Cập nhật mới

Khác LỊCH SỬ TRUNG QUỐC 5000 NĂM

Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
QUÁCH TỬ NGHI MỘT MÌNH MỘT NGỰA ĐUỔI QUÂN HỒI HỘT


Dưới quyền Quách Tử Nghi có 1 đại tướng tên là Bộc Cố Hoài Ân, đã từng lập chiến công trong việc dẹp loạn An - Sử.

Hắn ta bất mãn vì không được triều Đường đãi ngộ thỏa đáng, liền nổi loạn.

Để có thêm lực lượng, Bộc Cố Hoài Ân phái người lôi kéo Hồi Hột và Thổ Phồn, nói dối họ là Quách Tử Nghi đã bị hoạn quan Ngư Triều Ân sát hại, kêu gọi họ cùng liên hợp chống lại triều Đường.

Năm 765, Bộc Cố Hoài Ân phái người dẫn mấy chục vạn quân Thổ Phồn, Hồi Hột tiến công Trường An.

Đi tới nửa đường, Bộc Cố Hoài Ân bị bệnh, chết đột ngột, đội quân Thổ Phồn và Hồi Hột tiếp tục tiến công.

Quân Đường chống cự không nổi, liên quân quân Thổ Phồn, Hồi Hột đánh tới Kinh Dương (nay là Kinh Dương, Thiểm Tây) ở phía bắc Trường An.

Đường Đại Tông và bá quan văn võ trong triều đều chấn động, hoạn quan Ngư Triều Ân khuyên Đại Tông rút khỏi Trường An 1 lần nữa, nhưng các đại thần đều phản đối việc đó, nên mới thôi.

Mọi người đều cho rằng muốn đánh lui được liên quân Thổ Phồn, Hồi Hột, chỉ trông mong vào Quách Tử Nghi.

Lúc đó, Quách Tử Nghi đang giữ ở Kinh Dương, trong tay có rất ít quân, ông hạ lệnh cho các tướng sĩ xây đắp thành vững chắc, tránh giao chiến với địch, đồng thời phái thám tử đi trinh sát tình hình quân địch.

Qua trinh sát, được biết 2 cánh quân Hồi Hột và Thổ Phồn tuy liên hiệp với nhau nhưng rất mất đoàn kết.

Họ vốn do Bộc Cố Hoài Ân chỉ huy, nhưng khi Bộc Cố Hoài Ân chết, không đạo quân nào chịu để bên kia chỉ huy mình, vì thế không thể nào thống nhất hành động được.

Biết tình hình đó, Quách Tử Nghi quyết tìm cách phân hóa địch.

Các tướng Hồi Hột trước kia đã cùng với Quách Tử Nghi đánh An Lộc Sơn, có quan hệ quen biết cũ Vì vậy, ông quyết định trước hết lôi họ về phía mình.

Tối hôm đó, Quách Tử Nghi phái bộ tướng Lý Quang Toản lặng lẽ tìm đến doanh trại Hồi Hột, gặp đô đốc Dược Cát La.

Lý Quang Toản nói với Dược Cát La: "Quách Lệnh Công phái tôi đến hỏi ngài xưa nay Hồi Hột vốn hữu hảo với triều Đường, nay tại sao ngài lại nghe lời bọn xấu, đem quân đến tiến công chúng tôi?".

Dược Cát La lấy làm lạ hỏi: "Quách Lệnh Công còn sống sao?

Chúng tôi nghe nói Ngài bị giết lâu rồi.

Ngươi chớ có đánh lừa!".

Lý Quang Toản nói cho Dược Cát La biết Quách Tử Nghi hiện đang ở Kinh Dương, nhưng Dược Cát La và các tướng Hồi Hột nhất định không chịu tin.

Họ đều nói: "Quách Tử Nghi còn sống xin mời tới đây để chúng tôi được thấy mặt".

Lý Quang Toản trở về, nói với Quách Tử Nghi về nỗi nghi ngờ của các tướng Hồi Hột.

Quách Tử Nghi nói: "Nếu như thế, thì để ta đi một chuyến, có thể khuyên Hồi Hột lui binh".

Các tướng đều thấy như thế là phải, nhưng chỉ ngại là để nguyên soái đi 1 mình tới trại giặc thì quá nguy hiểm.

Có người đề nghị cử 500 kỵ binh tinh nhuệ cùng đi với Quách Tử Nghi phòng khi Hồi Hột có giở trò gì, đã có người bảo vệ.

Quách Tử Nghi nói: "Không được!

Mang quân nhiều như thế, lại làm hỏng chuyện.

Chỉ cần một vài người đi theo ta là được".

Nói xong, hạ lệnh dắt chiến mã đến.

Quách Hy đứng chặn trước ngựa, nói: "Hiện nay cha là nguyên soái của nhà nước, sao có thể vào miệng cọp như vậy?".

Quách Tử Nghi nói: "Hiện nay, địch có nhiều quân, ta lại ít.

Nếu đánh nhau với chúng, chẳng những tính mạng hai cha con ta khó mà giữ được, mà đất nước ta cũng gặp tai họa.

Ta đi chuyến này, nếu đàm phán thành công, thì là cái sự mừng cho nhà nước. giả sử có mệnh hệ nào, thì còn có các ngươi đó!".

Nói xong, ông nhảy lên mình ngựa, cầm roi vụt vào tay Quách Hy đang giục ngựa, Quách Hy vừa rụt tay lại, ông liền phóng ngựa lao đi.

Quách Tử Nghi cùng mấy người tùy tùng ra khỏi thành, tiến thẳng tới trại quân Hồi Hột.

Tùy tòng vừa phi ngựa vừa la lớn: "Quách Lệnh Công đến đây!

Quách Lệnh Công đến đây!".

Quân Hồi Hột thấy mấy người phi ngựa từ xa tới lại loáng thoáng có tiếng la hét, liền vội báo cáo với Dược Cát La.

Dược Cát La và các tướng giật mình, vội vàng dàn trận và giương cung lắp tên, sẵn sàng nghinh chiến.

Quách Tử Nghi và tùy tùng đến trước trận, cởi bỏ giáp trụ, vứt giáo xuống đất rồi gò cương ngựa, đi thủng thẳng vào gần doanh trại Hồi Hột.

Dược Cát La và các tướng nhìn chằm chằm vào mấy người đang đi tới rồi cùng kêu lên: "Ô!

Đúng là Quách lệnh công rồi!".

Xong, tất cả nhảy xuống ngựa lạy chào.

Quách Tử nghi xuống ngựa, đi tới nắm chặt tay Dược Cát La, nói rất hòa nhã: "Người Hồi Hột đã lập nhiều công lớn với triều Đường.

Triều đình đối đãi với các ông cũng rất tốt.

Tại sao các ông lại giúp Bộc Cố Hoài Ân làm loạn.

Hôm nay tôi đến đây khuyên các ông nên dừng ngựa trước vực thẳm.

Tôi đến đây chỉ có một mình, sẵn sàng để các ông giết, nhưng tướng sĩ của tôi sẽ cùng các ông quyết chiến".

Dược Cát La nhận lỗi, nói: "Xin lệnh công chớ nói như vậy.

Chúng tôi bị Bộc Cố Hoài Ân đánh lừa, tưởng rằng hoàng đế và lệnh công đều đã chết, Trung nguyên không ai làm chủ nên mới theo hắn tới đây.

Nay biết được lệnh công còn sống, đâu dám giao chiến với ngài!".

Quách Tử Nghi nói: "Thổ Phồn và triều Đường có quan hệ thân thiết, thế mà nay họ cũng tới đây, cướp bóc tài sản của nhân dân, thực là việc làm quá đáng.

Chúng tôi quyết tâm đánh trả họ, nếu các ngài có thể giúp chúng tôi đánh Thổ Phồn, thì cũng rất tốt cho các ngài"

Dược Cát La thấy Quách Tử Nghi nói vậy, vội gật đầu lia lịa nói: "Chúng tôi nhất định sẽ đem sức ra phục vụ lệnh công, lấy công chuộc tội!".

Trong khi Dược Cát La và Quách Tử Nghi nói chuyện, tướng sĩ Hồi Hột xúm lại nghe, dần dần quây tròn lại, tùy tòng của Quách Tử Nghi thấy vậy, sợ xảy ra chuyện gì, cũng ép sát vào để bảo vệ ông.

Quách Tử Nghi xua tay, bảo họ lùi ra xa, rồi bảo Dược Cát La mang rượu tới.

Quách Tử Nghi cầm 1 cốc rượu tưới xuống đất, trịnh trọng thề: "Thiên tử Đại Đường muôn năm!

Khả hãn Hồi Hột muôn năm!

Tướng lĩnh hai quân đội muôn năm!

Từ nay, ai mà làm trái minh ước, sẽ chết trên chiến trường này!".

Dược Cát La cũng thề trước Quách Tử Nghi và tưới rượu xuống đất.

Hai bên đều định minh ước.

Tin tức về Quách Tử Nghi một mình một ngựa đến thăm trại Hồi Hột truyền tới quân doanh Thổ Phồn.

Tướng lĩnh Thổ Phồn sợ quân Đường và Hồi Hột liên hợp lại để đánh họ, nên ngay trong đêm dẫn đại quân rút chạy.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NHAN CHÂN KHANH KIÊN CƯỜNG BẤT KHUẤT


Qua biến loạn An - Sử, triều Đường từ chỗ cường thịnh trượt dài xuống suy yếu.

Tiết độ sức các nơi thừa cơ chuyên quyền, mở rộng binh lực tạo nên tình hình phiên trấn cát cứ, ảnh hưởng của triều đình bị thu hẹp.

Sau khi Đường Đại Tông chết, con là Lý Quát lên ngôi, đó là Đường Đức Tông.

Đường Đức Tông muốn thay đổi chế độ phiên trấn, kết quả dẫn tới việc nổi loạn của các phiên trấn.

Đường Đức Tông phái binh thảo phạt, không những không dẹp được, mà còn làm cho phản loạn lan rộng thêm.

Năm 782, 5 phiên trấn cuối cùng nổi loạn, trong đó lực lượng của tiết độ sứ Hoài Tây là Lý Hy Liệt hùng mạnh nhất, hắn tự xưng là thiên hạ đô nguyên soái, đem binh tấn công triều Đường.

5 trấn cuối cùng nổi loạn, khiến triều đình rung động, Đường Đức Tông tìm tể tướng Lư Kỷ tới bàn.

Lư Kỷ nói: "Không sao!

Chỉ cần cử một người có đạo đức cao, uy tín lớn đến khuyên bảo họ thì không cần dùng tới đao thương, cũng có thể dẹp yên phản loạn".

Đức Tông hỏi: "Khanh xem có thể cử ai đi?".

Lư Kỷ tiến cử Nhan Chân Khanh, 1 lão thần đang làm thái sư cho thái tử.

Đức Tông đồng ý ngay.

Nhan Chân Khanh là 1 lão thần rất có danh vọng lúc đó.

Trước loạn An - Sử, ông làm thái thú Bình Nguyên.

Sau khi An Lộc Sơn nổi loạn, đại đa số các quận Hà Bắc đều bị quân phiến loạn chiếm, chỉ có thành Bình Nguyên được Nhan Chân Khanh kiên quyết chỉ huy chống giữ, nên không lọt vào tay giặc.

Sau đó, người anh em họ của ông là Nhan Quả Khanh khởi binh ở Cao Thành, được 17 quận ở Hà Bắc hưởng ứng.

Mọi người tiến cử Nhan Chân Khanh làm minh chủ.

Ông đã lập công lớn trong việc dẹp loạn An - Sử.

Thời Đường Đại Tông, ông được phong là Lỗ Quận Công.

Vì vậy, mọi người gọi ông là Nhan Lỗ Cung.

Nhan Chân Khanh còn là nhà thư pháp nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.

Chữ viết của ông khỏe khoắn, mạnh mẽ, biểu hiện tính cách kiên cường của ông.

Người đời gọi lối chữ của ông là "Nhan thể".

Nhan Chân Khanh có nhân cách chính trực, thường bị bọn gian nịnh vu cáo, phỉ báng nhưng vì có uy tín cao, nên những kẻ đó vẫn phải tỏ ra tôn kính ngoài mặt.

Tể tướng Lư kỷ là kẻ gian ngoan hiểm độc.

Hắn vốn căm ghét Nhan Chân Khanh nhưng chưa tìm được cách hạ thủ.

Lần này nhân có cuộc phản loạn của phiên trấn, hắn tiến cử Nhan Chân Khanh đi thuyết phục, chính là để hãm hại ông.

Lúc đó, Nhan Chân Khanh đã là 1 cụ già ngoài 70 tuổi.

Rất nhiều quan văn võ trong triều thấy triều đình cử ông đi tới chỗ quân phiến loạn, đều lo lắng cho sự an toàn của ông.

Nhưng Nhan Chân Khanh vẫn điềm nhiên, mang theo mấy người tùy tùng đến Hoài Tây.

Lý Hy Liệt thấy Nhan Chân Khanh tới, muốn cho ông 1 đòn phủ đầu.

Khi gặp mặt, hắn cho gọi các bộ tướng và con nuôi, tất cả tới hơn 1000 người tới tiền sảnh.

Nhan Chân Khanh vừa cất lời khuyên Lý Hy Liệt đình chỉ phản loạn thì bọn bộ tướng và con nuôi xông tới, tên nào cũng cầm dao sáng loáng, vừa chửi rủa, vừa uy hiếp, làm ra vẻ muốn giết ông ngay.

Nhan Chân Khanh không hề sợ hãi, mặt không biến sắc, chỉ cười nhạt nhìn chúng.

Lý Hy Liệt vờ vịt xông tới che cho Nhan Chân Khanh, đuổi các bộ tướng và con nuôi ra, sau đó hắn đưa Nhan Chân Khanh tới dịch quán, hòng bắt ông khuất phục dần dần.

Mấy ngày sau, 4 tên cầm đầu các phiên trấn nổi loạn khác cùng lúc cử người tới, liên lạc với Lý Hy Liệt, khuyên Lý Hy Liệt lên ngôi hoàng đế.

Lý Hy Liệt mở tiệc lớn chiêu đãi chúng, mời Nhan Chân Khanh tham gia.

Các sứ giả thấy Nhan Chân Khanh tới, liền chúc mừng Lý Hy Liệt: "Từ lâu đã nghe danh Nhan thái sư đức cao trọng vọng.

Nay nhân dịp nguyên soái sắp lên ngôi hoàng đế, Nhan thái sư đến đây, chẳng phải là có ngay một tể tướng hay sao?".

Nhan Chân Khanh trợn mắt, mắng 4 tên sứ giả: "Tể tướng cái gì!

Ta năm nay đã sắp tám mươi tuổi, không sợ gì các ngươi chặt đầu mổ bụng; lẽ nào lại để các ngươi dụ dỗ, uy hiếp!".

Bốn tên sứ giả tiu nghỉu, không nói năng gì được nữa.

Lý Hy Liệt không có biện pháp gì, đành đem giam ông lại, cử 1 số lính ở bên ngoài giám sát.

Bọn lính đào 1 hố có kích thước 1 trượng (=3,33m) ở ngoài sân, và nói là sẽ chôn sống ông ở đó.

Hôm sau, Lý Hy Liệt đến thăm ông.

Ông nói: "Việc sống chết của ta đã định rồi.

Còn giở những trò dọa dẫm ra làm gì?

Ngươi cứ chém ta một đao, có phải là thỏa thích hơn không!".

Một năm sau, Lý Hy Liệt tự xưng là Sở Đế, lại sai bộ tướng đến buộc Nhan Chân Khanh đầu hàng.

Bọn chúng đốt 1 đống củi lớn, tưới đẫm dầu, dọa Nhan Chân Khanh: "Nếu không đầu hàng, sẽ ném vào đống lửa này!".

Nhan Chân Khanh không nói 1 lời, xông lên, nhảy thẳng vào đám lửa.

Bọn tướng phản loạn vội vã ngăn ông lại, rồi báo cáo với Lý Hy Liệt.

Mặc dù đã sử dụng mọi biện pháp, nhưng Lý Hy Liệt không sao buộc được Nhan Chân Khanh khuất phục.

Cuối cùng, chúng đã buộc ông tự sát.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
HỒN CHÂM VÀ LÝ THẠNH


Sau khi Lý Hy Liệt phát động cuộc phản loạn, liền xử quân vây đánh Tương Thành (nay là Tương Thành, Hà Nam) Tương Thành lâm vào tình thế nguy cấp, Lạc Dương cũng bị đe dọa.

Năm 783, Đường Đức Tông điều binh mã từ Kinh Nguyên (trị sở nay ở phía bắc huyện Kinh Xuyên, Cam Túc) về tăng viện cho Tương Thành.

Tiết độ sứ Kinh Nguyên là Diêu Lệnh Nguyên nhận được lệnh, liền đem 5000 người ngựa về Trường An.

Quân lính ở Kinh Nguyên nghe nói triều đình hạ lệnh điều động, tưởng rằng nhất định sẽ có khao thưởng.

Tới Trường An, lại gặp trận mưa lớn, quân lính đều ướt đẫm, lạnh run người.

Tới hôm sau, quan chức triều đình mới tiếp tế cơm nước.

Binh lính nhìn thấy chỉ là cơm gạo thô và thức ăn nguội lạnh, nên đều thất vọng, nổi giận đá đổ giỏ thức ăn, hầm hầm nói: "Chúng ta không nề nguy hiểm tới tính mạng, mang thân ra chống địch, thế mà nay, đến cơm cũng không đủ no, hỏi còn đánh chác nỗi gì?".

Một tên lính đứng lên nói: "Bọn làm quan không đem tới cho ta, thì tự chúng ta sẽ đi lấy.

Trường An đầy rẫy tiền bạc lụa là.

Nghe nói hai bên hoàng cung có nhiều kho lớn, tiền bạc lụa là chật ních.

Chúng ta hãy đến đó mà lấy!".

Bị kích động, binh lính càng nổi giận, không đếm xỉa gì đến sự ngăn cản của các tướng, ào ào kéo nhau xông vào thành.

Có người phi báo cho Đường Đức Tông, Đường Đức Tông hoảng hốt, vội sai hoạn quan chở 20 xe tiền, lụa ra úy lạo.

Quân lính đang bừng bừng phẫn nộ, không thèm lấy, mà giết luôn hoạn quan rồi xông thẳng vào hoàng cung.

Thấy loạn binh sắp tới hoàng cung, Đức Tông liền gọi quân cấm vệ, nhưng quân cấm vệ quen sung sướng lâu ngày, trở nên bạc nhược và lười biếng, thấy quân Kinh Nguyên hung hãn, sợ hãi không dám thò mặt ra.

Đức Tông không có cách gì, đành cuống cuồng dẫn các phi tần, vương tử và công chúa chạy qua vườn hoa sau hoàng cung rồi theo cửa sau chạy lên Phụng Thiên (nay là huyện của Thiểm Tây) lánh nạn.

Quân lính tiến vào cung, nghe nói hoàng đế đã bỏ chạy, liền phá tan cửa kho, kẻ thì lấy tiền, kẻ thì khuân vải lụa, ồn ào hỗn loạn suốt 1 đêm.

Cuối cùng, chúng tìm tiết độ sứ Diêu Lệnh Nguyên, yêu cầu ông ta hướng dẫn hành động tiếp theo.

Diêu Lệnh Nguyên nói chi bằng mời thái úy Chu Thử để ông ta cầm đầu.

Chu Thử vốn trước kia cũng là tiết độ sứ Kinh Nguyên, vì có em là Chu Thao chống lại triều Đường nên bị tước binh quyền, gọi về Trường An, giữ hư vị là thái sư.

Chu Thử vốn có nhiều dã tâm, nay được tướng sĩ Kinh Nguyên tôn làm thủ lĩnh, sao lại chẳng đồng ý?

Sau khi Chu Thử nắm binh quyền ở Trường An, 1 số quan lại bất mãn và tướng lĩnh các phiên trấn đều ủng hộ ông.

Chu Thử có lực lượng, liền lập nên ở Trường An 1 triều đình mới, tự xưng là Đại Tần hoàng đế và thân dẫn quân đi đánh Phụng Thiên.

Đường Đức Tông chạy đến Phụng Thiên vừa kịp thở, thì quân của Chu Thử đã đánh tới, may nhờ lúc đó, Hồn Châm là tướng chỉ huy quân cấm vệ cũng tới.

Hồn Châm nguyên là đại tướng dưới quyền Quách Tử Nghi, có uy tín rất cao.

Ông ta đứng ra chỉ huy lực lượng chống giữ nên nhân tâm mới dần ổn định.

Chu Thử đôn đốc quân lính tiến đánh Phụng Thiên rất dữ dội.

Hồn Châm dẫn đầu tướng sĩ tiến hành quyết chiến suốt ngày đêm, nên suốt 1 tháng ròng, Chu Thử vẫn không hạ được thành.

Chu Thử nôn nóng, cho người chế tạo thang mây rất dài để binh lính trèo lên đánh thành.

Hồn Châm cho đào đường ngầm dưới chân thành, trong chứa đầy củi khô và chuẩn bị sẵn đuốc nhựa thông để trên mặt thành.

Quân phiến loạn đua nhau trèo lên thang mây và bắn tên như mưa vào trong thành.

Tình thế nguy ngập, tưởng chừng chúng sắp xông được qua tường thành; bỗng các thang mây lần lượt bị sụt xuống do quá nặng, củi dưới đường hầm liền bốc cháy, quân Đường trên thành phối hợp ném đuốc tới tấp vào thang mây.

Lửa từ trên xuống, từ dưới lên đùng đùng đốt cháy thang mây, khiến quân phiến loạn co quắp, rụng xuống như sung.

Hồn Châm dẫn quân mở cửa thành xông ra chém giết, đánh cho quân Chu Thử đại bại.

Lúc đó, lại có 2 cánh viện quân từ nơi khác kéo tới, 1 cánh do tiết độ sứ Sóc Phương là Lý Hoài Quang chỉ huy; 1 cánh do Lý Thạnh, đại tướng của đội quân Thần Sách chỉ huy.

Chu Thử thấy tình thế bất lợi, vội rút vòng vây quanh Phụng Thiên, lui về giữ Trường An.

Đường Đức Tông hạ lệnh cho Lý Hoài Quang và Lý Thạnh thừa thắng tiến công để chiếm lại Trường An.

Nào ngờ mới tới Hàm Dương thì Lý Hoài Quang đã ngầm câu kết với Chu Thử, cùng chống lại triều Đường.

Lý Thạnh tới bên ngoài thành Trường An thì lâm vào cảnh: trong có quân Chu Thử, sau lưng có quân Lý Hoài Quang; lương thảo hết, cứu binh không có; tình thế cực kì nguy hiểm.

Lý Thạnh là người trí dũng song toàn.

Với dũng khí và quyết tâm của mình, ông đã khích lệ tướng sĩ, giữ cho quân đội không hề nao núng.

Một số cánh quân lẻ tẻ gần Trường An đều tình nguyện chịu sự chỉ huy của Lý Thạnh.

Lý Hoài Quang hạ lệnh cho 1 số tướng dưới quyền tập kích vào quân Lý Thạnh, nhưng họ không nghe.

Lý Hoài Quang hoảng sợ, liền bỏ chạy đi Hà Trung.

Lý Hoài Quang rút, Chu Thử trở nên cô lập trong thành Trường An.

Hồn Châm từ Phụng Thiên cũng phối hợp với Lý Thạnh, đem quân tiến sát Trường An.

Thanh thế quân Đường lớn mạnh, khiến Chu Thử sợ hãi, chỉ co lại trong thành, không dám đem quân ra chống lại.

Lý Thạnh họp bàn với các tướng về kế hoạch đánh thành.

Các tướng nói: "Tất nhiên trước hết phải chiếm hết các phố phường khu dân cư, sau đó mới đánh vào hoàng cung".

Lý Thạnh nói: "Phố xá nhỏ hẹp.

Nếu chúng ta chiến đấu với địch ở đó thì sẽ gây tổn hại tới nhân dân.

Nghe nói quân chủ lực tập trung ở vườn ngự uyển phía sau hoàng cung, chi bằng chúng ta phá tường thành phía bắc, tập trung binh lực tiến công địch trong vườn ngự uyển, như vậy cung thất không bị phá hoại, dân chúng cũng không bị sợ hãi".

Mọi người đều khâm phục sự tính toán chu đáo của Lý Thạnh.

Lý Thạnh bắt đầu vạch kế hoạch: trước hết tiêu diệt hết quân địch ngoài thành, sau đó phá tường thành phía bắc cho kỵ binh, bộ binh ào ạt đánh vào ngự uyển Chu Thử không chống nổi, phải tháo chạy khỏi Trường An.

Số quân lính không chạy kịp, đều nộp khí giới đầu hàng.

Lý Thạnh tiến vào Trường An, hạ lệnh cho toàn thể tướng sĩ: "Nhân dân Trường An đã chịu khổ nhiều vì quân phiến loạn nên tuyệt đối không được quấy nhiễu họ".

Quân Đường tiến vào, đều tuân lệnh, giữ nguyên kỷ luật, không xâm phạm mảy may.

Năm 784, Chu Thử bị giết, Đường Đức Tông trở về Trường An.

Một năm sau, Hồn Châm tiến công Hà Trung, tiêu diệt Lý Hoài Quang.

Đến lượt kẻ tự xưng là Sở Đế Lý Hy Liệt qua 1 số trận thất bại, cũng bị bộ tướng giết chết.

Lý Thạnh, Hồn Châm đã lập được công lớn trong việc bảo vệ sự thống nhất của triều Đường.

Quí tộc Thổ Phồn sợ họ nắm binh quyền thì sẽ bất lợi cho họ, liền dùng kế ly gián.

Đường Đức Tông vốn hay nghi kỵ công thần, lại trúng kế quí tộc của Thổ Phồn, nên đã tước binh quyền của Lý Thạnh và giao cho hoạn quan chỉ huy quân Thần Sách.

Từ đó, nạn phiên trấn cát cứ còn chưa giải quyết được, thì quyền lực của hoạn quan lại tăng lên, tạo nên mối đe dọa mới đối với quyền lực của hoàng đế.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NGƯỜI ĐÁNH CỜ GIỎI TRONG ĐÔNG CUNG


Đường Đức Tông tin dùng bọn hoạn quan.

Bọn này tham lam vô độ, nghĩ ra đủ mọi cách để bóp nặn nhân dân, vơ vét thật nhiều của cải.

Chúng lập ra 1 "cung thị" (chợ trong cung vua), cho 1 số thái giám ra ngoài phố mua mọi đồ dùng cần thiết cho sinh hoạt của thái giám và cung phi, về bán ở "cung thị".

Chúng thấy có loại hàng hóa nào cần, đều giành lấy mua, chỉ trả giá bằng một phần mười giá chợ.

Sau thấy thế còn phiền phức, chúng dựng lên các chòi quan sát gọi là "bạch vọng", thấy chỗ nào có hàng hóa ưng ý là đến cướp không.

Một số hoạn quan khác còn lập ra "ngũ phòng" là 5 nơi chăn nuôi diều hâu, chim cu, chim ưng, hươu, chó dành cho hoàng đế giải trí.

Bọn này dựa vào công việc đó, lùng sục hạch sách dân chúng bằng đủ thủ đoạn xấu xa.

Muốn xoay tiền nhà ai, chúng mang lưới bắt chim tới chắn trước cửa nhà hoặc trên miệng giếng.

Ai đi ra khỏi cửa hoặc tới giếng lấy nước, chạm phải lưới, liền bị chúng lu loa lên là đã đuổi mất chim của hoàng đế, túm đến đánh đập cho tới khi phải bỏ tiền ra mới thôi.

Bọn làm việc ở "ngũ phòng" thường đến tửu quán ăn uống no say rồi vác bụng chuồn thẳng.

Chủ quán nào đòi tiền là bị chửi mắng hoặc đánh đập.

Một lần, bọn này đến uống rượu ở 1 tửu quán, nhưng không trả tiền mà gửi lại 1 túi vải đựng đầy rắn, và nói với chủ quán: "Các quan không mang theo tiền, nên gửi cái này lại làm tin.

Mấy hôm nữa sẽ mang tiền tới chuộc.

Nhưng trong túi là những con rắn trong cung chuyên dùng để bắt chim sẻ.

Ông phải nuôi chúng cho cẩn thận, nếu để con nào bị chết đói thì mất đầu đấy!".

Chủ quán hoảng hồn, cố van xin chúng mang túi rắn đi, còn tiền rượu, đương nhiên là không dám mở mồm ra đòi nữa.

Bọn hoạn quan ở "cung thị" và "ngũ phòng" hoành hành ngang ngược như vậy, khiến nhân dân Trường An căm giận thấu xương.

Nhưng mọi quyền hành trong triều đang nằm trong tay hoạn quan, mọi nỗi oan uổng biết kêu với ai?

Lúc đó, ở Đông cung của thái tử Lý Tụng, có 2 viên quan giúp thái tử đọc sách.

Một người là Vương Thúc Văn, 1 kỳ thủ cao cường; người kia là Vương Phi, người viết chữ rất đẹp.

Ngoài việc đọc sách, thái tử Lý Tụng rất thích đánh cờ và viết chữ.

Vương Thúc Văn và Vương Phi vì vậy thường ở trong Đông cung cùng thái tử.

Vương Thúc Văn xuất thân từ 1 chức quan thấp, ít nhiều hiểu được nỗi khổ của nhân dân.

Ông thường lợi dụng lúc cùng thái tử đánh cờ, nói cho thái tử biết tình hình bên ngoài.

Thái tử nghe nó bọn hoạn quan mượn cớ mua hàng cho "cung thị" để ức hiếp nhân dân thì rất bực bội.

Một lần, mấy viên quan thị đã cùng bàn luận việc đó trong cung thái tử.

Thái tử phẫn nộ nói: "Khi gặp phụ hoàng, nhất định ta sẽ nói chuyện đó!".

Mọi người nghe nói, đều tán dương là thái tử hiền minh, chỉ có Vương Thúc Vă ngồi bên cạnh không nói 1 lời nào.

Đợi khi các viên quan khác đã ra về, thái tử hỏi Vương Thúc Văn: "Hàng ngày tiên sinh vẫn nói tới cái tệ của cung thị, mà vừa rồi khi mọi người đàm luận, sao tiên sinh không nói gì cả?".

Vương Thúc Văn nói: "Tôi thấy trước mắt điện hạ không nên bận tâm về những việc đó.

Nếu có kẻ xấu nào đó thêu dệt chuyện thị phi trước hoàng thượng, nói điện hạ đang thu phục lòng người.

Hoàng thượng sẽ sinh nghi.

Dù điện hạ có phân trần, cũng khó mà cải chính được!".

Thái tử chợt tỉnh ngộ nói: "Nếu không có tiên sinh nhắc nhở, thì tôi không nghĩ được tới điều đó".

Từ đó về sau, thái tử càng tín nhiệm Vương Thúc Văn hơn.

Vương Thúc Văn thấy Đường Túc Tông đã già, sớm muộn thái tử sẽ lên nối ngôi nên đã ngầm chọn các quan chức có tài trong triều đình và kết giao với họ.

Ông nói riêng với thái tử: người này sau này có thể làm tể tướng, người kia có thể làm tướng quân...Không ngờ 1 năm sau, thái tử lại bị trúng phong, lưỡi cứng lại, không nói năng gì được.

Đường Túc Tông đã già yếu, vì việc đó mà sinh bệnh rồi mất.

Năm 805, thái tử Lý Tụng mang bệnh lên ngôi.

Đó là Đường Thuận Tông.

Đường Thuận Tông không nói được, đành nhờ Vương Thúc Văn và Vương Phi giúp giải quyết việc triều chính.

Vương Thúc Văn biết mình chưa đủ uy tín, không thể công khai nắm đại quyền, liền tìm 1 viên quan lâu năm là Vĩ Chấp Nghị đứng ra làm tể tướng, còn bản thân là hàn lâm học sĩ, giúp Thuận Tông viết chiếu thư.

Vương Thúc Văn, Vương Phi phối hợp với Vĩ Chấp Nghị, đồng thời sử dụng 1 số người có tài như Lưu Vũ Tích, Liễu Tông Nguyên nên công việc triều chính vẫn trôi chảy.

Sau khi Vương Thúc Văn nắm quyền, công việc đầu tiên là chỉnh đốn việc hoạn quan ức hiếp nhân dân.

Ông thảo cho Thuận Tông 1 chiếu thư, bãi bỏ 1 số thuế má, quyên góp phiền hà, thủ tiêu "cung thị" và "ngũ phòng".

Biện pháp này được thực hiện, trăm họ Trường An đều vỗ tay reo mừng.

Riêng bọn hoạn quan thì căm gan tím ruột.

Vương Thúc Văn còn nắm cả quyền tài chính vào tay mình.

Ông tiến hành cải cách chế độ thuế má.

Lịch sử gọi sự kiện này là "Vĩnh Trinh cách tân" (việc đổi mới thời Vĩnh Trinh - Vĩnh Trinh là niên hiệu của Thuận Tông: 805-806).

Việc Vương Thúc Văn mạnh dạn tiến hành cải cách đã động chạm tới quyền lực của bọn hoạn quan.

Tên đầu sở hoạn quan là Câu Văn Trân thấy quyền lực của Vương Thúc Văn quá lớn, liền lấy danh nghĩa Thuận Tông, giải trừ chức vụ hàn lâm học sĩ của ông.

Vương Thúc Văn biết rằng muốn đấu tranh được với hoạn quan thì phải giành lại binh quyền từ tay chúng, liền vận động cử lão tướng Phạm Hy Triều đi tiếp quản quyền chỉ huy Thần Sách quân đang co 1 hoạn quan nắm.

Nhưng vì các tướng lĩnh trong Thần Sách quân đều là thân tín của bọn hoạn quan.

Khi Phạm Hy Triều đến nhận chức, không tên nào chịu hợp tác với ông, nên ông phải tay không trở về.

Không đầy 1 tháng sau, Câu Văn Trân câu kết với 1 số lão thần phụ họa với hắn tuyên bố Thuận Tông có bệnh nặng không thể chấp chính, cử thái tử Lý Thuần lên làm Giám quốc.

Một tháng sau, thái tử chính thức lên ngôi.

Đó là Đường HIến Tông.

Thuận Tông vừa mất ngôi, bọn hoạn quan do Câu Văn Trân đứng đầu lại lập tức cách chức Vương Thúc Văn và Vương Phi, điều họ đi làm quan ở nơi xa.

Năm sau, chúng lại giết Vương Thúc Văn.

Cuộc cách tân thời Vĩnh Trinh tiến hành chưa được 1 năm đã hoàn toàn thất bại.

Những người ủng hộ cuộc cải cách của Vương Thúc Văn đều bị liên lụy và bức hại.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LƯU VŨ TÍCH THĂM HUYỀN ĐÔ QUÁN


Khi Vương Thúc Văn thực hiện cải cách, không chỉ 1 số hoạn quan phản đối, mà 1 số không nhỏ đại thần thấy Vương Thúc Văn từ địa vị thấp lại dựa vào thế Thuận Tông, làm việc quá độc đoán, cũng tỏ ra bất mãn.

Khi Đường Hiến Tông lên ngôi, mọi người xúm vào công kích Vương Thế Văn.

8 quan chức từng ủng hộ việc cải cách của Vương Thúc Văn, đều bị gọi là đồng đảng của ông.

Vì vậy, Đường Hiến Tông hạ chiếu thư, nhất loạt giáng chức 8 người đó, thuyên chuyển họ đi nơi xa làm Tư mã.

Lịch sử gọi gộp Vương Thúc Văn, Vương Phi và 8 người đó là "Nhị vương, bát tư mã".

Trong 9 vị đại thần bị giáng làm tư mã đó, có 2 nhà văn nổi tiếng là Liễu Tông Nguyên và Lưu Vũ Tích.

Liễu Tông Nguyên sở trường về tản văn, còn Lưu Vũ Tích sở trường về thơ.

Họ là đôi bạn rất thân với nhau.

Lần này, Liễu Tông Nguyên bị điều đi Vĩnh Châu (nay là Linh Lăng, Hồ Nam), Lưu Vũ Tích bị điều đi Lang CHâu (nay là Thường Đức, Hồ Nam).

Vĩnh Châu là Lang Châu đều ở miền nam Trung Quốc, cách Trường An rất xa.

Lúc đó 2 nơi này còn là vùng hoang vắng, lạc hậu; ở vào trường hợp này, những người khác hẳn sẽ buồn khổ, khó chịu đựng được.

Nhưng 2 ông đều là những người có bản lĩnh.

Họ tin rằng việc làm của mình là đứng đắn, dù có thất bại vẫn không nhụt chí.

Đến nơi nhận chức mới, ngoài giờ làm việc công, họ đều đi du lãm núi sông, sáng tác thơ văn.

Trong sáng tác của họ, thường thổ lộ hoài bão chính trị và phản ánh nỗi khổ của nhân dân.

Bài đoản văn kiệt tác "Lời kể của người bắt rắn" của Liễu Tông Nguyên chính là được viết trong thời gian ông làm tư mã ở Vĩnh Châu.

Lần biếm trích này của 2 ông kéo dài tới 10 năm.

Lâu dần, 1 số đại thần trong triều nhớ tới 2 ông, cảm thấy đẩy những người có tài như thế đi xa thì quá đáng tiếc.

Họ liền tâu xin Hiến Tông, điều 2 ông trở lại Trường An, làm quan lại triều đình.

Lưu Vũ Tích trở lại Trường An, thấy Trường An đã biến đổi khác xưa nhiều.

Một số quan chức hiện đang giữ trọng trách đều là những người mà ông không ưa và không thể hợp tác được, nên tâm tình rất bực dọc.

Trong kinh thành có 1 đạo quán (nơi thờ phụng của Đạo giáo) nổi tiếng, có tên là Huyền Đô quán, do 1 đạo sĩ trụ trì.

Trong đạo quán trồng rất nhiều cây đào.

Lúc đó, đang vào mùa xuân, hoa đào trong Huyền Đô quán đang nở rộ, hấp dẫn nhiều du khách tới thăm.

Một số bạn bè rủ Lưu Vũ Tích đến Huyền Đô quán ngắm hoa đào.

Lưu Vũ Tích thấy đến đó giải trí cũng tốt, liền nhận lời đi cùng bè bạn.

Qua 10 năm sống trong cảnh bị biếm trích ở phương xa, nay trở lại kinh thành, thấy những cây đào non ngạo nghễ phô sắc trong Huyền Đô quán, ông liên tưởng, viết 1 bài thơ ẩn dụ:

"Tử mạch hồng trần phất diện lai

Vô nhân bất đạo khán hoa hồi

Huyền Đô quán lý đào thiên thụ

Tận thi Lưu lang khứ hậu tài".

Dịch:

"Đường đông, bụi táp mặt người

Không ai không nói: đi chơi ngắm đào

Huyền Đô, đào mọc lắm sao!

Đều trồng sau lúc chàng Lưu xa rồi"

Thơ Lưu Vũ Tích vốn rất nổi tiếng.

Bài thơ mới sáng tác được người ta truyền nhau chép rất nhanh.

Một số đại thần, vốn là những kẻ hành tiến trong thời gian Lưu Vũ Tích bị biếm trích, đọc kỹ bài thơ, phát hiện thấy bài thơ tuy nói về hoa đào trong Huyền Đô quán, nhưng hàm ý châm biếm bọn quan chức mới thăng tiến.

Thế là Lưu Vũ Tích gặp nhiều phiền phức.

Đường Hiến Tông cũng bực bội về chuyện này.

Những người vốn có cảm tình với ông và muốn giữ ông lại Trường An cũng khó nói.

Lưu Vũ Tích lại bị điều đi làm thứ sử Phiên Châu (nay là Tuân Nghĩa, Quí Châu).

Chức thứ sử cao hơn chức tư mã, việc điều động vội vàng này có vẻ như thăng chức, nhưng Phiên Châu càng xa xôi và hoang vắng hơn Lang Châu.

Lúc bấy giờ, nơi đây dân cư rất thưa thớt.

Khi đó Lưu Vũ Tích còn có mẹ già hơn 80 tuổi, cần có người chăm sóc.

Vì đường xá xa xôi, hiểm trở nên cụ già như thế không thể theo Lưu Vũ Tích đến Phiên Châu.

Điều này làm ông lâm vào cảnh rất khó xử.

Đồng thời với Lưu Vũ Tích, Liễu Tông Nguyên cũng bị đánh bật khỏi Trường An, được điều đi làm thứ sử Liễu Châu.

Được biết Lưu Vũ Tích đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn, Liễu Tông Nguyên quyết tâm tìm cách giúp đỡ bạn.

Ông thức suốt đêm viết 1 sớ tấu, xin triều đình đổi cho Lưu Vũ Tích đi Liễu Châu, và bản thân xin tình nguyện đi Phiên Châu.

Tình cảm hết lòng vì bạn của Liễu Tông Nguyên khiến rất nhiều người xúc động.

Sau đó, đại thần Bùi Độ cũng trực tiếp cầu xin Đường Hiến Tông, nên Lưu Vũ Tích được đổi đi làm thứ sử Liễu Châu (nay là huyện Liên, Quảng Đông).

Về sau, Lưu Vũ Tích còn bị thuyên chuyển đi nhiều đia phương khác nữa.

14 năm sau, Bùi Độ lên làm tể tướng, mới điều Lưu Vũ Tích trở lại Trường An.

Khi Lưu Vũ Tích trở lại kinh thành, thời tiết đã là cuối xuân.

Ông nhớ tới hoa đào ở Huyền Đô quán, liền muốn đến thăm lại.

Đến nơi mới biết vị đạo sĩ trồng đào nay đã chết, đào trong đạo quán không có ai chăm sóc, cây thì bị chặt, cây thì chết khô, khắp nơi mọc đầy cỏ may và hướng dương dại, quang cảnh rất tiêu điều.

Ông nhớ lại cảnh hoa đào rực rỡ ngày nào, liên tưởng tới lũ hoạn quan và quyền thần từng hãm hại ông, nay đã lần lượt thất thế trong cuộc tranh giành quyền lực.

Còn bản thân ông, vẫn trước sau ngoan cường giữ vững quan điểm chính trị tiến bộ, và trải bao long đong lận đận, lại trở lại triều đình.

Lòng đầy xúc cảm tự hào, ông viết 1 bài thơ mới:

"Bách mẫu trung đinh bán thị đài

Đào hoa tịnh tận, thái hoa khai

Chủng hoa đạo sĩ qui hà xứ?

Tiền độ Lưu lang kim hựu lai."

Dịch:

"Trăm mẫu vườn hoang rêu mọc đầy

Hoa đào chẳng thấy, thấy hoa may

Trồng hoa đạo sĩ đi đâu mất?

Chàng Lưu năm nọ lại về đây!"

Một số quan chức thấy trong bài thơ mới của ông vẫn đầy giọng châm chích thì rất bực mình, đều đua nhau công kích ông trước hoàng đế.

Ba năm sau, ông lại bị điều đi làm thứ sử ở nơi xa.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
BẠCH CƯ DỊ TỚI TRƯỜNG AN


Sau khi Đường Hiến Tông lên ngôi có tiến hành 1 vài cải cách chính trị, dùng mấy người chính trực như Lý Dịch làm tể tướng.

Nhưng mặt khác, ông vẫn rất tin cậy bọn hoạn quan.

Để thảo phạt phiên trấn, Hiến Tông cử 1 hoạn quan làm nguyên soái, việc này bị 1 số đại thần phản đối, trong đó người phản đối mạnh mẽ nhất là Tả thập di Bạch Cư Dị.

Bạch Cư Dị là 1 nhà thơ nổi tiếng thời Đường, quê ở Hạ Khê (nay ở đông bắc huyện Vị Nam, Thiểm Tây).

Tiếng tăm về tài thơ của ông được lan truyền từ rất sớm.

Từ nhỏ, Bạch Cư Dị đã rất thông minh, mới 6-7 tháng tuổi đã phân biệt được chữ "chi", chữ "vô".

Từ năm 6 tuổi đã tập làm thơ.

Khi ông khoảng 15-16 tuổi, người cha là Bạch Lý Canh làm quan ở Từ Châu, cho Bạch Cư Dị tới kinh thành Trường An để kết giao với các danh nhân và hiểu biết việc đời.

Lúc đó, cuộc nổi loạn của Chu Thử vừa kết thúc, Trường An còn rất tiêu điều xơ xác.

Đặc biệt là do chiến tranh kéo dài 10 năm, nạn đói lan tràn, giá lương thực ở Trường An rất cao, đời sống nhân dân rất khó khăn.

Lúc đó, Trường An có 1 nhà văn tên là Cố Huống, có chút tài năng và danh tiếng, nhưng tính cách rất cao ngạo, gặp lớp hậu sinh thường lên mặt cha chú, rất khó gần.

Bạch Cư Dị nghe tiếng Cố Huống liền đem bản thảo tập thơ của mình đên gặp Cố Huống để thỉnh giáo.

Cố Huống nghe nói Bạch Cư Dị cũng là quan gia tử đệ, không thể không tiếp.

Gặp Cố Huống, Bạch Cư Dị lễ phép đưa danh thiếp và bản thảo tập thơ cho ông.

Cố Huống ngắm cậu thiếu niên, lại nhìn danh thiếp thấy cái tên "Cư Dị" (Cư Dị ở đây có nghĩa là dễ) thì chau mày nói đùa: "Gần đây ở Trường An, giá lương thực rất đắt, sợ rằng ở đây không dễ dàng đâu?".

Bạch Cư Dị bị ông ta trêu cợt, vẫn lặng im cung kính đứng khép nép 1 bên, chờ nghe lời chỉ giáo.

Cố Huống cầm bản thảo tập thơ, thuận tay giở xem lướt từng trang.

Bỗng ông dừng tay, mắt chăm chăm nhìn vào tập thơ, bất giác khẽ khàng ngâm lên:

"Ly ly nguyên thượng thảo

Nhất tuế nhất khô vinh

Dã hỏa thiêu bất tận

Xuân phong xuy hựu sinh..."

Dịch thơ:

"Cỏ mọc tràn thảo nguyên

Mỗi năm khô rồi tốt

Lửa đồng thiêu không hết

Xuân tới lại trồi lên"

Ngâm tới đó, Cố Huống lộ vẻ hào hứng, đứng bật dậy, kéo tay Bạch Cư Dị, nắm chặt và nồng nhiệt nói: "Ôi chao!

Viết được những câu thơ như thế này thì trú tại Trường An không khó khăn gì.

Vừa rồi ta nói đùa, cậu chớ để tâm".

Sau lần gặp gỡ đó, Cố Huống hết sức tán dương thi tài của Bạch Cư Dị, gặp ai ông cũng khoe cậu con nhà họ Bạch giỏi giang.

Một truyền mười, mười truyền trăm, khiến Bạch Cư Dị nổi tiếng khắp Trường An.

Mấy năm sau, ông thi đậu tiến sĩ.

Đường Hiến Tông biết tiếng ông, liền phong ông làm hàn lâm học sĩ và sau đó, thăng ông lên chức tả thập di (gián quan).

Bạch Cư Dị đâu phải hạng người mưu danh cầu lợi, chịu xu nịnh quan trên.

Ông không ngừng sáng tác thơ văn, bóc trần mọi hiện tượng xấu xa trong xã hội, đồng thời nhiều lần can gián thẳng thắn Đường Hiến Tông, đặc biệt là việc trao cho hoạn quan nắm binh quyền.

Lần này, ông can gián việc Đường Hiến Tông phong hoạn quan làm nguyên soái khiến Đường Hiến Tông rất tức giận.

Nhà vua nói với tể tướng Lý Dịch: "Tên Bạch Cư Dị đó do chính trẫm đưa lên làm quan mà đối với trẫm rất vô lễ.

Trẫm không chịu nổi hắn nữa!".

Lý Dịch nói: "Bạch Cư Dị dám thẳng thắn can ngăn bệ hạ, không sợ mất đầu, điều đó chứng tỏ ông ta rất trung thành với quốc gia.

Nếu bệ hạ trị tội ông ta, thì sợ rằng sau này sẽ không ai dám nói thẳng nữa".

Đường Hiến Tông miễn cưỡng nghe theo ý kiến của Lý Dịch, tạm thời chưa cách chức Bạch Cư Dị.

Nhưng chẳng được bao lâu, ông ta không cho Bạch Cư Dị làm chức Tả thập di, mà điều sang làm chức quan khác.

Bạch Cư Dị làm rất nhiều thơ, trong đó không ít bài phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội, như bài "Tần trung ngâm" và bài "Tân Nhạc phủ".

Trong thơ Bạch Cư Dị, bài thì vạch trần tội ác của bọn hoạn quan cậy thế hà hiếp nhân dân, bài thì châm biếm đời sống cực kì xa hoa lãng phí của giới quan liêu, quí tộc, có bài phản ánh số phận đau khổ của nhân dân lao động.

Lời thơ của ông giản dị dễ hiểu, được quần chúng rộng rãi yêu thích.

Khắp đầu đường cuối ngõ, đâu đâu cũng có người truyền nhau đọc thơ Bạch Cư Dị.

Tương truyền, mỗi khi viết xong 1 bài thơ, bao giờ ông cũng đọc cho các cụ bà mù chữ nghe, chỗ nào các cụ không hiểu, ông liền sửa lại cho tới khi thật dễ hiểu mới thôi.

Điều đó đương nhiên chỉ là truyền thuyết, nhưng cũng tỏ rằng thơ ông khá gần gũi quần chúng.

Chính vì thơ ông đã phản ánh hiện thực, xúc phạm tới bọn hoạn quan và quan liêu quí tộc lớn, nên 1 số kẻ căm giận và nguyền rủa ông.

Những kẻ muốn vu hãm ông chỉ chờ thời cơ là hành động.

Mấy năm sau, Bạch Cư Dị làm đại phu trong Đông cung của thái tử.

Lúc đó, xảy ra sự kiện tể tướng Vũ Nguyên Hành bị đối thủ cử thích khách ám sát.

Việc này có nguyên nhân chính trị phức tạp, các quan trong triều đều im lặng không dám mở miệng, chỉ riêng Bạch Cư Dị là tỏ thái độ.

Ông dâng sớ tấu lên Hiến Tông, xin ra lệnh truy nã hung thủ.

Bọn hoạn quan và giới quan liêu quí tộc nắm ngay cơ hội đó, nói Bạch Cư Dị không phải là gián quan, sao được phép nói lung tung về đại sự triều đình, cần phải được nghiêm trị để giữ kỷ cương.

Hùa theo đó, 1 số quan chức vốn không ưa Bạch Cư Dị, ồn ào đặt chuyện vu cáo bôi nhọ ông.

Có kẻ nói bà mẹ Bạch Cư Dị nhân lúc đang ngắm hoa, sơ ý bị ngã xuống giếng mà chết, thế mà Bạch Cư Dị vẫn viết những bài thơ "Thưởng hoa" và "Giếng mới", như thế rõ ràng là đại bất hiếu.

Qua mạng lưới tội danh được thêu dệt la liệt như thế, khó ai có thể biện hộ cho ông.

Cuối cùng, ông bị giáng chức, đổi đi làm tư mã ở Giang Châu (nay là Cửu Giang, Giang Tây).

Bị biếm trích 1 cách vô lý, sau khi tới Giang Châu, tâm tình Bạch Cư Dị hết sức u uất.

Một buổi tối, nhân đi tiễn khách ở Bồn Phố Khẩu ở Giang Châu, ông nghe thấy tiếng đàn tỳ bà ai oán vọng trên mặt sông, vội sai người tìm hỏi.

Được biết tiếng đàn đó là của 1 kỹ nữ già từng nhiều năm phiêu bạt giang hồ.

Ông ghé thuyền đến gặp, sau khi nghe ngón đàn tuyệt kỹ của nàng và nghe nàng thuật lại thân thế chìm nổi bi thương thì hết sức xúc động.

Lại liên tưởng đến cảnh ngộ của mình, ông thấy trào dâng niềm đồng cảm sâu sắc, liền viết nên bài trường thi tự sự nổi tiếng "Tỳ bà hành" có những câu:

"Ngã vãn tỳ bà dĩ thán tức

Hựu văn thử ngữ trung tức tức

Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân

Tương phùng hà tất tằng tương thức..."

Dịch thơ:

"Nghe đàn ta đã chạnh buồn

Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời

Cùng một lứa bên trời lận đận

Gặp gỡ nhau họ sẵn quen nhau..."

Sau này, Bạch Cư Dị còn trở về kinh thành mấy lần và làm đại quan trong triều.

Nhưng triều chính lúc bấy giờ vô cùng hỗn loạn, người chính trực như Bạch Cư Dị khó lòng thực hiện hoài bão.

Ông chỉ còn biết dồn hết tinh lực vào sáng tác thơ ca.

Suốt cuộc đời, ông đã viết tất cả hơn 2800 bài thơ.

Đó là di sản hết sức quí báu trong kho tàng văn học của Trung Quốc nói riêng và thế giới nói chung.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LÝ SÓC HẠ THÁI CHÂU TRONG ĐÊM TUYẾT XUỐNG


Trong số các phiên trấn, Hoài Tây là 1 thế lực cát cứ ngoan cố nhất.

Năm 814, tiết độ sứ Hoài Tây là Ngô Thiếu Dương chết, con là Ngô Nguyên Tế tự thay thế chức vị của cha.

Đường Hiến Tông cử quân thảo phạt Hoài Tây.

Nhưng các thống soái mà ông ta phong chức đều là quan chức thối nát hoặc có ý đồ riêng.

Vì vậy, mất tới 3 năm trời, hao tổn nhiều tiền của và nhân mạng nhưng đều thất bại.

Các quan trong triều đều cho rằng không nên tiếp tục đánh nữa, nhưng đại thần Bùi Độ lại cho rằng Hoài Tây giống như cái nhọt trong cơ thể,không thể không trừ bỏ đi.

Đường Hiến Tông phong Bùi Độ làm tể tướng, quyết tâm tiếp tục thảo phạt Hoài Tây.

Năm 817, triều đình cử Lý Sóc làm tiết độ sứ 3 châu, trong đó có Đường Châu (nay là Đường Hà, Hà Nam) và trao cho ông nhiệm vụ đánh vào sào huyệt của Ngô Nguyên Tế ở Thái Châu (nay là Nhữ Nam, Hà Nam).

Các tướng sĩ Đường Châu đã tham gia chinh chiến mấy năm ròng, nay đều chán nản nên khi nghe Lý Sóc triệu đến, đều hết sức lo lắng.

Lý Sóc tới Đường Châu, nói với các quan chức địa phương: "Tôi là một văn quan mềm yếu, không có tài năng gì.

Triều đình cử tôi đến đây là để giữ an ninh trật tự địa phương.

Còn việc đánh Ngô Nguyên Tế không phải là nhiệm vụ của tôi".

Tin đó đến tai Ngô Nguyên Tế.

Vì đã đánh thắng quân triều đình mấy lần, nên Ngô Nguyên Tế tỏ ra kiêu ngạo.

Nay lại nghe nói Lý Sóc không hiểu việc chiến trận, nên hắn càng sao nhãng việc phòng bị.

Từ đó, Lý Sóc không hề đề cập tới việc đánh Hoài Tây.

Trong thành Đường Châu có rất nhiều quân lính ốm và bị thương, Lý Sóc đến từng nhà thăm hỏi, không có 1 chút quan dạng nào.

Tướng sĩ đều rất cảm động trước thái độ đó của ông.

Một lần, quân của Lý Sóc đi tuần tra biên giới, đụng độ với 1 toán lính nhỏ của Hoài Tây.

Hai bên giao chiến, quân Đường đuổi được toán lính kia và bắt sống được 1 viên tướng nhỏ của Hoài Tây là Đinh Sĩ Lương.

Đinh Sĩ Lương là 1 dũng tướng, thủ hạ của Ngô Nguyên Tế, nhiều lần dẫn quân xâm phạm Đường Châu.

Trong quân Đường đã nhiều người lao đao vì Đinh Sĩ Lương nên rất căm giận Lương.

Lần này bắt được, mọi người đều xin Lý Sóc cho giết đi để báo thù cho quân Đường.

Quân lính giải Đinh Sĩ Lương đến trước Lý Sóc, Lý Sóc hạ lệnh nới lỏng dây trói rồi ôn tồn hỏi Lương tại sao theo lại theo Ngô Nguyên Tế chống lại triều đình.

Đinh Sĩ Lương vốn không phải là quân của Ngô Nguyên Tế, mà chỉ là 1 tù binh bị Ngô Nguyên Tế bắt trước kia.

Nay thấy Lý Sóc tỏ ra khoan dung nên xin đầu hàng để lập công chuộc tội.

Với sự giúp đỡ của Đinh Sĩ Lương, Lý Sóc đã chiếm được 2 cứ điểm Văn Thành và Hưng Kiều ở Hoài Tây, thu phục được 2 hàng tướng Lý Hựu và Lý Trung Nghĩa.

Lý Sóc biết 2 người đó gồm đủ trí dũng nên hết sức tín nhiệm họ, cùng họ bí mật bàn bạc kế hoạch đánh chiếm Thái Châu; có đêm cùng nhau bàn luận tính toán suốt đêm.

Các tướng sĩ dưới quyền Lý Sóc rất bất mãn về điều đó, xì xào với nhau rằng Lý Hựu là gián điệp do kẻ địch phái tới chui vào hàng ngũ quân ta để làm nội ứng.

Có người còn dựng đứng lên câu chuyện bắt được thám tử địch và chính tên thám tử đó khai rằng Lý Hựu là gián điệp.

Lý Sóc sợ những tin đồn đó đến tai Đường Hiến Tông, khiến nhà vua tin đó là sự thật, thì khó mà bảo vệ được Lý Hựu.

Ông liền họp mọi người lại tuyên bố: "Mọi người đều cho rằng Lý Hựu không đáng tin cậy, vậy thì ta sẽ cho giải hắn về Trường An để hoàng thượng xử lý".

Ông sai quân lính xích tay chân và đeo gông cho Lý Hựu, giải về Trường An; đồng thời dâng sớ tấu lên triều đình, nói rõ Lý Hựu đã giúp vạch kế hoạch đánh chiếm Thái Châu, nếu giết Lý Hựu thì kế hoạch chiếm Thái Châu không thể thực hiện được.

Đường Hiến Tông xem sớ tấu, liền hạ lệnh tha Lý Hựu và phái trở lại Đường Châu để giúp Lý Sóc.

Lý Hựu về tới Đường Châu, Lý Sóc mừng rỡ nắm tay ông nói: "Ông được an toàn trở lại, thật là phúc lớn cho nước nhà".

Rồi lập tức phong làm tướng, được quyền mang vũ khí ra vào đại doanh.

Lý Hựu được biết Lý Sóc dùng hết mọi cách để bảo vệ mình thì xúc động trào rơi nước mắt.

Ít lâu sau, tể tướng Bùi Độ thân tới Hoài Tây dốc chiến.

Từ trước tới nay, các cánh quân triều đình đều do hoạn quan làm giám quân, các tướng không có quyền chủ động trong việc chỉ huy.

Nếu thắng trận thì công lao thuộc về hoạn quan, thua trận thì các tướng lĩnh bị trị tội.

Bùi Độ đến Hoài Tây, thấy tình hình đó, lập tức tâu lên Đường Hiến Tông triệt bỏ quyền làm giám quân của các hoạn quan.

Các tướng lĩnh biết được quyết định đó, đều hết sức phấn khởi.

Lý Hựu hiến kế với Lý Sóc: "Tinh binh của Ngô Nguyên Tế đều đóng ở Hồi Khúc (nay ở tây nam Thương Thủy, Hà Nam) và các vùng ven, còn tại Thái Châu chỉ có số ít quân lính già yếu, tàn tật.

Chúng ta cần nhằm sơ hở đó, đánh thẳng vào Thái Châu thì sẽ dễ dàng bắt sống được Ngô Nguyên Tế".

Lý Sóc báo cáo kế hoạch đó cho Bùi Độ.

Bùi Độ tỏ ý ủng hộ, nói: "Đánh trận cần phải bất ngờ để giành thắng lợi.

Cứ theo thế mà làm!".

Lý Sóc hạ lệnh cho Lý Hựu và Lý Trung Nghĩa dẫn 3000 tinh binh đi tiên phong, còn tự mình dẫn trung quân và hậu vệ lần lượt xuất phát.

Ngoài mấy tướng tiên phong không ai được biết đích tiến quân.

Có người đến hỏi Lý Sóc.

Lý Sóc chỉ nói: "Hãy cứ biết tiến quân về phía đông".

Hành quân 60 dặm, tới thôn Trương Sài.

Quân Hoài Tây đóng ở đây không hề phòng bị gì, bị quân tiên phong của Lý Hựu tiêu diệt toàn bộ.

Lý Sóc chiếm được thôn Trương Sài, cho quân lính nghỉ 1 chút, lưu 1 ít quân lại giữ để cắt đứt đường tới Hồi Khúc. sau đó, lại tiếp tục cuộc hành quân ngay trong đêm.

Các tướng lại hỏi Lý Sóc về mục tiêu sẽ tới.

Lúc đó Lý Sóc mới nói: "Đến Thái Châu, bắt Ngô Nguyên Tế".

Một số tướng đã từng bị Ngô Nguyên Tế đánh bại, nghe thấy lệnh đó thì lo sợ tái mặt.

Những hoạn quan đi theo vốn nhát gan, sợ phát khóc, lu loa: "Chúng ta mắc phải gian kế của Lý Hựu rồi".

Đúng lúc đó, gió mỗi lúc càng thổi mạnh, tuyết rơi mỗi lúc dày đặc hơn.

Đường từ thôn Trương Sài tới Thái Châu rất nhỏ hẹp, quân Đường lại chưa từng biết, nên binh lính vừa đi vừa kêu ca phàn nàn.

Nhưng vì xưa nay Lý Sóc chỉ huy rất nghiêm, nên không ai dám vi phạm mệnh lệnh.

Trong đêm đó, sau chặng hành quân suốt 70 dặm trên đường tuyết phủ dày, đoàn quân tới ngoài thành Thái Châu.

May nhờ bên hồ ngoài thành nuôi nhiều vịt và ngỗng, tiếng kêu rộn rã của chúng che lấp được tiếng người ngựa.

Quân Đường dưới sự chỉ huy của Lý Hựu và Lý Trung Nghĩa, khoét các lỗ nhỏ trên tường thành để trèo lên mặt thành Lính Hoài Tây giữ thành không hề hay biết, vẫn ngủ yên trong các chòi gác, bị quân Đường ập vào giết hết, chỉ giữ lại 1 tên đánh trống cầm canh như thường lệ.

Sau đó, cửa thành được mở toang, đại quân Lý Sóc ào ạt tiến vào.

Tới vòng thành phía trong, quân Đường cũng tiến vào theo cách đó, quân Hoài Tây trong đó vẫn không hề hay biết.

Tới lúc gà bắt đầu gáy, trời mờ mờ sáng, tuyết ngừng rơi, quân Đường vào tới phía ngoài dinh của Ngô Nguyên Tế mà Ngô Nguyên Tế vẫn say sưa trong giấc ngủ.

Một tên binh lính hầu cận phát hiện thấy quân Đường đã ở bên ngoài dinh, vội chạy vào báo cáo gấp với Ngô Nguyên Tế.

Ngô Nguyên Tế vẫn nằm trong chăn, uể oải nói: "Dào!

Chắc lại mấy tên phạm nhân gây rối.

Đợi trời sáng, ta sẽ hạ lệnh hốt chúng đi".

Lại 1 tên khác thở hồng hộc chạy vào lắp bắp: "Chủ tướng!

Chủ tướng!

Hai vòng thành đều mở toang cả rồi!".

Ngô Nguyên Tế lấy làm lạ nói: "Chắc hẳn quân lính ở Hồi Khúc cử người về lĩnh quần áo ấm thôi".

Nói chưa dứt, đã nghe ngoài tường có tiếng truyền lệnh: "Lệnh của Thường thị đây...! (Thường thị là chức quan của Lý Sóc), tiếp đó là tiếng dạ ran của rất đông quân lính.

Ngô Nguyên Tế hoảng sợ vùng dậy, nói: "Thường thị nào thế nhỉ?

Sao lại đến sát dinh ta để truyền lệnh?.

Sau khi biết là quân Đường, Ngô Nguyên Tế vội sai lính cận vệ leo lê bờ tường chống cự.

Lý Sóc nói với tướng sĩ: "Ngô Nguyên Tế còn dám chống cự, vì hắn còn hy vọng ở 1 vạn quân ở Hồi Khúc tới cứu viện".

Biết gia đình viên tướng Hoài Tây giữ Hồi Khúc là Đổng Trọng Chất trú tại Thái Châu, Lý Sóc liền tới thăm hỏi rồi phái con trai của Đổng Trọng Chất tới Hồi Khúc khuyên cha đầu hàng.

Đổng Trọng Chất thấy cục diện đã ngã ngũ, liền tự tới Thái Châu đầu hàng Lý Sóc.

Lý Sóc hạ lệnh cho quân lính đánh vỡ tường bao quanh dinh, phá cổng ngoài, phá kho vũ khí.

Ngô Nguyên Tế rút vào tường trong cố thủ.

Hôm sau, ông cho đốt cháy cổng phía nam.

Nhân dân Thái Châu từng khổ sở vì Ngô Nguyên Tế, đều tấp nập mang rơm củi đến góp.

Đồng thời các hướng khác, quân Đường bắc thang bắn vào sân trong, tên cắm dày đặc như như lông nhím.

Suốt 1 ngày ác chiến, cuối cùng vòng tường trong bị phá vỡ, Ngô Nguyên Tế đành lạy lục xin hàng.

Lý Sóc sai nhốt Ngô Nguyên Tế vào xe tù giải về Trường An, đồng thời báo tin thắng trận lên tể tướng Bùi Độ.

Tin Bùi Độ và Lý Sóc bình định Hoài Tây và bắt sống Ngô Nguyên Tế truyền tới Hà Bắc, khiến các phiên trấn vùng này hoảng sợ, đều tới tấp tỏ ý xin phục tùng triều đình.

Cục diện phản loạn của các phiên trấn thời Đường tạm thời được dẹp yên.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
HÀN DŨ PHẢN ĐỐI VIỆC RƯỚC XƯƠNG PHẬT


Đường Hiến Tông dựa vào Bùi Độ, Lý Sóc dẹp được cuộc phản loạn Hoài Tây, cảm thấy vênh vang vì đã giành được công lớn, quyết định dựng 1 tấm bia ghi công để kỉ niệm chiến thắng to lớn ấy.

Đang băn khoăn tìm chọn 1 người có văn tài xứng đáng làm công việc đó, thì biết được dưới quyền Bùi Độ có 1 viên quan Hành quân tư mã tên là Hàn Dũ, sở trường về viết văn, lại đã từng theo Bùi Độ tham gia cuộc chiến ở Hoài Tây.

Đường Hiến Tông liền hạ chỉ Hàn Dũ khởi thảo "Bình Hoài Tây bi" (bài văn bia về việc đánh dẹp Hoài Tây).

Hàn Dũ là 1 văn học gia kiệt xuất thời Đường, vốn quê ở vùng Hà Dương (nay là huyện Mãnh, Hà Nam).

Ông thấy từ thời Ngụy - Tấn - Nam Bắc triều về sau tập tục, thị hiếu xã hội ngày càng suy đồi, văn phong cũng nặng về hình thức hào nhoáng, các nhà văn chỉ chú trọng trau chuốt chữ nghĩa, gò bó vào biền ngẫu (thể văn có từng cặp đối nhau về nội dung và âm điệu) mà thiếu hẳn tình cảm chân thực.

Ông quyết tâm đề xướng việc cải cách văn phong đó, đã viết rất nhiều bài văn có ảnh hưởng lớn trong văn giới.

Chủ trương và thực tiễn sáng tác của ông trên thực tế là 1 hành động cải cách, nhưng vì ông cũng đồng thời chủ trương kế thừa 1 số truyền thống của tản văn thời cổ, nên cuộc vận động do ông đề xướng được gọi là "cổ văn vận động" (cuộc vận động cổ văn).

Sau này, người ta coi ông và Liễu Tông nguyên là những người mở đầu "cuộc vận động cổ văn".

Không những giỏi văn chương, ông còn là 1 đại thần dám can thẳng thắn.

Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ viết "Bình Hoài Tây bi", ông liền làm 1 việc "đắc tội" Đường Hiến Tông, suýt chuốc lấy nguy hiểm đến tính mạng.

Nguyên do là vào những năm cuối đời, Đường Hiến Tông rất mê tín Phật giáo.

Ông ta nghe nói trong chùa Pháp Môn ở Phượng Tường có 1 ngôi bảo tháp tên là Hộ quốc chân thân tháp.

Trong tháp có thờ 1 đốt xương, tương truyền là đốt xương ngón tay của Thích Ca Mâu Ni, cứ 30 năm mới mở ra 1 lần cho mọi người vào chiêm ngưỡng, lễ bái.

Làm việc đó thì có thể cầu được mưa thuận gió hòa, mọi người bình an.

Đường Hiến Tông tin vào lời đồn đó, liền cử 1 đoàn gồm 30 người đến chùa Pháp Môn, tổ chức 1 cuộc đón rước long trọng, đưa đốt xương đó về Trường An.

Trước hết, ông để đốt xương đó trong hoàng cung để thờ phụng.

Sau đó, rước ra chùa cho mọi người chiêm ngưỡng.

Tất cả vương công đại thần thấy hoàng đế cung kính thành tâm như thế thì dù bản thân tin hay không, cũng đều hùa theo.

Rất nhiều người tìm mọi cách để tạo được cơ hội tới chiêm ngưỡng xương phật.

Kẻ có tiền thì quyên góp tiền hương hỏa, người không có tiền thì xin những nén hương trong chùa để châm thành vết bỏng trên đầu và cánh tay, coi như biểu lộ lòng thành kính với Đức Phật.

Hàn Dũ xưa nay vốn không tin phật, nên càng không tin việc chiêm ngưỡng xương phật.

Ông rất không hài lòng trước việc phô trương lãng phí để rước xương phật, nên liền dâng lên Đường Hiến Tông 1 sớ tấu, khuyên can Hiến Tông không nên tiến hành hoạt động mê tín.

Trong sớ tấu, ông nói: ở Trung Quốc thời xưa không có Phật, chỉ từ sau thời Hán Minh Đế, đạo Phật mới từ Tây Vực truyền vào.

Ông còn nói, trong lịch sử, phàm những vương triều nào tin vào Phật đều có thọ mệnh ngắn, đủ thấy Phật là không đáng tin..

Đường Hiến Tông xem sớ tấu đó, đùng đùng nổi giận, lập tức gọi tể tướng Bùi Độ tới, nói Hàn Dũ dám phỉ báng triều đình, không thể không xử tội chết.

Bùi Độ vội vàng cầu xin cho Hàn Dũ, Đường Hiến Tông hơi dịu cơn giận, nói: "Hàn Dũ nói trẫm tin Phật quá mức, trẫm còn có thể khoan thứ cho hắn; nhưng hắn lại còn nói hoàng đế nào tin vào Phật thì thọ mệnh đều ngắn.

Như thế chẳng phải là hắn rủa trẫm hay sao?

Chỉ riêng điều đó thôi, trẫm đã không thể tha cho hắn".

Sau đó cũng có nhiều người kêu xin giúp Hàn Dũ, Đường Hiến Tông mới không giết ông, mà chỉ giáng chức, điều ông đi làm thứ sử Triều Châu.

Từ Trường An đi Triều Châu, Hàn Dũ 1 mình lùi lũi trên đường xa dặm thẳng, xa rời kinh thành hoa lệ, tới nơi biên viễn xa xôi, nỗi lòng đắng cay uất ức, nói sao cho hết.

Đến Triều Châu, ông gạt nỗi buồn về cảnh ngộ bản thân sang 1 bên để dốc lòng lo toan cho đời sống dân địa phương.

Ông triệu tập các quan chức cấp dưới tới, hỏi xem dân chúng địa phương có nỗi khổ gì.

Có người nói: "Nơi đây sản xuất được ít lúa gạo, đời sống nhân dân rất khổ.

Ngoài ra, ở Ác Khê (nay là Hàn Giang, Quảng Đông) có một con cá sấu thường bò lên bờ giết hại người và súc vật, nhân dân khổ nhiều vì nó".

Hàn Dũ nói: "Nếu như vậy, ta phải tìm cách trừ khử nó".

Nói như vậy, nhưng Hàn Dũ rút cuộc là 1 văn nhân, không biết sử dụng đao cung, làm sao trừ được cá sấu hung dữ?

Ông nảy ra 1 ý, viết 1 bài "Văn tế cá sấu", sai người đến bờ sông, đọc bài văn tế đó, lại giết 1 con lợn, 1 con dê, ném xuống sông cho cá sấu ăn.

Trong bài văn tế đó, ông ra lệnh cho cá sấu trong thời hạn 7 ngày phải đi ra biển.

Nếu không, sẽ dùng cung cùng tên độc giết chết. hàn Dũ vốn không tin Phật, sao lại tin rằng cá sấu có trí khôn để hiểu bài văn tế của ông?

Điều đó đương nhiên chỉ là 1 thủ thuật của ông để làm yên lòng người mà thôi.

Nhưng sự việc diễn ra lại ngẫu nhiên may mắn làm sao, tương truyền sau khi đọc văn tế, con cá sấu không thấy xuất hiện nữa.

Nhân dân địa phương cho rằng lệnh đuổi do đại thần được triều đình cử tới đúng là có uy lực mạnh mẽ, đều ca ngợi và yên tâm sản xuất.

Hàn Dũ làm quan ở đó 1 năm lại được gọi về Trường An, làm việc ở Quốc tử giám (trường học cao cấp nhất thời phong kiến).

Cùng năm đó (năm 820), Đường Hiến Tông bị hoạn quan giết chết.

Con ông ta là Lý Hằng lên ngôi.

Đó là Đường Mục Tông.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
SỰ KIỆN CAM LỘ


Từ đời Đường Mục Tông, các hoàng đế đều do hoạn quan lập nên.

Vì vậy, quyền lực hoạn quan càng ngày càng lớn, ngay đến vận mạng của hoàng đế cũng nằm trong tay chúng thì ai còn dám đối địch với chúng nữa?

Đường Văn Tông Lý Ngang (con Mục Tông, làm hoàng đế từ 827 tới 841) lên ngôi tới năm thứ 2 (828), có tổ chức điện thí tại triều đình.

Các cử nhân từ khắp các địa phương trong nước đến sự thi.

Có 1 cử nhân tên là Lưu Phần, đã công khai viết trong bài thi những lời phản đối việc hoạn quan nắm quyền, cho rằng muốn cho nước nhà an định thì phải tước bỏ quyền lực của hoạn quan, giao chính quyền cho tể tướng, giao binh quyền cho tướng soái.

Quyển thi nộp lên cho quan chấm thi, người nọ truyền người kia xem, đều khen nức nở, thấy không những lời văn hay, mà lập luận lại chặt chẽ, thật là 1 áng văn hiếm có.

Nhưng tới lúc quyết định lấy đỗ, thì không ai dám tỏ thái độ, vì nếu lấy cho Lưu Phần đỗ tiến sĩ, sẽ đắc tội với hoạn quan, địa vị của các quan chấm thi sẽ khó lòng mà giữ được.

Kết quả, toàn bộ 22 cử nhân cùng thi với Lưu Phần đều đỗ, chỉ riêng Lưu Phần bị rớt.

Lưu Phần được mọi người công nhận là nhân tài kiệt xuất.

Lần ày bị rớt, ai ai cũng đều thấy thật quá oan uổng.

Những cử nhân được lấy đỗ, đều nói: "Lưu Phần bị rớt mà chúng tôi lại đỗ, thật là quá xấu hổ".

Đường Văn Tong sống trong sự thao túng của hoạn quan, cũng rất căm tức.

Ông nung nấu ý định tìm cách trừ khử bọn này.

Một lần, Đường Văn Tông bị bệnh, cần tìm gấp thầy thuốc.

Lúc đó, dưới quyền Vương Thủ Trừng, tên đứng đầu hoạn quan, có 1 viên quan tên là Trịnh Chú, tinh thông nghề y.

Vương Thủ Trừng liền tiến cử Trịnh Chú trị bệnh cho Đường Văn Tông.

Đường Văn Tông dùng thuốc của Trịnh Chú, chẳng bao lâu khỏi bệnh.

Rất phấn khởi, ông gọi Trịnh Chú vào triều kiến, thấy Chú nói năng lanh lợi, tỏ ra có tài năng, liền phong làm Ngự sử đại phu.

Trịnh Chú có người bạn là Lý Huấn, vốn là 1 quan chức nhỏ bất đắc chí, nghe tin Trịnh Chú được triều đình trọng dụng, liền đem lễ vật tới xin gặp.

Đúng lúc Trịnh Chú đang cần 1 trợ thủ, thấy Lý Huấn tới, liền xin Vương Thủ Trừng tiến cử Lý Huấn lên Đường Văn Tông.

Lý Huấn cũng được Đường Văn Tông trọng dụng, sau này còn được thăng tới chức tể tướng.

Lý Huấn và Trịnh Chú ngày càng được tin cẩn.

Do đó, Đường Văn Tông liền thổ lộ với họ ý định muốn trừ bỏ bọn hoạn quan.

Hai người bí mật bàn bạc với Đường Văn Tông, tìm cách tước bớt quyền lực của Vương Thủ Trừng.

Họ dò biết hoạn quan Cừu Sĩ Lương là thủ hạ của Vương Thủ Trừng, nhưng có mâu thuẫn với Vương Thủ Trừng, liền tâu xin Văn Tông phong Cừu Sĩ Lương làm Trung úy trong đội Tả Thần Sách.

Tiếp đó, Lý Huấn với cương vị tể tướng, xin nhà vua tước bỏ binh quyền của Vương Thủ Trừng.

Khi hắn đã không còn binh quyền, Đường Văn Tông liền ban cho 1 chén rượu độc: Vương Thủ Trừng bị giết.

Trừ được Vương Thủ Trừng rồi, lại phải trừ tiếp Cừu Sĩ Lương, vì chung qui hắn cũng là hoạn quan, lại đang có binh quyền.

Sau 1 thời gian sắp đặt mưu kế, Lý Huấn bắt mối được với tướng Hàn Ước, chỉ huy quân cấm vệ, liền quyết định ra tay.

Năm 835, một hôm khi Đường Văn Tông đang lâm triều, thì Hàn Ước lên điện tấu trình, rằng đêm qua, trong vườn phía sau đại sảnh của quân cấm vệ có 1 cây thạch lựu xuất hiện cam lộ (nước sương ngọt).

Vương triều phong kiến vốn rất mê tín, cho rằng trời giáng cam lộ là điềm báo điều lành.

Lý Huấn lập tức dẫn đầu bá quan văn vũ tung hô "vạn tuế" để chúc mừng phúc lớn của hoàng đế, và mời hoàng đế ngự giá tới vườn sau để xem cam lộ.

Đường Văn Tông lệnh cho tể tướng Lý Huấn đến xem trước, Lý Huấn làm ra vẻ như đã đi xem, sau khi lượn vòng sau vườn, trở lại tâu: "Hạ thần đã đi xem, nhưng sợ rằng đó không phải là cam lộ thật, xin bệ hạ cử người đi kiểm tra lại".

Đường Văn Tông lại hạ lệnh cho Cừu Sĩ Lương dẫn hoạn quan đi xem.

Cừu Sĩ Lương gọi Hàn Ước cùng đi.

Đến cửa vườn, Hàn Ước quá hồi hộp, mặt mũi xanh xám.

Cừu Sĩ Lương phát hiện thấy, lấy làm lạ, hỏi: "Hàn tướng quân, ngài làm sao thế?".

Vừa hỏi xong, thì 1 cơn gió thổi, làm lật tung tấm rèm vải che dọc lối vào vườn.

Cừu Sĩ Lương thấy bên trong mai phục rất nhiều quân lính cầm gươm giáo sáng quắc.

Cừu Sĩ Lương giật mình, vội chạy trở về với Đường Văn Tông.

Lý Huấn thấy hắn bỏ chạy, liền hô quân lính đuổi theo.

Nhưng Cừu Sĩ Lương nhanh hơn, đã cùng lũ hoạn quan cướp lấy Đường Văn Tông, đưa lên kiệu chạy vào nội cung.

Lý Huấn đuổi kịp kiệu, giữ chặt không chịu buông, 1 tên hoạn quan liền xông tới, đánh Lý Huấn ngã quay ra đất.

Đường Văn Tông bị lũ hoạn quan nhốt chặt trong nội cung.

Kế hoạch thất bại, Lý Huấn vội mượn áo 1 tên tiểu lại, hóa trang trốn chạy.

Cừu Sĩ Lương lập tức phái quân, tiến hành cuộc truy bắt đại qui mô với những người tham dự mưu mô và giết hại toàn bộ.

Lý Huấn tìm mọi cách trốn tránh nhưng không thoát, bị giết trên đường.

Kế hoạch diệt trừ hoạn quan do hoàng đế, tể tướng và ngự sử đại phu Trịnh Chú khổ công vạch ra, do thực hiện sơ xuất nên đã thất bại thảm hại.

Số người có liên quan bị hoạn quan giết hại lên tới 1000.

Lịch sử gọi sự kiện này là "Cam lộ chi biến" (sự biến sương ngọt).

Sau sự biến này, Đường Văn Tông hoàn toàn đặt dưới sự giám sát của các hoạn quan.

Ông vua tù nhân này còn sống lay lắt được 5 năm nữa rồi chết trong bệnh tật, đau buồn và uất ức.

Cừu Sĩ Lương lập người anh em của Văn Tông là Lý Viên lên làm vua (năm 841).

Đó là Đường Vũ Tông.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
VỤ TRANH CHẤP BÈ PHÁI


Trong thời kì hoạn quan nắm quyền, trong triều đình hễ viên quan nào chống lại chúng, đều bị đả kích và loại trừ.

Số còn lại đều phải dựa vào hoạn quan, nhưng lại chia làm 2 phe cánh, cãi vã tranh chấp nhau liên miên.

Tình hình đó kéo dài suốt 40 năm.

Lịch sử gọi tình hình này là "Bằng đảng chi tranh" (sự tranh chấp bè phái).

Sự tranh chấp này bắt đầu ngay từ thời Đường hiến Tông tại vị (806-821).

Một năm, triều đình mở cuộc thi để tuyển chọn nhân tài dám can gián thẳng thắn.

Trong số người tham gia dự thi, có 2 quan chức cấp thấp, là Lý Tông Mẫn và Ngưu Tăng Nhu.

Trong quyển thi, 2 người đều nêu ý kiến phê bình triều chính, các quan chấm thi xem thấy nội dung bài thi phù hợp với yêu cầu tuyển chọn, liền tiến cử họ lên Đường Hiến Tông.

Tể tướng Lý Cát Phủ biết được việc đó, hết sức bực bội.

Ông ta vốn là dòng dõi sĩ tộc nhiều đời, xưa nay vốn coi thường những người thuộc giới bình dân, nhờ học hành thi cử mà được làm quan.

Nay thấy 2 kẻ xuất thân hèn kém là Lý Tông Mẫn và Ngưu Tăng Nhu dám phê bình triều chính, vạch những điểm yếu kém của mình, thì cho là quá xấc xược.

Ông nói với Đường Hiến Tông, là 2 kẻ được tiến cử hoàn toàn là do có quan hệ tư túi với quan chấm thi.

Đường Hiến Tông tin lời, giáng chức ngay các quan chấm thi và không bổ dụng Lý Tông Mẫn và Ngưu Tăng Nhu.

Sau khi Lý Cát Phủ chết, con là Lý Đức Dụ nhờ địa vị cũ của cha, được phong làm Hàn lâm học sĩ.

Lúc đó, Lý Tông Mẫn cũng được thăng làm quan trong triều.

Lý Đức Dụ vẫn ghi nhớ mối hiềm thù cũ với Lý Tông Mẫn là người đã từng phê phán cha mình.

Khi Đường Mục Tông lên ngôi, lại mở khoa thi tiến sĩ.

Có 2 vị đại thần có người nhà dự thi, liền đến nói lót trước với quan chấm thi.

Quan chấm thi là Tiều Huy không chịu.

Trong khóa đó, 1 người thân thích của Lý Tông Mẫn được lấy đỗ tiến sĩ.

Hai đại thần trên tâu với Đường Mục Tông là Tiều Huy đã thông đồng, tư túi trong chấm thi.

Đường Mục Tông hỏi Hàn lâm học sĩ, Lý Đức Dụ trả lời quả là có việc đó.

Do đó, Tiều Huy bị giáng chức.

Lý Tông Mẫn cũng bị liên quan, phải biếm trích đi xa.

Lý Tông Mẫn thấy Lý Đức Dụ cố tình dựng chuyện hại mình nên đem lòng căm hận từ đó.

Ngưu Tăng Nhu cũng cùng chung tình cảnh với Lý Tông Mẫn.

Sau đó, Lý Tông Mẫn, Ngưu Tăng Nhu và các quan chức xuất thân khoa cử kết lại với nhau thành 1 phe phái.

Lý Đức Dụ cũng cùng các quan chức xuất thân danh gia sĩ tộc kết thành 1 phe phái khác.

Hai bên dùng mọi thủ đoạn khi ngấm ngầm, lúc công khai bài xích đấu đá với nhau rất kịch liệt.

Đến đời Đường Văn Tông, Lý Tông Mẫn nhờ chạy chọt theo đường hoạn quan mà làm tới chức tể tướng.

Ông liền tiến cử Ngưu Tăng Nhu lên Văn Tông và cũng được phong làm tể tướng.

Hai người nắm được quyền lực cao trong triều, liền hợp lực lại đả kích Lý Đức Dụ, điều Lý Đức Dị đi khỏi kinh thành, đi làm tiết độ sứ Tây Xuyên (trị sở ở Thành Đô, Tứ Xuyên ngày nay).

Lúc đó, vùng giáp Tây Xuyên có nước Thổ Phồn, 1 tướng Thổ Phồn sang hàng Lý Đức Dụ.

Nhân cơ hội đó, Lý Đức Dụ thu phục được 1 thị trấn quan trọng là Duy Châu (trị sở tại huyện Lý, Tứ Xuyên ngày nay).

Điều đó, đáng phải kể là 1 chiến công của Lý Đức Dụ.

Nhưng tể tướng Ngưu Tăng Nhu lại nói với Đường Văn Tông: "Thu phục được Duy Châu, không đáng kể gì; nhưng làm xấu quan hệ với Thổ Phồn, là 1 việc sai lầm".

Ông xin Đường Văn Tông ra lệnh cho Lý Đức Dụ trả lại Duy Châu cho Thổ Phồn.

Việc đó khiến Lý Đức Dụ tức uất người.

Sau đó có người tâu với Đường Văn Tông rằng trả lại Duy Châu là thất sách, đồng thời nói thêm rằng sự việc đó là thủ đoạn đả kích Lý Đức Dụ của Ngưu Tăng Nhu.

Đường Văn Tông rất hối tiếc, từ đó lạnh nhạt với Ngưu Tăng Nhu.

Bản thân Đường Văn Tông cũng nằm trong vòng khống chế của bọn hoạn quan, không có chủ kiến trong bất kì việc gì, khi thì ngả theo phe Lý Đức Dụ, khi lại ngả theo phe Ngưu Tăng Nhu.

Phái này nắm được quyền thi phái kia khốn khổ.

Thế lực 2 phái cứ đổi thay như đèn kéo quân, khiến triều chính rất hỗn loạn.

Bản thân Đường Văn Tông không phân biệt được đúng sai, phải trái nên thấy tình hình đó thì than thở: "Dẹp loạn vùng Hà Bắc còn dễ, chứ dẹp bỏ được bè phái trong triều đình thật là khó khăn quá!".

Cả 2 phái tranh quyền đoạt lợi với nhau đều phải dựa vào hoạn quan, ra sức lấy lòng bọn chúng.

Khi Lý Đức Dụ làm tiết độ sứ Hoài Nam, hoạn quan giám quân là Dương Khâm Nghĩa được triệu về kinh thành, mọi người đều nói là lần này Dương Khâm Nghĩa về nhất định sẽ nắm đại quyền.

Vì vậy, khi Dương Khâm Nghĩa sắp lên đường, Lý Đức Dụ bày tiệc tiễn đưa long trọng, còn tặng nhiều lễ vật hậu hĩnh.

Về tới triều đình, Dương Khâm Nghĩa hết lời tán dương, tiến cử Lý Đức Dụ với Đường Vũ Tông (tên là Lý Viên, làm vua từ 841-847).

Quả nhiên, ít lâu sau, Đường Vũ Tông triệu Lý Đức Dụ về triều, phong làm tể tướng.

Khi đã nắm được lực.

Lý Đức Dụ liền trị lại Ngưu Tăng Nhu và Lý Tông Mẫn, biếm trích họ xuống miền nam.

Được Vũ Tông tín nhiệm, Lý Đức Dụ làm tể tướng được mấy năm.

Nhưng do chuyên quyền độc đoán, ông ta bị nhiều đại thần oán hận.

Năm 846, Đường Vũ Tông bị bệnh mất, các hoạn quan lập chú Vũ Tông là Lý Thẩm lên là vua.

Đó là Đường Tuyên Tông.

Đường Tuyên Tông loại hết những đại thần dưới thời Vũ Tông.

Ngay ngày lên ngôi, ông đã hạ chiếu triệt chức tể tướng của Lý Đức Dụ.

Một năm sau, lại biếm trích Lý Đức Dụ tới Nhai Châu (nay là đảo Hải Nam).

Cuộc tranh chấp bè phái kéo dài tới 40 năm tới đây kết thúc.

Nhưng vương triều Đường trải qua biết bao hỗn loạn không còn bao nhiêu sức sống nữa.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
XUNG THIÊN ĐẠI TƯỚNG QUÂN HOÀNG SÀO


Cuối triều Đường, qua hỗn chiến phiên trấn, hoạn quan chuyên quyền và các quan trong triều chia bè phái, đấu tranh kèn cựa nhau, nên triều chính hết sức hỗn loạn.

Đường Tuyên Tông có thể được coi là 1 hoàng đế tương đối sáng suốt, nhưng cũng không thể xoay chuyển được cục diện.

Sau khi Đường Tuyên Tông mất, 2 hoàng đế lần lượt kế vị là Đường Ý Tông Lý Thôi (làm vua từ 860-874) đều say mê hoan lạc, chìm đắm trong cuộc sống xa hoa thối nát tới cùng cực.

Hoàng thất, quan liêu, địa chủ tăng cường bóc lột nông dân, thuế má ngày càng nặng, lại thêm thiên tai liên tiếp; nông dân phá sản, lưu tán khắp nơi.

Nhiều người không chịu nổi cảnh bị bóc lột tàn tệ, liền tổ chức nhau lại vùng lên phản kháng.

Năm Đường Ý Tông lên ngôi (860), ở vùng Triết Đông nổ ra cuộc khởi nghĩa, từ 100 người phát triển tới 3 vạn, duy trì cuộc chiến đấu suốt 8 tháng, làm rung động cả Việt Châu (trị sở ở Thiệu Hưng, Triết Giang ngày nay).

8 năm sau, 800 binh sĩ đồn trú tại Quế Lâm, vốn đại đa số có quê quán ở Từ Châu, vì đã hết hạn mà quan trên không cho về, liền giết luôn kẻ chỉ huy, cử Bàng Huân làm thủ lĩnh, phát động khởi nghĩa.

Họ từ Quế Lâm tiến quân lên phía bắc, tiến về quê hương.

Dọc đường tiến quân và vùng quanh Từ Châu, nông dân rầm rộ hưởng ứng.

Khi tới Từ Châu, đội ngũ đã phát triển tới 20 vạn quân.

Hai cuộc khởi nghĩa trên đều bị quân triều đình đè bẹp, nhưng tinh thần phản kháng của nông dân ngày càng cao, qui mô của những cuộc khởi nghĩa sau này cũng ngày càng lớn.

Cuối triều Đường, muối bị đánh thuế rất nặng, thương nhân lại đầu cơ nâng cao giá, nên nông dân không có muối ăn, nhiều người phải ăn nhạt.

Nhiều nông dân nghèo phải bỏ việc canh tác vì thuế má nặng, đi làm nghề buôn bán muối để kiếm tiền.

Nhưng làm nghề buôn bán muối cũng rất nguy hiểm, phải có nhiều người cùng làm để bênh vực nhau.

Do đó, dần dần hình thành rất nhiều đoàn buôn bán muối.

Trong số đó, có 1 số thủ lĩnh sau này sẽ trở thành thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân.

Năm 874, cũng tức là năm Đường Hy Tông lên ngôi, ở Bộc Châu (trị sở ở huyện Phạm, Hà Nam ngày nay) có 1 thủ lĩnh dân buôn muối là Vương Tiên Chi tụ tập mấy ngàn nông dân nổi lên khởi nghĩa ở Trường Đản (thuộc Hà Nam ngày nay).

Vương Tiên Chi tự xưng là Thiên bổ bình quân đại tướng quân, tuyên cáo vạch trần tội ác của quan lại triều đình tạo nên cảnh chênh lệch giàu nghèo quá đáng.

Lời tuyên cáo nhanh chóng được nông dân nghèo khổ hưởng ứng.

Không lâu sau, ở Oan Cư (nay ở phía bắc huyện Tào, Sơn Đông), 1 người buôn muối tại địa phương là Hoàng Sào cũng khởi binh hưởng ứng.

Hoàng Sào từ nhỏ được học hành, lại biết cưỡi ngựa bắn cung.

Ông từng tới Trường An thi tiến sĩ mấy lần nhưng đều không đỗ.

Ở Trường An, ông được tận mắt chứng kiến cảnh hủ bại và đen tối của triều đình, ông rất phẫn nộ.

Tương truyền trong thời gian đó ông đã viết bài thơ "Vịnh hoa cúc", dùng hoa cúc để ẩn dụ, nói lên quyết tâm lật đổ và lên thay thế triều Đường.

Thơ viết:

"Đãi đắc thu lai cửu nguyệt bát

Ngã hoa khai thời bách hoa sát

Xung thiên hương trận thấu Trường An

Mãn thành tận đái "hoàng kim giáp".

Dịch thơ:

"Đợi đến mùa thu, tháng tám chín

Hoa ta nở ra, mọi hoa chết

Hương thơm ngút trời đẫm Trường An

Toàn thành đều khoác áo vàng rực".

Sau khi 2 đội quân khởi nghĩa của Vương Tiên Chi và Hoàng Sào hội họp với nhau, hoạt động suốt dải Sơn Đông, Hà Nam; liên tiếp đánh chiếm nhiều châu huyện, thanh thế mỗi ngày 1 lừng lẫy.

Vương triều Đường vô cùng hoảng sợ, ra lệnh cho tướng lĩnh các địa phương trấn áp quân khởi nghĩa.

Nhưng phiên trấn các nơi đều sợ giao chiến với quân khởi nghĩa, nơi này trông chờ nơi kia, triều đình cũng không biết làm thế nào.

Không có sức đàn áp, triều Đường liền xoay sang biện pháp xoa dịu, mua chuộc.

Trong lúc quân khởi nghĩa đánh chiếm Kỳ Châu (nay là Ký Xuân, Hồ Bắc), triều đình liền cử hoạn quan đến Kỳ Châu gặp Vương Tiên Chi, phong ông làm Tả Thần Sách quân Áp Nha kiêm giám sát ngự sử.

Vương Tiên Chi thấy được làm quan thì mê muội đầu óc, tỏ ý sẵn sàng nhận chức.

Hoàng Sao được tin, hết sức giận dữ, lập tức dẫn 1 số tướng sĩ đến gặp Vương Tiên Chi, mắng nhiếc thậm tệ, nói: "Khi bắt đầu khởi nghĩa, đã cùng nhau thề là sẽ đồng tâm hiệp lực để bình định thiên hạ.

Nay ngươi muốn ra làm quan, bỏ rơi anh em chúng ta sao?".

Vương Tiên Chi chưa kịp phân trần, Hoàng Sào đã vung nắm đấm xông vào đánh, khiến Vương Tiên Chi máu me đầy mặt.

Các tướng sĩ nghĩa quân đứng xung quanh đều nhao nhao trách mắng Vương Tiên Chi.

Thấy sai lầm, Vương Tiên Chi phải nhận lỗi trước nghĩa quân và đuổi tên hoạn quan đi.

Qua sự kiện đó, Hoàng Sào quyết định chia quân với Vương Tiên Chi, mỗi người tiến đánh 1 hướng, Vương Tiên Chi tiến về phía tây, Hoàng Sào tiến về phía đông.

Không lâu sau, cánh quân của Vương Tiên Chi bị quân Đường đánh bại ở Hoàng Mai (thuộc địa phận Hồ Bắc ngày nay), bản thân Vương Tiên Chi bị giết.

Sau thất bại đó, lực lượng nghĩa quân qui tụ xung quanh Hoàng Sào, mọi người tôn Hoàng Sào làm thủ lĩnh, xưng hiệu là Xung thiên đại tướng quân.

Lúc đó, lực lượng quân triều đình ở Trung nguyên tương đối mạnh.

Khi quân khởi nghĩa tiến ông Hà Nam, quân triều đình tập trung binh lực lớn gần Lạc Dương, chuẩn bị bao vây tiêu diệt nghĩa quân.

Hoàng Sào biết được ý định đó, liền chọn khu vực quân triều đình mỏng yếu nhất, dẫn quân xuống miền nam.

Họ nhanh chóng vượt Trường Giang, đánh tới Triết Đông.

Thế quân khởi nghĩa như chẻ tre, liên tiếp đánh chiếm Việt Châu, Cù Châu (nay ở huyện Cù, Triết Giang).

Sau đó, lại đục xuyên 700 dặm đường núi, mở thông đường từ Cù Châu tới Kiến Khâu (nay là Kiến Âu, Phúc Kiến).

Qua hơn 1 năm ròng rã, nghĩa quân đánh tới Quảng Châu.

Sau khi nghỉ ngơi chỉnh đốn ở Quảng Châu, miền Lĩnh Nam xảy ra nạn dịch.

Hoàng Sào quyết định đem quân tiến lên phía bắc.

Triều đình lệnh cho tiết độ sứ Kinh Nam là Vương Đạc cùng tiết độ sứ Hoài Nam là Cao Biền hợp quân lại chặng đường.

Quân khởi nghĩa lần lượt đánh bại 2 đạo quân đó rồi vượt Trường Giang.

Cao Biền sợ hãi, lấy cớ bị trúng phong, ở tịt trong thành Dương Châu không dám ra ứng chiến.

Quân khởi nghĩa vượt qua Hoài Hà, truyền hịch cho các tướng triều đình: "Chúng ta tiến công kinh thành, chỉ hỏi tội hoàng đế, không đụng chạm đến người khác.

Các ngươi ai giữ địa giới người ấy, chớ có xúc phạm tới oai vũ quân ta".

Tướng lĩnh các nơi nhận được hịch truyền đều sợ hãi, chỉ muốn giữ gìn thực lực, không muốn dốc sức vì triều Đường.

Tin tức truyền tới Trường An, Đường Hy Tông sợ hãi khóc sướt mướt trước các triều thần.

Năm 880, Hoàng Sao dẫn 60 vạn đại quân, rầm rộ tới trước Đồng Quan.

Khắp núi non đồng ruộng bên ngoài Đồng Quan đều phủ rợp cờ màu trắng của đoàn quân khởi nghĩa.

Quan quân giữ thành lúc đầu toan cố giữ, Hoàng Sào thân tới trước trận đốc chiến, tướng sĩ quân khởi nghĩa thấy Hoàng Sào, đều hoan hô vang dậy, tiếng hò reo vang dội khắp núi, nghe như trời rung đất chuyển.

Quân triều đình kinh hồn mất vía, sợ hãi đốt bỏ doanh trại rồi ôm đầu chạy trốn.

Quân khởi nghĩa chiếm được Đồng Quan, khiến triều đình kinh hoàng hỗn loạn.

Đường Hy Tông và đầu sỏ hoạn quan Điền Lệnh Tư dẫn các phi tần và hoàng thất chạy vào Thành Đô.

Các quan triều đình không kịp chạy trốn, đều ra ngoài thành đầu hàng.

Chiều hôm đó, Hoàng Sào ngồi trên kiệu vàng, có các tướng hộ vệ, tiến vào thành Trường An.

Trăm họ trong kinh thành, già trẻ lớn bé dắt díu nhau đứng chật đường chào đón.

Đại tướng nghĩa quân Thượng Nhượng tuyên bố trước dân chúng: "Hoàng Vương khởi binh là vì trăm họ, chứ không ngược đãi dân chúng như họ Lý (họ của hoàng đế triều Đường).

Trăm họ hãy an cư lạc nghiệp".

Binh sĩ của nghĩa quân thấy dân chúng nghèo khổ quá, đều đem chia cho họ những tài sản lấy được.

Mấy hôm sau, Hoàng Sào lên ngôi hoàng đế ở cung Đại Minh trong thành Trường An, đổi quốc hiệu là Đại Tề.

Trải qua 7 năm chiến đấu, cuối cùng quân khởi nghĩa đã giành được thắng lợi.

Nhưng quân khởi nghĩa Hoàng Sào do tác chiến lưu động dài ngày, không để quân lại đóng giữ tại những vùng đã đóng chiếm được.

Sau khi mấy chục vạn quân khởi nghĩa tiến vào Trường An, khắp vùng xung quanh vẫn còn thế lực quân Đường.

Chẳng bao lâu sau, triều Đường điều binh mã các nơi về bao vây Trường An.

Việc cung cấp lương thực cho Trường An gặp khó khăn nghiêm trọng.

Hoàng Sào phái đại tướng Chu Ôn giữ Đồng Châu (nay là Đại Lệ, Thiểm Tây).

Nhưng, trong lúc quân khởi nghĩa gặp khó khăn nhất, thì Chu Ôn đầu hàng triều Đường, trở thành tên phản bội nhục nhã.

Triều Đường lại mời lực lượng dân tộc thiểu số là Sa Đà (1 dân tộc ở tây bắc Trung Quốc thời cổ) hợp sức với tiết độ sứ Nhạn Môn Lý Khắc Dụng dẫn 4 vạn kỵ binh tiến công Trường An.

15 vạn nghĩa quân nghinh chiến, nhưng bị đại bại, đành phải rút khỏi Trường An.

Hoàng Sào dẫn quân khởi nghĩa lui tới Hà Nam, lại bị Chu Ôn và Lý Khắc Dụng vây đánh.

Năm 884, sau khi thất bại trong trận tiến đánh Trần Châu (nay là Hoài Dương, Hà Nam), Hoàng Sào bị quan quân đuổi riết và cuối cùng đã hy sinh anh dũng ở Lang Hồ Cốc thuộc dãy Thái Sơn.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NGÀY TÀN CỦA TRIỀU ĐƯỜNG


Sau khi khởi nghĩa Hoàng Sào thất bại, Đường Hy Tông trở về Trường An.

Lúc này, chính quyền trung ương của triều Đường chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa.

Phiên trấn các vùng đều mở rộng thế lực trong qua trình trấn áp quân khởi nghĩa, giành giật địa bàn với nhau, hình thành rất nhiều thế lực cát cứ to nhỏ khác nhau.

Trong số đó, có 2 lự lượng lớn mạnh nhất là tiết độ sứ Hà Đông Lý Khắc Dụng và tiết độ sứ Tuyên Vũ (trị sở nay ở Khai Phong, Hà Nam) Chu Ôn.

Chu Ôn xuất thân trong 1 gia đình nghèo, từ nhỏ là kẻ du thủ du thực.

Trong số 3 anh em, hắn là kẻ hung ác và gian trá nhất.

Sau khởi nghĩa Hoàng Sào, hắn tham gia nghĩa quân, được Hoàng Sào trọng dụng và được trao chỉ huy 1 đội quân lớn.

Đến giờ phút nguy cấp nhất, hắn trở cờ, dẫn đơn vị đầu hàng quân Đường và đóng vai trò đắc lực trong việc giúp triều Đường đàn áp nghĩa quân.

Đường Hy Tông thưởng cho Chu Ôn quan cao lộc hậu và còn ban cho hắn 1 cái tên đẹp "Toàn Trung" (hết lòng trung.

Từ đó, Chu Ôn cũng được gọi là Chu Toàn Trung) rồi cử hắn dẫn quân đàn áp quân khởi nghĩa.

Khi Hoàng Sào lui từ Trường An đến Hà Nam, binh lực còn rất mạnh.

Quân khởi nghĩa tiến đánh Biện Châu (Khai Phong ngày nay), trị sở của Tuyên Vũ thuộc quyền tiết độ sứ Chu Ôn.

Túng thế, Chu Ôn liền cầu cứu Lý Khắc Dụng.

Lý Khắc Dụng đem quân tới, đánh bại quân khởi nghĩa, rồi vào thành Biện Châu.

Chu Ôn nảy ra mưu độc, vờ bày tiệc chiêu đãi ân nhân, chuốc rượu cho Lý Khắc Dụng say túy lúy rồi đem quân vây chặt nhà khách, toan giết Lý Khắc Dụng.

Dụng được mấy thân binh liều mình cứu thoát, phá vây chạy ra được.

Từ đó, Lý Khắc Dụng thâm thù Chu Ôn, 2 lực lượng cát cứ đó đánh nhau kịch liệt.

Về sau, lực lượng Chu Ôn ngày càng mạnh, Lý Khắc Dụng phải lui về thế thủ, cố sao giữ vững được vùng Hà Đông.

Sau khi Đường Hy Tông chết, em ông ta là Đường Chiêu Tông Lý Diệp muốn dựa vào triều thần để chống lại hoạn quan, nhưng nhiều lần không thành công.

Sau đó, bọn hoạn quan giam lỏng Đường Chiêu Tông lại và lập hoàng đế khác.

Sự kiện đó đã tạo cơ hội tốt cho kẻ luôn ấp ủ dã tâm như Chu Ôn.

Hắn liền cử thân tín lẻn về Trường An, bí mật bàn kế hoạch với tể tướng Thôi Dậu.

Thôi Dậu có chỗ dựa là lực lượng vũ trang của Chu Ôn, liền đem quân giết tên đứng đầu hoạn quan là Lôi Quí Thuật, đón Đường Chiêu Tông về lại ngôi hoàng đế.

Đường Chiêu Tông và Thôi Dậu còn muốn giết hết hoạn quan.

Bọn này liền dựa vào lực lượng của Lý Mậu Trinh, tiết độ sứ Phượng Tường, cướp lấy Đường Chiêu Tông đem đi Phượng Tường.

Thôi Dậu cầu cứu Chu Ôn, Chu Ôn liền đem quân tiến công Phượng Tường, yêu cầu Lý Mậu Trinh trao trả Đường Chiêu Tông.

Binh lực của Lý Mậu Trinh yếu hơn Chu Ôn nên liên tiếp thua trận.

Quân Chu Ôn vây chặt Phượng Tường.

Trong thành hết lương thực, lại gặp mùa đông, tuyết xuống nhiều, quân lính và dân trong thành chết đói và chết rét nhiều không kể xiết.

Lý Mậu Trinh kế cùng, lực kiệt, đành phải đầu hàng.

Chu Ôn chiếm được Phượng Tường, cướp lại được Đường Chiêu Tông, đem về Trường An.

Từ đó, quyền lực trong triều từ tay hoạn quan chuyển sang tay Chu Ôn.

Số phận Đường Chiêu Tông càng thảm bại hơn trước.

Sau khi nắm được đại quyền, Chu ÔN liền giết sạch hoạn quan rồi ép Đường Chiêu Tông dời đô đi Lạc Dương.

Khi ra khỏi Trường An, hắn hạ lệnh dỡ hết cung điện, dinh quan và nhà dân, chuyên chở vật liệu đi Lạc Dương, đồng thời buộc toàn thể quan lại và dân chúng đều phải tới Lạc Dương.

Nhân dân Trường An dắt díu người già, trẻ nhỏ buộc phải lên đường dưới sự đốc thúc của quân lính.

Suốt đường dài vang dậy tiếng kêu khóc và nguyền rủa của dân chúng.

Đường Chiêu Tông đến Lạc Dương, muốn bí mật triệu phiên trấn các địa phương đến cứu, nhưng chưa chờ được tới lúc đó thì đã bị Chu Ôn giết chết.

Sau đó, Chu Ôn lập 1 thằng bé mới 13 tuổi lên làm hoàng đế bù nhìn.

Đó là Đường Chiêu Tuyên Đế, sau cũng còn gọi là Ai Đế.

Hoạn quan đã hết, hoàng đế thực sự cũng đã hết, nhưng còn lại quí tộc và đại thần cũ của triều Đường.

Mưu sĩ của Chu Ôn nói với hắn: "Bọn này rất khó đối phó.

Muốn tính chuyện lớn, thì phải tống cổ hết chúng đi!".

Một mưu sĩ khác tên là Lý Chấn, có biệt hiệu "chim ưng đầu mèo", vì không thi đỗ tiến sĩ nên thâm thù các đại thần.

Hắn nói với Chu Ôn: "Bọn này thường ngày tự cho là thanh cao, tự gọi mình là "thanh lưu" (dòng nước trong), nên ném tất cả chúng xuống "trọc lưu" (dòng nước đục - ý nói dòng Hoàng Hà) cho rảnh!".

Chu Ôn liền làm theo lời hắn, trong 1 đêm tối trời, tập trung tất cả 39 đại thần lại, giết hết và vứt xác xuống Hoàng Hà.

Năm 907, Chu Ôn phế Đường Chiêu Tuyên Đế, tự lập làm hoàng đế, đổi quốc hiệu là Lương, đóng đô ở Biện Kinh (tức Biện Châu, tức Khai Phong, Hà Nam ngày nay).

Tên phản bội Chu Ôn trở thành Lương Thái Tổ.

Triều Đường từng thống trị Trung Quốc 300 năm, tới đây chấm dứt.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
"HẢI LONG VƯƠNG" TIỀN LƯU


Trong hơn 30 năm kể từ khi Chu Ôn lập nên triều Lương, miền Trung nguyên trước sau thay đổi 5 vương triều là Lương, Đường, Tấn, Hán, Chu, lịch sử sau này gọi 5 vương triều thời kì này là Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu; gộp chung lại gọi là "Ngũ Đại" (5 đời).

Trong thời Ngũ Đại, ở miền nam Ba Thục vẫn còn nhiều chính quyền cát cứ, người xưng đế, kẻ xưng vương, trước sau lập nên 9 nước là: Tiền Thục, Ngô, Mân, Ngô Việt, Sở, Nam Hán, Nam Bình, Hậu Thục, Nam Đường.

Ở miền bắc còn có nước Bắc Hán.

Cộng cả lại, ngoài 5 vương triều nối tiếp nhau kể trên, còn có 10 nước cát cứ khác.

Do đó, thời Ngũ Đại cũng được gọi là thời Ngũ Đại Thập Quốc ( đời 10 nước).

Không lâu sau khi Chu Ôn lên ngôi hoàng đế triều Lương, tiết độ sứ Trấn Hải (trị sở ở Hàng Châu, Triết Giang ngày nay) là Tiền Lưu phái người đến Biện Kinh chúc mừng sớm nhất, tỏ ý tình nguyện xưng thần.

Chu Ôn hết sức phấn khởi, lập tức phong Tiền Lưu làm Ngô Việt vương.

Tiền Lưu vốn xuất thân là dân nghèo, thời trẻ đã từng đi buôn muối, sau đó đến làm bộ tướng dưới quyền Đổng Xương, tướng giữ Triết Tây.

Khi nghĩa quân Hoàng Sào đánh Triết Đông, Tiền Lưu với 1 binh lực nhỏ đã giữ được Lâm An (nay là Hàng Châu, Triết Giang).

Vương triều Đường thấy Tiền Lưu có công, liền phong làm Đô chỉ huy sứ, sau lại phong lên chức tiết độ sứ.

Sau khi lên chức tiết độ sứ, Tiền Lưu trở nên phô trương.

Ông ta cho xây dựng dinh thự tráng lệ ở Lâm An, mỗi lần ra khỏi dinh đều có xe ngựa và binh lính hộ tống.

Cha Tiền Lưu thấy thế rất không bằng lòng, mỗi lần Tiền Lưu sắp đi đâu, ông đều tránh mặt.

Khi biết cha cố ý lánh mình, Tiền Lưu rất áy náy.

Một hôm, ông không dùng xe ngựa, không đem theo tùy tòng, đi bộ một mình tới nhà người cha, hỏi lý do.

Người cha tuổi đã già nói: "Gia tộc nhà ta đời đời sinh sống bằng nghề đánh cá và làm ruộng, chưa có ai giàu sang và có quyền thế.

Nay anh vươn được tới địa vị đó, ở vào hoàn cảnh xung quanh đều đầy rẫy kẻ chống đối mà còn muốn tranh thành đoạt đất với người ta, thì cha lo rằng nhà họ Tiền sau này sẽ gặp tai họa".

Tiền Lưu nghe cha nói như vậy, hứa sẽ ghi nhớ lời căn dặn đó.

Sau đó, ông dẹp bỏ tham vọng, chỉ lo sao giữ được vùng đất nhỏ bé của mình thôi.

So với nước Ngô lớn mạnh ở phía bắc, nước Ngô Việt của Tiền Lưu rất nhỏ, thường bị các nước khác uy hiếp.

Sống lâu dần trong hoàn cảnh không ổn định, Tiền Lưu tạo nên và duy trì 1 thói quen cảnh giác.

Ban đêm, để cho khỏi ngủ quá say, ông luôn gối đầu lên 1 khúc gỗ tròn, đặt tên là "chiếc gối cảnh giác".

Nếu ngủ quá say, đầu trượt khỏi gối, gối sẽ lăn khỏi giường làm cho ông ta giật mình thức dậy.

Trong phòng ngủ ông ta còn để sẵn 1 cái bàn, trên phủ 1 lớp bột trắng mỏng.

Nếu chợt nghĩ ra ý nghĩ gì, liền lập tức trở dậy, dùng ngón tay viết lên bột để ghi ngay lại, phòng hôm sau có thể quên.

Không những bản thân rèn luyện tinh thần cảnh giác và tác phong cần mẫn, mà Tiền Lưu còn rất nghiêm khắc với tướng sĩ dưới quyền.

Xung quanh dinh, đêm nào cũng có binh lính canh gác, tuần phòng.

Một đêm, 1 tên lính gác ngồi ở xó tường ngủ gật; bỗng thấy bên kia tường bay sang mấy viên bi đồng, rơi xuống ngay cạnh, khiến anh ta giật mình tỉnh táo hẳn lại.

Sau, anh lính đó biết rằng mấy viên bi đồng đó là do Tiền Lưu ném sang.

Từ đó, không binh lính nào còn dám ngủ gật trong khi gác nữa.

Lại 1 đêm khác, Tiền Lưu mặc thường phục, từ bên ngoài muốn vào thành theo lối cửa bắc.

Cửa thành đã đóng, Tiền Lưu gọi to yêu cầu mở cửa, nhưng lính giữ cửa nhất định không mở.

Tiền Lưu nói: "Ta được Đại vương cử ra ngoài làm việc, bây giờ phải về gấp để trình công việc".

Người giữ cửa trả lời: "Đêm khuya rồi.

Đừng nói là người do Đại vương cử đi mà ngay cả đến bản thân Đại vương chăng nữa, cũng không thể mở".

Tiền Lưu đành đi một nửa vòng thành, rồi vào theo lối cửa nam.

Hôm sau, ông ta gọi người giữ cửa bắc vào, khen làm việc nghiêm túc và thưởng cho 1 số tiền.

Nhờ sự tỉ mỉ thận trọng nên Tiền Lưu giữ vững được địa vị thống trị ở Ngô Việt.

Nước Ngô Việt tuy nhỏ nhưng nhờ 1 thời gian dài không có chiến tranh nên kinh tế mỗi ngày một thịnh vượng.

Chính vào thời điểm đạt tới thịnh vượng, thì Tiền Lưu lại trở lại cuộc sống xa hoa.

Ông cho mở rộng thành Lâm An thêm 30 dặm, xây dựng rất nhiều đình đài lầu các, tôn tạo vương phủ của mình như 1 long cung.

Để làm việc đó, nhân dân phải đóng góp rất nặng nề.

Tiền Lưu còn điều dân phu đắp con đê đá dọc sông Tiền Đường và xây các cống dưới thân đê để điều tiết mức nước và ngăn nước biển xâm nhập.

Ngoài ra, còn sai đục bỏ đá ngầm dọc sông, làm cho thuyền bè đi lại thuận tiện.

Vì Tiền Lưu có công trong việc xây dựng thủy lợi, nên dân gian đặt cho ông 1 biệt danh là "Hải Long Vương".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
CON HÁT LÀM QUAN


Khi Chu Ôn xây dựng triều Lương, ở miền bắc còn có 2 thế lực cát cứ tương đối lớn, đó là Lưu Nhân Cung ở U Châu và Tấn vương Lý Khắc Dụng ở Hà Đông.

Thời đó, tộc Khiết Đan ở miền bắc bắt đầu phát triển lớn mạnh.

Thủ lĩnh Khiết Đan là Da Luật A Bảo Cơ đã thống nhất các bộ tộc Khiết Đan, lập nên 1 chính quyền thống nhất.

Năm 907, A Bảo Cơ dẫn 30 vạn người ngựa đánh vào Vân Châu (trị sở Đại Đồng, Sơn Tây hiện nay).

Lý Khắc Dụng muốn lợi dụng binh lực Khiết Đan để đối phó với Chu Ôn, nên bắt liên lạc A Bảo Cơ, 2 bên gặp nhau ở phía đông thành Vân Châu, kết làm anh em, hẹn ngày cùng đánh Lương.

Nhưng A Bảo Cơ về tới Khiết Đan, suy nghĩ lại, thấy thế lực Chu Ôn lớn mạnh, không thực hiện giao ước với Lý Khắc Dụng, mà cử người tới kết thành đồng minh với Chu Ôn.

Lý Khắc Dụng được tin đó, tức uất người, sinh bệnh.

Vào mùa xuân năm sau, ông ta lại mọc nhọt sau lưng, nằm liệt giường.

Tự biết mình khó còn trở dậy được, Lý Khắc Dụng gọi con là Lý Tồn Húc tới bên giường, dặn dò: "Chu Ôn là kẻ thù của gia đình ta, điều đó không cần nói con cũng đã biết; Lưu Nhân Cung là kẻ do cha tiến cử, thế mà lại phản phúc, dựa vào Chu Ôn; A Bảo Cơ đã từng kết nghĩa anh em với ta, sau lại xé bỏ minh ước, trở mặt quay sang với Chu Ôn.

Ba mối hận đó nếu không giải được thì cha chết cũng khó lòng nhắm mắt".

Vừa nói ông ta vừa gọi người hầu đem đến 3 mũi tên, tự mình trao cho Lý Tồn Húc rồi nói tiếp: "Cha để lại cho con ba mũi tên này, con cần ghi nhớ ba kẻ thù đó để trả hận cho nhà ta".

Lý Tồn Húc quỳ bên giường, nước mắt lưng tròng, nhận 3 mũi tên, hứa xin đinh ninh ghi nhớ lời căn dặn của cha.

Lý Khắc Dụng nghe vậy mới nhắm mắt, trút hơi thở cuối cùng.

Sau khi Lý Khắc Dụng chết, Lý Tồn Húc nối tước vị của cha, làm Tấn vương.

Ông ta chuyên tâm huấn luyện quân đội, chấn chỉnh kỷ luật, biến binh sĩ tộc Sa Đà từ chỗ lỏng lẻo trở thành đội quân tinh nhuệ, thiện chiến.

Lý Tồn Húc quyết tâm tiêu diệt kẻ thù, đặt 3 mũi tên do cha để lại vào trong miếu thờ của gia đình để thờ cúng long trọng.

Mỗi lần xuất chinh, ông ta đều phái 1 viên quan vào miếu lấy 3 mũi tên đó, đựng trong 1 túi lụa thêu thùa rất đẹp, đem theo ra trận.

Sau khi đánh thắng, lại đặt trả chúng vào miếu thờ.

Lý Tồn Húc đem quân giao chiến với quân Lương mấy trận lớn, đánh cho 50 vạn quân Lương dưới quyền thống lĩnh của Chu Ôn thua tan tác, rút chạy nhục nhã.

Chu Ôn vừa tức giận vừa xấu hổ, phát bệnh mà chết.

Sau đó, Lý Tồn Húc lại đánh phá U Châu, bắt sống 2 cha con Lưu Nhân Cung và Lưu Thủ Quang, giải về Thái Nguyên.

Năm 916, Da Luật A Bảo Cơ lên ngôi hoàng đế.

Năm năm sau liền đem quân tiến xuống phương nam, Lý Tốn Húc thân dẫn quân đội đánh tan quân Khiết Đan, đuổi A Bảo Cơ về phương bắc.

Sau khi Chu Ôn chết, con là Lương Mạt Đế lại cũng Lý Tồn Húc giao tranh trong khoảng 10 năm trời.

Đến năm 923, Lý Tồn Húc diệt triều Lương, thống nhất miền bắc Trung Quốc lên ngôi hoàng đế, đổi quốc hiệu Đường, đóng đô ở Lạc Dương.

Đó là Hậu Đường Trang Tông.

Đường Trang Tông báo thù được cho cha, cảm thấy thỏa lòng, mãn nguyện; cho rằng kẻ thù đã hết, miền Trung nguyên đã an định, liền mưu cầu hưởng lạc.

Từ nhỏ, ông đã thích xem và tham gia biểu diễn ca kịch, chuyên phục vụ vương gia.

Ngay từ nhỏ, Đường Trang Tông đã rất thân với các con hát.

Sau khi cha mất, mải lo việc trận mạc, ông ta phải gác ham thích đó lại.

Đến khi ;ên làm hoàng đế, ông ta trở lại say mê ca kịch, suốt ngày ở chỗ các con hát, mặc quần áo diễn viên lên sân khấu biểu diễn, bỏ hết mọi việc quốc gia đại sự.

Ông còn tự đặt cho mình 1 nghệ danh (tên riêng dùng khi làm ca kịch) là "Lý Thiên Hạ".

Một hôm, trong khi đang sắm vai, ông tự xưng 2 lần: "Lý Thiên Hạ!

Lý Thiên Hạ!".

Một con hát nhảy ra tát luôn cho ông 2 cái, khiến bản thân ông cũng ngớ người, không hiểu ra sao.

Những con hát khác thất kinh, vội xông tới túm lấy con hát kia quở trách.

Con hát đã tát ông liền cười hì hì nói: "Cai trị thiên hạ thì chỉ có một người là hoàng đế.

Vai diễn này lại gọi tới hai lần, thì lấy đâu ra một người nữa?".

Đường Trang Tông nghe hắn nói, biết hắn cố ý đùa mình, nên tuy bị 2 cái tát vẫn không tỏ vẻ giận.

Bọn con hát được Đường Trang Tông chiều chuộng, có quyền tự do ra vào cung cấm.

Chúng có thể đùa giỡn với hoàng đế nên không coi các quan ra gì.

Các quan chức triều đình bị chúng khinh nhờn, tuy rất bực tức nhưng không ai dám làm gì chúng.

Một số quan chức muốn được chúng nói tốt cho mình trước Đường Trang Tông, phải đem lễ vật đút lót.

Có 1 con hát là Cảnh Tiến, chuyên làm việc thăm dò tình hình bên ngoài để báo cáo cho Trang Tông.

Ai không đối đãi tốt với hắn, hắn sẽ nói xấu với Đường Trang Tông và người đó sẽ khốn đốn.

Vì vậy, các quan chức trong triều, ai cũng sợ Cảnh Tiến.

Đường Trang Tông muốn phong 2 con hát làm thứ sử.

Có người khuyên can: "Hiện nay triều Đường ta vừa được lập nên, nhiều tướng sĩ từng theo bệ hạ chinh chiến nhiều năm vẫn chưa được phong thưởng.

Nếu bây giờ lại phong con hát làm thứ sử, sợ rằng lòng người không phục".

Đường Trang Tông bỏ ngoài tai, vẫn phong con hát làm quan.

Một số tướng sĩ hết sức bất bình vì việc đó.

Vài năm sau, nội bộ triều đình Hậu Đường sinh rối loạn, đại tướng Quách Sùng Thao bị hại; 1 đại tướng là Lý Tự Nguyên (con nuôi Lý Khắc Dụng) cũng bị nghi kỵ, suýt nữa thì mất mạng.

Lý Đức Nguyên được các tướng sĩ ủng hộ, quyết định chống lại Đường Trang Tông.

Ông ta dẫn quân đánh vào Biện Kinh, chuẩn bị tự lập làm hoàng đế.

Từ Lạc Dương, Đường Trang Tông nhận được tin đó, muốn trở về Biện Kinh; nhưng tới nửa đường, được tin Lý Tự Nguyên đã chiếm được rồi và được nhiều tướng lĩnh ủng hộ.

Biết mình đã hoàn toàn bị cô lập, Đường Trang Tông ủ rũ nói với tả hữu: "Lần này thì ta đi đời rồi!".

Về tới Lạc Dương, Đường Trang Tông còn muốn tổ chức chống lại Lý Đức Nguyên, nhưng Quách Tòng Khiêm, viên chỉ huy sứ Thân quân của ông ta, vốn cũng là con hát, nhưng đã nhận đại tướng Quách Sùng Thao làm chú.

Sau khi Quách Sùng Thao bị giết, Quách Tòng Khiêm rất căm giận.

Nhân dịp này, dẫn đầu Thân quân nổi loạn, đánh vào hoàng cung.

Đường Trang Tông không kịp chống lại, bị 1 phát tên bắn chết.

Lý Tự Nguyên lên ngôi hoàng đế Hậu Đường.

Đó là Đường Minh Tông.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
"HOÀNG ĐẾ CON" THẠCH KÍNH ĐƯỜNG


Khi Đường Minh Tông trị vì, dưới quyền ông ta có 2 viên đại tướng, 1 là Lý Tòng Kha, con đẻ của ông ta; 1 là phò mã Thạch Kính Đường, tiết độ sứ Hà Đông.

Cả 2 đều dũng cảm thiện chiến, nhưng lại không phục nhau, tới khi Đường Minh Tông chết, Lý Tòng Kha lên ngôi hoàng đế, tức là Hậu Đường Mạt Đế, Thạch Kính Đường liền công khai chống lại.

Đường Mạt Đế phái mấy vạn quân tiến đánh thành Tấn Dương, trị sở của Thạch Kính Đường.

Đường không chống nổi, Tấn Dương lâm vào tình thế vô cùng nguy cấp.

Mưu sĩ của Đường là Tang Duy Hàn nêu ý kiến là nên cầu cứu Khiết Đan.

Khi đó, Da Luật A Bảo Cơ đã chết, con là Da Luật Đức Quang nối ngôi cha làm quốc vương.

Tang Duy Hàn giúp Thạch Kính Đường thảo 1 bức thư cầu cứu gửi Da Luật Đức Quang, tỏ ý tình nguyện tôn Da Luật Đức Quang làm cha và hứa là sau khi giúp đánh bại quân Đường, sẽ cắt 16 châu Yên Vân (còn gọi là 16 châu của U Vân, chỉ U Châu, Vân Châu...thuộc miền bắc 2 tỉnh Hà Bắc, Sơn Tây ngày nay) ở phía bắc Nhạn Môn Quan, để hiến cho Khiết Đan.

Hành động đầu hàng của Thạch Kính Đường bị 1 số tướng lĩnh dưới quyền phản đối.

Bộ tướng Lưu Tri Viễn nói: "Chúa công cầu cứu và xưng thần với Khiết Đan thì còn có thể biện hộ được, nhưng còn tôn Da Luật làm cha thì quá đáng; thêm nữa nếu hứa biếu hắn một số vàng bạc của cải thì còn được, chứ quyết không nên cắt nhượng đất đai".

Thạch Kính Đường chỉ lo sao giữ được địa vị và lợi ích nên không chịu nghe theo lời khuyên của Lưu Tri Viễn.

Đường vội vã phái Tang Duy Hàn mang theo bức thư bức thư nhục nhã trên đi gặp Da Luật Đức Quang.

Da Luật Đức Quang vốn đã có ý định mở mang đất đai về hướng nam, nên khi nhận được những điều kiện hậu hĩ như vậy của Thạch Kính Đường thì vui mừng khôn xiết, lập tức phái 5 vạn kỵ binh tinh nhuệ đi cứu Tấn Dương.

Thạch Kính Đường từ trong thành Tấn Dương đem quân đánh ra.

Bị 2 đại quân đánh ép lại, quân Đường đại bại.

Da Luật Đức Quang đưa quân vào Tấn Dương, Thạch Kính Đường thân ra ngoài thành tiếp đón, khom lưng quỳ gối, kính cẩn gọi Da Luật Đức Quang ít hơn mình 10 tuổi làm cha và còn thỉnh giáo xem quân Khiết Đan dùng cách nào mà đánh bại quân Đường nhanh đến như thế.

Da Luật Đức Quang được thể khoác lác 1 hồi, Đường tỏ ra vô cùng khâm phục, khiến Da Luật Đức Quang rất hài lòng mãn ý.

Da Luật Đức Quang thấy Thạch Kính Đường thực lòng muốn dựa vào mình, liền nói với Đường: "Ta rong ruổi ba ngàn dặm tới đây để cứu ngươi thực không uổng công.

Xem diện mạo và phong độ của ngươi, xứng đáng làm người chủ Trung nguyên, vậy ta phong ngươi làm hoàng đế".

Thạch Kính Đường mừng rỡ, nhưng còn vờ vịt từ chối, sau do bộ hạ thúc giục, mới xin nhận.

Quốc vương Khiết Đan chính thức phong Thạch Kính Đường làm hoàng đế.

Sau khi lên ngôi, Đường lập tức thực hiện lời hứa, cắt 16 châu thuộc Yên Vân nhường cho Khiết Đan.

Dựa vào sự giúp đỡ của Khiết Đan, Thạch Kính Đường đem quân xuống phía nam đánh Lạc Dương.

Đường Mạt Đế Lý Tòng Kha liên tiếp thua trận, bị thanh thế của quân Khiết Đan làm cho khiếp đảm mất hết ý chí, suốt ngày uống rượu rồi ôm mặt khóc chờ ngày bị tiêu diệt, không còn một chút dũng khí nào để chống cự nữa.

Khi quân Thạch Kính Đường chưa vào được Lạc Dương, Đường Mạt Đế đã châm lửa đốt cung điện rồi cùng gia đình nhảy vào lửa.

Thạch Kính Đường chiếm được Lạc Dương, diệt nhà Hậu Đường, chính thức lên làm hoàng đế Trung nguyên, đổi quốc hiệu là Tấn, đóng đô ở Biện Kinh (Khai Phong ngày nay).

Đó là Cao Tổ của Hậu Tấn.

Thạch Kính Đường cảm tạ ân đức của Da Luật Đức Quang, dâng tấu chương lên quốc vương Khiết Đan, gọi Da Luật Đức Quang là "Phụ hoàng đế" (hoàng đế cha), tự xưng là "Nhi hoàng đế" (hoàng đế con).

Ngoài việc hàng năm phải tiến cống cho Khiết Đan 30 vạn tấm vải lụa.

Ngày lễ ngày tết, còn phải cử sứ giả mang đồ mừng sang dâng cho quốc vương, thái hậu và đại thần Khiết Đan.

Những người trên nếu không vừa lòng, cử người đến quở trách, Thạch Kính Đường phải cung kính dâng lễ vật tạ tội.

Sứ giả triều Tấn cử sang Khiết Đan, các quan chức Khiết Đan đều đối xử ngạo mạn, nói nhiều lời lăng nhục.

Sứ giả trở về Biện Kinh, kể lại những điều nhục nhã đó, các quan trong triều đều cảm thấy mất mặt, chỉ có Đường là vẫn thản nhiên, coi như không có chuyện gì.

Thạch Kính Đường dựa vào sự bảo hộ của Khiết Đan, làm hoàng đế con nhục nhã trong 7 năm rồi ốm chết.

Cháu ông ta là Thạch Trọng Quí lên ngôi.

Đó là Tấn Xuất Đế.

Khi dâng tấu chương lên quốc vương Khiết Đan, Tấn Xuất Đế tự xưng là cháu mà không xưng là thần.

Da Luật Đức Quang cho như vậy là bất kính, liền đem quân tiến đánh.

Cả 2 lần tiến đánh của quân Khiết Đan đều gặp phải sự chống trả kịch liệt của quân dân triều Tấn nên đều thất bại thảm hại.

Nhưng lần cuối cùng, do sự thông đồng, phản bội của Hán gian, quân Khiết Đan chiếm được Biện Kinh, Tấn Xuất Đế bị bắt làm tù binh, bị giải về Khiết Đan.

Triều Hậu Tấn diệt vong.

Năm 947, Da Luật Đức Quang tiến vào Biện Kinh, tự xưng là Đại Liêu hoàng đế (năm đó, Khiết Đan đổi quốc hiệu là Liêu).

Trăm họ trong kinh thành thấy quân Liêu tiến vào đều ùn ùn chạy loạn.

Quốc vương Liêu Da Luật Đức Quang trèo lê lầu thành, sai người dùng tiếng Hán kêu gọi: "Dân chúng chớ có sợ, ta cũng là người, ta vốn không định tới đây, nhưng người Hán mời ta vào đây.

Ta sẽ đảm bảo cho đời sống các ngươi được sung sướng hơn".

Nói như vậy nhưng ông ta hành động hoàn toàn ngược lại.

Mượn cớ phái binh lính đi chăn ngựa, Da Luật Đức Quang dung túng cho quân Liêu thả sức cướp bóc của cải của dân, làm cho suốt vùng Biện Kinh, Lạc Dương, tới mấy trăm dặm không còn 1 bóng người.

Mặt khác, Da Luật Đức Quang còn bắt các quan chức triều Tấn đi thu góp tiền bạc, vải vóc để "khao quân".

Trăm họ vùng Trung nguyên không chịu nổi cảnh tàn sát, cướp bóc của quân Liêu, liền tự động tổ chức nghĩa quân, đánh bại quân Liêu khắp nơi.

Từng đội nghĩa quân, nơi thì mấy ngàn, nơi thì mấy vạn người, liên tục đánh phá các châu huyện, giết các quan lại do quân Liêu cử ra.

Nghĩa quân ở miền đông có thanh thế lớn nhất, đánh chiếm được 3 châu.

Da Luật Đức Quang hoảng sợ, nói với tùy tòng: "Thật không ngờ dân Trung nguyên lại khó trị thế này!".

Một thời gian sau, ông ta triệu tập các quan lại người Hán tới, tuyên bố: "Thời tiết nóng nực, ta ở đây không quen, phải trở về thượng quốc (chỉ nước Liêu) để thăm thái hậu".

Quân Liêu bị buộc rút khỏi Trung nguyên, nhưng 16 châu Yên Vân bị Thạch Kính Đường cắt nhượng vẫn bị quí tộc Khiết Đan chiếm cứ, trở thành căn cứ sau này để chúng tiếp tục tiến công Trung nguyên.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
CHU THẾ TÔNG GẠT BỎ PHÙNG ĐẠO


Khi quân Liêu rút lui khỏi Khai Phong, Lưu Tri Viễn, đại tướng của Hậu Tấn liền xưng đế ở Thái Nguyên rồi dẫn quân xuống phía nam.

Dọc đường tiến quân, quân đội của Lưu Tri Viễn giữ kỷ luật nghiêm minh, được nhân dân Trung nguyên hoan nghênh và ủng hộ.

Tướng Liêu ở các địa phương nghe tiếng đồn, đều hoang mang rút chạy.

Trong 1 thời gian ngắn, Lưu Tri Viễn đã thu phục được Lạc Dương, Biện Kinh.

Tháng 6 năm đó (947), Lưu Tri Viễn định đô ở Biện Kinh, đổi quốc hiện là Hán.

Đó là hoàng đế Cao Tổ của Hậu Hán.

Lưu Tri Viễn làm hoàng đế được 10 tháng thì chết, con là Lưu Thừa Hựu nối ngôi.

Đó là Hậu Hán Ẩn Đế.

Lúc này, nội bộ triều Hậu Hán xảy ra động loạn.

Ẩn Đế sợ các tướng có quyền lực quá lớn, nên bí mật sai người đến Nghiệp Thành ám sát đại tướng Quách Uy, bị Quách Uy phát hiện, đem quân nổi dậy chống lại.

Năm 950, Quách Uy lật đổ triều Hậu Hán, được các tướng sĩ tôn lên làm hoàng đế.

Năm 951, Quách Uy lên ngôi tại Biện Kinh, đổi quốc hiệu là Chu, đó là Hậu Chu Thái Tổ.

Vì xuất thân nghèo khổ nên Hậu Chu Thái Tổ Quách Uy hiểu được nỗi khổ của dân.

Ông cũng được học hành chút ít, nên chú ý trọng dụng nhân tài và quan tâm cải cách chính trị.

Dưới sự cai trị của quách Uy, tình hình hỗn loạn của thời Ngũ Đại bắt đầu được an định lại.

Khi Hậu Chu mới thành lập, em của Lưu Tri Viễn là Lưu Sùng không phục tùng sự thống trị của Hậu Chu, liền chiếm cứ Thái Nguyên, trở thành 1 chính quyền cát cứ.

Lịch sử gọi chính quyền này là Bắc Hàn (một trong 10 nước).

Để đối kháng với Hậu Chu, Lưu Sùng liền nương tựa vào nước Liêu, tôn vua Liêu làm "hoàng đế chú", nhiều lần nhờ sự giúp đỡ của quân Liêu, đem quân đánh Hậu Chu nhưng đều bị Chu Thái Tổ đánh bại.

Năm 954, Chu Thái Tổ mất, ông không có con trai.

Sai hoàng hậu có người cháu là Sài Vinh, từ nhỏ đã thông minh lanh lợi, lại giỏi giang võ nghệ, được Chu Thái Tổ nhận làm con.

Khi Chu Thái Tổ mất, Sài Vinh kế thừa ngôi hoàng đế.

Đó là Chu Thế Tông.

Chu Thế Tông vừa lên ngôi, Lưu Sùng ở Bắc Hán cho rằng tình hình triều Chu không ổn định, đây là thời cơ tiến chiếm Trung nguyên, liền tập trung 3 vạn quân và mượn thêm 1 vạn kỵ binh của Liêu, tiến công vào Lạc Châu (trị sở ở Trường Trị, Sơn Tây ngày nay).

Tin tức truyền tới Biện Kinh, Chu Thế Tông lập tức triệu tập các đại thần lại bàn.

Ông ta nêu ý kiến là sẽ dẫn quân thân chính để chống lại liên quân Liêu và Bắc Hán.

Các đại thần nói: "Bệ hạ vừa lên ngôi, lòng người dễ xao động, bệ hạ không nên thân chinh, mà cử một tướng khác đi thì hơn".

Chu Thế Tông nói: "Chu Sùng nhân lúc ta có việc tang, lại có ý coi ta còn trẻ và mới lên ngôi, toan nuốt chửng Trung nguyên.

Lần này đích thân hắn đem quân tới, ta không thể không đích thân đối phó với hắn".

Các đại thần thấy thái độ của Chu Thế Tông kiên quyết như thế, thì không ai nói gì nữa.

Chỉ có 1 lão thần đứng lên phản đối, đó là thái sư Phùng Đạo.

Phùng Đạo là viên tể tướng ngay từ thời Hậu Đường Minh Tông.

Sau đó, trải qua 3 triều đại, vẫn giữ được ngôi vị đó.

Trước mặt các hoàng đế, ông ta giỏi tùy cơ ứng biến khéo ăn nói, nên mọi hoàng đế đều ưa thích.

Khi quân Liêu chiếm Biện Kinh, ông chủ động đến triều kiến vua Liêu.

Các hoàng đế của vương triều mới cũng thích dùng ông.

Vì vậy, dù ở vương triều nào, ông vẫn giữ được chức vị quan trọng, là tể tướng, thái sư, thái phó.

Lần này, Phùng Đạo thấy Chu Thế Tông còn trẻ tuổi, liền thấy tư cách nguyên lão để khuyên ngăn việc xuất chính.

Chu Thế Tông nói với Phùng Đạo: "Xưa kia Đường Thái Tông bình định thiên hạ, đều tự mình cầm quân.

Ta sao có thể chỉ chú ý an toàn cho mình?".

Phùng Đạo cười nhạt nói: "Bệ hạ có thể so được với Đường Thái Tông chăng?".

Chu Thế Tông thấy Phùng Đạo có vẻ coi thường mình, rất bực nói: "Chúng ta có binh lực lớn mạnh, muốn tiêu diệt Lưu Sùng, thật dễ dàng như lấy núi Thái Sơn đè nát trứng, có gì đáng lo?".

Phùng Đạo nói: "Chẳng biết bệ hạ có thể như một trái núi được không?".

Chu Thế Tông nổi giận, phất tay áo rời khỏi triều đình.

Sau đó, 1 số đại thần khác ủng hộ chủ trương của ông.

Chu Thế Tông liền quyết định thân chinh.

Từ đó, Chu Thế Tông hết sức chán ghét Phùng Đạo.

Ít lâu sau, ông cử Phùng Đạo đi trông coi việc tu tạo lăng mộ Chu Thái Tổ.

Phùng Đạo bị gạt bỏ, buồn rầu lâm bệnh rồi chết.

Chu Thế Tông dẫn đại quân đến Cao Bình (thuộc tỉnh Sơn Tây ngày nay) thì gặp quân Bắc Hán.

Hai bên bày trận, chuẩn bị giao tranh.

Lưu Sùng thấy quân Chu không nhiều, kiêu ngạo nói: "Nếu sớm biết thế này, ta cần gì phải mượn quân Khiết Đan nữa.

Lần này, không những ta phải đánh bại quân Chu, mà còn cho Khiết Đan thấy ta lợi hạ thế nào!".

Lưu Sùng chỉ huy quân Bắc Hán tiến công mãnh liệt sang trận địa quân Chu, các tướng chỉ huy hữu quân bên Chu không giữ được, dẫn kỵ binh lui chạy, bộ binh vì vậy cũng đầu hàng rất nhiều.

Thấy tình hình nguy cấp, Chu Thế Tông thân tự xông pha tên đạn đốc chiến.

Hai viên tướng dưới quyền ông là Triệu Khuông Dận và Trương Vĩnh Đức, mỗi người dẫn 2000 thân binh xông sang trận địch.

Binh sĩ Chu thấy Chu Thế Tông trầm tĩnh ứng chiến, cũng hăng hái xung sát, 1 người địch nổi 100 người, tranh nhau xông sang đất địch.

Quân Bắc Hán bị đánh tan vỡ như núi lở.

Quân Liêu ở phía sau, thấy quân Bắc Hán thất bại, không dám giao chiến với quân Chu, đều lẳng lặng lui quân.

Quân Bắc Hán của Lưu Sùng bị đánh thua, cứ lui dần, bị truy kích ráo riết, lại không có viện binh.

Cuối cùng, chỉ còn lại hơn 100 kỵ binh, lếch thếch chạy về Tấn Dương.

Qua trận đại chiến Cao Bình, danh tiếng của Chu Thế Tông trở nên vang dội.

Sau khi trở về Biện Kinh, ông bắt tay vào việc chỉnh đốn quân đội, giảm nhẹ đóng góp cho dân, chuẩn bị cuộc chiến tranh nhằm thống nhất đất nước.

Hai năm sau, ông dẫn quân thảo phạt Nam Đường (một trong 10 nước), đánh chiếm được 14 châu phía bắc Trường Giang.

Sau đó, lại hạ lệnh bắc phạt, dẫn quân tiến theo 2 đường thủy lục, thu phục được 1 vùng đất lớn phía bắc.

Đáng tiếc là trong khi nguyện vọng thống nhất toàn quốc đang được thực hiện, thì ông lại bị bệnh mất.

Năm 959, Chu Thế Tông mất sau 8 năm trị vì, con nhỏ mới 7 tuổi là Sài Thế Huấn lên nối ngôi.

Đó là Chu Cung Đế.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NGƯỜI ĐƯỢC KHOÁC HOÀNG BÀO


Khi Chu Cung Đế lên ngôi, tuổi còn quá nhỏ, phải có 2 tể tướng là Phạm Chất và Vương Phổ phò tá.

Cục diện chính trị của Hậu Chu vì vậy không được ổn định.

Lòng dân kinh thành nghiêng ngả, mọi người xôn xao bàn tán là sớm muộn Triệu Khuông Dận sẽ đoạt ngôi hoàng đế.

Triệu Khuông Dận vốn là 1 đại tướng đắc lực dưới quyền Chu Thế Tông, từng theo Chu Thế Tông nam chinh bắc chiến lập nhiều chiến công.

Khi còn sống, Chu Thế Tông hết sức tín nhiệm Triệu Khuông Dận, cử làm thống soái cấm quân, với chức danh là Điện tiền đô điểm kiểm.

Cấm quân là đội quân tinh nhuệ nhất của Hậu Chu Thế Tông mất, quân quyền nằm trong tay Triệu Khuông Dận.

Thời Ngũ Đại, xảy ra nhiều trường hợp vũ tướng đoạt ngôi hoàng đế, nên mọi người có sự nghi ngại đó là chuyện không có gì lạ.

Ngày tết âm lịch đầu năm 960, triều đình Hậu Chu cử hành đại lễ triều kiến.

Đại lễ đang tiến hành, thì có tin báo khẩn cấp từ biên cảnh, nói quốc vương Bắc Hán liên hợp với Liêu, đem quân đánh vào Hậu Chu.

Các đại thần xôn xao hoảng loạn.

Sau, Phạm Chất và Vương Phổ đứng ra điều khiển, cử Triệu Khuông Dận đem quân chống lại.

Triệu Khuông Dận nhận được lệnh, lập tức điều binh khiển tướng, chuẩn bị lên đường.

Hai hôm sau, đại quân xuất phát từ Biện Kinh.

Cùng đi với Triệu Khuông Dận, có em là Triệu Khuông Nghĩa và mưu sĩ thân tín là Triệu Phổ.

Tối hôm đó, đại quân hành quân tới trạm Trần Kiều, cách kinh thành 20 dặm, Triệu Khuông Dận ra lệnh cho tướng sĩ hạ trại nghỉ tại chỗ.

Trong khi binh lính ngủ say, 1 số tướng lĩnh tụ họp lại bàn luận.

Có người nêu ý kiến: "Hiện nay hoàng thượng tuổi còn quá nhỏ, chúng ta liều mình xông pha trận mạc, nhưng sau này ai là người biết tới công lao của chúng ta!

Chi bằng bây giờ ta tôn Triệu điểm kiểm lên ngôi hoàng đế đi thôi!".

Mọi người đều tán thành ý kiến đó, liền cử 1 viên quan nói chủ trương ấy với Triệu Khuông Nghĩa và Triệu Phổ.

Viên quan đó tới chỗ Triệu Khuông Nghĩa, chưa nói xong câu chuyện thì các tướng đã tới, rút gươm đao sáng loáng, vung lên và hét to: "Chúng tôi đã bàn bạc xong với nhau, nhất định phải tôn Triệu điểm kiểm lên ngôi".

Triệu Khuông Nghĩa và Triệu Phổ nghe nói thế đều mừng thầm, 1 mặt dặn dò mọi người phải an định lòng quân, không được để xảy ra rối loạn; 1 mặt phái người phi báo ngay cho 2 đại tướng giữ kinh thành là Thạch Thủ Tín và Vương Thẩm Kỳ biết.

Chẳng mấy chốc, tin trên đã truyền khắp trại quân.

Toàn thể tướng sĩ đều trở dậy ùn ùn kéo tới nơi nghỉ của Triệu Khuông Dận, ào tới tận khi trời sáng.

Tối hôm trước, Triệu Khuông Dận có uống chút rượu nên ngủ rất say.

Vừa tỉnh dậy, thấy tiếng xôn xao bên ngoài, rồi có người mở cửa phòng, hô lớn: "Xin điểm kiểm lên ngôi hoàng đế!".

Triệu Khuông Dận vội trở dậy, chưa kịp nói gì, thì mấy người đã đem 1 tấm hoàng bào chuẩn bị sẵn, vội vàng khoác lên mình Triệu Khuông Dận.

Mọi người quỳ dưới đất, đập đầu hô "vạn tuế".

Sau đó, tất cả xúm vào, người kéo, người đẩy, đưa Triệu Khuông Dận lên ngựa, mời ông trở về kinh thành.

Triệu Khuông Dận ngồi trên mình ngựa, mới nói: "Các ngươi đã lập ta làm thiên tử thì có chịu nghe theo mệnh lệnh của ta không?".

Các tướng sĩ nhất tề đáp: "Xin nghe theo mệnh lệnh của bệ hạ".

Triệu Khuông Dận liền hạ lệnh: khi về tới kinh thành, phải bảo đảm an toàn cho thái hậu và ấu chúa của triều Chu, không được xâm phạm tới các đại thần trong triều, không được cướp bóc kho hàng.

Nếu chấp hành nghiêm mệnh lệnh, sẽ được trọng thưởng; kẻ nào vi phạm sẽ bị nghiêm trị.

Triệu Khuông Dận vốn là thống soái cấm quân, lại được tướng lĩnh ủng hộ, còn ai dám không nghe theo mệnh lệnh!

Tướng sĩ xếp thành đội ngũ chỉnh tề tiến về kinh thành.

Suốt dọc đường, không hề gây phiền nhiễu gì tới dân chúng.

Đến Biện Kinh lại được Thạch Thủ Tín và Vương Thẩm Kỳ làm nội ứng, nên rất dễ dàng chiếm được kinh thành.

Các tướng triệu tập các tể tướng Phạm Chất, Vương Phổ tới.

Thấy họ, Triệu Khuông Dận làm ra vẻ khó xử nói: "Thế Tông đối đãi với ta ơn sâu nghĩa nặng.

Nay at bị các tướng buộc làm việc này, các ông thấy phải làm sao bây giờ?".

Bọn Phạm Chất không biết trả lời ra sao.

Một viên tướng nghiêm trọng quát lớn: "Chúng ta không có người làm chúa.

Nay mọi người nhất định mời Điểm kiểm lên làm thiên tử!".

Phạm Chất, Vương Phổ sợ hãi, vội sụp xuống lạy.

Chu Cung Đế phải nhường ngôi.

Triệu Khuông Dận lên ngôi hoàng đế, đổi quốc hiệu là Tống, định đô ở Đông Kinh (tức Biện Kinh cũ, Khai Phong ngày nay).

Lịch sử gọi triều đại này là Bắc Tống, Triệu Khuông Dận tức Tống Thái Tổ.

Thời Ngũ Đại kéo dài hơn 50 năm tới đây kết thúc.

Tống Thái Tổ lên ngôi hoàng đế, mẹ ông đương nhiên trở thành thái hậu.

Khi các đại thần chúc mừng thái hậu, bà chau mày, tỏ vẻ rất đau buồn.

Khi đã tan buổi triều kiến, các đại thần liền hỏi thái hậu: "Hoàng đế đã lên ngôi, sao thái hậu lại tỏ ra không vui?".

Thái hậu trả lời: "Ta nghe nói làm thiên tử rất khó.

Có cai trị đất nước tốt thì ngôi vị đó mới tôn quý.

Nếu cai trị không tốt, để phát sinh rối loạn, thì muốn trở lại làm người dân thường cũng không được nữa".

Nỗi lo lắng của thái hậu không phải là không có lý.

Tuy Tống Thái Tổ đã lên ngôi, nhưng toàn quốc vẫn chưa thống nhất.

Chưa nói tới các chính quyền cát cứ khắp nơi, mà ngay trong vùng Trung nguyên vốn do Bắc Tống thống trị, 1 số tiết độ sứ vẫn chưa chịu phục trước việc Tống Thái Tổ lên ngôi.

Để giải quyết tình hình này, cần có biện pháp hết sức khôn khéo.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
CHÉN RƯỢU TƯỚC BINH QUYỀN


Tống Thái Tổ lên ngôi không tới nửa năm, đã có 2 tiết độ sứ khởi binh chống lại triều Tống.

Tống Thái Tổ phải thân chinh trải bao vất vả mới bình định được họ.

Vì chuyện đó, không lúc nào Tống Thái Tổ được yên lòng.

Một hôm, ông đi 1 mình tới gặp Triệu Phổ, nêu câu hỏi: "Từ cuối triều Đường đến nay, đã thay đổi tới năm triều đại, đánh nhau liên miên, không biết đã chết mất bao nhiêu dân.

Rút cuộc lại, thì đó là nguyên nhân gì?".

Triệu Phổ nói: "Nguyên nhân rất đơn giản.

Đất nước hỗn loạn là do quyền lực của các phiên trấn quá lớn.

Nếu tập trung quyền lực vào tay triều đình, thì thiên hạ tự nhiên sẽ thái bình vô sự!".

Tống Thái Tổ gật đầu, tán thưởng ý kiến của Triệu Phổ.

Sau đó, Triệu Phổ lại nói với Tống Thái Tổ: "Hai đại tướng cấm quân là Thạch Thủ Tín và Vương Thẩm Kỳ nắm binh quyền quá lớn.

Nên điều họ khỏi cấm quân thì tốt hơn".

Tống Thái Tổ nói: "Khanh yên tâm!

Hai người đó là bạn cũ của ta, không bao giờ chống lại ta đâu!".

Triệu Phổ nói: "Thần không lo ngại họ làm phản.

Nhưng theo nhận xét của thần, hai người đó không có tài năng của người thống soái, không điều hành được cấp dưới.

Sẽ có ngày, những kẻ bên dưới sẽ gây sự, e rằng bản thân họ cũng không làm chủ được".

Tống Thái Tổ gõ gõ vào trán, nói: "May mà khanh đã nhắc nhở ta".

Mấy hôm sau, Tống Thái Tổ mở tiệc trong cung, mời Thạch Thủ Tín, Vương Thẩm Kỳ và mấy lão tướng đến dự.

Qua mấy tuần rượu, Tống Thái Tổ hạ lệnh cho các thái giám hầu cận lui ra.

Trước hết ông nâng cốc, mời mọi người uống cạn, rồi nói: "Nếu không có sự giúp đỡ của các chư khanh thì trẫm không thể có địa vị như ngày hôm nay.

Nhưng các khanh đâu có biết, làm hoàng đế cũng có nhiều nỗi lo, không được tự do như một tiết độ sứ.

Không giấu gì các khanh, suốt một năm nay, trẫm không có đêm nào được ngủ yên giấc".

Các tướng lão đều hết sức kinh ngạc, vội hỏi xem nguyên do làm sao.

Tống Thái Tổ nói: "Điều đó chẳng rõ ràng sao?.

Ngôi vị hoàng đế này, ai mà chẳng đỏ mắt thèm thuồng?".

Nghe nói thế, bọn Thạch Thủ Tín hoảng sợ, quỳ mọp dưới đất nói: "Sao bệ hạ lại nói những lời đó?

Nay thiên hạ đã an định, kẻ nào còn dám nuôi lòng kia khác với bệ hạ?".

Tống Thái Tổ lắc đầu: "Sao ta lại chẳng tin các khanh?

Nhưng chỉ lo những kẻ dưới quyền các khanh có kẻ mưu đồ phú quý, đem hoàng bào khoác lên cho các khanh.

Các khanh dù không muốn cũng không được đâu?".

Bọn Thạch Thủ Tín thấy nói thế, cảm thấy vạ lớn đến nơi, liên tục dập đầu, chảy nước mắt nói: "Bọn hạ thần thô lỗ ngu muội, không nghĩ được tới điều đó.

Xin bệ hạ chỉ cho một lối ra".

Tống Thái Tổ nói: "Ta đã nghĩ giúp cho các khanh.

Không gì bằng các khanh trao lại binh quyền, về địa phương làm một chức quan nhàn rỗi, bỏ tiền ra mua nhà cửa ruộng đất, làm gia sản để lại cho con cháu, sống sung sướng cho đến cuối đời.

Trẫm sẽ kết thân gia cũng các khanh, hai bên không còn ngờ vực gì nhau, như thế chẳng tốt hơn hay sao?".

Tất cả đồng thanh đáp: "Bệ hạ thật đã vì chúng thần mà suy nghĩ quá chu đáo!".

Tan buổi tiệc, các tướng lĩnh trở về nhà.

Hôm sau vào triều, mỗi người dâng lên 1 tấu chương xin từ chức vì tuổi già sức yếu.

Tống Thái Tổ lập tức phê chuẩn, thu lại binh quyền của họ và thưởng cho rất nhiều của cải, cử họ đi làm tiết độ sứ tại các địa phương.

Lịch sử gọi sự kiện đó là "chén rượu tước binh quyền".

Một thời gian sau, có 1 số tiết độ sứ về kinh thành triều kiến, Tống Thái Tổ mở tiệc chiêu đãi ở ngự hoa viên.

Thái Tổ nói: "Các khanh đều là lão thần của quốc gia.

Công việc hiện nay ở phiên trấn rất bận rộn, bắt các khanh phải vất vả như thế, lòng trẫm thực áy náy không yên!".

Một tiết độ sứ lanh lợi lập tức tiếp lời: "Bản thân hạ thần chẳng có công lao gì đáng kể, giữ địa vị này cũng không thích hợp lắm.

Xin bệ hạ cho thần được cáo lão về quê hương".

Một tiết độ sứ khác không biết điều, luôn mồm kể lể công lao thành tích.

Tống Thái Tổ khó chịu, chau mày nói: "Đó đều là chuyện quá cũ, còn nêu ra làm gì!".

Hôm sau, Tống Thái Tổ hạ chiếu, giải trừ binh quyền của các tiết độ sứ đó.

Sau khi thu hồi binh quyền của các tướng lĩnh địa phương, Tống Thái Tổ cho ban hành chế độ quân sự mới, chọn quân tinh nhuệ từ các địa phương, biên chế thành cấm quân, do hoàng đế trực tiếp chỉ huy.

Quan chức hành chính đứng đầu các địa phương cũng do triều đình cử ra.

Bằng các biện pháp đó, vương triều Bắc Tống bắt đầu được ổn định.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LÝ HẬU CHỦ MẤT NƯỚC


Sau khi ổn định được nội bộ, Tống Thái Tổ hăng hái thực hiện hoài bão dùng quân sự để thống nhất toàn quốc.

Lúc đó, "mười nước" thời Ngũ Đại còn lại Bắc Hán ở miền bắc, Nam Đường, Ngô Việt, Hậu Thục, Nam Hán, Nam Bình ở miền nam.

Muốn thống nhất toàn quốc, nên bắt đầu từ đâu trước?

Tống Thái Tổ suy nghĩ nhiều ngày, vẫn không quyết định được.

Một đêm, trời nổi gió tuyết, Triệu Phổ đang đốt lửa sưởi trong nhà, bỗng nghe thấy tiếng gõ cửa.

Triệu Phổ lấy làm lạ: đêm hôm giá rét thế này, còn có ai tới tìm có việc gì?

Ông mở cửa ra xem, thì thấy 1 người đội mũ cao, đang đứng trong đám tuyết.

Triệu Phổ định thần nhìn kĩ, bỗng giật mình: người đứng đó chính là Tống Thái Tổ.

Triệu Phổ vội mời Tống Thái Tổ vào nhà, khơi to ngọn lửa, đem thịt ra nướng và gọi vợ mang rượu ra mời hoàng đế.

Triệu Phổ hỏi: "Tuyết xuống lớn như thế, sao bệ hạ còn đi ra ngoài?"

Tống Thái Tổ nói: "Trẫm suy nghĩ một việc, không sao ngủ được, liền đến bàn với khanh đây!".

Triệu Phổ đoán ngay được Tống Thái Tổ muốn nói đến điều gì, suy nghĩ 1 lát rồi nói: "Nếu chúng ta đánh Bắc Hán trước, thì sẽ bị Liêu uy hiếp.

Chi bằng bình định phương nam trước rồi sẽ quay lại đánh Bắc Hán.

Nước Bắc Hán bé tẹo, chẳng qua chỉ như chỉ như một cái kẹo.

Có thể chậm một chút cũng không chạy đi đâu được!".

Tống Thái Tổ phấn khởi cười nói: "Suy nghĩ của chúng ta phù hợp với nhau rồi".

Sau khi Tống Thái Tổ và Triệu Phổ quyết định theo kế hoạch "trước nam sau bắc", thì trong khoảng 10 năm, lần lượt mang quân tiêu diệt Nam Bình, Hậu Thục, Nam Hán.

Như vậy, các thế lực cát cứ ở miền nam chỉ còn 2 nước là Nam Đường và Ngô Việt.

Nam Đường là 1 chính quyền cát cứ lớn mạnh nhất trong số "10 nước".

Nơi đây đất đai phì nhiêu, lại không bị chiến tranh phá hoại như miền Trung nguyên nên kinh tế phồn vinh, đất nước giàu mạnh.

Nhưng quốc vương Nam Đường đều là những kẻ tối tăm, bất lực, khiến đất nước mỗi ngày 1 suy nhược.

Quốc vương cuối cùng của Nam Đường là Lý Dục, lịch sử gọi là Nam Đường Hậu Chủ, là 1 người sáng tác từ nổi tiếng.

Ông rất tinh thông thơ từ, âm nhạc, thư họa, nhưng không hề am hiểu việc cai trị đất nước.

Sau khi Bắc Tống được thành lập, hàng năm Lý Dục tiến cống cho Bắc Tống rất nhiều của cải vàng bạc để mong duy trì địa vị.

Về sau, thấy Tống Thái Tổ liên tiếp tiêu diệt 3 nước nhỏ xung quanh thì hoảng sợ, vội phái sứ giả mang thư gửi Tống Thái Tổ, tỏ ý xin thủ tiêu quốc hiệu Nam Đường, bản thân xin đổi gọi là "Nam Giang quốc chủ".

Nhưng 1 nhượng bộ nhỏ nhặt như vậy, sao có thể làm thay đổi quyết tâm thống nhất đất nước của Tống Thái Tổ.

Tháng 9 năm 974, Tống Thái Tổ phái 2 đại tướng là Tào Bân và Phan Mỹ dẫn 10 vạn quân, theo 2 đường thủy bộ tiến đánh Nam Đường.

Tào Bân dẫn thủy quân xuất phát từ Kinh Nam xuôi dòng xuống phía đông, nhanh chóng chiếm được Trì Châu (nay là Quí Trì, An Huy) rồi tiến lên Thái Thạch Cơ (nay là thành phố Mã Yên Sơn, An Huy).

Bộ binh do Phan Mỹ chỉ huy tiến tới Giang Bắc, bị sông lớn ngăn trở việc tiến quân.

Có người hiến kế cho quân Tống: dùng bè tre và thuyền lớn ghép thành cầu phao để cho bộ binh qua sông.

Phan Mỹ nghe theo kế, lập tức cho làm cầu phao.

Tin đó truyền tới Kim Lăng (nay là Nam Kinh), quốc đô của Nam Đường; trong lúc vua tôi Nam Đường đang say sưa trong tiệc rượu, Lý Hậu Chủ hỏi quần thần nên làm thế nào?

Các đại thần nói: "Từ thời cổ tới nay, chưa từng nghe nói tới việc bắc cầu phao qua sông.

Nhất định không thể làm được việc đó!".

Hậu Chủ nghe nói, cười ha hả: "Ta đã nói từ lâu rằng, chúng chỉ bày ra trò con nít mà thôi".

3 ngày sau, quân Tống bắc xong cầu phao, đội quân của Phan Mỹ rầm rập kéo qua sông như đi trên đường bộ.

Quân phòng thủ của Nam Đường, tốp thì thua trận, tốp thì đầu hàng, 10 vạn quân Tống nhanh chóng áp sát thành Kim Lăng.

Lúc đó, Lý Hậu Chủ đang cùng 1 số hòa thượng đạo sĩ đọc kinh giảng đạo trong cung, không hề hay biết quân Tống đã tới chân thành.

Một hôm, ông lên thành quan sát, thấy khắp nơi san sát cờ Tống thì giật nảy mình, vội vàng trở về cung, phái đại thần là Từ Huyền tới Đông Kinh xin hòa.

Từ Huyền gặp Tống Thái Tổ, nói: "Lý Dục đối với bệ hạ cung kính, hiếu thuận như con đối với cha, sao bệ hạ còn mang quân tới thảo phạt?".

Tống Thái Tổ vặn lại: "Ngươi hãy nói thử xem, cha và con có thể chia thành hai nhà riêng biệt được không?".

Từ Huyền không trả lời được, trở về tâu lại với Lý Hậu Chủ.

1 tháng sau, quân Tống vây thành ngày càng chặt, Lý Hậu Chủ lại cử Từ Huyền tới Đông Kinh.

Từ Huyền khẩn thiết van xin Tống Thái Tổ không nên tiến công Kim Lăng.

Tống Thái Tô không muốn nghe nữa, đứng dậy nắm chặt chuôi kiếm, nổi giận đùng đùng nói: "Ngươi không phải nói nhiều!

Lý Dục không có tội gì, nhưng nay thiên hạ là một nhà, ta không cho phép kẻ nào nằm ngáy o o bên cạnh giường ngủ của ta!".

Từ Huyền thấy có van nữa cũng vô ích, đành trở về Kim Lăng.

Lý Hậu Chủ nghe tâu, biết rằng không còn hy vọng cầu hòa, liền điều động 15 vạn quân đang phòng thủ ở Thượng Giang về cứu.

Viện binh tới Hoàn Khẩu bị quân Tống từ 2 bên đánh ập lại.

Quân Nam Đường phóng hỏa định đốt quân Tống, ngờ đâu gió bắc nổi lên, lửa cháy tạt vào quân Nam Đường, toàn thể đội viện binh bị tiêu diệt.

Tào Bân cử người vào thành khuyên Lý hậu chủ mau đầu hàng, tránh cho tài sản và tính mạng dân trong thành khỏi bị hủy diệt.

Hậu chủ muốn chần chừ kéo dài việc chống cự, Tào Bân liền hạ lệnh công thành.

Hôm sau, thành bị vỡ, quân Tào Bân, đội ngũ nghiêm chỉnh tiến vào Kim Lăng, giữ yên trật tự.

Lý hậu chủ sai người chất củi cỏ trong cung, chuẩn bị châm lửa tự sát, nhưng cuối cùng không đủ dũng khí làm việc đó.

Không có cách nào khác, ông đành dẫn các đại thần ra khỏi cung, đầu hàng Tào Bân.

Lý hậu chủ bị giải về Đông Kinh, Tống Thái Tổ đối xử với ông khá ưu đãi.

Nhưng từ địa vị 1 quốc vương rơi xuống thân phận 1 tù binh mất nước, ông không tránh khỏi nỗi niềm cay đắng, sống những ngày buồn khổ đầy nước mắt.

Vốn là 1 người giỏi viết từ, trong những ngày này, ông đã viết nên những câu tràn ngập bi thương.

Có những câu nổi tiếng như:

"Hỡi người muôn vạn sầu thương

Sông xuân nước chảy xuôi dòng về đông".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TRIỆU PHỔ NHẬN LỄ VẬT


Kể từ khi Tống Thái Tổ giành được chính quyền cho tới khi bình định phương nam, Triệu Phổ là 1 mưu sĩ chủ yếu, đóng góp nhiều công lao.

Tống Thái Tổ phong Triệu Phổ làm tể tướng, bất kì việc lớn việc nhỏ, đều bàn bạc với ông.

Triệu Phổ xuất thân từ 1 viên lại nhỏ, học vấn kém xa các văn thần khác.

Sau khi được phong tể tướng, ông cố gắng đọc sách theo lời khuyên của Tống Thái Tổ.

Mỗi ngày về nhà, ông đều đóng chặt cửa lại, cần cù đọc sách.

Hôm sau ra triều, giải quyết việc triều chính bao giờ cũng rất nhạy bén.

Sau này, người trong nhà phát hiện ra, cuốn sách mà thường ngày ông ta thường đọc, chẳng qua chỉ là cuốn Luận Ngữ.

Thế là người ta đồn nhau rằng, Triệu Phổ "cai trị thiên hạ bằng nửa cuốn Luận Ngữ".

Tống Thái Tổ tín nhiệm Triệu Phổ, Triệu Phổ cũng dám giữ vững ý kiến của mình trước Tống Thái Tổ.

Một lần Triệu Phổ tiến cử với Tống Thái Tổ 1 người để phong quan.

Liền trong 2 ngày, Tống Thái Tổ không chấp nhận.

Đến ngày thứ 3, Triệu Phổ lại dâng sớ tấu, kiên trì yêu cầu Tống Thái Tổ chấp nhận người được ông tiến cử.

Tống Thái Tổ nổi giận, xé toạc sớ tấu làm 2 mảnh, vứt xuống đất.

Triệu Phổ bò xuống đất, thong thả nhặt lại 2 mảnh sớ tấu, đút vào ống tay áo.

Sau khi lui triều về nhà, Triệu Phổ lại dán 2 mảnh sớ tấu đã bị xé rách kia lại.

Mấy hôm sau, ông ta lại dâng sớ tấu đó lên.

Tống Thái Tổ thấy thái độ Triệu Phổ kiên trì như vậy, đành chấp nhận sự tiến cử của ông ta.

Lại 1 lần khác, Triệu Phổ muốn đề bạt 1 viên quan, nhưng Tống Thái Tổ không phê chuẩn.

Triệu Phổ vẫn khăng khăng giữ ý của mình như lần trước.

Tống Thái Tổ nói: "Ta nhất định không chuẩn.

Khanh muốn làm gì thì làm".

Triệu Phổ nói: "Đề bạt nhân tài, là vì lợi ích của quốc gia, sao bệ hạ lại quyết đoán theo sự yêu ghét cá nhân như vậy?".

Tống Thái Tổ nghe nói, giận tím mặt, phất ống tay áo đi vào nội cung.

Triệu Phổ đi theo sát phía sau.

Khi thấy Tống Thái Tổ đã vào nội cung, Triệu Phổ cứ đứng ngay tại cửa, không chịu bỏ đi.

Vệ sĩ ngoài cửa cung thất tể tướng đứng ở đó mãi, đành phải vào tâu với Tống Thái Tổ.

Lúc đó, Tống Thái Tổ đã nguôi giận, liền bào thái giám ra thông báo là hoàng thượng đã đồng ý với đề nghị của ông, mời ông về nhà.

Triệu Phổ làm tể tướng trong 10 năm, quyền lực rất lớn.

Thời gian càng lâu càng có nhiều người muốn chạy chọt nương nhờ ông, luôn có người đưa lễ vật đến nhà ông.

Tống Thái Tổ thường xuyên đến nhà Triệu Phổ mà không báo trước.

Có 1 lần, Ngô Việt vương Tiền Thúc phái người mang thư cho Triệu Phổ và đưa biếu 10 vò "hải sản".

Triệu Phổ đi đặt 10 vò "hải sản" trước thềm và chưa kịp bóc xem thư thì Tống Thái Tổ tới.

Tống Thái Tổ ngồi trong sảnh đường, nhìn thấy 10 chiếc vò đó, liền hỏi là cái gì.

Triệu Phổ đáp: "Đó là hải sản do Ngô Việt đem biếu".

Tống Thái Tổ cười: "Hải sản của Ngô Việt nhất định là loại ngon, hãy mở ra xem thử!".

Triệu Phổ sai gia nhân mở nắp vò.

Mọi người có mặt vừa nhìn thấy đã ngây người: trong vò, không phải là hải sản gì mà là từng thỏi vàng đỏ chói.

Tống Thái Tổ xưa nay vẫn ngại các quan nhận hối lộ, lạm dụng quyền lực nên thấy tình hình đó thì nổi giận, sầm mặt lại.

Triệu Phổ toát mồ hôi, sợ hãi quỳ phục xuống, xin chịu tội và kêu nài: "Thần chưa kịp xem thư, thực không biết trong vò có gì, xin bệ hạ thứ tội!".

Tống Thái Tổ lạnh lùng đáp: "Ngươi cứ nhận lấy đi!

Bọn chúng tưởng rằng việc quốc gia đại sự đều do mấy kẻ thư sinh các ngươi quyết định lấy cả đấy!".

Từ đó, Tống Thái Tổ đem lòng nghi ngờ Triệu Phổ.

Không lâu sau, lại có người cáo giác Triệu Phổ vận chuyển gỗ, vi phạm lệnh cấm.

Nguyên do là lúc đó, triều đình có lệnh cấm việc vận chuyển gỗ lớn từ Tần, Lũng (nay là Thiểm Tây, Cam Túc) về.

Triệu Phổ đã lấy gỗ từ vùng đó về để dựng dinh thự, nhà cửa.

Tay chân của ông thừa cơ, lấy danh nghĩa Triệu Phổ, cho vận chuyển rất nhiều gỗ lớn về Đông Kinh bán.

Triệu Phổ bị liên lụy về việc đó.

Tống Thái Tổ giận dữ, liền trị tội Triệu Phổ.

Mặc dù có nhiều đại thần kêu xin cho Triệu Phổ, nhưng Tống Thái Tổ vẫn kiên quyết cách chức tể tướng của ông.
 
Back
Top Bottom