Cập nhật mới

Khác Liêu Trai Chí Dị ( Full )

Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 432+433+434+435


CHƯƠNG 432: BẠC THẦN

THẦN MƯA ĐÁ

Linh Từ Thùy Cảm Kích Trì Ngư

Tư Bạc Tương Truyền Lý Tả Xa

Thí Khán Hắc Vân Đầu Thượng Hộ

Khả Tri Bái Bản Ngữ Phi Hư

Dịch:

Đền Linh Dám Liệng Cá Hồ A

Mưa Đá Loan Truyền Lý Tả Xa

Hãy Ngó Đỉnh Đầu Mây Mịt Phủ

Lời Nhà Buôn Nói Chẳng Sai Ngoa



Thái sử Đường Tế Vũ qua huyện Nhật Chiêu (tỉnh Sơn Đông) viếng đám tang họ An, trên đường đi ngang đền thờ Thần làm mưa đá Lý Tả Xa, bèn ghé vào chơi.

Trước đền có cái ao nước trong leo lẻo, có vài con cá đỏ bơi lội tung tăng, trong có một con vẫy đuôi đớp bọt trên mặt nước, thấy người không hề tỏ vẻ sợ hãi.

Thái sử nhặt viên đá nhỏ định ném đùa, đạo sĩ bên cạnh vội ngăn lại bảo đừng ném.

Thái sư hỏi vì sao, đạo sĩ đáp:

- Tôm cá trong ao đều là rồng, xúc phạm sẽ có mưa đá.

Thái sử cười là theo đuôi những người tin nhảm, không nghe lời can, cứ ném đá vào con cá.

Đến khi ra xe lên đường, thấy có đám mây đen tròn như cái lọng đuổi theo xe, kế có mưa đá ào ào rơi xuống, to như quả trứng, đi hơn một dặm mới tạnh.

Em Thái sử là Lương Vũ đi sau chỉ cách một tầm tên, lát sau lên tới gặp nhau hỏi chuyện, thì chẳng thấy có mưa đá gì cả.

Hỏi những người đi trước Thái sử cũng thế.

Thái sử cười nói:

- Chẳng lẽ đó là Quảng Vũ quân* tác quái à?

Nhưng cũng chưa lấy làm lạ lắm.

*[Quảng Vũ quân: tức Lý Tả Xa, được phong là Quảng Vũ quân của nước Triệu thời Hán Sở tranh hùng].

Ngoài thôn họ An có đền thờ Quan Đế, có người buôn dạo vừa đặt gánh xuống ngoài cửa, vứt bỏ quang gánh rảo bước vào đền, rút thanh đại đao trên giá múa tít, nói:

- Ta là Lý Tả Xa đây!

Sáng mai sẽ xin theo hầu Thái sử họ Đường ở huyện Truy Xuyên đi đưa đám, kính báo cho chủ nhân biết trước.

Nói mấy lượt như thế thì tỉnh lại, không nhớ rằng mình vừa nói gì, cũng không biết Thái sử họ Đường là ai.

Nhà họ An nghe chuyện cả sợ, thôn cách đền thần hơn bốn mươi dặm cũng vội vàng sắm sửa lễ vật tới cầu khẩn xin thương cho, không dám làm phiền xa giá.

Thái sử lấy làm lạ về việc quá tin tưởng như thế bèn hỏi, chủ nhân đáp rằng Thần làm mưa đá rất linh thiêng, thường mượn người sống để nhắn lời, điều gì cũng ứng nghiệm.

Nếu không tới cầu khấn để xin thần bỏ qua, sáng mai đám tang sẽ gặp mưa đá ngay.

___________________________________

CHƯƠNG 433: LÝ BÁT ANG

A Ông Kháo Tạng Tý Hà Trì

Cánh Đái Sơn Cùng Thủy Tận Thì

Hồi Thủ Di Lưu Đương Nhật Ngữ

Trấp Niên Khảm Lẫm Dĩ Tiền Tri

Dịch:

Của Chôn Cha Chẳng Sớm Cho Đi

Thủy Tận Sơn Cùng Đợi Tới Khi

Nhớ Lúc Lâm Chung Lời Dặn Lại

Hai Mươi Năm Hạn Đã Tiên Tri



Giám sinh Lý Nguyệt Sinh là con thứ của ông Lý.

Ông rất giàu, dùng vò để đựng vàng, người làng gọi là Bát hàng (Tám vò).

Lúc ông bệnh nặng gọi con tới chia gia tài, con trưởng được tám phần, con thứ được hai phần, Nguyệt Sinh không giấu được vẻ thất vọng.

Ông nói:

- Ta không phải là thương đứa này ghét đứa khác đâu, còn có vàng chôn chỗ khác, chờ lúc nào không có nhiều người sẽ nói cho con biết, đừng nóng ruột.

Qua vài hôm, ông chỉ còn thoi thóp, Nguyệt Sinh sợ ông qua đời lúc nào không biết, bèn chờ lúc vắng người tới cạnh giường hỏi khẽ.

Ông đáp:

- Đời người ta sung sướng hay khổ cực đều có số cả rồi, ngươi có phúc có được vợ hiền, thì không nên cho thêm nhiều vàng, chỉ thêm hoạn nạn thôi.

Đại khái Nguyệt Sinh có vợ họ Xa, rất hiền thục, có đức độ như Hoàn Thiếu quân, Mạnh Quang* nên ông mới nói thế.

Nguyệt Sinh cứ nài nỉ hỏi mãi, ông tức giận nói:

- Ngươi còn phải vất vả hai mươi năm nữa, dù có cho ngàn vàng cũng sẽ hết sạch, nếu chưa đến lúc cùng đường thì đừng trông mong ta sẽ cho thêm.

Nguyệt Sinh là người hiếu đễ thuần hậu nên cũng không dám nói gì nữa, chỉ mong cho cha khỏe lại thì có lúc sẽ nói ra.

*[Hoàn Thiếu quân, Mạnh Quang: Hoàn Thiếu quân là vợ Bào Tuyên, Mạnh Quang là vợ Lương Hồng, cùng là người thời Hán, đều nổi tiếng là vợ hiền].

Không bao lâu, ông Lý bệnh càng nặng, kế chết.

May là người anh hiền, nên việc chôn cất không hề so đo với Nguyệt Sinh.

Nhưng Nguyệt Sinh tính tình phóng khoáng, không tính toán lặt vặt, lại hiếu khách hay rượu.

Có ngày bắt vợ làm cơm dọn rượu ba bốn lần đãi khách, lại không biết coi sóc người nhà làm ăn.

Bọn vô lại trong làng thấy hiền lành nhu nhược cứ xúm vào bòn rút, được vài năm dần dần sa sút, song những lúc ngặt nghèo lại sang nhờ vả anh nên cũng không tới nỗi cùng khốn.

Không bao lâu người anh già bệnh chết, không còn ai để nương tựa, tới nỗi trong nhà hết cả thóc ăn, cứ mùa xuân vay mùa thu trả, gặt xong trả nợ là hết sạch, từ đó cứ bán ruộng ăn dần.

Được vài năm thì con trai lớn và vợ nối nhau chết, lại càng cực khổ.

Kế tục huyền vói vợ người buôn dê họ Từ nên được nhờ vả đôi chút, song tính Từ cứng rắn nóng nảy, hàng ngày vẫn xỉa xói làm nhục, Nguyệt Sinh vì vậy thậm chí không dám đi lại thăm hỏi với bè bạn.

Chợt một đêm nằm mơ thấy cha về nói:

- Nay thì ngươi đã đến lúc có thể nói là cùng đường rồi, trước ta có nói sẽ cho ngươi số vàng còn chôn, bây giờ thì được rồi.

Nguyệt Sinh hỏi chỗ, ông Lý đáp:

- Sáng mai ta chỉ cho!

Nguyệt Sinh tỉnh dậy lấy làm lạ, còn nghĩ rằng vì mình nghèo mong muốn có tiền nên sinh ra mộng mị hão huyền.

Hôm sau giẫy cỏ ở chân tường, cuốc được hủ vàng lớn, mới sực hiểu ra rằng trước kia ông Lý nói chờ lúc không có nhiều người, là ý nói chờ lúc người thân đã chết một nửa vậy.

___________________________________

CHƯƠNG 434: LÃO LONG THUYỀN BỘ

Lam Quan Nam Tiếp Lão Long Tân

Thùy Táp Oan Hồn Hướng Thủy Tân

Vị Báo Trường Niên Mạc Hoan Hỉ

Khả Tri Mê Ngữ Xuất Minh Thần

Dịch:

Lam Quan Nam Tiếp Lão Long Gần

Bến Nước Hồn Oan Dưới Sóng Vần

Pháp Luật Ngoài Vòng Đâu Được Mãi

Mới Hay Ẩn Ngữ Nghiệm Như Thần



Lúc ông Chu Huy Ấm làm Tổng chế Việt Đông (tỉnh Quảng Đông), có nhiều người buôn bán đi đường tới kêu về việc người chết không có nguyên do.

Cứ có việc người đi ngàn dặm bị chết mất xác, thậm chí có mấy người cùng đi mà không ai có tin tức gì, đơn từ chất chồng không sao tra xét được.

Buổi đầu nhận đơn các quan địa phương còn phát công văn sai tìm bắt hung thủ, nhưng về sau đơn bẩm ngày càng nhiều, cũng đành để đó không hỏi tới nữa.

Ông Chu tới nơi làm quan, xem xét đơn từ đọng lại, trong đó những người bị coi là đã chết có tới hàng trăm, nhưng người chết trên ngàn dặm không ai tố cáo thì không biết là còn bao nhiêu nữa.

Ông kinh sợ đau xót, lo lắng bỏ ăn bỏ ngủ, hỏi han khắp liêu thuộc tìm ra một cách.

Rồi đó ông ăn chay tắm gội, đốt hịch văn cáo với thần Thành hoàng, kế đó vào trai phòng chờ.

Trong lúc mơ màng thấy có một viên quan cài trâm cầm hốt bước vào.

Ông hỏi là quan ở đâu, viên quan ấy đáp là thần Thành hoàng họ Lưu.

Ông hỏi là định nói gì, viên quan ấy đáp:

- Mái tóc rũ tuyết, Chân trời sinh mây, Gỗ trôi nước nọ, Cửa mở tường này.

nói xong bước ra.

Ông tỉnh dậy nghĩ ngợi không hiểu, trằn trọc tới sáng chợt nghĩ rằng:

- Mái tóc rũ tuyết là Lão (người già), Chân trời sinh mây là Long (rồng), Gỗ trôi trong nước là Thuyền (chiếc thuyền), Cửa mở trên tường là Hộ (cửa), hợp lại là bốn chữ Lão Long thuyền hộ (Nhà đò bến Lão Long) chăng?

Đại khái ở phía đông bắc tỉnh gọi là Tiểu Lĩnh, Lam Quan, phát nguồn từ bến Lão Long chảy ra tới Nam Hải, những nhà buôn lớn ở tỉnh ngoài đều theo đường ấy vào đất Việt.

Ông vội điều động binh lính, ngầm trao mưu kế sai bắt hết những nhà đò ở bến Lão Long, lần lượt bắt được hơn năm mươi người, đều không phải tra khảo đã cúi đầu chịu tội.

Đại khái đám cướp này giả danh chở thuê, dụ khách lên thuyền rồi thì hoặc bỏ thuốc, hoặc xông hương cho họ ngất đi rồi mổ bụng nhét đá vào ném xuống nước, rất là thê thảm.

Vụ án kết thúc, xa gần người ta đều mừng rỡ, làm thơ đặt vè ca ngợi rất nhiều.

___________________________________

CHƯƠNG 435: HÀN NGUYÊN THIẾU

Nguyên Thiếu Tiên Sinh Dự Tảo Trì

Văn Chương Học Vấn Quán Đương Thì

Khúc Giang Vị Khải Anh Đào Yến

Thả Tác Minh Trung Đồng Tử Sư

Dịch:

Hàn Nguyên Danh Dự Sớm Lừng Vang

Học Vấn Văn Chương Khó Kẻ Bằng

Khúc Thủy Anh Đào Chưa Dự Yến

Làm Thầy Dạy Trẻ Cõi Diêm Vương



Tiên sinh Hàn Nguyên Thiếu khi còn là Chư sinh, một hôm thấy một người bước vào phòng nói là chủ nhân mời về dạy học, nhưng không thấy đưa danh thiếp.

Hỏi về gia thế nơi chốn người kia chỉ trả lời ậm ừ, nhưng đưa lễ vật mời thầy rất hậu.

Tiên sinh ưng thuận, hẹn ngày tới dạy.

Đến hẹn quả có chiếc xe tới đón, lối đi quanh co, đường xá rất lạ.

Chợt thấy một nơi điện gác, xuống xe vào thấy khí tượng như là phủ đệ của bậc tiên vương.

Vào nơi ở, thấy bày đủ rượu thịt mời khách ăn uống một mình chứ không thấy chủ nhân đâu.

Tiên sinh ăn uống xong thì công tử ra lạy chào, mười lăm mười sáu tuổi, phong tư anh tuấn hơn người.

Làm lễ xong công tử về ở nơi khác, lúc nào học mới tới chỗ thầy.

Công tử rất thông minh, nghe giảng qua là hiểu ngay nhưng tiên sinh vì không rõ chủ nhân là ai nên vẫn ngờ vực lo lắng.

Chỗ tiên sinh ở có hai đứa tiểu đồng hầu hạ, tiên sinh hỏi han cật vấn đều không nói.

Hỏi chủ nhân ở đâu, chúng đáp là bận việc.

Bảo dắt tới xem trộm chủ nhân làm việc, chúng đáp là không được, nài nỉ mấy lần chúng mới ưng thuận.

Kế dắt tiên sinh tới một chỗ, nghe có tiếng tra khảo đánh đập, ghé mắt nhìn vào khe cửa thấy một vị vương giả ngồi trên điện, dưới thềm bày đủ núi kiếm vạc dầu, toàn Ià công việc của âm phủ.

Tiên sinh hoảng sợ, đang định trở lui thì bên trong đã biết có người, bèn ra lệnh tạm nghỉ.

Diêm Vương quát đuổi bọn quỷ tốt lui xuống rồi lớn tiếng gọi hai đứa tiểu đồng, chúng biến sắc nói:

- Bọn ta vì tiên sinh mà mang họa vào thân rồi.

Rồi run rẩy bước vào.

Diêm Vương tức giận nói:

- Sao các người dám dắt người lạ tới nhìn trộm?

Rồi ra lệnh phạt đánh roi hai đứa, sai triệu tiên sinh vào nói:

- Sở dĩ ta không cho ông gặp là vì âm dương khác nẻo.

Nay ông đã biết ta là ai, thì khó lòng ở đây được nữa.

Rồi đưa vàng bạc tiễn tặng bảo về, lại nói:

- Ông là bậc văn nhân đứng đầu thiên hạ, nhưng còn long đong chưa thành đạt đâu.

Kế sai người hầu dong ngựa đưa về.

Tiên sinh ngờ mình đã chết, người hầu nói:

- Làm gì có chuyện ấy, tất cả thức ăn vật dùng của tiên sinh đều là mua trên trần gian đấy, không phải của âm phủ đâu?

Tiên sinh trở về, lận đận vài năm thì đỗ Trạng nguyên, lời Diêm Vương nói đều đúng cả.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 436+437+438+439


CHƯƠNG 436: CHU SINH

Phiên Phiên Thư Ký Phụ Tài Danh

Ngũ Sắc Hoa Tòng Bút Để Sinh

Mạc Nhạ Nhất Triêu Mai Ngọc Thụ

Thùy Giao Tiết Ngữ Độc Thần Minh

Dịch:

Thư Sinh Chải Chuốt Phụ Tài Danh

Năm Sắc Hoa Theo Dưới Bút Sinh

Một Sớm Ngọc Vùi Đừng Có Lạ

Ai Xui Nói Nhảm Phạm Thần Minh



Chu sinh là mạc khách của Tri huyện.

Quan có việc đi vắng, phu nhân họ Từ vẫn muốn tới chiêm bái nữ thần Bích Hà Nguyên quân nhưng vì đường xa sai gia nhân đem lễ vật đi thay, sai Chu làm bài văn khấn.

Chu làm bài văn biền ngẫu, kể lại hành trạng của phu nhân, có nhiều lời đùa cợt khiếm nhã.

Trong có đoạn như: "Trồng hoa đào khắp cõi Lạc Dương, xót người cắt áo, Cấy cỏ thơm khắp nơi hoang vắng, thương trái đào thừa".

Để nói lên tâm sự uất ức của phu nhân* những câu như vậy rất nhiều.

Đem bản thảo đưa cho người bạn mạc khách là Lăng sinh xem, Lăng cho là không kính cẩn, khuyên chớ nên dùng nhưng Chu không nghe, cứ đưa người gia nhân mang đi.

Không bao lâu Chu chết ở công thự, kế đó người gia nhân cũng chết, ít lâu sau phu nhân họ Từ mắc bệnh sản hậu cũng chết, nhưng mọi người đều chưa lấy làm lạ.

Con trai Chu từ kinh đô tới đưa linh cữu cha về đêm nằm ngủ với Lăng sinh, nằm mơ thấy cha khuyên răn rằng:

- Trong chuyện văn chương chữ nghĩa không thể không thận trọng.

Ta không nghe lời ông Lăng nên bị thần giận về tội viết văn sỗ sàng, phải chết yểu mà còn làm lụy cả Từ phu nhân, hại lây cả tới người gia nhân đem bài văn đi tế, sợ không khỏi bị âm phủ trừng phạt.

Lúc tỉnh dậy kể lại với Lăng, Lăng cũng nằm mơ thấy thế bèn đọc lại bài văn.

Con Chu nghe xong mới biết chuyện, rất kính phục Lăng.

*[Trong có đoạn... phu nhân: cắt áo và đào thừa nguyên văn là “đoạn tụ” và "dư đào", lấy tích Hán Ai đế sủng ái Đổng Hiền và Vệ Linh công sủng ái Di Tử Hà, đều là những kẻ mắc bệnh long dương (đàn ông yêu đàn ông).

Theo văn cảnh, đây có lẽ chỉ viên Tri huyện thích đàn ông không ngó ngàng gì tới vợ].

___________________________________

CHƯƠNG 437: LƯU TOÀN

Tước Phần Vô Đoan Ô Mục Tình

Dịch Trừ Hữu Khách Muội Bình Sinh

Tha Niên Tương Ngộ Hân Tương Úy

Do Cảm Kim Bê Nhất Quát Tình

Dịch:

Nạo Chùi Cứt Sẻ Dơ Trong Mắt

Khách Lạ Bình Sinh Chửa Biết Nhau

Ngày Khác Tương Phùng Mừng Quýnh Quít

Dao Vàng Cạo Mắt Cảm Tình Sâu



Thầy thuốc trâu bò Hầu Mỗ ở huyện Trâu Bình (tỉnh Sơn Đông) mang cơm cho người cày, ra tới đồng thấy một cơn lốc cuộn lên trước mặt.

Hầu lập tức lấy chén rót rượu xuống đất khấn khứa, rót mấy chén cơn lốc mới tan đi.

Lại có hôm Hầu đi ngang miếu Thành hoàng, rảnh rỗi tạt vào dạo chơi dưới hành lang, thấy trên vách vẽ bức tranh Lưu Toàn dâng bí* hình Lưu Toàn bị cứt chim vương vãi cả lên mắt, bèn nói:

- Nhơ bẩn thế này làm sao Lưu đại ca chịu được?

Rồi lấy móng tay cạy gỡ hết ra.

*[Lưu Toàn dâng bí: theo truyền thuyết, vua Đường Thái Tông chết xuống âm phủ, được Phán quan Thôi Giác là bạn thừa tướng Ngụy Trưng trong triều sửa sổ sinh tử giúp cho sống lại, trước lúc ra về có hẹn với Thập điện Dlêm Vương sẽ tặng bí cho âm phủ trồng.

Sau khi sống lại, Thái Tông ra bảng tìm người, có người dân là Lưu Toàn tình nguyện tự tử để mang bí xuống biếu Diêm Vương].

Mấy năm sau Hầu mắc bệnh, đang nằm thì thấy có hai người đội mũ đen tới bắt đi giải tới trước một công thự, hạch sách đòi tiền bạc rất khổ.

Đang lúc không biết làm sao, chợt bên trong có một người mặc áo xanh bước ra nhìn thấy ngạc nhiên hỏi:

- Ông Hầu sao lại tới đây?

Hầu bèn kể lại mọi chuyện.

Người áo xanh lập tức mắng hai người mũ đen:

- Đây là Hầu đại gia của các người, sao dám vô lễ như thế?

Hai người mũ đen rối rít vâng dạ, xin lỗi là không biết.

Giây lát nghe tiếng trống thúc ầm ầm như sấm sét, người áo xanh nói:

- Đến phiên hầu buổi sáng rồi!

Rồi dẫn Hầu cùng vào bảo đứng dưới thềm dặn:

- Cứ tạm đứng ở đây, để ta hỏi cho!

Rồi lên thềm chỉ tay gọi một viên lại xuống nói chuyện vài câu, viên lại nhìn thấy Hầu chắp tay nói:

- Hầu đại ca tới rồi đấy à?

Việc của ông không có gì lớn đâu chỉ là một con ngựa kiện, hỏi qua một lần sẽ được về thôi.

Lát sau trên thềm gọi tên Hầu, Hầu bước ra quỳ xuống, con ngựa kia cũng quỳ xuống, quan hỏi:

- Con ngựa này nói bị ngươi cho uống thuốc mà chết, có đúng hay không?

Hầu thưa:

- Nó bị bệnh dịch, ta theo đúng cách mà chữa cho, đã khỏi bệnh rồi, cách một ngày sau thì chết, có dính líu gì tới ta đâu?

Con ngựa nói tiếng người, ra sức tranh cãi.

Quan giở sổ xem, trong sổ ghi rõ con ngựa phải chết vào ngày tháng năm ấy, tính lại thì đúng khớp, bèn quát:

- Đó là vì số ngươi đã hết, sao dám vu cáo bậy bạ hả?

Rồi thét đuổi nó ra.

Lại nói với Hầu rằng:

- Ông giữ lòng giúp người nên không bị chết đâu.

Rồi gọi hai người mũ đen vào sai đưa Hầu về.

Hai người mũ đen lúc nãy vào đưa Hầu ra, quan lại dặn đi dọc đường phải chăm sóc cho Hầu.

Hầu hỏi:

- Hôm nay ta được đội ơn che chở cho, nhưng nửa đời mới gặp đây là lần đầu, xin ông nói rõ họ tên cho ta cảm tạ.

Viên quan áo xanh ấy nói:

- Ba năm trước ta từ Thái Sơn ra, khát gần chết, may gặp ông ngoài đồng được cho uống mấy ly rượu, đến nay vẫn còn nhớ.

Viên lại nói:

- Ta là Lưu Toàn, trước đây bị chim ỉa vào mắt, xốn xang không sao chịu nổi, được ông gỡ ra cho mới nhìn rõ được.

Có điều rượu thịt cõi âm phủ này không đem ra mời khách được, xin chia tay ở đây thôi.

Hầu mới chợt hiểu mọi chuyện bèn lên đường.

Về tới nhà định giữ hai người áo đen lại khoản đãi, nhưng họ không dám uống cả một hớp nước.

Hầu sống lại mới biết đã tắt thở hai ngày hai đêm rồi.

Từ đó càng ra sức làm điều lành, mỗi khi gặp chuyện rắc rối thường rót rượu khấn Lưu Toàn giúp.

Về sau Hầu sống đến tám mươi tuổi vẫn còn khỏe mạnh, có thể cởi ngựa phi nước đại.

Một hôm đang đi ngoài đường thấy Lưu Toàn cưỡi ngựa tới như sắp đi xa, chắp tay chào hỏi rồi nói:

- Số ông đã hết rồi, âm phủ đã phát công văn ra, bọn quỷ tốt muốn đi bắt nhưng ta cản không cho.

Ông nên về nhà lo hậu sự, sau ba ngày ta sẽ tới đón.

Ta đã mua cho ông một chức quan nhỏ đang khuyết dưới âm phủ, cũng không cực khổ đâu.

Rồi chào đi.

Hầu về nhà kể chuyện cho vợ con, mời họ hàng tới từ biệt, sắm sửa đủ quan quách khâm liệm.

Chiều tối ngày thứ tư nói với mọi người rằng:

- Lưu đại ca tới rồi!

Rồi nằm vào quan tài mà chết.

___________________________________

CHƯƠNG 438: HÀN PHƯƠNG

Chí Tính Ưng Suy Điền Xá Nô

Sàng Đầu Hoàng Chỉ Diệc Linh Phù

Bất Tri Dịch Quỉ Kê Lưu Nhật

Nhạc Đế Thông Minh Giác Đắc Vô

Dịch:

Nông Dân Chí Hiếu Vốn Trời Sinh

Bùa Giấy Vàng Thôi Cũng Nghiệm Linh

Dịch Quỉ Lần Khân Chăng Có Thấu

Hỡi Thần Nhạc Đế Tối Anh Minh



Cuối thời Minh, từ Tế Nam (tỉnh thành Sơn Đông) trở lên mấy châu huyện phía bắc có dịch lớn, nhà nào cũng có người mắc bệnh.

Huyện Tế Đông có người nông dân tên Hàn Phương tính rất hiếu thảo, cha mẹ đều mắc bệnh, bèn sắm sửa lễ vật ra miếu thờ Cô Thạch đại phu khóc lóc cầu khẩn.

Trên đường về nhà vừa đi vừa khóc, gặp một người áo mũ sạch sẽ hỏi vì sao mà đau thương như thế?

Hàn kể lại mọi chuyện, người ấy nói:

- Thần Cô Thạch không có ở đó, cầu khẩn có ích gì?

Ta có một thuật mọn, có thể chỉ cho ông làm thử.

Hàn mừng rỡ hỏi tên họ, người ấy nói:

- Ta không mong được báo đáp, cần gì phải nói tên họ quê quán.

Hàn ân cần mời mọc về nhà, người ấy đáp không cần, chỉ dặn cứ về nhà lấy một tờ giấy vàng đặt lên giường người bệnh rồi lớn tiếng nói:

- Ngày mai ta sẽ tới kinh bẩm cho Nhạc đế biết thì cha mẹ sẽ hết bệnh.

Hàn sợ không hiệu nghiệm, cứ năn nỉ mời ghé nhà chơi, người ấy nói:

- Thôi nói thật với ông, ta không phải là người đâu.

Tuần hoàn sứ giả dưới âm phủ thấy ta ngay thẳng cẩn thận cho nên giữ chức Thổ địa Nam Hương, thấy ông có hiếu nên chỉ cho cách ấy.

Hiện nay Nhạc đế đang lựa chọn trong các hồn ma chết bất đắc kỳ tử, ai là dân có công đức hoặc ngay thẳng không quấy nhiễu người thì được cử làm các thần Thành hoàng Thổ địa.

Nay có bệnh dịch là vì những hồn ma bị quân Bắc giết trong quận thành đều muốn tới kinh đô nhanh để nộp đơn nên quấy nhiễu trên đường kiếm tiền lộ phí đấy thôi.

Cứ nói là tới kinh bẩm cho Nhạc đế biết ắt chúng sợ hãi, sẽ hết bệnh mà.

Hàn rùng mình quỳ xuống ven đường dập đầu lạy tạ, lúc ngẩng lên thì người ấy đã biến mất, ngạc nhiên than thở trở về.

Tới nhà làm theo lời thần dạy, quả nhiên cha mẹ đều khỏi bệnh, chỉ cho hàng xóm láng giềng cùng làm, thảy đều hiệu nghiệm.

___________________________________

CHƯƠNG 439: THÁI NGUYÊN NGỤC

VỤ ÁN THÁI NGUYÊN

Vu Phong Nhất Khúc Vũ Vân Mê

Cô Phụ Hà Kham Cửu Bột Hề

Dũng Khiếp Tương Hình Hư Thực Phán

Trưởng Quan Song Mục Thúc Nhiên Tê

Dịch:

Non Vu Một Khúc Mịt Mây Mưa

Mẹ Với Nàng Dâu Khéo Mập Mờ

Biểu Hiện Căm Thương Hư Thực Thấy

Trưởng Quan Nhìn Rõ Chẳng Mơ Hồ



Ở huyện Thái Nguyên (tỉnh Sơn Tây) có nhà dân, mẹ chồng nàng dâu đều góa chồng.

Mẹ chồng đang tuổi trung niên không giữ gìn được, đi lại với một tên vô lại trong làng.

Nàng dâu không thích, cứ lén rình núp ở cổng ngũ hiên vách để cản trở.

Mẹ chồng thẹn, kiếm cớ đuổi nàng dâu đi.

Nàng dâu không chịu đi, căm tức tranh cãi, mẹ chồng càng ghét, lại vu cáo nàng dâu lang chạ, kiện lên quan.

Quan hỏi tên họ kẻ gian phu, bà ta nói:

- Cứ tối tới khuya đi, thật không biết là ai, xin cứ hỏi nó sẽ rõ.

Quan gọi nàng dâu lên hỏi, nàng dâu quả biết rõ tên họ kẻ gian phu, nhưng lại nói rằng y tư thông với mẹ chồng, hai bên ra sức cãi vã.

Quan sai bắt tên vô lại tới, y lại mồm năm miệng mười nói rằng không tư thông với ai cả, hai mẹ con họ muốn mà không được nên nói bậy để làm nhục y mà thôi.

Quan hỏi:

- Trong thôn có hàng trăm người, sao họ chỉ vu cáo cho riêng ngươi?

Rồi sai đánh trượng thật nặng.

Tên vô lại van lạy xin tha, nhận là có tư thông với nàng dâu.

Quan sai tra khảo, nàng dâu vẫn không chịu nhận, quan đành tha về.

Nàng dâu uất hận kiện lên quan tỉnh nhưng cũng vẫn như trước, không sao xử được.

Lúc ấy có Tiến sĩ Tôn Liễu Hạ người quê ta làm Tri huyện Lâm Tấn (tỉnh Sơn Tây), nổi tiếng giỏi xử án, quan trên bèn giao vụ án này cho huyện Lâm Tấn xử.

Đôi bên thưa kiện được giải tới, ông hỏi qua hết một lượt, xét rõ rồi bèn sai nha lại chuẩn bị đủ gạch đá dao rựa để ngày mai xử án.

Đám nha lại đều ngạc nhiên nói:

- Hình phạt nặng nề đã có đủ cả gông cùm roi gậy, sao lại còn phải dùng vật khác để xử án?

Chẳng ai hiểu nhưng cũng theo lệnh chuẩn bị đầy đủ.

Hôm sau ông ra công đường hỏi lại, thấy đã chuẩn bị đầy đủ bèn sai bày hết trên thềm rồi gọi phạm nhân ra, lại hỏi qua một lượt.

Kế nói với hai mẹ con rằng:

- Chuyện này không cần phải xét quá kỹ, tuy chưa biết kẻ dâm phụ là ai song gian phu đã rõ rồi.

Gia đình các ngươi vốn có tiếng tốt, chẳng qua nhất thời bị kẻ xấu dụ dỗ, chỉ có y là có tội.

Vậy trên thềm có đủ cả gạch đá dao rựa, các người cứ mặc ý lấy mà giết chết y đi.

Mẹ chồng nàng dâu đều sợ sệt không dám bước lên, sợ lỡ tay đánh chết người phải đền mạng, ông nói:

- Đừng sợ, có ta ở đây mà!

Lúc ấy hai mẹ con đều bước ra, nhặt đá cùng ném.

Nàng dâu căm giận đã lâu, cứ hai tay ôm đá lớn ném, chỉ hận không giết chết được tên vô lại ngay lập tức, còn mẹ chồng chỉ nhặt đá nhỏ ném vào vai vào đùi mà thôi.

ông lại bảo cầm dao xông vào chém, bà ta còn ngần ngừ, ông sai dừng lại, nói:

- Ta đã biết dâm phụ là ai rồi!

Sai bắt mẹ chồng tra khảo nặng nề, bà ta khai thật, vụ án kết thúc.

(Ghi thêm).

Một lần ông sai nha lại đi thúc thuế, người thiếu thuế đi vắng chỉ có vợ ra thưa bẩm, đám nha lại đòi tiền hối lộ không được, bèn bắt chị ta về.

Ông tức giận nói:

- Đàn ông người ta nhất định sẽ trở về, sao lại bắt vợ người ta?

Rồi phạt roi đám nha lại, thả người đàn bà về, lại ra lệnh cho thợ mộc làm sẵn nhiều cùm tay để chờ lúc cần dùng.

Hôm sau cả huyện đồn rằng ông nhân đức, những người thiếu thuế nghe thấy đều bảo vợ ra mặt xin khất, ông sai bắt cùm tay hết giải về.

Ta vẫn nói ông Tôn rất có tài, nhưng biết chuyện này rồi lại mừng rằng ông không phải là kẻ nhân đạo nhu nhược.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương 440+441+442+443


CHƯƠNG 440: TÂN TRỊNH NGỤC

VỤ ÁN TÂN TRỊNH

Bộ Phú Nghiêm Giao Nhất Tái Thôi

Châu Tương Hà Tụ Đắc Tu Tài

Mạc Ngôn Trạo Bạch Vô Phân Biệt

Chỉ Đãi Lân Nhân Tác Chứng Lai

Dịch:

Thuế Khóa Bao Phen Thúc Giục Liền

Nộp Nhanh Đâu Sẵn Kiếm Ra Tiền

Trắng Đen Đừng Bảo Không Phân Biệt

Đợi Chúng Lân Bàng Sẽ Hiển Nhiên



Tiến sĩ Thạch Tông Ngọc người huyện Trường Sơn (tỉnh Sơn Đông) làm Tri huyện Tân Trịnh (tỉnh Hà Nam).

Lúc ấy có người khách họ Trương buôn bán xa nhà, bị bệnh muốn về nhưng không cưỡi ngựa đi bộ gì được nên thuê một chiếc xe tay, ôm năm ngàn đồng vàng, nhờ hai người phu đẩy đi.

Tới Tân Trịnh, hai người phu xe vào chợ ăn uống, Trương ôm bọc tiền nằm một mình trong xe.

Có tên Giáp đi ngang liếc thấy, nhìn chung quanh thấy không có ai bèn giật tiền chạy.

Trương không cản được, gượng bệnh vùng dậy đuổi theo.

Thấy Giáp chạy vào một thôn, Trương cũng vào theo, thấy Giáp chạy vào một cổng nhà, Trương không dám vào, chỉ đứng ngoài bức tường thấp nhìn vào.

Giáp buông bọc tiền xuống quay nhìn thấy có người nhìn trộm, tức giận bắt Trương bảo là giặc cướp, trói giao giải tới ông Thạch, kể lại sự tình.

Ông hỏi Trương, Trương kể lể nỗi oan ức, ông cho rằng không có gì làm bằng chứng, đuổi cả ra ngoài.

Hai người bước xuống đều nói ông không biết phân rõ trắng đen, ông thản nhiên như không nghe thấy.

Sực nhớ Giáp trước đây từng trốn thuế, ông bèn sai nha lại theo đòi ráo riết.

Qua một hôm thì Giáp lập tức đem nộp ba lượng bạc.

Ông lập tức gọi lên hỏi tiền này ở đâu mà có, Giáp bẩm là bán áo cầm đồ, đều nói rõ cầm bán những gì cho ai để làm bằng chứng.

Ông Thạch sai nha lại xem lại trong những người tới đóng thuế có ai là người cùng làng với Giáp không.

Vừa gặp lúc có người láng giềng của Giáp đang ở đó, đám nha lại gọi vào, ông Thạch hỏi:

- Ngươi đã là hàng xóm với tên Giáp thì ắt biết tiền này của y từ đâu mà có.

Người láng giềng đáp không biết, ông nói:

- Người láng giềng sát bên nhà cũng không biết thì tiền này có chỗ mờ ám rồi.

Giáp sợ, đưa mắt nhìn người láng giềng nói:

- Ta bán vật này cầm vật nọ, chắc anh cũng nghe mà?

Người láng giềng vội nói:

- phải, phải, có nghe!

Ông Thạch tức giận nói:

- Thế này thì ắt ngươi và tên Giáp cùng trộm cướp, không trị tới nơi tới chốn không xong.

Rồi sai đóng gông tra khảo.

Người láng giềng cả sợ bẩm:

- Ta là láng giềng nên không dám chuốc oán với y, bây giờ sắp phải chịu hình phạt, đâu dám sợ sệt gì nữa?

Quả đúng là y cướp tiền của họ Trương kia đấy ạ.

Ông bèn tha cho về.

Lúc ấy Trương mất tiền chưa về còn ở đó, ông bèn phạt bắt Giáp trả tiền lại.

Những việc xử án của ông Thạch như thế rất nhiều, cũng đủ thấy là người thật tâm lo việc chính sự vậy.

___________________________________

CHƯƠNG 441: TRIẾT ĐÔNG SINH

CHÀNG THƯ SINH TRIẾT ĐÔNG

Khách Song Hữu Mỹ Bạn Thê Kỳ

Dục Phản Gia Viên Vị Hữu Kỳ

Hổ Trịnh Nhất Kinh Qua Liệp Võng

Đắc Quy Chuyển Giác Thị Tiện Nghi

Dịch:

Lân La Quán Khách Mỹ Nhân Kề

Trở Lại Quê Hương Chửa Định Kỳ

Bầy Cọp Kinh Hồn Rơi Đúng Lưới

Khéo Xui Được Dịp Tiện Nghi Về



Thư sinh Phòng Mỗ người Chiết Đông (phía đông tỉnh Chiết Giang), làm khách ở đất Thiểm (vùng Thiểm Tây), nghèo không về quê được mở trường dạy học trò, thường khoe rằng mình gan dạ lắm.

Một đêm đang cởi trần ngủ, chợt bị một con thú lông lá trên không rơi xuống đập vào đầu thành tiếng, thấy to như con chó, thở phì phì, bốn chân khua khoắng, sợ hãi vùng dậy định chạy.

Con thú lấy hai chân trước vồ sinh ngã xuống, sinh sợ quá ngất đi.

Hồi lâu thấy có người lấy vật nhọn chọc chọc vào mũi, hắt hơi tỉnh dậy.

Thấy trong phòng đèn lửa leo lét, có một cô gái đẹp ngồì cạnh giường cười nói:

- Bậc nam tử vốn gan dạ lắm mà?

Sinh biết là hồ càng sợ.

Cô gái dần dần đùa cợt, sinh lấy lại can đảm, bèn ngủ với nhau.

Suốt nửa năm sau cô gái ăn ở với sinh như vợ chồng rất hòa thuận đầm ấm.

Một hôm cô gái ngủ trên giường, sinh lén lấy lưới săn chụp lên, cô gái tỉnh dậy không dám động đậy, chỉ năn nỉ gở lưới ra, sinh chỉ cười ngất.

Chợt cô gái hóa thành một luồng khí trắng thoát ra khỏi lưới bước trên giường xuống giận dữ nói:

- Rốt lại cũng không phải là bạn tốt, mau đưa ta về.

Rồi nắm sinh kéo đi, sinh bất giác bước theo, ra tới cổng thì bay vọt lên trời, khoảng ăn xong bữa cơm thì cô gái buông tay, sinh choáng váng rơi xuống.

Gặp khu vườn của một nhà thế gia có hầm nuôi cọp, đóng cọc làm rào, căng lưới bên trên.

Sinh rơi xuống mặt lưới, tấm lưới nghiêng đi tuột một bên xuống, bụng sinh vướng vào lưới, người treo lơ lửng trên nóc hầm.

Nhìn xuống thấy cọp ngồi chồm chỗm ngước cổ nhìn người rồi nhảy lên vồ, chỉ còn cách có một thước, sinh hồn bay phách lạc.

Người coi vườn tới cho cọp ăn nhìn thấy lấy làm kỳ quái, đỡ lên thì sinh đã ngất đi, hồi lâu mới tỉnh kể lại mọi chuyện.

Nơi ấy gần đất Chiết, chỉ cách nhà sinh hơn bốn trăm dặm.

Người coi vườn báo lại, chủ nhà bèn tặng tiền ăn đường cho sinh về.

Sinh thường kể lại cho mọi người nghe, nói:

- Tuy bị hai phen sợ chết ngất, nhưng nếu không có hồ thì thật không sao về nhà được.

___________________________________

CHƯƠNG 442: BÁC HƯNG NỮ

CÔ GÁI BÁC HƯNG

Bách Chiết Nan Hồi Liệt Nữ Tâm

Trầm Uyên Do Dự Quắc Cừu Nhân

Nhất Triêu Tích Lịch Noa Không Hạ

Thủy Tín Thần Long Thị Hóa Thân

Dịch:

Ma Chiết Khôn Sờn Tâm Liệt Nữ

Thây Chìm Vẫn Bắt Được Cừu Nhân

Một Phen Sấm Sét Trên Trời Xuống

Mới Biết Rồng Thiêng Chính Hóa Thân



Người dân họ Vương ở Bát Hưng có con gái đến tuổi cập kê.

Nhà thế hào Mỗ thấy xinh đẹp, rình lúc cô gái ra khỏi nhà lén bắt về mà không ai hay biết.

Về tới nhà, Mỗ toan cưỡng hiếp, cô gái la thét chống cự kịch liệt, Mỗ bóp cổ giết chết.

Ngoài cửa vốn có cái vực sâu, bèn buộc đá vào xác cô gái quăng xuống dưới.

Vương tìm con gái khắp nơi không thấy, không biết làm sao.

Chợt trời đổ mưa, có một tia chớp bay vòng quanh nhà Mỗ, tiếng nổ ầm ầm, rồi một con rồng đáp xuống rút lấy đầu Mỗ đi mất.

Không bao lâu trời tạnh, xác cô gái dưới vực nổi lên, tay cầm một cái đầu người nhìn kỹ thì là đầu thế hào Mỗ.

Quan hay tin, bắt người nhà Mỗ tra hỏi, mới rõ được mọi chuyện.

Rồng kia là cô gái biến hóa ra chăng, làm sao mà làm được như thế chứ?

Lạ thật!

___________________________________

CHƯƠNG 443: NHẤT VIÊN QUAN

MỘT VIÊN QUAN

Đồng Tri Cốt Cán Thái Sàm Ngoan

Liêu Thuộc Hưu Tương Nhất Lệ Khan

Nan Đắc Tiên Nhân Hữu Chân Thưởng

Thử Công Nhi Ngoại Cánh Vô Quan

Dịch:

Đồng Tri Cốt Cán Quá Lem Nhem

Liêu Thuộc Dừng Nên Một Lứa Xem

May Được Người Tiên Rành Thưởng Thức

Ngoài Ông Không Một Vị Quan Liêm



Ông Ngô là Đồng Tri phủ Tế Nam (tỉnh Sơn Đông), tính ngay thẳng cứng cỏi.

Thời bấy giờ có cái lệ xấu là nếu quan lại bớt xén của công bị phát giác thì quan trên cứ che chở cho, đem số thiếu hụt ấy chia đều cho liêu thuộc bắt mỗi người chịu một phần, không ai dám trái lệnh.

Có lần ông bị bắt chịu một phần, chối từ không nhận, quan trên ép mãi không được tức giận quát mắng.

Ông cũng lớn tiếng quát lại rằng:

- Ta tuy giữ chức quan nhỏ nhưng cũng là nhận mệnh lệnh của vua, cách chức thì được chứ chửi mắng thì không được đâu.

Muốn giết thì cứ giết, chứ ta không thể đem bổng lộc của triều đình đền thay cho kẻ tham lam phạm pháp được.

Quan trên bèn dịu nét mặt xuống giọng vỗ về.

Người ta cứ nói thời buổi này không thể sống ngay thẳng được, nhưng đó là do người không ngay thẳng thôi, sao lại đổ rằng vì thời buổi nên không thể sống ngay thẳng được?

Lúc ấy Mục Tình Hoài ở huyện Cao Uyển (tỉnh Sơn Đông) có hồ tới nương tựa, vẫn thường cùng người khảng khái bàn luận, chỉ nghe trên chỗ ngồi có tiếng nói chứ không thấy hình bóng đâu cả.

Gặp khi tới quận thành, khách khứa tới gặp gỡ trò chuyện, có người hỏi hồ rằng:

- Tiên ông vốn biết mọi việc, xin hỏi trong quận có bao nhiêu viên quan?

Hồ đáp ngay:

- Một viên!

Mọi người cùng cười rộ, lại hỏi vì sao nói thế, hồ đáp:

- Toàn quận tuy có cả thảy bảy mươi hai ông quan, nhưng thật ra chỉ có Đồng tri họ Ngô đáng gọi là quan thôi.

Thời bấy giờ ông Trương là Tri châu Thái An (tỉnh Sơn Đông), vì cứng cỏi nên người ta gọi là khúc gỗ cứng.

Phàm các quan to lên hành hương ở Thái Sơn cứ mang theo tôi tớ xe ngựa đông đúc, phí tổn rất nhiều, dân trong châu khổ về việc cung ứng phục dịch, ông sai bãi bỏ hết.

Có lần bị đòi dê lợn, ông nói:

- Ta là một con dê đây, một con lợn đây, xin cứ mổ thịt để khoản đãi những người tùy tùng.

Quan trên cũng không biết làm sao.

Ông từ khi làm quan xa nhà, cách biệt vợ con mười hai năm, vừa tới nhậm chức ở Thái An thì phu nhân cùng công tử từ kinh tới thăm, gặp nhau rất mừng rỡ.

Được sáu bảy ngày, phu nhân thong thả nói:

- Ông không có tiền bạc gì, sao cứ từ chối không nghĩ tới con cháu?

Ông tức giận mắng lớn, gọi lấy gậy bắt phu nhân phải nằm xuống chịu đòn.

Công tử nằm phục lên người mẹ kêu khóc xin chịu đòn thay, ông ra sức đánh thẳng tay, hồi lâu mới thôi.

Phu nhân tức giận đỡ công tử lên sai sắp xe ngựa trở về, thề rằng cho dù ông có chết ở đây, ta cũng không tới nữa đâu.

Qua năm sau quả nhiên ông chết, không thể nói rằng đây không phải là hạng quan cứng cỏi thời nay được.

Nhưng vợ chồng xa cách lâu ngày, sao lại chỉ vì một câu nói mà giận dữ tới mức ấy, cũng bất cận nhân tình lắm.

Có điều có thể nghiêm khắc với cả vợ con như thế, thì còn lạ lùng hơn cả chuyện quỷ thần vậy.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Chương Cuối Của Liêu Trai Chí Dị


CHƯƠNG 444: HOA THẦN

Hoa Cung Chiết Tiết Lễ Tài Nhân

Thảo Hịch Tranh Khoa Bút Mặc Tân

Tự Thử Phong Di Ưng Liễm Tích

Niên Niên Lưu Đắc Thập Phần Xuân

Dịch:

Cung Hoa Trọng Thể Đón Văn Nhân

Thảo Hịch Lừng Danh Bút Có Thần

Dì Gió Từ Đây Chừng Vắng Bóng

Năm Năm Xuân Sắc Vẹn Mười Phân



Năm Quý hợi ta dạy học ở huyện Tất Hạ (tỉnh Sơn Đông), ngụ trong Trác Nhiên đường của ông Sử.

Nhà ông trồng đầy hoa cỏ, cứ rảnh rỗi lại cùng ông chống gậy dạo chơi ngắm cảnh.

Một hôm đi dạo xa quá trở về thấy mệt muốn nghỉ, cởi giày lên giường ngủ, nằm mơ thấy hai nữ lang quần áo đẹp đẽ tới mời:

- Có chuyện muốn nhờ, xin dời gót ngọc.

Ta kinh ngạc đứng lên hỏi là ai triệu, họ đáp:

- Giáng phi!

Ta đang hoang mang cũng không nghĩ ngợi gì, cứ đi theo họ.

Giây lát thấy một nơi điện gác cao tận mây xanh, dưới có thềm đá, cứ từng chặng từng chặng đi lên, khoảng hơn trăm bậc mới hết.

Thấy có cửa son treo rèm, lại có vài người đẹp chạy vào trong báo tin khách tới.

Không bao lâu trở ra dắt vào điện, thấy móc vàng treo rèm ngọc sáng ngời lóa mắt.

Trong điện có một nữ nhân xuống thềm ra đón, tiếng vòng ngọc khua leng keng, dáng vẻ như bậc phi tần.

Ta đang định vái lạy, Phi đã nói:

- Làm phiền tiên sinh, lẽ ra ta phải cám ơn trước.

Rồi gọi tả hữu trải đệm ra, như định làm lễ.

Ta hoảng sợ không biết làm sao, vội thưa:

- Kẻ quê mùa hèn mọn được ơn trên vời tới đây đã là vinh dự lắm rồi, làm sao còn dám nhận lễ chào khách, lại thêm tăng tội giảm phúc của thần thôi.

Phi sai dẹp nệm bày tiệc, ngồi đối diện với ta.

Rượu được vài tuần, ta nói:

- Thần uống rượu kém, sợ say thất lễ.

Không rõ định sai bảo gì, cho thần hết lo lắng.

Phi không nói, chỉ sai lấy chén lớn mời, ta lại hỏi mấy lần mới nói:

- Thiếp là thần hoa, cả nhà yếu ớt tới đây nương tựa, nhiều lần bị con tiện tỳ họ Phong* vô lễ lấn lướt.

Nay muốn dựa lưng vào thành tử chiến một trận, phiền ông thảo cho một bài hịch.

*[Họ Phong: thần gió].

Ta hoảng sợ đứng lên thưa:

- Thần học ít tài hèn, sợ phụ lời ký thác nặng nề, nhưng đã đội ơn được ban mệnh, đâu dám không hết sức ngu hèn.

Phi mừng rỡ, lập tức ban cho giấy bút ngay trên điện.

Các mỹ nhân kê bàn sắp chỗ, mài mực thấm bút, lại có một người búi tóc rủ xuống tới rọc giấy đặt dưới khuỷu tay.

Cứ ta viết được một hai câu lại có hai ba người tới đứng sau lưng đọc trộm.

Ta vốn vụng về chậm chạp, mà lúc ấy thấy tứ văn cuồn cuộn tuôn ra như sóng sông, chỉ trong khoảnh khắc đã viết xong.

Các mỹ nhân tranh nhau đón lấy tới trình cho Phi.

Phi xem qua một lượt, cứ quá lời khen ngợi, bèn sai đưa ta về.

Ta tỉnh dậy còn nhớ rõ mọi việc nhưng bài hịch đã quên mất quá nửa, nhân viết thêm vào cho đủ.

Xét họ Phong: Nghênh ngang thành nết, Độc ác là lòng

Giúp ác cậy tài, khác xa cỏ rạp, Bắn người ngậm cát, giống hệt yêu tà

Đế Ngu vui vẻ với hơi hòa, giàu sang chưa đủ thỏa lòng, còn mượn gió nam đưa khí mát, Vua Sở ngu ngơ lòng cảm thán, hiền tài chưa làm xứng ý, những mong lốc lớn để xưng hùng

Bái Thương mây tan, anh hùng còn mong mãnh sĩ, Mậu Lăng thu thẳm, quân vương lại nhớ giai nhân

Từ đó ngạo nghễ tự hùng, Vì thế rông càn bất kể

Thét gào vạn chốn, khua rèm ngọc giữa cung sâu, Thổi rít nửa đêm, phủ hơi thu lên cây lạnh.

Hướng vào rừng núi giả oai hùm, Lướt tới sông hồ gây sóng dữ

Lại còn: Khua rèm đẩy cửa, ngắt điệu nhạc chốn ca lâu, Rung vách giật song, phá giấc mơ người chinh phụ

Vạch rèm thổi chiếu, ngang nhiên làm khách vào màn, Xô cửa lên thềm, hách dịch như thầy lật sách

Vốn chẳng từng biết mặt, cũng đẩy cổng tiến vào, Đã không giúp níu quần, còn xô người bước tới.

Nhả ráng hồng bên trời biếc, còn khoe giúp bóng trăng tròn, Vờn sóng liễu giữa đồng xanh, lại nói đưa tin hoa nở

Kẻ về núi đường xa còn bước, thổi cho áo ẩn sĩ phất phơ, Người chơi non hứng rượu đang nồng, giật cho mão thù du lăn lóc

Xoay chuyển cánh bồng, cuốn trốt như sừng dê bốc thẳng, Tranh giành trời thẳm, tung dây lôi cánh ó sa mau

Không vâng lời chiếu Tắc Thiên, cứ xui hoa nở, Chưa dứt giải mão quan Sở, đã thổi đèn tàn.

Thậm chí: Thổi cát bốc mờ trời, san non Lý Hạ, Rắc mưa tuôn mịt đất, phá nóc Thiếu Lăng.

Đánh trống Phùng Di, Thổi sênh Thiên nữ

Lãng đãng tới, đá non hóa én, ầm ì qua, ngói điện chia uyên

Tát nước chửa ra oai, mặt sóng giang đồn run sợ lạy, Ngăn trời vừa giở sức, chân mây chữ nhạn vẹo xiêu hàng

Giúp buồm nhẹ qua Mã Đương, việc kia còn rõ, Kéo rèm xanh nơi Ngọc điện, ý nọ ra sao?

Tới như chim bể linh thiêng, cũng phải vào cửa Đông tránh núp, Những mong người đi yên ổn, chỉ luống kêu chàng Thạch trở về

Xưa có hiền tài, mới ngàn dặm cưỡi gió phá sóng, Đời không cao sĩ, được mấy người ruổi gió mà đi?

Giong xe pháo như mây cuồng, để Dạ Lang tự đại, Được Tham Lang hà khí nghịch, khoe Hà Bá là Tôn.

Chị em cùng chịu điêu tàn, Họ hàng thảy đều run sợ Tàn hồng gãy lục, thảm não sao cùng, Bẻ lá vặt cành, tiêu điều vô hạn

Ngọc chôn hương lấp, người đẹp xưa xiêm áo lạnh lùng, Sơn lạt sơn phai, cửa hầu cũ gạch vôi rơi rụng

Giảm sắc xuân trong sớm tối, muôn nét hao mòn, Tung nét hồng khắp tây đông, năm canh phách lối

Gái u nhàn nơi Giang Hán, đeo cung bước nhẹ giữa vườn xuân, Kẻ tịch mịch chốn lầu cao, nghe ngựa hí buồn trong nội cỏ

Lúc ấy kẻ thương xuân ôm nỗi sầu Không lời tả oán, Người dạo cảnh cất khúc hát Chẳng biết làm sao

Ngươi lại: Xoay khí hà hơi ra điều thần bí, Thổi mây vén ngút hiện vẻ vô cùng

Thương thay hoa đỏ vẫn còn, lác đác bên tường rụng cánh, Cảm bấy phướn xanh chẳng hạ, phất phơ ngọn cột thương ai?

Cánh rụng nhụy tàn, hồn thơm đã xong buổi ấy, Sáng tươi chiều héo, mạng kia biết gởi năm nào

Oán áo là dễ tính, Mắng ngọn gió vô tình

Kiện kẻ dữ hung bạo, Sớ chưa tới Thiên đình

Nhắn với các loài hoa thơm, xin học mày ngài bày trận, Nói cho bạn cùng chí khí, hãy đem cây cỏ làm binh

Đừng rằng mềm yếu không tài, Chỉ cốt giậu rào có chí

Cứ xem oanh én hợp bầy, chung lòng rửa hận, Xin cùng bướm ong kết nghĩa, ra sức diệt thù

Chèo lan mái quế đủ đánh trận hồ Côn Minh, Cờ liễu lọng dâu thừa rửa hờn vườn Thượng uyển

Giậu đông người ẩn sĩ, có ra khỏi lều tranh không, Cây lớn bậc tướng quân, phải sôi bừng lòng nghĩa chứ?

Giết loài bạo ngược, rửa nỗi oan hương phấn ngàn năm, Trừ kẻ tham tàn, tan mối hận phong lưu muôn thuở*

*[Bài hịch này dùng rất nhiều điển tích về gió, đây chúng tôi chỉ cố gắng dịch đúng ý và không chú thích].

________________________

NĂM TRUYỆN PHỤ LỤC ( PHỤ LỤC NGŨ TẮC )

1)

Phi Yến ngoại truyện chép hậu mắc chiếc quần màu tía của Nam Việt cống, ca múa theo điệu Gió về đưa đi xa (Quy phong tống viễn).

Vua sai người hậu ưa thích là Thị lang Phùng Vô Phương thổi sinh hòa theo.

Hậu ca múa đến lúc say sưa, gió lớn chợt nổi lên, hậu theo gió giang tay áo nói:

- Tiên ơi!

Tiên ơi!

Bỏ cũ mà theo mới, nỡ quên lòng sao?

Vua nói:

- Vô Phương giữ hậu lại cho Trẫm.

Vô Phương vứt ống sinh níu chặt lấy quần hậu giữ lại.

Hồi lâu gió lặng, hậu khóc nói:

- Làm cho ta không lên tiên được.

Vua trọng thưỡng cho Vô Phương, đưa hậu về cung.

Về sau các cung nữ được vào hầu vua lần đầu có người dệt vải may quần theo kiểu ấy, gọi là Quần giữ tiên (Lưu tiên quần)

2)

Hàn thi ngoại truyện chép Sở Trang vương cùng các bề tôi uống rượu, đến lúc say thì gió thổi tắt đuốc.

Có người kéo áo hậu, hậu ngầm dứt đứt giải mũ người ấy rồi nói với vương rằng:

- Xin đốt đuốc lên tìm người bị đứt giải mũ.

Vương nói:

- Khoan đã!

Rồi lập tức ra lệnh:

- Hôm nay các ngươi uống rượu với quả nhân, không đứt cả giải mũ thì chưa phải là thật vui.

Vì thế mọi người đều dứt đứt hết giải mũ, không biết người bị hậu dứt đứt giải mũ là ai.

3)

Cửu Giang ký chép núi Mã Đương cao tám mươi trượng, chu vi bốn dặm, ở phía bắc huyện Bành Trạch cũ.

Núi gối ngang sông lớn, hình dáng như con ngựa, cản gió ngăn sóng nên sông chỗ ấy ba đào nổi cuồn cuộn đánh vào thuyền bè.

Người ta rất sợ hãi, dựng miếu ở lưng chừng núi để thờ cúng.

Vương Bột thời Đường bị ngược gió đậu thuyền lại dưới núi, gặp một ông già giúp cho ngọn gió thuận nên chỉ một đêm đã tới được Hồng Đô làm bài Tựa gác Đằng vương (Đằng Vương các tự).

4)

Giang hồ kỷ văn chép truyện gió Thạch Vưu rằng con gái họ Thạch là vợ chàng Vưu.

Vưu đi buôn xa, vợ ngăn lại không được Vưu đi mãi không về.

Vợ nhớ chồng mắc bệnh chết, lúc sắp chết thở dài nói:

- Ta hận không ngăn được chàng, để tới nỗi này.

Từ nay nếu có người buôn bán xa nhà lên đường, ta sẽ làm gió lớn ngăn cản giúp những người làm vợ trên đời.

Từ đó những người buôn bán lên đường thấy mũi thuyền bị gió ngược cản trở đều nói:

- Gió Thạch Vưu đấy!

Rồi hoãn lại không đi nữa.

5)

Bác dị ký chép trong niên hiệu Thiên Bảo thời Đường (742-755), xử sĩ Thôi Nguyên Huy đêm ở nhà một mình, hết canh ba chợt có một cô gái tóc xanh tới nói:

- Ta trú trong vườn, nay cùng vài người chị em muốn mượn tạm nơi đó để yết kiến ông, có được không?

Nguyên Huy ưng thuận.

Người áo xanh dẫn Nguyên Huy vào vườn, có cô gái mặc xiêm màu lục bước lên trước nói:

- Ta họ Dương!

Rồi chỉ một người khác nói:

- Cô này họ Lý!

Lại một người nói:

- Ta họ Đào!

Rồi chỉ một người mặc áo màu đỏ nói:

- Cô này họ Thạch, tên Thố Thố!

Nguyên Huy bảo ngồi xuống rồi hỏi đi đâu.

Họ đáp

- Định tới gặp dì Phong thứ mười tám.

Còn chưa ngồi yên chỗ thì ngoài cổng đã có người vào báo:

- Dì họ Phong tới!

Nguyên Huy ra chào, thấy họ Phong lời lẽ lạnh lùng, thái độ như gió lướt trong rừng.

Chào hỏi xong, tất cả cùng uống rượu.

Dì Phong thứ mười tám bưng ly rượu sóng sánh làm đổ vào áo Thố Thố, Thố Thố tức giận phẩy áo đứng dậy.

Dì Phong thứ mười tám nói:

- Con nhỏ này mượn men rượu à?

Mọi người cùng đứng cả lên, ra ngoài cổng vườn chia tay.

Dì Phong thứ mười tám đi về phía nam, các cô gái lại trở vào vườn.

Đêm sau tất cả lại tề tựu, nói:

- Phải tới chỗ dì Phong thứ mười tám.

Thố Thố giận dữ nói:

- Cần gì phải tới nhà họ Phong, có chuyện chỉ cần nhờ xử sĩ đây là xong, nhưng không biết có được không?

Nguyên Huy hỏi chuyện gì, họ đáp:

- Bọn chị em đều ở trong vườn, hàng năm thường bị gió dữ tàn hại, thường xin dì Phong thứ mười tám che chỡ cho.

Nhưng vì chuyện Thố Thố đêm qua nên khó lòng nhờ được nữa, xin xử sĩ cứ đến ngày đầu năm thì làm một lá phướn đỏ trên vẽ hình mặt trời mặt trăng và năm ngôi sao cắm ở phía đông vườn thì bọn ta có thể thoát nạn.

Nguyên Huy nhận lời làm đúng theo như vậy.

Đến ngày đầu năm, gió đông nổi lên từ Lạc Nam cuốn tới bẻ gãy cây cối, thổi tung cát đá nhưng cây hoa dày đặc trong vườn vẫn đứng im không động.

Nguyên Huy mới sực hiểu rằng các cô gái đều là tinh của các loài hoa, Thố Thố là hoa thạch lựu, Dì Phong thứ mười tám là thần gió.

__________________________

Phần Liêu Trai Chí Dị đã full, những chương sau sẽ là phần ngoại truyện.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Liêu Trai Chí Dị Thập Di


1) HOÀNG TỊNH NAM

Hoàng Tịnh Nam lúc được trưng tập, cùng hai người Hiếu liêm lên kinh.

Trên đường gặp một tên cướp khét tiếng, hai người Hiếu liêm sợ, quỳ rạp đưa tiền bạc ra.

Hoàng tức giận, tay không tấc sắt nhưng lấy hai tay ôm chân y nhấc lên ném ra, tên cướp không kịp đề phòng bị ngã cả người lẫn ngựa.

Hoàng sấn vào đánh y gãy cánh tay, lục túi y lấy hết tiền bạc rồi đuổi đi.

Hai người Hiếu liêm phục Hoàng khỏe mạnh, giúp tiền khuyên nên tùng quân.

Sau Hoàng lập được kỳ công, làm quan tới chức Tướng quân.

_______

(2) DỤ QUỶ

Lúc Thượng thư Thạch Mậu Hoa ở Thanh Châu còn là Chư sinh, ngoài cổng quận thành có cái vực lớn, không có mưa cũng không cạn.

Trong hạt bắt được mấy mươi tên cướp lớn, xử tử trên bờ vực, ma quỷ tụ họp ở đó phá phách, người đi qua cứ bị kéo xuống vực.

Một hôm, có Mỗ đang gặp nguy cấp, chợt bọn quỷ bỏ chạy tán loạn, nói:

- Thạch Thượng thư tới đấy!

Không bao lâu thì ông đi tới, Mỗ kể lại chuyện, ông lấy hòn than viết lên vách đá rằng:

Thạch Mỗ ra điều cấm như sau: Xét vì suy nghĩ vô lương, đến nỗi chuốc cơn sấm sét, mưu toan bất pháp, cho nên chịu tội búa rìu.

Chỉ nên bỏ lòng quỷ ý ma, lo điều sám hối, ngõ hòng rửa xương tàn cốt nát, thoát cảnh trầm luân.

Các ngươi sống chịu cực hình, chết còn họp ác.

Hung hăng kéo tới, xõa tóc thành bầy, nhảy nhót sấn lên, vung tay làm dữ.

Bùn vàng lấp mũi, còn khoe oai quỷ oan hồn, ban ngày làm yêu, lại dám chặn đường hành khách.

Ngoài núi gò ba thước, chỉ do kẻ sống trông coi, giữa trời đất hai ngôi, há để các ngươi hung dữ?

Răn về sau đều nên giấu vết, chớ giữ lòng tà, đống xương bên sông Vô Định, chờ lúc luân hồi, mảnh hồn trong mộng kim khuê, về nơi cố thổ.

Nếu còn giữ thói xưa, ắt có ngày hối hận.

______

3) TẤN NHÂN

NGƯỜI ĐẤT TẤN

Mỗ người đất Tấn (tỉnh Sơn Tây) rất khỏe mạnh, tuy không học võ nghệ nhưng người học võ cũng không ai đánh lại.

Mỗ qua Trung Châu, có một đệ tử Thiếu Lâm bị y dánh bại, căm hờn về kể lại với sư phụ, bàn nhau bày tiệc mời y tới để làm hại.

Mỗ tới, người kia trước tiên đem trà quả ra mời, trong có hạt hồ đào để nguyên vỏ cứng rắn không sao ăn được.

Mỗ nhặt lấy đặt lên mép bàn, lấy ngón tay trỏ gõ một cái, hạt hồ đào lập tức vỡ nát.

Mọi người hoảng sợ, đối xử với y rất tử tế rồi chia tay.

______

4) NỮ QUỶ

Vương Bính ở Oanh Kiều huyện Truy Xuyên (tỉnh Sơn Đông), ra khỏi thôn thấy trong miếu Thổ địa có một cô gái đẹp bước ra, cứ liếc nhìn mình mãi.

Vương buông lời ỡm ờ, nàng tươi cười vui vẻ, nhưng không có nơi nào hành sự, bèn hẹn đến đêm vui vầy với nhau.

Bính nhân đó nói rõ nơi ở, tối đến quả nhiên nàng tới, cùng nhau vui thú rất nồng nàn.

Bính hỏi họ tên, nàng không chịu đáp, từ đó lui tới không dứt.

Bính ngủ cùng giường với vợ, cô gái cũng tới giao hoan mà vợ Bính vẫn không biết là có người.

Bính ngạc nhiên hỏi, nàng mới nói:

- Ta là vợ thần Thổ địa!

Bính cả sợ, muốn dứt tình ngay nhưng làm đủ cách vẫn không ngăn trở nàng được.

Cứ thế nửa năm, bị bệnh nằm liệt giường không dậy nổi.

Người đẹp lại càng hay lui tới, người nhà đều nhìn thấy.

Không bao lâu Bính chết, người đẹp vẫn mỗi ngày tới một lần.

Vợ Bính quát nàng ta:

- Con ma dâm đãng không biết xấu hổ.

Người ta đã chết, còn tới làm gì?

Người đẹp bèn đi không trở lại nữa.

______

5) NAM SINH TỬ

ĐÀN ÔNG SINH CON

Tổng binh Phúc Kiến Dương Phụ có tên luyến đồng, trong bụng máy động.

Mười tháng đến kỳ, mơ thấy thần nhân mổ hai nách lấy con ra, hai đứa con trai kêu khóc hai bên.

Trở dậy nhìn xuống dưới nách, vết mổ vẫn còn rõ ràng.

Bèn đặt tên hai đứa con là Thiên Xá, Địa Xá.

_____

6) QUỶ TÂN

NƯỚC BỌT CỦA MA

Lý Mỗ đang ngủ trưa thấy một người đàn bà trong tường bước ra, đầu tóc rối tung, tóc xõa xuống che kín mặt.

Người ấy tới trước giường mới lấy hai tay vạch tóc để lộ khuôn mặt, da dẻ đen dủi vô cùng xấu xí.

Lý cả sợ định chạy nhưng đã bị người đàn bà chồm lên glường ôm chặt lấy đầu, kề môi vào miệng Lý, dùng lưỡi đẩy nước bọt qua, thấy lạnh như băng, từ từ trôi vào cổ Lý không muốn nuốt nhưng không sao thở được, nuốt thì thấy lầy nhầy trong cổ họng, vừa hít một hơi thì trong miệng đã đầy nước bọt, nghẹt thở đành phải nuốt vào.

Như thế hồi lâu, ngạt thở không chịu nổi nữa, chợt nghe ngoài cửa có tiếng chân người, người đàn bà mới buông tay ra biến mất.

Sau đó Lý thấy bụng trương lên đầy tức, mấy ngày không ăn uống gì được.

Có người bảo uống nước sâm lư, Lý thổ ra một vật như quả trứng trong suốt, mới dần dần khỏi bệnh.

______

7) XÀ TỊCH

NGHIỆN ĂN RẮN

Lữ Phụng Nghi là đầy tớ Vương Phủ Lệnh ở hương ta, tính nghiện ăn rắn.

Mỗi khi bắt được con rắn nhỏ thì nuốt chủng, giống như nuốt cọng hành.

Gặp con lớn thì lấy dao chặt ra từng khúc từng khúc, rồi bốc mà ăn, nhai nghe rau ráu, máu me chảy cả xuống cằm.

Lại rất giỏi đánh hơi, từng có lần cách bức tường ngửi thấy mùi rắn, vội vàng chạy ra, quả nhiên bắt được con rắn dài một thước, lúc ấy không mang đao, bèn trước hết cắn nát đầu, đuôi còn ngoe nguẩy ngoài miệng.

_____

8) KIM ĐẦU ĐÀ

ĐẦU ĐÀ HỌ KIM

Kim Thế Thành, người Trường Sơn.

Tính không cần kiệm, đột nhiên xuất gia làm đầu đà.

Giống như điên khùng, ăn những vật nhơ bẩn mà cho là ngon.

Chó dê ỉa đái trước mặt là cúi xuống ăn, tự xưng là Phật.

Bọn đàn bà dân quê ngu xuẩn lấy làm lạ, giữ lễ đệ tử có tới hàng ngàn hàng vạn người.

Kim quát bảo ăn phân, không ai dám trái lời.

Xây dựng điện gác, tiền bạc không đủ, mọi người vui vẻ đóng góp.

Huyện lệnh Nam công ghét vì làm việc kỳ quái, bắt tới đánh đòn, sai sửa văn miếu, môn nhân đồn ầm lên với nhau:

- Phật gặp nạn!

Rồi tranh nhau cứu, trong một tuần cung điện ở Văn miếu đều xây xong, việc thu góp tiền bạc còn mau lẹ hơn kẻ lại tàn ác đi thu.

______

9) ÁI TÀI

YÊU TÀI

Trong quan trường, có người có em gái vào cung làm Quý nhân sinh con.

Có tướng quân Mỗ làm giúp bài khải, trong có câu:

- Em trai lớn lên, suốt đời cạnh mây rồng, vàng ngọc chói chang gác vẽ, xá muội phu nhân, mười năm theo kiệu phượng, xiêm y lộng lẫy ráng chiều.

Chày giặt có thể cầm, trăng sương không cần đập áo, ngòi ngự có thể cậy, vịnh ngâm đâu nhọc Vân Anh*.

Quan trên phục tài, cho đổi qua ngạch văn giai, về sau làm tới chức Thông chính sứ.

*[Chày giặt...

Vân Anh: chưa rõ điển tích, song theo văn cảnh thì có lẽ hai câu này muốn nói vị Quý nhân kia đã sinh con với vua, không phải lẻ loi như người vợ giặt áo dưới trăng mong chồng về, cũng không phải vất vả như Vân Anh trong tích cầu Lam.

____

10) THƯƠNG PHỤ

VỢ NGƯỜI NHÀ BUÔN

Thương nhân Mỗ ở Thiên Tân, sắp đi buôn nơi xa, vay tiền một người nhà giàu, bị tên trộm rình thấy.

Đến đêm, y lén vào nhà núp, định chờ lúc sơ hở lấy trộm.

Nhưng người thương nhân vì hôm ấy là ngày tốt, nên đã mang tiền lên đường.

Tên trộm rình đã lâu, chỉ nghe vợ người thương nhân trăn trở trên giường, như không ngủ được.

Kế đó, trên vách có cánh cửa nhỏ mở ra, cả phòng sáng bừng.

Trong cửa có một cô gái bước ra, diện mạo trẻ trung xinh đẹp, tay cầm một sợi dây dài, tới cạnh giường đưa cho người đàn bà.

Người đàn bà xua tay từ chối, cô gái cứ đưa người đàn bà bèn cầm dây trở dậy, buộc lên xà nhà, đưa cổ vào tự ải.

Cô gái bèn bước ra, cánh cửa trên vách cũng đóng lại.

Tên trộm cả kinh, tung cửa ra kêu ầm lên.

Gia nhân tỉnh dậy đổ tới, hỏi han lý do, rồi vội xông vào cứu, nhưng người đàn bà không tỉnh lại.

Liền bắt tên trộm đưa lên quan.

Quan cho rằng tên trộm đã chính mắt nhìn thấy, thì không còn gì phải nghi ngờ, bèn thả y ra.

Hỏi người làng, đều nói chủ cũ của nhà ấy từng có người thiếu phụ treo cổ tự tử, tuổi tác diện mạo đều giống hệt như tên trộm nhìn thấy, nên biết đó là ma.

Tục truyền người chết dữ đều phải có kẻ thay thế, đúng là như thế chăng?
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Long Ngũ Tắc


NĂM CHUYỆN VỀ RỒNG

1)

Viên Tuyên Tứ nói ở Tô Châu, lúc mưa rào trời tối, sấm sét nổ ran.

Mọi người đều nhìn thấy rồng trên mây buông xuống, vẩy trên thân rung động, trong vuốt nắm một cái đầu người, râu tóc đều nhìn thấy rõ.

Giây lát bay vào trong mây đi mất, nhưng không nghe có ai bị mất đầu.

2)

Tục truyền rồng lấy nước dưới sông làm mưa, ngờ rằng điều đó chỉ là truyền thuyết mà thôi.

Từ Đông Si nam du, ghé thuyền vào bờ sông, nhìn thấy một con rồng xanh giữa đám mây buông xuống, lấy đuôi khoắng vào nước sông, sóng nước nổi lên ầm ầm, theo thân rồng mà bay lên.

Từ xa nhìn thấy ánh nước sáng loáng, rộng như tấm lụa ba thước.

Giây lát đuôi rồng rút lên, mặt nước cũng yên ắng.

Lát sau mưa đổ xuống như trút.

3)

Người đàn bà họ Lý ở thôn Hình huyện Truy Xuyên, chồng chết lúc đang có thai, bụng lúc chợt trướng lên như cái vò, lúc lại thu lại bằng nắm tay.

Đến khi lâm bồn, suốt một ngày một đêm không sinh được.

Nhìn tới, thấy một cái đầu rồng, vừa thấy người là thụt vào trong.

Người nhà cả sợ, không dám tới gần.

Có bà đỡ họ Vương, thắp hương võ bộ, niệm ấn bắt quyết, không bao lâu cái thai lọt ra, không thấy rồng đâu nữa.

Chỉ có vài cái vẩy rơi xuống, đều to như đồng tiền.

Sinh được một đứa con gái, da thịt trong suốt như thủy tinh, nhìn thấy cả tạng phủ trong người.

4)

Huyện Bác có người dân tên Vương Mậu Tài, sáng sớm thăm ruộng, nhặt được ở bờ ruộng một đứa nhỏ khoảng bốn năm tuổi, mặt mủi đẹp đẽ ăn nói khôn ngoan, bèn đưa về nhà nuôi làm con, linh thông phi thường.

Được bốn năm năm có một nhà sư tới nhà đứa nhỏ nhìn thấy, hoảng sợ bỏ trốn biệt tích.

Nhà sư nói với Vương:

- Đó là một trong năm trăm con rồng nhỏ trong ao ở Hoa Sơn, bỏ trốn tới đây.

Rồi lấy ra một cái bát đổ nước vào, quả nhiên nhìn thấy một con rắn trắng nhỏ bơi lội trong đó, kế cất bát ra đi.

5)

Di kiên chí chép: Trong niên hiệu Hoàng Thống nhà Kim (1141-1149), phủ Hà Trung đại hạn.

Thái thú là Lý Kim Ngô cầu đảo không có kết quả.

Nghe nói sư Từ Huệ ở chùa Tây Nham giới luật cao thâm, được đồ đệ ngưỡng mộ, bèn tới mời.

Sư nói:

- Thân già không có gì có thể làm cảm động trời đất, nhưng hàng ngày lúc thuyết pháp đều thấy có một ông già tới nghe, không biết từ đâu tới, ngờ đó là rồng nên cầu khẩn y.

Nhưng phải là Kim Ngô sáng mai tới đây, thành khẩn mà chờ.

Lý nói:

- Vâng!

Quả nhiên ông già lại tới.

Lý đang nói chuyện với nhà sư, nhìn thấy ông ta bước vào chùa, lập tức thắp hương trải chiếu, sai tả hữu xốc nách dìu vào, quỳ xuống lạy lục bày tỏ ý nguyện.

Ông già hoảng sợ ngăn lại nói:

- Sứ quân quỳ lạy một ông già trong núi, xin hỏi có chuyện gì?

Lý nói:

- Trời hạn gây tai họa, ngũ cốc không chín, muôn dân sẽ không sao sống nổi.

Xin Long quân nhân từ, ban cho mưa ngọt, sẽ xin lập đền thờ tự, bốn mùa cúng tế để làm rõ uy linh của thần, xin thần thương cho!

Ông già im lặng, lát sau chau mày than thở:

- Ồ người tiết lộ thiên cơ của ta là nhà sư, không biết ta chết lúc nào đây.

Bèn nói với Lý:

- Sứ quân đừng lo, ta xin đem cái chết để báo đáp.

Rồi ngoảnh lại sư nói:

- Ta nay vì sư mà đắc tội với trời, nhất định sẽ bị tru diệt, ta sẽ phải chết ngay, thân rơi xuống đất, nhưng không ra khỏi đất này.

Xin sư chứng minh, sai dân toàn quân làm đàn tế bảy ngày bảy đêm, ngõ hầu đền đáp công đức, có thể được siêu thăng.

Sư ưng thuận, ông già bèn ra đi.

Lúc ấy có một trận mưa đổ xuống ba ngày ba đêm.

Ngu Khanh ngoài thành báo có con rồng chết rơi xuống chân núi.

Lý dắt hết sĩ thứ, triệu một ngàn nhà sư tới đó, dựng đàn trường, mời Từ Huệ lên diễn pháp.

Việc xong, thấy con rồng hiện thân trên không, nói tiếng người cảm tạ:

- Ta tuy bị trời giết, nhưng nhờ pháp lực cứn trợ, đội ơn diệu pháp vô thương nên đã được làm rồng cõi Bồ Đề.

Lý bèn lập miếu thờ, xin triều đình ban cho biển ngạch, lại đặt tên cho xứ ấy là hang Thương Long.

Lại như bến Dã Ngưu ở Bạch Ba Lạc Kinh gần miếu Cửu thiên huyền nữ.

Trong niên hiệu Hoàng Thống nhà Kim, đêm thu nước tràn, cư dân bị lụt chết đuối, mười người có tới sáu bảy.

Người phía dưới bến thấy một bầy thuồng luồng vẫy vùng trong hang vực, xô bờ phá vách, biến chỗ ấy thành ao đầm, nhà cửa đều biến mất, ruộng vườn không còn gì.

Mưa lớn năm ngày năm đêm không ngớt, chợt có mấy mươi con trâu trên đỉnh núi theo dòng trôi xuống đánh nhau với thuồng luồng ở chân núi.

Mây đen mờ mịt, ánh lửa chốc chốc lóe lên, qua một đêm trời tạnh, nước sông lại trở về dòng cũ.

Có một con thuồng luồng dài mười trượng chết dưới cổng đền.

Mạnh quân Thái thú Lạc Kinh dẫn đầu sĩ dân hai quận Lạc Dương Hà Dương trai giới mang cỗ tam sinh tới bờ sông cúng tế.

Giây lát có con rồng xuất hiện trên mây, vươn cổ như tới hưởng.

Hàng vạn người ngẩng nhìn, mới biết đó là vật đã biến thành trâu giết thuồng luồng.

Bèn lập miếu thờ ở chỗ ấy.

Chu Tùng Long kể lại như thế.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Bạch Liên Giáo


Tư Hồng Nho thủ lĩnh Bạch Liên giáo vốn là nhà nông.

Cày ruộng ở chân núi, được một pho tượng Phật bằng đồng, một thanh kiếm bằng sắt, cùng hai quyển sách tả đạo.

Ngày đêm học tập, không gì không tinh thông.

Bèn tự xưng là Như Lai xuất thế, mê hoặc dân ngu.

Từng có người khách đêm tới nhà, Từ vẽ một cái mặt trăng treo lên vách, cả gian phòng sáng bừng.

Trong phòng chất đầy vàng bạc, để người ta tùy ý lấy không ngăn cấm.

Không cần tôi tớ, chỉ rút trong túi ra hai hình người giấy cao ba tấc đặt xuống đất, lập tức vươn dài ra cao bằng người, lại thướt tha xinh đẹp.

Một người ăn mặc lối văn sĩ, tuấn nhã phong lưu, một người ăn mặc lối võ sĩ, đeo kiếm mang cung.

Sai dọn rượu bày tiệc đi lại rất mau lẹ.

Lại lấy ra hơn mười người bằng giấy, làm phép đều biến thành mỹ nữ, áo lông xiêm ráng, ca múa mời rượu.

Có thể sai khiến quỷ thần, cho dù các loại cây cối loài vật ở núi sông thành thị cũng đều có thể biến ra trong nháy mắt.

Lại đưa ra một tấm gương bảo người ta soi vào có thể thấy được số phận trọn đời.

Có người thì khăn lượt mũ sa, có người giáp vàng áo thêu, người soi vào không ai không mừng rỡ nhảy nhót.

Tin tức đồn đãi khắp nơi, lúc ấy người ta nối gót nhau tới xin soi, trước cửa đông nghịt.

Từ thấy những người bị mê hoặc ngày càng đông, bèn treo gương tự soi, thì thấy đội mũ miện mặc long bào, nghiễm nhiên là bậc vương giả.

Bèn phao tin rằng:

- Phàm những người ăn mặc đẹp đẽ trong gương đều là người trong hội Long Hoa, được Như Lai định rõ là sẽ làm quan, đều nên gắng sức để tìm phú quý.

Mọi người đều ngạc nhiên mừng rỡ lạy phục xuống.

Kế đó chế cờ lệnh cầm tiết việt, không ai không nhảy nhót đi theo, chưa từng có người nào không tuân lệnh.

Không đầy vài tháng, đã có hàng vạn người theo về, một dải Đằng Dịch theo gió mà rạp.

Về sau đại quân thảo phạt, giết sạch không ai sống sót.

Bọn họ vọng tưởng một bước lên trời, mà không tự răn!

Bành Đô ty người Trường Sơn, sống trong quân ngũ nhiều năm, dũng cảm hơn người.

Lúc thảo phạt, gặp hai cô gái để bím tóc cặp đao sắt, thúc ngựa dữ, hung hãn dị thường, Bành ra sức tiếp chiến.

Hai cô gái không thể tới gần Bành, mà Bành cũng không sao làm hai người bị thương.

Từ sáng đến chiều, liên tiếp ba ngày Bành kiệt sức, thở dốc mà chết.

Về sau bắt được quân giặc hỏi cung, mới biết hai cô gái ấy là người giấy đao gỗ, ngựa cưỡi chỉ là ghế gỗ mà thôi.

Đao ngựa giả mà làm chết tướng quân thật, lạ thay!
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Quỷ Lại


SAI DỊCH MA

Hai người sai dịch ở Lịch Thành vâng lệnh Huyện lệnh Hàn Thừa Huyên đi công cán ở quận khác, cuối năm mới về.

Trên đường gặp hai người, ăn mặc giống như mình.

Cùng đi suốt nửa ngày dần dần nói chuyện với nhau.

Hai người kia tự xưng là sai dịch quận Tế Nam.

Sai dịch nói:

- Những nha dịch trong quận, mười người thì bọn ta biết tới tám chín.

Hai ông thì chưa từng quen biết.

Người kia nói:

- Nói thật, ta là sai dịch ma trong miếu Thành hoàng, nay là mang công văn tới miếu Đông Nhạc.

Sai dịch hỏi trong công văn viết gì, đáp:

- Tế Nam sắp có kiếp nạn lớn, là báo danh những người bị giết.

Sai dịch cả sợ hỏi bao nhiêu người chết, đáp:

- Cũng không rõ lắm, nhưng e gần trăm vạn.

Sai dịch càng hoảng sợ.

Nhân hỏi thời hạn, đáp là tháng giêng.

Hai người sai dịch nhìn nhau, tính ngày về tới nơi vừa đúng hôm Trừ tịch.

Sợ bị mắc nạn, nhưng chần chừ thì sợ bị khiển trách.

Ma nói:

- Lỡ hạn tội nhỏ, gặp nạn họa lớn, nên tránh đi chỗ khác, tạm thời đừng về.

Sai dịch theo lời, chia tay theo đường tắt trốn đi.

Không bao lâu quân tới có gần trăm vạn người chết, hai người nha lệ được thoát.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Yết Khách


KHÁCH RẾT

Có người thương nhân phương Nam buôn rết, hàng năm tới Lâm Câu, thu mua rất nhiều.

Thổ nhân cầm kẹp gỗ vào núi, vào hang sâu lật đá tảng tìm bắt.

Hết một năm lại tới, ngụ ở chỗ trọ cũ chợt thấy bồn chồn, lông tóc dựng đứng mà sợ sệt gấp bội lúc bình thường.

Chợt nói với chủ nhân:

- Làm hại vật sống đã nhiều, nay bị ma rết tức giận, sắp tới giết ta, xin cứu ta với.

Chủ nhân thấy trong phòng có cái vò lớn, bèn bảo vào đó ngồi xổm rồi lấy nắp đậy lại.

Không bao lâu, một đại hán bước vào, đầu tóc xõa tung vẻ mặt hung dữ, hỏi chủ nhân:

- Người khách phương Nam ở đâu?

Đáp đã ra ngoài.

Người ấy vào phòng nhìn quanh, khịt khịt mũi thành tiếng mấy lần, rồi ra cửa đi.

Chủ nhân nói:

- May ra thì thoát nạn chăng?

Rồi bước vào mở nắp vò lên, thì người khách đã hóa thành máu.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Tuân Hóa Thự Hồ


CON HỒ TRONG DINH TỰ TUÂN HÓA

Khưu công người Chư Thành, làm Quản đạo đạo Tuân Hóa.

Trong dinh thự vốn có nhiều hồ, ở ngôi lầu trong cùng thường xuyên có hồ tụ họp, thỉnh thoảng ra hại người.

Chửi mắng lại càng lộng hành, nhĩmg người làm quan ở đó chỉ làm tiệc cầu khấn, không ai dám xúc phạm.

Khưu công đáo nhiệm, nghe thế nổi giận.

Hồ cũng sợ công cương nghị, biến thành một bà già, nói với người nhà của công:

- Xin bẩm lại với đại nhân là đôi bên không có thù oán gì, xin làm khách ba ngày nữa, sẽ đưa hết già trẻ đi.

Công nghe cũng im lặng không nói gì.

Hôm sau duyệt binh xong, bảo đừng tan về, sai đem hết súng ống trong các doanh tới, chĩa quanh lầu cùng phát đạn, trong giây lát ngôi lầu thành đất bằng.

Lông da máu thịt trên trời rơi xuống rào rào, nhưng thấy giữa đám mưa máu mịt mờ có một làn khí trắng như đám mây vọt ra.

Mọi người nhìn lên nói:

- Có một con thoát rồi!

Nhưng từ đó trở đi trong dinh thự yên ổn.

Sau hai năm, công sai một người đầy tớ tin cẩn mang bạc về kinh để thu xếp việc thăng chuyển.

Việc chưa xong, người ấy còn ở lại trong nhà một nha dịch để chờ trả tiền dần duyên*.

Một hôm chợt có ông già tới kinh đô kêu oan, nói vợ con bỗng dưng bị tàn sát.

Lại nói công cắt xén quân lương, nịnh nọt thượng cấp, hiện cất ở nhà Mỗ, có thể làm bằng chứng.

Xét sớ hỏi lý, cùng tới nhà người nha dịch kia, tìm kiếm không ra tiền bạc.

Ông già nhịp chân xuống đất, công sai hiểu ý, đào xuống quả nhiên lấy được vàng.

Trên vàng bạc đều có khắc tên quận giải về.

Sau đó tìm ông già, thì đã đi mất.

Bắt láng giềng để tìm người ấy, cũng không có ai.

Công vì thế mắc nạn.

Ông già tức là con hồ trốn thoát vậy.

*[Tiền dần duyên: dần duyên cũng như dần nghị, chỉ việc quan lại giao du với nhau.

Tiền dần duyên tức tiền quan lại tặng biếu để làm quen, đây chỉ tiền hối lộ].
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Ngô Lệnh


HUYỆN LỆNH NGÔ HUYỆN

Ông Mỗ làm Huyện lệnh Ngô huyện, quên mất tên họ, cứng rắn có tiếng.

Tục đất Ngô rất trọng thần Thành hoàng, dùng gỗ tạc tượng, may gấm làm áo, dáng vẻ như người sống.

Gặp ngày cúng thần thì dân cư góp tiền mở hội, xe kiệu chật đường.

Cờ phướn la liệt, trống kèn đàn sáo vừa trỗi vừa đi, ồn ào ầm ĩ, chen chúc trên đường.

Thói quen đã thành lệ, không năm nào dám bỏ phế.

Ông tới đó, gặp lúc họ đang đi, bèn ngăn lại hỏi, dân ở đó kể lại chuyện.

Lại nói tiền bạc đóng góp rất nhiều, ông tức giận, chỉ vào thần trách mấy câu:

- Thành hoàng là chủ một huyện, nếu ngu xuẩn ương bướng không thiêng thì là ma. quỷ tối tăm ngu muội, không đáng để thờ phụng.

Còn nếu linh thiêng thì phải biết tiếc của cải, sao lại được tốn phí vô ích, làm hao tổn máu mỡ của dân.

Nói xong kéo tượng thần xuống đất, đánh hai mươi roi.

Từ đó tập tục lập tức thay đổi.

Ông trong sạch ngay thẳng không riêng tư, chỉ là trẻ tuổi thích đùa giỡn.

Ở đó hơn một năm, ngẫu nhiên bắc thang trong giải vũ trèo lên bắt chim sẻ, hụt chân rơi xương gãy đùi, kế chết.

Người ta nghe thấy trong đền Thành hoàng có giọng ông tức giận lớn tiếng, giống như tranh cãi với thần, mấy ngày không ngớt.

Mọi người không quên ơn ông, kéo nhau tới tụ họp, khẩn cầu xin thôi, sẽ xây một miếu riêng, giọng ông liền tắt.

Miếu mới cũng gọi là miếu Thành hoàng, xuân thu cúng tế, còn linh thiêng hơn miếu cũ Ngô huyện đến nay vẫn có hai Thành hoàng.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Đố Dịch


NHA DỊCH SÂU MỌT

Tiến sĩ Lý Khuông Cửu người Trâu Bình làm quan rất liêm khiết công minh.

Từng có người nhà giàu bị người ta vu cáo, nha dịch dọa nói:

- Quan đòi hai trăm lượng vàng, mau thu xếp cho xong, không thì có tai họa đấy.

Người nhà giàu sợ hãi vâng dạ, thu xếp được một nửa, nha dịch không chịu, người nhà giàu hết sức nài nỉ.

Nha dịch nói:

- Không phải ta không ra sức, nhưng sợ quan không chịu.

Đợi lúc xét xử, ngươi cứ nhìn ta, ta sẽ bẩm lại số này, quan ưng thuận hay không thì cũng có thể biết ta không có ý gì khác.

Giây lát ông xét vụ ấy.

Tên nha dịch biết ông không hút thuốc, bèn tới gần hỏi hút thuốc không, ông chỉ lắc đầu.

Tên nha dịch bước xuống, nói khẽ:

- Vừa rồi nói ra con số, quan lắc đầu không chịu, ngươi thấy rõ chứ?

Người nhà giàu tin thật, càng hoảng sợ, bèn ưng thuận con số lúc đầu.

Tên nha dịch biết ông nghiện trà, bèn tới gần hỏi uống trà không, ông gật đầu.

Tên nha dịch lấy cớ đi pha trà, lại bước xuống nói khẽ:

- Quan ưng thuận rồi, đã gật đầu, ngươi thấy rõ chứ?

Kế vụ ấy xét xong, người nhà giàu quả nhiên được tha.

Tên nha dịch lập tức thu tiền, lại đòi thêm tiền tạ ơn.

Than ôi, tên nha dịch ấy cũng gian trá thật.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Tạo Lệ


NHA DỊCH

Trong niên hiệu Vạn Lịch, Huyện lệnh Lịch Thành mơ thấy thần Thành hoàng đòi người hầu hạ, lập tức ghi tên tám người nha dịch vào sớ điệp đốt trong miếu.

Đến đêm, tám người đều chết.

Đầu tiên một người nghe bảy người kia đã chết, trong lòng sợ hãi, cắn ngón tay mà chết.

Phía đông miếu có quán rượu, chủ quán vốn quen biết cả tám người.

Đêm ấy có một người tới mua rượu, bèn hỏi mời khách nào.

Đáp:

- Bạn đồng liêu rất đông nên mua một vò, chỉ thiếu họ Tự mà thôi.

Đến sáng, gặp người nha dịch khác, mới biết người ấy đã chết.

Tới miếu mở cửa vào thì vò rượu còn đó, rượu bên trong vẫn còn đầy, nhưng mùi vị giống hệt nước lã.

Quay về nhìn lại tiền thì đều là tro giấy.

Quan huyện bèn đắp tám pho tượng đặt trong miếu, riêng người cắn ngón tay thì pho tượng tươi tắn như người sống.

Con cháu tám nhà đều quanh năm cúng tế.

Các nha dịch trong huyện nhận chức, trước tiên đều ra đó tế lễ, nếu không ắt sẽ gặp chuyện bị trách phạt.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Trư Bà Long


Trư Bà Long sản ở Giang Tây, hình dáng như con rồng mà ngắn, có thể bay là đà, thường lên dọc bờ sông bắt ngỗng vịt để ăn.

Có người săn được, thì bán thịt cho hai nhà họ Trần họ Kha.

Hai họ ấy đều là hậu duệ của Trần Hữu Lượng, nhiều đời ăn thịt trư bà long, chú họ khác thì không dám ăn.

Có người khách từ Giang Tây tới, bắt được một con, buộc lại trong thuyền.

Một hôm ghé thuyền ở Tiền Đường, dây buộc hơi lỏng, nó chợt nhảy xuống sông, sóng nước nổi lên, thuyền buôn chìm hết.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Nguyên Bảo


BẠC NÉN

Lâm Giang ở Quảng Đông, vách núi dựng đứng, thường có bạc nén khảm vào vách đá.

Phía dưới dốc núi sóng lớn, thuyền bè không thể ghé vào.

Có người khua mái chèo cố tới gần để khều, thì dính cứng không lay động được.

Nếu số người ấy lấy được, thì khều một cái là rơi xuống ngay, quay lại thì đã qua kiếp khác rồi.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Vu Tử Du


Người trên bờ biển nói, một hôm trong biển chợt có hòn núi cao nhô lên, người ở đó đều hoảng sợ.

Có Tú tài đi nhờ thuyền đánh cá, mua rượu độc ẩm.

Đến đêm có một thiếu niên bước vào, mặc áo đội mũ nhà nho, tự xưng là Vu Tử Du, chuyện trò phong nhã, Tú tài rất thích, bèn cùng nhau uống rượu.

Đến nửa đêm rời tiệc cáo từ.

Tú tài nói

- Nhà ông ở đâu, đêm tối mờ mịt thế này, việc gì phải làm khổ mình.

Đáp:

- Ta không phải là người ở đây.

Vì sắp đến tiết Thanh minh, theo đại vương lên mộ.

Gia quyến đã đi trước, đại vương tạm nghỉ lại, giờ Thìn sáng mai sẽ lên đường nên phải trở về để lo việc buổi sáng.

Tú tài cũng không biết đại vương là ai.

Đưa ra tới đầu thuyền, người ấy nhảy xuống nước bơi đi, mới biết là yêu cá.

Hôm sau, giờ Thìn thấy đỉnh núi rung động, trong chớp mắt biến mất, mới biết hòn núi ấy là một con cá lớn, tức cái mà người kia gọi là đại vương.

Tục truyền tiết Thanh minh, cá lớn trong biển dắt con cái đi bái mộ, hay là chuyện có thật chăng?

Đầu niên hiệu Khang Hy, dưới biển nổi sóng, có con cá lớn gào thét mấy hôm, tiếng như trâu rống.

Kế chết, những người quảy sọt tới xẻ thịt, chen chúc trên đường.

Con cá to khoảng một mẫu, chỉ không có tròng mắt, hốc mắt sâu như cái giếng, bên trong đầy nước, người xẻ thịt vô ý rơi vào đó là lập tức chết đuối.

Có người nói cá lớn dưới biển bị biếm chức là bị khoét mắt, lấy mắt làm ngọc dạ quang.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Lý Tượng Tiên Đệ


EM TRAI LÝ TƯỢNG TIÊN

Lý Tượng Tiên ở Thọ Quang, học vấn uyên bác là kẻ sĩ cao khiết ở vùng Hải, Đại.

Biết kiếp trước là sư, sinh ra đã sợ bú, trên kia đã kể rõ.

Con trai sớm đỗ đạt, nhưng mình chỉ lấy văn học mà sống đến trọn đời.

Đó là cái mà Phật gia vẫn nói là phúc nghiệp chưa tu chăng?

Người em cũng sớm nổi tiếng, nhưng sinh ra có tật kín, mấy tháng mới động đậy.

Lúc động thì bật dậy, không kể gì tới tân khách, từ ngoài la lối bước vào, lúc ấy tỳ nử bà vú đều tránh mặt.

Tới cửa lại khựng lại, không vào phòng mà quay ra.

Anh em đều là người kỳ lạ vậy.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Núi Vũ Di


Núi Vũ Di có vách đá dựng đứng cao ngàn nhận, người ta thường nhặt được trầm hương vàng ngọc chất đống bên dưới.

Thái thú nghe chuyện, sai vài trăm người làm thang lên đỉnh để xem chuyện lạ, ba năm mới làm xong.

Thái thú lên thang, sắp tới đỉnh thì thấy một bàn chân buông xuống, ngón cái to bằng cái chày giặt áo, lớn tiếng gọi:

- Đừng xuống, sắp rơi rồi!

Cả kinh vội trèo xuống.

Vừa tới đất thì giá gỗ khô mục sụp xuống tan nát không còn gì.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Huyền Âm Trì


AO HUYỀN ÂM

Thạch Hiến người Thái Nguyên, làm nghề buôn bán, thường đi buôn ở phía bắc đất Đại, đưa hàng từ chỗ có tới chỗ không.

Một năm vào tháng năm, đang lúc bắt đầu nóng bức, Hiến trên đường từ cửa Nhạn Môn trở về, khát nước muốn uống, nhưng tìm khắp nơi không thấy suối, nhân ngồi nghỉ dưới gốc cây lớn.

Chợt thấy một nhà sư, mắt lồi áo vá, diện mạo rất kỳ lạ, thoăn thoắt đi tới nói:

- Ta ở phía nam núi Ngữ Đài, có rừng sâu nước đọng, cách xa trần tục, thật là nơi quần tăng tránh nắng.

Đàn việt có chịu theo ta tới đó chơi không?

Nếu không đi được, ta thấy đàn việt sẽ vì bệnh nhiệt mà chết, há chẳng hối hận sao?

Hiến vì trời đang nóng bức, mà nhà sư lại lấy lời họa phúc khơi gợi nên động tâm, nhân xin với sư:

- Xin cùng đi với sư!

Lúc ấy nhà sư dẫn Hiến đi về phía tây, được vài dặm quả thấy rừng sâu nước đọng, quần tăng đang đùa giỡn dưới nước.

Hiến kinh ngạc hỏi, sư đáp:

- Đây là ao Huyền âm, bọn ta tắm dưới đó, cũng lấy nước ấm để hông áo.

Rồi đưa Hiến đi vòng quanh ao, Hiến chỉ lạ chỗ quần tăng dưới nước trạng mạo đều giống hệt nhau.

Kế đó trời tối, một nhà sư nói:

- Đàn việt hãy nghe bọn ta tụng kinh tiếng Phạn đây.

Lúc ấy Hiến đứng trên bờ ao, quần tăng đều dưới nước, đồng thạnh tụng niệm.

Qua khoảng một bữa cơm, một nhà sư nắm tay Hiến nói:

- Đàn việt cứ cùng tắm với bọn ta trong ao Huyền âm, cẩn thận thì không có chuyện gì đâu.

Hiến lập tức theo nhà sư lội xuống ao, chợt thấy toàn thân lạnh buốt, run lên bần bật, vì thế giật mình tỉnh dậy.

Thấy mình vẫn nằm dưới gốc cây, giày áo ướt đẫm, mà trong người càng lạnh.

Lúc ấy trời đã tối, vội tấp tểnh tới nơi có thôn xóm, gõ cửa xin nước, nhân ngủ nhờ ở đó.

Sáng hôm sau thấy bệnh đã giảm, nên lại lên đường.

Trên đường chợt nghe tiếng ếch kêu, rất giống tiếng quần tăng tụng kinh tiếng Phạn bèn đi tìm.

Đi vài dặm thấy một nơi rừng sâu nước đọng, có rất nhiều ếch.

Bèn tìm hỏi tiều phu, quả nhiên chỗ nước ấy tên là ao Huyền Âm, mới biết quần tăng đều là bầy ếch biến ra.

Hiến nói:

- Bầy ếch này có thể biến hình để mê hoặc người ta, chẳng phải rất kỳ quái sao?

Chợt đùng đùng nổi giận, giết sạch bầy ếch.
 
Liêu Trai Chí Dị ( Full )
Ngưu Độc


CON TRÂU

Đất Sở Trung có người nông dân ra chợ về, trên đường dừng lại nghỉ.

Có người thuật sĩ phía sau tới, cùng nhau nói chuyện phiếm, chợt nhìn người nông dân nói:

- Khí sắc của ông không tốt, trong vòng ba ngày se bị hao tài, gặp quan ngục.

Người nông dân nói:

- Ta đã nộp thuế đủ, bình sinh không hay tranh cãi, làm sao có chuyện quan ngục?

Người thuật sĩ nói:

- Ta cũng không biết, nhưng khí tượng như thế, không thể không cẩn thận.

Người nông dân rất không tin, chắp tay từ biệt rồi về.

Hôm sau chăn trâu ngoài đồng, có con ngựa trạm phóng qua, con trâu nhìn thấy, lầm tưởng là cọp, xông vào húc chết ngựa.

Người nông dân bị bắt lên quan, quan phạt qua loa, bắt bồi thường con ngựa.

Đại khái trâu gặp cọp ắt đấu, nên những người buôn trâu ngủ lại trên đường đều lấy trâu để tự vệ.

Thấy ngựa tới là xua trâu tránh đi, vì sợ húc lầm.
 
Back
Top Bottom