Cập nhật mới

Khác LỊCH SỬ TRUNG QUỐC 5000 NĂM

Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NGỤY TRƯNG CAN NGĂN THẲNG THẮN


Sau sự biến cửa Huyền Vũ, có người tố cáo với Lý Thế Dân là ở Đông cung có 1 viên quan tên là Ngụy Trưng đã từng tham gia vào quân khởi nghĩa của Lý Mật và Đậu Kiến Đức.

Sau khi Đậu Kiến Đức thất bại, Ngụy Trưng đến Trường An và trở thành thủ hạ của Kiến Thành, đã từng khuyên Kiến Thành giết Lý Thế Dân.

Lý Thế Dân thấy nói vậy, lập tức cho người tìm Ngụy Trưng tới.

Khi Ngụy Trưng vào phủ, Tần vương Lý Thế Dân hầm hầm hỏi giận hỏi: "Tại sao ngươi dám xúi bậy ly gián anh em ta?".

Mọi người xung quanh thấy vậy, cho rằng Tần vương muốn trả món nợ cũ, đều toát mồ hôi lo thay cho Ngụy Trưng.

Nhưng Ngụy Trưng vẫn bình thản, trả lời không hề sợ hãi: "Đáng tiếc là lúc đó thái tử không nghe lời tôi.

Nếu không, không thể xảy ra chuyện như vừa rồi".

Tần vương nghe nói, cảm thấy Ngụy Trưng nói năng thẳng thắn, tỏ ra gan dạ và có hiểu biết, không những không trách mắng, mà còn nói rất hòa nhã: "Việc đã qua, không nên nhắc tới nữa".

Sau khi lên ngôi, Đường Thái Tông thăng Ngụy Trưng lên làm Gián nghị đại phu, ngoài ra còn tuyển chọn 1 số người trước kia là thủ hạ của Kiến Thành, Nguyên Cát, phong cho quan chức.

Những quan lại trong phủ Tần vương cũ thắc mắc, phàn nàn riêng với nhau: "Chúng ta đã theo hoàng thượng bao nhiêu năm.

Nay hoàng thượng phong quan tước, lại cho người cũ của phủ Đông cung và Tề vương được hưởng lợi.

Không hiểu thế là thế nào?".

Tể tướng Phòng Huyền Linh nói cho Đường Thái Tông biết điều đó.

Đường Thái Tông cười nói: "Triều đình đặt ra quan chức để cai trị đất nước, cần phải chọn người hiền tài, chứ sao lại lấy mối quan hệ để làm tiêu chuẩn chọn lựa.

Nếu người mới có tài năng, người cũ không có tài năng thì không nên bài xích người mới mà cứ sử dụng người cũ!".

Mọi người nghe nói lại, không nói gì được nữa.

Đường Thái Tông không ghi thù hận cũ, biết lựa chọn nhân tài và khuyến khích các đại thần nói thẳng ý kiến của mình.

Vì vậy, có việc gì các đại thần đều mạnh dạn nói ra, đặc biệt là Ngụy Trưng, luôn suy nghĩ chu đáo mọi công việc của triều đình, có ý kiến gì đều trực tiếp nói với Đường Thái Tông.

Đường Thái Tông cũng hết sức tín nhiệm ông, thường gọi ông vào nội cung để nghe ông trình bày.

Có lần, Đường Thái Tông hỏi Ngụy Trưng: "Các hoàng đế trong lịch sử, tại sao có người rất sáng suốt, có người lại rất u mê?".

Ngụy Trưng trả lời: "Ai biết lắng nghe mọi ý kiến thì sẽ sáng suốt, ai chỉ nghe theo một loại ý kiến thì sẽ u mê".

Rồi ông kể ra các thí dụ về Nghiêu, Thuấn và Tần Nhị Thế, Lương Vũ Đế, Tùy Dạng Đế và nói: "Vị hoàng đế nào trong khi cai trị thiên hạ, biết tiếp nhận ý kiến của bên dưới thì tình hình bên dưới có thể thông suốt lên trên, những kẻ thân tín bên mình muốn che đậy cũng không được".

Đường Thái Tông gật đầu lia lịa, nói: "Đúng!

Đúng!

Khanh nói rất đúng!".

Một hôm khác, sau khi đọc xong văn tập của Tùy Dạng Đế, Đường Thái Tông nói với các đại thần tả hữu: "Trẫm thấy Tùy Dạng Đế là người có học vấn uyên bác, biết rõ Nghiêu, Thuấn là tốt; Kiệt, trụ là xấu; mà tại sao ông ta lại hành động buông thả vô độ như vậy?".

Ngụy Trưng đáp ngay: "Một hoàng đế mà chỉ dựa vào thông minh uyên bác thì không đủ mà còn phải khiêm tốn lắng nghe ý kiến các bày tôi.

Tùy Dạng Đế tự cho mình là tài cao, nên kiêu ngạo tự mãn, nói lời nói của Nghiêu, Thuấn, nhưng làm những việc của Kiệt, Trụ; càng về sau càng hồ đồ nên đã tự tạo nên sự diệt vong".

Đường Thái Tông nghe xong, xúc động sâu xa, thở dài nói: "Ồ, những bài học của quá khứ đúng là thầy dạy của chúng ta".

Thấy chính quyền ngày càng được củng cố, Đường Thái Tông rất phấn khởi.

Ông thấy những lời khuyên của các đại thần rất có ích cho mình, nên nói với họ: "Trị nước giống như trị bệnh.

Tuy bệnh đã khỏi, vẫn cần chăm sóc thân thể cho tốt, không thể buông thả.

Nay Trung nguyên đã an định, bốn phương đã qui phục, từ xưa tới nay hiếm có thời kỳ nào được như thế này.

Nhưng chúng ta vẫn phải hết sức thận trọng, chỉ lo rằng không giữ được như thế này mãi.

Vì vậy, trẫm còn phải tiếp tục nghe ý kiến can gián của chư khanh".

Ngụy Trưng nói: "Trong hoàn cảnh an bình mà bệ hạ còn lo nghĩ tới lúc nguy cấp thì chúng thần hết sức phấn khởi".

Sau đó, càng ngày Ngụy Trưng càng nêu nhiều ý kiến.

Hễ thấy Thái Tông có điểm gì không đúng là ông đều ra sức tranh biện.

Có lúc, Đường Thái Tông thấy khó chịu, sầm mặt lại, nhưng Ngụy Trưng vẫn tiếp tục nói, khiến Đường Thái Tông không dứt ra được.

Một lần, khi lâm triều, Ngụy Trưng tranh cãi với Đường Thái Tông đến đỏ mặt tía tai.

Đường Thái Tông không muốn nghe nữa toan nổi nóng, nhưng lại ngại làm như thế trước mặt các đại thần thì làm mất tiếng tốt xưa nay là chịu tiếp thu ý kiến của các đại thần, nên ông đành gắng nhịn.

Sau khi thoái triều, Đường Thái Tông hầm hầm tức giận trở về nội cung, vừa gặp mặt Trưởng Tôn hoàng hậu, liền bực tức nói: "Thế nào cũng có ngày ta phải giết chết lão già nhà quê đó".

Trưởng Tôn hoàng hậu rất ít khi thấy Thái Tông nổi nóng như vậy, liền hỏi: "Chẳng hay bệ hạ định giết ai vậy?".

Đường Thái Tông nói: "Vẫn là cái lão Ngụy Trưng đó chứ còn ai nữa!

Bao giờ lão ta cũng làm nhục trẫm trước các đại thần, trẫm không thể nào nhịn được nữa!".

Trưởng Tôn hoàng hậu nghe nói vậy, lặng lẽ trở về nội thất, thay mặc triều phục rồi trở ra, sụp lạy trước Đường Thái Tông.

Đường Thái Tông ngạc nhiên hỏi: "Khanh làm gì vậy?".

Trưởng Tôn hoàng hậu nói: "Thiếp nghe nói chỉ có bậc thiên tử anh minh mới có được các đại thần chính trực.

Nay Ngụy Trưng có thái độ chính trực như vậy, tỏ rằng bệ hạ rất anh minh, thiếp không thể không chúc mừng bệ hạ".

Lời nói đó như 1 chậu nước mát làm tiêu tan cơn giận của Đường Thái Tông.

Từ đó, không những ông không còn giận Ngụy Trưng nữa mà còn khen ngợi: "Mọi người đều nói Ngụy Trưng có lời nói và cử chỉ thô lỗ, nhưng ta thấy đó chính là chỗ đáng yêu của ông ta".

Năm 643, Ngụy Trưng bị bệnh mất, Đường Thái Tông rất buồn rầu.

Ông chảy nước mắt nói: "Người ta dùng đồng làm gương soi thì có thể thấy được y phục có chỉnh tề không; dùng lịch sử làm gương soi, thì có thể thấy nguyên nhân hưng vong của đất nước; dùng người làm gương soi, thì có thể thấy được công việc của mình là làm đúng hay sai.

Ngụy Trưng mất đi, trẫm mất một tấm gương soi tốt".

Do Đường Thái Tông trọng dụng nhân tài và biết tiếp thu lời can gián của các đại thần, tương đối sáng suốt về chính trị, đồng thời chú ý giảm nhẹ lao dịch cho nhân dân, áp dụng các biện pháp phát triển sản xuất, nên thời kì đầu của nhà Đường đã xuất hiện cảnh tượng phồn vinh, trật tự xã hội tương đối ổn định.

Lịch sử gọi thời kì này là "Trinh Quan chi trị" (nền thịnh trị dưới thời Trinh Quan.

Trinh Quan hay còn gọi là Trinh Quán, là niên hiệu của Đường Thái Tông).
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LÝ TỊNH TẬP KÍCH ÂM SƠN


Thời kì đầu khi Đường Thái Tông lên ngôi, chiến sự ở Trung nguyên tuy đã kết thúc, nhưng miền biên cảnh phía tây vẫn chưa được yên ổn.

Đặc biệt là bộ tộc Đông Đột Quyết, lúc đó khá lớn mạnh, trở thành mối uy hiếp chủ yếu cho triều Đường.

Sau khi khởi binh ở Thái Nguyên, Đường Cao Tổ tập trung đối phó với triều Tùy, nên chỉ có thể dùng biện pháp vừa uy hiếp vừa hòa hoãn để duy trì quan hệ hữu hảo với Đông Đột Quyết.

Nhưng giới quí tộc Đông Đột Quyết vẫn không ngừng đưa lực lượng vào quấy nhiễu biên cảnh, làm cho tình hình địa phương không yên ổn.

Đường Thái Tông lên ngôi chưa được 20 ngày thì khả hãn Đột Quyết là Hiệt Lợi dẫn hơn 10 vạn quân tiến công tới bờ Vị Thủy, có Trường An có 40 dặm.

Hiệt Lợi cho rằng Đường Thái Tông mới lên ngôi, vị tất đã dám chống lại, nên cử sứ giả đến Trường An gặp Đường Thái Tông, nói vống lên rằng Đột Quyết có 1 triệu quân, sẽ tới ngay tức khắc.

Đường Thái Tông là người từng trải, ông phớt lờ sự uy hiếp của Hiệt Lợi, cho giam sứ giả lại.

Sau đó, ông cho quân Đường bày trận ở Trường An, rồi thân dẫn Phòng Huyền Linh và 5 viên tướng đi ngựa tới chân cầu Tạm ở Vị Thủy, đòi Hiệt Lợi ra đứng cách sông nói chuyện.

Hiệt Lợi nghe nói sứ giả bị giữ, đã hơi kinh sợ, lại thấy Đường Thái Tông đích thân ra trận, phía sau có quân Đường hàng ngũ chỉnh tề, cờ xí phấp phới thì thực sự hoảng sợ, liền dẫn 1 số tướng lĩnh đến bờ Vị Thủy, xuống ngựa bái kiến Đường Thái Tông.

Đường Thái Tông từ bên này sông nói sang: "Hai bên chúng ta từ lâu đã có minh ước.

Mấy năm nay chúng tôi đã cho các ông không thiếu vàng bạc vải lụa.

Tại sao các ông lại làm trái tín nghĩa, đem quân xâm phạm bờ cõi Đại Đường?".

Hiệt Lợi không biết trả lời ra sao, đành tỏ ý giảng hòa.

Hai ngày sau, 2 bên lập minh ước ngay trên cầu Tạm và Hiệt Lợi rút quân về.

Từ đó, Đường Thái Tông ra sức huấn luyện tướng sĩ.

Hàng ngày triệu tập mấy trăm tướng sĩ đến trước điện luyện tập cung tên.

Ông nói với họ: "Kẻ địch từ ngoài xâm phạm là việc thường xảy ra, không có gì đáng sợ!

Điều đáng sợ là khi biên cảnh hơi ổn định là mọi người chỉ thích an nhàn, không phòng bị chiến tranh, có địch tới không chống đỡ nổi.

Từ nay, ngày thường ta làm thầy dạy, dạy các ngươi việc cung tên, khi có chiến tranh, ta làm tướng soái chỉ huy các ngươi đánh giặc".

Được Đường Thái Tông khuyến khích, các tướng sĩ dốc lòng luyện tập.

Chỉ trong mấy năm, đã huấn luyện được 1 đội quân tinh nhuệ.

Một năm miền bắc có tuyết lớn, súc vật chăn nuôi của Đông Đột Quyết bị chết nhiều, miền sa mạc phía bắc có nạn đói.

Khả hãn Hiệt Lợi tăng cường áp bức các bộ tộc khác nên dẫn tới sự phản kháng của họ.

Hiệt Lợi phái người anh em họ Đột Lợi đi trấn áp, nhưng bị đánh cho đại bại.

Đột Lợi trở về, bị Hiệt Lợi trách mắng, 2 người nảy sinh mâu thuẫn lớn, nên Đột Lợi chạy sang hàng triều Đường.

Đường Thái Tông nắm ngay thời cơ đó, liền phái Lý Tịnh và Từ Thế Tích cùng 2 đại tướng khác dẫn hơn 10 vạn quân, do Lý Tịnh chỉ huy chung, chia đường tiến đánh Đột Quyết.

Lý Tịnh là nhà quân sự nổi tiếng đời Đường, rất tinh thông binh pháp.

Vào cuối triều Tùy, ông theo Đường và lập nhiều chiến công trong cuộc chiến tranh thống nhất đất nước.

Năm 630, Lý Tịnh thân dẫn 3000 kỵ binh tinh nhuệ xuất phát từ Mã Ấp, hành quân suốt đêm; nhân lúc Hiệt Lợi không phòng bị, tiến sát doanh trại Đột Quyết.

Hiệt Lợi đột nhiên thấy quân Đường xuất hiện thì rụng rời sợ hãi.

Các tướng sĩ Đột Quyết cũng cuống quýt nói: "Lần này, nhất định là quân Đường huy động binh lực cả nước đến đánh.

Nếu không thì sao Lý Tịnh dám đi sâu như vậy?".

Quân Đường chưa mở cuộc tiến công, hàng ngũ Đột Quyết đã rối loạn.

Lý Tịnh lại cử gián điệp trà trộn vào nội bộ Đột Quyết, thuyết phục được 1 tướng tâm phúc của Hiệt Lợi đầu hàng.

Hiệt Lợi thấy tình hình bất lợi, liền ngầm chạy trốn.

Lý Tịnh đánh hạ được Định Tương, đắc thắng trở về.

Đường Thái Tông rất phấn khởi, nói: "Trước kia Lý Lăng triều Hán đem năm ngàn quân, chẳng may bị Hung Nô bắt sống.

Nay khanh mang có ba ngàn quân vào sâu trong đất địch, mà chiếm được Định Tương, uy danh chấn động cả miền bắc.

Đó là công lao từ xưa tới nay hiếm có".

Hiệt Lợi chạy đến phía bắc Âm Sơn, sợ quân Đường tiếp tục đuổi đánh, liền phái sứ giả đến Trường An xin hòa và còn nói sẽ đích thân tới triều kiến.

Đường Thái Tông 1 mặt phái Đường Kiệm đến Đột Quyết tỏ thái độ phủ dụ, mặt khác hạ lệnh cho Lý Tịnh đem quân theo sát động tĩnh của Hiệt Lợi.

Lý Tịnh dẫn quân tới Bạch Đao (nay ở tây bắc Hút Hao thuộc Nội Mông Cổ) hội quân với Từ Thế Tích.

Hai người bàn bạc phương án hành động.

Lý Tịnh nói: "Tuy Hiệt Lợi đã thua trận nhưng người ngựa trong tay hắn còn nhiều.

Nếu để hắn chạy mất thì sau này sẽ khó tìm được.

Chúng ta cần chọn một vạn tinh binh mang theo hai ngày lương, bám thật sát thì nhất định có thể bắt được."

Từ Thế Tích tán thành ý kiến đó, 2 cánh quân liền tới Âm Sơn.

Hiệt Lợi cầu hòa thực tế là 1 kế hoãn binh, để chờ tới mùa hè, ngựa đủ cỏ ăn, béo tốt sẽ quay về Mạc Bắc.

Thấy Đường Kiệm tới, ông ta cho rằng triều Đường đã trúng kế nên phấn khởi, việc phòng bị tự nhiên bị buông lỏng.

Tối hôm đó, quân Đường do Lý Tịnh và Từ Thế Tích chỉ huy tới Âm Sơn, liền lệnh cho bộ tướng Tô Địch Phương dẫn 200 khinh kỵ lợi dụng sương mù tiến gần khu đóng quân của Hiệt Lợi.

Khi quân tiền tiêu của Đột Quyết phát hiện, thì quân Đường chỉ còn cách doanh trại của Hiệt Lợi có 7 dặm.

Hiệt Lợi được tin quân Đường tới, liền vội tìm Đường Kiệm thì Đường Kiệm đã nhân lúc sơ hở trốn về với quân Đường.

Hiệt Lợi hoảng hốt nhảy lên thiên lý mã chạy trốn.

Lý Tịnh chỉ huy quân Đường đuổi đánh.

Quân Đột Quyết không có chủ tướng nên hoàn toàn rối loạn.

Quân Đường tiêu diệt hơn 1 vạn quân Đột Quyết, ngoài ra còn bắt được rất nhiều tù binh và súc vật.

Hiệt Lợi chạy trốn khắp nơi, cuối cùng dẫn mấy binh sĩ thân tín chạy vào núi hoang, bị bộ hạ bắt nộp cho quân Đường, rồi bị giải về Trường An.

Đông Đột Quyết từng lớn mạnh 1 thời, nay đã bị diệt vong.

Đường Thái Tông không giết tù binh, mà thiết lập Đô đốc phủ tại vùng bị chiếm, chọn quí tộc Đột Quyết làm đô đốc để quản lý các bộ lạc Đột Quyết.

Lần thắng lợi này đã nâng cao uy quyền của Đường Thái Tông đối với các bộ tộc thiểu số vùng tây bắc.

Trong năm đó, thủ lĩnh các thị tộc Hồi, Hột cùng đến Trường An triều kiến Đường Thái Tông, tôn Đường Thái Tông làm thủ lĩnh chung của họ, tôn xưng ông là "thiên khả hãn".

Từ đó về sau, rất nhiều người ở Tây Vực và các nước Châu Á khác không ngừng đến Trường An.

Trong thời kỳ đó, Cao tăng Huyền Trang của triều Đường cũng đi Tây Trúc theo con đường đi qua các nước Tây vực.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
HÒA THƯỢNG HUYỀN TRANG ĐI LẤY KINH


Huyền Trang là hòa thượng ở chùa Đại Từ Ân, Trường An.

Vốn ông có tên là Trần Huy, quê quán ở Câu Thị (nay là thị trấn Câu Thị, Yển Sư, Hà Nam) thuộc Lạc Châu.

Năm 13 tuổi, ông xuất gia đi tu và miệt mài nghiên cứu Phật học.

Ông đã đi nhiều nơi tìm thầy học tập, nên đã tinh thông kinh điển Phật giáo, được tôn xưng là Tam Tạng pháp sư.

Ông phát hiện thấy kinh phật được phiên dịch có rất nhiều sai lầm, lại nghe nói ở Thiên Trúc có rất nhiều kinh phật, nên quyết định đến Thiên Trúc để đọc kinh phật từ bản gốc.

Năm 629 (có thuyết nói là năm 627), ông xuất phát từ Trường An đến Lương Châu (nay là Vũ Uy, Cam Túc).

Lúc đó, triều đình cấm không cho dân Đường xuất cảnh, nên bị binh lính biên phòng Lương Châu yêu cầu quay trở lại Trường An.

Ông liền bỏ qua Lương Châu, đi sang phía tây, đến Qua Châu (nay là Tây An, Cam Túc) gần Ngọc Môn quan.

Huyền Trang ở Qua Châu, tìm hiểu biết rằng ở ngoài Ngọc Môn quan có 5 trại canh gác, mỗi trại cách nhau 100 dặm.

Trong khu vực đó không có nguồn nước, chỉ có cạnh các trại mới có.

Lúc đó các quan chức ở Lương Châu đã biết được ông đang tìm cách vượt biên, nên gửi công văn đến Qua Châu để bắt giữ ông lại.

Vì vậy, nếu đi vào các trại, nhất định sẽ bị binh lính biên phòng bắt.

Huyền Trang đang lúc khó khăn thì gặp 1 người Hồ tên là Thạch Bàn Đà, tỏ ý sẵn sàng dẫn đường cho ông.

Huyền Trang rất mừng, liền bán quần áo, mua 2 con ngựa, rồi cùng Thạch Bàn Đà đi suốt đêm, hết sức vất vả mới thoát ra được Ngọc Môn quan.

Sau đó, họ phải nằm ngủ trong 1 bụi cây để chuẩn bị tiếp tục hành trình về phía tây.

Ngờ đâu, sau chặng đường đầu, Thạch Bàn Đà không muốn đi tiếp nữa, thậm chí còn muốn giết Huyền Trang.

Huyền Trang phát hiện anh ta có ý xấu, liền đuổi anh ta đi.

Từ đó Huyền Trang chỉ có 1 mình 1 ngựa lần mò tìm lối đi trên sa mạc.

Đi khoảng 80 dặm tới bên 1 trại quân biên phòng nữa.

Sợ bị phát hiện, ban ngày ông ẩn dưới khe, đợi khi tối mới ra tìm nguồn nước cạnh trại quân.

Trong lúc ông đang dùng túi da để múc nước, thì bất ngờ có 1 phát tên bắn sát cạnh người.

Biết không thể thoát được, ông đành đứng dậy kêu to về phía chòi gác: "Đừng bắn!

Tôi là một nhà sư từ Trường An tới".

Người trên trại gác ngừng bắn.

Cổng trại được mở, binh lính trong trại ra dẫn Huyền Trang vào.

Thật may mắn, người chỉ huy trại lính là hiệu úy Vương Tường, 1 tín đồ rất sùng tín Phật giáo.

Sau khi hỏi han, Vương Tường không những không làm khó dễ, mà còn gọi người mang cơm nước cho Huyền Trang, rồi tự mình dẫn Huyền Trang đi hơn 10 dặm đường, sau đó chỉ dẫn cho Huyền Trang lối đi tới trại gác thứ 4.

Người chỉ huy trại thứ 4 là anh em cùng họ với Vương Tường, thấy Huyền Trang từ chỗ Vương Tường tới thì nhiệt tình tiếp đãi rồi nói cho biết là binh lính ở trại thứ 5 rất hung bạo, nên bỏ qua, đi vòng qua đến lấy nước ở Dã Mã Tuyền rồi vượt qua đại sa mạc rộng tới 800 dặm để sang Tây Vực.

Huyền Trang theo lời, từ trại thứ 4 đi vòng, được hơn 100 dặm thì lạc đường, không tìm thấy Dã Mã Tuyền để lấy nước.

Họa vô đơn chí, trong lúc ông đang lấy túi da còn 1 ít nước trong đó để uống thì lỡ tay làm rớt túi, nước trào ra, ngấm xuống cát hết.

Không có nước uống thì vượt sa mạc làm sao?

Huyền Trang toan quay trở lại trại thứ 4 để lấy nước, nhưng chợt nhớ tới lời thề trước lúc lên đường là nếu chưa tới đích thì không lui 1 bước.

Bây giờ, sao có thể vì gặp khó khăn mà quay lui được?

Nghĩ tới điều đó, ông lại quay ngựa, tiếp tục đi về hướng tây.

Sa mạc mênh mông, trên không có chim bay, dưới không có thú chạy, thỉnh thoảng gió lại nổi lên, cuộn cát lên mù mịt rồi ném xuống rào rào như mưa.

Huyền Trang đi trên sa mạc liên tục 5 ngày 4 đêm, không có 1 ngụm nước, miệng rát như phải bỏng, cuối cùng không gượng được, ngã lăn trên cát, ngất đi.

Đến nửa đêm, 1 cơn gió mát làm Huyền Trang tỉnh dậy.

Ông cố gượng dắt ngựa đi được hơn 10 dặm thì phát hiện được 1 khu đất có cỏ mọc xanh tốt và 1 vùng nước lớn.

Có cỏ và nước, người và ngựa mới thoát khỏi cảnh hiểm nghèo.

Đi thêm 2 ngày nữa, thoát ra được khỏi sa mạc, rồi qua Y Ngô (nay là Cáp Mật, Tân Cương), đến Cao Xương (nay ở phía đông Tu Lu Phan, Tân Cương).

Cao Xương vương là Cúc Văn Thái cũng rất sùng đạo Phật, nghe nói Huyền Trang là 1 cao tăng từ Đại Đường tới thì rất kính trọng, xin ông giảng kinh và khẩn thiết mời ông lưu lại Cao Xương.

Huyền Trang kiên trì thoái thác.

Cúc Văn Thái không có cách gì giữ được, liền chuẩn bị hành trang đầy đủ cho Huyền Trang, lại cử 25 người mang theo 30 con ngựa đi hộ tống.

Ông còn viết thư cho 24 quốc vương các nước dọc đường đi, đề nghị họ giúp đỡ khi Huyền Trang quá cảnh.

Huyền Trang có người ngựa đi kèm, vượt qua núi tuyết, sông băng, xông pha gió xoáy băng trôi, trải qua muôn vàn gian khổ, đến được Toái Diệp Thành (nay thuộc nước cộng hòa KiêcGhiDi ở Trung Á), được khả hãn Tây Đột Quyết tiếp đãi.

Sau đó, tiếp tục thuận lợi hành trình, qua các nước Tây Vực, tiến vào Thiên Trúc.

Thiên Trúc là đất phát nguyên của Phật giáo nên có rất nhiều di tích cổ về đức Phật.

Huyền Trang đi thăm mọi di tích, chùa chiền và tìm các cao tăng để học những điều sâu xa huyền diệu trong kinh phật.

Một lần, trong khi ngồi thuyền đi qua sông Hằng, ông gặp 1 bọn cướp.

Bọn này mê tín vào hung thần, hằng năm cứ vào mùa thu là phải giết 1 người để tế thần của chúng.

Bọn chúng nhằm đúng Huyền Trang, quyết định chọn ông làm lễ vật.

Huyền Trang hết lời giải thích cũng không có tác dụng gì, đành nhắm mắt lại, niệm phật.

Thật khéo làm sao, đúng lúc đó, 1 trận cuồng phong, nước sông ngầu đục, nổi sóng cuồn cuộn suýt làm lật thuyền.

Bọn cướp hoảng sợ, vội quì xuống cầu nguyện và thả Huyền Trang ra.

Câu chuyện ấy được đồn đại đi rất nhanh.

Nhân dân địa phương đều cho Huyền Trang có pháp thuật cao siêu, được đức Phật bảo hộ.

Tại nước Ma Kiết Đà ở Thiên Trúc có 1 ngôi chùa lớn cổ kính, có tên là chùa Na Lan Đà.

Trong chùa có pháp sư Giới Hiền là 1 đại học giả của Thiên Trúc.

Huyền Trang đến tìm chùa Na Lan Đà, thụ giáo pháp sư Giới Hiền trong 5 năm, học hiểu hết các pho kinh ở đây.

Giới Nhật vương của nước Ma Kiết Đà là 1 vương quốc sùng tín Phật giáo, nghe tiếng Huyền Trang, liền mở 1 cuộc giảng kinh long trọng ở quốc đô Khúc Nhữ Thành (thuộc miền bắc Ấn Độ), mời Huyền Trang đến thuyết giáo.

Mười tám quốc vương của các nước thuộc Thiên Trúc và hơn 3000 cao tăng đã đến dự.

Giới Nhật vương mời Huyền Trang lên giảng kinh rồi mời mọi người cùng biện luận.

Đại hội tiến hành trong 18 ngày, mọi người đều hết sức khâm phục trước sự diễn giảng tinh tường sâu sắc của Huyền Trang, không ai bác bỏ được điều gì.

Cuối cùng, Giới Nhật vương cử người giương cao áo cà sa của Huyền Trang và tuyên bố cuộc giảng kinh đã thành công tốt đẹp.

Khi tiếp kiến Huyền Trang, Giới Nhật vương nói, từ lâu ông đã nghe nói ở Trung Quốc có 1 vương quốc tài giỏi và vũ dũng là Tần vương.

Huyền Trang nói cho ông ta biết, Tần vương chính là hoàng đế Đại Đường hiện nay.

Chuyến đi của Huyền Trang không những thu được kết quả lớn về phật học, mà còn xúc tiến việc giao lưu văn hóa đông tây.

Năm 645, sau 10 năm xa nước, Huyền Trang đã mang theo hơn 600 bộ kinh phật về tới Trường An.

Sự tích đi lấy kinh vô cùng gian khổ của Huyền Trang gây chấn động lớn trong nhân dân Trường An.

Lúc đó, Đường Thái Tông đang ở Lạc Dương, nghe tin đó, đã hết lời khen ngợi và đã tiếp kiến Huyền Trang ở hành cung Lạc Dương.

Huyền Trang đã kể lại đầy đủ, tỉ mỉ về chuyến đi Thiên Trúc qua các nước Tây Vực cho Đường Thái Tông nghe.

Từ đó, Huyền Trang để hết tâm sức vào việc phiên dịch những kinh phật đã mang về được.

Ông còn cùng các đệ tử viết cuốn "Đại Đường Tây Vực ký" (ghi chép về các nước Tây Vực thời Đại Đường).

Trong cuốn sách này, ông đã ghi lại tình hình địa lý, phong tục tập quán của 110 nước mà ông đã đi qua và 28 nước khác mà ông nghe nói tới (đây là những nước nhỏ thời đó, thuộc Tân Cương, Trung Á và Ấn Độ).

Cuốn sách này trở thành 1 tài liệu rất quí về lịch sử và địa lý.

Vì việc lấy kinh của Huyền Trang mang rất nhiều màu sắc truyền kì, nên về sau trong dân gian lưu truyền nhiều truyện thần thoại xung quanh chuyến đi đó.

Những truyện trên miêu tả, trên đường đi lấy kinh, Huyền Trang đã gặp rất nhiều yêu ma quỷ quái.

Đó đềulà những điều thêu dệt do óc tưởng tượng trong dân gian.

Đến thời Minh, nhà viết tiểu thuyết Ngô Thừa Ân, đã căn cứ vào truyền thuyết dân gian để gia công về nghệ thuật, viết nên bộ tiểu thuyết thần thoại trường thiên xuất sắc là bộ "Tây du ký".

Cuốn tiểu thuyết đã có tiếng vang rộng rãi và chiếm địa vị quan trọng trong văn học Trung Quốc và thế giới.

Nhưng những điều miêu tả trong đó hoàn toàn khác xa với sự thực lịch sử về chuyến đi lấy kinh của Huyền Trang.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
CÔNG CHÚA VĂN THÀNH VÀO THỔ PHỒN


Sau khi Đường Thái Tông tiêu diệt Đông Đột Quyền, liền phái Lý Tịnh đi đánh Thổ Cốc Hồn (nay thuộc tỉnh Thanh Hải), mở thông con đường sang Tây Vực.

Các nước Tây Vực dồn dập qua lại với triều Đường.

Nước Thổ Phồn (do người Tạng dựng lên ở vùng cao nguyên Thanh - Tạng) ở xa cũng phái sứ giả tới.

Lúc đó quốc vương Thổ Phồn là Tùng Tán Can Bố, 1 người có tài kiêm văn võ.

Năm 13 tuổi, ông đã tinh thông việc cưỡi ngựa, bắn cung, múa kiếm, đồng thời còn thích dân ca, giỏi làm thơ, được nhân dân Thổ Phồn yêu mến.

Sau khi cha mất, quí tộc Thổ Phồn nổi loạn, Tùng Tán Can Bố nhờ lòng dũng cảm và tài trí, đã nhanh chóng dẹp yên nổi loạn.

Ông không thỏa mãn với đời sống quí tộc của Thổ Phồn, mà với tinh thần cầu học, đã phái sứ giả đến Trường An lập quan hệ với triều Đường để học tập văn hóa Đường.

Đường Thái Tông cũng đã nghe nói tới danh tiếng Thổ Phồn, nên đồng ý kết giao, đồng thời còn cử người tới thăm Thổ Phồn.

Hai năm sau, Tùng Tán Can Bố lại phái sứ giả sang cầu hôn với hoàng thất Đường.

Đường Thái Tông không thuận.

Sứ giả sợ bị Tùng Tán Can Bố quở trách là không hoàn thành nhiệm vụ, nên khi về nước, liền nói dối rằng: "Thiên tử nhà Đường sắp đồng ý gả công chúa cho quốc vương thì quốc vương Thổ Cốc Hồn cũng phái sứ giả tới cầu hôn.

Vì vậy đã gác việc cầu hôn của ta lại".

Thổ Phồn và Thổ Cốc Hồn vốn đã có xích mích, nên khi Tùng Tác Can Bố nghe sứ giả nói thế thì nổi giận, liền cử 20 vạn quân tiến công Thổ Cốc Hồn.

Quốc vương Thổ Cốc Hồn thấy thế quân Thổ Phồn quá mạnh, không chống đỡ nổi, liền di chuyển tới vùng Hoàn Hải.

Tùng Tán Can Bố đánh bại quân Thổ Cốc Hồn, liền thừa thắng tiến tới Tùng Châu (nay là Tùng Phiên, Tứ Xuyên) thuộc đất đai triều Đường và đánh thắng quân Đường ở đây.

Tùng Tán Can Bố liền huênh hoang, phái sứ giả đến uy hiếp triều Đường: "Nếu không đem công chúa gả cho ta, ta sẽ đem quân đánh tới Trường An".

Đường Thái Tông nổi giận, phái đại tướng Hầu Quân Tập đem quân đánh lại Thổ Phồn.

Các tướng sĩ Thổ Phồn không muốn Tùng Tán Can Bố gây chiến tranh với triều Đường, nên khi nghe tin đại quân của Đường sắp tới, đều xin lui quân.

Tùng Tán Can Bố cũng không thể làm liều để chuốc lấy thất bại nên cử người giảng hòa.

Đường Thái Tông thấy như vậy cũng hợp ý mình nên đồng ý.

Năm 640, Tùng Tán Can Bố lại phái 1 sứ giả có tài là Lộc Đông Tán dẫn phái bộ 100 người, đem lễ hậu gồm 5000 lạng vàng và rất nhiều châu báu, đến Trường An cầu hôn.

Đường Thái Tông tiếp kiến Lộc Đông Tán.

Lộc Đông Tán trổ tài ăn nói, trình bày với Đường Thái Tông nguyện ước chân thành của vị quốc vương tài giỏi và trẻ tuổi của mình muốn được sánh đôi với công chúa Đại Đường.

Đường Thái Tông rất hài lòng, liền chọn trong hoàng tộc 1 cô gái xinh đẹp, dịu hiền, phong làm Văn Thành công chúa và gả cho Tùng Tán Can Bố.

Theo truyền thuyết, sứ giả Lộc Đông Tán là 1 người rất thông minh.

Về sau, nhân dân trên cao nguyên Thanh Tạng có lưu truyền câu chuyện về "Vượt năm khó khăn để cầu hôn".

Nội dung đại lược như sau: khi Lộc Đông Tán tới Trường An, thay mặt quốc vương Tùng Tán Can Bố cầu hôn công chúa Đại Đường thì cũng có nhiều sứ giả các nước đến cầu hôn cho quốc vương mình.

Đường Thái Tông ra điều kiện: sứ giả nào giải quyết được 5 vấn đề nêu ra thì sẽ gả công chúa cho quốc vương nước đó.

Việc thứ nhất là làm sao xâu được sợi tơ cực mảnh qua hết 9 lỗ nhỏ trên 1 viên minh châu.

Lộc Đông Tán nghĩ ra 1 cách, buộc sợi tơ đó vào bụng 1 con kiến rồi cho con kiến lần lượt chui qua 9 lỗ nhỏ trên viên ngọc.

Nhờ đó, đã được xâu sợi tơ.

Việc thứ 2 là trong 1 đàn ngựa có 100 ngựa mẹ và 100 ngựa con, làm sao nhận ra đúng từng cặp mẹ con một.

Lộc Đông Tán đem nhốt riêng 100 ngựa mẹ và 100 ngựa con ra 2 nơi riêng biệt trong 1 ngày, không cho ngựa con ăn uống gì.

Hôm sau thả cả 2 đàn ra bãi.

Ngựa con quá đói, đều chạy đến bú mẹ.

Vì vậy, việc nhận ra từng cặp mẹ con rất dễ dàng.

Lộc Đông Tán vượt tiếp 2 cuộc khảo sát không mấy khó khăn.

Đến lần khảo sát cuối cùng, là làm sao phân biệt và chỉ ra được trong 2500 mĩ nữ trẻ trung xinh đẹp, ai là công chúa Văn Thành.

Với cặp mắt tinh tường và nhạy bén, Lộc Đông Tán lại vượt lên trên tất cả các sứ giả khác, nhận ra đúng vị công chúa cần tìm.

Truyền thuyết đó không hẳn là sự thực.

Nhưng qua đó có thể thấy nguyện vọng của nhân dân Thổ Phồn muốn có tình hữu hảo với Đại Đường và sự khen ngợi của họ trước tài năng của Lộc Đông Tán.

Năm 641, cô gái 24 tuổi mang tên công chúa Văn Thành, được Giang Hạ vương Lý Đạo Tông hộ tống lên đường sang Thổ Phồn.

Triều Đường đã chuẩn bị cho công chúa rất nhiều của hồi môn.

Vàng bạc châu báu, lụa là gấm vóc đương nhiên là rất nhiều.

Ngoài ra còn có nhiều đặc sản như giống lúa, giống cây ăn quả, hạt rau, cây thuốc, giống tằm... mà Thổ Phồn không có.

Công chúa Văn Thành còn đem theo nhiều sách vở về y dược, cách gieo trồng, kỹ thuật xây dựng, thiên văn lịch pháp...Tin công chúa Văn Thành xuất giá truyền tới Thổ Phồn.

Suốt dọc đường, người ta nô nức chuẩn bị ngựa xe, thuyền bè, lương thực để phục vụ đoàn đưa dâu.

Tùng Tán Can Bố đích thân đi từ La Tá (nay là La Sa, thủ phủ Tây Tạng) tới Bá Hải (nay là Hồ Ngạc Lăng, Thanh Hải) để đưa đón.

Tại đây, đã cử hành hôn lễ long trọng giữa Tùng Tán Can Bố và công chúa Văn Thành.

Sau hôn lễ, đoàn đón dâu và đưa dâu đã vượt qua núi tuyết và coa nguyên, về tới thành La Tá.

Hôm công chúa vào thành, nhân dân quốc đô vui mừng như trong ngày hội, đổ ra khắp đường, ca múa đón chào.

Tùng Tán Can Bố còn cho xây dnwgj ở La Tá 1 cung điện theo kiểu kiến trúc của triều Đường, làm nơi ở cho công chúa.

Văn Thành công chúa sống ở Thổ Phồn hơn 40 năm.

Bà đã có cống hiến quan trọng vào việc củng cố tình hữu nghị giữa 2 dân tộc Hán - Tạng và việc phát triển kinh tế, văn hóa Tây Tạng.

Ngày nay, trong chùa Đại Chiêu và cung Bu Ta La ở Tây Tạng vẫn thờ tượng của Tùng Tán Can Bố và công chúa Văn Thành.

Năm 650, Tùng Tán Can Bố bị bệnh mất.

Trước đó 1 năm, Đường Thái Tông cũng mất.

Thái tử Lý Trị lên ngôi.

Đó là Đường Cao Tông.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NỮ HOÀNG ĐẾ VÕ TẮC THIÊN


Đường Thái Tông là 1 hoàng đế sáng suốt, nhưng con ông là Cao Tông lại là 1 người tầm thường, không có tài cán gì.

Sau khi lên ngôi, Đường Cao Tông không biết giải quyết việc triều chính thế nào, mọi việc đều nhờ cậu là Trưởng Tôn Vô Kỵ chỉ bảo.

Về sau, ông ta lập Võ Tắc Thiên làm hoàng hậu, thì tình hình thay đổi hẳn.

Võ Tắc Thiên vốn là 1 tài nhân (1 cấp bậc thấp trong hàng phi tần) của Đường Thái Tông.

Năm 14 tuổi đã hầu hạ trong cung.

Lúc đó, trong chuồng ngựa của hoàng đế có 1 con ngựa hay nhưng rất dữ, không ai cưỡi được.

Một hôm, Đường Thái Tông dẫn các cung phi ra xem ngựa, ông chỉ con ngựa đó và nói với các cung phi: "Trong các ngươi có ai trị được con ngựa đó không?".

Trong khi các cung phi lắc đầu, lè lưỡi nhìn nhau thì cô bé 14 tuổi dũng cảm ấy đứng lên nói: "Tâu bệ hạ, thiếp có thể làm được".

Thái Tông kinh ngạc nhìn cô, rồi hỏi có biện pháp gì.

Võ Tắc Thiên nói: "Chỉ cần có ba vật, là một cái roi sắt, một cái búa sắt và một con dao nhọn.

Nếu ngựa ương bướng thì vụt bằng roi sắt; nếu vẫn chưa chịu thì đánh búa sắt; nếu vẫn còn lồng lộn thì dùng dao cứa cổ đứt nó đi".

Đường Thái Tông cười ha hả, tuy thấy lời Võ Tắc Thiên vẫn có tính trẻ con, nhưng ông rất thích tính mạnh mẽ của cô.

Sau khi Đường Thái Tông mất, theo qui tắc của cung đình lúc đó, Võ Tắc Thiên phải vào tu ở am ni cô.

Điều đó đương nhiên là cô không muốn.

Khi còn làm thái tử, Đường Cao Tông đã có tình ý với Võ Tắc Thiên.

Sau khi lên ngôi được 2 năm, ông đã đón Võ Tắc Thiên từ am ni cô về và phong làm Chiêu nghi.

Sau đó, vì say đắm Võ Tắc Thiên, Cao Tông muốn phế Vương hoàng hậu và lập Võ Tắc Thiên lên thay.

Ý định đó bị các lão thần hết sức phản đối, đặc biệt là Trưởng Tôn Vô Kỵ, cậu ruột của Cao Tông, trước sau nhất định không chịu đổi ý.

Võ Tắc Thiên ngầm lôi kéo 1 số đại thần, xui giục họ tìm cách vận động cho mình.

Có người nói với Cao Tông: "Lập hoàng hậu là việc trong nhà của bệ hạ, không ai có quyền can thiệp vào".

Cao Tông liền quyết tâm, phế Vương hoàng hậu và đưa Võ Tắc Thiên lên thay.

Sau khi lên ngôi hoàng hậu, Võ Tắc Thiên thi thố mọi biện pháp quả đoán cay độc của mình, lần lượt giáng chức, đày đi xa các đại thần đã phản đối mình.

Ngay cả Trưởng Tôn Vô Kỵ, 1 lão thần đầu triều, cậu ruột của Cao Tông cũng bị buộc phải tự sát.

Không lâu sau, Cao Tông vốn đã rất nhu nhược, nay lại lăn ra ốm, suốt ngày nhức đầu hoa mắt, nhiều lúc không mở mắt ra được.

Cao Tông thấy Võ Tắc Thiên có tài, lại thông hiểu chữ nghĩa, liền giao luôn toàn bộ công việc triều chính cho bà.

Võ Tắc Thiên nắm được quyền, dần dần không coi Cao Tông ra gì nữa.

Cao Tông muốn làm việc gì, nếu không được Võ Tắc Thiên đồng ý thì không có cách gì thực hiện được.

Cao Tông trong lòng bực bội, đem tâm sự thổ lộ với tể tướng Thượng Quan Nghi.

Thượng Quan Nghi vốn chống lại việc Võ Tắc Thiên nắm triều chính, liền nói: "Bệ hạ đã thấy hoàng hậu quá chuyên quyền thì không gì bằng phế bà ta đi".

Cao Tông vốn là người không có chủ kiến, nghe Thượng Quan Nghi nói thế, liền bảo: "Được!

Thế thì khanh giúp trẫm khởi thảo một chiếu thư".

Câu chuyện giữa hai người bị 1 thái giám nghe thấy.

Bọn thái giám đều là tâm phúc của Võ Tắc Thiên, nên nghe lỏm được câu chuyện quan trọng đó, liền báo gâp cho Võ Tắc Thiên biết.

Khi Thượng Quan Nghi vừa thảo xong chiếu thư, đưa cho Cao Tông xem thì Võ Tắc Thiên xồng xộc chạy vào.

Bà ta lớn tiếng quát hỏi Cao Tông: "Thế này là thế nào?".

Cao Tông thấy Võ Tắc Thiên thì sợ quá, vội giấu thư mà Thượng Quan Nghi đưa cho vào ống tay áo, rồi lắp bắp nói: "Trẫm vốn không có ý đó.

Đó là Thượng Quan Nghi xui trẫm làm".

Võ Tắc Thiên lập tức hạ lệnh bắt giết Thượng Quan Nghi.

Từ đó về sau, lúc nào Đường Cao Tông lâm triều, đều có Võ Tắc Thiên ngồi bên giám thị.

Bất kì việc lớn việc nhỏ, đều phải được hoàng hậu gật đầu đồng ý mới thi hành được.

Năm 683, Cao Tông chết.

Võ Tắc Thiên lần lượt lập 2 con làm hoàng đế: Trung Tông Lý Hiển và Duệ Tông Lý Đán nhưng đều không hài lòng về họ.

Bà phế Trung Tông, giam lỏng Duệ Tông rồi lấy danh nghĩa thái hậu, lâm triều chấp chính.

Làm như vậy, lại gặp sự phản đối của 1 số đại thần và tông thất.

Có 1 đại thần là Từ Kính Nghiệp bị Võ Tắc Thiên giáng chức, liền lợi dụng việc đó, khởi binh ở Dương Châu chống lại vào năm 684.

Võ Tắc Thiên bàn với tể tướng Bùi Viêm về chuyện dẹp Từ Kính Nghiệp.

Bùi Viêm nói: "Hiện nay hoàng đế đã lớn tuổi mà vẫn không được cầm quyền, thiên hạ mới có cớ làm bậy.

Nếu thái hậu trả lại quyền cho hoàng đế thì cuộc nổi loạn của Từ Kính Nghiệp tự nhiên sẽ dẹp được".

Võ Tắc Thiên cho Bùi Viêm là cùng 1 giuộc với Từ Kính Nghiệp, muốn buộc mình rời khỏi quyền lực nổi giận, bắt giam Bùi Viêm rồi phái đại tướng đem 30 vạn quân đi thảo phạt.

Từ Kính Nghiệp thế cô, quân ít, chống đỡ 1 thời gian ngắn rồi thất bại.

Sau đó, còn có 2 tông thất triều Đường là Việt vương Lý Trinh và Lang Nha vương Lý Xung khởi binh chống lại Võ Tắc Thiên, cũng đều bị trấn áp.

Sau 2 cuộc khởi binh trên, toàn quốc lại khôi phục được sự ổn định, không ai còn dám chống lại Võ Tắc Thiên nữa.

Võ Tắc Thiên củng cố vững được chính trị nhưng không thỏa mãn với cương vị thái hậu chấp chính, mà muốn chính thức lên làm hoàng đế.

Có 1 nhà sư đoán biết tâm tư của Võ Tắc Thiên, liền ngụy tạo 1 bộ kinh phật, dâng lên Võ Tắc Thiên.

Bộ kinh đó nói Võ Tắc Thiên vốn là Phật Di Lặc đầu thai xuống nhân gian.

Phật tổ phái bà xuống trần là để thay hoàng đế Đại Đường mà cai trị thiên hạ.

Mấy tháng sau, 1 viên quan tên là Phó Du Nghệ tổ chức được hơn 900 người ở vùng Quan Trung, liên danh dâng 1 bức thư, thỉnh cầu thái hậu lên ngôi hoàng đế.

Võ Tắc Thiên làm bộ từ chối, nhưng lại thăng chức cho Phó Du Nghệ.

Kết quả, ngày càng có nhiều thư dâng lên, thỉnh cầu bà lên làm hoàng đế.

Theo nói lại, những người dâng thư thỉnh cầu thuộc đủ các giới: quan chức văn võ, vương công quí tộc, thủ lĩnh các bộ tộc, hòa thượng đạo sĩ, dân chúng các địa phương...tất cả có tới 6 vạn người.

Năm 690, tháng 9, Võ Tắc Thiên tiếp nhận lời thỉnh cầu của trăm họ, tự xưng là Trần Thánh hoàng đế, đổi quốc hiệu là Chu.

Bà trở thành nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
MỜI NGÀI VÀO TRONG CHUM


Sau khi dẹp tan cuộc nổi dậy của Từ Kính Nghiệp, Võ Tắc Thiên quyết tâm diệt trừ các tông thất và đại thần chống lại mình.

Nhưng, làm cách gì để biết những ai là người đang ngấm ngầm nuôi lòng chống đối.

Võ Tắc Thiên tìm ra 1 biện pháp là phát động cuộc tố cáo trong toàn quốc.

Bất kì quan lại cấp nào và người dân bình thường, miễn là phát hiện có người mưu phản, đều có thể trực tiếp báo cáo với thái hậu.

Quan lại địa phương nhận được thư và người đến tố giác, đều không được trực tiếp hỏi han mà phải chuẩn bị ngựa xe, cung cấp ăn uống chu đáo và phái người hộ tống tới hành cung của thái hậu, trực tiếp triều kiến Võ Tắc Thiên.

Nếu tài liệu tố giác là đúng, người tố giác lập tức được làm quan.

Nếu xét ra không đúng sự thực, cũng không bị ghép vào tội vu cáo.

Vì vậy, ở khắp nơi trong toàn quốc, người tố giác ngày càng nhiều.

Vì có quá nhiều người đem đơn tố giác, nên Võ Tắc Thiên phải cử người thay mình tra xét.

Một tướng người Hồ là Sách Nguyên Lễ nhờ việc tố giác mà trở nên phú quí.

Võ Tắc Thiên ủy nhiệm y chuyên xử các vụ án mưu phản.

Khi thẩm vấn, bất kể là có chứng cứ gì không, hắn ta đều dùng cực hình buộc người được xét hỏi khai ra đồng mưu.

Người bị tra không thể chịu nổi cực hình, đành khai bừa ra 1 số người khác.

Vì vậy, từ 1 người, kéo theo mấy chục, mấy trăm người liên quan.

Diện liên quan càng rộng, qui mô vụ án càng lớn, Sách Nguyên Lễ tâu lên, liền được thái hậu khen là làm việc giỏi.

Một số quan chức thấy Sách Nguyên Lễ được thái hậu tín nhiệm, liền cũng học theo cách làm của y.

Trong số đó có 2 kẻ tàn bạo nhất là Chu Hưng và Lại Tuấn Thần.

Dưới quyền mỗi tên có mấy trăm tên lưu manh, chuyên làm việc tố giác.

Nếu chúng ngờ ai mưu phản, là đồng thời tố giác từ mấy địa phương khác nhau và bịa ra đủ loại chứng cớ.

Điều kì dị là Lại Tuấn Thần còn soạn ra 1 bản "Cáo mật la chức la kinh" (sách dạy cách thêu dệt để tố giác) để truyền thụ các thủ đoạn thêu dệt tội trạng cho tay chân thực hiện.

Chu Hưng và Lại Tuấn Thần xét xử còn tàn bạo hơn Sách Nguyên Lễ nhiều, chúng nghĩ ra đủ mọi loại tra tấn cực kì thảm khốc vô nhân đạo để áp dụng đối với đối tượng tra xét.

Khi bắt ai, trước hết chúng bày ra trước mặt người đó đủ loại hình cụ.

"Phạm nhân" chỉ cần nhìn qua là đã khiếp sợ, khai hết mọi điều theo ý chúng.

Chu Hưng và Sách Nguyên Lễ trước sau đã giết chết mấy ngàn người, Lại Tuấn Thần thì làm tan nát hơn 1000 gia đình.

Cả 3 đều nổi danh về sự tàn bạo.

Có 1 đại thần chính trực tâu với thái hậu: "Hiện nay trong các các vụ án mưu phản, đa số là án oan, án giả, có thể là có kẻ muốn ly gián bệ hạ với các đại thần; bệ hạ không thể không thận trọng".

Nhưng Võ Tắc Thiên không muốn nghe theo lời khuyên đó.

Phong trào tố giác càng ngày càng lên cao.

Ngay cả người thân tín của Võ Tắc Thiên là đại tướng Khưu Thần Tích, chỉ huy quân cấm vệ, cũng bị tố giác là mưu phản, bị Võ Tắc Thiên hạ lệnh giết.

Một hôm, thái hậu nhận được phong thư tố giác, nói Chu Hưng là kẻ đồng mưu với Khưu Thần Tích.

Thái hậu giật mình, lập tức hạ chỉ sai Lại Tuấn Thần điều tra, xét xử việc này.

Vừa khéo, khi thái giám mang chỉ dụ của thái hậu đến nhà Lại Tuấn Thần, thì Chu Hưng đang ở đó.

Hai người vừa uống rượu, vừa nói chuyện về các vụ án.

Lại Tuấn Thần xem xong mật chỉ của thái hậu, không tỏ thái độ gì, đút mật chỉ vào ống tay áo rồi tiếp tục nói chuyện với Chu Hưng.

Lại Tuấn Thần nói: "Gần đây, tôi bắt được một số phạm nhân, nhiều đứa không chịu thực thà cung khai.

Ngài xem nên làm thế nào?".

Chu Hưng vuốt râu, cười khà khà nói: "Điều đó quá dễ!

Gần đây tôi nghĩ ra một biện pháp mới, là đặt một cái chum lớn trên lò than.

Kẻ nào không chịu cung khai thì bắt nó bỏ vào chum, nướng nó như nướng bánh.

Lo gì nó không chịu khai!"

Lại Tuấn Thần nghe nói, gật gù khen rối rít: "Biện pháp hay!

Biện pháp hay!".

Vừa nói hắn vừa sai gia nhân khiêng 1 chiếc chum lớn và 1 lò than lên đại sảnh, cho quạt lò cháy tực rồi khiêng chum để lên trên.

Lửa cháy rất mạnh làm mọi người toát mồ hôi.

Chu Hưng đang lấy làm lạ thì Lại Tuấn Thần bệ vệ đứng dậy, vênh mặt nói: "Ta vừa nhận được mật chỉ của thái hậu, nói Chu huynh mưu phản.

Nếu ngài không thành thực cung khai, thì chỉ còn cách mời ngài vào trong chum".

Chu Hưng vừa nghe nói thế thì kinh hồn bạt vía, run như cầy sấy.

Vốn cùng trong nghề, hắn quá rõ thủ đoạn của Lại Tuấn Thần, liền quì sụp xuống lạy như tế sao xin tha và nguyện sẽ nhận tội.

Lại Tuấn Thần căn cứ vào lời thú nhận, khép vào tội chết và tâu lên thái hậu.

Võ Tắc Thiên nghĩ, Chu Hưng đã từng giúp bà bao nhiêu việc, vả lại hắn ta có mưu phản thật không, còn có điểm đáng ngờ.

Bà liền hạ chiếu tha tội chết, chỉ cách hết chức tước và đày đi Lĩnh Nam (vùng Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay).

Vì Chu Hưng đã gây nhiều tội ác, nhiều người oán giận, nên đi tới nửa đường, đã bị giết chết.

Sau đó, Võ Tắc Thiên biết Sách Nguyên Lễ hãm hại quá nhiều người, lòng dân oán giận nên cũng giết Sách Nguyên Lễ để yên lòng dân.

Còn lại 1 mình Lại Tuấn Thần vẫn được Võ Tắc Thiên tín nhiệm, tiếp tục thực hiện việc vu hãm, giết người trong 5, 6 năm nữa.

Cộng cả trước sau, không biết hắn đã sát hại bao nhiêu bao nhiêu quan lại và dân thường.

Ngay cả tể tướng Địch Nhân Kiệt cũng bị hắn vu cáo là mưu phản, bị tống giam, suýt nữa bị chết dưới tay hắn.

Tham vọng của Lại Tuấn Thần rất lớn, hắn toan độc chiếm đại quyền trong triều, nhưng còn e sợ cháu của Võ Tắc Thiên và Võ Tam Tư và con gái Võ Tắc Thiên là Thái Bình công chúa có thế lực lớn, có thể tố giác hắn.

Hai người đó đúng là ghê gớm, họ đã ra tay trước phanh phui tố giác hết mọi tội vu cáo người tốt và lạm dụng hình phạt của Lại Tuấn Thần, cho người bắt hắn và ghép vào tội chết.

Võ Tắc Thiên tuy muốn bênh vực, nhưng khi thấy có quá nhiều người chống hắn, nên đành chuẩn y việc xử tử.

Ngày Lại Tuấn Thần bị xử tội, mọi người vô cùng hoan hỉ.

Ai nấy đều chúc mừng nhau: "Từ hôm nay, ban đêm mới có thể ngủ yên được!".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
ĐỊCH NHÂN KIỆT PHÁT HIỆN NHÂN TÀI


Võ Tắc Thiên trấn áp không thương tiếc những ai chống lại việc bà nắm quyền, nhưng bà lại vô cùng coi trọng việc sử dụng người hiền tài.

Bà thường xuyên cử người tới các địa phương để chọn người tài giỏi.

Khi đã phát hiện thấy ai có tài năng thì không kể tới xuất thân và thâm niên làm việc mà phong chức đặt cách, mạnh dạn sử dụng.

Vì thế, dưới quyền bà có nhiều đại thần tài giỏi, trong đó nổi tiếng nhất là tể tướng Địch Nhân Kiệt.

Khi Địch Nhân Kiệt làm thứ sử Dự Châu, đã chấp hành nghiêm pháp luật, xử sự công bằng, được nhân dân địa phương ca ngợi.

Võ Tắc Thiên nghe tiếng ông có tài, liền điều ông về kinh làm tể tướng.

Một hôm, Võ Tắc Thiên triệu ông tới bảo: "Trẫm nghe nói khi khanh làm việc ở Dự Châu, có tiếng tốt, nhưng cũng có người nói xấu khanh với trẫm.

Khanh có muốn biết người đó là ai không?".

Địch Nhân Kiệt nói: "Người khác nói thần không tốt, nếu đó đúng là lỗi của thần thì thần phải sửa.

Nếu bệ hạ đã tìm hiểu rõ không phải là lỗi của thần thì đó là điều may mắn cho thần.

Còn ai là người nói xấu sau lưng thần, thần thấy không cần biết".

Võ Tắc Thiên nghe nói, thấy Địch Nhân Kiệt có lòng độ lượng lớn, lại càng quí trọng.

Khi Lại Tuấn Thần đắc thế, có vu cáo Địch Nhân Kiệt, bắt giam vào ngục.

Lại Tuấn Thần bức ông cung khai và dụ dỗ: "Miễn là ngài cung khai thì có thì có thể miễn được tội chết!".

Địch Nhân Kiệt thản nhiên nói: "Nay thái hậu đã xây dựng triều Chu, mọi việc đều đổi mới cả.

Những cựu thần triều Đường như tôi, giết đi là đúng.

Tôi xin nhận cho xong".

Một viên quan khác nói nhỏ với Địch Nhân Kiệt: "Nếu ngài khai ra người khác, thì có thể được đối xử khoan hồng".

Địch Nhân Kiệt nổi giận nói: "Trên có trời, dưới có đất, Địch Nhân Kiệt này không thể làm việc đó được!".

Nói rồi, lao đầu vào cột nhà ngục, máu chảy đầm đìa, viên quan đó sợ hãi vội ra sức khuyên Địch Nhân Kiệt ngừng lại.

Lại Tuấn Thần căn cứ vào lời bức cung của người khác, liền thảo ra 1 bản án của Địch Nhân Kiệt rồi tâu lên Võ Tắc Thiên.

Nhân lúc bọn coi ngục lơ là trong việc giám thị, Địch Nhân Kiệt xé 1 miếng vải bọc chăn, viết 1 tờ kháng án rồi nhét vào lần trong áo bông.

Lúc đó, trời đã chuyển sang xuân, Địch Nhân Kiệt nói với quan coi ngục: "Trời đã ấm rồi, tôi không cần dùng áo bông nữa.

Xin báo cho con tôi đến mang áo bông về nhà".

Quan coi ngục không nghi ngờ gì, liền cho người trong gia đình họ Địch nhân đến thăm, mang áo bông về.

Con Địch Nhân Kiệt hiểu ý, vạch áo bông ra, thấy lá đơn kháng án liền nhờ người chuyển lên Võ Tắc Thiên.

Xem đơn, Võ Tắc Thiên hạ lệnh tha Địch Nhân Kiệt, rồi triệu kiến ông và hỏi: "Khanh đã nhận là có tội, tại sao lại còn kháng án?".

Địch Nhân Kiệt nói: "Nếu thần không nhận tội thì chúng đã tra tấn thần tới chết từ lâu rồi!".

Võ Tắc Thiên miễn tội chết cho ông, nhưng vẫn cách chức tể tướng, giáng xuống làm huyện lệnh ở tỉnh xa.

Tới khi Lại Tuấn Thần bị giết, ông mới được điều về kinh và được phục chức tể tướng.

Trước khi ông được làm tể tướng, có 1 viên tướng tên là Lâu Sư Đức đã ra sức tiến cử ông với Võ Tắc Thiên.

Nhưng Địch Nhân Kiệt không hề biết chuyện đó, ông vẫn cho rằng Lâu Sư Đức chỉ là 1 võ tướng bình thường, không có gì đáng chú ý.

Một lần, Võ Tắc Thiên cố ý hỏi Địch Nhân Kiệt: "Khanh xem Lâu Sư Đức là người thế nào?".

Địch Nhân Kiệt nói: "Lâu Sư Đức là một viên tướng cần mẫn trong việc phòng giữ biên giới, về mặt đó là tốt.

Còn ông ta có tài năng gì khác không, thì thần không được biết".

Võ Tắc Thiên hỏi: "Khanh xem Lâu Sư Đức có khả năng phát hiện nhân tài không?".

Địch Nhân Kiệt nói: "Thần đã có thời gian làm việc với ông ta nhưng chưa hề nghe nói ông ta có khả năng đó".

Võ Tắc Thiên cười: "Trẫm sở dĩ được biết khanh, chính là nhờ Lâu Sư Đức tiến cử đấy!".

Biết việc đó, Địch Nhân Kiệt rất xúc động, cảm thấy Lâu Sư Đức là người trung hậu, mình không bằng được.

Từ đó, Địch Nhân Kiệt ra sức phát hiện, tuyển chọn nhân tài, kịp thời tiến cử lên Võ Tắc Thiên.

Một hôm, Võ Tắc Thiên bảo Địch Nhân Kiệt: "Trẫm muốn tìm kiếm một nhân tài, khanh xem người nào xứng đáng?".

Địch Nhân Kiệt nói: "Thần chưa biết bệ hạ cần một nhân tài như thế nào?"

Võ Tắc Thiên nói: "Trẫm muốn chọn một người làm tể tướng".

Địch Nhân Kiệt từ lâu đã biết tiếng 1 viên quan ở Kinh Châu tên là Trương Giản Chi, tuy tuổi đã hơi cao nhưng làm tể tướng rất giỏi giang, liền tiến cử với Võ Tắc Thiên.

Võ Tắc Thiên liền thăng chức cho Trường Giản Chi làm Tư mã Lạc Châu (trị sở tại Lạc Dương).

Mấy hôm sau, Địch Nhân Kiệt vào triều, Võ Tắc Thiên lại nhắc tới việc tìm kiếm nhân tài.

Địch Nhân Kiệt nói: "Lần trước, thần tiến cử Trường Giản Chi, bệ hạ đã dùng đâu?".

Võ Tắc Thiên nói: "Trẫm chẳng đã sử dụng ông ta rồi đó sao?".

Địch Nhân Kiệt nói: "Thần tiến cử với bệ hạ là tiến cử một tể tướng chứ không phải tiến cử một tư mã".

Võ Tắc Thiên sau đó mới thăng Trương Giản Chi lên làm thị lang.

Sau này, lại phong ông làm tể tướng.

Địch Nhân Kiệt trước sau đã tiến cử cho triều đình mấy chục người có tài.

Họ đều trở thành những đại thần nổi tiếng đương thời.

Những người đó đều hết sức khâm phục và kính trọng ông, coi ông là bậc lão tiền bối.

Có người nói với ông: "Đào lý trong thiên hạ, đều từ cửa Địch Công mà ra cả".

Địch Nhân Kiệt khiêm tốn nói: "Điều đó có đáng kể gì.

Tiến cử người có tài là vì lợi ích quốc gia, đâu có phải vì lợi ích cá nhân".

Địch Nhân Kiệt sống tới 93 tuổi.

Võ Tắc Thiên hết sức kính trọng ông, gọi ông là "quốc lão".

Nhiều lần ông cáo lão, xin nghỉ nhưng Võ Tắc Thiên không cho.

Sau khi ông mất, Võ Tắc Thiên thường than tiếc: "Trời xanh sao sớm cướp đi của ta vị quốc lão".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TRƯƠNG DUYỆT KHÔNG LÀM CHỨNG GIAN


Sau khi Địch Nhân Kiệt mất, Ngụy Nguyên Trung được làm tể tướng.

Lúc đó, Võ Tắc Thiên tin dùng 2 viên quan là Trương Xương Tông và Trương Dịch Chi.

Hai người đó có quyền thế rất lớn, các quan văn võ trong triều đều kiêng dè 2 họ Trương.

Nhưng tể tướng Ngụy Nguyên Trung rất coi thường chúng.

Ngụy Nguyên Trung nổi tiếng là người cứng cỏi, khi Chu Hưng, Lại Tuấn Thần còn đắc thế, ông đã mấy lần bị vu cáo và bị lưu đày, 1 lần suýt bị xử tử.

Nhưng trước sau ông không bao giờ chịu khuất phục.

Sau này, khi ông làm thứ sử Lạc Châu, 1 tên đày tớ của Dịch Chi cậy thế ức hiếp dân, gây sự ngoài phố Lạc Dương.

Quan cai trị Lạc Dương thấy kẻ gây rối là người trong Trương phủ nên không dám làm gì.

Việc đó đến tai Ngụy Nguyên Trung, ông liền cho bắt tên đày tớ đó, đánh cho 1 trận chết tươi.

Sau khi Ngụy Nguyên Trung làm tể tướng, Võ Tắc Thiên muốn phong em của Trương Dịch Chi là Trương Xương Kỳ làm trưởng sử.

Một số đại thần hùa theo ý của Võ Tắc Thiên, đều khen Trương Xương Kỳ là người có tài.

Nhưng Ngụy Nguyên Trung lại nói: "Trương Xương Kỳ còn non trẻ, hiểu biết ít, không làm nổi chức lớn đó".

Chuyện ấy đành phải gác lại.

Vì những việc đó, Trương Xương Tông và Trương Dịch Chi ôm mối hận với Ngụy Nguyên Trung, muốn tìm mọi cách để trừ bỏ, bèn tố cáo với thái hậu là ông có nói sau lưng là thái hậu già rồi, nên tìm cách dựa vào thái tử thì chắc chắn hơn.

Võ Tắc Thiên nghe thấy nói thế thì nổi giận, lập tức hạ lệnh bắt giam ngay Ngụy Nguyên Trung, chuẩn bị trực tiếp thẩm vấn và yêu cầu 2 họ Trương vạch tội tại chỗ.

Trương Xương Tông sợ không nói lại được Ngụy Nguyên Trung, liền lén tìm 1 quan chức cấp dưới của Ngụy Nguyên Trung tên là Trương Duyệt, đề nghị làm chứng giả, hẹn sẽ thăng quan cho ông ta.

Hôm sau, Võ Tắc Thiên ra triều, triệu tập thái tử và tể tướng, để Trương Xương Tông và Ngụy Nguyên Trung trực tiếp đối chất.

Ngụy Nguyên Trung nhất định không chịu nhận là có chuyện đó.

Hai người tranh luận rất lâu không đi đến kết quả gì.

Trương Xương Tông nói: "Chính tai Trương Duyệt nghe thấy Ngụy Nguyên Trung nói câu đó.

Có thể gọi ông ta để làm chứng!".

Võ Tắc Thiên lập tức cho gọi Trương Duyệt vào triều làm chứng.

Biết sẽ xảy ra chuyện gì, 1 viên quan là Tống Cảnh nói với Trương Duyệt: "Danh dự của một con người là quí hơn hết.

Dù thế nào cũng thể vì sự an toàn của cá nhân mà đi phụ họa với gian thần.

Dù có vì vậy mà bị lưu đày thì tên tuổi vẫn vẻ vang".

Sử quan Lưu Tri Kỷ cũng nhắc Trương Duyệt: "Không nên bôi xấu lịch sử của mình, để liên lụy tới con cháu đời sau".

Trương Duyệt biết rõ Ngụy Nguyên Trung oan uổng, nhưng cũng sợ quyền thế của 2 họ Trương, nên tư tưởng đấu tranh, giằng co rất căng thẳng, toát hết cả mồ hôi.

Sau khi nghe 2 người nhắc nhở như vậy, mới xác định được quyết tâm.

Trương Duyệt tiến vào sân rồng, Võ Tắc Thiên hỏi: "Ngươi có nghe thấy Ngụy Nguyên Trung phỉ báng triều đình không?".

Ngụy Nguyên Trung vừa thấy Trương Duyệt đến, liền nói lớn: "Trương Duyệt, ngươi định hùa với Trương Xương Tông để vu hãm người trung lương chăng?".

Trương Duyệt quay đầu lại, hừm 1 tiếng rồi nói: "Ngụy Công làm tể tướng mà sao lại nói lời sai đạo lý như thế!".

Trương Xương Tông thấy Trương Duyệt nói hơi lạc đề, vội giục: "Không cần đôi co với ông ta, hãy tới làm chứng đi".

Trương Duyệt quay lại, tâu với Võ Tắc Thiên: "Xin bệ hạ xem, trước mặt bệ hạ mà ông ta còn uy hiếp thần.

Đủ biết khi ở ngoài, ông ta còn tác oai tác phúc như thế nào.

Nay thần không thể không nói thực, đúng là thần không hề nghe Ngụy Nguyên Trung nói lời chống lại bệ hạ.

Chỉ là do Trương Xương Tông buộc thần phải làm chứng giả mà thôi".

Trương Xương Tông thấy Trương Duyệt đổi giọng như thế, thì nổi giận đùng đùng, kêu lớn: "Trương Duyệt chính là kẻ đồng mưu với Ngụy Nguyên Trung".

Võ Tắc Thiên là người thông minh, nghe lời Trương Duyệt nói, biết chắc là Ngụy Nguyên Trung bị oan, nhưng không muốn để bọn Trương Xương Tông lâm vào thế bí, liền mắng Trương Duyệt: "Ngươi là kẻ tiểu nhân phản phúc".

Rồi hạ lệnh bắt giam lại, tiếp tục phỏng vấn.

Nhưng Trương Duyệt đã quyết tâm, nhất định giữ vững ý kiến là không hề nghe Ngụy Nguyên Trung nói lời mưu phản.

Võ Tắc Thiên không có chứng cớ về việc Ngụy Nguyên Trung mưu phản, nhưng bà vẫn triệt chức tể tướng của ông và lưu đày Trương Duyệt.

Năm 705, Võ Tắc Thiên ốm nặng.

Người cháu là Võ Tam Tư câu kết với Trương Xương Tông và Trương Dịch Chi nắm chính quyền trong triều.

Tể tướng Trương Giản Chi và 1 số đại thần nhân cơ hội Võ Tắc Thiên không còn làm việc được, đoạt lấy quyền chỉ huy quân cấm vệ, bắt giết 2 tên họ Trương, đón Trung Tông trở về ngôi hoàng đế.

Không lâu sau, vị nữ hoàng đế hiển hách 1 thời ấy qua đời.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
DIÊU SÙNG DIỆT CHÂU CHẤU


Sau khi Đường Trung Tông trở lại ngôi vua, để vợ mình là Vĩ hậu nắm chính quyền, trọng dụng Võ Tam Tư, làm cho triều chính rối bét.

Năm 710, sau khi Trung Tông chết, con của Duệ Tông là Lý Long Cơ khởi binh giết Vĩ hậu, đón Duệ Tông về trở lại ngôi vua.

Hai năm sau, Duệ Tông nhường ngôi vua lại cho Lý Long Cơ.

Đó là Đường Huyền Tông.

Hoàng đế trẻ tuổi Đường Huyền Tông mới ngoài 20 tuổi, đầy lòng hăng hái, muốn khôi phục sự nghiệp của Đường Thái Tông.

Ông dùng Diêu Sùng làm tể tướng, chỉnh đốn nội chính, khắc phục mọi rối loạn từ thời Trung Tông để lại.

Vương triều Đường lại xuất hiện cảnh hưng thịnh.

Chính lúc Huyền Tông dốc sức vào việc cai trị thì ở miền Hà Nam xuất hiện nạn châu chấu lan rộng chưa từng có.

Trên khắp vùng Trung nguyên rộng lớn xuất hiện từng đàn châu chấu.

Mỗi khi chúng bay tới đâu, là tạo nên 1 đám đen đặc, che lấp hết ánh mặt trời.

Châu chấu hạ xuống đâu, chỉ 1 loáng, toàn bộ hoa màu bị cắn sạch quang.

Thời đó, người ta chưa có hiểu biết khoa học, nên cho rằng châu chấu là tai họa do trời giáng xuống.

Có những kẻ còn lợi dụng dịp đó để tuyên truyền mê tín.

Vì vậy khắp nơi, dân chúng đều thắp hương cầu thần phật phù hộ cho tai qua nạn khỏi.

Đứng trước cảnh hoa màu lúa má bị châu chấu tàn phá, không ai đề ra được biện pháp gì thiết thực.

Tai nạn càng ngày càng nghiêm trọng, khu vực bị tàn phá càng ngày càng lan rộng.

Quan lại các địa phương tới tấp gửi công văn cáo cấp về triều đình.

Tể tướng Diêu Sùng dâng 1 sớ tấu lên Huyền Tông, cho rằng châu chấu chẳng qua chỉ là 1 loại côn trùng, nhất định có cách trị được.

Miễn là quan dân các địa phương đồng lòng dốc sức vào việc diệt châu chấu, thì họa châu chấu sẽ chẳng có gì là nguy hiểm.

Đường Huyền Tông rất tín nhiệm Diêu Sùng, lập tức phê chuẩn lời tâu của ông.

Diêu Sùng ban bố mệnh lệnh, yêu cầu dân chúng cứ tới đêm là đốt lửa ở góc ruộng, hấp dẫn châu chấu tới rồi tập trung đánh giết, vun xác xuống 1 hố lớn rồi lấp đi.

Mệnh lệnh đưa xuống, thứ sử Biện Châu (nay là Khai Phong, Hà Nam) là Nghê Nhược Thủy cự tuyệt không chấp hành.

Ông cũng dâng sớ tâu lên, nói châu chấu là thiên tai, sức người không thể chống lại được, muốn tiêu diệt châu chấu chỉ có 1 cách là tích đức sửa mình.

Diêu Sùng xem tờ tấu của Nghê Nhược Thủy thì nổi trận lôi đình, lập tức viết thư khiển trách và cảnh cáo: nếu cứ nhìn châu chấu hoành hành mà không có biện pháp trừ diệt, thì sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nạn đói sắp xảy ra.

Nghê Nhược Thủy thấy lời tể tướng gay gắt, không thể không làm theo phương pháp do Diêu Sùng nêu ra, quả nhiên thu được kết quả, chỉ riêng vùng Biện Châu đã diệt được 14 vạn tạ châu chấu.

Nạn châu chấu giảm hẳn (tạ Trung Quốc thời cổ = 50kg, 14 vạn tạ = 7000 tấn).

Nghê Nhược thủy bị sự thực thuyết phục.

Nhưng trong triều đình, vẫn còn có nhiều người phản đối, cho rằng biện pháp diệt châu chấu của Diêu Sùng xưa nay chưa ai từng làm.

Nay nếu cứ làm bừa, e rằng sẽ sinh ra chuyện rắc rối.

Đường Huyền Tông thấy có khá nhiều người phản đối, có phần hoang mang, vội triệu Diêu Sùng đến hỏi.

Diêu Sùng ung dung trả lời: "Làm việc miễn là đúng lý lẽ thì thôi, sao cứ phải phụ thuộc vào khuôn phép cũ.

Vả lại thời xưa, khi có nạn châu chấu, do không có biện pháp diệt trừ nên bao giờ cũng dẫn tới nạn đói.

Nay vùng Hà Nam, Hà Bắc không có nhiều lương thực dự trữ.

Nếu năm nay để châu chấu phá hết hoa màu, không thu hoạch được gì thì trăm họ sẽ lâm vào nạn đói, lưu lạc thất tán, nước nhà sẽ rất nguy hiểm".

Đường Huyền Tông thấy nói nạn châu chấu có ảnh hưởng đến an toàn quốc gia thì sợ hãi và hỏi: "Theo ý khanh thì nên làm thế nào?".

Diêu Sùng trả lời: "Các đại thần nói biện pháp của thần không tốt khiến bệ hạ lo nghĩ.

Xin bệ hạ đừng bận tâm quá nữa, cứ để thần xử lý.

Nếu xảy ra chuyện gì xấu, thần nguyện xin chịu tội".

Đường Huyền Tông gật đầu đồng ý.

Khi Diêu Sùng ra tới cửa cung, có 1 hoạn quan kéo tay áo ông, nói nhỏ: "Giết nhiều châu chấu quá e rằng tổn thương tới hòa khí của đất trời.

Xin tướng công xét kĩ".

Diêu Sùng nói: "Chuyện này đã quyết định rồi.

Xin ông bất tất nói nhiều.

Nếu không diệt châu chấu, khắp nơi đều hoang tàn, trăm họ vùng Hà Nam chết đói hết, điều đó chăng tổn thương đến hòa khí của đất trời hay sao?".

Do Diêu Sùng nghĩ tới việc an nguy của quốc gia và đời sống nhân dân, không chùn bước trước nhiều ý kiến phản đối, kiên quyết đôn đốc việc diệt châu chấu, nên nạn châu chấu dần dần dập tắt được. iêu Sùng nổi tiếng là làm việc giỏi.

Một lần, vì nhà có việc tang, ông xin nghỉ 10 ngày, công việc triều đình dồn đống lại rất nhiều.

Một tể tướng khác là Lư Hoài Thận không biết xử lý thế nào nên hết sức bối rối.

10 ngày sau, Diêu Sùng về triều, chỉ trong 1 thời gian rất ngắn, đã giải quyết xong mọi việc tích tụ trong thời gian ông vắng mặt.

Các đại thần khác thấy thế, không người nào không khâm phục.

Diêu Sùng có chút đắc ý, nói với 1 viên quan: "Tể tướng như Diêu Sùng này, có thể sánh với ai thời xưa?

Có thể sánh với Quản Trọng, Án Anh chăng?".

Viên quan kia nói: "Sánh với Quản Trọng, Án Anh e rằng chưa được.

Nhưng có thể nói ngài là tể tướng có tài cứu vãn tình thế".

Trong hơn 20 năm đầu sau khi lên ngôi, ngoài Diêu Sùng, Đường Huyền Tông còn sử dụng nhiều tể tướng tài giỏi như Tống Cảnh, Trương Duyệt, Hàn Hưu, Trương Cửu Linh.

Ông biết tiếp thu những ý kiến đúng đắn của tể tướng và các đại thần, áp dụng 1 số biện pháp có lợi cho phát triển kinh tế.

Vì vậ thời đó, đất nước cường thịnh, tài chính dồi dào.

Theo nói lại, khi đó kho tàng ở các châu huyện đều đầy ấp lương thực và vải vóc, giá lúa và giá vải ở Trường An và Lạc Dương đều hạ.

Lịch sử gọi thời kì đó là "Khai nguyên chi trị" (nền thịnh trị dưới thời Khai Nguyên.

Khai Nguyên là niên hiệu của Đường Huyền Tông từ 713 đến 742).
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LÝ LÂM PHỦ GIAN NGOAN, HIỂM ĐỘC


Đường Huyền Tông làm thiên tử được hơn 20 năm thì nảy sinh tâm lý kiêu ngạo và lười nhác.

Ông ta nghĩ rằng thiên hạ thái bình vô sự, chính sự có tể tướng lo loan, biên cương có tướng soái trấn giữ, bản thân hoàng đế hà tất phải bận lòng về quốc sự.

Vì vậy, dần dần đắm mình vào cuộc sống hưởng lạc.

Tể tướng Trương Cửu Linh thấy tình hình đó thì hết sức lo lắng, thường can ngăn Đường Huyền Tông.

Đường Huyền Tông vốn rất tôn trọng Trương Cửu Linh, nhưng càng về sau, ông ta càng không nghe nổi những lời can ngăn thẳng thắn của Trương Cửu Linh nữa.

Có 1 đại thần tên là Lý Lâm Phủ, là kẻ bất học vô thuật, hắn ta không biết ì về chính trị, học thuật và văn chương, nhưng lại rất giỏi về khoa bợ đỡ, nịnh nọt.

Lý Lâm Phủ câu kết với các hoạn quan và phi tần, thám thính mọi động tĩnh ở nội cung.

Vì vậy, Đường Huyền Tông hàng ngày nói những gì, ước muốn những gì, hắn đều nắm rất vững.

Tới khi Đường Huyền Tông bàn bạc công việc, hắn nói năng lưu loát như nước chảy, ý kiến nào cũng trùng hợp với ý hoàng đế.

Đường Huyền Tông nghe lời hắn nói, cảm thấy rất dễ chịu, cho rằng hắn vừa giỏi giang vừa biết vâng lời, chứ không cố chấp như Trương Cửu Linh.

Đường Huyền Tông muốn thăng Lý Lâm Phủ lên làm tể tướng, liền đề xuất ý kiến đó với Trương Cửu Linh.

Trương Cửu Linh biết rõ bản chất của Lý Lâm Phủ, liền nói thẳng: "Ngôi tể tướng có quan hệ đến sự an nguy của quốc gia.

Bệ hạ định dùng Lý Lâm Phủ làm tể tướng thì e rằng đất nước sau này sẽ gặp phải tai họa".

Lời đó đến tai Lý Lâm Phủ, hắn căm giận Trương Cửu Linh đến bầm gan tím ruột.

Một viên tướng ở Sóc Phương (trị sở ở Linh Vũ, Ninh Hạ ngày nay) tên là Ngưu Tiên Khách, 1 chữ bẻ đôi cũng không biết, nhưng lại rất giỏi về cách xoay tiền.

Đường Huyền Tông muốn thăng quan cho Ngưu Tiên Khách, Trương Cửu Linh không đồng ý.

Lý Lâm Phủ liền nói với Đường Huyền Tông: "Người như Ngưu Tiên Khách, có tài làm được đến tể tướng, còn Trương Cửu Lương chỉ là một anh mọt sách, không hiểu được đại sự!".

Sau đó, Đường Huyền Tông lại bàn với Trương Cửu Linh về việc thăng chức cho Ngưu Tiên Khách, nhưng Trương Cửu Linh vẫn không đồng ý.

Đường Huyền Tông nổi giận, nghiêm giọng nói: "Lẽ nào việc gì cũng phải theo ý khanh hay sao?".

Từ đó, càng ngày Đường Huyền Tông càng chán ghét Trương Cửu Linh, lại thêm có lời gièm pha của Lý Lâm Phủ nên cuối cùng, ông đã quyết định cách chức Trương Cửu Linh và đưa Lý Lâm Phủ lên thay.

Lý Lâm Phủ lên làm tể tướng, việc làm đầu tiên là chặn mọi đường dây liên hệ giữa Đường Huyền Tông với các triều thần, không để ai có thể trực tiếp gặp thiên tử.

Một lần, hắn triệu tập các gián quan lại và công khai tuyên bố: "Hiện nay, hoàng thượng thánh minh, kẻ thần hạ như chúng ta chỉ cần làm theo ý của người, không cần mồm năm miệng mười làm rác tai hoàng thượng.

Các ông có thấy đàn ngựa "lập trượng" không? (ngựa lập trượng: loại ngựa có tư thế oai vệ, chuyên được huấn luyện để đứng dàn hàng 2 bên lối vào hoàng cung).

Chúng được hưởng sự đã ngộ tương đương chức gián quan tam phẩm.

Nhưng nếu có con nào bất chợt hí lên, là bị loại ngay, có hối cũng không kịp".

Có 1 gián quan không chịu làm theo lời Lý Lâm Phủ, ông dâng lên Đường Huyền Tông 1 bản kiến nghị.

Lập tức ngày hôm sau, ông ta bị giáng chức, điều đi tỉnh xa làm huyện lệnh.

Mọi người đều biết đó là do ý kiến của Lý Lâm Phủ, nên sau đó không ai còn dám can ngăn Đường Huyền Tông nữa.

Lý Lâm Phủ có tiếng xấu trong các quan chức trong triều, nên tìm mọi cách để bài xích những ai giỏi hơn mình.

Muốn bài xích ai, hắn không bao giờ lộ ra nét mặt mà luôn tươi cười, nhưng chơi trò bắn lén sau lưng.

Một lần, Đường Huyền Tông đứng trên lầu điện Cần Chính, hé rèm nhìn xuống thấy 1 võ tướng phóng ngựa đi qua phía dưới, nhận ra đó là Bình bộ thị lang Lưu Huyến.

Đường Huyền Tông thấy Lưu Huyến có phong độ hùng dũng, liền thuận miệng khen mấy câu.

Hôm sau, Lý Lâm Phủ nghe biết chuyện, liền giáng chức Lưu Huyến xuống làm thứ sử Hoa Châu.

Lưu Huyến vừa nhận chức được ít lâu, lại bị gièm pha là không đủ sức khỏe, không đảm đương nổi nhiệm vụ, bị giáng chức 1 lần nữa.

Một quan chức khác là Nghiêm Đỉnh Chi, bị Lý Lâm Phủ gạt ra khỏi triều đình, xuống làm thứ sử nơi xa.

Sau đó, 1 hôm Đường Huyền Tông hỏi Lý Lâm Phủ: "Nghiêm Đỉnh Chi bây giờ ở đâu nhỉ?

Con người đó rất có tài, nên trọng dụng".

Lý Lâm Phủ nói: "Bệ hạ đã nhớ tới ông ấy, thì để thần đi hỏi xem sao?".

Sau khi thoái triều, Lý Lâm Phủ vội cho gọi người em của Nghiêm Đỉnh Chi tới hỏi: "Lệnh huynh rất muốn về kinh gặp hoàng thượng phải không?

Ta có một biện pháp giúp thực hiện ý nguyện đó".

Người em của Nghiêm Đỉnh Chi thấy Lý Lâm Phủ quan tâm đến anh mình như thế thì rất cảm động, vội hỏi xem nên làm như thế nào.

Lý Lâm Phủ nói: "Ông nói với lệnh huynh gửi một sớ tấu về triều, nói là bị bệnh, xin về kinh chữa bệnh, ta sẽ tâu xin với hoàng thượng cho".

Nghiêm Đỉnh Chi nhận được thư em, liền dâng sớ xin về kinh chữa bệnh.

Lý Lâm Phủ cầm sớ tấu vào gặp Đường Huyền Tông nói: "Thật là đáng tiếc, hiện nay Nghiêm Đỉnh Chi đang lâm trọng bệnh, không thể đảm đương việc lớn được".

Đường Huyền Tông than tiếc thở dài rồi cho qua.

Những người mắc lừa như Nghiêm Đỉnh Chi có khá nhiều.

Nhưng dù Lý Lâm Phủ có che giấu khéo thế nào, thì âm mưu quỷ kế của hắn cuối cùng cũng bị người ta phát hiện.

Mọi người đều gọi Lý Lâm Phủ là kẻ "bề ngoài thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không dao".

Lý Lâm Phủ làm tể tướng trong 19 năm, biết bao đại thần chính trực, có tài năng bị bài xích, biết bao kẻ tiểu nhân giỏi bợ đỡ, nịnh nọt đã được thăng quan tiến chức.

Chính trong thời kì này, triều Đường đã trượt dài từ đỉnh cao hưng thịnh xuống bờ dốc suy vi.

Cảnh tượng phồn vinh dưới thời Khai Nguyên không còn nữa.

Chỉ ít lâu sau, bắt đầu xuất hiện cảnh loạn lạc thời Thiên Bảo (Thiên Bảo chi loạn - Từ năm 742, Đường Huyền Tông bỏ niên hiệu Khai Nguyên và đổi sang niên hiệu Thiên Bảo).
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LÝ BẠCH COI THƯỜNG QUYỀN QUÝ


Năm 61 tuổi, Đường Huyền Tông say đắm 1 mỹ nhân trẻ tuổi là Dương Ngọc Hoàn, vốn là vợ của Thọ vương Lý Mạo, hoàng thử thứ 18, rồi phong nàng làm quý phi.

Theo nói lại, Dương Quý Phi là người đẹp hiếm có, lại còn rất thông minh lanh lợi, am hiểu âm nhạc, vũ đạo.

Đường Huyền Tông phong quan cho 2 người anh họ của nàng, và phong cho 3 người chị làm phu nhân.

Dương Quý Phi có người anh họ xa tên là Dương Chiêu (sau đổi tên là Dương Quốc Trung) sống ở đất Thục, nghèo tới mức không đủ cơm ăn.

Hắn nghe nói cô em họ được phong quý phi, liền đem lễ vật tới Trường An xin gặp.

Dương Quý Phi chỉ nói mấy lời khen ngợi với Đường Huyền Tông, hắn liền được phong làm tham quân trong quân Cấm vệ.

Đường Huyền Tông từ lâu đã trao chính sự cho Lý Lâm Phủ, từ sau khi có Dương quý Phi, ông ta liền ở lỳ trong cung cấm, ngày ngày vui chơi hưởng lạc, ngay việc triều kiến theo thường lệ hàng ngày cũng ngại không tiến hành nữa.

Dương Quý Phi thích cái gì, Đường Huyền Tông đều tìm cách thỏa mãn.

Đặc biệt Dương Quý Phi thích ăn vải, là 1 thứ quả chỉ ở phương nam mới có.

Để chiều theo ý muốn của Dương Quý Phi, Đường Huyền Tông hạ lệnh cho các quan chức miền Lĩnh Nam dùng ngựa trạm đưa quả vải tươi về kinh thành Trường An.

Thế là suốt dọc chiều dài đất nước mọc lên rất nhiều trạm ngựa chuyên dùng vào cuộc chạy tiếp sức hàng vạn dặm, đảm bảo cho quả vải tới tay quý phi vẫn tươi ngon như lúc mới hái.

Hàng ngày, khi hoàng đế và quý phi uống rượu, không thể thiếu người tấu nhạc giúp vui.

Nhưng trong cung chỉ có những bản nhạc và lời ca cũ, nghe đã chán tai.

Hoàng đế muốn tìm người soạn bài ca mới.

Một quan chức là Hạ Tri Chương tâu với Đường Huyền Tông: "Một đại thi nhân mới đến ở Trường An tên là Lý Bạch, là một thiên tài về thơ phú và văn chương".

Đường Huyền Tông từ lâu đã nghe tiếng tăm Lý Bạch, liền bảo Hạ Tri Chương nhanh chóng dẫn Lý Bạch vào cung.

Lý Bạch tự là Thái Bạch, 1 trong những thi nhân nổi tiếng nhất thời Đường.

Ông sinh ở Toái Diệp, tổ tiên là người ở Thành Kỷ thuộc Mỹ Tây (nay ở phía đông Thái An, Cam Túc).

Từ nhỏ, ông đã xem nhiều học rộng, tính cách phóng khoáng.

Ngoài việc đọc sách, ông còn là người giỏi kiếm thuật.

Từ năm 20 tuổi, để tăng thêm kiến thức, ông đã đi thăm khắp nơi trong nước.

Gót chân ông đã đặt trên các thành thị lớn như Trường An, Lạc Dương, Kim Lăng, Giang Đô và các nơi danh thắng như Động Đình, Lư Sơn, Cối Kê.

Do có kiến thức sâu rộng cộng với tài năng thiên phú, nên thơ ca ông viết ra đã đạt được thành tựu kiệt xuất.

Lý Bạch còn là người có hoài bão chính trị.

Với bản lĩnh cao ngạo nên ông đã hết sức phẫn nộ và khinh ghét thói hủ bại trong quan trường lúc bấy giờ, hy vọng được triều đình sử dụng để có dịp mang tài năng ra xoay chuyển cục diện.

Lần này tới Trường An, nghe nói Đường Huyền Tông triệu kiến, ông cũng rất phấn khởi.

Đường Huyền Tông tiếp kiến Lý Bạch trong cung điện.

Sau khi nói chuyện, thấy Lý Bạch đúng là người có tài, liền phấn khởi nói: "Khanh là một nhân sĩ bình thường mà tên tuổi ngay đến trẫm cũng biết.

Nếu không có chân tài thực học thì sao có thể nổi tiếng như thế được".

Sau cuộc tiếp kiến, Đường Huyền Tông phong Lý Bạch làm 1 chức quan trong Hàn lâm viện để chuyên khởi thảo chiếu thư cho hoàng đế.

Lý Bạch vốn ham uống rượu, đã uống là uống cho tới khi say khướt mới thôi.

Sau khi đã làm quan trong Hàn lâm viện, ông vẫn không sửa được thói quen đó, thường cùng các bạn thơ tới các tửu điếm ở Trường An uống rượu.

Một hôm, Đường Huyền Tông nghe thấy nhạc công trình bày 1 bản nhạc mới nhưng chưa có ca từ, liền hạ lệnh cho thái giám đi tìm Lý Bạch. thái giám tìm khắp viện Hàn lâm và hà riêng, vẫn không thấy Lý Bạch đâu.

Sau có người mách là ông đang uống rượu ngoài phố.

Thái giám đi tìm khắp phố phường Trường An, mãi mới thấy Lý Bạch trong 1 quán rượu.

Thì ra Lý Bạch quá say, đang nằm ngủ ở đó.

Thái giám lay gọi ông, nói hoàng thượng triệu kiến.

Lý Bạch cố rửa mặt, hỏi có chuyện gì.

Thái giám không kịp đôi hồi, vội vực ngay ông lên kiệu khiêng vào trong cung.

Lý Bạch vào cung, ngẩng đầu nhìn thấy Đường Huyền Tông, muốn làm lễ triều bái, nhưng không thể điều khiển nổi chân tay.

Thái giám thấy ông quá say, liền mang 1 chậu nước lạnh vẩy lên mặt, ông mới dần dần tỉnh lại.

Đường Huyền Tông yêu tài Lý Bạch, không quở trách gì, chỉ yêu cầu ông mau viết lời cho bài nhạc mới soạn.

Các thái giám rối rít bày bút, mực, giấy, lụa lên bàn.

Lý Bạch ngồi bệt xuống đất, bỗng cảm thấy chân còn đi giầy vướng víu quá.

Ông nhìn thấy bên cạnh có 1 thái giám có tuổi, liền duỗi chân ra bảo người đó: "Làm ơn cởi giúp đôi giày ra".

Lão hoạn quan đó là Cao Lực Sĩ, người đứng đầu các hoạn quan, được Đường Huyền Tông rất yêu mến.

Hàng ngày ông ta dựa thế hoàng đế, thường tác uy tác phúc với các quan trong triều.

Thế mà bây giờ 1 viên quan nhỏ trong Hàn lâm viện dám sai cởi giầy làm ông ta tức uất người.

Nhưng Đường Huyền Tông đang đứng chờ bên cạnh, nếu cự lại Lý Bạch, làm hoàng thượng mất hứng, thì cũng rầy rà.

Ông ta đành nén giận, làm ra vẻ không chấp gì chuyện đó, cười khanh khách nói: "Ồ say quá rồi, giầy cũng không cởi nổi", rồi cởi bỏ giầy cho ông.

Được cởi giầy xong, Lý Bạch chẳng hề nhìn người vừa giúp đỡ mình, cầm ngay lấy bút, viết những dòng như rồng bay phượng múa.

Chẳng mấy chốc đã viết xong 3 đoạn lời theo "Thanh bình điệu" nộp cho Đường Huyền Tông.

Đường Huyền Tông ngâm đi ngâm lại, thấy lời văn đẹp đẽ, tiết tấu nhịp nhàng, đúng là loại thơ hay liền giao ngay cho nhạc công diễn xướng.

Đường Huyền Tông rất tán thưởng Lý Bạch, nhưng Cao Lực Sĩ, kẻ đã bị ông bắt cởi giầy thì căm tức trong lòng.

Một hôm, trong khi đi theo Dương quý Phi ngắm cảnh trong ngự viện.

Dương Quý Phi cao hứng hát lên lời ca do Lý Bạch viết.

Cao Lực Sĩ làm bộ kinh ngạc nói: "Ôi chao, tên Lý Bạch đó nhục mạ nương nương trong bài thơ đó, nương nương không biết sao?".

Dương quý Phi lấy làm lạ, liền hỏi vì sao.

Cao Lực Sĩ liền thêm thắt vào, nói câu thơ của Lý Bạch có ý so sánh Dương Quý Phi với Triệu Phi Yến, 1 hoàng hậu phóng đãng thời Hán.

Đó là 1 sự châm biếm cố ý.

Dương Quý Phi tin theo lời Cao Lực Sĩ liền nổi giận và tìm cách nói xấu Lý Bạch với Đường Huyền Tông.

Dần dần Đường Huyền Tông cũng cảm thấy không ưa Lý Bạch nữa.

Lý Bạch cũng nhận ra, xung quanh Đường Huyền Tông chỉ là 1 lũ tiểu nhân loại như Lý Lâm Phủ, Cao Lực Sĩ chuyên nghề xu phụ quyền thế.

Ông ở bên cạnh Đường Huyền Tông, chẳng qua chỉ có tác dụng giúp vui cho vị hoàng đế ăn chơi này, chứ không thể nào thực hiện được hoài bão chính trị của mình.

Vì vậy, tới mùa xuân năm sau, ông nộp sớ tấu xin từ quan về nhà.

Đường Huyền Tông lập tức phê chuẩn thỉnh cầu của ông, nhưng để tỏ ra yêu quý tài năng, đã cho ông 1 số tiền làm lộ phí.

Sau khi rời Trường An, Lý Bạch tiếp tục sống cuộc đời tự do của 1 thi nhân, khi thì ẩn cư đọc sách, khi thì du lãm các nơi.

Trong những năm tháng đó, ông đã viết lên nhiều bài thơ xuất sắc, ca ngợi núi sông tươi đẹp.

Một lần, xuất phát từ Bạch Đế thành, ngồi thuyền xuôi qua Tam Hiệp của Trường Giang, đi tới Giang Lăng, ông nổi hứng vung bút viết bài thơ Tảo phát Bạch Đế thành:

"Triêu từ Bạch Đế thái vân gian

Thiên lý Giang Lăng nhất nhật hoàn

Lưỡng ngạn viên thanh đề bất trú

Khinh du dĩ quá vạn trùng san."

Nhiều bài thơ của Lý Bạch đã thể hiện khí phách hào hùng, trí tưởng tượng phong phú và tình cảm nồng cháy của ông, trở thành những danh tác bất hủ trong lịch sử văn học Trung Quốc.

Chính trong lúc Lý Bạch nhiệt tình ngợi ca núi sông hùng vĩ của tổ quốc, thì do sự hủ bại của vương triều Đường, 1 tai họa lớn đã giáng xuống vùng Trung nguyên.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
AN LỘC SƠN NỔI LOẠN


Trong thời trị vì của Đường Huyền Tông, để tăng cường phòng thủ biên giới, đã thiết lập 10 quận trấn (còn gọi là phiên trấn - tức đạo quân phòng thủ biên giới), viên quan đứng đầu quân trấn là Tiết độ sứ.

Tiết độ sứ có quyền lực rất lớn, ngoài việc chỉ huy quân sự, còn kiêm nhiệm việc cai trị và tài chính, có địa vị vô cùng quan trọng.

Theo lệ thường thời đó, tiết độ sứ nào lập công xuất sắc, có thể điều về triều đình làm tể tướng.

Sau khi Lý Lâm Phủ nắm quyền, hắn không những bài xích văn quan trong triều mà còn nghi ngờ, e ngại các tiết độ sứ.

Vương Trung Tự là Tiết độ sứ Sóc Phương và 3 trấn khác, đã từng lập nhiều chiến công.

Các tướng lĩnh dưới quyền ông như Kha Thư Hàn, Lý Quang Bật đều là những danh tướng anh dũng, thiện chiến.

Lý Lâm Phủ thấy Vương Trung Tự có công lao to, uy tín lớn, sợ ông sẽ được Huyền Tông vời về kinh cho làm tể tướng, nên đã sai người tâu với Đường Huyền Tông, vu cáo ông đã liên hệ với thái tử để mưu phản, khiến Vương Trung Tự suýt nguy hiểm tới tính mạng, sau nhờ có Kha Thư Hàn thống thiết kêu oan to, nên ông mới khỏi tội chết và bị giáng chức.

Vương Trung Tự không chịu nổi nỗi oan đó, đã uất ức sinh bệnh mà chết.

Lúc đó, trong các tướng lĩnh ở biên cảnh có 1 số là người Hồ, Lý Lâm Phủ cho rằng người Hồ văn hóa thấp, không thể điều về triều làm tể tướng được, nên tìm mọi cách tâu với Đường Huyền Tông là nên trọng dụng người Hồ, với lý do người Hồ thiện chiến, lại chất phác, không câu kết với quan chức trong triều, có thể tin cậy được.

Đường Huyền Tông vốn rất sợ các tướng lĩnh cầm quân ở biên giới mưu phản, liền nghe theo lời Lý Lâm Phủ, phong 1 số người Hồ làm Tiết độ sứ.

Trong số các tiết độ sứ người Hồ, Đường Huyền Tông và Lý Lâm Phủ đặc biệt tín nhiệm tiết độ sứ Bình Lư (trị sở nay ở Triều Dương, Liêu Ninh) là An Lộc Sơn.

Thời thanh niên, An Lộc Sơn từng làm tướng trong quân trấn Bình Lư, vì không chấp hành nghiêm quân lệnh nên đã thua trận.

Tướng chỉ huy quân trấn lúc đó bắt giải hắn về Trường An, xin triều đình xét xử.

Lúc đó, tể tướng Trương Cửu Linh để giữ đúng lấy luật quân đội, đã ghép An Lộc Sơn vào tử tội.

Nhưng Đường Huyền Tông nghe nói An Lộc Sơn tài giỏi, nên hạ lệnh tha cho hắn.

Trương Cửu Linh tâu với Đường Huyền Tông: "An Lộc Sơn đã vi phạm quân lệnh, làm hao binh tổn tướng, theo quân pháp không thể không giết.

Vả lại, theo thần quan sát, hắn không phải là người lương thiện, không giết hắn e rằng sẽ có hậu họa khôn lường".

Đường Huyền Tông không nghe theo lời can của Trương Cửu Linh, vẫn tha cho An Lộc Sơn.

Sau đó, Trương Cửu Linh bị triệt chức, An Lộc Sơn nhờ thủ đoạn nịnh nọt, cứ thăng quan từng bước, lên tới chức tiết độ sứ Bình Lư.

Không tới 3 năm, hắn còn kiêm nhiệm cả chức tiết độ sứ Phạm Dương (trị sở tại Bắc Kinh ngày nay).

Sau khi giữ chức tiết độ sứ, An Lộc Sơn cho tay chân đi sưu tầm mọi thứ chim lạ và các loại trân châu bảo ngọc, thường xuyên gởi về cung đình để lấy lòng Đường Huyền Tông.

Hắn ta biết Đường Huyền Tông thích nhận được tin báo chiến công của các tướng lĩnh biên phòng, liền dùng âm mưu quỷ kế, lừa mời thủ lĩnh và tướng sĩ của các bộ tộc thiểu số ở gần Bình Lư tới dự tiệc, dùng rượu thuốc chuốc cho họ say rồi cắt lấy đầu, đưa về báo công với triều đình.

Đường Huyền Tông thường gọi An Lộc Sơn về Trường An triệu kiến.

Lợi dụng những dịp đó, An Lộc Sơn dùng mọi thủ đoạn giảo hoạt để giành sự sủng ái của hoàng đế.

Hắn vốn người thấp lùn, lại có cái bụng rất to, chuyên làm bộ ngớ ngẩn khiến Đường Huyền Tông rất thích.

Một lần, Đường Huyền Tông chỉ vào bụng hắn, hỏi đùa: "Khanh có cái bụng to như thế, cất giữ cái gì trong đó?".

An Lộc Sơn đáp ngay không cần suy nghĩ: "Trong bụng thần không có cái gì khác, chỉ có một tấm lòng son sắc với bệ hạ".

Đường Huyền Tông cho rằng An Lộc Sơn thực lòng trung thành với mình, nên rất đẹp lòng.

Sau đó, liền phong An Lộc Sơn làm Quận vương, xây cho hắn 1 tòa phủ đệ nguy nga ngay tại Trường An như các vương công quí tộc khác.

Sau khi An Lộc Sơn dọn tới ở trong vương phủ, hàng ngày Đường Huyền Tông cử người tới cùng hắn uống rượu vui chơi, lại cho Dương Quý Phi nhận hắn làm con nuôi, cho hắn tự do ra vào hoàng cung, thân thiết như người trong nhà.

Do lừa bịp mà được sự tín nhiệm của Đường Huyền Tông và Lý Lâm Phủ, nên sau đó, ngoài 2 trấn Phạm Dương và Bình Lư, An Lộc Sơn còn được kiêm nhiệm cả chức tiết độ sứ Hà Đông (trị sở nay ở Thái Nguyên, Sơn Tây), khống chế tuyệt đại bộ phận vùng biên cương phía bắc.

Hắn bí mật mở rộng binh lực, sử dụng 1 số mãnh tướng như Sử Tư Minh, Thái Hy Đức và dùng 2 kẻ sĩ Hán tộc là Cao Thượng, Nghiêm Trang giúp hắn mưu tính kế.

Hắn chọn trong số hàng binh các bộ tộc ở biên giới, tổ chức 1 đội tinh binh gồm 8000 tráng sĩ, tích trữ lương thảo, sắm sửa vũ khí, chỉ đợi Đường Huyền Tông chết là nổi lên làm loạn.

Không bao lâu, Lý Lâm Phủ ốm chết, anh họ Dương Quý Phi là Dương Quốc Trung nhờ địa vị ngoại thích, được thay làm tể tướng.

Dương Quốc Trung vốn là 1 tên lưu manh, bị An Lộc Sơn rất coi thường, mà Trung cũng không ưa An Lộc Sơn.

Giữa 2 tên xảy ra mâu thuẫn, Dương Quốc Trung nhiều lần tâu với Đường Huyền Tông là An Lộc Sơn nhất định sẽ làm phản, nhưng Đường Huyền Tông đang rất tín nhiệm An Lộc Sơn, không tin là có chuyện đó.

Dần dà, những dấu hiệu mưu phản của An Lộc Sơn không thể không lộ ra.

Hắn ta yêu cầu triều đình triệt hồi 32 viên tướng người hán, để hắn cử người khác thay thế.

Đường Huyền Tông tự tay viết chiếu thư, yêu cầu hắn về Trường An, nhưng hắn thác có bệnh, không về.

Đường Huyền Tông bắt đầu nghi ngờ An Lộc Sơn, nhưng cả ông ta và Dương Quốc Trung không nghĩ ra cách gì để phòng sự phản loạn của An Lộc Sơn.

Năm 755, sau 1 thời gian chuẩn bị đầy đủ, An Lộc Sơn quyết định nổi loạn vào tháng 10.

Lúc đó, vừa dịp có 1 quan chức từ Trường An tới Phạm Dương.

An Lộc Sơn liền làm giả 1 chiếu thư của Đường Huyền Tông, triệu tập tướng sĩ lại, tuyên bố: "Đã nhận được mệnh lệnh của hoàng thượng, yêu cầu ta đem binh về kinh để thảo phạt Dương Quốc Trung".

Các tướng sĩ đều thấy bất ngờ, ngơ ngác nhìn nhau.

Nhưng không ai dám tỏ ý hoài nghi thánh chỉ.

Sáng hôm sau, An Lộc Sơn dẫn quân tiến xuống phía nam.

15 vạn bộ binh và kỵ binh dàn ra suốt bình nguyên Hà Bắc.

Bụi cuốn mù mịt, chiêng trống vang lừng.

Miền Trung nguyên đã gần 100 năm không có chiến tranh, dân chúng mấy đời không hề nhìn thấy cảnh trận mạc.

Quan chức các địa phương dọc đường kẻ thì bỏ chạy, kẻ thì đầu hàng.

Quân An Lộc Sơn tiến xuống phía nam, hầu như không gặp phải sự đề kháng nào.

Tin về cuộc phản loạn ở Phạm Dương truyền tới Trường An.

Ban đầu Đường Huyền Tông còn cho là có kẻ phao tin đồn nhảm, không tin là sự thực.

Nhưng rồi tin cáo cấp tới tấp bay về.

Ông hoảng hốt, vội triệu tập các đại thần lại bàn bạc.

Khắp triều thần chưa ai từng trải qua cuộc biến loạn lớn như vậy nên đều run sợ, ngây người nhìn ngó nhau.

Chỉ có Dương Quốc Trung là dương dương đắc ý nói: "Thần đã nói từ lâu là An Lộc Sơn sẽ làm phản, quả nhiên không sai.

Nhưng dù sao, xin bệ hạ cứ yên tâm, các tướng sĩ của hắn nhất định đều không dễ theo hắn làm phản.

Chỉ trong mười ngày, nhất định sẽ có người đem đầu hắn dâng lên bệ hạ".

Đường Huyền Tông nghe nói, hơi có phần yên tâm.

Nhưng ngờ đâu, chẳng bao lâu, quân phản loạn đã tiến sâu xuống phía nam, vượt qua Hoàng Hà, đánh chiếm Lạc Dương.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NHAN QUẢ KHANH MẮNG GIẶC


TRong giờ phút nguy cấp đó, người đầu tiên đứng lên chống lại An Lộc Sơn là Nhan Quả Khanh, thái thư quận Thường Sơn (nay là Chính Định, Hà Bắc).

Nhan Quả Khanh vốn là cấp dưới của An Lộc Sơn.

Sau khi An Lộc Sơn nổi loạn, Nhan Quả Khanh Liền chuẩn bị chống lại.

Khi quân nổi loạn tiến đến Cảo Thành (thuộc tỉnh Hà Bắc ngày nay), Nhan Quả Khanh đã chiêu mộ được hơn 1000 tráng sĩ.

Ông biết rằng lực lượng của mình không đủ, không thể trực tiếp giao chiến với An Lộc Sơn, liền cùng 1 quan chức cấp dưới là Viên Lý Khiêm giả hàng.

An Lộc Sơn vẫn cho ông giữ Thường Sơn, nhưng không an tâm lắm, liền bắt Nhan Quả Khanh đưa con trai và cháu đến quân doanh làm con tin, 1 mặt cử 1 tướng đến giữ Tỉnh Hình Quan (nay là Tỉnh Hình, Hà Bắc).

An Lộc Sơn vượt qua Hoàng Hà, đánh chiếm Lạc Dương xong thì Nhan Quả Khanh quyết tâm khởi binh.

Người em họ của ông là Nhan Chân Khanh, thái thú quận Bình Nguyên (nay là Bình Nguyên, Sơn Đông) cũng chiêu mộ được hơn 1 vạn người ngựa, phái người đến liên lạc với Nhan Quả Khanh, đề nghị ông đánh chiếm Tỉnh Hình Quan, cắt đứt hậu phương của An Lộc Sơn.

Nhan Quả Khanh dò biết tên tướng giữ Tỉnh Hình Quan là 1 con sâu rượu, liền giả truyền lệnh của An Lộc Sơn, phái người đem rượu ngon và thức nhắm tốt để khao quân.

Đợi tới khi toàn bộ quân tướng của hắn đều say nghiêng ngả mới bắt giết hắn và chiếm Tỉnh Hình Quan.

Sau khi chiếm được Tỉnh Hình Quan, sĩ khí trong quân Nhan Quả Khanh lên cao, ngay ngày hôm sau lại bắt sống được 2 viên tướng trong đội quân nổi loạn.

Nhan Quả Khanh phái người đi nói với quan lại khắp các quận Hà Bắc: "Nay triều đình đã cử ba mươi vạn đại quân đi thảo phạt An Lộc Sơn, đã ra khỏi Tỉnh Hình Quan, sớm muộn sẽ tới các quận Hà Bắc.

Những ai bị An Lộc Sơn buộc đi theo làm phản nếu sớm đầu hàng thì được trọng thưởng, nếu dám chống lại thì tội càng nặng".

Quan chức các quận Hà Bắc nghe nói An Lộc Sơn sắp nguy, đều đua nhau hưởng ứng Nhan Quả Khanh.

Vùng Hà Bắc có 24 quận thì 17 quận đã đứng về phía triều đình.

An Lộc Sơn đang định tiến vào Đồng Quan thì nghe tin các quận Hà Bắc đã hưởng ứng lời kêu gọi của Nhan Quả Khanh, hậu phương không còn ổn định nữa.

Hắn đành thay đổi ý định, quay trở lại Lạc Dương.

Về tới Lạc Dương, hắn liền xưng là hoàng đế Đại Yên, phái đại tướng là Sử Tư Minh và Thái Hy Đức mỗi người dẫn 1 vạn quân, chia 2 đường tiến đánh Thường Sơn.

Nhan Quả Khanh tuy thắng trận đầu, nhưng mới khởi binh được 8 ngày, công sự phòng ngự ở Thường Sơn chưa chuẩn bị tốt, quân số lại ít nên chống không nổi 2 cánh quân thiện chiến của An Lộc Sơn.

Quân phản loạn tiến sát chân thành, Nhan Quả Khanh phái người tới Thái Nguyên xin cứu viện, nhưng tướng giữ Thái Nguyên là Vương Thừa Nghiệp không chịu xuất binh.

Sử Tư Minh vây chặt Thường Sơn, Nhan Quả Khanh chỉ huy quân dân Thường Sơn chống giữ hăng hái trong suốt 4 ngày đêm.

Trong thành không còn lương thực, tên bắn cũng hết.

Thường Sơn cuối cùng lọt vào giặc.

Sử tư Minh cho quân giết hại hơn 1 vạn quân dân Thường Sơn rồi bắt giải Nhan Quả Khanh, Viên Lý Khiêm về Lạc Dương, trình lên An Lộc Sơn.

An Lộc Sơn sai lính giả Nhan Quả Khanh tới trước, trách mắng: "Ngươi vốn chỉ là một viên quan nhỏ ở Phạm Dương, ta đã phong cho làm thái thú, tại sao còn dám phản bội lại ta?".

Nhan Quả Khanh nổi giận đùng đùng nói: "Mày là một thằng chăn dê, nhà nước cho mày làm tiết độ sứ ba trấn có bạc đãi gì mày mà mày khởi binh làm loạn?

Ta vì nước trừ gian, chỉ giận không chém được đầu mày, sao nói được là phản bội?".

An Lộc Sơn thẹn quá nổi khùng, thét lính lôi Nhan Quả Khanh và Viên Lý Khiêm ra trói vào cột, đánh đập tàn nhẫn.

Nhan Quả Khanh vẫn đường hoàng lẫm liệt , vừa cố chịu đòn đánh, vừa lớn tiếng chửi mắng An Lộc Sơn.

Lính của An Lộc Sơn dùng dao cắt đứt lưỡi Nhan Quả khanh.

Tuy máu chảy đầy mặt, ông vẫn nhìn thẳng vào An Lộc Sơn và ú ớ chửi mắng.

Viên Lý Khiêm nhìn thấy tình cảnh Nhan Quả Khanh chịu hình phạt thảm khốc như vậy thì rất giận, tự mình cắn đứt lưỡi rồi phun cả miếng lưỡi và máu vào mặt 1 tên tướng đứng gần.

Nhan Quả Khanh, Viên Lý Khiêm tiếp tục chửi bới giặc cho đến chết.

Từ lúc khởi binh cho đến khi thất bại, tuy chỉ có mười mấy ngày, nhưng sự đề kháng của Nhan Quả Khanh đã kìm giữ được binh lực của giặc, khiến triều đình có đủ thời gian điều binh khiển tướng.

Tinh thần quả cảm cho tới chết của họ đã cổ vũ rất nhiều người đứng lên chống lại quân phiến loạn.

Một tháng sau khi Nhan Quả Khanh bị giết, tiết độ sứ Hà Đông là Lý Quang Bật chỉ huy hơn 1 vạn bộ binh và kỵ binh cùng hơn 3000 cung thủ ở Thái Nguyên tiến ra Tỉnh Hình Quan, đánh lui quân phiến loạn, thu phục được Thường Sơn.

Tiếp đó, tiết độ sứ Sóc Phương là Quách Tử Nghi cũng dẫn binh đến Thường Sơn hội họp với Lý Quang Bật.

Nhân dân vùng Hà Bắc đã chịu nhiều thống khổ do sự cướp bóc của quân phiến loạn , nghe tin quân của Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật tới, liền tự động tập hợp lại, xây thành đắp lũy chuẩn bị chống lại quân phiến loạn và nô nức tham gia vào quân triều Đường.

Hai đội quân của Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật có sức chiến đấu mạnh mẽ, tinh thần hăng hái, liên tiếp đánh bại quân An Lộc Sơn.

Mười mấy quận Hà Bắc lại về tay quân triều đình.

Chiến thắng ở Hà Bắc đã làm quân phiến loạn mất hậu phương, tinh thần bắt đầu hoang mang.

An Lộc Sơn hoảng hốt, trách các mưu sĩ Cao Thượng, Nghiêm Trang: "Mấy năm nay các ngươi vẫn khuyên ta khởi binh chống triều đình, cho đó là kế sách vẹn toàn.

Mà nay thì ở phía tây, đánh Đồng Quan mấy tháng không hạ được, ở phía bắc thì bị cắt đứt đường về.

Chúng ta cứ khốn khổ giữ ở đây, sao gọi được là vẹn toàn!".

Hắn toan bỏ Lạc Dương, chạy về Phạm Dương.

Chính trong lúc An Lộc Sơn tiến thoái lưỡng nan, thì những kẻ cầm quyền trong vương triều Đường lại mở toang cánh cửa Đồng Quan cho quân địch tiến vào Trường An.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
BINH BIẾN Ở MÃ NGÔI


Đồng Quan là cánh cửa của kinh đô Trường An.

Nơi đây có địa hình hiểm yếu, đường xá nhỏ hẹp.

Đường Huyền Tông phái đại tướng Kha Thư Hàn đem đại quân trấn giữ.

Tướng phiến loạn là Thôi Càn Hựu đóng quân ngoài cửa thành đã nửa năm, mà không có cách gì đánh vào được.

Mỗi đêm, quân lính giữ Đồng Quan đều đốt lửa để báo tin bình an, các trạm đốt lửa phía trong cũng nối nhau đốt lửa, truyền "tín hiệu bình an" về kinh thành, để triều đình và nhân dân được yên tâm.

Quân phiến loạn không đánh nổi Đồng Quan, nhưng nội bộ vương triều Đường ở trong cửa quan lại phát sinh mâu thuẫn.

Kha Thư Hàn chủ trương giữ vững Đồng Quan để chờ thời cơ.

Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật từ Hà Bắc cũng gửi sớ tấu về, xin mang quân lên bắc để đánh vào sào huyệt Phạm Dương của giặc và đề nghị quân lính giữ Đồng Quan phải hêt sức thận trọng, không nên khinh suất mở cửa quan ra giao chiến với địch.

Nhưng tể tướng Dương Quốc Trung lại phản đối những ý kiến trên.

Vì có kẻ nói với Dương Quốc Trung: "Hiện nay đại quân nằm trong tay Kha Thư Hàn, nếu Kha Thư Hàn đánh thắng, trở về Trường An thì ngôi tể tướng của ngài khó mà giữ được".

Bản thân Dương Quốc Trung cũng biết mình không được lòng người, nghe nói thế thì càng lo sợ, liền nói với Đường Huyền Tông rằng: hiện nay quân phiến loạn ở ngoài cửa quan đã yếu lắm rồi, mà Kha Thư Hàn vẫn án binh bất động, bỏ lỡ mất thời cơ tiêu diệt địch.

Đường Huyền Tông u mê, tin vào lời Dương Quốc Trung, liên tục phái sứ giả đến Đồng Quan thúc giục Kha Thư Hàn mở cửa quan, đem quân ra giao chiến.

Kha Thư Hàn biết rõ rằng mở cửa quan ra đánh sẽ rất nguy hiểm, nhưng không có cách nào chống lại thánh chỉ của hoàng đế, đành khóc rống rồi mang quân ra giao chiến.

Quân phiến loạn do Thôi Càn Hựu chỉ huy đã tập trung và dưỡng sức từ mấy tháng, bố trí sẵn trận địa phục kích trong 1 hẻm núi ở gần Linh Bảo (ở phía tây tỉnh Hà Nam ngày nay), chờ quân Đường ra khỏi cửa quan.

Hai mươi vạn quân của Kha Thư Hàn từ Đồng Quan tiến ra, rơi vào trận địa mai phục sẵn, hầu như bị quân phiến loạn tiêu diệt hoàn toàn, 20 vạn người ngựa chỉ còn lại được 8000.

Kha Thư Hàn toan cố gắng thu thập tàn binh, nhưng quân lính dưới quyền đã rối loạn, quân phiến loạn thừa cơ đánh vào Đồng Quan, Kha Thư Hàn bị bắt.

Đồng Quan mất, không còn địa hình hiểm yếu nào có thể ngăn được giặc tiến vào Trường An.

Các quan lại và binh lính dọc đường tới tấp đầu hàng địch.

Khi trận đánh diễn ra thất bại, Kha Thư Hàn đã phái người về Trường An cáo cấp, nhưng sau đó, việc liên lạc bị gián đoạn.

Đêm tới, kinh thành không còn nhìn thấy "tín hiệu bình an" nữa.

Đường Huyền Tông lúc đó mới cảm thấy nguy hiểm, vội cuống quýt gọi Dương Quốc Trung tới bàn biện pháp đối phó.

Dương Quốc Trung mời bá quan văn võ tới bàn.

Tất cả cuống cuồng lo sợ, không ai đưa ra được ý kiến gì hay.

Dương Quốc Trung biết nếu ở lại Trường An sẽ rất nguy hiểm, liền khuyên Đường Huyền Tông chạy vào đất Thục.

Ngay tối hôm đó, Đường Huyền Tông, Dương Quốc Trung dẫn theo Dương Quý Phi và 1 đám hoàng tử hoàng tôn, do tướng Trần Huyền Lễ và quân cấm vệ hộ tống, lén mở cửa hoàng cung chạy khỏi Trường An.

Hoàng đế phái hoạn quan đi trước, báo cho các địa phương dọc đường, để các quan lại chuẩn bị đón tiếp.

Nào ngờ, mới tới Hàm Dương thì viên hoạn quan cùng huyện lệnh địa phương đề đã bỏ trốn.

Hoàng đế và đoàn tùy tòng đi miết, chẳng được ai tiếp tế cơm nước, đều đói mèm, mệt lả.

Các thái giám tùy tòng vội xục tìm dân chúng địa phương, xin cái ăn.

Mấy người dân đem ít bánh bột cao lương dâng lên hoàng đế và đoàn tùy tòng.

Các hoàng tử, hoàng tôn, phi tần, thái giám xưa nay quen ăn sơn hào hải vị, có bao giờ biết tới thứ bánh dân dã này, nhưng vì quá đói, chẳng còn nghĩ gì tới thể diện, chẳng cần tới bát đũa, xúm lại bốc ăn 1 loáng đã hết.

Đường Huyền Tông gắng gượng nuốt mấy miếng bánh, nghẹn ngào rơi nước mắt. có 1 cụ già chen tới trước xa giá, nói với Đường Huyền Tông: "An Lộc Sơn muốn làm phản, không phải là chuyện ngày một ngày hai.

Trong bao nhiêu năm đó, nhiều người đã cáo giác với triều đình, nhưng lại bị bắt giam và giết hại.

Tình hình ở bên ngoài, bệ hạ không hề hay biết.

Những người dân thường chúng tôi sớm biết sẽ có ngày như hôm nay, nhưng cửa vào triều quá thâm nghiêm, bệ hạ không thể nghe thấy ý kiến của dân.

Nếu không có cảnh như ngày nay, thì lão tiện dân này sao có thể đứng trước xe mà thưa chuyện cùng bệ hạ".

Đường Huyền Tông ủ rũ nói: "Tất cả đều do trẫm quá hồ đồ.

Bây giờ hối lại thì không kịp nữa".

Đoàn chạy loạn lúc đi lúc nghĩ, tới ngày thứ 3, đến trạm Mã Ngôi (ở phía tây huyện Hưng Bình, Thiểm Tây ngày nay.

Thời Đường đây là nơi đặt trạm giao thông giữa kinh thành với đất Thục).

Các tướng sĩ tùy tòng vừa đói vừa mệt.

Họ càng nghĩ càng tức tối, oán trách những kẻ đã gây nên tình trạng khiến họ phải bỏ gia đình vợ con ở Trường An nay mai sẽ rơi vào tay giặc, và bản thân họ phải vất vả đói khát như hiện nay.

Họ thấy tất cả là do gian tướng Dương Quốc Trung gây nên.

Món nợ này, Dương Quốc Trung phải trả!

Vừa lúc đó, có mấy chục sứ giả Thổ Phồn chặn ngựa của Dương Quốc Trung lại, yêu cầu hắn phải cấp lương thực cho họ.

Dương Quốc Trung chưa biết đáp thế nào, thì binh sĩ đã ùa tới vừa hô: "Dương Quốc Trung làm phản!", vừa bắn tên tới tấp vào hắn.

Dương Quốc Trung hoảng sợ, nhảy xuống ngựa chạy vào trạm, liền bị mấy binh sĩ đuổi theo, lôi ra ngoài chém đầu, bêu trên ngọn giáo cắm trước dịch trạm.

Giết xong Dương Quốc Trung, binh sĩ vẫn bừng bừng phẫn nộ, bao vây chặt dịch trạm có Đường Huyền Tông và toàn thể đoàn tùy tòng trong đó.

Đường Huyền Tông thấy bên ngoài có tiếng ồn ào, liền hỏi có chuyện gì.

Các thái giám nói cho ông ta biết các binh sĩ đã giết Dương Quốc Trung.

Huyền Tông giật nảy mình, vội lật đật chống gậy đi dép cỏ ra cửa dịch trạm, úy lạo các binh sĩ và yêu cầu họ về trại nghỉ ngơi.

Binh sĩ không để ý đến lời hoàng đế, vẫn ồn ào hỗn loạn.

Huyền Tông cử Cao Lực Sĩ đi tìm Trần Huyền Lễ, hỏi tại sao binh sĩ vẫn không chịu giải tán.

Trần Huyền Lễ trả lời: "Dương Quốc Trung mưu phản, thì không thể để Quý Phi sống được!".

Yêu cầu đó đặt Đường Huyền Tông vào thế rất khó xử.

Ông làm sao dứt bỏ được mỹ nhân muôn phần sủng ái đó?

Đường Huyền Tông chống gậy cúi đầu đứng chết lặng hồi lâu, rồi nói: "Quý Phi xưa nay vẫn ở trong thâm cung, sao biết được chuyện Dương Quốc Trung mưu phản?".

Cao Lực Sĩ biết rằng không giết Dương Quý Phi thì không có cách nào làm nguôi cơn giận của binh sĩ, liền nói: "Quý Phi không có tội, nhưng binh sĩ đã giết Dương Quốc Trung, mà Quý Phi vẫn sống bên cạnh bệ hạ thì họ sao có thể yên tâm được.

Kính mong bệ hạ thận trọng suy xét.

Binh sĩ có yên tâm thì bệ hạ mới an toàn được".

Để bảo toàn tính mạng của mình, Đường Huyền Tông đành nghiến răng gạt nước mắt trao Dương Quý Phi cho Cao Lực Sĩ mang đi nơi khác thắt cổ chết rồi mang xác về cho binh sĩ kiểm tra.

Binh sĩ chứng kiến việc đó xong, mới nguôi giận, tháo vòng vây trở về trại.

Qua cuộc binh biến này, Đường Huyền Tông như con chim bị tên, vội vàng chạy vào Thành Đô.

Thái tử Lý Hanh muốn đi theo, nhưng bị địa phương giữ lại để chủ trì việc triều chính.

Lý Hanh thu thập đội ngũ còn lại quay lên phía bắc, tới Linh Vũ (nay ở tây nam huyện Linh Vũ, Ninh Hà) thì lên ngôi hoàng đế.

Đó là Đường Túc Tông.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TRƯƠNG TUẦN LÀM NGƯỜI CỎ MƯỢN TÊN


Sau khi Đường Huyền Tông chạy khỏi Trường An, quân phiến loạn của An Lộc Sơn liền vào chiếm Trường An. quách Tử Nghi, Lý Quang Bật nghe tin Trường An thất thủ, buộc lòng phải bỏ miền Hà Bắc.

Lý Quang Bật lui về giữ Thái Nguyên, Quách Tử Nghi về Linh Vũ.

Những quận huyện đã thu phục được ở miền bắc lại rơi vào tay quân phiến loạn.

Trước khi quân phiến loạn vào Đồng Quan, An Lộc Sơn phái hàng tướng của triều đình là Lệnh Hồ Triều đem quân tiến đánh Ung Khâu (nay là huyện Kỷ, Hà Nam).

Lệnh Hồ Triều vốn là huyện lệnh Ung Khâu.

Khi An Lộc Sơn chiếm Lạc Dương.

Lệnh Hồ Triều liền đầu hàng.

Gần Ung Khâu có huyện Chân Nguyên, huyện lệnh là Trương Tuần không chịu đầu hàng, và chiêu mộ khoảng 1000 tráng sĩ đến chiếm Ung Khâu.

Lệnh Hồ Triều lần này mang 4 vạn quân phiến loạn về đánh Ung Khâu.

Trương Tuần và tướng sĩ ở Ung Khâu kiên quyết chống giữ hơn 60 ngày đêm.

Các tướng sĩ mặc nguyên khôi giáp ăn cơm, ai bị thương thì băng bó lại rồi tiếp tục chiến đấu, đánh lui hơn 300 đợt tiến công của quân phiến loạn, giết rất nhiều địch buộc Lệnh Hồ Triều phải rút quân.

Lần thứ 2, Lệnh Hồ Triều lại tập hợp người ngựa đánh thành.

Lúc đó, tin thất thủ Trường An đã truyền tới Ung Khâu.

Lệnh Hồ Triều rất phấn khởi, liền gửi 1 bức thư khuyên Trương Tuần đầu hàng.

Tin thất thủ Trường An được lan truyền rộng rãi trong quân Đường.

Trong thành Ung Khâu có 6 viên tướng, vốn là những người có uy tín cao, thấy tình hình đó thì dao động.

Họ tìm đến nói với Trương Tuần: "Hiện nay lực lượng hai bên chênh lệch rất nhiều, vả lại không biết hoàng thượng còn sống hay đã chết, chi bằng ta đầu hàng đi là hơn".

Trương Tuần nghe nói, giận sôi lên, nhưng ngoài mặt vẫn tỏ vẻ bình thường, hẹn hôm sau sẽ bàn với mọi người.

Hôm sau, ông triệu tập toàn thể tướng sĩ tại sảnh đường, quát gọi 6 viên tướng kia tới, tuyên bố chúng phạm tội phản bội quốc gia, làm dao động lòng quân, rồi đem chém đầu tại chỗ.

Các tướng sĩ thấy vậy đều rất kích động, nguyện sẽ kiên quyết chống cự đến cùng.

Quân phiến loạn tiếp tục đánh thành, Trương Tuần tổ chức binh sĩ đứng trên thành bắn tên xuống như mưa, buộc chúng phải lui.

Nhưng lâu ngày, tên trong thành dùng hết, Trương Tuần lo đến cháy ruột gan.

Một đêm, khi đã khuya, trên hành Ung Khâu thấy lờ mờ hàng trăm hàng ngàn bóng đen đang di động rồi theo thang dây trèo xuống thành.

Quân lính của Lệnh Hồ Triều phát hiện thấy liền vội báo cáo với chủ tướng.

Lệnh Hồ Triều phán đoán là quân trong thành ra đánh lén, liền hạ lệnh tập trung cung thủ lại bắn tên tới tấp về phía chân thành.

Tên bắn như mưa suốt từ nửa đêm tới sáng.

Quân phiến loạn nhìn kỹ, thì thấy đều là bù nhìn tết bằng cỏ, suốt thân cắm chi chít đầy tên.

Quân trên thành phấn khởi, lôi những người cỏ đó lên, rút tên ra đếm, thấy được mấy chục vạn, giải quyết được khó khăn trước mắt.

Qua mấy đêm, vẫn vào lúc trời không trăng sao, trên thành lại xuất hiện những bóng đen.

Quân lính của Lệnh Hồ Triều phát hiện thấy, bật cười, cho rằng Trương Tuần lại giở bài bản cũ, không thèm chú ý gì.

Không ngờ lần này, những bóng đen từ trên thành tụt xuống, không phải là người cỏ, mà là 500 dũng sĩ.

Các dũng sĩ thừa cơ quân phiến loạn không phòng bị, xông thẳng vào đại doanh của Lệnh Hồ Triều.

Lệnh Hồ Triều không kịp tổ chức chống lại, mấy vạn quân phiến loạn không nhận được lệnh chỉ huy, rối loạn tan chạy khắp các ngả, có toán chạy xa tới mười mấy dặm mới dám dừng lại thở.

Lệnh Hồ Triều mắc mưu liền 2 lần, rất căm tức, lại tăng thêm lực lượng đánh thành.

Trương Tuần phái đại tướng Lôi Vạn Xuân chỉ huy quân lính trên thành.

Quân phiến loạn thấy trên thành xuất hiện 1 viên tướng, liền nhằm vào bắn.

Lôi Vạn Xuân không đề phòng, bị 6 phát tên cắm vào mặt.

Để giữ vững lòng quân, ông nhịn đau, đứng im không động cựa.

Quân phiến loạn thấy thế, tưởng rằng Trương Tuần giở quỷ kế mang người gỗ lên thành giả làm tướng để đánh lừa chúng.

Sau, Lệnh Hồ Triều được tin báo của gián điệp, được biết "người gỗ" bị tên bắn trúng mặt mà vẫn đứng im đó là tướng Lôi Vạn Xuân, thì giật mình kinh sợ.

Lệnh Hồ Triều đến chân thành gọi to Trương Tuần ra nói chuyện.

Trương Tuần đứng trên thành, Lệnh Hồ Triều nói với ông: "Ta đã thấy được sự dũng cảm của Lôi tướng quân, biết được kỷ luật quân sự của các ngài rất nghiêm minh.

Nhưng đáng tiếc là các ngài không biết mệnh trời".

Trương Tuần cười nhạt: "Các ngươi không biết cả tới đạo làm người, còn có tư cách gì nói tới mệnh trời".

Nói xong, liền hạ lệnh cho tướng sĩ mở cửa thành xông ra đánh mãnh liệt.

Lệnh Hồ Triều hoảng sợ quay đầu ngựa chạy thục mạng, 14 tì tướng đi theo hắn đều bị quân của Trương Tuần bắt sống.

Từ đó, Lệnh Hồ Triều đóng quân ở phía bắc thành, không ngừng đánh chặn đường tiếp lương của Trương Tuần.

Quân phiến loạn có tới mấy vạn người, mà phía Trương Tuần chỉ có hơn 1000, nhưng ông biết nắm đúng thời cơ xuất kích, nên đều thắng lợi.

Một năm sau, thái thú Tuy Dương (nay là Thương Khâu, Hà Nam) là Hứa Viễn cho người mang thư cáo cấp tới gặp Trương Tuần, báo tin đại tướng Doãn Tử Kỳ của quân phiến loạn mang 13 vạn quân sắp tiến đánh Tuy Dương.

Trương Tuần nhận được tin cáo cấp, vội dẫn quân đến Tuy Dương.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NAM TẾ QUÂN MƯỢN QUÂN


Hứa Viễn, thái thú Tuy Dương, có chức quan cao hơn Trương Tuần (huyện lệnh), nhưng biết Trương Tuần giỏi dùng binh, trí dũng song toàn, liền mời Trương Tuần làm người chỉ huy việc giữ thành.

Tướng phiến loạn Doãn Tử kỳ đem 13 vạn quân đánh thành, mà quân số của cả Hứa Viễn, Trương Tuần gộp lại cũng chỉ có hơn 6000, chưa bằng 1 phần 12 số quân địch.

Trương Tuần tổ chức cố thủ, kịch chiến với quân phiến loạn suốt 15 ngày, bắt sống hơn 60 tướng, tiêu diệt hơn 2 vạn phiến quân, buộc Doãn Tử Kỳ phải lui quân.

Hai tháng sau, Doãn Tử Kỳ có quân tăng viện, lại bao vây chặt Tuy Dương, dùng mọi biện pháp công phá thành lũy.

Trương Tuần tuy đánh thắng liên tiếp mấy trận, nhưng quân phiến loạn tạm lui rồi lại tiến tới, tình hình ngày càng khẩn cấp.

Một đêm, Trương Tuần hạ lệnh cho quân lính gióng trống trận, chỉnh đốn đội ngũ.

Quân phiến loạn ở ngoài thành thấy trong thành gióng trống, liền vội vàng bày trận, chuẩn bị giao phong.

Nhưng chúng đợi tới sáng, vẫn không thấy quân Đường ra khỏi thành, Doãn Tử Kỳ cho người leo lên vọng lâu nhìn vào, vẫn thấy trong thành im phăng phắc, không hề có động tĩnh gì, liền hạ lệnh cho quân lính tháo bỏ khôi giáp, nghỉ ngơi.

Tướng sĩ quân phiến loạn qua 1 đêm căng thẳng, mỏi mệt nên vừa nằm xuống là ngủ li bì.

Chính vào lúc đó, Trương Tuần cùng các tướng Lôi Vạn Xuân, Nam Tế Vân và hơn 10 tướng lĩnh khác, mỗi người dẫn 50 kỵ binh mở cửa thành ào ạt xông ra, tiến công mãnh liệt vào trại địch.

Quân phiến loạn không đề phòng, lâm vào cảnh hỗn loạn, bị quân Đường giết hơn 5000 tên.

Trương Tuần muốn tìm cách bắn gục chủ tướng Doãn Tử Kỳ của quân phiến loạn khi hắn ra trước trận, nhưng Doãn Tử Kỳ cũng rất ranh ma, khi nào ra trận cũng cùng đi với mấy viên tướng khác, mặc chiến bào và cưỡi ngựa có màu sắc giống nhau, không sao phân biệt được.

Trương Tuần liền nghĩ ra 1 biện pháp, sai quân lính dùng thân cây lau vót làm tên bắn vào trận địa địch.

Lính địch nhặt được loại tên đó, cho rằng trong thành đã hết tên rồi nên vui mừng cầm mấy mũi tên đó, phóng ngựa đến đưa cho Doãn Tử Kỳ xem.

Doãn Từ Kỳ vừa đưa tay ra nhận mấy mũi tên đó thì Trương Tuần đã theo dõi sát, báo Nam Tế Vân đứng bên cạnh bắn thẳng vào hắn.

Nam Tế Vân vốn là 1 cung thủ lợi hại. mũi tên bắn ra trúng ngay vào mắt trái Doãn Tử Kỳ.

Hắn thét lên 1 tiếng, ôm mặt, ngã nhào xuống chân ngựa.

Trương Tuần hạ lệnh xông ra đánh, lại thắng 1 trận lớn.

Doãn Tử Kỳ đã hỏng 1 mắt, lại thiệt quân, vô cùng cay cú.

Sau khi điều trị khỏi vết thương, hắn liền dẫn mấy vạn quân vây chặt Tuy Dương, như tường đồng vách sắt.

Quân vây ngoài thành mỗi ngày 1 đông, quân giữ thành thì càng chiến đấu càng giảm.

Về sau, trong thành Tuy Dương chỉ còn lại 1600 người, lương thực cũng cạn dần, mỗi binh sĩ mỗi ngày chỉ được phân 1 hợp gạo (=0,10355 lít) phải trộn thêm vỏ cây, lá cây và giấy vụn để nấu cơm ăn.

Cuối cùng, không còn 1 hạt gạo nào nữa, quân lính trụ không nổi, lần lượt gục ngã vì đói.

Tình thế càng ngày càng nguy cấp, Trương Tuần chỉ còn cách là cử Nam Tế Vân dẫn theo 30 kỵ binh mở đường máu vượt qua nhiều lớp bao vây, chạy tới Lâm Hoài (nay là tây bắc Vu Đài, Giang Tô) mượn quân về cứu viện.

Tướng giữ Vu Đài là Hạ Lan Tiến Minh sợ thế quân nổi loạn, không cho mượn quân về cứu Tuy Dương.

Ông ta thấy Nam Tế Vân là 1 dũng tướng, muốn giữ lại làm bộ hạ cho mình, nên mở 1 bữa tiệc thết đãi, mời các tướng đến cùng tiếp Nam Tế Vân.

Nam Tế Vân lòng như lửa đốt, còn bụng dạ nào để uống rượu nữa.

Ông chảy nước mắt, kích động nói: "Quân dân trong thành Tuy Dương đã hơn một tháng nay không có hạt cơm nào vào bụng, chúng tôi làm sao có thể ngồi đây ăn uống.

Dù có đưa vào miệng chăng nữa, cũng làm sao có thể nuốt nổi?

Trong tay tướng quân có nhiều binh lính mà nhìn thành Tuy Dương sắp bị mất, không chịu đem quân đến cứu, lẽ nào đó là việc làm của bậc trung thần nghĩa sĩ hay sao?".

Nói xong, đưa 1 ngón tay vào miệng cắn đứt, máu chảy ròng ròng, tức giận nói: "Tế Vân này không hoàn thành được nhiệm vụ chủ tướng giao cho, xin để lại một ngón tay này làm bằng để khi về có thể trình bày với chủ tướng".

Cử tọa trong buổi tiệc đều kinh hoàng, nhiều người giơ ống tay áo lên che mặt, có người chịu không nổi, khóc rống lên thảm thiết.

Nam Tế Vân thấy Hạ Lan Minh Tiến cuối cùng vẫn không chịu xuất binh, đành rời khỏi Lâm Hoài, đến nơi khác mượn được 3000 quân đưa về Tuy Dương.

Đến ngoài thành, quân phiến loạn huy động lực lượng vây chặt họ lại.

Nam Tế Vân chỉ huy quân mã, tả xung hữu đột, triển khai 1 chiến đấu đẫm máu ngay dưới chân thành.

Trương Tuần thấy tiếng la hét vang dội ngoài thành, biết Nam Tế Vân đã về tới, liền mở toang cửa thành, đánh lui địch, đón cánh quân của Nam Tế Vân vào thành.

Số quân còn lại chỉ được 1000, Nam Tế Vân báo cáo với Trương Tuần, Hứa Viễn về tình hình xin quân cứu viện.

Tướng sĩ trong thành thấy không còn hy vọng có được viện binh, đều ôm mặt khóc ròng.

Trương Tuần và Hứa Viễn bàn đi bàn lại, thấy Tuy Dương là bình phong của miền Giang Hoài, muốn bảo vệ được Giang Hoài không cho quân phiến loạn tiến xuống phía nam thì phải quyết tâm tử thủ Tuy Dương.

Trong thành đã hết lương thực, họ nấu vỏ cây làm thức ăn.

Vỏ cây hết, thì giết thịt chiến mã, hết chiến mã, đành cử người đánh bắt chuột, sẻ để ăn đỡ đói

Tướng sĩ và dân chúng trong thành đều xúc động trước quyết tâm tử chiến của Trương Tuần.

Dù họ biết rõ ràng thành không thể giữ được mãi, nhưng tuyệt nhiên không có ai trốn ra hàng giặc.

Cuối cùng, toàn thành chỉ còn lại 400 người.

Doãn Tử Kỳ dẫn quân dùng thang mây leo lên mặt thành, quân lính giữ thành quá đói không còn giương nổi cung, không còn sức đâm giáo nữa.

Tháng 10, năm 757, thành Tuy Dương rơi vào tay quân phiến loạn.

36 viên tướng gồm Trương Tuần, Hứa Viễn, Lôi Vạn Xuân, Nam Tế Vân...đều bị địch bắt sống.

Tướng giặc trói từng người một, buộc họ đầu hàng.

Chúng ướm dao vào cổ Trương Tuần, ông cười nhạt, chửi rủa giặc thậm tệ.

Đến lượt Nam Tế Vân, ông không nói 1 lời nào.

Trương Tuần ngoảnh mặt lại thét lên với Nam Tế Vân: "Tám Nam! (Nam Tế Vân là con thứ 8 trong gia đình).

Người hảo hán chỉ có chết, chứ không thể khuất phục trước quân phản tặc!".

Nam Tế Vân cười lớn: "Trương Công hãy yên tâm.

Tôi đang nghĩ cách làm sao tiêu diệt chúng, chứ đâu có sợ chết".

Tướng giặc biết họ không chịu khuất phục, liền đem giết hết.

Tiết độ sứ Hà Nam là Trương Cảo nghe tin Tuy Dương nguy cấp, liền mang quân hành quân gấp đến Tuy Dương, đánh lui quân Doãn Tử Kỳ, thì thành Tuy Dương đã mất 3 ngày trước.

Bảy ngày sau đó, Quách Tử Nghi chỉ huy quân Đường thu phục được Lạc Dương.

Do sự cố của Trương Tuần, nên khu vực Giang Hoài phía nam đã không bị quân phiến loạn giày xéo.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LÝ TIẾT TRỞ VỀ NÚI


Khi Đường Túc Tông lên ngôi ở Linh Vũ, các quan văn võ bên mình chỉ có chưa tới 30 người.

Trong triều đình vừa được thành lập đó, mọi việc đều ngổn ngang rối loạn.

Các võ tướng cãi lộn, không chịu nghe theo lệnh chỉ huy.

Muốn dẹp được loạn, Túc Tông thấy gấp rút cần có 1 người giỏi giúp điều hành mọi việc.

Lúc đó, ông nhớ tới người bạn cũ khi ông còn làm thái tử.

Người đó là Lý Tiết, hiện ở Dĩnh Dương.

Đường Túc Tông lập tức cho người đi mời Lý Tiết đến Linh Vũ.

Lý Tiết nguyên là người Trường An, từ nhỏ đã rất thông minh và đọc rộng.

Trương Cửu Linh khi đó là tể tướng, sau khi đọc 1 số thơ văn của ông đã đánh giá cao và khen ngợi ông là "thần đồng".

Khi Túc Tông làm thái tử, Lý Tiết đã trưởng thành.

Ông dâng lên Huyền Tông 1 sớ tấu, nêu ý kiến về các việc lớn quốc gia.

Đường Huyền Tông xem xong rất tán thưởng, triệu kiến ông, muốn phong cho ông 1 chức quan.

Ông từ chối, nói rằng mình còn trẻ, không muốn làm quan.

Huyền Tông liền để ông làm bạn với thái tử.

Từ đó, ông thường xuyên lui tới Đông cung.

Thái tử cũng rất quý trọng ông, coi ông như bậc thầy.

Sau đó, Lý Tiết không ưa cảnh lộng quyền của Dương Quốc Trung, từng làm thơ châm biếm.

Vì lý do đó, ông bị Dương Quốc Trung đuổi ra khỏi Trường An.

Thấy chính cục hỗn loạn và không muốn bị làm nhục, ông dứt khoát về ẩn cư ở Dĩnh Dương (nay thuộc Hà Nam).

Lần này, Đường Túc Tông cho người đến mời, ông thấy triều đình có nhiều khó khăn, liền tới Linh Vũ.

Đường Túc Tông gặp lại ông, mừng rỡ như được của báu.

Trong triều đình lâm thời lúc đó, chưa chú ý nhiều đến lễ tiết vua tôi, Đường Túc Tông và Lý Tiết vẫn như đôi bạn thời thanh niên, cùng nhau ăn ở, bàn bạc mọi công việc lớn nhỏ.

Lý Tiết đề xuất ý kiến nào cũng được Đường Túc Tông chấp nhận.

Túc Tông muốn phong Lý Tiết làm tể tướng, nhưng Lý Tiết không nhận.

Ông nói: "Bệ hạ đối đãi tôi như với người bạn tri kỷ, điều đo còn quý hơn là làm tể tướng, cần gì phải có chức tước".

Túc Tông thấy không ép được ông, đành cho qua.

Khi Lý Tiết ẩn cư trong vùng núi, thường mặc áo vải.

Tới Linh Vũ, ông cũng vẫn cứ mặc áo vải như vậy.

Một lần, Lý Tiết đi cùng Đường Túc Tông duyệt 1 đơn vị quân đội.

Quân lính ở phía sau, chỉ trỏ bảo nhau: "Người mặc hoàng bào kia là hoàng thượng, còn người mặc áo cánh ngắn kia là vị ẩn sĩ trên núi xuống".

Đường Túc Tông thấy binh sĩ bàn luận như thế, cảm thấy bất tiện quá, liền đưa cho Lý Tiết 1 bộ quan phục màu tía, nhất định bắt ông mặc vào.

Lý Tiết không thể từ chối, phải mặc quan phục.

Túc Tông cười nói: "Ngươi đã mặc quan phục thì không thể không có quan hàm".

Nói xong, rút luôn từ trong ống tay áo ra 1 chiếu thư, phong Lý Tiết làm nguyên soái phủ hành quân trưởng sứ (tương đương như quân sư).

Lý Tiết vẫn không chịu nhận, Đường Túc Tông nói: "Nay nước nhà đang có khó khăn, hãy tạm ép ngươi như vậy.

Tới khi đã dẹp loạn xong, sẽ để ngươi tự do theo ý mình".

Lúc đó, Quách Tử Nghi cũng đã đến Linh Vũ.

Triều đình phải chỉ huy cuộc chiến trên toàn quốc, việc quân rất bề bộn.

Công văn giấy tờ từ khắp nơi trong nước gửi về, từ sớm đến tối không lúc nào dứt.

Đường Túc Tông ra lệnh đưa tất cả công văn cho Lý Tiết xem trước, có công văn nào đặc biệt quan trọng, mới chuyển cho Túc Tông xem.

Chìa khóa của cung đình cũng do thái tử Lý Thúc và Lý Tiết giữ.

Lý Tiết bận rộn đến mức không còn thời giờ ăn uống nữa, ngay thời gian ngủ cũng rất ít.

Đường Túc Tông nôn nóng muốn trở về Trường An, liền hỏi Lý Tiết: "Kẻ địch mạnh như thế này, chúng ta làm thế nào?".

Lý Tiết nói: "An Lộc Sơn nổi loạn, chỉ có rất ít kẻ thực lòng giúp hắn, còn lại đều là bị buộc tham gia.

Theo dự liệu của tôi, chỉ không quá hai năm, chúng ta có thể tiêu diệt được chúng".

Sau đó, ông vạch ra cho Túc Tông 1 kế hoạch quân sự, tạm hoãn thu phục Trường An, mà phái Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật chia quân 2 đường đánh lên Hà Bắc, đánh vào sào huyệt cũ của địch ở Phạm Dương, khiến địch tiến thoái lưỡng nan rồi sẽ điều quân các lộ bao vây, tiêu diệt.

Mùa xuân năm sau (757), nội bộ quân phiến loạn có tranh chấp, con của An Lộc Sơn là An Khánh Tự giết An Lộc Sơn và tự mình xưng đế.

Đây vốn là cơ hội tốt để tiêu diệt địch.

Nhưng Túc Tông do nóng lòng trở về Trường An, không nghe theo kế hoạch của Lý Quang Bật, điều quân mã của Quách Tử Nghi từ Hà Đông trở về, gượng ép tiến đánh Trường An.

Kết quả bị đại bại, sau đó.

Quách Tử Nghi mượn tinh binh của Hồi Hột (1 trong những dân tộc thiểu số ở miền bắc Trung Quốc thời đó), tập trung 15 vạn quân mã, mới chiếm lại được Trường An.

Tiếp đó, lại thu phục được Lạc Dương, tên đầu sỏ phiến loạn An Khánh Tự chạy lên Hà Bắc, Sử Tư Minh buộc phải đầu hàng Sau khi quân Đường thu hồi được Trường An và Lạc Dương, Đường Túc Tông cảm thấy hết sức thỏa mãn, liền phái tuấn mã đón Lý Tiết về Trường An.

Sủng phi của Đường Túc Tông là Trương Lương Đệ và hoạn quan Lý Phụ Quốc thấy Lý Tiết có quyền lớn, liền câu kết với nhau, muốn trừ bỏ Lý Tiết.

Thái tử Lý Thúc phát hiện âm mưu đó, liền báo với Lý Tiết.

Lý Tiết nói: "Không sao!

Thần và hoàng thượng đã có giao ước với nhau.

Khi nào kinh thành được thu hồi, thần sẽ trở về núi, sẽ không có chuyện gì nữa!".

Lúc này, Lý Tiết thấy triều đình đã thu hồi được 2 kinh (Tây kinh và Đông kinh, tức Trường An và Lạc Dương) coi như đã thỏa lòng, liền quyết tâm rời khỏi triều đình.

Một buổi tối, Đường Túc Tông mời Lý Tiết uống rượu và lưu ông ở lại ngủ cùng.

Nhân dịp đó, Lý Tiết nói với Túc Tông: "Thần đã báo đáp được bệ hạ rồi.

Xin cho thần trở về làm một người dân an nhàn".

Đường Túc Tông nói: "Sao lại thế!

Ta và tiên sinh đã cùng nhau chung hoạn nạn trong mấy năm nay.

Bây giờ chính là lúc muốn cùng tiên sinh chung hưởng yên vui.

Sao tiên sinh lại đòi đi?".

Lý Tiết khẩn khoản nói: "Thần và bệ hạ quen biết nhau từ nhỏ, nay lại được bệ hạ trọng dụng, tin yêu.

Chính vì những lý do đó nên thần không thể không rời bỏ nơi đây".

Đường Túc Tông gạt đi: "Thôi!

Hôm nay ta ngủ đã, để sau này hãy nói".

Lý Tiết nói: "Hôm nay thần và bệ hạ cùng ngồi trên giường nói chuyện, mà bệ hạ vẫn không chấp nhận đề nghị của thần.

Ngày mai, trước triều đình, thần còn có thể nói gì được nữa.

Nếu bệ hạ không cho thần đi, coi như bệ hạ buộc thần phải chết".

Đường Túc Tông không muốn rời xa Lý Tiết nhưng không thể bác bỏ yêu cầu khẩn thiết của ông, đành phải đồng ý để ông rời khỏi triều đình.

Lý Tiết tới Hành Sơn (tại tỉnh Hồ Nam ngày nay), làm 1 căn nhà trên núi, lại sống cuộc đời ẩn cư.

Sau khi Lý Tiết đi khỏi, bên cạnh Đường Túc Tông thiếu mất 1 đại thần chính trực.

Quyền lực của Lý Phụ Quốc và 1 số hoạn quan khác dần dần tăng lên.Triều Đường đi vào giai đoạn suy thoái.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LÝ QUANG BẬT ĐẠI PHÁ SỬ TƯ MINH


Sau khi vương triều Đường thu phục 2 kinh, An Khánh Tự chạy lên Hà Bắc, chiếm 60 tòa thành và tiếp tục kháng cự, Đường Túc Tông quyết định phái đại quân tiến đánh An Khánh Tự.

Lần tiến công này, triều Đường huy động lực lượng quân đội dưới quyền 9 tiết độ sứ, gồm 60 vạn quân.

Một lực lượng lớn như thế cần có người tổng chỉ huy giỏi.

Xét tài năng và uy tín, thì chỉ có Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật là xứng đáng.

Nhưng Đường Túc Tông lại có tâm lý nghi kỵ, sợ 2 người có quyền lực quá lớn.

Vì vậy, cố ý không đặt chức chủ soái, mà cử 1 hoạn quan không biết gì về chiến trận là Ngư Triều Ân làm quan quân dung sứ (chức quan đứng đầu về quân sự, có quyền giám sát các tướng soái xuất chinh).

Vì vậy, trên thực tế, 9 tiết độ sứ đều phải chịu sự chi phối của y.

Khi quân Đường đánh Nghiệp Thành, Sử Tư Minh lại khởi binh đánh lại, đem quân từ Phạm Dương về cứu An Khánh Tự.

Trong khi 60 vạn quân Đường chưa kịp triển khai trận thế thì cuống phong nổi lên, bụi cát mù mịt, trời đất tối tăm.

Chín đạo quân không có sự chỉ huy thống nhất, bị tan tác như đàn ông vỡ tổ.

Quân Đường thua trận, Ngư Triều Ân trút mọi trách nhiệm thất bại lên đầu Quách Tử Nghi.

Đường Túc Tông tin theo lời Ngư Triều Ân, liền cách chức tiết độ sứ Sóc Phương của Quách Tử Nghi, để Lý Quang Bật kiêm nhiệm.

Lúc đó, trong hàng ngũ quân phiến loạn lại có xung đột.

Sử Tư Minh giết An Khánh Tự ở Nghiệp Thành, tự lập làm hoàng đế Đại Yên, rồi chỉnh đốn đội ngũ, tiến công về hướng Lạc Dương.

Lý Quang Bật tới Lạc Dương, các quan chức ở đây thấy thế quân Sử Tư Minh quá mạnh, có phần sợ hãi, có người chủ trương lui quân về Đồng Quan, Lý Quang Bật nói: "Hiện nay hai bên lực lượng ngang nhau.

Nếu chúng ta lui, kẻ địch sẽ càng ngông cuồng.

Chi bằng chúng ta nên di chuyển tới Hà Dương (nay là huyện Mãnh, Hà Nam) để tiến lên có thể đánh, lui về có thể giữ".

Lý Quang Bật hạ lệnh cho quân đội và dân chúng rút toàn bộ khỏi Lạc Dương, rồi đưa quân tới Hà Dương.

Sử Tư Minh tiến vào Lạc Dương, chỉ còn 1 tòa thành trống rỗng, không có nguồn nhân lực, không có lương thực, lại sợ Lý Quang Bật tập kích.

Hắn không dám đóng quân trong thành, mà kéo ra xây đắp trận địa phía nam Hà Dương, tạo thế giằng co với Lý Quang Bật.

Lý Quang Bật là 1 lão tướng dày dạn chinh chiến.

Ông biết rằng binh lực hiện nay không bằng quân phiến loạn, chỉ có thể dùng mưu để giữ vững, không thể dùng lực để tiến công.

Ông nghe Sử Tư Minh đem hơn 1000 chiến mã từ Hà Bắc xuống, hàng ngày đem ra bãi sông cho ăn cỏ và tắm táp, liền hạ lệnh cho tập trung toàn bộ ngựa cái lại và nhốt hết ngựa con trong chuồng.

Chờ tới khi quân Sử Tư Minh thả chiến mã ra bãi, Lý Quang Bật cho thả đàn ngựa cái ra xen kẽ vào đoàn chiến mã (đều là ngựa đực) của địch.

Một lát sau, ngựa cái nhớ con, liền quay về.

Đàn ngựa chiến của địch liền đi theo, sang hết trận địa của quân Đường.

Trong chốc lát, Sử Tư Minh bị mất hàng ngàn ngựa, thì tức lồng lộn, cho tập trung mấy trăm thuyền chiến tấn công theo đường thủy.

Hắn cho 1 hỏa thuyền dẫn đầu, chuẩn bị đốt cầu phao của quân Đường.

Lý Quang Bật cho chuẩn bị mấy trăm cây tre dài và to, đầu bịt sắt.

Khi hỏa thuyền của địch tới, mấy trăm binh sĩ khỏe mạnh đứng trên cầu phao phóng tre ra ghìm chặt hỏa thuyền địch lại.

Hỏa thuyền không tiến lên được, bốc cháy tan nát rồi chìm xuống lòng sông.

Quân Đường lại từ trên cầu phao, dùng máy bắn đá đánh cho chiến thuyền địch phía sau tan vỡ.

Quân lính địch đứa thi toác đầu, đứa thì chìm nghỉm theo thuyền, 1 số sống sót ngoi ngóp được lên bờ, ôm đầu tháo chạy.

Sử Tư Minh liên tiếp dùng mọi cách tiến đánh Hà Dương, đều bị Lý Quang Bật dùng mưu đánh lui.

Cuối cùng, Sử Tư Minh nổi khùng, tập trung hết lực lượng, sai tướng Chu Chí tiến công thành phía bắc, còn tự mình dẫn tinh binh tiến công thành phía nam của Hà Dương.

Sáng sớm, Lý Quang Bật dẫn bộ tướng trèo lên thành phía bắc quan sát, thấy quân địch người người lớp lớp đen đặc, đang dẫn đầu tiến lại gần.

Các tướng lĩnh Đường không nói ra, nhưng trong lòng đều thấy nao núng, hoang mang.

Lý Quang Bật đoán biết thâm tâm của tướng sĩ, liền trấn an họ: "Đừng sợ!

Quân địch tuy đông, nhưng đội ngũ không chỉnh tề, tỏ ra có phần kiêu ngạo.

Các ngươi yên tâm, chỉ trước trưa nay, bảo đảm có thể đánh tan được chúng".

Sau đó Lý Quang Bật hạ lệnh toàn thể tướng sĩ chia đường xuất kích.

Các tướng sĩ tuy hết sức dũng mãnh, nhưng quân địch quá đông, lớp này bị đánh lui thì lớp khác lại xông lên.

Mặt trời đã đứng bóng, 2 bên vẫn chưa phân thắng bại.

Lý Quang Bật lại họp các tướng lại, hỏi: "Các ngươi thấy trận thế địch, hướng nào là mạnh nhất?".

Các tướng đều nói: "Góc tây bắc và góc đông nam".

Lý Quang Bật gật đầu, lập tức rút ra 500 kỵ binh, cử 2 danh tướng chỉ huy, chia đường đánh mãnh liệt vào góc tây bắc và góc đông nam trận địa địch.

Lý Quang Bật tập trung số đông còn lại, nghiêm khắc tuyên bố quân lệnh: "Tất cả ohair hành động theo hiệu cờ của ta.

Khi cờ hiệu phất thong thả, có thể hành động tự do; nếu thấy cờ hiệu vẫy gấp, là hiệu lệnh tổng công kích, phải dũng cảm xông lên, không cho phép chần chừ hoặc lùi lại".

Nói tới đây, ông rút 1 con dao nhọn cắm vào ống giầy, nói: "Đánh trận là chuyện một sống một chết.

Ta là đại thần của triều đình, quyết không chết trong tay quân địch.

Nếu các ngươi đều tử chiến trên chiến trường, ta sẽ dùng con dao này tự sát".

Các tướng sĩ nghe mệnh lệnh sắt đá của ông, đều kích động xông lên với sức mạnh được nhân lên hàng trăm lần.

Lát sau bỗng thấy bộ tướng Hách Đình Ngọc chạy bộ từ phía trước trở về, Lý Quang Bật liền trao kiếm cho 1 binh sĩ xông ra chặn lại để chém Hách Đình Ngọc tại chỗ.

Hách Đình Ngọc thấy tên lính truyền lệnh toan chém mình, vội hô lớn: "Ngựa của tôi bị tên bắn ngã, không phải tôi chạy trốn!".

Lý Quang Bật lập tức sai cấp cho Hách Đình Ngọc con ngựa khác để quay lại tiếp tục chỉ huy chiến đấu.

Thấy tinh thần tướng sĩ quân Đường đang hừng hực, Lý Quang Bật sai vẫy gấp cờ hiệu, hạ lệnh tổng công kích.

Quân lính toàn mặt trận thấy hiệu cờ, đều ào ạt tranh nhau tràn lên, tiếng hô "giết" vang trời dậy đất.

Quân phiến loạn bị tấn công mãnh liệt, không thể kháng cự nổi, hàng ngũ tan vỡ, rút chạy.

Quân Đường ào lên đuổi theo chém giết, bắt sống hơn 1000 tù binh.

Ngoài ra, còn hơn 1000 quân địch bị ép ra bờ sông, rơi xuống chết đuối.

Tướng Chu Chí của phiến quân đang chỉ huy đánh thành phía bắc, hoảng sợ bỏ chạy.

Sử Tư Minh đang chỉ huy quân đánh thành phía nam, thấy quân đánh thành phía bắc chạy dạt tới bờ sông, biết Chu Chí đã hoàn toàn thất bại, không dam ham đánh, vội hạ lệnh lui quân về Lạc Dương.

Lý Quang Bật đã liên tục giao chiến vớí Sử Tư Minh suốt 2 năm ròng.

Đường Túc Tông không hiểu gì về thực tế trên chiến trường, tin theo lời Ngư Triều Ân, hạ lệnh Lý Quang Bật tiến đánh ngay Lạc Dương.

Lý Quang Bật thấy binh lực quân phiến loạn còn rất mạnh, không nên khinh suất đánh thành.

Đường Túc Tông liên tục phái hoạn quan đến giục giã, Lý Quang Bật đành mạo hiểm tiến công.

Kết quả bị đánh thua và do đó bị cách chức chủ soái.

Sử Tư Minh bớt được 1 đối thủ lợi hại, liền thừa thắng tiến công Trường An.

May sao lúc đó trong hàng ngũ phiến loạn lại xảy ra xung đột nội bộ lần thứ 3: Sử Tư Minh bị con là Sử Triều Nghĩa giết chết.

Nội bộ quân phiến loạn vì thế chia năm xẻ bảy.

Năm 763, Sử Triều Nghĩa thua trận, tự sát.

Kể từ khi An Lộc Sơn nổi loạn cho tới khi Sử Triều Nghĩa thất bại, vùng Trung nguyên trải qua 8 năm binh lửa, sinh mạng và tài sản vị tổn thất nghiêm trọng.

Lịch sử gọi sự kiện đó là "Loạn An - Sử".

Sau loạn An - Sử, cảnh thịnh trị của nhà Đường không còn nữa.

Nhiều mầm mống biến loạn và chia rẽ chín muồi dần trong cơ thể đầy thương tích của 1 triều đại từng đạt tới đỉnh cao huy hoàng của chế độ phong kiến Trung Quốc.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
ĐỖ PHỦ VIẾT THI SỬ


Loạn An Sử kết thúc, đối với dân chúng từng điêu linh khốn khổ vì chiến loạn, hết sức khát khao cuộc sống bình yên, thì đó là 1 việc hết sức đáng phấn khởi.

Thi nhân Đỗ Phủ lúc đó đang sống cuộc sống lưu vong ở Tử Châu (nay là Tam Đài, Tứ Xuyên), nghe được tin đó lại càng vui sướng trào rơi nước mắt.

Đỗ Phủ, tên tự là Tử Mỹ, cũng như Lý Bạch, là 1 trong những đại thi nhân nổi tiếng thời bấy giờ.

Văn học sử thường gọi gộp 2 ông là "Lý Đỗ".

Vốn là người huyện Củng, Hà Nam; Đỗ Phủ sinh ra trong 1 gia đình quan lại suy tàn, từ nhỏ đã khổ công đọc sách và đi khắp núi cao sông lớn, viết ra nhiều bài thơ nổi tiếng.

Năm 39 tuổi, ông gặp Lý Bạch ở Lạc Dương, Đỗ Phủ kém Lý Bạch 11 tuổi.

Tuy cá tính 2 người khác nhau, nhưng chí hướng và lòng yêu thích văn chương đã khiến họ trở thành đôi bạn thân.

Sau đó, Đỗ Phủ đến Trường An dự kì thi tiến sĩ.

Đúng vào lúc ấy, Lý Lâm Phủ đang nắm triều chính.

Hắn rất ghét những người đọc sách, sợ số trí thức xuất thân tầng lớp dưới này lên làm quan, sẽ góp ý kiến về triều chính, không lợi cho hắn.

Do đó, hắn câu kết với quan chấm thi, đánh trượt hết người dự thi, rồi nói với Đường Huyền Tông các bài thi khoa này đều rất kém, không có bài nào trúng cách.

Đường Huyền Tông đang lấy làm lạ thì Lý Lâm Phủ dâng ngay 1 sớ tấu lên, nói rằng việc này chứng tỏ hoàng đế rất thánh minh, đã tuyển dụng hết người tài trong thiên hạ, trong dân gian không còn sót lại người hiền tài nào nữa.

Những nho sinh thời đó chỉ có 1 con đường tiến thân là đua tài trong hệ thống khoa cử triều đình, nay bị đòn đánh bại đó của Lý Lâm Phủ, Đỗ Phủ buồn rầu chán nản đến cực độ.

Ông sống 1 cuộc đời nghèo nàn và buồn khổ ở Trường An, tận mắt chứng kiến quang cảnh trái ngược giữa 1 bên là bọn quyền quý ăn chơi xa xỉ với 1 bên là dân nghèo đói khát thảm thê.

Không kìm được phẫn nộ, ông đã viết nên những câu thơ bất hủ:

"...Cửa son rượu thịt thừa, ôi...

Dân nghèo đói rét, xương phơi dọc đường..."

Đỗ Phủ ở Trường An trong 10 năm, vừa được Đường Huyền Tông phong 1 chức quan nhỏ thì loạn An Sử nổ ra, dân chúng Trường An nhao nhác chạy loạn.

Gia đình Đỗ Phủ cũng chen lấn trong đám nạn dân đó.

Trải qua trăm ngàn cay đắng, toàn gia đình vất vả lắm mới tìm tới được vùng nông thôn, tạm thời định cư.

Đúng lúc đó, ông nghe tin Đường Túc Tông đã lên ngôi ở Linh Vũ, liền rời gia đình, tìm cách đến với Túc Tông.

Ngờ đâu, mới đi được nửa đường ông lại gặp phải quân phiến loạn.

Chúng bắt ông giải về Trường An.

Trường An đang nằm trong tay giặc, quân phiến loạn đang tàn sát và cướp bóc, cung điện và nhà dân chìm trong biển lửa.

Các quan chức triều đình, kẻ thì đầu hàng, người thì bị bắt giải đi Lạc Dương.

Sau khi Đỗ Phủ bị giải về Trường An, tên đầu sỏ quân phiến loạn thấy ông không có dáng quan to, liền thả ông ra.

Năm sau, Đỗ Phủ từ Trường An trốn ra ngoài, nghe tin Đường Túc Tông đang ở Phượng Tường (nay là huyện Phượng Tường, tỉnh Thiểm Tây), liền vội vàng tìm đến yết kiến.

Lúc này, Đỗ Phủ nghèo khổ tới mức không có nổi 1 bộ quần áo lành lặn, chiếc áo mặc trên người rách lòi cả khuỷu tay, chân đi đôi giày cỏ mòn vẹt.

Thấy Đỗ Phủ lặn lội đường xa tìm đến với triều đình, Đường Túc Tông rất mừng, phong cho ông làm chức Tả thập di.

Tả thập di là chức gián quan.

Tuy Đường Túc Tông phong quan chức cho ông nhưng không có ý trọng dụng ông.

Đỗ Phủ làm việc rất chăm chỉ và nghiêm túc.

Ít lâu sau, tể tướng Phòng Quản bị Đường Túc Tông bãi chức.

Đỗ Phủ thấy Phòng Quản rất có tài liền dâng lời khuyên can xin đừng bãi chức tể tướng của Phòng Quản, điều này làm phật ý Túc Tông, may nhờ có người nói hộ, ông mới không bị liên lụy.

Sau khi quân Đường thu phục Trường An, ông theo các quan chức khác cùng về Trường An.

Đường Túc Tông cử ông làm 1 chức quan nhỏ lo việc tế tự và mở trường học ở Hoa Châu (nay là huyện Hoa, tỉnh Thiểm Tây).

Đỗ Phủ đem theo nỗi lòng thất vọng đến nhận chức ở Hoa Châu.

Lúc đó, tuy triều Đường đã thu phục được Trường An và Lạc Dương, nhưng quân phiến loạn An - Sử vẫn chưa bị tiêu diệt, chiến tranh vẫn rất dữ dội.

Quân Đường bắt trai tráng khắp nơi để bổ sung binh lực khiến dân chúng trăm bề điêu đứng.

Một hôm, Đỗ Phủ đi qua thôn Thạch Hào (nay ở đông nam huyện Thiểm, Hà Nam) thì trời đã rất khuya, ông ngủ nhờ 1 gia đình nghèo, chỉ có 2 vợ chồng già tiếp ông.

Nửa đêm, khi ông đang trằn trọc không ngủ được, thì có tiếng đập cửa dồn dập.

Đỗ Phủ nằm im trong phòng nghe ngóng, thấy ông già chủ nhà vội leo qua tường chạy trốn, còn bà già vừa lên tiếng trả lời, vừa chậm chạp ra mở cửa.

Một số tên sai dịch do quan phủ phái đi bắt lính xông vào nhà, lớn tiếng quát hỏi bà lão: "Đàn ông nhà này đi đâu cả?".

Bà lão vừa khóc vừa nói: "Ba đứa con trai tôi đều đi đánh trận ở Nghiệp Thành.

Hai hôm trước một đứa viết thư về nói, hai anh nó đã chết ở chiến trường.

Trong nhà chỉ có một cô con dâu và một cháu nhỏ còn đang bú.

Các người còn muốn bắt người nào nữa?".

Bà lão vừa khóc vừa van vỉ, nhưng bọn sai dịch vẫn không tha.

Cuối cùng, chúng bắt luôn bà tới quân doanh để hầu hạ quân lính.

Trời sáng, khi Đỗ Phủ rời gia đình, chỉ có ông già trở về tiễn ông.

Đỗ Phủ tận mắt chứng kiến cảnh tượng thê thảm đó, lòng cuộn lên nỗi xúc động, viết nên bài thơ bất hủ "Thạch Hào lại" (bọn quan lại ở Thạch Hào).

Trong thời gian ở Hoa Châu, trước sau ông đã sáng tác 6 bài thơ về đề tài đó, gộp lại gọi là "Tam lại, tam biệt" (gồm: Thạch Hào lại, Đồng Quan lại, Tân An lại, Tân hôn biệt, Thùy lão biệt, Vô gia biệt).

Do thơ ca của Đỗ Phủ đại đa số là viết về nỗi khổ của nhân dân trong thời kì loạn An - Sử, phản ánh quá trình trượt dài từ hưng thịnh đến suy vong của triều Đường, nên nhân dân gọi thơ của ông là "thi sử".

Năm sau, ông từ chức quan ở Hoa Châu.

Tiếp đó, vùng Quan Trung gặp đại hạn.

Đỗ Phủ quá nghèo túng, dẫn gia đình lưu lạc tới Thành Đô, sống nhờ vào bè bạn.

Ông dựng 1 căn nhà cỏ bên khe suối Hoàn Hoa ở ngoại ô phía tây Thành Đô, ẩn cư ở đây gần 4 năm.

Sau đó, người bạn mất đi, không còn dựa được vào ai, ông lại dẫn gia đình lưu lạc.

Năm 770, vì đói nghèo và tật bệnh, ông mất trên 1 con thuyền nhỏ trên Tương Giang.

Sau khi ông mất, nhân dân thương xót nhà thơ vĩ đại, đã giữ gìn ngôi nhà nhỏ nơi ông từng sống bên suối Hoàn Hoa làm kỉ niệm.

Đó là "gian nhà cỏ của Đỗ Phủ", hiện nay là 1 di tích nổi tiếng.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
ĐOÀN TÚ THỰC KHÔNG SỢ CƯỜNG BẠO


Quách Tử Nghi đã lập công lớn trong việc dẹp loạn, danh vọng rất cao.

Sợ Đường Túc Tông đem lòng nghi kỵ, nên ông đã tự xin rời bỏ binh quyền và giải tán luôn cả đội thân binh bảo vệ.

Sau khi Đường Túc Tông mất, thái tử Lý Thúc (còn có tên là Lý Dự) lên nối ngôi.

Đó là Đường Đại Tông.

Quí tộc Thổ Phồn nhân cơ hội biên giới phía tây của triều Đường bỏ trống, liền lôi kéo cả 1 số bộ lạc Thổ Cốc Hồn, tất cả có hơn 20 vạn người ngựa đánh vào lãnh thổ Đường.

Dọc đường tiến quân của họ không có sự chống cự nào, nên lực lượng Thổ Phồn - Thổ Cốc Hồn đánh thẳng tới Trường An.

Đường Đại Tông phải bỏ Trường An, chạy đến Thiểm Châu (nay là huyện Thiểm, Hà Nam).

Đường Đại Tông khẩn thiết mời Quách Tử Nghi ra cầm quân chống giặc Thổ Phồn.

Lúc này trong tay Quách Tử Nghi không còn quân đội, ông vội vàng chiêu mộ 20 kỵ binh đi gấp tới Hàm Dương thì Trường An đã rơi vào tay Thổ Phồn.

Quách Tử Nghi cử người hư trương thanh thế quanh vùng Trường An: ban ngày khua chiêng gióng trống, ban đêm đốt lửa ở nhiều nơi, chọn hàng trăm thiếu niên Trường An đánh trống ngoài phố, reo to: Quách Lệnh Công (tiếng tôn xưng gọi quách Tử Nghi) đem đại quân đến rồi!

Quân đội đông đúc, cơ man là người, không thể nào đếm xuể!

Tướng lĩnh Thổ Phồn nghe thấy, đều sợ hãi, vội cướp bóc và rút ra khỏi Trường An.

Quách Tử Nghi do đó đã có công lớn.

Khi Đường Đại Tông trở lại Trường An, liền phong ông làm phó nguyên soái.

Một năm sau, quân Thổ Phồn và Hồi Hột tiến sát Bân Châu (nay là huyện Bân, Tiểm Tây), Quách Tử Nghi phái con là Quách Hy mang quân tới hiệp trợ với tiết độ sứ Bân Châu là Bạch Hiếu Đức, cùng nhau phòng thủ.

Quách Hy dựa vào thế lực của cha nên có thái độ kiêu ngạo, phóng túng.

Binh sĩ dưới quyền Hy không có kỷ luật, thường hà hiếp dân thường ngoài phố, thường làm nhiều việc xấu xa, nhưng Quách Hy vẫn lờ đi, coi như không biết.

Tại Bân Châu có 1 số thổ phỉ, lưu manh, thấy vào làm lính của Quách Hy không bị gò bó gì, lại có chỗ dựa, liền rủ nhau tìm người quen biết, ghi tên làm lính của Quách Hy, mặc quân phục để dễ bề làm bậy.

Bọn lưu manh này và 1 số binh lính vô kỷ luật đi từng đàn từng lũ, hoành hành trên đường phố, thấy ai không thuận mắt là gây sự ẩu đả, có trường hợp đánh người bị tàn phế.

Các cửa hiệu ngoài phố thường bị chúng xông vào cướp bóc.

Tiết độ sứ Bạch Hiếu Đức rất khó xử trước chuyện này, bản thân ông ta là 1 tướng dưới quyền Quách Tử Nghi trước kia nên không dám can thiệp vào sự việc có liên quan đến quân lính của Quách Hy.

Ở sát cạnh Bân Châu là Kinh Châu (nay ở phía bắc Kinh Châu, Cam Túc), thứ sử Kinh Châu là Đoàn Tú Thực nghe thấy tình hình đó, liền viết thư cho Bạch Hiếu Đức, xin được tiếp kiến.

Bạch Hiếu Đức vội mời Đoàn Tú Thực tới.

Đoàn Tú Thực nói: "Bạch Công chịu sự ủy thác của triều đình, cai trị địa phương này.

Nay trong địa phương nảy sinh tình trạng hỗn loạn mà ngài vẫn coi như không có chuyện gì.

Nếu cứ tiếp tục thế này, thì thiên hạ sẽ loạn to mất!".

Bạch Hiếu Đức biết Đoàn Tú Thực là người có kiến thức, liền xin ông chỉ giáo.

Đoàn Tú Thực nói: "Tôi thấy địa phương của ngài quá hỗn loạn, trong lòng rất không yên, nên mới tìm tới đây, xin làm chức Đô Ngu Hầu (chức quan phụ trách duy trì pháp luật) dưới quyền ngài để lo việc trị an của địa phương.

Không biết ý kiến của ngài thế nào?".

Bạch Hiếu Đức vỗ tay nói: "Thế thì tốt quá!.

Ngài chịu đến đây, thì tôi không mong gì hơn nữa!".

Đoàn Tú Thực làm Đô ngu hầu ở Bân Châu, việc đó không làm cho binh lính của Quách Hy chú ý.

Chúng vẫn hoành hành bậy bạ như trước.

Một hôm, 17 tên lính trong trại của Quách Hy ra phố, vào quán uống rượu say rồi gây sự.

Chủ quán đòi trả tiền, chúng liền rút dao đâm chủ quán bị thương, rồi đạp đổ tất cả các thùng rượu trong quán.

Rượu đổ lênh láng khắp quán và tràn xuống cống rãnh Đoàn Tú Thực được tin báo, lập tức phái 1 đội quân tới bắt toàn bộ bọn lính đó, chém ngay tại chỗ.

Dân chúng thấy bọn lưu manh hại người đó bị trị tội, tất cả đều hò reo phấn khởi.

Tin tức truyền tới trại quân của Quách Hy, quân lính thấy nói có kẻ dám giết người của Quách gia, liền ào lên đòi trả thù.

Thoáng chốc tất cả đều mặc khôi giáp, chỉ đợi lệnh của Quách Hy là tới quyết sống mái với Bạch Hiếu Đức.

Bạch Hiếu Đức hoảng sợ trách Đoàn Tú Thực là chuốc lấy tai họa.

Đoàn Tú Thực nói: "Bạch Công đừng sợ.

Tôi sẽ có cách đối phó".

Nói xong, chuẩn bị đi tới trại quân của quách Hy.

Bạch Hiếu Đức muốn phái mấy chục tráng sĩ hộ tống Tú Thực.

Đoàn Tú Thực nói: "Không cần dùng đến lính!".

Rồi cởi bỏ bộ đao, chọn 1 tên lính què dắt ngựa cho mình, cùng đến trại quân Quách Hy.

Vệ sĩ của Quách Hy nai nịt khôi giáp, sát khí đằng đằng, ngăn Đoàn Tú Thực ngoài doanh môn.

Đoàn Tú Thực vẫn tươi cười vừa đi vào vừa nói: "Giết một lão già như ta, cần gì tới đội ngũ hùng dũng thế này!

Ta mang đầu tới nộp đây, mau mời chủ tướng của các ngươi ra đây".

Vệ binh thấy thái độ của Đoàn Tú Thực rất ung dung, đều đứng ngây người, 1 tên vội chạy vào báo cáo, Quách Hy lập tức ra mời Đoàn Tú Thực vào.

Đoàn Tú Thực vái chào Quách Hy rồi nói: "Quách Lệnh Công đã lập được công lao to lớn nhường ấy, mọi người đều rất kính trọng.

Thế mà ngài lại dung túng cho quân lính hoành hành phạm pháp.

Nếu cứ tiếp tục thế này mãi thì sẽ có đại loạn.

Đất nước lại lâm vào đại loạn thì công danh của họ Quách nhà ta đâu còn nữa".

Quách Hy nghe nói, bừng tỉnh ngộ nói: "Đoàn Công đã chỉ giáo, thực là xuất phát từ lòng yêu mến, giữ gìn cho họ Quách.

Tôi xin nghe theo lời khuyên bảo của ngài".

Nói xong, quách Hy quay đầu lại quát bảo tả hữu: "Mau truyền lệnh ta.

Tất cả các binh sĩ mau cởi bỏ khôi giáp, trở về doanh trại.

Kẻ nào còn làm ồn sẽ bị xử tử!".

Tối hôm đó, Quách Hy mời Đoàn Tú Thực ở lại uống rượu.

Đoàn Tú Thực cho người lính đi theo trở về, và 1 mình ngủ lại trong dinh của Quách Hy.

Quách Hy sợ có kẻ xấu lẻn vào ám hại Đoàn Tú Thực nên không dám ngủ, lại phái 1 số binh sĩ thân tín tuần phòng, bảo vệ xung quanh.

Sớm hôm sau, Quách Hy cùng đi với Đoàn Tú Thực tới xin lỗi Bạch Hiếu Đức.

Từ đó về sau, quân đội của Quách Hy giữ nghiêm kỷ luật, không binh sĩ nào còn dám quấy rối.

Trật tự trị an ở Bân Châu được phục hồi.

Nhưng chưa tới 1 năm sau, Trường An lại lâm vào tình trạng nguy hiểm.
 
Back
Top Bottom