Cập nhật mới

Khác Liêu Trai Chí Dị ( Full )

Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 202+203


CHƯƠNG 202: TRƯƠNG HỒNG TIỆM

Liệu Đắc Thư Sinh Sự Bất Thành

Đào Vong Trương Lộc Tính Danh Canh

Chỉ Nhân Mộng Cảnh Mê Ly Hận

Dạ Bán Khao Môn Tổng Khiết Kinh

Dịch:

Thư Sinh Tự Lượng Chẳng Làm Nên

Trương Lộc Đào Vong Đổi Họ Tên

Mộng Cảnh Mê Ly Vừa Chợt Tỉnh

Đêm Khuya Gõ Cửa Thất Kinh Liền



Trương Hồng Tiệm người huyện Vĩnh Bình (tỉnh Hà Bắc) năm mười tám tuổi đã là danh sĩ trong quận.

Lúc ấy quan Tri huyện Lư Long (tỉnh Hà Bắc) họ Triệu là kẻ tham bạo, nhân dân đều ta thán.

Có Phạm sinh bị đánh đòn mà chết, các bạn đồng học phẫn oán về nỗi sinh bị oan, định kêu lên Pháp ty, mong được người có tài văn chương như Trương làm đơn, mời cùng tham gia, Trương ưng thuận.

Vợ Trương là Phương thị xinh đẹp mà hiền thục, nghe chuyện can rằng:

- Phàm những kẻ văn nhân làm việc lớn chỉ có thể cùng thành chứ không thể cùng bại.

Nếu thành thì ai cũng tranh công, chứ nếu bại thì nhao nhao tan lìa, không thể tập hợp được nữa.

Đời nay chỉ biết có thế lực, khó mà lấy lý xét chuyện phải trái, chàng lại đơn độc, nếu người ta đổi trắng thay đen thì ai giúp cho khi hoạn nạn?

Trương phục lời ấy, lấy làm hối, bèn tìm lời mềm mỏng từ tạ với bạn đồng học, chỉ viết hộ đơn rồi thôi.

Pháp ty xét hỏi qua một lượt, không có chỗ nào sai, nhưng Triệu đem nhiều vàng đút lót quan trên, khép các Chư sinh vào tội kết bè kết đảng bắt hết, lại tìm bắt người viết đơn.

Trương sợ trốn đi, đến ranh giới huyện Phượng Tường (tỉnh Thiểm Tây) thì hết sạch tiền mà trời đã tối, còn đang ngập ngừng trên đồng không biết ngủ đâu chợt thấy có một xóm nhỏ vội rảo bước tới.

Một bà già đang ra đóng cổng nhìn thấy, hỏi muốn gì, Trương kể thật việc mình.

Bà già nói:

- Cái ăn chỗ ngủ chỉ là chuyện nhỏ, chỉ là trong nhà không có đàn ông, không tiện lưu khách.

Trương nói:

- Ta cũng không dám mong gì nhiều, chỉ xin cho được bà cho được ngủ nhờ trong cổng để tránh hùm sói là đủ.

Bà già bèn bảo vào, đóng cổng rồi đưa cho chiếc đệm cỏ, dặn rằng:

- Ta thương ông khách lỡ đường nên tự ý cho ngủ nhờ, trời chưa sáng nên dậy mà đi cho sớm, kẻo cô chủ biết sẽ trách phạt ta.

Rồi vào nhà.

Trương dựa vào vách thiu thiu ngủ, chợt có ánh đèn lồng sáng rực, thấy bà già đưa một cô gái ra.

Trương vội nép vào góc tối nhìn trộm, thấy là một giai nhân khoảng hai mươi tuổi.

Tới cổng trông thấy chiếc đệm cỏ, cô gái cật vấn, bà già thưa thật, nàng tức giận nói:

- Cả nhà toàn là đàn bà yếu ớt, sao lại chứa chấp người lạ?

Rồi hỏi người ấy đi đâu rồi.

Trương sợ hãi, bước ra quỳ sụp xuống thềm.

Cô gái hỏi kỹ tên họ quê quán, có vẻ nguôi giận, nói:

- May là bậc văn sĩ phong nhã, cho ngủ nhờ cũng được, nhưng mụ đầy tớ già không thưa lại, qua loa thế này há phải là lối tiếp đãi bậc quân tử sao?

Rồi sai bà già dẫn khách vào nhà.

Giây lát dọn cơm rượu lên, thức ăn đều tinh khiết, kế trải nệm gấm ra giường.

Trương rất cảm kích, bèn hỏi tên họ cô gái.

Bà già nói:

- Nhà ta họ Thi.

ông bà ta đều đã mất, chỉ để lại ba con gái, người mới rồi là cô lớn, tên Thuấn Hoa.

Bà già ra rồi, Trương nhìn trên bàn thấy quyển Nam hoa kinh chú, bèn cầm đặt lên gối, nằm sấp trên giường xem.

Chợt Thuấn Hoa đẩy cửa bước vào, Trương vội buông sách tìm mũ giày.

Cô gái tới bên giường vỗ vai sinh nói:

- Không cần đâu, không cần đâu!

Rồi ngồì xuống giường bẽn lẽn nói:

- Thiếp thấy chàng là bực tài tử phong lưu, muốn đem cửa nhà gởỉ gắm, nhưng e bị ngờ như kẻ qua ruộng dưa sửa giày, ngang giàn bầu sửa mũ, không biết có bị chê bỏ không.

Trương lúng túng không biết trả lời thế nào, chỉ nói:

- Không dám giấu diếm, thật tiểu sinh đã có vợ rồi.

Cô gái cười nói:

- Bấy nhiêu cũng đủ thấy là chàng thành thật, nhưng chuyện đó không sao.

Nếu đã không chê bỏ, thì ngày mai sẽ nhờ người làm mai mối.

Nói xong định đi, Trương rướn lên kéo lại, cô gái cũng ở lại.

Trời chưa sáng nàng đã dậy, lấy vàng tặng cho Trương, nói:

- Chàng cầm lấy đi chơi, chiều hãy về, tối tối một chút, kẻo hai bên hàng xóm trông thấy

Trương theo lời, sớm đi tối về, suốt nửa năm như thế thành lệ.

Một hôm Trương về hơi sớm, tới nơi thì không thấy làng xóm nhà cửa gì cả, vô cùng lạ lùng khiếp sợ.

Còn đang ngần ngừ, chợt nghe bà già nói:

- Sao tới sớm thế?

Quay nhìn thì thấy nhà cửa như cũ, mà mình thì đã ở trong phòng, càng lấy làm lạ lùng.

Thuấn Hoa từ trong bước ra cười nói:

- Chàng nghi ngờ thiếp phải không?

Nói thật với chàng thiếp là hồ tiên, cùng chàng vốn có mối túc duyên.

Nếu cho là yêu quái, thì xin lập tức chia tay.

Trương mến tiếc vì nàng đẹp nên ở lại, đến đêm nói với cô gái:

- Nàng đã là tiên thì ngàn dặm cũng vượt qua trong chớp mắt.

Tiểu sinh xa nhà đã ba năm, nhớ vợ con không khuây, có thể đưa ta về một lần được không.

Cô gái có vẻ không vui, nói:

- Trong tình vợ chồng, thiếp thì dốc lòng với chàng, mà chàng thì thân ở nơi này lòng nhớ chốn kia, như vậy đối với kẻ thương yêu mình thì sai lắm.

Trương tạ lỗi nói:

- Sao nàng lại nói thế?

Lời ngạn có câu Một ngày làm vợ chồng, trăm ngày nhớ ơn nghĩa, sau này về nhà nhớ nàng thì cũng như hôm nay nhớ vợ nhà, chứ nếu được mới nới cũ thì nàng còn thương yêu được chỗ nào?

Cô gái bèn cười nói:

- Thiếp quả hẹp hòi, riêng mình thì muốn chàng đừng quên mà người khác lại muốn chàng quên đi, chứ nếu chàng muốn tạm về thì có khó gì, nhà chàng chỉ trong gang tấc.

Rồi nắm tay áo Trương cùng ra cổng, thấy đường đi tối tăm, Trương ngần ngại không chịu bước.

Cô gái cứ kéo đi, không bao lâu nói:

- Tới rồi đấy, chàng về đi, thiếp đi đây.

Trương dừng bước nhìn kỹ, thấy quả là nhà mình, liền trèo qua chỗ tường lở mà vào.

Thấy trong phòng đèn đuốc còn sáng choang, bèn tới gần lấy hai ngón tay búng vào cánh của.

Bên trong hỏi ai, Trương nói rõ từ đâu tới, người bên trong cầm đèn ra mở cửa, chính là Phương thị.

Hai người vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ nắm tay nhau vào phòng, Trương thấy con nằm trên giường, cảm khái nói:

- Lúc ta đi con chỉ mới cao bằng đầu gối mà nay đã lớn như thế.

Vợ chồng ngồi sát vào nhau, bàng hoàng như trong mộng, Trương kể rõ những chuyện đã trải qua rồi hỏi tới vụ án mới biết các bạn đồng học, người thì chết trong ngục, kẻ thì đi biệt xứ, lại càng phục vợ nhìn xa.

Phương ngã vào lòng chồng nói:

- Chàng có được tình duyên tốt đẹp, chắc không nghĩ gì tới nơi phòng không gối chiếc có kẻ rơi lệ một mình.

Trương nói:

- Nếu không nghĩ tới thì về đây làm gì?

Ta với người kia quả là tình nghĩa sâu nặng có thể chết cho nhau nhưng vẫn không phải là đồng loại, có điều nghĩ tới ơn nghĩa thì khó quên mà thôi.

Phương hỏi:

- Chàng nghĩ thiếp là ai đấy?

Trương nhìn kỹ thì không phải Phương mà là Thuấn Hoa, sờ tới con thì chỉ là một cái gối tre, ngượng quá không nói câu nào.

Cô gái nói:

- Giờ thì rõ được lòng chàng rồi, từ nay phải đoạn tuyệt thôi.

May là chàng chưa quên ơn nghĩa, bấy nhiêu cũng tạm đủ để chuộc lỗi vậy.

Qua hai ba hôm cô gái chợt nói:

- Thiếp nghĩ si tình thương người rốt lại chẳng hay ho gì, nên hàng ngày chàng vẫn oán thiếp không đưa về nhà.

Nay gặp dịp muốn lên kinh, tiện đường có thể đưa chàng cùng đi.

Rồi quay lại lấy cái gối tre trên giường cho cùng cưỡi lên, bảo nhắm mắt lại.

Trương cảm thấy mình bay lên cách mặt đất không xa, nghe tiếng gió vi vút, giây lát dần dần hạ xuống.

Cô gái nói:

- Từ nay xin giã biệt!

Trương đang định căn dặn hẹn hò thì nàng đã biến mất, ngậm ngùi đứng một lúc.

Nghe tiếng chó sủa trong thôn, giữa màn đêm mịt mờ nhìn thấy bóng dáng cây cối nhà cửa đều là cảnh vật cố hương, bèn theo đường về nhà, trèo qua tường vào gõ cửa, làm hệt như hôm trước.

Phương giật mình tỉnh dậy, không tin, gạn hỏi chuyện vợ chồng ngày trước mới khêu đèn sụt sùi bước ra, nhìn thấy mặt chồng nước mắt chảy giàn giụa không thôi.

Trương vẫn ngờ rằng đây là ảo ảnh mà Thuấn Hoa biến ra, lại nhìn tới đứa con nằm trên giường thấy đều giống hệt tối hôm trước, bèn cười hỏi:

- Lại mang cái gối tre vào à?

Phương thị không hiểu, biến sắc nói:

- Thiếp mong chàng năm này tháng khác, vết nước mắt vẫn còn trên gối, thế mà mới gặp được nhau lại không hề tỏ ra thương xót, lòng dạ chàng để đâu?

Trương nhìn lại thái độ mới nắm tay vợ than thở, kể rõ lại mọi việc.

Hỏi tới kết quả vụ án thì ra đều như Thuấn Hoa đã nói, đang cùng nhau cảm khái chợt nghe ngoài cửa có tiếng giày nhưng hỏi không thấy ai đáp.

Nguyên là trong làng có một thiếu niên độc ác đã để ý tới sắc đẹp của Phương từ lâu.

Tối hôm ấy y từ thôn khác vể, xa xa thấy có người trèo tường vào, cho rằng ắt là kẻ hẹn hò tư thông, bèn lẻn vào theo.

Giáp vốn không biết Trương nhiều, chỉ núp nghe trộm, đến khi Phương hỏi gặng mấy lần mới nói:

- Ai ở trong phòng đấy?

Phương nói tránh là không có ai.

Giáp nói:

- Ta nghe trộm lâu rồi, định lên quan tố giác chuyện thông gian đây.

Phương bất đắc dĩ đành thú thật.

Giáp nói:

- Cái án Trương Hồng Tiệm chưa xong, nếu y về nhà cũng phải bắt trói giải lên quan.

Phương lạy lục năn nỉ, Giáp lời lẽ lại càng lấn lướt.

Trương bừng bừng nổi giận, không dằn lòng được rút dao xông ra chém Giáp trúng vào đầu Giáp ngã xuống mà còn la lớn, Trương chém liên tiếp đến lúc chết luôn.

Phương nói:

- Việc đã tới nước này, tội càng thêm nặng.

Chàng cứ trốn ngay đi, để thiếp chịu tội thay cho.

Trương nói:

- Trượng phu phải chết thì chết, chứ lẽ nào lại để lụy cho vợ con mà cầu sống cho mình?

Nàng đừng lo nghĩ gì, chỉ cần đừng để thằng con này làm đứt mạch thư hương, thì ta có chết cũng nhắm mắt.

Trời vừa sáng Trương lên huyện tự thú, Triệu thấy là người đúng ra kiện mình nên chỉ đánh đập qua loa rồi cho giải từ quận lên kinh, cùm trói rất khổ sở.

Trên đường gặp một nữ lang cưỡi ngựa đi qua, có bà già cầm cương, thì ra là Thuấn Hoa.

Trương gọi bà già muốn nói chuyện mà nước mắt giàn giụa.

Cô gái quay ngựa, vén khăn che mặt nhìn rồi kinh ngạc hỏi:

- Biểu huynh làm sao mà tới nỗi này?

Trương kể qua đầu đuôi cô gái nói:

- Cứ theo lối ăn ở của anh thì chỉ đáng ngoảnh mặt đi không nhìn, nhưng ta không nỡ.

Nhà ta cách đây không xa, xin mời các vị công sai cùng ghé chơi, ta cũng có thể giúp cho chút ít đi đường.

Đi theo hai ba dặm thì tới một sơn trang lầu cao gác rộng, cô gái xuống ngựa vào, sai bà già mở cửa mời khách.

Kế dọn rượu thịt ê hề như đã sắp sẵn, lại sai bà già ra nói:

- Gặp lúc trong nhà không có đàn ông, xin Trương quan nhân cứ mời hai vị công sai uống thêm vài chén, sắp tới trên đường còn phải nhờ vả hai vị nhiều.

Đã sai người lo mượn vài mươi lượng vàng để quan nhân làm lộ phí và tặng hai vị, nhưng còn chưa về tới.

Hai tên công sai mừng thầm, yên lòng thả sức uống rượu không nói tới việc lên đường nữa, đến lúc sẩm cả hai đều say mèm.

Cô gái bước ra chỉ tay vào cái cùm, cùm lập tức rơi xuống, kế kéo Trương lên ngồi chung ngựa phóng như bay, lát sau bảo Trương xuống, nói:

- Chàng xuống đây được rồi.

Thiếp có hẹn với cô em ở Thanh Hải mà vì chàng phải nán lại một buổi, sợ nó đợi lâu.

Trương hỏi lúc nào sẽ gặp lại, nàng không đáp, lại hỏi thì nàng đẩy rơi xuống ngựa rồi bỏ đi.

Đến sáng hỏi thăm thì đó là Thái Nguyên (tỉnh thành Sơn Tây), Trương bèn vào thành thuê nhà dạy học, đổi tên là Cung Tử Thiên.

Qua mười năm, hỏi dò biết việc truy nã đã trễ nãi, bèn lần mò về quê.

Tới gần cổng làng không dám vào ngay, chờ đến khuya mới vào, tới cổng thì tường cao quá không trèo qua được, lấy roi đập cửa.

Hồi lâu vợ mới bước ra hỏi.

Trương hạ giọng đáp vợ mừng quá mở cửa kéo vào, giả cất tiếng mắng:

- Lên kinh ít tiền lẽ ra phải về sớm, sao nửa đêm mới về?

Vào phòng cùng kể lại nhũng việc đã qua, mới biết hai tên công sai đã bỏ trốn chưa trở về.

Lúc trò chuyện thấy ngoài rèm có một thiếu phụ qua lại, Trương hỏi là ai, vợ đáp là con dâu, hỏi con đâu thì đáp lên kinh thi hương chưa về.

Trương rơi nước mắt nói:

- Lưu lạc mười năm, nay con đã nên người, không nói tới việc nối mạch thư hương thì nàng cũng đã tốn bao nhiêu tâm huyết.

Còn đang chuyện trò thì con dâu đã hâm rượu nấu cơm xong bày ra đầy bàn, Trương vui mừng vì được an ủi quá lòng mong ước.

Ở nhà vài hôm chỉ núp trong phòng, sợ người ngoài biết.

Một đêm vừa đi nằm chợt nghe tiếng nói ồn ào đập cửa rất gấp.

Hai người hoảng hốt vùng dậy thì nghe họ hỏi nhau:

- Có cổng sau không?

Càng khiếp sợ.

Phương vội lấy cánh cửa làm thang bắc qua tường cho Trương leo ra, kế mới ra cổng hỏi chuyện, thì ra là người báo tin con thi đỗ.

Phương mừng quá, rất hối hận về việc Trương trốn đi nhưng không sao đuổi theo giữ lại.

Đêm ấy Trương tuông bờ lướt bụi, vội vã không chọn đường, đến sáng thì vô cùng mệt mỏi.

Vốn định chạy về hướng tây, nhưng lúc ấy hỏi người đi đường thì té ra chỉ cách đường cái lên kinh không xa.

Bèn lần vào làng toan bán quần áo lấy tiền ăn, thấy một ngôi nhà lớn có tờ thông cáo dán trên vách, tới gần đọc mới biết là họ Hứa vừa thi đỗ Cử nhân.

Giây lát có một ông già bước ra, Trương vái chào thưa chuyện.

Ông già thấy dáng vẻ Trương phong nhã, biết không phải là kẻ lừa dối kiếm cơm bèn mời vào nhà khoản đãi.

Nhân hỏi đi đâu tới đây, Trương nói thác rằng mình dạy học ở kinh về quê, giữa đường gặp cướp, ông già bèn giữ lại nhờ dạy đứa con trai nhỏ.

Trương hỏi qua về gia thế, thì ra ông già là bậc quan lớn về hưu, người mới thi đỗ Cử nhân kia là cháu gọi bằng chú.

Hơn tháng sau, vị Cử nhân và một người bạn thi đỗ cùng khoa cùng về, nói là họ Trương ở huyện Vĩnh Bình, khoảng mười tám mười chín tuổi.

Trương thấy cùng quê cùng họ, thầm ngờ chính là con mình, nhưng vì trong huyện cũng có nhiều người họ ấy nên đành im lặng.

Tối đến, viên Cử nhân mở khăn gói ra, Trương thấy có danh sách những người đỗ thi hương, vội hỏi mượn xem thì đúng là con mình, bất giác sa nước mắt.

Mọi người cùng kinh ngạc hỏi, Trương chỉ vào tên mình nói:

- Ta chính là Trương Hồng Tiệm đây!

Rồi kể lại hết mọi chuyện.

Cử nhân họ Trương ôm cha khóc lớn, chú cháu họ Hứa an ủi mới đổi buồn làm vui.

ông Húa lập tức sắp vàng lụa viết thư sai người đưa tới các quan lớn ở Pháp ty nhờ thu xếp, sau đó cha con Trương cùng về nhà.

Phương từ lúc được tin con thi đỗ, hàng ngày vẫn buồn rầu vì Trương còn lưu lạc, nghe nóí con về càng thêm đau lòng.

Giây lát cha con cùng bước vào, nàng hoảng sợ như trời sập, hỏi lại duyên do mới cùng nhau mừng mừng tủi tủi.

Cha Giáp thấy con Trương quý hiển, không dám manh tâm làm hại nữa, Trương vì vậy càng đối xử tử tế, lại kể rõ lại việc năm xưa.

___________________________________

CHƯƠNG 203: THƯỜNG NGA

Ly Ly Hợp Hợp Sự Ly Kỳ

Tái Hợp Hà Phương Vĩnh Bất Ly

Thường Tận Nhân Gian Ly Biệt Khổ

Thần Tiên Dã Thị Cảm Tình Si

Dịch:

Hợp Ly, Ly Hợp Khéo Ly Kỳ

Tái Hợp Thôi Đừng Có Biệt Ly

Nếm Đủ Trần Gian Ly Biệt Khổ

Thần Tiên Hẳn Thấu Nỗi Tình Si



Tông Tử Mỹ ở Thái Nguyên (tỉnh thành Sơn Tây) theo cha du học, lưu ngụ ở huyện Quảng Lăng.

Cha Tông có quen với bà họ Lâm ở Hồng Kiều, một hôm cha con đi ngang Hồng Kiều gặp nhau trên đường, bà mời vào nhà pha trà tiếp đãi chuyện trò, bên cạnh có cô gái rất xinh đẹp.

Cha Tông vô cùng khen ngợi, bà già nhìn Tông nói:

- Đại lang nhu mì như đồng nam, rất có phúc tướng, nếu không chê là quê mùa, xin dâng về quét dọn hầu hạ, ông thấy sao?

Cha Tông giục con rời ghế ra lạy tạ, nói:

- Một lời nói giá đáng ngàn vàng đấy nhé.

Trước là bà già ở một mình, cô gái chợt tự tới, nói là mồ côi khổ cục, hỏi tiểu tự thì tên là Thường Nga, bà già yêu mến giữ lại, thật ra là định lấy làm món hàng quý.

Năm ấy Tông mười bốn tuổi, thấy cô gái trong lòng thích lắm, nghĩ là cha ắt sẽ nhờ người mai mối định ngày cưới hỏi, nhưng cha về rồi lại như quên đi, nóng ruột lén kể cho mẹ.

Cha nghe thế cười nói:

- Hôm trước nói đùa với bà già tham lam ấy thôi, chứ thật không rõ bà ta sẽ đòi bao nhiêu tiền, nói tới chuyện ấy đâu phải dễ?

Năm sau cha mẹ cùng chết, Tử Mỹ không sao quên được Thường Nga, vừa mãn tang là nhờ người tới dò ý bà Lâm, ban đầu bà ta chối là không có nói như vậy, Tông tức giận nói:

- Ta bình sinh không dễ mà lạy ai, sao bà coi việc ta lạy không đáng một đồng kẽm thế?

Nếu bà trái lời hứa ngày trước, thì phải lạy trả ta.

Bà già bèn nói:

- Có lẽ trước đây hứa đùa với cha ngươi, thì cứ cho là có nhưng không phải là lời thật, nói xong là quên thôi.

Nay lại tới nói thế, thì chẳng lẽ ta giữ gả cho vua trời à?

Nhưng hàng ngày phải chăm sóc cho nó, thật ra muốn được ngàn vàng, nay xin một nửa số ấy có được không?

Tôn tính thầm thấy khó lo đủ, cũng đành gác đó.

Vừa gặp lúc có người đàn bà góa chồng tới ở bên cạnh, có người con gái tuối cập kê, tiểu tự là Điên Đang, Tông tình cờ gặp thấy xinh đẹp không kém gì Thường Nga, trong lòng hâm mộ, thường đưa biếu thức ăn cho bà mẹ.

Lâu ngày quen dần, cũng thường liếc mắt đưa tình nhưng chưa có dịp nào nói chuyện.

Một đêm nàng qua xin lửa thắp đèn, Tông mừng kéo lại, cùng nhau vui thú.

Tông hẹn việc cưới hỏi, nàng từ chối bảo là anh trai đi buôn bán chưa về.

Từ đó cứ nhân lúc vắng vẻ là qua lại với nhau, nhưng giữ gìn rất kín đáo.

Có lần Tông tình cờ đi ngang Hồng Kiều, thấy Thường Nga trong cửa vội bước mau qua.

Thường Nga nhìn thấy vẫy tay, Tông dừng bước, nàng lại vẫy, bèn vào nhà.

Cô gái trách Tông bội ước, Tông kể lại duyên do, nàng bèn vào phòng lấy ra một nén vàng đưa cho.

Tông từ chối không nhận, nói:

- Tự biết mình phải vĩnh viễn xa nàng nên đã có ước hẹn với người khác, nhận vàng lo cưới nàng thì là phụ họ, nhận vàng mà không lo cưới nàng thì là phụ nàng, thật không dám phụ ai cả.

Cô gái im lặng hồi lâu rồi nói:

- Việc chàng ước hẹn với người khác thiếp đã biết, việc ấy nhất định không thành, mà dẫu có thành thiếp cũng không oán chàng phụ lòng đâu.

Nên về ngay đi, bà già sắp tới đấy!

Tông hoang mang không tự chủ được, bèn nhận vàng trở về, trong lòng rối loạn nhớ trước quên sau.

Qua một đêm kể lại với Điên Đang, Điên Đang rất tin lời, chỉ khuyên Tông nên quyết ý cưới Thường Nga.

Tông không chịu, nàng xin làm vợ kế mới vui vẻ, bèn nhờ người mai mối tới nộp sính lễ cho bà Lâm.

Bà già không từ chối, gả Thường Nga cho Tông.

Nàng về rồi, Tông kể hết lời Điên Đang nói, Thường Nga mỉm cười hối thúc Tông lo gấp.

Tông mừng rỡ muốn nói ngay với Điên Đang, nhưng Điên Đang đã đi mất.

Thường Nga biết đó là vì mình, bèn lấy cớ về thăm nhà cho hai người có cơ hội gặp nhau, dặn Tông lấy trộm cái túi Điên Đang đeo.

Kế đó Điên Đang quả tới, Tông bàn việc cưới xin thì nàng chỉ nói là đừng gấp, rồi cởi áo ôm nhau đùa giỡn, thấy dười bụng nàng có đeo cái túi màu cánh sen bèn lấy luôn.

Cô gái biết được biến sắc vùng dậy nói:

- Chàng với người ta thì một lòng mà với thiếp thì hai lòng, thật là kẻ phụ lòng, từ nay xin vĩnh biệt.

Tông nài nỉ giữ lại giải thích, nàng không nghe, bỏ đi.

Một hôm Tông qua cổng dò xét thì đã có một người khách buôn đất Ngô tới ở, còn mẹ con Điên Đang đã dời đi từ lâu, mất tăm tung tích không sao hỏi thăm được, chỉ biết buồn rầu than thở mà thôi.

Tông từ khi cưới Thường Nga, nhà giàu có hẳn lên, gác rộng hiên dài kéo ra tận mặt đường.

Thường Nga hay đùa giỡn, gặp lúc xem họa phổ về các mỹ nhân, Tông nói:

- Ta vẫn nghĩ rằng đẹp như nàng thì khắp thiên hạ không có kẻ thứ hai, chỉ còn chưa gặp Phi Yến, Dương phi thôi.

Nàng cười đáp:

- Nếu chàng muốn gặp chắc cũng không khó.

Bèn cầm quyển họa phổ nhìn kỹ qua một lượt rồi bước vào phòng soi gương hóa trang, giả làm Phi Yến múa gió, lại giả làm Dương Phi say nằm, cao thấp béo gầy sửa đổi rất khéo, dáng vẻ phong thái so với các bức họa rất giống.

Vừa hóa trang xong có đứa tỳ nữ từ ngoài bước vào không biết là ai, kinh ngạc hỏi chị em bạn, kế nhìn kỹ chợt nhận ra mới phì cười.

Tông vui vẻ nói:

- Ta được một mỹ nhân mà mỹ nhân suốt ngàn năm đều về cả trong khuê phòng.

*[Phi Yến, Dương phi: tức Triệu Phi Yến và Dương Thái Chân tức Dương Quý phi, hai người đẹp nổi tiếng trong nội cung của Đường Minh hoàng].

Một đêm vừa ngủ say, có mấy người nhấc cánh cổng ập vào, đèn đuốc sáng rục.

Cô gái vội vùng dậy, hoảng hốt nói ăn cướp vào nhà.

Tông vừa tỉnh giấc, đang định hô hoán thì bị một người kề dao vào cổ, khiếp sợ không dám thở mạnh, kế có một người khác bắt Thường Nga cõng lên lưng rồi ồ ạt kéo đi.

Tông lúc ấy mới la lớn, gia nhân đều họp lại đủ cả mà những thứ quý giá trong nhà cũng không mất chút gì.

Tông vô cùng đau thương, ão não như sắp chết, không còn thiết gì nữa, báo quan truy nã nhưng chẳng có chút tăm hơi.

Thấm thoát qua ba bốn năm vẫn cứ buồn bục không vui, nhân rảnh rỗi lên kinh dự thi, ở lại đó nửa năm, tìm đủ mọi cách dò la thăm hỏi.

Tình cờ đi ngang kỹ viện, thấy một cô gái mặt mũi lem luốc, áo quần rách rưới bệ rạc như ăn mày, dừng chân nhìn thì ra là Điên Đang, hoảng sợ hỏi:

- Nàng làm sao mà tiều tụy tới mức này?

Nàng đáp:

- Sau khi chia tay về nam, mẹ già qua đời, thiếp bị kẻ bắt đi bán cho nhà giàu, bị đánh đập chửi mắng đói rét khổ sở thật không muốn nói.

Tông rơi nước mắt, hỏi có thể chuộc nàng ra không, nàng đáp:

- Khó lắm, e rằng phải tốn kém nhiều, chàng không đủ sức.

Tông nói:

- Nói thật với nàng vài năm nay ta cũng có chút của cải, tức là đang ở đất khách tiền bạc cũng có hạn, nhưng trút tiền bán ngựa thì không dám chối từ.

Còn bấy nhiêu không đủ thì phải về nhà lo thêm.

Cô gái hẹn ngày mai ra phía tây thành gặp nhau dưới rạng liễu, nhưng dặn tới một mình đừng cho ai theo, Tông ưng thuận.

Hôm sau ra sớm đã thấy cô gái đứng ở đó trước, áo quần lộng lẫy khác xa hôm trước, ngạc nhiên hỏi, nàng cười đáp:

- Hôm qua là thử lòng chàng thôi, may mà còn cái ý thương xót người xưa, xin mời tới tệ xá, sẽ xin báo đáp.

Đi về phía bắc vài dặm thì tới nhà nàng, kế dọn tiệc cùng trò chuyện vui vẻ, Tông hẹn nàng cùng về.

Cô gái nói:

- Thiếp vương nhiều tục dụng, không thể theo được, nhưng tin tức Thường Nga thì vẫn có nghe.

Tông vội hỏi Thường Nga ở đâu nàng đáp:

- Hành tung của nàng vô định, thiếp cũng không biết chắc, nhưng ở Tây Son có một ni cô già chột mắt, tới hỏi sẽ biết ngay.

Tông bèn ngủ lại đó.

Sáng ra cô gái chỉ đường cho đi.

Tông tới chỗ ấy thấy có ngôi chùa cổ, tường bao quanh đã sụp hết, trong đám tre dày có nửa gian lều tranh, ni cô già mặc áo vá ngồi ở trong, thấy khách tới vẫn ngạo nghễ không chào hỏi gì cả.

Tông vái chào, ni cô mới ngẩng lên hỏi chuyện, Tông nói rõ tên họ rồi thưa điều mình muốn nhờ.

Ni cô nói:

- Người già chột mắt tám chục tuổi làm sao biết người đẹp ở đâu?

Tôn nài nỉ cầu khẩn, lời lẽ càng thêm nhũn nhặn, ni cô bèn nói:

- Thật tình ta không biết đâu, nhưng có hai ba người quen tới mai sẽ tới, may ra bọn gái nhỏ biết chưa chừng, tới mai ngươi cứ tới đây.

Tông ra về, hôm sau lại tới thì ni cô đi vắng, bèn dựa vào cánh cổng mục ngồi đợi hồi lâu.

Đêm đã khuya, trăng sáng vằng vặc, đang lo lắng không biết về đâu, còn ngần ngừ thì xa xa có mấy nữ lang từ ngoài đi vào, trong đó có Thường Nga.

Sinh mừng quá nhảy vọt lên nắm mau lấy áo nàng, Thường Nga nói:

- Anh chàng thô mãng làm thiếp sợ chết khiếp, thật đáng giận Điên Đang nhạy miệng, xui lấy tình trói buộc người.

Tông kéo nàng ngồi xuống, nắm tay kể lể, nói tới những khi buồn bã bất giác sụt sịt.

Cô gái nói:

- Nói thật thiếp là Hằng Nga bị đày xuống trần gian, trôi nổi cùng thế tục, lúc hết hạn bị đày mới làm như bị giặc cướp bắt đi để chàng không còn trông ngóng gì nữa.

Ni cô là người giữ cổng của Tây Vương mẫu, lúc thiếp mới bị trừng phạt được đội ơn dung nạp che chở nên lúc rảnh thường tới thăm một lúc.

Nếu chàng buông tha cho thiếp, thiếp sẽ ngỏ lời với Điên Đang thay cho.

Tông không chịu, cúi đầu nhỏ lệ, cô gái ngoái nhìn ra xa nói:

- Các chị em tới cả rồi!

Tông vừa mới ngoảnh nhìn bốn phía thì Thường Nga đã biến mất.

Tông òa lên khóc thất thanh, không muốn sống nữa bèn cởi dây lưng treo cổ tự tử.

Chợt thấy hồn mình bước ra khỏi gian nhà, rầu rĩ bỏ đi.

Chợt Thường Nga tới nắm tay nhấc lên, thấy chân rời khỏi mặt đất trở lại chùa, Thường Nga đỡ cái xác trên cây xuống đẩy vào nói:

- Chàng ngây ơi, chàng ngây ơi, Thường Nga đây mà!

Tông chợt như vừa tỉnh mộng, cô gái tức tối nói:

- Con tiện tỳ Điên Đang hại thiếp mà giết chàng, ta không thể tha được.

Bèn xuống núi thuê kiệu cùng về.

Tông sai gia nhân sắp sửa hành lý rồi sai ra phía tây thành tới tạ ơn Điên Đang, nhưng tới nơi thì chẳng thấy nhà cửa gì, kinh ngạc than thở trở về, trong lòng thầm mừng rằng Thường Nga không biết, nhưng vào cửa thì nàng ra đón cười hỏi:

- Chàng gặp Điên Đang không?

Tông ngạc nhiên không trả lời được, cô gái nói:

- Nếu chàng bỏ Thường Nga thì làm sao có được Điên Đang?

Xin cứ yên tâm chờ, nàng sẽ tự tới thôi.

Không bao lâu, quả nhiên Điên Đang tới, sợ sệt quỳ xuống dưới giường.

Thường Nga co tay búng vào đầu nói:

- Con ôn dịch, hại người quá lắm rồi!

Điên Đang gục đầu, chỉ xin tha chết.

Thường Nga nói:

- Đẩy người ta sa hầm sẩy hang rồi muốn thoát đi nơi xa à?

Mười một tiên cô trong cung Quảng Hàn chưa biết lúc nào sẽ lấy chồng, phải có được một trăm chiếc gối thêu, một trăm đôi giày mới, ngươi phải theo ta về cùng cắt may.

Điên Đang kính cẩn nói:

- Chỉ cần giao việc hẹn ngày, đến lúc sẽ tới đưa đủ.

Cô gái không chịu, nói với Tông rằng:

- Nếu chàng nói là chịu thiếp sẽ tha ngay lập tức.

Điên Đang nhìn Tông, Tông cười không nói gì, Điên Đang trừng mắt tức tối rồi xin về nói với người nhà, Thường Nga ưng thuận, bèn đi.

Tông hỏi về lai lịch bình sinh mới biết nàng là hồ tinh ở Tây Sơn, bèn thuê kiệu chờ.

Hôm sau quả nhiên nàng tới, bèn cùng nhau về nhà Tông.

Có người hỏi han, Tông bịa đặt trả lời qua quít, nhưng Thường Nga trở lại lần này cư xử rất nghiêm nghị, ít khi cười đùa, Tông ép đùa giỡn thì nàng ngầm bảo Điên Đang làm.

Điên Đang vô cùng thông minh, khéo chiều chuộng Tông.

Thường Nga thích ngủ một mình, hay từ chối không chịu ngủ chung.

Một đêm đến canh ba còn nghe trong phòng Điên Đang có tiếng cười khanh khách không dứt, sai tỳ nữ tới nghe ngóng, tỳ nữ quay về không chịu nói, chỉ xin phu nhân tự tới mà xem.

Nàng tới cửa sổ nhìn, thấy Điên Đang đang giả trang làm mình, cười khẽ quay về.

Giây lát Điên Đang chợt thấy bụng đau buốt, vội vàng khoác áo kéo Tông qua phòng Thường Nga, bước vào liền lạy phục xuống đất.

Thường Nga nói:

- Ta đâu phải là phù thủy mà ếm kẻ bắt chước mình?

Chỉ vì ngươi muốn ôm bụng bắt chước Tây Thi đó thôi!

Điên Đang khấu đầu, chỉ nói là đã biết tội.

*[Ôm bụng bắt chước Tây Thi: Tây Thi là mỹ nữ nổi tiếng ở nước Việt thời Xuân thu, lúc chưa được Việt vương Câu Tiễn tuyển cung để dâng Ngô vương Phù Sai thì là con nhà nghèo, làm nghề đập vải, có bệnh đau bụng, mỗi khi lên con đau là ôm bụng nhăn mặt nhưng trông lại càng yêu kiều.

Có cô gái láng giểng tên Đông Thi cũng bắt chước nàng ôm bụng nhăn nhó cho đẹp hơn, nhưng xấu xí nên cứ nhăn mặt là người ta phát gớm.

Đây Thường Nga có ý nói Điên Đang bắt chước mình cho đẹp thì phải chịu đau bụng].

Cô gái bèn nói:

- Ngươi khỏi rồi đấy!

Điên Đang bèn đứng dậy, cười ngất quay về.

Điên Đang nói riêng với Tông rằng:

- Thiếp có thể khiến nương tử bắt chước Quan âm.

Tông không tin, nhân đùa thách để thử xem sao.

Thường Nga hay ngồi xếp bằng, nhắm mắt như ngủ.

Điên Đang bèn lấy cái bình giả làm bình ngọc cắm nhành dương đặt lên bàn, mình thì xõa tóc chắp tay đứng hầu bên cạnh, khẽ mím môi son, hé lộ răng ngọc, mắt ngó thẳng không chớp.

Tông bật cười, Thường Nga mở mắt hỏi, Điên Đang đáp:

- Ta giả làm Long nữ hầu Quan âm thôi.

Thường Nga cười ngồi yên, phạt Điên Đang phải giả làm Đồng tử lạy.

Điên Đang buộc tóc lại, lạy lục bốn phía, lăn lộn dưới đất làm đủ mọi vẻ, hết trái sang phải, đầu gối chạm vành tai.

Thường Nga bật cười lớn, buông chân đạp lên, Điên Đang ngẩng đầu ngậm vào mũi hài, lấy răng cắn khẽ.

Thường Nga đang cười sằng sặc, chợt thấy cảm giác đê mê từ ngón chân lan lên tới người, lửa dục bốc lên như không ngăn được, vội ngưng thần quát:

- Con chồn tiện tỳ đáng chết, không biết lựa người mà mê hoặc à?

Điên Đang sợ nhả hài ra lạy phục xuống đất, Thường Nga giận dữ quát mắng, mọi người không ai hiểu gì cả.

Thường Nga nói với Tông rằng:

- Điên Đang tính hồ không đổi, mới rồi làm thiếp gần như mê muội đi, nếu không có túc căn sâu nặng, thì trụy lạc có khó gì!

Từ đó cứ gặp Điên Đang là nghiêm nghị xét nét, Điên Đang sợ sệt thẹn thùng nói với Tông:

- Thiếp cùng nương tử như cây liền cành, lúc nào cũng rất thân thiết nên không biết là đã mê hoặc quá đáng, có điều không phải chỉ không dám, mà là không nỡ nữa.

Tông thuật lại, Thường Nga bèn đối xử với Điên Đang như trước, nhưng mấy lần khuyên răn Tông về việc đùa giỡn không có chừng mực mà Tông không nghe, vì vậy đám vợ thiếp tỳ nữ đều nhờn, tranh nhau trửng giỡn.

Một hôm hai người đỡ một tỳ nữ giả làm Dương Quý phi, lấy mắt ra hiệu bảo tỳ nữ giả làm ra vẻ say rượu, vừa buông tay thì cô ta ngã vật xuống thềm như bức tường sập.

Mọi người vừa reo cười vừa tới gần đập dậy, thì Phi tử đã thành cái xác ở Mã Ngôi rồi.

*[Phi tử đã thành cái xác ở Mã Ngôi: Phi tử tức Dương Quý phi.

Đời Đường Minh Hoàng, An Lộc Sơn dấy loạn đánh chiếm kinh đô, Minh hoàng mang Dương Quý phi chạy vào Thục, tới Mã Ngôi thì quân sĩ mệt nhọc đói khát không chịu đi nữa, tho rằng vì vua sủng ái Dương Quý phi nên có tai họa này, vua bất đắc dĩ phải sai nàng thắt cổ tự tử để yên lòng quân.

Thành cái xác ở Mã Ngôi đây ý nói người tỳ nữ đóng giả Dương Quý phi đã chết].

Mọi người hoảng hốt vội chạy đi báo với chủ nhân, Thường Nga kinh sợ nói:

- Tai họa tới rồi đấy, ta nói có đúng không?

Vội tới xem thì không sao cứu được nữa, bèn sai báo cho người cha biết.

Cha ngườí tỳ nữ là Giáp, tính vốn vô hạnh, nghe tin gào khóc chạy tới, ôm thây con vào sảnh đường, mắng chửi đủ điều, Tông đóng chặt cửa phòng run rẩy, không biết làm sao.

Thường Nga bước ra quát:

- Ông chủ đánh đập tỳ nữ tới chết thì theo luật cũng không phải đền mạng, huống hồ đây chỉ là ngẫu nhiên đột tử, sao biết là không sống lại được?

Giáp cãi rằng chân tay con gái lạnh ngắt, lẽ nào còn sống lại được nữa.

Thường Nga nói:

- Phải rồi, nhưng nếu nó không sống lại được thì đã có quan trên.

Rồi vào sảnh đường vỗ vào xác thì người tỳ nữ đã tỉnh, vừa vỗ đã ngồi dậy.

Thường Nga quay lại giận dữ nói:

- May mà nó chưa chết, nhưng không thể cho lão giặc già kia yên thân được, phải trói lại giải lên quan.

Giáp không còn lời lẽ nào, chỉ quỳ rạp van xin.

Thường Nga nói:

- Ngươi đã biết tội thì tạm không xét nữa, nhưng đồ tiểu nhân vô lại rất hay lật lọng, giữ con ngươi lại đây là nuôi mầm tai vạ, về mau nhà đem đủ tiền ta mua ngày trước tới đây mà chuộc con.

Rồi sai người lôi Giáp ra, mời mấy ông già láng giềng làm chứng viết tờ chuộc, điểm chỉ ký tên xong bèn gọi người tỳ nữ tới trước mặt, bảo Giáp tự hỏi:

- Con có sao không?

Cô ta đáp:

- Không sao!

Rồi mới giao cho đưa về.

Kế vào họp tất cả đám tớ gái quở trách suốt lượt, lại gọi Điên Đang tới nghiêm khắc ngăn cấm, kế nói với Tông:

- Nay mới biết người trên thì dù chỉ mỉm cười một cái thôi cũng không thể khinh suất.

Chuyện đùa giỡn này do thiếp bày ra, mà thói tệ kéo dài không sao ngăn cấm được.

Phàm buồn rầu thuộc âm, vui vẻ thuộc dương, dương cực thì âm sinh, đó là vận trời tuần hoàn.

Cái họa tớ gái vừa rồi là quỷ thần mới răn dạy qua loa thôi, nếu còn mê muội không tỉnh ngộ thì việc tan nhà nát cửa tới ngay đấy.

Tông kính cẩn nghe theo.

Điên Đang khóc lóc xin giúp cho, Thường Nga bèn nắm lấy vành tai một lúc rồi buông ra, Điên Đang sững ra một lúc rồi chợt như vừa tỉnh mộng, lạy phục xuống đất, mừng rỡ ca múa.

Từ đó trong khuê các yên ả, không ai dám ồn ào.

Người tỳ nữ về tới nhà thì không bệnh mà lăn ra chết, Giáp đem tiền chuộc con tới nhờ mấy ông già láng giềng nói giúp xin thương xót tha thứ cho.

Thường Nga ưng thuận, lại nghĩ tình cô ta hầu hạ bèn cho luôn số tiền để chôn cất.

Tông thường lo về việc không có con, chợt nghe trong bụng Thường Nga có tiếng trẻ con khóc, nàng bèn lấy dao rạch sườn trái đem ra, quả là con trai.

Không bao lâu nàng lại có mang, lại lấy dao rạch sườn phải đem ra một con gái.

Con trai rất giống cha, con gái rất giống mẹ, sau đều cưới gả cho nhà thế gia.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 204+205


CHƯƠNG 204: CHỬ SINH

Sư Môn Phong Nghĩa Cảm Bình Sinh

Hiếu Học Lân Tài Lưỡng Dụng Tình

Tự Thị Tư Văn Đồng Cốt Nhục

Báo Ân Nguyên Bất Vấn U Minh

Dịch:

Thầy Trò Nghĩa Khí Vốn Tương Đầu

Hiếu Học Lân Tài Khéo Hợp Nhau

Từ Đấy Tư Văn Cùng Cốt Nhục

Chẳng Nề U Hiển Báo Ân Sâu



Cử nhân họ Trần ở phủ Thuận Thiên, năm mười sáu mười bảy tuổi thường theo thầy học tới đọc sách ở chùa.

Ở chùa có rất nhiều người, trong đó có Chử sinh, tự nói là người Đông Sơn (tỉnh Chiết Giang), học hành rất chăm chỉ, không hề nghỉ ngơi, lại ngủ nhờ luôn trong chùa, ít khi thấy về nhà.

Trần chơi thân với Chử nhất, nhân hỏi han, Chử đáp:

- Nhà ta nghèo, lo tiền ăn học không dễ, nếu không bỏ phí thời giờ mà học tới nửa đêm, thì hai ngày của ta bằng ba ngày của người khác.

Trần cảm động vì lời ấy, muốn đem giường tới ở cùng, Chử ngăn lại nói:

- Khoan đã, khoan đã, ta thấy thầy ở đây không phải là thầy chúng ta được.

Ở cửa thành có Lữ tiên sinh tuy già nhưng giỏi, xin cùng tới đó.

Đại khái những người mở trường dạy học ở kinh đô phần lớn đều thu tiền từng tháng, hết tháng thì hết tiền, ai muốn học nữa hay thôi là tùy.

Rồi đó hai người tới chỗ Lữ.

Lữ là bậc túc nho ở đất Việt (tỉnh Chiết Giang) lưu lạc không về quê được nên ở đó dạy trẻ con, thật ra không phải là bản ý, nên được hai nguờì làm học trò thì mừng lắm.

Mà Chử lại rất thông minh, sách vở đọc qua là không quên, nên Lữ càng quý mến.

Hai người ngày càng thân thiết, ban ngày học cùng bàn, ban đêm ngủ cùng giường, vừa hết tháng chợt Chử chào về nhà, hơn mười ngày không quay lại, hai thầy trò đều ngờ vực.

Một hôm Trần có việc tới chùa Thiên Ninh, thấy Chử ở hành lang, đang xe dây gai làm bấc đèn.

Chử gặp Trần có vẻ áy náy thẹn thùng, Trần hỏi:

- Sao lại bỏ không học nữa thế?

Chử cầm tay ngắt lời, buồn rầu nói:

- Nhà nghèo không có tiền đóng cho thầy, phải làm nửa tháng mới học được một tháng.

Trần ngậm ngùi hồi lâu rồi nói:

- Cứ tới học đi, ta xin hết sức lo cho!

Chử cảm động vì lời ấy bèn cùng Trần trở lại trường của Lữ, nhưng dặn Trần đừng nói lộ ra, tìm cớ để thưa lại với thầy.

Cha Trần vốn là nhà buôn nên giàu có, Trần cứ lén trộm tiền của cha đóng tiền học cho Chử.

Cha thấy mất tiền chửi Trần, Trần kể thật lại, cha cho là ngây ngốc, bèn bắt thôi học.

Chử xấu hổ quá, chào thầy định đi, Lữ biết chuyện trách rằng:

- Ngươi đã nghèo, sao không nói sớm?

Rồi lấy hết tiền đã đóng trả lại cho cha Trần, giữ Chử ở lại dạy dỗ như cũ, cho ăn uống như con mình.

Trần tuy không vào trường nữa nhưng vẫn tới mời Chử ra quán rượu thết đãi.

Chử vì tỵ hiềm không tới, nhưng Trần cứ nằng nặc mời mọc, lần nào cũng khóc, Chữ không nỡ dứt tình nên vẫn qua lại với nhau.

Qua hai năm cha Trần chết, Trần lại tới xin học.

Lữ cảm động vì chân thành bèn nhận cho học.

Nhưng Trần bỏ học lâu quá nên học kém xa Chử.

Được nửa năm, con trai lớn của Lữ từ đất Việt tới, phải xin ăn tìm cha.

Học trò góp tiền giúp thầy trở về, Lữ chỉ biết rơi lệ lưu luyến mà thôi.

Lúc Lữ lên đường, dặn Trần coi Chử như thầy.

Trần nghe theo, đưa Chử về nhà ở.

Không bao lâu được vào học trường huyện, dự khoa thi Di tài, Trần lo không viết đủ quyển nổi, Chử xin thi thay.

Đến ngày thi, Chử đưa một người tới, nói là biểu huynh tên Lưu Thiên Nhược, bảo Trần tạm đi theo.

Trần vừa bước ra, Chử phía sau chợt kéo mạnh, lảo đảo suýt ngã.

Lưu vội đỡ rồi cùng đi.

Đi một chặng xa, Lưu đưa vào nhà mình, trong nhà không có phụ nữ nên cho khách ngủ nhà trong.

Ở đó vài hôm, chợt đã đến ngày Trung thu, Lưu nói:

- Hôm nay trong vườn của Hoàng thân họ Lý có nhiều người tới du ngoạn, tới đó chơi một phen cho đỡ buồn rồi sẽ đưa ông về.

Rồi sai người gánh lò trà bình rượn cùng đi.

Tới đó thì bến nước đình mai đông đúc ồn ào không chen vào được, qua khỏi bến nước thấy dưới gốc liễu già có con thuyền nằm ngang bèn dắt nhau lên.

Uống được mấy chén, thấy vắng vẻ quá, Lưu ngoái lại nói với tiểu đồng:

- Quán mai hoa gần đây có một ca kỹ mới, không biết có nhà không?

Tiểu đồng đi một lát thì đưa nàng ấy về, té ra là nàng Lý Át Vân.

Lý là danh kỹ ở kinh đô, làm thơ giỏi, ca hát hay, Trần từng đi với bạn uống rượu chỗ nàng một lần nên có quen.

Gặp nhau chuyện trò thăm hỏi, nàng có vẻ buồn rầu lo lắng, Lưu bảo hát thì hát khúc Cảo lý.

Trần không vui nói:

- Cho dù chủ khách không hợp nhau, nhưng sao nàng lại hát khúc điệu vong trước người còn sống?

Nàng bèn đứng lên gượng cười nói, hát khúc diễm tình, Trần vui vẻ nắm cổ tay nàng nói:

- Lần trước nàng hát khúc Cán sa khê, ta đã nhẩm lại mấy lần nhưng nay quên cả rồi.

Nàng bèn ngâm rằng:

*[Cảo lý: tên khúc hát cổ, ngày xưa dùng làm bài hát lúc đưa tang].

Lệ nhãn doanh doanh đối kính đài

Khai liêm hốt kiến tiểu cô lai

Đê đầu chuyển trắc khán cung hài

Cưỡng giải lục nga khai tiếu yểm

Tần tương hồng tụ thí hương tai

Tiểu tâm do khủng bị nhân xai.

Dịch:

(Mắt lệ rưng rưng đứng trước gương

Mở rèm chợt thấy bóng cô nương

Cúi đầu ngoảnh lại nhìn xiêm áo

Nhoẻn miệng buồn tênh với phấn hương

Tay áo mấy lần lau nước mắt

Còn e khách giận vẻ sầu thương).

Trần ngâm đi ngâm lại mấy lần rồi ghé thuyền vào bờ, bước lên hành lang thủy đình, thấy trên vách có rất nhiều thơ đề vịnh, lập tức lấy bút ghi bài từ lên đó.

Trời đã xế chiều, Lưu nói:

- Người trong trường thi sắp ra rồi!

Bèn đưa Trần về, tới cổng là chào đi ngay.

Trần thấy trong nhà tối tăm không có ai, đang định cất tiếng hỏi thì Chử sinh đã bước vào, nhìn kỹ lại thì không phải Chử sinh.

Đang còn kinh ngạc thì người kia đã tới sát bên ngã chúi vào, bọn người nhà nói:

- Công tử mệt quá rồi!

Rồi xúm lại đỡ lên, Trần chợt biết người vừa ngã không phải ai khác mà chính là mình.

Choàng dậy nhìn thấy Chử sinh bên cạnh, bàng hoàng như vừa tỉnh mộng, ngồi yên ngẫm nghĩ, Chử nói:

- Nói thật ông đừng sợ, chứ thật ra ta là ma đây, lẽ ra đã đầu thai lâu rồi, sỡ dĩ còn nấn ná ở đây là vì không quên được bạn tốt, nên mới nhập vào xác ông để thi thay, nay xong cả ba kỳ, đã thỏa nguyện rồi.

Trần lại xin thi hội giùm, Chử nói:

- Kiếp trước ông ít phúc đức, tính keo kiệt, sợ kiếp này khó thi đỗ làm quan.

Trần hỏi sắp tới sẽ đi đâu, Chử đáp:

- Lữ tiên sinh với ta có duyên phận cha con, vẫn nghĩ ngợi mà không làm được, biểu huynh coi việc sổ sách dưới âm ty nên ta đã nhờ thưa giùm với Diêm Vương, may ra thì được.

Rồi chào đi, Trần lấy làm lạ lùng.

Sáng ra tới thăm nàng ca kỹ họ Lý, định hỏi han về việc chơi thuyền hôm qua, thì nàng đã chết mấy hôm rồi.

Lại tới khu vườn của hoàng thân xem thì bài thơ đề trên vách vẫn còn, nhưng nét mực mờ mờ như sắp phai hết, mới biết kẻ đề là hồn, kẻ làm là ma.

Đến đêm Lữ mừng rỡ tới nói:

- Chuyện ta tính toán may quá đã xong rồi, xin kính cẩn từ biệt ông.

Rồi xòe hai bàn tay ra bảo Trần ghi chữ "Chử" vào để ghi nhớ.

Trần định sai bày rượu tiễn, Chử xua tay nói:

- Không cần đâu, nếu ông không quên bạn cũ thì sau khi ra bảng rồi đừng ngại xa xôi.

Trần gạt lệ đưa ra, thấy một người đang chờ ở cổng.

Chử đang còn chần chừ, người ấy đã đưa tay nắm vào đầu, Chử theo tay thu người lại còn bé tí, người ấy liền bỏ vào túi vác đi.

Qua mấy hôm sau, quả nhiên có tin Trần thi đỗ, bèn thu xếp hành lý tới đất Việt.

Vợ Lữ không sinh đẻ gì đã mười năm, đã hơn năm mươi tuổi chợt sinh một con trai, hai tay cứ nắm chặt vào nhau không sao mở ra được.

Trần tới xin cho nhìn đứa nhỏ, lại nói trong tay nó phải có chữ "Chử".

Lữ chưa tin lắm, nhưng khi đứa nhỏ nhìn thấy Trần chợt xòe mười ngón tay ra, nhìn vào quả đúng.

Lữ ngạc nhiên hỏi duyên do, Trần kể lại hết mọi chuyện, mọi người đều kinh ngạc sợ hãi, Trần tặng biếu Lữ rất hậu rồi trở về.

Sau Lữ nhờ chân Cống sĩ lên kinh thi đình, tới ở nhà Trần thì đứa nhỏ được mười ba tuổi, đã được vào học ở trường huyện rồi.

____________________________________

CHƯƠNG 205: HOẮC NỮ

Lai Khứ Vô Đoan Tam Dịch Chủ

Khang Nang Khuynh Tận Phí Tiên Tài

Tự Quy Nam Hải Vô Tiêu Tức

Thúc Uyển Kim Xuyên Hà Xứ Lai

Dịch:

Đột Ngột Ba Lần Đổi Tới Lui

Túi Keo Dòi Giốc Hết Thì Thôi

Từ Về Nam Hải Không Tin Tức

Mà Xuyến Vàng Đâu Buộc Hẳn Hoi



Chu Đại Hưng là người huyện Chương Đức (tỉnh Hà Nam), nhà giàu có nhưng rất keo kiệt bủn xỉn, ngoài lễ cưới hỏi cho con thì trên bàn không có khách, dưới bếp không có thịt.

Nhưng tính tình lại bợm bãi thích nữ sắc, có gái bên cạnh thì tiêu bao nhiêu cũng không tiếc, cứ đêm đến là trèo tường qua thôn bên cạnh ngủ với đám đàn bà phóng đãng.

Một đêm gặp người thiếu phụ đi một mình, biết là kẻ trốn nhà bỏ đi, bèn ép dẫn về, thắp đèn lên nhìn thì vô cùng xinh đẹp.

Nàng tự nói là họ Hoắc, Chu hỏi kỹ lai lịch thì tỏ vẻ không bằng lòng, nói:

- Nếu đã thu dung nhau được thì cần gì phải hỏi kỹ.

Còn nếu sợ làm lụy cho nhau thì chẳng bằng xin đi ngay.

Chu không dám hỏi nữa, giữ lại trong phòng ngủ.

Cô gái không thể ăn uống kham khổ, lại rất ghét thịt cá, phải là yến sào, tim gà, bóng cá nấu thang mới chịu ăn nhưng Chu không tiếc, cứ ra sức cung phụng.

Cô gái lại hay bệnh, nói mỗi ngày phải uống một chén sâm, ban đầu Chu không chịu nhưng nàng cứ rên rỉ như sắp chết, Chu bất đắc dĩ phải cắt thuốc cho thì lại như khỏi bệnh khỏe mạnh như thường.

Cô gái mặc quần áo phải là gấm vóc, cứ vài ngày lại bỏ thứ cũ sắm thứ mới.

Cứ thế hơn tháng, Chu chịu không xiết, dần dần không cung đốn được, cô gái rơi lệ bỏ ăn, nằng nặc xin đi.

Chu sợ lại dịu ngọt khuyên lơn chiều chuộng như cũ.

Cô gái lại hay buồn rầu, cứ mỗi ngày lại gọi ban hát tới nhà diễn tuồng, lúc diễn Chu đặt chõng bế con ngồi ngoài nhìn, cô gái vì không có khách cứ chữi mắng, Chu cũng ít khi phân biện.

Được hai năm, nhà cửa dần dần sa sút, Chu lựa lời nói với cô gái xin nàng chi tiêu dè sẻn hơn, cô gái ưng thuận, từ đó chi dùng chỉ bằng một nửa lúc trước.

Ít lâu sau vẫn không thể cung đốn được, cô gái bất đắc dĩ phải ăn cháo thịt, kế dần dần cũng phải chịu ăn những món thông thường.

Chu mừng thầm, chợt một đêm nàng mở cửa bỏ đi mất.

Chu rầu rĩ như mất của, tìm hỏi khắp nơi mới biết nàng tới nhà họ Hà ở thôn bên.

Hà là con nhà vọng tộc, tính phóng khoáng hiếu khách, thường đốt đèn yến tiệc đến sáng.

Hôm ấy chợt có cô gái đẹp nửa đêm bước vào phòng, hỏi ra thì là người thiếp của Chu bỏ trốn.

Hà vốn biết rõ Chu là người thế nào, lại thích cô gái xinh đẹp bèn thu nạp, ăn ở được vài ngày càng thêm si mê, cứ để nàng mặc tình hoang phí, cung phụng như Chu trước kia.

Chu được tin qua đòi nhưng Hà không hề quan tâm, Chu liền kiện lên quan.

Quan hỏi tên họ lai lịch cô gái, Chu đều không biết rõ, quan bèn để đó không xét xử gì nữa.

Chu bán gia sản đút lót mới được xét xử, cô gái nói với Hà:

- Thiếp về với họ Chu vốn không có mai mối cưới hỏi, có gì phải sợ?

Hà mừng rỡ, kế đối chất xong trong bọn tân khách có Cố sinh cho là không thể làm như vậy, nói với Hà rằng:

- Thu nạp kẻ trốn nhà bỏ đi là đã phạm pháp, huống chi cô gái này vào nhà hoang phí quá độ, cho dù là gia sản ngàn vàng cũng đã chắc lâu dài được chưa?

Hà chợt tỉnh ngộ xin thôi kiện, đưa trả cô gái về cho Chu, nhưng được hai ba hôm thì nàng lại trốn đi.

Có Hoàng sinh vốn là học trò nghèo, không có vợ.

Cô gái gõ cửa vào nhà, nói rõ mình ở đâu tới.

Hoàng sợ phạm pháp vì đột nhiên có người đẹp tới nhà, sợ hãi không biết làm sao, chỉ cố từ chối nhưng cô gái vẫn không chịu đi.

Trong lúc đối đáp nàng tỏ vẻ rất nhu mì trong trắng, Hoàng xiêu lòng bèn giữ lại, nhưng sợ nàng không chịu yên phận nghèo hèn.

Cô gái dậy sớm làm lụng việc nhà, vất vả còn hơn vợ thật.

Hoàng là người hiểu nhiều biết rộng, phóng khoáng đa tình mà cô gái lại giỏi chiều chuộng, vì thế hận gặp nhau quá muộn, chỉ sợ tin tức lộ ra không được chung sống lâu dài.

Nhưng Chu từ sau vụ kiện càng nghèo, lại cho rằng cô gái nhất định không chịu yên phận nên cũng bỏ qua không tìm nữa.

Cô gái ở với Hoàng được vài năm, tình nghĩa rất thắm thiết, một hôm chợt nói muốn về thăm nhà, xin Hoàng đưa tiễn.

Hoàng nói:

- Trước nàng nói rằng không có nhà cửa, tại sao trước sau bất nhất như vậy?

Cô gái đáp:

- Lúc trước là thiếp nói dối, chứ thiếp là người huyện Trấn Giang (tỉnh Giang Tô) trước theo kẻ phóng đãng lưu lạc giang hồ nên mới đến nông nỗi này.

Nhà thiếp cũng giàu có, chàng cứ cố tìm tới, ắt có báo đáp.

Hoàng theo lời, thuê kiệu cùng đi, tới địa phận Dương Châu ghé thuyền vào bờ sông.

Cô gái ngồi trong thuyền nhìn ra, có người nhà buôn lớn nhìn thấy ngạc nhiên vì nàng quá đẹp, quay thuyền lại đuổi theo mà Hoàng không hề biết.

Cô gái chợt nói:

- Nhà chàng nghèo quá, nay có một cách chữa bệnh nghèo, không biết chàng có chịu không?

Hoàng hỏi cách gì, nàng đáp:

- Thiếp theo chàng mấy năm chưa từng sinh đẻ, đó cũng là một điều không hay.

Thiếp tuy quê mùa nhưng may cũng chưa già, nếu có ai đem ngàn lượng vàng mua thiếp đi, thì bấy nhiêu đủ cho chàng có vợ đẹp ruộng tốt, cách đó thế nào?

Hoàng biến sắc không biết vì sao nàng nói thế, cô gái cười nói:

- Chàng đừng vội, trên đời vốn có nhiều người đẹp, ai mà chịu bỏ ngàn vàng mua thiếp?

Nhưng nói đùa biết đâu cũng có thật, chứ bán hay không bán là tùy chàng thôi.

Cô gái bèn nói với vợ người nhà thuyền, người đàn bà nhìn Hoàng, Hoàng ngần ngại chưa lên tiếng, người đàn bà liền đi, giây lát quay về nói thuyền bên có người nhà buôn lớn xin bỏ ra tám trăm lượng.

Hoàng cố ý xua tay làm ra vẻ không được, không bao lâu người đàn bà quay lại nói người nhà buôn ưng thuận, xin mời qua ngay thuyền để giao tiền.

Hoàng cười khẽ, cô gái nói:

- Người ta mời qua làm giấy ký tên đấy, đi hay không thì tùy chàng thôi.

Hoàng không chịu, cô gái cứ hối thúc, Hoàng bất đắc dĩ phải qua.

Trong giây lát giấy tờ làm xong, tiền bạc giao đủ, Hoàng bảo gói kín lại, nói:

- Chỉ vì nghèo nên phải dứt tình, nếu vợ ta không chịu theo, thì vẫn có đủ tiền trả lại.

Vừa chở tiền về thuyền thì thấy cô gái đã theo người vợ nhà thuyền từ đuôi thuyền leo qua thuyền người nhà buôn, từ xa vẫy tay chào, không hề tỏ vẻ lưu luyến gì cả.

Hoàng buồn rầu vì biệt ly, thổn thức không nói nên lời.

Giây lát thuyền kia nhổ neo lướt đi như tên bắn, Hoàng gào lớn muốn đuổi theo, nhà thuyền không chịu, nhổ neo đi về phía nam.

Trong nháy mắt đã tới Trấn Giang, Hoàng đem tiền lên bờ xong, nhà thuyền vội nhổ neo rời bến.

Hoàng ôm hành lý ngồi buồn rầu, không biết về đâu, nhìn sóng nước lăn tăn trên sông thấy như có hàng vạn mũi kim châm vào lòng.

Đang còn gạt lệ chợt có tiếng êm ái gọi Hoàng lang, ngạc nhiên nhìn quanh thì cô gái đã đứng trên con đường trước mặt, Hoàng mừng quá xách hành lý đi theo.

Hỏi sao nàng tới mau thế, cô gái cười đáp:

- Nếu chậm vài khắc nữa chắc chàng sẽ sinh nghi.

Hoàng lại ngờ rằng nàng là người phi thường, hết sức gạn hỏi, cô gái cười nói:

- Thiếp bình sinh gặp kẻ keo kiệt thì phá của, gặp kẻ dâm tà thì lừa bịp, nếu bàn thật ắt chàng sẽ không chịu, thì làm sao có được ngàn vàng?

Bây giờ túi đã đầy tiền, lại còn châu về Hiệp Phố, chàng có được đủ cả tiền cả vợ, còn hỏi làm gì?

Bèn cầm giúp hành lý đưa nhau đi, khỏi cửa sông có một căn nhà quay mặt về hướng nam bèn vào.

Giây lát cha mẹ anh trai chị dâu nhao nhao ra đón, đều nói:

- Hoàng lang tới rồi!

Hoàng vào lạy ra mắt cha mẹ vợ, thấy có hai thiếu niên bèn vái chào rồi cùng ngồi trò chuyện, đó là anh trai và em trai của cô gái là Đại lang và Tam lang.

Trong bàn tiệc không có nhiều món, chỉ bày có bốn đĩa mà chật cả bàn, gồm gà cua ngỗng cá đầy vun lên.

Hai thiếu niên lấy chén lớn mời rượu, trò chuyện phóng khoáng.

Kế dẫn Hoàng vào một gian nhà riêng cho vợ chồng cùng ở, nệm gối đều tinh khiết sạch sẽ nhưng trên giường thì lót da thay nệm, hàng ngày có tớ gái đưa cơm tới ba bữa, nhưng cô gái có khi cả ngày không thấy tới.

Hoàng ở một mình thấy buồn khổ quá, mấy lần đòi về, nhưng cô gái cố giữ lại.

Một hôm nàng nói với Hoàng:

- Nay tính toán cho chàng thì xin nên cưới một người vợ để có con nối dõi, nhưng cưới vợ lẽ thì giá cao, chàng nên giả làm anh thiếp, nói cha lo cưới vợ cho thì tìm con nhà lương dân không khó lắm.

Hoàng không chịu nhưng nàng không nghe.

Có con gái Cống sĩ họ Trương vừa góa chồng, đòi sính lễ trăm quan tiền, cô gái ép Hoàng cưới về.

Người vợ mới tên A Mỹ, cũng xinh đẹp, cô gái gọi là chị dâu.

Hoàng áy náy không yên lòng nhưng nàng vẫn thản nhiên.

Ngày khác nàng nói với Hoàng:

- Thiếp sắp theo chị cả tới Nam Hải thăm bà dì một lần, hơn một tháng sẽ về, xin hai vợ chồng cứ ở đây.

Rồi đi.

Hai vợ chồng ở riêng một gian, nhà cô gái vẫn đưa đồ ăn thức uống qua cho, lại càng đầy đủ chu tất.

Nhưng từ khi Hoàng tới đó thì không ai bước vào phòng, mỗi sáng A Mỹ qua hầu mẹ chỉ nói một đôi câu là về, chị gái em dâu ngồi cạnh cũng chỉ nhìn nhau cười một cái, cho dù ngồi lâu hơn cũng chẳng trò chuyện gì nhiều.

Hoàng thấy cha cô gái cũng vậy, có khi đang ngồi trò chuyện với các con trai, nhưng Hoàng tới thì tất cả đều im lặng.

Hoàng nghi ngờ buồn bực nhưng không nói ra được, A Mỹ biết ý hỏi rằng:

- Chàng là anh em với mấy người kia, tại sao cả tháng nay thấy đối xử với nhau cứ như khách lạ thế?

Hoàng thảng thốt không sao đáp được, ấp úng nói:

- Ta xa nhà mười năm, nay mới trở về.

A Mỹ lại hỏi kỹ từ gia thế cha mẹ chồng tới quê quán các chị em dâu, Hoàng quýnh quáng không thể giấu giếm bèn kể thật hết.

Nàng khóc nói:

- Nhà thiếp tuy nghèo nhưng không ai làm lẽ mọn, chẳng lạ gì các chị em dâu khinh rẻ không coi ngang hàng.

Hoàng sợ hãi lúng túng không biết tính sao, chỉ quỳ rạp trước mặt xin nhất nhất tuân lời, A Mỹ gạt lệ kéo đứng lên, hỏi qua việc định xử sự thế nào.

Hoàng đáp:

- Ta đâu dám có ý gì khác, chỉ còn tùy ý nàng muốn bỏ thì bỏ thôi.

Nàng nói:

- Đã lấy chồng lại bỏ về, nỡ lòng nào làm thế?

Người kia tuy theo chàng trước nhưng là do ý riêng, thiếp tuy tới sau nhưng đúng lễ chung, chẳng bằng cứ chờ nàng về hỏi xem đã bày ra cách này thì sẽ đặt thiếp vào đâu?

Được vài tháng cô gái vẫn không về, một đêm nghe ngoài phòng khách có tiếng người uống rượu ồn ào, Hoàng lén dậy ra nhìn xem, thấy hai người khách mặc nhung phục ngồi trên, một người đội khăn da báo, oai mãnh như thiên thần, phía đông là một người lấy da đầu cọp làm mũ đâu mâu, miệng cọp ngoạm vào đỉnh đầu, tai mũi đều còn đủ.

Hoàng kinh sợ trở về kể cho A Mỹ, càng không biết cha con họ Hoắc là hạng người nào.

Vợ chồng ngờ vực sợ hãi bàn nhau tìm chỗ khác ở, nhưng lại sợ sinh chuyện ngang trái.

Hoàng nói:

- Nói thật với nàng nếu người từ Nam Hải về thì chuyện chia tay nhau cũng đã định rồi, ta cũng không thể ở đây được.

Nay muốn đưa nàng đi, lại sợ nhạc phụ đại nhân nói này khác, chẳng bằng cứ tạm chia tay, trong vòng hai năm ta sẽ trở lại, nếu nàng đợi được thì đợi, nếu có ai cưới thì tùy ý nàng.

A Mỹ muốn nói cho cha mẹ biết để đi theo, Hoàng không chịu, A Mỹ gạt lệ đòi Hoàng phải thề thốt, sau đó chia tay trở về.

Hoàng vào từ giã cha mẹ cô gái, lúc ấy hai người con trai đi vắng.

ông Hoắc giữ lại bảo chờ họ về, Hoàng không nghe cứ ra đi, buồn rầu lên thuyền, lòng dạ tan nát.

Đến Qua Châu (thuộc tỉnh Giang Tô) chợt quay nhìn thấy một cánh buồm đuổi tới, lướt nhanh như bay, dần dần tới gần thì người chống kiếm ngồi đầu thuyền là Hoắc Đại lang, từ xa đã nói vọng tới:

- Ông muốn trở về sao không bàn kỹ lần nữa?

Để phu nhân lại mà bỏ đi, hai ba năm thì ai mà chờ được.

Nói xong thì thuyền đã tới sát, A Mỹ từ trong bước ra, Đại lang kéo lên thuyền của Hoàng, rồi nhảy trở lại đi mất.

Trước là A Mỹ vừa về tới nhà khóc kể cho cha mẹ, chợt Đại lang đem kiệu tới cổng, chống kiếm uy hiếp bắt nàng đi ngay, cả nhà run sợ nín thở không dám nói một câu cản trở.

Nghe nàng kể như thế, Hoàng không hiểu họ Hoắc có ý gì, nhưng được A Mỹ cũng rất mừng, bèn nhổ neo lên đường.

Về tới nhà đem tiền ra mua sắm ruộng vườn, nổi tiếng giàu có.

A Mỹ nhớ cha mẹ, muốn Hoàng đi thăm một lần, nhưng lại sợ cô gái họ Hoắc tới thì lại có chuyện tranh giành ngôi thứ.

Không bao lâu ông Trương tới thăm, thấy nhà cửa cao ráo cũng được an ủi, nói với con gái rằng:

- Sau khi con đi, ta cho người tới nhà họ Hoắc hỏi dò nhưng chỉ thấy cửa đóng chặt, chủ nhà cũng chẳng biết gì, nửa năm sau cũng không có tin tức.

Mẹ con ngày nào cũng khóc, cho rằng con bị kẻ gian bắt đi bán rồi, không biết lưu lạc tới nơi đâu, nay vẫn may không sao chứ?

Hoàng kể thật lại sự tình, mọi người vì vậy cho rằng họ Hoắc là thần.

Về sau A Mỹ sinh con trai, đặt tên là Tiên Tứ, năm hơn mười tuổi mẹ sai đi Trấn Giang.

Tới địa giới Dương Châu vào nghỉ ở nhà trọ, bọn gia nhân đi theo đều ra ngoài, chợt có cô gái tới kéo đứa nhỏ vào phòng khác, buông rèm rồi bế ngồi lên đầu gối, cười hỏi tên gì, đứa nhỏ nói tên.

Cô gái lại hỏi tên ấy có ý nghĩa là gì, đứa nhỏ nói không biết, cô gái nói cứ về hỏi cha thì sẽ biết.

Rồi búi tóc cho, lấy cành thoa trên đầu cắm vào thay trâm, tháo vòng vàng đeo vào cổ tay, lại lấy vàng cho vào túi áo đứa nhỏ nói:

- Về rồi mua sách mà đọc!

Đứa nhỏ hỏi bà là ai, nàng đáp:

- Con không biết là còn có một mẹ khác à?

Về nói với cha rằng Chu Đại Hưng chết không có quan tài, nên giúp đỡ cho y, đừng có quên đấy.

Người lão bộc quay trở về phòng không thấy thiếu chủ đâu, tìm tới phòng ấy nghe đang nói chuyện với người khác bèn nhìn vào thì ra là chủ mẫu cũ, khẽ hắng giọng định chào hỏi thì cô gái đặt đứa nhỏ lên giường rồi biến mất.

Hỏi tới người thuê phòng ấy thì không biết là ai.

Mấy hôm sau từ Trấn Giang trở về kể lại với Hoàng, lại đưa những thứ cô gái tặng ra cho xem, Hoàng thở than không thôi, khi hỏi tới Chu thì đã chết ba ngày, xác còn đó chưa chôn được, bèn giúp đỡ cho rất hậu.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 206+207+208+209+210+211


CHƯƠNG 206: BỐ THƯƠNG

LÁI BUÔN VẢI

Khê Hác Nan Doanh Thác Tử Tâm

Tá Dương Phật Diện Khất Đa Kim

Nhược Phi Bồ Tát Từ Bi Lực

Phòng Hải Tướng Quân Hà Xú Tầm

Dịch:

Gã Trọc Lòng Tham Lấp Khó Đầy

Quyên Vàng Tô Tượng Giở Trò Xoay

May Nhờ Đại Lực Từ Bi Độ

Phòng Hải Tướng Quân Tới Kịp Ngay



Có người khách buôn vải là Mỗ tới đất Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông), tình cờ ghé thăm ngôi chùa bỏ hoang, thấy chùa thiền đổ nát than thở không thôi.

Sư đứng bên cạnh nói:

- Nếu thí chủ có lòng thiện tín, xây lại sơn môn thì mặt Phật cũng được rạng rỡ.

Khách khảng khái nhận lời, sư mừng rỡ mời vào phương trượng khoản đãi rất ân cần, kế dắt đi khắp phòng ốc trong ngoài, xin sửa sang hết.

Khách từ chối là không đủ sức, sư cố ép buộc, giận dữ quát tháo.

Khách sợ xin đưa tiền ngay, rồi dốc túi đưa hết tiền bạc ra.

Lúc sắp ra về thì sư chặn lại nói:

- Ông hết sạch cả tiền vốn không phải là tình nguyện, nhất định không cam lòng.

Chẳng bằng ta phải tính trước.

Rồi cầm đao ra.

Khách lạy lục năn nỉ cũng không nghe, bèn xin được tự thắt cổ, sư ưng thuận dắt vào phòng kín, ép thắt cổ ngay.

Vừa gặp lúc có quan Phòng hải tướng quân đi ngang qua chùa, nhìn vào chỗ tường vỡ thấy có một người con gái áo đỏ chui vào phòng sư lấy làm ngờ vực bèn xuống ngựa vào sai quân tìm kiếm khắp cả trước sau đều không thấy đâu.

Tới chỗ phòng kín thấy hai cánh cửa đóng chặt, sư lại không chịu mở, nói thác là bên trong có yêu quái.

Tướng quân tức giận sai phá cửa vào, thấy khách đã treo cổ lên xà nhà vội cứu xuống, giây lát thì sống lại.

Hỏi han sự tình, lại tra hỏi cô gái ở đâu thì qua thật không có, thắc là thần phật hóa thân ra mà thôi.

Bèn giết sư, trả hết tiền bạc lại cho khách.

Khách càng dốc lòng sửa sang chùa chiền, từ đó lửa hương không ngớt.

Hiếu liêm Triệu Phong Nguyên kể lại chuyện này rất tường tận

____________________________________

CHƯƠNG 207: BÀNH NHỊ TRANH

Chỉ Tri Sách Kiến Hậu Trần Tùy

Lục Lục Dung Dung Diệc Khả Bi

Vấn Nhi Hà Niên Kham Thoát Dĩnh

Tiếu Quân Thường Tắc Sú Nang Trì

Dịch:

Ngựa Yếu Theo Sau Hút Bụi Bay

Ngơ Ngơ Ngác Ngác Dáng Buồn Thay

Cười Ai Dùi Đựng Yên Trong Túi

Hỏi Có Bao Giờ Lộ Mũi Đây



Ông Hàn Phủ ở huyện Võ Thành (tỉnh Sơn Đông) kể có lần đi cùng đường với người trong huyện là Bành Nhị Tranh, chợt quay đầu lại thì không thấy đâu, chỉ còn con ngựa theo sau.

Nhưng nghe có tiếng kêu gào rất gấp, lắng nghe thì từ cái túi da trên lưng ngựa phát ra.

Tới gần xem thì cái túi vẫn như cũ, tuy rất nặng nhưng vẫn không rơi xuống.

Muốn cứu ra thì miệng túi đã bị khâu kín, lấy dao cắt chỉ thấy Bành Nhị Tranh nằm co như con chó ở trong.

Cứu ra rồi, hỏi tại sao lại vào được trong bao, Bành củng ngơ ngác không hiểu, chắc là nhà ấy bị hồ quấy phá, những chuyện như thế rất nhiều.

____________________________________

CHƯƠNG 208: KHIÊU THẦN

ĐỒNG BÓNG

Tửu Nhục La Trần Cổ Ức Dương

Bà Sa Tác Thái Loại Điên Cuồng

Lão Vu Túng Thuộc Kỳ Tà Thuật

Dã Khiểm Khuê Trung Ca Khấp Mang

Dịch:

Dâng Bày Lễ Vật Trống Khua Vang

Õng Ẹo Làm Trò Khéo Nhố Nhăng

Đồng Cốt Dù Cho Tà Thuật Mọn

Khiến Ai Ca Khấp Khéo Lăng Băng



Tục ở đất Tế (tỉnh Sơn Đông) trong dân gian hễ ai bị bệnh thì vợ con đi bói toán rồi mời bà đồng tới lắc vòng sắt đánh trống con làm như dáng nhảy nhót, gọi là Thần nhảy.

Tục ấy ở thành thị lại càng thịnh hành, các thiếu phụ nhà lương dân vẫn thường làm.

Trong sảnh đường bày thịt trên giá, chứa rượu trong chậu bày cả lên bàn, đốt đuốc sáng như ban ngày.

Bà đồng mặc quần ngắn, đứng co một chân như con cò, có hai người nắm tay đỡ hai bên, miệng lẩm bẩm không ngừng như ca hát mà cũng như khấn khứa.

Số người đã có chồng và người góa chồng xấp xỉ như nhau, cùng nhảy nhót theo tiếng kèn.

Kế đánh một hồi trống vang rền như sấm điếc cả tai, rồi bà đồng rẽ mọi người ra, vì tiếng trống ầm ĩ nên không nghe rõ là nói gì.

Kế bà ta cúi đầu liếc ngang, đứng cả hai chân xuống đất nhưng không có người đỡ nên ngã ngay, chợt lại vươn cổ nhảy dựng lên cách mặt đất cả thước.

Đàn bà con gái trong nhà sợ sệt nói với nhau:

- Ông bà về ăn uống đấy!

Rồi thổi một hơi tắt hết đèn đuốc.

Trong ngoài tối đen như mực, mọi người nín thở đứng trong bóng tối không dám trò chuyện với nhau một câu nhưng có nói cũng không nghe vì có nhiều tiếng động đang rộn lên.

Khoảng xong bữa cơm thì nghe bà đồng lớn tiếng gọi tên tục của cha mẹ vợ chồng chủ nhà, mọi người mới cùng nhau thắp đèn lên khom lưng hỏi chuyện lành dữ.

Thấy rượu thịt trên bàn đã hết sạch, cứ nhìn mặt bà đồng xem mừng giận ra sao mà khép nép thưa gởi, còn bà ta đáp nghe vang rền.

Có ai thầm dè bỉu thì thần biết ngay, chỉ vào mặt nói ngươi dám cười ta thì thực là đại bất kính, phải lột quần ngươi.

Người dè bỉu nhìn lại mình thì quả nhiên đã bị lột truồng, cứ ra cành cây cao nhất ngoài cổng sẽ tìm thấy quần trên đó.

Đàn bà con gái cả vùng thờ phụng rất kính cẩn, có điều gì nghi ngờ hỏi tới thì thần quyết cho ngay.

Có lúc bà đồng lại ăn mặc nghiêm trang cỡi cọp giả làm ngựa, cầm binh khí dài múa trên sạp, gọi là Thần cọp nhảy (Khiêu hổ thần).

Những người đóng giả cọp thì làm ra vẻ dữ tợn, gầm thét ầm ĩ.

Có khi thần xưng là Quan Công Trương Phi hay thần Nguyên Đàn, không có tên gọi nhất định, dáng vẻ khí thế hung dữ làm người ta phải khiếp sợ.

Có người đàn ông lẻn vào nhìn trộm, bị binh khí dài đâm qua song cửa xuyên trúng mũ.

Khi thần đã nhập thì phụ nữ cả nhà từ mẹ chồng con dâu tới các chị em gái đều kính kính cẩn cẩn đứng xếp hàng ngay ngắn, không dám nghĩ bậy, không dám ngã ngớn.

____________________________________

CHƯƠNG 209: THIẾT BỐ SAM PHÁP

PHÉP THIẾT BỐ SAM

Biền Chỉ Chuyên Ngưu Suy Kiện Hán

Thử Quân Thần Lực Tín Phỉ Phàm

Đương Thời Tranh Thức Sa Hồi Tử

Tằng Đắc Chân Truyền Thiết Bố Sam

Dịch:

Chập Ngón Chém Trâu Tay Hảo Hán

Khen Ai Thần Lực Quả Siêu Phàm

Ngày Xưa Từng Biết Sa Hồi Tử

Học Được Chân Truyền Thiết Bố Sam



Sa Hồi Tử học được công phu Thiết bố sam, xòe bàn tay ra có thể chém đứt đầu trâu, đâm thủng bụng trâu.

Từng ở nhà Cừu công tử và Bành tam gia, treo khúc gỗ trên không, sai hai người đầy tớ khỏe mạnh nắm một đầu hết sức thúc vào bụng, bình một tiếng, khúc gỗ văng ra xa.

Lại lấy hết sức thúc vào hạ bộ cũng không hề hấn gì, duy chỉ sợ đao kiếm mà thôi.

_____________________________________

CHƯƠNG 210: MỸ NHÂN THỦ

ĐẦU NGƯỜI ĐẸP

Tích Nhật Tương Tư Bán Hóa Hôi

Đào Hoa Nhân Điện Phí Nghi Sai

Tưởng Tòng Hải Ngoại Phi Đầu Quốc

Nhất Tịch Vô Đoan Phi Đắc Lai

Dịch:

Mơ Tưởng Ngày Xưa Nửa Nguội Tàn

Hoa Đào Mặt Ngọc Luống Băn Khoăn

Nước Phi Đầu Tưởng Ngoài Khơi Tới

Bay Tới Một Đêm Khéo Bất Thần



Có bọn khách thương ngụ ở kinh, nhà trọ liền với hàng xóm, cách một bức vách, vách ván bị mục thủng một lỗ to bằng cái chậu.

Chợt có một cô gái thò đầu vào nhìn, búi tóc cài trâm rất lộng lẫy, kế lại đưa một cánh tay qua, thấy trắng như ngọc.

Mọi người hoảng sợ cho là yêu quái, toan nắm lấy thì đã rút ra.

Giây lát lại thò vào, cách vách nên không thấy người, chạy mau ra xem thì đã biến mất.

Một người bèn cầm dao núp dưới vách, giây lát cái đầu thò vào, y vùng dậy chém, cái đầu theo dao rơi xuống, máu bắn tung tóe lên vách.

Mọi người phát hoảng báo cho chủ nhà trọ, chủ nhà trọ sợ hãi đem cái đầu lên báo quan.

Quan bắt bọn khách thương tới hỏi cung thấy thưa bẩm rất hoang đường bèn giam giữ suốt nửa năm, họ đều kêu van là không biết gì, kế không thấy ai kiện tụng bèn tha ra, sai chôn cái đầu cô gái.

____________________________________

CHƯƠNG 211: SƠN THẦN

Lương Tiêu Hoan Tự Các Hàm Bôi

Khiểm Đắc Lão Thao Thập Tọa Lai

Bất Thị Sơn Thần Kinh Khứ Tán

Cá Trung Họa Phúc Thượng Nan Sai

Dịch:

Tụ Tập Đêm Vui Tửu Hưởng Cao

Lão Thao Chợt Gặp Cùng Ngồi Vào

Sơn Thần Nếu Chẳng Làm Kinh Động

Họa Phúc Rồi Đây Chửa Biết Sao



Lý Hội Đẩu ở Ích Đô (tỉnh Tứ Xuyên) ngẫu nhiên đi ngang qua núi, gặp vài người đang ngồi dưới đất uống rượu, thấy Lý đều cung kính đứng dậy mời cùng ngồi, rót rượu mời mọc.

Nhìn vào mâm thấy đủ thứ rau cỏ, uống với nhau một lúc rất vui vẻ, nhưng rượu rất nhạt.

Chợt có một người đi tới, mặt hẹp mà dài khoảng hai ba thước, đội mũ cao mà nhỏ.

Cả bọn hoảng sợ nói:

- Thần núi tới rồi!

Cùng nhao nhao bỏ chạy.

Lý cũng nằm rạp xuống núp dưới hố, lát sau dậy xem thì không thấy rượu thịt gì cả chỉ có vài món bát đĩa vỡ đầy cát bụi vứt lăn lóc, trên mảnh ngói có mấy con rắn mối mà thôi.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 212+213


CHƯƠNG 212: KHỐ TƯỚNG QUÂN

Trợ Nghịch Tằng Cư Tỳ Hổ Hàng

Hốt Nhiên Phản Phệ Cựu Ân Vương

Tướng Quân Thảng Bất Tao Minh Khiển

Cơ Sử Trung Sơn Phục Sản Lang

Dịch:

Trợ Nghịch Dự Trong Hàng Tướng Lãnh

Bỗng Nhiên Quay Lại Cắn Nhau Đành

Vong Ân Nếu Thoát Vòng Âm Khiến

Thời Giống Sài Lang Chật Núi Xanh



Khố Đại Hữu tự Quân Thục là người huyện Dương ở Hán Trung (tỉnh Tứ Xuyên) đậu Cử nhân võ, theo làm tướng trong quân Tổ Thuật Vũ.

Tổ rất quý trọng, cất nhắc mấy lần, dần thăng tới chức Tổng nhung của nhà ngụy Chu.

Sau thấy thế đã nguy, ngầm đem quân đánh Tổ, chém Tổ bị thương ở tay rồi bắt sống giải về nộp cho Tổng đốc Thái.

Tới kinh đô, Khố nằm mơ thấy bị giải tới âm ty, Diêm Vương giận là bất nghĩa, sai quỷ tất lấy dầu sôi đổ vào chân.

Tỉnh dậy thì chân đau không sao chịu nổi, kế lở ra máu mủ bê bết, các ngón rụng hết, lại thêm bị mê sảng, cứ gào lớn rằng:

- Ta quả là kẻ bất nghĩa, ta quả là kẻ bất nghĩa!

Rồi chết.

*[Tố Thuật Vũ: tướng của Bình Tây vương Ngô Tam Quế thời Thanh, theo giúp Ngô Tam Quế làm phản chống lại nhà Thanh, chiếm cứ vùng đất phía nam Trung Quốc, xưng quốc hiệu là Chu, sau bị nhà Thanh đánh bại].

____________________________________

CHƯƠNG 213: TƯ VĂN LANG

Thủy Giác Đính Giao Đàm Nghệ Thuật

Bình Sinh Luân Lạc Ngộ Nho Quan

Lung Đồng Nhiếp Triện Bi Văn Vận

Manh Mục Hà Tu Nộ Thí Quan

Dịch:

Thủy Giác Tri Giao Bàn Nghệ Thuật

Nho Quan Luân Lạc Lỗ Thời Gian

Lung Đồng Giữ Triện Buồn Văn Vận

Mù Mắt Xui Nên Giám Khảo Quan



Vương Bình Tử người huyện Bình Dương (tỉnh Sơn Tây) lên kinh ứng thí, trọ ở chùa Báo Quốc.

Trong chùa có thư sinh người Dư Hàng (tỉnh Chiết Giang) tới ở trước, Vương vì là ở liền nhà đưa danh thiếp qua làm quen, sinh không đáp lễ, mà sớm tối gặp nhau còn tỏ vẻ khinh khỉnh, Vương giận vì kiêu căng, không giao du gì nữa.

Một hôm có một thiếu niên tới chơi chùa, khăn áo đều màu trắng, dáng vẻ đường đường.

Vương tới gần trò chuyện, thấy lời lẽ cao xa, lấy làm yêu kính, bèn hỏi tên họ quê quán, thiếu niên nói là họ Tống, quê ở phủ Đăng Châu (tỉnh Sơn Đông).

Vương sai đầy tớ bày ghế mời ngồi, cùng nhau trò chuyện vui vẻ.

Chợt thư sinh người Dư Hàng đi ngang, hai người cùng đứng lên mời ngồi, sinh chễm chệ ngồi tót lên cao, cũng không vờ nhũn nhặn, nghênh ngang hỏi Tống:

- Ngươi cũng đi thi à?

Tống đáp:

- Không phải, ta tài năng kém cỏi nên không có chí bay nhảy đã lâu.

Sinh lại hỏi quê quán, Tống đáp, sinh nói:

- Không có ý tiến thủ như thế đủ biết là bậc cao minh.

Cả Sơn Đông, Sơn Tây không có một ai đáng là bậc thông giả.

Tống đáp:

- Người phương Bắc vốn ít kẻ thông tuệ, nhưng kẻ không thông chưa chắc đã là tiểu sinh, người phương Nam vốn nhiều bậc thông tuệ, nhưng bậc thông giả cũng chưa chắc đã là túc hạ.

Nói xong vỗ tay, Vương cũng phụ họa cười ầm lên.

Sinh xấu hổ tức giận, trợn mắt giữ áo lớn tiếng hỏi:

- Có dám ra đề thi làm văn ngay bây giờ không?

Tống không thèm nhìn, nhếch mép cười nhạt nói:

- Có gì mà không dám?

Rồi lấy sách đưa Vương.

Vương tiện tay giở ra, chỉ vào câu:

- Ở Khuyết Lý, trẻ con đem mệnh!

Sinh đứng dậy tìm giấy bút, Tống kéo lại, bảo:

- Đọc miệng cũng được.

Ta đã làm xong câu phá đề thế này.

Ở chỗ tân khách qua lại mà gặp một kẻ không biết gì.

Vương ôm bụng cười sằng sặc, sinh tức giận nói:

- Toàn là bọn không biết làm văn, chỉ bày trò để xỏ xiên, không đáng là người!

Vương ra sức can ngăn, xin tìm đề khác hay hơn.

Lại lật trang khác đọc:

- Thời Ân có ba người nhân.

Tống ứng khẩu đọc luôn:

- Ba vị tuy đạo bất đồng nhưng cùng theo một điều.

Điều ấy là gì?

Là điều nhân vậy.

Bậc quân tử chỉ cần làm điều nhân là được rồi, cần gì phải đồng.

Sinh bèn không làm nữa, đứng dậy nói:

- Cũng là hạng có tài vặt!

Rồi bỏ đi.

Vương vì thế càng trọng Tống, mời vào trong phòng, chuyện trò đến tối, đưa hết văn bài ra hỏi Tống.

Tống đọc rất nhanh, hơn một khắc đã hết trăm bài, nói:

- Ông cũng là kẻ đã sâu sắc trong nghiệp này, nhưng lúc làm văn vẫn không có cái chí nhất định phải hơn người mà còn cái lòng cầu may, nên đã rơi xuống hạng kém.

Rồi lấy những bài đã đọc qua bình phẩm tường tận, Vương thích lắm, tôn làm bậc thầy, sai nhà bếp lấy đường mía nấu chè xôi nước mời.

Tống ăn khen ngon, nói:

- Bình sinh chưa được ăn món này, phiền hôm khác lại làm cho.

Từ đó hai người càng thân thiết.

Tống cứ năm ba ngày lại tới một lần, Vương lại sai nấu chè xôi nước.

Thư sinh người Dư Hàng thỉnh thoảng cũng gặp, tuy không trò chuyện thân mật nhưng dần dần cũng bớt ngạo nghễ, một hôm đem văn bài đưa Tống xem, trong đó bè bạn đã khuyên son chi chít, Tống chỉ liếc mắt nhìn qua rồi đẩy ra góc bàn không nói một câu.

Sinh ngờ Tống chưa đọc lại giục, Tống nói đọc rồi, sinh lại ngờ là không hiểu, Tống nói:

- Có gì khó hiểu đâu, chỉ là không hay thôi.

Sinh hỏi:

- Mới nhìn qua những chỗ khuyên son, sao biết là không hay?

Tống liền đọc to lên như đã học thuộc lòng, đọc xong lại chê.

Sinh sợ toát mồ hôi, im lặng bỏ đi.

Lát sau Tống về rồi sinh lại vào, nài nỉ Vương cho xem văn, Vương không chịu.

Sinh cứ lục bừa tìm được quyển văn của Vương, thấy có nhiều chỗ khuyên son, cười nói:

- Những cái này to như viên xôi nước.

Vương cố nén giận chỉ trừng mắt nhìn.

Hôm sau Tống tới, Vương kể lại mọi chuyện, Tống nổi giận nói:

- Ta cứ cho rằng y đã chịu thua, mà sao thằng ngu ấy còn dám như thế?

Thế nào cũng phải cho biết tay.

Vương cố lấy lời răn đừng khinh bạc để khuyên Tống, Tống cảm phục lắm.

Kế thi xong, Vương đem văn bài đưa Tống, Tống hẹn sẽ đọc, tình cờ cùng dạo xem điện gác trong chùa, thấy một nhà sư mù ngồi dưới hành lang bày thuốc ra bán.

Tống kinh ngạc nói:

- Đây là bậc kỳ nhân, rất giỏi xét văn, không thể không thỉnh giáo một lần.

Rồi bảo Vương về nhà lấy văn, gặp thư sinh người Dư Hàng bèn đưa nhau cùng tới.

Vương gọi nhà sư rồi lạy chào, nhà sư tưởng mua thuốc liền hỏi bệnh.

Vương thưa rõ ý xin thỉnh giáo, nhà sư cười nói:

- Ai mà nhiều chuyện thế?

Ta không có mắt, làm sao bàn luận văn chương.

Vương xin dùng tai thay mắt, nhà sư nói:

- Ba bài hơn hai ngàn chữ, ai mà nghe nổi?

Thôi cứ đốt lên, ta ngửi bằng mũi cũng được.

Vương theo lời, cứ đốt bài nào nhà sư lại ngửi rồi gật gù nói:

- Ông bắt đầu học theo các bậc đại gia, tuy chưa đúng hệt nhưng cũng gần giống, ta đang nhận bằng dạ dày.

Vương hỏi:

- Có được không?

Nhà sư đáp:

- Cũng tạm được!

Thư sinh người Dư Hàng chưa tin lắm, lấy văn của bậc đại gia cổ đốt lên trước để thử, nhà sư hít mấy lần rồi nói:

- Hay quá!

Văn này thì ta phải nhận bằng tâm, không phải là Quy Hồ thì ai mà làm nổi.

Sinh cả sợ, lúc ấy mới đốt văn mình.

Nhà sư nói:

- Mới thấy được một phần, chưa biết được toàn thể, sao bỗng có văn người khác chen vào đây?

Sinh nói thác rằng:

- Đó là văn của bạn bè, chỉ có một bài ấy, đây mới là văn của tiểu sinh.

Nhà sư ngửi lại mớ tro, ho sặc lên mấy tiếng, nói:

- Thôi đừng đốt nữa?

Nó cứ lục cục lòn hòn không sao xuống được, phải gắng gượng nhận bằng lá cách, đốt nữa thì ói mửa ra mất.

Sinh thẹn thùng chào về.

*[Quy Hồ: tức Quy Hữu Quang, Hồ Hữu Tín, hai người nổi tiếng về văn bát cổ thời Thanh].

Mấy hôm sau ra bảng, sinh đỗ Hương cống còn Vương trượt.

Tống và Vương tới báo tin, nhà sư than:

- Ta tuy mù mắt nhưng mũi không mù, còn các vị khảo quan thì mù cả mũi.

Lát sau thư sinh người Dư Hàng tới, vênh vang nói:

- Này hòa thượng mù, người cũng ăn chè xôi nước của người ta hả?

Bây giờ tính sao?

Nhà sư cười đáp:

- Ta bàn về văn chứ không bàn với anh về mệnh.

Anh cứ thử tìm văn các quan chấm trường tới đây đốt của mỗi người một bài, ta có thể nói ai là thầy anh.

Sinh và Vương cùng đi tìm, chỉ được văn của tám chín người.

Sinh hỏi:

- Nếu đoán sai thì chịu phạt thế nào?

Nhà sư tức tối đáp:

- Thì cho ngươi móc con mắt thong manh của ta đi!

Sinh bèn đốt văn, hết một bài nhà sư lại nói không phải, tới bài thứ sáu chợt quay vào vách nôn ọe, đánh rắm bồm bộp.

Mọi người đều cười ầm, nhà sư lau mắt quay qua sinh nói:

- Đúng là của thầy anh rồi!

Lúc đầu ta không biết nên hít vội quá, nó đâm vào mũi, xói vào bụng, quả cật cũng không sao nhận được nên cứ thẳng theo đường hậu môn mà ra.

Sinh cả giận bỏ đi, nói:

- Ngày mai sẽ biết tay, đừng hối, đừng hối!

Qua hai ba hôm cũng không thấy tới, xem lại thì đã dọn đi ở chỗ khác, mới biết y đúng là môn sinh của viên quan chấm trường ấy.

Tống an ủi Vương, nói:

- Phàm người đọc sách chúng ta không nên cầu hơn người mà cần nghiêm với mình.

Không cầu hơn người thì đức càng rộng, biết nghiêm với mình thì học mới tiến.

Mới đây ông thi rớt là vì vận số chưa tới, nhưng công bằng mà bàn thì văn của ông cũng chưa thật chín, cứ theo đó mà rèn luyện thì thiên hạ vẫn có người không mù.

Vương kính cẩn nghe theo, kế nghe tin năm sau lại mở khoa thi hương nên không về quê mà ở lại học.

Tống khuyên:

- Ở kinh đô gạo châu củi quế nhưng đừng lo chuyện tiền bạc.

Sau nhà có hầm vàng, có thể đào lấy mà dùng.

Rồi chỉ chỗ.

Vương từ tạ nói:

- Xưa Đậu Phạm nghèo mà vẫn giữ được điều liêm, nay ta may còn đủ ăn, đâu dám tự làm nhơ danh.

*[Đậu Phạm: tức Đậu Nghi và Phạm Trọng Yêm thời Tống.

Đậu Nghi lúc trẻ nghèo khó, có Kim tinh (tinh vàng bạc) hiện hình đùa cợt nhưng không động tâm.

Phạm Trọng Yêm lúc trẻ tới ngụ ở chùa Lễ Tuyền đọc sách, mỗi ngày chỉ ăn một bát cháo, nhưng một hôm tình cờ đào được hầm bạc chôn mà lấp lại không lấy, sau làm Tây súy các sư tới xin làm công đức sửa chùa, bèn chỉ chỗ cho họ đào lên].

Một hôm Vương đang ngủ say, người hầu và người nấu bếp lén ra đào trộm, Vương sực tỉnh nghe sau nhà có tiếng động rón rén ra xem thì vàng đã chất đống trên mặt đất, hai người thấy đã bị lộ cùng quỳ mọp xin tha tội.

Vương đang trách mắng chợt thấy trong đó có nhiều cái chén vàng cùng một kiểu có khắc chữ, nhìn kỹ thì đều là tên húy ông nội mình.

Té ra ông nội Vương từng giữ chức Nam bộ lang, lúc vào kinh nhận chức từng ngụ ở đó, bị bệnh nặng mà chết, số vàng ấy là của ông để lại.

Vương mừng rỡ, đem cân thử được hơn tám trăm lượng, hôm sau kể lại cho Tống nghe, lại đưa cái chén vàng cho xem, muốn cùng chia với Tống, Tống từ chối mãi mới thôi.

Lại đem một trăm lượng tới tặng nhà sư mù, nhưng nhà sư đã đi mất.

Suốt mấy tháng Vương ra sức học hành, đến kỳ thi, Tống nói:

- Khoa này mà ông không đỗ thì thật đúng là do mệnh.

Kế Vương phạm trường quy bị đánh rớt.

Vương còn chưa nói gì thì Tống đã không kìm được bật khóc nức nở, Vương lại phải an ủi khuyên giải.

Tống nói:

- Ta bị tạo vật ghen ghét, lận đận suốt đời, nay lại làm lụy cho cả bạn tốt, đó là mệnh vậy, đó là mệnh vậy!

Vương nói:

- Muôn việc đều là có số, nhưng như tiên sinh là không có chí tiến thủ chứ không phải là mệnh.

Tống gạt lệ nói:

- Lâu nay đã muốn nói ra nhưng chỉ e ông ngờ sợ, chứ thật ra ta không phải là người sống mà là hồn ma phiêu bạt.

Lúc trẻ mang tài danh mà không được đắc chí nơi trường ốc nên giả cuồng lên kinh đô, gặp người tri kỷ dạy văn chương cho, gặp nạn năm Giáp thân (1644), lưu lạc theo tháng năm.

Nay may được thương yêu nên cố gắng giúp rập để mượn sức bạn bè, cái ước nguyện chưa đạt được lúc bình sinh thật ra muốn nhờ bạn hiền thực hiện một lần cho khoái ý thôi.

Nay tai ách của nghiệp văn chương lại như thế ai mà cầm lòng cho được.

Vương cũng cảm động khóc hỏi sao lâu thế mà còn chưa đầu thai, Tống đáp:

- Năm rồi Thượng đế có mệnh ủy cho đức Tuyên Thánh và Diêm La vương tra xét các hồn ma, loại khá thì giao về các ty tào bổ dụng, số còn lại cho đi đầu thai.

Ta đã được chọn bổ dụng, sở dĩ chưa đi là vì muốn được thấy cái thú tranh chiếm bảng vàng một lần thôi, nay xin từ biệt!

*[Nạn năm Giáp thân: tức năm Giáp thân 1644, Mãn tộc đánh chiếm Bắc Kinh, bắt đầu lập ra triều Thanh thay triều Minh thống trị Trung Hoa].

Vương hỏi được khảo xét bổ dụng chức gì, Tống đáp:

- Phủ Tử Chàng khuyết chức Tư văn lang, ấn triện tạm giao cho nha Tủng Đồng giữ nên văn vận vì thế điên đảo.

Nếu ta may mắn được giữ chức ấy thì nhất định sẽ làm cho văn giáo được sáng ngời thịnh vượng.

Hôm sau hớn hở tới nói:

- Được toại nguyện rồi.

Đức Tuyên Thánh sai ta làm bài Luận về tính và đạo xem xong có vẻ vui mừng, nói ta có thể coi việc văn chương.

Diêm La xem lại sổ toan bỏ không dùng vì tội khẩu nghiệt, đức Tuyên Thánh tranh cãi mãi, ta mới được duyệt.

Ta lạy tạ xong người lại gọi tới cạnh bàn dặn "Nay ta thương tài thăng cho giữ chức thanh cao quan trọng, phải sửa lòng nhận chức chớ mắc vào tội lỗi cũ.

Xem thế đủ biết cõi âm coi trọng đức hạnh còn hơn cả văn học.

Ông tu sửa đức hạnh ắt cũng chưa tới được chỗ trọn vẹn, nhưng đừng xao lãng việc làm điều lành là đủ rồi."

Vương nói:

- Đúng thế, nhưng thư sinh người Dư Hàng kia thì đức hạnh tới mức nào?

Tống đáp:

- Điều đó ta không rõ, nhưng phải biết âm ty thưởng phạt không sai sót chút nào đâu.

Như vị sư mù hôm trước cũng là một hồn ma thôi.

Đó là bậc danh gia triều trước, lúc sinh thời dùng giấy bút quá hoang phí nên bị phạt mù.

Ông ta muốn chữa bệnh cho người để chuộc lỗi trước nên đi khắp các nơi.

Vương sai bày tiệc, Tống nói:

- Không cần đâu, ta đã quấy rầy suốt năm rồi, giờ phút cuối cùng này cứ nấu cho món chè xôi nước là được.

Vương buồn rầu không ăn chỉ ngồi mời mọc, giây lát Tống ăn hết ba bát to, ôm bụng nói:

- Ăn bữa này đủ no ba ngày, ta đã ghi nhớ ơn ông rồi.

Những cái trước nay ta ăn đều ở sau nhà, đã mọc nấm cả, cất đi làm thuốc có thể giúp cho trẻ con thông tuệ.

Vương hỏi hậu vận, Tống đáp:

- Đã nhận quan chức nên không tiện nói.

Vương lại hỏi:

- Nếu tới đền thờ Tử Chàng cúng tế khấn khứa, tiên sinh có biết không?

Tống đáp:

- Việc đó đều vô ích.

Chín tầng trời xa lắm, nhưng nếu ông giữ mình trong sạch, hết sức làm điều lành thì tự nhiên sẽ có tờ tư báo của âm ty, lúc ấy ta sẽ cho biết.

Nói xong từ biệt rồi biến mất.

Vương xem sau nhà quả có nấm tía liền hái cất đi, cạnh đó tự nhiên có nấm đất mọc lên như ngôi mồ mới, mà những viên xôi nước nằm sờ sờ ở đó Vương về quê giữ mình hết sức nghiêm cẩn, một đêm mơ thấy Tống đi kiệu có lọng che tới nói:

- Trước đây ông có lần vì cơn giận nhỏ lỡ tay giết chết một người tỳ nữ nên bị xóa sổ lộc.

Nay gắng sửa mình đã được trừ bớt tội, nhưng phúc mệnh quá mỏng nên không thể làm quan.

Năm ấy Vương thi đỗ Hương cống, năm sau lại thi dỗ Tiến sĩ, nhưng không ra làm quan.

Vương sinh được hai trai, đứa đầu vô cùng ngu độn, cho ăn nấm lại trở nên hết sức thông minh.

Về sau Vương có việc đi Kim Lăng, gặp thư sinh Dư Hàng trên đường, cùng Vương chuyện trò thân mật, thái dộ cực kỳ khiêm cung, nhưng râu tóc đã bạc trắng cả.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 214+215


CHƯƠNG 214: LÃ VÔ BỆNH

Vạn Lý Gian Quan Đệ Tiêu Tức

Tồn Cô Kim Kiến Quỉ Trình Anh

Khả Lân Hãn Phụ Không Di Hối

Phúc Thủy Thu Thời Bất Kiến Thanh

Dịch:

Muôn Dặm Bôn Ba Tin Tức Báo

Tồn Cô Âm Giới Thấy Trình Anh

Đáng Thương Hãn Phụ Về Sau Hối

Nước Đổ Gom Thu Lại Trọn Lành



Công tử họ Tôn ở huyện Lạc Dương (tỉnh Hà Nam) tên Kỳ, cưới con gái quan Thái sử họ Tưởng, vợ chồng rất tương đắc.

Năm hai mươi tuổi nàng chết, Tôn đau buồn khôn xiết, rời nhà vào ở một sơn trang trong núi.

Một hôm mưa dầm nằm ngủ trưa, trong phòng không có ai khác, chợt thấy dưới màn ngoài giường lộ ra đôi bàn chân đàn bà, ngạc nhiên lên tiếng hỏi.

Thấy một cô gái vén màn bước ra, khoảng mười tám mười chín tuổi, y phục mộc mạc sạch sẽ, nhưng da hơi đen mà mặt rỗ, có vẻ là con gái nhà nghèo.

Tôn cho là người trong thôn tới thuê nhà bèn quát:

- Cần gì thì nói với bọn gia nhân ngoài kia, chứ đâu có phép đi bừa vào đây?

Cô gái mỉm cười nói:

- Thiếp không phải là người trong thôn mà quê ở tỉnh Sơn Đông, họ Lữ, cha là học trò.

Thiếp tiểu tự là Vô Bệnh, theo cha tới ngụ ở đất khách nhưng không được cha mẹ nuôi dạy đã lâu.

Vì hâm mộ công tử là danh sĩ thế gia, nên nguyện làm tỳ nữ lo việc hầu hạ nghiên bút.

Tôn cười nói:

- Ý nàng rất hay, nhưng ở đây có đủ hạng tôi tớ ở chung, rất là bất tiện, cứ trở về làng ta sẽ đưa kiệu mang lễ vật tới đón.

Cô gái có vẻ không bằng lòng, nói:

- Thiếp tự biết mình hèn mọn, đâu dám mong nhận lễ trọng, chỉ mong được sai phái trước án thư, chắc cũng không đến nỗi bưng ngược sách.

Tôn nói:

- Thu nạp tỳ nữ cũng cần ngày tốt!

Rồi chỉ lên giá sách bảo lấy bộ Thông thư, quyển tư để thư tài.

Cô gái tìm thấy, giở ra xem trước rồi trình lên cười nói:

- Hôm nay không có hung tinh Hà Khôi chiếu vào phòng.

Tôn hơi động lòng bèn cho ở lại trong phòng.

Cô gái không có việc gì làm bèn quét bàn xếp sách, đốt trầm lau đỉnh, phòng sách trở nên sáng sủa sạch sẽ Tôn rất vừa lòng.

Đến tối bảo qua chỗ khác ngủ, cô gái ngước nhìn rồi chớp mắt, càng ân cần phục dịch.

Bảo đi ngủ mới vâng dạ cầm nến bước ra.

Nửa đêm Tôn chợt tỉnh thấy cạnh giường như có ai nằm, đưa tay sờ biết là cô gái bèn lay gọi.

Cô gái giật mình choàng dậy đứng trước giường, Tôn hỏi:

- Sao không đi ngủ chỗ khác?

Dưới giường đâu phải là chỗ ngươi nằm?

Cô gái nói:

- Thiếp hay sợ lắm!

Tôn thương xót, bảo mang gối lên giường nằm.

Chợt nghe hơi thở lan tới thơm ngát như nhụy sen, lấy làm lạ gọi xích lại nằm chung gối, bất giác rung động dần dần kéo vào nằm chung chăn, rất vừa ý.

Nhưng lại nghĩ giấu diếm không phải là kế hay, lại ngại nếu cùng về nhà thì miệng đời dị nghị.

Tôn có bà dì ở cách đó hơn mười căn, bàn với cô gái bảo tới náu ở đó rồi sau đó sẽ cho kiệu tới đón.

Cô gái khen hay, nói:

- Bà dì thì thiếp quá quen, không cần phải tới thưa trước, thiếp xin đi ngay.

Tôn đưa nàng ra, cô gái leo qua tường mà đi.

Dì của Tôn ở góa, sáng sớm hôm ấy ra mở cửa thì cô gái bước vào.

Bà già hỏi, nàng đáp:

- Cháu trai bà sai con tới thăm dì.

Công tử muốn về nhà nhưng đường xa thiếu ngựa nên gởi con ở đây vài hôm.

Bà già tin lời bèn giữ cô gái ở đó.

Tôn về nhà, bịa rằng dì có một tỳ nữ muốn tặng, rồi sai người tới đón cô gái về, ăn ngủ gì cũng có nhau, lâu ngày càng khắng khít, nhận làm vợ lẽ.

Các nhà thế gia bắn tin gả con gái cho mà Tôn đều chối từ cho rằng có Vô Bệnh là thỏa nguyện rồi.

Nàng biết ý, hết lời khuyên Tôn cưới vợ, Tôn bèn cưới con gái nhà họ Hứa song rốt lại vẫn say mê Vô Bệnh.

Hứa rất hiền, không bao giờ giành chồng buổi tối, mà Vô Bệnh hầu hạ Hứa ngày càng thêm kính cẩn, nhờ vậy lớn bé đều thuận hòa.

Hứa sinh một con trai đặt tên là A Kiên, Vô Bệnh yêu thương bồng bế như con mình.

Đứa nhỏ được ba tuổi cứ rời vú nuôi là theo ngủ với Vô Bệnh, Hứa gọi cũng không chịu đi.

Không bao lâu Hứa mắc bệnh rồi chết, lúc lâm chung trối với Tôn rằng:

- Vô Bệnh rất thương con, cho dì ấy nuôi làm con thì được, mà đưa dì ấy lên bậc chính thất cũng được.

Chôn cất xong, Tôn định làm theo lời vợ bèn bàn với họ hàng nhưng mọi người đều nói là không nên, Vô Bệnh cũng khăng khăng từ chối, Tôn bèn thôi.

Ở huyện có con gái quan Tể tướng họ Vương vừa góa chồng cho người tới đánh tiếng.

Tôn vốn không muốn cưới vợ nữa nhưng họ Vương nói mấy lần, người mối lại khen nàng đẹp, họ hàng bên Tôn cũng thích nhà quyền thế nên cùng khuyên nhủ, Tôn xiêu lòng bèn cưới.

Người đàn bà quả rất đẹp nhưng vô cùng kiêu căng, quần áo vật dùng được ít lâu cứ chán là hủy hoại vứt bỏ, Tôn vì nể nang nên không nỡ làm phật ý.

Về được vài tháng thì giành cả yêu đương chăn gối về mình, còn cứ thấy Vô Bệnh gặp Tôn thì cười khóc gì cũng kiếm chuyện rồi giận lây qua cả chồng, mấy lần cãi vã đánh nhau.

Tôn sợ rầy rà nên nhiều đêm ngủ riêng, người đàn bà lại tức giận.

Tôn chịu không nổi, tìm cớ lên kinh đô để tránh nạn vợ dữ, người đàn bà lại lấy việc chồng đi xa đổ lỗi cho Vô Bệnh.

Vô Bệnh hết sức hầu hạ, nín hơi im tiếng để lấy lòng mà rốt lại nàng ta vẫn không vừa ý.

Đêm bảo Vô Bệnh vào ngủ dưới đất, đứa nhỏ cũng chạy theo vào ngủ chung, cứ gọi Vô Bệnh dậy sai khiến là nó lại khóc.

Người đàn bà chửi mắng, Vô Bệnh vội gọi người vú nuôi vào bế đi, đứa nhỏ cưỡng lại kêu gào.

Người đàn bà tức giận vùng dậy nắm lấy đánh túi bụi, nó mới chịu để người vú bế đi.

Đứa nhỏ vì vậy sợ hãi thành bệnh bỏ ăn, người đàn bà cấm Vô Bệnh không được để nó thấy mặt, đứa nhỏ kêu khóc cả ngày.

Người đàn bà quát chị vú bảo vứt nó xuống đất, đứa nhỏ hết hơi khan tiếng đòi uống nước, người đàn bà cấm không cho.

Chiều tối Vô Bệnh chờ lúc người đàn bà không có ở đó, lén ra cho đứa nhỏ uống nước, đứa nhỏ thấy nàng hất nước nắm lấy vạt áo khóc nức nở không thôi.

Người đàn bà nghe thấy hằm hằm bước ra, đứa nhỏ nghe tiếng nín bặt, giãy mạnh một cái rồi tắt thở.

Vô Bệnh khóc òa lên, người đàn bà nổi giận nói:

- Con tiện tỳ xấu xí định lấy chuyện con chết mà chẹt ta à?

Đừng nói gì là đồ lót tã nhà họ Tôn, cho dù có giết chết thế tử nhà vương gia thì con gái của Tễ tướng họ Vương này cũng dám chịu.

Vô Bệnh nén giận gạt nước mắt, xin mua quan tài chôn cất, người đàn bà không cho, sai đem vứt nó đi ngay.

Người đàn bà đi rồi, nàng lén vỗ về đứa nhỏ, thấy tứ chi còn ấm, bèn nói thầm với người vú:

- Ngươi đem nó đi mau ra đồng chờ một lát, ta sẽ tới ngay.

Nếu nó chết thì cùng chôn lấp, nếu nó sống thì cùng săn sóc.

Người vú vâng dạ.

Vô Bệnh vào phòng lấy trâm xuyến giắt vào người đi ra, đuổi kịp người vú, cùng nhìn đứa nhỏ thì nó đã sống lại.

Hai người mừng rỡ bàn nhau tới sơn trang trong núi nương tựa bà dì của Tôn.

Người vú lo nàng chân nhỏ khó đi, Vô Bệnh bèn đi rảo lên trước cho xem, bước nhanh như gió, chị ta hết sức chạy theo mới kịp.

Khoảng canh hai, bệnh đứa nhỏ trở nên nguy ngập không thể đi được nữa bèn rẽ vào một thôn cạnh đường, tới nhà một ông già làm ruộng, ngồi dựa vào cổng chờ sáng rồi gõ cửa hỏi mướn phòng, bán trâm xuyến lấy tiền rước đủ thầy cúng thầy thuốc mà rốt lại đứa nhỏ vẫn không khỏi bệnh.

Vô Bệnh ôm mặt khóc nói:

- Vú chịu khó chăm sóc đứa nhỏ này, để ta đi tìm cha nó.

Người vú còn đang ngờ là nói bậy thì nàng đã biến mất, vô cùng kinh hãi.

Hôm ấy, Tôn ở kinh đô, vừa thiu thiu ngủ trên giường thì Vô Bệnh lặng lẽ bước vào.

Tôn giật mình nhỏm dậy nói:

- Vừa ngủ mà nàng đã hiện vào giấc mộng sao?

Nàng cầm tay Tôn nghẹn ngào, giẫm chân không nói nên lời, hồi lâu mới thất thanh nói:

- Thiếp trải trăm cay nghìn đắng, đem con trốn tới đất Dương.

Chưa dứt lời thì bật tiếng khóc lớn, ngã lăn ra biến mất.

Tôn sợ quá nhưng vẫn ngờ là nằm mơ, gọi người hầu cùng tới xem thì quần áo giày tất vẫn còn rõ ràng, lạ lùng không hiểu nhưng lập tức thu xếp hành trang về ngay trong đêm.

Về tới nhà nghe việc con chết thiếp trốn, Tôn đấm ngực đau thương, mắng chửi vợ kế.

Người đàn bà mồm năm miệng mười cãi lại, Tôn căm tức rút dao ra, bọn tớ gái xúm vào cứu, Tôn không sấn tới gần được, từ xa phóng dao tới, sống dao trúng vào trán người đàn bà.

Người đàn bà toác trán phun máu, xõa tóc gào thét chạy ra cổng, định về mách với gia đình.

Tôn kéo trở vào, vác gậy đập túi bụi, người đàn bà quần áo rách tả tơi, đau quá không động đậy nổi.

Tôn sai khiêng vào phòng chăm sóc, chờ khi nào bình phục sẽ đuổi về.

Các anh em trai của người đàn bà nghe tin tức giận kéo người ngựa tới cổng, Tôn cũng họp bọn tôi tớ khỏe mạnh cầm khí giới ra chặn, hai bên chửi mắng nhau đến tối mới tan.

Họ Vương chưa vừa ý bèn thưa kiện, Tôn đem đầy tớ hộ vệ lên huyện, tự tới đối chất, trình bày tội ác của vợ kế.

Quan huyện không thể khuất phục bèn đưa tới học quan trừng phạt cho Vương hài lòng.

Học quan Chu tiên sinh là con nhà thế gia, tính ngay thẳng không xu phụ, hỏi rõ được sự tình nổi giận nói:

- Quan trên tuởng ta là thứ học quan tham lam hèn mạt trong thiên hạ, quen đòi loại tiền thương luân bại lý để hút mủ liếm trĩ à?

Cái tướng ăn mày ấy ta vốn không làm được nên không dám tuân lệnh!

Tôn công nhiên trở về, Vương không làm gì được bèn nhờ bạn bè ngỏ ý điều đình, muốn chàng tới nhà xin lỗi một lần, nhưng Tôn không chịu, bên kia qua lại cả chục lần cũng không đổi ý.

Người đàn bà dần dần bình phục, Tôn muốn đuổi về nhưng sợ họ Vương không chịu nhận, lần lữa rồi cũng ở yên.

Tôn vì thiếp mất con chết, sớm tối đau lòng, nghĩ rằng nếu tìm được người vú sẽ rõ hết sự tình, lại nhớ Vô Bệnh đã nói là trốn tới đất Dương.

Gần đó có thôn họ Dương trồng đay, Tôn ngờ là ở đó, tìm tới hỏi thăm nhưng không ai biết cả.

Có người nói cách đấy năm mươi dặm có một đất Dương Cốc, Tôn sai người cỡi ngựa tới hỏi thăm, quả nhiên tìm ra.

Lúc ấy đứa nhỏ đã dần dần bình phục, gặp nhau đều mừng rỡ, cưỡi chung ngựa về.

Đứa nhỏ từ xa nhìn thấy cha òa lên khóc lớn, Tôn cũng rơi nước mắt.

Người đàn bà nghe đứa nhỏ còn sống, giận dữ chạy ra định chửi mắng.

Đứa nhỏ đang khóc, mở mắt nhìn thấy người đàn bà hoảng sợ nhào vào lòng cha như tìm chỗ trốn, bế lên nhìn lại thì đã chết ngất, vội vàng lay gọi, hồi lâu mới tỉnh.

Tôn căm tức nói:

- Không biết là tàn ác tới mức nào mà khiến thằng nhỏ tới nỗi này?

Bèn làm tờ ly hôn đưa về, quả Vương không nhận, sai cáng trả lại Tôn.

Tôn không biết làm sao, bèn thu xếp cho hai cha con ở riêng, không gặp gỡ người đàn bà.

Người vú thuật lại việc Vô Bệnh, Tôn mới biết rằng nàng chỉ là hồn ma, cảm nghĩa bèn đem chôn áo quần giày tất, đề trên bia rằng:

- Mộ của người vợ ma Lữ Vô Bệnh!

Không bao lâu người đàn bà sinh được một trai, tự tay bóp cổ đứa nhỏ chết.

Tôn càng phẫn uất, lại đuổi về, Vương lại sai cáng trả lại.

Tôn không còn cách nào bèn làm đơn tố cáo lên quan trên, nhưng họ đều nể mặt Tễ tướng nên không xét tới.

Sau Tễ tướng chết, Tôn cứ thưa kiện không thôi họ mới bắt người đàn bà phải về nhà mẹ.

Tôn từ đó không lấy vợ nữa, chỉ cưới thiếp.

Người đàn bà bị đuổi, tiếng dữ ngày càng đồn xa, ba bốn năm không ai dạm hỏi, bắt đầu hối hận nhưng không còn kịp nữa.

Có bà tớ cũ nhà Tôn tình cờ ghé qua, người đàn bà tiếp đãi niềm nở, trước mặt bà ta sa lệ, xem tình ý có vẻ như nhớ chồng cũ.

Bà già về kể lại với Tôn, Tôn cười làm ngơ.

Hơn năm sau mẹ người đàn bà lại chết, trơ trọi không nơi nương tựa, các chị em dâu đều không ưa nên càng bơ vơ, ngày ngày cứ rơi nước mắt.

Có một người học trò nghèo chết vợ, anh người đàn bà bàn cho nhiều của hồi môn để tái giá mà người đàn bà không chịu, cứ lén nhờ người đi lại ngỏ ý với Tôn, khóc lóc nói rằng đã hối hận nhưng Tôn không nghe, trước sau vẫn làm ngơ.

Một hôm người đàn bà sai một tỳ nữ dắt trộm lừa cưỡi qua nhà Tôn, Tôn mới từ trong nhà bước ra, người đàn bà bước tới chào hỏi, quỳ xuống dưới thềm khóc lóc không thôi.

Tôn muốn bỏ đi, người đàn bà níu áo, lại quỳ xuống.

Tôn từ chối, nói:

- Nếu ở lại với nhau mà không có chuyện gì đã đành, chứ một sáng có chuyện thì anh em của cô dữ như cọp, há lại chịu sao?

Người đàn bà nói:

- Thiếp trốn tới đây, không có lẽ nào mà quay về, nếu chàng cho thì ở lại, không cho thì chỉ còn cách chết.

Lại nói:

- Thiếp về với chàng năm hai mươi mốt tuổi, đến hai mươi ba bị đuổi, thật là ác đủ mười phần, nhưng chẳng lẽ không có một phần tình sao?

Rồi cởi cái vòng vàng trên cổ tay, so hai bàn chân, đút vào cái vòng, lấy tay phủ lên, nói:

- Lời thề hương lửa lúc trước, chàng nỡ không nhớ tới sao?

Tôn bèn rưng rưng nước mắt, sai người đỡ lên dìu vào nhà, nhưng vẫn ngờ là họ Vương gian trá, muốn được anh em người đàn bà nói một câu làm bằng.

Người đàn bà nói:

- Thiếp trốn nhà đi, còn mặt mũi nào cầu cạnh anh em nữa?

Nếu không tin nhau thì thiếp có mang sẵn dao để tự sát, xin cắt ngón tay để tỏ lòng.

Rồi rút dao sắc trong lưng ra bước lại cạnh giường kê một ngón tay trái lên chặt đứt, máu phun vọt ra.

Tôn cả sợ vội băng bó cho, người đàn bà đau tái cả mặt nhưng không hề rên rỉ, cười nói:

- Thiếp nay đã tỉnh mộng, chỉ muốn mượn một gian phòng nhỏ làm cách tu hành, chàng nghi ngờ làm gì?

Tôn bèn bảo con trai và người thiếp ở riêng một nơi, mình thì sớm tối qua lại hai bên, hàng ngày tìm thuốc chữa vết thương ngón tay cho vợ, hơn một tháng thì lành.

Người đàn bà từ đó không ăn mặn, đóng cửa tụng kinh niệm Phật mà thôi.

Lâu sau thấy việc nhà bê trễ bèn nói với Tôn rằng:

- Thiếp tới đây lần này, vốn muốn gác mọi việc ra không hỏi gì tới, nhưng nay thấy trong nhà ăn tiêu như thế, e rằng con cháu về sau có đứa phải chết đói, không còn cách nào nên phải mặt dày ra coi sóc vậy.

Rồi họp đám tớ gái lại giao cho đánh sợi dệt vải, hẹn ngày giao nộp.

Đám tôi tớ thấy tự xin về ở nên coi thường, lúc vắng người cứ xúm lại chê cười mai mỉa nhưng người đàn bà làm như không biết gì cả.

Đến khi tính công, ai lười nhác thì roi vọt không tha, mọi người mới sợ hãi.

Lại buông rèm ngồi bên trong tính toán sổ sách với các người quản sự, rạch ròi chặt chẽ.

Tôn bèn cả mừng, bảo con trai và người thiếp sáng sáng qua thăm hỏi.

Năm ấy A Kiên chín tuổi, người đàn bà càng lưu tâm chăm sóc, buổi sáng nó đi học rồi thường để dành quà bánh đợi nó về cho ăn, đứa nhỏ cũng dần đần yêu mến gần gũi.

Một hôm nó cầm đá ném chim sẻ, vừa lúc người đàn bà đi ngang, trúng ngay đầu ngã ra đất, hơn một khắc vẫn chưa nói được.

Tôn cả giận lấy roi đánh con, người đàn bà tỉnh dậy, hết sức can ngăn, lại mừng rỡ nói:

- Trước kia thiếp ngược đãi con, trong lòng lúc nào cũng áy náy, nay thì may đã được trừ bớt một tội.

Tôn càng yêu dấu, nhưng người đàn bà thường không chịu, bảo tới ngủ chỗ người thiếp.

Được vài năm, sinh nở mấy lần đều bỏ cả, nói:

- Đây là quả báo cái tội giết con ngày trước đấy.

Khi A Kiên đã cưới vợ, thì việc ngoài giao con trai, việc nhà giao con dâu.

Một hôm nói:

- Ngày ấy tháng ấy thiếp sẽ chết!

Tôn không tin, người đàn bà bèn tự lo sắm quan tài vải liệm.

Đến ngày ấy nàng thay y phục nằm vào quan tài mà chết, sắc mặt vẫn như lúc sống.

Có mùi hương lạ thơm ngát cả phòng, khi liệm xong mới dần dần tan hết.

____________________________________

CHƯƠNG 215: THÔI MÃNH

Bài Nạn Giải Phân Quách Giải Lưu

Vận Trù Duy Ác Xuất Kỳ Mưu

Lưỡng Nhân Thẳng Bái Đăng Đàn Mệnh

Lương Tín Huân Danh Khả Thất Trù

Dịch:

Gỡ Rối Giải Nguy Dòng Quách Giải

Vận Trù Trong Trướng Xuất Kỳ Mưu

Hai Người Nếu Được Phong Làm Tướng

Tin Chắc Công Danh Sách Đọ Nhau



Thôi Mãnh tự Vật Mãnh là con nhà thế gia ở huyện Kiến Xương (tỉnh Liêu Ninh), tính cương nghị.

Lúc nhỏ đi học ở trường, bọn trẻ có đụng chạm gì tới là nắm tay đánh liền, thầy nhiều lần răn dạy vẫn không bỏ, nên tên và tự đều do thầy đặt cho.

Đến mười sáu mười bảy tuổi thì võ nghệ tuyệt luân, lại có thể chống sào dài nhảy lên mái nhà, thích giúp người rửa sạch nỗi bất bình.

Vì vậy người làng đều khâm phục, những người tới nhờ vả kể lể thường chật cả nhà.

Thôi đè nén kẻ mạnh, giúp đỡ người yếu không sợ oán thù, ai tỏ ý chống lại thì lập tức lấy gạch đá gậy gộc đánh luôn cho đến lúc toàn thân bầm dập, lúc đã lên cơn giận dữ thì không ai dám khuyên can.

Duy thờ mẹ rất có hiếu, mẹ tới là hết giận ngay, mẹ trách mắng bao nhiêu cũng vâng vâng dạ dạ nghe lời, có điều cứ ra khỏi cửa là quên mất.

*[Tên và tự đều do thầy đặt cho: “Mãnh" có nghĩa là mạnh bạo, dữ tợn, “Vật Mãnh” có nghĩa là đừng hung dữ, đây người thầy vừa có ý khuyến khích Thôi Mãnh nên mạnh dạn làm điều nghĩa nhưng vừa có ý khuyên dạy đừng hung dữ].

Láng giềng có người đàn bà ác hàng ngày ngược đãi mẹ chồng, mẹ chồng đói gần chết, con trai lén cho ăn, mụ ta biết được chữi mắng đủ điều, bốn bên hàng xóm đều nghe.

Thôi giận vượt tường qua cắt hết tai mũi môi lưỡi, mụ chết ngay lập tức.

Mẹ Thôi nghe tin cả sợ, gọi người láng giềng qua, hết lời năn nỉ an ủi, cưới cho một nàng hầu trẻ mới yên chuyện.

Mẹ uất ức khóc lóc bỏ ăn, Thôi sợ quỳ xuống xin chịu đòn, lại thưa đã hối hận rồi, nhưng mẹ vẫn khóc không thèm nhìn tới.

Vợ Thôi là Chu thị cũng quỳ xuống với chồng, mẹ bèn cầm gậy đánh rồi lấy kim thích vào cánh tay Thôi thành hình chữ thập, dùng son bôi vào cho khỏi mất dấu.

Thôi đều chịu cả, mẹ mới chịu ăn cơm.

Mẹ Thôi thích nuôi các nhà sư và đạo sĩ, thường mời họ ăn no.

Gặp lúc có vị đạo sĩ đang đứng ở cổng thì Thôi đi ngang, đạo sĩ nhìn Thôi rồi nói:

- Lang quân tính khí ngang tàng hung dữ, e khó giữ trọn tuổi trời, nhà tích thiện lẽ ra không nên để có chuyện như vậy.

Thôi vừa nghe mẹ răn dạy, nghe thế tỏ vẻ cung kính nói:

- Ta cũng tự biết thế nhưng cứ gặp chuyện bất bình là không sao kìm mình được, không biết gắng sức sửa đổi có tránh được không?

Đạo sĩ cười đáp:

- Khoan hãy hỏi tránh được hay không tránh được, xin cứ hỏi sửa được hay không sửa được.

Cứ phải ra sức tự kìm chế, nếu thấy có thể làm được trong muôn một thì ta sẽ nói cho ông một phép giải tử.

Thôi bình sinh không tin chuyện bùa chú nên chỉ cười không đáp, đạo sĩ bèn nói:

- Ta vốn biết là ông không tin, nhưng lời ta nói đây không phải như lời bọn đồng cốt, làm theo cũng là có đức tốt, cho dù không có kết quả cũng không đến nỗi có hại.

Thôi xin nghe, đạo sĩ bèn nói:

- Vừa có một kẻ hậu sinh đi qua trước cổng, nên kết giao thật hậu, đến lúc phạm tội chết thì người ấy có thể cứu được.

Rồi gọi Thôi bước ra chỉ cho biết người ấy, thì ra đó là đứa nhỏ con nhà họ Triệu tên Tăng Ca.

Triệu là người huyện Nam Xương (tỉnh Giang Tây), gặp năm mất mùa phải tới ngụ cư ở Kiến Xương.

Thôi từ đó chơi thân với Triệu, mời tới ở nhà mình, đãi ngộ rất hậu.

Tăng Ca năm ấy mười hai tuổi, lên nhà lạy mẹ Thôi làm mẹ, nhận Thôi làm anh.

Đến vụ mùa đầu năm sau, Triệu đưa gia quyến về quê, từ đó không có tin tức gì.

Mẹ Thôi từ khi người đàn bà láng giềng chết càng răn dạy con chặt chẽ, có ai tới kêu nài cầu cứu đều gạt đi.

Một hôm em mẹ Thôi chết, Thôi theo mẹ qua viếng, dọc đường gặp mấy người trói một người đàn ông, vừa mắng chửi vừa xô đẩy bắt đi mau, lại đánh đập túi bụi, người ta đứng xem chật đường, kiệu không tiến được.

Thôi ra hỏi thì những người quen biết tranh nhau kể, nguyên là có con trai một vị quan lớn tên Mỗ Giáp, ngang tàng nhất vùng, thấy vợ Lý Thân xinh đẹp muốn chiếm đoạt nhưng không có cớ bèn sai người nhà dụ Thân đánh bạc, đưa tiền cho vay nhưng tính lãi rất nặng, bắt ghi cả vợ vào giấy nợ, thua hết lại cho vay tiếp, một đêm mang nợ tới mấy ngàn.

Được nửa năm tính cả vốn lẫn lãi đã hơn ba mươi ngàn, Thân không sao trả được, chúng cậy đông người kéo tới bắt vợ Thân đi.

Thân tới cổng kêu khóc, Mỗ giận bắt trói treo lên cây đánh đập buộc phải làm giấy cam đoan không kiện tụng.

Thôi nghe chuyện giận điên người, thúc ngựa xông lên định đánh nhau.

Bà mẹ vén rèm kiệu gọi lại nói:

- Chà, lại thế rồi phải không!

Thôi đành thôi.

Viếng tang xong về nhà cứ lầm lì không nói chuyện không ăn cơm, chỉ ngồi sững trợn mắt như có điều tức giận, vợ hỏi han gì cũng không đáp, ban đêm thì mặc cả áo ngoài nằm trên giường, trằn trọc đến sáng.

Đêm sau cũng thế, mở cửa đi ra rồi lại trở vào nằm, cứ thế ba bốn lần, vợ không dám hỏi, chỉ nằm im nghe ngóng.

Kế lại đi ra, lâu lắm mới trở vào, đóng cửa lên giường ngủ say.

Đêm ấy có người giết Mỗ Giáp trên giường, phanh bụng rút ruột ra ngoài, xác vợ Thân thì trần truồng nằm dưới giường.

Quan nghi là Thân, bắt lên tra hỏi, đánh đập cùm kẹp tàn khốc, lòi cả xương mắt cá chân ra nhưng vẫn không chịu nhận, hơn một năm không chịu nổi cực hình phải nhận bừa, bị khép tội chết.

Vừa lúc ấy mẹ Thôi chết, chôn cất xong, Thôi nói với vợ rằng:

- Người giết tên Giáp chính là ta, chỉ vì còn mẹ già nên không dám tiết lộ.

Nay việc lớn đã xong, sao lại mình làm nên tội lại bắt kẻ khác chịu tai họa.

Ta lên quan nhận tội chết đây.

Vợ sợ hãi níu áo kéo lại, Thôi dứt áo đi, tới công đường tự thú.

Quan ngạc nhiên, cùm lại giam vào ngục rồi tha Thân ra.

Thân không chịu, cứ nhất định nhận tội, quan không quyết được bèn nhốt cả hai.

Họ hàng đều chê trách Thân, Thân nói:

- Việc công tử đã làm là việc ta muốn làm mà không thể làm được.

Công tử đã làm thay cho ta mà ta lại nỡ ngồi nhìn công tử chết sao?

Nay cứ coi như công tử chưa ra thú là được.

Rồi không chịu đổi lời khai, cố tranh tội với Thôi.

Lâu sau nha môn đều biết duyên do, đuổi Thân ra khỏi ngục để Thôi chịu tội, lúc ấy đã sắp đến ngày hành hình.

Vừa gặp khi có quan Bộ lang họ Triệu coi việc giảm án tới xét ngục, điểm lại danh sách tù phạm tới tên Thôi bèn đuổi hết mọi người ra rồi cho gọi vào.

Thôi vào ngẩng nhìn lên thềm thì là Tăng Ca, vừa tủi vừa mừng kể thật hết sự tình.

Triệu ngần ngừ hồi lâu rồi sai giam lại vào ngục như cũ, dặn ngục tốt phải đối xử tử tế, kế lấy cớ đã tự thú giảm tội cho, sung làm lính ở Vân Nam, Thân cũng đi theo để hầu hạ.

Chưa đầy một năm, được theo lệ ân xá trở về, đều là nhờ sức của Triệu.

Khi Thôi đã về Thân vẫn theo không rời, thay Thôi coi sóc mọi việc làm ăn, trả tiền công thì không lấy, chỉ chú tâm xin học những thuật phi thân đánh đá, Thôi cũng đối xử rất hậu, cưới vợ cấp ruộng cho.

Thôi từ đó cố gắng sửa nết cũ, mỗi khi sờ đến vết kim châm trên cánh tay thì ràn rụa nước mắt, vì thế trong làng có ai đánh nhau thì Thân thác lời Thôi can ngăn dàn xếp chứ không cho Thôi hay.

Có viên Giám sinh họ Vương là nhà hào phú, bọn vô lại bất nhân khắp nơi thường lui tới, nhiều nhà khá giả trong huyện bị cướp bóc, ai trái ý thì y sai bọn cướp giết ngay ngoài đường, con y cũng dâm đãng tàn bạo.

Vương có một bà thím góa chồng, cha con cùng gian dâm với bà ta, vợ là Cừu thị nhiều lần can ngăn, Vương thắt cổ nàng chết.

Anh em họ Cừu thưa kiện lên quan, Vương đút lót để quan buộc họ vào tội vu cáo.

Họ hàm oan uất ức không có cách nào phát tiết, tới cầu cứu Thôi nhưng Thân chối từ không cho gặp.

Vài hôm sau có khách, gặp lúc không có người hầu, Thôi bảo Thân pha trà, Thân im lặng đi ra nói với mọi người rằng:

- Ta với Thôi Mãnh chỉ là bạn bè mà theo nhau đi đày muôn dặm, không thể nói là không chí tình.

Thế mà đã không trả công cho đồng nào còn coi như đầy tớ, thật không chịu nổi.

Rồi giận dữ bỏ đi.

Có người kể lại với Thôi, Thôi kinh ngạc vì Thân đổi tính nết nhưng cũng chưa lấy làm lạ.

Bỗng Thân lên quan kiện Thôi ba năm không trả tiền công, Thôi quá lạ lùng, đích thân lên đối chất.

Thân căm tức tranh cãi, quan cho là vô lý bèn quát đuổi về.

Vài hôm sau Thân chợt đang đêm vào nhà Vương giết cả hai cha con, bà thím và đứa con dâu rồi dán giấy lên vách tự xưng tên họ, cho đuổi bắt thì đã trốn biệt tích.

Nhà họ Vương nghi là do Thôi sai khiến, nhưng quan không tin.

Thôi mới sực hiểu ra chuyện kiện tụng trước đây là do Thân sợ giết người sẽ làm liên lụy tới mình.

Văn thư truy nã gởi khắp các châu huyện chung quanh, tìm bắt Thân rất gấp, nhưng gặp lúc giặc Sấm chiếm kinh đô, việc ấy chìm luôn.

Không bao lâu nhà Minh mất ngôi, Thân đem gia quyến về, lại thân thiết với Thôi như trước.

Lúc ấy giặc cướp tụ tập khắp nơi, Vương có đứa cháu họ là Đắc Nhân tập họp bọn vô lại do chú chiêu mộ chiếm cứ núi non làm giặc, kéo đi cướp phá thôn xóm.

Một đêm dốc cả sào huyệt kéo tới, nói là để phục thù.

Gặp lúc Thôi vắng nhà, giặc đã phá cửa Thân mới biết, vượt qua tường núp trong bóng tối.

Giặc tìm không thấy Thôi bèn bắt vợ Thôi, vơ vét hết của cải kéo đi.

Thân trở vào, chỉ còn có một người đầy tớ, vô cùng căm giận, bèn cắt lấy vài mươi đoạn thừng, đưa người đầy tớ những đoạn ngắn còn mình giữ những đoạn dài.

Dặn người đầy tớ lên sào huyệt giặc, tới lưng núi thì châm lửa vào dây thừng treo rải rác trên các bụi gai rồi bỏ đó về ngay.

Người đầy tớ vâng lời đi, Thân thấy bọn giặc đều thắt dây lưng đỏ và buộc mảnh vải đỏ trên mũ, bèn bắt chước giả trang theo.

Có con ngựa cái già mới đẻ con, giặc bỏ lại ngoài cửa, Thân buộc ngựa con lại, cưỡi ngựa mẹ ngậm tăm ra đi, tới thẳng sào huyệt giặc.

Giặc đóng ở một thôn lớn, Thân buộc ngựa ngoài thôn vượt tường vào, thấy bọn giặc còn nhốn nháo chưa kịp cởi gươm buông giáo, trà trộn vào hỏi han biết vợ Thôi ở chỗ tên Vương.

Giây lát nghe truyền lệnh cho quân nghỉ, tiếng dạ như sấm ran.

Bỗng một người báo núi phía đông có lửa, giặc cùng ngẩng nhìn, lúc đầu chỉ có một hai đốm, kế nhiều như sao sa.

Thân lấy hơi kêu to:

- Phía đông có động!

Vương cả kinh, nai nịt dẫn quân kéo ra, Thân nhân dịp lủi ra phía sau rồi quay trở vào.

Thấy có hai tên giặc canh giữ trong trướng, bèn lừa nói:

- Vương tướng quân quên thanh bội đao.

Hai tên tranh nhau tìm, Thân từ phía sau chém một tên ngã xuống, tên kia vừa ngoảnh nhìn, Thân cũng chém nốt.

Rồi cõng vợ Thôi vượt tường ra, mở ngựa đưa dây cương dặn:

- Nương tử không biết đường, cứ để ngựa đi là được.

Ngựa nhớ con phóng mau trở về, Thân theo sau, ra khỏi một cửa núi hẹp châm lửa vào dây thừng treo khắp nơi rồi chạy về.

Hôm sau Thôi về, cho là điều đại sỉ nhục, tức giận lồng lên, muốn một mình một ngựa tới phá giặc.

Thân khuyên đừng đi, họp người làng bàn tính.

Mọi người đều khiếp sợ không dám lên tiếng, khuyên lơn giảng giải ba bốn lần mới được hơn hai mươi người dám đi, nhưng lại không có khí giới.

Vừa gặp lúc bắt được hai tên gian tế trong nhà họ hàng của Vương, Thôi định giết nhưng Thân không cho, sai hai mươi người cầm gậy gộc dàn ra trước mặt, cắt tai hai tên rồi thả về.

Mọi người tức giận nói:

- Có một nhúm quân thế này, đang sợ giặc nó biết, mà còn khoe cho hai thằng kia thấy, nếu chúng kéo rốc cả tới thì đóng cổng làng cũng không sao giữ được!

Thân đáp:

- Ta đang muốn chúng kéo tới mà!

Bèn bắt giết bọn chứa giặc trong nhà, sai người ra bốn phía tìm cung nỏ súng đạn, lại lên huyện mượn hai cỗ pháo lớn.

Chập tối dẫn những người khỏe mạnh tới cửa núi, đặt pháo nhắm thẳng vào, sai hai người cầm mồi lửa núp ở đấy, dặn thấy giặc là bắn ngay.

Lại qua phía đông cửa núi, chặt cây đặt trên dốc, kế cùng Thôi chia nhau mỗi người suất lĩnh một toán hơn mười người mai phục hai bên.

Gần hết canh một thì nghe xa xa có tiếng ngựa hí, lén lên nhìn quả thấy giặc ồ ạt kéo tới, quân mã nối nhau kéo dài không dứt.

Chờ chúng lọt hết vào hẻm núi rồi bèn sai lăn cây xuống để chặn đường về.

Giây lát pháo nổ ran, tiếng la thét kêu gào vang động khe núi.

Giặc vội rút lui, giẫm đạp lên nhau mà chạy, tới cửa núi phía đông không thoát ra được, chen chúc không còn khoảnh đất nào hở.

Súng đạn cung nỏ hai bên dốc núi giáp công, bắn xuống như mưa, bọn giặc đứa đứt đầu đứa gãy chân, nằm chất lên nhau ngổn ngang, chỉ còn hơn hai mươi tên quỳ xuống xin tha mạng, bèn sai người trói giải về.

Kế thừa thắng tiến thẳng tới sào huyệt giặc, bọn giữ trại nghe hơi chạy tan tác, bèn tìm kiếm chở hết lương thảo tài vật đem về.

Thôi mừng lắm, hỏi về kế đốt lửa, Thân đáp:

- Đốt lửa ở phía đông vì sợ chúng đuổi theo về phía tây, dùng thừng ngắn cho mau cháy hết vì sợ chúng dò biết là không có ai, lại đốt ở cửa núi vì chỗ đó chật hẹp, một người cũng chặn giữ được, chúng đuổi tới thấy lửa ắt sợ, đều là hạ sách nhất thời mạo hiểm mà dùng thôi.

Bắt bọn giặc lên hỏi thì quả nhiên khi đuổi tới cửa núi thấy có ánh lửa nên sợ hãi rút lui.

Bèn xẻo tai cắt mũi hơn hai mươi tên giặc bị bắt rồi thả về từ đó uy danh của Thôi và Thân lừng lẫy, những người lánh nạn xa gần theo về như chợ, tổ chức được hơn ba trăm dân dũng, giặc cướp các nơi không đám nào dám tới cướp bóc, cả vùng nhờ thế được yên ổn.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 216+217


CHƯƠNG 216: AN KỲ ĐẢO

An Kỳ Đảo Lý Phóng Chu Du

Đắc Kiến Tiên Nhân Nguyệt Dĩ Thù

Nhất Trản Quỳnh Tương Hàn Bất Yết

Tiếu Quân Tiên Phúc Vị Tằng Tu

Dịch:

An Kỳ Trên Đảo Thả Thuyền Du

Được Thấy Người Tiên Ước Nguyện Phu

Một Chén Quỳnh Tương Không Gượng Nuốt

Cười Ai Tiên Phúc Chửa Dầy Tu



Quan Tể tướng Lưu Hồng Huấn người huyện Trường Sơn (tỉnh Liêu Ninh) cùng viên tướng Mỗ đi sứ Triều Tiên.

Nghe nói đảo An Kỳ là nơi thần tiên ở, muốn sai thuyền chở tới đó chơi, nhưng các quan nước ấy đều nói là không được, bảo đợi Tiểu Trương.

Đại khái đảo An Kỳ không đi lại với thế gian, chỉ có đệ tử là Tiểu Trương mỗi năm tới đó một lần, ai muốn tới đảo trước hết phải nói rõ với ông ta, nếu ông ta chịu thì một chiếc bè cũng tới nơi, nếu ông ta không chịu ắt sẽ có gió bão đánh chìm thuyền.

Qua hai ba hôm, quốc vương gọi Lưu vào bệ kiến, thấy một người đeo kiếm đội nón tre ngồi trên điện, tuổi khoảng ba mươi, tướng mạo thanh kỳ, hỏi ra thì chính là Tiểu Trương.

Lưu nhân đó tỏ ý muốn tới đảo, Tiểu Trương ưng thuận, nhưng nói viên Phó sứ không đi được.

Lại ra ngoài nhìn ngắm bọn tùy từng suốt một lượt, chỉ có hai người có thể đi cùng Lưu, bèn sai lấy thuyền đưa Lưu đi.

Đường biển không biết xa hay gần, chỉ thấy gió thổi ào ạt, thuyền như lướt mù rẽ mây mà đi.

Lúc ấy đang giữa mùa đông, nhưng tới đảo thì thấy khí trời ấm áp, hoa nở đầy núi.

Tiểu Trương đưa bọn Lưu vào động phủ, thấy có ba ông già ngồi xếp bằng, hai người hai bên thấy khách vào vẫn thản nhiên như không hay biết, chỉ có người ngồi giữa đứng dậy đón chào thi lễ.

Kế mời ngồi gọi lấy trà thì có đứa tiểu đồng cầm cái mâm đi ra, trên khe đá nhỏ ngoài động có cái dùi sắt cắm lút vào đá, tiểu đồng nhổ lên thì nước vọt ra, lấy chén hứng đầy rồi lại nút kín lại.

Kế bưng vào, thấy sắc màu xanh nhạt, uống thử thì lạnh tê răng.

Lưu sợ lạnh không uống, ông già đưa mắt ra hiệu cho tiểu đồng, tiểu đồng cầm cái chén ra, uống hết nước trong chén rồi tới chỗ cũ nhổ cái dùi lên hứng đầy nước quay vào, thấy nước nóng bốc lên nghi ngút như vừa đun sôi xong, Lưu vô cùng lạ lùng.

Hỏi về việc hay dở sắp tới, ông già cười đáp:

- Người ngoài cõi đời ngay cả năm tháng cũng còn không biết, làm sao biết được việc người?

Hỏi tới thuật trường sinh, ông già đáp:

- Đó không phải là việc mà người trong trường phú quý làm được đâu.

Lưu cáo từ, Tiểu Trương lại đưa về, tới nơi kể lại mọi chuyện, quốc vương Triều Tiên than rằng:

- Tiếc là ông chưa uống chén nước lạnh, đó là Tiên thiên ngọc dịch, uống một chén có thể sống thêm trăm tuổi.

Khi Lưu về nước, vương tặng một vật gói vải kín mít, dặn còn gần biển thì đừng mở ra xem.

Lưu vừa lên tới bờ vội mở ra xem, tháo hết mấy trăm lớp vải bọc mới thấy một tấm gương, cầm lên xem thì Long cung thủy tộc đều rõ ràng trước mắt.

Đang còn chăm chú nhìn, chợt có ngọn sóng cao như lầu gác sầm sập đổ tới, cả sợ bỏ chạy, ngọn sóng ầm ầm đuổi theo mau như mưa tuôn gió cuốn, khiếp đảm ném tấm gương lại, ngọn sóng bèn rút ngay.

____________________________________

CHƯƠNG 217: TIẾT ÚY NƯƠNG

Phản Hồn Hương Nhiệt Tiễn Uyên Minh

Chưởng Thượng Di Châu Hỉ Tái Kình

Nhất Cục Hu Bồ Trầm Hận Tuyết

Bỉ Thương Thử Tế Hữu Quyền Hành

Dịch:

Phản Hồn Hương Đốt Vẹn Lời Thề

Châu Lọt Trên Tay Lại Trở Về

Một Cuộc Đỏ Đen Trầm Hận Giải

Xanh Kia Cân Nhắc Khéo Tinh Vi



Phong Ngọc Quế là nho sĩ ở Liêu Thành, nghèo khổ không có cách mưu sinh.

Trong niên hiệu Sùng Trinh thời Minh (1628-1643) gặp năm mất mùa lớn, lẻ loi đi xa kiếm ăn.

Hơn một năm định về, tới huyện Nghi (tỉnh Sơn Đông) thì mắc bệnh, cố sức đi mau được vài dặm, tới một đám mộ hoang phía nam thành thì quá mệt nên nằm xuống cạnh một ngôi mộ.

Giây lát mê đi như nằm mơ, thấy tới một nhà nọ, có ông già trong cổng bước ra mời vào, nhà có hai gian đều xoàng xĩnh, trong phòng có một cô gái tuổi khoảng mười sáu mười bảy, dung mạo xinh đẹp ông già sai sắc thuốc, rót vào chén bằng đất đưa lên cho khách rồi hỏi quê quán tuổi tác, sinh đáp xong bèn nói:

- Ta là Lý Hồng Đô người huyện Bình Dương (tỉnh Sơn Tây) lưu ngụ ở đây đã ba mươi hai năm rồi.

Xin ông nhớ kỹ nhà này, con cháu của ta nếu có tới hỏi xin làm phiền chỉ cho, lão phu không dám quên ơn.

Nghĩa nữ đây tên Ủy Nương cũng không xấu xí lắm, xin gả cho bậc quân tử, hôm nào con thứ ba của ta tới sẽ đính ước.

Sinh mừng rỡ lạy nói:

- Thân trâu ngựa đã hai mươi hai tuổi vẫn chưa có vợ, được đội ơn cho làm thân thích thì may lắm, có điều không biết con cháu của cha chỗ nào để tìm tới?

Ông già đáp:

- Ông chỉ cần ở lại trong thôn này, chờ hơn một tháng sẽ có người tới, chỉ cần chúng cầu xin gì thì đừng từ chối thôi.

Sinh sợ là bất tín, đòi ông già phải cam kết, nói:

- Nói thật với cha, nhà ta chỉ có bốn bức vách, e ngày sau không làm được điều cha mong muốn, nửa chừng bỏ dở không làm được thì cũng không lấy được vợ, nên không dám không xin một lời hứa chắc chắn, chứ không ngại gì chuyện khác.

Ông già cười nói:

- Ông muốn lão phu thề phải không?

Ta vốn biết ông nghèo, nhờ việc này không phải để trói buộc ông đâu.

Ủy Nương mồ côi không nơi nương tựa, ở với ta đã lâu, không nỡ để cho nó phải lưu lạc nên đem dâng cho bậc quân tử thôi, ông đừng nghi ngờ.

Kế cầm tay đưa sinh ra cửa, chắp tay chào rồi đóng cửa quay vào.

Sinh chợt tỉnh dậy, thấy mình đang nằm cạnh ngôi mộ mà trời đã gần trưa bèn gượng dậy lần vào thôn.

Người trong thôn nhìn thấy đều hoảng sợ, nói đã chết cạnh đường hơn một ngày rồi, sinh mới sực hiểu ra rằng ông già tức là người chôn trong mộ, giữ kín không nói ra, chỉ xin họ cho ở trọ.

Người trong thôn sợ sinh lại chết nên không ai dám cho ở, trong thôn có người Tú tài cùng họ với sinh nghe thấy tới hỏi gia thế, té ra là chú họ của sinh, mừng rỡ dắt về nhà lo cơm nước thuốc thang cho, vài hôm thì khỏi bệnh.

Sinh thuật lại chuyện mình gặp, người chú cũng ngạc nhiên lạ lùng, bèn chờ xem ra sao.

Không bao lâu quả có vị quan nhân tới thôn hỏi thăm mộ cha chôn ở đâu, tự nói là Tiến sĩ Lý Thúc Hướng ở huyện Bình Dương.

Trước đó Lý Hồng Đô đi buôn xa với người đồng hương là Giáp, chết ở đất Nghi, Giáp bèn chôn chỗ đám mộ hoang, vừa về tới nhà thì cũng chết.

Lúc ấy ba con của Hồng Đô đều còn nhỏ, con lớn là Bá Nhân, sau thi đậu Tiến sĩ, làm Tri huyện Hoài Nam, mấy lần sai người tìm hỏi mộ cha nhưng không ai biết.

Con kế là Trọng Đạo, sau thi đỗ Cử nhân.

Thúc Hướng là con út cũng thi đỗ Tiến sĩ, lúc ấy đích thân đi tìm mộ cha, tới đất Nghi hỏi thăm khắp cả.

Hôm ấy hỏi người trong thôn mà không ai biết, sinh bèn đưa tới chỗ ngôi mộ chỉ cho.

Thúc Hướng thấy sinh trẻ tuổi chưa dám tin hẳn, sinh bèn thuật lại chuyện mình đã gặp, Thúc Hướng lấy làm lạ, nhìn kỹ thì có hai ngôi mộ liền nhau, có người nói ba năm trước có vị quan chôn người thiếp ở đó.

Thúc Hướng sợ đào nhầm mộ, sinh bèn chỉ chỗ mình đã nằm.

Thúc Hướng liền sai đem quan tài tới để bên cạnh rồi mới cho đào, đào lên thì thấy xác một cô gái, quần áo đã mủn nát nhưng mặt mũi vẫn tươi tắn như còn sống.

Thúc Hương thấy lầm, sợ quá không biết làm sao nhưng cô gái đã ngồi dậy nhìn quanh nói:

- Tam ca tới rồi!

Thúc Hướng ngạc nhiên tới gần hỏi han thì là Ủy Nương, liền cho nàng thay áo đổi giày đưa về nhà trọ, rồi vội đào ngôi mộ bên cạnh, mong cha cũng sống lại, nhưng đào lên thấy da thịt còn nguyên mà vỗ gọi vẫn cứng đờ, thương xót vô cùng, bèn mặc áo mới cho vào quan tài, cúng tế bảy hôm, cô gái cũng chít khăn để tang như con gái ruột.

Chợt nói với Thúc Hướng rằng:

- Trước cha có hai nén vàng, từng chia cho em một nén làm của hồi môn nhưng vì em yếu ớt không có chỗ cất giấu nên cha lấy vải màu buộc chặt trong lưng chưa từng rời ra, anh có nhặt được không?

Thúc Hướng không biết, bảo sinh quay lại chỗ ngôi mộ, quả nhiên tìm thấy đúng như lời cô gái nói.

Thúc Hướng vẫn theo lời cha, chia tặng Ủy Nương một nén rồi hỏi han gia thế của nàng.

Trước đây cha cô gái là Tiết Dần Hầu không có con trai, chỉ sinh được Ủy Nương nên rất thương yêu.

Một hôm cô gái từ nhà cậu ở Kim Lăng về, cùng bà vú tới bến dò hỏi thuê thuyền, thì nhà thuyền là một người làm mai ở Kim Lăng.

Lúc ấy có vị quan hết hạn về kinh muốn tìm một người thiếp trẻ nhưng y giới thiệu mấy đám đều không vừa ý, nên định đi thuyền tới Quảng Lăng (huyện Giang Đô).

Chợt gặp cô gái y nghĩ ra kế lừa gạt, vội gọi thuyền kia tới bên cạnh.

Bà vú vốn quen y bèn đi cùng đường, giữa đường y bày tiệc bỏ thuốc độc vào thức ăn, cô gái và bà vú đều mê man, y bèn xô bà vú xuống sông, chở cô gái trở về bán cho vị quan nọ.

Tới nơi, vợ cả hay được vô cùng tức giận, cô gái cũng ngơ ngác không biết làm lễ ra mắt, vợ cả đánh đập nhốt lại.

Lên bờ đi được ba ngày cô gái mới tỉnh hẳn, đám tỳ nữ kể lại đầu đuôi, nàng òa lên khóc.

Một đêm ngủ lại đất Nghi, nàng tự thắt cổ chết, họ bèn chôn ở đám mộ hoang.

Cô gái tới bị đám ma ở đó trêu ghẹo ức hiếp, ông Lý ra quát đuổi chúng đi, nàng bèn nhận ông làm cha.

Ông nói:

- Số con chưa phải chết, ta sẽ chọn cho một người chồng vừa ý.

Hôm sinh đã trở ra ông quay vào nói với nàng rằng:

- Người này nhân phẩm có thể nương dựa, chờ tam ca của con tới làm chủ hôn cho.

Một hôm lại nói:

- Con có thể về, tam ca con sắp tới rồi.

Đó là hôm quật mộ vậy.

Cô gái thuật lại hết cho Thúc Hướng nghe, Thúc Hướng than thở hồi lâu rồi lập tức nhận nàng làm em gái, đổi theo họ Lý, mua sắm quần áo cho nàng rồi gả cho sinh, nói:

- Trên đường không có nhiều tiền bạc, không thể mua sắm đầy đủ cho em, muốn tất cả cùng về cho mẹ vui, em nghĩ sao?

Cô gái cũng vui vẻ, rồi đó vợ chồng theo Thúc Hướng đưa linh cửu về.

Tới nhà, bà mẹ hỏi biết đầu đuôi, thương yêu Ủy Nương còn hon con ruột, cho ở một căn nhà riêng.

Lúc chôn cất, cô gái khóc thương còn hơn cả con cháu trong nhà, mẹ càng thương yêu, không cho về Sơn Đông, bảo các con trai mua nhà cho nàng.

Vừa gặp lúc có họ Phùng bán nhà, ra giá sáu trăm đồng vàng, lúc gấp gáp chưa lo được đủ tiền bèn làm giấy tờ hẹn ngày trả đủ.

Đến ngày hẹn, Phùng tới sớm, vừa gặp lúc cô gái cũng từ nhà riêng qua hầu mẹ, bất ngờ gặp nhau, thấy rất giống người nhà thuyền năm trước, Phùng cũng như e sợ cô gái, vội vã đi ra.

Hai anh vì thấy mẹ khó ở cũng tới thăm hỏi, cô gái hỏi người thong thả đi trước phòng khách là ai, Trọng Đạo nói:

- Suýt nữa thì quên, đó ắt là kẻ bán nhà hôm trước.

Rồi lập tức đứng dậy bước ra, cô gái giữ lại nói rõ điều mình nghi ngờ, bảo anh căn vặn thử xem, Trọng Đạo gật đầu bước ra thì Phùng đã đi mất, chỉ còn ông thầy dạy học ở ngõ nam là Tiết tiên sinh ở đó.

Nhân hỏi sao lại tới đây, Tiết đáp:

- Tối qua họ Phùng nhờ ta tới sớm làm chứng ký tên vào giấy bán nhà, vừa rồi gặp nhau trên đường, y nói là quên một việc ở nhà phải về rồi sẽ quay lại ngay, bảo ta cứ ngồi ở đây đợi.

Giây lát sinh và Thúc Hướng cùng tới, cùng nhau trò chuyện.

Ủy Nương vì việc gặp Phùng cũng núp sau bình phong nhìn trộm khách, nhìn kỹ thì té ra là cha mình bèn chạy ngay ra ôm cha khóc lớn.

Tiết kinh ngạc rơi lệ nói:

- Con ta sao lại tới đây mọi người mới biết Tiết là Dần Hầu.

Trọng Đạo tuy có gặp mấy lần trên đường nhưng cũng chưa từng hỏi tên ông ta, đến lúc ấy rất mừng bèn kể lại chuyện trước, mở tiệc ăn mừng rồi giữ ở lại đó.

Tiết kể lại chuyện mình, đại khái sau khi con gái thất tung thì vợ buồn rầu mà chết, ông ta góa vợ không còn ai để nhờ vả nên du học tới đây.

Sinh hẹn mua nhà xong sẽ đón ông về ở cùng.

Hôm sau đi dò xem thì Phùng đã dắt gia đình trốn mất, mới biết kẻ giết bà vú bán Ủy Nương là y.

Lúc đầu Phùng tới Bình Dương buôn bán trở nên giàu có, năm ấy cờ bạc nên dần dần sa sút mới bán nhà, số tiền bán Ủy Nương kể như mất trắng.

Ủy Nương được nhà ở cũng không căm hờn gì lắm, chỉ chọn ngày tới ở chứ không sai người tìm bắt y.

Mẹ Lý liên tiếp sai mang đồ đạc qua cho, tất cả những thứ vật dụng thường ngày đều chu cấp đủ, sinh bèn ở lại luôn Bình Dương, chỉ về quê dự thi, lấy làm khổ cực nhưng may mắn thi đỗ Cử nhân khoa ấy.

Ủy Nương giàu có, thường nghĩ tới bà vú chết vì mình, vẫn nghĩ cách đền ơn cho con bà ta.

Chồng bà vú họ Ân, có một con trai tên Phú, ưa cờ bạc, nghèo không có miếng đất cắm dùi.

Một hôm Phú đánh bạc cãi nhau, lỡ tay giết người, chạy trốn tới Bình Dương, tuy không quen sinh nhưng biết Ủy Nương nên tới xin giúp đỡ.

Sinh mừng rỡ giữ lại hỏi han cặn kẽ, Phú nói tên họ người bị mình giết, té ra là Phùng Mỗ.

Sinh kinh sợ than thở hồi lâu rồi nói rõ, Phú mới biết Phùng là người giết mẹ mình, càng thêm vui mừng, bèn ở lại làm thuê hầu hạ cho nhà sinh, cũng ở gần đó.

Tiết Dần Hầu tới ở nhà con rể, con rể cưới vợ cho, sinh được một trai một gái.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 218+219


CHƯƠNG 218: ĐIỀN TỬ THÀNH

Khoáng Dã Vô Nhân Nguyệt Tự Minh

Hà Lai Mao Ốc Khổ Ngâm Thanh

Tư Thân Chích Tận Thiên Hàng Lệ

Bất Thúc Đồng Hương Lư Thập Huynh

Dịch:

Trăng Rọi Đồng Không Cảnh Vắng Tanh

Khổ Ngâm Đâu Vẳng Phía Nhà Tranh

Nhớ Cha Tuôn Cạn Hai Hàng Lệ

Đâu Hiểu Đồng Hương Lư Thập Huynh



Điền Tử Thành ở huyện Giang Ninh (tỉnh Giang Tô) qua hồ Động Đình, bị đắm thuyền chết.

Con là Tiến sĩ Lương Tự cuối thời Minh, lúc ấy còn ẳm ngữa, vợ là Đỗ thị nghe tin uống thuốc độc tự tử.

Lương Tự được bà nội thứ nuôi nấng nên người.

Sau đi làm quan ở Hồ Bắc, hơn một năm vâng lệnh quan trên đi công vụ tới Hồ Nam.

Lương Tự tới hồ Động Đình thì khóc lớn quay về, tự trình là không đủ tài năng, bị giáng làm Huyện thừa huyện Hán Dương, rất không vui bèn chối từ không nhận chức.

Các quan trên bắt ép thôi thúc mãi mới chịu đi, nhưng cứ rong chơi trong chốn sông hồ, không vì đang làm quan mà giữ gìn câu nệ.

Một đêm ghé thuyền bên bờ sông, nghe thấy tiếng tiêu dìu dặt rất hay, bèn nhân có trăng lên bộ đi khoảng nửa dặm thì thấy giữa bãi đất trống có vài gian nhà tranh lập lòe ánh đèn.

Tới gần nhìn vào cửa sổ thấy ba người đang uống rượu bên trong, ghế trên là một người Tú tài tuổi khoảng ba mươi, ghế dưới là một ông già, ghế bên cạnh chính là người thổi tiêu, trẻ tuổi nhất.

Dứt khúc tiêu, ông già vỗ tay khen hay, người Tú tài thì nhìn vào vách trầm tư tựa hồ không hề nghe thấy.

Ông già nói:

- Lô Thập huynh ắt đã có thơ hay, xin ngâm lớn lên cho ta được nghe với.

Người Tú tài bèn ngâm:

Mãn giang phong nguyệt lãnh thê thê

Sấu thảo linh hoa hóa tác nê

Thiên lý vân sơn phi bất đáo

Mông hồn dạ dạ Trúc Kiều tê (tây).

Dịch:

(Trăng gió đầy sông lạnh tịch liêu

Hoa rơi cỏ úa cảnh tiêu điều

Quê nhà ngàn dặm bay không tới

Hồn mộng đêm đêm cạnh Trúc Kiều).

Tiếng ngâm rất ai oán, ông già cười nói:

- Lô Thập huynh cứ làm ra vẻ buồn rầu.

Rồi lấy chén lớn rót rượu, nói:

- Lão phu không thể họa thơ, xin hát để đưa cay vậy.

Liền hát bài:

- Rượu ngon Lan Đình~ ...

Lát xong mọi người đều vui vẻ.

Thiếu niên đứng lên nói:

- Ta ra xem trăng lặn tới đâu rồi!

Rồi sấn sổ bước ra, nhìn thấy khách vỗ tay nói:

- Ngoài này có người, bọn ta ngông cuồng bị bắt gặp rồi.

Liền kéo khách vào, Lương Tự chào hỏi mọi người xong, ông già bảo ngồi đối diện với thiếu niên.

Lương Tự nâng ly rượu nhắp thử thấy lạnh ngắt, từ chối không uống.

Thiếu niên biết ý lập tức đứng dậy, vơ cỏ rơm hâm nóng bưng lên, Lương Tự cũng sai người hầu lấy tiền đi mua rượu nhưng họ cố ngăn lại.

*[Rượu ngon Lan Đình..": nguyên văn là "Lan Đình mỹ tửu" tức "Lan Đình mỹ tửu uất kim hương", câu trong bài Khách trung hành của Lý Bạch thời Đường].

Nhân hỏi tên họ quê quán, Lương Tự nói hết về mình, ông già kính cẩn nói:

- Đó là quê cha mẹ ta, ta họ Giang tên Thiếu Quân, sinh trưởng ở đây.

Kế chỉ thiếu niên nói:

- Đây là Đỗ Dã Hầu ở Giang Tây!

Lại chỉ người Tú tài nói:

- Lô Thập huynh đây là đồng hương với ông.

Lô nhìn Lương Tự có vẻ ngạo nghễ vô lễ, Lương Tự nhân hỏi:

- Nhà ông ở làng nào, thi tài như thế mà sao ta không được nghe ai nói?

Tú tài đáp:

- Xa nhà đã lâu, họ hàng cũng không ai biết, nghĩ thật đáng buồn, không muốn nói ra.

Ông già xua tay rối lên nói:

- Gặp được khách quý, không có tửu lệnh thì cứ ăn nói lằng nhằng như thế, nghe chán lắm.

Rồi nâng chén uống một mình, kế nói:

- Ta có một cái lệnh xin mọi người cùng làm theo, ai không làm được sẽ bị phạt.

Cứ gieo ba hột xúc xắc, lấy chữ "Tương phùng" làm lệnh, lại phải có một khúc hát cổ phù hợp.

Rồi gieo được ba mặt nhất nhị tam, bèn đọc:

- Tam thêm nhị nhất cũng tương đồng.

Xôi nếp ba năm hẹn Phạm công (1) mừng bè bạn tương phùng.

Kế tới thiếu niên gieo được hai mặt nhị một mặt tứ, nói:

- Người không đọc sách thì chỉ hát khúc dân dã, xin chớ cười.

Tứ thêm hai nhị cũng tương đồng, Bốn người gặp gỡ ở thành đông (2), mừng huynh đệ tương phùng.

Lô gieo được hai mặt nhất một mặt nhị, đọc:

- Nhị thêm hai nhất cũng tương đồng, Lữ Hướng hai tay ôm lão ông (3), mừng phụ tử tương phùng.

Lương Tự gieo cũng được như Lô, đọc:

- Nhị thêm hai nhất cũng tương đồng, Mao Dung hai chén đãi Lâm Tông (4) mừng chủ khách tương phùng.

(1) Xôi nếp ba năm hẹn Phạm công: lấy tích Trương Thiệu thời Hán vào nhà Thái học, chơi thân với Phạm Thúc.

Khi về, Thúc hẹn ba năm sẽ tới làm lễ ra mắt mẹ Thiệu.

Gần đến ngày hẹn, Thiệu thưa với mẹ xin giết gà đồ xôi để đợi, mẹ nói "Xa cách ba năm, hẹn nhau ngàn dặm, sao con tin quá thế!".

Đến ngày hẹn quả nhiên Thúc tới.

Đây ông già có ý nói Lương Tự là bạn quý của mình.

(2) Bốn người gặp gỡ ở thành đông: lấy tích ba anh em kết nghĩa Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi thời Hán thua trận lạc nhau mỗi người một nơi, sau Quan Vũ biết anh còn sống bèn từ giã Tào Tháo di tìm anh, cuối cùng ba người gặp nhau ở Cổ Thành, lại được thêm Triệu Vân.

Đây thiếu niên có ý nói Lương Tự là anh em với mình.

(3) Lữ Hướng hai tay ôm lão ông: lấy tích Lữ Hướng thời Tấn có cha đi xa mấy năm không về, sau nghe đồn cha còn sống nhưng Hướng đi tìm kiếm khắp nơi suốt mấy năm không gặp.

Sau Hướng thi đỗ làm quan, một hôm từ triều ra gặp một ông già, nhìn kỹ thì đúng là cha mình, vội xuống ngựu ôm chân cha khóc ròng rồi đón về nhà.

Đây Lô có ý nói Lương Tự là con mình.

(4) Mao Dung hai chén đãi Lâm Tông: lấy tích Mao Dung thời Hán chơi với Quách Thái tự Lâm Tông, Thái tới nhà Dung chơi ngủ lại, sáng ra thấy Tông giết gà làm cơm, nghĩ rằng là để đãi mình, kế Dung bưng thịt gà lên mời mẹ, còn mình dọn rau ăn chung với Thái, Thái phục là hiền.

Đây Lương Tự có ý nói tuy mình với ba người kia là bạn, nhưng còn có phận sự của kẻ làm con nên phải ra về.

Xong lệnh Lương Tự cáo từ ra về, Lô mới đứng lên nói:

- Là người quê cũ, chưa kịp trò chuyện gì nhiều, sao từ biệt sớm thế.

Ta còn có chuyện muốn hỏi, xin nán lại thêm một lúc.

Lương Tự bèn ngồi xuống, hỏi chuyện gì, Lô đáp:

- Ta có người bạn già chết đuối ở hồ Động Đình, có họ hàng gì với ông không?

Lương Tự đáp:

- Đó là cha ta, sao ông biết được?

Lô đáp:

- Lúc trẻ chơi thân với nhau, lúc ông ấy chết chỉ có ta nhìn thấy nên đã thu hài cốt chôn ở bờ sông.

Lương Tự rơi lệ quỳ lạy xin chỉ mộ ở đâu, Lô nói:

- Sáng mai tới đây ta sẽ chỉ cho, cũng dễ nhận thôi, cứ ra cách đây mấy quãng, cứ thấy trên mộ có khóm lau rậm gồm mười cây là đúng.

Lươug Tự khóc ròng cáo từ mọi người, về tới thuyền cả đêm không ngủ được.

Lại sực nhớ tới lời lẽ thái độ của Lô như đều có duyên do, sốt ruột không chờ được, mờ sáng trở lại chỗ đó thì không thấy nhà cửa gì cả, vô cùng khiếp sợ.

Kế ra chỗ Lô nói tìm quả nhiên thấy một ngôi mộ trên có khóm lau rậm, đếm thì đúng có mười cây, sực hiểu rằng cái tên Lô Thập huynh là có ngụ ý, người mình gặp chính là hồn cha.

Hỏi kỹ dân ở đó thì hai mươi năm trước vùng này có ông họ Cao giàu có hay làm điều lành, ai chết đuối đều tìm vớt thây chôn cất cho, nên có mấy ngôi mộ ở đây.

Bèn quật mộ thu lượm hài cốt trở lại thuyền, về nói với bà nội, hỏi lại nét mặt tướng mạo thì đều đúng.

Đỗ Dã Hầu ở Giang Tây chính là anh con cô con cậu với Lương Tự, năm mười chín tuổi chết đuối trên sông, sau đó người cha tới lưu ngụ ở Giang Tây.

Lại chợt nghĩ ra rằng sau khi Đỗ phu nhân chết thì chôn ở phía tây Trúc Kiều, nên trong bài thơ của cha mới có câu cuối như vậy, chỉ không rõ ông già kia là ai mà thôi.

____________________________________

CHƯƠNG 219: VƯƠNG QUẾ AM

Mã Hoa Anh Hạ Trúc Li Tà

Mộng Cảnh Tầm Lai Lộ Bất Xoa

Tái Đắc Mỹ Nhân Giang Thượng Khứ

Cựu Đình Khiêu Xú Lãng Như Hoa

Dịch:

Hoa Mã Anh Bên Giậu Trúc Tà

Lại Tìm Cảnh Mộng Lối Không Xa

Trên Sông Chở Được Luôn Người Đẹp

Chốn Cũ Neo Thuyền Sóng Tựa Hoa



Vương Cao tự Quế Am là con nhà thế gia ở phủ Đại Danh (tỉnh Hà Bắc), đi chơi xuống miền nam, ghé thuyền vào bờ sông.

Trong thuyền bên cạnh có cô gái ngồi thêu giày, xinh đẹp tuyệt trần.

Vương nhìn chằm chằm hồi lâu mà nàng như vẫn không hay biết.

Vương ngâm nga:

- Cô gái Lạc Dương nhà trước cửa.

Cố ý để nàng nghe, cô gái như hiểu là vì mình, khẽ ngẩng đầu liếc qua rồi cúi xuống thêu như cũ.

Vương tâm thần càng điên đảo, lấy một thoi vàng từ xa thảy tới trúng vạt áo cô gái, nàng cầm lên ném đi như không biết đó là vàng.

Thoi vàng rơi lên bờ, Vương nhặt về rồi lại thảy một cái vòng vàng rơi xuống dưới chân cô gái, nàng vẫn tiếp tục thêu không nhìn tới.

Không bao lâu người nhà thuyền trở về, Vương sợ ông ta nhìn thấy cái vòng cân vặn con gái, vô cùng nóng ruột, nhưng cô gái ung dung nhấc đôi hài giẫm lên che đi.

Người nhà thuyền cởi dây thuận dòng chèo đi, Vương tâm tình chán nản ngồi ngẩn ra nghĩ vẩn vơ.

Lúc ấy Vương vừa cưới vợ thì vợ chết nên hối hận vì không lập tức nghĩ tới việc nhờ người mai mối.

Bèn hỏi thăm các thuyền chung quanh nhưng họ đều không biết họ tên cô gái, liền cho quay thuyền đuổi gấp theo, nhìn ngó mỏi mắt mà thuyền kia mất hút không biết đi về đâu.

Vương bất đắc dĩ phải cho quay thuyền xuôi nam, việc xong trở ra bắc, dọc đường hỏi thăm hai bên bờ rất kỹ nhưng không hề có tin tức gì, về tới nhà rồi lúc ăn lúc ngủ đều tơ tưởng tới nàng.

*[Cô gái Lạc Dương nhà trước cửa: nguyên văn là "Lạc Dương nữ nhi đối môn cư" câu trong bài Lạc Dương nữ nhi hành của Vương Duy thời Đường].

Qua năm sau Vương lại đi xuống phía nam, mua một chiếc thuyền ở hẳn trên đó, ngày ngày nhìn ngó những thuyền bè qua lại, thuộc cả cánh buồm bánh lái nhưng chiếc thuyền năm xưa vẫn bặt tăm.

Được nửa năm hết tiền đành quay về, ra tưởng vào nhớ không buồn làm việc gì cả.

Một đêm nằm mơ thấy tới một làng ven sông, đi qua mấy ngõ thấy một căn nhà cánh cổng bằng tre quay về hướng nam, phía trong có giậu trúc thưa, cho là vườn hóng mát liền lần vào.

Thấy có một gốc dạ hợp đầy dây tơ hồng phủ kín, nghĩ thầm thật đúng với câu thơ: "Mã anh trước cổng gốc đầy hoa".

Đi thêm vài chặng, thấy giậu tường vi tươi tốt lại lần vào, thấy phía bắc có căn nhà ba gian, hai cánh cửa khép kín, phía nam có gian nhà nhỏ, lá chuối che khuất cửa sổ, thò đầu vào nhìn thấy ngay cửa có cái giá áo trên treo chiếc quần hoa, biết là phòng đàn bà con gái vội vàng lui ra.

Nhưng bên trong đã biết, có một người chạy ra nhìn khách, môi son má phấn, chính là cô gái trong thuyền năm xưa.

*[Mã anh trước cổng gốc đầy hoa: nguyên văn là "Môn tiền nhất thụ mã anh hoa", câu trong bài Bàn Đường giang thượng thị nùng gia của Thủy Tiên Thần thời Thanh].

Vương quá mừng rỡ bật kêu lên:

- Cũng còn có lúc gặp nhau sao?

Đang định bước tới ôm lấy thì cha nàng vừa về tới, giật mình tỉnh dậy mới biết là nằm mơ.

Nhưng vẫn nhớ rõ ràng cảnh vật đã thấy, giữ kín sợ nói ra cho người khác biết thì hỏng mất giấc mộng đẹp.

Hơn năm sau Vương lại tới Trấn Giang, phía nam quận có quan Thái bộc họ Từ vốn là thế giao mời Vương tới uống rượu.

Vương phóng ngựa đi, lạc vào một thôn nhỏ, thấy đường sá cảnh vật quen quen như từng tới rồi, trong một cánh cổng cũng có một gốc mã anh sờ sờ, phát hoảng vứt roi xuống ngựa lần vào thì cảnh sắc chung quanh không khác gì trong giấc mơ năm trước.

Lại đi vào nữa thì nhà cửa phòng ốc cũng giống hệt, biết giấc mơ đã nghiệm bèn không nghĩ ngợi gì nữa, đi thẳng vào gian nhà phía nam.

Cô gái trong thuyền năm xưa quả đang ở đó, vừa nhìn thấy Vương từ xa đã giật mình đứng lên núp sau cánh cửa quát hỏi là đàn ông ở đâu?

Vương rụt rè bước tới, vẫn còn ngờ là đang nằm mơ, cô gái nghe tiếng bước chân tới gần liền đóng sầm cửa lại.

Vương nói:

- Nàng không nhớ người ném cái vòng sao?

Rồi kể lể nỗi khổ nhớ nhung, thuật lại cả giấc mơ.

Cô gái bên trong cánh cửa hỏi vọng ra về gia thế, Vương nói rõ hết.

Cô gái nói:

- Đã là dòng dõi nhà quan thì thiếu gì giai nhân, cần gì tới thiếp?

Vương đáp:

- Nếu không vì nàng thì ta đã cưới vợ lâu rồi.

Cô gái nói:

- Nếu đúng như thế thì đủ biết lòng chàng rồi.

Nông nỗi này thiếp không thể thưa với cha mẹ, nhưng thật ra cũng đã cãi lời mà chối từ mấy người tới dạm hỏi rồi.

Cái vòng vàng vẫn còn đây, vẫn nghĩ nếu là người chung tình ắt sẽ tìm hỏi cho ra tin tức.

Hiện nay cha mẹ qua thăm bên ngoại cũng sắp về, chàng cứ về nhờ mai mối tới hỏi, chắc chắn là được.

Còn nếu muốn nên đôi lứa trái lễ thì tính sai rồi đấy.

Vương thảng thốt quay ra, cô gái gọi với theo nói:

- Vương lang, thiếp tên Vân Nương, họ Mạnh, cha thiếp tự là Giang Ly.

Vương ghi nhớ rồi đi.

Xong tiệc ở nhà Thái bộc, Vương vội quay về xin gặp ông Giang Ly, ông đón vào mời ngồi bên giậu trúc.

Vương kể gia thế, kế ngỏ ý rồi đưa ngay ra trăm lượng vàng nộp sính lễ.

Ông nói:

- Con ta đã hứa gả rồi!

Vương nói:

- Ta đã hỏi đích xác là chưa nhận lời ai, sao ông cự tuyệt thẳng thừng như vậy?

Ông đáp:

- Vừa nhận lời xong, thật không dám nói dối.

Vương bàng hoàng thẫn thờ chào về, không biết có đúng thế không, đêm ấy cứ trằn trọc, tiếc là không có ai làm mai mối cho.

Trước đã định nhờ Thái bộc, nhưng sợ cưới con nhà thuyền bị ông cười, nay việc đã gấp không biết nhờ ai, sáng ra đành tới gặp Thái bộc thưa thật lại chuyện.

Thái bộc nói:

- Ông ấy có họ hàng với ta, là cháu đích tôn của bà ngoại ta, sao không nói sớm?

Lúc ấy Vương mới kể rõ ẩn tình, Thái bộc ngờ vực nói:

- Giang Ly tuy nghèo nhưng không làm nghề chèo thuyền để sống, có lầm không đấy?

Bèn sai con trai là Đại lang tới nhà ông Mạnh, ông Mạnh nói:

- Ta tuy nghèo nhưng không phải là kẻ bán con gái.

Mới rồi công tử đem vàng tới tự làm mối, có lẽ cho rằng ta thấy lợi sẽ động lòng, nên ta không dám hứa gả.

Nay đã có lệnh của tiên sinh, ắt không có chuyện sai quấy ngang trái, nhưng con bé bướng bỉnh nhà ta cậy được nuông chiều, từ chối nhiều nhà giàu sang rồi, phải bàn lại với nó để về sau nó khỏi oán là phải lấy chồng xa.

Rồi đứng dậy vào nhà trong, giây lát trở ra chắp tay xin nhận lời, hẹn ngày cưới rồi chia tay.

Đại lang về báo lại, Vương bèn sửa soạn đồ lễ rất hậu đưa tới nhà Mạnh nộp sính lễ, mượn nhà Thái bộc đón dâu làm lễ cưới.

Được ba ngày Vương từ biệt nhạc gia về bắc, đêm ngủ trong thuyền hỏi Vân Nương rằng:

- Trước đây gặp nàng ở chỗ ấy, ta đã ngờ không phải là con nhà thuyền, hôm ấy nàng ngồi thuyền đi đâu?

Vân Nương đáp:

- Nhà chú thiếp ở bờ bắc sông, hôm ấy thiếp chỉ tình cờ mượn thuyền đi ngắm cảnh thôi.

Nhà thiếp chỉ tạm đủ ăn nhưng không coi trọng loại tiền bạc đột nhiên mà có, thật đáng cười chàng hai mắt chỉ nhỏ bằng hạt đậu, mấy lần đem vàng ra mong làm người ta xiêu lòng.

Khi vừa nghe tiếng ngâm thơ đã biết chàng là bậc văn sĩ phong nhã nhưng cũng còn ngờ là kẻ phóng đãng đi tìm loại đàn bà hư hỏng.

Nếu để cho cha thấy cái vòng ấy thì chàng cứ gọi là chết không có đất chôn, lòng thiếp mến tài như thế tha thiết đấy chứ.

Vương cười nói:

- Nàng sâu sắc lắm, nhưng cũng mắc kế của ta rồi.

Vân Nương hỏi là chuyện gì, Vương không đáp, nàng hỏi gặng mãi mới nói:

- Sắp tới nhà rồi, chuyện này không thể giấu được mãi nên nói thật với nàng ta đã có vợ ở nhà, là con gái Thượng thư họ Ngô.

Vân Nương không tin, Vương làm ra vẻ nghiêm trang như thật, nàng biến sắc im lặng hồi lâu rồi chợt vùng dậy lao ra ngoài.

Vương lật đật đuổi theo ra thì nàng đã gieo mình xuống sông rồi.

Vương la lớn, thuyền bè quanh đó náo động nhưng đêm tối mịt mùng, trên mặt sông chỉ còn toàn là bóng sao lung linh.

Vương đau xót khóc lóc suốt đêm, thả thuyền theo ven sông trả tiền thật hậu thuê người tìm kiếm thi hài nhưng không thấy đâu, rầu rĩ về nhà, vừa đau thương vừa buồn tủi.

Lại lo cha vợ tới thăm con gái thì không biết ăn nói ra sao, nhân có người anh rể làm quan ở Hà Nam bèn sai đánh xe tới chơi, hơn một năm mới về.

Giữa đường gặp mưa, trú lại trong một nhà dân, thấy phòng xá sạch sẽ, có bà già đang chơi với một đứa nhỏ trong phòng.

Đứa nhỏ thấy Vương vào lập tức giơ tay đòi bế, Vương lấy làm lạ nhưng thấy kháu khỉnh dễ thương bèn đặt nó lên đầu gối, bà già gọi mà nó không chịu rời ra.

Lát sau tạnh mưa, Vương nhấc đứa nhỏ lên đưa cho bà già, bước ra chuẩn bị lên đường, đứa nhỏ khóc kêu:

- Cha đi mất rồi!

Bà già ngượng ngùng, quát mắng mà nó không chịu nín đành bế xốc đi chỗ khác.

Vương đang ngồi chờ sửa soạn xe kiệu, chợt có một cô gái đẹp từ sau bình phong bế đứa nhỏ bước ra, chính là Vân Nương.

Vương đang sửng sốt thì Vân Nương mắng:

- Gã bạc tình kia!

Để lại một cục thịt này làm gì?

Lúc ấy Vương mới biết đó là con mình, trong lòng chua xót áy náy, chưa hỏi việc nàng vừa qua lưu lạc thế nào, cứ phân trần rằng trước đây chỉ là nói đùa, thề độc để bày tỏ, Vân Nương mới đổi tức giận thành buồn thương, nhìn nhau rơi nước mắt.

Trước là ông Mạc chủ nhà này sáu mươi tuổi mà không có con trai, đưa vợ tới chùa Quan âm cầu tự trở về, trên đường ghé vào bờ sông, vừa gặp lúc Vân Nương bị sóng cuốn chạm vào thuyền.

Ông Mạc sai người vớt lên cứu chữa suốt đêm mới tỉnh lại.

Hai ông bà thấy nàng xinh đẹp mừng lắm, coi như con ruột, đưa luôn về nhà.

Được vài tháng định gả chồng cho nhưng nàng không chịu, qua mười tháng nàng sinh được một con trai đặt tên là Ký Sinh, lúc Vương vào nhà ấy trú mưa thì Ký Sinh mới được đầy năm.

Vương lập tức cởi hành lý vào lạy ông bà Mạc, nhận nhau làm cha mẹ vợ và con rể.

Ở lại vài ngày Vương mới đưa cả gia đình về, tới nhà thì ông Mạnh tới đợi đã hai tháng.

Khi ông mới tới, thấy bọn tôi tớ trong nhà ấp úng sợ sệt rất lạ lùng ngờ vực, gặp con rồi mới vui vẻ khoan khoái, đến khi nghe kể lại mọi việc mới biết sở dĩ họ có vẻ khác lạ là vì như thế.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 220+221


CHƯƠNG 220: KÝ SINH

Phụ Ký Chung Tình Tử Cánh Si

Mộng Hồn Điên Đảo Hệ Tương Ti (Tư)

Họa Bình Khai Xứ Song Điêu Xạ

Đắc Ý Ngâm Thành Khước Phiến Thi

Dịch:

Cha Đã Chung Tình Con Lại Si

Mộng Hồn Điên Đảo Mắc Tương Ti

Họa Bình Nhằm Bắn Song Điêu Trúng

'Khước Phiến' Ngâm Thành Đắc Ý Thi



Ký sinh tự Vương Tôn là danh sĩ trong quận.

Cha mẹ thấy lúc còn nằm tã mà biết nhận ra cha, cho rằng có trí tuệ trời cho nên rất yêu thương.

Lớn lên càng tuấn tú, tám chín tuổi đã biết làm văn, mười bơn tuổi được vào học trường huyện, thường có ý tự mình chọn vợ.

Cha là Quế Am có em gái tên Nhị Nương, gả cho Tú tài Trịnh Tử Kiều sinh được một gái là Khuê Tú, thông minh xinh đẹp không ai sánh kịp.

Vương Tôn trông thấy thầm yêu, ngày càng thiết tha nhung nhớ, lâu ngày bỏ cả ăn uống, cha mẹ lo lắng gạn hỏi mãi mới chịu nói thật.

Cha nhờ người mai mối qua gặp Trịnh, nhưng Trịnh tính mực thước khuôn phép, ngại là con cô con cậu ruột nên từ chối.

Nhưng Vương Tôn bệnh càng nặng thêm, mẹ không biết làm sao bèn ngầm ngỏ ý với Nhị Nương, chỉ xin cho Khuê Tú tới thăm một lần để con đỡ bệnh, Tnnh nghe thế càng tức giận, nói ra những lời không hay, cha mẹ đã tuyệt vọng nên chỉ đành chịu trận mà thôi.

*[Ngại là con cô con cậu ruột nên từ chối: tục Trung Hoa ngày xưa con cô con cậu có thể được cưới nhau vì khác họ, nhưng thường là đã qua một đời (con cô con cậu họ)].

Trong quận có họ Trương là nhà vọng tộc, có năm con gái đều xinh đẹp, nàng nhỏ nhất tiểu đanh là Ngũ Khả đẹp nhất còn chưa gả chồng.

Một hôm nàng đi tảo mộ giữa đường gặp Vương Tôn, ngồi trong kiệu nhìn ra, về kể cho mẹ.

Mẹ dò biết ý tìm gặp bà mối họ Vu úp mở nói chuyện, bà mối bèn tới nhà Vương.

Lúc ấy Vương Tôn đang bệnh, bà ta hỏi han biết chuyện bèn cười nói:

- Bệnh ấy thì già này chữa được!

Vân Nương hỏi sao nói thế, bà ta kể ý họ Trương, lại tán tụng Ngũ Khả xinh đẹp.

Vân Nương mừng rỡ, bảo bà ta qua thăm Vương Tôn.

Bà ta vào vỗ về Vương Tôn kể lại, Vương Tôn lắc đầu nói:

- Thầy thuốc ấy không hợp với chứng bệnh này, làm sao được.

Bà ta cười nói:

- Chỉ cần hỏi thầy thuốc giỏi hay không thôi, nếu là thầy giỏi thì dùng phương hòa hoãn cũng được, chứ cứ nhất định mời cho được thầy nào đó rồi thà chết để đợi thì há không phải là ngây sao?

Vương Tôn thở dài nói:

- Nhưng thầy thuốc trên đời không ai kê được phương hòa hoãn cho ta đâu.

Bà ta nói:

- Sao mà kiến văn hẹp hòi thế?

Rồi thì mắt mũi tóc da, thần thái dáng điệu của Ngữ Khả đều khoa tay múa chân tả lại.

Vương Tôn lại lắc đầu nói:

- Thôi bà đừng nói nữa, người ấy thì ta không mong ước tới.

Rồi quay mặt vào vách không nghe nữa, bà ta thấy không lay chuyển được bèn bỏ về.

Một hôm Vương Tôn đang nằm thiêm thiếp chợt một tỳ nữ bước vào nói:

- Người công tử mơ ước tới đây này?

Mừng quá nhảy chồm dậy, vội vàng bước ra khỏi phòng thì giai nhân đã vào tới trong sân nhưng nhìn kỹ lại thì không phải Khuê Tú.

Thấy nàng mặc áo khoác màu vàng, quần thêu gấp nếp nhỏ, hé lộ hai mũi giày cong vút chẳng khác gì thần tiên.

Vái chào hỏi tên họ, nàng đáp:

- Thiếp là Ngũ Khả.

Chàng có tình sâu nặng mà chỉ hướng về một mình Khuê Tú khiến người khác bất bình.

Vương Tôn tạ lỗi, nói:

- Bình sinh chưa thấy dung nhan nên trong mắt chỉ có một mình Khuê Tú, nay đã biết lỗi rồi.

Rồi định cùng nhau thề thốt, vừa nắm tay đắm đuối thì mẹ vào vỗ về, sực tỉnh, thì ra là nằm mơ.

Nhớ lại nét mặt tiếng cười vẫn như rành rành trước mắt, thầm nghĩ nếu quả Ngũ Khả đúng như trong giấc mộng thì cần gì phải mong ước người khó gặp gỡ kia nữa.

Nhân đó kể lại giấc mơ cho mẹ nghe, mẹ mừng thấy con đã hơi bỏ ý cũ vội định nhờ người làm mối.

Vương Tôn sợ là nằm mơ thấy đẹp khác hơn người thật, bèn nhờ bà già láng giềng vốn quen họ Trương tìm cớ tới nhà, dặn ngầm nhìn mặt Ngũ Khả.

Bà già tới thì Ngũ Khả đang ốm, tựa gối chống cằm, dáng vẻ yêu kiều không ai sánh kịp.

Bà già tới gần hỏi thăm đau ốm thế nào, nàng chỉ im lặng mân mê thắt lưng không nói một tiếng, người mẹ đáp thay:

- Có bệnh gì đâu, suốt sáng giận hờn cha mẹ đấy.

Bà già hỏi duyên cớ, người mẹ đáp:

- Ai tới dạm hỏi cũng không ưng, cứ đòi phải được như Ký Sinh nhà họ Vương mới chịu lấy, mẹ thấy nóng ruột khuyên nhủ thì hờn dỗi bỏ cơm mấy hôm nay.

Bà già cười nói:

- Cô nương đây mà lấy Vương lang thì đúng là người ngọc thành đôi, mà nếu Vương lang không gặp được Ngũ nương e cũng sẽ khô héo mà chết.

Ta về rồi sẽ nhờ người mai mối tới ngay, có được không?

Ngũ Khả ngắt lời nói:

- Bà đừng làm thế, sợ không thành thì ta càng bị chê cười thêm.

Bà già hăng hái tự nhận quyết sẽ làm cho việc phải thành, Ngũ Khả mới mỉm cười.

Bà già về tả lại, nhất nhất đều như bà mối đã nói.

Vương Tôn hỏi kỹ về y phục thì đều ăn khớp với giấc mơ, cả mừng, tâm tình thư thái dần nhưng rốt lại vẫn chưa dám tin chắc vào lời người khác nói.

Vài hôm sau đỡ bệnh, ngầm gọi bà mối họ Vu tới bảo tìm cách cho mình được nhìn thấy Ngũ Khả một lần, bà ta thấy khó nhưng cũng vâng dạ rồi về.

Lâu không thấy tới, đang định đi tìm thì bà ta chợt hớn hở tới nói:

- Có cơ hội rồi đây.

Vài hôm nay Ngũ Khả khó ở, ngày nào cũng sai đám tớ gái dìu ra sân đi dạo, công tử cứ tới núp chờ.

Ngũ nương đi rất chậm, có thể nhìn kỹ được.

Vương Tôn mừng rỡ theo lời, sáng hôm sau sai thắng ngựa đi sớm, tới nơi thì bà mối đã đứng chờ sẵn, bảo buộc ngựa vào gốc cây trong thôn rồi dẫn vào một nhà gần đường, thu xếp chỗ cho ngồi rình xong, đóng cửa bỏ đi.

Giây lát quả nhiên Ngũ Khả dựa tỳ nữ bước ra, Vương Tôn từ trong khe cửa nhìn chằm chằm, cô gái đi ngang qua cửa, bà mối lại cố ý chỉ cho xem cảnh vật này nọ để giữ chân nàng.

Vương Tôn nhìn lén thấy rõ cả, mường tượng như lại đang nằm mơ, mừng quá run lên không kìm được.

Lát sau bà mối tới hỏi:

- Thấy Khuê Tú được chứ?

Vương Tôn cảm tạ rồi về.

Lúc ấy mới thưa với cha mẹ, nhờ mai mối qua dạm hỏi, nhưng qua tới thì Ngũ Khả đã hứa gả cho người khác rồi.

Vương Tôn thất ý, rầu rĩ muốn chết, lập tức trở bệnh lại.

Cha mẹ lo quá, trách con nông nổi.

Vương Tôn không đáp, mỗi ngày chỉ hớp một ngụm cháo, được vài tháng chỉ còn da bọc xương, so với trước kia càng nặng hơn.

Bà mối chợt tới, kinh ngạc hỏi:

- Sao yếu đến thế?

Vương Tôn sa lệ kể lại sự tình.

Bà mai cười nói:

- Công tử đúng là ngây, hôm trước người ta theo thì nhất định chối từ, hôm nay muốn mong cầu người ta là được toại nguyện ngay sao?

Nhưng cũng còn có thể cố sức làm được, chỉ cần bàn tính với già này sớm, thì cho dù đã hứa gả cho hoàng tử con vua ta cũng giành lại được mà!

Vương Tôn cả mừng hỏi cách, bà ta bảo viết thư sai người đưa đi, hẹn hôm sau sẽ tới chờ ở nhà họ Trương.

Quế Am sợ đường đột sẽ bị cự tuyệt, bà ta nói:

- Hôm trước ông Trương đã nói ưng thuận rồi, vì dằng dai mấy hôm nên ông ta đổi ý, nhưng tuy hứa gả cho nhà khác vẫn chưa có thư làm bằng.

Lời ngạn có câu Nấu trước được ăn sớm, còn ngần ngại gì nữa.

Quế Am bèn nghe theo.

Hôm sau sai hai người gia nhân đưa thư qua không thấy nói gì khác, được thưởng hậu trở về.

Vương Tôn mừng, lập tức khỏi bệnh, từ đó hết nhớ nhung Khuê Tú.

Trước kia Trịnh Tử Kiều từ chối sính lễ, Khuê Tú đã bực tức, đến khi nghe việc cưới gả với họ Trương đã thành, lòng càng uất ức, thẫn thờ như bị bệnh, càng ngày càng võ vàng, cha mẹ hỏi thì không dám nói.

Đứa tỳ nữ biết ý lén nói với bà mẹ, Trịnh biết chuyện tức giận, không mời thầy thuốc, định bỏ cho chết.

Nhị Nương bực tức nói:

- Cháu trai ta cũng không có gì xấu, sao cứ khư khư giữ thói hủ nho mà giết chết con gái cưng của mình?

Trịnh giận dữ nói:

- Con gái của bà chết sớm càng tốt, khỏi bị chê cười.

Từ đó vợ chồng bất hòa.

Nhị Nương cố nói với con gái rằng thế nào cũng gả nàng cho Vương Tôn, coi như vợ lẽ cũng được.

Cô gái cúi đầu không đáp, như rất bằng lòng.

Nhị Nương bàn với Trịnh, Trịnh nghe càng nổi nóng, mặc kệ cho Nhị Nương lo coi con gái như chết rồi, không cần biết tới nữa.

Nhị Nương rất thương con, nhất định làm như đã nói, cô gái vui mừng mới dần dần khỏi bệnh.

Bèn ngầm hỏi dò ngày Vương Tôn đón dâu, tới hôm ấy lấy cớ sắp đám cưới cháu trai, giả về thăm nhà.

Trời chưa sáng đã sai người qua nhà anh mượn xe kiệu, Quế Am rất yêu quý em gái, lại vì hai nhà cũng gần nên sai lấy xe ngựa chuẩn bị để rước dâu đi đón Nhị Nương trước.

Xe kiệu tới nơi, Nhị Nương trang điểm cho con gái rồi bảo lên xe, sai hai người tớ trai và hai bà già đưa đi, tới nơi thì trải thảm lông từ cổng mà vào.

Lúc ấy đàn sáo đã tề tựu đông đủ, người tớ trai cao giọng sai cử nhạc, mọi người huyên náo cả lên một lượt.

Vương Tôn nhào ra xem thì cô gái đã lấy khăn hồng che kín mặt, khiếp sợ toan bỏ chạy thì hai người tớ trai nhà họ Trịnh xốc nách đỡ ra bảo làm lễ giao bái.

Vương Tôn chẳng hiểu vì sao nhưng cũng lập tức vái lạy, kế hai bà già dìu cô gái đi thẳng vào phòng tân hôn, lúc ấy mới biết đó là Khuê Tú.

Cả nhà phát hoảng không biết làm sao, trời đã xế chiều, Vương Tôn không dám làm lễ rước dâu nữa.

Quế Am sai đầy tớ qua kể sự tình với Trương, Trương nổi giận muốn tuyệt hôn luôn, Ngũ Khả không chịu, nói:

- Người kia tuy tới trước nhưng chưa có mai mối sính lễ, chi bằng cứ nhắn bên kia qua rước dâu.

Cha cho là đúng, nói với người đầy tớ, người ấy về thưa lại nhưng Quế Am vẫn không dám theo lời, nhăn nhó nhìn nhau không biết nên mừng hay nên giận.

Trương chờ đợi hồi lâu biết họ Vương không rước dâu, bèn cũng đem xe kiệu đưa Ngũ Khả tới.

Vì vậy phải bày một phòng tân hôn khác, mà Vương Tôn ở giữa muốn chu toàn cứ qua lại cả hai nơi không biết ngủ đâu.

Mẹ bèn đứng giữa điều đình, sai lấy tuổi lớn nhỏ mà sắp vai vế, hai nàng đều vâng lời.

Đến khi Ngũ Khả nghe Khuê Tú hơi lớn hơn, phải gọi bằng chị thì tỏ vẻ khó chịu, mẹ rất lo lắng.

Ba hôm sau cùng tới phòng mẹ, thấy Khuê Tú dung mạo đẹp đẽ, thái độ đường hoàng lấy làm kính trọng, từ đó vai vế mới định.

Tuy nhiên cha mẹ vẫn lo lâu ngày sẽ không hòa thuận được với nhau, nhưng hai nàng không hề có điều tiếng gì, áo quần giày dép cũng dùng chung, yêu mến nhau như chị em ruột vậy.

Vương Tôn bấy giờ mới hỏi Ngũ Khả vì sao từ khước mai mối, nàng cười đáp:

- Chẳng vì sao cả, chỉ là để trả thù chàng cự tuyệt bà Vu thôi.

Lúc chưa gặp thiếp, thì trong lòng chỉ biết có Khuê Tú, lúc thấy rồi thiếp cũng làm khó một chút xem ý chàng đối với thiếp và Khuê Tú hơn kém nhau thế nào.

Nếu chàng bệnh vì người ta mà chẳng bệnh vì thiếp thì cũng không nên ép uổng phải sum họp.

Vương Tôn cười nói:

- Trả thù như thế cũng thảm độc đấy.

Nhưng nếu không có bà Vu thì làm sao ta được thấy mặt hoa một lần.

Ngũ Khả nói:

- Đó là tự thiếp muốn cho chàng thấy, chứ bà ta làm sao tính được.

Lúc đi ngang căn nhà ấy thiếp há lại không biết người đang ở trong nhìn ra chằm chằm là ai sao?

Từng hẹn nhau trong mộng rồi, thì còn gì mà chưa tin nữa chứ?

Vương Tôn kinh ngạc hỏi sao biết, nàng đáp:

- Lúc bệnh nằm mơ thấy tới nhà chàng, vẫn nghĩ là mộng mị quàng xiên, sau nghe nói chàng cũng nằm mơ, thiếp mới biết hồn phách có thể làm được như vậy.

Vương Tôn lấy làm lạ, nàng bèn kể lại giấc mơ, ngày giờ đều đúng cả.

Mối lương duyên của hai cha con đều nhờ chiêm bao mà thành, cũng là chuyện tình kỳ lạ nên chép lại cả hai.

____________________________________

CHƯƠNG 221: CHỬ TOẠI LƯƠNG

Bần Bệnh Tương Liên Kịch Khả Ai

Hốt Phùng Tiên Tử Giáng Dao Đài

Trung Thần Nhất Đại Phương Danh Bá

Chuyển Thế Do Ưng Diễm Phúc Lai

Dịch:

Nghèo Ốm Theo Nhau Đáng Ngậm Ngùi

Nàng Tiên Chợt Gặp Xuống Dao Đài

Trung Thần Một Thủa Danh Thơm Nức

Diễm Phúc Còn Lưu Chuyển Kiếp Đài



Huyện Trường Sơn (tỉnh Liêu Ninh) có người dân là Triệu Mỗ, thuê nhà của người hào phú, mắc bệnh có khối u không tiêu mà cô đơn, nghèo khổ không đủ ăn, dần dần bệnh càng nặng.

Một hôm cố sức lết ra ngoài cho mát, nằm ngủ dưới thềm, khi tỉnh dậy thấy một mỹ nhân tuyệt thế ngồi bên cạnh bèn hỏi.

Cô gái đáp:

- Ta đến đây để làm vợ ngươi!

Mỗ hoảng sợ nói:

- Chưa nói tới chuyện kẻ nghèo không dám mong bậy, chỉ nói tới chuyện đang mắc bệnh sắp chết thì cưới vợ làm gì?

Cô gái tự nói là có thể chữa được, Mỗ nói:

- Bệnh của ta không phải một ngày một buổi mà chữa được, mà cho dù có phương thuốc hay cũng không có tiền mà mua.

Cô gái nói:

- Ta chữa bệnh không cần dùng thuốc.

Rồi xoa mạnh lên bụng Triệu, Triệu thấy nóng như lửa, hồi lâu khối u trong bụng có tiếng ùng ục, giây lát thấy muốn đi đại tiện, vội vùng dậy chạy ra ngoài tuột quần ngồi xuống ỉa tung tóe, khối u cũng theo ra hết, thấy trong người dễ chịu bèn quay lại nói với cô gái:

- Nương tử là người thần ở đâu xin cho biết tên họ để ta thờ cúng.

Cô gái đáp:

- Ta là hồ tiên, chàng là Chử Toại Lương thời Đường vốn có ơn với nhà thiếp, thường ghi nhớ muốn báo đáp, từ bấy đến nay tìm khắp nơi, hôm nay mới gặp được, thật là thỏa nguyện.

*[Chử Toại Lương thời Đường: tức Chử Toại Lương, tự Thiện Đăng, người Tiền Đường, làm quan dưới các triều Thái tông, Cao tông dần tới chức Lại bộ Thượng thư Đồng Tam phẩm, vì can Cao tông lập Vũ hậu không được nên từ chức, bị giáng làm Đô đốc Đàm Châu, kế làm Thứ sử ái Châu rồi chết].

Mỗ thẹn mình xấu xí nhơ bẩn, lại lo nhà tranh bếp đất làm bẩn xiêm y nhưng cô gái cứ xin vào.

Triệu bèn đưa vào nhà, thì giường đất không có chiếu, bếp lạnh không có lửa, nói:

- Chưa nói tới tình cảnh thế này không dám làm nhục nhau, cho dù là nàng cam lòng theo thì xin nhìn trên giường không chiếu, dưới bếp không lửa, ta lấy gì mà nuôi vợ con?

Cô gái chỉ nói đừng lo, nói xong quay nhìn thì thấy trên giường đã đủ cả chăn nệm.

Đang còn kinh ngạc hỏi han, thì chớp mắt lại thấy cả phòng sáng quắc rực rỡ, mọi đồ vật đều đổi khác, bàn ghế sạch sẽ, rượu thịt đã bày đầy ra, bèn cùng nhau uống rượu rồi kết làm vợ chồng.

Chủ nhân nghe chuyện lạ xin được gặp một lần, cô gái lập tức ra gặp, không có vẻ gì là khó chịu.

Vì vậy khắp nơi đồn đại, người tới thăm làm quen đông nghẹt ở cửa, cô gái đều tiếp đón không chối từ một ai, có ai mở tiệc mời nàng cũng theo chồng tới.

Một hôm có viên Cử nhân trong tiệc nảy ý tà dâm, cô gái biết ngay, buông lời mỉa mai, lấy tay xô vào đầu y, y chúi ra ngoài, đầu lọt qua chấn song mà người còn vướng bên trong, giãy giụa lăn lộn không sao thoát ra được, mọi người cùng van xin nàng mới tới kéo ra cho.

Hơn một năm khách khứa càng đông đúc phiền nhiễu, cô gái phát chán, những kẻ bị nàng chối từ không gặp đều đổ tội cho Triệu.

Đến ngày Đoan ngọ mọi người đang cùng nhau uống rượu, chợt có một con thỏ nhảy vào, cô gái đứng lên nói:

- Ông Thung Dược tới mời!

Rồi nói với con thỏ:

- Xin mời cứ đi trước!

Con thỏ phóng nhanh ra xa mất hút, nàng bảo Triệu lấy thang, Triệu ra sau nhà lấy chiếc thang dài lên, thấy cao mấy trượng, trước sân có cây đại thụ bèn gác vào, đầu thang còn cao hơn ngọn cây.

Cô gái leo lên trước, Triệu cũng theo sau, nàng quay đầu nói:

- Các vị bạn bè khách khứa ai muốn theo xin lập tức bước lên.

Mọi người nhìn nhau không ai dám trèo lên, chỉ có một đứa tiểu đồng của chủ nhân hăm hở leo theo, càng lên chiếc thang càng cao, dần dần vào hẳn trong mây không thấy đâu nữa.

Mọi người cùng nhìn lại thì chiếc thang là cánh cửa lâu năm mục nát bỏ đi làm tấm ván.

Bèn kéo nhau vào xem thì thấy nhà tranh vách đất như cũ, ngoài ra không có vật gì khác, cũng muốn chờ đứa tiểu đồng quay về hỏi han, nhưng rốt lại vẫn bặt tăm.

*[Ông Thung Dược: Thần dị ký chép trong mặt trăng có con thỏ ngọc cầm chày giã thuốc, nên "thung dược" (giã thuốc trong cối) đây chỉ con thỏ].
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 222+223


CHƯƠNG 222: CÔNG TÔN HẠ

Bất Độc Thi Thư Thả Mãi Quan

Sĩ Đồ Đương Tắc Lợi Đồ Khan

Trừng Thanh Tất Cánh Minh Trung Dị

Vị Ác Đồng Phù Dĩ Quải Quan

Dịch:

Chẳng Đọc Thi Thư Mua Chức Vị

Làm Quan Như Chuyện Bán Buôn Lời

Thanh Trừng Ở Chốn U Minh Đẽ

Chưa Thẻ Ngà Đeo Bị Bãi Rồi



Huyện Bảo Định (tỉnh Hà Bắc) có viên Giám sinh Mỗ định vào kinh nộp tiền mua chức Tri huyện.

Đang sửa soạn hành trang thì bị ốm, hơn một tháng không dậy được.

Bỗng đứa tiểu đồng vào thưa:

- Có khách tới!

Mỗ cũng quên cả bệnh, rảo bước ra đón.

Khách ăn mặc sang trọng như người quyền quý, Mỗ vái chào mấy lần rồi mời vào, hỏi từ đâu tới.

Khách đáp:

- Ta là Công Tôn Hạ, môn khách của hoàng tử thứ mười một.

Nghe nói ông sắp vào kinh mua chức Huyện doãn, đã có ý ấy thì mua hẳn chức Thái thú có hơn không?

Mỗ từ tạ, chỉ nói ít tiền không dám ước vọng quá cao.

Khách xin ra sức giúp đỡ, nói chỉ cần đưa trước nửa tiền, xong việc sẽ tới nhiệm sở lấy nốt.

Mỗ mừng rỡ hỏi cách thức, khách nói:

- Các quan Tổng đốc, Tuần phủ đều là bạn thân của ta, chỉ cần đưa tạm năm ngàn quan là mọi việc sẽ xong.

Hiện phủ Chân Định đang khuyết chức Thái thú, phải lo cho gấp.

Mỗ ngại vì ở ngay tỉnh nhà, khách cười nói:

- Ông ngây thơ quá, đã có tiền đấy rồi thì ai hỏi chuyện quê quán ở đất Ngô hay đất Việt làm gì.

Mỗ rốt lại vẫn ngần ngừ, ngờ là trái phép, khách nói'

- Không cần nghi ngại, xin nói thật đây là chức Thành hoàng dưới âm ty bị khuyết.

Ông nay tuổi thọ đã hết, tên họ đã ghi vào sổ ma rồi, phải nhân dịp này chạy chọt mới có thể thành bậc quan lớn dưới cõi âm được.

Kế đứng lên từ biệt, nói:

- Ông cứ tính đi, ba ngày nữa sẽ gặp lại.

Rồi ra cổng lên ngựa đi.

Mỗ chợt mở mắt tỉnh dậy, vĩnh biệt vợ con, bảo mang tiền bạc cất giấu ra chợ mua một vạn thoi vàng giấy, vét sạch mặt hàng ấy trong quận, chất đống trong sân với ngựa cỏ lo đốt ngày đêm, tro cao như núi.

Ba ngày sau khách quả tới, Mỗ đem tiền ra đưa, khách lập tức đưa Mỗ tới công thự.

Thấy một vị quan lớn ngồi trên điện, Mỗ bèn sụp lạy, vị quan hỏi qua tên họ, kế khuyên Mỗ phải thanh liêm cẩn thận này nọ rồi lấy văn bằng ra, gọi tới trước án đưa cho.

Mỗ lạy tạ trở ra, tự nghĩ chức Giám sinh vốn thấp hèn, nếu không có xe kiệu quần áo rực rỡ thì không đủ để trấn áp bọn thuộc lại.

Vì thế mua thêm xe ngựa, lại sai bọn quỷ tốt khiêng kiệu kết hoa về đón người thiếp yêu, vừa sắp đặt xong thì nghi trượng từ Chân Định đã tới đón, kéo dài hơn một dặm, thấy suốt đường đi người ta tranh nhau đưa tiễn, vô cùng đắc ý.

Bỗng toán quân mở đường ngừng chiêng trống, dẹp cờ quạt, đang lúc ngờ sợ thì thấy quân kỵ mã đều xuống ngựa phủ phục cạnh đường, người bé khoảng một thước, ngựa nhỏ như con chồn.

Toán quân trước xe kinh hãi nói:

- Quan Đế tới!

Mỗ hoảng sợ xuống xe, cũng phủ phục dưới đất, từ xa nhìn thấy Đế quân đi với bốn năm kỵ sĩ buông lỏng dây cương chậm rãi đi tới, râu rậm trùm cả gò má, không giống như trong tranh người ta vẽ nhưng thần thái rất uy nghi dũng mãnh, mắt dài gần tới tai.

Đế quân ngồi trên ngựa hỏi đây là quan nào, đám tùy tùng thưa là Thái thú Chân Định.

Đế quân nói:

- Một chức quận thú nhỏ nhoi sao dám phô trương như thế.

Mỗ nghe thấy sởn gai ốc co rúm người, nhìn lại mình thấy chỉ lớn bằng đứa nhỏ sáu bảy tuổi.

Đế quân bảo đứng lên đi bộ theo ngựa, cạnh đường có ngôi đền, Đế quân vào ngồi quay mặt về hướng nam, sai lấy giấy bút đưa Mỗ bảo khai họ tên quê quán.

Mỗ viết xong trình lên, Đế quân xem nổi giận nói:

- Viết chữ sai bét, nguệch ngoạc không ra chữ, là thằng cò mồi ngoài chợ làm sao coi việc dân!

Lại sai tra lại sổ ghi chép việc làm lúc sinh thời, một người bên cạnh quỳ xuống tâu bày, không rõ nói những gì.

Đế quân lớn tiếng nói:

- Cầu cạnh tiến thân là tội nhỏ, buôn quan bán tước là tội nặng.

Lập tức thấy người ấy bị thần Kim giáp xích lại giải đi.

Lại có hai người bắt Mỗ ra, lột hết mũ áo đánh cho năm chục roi tuột hết thịt ở mông đít rồi tống ra cổng.

Mỗ nhìn quanh thì xe ngựa đâu mất hết, đau quá không đi được, chỉ nằm thở dốc trong đám cỏ.

Nhìn kỹ chỗ ấy thì cách nhà chưa xa lắm, may mà thân thể nhẹ như chiếc lá nên mất một ngày một đêm mới về được tới nhà, chợt tỉnh cơn mơ rên rỉ trên giường.

Người nhà xúm lại hỏi han, chỉ nói rằng bắp đùi đau lắm, té ra đã mê man như chết suốt bảy ngày, lúc ấy mới tỉnh lại.

Lại hỏi sao A Lân không tới, đó là tên tự người thiếp.

Trước đó A Lân đang ngồi trò chuyện, chợt nói:

- Ông ấy đã làm Thái thú Chân Định, sai lính về đón ta đấy.

Rồi vào phòng trang điểm thật đẹp, vừa xong thì chết, cũng mới trong đêm trước.

Người nhà kể lại chuyện lạ xong, Mỗ hối hận đấm ngực sai để xác đó đừng chôn, mong rằng nàng tỉnh lại.

Nhưng mấy ngày sau vẫn không thấy gì, đành đưa đi chôn cất.

Bệnh Mỗ đỡ dần, nhưng vết thương ở đùi lại loét to ra, nửa năm mới dậy được, thường tự nhủ:

- Tiền mua chức quan đã hết sạch, lại còn bị hình phạt tai bay vạ gió dưới âm ty, bấy nhiêu còn chịu được, nhưng người thiếp yêu không biết đã đi đâu, những lúc khuya vắng mới là khốn khổ đây!

___________________________________

CHƯƠNG 223: NHẬN CHÂM ( NÂN CHÂM )

Nhược Tức Kiều Tư Triệu Họa Thai

Hồi Sinh Khởi Tử Trượng Thần Lôi

Tranh Hôn Uổng Tự Sinh Gian Kế

Thiên Khiển Thừa Long Giai Tế Lai

Dịch:

Liễu Yếu Đào Tơ Vướng Họa Tai

Hồi Sinh Khởi Tử Tựa Thiên Lôi

Gian Mưu Rắp Định Tranh Hôn Hão

Giai Ế Trời Xui Bỗng Tới Nơi



Ngu Tiểu Tư người huyện Đông Xương (tỉnh Sơn Đông), làm nghề buôn bán.

Vợ là Hạ thị đi thăm cha mẹ trở về, thấy ngoài cửa có người đàn bà dắt đứa con gái nhỏ khóc lóc rất bi ai.

Hạ hỏi thì gạt lệ trả lời, mới biết chồng bà ta tên Vương Tâm Trai, cũng là con cháu nhà quan, nhà sa sút không đủ ăn, nhờ người làng bảo chúng vay tiền nhà giàu họ Hoàng để tập đi buôn, giữa đường gặp cướp, tai bay vạ gió mất sạch cả tiền, may mà không chết.

Về tới nhà, Hoàng qua đòi nợ, tính cả vốn lẫn lãi không dưới ba mươi lượng vàng, thật không sao trả nổi.

Hoàng thấy con gái là Nân Châm xinh đẹp, định lấy làm thiếp, sai người bảo chứng tới đòi nợ rồi tỏ ý, nếu chịu sẽ tiếp tục cho thiếu, ngoài ra vẫn đúng giá cô gái mà trả tiền.

Vương bàn với vợ, vợ khóc nói:

- Nhà ta tuy nghèo nhưng vốn là dòng dõi trâm anh, kẻ kia là tiện dân mới giàu lên, sao dám cưới con gái ta làm thiếp?

Vả lại Nân Châm vốn đã hứa gả rồi, chàng đâu thể làm chủ được nữa?

Trước có Cử nhân họ Phó người cùng huyện chơi thân với Vương, sinh được một trai là A Mão, lúc còn bồng ẳm đã hứa làm thông gia với nhau.

Sau Phó vào đất Mân (vùng Phúc Kiến) làm quan, hơn năm thì chết, vợ con không về được, tin tức qua lại thưa dần, nhưng vì cớ ấy nên Nân Châm mười lăm tuổi vẫn chưa lấy chồng.

Nghe vợ nhắc lại chuyện ấy Vương không biết nói gì, chỉ tính cách làm sao trả nợ.

Vợ nói:

- Bất đắc dĩ thì thiếp phải bàn với hai đứa em.

Đại khái vợ Vương họ Phạm, ông nội từng làm quan trong kinh, hai cháu trai còn nhiều ruộng vườn.

Hôm sau vợ Vương dắt con về nói với hai em trai, hai người mặc cho khóc lóc, không nói một lời an ủi giúp đỡ.

Phạm gào khóc trở về, vừa lúc gặp Hạ hỏi han bèn vừa kể vừa khóc.

Hạ thương xót, nhìn tới cô gái thì thấy mặt mũi sáng sủa đáng yêu, càng thêm mủi lòng bèn mời vào nhà cho ăn uống, an ủi rằng:

- Hai mẹ con đừng lo, thiếp xin hết sức giúp đỡ.

Phạm còn chưa kịp cám ơn, cô gái đã khóc lớn lạy phục xuống đất, Hạ càng thêm xót xa.

Hạ ngẫm nghĩ rồi nói:

- Tuy nhà có chút của cải, nhưng ba mươi lượng vàng cũng không phải dễ, phải cầm bán mới có.

Hai mẹ con lạy chào ra về, Hạ hẹn ba ngày sẽ có tiền.

Chia tay xong tính toán đủ cách, cũng chưa dám nói với chồng, qua ba ngày cũng vẫn chưa đủ số, sai người qua hỏi mượn mẹ thì mẹ con Phạm đã tới, bèn kể thật rồi hẹn lại hôm sau.

Tối mịt thì gia nhân đem tiền mẹ cho mượn về, Hạ dồn cả vào túi đặt dưới gối.

Đến khuya có tên trộm khoét vách theo ánh đèn mò vào, Hạ tỉnh giấc hé mắt nhìn, thấy một người tay cầm đoản đao, mặt mũi hung dữ sợ quá không dám kêu, cứ giả vờ ngủ say.

Tên trộm tới gần cái rương, đã toan mở nắp nhưng nhìn thấy bên gối Hạ có cái túi bèn cầm lấy tới cạnh đèn mở ra xem, kế giắt vào lưng rồi không mở rương lục lọi nữa, bỏ đi luôn.

Hạ bèn vùng dậy la lớn, trong nhà chỉ có một đứa tớ gái nhỏ đập vách láng giềng báo, láng giềng họp lại đuổi theo thì tên trộm đã chạy xa rồi.

Hạ ngồi trước đèn sụt sùi khóc lóc không bao lâu đứa tớ gái thiếp đi, Hạ thắt dây vào song cửa sổ treo cổ tự tử.

Đứa tớ gái tỉnh dậy trời đã sáng bạch, mới gọi người vào cởi dây thì thân thể đã lạnh ngắt.

Ngu hay tin vội chạy về, hỏi đứa tớ gái mới biết sự tình, sợ hãi khóc lóc lo chôn cất mà thôi.

Lúc ấy mùa hè nhưng xác Hạ không cứng cũng không thối, qua hơn bảy ngày mới liệm.

Chôn cất xong, Nân Châm lén ra khóc lóc cạnh mộ, chợt có cơn mưa rào đổ tới, sấm sét ầm ầm đánh xuống vỡ mộ, cô gái cũng bị chấn động chết luôn.

Ngu hay tin vội tới xem thì quan tài đã bật nắp, vợ đang rên rĩ ở trong bèn bế ra, thấy xác cô gái không rõ là ai, Hạ nhìn kỹ mới biết, vô cùng kinh ngạc.

Không bao lâu Phạm thị tới, thấy con gái đã chết gào khóc nói:

- Vốn đã ngờ là nó ở đây, quả đúng thế!

Từ hôm nghe phu nhân tự tử, nó cứ kêu khóc suốt ngày đêm, đêm nay mới nói với ta là muốn ra thăm mộ, mà ta chưa cho.

Hạ cảm vì nghĩa bèn nói với chồng, bèn lấy quan tài chôn mình để chôn cất cô gái, Phạm lạy tạ.

Ngu cõng vợ về.

Phạm cũng về kể với chồng.

Chợt nghe nói phía bắc thôn có một người bị sét đánh chết giữa đường, trên xác có hàng chữ:

- Thằng giặc trộm tiền của Hạ thị.

Kế nghe láng giềng có tiếng đàn bà khóc, mới biết người chết là chồng chị ta, tên Mã Đại.

Người trong thôn lên báo quan, quan sai bắt người đàn bà lên hỏi cung, thì ra Phạm thấy Hạ vay tiền giúp mình cứu con gái nên cảm động khóc lóc kể cho người ta nghe, Mã Đại là kẻ cờ bạc vô lại nghe thấy nổi dạ bất lương.

Quan bèn sai giải người đàn bà về nhà lục soát, chỉ còn hai mươi lượng, lại tìm trên xác Mã Đại được bốn lượng nữa, quan phán bán người đàn bà đi bù vào chỗ thiếu trả cho Ngu.

Hạ càng mừng rỡ, đưa hết số tiền cho Phạm trả nợ.

Chôn cô gái được ba ngày, đêm đến mưa gió sấm sét lại nổi lên đánh vỡ mộ, cô gái cũng sống lại nhưng không chạy về nhà mà tới gõ cửa nhà Hạ thị, đại khái vì nhận ra ngôi mộ, ngờ là Hạ đã sống lại.

Hạ nghe tiếng gọi hoảng sợ vùng dậy, cách cánh cửa hỏi vọng ra, cô gái nói:

- Phu nhân quả nhiên đã sống lại rồi, con là Nân Châm đây.

Hạ sợ cho rằng là ma, gọi người đàn bà láng giềng cùng ra hỏi han, đến khi biết là nàng sống lại, mừng rỡ mở cửa đưa vào nhà.

Cô gái nói xin theo hầu hạ phu nhân, Hạ nói:

- Như thế là nói ta mất tiền để mua tớ gái sao?

Chôn ngươi rồi thì nợ cũng đã trả xong, đừng ngờ vực gì!

Cô gái càng cảm động khóc lóc, xin thờ như mẹ, Hạ chưa ưng thuận, nàng lại nói:

- Con biết làm lụng, cũng không đến nỗi ngồi ăn không đâu.

Sáng ra báo cho Phạm thị biết, Phạm mừng rỡ vội tới, cũng chiều lòng con gái, lập tức gởi gắm luôn cho Hạ.

Phạm đi rồi, Hạ ép đưa cô gái về nhà, cô gái cứ khóc lóc nhớ Hạ.

Vương Tâm Trai bèn đích thân dắt nàng tới đưa vào cổng rồi về.

Hạ nhìn thấy kinh ngạc hỏi han mới biết nguyên do, bèn mới để nàng ở lại.

Ngu vừa tới, cô gái vội quỳ lạy, gọi là cha.

Ngu vốn không có con, thấy cô gái dịu dàng khiến người ta thương xót, cũng rất vui mừng.

Cô gái học kéo sợi vá may, không nề vất vả.

Hạ ốm mấy lần suýt chết, nàng sớm tối hầu hạ, Hạ không ăn cũng không ăn, trên mặt lúc nào cũng có ngấn lệ, thường nói với người ta rằng:

- Mẹ mà có bề gì thì ta thề không sống nữa.

Hạ hơi đỡ mới thấy nàng cười.

Đến khi Hạ khỏi bệnh, nghe kể lại rơi nước mắt nói:

- Ta bốn mươi tuổi mà chưa có con, chỉ cần sinh được một đứa con gái như Nân Châm là đủ.

Hạ từ trẻ không sinh nở, nhưng qua năm sau chợt sinh được một con trai, người ta cho là ở hiền gặp lành.

Được hai năm cô gái càng lớn, Ngu bàn với Vương là không thể giữ lời hứa cũ mãi.

Vương nói:

- Con gái ở nhà ông, việc gả chồng là tùy ý ông.

Cô gái đã mười bảy tuổi, xinh đẹp vô song, nên lời ấy truyền ra thì những kẻ dạm hỏi nối gót nhau tới cổng, song vợ chồng chỉ trả lời qua quít.

Nhà giàu họ Hoàng cũng sai người mối tới, nhưng Ngu ghét giàu mà bất nhân nên ra sức chối từ mà chọn họ Phùng.

Phùng là học trò giỏi trong quận, cũng thông minh giỏi văn chương, Ngu báo với Vương thì Vương đi buôn chưa về, bèn cứ ưng thuận.

Hoàng vì Ngu từ chối cũng giả đi buôn, tìm tới chỗ Vương trọ bày tiệc mời mọc, lại giúp tiền bạc làm vốn, dần dần quen thuộc thân mật mới nói con trai mình thông minh lanh lợi, xin hỏi cưới Nân Châm, Vương cảm động vì ân cần lại hâm mộ vì giàu có, bèn hẹn ước với nhau.

Trở về tới nói với Ngu, thì hôm trước Ngu vừa nhận thư đính ước của họ Phùng, nghe lời Vương nói rất không thích, gọi cô gái ra kể lại mọi việc.

Cô gái bực tức nói:

- Chủ nợ ấy là kẻ thù, bắt con lấy kẻ thù, thì chỉ còn một cách chết thôi.

Vương tái mặt, nhờ người nói lại với Hoàng là đã hứa gả con gái cho họ Phùng, Hoàng tức giận nói:

- Cô kia họ Vương chứ không phải họ Ngu, ta đính ước trước họ Phùng, sao lại bội ước.

Bèn đâm đơn kiện lên quan huyện, quan huyện có ý muốn xử cho người đính ước trước, bắt gả cô gái cho Hoàng.

Phùng nói:

- Họ Vương đã gởi gắm con cho ông Ngu, lại nói không dự bàn chuyện cưới gả nữa, vả lại ta đã có thư đính ước còn họ Hoàng chẳng qua chỉ là hẹn ước bên ly rượu mà thôi.

Quan huyện đổi ý, phán cho tùy ý cô gái.

Hoàng về đem tiền đút lót xin quan xử cho mình được, vì thế hơn một tháng không xử xong.

Một hôm có viên Cử nhân lên kinh, đi ngang Đông Xương sai người hỏi thăm Vương Tâm Trai, tới hỏi đúng Ngu, Ngu hỏi lại thì viên Cử nhân ấy họ Phó, tức là A Mão vậy.

Sau khi nhập tịch ở Phúc Kiến, mười tám tuổi thi đỗ Cử nhân, vì đã có đính ước trước đây nên chưa cưới vợ, mẹ dặn tiện đường ghé thăm Vương xem cô gái đã lấy chồng chưa.

Ngu cả mừng, mời Phó tới nhà kể hết những chuyện đã qua, nhưng vì cưới gả ngoài ngàn dặm nên sợ không có gì làm bằng.

Phó bèn lấy ra tờ đính ước hôn nhân của Vương ngày trước, Ngu mời Vương tới xem lại quả đúng, tất cả cùng mừng rỡ.

Hôm ấy chính là ngày xét xử lại, Phó đưa danh thiếp ra mắt quan huyện, vụ kiện mới thôi.

Phó hẹn ngày làm lễ cưới rồi đi.

Thi hội xong, Phó mua lễ vật quay về, ở trong nhà cũ làm lễ rước dâu xong thì có tin thi đỗ Tiến sĩ từ Phúc Kiến đưa tới té ra Phó lại đỗ luôn kỳ thi hội.

Bèn vào kinh nhận chức trở về cô gái không muốn xuống nam, Phó cũng vì nhà cửa mồ mả ông bà còn đó bèn một mình trở về Phúc Kiến bốc mộ cha rồi đón mẹ cùng về.

Vài năm sau Ngu chết, con trai mới có bảy tám tuổi, cô gái chăm sóc còn hơn em ruột, cho đi học, thi đỗ vào trường huyện rất sớm, nhà nổi tiếng giàu có, đều là nhờ Phó cả.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 224+225


CHƯƠNG 224: HOÀN HẦU

Hảo Tá Thần Câu Nghinh Viễn Khách

Kiêm Thân Chủ Nghị Yến Giai Tân

Đăng Đường Thôi Vãn Quăng Nhu Chiết

Tưởng Kiến Tướng Quân Dũng Tuyệt Luôn

Dịch:

Thần Câu Khéo Mượn Đón Từ Xa

Mời Khách Ân Cần Dự Tiệc Hoa

Đẩy Kéo Lên Thềm Tay Tưởng Gẫy

Tướng Quân Sức Mạnh Tuyệt Luân Mà



Bành Hiếu Sĩ ở Kinh Châu (tỉnh Hồ Nam) uống rượu nơi khác về nhà, dọc đường xuống ngựa đi tiểu.

Con ngựa cúi xuống ngoạm cỏ bên đường, có một bụi cỏ nhỏ xanh tốt rất đáng yêu vừa trổ hoa vàng rực rỡ chói mắt, con ngựa ăn mất quá nửa.

Bành nhổ chỗ còn lại ngửi thấy có mùi hương lạ bèn cất vào túi lại lên ngựa đi tiếp, thấy ngựa phi như bay thích chí cũng không tính đường về, cứ để mặc cho nó chạy.

Chợt thấy mặt trời lặn xuống sau núi mới kéo cương nhìn quanh thì thấy núi non chập chùng, không biết là chỗ nào.

Chợt có một người áo xanh tới, thấy con ngựa đang hí vang, bèn nắm dây cương nói:

- Trời đã xế rồi, chủ ta mời ông ghé lại.

Bành hỏi đây là nơi nào, người ấy đáp:

- Là đất Lãng Trung (tỉnh Tứ Xuyên).

Bành cả sợ té ra trong nửa ngày đã đi hơn ngàn dặm, nhân hỏi chủ nhân là ai, người kia đáp:

- Tới nơi sẽ biết!

Lại hỏi nhà ở đâu, đáp cũng gần đây thôi, rồi dắt ngựa kéo đi mau.

Bành thấy người ngựa cùng như bay, qua một rặng núi thì có nhà cửa phòng ốc trùng điệp ở lưng chừng núi che khuất lẫn nhau.

Từ xa nhìn thấy một đám người áo mũ chỉnh tề như đang chờ ai, Bành tới nơi xuống ngựa thì họ đều vái chào rất cung kính.

Kế chủ nhân bước ra, khí thế oai mãnh, y phục đều khác người trần, chắp tay nhìn khách nói:

- Khách hôm nay không có ai xa như Bành quân.

Rồi vái chào mời Bành đi trước.

Bành từ tạ không chịu bước lên, chủ nhân bèn nắm tay kéo đi, Bành thấy tay như bị cùm siết chặt, đau như sắp gãy, không dám tranh cãi nữa bèn đi.

Những người còn lại bèn nhường nhau đi trước, chủ nhân đẩy người này kéo người kia, khách đều xuýt xoa rên rĩ muốn quỵ xuống như không chịu nổi, cùng theo lời chủ nhân vào.

Tới sảnh đường thấy trần thiết hoa lệ, cứ hai người vào ngồi một bàn.

Bành hỏi nhỏ người ngồi với mình rằng chủ nhân là ai, đáp là Hoàn hầu, kinh ngạc không dám ho hắng, mọi người cũng đều ngồi im.

*[Hoàn hầu: tức Trương Phi, tướng và là em kết nghĩa của Thục chủ Lưu Bị thời Tam quốc, nổi tiếng dũng mãnh, trấn thủ Lãng Trung, bị bộ tướng làm phản ám sát, thụy là Hoàn hầu].

Rượu được vài tuần, Hoàn hầu nói:

- Hàng năm cứ quấy quả các vị, nên có tiệc mọn để tỏ lòng.

Lại được khách từ xa tới, có thể nói là hạnh ngộ, ta muốn xin một vật, nếu thương thì cho, không thì không dám ép.

Bành đứng dậy hỏi vật gì, chủ nhân đáp:

- Con ngựa của ông đã có tiên cốt, không phải người trần cuỡi được, xin đổi con khác cho ông, có được không?

Bành đáp:

- Xin kính cẩn dâng lên, không dám đánh đổi.

Hoàn hầu nói:

- Ta sẽ đền một con ngựa thật tốt, lại tặng thêm vạn lượng vàng.

Bành rời ghế lạy tạ, Hoàn hầu sai kéo đứng lên.

Giây lát rượu thịt bày ra la liệt, mặt trời lặn lại sai thắp đèn uống tiếp.

Mọi người đều đứng dậy xin thôi, Bành cũng xin cáo từ.

Hoàn hầu hỏi:

- Ông từ xa tới, tối nay về đâu?

Bành nhìn người ngồi cùng bàn với mình nói:

- Đã xin ông đây cho ngủ nhờ tối nay.

Hoàn hầu bèn sai lấy chén lớn rót rượu tiễn khách, nói với Bành rằng:

- Bụi cỏ mà ông cất, tươi thì có thể giúp người ta thành tiên, khô thì có thể dùng để điểm kim, bảy cọng là được một vạn lượng vàng.

Rồi lập tức sai tiểu đồng chỉ cách cho Bành, Bành lại lạy tạ.

Hoàn hầu nói:

- Ngày mai xin ra chợ tới chỗ bán ngựa tùy ý lựa lấy một con, không cần phải trả giá đưa tiền, ta sẽ tính cho.

Lại nói với mọi người rằng:

- Ông khách ở xa, lúc trở về nên giúp đỡ ít nhiều tiền đi đường.

Mọi người vâng dạ, cạn chén rồi cáo biệt.

Trên đường Bành hỏi họ tên thì người ngồi cùng bàn với mình tên Lưu Tử Vựng, cùng đi hai ba dặm, qua rặng núi thì thấy thôn xóm, mọi người cùng đưa Bành về nhà Lưu rồi kể cho nghe chuyện lạ.

Vốn là trong làng hàng năm có tế Hoàn hầu trong miếu, giết bò múa hát để cúng đã thành lệ.

Lưu là người chủ tế, vừa cúng xong ba hôm trước, trưa nay chợt có người tới từng nhà mời mọi người vào núi, hỏi ai mời thì đều trả lời qua quít nhưng hối thúc rất gấp.

Qua khỏi rặng núi thấy lầu gác, mọi người nhìn nhau kinh ngạc, sắp tới cổng người kia mới nói thật, mọi người cũng không ai dám từ chối lui về.

Người đi mời nói:

- Xin cứ họp lại ở đây chờ ta đi mời một người khách xa.

Tức là Bành vậy.

Bành nghe kể rất lấy làm lạ lùng.

Trong bọn có người bị Hoàn hầu nắm tay đau quá sợ gãy xương, cởi áo thắp đèn lên nhìn thì thấy da thịt bầm tím, Bành nhìn lại mình cũng thấy thế.

Mọi người ra về, Lưu liền mang chăn chiếu ra ngủ chung với Bành.

Sáng hôm sau trong làng tranh nhau mời cơm, lại theo Bành vào chợ tìm ngựa, hơn mười ngày chọn qua mấy mươi con mà không có ngựa hay, Bành cũng quyết ý tìm bằng được.

Hôm sau lại vào chợ, thấy có một con dáng vẻ rất khỏe mạnh, cưỡi thử thấy đúng là tuấn mã bèn trở vào làng đợi người bán nhưng trở lại thì đã bỏ đi mất.

Bành bèn từ biệt người làng trở về, mọi người đều mang tiền tới tiễn tặng, ngựa đi một ngày được gần năm trăm dặm, Bành về tới nhà kể lại chuyện, mọi người đều không tin, đến khi Bành lấy những sản vật ở đất Thục (vùng Tứ Xuyên) ra cho xem mới cùng ngạc nhiên kinh sợ.

Mớ cỏ lâu ngày khô dần, còn được bảy cọng, Bành theo cách đã được chỉ dẫn làm phép điểm kim, trong nhà vụt giàu hẳn lên.

Bèn tìm tới nơi ấy vào miếu Hoàn hầu cúng tế tạ ơn, chơi với người làng ba ngày rồi về.

___________________________________

CHƯƠNG 225: PHẤN ĐIỆP

Thiên Phong Duy Tống Thướng Tiên San

Học Đắc Dao Cầm Nhất Khúc Hoàn

Điệp Tự Luyến Hoa Hoa Dẫn Điệp

Song Phi Song Túc Đảo Nhân Gian

Dịch:

Gió Trời Thổi Vù Đỉnh Non Lên

Học Được Cầm Xoang Khúc Nhạc Tiên

Bướm Tụ Luyến Hoa Hoa Luyến Bướm

Cũng Bay Cùng Đậu Kết Trần Duyên



Dương Viết Đán là học trò đất Quỳnh Châu (tỉnh Quảng Đông).

Tình cờ qua quận khác về nhà, đi thuyền qua biển gặp bão, thuyền sắp đắm, chợt có chiếc thuyền không giạt tới vội nhảy qua, nhìn lại thì những người cùng thuyền đều đã chìm cả.

Bão càng mạnh, sinh đành nhắm mắt phó mặc cho gió thổi, không bao lâu trời lặng, mở mắt ra nhìn chợt thấy một hòn đảo nhà cửa san sát, liền chèo vào bờ, đi thẳng tới cổng làng.

Thấy trong làng yên ắng, ngồi đó hồi lâu mà không nghe một tiếng gà kêu chó sủa.

Thấy có một cánh cổng quay về hướng bắc, tùng trúc hun hút, lúc ấy đang đầu mùa đông, thấy trong tường có gốc cây không biết tên gì mà hoa nở dày đặc, trong lòng thích lắm, lân la lần vào.

Chợt nghe tiếng đàn cầm văng vẳng bèn dừng bước, có người tỳ nữ từ trong bước ra, khoảng mười bốn mười lăm tuổi, phong tư tiêu sái, dung mạo xinh đẹp, vừa thấy Dương vội quay ngay vào.

Kế nghe tiếng đàn ngừng lại, kế có một thiếu niên bước ra ngạc nhiên hỏi khách từ đâu tới, Dương kể lại sự tình.

Thiếu niên lại hỏi họ tên quê quán, Dương cũng đáp rõ, thiếu niên mừng rỡ nói:

- Hóa ra là họ hàng bên vợ ta!

Liền vái chào mời vào, thấy nhà trần thiết rất tinh khiết đẹp đẽ, lại nghe tiếng đàn, vào tới trong phòng thấy một thiếu phụ ngồi trên cao gảy đàn, tuổi khoảng mười tám mười chín, phong tư lộng lẫy, thấy khách vào buông đàn định đi.

Thiếu niên ngăn lại nói:

- Đừng đi, đây là họ hàng bên nàng đấy!

Rồi kể lại lời sinh.

Thiếu phụ nói:

- Thì ra là cháu ta!

Kế hỏi bà nội có khỏe không, cha mẹ bao nhiêu tuổi rồi.

Dương đáp:

- Cha mẹ cháu đều hơn bốn mươi, vẫn còn khỏe mạnh, bà nội thì đã sáu mươi, bệnh nặng đã lâu, đi đâu cũng phải có người dìu.

Cháu thật không biết cô là thế nào trong gia đình, xin cho biết rõ để về kể lại.

Thiếu phụ nói:

- Đường xa diệu vợi, không được tin tức lâu rồi, về cứ nói vơi cha là cô Thập Nương hỏi thăm, cha cháu sẽ biết.

Dương hỏi dượng họ gì, thiếu niên đáp:

- Ta họ Ân tên Hải Dự.

Nơi đây có tên là đảo Thần Tiên, cách Quỳnh Châu ba ngàn dặm, ta tới ngụ ở đây cũng chưa lâu lắm.

Thập Nương vào trong sai tỳ nữ làm cơm đãi khách, thấy rau cỏ tươi ngon, cũng không biết tên gọi là gì.

Ăn xong dẫn ra ngắm cảnh, thấy đào mận trong vườn vừa có nụ, Dương lấy làm lạ.

Ân nói:

- Ở đây mùa hè không quá nóng, mùa đông không quá lạnh nên lúc nào cũng có hoa nở.

Dương mừng nói:

- Như thế quả là cõi tiên, cháu về sẽ nói với cha mẹ dời nhà tới đây ở với cô dượng.

Ân chỉ mỉm cười.

Trở vào phòng sách thắp đèn lên, Dương thấy chiếc đàn cầm đặt ngang trên bàn, xin được nghe một khúc.

Ân bèn vặn phím so dây, Thập Nương từ trong ra, Ân nói:

- Lại đây, lại đây!

Nàng gảy cho cháu nó nghe đi.

Thập Nương liền ngồi xuống hỏi:

- Cháu muốn nghe khúc nào?

Dương đáp:

- Cháu chưa từng học đàn, nên thật không biết khúc nào cả.

Thập Nương nói:

- Cháu cứ tùy ý ra đề, ta đều có thể gảy thành điệu.

Dương cười hỏi:

- Thế gió biển xô thuyền, có thể gảy thành một khúc được không?

Thập Nương đáp:

- Được!

Rồi búng dây như gảy theo bản đàn có sẵn, tình ý lên xuống theo khúc điệu, Dương ngưng thần lắng nghe, thấy mình như đang trong thuyền, bị gió bảo xô đẩy lôi kéo.

Dương khâm phục sợ hãi, hỏi có học được không, Thập Nương đưa đàn sai gảy thử rồi nói:

- Có thể dạy được, vậy cháu muốn học gì?

Dương nói:

- Bản Gió bão cô vừa gảy không biết học mấy ngày thì xong?

Xin cho chép lại để học thuộc trước.

Thập Nương nói:

- Bản đàn ấy không có văn tự, ta chỉ lấy ý mà phổ thành khúc điệu thôi.

Rồi lấy ra một chiếc đàn khác, chỉ các thế tay bấm phím búng dây bảo Dương tập theo.

Dương tập đến hơn canh một thì âm thanh tiết tấu đã hơi thành khúc điệu, vợ chồng Thập Nương mới đi nghỉ.

Dương ngưng thần chăm chú một mình tập gảy trước đèn, hồi lâu chợt hiểu thấu chỗ ảo diệu, bất giác vùng dậy múa may.

Chợt ngẩng lên thấy người tỳ nữ đang đứng trước đèn, giật mình hỏi:

- Nàng vẫn chưa đi nghỉ sao?

Nàng cười đáp:

- Cô Mười sai chờ chàng đi nghỉ rồi thì đóng cửa tắt đèn.

Nhìn kỹ thấy nàng mắt tựa hồ thu, thần thái say người, Dương động lòng khẽ khêu gợi, nàng chỉ cúi đầu mỉm cười.

Dương càng say mê, đứng vụt dậy ôm chầm lấy, nàng ngăn lại nói:

- Đừng làm thế.

Đã qua canh tư chủ nhân sắp dậy rồi.

Nếu có lòng với nhau, đêm mai cũng chưa muộn.

Đang lúc ôm ấp nhau chợt nghe Ân gọi Phấn Điệp, nàng biến sắc nói:

- Chết rồi!

Rồi vội vàng chạy đi.

Dương lén vào nghe ngóng, thấy Ân nói:

- Ta đã nói đứa tỳ nữ này chưa dứt lòng trần, mà mình cứ nhất định thu nhận, nay thì sao nào?

Phải đánh nó ba trăm roi.

Thập Nương nói:

- Cái ý ấy đã nảy sinh thì không thể dùng được nữa, chẳng bằng cho luôn thằng cháu ta cho xong.

Dương vô cùng thẹn thùng sợ sệt, trở lại phòng tắt đèn đi ngủ.

Sáng ra có đứa tiểu đồng mang nước rửa mặt tới chứ không thấy Phấn Điệp đâu, trong lòng nơm nớp lo bị quở trách.

Lát sau Ân và Thập Nương cùng tới, thái độ bình thường như không có chuyện gì, chỉ khảo khúc đàn mới tập.

Dương gảy lại một lượt, Thập Nương nói:

- Tuy chưa đạt tới chỗ thần diệu nhưng mười phần đã được chín, cố tập cho thành thục thì hay.

Dương lại xin dạy khúc khác, Ân dạy cho khúc Thiên nữ trích giáng, thủ thức mới lạ khó khăn, tập mất ba ngày mới gảy rõ tiếng.

Ân nói:

- Những cái khó thế là đã học qua hết. từ nay về sau chỉ cần tập cho thành thực thôi.

Nếu thuộc được hai khúc này thì trong nghề đàn không còn khúc nào là khó nữa.

Dương nhớ nhà quá, nói với Thập Nương:

- Cháu ở đây được cô chăm sóc dạy dỗ rất vui, nhưng vẫn canh cánh nhớ nhà, có điều đường xa ba ngàn dặm không biết ngày nào mới về tới được.

Thập Nương nói:

- Chuyện đó không khó.

Thuyền cũ còn đó, chỉ cần giúp cháu một cơn gió đưa buồm về.

Cháu không có gia thất, ta đã cho Phấn Điệp rồi.

Rồi lấy chiếc đàn tặng cho, lại trao cho thuốc, dặn:

- Về đưa bà nội uống, không những khỏi bệnh mà còn kéo dài được tuổi thọ.

Kế tiễn Dương ra bờ biển lên thuyền, Dương tìm mái chèo, Thập Nương nói:

- Không cần đâu!

Rồi cởi xiêm làm buồm, căng lên cho Dương.

Dương lo lạc đường, Thập Nương nói:

- Đừng lo, cứ để cánh buồm đưa đi.

Căng buồm xong, đẩy thuyền ra, Dương buồn rầu đang định bái biệt thì gió nam thổi mạnh, thuyền đã ra xa bờ rồi.

Nhìn lại thuyền thấy đã sẵn lương khô nhưng chỉ đủ ăn một ngày, thầm oán trách cô bủn xỉn, đói bụng mà không dám ăn nhiều, chỉ sợ mau hết.

Nhưng cắn một cái bánh thì thấy vừa ngọt vừa thơm, còn sáu bảy cái cẩn thận cất lại thì cũng không thấy đói nữa.

Chợt thấy mặt trời sắp lặn, đang hối là lúc lên đường không hỏi lấy đèn đuốc thì trong chớp mắt đã thấy khói cơm chiều xa xa, nhìn kỹ lại thì đã tới Quỳnh Châu.

Dương mừng quá chèo vào bờ, tháo tấm xiêm làm buồm, ôm bọc bánh về nhà.

Vào tới cổng, cả nhà vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, té ra đã xa nhà mười sáu năm, lúc ấy Dương mới biết mình đã gặp tiên.

Vào thăm bà nội thấy già yếu bệnh tật hơn trước, bèn lấy ra đưa bà uống, chứng bệnh lâu ngày lập tức tiêu tan.

Mọi người đều lạ lùng, Dương kể lại chuyện mình đã gặp, bà nội rơi nước mắt nói:

- Đó là cô ruột cháu đấy!

Xưa bà có người con gái út tên Thập Nương, vừa sinh ra đã có phong tư thần tiên, hứa gả cho họ Ân nhưng con rể năm mười tuổi vào núi không trở về.

Thập Nương chờ đến năm hơn hai mươi tuổi thì chợt không bệnh mà chết, chôn cất đã hơn ba mươi năm.

Mọi người nghe Dương kể chuyện xong đều ngờ là Thập Nương chưa chết.

Dương đưa tấm xiêm ra thì đúng là vật trước đây cô vẫn mặc ở nhà.

Dương chia bánh cho mọi người, chỉ ăn một cái thôi thì cả ngày không thấy đói, mà tinh thần còn phấn chấn hẳn lên.

Bà nội sai đào mộ Thập Nương lên xem thì chỉ có chiếc quan tài không.

Trước kia Dương đã dạm hỏi cô gái họ Ngô mà chưa cưới, nhưng mấy năm không về nàng ấy đã lấy người khác.

Lúc ấy Dương mới tin lời Thập Nương, chờ Phấn Điệp tới nhưng hơn một năm mà vẫn tuyệt vô âm tín, mới bàn tìm cưới người khác.

Tú tài họ Tiền ở huyện Lâm có con gái tên Hà Sinh xinh đẹp nổi tiếng xa gần, mười sáu tuổi chưa lấy chồng vì ba người vừa dạm hỏi chưa cưới đã chết.

Dương bèn nhờ mai mối định hôn, chọn ngày tốt cưới về.

Nàng vào cổng rồi, thấy xinh đẹp tuyệt thế, nhìn kỹ thì là Phấn Điệp.

Dương kinh ngạc hỏi chuyện cũ, nàng quên sạch không biết gì cả, thì ra khi bị đuổi cũng là lúc nàng đầu thai xuống trần.

Cứ những lúc Dương đàn khúc Thiên nữ trích giáng cho nghe thì nàng liền chống má trầm tư như có chỗ hiểu được vậy.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 226+227


CHƯƠNG 226: CẨM SẮT

Ưu Hoạn Tằng Kinh Lịch Duyệt Đa

Thụ Ân Thâm Xứ Phục Như Hà

Thiên Ma Kiếp Hậu Thiên Duyên Hợp

Chân Thị Nhân Gian An Lạc Oa

Dịch:

Hoạn Nạn Nhiều Phen Lịch Duyệt Qua

Mang Ơn Sâu Nặng Biết Bao Là

Thiên Ma Hết Kiếp Thiên Duyên Hợp

Tổ Ấm Nhân Gian Chính Đấy Mà



Vương sinh ở huyện Nghi Thủy (tỉnh Sơn Đông) mồ côi từ nhỏ, nhà nghèo nhưng phong tư đẹp đẽ, quần áo tươm tất hơn người.

Có nhà giàu họ Lan gặp Vương thích lắm, gả con gái cho, hứa sẽ xây nhà mua ruộng cho làm sản nghíệp.

Cưới không bao lâu thì ông Lan chết, anh em vợ đều khinh thường sinh, vợ thì càng lên mặt, coi chồng như đầy tớ.

Thường một mình ăn uống ngon lành, sinh tới thì đem cơm hẩm rau già, đũa tre chén đất bày ra trước mặt, nhưng sinh đều nhịn nhục.

Năm mười chín tuổi sinh đi thi khoa Đồng tử bị đánh rớt, từ quận về nhà gặp lúc vợ không có trong phòng, thấy trong nồi có miếng thăn dê ninh chín múc định ăn, vợ bước vào không nói câu nào, bưng luôn nồi thịt cất đi.

Sinh xấu hổ quá vứt đũa xuống đất nói:

- Thế này thì thà chết còn hơn.

Vợ tức tối hỏi chừng nào chết, rồi đưa cho sợi dây nói cầm lấy mà treo cổ.

Sinh uất ức, đập tô canh vỡ trán vợ, căm hờn bỏ ra, tự nghĩ đúng là thà chết còn hơn bèn đem theo dây lưng vào chỗ khe sâu trong núi.

Tới dưới một gốc cây lớn, đang chọn cành thắt thòng lọng chợt thấy trên gò đất thấp thoáng bóng xiêm đàn bà.

Chớp mắt có một người tỳ nữ bước ra, nhìn thấy sinh vội quay ngay lại như cái bóng mất hút, trên vách đất cũng không có dấu vết gì.

Sinh biết là yêu quái nhưng đang muốn chết nên không hề sợ hãi, bèn bỏ sợi dây đấy ngồi rình xem.

Giây lát lại có ra nửa khuôn mặt lộ ra, vừa thoáng thấy đã rút trở vào, sinh nghĩ là ma quỷ, theo nó ắt tìm được cái chết sung sướng, liền vớ hòn đá đập vào vách đất, kêu:

- Ai dưới đất đấy?

Chỉ đường cho với, ta không cần vui mà muốn chết thôi.

Hồi lâu không nghe thấy gì, sinh lại kêu nữa thì nghe bên trong đáp:

- Người muốn chết xin cứ tạm lui, tối hãy tới!

Âm thanh trong trẻo rõ ràng nhưng nhỏ như tiếng muỗi vo ve.

Sinh nói:

- Vâng!

Rồi ngồi chờ tối.

Không bao lâu, sao mọc đầy trời, vách núi chợt biến thành tòa phủ đệ to lớn, hai cánh cổng khẽ mở ra, sinh theo bậc thềm bước vào.

Vừa được vài bước thấy có dòng nước chảy ngang, khói bốc nghi ngút như suối nước nóng, nhúng tay xem thử thấy nóng như sôi, cũng không biết sâu bao nhiêu.

Sinh ngờ đây là chỗ chết mà quỷ thần chỉ cho, liền nhảy ào xuống, nước nóng thấm qua mấy lần áo, da thịt rát bỏng nhưng may mà cứ nổi không chìm, ngoi ngóp một hồi thì quen dần với cái nóng, cố vùng vẫy mới lên được bờ bên kia, toàn thân cũng may không rộp lên.

Lại đi tiếp, nhìn thấy dưới mái nhà xa xa có ánh đèn, rảo bước tới thì có con chó dữ xồ ra cắn áo xé vớ.

Sinh nhặt đá ném, con chó hơi lùi, nhưng cả bầy chó lại đổ ra sủa ầm lên, con nào cũng to bằng con nghé.

Đang lúc nguy cấp thì người tỳ nữ bước ra quát đuổi lũ chó rồi nói:

- Anh chàng muốn chết tới đó phải không?

Nương tử nhà ta thương chàng khốn đốn, sai thiếp đưa chàng tới "ổ yên vui", từ đây không còn tai họa gì nữa.

Rồi khêu đèn dẫn đường, mở cổng sau im lặng đi, tới một căn nhà thì giơ đèn lên soi vào cửa sổ nói:

- Chàng cứ vào nhé, thiếp đi đây!

Sinh vào nhìn quanh thì ra đã trở lại nhà mình, quay ngay ra thì gặp bà già vẫn hầu hạ vợ, bà ta nói:

- Cả ngày tìm kiếm, lại còn đi đâu?

Rồi kéo sinh trở vào.

Vợ buộc khăn chỗ bị thương xuống giường ra đón, cười nói:

- Làm vợ chồng hơn năm, đùa giỡn mà không biết sao, thiếp biết lỗi rồi.

Chàng bị trêu chơi mà thiếp bị thương thật, thôi cũng đủ hả giận rồi mà.

Rồi lấy ở đầu giường ra hai nén vàng lớn đặt vào lòng sinh nói:

- Từ nay về sau cái ăn cái mặc xin theo ý chàng, vậy được chưa?

Sinh không đáp, ném vàng lại xô cửa bỏ đi, định vào khe núi tới gõ cửa tòa phủ đệ.

Ra tới ngoài đồng thì thấy người tỳ nữ đi chậm rãi, ánh đèn vẫn còn thấp thoáng xa xa.

Sinh vội chạy theo gọi, ánh đèn bèn dừng lại, chạy tới thì người tỳ nữ nói:

- Chàng lại tới đây thì thật phụ nỗi khổ tâm của nương tử.

Sinh đáp:

- Ta muốn chết chứ không nhờ nàng giúp cho sống lại.

Nương tử nhà cao cửa rộng, dưới đất chắc cũng cần người, ta xin theo phục dịch, chứ thật tình không còn thấy sống là vui nữa.

Người tỳ nữ nói:

- Chết vui cũng không bằng sống khổ, sao chàng nghĩ trái như vậy.

Nhà bọn ta không có việc gì khác, chỉ có đào sông hốt phân, nuôi chó chôn xác, mà làm sai thì bị khoét mũi cắt tai, chặt chân cắt gót, chàng làm được không?

Sinh đáp:

- Làm được!

Kế lại vào qua cổng sau, sinh hỏi:

- Ta phải làm việc gì?

Nàng vừa nói chôn xác, ở đâu mà có nhiều người chết như thế?

Người tỳ nữ đáp:

- Nương tử từ bi, lập ra vườn Cấp Cô, gom nuôi các hồn ma chết bất đắc kỳ tử không nhà dưới âm ty, kể có hàng ngàn, ngày nào có người chết là phải đi chôn xác, xin mời xem qua một lần.

*[Vườn Cấp Cô: Kinh Kim cương chép nước Xá Vệ có một trưởng giả tên Tu Đạt Noa thường bố thí cho kẻ nghèo khổ bệnh tật cô độc, về sau xây vườn mời đức Phật thuyết pháp, người ta gọi là vườn Cấp Cô.

Đây chỉ nơi trường sở làm việc từ thiện].

Giây lát tới một cánh cổng đề chữ "Cấp Cô viên”, vào trong thấy nhà cửa ngang dọc chen lẫn, mùi hôi thối xông lên nồng nặc.

Ma quỷ trong vườn thấy đèn xúm cả lại, đều đứt đầu cụt chân trông rất thê thảm.

Quay ra định đi thì thấy có cái xác nằm ngang dưới tường, máu thịt bê bết, người tỳ nữ nói:

- Mới nửa ngày chưa kịp chôn mà đã bị chó xé nát rồi.

Rồi sai sinh chuyển đi.

Sinh có vẻ ngần ngại, nàng nói:

- Nếu chàng không làm được thì xin mời cứ về chỗ yên vui vậy!

Sinh bất đắc dĩ phải vác xác đưa vào chỗ kín, rồi nhờ người tỳ nữ cố xin cho mình may ra khỏi phải làm công việc nhơ bẩn ấy, nàng bằng lòng.

Đi tới gần một căn nhà, nàng nói:

- Cứ ngồi tạm ở đây để thiếp vào thưa, việc nuôi chó thì nhẹ nhàng hơn, có thể xin cho để chuộc lỗi vừa rồi.

Vào trong giây lát thì đi nhanh ra nói:

- Vào đây vào đây nương tử ra đấy!

Sinh theo vào sảnh đường, thấy đèn lồng treo khắp bốn bên, có một cô gái ngồi gần phía trong cùng, khoảng hai mươi tuổi, phong thái như thiên tiên.

Sinh lạy rạp dưới thềm, nàng lập tức sai kéo đứng lên, nói:

- Đây là một người học trò, làm sao nuôi chó nổi, có thể cho ở nhà phía tây trông coi sổ sách.

Sinh mừng rỡ lạy tạ, cô gái nói:

- Người có vẻ thành thật chất phác, hãy làm việc cẩn thận.

Nếu có sai phạm thì tội không nhẹ đâu, sinh líu ríu vâng dạ.

Người tỳ nữ dẫn sang nhà phía tây, sinh thấy phòng ốc sạch sẽ mừng rỡ tạ ơn rồi hỏi thăm gia thế nương tử.

Người tỳ nữ đáp:

- Nương tử tiểu tự là Cẩm Sắt, con gái Tiết hầu ở Đông Hải.

Thiếp tên Xuân Yến, hàng ngày có cần gì, xin cứ gọi.

Người tỳ nữ ra đem áo giày chăn nệm vào đặt lên giường, sinh mừng vì được chỗ yên thân.

Sáng ra sinh dậy sớm ra làm việc, ghi chép danh sách ma quỷ.

Tôi tớ trong nhà đều tới yết kiến, biếu rượu thịt rất nhiều nhưng sinh giữ ý đều từ chối, ngày hai bữa cơm đều từ nhà trong đưa ra.

Nương tử xét thấy liêm khiết cẩn thận nên đặc cách ban cho mũ nhà nho và áo màu, phàm có ban thưởng gì đều sai Xuân Yến đem tới.

Người tỳ nữ cũng rất phong vận, khi đã quen rồi thì nhiều phen liếc mắt đưa tình, nhưng sinh cẩn thận giữ mình không dám sơ suất, chỉ giả làm ra vẻ ngốc nghếch.

Qua hơn hai năm tiền thưởng đã tăng gấp bội mà sinh vẫn cẩn thận chăm chỉ như cũ.

Một đêm đang ngủ, chợt nghe nhà trong có tiếng la thét ầm ĩ, vội vùng dậy cầm đao ra thì thấy lửa đỏ rục trời, lần vào xem thì bọn cướp lố nhố đầy sân, đám tôi tớ sợ hãi chạy trốn.

Một người giục cùng chạy trốn, sinh không nghe mà bôi đen mặt, thắt dây lưng chen vào đám cướp kêu to:

- Đừng làm Tiết nương tử sợ hãi, nhưng phải chia nhau tìm của cải đừng để sót?

Lúc ấy bọn cướp đang tìm kiếm Cẩm Sắt khắp các phòng mà chưa thấy, sinh biết nàng chưa bị bắt liền lén ra sau nhà tìm kiếm, gặp một bà già núp ở đó, mới biết nàng và Xuân Yến đã leo qua tường ra ngoài.

Sinh cũng leo qua tường ra, thấy hai chủ tớ núp trong góc tối, liền nói:

- Chỗ này làm sao núp được?

Cô gái đáp:

- Ta không sao đi được nữa!

Vương liền bỏ đao cõng nàng, chạy khoảng hai ba dặm, mồ hôi nhễ nhại mới vào tới một hang núi sâu, đặt nàng xuống cho ngồi.

Chợt có một con cọp tới, sinh cả kinh định xông ra chặn thì nó đã ngoạm lấy cô gái.

Sinh vội túm chặt tai cọp, hết sức đẩy cánh tay vào miệng nó để thay cho Cẩm Sắt.

Con cọp tức giận nhả cô gái ra ngoạm vào tay sinh nghe răng rắc, cánh tay lìa ra rơi xuống đất, con cọp cũng bỏ đi.

Cô gái khóc nói:

- Khổ thân ngươi, khổ thân ngươi!

Sinh đang hăng chưa biết đau, chỉ thấy máu chảy như suối bèn bảo người tỳ nữ xé vạt áo băng bó vết thương.

Cô gái ngăn lại, cúi xuống nhặt cánh tay gãy rồi đích thân nối vào cho sinh, buộc chặt lại.

Hừng sáng mới từ từ trở về, vào tới nhà thấy vắng tanh, trời sáng hẳn đám tôi tớ mới dần dần tụ tập lại.

Cô gái đích thân tới thăm vết thương cho sinh, cởi vải buộc ra thì chỗ xương gãy đã liền lại, lại lấy thuốc ra rịt vào vết thương mới đi.

Từ đó nàng càng quý trùng sinh, đồ ăn thức dùng đều cho hưởng ngang mình.

Khi vết thương lành hẳn, cô gái đặt tiệc ở nhà trong để ủy lạo, bảo ngồi, sinh từ chối mấy lần mới ngồi ghé vào một góc.

Cô gái nâng chén mời trân trọng như đối với khách, hồi lâu mới nói:

- Thân thiếp đã kề cận chàng, muốn học em gái vua Sở theo Chung Kiến nhưng hiềm không có ai mai mối, phải mặt dày tự nói ra.

Sinh hoảng sợ nói:

- Ta chịu ơn nặng, có chết cũng không đủ đền đáp, nếu làm quá phận thì e trời phạt, thật không dám theo lệnh.

Nếu thương ta không có vợ thì ban cho một người tỳ nữ cũng đã là quá rồi.

*[Chung Kiến: Tả truyện, Định công tứ niên chép quân Ngô đánh tới Sính Đô nước Sở, vua Sở và gia quyến phải tránh nạn, bề tôi của vua Sở là Chung Kiến ghé vai cõng em gái vua Ngô là Ngũ Thiên chạy.

Về sau vua Sở định gả chồng cho em gái, Ngũ Thiên không chịu, nói đã kề cận với Chung Kiến lúc được ông ta cõng, vua Sở bèn gả nàng cho Chung Kiến].

Một hôm, chị lớn cô gái là Dao Đài tới, là một giai nhân khoảng bốn mươi tuổi.

Đến tối gọi sinh vào Dao Đài bảo ngồi rồi nói:

- Ta từ ngàn dặm tới đây để làm chủ hôn cho cô em, đêm nay có thể cho thành hôn với bậc quân tử.

Sinh lại đứng lên từ tạ, Dao Đài liền gọi rót rượu bảo hai người đổi chén, sinh cố từ chối, Dao Đài giật chén đổi cho nhau, sinh bèn lạy rạp xuống đất tạ tội rồi mới uống.

Dao Đài đi ra, cô gái nói:

- Nói thật với chàng, thiếp là tiên nữ có tội bị đày, tự xin cư ngụ ở cõi âm gom nuôi các oan hồn để chuộc tội.

Vừa rồi gặp nạn Thiên ma nên có cái duyên kề cận thân thể với chàng, phải mời chị lớn từ xa tới làm chủ hôn và coi sóc việc nhà giùm để tiện theo chàng về trần.

Sinh đứng dậy cung nói:

- Dưới đất vui lắm, chứ nhà ta có con vợ dữ, vả lại nhà cửa chật chội, không sao bàn cách vẹn tròn để sống với nhau.

Cô gái cười, chỉ nói không sao.

Kế uống say cùng đi ngủ, vui vẻ yêu thương nhau rất mực.

Qua vài hôm nàng nói với sinh:

- Cõi âm không thể chung sống lâu dài, xin chàng về ngay thu xếp việc nhà, xong rồi thiếp sẽ tự tới.

Rồi sai đem ngựa cho sinh, mở cửa bảo ra, vách núi đất lại liền như cũ.

Sinh cưỡi ngựa về làng, người làng đều khiếp hãi, về tới cổng thì thấy nhà cao cửa rộng.

Trước là khi sinh bỏ đi, vợ mời hai anh tới chuẩn bị roi gậy để đánh cho một trận trả thù, đến tối không thấy sinh về họ mới bỏ đi.

Có người nhặt được chiếc giày của sinh trong khe nên ngờ rằng sinh đã chết, kế hơn năm vẫn không có tin tức gì.

Có người lái buôn Mỗ ở Thiểm Tây hỏi cưới Lan thị, bèn tới ở luôn nhà sinh, trong vòng nửa năm xây cất thành tòa ngang dãy dọc.

Người lái buôn đi xa buôn bán, lại mua một người thiếp về, từ đó trong nhà lục đục, y có khi cũng hàng mấy tháng không về.

Sinh hỏi biết chuyện nổi giận, buộc ngựa bước vào thì gặp bà già hầu hạ vợ ngày trước.

Bà già hoảng sợ lạy phục xuống đất, sinh mắng chửi hồi lâu, bắt dẫn tới phòng vợ tìm thì đã trốn đâu mất, kế tìm thấy ở sau nhà thì đã thắt cổ chết rồi.

Sinh sai khiêng xác trả cho nhà họ Lan rồi cho gọi người thiếp của người lái buôn ra, thấy tuổi khoảng mười tám mười chín, cũng khá xinh đẹp bèn giữ lại trong phòng ngủ.

Người lái buôn nhờ người làng bắn tiếng xin trả lại người thiếp, nhưng nàng kêu khóc không chịu đi.

Sinh bèn làm đơn định kiện y về tội chiếm nhà cướp vợ, người lái buôn không dám nói gì nữa, dọn hàng quay về Thiểm Tây.

Sinh đang ngờ Cẩm Sắt phụ ước, một tối đang uống rượu với người thiếp thì có xe ngựa tới cổng, cô gái bước vào, chỉ giữ lại xuân Yến còn cho tất cả tùy tùng trở về.

Vào tới phòng, người thiếp ra lạy chào, nàng nói:

- Người này có tướng sinh con trai, có thể chịu khổ thay thiếp.

Rồi lập tức ban cho quần áo nữ trang.

Người thiếp lạy tạ nhận lấy rồi đứng hầu, nàng kéo ngồi xuống cùng chuyện trò rất vui vẻ, hồi lâu nói:

- Ta say rồi, muốn đi ngủ!

Sinh cũng cởi giày lên giường, người thiếp mới đi ra.

Về tới phòng thấy sinh đã nằm trên giường, lấy làm lạ quay lại xem thì đèn trong phòng cô gái đã tắt.

Sinh đêm nào cũng ngủ ở phòng người thiếp, nhưng một đêm người thiếp trở dậy tới nhìn trộm vào phòng cô gái thì thấy sinh đang chuyện trò nói cười với nàng, lấy làm lạ lùng vội quay về định nói với sinh thì chỉ thấy có giường không.

Sáng ra lén kể cho sinh, sinh cũng không tự biết, chỉ thấy mình lúc thì trong phòng cô gái, lúc thì ngủ phòng người thiếp mà thôi, bèn dặn giấu kín chuyện lạ ấy.

Lâu sau Xuân Yến có mang, cô gái vẫn như không biết gì, khi người tỳ nữ lâm bồn sinh khó bèn gọi nương tử, nàng bước vào thì sinh được ngay, là con trai.

Nàng cắt rốn xong đặt vào lòng người tỳ nữ rồi cười nói:

- Con nhãi đừng thế nữa nhé, nhiều nghiệp chướng thì lắm tai nạn thôi?

Từ đó Xuân Yến không sinh đẻ nữa.

Người thiếp thì sinh được năm trai hai gái.

Ở đó ba mươi năm, thỉnh thoảng cô gái lại trở về nhà, đi về đều vào lúc ban dêm.

Một hôm nàng dắt người tỳ nữ đi không trở lại nữa.

Sinh sống đến tám mươi tuổi, chợt một đêm dắt người lão bộc ra đi, cũng không trở về.

___________________________________

CHƯƠNG 227: PHÒNG VĂN THỤC

Lai Tự Vô Đoan Khứ Tuyệt Tông

Nan Tương Thủ Vĩ Kiến Thần Long

Liệu Ưng Túc Thế Kỳ Duyên Hợp

Thiên Tứ Lân Nhi Nhất Văn Phùng

Dịch:

Tới Khéo Đột Nhiên Đi Biệt Tích

Đầu Đuôi Khó Thấy Rõ Thần Long

Hẳn Chừng Kiếp Trước Kỳ Duyên Hợp

Quý Tử Trời Cho Cũng Lạ Lùng



Đặng Thành Đức người phủ Khai Phong (tỉnh thành Hà Nam) du học tới Duyện Châu (tỉnh Sơn Đông), ngụ trong ngôi chùa nát, chép thuê cho người coi việc làm sổ sách hộ tịch ở đó.

Cuối năm đám nha dịch đều về nhà, riêng Đặng ở lại nấu cơm ăn một mình trong chùa.

Sáng tinh mơ có người thiếu phụ gõ cửa vào, nhan sắc tuyệt đẹp, tới trước bàn thờ Phật thắp hương quỳ lạy rồi ra, hôm sau cũng thế.

Đến khuya Đặng trở dậy thắp đèn, đang làm việc thì nàng tới sớm hơn.

Đặng hỏi:

- Sao tới sớm thế?

Nàng đáp:

-Sáng ra thì đông người lộn xộn, chẳng bằng cứ tới sớm, nhưng sớm quá lại sợ quấy rầy giấc ngủ của chàng, vừa rồi nhìn thấy ánh đèn, biết chàng đã dậy nên mới tới thôi.

Sinh đùa nói:

- Trong chùa không có người, tới ở luôn cho khỏi mất công đi lại.

Nàng mỉm cười đáp:

- Trong chùa không có người, thì chàng là ma à?

Đặng thấy có thể tán tỉnh, bèn chờ nàng làm lễ xong kéo ngồi lại đòi giao hoan.

Nàng nói:

- Trước bàn thờ Phật làm thế sao được?

Đã không có nhà cửa gì mà còn mong muốn bậy bạ.

Đặng nài nỉ mãi không thôi, nàng nói:

- Cách đây ba mươi dặm, trong làng nọ có sáu bảy đứa nhỏ mời thầy dạy học chưa được.

Chàng hãy tới đó hỏi Lý Tiền Xuyên, có thể được nhận, rồi nói là có mang vợ đi cùng, bảo họ xếp cho một gian nhà riêng, thiếp sẽ lo cơm nước cho, như thế mới là kế lâu dài.

Đặng sợ việc lộ ra sẽ bị tội, nàng nói:

- Không sao đâu, thiếp họ Phòng tên Văn Thục, không có ai thân thuộc, quanh năm ở nhờ nhà ông cậu, ai mà biết được!

Đặng mừng rỡ từ biệt nàng, tới ngay làng nọ yết kiến Lý Tiền Xuyên, quả nhiên như đã bàn tính, hẹn sẽ mang gia quyến tới trước Tết.

Trở về, sáng ra nói cho cô gái biết, nàng hẹn sẽ chờ dọc đường.

Đặng từ biệt bè bạn, thuê ngựa đi, được nửa đường quả nhiên gặp cô gái đứng chờ, bèn xuống ngựa trao dây cương cho nàng dắt rồi cùng đi.

Tới nơi dạy học chung sống với nhau rất tương đắc, suốt sáu bảy năm như vợ chồng mà cũng không có ai tìm bắt người đi trốn.

Cô gái chợt sinh được một đứa con trai, Đặng vì vợ ở nhà không sinh đẻ nên có con mừng lắm, đặt tên là Duyện Sinh.

Cô gái nói:

- Vợ chồng giả rốt lại cũng khó thành chuyện thật, thiếp đang định từ giã chàng đi, lại sinh ra của nợ này không biết để làm gì?

Đặng nói:

- Đang tính nếu may mắn để dành được ít tiền sẽ cùng nàng trốn về quê, sao lại nói thế?

Nàng đáp:

-Cảm ơn!

Cảm ơn!

Ta không thể nhăn nhở mơn trớn lấy lòng để mong chị cả bao dung, mà làm vú em cho người, trẻ con oe oe khó chịu lắm.

Đặng thanh minh rằng vợ mình không ghen, cô gái cũng không nói gì.

Hơn một tháng sau, Đặng thôi dạy học, định đi buôn chung với con trai Tiền Xuyên, nói với cô gái:

- Ta nghĩ làm thầy mở lớp thì không bao giờ giàu được, nay học đi buôn ngõ hầu còn có ngày về được quê.

Nàng cũng không đáp.

Đến tối, bỗng nàng bế con dậy, Đặng hỏi làm gì, nàng đáp:

- Thiếp muốn đi!

Đặng vội trở dậy đuổi theo hỏi han, nhưng cổng còn chưa mở mà cô gái đã biến mất, sợ quá mới biết nàng không phải là người.

Đặng vì thấy lai lịch nàng đáng ngờ nên không dám kể cho ai, chỉ nói thác là vợ về thăm cha mẹ ruột.

Trước kia, lúc Đặng ra đi có hẹn với vợ là Lâu thị rằng cuối năm sẽ về, nhưng suốt mấy năm không có tin tức gì, người ta đồn là đã chết.

Anh trai thấy không có con, muốn nàng lấy chồng khác, Lâu xin đợi ba năm nữa, hàng ngày chỉ lủi thủi ở một mình một nhà, kéo sợi sinh nhai.

Một hôm trời vừa tối, nàng ra đóng cổng ngoài thì có một cô gái bước vào, bế theo một đứa bé còn quấn tã, nói:

- Ta từ nhà mẹ đẻ trở về, tới đây thì vừa tối, biết chị ở có một mình nên xin ngủ nhờ.

Lâu mời vào, tới trong phòng nhìn kỹ thì là một người đẹp khoảng hơn hai mươi tuổi, vui vẻ cho nằm chung giường.

Nhân đùa giỡn với đứa nhỏ, thấy nó trắng như quả bầu, than rằng:

- Mụ góa ta lại không có được một đứa con thế này.

Cô gái nói:

- Ta đang ngại vì nuôi nó phiền quá, nếu cho chị làm con nuôi để nối dõi thì chị thấy sao?

Lâu nói:

- Chưa nói tới chuyện nương tử không nỡ dứt tình, cho dù có nỡ thiếp cũng không có sữa, làm sao nuôi được?

Cô gái nói:

- Chuyện đó có gì khó, lúc sinh cháu, ta cũng lo không có sữa, chỉ uống nửa tễ thuốc là có ngay.

Nay thuốc thừa vẫn còn đây, xin biếu cho chị.

Rồi lấy gói thuốc ra đặt trước cửa sổ.

Lâu thị ậm ừ, chưa thấy có gì khác lạ.

Kế ngủ đi, khi tỉnh dậy gọi thì đứa nhỏ còn đó mà cô gái đã mở cửa đi rồi, vô cùng khiếp sợ.

Rạng sáng đứa nhỏ khát sữa khóc đòi bú, Lâu bất đắc dĩ phải uống thuốc, giây lát sữa chảy ròng ròng bèn cho nó bú.

Hơn một năm, đứa nhỏ ngày càng bụ bẫm, bắt đầu học nói, nàng thương yêu chẳng khác gì con mình đẻ ra, vì vậy bỏ luôn ý định cải giá.

Nhưng sáng ra đã phải bế con, không làm gì được nên ngày càng túng thiếu.

Một hôm cô gái chợt tới, Lâu sợ đòi lại con, trước tiên trách ngay về việc lẳng lặng bỏ đi không nói, kế kể tới nỗi khó nhọc nuôi nấng đứa nhỏ.

Cô gái cười nói:

- Chị kêu ca khó nhọc thì ta không đòi con lại sao?

Rồi vẫy gọi con.

Đứa nhỏ khóc sà vào lòng Lâu thị, cô gái nói:

- Con nghé con không nhận mẹ nó nữa rồi!

Của này dẫu trăm lượng vàng cũng khó đổi được, cứ chồng tiền ra để làm giấy tờ.

Lâu tưởng nói thật giận tím mặt, cô gái cười nói:

- Chị đừng sợ, thiếp tới chính vì con mà!

Sau khi ra đi, lo chị không có tiền nuôi cháu, nên tìm đủ cách kiếm được hơn mười lượng vàng.

Rồi lấy vàng ra đưa Lâu.

Lâu sợ nhận vàng xong cô gái sẽ có cớ đòi con nên nhất quyết từ chối, cô gái bèn đặt vàng lên giường rồi ra cửa đi thẳng.

Lâu bế con đuổi theo ra thì nàng đã đi xa, gọi cũng không ngoái lại, còn ngờ là có ý ác, nhưng được vàng đem cho vay lấy lời, trong nhà cũng no đủ.

Ba năm sau Đặng buôn bán có tiền sắm sữa hành trang trở về nhà.

Đang cùng hỏi han an ủi nhau, thấy có đứa nhỏ hỏi con nhà ai, vợ kể lại duyên do.

Đặng hỏi tên, Lâu đáp:

- Mẹ nó gọi là Duyện Sinh, thiếp cũng giữ nguyên như cũ.

Đặng ngạc nhiên nói:

- Thế thì đúng là con ta đấy!

Hỏi lại ngày giờ thì đúng đêm cô gái bế con đi.

Đặng bèn kể lại hết chuyện hợp tan với Phòng Văn Thục, hai vợ chồng càng thêm vui mừng khuây khỏa, vẫn mong cô gái trở lại nhưng rốt cuộc vẫn biệt tăm.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 228+229+230+231+232+233


CHƯƠNG 228: QUYỀN XÀ

NUÔI RẮN

Sơn Kính Hoang Lương Cổ Tự Chung

Dạ Lan Bãi Liệp Ngẫu Tương Phùng

Đạo Nhân Độc Hữu Tuần Xà Thuật

Hà Tự An Thiền Chế Độc Long

Dịch:

Hoang Lương Chùa Cổ Nẻo Non Sâu

Gần Sáng Thôi Săn Bỗng Gặp Nhau

Dạy Rắn Đạo Nhân Riêng Có Thuật

Khác Gì Khắc Chế Độc Long Đâu



Trong núi ở huyện Tứ Thủy (tỉnh Sơn Đông) vốn có ngôi chùa, bốn bề không có thôn xóm, ít người lui tới, chỉ có đạo sĩ trú ngụ.

Có người nói rằng trong núi có nhiều rắn lớn, nên những kẻ du ngoạn càng lánh xa.

Có một thiếu niên vào núi bắt chim ưng, vào sâu quá không có chỗ nào ngủ đêm, nhìn thấy phía xa có chùa chiền bèn rảo bước tới gõ cửa.

Đạo sĩ hoảng sợ nói:

- Sao cư sĩ lại tới đây?

May mà không gặp phải đám trẻ.

Rồi vội bảo ngồi, dọn cháo cho ăn.

Thiếu niên ăn thưa xong thì có một con rắn lớn bò vào, to hơn mười ôm, ngóc đầu nhìn khách, mắt long lên giận dữ.

Khách cả sợ, đạo sĩ đánh vào đầu rắn quát:

- Ra ngoài!

Con rắn mới mọp đầu bò vào gian phòng phía đông, ngoằn ngoèo mãi một lúc mới lọt hẳn vào trong, nằm khoanh tròn chật cả phòng, khách cả sợ run lẩy bẩy.

Đạo sĩ nói:

- Trước nay ta vẫn nuôi nó, nên nếu có ta thì không sao, chỉ sợ có ai một mình gặp nó mà thôi.

Khách vừa ngồi yên, lại có một con rắn khác bò vào, hơi nhỏ hơn con trước, to độ năm sáu ôm, thấy khách thì dừng lại, trợn mắt thè lưỡi giống như con trước.

Đạo sĩ lại quát, nó cũng bò vào phòng.

Trong phòng không còn chỗ nằm, nó vắt nửa thân lên khoanh vào xà nhà, đất trên vách tường cứ rơi đồm độp.

Khách càng sợ hãi, cả đêm không dám ngủ, sáng ra dậy sớm xin về.

Đạo sĩ đưa ra cổng chùa, thì thấy trên tường dưới thềm lúc nhúc những rắn to bằng cái vò cái chậu, thấy người lạ đều toan cắn.

Khách sợ, cứ nép vào sát người đạo sĩ mà đi, đạo sĩ đưa khách tới cửa núi mới trở về.

Quê ta có mấy người làm khách ở Trung Châu (tỉnh Phúc Kiến), tới ngủ nhờ trong một ngôi chùa nhốt rắn.

Sư trong chùa làm cơm tối mời, có món canh thịt rất ngon nhưng cứ tròn tròn từng khúc từng khúc như cổ gà.

Khách lấy làm lạ, hỏi sư giết bao nhiêu gà mà có lắm cổ thế.

Sư đáp:

- Đây là rắn chặt ra đấy!

Khách phát hoảng, có người ra ngoài nôn mửa.

Đến lúc nằm ngủ, chợt thấy trên bụng có vật gì mềm mềm động đậy, sờ thử thì là rắn, sợ hãi vùng dậy la ầm lên.

Sư tỉnh dậy nói:

- Đó là chuyện thường, có gì lạ đâu mà!

Nhân đánh lửa soi lên vách cho xem, thì rắn lớn rắn nhỏ đầy trên tường, trên giường dưới sàn cũng toàn là rắn.

Hôm sau sư dẫn khách vào điện Phật, dưới tòa Phật có cái giếng lớn, trong có con rắn to như cái chum lớn nghểnh đầu lên miệng giếng nhưng không bò lên.

Soi đuốc xuống nhìn thì bên dưới lúc nhúc rắn con rắn cháu, tính ra có tới hàng trăm vạn con, cả một bầy bên dưới.

Sư nói:

- Trước đây rắn lên khỏi giếng gây hại dữ lắm, từ khi xây tòa Phật bên trên để trấn yểm thì mới yên ổn.

____________________________________

CHƯƠNG 229: CUỒNG SINH

Túng Tình Thi Tửu Bất Hiềm Cuồng

Can Yết Như Hà Lũ Thượng Đường

Huyện Lệnh Hữu Quyền Môn Khả Diệc

Phó Chi Nhất Tiếu Diệc Hà Phương

Dịch:

Thơ Rượu Ngông Nghênh Chẳng Ngại Cuồng

Sao Hay Thỉnh Thác Tới Công Đường

Diệt Môn Quan Huyện Oan Quyền Đủ

Một Tiếng Cười Ngơ Tránh Họa Ương



Học sứ họ Lưu kể ở châu Tế Ninh (tỉnh Sơn Đông) có thư sinh ngông, tính hay rượu.

Nhà không có được hai thạch gạo, nhưng kiếm được tiền là mua rượu, không hề lo lắng tới chuyện cùng quẫn.

Gặp lúc có quan Thứ sử mới đáo nhiệm, tửu lượng cao chưa gặp ai uống bằng, nghe tiếng sinh bèn mời tới cùng uống rượu, thích lắm, thường uống với nhau.

Sinh cậy quen biết, nên cứ có ai kiện tụng chuyện nhỏ muốn được kiện biếu xén món tiền còm lại nói hộ, Thứ sử đều ưng thuận.

Sinh quen lệ cứ thế làm mãi, Thứ sử đâm ghét.

Một hôm, Thứ sử vừa ra công đường buổi sáng, sinh cầm thiếp bước lên trình.

Thứ sử nhìn xong cười khẩy, sinh lớn tiếng nói:

- Ông thấy được thì cho, không được thì thôi, chứ cười cái gì?

Vẫn nghe kẻ sĩ có thể giết chết chứ không thể làm nhục, chuyện khác thì không thể báo hờn, chứ chẳng lẽ một cái cùm lại không báo được à?

Nói xong cười lớn một tràng vang dội cả công đường.

Thứ sử nổi giận nói:

- Ngươi dám vô lễ à?

Không nghe tiếng quan Lệnh doãn làm tan nát nhà cửa sao?

Sinh phẩy tay áo bước xuống thềm, lớn tiếng đáp:

- Thằng học trò này không có nhà cửa gì để tan nát cả.

Thứ sử càng tức giận, sai bắt trói lại.

Rồi hỏi tới nhà cửa, thì sinh chẳng có nhà đất gì, chỉ dắt vợ tới ở trên tường thành.

Thứ sử nghe thế bèn thả ra, nhưng ra lệnh đuổi không cho ở trên tường thành nữa.

Bè bạn thương vì ngông, góp tiền mua cho vài thước đất, xây cho một cái lều trong thành.

Sinh vào ở, than rằng:

- Từ nay trở đi thì phải sợ quan Lệnh doãn rồi!

____________________________________

CHƯƠNG 230: TÔN TẤT CHẤN

Kim Tự Thư Danh Vân Lý Hiện

Phong Cuồng Lôi Cấp Lăng Ương Chàng

Chư Nhân Thảng Thiết Đồng Chu Nghị

Hội Khán Khinh Phàm Ổn Độ Giang

Dịch:

Chữ Họ Tên Vàng Hiện Áng Mây

Sấm Rền Gió Táp Sóng Dồn Gay

Nếu Cùng Thuyền Hội Cùng Thương Xót

Sẽ Thuận Buồm Qua Thoát Hiểm Ngay



Tôn Tất Chấn qua sông, gặp lúc mưa to gió lớn, thuyền bè nghiêng ngã, người trong thuyền sợ lắm.

Chợt thấy một vị thần mặc giáp vàng đứng trong mây cầm một cái bài vàng đưa xuống cho nhìn.

Mọi người cùng ngẩng lên xem, thấy ở trên đề ba chữ "Tôn Tất Chấn” rất rõ ràng.

Mọi người nói với Tôn Tất Chấn rằng:

- Ngươi đã phạm tội bị trời phạt, xin mời qua một thuyền riêng, đừng làm lụy cho cả bọn ta.

Tôn còn chưa kịp nói gì, họ cũng không đợi là có ưng thuận hay không, thấy cạnh thuyền có chiếc xuồng con, liền xúm vào đẩy Tôn qua đó.

Tôn vừa ngồi yên xong, quay nhìn thì chiếc thuyền lớn đã chìm rồi.

____________________________________

CHƯƠNG 231: TRƯƠNG BẤT LƯỢNG

Chấp Khái Tòng Vô Nhất Thủ Doanh

Như Hà Thiên Đắc Bất Lương Danh

Nhược Vô Cổ Khách Thân Tương Phưởng

Tưởng Phạt An Năng Thị Chúng Sinh

Dịch:

Cầm Gạt* Phân Minh Chẳng Lấy Đầy

Cớ Sao Tên Gọi Bất Lương Đây

Khách Buôn Nếu Chẳng Thân Hành Hỏi

Thưởng Phạt Trời Công Chửa Dễ Hay

*Cái ống để gạt trên mặt đấu khi đong thóc gạo.



Nhà buôn nọ đi tới ranh giới tỉnh Trục Lệ chợt gặp mưa đá, bèn núp vào đám lúa.

Nghe trên không có tiếng nói:

- Đây là ruộng của Trương Bất Lượng, đừng làm hại lúa của y.

Nhà buôn nghĩ thầm không biết họ Trương là ai, mà "bất lương” tại sao còn được trời che chở.

Trời tạnh bèn vào thôn hỏi thăm, quả có người tên như thế, liền thuật lại điều mình nghe, lại hỏi cái tên "Bất Lượng" có nghĩa là gì.

Thì ra họ Trương giàu có, thóc lúa rất nhiều, cứ đến mùa xuân lại có nhiều người nghèo túng tới vay, lúc trả thường không đủ số, nhưng Trương vẫn nhận cả không hề đong lường tính toán chi ly nên người làng gọi là “Bất Lượng" (không đong).

Mọi người ùa ra đồng xem, thấy lúa khắp nơi xơ xác, chỉ riêng ruộng của họ Trương là không tổn hại gì.

_

TRUYỆN PHỤ: MỘT TRUYỆN TRONG KHOÁNG VIÊN CHÍ CỦA NGÔ BẢO NHAI ( TRẦN DIỆM )

Sư Tế Thủy ở Hoa Ổ kể vào năm Thuận Trị thứ 18 (1661) có một người ăn mày ở phủ Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông) là thần vâng sắc lệnh làm mưa đá.

Có người tránh mưa đá nghe trên không có tiếng nói:

- Đừng làm tổn hại ruộng của Trương Bất Lượng.

Tạnh mưa thì ruộng các nơi đều tan tác, chỉ riêng ruộng của Trương là không tổn hại gì.

Thì ra họ Trương nhận thóc người khác trả nợ, bảo cứ tự đem đổ vào vựa, không hề đong lại, nên người ta ca ngợi là "Bất Lượng" (không đong).

Chuyện này cũng giống chuyện Tưởng Tự Lượng thời Nam Tống.

Họ Tưởng người đất Hàng (tỉnh Chiết Giang), anh cả tên Sùng Nhân, kế tên Sùng Nghĩa, kế tên Sùng Tín, ba anh em đều nhân đức như nhau.

Thường đặt các loại thưng đấu công ở kho, ai tới vay thóc cũng đều bảo tự đong lấy, năm mất mùa cũng thế.

Người ta vì thế gọi là Tưởng “Tự Lượng” (tự đong).

Năm Hàm Thuần thứ 3 (1267) có chiếu phong ba anh em là Quảng Phúc hầu, nay vẫn còn miếu thờ trên Lam Kiều.

____________________________________

CHƯƠNG 232: HỒNG MAO CHIÊN

TẤM THẢM DẠ

Chiếm Địa Vô Đa Chỉ Nhất Chiên

Khởi Tri Khoảnh Khắc Triển Lai Khoan

Ký Ngôn Biên Súy Tu Lưu Ý

Tha Nhật Binh Qua Thử Triệu Đoan

Dịch:

Chiếm Đất Không Nhiều Một Chiếc Chiên

Nào Hay Khoảnh Khắc Rộng Ra Liền

Nhắn Cùng Biên Tướng Nên Lưu Ý

Ngày Khác Can Qua Sẽ Khởi Lên



Nước Hồng Mao trước có hẹn qua buôn bán ở Trung Quốc, chủ tướng ở biên cương thấy họ đông người không cho lên bờ.

Người Hồng Mao cố nài, chỉ xin cho được đặt chân lên một khoảnh đất rộng bằng tấm nệm lông thôi.

Viên chủ tướng nghĩ một tấm nệm lông thì có được bao nhiêu, bèn cho.

Người Hồng Mao đặt tấm nệm lên bờ, thoạt tiên chỉ đủ chỗ cho hai người, kế nở ra đủ chỗ cho bốn năm người, trong chớp mắt tấm nệm nở rộng ra hơn một mẫu đất, đủ chỗ cho mấy trăm người.

Họ cùng rút đoản đao ra, nhân lúc bất ngờ cướp phá cả mấy dặm rồi bỏ đi.

____________________________________

CHƯƠNG 233: PHỤ THI

QUẢY XÁC CHẾT

Thân Thủ Duyên Hà Phân Lưỡng Xứ

Hốt Vô Hốt Hữu Phí Nghi Sai

Hoảng Đồng Lộ Nhập Phi Đầu Quốc

Liệu Thị Nhân Hoàn Cảm Triệu Lai

Dịch:

Thân Với Đầu Sao Chia Mỗi Chỗ

Có Không Biến Hiện Biết Đâu Lường

Hoảng Như Lạc Nẻo Phi Đầu Quốc

Chừng Bởi Nhân Hoàn Cảm Triệu Chăng?



Có người tiều phu ra chợ bán củi, vác đòn gánh trở về, chợt thấy đầu đòn gánh như có vật nặng máng vào, quay nhìn thấy một cái xác chết không đầu treo lủng lẳng, phát hoảng rẫy đòn gánh ra đập túi bụi, chợt không thấy đâu nữa.

Y sợ hãi chạy vào một thôn gần đó, lúc ấy trời đã sập tối, thấy có mấy người đốt đuốc soi trên mặt nước như tìm vật gì.

Tới gần hỏi thăm thì ra bọn họ đang ngồi chơi, chợt có cái đầu trên không rơi xuống, râu tóc bòm sờm, trong phút chốc thì biến mất.

Người tiều phu kể lại việc mình gặp, tính ra thì đủ một xác người, nhưng nghĩ mãi không biết từ đâu tới.

Sau cũng có người quảy sọt muối đi trên đường, người ta thấy trong sọt muối có cái đầu người, lấy làm kỳ quái căn vặn.

Y quay nhìn mới phát hoảng đổ ụp cái sọt ra đất, cái đầu người lăn tròn rồi biến mất.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 234+235+236+237+238


CHƯƠNG 234: CÚC DƯỢC NHƯ

Côn Huyền Đoạn Hậu Khí Gia Hành

Đạo Phục Quy Lai Thuật Dĩ Thành

Y Trượng Đằng Không Lưu Bất Đắc

Tiên Hương Tình Trọng Cố Hương Khinh

Dịch:

Tơ Loan Dứt Mối Biệt Tha Phương

Đạo Phục Về Thăm Pháp Thuật Tường

Áo Gậy Bay Tung Không Giữ Được

Tiên Hương Tình Nặng Nhẹ Quê Hương



Cúc Dược Như là người phủ Thanh Châu (tỉnh Sơn Đông), vợ chết, bỏ nhà đi mất.

Mấy năm sau ăn mặc như lối đạo sĩ trở về ngủ lại một đêm rồi định đi.

Họ hàng họ hàng ép ở lại, giữ riệt lấy quần áo pháp trượng.

Cúc nói thác là đi dạo, ra tới ngoài thôn thì áo quần đồ vật từ trong nhà đều phấp phới bay ra, theo Cúc đi mất.

____________________________________

CHƯƠNG 235: ĐẠO HỘ

HỘ TỊCH KẺ TRỘM

Dưỡng Gian Cô Túc Đa Lưu Lệ

Hội Hội Công Đình Tự Cố Câm

Phiên Húy Lương Dân Xưng Đạo Hộ

Thử Hồ Tỉnh Thức Tể Quan Tâm

Dịch:

Xưa Nay Cô Túc Dưỡng Dung Gian

Mờ Ám Công Đình Lắm Tệ Đoan

Kiêng Kị Lương Dân Xưng Đạo Hộ

Hồ Ly Thấu Rõ Tận Tim Quan



Trong niên hiệu Thuận Trị (1644-1661) ở vùng Đằng, Dịch (tỉnh Sơn Đông) cứ mười người thì có sáu bảy làm cướp, quan không dám nã bắt.

Về sau bọn chúng quy thuận, quan huyện biên tên riêng làm "hộ ăn cướp".

Nếu chúng có tranh giành kiện tụng với dân thường, thì lại thiên vị xử cho chúng được, đại khái vì sợ chúng lại nổi dậy.

Về sau những kẻ thưa kiện cứ nhận bừa là hộ ăn cướp, còn bên kia thì cứ ra sức cãi là mạo nhận.

Bên nguyên bên bị ai cũng nhận mình là phải, còn quan thì chưa xét chuyện phải trái, trước hết cứ xét bên nào là hộ ăn cướp thật đã, thưa lên kiện xuống, đám nha lại lục lọi sổ sách hộ khẩu rất vất vả.

Lúc ấy trong công thự có nhiều hồ, quan huyện có con gái bị hồ quấy phá, bèn đem lễ vật đón thuật sĩ tới, dùng bùa phép bắt được hồ bỏ vào vò, đặt lên lò lửa.

Hồ ở trong vò kêu to:

- Ta là hộ ăn cướp đây!

Ai nghe chuyện cũng bật cười.

____________________________________

CHƯƠNG 236: THÂU ĐÀO

ĂN TRỘM ĐÀO

Thử Nhật Quan Dân Tác Tháng Du

Diễn Xuân Tục Lệ Cựu Truyền Lưu

Hí Tòng Thiên Thượng Giai Thăng Khứ

Trịnh Địa Tiên Đào Mạn Thuyến Thâu

Dịch:

Ngày Hội Quan Dân Mở Cuộc Vui

Diễn Xuân Tục Lệ Tự Lâu Đời

Leo Thang Lên Vút Trên Trời Thẳm

Ăn Trộm Đào Tiên Thảy Xuống Coi



Lúc còn nhỏ có lần ta lên tỉnh chơi đúng vào dịp tiết Lập xuân.

Theo lệ cũ thì trước đó một hôm, các nhà buôn bán trên phố đều kết kiệu hoa trỗi đàn sáo đưa đám rước tới tỉnh đường, gọi là "diễn xuân".

Ta cùng bạn bè kéo nhau đi xem, hôm ấy người đông nghẹt, trên sảnh đường có bốn ông quan mặc áo đỏ ngồi đối diện nhau theo hướng đông tây.

Lúc ấy ta còn là trẻ con, chẳng biết là những quan gì, chỉ nghe tiếng cười nói ồn ào, trống chiêng ầm ĩ.

Chợt có một người dắt đứa trẻ con xỏa tóc, vác hòm lên thềm, như muốn thưa bẩm.

Đang khi ồn ào ầm ĩ, cũng chẳng nghe là thưa gởi những gì, chỉ thấy trên thềm cười rộ.

Kế có người lính hầu bước ra lớn tiếng sai diễn trò, người ấy vâng lệnh bắt đầu, hỏi diễn trò gì.

Các quan nói với nhau vài câu, rồi người lính hầu lớn tiếng hỏi giỏi trò gì, người ấy đáp giỏi trò đánh tráo vật sống.

Người lính hầu vào bẩm quan một lúc, lại trở ra sai diễn trò hái đào.

Người diễn trò vâng dạ, cởi áo phủ lên cái hòm, làm ra bộ oán thán nói:

- Bậc quan trưởng thật chẳng nghĩ cho, băng chưa tan trời còn lạnh, lấy đâu ra đào?

Không hái thì sợ quan giận, làm thế nào được?

Đứa con nói:

- Cha đã hứa, sao lại chối từ?

Người diễn trò ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói:

- Ta nghĩ kỹ rồi, đầu mùa xuân tuyết chưa tan, tìm đâu ra đào ở cõi trần.

Chỉ vườn của Tây Vương mẫu bốn mùa cây cỏ đều xanh tươi, may ra thì có, phải lên trời ăn trộm thôi.

Đứa con nói:

- Ô, trời mà lên được à?

Đáp:

- Có cách đây!

Bèn mở hòm lấy ra một cuộn dây dài vài mươi trượng thắt thòng lọng một đầu rồi ném lên không, sợi dây lơ lửng trên không rủ xuống như mắc vào vật gì vậy.

Không bao lâu càng ném càng cao, sợi dây cứ vào dần trong mây ra, khi cuộn dây trong tay đã hết bèn gọi đứa con nói:

- Con ơi lại đây!

Cha già yếu, nặng nề lóng ngóng không leo được, ngươi đi một chuyến!

Rồi đưa đầu sợi dây cho đứa con nói:

- Cứ bám vào mà leo lên.

Thằng con cầm dây ra vẻ khó khăn, oán trách:

- Ông già thật là lẩm cẩm, một sợi dây thế này mà bảo ta bám vào leo lên trời cao muôn trượng, giả như nửa chừng dây đứt, còn gì là xương ta?

Người cha lại thúc ép, nói:

- Cha đã lỡ miệng hứa rồi, hối cũng không kịp.

Con ráng đi một chuyến, đừng ngại khó nhọc, nếu ăn trộm được đào, ắt sẽ được thưởng hàng trăm đồng tiền vàng, cha sẽ cưới cho một con vợ đẹp.

Đứa con bèn nắm sợi dây leo lên, tay kéo chân quặp, như con nhện leo tơ, dần dần vào trong mây không thấy đâu nữa.

Hồi lâu có một trái đào to bằng cái bát rơi xuống, người diễn trò mừng rỡ nhặt lấy đem dâng lên, các quan trên sảnh đường chuyền tay nhau xem hồi lâu, cũng không biết là giả hay thật.

Chợt sợi dây rơi xuống đất, người diễn trò hoảng sợ nói:

- Chết rồi!

Trên trời có người cắt sợi dây của ta, thằng nhỏ biết bám vào đâu?

Giây lát có một vật rơi xuống, nhìn ra là cái đầu của đứa con, người diễn trò ôm lên khóc nói:

- Đây ắt là nó trộm đào bị người canh bắt được, con ta thế là chết rồi!

Giây lát lại một cái chân rơi xuống không thiếu chút gì.

Người diễn trò hết sức bi thương, nhặt tất cả cho vào cái hòm đậy lại, nói:

- Già này chỉ có một đứa con hàng ngày cùng nhau lên bắc xuống nam, nay vâng nghiêm lệnh, không ngờ chuốc phải tai họa thảm lạ đến như thế, phải mang đi chôn thôi.

Rồi lên sảnh đường quỳ xuống nói:

- Vì chuyện hái đào mà con ta chết rồi?

Nếu các quan thương giúp tiền tho tiểu nhân chôn cất nó, sẽ xin kết cỏ ngậm vành để đền ơn.

Mọi người ngồi xem kinh sợ, ai cũng cho tiền.

Người diễn trò nhận lấy giắt vào lưng, rồi gõ vào cái hòm kêu:

- Bát Bát ơi, còn chờ gì mà không ra cám ơn?

Chợt một đứa trẻ tóc tai bù xù đầu đội nắp hòm chui ra khom người cúi đầu bái tạ, thì ra là đứa con.

Ta lấy làm lạ về thuật ấy nên đến nay vẫn còn nhớ.

Về sau nghe nói Bạch Liên giáo có thể làm được thuật ấy, có lẽ người diễn trò là dòng dõi của họ chăng?

____________________________________

CHƯƠNG 237: KHẨU KỸ

KỸ THUẬT MIỆNG

Sa Song Nguyệt Thượng Dạ Siêu Siêu

Tào Tạp Châu Hầu Thắng Quản Tiêu

Thị Ảo Thị Chân Thả Mạc Biên

Đán Văn Kiều Ngữ Diệc Hồn Tiêu

Dịch:

Song Sa Vòi Vọi Mảnh Trăng Theo

Réo Rắt Hầu Âm Thắng Thổi Tiêu

Là Ảo Là Chân Chưa Nói Vội

Chỉ Nghe Thỏ Thẻ Đủ Hồn Tiêu



Một cô gái tới làng, tuổi chừng hai mươi bốn, hai mươi lăm, khoác một túi thuốc đi bán.

Có người hỏi xin chữa bệnh, cô gái không biết kê đơn, bảo đến tối hỏi thần, rồi chiều tối dọn dẹp sạch sẽ một gian phòng nhỏ, vào trong đóng chặt cửa lại.

Mọi người xúm xít quanh cửa sổ lắng tai nghe ngóng, chỉ thì thào nói chuyện, không dám ho hắng.

Đến giữa canh một, chợt nghe thấy tiếng rèm lay động, cô gái bên trong nói:

- Cô Chín tới phải không?

Một cô gái đáp tới rồi.

Lại hỏi:

- Lạp Mai theo cô Chín tới đấy à?

Như có một tỳ nữ đáp vâng ạ.

Ba người ríu rít trò chuyện không ngớt.

Giây lát lại có tiếng rèm cửa lay động, cô gái nói:

- Cô Sáu tới rồi!

Mọi người cùng nói:

- Xuân Mai cũng bế tiểu lang theo đấy à?

Có tiếng một cô gái đáp:

- Tiểu ca kêu khóc không chịu ngủ, nhất định đòi đi theo nương tử, nặng như cả trăm cân, cõng mệt gần chết.

Rồi nghe tiếng cô gái nựng nịu, tiếng cô Chín hỏi thăm, tiếng cô Sáu chuyện trò, tiếng hai người tỳ nữ dỗ dành, tiếng trẻ con cười giỡn, rộ lên một hồi.

Kế lại nghe cô gái cười nói:

- Cậu ấm cũng nghịch ngợm quá, xa xôi như thế mà ôm cả con mèo theo.

Rồi tiếng nói ngớt dần, lại có tiếng rèm cửa lay động, tất cả lại ồn ào nói:

- Cô Tư sao tới chậm thế?

Có tiếng một cô gái nhỏ lí nhí:

- Đường xa hàng ngàn dặm, đi với cô mãi mới tới được, cô đi lại chậm.

Rồi mọi người lại thăm hỏi nhau, tiếng kéo ghế, tiếng gọi lấy thêm ghế, cứ nhộn nhạo cả lên ầm ĩ trong phòng, hồi lâu mới ngớt.

Kế nghe tiếng cô gái hỏi thuốc, cô Chín cho là nên có sâm, cô Sáu cho là phải có kỳ, cô Tư bảo là cần có truật, bàn bạc một lúc lại nghe cô Chín gọi đem bút nghiên ra.

Không bao lâu có tiếng xé giấy soàn soạt, tiếng đặt bút lách cách, tiếng mài mực rin rít, kế đó là tiếng ném bút kéo bàn vang vang, rồi nghe tiếng lấy thuốc trong bao sột soạt.

Lát sau cô gái kéo rèm, gọi người bệnh, lấy thuốc nhận đơn rồi quay trở vào.

Lập tức nghe tiếng ba cô gái chào về, tiếng ba thị tỳ chào về tiếng trẻ con bi bô, tiếng mèo ngoao ngoao lại rộ lên cùng một lúc.

Tiếng cô Chín trong mà cao, tiếng cô Sáu chậm mà trầm, tiếng cô Tư dịu mà ấm, cho đến tiếng của ba tỳ nữ đều có âm sắc riêng, nghe có thể phân biệt rõ ràng được.

Mọi người tin là thần cho thuốc thật, nhưng uống thử thì không khỏi bệnh.

Đó gọi là thuật mồm, dùng nó để bán thuốc mà thôi, nhưng cũng kỳ lạ thật!

Vương Tâm Dật kể lúc ở kinh đô ngẫu nhiên đi ngang chợ nghe tiếng ca hát đánh đàn, người xem đông nghẹt.

Tới gần nhìn thì thấy một thiếu niên cao giọng ca hát, chỉ lấy một ngón tay đè vào má, vừa đương vừa hát, tiếng nghe vang vang, không khác gì tiếng đàn, cũng là dòng dõi của người biết thuật mồm.

______________________________________

CHƯƠNG 238: VƯƠNG LAN

Kim Đan Thiết Đắc Để Sinh Hoàn

Nhân Thuật Tiên Tâm Kiến Nhất Ban

Tụ Ẩm Yên Đôn Thương Tị Thỉ

Châu Liêm Cơ Thoăn Thiết Tị San

Dịch:

Trộm Được Kim Đan Sống Trở Về

Tiên Phương Nhân Thuật Thấy Hi Kỳ

Cùng Nhau Phóng Túng Say Sưa Bậy

Suýt Bị Lưu Đày Núi Thiết Vi



Vương Lan người huyện Lợi Tân (tỉnh Sơn Đông) bị bạo bệnh chết.

Diêm Vương xét lại thì là quỷ tốt bắt lầm, bèn trách phạt bắt đưa hồn Vương về nhập vào xác lại, thì xác đã nát.

Quỷ sợ tội, nói với Vương:

- Người mà chết làm ma thì khổ, ma mà được thành tiên thì sướng, nếu được sướng thì cần gì phải sống lại làm người?

Vương cho là đúng, quỷ nói:

- Ở đây có một con hồ đã luyện được kim đan, trộm lấy mà nuốt thì hồn không tan, có thể sống mãi, muốn đi đâu làm gì đều được như ý, ông có chịu không?

Vương nghe theo, quỷ bèn dắt đi, tới một phủ đệ lớn, thấy lầu gác nguy nga nhưng vắng vẻ không có một người nào.

Có con hồ đứng dưới trăng, ngửa đầu nhìn lên không, thở ra một hơi, trong miệng có vật tròn bay thẳng vào mặt trăng, hít vào một hơi, vật ấy rơi xuống lại há miệng ngậm lấy, rồi lại thở ra, cứ thế làm mãi.

Quỷ bèn rón rén tới bên cạnh, chờ lúc hồ thở phun vật ấy ra vội cướp lấy đưa cho Vương nuốt.

Hồ giật mình, nổi giận xông tới nhưng thấy họ có hai người, sợ chống không nổi đành căm hờn bỏ đi.

Vương chia tay với quỷ, về tới nhà thì vợ con nhìn thấy đều hoảng sợ chạy tan.

Vương kể lại mọi chuyện, vợ con dần dần yên tâm, từ đó lại ăn ở trong nhà như lúc trước.

Bạn là Trương sinh nghe chuyện tới thăm, gặp nhau cùng trò chuyện.

Vương nói:

- Nhà ta và anh đều nghèo, nay có thuật có thể làm giàu được, anh cùng đi với ta được không?

Trương vâng dạ, Vương lại nói:

- Ta có thể không cần thuốc vẫn chữa được bệnh, không cần bói vẫn đoán được mệnh, nhưng nếu ta ra mặt lỡ gặp người quen thì họ hoảng sợ, nên cứ ngầm theo anh thôi được không?

Trương lại vâng dạ, rồi đó sắp xếp hành trang ngay hôm ấy lên đường.

Tới địa giới tỉnh Sơn Tây, có người nhà giàu nọ có con gái đột nhiên bị hôn mê, thuốc thang cầu đảo hết cách vẫn không khỏi.

Trương bèn tìm tới, tự xưng là chữa được.

Phú ông chỉ có một người con gái ấy, nên rất thương yêu, hứa rằng nếu chữa được sẽ đền ơn ngàn đồng vàng.

Trương xin vào xem, theo phú ông vào phòng, thấy cô gái nhắm mắt nằm yên, giở chăn lên vỗ vào người vẫn không hay biết gì.

Vương ngầm nói với Trương rằng:

- Hồn cô này lạc mất rồi, phải đi tìm mới được.

Trương bèn nói với phú ông rằng bệnh tuy nguy nhưng vẫn có thể cứu được.

Phú ông hỏi cần thuốc gì, Trương đáp rằng đều không cần, hồn con gái ông đi lạc rồi, đã sai thần đi tìm.

Khoảng sau một giờ Vương chợt trở lại nói với Trương là đã tìm được.

Trương bèn mời ông vào lại trong phòng xem, lại gọi cô gái, giây lát cô ta ngồi dậy, mở mắt nhìn.

Phú ông cả mừng vỗ về hỏi han, cô gái nói:

- Con đang chơi trong vườn thì thấy một thiếu niên cầm cung bắn chim, có mấy người dắt ngựa theo hầu.

Con đang muốn chạy thì họ cản đường, chàng thiếu niên ấy đưa cung cho con, bảo con bắn.

Con xấu hổ từ chối, y bèn kéo con lên ngựa, thúc ngựa chạy rồi cười nói "Ta đang muốn vui vẻ với cô, đừng có xấu hổ".

Được vài dặm thì vào trong núi, con vừa la vừa chửi, y nổi giận xô con ngã xuống cạnh đường.

Đang muốn về nhưng không biết đường, chợt thấy có một người tới nắm tay con kéo đi như bay, chớp mắt đã về tới nhà, chợt tỉnh dậy đây.

Phú ông cho là thần kỳ, quả tạ ơn Trương một ngàn đồng vàng.

Đêm tới Vương bàn với Trương giữ lại hai trăm để ăn đường, còn bao nhiêu mang cả về nhà, gõ cửa đưa cho con, bảo đem ba trăm đồng qua đưa cho vợ Trương, rồi trở lại nhà phú ông.

Hôm sau cáo từ, phú ông không thấy Trương cầm tiền bạc gì cả, càng lấy làm lạ, kính cẩn đưa tiễn.

Vài hôm sau, Trương gặp người cùng làng là Hạ Tài trên đường.

Tài ham uống rượu đánh bài không lo làm ăn nên nghèo mạt, nghe Trương học được phép lạ kiếm được rất nhiều tiền nên đi tìm.

Vương khuyên Trương cho y chút ít tiền bảo vệ.

Tài không bỏ nết cũ, chơi bời được chục hôm hết sạch tiền, lại đi tìm Trương.

Vương đã biết trước, nói:

- Tài là kẻ bừa bãi, không nên gần gũi, chỉ nên cho tiền bảo đi đi, nếu có tai họa cũng không nguy hiểm.

Vài hôm quả nhiên Tài tới, năn nỉ xin đi theo, Trương nói:

- Ta đã biết ngươi sẽ tìm tới nữa, nhưng ngươi chỉ lo cờ bạc rượu chè, dẫu đưa ngàn đồng vàng cũng như bỏ vào cái túi không đáy.

Nếu ngươi thật tâm bỏ thói xấu, thì ta tặng cho một trăm đồng vàng.

Tài hứa hẹn thề thốt, Trương bèn dốc hết tiền bạc ra đưa cho.

Tài trở về, trong túi có trăm đồng vàng, đánh bạc càng lớn, uống rượu chơi gái lu bù, coi tiền như rác.

Chức dịch trong làng nghi ngờ bắt giải lên quan, khảo tra rất nặng.

Tài khai rõ tiền bạc ở đâu mà có, quan bèn sai lính giải đi tìm Trương, được vài ngày bị thương nặng chết dọc đường.

Hồn Tài không quên Trương lại tìm tới nương tựa, nhân đó gặp Vương.

Một hôm cùng uống rượu với nhau.

Tài say quá la ầm lên, Vương ngăn lại không nghe.

Gặp lúc quan Ngự sử tuần sát đi ngang, nghe tiếng la sai tìm bắt được Trương, Trương nói rõ sự thật.

Quan Ngự sử tức giận phạt roi, rồi đốt điệp sớ cáo với thần.

Đến đêm nằm mộng thấy một người mặc giáp vàng tới nơi:

- Đã xét Vương Lan vô tội mà chết đã thành quỷ tiên, làm việc chữa bệnh cũng là sự nhân đức, không thể coi là loại yêu tà quỷ mị.

Nay vâng mệnh Thượng đế, đã trao cho y chức Thanh đạo sứ.

Hạ Tài càn quấy bừa bãi, đã phạt giam vào núi Thiết Vi.

Họ Trương không có tội gì, nên tha y ra.

Quan Ngự sử tỉnh dậy lấy làm lạ, bèn tha cho Trương.

Trương khoác gói về làng, trong túi còn mấy trăm đồng vàng, bèn đưa một nửa tới nhà Vương, con cháu Vương từ đó trở nên giàu có.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 239+240+241+242+243


CHƯƠNG 239: HẢI CÔNG TỬ

Thừa Hứng Du Sơn Độc Cử Bôi

Nại Đông Hoa Hạ Lệ Nhân Lai

Khởi Tri Kỳ Tích Sinh Kỳ Họa

Hạnh Đắc Dư Sinh Hải Thượng Hồi

Dịch:

Thừa Hứng Lên Non Uống Một Mình

Dưới Hoa Người Đẹp Tới Thình Lình

Hiếu Kỳ Nào Tưởng Sinh Kỳ Họa

Sống Sót Quay Về Nghĩ Lại Kinh



Đảo cổ Đông Hải (thuộc tỉnh Sơn Đông) có cây hoa nại đông ngũ sắc, thường nở hoa cả bốn mùa, song trong đảo không có ai ở, ít người lui tới.

Trương sinh người huyện Đăng Châu (tỉnh Sơn Đông) tính hiếu kỳ, thích du ngoạn, nghe nóí cảnh ở đó đẹp bèn mang rượu thịt, tự chèo thuyền ra đảo chơi.

Tới nơi thì gặp lúc hoa đang nở rộ, mùi hương lan khắp mấy dặm, thấy cây nại đông to hơn chục người ôm, cứ qua lại ngắm nghía mãi, lấy làm thích thú.

Rồi mở bầu rót rượn, tiếc là không có ai cùng đi chơi.

Chợt trong đám hoa có một cô gái đẹp hiện ra, áo hồng mắt sáng, xinh đẹp không ai sánh được, nhìn Trương cười nói:

- Thiếp tự cho rằng hứng thú của mình không tầm thường, không ngờ đã có kẻ đồng điệu tới trước.

Trương ngạc nhiên hỏi là ai, nàng đáp:

- Thiếp là con hát ở huyện Giao (tỉnh Sơn Đông), vừa theo Hải Công tử tới đây.

Ông ta thích cảnh đẹp đi khắp nơi, thiếp mỏi chân nên nghỉ lại ở đây.

Trương đang buồn về nỗi quạnh hiu, gặp được người đẹp rất vui, gọi tới cùng ngồi uống rượu.

Cô gái nói năng dịu dàng làm say lòng người, Trương rất yêu thích, nhưng sợ Hải Công tử tới nên không dám mặc tình vui vẻ.

Chợt nghe gió thổi ào ào, cây cối gảy răng rắc.

Cô gái vội xô sinh dậy nói:

- Hải Công tử tới rồi!

Trương thắt lại áo kinh ngạc quay nhìn thì cô gái đã biến mất.

Kế thấy một con rắn lớn từ đám cây rậm bò ra, to như cái thùng.

Trương sợ, núp vào sau cây nại đông, mong là nó không nhìn thấy.

Con rắn bò sát tới quấn cả người Trương vào gốc cây, cuốn luôn mấy vòng, hai tay Trương bị đè dưới hông không cục cựa gì được.

Rắn ngẩng đầu thè lưỡi chọc vào mũi Trương, máu mũi chảy ra đọng thành vũng dưới đất, nó cúi xuống uống.

Trương tự nghĩ ắt là phải chết, chợt nhớ trong lưng có mang gói thuốc độc, bèn lấy hai ngón tay móc thủng cái gói, hứng thuốc vào lòng bàn tay, rồi vươn cổ ra đưa bàn tay hứng máu mũi, giây lát được một bụm.

Con rắn quả nhiên quay đầu uống máu trong lòng bàn tay, uống chưa hết chợt duỗi ra, đập đuôi mạnh như sét trúng thân cây, nửa thân cây trên đổ xuống, rắn cũng duỗi ra như cái xà nhà chết lăn trên mặt đất.

Trương cũng rủn chân hoa mắt không đứng dậy nổi, lát sau mới tỉnh.

Bèn chở xác con rắn về nhà, bệnh nặng mấy tháng, ngờ cô gái cũng là tinh rắn.

_____________________________________

CHƯƠNG 240: ĐINH TIỀN KHÊ

Vị Lân Cơ Khách Cụ Bàn Xôn

Hiệp Sĩ Do Lai Giải Báo Ân

Ngã Học Long Môn The Tiểu Truyện

Y Hu Phiếu Mẫu Phạn Vương Tôn

Dịch:

Vì Thương Lữ Khách Thết Cơm Đãi

Hiệp Sĩ Từ Xưa Trọng Báo Ân

Ta Học Long Môn Ghi Lại Truyện

Khác Nào Phiếu Mẫu Đối Vương Tôn



Đinh Tiền Khê là người huyện Chư Thành (tỉnh Sơn Đông), gia tư giàu có, hào hiệp trọng nghĩa, hâm mộ những kẻ du hiệp thời cổ, bị quan tư nã bắt.

Đinh bỏ trốn, tới đất An Khâu gặp mưa, vào trú ở một nhà nọ, nhưng mưa suốt cả ngày không ngớt.

Có một thiếu niên bước ra mời ăn cơm, cơm nước rất tử tế.

Kế trời tối, Đinh nghỉ đêm luôn lại đó, thiếu niên cũng đem rơm cỏ cho ngựa đầy đủ.

Đinh hỏi tên họ, thiếu niên đáp:

- Chủ nhân họ Dương, ta là cháu trong nhà.

Chủ nhân ưa giao du, có việc đi vắng rồi, trong nhà chỉ có nương tử, nhà nghèo không tiếp đãi được chu đáo, xin khách tha lỗi.

Hỏi tới nghề nghiệp chủ nhân, thì được biết chẳng buôn bán làm lụng gì, chỉ hàng ngày đánh bạc, kiếm ăn cò con.

Hôm sau lại mưa dầm dề.

Đinh vẫn được lo cơm nước rất chu tất.

Tối đến thiếu niên mang cỏ cho ngựa, bó cỏ ướt đẫm mà lại cọng dài cọng ngắn không đều, Đinh lấy làm lạ.

Thiếu niên nói:

- Thưa thật với khách, nhà nghèo không có cỏ cho ngựa, đây là nương tử rút tranh lợp nhà xuống đấy thôi.

Đinh lại càng lạ lùng, cho là họ rất thành thật.

Sáng ra đưa tiền, thiếu niên không nhận, Đinh ép thiếu niên cầm vào giây lát lại cầm ra trả, nói:

- Nương tử nói không phải làm nghề bán quán, chủ nhân ra ngoài thường vài ba ngày chẳng mang theo một đồng, nay khách tới nhà sao lại lấy tiền?

Đinh ca ngợi từ biệt, dặn:

- Ta là Đinh Mỗ ở Chư Thành, khi nào chủ nhân về nhớ nói lại rằng lúc nào rảnh mời ghé chơi.

Mấy năm sau chẳng hề qua lại gì, gặp năm đói kém, Dương càng khổ cực, không còn cách nào sinh sống, vợ rụt rè khuyên tìm tới Đinh, Dương nghe theo.

Tới nơi, xưng họ tên với người gác cổng, Đinh quên không nhớ, sai hỏi lại mới nhớ ra, vội chạy chân đất ra mời vào.

Thấy Dương áo rách giày nát, bèn đưa vào phòng ấm, bày tiệc khoản đãi, cung kính phi thường.

Hôm sau may sắm quần áo cho, Dương được ăn no mặc ấm rất cảm kích, nhưng càng lo lắng cho gia đình, cũng mong được chút gì cầm về.

Ở mấy ngày liền, chẳng nghe Đinh nói tặng tiền gì cả, Dương nóng ruột nói với Đinh rằng:

- Thật không dám giấu diếm, lúc ta lên đường tới đây thì trong nhà chỉ còn chưa đầy một thăng gạo, nay ta được quá thương lo cho ăn cho ở, dĩ nhiên vui sướng, nhưng vợ con thì làm sao!

Đinh nói:

- Chuyện đó không lo, ta đã sắp xếp thay ông rồi, xin cứ thong thả ở chơi ít hôm, ta sẽ giúp tiền về.

Bèn sai người gọi đám con bạc tới, bảo Dương làm cái đánh trọn đêm thắng được trăm đồng vàng, bèn tiễn Dương về Dương về tới nhà thấy phòng ốc bày biện đầy đủ, vợ mặc quần áo mới, có tỳ nữ hầu hạ, ngạc nhiên hỏi.

Vợ đáp:

- Chàng đi được vài hôm thì có người chở vải vóc lúa gạo tới vác vào chất đầy nhà, nói là của ông khách họ Đinh tặng.

Lại có thêm mười người tỳ nữ cho thiếp sai bảo.

Dương cảm kích vô cùng, từ đó được đủ ăn, không làm nghề cũ nữa.

_____________________________________

CHƯƠNG 241: NGHĨA THỬ

CON CHUỘT CÓ NGHĨA

Đồng Loại Tương Tàn Hận Mạc Bình

Phục Thù Hữu Thuật Trượng Thân Khinh

Tiếu Tha Chử Đậu Nhiên Cơ Bối

Bất Cập Yêu Ma Nghĩa Thử Tình

Dịch:

Cùng Giống Lâm Nguy Hận Bất Bình

Báo Thù Có Thuật Cậy Thân Nhanh

Cười Ai Luộc Đậu Bằng Dây Đậu

Tình Nghĩa Đâu Bằng Loại Chuột Ranh



Dương Thiên Nhất kể có lần thấy hai con chuột ra kiếm ăn một con bị rắn nuốt mất.

Con kia trợn mắt như hạt tiêu đứng nhìn, có vẻ rất căm giận.

Rắn ăn no rồi, ngoằn ngoèo bò vào hang, vừa lọt vào hơn một nửa thì chuột lao tới cắn vào đuôi.

Rắn tức giận lui ra, chuột lanh lẹn chạy trốn, rắn đuổi không kịp bèn quay lại, bò vào hang thì chuột lại tới cắn vào đuôi như trước.

Rắn vào thì theo cắn, rắn ra thì bỏ chạy, cứ thế hồi lâu, rắn trở ra mửa con chuột chết ra trên mặt dất.

Chuột tới ngửi ngửi, kêu chít chít như khóc thương rồi tha đi.

Bạn ta là Trương Lịch Hữu có làm bài Nghĩa thử hành (Bài hành Con chuột có nghĩa) về chuyện này.

_____________________________________

CHƯƠNG 242: THI BIẾN

XÁC CHẾT BIẾT ĐỘNG

Đầu Túc Nhân Khao Khách Điếm Môn

Tam Nhân Tựu Tử Nhất Nhân Tồn

Thi Cư Dư Khí Năng Vi Lệ

Thụ Thượng Thâm Lưu Chỉ Giáp Ngân

Dịch:

Đêm Ngủ Cùng Nhau Tìm Quán Trọ

Chết Ba Sống Một Rất Nguy Thay

Thây Ma Du Khí Còn Gây Họa

Bấm Chắc Vào Cây Ngập Móng Tay



Huyện Tín Dương (tỉnh Sơn Đông) có ông Mỗ ở thôn Thái Điếm.

Thôn cách huyện thành năm sáu dặm, cha con ông ta dựng quán cạnh đường cho người buôn bán qua lại nghỉ trọ, có bốn người phu xe chở hàng vẫn vào trọ ở đó.

Một hôm trời rất tối bốn người cùng về tới thì quán trọ đã đầy khách.

Bốn người không biết làm sao, cứ nài nỉ xin cho trọ lại.

ông Mỗ ngẫm nghĩ tìm được một chỗ, nhưng ngần ngại sợ không hợp với khách.

Bốn người lại nói chỉ cần có chỗ ngả lưng là đủ chứ không dám chọn lựa khen chê gì cả.

Lúc ấy con dâu của ông Mỗ vừa chết, xác còn đặt trong nhà bên kia đường, con trai đi mua quan tài chưa về, ông thấy trong nhà còn rộng bèn dắt khách qua đó nghỉ.

Khách vào tới thì thấy trên bàn có ngọn đèn leo lét, phòng trong buông rèm, cái xác được đắp chăn đậy mặt nằm đó, chỗ ngủ bên ngoài thì có bốn cái giường đặt liền nhau.

Mọi người đều đã mệt mỏi, lập tức lên nằm ngủ khò, chỉ còn một người mơ mơ màng màng chưa ngủ hẳn.

Chợt nghe trong phòng người chết có tiếng cót két, vội mở mắt ra nhìn, thì thấy rõ dưới ánh đèn cái xác người đàn bà đã giở chăn ngồi dậy.

Kế đó cái xác bước xuống đất từ từ bước ra chỗ đám khách nằm ngủ, sắc mặt lợt lạt vàng khè, vén tấm vải che mặt lên trán, cúi xuống trước giường lần lượt thổi vào mặt ba người kia.

Y hoảng hốt, sợ sẽ thổi tới mình, vội kéo chăn trùm kín đầu nhắm mắt nín thở nghe ngóng.

Không bao lâu người đàn bà cũng tới thổi vào y rồi đi trở vào.

Y nghe tiếng rèm sột soạt, hé chăn ra nhìn trộm thấy cái xác đã nằm lại trên giường như cũ.

Y sợ quá không dám lên tiếng, ngầm lấy chân đạp vào mấy người kia thì họ đều nằm yên không động đậy, nghĩ rằng không còn cách nào, chẳng bằng mặc áo trốn đi.

Vừa trở dậy mặc áo thì tiếng cót két trong kia lại vang lên, y hoảng sợ vội nằm xuống kéo chăn che kín đầu, thấy người đàn bà lại tới thổi liên tiếp, hồi lâu mới trở về.

Giây lát nghe giường trong có tiếng động, biết là cái xác đã nằm xuống, bèn rón rén mặc áo quần trong chăn, rồi nhảy xuống đất bỏ chạy.

Cái xác vùng dậy định đuổi, vừa ra khỏi màn thì y đã tung cửa chạy rồi.

Cái xác đuổi theo, y vừa chạy vừa la, muốn đập cửa quán gọi ông Mỗ dậy nhưng sợ không kịp, bèn cứ theo đường về phía huyện thành ráng sức chạy.

Tới cửa đông huyện thành, thấy có ngôi chùa, nghe thấy tiếng gõ mõ, vội vàng chạy tới đập của.

Đạo nhân trong chùa thấy có chuyện lạ, lại không mở cửa ngay, y còn chờ thì cái xác đã đuổi tới còn cách có một thước, y càng hoảng hốt.

Ngoài cổng chùa có cây bạch dương chu vi khoảng bốn năm thước, y bèn chạy tới đó ẩn núp, cứ cái xác vòng bên này thì y chạy qua bên kia, cái xác càng giận dữ song khách cũng dần dần thấm mệt.

Cái xác dừng lại, y đổ mồ hôi thở hổn hển, nép vào gốc cây.

Cái xác chợt lao qua, giơ hai tay từ ngoài nhảy xổ vào chụp, y kinh hãi ngã xuống đất, cái xác chụp hụt, ôm gốc cây đứng sững ra đó.

Đạo nhân trong chùa nghe ngóng hồi lâu thấy yên ắng, bèn từ từ mở cửa ra, nhìn thấy y nằm trên mặt đất, nghĩ rằng đã chết, nhưng thấy tim còn đập thoi thóp bèn cõng vào, đến sáng mới tỉnh.

Đạo nhân lấy nước cho uống rồi hỏi han, y thuật lại mọi việc.

Lúc ấy đã xong hồi chuông sớm, trời đã sáng mờ mờ, đạo nhân ra xem chỗ gốc cây, quả thấy cái thây người đàn bà đứng sững ở đó, cả sợ bèn báo quan.

Quan đích thân tới tra hỏi khám nghiệm, sai gỡ tay cái xác ra khỏi gốc cây, mãi vẫn không được.

Nhìn kỹ lại thì tám ngón tay đều cong lại như cái móc cắm lút vào thân cây, lại sai mấy người cùng hết sức giật mạnh mới gỡ ra được, nhìn lại thì chỗ ngón tay bấu vào trong gỗ sâu hoắm như lấy dùi đóng vào.

Quan sai người tới nhà ông Mỗ dò xét, thì ở đó đang ồn ào rầm rĩ vì xác mất khách chết.

Người sai dịch thuật lại chuyện, ông Mỗ bèn đi theo tới chùa, lãnh cái xác về.

Người khách khóc nói với quan huyện rằng:

- Bốn người cùng ra đi với nhau, nay chỉ có một người trở về, kể lại chuyện này làm sao làng xóm tin được?

Quan huyện bèn phát công văn sai người đưa y về quê.

_____________________________________

CHƯƠNG 243: PHÚN THỦY

PHUN NƯỚC

Mặc Thị Truyền Văn Hữu Dĩ Từ

Lai Dương Tống Mẫu Thượng Tiên Trì

Hà Lai Phún Thủy Long Chung Ẩu

Quật Địa Thương Tâm Hối Dĩ Trì

Dịch:

Thêm Bớt Loan Truyền Có Phải Đây

Tiên Du Tống Mẫu Bỗng Nhằm Ngày

Mụ Già Phun Nước Từ Đâu Tới

Quật Mộ Thương Tâm Hối Dã Chày



Tiên sinh Tống Thúc Ngọc người huyện Lai Dương (tỉnh Sơn Đông) làm quan ở kinh, phủ đệ ở một chỗ rất hoang vắng.

Một đêm, hai người tỳ nữ cùng mẹ tiên sinh là Thái phu nhân ngủ ở trong phòng, chợt nghe sau viện có tiếng phùn phụt như thợ may phun nước lên vải để cắt áo vậy.

Thái phu nhân bảo một người tỳ nữ dậy xem, người tỳ nữ núp sau cửa sổ nhìn ra thì thấy một bà già người thấp lưng gù, tóc bạc phất phơ, đội một cái mũ chụp cao chừng hai thước, đi vòng quanh nhà, co ro như con hạc, vừa đi vừa phun, mãi vẫn không hết nước trong mồm.

Người tỳ nữ kinh ngạc trỡ vào bẩm, Thái phu nhân cũng ngạc nhiên dậy xem, hai người tỳ nữ đỡ ra cạnh cửa sổ cùng nhìn.

Bà già chợt tới sát cửa sổ, phun thẳng vào trong, giấy dán cửa sổ rách toạch, ba người sợ hãi ngả lăn ra đất, nhưng người trong nhà đều không biết.

Mặt trời lên cao, người trong nhà đều tụ họp, gõ cửa phòng không thấy trả lời mới hoảng sợ, vội nhấc cánh cửa lên mà vào, thấy một chủ hai tớ đều nằm chết cứng.

Sờ tới thấy một tỳ nữ dưới ngực còn ấm, vội đỡ lên cứu chữa, hồi lâu mới tỉnh, kể lại mọi việc.

Tiên sinh tới, đau đớn phẫn hận muốn chết, bèn sai theo vết nước tìm tới một chỗ.

Đào xuống hơn ba thước thì lộ ra mớ tóc trắng, lại đào nữa thì thấy có một cái xác, hình dung giống như người tỳ nữ đã trông thấy, sắc mặt vẫn tươi tắn như còn sống.

Tiên sinh sai đánh, thì xương thịt đã nát hết, bên dưới lớp da chỉ toàn là nước trong mà thôi.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 244+245+246+247


CHƯƠNG 244: SƠN TIÊU

MA NÚI

Kinh Đồng Bài Thát Hưởng Sưu Liêu

Phương Tướng Y Hi Khí Tượng Mâu

Nô Bộc Tĩnh Thinh Công Lũ Thuật

Tranh Khan Khâm Thượng Trảo Ngân Lưu

Dịch:

Chợt Thất Ầm Vang Đẩy Cửa Vào

Hung Thần Ác Sát Khéo Hao Hao

Người Nhà Im Lặng Nghe Ông Kể

Nhìn Rõ Trên Chân Vết Móng Cào



Tôn Thái Bạch từng kể ông cố của ông đọc sách trong chùa Liễu Câu ở Nam Sơn, có lần tháng tư về nhà, hơn chục ngày mới trở lại.

Mở cửa vào thì thấy bụi bặm đầy bàn, tơ nhện ngập song, bèn sai kẻ hầu quét dọn, đến tối mới xong.

Kế dọn giường trải chiếu, gối đầu nằm bên song nhìn ra cửa sổ ngắm trăng.

Trằn trọc một lúc thì đêm đã yên ắng, chợt có tiếng gió ào ào nổi lên, cổng chùa rít kèn kẹt.

Đang nghĩ một mình rằng chắc sư trong chùa quên cài cổng, thì tiếng gió đã tới cạnh phòng ở, kế đó cửa phòng mở tung.

Còn đang ngờ vực chưa biết là gì thì tiếng động đã vào tới phòng, lại có tiếng dép quèn quẹt tới sát phòng ngủ, bắt đầu thấy sợ thì cửa phòng ngủ mở ra.

Vội nhìn ra, thì thấy có một con quỷ lớn khom lưng bước vào, tiến tới đứng sừng sũng ở đầu giường, cao ngang xà nhà, mặt vàng như trái dưa già, mắt sáng lóng lánh nhìn khắp bốn vách, há miệng to như cái chậu, răng chơm chởm dài khoảng ba tấc, liếm mép nuốt nước bọt ừng ục, tiếng rền cả phòng.

Ông sợ quá, nhưng lại nghĩ nó chỉ đứng cách mình trong gang tấc, không còn cách chạy trốn nữa, chẳng bằng nhân lúc sơ hở mà đâm.

Bèn ngầm rút thanh bội đao dưới gối ra chém hết sức trúng vào bụng nó, nghe leng keng như chém vào đá.

Con quỷ cả giận, vươn móng vuốt vồ ông, ông co người lại tránh, quỷ vồ trúng cái chăn, giật lấy rồi căm tức bỏ đi.

Ông bị kéo rơi xuống giường, nằm dưới đất la ầm lên, người hầu cầm đèn chạy tới thì thấy cửa phòng vẫn đóng như cũ.

Trèo cửa sổ vào trông thấy cả sợ, bèn đỡ ông lên giường, ông mới kể lại chuyện.

Mọi người cùng đi tìm kiếm thì thấy cái chăn vắt ở của phòng ngủ, đem ra cửa mở xem thì thấy vết móng to như cái rổ, năm dấu ngón tay xuyên suốt từ bên này qua bên kia.

Trời sáng ông không dám ở lại nữa, cắp tráp về nhà, sau tới hỏi sư trong chùa, thì không thấy có gì khác lạ nữa.

_____________________________________

CHƯƠNG 245: KIỀU TRUNG QUÁI

QUÁI DỊ TRONG RUỘNG LÚA

Thu Kiều Hoạch Hướng Lũng Đầu Đôi

Dạ Bán Kinh Khan Đại Quỉ Lai

Kính Thỉ Trường Qua Không Cố Thủ

Cánh Giao Ngạch Cốt Thụ Phi Tai

Dịch:

Mùa Thu Gặt Lúa Chất Cao Vù

Bỗng Nửa Đêm Kinh Thấy Quỉ To

Tên Cứng Giáo Dài Canh Gác Uổng

Thủng Xương Đình Trán Họa Không Ngờ



Ông họ An ở huyện Tín Dương (tỉnh Sơn Đông) chăm việc đồng áng, gặp vụ lúa thu chín, gặt để thành đống trên bờ ruộng.

Lúc ấy ở thôn bên cạnh có kẻ đi trộm lúa, nên ông sai đầy tớ nhân đêm có trăng chở thóc về làng nộp thuế, đong đếm xong thì trở lại, còn tự mình ở lại canh giữ, gối đầu lên cái mác ngủ cạnh đống lúa.

Vừa mới thiu thiu, chợt nghe có tiếng người đạp lên lúa sàn sạt đi tới, ngỡ là bọn trộm, vội ngóc đầu dậy nhìn thì thấy một con quỷ cao hơn một trượng, mặt mũi hung dữ tới sát bên cạnh.

Ông phát hoảng không biết làm sao, bèn nhảy bật dậy đâm bừa, con quỷ kêu rống như sấm sét bỏ chạy.

Ông sợ nó quay trở lại, vác cái mác chạy về, gặp đầy tớ dọc đường, thuật lại chuyện mới rồi bảo họ đừng ra ruộng nữa, song mọi người cũng chưa tin lắm.

Hôm sau đang phơi thóc, chợt nghe có tiếng gầm vang tới, ông hoảng sợ nói:

- Con quỷ tới rồi!

Rồi bỏ chạy, mọi người cũng chạy tán loạn.

Một lúc sau mới dần dần tụ họp lại, ông sai mọi người mang cung nỏ để rình.

Hôm sau quả nhiên con quỷ tới, mọỉ người cùng bắn tên ra, quỷ sợ chạy mất, hai ba ngày không tới nữa.

Khi đưa hết lúa về kho xong, rơm rạ còn vứt bỏ ngổn ngang ngoài ruộng, ông sai đầy tớ đánh thành đống, tự mình trèo lên xem xét, đứng cao hơn mặt đất vài thước, chợt nhìn ra xa hoảng sợ kêu lên:

- Con quỷ tới rồi!

Mọi người đang vội vàng tìm cung nỏ thì con quỷ đã xông tới sát ông, ông ngã quay ra, nó bèn cắn vào mặt rồi bỏ đi.

Mọi người trèo lên cây rơm xem, thì trên mặt ông mất một miếng xương to bằng bàn tay, hôn mê không biết gì nữa, cõng về tới nhà thì chết.

Sau đó không thấy nó nữa, không biết đó là loại quỷ quái gì.

_____________________________________

CHƯƠNG 246: VƯƠNG LỤC LANG

Nhất Niệm Nhân Từ Cảm Đế Thiên

Cố Nhân Tình Trọng Dữ Chu Truyền

Lão Ngư Tòng Thử Sinh Nhai Túc

Bất Hướng Giang Đầu Mịch Tửu Tiền

Dịch:

Nhân Từ Cảm Cách Đạo Trời Công

Giúp Bạn Lo Toan Những Nặng Lòng

Ngư Phủ Từ Đây Sinh Kế Đủ

Sẵn Tiền Mua Rượu Khỏi Ngăn Sông



Họ Hứa ở phía bắc thành huyện Truy (tỉnh Sơn Đông) làm nghề đánh cá.

Đêm nào cũng mang rượu tới bờ sông, uống rồi mới kéo lưới, uống rượu thì rót một chén xuống đất khấn:

- Ma da trên sông tới mà uống!

Cứ thế thành lệ.

Người khác đánh cá có khi không được chút gì, chứ riêng Hứa thì đêm nào cũng được đầy giỏ.

Một đêm vừa đem rượu ra uống một mình thì có một thiếu niên tới quanh quẩn cạnh đó.

Hứa mời cùng uống, vui vẻ với nhau, trọn đêm chờ chẳng được con cá nào, Hứa rất thất vọng.

Thiếu niên đứng dậy nói:

- Xin xuống dưới dòng xua cá lên cho ông.

Rồi nhẹ nhàng bước đi.

Giây lát quay lại nói:

- Cá tới nhiều rồi đấy!

Quả nhiên nghe tiếng cá đớp móng vang dưới sông, cất lưới lên thì được vài con dài cả thước.

Hứa mừng quá, cám ơn định về, đưa cá biếu thì thiếu niên không nhận, nói:

- Nhiều phen được cho uống rượu ngon rồi, bấy nhiêu đâu đã đủ để báo đáp?

Nếu như không ghét bỏ, xin cứ cho được uống rượu thế này thôi!

Hứa nói:

- Mới uống với nhau có một lần, sao lại nói là nhiều phen?

Còn nếu chiếu cố tới nhau mãi, thì đó là điều ta rất muốn, chỉ thẹn không có gì để tỏ bày tình cảm thôi.

Rồi hỏi họ tên, thiếu niên đáp:

- Ta họ Vương, không có tên tự, gặp nhau cứ gọi là chàng Sáu Vương được rồi.

Rồi từ biệt nhau.

Sáng ngày Hứa bán cá, mua rượu nhiều hơn, tối đến tới bờ sông đã thấy thiếu niên tới trước chờ đó.

Lại cùng vui vẻ uống rượu với nhau, được vài chén, vội đứng dậy đi xua cá cho Hứa.

Cứ thế được nữa năm, một hôm chợt nói với Hứa:

- Được quen biết nhau, tình thân còn hơn cả ruột thịt, nhưng sắp phải xa nhau rồi.

Lời lẽ rất ảo não.

Hứa ngạc nhiên hỏi, thiếu niên định đáp lại thôi, mấy lần mới nói:

- Thân tình như hai người chúng ta, nói ra thì chắc ông không ngờ sợ chăng?

Nay sắp chia tay, nói thật cũng chẳng hề gì, ta thật là ma đây.

Lúc sống vốn hay rượu, say quá mà chết đuối, mấy năm làm ma ở đây rồi.

Trước kia ông đánh cá được nhiều hơn người khác, đều là do ta xua cá vào để đền đáp cái ơn rót rượu xuống đất cho uống đấy.

Ngày mai nghiệp căn đã hết, sẽ có người thay, ta sắp đi đầu thai, chỉ còn gặp nhau đêm nay, nên không khỏi bùi ngùi.

Hứa thoạt nghe rất sợ, nhưng gần gũi đã lâu nên không khiếp hãi, lại vì thế mà thương cảm, rót rượu mời nói:

- Chàng Sáu uống chén này đi, đừng đau đớn nữa?

Gặp nhau rồi lại chia tay, kể cũng đáng buồn, nhưng thoát khỏi nghiệp chướng chính là điều nên chúc mừng, buồn bã thì không phải lẽ.

Bèn cùng nhau uống thật say.

Hứa hỏi người thay là ai, đáp:

- Ông cứ chờ bên sông mà nhìn, trưa mai sẽ có người đàn bà qua sông chết đuối, là kẻ thay ta đấy!

Nghe gà trong làng đã gáy, hai người gạt lệ chia tay.

Hôm sau Hứa chờ bên sông để xem chuyện lạ.

Quả thấy có người đàn bà bồng con tới, tới bờ sông thì khuỵu chân ngã xuống nước, đứa bé văng lên bờ, giơ tay quẫy chân khóc ầm lên.

Người đàn bà trồi lên hụp xuống vài lần, chợt vùng vẫy bám được vào bờ trèo lên, nằm lăn ra đất thở dốc một lúc rồí trở dậy bồng con đi.

Lúc người đàn bà rơi xuống sông, Hứa thấy bất nhẫn muốn nhảy xuống cứu, nhưng lại nghĩ đây là kẻ thay cho chàng Sáu được đi đầu thai, nên đứng lại không tới cứu nữa.

Đến khi người đàn bà tự lên được bờ sông, Hứa ngờ rằng lời chàng Sáu nói không đúng.

Tối đến ra đánh cá ở chỗ cũ, lại thấy thiếu niên tới, nói:

- Từ nay trở đi lại được gặp nhau, không nói chuyện chia tay nữa.

Hứa hỏi tại sao, đáp:

- Người đàn bà ấy đúng là sắp phải thay ta, nhưng ta thương đứa bé còn đang tuổi phải bồng ẵm, bắt một người thay mà hại hai mạng sống nên tha cho chị ta.

Người thay chẳng biết đến bao giờ mới có nữa, có khi cái duyên giữa hai người bọn ta chưa dứt chăng?

Hứa cảm động than thở khen rằng:

- Tấm lòng nhân hậu thương người như thế có thể thấu tới Thượng đế.

Từ đó lại gặp gỡ nhau như trước.

Vài hôm sau thiếu niên lại tới từ biệt, Hứa nghĩ rằng chắc lại có kẻ thay.

Thiếu niên nói:

- Không phải thế đâu, một ý niệm hôm trước quả làm cảm động lòng trời, nay đã trao cho ta chức thổ thần đất Ô Trấn huyện Chiêu Viễn (tỉnh Sơn Đông), sáng mai là ngày phải đi nhậm chức.

Nếu ông không quên bạn cũ, xin tới thăm nhau một lần, đừng ngại xa xôi khó nhọc.

Hứa chúc mừng nói:

- Ông ngay thẳng mà làm thần, quá đủ để an ủi lòng người, nhưng thần người khác nẻo, dẫu ta không ngại xa xôi khó nhọc, nhưng làm sao được gặp nhau?

Thiếu niên đáp:

- Cứ tới đừng lo!

Dặn dò mấy lần rồi đi.

Hứa về nhà, lập tức sắp xếp hành trang lên đường, vợ cười nói:

- Cách đây vài trăm dặm thì quả có một chỗ tên gọi như thế thật, có đều e rằng tượng đất không nói chuyện được với nhau thôi.

Hứa không nghe, đi tới Chiêu Viễn, hỏi thăm người ở đó quả có đất Ô Trấn, bèn tìm tới đất ấy, vào nghỉ ở quán trọ, hỏi thăm đền thờ Thổ thần ở đâu.

Chủ nhân kinh ngạc hỏi:

- Khách họ Hứa phải không?

Hứa đáp:

- Đúng rồi, sao ông biết?

Lại hỏi:

- Khách ở huyện Truy phải không?

Đáp:

- Đúng rồi, sao ông biết?

Chủ nhân không đáp, vội vã bước ra ngoài.

Giây lát thì đàn ông bế con, đàn bà nép ở cửa chen chúc rần rần kéo tới đứng đông đặc phía ngoài.

Hứa ngạc nhiên, mọi người bèn nói:

- Mấy đêm trước thần báo mộng rằng có người bạn họ Hứa ở huyện Truy Xuyên sắp tới thăm, phải lo lắng giúp đỡ, bọn ta đã chờ lâu rồi.

Hứa cũng lấy làm lạ lùng, bèn tới đền tế, khấn rằng:

- Sau khi chia tay ông, đêm ngày không quên nên lặn lội đường xa cho trọn lời hứa, lại được ơn báo mộng cho dân biết để tiếp đón, tình nghĩa xin ghi tạc trong lòng, song thẹn lễ vật đơn sơ, chỉ có ly rượu đục, nếu không ghét bỏ, xin như ngày còn uống rượu với nhau bên sông.

Khấn xong, đất giấy tiền vàng bạc.

Lập tức có một cơn gió nổi lên trước bàn thờ vi vút hồi lâu mới tan.

Đêm ấy Hứa nằm mộng thấy thiếu niên tới, áo mão rực rỡ khác hẳn ngày trước, cảm tạ nói:

- Đường xa vất vả tới thăm nhau, thật ta vừa mừng vừa tủi, nhưng hiện đã giữ chức mọn, không tiện hiện thân gặp mặt, gần trong gang tấc mà như cách trở núi sông, rất là đau lòng.

Những cư dân ở đây có chút lễ mọn khoản tặng thay ta, lúc nào ông về, cũng xin sẽ theo tiễn.

Ở được vài hôm, Hứa muốn về, mọi người khẩn khoản lưu lại, sáng rước chiều mời, mọi người báo tin cho nhau, tranh nhau mang lễ vật tặng tiễn, chưa đầy bữa sáng vật tặng đã đầy túi, già trẻ đều tụ họp đưa ra tới ngoài thôn.

Chợt có một con gió trốt nổi lên cuốn theo tới hơn mười dặm, Hứa vái dài nói:

- Xin chàng Sáu tự bảo trọng, đừng vất vả tiễn xa như thế.

Lòng ông nhân ái vốn có thể tạo phúc cho dân một phương, cố nhân không phải dặn dò gì nữa.

Trận gió còn cuốn quanh hồi lâu mới tan, dân làng cũng kinh ngạc than thở quay về.

Hứa về tới nhà cũng hơi dư dật, không phải làm nghề đánh cá nữa.

Về sau gặp người ở Chiêu Viễn, hỏi thăm thì được biết Thổ thần ở đó nổi tiếng linh thiêng.

Cũng có người nói rằng đó là Thổ thần ở trang Thạch Khanh huyện Chương Khâu, chưa rõ thuyết nào là đúng.

_____________________________________

CHƯƠNG 247: XÀ NHÂN

NGƯỜI NUÔI RẮN

Xà Bản Xuẩn Ngoan Tính Độc Linh

Tương Y Bất Xí Ảnh Tùy Hình

Như Hà Thế Thượng Kiêu Ân Giả

Bất Cập Sơn Lâm Đại Tiểu Thanh

Dịch:

Rắn Vốn Lờ Đờ Tính Lại Linh

Tựa Nhau Chẳng Khác Bóng Theo Hình

Người Đời Có Kẻ Vong Ân Nghĩa

Thẹn Với Thanh Xà Ở Núi Xanh



Anh Mỗ ở Sơn Đông sống bằng nghề diễn trò rắn, dạy được hai con rất thuần, đều màu xanh.

Con lớn thì đặt tên là Đại Thanh, còn nhỏ gọi là Nhị Thanh.

Con Nhị Thanh trên đầu có một cái chấm đỏ, đặc biệt khôn ngoan, lúc diễn trò bảo gì là làm nấy, người diễn trò rắn yêu quý khác hẳn với những con khác.

Một năm nọ con Đại Thanh chết, y định tìm con khác thay nhưng chưa gặp dịp rảnh rỗi.

Một đêm trọ lại ở chùa trong núi, sáng ra mở giỏ thì con Nhị Thanh cũng đâu mất, y lo buồn muốn chết, tìm tòi kêu gọi mà không thấy tăm hơi, lùm cây bụi cỏ nào cũng sục vào tìm, nghĩ rằng trước nay nó luôn trở về, vì vậy cứ ngồi đợi nó tự về.

Mặt trời đã lên cao, cũng đã tuyệt vọng, bèn thất thểu lên đường.

Đi được vài bước, nghe trong bụi cây có tiếng sột soạt, ngạc nhiên quay lại nhìn, thì thấy con Nhị Thanh bò tới.

Y mừng như bắt được ngọc báu, đứng lại ở bên đường đợi, con rắn cũng dừng lại.

Nhìn về phía sau thì thấy một con rắn nhỏ đi theo nó, bèn vỗ về nói:

- Ta cứ tưởng ngươi đi luôn rồi.

Bạn nhỏ này là ngươi dắt về phải không?

Bèn lấy thức ăn ra cho ăn, cho cả con rắn nhỏ ăn nữa, con rắn nhỏ tuy không bỏ đi nhưng có có vẻ sợ sệt không dám ăn.

Nhị Thanh ngậm thức ăn cho nó, dáng như chủ nhà mời khách.

Người nuôi rắn cũng đút cho, nó bèn ăn.

Ăn xong nó theo Nhị Thanh chui vào giỏ, y vác về, dạy cho làm trò.

Dần dà nó cũng vào khuôn phép không khác gì Nhị Thanh, y đặt tên là Tiểu Thanh, mang đi diễn trò khắp nơi, thu được rất nhiều tiền.

Đại để những người diễn trò rắn chỉ dùng những con dài hai thước là thôi, dài hơn thì quá nặng phải thay bằng con khác, nhưng vì con Nhị Thanh quá hay nên y chưa bỏ.

Hai ba năm sau, nó đã dài hơn ba thước, nằm chật cả cái giỏ, y bèn quyết thả nó đi.

Một hôm, đi tới Đông Sơn ở huyện Truy, bèn cho nó ăn thức ăn ngon, khấn thầm rồi thả ra.

Nó đi rồi nhưng giây lát lại quay lại, cứ ngoằn ngòeo bò quanh cái giỏ.

Người diễn trò rắn xua tay nói:

- Đi đi thôi, trên đời không có tiệc vui trăm năm không tan, từ nay ngươi náu thân nơi hang lớn, ắt sẽ thành thần long, đâu có thể ở trong giỏ được?

Rắn bèn đi, y đưa mắt nhìn theo, lại thấy nó quay trở lại, xua cũng không chịu đi, cứ lấy đầu cọ cọ vào cái giỏ, con Tiểu Thanh ở trong cũng quẫy lộn soàn soạt.

Y chợt hiểu, nói:

- Ngươi muốn từ biệt Tiểu Thanh phải không?

Bèn mở giỏ, Tiểu Thanh bò ra, hai con gác đầu thè lưỡi như nói chuyện dặn dò với nhau, rồi cùng bò đi.

Y đang nghĩ rằng chắc con Tiểu Thanh cũng không về, thì thấy nó lặng lẽ trở lại một mình bò vào nằm trong giỏ.

Từ đó theo hoàn cảnh mà tìm, nhưng không được con nào ưng ý, mà con Tiểu Thanh cũng lớn dần, không thể diễn trò được nữa.

Về sau được một con cũng hơi thuần nhưng không bằng con Tiểu Thanh, mà con Tiểu Thanh đã to bằng cánh tay đứa trẻ con rồi.

Trước là con Nhị Thanh ở trong núi, những người đốn củi thường trông thấy, vài năm sau lại dài thêm mấy thước to bằng cái tô, thường hay ra đuổi người, nên người đi đường e dè ít dám qua lại nơi ấy.

Một hôm người diễn trò đi ngang, con rắn lao ra như gió, y hoảng sợ bỏ chạy, rắn đuổi theo càng gấp, quay lại thì thấy nó đã gần sát tới nơi rồi.

Nhìn thấy chấm đỏ trên đầu mới nhận ra là con Nhị Thanh, bèn buông giỏ xuống kêu:

- Nhị Thanh, Nhị Thanh!

Rắn dừng lại, ngẩng đầu nhìn một lúc rồi phóng tới quấn lấy y như lúc còn diễn trò ngày trước.

Y biết nó không có ý hại mình, nhưng nó quá to nặng, y đứng không vững ngã lăn xuống đất kêu lên, nó bèn buông ra.

Lại lấy đầu cọ cọ vào cái giỏ, y hiểu ý, mở giỏ thả Tiểu Thanh ra.

Hai con rắn gặp nhau quấn chặt lấy nhau một lúc lâu mới rời.

Người nuôi rắn bèn nói với Tiểu Thanh:

- Ta đã muốn thả ngươi từ lâu, nay thế là có bạn rồi đấy.

Rồi nói với Nhị Thanh:

- Nguyên là ngươi dắt nó về, nay cứ dẫn nó đi.

Nhưng dặn các ngươi một câu, là núi sâu chẳng thiếu cái ăn, đừng ra quấy nhiễu người đi đường mà phạm tội với trời.

Hai con rắn cúi đầu như hứa vâng lời rồi cất mình đi, con lớn trước con nhỏ sau, qua khỏi rừng cây là nơi chia tay, người diễn trò rắn đứng nhìn theo cho đến khi chúng khuất dạng mới rời đi.

Từ đó người qua lại trên đường lại được yên ổn, không rõ chúng đi đâu.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 248+249+250+251


CHƯƠNG 248: BỘC THẦN

THẦN MƯA ĐÁ

Ngọc Chỉ Phân Minh Giáng Thượng Thanh

Nhất Thanh Tích Lịch Bộc Thần Hành

Quan Tâm Hòa Giá Thành Năng Cách

Bất Thị Đồng Hương Khả Tuấn Tình

Dịch:

Sắc Chỉ Ban Hành Tự Thượng Thanh

Bạc Thần Phát Động Sấm Vang Inh

Quan Tâm Lúa Mạ Thành Thông Cảm

Chẳng Phải Đồng Hương Dám Vị Tình



Ông Vương Quân Thương đi nhậm chức ở Sở Trung (tỉnh Hồ Nam), định lên núi Long Hổ để làm lễ ở đền Thiên sư.

Tới hồ, vừa lên thuyền, lập tức có một người đi chiếc thuyền nhỏ tới, sai người trong thuyền báo xin gặp.

Ông nhìn thấy người ấy tướng mạo khôi vĩ, rút trong bọc ra một tấm bài lệnh của Thiên sư nói:

- Thiên sư nghe nói ông sắp tới thăm, sai ta mang cung nỏ đi trước dẹp đường.

Ông ngạc nhiên về việc biết trước chuyện chưa xảy ra, càng cho là thần kỳ, bèn thành tâm lên núi, Thiên sư bày tiệc khoản đãi.

Những kẻ phục dịch thì áo mão râu tóc phần lớn khác với người thường, người xuống đón ông thì đứng hầu một bên.

Giây lát, người ấy nói nhỏ với Thiên sư, Thiên sư nói với ông rằng:

- Đây là người cùng quê với tiên sinh, tiên sinh không nhận ra sao?

Ông hỏi là ai, Thiên sư đáp:

- Đây là người mà thế nhân vẫn gọi là Bộc thần (thần làm mưa đá) Lý Tả Xa đấy.

Ông ngạc nhiên đổi cả sắc mặt.

Thiên sư nói:

- Vừa được chỉ của Thượng đế sai đi làm mưa đá, nên xin chào ông đấy.

*[Thiên Sư: tức Trương Đạo Lăng thời Hán, được Đạo giáo tôn làm Thiên sư, con cháu ông về sau cũng được tôn là Thiên sư].

Ông hỏi làm mưa đá ở đâu, người ấy đáp:

- Ở huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đông).

Ông thấy đất ấy sát nơi mình trấn nhậm, bèn rời ghế đứng dậy xin tha cho.

Thiên sư nói:

- Đây là sắc lệnh của Thượng đế, mưa đá có số mục cả, làm sao tha miễn gì được.

Ông nài nỉ không thôi, Thiên sư cúi đầu ngẫm nghĩ hồi lâu rồi quay dặn người ấy rằng:

- Cứ làm mưa đá ở nơi rừng núi, đừng để thiệt hại hoa màu của dân là được.

Lại nói:

- Khách quý đang ngồi đây, lên đường dùng văn không được dùng võ.

Vị thần bước đi, ra tới giữa sân chợt dưới chân sinh mây, hơi mù nghi ngút cuốn trên đất.

Khoảng một khắc sau hết sức nhảy lên, mới chỉ cao hơn cây cối ở sân, lại nhảy lên, cao hơn lầu gác, ầm một tiếng sét nổ, bay luôn về phía bắc, nhà cửa lung lay, mâm bát xô lệch.

Ông kinh hãi hỏi:

- Cứ thần ra đi là làm sấm sét à?

Thiên sư đáp:

- Vừa dặn trước nên y mới đi từ từ, nếu không thì đất bằng chợt dậy sét, đi luôn ngay rồi đấy.

Ông cáo biệt về, ghi lại ngày tháng, sai người qua Chương Khâu hỏi, quả hôm ấy có mưa đá rất lớn, đầy cả suối khe, nhưng hoa màu ngoài ruộng chỉ hư hại một ít.

_____________________________________

CHƯƠNG 249: TĂNG NGHIỆT

Đảo Huyền Hiều Thống Bi Kỳ Tật

Can Mội Kim Tiền An Tại Tai

Bất Thị Thử Tăng Năng Sám Hối

Hữu Nhân Thân Lịch Cửu U Lai

Dịch:

Treo Ngược Dau Rên Bệnh Lạ Lùng

Bạc Vàng Đã Hết Sạch Tay Không

Phải Đâu Sám Hối Tăng Hay Trước

Địa Ngục Do Người Chính Mắt Trông



Trương sinh chết bất ngờ, hồn đi theo quỷ sứ tới gặp Diêm Vương.

Diêm Vương tra lại sổ, thấy quỷ sứ bắt lầm bèn nổi giận trách mắng, bắt phải đưa về.

Trương xuống khỏi điện, xin riêng với quỷ sứ cho được đi xem địa ngục, quỷ dắt đi khắp nơi ngục Cửu U, núi kiếm vạc dầu cho xem, tới đâu cũng giải thích tường tận.

Sau cùng tới một chỗ, thấy có nhà sư bị buộc vào đùi treo ngược lên, đau đớn kêu gào muốn đứt hơi, tới gần nhìn thì ra là anh mình.

Trương hoảng sợ, hỏi vì tội gì mà đến nông nổi này, quỷ sứ đáp:

- Người này làm sư, đi khuyến hóa tiền bạc các nơi lại đem đánh bạc chơi đĩ ráo cả, nên phạt như thế.

Muốn thoát tai ách phải sám hối thôi.

Trương được sống lại, nghĩ là anh mình đã chết.

Lúc ấy người anh tu ở chùa Hưng Phúc, bèn tìm tới xem.

Vào tới cổng đã nghe tiếng anh đau đớn kêu la, vào tới phòng thì thấy trên đùi nổi mụn nhọt to vỡ ra, máu chảy dầm dề, đang nằm buộc chân treo lên vách, từa tựa như cảnh mình đã thấy bị treo ngược dưới âm phủ vậy.

Sinh hoảng sợ hỏi, người anh làm sư đáp:

- Treo lên còn đỡ, nếu không thì đau thấu tim gan.

Trương nhân đó thuật lại chuyện mình mắt thấy tai nghe, nhà sư cả sợ, bỏ hết rượu chè, kính cẩn tụng kinh, được nửa tháng thì khỏi, sau trở thành một nhà sư thanh tu.

_____________________________________

CHƯƠNG 250: TAM SINH

Lục Đạo Luân Hồi Bi Dọa Lạc

Tam Sinh Nhân Quả Thuyết Phân Minh

Phi Quan Ái Mã Thành Kỳ Tích

Ký Đắc Tiền Thân Phục Lịch Sinh

Dịch:

Luân Hồi Sáu Đạo Thương Sa Đọa

Nhân Quả Ba Sinh Nói Rõ Ràng

Yêu Ngựa Phải Đâu Vì Quái Tích

Tiền Nhân Còn Nhớ Ở Chung Chuồng



Hiếu liêm họ Lưu nhớ được chuyện kiếp trước, là bạn đồng khoa với tiên huynh là Văn Phấn công, thường kể lại rất rõ ràng.

Một kiếp ông là con nhà sĩ hoạn nhưng làm nhiều điều xấu xa, chết năm sáu mươi hai tuổi.

Lúc ông vừa vào gặp, được Diêm Vương tiếp đãi theo lễ đối với người lớn tuổi, cho ngồi, mời uống trà.

Nhìn thấy nước trà trong veo, tới giữa chén lại đục như keo, ông thầm nghi là thuốc lú, nhưng làm sao từ chối không uống được?

Bèn nhân lúc Diêm Vương ngoảnh qua chỗ khác, lén đổ xuống góc bàn rồi làm như đã uống cạn.

Lát sau bản tội lỗi kiếp trước của ông được kê ra, Diêm Vương nổi giận, sai quỷ sứ lôi xuống, phạt đầu thai làm ngựa, liền bị quỷ sứ trói lại dẫn di.

Tới một nhà nọ, bậc cửa rất cao không leo qua được, ông đang loay hoay, quỷ đã ra sức đánh mạnh, ông đau quá nhảy luôn lên, nhìn lại thì thấy mình đã đứng trong chuồng ngựa.

Nghe tiếng người nói:

- Ngựa đen sinh được ngựa đực con.

Biết rằng mình đã đầu thai làm ngựa, nhưng không sao nói được.

Thấy đói quá, bất đắc dĩ phải tới bú ngựa mẹ.

Được bốn năm năm thì trở nên to lớn nhưng rất sợ bị đánh đập, thấy roi là chạy.

Người chủ cưỡi bao giờ cũng bỏ đinh thúc ngựa nên không khổ lắm, nhưng tên mã phu thì cứ siết chặt đai da mà cưỡi, hai gót cùng thúc, đau không chịu nổi.

Vì thế ông uất ức, bỏ ăn ba ngày rồi chết.

Xuống tới âm phủ, Diêm Vương tra sổ thấy ông chưa hết hạn bị đày, trách phạt về tội trốn tránh, lột hết da, bắt làm chó.

Ông buồn bã không muốn đi, lũ quỷ xúm lại đánh túi bụi, đau quá chạy tuông ra đồng, tự nghĩ thà chết còn hơn, phẫn uất nhảy xuống vực sâu, không sao lên được.

Nhìn lại thì thấy mình đã nằm trong ổ chó, đang dược chó mẹ liếm láp, biết là đã đầu thai rồi.

Lúc hơi lớn thấy phân người biết là nhơ bẩn, có điều ngửi thì thấy thơm, nhưng quyết không ăn.

Được hơn một năm, uất ức muốn chết nhưng lại sợ bị trách phạt về tội trốn tránh, chủ lại cho ăn cơm mà không làm thịt.

ông bèn cắn vào bắp chân chủ rứt đứt cả thịt ra, bị chủ tức giận đập chết.

Diêm Vương tra hỏi biết chuyện, giận tội cắn bậy, đánh cho ông mấy trăm gậy, đày làm rắn, nhốt vào hầm tối không cho nhìn thấy mặt trời.

Ông rất buồn bã, bám vách leo lên trổ hầm chui ra, nhìn lại thì thấy mình đã nằm giữa đám cỏ, biến thành rắn rồi.

Bèn quyết chí không giết các sinh vật, đói thì ăn trái cây.

Được hơn năm, vẫn nghĩ rằng tự tử thì không được, cắn người để bị giết cũng không được, muốn tìm một cái chết yên lành nhưng chưa có dịp.

Một hôm nằm trong đám cỏ, nghe tiếng xe chạy, bèn bò ra nằm giữa đường, bị cán đứt làm hai khúc.

Diêm Vương ngạc nhiên vì thấy trở lại mau quá, ông kể lại mọi chuyện.

Diêm Vương cho rằng vô tội mà chết nên tha, cho được hết hạn, được trở lại làm người, đó là ông Lưu.

Lưu sinh ra đã biết nói, kinh sử đọc qua là thuộc lòng, đỗ Hiếu liêm năm Tân dậu, thường khuyên người ta là cưỡi ngựa nên nới lỏng dây cương, bỏ đinh thúc ngựa, thì còn hơn cả roi vọt.

_____________________________________

CHƯƠNG 251: CẢNH THẬP BÁT

Song Phi Đằng Thuyết Điểu Đồng Âm

Cánh Khởi Tỳ Bà Biệt Bão Tâm

Hồi Thủ Vọng Hương Đài Thượng Vọng

Bất Kham Trùng Độc Bạch Đầu Ngâm

Dịch:

Cùng Rừng Đã Nói Chim Liền Cánh

Ý Định Ôm Cầm Nỡ Bước Ngang

Trên Vọng Hương Đài Quay Cổ Lại

'Bạch Đầu' Có Thể Tiếp Ngâm Chăng



Chàng Cảnh thứ mười tám người huyện Tân Thành (tỉnh Sơn Đông) bị bệnh nặng, biết không sống được, nói với vợ rằng:

- Sắp vĩnh biệt nhau rồi.

Sau khi ta chết, thủ tiết hay lấy chồng khác đều tùy nàng, nhưng xin cứ nói rõ.

Vợ im lặng không đáp, Cảnh cứ hỏi riết, lại nói:

- Thủ tiết thì tốt, lấy chồng khác là thường tình, cứ nói rõ có gì phải ngại?

Ta sắp cùng nàng vĩnh biệt, nàng mà thủ tiết thì ta được an ủi, nàng mà lấy chồng khác thì ta cũng dứt được tình!

Vợ rầu rĩ nói:

- Nhà không có đấu thóc thừa, chàng còn sống đã không đủ ăn, lấy gì mà thủ tiết.

Cảnh nghe thấy chụp lấy vai vợ, uất ức nói:

- Nhẫn tâm quá!

Dứt lời thì chết, tay vẫn nắm cứng vai vợ không buông.

Vợ kêu ầm lên, người nhà đổ tới, phải hai người bẻ ngón tay, ra sức giật mạnh mới gỡ ra được.

Cảnh không biết là mình đã chết, ra khỏi cửa thấy có hơn mười chiếc xe nhỏ, mỗi chiếc có mười người, đều có danh sách dán trên thùng xe.

Người đánh xe thấy Cảnh, giục lên xe mau.

Cảnh thấy trên xe đã có chín người, mình là người thứ mười, lại nhìn tới danh sách thì thấy tên mình ở cuối cùng.

Xe chạy rầm rập, tiếng bánh xe khua vang chẳng nghe thấy gì khác, cũng chẳng biết là đi đâu.

Lát sau tới một chỗ, nghe tiếng người nói rằng:

- Đây là đất Nhớ quê.

Cảnh nghe thấy lấy làm ngờ, lại nghe đám đánh xe nói với nhau rằng:

- Hôm nay chém ba người.

Lại càng hoảng sợ.

Đến khi nghe họ trò chuyện, đều là chuyện dưới âm phủ, mới sực nghĩ ra:

- Chẳng lẽ mình đã thành ma rồi sao?

Nhớ lại gia đình chẳng thấy luyến tiếc gì, duy còn mẹ già tuổi đã cao, vợ đi lấy chồng khác sẽ không có người săn sóc, nghĩ tới đó bất giác nước mắt vòng quanh.

Đi một lúc nữa, thấy có đài cao mấy nhận, rất nhiều người lên xuống, kẻ bị gông người bị xiềng, kêu khóc rầm rĩ, nghe người ta nói là đài Nhìn quê.

Mọi người tới đó đều nhao nhao nhảy xuống xe, người đánh xe hoặc đánh đập hoặc giữ lại, chỉ tới Cảnh thì giục lên dài.

Cảnh đi hơn mười bước thì tới tầng trên cùng, nghểnh đầu nhìn thấy rõ cả nhà cửa cổng nẻo, nhưng phòng ốc như bị mây mù che kín, ngậm ngùi khôn xiết.

Ngoảnh nhìn bốn phía, thấy có một người mặc áo ngắn màu xanh kề vai cùng đứng.

Người ấy hỏi tên họ Cảnh, Cảnh nói rõ, người ấy cũng tự xưng là thợ mộc ở Đông Hải.

Thấy Cảnh buồn rầu, hỏi có chuyện gì, Cảnh lại nói rõ, người ấy bàn với Cảnh xuống đài bỏ trốn.

Cảnh sợ bị đuổi bắt, người ấy nói không sao, Cảnh lại sợ đài cao xuống không được, người ấy nói cứ theo mình, rồi nhảy xuống trước.

Cảnh cũng nhảy theo, tới đất không hề hấn gì, mừng là không có ai biết.

Nhìn thấy chiếc xe vẫn còn ở dưới đài, hai người vội bỏ chạy.

Được mấy chặng, chợt nghĩ rằng tên họ vẫn còn trong danh sách dán trên xe, sợ bị đuổi theo bèn quay trở lại, nhấm nước bọt vào tay xóa tên mình, rồi lại bỏ chạy, thở không ra hơi vẫn không dám dừng chân.

Một lúc sau về tới cổng, người ấy đưa Cảnh vào phòng, chợt thấy xác mình, Cảnh bèn nhập vào sống lại.

Thấy mệt mỏi khát nước, bèn gọi lấy nước, người nhà hoảng sợ đưa nước tới.

Cảnh uống hơn một thạch rồi ngồi dậy chắp tay như lạy tạ, kế đó lại ra cửa như tiễn khách rồi trở vào nằm vật xuống không động đậy.

Người nhà thấy hành động kỳ quái, ngờ là không phải sống lại thật, nhưng nhìn kỹ thấy không có gì khác lạ, bèn tới gần hỏi han, Cảnh mới thuật lại rõ ràng mọi chuyện.

Người nhà hỏi ra cửa làm gì, Cảnh đáp:

- Chào người thợ mộc!

Lại hỏi sao uống nước nhiều thế, Cảnh đáp:

- Ban đầu là uống cho ta, kế là uống cho người thợ mộc.

Người nhà đổ cháo cho ăn, mấy ngày thì khỏi, từ đó rất ghét vợ, không bao giờ ngủ chung.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 252+253+254+255+256


CHƯƠNG 252: NHÀ CÓ YÊU MA

Trượng Kiếm Đại Hô Vương Học Viện

Bách Thanh Xuy Tiếu Quỉ Gia Du

Huỳnh Huỳnh Lân Hỏa Quy Hà Xứ

Mạc Đạo Du Già Sự Tổng Vu

Dịch:

Chống Gươm 'Vương Học Viện' Hô To

Trăm Tiếng Phì Cười Quỉ Lỡm Lờ

Lấp Lóe Lân Tinh Đâu Xuất Hiện

Du Già Đừng Bảo Việc Vu Vơ



Trong loạn Tạ Thiên phủ đệ các quan đều bị giặc chiếm, nhà quan Đốc học Vương Tương có rất nhiều giặc ở.

Lúc thành bị phá, quan binh tràn vào chém giết thẳng tay, thây chất đầy sân, máu chảy ngập cửa.

Ông Vương vào thành, dọn dẹp sạch sẽ để ở, thường giữa ban ngày cũng nhìn thấy ma, ban đêm thì ma trơi lập lòe quanh giường, trong góc tường có tiếng ma khóc.

Một hôm thư sinh Vương Hạo Địch tới ngủ nhờ, nghe dưới gầm giường có tiếng kêu nho nhỏ 'Hạo Địch, Hạo Địch!' liên tiếp, rồi kêu to dần, nói:

- Ta chết khổ lắm!

Kế đó tiếng khóc vang lên khắp sân.

Ông Vương nghe thấy, cầm kiếm xông vào lớn tiếng quát:

- Các ngươi không biết ta là Vương Học viện à?

Chỉ nghe tiếng nhổ, tiếng cười, tiếng khịt mũi rộn lên.

Ông Vương vì thế lập đàn tràng, tụng kinh siêu độ, tối đem cơm ra cúng, thì thấy ma trơi lập lòe khắp mặt đất bay ra.

*[Tạ Thiên: người Cao Uyển tỉnh Sơn Đông, nổi dậy chống nhà Thanh năm Thuận Trị thứ 3 (1646)].

Trước đó người gác cửa nhà ông là họ Vương mắc bệnh, hôn mê đã mấy ngày, đêm ấy chợt tỉnh lại.

Vợ đưa cơm tới, Vương nói:

- Chẳng biết chủ nhân có chuyện gì lại bày cơm ở sân cho ăn, ta cũng theo mọi người vào ăn, no rồi mới về, nên không thấy đói.

Từ đó ma quỷ tuyệt tích, hoặc giả chuông trống nạo bạt của đạo Thích cũng có ích chăng.

_____________________________________

CHƯƠNG 253: TỨ THẬP THIÊN

BỐN MƯƠI NGÀN

Nhất Mộng Sa Hồi Kinh Nghiệt Trái

Tiếu Đề Không Tự Nhạ Nhân Lân

Thành Phù Phi Khứ Đàm Hoa Tạ

Bản Lợi Thanh Hoàn Tứ Thập Thiên

Dịch:

Một Giấc Mơ Kinh Vướng Nợ Đòi

Khóc Cười Luống Để Nhớ Thương Thôi

Thanh Phù Bay Kết Hoa Đàm Rụng

Bốn Chục Ngàn Trang Sạch Vốn Lời



Đại Tư mã họ Vương người huyện Tân Thành (thuộc tỉnh Sơn Đông) có người quản gia, gia tư cũng vào loại khá.

Một đêm mơ thấy một người tới nói:

- Ngươi thiếu bốn mươi ngàn đồng, nay phải trả lại.

Y hỏi, người ấy không đáp, cứ đi thẳng vào nhà trong.

Lúc y tỉnh dậy, vợ đã sinh được một con trai, biết là oan nghiệt kiếp trước, bèn lấy ra bốn mươi ngàn đồng để riêng vào một phòng, mọi chi phí quần áo, thức ăn, thuốc men cho con đều lấy ở đó.

Được ba bốn năm, tiền trong phòng chỉ còn bảy trăm đồng, nhìn thấy người vú ôm đứa con tới cho đùa giõn bên cạnh, y bèn nói với nó rằng:

- Bốn mươi ngàn đồng sắp hết, ngươi chuẩn bị đi đi thôi.

Y vừa dứt lời, đứa con chợt biến sắc mặt, nghẹn cổ trợn mắt, bế lên vỗ về thì đã đứt hơi chết rồi.

Bèn lấy số tiền còn lại để chôn cất thì vừa đủ, chuyện này quả đủ để răn kẻ mắc nợ vậy.

Trước đây có người đã già mà không có con, hỏi một nhà sư, nhà sư nói:

- Ngươi không mắc nợ người khác, người khác cũng không mắc nợ ngươi, làm sao mà có con được.

Đại khái sinh con hiền, đó là báo đáp cái duyên của ta, sinh con không hiền, đó là đòi nợ ta, con sống cũng chớ mừng, con chết cũng chớ buồn thương vậy.

_____________________________________

CHƯƠNG 254: CỬU SƠN VƯƠNG

Khiếu Tụ Sơn Lâm Nhất Niệm Si

Lão Nhân Bất Thị Đế Vương Sư

Thê Noa Biền Lục Đông Giao Nhật

Ký Phú Viên Trung Túng Kha Thì

Dịch:

Thảo Khấu Chiên Hô Ý Niệm Si

Ông Già Đâu Phải Bậc Quân Sư

Vợ Con Tru Lục Ngày Thê Thảm

Phóng Hỏa Vườn Hoang Có Nhớ Khi?



Họ Lý ở huyện Tào Châu (tỉnh Sơn Đông) là Chư sinh ở huyện, gia cảnh khá giả nhưng nhà cửa không rộng rãi lắm, phía sau nhà có mấy mẫu vườn vẫn bỏ hoang.

Một hôm có ông già tới thuê, đưa ra trăm đồng vàng, Lý vì chỉ có đất không nên từ chối.

ông già nói:

- Xin cứ nhận cho, đừng nghĩ ngợi gì.

Lý không nỡ phật ý, bèn nhận tiền, chờ xem chuyện lạ.

Hôm sau, người trong thôn thấy xe ngựa rầm rộ chở người tới nhà Lý, đều cho rằng nhà Lý không lấy đâu đủ chỗ ở.

Hỏi thăm thì Lý hoàn toàn không hay biết, vội về xem xét nhưng chẳng nghe thấy trong vườn có gì lạ.

Mấy ngày sau ông già chợt tới thăm, lại nói:

- Được nương nhờ dưới mái đã mấy hôm, nhưng mọi việc đều phải bắt đầu, đào lò đắp bếp bận rộn nên chưa rảnh để trọn lễ làm khách.

Hôm nay có sai đám trẻ làm cơm, mong được hạ cố qua chơi.

Lý đi theo, vào tới vườn sau thấy nhà cửa đẹp đẽ, rõ ràng vừa xây cất xong.

Vào tới bên trong thì thấy bày biện sang trọng, vò rượu sôi bên tường, ấm trà reo dưới bếp.

Kế đó cơm rượu dọn lên, đủ cả món ngon vật lạ, nhìn thấy trước sân có nhiều người trẻ tuổi qua lại, lại nghe sau rèm cửa có tiếng đàn bà con gái thì thào cười nói, hầu trai tớ gái như là có tới hàng ngàn người.

Lý biết là hồ, hết tiệc ra về, ngầm muốn giết hại.

Từ đó lần nào ra chợ cũng mua lưu hoàng diêm tiêu, dần dần tích lại được mấy trăm cân, bèn ngầm rắc khắp trong vườn rồi phóng hỏa.

Lửa khói bốc lên tận trời cuồn cuộn như cái nấm đen, mùi vị khét lẹt, tro bụi mù mịt không sao tới gần, chỉ nghe tiếng kêu khóc vang dậy điếc tai.

Đến khi lửa tắt vào xem, thấy hồ chết đầy vườn, cháy đầu sém trán không biết bao nhiêu mà kể.

Đang còn nhìn ngó, ông già chợt từ ngoài đi vào, vẻ mặt đau đớn nói:

- Vốn không có thù oán gì với nhau, thuê mảnh vườn bỏ hoang thì mỗi năm trả trăm đồng vàng cũng chẳng phải ít, sao lại nhẫn tâm giết sạch cả nhà nhau thế.

Mối thù vô cùng thê thảm này thế nào cũng phải trả.

Rồi biến mất.

Lý ngờ rằng sẽ bị ném đá liệng ngói phá phách, nhưng hơn một năm vẫn không thấy có chuyện gì khác lạ.

Lúc ấy vào đầu đời Thuận Trị (1644-1661), bọn cướp ẩn náu trong núi, tụ họp hàng vạn người, quan quân không sao dẹp được.

Lý vì gia đình có nhiều người, thường lo cảnh loạn lạc.

Chợt có một người thầy bói tới thôn, tự xưng là Nam Sơn ông, nói chuyện họa phúc của người đều đúng như chính mắt nhìn thấy, rất nổi tiếng.

Lý gọi tới nhà nhờ bói vận mạng, ông ta kinh ngạc đứng dậy cung kính nói:

- Thật đúng là chân mệnh Thiên tử!

Lý nghe thế hoảng sợ, cho là nói bậy, ông ta nghiêm sắc mặt thuyết phục.

Lý nửa tin nửa ngờ, bèn hỏi:

- Lại có hạng người tay trắng mà nhận mệnh trời làm Thiên tử à?

Ông ta đáp:

- Không phải thế.

Đế vương xưa nay có nhiều người vốn là thất phu, đâu phải sinh ra đã làm Thiên tử.

Lý động tâm, dời ghế tới trước mặt hỏi, ông ta quả quyết xin gánh vác quân sư, xin cứ chuẩn bị trước vài ngàn bộ giáp trụ cung tên.

Lý lo người ta không chịu theo, ông ta nói:

- Thần xin vì đại vương đi liên kết các núi, đính ước với họ, cứ nói rằng đại vương có chân mệnh Thiên tử, sĩ tốt trong núi chắc chắn sẽ hưởng ứng.

Lý mừng rỡ sai ông ta đi, rồi đào tiền chôn lên, chế tạo binh giáp.

Ông già đi mấy hôm mới về, nói:

- Nhờ uy phúc của đại vương, thêm ba tấc lưỡi của thần, các núi đều xin cầm roi theo dưới cờ.

Quả có mấy ngàn người theo về.

Lý bèn phong ông ta làm Quân sư, dựng cờ dấy quân, cờ xí san sát như rừng, chiếm cứ núi non xây dựng trại sách, thanh thế rất lớn.

Quan huyện được tin dẫn quân tới đánh, bị ông ta chỉ huy đám giặc đánh bại.

Quan huyện sợ, cấp báo cho phủ Duyện Châu (tỉnh Sơn Đông), quân Duyện Châu từ xa kéo tới, bị ông ta đem đám giặc mai phục đánh tan, tướng sĩ bị giết rất nhiều.

Thanh thế của Lý càng lớn, có tới hàng vạn quân, bèn tự xưng là Cửu Sơn vương.

ông ta sợ thiếu ngựa chiến, gặp lúc trong kinh đô đưa ngựa chiến xuống Giang Nam, bèn phái một cánh quân chặn đường cướp hết, từ đó danh tiếng Cửu Sơn vương càng lừng lẫy.

Lý bèn gia phong ông ta là Hộ quốc đại tướng quân, mình thì nằm khểnh trên núi, nghênh ngang tự đắc, cho rằng chẳng bao lâu sẽ khoác long bào trị vì thiên hạ.

Quan tỉnh Sơn Đông vì chuyện ngựa bị cướp đang định đem quân đánh dẹp, lại được tin báo của phủ Duyện Châu, bèn phát vài ngàn tinh binh chia làm sáu đường tiến đánh, quân mã cờ xí đông đặc dưới núi.

Cửu Sơn vương cả sợ, gọi ông ta tới bàn kế sách, thì không biết ông ta đã bỏ đi đâu rồi.

Cửu Sơn vương túng thế không còn cách nào, lên núi nhìn xuống nói:

- Nay mới biết quân thế của triều đình lớn mạnh như vậy!

Kế đó quân thua bị bắt, vợ con đều bị giết, mới tỉnh ngộ rằng Nam Sơn ông là con hồ già ngày trước báo thù cho Lý bị diệt tộc.

_____________________________________

CHƯƠNG 255: TUY THỦY HỒ

HỒ SÔNG TUY

Đắc Bằng Trùng Phệ Hạp Phi Hào

Yến Tử Ly Hương Cấu Biệt Sào

Ấp Lệnh Bàng Nhiên Đồ Tự Đại

Cánh Nan Chiết Tiết Đính Hi Giao

Dịch

Bộc Phệ Hào Xem Ứng Đắc Bằng

Yến Làm Riêng Tổ Ở Tha Phương

Ngang Nhiên Ấp Lệnh Dù Quan Lớn

Chiết Tiết Giao Du Chửa Dễ Dàng



Họ Lý ở huyện Duy (tỉnh Sơn Đông) có tòa nhà không ở, chợt có một ông già tới thuê, xin trả năm mươi đồng vàng một năm.

Lý ưng thuận, nhưng ông già đi luôn không thấy trở lại.

Lý bảo người nhà cho người khác thuê, thì hôm sau ông già tới nói:

- Ta đã hỏi thuê rồi, sao lại định cho người khác thuê nữa?

Lý nói thật là ngờ ông không thuê, ông già nói:

- Ta định ở đây lâu, nên mới thong thả để chọn ngày tốt, sau mười ngày nữa mới dọn tới.

Rồi trả trước tiền thuê một năm cho Lý, lại nói:

- Nếu trọn năm vẫn bỏ không, xin cũng chớ lạ.

Lý đưa ra cửa, hỏi rõ ngày dọn tới, ông già chào ra về.

Quá kỳ hẹn mấy hôm vẫn không thấy đâu, Lý tới xem thì thấy hai cánh cổng cài chặt nhưng bên trong có khói nấu cơm bốc lên và tiếng người ồn ào.

Lý ngạc nhiên gõ cửa vào thăm, ông già vội ra đón, cười nói rất thân mật.

Lý ra về, sai người mang thức ăn qua biếu, ông già đáp lễ rất hậu.

Vài hôm sau Lý mở tiệc mời, ông già qua trò chuyện rất vui vẻ.

Lý hỏi quê quán, đáp là ở Tần Trung (vùng Thiểm Tây).

Lý ngạc nhiên vì xa quá, ông già nói:

- Quý hương đây là đất phúc, chứ Tần Trung không thể ở lâu dài được, vì sắp có nạn lớn.

Lúc ấy đang thời thanh bình, nên Lý nghe thế cũng bỏ qua không hỏi thêm.

Mấy ngày sau ông già gởi thiếp mời Lý sang để đáp lễ với chủ nhân, căng màn ngồi trong trướng ăn uống, vật dùng đều sang trọng xa xỉ, Lý càng ngờ là bậc quý quan.

Ông già thấy đã thân tình, tự xưng là hồ, Lý sợ hãi không dám qua lại nữa, đi trên đường trông thấy là tránh mặt.

Thân hào trong huyện nghe chuyện lạ, ngày nào cũng ruỗi xe giong ngựa tới cửa xin ra mắt làm quen, ông già cũng không từ chối một ai, dần dần quan lại có khi cũng ghé chơi.

Riêng có quan huyện muốn tới chơi, ông già lại kiếm cớ từ chối.

Quan huyện nhờ Lý tới nói để ông già nể mặt chủ nhà, ông cũng từ chối.

Lý hỏi tại sao, ông dời ghế tới gần ghé tai nói nhỏ:

- Là ông không biết, chứ kiếp trước y là con lừa, nay tuy nghiễm nhiên cai trị dân, nhưng uống nước vo gạo cũng say.

Ta tuy vốn khác loài nhưng lấy làm thẹn bị xếp ngang hàng với y.

Lý bèn tìm lời nói thác rằng hồ sợ quan huyện là bậc thần minh nên không dám gặp mặt, quan huyện tưởng thật bèn thôi.

Lúc ấy là năm Khang Hy thứ 11 (1672).

Không bao lâu đất Tần quả có nạn binh lửa, mới tin rằng hồ có tài tiên tri.

*[Uống nước vo gạo cũng say: Ý nói chỉ cần được nhiều tiền thì không uống rượu cũng say, đây chỉ quan huyện tham lam, thích ăn hối lộ].

_____________________________________

CHƯƠNG 256: THIỂM HỮU MỖ CÔNG

ÔNG MỖ Ở THIỂM TÂY

Bằng Tương Thiện Ác Phán Âm Tào

Chuyển Cốc Nhân Dương Số Mạc Đào

Lại Hữu Cứu Nhân Công Khê Thục

Bất Tằng Đối Giác Chỉ Phi Mao

Dịch:

Bằng Đem Thiện Ác Âm Tào Phán

Thoáng Chuyển Người Dê Số Định Rồi

Nhờ Có Cứu Sinh Công Chuộc Tội

Sừng Chưa Bị Mọc Dính Lông Thôi



Mỗ công ở Thiểm Hữu (tức Thiểm Tây), thi đỗ Tiến sĩ năm Tân sửu, nhớ được chuyện kiếp trước.

Thường kể rằng kiếp trước ông là học trò, đến tuổi trung niên thì chết, sau khi chết xuống nơi Diêm Vương xét xử, thì thấy đủ cả vạc dầu núi kiếm đúng như lời truyền ngôn ở nhân gian.

Phía góc đông điện có đặt mấy cái giá treo da dê, chó, trâu.

Viên lại gọi tên ai bị phạt làm ngựa làm heo thì đều bị lột hết quần áo ra, lấy bộ da trên giá chụp vào.

Tới lượt ông, nghe Diêm Vương phán:

- Nên phạt làm dê!

Quỷ sứ bèn rút một bộ da dê trắng tới chụp vào người ông.

Viên lại bẩm ông đã từng cứu một người thoát chết, Diêm Vương xem lại sổ, nói:

- Vậy thì tha cho y, tuy làm nhiều việc ác, nhưng việc thiện ấy đủ chuộc tội rồi.

Quỷ sứ tới cởi bộ da dê ra, nhưng đã dính chặt vào người ông không gỡ ra được nữa.

Hai con quỷ bèn tỳ tay xuống ngực ông lấy hết sức giật mạnh, đau đớn không bút nào tả xiết.

Bộ da dê bị xé rách thành từng mảnh nhưng không lột sạch được, khi đã gỡ ra rồi trên vai vẫn còn một mảnh dính chặt, to bằng bàn tay.

Khi ông sinh ra, trên lưng có một đám lông dê, cắt đi lại mọc.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 257+258+259+260


CHƯƠNG 257: TI TRÁT LẠI

KỊ HÚY

Nội Húy Tùng Lai Mạc Xuất Môn

Vũ Phu Bạo Mậu Bất Khan Luân

Đao Huy Nghiên Kích Không Hàm Nộ

Quỉ Vật Gia Du Thích Thượng Tồn

Dịch:

Tên Húy Trong Nhà Có Phạm Vi

Vũ Phu Hung Bạo Đáng Bàn Chi

Vung Đao Nổi Giận Hung Hăng Đánh

Quỉ Lỡm Lờ Đưa Danh Thiếp Ghi



Du kích (một chức quan võ) Mỗ có nhiều thê thiếp, rất thích kiêng tên của họ.

Như nói Niên là Tuế, Sinh là Ngạnh, Mã là Đại lư.

Lại kiêng kỵ, bắt nói Bại là Thắng, An là Phóng.

Thư từ công văn gởi đi các nơi vì vậy rất phiền nhiễu, nhưng người nhà nói tới là nổi giận.

Một hôm viên lại coi văn thư bẩm việc, lỡ miệng phạm húy, Mỗ cả giận vớ cái nghiên đánh, viên lại chết ngay tại chỗ.

Ba ngày sau Mỗ say rượu nằm nghỉ, thấy viên lại cầm tấm thiếp đi vào, hỏi có chuyện gì, viên lại đáp:

- Mã Tử An tới thăm! (Mã Tử An lai bái).

Mỗ chợt biết là ma, vội vùng dậy tuốt đao vung lên, viên lại cười khẽ ném tấm thiếp xuống bàn rồi biến mất.

Mỗ cầm tấm thiếp xem, thấy viết

Sui gia là con lừa lớn bướng bỉnh đánh rắm (Tuế gia quyến ngạnh đại lư tử phóng thắng).

Hung dữ giết người như thế, để tới nỗi bị ma quỷ mỉa mai, thật là đáng cười.

*[Tuế gia quyến ngạnh đại lư tử phóng thắng: tức "Niên gia quyến sinh Mã Tử An bái" (Họ hàng bên vợ là Mã Tử An tới thăm).

Tục lệ Trung Quốc xưa, người của hai nhà kết thông gia với nhau, ngang hàng thì gọi nhau là quyến đệ, với người bậc trên tự xưng là vãn sinh, với người bậc dưới tự xưng là quyến sinh.

Theo văn cảnh thì Mã Tử An ở đây là hàng chú bác của vợ Mỗ tới thăm, nhưng viết danh thiếp theo lối kiêng húy của Mỗ nên thành ra một câu như vậy (chữ “bái" gần âm với chữ "bại", đổi thành chữ “thắng" gần âm với chữ "thí" “phóng thí" là đánh rắm)].

Ở núi Ngưu Thủ có một nhà sư, lấy tên là Thiết Hán (Người đàn ông sắt), lại lấy tên là Thiết Thỉ (Cứt sắt), có bốn mươi bài thơ, ai đọc thấy cũng khâm phục.

Tự khắc hai dấu ấn, một đề:

Hỗn trướng hàng tử (Vô lại khốn nạn).

Một đề:

Lão thực phát bì (Thành thật mặt dày).

Tú tài Vương Tư Trực in thơ ấy, lấy tên là:

Ngưu Sơn tứ thập thí” (Bốn mươi cái rắm Ngưu Sơn).

Hàng lạc khoản đề:

Hỗn trướng hàng tử, Lão thực phát bì.

Phóng bất tất độc kỳ thi, Tiêu danh dĩ túc giải ky (Vô lại khốn nạn, Thành thật mặt dày.

Thơ rắm không cần phải đọc, Nêu tên đã đủ để cười).

____________________________________

CHƯƠNG 258: QUAN TƯ HUẤN

Lữ Nhân Trọng Thính Thán Đồ Cùng

Khối Lỗi Đăng Trường Tiếu Cúc Cung

Dã Toán Nhân Gian Thanh Bạch Lại

Cánh Vô Quan Tiết Xuất Hoa Trung

Dịch:

Vì Nhân Tai Nặng Hóa Thêm Rầy

Phỗng Gỗ Làm Trò Phải Dật Dây

Kể Cũng Là Quan Thanh Bạch Đấy

Bỗng Không Xảy Đến Chuyện Không Hay



Huấn đạo Mỗ điếc đặc, nhưng chơi thân với một con hồ, nhờ hồ ghé sát tai nói nên cũng nghe được.

Mỗi lần yết kiến quan trên, đều có hồ ngầm theo giúp nên không ai biết Mỗ điếc.

Được năm sáu năm, hồ từ biệt, dặn:

- Ông như con rối, không có người giật dây thì ngũ quan đều bỏ xó, để tới nỗi vì điếc mà chịu tội, chẳng bằng sớm từ chức cho có vẻ cao thượng.

Mỗ tiếc bổng lộc không chịu nghe lời ấy, mấy lần cứ hỏi gà lại đáp vịt, quan Đốc học muốn cách chức, Mỗ lại xin quan huyện năn nỉ giùm.

Một ngày nọ chấm thi, xướng danh xong Đốc học trở về, cùng các học quan ăn tiệc.

Các học quan đều giắt sổ sách trong ống giày, đưa lên trình báo.

Kế Đốc học cười hỏi sao riêng quý học quan không có gì trình báo vậy.

Mỗ hoang mang không biết gì, người ngồi cạnh lấy khuỷu tay huých, lại lấy tay thò vào ống giày ra hiệu.

Mỗ vì có người họ hàng gởi mua dương vật giả để dùng vào việc trong phòng, nên giấu trong ống giày, lúc ấy cũng mang theo.

Thấy Đốc học tươi cười, tưởng là đòi vật ấy, bèn lấy ra đứng dậy kính cẩn thưa:

- Chỉ có tám tiền một cái là cùng, nên hạ quan không dám dâng lên.

Cả tiệc cười ầm, Đốc học quát đuổi ra, kế cách chức Mỗ.

____________________________________

CHƯƠNG 259: ĐOÀN THỊ

HỌ ĐOÀN

Điền Viên Qua Cát Dĩ Vô Dư

Nhẫn Khấp Thôn Thanh Tư Tục Tu

Hợp Phố Châu Hoàn Châu Ý Ngoại

Đố Tâm Tòng Thử Vĩnh Tiêu Trừ

Dịch:

Xâu Xé Điền Viên Đã Chẳng Còn

Khóc Thầm Nuốt Lệ Bởi Không Con

Hợp Phố Châu Về Ngoài Ý Liệu

Máu Ghen Từ Đấy Tẩy Trừ Luôn



Đoàn Thụy Hoàn là nhà giàu ở huyện Đại Danh (tỉnh Hà Bắc).

Bốn mươi tuổi vẫn không có con, nhưng vợ là Liên thị cả ghen nên muốn mua thiếp mà không dám.

Đoàn tư thông với một tỳ nữ, Liên thị biết được, đánh người ấy mấy trăm roi, đem bán cho nhà họ Loan ở Hà Gian.

Đám cháu trong họ sớm tối xin ăn thừa tự, Đoàn không trả lời, chúng đều có vẻ tức giận, muốn cho một đứa ăn thừa tự thì cả bọn ngăn trở.

Liên thị hung dữ cũng không làm được gì, mới hối hận uất ức nói:

- ông nay hơn sáu mươi tuổi, chẳng lẽ không sinh được con trai à?

Bèn mua cho chồng hai người thiếp, nghe Đoàn vào phòng họ ngủ cũng không hỏi tới.

Được hơn năm, hai người thiếp đều có mang, cả nhà đều mừng rỡ.

Từ đó Liên thị mới hơi yên lòng, phàm đám cháu có ai nài nỉ xin ăn thừa tự, lập tức lớn tiếng chửi mắng.

Không bao lâu, một người thiếp sinh con gái, một người thiếp sinh con trai nhưng đứa nhỏ vừa lọt lòng đã chết ngay.

Vợ chồng thất vọng, chỉ còn trông chờ vào tương lai mà thôi.

Hơn năm sau, Đoàn bị trúng phong nằm liệt giường, đám cháu càng mặc sức hoành hành, trâu ngựa vật dùng trong nhà cứ tự tiện tới tranh nhau mang đi.

Liên thị ra chửi mắng thì chúng hỏi vặn lại, muốn tính toán thì không sao tính toán được, sớm chiều khóc lóc.

Đoàn vì thế bệnh càng nặng, kế chết.

Đám cháu tới họp ngay trước quan tài bàn việc chia gia sản.

Liên thị tuy đau đớn nhưng không thể ngăn cấm được, muốn giữ lại một mảnh ruộng tốt để già trẻ sinh sống, mà họ cũng không chịu.

Liên thị nói:

- Các ngươi không muốn để lại chút gì, định cho mụ già này và đứa nhỏ kia chết đói phải không?

Tranh cãi suốt ngày không xong, Liên thị chỉ phẩn uất đấm ngực kêu khóc.

Chợt có người khách tới điếu tang, vào thẳng chỗ quan tài khóc lóc rất thảm thiết, rồi xé khăn tang buộc lên đầu, mọi người đều không biết là ai.

Hỏi thì khách đáp:

- Người chết là cha ta đấy!

Mọi người càng hoảng sợ, khách mới thong thả nói rõ.

Trước đây người tỳ nữ mà Liên thị bán về làm thiếp họ Loan được năm sáu tháng thì sinh ra Hoài.

Loan coi như con mình, đến năm mười tám tuổi cho vào học ở nhà phán.

Sau Loan chết, các con trai chia gia tài, không chia đều cho Hoài.

Hoài về hỏi mẹ mới biết nguyên do, nói:

- Đã là họ khác, thì ai có dòng giống kẻ ấy, cần gì ở đây nhận trăm mẫu ruộng của người?

Bèn trở về nhà Đoàn, lúc ấy Đoàn đã chết, kể lại mọi chuyện đều có chứng cứ rõ ràng.

Liên thị vừa uất ngã bệnh, nghe thế mừng rỡ, đi thẳng ra nói với đám cháu bên chồng:

- Ta nay lại có con rồi những trâu ngựa vật dùng các ngươi đã lấy đi mau đem trả lại nếu không ta sẽ kiện đấy.

Đám cháu Đoàn tái mặt nhìn nhau, im lặng giải tán.

Hoài bèn đưa mẹ ruột về ở với Liên thị, cùng chịu tang cha.

Đám cháu Đoàn bất bình, bàn nhau đuổi Hoài đi, Hoài biết được nói:

- Họ Loan không coi ta là họ Loan, họ Đoàn lại không coi ta là họ Đoàn, vậy ta là con ai?

Phẫn uất muốn kiện lên quan, họ hàng xúm lại can ngăn, đám cháu Đoàn mới thôi.

Nhưng Liên thị vì việc bọn kia bắt trâu ngựa không chịu thôi, Hoài can ngăn, Liên thị nói:

- Không phải ta tiếc trâu ngựa, mà là tức giận trong lòng.

Cha người vì uất ức mà chết, sở dĩ ta nén khóc nuốt lệ là vì không có con trai.

Nay đã có con, còn sợ gì nữa?

Chuyện trước ngươi không biết đâu, chờ ta kiện sẽ biết.

Hoài ra sức can ngăn, Liên thị không nghe, đưa đơn kiện lên huyện, quan huyện bắt đám cháu Đoàn lên hỏi cung, Liên thị căm tức đứng bên cạnh tố cáo rành rọt.

Quan huyện tức giận, trừng trị đám cháu Đoàn, tịch thu trâu ngựa vật dùng trả lại.

Liên thị về, gọi những đứa cháu chồng trước đó không đòi chia gia tài tới, đem những trâu ngựa vật dùng đòi lại được chia hết cho họ.

Liên thị sống hơn bảy mươi tuổi, lúc sắp chết, gọi con gái con dâu và cháu gái tới dặn:

- Các ngươi nhớ lấy, nếu đã ba mươi tuổi mà chưa sinh nở thì nên cầm bán hết vòng vàng cưới thiếp cho chồng, chứ không có con trai khổ lắm.

____________________________________

CHƯƠNG 260: HỒ NỮ

CÔ GÁI HỒ

Chung Tình Hà Ý Lai Bôn Nữ

Thủ Lễ Thiên Tri Tị Nhược Ông

Ám Hợp Tú Châm Công Ảo Hóa

Chu Truyền Nan Đắc Loạn Ly Trung

Dịch:

Chung Tình Đâu Tới Gái Lông Bông

Giữ Lễ Riêng Hay Tránh Bố Chồng

Ngầm Chụm Kim Thêu Tài Ảo Hóa

Loạn Ly Khéo Vẹn Bước Đường Cùng



Y Duyện người huyện Cửu Giang (tỉnh Giang Tây) đang đêm thấy có cô gái tới, trong bụng biết là hồ nhưng thích vì cô ta đẹp, bèn chung chạ, giấu không cho ai biết, cả cha mẹ cũng không hay.

Lâu sau thân xác gầy mòn, cha mẹ hỏi riết, Y mới thưa thật.

Cha mẹ lo lắm, sai người vào ngủ cùng phòng nhưng vẫn không ngăn cản được.

Người cha đích thân vào ngủ thì hồ không tới, mà người khác thì hồ lại tới.

Y hỏi, hồ đáp:

- Thứ bùa chú của thế tục làm sao ngăn cản ta được?

Nhưng phải có luân lý chứ, chẳng lẽ lại ngủ với nhau trước mặt cha chàng sao?

Người cha nghe thế đêm nào cũng vào ngủ cùng phòng với con, hồ bèn không tới nữa.

Sau gặp lúc giặc giã tới cướp, người trong làng chạy hết, cả nhà lạc nhau.

Y chạy vào núi Côn Lôn, bốn bề hoang vắng, lại lẻ loi một mình, trời thì đã chiều, lòng càng lo sợ.

Chợt thấy một cô gái đi tới, nghĩ rằng cũng là người chạy loạn, khi tới gần té ra là cô gái hồ.

Giữa khi loạn lạc, gặp được người quen Y rất mừng rỡ.

Cô gái nói:

- Trời đã tối, không còn đi đâu được chàng nên nghỉ lại đây, ta sẽ chọn chỗ xây tạm một cái phòng để tránh cọp beo.

Rồi đi về phía bắc mấy chặng, ngồi thụp xuống trong bụi cỏ, không biết làm gì.

Giây lát quay ra dắt Y đi về phía nam, khoảng hơn mười bước lại kéo quay lại.

Chợt thấy hàng ngàn cây đại thụ vây quanh một ngôi nhà cao, tường đồng cột sắt, nóc trắng như bạc.

Tới gần thì thấy tường cao ngang vai, bốn phía không có cửa nẻo gì, mà trên tường lởm chởm chông nhọn, cô gái đạp lên vượt qua, Y cũng đi theo.

Khi vào tới nơi, ngờ rằng nhà vàng không phải do người xây nhân hỏi ngôi nhà ở đâu ra.

Cô gái cười đáp:

- Chàng cứ ở lại đây, sáng mai xin tặng luôn cho chàng, bấy nhiêu vàng bạc ăn suốt nửa đời cũng không hết.

Kế chào từ biệt, Y năn nỉ lưu giữ, cô gái bèn ở lại, nói:

- Bị người chán ghét ruồng bỏ, đã quyết là vĩnh biệt, nay lại không thể cầm lòng được.

Khi Y tỉnh giấc, cô gái hồ không biết đã đi đâu rồi.

Đến khi trời sáng Y vượt tường ra ngoài, ngoảnh lại chỗ ngủ thì không thấy đình đài nhà cửa gì cả, chỉ có bốn cái trâm cắm trong cái vòng tay, chỗ chụm lại phía trên lồng vào một cái nhẫn, những cây đại thụ thì là gai góc rậm rạp biến thành.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 261+262+263+264


CHƯƠNG 261: VƯƠNG ĐẠI

Tài Tòng Yến Tử Cốc Trung Hồi

Hựu Hướng Thành Hoàng Tọa Hạ Lai

Xích Hắc Nhãn Mi Minh Phạt Tại

Mạn Khoa Cương Nghị Thị Tỳ Tài

Dịch:

Từ Hang Yến Tử Trở Về Rồi

Lại Hướng Thành Hoàng Dưới Bệ Ngồi

Mí Mắt Đỏ Đen Âm Giới Phạt

Đừng Khoe Cứng Rắn Có Kỳ Tài



Lý Tín là con bạc trong huyện.

Ban ngày nằm ngủ, chợt thấy bạn cờ bạc trước kia là Vương Đại, Phùng Cửu tới rủ đi chơi.

Lý cũng quên rằng họ đã chết, vui vẻ đi theo.

Ra khỏi cửa, Vương Đại qua rủ Chu Tử Minh trong thôn, Phùng bèn dắt Lý đi trước, vào miếu ở xóm đông.

Lát sau Chu cũng theo Vương tới.

Phùng đem xúc xắc ra, chuẩn bị gầy sòng.

Lý nói:

- Lúc nãy vội vàng không mang tiền theo, không chơi được, làm thế nào?

Chu cũng nói thế.

Vương nói:

- Quan nhân họ Hoàng thứ tám ở Yến Tử cốc cho vay lãi, chúng ta cùng tới đó hỏi vay chắc được.

Rồi đó bốn người cùng đi, lửng thửng một lúc tới một thôn ấp, trong thôn nhà cửa san sát.

Vương chỉ vào một ngôi nhà nói:

- Đây là nhà công tử họ Hoàng.

Có một người lão bộc trong nhà ra hỏi, Vương ngỏ ý, người lão bộc lập tức trở vào bẩm, lát sau quay ra nói vâng lệnh công tử mời Lý vào gặp.

Lý theo Vương vào thấy Công tử khoảng mười tám mười chín tuối, cười nói thân thiết, đem một chuỗi tiền lớn ra đưa cho Lý, nói:

- Biết ông vốn là người sòng phẳng nên cho vay không ngại, chứ Chu Tử Minh thì ta không tin.

Vương năn nỉ giùm, công tử muốn Lý đứng ra bảo lãnh, Lý không chịu, Vương đứng cạnh nói mãi Lý mới chịu, rồi cũng vay một ngàn đồng ra đưa cho Chu, lại thuật rõ lời công tử để khích Chu phải trả.

Ra khỏi cửa cốc, chợt gặp một người đàn bà đi tới, thì là vợ họ Triệu cùng thôn, tính hay gây gỗ chửi bới.

Phùng nói:

- ở đây vắng người, đùa giỡn con mụ dữ dằn này một chút.

Bèn cùng Vương đuổi theo vào trong cốc, người đàn bà la lớn, Phùng vốc đất nhét vào miệng.

Chu khen ngợi nói:

- Loại đàn bà này thì phải nút cả cái kia lại.

Phùng bèn tuột quần người đàn bà, lấy một hòn đá dài nhét vào chỗ kín, người đàn bà đau đớn lăn ra như sắp chết, cả bọn bèn bỏ chạy.

Rồi lại trở về miếu đánh bạc với nhau từ trưa đến tối, Lý thắng lớn, Phùng và Chu thua sạch tiền, Lý vì có nhiều tiền chia bớt cho Vương, lại nhờ Vương trả giùm cho công tử họ Hoàng.

Vương lại chia tiền cho Chu và Phùng, lại gầy sòng mới.

Không bao lâu chợt nghe tiếng người xôn xao, rồi có một người xông vào miếu nói:

- Thành hoàng gia đích thân đi bắt cờ bạc, hiện tới đây rồi.

Cả bọn hoảng sợ, Lý bỏ tiền leo qua tường chạy, ba người kia tiếc tiền nên đều bị bắt.

Ba người bị giải ra ngoài quả thấy một vị thần ngồi trên ngựa, sau ngựa có hơn hai mươi người bị trói.

Trời chưa sáng thì về tới huyện thành, cổng thành cũng vừa mở bèn vào.

Tới nha thự, Thành hoàng lên ngồi quay mặt về phía nam, gọi giải phạm nhân vào, cầm sổ gọi tên từng người.

Điểm danh xong, sai lấy búa sắc chặt hết ngón tay cái, lấy mực đen mực đỏ bôi lên hai mắt cả bọn rồi sai giải ra dong ba vòng quanh chợ.

Bọn lính áp giải đòi tiền hối lộ mới chịu bôi hết mực trên mặt cho, mọi người ai cũng đưa tiền ra, chỉ có Chu không chịu, nói là hết sạch tiền rồi.

Tên lính áp giải hẹn giải về tới nhà rồi đưa tiền cũng được, Chu cũng không chịu, y bèn chỉ vào mặt Chu nói:

- Ngươi thật là hạt đậu bằng sắt, có rang cũng không nở nổi.

Rồi chắp tay chào bỏ đi.

Chu ra khỏi thành, nhổ nước bọt vào tay áo vừa đi vừa lau mặt, tới sông soi xuống thấy dấu mực vẫn còn nguyên, vốc nước lên rửa nhưng mực bám chặt không trôi, mới hối hận thất thểu về nhà.

Trước đó vợ họ Triệu đi thăm mẹ ruột, đến tối vẫn chưa thấy về, người chồng vội đi đón.

Tới chỗ cửa cốc, thấy vợ nằm bên đường, nhìn dáng vẻ biết là gặp ma, vội móc đất trong miệng ra cõng về.

Người đàn bà tỉnh dậy nói được, Triệu mới biết là trong chỗ kín còn có hòn đá, bèn nhẹ nhàng lấy ra.

Đến khi vợ kể lại mọi chuyện, Triệu tức giận lên huyện kiện Lý và Chu.

Quan huyện gởi trát đòi xuống thì Lý mới tỉnh dậy, Chu thì vẫn còn mê man như chết.

Quan huyện cho là Triệu vu khống, phạt đánh roi và bắt giam luôn cả người vợ, vợ chồng không biết làm sao bẩm rõ được.

Hôm sau Chu tỉnh dậy, chung quanh hai mắt chợt biến thành một vòng màu đen một vòng màu đỏ, lại la lớn rằng đau ngón tay cái, người nhà tới nhìn thấy gân xương đã đứt hết, chỉ da bên ngoài còn liền mà thôi, mấy hôm sau thì rụng ra.

Vết mực đỏ mực đen quanh mắt thấm luôn vào thịt, ai nhìn thấy cũng phì cười.

Mấy hôm sau thấy Vương tới đòi nợ, Chu lớn tiếng nói không có tiền, Vương tức giận bỏ đi.

Người nhà hỏi biết, đều nói thần thánh ma quỷ vô tình, khuyên trả đi, Chu không nghe cứ gân cổ cãi, lại nói:

- Ngay cả quan huyện cũng bênh vực ta, âm phủ dương gian cũng chỉ có một phép tắc, huống chi là nợ cờ bạc?

Hôm sau có hai tên quỷ tới, nói là công tử họ Hoàng cũng kiện, đang chờ bắt Chu lên hỏi cung, Lý Tín cũng bị người tới bắt đi để làm chứng, hai người lăn ra chết cùng một lúc.

Ra tới ngoài thôn thì gặp nhau, Vương và Phùng cũng tới.

Lý nói với Chu rằng:

- Anh còn mang bộ mặt bên đỏ bên đen, lại dám tới gặp quan à?

Chu vẫn nói như cũ, Lý biết là keo kiệt tiếc tiền bèn nói:

- Ngươi đã mê muội như thế thì ta sẽ xin gặp công tử họ Hoàng để trả nợ cho ngươi.

Rồi cùng tới chỗ Công tử, Lý vào nói rõ mọi việc.

Công tử không chịu, nói rằng:

- Người nào thiếu nợ mà lại đòi ông trả?

Lý ra nói lại với Chu, lại tính bỏ tiền ra giả là tiền của Chu để trả, Chu càng tức tối, chửi rủa công tử, quỷ bèn trói lại lôi đi.

Lát sau tới huyện thành, vào gặp Thành hoàng, Thành hoàng quát:

- Thằng vô lại mắt còn vết mực kia, định quịt nợ à?

Chu thưa:

- Công tử bỏ tiền cho vay lãi, dụ dỗ ta đánh bạc, nên mới bị trừng phạt thế này.

Thành hoàng gọi người lão bộc nhà họ Hoàng lên, giận dữ nói:

- Chủ ngươi mở sòng dụ dỗ người ta đánh bạc, lại còn đòi nợ sao?

Người lão bộc thưa:

- Lúc họ vay tiền, công tử ta không biết là họ vay để đánh bạc.

Nhà công tử ta ở Yến Tử cốc, họ đánh bạc bị bắt ở miếu Quan âm, cách nhau hơn chục dặm, mà xưa nay công tử ta không mở sòng bạc bao giờ.

Thành hoàng quay lại quát Chu:

- Vay tiền mà cứng cổ không chịu trả, lại còn nói ngược, vô lương tới như ngươi là cùng.

Toan phạt đánh trượng, Chu lại kêu là lãi nặng.

Thành hoàng hỏi:

- Lãi mấy phân?

Người lão bộc thưa:

- Tiền gốc còn chưa trả đồng nào.

Thành hoàng tức giận nói:

- Gốc còn chưa trả mà đã dám kêu lãi nặng à?

Bèn phạt đánh ba chục trượng, sai áp giải về nhà để trả nợ.

Hai tên quỷ áp giải Chu về, đòi tiền hối lộ, không cho sống lại ngay, cứ trói nhốt trong nhà xí, sai báo mộng cho người nhà.

Người nhà đốt hai mươi xấp tiền giấy, lửa vừa tắt thì biến thành hai lượng vàng và hai ngàn đồng.

Chu đem vàng trả nợ, lấy tiền hối lộ hai tên quỷ áp giải, chúng mới chịu cởi trói cho hồn nhập vào xác.

Chu sống lại, hai mông lở loét, máu mủ bê bết, mấy tháng mới lành.

Vợ họ Triệu thì về sau không dám chữi bới gây gỗ với ai nữa, mà Chu thì chỉ còn bốn ngón tay và hai khoanh mắt một đỏ một đen như cũ, xem đó đủ biết bọn con bạc không phải là người.

____________________________________

CHƯƠNG 262: NAM THIẾP

VỢ LẼ LÀ CON TRAI

Trục Xú Thị Già Tín Bất Vu

Thư Hùng Phác Sóc Cánh Mơ Hồ

Dịch Tương Biền Mợn Vi Cân Quấc

Thủy Tín Nhân Gian Hữu Tử Đô

Dịch:

Hôi Thối Đua Theo Thực Chẳng Ngờ

Thư Hùng Lẫn Lộn Khéo Mơ Hồ

Đổi Thay Biền Mợn Làm Cân Quắc

Mới Biết Trên Đời Có Tử Đô



Có một viên quan ở Dương Châu (tỉnh Giang Tô) mua thiếp, đi khắp mấy nhà mà không chọn được người vừa ý.

Chỉ có một bà già ở trọ bán con gái, đứa con gái khoảng mười bốn mười lăm tuổi, trông rất xinh xắn, lại giỏi múa hát.

Ông ta mừng lắm bỏ ra một số tiền lớn mua về, hóa ra là đàn ông.

Ông ta sợ quá, căn vặn tới cùng, thì ra là người kia mua bọn con trai xinh xắn về cho ăn mặc, trang sức giả làm con gái để lừa người ta mà thôi.

Sáng ra, ông ta sai người nhà tới chỗ bà già, thì bà ta đã trốn mất rồi.

Ông ta thẫn thờ, không biết tính sao.

Vừa lúc ấy có người bạn đồng niên là Mỗ ở Chiết Trung tới thăm, bèn kể lại chuyện.

Mỗ đòi xem mặt, vừa trông thấy đã rất ưa thích, mang đủ số tiền ra mua lại đứa con trai rồi mang đi.

____________________________________

CHƯƠNG 263: UÔNG KHẢ THỤ

Hậu Quả Tiền Nhân Tu Duyệt Lịch

Luân Hồi Đọa Lạc Vị Toàn Vu

Mạc Tương Cường Lại Khoe Thanh Quý

Ký Đắc Tam Sinh Tự Hữu Vô

Dịch:

Hậu Quả Tiền Nhân Qua Lịch Duyệt

Luân Hồi Đọa Lạc Há Vu Vơ

Đừng Đem Quan Lớn Khoe Cao Quý

Có Nhớ Ba Sinh Chuyện Thủa Xưa?



Uông Khả Thụ người huyện Hoàng Mai ở Hồ Quảng (tỉnh Hồ Bắc) nhớ được chuyện ba kiếp trước.

Một kiếp ông ta làm học trò, đọc sách trong chùa, nhà sư trong chùa có con ngựa cái đẻ được ngựa đực con, ông ta thích bèn cướp lấy.

Sau ông ta chết, Diêm Vương xem sổ giận về tội tham lam tàn bạo, phạt làm ngựa để trả nợ cho nhà sư.

Nhà sư lại rất chăm chút thương yêu, ông ta muốn chết mà không được.

Đến khi hơi lớn, định nhảy xuống khe núi tự tử, nhưng lại sợ phụ cái ơn thương yêu chăm sóc, càng bị Diêm đình trị tội nặng hơn, nên đành yên phận.

Được vài năm, mãn hạn được tha, cho đầu thai làm con một nhà nông, vừa sinh ra đã biết nói, cha mẹ cho là điềm bất tường, bèn giết chết, lại được đầu thai vào nhà Tú tài họ Uông.

Tú tài gần năm mươi tuổi mới sinh được con trai nên rất mừng rỡ.

Uông khi sinh ra, vẫn nhớ kiếp trước vì biết nói sớm mà bị giết, nên không dám mở miệng.

Được ba bốn tuổi, người nhà đều cho là bị câm.

Một hôm người cha đang làm văn thì có bạn tới thăm, gác bút trên bàn ra tiếp khách.

Uông vào thấy bài văn cha làm dở dang, bất giác ngứa nghề, viết tiếp luôn tới hết bài.

Khi người cha trở lại phòng thấy thế, hỏi là có ai tới, gia nhân đều bẩm là không có.

Người cha ngờ vực, hôm sau viết một đề văn để trên bàn rồi bỏ ra ngoài.

Lúc sau quay lại, rón rén đi vào, thì thấy con đang nằm phục trên bàn làm văn, đã viết được vài hàng.

Uông thấy cha tới hoảng sợ kêu lên, quỳ xuống xin tha chết.

Người cha mừng nắm tay kéo dậy nói:

- Nhà ta chỉ có một mình con, lại biết làm văn, đó là cái may của gia đình, sao lại sợ sệt?

Từ đó lại dạy thêm cho con đọc sách.

Uông trẻ tuổi đã đỗ Tiến sĩ, sau làm quan tới chức Tuần phủ Đại Đồng.

____________________________________

CHƯƠNG 264: VƯƠNG THẬP

Quốc Khóa Hà Tàng Án Dẫn Thường

Thùy Phân Tử Bản Dữ Quan Thương

Nại Hà Hà Nhật Trùng Khiêu Tuấn

Ưng Hữu Nhân Sầu Cốt Đóc Thương

Dịch:

Thuế Khóa Dâu Từng Thâu Nạp Đủ

Ai Phân Dân Bán Với Quan Môn

Nại Hà Sẽ Lại Ngày Khơi Múc

Hẳn Có Người Rầu Xương Cốt Chồn



Người dân ở huyện Cao Uyển (tỉnh Trực Lệ) là Vương Thập, đội muối từ huyện Bác Hưng (tỉnh Trực Lệ) về, nửa đêm bị hai người chặn bắt.

Vương cho là lính tuần bắt muối lậu, bèn vứt muối định chạy, nhưng cuống chân chạy không được bị bắt, năn nỉ xin tha.

Hai người kia nói:

- Bọn ta không phải là lính tuần bắt muối lậu, mà là quỷ.

Thập sợ, nhưng xin được về nhà từ biệt vợ con, quỷ không cho, nói:

- Lần này đi chưa tới nỗi chết, chẳng qua chỉ tạm làm phu một thời gian thôi.

Thập hỏi làm chuyện gì, quỷ đáp:

- Diêm Vương mới dưới âm phủ đáo nhiệm, thấy sông Nại Hà bị lấp tắc, hầm xí ở mười tám nhà ngục đều đầy nên bắt ba hạng người xuống vét sông Nại Hà là bọn ăn trộm, bọn làm tiền giả và bọn buôn muối lậu, lại có một hạng phải dọn hầm xí, là bọn chứa đĩ.

Thập theo vào thành, tới một nha thự, thấy Diêm Vương ngồi trên, đang lập sổ sách.

Quỷ lên bẩm:

- Bắt được một tên buôn muối lậu là Vương Thập.

Diêm Vương nhìn xuống, giận dữ nói:

- Bọn buôn muối lậu, trên thì trốn thuế nước, dưới thì hại dân đen, tức như bọn tham quan gian thương mới gọi là bọn buôn lậu, chứ còn kẻ lương dân trong thiên hạ, nghèo quá thì phải kiếm chác chút đỉnh, cầu đủ cơm ăn mà thôi, thì sao gọi là buôn lậu được?

Bèn phạt hai tên quỷ, bắt đi mua bốn đấu muối, thêm cả vào số muối của Thập rồi vác về nhà cho Thập, giữ Thập lại trao cho gậy và bài gỗ, sai theo bọn quỷ đốc thúc việc vét sông.

Thập theo quỷ đi, tới cạnh sông Nại Hà, thấy dân phu dưới sông nối nhau đông đặc như kiến.

Lại thấy nước sông đỏ ngầu, tới gần thì hôi thối không sao chịu nối.

Nhưng người vét sông đều trần truồng ôm thúng lên xuống, xúc xương vụn thịt nát vào đầy thúng, chỗ sâu thì bẩn cả lên tới đỉnh đầu.

Ai lười nhác thì lập tức bị gậy đập vào lưng vào đùi.

Những người cùng đốc thúc đều lấy vải thơm quấn lại như cái nút, ngậm chặt vào miệng mới dám tới gần bờ sông.

Thập thấy trong đám phu có người thầu buôn muối ở Cao Uyển bèn theo hành hạ, y xuống thì đánh vào lưng, lên thì đánh vào đùi.

Người thầu sợ, cứ lặn hụp mãi dưới sông, Thập mới thôi.

Qua ba ngày ba đêm, dân phu vét sông chết mất một nửa, công việc cũng hoàn thành, hai tên quỷ bắt Thập trước đây lại đưa Thập về nhà, tỉnh dậy thì biết mình đã sống lại.

Trước đó Thập đội muối chưa về tới, trời sáng vợ ra mở cửa thì thấy hai bao muốì trước sân mà mãi không thấy Thập về, bèn nhờ người đi tìm.

Thấy Thập chết trên đường, bèn cõng về, sờ vào mũi thấy còn thở nhẹ, lấy làm lạ nhưng không biết tại sao, khi Thập dã tỉnh dậy mới nói rõ.

Người thầu buôn muối cũng chết vào hôm trước, đến lúc ấy thì tỉnh dậy, những chỗ bị đánh đều sưng to, da thịt toàn thân lở loét, hôi thối không sao tới gần.

Thập cố ý tới thăm, y nhìn thấy Thập vội rúc đầu vào chăn, giống như lúc còn ở Nại Hà.

Hơn một năm y mới khỏi, không làm thầu buôn muối nữa.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 265+266+267+268+269


CHƯƠNG 265: NHỊ BAN

HAI NGƯỜI HỌ BAN

Tam Niên Tiền Sự Vị Toàn Vương

Báo Đức Hô Nhi Đại Trục Lang

Y Sĩ Thảng Vi Tôn Tư Mạc

Hựu Tòng Hổ Quật Đắc Tiên Phương

Dịch:

Việc Trước Ba Năm Vẫn Chửa Quên

Sai Con Báo Đức Đuổi Bày Lang

Nếu Là Y Sĩ Tôn Tư Mạc

Tiên Dược Hang Hùm Lại Được Phương



Ân Nguyên Lễ người Vân Nam, giỏi thuật châm cứu.

Gặp lúc giặc cướp nổi lên, Ân chạy giặc trốn vào trong núi sâu, trời đã chiều mà xóm làng phía trước còn xa, sợ gặp hùm sói, nhìn ra phía trước thấy có hai người đang đi, vội đuổi theo.

Hai người quay lại hỏi khách tên gì, Ân bèn nói rõ họ tên quê quán, hai người kính cẩn nói:

- Là lương y Ân tiên sinh đây sao?

Bọn ta ngưỡng mộ Thái Sơn Bắc đẩu đã lâu rồi.

Ân hỏi lại, hai người xưng là họ Ban, một người là Ban Trảo, một người là Ban Nha.

Lại nói:

- Thưa tiên sinh, đường cũng còn xa may là nhà đá gần đây, xin tạm khuất gót ngọc, bọn ta cũng có chuyện muốn nhờ.

Ân mừng rỡ đi theo họ.

Giây lát tới một chỗ, nhà xây cạnh hang đá đốt củi thay đèn, ân mới thấy rõ hai người họ Ban thân hình to lớn lực lưỡng, trông không giống người lương thiện, nhưng không còn cách nào, đành phải nghe theo họ.

Lại nghe trên giường có tiếng rên rỉ, nhìn kỹ thì thấy một bà già đang nằm, có vẻ đau đớn.

Ân hỏi bệnh gì, Nha đáp:

- Vì chuyện này nên kính mời tiên sinh.

Bèn soi lửa lên giường, Ân tới gần xem thì thấy dưới mũi của bà già có hai lỗ thủng to bằng cái chén, lại nói đau không chịu được, không thể ăn uống.

Ân nói:

- Bệnh này dễ chữa thôi!

Bèn lấy ngải ra đốt vào mấy mươi chỗ, nói:

- Qua đêm sẽ khỏi!

Hai người họ Ban mừng rỡ, nướng thịt nai mời khách, chẳng có cơm rượu gì khác, chỉ có thịt mà thôi.

Trảo nói:

- Bất ngờ không biết là có khách, mong ông đừng trách.

Ân ăn no rồi ngủ, lấy đá làm gối, hai người họ Ban tuy thành thật chất phác, nhưng thô mãng đáng sợ, Ân vì vậy trăn trở không dám ngủ say.

Trời chưa sáng, bèn gọi bà già dậy hỏi bệnh tình.

Bà già tỉnh dậy, sờ lên vết thương trên mặt thì đã hết đau, Ân bèn gọi hai người họ Ban dậy lấy lửa soi, nói:

- Khỏi rồi!

Rồi chắp tay cáo biệt, họ Ban lại nướng một đùi nai tặng cho đi đường.

Ba năm sau, không có chuyện gì, Ân vì có việc phải vào núi, bị hai con sói cản đường không đi được.

Trời đã chiều, cả bầy sói kéo tới vây quanh xông vào cắn xé, mấy lần suýt bị táp trúng, quần áo rách hết, tự nghĩ chắc chết.

Chợt có hai con cọp phóng tới, bầy sói chạy tứ tán, hai con cọp giận dữ gầm thét, bầy sói sợ hãi nằm mọp cả xuống, hai con cọp vồ giết hết rồi bỏ đi.

Ân run rẩy lên đường, sợ không có chỗ ngủ, chợt thấy một bà già đi tới, nhìn Ân nói:

- Ân tiên sinh bị một phen hoảng sợ.

Ân ngạc nhiên hỏi tại sao bà già biết mình, bà già đáp:

- Ta là bà già bị đau trong thạch thất đây.

Ân mới nhớ ra, bèn xin tá túc.

Bà già dẫn Ân về, đưa vào một gian phòng, đèn đuốc sáng trưng, nói:

- Già này chờ tiên sinh lâu rồi!

Bèn đưa quần áo ra cho Ân thay, rồi dọn đủ rượu thịt ra, mời mọc rất ân cần.

Bà già tự rót rượu vào chén lớn mà uống, chuyện trò rất hào sảng, không phải như bọn đàn bà tầm thường.

Ân hỏi hai người kia là người thế nào với bà, sao hôm nay không thấy?

Bà già đáp:

- Đó là hai thằng con ta, sai chúng đi đón tiên sinh mà giờ này chưa về, chắc lạc đường rồi.

Ân cảm vì nghĩa, cũng uống say lúc nào không biết, lăn ra ngủ luôn.

Tỉnh dậy thì trời đã sáng, nhìn quanh chẳng thấy nhà cửa gì cả, chỉ thấy mình đang ngồi trên một tảng đá lớn, nghe phía dưới hốc đá có tiếng thở phì phò như trâu, tới gần xem thì thấy một con cọp già đang ngủ chưa tỉnh, ở mõm có hai vết sẹo lớn bằng nắm tay, vô cùng hoảng sợ, rón rén trốn đi.

Lúc ấy mới biết hai con cọp giết bầy sói chính là hai người họ Ban vậy.

____________________________________

CHƯƠNG 266: QUYÊN TIỀN XÂY ĐỀN

Đan Hoạch Trùng Tân Tráng Mục Từ

Lão Oa Tư Mộ Cánh Vô Tư

Hữu Tiền Ký Khẳng Thường Dâm Trái

Hảo Sự Hà Phương Xuất Cự Ti

Dịch:

Dự Bị Trùng Tu Đền Tráng Mục

Lão Oa Giữ Sổ Lại Càng Công

Hoang Dâm Đã Sẵn Tiền Thường Tội

Việc Thiện Cần Nên Phải Sẵn Lòng



Thần ếch vẫn mượn lời thầy đồng, thầy đồng vì thế biết được thần vui hay giận, nói với tín chủ là:

- 'Thần vui' thì có điều may, nếu nói là 'Thần giận' thì cả nhà ngồi thở ngắn than dài, có người bỏ cả cơm nước, lưu tục cho là đúng, có lẽ thần thiêng thật, không phải chỉ là tin xằng.

Có nhà buôn giàu có là Chu Mỗ, tính tình keo kiệt, gặp lúc mọi người góp tiền sửa đền thờ Quan Đế, người giàu người nghèo đều đóng góp, riêng Chu thì không chịu mất chút gì.

Ít lâu sau, xây dựng không đủ tiền, những người đứng ra coi sóc không biết làm sao.

Gặp lúc mọi người cầu thần ếch, thầy đồng chợt nói lời của Tướng quân Chu Thương, sai mở sổ lạc quyên thu thêm ít nhiều, mọi người nghe theo.

Thầy đồng nói:

- Người góp rồi thì không ép, người chưa thì tùy sức mà góp.

Mọi người đều kính cẩn vâng dạ, ai cũng ghi tên vào sổ, thầy đồng lên tiếng hỏi:

- Chu Mỗ có ở đây không?

Chu đang trà trộn núp tránh phía sau, chỉ sợ thần biết, nghe thế biến sắc, sợ sệt bước lên.

Thầy đồng chỉ vào sổ nói:

- Ghi tên vào!

Chu càng lính quýnh, thầy đồng nổi giận nói:

- Đi chơi gái còn dám trả hai trăm, chuyện hay lại tiếc à?

Đại khái Chu ăn nằm với một người đàn bà, bị người chồng bắt được, phải đưa ra hai trăm đồng để xin tha.

Chu càng thẹn thùng sợ hãi, bất đắc dĩ phải ghi tên vào.

Trở về kể với vợ, vợ nói:

- Đó là thầy đồng lừa bịp thôi.

Thầy đồng mấy lần tới hỏi, rốt lại Chu cũng không đưa tiền ra.

Một hôm vừa ngủ dậy, chợt nghe ngoài cổng có tiếng khìn khịt như trâu thở, ra nhìn thì thấy một con ếch to lớn lấp cả hai cánh cổng, chỗm chỗm nhảy vào xoay mình gác đầu lên bậc thềm, cả nhà đều hoảng sợ.

Chu nói:

- Chắc là tới đòi tiền quyên góp đây!

Bèn thắp hương khấn vái, xin đưa trước ba chục, số còn lại sẽ đưa sau, con ếch không động đậy.

Lại khấn xin đưa năm chục, con ếch chợt co lại, nhỏ hơn khoảng một thước.

Lại khấn xin đưa thêm hai chục nữa, con ếch còn nhỏ bằng cái đấu, xin đưa cả, con ếch còn bằng nắm tay, thong thả nhảy ra, chui vào góc tường đi mất.

Chu vội lấy ra năm chục đồng vàng đưa tới chỗ sửa đền, mọi người đều lạ lùng, Chu cũng không nói rõ lý do.

Được vài ngày, thầy đồng lại nói:

- Chu Mỗ còn thiếu năm chục, sao không tới đòi?

Chu nghe thế rất sợ, lại đưa tới mười đồng vàng, tự nghĩ là đã đủ rồi.

Một hôm, vợ chồng vừa bắt đầu ăn cơm, con ếch lại tới, hình thù to lớn giống hệt lần trước, trợn mắt lấy thế.

Trong chớp mắt nhảy phóc lên giường, giường kêu răng rắc muốn sập, chúi đầu vào gối mà ngủ, bụng phình to như con trâu, đầy kín cả cái giường.

Chu sợ hãi, vội mang bốn chục đồng vàng còn thiếu ra, con ếch không hề động đậy.

Trong nửa ngày, lũ ếch kéo nhau tới tụ tập ở nhà Chu, đến hôm sau càng đông, phòng khách nhà kho không đâu không có, con nào cũng to như cái bát, bắt ruồi đớp muỗi nhảy cả vào nồi niêu, nhơ bẩn không nấu nướng ăn uống gì được.

Được ba ngày thì lúc nhúc đầy sân không có chỗ nào hở, cả nhà khiếp sợ, không biết làm sao để đuổi đi, bất đắc dĩ phải tới hỏi thầy đồng.

Thầy đồng nói:

- Đó là vì bốn chục vẫn còn thiếu.

Chu bèn khấn khứa, xin góp thêm hai chục đồng vàng, con ếch lớn mới từ từ ngóc đầu dậy, xin góp thêm, mới động đậy một chân, tới một trăm mới nhấc cả bốn chân, nhảy xuống giường ra cửa, nghênh ngang bò mấy bước lại quay trở vào nằm giữa cổng.

Chu sợ, hỏi thầy đồng, thầy đồng giải thích là nó đòi Chu phải lập tức giao tiền ra, Chu không biết làm sao, phải lấy đủ tiền đưa cho thầy đồng, con ếch mới đi.

Nhảy được vài bước thì thân hình chợt co lại lẫn vào giữa bầy ếch, không thể nhận ra được, rồi cả bầy nhao nhao ồm ộp tan đi.

Khi đền sửa xong, ngày lạc thành cũng cần có tiền cúng tế, thầy đồng chợt chỉ vào những người đứng ra coi sóc nói:

- Người này người này phải bỏ ra đủ số, tất cả mười lăm người, còn sót hai người.

Mọi người khấn:

- Bọn ta và hai người ấy đều đã góp tiền.

Thầy đồng nói:

- Ta không nói chuyện giàu nghèo, mà chỉ nói tới chuyện tiền của các ngươi bị ăn bớt, loại tiền ấy không nuốt được đâu, sợ lại có tai bay vạ gió nghĩ tới bọn người coi sóc công việc vất vả, nên mới giúp các ngươi ngăn chặn tai họa.

Ngoài những người liêm chính cẩn thận thì có người ngồi đồng của ta, ta không hề riêng tây, sẽ bảo y mang ra trước để làm gương cho mọi người.

Nói xong chạy mau vào nhà, lục lọi rương hòm, vợ hỏi cũng không đáp.

Mang hết tiền bạc ra nói với mọi người rằng:

- Người này bớt xén tám lượng bạc, nay xin xem lại.

Rồi cùng mọi người cân lại, thì được hơn sáu lượng, sai người ghi số thiếu, mọi người ngạc nhiên không dám hỏi han, nhận lấy số bạc.

Thầy đồng sau đó vẫn không biết gì, có người kể lại cho, rất thẹn thùng, đem cầm bán quần áo để bù, chỉ có hai người là còn thiếu.

Khi việc xong, một người bệnh hơn một tháng, một người bị nổi mụn nhọt, tiền thuốc men vừa ăn khớp với số còn thiếu, người ta cho rằng đó là quả báo về tội bớt xén.

____________________________________

CHƯƠNG 267: PHÙNG MỘC TƯỢNG

NGƯỜI THỢ MỘC HỌ PHÙNG

Nguyệt Minh Như Trú Chỉ Song Khai

Thảo Thảo Nhân Duyên Tự Khứ Lai

Viên Thượng Hồng Kê Thông Ngoại Nữ

Thử Trung Ly Hộ Phí Nghi Lai

Dịch:

Sáng Trăng Vằng Vặc Song Hồ Mở

Tạm Bợ Nhân Duyên Tự Tới Lui

Mèo Mả Gà Đồng Tông Tích Lạ

Hợp Ly Trong Đó Khéo Lôi Thôi



Phủ quân Chu Hữu Đức sửa sang vương phủ cũ làm công thự.

Lúc ấy vừa khởi công, có người thợ mộc là Phùng Minh Hoàn trực đêm ngủ lại.

Tối vừa đi nằm, chợt thấy cửa sổ hé mở, trăng sáng vằng vặc, nhìn ra đầu tường thấy có một con trĩ đỏ đứng.

Đang chăm chú nhìn con trĩ đã bay xuống đất.

Giây lát có một cô gái cởi trần lộ nửa người tới nhìn vào, Phùng ngờ là bạn thợ có ai vụng trộm với nàng, yên lặng lắng nghe thì mọi người đều đã ngủ say, trong lòng rạo rực, thầm mong nàng tới lầm chỗ.

Giây lát cô gái quả vượt cửa sổ vào tới nằm vào lòng Phùng, từ đó đêm nào cũng tới.

Lúc đầu Phùng còn giấu, sau bèn nói rõ.

Cô gái nói:

- Thiếp không tới lầm đâu, kính trọng chàng mà tới đấy.

Hai người ngày càng khắng khít, đến khi công thự xây xong, Phùng định về nhà, cô gái đã chờ ngoài đồng.

Thôn Phùng ở vốn không xa quận thành lắm, cô gái bèn theo về.

Vào tới nhà, người nhà chẳng ai nhìn thấy nàng, Phùng mới biết đó không phải là người.

Được vài tháng tinh thần suy giảm, Phùng lo sợ, mời thầy pháp tới trấn yểm, nhưng chẳng có kết quả gì.

Một đêm cô gái ăn mặc đẹp đẽ tới gặp Phùng nói:

- Duyên nợ ở đời đều có định số, nên tới thì đuổi cũng không đi, nên đi thì giữ cũng không được, đêm nay xin vĩnh biệt chàng.

Rồi biến mất.

____________________________________

CHƯƠNG 268: PHỤ TIÊN

Khởi Thị Tiên Nhân Chúc Đối Tinh

Địa Danh Xảo Hợp Bản Thiên Thành

Dự Tri Đổng Tẩu Thành Nam Lộ

Ảo Thuật Thông Linh Diệc Khả Kinh

Dịch:

Chúc Đối Tài Tình Khéo Vẻ Tiên

Địa Danh Phù Hợp Vốn Thiên Nhiên

Sớm Hay Già Đổng Thành Nam Lộ

Ảo Thuật Thông Linh Cũng Diệu Huyền



Mễ Bộ Vân ở huyện Chương Khâu (tỉnh Sơn Đông) giỏi cầu tiên, mỗi lần họp mặt với bạn bè đều cầu tiên, cùng nhau xướng họa.

Một hôm, có người bạn thấy đám mây nhỏ trên trời nghĩ được một câu là Dương chi bạch ngọc thiên (Trời ngọc trắng mỡ dê), xin tiên đối lại.

Tiên viết:

Hỏi lão Đổng ở nam thành.

Mọi người ngờ là tiên không đối được, nên mới nói thác như thế.

Sau Mễ có việc đi ngang cửa nam thành, tới một chỗ đất đỏ như đan sa, lấy làm lạ, thấy một ông già chăn lợn cạnh đó bèn hỏi.

Ông ta đáp:

- Chỗ đó tục gọi là Trư huyết hồng nê địa (Đất bùn hồng máu lợn).

Mễ chợt nhớ lại lời tiên, hoảng sợ hỏi tên thì ông già tự xưng là lão Đổng.

Câu đối không có gì lạ nhưng biết trước rằng qua cửa nam thành ắt gặp lão Đổng, mới thật là thần tiên vậy.

____________________________________

CHƯƠNG 269: NÊ THƯ SINH

GÃ THƯ SINH BẰNG ĐẤT

Khởi Ngô Tuấn Mã Đà Si Hận

Phong Động Phi Khai Đúc Túc Thì

Quan Phục Phiên Nhiên Thừa Hấn Nhập

Mạc Xuy Thổ Ngẫu Tận Vô Tri

Dịch:

Há Không Ngựa Mạnh Mà Si Hận

Đương Ngủ Một Mình Cửa Gió Tung

Áo Mũ Bảnh Bao Thừa Lén Tới

Vô Tri Thổ Ngẫu Lạ Lùng Không



Thôn La có Trần Đại, lúc trẻ vụng về ngu xuẩn, lấy vợ là Mỗ thị rất đẹp.

Nàng cho rằng lấy chồng không bằng người, uất ức bất đắc chí không chịu ngủ chung, mẹ chồng cũng để mặc.

Một đêm Mỗ thị ngủ một mình, chợt nghe gió khua cửa rồi có một thư sinh bước vào phòng.

Nàng rất sợ hãi, ra sức chống cự, nhưng gân cốt cứ nhũn ra, từ đó ít có đêm nào ngủ một mình.

Hơn một tháng thì hình dung tiều tụy, mẹ lấy làm lạ hỏi, ban đầu nàng còn hổ thẹn không chịu nói, bà cứ hỏi mãi nàng mới nói thật.

Mẹ hoảng sợ nói:

- Đó là yêu quái rồi!

Dùng hàng trăm cách bùa chú trấn yểm cũng không ngăn chặn được, bèn sai Đại lén núp trong phòng, cầm gậy chờ sẵn.

Đến khuya, thư sinh quả nhiên lại tới, đặt mũ lên bàn, lại cởi áo mắc lên giá, chợt hoảng sợ nói:

- Có mùi người lạ!

Rồi vội vàng mặc áo vào.

Đại trong chỗ tối nhảy xổ ra, đập trúng vào lưng, kêu thành tiếng bồm bộp, ngoảnh nhìn bốn phía thì thư sinh đã biến mất.

Đốt đuốc lên soi, thì một mảnh áo bùn còn rơi trên mặt đất, cái mũ bằng bùn vẫn còn trên bàn.
 
Back
Top Bottom