Cập nhật mới

Khác Liêu Trai Chí Dị ( Full )

Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 352+353+354+355


CHƯƠNG 352: NÔNG NHÂN

NGƯỜI NÔNG PHU

A Tử Thương Hoàng Cánh Độn Hình

Hạ Xừ Đới Lạp Nghiễm Thần Linh

Nhân Gian Sắc Nặc Phi Vô Chú

Hợp Dữ Ương Ca Nhất Lệ Thinh

Dịch:

Hoảng Sợ Kinh Hồn Liền Ẩn Tích

Vác Cào Đội Nón Nghiễm Thần Oai

Người Đời Sắc Nặc Đều Cần Chú

Hợp Với Ương Ca Cũng Một Loài



Có người làm ruộng bừa cỏ ở dưới núi, vợ lấy vò đất nung mang cơm cho, ăn xong đặt vò trên bờ ruộng, đến chiều tối nhìn lại thì cơm còn thừa trong vò đã hết sạch.

Cứ thế mấy ngày liền, y ngờ vực bèn rình xem.

Thấy có con chồn tới thò đầu vào vò ăn vụng, y rón rén vác bừa tới ra sức đập mạnh, con hồ sợ chạy.

Nhưng cái vò dính chặt vào đầu, nó quýnh quá không rút ra được, lăn luôn xuống đất, cái vò vỡ nát, nó rút đầu ra nhìn thấy người làm ruộng càng hoảng sợ, băng qua núi chạy mất.

Mấy năm sau, phía nam núi có người con gái nhà giàu bị hồ ám, cầu đảo trấn yểm mãi không hết.

Hồ nói với cô gái rằng:

- Thứ bùa chú vẽ trên giấy thì làm gì được ta?

Cô gái hỏi:

- Ngươi giỏi phép thuật thì may ra được gần gũi nhau lâu dài, nhưng không biết bình sinh có sợ cái gì không?

Hồ đáp:

- Ta chẳng sợ gì cả nhưng mấy năm trước ăn vụng cơm ở phía bắc núi, bị một người đội nón rộng cầm một món binh khí cong cong đánh cho suýt chết, đến nay còn sợ.

Cô gái nói lại với cha, người cha muốn tìm người ấy, nhưng không biết tên họ quê quán nên không sao tìm được.

Gặp lúc người đầy tớ có việc tới thôn núi, tình cờ kể lại, cạnh đường có một người nói:

- Chuyện này rất khớp với việc ta gặp năm trước, không ngờ con hồ ấy đến nay lại biết phép thuật tác quái à?

Người đầy tớ lấy làm lạ về báo, cha cô gái mừng rỡ, lập tức sai mang ngựa qua đón người làm ruộng về, kính cẩn cầu khẩn.

Người làm ruộng cười nói:

- Chuyện năm trước ta gặp thì đúng như thế, nhưng chưa chắc đúng là con hồ này, vả lại nó đã biết biến hóa để tác quái thì có sợ gì một người làm ruộng?

Người cha cô gái cứ ép, y bèn ăn mặc như trước, bước vào phòng cô gái chống bừa quát:

- Ta tìm ngươi lâu nay mà không được, ngươi lại trốn ở đây à?

Hôm nay thì phải giết không tha!

Nói xong thì nghe trong phòng có tiếng hồ kêu lên, người làm ruộng lại càng làm ra vẻ dữ tợn, hồ bèn năn nỉ xin tha mạng.

Người làm ruộng quát:

- Vậy thì cút mau, tha cho ngươi đấy!

Cô gái thấy hồ ôm đầu chạy mau, từ đó không bị nó quấy nhiễu nữa.

____________________________________

CHƯƠNG 353: TRƯỜNG TRỊ NỮ TỬ

CÔ GÁI TRƯỜNG TRỊ

Tài Kiến Khuê Phòng Dũng Hắc Ba

Hựu Kinh Lợi Nhận Thích Tâm Oa

Phương Hồn Vị Tất Cam Khu Khiển

Vô Nại Tam Chương Ước Pháp Hà

Dịch:

Vừa Thấy Buồng The Nước Ngập Vào

Lại Ghê Mũi Nhọn Chọc Tim Đau

Phương Hồn Chưa Hẳn Cam Sai Khiến

Khốn Nỗi Ba Điều Ước Pháp Sao



Trần Hoan Lạc người đất Trường Trị huyện Lộ (tỉnh Sơn Đông) có đứa con gái rất thông minh xinh đẹp.

Có người đạo sĩ khất thực liếc nhìn rồi bỏ đi, từ đó hàng ngày cứ cầm bát xin ăn ở chợ gần đó.

Chợt thấy một người mù từ nhà Trần bước ra, đạo sĩ rảo chân theo hỏi đi đâu, người mù đáp vào bói cho nhà họ Trần.

Đạo sĩ nói:

- Nghe nói nhà ấy có một con gái, người anh em họ ngoại của ta muốn nhờ mai mối dạm hỏi, nhưng chưa biết tuổi cô ta.

Người mù nói cho biết, đạo sĩ bèn chào rồi đi.

Vài hôm sau, cô gái đang ngồi thêu trong phòng, chợt thấy hai chân tê rần, dần dần tê lên tới đùi, rồi tới lưng, trong chớp mắt ngã gục xuống ngất đi.

Hơn một khắc thì tỉnh lại, vội vàng đứng lên, định tìm mẹ để kể, nhưng ra tới cửa thì thấy chung quanh mênh mông sóng nước đen ngòm, chỉ có một con đường thẳng như sợi dây, hoảng sợ quay lại thì thấy nhà cửa phòng ốc đã chìm vào trong sóng nước.

Lại nhìn lại trên đường thì vắng ngắt không người, chỉ có một mình đạo sĩ đang thong thả bước phía trước, nàng vội đuổi theo, thấy là người cùng xứ bèn kể lại mọi việc.

Đi được vài dặm thì thấy nhà cửa làng xóm, nhìn lại thì là nhà mình, nàng hoảng sợ nói:

- Lặn lội vất vả như thế mà vẫn ở trong làng mình, sao lại mê man tới thế này chứ?

Rồi mừng rỡ vào nhà, cha mẹ vẫn chưa về, lại trở về phòng mình, thì đôi giày thêu dở còn trên giường, thấy mệt mỏi bèn lên giường ngồi nghỉ.

Đạo sĩ chụp lấy cô gái đè xuống, nàng muốn kêu nhưng không thành tiếng, đạo sĩ rút dao sắc mổ bụng móc lấy quả tim cô gái.

Cô gái thấy hồn phách phiêu diêu đứng ra ngoài xác nhìn quanh thì nhà cửa đều đổi khác, chỉ có gò núi trùng điệp.

Nhìn lại đạo sĩ thì y đang cầm quả tim của mình chấm lên một pho tượng gỗ, lại chỉ vào pho tượng đọc thần chú mấy lần, nàng biết rằng pho tượng ấy chính là mình.

Đạo sĩ dặn:

- Từ nay trở đi phải nghe lệnh ta, không được sai trái.

Rồi mang pho tượng đi.

Họ Trần mất con gái, cả nhà hoảng hốt đi tìm, tới núi Ngưu Đầu mới nghe người ở đó đồn rằng dưới núi có xác một cô gái bị móc mất quả tim.

Trần vội chạy mau tới xem thì đúng là con gái mình, khóc lóc lên kêu với quan huyện.

Quan huyện bắt bớ tra xét dân quanh núi mấy lần cũng không được chút manh mối nào, bèn tập trung những người bị nghi ngờ để tra hỏi lại.

Đạo sĩ đi được vài dặm, ngồi nghỉ dưới một gốc dương liễu cạnh đường, chợt nói với cô gái:

- Bây giờ sai ngươi đi làm việc lần đầu, là tới huyện đường dò xét việc hỏi cung lại những người bị nghi ngờ.

Tới đó thì phải núp trên gác, nếu thấy quan huyện dùng ấn thì phải chạy ngay, nhớ không được quên.

Hẹn cho ngươi giờ Thìn đi giờ Ngọ về, chậm một khắc thì ta đâm một mũi kim vào tim ngươi cho biết mùi đau đớn, chậm hai khắc thì đâm hai mũi, tới mũi thứ ba thì hồn phách ngươi cũng tan mất luôn đấy.

Cô gái nghe thế run cầm cập, kế phấp phới theo gió bay đi.

Trong chớp mắt đã tới hành lang huyện đường, theo đúng lời dặn lên núp trên gác.

Lúc ấy những người quanh núi Ngưu Đầu đang quỳ la liệt dưới thềm, chưa tra hỏi gì thì có công văn đưa lên đóng ấn, cô gái chưa kịp chạy thì ấn đã rút ra khỏi hộp.

Cô gái lập tức thấy thân hình nặng nề yếu ớt, không kìm được rùng mình một tiếng soạt như tờ giấy.

Mọi người đều ngạc nhiên ngẩng nhìn.

Quan huyện ra lệnh nhấc chiếc ấn lên lần nữa, lại có tiếng kêu như trước, nhấc tới lần thứ ba thì cô gái rơi xuống đất vang lên thành tiếng, mọi người đều nghe rõ.

Quan huyện đứng dậy khấn:

- Oan hồn cứ bẩm rõ việc oan khuất ta sẽ làm sáng tỏ cho.

Cô gái cất tiếng ho bước lên, thuật rõ việc đạo sĩ giết mình bắt hồn sai khiến ra sao, sai mình tới đây dò xét thế nào.

Quan huyện sai người đuổi mau theo, tới chỗ cây dương liễu quả thấy đạo sĩ đang ở đó, bèn bắt giải về, hỏi cung một lần y đã cúi đầu nhận tội, những người bị nghi ngờ đều được thả về.

Quan huyện hỏi cô gái đã được làm sáng tỏ cái chết oan khuất rồi, định sẽ đi đâu, cô gái đáp:

- Xin theo đại nhân!

Quan huyện nói:

- Công thự chỗ ta đây không có nơi nào ngươi ở được, thôi cứ tạm thời về lại nhà ngươi đi.

Hồi lâu cô gái nói:

- Công thự là nhà ta, thôi ta vào đây!

Quan huyện lại hỏi thì không nghe gì nữa, vào nhà trong thì phu nhân vừa sinh con gái.

____________________________________

CHƯƠNG 354: THỔ NGẪU

TƯỢNG ĐẤT

Thổ Ngẫu Vô Tri Hốt Hữu Tri

Y Nhiên Yến Hảo Tự Sinh Thì

Khuê Phòng Khổ Tiết Thiêu Năng Giám

Đắc Hứa Tôn Diêu Diễn Nhất Chi

Dịch:

Tượng Đất Vô Tru Chợt Khác Thường

Y Như Lúc Sống Biết Yêu Đương

Phòng Khuê Trinh Tiết Trời Soi Xét

Phồn Diễn Một Chi Giữ Khói Hương



Họ Mã ở huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông) lấy vợ họ Vương, vợ chồng rất đầm ấm.

Mã chết sớm, mẹ Vương thị muốn con lấy chồng khác, Vương thị thề không tái giá, mẹ chồng thương còn trẻ cũng khuyên lấy chồng khác, Vương thị không nghe.

Người mẹ nói:

- Ý con rất hay, nhưng tuổi còn quá trẻ, lại chưa có con, mẹ thấy ban đầu thủ tiết rồi ngày sau có chuyện không hay thì rất xấu hổ, chi bằng cứ lấy chồng khác như người ta.

Vương thị nghiêm sắc mặt thề thủ tiết đến chết, mẹ bèn để cho tùy ý.

Vương thị nắn đất làm thành pho tượng chồng, mỗi bữa đều dọn cơm đưa lên như lúc còn sống.

Một đêm Vương thị sắp đi ngủ, chợt thấy pho tượng đất từ trên bàn thờ bước xuống, còn đang hoảng hốt thì pho tượng vươn ra cao như người thật, đúng là chồng mình.

Vương thị sợ hãi kêu mẹ, hồn Mã ngăn lại nói:

- Đừng kêu, ta cảm vì tình nàng tha thiết, gia đình có được người trung trinh nên ông cha mấy đời đều được vinh dự.

Cha ta lúc bình sinh có làm chuyện thất đức, không được có con nối dõi nên ta phải chết sớm.

Âm phủ thương nàng thủ tiết vất vả nên cho ta về để cùng nàng sinh một đứa con nối dõi.

Vương thị cũng khóc ròng, lại ăn ở với nhau như lúc Mã còn sống, trời sáng thì Mã xuống giường đi.

Cứ thế hơn một tháng, thấy trong bụng máy động, hồn Mã khóc nói:

- Kỳ hạn đã hết, từ nay xin vĩnh biệt!

Từ đó đi biệt luôn.

Vương thị ban đầu không nói cho ai biết, đến khi bụng to dần không giấu được nữa mới lén nói với mẹ, mẹ nghi là dối trá nhưng rình xem không thấy nàng đi lại với ai, rất ngờ vực nhưng không rõ vì sao.

Được mười tháng quả nhiên Vương thị sinh được một đứa con trai, kể cho mọi người nghe, ai cũng cười không tin, nàng cũng không buồn thanh minh.

Có kẻ hào lý trong làng vốn có hiềm khích với nhà Mã, bèn lên báo huyện, quan huyện bắt Vương thị lên hỏi, hàng xóm cũng không ai khai gì khác.

Quan huyện nói:

- Nghe nói con của ma thì không có bóng, nếu có bóng thì là chuyện bịa đặt.

Bèn sai bế đứa nhỏ ra dưới mặt trời, thấy bóng mờ mờ như làn khói nhẹ, lại cắt ngón tay nó lấy máu bôi lên pho tượng thì lập tức thấm vào không thấy dấu vết gì nữa.

Lấy máu người khác bôi lên thì chùi đi được, vì thế tin lời Vương thị.

Đứa nhỏ lớn lên được vài tuổi thì mặt mũi cử chỉ đều giống hệt Mã, nên không ai nghi ngờ gì nữa.

____________________________________

CHƯƠNG 355: LÊ THỊ

Tiêu Sắt Lô Hoa Nhãn Lệ Khô

Thế Gian Cự Thiểu Hắc Tâm Phù

Khả Lân Tất Hạ Giai Nhi Nữ

Cung Đắc Thâm Khuê Nhất Bảo Vô

Dịch:

Xào Xạc Hoa Lau Nước Mắt Khô

Thế Gian Há Ít Kè Mù Mờ

Đáng Thương Dưới Gối Còn Ngoan Ngoãn

Có Đủ Sài Lang Một Bữa No



Tạ Trung Điều ở huyện Long Môn (tỉnh Hà Nam), tính tình không đứng đắn.

Hơn ba mươi tuổi thì vợ chết, để lại một trai một gái, sớm tối kêu khóc, chăm sóc rất vất vả.

Tạ định cưới vợ kế, nhưng ngẩng lên cúi xuống chưa chọn được ai, nên tạm thuê một bà vú chăm sóc cho hai con.

Một hôm Tạ đang đi qua núi chợt thấy một người đàn bà đi phía sau, đứng lại chờ nhìn, thì ra là một cô gái đẹp tuổi chừng hơn hai mươi, trong bụng thích lắm.

Bèn đùa hỏi:

- Nương tử đi một mình mà không sợ à?

Cô gái không đáp, Tạ lại nói:

- Chân nương tử nhỏ, đi đường núi vất vả quá.

Cô gái cũng không đếm xỉa.

Tạ nhìn quanh không có ai, bèn đi sát lại gần sờ mó, cô gái giận dữ nói:

- Ngươi là cường bạo ở đâu mà chặn đường xúc phạm ta?

Tạ nắm tay kéo đi xềnh xệch không cho dừng lại nghỉ, đôi hài của cô gái nhỏ nên cứ vấp ngã dúi dụi, cùng cực quá không biết làm sao bèn nói:

- Nếu muốn ta dịu ngọt ưng thuận sao lại làm thế?

Chậm chậm lại đi, ta sẽ theo mà.

Tạ theo lời, rồi vui thú với cô gái.

Cô gái hỏi tên họ quê quán, Tạ nói thật cả, rồi hỏi lại, cô gái đáp:

- Thiếp họ Lê, không may góa chồng sớm, mẹ chồng lại chết, lẻ loi một mình, nên thường về bên nhà mẹ.

Tạ nói:

- Ta cũng không có vợ, có theo nhau được không?

Cô gái hỏi:

- Chàng có con cái gì không?

Tạ đáp:

- Không giấu gì nàng, nếu nói chuyện bạn chăn gối thì ta đây không thiếu, chỉ vì trai kêu gái khóc nên họ ngần ngại.

Cô gái do dự nói:

- Đó quả là chuyện khó lắm, mà xem quần áo giày nón của chàng thì gia tư cũng chỉ loàng xoàng, nếu thiếp lo lắng thì cũng được nhưng làm mẹ kế khó trăm chiều, e không khỏi bị lời ra tiếng vào.

Tạ nói:

- Xin đừng ngại chuyện đó, ta không nói ra thì người khác có lý do gì mà dây vào?

Cô gái có vẻ ưng thuận, nhưng lại nghĩ ngợi nói:

- Đã gần gũi thế này thì còn gì mà không theo?

Nhưng còn có ông bác dữ, vẫn thường muốn gả bán thiếp lấy nhiều tiền, sợ không ở được với nhau lâu dài, thì sẽ ra sao?

Tạ cũng e ngại, bảo nàng trốn đi.

Cô gái nói:

- Thiếp đã nghĩ kỹ rồi, chỉ sợ người nhà chàng để lộ ra thì bất tiện lắm.

Tạ nói:

- Đó là chuyện vặt, trong nhà chỉ có một bà già, cho bà ta nghỉ là được.

Cô gái mừng, bèn cùng về nhà Tạ.

Tạ để cô gái đợi ở ngoài, vào nhà trước cho bà già nghỉ về rồi quét dọn nhà cửa ra đón.

Cô gái cũng tháo vát, chăm sóc hai đứa con Tạ không nề vất vả.

Tạ được cô gái, yêu mến lạ thường, cả ngày cứ đóng cửa nhìn nàng, không tiếp khách khứa nào cả.

Được hơn tháng có việc công phải đi vắng, trở về thì thấy cổng ngõ mở toang.

Tìm cô gái, vào tới cửa trong thì cửa đóng chặt, gọi không thấy ai lên tiếng, bèn trổ mái nhà mà vào, chẳng thấy bóng người nào.

Vào tới phòng ngủ thì chợt có một con sói lớn tung cửa vọt ra, sợ hãi suýt ngất.

Lúc hoàn hồn vào tìm không thấy hai con đâu, mà máu me đầy đất, chỉ còn có cái đầu, quay ra đuổi theo con sói thì không biết đã chạy đâu rồi.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 356+357+358+359


CHƯƠNG 356: LIỄU THỊ TỬ

CON TRAI HỌ LIỄU

Tư Tư Hà Tu Biệt Tú Tài

Sinh Nhi Đoan Vị Sách Bộ Lai

Độc Trung Hữu Khách Ưng Năng Ký

Ký Phủ Đương Niên Bạo Đắc Tài

Dịch:

Thương Nhớ Con Sao Lại Đắp Đài

Sinh Con Chính Bởi Nợ Đi Đòi

Náu Hình Trong Tủ Chừng Nghe Rõ

Có Nhớ Năm Nao Phát Hoạch Tài



Liễu Tây Xuyên người huyện Mục Châu (tỉnh Sơn Đông) làm quản gia cho Nội sử họ Pháp.

Năm hơn bốn mươi tuổi mới sinh được một đứa con trai, yêu thương rất mực, mặc cho muốn làm gì thì làm, chỉ sợ nó phật ý.

Lúc đứa con lớn lên thì rong chơi đàng điếm, ăn tiêu hết sạch cả tiền bạc Liễu dành dụm được.

Không bao lâu đứa con mắc bệnh, Liễu vốn có một con ngựa hay, đứa con nói:

- Ngựa béo ăn ngon lắm, giết cho ta ăn thì có thể khỏi bệnh.

Liễu bàn định giết một con ngựa thường để thay, đứa con nghe được, lập tức giận dữ chửi ầm lên, bệnh lại càng nặng.

Liễu sợ, giết con ngựa hay làm thịt đưa tới, đứa con mới vui vẻ.

Nhưng cũng chỉ ăn có một miếng rồi bỏ, bệnh vẫn không hết, kế chết.

Liễu vô cùng đau đớn, khóc lóc rất thê thảm.

Ba bốn năm sau, có mấy người làng đi dâng hương ở núi Thái Sơn, lên lưng chừng núi thấy một người cưỡi con ngựa như của Liễu phóng nhanh tới, lấy làm lạ vì rất giống con Liễu, khi tới gần nhìn ra quả đúng.

Y xuống ngựa vái chào, thăm hỏi trò chuyện.

Người làng đều sợ, cũng không dám nói việc y đã chết, chỉ hỏi làm gì ở đây.

Y đáp cũng chẳng có việc gì, dạo chơi đây đó thôi, kế lại hỏi tên chủ nhà họ trọ, mọi người đều nói rõ.

Y chắp tay nói:

- Gặp lúc có chút việc, không rảnh nói chuyện, ngày mai sẽ xin tới thăm.

Rồi lên ngựa đi.

Mọi người về tới nơi trọ, cũng cho rằng chưa chắc y đã tới nhưng sáng hôm sau chờ thì quả nhiên y tới thật, buộc ngựa ở cột chuồng ngựa, rảo bước vào trò chuyện rất vui vẻ.

Mọi người nói:

- Tôn đại nhân rất nhớ mong, sao không về thăm hỏi một chuyến?

Y ngạc nhiên hỏi mọi người muốn nói tới ai, mọi người đáp là Liễu.

Y sa sầm mặt, hồi lâu mới nói:

- Nếu ông ta nhớ mong, thì xin về nói giùm là ngày bảy tháng tư ta chờ ở đây.

Nói xong từ biệt.

Mọi người về kể lại cho Liễu, Liễu khóc lớn, đúng hẹn tìm tới, đem mọi việc nói với chủ trọ.

Chủ trọ nói:

- Hôm trước ta thấy công tử thần thái rất lạnh nhạt, chắc không có ý tốt, theo ta thấy thì không nên gặp.

Liễu rơi lệ không nghe, chủ trọ nói:

- Ta không cản ông đâu, nhưng thần quỷ không thường, chỉ sợ gặp chuyện không hay.

Nếu ông quyết muốn gặp, thì xin cứ núp trong tủ chờ công tử tới xem thái độ ra sao đã, có thể gặp hãy ra gặp.

Liễu theo lời kế quả nhiên đứa con Liễu tới, hỏi họ Liễu tới chưa, chủ trọ đáp không có, y nổi giận chửi:

- Đồ súc sinh già, sao lại không tới?

Chủ trọ ngạc nhiên hỏi:

- Sao lại chửi cha như thế?

Y đáp:

- Y mà là cha gì của ta?

Buổi đầu kết bạn với nhau nơi đất khách, không ngờ y ôm lòng gian ác, mang hết tiền bạc của ta trốn mất, nay ta chỉ mong bắt được y mới cam tâm, chứ cha con gì?

Nói xong bước ra nói:

- Tha cho y đấy!

Liễu núp trong tủ nghe thấy rõ ràng, sợ toát mồ hôi không dám thở mạnh, đến khi chủ trọ gọi mới dám bước ra, len lét trở về.

____________________________________

CHƯƠNG 357: THƯỢNG TIÊN

Biển Khí Phù Minh Thính Bất Chân

Phần Hương Cầm Tọa Dạ Tuân Tuân

Thượng Tiên Túng Sử Phi Hòa, Hoãn

Thi Tửu Phong Lưu Diệc Khả Nhân

Dịch:

Tiếng Tựa Dơi Bay Nghe Phảng Phất

Đốt Hương Đệm Gấm Thỉnh Đêm Tàn

Thượng Tiên Dù Chẳng Như Hòa, Biển

Thơ Rượu Phong Lưu Cũng Tuyệt Trần



Tháng ba năm Quý hợi, ta cùng Cao Quý Văn tới huyện Tắc Hạ (tỉnh Sơn Đông), cùng ở nhà trọ.

Quý Văn chợt bị bệnh, gặp lúc Cao Chấn Mỹ cũng theo tiên sinh Niệm Đông tới quận, bàn việc chữa trị.

Nghe ông Ai Lân nói nhà Lương thị ở phía nam huyện thành có hồ tiên giỏi chữa bệnh, bèn cùng nhau tới đó.

Lương thị là đàn bà, tuổi khoảng bốn mươi, phong thái tự nhiên phảng phất như hồ.

Vào nhà, tới phòng trong treo rèm gấm đỏ, vén rèm xem thấy trên vách có treo tranh Quan âm, lại có hai ba bức tranh vẽ người giục ngựa vung mâu, quân lính chạy theo.

Phía dưới vách phía bắc có bàn, đầu bàn đặt cái đôn nhỏ cao không quá một thước lót nệm gấm.

Lương thị nói:

- Tiên tới thì ngồi ở đó!

Mọi người thắp hương vái lạy, Lương thị gõ ba tiếng khánh, miệng lẩm nhẩm như nói gì đó.

Khấn xong đưa khách vào chỗ ngồi, đứng ngoài rèm chải tóc tô môi, trò chuyện với khách toàn nói những phép thiêng của tiên.

Hồi lâu mặt trời xế bóng, mọi người lo đường xa về không kịp, lại nhờ khấn mời lần nữa.

Lương thị lại gõ khánh khấn khứa, rồi quay người đứng lên nói:

- Thượng tiên rất thích trò chuyện ban đêm, chứ lúc khác khó gặp lắm.

Đêm trước có người học trò chờ thi mang rượu thịt tới uống với thượng tiên, thượng tiên cũng đưa rượu ngon ra mời khách, đọc thơ bàn văn cười nói vui vẻ, lúc chia tay thì trời đã gần sáng.

Chưa dứt lời thì trong phòng có tiếng rì rào khẽ vang lên như tiếng dơi bay.

Còn đang nghe ngóng thì trên bàn ầm một tiếng như có tảng đá lớn rơi xuống.

Lương thị quay người nói:

- Làm người ta sợ chết được!

Thì nghe trên bàn có tiếng cười rộ vui vẻ, như là một ông già khỏe mạnh.

Lương thị đặt chiếc quạt gần cái đôn, trên cái đôn lại có tiếng nói lớn:

- Có duyên làm sao?

Rồi lớn tiếng mời ngồi, lại như chắp tay làm lễ.

Kế hỏi khách có chuyện gì muốn dạy bảo, Cao Chấn Mỹ nói ý của tiên sinh Niệm Đông, hỏi có gặp Bồ Tát không?

Tiên đáp:

- Nam Hải ta quá quen đường, làm sao không gặp?

Lại hỏi Diêm Vương có thay đổi người không, đáp:

- Cũng như ở cõi trần thôi!

Hỏi Diêm Vương họ gì, đáp:

- Họ Tào!

Kế xin thuốc chữa bệnh cho Quý Văn, tiên nói:

- Trở về cứ đêm mang trà nước ra cúng, ta sẽ tới chỗ Quan âm hái thuốc tặng tho, bệnh gì mà không khỏi.

Mọi người ai cũng hỏi chuyện này chuyện nọ, đều được trả lời rành mạch dứt khoát, bèn chào ra về.

Qua đêm thì Quý Văn hơi đỡ, ta lại cùng Chấn Mỹ sắp xếp về trước, nên không rảnh ghé viếng thượng tiên được nữa.

____________________________________

CHƯƠNG 358: HẦU TĨNH SƠN

Vỉ Vỉ Thi Văn Cận Sĩ Lưu

Hà Gian Tằng Ký Tính Danh Lưu

Thùy Hang Cánh Phán Nhân Hưu Cữu

Bất Tín Cao Quan Hữu Mộc Hầu

Dịch:

Cũng Vẻ Thơ Văn Tao Nhã Khách

Hà Gian Từng Đã Họ Tên Lưu

Ai Hay Lại Đoán Rành Hưu Cữu

Khỉ Tắm Mà Đem Mũ Đội Đầu



Thiếu tễ họ Cao tức tiên sinh Niệm Đông nói trong niên hiệu Sùng Trinh nhà Minh (1628-1643) có con khỉ thành tiên, hiệu là Tĩnh Sơn, tới ở nhà một ông già ở huyện Hà Gian (tỉnh Hà Bắc).

Mỗi khi cùng người ta bàn văn chương, luận số mệnh thì hào hứng không biết mỏi, đặt bánh trái trên bàn thì ăn uống vung vãi, nhưng không ai trông thấy hình dáng ra sao.

Lúc ấy ông nội của tiên sinh bệnh nặng, có người gởi thư nói ông Tĩnh Sơn là kẻ hàng trăm năm mới có một người, không thể không gặp gỡ ông nội tiên sinh bèn sai đầy tớ mang ngựa đón ông già tới.

Ông già tới đã mấy ngày mà tiên chưa tới, bèn thắp hương khấn vái.

Chợt nghe trên nóc nhà có tiếng khen lớn:

- Thì ra là nhà người tốt?

Mọi người ngạc nhiên ngoảnh nhìn, kế chỗ chái nhà lại có tiếng nói, ông già đứng dậy nói:

- Đại tiên tới rồi?

Mọi người theo ông già để đầu trần ra cửa đón, lại nghe có tiếng chắp tay chào hỏi.

Khi đã vào phòng thì cười to nói lớn, trò chuyện hào sảng.

Lúc ấy anh em Thiếu tễ còn là Chư sinh, vừa đi thi về.

Tiên nói:

- Bài làm của hai ông cũng hay, nhưng chưa hiểu hết kinh sách, phải cố gắng hơn nữa, bước đường công danh không còn xa đâu.

Hai ông kính cẩn hỏi về bệnh của ông nội, tiên đáp:

- Sống chết là chuyện lớn, khó biết rõ lắm.

Vì thế đều biết là không hay.

Không bao lâu sau, quả nhiên ông nội của tiên sinh qua đời.

Trước có người nuôi khỉ làm trò, tới diễn trong thôn, con khỉ bứt đứt dây xích chạy, không đuổi bắt được.

Con khỉ vào trong núi, mấy mươi năm sau người ta còn nhìn thấy, đi lại rất nhanh, thấy người là chạy.

Sau lại dần dần vào thôn ăn vụng bánh trái, không ai bắt được.

Một hôm nó bị người trong thôn rình được, đuổi theo ra tới ngoài đồng bắn chết.

Nhưng hồn con khỉ vẫn không biết là mình đã chết, chỉ thấy thân thể nhẹ nhàng như chiếc lá, trong chớp mắt đi được hàng trăm dặm, bèn tới nương tựa ông già ở Hà Gian, nói:

- Nếu ngươi phụng thờ ta, ta sẽ giúp cho ngươi giàu có.

Rồi lấy tên hiệu là Tĩnh Sơn.

Ở Trường Sa (tỉnh thành Hồ Nam) có con khỉ, cổ đeo xích vàng, thường lui tới nhà các bậc sĩ đại phu, ai nhìn thấy nó ắt có chuyện may mắn vui vẻ.

Cho trái cây nó cũng ăn, mà không rõ từ đâu tới cũng không rõ đi đâu.

Có ông già hơn chín mươi tuổi nói lúc nhỏ còn thấy trên chiếc xích có tấm bài ghi chữ là của phiên vương nhà Minh cũ, nghĩ chắc cũng là tiên vậy.

____________________________________

CHƯƠNG 359: QUÁCH SINH

Đồ Mạt Hùng Hoàng Hối Dĩ Trì

Xuân Song Hữu Hỉ Đắc Sư Ti (Tư)

Phó Xa Nhất Trúng Căng Tâm Khởi

Vong Khước Cung Kê Thiết Thử Thì

Dịch:

Bôi Xóa Vàng Hoe Hối Dã Chày

Song Xuân Mừng Được Tựa Ơn Thầy

Phó Xa Một Trúng Sinh Kiêu Ngạo

Cung Phụng Gà Xôi Bẵng Tự Ngày



Quách sinh là người Đông Sơn trong huyện.

Lúc nhỏ ham học, nhưng trong thôn núi không có thầy giỏi, đến năm hơn hai mươi tuổi mà viết chữ còn sai.

Trước đó trong nhà bị hồ quấy phá, thức ăn vật dùng thường bị mất, rất là cực khổ.

Một đêm đọc sách để sách trên bàn, bị hồ đổ mực vào đen ngòm cả không sao đọc được nữa, vì là chọn những bài văn hay chép lại để học nên mất tới sáu bảy chục bài, vô cùng căm tức nhưng không biết làm sao.

Lại có hơn hai mươi bài văn làm được cất để đợi hỏi thêm bậc danh sĩ, sáng ra thấy vứt tung tóe trên bàn, mực bôi lem luốc hết cả, giận lắm.

Gặp lúc Vương sinh có chuyện đi ngang, vốn chơi thân với Quách, tới nhà thăm, thấy sách vở bị bôi mực bèn hỏi.

Quách kể lễ nỗi khổ, lại đem nhĩmg đoạn còn sót ra đưa cho Vương xem.

Vương nói đùa là so những chỗ bị bôi xóa với những chỗ còn sót thì như có ý phẩm bình hay dở.

Lại xem lại những đoạn bị bôi đen thì đều là tạp nhạp nên bỏ, ngạc nhiên nói:

- Dường như hồ có ý, là không những đừng lo sợ, mà nên lập tức nhận nó làm thầy đấy.

Được vài tháng, Quách xem lại bài làm cũ thấy những đoạn bị bôi xóa đúng là dở.

Bèn làm hai bài khác đặt ở bàn để chờ xem sao, sáng ra thấy đều bị bôi xóa.

Hơn một năm sau thì bài làm không bị bôi xóa gì nữa, mà thấy có vết mực đậm khuyên điểm rất to tỏ ý khen ngợi.

Quách lấy làm lạ, mang tới cho Vương xem.

Vương mừng rỡ nói:

- Hồ đúng là thầy của ông, có thể đi thi rồi đấy!

Năm ấy quả nhiên Quách được vào trường huyện, vì thế rất cảm ơn hồ, thường đặt xôi gà ở bàn cho hồ ăn.

Mỗi khi tìm mua được bài làm của những người thi đỗ mà không chọn lựa được đều nhờ hồ quyết định, nhờ thế thi hương thi hội đều đỗ cao, thi đình đỗ Phó bảng.

Lúc bấy giờ có bản thảo của các ông Diệp, Mục văn chương phong nhã đẹp đẽ, người ta đua nhau truyền tụng, Quách cũng có một bản sao, rất là trân trọng, chợt bị trút cả nghiên mực vào, đen ngòm gần như không còn chữ nào.

Lại nghĩ đầu đề làm một bài văn, lấy làm đắc ý, cũng bị bôi xóa cả nên từ đó dần dần không tin hồ nữa.

Không bao lâu triều đình sửa định văn thể, ông Diệp bị hạ ngục, mới lại hơi phục hồ có tài biết trước.

Nhưng vì mỗi lần làm được một bài văn thì nghĩ ngợi vất vả, mà cứ bị bôi xóa, lại thấy mình mấy lần đỗ cao, ý khí kiêu căng, vì vậy càng ngờ hồ làm càn.

Bèn đem những bài văn được khuyên điểm trước kia ra thử, hồ lại bôi xóa sạch.

Quách cười nói:

- Đúng là làm càn, chứ chẳng lẽ trước thì hay mà nay lại dở à?

Rồi không đặt xôi gà cho hồ ăn nữa.

Quách cất sách đọc trong hòm, thấy khóa vẫn như cũ nhưng mở ra xem thì thấy trên bìa bị bôi bốn vết mực to bằng ngón tay, chương một bị bôi năm vết, chương hai bị bôi năm vết, sau nữa thì không có gì.

Từ đó không thấy hồ tới nữa.

Về sau Quách thi một lần được hạng tư, hai lần được hạng năm mới biết đó là điềm báo trước, là hồ ngụ ý qua vết mực vậy.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 360+361+362+363


CHƯƠNG 360: THIỆU SĨ MAI

Sinh Tiền Bất Ngộ Kê Can Xá

Thân Hậu Thiền Đề Nhạn Tháp Danh

Nghĩ Hướng Thích Ca Tham Quả Báo

Thị Chân Thị Ảo Bất Phân Minh

Dịch:

Kiếp Trước Khổ Hình Không Gặp Xá

Thân Sau Nhạn Tháp Lại Đề Danh

Rắn Định Tham Thiền Rành Quả Báo

Là Chân Là Ảo Chẳng Phân Minh



Tiến sĩ họ Thiệu tên Sĩ Mai là người huyện Tế Ninh (tỉnh Sơn Đông), lúc đầu làm Giáo thụ phủ Đăng Châu (tỉnh Sơn Đông).

Có hai người Tú tài già sai người hầu đưa danh thiếp xin gặp, Thiệu thấy tên họ rất quen, nghĩ ngợi hồi lâu sực nhớ ra kiếp trước của mình, bèn hỏi người hầu có phải hai viên Tú tài ở thôn nọ thôn nọ không, lại hỏi tới phong thái thường ngày của họ, nhất nhất đều đúng.

Đến lúc hai người vào gặp, cầm tay trò chuyện thân mật như quen nhau từ lâu.

Thiệu hỏi Cao Đông Hải gần đây ra sao, hai người đáp đã chết đói trong ngục hơn hai mươi năm rồì, nay còn một con trai làm dân đen ở làng, nhưng sao Thiệu biết?

Thiệu cười nói:

- Đó là người họ hàng của ta!

Trước kia Cao Đông Hải là kẻ du thủ du thực nhưng tính tình hào sảng, trọng nghĩa khinh tài.

Có người thiếu thuế phải bán con gái, Cao dốc túi ra đóng thay.

Tới chơi bời ở một kỹ viện, trong kỹ viện che giấu một tên cướp, quan lùng bắt rất gấp, tên cười bèn chạy tới ẩn núp ở nhà Cao.

Quan biết được bắt Cao, tra tấn nặng nề, Cao vẫn không khai, kế chết trong ngục.

Ngày Cao chết là ngày Thiệu chào đời.

Sau Thiệu tới thôn ấy, chu cấp cho vợ con của Cao, xa gần nghe thấy đều cho là chuyện lạ.

Chuyện này là quan Thiếu tễ họ Cao kể lại, Thiệu là bạn đồng niên với Công tử Cao Dục Lương.

TRUYỆN PHỤ: MỘT TRUYỆN TRONG TRÌ BẮC NGẪU ĐÀM

Bạn đồng niên với ta* là Thiệu Sĩ Mai ở huyện Tế Ninh, tự Dịch Huy, đỗ Cử nhân năm Tân mão đời Thuận Trị (1651), đỗ Tiến sĩ năm Kỷ hợi (1659), nhớ được kiếp trước mình là Cao Đông Hải người huyện Thê Hà (tỉnh Sơn Đông).

Vợ ông là Mỗ thị, lúc chết nói rằng:

- Phải làm vợ chồng với nhau ba kiếp, kiếp sau thiếp sẽ thác sinh vào nhà họ Đổng huyện Quán Đào (tỉnh Sơn Đông), ở ngôi nhà thứ ba chỗ ngoặt cạnh bờ sông Lâm Hà.

Sau khi ông bãi quan về, lúc tới ở chùa Tiêu Tự đọc kinh Phật nên tìm thiếp ở đó.

Sau Thiệu làm Giáo thụ phủ Đăng Châu, có lần được lệnh kiêm giữ chức Huấn đạo huyện Thê Hà bị khuyết, lúc rảnh rỗi tới hỏi chỗ ở cũ của Cao Đông Hải, tìm được một người cháu nội, bèn mua nhà của ruộng đất cho.

Kế được thăng làm Tri huyện Ngô Giang (tỉnh Giang Tô), cáo bệnh về nghỉ, khách khứa đầy nhà.

*[Ta: tức Vương Sĩ Trinh, tác giả Trì bắc ngẫu đàm].

Có người bạn đồng niên làm Tri huyện Quán Đào, Thiệu tìm tới thăm hỏi, ra ở chùa Tiêu Tự, trong chùa có một bộ kinh Phật, lúc rảnh rỗi giở ra xem.

Chợt nhớ lời vợ, bèn theo bờ sông tìm, quả có họ Đổng ở nhà thứ ba chỗ ngoặt cạnh bờ sông.

Trong nhà có người con gái chưa gả chồng, Thiệu kể chuyện cũ rồi xin cưới cô ta.

Hơn mười năm sau, Đổng thị lại mắc bệnh, trước khi chết lại dặn Thiệu rằng:

- Lần này thiếp sẽ thác sinh vào nhà họ Vương ở huyện Tương Dương (tỉnh Hồ Bắc), trước cổng nhà có hai cây liễu.

Vài năm nữa chàng tới tìm thiếp ở đó thì sẽ được tái hợp, sinh được hai con trai.

Thiệu theo lời quả đúng.

Năm Kỷ mùi đời Khang Hy (1679) Thiệu ở kinh thường nhiều lần kể cho ta và bạn đồng niên là Thị ngư họ Phó, Đồng Thần Y, Phan Lại bộ, Trần Phục Dương nghe.

TRUYỆN PHỤ: LỤC THÚ SƠN TIÊN SINH THIỆU SĨ MAI TRUYỆN

Thiệu Sĩ Mai tự Dịch Huy là người châu Tế Ninh tỉnh Sơn Đông.

Kiếp trước tên Cao Tiểu Hòe, vốn là người Cao gia trang ở huyện Thê Hà, được sung chức Lý chính trong làng, lo việc chung giữ phép công, không lấy của dân một đồng.

Lúc bệnh chết, thấy hai người áo xanh dáng như công sai tới bảo nhắm chặt mắt lại rồi cắp lấy mang đi rất mau, chỉ nghe bên tai gió thổi vù vù.

Giây lát tới một gian phòng, hai người áo xanh bỏ đi mất, mở mắt nhìn thấy hai bà mụ đang đỡ đẻ trong màn, thì đã thác sinh vào nhà họ Thiệu rồi.

Miệng không nói được nhưng trong bụng nghĩ thầm:

- Theo như trước mắt nhìn thấy thì nhà cửa vật dùng đều khác hẳn, nhưng chẳng lẽ cả chân tay da tóc cũng chẳng phải là ta như cũ sao?

Đến năm hai ba tuổi biết nói rồi, cứ nói muốn tới Cao gia trang Cao gia trang thôi.

Cha mẹ lấy làm lạ quát:

- Con nói bậy, Cao gia trang ở đâu?

Đến khi lớn đi học xa nhà, đem chuyện nói với thầy, thầy nói:

- Chuyện tiền thân ấy nên giữ kín là hơn.

Từ đó không nói với ai nữa.

Năm Kỷ hợi đời Thuận Trị Thiệu đỗ Tiến sĩ, nhận chức Giáo thụ phủ Đăng Châu, gặp lúc vâng lệnh kiêm giữ chức Huấn đạo huyện Thê Hà, trên đường đi ghé ngang Cao gia trang thì nhà cửa xóm làng vẫn còn như cũ, nhân họp người ở đó lại, hỏi rằng:

- Ở đây từng có một người là Cao Tiểu Hòe phải không?

Mọi người đáp:

- Có, nhưng chết đã lâu rồi!

Lại hỏi tới ngày tháng chết thì hoàn toàn khớp với ngày Thiệu sinh, bèn thuật lại mọi chuyện.

Tìm tới con trai Cao, thì một đã chết, một đi vắng, chỉ có một con gái đã lấy chồng ở cách đó hơn một dặm.

Gọi tới hỏi chuyện, nói những việc lúc con gái còn nhỏ đều đúng cả.

Lại hỏi thăm các bậc cố lão trong làng, chỉ có một người còn sống, tóc bạc phơ phơ, đã hơn chín mươi tuổi rồi.

Gặp nhau nói chuyện cũ, thân mật như quen biết đã lâu.

Sĩ Mai nhân đó sực hiểu cả mọi việc, mối ngờ vực suốt nửa đời từ đó tiêu tan, nhân vịnh thơ rằng:

- Hai kiếp mở toang đường sống chết, Một thân biết hết việc xưa nay.

Bèn bỏ tiền mua ruộng vườn cho con cái họ Cao.

Về sau Thiệu được thăng làm Tri huyện Ngô Giang, nhân sĩ trong huyện rất truyền tụng chuyện của ông, buổi đầu ta* cũng chưa tin.

Gặp lúc Cống sinh Đăng Châu Lý Viết Bạch, em ruột bạn đồng niên của ta là Viết Quế đi ngang ghé thăm, ta ngẫu nhiên nhắc tới.

Viết Bạch nói:

- Chẳng lẽ là quan Giáo thụ phủ Đăng Châu ta là Tiên sinh Thiệu Dịch Huy sao?

Chuyện đó có thật đấy, ta còn nhớ rõ mà.

Nhân kể chuyện lúc Thiệu ở Đăng Châu, thường kể chuyện cho người đồng liêu là Lý Phủ, Phủ kể lại cho Viết Bạch, nhiều lần đều như vậy.

Ta bèn sắp xếp lại lời ấy, viết thành tiểu truyện.

Cao Tiểu Hòe chỉ là một người Lý chính mà thôi, nhưng làm điều lành nên vẫn chết được yên lành, tái sinh nổi tiếng, huống là người khác sao?

Ngày cuối tháng 5 năm Khang Hy thứ 7 (1668), Vân Gian Dã Sử Lục Minh Kha soạn.

*[Ta: tức Lục Thứ Sơn tự xưng].

____________________________________

CHƯƠNG 361: THIỆU LÂM TRUY

THIỆU CÔNG HUYỆN LÂM TRUY

Quy Muội Thiên Chiêm Thoát Bức Hào

Cầm Đường Khuất Tất Lệ Song Phao

Tiên Loan Duy Phượng Giai Tiền Định

Ngã Vị Tinh Gia Tác Giải Trào

Dịch:

Quy Muội Riêng Xem Hào Thoát Bức

Cầm Đường Quỳ Gối Gạt Châu Rơi

Gia Roi Loan Phượng Không Dè Dặt

Tiền Định Tinh Gia Nói Trước Rồi



Con gái ông Mỗ ở huyện Lâm Tri (tỉnh Sơn Đông) là vợ Thái học Lý sinh.

Lúc chưa lấy chồng, có người thuật sĩ xem số, nói chắc chắn phải gặp chuyện hình ngục.

Ông Mỗ nổi giận, kế lại cười nói:

- Nói bậy tới như thế là cùng, đừng nói con gái nhà thế gia ắt không bao giờ phải tới công đình, chẳng lẽ nó chẳng lấy được một anh Giám sinh à?

Đến khi lấy chồng rồi, chị ta rất hung dữ, xỉa xói chửi bới chồng là chuyện thường.

Lý chịu không nổi, uất ức kêu lên quan.

Tri huyện là ông Thiệu theo lời xin, phát lệnh sai bắt chị ta.

Ông Mỗ nghe chuyện cả sợ, dắt con em tới huyện đường năn nỉ xin bỏ qua nhưng không được.

Lý cũng hối, xin thôi không kêu ca gì nữa.

Ông Thiệu giận nói:

- Chỗ công đường này đâu phải là nhà của ngươi mà muốn sao thì muốn?

Rồi lập tức sai bắt vợ Lý lên, hỏi qua một hai câu rồi nói:

- Đúng là đàn bà dữ dằn, phạt đánh ba mươi trượng, dập nát cả mông.

____________________________________

CHƯƠNG 362: ĐAN PHỦ TỂ

QUAN TỂ ĐAN PHỦ

Song Kinh Bất Hứa Tái Thiêm Chi

Lự Đáo Tha Niên Tích Sản Thì

Thạch Phá Thiên Kinh Truyền Lạ Sự

Khả Lân Kiểu Kính Thái Vô Tri

Dịch:

Hai Con Không Muốn Còn Sinh Nữa

Phân Sản Ngày Sau Sợ Bớt Đi

Tàn Nhẫn Động Trời Truyền Sự Lạ

Khéo Loài Kiểu Kính (*) Quá Ngu Si

(*) Kiểu kính là loài cầm thú đại bất hiếu.



Người dân ở huyện Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông) là Mỗ, hơn năm mươi tuổi lại lấy người thiếp còn trẻ.

Hai đứa con trai sợ ông ta lại sinh con, bèn nhân lúc cha say rượu, ngầm thiến đi rồi băng bó lại.

Ông ta biết, thác bệnh không nói gì, lâu sau vết thương đã gần lành.

Chợt một hôm gần vợ, vết dao cũ toác ra, máu chảy không cầm được, kế chết.

Người thiếp biết, kiện lên quan.

Quan bắt hai người con, quả nhiên đều nhận tội.

Quan hoảng sợ nói:

- Nay ta lại làm quan huyện không con rồi!

Bèn đem giết hai người.

*[Quan huyện không con: nguyên văn là "Đơn phụ tễ" (Quan huyện là người cha cô đơn).

Ngày xưa quan lại thường được gọi là "dân chi phụ mẫu” (cha mẹ của dân), quan huyện này gặp phải việc hai người con thiến cha nên nói như vậy.

Chữ Đơn (Đan) còn có một âm là Thiện, "Thiện Phụ”, lại là một huyện cũng trong tỉnh Sơn Đông, nên ba chữ trên còn có nghĩa là "Quan huyện Thiện Phụ”, ở đây có chỗ chơi chữ không dịch được]. 🙁(

Huyện ta có Vương sinh, cưới vợ được hơn tháng thì bỏ vợ, người cha vợ kiện lên quan.

Lúc ấy ông Tân làm Tri huyện huyện Truy, hỏi Vương vì sao bỏ vợ, Vương đáp là không thể nói được.

Hỏi mãi mới đáp rằng:

- Cô ta không thể sinh nở!

Ông Tân nói:

- Nói bậy!

Mới cưới hơn một tháng, làm sao đã biết là không thể sinh nở?

Vương ngượng nghịu hồi lâu mới đáp:

- Vì chỗ kín của cô ta méo!

Ông Tân phì cười nói:

- Té ra là vì méo mó nên trong gia đình không êm thắm.

Đây cũng là một chuyện nên chép lại cùng chuyện Quan huyện không con để cười vậy?

*[Té ra là vì méo mó nên trong gia đình không êm thắm: nguyên văn là "Thị tắc thiên chi vi hại, nhi gia chi sở dĩ bất tề dã".

Tề gia (sắp xếp việc nhà cho êm đẹp) là một trong những nhiệm vụ của người quân tử theo quan niệm Nho giáo, đây quan huyện chơi chữ, đem chữ tề đối với chữ thiên].

____________________________________

CHƯƠNG 363: DIÊM LA HOĂNG

DIÊM VƯƠNG CHẾT

Tinh Tinh Lân Hỏa Khởi Đình Trì

Đại Lại Lang Đang Dạ Đối Từ

Địa Hạ Hàn Cầm Tri Dã Vị

Diêm Vương Do Tự Hữu Hoăng Thì

Dịch:

Sân Thềm Lân Hỏa Tựa Sao Xa

Quan Lớn Xiềng Đeo Đứng Trước Tòa

Địa Phủ Hàn Cầm Chăng Có Biết

Diêm Vương Cũng Có Lúc Băng Hà



Cha Tuần phủ Mỗ trước là Tổng đốc một tỉnh phía nam, đã chết từ lâu.

Một đêm ông nằm mơ thấy cha về, vẻ mặt buồn bã nói:

- Ta lúc còn sống không làm nhiều tội nghiệt, chỉ có một lần cầm quân ở trấn, không nên điều động mà lại điều động, trên đường đi gặp phải cướp biển, toàn quân chết sạch.

Nay họ kiện ta tới Diêm Vương, hình phạt tàn nhẫn rất là đáng sợ.

Diêm Vương không phải ai khác, ngày mai có viên Kinh lịch họ Ngụy áp tải lương tới, chính là y đấy.

Con nên kêu xin cho ta, nhớ đừng có quên!

Ông tỉnh dậy lấy làm lạ, cũng không tin lắm.

Nằm ngủ lại lại mơ thấy cha trách:

- Cha đã gặp nạn mà con chưa chịu ghi nhớ lời dặn, lại còn cho là mộng mị hão huyền à?

Ông càng lấy làm lạ.

Hôm sau ghi nhớ ra xem văn án, quả có viên Kinh lịch họ Ngụy vừa áp tải lương tới, lập tức cho gọi vào, sai hai người giữ cho ngồi yên rồi bước ra quỳ lạy như triều kiến thiên tử.

Lạy xong quỳ khóc, kể lại mọi việc.

Ngụy lúc đầu không chịu nhận, ông cứ quỳ mãi không chịu đứng lên, Ngụy mới nói:

- Đúng là có chuyện ấy, nhưng âm ty có phép tắc, không phải lôi thôi như ở trần gian, cho dù có thể nương tay, sợ cũng không làm được.

Ông càng tha thiết năn nỉ, Ngụy bất đắc dĩ phải nhận lời.

Ông lại xin Ngụy xử đoán mau cho, Ngụy ngẫm nghĩ rồi ngại là không có chỗ yên tĩnh, ông xin quét dọn khách sảnh, Ngụy bèn ưng thuận.

Ông mới đứng dậy, lại xin cho theo nghe trộm, Ngụy nói là không được, ông năn nỉ mãi, Ngụy mới dặn:

- Tới đó thì phải im lặng không được lên tiếng, vả lại hình phạt ở âm ty tuy thảm khốc không giống như ở trần gian song chỉ là tạm thời bị giết chứ không phải chết thật, nếu thấy điều gì cũng đừng run sợ.

Đến đêm, ông ngầm vào núp bên hành lang khách sảnh, thấy dưới thềm la liệt tù nhân, kẻ đứt đầu người cụt tay đông đặc nhốn nháo.

Dưới thềm đặt bếp lửa vạc dầu, có mấy người đang cho củi nhen lửa.

Chợt thấy Ngụy đội mão thắt đai ra bước lên ngồi, khí tượng uy nghiêm dữ tợn, khác hẳn lúc ban ngày.

Đám quỷ cùng nhất tề lạy rạp xuống, đều kêu khóc là oan khổ.

Ngụy nói:

- Các ngươi bị giặc giết, oan có đầu nợ có chủ, sao lại quy tội cho quan trưởng.

Bọn quỷ ồn ào nói:

- Lẽ ra không đáng điều động, lại bị công văn không hợp lệ gởi tới nên chúng tôi mới gặp nạn, vậy ai đền nỗi oan khổ này?

Ngụy lại giải thích quanh co, đám quỷ gào khóc, ồn ào náo động.

Ngụy bèn sai quỷ tốt đem bỏ cha viên quan Mỗ vào vạc dầu luộc qua một lượt, xét về lý thì đúng, nhưng xem ý tứ thì chỉ làm thế để đám quỷ hả dạ mà thôi.

Lệnh vừa ban ra, lập tức có bọn quỷ đầu trâu giải cha ông tới rồi lấy đinh ba xóc lên bỏ vào vạc dầu.

Ông nhìn thấy trong lòng đau đớn, không kìm được bất giác kêu lên một tiếng thất thanh, thì trong sảnh chợt vắng ngắt không còn gì nữa.

Ông than khóc quay về, đến sáng tới tìm Ngụy, thì Ngụy đã chết trong phòng.

Chuyện này là Trương Võ Định ở huyện Tùng Giang (tỉnh Giang Tô) kể lại, vì không phải là chuyện hay nên không nói rõ tên người.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 364+365+366+367+368


CHƯƠNG 364: ĐẠO SĨ ĐIÊN

Du Hí Thần Tiên Tự Bất Quần

Tiếu Khâm Du Cái Nhật Phân Phân

Chư Nô Mạc Ỷ Hào Môn Thế

Hòe Thụ Trung Không Đãi Thực Quân

Dịch:

Đùa Giỡn Thần Tiên Cũng Tuyệt Vời

Cười Xem Xe Lọng Nhộn Bời Bời

Cường Hào Đừng Ỷ Vào Thế Lực

Chỗ Hổng Cây Hòe Sẵn Đợi Ai



Có đạo sĩ điên không rõ tên họ ngụ trong chùa trên núi, lúc ca lúc khóc bất thường, người ta không hiểu được, có người thấy đạo sĩ nấu đá làm cơm ăn.

Gặp tiết Trùng dương có người hào quý trong huyện mang rượu lên núi chơi, ngồi kiệu che lọng rần rộ kéo đi, yến ẩm xong về ngang chùa.

Vừa tới cổng thì thấy đạo sĩ đi chân không mặc áo rách, tự cầm lọng vàng, miệng kêu beng beng làm như tiếng thanh la dẹp đường từ trong đi ra, như có ý nhạo báng.

Người hào quý vừa thẹn vừa giận, sai đầy tớ đuổi theo chửi mắng, đạo sĩ cười bỏ chạy.

Bọn kia đuổi gấp, đạo sĩ vứt bỏ cái lọng, lại xé tan vải lọng ra, từng mảnh từng mảnh biến thành chim ưng chim cắt bay tứ tán, mọi người mới bắt đầu run sợ.

Cái cán lọng biến thành con mãng xà lớn, vẩy đỏ mắt sáng, bọn kia kêu la định bỏ chạy.

Có người khách cùng đi ngăn lại nói:

- Đó chẳng qua chỉ là ảo thuật mà mắt thôi, làm sao nuốt được người?

Bèn rút đao xông lên, con mãng xà tức giận lướt tới há miệng táp người ấy nuốt chửng.

Bọn kia càng hoảng sợ, đỡ người hào quý chạy mau, được ba dặm mới dừng, sai mấy người trở lại dò xét.

Vào tới chùa thì chẳng thấy người khách và con mãng xà đâu, đang định về báo thì nghe trong cây hòe lớn có tiếng thở phì phò như con lừa.

Họ sợ hãi, lúc đầu không dám bước tới, dần dần mới rón rén tới gần xem, thấy trong gốc cây có cái hốc bằng cái mâm, trèo lên nhìn vào thì người đánh nhau với con mãng xà bị nhét chúc đầu xuống bên trong, nhưng cái lỗ chỉ đủ thò hai bàn tay vào, không có cách nào ra được.

Họ vội lấy đao phá gốc cây, cái hốc vỡ ra thì người đã ngất đi.

Hồi lâu tỉnh lại, họ bèn vực về, còn đạo sĩ không biết đã đi đâu.

____________________________________

CHƯƠNG 365: QUỈ LỆNH

TỬU LỆNH MA

Cổ Sát Hà Nhân Dạ Cử Bôi

Bất Hành Xạ Phú Bất Xai Mai

Hài Thanh Chiết Tự Phiên Tâm Lệnh

Phong Nhã Cư Nhiên Hữu Tiệp Tài

Dịch:

Chùa Cổ Đêm Nay Tiệc Rượu Vui

Không Dùng Phú Xạ Với Xai Mai

Hài Thanh Chiết Tự Toàn Lệnh Mới

Phong Nhã Thanh Tao Có Biệt Tài



Giáo thụ Triển tiên sinh tiêu sái phóng khoáng có phong độ danh sĩ, nhưng uống rượu say là bất chấp lễ nghi.

Cứ mỗi lần uống rượu về lại phi ngựa vào sân miếu thờ Khổng Tử.

Trong sân có nhiều cây bách cổ, một hôm Triển phi ngựa húc vào cây vỡ đầu tự nói:

- Tử Lộ giận ta vô lễ, đánh vỡ đầu ta rồi!

*[Tử Lộ: tên Trọng Do, học trò giỏi của Khổng tử, tính cương trực quả cảm, được Nho gia thờ chung trong Văn miếu với Khổng tử].

Nửa đêm thì chết.

Trong huyện có Mỗ Ất buôn bán ở làng ấy, đêm ngủ ở một ngôi chùa cổ, đêm vắng không người, chợt thấy bốn năm người mang rượu vào uống, Triển cũng có trong số đó.

Rượu được vài tuần, có người lấy chữ làm tửu lệnh, đọc:

Chữ Điền không đủ cùng

Chữ Thập ở bên trong

Chữ Thập đưa lên ngọn

Chữ Cổ được đầy chung

Một người đọc:

Chữ Hồi không đủ cùng

Chữ Khẩu ở bên trong

Chữ Khẩu đưa lên ngọn

Chữ Lữ được đầy chung

Một người đọc:

Chữ Linh không đủ cùng

Chữ Lệnh ở bên trong

Chữ Lệnh đưa lên ngọn

Chữ Hàm được đầy chung

Lại một người đọc:

Chữ Khốn không đủ cùng

Chữ Mộc ở bên trong

Chữ Mộc đưa lên ngọn

Chữ Hạnh được đầy chung

Sau cùng tới Triển, Triển nghĩ không ra, mọi người cười nói:

- Không đọc được thì phải chịu phạt, uống một chén lớn đi!

Triển nói:

- Ta nghĩ được rồi!

Rồi đọc:

Chữ Viết không đủ cùng

Chữ Nhất ở bên trong

Mọi người cười hỏi:

- Suy ra là chữ gì?

Triển uống cạn chén rồi đọc tiếp:

Chữ Nhất đưa lên ngọn

Một hớp đầy một chung*

*[Tất cả các bài thơ trước đều dùng một lối chiết tự như nhau, như chữ điền gồm chữ khẩu ở ngoài và chữ thập ở trong, đưa chữ thập lên trên chữ khẩu thành chữ cổ.

Riêng bài của nhân vật họ Triển thì chiết tự chữ viết lại không ra chữ gì mà lại thành hai chữ nhất khẩu (một hớp)].

Mọi người cười ran, không bao lâu thì ra về.

Ất không biết là Triển chết, nghĩ thầm rằng chắc bị bãi chức về.

Đến khi về tới làng hỏi thăm, thì Triển chết đã lâu, mới biết rằng mình đã gặp ma.

____________________________________

CHƯƠNG 366: DIÊM VƯƠNG YẾN

Nhất Phạn Tàng Thao Niệm Bất Vong

Đa Tình Ai Bằng Ngọ Cung Vương

U Minh Cánh Nhĩ Thông Thù Tạc

Đặc Túc Gia Tân Tiến Vũ Trường

Dịch:

Bữa Cơm Mãi Mãi Vẫn Ghi Lòng

Tình Cảm Ai Bằng Chúa Ngọ Cung

U Hiển Không Nề Thù Tạc Đâm

Đón Mời Quý Khách Rượu Hương Nồng



Thiệu sinh ở huyện Tĩnh Hải (tỉnh Hà Bắc) nhà nghèo, gặp ngày sinh nhật của mẹ, sắm sửa rượu thịt ra cúng ở sân.

Lạy xong đứng dậy thì thức ăn bày trên bàn đã hết sạch.

Vô cùng hoảng sợ, đem chuyện kể với mẹ, mẹ ngờ vì túng thiếu không thể làm lễ chúc thọ nên bịa đặt ra như vậy, Thiệu im lặng không biết làm sao phân trần.

Không bao lâu sau, quan Học sứ đích thân đi khảo thí học trò các phủ huyện, Thiệu khổ sở không có tiền ăn đường nhưng chạy mượn được món tiền nhỏ ra đi.

Trên đường gặp một người chờ bên vệ đường mời mọc rất ân cần.

Thiệu đi theo, thấy điện gác lâu đài xếp lớp trên đường.

Vào tới nơi, thấy một bậc vương giả ngồi trên điện, Thiệu lạy phục xuống.

Vương hòa nhã bảo ngồi, rồi mời ăn tiệc, nhân nói:

- Lần trước đi ngang quý thự, vì bọn người hầu đi đường đói khát quá nên có ăn vụng bàn tiệc của ông.

Thiệu ngạc nhiên không hiểu, Vương nói:

- Ta là Diêm Vương đây, ông không nhớ hôm mừng thọ lệnh đường à?

Ăn tiệc xong, đưa cho Thiệu một đồng tiền, nói:

- Có chút ít, gọi là cám ơn lần trước!

Thiệu nhận lấy trở ra, thì cung điện nhân vật trong phút chốc biến mất cả, chỉ có vài cây đại thụ sừng sững bên đường.

Nhìn lại đồng tiền thì là vàng ròng, đem cân được năm lượng.

Khảo thí xong, Thiệu chỉ tiêu hết có một nửa, còn bao nhiêu đem về nuôi mẹ.

____________________________________

CHƯƠNG 367: HỌA MÃ

NGỰA TRONG TRANH

Thiên Kim Kỳ Tích Cấu Hoa Lưu

Diệu Hoa Thông Linh Hà Xứ Cầu

Mạn Đạo Điểm Tình Long Phá Bính

Tử Ngang Trực Khả Kế Tăng Du

Dịch:

Ngàn Vàng Mua Được Ngựa Hoa Lưu

Nét Vẽ Thông Linh Diệu Tới Đâu

Điểm Mắt Nói Chi Rồng Phá Vách

Tử Ngang Có Thể Nói Tăng Du



Thôi sinh ở huyện Lâm Thanh (tỉnh Sơn Đông) nhà rất nghèo, tường quanh sân sụp lở không sửa được.

Cứ sáng dậy lại thấy một con ngựa vào nằm trên bãi cỏ đẫm sương, lông đen vằn trắng, chỉ có lông đuôi không đều, như là bị lửa cháy sém vậy.

Đuổi đi thì đêm lại vào nằm, không biết từ đâu tới.

Thôi có người bạn thân làm quan ở đất Tấn (vùng Sơn Tây), vẫn thường muốn tới thăm nhưng không đi bộ nổi.

Bèn bắt con ngựa thắng yên cương cưỡi đi, dặn người nhà rằng:

- Nếu có ai tìm ngựa, thì nói là ta mượn qua đất Tấn.

Ra tới đường, con ngựa phóng như bay, trong chớp mắt đã được trăm dặm.

Đêm vào nhà trọ, nó không chịu ăn rơm cỏ, Thôi cho là bị bệnh.

Hôm sau buộc lại không cưỡi, nhưng con ngựa giẫm chân phì bọt mép, dáng mạnh mẽ hung hăng như hôm qua, Thôi lại cưỡi lên, trưa đã tới đất Tấn.

Lúc ấy Thôi đi trên đường phố, ai nhìn thấy cũng khen ngợi con ngựa.

Tấn vương nghe đồn, hỏi mua với giá cao, Thôi sợ người mất ngựa tìm tới nên lấy cớ từ chối.

Được nửa năm chẳng thấy ở nhà nhắn gì, Thôi bèn bán con ngựa cho Tấn vương được tám trăm đồng vàng, rồi mua một con ngựa khỏe cưỡi về.

Về sau Tấn vương có chuyện gấp sai viên Hiệu úy cưỡi con ngựa tới Lâm Thanh, con ngựa giật dây chạy, viên Hiệu úy đuổi vào tới nhà láng giềng của Thôi thì không thấy đâu nữa.

Hỏi chủ nhà họ Tăng, thì ông ta không thấy.

Đến lúc vào trong phòng, thấy trên vách treo một bức tranh vẽ ngựa của Tử Ngang chỉ có một con, màu lông giống hệt, chỗ đuôi bị khói hương cháy sém, mới chợt hiểu ra rằng con ngựa là yêu quái trong bức tranh.

Viên Hiệu úy không biết làm sao về phục mệnh với Tấn vương, bèn kiện Tăng.

Lúc bấy giờ Thôi được số tiền bán ngựa đem về làm ăn đã trở nên giàu có, bèn tình nguyện bỏ tiền ra đền thay Tăng cho viên Hiệu úy trở về.

Tăng vô cùng biết ơn, nhưng không biết Thôi là người bán con ngựa cho Tấn vương năm trước.

*[Tử Ngang: tức Trần Tử Ngang, nhà thơ và họa sĩ nổi tiếng thời Đường].

____________________________________

CHƯƠNG 368: PHÓNG ĐIỆP

THẢ BƯỚM

Hồ Điệp Quần Phi Khứ Phục Hồi

Tụng Đình Xuân Đáo Bách Hoa Khai

Khuê Trung Hí Hước Tầm Thường Sự

Chiết Đắc Phong Lưu Tội Quá Lai

Dịch:

Bươm Bướm Tung Bay Nhộn Lại Qua

Tụng Đình Xuân Tới Nở Trăm Hoa

Phòng The Đùa Giỡn Thường Tình Nhỉ

Tội Lỗi Phong Lưu Lại Xảy Ra



Tiến sĩ Vương Đẩu Sinh người huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông) làm Tri huyện, cứ xử kiện thì định tội nặng nhẹ theo pháp luật rồi bắt nộp bướm để chuộc tội.

Hàng vạn con bướm đem tới sân công đường thả ra cùng lúc, như gấm vụn bị gió cuốn bay đầy trời, Vương thì vỗ bàn cười lớn.

Một đêm mơ thấy một cô gái xiêm y lộng lẫy thong thả bước vào nói:

- Gặp phải chính sự bạo ngược của ông nên chị em ta đã chịu khổ nhiều, cũng phải cho ông nếm mùi trừng phạt nhẹ trước về cái tội phong lưu.

Nói xong biến thành con bướm chập chờn bay đi.

Hôm sau Vương đang uống rượu một mình trong công thự, chợt nghe báo có quan Trực chỉ sứ tới, vội vã ra đón.

Trước đó thê thiếp đùa lấy hoa giắt lên mão, Vương vội vàng nên quên bỏ ra.

Trực chỉ sứ thấy thế, cho là khinh nhờn, chữi mắng một trận mới cho về.

Từ đó Vương bỏ luôn lệ chuộc tội bằng bướm.

Vu Trọng Dần ở Thanh Thành, tính phóng túng ngông cuồng.

Lúc làm Tư lý, ngày tết Nguyên đán lấy pháo tre buộc khắp từ đầu tới đuôi con lừa rồi dắt tới dinh quan Thái thú, gõ cổng xin vào gặp, nói:

- Xin dâng con lừa pháo, mời quan ra xem một lúc.

Lúc ấy Thái thú có đứa con trai cưng đang bị lên đậu, thấy khó chịu nên từ chối.

Vu cứ nằng nặc xin gặp, Thái thú bất đắc dĩ sai mở cổng.

Cánh cổng vừa mở, Vu châm ngòi pháo rồi đẩy con lừa vào.

Pháo nổ, con lừa phát hoảng lồng lên phóng bừa, lại thêm lửa bắn tứ tung, không ai dám tới gần bắt lại.

Con lừa băng qua phòng khách chạy tuông vào phòng ngủ, đạp vỡ hết lọ hoa bình trà, lửa bén vào cửa sổ, người nhà hoảng sợ la thét, đứa nhỏ bị đậu thất kinh, qua đêm thì chết.

Thái thú đau xót căm hờn, toan hặc tội cách chức.

Vu nhờ các ty đạo cùng đi năn nỉ giùm, tới công đường xin chịu tội mới được tha.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 369+370+371+372+373


CHƯƠNG 369: QUỈ THÊ

VỢ MA

Hao Hợp Nguyên Nan Luận Tử Sinh

Côn Huyền Tuy Tục Bất Thành Thanh

Thu Phần Lệ Đoạn Tân Đào Rặc

Mạc Quái Đàn Lang Thái Bạc Tình

Dịch:

Âu Yếm Nguyên Không Biệt Tử Sinh

Dây Đàn Dù Nổi Tiếng Không Thành

Mồ Thu Gạt Lệ Cành Đào Cắm

Đừng Trách Đàn Lang Quá Bạc Tình



Nhiếp Bằng Vân ở huyện Thái An (tỉnh Sơn Đông) có vợ là Mỗ, vợ chồng rất đầm ấm.

Người vợ bị dịch chết, Nhiếp bỏ ăn bỏ ngủ, ngơ ngẩn như mất hồn.

Một đêm đang ngồi một mình, chợt người vợ đẩy cửa bước vào, Nhiếp sợ hãi hỏi sao lại tới đây?

Vợ đáp:

- Thiếp là ma rồi, cảm vì lòng chàng nhớ thương nên năn nỉ xin Diêm Vương cho về gặp gỡ.

Nhiếp mừng rỡ đỡ lên giường, nhất thiết đều như lúc trước không có chi khác.

Từ đó khi đi khi tới hơn một năm Nhiếp cũng chẳng nói gì tới chuyện lấy vợ.

Chú bác anh em sợ không có người nối dõi, đều ngầm khuyên Nhiếp nên tục huyền.

Nhiếp nghe theo, đưa sính lễ tới hỏi con gái một nhà lương thiện, nhưng sợ vợ không vui nên giấu.

Không bao lâu sắp đến ngày cưới, ma biết chuyện trách:

- Ta vì tình chàng mà cam chịu tội chốn u minh, nay chàng lại nuốt lời thề ước, người trong nòi tình lại như thế à?

Nhiếp nói rõ ý tứ của họ hàng, ma vẫn không vui, cương quyết vĩnh biệt.

Nhiếp tuy thương xót nhưng nghĩ lại thấy thế vẫn hơn.

Đêm cưới, vợ chồng đang nằm với nhau, ma chợt tới, leo lên giường đánh người vợ mới, mắng:

- Sao dám nằm vào giường của ta?

Người vợ mới cũng vùng dậy níu kéo cấu xé nhau, Nhiếp không dám bênh vực bên nào.

Không bao lâu gà gáy, ma mới đi.

Người vợ mới ngờ là vợ Nhiếp vốn chưa chết, cho rằng mình bị lừa, định treo cổ tự tử, Nhiếp kể lại mọi chuyện, người vợ mới mới biết đó là ma.

Trời tối ma lại tới, người vợ mới sợ hãi tránh mặt.

Ma cũng không ngủ chung với Nhiếp, chỉ lấy tay cào cấu, chán rồi thì ngồi bên đèn nhìn Nhiếp trừng trừng, im lặng không nói một tiếng.

Cứ thế mấy đêm liền, Nhiếp sợ quá, nhờ người thầy pháp giỏi ở thôn bên cạnh lấy gỗ đào vẽ bùa làm hàng rào đóng chặt xuống bốn góc ngôi mộ người vợ trước, từ đó ma mới không tới nữa.

____________________________________

CHƯƠNG 370: Y THUẬT

Tố Vấn Linh Khu Cạnh Chủy Ma

Khuy Viên Thùy Điệu Thập Tam Khoa

Đạo Nhân Nhất Ngữ Thù Điều Khán

Nhược Cá Danh Y Thức Tự Đa

Dịch:

Tố Vấn Linh Khu Mải Miệt Mài

Mười Ba Khoa Lập Tự Lâu Rồi

Một Lời Đạo Sĩ Sao Linh Nghiệm

Nổi Tiếng Danh Y Có Biệt Tài



Họ Trương là dân nghèo ở huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông), đi đường gặp một đạo sĩ giỏi thuật xem tướng xem cho, nói:

- Ông có thể nhờ nghề nghiệp mà làm giàu.

Trương hỏi:

- Nên làm nghề gì?

Đạo sĩ xem kỹ rồi đáp:

- Nghề thuốc thì được!

Trương nói:

- Ta không biết chữ, làm sao làm nổi?

Đạo sĩ cười nói:

- Ông ngây thơ quá, các bậc danh y nào phải có nhiều kẻ nhờ biết chữ đâu?

Chỉ cần làm thôi!

Trương về nhà, nghèo quá không có nghề nghiệp gì để sống, bèn hái các bài thuốc lá linh tinh đem ra chợ bày bán, làm một quầy thuốc nhỏ kiếm sống lần hồi, người ta cũng chưa thấy có gì hay.

Gặp lúc Thái thú phủ Thanh Châu mắc bệnh ho, gởi công văn sai tìm thầy thuốc.

Huyện Nghi Thủy vốn quê mùa nhỏ hẹp, ít có thầy thuốc, nhưng quan huyện không dám tắc trách, sai các làng tìm thầy thuốc, người ta đều đề cử Trương, quan huyện lập tức gọi tới.

Trương vừa bị bệnh ho có đờm không tự chữa được, nghe lệnh sợ quá từ chối, quan huyện không nghe, sai đem ngựa trạm đưa lên phủ.

Đường đi ngang qua núi sâu, Trương khát nước ho càng dữ, bèn vào thôn xin nước uống.

Nhưng thôn trong núi nước quý như vàng, xin khắp vẫn không ai cho.

Chợt thấy một người đàn bà rửa rau, rau nhiều nước ít, nước trong chậu đục như bùn.

Trương khát quá chịu không nổi, xin nước ấy uống bừa.

Trong khoảnh khắc thấy hết khát, cũng hết cả ho, thầm nghĩ đây là phương thuốc hay.

Tới phủ thì thầy thuốc các huyện đã xúm vào chữa nhưng Thái thú vẫn không đỡ.

Trương vào, xin ở chỗ kín đáo rồi ra đơn thuốc, xin truyền thị khắp trong ngoài, sai người vào dân tìm đủ thứ rau cỏ, đem rửa rồi lấy nước bùn đất dâng lên, Thái thú chỉ uống một lần là hết bệnh.

Thái thú mừng rỡ, thưởng cho rất hậu, ban cho biển ngạch chữ vàng để biểu dương.

Từ đó Trương rất nổi tiếng, người tới chữa bệnh đông như họp chợ trước cửa, mà cứ theo tay bốc thuốc là khỏi.

Có người bị thương hàn kể bệnh xin thuốc, gặp lúc Trương đang say đưa lầm cho thuốc sốt rét, tỉnh rượu mới nhớ ra nhưng không dám nói cho ai biết.

Ba ngày sau lại có người đem lễ rất hậu tới cảm tạ, hỏi ra thì người bị thương hàn uống thuốc sốt rét nôn mửa một trận rồi hết bệnh, những chuyện như thế rất nhiều: Trương vì vậy cũng sợ nên chữa bệnh ít đi, lại càng có tiếng là tự trọng, nếu người ta không đem vàng ròng kiệu lớn tới mời thì không đi thăm bệnh.

Họ Hàn ở huyện Ích Đô (tỉnh Sơn Đông) là bậc danh y.

Lúc chưa nổi tiếng, bán lá thuốc dạo khắp nơi, gặp hôm trời tối không có nơi trọ, xin vào ngủ nhờ nhà nọ.

Con trai nhà ấy bị thương hàn gần chết, chủ nhà xin Hàn chữa cho.

Hàn nghĩ nếu không chữa thì khó mà ngủ nhờ, nhưng chữa thì không biết cho thuốc thế nào.

Đi tới đi lui nghĩ ngợi, lấy tay gãi lưng, cáu ghét và mồ hôi kết thành một mảng bèn vo viên lại, nghĩ rằng cho người bệnh uống cũng vô hại, sáng ra mà không bớt thì đêm nay mình cũng được ăn no ngủ yên rồi, bèn đưa ra.

Nửa đêm, chủ nhà đập cửa phòng rất gấp, Hàn nghĩ người bệnh đã chết, cho là sẽ bị đánh đập chửi mắng, hoảng sợ vùng dậy leo qua tường chạy.

Chủ nhà đuổi theo mấy dặm, Hàn không sao chạy thoát bèn dừng lại, mới được biết rằng người bệnh đã ra mồ hôi khỏi hẳn rồi.

Chủ nhà kéo Hàn về, mời tiệc rất long trọng, lúc Hàn đi lại tặng cho rất hậu.

____________________________________

CHƯƠNG 371: HẠ TUYẾT

MÙA HÈ MƯA TUYẾT

Hợp Hướng Nhân Gian Hưởng Đại Danh

Viêm Thiên Phong Tuyết Nhất Thời Tình

Ngự Tai Hãn Hoạn Thành Linh Thảng

Kiêu Thái Hà Đa Thế Tục Tình

Dịch:

Đại Danh Đáng Hưởng Ở Trên Đời

Gió Tuyết Mùa Viêm Trạnh Tức Thời

Hãn Hoạn Trù Tai Linh Ứng Lạ

Mà Sao Kiêu Ngạo Cũng Như Người



(1)

Ngày sáu tháng bảy năm Đinh hợi, ở Tô Châu có tuyết lớn, trăm họ hoảng sợ cùng tới cầu đảo ở miếu thờ thần.

Thần chợt mượn lời người nói:

- Những kẻ xưng là Lão gia hiện nay đều thêm một chữ Đại ở trước, hạng thần nhỏ nhoi như ta không đáng được chữ Đại ấy.

Mọi người run sợ, cùng gọi thần là Đại Lão gia, tuyết lập tức ngừng rơi.

Từ đó mà xem thì thần cũng thích nịnh, huống gì kẻ sang cả ăn trên ngồi trốc.

(2)

Ngày ba tháng sáu năm Đinh hợi, ở phủ Quy Đức tỉnh Hà Nam có tuyết lớn ngập hơn một thước, lúa má chết sạch.

Tiếc cho dân ở đó còn chưa biết cách nịnh hót thần, xót xa thay!

____________________________________

CHƯƠNG 372: HÀ TIÊN

Ngũ Sắc Ty Luân Mục Dị Mê

Khả Tri Tài Mạnh Lưỡng Nan Tề

Kê Tiên Bất Khả Mô Lăng Ngữ

Hảo Đãi Tôn Công Dữ Phẩm Đề

Dịch:

Năm Sắc Ty Luân Mắt Dễ Mê

Cho Hay Tài Mạnh Khéo So Le

Kê Tiên Đâu Thể Nói Rành Rẽ

Hãy Đợi Tôn Công Thấy Phẩm Đề



Công tử Vương Thụy Đình ở huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông) biết cầu tiên, thường được một vị tự xưng là Hà tiên, đệ tử của tiên ông Lữ Động Tân, có người nói là con hạc của Lữ tổ cưỡi.

Mỗi lần giáng lâm, đều cùng mọi người luận văn làm thơ.

Thái sử Lý Chất Quân thờ làm thầy, được chỉ vẽ cho về văn bài rõ ràng cặn kẽ.

Thái sử cầu khẩn được Hà tiên nhiều khi tới ở cùng, nên văn sĩ nhiều người tới nương dựa.

Nhưng tiên đoán việc cho người phần nhiều đều bàn lý lẽ chứ ít khi nói rủi may.

Năm Tân mùi, Chu Văn Tông ra khảo thí ở Tế Nam, thi xong mọi người tới xin đoán về chuyện đỗ hay trượt, cao hay thấp.

Hà tiên đòi xem bài làm của từng người, phẩm bình cả tháng.

Trong bọn có người chơi thân với Lý Biện ở huyện Lan Lăng (tỉnh Sơn Đông), Lý vốn là kẻ sĩ ham học nghĩ xa, mọi người đều mong mỏi nên đưa văn bài của Lý ra nhờ tiên xem giúp.

Tiên chú rằng:

- Hạng nhất!

Lát sau lại viết.

- Mới rồi là bình văn của Lý, song cứ theo văn chương thì thấy vận số rất xấu, phải bị roi vọt.

Lạ thật, văn chương với số mệnh lại không phù hợp, chẳng lẽ Văn Tông không bàn văn chương à?

Các ông chờ ở đây để ta đi xem thử một lúc.

Giây lát lại viết:

- Ta vừa tới dinh quan Đốc học, thấy Văn Tông công việc bề bộn, đang lo nghĩ chuyện khác chứ không phải về văn chương, mọi việc đều giao phó cho đám mạc khách.

Khách có sáu bảy người, toàn là hạng bỏ tiền gạo ra mua chức Giám sinh, kiếp trước đều không có khí cốt, quá nửa là kẻ chết đói giữa đường, hồn ma vất vưởng xin ăn khắp nơi thôi.

Ở trong ngục tối tám trăm năm thì sức mắt suy giảm, cũng như người ở lâu trong hang chợt bước ra ngoài thì trời đất đều như đổi màu, không thấy rõ gì cả.

Trong bọn có một hai người như thế đấy, duyệt quyển chấm văn e không hiểu đúng được đâu.

Mọi người hỏi cách cứu vãn, tiên viết:

- Cách ấy rất rõ, ai cũng hiểu rồi còn hỏi làm gì?

Mọi người hiểu ý đem chuyện kể cho Lý.

Lý sợ đem văn bài tới dâng Thái sử Tôn Tử Vị, lại nói lời tiên.

Thái sử khen văn, lại khuyên đừng tin nhảm.

Lý thấy Thái sử là người chủ trì văn giáo trong nước, lấy làm phấn chấn không nghĩ tới lời tiên đoán nữa.

Đến ngày ra bảng, Lý được xếp hạng tư.

Thái sử hoảng sợ, đòi văn bài của Lý xem lại, cũng không hề phạm quy, bèn nói:

- Đốc học là quan tỉnh, vốn có văn danh, chắc không tới nỗi mù mờ như thế, đây chắc là do bọn mạc khách mê muội không biết chữ nghĩa mà thôi.

Lúc ấy mọi người càng phục Hà tiên, cùng thắp hương vái tạ.

Tiên giáng viết rằng:

- Lý sinh đừng chịu khuất phục một lúc để chịu xấu hổ, cứ chép quyển thi truyền rộng ra, sang năm thế nào cũng đỗ cao.

Lý theo lời dạy, lâu sau trong dinh Đốc học cũng biết, bèn treo bảng đặc biệt an ủi.

Năm sau quả nhiên Lý đỗ đầu.

____________________________________

CHƯƠNG 373: LỘ LỆNH

QUAN LỆNH LỘ THÀNH

Bất Thường Phu Tự Khước Thôi Khoa

Hắc Sách Hoành Phu Tựu Tề Đa

Cứ Án Hốt Vi Xanh Cự Trạng

Nại Tha Ngũ Thập Bát Nhân Hà

Dịch:

Chẳng Biết Thương Dân Thu Thuế Gắt

Cực Hình Chết Uổng Biết Là Bao

Hốt Nhiên Ghi Án Như Hình Chống

Năm Tám Oan Hồn Chống Nổi Sao



Tống Quốc Anh người huyện Đông Bình (tỉnh Sơn Đông) từ chức Giáo thụ được thăng làm Tri huyện Lộ Thành (tỉnh Sơn Tây), tham bạo bất nhân, thúc thuế càng dữ tợn.

Những kẻ thiếu thuế bị đánh chết ngổn ngang dưới sân công đường.

Từ Bạch Sơn ở làng ta ghé qua đó thấy tàn nhẫn quá, nói mỉa rằng:

- Làm cha mẹ của dân mà oai vệ tới thế kia à?

Tống nghênh ngang tỏ vẻ đắc ý đáp:

- Vâng ạ, không dám, quan chức tuy nhỏ, làm việc mới trăm ngày nhưng cũng đánh chết được năm mươi tám tên rồi.

Nửa năm sau, vừa ngồi vào án xem việc, chợt trợn mắt đứng dậy, tay chân khua khoắng rối rít như chống cự người khác, kêu lên:

- Tội ta đáng chết!

Tội ta đáng chết!

Mọi người đỡ vào nhà trong, được một giờ thì chết.

Than ôi!

May mà còn có âm ty kiêm nhiếp cả chính sự trên dương thế, thứ nếu không thì càng cướp đoạt của dân được nhiều càng nổi tiếng là làm quan mẫn cán, còn hại biết bao nhiêu nữa!
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 374+375+376+377


CHƯƠNG 374: HÀ GIAN SINH

ANH CHÀNG HÀ GIAN

Hủ Dũng Hồ Ông Cộng Vãng Hoàn

Vô Đoan Thân Hốt Trụy Lương Gian

Chỉ Tòng Nhất Niệm Phân Tà Chính

Nhân Thú Do Lai Phán Thử Quan

Dịch:

Ưa Với Hồ Ông Cùng Tới Lui

Bỗng Dưng Ở Tự Trên Xà Rơi

Chỉ Vì Một Nghĩ Đâu Tà Chính

Người Thú Do Đây Phân Biệt Rồi



Mỗ sinh ở huyện Hà Gian (tỉnh Hà Bắc), trong ruộng chất rơm rạ thành đống như cái gò, người nhà hàng ngày rút để đun nấu, dần dần thành một cái lổ lớn.

Có con hồ tới ở trong đó, thường hiện hình là một ông già tới gặp chủ nhân.

Một hôm mời chủ nhân tới uống rượu, mời sinh chui vào trong đống rơm, sinh lấy làm khó khăn, mãi mới chịu chui vào.

Vào trong thì thấy nhà cửa hoa lệ, vừa ngồi xuống thì trà rượu thơm ngát dâng lên, chỉ có ánh sáng mờ mờ không biết là ngày hay đêm.

Uống rượu xong trở ra thì nhà cửa đều biến mất.

Ông già cứ tối đi sáng về, không thể theo vết được.

Sinh hỏi, ông ta đáp là bạn bè mời đi uống rượu, sinh xin theo cùng, ông ta không cho, nài nỉ mãi mới ưng thuận.

Bèn nắm tay sinh kéo lướt đi như gió, khoảng nấu chín nồi cơm thì tới một nơi thành thị.

Vào quán rượu thì thấy khách khứa rất đông, ăn uống cười nói ồn ào.

Ông già dắt sinh lên lầu nhìn xuống, muốn ăn uống món nào trong các bàn bên dưới cứ nói, ông già tự xuống bưng lên bày đầy trên bàn mời sinh, mà những người bên dưới không ai biết gì cả.

Lát sau sinh thấy chỗ bàn của một người áo đỏ có quít vàng, bảo ông già xuống lấy, ông già nói:

- Đó là bậc chính nhân, ta không tới gần được.

Sinh nghĩ thầm vậy mà hồ chơi với mình, ắt mình là kẻ gian tà, từ nay về sau phải thay đổi tính nết.

Vừa nghĩ tới đó thì thấy không tự chủ được nữa, hoa mắt rơi xuống dưới, khách khứa bên dưới cả sợ, kêu ầm lên là yêu quái.

Sinh ngẩng lên nhìn thì bên trên không phải là lầu, mà là xà nhà.

Bèn kể hết sự thật, mọi người căn vặn thấy đúng, cho tiền trở về.

Sinh hỏi thì ra đó là ở huyện Ngư Đài (tỉnh Sơn Đông), cách Hà Gian cả ngàn dặm.

____________________________________

CHƯƠNG 375: ĐỖ ÔNG

Ngộ Bị Câu Hồn Hướng Dạ Đài

Quy Đồ Để Sự Thượng Bồi Hồi

Khuyến Quân Thả Hợp Khan Hoa Nhãn

Mạc Tái Khiên Liên Nhập Lạp Lai

Dịch:

Lầm Bị Câu Hồn Xuống Dạ Đài

Đường Về Sao Lại Cứ Bồi Hồi

Khuyên Ai Nhắm Mắt Xem Hoa Lại

Kẻo Nữa Khiên Liên Chui Rọ Thôi



Ông họ Đỗ người huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông), ngẫu nhiên đi chơi chợ ra, ngồi xuống dưới bức tường chờ bạn.

Thấy người hơi mỏi mệt, chợt như thiu thiu ngủ, thấy một người cầm công văn bắt đi, tới một dinh thự xưa nay chưa từng biết.

Có một người đội mão lóng lánh từ trong đi ra, thì là Trương Mỗ ở Thanh Châu, vốn là bạn cũ.

Trương thấy Đỗ hoảng sợ nói:

- Sao Đỗ đại ca lại tới đây?

Đỗ đáp không biết chuyện gì mà bị bắt.

Trương ngờ là lầm, trở vào tra xét, lại dặn:

- Ông đứng yên đây đừng đi đâu, sợ là lạc đường một phen thì khó cứu đấy.

Rồi đi vào trong hồi lâu không ra, chỉ có người cầm công văn trở ra, tự nhận là bắt lầm, thả Đỗ ra bảo về.

Đỗ chào đi ra, trên đường thấy có sáu bảy cô gái dung mạo xinh đẹp, thích quá bèn theo sau.

Xuống khỏi đường lớn rẽ vào hẻm nhỏ, đi được mười mấy bước thì nghe Trương gọi lớn phía sau:

- Đỗ đại ca, ngươi đi đâu đấy?

Nhưng vẫn luyến tiếc không dừng lại.

Chợt thấy các cô gái bước xuống một cái hang nhỏ, biết đây là nhà họ Vương bán rượu, bất giác thò người vào nhìn quanh, thì thấy mình đang trong chuồng, nằm cùng với một bầy heo con, chợt hiểu là mình đã biến thành heo rồi.

Nhưng tai còn nghe tiếng Vương gọi, hoảng sợ, vội lấy đầu húc vào vách, nghe tiếng người nói:

- Con heo con này điên rồi!

Quay ra thấy đã lại là người, vội chạy mau trở lại, thì Trương đang chờ trên đường, trách rằng:

- Đã dặn là đừng đi đâu, sao anh không nghe?

Suýt nữa thì có chuyện không hay rồi.

Rồi nắm tay Đỗ dắt tới cửa chợ mới chào đi.

Đỗ chợt tỉnh dậy, thấy mình vẫn còn ngồi dựa vào tường.

Tới nhà họ Vương hỏi, quả có một con heo con húc đầu vào tường mà chết.

____________________________________

CHƯƠNG 376: LÂM THỊ

Hoạn Nạn Đồng Kinh Thệ Bất Vi

Hải Đường Kháng Tiện Thực Thâm Vi

Khuê Nhân Diệu Hữu Di Hoa Thuật

Ngọc Tuyết Song Nhi Tịnh Tái Quy

Dịch:

Hoạn Nạn Cùng Qua Giữ Ước Thề

Hải Đường Không Để Lọt Thâm Vi

Khuê Phòng Có Thuật Di Hoa Khéo

Ngộn Ngộn Hai Con Bỗng Trở Về



Thích An Kỳ ở huyện Tế Nam (tỉnh Sơn Đông) vốn là người phóng túng dông dài, thích lui tới chơi bời ở kỹ viện, vợ năn nỉ khuyên can nhiều lần vẫn không nghe.

Vợ là Lâm thị, xinh đẹp mà hiền thục, gặp lúc quân Bắc vào cướp bị bắt đi, đêm ngủ lại trên đường, tên lính muốn cưỡng hiếp, Lâm thị giả ưng thuận.

Tên lính tháo đao để lên đầu giường, nàng chụp dao cắt cổ tự tử, tên lính vác xác ném ra đồng, hôm sau nhổ trại rút đi.

Có người nói là Lâm thị đã chết, Thích đau xót tìm tới, thấy nàng còn khẽ thở, bèn vác về.

Qua ngày sau thì cựa mình, dần dần rên rỉ.

Thích đỡ lấy cổ, đút ống tre nhỏ nước cho uống, vẫn nuốt xuống được.

Thích vỗ về nói:

- Nếu nàng sống được, ta mà phụ sẽ bị chết chém.

Nửa năm Lâm thị bình phục như cũ, nhưng đầu bị niễng vì cổ có vết sẹo.

Thích vẫn không cho là xấu, yêu mến còn hơn xưa, từ đó không bao giờ chơi bời đi ngang về tắt nữa.

Lâm thị tự cho là mình xấu, định mua thiếp cho chồng nhưng Thích nhất định không chịu.

Được mấy năm, Lâm thị không sinh nở, lại khuyên chồng cưới thêm tỳ thiếp.

Thích đáp:

- Đã thề không phụ nhau, chẳng lẽ quỷ thần không nghe thấy sao?

Cho dù không có con nối dõi thì đó cũng là số phận của ta, còn nếu chưa tới nỗi thế, thì chẳng lẽ từ nay đến già nàng không sinh con được à?

Lâm thị bèn thác cớ có bệnh, để Thích ngủ một mình, sai tỳ nữ là Hải Đường tới ngủ dưới giường, lâu sau ngầm hỏi, người tỳ nữ đáp không có chuyện gì.

Lâm không tin, đến đêm bảo người tỳ nữ đừng đi, rồi tới nằm vào chỗ ấy.

Giây lát, nghe trên giường có tiếng ngáy, rón rén trở dậy, leo lên giường mò mẫm.

Thích tỉnh giấc hỏi ai, Lâm thị nói khẽ:

- Ta là Hải Đường mà!

Thích đẩy ra nói:

- Ta đã có lời thề rồi nên không dám thay đổi, chứ như năm trước thì cần gì cô phải tự tới đây?

Lâm thị bèn xuống giường đi ra.

Thích từ đó cứ ngủ một mình, Lâm thị sai người tỳ nữ giả làm mình mò vào, Thích nghe vợ xưa nay không bao giờ tự tìm tới với chồng, ngờ vực sờ lên cổ không thấy vết sẹo, biết là người tỳ nữ, lại đuổi đi, người tỳ nữ thẹn lui ra.

Đến sáng, Thích đem chuyện kể lại, bảo Lâm thị mau gả chồng cho người tỳ nữ, Lâm thị cười nói:

- Chàng không cần cố chấp như vậy, nếu nó lấy được một người chồng như chàng thì cũng may lắm.

Thích nói:

- Nếu phụ lời thề thì quỷ thần phạt ngay, lại còn mong có con nối dõi được à?

Hôm sau Lâm thị cười nói với Thích rằng:

- Phàm nhà nông thì có gặt được gì hay không không biết, chỉ biết là đến mùa thì phải cày cấy gieo trồng, đêm nay là tới kỳ cày cuốc rồi đấy?

Thích hiểu ý cười.

Đêm tới, Lâm thị tắt đèn, bảo người tỳ nữ vào nằm ở giường mình.

Thích vào còn đùa nói:

- Người cày tới rồi đây!

Xong rồi, người tỳ nữ giả trở dậy đi rửa ráy, để Lâm thị vào nằm.

Từ đó cứ thế làm mà Thích vẫn không biết.

Không bao lâu người tỳ nữ có mang, Lâm thị cứ sai nghỉ ngơi, không cho qua lại làm việc trước mặt Thích.

Rồi giả hỏi rằng:

- Thiếp khuyên lấy tỳ thiếp, mà chàng không nghe, nếu mai đây cho giả mạo thiếp lừa chàng, đến khi có mang thì làm sao?

Thích đáp:

- Giữ con bán mẹ!

Lâm thị im lặng.

Không bao lâu, người tỳ nữ sinh được một con trai, Lâm thị ngầm thuê vú nuôi, bế về nuôi ở nhà mẹ.

Được bốn năm năm, lại sinh thêm một trai một gái.

Con trai lớn tên Trường Sinh, được bảy tuổi, theo học ở nhà ông ngoại*.

Lâm thị cứ nửa tháng một lần nói thác về thăm cha mẹ để chăm sóc.

Người tỳ nữ càng lớn tuổi, Thích vẫn giục gả chồng đi, Lâm thị cứ ậm ừ.

Người tỳ nữ hàng ngày nhớ thương con, Lâm thị theo ý, làm như gả bán, đưa về nhà mẹ, nói với Thích rằng:

- Chàng cứ nói thiếp không chịu gả Hải Đường, nay mẹ thiếp có con trai nuôi, nên cho cưới nó.

*[Ông ngoại: tức cha Lâm thị, vì ngày xưa con vợ lẽ cũng phải coi vợ lớn của cha hơn mẹ ruột].

Lại vài năm sau, con trai con gái đều lớn.

Sắp tới ngày sinh nhật của Thích, Lâm thị chuẩn bị yến tiệc để mời bạn bè khách khứa, Thích than rằng:

- Năm tháng qua mau, chợt đã nửa đời rồi, may mà còn khỏe mạnh, trong nhà cũng không tới nỗi đói rét, chỉ thiếu một đứa con trai dưới gối mà thôi.

Lâm thị nói:

- Chàng cứ cố chấp không nghe lời thiếp, bây giờ còn oán hờn ai?

Có điều muốn có con trai thì hai đứa cũng chẳng khó, huống chi là một?

Thích cười nói:

- Nếu nói không khó, thì ngày mai xin mừng cho hai đứa con trai.

Lâm thị nói dễ mà.

Sáng dậy sớm, sai đem kiệu về nhà cha mẹ, cho các con ăn mặc chỉnh tề đưa hết cả về.

Vào nhà, sai đứng xếp hàng gọi cha, cúi đầu chúc thọ, lạy xong đứng dậy, nhìn nhau cười hì hì.

Thích kinh ngạc chẳng hiểu gì, Lâm thị nói:

- Chàng đòi mừng hai con trai, thiếp còn thêm một con gái đấy.

Rồi mới kể hết đầu đuôi.

Thích mừng rỡ hỏi:

- Sao không nói sớm?

Lâm thị đáp:

- Nói sớm thì sợ chàng bỏ mẹ chúng.

Nay con trai đã lớn, có bỏ mẹ chúng mà được à?

Thích xúc động rơi nước mắt, bèn đón người tỳ nữ về, cùng sống với nhau đến già.

Ngày xưa mà có người vợ hiền như Lâm thị, thì đã gọi là thánh rồi.

____________________________________

CHƯƠNG 377: ĐẠI THỬ

CHUỘT TO

Quyệt Nộ Đằng Trịnh Thế Nan Hưu

Cự Thủ Kim Triều Cánh Đoạn Hầu

Bỉ Xuất Tắc Quy Quy Tắc Xuất

Tiếu Tha Chung Bị Địch Nhân Mưu

Dịch:

Vồ Chồm Nhảy Nhót Cứ Nhè Nhau

Chuột Lớn Hôm Nay Bị Đứt Hầu

Nó Tiến Thời Lui, Lui Lại Tiến

Bật Cười Nó Bị Mắc Cơ Mưu



Trong niên hiệu Vạn Lịch thời Minh (1573-1619) trong cung có con chuột to bằng con mèo, cắn phá rất dữ.

Sai tìm những mèo giỏi trong dân gian về để trị, đều bị nó ăn thịt.

Gặp lúc nước ngoài tới cống con mèo sư tư, lông trắng như tuyết, bèn thả vào gian phòng có chuột, đóng cửa lại núp bên ngoài xem.

Mèo ngồi hồi lâu thì chuột từ trong hang lắc lư bò ra, thấy mèo bèn giận dữ xông tới.

Mèo nhảy tránh lên ghế, chuột cũng đuổi theo lên, mèo lại nhảy xuống đất, cứ như thế mãi không biết mấy trăm lần.

Mọi người bên ngoài có kẻ nói mèo nhát sợ, cho rằng không sao trừ được chuột.

Kế đó chuột đuổi chậm dần, phệ bụng ra thở dốc, ngồi xuống đất tạm nghỉ.

Mèo lập tức phóng nhanh xuống, vả vào cổ, cắn vào đầu chuột.

Vật lộn một lúc, nghe tiếng mèo vang vang, tiếng chuột khò khè, mọi người mở cửa vào xem, thì đầu chuột rách nát ra rồi.

Mới biết trước đó mèo né tránh không phải là nhát sợ, mà là chờ cho chuột mệt mỏi vậy.

Nó ra thì vào, nó vào thì ra, khôn ngoan như thế mà thôi.

Ôi, kẻ thất phu cậy sức mạnh có khác gì con chuột kia đâu!
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 378+379+380+381


CHƯƠNG 378: HỒ ĐẠI CÔ

Thủy Mễ Vô Can Cánh Kiến Xâm

Nguyện Vi Nhân Phụ Diệc Hà Tâm

Tử Cô Tác Quái Kê Năng Ngữ

Thiên Chuyển Châu Liên Cánh Bị Cầm

Dịch:

Vô Can Gạo Nước Cũng Xen Vào

Tự Nguyện Làm Dâu Chẳng Ngượng Sao?

Tác Quái Tử Cô Gà Biết Nói

Châu Liên Bị Bắt Chẳng Oan Nào



Nhà Nhạc U Cửu ở huyện Ích Đô (tỉnh Tứ Xuyên) bị hồ quấy phá, quần áo vật dùng cứ bị ném qua nhà hàng xóm.

Nhà có cuộn vải mịn lấy ra định may quần áo, thấy dây buộc vẫn như cũ mà mở ra thì bên ngoài còn nguyên nhưng ở trong nát bét, bị xé vụn ra từng mảnh từng mảnh, đại khái cứ phá phách như thế.

Người nhà chịu không nổi chửi rủa ầm lên, Nhạc ngăn lại, nói coi chừng hồ nghe.

Hồ ở trên xà nhà lên tiếng:

- Ta đã nghe thấy rồi!

Từ đó lại phá phách tệ hại hơn.

Một hôm hai vợ chồng Nhạc ngủ chưa dậy, hồ vào vơ ráo cả quần áo đi.

Hai người cứ trần truồng ngồi co ro trên giường nhìn lên trời khấn khứa thảm thiết.

Chợt có cô gái từ cửa sổ chui vào ném trả quần áo lên giường, nhìn thấy không cao lớn lắm, mặc quần áo đỏ.

Nhạc mặc xong quần áo chắp tay nói:

- Thượng tiên có lòng giáng lâm, xin đừng quấy phá, hãy làm con nuôi của ta được không?

Hồ đáp:

- Tuổi ta còn lớn hơn ngươi, sao dám láo lếu tự Tôn như vậy hả?

Nhạc lại xin làm chị em gái, hồ ưng thuận, từ đó sai gia nhân gọi là cô Hai hồ.

Lúc ấy công tử họ Trương thứ tám ở Nhan Trấn có hồ ở trên lầu, thường chuyện trò với người.

Nhạc hỏi có quen biết không, hồ đáp:

- Đó là chị dâu của ta, sao lại không quen biết?

Nhạc nói:

- Chị dâu ngươi không quấy phá người, sao ngươi không học theo như thế?

Hồ không nghe, vẫn phá phách như cũ, nhưng không phá ai khác mà chỉ phá con dâu của Nhạc.

Giày tất trâm vòng cứ đem vứt ra đường, tới bữa ăn thì cứ thấy trong chén có chuột hoặc cứt đái, người con dâu của Nhạc cứ ném bát chửi con đĩ hồ chứ không khấn khứa cầu xin gì cả.

Nhạc khấn:

- Các cháu trong nhà đều gọi là cô sao ngươi lại cư xử không ra bậc Tôn trưởng như vậy?

Hồ nói:

- Ngươi bảo con trai ngươi bỏ vợ, để ta làm dâu ngươi thì mới ở yên được.

Người con dâu chửi:

- Con đĩ hồ không biết xấu hổ, định giành chồng của người ta à?

Lúc ấy người con dâu đang ngồi trên cái rương quần áo, chợt thấy khói dày đặc từ dưới bốc lên nóng bỏng như lửa, mở ra xem thì quần áo trong rương đều đã cháy hết, còn sót lại một hai cái đều là quần áo của mẹ chồng.

Nhạc bảo con bỏ vợ, đứa con không chịu, qua mấy hôm lại thúc giục, đứa con cũng vẫn không chịu.

Hồ tức giận lấy đá ném vỡ trán đứa con, máu chảy đầm đìa suýt ngất, Nhạc càng lo sợ.

Thời bấy giờ ở Tây Sơn có Lý Thành Hào giỏi bùa chú, Nhạc đem lễ vật tới mời về.

Lý lấy bột vàng vẽ lên vải đỏ làm bùa, ba ngày mới xong.

Lại lấy kính buộc lên đầu lá bùa, ghép cán vào đem soi khắp nhà, sai đồng nam nhìn theo, bảo thấy gì thì nói ngay.

Tới một chỗ, đứa nhỏ nói trên tường như có con chó nằm, Lý chỉ tay vào chỗ ấy vẽ bùa, kế bước ra sân niệm thần chú một lúc, lập tức chó heo trong nhà kéo tới cụp tai vẫy đuôi như chờ nghe lệnh.

Lý xua tay bảo đi, chúng lại nhao nhao xếp hàng trở ra.

Lý lại niệm thần chú, bầy vịt lập tức kéo tới, Lý lại xua ra.

Kế tới bầy gà, Lý chỉ vào một con quát lớn, cả bầy tan đi chỉ riêng con gà ấy nằm lại, xếp cánh kêu lớn:

- Ta không dám thế nữa!

Lý nói:

- Có con vật này là vì trong nhà bện hình Tử Cô đây.

Người nhà đều nói là không có làm.

Lý nói:

- Tử Cô đang còn trong nhà mà?

Mọi người cùng nhớ lại, sực nghĩ ra ba năm trước có chơi đùa bện hình Tử Cô, mọi việc quái dị bắt đầu xảy ra từ hôm ấy.

*[Tử Cô: Nữ thần trong truyền thuyết nhân gian Trung Hoa, ngày xưa đêm rằm tháng giêng người ta thường chơi đùa lấy vải vụn hay rơm cỏ bện hình Tử Cô đưa lên cúng với bánh trái, trà rượu].

Tìm kiếm khắp nhà thì thấy hình nộm bằng cỏ vẫn còn trên rường.

Lý đem đốt đi rồi lấy một cái vò khấn khứa ba lần, quát lớn ba tiếng, con gà đứng dậy chui vào.

Mọi người nghe trong vò có tiếng nói:

- Họ Nhạc ác lắm, vài năm nữa sẽ gặp lại nhau.

Nhạc xin đốt cái vò, Lý không cho, mang đi.

Có người thấy trong nhà Lý có treo mấy mươi cái vò nút miệng trên tường, đều là nhốt hồ bên trong, nói rằng Lý cứ lần lượt thả ra cho chúng quấy phá thiên hạ rồi bắt lấy tiền, như là món hàng lạ vậy.

____________________________________

CHƯƠNG 379: CHUYỆN LANG (1)

Ngư Nhân Thôn Bính Nhiếp Hàm Câu

Bất Tham Tăng Cánh Hiệu Vưu

Hóa Cách Hữu Kim Vô Ý Đắc

Tiếu Nhân Hà Sự Chấp Tiên Cầu

Dịch:

Cá Bởi Tham Mồi Vướng Lưỡi Câu

Lang Tham Cũng Lại Khác Chi Đâu

Bản Da Bỗng Trở Nên Giàu Có

Hà Tất Cầm Roi Cố Ý Cầu



Có người đồ tể bán thịt về, trời đã xế chiều, một con sói theo sát, hít hít giỏ thịt chảy cả nước dãi.

Cứ từng bước từng bước lẽo đẽo theo suốt mấy dặm, y sợ rút dao ra thì nó sẽ làm dữ, nhưng đã rảo chân chạy mà nó vẫn đuổi theo.

Y không biết làm sao, nhưng nghĩ thầm con sói muốn ăn thịt, chẳng bằng cứ treo giỏ thịt lên cây rồi mai ra lấy.

Bèn lấy móc sắt móc giỏ thịt nhón chân máng lên cành cây.

Thấy y không còn mang giỏ thịt, sói bèn dừng lại, y vội đi tắt về nhà.

Sáng sớm ra lấy thịt, thấy trên cây có một vật lớn lơ lửng giống hệt người chết treo, y cả sợ rón rén tới gần nhìn thì ra là con sói đã chết.

Ngẩng lên nhìn kỹ, thấy trong miệng nó còn ngậm thịt mà bị cái móc sắt móc vào hàm trên như cá mắc câu.

Lúc ấy da sói đang có giá, y bán được hơn mười đồng vàng, gia cảnh trở nên dư dật.

Đúng là chuyện bắt cá trên cây, câu được con sói kể cũng buồn cười.

____________________________________

CHƯƠNG 380: CHUYỆN LANG (2)

Tiền Hậu Phân Binh Nghĩ Giáp Công

Lương Lang Tâm Kế Diệc Thù Công

Thùy Tri Bất Xuất Đồ Nhi Thủ

Nhất Thiếp Đao Quang Huyết Nhiễm Hồng

Dịch:

Sau Trước Chia Quân Định Giáp Công

Hai Lang Mưu Kế Diệu Vô Cùng

Dè Đâu Khôn Thoát Tay Đồ Tể

Một Phút Dao Đưa Máu Nhuộm Hồng



Một người đồ tể buổi chiều bán thịt về, trong giỏ không còn thịt mà chỉ có mớ xương thừa, trên đường gặp hai con sói cứ theo sát.

Y sợ, ném lại một cục xương, một con dừng lại ăn còn con kia cứ bám theo.

Lại ném thêm cục xương, con này dừng lại ăn thì con kia đã ăn xong, lại tới sát, cứ thế một hồi, mớ xương trong giỏ đã hết sạch mà hai con sói vẫn đuổi theo.

Y sợ quá, lại lo hai con từ hai phía tấn công, thấy trên đồng có sân phơi lúa, trong sân có rơm cỏ chất thành đống, bèn chạy mau tới dựa lưng vào đó, rút dao ra, hai con sói không dám xông vào, cứ đứng gầm ghè nhìn.

Giây lát một con sói bỏ đi, một con vẫn ngồi trước mặt y, hồi lâu thì nhắm mắt thiu thiu ngủ như là vô sự.

Y vọt mau ra chém đầu nó, bồi thêm mấy nhát giết chết luôn.

Đang định đi tiếp, vòng ra phía sau đống rơm cỏ thì con sói kia đang đào một cái hang định tấn công phía sau, đã lọt hết vào hang chỉ còn ló khúc đuôi.

Y chém đứt chân nó, giết chết luôn.

Lúc ấy mới hiểu rằng con sói phía trước vờ ngủ là để dụ địch, loài sói cũng giảo quyệt thật.

Nhưng trong chớp mắt cả hai con đều bị giết, cầm thú gian giảo thì được bao lăm, chỉ làm trò cười mà thôi.

____________________________________

CHƯƠNG 381: CHUYỆN LANG (3)

Mao Chiêm Tiềm Phục Thượng Kinh Xai

Lang Túc Cư Nhiên Phá Bích Lai

Nại Hữu Cựu Truyền Duy Thỉ Pháp

Áp Kiên Thả Hỉ Tấu Công Hồi

Dịch:

Phục Im Đống Cỏ Vẫn E Dè

Cào Vách Chân Lang Động Thoảng Nghe

Nhờ Có Thuật Riêng Quen Thổi Lợn

Thổi Lang Bất Động Trói Đem Về



Một người đồ tể đi đường lúc sẩm tối, bị sói đuổi, thấy bên đường có cái chòi của người cày ruộng dùng để nghỉ trưa, bèn chạy vào núp.

Con sói thò chân qua vách lá quờ quờ, y vội chụp lấy giữ chặt song nhìn quanh không có vật gì để giết chết nó.

Mò được con dao ngắn không đầy một tấc, bèn cắt hết lớp da dưới bàn chân con sói, rồi ra sức thổi theo như lối thổi heo quay.

Lát sau thấy con sói không vùng vẫy cử động gì nữa, y mới cởi thắt lưng buộc chân nó vào vách rồi ra nhìn, thì con sói đã phình to như con bò, chân thẳng đuột ra không co lại được, miệng cứ há hốc, bèn vác nó về.

Thật nếu không phải là người làm nghề đồ tể thì không sao nghĩ ra cách ấy được.

Ba chuyện trên đều là chuyện của đồ tể thì sự tàn nhẫn của kẻ đồ tể cũng đắc dụng trong việc giết sói vậy.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 382+383+384+385


CHƯƠNG 382: DƯỢC TĂNG

Phòng Trung Đan Dược Diệc Kỳ Tai

Bộ Kinh Di San Chuyên Khả Ái

Ngã Hữu Cuồng Ngôn Cung Nhất Hước

Bất Như Thả Tác Tự Nhân Lai

Dịch:

Thuốc Phòng Trung Bí Lạ Lùng Không

Vướng Vấp Chân Đi Thực Khốn Cùng

Ta Có Một Câu Đùa Nửa Thực

Không Bằng Làm Kẻ Bị Hình Cung



Mỗ người huyện Tế Ninh (tỉnh Sơn Đông) ngẫu nhiên đi chơi tới một ngôi chùa ngoài đồng, gặp một nhà sư vân du đang ngồi ngoài nắng bắt rận, trên đầu thiển trượng treo cái hồ lô như người bán thuốc.

Mỗ đùa hỏi:

- Hòa thượng có bán thuốc dùng vào việc trong phòng không?

Nhà sư đáp:

- Có loại thuốc làm yếu hóa mạnh, nhỏ hóa to, công hiệu lập tức khỏi chờ qua đêm.

Mỗ mừng rỡ nài mua, nhà sư tháo vạt áo lấy ra một viên thuốc to bằng hạt ngô bảo nuốt.

Chờ khoảng nấu sôi nồi cơm thì Mỗ thấy vật kín đột nhiên to hẳn lên, mò xem thấy đã to gấp ba lúc trước.

Lòng vẫn chưa thỏa, bèn rình lúc nhà sư đi tiểu lén mở vạt chiếc áo lấy hai ba viên nữa nuốt hết.

Trong khoảnh khắc thấy trong bụng đau như xé, gân thịt co cả lại, cổ rút lưng khòm, mà vật kín cứ dài to ra mãi không thôi, kinh hoàng nhung không biết làm sao.

Nhà sư quay lại trông thấy bộ dạng Mỗ phát hoảng nói:

- Chắc ông đã uống trộm thuốc của ta rồi?

Vội đưa một viên thuốc cho uống, Mỗ mới thấy vật kín không dài ra thêm nữa.

Cởi áo ra xem thì thấy đã to suýt soát bằng hai đùi, như ba cái chân vạc vậy.

Bèn rụt cổ khệ nệ lặc lè trở về, cha mẹ đều không nhận ra, từ đó trở thành kẻ vứt đi, lê la ăn xin ngoài đường, rất nhiều người trông thấy.

____________________________________

CHƯƠNG 383: NGỰ Y

Hữu Mẫu Thanh Xuân Phú Bách Chu

Biểu Chương Tiềm Đức Nại Vô Do

Loan Phong Cánh Vị Hùng Bàn Ngộ

Oán Khí Ưng Tru Dật Cửu U

Dịch:

Mẹ Nửa Chừng Xuân Vịnh Bách Chu

Mong Nêu Tiềm Đức Dụng Tâm Lâu

Loan Phong Lỡ Dở Do Hùng Chưởng

Oán Khí Tràn Đầy Tới Cửu U



Trong niên hiệu Vạn Lịch thời Minh (1573-1619) có Bình sự họ Tôn mồ côi cha từ nhỏ, mẹ mới mười chín tuổi ở vậy nuôi con.

Lúc Tôn đỗ Tiến sĩ thì mẹ đã mất, thường nói với mọi người rằng:

- Thế nào ta cũng phải xin được cáo mệnh để làm rạng rỡ cho người dưới suối vàng, mới có thể đền đáp được công lao vất vả của mẫu thân.

Chợt Tôn mắc bạo bệnh ngày càng nặng.

Tôn vốn chơi thân với quan Ngự y nên sai người qua mời, người đi mời vừa ra khỏi cửa thì bệnh Tôn đã nguy kịch, trợn mắt nói:

- Sống mà không nêu cao được thanh danh để làm rỡ ràng cha mẹ, còn mặt mũi nào nhìn thấy mẹ già ở suối vàng?

Rồi tắt thở, mắt vẫn mở to.

Không bao lâu quan Ngự y tới, nghe tiếng khóc lóc vội vào thăm hỏi, thấy tình trạng Tôn như thế lấy làm lạ.

Người nhà kể lại, Ngự y nói:

- Muốn cha mẹ được phong tặng cũng không phải là khó.

Hiện nay Hoàng hậu sắp lâm bồn, chỉ cần sống thêm mười ngày nữa thì có thể được ban cáo mệnh.

Rồi lập tức lấy ngải đốt vào mười tám huyệt trên cái xác, lửa vừa tàn thì Tôn rên lên, vội đổ thuốc cho uống, Tôn liền sống lại.

Ngự y dặn:

- Phải nhớ kỹ là không được ăn thịt cọp thịt gấu, người nhà cũng đừng quên.

Nhưng Tôn lại cho rằng những thức ấy hiếm khi có, nên cũng không để ý lắm.

Ba ngày sau thì bình phục, lại vào triều làm việc.

Qua sáu bảy ngày nữa, quả nhiên Hoàng hậu sinh được Thái tử, vua triệu các quan vào cho ăn tiệc mừng.

Nhà bếp nấu món ăn lạ đưa lên, vua sai ban cho các quan văn võ theo thứ tự trên dưới, món ăn trắng tươi như khối mỡ có chỉ đỏ chạy bên trong, thơm ngon không gì sánh bằng, Tôn ăn mà không biết là thứ gì.

Hôm sau hỏi bạn đồng liêu, họ đáp:

- Đó là tay gấu!

Tôn cả kinh thất sắc, bệnh cũ lại phát, về tới nhà thì chết.

*[Cáo mệnh: ngày xưa quan lại có công hay giữ chức lớn thường được triều đình phong tặng chức hàm cho cha mẹ, văn bản phong tặng ấy gọi là cáo mệnh].

*[Hiện nay hoàng hậu sắp lâm bồn... cáo mệnh: cả câu ý nói có thể hoàng hậu sẽ sinh con trai, nhân dịp vui mừng này của hoàng gia có thể triều đình sẽ phong tặng cho cha mẹ các quan].

____________________________________

CHƯƠNG 384: NÔNG PHỤ

Lân Bần Bất Tích Thí Quần Cái

Tật Ác Khoan Tri Thát Tị Ngưu

Chính Khí Cư Nhiên Tí Cân Quắc

Tức Luân Dũng Kiện Dĩ Vô Trù

Dịch:

Thương Nghèo Gặp Dịp Thường Chu Cấp

Ghét Ác Còn Khu Đánh Tị Khưu

Chính Khí Đã Đành Hơn Bạn Gái

Dù Cho Nam Giới Dễ Bằng Đâu



Làng Từ Diêu phía tây huyện có người đàn bà nhà quê khỏe mạnh như đàn ông, thường cứu giúp kẻ hoạn nạn, can ngăn chuyện xích mích trong làng, ở khác huyện với chồng.

Chồng là người huyện Cao Uyển (tỉnh Sơn Đông), thỉnh thoảng mới ghé, ngủ một đêm rồi đi.

Người đàn bà tự làm lụng kiếm ăn, làm nghề thồ đồ gốm đi bán, nếu có hôm dư dật thì cho đám ăn xin.

Một đêm đang ngồi chơi nói chuyện với hàng xóm, chợt đứng dậy nói:

- Thấy bụng hơi đau, chắc sắp sinh rồi.

Rồi chào về.

Trời sáng, người đàn bà hàng xóm qua thăm, thấy nàng vác hai cái khạp đụng rượu lớn đang bước vào cửa, theo vào tới phòng trong thì có đứa bé mới sinh nằm trên giường, hoảng sợ hỏi thì nàng vừa sinh xong đã mang vật nặng đi hàng trăm dặm.

Người đàn bà vốn thân thiết với người cô ở am bắc, kết nghĩa làm chị em với nhau.

Sau nghe người cô làm điều xấu xa, giận dữ vác gậy qua định đánh cho một trận, mọi người xúm vào năn nỉ hết lời mới thôi.

Một hôm gặp người cô trên đường, người cô dè bỉu hỏi ta có tội gì?

Nàng cũng không đáp, cứ đánh đá như mưa, đến khi người cô không kêu được nữa mới tha cho bỏ đi.

__

TRUYỆN PHỤ: KIẾM HIỆP NỮ ẨN NƯƠNG TRUYỆN

Nhiếp Ẩn nương là con gái Đại tướng Ngụy Bác Nhiếp Phong trong niên hiệu Trinh Nguyên thời Đường (785-804).

Năm nàng mười tuổi có người người cô khất thực ở nhà Phong, nhìn thấy Ẩn nương rất thích, hỏi xin Phong.

Phong tức giận, người cô nói:

- Cho dù có cất kín trong hòm sắt ta cũng bắt trộm được.

Đến đêm thì Ẩn nương mất tích.

Năm năm sau người cô đưa Ẩn nương về gia đình hỏi được dạy gì, nàng đáp:

- Đầu tiên sư phụ cho con uống một viên thuốc, sai cầm kiếm đuổi chém khỉ vượn cọp beo, đều chặt đứt đầu.

Được ba năm thì đâm chim cắt, chim ưng, nhát nào cũng trúng.

Được bốn năm thì có đâm người trong chợ giữa ban ngày cũng không ai trông thấy ánh kiếm.

Được năm năm thì sư phụ mở cho một cái hốc sau đầu, giấu lưỡi chủy thủ vào đó, lúc nào dùng thì tuốt ra.

Nhân đó lại nói với con rằng: “Kiếm thuật của ngươi đã thành tựu rồi, nên trở về nhà, rồi đưa con về.

Lại dặn rằng về tới nhà, gặp chàng trẻ tuổi làm nghề mài gươm thì lấy làm chồng".

Trong niên hiệu Nguyên Hòa (806- 828), Thống súy Ngụy Bác có hiềm khích với Tiết độ sứ Trần Hứa là Lưu Xương Duệ, sai Ẩn nương tới giết Lưu.

Lưu biết trước là Ẩn nương sẽ tới bèn ra đón, Ẩn nương nói:

- Quan Bộc xạ ở đây tả hữu không có người, ta xin bỏ bên kia theo ông.

Đại khái nàng biết Thống súy Ngụy Bác không bằng Lưu vậy.

Kế Lưu từ đất Hứa về kinh bái kiến Thiên tử, Ẩn nương không chịu theo, về sau không biết là đi đâu.

____________________________________

CHƯƠNG 385: QUÁCH AN

Oan Sát Đô Do Nhất Mộng Lai

Trung Niên Táng Tử Diệc Kham Ai

Cửu Nhân Cánh Tác Minh Linh Vịnh

Chiết Ngục Tòng Tri Hữu Biệt Tài

Dịch:

Lỡ Giết Oan Do Một Giấc Mơ

Trung Niên Con Chết Đáng Rầu Chưa

Kẻ Thù Lại Vịnh Minh Linh Nhỉ

Xử Án Tài Cao Mới Thấy Giờ



Tôn Ngũ Lạp có đứa tiểu đồng đêm ngủ một mình, chập chờn thấy có người tới bắt đi.

Tới một cung điện, thấy Diêm Vương ở trên nhìn nó nói:

- Lầm rồi, không phải người này!

Bèn sai đưa về.

Nó tỉnh dậy sợ quá, dời sang ngủ chỗ khác.

Lại có người đầy tớ là Quách An thấy giường trống bèn lên nằm ngủ.

Có một người đầy tớ khác là Lý Lộc vốn ghét đứa tiểu đồng bèn chém chết.

Cha Quách An lên kêu khóc với quan huyện, lúc ấy Trần Kỳ Thiện làm Tri huyện lại cứ thản nhiên như không, cha Quách kêu gào thảm thiết nói:

- Nửa đời mới có được một thằng con trai, bây giờ ta biết làm sao để sống?

Trần bèn phán vậy thì nhận Lý làm con để nó nuôi, cha Quách đành ngậm đắng nuốt cay trở về.

Chuyện đứa tiểu đồng thấy ma thật không lạ, lối họ Trần xử án mới thật là lạ.

Vương Ngư Dương nói Tri huyện Tân Thành Trần Đoan Am Ngưng tính nhân từ nhu nhược không quyết đoán.

Có Vương sinh tên Dự Triết cho người ta thuê nhà, lâu ngày không được trả tiền, bèn kiện lên quan.

Trần không xử được, chỉ nói:

- Kinh Thi có câu Chim thước có tổ, chim cưu vào ở, ngươi cứ làm chim thước là được.

Huyện Tây đất Tế (tỉnh Sơn Đông) có kẻ giết người, vợ người chết kiện lên quan.

Huyện lệnh tức giận, lập tức bắt hung phạm tới, đập bàn mắng:

- Người ta vợ chồng yên vui, ngươi lại làm chị ta góa chồng à?

Phải lập tức cưới chị ta, cho vợ ngươi góa chồng.

Rồi bắt hai người lấy nhau.

Lối xử án sáng suốt ấy đều là việc các bậc Tiến sĩ đầu bảng làm, chứ kẻ xuất thân đường khác thì không sao làm được.

Trần cũng lè nhè như thế, ai không có tài năng chứ?
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 386+387+388+389


CHƯƠNG 386: NA NHA SƠN ĐỘNG

ĐỘNG NÚI NA NHA

Thạch Động U Thâm Thế Mạc Tri

Hảo Bằng Ban Quản Tả Ly Kỳ

Dạ Song Phong Vũ Kiêu Đăng Độc

Hiểm Tuyệt Tâm Dao Thủ Chiến Thì

Dịch:

Động Đá Thâm U Đời Chẳng Biết

Khéo Bằng Ngọn Bút Tả Ly Kỳ

Bên Song Mưa Gió Khêu Đèn Đọc

Tim Nhảy Tay Run Lúc Hiểm Nguy



Núi Tra Nha ở huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đông) có cái hang núi như miệng giếng, sâu xuống mấy thước, phía bắc của hang chạy ngầm theo dãy núi.

Gặp lúc có mấy người trong thôn bên cạnh nhân tiết Trùng dương (ngày chín tháng chín âm lịch) đi chơi, uống rượu ở đó rồi bàn nhau xuống xem thử.

Ba người đốt đuốc dong dây leo xuống, thấy hang to như cái nhà, đi được vài chặng thì hẹp dần lại, cuối vách hang lại có một cái huyệt sâu ngoằn ngoèo phải bò mới vào được.

Soi đuốc vào thấy tối om om mà sâu không biết tới đâu, hai người lo sợ bỏ ra, một người giật lấy đuốc cười hai người kia là nhát rồi chui vào.

Qua khỏi chỗ hẹp lại tới một đoạn rộng rãi có thể đứng thẳng, lại đi tiếp.

Trên nóc hang thì đá rủ xuống như sắp rơi mà không rơi, hai bên vách dụng thẳng, đá lô nhô như hình chùa miếu, có cả hình chim thú người quỷ.

Chim như đang bay, thú như đang chạy, người thì kẻ đứng kẻ ngồi, quỷ thì đủ dạng như đang tức giận, trông rất kỳ quái xấu xí, y rùng mình sợ hãi.

Qua khỏi một đoạn bằng phẳng, đi thêm vài trăm bước, thấy vách phía tây mở ra một cái thạch thất.

Bên trái có một khối đá mặt quỷ hình người đứng trợn mắt ngoác miệng, răng nanh lởm chởm trông rất dữ tợn, tay trái nắm thành quyền đặt ở hông, tay phải vươn năm ngón ra như bắt người.

Y vô cùng hoảng sợ, lông tóc dựng đứng cả lên.

Nhìn thấy trong cửa có đống tro, như có người từng tới đây, thấy yên tâm trở lại.

Bèn bước thẳng vào trong, lại nhìn thấy trên mặt đất có chén bát, trong đầy bụi bặm nhưng đều là những thứ gốm sứ gần đây chứ không phải là đồ cổ.

Cạnh đó có bốn cái bầu rượu bằng thiếc, y nảy lòng tham, bèn cởi dây lưng ra buộc đeo lên hông.

Kế lại thấy có một cái xác nằm ở góc phía tây, tay chân giang rộng, sợ lắm, nhưng dần dần tới gần nhìn kỹ, thấy chân mang hài nhỏ, vẫn còn vết chỉ thêu hoa mai, biết đó là một thiếu phụ.

Không rõ là người ở đâu, chết năm nào, quần áo đã mủn ra không nhận ra màu gì, mớ tóc xỏa tung như tơ rối đắp lên đầu lâu.

Chỗ mắt và mũi chỉ còn bốn cái hốc, hai hàm răng vẫn còn, trắng phau phau, y biết đó là miệng.

Lại nghĩ có thể trên đầu còn vật trang sức bằng vàng ngọc, bèn soi ngọn đuốc tới gần đầu lâu, thì như có hơi trong miệng thổi vào ngọn đuốc, ánh lửa cứ như chập chờn lay động, manh vải áo cũng lay lay.

Y cả kinh run tay, ngọn đuốc tắt phụt, nhưng còn nhớ đường vội chạy mau trở ra.

Không dám sờ lên vách, sợ đụng vào khối đá hình con quỷ nên húc đầu vào đá ngã lăn ra, vội chồm ngay dậy, thấy trên đầu ươn ướt lành lạnh, biết là máu nhưng không thấy đau, cũng không dám kêu.

Ra tới chỗ đáy huyệt, vừa nằm xuống để bò ra thì chợt thấy như có người nắm chặt lấy tóc, y sợ quá ngất đi luôn.

Mọi người bên ngoài chờ lâu quá, lấy làm ngờ vực, lại dòng dây thả hai người xuống.

Họ khom người chui vào, thấy y nằm sấp trên mặt đá, máu me bê bết, thân thể cứng đờ.

Hai người mất vía không dám tới gần, ngồi đó run rẫy.

Lát sau bên trên lại dòng dây thả thêm hai người nữa xuống, trong đó có kẻ gan dạ, mới dám chui hẳn vào kéo y ra đưa lên, nửa ngày mới tỉnh lại, kể rõ mọi việc.

Đáng tiếc là y chưa đi tới chỗ tận cùng, nếu đi tới ắt là thấy được nhiều cảnh đẹp chuyện lạ.

Sau quan huyện Chương Khâu nghe được chuyện, sai lấy đất đá lấp kín chỗ miệng huyệt, không ai vào được nữa.

Khoảng năm Khang Hy thứ 26, 27 (1677-1678) phía nam động Dương Mẫu bị lở sụt xuống, để lộ ra một cửa hang, nhìn vào thì thấy thạch nhũ san sát như rừng tre, không ai dám vào xem.

Chợt có người đạo sĩ tới tự xưng là đệ tử của Chung Ly Quyền* nói rằng thầy sai tới trước để dọn dẹp động phủ.

Người ở đó đưa cho đèn đuốc, đạo sĩ nhận lấy leo xuống, rơi lên đám thạch nhũ lởm chởm, bị đá đâm xuyên qua bụng mà chết.

Báo lên quan, qua cho lấp kín cửa hang.

Bên trong ắt có cảnh lạ, tiếc là đạo sĩ đã siêu thăng, không ai biết mà kể lại.

*[Chung Ly Quyền: người thời Đường, là một trong Bát tiên (tám vị tiên) theo truyền thuyết Trung Quốc, được giới đạo sĩ tu tiên luyện đạo trước kia thờ phụng như sư tổ].

___________________________________

CHƯƠNG 387: CON CHÓ CÓ NGHĨA

Khách Đồ Na Liệu Khởi Phong Ba

Nhất Niệm Tùy Tòng Thoát Võng La

Thế Sự Ưng Vi Hoàng Nhĩ Tiếu

Báo Ân Nhân Thiểu Phụ Ân Đa

Dịch:

Đường Xa Nào Tưởng Dậy Phong Ba

Một Nghĩ Nhân Từ Hoạn Nạn Qua

Thế Sự Đáng Buồn Thua Nghĩa Khuyển

Báo Ân Có Ít Phụ Ân Nhiều



Thôn Chu có người lái buôn đi buôn bán tới huyện Vu Hồ (tỉnh An Huy), được món lãi lớn, thuê thuyền trở về.

Ngang trên đê thấy có người đồ tể trói con chó toan giết, y trả tiền gấp đôi mua lấy, nuôi ở trong thuyền.

Chủ thuyền vốn là dân trộm cướp, thấy khách có nhiều tiền, bèn ghé vào bãi lau sậy vắng vẻ, rút đao định giết chết.

Y khẩn cầu xin được chết toàn thây, tên cướp bèn lấy chăn bó y lại ném xuống sông.

Con chó nhìn thấy, tru lên thảm thiết rồi nhảy theo xuống cắn chặt lấy bó chăn, theo dòng nước trôi mãi không biết bao xa mới dạt lên bờ.

Con chó ướt lướt thướt ngoi lên, chạy tới chỗ có người sủa oăng oẳng đau đớn có người lấy làm lạ đi theo nó, thấy bó chăn nổi dập dềnh giữa nước bèn kéo lên, cắt dây buộc.

Người khách buôn vốn chưa chết mới kể lại mọi chuyện.

Lại năn nỉ một người chủ thuyền ở đó đưa trở lại Vu Hồ, định chờ thuyền tên cướp trở lại.

Nhưng thuyền đi thì con chó lạc đâu mất, y rất thương tiếc.

Tới chỗ của sông Vu Hồ chờ ba bốn ngày, thấy thuyền bè san sát như rừng mà không thấy thuyền tên cướp đâu.

Vừa gặp người lái buôn cùng quê, đang định theo về, chợt con chó lần tới, nhìn y thở khìn khịt như gọi cùng đi, y bèn theo nó.

Con chó chạy mau lên một chiếc thuyền, nhảy chồm cắn vào đùi người chủ, dánh bao nhiêu nó cũng không nhả ra.

Người lái buôn tới gần quát nó nhả ra, thì ra đó là tên cướp trước đây, vì y đã thay đổi cả quần áo, sơn sửa lại thuyền nên không tìm ra được.

Mọi người trói y lại rồi khám thuyền, thì tiền bạc của y vẫn còn nguyên.

Than ôi, một con chó mà còn báo ơn tới như thế, những kẻ không có tâm can trên đời cũng nên xấu hổ với nó mới phải.

___________________________________

CHƯƠNG 388: DƯƠNG ĐẠI HỒNG

Hà Tu Xuy Toại Dữ Chu Tuyền

Hà Tất Tầm Kim Hướng Thủy Biên

Ngã Tiếu Đạo Nhân Đa Khách Khí

Thế Vô Trung Hiếu Bất Thần Tiên

Dịch:

Đâu Cần Thổi Địch Mới Chu Truyền

Đâu Phải Quăng Vàng Xuống Thủy Biên

Cười Đạo Nhân Sao Hay Khách Khí

Đời Không Trung Hiếu Chẳng Thần Tiên



Tiên sinh Dương Liên tự Đại Hồng(1) lúc còn hàn vi là bậc danh nho ở đất Sở (vùng Hồ Nam), tự cho rằng mình không phải là hạng tầm thường.

Sau kỳ thi hương, nghe có người báo danh sách thi đỗ, lúc ấy ông đang ăn cơm, vội ngậm miếng cơm hỏi có tên Dương mỗ không?

Người kia đáp không có, ông bất giác thất chí nghẹn cổ ho sặc lên, miếng cơm trong miệng rơi xuống dính luôn ở ức, dần vón cục thành bệnh, vướng víu rất khó chịu.

Những người quen biết an ủi khuyên ông dự thi khoa Di tài(2) ông lo không có tiền đi đường, họ góp được mười đồng vàng tặng tiễn, ông bèn miễn cưỡng lên đường.

*[(1)Dương Liên tự Đại Hồng: bản Hương Cảng chú nhân vật này có tên tự là Văn Nhụ, lại tự Đại Hồng, người ứng Sơn Hồ Bắc, thi đỗ Tiến sĩ năm Đinh mùi niên hiệu Vạn Lịch thời Minh, trong niên hiệu Thiên Khải làm quan tới chức Ngự sử, dâng sớ tham hặc hai mươi bốn tội của quyền thần Ngụy Trung Hiền, bị bè đảng của Ngụy giả chiếu chỉ bắt giam, bị hại chết trong ngục].

*[(2)Khoa Di tài: khoa thi chọn người có tài bị bỏ sót, là hình thức khoa cử đặc biệt tổ chức sau kỳ thi hương thông thường để chiếu cố cho những người có tài mà không may thi rớt.

Ở Việt Nam trước đây không thấy có các khoa thi loại này].

Đêm ở nhà trọ nằm mơ thấy một người nói:

- Đường phía trước có người chữa được bệnh của ông, nên cố khẩn cầu.

Rồi ra đi, lúc chia tay tặng một bài thơ trong có câu:

- Ba phen giỡn sáo bên bờ liễu, Tiền ném vào sông chớ oán hờn.

Hôm sau ông lên đường đi tiếp, quả gặp một đạo sĩ ngồi dưới gốc liễu, liền tới lạy xin cứu giúp Đạo sĩ cười nói:

- Anh lầm to rồi!

Ta làm sao chữa bệnh được?

Xin ta đùa ba lần thì còn được.

Rồi rút sáo ra thổi, ông nhớ lại giấc mơ, càng ra sức năn nỉ, lại dốc hết tiền trong túi dâng lên.

Đạo sĩ cầm tiền ném luôn xuống sông.

Ông vẫn cho rằng không dễ có được số tiền ấy, nín bặt vừa sợ vừa tiếc, đạo sĩ nói:

- Ông còn chưa dứt ra được à?

Tiển ở bờ sông kia, xin cứ ra mà nhặt.

Ông quay lại nhìn quả đúng, càng lấy làm lạ, gọi đạo sĩ là thần tiên.

Đạo sĩ chỉ ra xa nói:

- Ta không phải là thần tiên, chỗ kia mới là thần tiên tới kìa.

Rồi nhân lúc ông quay nhìn, đập cho một cái rất mạnh vào gáy rồi nói:

- Trần tục quá!

Ông bị đập mạnh, ho sặc lên một tiếng, ọe ra một vật, rơi xuống đất như một cục gì đó, cúi xuống vạch ra nhìn, thì thấy giữa mớ chỉ máu là miếng cơm ngày trước vẫn còn nguyên, hết luôn cả bệnh.

Quay lên nhìn thì đạo sĩ đã biến mất.

___________________________________

CHƯƠNG 389: TRƯƠNG CỐNG SĨ

Bình Sinh Duyệt Lịnh Thốn Tâm Tri

Thùy Phổ Côi Xoang Tuyệt Diệu Từ

Đương Tác Khang Thành Niên Biểu Độc

Hoàng Lương Nguyên Hữu Mộng Tỉnh Thì

Dịch:

Bình Sinh Lịch Duyệt Tự Nhớ Ghi

Ai Phổ Côn Sơn Khúc Diệu Từ

Niên Biểu Khang Thành Chừng Mới Hợp

Kê Vàng Tỉnh Mộng Vẫn Còn Khi



Cống sĩ họ Trương người huyện An Khâu (tỉnh Sơn Đông) bị bệnh, nằm ở giường chợt thấy có một người nhỏ bé từ ngực chui ra, cao khoảng nửa thước, đội mũ mặc áo nhà nho, dáng vẻ như con hát.

Hát khúc Côn Sơn, âm thanh trong trẻo, lại nói rõ tên họ quê quán, đều giống hệt với mình.

Những khúc người ấy hát đều là bình sinh Trương đã nghe, hát xong ngâm thơ rồi biến mất.

Trương còn nhớ được đại khái, kể lại cho người ta nghe.

Các ông Cao Tây Viên, Trương Tự Viên đều từng hỏi rõ, Trương kể lại rất rõ ràng, tiếc là không nhớ hết lời ca.

TRUYỆN PHỤ: MỘT TRUYỆN TRONG TRÌ BẮC NGẪU ĐÀM

Minh kinh Trương Mỗ người huyện An Khâu đang ngủ trưa, chợt thấy một người nhỏ bé từ ngục chui ra, cao khoảng nửa thước, đội mũ mặc áo nhà nho, dáng như con hát.

Hát khúc Côn Sơn khúc điệu rất dễ nghe, lại tự nói tên họ quê quán, đều giống hệt với Trương.

Những khúc người ấy hát đều là bình sinh Trương đã nghe qua, hát xong ngâm thơ rồi biến mất.

Trương còn nhớ được đại khái, kể lại cho người ta nghe.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 390+391+392


CHƯƠNG 390: CÁI TIÊN

TIÊN ĂN MÀY

Ca Vũ Viên Tâm Các Tận Hoan

Lệ Nhân Hốt Tác Dạ Xoa Khan

Nhược Phi Suy Giải Đương Thời Ý

Linh Quật Hà Lai Đoạt Mệnh Đan

Dịch:

Viên Tâm Ca Vũ Rất Vui Mà

Người Đẹp Chợt Liền Biến Dạ Xoa

Lúc Đó Thời Nếu Không Hiểu Ý

Đông Linh Hộ Mệnh Thuốc Đâu Ra



Cao Ngọc Thành là con nhà thế gia cũ, ở một làng lớn trong huyện Kim Thành (tỉnh Cam Túc), giỏi châm cứu, chữa bệnh không phân biệt kẻ giàu người nghèo.

Trong làng có một người ăn mày từ nơi khác tới, ống chân lở loét nằm ngoài đường, máu mủ bê bết, hôi tanh không thể tới gần.

Dân làng sợ y chết, mỗi ngày cho ăn một bữa cầm hơi.

Cao thấy thế thương xót, sai người dìu về, cho ở chái bếp.

Gia nhân chê hôi tanh chỉ bịt mũi đứng xa xa, Cao đem ngải ra, đích thân chữa cho, hàng ngày cho ăn cơm rau.

Được vài hôm y đòi ăn canh, tên đầy tớ tức giận quát mắng, Cao nghe thế lập tức sai cho y ăn canh.

Chẳng bao lâu, y lại xin rượu thịt.

Tên đầy tớ chạy lên báo:

- Thằng ăn xin kia thật buồn cười, mới đây còn nằm ngoài đường, chỉ mong mỗi ngày một bữa còn không được, nay thì ngày ba bữa còn chê khó nuốt, cho ăn canh lại đòi rượu thịt.

Thứ người tham ăn này chỉ đem bỏ ra ngoài đường là phải!

Cao hỏi chân y ra sao, đáp:

- Đã tróc vảy dần dần, xem ra đi đứng được rồi, nhưng vẫn giả rên rỉ làm như đau đón lắm.

Cao nói:

- Thì có tốn kém bao nhiêu đâu?

Cứ cho y rượu thịt đến ngày lành hẳn đi, có khi y không oán giận ta.

Tên đầy tớ giả vâng dạ nhưng rốt lại vẫn không đem rượu thịt cho người ăn mày, mà cứ có dịp kháo chuyện với đám tôi tớ lại cùng nhau cười ông chủ khờ dại.

Hôm sau Cao đích thân xuống thăm người ăn mày.

Y khập khiễng đứng lên cảm ơn, nói:

- Đội ơn nghĩa cao dày của ông, cứu sống người đã chết, đắp thịt lên xương khô, công ơn như trời che đất chở.

Nhưng chỗ lở mới lành, chưa lại sức hẳn nên thèm ăn mặn thôi.

Cao nghe biết tên đầy tớ không tuân lệnh hôm trước, gọi ra đánh cho một trận nên thân rồi lập tức sai dọn rượu thịt cho người ăn mày.

Tên đầy tớ căm hận, nửa đêm phóng lửa đốt chái bếp rồi la ầm lên.

Cao thức dậy xem, thì chái bếp đã cháy rừng rục, than rằng:

- Thôi rồi anh ăn mày!

Rồi đốc thúc mọi người mau mau dập lửa, vào nhìn thì người ăn mày vẫn ngủ say giữa đám lửa, ngáy vang như sấm.

Gọi dậy thì y làm ra vẻ kinh ngạc hỏi:

- Nhà cửa đâu rồi?

Mọi người mới bắt đầu hoảng sợ.

Cao càng kính trọng, cho y lên ngủ trong phòng khách, may cho quần áo mới, hàng ngày trò chuyện.

Hỏi họ tên, y nói là Trần Cửu.

Được vài hôm, mặt mày y càng thêm sáng sủa, ăn nói rất phong nhã, lại giỏi đánh cờ, lần nào đánh Cao cũng thua, bèn ngày ngày xin theo học, lĩnh hội được nhiều chỗ hay lạ sâu kín.

Như thế nửa năm, người ăn mày không nói xin đi, mà Cao thì vắng y một giờ cũng mất vui, dẫu có khách quý cũng phải có y cùng ngồi uống rượu.

Có khi gieo xúc xắc làm tửu lệnh, cứ Trần đánh giùm Cao thì lần nào cũng thắng.

Cao lấy làm lạ, nhưng mỗi lần bảo làm phép cho vui thì y đều chối từ, nói là không biết.

Một hôm nói với Cao:

- Ta định cáo biệt, lâu nay chịu ơn ông đã nhiều, có bữa tiệc mọn muốn mời, xin ông đừng gọi thêm ai khác.

Cao nói:

- Quen biết nhau rất vui, sao lại chia tay?

Vả lại ông làm sao có tiền mua rượu, nên cũng không dám phiền ông mời tiệc.

Trần cố mời, nói:

- Một chén rượu thì có gì là tốn kém.

Cao hỏi:

- Uống ở đâu?

Đáp trong vườn.

Bấy giờ đang giữa mùa đông, Cao ngại ngoài vườn lạnh lẽo, Trần quả quyết là không sao.

Cao bèn theo vào vườn, chợt thấy không khí ấm áp như vào đầu tháng ba, vào tới trong đình lại càng ấm.

Trong vườn chim lạ hàng đàn, líu lo ríu rít, mường tượng như vào lúc cuối xuân.

Trong đình thì bàn ghế đều khảm ngọc lưu ly, có một cái bình pha lê trong suốt có thể soi gương, trong có khóm hoa đong đưa, hoa thì đóa nở đóa rụng không đều.

Lại có con chim trắng như tuyết nhảy nhót qua lại bên trên, đưa tay vỗ nhẹ thì chợt biến mất hết.

Cao ngạc nhiên hồi lâu, ngồi xuống thấy con két đậu trên giá gọi:

- Dọn trà ra!

Trong chớp mắt thấy con phượng đỏ từ phía đông ngậm một cái khay ngọc đỏ đặt hai cái chén pha lê đựng trà thơm bay tới đáp xuống, ngẩng cổ đứng thẳng.

Uống xong, đặt chén vào khay, chim phượng liền ngậm lấy, cất cánh bay đi.

Con két lại gọi:

- Dọn rượu ra!

Lập tức có loan xanh hạc vàng từ trong mặt trời chấp chới bay xuống, con ngậm bầu con ngậm chén bày ra khắp bàn.

Giây lát có bầy chim vỗ cánh lui tới không ngớt, tấp nập dâng thức ăn lên, món ngon vật lạ trong chớp mắt đầy cả bàn, đồ ăn thức uống đều là những vật phẩm phi thường.

Trần thấy Cao uống rất hào bèn nói:

- Tửu lượng của ông rất cao, phải lấy chén lớn mới được.

Con két lại gọi:

- Đem chén lớn ra đây!

Chợt thấy vành mặt trời chớp chớp, có con bướm lớn bấu một cái cốc anh vũ to bằng cái đấu nhẹ nhàng đáp xuống.

Cao nhìn thấy bướm to hơn con nhạn, hai cánh sặc sỡ, dáng vẻ rực rỡ, khen ngợi hết lời.

Trần gọi:

- Bướm mời rượu đi?

Con bướm xòe cánh bay một vòng biến thành một giai nhân áo thêu phơ phất, bước tới dâng rượu.

Trần nói:

- Không được mời rượu suông thôi đâu!

Cô gái bèn thướt tha múa lượn.

Múa đến lúc say sưa thì chân cách mặt đất hơn thước, ngửa người ra phía sau, uốn đầu xuống chạm gót chân rồi lật người đứng thẳng lên mà toàn thân không hề vương một hạt bụi.

Rồi hát rằng:

Liên phiên tiếu ngũ đạp phương tùng,

Đê á hoa chi phất diện hồng.

Khúc chiết bất tri kim điền lạc,

Cánh tùy hồ điệp quá ly đông.

Dịch:

(Nói cười múa hát đạp hoa xuân

Cành dịu hoa tươi quét má hồng

Khúc đứt trâm vàng rơi chẳng biết

Lại theo cánh bướm vượt rào đông)

Dư âm lả lướt ngân dài như không dứt.

Cao rất thích thú, kéo lại cùng uống.

Trần sai ngồi, rót rượu cho nàng uống.

Cao ngà ngà thấy lòng rạo rục, vụt đứng lên ôm chầm lấy nàng, nhưng nhìn lại thì đã biến thành quỷ Dạ Xoa, mắt lồi khỏi mí, răng nhe ngoài miệng, da đen sần sùi, vô cùng xấu xí ghê tởm.

Cao mất vía buông tay, núp xuống dưới ghế run lẩy bẩy.

Trần cầm đũa đánh vào miệng nó quát:

- Đi mau!

Nó lập tức biến lại thành bướm, phấp phới bay đi.

Cao hoàn hồn cáo biệt, thấy ánh trăng trong vắt, nói đùa với Trần:

- Rượu ngon nhắm tốt của ông từ trên không đưa xuống, chắc nhà ông trên trời, có thể dắt bạn bè lên chơi một chuyến được không?

Trần đáp:

- Được!

Liền kéo tay Cao nhảy vọt lên, Cao thấy mình đang giữa không trung mênh mông, dần dần tới gần trời, ngẩng nhìn thấy cổng cao, tròn như miệng giếng.

Bước vào thì sáng vằng vặc như ban ngày, lối đi bậc thềm đều lát đá xanh sạch bóng không một mảy bụi.

Có một gốc cây lớn cao mấy trượng, nở đầy hoa đỏ to bằng hoa sen, dưới có một cô gái đang giặt chiếc áo đỏ trên phiến đá, diễm lệ vô song.

Cao đứng ngẩn ra nhìn quên cả bước đi.

Cô gái thấy thế tức giận nói:

- Chàng cuồng ở đâu lại dám tới đây?

Rồi lấy chiếc chày đập áo ném trúng lưng Cao.

Trần vội kéo nàng ra chỗ vắng trách móc.

Cao bị chiếc chày ném trúng, chợt thấy tỉnh rượu hẳn, thẹn toát mồ hôi, bèn theo Trần trở ra, thấy có đám mây trắng cuộn lên dưới chân.

Trần nói:

- Từ nay xin giã biệt, duy có một điều muốn dặn, xin ông đừng quên.

Tuổi thọ của ông không dài, ngày mai phải đi mau vào núi tây mới có thể tránh được.

Cao định giữ lại, y đã quay đi.

Cao thấy đám mây dần dần hạ xuống, mình rơi lại vào vườn thì quang cảnh đã khác hẳn.

Về kể chuyện cho vợ con, thảy cùng lạ lùng hoảng sợ, nhìn lại chỗ áo bị chiếc chày ném trúng thấy có sắc đỏ như gấm, lại nghe có mùi hương lạ.

Sáng sớm theo lời Trần dặn, mang lương khô đi vào núi, thấy sương mù dày đặc che khuất cả trời, mịt mờ không nhận ra đường sá gì cả, cứ rảo chân đi bừa, thình lình hụt chân rơi xuống một cái hang mờ mịt mây mù, sâu không biết bao nhiêu, nhưng may không bị gì cả.

Hồi lâu định thần, ngẩng nhìn thấy hơi mây như lưới bủa bốn bề, bèn than rằng:

- Người tiên bảo ta trốn tránh, nhưng rốt lại vẫn không tránh khỏi kiếp số, biết khi nào mới thoát ra khỏi cái hang này được?

Lại ngồi một lúc, thấy xa xa thấp thoáng có ánh sáng, bèn đứng lên đi sâu vào, thì tới một cõi trời đất khác hẳn.

Có hai ông già đang đánh cờ, thấy Cao tới cũng không ngó ngàng hỏi han gì cả, cứ tiếp tục đánh, Cao ngồi xổm xuống bên cạnh xem.

Xong ván cờ, họ nhặt quân cờ cất vào hộp xong mới hỏi khách làm sao tới được nơi này?

Cao đáp vì lạc đường rơi xuống, ông già nói:

- Chốn này chẳng phải nhân gian, không nên ở lâu Để ta đưa ông về.

Rồi dắt Cao ra chỗ đáy hang, Cao thấy mình được mây mù vây bọc nâng lên rồi dừng lại trên đất bằng.

Thấy sắc cây trong núi úa vàng, lá rơi cành rụng giống như cuối thu, ngạc nhiên nói:

- Ta ra đi giữa mùa đông, sao bây giờ lại biến ra lúc cuối thu?

Vội vàng về nhà, vợ con đều kinh sợ họp nhau lại cùng khóc.

Cao ngạc nhiên hỏi, vợ đáp:

- Chàng đi ba năm không về, ai cũng cho rằng đã chết rồi.

Cao nói:

- Lạ thật!

Ta vừa ra khỏi nhà một lúc thôi mà.

Giở lương khô trong lưng ra xem thì đã mục nát thành tro bụi, mọi người đều cho là chuyện lạ lùng.

Vợ nói:

- Chàng đi rồi, ta nằm mơ thấy có hai người áo đen đai sáng, dáng như công sai đi đòi thuế, hung hăng xông vào trợn mắt hỏi: "Y đi đâu rồi?”, ta quát lại: "Chồng ta đi vắng rồi, cho dù các người là quan sai cũng đâu được vào thẳng phòng đàn bà nhà người ta thế này?".

Hai người bèn quay ra, vừa đi vừa nói lạ thật lạ thật rồi đi mất.

Lúc ấy Cao mới sực hiểu ra rằng người mình đã gặp là tiên, hai người vợ mơ thấy là quỷ.

Lần nào tiếp khách Cao cũng mặc chiếc áo có vết cái chày của tiên nữ ném trúng bên trong, mọi người đều nghe mùi thơm, không phải mùi xạ cũng không phải mùi lan, mà có mồ hôi lại càng thơm ngát.

___________________________________

CHƯƠNG 391: NHĨ TRUNG NHÂN

NGƯỜI TRONG LỖ TAI

Thá Nữ Anh Nhi Dị Kết Thai

Thành Tiên Tất Cánh Yếu Tiên Tài

Tiểu Nhân Tam Thốn Trương Hoàng Thậm

Khả Thị Đâu Nguyên Quốc Lý Lai

Dịch:

Thá Nữ Anh Nhi Dễ Kết Thai

Thành Tiên Cần Phải Có Tiên Tài

Người Cao Ba Bốn Xun Xoe Chạy

Phải Nước Đâu Nguyên Mới Lạc Loài



Đàm Tấn Nguyên là Chư sinh ở huyện, rất tin thuật đạo dẫn, mùa đông mùa hè đều hít thở luyện tập.

Được vài tháng, thấy như có kết quả.

Một hôm đang ngồi xếp bằng luyện tập, nghe trong lỗ tai có giọng nói nhỏ như tiếng nhặng kêu:

- Có thể thấy rồi!

Mở mắt ra thì không nghe thấy gì nữa.

Nhắm mắt điều hòa hơi thở, lại nghe như cũ, cho rằng đã thành tựu, mừng thầm.

Từ đó cứ lần nào ngồi tập cũng nghe, nhân muốn chờ lúc giọng nói cất lên, sẽ lên tiếng đáp xem ra sao.

Một hôm nghe thấy, ứng tiếng khẽ nói:

- Có thể thấy rồi!

Liền nghe trong lỗ tai có tiếng rột rẹt như có con gì chui ra, hé mắt nhìn thì thấy một người nhỏ bé dài chừng ba tấc, mặt mày hung dữ như quỷ Dạ Xoa chạy loăng quăng dưới đất, trong lòng lấy làm lạ, bèn ngưng thần chờ xem sao.

Chợt có người hàng xóm hỏi mượn vật dùng, đập cửa kêu lớn, người nhỏ bé nghe thấy có vẻ hoảng hốt, chạy vòng trong phòng như con chuột mất hang.

Đàm thấy thần hồn đều tan tác, cũng không biết người nhỏ bé ấy chạy đi đâu, rồi bị bệnh điên, kêu gào không ngớt, thuốc men chạy chữa nửa năm mới hơi đỡ.

___________________________________

CHƯƠNG 392: GIẢO QUỈ

CẮN MA

Hà Vật Lệ Không Giảo Dạ Lan

Xỉ Nha Lãnh Tiễn Huyết Phiếm Lan

Lão Ông Thổ Bãi Phu Nhân Tiếu

Hợp Tác Chung Nam Tiến Sĩ Khan

Dịch:

Vật Chi Quỷ Quái Quấy Đêm Tàn

Răng Cắn Lạnh Ê Máu Chứa Chan

Ông Thổ Nôn Xong Bà Khúc Khích

Khéo Như Tiến Sĩ Ở Chung Nam



Thẩm Lân Sinh nói có người bạn là ông Mỗ mùa hè ngủ trưa, đang lúc thiu thiu thấy một người đàn bà vén rèm bước vào nhà, mặt che vải trắng, áo tang quần gai đi thẳng vào nhà trong, nghĩ là đàn bà hàng xóm qua chơi với vợ.

Nhưng lại nghĩ chẳng lẽ lại mặc đồ tang vào nhà người ta à?

Còn đang ngờ vực lo sợ, người đàn bà đã trở ra, nhìn kỹ thì khoảng hơn ba mươi tuổi, sắc mặt bủng beo vàng vọt, mắt mũi nhăn nhíu, dáng vẻ rất đáng sợ, cứ quanh quẩn không đi, dần dần tới sát giường.

Ông bèn giả như ngủ say để chờ xem ra sao.

Không bao lâu, người đàn bà vén áo leo lên giường, nằm đè lên bụng ông ta, thấy nặng hàng trăm cân.

Đầu óc ông vẫn sáng suốt, nhưng nhấc tay thì tay mềm nhũn, nhấc chân thì chân rã rời, vội la lớn kêu cứn, nhưng không cất thành tiếng được.

Người đàn bà lấy miệng hôn hít lên mặt ông, nhìn thấy trán mũi mắt môi đều vẹo vọ, mà môi lạnh như băng, hơi lạnh thấu xương.

Ông đang lúc nguy cấp lại nghĩ được kế, định là chờ thị hôn tới cằm sẽ cắn cho một cái.

Lát sau quả thị hôn tới cằm, ông thừa cơ lấy hết sức táp luôn vào gò má, cắn ngập cả răng.

Người đàn bà đau quá nhảy xuống, vừa giật vừa gào.

Ông ra sức cắn, chỉ biết là máu me đầy mặt, ướt đẫm cả gối, đang còn giằng nhau thì nghe tiếng vợ ngoài sân, vội la là có ma, vừa nới răng ra thì người đàn bà đã biến mất.

Vợ ông chạy vào không thấy gì, cười là ông nằm mơ la hoảng.

Ông kể lại chuyện quái dị, lại nói có vết máu làm chứng đây.

Vợ chồng cùng xem lại, thì thấy như là nước mưa dột ướt đẫm cả gối nệm, cúi ngửi thì tanh hôi vô cùng, ông mới nôn mửa một trận.

Mấy hôm sau còn thấy lợm giọng.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 393+394+395+396


CHƯƠNG 393: TRÓC HỒ

BẮT HỒ

Dĩ Cầm Phục Thệ Cánh Thành Không

Chỉ Cố Thương Hoàng Nhất Thuấn Trung

Kết Đới Như Hoàn Hoàn Bất Giải

Nguyên Khâu Hiệu Úy Thái Linh Lung

Dịch:

Bắt Rồi Lại Tuột Cũng Như Không

Ngoảnh Lại Vội Vàng Thoáng Mắt Trông

Đai Thắt Quanh Vòng Vòng Chẳng Cởi

Nguyên Khâu Hiệu Úy Quá Linh Lung



Ông họ Hồ anh con bác người thông gia của ta là Thanh Phục, tính vốn gan dạ.

Một hôm đang ngủ trưa thì nghe có con vật leo lên giường, kế thấy người đong đưa lâng lâng như bay lên mây, nghĩ thầm chẳng lẽ là hồ quỷ gì sao?

Hé mắt nhìn thì thấy con vật to bằng con mèo, đuôi vàng mũi biếc từ cạnh chân rón rẻn bò lên, như sợ ông tỉnh giấc.

Nó cứ bò sát vào người ông, tới chân thì thấy chân nhũn ra, tới đùi thì thấy đùi rã rời, vừa bò lên tới bụng thì ông vùng dậy chụp, đè cổ nó xuống.

Con vật kêu gào giẫy giụa nhưng không sao thoát được.

Ông vội gọi vợ ra, lấy thắt lưng thắt ngang bụng nó, rồi giữ chặt hai đầu dây, cười nói:

- Nghe nói ngươi giỏi biến hóa lắm, nay ta chống mắt ra xem ngươi biến hóa cách nào?

Vừa nói xong, con vật chợt thót bụng lại chỉ còn nhỏ như cái quản bút, suýt nữa thoát được.

Ông ngạc nhiên vội ra sức kéo dây siết lại, nó lại phình bụng ra như cái tô không sao siết được, lúc mệt lại thót lại.

Ông sợ nó thoát, kêu vợ giết mau, vợ tìm quanh quất không biết dao để đâu, ông ngoảnh sang chỉ chỗ.

Quay nhìn lại thì chiếc thắt lưng vẫn siết như cũ, mà con vật đã mất tăm rồi.

___________________________________

CHƯƠNG 394: PHÁCH MÃNG

CHÉM MÃNG XÀ

Ngự Vũ Tằng Văn Vịnh Lệ Hoa

Kinh Tâm U Cốc Ngộ Ba Xà

Thần Nhân Mặc Hựu Huynh Vô Dạng

Thử Thị Điền Môn Hiếu Hữu Gia

Dịch:

Từng Nghe Ngự Vũ Vịnh Đường Hoa

Hang Thẳm Kinh Tâm Gặp Mãng Xà

Mặc Trợ Ơn Thần Anh Thoát Nạn

Là Nhà Hiếu Hữu Vốn Nông Gia



Thôn Hồ Điền có hai anh em nọ Hồ đi hái củi, vào trong núi sâu, gặp con rắn lớn.

Người anh đi trước bị nó nuốt, người em đi sau lúc đầu hoảng sợ định chạy, nhưng thấy anh bị nuốt lại nổi giận, rút búa chặt củi ra chém vào đầu rắn, con rắn bị thương không nuốt được nữa.

Nhưng đầu người anh đã bị nuốt, còn từ vai trở xuống vẫn còn ở ngoài.

Người em lúc gấp rút không còn cách nào, bèn nắm chặt hai chân anh, hết sức giành giật với con rắn mới kéo được anh ra, con rắn cũng mang vết thương bỏ đi.

Nhìn lại thì người anh đã mất cả tai và mũi, không còn thở nữa, bèn ghé vai cõng về, dọc đường phải dừng lại nghỉ hơn chục lần mới về được tới nhà, chữa chạy nửa năm mới khỏi.

Đến nay trên mặt toàn là sẹo, chỗ tai và mũi chỉ còn có lổ không mà thôi.

Ôi, trong những người làm ruộng lại có người em yêu thương anh tới như thế sao!

Có người nói sở dĩ con rắn không làm hại bởi bị cảm hóa vì đại nghĩa, kể ra cũng đúng.

___________________________________

CHƯƠNG 395: DÃ CẨU

CHÓ MA

Giao Nguyên Sát Khứ Thảm Âm Mai

Bạch Cốt Tung Hoành Thục Yểm Mai

Thí Thính Đồng Thanh Sầu Dã Cẩu

Khả Tri Quỷ Diệc Ái Di Hài

Dịch:

Đồng Hoang Sắt Khí Buồn Thê Thảm

Xương Trắng Lung Tung Chẳng Lấp Vùi

Vẳng Tiếng Cùng Than Rầu Chó Nội

Mới Hay Quỉ Cũng Tiếc Di Hài



Trong loạn Vu Thất, người chết như rạ.

Có người dân là Lý Hóa Long từ trong núi trốn về, vừa gặp đại binh kéo tới.

Lý sợ bị vạ lây nhưng gấp quá không có nơi ẩn núp, bèn nằm lăn vào giữa đám xác người giả chết.

Đại binh đã kéo qua hết Lý vẫn chưa dám chui ra, chợt thấy đám xác chết mất đầu cụt tay nhao nhao đứng thẳng cả lên, một cái xác bị chém đầu nhưng đầu còn dính trên vai cất tiếng nói:

- Chó ma tới rồi, làm sao bây giờ?

Đám xác chết cũng rầm rộ ứng tiếng:

- Làm sao bây giờ?

Giây lát chợt đổ vật cả xuống, tất cả lại yên ắng.

Lý run bần bật định đứng lên, chợt có con vật quái lạ tới, đầu thú mình người, bò xuống cắn đầu xác chết, nhưng chỉ hút óc mà thôi.

Lý sợ nằm rúc vào đám xác chết, con vật tới nắm vai Lý muốn cắn vào đầu Lý nằm sấp ép sát xuống đất nên không cắn được, nó bèn lật đống xác chết lại, đầu Lý lộ ra.

Lý cả sợ, quờ tay xuống lưng vớ được hòn đá to bằng cái chén bèn nắm lấy.

Con vật bò xuống toan cắn, Lý vụt chồm dậy la lớn quăng luôn hòn đá vào đầu nó, trúng giữa mõm, con vật gào lên như tiếng cú kêu, ôm mệng bỏ chạy, khạc máu ra đường, Lý tới nhìn thấy trong bãi máu có hai cái răng, giữa thì cong mà trên thì nhọn sắc, dài hơn bốn tấc.

Bèn nhặt lấy mang về, đưa cho người ta xem, nhưng chẳng ai biết đó là con gì.

___________________________________

CHƯƠNG 396: HỒ NHẬP BÌNH

HỒ CHUI VÀO BÌNH

Tử Xá Hà Nhân Tị Phụ Ông

Liễm Hình Thường Phục Tiểu Bình Trung

Khởi Tri Nhất Đán La Thang Hỏa

Nhập Ứng Chân Giao Khốc Lại Đồng

Dịch:

Nhà Con Sao Phải Tránh Cha Chồng

Bình Nhỏ Thu Hình Trốn Ở Trong

Một Sớm Dè Đâu Bị Lửa Bỏng

Chuyện Quan Vào Hũ Khéo Đương Đồng



Vợ Thạch mỗ ở Vạn thôn mắc họa về hồ, lo lắm mà không sao đuổi đi được.

Sau cửa có chiếc bình, mỗi lần nghe thấy bố chồng của nàng tới, hồ lại chui vào bình trốn, nàng nhìn thấy kỹ lắm, ngầm định kế mà không nói ra.

Một hôm hồ chui vào bình, nàng vội lấy bông nút chặt lấy miệng để vào trong cái hũ, đổ nước đun thật sôi.

Bình nóng, hồ vừa kêu vừa nói:

- Nóng quá, đừng có đùa ác vậy!

Nàng không nói gì hết, lâu lâu không thấy kêu nữa, mở nút ra xem thử, chỉ thấy một búi lông và mấy giọt máu.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 397+398+399+400


CHƯƠNG 397: VU GIANG

Phụ Cừu Hà Cẩm Phiến Thời Vong

Cánh Sát Long Trung Bạch Tị Lang

Tự Hữu Hiếu Tâm Thông Mộng Ngữ

Bàng Nhân Hưu Nhận Mãng Nhi Lang

Dịch:

Giây Phút Thù Cha Chẳng Dám Quên

Giết Ling Mũi Trắng Được Như Nguyền

Tự Có Hiếu Tâm Thông Cảm Động

Nông Phu Ai Dám Bảo Dân Quèn



Người làng nọ là Vu Giang, cha ngủ ngoài ruộng bị sói ăn thịt.

Lúc ấy Giang mười sáu tuổi, nhặt được chiếc giày của cha rơi lại, vô cùng đau xót căm hờn.

Đêm tới chờ mẹ ngủ rồi, lén cắp chùy sắt đi, ra nằm ở chỗ cha ngủ đợi trả thù.

Không bao lâu, một con sói mò tới quanh quẩn đánh hơi, Giang nằm yên không động đậy.

Giây lát con sói lại lấy đuôi quét lên mặt, lại cúi xuống liếm vào chân, Giang vẫn không động đậy.

Kế con sói mừng rỡ nhảy lên định cắn vào cổ, Giang vùng dậy vung chùy đập nó vỡ sọ chết ngay tại chỗ, rồi giấu xác vào bãi cỏ rậm cạnh đó.

Không bao lâu lại có một con sói mò tới, cũng làm như con trước, lại bị Giang đánh chết.

Giang nằm đến nửa đêm không có con nào tới nữa, chợt chợp mắt ngủ đi, mơ thấy cha nói:

- Giết hai con sói ấy đủ rửa hận cho ta rồi, nhưng con kéo bầy giết ta thì mõm trắng chứ không phải là hai con này.

Giang tỉnh dậy nằm chờ mãi đến sáng nhưng không đánh thêm được con nào, muốn kéo hai con sói về nhưng sợ mẹ lo lắng, bèn vứt xuống cái giếng cạn rồi về.

Đêm sau lại ra nằm chỗ đó, nhưng không có con sói nào tới.

Ba bốn đêm liền như thế mới chợt có một con sói tới cắn vào chân Giang lôi đi mấy chặng, Giang bị gai góc đá sỏi đâm cào trầy xước cả người vẫn nằm yên như chết.

Con sói bèn dừng lại toan móc ruột Giang, Giang vùng dậy đập một chùy, con sói lăn ra, lại đập thêm mấy chùy cho chết hẳn, nhìn kỹ lại thì đúng là mõm trắng, cả mừng vác về, lúc ấy mới nói cho mẹ biết.

Mẹ khóc lóc đi theo, tới chỗ giếng cạn thì xác hai con sói kia vẫn còn.

____________________________________

CHƯƠNG 398: CHÂN ĐỊNH NỮ

THIẾU NỮ CHÂN ĐỊNH

Bất Đồ Quyền Mẫu Sảng Trùy Nhi

Thử Sự Tằng Văn Cổ Hữu Chi

Tín Thị Tình Căn Dị Manh Nghiệt

Mạc Ngôn Thiều Sấn Cánh Vô Tri

Dịch:

Mẹ Nắm Đấm Sinh Con Nhỏ Xíu

Từ Xưa Cũng Đã Có Từng Nghe

Tình Căn Vốn Dễ Nảy Mầm Mống

Trẻ Nít Đừng Khinh Chẳng Biết Gì



Ở vùng huyện Chân Định (tỉnh Sơn Đông) có một đứa con gái mồ côi cha, được nhà chồng đưa về nuôi nấng.

Ở được một hai năm thì có thai, bụng to ra, nghĩ là có bệnh, về nói với mẹ.

Mẹ hỏi:

- Có động đậy không?

Đáp:

- Có!

Người mẹ rất lạ lùng, nhưng thấy con còn quá nhỏ tuổi, không dám quyết định.

Ít lâu sau sinh được con trai.

Người mẹ khen ngợi nói:

- Không ngờ mẹ bằng nắm tay lại sinh được thằng cu con.

___________________________________

CHƯƠNG 399: TIÊU MINH

Đàn Tiền Hồ Dĩ Hiện Chân Hình

Đàn Trắc Yêm Thiên Tỳ Vị Tình

Tá Khẩu Cúc Cung Lương Diệc Đắc

Quan Đông Đạo Sĩ Thuật Thiên Linh

Dịch:

Trước Đàn Hồ Đã Hiện Nguyên Hình

Tỳ Nữ Còn Mê Chẳng Cựa Mình

Tá Khẩu Hỏi Cung Thôi Cũng Được

Quan Đông Đạo Sĩ Thuật Riêng Linh



Thị độc Đổng Mặc Am trong nhà bị hồ quấy phá, ném đá liệng ngói, cứ bất chợt lại ào ào như mưa đá.

Gia nhân kéo nhau chạy núp, chờ đến lúc yên ắng mới dám trở ra làm việc.

Ông lo lắng, mượn nhà quan Tư mã Tôn Tộ Đình, dời gia đình sang ở để tránh, mà hồ vẫn theo quấy phá như trước.

Một hôm đang lúc ngồi chờ vào chầu, kể lại chuyện lạ cho các quan nghe.

Đại thần có người nói đạo sĩ Tiêu Minh ở huyện Quan Đông (tỉnh Liêu Ninh) đang ngụ trong kinh thành, biết hết các loại bùa chú, rất cao tay.

Ông tìm tới xin giúp, đạo sĩ vẽ bùa bằng mực son, bảo đem về dán trên vách.

Nhưng hồ vẫn không sợ, ném đá liệng ngói còn quá trước.

Ông lại tới kể với đạo sĩ, đạo sĩ tức giận, đích thân tới nhà ông lập đàn làm phép.

Lát sau thấy một con hồ lớn nằm phục trước đàn.

Đám gia nhân bị khổ cực đã nhiều, tức giận đầy ruột đổ ra, một người tỳ nữ vừa tới gần đánh vào nó thì ngã lăn ra đất, tắt hơi chết luôn.

Đạo sĩ nói:

- Con vật này hung hãn lắm, ta đây còn chưa hàng phục được lập tức, đàn bà con gái sao lại coi thường mà đụng vào nó?

Kế lại nói:

- Thôi mượn xác lấy lời khai của nó cũng được.

Rồi chĩa hai ngón tay đọc thần chú một lúc, người tỳ nữ chợt sống dậy, bò lạy.

Đạo sĩ hỏi hồ vốn ở đâu, người tỳ nữ nói lời hồ rằng:

- Bọn ta vốn ở Tây Vực, tới kinh đô cả thảy có mười tám đứa.

Đạo sĩ nói:

- Chốn kinh sư này làm sao cho các ngươi ở lâu được?

Phải đi ngay đi!

Hồ không đáp.

Đạo sĩ đập bàn giận dữ quát:

- Ngươi muốn cưỡng lệnh ta à?

Nếu còn chần chừ, ta sẽ làm phép không tha cho đâu!

Hồ mới tỏ vẻ sợ sệt, xin vâng lời, đạo sĩ lại thúc đi cho mau.

Người tỳ nữ lại ngã vật ra đất tắt hơi, hồi lâu mới dần dần tỉnh lại.

Giây lát thấy có một đám những khối màu trắng xoay tròn như quả cầu men theo thềm mà đi, lần lượt theo nhau, trong chớp mắt đã đi hết.

Từ đó mới được ở yên.

___________________________________

CHƯƠNG 400: NHÀ CÓ YÊU QUÁI

Tý Đắc Đồng Quan Nhập Thất Nhiễu

Anh Anh Hữu Nữ Khấp Ma Thôn

Hà Nhân Ngọa Tháp Kinh Tương Thứ

Nghi Chập Tiêu Nghiêu Quốc Ly Lai

Dịch:

Khênh Quan Tài Tới Lượn Quanh Nhà

Cô Gái Tư Khôi Khóc Xót Xa

Người Ngủ Trên Giường Bừng Tình Giấc

Tưởng Tiêu Nghiêu Mới Lạc Vào A



Ông Lý ở huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông) là cháu quan Đại Tư khấu, trong nhà có nhiều sự quái dị.

Có lần thấy dưới chái nhà có cái giường màu đỏ như thịt, rất tươi nhuận.

Lý vì trong nhà không có vật ấy, tới gần lấy tay vỗ vào thử, nó lập tức cong lại, mềm như thịt, Lý hoảng hốt bỏ chạy.

Lúc sau trở lại nhìn, thì thấy bốn chân nó di động, rúc dần vào trong vách.

Lại thấy có cây gậy trắng dựng dựa vào vách, bóng láng dài dài, tới gần nhấc lên thì thấy mềm mại rơi xuống ngoằn ngoèo bò vào vách, trong chớp mắt đã mất hút.

Năm Khang Hy thứ 17 (1678), Vương Tuấn Thăng dạy học trong nhà ấy, chặp tối vừa lên đèn, Vương cởi giày lên giường nằm.

Chợt thấy một người bé nhỏ cao khoảng ba tấc từ ngoài đi vào, dạo một vòng rồi trở ra.

Giây lát vác hai cái giường nhỏ vào bày trong nhà, mềm mại như lưng trẻ con, kết bằng cành đay.

Giây lát lại có hai người bé nhỏ vác một cái quan tài vào, chỉ dài khoảng bốn tấc, đặt ở trên giường.

Sắp đặt chưa xong, một người đàn bà dắt mấy tỳ nữ vào, cũng đều bé nhỏ như mấy người trước.

Người đàn bà mặc áo tang, thắt dây gai ở lưng, đeo mạng vải che mặt, lấy tay áo bịt mỉệng nức nở khóc, tiếng như nhặng kêu.

Sinh hé mắt nhìn trộm hồi lâu, lông tóc dựng cả lên, khắp người lạnh toát.

Bèn la lớn định chạy, nhưng nhảy xuống giường rồi run sợ quá không đứng lên nổi.

Người trong nhà nghe tiếng la đổ cả tới, thì đám người nhỏ bé kia đã không thấy đâu nữa.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 401+402+403


CHƯƠNG 401: LINH QUAN

Giao Thiên Cự Điểm Thục Năng Can

Phiên Hối Tiềm Tông Đởm Thượng Hàn

Tất Cánh Thử Hồ Thái Phân Hiểu

Thừa Dư Bất Tị, Tị Linh Quan

Dịch:

Tế Giao Đại Tiền Đám Ai Nhờn

Vũng Đậu Tiềm Tông Đởm Vẫn Hàn

Chính Thực Cáo Này Ranh Rẽ Quá

Thừa Dư Không Tránh, Tránh Linh Quan



Đạo sĩ Mỗ ở quán Triều Thiên thích thuật luyện khí.

Có ông già tới ngụ ở quán cũng có cùng sở thích, bèn kết làm đạo hữu.

Được vài năm, cứ đến ngày tế Giao thì ông già đã ra đi từ tuần trước, tế xong lại trỡ về.

Đạo sĩ ngờ hỏi, ông già đáp:

- Chúng ta không thù ghét gì nhau, nên xin nói thật, ta là hồ đây.

Sắp tới ngày tế Giao thì phải trừ tà uế, ta không ở được nên phải đi trốn thôi.

Một năm kia đến kỳ lại ra đi, nhưng lâu quá không thấy trở lại.

Đạo sĩ đang còn ngờ thì một hôm ông ta chợt về, bèn hỏi vì sao lần này đi lâu thế.

ông ta đáp:

- Suýt nữa ta không được gặp lại ông rồi!

Hôm trước muốn trốn xa mà lười nên ngại đi, thấy nhà tắm rất kín đáo bèn tới núp dưới khạp nước.

Không ngờ thần tướng tới đó dọn dẹp, giở ra trông thấy, giận dữ định đánh, ta sợ bỏ chạy.

Thần tướng đuổi theo rất gấp, tới sông Hoàng Hà thì dần dần đuổi kịp, ta túng thế không biết làm sao núp luôn vào dưới hầm xí, thần thấy ở đó nhơ bẩn quá mới bỏ đi.

Ta trở ra thì bị nhiễm mùi hôi thối, không thể đi đâu cả, mới xuống sông tắm rửa, náu mình trong hang, mấy trăm ngày mới hết hôi thối.

Hôm nay tới đây để từ biệt và có lời dặn ông, ông cũng nên đi chỗ khác, kiếp nạn sắp tới rồi, đây không phải là chỗ yên ổn đâu.

Nói xong từ biệt ra đi.

Đạo sĩ theo lời đi nơi khác, không bao lâu thì có biến cố năm Giáp thân*.

*[Biến cố năm Gíáp thân: tức năm Giáp thân 1644, năm quân Thanh vào chiếm Bắc Kinh, bắt đầu thay nhà Minh cai trị Trung Quốc].

___________________________________

CHƯƠNG 402: TẾ HẦU

Duyên Thâm Nhất Kiến Tiện Tâm Khuynh

Ngô Truy Gian Mưu Cơ Bội Minh

Mạo Diễm Như Hoa Trùng Tự Thiết

Bất Lưu Tình Xứ Thị Chung Tình

Dịch:

Duyên Sâu Mớ Gặp Đã Tâm Khuynh

Lầm Vướng Mưu Gian Suýt Bội Minh

Mặt Đẹp Như Hoa Gan Tựa Sắt

Không Lưu Tình Đấy Chính Chung Tình



Mãn sinh người huyện Xương Hóa dạy học ở huyện Dư Hàng (đều thuộc tỉnh Chiết Giang), ngẫu nhiên dạo phố, đi qua dưới một dãy gác.

Chợt bị cái vỏ trái vải rơi trúng vai, ngẩng nhìn thì thấy một nàng ca kỹ trẻ tuổi dựa lan can cúi xuống cười rồi bước vào trong.

Sinh hỏi thăm, thì nàng ấy là Tế Hầu con bà Giả chủ nhà chứa.

Nghe nói nàng nêu giá rất cao, nghĩ lại thấy mình không sao gặp được, về nhà tơ tưởng cả đêm không ngủ.

Hôm sau tới đưa danh thiếp xin gặp, thấy nàng cười nói vui vẻ thân mật, lòng càng say mê.

Bèn tìm cớ hỏi mượn bạn bè đủ số tiền mang tới đưa Tế Hầu, nàng tiếp đãi rất chu đáo.

Lúc trên giường sinh khẩu chiếm một bài thơ tứ tuyệt tặng nàng rằng:

Cao nhị đồng bàn dạ vị ương,

Sàng đầu tế ngữ xạ lan hương,

Tân hoàn minh nhật trùng trang phượng,

Vô phục hành vân mộng Sở vương.

Dịch:

(Đêm thẳm êm đềm bóng giá sương.

Đầu giường nói khẽ ngát mùi hương

Sáng mai tóc mới cài trâm phượng.

Vắng mãi mây mưa mộng Sở vương).

Tế Hầu buồn bã nói:

- Thiếp tuy nhơ nhuốc hèn hạ nhưng vẫn ước mong tìm được kẻ đồng tâm để thờ, chàng còn chưa có vợ, thấy thiếp có đáng chăm sóc việc nhà không?

Sinh mừng rỡ, lập tức hẹn hò thề thốt với nàng.

Tế Hầu cũng vui mừng nói:

- Chuyện ngâm vịnh thiếp tự thấy là không khó, lúc nào không có ai cũng muốn đua đòi làm một bài, nhưng sợ chưa hay lại bị người ta xem thấy chê cười.

Nếu được theo nhau, xin chàng dạy thêm cho thiếp.

Nhân hỏi gia sản của sinh có bao nhiêu, sinh đáp:

- chỉ có năm mươi mẫu ruộng xấu, vài gian nhà nát thôi.

Tế Hầu nói:

- Thiếp về với chàng rồi, thì nên ở nhà đừng đi dạy học nữa.

Bốn chục mẫu ruộng trồng lúa cũng tạm đủ ăn, để mười mẫu trồng dâu, dệt năm cuộn vải là thừa nộp thuế rồi.

Cứ đóng cửa nhìn nhau, chàng đọc sách thiếp dệt vải thì thơ rượu đủ vui, chức Thiên hộ hầu có gì là quý?

Sinh hỏi:

- Muốn chuộc nàng ra khỏi đây thì phải mất bao nhiêu tiền?

Nàng đáp:

- Nếu theo lòng tham của mẹ thì bao nhiêu cho đủ được?

Nhiều lắm cũng chỉ hai trăm đồng vàng là đủ.

Nhưng đáng hận là thiếp lúc còn nhỏ tuổi không biết quý tiền bạc, có được bao nhiêu là đưa hết cho mẹ, số để riêng chỉ có chút ít không đáng kể, chàng cố lo đủ một trăm, số còn lại thì đừng lo.

Sinh nói:

- Tiểu sinh vốn nghèo, nàng cũng biết rồi, lấy đâu ra trăm đồng vàng được?

Nhưng có người bạn thân làm Tri huyện ở tỉnh Hồ Nam, mấy lần gọi mời mà ta thấy xa ngại đi.

Nay có việc nàng thì phải tới đó tính, khoảng ba bốn tháng sẽ trở về, xin cố chờ nhau.

Tế Hầu ưng thuận.

Sinh lập tức nghỉ dạy đi Hồ Nam, tới nơi thì người bạn mắc lỗi vừa bị cách chức, ở trọ nhà dân, trong túi rỗng không không có gì tặng tiễn.

Sinh bơ vơ không thể trở về, phải ở lại huyện dạy học, ba năm vẫn chưa về được.

Một lần đánh học trò, học trò tự tử chết, người cha xót con kiện thầy, nên sinh bị bắt giam.

May có cha mẹ học trò khác thương thầy vô tội thường đem cơm cho, nhờ thế cũng không khổ lắm.

Từ khi chia tay sinh, Tế Hầu đóng cửa không tiếp một người khách nào, mẹ hỏi biết nguyên do nhưng không cưỡng ép được, cũng đành để mặc ý.

Có nhà buôn giàu là Mỗ hâm mộ danh tiếng Tế Hầu, nhờ mẹ nàng làm mối, quyết cưới bằng được, không nề phí tổn nhưng Tế Hầu không chịu.

Người nhà buôn đi buôn xuống Hồ Nam, hỏi dò tin tức của sinh, lúc ấy việc kiện tụng đã sắp xong, người nhà buôn lại đem tiền hối lộ cho quan lại đương chức, bảo cứ giam sinh thật lâu, rồi về nói với mẹ Tế Hầu rằng sinh vì đói rét đã chết trong ngục rồi.

Tế Hầu ngờ là tin tức không đúng, người mẹ nói:

- Đừng nói là Mãn sinh đã chết, cho dù chưa chết thì làm vợ một anh học trò nghèo kiết, chỉ mặc áo vải cài thoa gai suốt đời làm sao bằng kẻ mặc áo gấm chán thịt ngon được?

Tế Hầu nói:

- Mãn sinh tuy nghèo nhưng khí cốt thanh cao, chứ lấy anh nhà buôn giàu có thô bỉ thì con không muốn.

Vả lại lời nói trên đường thì làm sao tin được?

Người nhà buôn bèn nhờ người bạn buôn khác giả làm thư tuyệt mệnh của Mãn sinh gởi Tế Hầu để nàng hết mong đợi.

Tế Hầu được thư, khóc lóc cả ngày, người mẹ nói:

- Từ khi ta có con, nuôi nấng vất vả, con thành nhân được ba năm, chưa báo đáp được gì nhiều, đã không muốn làm kỹ nữ thì nếu không lấy chồng làm sao mà sống?

Tế Hầu bất đắc dĩ phải lấy người nhà buôn.

Người nhà buôn cho nàng đủ thứ áo quần nữ trang, tiền bạc thừa thải.

Hơn một năm thì nàng sinh được một con trai.

Không bao lâu sau Mãn sinh nhờ có học trò ra sức giúp đỡ nên được rửa oan thả ra, mới biết chuyện người nhà buôn xúi quan giam giữ mình thêm.

Nhưng lại nghĩ hai bên không có thù oán gì, suy nghĩ mãi không rõ vì sao.

Học trò giúp đỡ tiền ăn đường để trở về.

Tới Dư Hàng nghe tin Tế Hầu đã lấy chồng, sinh vô cùng đau đớn, bèn kể những chuyện khổ cực của mình nhờ người bán rượu cho nhà chứa kể lại cho Tế Hầu biết.

Tế Hầu rất buồn bã, mới biết việc rắc rối sinh gặp trước kia đều là mưu mô hiểm ác của người nhà buôn.

Bèn nhân lúc người nhà buôn đi vắng, giết chết đứa con còn bế, mang tiền bạc của mình trốn theo Mãn.

Người nhà buôn về, căm giận kiện lên quan, quan thương tình hai người nên không hỏi tới.

Than ôi, Quan Vũ về Hán* có gì khác thế đâu?

Nhưng xem việc giết con rồi đi, thì cũng là người đàn bà nhẫn tâm trên đời vậy.

*[Quan Vũ về Hán.

Quan Vũ là em kết nghĩa và tướng của Lưu Bị, Tiên chủ nhà Thục Hán thời Tam quốc.

Có lần Lưu Bị bị Tào Tháo đánh bại, Quan Vũ bảo vệ hai người vợ của Lưu Bị, bất đắc dĩ phải hàng Tào Tháo, nhưng lại ra điều kiện nếu được tin Lưu Bị ở đâu sẽ về theo Lưu Bị.

Tào Tháo ưng thuận, sau Quan Vũ được tin Lưu Bị còn sống ở chỗ Viên Thiệu, bèn đưa hai chị tới tìm.

Tương truyền Tào Tháo muốn giữ Quan Vũ nên không cấp văn thư đi đường, vì thế Quan Vũ bị các tướng giữ ải của Tào Tháo ngăn trở, phải chém sáu người vượt qua năm cửa ải mới đi thoát được].

___________________________________

CHƯƠNG 403: CHÂN SINH

Tài Bản Lưu Thông Cố Hiệu Tuyền

Thả Thi Thả Cổ Kế Lương Biền

Chân Sinh Hạnh Đắc Tri Tâm Lữ

Tiên Thuật Hà Phương Tín Khẩu Truyền

Dịch:

Tiền Vốn Lưu Thông Mới Gọi Tuyền

Vừa Cho Vừa Bán Kế Lâu Bền

Chân Sinh May Được Người Tri Kỷ

Chẳng Bí Phương Tiên Buột Miệng Truyền



Giả Tử Long là sĩ nhân ở Trường An (tỉnh Thiểm Tây) tình cờ qua nhà hàng xóm gặp một người khách phong thái tiêu sái thoát tục, hỏi thăm thì biết là Chân sinh.

Giả rất hâm mộ, hôm sau tới đưa danh thiếp ra mắt, lại gặp lúc Chân sinh đi vắng.

Ba lần tới đều không gặp, bèn sai người rình chờ lúc có nhà về báo, lại tới xin gặp.

Chân sinh lánh mặt không ra, Giả vào tìm mới chịu ra gặp, ngồi gần nhau trò chuyện, cùng mừng rỡ là gặp kẻ tương tri.

Giả bèn về nhà trọ sai tiểu đồng đi mua rượu.

Chân lại mạnh rượu, khéo đùa giỡn, hai người rất vui vẻ.

Rượu gần hết, Chân mò trong tráp lấy ra đồ dùng uống rượu, thì là một cái bình ngọc không đáy, đặt chén không vào, cái chén chợt đầy ắp rượu, rồi múc ra đổ vào bầu rượu, mãi vẫn không hết.

Giả lấy làm lạ, năn nỉ xin học phép lạ ấy.

Chân nói:

- Ta không muốn cho người khác thấy, ông không có chỗ nào kém cỏi, chỉ là lòng tham chưa hết mà thôi.

Đây là phép thuật của nhà tiên, làm sao dạy được?

Giả nói:

- Oan cho ta quá!

Ta có tham lam gì đâu, chỉ tình cờ nảy lòng mong muốn thôi, thôi từ nay trở đi xin cam phận nghèo.

Hai người cười rộ rồi chia tay.

Từ đó thường qua lại với nhau, kết bạn quên cả hình hài.

Mỗi khi thiếu thốn, Chân lại lấy một viên đá đen ra, thổi vào rồi niệm thần chú, chà xát lên gạch ngói, gạch ngói lập tức hóa thành bạc trắng xóa, đưa tặng cho Giả, nhưng cũng chỉ vừa đủ chi dùng, không mấy khi thừa.

Giả cứ xin thêm, Chân nói:

- Ta đã nói ông tham, bây giờ thì sao, bây giờ thì sao?

Giả nghĩ hỏi thẳng quyết không được, phải nhân lúc Chân say ngủ, đánh cắp viên đá mới xong.

Một hôm, hai người say rượu đã đi nằm, Giả lén dậy lục lọi túi Chân, Chân biết được nói:

- Anh thật là không còn lương tâm, không thể ở chung được.

Rồi từ biệt, dọn đi ở chỗ khác.

Hơn năm sau Giả dạo chơi bên bờ sông, nhìn thấy một viên đá trong suốt giống hệt viên đá của Chân, bèn nhặt lấy giữ gìn như của báu.

Qua vài hôm Chân chợt tới, buồn rầụ như đánh mất vật gì Giả hỏi han, Chân đáp:

- Viên đá ông thấy trước đây là đá điểm kim của tiên.

Trước ta kết giao với Bão Chân tử, ông ta thương ta biết giữ phận nên tặng cho, vừa rồi say rượu làm rơi mất, bấm độn thì biết đang ở chỗ ông, nếu có thể trả lại cho nhau, thật không dám quên ơn!

Giả cười nói:

- Ta bình sinh không dám lừa dối bạn bè, đúng như ông bói đấy.

Nhưng biết Quản Trọng nghèo mà không làm được như Bão Thúc Nha* bây giờ ông định làm gì?

Chân xin tặng trăm đồng vàng, Giả nói:

- Trăm đồng vàng không phải ít, nhưng truyền cho ta câu thần chú đã, tự ta điểm kim một lần thử xem, thì không tiếc gì nữa.

*[Biết Quản Trọng nghèo mà không làm được như Bão Thúc Nha: Quản Trọng và Bão Thúc Nha là người thời Xuân thu, chơi thân với nhau.

Quản Trọng có tài nhưng nhà nghèo, đi buôn chung với Bão Thúc Nha, khi chia lời thường lấy phần nhiều hơn.

Có người cho Quản Trọng là tham, Bão Thúc Nha nói đó là vì Quản Trọng nghèo, cần tiền nuôi gia đình chứ không phải là tham].

Chân sợ Giả nuốt lời, Giả nói:

- Ông là tiên mà không biết xưa nay Giả Mỗ không bao giờ thất tín với bạn bè à?

Chân bèn truyền cho câu thần chú, Giả ngoái lại định mài lên một hòn đá to, Chân nắm khuỷu tay kéo lại không cho thử.

Giả bèn cúi xuống nhặt một mảnh ngói đặt lên phiến đá giặt áo nói:

- Bấy nhiêu thì không nhiều chứ?

Chân ưng thuận.

Nhưng Giả không mài viên đá điểm kim lên mảnh ngói mà lên phiến đá giặt áo, Chân biến sắc, định giật lấy viên đá thì phiến đá giặt áo đã biến thành khối bạc ròng.

Giả trả lại viên đá, Chân than:

- Số kiếp đã như thế, còn nói gì nữa?

Đem phúc lộc sai trái tới cho người ắt bị trời phạt, nếu ông muốn cho ta được thoát thì xin phân phát số tiền này cho nhiều người, có được không?

Giả đáp:

- Sở dĩ ta muốn có tiền là không phải để hưởng riêng một mình, ông vẫn coi ta như hạng bo bo giữ của à?

Chân mừng rỡ chào đi.

Giả được tiền vừa đem cho vừa đi buôn, không đầy ba năm đã cho hết số tiền có được.

Một hôm Chân chợt tới, nắm tay Giả nói:

- Ông thật là người tín nghĩa, sau khi chia tay lần ấy Phúc thần tâu với Thượng đế nên ta bị xóa tên khỏi sổ tiên.

May là được ông rộng rãi bố thí, đến nay cũng đủ công đức để chuộc lỗi rồi.

Xin ông gắng thêm, đừng bỏ phế.

Giả hỏi Chân giữ chức ở ty tào nào trên trời, Chân đáp:

- Ta là hồ tu tiên đắc đạo, xuất thân hèn mọn, không kham được chuyện phiền nhiễu, nên bình sinh chỉ giữ phận, không dám nhận chức tước gì.

Giả mời rượu, hai người lại cùng nhau ăn uống vui vẻ như trước.

Đến năm Giả hơn chín mươi tuổi, thỉnh thoảng hồ vẫn ghé chơi.

Mỗ ở huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông) làm nghề bán thuốc giải độc, cho dù nguy cấp tới mức nào cứ uống thuốc của y cũng sống.

Nhưng y giữ kín bài thuốc, họ hàng thân thích cũng không truyền cho.

Một hôm gặp tai bay vạ gió bị bắt, người em vợ mang cơm vào trại giam, lén trộn thuốc độc vào, ngồi chờ y ăn xong mới nói.

Y không tin, nhưng giây lát thấy bụng đau quặn lên, mới hoảng sợ chửi lớn:

- Thằng súc sinh đi mau, trong nhà tuy có thuốc giải độc, nhưng chỉ sợ đường xa không trở lại kịp, mau mau vào thành tìm lấy một bó dây tơ hồng và một chén nước trong, đi mau lên!

Người em vợ nghe lời, tìm được các thứ tới thì y đã nôn mửa gần chết.

Vội đổ thuốc cho, lập tức đỡ ngay, bài thuốc ấy từ đó mới được truyền ra.

Chuyện này cũng giống như việc hồ giữ kín viên đá vậy.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 404+405+406+407


CHƯƠNG 404: THANG CÔNG

Hồi Đầu Tỏa Sự Ký Đương Niên

Thiện Ác Phân Minh Tại Nhãn Tiền

Chỉ Thử Tính Linh Lưu Nhất Điểm

Từ Hàng Ná Đắc Bất Thùy Liên

Dịch:

Linh Tinh Việc Cũ Nhớ Liên Miên

Lành Dữ Phân Minh Hiệu Nhãn Tiền

Chỉ Có Tính Linh Lưu Một Điểm

Từ Hàng Rồi Sẽ Rủ Thương Liền



Ông Thang tên Sính, đỗ Tiến sĩ năm Tân sửu.

Mắc bệnh gần chết, chợt thấy hơi nóng dưới chân cứ lan dần lên trên, lên tới đùi thì chân chết, lên tới bụng thì đùi chết.

Nhưng lên tới ngực thì tim chưa chết ngay, phàm những chuyện lúc còn là trẻ con tới những chuyện nhỏ nhặt đã quên từ lâu đều theo máu trong tim kéo về, dâng lên từng đợt từng đợt như thủy triều.

Nếu là chuyện hay thì thấy bình tĩnh yên ổn, nếu là chuyện dở thì thấy áy náy hối hận, như dầu sôi trong vạc, khó chịu không sao nói ra thành lời được.

Như còn nhớ lúc bảy tám tuổi có bắt một con sẻ nhỏ rồi giết, chỉ một việc ấy thôi mà thấy máu trong tim dâng lên ào ào khoảng ăn xong bữa cơm mới hết.

Cứ thế tất cả mọi chuyện đã làm trong đời lần lượt hiện về xong, mới thấy làn hơi nóng lan qua cổ họng dâng lên óc, thoát ra khỏi đỉnh đầu bốc ra ngoài như hơi nước sôi trên nồi cơm.

Qua vài mươi khắc thì hồn lìa thất khiếu, rời xác mà đi.

Nhưng lại bơ vơ không biết đi đâu, cứ lang thang trên đường.

Chợt có một người to lớn đi tới, cao hơn tám thước, bắt ông cho vào tay áo.

Vào bên trong thấy da thịt gồ ghề, có rất nhiều người đều tỏ vẻ buồn bã, không sao thoát được.

ông sực nghĩ chỉ có Phật mới có thể giải nạn được, bèn niệm Phật hiệu, được ba bốn tiếng thì rơi ra khỏi tay áo, người to lớn lại bắt lấy cho trở vào, ba lần bỏ vào ba lần rơi ra, người to lớn bèn bỏ đi.

Ông đứng một mình ngẩn ngơ, còn chưa biết nên đi đâu.

Lại nghĩ Phật ở phương tây, bèn đi về phía tây.

Không bao lâu thấy bên đường có một nhà sư ngồi xếp bằng, bèn tới vái lạy hỏi đường.

Nhà sư nói:

- Phàm sổ sinh tử của kẻ sĩ nhân thì do Văn Xương Đế quân và đức Khổng thánh giữ, phải do hai nơi ấy gạch tên mới có thể đầu thai được.

Ông hỏi hai nơi ấy ở đâu, nhà sư chỉ đường, ông vội đi mau.

Không bao lâu thì tới miếu Khổng Tử, thấy đức Tuyên thánh đang ngồi quay mặt về phía nam, bèn vái lạy cầu khẩn.

Đúc Tuyên thánh nói tên ông bị sót nhưng vẫn có ở chỗ Đế quân, lại chỉ đường cho.

Ông lại đi tiếp, thấy một nơi điện gác như phủ đệ của bậc vương giả, khom người bước vào quả có một người dáng mạo giống hệt như Văn Xương Đế quân mà người đời vẫn truyền tụng, bèn quỳ xuống khẩn cầu.

Đế quân xem lại sổ sách rồi nói:

- Ngươi thành thật ngay thẳng, lẽ ra có thể sống lại, nhưng thân xác đã nát rồi, không phải Bồ Tát không ai giúp được.

Rồi chỉ đường bảo đi mau, ông vâng lời lên đường.

Trong giây lát thấy một nơi rừng trúc san sát, điện gác rục rỡ bèn bước vào.

Thấy Bồ Tát tóc búi cao trang nghiêm, mặt như vầng trăng rằm, cầm cành dương tẩm nước phép xanh biếc khói vờn.

Ông kính cẩn cúi đầu vái lạy, thuật lại lời Đế quân.

Bồ Tát nói là khó, ông năn nĩ mãi không thôi.

Bên cạnh có vị Tôn giả bẩm xin Bồ Tát dùng đại pháp lực, nhúm đất làm thịt, lấy cành dương liễu làm xương.

Bồ Tát theo lời, bẻ cành dương trong tay nhúng vào bình ngọc đựng nước phép, nhào đất sạch lấy bùn làm xác ông, rồi sai Đồng tử đưa về nhà, xô cả vào quan tài.

Người nhà nghe trong quan tài có tiếng rên rỉ cựa quậy hoảng sợ kéo nhau tới đỡ ông ra, thì đã khỏi bệnh.

Tính lại thì ông chết đã bảy ngày rồi.

___________________________________

CHƯƠNG 405: VƯƠNG HÓA LANG

Vô Đoan Chứng Án Dạ Bôn Trì

Thị Thị Phi Phi Cô Thính Chi

Nhất Ngữ Kinh Tâm Nhâm Kị Tổng

Thử Trung Tình Sự Phí Xai Nghi

Dịch:

Bỗng Dắt Đêm Đi Chứng Án Tù

Hư Hư Thực Thực Chẳng Hay Chi

Một Lời Sợ Đúm Tiền Xe Tiễn

Sự Việc Trong Đây Khó Lượng Suy



Ông Mỗ bán rượu ở Tế Nam (tỉnh thành Sơn Đông) sai con thứ là Tiểu Nhị qua Tế Hà đòi nợ.

Nhị ra cửa tây thành, gặp anh là A Đại.

Lúc ấy Đại chết đã lâu, Nhị kinh ngạc hỏi:

- Anh làm sao lại tới được đây?

Đại đáp:

- Dưới âm phủ có một cái án còn nghi ngờ, phải có em đi làm chứng một chuyến.

Nhị tỏ vẻ bực dọc cười khẩy, Đại chỉ một người mũ đen phía sau nói:

- Sai dịch đang ở đây, chúng ta được tự do sao?

Rồi lấy tay vẫy, Nhị bất giác đi theo, suốt đêm đi gấp tới dưới núi Thái Sơn.

Chợt thấy một nơi công thự, vừa định kéo nhau vào, thấy mọi người ồn ào đổ ra.

Người áo đen chắp tay hỏi thế nào rồi, một người đáp:

- Không cần vào nữa đâu, đã xét xử được rồi.

Người áo đen bèn thả Nhị bảo về.

Đại lo cho em không có tiền đi đường, người áo đen nghĩ ngợi một lúc lâu, rồi dẫn Nhị đi.

Được hai ba mươi dặm vào thôn, tới dưới chái một nhà nọ, dặn rằng:

- Nếu có người ra, cứ bảo đưa về, nếu họ không chịu, ngươi cứ nói là Nhà buôn họ Vương dặn thế.

Rồi đi.

Nhị nhắm mắt chết cứng ở đó, đến sáng chủ nhà ra thấy người chết ngoài cổng hoảng sợ, hồi lâu thì Nhị sống lại.

Chủ nhà vực vào đổ cháo cho, Nhị mới nói làng xóm quê quán, xin cho tiền về.

Chủ nhà ngần ngừ, đến khi Nhị nói như lời người mũ đen dặn thì vô cùng hoảng sợ, vội lấy ngựa đưa Nhị về.

Tới nhà, Nhị trả lại tiền phí tổn thì không chịu lấy, hỏi nguyên do cũng không chịu nói, rồi chào mà về.

___________________________________

CHƯƠNG 406: KHÁM DƯ

ĐỊA LÝ

Ngưu Miên Cát Nhưỡng Tại Tâm Điền

Hủ Cốt Hà Mãng Dư Khánh Diên

Lại Hữu Khuê Trung Hiền Trục Lý

Bất Giao Bộc Lộ Thán Niên Niên

Dịch:

Ngưu Miên Đất Tốt Ở Tâm Điền

Khô Cốt Đâu Hay Tạo Phúc Bền

Nhờ Các Dâu Hiền Trong Khổn Phạm

Khỏi Than Bộc Lộ Mấy Năm Liền



Tư lang Tống Quân Sở ở huyện Nghi (tỉnh Sơn Đông) trong nhà vốn chuộng thuật phong thủy, dù là đàn bà con gái cũng thông hiểu sách địa lý.

Ông Tống chết, hai vị công tử mỗi người dựng ra một phái, tìm đất chôn cha.

Nghe ở đâu có thầy địa lý giỏi thì đường xa ngàn dặm cũng tìm tới, tranh nhau mời mọc nên thuật sĩ trong mỗi nhà có tới trăm người.

Hàng ngày ruổi ngựa khắp đồng, chia nhau hai bên ra vào như hai đội quân.

Được hơn một tháng, mỗi bên tìm được một ngôi đất tốt, bên này nói sẽ được phong hầu, bên kia nói sẽ được bái tướng, anh em không ai chịu nhịn ai, vì thế tức giận không bàn tính với nhau, cùng chuẩn bị việc chôn cất cha, màn gấm phướn màu đều sắp xếp đầy đủ.

Ngày chôn cất, xe chở quan tài tới ngã ba, hai anh em đều dựa vào lời trăn trối của cha để tranh nhau, từ buổi sáng đến xế chiều cũng không ngã ngũ được là chôn ở đâu.

Khách khứa dần dần ra về hết, đám đạo tỳ khiêng quan tài đứng chờ đã đổi vai mấy mươi lần, mệt quá không chịu nổi nữa, bèn đặt quan tài xuống cạnh đường.

Vì thế cũng không chôn nữa, thuê thợ dựng nhà rạp cạnh đường để che mưa che nắng cho quan tài.

Người anh dựng chỗ ở bên cạnh, cho người ở lại canh giữ, người em cũng dựng chỗ ở như anh.

Người anh dựng lại thì người em cũng dựng lại, sau ba năm thành một thôn nhỏ.

Qua nhiều năm, hai anh em nối nhau chết.

Hai chị em bạn dâu mới bàn với nhau, cố gắng xóa hết những lời bàn bạc trái ngược của người trước về nơi chôn cha chồng.

Bèn cùng ruổi xe ra đồng, tới nơi hai ngôi đất anh em đã chọn, đều chê là chưa tốt lắm, rồi cùng sắm sửa lễ vật mời thầy địa lý tới vẽ họa đồ đầy đủ mang về trình nhưng hai chị em cứ nói là không được.

Mỗi ngày trình lên mấy tấm họa đồ, đều bị bỏ hết, hơn chục ngày mới chọn được nơi tốt.

Người chị xem họa đồ mừng rỡ nói:

- Được rồi!

ồi đưa người em xem, người em nói:

- Ngôi đất này sẽ phát được một Cử nhân võ trước tiên.

Chôn được ba năm, cháu đích Tôn của ông Tống quả nhiên đậu Cử nhân võ.

___________________________________

CHƯƠNG 407: ĐẬU THỊ

Khiết Lý Đương Thời Cưỡng Đề Minh

Như Hà Ủy Khí Đẳng Trần Khinh

Kỳ Kỳ Quái Quái Tần Tu Oán

Bất Sát Vương Khuê Hận Bất Bình

Dịch:

Chỉ Non Thề Biển Vội Quên Lời

Hạt Bụi Khinh Thường Nỡ Bỏ Rơi

Quái Quái Tai Tai Chồng Chất Oán

Bạc Tình Chưa Chết Hận Chưa Nguôi



Nam Tam Phục là con nhà thế gia ở huyện Tấn Dương (tỉnh Sơn Tây), có một tòa nhà riêng cách nơi ở hơn mười dặm, cứ hàng ngày cưỡi ngựa qua.

Một hôm gặp mưa, trên đường có một xóm nhỏ, thấy một nhà nông dân cổng nẻo rộng rãi bèn ghé vào tránh mưa.

Người trong vùng vốn đều kính sợ Nam, nên chỉ giây lát đã thấy chủ nhà ra mời vào, thái độ rất khép nép cung kính.

Nam vào nhà thấy rất nhỏ hẹp, khách đã ngồi xuống chủ nhà mới kịp lấy chổi quét dọn qua loa.

Kế pha mật làm trà bưng ra mời, Nam bảo ngồi mới dám ngồi xuống.

Hỏi tên họ, xưng là Đình Chương họ Đậu, giây lát lại dọn rượu làm gà tiếp đãi rất chu đáo.

Thấy có cô gái tuổi cập kê bưng mâm dọn chén ngoài cửa, chỉ thấp thoáng nửa người, khoảng mười lăm mười sáu tuổi, xinh đẹp không ai bằng.

Nam thấy rung động, ngớt mưa chào về, bồi hồi nhớ nhung mãi.

Hôm sau Nam mang gạo lụa qua tặng để cám ơn, mượn cớ làm thân.

Từ đó trở đi thường mang rượu thịt ghé chơi nhà Đậu, cùng nhau ăn uống trò chuyện.

Cô gái cũng quen dần, không tránh mặt quá nữa, cứ qua lại trước mặt khách.

Cứ Nam nhìn tới thì cúi đầu mỉm cười, Nam càng say mê, cứ ba ngày phải ghé lại một lần.

Một hôm gặp lúc Đậu vắng nhà, Nam ngồi chờ hồi lâu, cô gái ra tiếp khách, Nam nắm tay cưỡng ép, cô gái thẹn thùng giãy giụa chống cự nói:

- Nhà tuy nghèo nhưng ta cũng phải lấy chồng, sao lại cậy giàu sang khinh người thế.

Lúc bấy giờ Nam vừa chết vợ, bèn chắp tay nói:

- Nếu được nàng thương yêu, thề không lấy ai khác.

Cô gái đòi phải thề, Nam chỉ tay lên trời thề sẽ chung sống với nhau mãi mãi, cô gái mới ưng thuận.

Bắt đầu từ hôm đó cứ chờ lúc Đậu đi vắng thì qua gần gũi với cô gái.

Cô gái giục:

- Hẹn hò riêng tư thế này không thể lâu dài được.

Được đoái thương che chở cho, nếu chịu ra ơn cưới hỏi, cha mẹ ắt lấy làm vinh dự, chẳng có gì khó khăn cả, nên lo cho mau.

Nam cũng hứa.

Nhưng lại nghĩ cô gái là con nhà nông dân không xứng làm vợ mình, nên cứ bịa đặt chuyện nọ kia để khất lần.

Gặp lúc có người mối tới bàn chuyện hôn nhân với một nhà giàu có, Nam lúc đầu còn ngần ngừ, kế nghe con gái nhà ấy xinh đẹp nhiều tiền, bèn quyết ý.

Cô gái có mang, thúc giục càng gấp, Nam bèn cắt đứt không tới nữa.

Không bao lâu, cô gái sinh được một con trai.

Đậu tức giận đánh, cô gái kể thật mọi chuyện, lại nói:

- Chàng Nam có hẹn ước với con mà!

Đậu tha cho, sai người qua nói chuyện với Nam, Nam lập tức chối phắt.

Đậu bèn vứt bỏ đứa bé, đánh đập con gái.

Cô gái lén nhờ người đàn bà láng giềng kể lại nỗi khổ, Nam cũng bỏ mặc.

Cô gái đang đêm trốn đi, nhìn thấy đứa bé bị vứt bỏ vẫn còn sống, bèn bế lên chạy tới nhà Nam, gõ cửa nói với người giữ cổng rằng:

- Chỉ cần chủ nhân nói một câu thôi thì ta không tới nỗi chết.

Ông ta không nghĩ tới ta đã đành, nhưng không nghĩ tới đứa bé sao?

Người giữ cổng bẩm lại, Nam cấm không được cho vào.

Cô gái dựa vào cửa khóc lóc thảm thiết, đến gần sáng thì không nghe thấy gì nữa.

Sáng ngày ra xem, thì cô gái đã ôm con ngồi dựa vào cửa chết cứng rồi.

Đậu căm hờn kiện lên quan, quan cũng cho rằng Nam bất nghĩa, định buộc tội.

Nam sợ, đem nhiều tiền bạc hối lộ nên được tha.

Nhà giàu kia nằm mơ thấy cô gái xõa tóc bế con tới nói:

- Không được gả con cho gã bạc tình kia, nếu gả thì ta sẽ giết chết đấy.

Nhà giàu lại tham rể giàu sang, rốt lại vẫn gả con gái cho Nam.

Đến ngày cưới thì của hồi môn rất nhiều, cô dâu cũng xinh đẹp nhưng hay buồn rầu, cả ngày không thấy cười, lúc ngủ chung thỉnh thoảng lại rơi lệ, Nam hỏi gì cũng không đáp.

Được vài hôm người nhà giàu qua nhà Nam, vừa vào tới cửa đã rơi nước mắt.

Nam cũng chưa kịp hỏi, vội đi theo vào phòng trong, người nhà giàu nhìn thấy con gái hoảng sợ nói:

- Vừa thấy con gái ta treo cổ tự tử trên cây đào ở vườn sau, người trong phòng kia là ai thế?

Người con gái nghe thấy biến sắc, ngã vật ra đất chết luôn, nhìn lại thì ra là cô gái họ Đậu.

Vội ra vườn sau xem, thì quả nhiên thấy người vợ mới đã treo cổ tự tử ở đó.

Nam hoảng sợ vội tới báo cho Đậu.

Đậu cho đào mồ con gái lên, thì quan tài còn mà xác đã mất, nỗi căm tức trước vẫn chưa tan, gặp việc này càng thêm đau xót căm hận, lại kiện lên quan.

Quan thấy việc kỳ lạ nên chưa kết tội, Nam lại đem lễ vật rất hậu tới xin Đậu bỏ qua, quan cũng nhận tiền hối lộ của Nam, bèn thôi không xử nữa.

Từ đó nhà Nam sa sút, lại vì chuyện quái dị đồn rộng ra nên mấy năm liền không ai dám gả con gái cho.

Nam bất đắc dĩ phải đưa lễ vật tới hỏi cưới con gái Tiến sĩ họ Tào cách nhà trăm dặm.

Chưa kịp làm đám cưới, lại gặp lúc dân gian đồn đãi là triều đình chọn con gái nhà lương dân để tiến cung, nên những người có con gái đều cho cưới gả ngay.

Một hôm có bà già đưa một chiếc xe tới, tự xưng là người nhà họ Tào đưa cô dâu về nhà chồng, đỡ cô gái vào phòng, nói với Nam rằng:

- Việc triều đình tuyển cung nữ đã sắp tới, vội vàng không được trọn lễ, xin cứ đưa nương tử tới đây.

Nam hỏi sao không có khách khứa nào cả, bà già đáp:

- Cũng có vài món nữ trang chở phía sau.

Nói qua loa vài câu rồi đi.

Nam nhìn cô gái thấy cũng xinh đẹp, bèn trò chuyện cười đùa.

Cô gái cúi đầu cởi dây lưng, cử chỉ giống hệt cô gái họ Đậu, Nam phát sợ không dám nói gì nữa.

Cô gái lên giường kéo chăn trùm kín đầu ngủ, Nam cũng cho rằng đó là chuyện thường thấy ở các cô dâu mới nên cũng không để ý.

Đến lúc mặt trời lặn, chiểu tối rồi mà người nhà họ Tào vẫn không tới, Nam mới ngờ vực vào giở chăn hỏi, thì người cô gái đã lạnh như băng, tắt hơi từ lâu rồi.

Nam ngạc nhiên hoảng sợ, không rõ vì sao bèn sai người tới gấp nhà họ Tào hỏi, thì họ Tào hoàn toàn không có đưa con gái tới, ai nghe chuyện cũng lấy làm lạ lùng.

Lúc ấy có con gái viên Cử nhân họ Diêu chết vừa chôn, qua đêm thì mồ bị kẻ trộm đào, phá quan tài lấy mất xác Diêu nghe chuyện là liền tới nhà Nam thử thì đúng là con gái mình, giở chăn nhìn kỹ thì thân thể bị lột trần truồng.

Diêu tức giận kiện lên quan, quan thấy Nam mấy lần làm điều vô hạnh nên phát ghét, kết án phá mộ trộm xác, khép vào tội chết.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 408+409+410+411


CHƯƠNG 408: LƯU LƯỢNG THÁI

Mạn Thuyết Tiền Thân Dữ Hậu Thân

Nam Sơn Hữu Khách Cánh Thông Thần

Ngọc Hồ Thảng Thất Phân Minh Ngữ

Thùy Thức Giai Nhi Thị Cố Nhân

Dịch:

Đừng Nói Tiền Thân Với Hậu Thân

Nam Sơn Có Khách Lại Thông Thần

Ngọc Hồ Nếu Chẳng Nói Rành Mạch

Ai Biết Con Hiền Chính Cố Nhân



Hoài Lợi Nhân ở Tế Nam (tỉnh thành Sơn Đông) kể rằng ông Lưu Lượng Thái là hậu thân của hồ.

Cha ông ở núi Nam Sơn, thấy có ông già tới nhà, tự xưng là họ Hồ.

Ông Lưu hỏi nhà cửa, ông ta đáp:

- Ở trong núi này thôi, nhưng ở đây vắng vẻ chỉ có hai chúng ta, cũng nên sớm tối qua lại thăm hỏi nhau, nên ta tới làm quen.

Ông Lưu trò chuyện thấy lanh lợi sắc sảo thích lắm, bèn đem rượu uống với nhau, say khướt ông ta mới ra về.

Hôm sau ông ta tới, ông Lưu tiếp đãi còn nồng hậu hơn, nhân nói:

- Từ khi đội ơn ông tới chơi, chia tay thấy nhớ lắm, nhưng không biết nhà ông ở làng nào, xin hỏi ông ở đâu vậy?

Hồ đáp:

- Không giấu gì ông, thật ra ta là con hồ già trong núi này, có túc duyên với ông nên mới dám tới xin làm môn hạ, chứ vốn không thể gây họa cho ông được, xin tin nhau đừng sợ hãi!

Ông Lưu cũng không ngờ sợ gì, lại càng thân thiết, lập tức so tuổi tác thì Hồ lớn hơn, bèn nhận làm anh.

Từ đó qua lại với nhau như anh em ruột, có chuyện hay dở gì Hồ đều báo cho biết trước.

Lúc ấy ông Lưu chưa có người nối dõi, chợt ông già nói:

- Ông đừng lo, ta sẽ làm con ông!

Ông Lưu lấy làm kỳ quái vì lời nói lạ lùng, Hồ nói:

- Ta tính số mình thấy đã hết rồi, sắp đến lúc đầu thai, nhưng đi nơi khác đâu bằng sinh vào nhà cố nhân?

Ông Lưu hỏi:

- Thần tiên vốn thọ vạn năm, đâu lại tới nỗi thế?

Ông già lắc đầu đáp:

- Đó không phải là chuyện ông biết được.

Rồi đi.

Đêm ấy quả nhiên ông Lưu nằm mơ thấy ông già tới nói:

- Ta tới rồi đây!

Tỉnh dậy thì phu nhân vừa sinh được một con trai, đó là ông Lưu Lượng Thái.

ông Lưu lớn lên, ngôn từ lanh lợi hài hước giống hệt như Hồ.

Lúc trẻ đã nổi tiếng văn chương, năm Nhâm thìn đỗ Tiến sĩ, tính lại hào hiệp hay giúp đỡ người hoạn nạn, nên tân khách Tần Sở Yên Triệu* đều tới ở cùng, mở quán bán hàng, trước cổng thành cái chợ.

*[Tần Sở Yên Triệu: tức vùng Thiểm Tây, Hồ Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, gọi theo tên thời Tiên Tần].

___________________________________

CHƯƠNG 409: NGÃ QUỈ

MA ĐÓI

Bần Ngã Hà Kham Dị Quỉ Danh

Nhất Triêu Quỉ Tử Hựu Đầu Sinh

Đôi Bàn Mục Túc Nhưng Nan Bão

Vô Nại Y Nhiên Cựu Tính Tình

Dịch:

Nghèo Đói Sao Đành Quỉ Gọi Tên

Ngày Kia Quỉ Chết Thác Sinh Liền

Đầy Mâm Mục Túc Khôn No Đủ

Voi Nại Tâm Tình Vẫn Giữ Nguyên



Mã Vĩnh người đất Tề (vùng Sơn Đông) tính tham lam vô lại, không có chút của cải gì, người làng gọi đùa là Ma đói.

Năm hơn ba mươi tuổi càng bần cùng, quần áo vá chằng vá đụp, ngày ngày mang một con chim ra chợ làm trò quanh quẩn xin ăn, người ta đều khinh rẻ, coi như súc vật.

Trong huyện có ông già họ Chu lúc nhỏ dời lên sống ở kinh đô làm những nghề không tốt đẹp.

Khi già về làng ở, bị sĩ phu đàm tiếu chê bai.

Nhưng Chu ăn ở hiền lành lương thiện, nên ngươi ta dần dần mới tỏ ra tôn trọng.

Một hôm Chu thấy Mã làm trò không được đồng nào lấy làm thương xót bèn cho tiền, lại dắt về nhà cho mấy trăm đồng làm vốn buôn bán nhỏ.

Mã về lại không chịu làm ăn, cứ ngồi không ăn sẵn, không bao lâu hết tiền lại làm theo lối cũ, nhưng thường tránh mặt Chu.

Sau bỏ làng lên huyện, tối đến vào ngủ ở trường huyện.

Gặp đêm đông lạnh quá, cứ lấy lọng trên đầu tượng Khổng tử đắp, lại chẻ cả bàn ghế đốt sưởi.

Học quan biết được, tức giận trừng phạt, Mã năn nỉ xin tha, lại hứa sẽ giúp tiên sinh làm giàu.

Học quan mừng rỡ tha cho đi.

Mã dò xét biết được nhà viên Chư sinh Mỗ giàu có, liền tới cửa bắt đưa tiền, cố ý chọc giận rồi lấy dao tự đâm vào mình, vu cáo để ăn vạ.

Học quan đòi viên Chư sinh phải hối lộ nhiều tiền mới bỏ qua, các viên Chư sinh đều căm phẫn, cùng kiện lên huyện.

Quan huyện điều tra được sự thật, sai đánh Mã bốn chục trượng, đóng gông giam lại, ba ngày thì Mã chết.

Đêm ấy ông già họ Chu nằm mơ thấy Mã đội mũ đeo đai bước vào nói:

- Chịu ơn lớn của ông, nay tới để báo đáp!

Tỉnh dậy thì vợ đã sinh con trai.

Ông biết đó là Mã, đặt tên là Mã Nhi.

Mã Nhi lúc nhỏ không thông minh nhưng cũng học hành được, năm hơn hai mươi tuổi thi cử mấy lần cũng được vào học ở trường huyện.

Sau khi khảo khí, đêm ngủ ở nhà trọ, nhìn thấy trên vách có dán bài văn sách cũ, tới xem thì làm theo đề bài trong thiên Cáo tử sách Mạnh Tử, trong lòng thấy khó khăn nên cố học thuộc.

Vào thi thì đề bài ra lại đúng như thế.

Mã bèn chép lại nên đỗ hạng ưu, được hưởng lương.

Năm hơn sáu mươi tuổi được bổ làm Huấn đạo huyện Lâm Xuyên, tại chức mấy năm không hề lấy đạo nghĩa giao du với ai, cứ thấy ai rút tiền trong tay áo đưa ra thì hón hở như chim cốc bắt được cá, ai không đưa tiền thì nhướng chân mày dài ra cả tấc, nhìn chằm chặp như không quen.

Gặp lúc quan trên gặp người Chư sinh mắc lỗi nhỏ, ra lệnh các Học quan phải nghiêm khắc, Mã càng tàn ác như trị giặc cướp, có ai kiện tụng học trò là lập tức gõ cửa Huấn đạo, đủ chuyện như thế nên các Chư sinh không sao chịu nổi.

Nhưng Mã gần bảy mươi tuổi thì tai điếc mắt mờ, cứ ra gặp người là sắc thuốc nhuộm tóc nhuộm râu cho đen lại.

Có cuồng sinh Mỗ lấy rễ cây nhuộm màu đỏ sắc thuốc cho Mã, sáng ra mọi người cùng nhìn thì thấy râu tóc đỏ rực như tượng Linh quan trong miếu.

Mã cả giận sai bắt nhưng người kia đã trốn đi từ đêm, vì thế căm tức thành bệnh, vài tháng thì chết.

___________________________________

CHƯƠNG 410: KHẢO TỆ TI

Quỉ Danh Hư Đỗ Vị Tiền Văn

Khảo Tệ Như Lai Bất Khảo Văn

Cát Nhục Cánh Khao Phong Hối Thục

Bất Tri Khả Hứa Thục Trừu Cân

Dịch:

Quỉ Vương Hư Đỗ Nghe Tên Lạ

Khảo Tên Mà Sao Chẳng Khảo Văn

Cắt Thịt Để Moi Tiền Chuộc Nặng

Chẳng Hay Có Thể Chuộc Moi Gân



Văn Nhân Sinh người tỉnh Hà Nam mắc bệnh nằm liệt giường mấy hôm, thấy một viên Tú tài vào quỳ trước giường ra mắt, thái độ cực kỳ cung kính.

Kế mời sinh dạo vài bước nói chuyện, đỡ vai sinh ra cửa vừa đi vừa trò chuyện không ngớt, đã mấy dặm vẫn chưa chịu chia tay.

Sinh dừng lại chắp tay chào, Tú tài nói:

- Xin phiền ông đi thêm vài bước, ta có việc muốn nhờ.

Sinh hỏi, Tú tài đáp:

- Bọn ta đều thuộc Ty khảo tệ cai quản, Chủ ty có tên là Quỷ vương bụng rỗng (Hư đỗ Quỷ vương), theo lệ cứ ra mắt là phải cắt một miếng thịt vế, nhờ ông nói giúp cho một tiếng thôi.

Sinh ngạc nhiên hỏi mắc tội gì mà tới nỗi như thế, Tú tài đáp:

- Không cần có tội, lệ cũ vốn thế.

Nếu có nhiều tiền thì cũng có thể chuộc được, nhưng ta nghèo.

Sinh nói:

- Ta vốn chẳng quen biết gì với Quỷ vương, làm sao giúp ông được?

Tú tài đáp:

- Kiếp trước ông là hàng ông nội của y, có thể y nghe lời.

Trò chuyện một lúc thì vào một nơi thành quách, tới một nha thự.

Vào trong thấy hành lang không rộng rãi to lớn lắm, chỉ có một sảnh đường cao rộng, dưới tường có hai tấm bia đá dựng hai bên, viết chữ màu xanh to như cái tô lớn, một tấm viết "Hiếu đễ trung tín", một tấm viết "Lễ nghĩa liêm sỉ”.

Bước lên thềm tiến vào thấy trên sảnh có một tấm biển viết ba chữ lớn "Khảo tệ ty".

Cột chính khắc một đôi liễn chữ lõm vào rằng "Gọi hiệu gọi tự gọi tường* giáo hóa cõi âm duy đức hạnh hai chữ, Trò giỏi trò vừa trò kém, môn đồ cửa quỷ chỉ lễ nhạc một thềm".

Còn dạo quanh nhìn ngó chưa hết thì quan đã ra, tóc xoăn lưng còng như người sống mấy trăm tuổi, nhưng lỗ mũi to huếch, môi vẩu răng chìa cả ra ngoài.

Theo sau là một viên Chủ bạ mình người đầu cọp, lại có mấy mươi người lính lệ đứng hầu, quá nửa trông dữ tợn hung ác như quỷ núi, Tú tài nói:

- Đó là Quỷ vương đấy!

Sinh sợ quá định lủi ra nhưng Quỷ vương đã nhìn thấy, bước xuống vái chào mời sinh lên.

Kế hỏi thăm sức khỏe, sinh chỉ dạ dạ.

Lại hỏi có việc gì quá bộ tới đây, sinh nói rõ lại ý của Tú tài.

Quỷ vương đổi sắc mặt nói:

- Chuyện này đã có lệ thường, cho dù cha ta ra lệnh cũng không dám vâng lời.

Dáng vẻ nghiêm nghị dữ tợn như không cho ai nói thêm câu nào nữa.

Sinh im lặng rồi đứng dậy cáo biệt.

Quỷ vương đi nép một bên tiễn ra tới ngoài cổng mới quay vào.

Sinh không về mà lẻn trở vào để xem tình hình.

*[Hiệu, tự, tường: tên gọi các loại trường học ở Trung Hoa thời trước].

Vào tới dưới thềm thì thấy Tú tài và mấy người bạn đã bị trói thúc ké, một người mặt mũi hung dữ cầm đao tới vén quần lên cắt một miếng thịt to bằng ba ngón tay, Tú tài há miệng kêu không ra tiếng.

Sinh tuổi trẻ có nghĩa khí, căm tức không kìm được kêu lớn:

- Thảm khốc như thế thì ra thế giới gì?

Quỷ vương hoảng hốt đứng lên, ra lệnh tạm ngừng cắt thịt, lật đật xỏ giày ra đón sinh.

Sinh cảm tức bỏ ra, nói với người ở chợ là sẽ tố cáo lên Thượng đế.

Có người cười nói:

- Xa quá đấy.

Trời xanh mịt mù, biết tìm Thượng đế nơi nào để tố cáo nỗi oan khiên kia?

Bọn ấy chỉ gần với Diêm Vương, gọi tới thì may ra còn có người đáp.

Rồi chỉ đường cho sinh đi.

Sinh đi mau, quả tới một nơi điện lớn thềm cao.

Thấy Diêm Vương đang ngồi, bèn nằm rạp dưới bậc thềm kêu lớn.

Diêm Vương triệu sinh lên hỏi xong, lập tức sai quỷ tốt mang gông xiềng đi.

Giây lát, Quỷ vương cùng Tú tài đều tới Diêm Vương hỏi biết sự thật, cả giận nói:

- Ta thương ngươi kiếp trước chịu khổ, tạm giao cho chức ấy để chờ thác sinh vào nhà giàu sang.

Nay lại dám như thế thì rút gân lành, thêm xương ác của ngươi, phạt cho chết đi sống lại cũng không sao ngóc đầu mở mặt được.

Quỷ vương đang cầm roi ngựa chợt ngã lăn xuống đất, rụng một chiếc răng.

Quỷ tốt cầm đao cắt đầu ngón tay rút gân ra, sáng trắng như tơ.

Quỷ vương kêu đau, tiếng như heo rống, tay chân đều co rút lại, bị hai tên quỷ tốt giải đi.

Sinh dập đầu lạy tạ lui ra, Tú tài theo sau cảm ơn rối rít dắt đưa qua chợ.

Thấy một nhà buông rèm đỏ, trong có một cô gái lộ nửa mặt nhìn ra, dung mạo tuyệt đẹp.

Sinh hỏi đó là nhà ai, Tú tài đáp:

- Đó là nhà chứa!

Đi qua rồi mà sinh vẫn bồi hồi không cất được bước, bèn giữ Tú tài đứng lại, Tú tài nói:

- Ông vì ta mà tới đây, bây giờ ta lại về một mình, coi sao được?

Sinh cố từ chối, Tú tài mới đi.

Sinh chờ cho Tú tài đi thật xa, vội vàng đi mau vào căn nhà buông rèm đỏ.

Cô gái đón tiếp, mừng rỡ ra mặt, đưa sinh vào phòng cùng ngồi, hỏi thăm tên họ.

Kế một bà già mang rượu thịt ra, sinh uống say, cứ hẹn hò đính ước chuyện hôn nhân.

Sáng ra bà già vào phòng nói:

- Củi nước đã cạn kiệt, định xin lang quân cho ít tiền được không?

Sinh sực nhớ trong túi rỗng không hoảng hốt thẹn thùng im lặng hồi lâu mới nói:

- Thật ta không đem theo đồng nào, xin làm giấy nợ, về tới nhà xin lập tức trả ngay.

Bà già đổi sắc mặt nói:

- Lại có chuyện chơi đĩ đòi thiếu tiền à?

Hậm hực cùng cô gái đi vào trong.

Sinh ngượng ngùng hồi lâu, còn định chờ cô gái trở ra để từ biệt và nhắc lại lời đính ước, nhưng lâu quá không thấy động tĩnh gì.

Bèn lén vào nhìn trộm, thấy bà già và Thu Hoa từ vai trở lên đều biến thành quỷ đầu trâu hằm hằm nhìn nhau, phát hoảng trốn ra.

Muốn trở về thì thấy đường xá hàng trăm ngã rẽ, không biết đi lối nào, hỏi người trong chợ thì chẳng một ai biết tên làng mình cả.

Sinh cứ quanh quẩn trên phố suốt hai ngày, lòng dạ ảo não chua xót, bụng đói sôi òng ọc.

Chợt Tú tài đi qua nhìn thấy kinh ngạc hỏi:

- Sao ông còn chưa về, mà lại phờ phạc thế này?

Sinh cúi gằm mặt không biết trả lời thế nào.

Tú tài nói:

- Thôi đúng rồi, có phải bị Dạ xoa mê hoặc không?

Rồi nổi nóng bước đi nói:

- Mẹ con Thu Hoa sao lại không nể mặt khách thế?

Giây lát quay lại, đưa áo cho sinh, nói:

- Con đĩ hỗn láo, ta đã chửi cho một trận rồi.

Đưa sinh về tới nhà rồi chào đi.

Sinh đột ngột chết ba ngày mới sống lại, vẫn kể lại rất rõ ràng.

___________________________________

CHƯƠNG 411: LÝ SINH

Tịnh Xá Tam Doanh Liêu Tá Thập

Nhát Kiên Biêu Lạp Tuyết Trung Hành

Khiên Lư Dục Bãi Phiêu Nhiên Khứ

Bất Tác Tầm Thường Ly Biệt Tình

Dịch:

Ba Gian Tịnh Xá Tạm Kê Giường

Bầu Nón Vai Mang Đạp Tuyết Sương

Lừa Buộc Tắm Xong Phiêu Diêu Bước

Thường Tình Ly Biệt Chẳng Tơ Vương



Lý sinh ở huyện Thương Hà (tỉnh Sơn Đông) là người mộ đạo Phật.

Cách làng hơn một dặm có ngôi chùa, Lý dựng ba căn tịnh xá, ngồi xếp bằng trong đó.

Các nhà sư khất thực qua lại ghé vào ăn ngủ, thường cùng họ bàn kinh kệ, chu cấp đầy đủ.

Một hôm tuyết lớn rất lạnh, có nhà sư già mang bọc ghé vào nghỉ, bàn kinh kệ rất sâu sắc.

Sáng ra định đi, Lý cố giữ lại.

Được vài ngày, Lý có chuyện phải về nhà, nhà sư dặn trở lại sớm, như có ý muốn chào Lý trước khi đi.

Gà gáy Lý đã trở lại, gõ cửa không thấy đáp, bèn leo tường vào.

Thấy trong phòng đèn lửa leo lét, không biết nhà sư làm gì nên nghi ngờ, lén tới nhìn trộm.

Nhà sư sắp xếp hành lý, có một con lừa gầy ốm buộc ngoài lan can, Lý nhìn kỹ thì không phải là lừa thật, mà giống vật chôn theo người chết, có điều vẫn vẫy tai khua đuôi thở phì phì.

Giây lát nhà sư sắp xếp hành lý xong, mở cửa dắt nó ra, Lý đi theo sau.

Ngoài cổng chùa vốn có cái ao lớn, nhà sư buộc lừa vào gốc cây cạnh ao, cởi áo lội xuống vốc nước lên rửa ráy xong, mặc áo vào, kéo lừu xuống tắm cho nó.

Kế đó đeo hành lý nhảy lên lưng lừa, thúc nó đi mau.

Lý mới cất tiếng gọi, nhà sư chỉ từ xa chắp tay cáo biệt, chưa kịp nghe nói gì thì đã đi xa rồi.

Trên đây là lời của Vương Mai Ốc.

Vương là bạn của Lý, từng tới chơi nhà, thấy trên sảnh đường treo một tấm biển viết “Sảnh đợi chết" (Đãi tử đường), cũng là một bậc đạt sĩ.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 412+413+414+415


CHƯƠNG 412: TƯỞNG THÁI SỬ

Nguyên Thị Loan Pha Thị Tòng Thần

Khước Tòng Sơ Địa Chứng Tiền Nhân

Nga My Sơn Tự Kim Sa Khách

Lưu Đắc Kim Cương Bất Hoại Thân

Dịch:

Nguyên Chính Thị Thần Theo Thánh Giá

Lại Từ Nơi Trước Chứng Tiền Thân

Khách Kim Sa Ở Nga My Tự

Lưu Được Kim Cương Bất Hoại Thân



Thái sử Tưởng Siêu nhớ được kiếp trước là sư trên núi Nga Mi, mấy lần mơ thấy tới bên bờ đầm cạnh nơi ở cũ rửa chân.

Tính rất thích kinh Phật, luôn nghĩ tới kinh kệ, tuy sớm vào Hàn lâm nhưng thường có ý xuất gia.

Có lần rảnh rỗi xuống Giang Nam chơi, tới Tần Bưu không muốn về nữa, người con trai khóc lóc lôi kéo, ông không nghe.

Kế vào đất Thục, tới ở chùa Kim Sa tại Thành Đô (tỉnh thành Tứ Xuyên).

Lâu sau lại tới núi Nga Mi, lên ở chùa Bạch Hổ, nói bệnh rồi hóa, tự viết bài kệ rằng:

Tu nhiên viên hạc tự lai thân,

Lão nạp vô đoan trụy nghiệp trần.

Ninh hướng hoạch thang cầu ty nhiệt,

Na tùng đại hải khứ phiên thân.

Công danh khổi lỗi trường trung vật,

Thê tử khô lâu đội lý nhân.

Chỉ hữu quân thân vô báo đáp,

Sinh sinh thường tự chúc năng nhân.

Dịch:

(Thảnh thơi vượn hạc tới cùng thân

Lão nạp không dưng xuống cõi trần

Cứ hướng vạc sôi mong tránh nóng

Sao theo bể lớn thỏa xoay vần

Công danh ngao ngán tuồng con rối

Thê tử mong manh kiếp thế nhân

Chỉ có hiếu trung chưa hết phận

Hóa sinh vẫn nghĩ phải làm nhân)

TRUYỆN PHỤ: MỘT TRUYỆN TRONG TRÌ BẮC NGẪU ĐÀM

Hàn lâm Tu soạn, tiên sinh Hổ Thần Tưởng Siêu người Kim Đàn, tự hiệu là Hoa Dương sơn nhân.

Lúc nhỏ ham mê Phật học, không uống rượu ăn thịt, bà nội ông nằm mơ thấy là nhà sư già ở núi Nga Mi tới đầu thai.

Khi ông được vài tuổi thường nằm mơ thấy mình là sư già ở trong một gian nhà tranh, sau nhà có dòng suối chảy tới, có lúc nhúng một chân vào suối để rửa rồi xuống suối tắm, phía trên là núi cao chọc trời, lại có mấy lần nằm mơ thấy Phật Nhiên Đăng vào phòng mình cùng luận bàn kinh kệ.

Năm mười lăm tuổi, có hai đạo nhân tới ngồi ở cửa nói:

- Sơn nhân có thầy ở núi Nga Mi, đã hơn hai trăm tuổi, sợ đã rơi rụng rồi.

Vân vân, hồi lâu mới đi.

Năm Đinh hợi niên hiệu Thuận Trị (1647) tiên sinh hai mươi ba tuổi, thi đỗ Tiến sĩ đệ nhất giáp đệ tam danh, được bổ vào Hàn lâm viện, hơn hai mươi năm thì về ở ẩn, kế được thăng từ hàm Biên tu lên hàm Tu soạn, chết ở chức Sử quan.

Tính ông thích ngao du sơn thủy, đi chơi khắp từ Ngũ nhạc tới các núi Hoàng Sơn, Cửu Hoa, Khuông Lư, Thiên Đài, Võ Đương, không hề sợ cọp beo rắn rết.

Lúc về già làm việc ở Sử quán lấy cớ có bệnh cáo về, nhưng không về Giang Nam mà từ đất Sở (vùng Hồ Nam) đi thuyền lên Vu Giáp vào Nga Mi, tháng giêng năm Quý sửu chết ở chùa Phục Hổ núi Nga Mi.

Lúc tịch có làm bài thơ rằng:

- Lại hướng vạc sôi mong mát mẻ!

Vân vân.

Thường nói mình là dòng dõi của Thừa tướng Tưởng Uyển nhà Thục Hán, lúc ở đất Thục (vùng Tứ Xuyên) có làm bộ Tứ Xuyên thông chí, vì việc Uyển cứ tới đập của các dinh Tuần phủ, Cha chánh, án sát ở tỉnh, ngông nghênh không chịu bị câu thúc tới như thế đấy.

___________________________________

CHƯƠNG 413: ẤP NHÂN

NGƯỜI TRONG ẤP

Tam Can Nhật Thượng Mộng Tinh Thời

Dĩ Thụ Lăng Trì Nhất Độ Lai

Địa Ngục Bất Tu Đồ Biến Tướng

Nhãn Tiền Tùy Xứ Hữu Luân Hồi

Dịch:

Mặt Trời Lên Bỗng Vừa Tàn Mộng

Đã Bị Lăng Trì Một Độ Rồi

Địa Ngục Không Nên Coi Giản Dị

Tùy Nơi Trước Mắt Có Luân Hồi



Trong huyện có người làng nọ vốn là kẻ vô lại.

Một buổi sáng ngủ dậy, thấy có hai người tới bắt đi, tới đầu chợ, gặp người đồ tể treo nửa con heo lên giá, hai người lấy hết sức xô vào, y chợt thấy mình dính liền vào với thịt heo.

Lát sau người đồ tể chặt thịt bán, vung dao cắt xẻo, cắt tới đâu y thấy đau tới đó, buốt tới tận xương tủy.

Sau lại có người hàng xóm của y tới mua thịt, cứ cò kè trả giá, hết thêm mỡ lại bớt nạc, cắt vụn cả ra, lại càng đau đớn.

Đến khi thịt heo đã bán hết, y mới tìm đường về được.

Về tới nhà thì mặt trời đã lên cao, người nhà nói rằng y dậy muộn, bèn kể lại những việc mình đã gặp.

Gọi người hàng xóm để hỏi, thì quả là đi chợ mua thịt mới về tới nói là có bao nhiêu miếng thịt bao nhiêu miếng mỡ đều đúng vanh vách.

Trong vòng buổi sáng mà đã qua một phen bị tùng xẻo chẳng cũng lạ sao.

___________________________________

CHƯƠNG 414+415: VU TRUNG THỪA (1+2)

Thùy Tòng Cụ Thất Đạo Trang Liêm

Hỏa Sách Kinh Truyền Pháp Lệnh Nghiêm

Sưu Đắc Trung Y Tần Xuất Nhập

Cá Trung Cơ Trí Diệc Thao Kiêm

Dịch:

Danh Gia Mất Trộm Vật Trang Liêm

Gay Gắt Truy Tầm Hạ Lệnh Nghiêm

Thậm Thụt Vào Ra Trong Áo Lót

Trí Cơ Trong Đó Lược Thao Kiêm

____

Chiết Ngục Vô Quan Duyệt Lịnh Thâm

Chỉ Tu Đương Cục Khẳng Lưu Tâm

Tống Nghinh Thiếu Phụ Giai Nam Tử

Hà Huống Tần Tham Thủ Nhập Khâm

Dịch:

Tụng Đình Lịch Duyệt Chẳng Liên Quan

Đương Cục Lưu Tâm Mới Việc Cần

Đưa Đón Đàn Bà Toàn Hán Tử

Huống Luôn Tay Lủi Lọt Trong Chăn



Trung thừa Vu Thành Long đi tuần sát tới huyện Cao Khâu (tỉnh Giang Tô).

Gặp lúc có người thân hào sắp gả con gái, quần áo nữ trang rất nhiều, đêm bị kẻ trộm đào ngạch vào lấy hết sạch, quan phủ huyện không biết làm sao truy tìm.

Ông Vu sai đóng hết các cổng thành, chỉ mở một cổng cho dân ra vào, sai người canh giữ khám xét rất ngặt để tìm tang vật.

Lại ra lời hiểu thị rằng:

- Tất cả người trong thành đều phải về ở nhà, chờ hôm sau khám xét xem có giấu diếm của cải ăn trộm không.

Rồi ngầm dặn những người canh giữ cửa thành lưu ý xem ai ra vào cổng thành nhiều lần thì bắt.

Quá trưa thì bắt được hai người, nhưng chỉ đi tay không không có hành lý gì.

Ông nói:

- Đây đúng là kẻ trộm rồi!

Hai người phân trần không thôi.

ông sai cởi áo ra để khám, thấy phía trong áo còn mặc thêm hai chiếc áo đàn bà, đều là vật ăn trộm được.

Đại khái chúng sợ hôm sau lục soát khám xét nên vội mang đi giấu, nhưng quần áo nhiều quá khó mang xách nên cứ ngầm mặc trong người ra vào nhiều lần.

Lại lúc ông làm Tri huyện, có lần qua huyện bên cạnh, sáng sớm đi gần tới thành thấy hai người cáng một người bệnh.

Người bệnh trùm một cái chăn lớn, trên gối để lộ ra mái tóc, có cài một chiếc trâm hình con phượng, nằm nghiêng trên cáng.

Có ba bốn người đàn ông khỏe mạnh đi theo bên cạnh, thay nhau lấy tay đè mép chăn xuống sát người bệnh như sợ gió lọt vào.

Cứ giây lát lại ghé vào bên đường cho hai người khác thay phiên khiêng cáng.

ông Vu đi qua rồi, sai người quay lại hỏi, họ đáp là em gái bị bệnh nặng phải đưa về bên nhà chồng.

Ông đi được hai ba dặm, lại sai người quay lại xem họ vào thôn nào.

Sai nhân đi theo, tới một thôn nọ thấy có hai người đàn ông ra đón họ vào nhà, trở lại bẩm với ông.

Ông hỏi quan huyện ấy rằng trong thành có giặc cướp gì không, quan huyện đáp rằng không.

Lúc ấy triều đình quy trách nhiệm về quan lại rất nghiêm khắc, trên dưới đều sợ nên cho dù trong hạt bị trộm cướp cũng ẩn nhẫn không dám nói ra.

Ông tới quán xá rồi, sai người nhà hỏi kỹ, quả nhiên có người nhà giàu bị cướp vào nhà phóng hỏa giết chết.

Ông gọi con người nhà giàu tới hỏi, người ấy không nhận là nhà vừa bị cướp.

Ông nói:

- Ta đã tra xét thay, biết được bọn cướp ở đây rồi, chẳng xa xôi gì đâu.

Con người nhà giàu bèn dập đầu năn nỉ, xin ông rửa hờn cho người chết.

Ông tới gõ cửa gặp quan huyện, cắt đặt lính khỏe rầm rộ ra thành, tới thẳng thôn nọ, bắt được tám người, vừa hỏi cung đã nhận tội.

Hỏi người đàn bà bị bệnh là ai, chúng khai:

- Đêm ấy cùng về kỹ viện nên bàn với kỹ nữ, đặt vàng trong cáng cho cô ta nằm ôm lấy để che giấu, vừa mới chia chác xong.

Mọi người đều phục ông Vu sáng suốt như thần.

Có người hỏi vì đâu mà ông biết chúng là bọn cướp, ông đáp:

- Chuyện này rất dễ, chỉ vì người ta không để ý thôi.

Đời nào có chuyện đàn bà nằm trên cáng mà lại để đàn ông thò tay vào trong giữ chăn bao giờ?

Vả lại chốc chốc lại đổi vai khiêng cáng, có vẻ rất nặng nhọc, đủ biết trên cáng còn có đồ vật khác nữa.

Mà nếu đàn bà có bệnh phải đưa về thì phải là đàn bà ra cổng đón chứ.

Đây lại là hai người đàn ông, mà chẳng hề ngạc nhiên hỏi han một lời, nên biết chắc đó là bọn cướp.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 416+417+418+419+420


CHƯƠNG 416: VƯƠNG TỬ AN

Túy Lý Tần Hô Thưởng Thập Thiên

Đông Xương Danh Sĩ Cánh Như Điên

Nhất Ban Lạc Giải Quần Sai Thắng

Do Kiến Trưởng Ban Bái Tháp Tiền

Dịch:

Say Khước Luôn Hô Thưởng Vạn Tiền

Đông Xương Danh Sĩ Giống Như Điên

Cùng Hàng Thi Trượt Ai Còn Bảnh

Thấy Trưởng Ban Quỳ Lạy Án Tiền



Vương Tử An là danh sĩ huyện Đông Xương (tỉnh Sơn Đông) nhưng lận đận mãi ở chốn trường ốc.

Khoa ấy vào thi xong, Vương rất mong mỏi, gần đến ngày ra bảng thì uống rượu say mèm, về nằm trong phòng.

Chợt có người bẩm ngựa báo tin thi đỗ tới Vương choàng dậy nói:

- Thưởng người báo tin mười ngàn!

Người nhà thấy say, nói dối cho qua chuyện:

- Xin cứ ngủ yên, đã thưởng rồi!

Vương lại ngủ tiếp.

Giây lát lại có người bẩm:

- Ông đỗ Tiến sĩ!

Vương nói một mình:

- Còn chưa lên kinh, làm sao đã đỗ Tiến sĩ?

Người ấy nói:

- Ông quên rồi à?

Đã qua tam trường rồi.

Vương cả mừng lại vùng dậy gọi:

- Thưởng người báo tin mười ngàn!

Người nhà lại nói dối:

- Xin cứ ngủ yên, đã thưởng rồi!

Lát sau, một người bước mau vào bẩm:

- Ông thi điện đỗ Hàn lâm, Trưởng ban đang có mặt.

Nhìn ra quả có hai người đang lạy trước giường, áo mũ tề chỉnh.

Vương gọi dọn rượu mời, người nhà lại ậm ừ, cười thầm là say tới như thế.

Hồi lâu, Vương lại nghĩ không thể không ra ngoài cho vẻ vang với làng xóm, cất tiếng gọi Trưởng ban, nhưng gọi cả chục lần vẫn không thấy thưa.

Người nhà cười nói:

- Xin tạm nằm thêm một lúc, ông ta vừa ra ngoài.

Hồi lâu quả nhiên Trưởng ban lại tới, Vương đập giường giậm chân mắng thằng đầy tớ chậm chạp đi đâu mất mặt, Trưởng ban nổi giận nói:

- Đồ học trò khố rách vô lại, nãy giờ ta đùa với ngươi, mà ngươi mắng thật à?

Vương giận lắm vùng dậy tát cho rơi cả mũ, Vương cũng ngã theo.

Vợ vào đỡ dậy nói:

- Sao mà say tới mức này?

Vương đáp:

- Thằng Trưởng ban đáng ghét, ta phải trị nó chứ say cái gì?

Vợ cười nói:

- Trong nhà chỉ có một mụ già ban ngày nấu cơm, ban đêm ấp chân cho ông, lấy đâu ra Trưởng ban?

Chờ đến khi ông rạc xương ra ấy à?

Con cái đều phì cười, Vương cũng hơi tỉnh rượu, chợt như tỉnh mộng mới biết những việc trước đó đều là nhảm nhí.

Nhưng vẫn nhớ việc Trưởng ban rơi mũ, tìm tới sau cửa thấy có một cái núm giải mũ to bằng cái chén, mọi người đều lạ lùng.

Vương cười nói :

- Người xưa bị quỷ trêu chọc, ta nay thì bị hồ lấy làm trò cười.

___________________________________

CHƯƠNG 417: MỤC THỤ

MỤC ĐỒNG

Lang Tử Hô Cao Cứ Thụ Điên

Lão Lang Thụ Để Tẩu Bàn Hoàn

Hưu Ngôn Xuẩn Loạn Vô Tri Thức

Sĩ Độc Tư Tình Diệc Khả Liên

Dịch:

Lang Con Trên Ngọn Gào Thét Vang

Gốc Cây Lang Mẹ Chạy Điên Cuồng

Đừng Khinh Súc Vật Loài Ngu Xuẩn

Tình Nặng Vì Con Cũng Đáng Thương



Có hai đứa trẻ chăn trâu vào núi gặp hang sói, thấy trong có hai con sói con, bèn bàn tính rồi mỗi đứa bắt một con, chia nhau leo lên hai cái cây cách nhau vài mươi bước.

Giây lát sói mẹ về, vào hang thấy mất con, có vẻ lo lắng hoảng sợ.

Một đứa trẻ bèn kéo tai kéo chân sói con cho nó kêu lên, sói mẹ nghe tiếng ngẩng nhìn, giận dữ lao tới dưới gốc cây, gầm thét cắn xé.

Đứa trên cây kia lại chọc cho sói con kêu ầm lên, sói mẹ nghe tiếng, ngoảnh nhìn bốn phía, vừa trông thấy thì bỏ gốc cây này phóng qua, đứng dưới gầm thét.

Tiếng sói con lại kêu lên trên cây bên này, sói mẹ lại phóng qua, cứ thế miệng không ngừng gầm, chân không ngừng chạy, qua lại vài mươi lần thì chạy chậm dần, gầm nhỏ dần, sau cùng nằm phục xuống hồi lâu không động đậy.

Hai đứa trẻ leo xuống nhìn, thì đã đứt hơi chết rồi.

Nay có kẻ cường hào trợn mắt vỗ kiếm như định nuốt sống người ta, kẻ làm cho y nổi giận bèn đóng chặt cửa.

Y chữi mắng kiệt sức khan tiếng thấy không ai chống lại, há chẳng đắc ý tự cho là oai hùng?

Không biết đó chỉ là cái oai của thú vật, người ta cố ý chọc ghẹo để làm trò vui mà thôi.

___________________________________

CHƯƠNG 418: TÊN ẤT Ở KIM LĂNG

Lân Phụ Như Hà Khả Khải Du

Hại Y Trước Thể Cánh Thành Hồ

Tà Ma Nhất Động Tâm Tiên Biến

Mạc Nhạ Chân Long Bích Thượng Phù

Dịch:

Vợ Người Hàng Xóm Dám Lơ Mơ

Khoác Áo Lông Xong Bỗng Hóa Hồ

Chớm Nghĩ Tà Gian Tâm Đã Biến

Vách Bùa Rồng Hiện Có Đâu Ngờ



Người bán rượu ở Kim Lăng (tỉnh thành Giang Tô) là Ất, mỗi khi cất rượu xong lại ngâm vào nước cho nồng thêm, người mạnh rượu bao nhiêu cũng chỉ uống vài chén là say mềm, nhờ vậy nổi tiếng là có rượu ngon, trở nên giàu có.

Một buổi sáng thức dậy, thấy có con hồ say nằm cạnh hầm rượu, bèn trói chặt bốn chân, đang tìm dao để giết thì hồ tỉnh dậy cầu khẩn rằng:

- Xin tha cho, ông muốn gì cũng được.

Ất bèn thả ra, nó lăn lộn vài cái biến thành người.

Lúc ấy có họ Tôn ở cùng ngõ, vợ bị hồ ám, Ất nhân đó hỏi.

Hồ đáp:

- Đó là ta đấy!

Ất thấy người em dâu họ Tôn rất đẹp, xin hồ dắt theo, hồ lấy làm khó.

Ất nài nỉ mãi, hồ bèn đưa đi, tới một cái hang, hồ lấy một tấm áo đưa cho, nói:

- Đây là của tiên huynh để lại, mặc vào thì có thể tới đó được.

Ất mặc vào đi về nhà, người nhà đều không ai nhìn thấy, tới khi mặc áo thường trở ra, họ mới nhìn thấy.

Ất cả mừng, cùng hồ tới nhà họ Tôn, thấy trên tường dán lá bùa lớn vẽ mấy nét ngoằn ngoèo như con rồng.

Hồ sợ nói:

- Hòa thượng ác thật ta không vào được.

Bèn lui lại bỏ đi.

Ất mon men tới gần thì có con rồng thật từ vách nhô ra, ngẩng đầu muốn bay tới, sợ quá cũng lui lại.

Đó là họ Tôn tìm được một nhà sư nước ngoài nhờ trấn yểm hồ, nhà sư mới trao cho lá bùa về trước dán chứ chưa tới.

Hôm sau nhà sư tới, lập đàn làm phép, hàng xóm kéo qua xem, Ất cũng trà trộn trong đó, chợt biến sắc bỏ chạy về nhà, tới cửa thì ngã xuống đất biến thành con hồ, chân tay còn mặc quần áo người.

Nhà sư toan giết, vợ con Ất lạy lục năn nỉ, nhà sư bèn sai trói nhất lại, hàng ngày cho ăn uống, được vài hôm thì chết.

___________________________________

CHƯƠNG 419: CHIẾT NGỤC (1)

XỬ KIỆN

Hỉ Thập Di Thoa Bất Vị Tài

Nhất Tiêu Dâm Xá Sát Cơ Khai

Bất Di Ngân Phục Phi Vô Ý

Lưu Đãi Tha Thời Xuất Thủ Lai

Dịch:

Mừng Được Thoa Rơi Chẳng Vị Tiền

Gian Dâm Xúc Động Sát Cơ Liền

Giữ Bao Đựng Bạc Nguyên Thâm Ý

Tang Chứng Rồi Ra Thấy Quả Nhiên



Phía tây huyện ta có thôn cạnh núi.

Có kẻ trong thôn đi buôn bị giết trên đường, đêm hôm sau thì người vợ tự tử, em trai người đi buôn khóc lóc lên kêu với quan.

Lúc ấy ông Phí Huy Vĩ làm huyện lệnh Truy Xuyên, đích thân tới khám nghiệm, thấy bọc tiền của người ấy còn năm nén bạc vẫn giắt trong lưng, biết đây không phải là vụ giết người cướp của.

Bèn đòi hương chức ở thôn ấp tới hỏi, thẩm xét qua một lượt không được chút manh mối gì, cũng thả cho về cả chứ không bắt bớ một ai, chỉ sai họ ngấm ngầm dò xét, cứ mười ngày một lần lên huyện bẩm lại mà thôi.

Được nửa năm việc hầu như bị dìm đi, em trai người đi buôn oán ông nhân từ nhu nhược, lên huyện làm ầm ĩ.

Ông giận nói:

- Người không nêu được đích danh kẻ nào, lại muốn ta bắt bớ đánh đập kẻ lương dân à?

Sai quát đuổi ra.

Em trai người đi buôn không có cách nào, căm hờn trở về chôn cất anh và chị dâu.

Một hôm có mấy người thiếu thuế bị bắt giải lên huyện, trong đó có một người tên Chu Thành sợ bị giam, bẩm rằng đã lo đủ tiền nộp thuế, rút bọc tiền giắt trong lưng đưa lên cho quan xem.

Ông xem xong hỏi:

- Nhà ngươi ở làng nào?

Đáp ở thôn Mỗ.

Lại hỏi cách thôn cạnh núi phía tây huyện bao xa, đáp là năm sáu dặm.

Ông hỏi:

- Năm rồi thôn ấy có người đi buôn bị giết, là gì của ngươi?

Đáp là không hề quen biết.

Ông chợt đùng đùng nổi giận nói:

- Ngươi giết y, lại còn nói là không hề quen biết à?

Chu ra sức phân trần, ông không nghe, sai tra tấn, quả nhiên y chịu nhận tội.

Trước đó vợ người đi buôn là Vương thị đi thăm họ hàng, thẹn vì không có món đồ trang sức nào, nói với chồng bảo sang nhà hàng xóm mượn chiếc thoa, chồng không chịu.

Vương thị bèn sang mượn rồi đi thăm họ hàng, giữ gìn rất cẩn thận, trên đường về tháo ra cho vào bọc tiền cất trong tay áo, về tới nhà xem lại thì đã làm rơi mất, không dám nói với chồng, cũng không có cách nào đền cho hàng xóm, lo buồn muốn chết.

Hôm ấy Chu tình cờ nhặt được, biết là của Vương thị làm rơi, bèn rình lúc người đi buôn vắng nhà, nửa đêm nhảy tường vào, định lấy đó ép Vương thị ngủ với mình.

Hôm ấy trời nóng nực, Vương thị ngủ ở sân, Chu tới cưỡng ép, Vương thị tỉnh giấc la lớn.

Chu vội ngăn lại, đưa chiếc thoa ra.

Xong rồi Vương thị dặn:

- Từ nay về sau đừng tới nữa, đàn ông nhà ta dữ lắm, y biết thì chết cả.

Chu tức giận nói:

- Ta mà cầm cái thoa này tới kỹ viện thì đủ ngủ mấy đêm, chẳng lẽ mới có một lần mà đã đủ à?

Vương thị nói ngọt rảng:

- Không phải ta không muốn.

Nhưng chồng ta nhiều bệnh, chẳng bằng cứ thong thả, chờ y chết rồi sẽ tính.

Chu bèn về, vì vậy rình giết người đi buôn, đêm tới nói với Vương thị:

- Bây giờ y đã bị người ta giết rồi, xin nàng theo lời hứa.

Vương thị nghe thế khóc ầm lên, Chu hoảng sợ bỏ trốn, sáng ra thì Vương thị chết.

Ông hỏi rõ được hết sự thật, bèn khép tội Chu.

Người ta đều phục là ông sáng suốt như thần, song không rõ ông dựa vào đâu mà biết là Chu giết người đi buôn.

Ông nói:

- Chuyện này không khó, chỉ cần để ý đúng chỗ thôi.

Lúc ta khám nghiệm xác chết, thấy bọc tiền có thêu chữ Vạn, bọc tiền của Chu cũng thế, cùng là do tay một người thêu.

Khi hỏi thì y đáp là không hề quen biết người kia, lời lẽ sắc mặt đều có vẻ giả trá, cho nên biết được.

___________________________________

CHƯƠNG 420: CHIẾT NGỤC (2)

Vẫn Thân Khô Tỉnh Thục Tri Oan

Thiên Sử Hồ Thành Tác Hí Ngôn

Lệnh Doãn Hữu Tài Nằng Chiết Ngục

Nhất Thời Viễn Cạn Hỉ Binh Phiên

Dịch:

Oan Trầm Xác Quẳng Giếng Khô Vùi

Trời Khiến Hồ Thành Nói Giỡn Chơi

Quan Doãn Có Tài Minh Đoán Ngục

Gần Xa Mừng Thấy Nỗi Oan Vơi



Trong huyện có Hồ Thành cùng làng với Phùng An, nhiều đời có hiềm khích với nhau.

Cha con Hồ hung dữ, Phùng nhịn nhục qua lại chơi bời, song rốt lại Hồ vẫn ngờ vực.

Một hôm cùng uống rượu, Hồ hơi say không còn giữ gìn nữa, bèn nói khoác rằng:

- Ta chẳng sợ gì nghèo, gia tài trăm lượng vàng chẳng phải là khó kiếm.

Phùng thấy nhà Hồ không giàu, bèn chế nhạo.

Hồ tỏ vẻ thành thật nói:

- Nói thật nhé, đêm qua gặp nhà buôn giàu trên đường mang rất nhiều hàng, ta đã giết y quăng xuống giếng cạn ở núi nam rồi.

Phùng lại cười nhạo.

Lúc ấy em rể của Hồ là Trịnh Luân nhờ mua ruộng đất, có gởi ở nhà Hồ mấy trăm đồng tiền vàng, Hồ bèn đem ra giả làm chứng cớ, Phùng mới tin.

Hôm sau Phùng ngầm lên huyện tố cáo, ông cho bắt Hồ tra hỏi, Hồ bèn nói hết sự thật, hỏi tới Trịnh Luân và người bán ruộng cũng không sai.

Bèn tới chỗ giếng cạn, dòng dây sai một người lính lệ xuống xem, thì quả có một cái thây người không đầu dưới đáy giếng.

Hồ hoảng sợ không biết làm sao phân trần, chỉ kêu là oan.

Ông giận, sai đánh vài mươi tát, nói:

- Chứng cớ rõ ràng, còn kêu oan à?

Sai đóng gông tử tù giam lại.

Cái thây thì không cho mang lên, chỉ hiểu thị cho các làng gọi người nhà tới nhận.

Vài hôm sau có người đàn bà tới nhận là vợ người chết, nói rằng chồng tên Hà Giáp, mang vài trăm đồng tiền vàng đi buôn, bị Hồ giết chết.

Ông nói:

- Dưới giếng có xác người chết thật, nhưng chắc đâu đúng là chồng ngươi.

Người đàn bà cả quyết đó là chồng mình, ông bèn cho mang cái xác lên, xét ra quả đúng.

Người đàn bà không dám tới gần, chỉ đứng xa xa gào khóc.

Ông nói:

- Đã bắt được thủ phạm rồi, nhưng thi thể người chết chưa đầy đủ, ngươi cứ tạm về nhà, khi nào tìm được cái đầu, sẽ báo quan trên xét rồi kết án.

Rồi cho gọi Hồ trong ngục ra, nói:

- Ngày mai mà không đem được cái đầu tới đây, sẽ đánh cho một trận.

Lính lệ giải Hồ đi cả ngày trở về, hỏi cái đầu đâu, Hồ chỉ kêu khóc.

Ông sai bày các thứ hình cụ ra, làm như sắp tra khảo rồi bảo dừng lại, nói:

- Hay là trong đêm ngươi vội vã quăng bừa không biết là rơi ở đâu sao không chịu tìm cho kỹ?

Hồ kêu là oan, ông tha cho, bắt phải tìm gấp.

Ông lại hỏi người đàn bà có mấy đứa con rồi, thưa rằng không có.

Hỏi thân thích của Giáp còn những ai, thưa rằng:

- Chỉ còn có một ông chú.

Ông bùi ngùi nói:

- Còn trẻ đã chết chồng, lênh đênh như vậy, rồi lấy gì mà sống?

Người đàn bà bật khóc, xin ông thương xót.

Ông nói:

- Tội kẻ giết người đã rõ, chỉ cần tìm được đầu người chết, án này sẽ kết thúc.

Kết thúc án này xong, ngươi có thể cải giá ngay.

Ngươi là đàn bà trẻ tuổi, khỏi ra vào công đường nữa.

Người đàn bà cảm kích khóc lạy rồi ra, ông ra lệnh cho người làng tìm giúp cái đầu xác chết.

Qua một đêm, lập tức có Vương Ngữ cùng thôn báo là đã tìm được, ông đưa ra khám nghiệm cái đầu rõ ràng xong, bèn thưởng cho y một ngàn đồng tiền, gọi chú của Giáp lên nói:

- Án lớn đã xong nhưng mạng người là lớn, chưa hết năm chưa kết thúc được.

Cháu ngươi đã chết, vợ y còn trẻ không biết lấy gì mà sống, cứ cho đi lấy chồng khác, từ nay về sau không hỏi tới nữa.

Nếu có quan trên cần xem xét lại, chỉ cần ngươi có mặt là đủ.

Người chú của Giáp không chịu, ông ném hai cái thẻ tre xuống*, vừa lại định cãi, ông lại ném ra một cái thẻ tre nữa, người chú của Giáp sợ, vâng dạ lui ra.

Người đàn bà nghe chuyện tới tạ ơn ông, ông hết sức dịu ngọt an ủi, lại ra lệnh ai muốn cưới người ấy phải bẩm với quan.

*[Ném hai cái thẻ tre xuống: ngày xưa lệ ở công đường sắp đánh đòn trách phạt kẻ có tội thì quan ném thẻ tre ra làm hiệu lệnh.

Đây ý nói Phí Huy Vĩ dọa sẽ đánh đòn người chú của Hà Giáp].

Ngay sau đó có kẻ lên huyện thưa với quan xin cưới, đó là Vương Ngũ, người tìm ra cái đầu xác chết.

ông gọi người đàn bà lên huyện hỏi:

- Ngươi đã biết kẻ giết người thật là ai chưa?

Thưa là Hồ Thành.

Ông nói:

- Không phải đâu, ngươi và Vương Ngũ mới đúng là thủ phạm đấy.

Hai người hoảng hốt, ra sức biện hộ là bị oan ức.

Ông nói:

- Ta đã biết sự thật từ lâu, nhưng để từ từ mới nói ra, là vì sợ vạn nhất có chỗ oan uổng thôi.

Cái thây chưa mang lên khỏi giếng, sao ngươi đã biết đó đúng là chồng ngươi, rõ ràng đã biết trước rằng y đã chết rồi.

Vả lại người đi buôn chết mà áo mặc rách mướp, lấy đâu ra vài trăm đồng tiền vàng?

Lại nói với Vương Ngữ rằng:

- Tại sao ngươi biết rõ chỗ cái đầu như vậy?

Sở dĩ ngươi gấp gáp như thế, là vì muốn lấy ngườì đàn bà này sớm thôi.

Hai người mặt xám như tro không nói được câu nào, đến khi bị tra khảo, quả đều khai nhận tội.

Đại khái Vương Ngũ và người đàn bà tư thông với nhau đã lâu, bèn mưu giết chồng người đàn bà, lại gặp đúng lúc Hồ Thành nói đùa nên thành chuyện.

Ông bèn tha cho Hồ, phạt trượng rồi đày Phùng An ba năm vì tội vu cáo.

Án ấy kết thúc, không người nào bị chịu cực hình oan uổng.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 421+422+423+424


CHƯƠNG 421: CẦM HIỆP

CHIM NGHĨA HIỆP

Thác Địa Ưng Giao Kế Vạn Tuyền

Phúc Sào Hà Phục Phí Thiên Diên

Hiệp Cầm Túng Sử Năng Tiêu Hận

Xồ Tử Thương Tàn Hựu Nhất Niên

Dịch:

Chỗ Ở Cần Nên Tính Vạn Tuyền

Tổ Tan Sào Lại Để Trì Diên

Hiệp Cầm Dù Cks Hay Tiêu Hận

Chim Nhỏ Thương Tàn Lại Một Phen



Chùa nọ ở huyện Thiên Tân (tỉnh Hà Bắc) có đôi hạc làm tổ ở góc điện Phật.

Giữa mái và trần điện Phật có con rắn lớn như cái chậu, khi hạc con vừa mọc lông cánh thì bò ra nuốt sạch.

Đôi hạc kêu bi thảm mấy hôm rồi bay mất.

Cứ thế ba năm, đôi hạc như cho rằng rắn không tới đó nữa, vẫn trở về làm tổ như cũ.

Khi hạc con vừa lớn, đôi hạc bay đi, ba ngày mới về, vào tổ kêu ríu rít, mớm cho hạc con ăn.

Con rắn lại ngoằn ngoèo bò lên, gần tới tổ thì đôi hạc hoảng sợ, bay ra kêu gấp, lên thẳng trên trời.

Chợt nghe tiếng ào ào, trong chớp mắt trời đất tối sầm, mọi người kinh hãi, nhìn ra thấy một con chim lớn cánh che rợp mặt trời từ trên không lao xuống mau như cơn lốc, giơ móng chụp vào rắn, đầu con rắn đứt ra rơi xuống làm sập cả mấy thước tường góc điện, rồi giương cánh bay đi.

Đôi hạc bay theo sau như tiễn đưa.

Cái tổ hạc lật nghiêng, hai con hạc con rơi xuống đất, một con sống một con chết.

Sư ở đó đem con còn sống đặt lên gác chuông, lúc sau đôi hạc về lại tiếp tục nuôi mớm cho.

Đến khi hạc con đủ lông cánh thì cùng bay đi.

___________________________________

CHƯƠNG 422: CHIM HỒNG

Lũy Thạch Phần Âm Sự Khả Ai

Song Phi Vô Kế Vũ Đồng Tồi

Như Kim Hạnh Hữu Sinh Toàn Thuật

Hàm Đắc Hoàng Kim Thục Phụ Lai

Dịch:

Lũng Đá Âm Thầm Rất Đáng Bi

Cùng Bay Liền Cánh Kế Khôn Thi

Nay May Nghĩ Được Sinh Toàn Thuật

Liền Ngậm Vàng Đem Chuộc Vợ Về



Có người đánh lưới chim ở phủ Thiên Tân (tỉnh Trực Lệ) bắt được một con chim hồng.

Con trống theo y về tới tận nhà, kêu thảm thiết lượn trên nóc, đến chiều tối mới bay đi.

Hôm sau người ấy ra khỏi nhà từ sáng sớm, thì con hồng đã tới bay theo kêu la, rồi nhảy xuống đậu sát dưới chân y.

Người ấy chụp bắt luôn, thì nó vươn cổ lên nhả ra nửa nén vàng, y hiểu ý nói:

- Đây là nó chuộc vợ đây!

Bèn thả con mái ra, đôi chim quẩn quanh cạnh nhau một lúc như vừa đau thương vừa mừng rỡ, rồi mới cùng bay đi.

Người ấy đem cân vàng, thì được hơn hai lượng sáu đồng cân.

Ôi, loài chim biết gì mà cũng chung tình tới như thế.

Ở đời không gì buồn bằng nỗi buồn ly biệt, loài vật cũng như thế chăng.

___________________________________

CHƯƠNG 423: TƯỢNG

CON VOI

Nhiếp Đắc Ngu Nhân Nhược Hữu Cầu

Xuẩn Tư Cụ Tượng Cánh Năng Mưu

Nỗ Cường Nhất Túng Toan Nghê Ế

Bất Tích Đa Nha Tác Tặng Thù

Dịch:

Ngu Nhân Mời Được Ngỏ Yêu Cầu

Ngớ Ngẩn Voi To Biết Dụng Mưu

Nỏ Cứng Buông Tên Sư Tử Chết

Tặng Ngà Chẳng Tiếc Báo Ơn Sâu



Ở đất Quảng (tỉnh Quảng Đông) có người đi săn mang cung tên vào núi, nhân ngồi nghỉ mệt bất giác ngủ thiếp đi, bị một con voi tới đưa vòi cuốn lấy mang đi, tự nghĩ rảng sẽ bị giết chết.

Không bao lâu con voi đặt y xuống dưới một gốc cây lớn, cúi đầu kêu một tiếng, một đàn voi ào ào kéo tới đứng vây chung quanh, như muốn khẩn cầu điều gì.

Con voi kia bèn nằm xuống dưới gốc cây, ngẩng nhìn lên cây rồi cúi xuống nhìn người đi săn, như muốn y leo lên.

Người đi săn hiểu ý, bèn leo lên lưng voi rồi vịn cành leo lên cây, song lên tít trên cao rồi vẫn chưa hiểu chúng muốn mình lên đây làm gì.

Giây lát có con sư tử tới đàn voi đều nằm rạp xuống.

Con sư tử chọn lấy một con to béo, định xé xác ăn thịt, cả bầy voi run sợ không con nào dám bỏ chạy, chỉ cùng ngẩng nhìn lên trên cây như xin thương xót cứn giúp.

Người đi săn giơ nỏ ngắm vào con sư tử bắn một phát, sư tử lăn ra chết, bầy voi chầu cả lên không như nhảy nhót lạy tạ, người đi săn bèn leo xuống.

Con voi kia lại nằm xuống, lấy vòi kéo áo y như bảo cưỡi lên nó.

Người đi săn bèn leo lên lưng, voi bước đi.

Tới một chỗ, nó lấy chân đạp đất lộ ra một cái hầm, bên dưới có vô số ngà voi.

Người đi săn xuống lựa lấy bó lại, con voi lại chở y ra khỏi núi rồi mới trở về.

___________________________________

CHƯƠNG 424: TỬ HOA HÒA THƯỢNG

Thính Giải Lăng Nghiêm Bệnh Pháp Tiền

Thiếu Niên Tuệ Nghiệp Hợp Sinh Thiên

Tiền Thân Dĩ Chứng Như Lai Quả

Hà Sự Minh Trung Phụ Túc Khiên

Dịch:

Nghe Giảng Lăng Nghiêm Trên Bệnh Pháp

Thiếu Niên Tuệ Nghiệp Vốn Từ Lâu

Quả Như Lai Đã Tiền Thân Chứng

Sao Chốn U Minh Có Túc Cừu



Đinh Mỗ ở huyện Chư Thành (tỉnh Sơn Đông) là cháu nội của ông Dã Hạc.

Còn trẻ tuổi đã nổi tiếng là danh sĩ, bị bệnh chết, qua một đêm lại sống lại nói:

- Ta ngộ đạo rồi!

Lúc ấy có nhà sư tinh thông kinh kệ, Đinh sai người mời tới, bảo ngồi trước giường giảng kinh Lăng nghiêm, cứ nghe xong một đoạn lại nói không phải như thế.

Lại nói:

- Ta mà khỏi bệnh thì chứng ngộ không khó, nhưng chỉ có Mỗ sinh là chữa được bệnh cho ta, phải cố mời tới.

Lúc ấy trong huyện có Mỗ sinh giỏi y đạo nhưng không làm nghề chữa bệnh, Đinh cho người mời mấy lần mới tới, vừa bốc thang thuốc đầu tiên cho uống, bệnh Đinh đã giảm.

Mỗ sinh về nhà, chợt thấy một cô gái từ ngoài vào, nói:

- Ta là thị tỳ trong phủ Đổng Thượng thư đây.

Hòa thượng Tử Hoa có thù với thiếp, nay mới được rửa hận, ông lại muốn cứu y sống à?

Nếu còn chữa bệnh cho y sẽ có tai họa đấy!

Nói xong biến mất.

Mỗ sợ, từ chối không chữa bệnh cho Đinh nữa.

Bệnh Đinh lại phát, hết sức mời Mỗ, Mỗ bèn kể lại mọi việc, Đinh than rằng:

- Oan nghiệt từ kiếp trước, chắc ta chết rồi.

Kế chết.

Sau Mỗ tìm hỏi, quả trước đó có một vị cao tăng là Hòa thượng Tử Hoa, thường được phu nhân của Đổng Thượng thư ở phủ Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông) rước về nhà cúng dường, song không ai rõ được oan nghiệt từ đâu mà sinh ra.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 425+426+427


CHƯƠNG 425: MỖ ẤT

Du Viên Toản Huyệt Tiệm Đa Tư

Thoát Cái Hoàn Khi Thế Mạc Tri

Áp Lệnh Tinh Môn Đề Thiện Sĩ

Ngã Tư Phùng Phụ Hạ Xa Thì

Dịch:

Trèo Tường Khoét Ngạch Trở Nên Giàu

Che Đậy Người Đời Có Biết Đâu

Thiện Sĩ Quan Khen Đề Trước Cửa

Xuống Xe Phùng Phụ Khác Chi Nhau



Mỗ Ất ở phía tây huyện ta vốn là kẻ trộm.

Người vợ rất lo sợ, nhiều lần khuyên thôi đi, ất bèn bỏ nghề.

Được hai ba năm, nghèo túng không sao sống nổi, định bụng giở nghề cũ ra làm một lần chót.

Bèn nói thác là đi buôn, tới gặp một người thầy bói giỏi, hỏi đi về hướng nào thì tốt.

Người thầy bói nói:

- Hướng đông nam tốt, nhưng có lợi cho kẻ tiểu nhân, bất lợi cho người quân tử.

Ất thấy quẻ bói hợp với mình, trong bụng mừng thầm, bèn đi về phía nam.

Tới huyện Tùng Giang vùng Tô Châu, hàng ngày đi dạo qua các thôn xóm, suốt cả mấy tháng.

Một hôm ngẫu nhiên vào một ngôi chùa, thấy ở góc tường có hai ba hòn đá chất lên nhau, lấy làm lạ cũng nhặt một hòn vứt vào đó rồi ra sau tháp nằm ngủ.

Đến chiều thì nghe trong chùa có tiếng nói ồn ào, như có hơn chục người.

Một người ra đếm đống đá, thấy thừa một hòn thì ngạc nhiên, cả bọn đổ đi tìm, thấy Ất sau tháp bèn hỏi:

- Ngươi ném hòn đá vào phải không?

Ất dạ.

Bọn kia hỏi tới tên họ quê quán, Ất bịa đặt trả lời, cả bọn bèn nhận Ất làm đồng đảng, dắt đi theo.

Tới một ngôi nhà lớn, bọn họ bắc thang lên tường tranh nhau trèo vào, riêng Ất vì từ xa tới không thông thuộc đường sá nên được nằm lại ở bên ngoài nhận đồ vật từ trong chuyền ra.

Giây lát, có một cái bao ném ra, lát sau, lại một cái hòm được ném ra.

Ất bưng cái hòm thấy bên trong có đồ vật, bèn phá ra đưa tay vào mò mẫm, thấy toàn là vật nặng đắt tiền, bèn dồn cả vào một cái bao, vác lên trốn đi luôn, ngày đêm theo đường về nhà.

Nhờ đó xây dựng nhà cửa, mua ruộng tốt, nộp thóc mua phẩm hàm cho con, được quan huyện cấp cho biển “Thiện sĩ” treo ở trước cổng.

Về sau vụ án ấy bị phát giác, bọn cướp kia đều bị bắt, duy có Ất không ai rõ tên họ quê quán nên quan không điều tra được, vẫn được yên ổn.

Việc đã yên rất lâu, một hôm ất say rượu kể ra người ta mới biết.

Huyện Tào (tỉnh Sơn Đông) có tên tướng cướp là Mỗ vớ được chuyến hàng lớn, về làng tiêu phủ phê.

Một hôm có hai ba tên cướp ranh trèo tường vào nhà bắt Mỗ đưa vàng bạc ra.

Mỗ không chịu, chúng lấy dùi sắt nung đỏ dí vào người, rồi vơ vét sạch của cải trong nhà mang đi.

Mỗ nói với người ta rằng:

- Ta không biết bị đốt da thịt khổ đến như thế.

Mỗ căm hờn bọn cướp, tình nguyện gia nhập đội lính đi tróc nã, bắt được bọn cướp nào trong huyện cũng giết hết, khi bắt được bọn đã cướp nhà mình, cũng lấy dùi sắt nung đỏ đốt da thịt chúng.

Huyện ta có tên Ất nhà nghèo túng.

Cuối năm trong nhà hết gạo, trên người không có được tấm áo nào lành lặn, tự nghĩ không biết lấy gì mà sống.

Bèn giấu vợ, lén vác gậy ra rình trong khu mộ ngoài đồng, chờ có kẻ nào đi ngang một mình thì ra cướp.

Rình rập rất lâu, nhìn xa xa chẳng thấy bóng một ai, mà gió lạnh thấu xương, chịu không nổi đã toan bỏ về.

Chờ thấy một người ì ạch đi tới, mừng thầm đợi lúc tới gần bèn nhảy xổ ra.

Thì ra là một ông già đeo cái túi, đứng lại bên đường năn nỉ với Ất rằng:

- Trên người không có vật gì đáng tiền, nhà hết gạo vừa qua vay con rể được năm đấu gạo này mà thôi.

Ất cướp túi gạo, lại muốn lột cả cái áo bông, ông già khóc lóc lạy lục, Ất thương đã già bèn cho đi, vác gạo về nhà.

Vợ hỏi gạo từ đâu ra, ất nói dối là đánh bạc thắng được, nghĩ thầm cách này quá hay.

Hôm sau lại ra đi, chờ không bao lâu thấy một người vác gậy tới, cũng núp vào trong khu mộ, ngồi chồm hổm nhìn nhìn ngó ngó.

Ất bèn sau mộ đi vòng ra, người ấy giật mình hỏi là ai, đáp là kẻ đi đường.

Lại hỏi sao không đi tiếp, Ất đáp:

- Chờ anh đấy thôi!

Người kia cười ngất, hai bên hiểu ý nhau rồi cùng than thở chuyện đói rét.

Đến khuya chẳng cướp được gì, Ất muốn về, người kia nói:

- Anh tuy làm nghề này, nhưng còn ngây thơ lắm.

Thôn trước có người gả con gái, bày biện đến khuya, cả nhà chắc đều mỏi mệt.

Anh đi với ta, được bao nhiêu thì chia đôi.

Ất mừng bèn đi theo.

Tới một ngôi nhà nọ, nghe sau vách có tiếng dọn dẹp bát đĩa, biết là người nhà còn thức, cùng nằm xuống chờ.

Không bao lâu có người mở cửa ra múc nước, hai người nhân đó lẻn vào, thấy phòng phía bắc còn đèn sáng, các phòng khác đều tối om.

Chợt nghe một bà nói:

- Đại thư à, về phòng phía đông xem lại xem, nữ trang của con cất cả trong rương, có khóa hay quên rồi?

Hai người nghe tiếng cô gái mệt mỏi ậm ừ, mừng thầm lẻn qua phòng phía đông.

Mò mẫm trong bóng tối, thấy có cái rương dài, mở náp lên sờ soạng nhưng đáy rương sâu quá không với tới.

Người kia bảo Ất:

- Vào đi!

Ất nhảy vào vớ được một cái bọc chuyền ra.

Người kia hỏi hết chưa, đáp:

- Hết rồi!

Lại nói:

- Tìm nữa xem!

Rồi đóng nắp rương cài khóa lại bỏ đi.

Ất bị nhốt ở trong, không ra được.

Không bao lâu có ánh đèn lửa tiến vào phòng, soi tới cái rương, rồi nghe tiếng bà già nói ai khóa lại thế nhỉ.

Kế đó hai mẹ con tắt đèn đi ngủ, Ất bí quá giả làm tiếng chuột gặm sột soạt, cô gái nói:

- Trong rương có chuột.

Bà già nói:

- Coi chừng nó cắn nát áo con đấy, mẹ mệt lắm rồi, con dậy xem đi.

Cô gái mặc áo trở dậy mở khóa giở nắp rương lên, Ất bất ngờ nhảy ra, cô gái hoảng sợ ngã lăn xuống đất, Ất tuông cửa chạy bạt mạng, tuy không lấy được gì song còn may không bị bắt.

Việc nhà người gả con gái bị trộm đồn đãi khắp nơi, có người nghi là Ất.

Ất sợ, trốn về phía đông hơn trăm dặm làm đầy tớ cho ngườí ta, hơn một năm lời đồn đãi đã ngớt mới lại về ở với vợ, không dám làm nghề trộm cướp nữa.

Đây là theo chính lời y kể lại, vì giống với truyện họ Thân nên chép phụ vào đây.

___________________________________

CHƯƠNG 426: XÚ HỒ

HỒ XẤU

Song Nam Tòng Cổ Trọng Hoàng Câm

Di Đắc Nhân Gian Hiếu Sắc Tâm

Xuân Mộng Nhất Trường Dư Cố Ngã

Phân Minh Ân Oán Mạc Trầm Ngâm

Dịch:

Song Nam (*) Tự Cổ Quý Hoàng Câm

Hiếu Sắc Xui Người Đổi Được Tâm

Xuân Mộng Một Trường Trơ Xác Cũ

Rõ Ràng Ân Oán Chẳng Trầm Ngâm

(*) Nam: Nam là miền Nam Kinh sở, nơi khai thác vàng.

Song Nam là kiêm kim ( vàng tốt ).



Mục sinh là người Trường Sa (tỉnh thành Hồ Nam).

Nhà rất nghèo, mùa đông không có áo bông mà mặc.

Một đêm đang ngồi buồn bã, thấy có cô gái bước vào, quần áo rực rỡ sang trọng nhưng diện mạo đen đúa xấu xí, cười nói:

- Không lạnh à?

Sinh sợ hỏi, đáp:

- Ta là hồ tiên, thương chàng tịch mịch buồn bã nên tới ngủ cùng để chia ấm lạnh.

Sinh sợ là hồ, lại ghét vì xấu, la lớn.

Cô gái lấy tiền ra đặt lên bàn nói:

- Nếu chịu thương nhau, xin tặng cái này.

Sinh mừng rỡ nghe theo.

Gần sáng, cô gái dậy nói:

- Mau đem tiền ta tặng mua chăn màn để cùng ngủ, còn lại cũng đủ mua cái ăn cái mặc, nếu thương nhau mãi thì đừng lo nghèo.

Rồi đi.

Sinh đem chuyện kể lại cho vợ, vợ cũng mừng rỡ, lập tức đi mua vải vóc về may chăn đệm.

Tối đến cô gái tới, thấy chăn màn gối nệm đều mới, vui vẻ nói:

- Nương tử nhà chàng khó nhọc quá!

Bèn đem vàng tặng vợ sinh.

Từ đó đêm nào cũng tới, lần nào ra về cũng để lại tiền bạc.

Hơn một năm, nhà cửa phòng ốc của sinh đều được sửa sang, người nhà trong ngoài đều mặc lụa là gấm vóc, nghiễm nhiên thành giàu có.

Cô gái dần dần đưa tiền ít đi, sinh do đó chán ghét, bèn rước thầy pháp về, vẽ bùa dán ở cửa.

Cô gái tới, xé nát lá bùa, vào nhà chỉ mặt sinh nói:

- Vong ơn phụ nghĩa như chàng là hết mức, nhưng thứ bùa phép ấy thì làm gì được ta?

Nếu đã không thích nữa, thì ta tự đi thôi.

Có điều tình nghĩa đã tuyệt, nhận cái gì của ta thì phải trả lại đủ số.

Rồi đột nhiên biến mất.

Sinh sợ, đem chuyện kể lại cho thầy pháp, thầy pháp bèn lập đàn trấn yểm.

Còn đang bày biện chưa xong chợt ngã lăn xuống đất, máu chảy đầy mặt, nhìn lại thì đã bị cắt mất một tai.

Mọi người hoảng sợ chạy tán loạn, thầy pháp cũng ôm tai lủi trốn.

Trong nhà chợt có những tảng đá bằng cái chậu ném ầm ầm, cửa nẻo bát đĩa gãy vỡ tan nát cả.

Sinh chui vào gầm giường trốn, không dám thở mạnh.

Giây lát thấy cô gái bước vào, ôm một con vật đầu mèo đuôi chó, đặt xuống trước giường, suỵt suỵt nói:

- Hì hì, cắn vào chân thằng gian đi!

Con vật lập tức há miệng, răng nhọn như đao, sinh cả sợ định co người ẩn núp, thì chân tay đã không cựa quậy được nữa.

Con vật cắn vào ngón chân sinh nhai nhai, nghe tiếng xương gãy răng rắc.

Sinh đau quá van lạy, cô gái nói:

- Đem hết vàng bạc châu báu ra đây, không được giấu diếm.

Sinh vâng dạ, cô gái nói:

- À à...

Con vật mới thôi không cắn nữa.

Sinh không dậy được, chỉ nói ra nơi cất tiền bạc.

Cô gái tự đi lấy, ngoài áo quần và vật trang sức chỉ có hơn hai trăm đồng vàng, thấy còn thiếu, lại cười:

- Hì hì!

Con vật lại cắn, sinh rên rỉ thảm thiết xin tha.

Cô gái hẹn sau mười ngày phải trả sáu trăm đồng vàng, sinh vâng dạ, cô gái bèn ôm con vật đi.

Hồi lâu người nhà dần dần tụ họp lại, đỡ sinh ra khỏi gầm giường, thì máu ở chân chảy ròng ròng, hai ngón chân dập nát.

Nhìn tới trong phòng thì tiền bạc của cải mất sạch, chỉ còn những món đồ rách ngày trước mà thôi, bèn lấy đắp cho sinh nằm.

Sinh sợ mười ngày nữa cô gái lại tới, bèn bán đầy tớ cầm ruộng đất lấy đủ số tiền.

Đến hẹn quả nhiên cô gái tới, sinh vội đưa tiền ra, cô gái cầm lấy im lặng bỏ đi, từ đó không gặp nữa.

Sinh bị thương ở chân, chữa chạy nửa năm mới khỏi, mà nhà lại nghèo khó như xưa.

Hồ tới ở với họ Vu ở thôn bên cạnh.

Vu làm ruộng, nhà không đủ ăn, nhưng sau ba năm trở nên giàu có, nạp thóc mua phẩm hàm, nhà cửa treo rèm, quần áo đẹp đẽ, quá nửa là đồ vật trong nhà sinh trước, sinh nhìn thấy song cũng không dám hỏi.

Có lần ngẫu nhiên đi ngoài đồng gặp cô gái, sinh quỳ xuống ven đường, cô gái không nói câu nào, nhưng lấy mấy đồng vàng gói trong khăn ném cho rồi quay người bỏ đi.

Về sau họ Vu chết sớm, lúc ấy cô gái còn tới nhà, vàng lụa trong nhà đều lấy đi hết.

Con trai Vu chờ lúc cô gái tới, lạy nói:

- Cha đã chết, bọn con trẻ cũng như con, giả như không thương xót chu cấp thì thôi, lại nỡ bắt phải nghèo đói sao?

Cô gái bèn bỏ đi, sau đó không trở lại nữa.

___________________________________

CHƯƠNG 427: TIỀN BỐC VU

THẦY BÓI TIỀN

Bất Dụng Thi Quy Vấn Uyển Khô

Đán Tòng Tự Mạc Nhận Thanh Phù

Thâm Khuê Biệt Hữu Kim Tiền Bốc

Linh Nghiệm An Năng Cập Thử Vu

Dịch:

Thi Quy Chẳng Dụng Hỏi Hên Xui

Sấp Ngửa Tiền Gieo Biết Vốn Lời

Đặc Biệt Thâm Khuê Riêng Phép Bói

Thuật Riêng Linh Nghiệm Khác Hơn Đời



Hạ Thương người huyện Hà Gian (tỉnh Hà Bắc).

Cha là Đông Lăng, giàu có xa xỉ, mỗi khi ăn bánh bao thì xé bỏ vỏ bột, vứt bừa đầy đất, người ta thấy thân hình to béo nên gọi là: "Thái úy bỏ vỏ".

Về già thì nghèo mạt, ngày không đủ hai bữa cơm, hai cánh tay tóp lại, da chảy xệ xuống lùng nhùng như cái túi, người ta lại gọi là: xNhà sư khuyến hóa".

Ý nói là như khoác cái túi vậy.

Lúc sắp chết dặn Thương rằng:

- Ta lúc trước phung phí của trời, làm trời nổi giận nên tới nỗi đói rét mà chết.

Con nên tiếc phúc mà cố gắng, chuộc tội cho cha.

Thương tuân theo lời trối trăn, thành thực chất phác không hai, cày ruộng nuôi thân, người làng đều yêu mến nể vì.

Có phú ông Mỗ thương Thương nghèo bèn cho mượn tlền làm vốn bảo đi buôn.

Thương thua lỗ mất sạch vốn, thẹn không thể đền được, xin làm đầy tớ để trả, phú ông không chịu.

Thương áy náy, bán hết điền sản đem tiền trả.

Phú ông hỏi biết rõ chuyện càng thương hơn, ép phải về chuộc lại điền sản, lại giúp thêm rất nhiều tiền cho đi buôn tiếp.

Thương chối từ nói:

- Mười mấy lượng vàng trước còn chưa đền được, chẳng lẽ lại còn mang nợ để kiếp sau làm lừa ngựa trả ơn ư?

Phú ông bèn gọi người khác cùng đi buôn với Thương, vài tháng trở về cũng có lãi chút ít, phú ông không lấy, bảo cứ lấy đó làm vốn buôn tiếp.

Hơn một năm thì vốn liếng nhiều lên, mua hàng đầy xe trở về, qua sông bị đắm thuyền, hàng hóa mất hết.

Về tính lại phần mình thì tạm đủ để đền, bèn nói với người bạn buôn rằng:

- Trời bắt ta nghèo, ai mà cứu được?

Đây đều là ta làm lụy cho ông cả.

Rồi tính sổ giao hết hàng cho người ấy, tay không trở về.

Phú ông lại ép đi buôn nữa, nhưng Thương không chịu, chỉ cày ruộng nuôi thân như cũ, thường than rằng:

- Người ta sinh ra ở đời đều được hưởng phúc vài năm, sao ta lại vất vả thế này?

Gặp lúc có người thầy bói ở nơi khác tới, chuyên bói bằng tiền, biết rõ số mạng người ta, Thương bèn kính cẩn tìm tới.

Thầy bói là một bà già, nhà cửa phòng ốc sạch sẽ, giữa đặt bàn thờ thần, khói hương nghi ngút.

Thương vào vái lạy, bà ta bèn đòi trả tiền công trước.

Thương đưa ra một trăm đồng tiền, bà ta bỏ cả vào cái thùng gỗ, cầm lấy quỳ xuống trước bàn thờ thần lắc vang, dáng như cầu khấn.

Kế đứng dậy dốc tiền vào tay, rồi bày theo thứ tự lên trên bàn.

Lối bói này lấy đồng tiền ngửa là rủi, sấp là may, mà năm mươi tám đồng đầu tiên đều ngửa, từ đó trở đi đều là sấp.

Bà ta bèn hỏi tuổi tác, Thương đáp là hai mươi tám.

Bà ta lắc đầu nói:

- Còn sớm quá.

Quan nhân hiện đang trong vận của ông cha chứ chưa qua vận của bản thân, phải đến năm mươi tám tuổi đến vận của bản thân, mới như ý được.

Thương hỏi thế nào là vận của ông cha, bà ta đáp:

- Ông cha làm điều lành, phúc đức chưa hết thì con cháu được hưởng, ông cha có điều không hay, tai họa chưa hết thì con cháu phải gánh chịu.

Thương bấm đốt tay nói:

- Ba mươi năm nữa thì ta đã già sắp xuống lỗ mất rồi.

Bà ta nói:

- Trước năm năm mươi tám tuổi cũng có năm năm giao vận, làm ăn tạm được, không tới nỗi đói rét.

Năm năm mươi tám tuổi sẽ có món tiền lớn tự tới, chẳng cần tìm kiếm.

Quan nhân cả đời không làm điểu lầm lỗi, kiếp sau sẽ được hưởng thụ không hết.

Thương chào người thầy bói ra về, nửa tin nửa ngờ.

Nhưng vẫn giữ phận nghèo, không dám mong cầu gì, về sau đến năm năm mươi ba tuổi thì nghiệm ra thấy đúng.

Mùa xuân năm ấy vào đầu vụ lúa Thương bị bệnh không cày cấy gì được, đến khi hết bệnh thì trời đại hạn, lúa mạ cháy khô, gần vào thu mới mưa, nhà không còn gì ăn, có vài mẫu ruộng phải trồng bắp cả.

Kế đó lại hạn hán, lúa thu chết một nửa, chỉ có bắp không bị gì, sau lại gặp mưa lớn, nên Thương thu hoạch được rất nhiều.

Mùa xuân năm sau đói lớn, nhưng nhờ có bắp nên nhà đủ ăn, Thương vì thế tin lời người thầy bói, tới phú ông mượn tiền buôn bán nhì nhằng cũng được lời chút ít.

Có người khuyên nên buôn lớn, Thương không chịu.

Đến năm năm mươi bảy tuổi ngẫu nhiên cuốc đất ở chân tường trồng rau, đào được cái chảo sắt, kéo ra thì hơi trắng xông lên lóa mắt, Thương sợ không dám giở lên.

Lát sau hơi trắng tan hết, thấy là một vò bạc đầy, vợ chồng cùng vần vào nhà, cân lên được một ngàn ba trăm hai mươi lăm lượng, bàn thầm với nhau rằng bà thầy bói nói cũng còn sai chút ít.

Có người đàn bà láng giềng qua nhà Thương nhìn trộm thấy bạc, về nói với chồng, người chồng chị ta ghen ghét bèn đi báo quan.

Quan huyện là người rất tham lam, bèn bắt Thương đòi lấy tiền.

Vợ Thương muốn giấu bớt một nửa, Thương nói:

- Của cải bỗng dưng mà có, giữ lại chỉ chuốc họa.

Bèn nộp hết.

Quan huyện ngờ là còn giấu diếm, lại đòi nộp cả cái vò đựng, đổ bạc vào trở lại thấy đầy bèn thả Thương về.

Không bao lâu viên quan huyện được thăng làm Đồng Tri phủ Nam Xương (tỉnh Giang Tô), qua năm sau Thương đi buôn tới Nam Xương thì viên quan đã chết, vợ con sắp về quê, bán hết các vật cồng kềnh nặng nề.

Trong đó có một thùng dầu rất lớn, Thương bèn mua chở về.

Tới nhà thì cái thùng bị nứt, bèn rót dầu sang vò khác, thấy có hai nén bạc, thò tay vào thùng mò thử thì đều là bạc, xem lại đủ cả số bạc trước đó Thương đào được.

Thương nhờ vậy giàu phất lên, rất hay giúp đỡ kẻ nghèo, không hề bỏn xẻn.

Vợ khuyên nên dành dụm để lại cho con cháu, Thương nói:

- Giúp đỡ người ta như thế là dành dụm để lại cho con cháu đấy.

Người láng giềng tố cáo Thương ngày trước sa sút, nghèo khó đến nỗi phải đi ăn xin, cũng muốn nhờ vả Thương nhưng xấu hổ không dám tới.

Thương nghe được gọi qua nói:

- Chuyện ngày trước là số phận của ta phải thế, nên quỷ thần mượn tay anh để làm hại thôi, anh có lỗi gì đâu!

Rồi chu cấp cho, người láng giềng cảm động òa khóc.

Sau Thương thọ đến tám mươi tuổi, con cháu thừa kế, mấy đời không suy.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 428+429+430+431


CHƯƠNG 428: DIÊU AN

Loan Giao Phương Hỉ Tục Tân Hôn

Khởi Ý Điêu Quan Khởi Họa Căn

Bất Thị Nghi Tâm Sinh Ám Quỷ

Khả Tri Tỉnh Để Hữu Oan Hồn

Dịch:

Loan Giao Mừng Lại Mối Tân Hôn

Dè Mũ Điêu Đâu Dấy Họa Căn

Chẳng Phải Nhát Gan Sinh Ám Quỉ

Chính Vì Đáy Giếng Có Oan Hồn



Diêu An là người huyện Lâm Thao (tỉnh Cam Túc), dáng người đẹp đẽ.

Họ Cung ở cùng làng có con gái tự Lục Nga xinh đẹp lại biết chữ, nhiều người hỏi xin cưới không chịu, thường nói rằng:

- Phải là người dòng dõi đẹp trai như chàng Diêu mới lấy.

Diêu nghe được, xô vợ xuống giếng chết, nói là bị rơi xuống, rồi cưới Lục Nga, rất thương yêu nhau.

Nhưng vì cô gái đẹp nên Diêu nghi ngờ, cứ đóng chặt cửa giữ rịt trong nhà, nàng đi đâu cũng theo sát.

Cô gái về thăm cha mẹ thì giang hai tay áo che chắn từ trong nhà ra tới cửa, nàng lên kiệu rồi thì buông rèm che kín mít, cưỡi ngựa theo sát phía sau, đến chiều tối thì giục về cùng mình.

Cô gái bực bội nói:

- Ta mà lăng nhăng thì ông cấm cản được à?

Diêu có việc đi khỏi nhà thì khóa cửa nhốt nàng trong phòng, cô gái càng chán ghét, bèn chờ lúc Diêu đi vắng, lấy ống khóa khác khóa cổng, cố ý làm Diêu nghi ngờ.

Diêu về nhìn thấy cả giận, hỏi ống khóa lạ này ở đâu ra, cô gái bực bội nói không biết, Diêu càng ngờ vực, lại xét nét nhiều hơn.

Một hôm Diêu đi xa về nhà, rình nghe hồi lâu rồi mở khóa vào nhà, sợ có tiếng động nên rón rén vào phòng.

Thấy có người đàn ông đội nón lông điêu nằm trên giường, tức giận cầm dao xông vào chém chết.

Nhìn kỹ lại thì ra cô gái ngủ trưa sợ lạnh, lấy cái khăn lông điêu trùm kín mặt, cả sợ giẫm chân hối hận.

Họ Cung căm giận kiện lên quan, quan bắt Diêu, tước bỏ khăn áo học trò đóng gông giam lại.

Diêu phải bán điền sản hối lộ khắp cả trên dưới mới khỏi tội chết.

Từ đó tinh thần mê muội, như là đánh mất vật gì.

Một hôm đang ngồi một mình, chợt thấy cô gái cùng một người đàn ông mặt đầy râu ria ôm nhau đùa giỡn trên giường, căm giận tìm dao xông tới thì không thấy gì nữa.

Ngồi lại chỗ cũ thì lại thấy như thế, tức giận quá cầm dao chém xuống giường, đứt nát cả chăn nệm, rồi tức tối cầm dao lên giường nằm chờ.

Lại thấy cô gái đứng trước mặt nhìn mình cười, vùng dậy chém đứt đầu, nhưng nằm xuống lại thì vẫn thấy cô gái đứng đó cười như cũ.

Ngày nào cũng thế, không sao chịu nổi, bèn bán hết nhà cửa ruộng vườn, tới ở nơi khác.

Một đêm có bọn trộm khoét vách vào, cướp hết tiền bạc mang đi.

Từ đó Diêu trở nên bần cùng, căm giận mà chết, người làng phải chôn cất qua loa cho.

___________________________________

CHƯƠNG 429: THÁI VI ÔNG

Tà Trừu Lợi Kiếm Hựu Điêu Cung

Vũ Khố Cư Nhiên Xuất Bần Cùng

"Phúc Lý Tàng Đao" Hư Ngữ Nhĩ

Na Tru Chân Hữu Thái Vi Ông

Dịch:

Rút Ra Bảo Kiếm Lại Tên Cung

Vũ Khí Trong Kho Xuất Chẳng Cùng

"Trong Bụng Chứa Đao" Lời Nói Phiếm

Đâu Dè Thực Có Thái Vi Ông



Lúc nhà Minh mất, binh lửa liên miên, Lưu Chi Sinh ở huyện Ô Lăng (tỉnh Sơn Đông) họp quân vài vạn, định kéo về nam.

Chợt có một người đàn ông to béo tới trước cửa trại, mặc áo rách hở cả bụng ra, xin vào gặp chủ soái.

Lưu mời vào cùng trò chuyện, lấy làm ưa thích, hỏi tới họ tên thì tự xưng là ông hái rau.

Lưu giữ lại giúp việc quân, lấy đao tặng cho, ông ta nói:

- Ta tự có binh khí tốt, chẳng cần cầm giáo mác.

Lưu hỏi binh khí ở đâu, ông ta kéo áo để hở bụng ra, lỗ rốn sâu có thể nhét được con gà vào.

Ông ta nín hơi lấy tay đánh vào bụng, da rốn chợt khép lại, rồi thở phì ra thì trong rốn chợt lộ ra đốc kiếm, cầm lấy rút ra thì kiếm bén ngót sáng loáng như sương.

Lưu cả kinh hỏi:

- Chỉ có thế thôi à?

Ông ta cười chỉ vào bụng nói:

- Đây là kho võ khí, cái gì lại không có.

Lưu bảo lấy cung tên ra xem, ông ta lại làm như trước, lấy ra một chiếc cung, lại nín hơi lần nữa thì một mũi tên rơi xuống, lấy bao nhiêu cũng có.

Đến khi cắm kiếm vào rốn, thì không thấy võ khí đâu nữa.

Lưu phục là thần kỳ, cùng ăn cùng ngủ, vô cùng kính trọng.

Lúc ấy trong dinh hiệu lệnh tuy nghiêm, nhưng quân lính ô hợp, thỉnh thoảng lại ra ngoài cướp bóc.

Ông ta nói:

- Quân sĩ quý nhất là phải có kỷ luật, nay ông chỉ huy mấy vạn người, nếu không làm cho họ vâng lệnh được thì đó con đường bại vong đấy.

Lưu khen lời ấy, lập tức tập hợp bộ ngũ, kiểm soát doanh trại, có kẻ nào cướp bóc của cải, bắt ép phụ nữ đều chém đầu thị chúng, quân sĩ giữ kỷ luật nghiêm hơn nhưng rốt lại vẫn không dứt được thói xấu.

Ông hái rau lại thường thình lình cưỡi ngựa đi chơi trong doanh trại, nhĩmg tướng ác quân dữ tự nhiên đứt đầu ngã xuống không biết vì sao, mọi người đều ngờ là do ông ta.

Trước kia ông ta dâng kế sách giữ nghiêm quân luật, quân sĩ đã vừa sợ vừa ghét, đến lúc ấy lại càng căm tức.

Các tướng đứng đầu bộ ngũ bèn gièm pha với Lưu rằng:

- Ông hái rau dùng yêu thuật.

Các bậc danh tướng xưa nay chỉ nghe nói là dùng trí để cầm quân chứ không nghe là dùng thuật.

Cái lũ dùng bùa phép lừa người ấy rốt cuộc cũng bị diệt vong.

Nay tướng sĩ vô tội thỉnh thoảng lại tự nhiên bị rụng đầu, lòng người khiếp sợ lắm.

Tướng quân ăn ở cùng y, cũng rất nguy hiểm, chẳng bằng giết đi.

Lưu nghe lời ấy, bèn bàn với các tướng chờ lúc ông ta ngủ mà giết.

Sai người rình, thấy ông ta trật áo hở bụng nằm ngủ, ngáy to như sấm.

Mọi người cả mừng, đem quân vây chặt bên ngoài, hai người cầm đao bước vào chặt đứt đầu ông ta.

Nhưng khi giở đao lên thì đầu lại nối lại vào thân như cũ cả sợ bèn chém vào bụng.

Bụng ông đứt ra mà không chảy máu, bên trong giáo mác tua tủa chĩa ra nhọn hoắt.

Mọi người càng sợ, không dám tới gần, cứ đứng xa xa đâm chém.

Chợt cung nỏ trong bụng ông ta bắn ra ào ào, mấy người bị trúng tên.

Mọi người khiếp hãi chạy tan, tới bẩm Lưu.

Lưu vội vàng tới thì ông ta đã biến mất.

___________________________________

CHƯƠNG 430: THI NGỤC

TỘI VÌ THƠ

Ngục Tù Dĩ Cụ Thục Bình Phiên

Cự Nhãn Hà Kỳ Ngộ Lịch Viên (*)

Chuyển Hạnh Đương Niên Di Phiến Tại

Nhất Thi Cánh Tuyết Phú Bồn Oan

Dịch:

Đã Đủ Ngục Tù Khôn Phá Án

Đèn Trời Nào Tưởng Gặp Minh Quan

Năm Xưa Chiếc Quạt May Còn Giữ

Chậu Úp Mà Hay Tẩy Được Oan

(*) Lịch Viên là tên hiệu của Chu Nguyên Chương.



Phạm Tiểu Sơn người huyện Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông) làm nghề buôn bút, đi buôn vắng nhà.

Vào tháng tư, vợ là Hạ thị đêm ngủ một mình bị cướp giết chết.

Đêm ấy có mưa nhỏ, trên mặt đất còn rơi lại một chếc quạt đề thơ của Vương Thạnh tặng Ngô Phỉ Khanh.

Không biết Thạnh là ai, còn Ngô là một người giàu có ở huyện Ích Đô (tỉnh Sơn Đông), cùng làng với Phạm, thường ngày vẫn làm những việc khinh bạc nên xóm làng đều chắc là Ngô.

Quận huyện bắt lên tra hỏi, Ngô vẫn một mực không nhận, bị tra khảo nặng nề rồi kết án.

Tra đi xét lại, trải hơn mười vị quan cũng không ai nói khác.

Ngô cũng nghĩ số mình ắt chết bèn dặn vợ dốc hết của nhà ra trợ giúp những người cô đơn nghèo khổ.

Ai hướng vào cổng niệm Phật một ngàn câu thì được quần bông, niệm một vạn câu thì được áo bông, nên những kẻ ăn xin kéo đến đông như chợ, tiếng niệm Phật vang xa hơn chục dặm.

Nhà vì vậy nghèo đi rất nhanh, hàng ngày cứ phải bán ruộng đất để đãi khách.

Ngô lại hối lộ người coi ngục nhờ ngầm mua giùm thuốc độc.

Đêm nằm mơ thấy thần nói:

- Ngươi chớ vội chết, hôm trước ở ngoài hung thì nay bên trong cát rồi!

Ngủ lại vẫn nằm mơ như thế, vì vậy không quyết tự tử nữa.

Không bao lâu tiên sinh Chu Nguyên Lượng đi tuần sát tới, xét lại án tù, tới Ngô thì có vẻ nghĩ ngợi, nhân hỏi Ngô giết người có bằng chứng nào không, Phạm thưa rằng có cái quạt ông xem kỹ cái quạt rồi hỏi Vương Thạnh là ai, mọi người đều thưa là không biết.

Ông lấy án văn xem kỹ lại một lượt rồi lập tức ra lệnh tháo gông cùm cho Ngô, cho chuyển từ nhà ngục ra nhà kho.

Phạm cố biện luận, ông tức giận nói:

- Ngươi muốn giết oan một người cho xong chuyện hay muốn tìm ra kẻ thù mới cam lòng.

Mọi người ngờ là ông riêng tây với Ngô nhưng không ai dám nói.

Ông bèn ném thẻ bài đỏ sai đi bắt ngay người chủ quán nọ ở Nam Quách.

Chủ quán sợ hãi không biết vì sao, tới thì ông hỏi:

- Trên vách quán ngươi có bài thơ của Lý Tú người huyện Đông Quan (tỉnh Sơn Đông), viết lúc nào vậy?

Chủ quán thưa:

- Năm trước quan Đốc học về ghé ngang, có hai ba người Tú tài uống rượu say đề thơ, không biết họ ở làng nào.

Ông sai nha dịch tới huyện Nhật Chiếu (tỉnh Sơn Đông) bắt Lý Tú.

Mấy hôm sau Tú tới, ông giận dữ hỏi:

- Đã là Tú tài, sao còn mưu giết người?

Tú dập đầu kinh ngạc, chỉ nói là không hề làm chuyện ấy.

Ông ném cái quạt xuống bảo Tú xem rồi nói:

- Rõ ràng là thơ của ngươi, sau dám bịa đặt đổ cho Vương Thạnh.

Tú xem kỹ rồi thưa:

- Thơ thì đúng do ta làm, nhưng chữ thì thật không phải do ta viết.

Ông nói:

- Đã biết thơ của ngươi thì ắt là bạn ngươi, vậy ai viết chữ?

Tú thưa:

- Nét chữ giống như của Vương Tá ở huyện Nghi (tỉnh Sơn Đông).

Ông bèn sai bắt Vương Tá, Tá tới, ông cũng quát hỏi như lúc hỏi Tú.

Tá nói:

- Ấy là do người lái buôn sát ở huyện Ích Đô là Trương Thành nhờ ta viết, y là em họ Vương Thạnh.

Ông nói:

- Thằng cướp ở đây rồi!

Cho bắt Thành tới, vừa tra hỏi đã nhận tội ngay.

Trước là Thành trộm thấy Hạ thị đẹp, muốn khêu gợi nhưng sợ không xong, mới nghĩ cách giả danh Ngô thì ắt mọi người đều tin nên mới làm giả chiếc quạt của Ngô cầm theo, nếu được thì tự nhận là mình, không được thì đổ cho Ngô, nhưng thực lòng không định giết người.

Y leo tường vào nhà cưỡng bức người đàn bà, người đàn bà ở nhà một mình nên thường để sẵn dao tự vệ, lúc tỉnh giấc nắm áo Thành rồi rút dao vùng dậy.

Thành hoảng sợ giật dao, nhưng người đàn bà cứ ra sức giữ chặt lấy hắn, lại kêu ầm lên, Thành cùng đường nên đâm chết rồi vứt chiếc quạt lại bỏ đi.

Vụ án oan khuất ba năm chỉ một buổi mà xử xong, ai cũng ca ngọi ông sáng suốt như thần.

Ngô lúc bấy giờ mới sực hiểu lời thần nói “bên trong cát" là chữ Chu* song vẫn không hiểu vì sao ông Chu biết mình oan.

Sau có một người thân hào ở huyện gặp dịp hỏi, ông cười đáp:

- Điều ấy dễ biết lắm!

Đọc kỹ văn án thì Hạ thị bị giết vào thượng tuần tháng tư.

Đêm ấy mưa phùn, khí trời còn lạnh, quạt là thứ không cần thiết, thủ phạm há vào lúc gấp rút còn mang theo cho bận thêm sao?

Rõ ràng là nhằm giá họa vậy.

Trước đây ta trú mưa ở Nam Quách, thấy có bài thơ đề trên vách quán lời lẽ tương tự bài thơ trên chiếc quạt nên đoán lầm là Lý sinh, quả nhân đó mà tìm ra tên cướp thật, cũng là may thôi.

Người nghe chuyện đều thán phục.

*["Bên trong cát” là chữ Chu: trong Hán tự, chữ “Chu” có phần bên trong là chữ “Cát” đây ý nói Ngô Phỉ Khanh may mắn gặp được ông Chu Nguyên Lượng].

___________________________________

CHƯƠNG 431: MAO ĐẠI PHÚC

Thủ Khuất Đương Y Tác Thú Y

Đặc Tương Kim Bạch Dạ Tương Di

Mạc Ngôn Lang Tử Tâm Đa Dã

Hàm Lý Cư Nhiên Kế Xuất Kỳ

Dịch:

Thầy Chữa Ung Thư Trị Thú Y

Đem Vàng Đặc Biệt Đón Thầy Đi

Lòng Lang Đừng Bảo Là Man Dã

Ngậm Dép Mình Oan Kể Cũng Kỳ



Mao Đại Phúc ở huyện Thái Hàng (tỉnh Sơn Đông) làm nghề trị bệnh ghẻ lở.

Một đêm chữa bệnh về, gặp một con sói ngậm cái bọc vải nhả xuống rồi lui lại ngồi bên đường.

Mao nhặt lên xem, thấy trong cái bọc có mấy món đồ trang sức bằng vàng.

Đang còn lạ lùng thì con sói đã nhảy cỡn tới trước mặt, cắn nhẹ vào áo kéo rồi lại nhả ra bỏ đi.

Mao bước đi thì nó lại cắn áo kéo, thấy ý tứ không có vẻ gì là hung dữ bèn đi theo.

Tới cửa hang thì thấy một con sói bệnh nằm, trên đầu có một vết loét to giòi bọ lúc nhúc.

Mao hiểu ra, bèn cắt bỏ hết thịt thối, rắc thuốc cho nó rồi về.

Trời đã tối, con sói tiễn ra tới ba bốn dặm, chợt thấy có mấy con sói kéo tới gầm thét định cắn xé, Mao sợ lắm.

Con sói kia vội xông vào đám sói như kể lại chuyện, đám sói tan đi, Mao bèn trở về.

Trước đó trong huyện có người đi buôn bạc là Ninh Thái bị cướp giết trên đường, không sao tìm ra thủ phạm.

Gặp lúc Mao bán các vật trang sức, bị vợ Ninh bắt gặp, kêu người trói lại dắt lên quan.

Mao kể lại mọi chuyện, quan không tin, sai đóng gông.

Mao oan ức mà không biết làm sao giải bày, chỉ xin cho dắt đi để hỏi sói.

Quan sai hai người lính áp giải Mao vào núi, tới thẳng chỗ hang sói.

Gặp lúc sói chưa về, chờ đến tối cũng không thấy đâu, ba người trở về.

Được nửa đường thì gặp hai con sói, một con còn cái sẹo lớn trên đầu.

Mao nhận ra bèn vái khấn rằng:

- Trước đây được tặng vật quý, nay lại vì thế mà bị bắt bớ, nếu không giải oan cho, thì lần này ta về chỉ có nước chết mà thôi.

Sói thấy Mao bị trói, tức giận xông lại, hai người lính rút dao chĩa ra, sói chúi mũi xuống đất hú lên.

Hú được hai ba tiếng thì cả trăm con sói trong núi đổ tới vây chặt, hai người lính hoảng sợ.

Con sói chen lên nhe răng cắn dây trói, hai người lính hiểu ý vội cởi trói cho Mao, bầy sói mới tan đi.

Về huyện bẩm lại mọi chuyện, quan huyện lấy làm lạ nhưng cũng chưa thả Mao ra.

Mấy ngày sau, quan vi hành trên đường, thấy một con sói ngậm chiếc giày rách vứt giữa đường.

Quan cũng chưa lấy làm lạ, đi qua rồi thì con sói lại ngậm chiếc giày chạy lên phía trước đặt xuống.

Quan sai lính hầu nhặt lấy, con sói bèn bỏ đi.

Quan về sai người ngầm tìm chủ nhân chiếc giày, có người đồn rằng Tùng Tân ở thôn nọ bị một con sói đuổi riết cướp lấy giày mang đi, quan bèn sai bắt, giải lên nhận giày, thì đúng là giày của Tân.

Quan ngờ ràng Tân là kẻ giết Ninh, bèn tra hỏi quả đúng.

Đại khái là Tân giết Ninh cướp lấy món tiền lớn, nhưng dưới đáy túi Ninh còn sót mấy món trang sức, bị sói tha đi.

Trước có một bà mụ đi đỡ đẻ về, gặp một con sói chặn đường cắn áo như muốn mời thỉnh, bà ta đi theo.

Thấy có một con sói cái đang đẻ chưa được bà ta bèn tới đỡ giúp, xong rồi con sói đực để bà ta về.

Sáng hôm sau thấy nó tha một con nai tới đặt ở sân.

Mới biết là chuyện như của Mao, từ xưa đã có vậy.
 
Back
Top Bottom