chính của Vương Đình Nhiếp Chính Vương Tô Đan Cổ, là ác quỷ Dạ Xoa đến từ quỷ vực Tu La giết người như ngóe trong miệng người dân.

Tay hắn xách trường đao, liếc qua Tất Sa và Dao Anh, cặp mắt thật lạnh trống rỗng, như sương mù mờ mịt sớm mùa đông, mà nắng mùa hạ chói chang chiếu cũng không thấu không tan.

Một vạt nắng cắt qua khuôn mặt hắn, chiếu sáng gương mặt, như trong truyền thuyết, xấu xí kinh khủng, sẹo bò đầy dữ tợn, nhìn không ra nét mặt thật sự.

Dạ Xoa sống.

Dao Anh không khỏi run rẩy nhẹ.

Tất Sa cảm giác được sự sợ hãi của nàng, cởi áo choàng choàng qua đầu vai nàng, nhẹ nhàng nắm chặt hai vai nàng, không biết an ủi sao, bối rối nói: "Công chúa, người đừng sợ!

Nhiếp Chính Vương chưa từng giết người vô tội, kẻ ngài giết là tên cướp tội ác chồng chất..."

Dao Anh ổn định lại, khẽ nói: "Không, là ta lỗ mãng."

Tất Sa giật mình, nhẹ thở dài, vịn Dao Anh đi đến cạnh tháp canh, "Phải trách tôi, là tôi quá sơ ý!

Không nên dẫn công chúa tới đây.

Công chúa chờ một lát, tôi đi giải thích với Nhiếp Chính Vương rõ ràng."

Dao Anh ngẩng nhìn anh ta, cảm kích nói: "Đa tạ Tướng quân."

Mặt Tất Sa ửng đỏ, cười cười, quay người, căm ghét liếc đầu người dưới chân, mấy bước nhảy đến cạnh Tô Đan Cổ.

"Nhiếp Chính Vương."

Anh chỉ vào đám người bị trói gô dưới cổng thành, "Trong đó có mấy người Hán cãi nhau với Hồ thương rồi ẩu đả, đả thương người, tội không đáng chết, nhưng Hồ thương và Công sở Phường thị cấu kết, cố ý đưa họ tới, Nhiếp Chính Vương đừng giết lầm người."

Tô Đan Cổ không để ý đến Tất Sa, tra đao vào vỏ, qua tháp canh bên kia đi xuống thành lâu, bóng lưng cứng cáp, dáng như núi cao sừng sững cạnh vực sâu.

Tất Sa vội vàng đuổi theo, la một tràng: "Nhiếp Chính Vương, họ thật không có giết người!"

Tô Đan Cổ không quay lại, nói: "Theo luật xử lý."

Giọng đè trầm thấp.

Dao Anh nghiêng tai lắng nghe, nghe xong câu này, thấp thỏm bất an cuối cùng đã ổn.

Theo luật xử lý, là chỉ cần nộp tiền phạt.

Tất Sa cũng thở phào, dẫn Dao Anh xuống, tìm tới chỗ binh sĩ giữ người giải thích rõ ràng.

Binh sĩ tìm văn thư bên Công sở Phường thị gửi đến, à một tiếng, nói: "Tướng quân không cần hoảng, dù họ có bị định tội chết thì cũng phải được Nhiếp Chính Vương xác nhận xong mới dẫn tới chỗ xử quyết ở cổng thành, hôm nay kéo họ tới là chỉ để họ mở tầm mắt."

Nói cách khác, hôm nay chỉ xử quyết mấy tên cướp, mọi vụ án có định tội chết đều phải được đích thân Tô Đan Cổ xem qua, đám Tạ Bằng tội không đáng chết, Tô Đan Cổ sẽ không vì lời một phía Công sở mà định tội chết cho họ.

Dao Anh đã hoàn toàn yên tâm, liên tục cám ơn Tất Sa.

Tất Sa thấy nàng bị máu nhuộm đỏ, áy náy vô cùng, đưa nàng về Vương cung, hòa nhã nói: "Để mấy việc còn lại cho tôi xử lý, công chúa cứ yên tâm ngồi chờ, đám Tạ Bằng vài ngày nữa sẽ nguyên vẹn trở về."

Dao Anh lắc đầu, nói: "Là mấy người Tạ Bằng xúc động lỗ mãng gây ra, ta thân là công chúa, lơ là dạy dỗ, không dám để tướng quân vất vả."

Tất Sa nghiêm mặt nói: "Công chúa không cần khách khí với tôi, công chúa tha hương nơi xa không ai chăm sóc, nếu gặp chuyện luôn có thể đến tìm tôi không cần kiêng kị, tôi chỉ buồn nếu không có cơ hội vất vả vì công chúa thôi."

Câu cuối cùng cố gắng buông giọng rất nhẹ, rất dịu dàng.

Dao Anh giật mình.

Tất Sa cười cười, "Bữa nay công chúa sợ hãi rồi, nghỉ ngơi sớm đã, mai ta lại đến chào công chúa."

Dao Anh đưa mắt nhìn bóng cao lớn của anh ta đi xa, nhớ tới chiếc áo choàng còn khoác trên người, lắc đầu, quay người về phòng.

Mấy thân binh lần lượt về chờ lệnh, họ đã đưa châu báu ngọc thạch đút lót cho Công sở phường thị, Công sở đồng ý mai sẽ rút cáo trạng, còn gã buôn người Hồ thấy tơ lụa đưa qua đã bắt chẹt thêm ít tiền, đồng ý hoà giải.

Hôm sau, quả nhiên Tất Sa đến giúp Dao Anh xử lý mấy việc còn lại, đám Tạ Bằng nhận tội thái độ rất tốt, Dao Anh đưa ra thư hoà giải, họ nhanh chóng được thả.

Tạ Thanh phạt mỗi ngày họ phải ngồi trên ngựa tập trong sân, cả đám biết chỉ một xíu nữa đã thành sai lầm lớn liên lụy Dao Anh, không dám cãi lại, thành thành thật thật nhận phạt.

Dao Anh không quở trách Tạ Bằng, sai người tìm đến Hồ thương kia mua lại toàn bộ người Hán, sắp xếp một chỗ ở ngoại thành.

Còn lão giả bị chết hôm đó, nàng cho người tìm xác bị ném ra ngoài thành của ông, xử lý hậu sự.

Tạ Bằng nghe nói, lau nước mắt, tiếp tục ngồi trên ngựa.

Xử lý xong chuyện Tạ Bằng, cuối cùng Dao Anh có thể ngủ một giấc ngon.

Đêm đấy, nàng mơ thấy mình đứng ở thành lâu, một luồng máu nóng bỏng phụt ra tung tóe đầy người nàng, máu tươi theo mép váy nhỏ tóc tóc, từng tiếng từng tiếng.

Một bóng người đứng trước mặt nàng, trong tay cầm cây đao nhuốm máu.

Dao Anh không dám cử động, bỗng người kia quay đầu, một khuôn mặt Dạ Xoa, chỉ có một đôi mắt yên tĩnh, xanh như nước hồ.

Nàng giật mình tỉnh lại, đầy mồ hôi lạnh.
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 48: Lễ hành tượng


Trước lễ hành tượng một ngày, A Sử Na Tất Sa dẫn Dao Anh qua chỗ gã buôn người Hồ để bồi thường châu báu ngọc thạch rồi quay về.

"Họ vô cớ đánh chết nô lệ cũng có phần sai, Công sở Phường thị đã tra rõ nguyên nhân nhưng chuyện Tạ Bằng đánh người bị thương thì tiền phạt cũng không trả được."

Dao Anh hơi bất ngờ, cám ơn Tất Sa.

Tất Sa nhún vai nói: "Luật Vương Đình không nghiêm khắc chi tiết như Trung Nguyên, thương nhân có thể tùy ý đánh chết nô tỳ, Vương có hạ lệnh cấm mấy lần vẫn không chặn được tội ác này, mãi đến khi Nhiếp Chính Vương giết một lượt đám quý tộc lấy ngược sát nô lệ làm thú vui thì họ mới bớt phóng túng đi chút.

Đây là ở Vương Đình, có Vương nhắc nhở, ở mấy thành bang khác, mạng người còn không bằng một con dê."

Dao Anh nhẹ thở dài.

Trong thời loạn thì dù Trung Nguyên hay ngoại vực thì mạng người cũng như cỏ rác thôi.

Ở Tây Vực, không chỉ người Hán bị sỉ nhục, giữa các bộ tộc chiếm đoạt nhau, rất nhiều bộ tộc bị bộ tộc khác ép thành nô dịch, sống không bằng heo chó.

Trung Nguyên cần một Vương triều lớn mạnh để thống nhất, Tây Vực cũng vậy.

Tất Sa vỗ vỗ tay, hai thị nữ đáp lời đi vào viện tử, trong tay nâng chiếc tráp.

"Hôm ấy là tôi suy nghĩ không chu toàn, y phục công chúa bị vấy bẩn, đây là tôi đặc biệt chuẩn bị cho người."

Tất Sa chỉ chiếc tráp, cười híp mắt nói.

Dao Anh từ chối: "Tướng quân vất vả vì ta, ta còn chưa đa tạ Tướng quân, không dám làm Tướng quân tốn kém."

Tất Sa phất tay, ngắt lời: "Nếu công chúa muốn đa tạ thì mai là lễ hành tượng, nam nữ già trẻ trong thành đều mặc đẹp tham gia bái Phật, Công chúa giúp tôi đi Phật tự dự Pháp hội nhé?

Người còn chưa từng đi dạo Thánh Thành nhỉ?

Vừa vặn cho tôi một cơ hội làm người chủ nhà tận tình vậy."

Dao Anh chần chừ ít lâu, mấy hôm nay A Sử Na Tất Sa tất tả giúp đỡ nàng, cũng nên cảm tạ, sau Pháp hội còn cùng đi Cao Xương nữa, bèn gật đầu đồng ý.

Nàng không tiện ra ngoài đi lại nhưng nếu có quý tộc Vương Đình đi cạnh như Tất Sa, hẳn gã Tiết Duyên Na không dám đến khiêu khích.

Tất Sa cười đầy rạng rỡ: "Tôi sẽ bảo sử nữ* giúp công chúa chuẩn bị y phục đẹp cho Lễ hội, công chúa thử thay đổi, nếu không vừa, bảo mấy cô ấy chỉnh lại."

*hầu gái, thị nữ

Nói xong, lại tiếp, "Đã áng theo cỡ người của công chúa mà cắt may, công chúa tuyệt đối đừng khách khí nhé, công chúa là khách của Vương cũng chính là khách của tôi."

Thấy Dao Anh cụp mắt như định tìm lý do từ chối, anh ta hất mày rậm, cố tạo vẻ nghiêm nghị cứng rắn: "Công chúa thật tình muốn thấy tôi buồn khổ à?"

Dao Anh cười cười, đa tạ xong ra hiệu thân binh tiếp nhận tráp, nhưng không về phòng ngay để thay mà hỏi một chuyện.

"Người hôm đó trên Thành lâu là Nhiếp Chính Vương Tô Đan Cổ, hầu cận của Phật tử nhỉ?"

Ánh mắt Tất Sa hơi lóe, gật đầu, lại cười nói: "Nhiếp Chính Vương đã dọa công chúa rồi nhỉ?

Công chúa không cần sợ ngài ấy, ngài thưởng phạt phân minh, hơn nữa lại rất trung thành với Vương."

Dao Anh quả thật đã bị Tô Đan Cổ dọa, mấy đêm nay toàn mơ cảnh hắn chặt đứt đầu tên cướp, bóng lưng cao lớn gầy gò thẳng tắp kia vô cùng dứt khoát, sát khí lẫm liệt, như Dạ Xoa.

Trong mộng bừng tỉnh, trong đầu nàng hiện lên một nghi vấn: sau khi Đàm Ma La Già chết bệnh, Vương Đình hủy diệt, Tô Đan Cổ thân là Nhiếp Chính Vương đi đâu?

Hắn chấp chưởng đại quyền quân chính, sao biến mất không một dấu vết?

Chả nhẽ hắn bị Vương công đại thần ám sát?

Dao Anh trăm mối không có lời giải.

Tô Đan Cổ quá thần bí, hành tung bí hiểm, rất ít khi ra mặt, khi mà khuôn mặt xấu xí dữ tợn kia xuất hiện trước đám đông cũng chính là lúc hắn đại khai sát giới.

Nàng thử thăm dò: "Nhiếp Chính Vương bao nhiêu tuổi nhỉ?"

Ngón tay Tất Sa sờ sờ cằm, nghĩ một lát rồi nói: "Nhiếp Chính Vương lớn hơn tôi với Vương mấy tuổi, hắn là sư huynh bọn tôi."

Thì ra Tô Đan Cổ là sư huynh của Đàm Ma La Già.

Dao Anh như có điều suy nghĩ, nghe xong nửa câu, kinh ngạc nói: "Tướng quân và Phật tử từng là sư huynh đệ à?

Tướng quân cũng là người theo Phật?"

A Sử Na Tất Sa là hậu duệ của Vương tộc Đột Quyết, tên anh ta Tất Sa lấy từ tiếng Túc Đặc*, nghĩa là người rực rỡ, mẹ anh ta thờ phụng Hỏa giáo, sao lại không theo Hỏa giáo giống mẹ?

*Tiếng Suguda, xuất hiện khoảng thế kỷ VI TCN, dùng 3 loại chữ viết, một là chữ Suguda, sau phát triển dùng để viết kinh Phật; hai là chữ Mani, sau thành tiếng Ba Liệt, Hồi Hột; ba là chữ Syria, cũng dùng để viết tiếng Ba Liệt, Syria, Đột Quyết.

Đều là biến thể từ chữ Aramaic, viết ngang từ phải sang trái, cũng có một số ít từ trên xuống dưới.

Tất Sa cười cười, buông lỏng tay, nhìn vẻ lãng tử: "Nhìn tôi không giống con cháu cửa Phật à?

Thật ra lúc bé tôi cũng được đưa đi học Phật pháp, con em quý tộc Vương Đình đều vậy, từ nhỏ đã đi theo trưởng bối nghiên cứu kinh thư, chỉ có những người thông minh nhất, có tuệ căn nhất mới có tư cách tiếp tục theo sư tôn tu hành, Vương là người thông minh nhất, thiên tư bất phàm, sư tôn nói, tụi tôi so với ngài chỉ là một đám dê con suốt ngày be be."

Nói đến đây, Tất Sa cười khẽ.

"Vương học gì cũng nhanh, lúc ngài nói bốn thứ tiếng thì tụi tôi mới bắt đầu học tiếng Túc Đặc thôi.

Lúc ngài nghiên cứu thảo luận Phật lý với sư tôn, bọn tôi nghe như là thiên thư."

Dao Anh nhớ đến truyền thuyết bữa giờ nghe được, "Ta nghe tiểu sa di nói, lúc Phật Tử ra đời, trên trời Thánh Thành có hiện tượng lạ, dân chúng cả thành đều thấy."

Tất Sa thoáng lặng thinh trong chớp mắt, kéo khóe miệng: "Phải, hôm đó mây ngũ sắc đầy trời, trên đầu Vương cung cứ như có ánh Phật quang bao phủ nên hình ảnh Phật, còn có cả tiếng Phật niệm kinh.

Sư tôn nói, là vì thế gian loạn lạc nên thần Phật chuyển thế đầu thai trong thân xác phàm, xuống trần lịch kiếp, cảm hóa vạn dân, phổ độ chúng sinh."

Dao Anh cười cười.

Dù lời Tất Sa là thật hay giả, dân chúng Vương Đình hẳn rất tin tưởng.

Đêm đến, Dao Anh thử đồ Tất Sa đưa tới, quả nhiên là lấy cỡ người nàng mà may cắt, rất vừa vặn, không biết Tất Sa thăm dò số đo nàng từ đâu nữa.

Đến nửa đêm, đang ngủ mơ mơ màng màng, ngoài cửa sổ có tiếng người đi lại ồn ào, nàng hoảng sợ thức dậy.

Tạ Thanh từ ngoài vào, nhỏ giọng: "Công chúa, là phía chính điện, Phật Tử dọn đi Phật Tự."

Bình thường Đàm Ma La Già ở Phật Tự, lần này không biết tại sao luôn ở lại Vương cung dưỡng bệnh, ngày mai trong chùa cử hành Pháp hội, chàng phải chuyển về.

Dao Anh nằm xuống ngủ tiếp, nghĩ thầm: hình như hòa thượng cứ luôn dọn nhà lúc nửa đêm nhỉ.

Sáng sớm hôm sau, Tất Sa mặc một bộ y phục mới lộng lẫy, thắt lưng gấm, bừng bừng phấn chấn, cầm một bó hoa tươi lớn đến, đứng trước cửa sân, tóc vàng lấp lánh.

Dao Anh đã thay trang phục nữ tử Vương Đình, tóc đen chải thành bím, quấn dây lụa rực rỡ và đá quý, một bộ cẩm bào áo cổ bẻ đoàn khoa hình cây cối và hươu nai, ống tay áo điểm vòng châu, dưới chân giày cổ cao thêu chỉ vàng, cũng học dáng vẻ người địa phương, bên hông đeo chủy thủ khảm đầy đá quý, bước xuống thềm đá, ngẩng mặt mỉm cười.

Giống như toàn bộ tia nắng chói chang từ cao cao chiếu xuống đang lồng lên người nàng.

Tất Sa trố mắt rớt miệng nhìn Dao Anh, ngẩn ngơ mãi, đến khi nàng đến trước mặt quơ quơ tay mới lấy lại tinh thần.

"Công chúa thật đẹp."

Moi ruột gan cũng không nghĩ ra nên ca ngợi thế nào, trở nên ấp úng vụng về.

Dao Anh nhẹ cong khóe môi, mạng che bịt kín gương mặt, nhìn Tất Sa bối rối trước mặt chợt nhớ tới đám thiếu niên lang ăn chơi Trường An kia suốt ngày giục ngựa chạy theo nàng.

Giờ đây nhớ lại những năm tháng ở Trường An, dường như đã qua mấy đời.

Lễ hành tượng bắt đầu từ sáng sớm, các con đường trong thành được chùi rửa, cửa thành, cửa Lâu chăng màn, trang trí khắp nơi đổi mới toàn bộ.

Tượng Phật sắc sảo được đặt trên chiếc xe hai mươi chỗ bốn bánh lớn, cao ba bốn trượng, di chuyển quanh mấy đường chính trong thành.

Mỗi vòng bốn bánh đều rất lộng lẫy, trang trí vàng bạc, ngọc lưu ly, pha lê, mưu sa lạc yết lạp bà, trân châu đỏ, a thấp ma yết lạp bà*, màn chướng rủ xuống, dù che đi theo, như một tòa cung điện cỡ nhỏ di động.

Bức tượng Phật có hoa văn trang sức vàng bạc, chuỗi ngọc rủ xuống ngực, duyên dáng xinh đẹp, tư thái trang nghiêm.

*thất bảo, phiên âm theo tiếng Phạn: kim, ngân, phệ lưu ly, pha chi già, mưu sa lạc yết lạp bà, xích chân châu, a thấp ma yết lạp bà.

Mai: tả lễ hành tượng tham khảo truyện Pháp hiển.

Dân chúng trong thành đổ xô ra, nam nữ già trẻ, tóc bạc tóc trái đào, ai cũng thay y phục mới tinh, nhảy cẫng reo hò sát đoàn xe về hướng cửa thành, miệng niệm tụng Phật hiệu.

Tất Sa đưa Dao Anh ra Vương cung, người trên đường lớn như sóng, chen vai sát cánh.

Tạ Thanh Tạ Xung chau mày, sợ bị đám người tách ra, theo thật sát bên cạnh Dao Anh.

Trên đường, A Sử Na Tất Sa giải thích mỗi một nghi thức cho Dao Anh, quan tâm chu đáo, kiên nhẫn nhiệt tình, trong đám đông thỉnh thoảng có người chào hỏi, anh ta cười đáp lại, rất có duyên.

Bị lây tâm tình của anh, Dao Anh tạm thời thả lỏng, cảm nhận lễ hội náo nhiệt của Vương Đình.

Dưới cửa thành thảm nỉ trải dài, dài trải chiên thảm, chiếc xe lớn chậm rãi đến trước cửa lâu bên dưới đài cao.

Trên đài cao đặt hương án, trang trí đầy ngọc châu tơ lụa, ánh vàng óng ánh, đám Vương công đại thần mặc hoa phục đi xuống đài, cởi mũ mềm, chân trần tiến lên đón.

Một bản nhạc réo rắt nhẹ nhàng từ phía Nam đến, đám người đang sục sôi bỗng yên ắng lại, tất cả như nín thở, tự giác lùi qua hai bên đường, ngẩng đầu chăm chú nhìn qua bên kia con phố dài, vẻ đầy cung kính, trong mắt mang cuồng nhiệt.

Dao Anh nhìn theo .

Hai nhóm nhà sư mặc Pháp y, tay cầm lư hương dẫn đường, một con voi phủ tấm che đính đầy châu báu, trang trí hoa lệ từ phía Nam chậm rãi đi tới, trên lưng voi đặt bảo tọa, có người ngồi ngay ngắn trên đó, mặt như trăng lạnh, mắt như hoa sen, một tay cầm nhánh sen, một tay nâng hoa sen, người mặc áo cà sa rộng rãi màu trắng thêu chỉ vàng, đôi mắt cụp xuống như đang thiền định, quanh người như có ánh Phật quang mờ nhạt bao phủ, thoảng như vị thần.

Đàm Ma La Già tới.

Chàng nhẹ nhàng liếc qua đám đông, thế gian vạn vật như không lưu vào đáy mắt.

Đám người đang rộn rộn ràng ràng yên tĩnh được một lát rồi vỡ ra tiếng reo hò vang tận mây xanh, tất cả ngước nhìn chàng, đầy kích động, mặt đỏ ửng, tranh nhau rải hoa về phía chàng, còn có người muốn tiến lên chạm vào góc áo chàng, bị kỵ sĩ Trung quân áo lam ngăn lại.

Tiếng nhạc uyển chuyển mượt mà, hoa tươi bay xuống như mưa.

Voi đi đến trước đài cao, hiền lành ngoan ngoãn uốn gối, Vương công đại thần tiến lên mấy bước, quỳ cạnh chân voi, Đàm Ma La Già buông chân, đạp trên tay và vai đại thần bước lên đài cao.

Tạ Thanh Tạ Hướng hơi sửng sốt, nhỏ giọng hỏi: "Công chúa, quy củ gì thế?

Vương họ giẫm lên cả vai của đại thần ạ!"

Dao Anh giải thích: "Đây là lễ thăng tọa, rất phổ biến ở Thiên Trúc và Tây Vực."

Ánh mắt nàng tập trung vào đám đại thần, đám Khang Mạc Già đứng nghiêm túc dưới đài cao, thần thái cung kính, trên mặt không chút vẻ oán giận — nhìn uy tín Đàm Ma La Già như rồng cuốn, họ nào dám ko nghiêm túc?

Một giọng nói tinh khiết nhẹ nhàng bắt đầu vang trên đài cao, Đàm Ma La Già bắt đầu tuyên giảng, dùng tiếng Hồ mà dân phổ thông đều có thể nghe hiểu.

Dao Anh nghe một lúc chỉ hiểu đại khái một điều, ngài đang giảng tích cũ, Phật thấy cuộc sống đau khổ, từ đó chán nản, tham thiền ngộ đạo.

Giọng chàng trong lạnh uyển chuyển, mang theo vần luật trong sáng ung dung, dân chúng nghe như si như say.

Nửa khắc sau đó Dao Anh hoàn toàn hết hiểu, ngẩng nhìn Đàm Ma La Già trên đài, khuôn mặt đẹp khí độ xuất trần, đã hoàn toàn nhìn không ra dấu vết của người mang bệnh nặng.

Dao Anh phát hiện hình như mình chưa từng thấy phong thái của Đàm Ma La Già khi đứng thẳng, vừa rồi ngài ấy giẫm lên vai đại thần lên đài cao, đứng thẳng người, thân hình cao gầy thẳng tắp, có vẻ cao hơn cả Tất Sa một chút.

Rốt cuộc bệnh của ngài ấy là sao thế nhỉ?

Pháp hội kéo dài một canh giờ, A Sử Na Tất Sa nghe được một nửa, đưa Dao Anh lui ra ngoài, dẫn nàng đi Phật Tự.

Phật Tự sẽ cử hành đại hội tranh biện kinh thư, sau khi Đàm Ma La Già tuyên giảng xong, đại hội liền bắt đầu.

Nhóm cao tăng đã tới trước, ngoài việc tham quan Pháp hội, những người còn lại chuẩn bị để tranh luận, giữa đình viện chật ních tăng nhân, đám thì ngồi vào bàn nhắm mắt trầm tư mặc tưởng, kẻ thì ngồi cạnh nhau tranh luận lớn tiếng.

Bầu không khí trong chùa khẩn trương mà sinh động, đám tiểu sa di trong chùa ai cũng vẻ mặt đầy mong chờ, chờ xem phong thái Đàm Ma La Già khẩu chiến với một đám sư kia.

Lúc xưa chàng nổi danh vì thắng trong đại hội tranh biện.

Dao Anh đi theo Tất Sa tìm đến chỗ ngồi, buồn bực ngán ngẩm đảo mắt một vòng.

Tất Sa cúi đầu kể vài câu chuyện vui khi tu hành lúc bé, đột nhiên một ánh mắt sắc bén quét tới.

Tim Dao Anh giật thót, đón lấy ánh mắt kia.

Trong góc đình viện, một người đàn ông mặc trường bào tay lỡ lười biếng dựa vào cạnh Phật tháp, vừa trò chuyện với vị sư bên cạnh, vừa ngước nhìn nàng, con ngươi màu vàng nhạt lóng lánh dưới ánh mặt trời đủ làm người rét lạnh.

Là Hải Đô A Lăng!

Thấy nàng nhận ra mình, Hải Đô A Lăng khẽ nhếch miệng, hất cằm, đường cong thô kệch cứng cáp.

Dao Anh không muốn chung một chỗ với y, đứng dậy rời đi.

Tất Sa ngơ ngác đứng lên, thấy thần sắc nàng rất không thích hợp bèn nhìn theo hướng nàng ban nãy, đụng phải ánh mắt của Hải Đô A Lăng.

Hai bên nhìn nhau một lúc, Hải Đô A Lăng quệt khóe môi, thu tầm mắt, nở nụ cười giễu cợt.

Tất Sa mặt đỏ bừng, cất bước đuổi theo Dao Anh, xấu hổ nói: "Văn Chiêu công chúa, Bắc Nhung cũng phái các sư đến tranh biện với Vương, có điều tôi không biết sứ giả họ phái tới là Vương tử Hải Đô A Lăng!"

"Công chúa không cần sợ, đây là Vương Đình, y không dám làm loạn!"

Dao Anh vội vàng ra khỏi Phật Tự, từ từ trấn an lại, dừng bước quay sang Tất Sa cười cười: "Ta không muốn nhìn thấy y, không thể cùng Tướng quân xem đại hội biện kinh rồi."

Tất Sa vội nói: "Vừa vặn tôi cũng không muốn xem nữa, tôi đưa công chúa về hoàng cung."

Hai người trở về Vương cung, Dao Anh căn dặn thân binh: "Mấy hôm nay không cho phép ai ra cung, người Bắc Nhung đang ở Thánh Thành."

Đám người biết nặng nhẹ, gật đầu nghe lời.

Dao Anh nhớ tới nụ cười vẻ chắc chắn phải được bên môi Hải Đô A Lăng, ăn ngủ không yên.

Nàng sẽ không rơi vào tay y lần nữa, nàng phải về được Trung Nguyên.

...

Dao Anh không biết, Trung Nguyên tám ngàn dặm ngoài kia, cũng có người nghĩ đến nàng.

Mấy tháng trước, Trường An.

Một con khoái mã xuất phát từ Bùi gia, chạy cả ngày lẫn đêm, liên tục ba ngày ba đêm, đến kinh thành, không kịp thở mấy hơi đã thẳng đến Đông cung.

Có tiếng thái giám thông báo: "Điện hạ, người phái đi Bùi gia đã về!"

Tiếng bước chân đột ngột vang lên, một người mặc lễ phục Thái tử sải bước đi ra, mắt phượng đỏ quạch.
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 49: Đại ca hối hận


Trường An.

Lý Huyền Trinh xem hết mật báo, sắc mặt âm trầm như nước.

Tần Phi và mấy bộ hạ khác từ thư phòng cùng ra, nhìn bóng lưng Lý Huyền Trinh, đưa mắt nhìn nhau, còn chưa kịp nói gì, bỗng Lý Huyền Trinh run không ngừng, ngã xuống đất.

"Điện hạ!"

Tần Phi xông lên, đỡ dậy Lý Huyền Trinh.

Lý Huyền Trinh nắm chặt tin, ho ra một ngụm máu.

Cả bọn quá sợ hãi, trước đây không lâu Bắc Nhung tập kích, Thái tử tử thủ Lương Châu, người bị thương nặng còn chưa khỏi hẳn, thổ huyết không thể coi thường!

Thái giám giật mình, co cẳng chạy, luôn miệng thúc giục hộ vệ đi mời Thái y.

Tần Phi vịn Lý Huyền Trinh về phòng, chỉ sau chốc lát có tiếng bước chân ngoài sảnh, phụ tá, binh tướng đang đợi bên ngoài rối rít tránh qua, Thái tử phi Trịnh Bích Ngọc cùng Thái y tới.

Trịnh Bích Ngọc vào trong phòng, hỏi: "Sao Điện hạ lại bị thổ huyết?

Vì luyện võ lại à?"

Tần Phi cụp mày, lùi ra ngoài bình phong đáp: "Điện hạ vừa mới xem xong tin từ Bùi gia."

Trên giường, Lý Huyền Trinh nhắm nghiền mắt, mặt như giấy vàng, trong tay còn siết chặt thư.

Trịnh Bích Ngọc ngồi trước giường, gỡ ngón tay hắn ra vội vàng xem thư, trong phút chốc trăm mối cảm xúc ngổn ngang trong lòng, nhẹ thở dài.

Văn Chiêu công chúa đã hương tiêu ngọc vẫn, tra rõ thân thế em ấy thì có ích lợi gì?

Thất công chúa thiên kiều bá mị, làm thiếu niên lang Ngũ Lăng trong kinh nhớ mong, cũng sẽ không quay về nữa.

Thái y xem qua vết thương cũ của Lý Huyền Trinh, bôi thuốc một lần, rồi kê toa mới, dặn dò: "Vết thương cũ Điện hạ chưa lành, phải thả lỏng tâm trạng, đừng để tức giận."

Trịnh Bích Ngọc nhìn Lý Huyền Trinh trong cơn mê vẫn nhíu chặt mày rậm, nhớ lại chuyện phát sinh trong mấy tháng qua, mặt nặng nề.

Bảo Lý Huyền Trinh thả lỏng, e là khó đấy!

...

Mấy tháng trước, Bắc Nhung tập kích, Lý Huyền Trinh trấn thủ Lương Châu, dẫn tướng sĩ biên quan huyết chiến mấy ngày, chờ viện binh gấp rút tiếp viện.

Tin tức truyền về Trường An, cả triều chấn kinh, chưa kịp đợi Lý Đức hạ chỉ tăng binh, Tây Bắc có Kim Thành, Tiêu Quan, Thiện Châu, Đông Bắc có Hạ Châu, Tấn Châu, phía Nam có Giang Châu, Thư Châu, và Tây Thục tiếp giáp Lãng Châu đồng thời dấy lên phong hỏa, trong mấy ngày, mấy cổng canh gác lớn cùng với Bắc Nhung, Nam Sở, Tây Thục huyết chiến mấy trận, tử thương vô số.

Cả nước chấn động.

Nghe kỵ binh Bắc Nhung xuôi Nam, Nam Sở thừa cơ tập kích quấy rối, người giàu có ở Trường An nghe tin sợ mất mật, rối rít gom vàng bạc của cải chạy về phía Nam, đại thần trong triều hoang mang lo sợ, cố gắng khuyên nhủ Lý Đức dời đô.

Đang phút giây lòng người bàng hoàng, Lý Huyền Trinh gửi một phong hịch văn đi Trường An, mãnh liệt công kích đám chuột nhắt muốn bỏ thành mà chạy, nói lúc này mà dời đô, lòng dân dao động, biến Đại Ngụy thành trò cười vạn kiếp, ngày sau sao nhất thống thiên hạ được?

Lúc này các nơi Kim Thành, Tấn Châu gửi chiến báo khẩn cấp tám trăm dặm về Trường An, dù trạm gác vội vàng ứng chiến, mất đi vài toà thành trì, nhưng tướng sĩ anh dũng, rất nhanh tập trung lui về giữ quan, dựa vào địa hình dễ thủ khó công cố thủ không ra, giằng co với quân địch, hơn nữa đã nhận được cảnh báo trước, kịp thời gửi thư cầu cứu, quân đóng gần đó đuổi tới cứu viện, nội ứng ngoại hợp cùng với quân tại chỗ, dẹp yên quân địch tập kích, chỉ chờ triều đình tiếp tục phát binh phát lương, họ có thể một trận mà đoạt lại trạm gác.

Ngay sau đó, văn lại của Kim Thành Đỗ Tư Nam ngày đêm chạy tới Giang Châu, dựa vào miệng lưỡi ba tấc không nhão của y, thành công bức lui Đại tướng Nam Sở.

Nam Sở, Tây Thục trong vòng một đêm đồng thời lui binh, không đến mấy ngày, tin đổi trữ chấn động triều đình Nam Sở, Mạnh gia Tây Thục trình quốc thư đến Đại Ngụy bảo tất cả đều là hiểu lầm, họ không có ý tiến đánh Đại Ngụy.

Lý Đức ra sức dẹp nghị luận của mọi người, giận dữ mắng mỏ đại thần đề nghị dời đô hại nước hại dân, phát binh tiếp viện mấy vùng Lương Châu, Kim Thành, bổ nhiệm Bùi Đô đốc làm Đại tổng quản hành quân, đoạt lại thành trì đã mất.

Nam Sở, Tây Thục lui binh khiến Đại Ngụy bớt một nỗi lo sau lưng, có thể tập trung binh lực chống cự uy hiếp đến từ phía Bắc.

Khí thế kỵ binh Bắc Nhung rất dữ nhưng quân số không nhiều, lương thảo không đủ, hơn nữa trong vòng nửa tháng tấn công phòng tuyến phương Bắc không nổi, không cách nào xâm nhập Trung Nguyên, ý thức được Đại Ngụy bắt đầu phát động phản công, cũng không ham chiến, sau khi đánh cướp một vùng Kim Thành quả quyết thu binh.

Đại Ngụy giữ vững.

Nhưng Hà Lũng đã hoàn toàn rơi vào tay Bắc Nhung, Bắc Hán nước láng giềng Đại Ngụy một đêm hủy diệt, Kim Thành tổn thất nặng nề, suýt nữa thất thủ, chỉ cần Bắc Nhung tập trung binh lực phát động một cuộc đột kích sớm nữa, Đại Ngụy sẽ phải không ngừng phái binh liều chết bảo vệ các cửa ải.

Cũng may hiện Bắc Nhung chưa thể tấn công toàn diện, Lý Huyền Trinh giữ vững Lương Châu, Đại Ngụy không đến mức hoàn toàn thua dưới gót sắt Bắc Nhung.

Đại Ngụy đã vượt qua nguy cơ không còn nguy hiểm.

Thời gian đó người người bất an, thời thế biến ảo, làn sóng cổ quái, đủ loại kinh tâm động phách, Trịnh Bích Ngọc một nữ tử khuê các ở sâu trong cung cũng có thể cảm nhận được.

Bây giờ nghĩ lại vẫn còn thấy sợ, lạnh run cả người.

Chỉ thiếu một chút, Đại Ngụy đã bị cuốn vào trong chiến hỏa, bốn bề là địch.

Khi Bắc Nhung lui binh, Tây Thục, Nam Sở tạm thời khôi phục quan hệ ngoại giao với Đại Ngụy, cả nước ăn mừng, triều đình bắt đầu luận công ban thưởng, Lý Đức cho gọi Đỗ Tư Nam lập đại công ở chiến dịch Kim Thành, hỏi y ai đã kịp báo tin trước khi Bắc Nhung tập kích, để y kịp thời phát hiện âm mưu Bắc Nhung, không chỉ giữ vững Kim Thành còn khuyên lui Nam Sở.

Đỗ Tư Nam không lập tức cho ra đáp án.

Mấy hôm sau, thành Trường An, phố Chu Tước, dân chúng chen chúc xô ra nghênh đón tướng sĩ khải hoàn.

Lý Đức dẫn đầu văn võ quần thần ra đón.

Một thân binh cả người bị thương đi cà nhắc cà nhắc phía trước cả đội từ phương Bắc về.

"Lương Châu giữ vững, Kim Thành giữ vững, Tiêu Quan giữ vững, Đại Ngụy bình yên vô sự, dân chúng không cần chịu trong biển lửa."

Hắn quỳ rạp dưới cửa thành, ngẩng đầu, hai mắt đỏ như máu: "Bệ hạ, mạt tướng nhận lệnh Văn Chiêu công chúa, về các cửa ải cảnh báo, may mắn không làm nhục mệnh!"

Một khắc này, cả bầu trời ở phố dài yên lặng như tờ.

Giọng cậu ấy quanh quẩn trước cửa cung rất lâu.

Đám người rộn rộn ràng ràng lặng người nhìn thân binh.

Văn võ quần thần người mặc hoa phục kinh ngạc nhìn thân binh.

Hồi lâu không ai nói chuyện, người người lặng yên, trang nghiêm như tờ.

Lý Đức run run mãi lâu, hỏi: "Văn Chiêu công chúa đâu?

Nó có công với đất nước, trẫm muốn ban thưởng."

Quần thần phụ họa theo, tiếng ca ngợi bên tai không dứt.

Thân binh nước mắt đầy mặt: "Bộ lạc Diệp Lỗ bị hủy diệt, công chúa ngài...

Ngài..."

Hắn khóc không thành tiếng, như đã trút hết toàn bộ sức lực.

Trong đám người lặng im bắt đầu có tiếng khóc bi thương, từ kiềm chế nức nở rồi òa lên khóc liên hồi.

Mấy tháng trước, cũng ở chỗ này họ đưa tiễn Thất công chúa, nhìn nàng gả đi tái ngoại, hy vọng nàng có thể cả đời bình an.

Mấy tháng sau, Thất công chúa ở xa liều chết nhắc nhở tướng sĩ giữ ải, Đại Ngụy bình yên không ngại, Thất công chúa lại hương tiêu ngọc vẫn, bỏ mình xa xứ.

Quan viên Lễ Bộ đưa Thất công chúa xuất giá, lúc cả đội ngũ qua khỏi trường thành, hỏi Thất công chúa có câu gì muốn chuyển báo cho Lý Đức.

Thất công chúa nhìn lại thành trì nguy nga xuyên núi sau lưng, cười nhạt: "Nguyện hà thanh hải yến, thương hải ba bình*."

*đại ý là thiên hạ thái bình, trời yên biển lặng

Công chúa hòa thân, chống đỡ trăm vạn binh.

Nam nữ già trẻ quỳ xuống đất dập đầu khóc.

Hôm ấy, Trịnh Bích Ngọc ở trên thành lâu của đường bên hông, nghe tiếng khóc như thủy triều từ bên này truyền tới, hốc mắt cũng không khỏi ươn ướt.

Nàng không tìm được bóng dáng Lý Huyền Trinh trong đội khải hoàn, phái người đi hỏi thăm.

Tần Phi hồi bẩm: "Điện hạ, Thái tử điện hạ... ngài đã mang theo đội phi kỵ đi Hà Lũng."

Trịnh Bích Ngọc vô cùng kinh ngạc: Hà Lũng hiện giờ là địa bàn của Bắc Nhung, Lý Huyền Trinh bị thương nặng chưa khỏi, không muốn sống nữa sao!

"Sao chàng phải đi Hà Lũng?"

Tần Phi thở dài: "Lúc Bắc Nhung tập kích, điện hạ phái một đội đến Diệp Lỗ để đón Văn Chiêu công chúa về kinh, chờ Bắc Nhung lui binh, mấy người đó về phục lệnh báo Diệp Lỗ đã hủy diệt.

Họ tìm mấy ngày không tìm được công chúa, bị một đám kỵ binh Bắc Nhung bao vây, không dám chờ lâu đành lui về Lương Châu trước."

Đội quân không đánh mà lui, Lý Huyền Trinh giận tím mặt, xử lý xong quân vụ lệnh trưởng sử ở lại thủ Lương Châu, liều mạng dù bị thương, tự mình dẫn đội phi kỵ đi Diệp Lỗ tìm người.

Lần này tìm hơn một tháng, chẳng những Lý Huyền Trinh không tìm được thứ gì, còn mấy lần bị Bắc Nhung bao vây chặn đánh, thân binh bên cạnh chết một nửa, cửu tử nhất sinh chật vật lui về Lương Châu.

Bắc Lương Châu đã hoàn toàn rơi vào tay Bắc Nhung, họ không còn cách nào khác.

Bộ hạ khổ sở khuyên bảo Lý Huyền Trinh về kinh trị thương trước, Lý Huyền Trinh quả quyết bác bỏ, khăng khăng muốn tìm Văn Chiêu công chúa về, không thể mang binh vượt qua phòng tuyến của Bắc Nhung, hắn ngụy trang thành dân du mục trà trộn!

Tướng thủ Lương Châu bản địa rùng mình: Lý Huyền Trinh đường đường là Thái tử một nước, nếu ngài ấy chết trong tay người Bắc Nhung, họ chết muôn lần cũng không chuộc được tội!

Cả đám run sợ, nghĩ trăm phương ngàn kế khuyên can Lý Huyền Trinh, chỉ có Tần Phi không mở miệng nói gì.

Hắn hiểu rõ Thái tử, bình thường Thái tử khiêm tốn nghe can, nhưng khi ngài đã điên lên thì chẳng ai khuyên được.

Năm đó Thái tử vì cứu Chu Lục Vân vụng trộm trốn ra ngoài, một mình xông trại địch, huyết chiến cả đêm.

Giờ Văn Chiêu công chúa tung tích không rõ, trừ phi tìm ra Văn Chiêu công chúa, Thái tử sẽ không hồi kinh.

Tần Phi đành để lại tất cả thân binh, quay về kinh gặp Trịnh Bích Ngọc bẩm báo.

Trịnh Bích Ngọc lòng gấp như lửa đốt, nếu sớm biết Lý Huyền Trinh sẽ nổi điên, nàng không nên gửi thư nói rõ thân thế của Thất công chúa, hẳn chàng đã đọc thư, cảm thấy thẹn với Thất công chúa, mới điên cuồng như vậy.

Nàng lập tức sai thị nữ mài mực bày giấy, chuẩn bị viết thư khuyên Lý Huyền Trinh về kinh, bỗng tùy tùng cầm về một phong thư.

Trịnh Bích Ngọc nhìn bức thư chính mình gửi đi trước đây không lâu, mãi lâu không nói gì.

Tùy tùng giải thích, bức thư không đưa được đến tay Lý Huyền Trinh, khắp Lương Châu đang chiến tranh, người mang tin trên đường xảy ra ngoài ý muốn, tin bị trả lại.

Lạch cạch một tiếng, bút trong tay Trịnh Bích Ngọc rơi xuống đất, mực đầm đìa, theo mép váy nhỏ xuống.

Lý Huyền Trinh không nhận được tin.

Chàng không biết thân thế của Thất công chúa, dù em ấy là con của Tạ Quý phi, dù mấy năm qua giờ giờ phút phút chàng bị thù hận tra tấn, chàng vẫn phải cứu Thất công chúa.

Trịnh Bích Ngọc suy nghĩ bỗng nhiên hiểu ra rất nhiều chuyện.

Hiểu ra vì sao Lý Huyền Trinh căm hận Thất công chúa khuê các như vậy, căm hận đến muốn phái người ngày đêm giám sát Thất công chúa, căm hận đến giữa đêm nằm mộng vẫn nghiến răng nghiến lợi kêu tên Thất công chúa.

Trịnh Bích Ngọc ngồi ngay ngắn trước cửa sổ, nhắm mắt, vẻ mặt như khóc như cười.

Sớm biết hôm nay, sao hôm qua còn vậy!

Chàng ngầm đồng ý Ngụy Minh gài Thất công chúa, tự tay dâng cô em yếu đuối đến giường của Khả Hãn Diệp Lỗ dã man, chàng nói chàng sẽ không hối hận...

Chàng hối hận lâu rồi!

Thảo nào Ngụy Minh luôn nhắm vào Thất công chúa, là quân sư của Lý Huyền Trinh, hẳn đã nhìn ra chuyện giữa hai người không phải tầm thường, đưa Thất công chúa gả thay không chỉ là cứu Chu Lục Vân mà cũng vì để Lý Huyền Trinh tuyệt tình hoàn toàn!

Trịnh Bích Ngọc vò nhăn tờ giấy, không viết thư khuyên Lý Huyền Trinh hồi kinh nữa.

Cùng giường chung gối mấy năm, nàng và Lý Huyền Trinh tương kính như tân, tôn trọng lẫn nhau, trên đời này không ai hiểu rõ Lý Huyền Trinh hơn nàng, nàng khuyên không được.

Trịnh Bích Ngọc bắt đầu mưu đồ cho tương lai, nàng dẫn con trai qua cung Thái Cực, dạy con cách lấy lòng Lý Đức, chẳng bao lâu, Lý Đức ban chỉ, ngài muốn đích thân dạy dỗ Hoàng thái tôn.

Địa vị Đông cung vẫn luôn vững chắc.

Một tháng sau, Lý Huyền Trinh trở về.

Vết thương chằng chịt, ngựa còn cưỡi không được, được thân binh khiêng về.

Thân binh còn đem theo tin dữ: Thất công chúa Lý Dao Anh hương tiêu ngọc vẫn, chết trong tay người Bắc Nhung, có người tận mắt nhìn thấy người Bắc Nhung giết sạch hộ vệ của công chúa, đến ngựa cũng không tha.

Lý Huyền Trinh tinh thần uể oải, cả ngày lặng thinh.

Trịnh Bích Ngọc lập tràng làm pháp sự cho Lý Dao Anh.

Người người đều biết Thất công chúa dữ nhiều lành ít, nàng ấy trước âm thầm mua hơn chục người Hồ báo tin cho mình, sau lại phái đi mười mấy thân binh, cuối cùng phần lớn là người Hồ thành công báo tin, chỉ còn một thân binh may mắn sống tiếp —— tình thế nguy hiểm đến mức đó, Diệp Lỗ một đêm diệt vong, sao Thất công chúa có thể chạy trốn nổi?

Tin Lý Dao Anh chết truyền khắp Trung Nguyên, dân chúng khóc than không ngừng, tự phát lễ truy điệu cho Lý Dao Anh, vì kỷ niệm nàng, xây miếu ở Kinh Nam, cúng nhiều hoa trái.

Lý Đức hạ chỉ truy phong Lý Dao Anh là Trấn Quốc công chúa, Tạ hoàng hậu lại được thưởng phong —— vị hoàng hậu này ở trong Ly cung vốn không biết con gái mình chết ở tái ngoại, cả việc Lý Trọng Kiền dưỡng thương ở Lạc Dương cũng bị giấu diếm.

Nhoáng cái đã qua nửa tháng, thương thế Lý Huyền Trinh ngày càng tốt, nhưng người ngày càng gầy gò.

Trịnh Bích Ngọc đưa Chu Lục Vân đến bên hắn.

Trong lúc Lý Huyền Trinh tử thủ Lương Châu, Đỗ Tư Nam và Trịnh Cảnh dựa vào tình báo từ Lý Dao Anh, đã tra hỏi từng nô bộc cạnh Chu Lục Vân chuyện cô ta cấu kết với Nam Sở, Tây Thục, Bắc Nhung.

Theo lời hộ vệ phủ công chúa, kẻ chết dưới đao Lý Huyền Trinh chỉ là một trong mấy tâm phúc mà Trưởng công chúa Nghĩa Khánh phái về Trung Nguyên, còn rất nhiều tùy tùng trung với bà rải rác ở Tây Thục Nam Sở.

Mục đính thực sự của họ chẳng phải thỉnh cầu Vương triều Trung Nguyên phát binh cứu Trưởng công chúa về, mà là lợi dụng thân phận con gái Chu thị của Trưởng công chúa châm ngòi lòng người, thu thập tình báo cho Bắc Nhung, kích động các quốc gia Trung Nguyên chinh chiến với nhau, suy yếu binh lực các nước, khi Trung Nguyên phân loạn, Bắc Nhung sẽ tiến quân thần tốc.

Lần này Bắc Nhung tập kích chỉ là thăm dò của Hải Đô A Lăng.

Lý Đức và đại thần trong triều xem hết lời khai, lòng còn sợ hãi, mồ hôi lạnh chảy ròng ròng.

Trịnh Cảnh còn thuận tay tra rõ một sự kiện đã khiến quần thần buồn bực đã lâu: vì sao Nam Sở muốn phục kích Lý Trọng Kiền?

Mật thám nói thật từ đầu: thế gia Nam Sở mọc như nấm, hoàng quyền suy yếu, các đại thế gia minh tranh ám đấu vì vị trí Trữ quân, tâm phúc của Hải Đô A Lăng thừa cơ ra tay, khuyên Đại hoàng tử ham tranh công lớn đánh lén Lý Trọng Kiền, dấy lên chiến sự với Đại Ngụy.

Đội đánh lén đó là tinh nhuệ của Nam Sở, nếu không phải Lý Dao Anh giao dịch với Lý Huyền Trinh đi cứu Lý Trọng Kiền, hẳn hắn đã chết chắc.

Đỗ Tư Nam viết một bức thư ngôn từ khẩn thiết mà không thiếu phần cay độc, báo mưu đồ của Hải Đô A Lăng cho bạn cũ ở Nam Sở, mấy vị bạn cũ ở triều đình Nam Sở nắm chức cao, sau khi xác nhận cạnh Đại hoàng tử có mật thám đã cùng nhau lật đổ Đại hoàng tử: mặc dù họ cùng Ngụy triều thế như nước với lửa, nhưng môi hở răng lạnh, nếu Bắc Nhung công chiếm Trung Nguyên, chả nhẽ Nam Sở có thể tự lo thân mình?

Đại hoàng tử và Tây Thục đều vì bảo hổ lột da!

Nam Sở rất nhanh đổi Trữ.

Trịnh Cảnh dâng sớ, đề nghị lấy tội phản quốc bắt Chu Lục Vân, đại thần trong triều kịch liệt tranh cãi, bảo Chu Lục Vân không hề biết đến kế hoạch của Hải Đô A Lăng, cuối cùng miễn tội cho cô ta, giết sạch nô bộc bên cạnh.

Chu Lục Vân thấy Lý Huyền Trinh trọng thương trở về, vừa áy náy vừa đau lòng.

Lần này Lý Huyền Trinh không giống trước kia nhẹ lời an ủi cô ta nữa, cả ngày ngơ ngơ ngác ngác, Chu Lục Vân ầm ĩ một trận, khóc nói muốn rời khỏi Trường An.

Trịnh Bích Ngọc phiền phức vô cùng, sai người đưa Chu Lục Vân về phòng.

Vài ngày sau, trong lúc vô tình Lý Huyền Trinh nhìn thấy bức thư vốn nên nằm trong tay mình cách đây mấy tháng.

Hắn run cả người, ói một miệng máu, tìm tới Trịnh Bích Ngọc, mắt phượng đỏ rực không chớp nhìn nàng chằm chằm như lệ quỷ: "Sao không báo cho ta biết sớm hơn?

Vì sao?!"

Trịnh Bích Ngọc thở dài, thản nhiên nói: "Điện hạ, lúc thiếp biết tin, chàng đã đưa Văn Chiêu công chúa đi Diệp Lỗ rồi."

Lý Huyền Trinh suýt không kiềm chế nổi cảm xúc, răng nghiến kèn kẹt, lảo đảo lùi mấy bước, ngửa mặt lên trời cười to.

"Đúng nhỉ!

Là ta tiễn muội ấy đi!"

"Tự tay ta đẩy muội ấy vào đường chết!"

"Vì sao?!

Vì sao muội ấy lại muốn cứu Lý Trọng Kiền?

Vì sao không muốn cắt đứt quan hệ với Lý Trọng Kiền?"

"Chỉ cần muội ấy cắt đứt quan hệ với mẹ con Tạ thị... chỉ cần muội gật đầu...

Ta cũng không cần hận muội..."

"Vì sao muội ấy không gọi ta Trường Sinh ca ca nữa?"

Hắn đột nhiên ngừng lại, khuôn mặt vặn vẹo: "Ta muốn báo thù cho mẹ...

Muốn báo thù cho mẹ...

Lý Đức còn chưa có chết, Tạ thị chưa chết...

Ta có lỗi với mẹ...

Ta có lỗi với mẹ!"

Trịnh Bích Ngọc nhìn người chồng phát cuồng, ánh mắt thương xót.

Chàng hủy hoại mình, cũng hủy hoại Thất công chúa.

...

Sau hôm phát cuồng, Lý Huyền Trinh tỉnh táo lại một cách lạ thường, bắt đầu điều tra lời của Vinh phi là thật hay giả.

Hắn phái người đi Kinh Nam nghe ngóng chuyện Tạ gia, nhờ Bùi Đô đốc viết phong thư, mang đến nhà Bùi gia.

Bùi gia Tạ gia cả đời không qua lại, có thể Bùi công biết chút ít ẩn tình nên lúc ấy mới không ngại ngàn dặm xa chạy đến Trường An ra mặt giúp Lý Dao Anh.

Bức thư này giờ đây nằm trong tay Trịnh Bích Ngọc.

Thư Bùi công nói, Lý Dao Anh đúng là không phải con gái Tạ Quý phi.

Năm đó Đường thị tự thiêu mà chết, Lý Đức bỏ quân chạy về quận Ngụy, lòng quân tan rã, tiền tuyến thất bại, Tạ Vô Lượng cùng với Bùi công lãnh binh đối địch, trong lúc dọn dẹp chiến trường sau trận chiến vô tình nhìn thấy một đứa trẻ bị vứt bỏ.

Đứa bé trong tã lót quá nhỏ quá yếu ớt, cuộn thành một khối nhỏ xíu, không phát ra chút âm thanh.

Binh sĩ nghĩ nó chết rồi định chôn tại chỗ, thì Tạ Vô Lượng xuống ngựa, ôm lấy, sờ mạch đứa bé, nói: "Còn sống."

Bùi công quét mắt một vòng qua đứa bé, lạnh lùng thốt: "Đứa nhỏ này cả người xanh mét, lượm về cũng chẳng sống nổi mấy hôm, không bằng để nó chết thống khoái đi, kiếp sau đầu thai vào một nhà tốt đẹp."

Tạ Vô Lượng cười cười, đầu ngón tay phủi bụi đất trên mặt con bé: "Gì cũng là một mạng người.

Lúc cháu ra đời cũng chẳng khác nó mấy, cháu đã sống được, có lẽ nó cũng có thể."

Bùi công thầm nghĩ: Vô Lượng công tử đúng là trời sinh mềm lòng, đáng tiếc, làm vậy cũng chỉ uổng công, đứa bé bị vứt bỏ này chẳng sống được mấy tháng.

Sau này, đứa bé vẫn còn sống, dù thân thể ốm yếu không thể bước đi, nhưng vẫn còn sống.

Tạ Vô Lượng từng gửi cho Bùi công một phong thư, trong thư là một bài thơ.

Trung sinh bạch phù dung, hạm đạm tam bách hành.

Bạch nhật phát quang thải, thanh tiêu tán phương hinh.

Tiết hương ngân nang phá, tả lộ ngọc bàn khuynh.

Ngã tàm trần cấu nhãn, kiến thử quỳnh dao anh.

*Trích Đóa sen trắng chùa Đông Lâm – Bạch Cư Dị.

Bùi công chỉ trả lời một câu: Đặt tên rất hay.

Trịnh Bích Ngọc buông tin xuống, thở thật dài.

Có tiếng bước chân ngoài cửa sổ, một thị nữ vội vàng đi vào nhỏ giọng nói: "Điện hạ, không thấy Phúc Khang công chúa đâu ạ."

Trịnh Bích Ngọc nhẹ chau mày, nhìn Lý Huyền Trinh đang mê man, nói: "Cho người chia ra đi tìm, mấy bữa nay cô ta lộn xộn đòi đi, ở cửa thành chờ là được."

Thị nữ vâng dạ ra ngoài, chỉ sau chốc lát, lại có thị nữ chạy vào.

Trịnh Bích Ngọc nhíu mày hỏi: "Tìm thấy Chu nương tử rồi à?"

Thị nữ lắc đầu, vẻ hoảng sợ: "Điện hạ, Nhị hoàng tử...

Không, Vệ Quốc Công đã về!"

Trịnh Bích Ngọc hơi hồi hộp trong lòng.

Lý Trọng Kiền đã biết tin Lý Dao Anh chết.
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 50: Hồi kinh


Trước cửa thành rộn rộn ràng ràng, dòng người như dệt.

Trời đang vào xuân gió ấm áp, ngựa tốt xe thơm ra ngoài thành ngắm cảnh nối đuôi không dứt, liếc nhìn lại, hồng trần cuồn cuộn, màn trướng không ngớt.

Cạnh con đường dài, đội xe buôn chờ vào thành tạo thành một đội hình uốn lượn quanh co, không nhìn thấy đuôi.

Cảnh tượng phồn hoa giàu có thái bình.

Lúc xe chở Vệ Quốc Công Lý Trọng Kiền vào hoàng thành, dân trên đường nhận ra cờ của Tạ gia, rối rít dừng xe ngựa nhường đường, dân chúng dừng chân quan sát.

Tất cả hộ vệ cưỡi ngựa mang đao trước xe ngựa đều đốt giấy để tang, người mặc tang phục, vẻ lạnh lùng.

Họ đang để tang cho Văn Chiêu công chúa.

Dân chúng châu đầu ghé tai, khẽ bàn tán: Nghe nói Vệ Quốc Công bị trọng thương, võ công bị mất sạch, sau này không còn khả năng ra đánh trận, em gái ruột duy nhất chết ở tái ngoại, thật đáng thương tiếc!

Trong tiếng xì xào, rèm xe gió thổi không lay, luôn thả thấp, vị Nhị Hoàng tử thích cưỡi tuấn mã lao vùn vụt vào thành mỗi lần khải hoàn kia như xấu hổ gặp người, trước sau không hề lộ diện.

Dân chúng đưa mắt nhìn xe ngựa đi xa, nhớ đến vị Nhị hoàng tử luôn phấn chấn rạng rỡ anh hùng, nhìn nhau, lắc đầu thở dài.

Tin tức rất nhanh truyền đến cung Thái Cực, thái giám vào thông báo.

Lý Đức nhíu mày, nói: "Để Thiên Ngưu vệ gặp nó."

Thái giám vâng dạ, truyền xuống Thiên Ngưu vệ, họ không kịp chuẩn bị, vội vàng triệu tập người, luống cuống vọt ra nội thành đón tiếp.

Một canh giờ sau, mấy trăm lính gác cửa mặc nhung trang, tả hữu Thiên Ngưu vệ, tả hữu Kiêu vệ canh giữ trước cửa phủ Vệ Quốc Công, như sẵn sàng đón địch, trong cổng ánh đao lập loè, từ phố dài đến quảng trường, khắp nơi đều có vệ binh mai phục.

Trịnh Cảnh và Tiết Ngũ vội vàng chạy tới, chờ trước thềm cửa phủ.

Thiếu niên lang đánh ngựa truy đuổi Thất công chúa ngày xưa giờ đây đã là quan đồng liêu, đều mặt quan bào màu xanh cổ tròn.

Tiết Ngũ ra vẻ khẩn trương, không ngừng lau mồ hôi.

Trịnh Cảnh liếc hắn: "Ngươi sợ gì thế?"

Tiết Ngũ đá lại: "Trịnh Tam, chả nhẽ ngươi không sợ Vệ Quốc Công à?

Năm đó là ai suýt tí bị Vệ Quốc Công dọa té ngựa?"

Nghe gã khơi lại chuyện cũ, Trịnh Cảnh giật mình.

Đúng vậy, cậu đã từng e ngại Lý Trọng Kiền —— tử đệ quý tộc ngưỡng mộ Văn Chiêu công chúa có ai không sợ Lý Trọng Kiền?

Văn Chiêu công chúa tự nhiên hào phóng, cử chỉ văn nhã, Lý Trọng Kiền là anh cùng mẹ lại bá đạo lỗ mãng, ông trời là lão đại lão nhị thì hắn lão tam, thường xuyên có cử chỉ đáng sợ, xem thường kẻ khác.

Hơn hai năm hơn phân nửa đám thế gia công tử muốn cầu thân với Văn Chiêu công chúa bị Lý Trọng Kiền đánh gần chết.

Không nói đâu xa, tỷ như Tiêu Bát Lang nhà Tể tướng, bên ngoài nuôi mấy mỹ cơ, con ba bốn đứa rồi còn dám can đảm cầu hôn Văn Chiêu công chúa, Lý Trọng Kiền đánh cho sưng mấy cục đầy đầu.

Bác Lăng trưởng tôn Thôi gia, thề son thề sắt nói mình không có thiếp không có ngoại thất càng không có con cái, lại bị tra ra rằng thích Long dương*, Lý Trọng Kiền giận dữ, ngay trước mặt Hoàng đế Lý Đức và văn võ đại thần, sương sương đánh gãy một chân Thôi Đại Lang.

*thích trai

Lúc ấy Trịnh Cảnh cũng có mặt, dư âm tiếng kêu thảm thiết của Thôi Đại Lang còn văng vẳng bên tai, ba ngày không dứt, nghĩ lại còn thấy đau giùm

Cho nên khi Trịnh Cảnh đến Vương phủ cầu thân, mẹ cậu khóc lóc, suýt quỳ xuống xin: Ai cũng biết Lý Trọng Kiền yêu thương Văn Chiêu công chúa cỡ nào, cậu vô công vô danh lại dám đi cầu cưới công chúa, không muốn sống nữa sao?

Trịnh Cảnh tốt không phô, không bao giờ làm chuyện khác người, lần đó lấy hết khí phách cầu hôn cho mình.

Cậu cho rằng mình sẽ không sợ, nhưng đến khi cặp mắt phượng kia của Lý Trọng Kiền lạnh lùng liếc qua, cậu vẫn sợ đến hồn phi phách tán, chỉ muốn tìm kẽ đất trốn vào.

Ánh mắt lạnh như băng vẫn ở sâu trong ký ức của Trịnh Cảnh, nhớ tới còn thấy lưng phát lạnh.

Khi đó, cậu thực lòng cầu hôn Văn Chiêu công chúa, ánh mắt ông anh lập tức như muốn lập tức chặt đầu cậu.

Giờ thì, Văn Chiêu công chúa chết rồi.

Cô độc chết ngàn dặm xa, trước khi chết không biết bị bao nhiêu tra tấn.

Lý Trọng Kiền đập gãy một chân Thôi Đại Lang có thể bỏ qua sao?

Quan viên trong triều đều biết đáp án: Không thể.

Cung Thái Cực lẫn Đông cung đều tăng cường cảnh giới, thân binh Vương phủ bị chia đều ra cho các nha thự, cạnh Lý Trọng Kiền giờ chỉ còn thân binh của Tạ gia, đám quan chức vẫn không yên lòng, đuổi luôn thân binh Tạ gia, chỉ cho phép Lý Trọng Kiền mang hai mươi người vào thành.

Chỉ có hai mươi người, không lật được trời.

Hơn nữa Lý Trọng Kiền đã thành người tàn phế, đến kim chùy còn cầm không được, nếu không thì Lý Đức làm sao dám để hắn hồi kinh?

Trịnh Cảnh từ từ trấn định, Tiết Ngũ vẫn không bình tĩnh nổi.

Hắn đi cà nhắc nhìn ra hướng phố dài, thấp giọng nói: "Hai ta vì mới ra làm quan, căn cơ nông cạn, mới bị đẩy ra đón Vệ Quốc Công, mấy người đó đúng là cố tình mà!

Lát Vệ Quốc Công đến, tiện tay chặt ngươi ta một đao, chả nhẽ Thánh thượng sẽ trách tội ngài?

Tụi mình là để Vệ Quốc Công trút giận đây mà!"

Trịnh Cảnh rủ mắt không nói.

Tiết Ngũ cười, châm chọc: "Trịnh Tam, ngươi chưa nghe chuyện Hạ Lan Dương phải không?"

Trịnh Cảnh lắc đầu.

Tiết Ngũ xích lại gần, hạ giọng: "Năm ngoái lúc Thánh thượng và Nam Sở đoạt Kinh Tương, từng đại bại, mưu thần Hạ Lan Dương đề nghị gả Văn Chiêu công chúa đổi lấy ủng hộ của gia tộc quyền thế Kinh Tương, Vệ Quốc Công đang đánh trận, nghe vậy giận dữ, lĩnh ba ngàn kỵ binh phá vây, giải nguy Kinh Tương, rồi xách đao xông vào đại trướng, ngay trước mặt Thánh thượng chính tay đâm Hạ Lan Dương, một đao chém, đầy trướng đều là máu."

"Từ đó về sau, không ai dám nói vào ra gì chuyện hôn sự của Văn Chiêu công chúa luôn.

Không thì, mấy đứa ranh bọn mình làm gì có cơ hội cầu hôn chứ?"

Tiết Ngũ run lên, mồ hôi lạnh chảy ròng ròng.

"Ta không hù ngươi, lần này Vệ Quốc Công hồi kinh, nhất định sẽ giết mấy người xả hận, Thánh thượng thẹn với Văn Chiêu công chúa, tuyệt đối sẽ không hỏi tội, ta từng đắc tội Vệ Quốc Công rồi, hôm nay nói không chừng thành vong hồn dưới chùy Vệ Quốc Công mất!"

Gã vừa dứt lời, có tiếng lộc cộc của xe ngựa chạy qua nền gạch phố dài, hộ vệ áo trắng vây quanh một chiếc xe ngựa từ từ chạy đến gần.

Tiết Ngũ sợ đến nhảy lên cao ba thước.

Trịnh Cảnh bước ra chào đón.

Tiết Ngũ ngây ra, thầm mắng Trịnh Cảnh không sợ chết, khẽ cắn môi, ra hiệu vệ binh mai phục chung quanh đề cao cảnh giác, cũng đi theo.

Xe ngựa chạy thẳng đến trước thềm đá mới dừng lại, Úy quan Thiên Ngưu vệ bảo thái giám bưng chiếu thư chờ một bên, tay cầm trường đao tiến lên quát: "Thánh chỉ ở đây, Vệ Quốc Công xuống xe nghe chỉ?"

Hộ vệ không nói một lời.

Úy quan chau mày, lớn tiếng lặp lại: "Thánh chỉ ở đây, sao Vệ Quốc Công còn không xuống xe nghe chỉ"

Màn xe không nhúc nhích, hộ vệ cũng không lên tiếng.

Úy quan giận dữ, bước lên vén rèm xe, thấy cảnh bên trong, ngây người vô thức lùi hai bước.

Trịnh Cảnh và Tiết Ngũ nhìn theo.

Một bóng người thon gầy yếu ớt được hộ vệ dìu xuống xe, đứng xuống đất, lắc người mấy lần, ngẩng đầu.

Trước cửa phủ lặng ngắt như tờ.

Ánh mắt Trịnh Cảnh lộ vẻ kinh ngạc, Tiết Ngũ phản ứng càng mãnh liệt hơn, như rớt luôn tròng mắt ra ngoài.

Lý Trọng Kiền dũng mãnh thiện chiến, cao lớn to con xưa kia, không chỉ gầy như một cây sậy, đứng còn không vững, đến ánh mắt sắc bén cũng không thấy, cả người uể oải suy sụp, dáng vẻ nặng nề.

Như bị rút hết tinh khí chỉ còn lại một cái xác không hồn.

Cả đám kinh ngạc mãi, trong phút chốc không biết nên nói gì.

Nghe nói Vệ Quốc Công trúng kỳ độc, thành một người tàn phế, thì ra là thật!

Sau một lúc lâu, Thiên Ngưu vệ thu trường đao.

Tiết Ngũ từ trong khiếp sợ tỉnh táo lại, lặng lẽ thở hắt: Vệ Quốc Công bây giờ đừng nói giết người cho hả giận, đi đứng còn phải có người đỡ, giết người thế nào được?

Gã tiến lên một bước, thấp giọng nói: "Vệ Quốc Công, Thánh thượng có chỉ."

Lý Trọng Kiền nhướng mày, hững hờ quét qua.

"Cút."

Giọng không có chút lực.

Tiết Ngũ chần chừ một lát, không biết nên nói gì, Lý Trọng Kiền đi ngang qua gã, bước rất lớn, chưa được mấy bước đã thở hồng hộc, thân binh vội vàng dừng lại, hắn gầm nhẹ, thân binh không dám lên tiếng, đỡ hắn bước lên thềm đá.

Thiên Ngưu vệ nhìn chằm chằm bóng lưng Lý Trọng Kiền run run rẩy rẩy đi xa, cất cao giọng: "Vệ Quốc Công, ngài muốn kháng chỉ à?"

Thái giám bưng lấy chiếu thư ra trước.

Lý Trọng Kiền dừng bước, nhìn thân binh bên cạnh.

Thân binh hiểu ý, quay người chạy xuống bậc cấp, rút đao chém cái tráp trong tay thái giám.

Rắc rắc hai tiếng nổ mạnh, tráp vỡ thành hai nửa, rơi xuống đất, chiếu thư trong hộp cũng bị chém rách.

Thái giám hồn vía lên mây, thét lên chói tai rồi lùi lại.

Thiên Ngưu vệ giận dữ: "Vệ Quốc Công, ngươi dám bất kính đối với Thánh thượng à!"

Lý Trọng Kiền không thèm để ý, cũng không quay lại, đi vào cửa phủ.

Cạch, cửa từ bên trong khép lại.

Đám người nhìn nhau.

Trịnh Cảnh và Tiết Ngũ ngó xong, về cung chờ lệnh.

Mặc dù Vệ Quốc Công đại nghịch bất đạo, cự tuyệt tiếp chỉ, nhưng không làm bị thương ai, đã là vạn hạnh.

Tiết Ngũ nói thay cho Lý Trọng Kiền vài câu tốt đẹp.

Thượng quan nhíu mày hỏi: "Vệ Quốc Công thành phế nhân thật à?"

Hai người gật đầu: "Không sai, bọn tôi tận mắt nhìn thấy."

Tiết Ngũ chậc chậc vài tiếng, thở dài: "Ngài không thấy đó thôi, Vệ Quốc Công đã gầy như cây sậy!

Gió thổi là ngã, đi mấy bước đã thở như kéo bễ rồi."

Cùng với Thái tử Lý Huyền Trinh nổi danh chiến tướng, cứ thế thành người bỏ đi

Thượng quan gật đầu, vào điện bẩm báo Lý Đức.

Hôm sau, Đông cung.

Thị nữ vào bẩm báo cho Trịnh Bích Ngọc tin tức nghe được: "Tối qua Thánh thượng phái Thái y đi phủ Quốc công bắt mạch cho Vệ Quốc Công, mấy Thái y đều nói Vệ Quốc Công mất đi võ nghệ, cầm đũa còn run.

Thánh thượng hạ chỉ ngợi khen Vệ Quốc Công, Vệ Quốc Công cự tuyệt không nghe chỉ, hộ vệ ngài đả thương mấy thái giám, mấy tướng công Chính sự đường đến vấn an cũng bị hộ vệ đuổi đi.

Giờ chẳng còn ai dám tới phủ Quốc công nữa."

Trịnh Bích Ngọc thở phào.

Nếu Lý Trọng Kiền không bị tổn thương, chắc chắn sẽ đại náo Trường An, như bây giờ, thật ra với ai cũng tốt.

Ngụy Minh không yên lòng, tiếp tục cho người tìm hiểu.

Thám tử về nói chỉ cần có người trong cung đến là Lý Trọng Kiền đã nổi trận lôi đình, thị nữ nhiều lần nhìn thấy hắn muốn vác kim chùy đánh người, chưa nâng nổi đã ngã xuống đất.

Đám thuộc hạ trong Đông cung thầm thấy may mắn: cuối cùng Vị Sát Thần này về sau sẽ không còn uy hiếp được địa vị Thái tử.

Ngụy Minh báo tin vui cho Lý Huyền Trinh.

Vết thương Lý Huyền Trinh còn chưa tốt, nghiêng người dựa vào bằng ỷ, mặt không cảm xúc ừ một tiếng, bảo Ngụy Minh qua dạy Hoàng thái tôn đọc sách.

Ngụy Minh ngẩn người, cười khổ bái lễ với Lý Huyền Trinh lui ra.

Đám người không hiểu ra sao: Thái tử sao vậy?

Sao đuổi Ngụy trưởng sử ngài coi trọng nhất?

Có người cầu gặp Trịnh Bích Ngọc, xin nàng cứu vãn cho Ngụy Minh.

Trịnh Bích Ngọc nghiêm nghị cự tuyệt, nói mình là phụ nữ trong nhà, không tiện can thiệp việc Đông cung.

Họ đành phải an ủi Ngụy Minh: Chờ tử khí tiêu tan, chắc chắn sẽ triệu gã về!

Ngụy Minh có phần nhụt chí, trước khi đi dặn dò đám người: "Nếu có biến cố chuyện Văn Chiêu công chúa, phải báo tin cho ta!"

Cả đám ngoài miệng đồng ý lia lịa, lòng thầm lơ đễnh.

Văn Chiêu công chúa đã chết, còn biến cố gì?

Giờ đang phải rầu chuyện khác đây: Chu Lục Vân lén chạy mất, tung tích không rõ, tìm khắp vẫn không thấy đâu.

Cũng may Lý Huyền Trinh ngài trọng thương chưa lành, tinh thần hoảng loạn, chưa hỏi tới Chu Lục Vân ấy.

Lý Trọng Kiền hồi kinh khiến văn võ cả triều nơm nớp lo sợ, nhưng hiện tại hắn đã phế đi võ công, cũng không gây sóng to gió lớn, đám người yên lòng.

Hôm sau, đại yến trong cung mừng tướng sĩ khải hoàn.

Yến hội diễn ra ở điện Lân Đức, ca múa vang trời, đèn nến rực rỡ.

Lý Huyền Trinh đã lâu không xuất hiện cũng có mặt ở yến hội, sắc mặt tái nhợt u ám.

Quan viên cầm chén rượu đến bắt chuyện, hắn phản ứng hờ hững, không bình dị gần gũi như ngày thường, làm họ ngượng ngùng lui xuống.

Trịnh Cảnh ngồi ở một chiếu hẻo lánh, nhìn Lý Huyền Trinh mấy lần, như có điều suy nghĩ, đứng dậy bước qua.

"Điện hạ."

Trịnh Cảnh nâng chén, nhìn quanh một vòng, "Tôi nhớ đêm Văn Chiêu công chúa mời cưới, cũng yến hội thế này, nàng ăn mặc trang trọng, xinh đẹp vô cùng, sứ thần các nước đều hỏi thăm nàng là vị công chúa nào."

Lý Huyền Trinh nhắm mắt, cúi đầu rót cho mình chén rượu.

Trịnh Cảnh không chút ý vị cười cười, quay người mời lại.

Văn võ triều thần ngồi đầy tiệc uống đã ngà say, Lý Đức đứng dậy, móng tay chấm rượu, gảy mấy lần ra không trung, đang muốn mở miệng động viên tướng sĩ, bỗng ngoài cửa điện có tiếng động lớn.

Tiếng nhạc im bặt.

Bầu không khí thoáng chốc trở nên nặng nề.

Cả đám ngây người không biết chuyện gì, nhìn ra nơi có tiếng động.

Dưới ánh nến chập chờn, một bóng người cao gầy chậm rãi bước lên thềm, từng bước đi đến trong đại điện.

Là võ nghệ bị phế sạch Lý Trọng Kiền.

Hắn một người trường bào trắng, gầy giơ xương, đứng trong điện, mắt phượng dài hẹp âm u liếc nhìn một vòng.

Cả đám không khỏi rùng mình, trong lòng đánh trống, ánh mắt rơi xuống lưng hắn, thấy cả người áo trắng không đeo đao kiếm, cũng không thấy đôi kim chùy nghe tới đã sợ mất mật, lặng lẽ thở ra một hơi.

Một Lý Trọng Kiền đã tàn phế, không đáng để lo.
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 51: Rời kinh


Nước đọng yên lặng.

Ánh nến cả phòng chao đảo.

Lý Trọng Kiền đón ánh mắt dò xét của từng người, từng bước một tiến lên, bước đi hơi chao đảo.

Kim Ngô Vệ chần chừ không biết có nên bước tới ngăn hắn, rối rít nhìn Lý Đức ở bàn chủ yến.

Lý Đức uống ngà say, khuôn mặt hơi đỏ, đặt chén rượu xuống, nheo mắt nhìn Lý Trọng Kiền sắc mặt trắng bệch, không lên tiếng.

Kim Ngô Vệ liếc nhau, ở nguyên tại chỗ, tay nắm chặt chuôi đao, cảnh giác nhìn Lý Trọng Kiền chằm chằm.

Văn võ đại thần nhìn nhau.

Trịnh Tể tướng trầm ngâm chốc lát, thở dài, đứng dậy rời bàn, xách bình rượu bạc mạ vàng đón Lý Trọng Kiền.

Trên mặt nở nụ cười, rót chén rượu đưa cho Lý Trọng Kiền, hạ giọng nói: "Văn Chiêu công chúa có công với đất nước, đáng tiếc trời ghen tỵ hồng nhan, chén rượu này của người, hẳn phải nên để anh trai người uống.

Trọng Kiền, trước khi Văn Chiêu công chúa xuất các, không yên tâm nhất chính là ngài."

Câu cuối đầy ý nhị, giọng rất thực lòng.

Văn Chiêu công chúa đã chết, nàng dùng một cuộc hôn nhân đổi lấy an ổn cho mẹ và anh trai.

Nếu Lý Trọng Kiền si ngốc thì chẳng phải công chúa hy sinh một cách vô ích sao?

Lý Trọng Kiền lại không hề cảm kích, nâng tầm mắt, mắt phượng sắc lạnh liếc Trịnh Tể tướng như đang nhìn một người chết.

Trịnh Tể tướng không khỏi dựng tóc gáy.

Lý Trọng Kiền trực tiếp vượt qua ông, lảo đảo đi đến chỗ Lý Huyền Trinh ngồi.

Lý Huyền Trinh ngẩng lên đối mặt với hắn, không nhúc nhích.

Hai anh em đều có một đôi mắt phượng, bốn mắt đụng nhau, một bên chết lặng, một bên u ám.

Thuộc thần của Đông cung nhảy dựng, ngăn Lý Trọng Kiền: "Vệ Quốc Công, chỗ ngài không phải ở đây."

Lý Huyền Trinh khoát tay ra hiệu họ lui ra.

Cả đám nhíu mày nhìn nhau.

Sắc mặt Lý Huyền Trinh lạnh xuống, lạnh lùng nói: "Lui ra!"

Thuộc thần đành phải lui ra.

Da mặt Lý Trọng Kiền giật giật, một chưởng đánh về Lý Huyền Trinh.

Vừa nghe, Kim Ngô Vệ bay ra.

Bốp bịch, nắm đấm Lý Trọng Kiền sượt qua Lý Huyền Trinh, không thu được thế, ngã xuống chiếu nỉ.

Kim Ngô Vệ đứng chết trân tại chỗ, đám người kinh ngạc đứng lên, nhìn Lý Trọng Kiền giãy dụa bò dậy, lắc đầu thở dài, ánh mắt thương tiếc và đồng tình.

Vừa rồi họ đều nhìn thấy, Lý Huyền Trinh không hề tránh, khoảng cách gần như vậy, Lý Trọng Kiền không làm Lý Huyền Trinh bị thương mà còn tự ngã, xem ra Lý Trọng Kiền hỏng thật rồi —— hắn là Lý Trọng Kiền sắc sảo tài năng, công thành đoạt đất chưa từng lùi bước đó!

Thuộc thần Đông cung lại bước ra.

Lý Huyền Trinh liếc mắt cảnh cáo.

Hai tay nắm chặt, họ cắn răng lui ra.

Lý Trọng Kiền giãy giụa đứng dậy, nhào về phía Lý Huyền Trinh lần nữa, một quyền đánh tới.

Cú đánh không bao nhiêu lực, Lý Huyền Trinh vẫn không né tránh, bị đụng nhẹ vào đầu.

Lý Trọng Kiền tiếp tục vung nắm đấm, hắn vẫn không nhúc nhích, nắm đấm như mưa rơi xuống người.

Lý Đức vẫn để ý đến động tĩnh hai anh em, thấy thế, nhíu mày nhẹ, ra hiệu Kim Ngô Vệ can ra.

Kim Ngô Vệ đẩy ra hai bên, Lý Trọng Kiền võ công mất hết, bị trực tiếp kéo đến chỗ ngồi, mặt Lý Huyền Trinh một chút dấu vết xanh tím còn không có.

Cả đám thở dài: Lý Trọng Kiền thật tự rước lấy nhục.

"Thánh thượng!"

đột nhiên Lý Trọng Kiền bị kéo vào ghế lên tiếng hô to, "Năm đó hai nhà Tạ Lý kết minh, ngài đã đồng ý với Cậu tôi chuyện gì?"

Cả điện yên tĩnh.

Văn võ đại thần thầm kêu khổ, muốn cáo lui ra nhưng không dám lên tiếng, chỉ cúi đầu giả như không nghe thấy Lý Trọng Kiền vặn hỏi.

Lý Đức đứng lên, trầm mặt.

Lý Trọng Kiền cười lạnh, giọng khàn khàn bén nhọn: "Lúc Thánh thượng cưới Mẹ tôi, Đường hoàng hậu bước vào hỉ đường, Cậu muốn đưa Mẹ đi, lúc ấy, Thánh thượng nói với Mẹ câu gì?"

Một câu hỏi ra, đại thần trong điện vùi đầu càng thấp hơn.

Chỉ có Lý Huyền Trinh ngẩng lên.

Lý Trọng Kiền nhìn Lý Huyền Trinh, bên môi cười châm chọc: "Thánh thượng ngay trước mặt Đường hoàng hậu nhìn Mẹ nói tám chữ: Minh ước đã thành, vĩnh không tướng phụ."

Tám chữ đó, khiến Tạ Mãn Nguyện nghĩ Lý Đức có tình với bà.

Con ngươi Lý Huyền Trinh bỗng co rút, đứng dậy, đi đến trước mặt Lý Trọng Kiền: "Ngươi lặp lại lần nữa."

Kim Ngô Vệ sợ khí thế của hắn, buông Lý Trọng Kiền ra.

Lý Trọng Kiền ngã nhào trên đất, cười lạnh mấy tiếng, đón ánh mắt Lý Huyền Trinh, từng chữ nói: "Minh ước đã thành, vĩnh không tướng phụ."

Hai tay Lý Huyền Trinh cứng lại, đầu lông mày tức giận cuồn cuộn, quay nhìn Lý Đức, ánh mắt như đao, nhấc chân định bước đến.

Thuộc thần lập tức níu cánh tay Lý Huyền Trinh, không cho hắn nổi giận.

Lý Đức lạnh lùng nhìn Lý Trọng Kiền, không nói gì, tóc mai hoa râm dưới ánh nến lóe lên mấy tia lạnh buốt, đưa tay ra hiệu.

Đại thần trong điện đang chỉ mong có thế, nhanh chóng đứng dậy, hốt hoảng lui ra.

Lý Huyền Trinh muốn phóng tới nội điện, thuộc thần không dám buông tay, mấy người hợp lực cản lại, khuyên hắn bình tâm rồi kéo hắn rời đi.

Kim Ngô Vệ rút đao ngăn trước mặt Lý Đức, đề phòng Lý Huyền Trinh, mấy Kim Ngô Vệ khác bước tới, nắm lấy Lý Trọng Kiền kéo đến dưới chân Lý Đức.

Lý Đức nhìn xuống Lý Trọng Kiền, bình tĩnh nói: "Văn Chiêu đã chết, ngươi sau này còn phải thừa kế hương khói Tạ gia, đừng để em gái ngươi chết vô ích."

Giọng vẫn lý trí mà ung dung, không hề gợn sóng.

Lý Trọng Kiền tê liệt té xuống đất, nghe vậy, ngẩng đầu, búi tóc ban nãy giãy dụa tóc đã rối loạn, khuôn mặt vặn vẹo.

Trịnh Tể tướng đang cùng những người khác rời khỏi nội điện, xuyên qua ánh nến nhìn thấy Lý Trọng Kiện bị đè vai quỳ xuống đất, chợt nhớ tới ánh mắt lạnh âm u của hắn vừa rồi, trong lòng mãnh liệt run sợ, dừng bước hô to: "Thánh thượng —— "

Một tiếng nhắc nhở vẫn bị chậm.

Biến cố phát sinh.

Lý Trọng Kiền đang nằm trên đất bỗng nhiên bật dậy, lao thẳng về phía Lý Đức, người nhanh như chớp, mang theo thế hùng hồn như sóng thần, nào có vẻ giống như võ công mất sạch?

Tất cả đều nghĩ hắn mất hết võ công, tất cả đều đề phòng Lý Huyền Trinh, trong phút chốc mất cảnh giác, không phòng bị.

Lý Huyền Trinh cách quá xa, lại bị thuộc thần cản trở không thể động đậy.

Mấy văn võ đại thần khác không dám xen vào việc trong nhà của Hoàng đế, kẻ thông minh đã sớm bôi dầu lòng bàn chân chạy mất dép.

Trong nội điện, ngoại trừ cha con mấy người, chỉ còn lại Kim Ngô Vệ và tùy tùng.

Lý Đức thấy cổ tay bị siết chặt, cả người bị một sức lớn kéo lảo đảo mấy lần, một cánh tay lạnh băng giữ cổ họng ông.

Ngay phút sấm to chớp giật, hậu vệ cách gần nhất kịp phản ứng, giơ đao chém xuống, rất hung mãnh.

Lý Trọng Kiền không hề bối rối, đẩy Lý Đức ra đón, ngang nhiên tiếp mấy đao, da tróc thịt bong, máu tươi bắn ra.

Hắn như hoàn toàn không thấy đau đớn, đón gió đao mưa kiếm, toàn thân đẫm máu, hai tay tiếp tục giữ cổ họng Lý Đức.

Cận vệ không dám ra tay mạnh, trong lúc bối rối, suýt chém phải cánh tay của Lý Đức, lật đật co lại, thấy điệu bộ Lý Trọng Kiền như vậy, sợ hãi trong lòng, giảm bớt thế công, toàn bộ dừng tay.

Nội điện ngoại điện rất vắng vẻ.

Đám người đứng chết trân tại chỗ, lạnh khắp người.

Chẳng ai ngờ Lý Trọng Kiền một mình đến điện Lân Đức, là muốn hành thích!

Dù ngài đã được phong làm con thừa tự của họ ngoại thì vẫn là con ruột của Lý Đức!

Chả nhẽ muốn giết cha?

Trong điện là Kim Ngô Vệ võ công cao cường, ngoài điện là cận vệ lớp lớp trấn giữ, ngài chỉ một mình, mọc cánh khó thoát, sao dám coi trời bằng vung, giết cha hành thích vua?!

Mọi người kinh hãi không thôi.

Lý Trọng Kiền siết ngón tay, vẻ mặt Lý Đức đầy đau đớn.

Lý Trọng Kiền nhìn tên Kim Ngô Vệ đến gần, mắt đỏ như chảy ra máu: "Sao hả, các ngươi muốn nhìn máu thánh nhân văng tại chỗ à?"

Cả đám chưa từng thấy bộ dáng Lý Trọng Kiền điên cuồng như thế, tê rần da đầu, một cử động nhỏ cũng không dám.

"Trọng Kiền!"

"Vệ Quốc Công!"

"Tần Vương!"

"Nhị Lang!"

Đám đại thần đang định rời nội điện rất hoảng sợ, chạy vội vào, điên cuồng la lớn, "Đừng xúc động!

Ngài mau thả thánh nhân!

Là cha ruột ngài đó!"

Lý Trọng Kiền cười lạnh: "Cha ruột?

Ông ta không xứng!"

Cả đám lòng như lửa đốt, nhìn Thái tử Lý Huyền Trinh.

Lý Huyền Trinh đứng một bên, trên mặt đã không còn phẫn nộ cũng không bối rối, chỉ một vẻ hờ hững.

Cả đám bị choáng, quay lại chằm chằm nhìn Lý Trọng Kiền, có trực tiếp chửi ầm, có nhẹ lời khuyên bảo.

Lý Trọng Kiền như chẳng thèm nghe thấy.

"Vệ Quốc Công!"

Một giọng trẻ tuổi vọng đến, Trịnh Cảnh hốt hoảng chạy tới nội điện, "Vệ Quốc Công, ngài hãy nghĩ tới Tạ Hoàng hậu!

Hoàng hậu điện hạ chỉ có đứa con trai ngài để dựa!

Ngài muốn Văn Chiêu công chúa dưới cửu tuyền không yên lòng à?"

Lý Trọng Kiền cười lạnh: "Tổ chim bị phá không còn trứng lành, vô tri vô giác mà sống không bằng chết cho rõ ràng."

Mặt Trịnh Cảnh không còn giọt máu.

Tiếng bước chân hỗn loạn, cung thủ từ bốn phương tám hướng tràn vào nội điện, chen đầy ngõ ngách, vô số mũi tên chĩa thẳng vào Lý Trọng Kiền.

Lý Trọng Kiền bóp chặt họng Lý Đức: "Cậu từng dạy tôi, trung thành với quân vương, không thể không chú ý đại cục, không thể quá so đo được mất, có lợi ở thiên hạ ắt có mưu đồ...

Tôi cố gắng làm theo, không tranh không đoạt, ra trận giết địch, mở rộng bờ cõi cho Đại Ngụy, tôi chỉ mong chăm sóc mẹ và em thật tốt, nhưng ngài vẫn cứ dung túng Lý Huyền Trinh dồn ép tôi."

Lý Trọng Kiền liếc mắt, "Phụ phụ tử tử, Quân quân thần thần, xương thịt thân này vốn là ngài ban cho, ngài muốn giết thì giết, tôi không còn muốn sống từ lâu rồi...

Nhưng vì sao các người lại động vào Minh Nguyệt Nô?

Vì cái gì chứ?

Nó làm sai chỗ nào?!

Lúc nó bị đưa đi, mới mười bốn tuổi thôi!"

"Mười bốn tuổi!

Từ nhỏ nó đã không thể dứt uống thuốc, tôi không nỡ để nó khổ một chút, chỉ muốn nó gả cho một tấm chồng tốt, sau này cắt đứt quan hệ với tôi, không bị tôi liên lụy...

Tôi chỉ muốn nó bình an vui vẻ...

Mà ông ngay cả nó cũng không buông tha!

Ngay cả nó cũng không buông tha!"

Không ai trả lời.

Trịnh Cảnh nhìn Lý Trọng Kiền con mắt đỏ ngầu, ý lạnh từ lòng bàn chân chạy lên, ngã ngồi trên đất, trợn mắt: "Ngài điên rồi!

Ngài điên rồi!

Lý Trọng Kiền, ngài điên rồi!"

Lúc nhìn Lý Trọng Kiền xuống xe ngựa, cậu nghi đối phương cố ý yếu ớt giấu mình.

Cậu không vạch trần, lúc bẩm báo lên còn dặm mắm thêm muối tăng thêm bệnh tình, nhưng muôn lần không ngờ mục đích của Lý Trọng Kiền không phải muốn ẩn dật, hắn chỉ muốn một phát liều chết, hắn đã hoàn toàn đánh mất lý trí, mặc kệ tất cả!

"Nhị Lang, ngài điên thật rồi!"

Lý Trọng Kiền câu khóe môi, liếc mắt phượng rất quỷ mị: "Phải, ta điên rồi."

Từ giây phút cả nhà Tạ gia cả nhà hủy diệt hắn đã điên rồi, trong lòng cha hắn chỉ có một đứa con trai là Lý Huyền Trinh, Cậu chết, Mẹ điên, không nhận hắn, trong vòng một đêm hắn mất đi tất cả, quỳ gối trước linh đường, không ăn không uống.

Cậu hắn là anh hùng, anh hùng luôn bị bỏ rơi lãng quên, lòng hắn mù mịt, không biết đi đâu.

Cả ngày Dao Anh ba tuổi quấn lấy hắn, cùng hắn túc trực bên linh sàng Tạ Vô Lượng.

Khi đó em ấy còn chưa bước đi được, mỗi ngày ỷ lại cạnh hắn, muốn hắn ôm, nho nhỏ mũm mĩm, cuộn trong ngực hắn, móc một miếng bánh Hồ nướng đút tới môi hắn: "Anh, ăn."

Lý Trọng Kiền cúi nhìn đứa em gái trong lòng và bánh nó giơ trong tay, rơi nước mắt, rưng rưng ăn hết miếng bánh.

Dao Anh gọi thần trí hắn về, cho hắn lý do sống tiếp, anh em nương tựa nhau, mới không thành kẻ điên.

Còn giờ, Tiểu Thất của hắn không còn.

Vì hóa giải nguy cơ cứu hắn mà phải bắt buộc giao dịch với Lý Huyền Trinh.

Lá gan Tiểu Thất rất nhỏ, lười biếng yếu đuối, thích làm nũng hắn, lúc hắn hôn mê, mình em ấy lo liệu gánh vác hết cả, gả đi Diệp Lỗ cho lão tù trưởng sáu mươi tuổi, chết trong tay người Bắc Nhung...

Ngày trưởng sử khóc báo lại cho hắn, tựa như cầm một thanh đao rỉ sét từng chút từng chút khoét thịt hắn.

Lý Trọng Kiền đau.

Tim gan bị móc đi, khắp người trên dưới, từ da thịt đến tim phổi, cả người đều rất đau.

Dao Anh có sợ không?

Mảnh mai thế kia, rời xa Trung Nguyên...

Hắn vốn không có dũng khí tưởng tượng em đã khổ chừng nào!

Lý Trọng Kiền đã từng nghĩ, nếu mình chết, mẹ và Dao Anh sẽ an toàn.

Nhưng hắn có Tiểu Thất làm bạn, không nỡ chết!

Hắn muốn chăm sóc em thật tốt, xem em lớn lên, đưa em xuất giá, Tiểu Thất của hắn đáng giá những thứ tốt nhất trên đời.

Tiểu Thất không còn.

Không còn ai ngăn được hắn nổi điên.

Đáy mắt Lý Trọng Kiền ngày càng đỏ.

Trịnh Cảnh khàn giọng hét: "Vệ Quốc Công!

Ngài kế thừa họ Tạ gia!

Hôm nay nếu người lỡ tay, chắc chắn sẽ gây hận thiên cổ!

Thanh danh trăm năm của Tạ gia hôm nay hủy trong tay ngài!

Ngài đặt Đại Ngụy ở đâu!

Đặt dân chúng thiên hạ ở đâu?"

Lý Trọng Kiền cười châm chọc.

"Dân chúng?

Giang sơn?

Liên can gì đến ta?"

Hắn đứng trong vòng vây không một kẽ hở, mặt không cảm xúc.

"Tiểu Thất của ta mất rồi, ta chẳng cần để ý gì nữa hết."

Hắn không phải Cậu, cũng không phải Dao Anh, hắn không muốn quan tâm chết sống của người khác, chỉ muốn chăm sóc em hắn thôi.

Lý Trọng Kiền cười lạnh, trên tay dùng sức.

"Coi như toàn bộ Đại Ngụy chôn cùng Minh Nguyệt Nô đi, thì sao chứ?"

Trịnh Tể tướng nghe xong, biết Lý Trọng Kiền đã hoàn toàn điên, ra hiệu với Kim Ngô Vệ, chậm rãi nhắm mắt, vẻ xót xa.

Cung thủ giương cung, chờ vạn tên cùng bắn, Kim Ngô Vệ nhìn thấy Lý Trọng Kiền không có vũ khí trong người, tìm đúng thời cơ, cùng tiến lên.

Tiếng kêu la quát tháo loạn xị.

Cung thủ sợ ngộ thương người, vội vàng lùi ra sau.

Trịnh Tể tướng nhào đến Lý Đức, thấy ông bị ghìm đến hai mắt trắng dã ngất đi, không biết sống chết, run cả người.

Hoàng Thái tử hồn vía lửng lơ, Vệ Quốc Công ngang nhiên giết cha, nếu lúc này Thánh thượng băng hà, chắc chắn Đại Ngụy phát loạn!

Đám đại thần ở một bên, lòng như lửa đốt.

Thái y vội vàng chạy tới kiểm tra thương thế, đập vào ngực mấy phát.

Từ từ Lý Đức ô ô mấy tiếng tỉnh lại, ánh mắt dần dần khôi phục vẻ tỉnh táo, được Kim Ngô Vệ đỡ ngồi dậy.

Cả đám chưa tỉnh hồn, quỳ dập đầu sơn hô vạn tuế.

Có kẻ vui đến phát khóc ra tiếng.

Mặt Lý Đức trầm như nước, đã qua được không ít sóng to gió lớn vậy mà suýt lật thuyền trong mương.

Ông không ngờ Lý Trọng Kiền bị thương thế kia còn có gan ra tay trước mặt mọi người.

Một trận sóng gió phát sinh trong chớp mắt, cũng kết thúc trong chớp mắt, quan cấp thấp ngoài điện còn chưa kịp phản ứng, thấy mấy đại thần mới ra khỏi đại điện, chưa kịp nghe ngóng đã thôi sóng gió.

Mấy tên thái y bắt mạch lần nữa cho Lý Trọng Kiền, nhỏ giọng thảo luận mấy câu, bẩm báo Lý Đức: Lý Trọng Kiền đúng là đã mất hết võ công.

Vừa rồi không phải hoàn toàn là diễn trò.

Nhóm Tể tướng lặng thinh không nói.

Mấy năm nay không ít kẻ ám sát Lý Đức nhưng chưa ai làm Lý Đức bị thương thật sự.

Lý Trọng Kiền mất hết võ công lại dám ám sát ngài, dùng cách thức thí mạng cùng chết!

Hắn biết rõ thất bại vẫn liều chết thử một lần, khí thế đột nhiên bộc phát, không phải hắn cố ý giấu diếm từ trước mà chỉ bộc phát trong khoảnh khắc, hắn đang liều mạng!

Dù gì Văn Chiêu công chúa cũng là em ruột hắn!

Trịnh Tể tướng thở dài, đưa mắt ra hiệu Kim Ngô Vệ tranh thủ đưa Lý Trọng Kiền ra ngoài.

Mấy đại thần khác nhìn với ánh mắt trách cứ: Vệ Quốc Công dám can đảm hành thích quân, ông còn muốn bao che Vệ Quốc Công à?

Trịnh Tể tướng nhìn cả đám, im lặng phun ra hai cái tên.

Tạ Vô Lượng, Lý Dao Anh.

Vì Tạ gia, vì Văn Chiêu công chúa, giữ lại mạng Lý Trọng Kiền đi.

Đám người yên lặng, dời tầm mắt, ngầm cho phép, chuyển sang người Thái tử Lý Huyền Trinh.

Lý Huyền Trinh đứng ở một bên, từ đầu tới đuôi tỏ vẻ không liên quan, như không để ý chút nào đến sống chết của Lý Đức.

Cả đám thở dài, tự suy nghĩ.

...

Lý Đức không xử lý Lý Trọng Kiền tại chỗ.

Hắn bị Kim Ngô Vệ mang đi, quăng vào ngục.

Hai ngày sau, Trịnh Cảnh sang thăm: "Trong triều rất nhiều đại thần cầu tình cho ngài."

Tạ gia cả nhà anh liệt, Văn Chiêu công chúa hương tiêu ngọc vẫn, Lý Trọng Kiền vì Đại Ngụy Nam chinh Bắc chiến, mất hết võ công, đại thần khuyên Lý Đức mở một mặt lưới, giải thích vì mất em gái mà hắn nhất thời khống chế, về tình có thể hiểu.

Hiếm thấy Đông cung yên tĩnh như lúc này, không thừa cơ bỏ đá xuống giếng.

Trịnh Cảnh đuổi ngục tốt đi, hỏi nghi vấn trong lòng: "Nhị Lang, lúc đó ngài thật sự muốn ám sát Thánh thượng à?"

Kim chùy còn không nâng nổi, trước khi vào cung dự tiệc phải qua kiểm tra, người không có vũ khí, làm sao dám làm ra chuyện như vậy?

Cung thủ mà vạn tên cùng bắn, chỉ một chốc đã biến thành cái sàng!

Cha Lý Đức lại giỏi võ công, co chân đã đá văng hắn.

Lý Trọng Kiền đang nằm trên đống cỏ khô, mặt vô cảm: "Nếu thành công thì cùng chết."

Giọng rất bình thản, không thèm để ý nếu thật sự thành công sẽ thay đổi kinh thiên thế nào.

Trịnh Cảnh hít sâu một hơi, Lý Trọng Kiền muốn giết cha thật!

Cậu yên lặng mãi thật lâu, mới nói: "Nhưng ngài thất bại rồi."

Lý Trọng Kiền cười lạnh: "Tam Lang, ngươi cho rằng ta thật sự giấu tài thì họ sẽ buông tha à?"

Mắt Trịnh Cảnh lấp lánh.

Nhà Đế vương là vô tình nhất.

Văn Chiêu công chúa đã chết, Lý Đức biết Lý Trọng Kiền không thể bỏ thù hận, cho dù là hắn cố che dấu hay là phát điên như đêm qua, Lý Đức cũng sẽ không giữ lại tai hoạ ngầm này.

Quân vương đa nghi, Lý Đức bằng mọi giá sẽ vì Lý Huyền Trinh mà dọn sạch mọi chướng ngại, tránh khi Lý Huyền Trinh đăng cơ thời cuộc rung chuyển.

Lý Trọng Kiền rất rõ lòng nhạt nhẽo của Lý Đức, Lý Đức cũng biết rõ tính hắn, nếu hắn thật sự giấu tài, Lý Đức không chỉ không buông cảnh giác mà ngược lại sẽ càng thêm lo lắng, lập tức ra tay diệt trừ.

Lý Huyền Trinh đến cùng là người giữ chữ tín, không vội vã hãm hại hắn, Lý Đức vẫn không yên lòng, vội vã triệu hắn hồi kinh muốn thăm dò hắn.

Không bằng hắn đánh cược một lần.

Kết quả xấu nhất cũng chỉ là trả bằng mạng mình thôi.

Giờ hắn đâu còn thứ không thể mất.

Trịnh Cảnh sâu kín thở dài: "Ngài đã nếm thử rồi, sau này đừng có ý nghĩ vậy nữa, bệ hạ dám thả ngài hồi kinh thì không sợ ngài ám sát đâu.

Từ đường của Văn Chiêu công chúa mới vừa vặn dựng lên không lâu, lần này tạm thời bệ hạ không dám lấy tính mạng ngài...

Nhị Lang, sau này ngài tính thế nào?"

Lần mạo hiểm này, trái lại Lý Đức sẽ thả lỏng hơn với Lý Trọng Kiền, một hoàng tử không ổn định thì dù sao vẫn dễ đối phó hơn kẻ tâm cơ thâm trầm, nhưng ông ta cũng không thể phớt lờ.

Lý Trọng Kiền nhìn đỉnh tường gạch lao thất ẩm ướt: "Tam Lang, chuẩn bị cho ta lương khô xe ngựa."

Trịnh Cảnh ngơ ngẩn: "Ngài muốn đi đâu đấy?"

Lý Trọng Kiền bình tĩnh nói: "Đi Hà Lũng.

Ta sẽ xin đi đòi lại Hà Lũng."

Lý Đức sẽ thuận nước đẩy thuyền đồng ý.

Trịnh Cảnh nhíu mày: "Nhị Lang...

Văn Chiêu công chúa đã không còn, người Hồ tận mắt nhìn thấy, giờ Hà Lũng bị Bắc Nhung xâm chiếm, tình thế nghiêm trọng."

Lý Trọng Kiền nói khẽ: "Con bé có chết ta cũng phải đem về, nó nhát gan, luôn sợ hãi, ta muốn đem con bé về nhà.

Ta đã đồng ý với con bé, dù nó ở đâu ta cũng sẽ tìm tới."

Trịnh Cảnh thấy Lý Trọng Kiền đúng là vô cùng hão huyền: Ở tái ngoại mênh mông tìm xác một người, sao tìm được?

Cậu không biết nên khuyên thế nào, nghĩ đến Thất công chúa chết ở tái ngoại, ngực cậu như bị kim đâm, đau râm ran.

Lý Trọng Kiền là anh ruột của Thất công chúa hẳn còn đau đớn hơn nhiều.

Nhưng Lý Trọng Kiền tìm bằng cách nào đây?

"Võ công của ngài..."

Trịnh Cảnh muốn nói lại thôi.

Lý Trọng Kiền không đổi sắc: "Cầm không nổi kim chùy thì ta có thể đổi qua cầm trường đao, dùng đoản kiếm, dùng thương...

Ta đã từng bỏ võ theo văn, lại bỏ văn theo võ, tổn thương của mấy cây tiễn độc không hủy được ta."

Trước khi tìm được Tiểu Thất, hắn sẽ không ngã xuống.

Trịnh Cảnh thở thật dài.

Dù cậu khuyên can nhiều ít, Lý Trọng Kiền không nghe vào, cậu không cách nào ngăn cản Lý Trọng Kiền đi tái ngoại.

Thư Lý Trọng Kiền thỉnh tội rất nhanh đến, dân gian bá tánh nghe nói hắn muốn đi Hà Lũng tìm xác Lý Dao Anh, không tới mấy ngày đã tập hợp thư vạn ngôn, xin đồng hành cùng.

Lý Đức triệu Lý Trọng Kiền hồi kinh, vốn để giam cầm đứa con trai này, thấy dân ý sôi trào, cân nhắc lại, bỏ đi ý nghĩ này.

"Nó thật sự muốn đi Hà Lũng?"

Lý Đức nửa tin nửa ngờ.

Trịnh Tể tướng trả lời: "Vô cùng chuẩn xác."

Lý Đức nhìn tích ung nghiên* trên bàn, ngẩn một hồi, nói: "Thôi được."

Mấy hôm sau, Lý Trọng Kiền mang theo mấy thân binh, dưới áp giải của binh sĩ rời Trường An.

Trưởng sử tiễn đưa hắn, khóc nói: "Lão nô sẽ chăm sóc tốt cho nương tử, Nhị Lang, ngài mau về nhé!

Dù có tìm được Thất Nương hay không ngài cũng phải về!

Lão nô luôn chờ ngài!"

Lý Trọng Kiền đuổi Trưởng sử, ghìm ngựa trước đường núi, ngoái nhìn thành cung đồ sộ phía Đông Bắc.

Đáng tiếc thật, hắn chưa khỏi hẳn, nếu không đêm đó đã có thể bóp chết Lý Đức.

Nếu đêm đó không ra tay, tiếp tục ẩn núp, thực ra có thể tìm được thời cơ thích hợp hơn.

Nhưng hắn không đợi được lâu như vậy, từ lúc tỉnh lại tới giờ đã trôi qua quá lâu.

Tiểu Thất trơ trọi ngoài kia, hắn muốn đón con bé về nhà trước đã.

Đợi tìm được Tiểu Thất, hắn sẽ quay lại báo thù.

Hắn đã đâm thủng cảnh giả tạo phụ từ tử hiếu giữa Lý Đức và Lý Huyền Trinh, trước mắt cứ để họ ngờ vực lẫn nhau, phụ tử tương tàn, đợi khi hắn về, hắn muốn tất cả phải trả giá đắt!

Roi ngựa Lý Trọng Kiền phi qua cầu sông Bá sương khói bóng liễu nhẹ bay, cũng không quay đầu lại đi thẳng về hướng Tây.

Tiểu Thất, đừng sợ, anh tới đón em.

...

Tám ngàn dặm ngoài xa, Vương Đình.

Ban ngày gặp phải Hải Đô A Lăng ở Phật Tự, Dao Anh cả đêm ngủ không ngon.

Trong mơ, một thanh niên mặc ngân giáp, áo khoác ngắn tay mỏng bào trắng phi xuống sườn núi, vì chính nghĩa không lùi bước phóng tới trận địa địch Bắc Nhung đầy giáp đen.

Thanh niên bị bao hãm giữa trùng vây, kiệt lực mà chết, chiến bào rách nát.

Tướng lĩnh đối phương thúc ngựa đi đến trước trận, dưới ánh mặt trời, một đôi mắt dài nhỏ hiện ra ánh màu vàng nhạt.

"Anh à!

Đừng đi, đừng đi...

Đừng gặp phải Hải Đô A Lăng..."

Dao Anh giật mình tỉnh lại, cả người run rẩy.

Nàng đã thay đổi vận mệnh của Lý Trọng Kiền, hai năm trước, đáng nhẽ anh đã chết dưới tay Hải Đô A Lăng trong lúc đối địch, khi đó, nàng nghĩ cách đưa anh tránh đi tái ngoại.

Giờ đây, anh đang tìm đến mình, không biết anh có cho là mình còn ở doanh địa của Hải Đô A Lăng mà trực tiếp đi Bắc Nhung tìm không?

Dao Anh đứng dậy rửa mặt.

Nàng phải sớm thả tin mình đang ở Vương Đình, sớm trở lại Trung Nguyên.

Ngoài cửa sổ líu ríu tiếng nói chuyện, thân binh lại sáng sớm luyện quyền.

Dao Anh nghe tiếng đùa giỡn, cười cười, đẩy cửa sổ.

Tạ Bằng, Tạ Xung lập tức như ong vỡ tổ xông lên hành lang, mồm năm miệng mười nói: "Công chúa, hôm qua ở đại hội tranh biện kinh Phật, Pháp sư thắng!"

Dao Anh đã đoán trước rằng Đàm Ma La Già sẽ thắng, không hề bất ngờ.

Tạ Xung vỗ tay cười nói: "Hải Đô A Lăng Bắc Nhung cố ý mang theo mười cao tăng đến, từ giữa trưa đến tối, mười mấy người thay phiên biện luận với Pháp sư, Pháp sư vẫn là thắng!"

Họ không đi xem biện kinh, chỉ hóng kết quả, lúc này tranh nhau kể lại từng trận cho Dao Anh như đã từng xem.

Dao Anh tựa vào cửa sổ, nhìn họ sinh động kể chuyện Pháp hội rầm rộ như thật, dần bình tĩnh lại.

Đây là Vương Đình của Đàm Ma La Già, nàng không cần phải sợ.

Dao Anh tinh thần phấn chấn, hỏi Tạ Xung: "Có ai hỏi tới Pháp y của tăng nhân không?"

Tạ Xung gãi da đầu: "Hổng có."

Tạ Bằng duỗi đầu tới: "Công chúa, hay thay bằng cách khác?"

Dao Anh mỉm cười: "Không vội, Đại hội biện kinh chỉ vừa mới kết thúc mà."

Các thân binh vang dội đáp vâng, đang muốn tiếp tục kể chuyện Pháp hội với Dao Anh, thoáng thấy bóng cao lớn của Tạ Thanh xuất hiện trước hành lang, vo ve mấy tiếng nhảy ra ngoài sân tiếp tục luyện quyền, la đầy sân.

Dao Anh lắc đầu bật cười, hỏi Tạ Thanh: "Hỏi thăm rõ chưa?"

Tạ Thanh gật đầu, nói: "Hải Đô A Lăng là phó sứ của sứ đoàn Bắc Nhung, ở trong dịch quán thành Nam, cả đoàn có ba mươi hai người, chúng tới tham gia đại hội biện kinh.

Ban đầu người được chọn làm phó sứ là người khác, đột nhiên đổi người."

Dao Anh nhẹ chau mày.

Thảo nào A Sử Na Tất Sa không biết Hải Đô A Lăng sẽ xuất hiện.

Tạ Thanh nói tiếp: "Hải Đô A Lăng ra vào đều có người đi theo, không hề đi đâu một mình, cũng không có cử chỉ gì quái lạ."

Dao Anh mấp máy môi, quyết định trong khoảng thời gian sứ đoàn Bắc Nhung chưa đi sẽ không ra khỏi cửa.

Mỗi ngày Tất Sa tới thăm mời nàng ra ngoài chơi, nàng nói rõ lý do, Tất Sa đành thôi, sau mấy hôm, cao hứng bừng bừng tới: "Người Bắc Nhung đi hết rồi!"

Dao Anh vẫn không yên lòng.

Hải Đô A Lăng đến Bắc Nhung một chuyến, chỉ để xem trình độ Phật học của Đàm Ma La Già thôi ư?

Nàng tiếp tục sai Tạ Thanh đi nghe ngóng, mãi đến khi Thánh Thành không còn xuất hiện bóng người Bắc Nhung mới dám thi thoảng xuất cung lộ diện cùng A Sử Na Tất Sa.

Hôm nay, hi vọng cuối cùng của Dao Anh đã tới cửa.

Tạ Xung kích động chân trái vấp chân phải, xông vào sân vườn, lớn tiếng: "Hôm nay có người hỏi thăm pháp y hôm đó các nhà sư Phật tự mặc này!"

Dao Anh thở hắt ra, "Tốt, trong kho Vương cung còn mấy xe tơ lụa, bán được rồi."

Đại hội biện kinh người như nêm, là một sự kiện lớn ở Thánh Thành, các sư ở Pháp hội mặc Pháp y nàng tặng, mấy quý khách các thành bang nhìn thấy chói mắt, đẹp đẽ óng ánh, hẳn phải hỏi thăm chỗ cắt may.

Dao Anh chờ chính là hôm nay.

* Mai: Dao Anh: Thật ra mượn La Già quảng cáo hiệu quả còn tốt nữa, ngài mặc thứ gì lập tức bán hết!

Tất Sa: Vậy sao không đi xin Vương hỗ trợ?

Dao Anh: Tà tâm thì có, tặc đảm thì hơm.

Hòa thượng: Lá gan nàng rõ ràng đâu có nhỏ...
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 52: Cửa tiệm


Ánh bình minh vừa hé rạng, mạ vàng rực rỡ cho núi tuyết trùng điệp nơi chân trời, cánh ưng lướt qua bầu trời xanh thẳm quang đãng, để lại bóng nhạt như mây bay, chuông sớm vừa mới vang lên ba lần, phố chợ phía Nam Thánh Thành đã náo nhiệt, người người nhốn nháo, rộn ràng.


Dao Anh mặc bộ váy sa rực rỡ hoa văn quyển thảo hình thú đối xứng, lụa che trên mặt, cùng A Sử Na Tất Sa đi vào phố chợ.

Đường sá phố chợ không gọi là dài, nhưng khách buôn tụ tập, hai bên cửa hàng chen chúc, san sát nối tiếp nhau, trong màn trướng xanh xanh đỏ đỏ người đứng đầy, thật không tìm được chỗ chen chân, các thương lái lui tới khác biệt màu da, khác biệt ngôn ngữ, y phục cũng khác, đến từ các bộ tộc khác nhau, hàng hóa các nước Tây Vực cùng tụ tập bán ở đây, so với phố chợ Trường An là một loại phồn hoa náo nhiệt rất khác.

Tiếng người ồn ã, trong tiếng rao hàng bằng tiếng Túc Đặc, tiếng Hồ xen lẫn âm lục lạc trong trẻo.

Dao Anh vừa đi, vừa quan sát kỹ, mấy cửa hàng mua bán phần lớn là châu báu, da lông, hương liệu, tơ lụa, thảm nỉ, rực rỡ muôn màu, tất cả đều đẹp sắc sảo, nhìn hoa cả mắt.

Có điều nàng phát hiện hàng hóa đến từ Trung Nguyên cũng không nhiều.

A Sử Na Tất Sa giải thích: "Con đường mua bán thông về hướng Trung Nguyên không chỉ núi non trùng điệp, sa mạc trải rộng, đường đi gian nguy, mà còn chiến tranh liên tục mấy năm gần đây, nên nó sớm đã bị bỏ hoang, mấy đội buôn bình thường không dám tùy tiện mạo hiểm.

Dân buôn ở đây phần lớn đến từ ba đường, đường phía Bắc vượt qua Thiên Sơn, qua Toái Diệp Thành*, Khang quốc, Sử quốc, Lạp Y, tận cùng là Phật Lâm, phía Tây nửa đường dọc theo sa mạc biên giới phía Tây, từ Quy Tư, Sơ Lặc đến Kiền Đà La, lại lên Khang Quốc phía Bắc hoặc xuống Thiên Trúc phía Nam, đường phía Nam dọc theo sa mạc Nam Duyên, qua Lâu Lan, Lại Mạt, Vu Điền, Sa Xa, đến Sơ Lặc."


Suyab, cùng với Quy Tư, Sơ Lặc, Vu Điền là bốn trấn An Tây thời Đường, là thuộc địa của Tây Đột Quyết, một tòa thương trấn quan trọng thời Đường.

"Sau khi đến Thiên Trúc, một số thương nhân xuôi Nam, xuôi theo Nữ Thành, Vương Xá Thành, tới Thổ Phiên, hoặc theo Phiêu Quốc tới Vĩnh Xương, là đến được Nam Cảnh Trung Nguyên.

Một số khác theo đường biển, vòng qua Thiên Trúc, trải qua mấy tháng đổi chác với thương nhân Trung Nguyên trên biển, mấy nhà buôn đó phần lớn đến từ phía Nam Trung Nguyên như Quảng Châu, Minh Châu, Dương Châu."

Dao Anh nghe thấy cảm khái không thôi.

Ba tuyến đường Tất Sa vừa nói thật ra hoàn toàn trùng với tuyến đường phía Tây của con đường tơ lụa xưa kia, chỉ là đoạn xuất phát từ Trường An Trung Nguyên đến Đôn Hoàng, Ngọc Môn quan bị cắt đứt, vì Trung Nguyên đã mất khống chế với vùng sông Lũng từ lâu, đoạn đường bị trở ngại không còn lưu thông qua lại.

Mấy nhà buôn không sợ gian nguy, xuyên qua Đại lục Đông Tây mênh mông sa mạc và liên miên núi tuyết, xuyên qua chân trời, lui tới Trung Nguyên và Phật Lâm, đương nhiên không vì đường đi cách trở mà nhụt chí, khi ngành đóng tàu lớn mạnh, càng ngày càng nhiều nhà buôn lựa chọn thuyền có tải trọng lớn, chi phí thấp đi đường biển để trao đổi lưu thông hàng hoá.

Tuyến đường buôn bán trên biển xuất phát từ các bến cảng ở Minh châu, Dương Châu, Tuyền Châu, Quảng Châu Trung Nguyên, qua Nam Hải, qua Ca La Phú Sa La*, đến Tây Thiên Trúc, chuyển sang đường bộ đến Tây Vực, Ba Tư, xa nhất đến Phật Lâm, Jerusalem, được hậu thế gọi là con đường tơ lụa trên biển.

*tên nước cổ, Nam vịnh Thái Lan – đến bán đảo Cara, Kalah Malaysia – đoạn đường với mấy tên địa danh phiên âm mình chịu chết, nhìn bản đồ áng man mán.

Dao Anh nghe Lý Trọng Kiền nhắc qua, hàng từ Trung Nguyên vận chuyển về phía Tây chủ yếu là đồ sứ, trà, tơ lụa, đồ đồng đồ sắt, đem về Trung Nguyên là hương liệu hoa cỏ quý hiếm, bảo vật quý hiếm, mớ hàng đó thường vừa tới bến cảng đã bị thế gia quý tộc Nam Sở giành mua hết sạch, Nam Sở giàu có sung túc cũng là điều dễ hiểu.

Lúc đó Lý Trọng Kiền còn nói đùa, nếu hắn đánh hạ đô thành Nam Sở, chắc chắn sẽ đưa nàng dạo khố phòng hoàng cung Nam Sở.

Dao Anh ngây ra một lúc, tiếp tục quan sát phố chợ Thánh Thành.

Ngõa Hãn Khả Hãn Bắc Nhung muốn nhất thống Tây Vực phải đánh hạ Vương Đình, bảo đảm các chư quốc ven đường phía Bắc phải bị Bắc Nhung khống chế, nhưng chỉ cần Đàm Ma La Già giữ vững Vương Đình, Ngõa Hãn Khả Hãn sẽ không lấy nổi Bắc Tây Vực.

Trong lúc hai nước giằng co, mấy nước nhỏ như Cao Xương, Yên Kỳ mới có không gian thở dốc.

Mà sự phồn vinh của Cao Xương phụ thuộc rất lớn vào thông suốt của tuyến đường buôn bán.

Từ điểm này có thể thuyết phục Uất Trì Vương tộc Cao Xương đồng ý kết minh.

Hàng hóa ở phố chợ rất đa dạng phong phú.

Dao Anh vừa trầm tư vừa đi dạo, thấy thảm nỉ Ba Tư, đèn lưu ly Phật Lâm, răng Phật Thiên Trúc, rượu nho Cao Xương, còn có kinh thư Ai Cập dùng kim nê* để viết.

*bột vàng trộn với thủy ngân

Tạ Thanh, Tạ Bằng Tạ Xung đi bên cạnh, mắt không theo kịp.

Tạ Bằng bắt gặp Dao Anh nhìn chằm chằm một cửa hàng của một nhà Túc Đặc treo màn gấm, lập tức móc tiền ra: "Công chúa muốn mua gì?"

Dao Anh lắc đầu, nói: "Hôm nay không phải tới mua đồ."

Tạ Bằng ngơ ngác.

Thời tiết nóng dần, khí hậu Vương Đình rất thích hợp trái cây sinh trưởng, khắp nơi có xe trái cây được người Hồ đẩy đi bán, cả nhóm mua ít trái cây, xuyên qua phố chợ tới một đình viện xây bằng gạch mộc ngoài thành.

Trong viện đám người Hán từ già đến trẻ, tất cả ra đón, quỳ trên mặt đất khóc ròng.

Một lão giả râu ria hoa râm khóc nói: "Ơn cứu mạng của công chúa không thể báo đáp, nguyện làm trâu làm ngựa cho ngài."

Dao Anh ra hiệu Tạ Bằng đỡ lão dậy, nhìn quanh một vòng.

Nam nữ già trẻ trong viện đều lộ vẻ chờ đợi nhìn nàng.

Đám người xanh xao vàng vọt, quần áo tơi tả, là nô lệ người Hán đợt đó nàng mua lại từ gã buôn người người Hồ.

Trong số họ có người nguyên quán Hà Tây, có người sinh ở Tây Vực, hoặc chuyển đến Tây Vực, khi Tây Vực chia năm xẻ bảy, họ thành dân đen, cảnh ngộ bi thảm, bị bắt cóc đến tận đây buôn bán.

Lão giả lau khô nước mắt, hỏi ra kỳ vọng của trong lòng tất cả mọi người: "Công chúa, Hoàng đế Trung Nguyên muốn phát binh thu Hà Tây và Bắc Đình sao?"

Mọi người ngẩng nhìn Dao Anh, mắt như có hai ngọn lửa cháy hừng hực.

Dao Anh lắc đầu: "Trước mắt Trung Nguyên không có năng lực đó."

Ánh sáng trong mắt lão giả trong mắt lu mờ trong nháy mắt.

Dao Anh nhìn đám người, cất cao giọng, vẻ nghiêm nghị: "Có điều Trung Nguyên chưa hề quên con dân của mình, văn võ đại thần trong triều đều chờ đợi sớm ngày giành lại đất cũ, Đại Ngụy đã bình định Trung Nguyên, sẵn sàng dùng người tài, chuẩn bị binh mã, nhất định thu phục non sông không xa!"

Nghe đến, lão giả lại kích động: "Công chúa nói đúng lắm, chúng ta đã chờ nhiều năm như vậy, nhất định sẽ chờ được đến ngày về Đông!"

Cả đám rưng rưng gật đầu phụ họa.

Tạ Bằng đem mớ trái cây chia xuống, họ vô cùng cảm tạ, dập đầu trước Dao Anh.

Lão giả là người duy nhất trong số họ biết đọc, Tạ Xung đưa danh sách ông viết cho Dao Anh xem qua.

"Công chúa, tất cả chỗ này có 111 người, năm mươi mốt nam, sáu mươi nữ, phần lớn già yếu tàn tật, không kiếm sống được mới bị bán đổ bán tháo."

Dao Anh xem hết danh sách, gật đầu.

Tạ Xung hỏi: "Công chúa, chúng ta thu xếp cho họ sao đây?

Cùng đưa về Trung Nguyên ạ?"

Dao Anh đứng trên bục cao, nhìn cả đám ôm thức ăn ăn như hổ đói, nhẹ chau mày.

"Chúng ta muốn về Trung Nguyên cũng không thể đưa họ theo cùng mạo hiểm.

Sau này hẳn chúng ta còn cứu nhiều người nữa, chúng ta đi đâu, họ đi đó hay sao?"

Tạ Xung gãi đầu, đúng thật khó giải, họ không thể đưa những người Hán này đi theo cùng, hơn một trăm người công chúa còn nuôi nổi, số lượng sau này càng lúc càng tăng, cũng không thể dựa vào một mình công chúa?

Dao Anh chậm rãi nói: "Cho người con cá không bằng cho người cần câu.

Hỏi rõ ràng từng người họ ai biết nghề gì, nhuộm, thêu, mộc, hay biết chữ,...

Chỉ cần thành thạo một nghề là được, không biết cũng không cần gấp, có thể học từ bây giờ, ai không khỏe thì ở nhà chăm sóc con nít người già."

Tạ Xung vâng lệnh, hỏi: "Công chúa muốn giúp họ tìm công việc ạ?"

Dao Anh lắc đầu: "Giúp họ tìm việc họ vẫn sẽ bị ức hiếp.

Ta đã nhờ Tất Sa hỗ trợ mua hai gian bán hàng tơ lụa, trước tiên giao cửa tiệm cho mấy người này kinh doanh.

Hôm nay ta đã nhìn qua phố chợ một vòng, gấm vóc Trung Nguyên ở đây bán hoa văn đã là kiểu dáng mấy năm trước, không mới mẻ sắc sảo như của chúng ta."

Tạ Xung bừng tỉnh: Hèn gì công chúa đưa tơ lụa cho hoà thượng Phật Tự!

Pháp hội qua đi, quý tộc Vương Đình nghe ngóng khắp nơi chỗ mua lụa từ đám Hồ thương, Tất Sa thả ra tin tức, nói gấm vóc tinh xảo ấy đến từ Trung Nguyên, mấy ngày nay dân buôn người Hồ đến đây nghe ngóng hỏi giá nhiều như cá diếc sang sông, một cây lụa trăm tiền đều không đủ bán.

Tạ Xung nghi hoặc hỏi: "Sao công chúa không trực tiếp bán cho quý tộc Vương Đình?"

Trong đồ của công chúa không thiếu lá trà, tơ lụa, châu báu, là những mặt hàng hiếm cực kỳ bán chạy ở Tây Vực, công chúa chỉ tặng một phần sách kinh, tượng Phật vàng ngọc, tơ lụa qua Phật Tự, số còn lại vẫn ở khố phòng.

Quý tộc Vương Đình ưng loại tơ lụa này, sao không trực tiếp bán cho quý tộc mà phải mua cửa hàng rồi bán lại?

Dao Anh giải thích cho cậu: "Dù sao chúng ta cũng là kẻ bên ngoài mới đến, trực tiếp bán cho quý tộc, thứ nhất là đắc tội với các nhà buôn ở đây, thứ hai là định giá không tốt, dễ bị người ghen ghét.

Nên theo quy củ ở đây, bớt đi thị phi lại có thể tìm chút việc làm cho đám người này sau này có rời đi, họ cũng có kiếm được cơm no bụng."

Đồ cưới quá bắt mắt lại không tiện mang theo, phải nhanh chóng bán đi, nhưng không thể trực tiếp bán ra từ chỗ nàng.

Tây Vực khác với Trung Nguyên, quý tộc các nước ở đây lớn mạnh, nắm giữ việc buôn bán, không cẩn thận tí là đắc tội đại quý tộc, đến lúc đó mua bán không thành mà còn chuốc họa, chi bằng hợp tác với họ, lưng tựa gốc đại thụ lớn hóng mát, còn phòng ngừa được tranh chấp, lưu một đường lui về sau.

Đám Tạ Xung, Tạ Bằng nhìn nhau, nói: "Vẫn là công chúa nghĩ chu đáo!"

Họ cứ tưởng chỉ cần bán đổi hàng hóa kia thành vàng bạc là được.

Dao Anh gọi lão giả đến hỏi: "Lúc xưa các người làm nghề gì?"

Lão giả cung kính nói: "Hồi công chúa, bọn ta làm mỗi nghề một chút!

Trồng cây, nuôi bò dê, quét phân dê, dệt lông cừu, cắt lông dê, bện thừng, dệt gấm!"

Vương Đình mặc dù nằm sâu sa mạc nhưng có nước từ núi băng chảy xuống tưới đều, có mảnh đất lớn màu mỡ và nông trại, trồng cây hoa quả, giống như Cao Xương có vườn nho lớn, dê bò thành đàn trên sườn núi.

Lão giả từng là người chăn thả cho chủ, lúc vụ mùa bận rộn còn giúp dệt lông cừu.

Dao Anh nói qua việc mở tiệm tơ lụa, "Ta sẽ mời người Hồ hỗ trợ quản lý cửa hàng, ông chọn ra mấy người biết viết tới hỗ trợ cửa hàng, ai khéo tay đi học nghề rồi mở xưởng, ta mang từ Trung Nguyên đến không ít hoa văn, đủ để các ngươi dùng nhiều năm."

Lão giả từng làm quản sự, nghe qua lập tức hiểu Dao Anh đang tính toán tương lai cho họ, kích động nước mắt tuôn đầy, quỳ xuống dập đầu.

Dao Anh nhìn ra lão giả rất có tiếng nói trong nhóm, cười khẽ: "Hiện chỉ là hai gian cửa hàng, các ngươi theo trông nom, đừng nóng lòng kiếm lời, trước mắt tìm cách sống yên phận đã."

Lão giả khóc gật đầu vâng lời, vẻ càng thêm cung kính.

Dao Anh hỏi: "Các ngươi từ đâu bị bán đến đây?

Có bao nhiêu người Hán?"

Lão giả đáp: "Trong đám tụi tôi có người bị bắt từ Hà Tây, Sa Châu, Qua Châu, có người là người địa phương... người Hán mấy chỗ khác cũng giống bọn tôi làm việc cho quý tộc, có người là thuộc hạ của quý tộc, có thế gia đại tộc, thông gia với quý tộc."

Dao Anh trầm ngâm, hỏi: "Có ai trong số họ từng là đại tộc nắm giữ quân đội không?"

Lão giả ngẩn ra, lập tức hiểu ý Dao Anh, thoáng chốc nét mặt trở nên trang nghiêm, bái trước Dao Anh, đầu dập đất, vang ầm ầm.

"Lão hủ Tề Niên, chính là hậu duệ Tề thị Hà Tây, nguyện theo công chúa!"

Dao Anh cười cười, ra hiệu Tạ Xung đỡ lão dậy, không đáp.

Tề Niên không dám hỏi nhiều, khắp khuôn mặt không che giấu được sự phấn chấn cuồng nhiệt, nhỏ giọng nói: "Công chúa, các nơi vẫn có đại tộc lòng hướng về Trung Nguyên, còn có cả gia tộc bí mật huấn luyện nghĩa quân, để chờ khi vương sư đến có thể góp phần nào sức lực, tiếc rằng thực lực bọn họ chưa đủ khởi sự.

Vương Đình thái bình thôi chứ các nơi khác đã bị chiếm cứ từ lâu, cách Sa Châu quá xa, tin tức không liên thông."

Dao Anh vẫn bình thường, nói: "Tinh hỏa liêu nguyên*."

*một đốm lửa có thể thiêu cháy thảo nguyên.

Nàng không ngừng chiêu mộ sức người, liên lạc đại tộc các nơi lòng nhớ nước nhà, thu nhận người lưu vong, lấy đồ cưới đổi tiền sung quân phí, mua thương nhân người Hồ, mời chào nhân thủ, lấy hình thức đội buôn lui tới các bộ lạc ở Tây Vực, họ không phải đối thủ của Bắc Nhung nhưng có tác dụng riêng, tỷ như hỗ trợ truyền tin.

Dù thu nhận loại người gì, trước tiên, nàng phải chiêu mộ một đội vũ trang cho riêng mình để dựa vào.

Chỉ với mấy người Tạ Thanh, khó mà thành sự.

Tề Niên nhìn Dao Anh, lặng yên hồi lâu, trong hai mắt đục ngầu dấy lên hai ngọn lửa, kinh ngạc, kính nể, kích động, hưng phấn từng thứ hiện lên, nhiệt huyết sôi trào khắp người.

Ông đã nghe hộ vệ kể về lai lịch của công chúa, ngài lưu lạc Tây Vực, tự bản thân khó đảm bảo, vẫn không quên giải cứu đám dân đen họ, không chỉ thế, còn trù tính cho sau này, công chúa chính là cứu tinh của họ!

Nhất định là họ ngày đêm cầu nguyện cảm động thần Phật, thần Phật mới phái công chúa đến cứu vớt bọn họ.

Tề Niên lại quỳ rạp xuống dưới chân Dao Anh, nước mắt lưng tròng.

Trong lòng ông có một dự cảm mãnh liệt: Chắc chắn công chúa có thể dẫn họ về quê hương!

Người trong đình viện thấy thế, buông đồ ăn trong tay, đứng lên, từng người theo từng người quỳ xuống, như thuỷ triều, phủ phục quỳ trước mặt Dao Anh.

A Sử Na Tất Sa không giỏi tiếng Hán, từ sau khi vào đình viện, Dao Anh hết dặn dò từng thân binh, trấn an người già yếu, lại nói chuyện với lão giả, anh không tiện ra mặt, xa xa đứng một bên quan sát.

Đến khi tất cả mọi người trong đình viện quỳ lạy Dao Anh, anh ta không khỏi thu hồi vẻ lơ đễnh, thẳng tắp lưng, chăm chú nhìn vị công chúa người Hán lưu lạc đến Vương Đình.

Nàng đứng trước bậc, khóe môi mỉm cười, khí chất hoa lệ cao quý, đâu đấy giống hoa Tuyết Liên trên đỉnh Thiên Sơn.

Cao quý như thế, xa không thể với.

Tất Sa run sợ thật lâu.

Trên đường quay về, Dao Anh nhờ Tất Sa hỗ trợ nghe ngóng chỗ bán đất ở Vương Đình, đám Tề Niên giỏi làm nông, nàng muốn mua miếng đất, để mấy phụ nữ người già có việc làm kiếm ăn, cũng thuận tiện sắp xếp ăn ở.

Tất Sa đồng ý giúp nhưng kiên quyết không lấy thù lao.

Dao Anh cười nói: "Vậy thì không được."

Nàng nhờ Tất Sa hỗ trợ, tự nhiên phải gởi thù lao.

Tất Sa bất đắc dĩ chịu thua, nói: "Công chúa thật quá khách khí, sao xa lạ với tôi vậy?

Chúng ta là bạn bè, ngài còn là khách của Vương, sao tôi có thể nhận thù lao?"

Dao Anh cười nói: "Nếu đã như vậy, ta cũng không dám phiền Tướng quân hỗ trợ, ta nghe nói trong thành có rất nhiều người Túc Đặc làm chạy vặt."

Tất Sa nhìn khuôn mặt mỉm cười của nàng, tim đập như hươu chạy, không dám từ chối.

Trở lại phố chợ, Dao Anh đã nghe ngóng quy định phố chợ của Vương Đình, giao nộp một khoản tiền mua cửa hàng, thuê hai người Hồ lanh lợi quản lý, cửa hàng sẵn đã bán tơ lụa, cứ tiếp tục kinh doanh.

Nàng thả tin ra, mấy thương nhân tới hỏi luôn: "Tơ lụa của vị công chúa Trung Nguyên thật sự là chia cho tụi ta bán à?"

Chủ cửa hàng cười híp mắt gật đầu, nói: "Nhưng mà chư vị tới không khéo rồi, mớ tơ lụa kia đã bị mấy nhà Khang gia, Tiết gia đặt trước một số, còn lại không nhiều lắm."

Cả đám cả kinh, như ong vỡ tổ tràn vào, sợ chậm một bước bị người khác cướp hết phần tơ lụa.

Còn lại một phần rất ít, họ để bán từ từ trong cửa hàng.

Không lâu sau, nàng có thể đổi lấy tiền chiêu mộ nhân lực cho mình.

Tất Sa đưa Dao Anh về cung, rồi trực tiếp đi Phật Tự cầu kiến Đàm Ma La Già.

Phật đường yên tĩnh, La Già đang xem một cuốn kinh, bóng lưng thon gầy.

"Vương..."

Tất Sa cởi bội đao, quỳ một gối xuống dưới hiên, trịnh trọng nói, "Tôi muốn cầu ngài một việc."

*đọc chương này thấy chị nhỏ xứng là con nhà có điều kiện, quản lý tiền Tạ gia quen nên tính xa dễ sợ, trước cứ nghĩ đút lót tí đồ để kiếm chỗ dựa thôi.
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 53: Cứu người


Thiền thất được lau chùi sạch sẽ, bốn góc lớn sân vườn có mấy cây táo, cánh hoa trắng bạc đầy cành, từng chùm như hạt châu, ánh nắng trút xuống xuyên tán lá rậm ẩn lên bóng sáng nhè nhẹ.

Đàm Ma La Già không quay lại, ngón tay thon dài trắng trẻo tiếp tục lật sách kinh, người mặc cà sa bóng lưng gầy gò cứng cáp.

"Chuyện gì?"

Chàng nhẹ giọng hỏi.

A Sử Na Tất Sa quỳ gối ngoài cửa, chần chừ đôi chút, mặt ửng đỏ, ưỡn ngực ngẩng lên, từng chữ nói: "Vương, tôi thích Văn Chiêu công chúa Đại Ngụy, nàng xinh đẹp, cứng cỏi, lại dũng cảm, tôi ngưỡng mộ nàng ấy, muốn bảo vệ nàng ấy, để nàng mỗi ngày có thể vui cười không lo không nghĩ."

Có cơn gió phớt qua đình viện, cành táo điểm đầy hoa khẽ đung đưa, tỏa hương thoang thoảng.

Đàm Ma La Già lặng thinh một lát, cụp mắt: "Tất Sa, Văn Chiêu công chúa là công chúa Đại Ngụy, không phải công chúa Vương Đình."

Tất Sa cười cười: "Tôi biết, Văn Chiêu công chúa không phải công chúa Vương Đình, Vương, tôi cũng không phải tới xin ngài tứ hôn...

Tôi chỉ muốn đến xin được ngài cho phép."

Anh dừng lại một chút, nhìn bóng lưng Đàm Ma La Già, vẻ trịnh trọng.

"Vương, ngài cho phép tôi thích Văn Chiêu công chúa chứ?"

Động tác lật sách kinh của Đàm Ma La Già dừng lại.

Tất Sa nói tiếp: "Văn Chiêu công chúa dù sao cũng là lấy lý do noi theo cô gái Ma Đăng Già ở lại Vương Đình, tuy nói Vương là Phật Tử, từ lâu đã thoát thất tình lục dục, sinh tử, đoạn tuyệt ham muốn, sẽ không đả động vì công chúa, nhưng là thần tôn kính Vương, nên vẫn cả gan hỏi một câu...

Vương, thần có thể thích công chúa không?"

Ngón tay Đàm Ma La Già di chuyển cầm châu trong tay, nói: "Tất Sa, cậu không nên hỏi ta."

Tất Sa khẽ giật mình, ngay sau đó cười khổ.

Đúng, anh không nên đến hỏi La Già, Văn Chiêu công chúa không phải trân bảo trên kệ, nàng là người sống, nếu thực tình anh thích Văn Chiêu công chúa, dù Vương không đồng ý, anh cũng nên lấy dũng khí theo đuổi.

Anh nhìn Đàm Ma La Già, nói: "Thần hiểu rồi ạ."

Đàm Ma La Già rủ mắt, tiếp tục xem sách kinh: "Văn Chiêu công chúa tuổi còn nhỏ, lưu lạc ở vực ngoại, triều không lự tịch*, Tất Sa, không được tùy tiện với nàng."

*sáng sớm không biết buổi tối sẽ thế nào; hình dung tình thế nguy cấp, khó có thể đoán trước.

Tất Sa lấy lại tinh thần, đầu chạm đất: "Thần lập thệ, tuyệt đối sẽ không bởi vì ngưỡng mộ công chúa mà làm ra chuyện gì xem nhẹ nàng ấy, càng không lợi dụng lúc nàng khó khăn, dùng thân phận ép buộc công chúa, nếu trái này thề, mặc Vương xử lý!"

Anh ta đợi một lúc, cầm bội đao rời thiền phòng, đứng cạnh cánh cửa, quay lại nhìn bóng lưng Đàm Ma La Già.

Trước khi lâm chung Sư tôn từng nói, La Già chưa dứt duyên trần.

Lúc trước Tất Sa không xem lời tiên tri này ra gì, đến chừng nhìn thấy Văn Chiêu công chúa xinh đẹp động lòng người, ở chung với người đó vài ngày, lời dặn dò của Sư tôn lại vang vọng trong đầu anh.

Anh sợ lời sư tôn trở thành sự thật.

Nhất niệm thành Phật, nhất niệm thành ma, La Già không giống kẻ khác, nếu ngài động tâm, biết được tư vị tình yêu...

Mặt Tất Sa nghiêm trọng.

Sau lưng có một chuỗi bước chân, Bát Nhã lén lén lút lút sáp tới: "Tướng quân A Sử Na, ngài thật ngưỡng mộ Văn Chiêu công chúa à?"

Tất Sa gật đầu, giọng vang dội: "Không sai, ta thích công chúa, lòng sáng như nhật nguyệt!"

Nói xong, quay đi.

Bát Nhã đưa mắt nhìn bóng lưng cao lớn của anh biến mất sau cây táo, hưng phấn xoa tay: A Sử Na tướng quân phong lưu phóng khoáng, mười ba tuổi đã làm tim mấy cô gái nhà quý tộc rung rinh mơ màng, mấy năm qua chuyện phong lưu của tướng quân chưa từng đứt đoạn.

Lần này hay rồi, ngài thích Văn Chiêu công chúa thì cuối cùng Vương cũng thoát được cô ta rồi!

Gió hiu hiu thổi qua hành lang lạnh âm u, tràn vào thiền thất, tốc lên trang sách trên bàn, Đàm Ma La Già cúi đầu đọc kinh văn, cà sa trải qua trường án, sột soạt.

Sau nửa canh giờ, ngoài hành lang lại nghe tiếng bước chân.

Duyên Giác đứng trước cửa, ôm quyền: "Vương, bên Sa Thành báo tin về, Vương tử Hải Đô A Lăng không về Bắc Nhung."

Bắc Nhung không có đô thành cố định, doanh trướng Ngõa Hãn Khả Hãn dời đi đâu, nha trướng Bắc Nhung ở đấy.

Sau khi Bắc Nhung ký minh ước với Vương Đình, bệnh tình của Ngõa Hãn Khả Hãn chuyển biến tốt đẹp, trong thời gian ngắn dấy lên lời đồn đãi về chuyện trời phạt, danh vọng của Đàm Ma La Già lại tăng một cấp, Ngõa Hãn Khả Hãn quyết định rất nhanh dời về Y Châu tránh cho lòng quân tan rã.

Hải Đô A Lăng đi sứ Vương Đình, theo hành trình hẳn giờ đã đến Bắc Nhung, thế mà dân du mục bên đó chưa nhìn thấy bóng dáng hắn.

Khuôn mặt Đàm Ma La Già trầm tĩnh, ngón tay khẽ gảy cầm châu: "Tăng cường cảnh giới các nơi trong Vương cung."

...

Vương Đình ban ngày nóng như thiêu, ban đêm lạnh lẽo, ánh trăng lạnh lùng nghiêng chiếu, như rải đầy sương lạnh trên đất.

Trong phòng dưới ánh nến sáng như hạt đậu, Dao Anh và thân binh ngồi trên thảm thảo luận về chuyện an bài cho dân chúng người Hán ở Sa Châu, Qua Châu.

Mấy hôm trước nàng bảo Tạ Thanh làm sa bàn, xếp ra địa thế đại khái của phía Bắc Tây Vực, giảng giải cho mấy người Tạ Xung: "Tây Vực nhiều hoang mạc, con đường buôn bán dựa vào những khu vực ốc đảo hẹp dài xây lên, ven đường có đặt dịch trạm, vì chiến loạn mà rất nhiều dịch trạm bỏ hoang, dân buôn người Hồ biết đường thường có thể khống chế mua bán, lúc liên hệ với họ phải có tầm nhìn lâu dài chút, thà nhường một ít lợi nhuận cũng phải hợp tác với họ.

Nếu có thể đứng vững ở Vương Đình, sau này chúng ta có thể cứu trợ thêm nhiều người."

Mấy người Tạ Xung chăm chú lắng nghe, hỏi: "Công chúa, sau này tụi tôi phải đi theo dân buôn người Hồ làm ăn ạ?

Dẫn binh đánh giặc tôi còn khoác lác được mấy câu, chứ làm ăn tôi một chữ không biết đâu..."

Dao Anh liếc cậu nói: "Bây giờ Tây Vực thảm hoạ chiến tranh liên tục, rất nhiều bộ lạc nhỏ phồn vinh dựa vào con đường giao thương này đều suy vong, lúc này mấy đội buôn có thể lui tới các nước đều có vũ trang ủng hộ, các ngươi phải học cách liên hệ với họ.

Họ rất nhạy về tin tức, biết đâu có thể giúp chúng ta truyền tin."

Trong chiến loạn đám người buôn bán ở Tây Vực thường có quan hệ mật thiết với từng bộ lạc, dùng vàng bạc của cải lôi kéo đại quý tộc ảnh hưởng thế cục nơi ấy, thuận lợi cho việc mua bán, thậm chí còn điều động được cả quân đội.

Tạ Xung rõ ràng hơn, liên tục gục gặc, cười nói: "Chỉ cần công chúa đừng để tôi quản lý sổ sách là được!"

Tạ Bằng lườm cậu: "Cho ngươi quản lý sổ sách?

Đợi chúng ta không có gì ăn đi!"

Mấy người còn lại cười một trận.

Bàn đến nửa đêm, đám người cáo lui.

Tạ Thanh ở lại đưa mấy quyển binh thư vài hôm trước Dao Anh cho nàng: "Công chúa, tôi xem hết rồi."

Chữ nào cũng cắn nhả rất mạnh, không khó nghe ra vẻ hãnh diện bên trong.

Dao Anh dở khóc dở cười, chuyện này rất đáng hãnh diện sao?

"A Thanh, mấy quyển binh thư này là cho cô nghiên cứu cho thật kỹ, giữ lại mà xem vài lần nữa đi, không cần trả."

Tạ Thanh ồ một tiếng, nhận lại sách.

Dao Anh nhỏ giọng: "A Thanh, vừa vặn chúng ta đang ở Vương Đình, chỗ nào cô không hiểu có thể tìm bọn Tất Sa thỉnh giáo, dù binh thư hai nước khác biệt nhưng cũng cùng một đạo lý."

Tạ Thanh gật đầu.

Nàng trời sinh có sức mạnh, lúc nhỏ hay luyện võ với anh em trai trong nhà, nhưng vì thân gái, cha chưa từng dạy nàng bài binh bố trận, lúc trước nàng cũng không muốn ra trận, chỉ làm một chức hộ vệ, giờ lưu lạc bên ngoài, thân binh đều nghe nàng chỉ huy, công chúa bảo nàng học binh pháp, nàng sẽ học cho tốt.

Công chúa chưa từng vì nàng là nữ mà nhìn nàng bằng ánh mắt khác, không bất công cũng không hiếu kỳ, như trong mắt công chúa, đây không thể là chuyện bình thường hơn.

Nàng không thể phụ lòng tín nhiệm của công chúa.

Tạ Thanh cất binh thư, nhìn ánh trăng như nước trước cửa sổ, đột nhiên hỏi: "Công chúa, nếu như tin chúng ta đưa về được tới Trung Nguyên, Trung Nguyên sẽ hồi đáp sao?"

Dao Anh gật gật đầu: "Sẽ."

Nàng chắc chắn Trung Nguyên sẽ đáp lại, vì nàng xem Lý Đức, Lý Huyền Trinh và các đại thần trong triều là chính khách, cho dù giữa họ có gút mắc gì, chính khách sẽ không cự tuyệt giao dịch có lợi, vả lại trong triều còn có Trịnh Cảnh nhân tài xuất thân từ thế gia mới nổi, có Đỗ Tư Nam từ hàn tộc dã tâm bừng bừng, nóng lòng kiến công lập nghiệp, vì tiền đồ có thể không từ thủ đoạn, những người này không thiếu tầm mắt lâu dài, yêu nước thương dân, luôn sẽ có người hồi đáp.

Về phần thù riêng cha con anh em bọn họ, sẽ luôn có lúc tính toán cho rõ.

Tạ Thanh nhíu mày: "Về Trung Nguyên rồi sao ạ?

Công chúa, ngài phải có dự định cho riêng mình."

"Ta biết."

Dao Anh ngáp một cái, giọng nhu mì lười biếng, "Về Trung Nguyên không phải về Trường An, trong lòng ta nắm chắc, A Thanh, những chuyện ta làm, là vì đại cục, trừ họa chiến tranh, cũng có lợi cho chính ta, cô yên tâm."

Tạ Thanh ừm, thấy nàng đầy mệt mỏi, đứng dậy dời ánh đèn: "Công chúa nghỉ sớm đi."

Mí mắt Dao Anh sụp xuống, thay đồ nằm chưa đầy một lát đã ngủ mất, trong mơ mơ màng màng bỗng nhiên cảm giác có gì kỳ lạ, giật mình tỉnh lại, vừa vặn nghe thấy có mấy tiếng chân đạp trên nóc nhà.

Có người đi trên mái nhà!

Dao Anh nghiêng tai lắng nghe, có tiếng trầm đục trong vườn, rồi tiếng người ngã xuống, nghe Tạ Xung kêu lên, không biết bị ai đánh ngất, tiếng la im bặt.

Ngoài hành lang tiếng bước chân hỗn loạn, bóng người di chuyển trước cửa sổ.

Tim Dao Anh đập bình bịch, sờ soạng lôi chủy thủ ra, bò dậy, chân trần bước xuống đất, rón rén trốn đến sau cửa.

Két két, then cửa bị đẩy ra từ ngoài, một đôi tay đẩy cửa ra, mấy bóng đen chui vào phòng, trực tiếp chạy tới giường.

"Công chúa!"

Tiếng Tạ Thanh, Tạ Bằng quát lớn, trong vườn có bóng người cầm đao chợt lóe, thân binh vừa la lớn vừa quấn đấu với người mặc đồ đen, trong trong ngoài ngoài hành lang đầy người.

Dao Anh trốn phía sau cửa, hay tay nắm chặt chủy thủ.

Mấy bóng đen kia chạy vội tới cạnh giường, xốc tấm chăn mỏng, không thấy Dao Anh, lập tức tìm kiếm xung quanh.

Một bóng đen trong đó bỗng híp mắt, xoay người lóe lên trong chớp mắt cơ thể cao lớn mạnh mẽ đã đứng trước mặt Dao Anh, tay dài duỗi ra, một tay nắm chặt cổ tay nàng, hơi dùng sức.

Rắc, hai tay Dao Anh xụi lơ, chủy thủ trong tay rơi xuống đất.

Sau tấm mặt nạ có tiếng cười nhẹ, lộ vẻ không kiềm chế: "Văn Chiêu công chúa, cô luôn thích trốn ở chỗ sau cửa này nhỉ."

Máu khắp người Dao Anh như đông lại, đối mặt với đôi mắt màu vàng nhạt sắc bén, mở to hai mắt: Hải Đô A Lăng!

Hải Đô A Lăng cười nhạo, ngón tay thô ráp bóp cằm Dao Anh, khinh miệt nói: "Ta nói rồi, cô trốn không thoát lòng bàn tay của ta."

Răng Dao Anh nghiến kèn kẹt, muốn tránh thoát hai cánh tay y nhưng tay chân lại cứng ngắc, không động được.

Hải Đô A Lăng cười nhẹ, cúi người ôm lấy nàng, ánh mắt lóe lên vẻ tràn đầy dục vọng chinh phục con mồi: "Công chúa, chơi bên ngoài chán rồi, phải về thôi."

Y ôm Dao Anh ra hành lang, mấy bước nhảy lên tường rào, mấy nhịp lên xuống nhanh nhẹn, trong nháy mắt đã lướt qua một loạt nóc nhà.

Mấy người Tạ Thanh trơ mắt nhìn Dao Anh bị bắt đi, muốn nứt cả mắt định xách đao đuổi theo nhưng bị mấy người mang mặt nạ quấn lấy, khổ đấu một trận, ngẩng lên chỉ còn một vầng trăng bạc, nào còn bóng hình của Dao Anh?

"Công chúa!"

Tạ Xung lo lắng rống to.

Dao Anh bị mang ra Vương cung, không còn nghe được tiếng thân binh vội hô hoán, bên tai chỉ có tiếng gió vù vù và tiếng thở trầm ổn chậm rãi của Hải Đô A Lăng, đôi tay dài rắn chắc có lực ôm chặt nàng như cái vòng sắt, siết chặt khiến nàng không cách nào động đậy.

Nàng nhẹ run rẩy, nhìn thấy Vương cung ngày càng xa, dùng hết sức lực, cắn cổ Hải Đô A Lăng một phát.

Hải Đô A Lăng khẽ cười, nhanh nhẹn tránh đi, bắt lấy cằm nàng, hơi nóng phả lên chóp mũi nàng: "Mấy ngày không gặp, công chúa học được cách cắn người rồi sao?"

Nhưng đúng lúc này, dưới ánh trăng trong lạnh bỗng lóe một vầng sáng màu vàng rực rỡ.

Hải Đô A Lăng nhạy bén ngửi được mùi nguy hiểm, con ngươi co rút, ôm chặt Dao Anh, tung người phóng lên.

Vầng sáng còn nhanh hơn y, trong giây lát đã đuổi kịp y, bổ thẳng đứng vào lưng y, móng vuốt sắc nhọn rạch đứt áo giáp.

Áo giáp vừa cứng vừa dẻo dai bị xé đôi, y phục rách hết.

Hải Đô A Lăng rên cả người, bắp thịt cánh tay xoay vần, đánh ra một chưởng xé không, nhẹ lay người, hất bóng đen, nhảy lên đỉnh nóc nhà ngói, quay đầu lạnh lùng nhìn bóng đen kia.

Dao Anh nhìn theo ánh mắt y.

Một con báo màu sắc lộng lẫy từ trong bóng tối từ từ bước ra, thân hình mạnh mẽ, vẻ nhẹ nhàng ưu nhã, hai mắt màu vàng lóe lên lân quang kỳ dị.

Hải Đô A Lăng lột mặt nạ, nét mặt dữ tợn, thả Dao Anh xuống, rút đao ra khỏi vỏ, ánh mắt tối tăm: "Tô Đan Cổ, ta đã đoán sẽ sớm gặp ngươi!"

Vài tiếng chấn động nhẹ trên mái, báo đốm nâng đuôi, chạy về hướng Đông.

Ánh trăng trong veo nhè nhẹ, gió đêm gào thét, thấp thoáng lấp lóe dưới ánh trăng, một bóng người cao gầy đứng một chỗ trên nóc nhà, tay cầm trường đao, một thân áo đen, khuôn mặt đáng sợ, trầm tĩnh lạnh nhạt, như hòa vào bóng đêm vô biên vắng vẻ thành một.

Như Tu La đi ra từ quỷ vực, lạnh lẽo túc sát, hung mãnh vô tình.

Hải Đô A Lăng lạnh lùng nhìn hắn, nâng trường đao.

Tô Đan Cổ đón gió mà đứng, không nhúc nhích, y phục màu đen phần phật bay, ôm lấy dáng người thon gầy lại căng chứa đầy lực, cả người tràn đầy sức bật rất mãnh liệt.

Dao Anh kinh ngạc nhìn hắn.

Hải Đô A Lăng tiến lên, quát khẽ lấn lên, Tô Đan Cổ đang đứng bất động bỗng nhiên rút đao tiến tới, động tác mau lẹ, ánh đao lấp lóe, hai bóng người mạnh mẽ quấn đấu.

Dao Anh đứng trên nóc nhà, gió thổi chao đảo, tim đập loạn, không chớp mắt nhìn hai người.

Hải Đô A Lăng nhanh nhẹn uy mãnh, tấn công mạnh mẽ, đao mang lực hung ác.

Tô Đan Cổ ác liệt tàn bạo, khí thế bàng bạc, mỗi đao đều tàn nhẫn vô cùng, ra tay không chút lưu tình, giữa di chuyển lại mang vẻ uy nghi ung dung trầm ổn, mơ hồ có phần thương xót.

Hai người qua hơn một trăm chiêu vẫn chưa rõ cao thấp, hai luồng lực đạo va chạm khuấy động, mái nhà vỡ vụn, bụi rơi lả tả.

Hải Đô A Lăng tâm tình nóng nảy, đánh mãi chưa tới đâu, giận tím mặt, bức Tô Đan Cổ vào góc, một chiêu thanh toán, bắp thịt cả người gồng lên, giơ trường đao chém về phía Tô Đan Cổ.

Một phát như dùng hết toàn lực của gã, như Thái Sơn áp đỉnh, Phật cản giết Phật!

Dao Anh khẩn trương nín thở.

Tô Đan Cổ thẳng người, mặt lầm lì, tay trái trường đao quét ngang, khí thế bừng bừng, mang theo vẻ bá đạo tận trời sôi trào mãnh liệt, cứ thế mà bổ vào thế công của Hải Đô A Lăng!

Hải Đô A Lăng lùi về một bước, rên nhẹ, khóe miệng tràn tia máu.

Y quét mắt một vòng sau lưng, phát hiện người của y không đuổi theo, ánh mắt âm u, bỗng lui lại mấy bước, phóng tới cạnh Dao Anh, ôm lấy eo nàng, xoay người bỏ chạy.

"Tô Đan Cổ, sau này gặp trên chiến trận, chúng ta lại so cao thấp!"

Dao Anh còn chưa kịp kêu cứu, sau lưng có luồng đao khí chém tới, trong tiếng áo bào phần phật, Tô Đan Cổ tung người mấy cái đuổi theo, thân ảnh quỷ mị, chém một đao về phía cánh tay phải của Hải Đô A Lăng.

Hải Đô A Lăng sợ hãi, lách mình né tránh, Tô Đan Cổ sấn lên, bắt lấy vai Dao Anh ôm vào trong lòng.

Dao Anh cảm thấy tia đao lóe bên khóe mắt, lớn tiếng nói: "Cẩn thận!"

Một thanh đoản đao từ trong tay áo Hải Đô A Lăng phóng ra, thẳng vào Tô Đan Cổ!

Tô Đan Cổ không rên một tiếng, bóng người cao lớn bay tới, thế như ưng bắt thỏ, tay phải ôm lấy eo Dao Anh, sượt qua người Hải Đô A Lăng, tay trái phóng một chưởng, chưởng phong rất mạnh, thế không thể đỡ.

Hải Đô A Lăng nhắm mắt thu đoản đao, chạy ra sau.

Dao Anh kinh sợ, đổ đầy mồ hôi lạnh, trong lúc bối rối bấu ngay cổ Tô Đan Cổ, người dính sát vào lồng ngực hắn, run nhè nhẹ.

Tô Đan Cổ ôm nàng nhanh chóng lướt qua nóc nhà, dừng lại một chỗ trên tường viện, quay người nhìn Hải Đô A Lăng.

"Văn Chiêu công chúa là Ma Đăng Già của Vương, nếu có lần sau, ta ra tay sẽ không lưu tình."

Hắn nhả từng chữ, giọng khàn khàn.

Hải Đô A Lăng mặt trầm như nước, nhìn Dao Anh nép trong ngực Tô Đan Cổ, khóe miệng co giật mấy cái, quay người nghênh ngang rời đi.
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 54: Thừa nhận


Bầu trời cao xa vắng vẻ, ánh trăng tung xuống một mảng sáng lạnh trong lấp lánh như nhũ bạc, gió đêm thổi tới, phất qua da thịt dưới lớp áo mỏng, lạnh buốt như tuyết.

Tô Đan Cổ ôm lấy Dao Anh run lẩy bẩy, thoăn thoắt nhảy vượt giữa Vương cung nguy nga, báo đốm ngay sau lưng bọn họ, động tác tung chân nhẹ nhàng tinh tế.

Dần dần nghe tiếng người ồn ào, vút vút mấy mũi tên nhọn xé không tới, tiếng rít lạnh gần trong gang tấc.

Dao Anh trong lòng rất gấp, ngón tay không khỏi nắm chặt áo bào của Tô Đan Cổ.

Hắn không nói không rằng, che nàng trong lòng, ngang tay nâng đao, chém mấy mũi tên, nhảy xuống tường viện, hạ xuống cạnh một gốc cây táo trong vườn.

Cách một bức tường viện, có tiếng la to với đám cung thủ: "Nhìn kỹ đi!

Là Nhiếp Chính Vương!"

Vệ binh bắn tên run lẩy bẩy, lập tức rối loạn, tiếng kêu la tứ phía.

Thu cánh tay kiên cố vòng quanh bờ vai kia về, Dao Anh được đặt xuống, đôi chân trần chạm mặt đất lạnh lẽo, hơi lạnh xông thẳng lên người.

Sau lưng nghe một tiếng kêu rên đè nén.

Dao Anh nheo mắt, quay lại nhìn.

Tô Đan Cổ che ngực lùi về một bước, áo bào xẹt qua nhánh cây táo, đám hoa màu trắng bạc xào xạc rơi.

"Ngài bị thương à?"

Dao Anh giật mình, đưa tay đỡ Tô Đan Cổ, vừa rồi lúc hắn ôm nàng đối địch với Hải Đô A Lăng, Hải Đô A Lăng phóng một thanh đoản đao từ tay áo, hắn sợ nàng bị đâm trúng, lộn vòng người chặn một đao, có lẽ đã bị thương.

Tô Đan Cổ hơi lảo đảo.

Dao Anh xông tới đỡ lấy cánh tay hắn, nghĩ có khi hắn không hiểu tiếng Hán mình nói trong lúc vội, đổi tiếng Hồ hỏi lại: "Ngài bị thương à?"

Tô Đan Cổ lấy lại thăng bằng, hờ hững liếc nàng, vết sẹo trải rộng trên mặt xấu xí dữ tợn, một đôi mắt sâu xanh lục vô tình, như bầu trời mênh mông rực rỡ, lạnh lùng lãnh đạm, không vui không buồn.

Đột nhiên Dao Anh có cảm giác đứng trước mặt không phải là một người, mà là một thanh đao lẫm liệt tỏa đầy sắc lạnh.

Một thanh đao vô tình vô dục, chuyên giết chóc mà thành.

Hai người bốn mắt chạm nhau.

Dao Anh nhíu mày nhìn lên Tô Đan Cổ, trên mặt không hề sợ hãi chán ghét, chỉ có chân thành lo lắng và cảm kích, ánh trăng lọt vào đôi mắt trong suốt thon dài của nàng, đáy mắt có ánh lấp lánh, như nước hồ sóng sánh, dịu dàng xinh đẹp.

Ánh mắt Tô Đan Cổ lại như hồ nước tĩnh lặng tịch mịch, không một gợn sóng.

Nhìn nhau trong chớp mắt, Dao Anh tiếp tục nhẹ giọng hỏi: "Tô tướng quân, ngài bị thương chỗ nào?"

Nghe có tiếng bước chân như mưa rơi từ cửa sân, A Sử Na Tất Sa người mặc nhung trang dẫn đám vệ binh chạy tới, xông vào đình viện.

Vệ binh nhìn thấy mũi tên rơi trên đất, liếc qua khuôn mặt dữ tợn của Tô Đan Cổ, nhìn nhau, sợ không dám bước tới.

Tất Sa bước qua mớ tên rơi loạn đầy đất, lo lắng chạy tới, ánh mắt rơi xuống cánh tay Dao Anh dìu lấy Tô Đan Cổ, chau mày.

"Hộ vệ trong cung bất lực, làm công chúa bị sợ hãi."

Anh cười cười với Dao Anh, quay lại ra hiệu hai tên vệ binh, "Đưa công chúa về nghỉ đi."

Dao Anh đảo mắt một vòng.

Trong hành lang chen đứng đầy vệ binh, ai cũng đầy đủ vũ trang, chỉ tính người vác trường cung đã có bảy tám người —— bình thường Đàm Ma La Già không ở Vương cung, trong cung cấm không có thủ nghiêm thế này, hiển nhiên họ đã có chuẩn bị đón địch từ trước.

Tất Sa biết Hải Đô A Lăng sẽ xông vào Vương cung, nên mới thu xếp nhiều người thế này chạy tới cứu nàng.

Dao Anh có vẻ suy nghĩ, nhìn Tô Đan Cổ đã đứng vững vàng, nói: "Đa tạ Tô Tướng quân."

Tô Đan Cổ không lên tiếng, trên gương mặt đáng sợ nhìn không ra cảm xúc gì.

Dao Anh thu tay lại, quay đi.

"Công chúa, chờ tí!"

Tất Sa đuổi theo, cúi nhìn Dao Anh.

Dao Anh nửa đêm tỉnh giấc, không mặc áo ngoài, chỉ một lớp áo trong mỏng manh, có lẽ mang từ Trung Nguyên tới, mỏng như cánh ve, nhẹ nhàng trong suốt, dưới ánh trăng nhẹ lồng xuống, dáng người yểu điệu như ẩn như hiện, lớp vải mỏng lộ ra vòng eo tinh tế mềm mại, vừa rồi lúc giãy dụa cổ áo mở một nửa, một bờ vai óng ánh trắng nõn lộ ra, còn muốn nhẵn mịn trắng dính hơn cả mỡ dê, đâu đấy như có mùi thơm quanh quẩn.

Ánh mắt vệ binh trong viện dao động, tất cả đều đang len lén nhìn nàng.

Tất Sa nhìn bờ vai tuyết trắng của Dao Anh, lông mày càng nhíu chặt.

Dao Anh biết mình chật vật, cười cười, ôm lấy vạt áo, động tác tự nhiên không chút xấu hổ.

Nàng chân trần nhảy xuống giường trốn, phản ứng đã rất nhanh, đáng tiếc vẫn bị Hải Đô A Lăng bắt rùa trong hũ, y đã coi nàng là con mồi, đã thăm dò thói quen chạy trốn của nàng.

Tất Sa vốn nghĩ Dao Anh sẽ lộ vẻ thẹn thùng xấu hổ, hoặc sợ túa nước mắt sướt mướt, ai ngờ nàng lại cười, mắt lộ vẻ kinh ngạc.

"Công chúa, người đang phát run lên kìa."

Anh cởi áo choàng trắng trên người xuống, choàng qua vai Dao Anh, nắm chặt bờ vai nàng, nhẹ nhàng nói, "Công chúa không cần sợ, cả đêm tôi sẽ canh ở đây."

Đám vệ binh nghẹn họng nhìn anh ta trân trối: Tướng quân quả thật phong lưu phóng khoáng, lúc này vẫn không quên dâng hiến ân tình!

Dao Anh lạnh run, không khách khí, quấn áo choàng, nói: "Đa tạ."

Tất Sa đưa mắt nhìn nàng đi xa, ánh mắt mềm mỏng, mãi khi bóng lưng nàng biến mất sau cửa sân, mới quay nhìn Tô Đan Cổ, khóe miệng nhẹ vểnh.

"Nhiếp Chính Vương, đa tạ người cứu Văn Chiêu công chúa, ban nãy tôi thật tình sợ nàng ấy bị Hải Đô A Lăng cướp mất."

Nghĩ lại mà sợ, vỗ vỗ ngực, anh cất cao giọng nói.

Tô Đan Cổ không nói gì, tra đao vào vỏ, ngẩng lên quét mắt một vòng đình viện.

Cả đám bị ánh mắt quét tới thầm sợ, run run rẩy rẩy quỳ xuống.

Tất Sa cũng quỳ một chân trên đất, cung kính nói: "Nhiếp Chính Vương, bọn tôi bắt được tám người, giết năm, còn hai kẻ tự vận, còn một không chạy thoát!"

Anh dẫn đội mai phục gần chỗ Lý Dao Anh, nghe động tĩnh chạy tới ngay.

Tô Đan Cổ gật đầu, vạt áo đen đảo qua trước mặt mọi người, bóng người cao gầy rắn rỏi đi vào hành lang, tan vào trong bóng đêm.

Báo đốm ngoắt ngoắt cái đuôi đi theo.

Chỉ sau chốc lát, tiếng bước chân biến mất.

Như Tu La quỷ mị, vô tung vô ảnh.

Mấy tên vệ binh vừa rồi trong lúc bối rối đã bắn phải Tô Đan Cổ nhìn nhau, run rẩy: "Nhiếp Chính Vương có đang tức giận không nhỉ?

Không biết có trị tội chúng ta không ta?"

Họ thật không cố ý, nhìn thấy một bóng người ôm công chúa còn tưởng là Hải Đô A Lăng!

Ai biết Nhiếp Chính Vương xuất quỷ nhập thần lại đột nhiên ra mặt?

Nhiếp Chính Vương tuyệt đối đừng chém đầu họ nghen!

Tất Sa đứng lên, đạp tên vệ binh: "Lần sau tỉnh táo hơn cho ta!

Nếu ngộ thương Nhiếp Chính Vương thì làm thế nào?

Đám cung thủ đi Hình đường lãnh phạt hết đi, mỗi người mười côn!"

Cả đám không dám xin khoan dung, dập đầu vâng dạ, chịu mười côn dù sao cũng ngon hơn rơi đầu!

Vệ binh xin chỉ thị Tất Sa: "Tướng quân, có cần phái người đi Phật Tự bẩm với Vương không ạ?"

Là Vương nhắc họ phòng bị, giờ bắt được người, hẳn phải bẩm báo Vương trước.

Tất Sa lắc đầu: "Không cần phái người đi Phật Tự...

Nhiếp Chính Vương sẽ đích thân bẩm báo."

...

Dao Anh trở lại nơi ở.

Tạ Thanh, Tạ Xung lập tức lao đến, họ cùng vệ binh đã khống chế bộ hạ của Hải Đô A Lăng, đang chuẩn bị đi tìm nàng.

Dao Anh về phòng mang giày vào trước —— mấy con đường trong Vương cung phần lớn là đi trên đất, một đường chân trần, lòng bàn chân nàng đã muốn mài hỏng.

Tạ Xung cả giận nói: "Không ngờ Hải Đô A Lăng chưa hết hi vọng, công chúa đã ở trong Vương cung Vương Đình rồi mà y còn dám dấn thân mạo hiểm."

Dao Anh đổi áo choàng dày hơn, nói: "Phật Tử rất ít khi ở Vương cung, ở đây phòng thủ không nghiêm."

Từ lúc Hải Đô A Lăng xuất hiện ở đại hội tranh biện kinh Phật nàng đã biết đối phương không tốt, nên trốn kỹ không ra, không bước ra cửa cung một bước, sau khi sứ đoàn Bắc Nhung rời đi đợi mấy ngày mới dám xuất cung đi lại, không ngờ lần này Hải Đô A Lăng còn kiên nhẫn hơn trước, chờ đến đêm nay mới ra tay.

Dao Anh nhớ đến A Bố con chim ưng Hải Đô A Lăng tự mình thuần dưỡng, gã thích cảm giác chinh phục con mồi, sẽ không dễ dàng buông tha nàng.

"Giờ phải mau chóng nghĩ cách truyền tin về Trung Nguyên..."

Dao Anh thì thào, "Cũng không biết vết thương của anh đã lành chưa...

Tính anh nóng nảy, ai khuyên cũng không nghe..."

Nàng nhớ đến Lý Trọng Kiền, lại sợ Lý Trọng Kiền gặp Hải Đô A Lăng, bi kịch tái diễn.

Dao Anh hà hơi, nửa đêm gió lạnh, sắc mặt trắng bệch, môi tái xanh, người run rẩy nhẹ.

Đám Tạ Xung liếc mắt nhìn nhau, không đành lòng dọa nàng, cười nói: "Công chúa an tâm, Tần Vương chắc chắn sẽ bình yên vô sự!

Đêm nay công chúa đã hoảng sợ, nghỉ ngơi sớm đi, Hải Đô A Lăng còn dám đến, tụi tôi chặt tay y."

Dao Anh thu nỗi phiền muộn, cười với mọi người rồi đuổi ra, một mình ngồi lại trong phòng u ám, vừa xoa bàn chân bị đất cát mài đến vết thương chồng chất, vừa lẳng lặng suy tư.

Lúc này Tạ Thanh không dám để Dao Anh lọt ra ngoài tầm mắt, canh giữ ở một góc khuất trong phòng, ngồi xếp bằng, nhắm mắt thiếp đi.

Ngày hôm sau, A Sử Na Tất Sa tới thăm Dao Anh, liên tục cam đoan, Vương cung đã tăng cường phòng bị, bộ hạ Hải Đô A Lăng kẻ chết, người bị bắt, y tuyệt đối không dám giữa đêm xông vào Vương cung nữa.

Dao Anh cám ơn anh ta đêm qua dẫn binh bảo vệ, trực tiếp hỏi: "Có phải Tướng quân đã biết trước rằng Hải Đô A Lăng sẽ đến?"

Tất Sa ngây người.

Sóng mắt Dao Anh trong trẻo, bình tĩnh nhìn anh ta.

Tất Sa với nàng nhìn nhau một lúc, thu lại vẻ đùa giỡn, gật đầu: "Không sai, Nhiếp Chính Vương biết Hải Đô A Lăng còn núp chờ ở Thánh Thành, dặn bọn tôi tăng cường phòng bị, tránh Hải Đô A Lăng cướp đi công chúa."

Dao Anh khẽ giật mình.

Nàng tưởng người an bài phục binh đêm qua là Tất Sa, ai dè là Tô Đan Cổ?

Không hổ là Nhiếp Chính Vương chấp chưởng quân chính, trấn áp mấy đại quý tộc, quả nhiên tâm tư tỉ mỉ, âm thầm đề phòng Hải Đô A Lăng.

Tất Sa gãi gãi da đầu: "Công chúa, không phải tôi cố ý giấu người, thật ra vì sợ người sợ nên không nhắc nhở trước.

Nhiếp Chính Vương cũng không biết Hải Đô A Lăng có tới không, lại không biết khi nào, sợ báo cho công chúa, khó tránh khỏi ăn ngủ không yên, ngày đêm lo sợ."

Dao Anh không hề lo lắng cười lắc đầu: "Ta không có giận..."

Nàng chuyển đề tài, "Nhưng hi vọng sau này Tướng quân đừng giấu ta, người mà Hải Đô A Lăng muốn cướp là ta, ta chính là mồi nhử tốt nhất, nếu Tướng quân báo ta sớm chút, ta có thể cùng Tướng quân nội ứng ngoại hợp, nói không chừng có thể bắt được Hải Đô A Lăng."

Tất Sa chấn động, lặng thinh rất lâu.

Dao Anh nhìn anh ta mỉm cười, mặt mày tỏa sáng.

Tất Sa tránh tầm mắt nàng, hỏi: "Công chúa có nghĩ tới, chúng ta nội ứng ngoại hợp giết Hải Đô A Lăng, thì sau công chúa không phải lo nữa."

Dao Anh cười nhạt, ngẩng nhìn bầu trời xanh thẳm trong veo: "Vương Đình và Bắc Nhung ký minh ước, Hải Đô A Lăng là Vương tử Bắc Nhung, lúc này Vương Đình mà giết Hải Đô A Lăng, Bắc Nhung chắc chắn sẽ kiếm cớ khai chiến —— tướng quân yên tâm, ta được Vương Đình che chở, phân rõ nặng nhẹ, Hải Đô A Lăng phải chết ngoài đất của Vương Đình, hoặc là ra tay không chừa chút hậu hoạn, không để Bắc Nhung nắm được, hoặc là hai quân đối địch."

"Hải Đô A Lăng không vô duyên vô cớ đi sứ Bắc Nhung, chắc chắn Nhiếp Chính Vương đã biết nên đêm qua không xuống tay sát thủ."

Tất Sa quay nhìn Dao Anh, trên gương mặt tuấn lãng lướt qua một tia kỳ lạ.

Công chúa nói đúng, Vương Đình không nên khai chiến với Bắc Nhung lúc này.

Trung quân đối Đàm Ma La Già trung thành tuyệt đối nhưng Tả quân, Hữu quân, Tiền quân, Hậu quân lại nằm trong tay các đại quý tộc, vừa mới trải qua mấy trận đại chiến, lòng người còn chưa hoàn hồn, lại đến mùa vụ, nguồn chiêu mộ lính không đủ.

Sau cuộc chiến, mở Đại Pháp hội hoành tráng để ăn mừng thắng lợi, cũng để trấn an lòng người, uy hiếp đại thần, ổn định triều chính.

Đêm qua sở dĩ anh ta không báo trước cho Lý Dao Anh chính là vì sợ vị công chúa Đại Nguỵ này sợ hãi làm xáo trộn kế hoạch của họ, kéo toàn bộ Vương Đình vào vũng bùn.

Tất Sa thở dài, ôm quyền, vẻ rất nghiêm túc: "Công chúa, thật xin lỗi."

Anh biết Hải Đô A Lăng nhất định phải đoạt được công chúa, lại không thể giết y giúp công chúa an giấc, còn mặt mũi nào tự xưng là bạn của công chúa?

Dao Anh đứng dậy, đứng dưới hiên, đáp lễ lại Tất Sa, nói: "Tướng quân, ta được Phật Tử che chở, lại kết minh với Phật Tử, Vương Đình an ổn, ta mới có thể an toàn, ta không thể không để ý đại cục, cũng sẽ không cuồng vọng yêu cầu quý quốc vì ta mà giết Vương tử Bắc Nhung."

Kết minh với Cao Xương là dự định cho tương lai về sau, nàng ở Vương Đình luôn có chỗ tốt, nàng không ngây thơ cho rằng Đàm Ma La Già sẽ vì người không liên quan như nàng hạ lệnh giết Hải Đô A Lăng.

Mới lại Hải Đô A Lăng là cao thủ bậc nhất của Bắc Nhung, đâu phải dễ giết?

Đàm Ma La Già cứu được nàng, phái vệ binh bảo vệ nàng, phòng bị Hải Đô A Lăng, nàng đã rất cảm kích.

Tất Sa ngóng nhìn Dao Anh, mắt chớp chớp, thay đổi vẻ khinh cuồng hời hợt trước đó, dáng người cao ngất, nói: "Công chúa cũng không cần quá khách khí, công chúa cứu Vương chính là đã cứu toàn bộ Vương Đình.

Dù ngay lúc này tôi không thể giết Hải Đô A Lăng, nếu có gặp trên chiến trận sau nay, tôi nhất định giết hắn!"

Dao Anh mỉm cười: "Tuy lúc này không thể giết Hải Đô A Lăng... nhưng cũng không thể để y cứ vậy yên ổn về Bắc Nhung."

Tất Sa nhếch miệng: "Công chúa yên tâm, Hải Đô A Lăng xông vào Vương cung nửa đêm, bọn tôi không bắt được y, không có chứng cứ, nhưng người của y đã rơi vào trong tay bọn tôi, Nhiếp Chính Vương căn dặn, đưa chúng đi Bắc Nhung, Ngoả Hãn Khả Hãn chắc chắn sẽ tức giận."

Dao Anh gật đầu.

Đây đúng là một cách, Ngoả Hãn Khả Hãn còn biết nói tình nghĩa hơn Hải Đô A Lăng, vả lại đã thầm xem Đàm Ma La Già như khắc tinh, không dám khai chiến với Vương Đình.

Có điều còn có một cách tốt hơn, độc ác hơn.

Dao Anh ra hiệu thân binh lấy bình thuốc nàng đã sửa soạn đêm qua ra: "Đêm qua ta được Nhiếp Chính Vương cứu, ta muốn trực tiếp gặp Nhiếp Chính Vương nói lời cảm tạ."

Ánh mắt Tất Sa lấp lánh, cười nói: "Nhiếp Chính Vương hành tung bất định, tôi cũng không biết ngài ấy ở đâu."

Dao Anh cũng cười cười: "Vậy xin Tướng quân chuyển lời một câu."

Tất Sa còn chần chừ, chưa kịp há miệng, một vệ binh lộn nhào xông vào đình viện, "Hải Đô A Lăng đến rồi!"

Cả đám kinh hãi, thân binh hộ vệ cuống quít nắm binh khí, thủ thế phòng vệ.

Tất Sa biến sắc, trấn an Dao Anh: "Công chúa không cần sợ, Hải Đô A Lăng chỉ một mình, không dám làm loạn."

Nói xong, quay người chạy đi.

Dao Anh trấn định lại, tránh lên lầu hai nấp trong tháp các chờ tin.

Chỉ sau chốc lát, vệ binh quay lại báo, Hải Đô A Lăng hiện đang ở Vương cung.

Sau thất bại đêm qua y không trốn mất dạng, mà tìm chỗ chỉnh đốn một đêm, sáng sớm hôm nay nghênh ngang xuất hiện trước cửa dịch quán, nói trên đường mình về Bắc Nhung gặp cướp, thân binh bên cạnh đều đã chết, yêu cầu Vương Đình xuất ngựa lương khô đưa tiễn, còn phái người hộ tống y về nha trướng.

Tạ Xung nghiến răng: "Tên này đúng là gan to bằng trời, không sợ chúng ta giết à?"

Dao Anh nhíu mày.

Hải Đô A Lăng không chỉ gan cả người, mà còn biết lấy lui làm tiến, bên cạnh y không còn thân binh hộ vệ, sợ Tô Đan Cổ đuổi giết, dứt khoát lộ ra thân phận sứ giả, yêu cầu Vương Đình tiễn mình về Bắc Nhung, từ đây, y sẽ không phải sợ Vương Đình ngầm ra tay.

Chuyện đêm qua xông vào Vương cung y có thể liều chết không nhận.

Quả nhiên, vệ binh tới thuật lại, Hải Đô A Lăng là sứ giả Bắc Nhung, đại thần trong triều không muốn sinh sự, chuẩn bị ngựa cho y.

Vệ binh nói: "Công chúa, Vương tử Hải Đô A Lăng nói trước khi đi muốn gặp ngài nói mấy câu.

A Sử Na tướng quân nói, ngài có thể đi, cũng có thể không đi."

Đám Tạ Xung nhảy lên, mặt đỏ bừng: "Mơ tưởng!"

Dao Anh trầm ngâm một lát rồi đứng dậy.

Gặp thì gặp, lúc này Hải Đô A Lăng không thể làm gì nàng, nàng muốn biết mục đích thực sự của Hải Đô A Lăng.

Hải Đô A Lăng đã thay đổi y phục, tóc bím áo choàng, một bộ cẩm bào gấm nửa cánh tay, dựa vào cây cột ở hành lang, chân dài hơi cong, cơ bắp đầu vai căng cứng.

Đại thần đứng một bên quan sát, Tất Sa dẫn vệ binh Vương Đình giằng co cùng Hải Đô A Lăng, ánh đao lấp lóe, trường thương như rừng.

Khí thế cả viện đều chĩa vào trên người một mình Hải Đô A Lăng.

Y nhìn thấy Dao Anh, khẽ nhếch miệng đi về phía nàng: "Công chúa thật sự có bản lãnh, thủ đoạn lại cao, Phật Tử cao cao tại thượng đối với cô đặc biệt, ngay cả Tô Đan Cổ giờ cũng tự ra tay cứu cô."

Dao Anh tỏ ra như thường: "Vương tử định nói mấy câu này đó à?"

Con ngươi màu vàng nhạt của Hải Đô A Lăng yên lặng nhìn mặt nàng, rực rỡ động lòng người, thịt da như gió tuyết, lúc cười rực rỡ như hoa xuân, một đôi mắt thon dài tươi tắn, lúc khóe mắt hơi vểnh vô tình toát ra mấy phần mềm mại rung động lòng người, nhưng riêng đối với y luôn lạnh lùng như băng, chưa từng lộ ra vẻ uyển chuyển xinh đẹp trước mặt y.

"Ta thật không rõ."

Y nhắm hai mắt, "Ta là dũng sĩ mạnh nhất anh dũng nhất Bắc Nhung, sao cô hết lần này đến lần khác cự tuyệt ta?"

Ở Bắc Nhung, cô gái xinh đẹp nhất thuộc về người đàn ông cường tráng nhất, sao Văn Chiêu công chúa không chịu thần phục y?

Hải Đô A Lăng cười nhạo.

"Đêm qua gã quái dị Tô Đan Cổ kia tới cứu cô, cô nép vào người hắn, nép đến thật sát...

Chả nhẽ ta còn không bằng một gã quái dị?"

Dao Anh thản nhiên nói: "Đẹp xấu không ở bề ngoài, Tô Tướng quân chinh chiến vì nước, bảo vệ một phương yên ổn, thưởng phạt phân minh, công chính vô tư, ta kính nể Tướng quân.

Vương tử dù tuấn lãng phong lưu, trong mắt ta, cũng chỉ bình thường."

Hải Đô A Lăng nhếch miệng cười cười, ánh mắt âm u: "Cha nuôi ta năm đó thích một người, bèn đến cầu thân, tù trưởng bộ lạc đó xem thường, cự tuyệt ông ấy.

Cha ta không nhụt chí, một tháng sau, dẫn người tập kích bộ lạc đó, giết sạch đàn ông, ngay trước mặt người đó giết cha và tám người anh em của bà."

"Cô gái đó chính là mẹ nuôi ta, bà gả cho cha, sinh mười đứa con cho cha, bà kính yêu cha nuôi, ông ấy chính là trời của bà."

Ở Bắc Nhung, đàn ông muốn lấy vợ có thể không từ thủ đoạn, giết sạch tất cả ai ngăn cản hắn, dù có là anh em ruột của cô vợ đi chăng nữa.

Phụ nữ Bắc Nhung chỉ thần phục người anh dũng, họ sinh ra để giạng chân cho đàn ông chiếm hữu, sinh con dưỡng cái cho người.

"Trên đời này người phụ nữ xinh đẹp nhất hẳn phải thuộc về ta."

Mắt Hải Đô A Lăng lóe ra ánh sáng vàng nhạt, "Công chúa, cô trốn không thoát lòng bàn tay của ta đâu."

Y không quan tâm giờ đây Lý Dao Anh thuộc về Đàm Ma La Già hay Tô Đan Cổ, hay là cả hai đều thành thần dưới váy của nàng, đàn ông Bắc Nhung không thèm để ý phụ nữ còn trong trắng, họ cướp đất, chinh phục dị tộc, chiếm hữu người đẹp.

Giờ Văn Chiêu công chúa không thuộc về hắn, sớm muộn vẫn sẽ rơi vào tay hắn.

Dao Anh không nói, Tất Sa kế bên bỗng biến sắc, xách đao định xông lại.

Đột nhiên, một luồng gió tanh lạnh lùng thốc tới, một bóng đen từ trên trời phóng xuống, đôi vuốt đen sắc nhọn thẳng tắp chộp tới mặt Hải Đô A Lăng.

Hải Đô A Lăng không kịp chuẩn bị, vô thức đưa cánh tay lên cản, vẫn chậm một bước, móc sắt như vuốt ưng xẹt qua mặt, lập tức máu me đầm đìa.

Hai tiếng kêu trong trẻo lạnh như băng vang lên, một con ưng to lớn lướt qua trước mắt mọi người, giương cánh bay về không trung.

Đám người rớt miệng.

Mấy tên vệ binh kịp phản ứng, đầy kích động: "Đó là ưng của Vương!"

Lời còn chưa dứt, cửa sân mở ra, mấy vị sư mặc Pháp y và binh sĩ áo lam chạy đến, dẫn đầu là thân vệ Đàm Ma La Già Duyên Giác.

Cậu đứng ở hành lang trước, nhìn bộ mặt tức giận của Hải Đô A Lăng, cất cao giọng nói: "Văn Chiêu công chúa là Ma Đăng Già của Vương, được Vương che chở, xin Vương tử chú ý ngôn từ, nếu lại mạo phạm sẽ không dễ tha!"

Đột nhiên trong đình viện yên tĩnh lại, lặng ngắt như tờ, nghe được tiếng kim rơi.

Cả đám nín thở, rất kinh ngạc.

Tất Sa đầy vẻ không dám tin, sắc mặt trắng bệch.

Dao Anh cũng trợn mắt hồi lâu.

Đêm qua Tô Đan Cổ nói với Hải Đô A Lăng câu này chỉ để ép y lui, lúc ấy không có kẻ khác, sẽ không lan truyền.

Giờ trước mặt mọi người Duyên Giác tuyên bố, là nói với sứ giả Bắc Nhung Hải Đô A Lăng, còn không phải tương đương với thừa nhận thân phận nàng?

Nàng tự nói mình nguyện làm theo Ma Đăng Già, thì chẳng là gì cả vì người đời chỉ coi nàng là kẻ ái mộ Đàm Ma La Già đến cuồng nhiệt.

Đàm Ma La Già thừa nhận trước chúng, ý nghĩa không giống!

Máu khắp người Dao Anh ngưng chảy, trong đầu ong ong.

Trong yên lặng nặng nề quỷ dị, gã Bắc Nhung Hải Đô A Lăng này kịp phản ứng nhanh nhất, con ngươi co giật, nhìn Dao Anh, cười lạnh: "Thủ đoạn của công chúa cao thật!"

Nói xong, nghênh ngang rời đi.

Lúc này, chẳng ai còn để ý Hải Đô A Lăng nói gì.

Tất cả mọi người, đại thần, vệ binh, tuỳ tùng, sư sãi, Tất Sa...

đều vẹo cổ nhìn Dao Anh, động tác cứng ngắc, ánh mắt kinh hãi.

Trong nháy mắt mấy trăm ánh mắt như đao phóng qua, mang theo tiếng gió vèo vèo, quấn trong đầu Dao Anh đến choáng váng.

Nàng miễn cưỡng trấn định lại, nhìn Duyên Giác.

Duyên Giác nhìn nàng, từng chữ từng chữ nói: "Từ hôm nay trở đi, công chúa vào Phật Tự ở, theo các sư trong chùa tu tập Phật pháp."

Dao Anh thầm chấn động, cảm giác ánh mắt rơi vào người mình thật sự biến thành từng thanh từng thanh đao hữu hình, chém nàng đau nhức.
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 55: Ở chung


Từ Vương cung đi Phật Tự phải qua đoạn phố thị dài phồn hoa nhất thành, trên đường dòng người như dệt, ngựa xe như nước.

Lúc Dao Anh ngồi xe ngựa giữa đám kỵ sĩ áo lam bào trắng rời Vương cung, dù cách lớp màn nỉ thật dày, nàng vẫn nghe thấy tiếng bàn tán như sóng biển sóng sau xô sóng trước.

Nàng ngồi xếp bằng, trước mắt hiện ra khuôn mặt kinh hoàng muốn chết của Bát Nhã.

Mấy lúc trước chỉ là lời đồn nhảm, giờ thì hay rồi, nàng không chỉ khinh bạc vị thần trong lòng họ, còn muốn ở chung phòng với vị thần dưới cùng một mái hiên.

Không hề giống như nàng dự đoán.

Dao Anh hai tay chống cằm, còn chưa tỉnh táo lại.

Đàm Ma La Già ngầm đồng ý cho nàng ở lại Vương cung, với nàng mà nói đã là che chở tốt nhất, giờ ngài công khai thừa nhận thân phận nàng, đừng nói đám Bát Nhã đau tim kinh sợ, chính nàng cũng bất ngờ.

Tự nàng đơn phương mặt dạn mày dày quấn tới, dân chúng Vương Đình chỉ coi như nàng là oán nữ yêu đương cuồng nhiệt.

Còn Đàm Ma La Già cho phép nàng vào ở Phật Tự, ý nghĩa không còn bình thường.

Đối với nàng, đương nhiên là chuyện tốt, nhưng đúng là đã tổn hại thanh danh của Đàm Ma La Già —— từ sau ngày hôm qua Duyên Giác tuyên đọc chiếu thư ở dịch quán, sứ thần các nước ở đấy và Vương công đại thần bàn bạc ầm ĩ, Bát Nhã lã chã chực khóc, Tất Sa xưa giờ nhiệt tình độ lượng cũng âm u.

Dao Anh nhớ lại lần cuối thấy Đàm Ma La Già, trên Pháp hội ngài cao khiết xuất trần, làm lu mờ ảm đạm mọi trọc vật thế gian.

Đàm Ma La Già đây là cứu nàng.

Hải Đô A Lăng không chịu từ bỏ ý định, nàng đề phòng ngày đêm.

Lần này Hải Đô A Lăng mạo hiểm xông vào ban đêm, làm nàng hiểu Vương Đình cũng không an toàn, đang buồn rầu thì Đàm Ma La Già đến giúp nàng.

Lúc mới gặp, trước vạn quân nàng thỉnh cầu được phép làm theo Ma Đăng Già, Đàm Ma La Già ghìm ngựa trước trận, đôi mắc xanh biếc hờ hững liếc qua nàng, từ chối cho ý kiến.

Giờ ngài cho đáp án.

Ngài đã đồng ý.

Tuy trễ mấy tháng nhưng sấm rền gió cuốn, khuya hôm kia Hải Đô A Lăng xông vào cung, hôm qua ngài tuyên bố trước chúng, hôm nay phái người đón nàng đi Phật Tự, không hề dây dưa.

Xe ngựa đến Phật Tự, qua cửa hông vào chùa, kỵ sĩ Trung quân dẫn đường cho Dao Anh.

Lòng bàn chân nàng như xụi lơ, cảm giác không chân thật, như bước lên mây.

Phật Tự Thánh Thành xây dựng lâu đời, lưng tựa vách đá, cổ kính trang nghiêm, đồ sộ hùng vĩ, khắp nơi là hang đá Phật tháp, đền các cao, hương khói thịnh vượng, lao xao tiếng Phạn.

Dao Anh theo sau lưng kỵ sĩ, ngang qua hành lang cột, thấy khắp nơi trên tường có bích họa về sự tích kinh Phật, lầu các xuyên sơn, nhảy múa lên trời, ánh vàng lấp lánh, lộng lẫy nhiều màu, chói lọi mượt mà, nét vẽ cứng cáp lưu loát, nhân vật tráng kiện, phong cách hoa lệ không gò bó.

Đình viện sáng sủa thoáng đãng, Phật tháp như rừng.

Càng đi vào trong càng u lạnh yên tĩnh, bích họa trên tường điêu khắc càng thêm sắc sảo, từng mảng rực rỡ màu xanh nhũ vàng, muôn hình vạn trạng, bao la phóng khoáng.

Dao Anh nhìn hoa cả mắt.

Trong thuốc màu, màu xanh nhũ vàng, màu đỏ son đều cực kì đắt đỏ, những họa sĩ nổi tiếng bậc nhất Trường An cũng không thể tùy ý thích mà dùng để vẽ, khắp Phật Tự toàn bích họa hai màu này, điểm thêm vàng bạc, cho thấy Vương Đình thật giàu có.

Duyên Giác Bát Nhã hộ tống Dao Anh, sắc mặt hai người một trầm tĩnh, một như cha mẹ chết, dẫn nàng đến trước một viện lạc nho nhỏ yên tĩnh cách xa điện chính, chỉ huy kỵ sĩ giúp chuyển hành lý.

Sân vườn không lớn, trong đình trồng vài cây hoa cỏ rất hiếm thấy ở Vương Đình, đình viện rất sâu, nhà chính xây trên vùng đất cao, bốn phía hành lang quét vôi trắng trong trẻo, viện lạc rộng rãi chỉnh tề, cạnh bức tường gạch mộc đắp bùn có bố trí một giàn cây nho, trên kệ dây leo bò đầy, phủ bóng mát lớn.

Trên vách tường phòng chính cũng quét vôi trắng, trong phòng bày biện đơn giản, thảm nỉ trải trên đất, bố trí giường nằm, bàn ngồi, tủ sách, bình phong, trước giường treo màn, ngoài ra không có vật trang trí khác.

Duyên Giác chỉ nhà chính, nói: "Công chúa, hàng năm xuân hạ giao mùa sẽ có gió lớn tàn phá, ban đêm sẽ lạnh, phòng ở đây không trổ cửa sổ, chỉ mở cửa trước, trong nội viện không có giếng nước, mỗi ngày sẽ có người đưa tới nước sạch cho công chúa.

Công chúa xem còn thiếu thứ gì, tôi sẽ bố trí đưa tới."

Lại nói, "Công chúa chỉ tu hành, không cần tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của các sư trong chùa, nhưng cũng không thể không làm gì, lát sẽ có vị sư đưa sách kinh tới, giảng cho công chúa về khóa sớm tối* mỗi ngày."

*Mỗi ngày vào sáng sớm sư hoặc đạo sĩ (tầm từ 3-6g) tụ tập đầy đủ ở đại điện, tụng kinh tuần.

Dao Anh cám ơn cậu ta, nghĩ nghĩ rồi hỏi: "Phật Tử có tiện gặp ta một lần không?"

Bát Nhã kế bên lập tức trợn mắt, hung dữ trừng trộ nàng, bờ môi run run, không dám lên tiếng trách mắng, tự thấy ngột ngạt, nhấc chân bước ra.

Dao Anh là người Đàm Ma La Già cho người tiếp đãi,cậu không dám mở miệng nói độc địa.

Duyên Giác nhẹ gật: "Vương có dặn, đợi công chúa chuyển tới bảo tôi dẫn người đi thiền phòng gặp ngài."

Dao Anh để mấy người Tạ Thanh sắp xếp hành lý, theo Duyên Giác đi gặp Đàm Ma La Già.

Thiền phòng của Đàm Ma La Già lót gạch xanh, tĩnh mịch trang nghiêm, cổng vòm, hành lang mái vòm trên cột đá được vẽ trang trí lá xanh hoa xanh biếc, bốn phía là hoa văn quyển thảo hình cây lựu, hoa sơn trà, cây kim ngân, xinh đẹp thanh nhã ung dung.

Trước hành lang tùng bách cứng cáp, bạch dương thẳng tắp, trong đình viện chỗ sâu có cây táo, hoa trắng bạc rơi từng đống, hương thơm ngào ngạt.

Đình viện lặng ngắt như tờ, cận vệ khoanh tay đứng hầu như tượng đất.

Đàm Ma La Già ngồi trước thư án thiền đường đang viết, bóng lưng cao gầy.

Duyên Giác vào thông báo, Dao Anh chờ ở tiền sảnh, ánh mắt rơi vào người Đàm Ma La Già, giật mình.

Đang giữa trưa nóng bức nhất, hôm nay Đàm Ma La Già mặc tăng y lộ trần vai phải, màu da lộ ra như màu mật ong, vân da rõ ràng, ánh lên sáng bóng.

Dao Anh dời mắt, nhìn nhánh hoa chập chờn theo gió trong sân, nhớ đến đêm trước, Tô Đan Cổ lảo đảo lùi về cây táo, hoa trắng bạc rơi đầy.

Dưới đêm trăng, trong tích tắc đối mặt với Tô Đan Cổ, đáy lòng nàng bỗng dâng lên một cảm giác cổ quái.

Không biết sao, nàng luôn cảm thấy khuôn mặt dữ tợn kia của Tô Đan Cổ đang che giấu thứ gì, thậm chí trong tích tắc đó, nàng thấy Tô Đan Cổ có chỗ giống Đàm Ma La Già.

Thế nhưng Đàm Ma La Già triền miên nằm trên giường bệnh, xuống ngựa phải cần cận vệ nâng đỡ, Tô Đan Cổ dũng mãnh uy vũ, đao phong bá đạo mạnh mẽ, hai người một là Phật Tử lòng dạ từ bi, một là Nhiếp Chính Vương tàn nhẫn vô tình.

Nỗi hoài nghi của Dao Anh vốn không có cơ sở.

Hơn nữa lúc Tô Đan Cổ cứu nàng, nàng dựa sát vào ngực hắn, cảm giác được bắp thịt rắn chắc tích lực trong cánh tay, ôm lấy thân thể của nàng, đầy dẻo dai.

Duy nhất giống là đôi mắt xanh biếc.

Nhắc đến, Tất Sa cũng có cặp mắt màu xanh lục...

Dao Anh lấy lại tinh thần, lắc đầu bật cười.

Nàng thật sự đã có ý nghĩ hão huyền, lúc Đàm Ma La Già bệnh nặng, Tô Đan Cổ ra mặt dọa Tiết Duyên Na, phiêu diêu xuất trần Đàm Ma La Già và giết người như ngóe Tô Đan Cổ làm sao là cùng một người?

Duyên Giác bước ra, ra hiệu Dao Anh vào phòng.

Dao Anh thu lại suy nghĩ, nhấc váy rảo bước vào thiền thất.

Trong phòng ngăn nắp sạch sẽ, không huân hương, trên bàn chất đầy sách kinh, Đàm Ma La Già đang cúi đầu viết, ngón tay thon dài, dù gầy nhưng vẫn thấy rất có lực.

Dao Anh ngồi quỳ chân đối diện chàng, vô thức thẳng tắp lưng, tư thế rất chỉnh tề, đi thẳng vào vấn đề: "Vương tử Bắc Nhung âm hồn bất tán, Pháp sư vì bảo vệ tôi ban chiếu thư cho phép tôi vào Phật Tự ở, tôi vô cùng cảm kích, có điều làm vậy có bất lợi cho thanh danh ngài không?"

Đàm Ma La Già khí thế nội liễm, lại có một vẻ uy áp không gì không biết, ở trước mặt chàng, nàng không cần lá mặt lá trái, khéo léo quanh co, nghĩ gì nói đó, dù sao cũng không gạt được đối phương.

Dao Anh nói xong, mắt trợn to, chăm chú nhìn Đàm Ma La Già không chớp.

Đàm Ma La Già ngừng bút, ngẩng đầu, ánh mắt trong lạnh ôn tồn: "Công chúa đừng để ý, cùng lắm chỉ có vài lời chỉ trích thôi.

Sau một năm, công chúa bình an rời đi, chỉ trích tự sẽ mất."

Giọng điệu chàng ung dung, mây trôi nước chảy.

Dao Anh trong chốc lát cảm thấy lòng cảm kích suy nghĩ cả một đêm không thể nói ra lời.

Đàm Ma La Già rất thông minh, chưa hề coi lời nàng là thật, ngài không cần nàng cảm kích, cũng không cần nàng trả bất kỳ giá gì, ngài giúp nàng chỉ vì nàng là một người trong chúng sinh cần trợ giúp, hơn nữa đã từng cứu ngài, nên khi có thể, sẽ giúp, thấy nàng gặp nguy hiểm, thì ra tay giúp.

Nàng đã gặp được một người tốt.

Dao Anh cười cười, cả người hoàn toàn trầm tĩnh lại, lo lắng trong lòng không vất đi được cũng đã như bị thổi tan.

Mi mày hơi cong, hai mắt óng ánh, nàng dịu dàng nói: "Đa tạ."

Cô gái tuổi mười lăm, ở tuổi thanh xuân, tạm thời bỏ xuống gánh nặng, ánh sáng rực rỡ trên vầng trán, tinh thần phấn chấn.

Toàn bộ thiền thất dường như sáng hơn mấy phần, xuân sắc rực rỡ.

Đàm Ma La Già để bút xuống, cầm mấy quyển kinh đưa cho Dao Anh.

Dao Anh ngồi dậy tiếp nhận, phát hiện mấy quyển kinh bằng tiếng Hán «Kinh Đại bàn Niết Bàn », «Nhiếp Đại Thừa Luận », « A tỳ đàm Luận ».

Trong tích tắc nàng hoàn toàn bó tay.

Hay thật, người xuất gia không nói dối, Đàm Ma La Già ban chiếu thư bảo nàng đến Phật Tự tu tập Phật pháp, là thật sự muốn nàng chăm chỉ nghiên cứu Phật lý, không chỉ quy định nàng sớm tối học bài, đến sách kinh cũng chuẩn bị xong.

Người này thật là thành thật.

Dao Anh bưng lấy đống sách vừa dày vừa nặng, cứ nghĩ từ rày về sau không chỉ phải xử lý chuyện lặt vặt thành lập đội buôn bán, mà còn phải đọc mấy quyển kinh này, tê hết da đầu, chợt nhớ tới một chuyện, ngẩng lên, ánh mắt sáng rực nhìn Đàm Ma La Già.

"Pháp sư..."

Vẻ rất nghiêm túc, nàng hỏi, "Tôi cũng phải quy y á?"

Mặt Đàm Ma La Già thoáng kinh ngạc.

Dao Anh lộ vẻ ngượng ngùng.

Ma Đăng Già vì gả cho A Nan, quy y tu hành, nàng có cần phải quy y luôn không nhỉ?

Tuy so với tính mạng thì mớ tóc này không đáng nhắc, không nên do dự, nhưng nếu có thể không cạo thì đừng cạo, tóc vừa dày vừa dài, dưỡng đã nhiều năm rồi!

Giữa hè nóng bức, ánh nắng như đổ vàng, một chùm nắng xuyên qua cửa sổ mái lọt vào thiền thất, chiếu lên tóc mai đen nhánh xinh đẹp của Dao Anh, da thịt như tuyết, người mặc váy dài màu xanh nhạt, áo tay lửng màu son, đẹp như nhánh hoa vừa nở kiều diễm đón gió xuân, sum sê rực rỡ.

Đàm Ma La Gìa cụp mắt, nói: "Công chúa còn chưa quy y cửa Phật, có thể để tóc tu hành."

Dao Anh thở phào, nhìn Đàm Ma La Già, trong mắt tràn đầy kính ngưỡng và tin cậy, cười nói: "Đa tạ Pháp sư."

Giọng reo lên nhẹ nhàng, tự nhiên hơn nhiều so với lúc mới bước vào.

Đàm Ma La Già không nói gì, liếc Duyên Giác đứng hầu ngoài cửa.

Duyên Giác hiểu ý, đưa Dao Anh về viện tử.

Váy xanh nhạt của thiếu nữ phết qua thảm nỉ, bóng dáng xinh đẹp, trong không khí còn quanh quẩn mùi thơm nhè nhẹ.

Đàm Ma La Già cúi đầu viết tiếp.

Chỉ lát sau, nghe tiếng bước chân vang lên trong hành lang, bóng người cao lớn của A Sử Na Tất Sa xuất hiện ngoài cửa.

"Vương vừa gặp Văn Chiêu công chúa à?"

Đàm Ma La Già ừm, đầu không ngẩng.

Tất Sa đi vào thiền thất, hành lễ trước Đàm Ma La Già, ngồi xếp bằng xuống, "Vương, sao ngài lại muốn giúp Văn Chiêu công chúa?

Ngài để nàng ấy ở lại Vương cung đã là phá lệ, giờ còn chuyển cả vào Phật Tự, trong thành bàn tán ầm ĩ.

Đã nhiều năm rồi, nàng ấy là nữ tử đầu tiên bước vào thiền thất của ngài đó."

Đàm Ma La Già thản nhiên nói: "Người Bắc Nhung trục thủy thảo mà cư*, man dã chưa mất, Hải Đô A Lăng hung ác bạo ngược, không muốn dừng tay, làm vậy có thể giúp Văn Chiêu công chúa thoát khỏi Hải Đô A Lăng."

*mình tạm hiểu là sống du mục trôi nổi như theo bèo nước, di chuyển theo nguồn sống.

Tất Sa nhìn chàng, "Vương, dân gian họ đồn đủ hết."

Đàm Ma La Già cũng không ngẩng đầu lên: "Thanh danh chẳng qua là vật ngoài thân, ta là Quân chủ Vương Đình, sau một năm, lời đồn nhảm tự sẽ giảm đi."

Tất Sa lặng thinh một lúc, "Sau một năm, tin đồn thật sự sẽ bớt đi ạ?"

Đàm Ma La Già cúi đầu viết: "Tất Sa, cậu cho rằng Văn Chiêu công chúa ngưỡng mộ ta à?

Lo nàng ấy ỷ lại không đi?"

Tất Sa sửng sốt.

Đàm Ma La Già bình tĩnh nói: "Công chúa lưu lạc ở ngoại vực, thân bất do kỷ, tìm được người nhà rồi, nàng ấy sẽ rời đi."

"Còn Vương?"

Tất Sa hỏi tới, "Vương giúp công chúa, có thật chỉ là vì cảm kích và không đành lòng ư?

Công chúa là người con gái đẹp nhất mà tôi từng gặp ấy."

Đàm Ma La Già nhẹ nhíu mày, "Vạn vật thế gian, trôi qua không ở, tình yêu như giọt sương, mỹ nhân như bọt nước."

Tất Sa lặng lẽ thở phào, đứng dậy, quỳ xuống lễ bái.

"Thần đã vượt khuôn khổ."

La Già không hề động tâm, như vậy cũng tốt.

Anh chỉ lo La Già bị Văn Chiêu công chúa đả động, chỉ xinh đẹp thôi thì không nói, Văn Chiêu công chúa còn nhiều thứ hấp dẫn người nữa, may mà La Già tâm tính kiên định.

"Tất Sa."

Đàm Ma La Già ngừng bút, nhìn Tất Sa, "Cậu nói mình ngưỡng mộ Văn Chiêu công chúa, là thật hay giả?"

Ánh mắt chàng hòa nhã, không có ý vặn hỏi.

Tất Sa đổ đầy mồ hôi hột, xấu hổ đến không ngẩng đầu lên được: "Vương, thần biết tội."

Anh ta làm đủ chuyện chỉ để thăm dò tâm ý của La Già, dời lực chú ý của Văn Chiêu công chúa, phòng nàng tiếp xúc với La Già.

Đàm Ma La Già khép lại chiếu thư đã viết xong: "Đừng có lần sau, ta có kiên trì giữ ngũ giới hay không, không liên can đến ai."

Tất Sa cung kính vâng lời, nhận chiếu thư, con mắt bỗng trừng lớn.

Đây là phong thư ngài tự viết cho Ngõa Hãn Khả Hãn, tương đương với quốc thư, La Già dùng quốc thư giải thích rõ địa vị của Văn Chiêu công chúa, yêu cầu Ngõa Hãn Khả Hãn trừng trị Hải Đô A Lăng.

La Già không chỉ cảnh cáo bộ hạ bổn quốc, còn nói rõ cho các nước, thông báo thiên hạ, sau này mười mấy quốc gia thành bang lớn nhỏ sau lưng núi Thiên Sơn đều biết có vị Văn Chiêu công chúa đang ở Phật Tự, được Vương che chở!

Tất Sa thầm chấn động.

"Quốc thư này, cậu tự tay đưa đến nha trướng Bắc Nhung."

Đàm Ma La Già nói, giọng rất bình thường.

Đôi tay Tất Sa nhẹ run mấy lần, nắm chặt chiếu thư, cung kính vâng lời.

Anh về chỗ mình ở, thu xếp hành lý.

Thân binh tới bẩm báo: "Tướng quân, Văn Chiêu công chúa gửi ít thuốc đến."

Tất Sa dừng tay lại, "Công chúa nói gì?"

Thân binh trả lời: "Công chúa nói thuốc đó để đưa cho Nhiếp Chính Vương, xin ngài chuyển giùm, còn nói nàng muốn gặp ngài thương lượng chuyện Vương tử về Bắc Nhung."

Tất Sa ừ một tiếng, bảo thân binh cất thuốc vào phủ Vu y.

Vu y nói, thuốc Dao Anh chọn đều là những dược liệu quý giá hiếm có ở Tây Vực, trị thương, lưu thông máu bầm, làm dịu tổn thương nội tạng, trong đó có mấy loại tìm khắp Tây Vực không có.

Tất Sa ngẩn ra một hồi, bảo thân binh cất vào khố phòng.

Thân binh vâng dạ, quay đi.

Sau lưng bỗng có tiếng bước chân, Tất Sa đuổi tới, một tay chụp chặt bờ vai hắn.

Thân binh mờ mịt, thấy mây đen giăng đầy trên mặt Tất Sa, nhìn chằm chằm mớ thuốc trong tay hắn, nhắm cặp mắt.

"Đưa qua Phật Tự giao cho Duyên Giác, nói với cậu ta, thuốc này do đoàn buôn hàng mang về.

Nhớ kỹ, chuyện này không nói cho ai khác, nếu công chúa có hỏi thì nói ta đã thay cô ấy đưa rồi."

Thân binh vâng lời, mang thuốc rời đi.

Tất Sa đứng tại chỗ, phiền muộn thở dài.

Chỉ mong tất cả chỉ là anh ta buồn lo vô cớ.
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 56: Đào hố


Sử Na Tất Sa dọn xong hành trang, an bài xe ngựa, đi Phật Tự gặp Dao Anh.

Ở bức tường mộc giàn hoa quấn đầy dây leo trong viện, loáng thoáng trái đậu từng chùm, nho còn chưa chín, nhưng trái trái đầy đặn mượt mà, óng ánh trong suốt.

Tất Sa đưa tay hái hai chùm đưa vào phòng.

Dao Anh ngồi quỳ chân trước trường án, nhẹ nhíu mày, trước mặt chất một đống kinh thư lớn.

Tất Sa không khỏi cười khẽ: "Vương bảo người xem à?"

Dao Anh gật đầu cười, đẩy kinh thư ra, ngồi dậy, ra hiệu Tất Sa ngồi xuống.

Tạ Bằng canh giữ một góc khuất trong phòng cúi đầu lui ra ngoài.

Tất Sa ngồi trên nệm nỉ, ánh mắt nhanh chóng quét một vòng, trong phòng vẫn bày biện như lúc đầu, không bố trí thêm màn trướng gấm, chăn nệm mềm, chỉ thêm mấy rương đầy sách.

Văn Chiêu công chúa là một vị công chúa rất chịu được cực khổ, dễ thích nghi với hoàn cảnh.

Đây cũng chính là điểm Tất Sa lo lắng, có sắc đẹp tuyệt thế, có nhu mì uyển chuyển của cô gái nhỏ, có phóng khoáng của công chúa Vương thất, còn có khí khái cứng cỏi, anh ta rất thưởng thức phụ nữ như vậy, do vậy càng sợ Văn Chiêu công chúa tiếp cận La Già.

Liếc thấy anh kinh ngạc nhìn đến ngẩn người, Dao Anh hỏi: "Tướng quân, Nhiếp Chính Vương không tiện gặp ta à?"

Tất Sa lấy lại tinh thần, tằng hắng nói: "Nhiếp Chính Vương có việc quan trọng cần giải quyết, không tiện gặp công chúa, công chúa có gì muốn nói tôi có thể chuyển lời."

Dao Anh trầm ngâm một chút, Tô Đan Cổ hành tung quỷ bí, lệnh quan trọng đều cho thân binh truyền đạt, nàng muốn gặp đối phương không biết phải chờ tới ngày tháng năm nào, có mấy lời nói cho Tất Sa cũng vậy.

"Đêm đó người Bắc Nhung Tướng quân bắt được đã thả về Bắc Nhung chưa?"

Tất Sa lắc đầu: "Vẫn chưa, đêm nay tôi xuất phát đi Bắc Nhung, tự mình áp giải chúng."

Dao Anh sửng sốt: "Tướng quân đích thân áp giải chúng ư?"

Ánh mắt Tất Sa lóe lên, không nhắc đến chuyện quốc thư La Già thân bút viết kia: "Vâng, tự tôi đưa chúng về Bắc Nhung, hộ vệ Vương tử xuất hiện ở Vương cung Vương Đình, Bắc Nhung Khả Hãn phải cho Vương Đình một câu trả lời."

Dao Anh không hỏi nhiều, nói: "Ta đang muốn thương lượng với Tướng quân chuyện này, mấy người Bắc Nhung đó có thể có tác dụng lớn."

Tất Sa nhíu mày.

Dao Anh đón lấy ánh mắt thăm dò của anh ta, thoải mái nói: "Ta từng gặp khốn ở doanh địa Bắc Nhung, nghe nói rất nhiều về bí mật Vương thất Bắc Nhung.

Hải Đô A Lăng là người tộc khác do Ngõa Hãn Khả Hãn nhận nuôi, mấy người con trai của Ngõa Hãn Khả Hãn không ưa gã đã lâu, Khả Hãn cũng sinh lòng kiêng kỵ với gã, nội bộ Vương thất mâu thuẫn trùng trùng, nếu Tướng quân có cách lợi dụng mấy người Bắc Nhung đó, có thể làm tăng khoảng cách giữa Ngõa Hãn Khả Hãn và Hải Đô A Lăng."

Tất Sa nheo mắt, ánh mắt nhìn Dao Anh rất khác mọi ngày: "Sao công chúa lại biết giữa Hải Đô A Lăng và Ngõa Hãn Khả Hãn đã có khoảng cách?"

Dao Anh cười khẽ: "Lúc Phật Tử cần gấp Thủy mãn thảo, Tướng quân tự mình đi Bắc Nhung đòi lại đồ cưới của ta, có phải Ngõa Hãn Khả Hãn đồng ý trả về ngay, còn trách mắng Hải Đô A Lăng không?"

Tất Sa sờ sờ cằm, nói: "Không sai."

Dao Anh nói chắc chắn: "Nếu là Vương tử khác cướp, tướng quân có đến Bắc Nhung đòi, Ngõa Hãn Khả Hãn sẽ không dễ dàng đồng ý trả về vậy đâu."

Tất Sa nhớ lại tình hình hôm đó, nhẹ gật đầu: "Đúng rồi, Ngõa Hãn Khả Hãn vô cùng khách khí với tôi, còn mắng Hải Đô A Lăng trước mọi người..."

Ánh mắt anh ta sáng lên, vỗ tay cười khẽ.

"Ngõa Hãn Khả Hãn mượn Vương Đình ta cố ý chèn ép Hải Đô A Lăng !"

Người Bắc Nhung đề cao kẻ mạnh, man dã chưa mất, trong vòng một ngày chức Khả Hãn đổi chủ nhìn mãi quen mắt, ai mạnh hơn là có thể trở thành Khả Hãn mới, là cha con anh em cũng thế.

Vì thế, tình thân của Vương thất mờ nhạt, khi có Khả Hãn già chết đi, bộ lạc sẽ kịch liệt rung chuyển vì tranh quyền đoạt vị, đế quốc có thể mấy năm ngắn ngủi lớn mạnh rất nhanh, dẹp yên thảo nguyên, cũng có thể trong một đêm sụp đổ, không gượng dậy nổi.

Ngõa Hãn Khả Hãn dần già đi, Hải Đô A Lăng tuổi trẻ khỏe mạnh, cũng không phải cháu ruột, Khả Hãn già đã bắt đầu phòng bị Hải Đô A Lăng .

Tất Sa hưng phấn một hồi nhướng mày nói: "Cũng có thể chỉ là suy đoán của chúng ta, Ngõa Hãn Khả Hãn muốn dẫn dụ ta thôi."

Dao Anh gật đầu, "Có thể, Ngõa Hãn Khả Hãn đa mưu túc trí, ngay lúc ấy có thể là dẫn dụ tướng quân, nhưng sau này thì không hẳn, lần này Hải Đô A Lăng đi sứ Vương Đình, xác nhận suy đoán của ta không giả."

Tất Sa híp mắt: "Ồ?

Công chúa vì đâu mà khẳng định?"

Dao Anh cười: "Tướng quân, nếu ngài là Vương tử Hải Đô A Lăng, tay nắm trọng binh, Nam chinh Bắc chiến, dã tâm bừng bừng, sau minh ước của Vương Đình và Bắc Nhung, ngài sẽ ở Vương Đình nhiều lần vì một nữ tử như ta mà khiêu khích Vương Đình sao?"

Tất Sa giật mình, ánh mắt rơi trên mặt Dao Anh: "Dung mạo công chúa như thần nữ, Hải Đô A Lăng đối với người là nhất định phải được."

Ánh mắt Dao Anh yên tĩnh: "Đúng, Hải Đô A Lăng coi ta là con mồi của y, có điều y là một thợ săn kinh nghiệm phong phú, một thợ săn tỉnh táo sẽ không vì con mồi mà một mình mạo hiểm."

Tất Sa nhìn Dao Anh, ánh mắt dần dần biến hóa, không khỏi ngồi nghiêm chỉnh lại, nét mặt cũng càng thêm nghiêm túc.

"Ý công chúa là?"

Dao Anh chậm rãi nói: "Đối với Hải Đô A Lăng ta có mấy phần hiểu rõ, ngoài thì thô tục trong lại tinh vi, hoài bão rất lớn, tuyệt không phải người vì một phụ nữ không để ý đến đại cục, y đây chỉ vì muốn mê muội Ngõa Hãn Khả Hãn và con trai ông ta khiến ông ta nới lỏng cảnh giác."

Nàng dám khẳng định như vậy không phải là không có nguyên nhân.

Hải Đô A Lăng ở trong sách dũng mãnh thiện chiến, nhanh chóng quật khởi, khiến các Vương tử và Ngõa Hãn Khả Hãn nghi kỵ.

Đám Vương tử bố trí mai phục hãm hại Hải Đô A Lăng, y trúng kế, suýt nữa chết thảm dưới loạn đao, thân binh tín nhiệm bên người chết hơn phân nửa.

Sau khi thương thế tốt lên, Hải Đô A Lăng ẩn nhẫn ẩn núp, giả bộ bị thương què chân cam chịu, hơn một năm trời y kiên trì đi đứng cà nhắc.

Sau trong một lần chinh chiến y cướp được vài mỹ nhân Bắc Mạc, trong đó có một vị được gọi là đệ nhất mỹ nhân, xinh đẹp quyến rũ, am hiểu thuật phòng the, cả ngày y cùng đàn bà lăn lộn trong lều, sa vào trăng gió, bỏ quên việc quân, bộ hạ can gián y xách đao giết tức thì.

Cha con Ngõa Hãn Khả Hãn thấy Hải Đô A Lăng thành phế nhân, sống mơ mơ màng màng, chúng bạn xa lánh, ra vào không rời khỏi phu nhân xinh đẹp, dần dần buông lỏng đề phòng.

Sau này, Hải Đô A Lăng mang binh xâm nhập vào nha trướng, tự tay giết Ngõa Hãn Khả Hãn, giết sạch Vương thất Bắc Nhung, trở thành Khả Hãn Bắc Nhung mới.

Lúc Dao Anh còn ở doanh địa Bắc Nhung, giữa Vương tử Bắc Nhung và Hải Đô A Lăng nhiều lần minh tranh ám đấu, nàng dứt khoát thắp thêm ngọn đuốc, dẫn dụ Vương tử khác ra tay cưới động thủ cướp chiến lợi phẩm của Hải Đô A Lăng, gia tăng xung đột.

Đến khi Tất Sa cầm thư đòi Ngõa Hãn Khả Hãn đồ cưới, nàng úp mở chút trong thư, khiến Khả Hãn Bắc Nhung sinh lòng cảnh giác với Hải Đô A Lăng.

Lúc này nội bộ Vương thất Bắc Nhung hẳn đang giương cung bạt kiếm.

Dao Anh khẽ nói: "Hải Đô A Lăng không phải người bị sắc đẹp mê hoặc, y và cha con Ngõa Hãn Khả Hãn chắc chắn có xung đột, nên cố ý đi sứ Vương Đình, đêm xông vào Vương cung, cố ý để Ngõa Hãn Khả Hãn nghĩ hắn là kẻ ngốc vì phụ nữ mà trở nên lú lẫn."

Nói xong, nàng cười cười, "Nhưng này đều chỉ là suy đoán của ta.

Vừa vặn Tướng quân sắp đi nha trướng Bắc Nhung, ngài có thể để ý quan sát, xem có phải giữa họ mâu thuẫn trùng trùng không."

Tất Sa thầm chấn động, sửng sốt mãi rồi gật đầu.

"Nếu mọi việc đúng như công chúa đoán, ta có thể từ tay mấy kẻ bộ hạ mà phá hỏng kế hoạch giả vờ của Hải Đô A Lăng, tăng cảnh giác của Ngõa Hãn Khả Hãn."

Dao Anh vỗ tay cười nhẹ, đây chính là chuyện nàng muốn thương lượng: "Mặc kệ Hải Đô A Lăng thật xúc động nhất thời xông vào Vương cung giữa đêm hay có ý đồ khác, Tướng quân đều có thể thừa cơ sinh sự, nếu ta đoán sai, Tướng quân tùy cơ ứng biến, tỷ như làm Ngõa Hãn Khả Hãn nghĩ Vương tử Hải Đô A Lăng đang muốn đạt thành thỏa thuận gì đó với Vương Đình, lúc ấy, dù Ngõa Hãn Khả Hãn chưa hề có lòng kiêng kỵ Hải Đô A Lăng cũng sẽ hoài nghi y."

Tất Sa trợn mắt.

Văn Chiêu công chúa mà có thể nghĩ ra kế sách độc ác như vậy ư!

Nếu Vương thất Bắc Nhung gió êm sóng lặng, họ sẽ ly gián Ngõa Hãn Khả Hãn và Hải Đô A Lăng.

Nếu Vương thất Bắc Nhung đã nổi sóng gió, họ châm củi thêm lửa, lửa rực kia càng vượng hơn.

Tóm lại, dù vì lý do gì Hải Đô A Lăng đi sứ Vương Đình, Văn Chiêu công chúa đều muốn kéo Hải Đô A Lăng xuống nước, sương sương đớp một miếng thịt, hoàn toàn làm đảo loạn Vương thất Bắc Nhung!

Thấy Tất Sa quá chấn kinh, vẻ mặt Dao Anh khó hiểu, giải thích: "Thượng binh phạt mưu, thứ yếu phạt giao*, dụng binh không đánh mà thắng là thượng sách.

Chúng ta nhắc nhở Ngõa Hãn Khả Hãn đề phòng Hải Đô A Lăng, gia tăng mâu thuẫn nội bộ, suy yếu Bắc Nhung, để chúng ốc còn không mang nổi mình ốc, cũng là một trong mấy binh pháp phòng ngừa chiến tranh."

*Binh pháp Tôn Tử, đã giải thích chương trước

Bắc Nhung châm ngòi ly gián, kích động các nước Trung Nguyên khai chiến, chờ dịp để vào cướp lấy, nàng chỉ ăn miếng trả miếng thôi.

Dao Anh nói xong, đứng dậy, trịnh trọng hành lễ với Tất Sa: "Ta cũng không phải là người Vương Đình, sống nhờ ở Thánh Thành, vốn không nên xen vào bàn luận đại sự, chỉ vì cùng đứng trước uy hiếp của Bắc Nhung với quý quốc, mới lớn mật nói ra suy nghĩ trong lòng, mong Tướng quân đừng trách.

Tướng quân coi như ta trẻ người non dạ, thuận miệng nói bậy thôi."

Lòng bàn tay Tất Sa rướm mồ hôi, lặng đi một lúc rồi đứng dậy đỡ Dao Anh: "Công chúa là quý khách của Vương Đình, những lời này, người biết tôi biết, không có kẻ khác."

Dao Anh cười nhạt.

Nàng không quan tâm Tất Sa nhìn nàng ra sao, chỉ cần đề nghị có chỗ phát huy là được.

Tất Sa đột nhiên hỏi: "Vì sao công chúa không trực tiếp gặp Vương đề xuất?

Tôi chỉ là Tướng quân Trung quân, mọi quyết sách đều phải được Vương cho phép."

Dao Anh hấp háy mắt, ánh nhìn lấp lánh, mang theo vẻ hoạt bát gian xảo của thiếu nữ: "Không gạt Tướng quân, Pháp sư là người cao khiết bậc nào, với Pháp sư, âm mưu quỷ kế cỡ này...

Ta không nói ra lời."

Đàm Ma La Già như một đoá sen đứng trước gió, thanh lãnh cao quý, thảo luận mấy chuyện này, ngài có nhíu mày đá đít nàng khỏi Phật Tự không chứ?

Tất Sa ngẩn ngơ, lập tức cao giọng cười to.

"Người xem Vương là ai chứ?

Ngài là Quân chủ Vương Đình..."

Cười một hồi, nỗi buồn lo của Tất Sa cũng tiêu tan mấy phần.

La Già nói không sai, Văn Chiêu công chúa đối với ngài ấy không có tình cảm mến mộ, chỉ thuần túy kính ngưỡng và cảm kích.

La Già luôn thanh tỉnh lý trí, chưa từng nhìn biểu hiện mà bị mê hoặc.

Dù là La Già hay là một thân phận khác.

Tất Sa đứng dậy rời đi, ra đến hành lang bỗng nhiên quay lại thò người vào phòng: "Công chúa, có câu người nói sai rồi."

Dao Anh ngẩng đầu: "Hửm?"

Tất Sa nghiêm túc nói: "Hải Đô A Lăng Nam chinh bắc chiến, dã tâm bừng bừng, y vì nhất định phải có được công chúa mà hết lần này đến lần khác khiêu khích Vương Đình, chưa hẳn hoàn toàn là diễn trò."

Dao Anh lắc đầu bật cười.

Nàng thiên sinh lệ chất, là mỹ nhân từ trong trứng, công thêm thân phận tiểu thư Lý gia, chưa xuất đầu lộ diện đã rất nhanh nổi khắp Trung Nguyên, công tử ham chơi ái mộ nhiều như cá diếc sang sông.

Mỗi khi nàng cưỡi ngựa đi dạo, đám Nhi lang nhà gia thế ruổi ngựa đuổi theo, chỉ để ngắm nàng thêm vài lần.

Trịnh Cảnh, Ngũ Lang Tiết gia, Bùi công tử, Lưu công tử, Thôi công tử... bộ hạ Lý Đức, thân binh Tạ gia... rất nhiều người hâm mộ sắc đẹp nàng.

Dao Anh tin rằng họ đều ái mộ từ trong lòng, vậy thì sao chứ?

Nàng sinh trong thời loạn, lớn lên trong môn phiệt thế gia, hiểu rõ còn có nhiều thứ làm cho đàn ông ham muốn chinh phục vượt xa sắc đẹp, đó chính là quyền thế.

Để leo lên đỉnh cao quyền lực, đàn ông có thể từ bỏ mọi thứ.

Đây là thời đại mà quần hùng cùng nổi lên, anh hào xuất hiện lớp lớp, đàn ông bận rộn với tranh giành quyền lực, sắc đẹp với họ mà nói, chỉ là sau khi chinh chiến dệt hoa trên gấm tô điểm thêm thôi.

Chỉ cần khoác lên hoàng bào, đã nắm thiên hạ trong tay thì sá gì mỹ nhân?

Lý Đức truy phong Đường thị làm hậu, người đời cảm thán ông đối với vợ thuở hàn vi tình sâu ý trọng, hoàn toàn quên lúc trước vì củng cố thế lực mà ông dứt khoát vứt bỏ Đường thị.

Lý Huyền Trinh và Chu Lục Vân quấn quýt si mê nhiều năm, cam tâm chết vì Chu Lục Vân nhưng vẫn vì ngôi vị Thái tử mà cưới con gái thế gia Trịnh Bích Ngọc.

Hải Đô A Lăng người như vậy, vĩnh viễn sẽ không vì một phụ nữ mà dừng bước chân chinh phạt.

Mỗi cử động của y cũng chỉ vì khát vọng của chính mình.

Nhìn Dao Anh tỏ vẻ rất xem thường, Tất Sa nhếch miệng cười cười.

"Công chúa, tôi không hiểu rõ Hải Đô A Lăng, nhưng tôi là đàn ông."

Là một đàn ông đối với phụ nữ mình xác định nhất định phải có, có thể không để ý đến tất cả, chó cùng rứt giậu.

Dao Anh thả lỏng.

Nàng không quan tâm Hải Đô A Lăng rốt cuộc suy nghĩ gì, dù bị y giam nửa năm, dù thỉnh thoảng y thể hiện một vài lúc dịu dàng, nàng vẫn luôn tỉnh táo, nàng bị y cướp đi, y muốn chinh phục nàng.

Tất Sa hứng thú, vịn khung cửa, nhìn xuống dò xét Dao Anh.

"Công chúa là con gái Trung Nguyên, người Trung Nguyên coi trọng lễ nghi, còn Bắc Nhung không thích mấy thứ rườm rà đó, chỗ bọn tôi cũng thế, đàn ông khỏe mạnh giỏi võ nhất bộ lạc có thể nhận lấy ái mộ của toàn bộ đàn bà.

Hải Đô A Lăng oai hùng mạnh mẽ vậy, công chúa thật không động lòng chút nào à?"

Dao Anh ngẩng lên, nhìn Tất Sa như đang nhìn đồ đần: "Tướng quân hỏi vậy, hẳn là Tướng quân cũng ái mộ Hải Đô A Lăng nhỉ?"

Tất Sa bị chặn họng đến nghẹn.

Dao Anh cúi đầu lật xem kinh thư.

Lý Trọng Kiền nuôi nàng lớn, thương nàng yêu chiều nàng thương tiếc nàng, sao nàng có thể thiếu tự trọng, động tâm với kẻ xem mình như thứ đồ chơi?

Nàng tôn trọng mỗi một tấm chân tình, dù không thể đáp lại cũng sẽ không tùy ý coi khinh, nhưng cái loại tình cảm yêu thích kia của Hải Đô A Lăng, thứ lỗi, nàng tiêu hoá không được.

Tất Sa sờ chóp mũi, ngượng ngùng quay đi.

Giờ anh ta hoàn toàn yên tâm, công chúa lý trí vậy, tuyệt đối sẽ không nhận sự nguy hiểm bị toàn bộ Vương Đình mang hận mà đi câu dẫn La Già.

...

Tất Sa về phủ nói chuyện với phụ tá một lát, hội ý lại thành điều trần đưa đi Phật Tự.

"Những kế sách này là công chúa đề nghị ạ!"

Anh phăm phăm thuật lại nguyên văn lời Dao Anh, nhấn mạnh câu cuối cùng.

La Già cao thượng thế kia, chắc chắn sẽ chán ghét phụ nữ tâm cơ thâm trầm.

Đàm Ma La Già xem hết điều trần, vẻ mặt lạnh lạnh nhạt nhạt, không nói câu nào, cụp mắt, cầm bút phê chỉ thị.

Tất Sa cũng không biết mình đạt được mong muốn không, nhận chỉ thị phê duyệt rời khỏi thiền phòng.

Trước khi chuẩn bị đi, anh ta còn phải đi Vương cung một chuyến.

Công chúa Xích Mã đang tổ chức yến hội, ca múa nhẹ nhàng, ăn uống linh đình, tân khách ngồi đầy uống đến say khướt, khắp nơi Vương công đại thần ôm ca cơ tầm hoan túng dục, nhạc khúc du dương không che được những tiếng mập mờ, xa hoa truỵ lạc, rượu chè say sưa.

Tất Sa tìm tới công chúa Xích Mã say chuếnh choáng, kéo tên đàn ông đang nằm trên người cô ta ra, ném ra ngoài, nói: "Công chúa, mấy này nữa ta cần đi Bắc Nhung một chuyến."

Công chúa Xích Mã nghe vậy, khoảnh khắc chếnh choáng vơi mấy phần, từ trên giường ngồi dậy, bờ vai tuyết trắng lộ ra, "Ngươi không thể đi!

Quá nguy hiểm!"

Tất Sa thản nhiên: "Ta là Tướng quân Trung quân, nhận lệnh đi sứ Bắc Nhung, có gì nguy hiểm?"

Anh ngưng một chút vẻ hơi không kiên nhẫn.

"Công chúa, ta khuyên người một câu, đừng làm bất cứ chuyện gì ngu xuẩn tổn thương La Già, mấy ngày ta đi, sẽ cho người chăm sóc người."

Công chúa Xích Mã trầm sắc mặt.

"La Già cho ả người Hán kia vào ở Phật Tự."

Cô ta lạnh lùng thốt, "Nó bị sắc đẹp mê hoặc, vứt bỏ thù nhà không thèm để ý, còn phạm vào Bất dâm trong ngũ giới, nó làm ra chuyện xấu hậu thế bất dung thế này, dân gian bàn tán ầm ĩ, ngươi không đi khuyên can nó, còn đến cảnh cáo ta à?"

Cô ta ngẩng lên, ngừng nhìn Tất Sa.

"Ta biết, các ngươi đều nói ta cay nghiệt, âm hiểm, tùy hứng... so với La Già cao quý, ta là người đàn bà độc ác, sự vị tha của nó khiến nỗi hận của ta trở thành buồn cười."

"Tất Sa, tận mắt nhìn người nhà của mình một người tiếp một người chết thảm, ta có thể không hận à?"

Cô ta liên tục cười lạnh, ngón tay cắm sâu vào lòng bàn tay.

"Sao nó cứ phải đối nghịch với ta?!

Vì đâu?

Năm đó ta muốn giết sạch Trương thị, nó từ bi, không cho phép ta tàn sát vô tội, được thôi!

Ta không giết người vô tội!

Giờ thì sao nữa?

Sao nó lại phải đối xử rộng rãi với cô ả người Hán kia nữa?"

Nói đến đây, công chúa Xích Mã bỗng tỉnh táo lại, như suy nghĩ điều gì.

"La Già luôn thủ hạ lưu tình với người Hán...

Có phải nó biết điều gì rồi không?"

Tất Sa chau mày, cầm lấy sa y cạnh đó khoác lên vai công chúa: "Không phải như người nghĩ, La Già chỉ vì cứu người, Văn Chiêu công chúa đã cứu ngài một mạng."

Công chúa Xích Mã cười lạnh.

Tất Sa thở thật dài, "La Già gánh vác trên vai đã quá nặng, người đừng gây thêm phiền cho ngài ấy nữa."

Mặt công chúa Xích Mã đầy tức giận, run cả người, nhịn một chút đè xuống cơn giận, lạnh lùng nói: "Người Bắc Nhung xảo trá tàn nhẫn, khi nào đi nhớ mang thêm người."

Tất Sa cười cười, "Đừng lo lắng cho ta, Ngõa Hãn Khả Hãn sợ La Già, không dám đụng đến ta đâu."

Vừa nói vừa thở dài.

"Ta nghe nói dạo này người hay cùng đám sâu bọ trong triều tiệc tùng, có ý gì thế?

Nhớ đừng tổn thương thân thể."

Công chúa Xích Mã hững hờ ừ một tiếng, mặt âm u nhìn Tất Sa đi ra, lập tức gọi thị nữ: "Tất Sa đi Bắc Nhung, các ngươi theo dõi Phật Tự cho kỹ, ta không tin La Già cứu ả Hán đó chỉ là vì báo ơn!

Chúng chắc chắn đã tằng tịu với nhau từ lâu!"

Thị nữ khó xử nói: "Công chúa, thủ vệ Vương cung không nghiêm, tụi tôi còn thám thính tin tức được... còn Phật Tự là chỗ ở của Vương, toàn bộ cấm vệ là cận vệ Trung quân, người của chúng ta vừa tới gần đã bị phát giác.

Hơn nữa Nhiếp Chính Vương đã về, nếu như bị ngài ấy phát hiện..."

Đôi mắt màu nâu của công chúa Xích Mã hơi nheo lại, ngắt lời: "Ngu xuẩn!

Các ngươi không thể tới gần thì không thể tìm ai có thể à?

Thủ vệ Phật Tự dù có nghiêm ngặt vẫn phải có kẽ hở!

Cẩn thận thám thính cho ta, tìm chứng cứ chúng tằng tịu với nhau!"

Thị nữ không dám nhiều lời nữa, dập đầu vâng dạ.

Công chúa Xích Mã đứng dậy, cầm lấy một chén rượu nho, đi tới trước cửa sổ.

Bóng dáng Tất Sa vội vàng xuyên qua đình viện, bước chân nhẹ nhàng.

Cậu ta trung thành tuyệt đối với Đàm Ma La Già, La Già lại phái đi sứ địch quốc.

Đôi mắt nâu của Xích Mã đầy hận thù, ngón tay siết chặt chén rượu.

Họ Đàm Ma không phải chỉ có một vị Vương tử La Già, cô ta là công chúa Đàm Ma, La Già lần lượt khiến cô thất vọng, vậy thì đoạt lại quyền hành của họ Đàm Ma vậy.

Văn võ đại thần trong triều chắc chắn sẽ đứng về phía cô ta.

...

Sau khi Tất Sa đi, Duyên Giác được phái tới bảo vệ Dao Anh.

"Lúc công chúa ra cửa cần người dẫn đường."

Dao Anh thở phào, dù Đàm Ma La Già ra bài tập cho nàng nhưng vẫn cho phép sau giờ tảo khóa nàng có thể rời Phật Tự tùy tiện đi lại, đúng là quan tâm rất sáng suốt.

Lão giả Tề Niên ở ngoại thành có truyền tin, mớ tơ lụa đầu tiên trong cửa hàng đã bị giành giật hết, hỏi mớ tiếp theo nên lúc nào bán.

Dao Anh khuyên đừng vội, đợi hàng trong tay người Hồ bán ra không còn nhiều lại tính.

Trước khi đi Tất Sa giới thiệu cho Dao Anh một nhà buôn người Túc Đặc, nhờ ông ta hỗ trợ nàng mua được một mảnh đất lớn, theo kế hoạch lúc đầu, để bố trí cho những người sống ngoại thành, mua thêm mấy trăm con dê, hạt giống, cây ăn quả, dành cho những người biết làm nông canh thời gian trồng trọt dâu tằm.

Tề Niên từng làm quản sự, quản lý mọi việc ngay ngắn rõ ràng.

Đội buôn hợp tác với Dao Anh đã đồng ý truyền tin giúp nàng, có điều hiện giờ Bắc Nhung cố gắng chặt đứt mọi liên hệ giữa Trung Nguyên và Tây Vực, đường phía Tây xa xôi, họ chỉ đi tuyến phía Đông, không cam đoan có thể chắc chắn đưa được tin đến nơi.

Dao Anh không nản, thêm một phần hy vọng là tốt.

Nàng từ Duyên Giác nghe ngóng xem ở Vương Đình có thợ mộc giỏi không, Duyên Giác đề cử mấy nhà buôn lưu vong người Ba Tư.

Dao Anh tìm đến, nhờ họ hỗ trợ làm mấy món đồ gỗ nàng tự chế.

Người Ba Tư hông biết tiếng Hán, nàng không sõi tiếng Hồ, hai bên nói gà nói vịt mãi lâu, người Ba Tư đồng ý ngoài miệng sẽ chế tác ra thứ nàng muốn.

Dao Anh nghĩ người Ba Tư chắc hẳn chẳng hiểu yêu cầu của mình nhưng thấy đối phương ra vẻ đầy tự tin, đành chấp nhận.

Xử lý xong chuyện vặt vãnh, nàng bắt đầu mời chào vệ binh.

Các bộ lạc Tây Vực có rất nhiều người bị ép lưu vong, họ có thể vì một đồng Tát San* mà vào sinh ra tử.

*Sassanid Empire, còn gọi là đế quốc thứ hai của Ba Tư, trước thời kỳ Islam Ba Tư (224- 651CN) ở Tây Á được coi là đế quốc lớn mạnh, lãnh thổ thống trị gồm Iran, Afghanistan, Iraq, Syria, Caucasus, Trung á Tây Nam bộ, một phần Thổ Nhĩ, một phần bán đảo Ả Rập, một phần vịnh Ba Tư, Tây Nam bộ Pakistan, kéo dài đến Ấn Độ.

Chưa đến mấy ngày, nhà buôn người Túc Đặc chiêu mộ được một nhóm vệ binh cho Dao Anh.

Tóc đen mắt đen có, tóc xoăn mắt nâu có, tóc đỏ mắt xanh có, từ các bộ tộc bị hủy diệt.

Dao Anh tạm thời không dám đảm nhiệm người ngoài, chỉ để họ bảo vệ đám già yếu như Tề Niên, hoặc đi theo đội binh, những vệ binh vì tiền mà trung thành với nàng cũng dễ vì tiền mà phản bội nàng.

Lộn xộn mấy hôm, Dao Anh rệu rã cả người.

Vừa định nghỉ xả hơi, Duyên Giác báo, mấy hôm nữa ở buổi tảo khóa Đàm Ma La Già sẽ giảng kinh, muốn nàng chuẩn bị sẵn sàng.

Dao Anh thầm không ngừng kêu khổ, chuẩn bị gì đây?

Chả nhẽ Đàm Ma La Già định kiểm tra bài hở?

Làm gì ngài phải nghiêm túc vậy!

Nàng nghĩ tu tập mỗi ngày chỉ cần làm dáng một chút là được, đâu có nhớ cái gì!

Dao Anh không dám phản bác, mấy hôm sau cứ sáng sớm lại ngồi trước án ngoan ngoãn đọc sách kinh.

Sáng sớm hôm nay, nàng đã kiểm danh sách xong, ngồi trước án lật sách kinh, bỗng nghe tiếng lạch cạch lớn, một chùm nho từ bên ngoài bay đến, rớt trên bàn, nho lục tục rớt ra.

Dao Anh đọc kinh thấy chóng mặt hoa mắt, giật nảy mình, nhìn mấy chùm nho xanh xanh vàng vàng trên bàn thất thần.

Từ ngoài hành lang có tiếng tạ tội một tràng, là đám thân binh vừa rồi giỡn trong vườn ném nho qua lại, không cẩn thận rơi vào.

Tạ Thanh lập tức rút đao, đứng dậy định ra giáo huấn mấy cậu.

Dao Anh khoát tay, gọi Tạ Thanh: "A Thanh, cô ăn nho khô chưa?"

Mai:

Tất Sa gạt lệ: Tôi sai rồi, thật đó, tôi tưởng chỉ cần Văn Chiêu công chúa không quyến rũ La Già thì sẽ chẳng có chuyện gì, triệu lần không ngờ sẽ xảy ra chuyện!

Dao Anh: Không liên quan đến ta, ta không có.
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 57: Ăn thịt


Trời còn chưa sáng, Dao Anh đã bị Tạ Thanh đánh thức.

Nàng nhớ hôm nay là ngày Đàm Ma La Già giảng kinh, đứng dậy rửa mặt, mặc bộ áo vải mộc mạc, vừa gặm bánh Hồ mè vừa cố xem nốt kinh trong ánh đèn chập chờn, thầm nhớ nằm lòng.

Tiếng chuông từ ngoài tường hoa vẳng đến, cách tầng tầng lớp lớp, nghe xa thăm thẳm.

Ánh bình mình vừa hé rạng, Duyên Giác tới đón Dao Anh đến đại điện, nhìn nàng ăn mặc giản dị, mái tóc dài đen nhánh búi gọn gàng cùng một cây trâm bích ngọc đơn giản, không phấn son hay đeo trang sức vàng ngọc gì khác, thỏa mãn gật gù.

Dao Anh ở viện tử góc Đông Bắc Phật Tự, cách đại điện rất xa, trên đường xuyên qua mấy hành lang thật dài bay giữa trời không.

Nàng chỉ vào vài tòa viện lạc dưới chân, tò mò hỏi: "Đấy là chỗ nào?"

Mấy ngày qua nàng phát hiện ở ngoài cùng của Phật Tự có rất nhiều cung điện dinh thự xen lẫn nhau, có công sở, có dịch quán, có cửa hàng, có chỗ thanh tu dành cho Vương công quý tộc, tỷ như viện lạc nàng ở thuộc về khu này, nên nghiêm chỉnh mà nói nàng không tính là đang ở trong Phật Tự, vì vậy có thể tự do ra vào.

Phật Tự là chỗ Quân chủ Vương Đình tu tập, chiếm diện tích rất rộng, các sư tụ về, khắp nơi có thủ vệ, ngày ngày còn có rất nhiều người dân đến thăm viếng chiêm ngưỡng, vô cùng náo nhiệt, có điều trong Phật Tự có một góc viện lạc luôn bỏ trống, yên tĩnh âm u, rất ít người ra vào.

Chính là khu viện tử dưới chân nàng.

Duyên Giác theo ánh nhìn của Dao Anh, nhỏ giọng: "Đó là Hình đường."

Dao Anh không hỏi tiếp.

Nàng lán mán nhớ lại, từ lúc mới sinh Đàm Ma La Già đã bị giam cầm ở Phật Tự, Vương công quý tộc muốn dọa ngài, mài mòn ý chí, cố ý nhốt ngài vào Hình đường, mãi đến năm ngài mười ba tuổi.

Hình đường là một tầng bán hầm đào xuống đất, nắng sớm nghiêng chiếu qua mấy gian đình viện âm u như lọt vào đáy giếng cổ sâu không đáy, không thấy chút ánh sáng, u ám lạnh lẽo.

Ở đây hơn mười năm có bao nhiêu khó chịu?

Gần đến đại điện, tiếng người ồn ào lọt vào tai Dao Anh.

Đàm Ma La Già cho phép dân thường vào chùa nghe bài tuyên giảng, không kể nam nữ giàu nghèo.

Từ sáng sớm người dân thành kính tề tụ dưới điện, trước bậc thềm người người nhốn nháo, dù đã cố hạ giọng nói chuyện vẫn ong ong xôn xao.

Giảng kinh sắp bắt đầu.

Đại điện xây trên mỏm đá, không giống chùa Phật ở Trung Nguyên hương khói lượn lờ, hiển nhiên Phật giáo Vương Đình hay Trung Nguyên đều giống nhau, trong quá trình lưu truyền đã tiếp thu truyền thống bản địa rất nhiều, bốn bức tường vẽ đầy bích họa tinh xảo, đỉnh mái vòm là khung lam màu xanh thật lớn rất thanh nhã, trong điện đường trống trải sạch sẽ, rất thoáng, lối đi xung quanh được xây hẹp khoảng hai người đi lọt.

Trong điện bố trí đài cao, dưới đài các vị sư ngồi đầy kín, chỗ ngồi góc bên trái trước nhất sắc vàng lấp lánh, là một đám Vương công quý tộc áo quần lộng lẫy, trong hành lang có tăng binh phòng thủ, dưới thềm có dân chúng thi thoảng tham quan.

Duyên Giác dẫn Dao Anh đến một chỗ ngồi trong góc kẹt, vô số ánh mắt bắn tới nàng, nàng thản nhiên, mỉm cười nhìn lại.

Mặt họ cứng đờ.

Dao Anh vào chỗ, nhìn quanh một vòng, đa số là Vương công quý tộc và dân chúng nhìn nàng, các vị sư ổn định hơn nhiều, chỉ lặng lẽ đưa mắt dò xét nàng một lát rồi yên lặng thu về.

Các quý phụ liếc nhìn Dao Anh, nháy mắt nhau ra hiệu.

Dao Anh mắt nhìn mũi, mũi nhìn tim, tiếng Hồ của nàng không giỏi đến mức nghe hiểu các bà xì xào bàn tán, vừa vặn rảnh tai.

Chỉ sau chốc lát, các sư vây quanh Đàm Ma La Già đến.

Mắt Dao Anh trợn lớn, trong chốc lát không kịp phản ứng.

Đàm Ma La Già đi đến, người mặc áo cà sa rộng đỏ thắm, tay đeo cầm châu, bước đi ung dung, phiêu phiêu dục tiên, ánh mắt lạnh nhạt không chút khói lửa.

Đây là lần đầu Dao Anh thấy Đàm Ma La Già bước đi, không khỏi dấy lên cảm xúc rất khác thường trong lòng, ánh mắt luôn yên lặng vây quanh chàng.

Vóc dáng chàng cao gầy, mắt như sao lạnh, khí chất trong veo.

Dao Anh nghĩ đến đôi chân trước đây không lâu còn sưng đến tím đen, áo cà sa rộng rãi che phủ, không biết chân ngài đã khôi phục thế nào.

Nhìn ngài đi ưu nhã thế này hẳn là sắp khỏi hẳn.

Đề Bà Mông Đạt đã về Thiên Trúc, không rõ bệnh của ngài ấy cuối cùng là gì, Thủy mãng thảo chỉ là lấy độc trị độc, dùng lâu dài chắc chắn có hậu hoạn tiềm ẩn.

Bên cạnh có vài tiếng ho khan, có tiếng cười trộm, Duyên Giác thấp giọng nhắc nhở Dao Anh: "Công chúa..."

Thấy nàng nhìn Đàm Ma La Già quá tập trung.

Dao Anh hồi phục tinh thần, phát hiện toàn bộ phụ nữ trong điện đều đang nhìn mình, phát giác được mình thất thố, thu tầm mắt.

Đàm Ma La Già đứng trên điện cao cao, vào chỗ ngồi, bắt đầu dẫn chúng tăng niệm kinh, dáng thật trang nghiêm.

Vương công quý tộc và dân chúng ngoài điện cũng ngồi nghiêm túc, cùng tụng theo, đám người sánh vai nhau, vẻ mặt tất cả rất thành kính.

Tiếng Phạn trong trẻo vang xa, nghiêm trang, rung động lòng người.

Dao Anh không khỏi nín thở, sửa tư thế ngồi ngay ngắn, tụng kinh cùng Duyên Giác.

Đợi nàng tụng xong đống kinh văn mấy hôm liên tục ôm chân Phật học thuộc năm ba lần, tiếng tụng kinh ngừng lại.

Một tiểu tăng bưng quyển văn rất cung kính đi đến trước đài cao, Đàm Ma La Già tiện tay rút từ quyển văn ra một quyển, tiểu tăng cao giọng đọc lên tên một người.

Một vị sư dưới đài đáp lời bước lên, hành lễ với Đàm Ma La Già, bắt đầu đặt câu hỏi.

Đàm Ma La Già trả lời vài câu, vị sư nhíu mày suy tư, chắp tay về chỗ.

Tiếp đến Đàm Ma La Già lại rút ra một quyển kinh văn, tiểu tăng liếc cái tên trên tấm vải đọc ra, một vị sư khác lại kích động đứng dậy, lớn tiếng đặt câu hỏi, nói cực nhanh, Đàm Ma La Già luôn lạnh nhạt, trả lời không hề chậm, vị sư không ngừng gặng hỏi, thậm chí còn hơi hùng hổ dọa người, chàng vẫn không đổi sắc, tuần tự trả lời.

Cuối cùng, vị sư chắp tay trước ngực, vẻ rất bội phục, ngồi lại.

Tiểu tăng tiếp tục điểm danh, mỗi một vị sư được điểm danh đều phấn chấn, đặt câu hỏi cho Đàm Ma La Già, Đàm Ma La Già đáp từng câu với giọng bình thản.

Dao Anh không hiểu mấy.

Duyên Giác nhỏ giọng giải thích, này gần như là bàn luận Phật pháp, chúng tăng viết câu hỏi lên cuốn da trình lên, Đàm Ma La Già rút trúng ai, người ấy có thể cùng ngài biện luận, vạn sự vạn vật, Phật pháp Phật lý, từ không tới có, mây trên trời, cỏ dưới đất, gì cũng tranh biện được.

Dao Anh tặc lưỡi, kiên trì tiếp tục nghe, các vị sư và La Già tranh biện bằng tiếng Phạn, nàng nghe không hiểu, chỉ thấy tốc độ hai bên tranh biện rất nhanh, nhìn vẻ khó xử, hoặc mừng thầm, hoặc mất mát, hoặc vắt hết óc nghiền ngẫm cũng rất thú vị.

Sau khi Đàm Ma La Già rút khoảng mười quyển kinh văn, tiểu tăng hạ khay, vẻ mặt các sư lấy lại bình thản, bầu không khí trong điện trở nên dễ thở hơn nhiều, La Già bắt đầu thuyết pháp.

Chàng giảng bằng tiếng Phạn, sau chuyển thành tiếng Hồ, ngẫu nhiên xen lẫn một ngôn ngữ khác, giọng trong trẻo, trầm ấm, âm điệu uyển chuyển như châu ngọc rơi xuống mâm, mang theo vần luật thư giãn.

Trong ngoài điện ai cũng nghe như si như say, thỉnh thoảng có phụ nữ cúi đầu lau nước mắt.

Dao Anh nghe man mán ra Đàm Ma La Già đang giảng chuyện thiện ác nhân quả, rồi sau đó hết hiểu.

Nàng ngồi sống lưng thẳng tắp, quỳ nửa ngày, cả người đau nhức, nhịn không được vụng trộm đổi một tư thế.

Một ánh mắt trong lạnh quét tới.

Nhẹ nhàng, lại đầy sức sắc sảo không lộ.

Dao Anh không khỏi giật mình, lập tức thành thật, không nhúc nhích, tiếp tục lắng nghe.

Đàm Ma La Già nhìn trên đỉnh mái tóc đen nhánh mềm mại của nàng một chút rồi dời ánh mắt.

Dao Anh không dám động đậy, ngồi tiếp một khắc nữa, trong đám đông vang lên tiếng xúc động, tiếng tụng kinh liên tiếp, rồi tất cả đứng dậy, chắp tay về phía Đàm Ma La Già, đưa mắt nhìn ngài xuống đài cao, giữa các vị sư vây quanh rời đi.

Chờ bóng lưng cao gầy của chàng biến mất sau cửa điện, tim Dao Anh mới thả lỏng: Vậy xong rồi nhỉ?

Ngài ấy không kiểm tra bài nàng à?

Thì ra chỉ cần nàng thành thành thật thật ngồi nghe tảo khóa là được.

Dao Anh đứng dậy định rời đi, thì mấy bóng người lướt tới.

Bát Nhã và mấy vị sư đứng trước mặt nàng, vẻ rất nghiêm túc, cười lạnh chìa ra mấy quyển kinh: "Công chúa tu tập Phật pháp, có thu hoạch được gì không?"

Dao Anh giật khóe miệng: Mừng quá sớm rồi, người kiểm tra bài còn chờ đây nè!

Bát Nhã đứng trước mặt Dao Anh, sống lưng ưỡn như khúc cây bạch dương, bắt đầu rút ra vài nội dung trong quyển kinh Dao Anh đọc.

Câu hỏi vừa đúng phần Đàm Ma La Già nói Duyên Giác nhắc qua Dao Anh.

Dao Anh sửng sốt, lập tức cười thầm: Hòa thượng giúp nàng gian lận.

Dù nàng không thể giải thích sâu xa nghĩa trong sách nhưng học thuộc lòng không làm khó được nàng, đối đáp trôi chảy.

Bát Nhã nhíu mày, lật ra một quyển khác, tiếp tục hỏi.

Dao Anh vẫn lưu loát thuộc lòng.

Liên tiếp hỏi mấy quyển không làm khó được Dao Anh, Bát Nhã không khỏi tức giận, hỏi: "Giải nghĩa được không?"

Dao Anh nhắm hai mắt lại, cười nói, "Không thể."

Không đợi Bát Nhã nói tiếp, nàng hỏi lại: "Thế cậu hiểu không?"

Bát Nhã vốn định phản bác, đối diện với ánh mắt cười khanh khách của Dao Anh, đỏ hết cả mặt, cậu không phải sư quy y mà chỉ là hộ vệ đi theo Đàm Ma La Già, nào dám nói mình có thể hiểu được ý nghĩa trong sách kinh?

Nếu cho ra một câu trả lời khẳng định, hẳn sẽ bị hỏi đuổi đến cùng!

Cậu đành phải lắc đầu.

Dao Anh mỉm cười.

Bát Nhã không chịu thua, hỏi tiếp: "Mấy nay công chúa học bao nhiêu đây thôi hả?"

Dao Anh ho nhẹ, nghiêm mặt nói: "Mấy ngày qua ta dốc lòng nghiên cứu một bộ kinh văn."

Bát Nhã nhìn ánh mắt nàng tràn ngập hoài nghi: "Kinh văn gì?"

Dao Anh đọc từng chữ Tâm kinh.

Tâm kinh, còn gọi Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa tâm kinh, ngắn gọn tỉ mỉ, bản dịch của Đường Huyền Trang tổng cộng chỉ hơn ba trăm chữ, đơn giản rõ ràng, lại hàm nghĩa vô tận, bởi vì nó là tinh hoa rút ra từ mấy trăm bộ kinh Phật, cô đọng từ điển tịch Phật giáo mấy trăm vạn chữ mênh mông như biển khói.

*Mai: bản dịch và số chữ của Tâm kinh có nhiều phiên bản khác nhau.

Dao Anh nghĩ qua rồi, bộ kinh này ở Trung Nguyên lưu hành rộng rãi, đủ cho nàng đối phó được mấy tháng kiểm tra, nhẹ bớt việc.

Nàng đọc được rất lưu loát, vẻ mặt Bát Nhã lại mờ mịt: "Cô đọc gì thế?"

Dao Anh càng mờ mịt hơn cậu: "Tâm kinh?"

Bát Nhã nói chắc chắn: "Ta chưa từng nghe qua kinh này."

Dao Anh giải thích: "Ta đọc là bản dịch của Pháp sư Trung Nguyên Huyền Trang, có thể khác với chỗ các cậu nghiên cứu."

Bát Nhã chau mày, cùng mấy vị sư đứng cạnh liếc nhau, một người lắc đầu, mấy người nhỏ giọng thảo luận một lát, nói: "Công chúa có thể lĩnh ngộ không ạ?"

Dao Anh chắp tay trước ngực, nói: "Kinh văn sâu sắc, ta vẫn chưa lĩnh ngộ được chân nghĩa trong đó, có điều sau khi niệm mấy lần giúp tâm tình trở nên yên tĩnh ôn hòa."

Bát Nhã ngây ra, Dao Anh nếu có nói ra vài điểm cậu còn tranh cãi được, nói thế này đúng là không tìm thấy sai lầm.

Một vị sư đứng cạnh lộ vẻ vẻ tán thưởng, vuốt cằm: "Công chúa có thể lĩnh ngộ thế này, thật đúng là dốc lòng tu tập."

Dao Anh cười khiêm tốn.

Mi mắt Bát Nhã giật giật.

Mấy vị sư cúi chào Dao Anh rời đi.

Dao Anh hỏi Duyên Giác đứng cạnh: "Vậy là ta qua được kỳ kiểm tra rồi nhỉ?"

Duyên Giác cười cười, nói: "Công chúa biểu hiện rất tốt, sau này trong thành cũng bớt đi ít lời đồn nhảm, chỉ cần công chúa biểu hiện tốt trong tu tập Phật pháp, họ cũng không dám cố tình khó xử công chúa."

Dao Anh trong lòng chợt động.

Thì ra Đàm Ma La Già dặn nàng trả lời kiểm tra cho tốt là để giúp thời gian nàng ở Thánh Thành trải qua tốt hơn.

Thấy đến giờ dùng cơm trưa, Duyên Giác đưa Dao Anh về viện tử.

Sau lưng có tiếng bước chân, một cận vệ đuổi đi theo: "Vương mời công chúa đi thiền phòng."

Duyên Giác vâng lời, hộ tống Dao Anh đi thiền phòng.

Trong viện yên tĩnh, bầu trời xanh thẳm, mây trôi nhẹ lượn lờ, mảnh hoa lá trên khung lam mái vòm tản ánh nắng chiếu qua thành màu xanh mát rượi, ánh vàng trên mấy tấm bích họa như đang nhảy nhót.

Đàm Ma La Già ngồi trước trường án đọc thư, mấy tên vệ sĩ mặc áo lam phong trần mệt mỏi quỳ gối trước đình viện, một trong số đó là hầu cận của A Sử Na Tất Sa.

Tin từ Bắc Nhung truyền về.

Dao Anh bước nhanh vào hành lang, đến ngoài thiện phòng, dừng bước, trong vô thức nín thở ngưng thần, rảo bước vào phòng.

Trong phòng mát lạnh, Đàm Ma La Già không ngẩng lên, ngón tay thon dài giơ lên, ra hiệu Dao Anh ngồi xuống.

Dao Anh ngồi quỳ thẳng thớm đối diện chàng.

Đàm Ma La Già xem xong thư, nâng tầm mắt, nói: "Hải Đô A Lăng bị thương ở chân."

Dao Anh khẽ giật mình.

Đàm Ma La Già liếc qua đình viện, Duyên Giác hiểu ý, ra hiệu hầu cận của A Sử Na Tất Sa tiến lên.

Hầu cận quỳ gối ngoài hành lang, chậm rãi nói: "Khi Tướng quân A Sử Na đến Bắc Nhung, Vương tử Hải Đô A Lăng đã về nha trướng, nghe nói dọc đường y bị cướp tập kích, một chân bị ngựa hoảng đạp nát.

Khí trời nóng bức, vết thương thối rữa, Vu y cứu chữa dùng sai thuốc nên đùi phải của Hải Đô A Lăng bị phế.

Tướng quân nói, mấy vị Vương tử xông vào lều vải chính mắt nhìn thương thế của Hải Đô A Lăng, chân y còn đang sinh giòi bọ."

Dao Anh nghe mí mắt không ngừng giật.

Quả nhiên Hải Đô A Lăng vẫn bị "hỏng" một chân.

Mấy toán cướp mai phục kia hẳn là cạm bẫy của mấy vị Vương tử bố trí, y tương kế tựu kế, giả vờ hỏng một chân

Hầu cận cuối cùng nói: "Tướng quân nhớ Văn Chiêu công chúa nhắc nhở ngài rằng Hải Đô A Lăng sẽ dùng khổ nhục kế, sinh nghi chân của y không hỏng thật, phái thuộc hạ về gặp Vương xin chỉ thị, tiện hỏi công chúa một câu."

Đàm Ma La Già nhìn Dao Anh.

Lập tức Dao Anh thấy không thở nổi, nói: "Đúng là ta có nhắc nhở Tướng quân A Sử Na."

Hầu cận nhỏ giọng nói: "Công chúa hiểu tính tình của Vương tử Hải Đô A Lăng như lòng bàn tay, tướng quân muốn nghe đề nghị của công chúa."

Cả viện yên tĩnh.

Dao Anh đón ánh mắt mong chờ của hầu cận, nhắm mắt nói: "Hải Đô A Lăng đã dùng khổ nhục kế, không bằng Tướng quân tương kế tựu kế, để Vương tử Hải Đô A Lăng dưỡng thương cho tốt."

Hải Đô A Lăng giả bộ hư một chân, A Sử Na Tất Sa có thể lợi dụng lòng nghi kỵ của mấy vị Vương tử, làm chân đó hư thật.

Mấy hầu cận trao đổi một ánh mắt, mắt Duyên Giác canh giữ ngay cửa lộ vẻ kinh ngạc.

Đàm Ma La Già như không hề ngạc nhiên với câu trả lời của Dao Anh, không lên tiếng, cầm bút viết thư.

Hầu cận đứng dậy nhận thư, cúi chào, vội vàng rời đi.

Dao Anh cũng đứng dậy rời khỏi thiền phòng, khi xuống hành lang, vừa vặn gặp mấy cận vệ dọn bàn ăn đến, nàng hờ hững quét mắt qua mâm bạc, ngớ ra.

Một mâm thịt bò nhoáng qua ngay trước mắt.

Dao Anh quay lại, ánh mắt dán lên mâm thịt bò.

Bàn ăn được đưa đến trước mặt Đàm Ma La Già, ngón tay thon dài thanh tú của chàng nhón một miếng thịt.

Dao Anh rớt cả miệng.

Trong phòng, Đàm Ma La Già phát hiện ánh mắt Dao Anh đang nhìn chăm chú, ngước nhìn lại.

Thiếu nữ đứng trong đình viện, ngơ ra nhìn chàng, vẻ mặt như bị sét đánh.

Đàm Ma La Già khựng lại, một tia nghi hoặc nhẹ lướt qua đôi mắt xanh trong.

Nàng ấy đói bụng à?
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 58: Tranh luận


Dao Anh trở lại viện tử của mình, nhìn một mâm lớn bánh naan và nước ấm mà người hầu vừa dọn lên trên trường án, nhớ tới mớ thịt nướng vừa nãy bay qua trước mắt.

Nếu biết trước không cấm ăn thịt, mấy bữa nay nàng đâu cần ăn chay mỗi ngày.

Trên đường về Duyên Giác có giải thích, sư ở Vương Đình không hề bị cấm ăn thịt.

Phần lớn sư các nước Tây Vực đều vậy, chỉ nhắc đến tam tịnh nhục và ngũ tịnh nhục, tam tịnh nhục tức không thấy giết, không nghe tiếng giết, không giết, ngũ tịnh nhục ngoài ba điều trên còn thêm hai loại: tự chết, thịt dư của điểu thú giết.

Nói cách khác, không tận mắt nhìn thấy giết chết động vật, không nghe thấy động vật bị giết chết hoặc nghe nói động vật là bị giết vì mình, không phải do mình muốn ăn mà sát sinh, chỉ là thịt, thì có thể ăn.

Có điều lúc chế biến thịt không cho gia vị, sư không dính dáng tới món mặn, trong đó "mặn" chỉ hành, gừng, tỏi các gia vị có hương vị kích thích.

Thêm nữa, nếu sư sinh bệnh, cần ăn mặn, cũng có thể phá lệ ăn.

Dao Anh bừng tỉnh.

Giới luật khu vực khác biệt nhỏ cũng không hiếm thấy.

Tỉ như trước kia từng có quy định sư không ăn trưa, nếu giữa trưa đã ăn thì đến hôm sau mới ăn tiếp, gọi là "cầm trai".

Sau khi Phật giáo truyền vào Trung Nguyên, quy định này đã thay đổi, rất nhiều sư Trung Nguyên bỏ qua cầm trai, bắt đầu một ngày ba bữa, nếu không không thể đảm bảo thể lực.

Phật giáo khởi nguồn từ Thiên Trúc, lúc đầu đại bộ phận tăng lữ xuất thân từ quý tộc Thiên Trúc, ý nghĩa cơ bản của Phật giáo quan hệ chặt chẽ với xã hội Thiên Trúc, khi vừa mới lưu truyền đến Trung Nguyên, từng phát sinh xung đột và không thích ứng với truyền thống luân lý Pháp tông Trung Nguyên.

Sau đó Phật giáo nhập gia tuỳ tục, dựa vào luân lý Pháp tông của Trung Nguyên điều chỉnh thay đổi, không ngừng phát triển, thu nạp tầng lớp dân chúng phổ thông, mới có thể phổ cập truyền bá ở Trung Nguyên.

Các nước Tây Vực và Trung Nguyên vốn đã khác biệt, Phật giáo phát triển tự nhiên cũng thể hiện một diện mạo khác, ở một số ít các nước Tây Vực, toàn dân đều là tín đồ, sư sãi có địa vị cực cao, quan hệ mật thiết với quý tộc, thậm chí đôi khi Vương quyền thế tục và giáo quyền có thể khống chế trong tay một người.

Tóm lại, vùng đất khác biệt, phong tục khác biệt.

Giới luật Trung Nguyên nghiêm khắc, một vị hoàng đế Nam Bắc triều từng ban lệnh 'Cấm rượu', cấm sát sinh, yêu cầu sư không được ăn thịt, thêm nữa các nhà sư Trung Nguyên không cầm bát khất thực, được ban ruộng, khai khẩn vườn, tự mình trồng trọt, hoàn toàn có thể tự cấp tự túc, có thể không cần ăn thịt.

Dao Anh nhớ năm đó Pháp sư Huyền Trang đi Tây phương thỉnh kinh, lúc qua Tây Vực, các sư cũng ăn thịt.

Nàng từng cho rằng Vương Đình sùng bái những sách kinh có dấu hiệu theo hướng Đại thừa quá độ, nên cũng không ăn thịt sống, muốn tôn trọng các sư, nhập gia tùy tục, từ lúc vào ở Phật Tự chưa hề ăn thịt, không ngờ sư trong chùa không kiêng ăn thịt.

Nói cho đám thân binh, cả đám sướng rơn nhảy cẫng – họ là lính, ngày ngày cơm trắng, thèm muốn điên!

...

Phía bên kia, Duyên Giác quay về thiền phòng báo lại Đàm Ma La Già, cười nói: "Vương, không phải chủ chùa lạnh nhạt với Văn Chiêu công chúa đâu, là do lúc người vào ở, chủ động nói chỉ ăn thức ăn chay, nên chủ chùa không sắp xếp đưa qua món khác."

Đàm Ma La Già cúi đầu lật mấy cuốn sách da, trước mắt hiện ra vẻ thiếu nữ ngây ra như phỗng, mắt muốn rớt ra ngoài, nhìn chằm chằm mâm thịt nướng của mình mà vài phần tủi thân.

Còn tưởng nàng bị lạnh nhạt.

Thì ra không phải ấm ức mà chỉ đơn thuần là kinh ngạc, đại loại như "sao ngài lại ăn thịt?".

Nàng cho là mình có thể uống sương ăn gió chăng?

Mặt Đàm Ma La Già trong veo, ngón tay thon dài nhẹ phẩy cầm châu.

...

Ngày hôm sau, mâm cơm đưa đến viện Dao Anh nhiều thêm mấy đĩa thịt nướng.

Đáng tiếc thịt nướng không được chế biến tỉ mỉ, chỉ sơ sài ướp vài hạt muối.

Nhưng đám thân binh đói lâu ngày vẫn khoái chí ăn mãi, gặm đến không còn mảnh xương.

Cơm nước xong xuôi, Dao Anh bảo thân binh chia nhau làm việc.

Nàng đã tìm Duyên Giác nghe ngóng, Vương Đình có vườn nho lớn, phần lớn được hái để ủ rượu nho.

Rượu nho Cao Xương có tiếng gần xa, là món bán chạy, rượu nho Vương Đình không tinh khiết bằng Cao Xương, nhưng thắng ở chỗ có thể để rất lâu không biến chất.

Mảnh đất Dao Anh mua vừa vặn có mấy khoảnh trồng nho.

Trước đó Tề Niên từng nhắc qua ông biết cất rượu, nàng cho ông thử chút, dù gì cũng không nghĩ trông vào tiền họ kiếm.

Chăn cừu, thuộc da đều là việc tốn thể lực, phần lớn họ đều là ít khả năng lao động mới bị bán, nàng luôn nghĩ cách tìm công việc thoải mái chút cho họ.

Dạy họ phơi nho khô?

Ý này vừa chợt lóe, Dao Anh sai thân binh đi phố chợ mua ít nho khô, thăm dò nghe cách phơi nho bản địa.

Nàng ngồi trước đình viện, nhìn đám nho từng chùm từng chùm rủ xuống trước tường hoa, ngẩn người.

Nàng từng vì muốn uống rượu nho mà ầm ĩ với Lý Trọng Kiền.

Ở Trường An, giá rượu nho rất đắt đỏ.

Năm đó lính nhà Đường chinh phục Cao Xương, mang ngựa sơ sinh, phương pháp ủ nho Cao Xương về Trung Nguyên, Thái Tông Lý Thế Dân cho trồng nho trong vườn của Hoàng gia, tự mình ủ rượu, ban cho quần thần cùng hưởng.

Sau này mở rộng xuống dân gian, phổ biến trong phố chợ, có điều vì chiến loạn liên tục nhiều năm, nho tươi trở nên quý hiếm, phương pháp ủ nho thất truyền, nên rượu nho trở nên hiếm hơn.

Từng có vị Thái y nói uống rượu nho vừa phải rất tốt cho phụ nữ, vừa vặn Dao Anh lên cơn thèm, đòi uống mấy chén, bị Lý Trọng Kiền quạu mặt dạy dỗ mấy câu.

Nàng luôn phải uống Ngưng lộ hoàn, thần y đã dặn, trong thời gian uống thuốc tốt nhất không được uống rượu.

Nghĩ tới đây, Dao Anh chợt nhớ.

Đàm Ma La Già đang dùng Thủy Mãng Thảo, ngài có biết phải kiêng thứ này không?

Nghĩ một lát, lắc đầu bật cười: Đàm Ma La Già là hòa thượng, nào uống rượu?

Trong đêm, thân binh cầm mấy bao nho khô về, mở ra trên bàn.

Dao Anh vừa nhìn đã biết mớ nho khô màu nâu này chất lượng không tính là thượng thừa.

Thân binh nói: "Công chúa, đây là mớ nho khô tốt nhất trong thành, người ở chợ nói nho khô ở Vương cung cũng là họ cung cấp.

Y nói, trời hè thu Vương Đình nóng bức khô ráo, nắng nhiều, mưa ít, họ hái nho rồi phơi trực tiếp, không cần làm gì nữa hết."

Dao Anh nhặt vài hạt nho khô lên nhìn kỹ màu, ngửi mùi, nếm mấy miếng, trầm ngâm một lát, xem ra phương pháp phơi nho hiện tại còn rất thô sơ.

Nàng dặn dò thân binh: "Mai ngươi ra khỏi thành nói lão Tề, không được tiếc mớ nho đã kết quả kia, thu hoạch toàn bộ, toàn bộ vườn đổi qua trồng trái cây ngọt quý hiếm, ngựa sơ sinh, nho trân châu đen*, nếu không được mua nho, bảo ông ta đi Thành Nam tìm người buôn tên Khang Đại, đổi thêm trà, tơ lụa."

* giống không hạt kháng bệnh, sản lượng cao, trưởng thành nhanh, chất lượng tốt, hàm đường lượng cao, dễ vận chuyển.

Thân binh vâng dạ, lại nhắc một việc: "Lão Tề nói ông ta có liên hệ người Sa Châu lưu vong các nơi, phần lớn họ không có cơm ăn áo mặc, ông bảo tôi về xin chỉ thị công chúa, có thể thu nhận họ không?"

Dao Anh nhíu mày.

Vương Đình cuối cùng chỉ là nơi tạm thời che chở cho nàng, họ không thể đem lại phiền phức cho Vương Đình, người thu nhận càng lúc càng nhiều, không thể nhận tất cả vào Vương Đình được.

"Hiện giờ nhân số không nhiều, nhận được thì nhận nhưng nhớ kỹ, căn dặn lão Tề, bắt buộc phải lập danh sách không được thiếu một người, dựa vào đó ta còn nộp tiền thuế."

Đại thần Vương Đình hám tiền, nàng cứ theo đầu người nộp thuế, mới không bị chỉ trích quá lớn, lập danh sách cũng dễ quản lý nhân khẩu, làm cơ sở huấn luyện binh sĩ biết đánh trận.

Nàng thiếu người, giờ chiêu mộ càng nhiều người càng tốt.

Thân binh gật đầu, ghi nhớ từng việc một, chần chừ chút rồi hỏi: "Có vài người Sa Châu...

Lão Tề không biết nên nhận không."

Dao Anh hỏi: "Đã là người Sa Châu, sao không thể nhận?"

Thân binh đáp: "Mấy cô đó không phải người Hán, mà đều là người Hồ lưu lạc đến Tây Vực, bị thương đội bán trao tay nhiều lần, cuối cùng lưu lạc đến Vương Đình, nghe nói chỗ lão Tề chứa chấp rất nhiều người Hà Tây nên mấy cổ tới xin vào."

Dao Anh nhíu mày, nhìn thân binh một lát rồi gọi tất cả tới, ánh mắt đảo qua gương mặt từng người.

Vẻ mặt nàng có phần nghiêm khắc, đám Tạ Xung, Tạ Bằng không dám đùa, ai cũng khoanh tay đứng hầu.

Dao Anh từng chữ nói: "Sa Châu, Qua Châu đều thuộc đất Hà Tây, dân địa phương dù là Hồ hay Hán, đều là con dân Đại Ngụy, các ngươi nhớ rõ chưa?"

Cả đám trầm giọng thưa vâng.

Lúc này Dao Anh mới bảo thân binh ban nãy: "Đã là người Sa Châu, lại tới xin vào, có thể nhận thì nghĩ cách nhận."

Lại nói: "Nếu có người không tuân thủ quy định, quyết không nhân nhượng, lập tức đuổi đi.

Chúng ta chỉ có cứu mình trước, mới có thể cứu người, bảo lão Tề cẩn thận chút, tuyệt đối đừng để xảy ra nhiễu loạn."

Thân binh vâng lời.

Liên tiếp mấy ngày bận rộn, đoán chừng A Sử Na Tất Sa sắp về, Dao Anh bắt đầu chuẩn bị đi Cao Xương, Đàm Ma La Già đã có nói Tất Sa sẽ đi sứ Cao Xương với nàng.

Trong thời gian này, mỗi sáng sớm nàng kiên trì xuất hiện ở buổi tảo khóa, dù nghe tuyên giảng không hiểu, vẫn thành thật ngồi nửa canh giờ, niệm tụng kinh văn với các nhà sư.

Đàm Ma La Già giúp nàng, nàng không thể phụ tâm sức của ngài.

Mấy vị sư với Dao Anh không đồng ngôn ngữ, thấy thái độ nàng thành kính, trẻ tuổi xinh đẹp, có thể mộc mạc, không chút phấn son, ngày ngày trời chưa sáng đã đứng dậy tảo khóa, thái độ đối với nàng hiền lành đi rất nhiều.

Có điều vẫn không ai dám tiếp chuyện Dao Anh, chỗ nàng đi qua, tất cả các sư lập tức dời mắt, không dám nhìn nàng nhiều, có người nhắm mắt niệm kinh, có người thiền định, còn có người quay đầu né tránh.

Bát Nhã tức hổn hển: Rất hiển nhiên, mấy vị này định lực không đủ, vì sắc đẹp của Dao Anh tâm tình lay động, coi nàng là hồng thủy mãnh thú* mới tránh né!

*nước lũ và thú dữ: kiểu như tai họa lớn

Cậu vụng trộm phàn nàn với Duyên Giác: "Cứ mỗi lần Văn Chiêu công chúa đi ngang tiền điện, đám tiểu sa di kia rớt hết cả mắt!

Cứ tiếp tục thế thì phải làm sao đây?"

Duyên Giác cười cười: "Công chúa chỉ đến điện tụng kinh lúc tảo khóa, còn lại đều không đi lại trong chùa, không cố ý dẫn dụ ai, không trang điểm múa máy khắp nơi.

Các phụ nữ Vương công quý tộc trong thành cũng thường xuyên đến tiền điện nghe thiền sư giảng kinh, người nào cũng trang điểm kỹ càng, đầu đội trang sức, người đeo chuỗi chuỗi vàng ngọc, còn sợ bị so sánh ai cũng dẫn theo bốn năm thị nữ, nhiều nữ tử đến nghe giảng vậy, sao ngươi chỉ nhằm mỗi Văn Chiêu công chúa thế?"

Bát Nhã không cãi lại, im một lúc, tức giận giậm chân: "Văn Chiêu công chúa đẹp như thần nữ, đẹp hơn họ!"

Duyên Giác buồn cười chịu thua, "Sắc đẹp của công chúa trời ban, không phải tội nghiệt.

Đây cũng là Phật khảo nghiệm đám tiểu sa di, nếu chúng thông qua khảo nghiệm, tức là vững tâm, còn nếu mỗi ngày mơ mơ mộng mộng, chứng tỏ tâm không vững, vừa vặn có thể ma luyện rồi."

Cậu dừng lại một lát, trịnh trọng nói, "Với Vương mà nói, cũng vậy thôi."

Bát Nhã nghĩ nghĩ, cũng có lý, đành thôi.

Dao Anh không biết Duyên Giác thật sự coi nàng là khảo nghiệm của Phật dành cho Đàm Ma La Già, ngày ngày tuân thủ đi tảo khóa.

Bình thường nàng tự đến tự đi, hôm đó, sau bài giảng kết thúc mấy vị sư ngăn nàng lại, mở miệng một tràng tiếng Phạn.

Nàng nghe không hiểu, mặt đờ ra.

Sau đó lại một tràng tiếng Hồ, một vị sư bên cạnh bất mãn, lôi kéo người kia tranh luận kịch liệt, hai người nhao nhao kích động, mấy sư khác bên cạnh tham dự vào, rất nhanh lôi cuốn sự chú ý của chủ chùa.

"Có việc gì?"

Chủ chùa chạy tới hòa giải.

Tiếng cãi nhau cũng không hạ giọng mà ngược lại càng ồn ã cao giọng hơn, còn dùng tay lôi kéo đối phương, đánh bả vai đối phương, mặt đỏ tới mang tai.

Chủ chùa giận dữ, nhưng sau khi ông nghe rõ lý do, cũng không quát họ, chỉ nhíu mày nói: "Việc này ta không làm chủ được, phải do Sư tôn quyết định."

Dao Anh còn chưa nghe ra đám sư tranh luận chuyện gì, đã bị đưa cùng với cả đám đến thiền phòng của Đàm Ma La Già.

Cây táo trong vườn hoa trắng xóa đã rụng từ lâu, cánh hoa đầy đất.

Đàm Ma La Già đang xử lý công vụ, người mặc cà sa lộ vai, bả vai màu mật ong láng mịn.

Chủ chùa cung kính hành lễ rồi báo với cận vệ, đợi Duyên Giác ra hiệu đi vào, lập tức mang mấy vị sư vào thiền phòng báo lại mọi việc.

Đàm Ma La Già nghe ông nói xong, ngước mắt, nhìn về phía Dao Anh đứng trước cửa.

Dao Anh hiểu ý, đi vào.

Đàm Ma La Già bảo Duyên Giác: "Lấy giấy bút."

Duyên Giác chuyển đến một bàn trà nhỏ, mang giấy bút tới, đặt bên phải Đàm Ma La Già.

Đàm Ma La Già hỏi Dao Anh: "Công chúa có thể chép lại Tâm kinh đã từng tụng không?"

Chàng nhìn nàng, mắt như chứa một dòng nước xanh biếc, trong lạnh lại ôn hòa.

Dù không cố tình có ý trấn an, vẫn khiến người bình tĩnh lập tức.

Dao Anh lấy lại tinh thần, nhẹ gật đầu, đi đến trước bàn nhỏ, ngồi xếp bằng, cầm bút bắt đầu chép lại.

Trong phòng yên tĩnh, chỉ có tiếng bút sột soạt lướt qua giấy.

Sau chốc lát, Dao Anh chép xong, đưa cho Duyên Giác, Duyên Giác chuyển qua trước án của Đàm Ma La Già.

Đàm Ma La Già liếc qua thật nhanh, sau đó lại xem từ đầu, đọc rất cẩn thận.

Sau khi xem xong, chàng đặt tờ giấy xuống.

"Công chúa có bản Tâm kinh bằng tiếng Phạn không?"

Dao Anh lắc đầu, phần lớn các bản Phật kinh điển tịch nguyên thủy là tiếng Phạn, sau có nhiều bản dịch khác nhau, trong đồ cưới nàng có nhiều quyển kinh Phật tiếng Phạn nhưng lại không có Tâm kinh.

Mấy vị sư nghe đến đó, xì xào bàn tán, một người trong đó vẻ mặt hơi kích động.

Đàm Ma La Già hờ hững liếc y.

Y vội đỏ bừng mặt, dừng tranh luận, cúi đầu.

Đàm Ma La Già bảo Duyên Giác đem giấy bút, cầm bút, đối chiếu bản tiếng Hán Dao Anh vừa mới chép ra, bắt đầu viết.

Dao Anh hơi hiếu kỳ, ánh mắt rơi xuống ngòi bút chàng, phát hiện chàng đang viết tiếng Phạn, nàng nhìn không hiểu.

Là ngài trực tiếp dịch từ nội dung nàng thuộc lòng ư?

Nàng nhìn một lúc, chưa kịp nhìn rõ, Đàm Ma La Già bỗng ngẩng đầu, ánh mắt bắt gặp nàng.

Dao Anh khẽ giật mình, nhìn chàng cười cười, mày hơi cong, hai con ngươi đen nhánh tỏa sáng.

Như hoa đầu cành, nở rộ rực rỡ xinh đẹp, tràn đầy kiêu ngạo tự mãn của thanh xuân, ánh mắt tràn ngập tin cậy.

Giờ không so đo chuyện mình ăn thịt nữa nhỉ?

Đàm Ma La Già rũ mắt, chỉ vào một câu trên giấy, nhẹ giọng hỏi Dao Anh.

Dao Anh lấy lại tinh thần, thấp giọng trả lời.

Đàm Ma La Già ừm một tiếng, cầm bút sửa lại chữ ban nãy viết, lát sau lại hỏi, Dao Anh nghiêm túc đáp.

Họ nói chuyện bằng tiếng Hán, cận vệ phòng thủ và các sư nghe không hiểu, không thể xen vào, chỉ đứng nín hơi yên lặng không nháy mắt chăm chú nhìn họ, quan sát thần sắc họ.

Dao Anh ngồi cạnh Đàm Ma La Già, chàng hỏi một câu, nàng đáp một câu.

Nàng nhìn qua vẻ mặt căng thẳng, trông đợi của mấy vị sư, đàng hoàng nói: "Pháp sư, ta cũng không hiểu rất rõ ý nghĩa trong kinh, Pháp sư có muốn tìm vài người hỏi không?"

Đàm Ma La Già cúi mày, nói: "Không việc gì, công chúa chỉ cần thuật lại nguyên văn là được."

Cũng không biết cuối cùng mất bao lâu, chàng đã dịch xong, cầm một trang sao lại, đưa cho Duyên Giác.

Duyên Giác giao cho mấy vị sư đang chờ đợi, họ tranh nhau chuyền tay xem, lại ào ào thảo luận, xong cúi người với Đàm Ma La Già vẻ như chờ chàng phân tích.

Đàm Ma La Già nói mấy câu.

Mấy vị sư sửng sốt mãi rồi lộ ra vẻ đăm chiêu, có người đã ngộ, người còn mờ mịt, sau một lúc lâu, cả đám chắp tay cúi chào Đàm Ma La Già lui ra ngoài.

Chỉ còn mỗi Dao Anh ngớ ra trước trường án: Chuyện gì thế nhỉ?

Nàng nhìn Đàm Ma La Già, nhỏ giọng hỏi bằng tiếng Hán: "Pháp sư, ta không gây thêm cho ngài phiền phức chứ?

Sao họ lại cãi nhau vì Tâm kinh?"

Đàm Ma La Già khẽ lắc đầu, ra hiệu không có gì, nói: "Họ chưa từng được đọc bản tiếng Phạn của Tâm kinh, sách khắp nơi cũng không tìm được ghi chép, nghi ngờ đây là quyển kinh giả nên cãi nhau, không liên can đến công chúa."

Dao Anh đầy kinh ngạc, nghĩ nghĩ, quả quyết nói: "Vậy sau này ta không niệm nữa."

Tông phái Phật giáo như rừng, Phật pháp ở Tây Vực chịu ảnh hưởng Thiên Trúc càng sâu, lại dung hợp với phong tục truyền thống bản địa, xen lẫn rất nhiều thứ nàng không hiểu, nàng không muốn bởi vì mình vô tình mà xúc phạm người khác.

Đàm Ma La Già cúi nhìn Tâm kinh Dao Anh vừa mới chép lại, nói: "Công chúa không cần để ý, Tâm kinh thật hay là giả, không phải do họ thừa nhận, cũng không vì không có nguyên bản tiếng Phạn, kinh văn vẫn chứa Phật lý.

Phật diệt độ đã hơn nghìn năm, các tông các phái giải thích nghĩa kinh khác nhau, Phật kinh điển tịch sáng tác phong phú, chả nhẽ thứ họ chưa từng xem qua đều là giả sao?"

Dao Anh bừng tỉnh hiểu ra, vừa rồi mấy vị sư vì Tâm kinh ai cũng cho mình là đúng, mới mời Đàm Ma La Già phân tích, đây cũng là đáp án ngài đưa ra.

Thảo nào các vị sư đều bị thuyết phục.
 
Nguyệt Minh Thiên Lý
Chương 59: Kế hoạch thay đổi


Việc các sư ở Phật Tự tranh luận Tâm kinh là thật hay giả không ảnh hưởng đến Dao Anh, có điều nàng cảm giác họ vẫn bí mật bàn tán mà không cãi nhau trước đám đông thôi.

Bát Nhã Duyên Giác cũng bị kéo vào, Dao Anh nhiều lần bắt gặp cả hai tức giận, như vừa tranh chấp với mấy người khác.

Nàng là người ngoài, không tiện hỏi thăm việc chùa, liền về viện tử vùi đầu vào bận rộn riêng mình.

Lão Tề sau khi được nàng căn dặn đã nhận các cô gái người Hồ đến xin ở, đổi được một lượng trái cây, ngựa con chỗ Khang Đại, Khang Đại nói gã không có nho đen trân châu, vì nho này vị chua, hơi đắng, hạt tròn nhỏ, là chủng loại không được ưa chuộng, khó thấy ở Tây Vực.

Dao Anh sai Tạ Bằng truyền lời, bảo ông nghĩ cách dụ mấy nhà buôn người Hồ đi Cao Xương kiếm nho trân châu đen, loại này lúc chín đúng là không ngọt đậm như nho khác nhưng rất thích hợp dùng để cất rượu.

Thời tiết ngày càng nóng bức, trái cây bội thu, Dao Anh và thân binh ngày ngày được ăn nhiều trái cây mới mẻ, ở Trung Nguyên chỉ có ở cung yến Hoàng gia mới có thể thấy dưa Hồ, ở đây chỗ nào cũng có, cảm tạ trời cho bữa ăn, bụng lộn xộn mất mấy ngày.

Hôm nay, thân binh của A Sử Na Tất Sa cưỡi ngựa về báo tin, Tất Sa muốn hoãn mấy ngày mới về, Hải Đô A Lăng quá giảo hoạt, anh không tìm được cơ hội ra tay, không cam tâm trở về tay không.

Duyên Giác nói, trời quá nóng, giờ không phải là lúc thích hợp để đi đường, đợi Tất Sa về vừa vặn trời chuyển lạnh, khi đó đi sứ Cao Xương, đỡ chịu vất vả.

Dao Anh xem thời gian, thành thạo gói thêm mấy món áo quần da dày.

Dù ban ngày trời rất nóng, nhưng không giống cái oi bức ẩm ướt ở Kinh Nam, chỉ cần trốn vào phòng hay dưới bóng cây đã rất mát mẻ, đêm lại rất lạnh, trời nóng bức đến tối khi chìm vào giấc ngủ cũng phải đắp chăn lông.

Hiện giờ cạnh nàng chỉ có thân binh, một đám đàn ông bỗ bã, Tạ Thanh cũng không phải thị nữ, nàng tự mình chăm sóc sinh hoạt thường ngày, chuẩn bị vật dụng tùy thân kỹ càng, khỏi có sự cố khi lên đường.

Liên tiếp bận rộn mấy ngày, Dao Anh nhớ đến một việc, hôm nay tảo khóa xong, thăm dò được Duyên Giác đang ở chủ điện, tới tìm cậu.

Cận vệ biết thân phận nàng, dẫn nàng vào trong, lúc này sau tường có tiếng la hét ầm ĩ.

Dao Anh đi đến thăm dò.

Bát Nhã đang đứng trong sân đình cãi nhau với mấy sư, nắng trên đỉnh đầu rất độc, muốn hoa cả mắt, cả đám đứng giữa nắng chang chang cãi nhau mặt đỏ đến mang tai, đầu đầy mồ hôi, nước miếng văng tung tóe, thỉnh thoảng lôi kéo xô đẩy đối phương.

Dao Anh tránh sang bên trong hành lang, thập thò nhìn.

Lần đầu thấy các sư cãi nhau nàng còn rất kinh ngạc, vì các sư Trung Nguyên thường sẽ không vì tranh luận mà kích động đến thô lỗ đến thế, Vương Đình không giống, khi bắt đầu cãi cọ họ vô cùng hăng máu, không chỉ dùng từ ngữ chế nhạo đối phương, còn lôi kéo cấu xé nữa.

Bát Nhã há miệng khổ sở đối phó bốn người, ầm ĩ một lát bị thua, nhưng cứng cổ không chịu cúi đầu, gấp gáp đỏ ngầu cả mắt.

Bên kia hành lang vang tiếng bước chân, Duyên Giác đi tới, nhìn thấy tình cảnh, nhẹ giọng quát lớn Bát Nhã bảo cậu nhận thua.

Bát Nhã buồn bực không nói.

Thấy giằng co căng thẳng, Dao Anh ho khan mấy tiếng, chậm rãi bước thong thả ra hành lang râm mát, mỉm cười nhìn cả đám: "Nắng nóng khó nhịn, mát mẻ khó được."

Hai chữ mát mẻ thâm ý sâu sắc, mấy vị sư giật mình, chắp tay chào nàng đi thẳng.

Bát Nhã trừng mắt theo bóng lưng các sư, đầy tức giận.

Duyên Giác chắp tay cảm ơn Dao Anh, Dao Anh phất tay ra hiệu không có gì, quét mắt nhìn Bát Nhã một vòng: "Cậu biết cãi không lại sao không nhận thua?"

Bát Nhã hừ nhẹ, ưỡn ngực: "Bọn hắn bất kính với Vương, ta tuyệt đối không nhận thua!"

Duyên Giác thấp giọng mắng: "Ngươi cãi thua thì phải nhận thua!

Thanh danh của Vương cũng không phải ngươi thắng một trận tranh biện mà được."

Bát Nhã không phản bác được, mặt vô cùng ấm ức.

Dao Anh nhẹ chau mày: "Vì chuyện gì mà họ bất kính với Vương thế?"

Không nói còn đỡ, vừa mới mở miệng, mắt Bát Nhã càng đỏ.

"Là bọn hắn bất kính với Vương!"

Cậu chỉ về hướng đám sư mới rời đi, từ từ kể ra.

Mấy hôm nay các sư trong chùa hay tập hợp thảo luận chuyện thật giả, nói đến bản dịch tiếng Phạn của Đàm Ma La Già.

Dao Anh hỏi: "Họ có chỗ nào không đồng tình với bản dịch của ngài ấy à?"

Bát Nhã trừng lớn mắt: "Vương tinh thông tiếng Phạn, không đồng ý sao được!"

Khóe miệng Dao Anh giật giật.

Bát Nhã trừng nàng mấy cái, nói tiếp: "Bọn hắn nói Vương thuộc lòng kinh văn, vốn có thể đạt thành tựu lớn hơn, sáng tác, hay dịch thuật, nhưng Vương không, ngài trễ nải tu hành."

Thì ra các sư trong chùa cho rằng Đàm Ma La Già thiên tư thông minh, nghe nhiều biết rộng, từng có cao tăng tiên đoán chàng sẽ trở thành vị Phật đức độ vĩ đại, nhưng ngài không thể toàn tâm toàn ý nghiên cứu kinh thư, không chỉ phân tâm quản lý chuyện thế tục Vương Đình, đôi khi còn phải dẫn binh chinh chiến, còn trọng dụng dung túng một Nhiếp Chính Vương tàn nhẫn ngoan độc, tăng thêm sát nghiệt, cố sức mà không có kết quả, không thể phát dương Phật pháp tích lũy công đức, dẫn đến phúc báo, lãng phí tuệ căn của chàng.

Dao Anh như có điều suy nghĩ.

Những điều các sư nói lại vừa vặn trùng hợp nghi vấn quanh quẩn trong lòng nàng.

Tông giáo Phật giáo mọc như nấm, mỗi người mỗi vùng đều có lý giải khác biệt về nghĩa kinh, thường truyền bá tư tưởng mục đích của mình, căn cứ vào giáo nghĩa của Phật chỉnh lý thành hệ thống luận chính mình, rồi sinh ra các nhánh khác cùng tông phái, tỉ như Trung Nguyên Thiền tông, Thiên Thai Tông, Tam Luận Tông, Pháp tướng tông vân vân.

Với một vị sư lấy phổ độ chúng sinh là tín ngưỡng mà nói, hẳn sẽ hy vọng đem sở ngộ cả đời của mình đạt được viết thành kinh văn luận nghị, khai tông lập phái, chỉ dẫn phương hướng cho người đời, giúp thêm nhiều người thoát ly biển khổ, trèo được tới bờ.

Đàm Ma La Già sớm nổi danh, lại là Vương tử quý tộc, địa vị thân phận như vậy, sao không có bản viết nào để lại cho đời?

Khi còn sống ngài nổi tiếng khắp Tây Vực, chết rồi, như một làn khói xanh như Phật trước kia, không một dấu vết.

Không để lại một chút gì.

Hôm đó Dao Anh ngồi cạnh ngài, nhìn ngài dịch kinh văn tiếng Hán tại chỗ, dựa vào phản ứng của các vị sư, ngài không chỉ dịch rất nhanh, còn rất thông suốt, đến mức họ tin đúng là có bản gốc bằng tiếng Phạn.

Nàng tin chỉ cần ngài muốn, ngài có thể bắt tay luận nghị của chính mình.

Sau tuổi mười ba ngài thoát khỏi khống chế của quý tộc nắm giữ thực quyền, không ai dám ngăn cản ngài tu hành.

Dao Anh suy tư thật lâu, nghĩ chỉ có một lời giải thích miễn cưỡng chấp nhận: trách nhiệm trên vai Đàm Ma La Già quá nặng, ngài lấy cứu vớt vạn dân làm nhiệm vụ của mình, tự nhiên không rảnh ngồi sáng tác kinh văn luận nghị.

Hiển nhiên các sư cũng nghĩ vậy nên mới bàn ầm, phàn nàn ngài không tạo lòng tin cho người đời, lãng phí tuệ căn.

Bát Nhã kể xong, khịt mũi: "Sao bọn hắn có thể chỉ trích Vương thế chứ?"

Duyên Giác thở dài, nói: "Thôi sau này ngươi đừng tìm họ phân trần nữa, Vương không để ý mấy việc này đâu."

Dao Anh lấy lại tinh thần, nhìn Bát Nhã, nói: "Ta nghe nói tên cậu là Pháp sư đặt hả?"

Nàng đột nhiên đổi chủ đề, Duyên Giác Bát Nhã đều mờ mịt, Bát Nhã gật đầu.

Bát Nhã sửng sốt một lát, kịp phản ứng, đỏ bừng mặt.

Dao Anh cười nhạo: "Bát Nhã trong tiếng Phạn nghĩa là thông suốt trí tuệ, tên cậu đặt không đúng lắm."

Cậu chưa kịp mở miệng, Dao Anh mỉm cười nói: "Các vị sư nói Pháp sư như vậy vì họ phó thác kỳ vọng vào ngài, cậu là đệ tử tục gia, không nên tranh về Phật lý với họ, cãi sao lại.

Họ không hiểu theo đuổi của Pháp sư, dĩ nhiên sẽ không hiểu lựa chọn của ngài, dù cậu múa lưỡi giỏi cỡ nào, họ cũng có lý do phản bác thôi."

Khóe mắt Bát Nhã móc nghiêng, nhìn Dao Anh đầy nghi ngờ: "Công chúa nói vậy...

Chả nhẽ cô tán đồng Vương của bọn ta?"

Dao Anh thoải mái gật đầu, nói: "Lần sau cậu mà có tranh chấp với họ, đừng vin vào Phật lý, xuất thế hay nhập thế, là lựa chọn của người, cách biệt với đời, rời xa trần tục, dĩ nhiên có thể dốc lòng tu hành, nhưng nếu như người người đều chỉ tìm giải thoát của bản thân thì Vương Đình sẽ ra sao?

Bá tánh sẽ ra sao?

Pháp sư là cao tăng, cũng là Quân chủ một nước, lòng ngài chứa vạn dân, không so đo được mất, sở cầu là giải thoát chúng sinh chứ không phải danh vọng cá nhân ngài."

"Các nước chia loạn mấy mươi năm, dân chúng lang bạt khắp nơi, mạng như cỏ rác, Vương Đình có thể yên ổn thái bình, dân các tộc an cư lạc nghiệp, phố chợ náo nhiệt, dân buôn tụ về, hàng hóa các nước rực rỡ muôn sắc..."

Dao Anh đứng trước hành lang, đôi mắt sáng tươi đen nhánh, từng chữ nói: "Đó chính là giải thích của Pháp sư về Phật pháp, chính là thành tựu của Pháp sư!"

Trong thời loạn, Đàm Ma La Già phù hộ sinh linh một phương.

Dao Anh vĩnh viễn kính nể dạng người này, vì nàng biết rõ mùi vị giãy dụa cầu sống trong thời loạn là thế nào.

Duyên Giác Bát Nhã thầm chấn động, nhìn gương mặt xinh đẹp của Dao Anh, thật lâu không nói gì.

Sau một lúc, hai người nhìn nhau, thở dài: "Nhưng các sư trong chùa không cho là như vậy."

Dao Anh không khỏi cảm khái.

Người ôm củi vì mọi người, không thể bị chết cóng trong gió tuyết.

Nhưng sự thật thì, anh hùng mà người đời khắc ghi, thường cô độc trống vắng.

Thật ra Duyên Giác Bát Nhã cũng có phần tán đồng quan điểm các sư nên khi tranh luận không đủ lực, dĩ nhiên không thể thắng phản biện.

Họ là cận vệ trung thành nhất bên cạnh Đàm Ma La Già, cũng không có cách nào lý giải Đàm Ma La Già.

Tuy nói người lý trí sáng suốt như Đàm Ma La Già không cần người bình thường lý giải, Dao Anh vẫn tiếc nuối cho ngài.

Nàng nhìn Bát Nhã: "Cậu có thể từ góc độ khác mà phản bác, sau này mà họ có bàn tán về Pháp sư ấy, cậu hãy hỏi, mười năm trước, là ai dẫn Trung quân đánh bại Bắc Nhung?

Là ai cứu dân Vương Đình?

Phật Tự là ai phù hộ?

Ăn ở của họ do ai cung phụng?

Phật lấy lòng từ bi, Pháp sư có thể thấy chết mà không cứu à?"

Dao Anh hấp háy mắt.

"Trung Nguyên bọn ta có câu, bưng bát lên ăn cơm, buông bát xuống mắng mẹ."

Cặp mắt Bát Nhã tỏa sáng.

Dao Anh nói tiếp: "Nếu họ nói mọi thứ đều là hư ảo, kinh nghĩa mới là cứu rỗi cuối cùng thì cậu bảo họ ngẫm lại chuyện Pháp sư Đề Bà Mông Đạt đi."

Phật giáo xuất phát từ Thiên Trúc, nhưng vì các nguyên nhân phức tạp, giáo lý thượng kỳ chưa thích ứng diễn biến thời sự, ngày càng xa rời nhu cầu của dân chúng, kết quả?

Phật pháp Thiên Trúc dần dần suy sụp.

Đề Bà Mông Đạt cảm ngộ được, mới trằn trọc ngàn dặm đi Trung Nguyên, Tây Vực, muốn tìm kiếm dòng chảy chân lý của Phật pháp.

Bát Nhã tán đồng gật đầu, chần chừ rồi nghiêng sang Duyên Giác nói vài câu bằng tiếng Phạn, vẻ mặt trịnh trọng, vừa nói vừa liếc liếc Dao Anh.

Dao Anh mỉm cười nói bằng tiếng Hồ: "Sao hả, tiểu sư phụ Bát Nhã đang nói xấu ta à?"

Bát Nhã đỏ bừng mặt, hứ một tiếng, uốn éo người chạy mất.

Duyên Giác chắp tay với Dao Anh: "Bát Nhã mới vừa nói, công chúa vào ở Phật Tự đến nay, rửa sạch phấn son, trung thực tu hành, chuyện gì cũng cân nhắc cho Vương, có thể thấy người đối với Vương là thật lòng, trước kia cậu ấy đã trách oan người."

Dao Anh ngây ra, lắc đầu bật cười, nói: "Đáng tiếc, mấy ngày qua ta khổ học tiếng Phạn, học được mấy câu mắng người, đang chuẩn bị cãi nhau với Bát Nhã bằng tiếng Phạn ấy."

Duyên Giác cười khẽ: "Công chúa cao quý như vậy, học mấy câu thô tục làm gì?"

Dao Anh lắc đầu, nghiêm túc nói: "Tiểu sư phụ Duyên Giác, ta với cận vệ học tiếng Phạn, để khi cậu ấy mắng ta ta hiểu được, còn có thể phản lại tại chỗ."

Duyên Giác cười ha ha.

Trước tường hoa xanh um tươi tốt, dây leo bò đầy, hai người đi dưới hành lang nói cười, bỗng ở chỗ hẻo lánh ánh lên sắc vàng.

Dưới gốc cây có tiếng ừng ực trầm thấp.

Duyên Giác lập tức dừng bước, giơ cánh tay che trước người Dao Anh.

Trong bóng tối ẩn hiện ánh vàng, một con báo đốm từ trên tường đất nhảy ra, dáng vẻ mạnh mẽ, màu lông bóng loáng, đôi mắt phản xạ ánh nắng sáng ngời.

Trên mặt Duyên Giác lướt qua một tia kinh ngạc, đảo cực nhanh một vòng, cười thấp giọng trấn an Dao Anh: "Công chúa không cần sợ hãi, A Ly sẽ không vô cớ đả thương người."

Dao Anh nói khẽ: "Không sao, con báo này đã từng cứu ta."

Đêm đó Tô Đan Cổ và báo đốm đột nhiên xuất hiện, cứu nàng từ trong tay Hải Đô A Lăng, giờ gặp báo đốm, nàng không sợ hãi như trước nữa.

Báo đốm đứng thẳng người, lắc lắc đuôi, ung dung dạo vòng quanh hai người, dáng vẻ rất lười biếng như đang tuần tra trên lãnh địa của mình.

Dao Anh cụp mắt không nhìn nó.

Báo đốm nhìn nàng, không biết có phải thấy nàng quen mắt, bỗng thò người ra móng vuốt chụp lấy mép váy nàng, cái đầu xù lông cọ cọ vào váy nàng.

Duyên Giác thở nhẹ, hai tay nắm lại, khẩn trương nhìn báo đốm, cạnh trán mấy giọt mồ hôi lăn xuống.

Dao Anh cứng đờ người, nín thở, không dám cử động.

Gió khô thổi qua, tóc mai rơi xuống một cọng phất qua phất lại trên mặt, có chút ngứa.

Duyên Giác nhìn Dao Anh lắc đầu: Công chúa, đừng nhúc nhích.

Báo đốm đến càng gần, gần đến mức nghe được hơi thở của nó,

Dao Anh chợt rùng mình, răng cắn chặt, mặc cho báo đốm tiến đến trước chân.

Ngay lúc nàng sắp không kiên trì nổi, đột nhiên toàn thân báo đốm run lên, quay đầu nhìn quanh, hít một hơi, nhẹ nhàng vọt lên tường đất

Dây leo lung lay vang động, bóng con báo lộng lẫy biến mất trong bóng râm.

Dao Anh đứng yên thêm một lúc, xác định báo đốm không quay lại, thở phào thật dài.

Duyên Giác nhận lỗi: "Không ngờ A Ly trốn ở đó, làm công chúa sợ hãi."

Dao Anh cười cười, ra hiệu không sao.

Duyên Giác đưa nàng về, đưa mắt nhìn bóng lưng của nàng đi xa, lập tức quay người, bước nhanh qua hành lang.

Phía trước ánh vàng chớp động, báo đốm nện bước chân ưu nhã giữa vườn, nhẹ nhàng bò lên hành lang ngoắc đuôi đi tới một người, ngóc đầu cọ sát vào chân người.

Người ấy cúi đầu, một đôi mắt xanh biếc thăm thẳm.

Báo đốm ngẩng đầu, mong đợi nhìn chàng chăm chú.

Chàng cúi người, mở bàn tay, trên cổ tay quấn mấy vòng cầm châu.

Báo đốm cọ xát lòng bàn tay chàng, phát ra tiếng ư ử nũng nịu thỏa mãn nằm nghiêng dưới chân chàng, bắt đầu liếm láp móng vuốt.

Duyên Giác theo vào sân, quỳ một chân: "Vương, Văn Chiêu công chúa vừa đến."

Đàm Ma La Già ngước mắt ừ một tiếng, một thân áo tăng màu xám nhạt, nổi bật lên dáng người rất cao.

"Sao A Ly ở đây?"

Duyên Giác nói: "Thuộc hạ không biết, chắc do người canh giữ lười biếng trong giây lát để nó lén chạy ra."

Đàm Ma La Già mặt bình tĩnh, nói: "Đưa nó về vườn thú, đừng để nó dọa người."

Duyên Giác biết vừa rồi Đàm Ma La Già đã thấy dáng vẻ báo đốm chọc Văn Chiêu công chúa, cung kính vâng dạ.

Đàm Ma La Già đưa tay, cầm châu khẽ động, ra hiệu.

"A Ly, đi."

Báo đốm ngoan ngoãn đứng dậy, đi theo Duyên Giác xuống hành lang.

Duyên Giác dẫn báo đốm, nhẹ chân nhẹ tay ra khỏi sân, sau lưng đột nhiên nghe tiếng Đàm Ma La Già.

"Văn Chiêu công chúa đến có việc gì?"

Duyên Giác khẽ giật mình, xoay người nói: "Văn Chiêu công chúa nói...

Đêm đó lúc Nhiếp Chính Vương cứu nàng hình như bị thương, không biết đã lành thương chưa, nàng luôn ghi nhớ, nếu Vu y thấy thuốc nàng tặng hữu dụng nàng lại gửi thêm."

Đàm Ma La Già nhẹ cau mày: "Thuốc gì?"

Duyên Giác nhỏ giọng nói: "Công chúa lo lắng cho thương thế của Nhiếp Chính Vương mới nhờ Tướng quân A Sử Na đưa ít thuốc... chắc ngài ấy quên mất."

Đàm Ma La Già không lên tiếng, khuôn mặt trầm tĩnh lạnh nhạt.

Duyên Giác đợi một lúc không thấy Đàm Ma La Già dặn dò gì, đang chuẩn bị chào đi thì, Đàm Ma La Già gọi lại: "Nói với công chúa, không cần gửi thuốc nữa, đều đã nhờ ý tốt của nàng."

"Vâng ạ."

Duyên Giác dẫn báo đốm rời khỏi đình viện.

Đi hết hành lang, đột nhiên cậu dừng trước bức tường hoa, quay lại nhìn bức tường dây leo bò rậm rịt, khẽ cau mày.

Lúc Văn Chiêu công chúa và Bát Nhã nói chuyện, có phải Vương vẫn đứng ở sau đấy không?

Vương nghe được mấy lời vừa rồi của Văn Chiêu công chúa không nhỉ?

Văn Chiêu công chúa nói các vị sư trong chùa không hiểu Vương, ai hiểu Vương đây?

Duyên Giác ngây ngẩn một lát, báo đốm không kiên nhẫn chụp hờ cậu một trảo, cậu cười mắng: "Hôm nay ngươi lại hù công chúa rồi!"

Một người một báo theo con đường nhỏ ít ai lui tới ra khỏi Phật Tự, thẳng đến vườn thú.

...

Từ khi Dao Anh dạy Bát Nhã cách cãi lại mấy sư, cậu thay đổi thái độ trước đó đối với nàng, thỉnh thoảng tới xin góp ý.

Cậu rất hứng thú với tiếng Hán, nhất là khi từ chỗ Dao Anh cậu học mấy câu mắng chửi mà không thấy thô tục xong, càng muốn học như khát nước.

Ban đầu Dao Anh còn kiên nhẫn dạy, sau thấy phiền quá, hễ Bát Nhã đến, nàng đuổi thân binh ra dạy cậu ta mắng chửi người thế nào.

Bát Nhã khó thở, ưỡn ngực nói: "Không phải công chúa định học tiếng Phạn à?

Tôi dạy người tiếng Phạn!

Công chúa dạy tôi cách mắng chửi Trung Nguyên, chúng ta giao dịch công bằng!

Tôi chắc chắn sẽ chỉ bảo rất tốt."

Dao Anh suy tính mãi thấy cũng không tệ, đồng ý tiếp tục dạy Bát Nhã.

Hai người là sư đồ qua lại, học được mấy ngày, Bát Nhã học xong vài câu tiếng Hán đơn giản, Dao Anh cũng học được vài câu mắng người tiếng Phạn.

Đến ngày dân Vương Đình hái xong nho chuẩn bị đem phơi nắng, vệ binh ở Sa Thành gửi về một tin: Tất Sa đi sứ Bắc Nhung đã về, là đi xe ngựa về.

Dao Anh lập tức kiểm tra hành lý, bổ sung ít vật dụng, chỉ chờ Tất Sa về liền xuất phát.

Hôm Tất Sa trở về, Duyên Giác ra ngoài thành đón, mãi đêm mới về Phật Tự.

Cậu đem về một tin xấu: Tất Sa bị thương ở chân nên mới ngồi xe ngựa về nước.

Dao Anh nhíu mày: chuyến đi Cao Xương dời lại nữa à?

Nàng còn chưa kịp bàn với Tất Sa thì Duyên Giác đã đưa tới vài con ngựa tốt để nàng và thân binh chọn.

"Công chúa, mấy hôm nay người hãy kiểm kê kỹ người ngựa, hành lý, ba ngày sau xuất phát."

Dao Anh kinh ngạc hỏi: "Tướng quân A Sử Na lành lại rồi à?"

Duyên Giác lắc đầu: "Tướng quân A Sử Na bị thương ở đùi, trong vòng một tháng không thể cưỡi ngựa...

Vương nói việc này không nên chậm trễ, ngài phái Nhiếp Chính Vương đi cùng công chúa."

Tô Đan Cổ?

Dao Anh giật mình, gật gật đầu, Tô Đan Cổ từng đi Cao Xương, quen thuộc đường xá, có hắn cùng đi không còn gì bằng.

Dù Tô Đan Cổ hung thần ác sát, nhưng nàng không hề thấy sợ hắn.

Hắn không phải người độc ác.
 
Back
Top Bottom