Cập nhật mới

Khác LỊCH SỬ TRUNG QUỐC 5000 NĂM

Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
119-120


ĐÀO KHẢN TẬP KHUÂN GẠCH

Sau khi Tổ Địch mất, vương triều Đông Tấn liên tiếp xảy ra mấy lần nội loạn, Tấn Nguyên Đế muốn kiềm chế thế lực họ Vương, bị Vương Đôn đem quân tiến công Kiến Khang, giết 1 loạt đại thần đã chủ trương chống lại mình.

Sau khi Tấn Minh Đế, con của Tấn Nguyên Đế lên ngôi, Vương Đôn lại tiến đánh Kiến Khang 1 lần nữa, nhưng thất bại rồi ốm chết.

Đến đời Tấn Thành Đế (con của Tấn Minh Đế), Tô Tuấn, tướng trấn thủ Lịch Dương (nay là huyện Hòa, tỉnh An Huy) khởi binh chống lại triều đình, đánh vào Kiến Khang.

Các đại thần trong triều bó tay, không có cách gì đối phó.

Sau nhờ có thứ sử Kinh Châu là Đào Khản đem quân đánh dẹp.

Trải qua 2 năm trời mới dẹp yên được cuộc nổi loạn của Tô Tuấn.

Trong thời Vương Đôn còn đắc thế, Đào Khản vốn là bộ hạ của Vương Đôn.

Vì lập được công trong chiến đấu, được làm thứ sử Kinh Châu.

Có kẻ đố kỵ nói xấu ông với Vương Đôn, Vương Đôn bèn điều ông tới Quảng Châu.

Lúc đó Quảng Châu còn là 1 vùng hoang vắng, điều tới Quảng Châu trên thực tế là 1 sự giáng chức.

Đến Quảng Châu, Đào Khản không hề nản chí, mỗi buổi sớm, ông đều khuân 100 viên gạch từ thư phòng ra ngoài sân; đến tối lại khuân số gạch trên từ sân vào thư phòng (gạch thời đó có kích thước và trọng lượng rất lớn, thường từ 5-10kg/viên).

Nhiều người thấy ông ngày nào cũng làm như vậy lấy làm lạ, liền hỏi ông tại sao lại làm thế.

Đào Khản trả lời nghiêm túc: "Tôi tuy gửi mình ở miền nam, nhưng trong lòng lúc nào cũng nghĩ tới việc khôi phục Trung nguyên.

Nếu cứ quen với cuộc sống nhàn hạ, thì sau này khi đất nước cần đến, tôi làm sao đảm đương được nhiệm vụ?

Vì vậy, hằng ngày tôi phải mượn việc này để rèn luyện gân cốt".

Sau khi Vương Đôn thất bại, vương triều Đông Tấn mới thăng Đào Khản lên chức Chinh Tây đại tướng quân kiêm thứ sử Kinh Châu.

Trăm họ ở Kinh Châu nghe tin Đào Khản được trở về thì đều vui mừng tranh nhau đến chào đón.

Tuy đã làm đến chức quan đứng đầu 1 châu, nhưng Đào Khản vẫn hết sức thận trọng, cần mẫn.

Mọi việc từ lớn đến nhỏ trong nha môn Kinh Châu, ông đều thân tự kiểm tra, không bao giờ buông lỏng.

Ông thường nói với bộ hạ: "Đại Vũ là một thánh nhân mà vẫn quí trọng từng chút thời gian, còn chúng ta là những người bình thường, về trí tuệ và năng lực còn kém xa Đại Vũ, lại càng phải quí trọng thời gian, sao có thể tham hưởng an nhàn được.

Nếu lúc còn sống không có cống hiến gì cho đất nước, khi đã chết không để lại tiếng tăm gì tốt; thì chẳng phải uổng phí một đời hay sao?".

Một số quan lại dưới quyền ông ham rượu chè cờ bạc nên thường làm lỡ việc công.

Đào Khản vô cùng giận dữ khi biết việc đó.

Ông sai người đi thu hết các đồ dùng để uống rượu và đánh bạc, ném xuống sông và cho phạt roi tất cả số quan lại đó.

Từ đó về sau, những người phạm lỗi đều sợ, không dám tái phạm nữa.

Một lần, trên đường đi thị sát, ông thấy 1 người đi đường vừa đi vừa thuận tay ngắt những bông lúa chưa chín ở cánh ruộng ven đường, rồi vung vẩy trên tay chơi nghịch.

Đào Khản cho gọi người đó lại hỏi: "Ngươi ngắt những bông lúa này để làm gì?".

Người bị hỏi liền nói thực: "Không để làm gì cả.

Chỉ là tiện tay ngắt mà thôi".

Nghe trả lời, Đào Khản đùng đùng nổi giận, mắng: "Bản thân ngươi không cày cấy, lại vô duyên vô cớ phá hoại lúa má của người ta.

Sao lại có thể như thế được?".

Nói rồi hạ lệnh cho binh lính trói người đó lại, đánh cho 1 trận rồi mới thả ra.

Dân chúng thấy thứ sử quan tâm đến việc bảo vệ lúa má hoa màu như vậy thì đều phấn khởi, hăng hái sản xuất.

Vùng Kinh Châu nhờ đó mà dần dần sung túc.

Kinh Châu ở ven Trường Giang có nghề đóng thuyền.

Các xưởng của nhà nước, trong khi đóng thuyền dư ra những mẩu gỗ và tre.

Thường thường, người ta vứt bỏ hoặc đốt những thứ đó đi.

Nhưng Đào Khản lại lệnh cho cấp dưới thu nhặt những mẩu trẻ gỗ đó, cất vào kho.

Mọi người không hiểu làm thế để làm gì, nhưng không dám hỏi.

Sau đó, nhân ngày tết đầu năm, các quan lại ở Kinh Châu đều đến phủ thứ sử để chúc tết Đào Khản.

Vào lúc trước tết mấy ngày, trời xuống tuyết lớn.

Đến ngày tết thì trời trở ấm, tuyết tan đường xa lầy lội, trước phủ thứ sử do xe ngựa đi nhiều nên đường vừa lầy, vừa trơn.

Lúc đó Đào Khản mới sai bộ hạ lấy những mẩu gỗ tre trong kho ra trải lên mặt đường, Nhờ thế, đi đường không còn trơn nữa.

Lại 1 lần khác, thủy quân Đông Tấn đóng thuyền, cần có nhiều đinh tre.

Đào Khản lại sai mở kho, lấy số đầu tre đã khô, rất thích hợp cho việc dùng làm đinh, cung cấp đủ cho nhu cầu của thủy quân.

Tới lúc đó, mọi người mới khâm phục sự nhìn xa và tác phong tỉ mỉ chu đáo của Đào Khản.

Đào Khản làm quan cai trị kiêm chỉ huy quân sự suốt 41 năm trời.

Do ông giữ nghiêm pháp luật, làm việc thận trọng, chu đáo nên mọi người đều tin phục.

Theo nói lại, trong vùng ông cai trị, trật tự xã hội hết sức ổn định, thực sự đạt tới mức: "Ban đêm không cần đóng cửa.

Ngoài đường không ai nhặt của rơi".

NHÀ THƯ PHÁP VƯƠNG HY CHI

Trong thời Đông Tấn "họ Vương, họ Mã chung thiên hạ", họ Vương chiếm địa vị 1 dòng họ cao sang, đầy quyền lực.

Con cháu của gia tộc Vương Đạo, Vương Đôn đều được làm quan.

Phần lớn trong số những quan lại đó là những kẻ hèn kém, bất tài.

Nhưng chính trong gia tộc đó lại nảy sinh 1 nhà thư pháp nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.

Đó là Vương Hy Chi.

Từ nhỏ, Vương Hy Chi đã ham thích viết chữ.

Theo kể lại, thường ngày khi đi đường, ông thường dùng tay vạch vào không khí để luyện chữ, có lúc vạch vào quần áo nên làm quần áo rất mau rách.

Trải qua rèn luyện say mê, mài miệt nên thư pháp của Vương Hy Chi đạt tới 1 trình độ rất cao.

Vì xuất thân trong 1 gia đình đại sĩ tộc, lại có tài hoa xuất chúng, nên các công khanh đại phu trong triều đều tiến cử ông ra làm quan.

Ông đã làm tới chức nội sử và Hữu Quân tướng quân.

Ông không thích cảnh phồn hoa của kinh thành, chỉ ham thích phong cảnh đẹp ở Cối Kê.

Hễ có thời gian nhàn rỗi là dạo chơi sơn thủy cùng bạn bè.

Một lần, Vương Hy Chi cùng bè bạn mở tiệc rượu ở Lan Đình thuộc Sơn Âm, Cối Kê.

Mọi người vừa uống rượu vừa làm thơ.

Cuối cùng Vương Hy Chi cao hứng vung bút viết 1 bài văn kỉ niệm cuộc gặp mặt đó.

Đó là bài "Lan Đình tập tự" nổi tiếng.

Bản "Lan Đình tập tự" đẹp đẽ do chính tay Vương Hy Chi viết ra đó, xưa nay vẫn được coi là của quí về nghệ thuật thư pháp Trung Quốc.

Tiếc thay, bản chính đó đã thất truyền.

Thư pháp của Vương Hy Chi ngày càng nổi tiếng.

Người thời đó đều coi mỗi chữ do ông viết ra là của báu.

Theo nói lại, một lần ông đến chơi nhà 1 học trò, người học trò tiếp ông nhiệt tình.

Ông ngồi cạnh 1 cái bàn mới, thấy mặt bàn sạch sẽ, láng bóng, liền nổi hứng viết chữ, bảo người học trò mang bút mực đến.

Người học trò mừng không tả xiết, vội đem bút mực tới cho Vương Hy Chi.

Ông liền viết lên mặt bàn mấy dòng chữ làm kỉ niệm, rồi ra về.

Mấy hôm sau, người học trò đó có việc, đi khỏi nhà; người cha vào dọn dẹp thư phòng, ngỡ là mặt bàn bị mực làm hỏng, liền dùng dao cạo hết vết mực đi.

Người học trò trở về, thấy mấy dòng chữ trên mặt bàn không còn nữa thì buồn rầu, ảo não mất mấy ngày.

Lại 1 lần khác, Vương Hy Chi tới 1 làng, thấy ngoài chợ có 1 bà già đang rao bán 1 sọt đầy quạt hình lục giác đan bằng nan tre.

Loại quạt này quá thô sơ, không trang trí gì nên chẳng ai chú ý, xem chừng khó mà bán được Bà già hết sức lo lắng, chạy khắp chợ rao đến vã mồ hôi.

Vương Hy Chi thấy tình cảnh đó, rất thương bà già, liền tiến tới nói với bà: "Loại quạt của cụ không có hình vẽ, cũng không có chữ, nên khó bán là phải.

Tôi viết giúp cụ mấy chữ lên cái quạt, cụ thấy thế nào?".

Bà cụ không biết Vương Hy Chi, nhưng thấy ông nhiệt tình như thế, liền trao sọt quạt cho ông.

Vương Hy Chi lấy bút mực, viết lên mỗi chiếc quạt 5 chữ như rồng bay phượng múa, rồi trao trả lại cho bà cụ.

Bà cụ già không biết chữ, chỉ thấy chữ viết ngoằn nghoèo, rất chán nản.

Vương Hy Chi an ủi: "Cụ đừng ngại, cứ nói với người mua rằng đây là chữ của Vương Hữu Quân viết".

Ông đi khỏi, bà cụ cứ theo lời dặn, rao lên.

Người trong chợ thấy đúng là thư pháp của Vương Hữu Quân, liền tranh nhau mua.

Chỉ 1 loáng, cả sọt quạt đã bán hết.

Các nghệ thuật gia mỗi người đều có sở thích riêng, người thì thích trồng hoa, người thì thích nuôi chim.

Nhưng Vương Hy Chi lại có niềm say mê đặc biệt: bất kì ở đâu có ngỗng đẹp, ông đều có hứng thú đến xem hoặc mua về thưởng ngoạn.

Ở Sơn Âm có 1 đạo sĩ muốn nhờ Vương Hy Chi viết cho 1 cuốn "Đạo Đức Kinh", nhưng ông t biết rằng Vương Hy Chi không dễ chép kinh cho ai.

Sau, ông ta dò biết Vương Hy Chi rất thích chơi ngỗng trắng, liền tìm mua 1 đàn ngỗng trắng thuộc loại giống tốt.

Vương Hy Chi nghe nói nhà đạo sĩ có loại ngỗng đẹp, liền tìm đến xem.

Khi tới gần nhà đạo sĩ thì thấy trên dòng sông bên cạnh có 1 đàn ngỗng đang bơi thông thả, con ngỗng nào cũng có bộ lông trắng muốt, làm tôn chiếc mỏ đỏ trên chiếc cổ cao, trông rất đáng yêu.

Vương Hy Chi đứng bên bờ sông ngắm mãi, càng ngắm càng say, không muốn rời khỏi nữa.

Sau đó, ông bảo người nhà thương lượng với đạo sĩ là người chủ của đàn ngỗng, để ông ta bán đàn ngỗng cho mình.

Đạo sĩ cười nói: "Vương Công đã thích như thế, cũng chẳng cần tốn kém làm gì, tôi xin biếu Người tất cả.

Có điều, tôi chỉ có một mong muốn là được Người chép cho một quyển kinh".

Vương Hy Chi không do dự, liền chép ngay 1 bản "Đạo Đức Kinh" và nhận về 1 đàn ngỗng đẹp.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
121-122


HOÀN ÔN BẮC PHẠT

Sau khi Đào Khản dẹp xong cuộc nổi loạn của Tô Tuấn, vương triều Đông Tấn tạm ổn định.

Chính lúc đó, miền bắc lại rơi vào cảnh hỗn loạn.

Từ khi quốc vương Hậu Triệu là Thạch Hổ (con của Thạch Lặc) chết đi, nội bộ xảy ra đại loạn.

Đại tướng Hậu Triệu Nhiễm Mẫn xưng đế, xây dựng nước Ngụy, lịch sử gọi chính quyền này là Nhiễm Ngụy.

Nước Tiền Yên do quí tộc Tiên Ty là Mộ Dung Hoảng xây dựng, lại tiêu diệt Nhiễm Ngụy.

Năm 342, quí tộc tộc Để là Phù Kiện thừa cơ chiếm miền Quan Trung, xây dựng nên nước Tiền Tần.

Khi Hậu Triệu diệt vong, tướng Đông Tấn là Hoàn Ôn dâng thư lên Tấn Mục Đế (hoàng đế thứ 5 của Đông Tấn) xin đem quân bắc phạt.

Hoàn Ôn là người rất có tài quân sự.

Khi ông làm thứ sử Kinh Châu, đã từng tiến quân vào đất Thục, diệt chính quyền Thành Hán, lập công lớn với triều Tấn.

Nhưng nội bộ vương triều Đông Tấn chứa chất nhiều mâu thuẫn lớn.

Tấn Mục Đế tuy thăng cấp cho Hoàn Ôn, nhưng lại vẫn nghi kỵ ông.

Hoàn Ôn xin đi bắc phạt, Tấn Mục Đế không cho mà lại cử Ân Khiết.

Ân Khiết là 1 văn nhân, chỉ có hư danh mà không có tài năng quân sự.

Ân Khiết vừa dẫn quân tới Lạc Dương thì bị người tộc Khương đánh cho đại bại, chết 1 vạn người ngựa và mất sạch lương thảo, vũ khí.

Hoàn Ôn lại dâng sớ tấu, xin triều đình triệt chức và định tội Ân Khiết, Tấn Mục Đế không thể làm khác đành triệt chức Ân Khiết và đồng ý cho Hoàn Ôn đem quân bắc phạt.

Năm 354, Hoàn Ôn dẫn 4 vạn quân Tấn xuất phát từ Giang Lăng, chia làm 3 đường tiến đánh Trường An.

Quốc vương triều Tần là Phù Kiện dẫn 5 vạn quân ra chặn lại ở Nghiêm Quan, bị quân Tấn đánh cho tan tác.

Phù Kiện đành dẫn 6 ngàn tàn binh già yếu chạy về Trường An, đào hào đắp lũy cố thủ.

Hoàn Ôn thắng lợi, tiến quân đến Bá Thượng.

Các quan vùng phụ cận Trường An lũ lượt đến đầu hàng quân Tấn.

Hoàn Ôn ra cáo thị, khuyên dân chúng cứ an cư lạc nghiệp.

Trăm họ mừng rỡ, tranh nhau bắt bò, dê, mang rượu đến doanh trại quân Tấn úy lạo.

Từ khi Tây Tấn diệt vong, nhân dân ở miền bắc chịu mọi nỗi khổ cực do cảnh hỗn chiến đem lại.

Nay nhìn thấy quân Tấn từ miền nam tiến lên, mọi người mừng vui trào nước mắt, cảm động nó: "Không ngờ tới hôm nay, lại được nhìn thấy quân của triều đình".

Hoàn Ôn đóng quân ở Bá Thượng, định đợi tới khi lúa mì chín thì tung quân ra gặt cướp để bổ sung cho số lương thực mang theo đã cạn.

Nhưng Phù Kiện cũng rất tinh khôn, đoán được ý Hoàn Ôn, liền sai người gặt hết số lúa mì chưa thật chín, không cho quân của Hoàn Ôn được hưởng chút gì.

Quân của Hoàn Ôn hết lương, không trụ lại được, đành rút về.

Tuy vậy lần bắc phạt này cũng đã giành được thắng lợi lớn.

Tấn Mục Đế thăng Hoàn Ôn lên làm Chinh Thảo đại đô đốc.

Sau đó, Hoàn Ôn còn bắc phạt 2 lần nữa.

Lần cuối, nhằm vào Tiền Yên, tiến quân đánh Phương Đầu (nay ở tây nam huyện Tuấn, Hà Nam).

Sau bị quân Tiền Yên cắt đứt đường tiếp lương nên thất bại.

Hoàn Ôn nắm đại quyền về quân sự của Đông Tấn trong 1 thời gian dài.

Vì vậy, dần dần nảy sinh dã tâm.

Có lần ông ta tự nói với mình: "Làm tài trai, nếu không để tiếng thơm lại trăm đời; thì cũng nên lưu tiếng xấu tới vạn năm".

Một viên quan tâm phúc của Hoàn Ôn biết được dã tâm của ông ta, liền hiến kế: "Nếu muốn nâng cao uy tín của mình, thì nên theo Hoắc Quang đời Tây Hán, phế bỏ đương kim hoàng đế đi, lập một hoàng đế khác".

Lúc đó, Tấn Mục Đế đã chết, hoàng đế tại vị là Tư Mã Dịch, sau gọi là Tấn Phế Đế.

Hoàn Ôn đem quân vào Kiến Khang, tuyên bố phế bỏ Tư Mã Dịch và lập Tư Mã Dục lên làm hoàng đế.

Đó là Tấn Giản Văn Đế.

Hoàn Ôn làm tể tướng, dẫn quân đóng tại Cô Thục (nay là Đương Đồ, An Huy).

Hai năm sau, Tấn Giản Văn Đế lâm bệnh nặng, để lại di chiếu cho thái tử Tư Mã Diệu kế vị.

Đó là Tấn Hiếu Vũ Đế.

Hoàn Ôn vốn tưởng rằng Giản Văn Đế sẽ nhường ngôi lại cho mình, nay nghe thấy tin đó thì thất vọng, bực bội, liền kéo quân về Kiến Khang.

Quân Hoàn Ôn đem về Kiến Khang đều mang khôi giáp, vũ khí như ra trận.

Các quan trong triều ra chào đón ở 2 bên đường thấy tình hình đó thì đều sợ hãi biến sắc.

Hoàn Ôn mời 2 đại thần thuộc dòng dõi đại sĩ tộc có uy tín nhất là Vương Đản Chi và Tạ An đến phủ đệ của mình để bàn luận.

Hai người được tin là Hoàn Ôn đã bố trí võ sĩ mai phục sau phòng khách để giết họ.

Vì vậy, khi đến phủ tể tướng, Vương Đản Chi sợ hãi, khắp người toát mồ hôi, ướt đẫm cả lễ phục.

Tạ An thì vẫn trấn tĩnh.

Sau khi đã an tọa trong phòng khách, ông liền nói với Hoàn Ôn: "Tôi từng nghe từ xưa tới nay, phàm những đại tướng nhân nghĩa, bao giờ cũng bố trí binh mã ở biên cảnh để phòng bị ngoại binh xâm lấn.

Nay tại sao Hoàn Công lại giấu binh mã ở sau tường".

Nghe những lời lẽ đường hoàng đó, Hoàn Ôn có vẻ ngượng nói: "Chẳng qua là tôi cũng đề phòng trường hợp bất trắc thôi".

Sau đó liền ra lệnh cho rút hết quân mai phục.

Thấy thế lực chống đối mình trong giới sĩ tộc ở Kiến Khang không phải là nhỏ, Hoàn Ôn không dám tự tiện hành động.

Không lâu sau, ông ta ốm chết.

Sau khi Hoàn Ôn chết, Tạ An đảm nhận chức tể tướng; em trai Hoàn Ôn là Hoàn Xung làm thứ sử Kinh Châu.

Hai người đồng tâm hiệp lực phò tá Tấn Hiếu Vũ Đế.

Nhờ đó, vương triều Đông Tấn lại có cục diện ổn định, đoàn kết.

VƯƠNG MÃNH NGHÈO KHÓ, TÀI CAO

Khi Hoàn Ôn tiến hành cuộc bắc phạt lần thứ nhất, đang đóng quân ở Bá Thượng, thì 1 hôm có 1 người xưng là thư sinh, mặc áo ngắn rách rưới, xin vào yết kiến.

Hoàn Ôn đang chiêu mộ nhân tài, nghe nói người muốn yết kiến là 1 thư sinh, thì vui vẻ tiếp ngay.

Thư sinh đó là Vương Mãnh, gia đình rất nghèo, phải dựa vào nghề đan sọt để kiếm sống.

Nhưng vốn rất ham đọc sách, nên Vương Mãnh có 1 vốn kiến thức uyên bác.

Vì xuất thân nghèo hèn, ông không được giới sĩ tộc ở Quan Trung kính trọng.

Vương Mãnh chẳng thèm chú ý đến điều đó.

Có người thấy ông có chữ nghĩa, muốn tiến cử ông làm 1 chức quan nhỏ trong vương phủ Tiền Tần, nhưng ông khảng khái từ chối, và tới ẩn cư ở núi Hoa Âm.

Lần này nghe tin Hoàn Ôn đánh vào Quan Trung, nên ông tìm đến xin yết kiến.

Hoàn Ôn muốn thử xem tài học của Vương Mãnh thế nào, nên cùng ông đàm luận về đại thế trong thiên hạ.

Vương Mãnh liền phân tích 1 cách hết sức rành rẽ tình hình mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế của cả 2 miền nam, bắc.

Kiến giải của ông sâu sắc, tinh tế khiến Hoàn Ôn vừa nghe vừa thầm cảm phục.

Vương Mãnh vừa đàm luận vừa luồn tay vào trong áo cánh bắt rận 1 cách tự nhiên.

Bộ hạ của Hoàn Ôn thấy thế thì cố nhịn cười.

Nhưng Vương Mãnh vẫn đàm luận hăng hái với Hoàn Ôn và tiếp tục bắt rận, coi như không có ai đang chú ý nhìn mình.

Hoàn Ôn hỏi: "Lần này ta dẫn đại quân, theo lệnh hoàng đế trừ hại cho dân.

Thế mà tại sao ta đã tới đây, vẫn không thấy hào kiệt địa phương đến gặp?

Hôm nay mới có ông tìm tới".

Vương Mãnh cười nhạt: "Ngài không ngại vượt đường xa ngàn dặm, vào sâu đất trung tâm của đối phương.

Trường An đã ở trước mặt mà ngài lại không vượt Bá Thủy (sông Bá).

Vì thế mọi người không hiểu được dự tính của ngài ra sao, nên còn chưa muốn tới gặp ngài đó thôi".

Câu nói đó của Vương Mãnh đã đi trúng vào tính toán thầm kín của Hoàn Ôn.

Nguyên do là Hoàn Ôn xin đi bắc phạt, chủ yếu là muốn tạo dựng uy tín trong triều đình Đông Tấn và chèn lấn các đối thủ chính trị.

Ông đóng quân ở Bá Thượng, không vội đánh Trường An chính là muốn giữ gìn thực lực của mình để thực hiện các mưu đồ về sau.

Bị nêu trúng vào chỗ đó, Hoàn Ôn không biết trả lời sao cho phải.

Nhưng qua đàm luận, ông ta thấy Vương Mãnh là 1 tài năng hiếm có.

Khi từ Quan Trung rút về nam, Hoàn Ôn nhắc đi nhắc lại lời mời Vương Mãnh cùng đi, và phong cho ông 1 chức quan khá cao.

Vương Mãnh biết nội bộ vương triều Đông Tấn có nhiều lực lượng chống đối nhau nên không nhận lời của Hoàn Ôn và trở về núi Hoa Âm.

Nhưng qua lần gặp gỡ đó, người thư sinh nghèo khổ đầy chấy rận bỗng nổi tiếng tăm.

Khi hoàng đế Tiền Tần là Phù Kiệt chết, con là Phù Sinh kế nghiệp.

Phù Sinh là kẻ vô cùng tàn bạo, nên chẳng bao lâu bị 1 người anh em họ là Phù Kiên lật đổ.

Phù Kiên là 1 hoàng đế giỏi của vương triều Tiền Tần.

Ngay từ khi chưa lên ngôi, ông đã có ý tìm 1 trợ thủ đắc lực.

Có người giới thiệu Vương Mãnh.

Phù Kiên cho mời Vương Mãnh tới.

Hai người vừa gặp nhau, đàm luận về mọi chuyện hưng vong trong lịch sử, kiến giải hoàn toàn hợp nhau, nên nhanh chóng coi nhau như bạn bè thân thiết.

Phù Kiên rất mừng, cho rằng mình gặp Vương Mãnh giống như Lưu Bị gặp được Gia Cát Lượng vậy.

Phù Kiên lên ngôi, xưng là Đại Tần Thiên Vương; Vương Mãnh trở thành 1 đại thần tin cậy nhất, trong 1 năm được thăng cấp 5 lần, nắm quyền lực lớn, vượt hơn các đại thần khác.

Lúc đó, Vương Mãnh mới 36 tuổi, còn quá trẻ, lại là người Hán.

Các lão thần thuộc tộc Để của Tiền Tấn thấy Phù Kiên tin dùng Vương Mãnh như vậy thì không phục.

Một đại thần thuộc tộc Để là Phàn Thế, là người đi theo Phù Kiên đánh chiếm Quan Trung, trong 1 lần gặp Vương Mãnh, lớn tiếng mắng: "Chúng ta vất vả cuốc đất cấy trồng để cho ngươi đến ăn bát cơm trắng à?".

Vương Mãnh không chịu kém, trả miếng lại: "Các ông không chỉ cuốc đất cấy trồng, mà còn phải nấu cơm cho ta ăn nữa kia!".

Phàn Thế nổi giận nói: "Ta không cắt được đầu ngươi treo trên thành Trường An thì ta không sống làm gì nữa".

Mấy hôm sau, Phàn Thế và Vương Mãnh tranh cãi kịch liệt trước mặt Phù Kiên.

Phàn Thế muốn xông tới đánh Vương Mãnh.

Phù Kiên thấy Phàn Thế hành động không theo thể thống, liền ghép ông ta vào tội chết.

Từ đó các quan chức người tộc Để không còn ai dám nói xấu Vương Mãnh với Phù Kiên nữa.

Vương Mãnh được Phù Kiên tín nhiệm, ra sức giúp Phù Kiên trấn áp bọn cường hào, chỉnh đốn nội chính.

Khi Vương Mãnh kiêm nhiệm chức Kinh Triệu doãn (chức quan trấn thủ kinh thành), em trai của thái hậu là Quang Lộc đại phu Cường Đức say rượu gây rối, cưỡng đoạt tài sản và phụ nữ.

Vương Mãnh cho bắt Cường Đức rồi tâu lên Phù Kiên.

Khi Phù Kiên sai người mang lệnh miễn tội cho Cường Đức tới, thì Vương Mãnh đã xử quyết Cường Đức rồi.

Chỉ trong mấy chục ngày, bọn cường hào cậy quyền thế, hoàng thân quốc thích ở Trường An làm bậy bị xử tử, chịu hình phạt và miễn chức có tới hơn 20 người.

Các quan chức trong triều đều cảm thấy run sợ, bọn người xấu không dám làm bậy nữa.

Phù Kiên cảm thán nói: "Đến bây giờ, ta mới hiểu được rằng đất nước cần phải có pháp luật".

Trong hơn 10 năm, nước Tiền Tần dưới sự cai trị của Phù Kiên và Vương Mãnh, càng ngày càng lớn mạnh, lần lượt diệt 3 nước nhỏ là Tiền Yên, Đại và Tiền Lương, thống nhất cả vùng thuộc lưu vực Hoàng Hà.

Năm 375, Vương Mãnh mắc bệnh nặng.

Phù Kiên đến thăm ông.

Ông khẩn thiết nói với Phù Kiên: "Đông Tấn tuy xa cách tận Giang Nam, nhưng lại là triều đại kế thừa chính thống của triều Tấn, hiện nay nội bộ họ lại yên ổn vô sự.

Sau khi thần mất đi, xin bệ hạ muôn ngàn lần không nên tiến công nước Tấn.

Địch thủ của chúng ta là người Tiên Ty và người Khương, còn họ là ta còn hậu hoạn.

Nhất định phải diệt được họ đi thì Tiền Tần ta mới được an toàn".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
123-124


PHÙ KIÊN KHÔNG NGHE LỜI CAN GIÁN

Khi Vương Mãnh còn sống, Phù Kiên luôn luôn làm theo lời khuyên và mưu kế do ông nêu ra.

Nhưng lời dặn dò tâm huyết của Vương Mãnh trước khi chết thì Phù Kiên lại không nghe theo.

Vương Mãnh cho rằng địch thủ của Tiền Tần là người Tiên Ty và người Khương, nhưng Phù Kiên lại hết sức tín nhiệm 2 người từ Tiền Yên tới đầu hàng là Mộ Dung Thùy, quí tộc người Tiên Ty và Diêu Trường, quí tộc người Khương.

Vương Mãnh khuyên không nên tiến công Đông Tấn, nhưng Phù Kiên lại cho rằng Đông Tấn lag địch thủ duy nhất, không thể không tìm cách tiêu diệt.

Ba năm sau khi Vương Mãnh chết, Phù Kiên phái con trai là Phù Phi cùng với Mộ Dung Thùy và Diêu Trường dẫn mười mấy vạn quân chia làm nhiều đường tiến đánh thành Tương Dương của Đông Tấn.

Tướng trấn thủ Tương Dương là Chu Tự kiên quyết chống lại.

Quân Tiền Tần mất gần 1 năm mới hạ được thành Tương Dương, bắt sống Chu Tự.

Chu Tự được đưa về Trường An.

Phù Kiên thấy Chu Tự kiên quyết giữ Tương Dương, tỏ ra là 1 trung thần có khí tiết, liền phong Chu Tự làm quan của Tiền Tần.

Tiếp đó, Phù Kiên lại cử hơn 10 vạn quân từ Tương Dương tiến sang phía đông đánh Hoài Nam, tướng trấn thủ của Đông Tấn là Tạ Thạch, Tạ Huyền dẫn quân thủy bộ đón đánh, quân Tiền Tần thất bại thảm hại.

Nhưng Phù Kiên vẫn cay cú, không chịu thôi.

Tới năm 382 Phù Kiên tự thấy mọi việc đã chuẩn bị đầy đủ, liền hạ quyết tâm tiến công vào thành Đông Tấn.

Tháng 10 năm đó, Phù Kiên triệu tập các đại thần họp bàn trong điện Thái Cực ở hoàng cung Trường An.

Mở đầu cuộc họp, Phù Kiên nói: "Trẫm kế thừa ngôi báu đến nay đã gần ba mươi năm.

Các thế lực cát cứ hầu như đã bình định xong.

Chỉ còn lại có Đông Tấn ở miền nam là chưa chịu thần phục.

Ngày nay chúng ta có chín mươi bảy vạn quân tinh nhuệ.

Trẫm dự định thân chinh đi đánh Tấn.

Các khanh thấy thế nào?".

Các đại thần đều tỏ ý phản đối chủ trương đó.

Đại thần Quyền Dư nói: "Nước Tấn tuy nhỏ yếu, nhưng quốc vương nước đó không phạm sai lầm gì lớn.

Họ lại có những văn thần, võ tướng giỏi giang, đoàn kết chặt chẽ như Tạ An, Hoàn Xung.

Thần nghĩ rằng bây giờ chưa phải là lúc tiến công lớn vào Đông Tấn".

Võ tướng Thạch Việt tiếp lời: "Nước Tấn có Trường Giang là chướng ngại thiên nhiên, lại thêm dân chúng đều có ý chí giữ nước.

Thần sợ rằng chúng ta không thể thắng được".

Nghe thấy ý kiến đó, Phù Kiên nổi giận, lớn tiếng: "Hừm!

Chướng ngại thiên nhiên Trường Giang thì đáng kể gì.

Quân đội chúng ta đông thế này, mỗi người chỉ cần ném chiếc roi ngựa xuống cũng đủ làm tắc ứ dòng sông lại.

Lúc đó thì còn gì là chướng ngaij nữa".

Triều thần bàn bạc suốt buổi, vẫn không đi tới quyết định được.

Phù Kiên lại bực bội nói: "Các ngươi lui cả đi.

Để ta tự suy xét và quyết định".

Các đại thần thấy Phù Kiên nổi nóng, đành lặng lẽ rời khỏi cung điện.

Cuối cùng chỉ còn lại Phù Dung là em ruột Phù Kiên ở lại.

Phù Kiên kéo tay Phù Dung tới ngồi bên cạnh nói: "Từ xưa tới nay, quyết định quốc gia đại sự, bao giờ cũng chỉ dựa vào một vài người.

Hôm nay mọi người bàn bạc lung tung, chẳng đi đến kết quả gì.

Việc này phải do hai anh em ta quyết định thôi".

Phù Dung với nỗi lòng nặng trĩu, lựa lời nói với Phù Kiên: "Thưa hoàng huynh, ngu đệ thấy rằng các đại thần đã trung thực nói lên ý kiến của họ.

Việc đánh Đông Tấn đúng là có rất nhiều khó khăn.

Thêm nữa, quân ta gần đây năm nào cũng ra đánh trận, binh sĩ cũng đã quá mỏi mệt, không muốn lại đi đánh trận nữa.

Những người phát biểu hôm nay đều là các trung thần.

Dám mong hoàng huynh bệ hạ tiếp nhận ý kiến của họ".

Phù Kiên không ngờ ngay cả Phù Dung cũng chống lại chủ trương của mình, liền xầm mặt lại, nói: "Ngay cả ngươi cũng thở ra cái giọng khiếp nhược đó sao.

Ta lấy làm thất vọng về ngươi.

Trong tay ta có trăm vạn tinh binh, vũ khí lương thảo chất cao như núi.

Đánh kẻ địch quèn như Đông Tấn, sao có thể không thắng lợi được?".

Phù Dung thấy Phù Kiên cứ khăng khăng giữ chủ trương sai lầm đó thì muốn bật khóc, liền cố van xin Phù Kiên: "Hiện nay mà đánh Tấn, không những không có hy vọng thắng lợi mà thêm nữa, tại kinh đô Trường An hiện có rất nhiều người Tiên Ty, người Khương, người Kiệt.

Nếu bệ hạ rời khỏi Trường An đi viễn chinh, bọn họ sẽ vùng lên làm phản, thì sau này có hối cũng không kịp nữa.

Lẽ nào bệ hạ đã quên lời Vương Mãnh dặn lại lúc lâm chung?".

Sau lần đó còn có rất nhiều đại thần cố khuyên Phù Kiên không nên đánh Tấn, Phù Kiên đều bỏ ngoài tai.

Một hôm, quan kinh triệu doãn Mộ Dung Thùy vào xin yết kiến, Phù Kiên yêu cầu Mộ Dung Thùy nói lên ý kiến của mình đối với việc đánh Tấn.

Mộ Dung Thùy nói: "Nước mạnh thôn tính nước yếu, đó là lẽ thường.

Bậc quân vương anh minh như bệ hạ, trong tay có trăm vạn hùng sư, khắp triều đình đầy mưu thần võ tướng tài giỏi, diệt một nước nhỏ như nước Tấn là chuyện hết sức dễ dàng.

Bệ hạ cứ đưa ra ý kiến quyết định là được, hà tất phải trưng cầu ý kiến nhiều người nữa".

Phù Kiên nghe lời Mộ Dung Thùy thì vui mừng hớn hở, cười nói: "Xem ra người có thể cùng ta bình định thiên hạ chỉ có khanh mà thôi".

Nói xong lập tức hạ lệnh lấy 500 tấm đoạn thưởng cho Mộ Dung Thùy.

Được Mộ Dung Thùy tâng bốc, xúi giục, Phù Kiên hưng phấn tới suốt mấy ngày đêm không ngủ được.

Hoàng phi là Vương phu nhân nghe nói trong triều có rất nhiều đại thần không tán thành xuất binh, liền dùng lời lẽ khéo léo khuyên can Phù Kiên.

Phù Kiên nói: "Việc chiến trận, không phải là chuyện để đàn bà quan tâm".

Con trai út rất được yêu chiều của Phù Kiên là hoàng tử Phù Tiên cũng khuyên cha: "Hoàng thúc (chỉ Phù Dung) là người rất trung thành với phụ hoàng, sao phụ hoàng không nghe lời khuyên của hoàng thúc?".

Phù Kiên trả lời lãnh đạm: "Việc lớn quốc gia, trẻ con biết gì mà ăn nói lung tung".

Phù Kiên cự tuyệt mọi lời khuyên của đại thần và người thân, quyết tâm dốc hết vốn liếng, đánh 1 nước bạc liều, đem toàn bộ lực lượng tiến công Đông Tấn.

Ông ta phái Phù Dung và Mộ Dung Thùy làm tiên phong.

Lại phong Diêu Trường làm Long Nhương tướng quân, chỉ huy quân mã Ích Châu và Lương Châu, chuẩn bị đưa quân đánh Tấn.

Hai cháu của Mộ Dung Thùy nói riêng với Mộ Dung Thùy: "Hoàng thượng quá kiêu ngạo.

Xem ra lần chiến tranh này là cơ hội tốt để chúng ta khôi phục lại nước Yên đây!".

TẠ AN LẠI RA LÀM QUAN

Tháng 8 năm 383, Phù Kiên thân dẫn 87 vạn đại quân xuất phát từ Trường An.

Trên đường đi xuống phía nam, bụi cuốn mù mịt, bộ binh, kỵ binh cộng với xe chỉ huy, lừa ngựa tải lương, đội ngũ rầm rộ, trùng điệp, kéo dài tới hàng ngàn dặm.

Hành quân 1 tháng trời, quân chủ lực của Phù Kiên tới Hạng Thành (nay ở phía nam Thẩm Khâu, Hà Nam); thủy quân từ Ích Châu cũng theo Trường Giang xuôi xuống phía đông.

Quân mã từ bắc Hoàng Hà kéo đến Bành Thành (nay là thành phố Từ Châu thuộc Giang Tô).

Trên chiến tuyến dài hơn 1 vạn dặm từ tây sang đông, quân thủy và quân bộ của Tiền Tần cùng tiến, tới sát vùng Giang Nam.

Tin tức truyền tới Kiến Khang, Tần Hiếu Vũ Đế và bá quan văn võ trong triều đều kinh hoàng.

Quân và dân triều Tấn đều không muốn để Giang Nam rơi vào tay Tiền Tần.

Mọi người cùng trông mong tể tướng Tạ An đứng ra lo liệu công việc chống Tần.

Tạ An là người Dương Hạ thuộc quận Trần (nay là Thái Khanh, Hà Nam), xuất thân trong 1 gia đình sĩ tộc.

Thời trẻ ông giao du thân thiết với Vương Hy Chi, thường cùng nhau ngao du sơn thủy, đàm luận thơ văn ở Đông Sơn thuộc Cối Kê.

Tiếng tăm của ông trong giai tầng sĩ đại phu rất vang dội, ai nấy đều cho ông là người có tài năng lớn.

Nhưng ông thích ẩn cư ở Đông Sơn chứ không thích làm quan.

Được nhiều người tiến cử nhưng ông chỉ ra nhận chức được hơn 1 tháng rồi lại bỏ về.

Đương thời, trong giới sĩ đại phu lưu hành 1 câu vè:

"Tạ An chẳng muốn làm quan

Nhân dân trăm họ biết làm sao đây?"

Đến năm hơn 40 tuổi, ông mới chịu ra làm quan trở lại.

Vì Tạ An ẩn cư lâu dài ở Đông Sơn nên sau này, người ta gọi việc ông ra làm quan lại là "Đông Sơn tái khởi".

Sau khi Phù Kiên phát triển thế lực, biên giới phía bắc Đông Tấn thường xuyên bị quân Tiền Tần quấy nhiễu.

Triều đình muốn chọn 1 tướng lĩnh văn võ toàn tài lên trấn thủ biên giới.

Tạ An tiến cử cháu (con người anh em của Tạ An) là Tạ Huyền với Tấn Hiếu Vũ Đế.

Hiếu Vũ Đế phong Tạ Huyền làm tướng lên trấn giữ Quảng Lăng (nay là thành phố Dương Châu thuộc tỉnh Giang Tô), chỉ huy các đạo quân ở Giang Bắc.

Tạ Huyền cũng là 1 nhân tài về quân sự.

Sau khi đến Quảng Lăng, ông liền chiêu binh mãi mã, tổ chức thêm các đội quân phòng thủ.

Lúc đó, nhiều người Hán từ miền bắc chạy xuống, sôi nổi xin sung quân.

Trong số họ có 1 người quê ở Bành Thành, tên là Lưu Lao Chi, từ nhỏ đã luyện tập tinh thông võ nghệ; khi ra trận hết sức dũng mãnh.

Tạ Huyền dùng Lưu Lao Chi làm tham quân, giao cho chỉ huy 1 đội quân tinh nhuệ.

Đội quân đó được Tạ Huyền và Lưu Lao Chi dày công huấn luyện, trở thành 1 đội quân bách chiến bách thắng.

Vì đội quân đó đóng ở Kinh Khẩu (nay là Trấn Giang, Giang Tô), mà Kinh Khẩu lại được gọi là "Bắc Phủ" nên đội quân đó cũng có tên gọi là "Bắc Phủ binh".

Lần này, Phù Kiên đem đại quân tấn công Đông Tấn, Tạ An quyết định tự mình giữ Kiến Khang, cử em là Tạ Thạch làm Chinh Thảo đại đô đốc, Tạ Huyền làm Tiền Phong đô đốc, đem 8 vạn quân lên Giang Bắc chống lại quân Tần.

Lại cử tướng Hồ Bân dẫn 5000 thủy quân đến Thọ Dương (nay là huyện Thọ, An Huy) để phối hợp tác chiến.

Bắc Phủ binh dưới quyền Tạ Huyền tuy dũng mãnh thiện chiến, nhưng binh lực của Tiền Tần đông gấp 10 lần quân Đông Tấn, nên trong lòng Tạ Huyền không tránh khỏi có lo lắng.

Trước khi xuất phát, Tạ Huyền đích thân tới chào từ biệt Tạ An tại nhà riêng và có ý muốn hỏi xem nên tiến hành chiến đấu theo phương pháp gì.

Nào ngờ, Tạ An nghe thấy hỏi thì vẫn bình thường như không có chuyện gì, chỉ trả lời nhẹ nhàng, qua quýt: "Ta đã có xếp đặt rồi".

Tạ Huyền nghĩ chắc sau đó Tạ An sẽ dặn dò thêm, nhưng ngồi chờ mãi không thấy Tạ An nói thêm gì nữa.

Tạ Huyền về nhà, trong lòng vẫn băn khoăn.

Hôm sau lại nhờ người bạn là Trương Huyền đến thăm Tạ An, để thừa dịp thuận lợi hỏi ý kiến Tạ An xem sao.

Tạ An vừa thấy Trương Huyền, chẳng nói gì đến chuyện quân sự, mà mời ngay Trương Huyền đến tòa biệt thự trong núi.

Tới đó đã có nhiều danh sĩ tới trước, cùng đàm luận văn chương.

Trương Huyền không có dịp nào để nêu ra câu hỏi mà Tạ Huyền nhờ.

Tạ An mời Trương Huyền cùng mình đánh cờ, và nói vui rằng nếu thua sẽ gán cho Trương Huyền tòa biệt thự này.

Trương Huyền vốn là 1 kì thủ có tiếng, ngày thường ông ta luôn thắng Tạ An.

Nhưng hôm nay, Trương Huyền không còn lòng dạ chơi cờ nữa, chỉ gượng tiếp Tạ An, nên thua liền mấy ván.

Đánh cờ xong, Tạ An lại mời mọi người dạo chơi, xem phong cảnh núi non.

Dạo chơi suốt 1 ngày, đến khi trời tối mới trở về nhà.

Tối hôm đó, Tạ An triệu tập các tướng Tạ Huyền, Tạ Thạch...tới nhà mình, giao nhiệm vụ cho từng người hết sức rành rọt, tỉ mỉ.

Mọi người thấy thấy Tạ An trầm tĩnh, chủ động như vậy, đều thấy vững tin, phấn khởi cùng nhau về quân doanh.

Lúc đó Hoàn Xung ở Kinh Châu thấy tình thế nguy hiểm, liền dành ra 3000 tinh binh đưa tới Kiến Khang để bảo vệ Kinh Thành.

Tạ An nói với các tướng sĩ được cử tới: "Ở đây ta đã sắp đặt ổn thỏa cả rồi.

Các ngươi hãy trở về để tăng cường cho việc phòng thủ mặt phía tây".

Các tướng sĩ trở về Kinh Châu báo cáo lại với Hoàn Xung.

Hoàn Xung rất lo lắng, nói với các tướng sĩ: "Khí độ của Tạ Công đúng là đáng cho mọi người khâm phục.

Nhưng ngài không hiểu rõ việc đánh trận.

Kẻ địch đã đến trước mặt, mà vẫn ung dung tự tại, binh lực thì ít ỏi, lại cử những tướng trẻ không có kinh nghiệm đi chỉ huy.

Có lẽ chúng ta sắp gặp tai họa lớn rồi".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
125-126


TRẬN PHÌ THỦY

Theo mệnh lệnh của Tạ An, Hồ Bân dẫn thủy quân theo Hoài Hà tiến tới Thọ Dương.

Trên đường đi, Hồ Bân nhận được tin Thọ Dương đã bị quân tiên phong của Tiền Tần do Phù Dung chỉ huy đánh tan.

Hồ Bân đành lui quân tới Hiệp Thạch (nay ở tây nam Phương Đài, An Huy) rồi đóng lại đó, chờ đại quân của Tạ Thạch, Tạ Huyền tới hội họp.

Sau khi chiếm được Thọ Dương, Phù Dung lại cử bộ tướng Lương Thành dẫn 5 vạn quân tiến công Lạc Gián (nay ở phía đông HOài Nam, An Huy), cắt đứt đường sau lưng thủy quân Hồ Bân.

Quân Hồ Bân bị vây, lương thực ngày càng thiếu, tình hình hết sức nguy ngập.

Hồ Bân phái 1 tên lính mang thư cáo cấp với Tạ Thạch nói: "Hiện nay quân địch rất mạnh, quân lương của tôi sắp hết, sợ không có cách nào hội họp với đại quân được".

Khi tên lính mang thư vượt qua chiến tuyến quân Tần, thì bị quân Tần bắt được.

Phong thư cáo cấp rơi vào tay Phù Dung.

Phù Dung lập tức cho ngựa chạy về Hạng Thành báo cáo với Phù Kiên.

Phù Kiên liên tiếp nhận được tin thắng trận của đội quân tiền phong, càng thêm kiêu ngạo.

Ông ta để đại quân đóng ở Hạng Thành, tự dẫn 8000 kỵ binh đi gấp tới Thọ Dương, chỉ muốn nuốt sống ngay quân Tấn.

Đến Thọ Dương, Phù Kiên bàn bạc với Phù Dung, cho rằng quân Tấn không thể chịu nổi đòn đánh mãnh liệt của đại quân Tiền Tần, liền cử 1 sứ giả đến đại doanh của quân Tấn khuyên hàng.

Sứ giả được cử đi không phải là ai khác, mà lại chính là người mà mấy năm trước đã từng kiên quyết chống lại quân Tiền Tần ở Tương Dương và bị bắt sống.

Người đó là Chu Tự.

Từ sau khi bị bắt, Chu Tự được Phù Kiên trọng dụng, cho làm thượng thư trong triều, nhưng thâm tâm bao giờ cũng hướng về triều Tấn.

Khi được cử đi thuyết hàng, gặp lại Tạ Thạch, Tạ Huyền, Chu Tự cảm thấy thân thiết như gặp lại người thân.

Vì vậy không những không thuyết hàng theo lời dặn của Phù Kiên, mà ngược lại Chu Tự còn tiết lộ cho Tạ Thạch, Tạ Huyền biết tình hình nội bộ của Tiền Tần.

Chu Tự nói: "Lần này Phù Kiên đem hàng trăm vạn quân xuống đánh Đông Tấn.

Nếu chúng tập trung được lực lượng đó, e rằng Đông Tấn không thể nào chống đỡ nổi.

Nay nhân lúc quân đội của chúng chưa tới được đầy đủ mà nhanh chóng tổ chức cuộc tiến công, đánh bại đội tiên phong để làm tổn thương sĩ khí của chúng, thì có thể đánh bại quân Tần".

Sau khi Chu Tự trở về Tần, Tạ Thạch suy đi tính lại, thấy binh lực của quân Tần ở Thọ Dương rất mạnh, không chắc thắng được, nên nếu cứ cố gắng tăng cường phòng thủ thì đảm bảo hơn.

Nhưng con Tạ Thạch là Tạ Viên cố khuyên Tạ Thạch nên nghe theo lời của Chu Tự, gấp rút tổ chức tiến công.

Tạ Thạch lại bàn bạc với Tạ Huyền rồi quyết định cử danh tướng Lưu Lao Chi dẫn 5000 quân tinh nhuệ của Bắc Phủ binh tập kích bất ngờ vào quân Tần ở Lạc Gián.

Đội quân này quả là danh bất hư truyền, họ dũng mãnh như hùm mọc cánh, tiến đánh ào ạt vào Lạc Gián.

Quân Tần phòng giữ ở đây không phải là đối thủ của đội quân thiện chiến này, qua 1 thời gian ngắn gắng gượng, chống đỡ không nổi, đã bị đánh bại; tướng Lương Thành đã bị quân Tấn giết chết.

Quân Tần tranh nhau vượt Hoài Hà trốn chạy, số lớn bị chết đuối giữa dòng.

Trận thắng Lạc Gián khiến tinh thần quân đội Tấn tăng cao.

Tạ Thạch, Tạ Huyền hạ lệnh cho Lưu Lao Chi đem quân cứu viện cho Hồ Bân ở Hiệp Thạch, đồng thời chỉ huy đại quân thừa thắng tiến lên, tới tận bờ phía đông Phì Thủy (nay là Phì Hà - tức sông Phì ở phía nam huyện Thọ, An Huy), đem quân lên đóng cạnh Bát Đông Sơn, đối diện với quân Tần đang đóng ở Thọ Dương, bên bờ phía tây.

Phù Kiên sau khi cử Chu Tự đi khuyên hàng, đang dương dương đắc ý chờ quân Tấn mang thư hàng tới; nay đột nhiên nghe tin Lạc Gián thất thủ thì choáng váng như bị 1 gậy giáng vào đầu.

Ông ta cùng Phù Dung đi lên lầu thành Thọ Dương để quan sát tình hình quân Tấn bên kia sông.

Phù Kiên đứng trên lầu thành nhìn sang, thấy lều trại quân Tấn hàng ngũ chỉnh tề, quân Tấn cầm vũ khí đi lại tuần phòng nghiêm ngặt, thế trận vững chắc, uy nghiêm.

Nhìn về phía xa, thấy trên Bát Công Sơn thấp thoáng có nhiều binh lính Tấn.

Sự thực do Phù Kiên hoang mang lóa mắt, nhiều cỏ cây lay động trên Bát Công Sơn lại tưởng nhầm thành quân Tấn (văn ngôn Trung Quốc gọi cảm giác này của Phù Kiên là "thảo mộc giai binh").

Phù Kiên hơi sợ, quay đầu lại nói với Phù Dung: "Đây đúng là một kẻ địch mạnh!

Sao có thể nói chúng là quá yếu được".

Từ đó Phù Kiên hạ lệnh cho quân Tần phòng thủ nghiêm ngặt, quân Tấn vì vậy rất khó vượt được Phì Thủy.

Tạ Thạch, Tạ Huyền hết sức lo lắng, nếu cứ kéo dài như vậy, e khi quân Tần đến đủ thì càng bất lợi cho quân Tấn.

Tạ Huyền nghĩ ra 1 mẹo, cho người mang thư sang Phù Kiên nói: "Các ngài đem đại quân đi sâu vào đất nước Tấn, mà hiện nay lại dàn trận lên bờ Phì Thủy, án binh bất động.

Như vậy chẳng lẽ các ngài ngại giao chiến hay sao?

Nếu các ngài chịu lui quân về phía sau một chút, nhường ra một khu đất, để chúng tôi vượt sông bày trận rồi sẽ so tài cao thấp, thì mới được coi là có đảm lược".

Phù Kiên nhận được thư, tự nghĩ: "Nếu không chấp nhận yêu cầu đó thì chẳng phải là mình sợ quân Tấn hay sao?".

Liền triệu tập các tướng đến, hạ lệnh: "Quân Tấn đề nghị chúng ta nhường ra một vùng đất để họ bày trận.

Chúng ta hãy lùi lại một chút, chờ khi quân chúng đang vượt sông, sẽ dùng kỵ binh xông lên, đảm bảo sẽ tiêu diệt được chúng".

Tạ Thạch, Tạ Huyền được tin quân Tần chấp nhận lui quân, liền nhanh chóng chỉnh đốn người ngựa chuẩn bị vượt sông tiến công.

Tới thời gian 2 bên đã thỏa thuận, Phù Kiên ra lệnh cho Phù Dung chỉ huy quân Tần lui về sau.

Họ vốn định lùi lại 1 đoạn ngắn rồi sẽ quay trở lại tiến đánh Tấn.

Không ngờ rất nhiều lính Tần, số thì chán ghét chiến tranh số thì sợ quân Tấn, nên vừa nhận được lệnh rút là quay đầu chạy không muốn dừng lại nữa.

Tạ Huyền dẫn hơn 8000 kỵ binh, nhân cơ hội đó nhanh chóng vượt sông, tiến đánh mãnh liệt vào quân Tần.

Đúng lúc đó, Chu Tự ở phía sau trận quân Tần hoảng hốt hô lớn: "Quân ta thua rồi!

Quân ta thua rồi!".

Quân Tần ở phía sau không biết tình hình ở phía trước ra sao, chỉ thấy quân lính đang chạy trở lại rầm rập thì cũng quay đầu chạy, vừa chạy vừa la hoảng.

Phù Dung vội vã vung kiếm, cưỡi ngựa xông ra toan ngăn lại.

Nhưng quân Tần đang như dòng nước triều cuồn cuộn, không có sức mạnh nào ngăn lại được.

Một toán loạn binh ào tới, xô ngã con ngựa do Phù Dung đang cưỡi.

Phù Dung đang cố bò dậy thì bị 1 tên lính rút dao chém chết.

Chủ tướng đã chết, quân Tần càng như ngựa xổng cương, tan chạy khắp các ngã.

Phù Kiên ở phía sau thấy tình hình đột nhiên diễn ra như vậy, không có cách gì khống chế được nữa, đành nhảy lên ngựa chạy thục mạng.

Một phát tên không biết từ đâu bay tới, trúng vào vai Phù Kiên.

Ông cố nhịn đau, thúc ngựa chạy nhanh hơn, chạy mãi tới Hoài Bắc mới dám dừng lại nghỉ.

Quân Tấn thừa thắng truy kích ráo riết.

Quân Tần càng hỗn loạn chạy trốn.

Khắp dọc đường la liệt xác quân lính bị giẫm chết và bị thương.

Dọc đường chạy, số quân lính Tần nghe thấy tiếng gió thổi và tiếng hạc kêu trên không (văn ngôn dùng chữ "phong thanh hạc lệ"), cứ tưởng là tiếng hô "giết" của quân Tấn nên lại càng sợ kinh hồn lạc phách.

Tạ Thạch, Tạ Huyền thu phục được Thọ Dương, vội phái khoái mã báo tin thắng trận về Kiến Khang.

Hôm đó, Tạ An đang ngồi đánh cờ với 1 người khách.

Ông xem phong thư báo tin mừng của Tạ Thạch, cố kiềm chế niềm vui, lại đặt lá thư xuống rồi tiếp tục chơi cờ.

Người khách biết là thư từ tiền phương gửi về, không nén được tò mò, liền hỏi Tạ An: "Tình hình chiến tranh ra sao?".

Tạ An thong thả trả lời: "Cuối cùng bọn trẻ đã đánh bại được quân Tần rồi".

Người khách nghe nói mừng quá, không thiết gì đánh cờ nữa, vội xin cáo biệt để đem tin thắng trận báo cho mọi người biết.

Tạ An tiễn khách, trở vào nhà.

Tới lúc đó thì niềm vui không thể kìm giữ được nữa.

Bao nhiêu suy nghĩ lao lung và sự tính toán hao tổn cân não để chỉ đạo cuộc kháng chiến đã đem lại thắng lợi huy hoàng.

Ông vùng nhảy qua ngưỡng cửa, chiếc guốc gỗ dưới chân bị va sứt 1 miếng mà ông không biết.

Qua trận Phì Thủy nổi tiếng trong lịch sử này, triều Tiền Tần lớn mạnh bị tiêu hao hết sức lực.

Phù Kiên chạy về tới Lạc Dương, thu thập tàn binh bại tướng, thì chỉ còn lại mười mấy vạn.

Trong khi đó thì binh lực của Mộ Dung Thùy vẫn còn nguyên vẹn, không hề bị sứt mẻ gì.

Đúng như dự liệu của Vương Mãnh, Mộ Dung Thùy của tộc Tiên Ty và Diêu Trường của tộc Khương cuối cùng đã chống lại Tiền Tần.

Mộ Dung Thùy lập ra nước Hậu Yên, Diêu Trường lập ra nước Hậu Tần.

Bản thân Phù Kiên cũng bị Diêu Trường giết chết.

Trận Phì Thủy cung cấp 1 bài học lớn về quân sự cho hậu thế, đồng thời làm sản sinh 1 thành ngữ trong tiếng Hán: "Phong thanh hạc lệ, thảo mộc giai binh".

ĐÀO UYÊN MINH KHÔNG CHỊU KHOM LƯNG

Sau trận Phì Thủy, Tạ An nhân thời cơ Tiền Tần tan rã, cử Tạ Huyền đem quân thu lại 1 vùng đất lớn ở khu vực Hoàng Hà.

Nhưng Tấn Hiếu Vũ Đế lại trọng dụng anh em mình là Cối Kê vương Tư Mã Đạ Tử, ra sức chèn ép Tạ An, khiến Tạ An không thể phát huy hết tài năng của mình.

Sau khi Tạ An mất, chính quyền Đông Tấn hoàn toàn chịu sự khống chế của Tư Mã Đạ Tử, 1 kẻ ngu dốt.

Triều chính Đông Tấn càng ngày càng hủ bại.

Năm 399, dưới đời Tấn An Đế, tại quận Cối Kê nổ ra cuộc khởi nghĩa nông dân do Tôn Ân lãnh đạo.

Qua 2 năm, mười mấy vạn quân khởi nghĩa đã áp sát kinh đô Kiến Khang.

Triều Đông Tấn phải điều động tới Bắc Phủ binh mới đàn áp được.

Nhưng sau đó, nội bộ tập đoàn thống trị Đông Tấn lại xảy ra rối loạn.

Con của Hoàn Ôn là Hoàn Huyền chiếm lĩnh vùng thượng du Trường An rồi đem quân đánh chiếm Kiến Khang, phế Tấn An Đế, tự lập làm hoàng đế.

Trải qua ba bốn tháng, tướng chỉ huy Bắc Phủ binh là Lưu Dụ mới đánh bại được Hoàn Huyền, đón Tấn An Đế trở lại ngôi hoàng đế.

Từ đó về sau, vương triều Đông Tấn chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa.

Trong những năm tháng nhiều biến động đó, ở vùng Tử Tang có 1 nhà thơ nổi tiếng, tên là Đào Tiềm, tự là Uyên Minh thường được gọi là Đào Uyên Minh.

Ông chán ghét nền chính trị thối nát đương thời, nên chỉ ẩn cư ở làng quê.

Tằng tổ của Đào Uyên Minh là Đào Khản, 1 danh tướng của Đông Tấn (xem chương "Đào Khản tập khuân gạch"), tuy đã giữ chức quan cao, nhưng không phải là 1 sĩ tộc đại địa chủ nên không có nhiều tài sản.

Đến đời Đào Uyên Minh thì gia cảnh đã rất sa sút.

Đào Uyên Minh từ nhỏ đã ham đọc sách, không muốn làm quan, nhà có lúc không đủ cơm ăn, nhưng ông vẫn đọc sách ngâm thơ, lấy đó làm vui.

Trước cửa nhà ông có 5 cây liễu, nên ông đặt biệt hiệu cho mình là Ngũ liễu tiên sinh.

Sau, Đào Uyên Minh càng ngày càng nghèo, việc cày cấy không đủ nuôi già trẻ trong gia đình.

Người thân thích và bạn bè khuyên ông ra nhận 1 chức quan gì đó để giúp đỡ gia đình.

Ông đành phải nhận lời.

Quan địa phương nghe nói Đào Uyên Minh là dòng dõi của 1 danh tướng, lại có tài văn chương, liền tiến cử ông vào làm tham quân cho Lưu Dụ.

Nhưng ít ngày sau, ông phát hiện thấy các văn quan võ tướng đều tìm cách giành giật hất cẳng lẫn nhau, nên chán nản xin đổi đi làm quan địa phương.

Quan trên liền cử ông tới Bành Trạch (trong tỉnh Giang Tây ngày nay), làm huyện lệnh.

Thời đó làm huyện lệnh, lương bổng không có nhiều.

Đào Uyên Minh lại không biết vòi tiền, không biết tham ô nên cuộc sống gia đình cũng không sung túc.

Tuy vậy vẫn khá hơn nhiều khi còn làm ruộng khi ở Tử Tang.

Thêm nữa, ông cảm thấy làm quan ở 1 huyện nhỏ, không phải giao tiếp nhiều với quan trường, nên được tự do hơn.

Một hôm, trên quận phái 1 viên đốc bưu xuống thị sát ở vùng Bành Trạch.

Tên tiểu lại trong huyện được tin, vội chạy vào báo với Đào Uyên Minh.

Lúc đó Đào Uyên Minh đang ngồi trong phòng riêng, vuốt râu ngâm thơ, thấy nói có viên đốc bưu đến thì mất hứng, đành buông tập thơ, chuẩn bị theo tên tiểu lại dẫn đường ra gặp viên đốc bưu.

Tên tiểu lại thấy ông vẫn mặc bộ quần áo thường phục, giật mình nói: "Đốc bưu đến, xin quan lớn mặc quan phục, thắt đai ra bái kiến mới phải, sao lại có thể mặc thường phục được?".

Xưa nay Đào Uyên Minh vốn không ưa những kẻ cậy thế quan trên để hạch sách cấp dưới.

Nay lại nghe tên tiểu lại có vẻ sợ sệt, giục giã mình mặc quan phục ra bái kiến tên đốc bưu, thì cảm thấy nhục nhã, liền thở dài nói: "Ta không muốn vì năm đấu gạo, là số lương của quan huyện, mà phải khom lưng trước bọn tiểu nhân đó".

Rồi ông không ra gặp viên đốc bưu, mà dứt khoát cởi ấn thụ trao cho viên tiểu lại, từ chức không làm quan nữa.

Trở về quê nhà ở Tử Tang, Đào Uyên Minh thấy nhẹ nhàng, cảm thấy cụ diện xã hội rối beng lúc đó rất xa cách với hứng thú và lý tưởng của mình.

Từ đó về sau, ông quyết ẩn cư, lúc nhàn rỗi viết rất nhiều thơ văn, thổ lộ tư tưởng, tình cảm của mình.

Trong số thơ văn của ông, có 1 bài hết sức nổi tiếng, đó là bài "Đào hoa nguyên ký" (bài ký về suối hoa đào), nội dung đại lược như sau: ở Vũ Lăng có 1 người đánh cá, 1 hôm anh ta bơi thuyền theo con ngòi nhỏ đi đánh cá.

Không biết từ lúc nào, con thuyền dẫn tới 1 rừng đào, phong cảnh như hoa thêu gấm dệt, dưới là cỏ thơm xanh mướt.

Người đánh cá bị cảnh đẹp hấp dẫn, cứ bơi thuyền đi mãi, tới cuối rừng đào thì phát hiện 1 cửa động.

Anh ta rời thuyền, lần mò đi vào trong động.

Ban đầu động rất đẹp, nhưng qua 1 đoạn, bỗng thấy rộng rãi sáng bừng.

Thì ra trong động có 1 xóm làng rất lớn, đất đai phì nhiêu, bãi dâu xanh tốt, già trẻ trai gái đi lại tấp nập, lao động vui vẻ, sống 1 cuộc sống thanh bình vô tư lự.

Mọi người thấy có khách lạ tới thì đều nhiệt tình mời ăn cơm uống rượu.

Người đánh cá hỏi chuyện, mới biết người trong thôn đều có tổ tiên là người chạy nạn tới đây vào những năm loạn lạc cuối đời Tần.

Họ không hề biết sau triều Tần còn có triều Hán, càng không biết tới triều Ngụy, Tấn sau đó nữa.

Người đánh cá ở lại đó mấy ngày, cảm thấy sung sướng như sống trong tiên cảnh, xa cách hẳn bụi trần.

Khi từ biệt ra về, anh ta chú ý đánh dấu kỹ đường đi, chuẩn bị để sau này lại đến thăm.

Về đến Vũ Lăng, anh ta báo cáo với quan thái thú.

Thái thú cảm thấy rất thú vị, liền cử người đi theo anh đánh cá để tìm rừng hoa đào, nhưng tìm mãi, tìm mãi không sao thấy cửa động đâu nữa.

Đào nguyên ngoài cõi đời mà Đào Uyên Minh miêu tả trong bài ký, thật ra không thể tồn tại trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ.

Nhưng quang cảnh mọi người đều lao động, mọi người đều sung sướng no đủ, sống cuộc đời không bận chút lo âu...được miêu tả trong bài ký, đã phản ánh ước muốn tốt đẹp của người đương thời trong hoàn cảnh xã hội đen tối, hỗn loạn lúc đó.

Vì vậy, tác phẩm "Đào hoa nguyên ký" mãi mãi được người đời sau truyền tụng và yêu thích.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
127-128


LƯU DỤ BÀY TRẬN

Sau khi Tấn An Đế trở lại ngôi hoàng đế, Lưu Dụ hoàn toàn nắm quyền ở Đông Tấn.

Xuất thân là 1 chức quan võ nhỏ, Lưu Dụ không có địa vị gì trong giới sĩ tộc.

Để nâng cao uy tín của mình, ông quyết định phát động cuộc bắc phạt.

Năm 409, Lưu Dụ dẫn quân xuất phát từ Kiến Khang, trước hết bao vậy kinh đô nước Nam Yên (1 trong 16 nước thời Ngũ Hồ thập lục quốc ở miền bắc Trung Quốc) là Quảng Cố (nay ở tây bắc Ích Đô, Sơn Đông).

Quốc vương Nam Yên là Mộ Dung Siêu sợ hãi, vội cử người cầu cứu triều Hậu Tần.

Lúc đó, ở miền bắc, Hậu Tần là 1 quốc gia tương đối lớn.

Quốc vương Hậu Tần là Diêu Hưng phái sứ giả đến đại doanh quân Tấn nói: "Nước Yên là nước lân bang hữu hảo của chúng tôi.

Chúng tôi đã cử mười vạn đại quân đóng sẵn tại Lạc Dương.

Nếu các ngài nhất định cứ uy hiếp nước Yên, chúng tôi sẽ không thể ngồi yên nhìn mà không cứu".

Nghe lời dọa của sứ giả Hậu Tần, Lưu Dụ cười nhạt nói: "Ngươi về nói với Diêu Hưng, ta vốn đã định diệt xong nước Yên, sẽ nghỉ ngơi chỉnh đốn trong ba năm rồi sẽ tiêu diệt các ngươi. nay các ngươi lại muốn đến nộp mạng ngay thì hãy đến đi".

Sứ giả ra về, có viên quan dưới quyền lấy làm lạ hỏi: "Tướng quân trả lời như thế có khác gì chọc tức Diêu Hưng.

Nếu quân Tần đến thật thì ta đối phó thế nào?".

Lưu Dụ thản nhiên đáp: "Ông không hiểu được thực trạng.

Tục ngữ nói "Binh quý thần tốc", nếu chúng muốn đem quân tới thật, thì phải lặng lẽ hành động, việc gì phải cử người đến báo cho ta biết?

Đây hoàn toàn là trò hư trương thanh thế của Diêu Hưng, để dọa chúng ta.

Theo ta, chúng thân lo không xong, còn có sức đâu mà đi cứu người khác".

Đúng như nhận định của Lưu Dụ, lúc đó Hậu Tần còn đang mắc vào cuộc chiến với 1 nước nhỏ là nước Hạ, mà lại thua trận thì cứu Nam Yên sao được.

Không lâu sau, Lưu Dụ tiêu diệt được Nam Yên (năm 410).

Mấy năm sau, Lưu Dụ bình định các thế lực cát cứ ở miền nam rồi lại tiến hành bắc phạt, tấn công Hậu Tần.

Ông cử các đại tướng Vương Trấn Ác, Đàn Đạo Tế dẫn bộ binh từ vùng Hoài Hà tiến công lên Lạc Dương; còn bản thân tự dẫn thủy quân ngược dòng Hoàng Hà tiến lên.

Lúc đó, nước Bắc Ngụy do người Tiên Ty xây dựng lên ở miền bắc bắt đầu lớn mạnh, đã phát triển thế lực xuống sát bờ bắc Hoàng Hà.

Bắc Ngụy tập kết hơn 10 vạn đại quân ở bờ bắc, uy hiếp quân Tấn.

Thủy quân của Lưu Dụ đi trên Hoàng Hà, có lúc gặp nước xiết, gió lớn, thuyền dạt vào bờ bắc, liền bị quân Bắc Ngụy tiến công.

Lưu Dụ cho đổ bộ lên bờ bắc đánh lại quân Ngụy, quân Ngụy liền lui chạy; nhưng khi quân Tấn xuống thuyền, quân Ngụy lại ra cản trở.

Quân Tấn cứ tới lui vất vả, không tiến được bao nhiêu.

Lưu Dụ liền cử 1 viên tướng mang 700 quân và 100 cỗ binh xa đổ bộ lên bờ bắc, bày trận hình bán nguyệt bên bờ sông.

Hai cánh trận bám sát bờ sông, phần giữa phình ra, trong đó bày các xe trận, trên mỗi xe cắm 1 lá cờ bằng lông trắng.

Vì hình dạng đó giống như nửa mặt trăng, nên được gọi là "Thế trận vành trăng khuyết".

Quân Ngụy từ xa, quan sát thấy thế trận như vậy, không hiểu ý đối phương ra sao, nên không dám hành động.

Lát sau, lại thấy trên chiếc xe ở giữa có người giương cao cờ trắng rồi thấy 2 bên sườn ùa ra hơn 2000 binh sĩ, khiêng 100 cây cung lớn, đặt trên các binh xa.

Thấy cung cách như vậy, quân Ngụy cho rằng chẳng có gì ghê gớm, liền tập trung 3 vạn kỵ binh, xung phong tiến đánh vào trận địa Tấn.

Hơn 100 cây cung lớn trên binh xa Tấn cùng bắn, nhưng vẫn không chặn nổi quân Ngụy.

Ngờ đâu, phía sau thế trận hình trăng khuyết còn bố trí hơn 100 ngọn lao dài, lắp trên những dây cung cực lớn.

Loại lao này dài tới ba bốn thước, đầu rất bén nhọn.

Khi quân Ngụy đang ồ ạt xông tới, quân Tấn dùng búa lớn đánh bật chốt các dây cung, các mũi lao bay vùn vụt ra, mỗi mũi có thể Xuyên qua ba bốn lính Ngụy.

Trong chốc lát, trong số 3 vạn quân kỵ của phía Ngụy đã bị giết chết mấy ngàn.

Số khác không biết rõ đằng sau trận quân Tấn còn có bao nhiêu vũ khí ghê gớm hơn loại này, nên sợ hãi quay ngựa chạy thục mạng.

Toàn đội hình tan vỡ.

Quân Tấn thừa thắng truy kích, giết được khá nhiều quân Ngụy.

Lưu Dụ đánh bại quân Ngụy, mở thông đường thủy, tiếp tục tiến quân lên phía tây.

Lúc đó, bộ binh do Vương Trấn Ác và Đàn Đạo Tế chỉ huy đã hạ được thành Lạc Dương, cùng đem quân vào Đồng Quan hội họp với Lưu Dụ.

Tiếp đó, Lưu Dụ cử Vương Trấn Ác đem quân đánh Trường An, diệt nhà Hậu Tần (năm 417).

Diệt xong Hậu Tần, Lưu Dụ để Vương Trấn Ác cùng đứa con trai mới 12 tuổi của mình ở lại Trường An, rồi dẫn quân về nam.

Mấy năm sau, Tấn An Đế chết.

Lưu Dụ cho rằng thời cơ đã chín, liền cử người thuyết phục Tấn Cung Đế mới lên ngôi nhường lại ngôi hoàng đế cho mình.

Năm 420, Lưu Dụ lên ngôi, đổi quốc hiệu là Tống.

Lịch sử gọi là Tiền Tống.

Đó là Tống Vũ Đế.

Triều Đông Tấn diệt vong sau 104 năm thống trị miền nam Trung Quốc.

ĐÀN ĐẠO TẾ ĐONG CÁT GIẢ LÀM LƯƠNG

Sau khi Tống Vũ Đế Lưu Dụ thành lập triều Tống (Tiền Tống) được 19 năm (tức năm 439) thì ở miền bắc, Thái Vũ Đế của Bắc Ngụy là Thác Bạt Đào (họ Thác Bạt, thuộc tộc Tiên Ty) tiêu diệt nước cuối cùng trong 16 nước là Bắc Lương, thống nhất cả miền bắc.

Như vậy, trong khoảng thời gian 170 năm tính từ khi Đông Tấn diệt vong (năm 420), lịch sử Trung Quốc xuất hiện cục diện 2 miền nam bắc, có 2 hệ thống chính quyền đối chọi nhau.

Ở miền nam, có 4 triều đại kế tiếp nhau là Tống, Tề, Lương, Trần; ở miền bắc mở đầu là Bắc Ngụy, sau phân thành Đông Ngụy, Tây Ngụy, 2 nước này lần lượt bị Bắc Tề, Bắc Chu thay thế.

Lịch sử gọi chung cả giai đoạn đó là Nam Bắc Triều.

Tống Vũ Đế làm hoàng đế được 2 năm, đến năm thứ 3 thì bị bệnh mất.

Con Vũ Đế là thái tử Lưu Nghĩa Phù, mới 17 tuổi lên nối ngôi (năm 423), tỏ ra thiếu đức độ nên sau 1 năm (năm 424) bị các đại thần phế truất, giáng xuống làm Doanh Dương vương.

Con thứ 3 của Lưu Dụ là Lưu Nghĩa Long được phò tá lên làm hoàng đế.

Đó là Tống Văn Đế.

Lúc đó, Bắc Ngụy mở cuộc tiến công lớn, vượt qua Hoàng Hà, xâm chiếm 1 vùng đất rộng phía nam sông.

Tống Văn Đế phái Đàn Đạo Tế dẫn đại quân chống lại.

Có lần, quân Bắc Ngụy tiến công Tế Nam, Đàn Đạo Tế dẫn quân tới bên sông Tế Thủy, trong hơn 20 ngày, giao chiến với quân Bắc Ngụy hơn 30 trận; liên tục thắng lợi, truy kích địch tới tận Lịch Thành (nay thuộc tỉnh Sơn Đông).

Vì thắng trận nên Đàn Đạo Tế có phần kiêu ngạo và lơi lỏng trong phòng bị.

Quân Ngụy nhằm cơ hội đó, dùng 2 toán kỵ binh bất ngờ đánh kẹp vào 2 mặt trước sau quân Tống, đốt hết lương thảo và xe tải lương thực.

Quân của Đàn Đạo Tế tuy anh dũng thiện chiến, nhưng bị cạn lương, không thể kéo dài cuộc chiến đấu, đành chuẩn bị rút khỏi Lịch Thành.

Trong quân Tấn có 1 tên lính chạy sang hàng quân Ngụy, nói hết tình hình khó khăn về lương thực của Tống cho Ngụy biết.

Bắc Ngụy liền phái đại tướng đem quân đuổi quân Tống, nhằm bao vây tiêu diệt đội quân của Đàn Đạo Tế.

Các tướng sĩ quân Tống thấy quân Ngụy hình thành thế bao vây thì đều lo sợ, 1 số binh lính bắt đầu lẻn trốn.

Nhưng Đàn Đạo Tế lại ung dung hạ lệnh cho tướng sĩ đóng trại, dừng lại nghỉ ngơi.

Tối hôm đó trong doanh trại quân Tống đèn đuốc sáng trưng, Đàn Đạo Tế thân đến kiểm tra lương thực trong doanh trại, 1 số lính tay cầm bó thẻ tre cao giọng đếm số lượng bao lương thực đong được, số khác dùng đấu đong gạo đóng vào bao.

Thám tử của quân Ngụy từ xa quan sát thấy bao nào cũng được đong đầy gạo trắng, số bao gạo ngày càng chất cao, được che đậy và có lính canh gác nghiêm mật.

Tướng Ngụy được tin, cho rằng là tên lính Tống trốn sang là gian tế trá hình để đánh lừa mình, liền sai đem chém.

Kỳ thực, trò dàn cảnh trên chỉ là 1 mẹo của Đàn Đạo Tế.

Trong doanh trại của Đàn Đạo Tế quả đã hết lương thực.

Ông bày cho quân lính đong cát đổ vào bao, mỗi bao phủ 1 ít gạo lên trên, thám tử Ngụy quan sát từ xa nên không phân biệt được.

Trời sáng, Đàn Đạo Tế hạ lệnh cho tướng sĩ khôi giáp chỉnh tề, đường hoàng theo đường lớn, di chuyển về phía nam.

Tướng Ngụy bị Đàn Đạo Tế đánh thua nhiều trận, lại thấy quân Tống lương thực sung túc, đội ngũ hùng dũng, nghiêm chỉnh thì có ý sợ; thêm nữa thấy quân Tấn lui quân 1 cách ung dung, có vẻ như khiêu khích thì ngờ là có mai phục ở đâu đó nên không dám đuổi theo.

Nhờ sự trấn tĩnh và mưu trí, Đàn Đạo Tế đã bảo toàn được quân Tống, đưa toàn quân rút lui nguyên vẹn.

Từ đó, quân Bắc Ngụy không dám mạo hiểm tiến đánh Tống nữa.

Đàn Đạo Tế làm tướng sĩ suốt 2 triều Tống Vũ Đế và Tống Văn Đế, nhiều lần lập công lớn.

Nhưng chính vì ông có công to, uy tín cao lại khiến triều đình Tống nghi kỵ.

Gặp khi Tống Văn Đế lâm bệnh nặng, 1 người anh em trong hoàng tộc là Lưu Nghĩa Khang bàn bạc với tâm phúc: "Nếu chẳng may hoàng thượng có mệnh hệ nào, thì Đàn Đạo Tế sẽ là mối họa".

Họ liền dùng danh nghĩa Tống Văn Đế, hạ chiếu thư khép Đàn Đạo Tế vào tội tụ tập bọn người xấu, toan làm phản, rồi bắt và xử tội chết.

Trong lúc bị giam, Đàn Đạo Tế phẫn nộ tột cùng, trợn mắt, lột khăn trên đầu ném xuống đất nói: "Các ngươi đang tự phá hoại Vạn lý trường thành của mình".

Cuối cùng ông vẫn bị giết.

Tin đó truyền tới Bắc Ngụy.

Các tướng lĩnh Ngụy vui mừng chúc tụng nhau: "Đàn Đạo Tế bị giết, phương nam không còn kẻ nào đáng sợ nữa!".

Sau sự việc này, Tống Văn Đế rất hối tiếc.

Khi đại quân Bắc Ngụy đánh tới thành Trảo Bộ (nay là Lục Hợp, Giang Tô) thuộc Giang Bắc, Tống Văn Đế trèo lên thành đá ở Kiến Khang quan sát, không ngăn được lời than thở: "Nếu Đàn Đạo Tế còn sống, thì kỵ binh Hồ không thể hoành hành hung hãn đến mức này được!".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
CAO DOÃN TRUNG THỰC


Giai tầng thống trị trong triều Bắc Ngụy thuộc họ Thác Bạt trong tộc Tiên Ty.

Đầu thời Đông Tấn, Thác Bạt còn là 1 bộ lạc du mục ở miền đông bắc Trung Quốc.

Sau đó họ tiếp thu văn hóa Hán, dần dần xây dựng và phát triển chế độ kinh tế phong kiến.

Năm 386, quí tộc Tiên Ty là Thác Bạt Khuê xây dựng triều Bắc Ngụy, đó là Ngụy Đạo Vũ Đế.

Sau khi xây dựng vương triều, Ngụy Đạo Vũ Đế sử dụng nhiều kẻ sĩ Hán tộc làm mưu sĩ.

Trong số đó người nổi tiếng nhất là Thôi Khiết.

Thôi Khiết đã có cống hiến lớn trong việc giúp Bắc Ngụy tiến hành chiến tranh để thống nhất miền bắc Trung Quốc, được 3 đời vua của Bắc Ngụy hết sức tín nhiệm.

Sau khi Ngụy Thái Vũ Đế (hoàng đế thứ 3 của Bắc Ngụy) lên ngôi, ông làm quan tư đồ, nắm đại quyền chính trị trong triều và cử hơn 10 kẻ sĩ Hán tộc làm quận thú các địa phương.

Do đó, giữa Thôi Khiết và những quan chức khác người tộc Tiên Ty nảy sinh mâu thuẫn.

Ngụy Thái Vũ Đế cử Thôi Khiết cùng mấy văn nhân khác biên soạn bộ lịch sử nước Ngụy.

Ngụy Thái Vũ Đế dặn họ là viết quốc sử cần căn cứ vào thực lục (thực lục là 1 thể tài của biên niên sử, chuyên ghi chép những chuyện lớn trong thời gian trị vì của mỗi hoàng đế).

Dựa theo yêu cầu đó, Thôi Khiết và các đồng sự của ông thu thập mọi tư liệu về các đời trước, biên soạn thành cuốn quốc sử của Bắc Ngụy.

Thời đó, mục đích soạn quốc sử của các hoàng đế vốn chỉ để lưu lại cho con cháu trong hoàng thất xem.

Nhưng trong số thủ hạ của Thôi Khiết lại có 2 văn nhân có dự định riêng, khuyên Thôi Khiết đem quốc sử khắc trên bia đá cho bách quan cùng xem, để nâng cao uy tín và tiếng tăm của Thôi Khiết.

Bản thân Thôi Khiết cũng cho là mình giữ chức cao, lại có công lớn nên không e ngại gì, liền huy động nhân công và vật liệu, khắc toàn bộ pho quốc sử lên bia đá rồi đem các bia đó dựng 2 bên đường gần đàn tế trời ở ngoại ô kinh đô.

Những điều ghi chép trong quốc sử đều là sự thực, nhưng vì các đời trước của Bắc Ngụy do trình độ phát triển văn hóa thấp, có nhiều tập tục lạc hậu, nay đem viết ra thì thấy mất thể diện cho hoàng thất.

Người đi đường xem bia đá, bình luận sôi nổi, cho rằng người viết sử đã bêu rếu triều đình.

Quí tộc Tiên Ty là những người phản đối mạnh mẽ nhất.

Họ cáo giác với Ngụy Thái Vũ Đế là bọn Thôi Khiết có dụng tâm bêu xấu, xúc phạm cả tiên đế và đương kim hoàng thượng.

Ngụy Thái Vũ Đế vốn đã cho rằng Thôi Khiết lộng quyền, dám tự tiện quyết định nhiều việc, nay thấy sự việc này thì nổi trận lôi đình, hạ lệnh bắt tất cả những người tham gia viết quốc sử để xét hỏi.

Trong số người tham gia, có Cao Doãn là thầy dạy học của thái tử.

Thái tử nghe được tin đó thì hết sức hoảng hốt, liền mời Cao Doãn đến Đông cung (là cung dành riêng cho thái tử), nói với ông: "Ngày mai tôi sẽ cùng tiên sinh đi triều kiến hoàng thượng.

Nếu hoàng thượng hỏi tiên sinh, tiên sinh cứ trả lời theo ý của tôi, chớ có nói gì khác".

Cao Doãn không hiểu đầu đuôi ra sao nên không trả lời gì.

Hôm sau, ông theo thái tử vào triều kiến.

Thái tử lên điện, gặp Thái Vũ Đế nói: "Cao Doãn xưa nay là người nghiêm túc, thận trọng lại giữ chức quan thấp.

Vụ án quốc sử hoàn toàn là do Thôi Khiết chịu trách nhiệm, thần tử cúi xin bệ hạ tha tội cho Cao Doãn".

Thái Vũ Đế gọi Cao Doãn lên hỏi: "Quốc sử hoàn toàn do Thôi Khiết viết có phải không?".

Cao Doãn thật thà đáp: "Thôi Khiết bận nhiều việc, chỉ nắm bố cục lớn, còn nội dung cụ thể đều do hạ thần và mấy người khác viết".

Thái Vũ Đế ngoảnh đầu lại nói với thái tử: "Ngươi xem, tội của Cao Doãn còn nặng hơn Thôi Khiết nữa, sao có thể tha thứ được?".

Thái tử vội bẩm: "Cao Doãn thấy bệ hạ thì quá sợ hãi nên nói năng nhầm lẫn lung tung.

Thần tử vừa hỏi ông ta, ông ta nói là do Thôi Khiết viết mà".

Thái Vũ Đế lại hỏi Cao Doãn: "Có đúng như vậy không?".

Cao Doãn đáp: "Hạ thần phạm tội, sao còn dám nói dối bệ hạ.

Vừa rồi thái tử nói như vậy là muốn cứu tính mạng hạ thần.

Kỳ thực, thái tử không hề hỏi hạ thần và hạ thần cũng không nói những lời trên".

Ngụy Thái Vũ Đế thấy Cao Doãn trung thực thẳng thắn như vậy, có chiều cảm động, liền nói với thái tử: "Cao Doãn đứng trước cái chết mà vẫn không nói dối, thật hết sức đáng quí.

Ta tha tội cho ông ta".

Sau đó, Ngụy Thái Vũ Đế sai giải Thôi Khiết đến xét hỏi.

Thôi Khiết quá sợ hãi, mặt mày nhợt nhạt, không biện bác được câu nào.

Thái Vũ Đế giận dữ, yêu cầu Cao Doãn khởi thảo chiếu thư, xử chém cả nhà Thôi Khiết.

Cao Doãn trở về cung thái tử, do dự rất lâu vẫn không viết được chữ nào.

Thái Vũ Đế mấy lần cử người đến thúc giục, Cao Doãn liền nói: "Để tôi xin được tâu lại với hoàng thượng một lần nữa".

Rồi lại xin vào cung tâu với Thái Vũ Đế: "Thần không được rõ Thôi Khiết còn phạm tội gì nữa.

Nếu chỉ vì viết quốc sử, xúc phạm đến triều đình, thì không nên xử tội chết".

Ngụy Thái Vũ Đế cảm thấy Cao Doãn quả không biết thân phận, liền hét 1 tiếng, gọi vũ sĩ đến trói lại.

Sau nhờ thái tử van xin tha thiết, Thái Vũ Đế nguôi giận mới tha cho.

Sau chuyện đó, thái tử trách Cao Doãn: "Người ta cần phải theo tình hình mà cư xử.

Tôi đã hết lòng van xin cho tiên sinh, mà sao tiên sinh cứ làm hoàng thượng nổi giận.

Nghĩ lại việc vừa xảy ra, tôi vẫn còn thấy sợ hãi".

Cao Doãn nói: "Thôi Khiết làm việc đó, có sai lầm là nhằm đề cao cá nhân.

Nhưng trong việc biên soạn lịch sử, ghi chép hoạt động của các hoàng đế, việc đúng việc sai của triều chính thì ông ta đều làm đúng như sự thực.

Thêm nữa, quốc sử là do Thôi Khiết và chúng tôi cùng làm.

Nay có thiếu sót sao có thể dồn hết lỗi cho ông ta.

Điện hạ hết lòng muốn cứu tôi, tôi vô cùng cảm kích, nhưng nếu bảo tôi vì tính mạng của mình mà nói những lời trái với lương tâm, thì tôi không làm được".

Cuối cùng, Ngụy Thái Vũ Đế vẫn không tha cho Thôi Khiết, đã sai chém cả nhà Thôi Khiết và mấy người thân thích.

Nhưng nhờ sự can gián thẳng thắn của Cao Doãn, nhiều người khác khỏi bị liên lụy.

Chính Thái Vũ Đế đã nói, nếu không có Cao Doãn, ông ta có thể đã giết chết mấy ngàn người.

Năm 452, Ngụy Thái Vũ Đế bị hoạn quan giết chết.

Một năm sau (453), ở Nam Triều, con Tống Văn Đế là Lưu Tuấn lên ngôi, đó là Tống Hiếu Vũ Đế.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
ĐẠI PHÁT MINH GIA TỔ XUNG CHI


Sau khi Tống Hiếu Vũ Đế lên ngôi, vương triều Tống nhanh chóng suy yếu.

Chính trong thời kỳ đó lại xuất hiện 1 nhà khoa học kiệt xuất là Tổ Xung Chi.

Ông nội Tổ Xung Chi tên là Tổ Xương, giữ chức quan đứng đầu ngành xây dựng của triều Tống.

Sống trong gia đình như vậy, từ nhỏ Tổ Xung Chi đã đọc rất nhiều sách.

Mọi người đều ca ngợi ông là 1 thanh niên học rộng.

Ông đặc biệt ham thích toán học, cũng thích nghiên cứu thiên văn, lịch pháp, thường xuyên quan sát sự vận động của mặt trời và các thiên thể, và ghi chép lại tỉ mỉ.

Tống Hiếu Vũ Đế nghe thấy tiếng ông, liền cử ông đến làm việc ở 1 cơ quan chuyên nghiên cứu khoa học lúc đó, có tên là "Hoa Lâm Học Tinh".

Ông vốn không thích làm quan, nhưng làm việc ở đó, ông có điều kiện chuyên tâm vào nghiên cứu toán học và thiên văn.

Các triều đại Trung Quốc đều có đặt chức quan nghiên cứu về thiên văn và căn cứ vào kết quả quan sát thiên văn mà đặt ra lịch.

Đến triều Tống, lịch pháp đã có tiến bộ lớn, nhưng Tổ Xung Chi phát hiện thấy vẫn còn đó điểm chưa đủ chính xác.

Ông căn cứ vào kết quả nghiên cứu lâu dài của mình, biên soạn ra 1 lịch mới, gọi là lịch Đại Minh (Đại Minh - niên hiệu của Tống Hiếu Vũ Đế từ 457 đến 465).

Loại lịch này qui định số ngày của mỗi năm hồi qui (năm hồi qui là thời gian giữa 2 kỳ đông chí) chỉ sai khác với sự đo đạc của khoa học hiện đại có 50 giây, đo số ngày của 1 chu kì đi vòng quanh trái đất của mặt trăng chỉ sai với sự đo đạc của khoa học hiện đại chưa tới 1 giây.

Đủ thấy sự tính toán của Tổ Xung Chi lúc đó đã đạt tới trình độ chính xác khá cao.

Năm 462, Tổ Xung Chi xin Tống Hiếu Vũ Đế cho ban hành lịch mới.

Tống Hiếu Vũ Đế triệu tập các đại thần lại bàn bạc.

Một đại thần vốn được hoàng đế tin cậy nhất, tên là Đái Pháp Hưng phản đối, cho rằng Tổ Xung Chi dám tự tiện thay đổi lịch cổ, đổi lịch cổ là 1 hành vi "ly kinh bạn đạo", không thể chấp nhận được.

Tổ Xung Chi dùng các cứ liệu nghiên cứu được, trực tiếp phản bác lại sự phê phán của Đái Pháp Hưng.

Đái Pháp Hưng cậy thế được vua yêu, liền quyết đoán 1 cách ngang ngược: "Lịch pháp là do người xưa đặt ra.

Người đời sau không được thay đổi".

Tổ Xung Chi không nể nang gì, trả lời nghiêm chỉnh: "Nếu quả thật ngài có luận cứ thực tế nào thì xin cứ đưa ra biện luận, không nên dùng những lời suông rỗng để dọa người".

Tống Hiếu Vũ Đế muốn giúp Đái Pháp Hưng, liền chọn 1 số người hiểu lịch pháp đến tranh luận với Tổ Xung Chi.

Ý kiến phản bác của họ đều bị Tổ Xung Chi đánh đổ.

Nhưng Tống Hiếu Vũ Đế vẫn không ban hành lịch mới.

Mãi tới 10 năm sau khi Tổ Xung Chi mất, lịch Đại Minh do ông soạn ra mới được ban hành.

Dù tình hình xã hội lúc đó hết sức không ổn định, nhưng Tổ Xung Chi vẫn miệt mài nghiên cứu khoa học.

Thành tựu lớn nhất của ông là trong lĩnh vực toán học.

Ông từng nghiên cứu và chú giải tác phẩm toán học cổ "Cửu chương toán thuật" (là tác phẩm toán học cổ nhất còn truyền lại tới nay của Trung Quốc, xuất hiện vào khoảng thời Tần - Hán, gồm 9 chương, đề cập tới nhiều tri thức về số học, phương trình đại số và hình học).

Ngoài ra ông còn viết cuốn "Xuyết thuật" (là phương pháp tổ hợp).

Nhưng cống hiến lớn nhất của Tổ Xung Chi là đã tìm ra trị số khá chính xác của số Pi (π).

Qua quá trình tính toán gian khổ, lâu dài, ông tính được trị số của Pi nằm giữa 3,1415926 và 3,1415927, trở thành nhà khoa học đầu tiên trên thế giới tìm ra số Pi với 7 số lẻ.

Về phát minh khoa học, Tổ Xung Chi là người có tài năng nhiều mặt.

Ông đã chế ra xe chỉ nam.

Khi lắp đặt lên xe, dù có chuyển hướng thế nào thì người đồng trên xe vẫn chỉ tay về hướng nam (đáng tiếc, phát minh này của Tổ Xung Chi chỉ được các hoàng đế Trung Hoa sử dụng như 1 trò chơi giải trí mà không đem ứng dụng ngay vào hàng hải và các kỹ thuật khác).

Ông còn chế ra "Thiên lý thuyền" (thuyền đi ngàn dặm) và tổ chức thí nghiêm tại Tân Đình Giang (ở tây nam thành phố Nam Kinh hiện nay).

Loại thuyền này 1 ngày có thể đi được hơn 100 dặm.

Ông còn cho lợi dụng sức nước để làm quay cối đá, phục vụ cho việc xay, nghiền ngũ cốc.

Sau khi Tổ Xung Chi chết đi, con ông ta là Tổ Cánh, cháu nội là Tổ Hạo kế thừa sự nghiệp của ông ta; đã cần cù nghiên cứu toán học và lịch pháp.

Theo nói lại, Tổ Cánh trong khi nghiên cứu khoa học đã tập trung tinh thần cao độ, ngay cả khi sấm rền, sét đánh cũng không nghe thấy.

Ông thường vừa đi vừa suy nghĩ về đề tài nghiên cứu.

Một lần, ông đang đi đường thì trước mặt có 1 viên quan to là Từ Miễn đang đi tới.

Tổ Cánh không hề hay biết, cứ bước đâm sầm vào Từ Miễn.

Tới khi Từ Miễn vội lên tiếng, Tố Cánh mới như ngủ mê sực tỉnh, vội vàng chào hỏi và xin lỗi.

Từ Miễn thấy ông suy nghĩ quên cả đất trời như thế, cũng không quở trách gì.

Những năm cuối đời của Tổ Xung Chi, Tiêu Đạo Thành người chỉ huy quân cấm vệ của triều Tống đã diệt Tống.

Năm 479, Tiêu Đạo Thành xưng đế, lập nên triều Nam Tề.

Đó là Tề Cao Đế.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
PHẠM CHẨN CHỐNG MÊ TÍN


Thời Năm Bắc Triều, Phật giáo dần dần thịnh hành.

Trong triều đình Nam Tề, từ hoàng đế đến đại thần, đều đề xướng phật giáo.

Tể tướng Nam Tề là Cảnh Lăng vương Tiêu Tử Lương là 1 người rất sùng tín Phật giáo.

Tiêu Tử Lương có 1 biệt thự trên núi Kê Lung ở ngoại thành Kiến Khang.

Ông thường chiêu đãi các danh sĩ văn nhân ở đây.

Một lần, ông ta mời 1 số hòa thượng tới để giảng về đạo lý Phật giáo.

Tiêu Tử Lương cung kính bưng cơm chay và bưng trà mời các hòa thượng.

Có người cho rằng làm như vậy là mất thể thống của chức tể tướng, nhưng ông ta coi như không có chuyện gì.

Nhờ sự đề xướng của tể tướng, thế lực Phật giáo càng mạnh.

Các hòa thượng ra sức truyền bá giáo thuyết của Phật giáo là sau khi người ta chết đi, linh hồn vẫn tồn tại.

Còn nói là mỗi người giàu sang hay nghèo hèn đều là do nhân quả báo ứng từ kiếp trước.

Người nghèo bị khổ sở, nhục nhã đều do số kiếp đã định, không có cách gì cưỡng lại được.

Lúc đó, 1 nho sinh dũng cảm là Phạm Chẩn lên tiếng, vạch trần đó là 1 quan niệm mê tín, đề nghị mọi người đừng tin theo.

Anh họ của Phạm Chẩn là Phạm Vân, người năng lui tới nhà tể tướng Tiêu Tử Lương.

Tiêu Tử Lương nghe nói Phạm Chẩn dám công khai chống lại chủ trương đề xướng Phật giáo của mình thì vô cùng giận dữ, bảo Phạm Vân gọi Phạm Chẩn tới.

Tiêu Tử Lương hỏi Phạm Chẩn: "Ngươi không tin thuyết nhân quả báo ứng, thì ngươi thử nói xem, có người sinh ra giàu sang, có người sinh ra lại nghèo hèn là tại sao?".

Phạm Chẩn không hề sợ hãi, trả lời: "Điều đó không có gì lạ.

Lấy một thí dụ mọi người như một chùm hoa trên cây.

Một cơn gió thổi, hoa bay lả tả.

Có bông bay lọt qua rèm cửa, rơi xuống ghế ngồi; có bông bị thổi qua hàng rào, rơi xuống hố bùn".

Tiêu Tử Lương mở to mắt ngạc nhiên, chưa hiểu ý của Phạm Chẩn.

Chẩn thong thả nói tiếp: "Bông hoa rơi xuống ghế ngồi, giống như Ngài; còn bông hoa rơi xuống hố bùn, giống như tôi.

Giàu sang, nghèo hèn là như thế.

Làm gì có chuyện nhân quả báo ứng".

Phạm Chẩn từ chỗ Tiêu Tử Lương ra về, cảm thấy tuy đã phản bác được Tiêu Tử Lương, nhưng vẫn chưa nói được hết lý lẽ chống mê tín của mình, liền chuyên tâm ngồi viết 1 luận văn, nhan đề là "Thần diệt luận" (bàn về sự chết của tinh thần).

Nội dung khái lược như sau: "Hình thể là bản chất của tinh thần.

Tinh thần chỉ là sự biểu hiện và tác dụng của hình thể.

Có thể ví hình thể và tinh thần với con dao và tính chất sắc bén.

Không có dao thì không thể có tính chất và tác dụng sắc bén.

Không có hình thể thì sao có được tinh thần?".

Trong bài luận văn, Phạm Chẩn còn đoán định rằng, sau khi con người chết đi thì linh hồn không tồn tại.

Mọi thuyết về nhân quả báo ứng, chỉ là trò bịp người.

Bài luận văn được công bố, khắp triều đình từ trên xuống dưới đều sôi sục.

Một số người thân và bạn bè của Tiêu Tử Lương đều cho rằng không thể để mặc cho Phạm Chẩn nghĩ theo kiểu đó.

Tiêu Tử Lương lập tức cho mời 1 số cao tăng đến để tranh luận với Phạm Chẩn.

Nhưng lý luận của Phạm Chẩn bám chắc vào luận cứ khoa học, các cao tăng không có lý lẽ gì bẻ gãy được lập luận của ông.

Có 1 tín đồ Phật giáo tên là Vương Viêm châm biếm Phạm Chẩn: "Này Phạm tiên sinh, ngài không tin thần linh.

Thế thì ngài cũng không biết linh hồn của tổ tiên mình ở đâu nữa?".

Phạm Chẩn không chịu kém, lập tức châm biếm lại: "Thật đáng tiếc, Vương tiên sinh.

Ngài đã biết linh hồn của tổ tiên mình ở đâu, thì sao ngài không sớm đi gặp các vị đó đi!".

Tiêu Tử Lương sợ ảnh hưởng của Phạm Chẩn quá lớn sẽ làm lung lay niềm tin của các tín đồ Phật giáo, liền cử 1 người thân tín là Vương Dung đến khuyên Phạm Chẩn: "Tể tướng là người hết sức quí trọng nhân tài.

Người có tài như ngài, muốn làm tới chức Trung thư lang cũng chẳng khó gì!

Sao ngài cứ một mực khổ công đưa ra luận điểm ngược dòng như thế.

Theo tôi, ngài nên cho thu hồi bài văn không hợp thời ấy lại!".

Phạm Chẩn nghe xong, ngửa mặt cười ha hả, nói: "Phạm Chẩn tôi nếu vứt bỏ quan điểm của mình để xin làm quan, thì muốn chức quan to nữa cũng không khó, chứ chức Trung thư lang mà ngài nói đó có đáng kể gì!".

Tiêu Tử Lương không có cách gì đối phó với Phạm Chẩn, đành mặc cho ông tự do.

Vương triều Nam Tề chỉ trải qua có 1 đời vua Tề Cao Đế và Tề Vũ Đế rồi xảy ra nội loạn.

Thứ sử Ung Châu là Tiêu Diễn khởi binh đánh vào Kiến Khang.

Năm 502, Tiêu Diễn diệt Nam Tề, xây dựng nên triều Lương.

Đó là Lương Vũ Đế.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
NGỤY HIẾU VĂN ĐẾ CẢI CÁCH PHONG TỤC


Triều Bắc Ngụy từ sau khi Thái Vũ Đế chết đi, nền chính trị trở nên hủ bại.

Quí tộc Tiên Ty và các đại thương nhân áp bức, bóc lột nhân dân, làm nổ ra liên tục các cuộc phản kháng của các dân tộc ở miền bắc Trung Quốc.

Năm 471, Ngụy Hiếu Văn Đế lên ngôi, quyết tâm tiến hành những biện pháp cải cách.

Ngụy Hiếu Văn Đế qui định rõ bổng lộc của quan chức các cấp, trừng trị nghiêm khắc tham quan ô lại, thực hiện chế độ quân điền (chia đều ruộng đất cho nông dân), cấp đất hoang nông dân.

Mỗi đàn ông thanh niên được cấp 40 mẫu, phụ nữ mỗi người được 20 mẫu để trồng lương thực.

Ngoài ra còn chia đất trồng dâu.

Nông dân có nghĩa vụ nộp tô và lao dịch cho nhà nước.

Khi người nông dân chết, trừ ruộng dâu, phải trả ruộng cho nhà nước.

Nhờ vậy, ruộng đất được khai khẩn ngày một nhiều, sản xuất ngày càng phát triển, đời sống nông dân tương đối ổn định, no đủ, thu nhập của triều đình cũng tăng lên.

Ngụy Hiếu Văn Đế là người có tài chính trị.

Ông cho rằng muốn củng cố nền thống trị thì nhất định phải tiếp thu văn hóa Hán, cải cách những phong tục lạc hậu.

Để thực hiện điều đó, ông quyết tâm dời đô từ Bình Thành (nay ở đông bắc Đại Đồng, Sơn Tây) đến Lạc Dương.

Sợ các đại thần phản đối chủ trương dời đô, trước hết ông đề ra mục tiêu là tiến công đại qui mô vào Nam Tề.

Trong một buổi thiết triều, ông nêu ra ý định đó.

Các đại thần đua nhau phản đối, người phản đối mạnh mẽ nhất là Nhâm Thành vương Thác Bạt Trừng.

Hiếu Văn Đế nổi giận nói: "Đất nước là đất nước của trẫm.

Ngươi dám cản trở trẫm dùng binh hay sao?".

Thác Bạt Trừng cãi lại: "Tuy đất nước là của bệ hạ.

Nhưng là một đại thần, thấy rõ việc dùng binh là tai họa, lẽ nào lại không nói?".

Hiếu Văn Đế nghĩ ngợi 1 lát, rồi tuyên bố bãi triều.

Về cung, ông cho gọi riêng Thác Bạt Trừng vào, nói: "Nói thực với khanh, vừa rồi ta làm ra vẻ nổi giận là để dọa mọi người thôi.

Ý định thật của ta là cảm thấy Bình Thành chỉ là đất dụng võ, không thích hợp với việc cải cách chính trị.

Nay ta muốn thay đổi phong tục thì không thể không dời đô.

Lần này, ta nói là đem quân đánh Nam Tề, sự thực là muốn mượn cớ đó, dẫn bá quan văn võ dời đô xuống Trung nguyên.

Khanh thấy thế nào?".

Thác Bạt Trừng chợt hiểu, lập tức đồng ý với chủ trương của Hiếu Vũ Đế.

Năm 493, Hiếu Vũ Đế thân dẫn 30 vạn quân bộ và quân kỵ từ Bình Thành tiến xuống Lạc Dương.

Vừa lúc đó, mưa thu ròng rã suốt 1 tháng, đường xa lầy lội, hành quân rất khó khăn.

Nhưng Hiếu Văn Đế vẫn mang khôi giáp, cưỡi ngựa, hạ lệnh tiếp tục tiến quân.

Các đại thần vốn không muốn đem quân đánh Tề, nhận thấy trời mưa đều can ngăn Hiếu Văn Đế.

Hiếu Văn Đế trả lời nghiêm chỉnh: "Chúng ta ra quân lần này, đã huy động quân và dân phu.

Nếu nửa chừng bỏ dở, chẳng phải là trò cười cho đời sau hay sao?

Nếu không đánh Tề thì cũng dời quốc đô xuống gần đó, các khanh thấy thế nào?".

Các đại thần nhìn ngó lẫn nhau, không nói được gì.

Hiếu Văn Đế nói: "Không nên do dự.

Ai đồng ý dời đô thì đứng sang phía tả, ai không đồng ý thì đứng sang phía hữu".

Một đại thần là quí tộc nói: "Nếu bệ hạ đồng ý đình chỉ nam phạt, thì chúng thần đồng ý dời đô xuống Lạc Dương".

Nhiều quan chức văn võ tuy không tán thành dời đô, nhưng nghe nói có thể đình chỉ nam phạt, nên cũng đành tỏ thái độ ủng hộ việc dời đô.

Hiếu Văn Đế sắp xếp xong công việc ở Lạc Dương lại cùng với Nhâm Thành vương Thác Bạt Trừng trở về Bình Thành, thuyết phục các vương công quí tộc về cái lợi của việc dời đô và họp riêng với các lão thần, thảo luận việc dời đô.

Không ít quí tộc ở Bình Thành phản đối việc dời đô.

Mọi lý do họ nêu ra đều bị Hiếu Văn Đế phản bác.

Cuối cùng, không còn lý lẽ gì, những người phản đối liền nói: "Dời đô là việc đại sự.

Rút cuộc đó là lành hay dữ, còn cần phải bói toán xem đã".

Hiếu Văn Đế nói: "Bói toán là để giải quyết những việc còn phân vân chưa quyết định được.

Còn việc dời đô thì đã thấy rõ ràng là tốt rồi, cần gì phải bói nữa.

Muốn cai trị thiên hạ, cần coi bốn biển là nhà.

Nay đi xuống nam, ngày mai lên bắc, có lý nào cứ cố định một chỗ.

Thêm nữa, tổ tiên chúng ta cũng đã từng dời đô tới mấy lần.

Tại sao chúng ta lại không thể dời đô?".

Các đại thần quí tộc không còn lý lẽ gì ngăn cản được nữa, đành chấp hành lệnh dời đô.

Sau khi dời đô đến Lạc Dương, Hiếu Vă Đế tiếp tục đẩy mạnh việc cải cách phong tục.

Một lần trong khi bàn việc triều chính cùng các đại thần, ông hỏi: "Các khanh thấy nên thay đổi phong tục hay cứ giữ nguyên các phong tục cũ?".

Hàm Dương vương Thác Bạt Hỷ nói: "Đương nhiên là nên thay đổi phong tục".

Sau đó, Hiếu Văn Đế ban bố mấy điều qui định: Từ nay trong toàn quốc đổi dùng tiếng Hán.

Những người từ 30 tuổi trở lên có khó khăn, cho tạm hoãn; người dưới 30 tuổi làm quan trong triều, nhất loạt phải nói tiếng Hán; ai vi phạm sẽ giáng chức hoặc triệt chức.

Qui định từ quan đến dân đều thay đổi y phục theo lối Hán.

Khuyến khích người Tiên Ty thông hôn với giới sĩ tộc Hán.

Đổi họ của người Tiên Ty sang họ Hán.

Hoàng thất Bắc Ngụy vốn mang họ Thác Bạt, nay đổi sang họ Nguyên.

Ngụy Hiếu Văn Đế vốn tên là Thác Bạt Hoằng, nay đổi sang gọi là Nguyên Hoằng.

Nhờ sự cải cách mạnh dạn của Ngụy Hiếu Văn Đế, Bắc Ngụy đã có sự phát triển lớn về chính trị và kinh tế, xúc tiến sự hợp dung giữa tộc Tiên Ty và tộc Hán.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
BẮC NGỤY PHÂN LIỆT


Sau khi Bắc Ngụy dời đô xuống Lạc Dương, Hiếu Văn Đế đã 2 lần đem quân đánh Nam Tề, nhưng gặp phải sức phản kích của quân dân Nam Tề nên đều không giành được thắng lợi.

Năm 499, Nam Tề đưa quân đánh lên Bắc Ngụy.

Ngụy Hiếu Văn Đế đang có bệnh, vẫn đem quân chống lại, đánh lui được quân Tề.

Không lâu sau, Hiếu Văn Đế bị bệnh mất (năm 500).

Ngụy Tuyên Vũ Đế Nguyên Khác lên nối ngôi, Bắc Ngụy lại bắt đầu suy yếu.

Đến đời Ngụy Hiếu Minh Đế, khi lên ngôi còn rất nhỏ tuổi.

Hồ thái hậu lâm triều nghe chính sự.

Hồ thái hậu là người độc đoán và xa xỉ.

Bà sùng tín Phật giáo, cho rằng Phật giáo có thể giúp xóa mọi tội lỗi cho mình.

Bà cho xây dựng cạnh hoàng cung 1 ngôi chùa lớn nguy nga, đồ sộ, đặt tên là chùa Vĩnh Ninh.

Các tượng phật được thờ trong chùa, có pho bằng vàng ròng, có pho bằng bạch ngọc.Pho tượng lớn nhất có chiều cao 1 trượng 8 thước (=6m).

Cạnh chùa còn xây 1 bảo tháp 9 tầng cao 90 trượng (=300m).

Đêm khuya tĩnh lặng, gió làm lay động quả chuông treo trên tháp phát ra tiếng lan xa ngoài 10 dặm.

Trong chùa còn có 1000 gian tăng phòng, được trang trí ngọc ngà gấm vóc, dân thường nhìn thấy đều hoa mắt.

Theo nói lại, đây là ngôi chùa hoa lệ nhất từ khi Trung Quốc du nhập đạo Phật cho tới lúc đó.

Giai tầng thống trị Bắc Ngụy đã huy động rất nhiều nhân, tài, vật lực để đục các hang núi, dựng tượng phật trong đó.

Trước khi xây dựng kinh đô ở Lạc Dương, họ đã đục rất nhiều hang núi ở Vân Cương (nay ở núi Vũ Chu, Đại Đồng, Sơn Tây), và đặt hơn 10 vạn tượng phật ở đó.

Từ Tuyên Vũ Đế tới thời Hồ thái hậu, lại đục hang núi ở Long Môn Sơn để làm nơi thờ phật, ròng rã 24 năm, dùng tới hơn 80 vạn nhân công.

Những hang đá và tượng phật còn lại cho tới ngày nay, đã tỏ rõ nghệ thuật điêu khắc của nhân dân lao động thời đó.

Nhưng việc làm ấy đã khiến nhân dân phải đóng góp rất nhiều.

Do trong mấy đời vua trước của Bắc Ngụy, thế nước cường thịnh, giai cấp thống trị đã vơ vét và tích lũy được rất nhiều của cải Một lần, Hồ thái hậu ngẫu nhiên vào nhà kho xem xét, phát hiện thấy quá nhiều lụa là gấm vóc, dùng không sao hết.

Bà ta nảy ra 1 ý, gọi các quí tộc đại thần vào kho, tuyên bố thưởng cho họ theo cách: người nào có sức vác được bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu.

Các quí tộc đại thần đó đều là bọn tham lam, ào ào xông vào cố vác cho nhiều.

Nhưng hàng ngày, chúng chỉ quen ăn chơi phè phỡn, không tham gia lao động chân tay, sao có thể vác được nhiều.

Thượng thư lệnh Lý Sùng và Chương Vũ vương Nguyên Dung là 2 người xông lên trước, mỗi người vác 1 xấp lụa dầy, thở hổn hển quay ra.

Vừa bước đi mấy bước, cả 2 mệt quá, ngả lăn đùng.

Lý Sùng bị sụn lưng, còn Nguyên Dung bị sái cẳng, nằm quay lơ rên rỉ dưới đất.

Hồ thái hậu thấy thế, sai người thu lại 2 xấp lụa.

Hai vị đại thần không xơ múi được gì, lại bị đau, lòng khòng, khập khiễng ra khỏi cửa cung, bị đám đông ồn ào giễu cợt, cười nghiêng ngả.

Được Hồ thái hậu đầu têu, các quí tộc, đại thần đua nhau phô bày sự giàu sang của mình.

Thời Tây Tấn đã từng có đại phú hào Thạch Sùng, Bắc Ngụy đâu có chịu kém, Hà Giang vương Nguyên Thâm cũng muốn học theo kiểu Thạch Sùng.

Ông ta mở tiệc, mời các quí tộc đại thần đến dự.

Đồ dùng trên các bàn tiệc đủ cả cốc pha lê, bát mã não chế tạo cực kì tinh xảo.

Nguyên Thâm còn mời quan khách xem kho chứa vàng bạc, tơ lụa của mình.

Cuối cùng, mọi người được mời xem chuồng ngựa, thấy máng đựng thức ăn cho ngựa đều được làm bằng bạc.

Nguyên Thâm vừa hướng dẫn khách tham quan, vừa nói với Chương Vũ vương Nguyên Dung: "Mọi người đều nói là Thạch Sùng đời Tấn rất giàu có.

Tôi không tiếc là mình không được gặp Thạch Sùng, chỉ tiếc cho Thạch Sùng không được gặp tôi mà thôi!".

Nguyên Dung từ nhà Nguyên Thâm trở về, thấy mình không giàu có bằng Nguyên Thâm, thì buồn rầu ảo não, nằm bẹp trên giường 3 ngày liền không dậy được. quí tộc Bắc Ngụy đua nhau xa xỉ cùng cực như thế, đương nhiên phải ra sức bóc lột tàn tệ nhân dân lao động.

Nhân dân chịu không nổi, đã vùng lên phản kháng.

Lúc đó ở biên giới phía bắc, triều đình Bắc Ngụy lập nên 6 trấn, phái quân đến đóng giữ.

Năm 523, một người Hung Nô tên là Phá Lục Hàn Bạt Lăng dẫn đầu 1 số binh sĩ thuộc trấn Ốc Dã, giết tướng chỉ huy trấn, rồi phát động khởi nghĩa.

Binh sĩ ở 5 trấn khác đều sôi nổi hưởng ứng.

Thế lực quân khởi nghĩa mỗi ngày 1 lớn.

Cuối cùng, triều đình Bắc Ngụy lôi kéo được tộc Nhu Nhiên ở miền bắc để cùng đánh lại nghĩa quân, nên cuộc khởi nghĩa thất bại.

Để chấm dứt việc phản kháng của binh sĩ 6 trấn, triều đình Bắc Ngụy liền điều tất cả hơn 20 vạn binh sĩ ở đó xuống các vùng Ký Châu, Định Châu, Doanh Châu (đều thuộc tỉnh Hà Bắc hiện nay).

Số binh sĩ này không chịu nổi sự nô dịch hà khắc lại vùng lên khởi nghĩa ở Ký Châu.

Cát Vinh, người tộc Tiên Ty, lãnh đạo quân khởi nghĩa tiến đánh Doanh Châu.

Triều đình Bắc Ngụy cử Chương Vũ vương Nguyên Dung làm đại tư mã, Quảng Dương vương Nguyên Thâm (không phải là Nguyên Thâm đã nói ở trên) làm đại đô đốc, đem đại quân đánh dẹp.

Bọn quí tộc ăn chơi phè phỡn không quen chiến trận.

Quân khởi nghĩa của Cát Vinh đến trấn Bác Dã (nay ở vùng giữa tỉnh Hà Bắc), phái 1 đội kỵ binh nhẹ tập kích vào đại doanh của Nguyên Dung.

Nguyên Dung không phòng bị gì, bị quân khởi nghĩa giết chết.

Nguyên Thâm nghe tin Nguyên Dung bị giết, sợ hãi dẫn quân lui về Định Châu, cũng bị kỵ binh của Cát Vinh đuổi theo bắt sống.

Cát Vinh hợp các cánh quân khởi nghĩa lại, phao lên là có 100 vạn quân, chuẩn bị đánh về Lạc Dương, thanh thế lừng lẫy. lúc đó ở Tú Dung (nay thuộc tỉnh Sơn Tây) có 1 tù trưởng bộ lạc tên là Nhĩ Chu Vinh, chỉ huy 8000 kỵ binh dũng mãnh, chống đối lại quân khởi nghĩa.

Hiếu Minh Đế liền lợi dụng binh lực của Nhĩ Chu Vinh để đối phó với Cát Vinh.

Cát Vinh cho rằng Nhĩ Chu Vinh ít quân, dễ đối phó, liền triển khai quân trên 1 chính diện rộng mấy chục dặm, chuẩn bị vây bắt Nhĩ Chu Vinh.

Nào ngờ, Nhĩ Chu Vinh cho quân mai phục trong hẻm núi và dùng quân tinh nhuệ đánh thọc vào trận địa mỏng yếu của Cát Vinh tan tác, rồi từ mấy mặt đánh kẹp lại.

Quân khởi nghĩa bị đánh bại, bản thân Cát Vinh cũng bị giết chết.

Sau khi cuộc khởi nghĩa của Cát Vinh bị đánh bại, nội bộ triều đình Bắc Ngụy cũng xảy ra đại loạn.

Ba lực lượng của Nhĩ Chu Vinh, Hồ thái hậu và Hiếu Minh Đế tàn sát lẫn nhau.

Cuối cùng, thực quyền trong triều Bắc Ngụy rơi vào tay 2 viên đại tướng là Cao Hoan và Vũ Văn Thái.

Năm 534, Hiếu Vũ Đế của Bắc Ngụy phải chạy vào Trường An, dựa vào Vũ Văn Thái.

Năm sau, Vũ Văn Thái giết Hiếu Vũ Đế, lập Hiếu Văn Đế.

Cao Hoan lại phò tá Ngụy Hiếu Tĩnh Đế, dời đô đến Nghiệp Thành.

Từ đó, Bắc Ngụy phân biệt thành 2 triều đình.

Lịch sử gọi triều Ngụy đóng đô ở Trường An là Tây Ngụy, triều Ngụy đóng ở Nghiệp Thành là Đông Ngụy.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LƯƠNG VŨ ĐẾ LÀM HÒA THƯỢNG


Sau khi Bắc Ngụy xảy ra nội loạn, triều Lương ở phương nam mấy lần đem quân bắc phạt.

Nhưng Lương Vũ Đế không có tài quân sự, không những không thu hồi được đất đã mất mà còn bị tổn thất lớn về sinh mạng và tiền của.

Bắc Ngụy sau khi phân liệt, cũng không có sức tiến đánh phương nam, vì vậy triều Lương có 1 thời kỳ yên ổn tương đối dài.

Lương Vũ Đế thấy 2 triều đại Tống, Tề vì tàn sát lẫn nhau trong hoàng tộc mà bị diệt, nên chủ trương hết sức khoan dung với họ hàng thân thích trong hoàng tộc.

Trong hoàng tộc có ai đó phạm tội, ông ta chỉ dùng lời lẽ ôn tồn để khuyên bảo, chứ không xử phạt bao giờ.

Em thứ 6 của Lương Vũ Đế là Lâm Xuyên vương có mấy chục gian kho, lúc nào cũng khóa kín.

Có người ngờ rằng trong đó có chứa vũ khí, liền cáo giác với Lương Vũ Đế là Tiêu Hoằng tàng trữ vũ khí, chuẩn bị làm phản.

Lương Vũ Đế giật mình, liền tự dẫn cấm quân đến khám xét, Tiêu Hoằng thấy Lương Vũ Đế dẫn quân tới thì sợ hãi cuống cuồng.

Lương Vũ Đế càng thêm nghi ngờ, liền hạ lệnh mở hết các kho ra khám.

Cuối cùng phát hiện thấy trong hơn 30 gian kho đều chứa đầy tiền đồng, còn có rất nhiều vải, lụa, tơ, bông và các vật dụng khác, nhiều không đếm xuể.

Tiêu Hoằng đi theo Lương Vũ Đế, hết sức sợ hãi, lo rằng Lương Vũ Đế thấy nhiều của cải như thế thì sẽ bắt tội.

Không ngờ, Lương Vũ Đế kiểm tra xong, quay đầu lại cười hì hì với Tiêu Hoằng và nói: "Chú sáu, chú sống cũng không đến nỗi tồi, nhỉ?".

Sau lần kiểm tra đó, Lương Vũ Đế biết Tiêu Hoằng không có ý làm phản, nên lại càng tín nhiệm hơn trước.

Lương Vũ Đế nuông chiều thân thuộc và quan lại như vậy, nhưng lại đối đãi với dân chúng hoàn toàn khác.

Hễ có ai đi hành động đi ngược lại pháp luật của triều đình, đều bị trừng trị rất nặng.

Nếu người phạm tội bỏ trốn, thì cả nhà phải phạt khổ sai.

Do đó, bọn quí tộc quan liêu không sợ hãi gì cả, càng lộng hành và áp bức, bóc lột nhân dân hết sức tàn tệ.

Thậm chí, có kẻ công khai giết người giữa đường phố kinh thành cũng không có ai dám can thiệp.

Một viên quan chính trực tên là Hạ Thâm dâng lên 1 sớ tấu, nêu lên ý kiến với Lương Vũ Đế: một là hiện nay quan lại ở các châu quận bóc lột tàn khốc, nhân dân chịu không nổi.

Hai là, các quan lại cực kì xa xỉ, lãng phí hết sức nghiêm trọng.

Ba là, gian thần hoành hành, tác uy tác phúc, hãm hại người tốt.

Bốn là, xây dựng cung điện dinh thự tràn lan, không lúc nào ngừng, nhân dân phải phục dịch suốt năm không được nghỉ ngơi.

Mọi điều Hạ Thâm nêu lên đều là sự thực, nhưng Lương Vũ Đế không nghe lọt tai câu nào.

Ông ta lập tức đọc cho thái giám chép 1 chiếu thư quở trách Hạ Thâm.

Trong chiếu thư, ông ta tự miêu tả mình là 1 hoàng đế hiền minh hiếm có dưới gầm trời này, gồm đủ các đức tính cần lao và tiết kiệm, gọi các ý kiến của Hạ Thâm là hoang đường, vô căn cứ.

Lương Vũ Đế cũng là 1 ông vua sùng tín Phật giáo.

Ông ta cho xây dựng tại Kiến Khang 1 ngôi chùa có qui mô hùng vĩ là chùa Đồng Thái.

Mỗi buổi sớm, ông đều đến chùa thắp hương cúng Phật, giảng giải phật pháp cho mọi người nghe, nói rằng làm như vậy là để tiêu trừ tai nạn cho dân.

Về già, ông còn làm những việc hết sức kì cục nữa.

Mộ hôm, ông quyết định đến chùa Đồng Thái để "xá thân"( có nghĩa là xuất gia đi làm hòa thượng).

Hoàng đế làm sư, đây là sự việc mới có lần đầu.

Nhưng hoàng đế đã quyết, ai còn dám phản đối.

Thêm nữa lúc đó Phật giáo đang thịnh hành, hoàng đế tình nguyện làm hòa thượng, còn tỏ rõ rằng ông dốc lòng tin vào phật pháp.

Lương Vũ Đế đi tu trong 4 ngày thì trong cung cử người đi đón về.

Sau đó, ông nghĩ: làm như thế không thỏa đáng.

Bởi vì theo phong tục trong dân, một người muốn hoàn tục, phải bỏ ra một khoản tiền nộp cho nhà chùa để "chuộc thân".

Hoàng đế muốn hoàn tục cũng không thể không theo lệ đó.

Lần thứ 2, ông ta lại tới chùa Đồng Thái "xá thân", các đại thần mời ông về cung, ông không chịu.

Sau đó, các đại thần hiểu ý của ông, liền chuẩn bị 10 triệu quan tiền đem tới nhà chùa để "chuộc thân" cho "hoàng đế bồ tát".

Sư vãi trong chùa được một khoản tiền quá lớn thì mừng rỡ để ông hoàn tục.

Các đại thần liền chuẩn bị nghi trượng, đến chùa đón ông về.

Lần thứ 3, Lương Vũ Đế lại nghĩ ra 1 trò mới.

Ông đến chùa Đồng Thái "xá thân" một lần nữa và tuyên bố rằng, để tỏ rõ lòng sùng tín với đạo phật, ông không những gửi gắm bản thân mình, mà còn gửi gắm toàn bộ người trong cung và tất cả đất đai toàn quốc cho Phật.

Đã "xá" nhiều, tất nhiên tiền chuộc cũng phải nhiều.

Một tháng sau, các đại thần lại đem 20 triệu quan tiền nộp cho nhà chùa để "chuộc" ông về.

Vừa khéo, đúng ngày hôm đó, 1 tòa tháp của chùa Đồng Thái bị bốc cháy.

Hòa thượng trụ trì vội báo cáo với Lương Vũ Đế.

Lương Vũ Đế chắp tay nói, đó nhất định là do tà ma quấy rối.

Ông hạ chiếu thư, nói: "Đạo càng cao, ma cũng càng thịnh.

Chúng ta phải xây tháp cao hơn nữa, mới có thể trấn áp được tà khí".

Một năm sau, ông lại "xá thân" một lần nữa.

Các đại thần lại xuất kho ra 10 triệu quan tiền nữa để "chuộc" về.

Trước sau, Lương Vũ Đế đã 4 lần làm hòa thượng.

Các đại thần phải xuất kho ra 40 triệu quan tiền để "chuộc thân" cho hoàng đế.

Số tiền đó, đương nhiên là nã từ nhân dân lao động.

Lương Vũ Đế 1 lòng muốn làm hòa thượng, khiến công việc triều chính rối beng.

Một kẻ dã tâm lợi dụng sự ngu tối của ông, đã phát động 1 cuộc nổi loạn lớn chưa từng có.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
HẦU CẢNH, KẺ PHẢN PHÚC


Vào năm sau khi Lương Vũ Đế xuất gia lần cuối cùng, ông nằm mơ thấy 1 chuyện li kì: các thứ sử và thái thú của Bắc triều đều kéo nhau đến đầu hàng triều Lương.

Đây chẳng qua chỉ là 1 ảo mộng do ông mơ tưởng lâu ngày tạo thành, nhưng bản thân Lương Vũ Đế lại cho là 1 điềm lành được trời phật báo trước.

Hôm sau, trong buổi triều kiến bá quan, ông ta đem giấc mơ đó kể cho các quan nghe và nói: "Trẫm rất ít nằm mơ, giấc mơ này nhất định là một điềm tốt".

Các quan nghe xong, đều tung hô "vạn tuế".

Hai mươi ngày sau, có tin đại tướng của Tây Ngụy là Hầu Cảnh phái người đến, nói là hắn có thù oán với cả Đông Ngụy và Tây Ngụy nên quyết định đầu hàng Nam Lương và còn nói là sẽ hiến cho Nam Lương cả 13 châu quận từ Hàm Cốc Quan về phía đông.

Hầu Cảnh vốn là 1 đại tướng dưới quyền Cao Hoan, thừa tướng Đông Ngụy.

Cao Hoan giao cho Hầu Cảnh 10 vạn quân để trấn thủ vùng nam Hoàng Hà.

Khi sắp chết, Cao Hoan thấy Hầu Cảnh không đủ tin cậy, liền cử người triệu Hầu Cảnh về Lạc Dương.

Hầu Cảnh nghe tin Cao Hoan chết, liền không nghe theo mệnh lệnh của Đông Ngụy, mà đem binh mã sang hàng Tây Ngụy.

Thừa tướng Tây Ngụy là Vũ Văn Thái cũng không tin Hầu Cảnh, nên 1 mặt nhận đất của Hầu Cảnh, 1 mặt triệu Hầu Cảnh về Trường An để tước binh quyền của hắn.

Hầu Cảnh không để Vũ Văn Thái lừa mình, liền quay sang đầu hàng Nam Lương.

Sua khi tiếp kiến sứ giả Hầu Cảnh, Lương Vũ Đế lập tức triệu tập đại thần lại bàn bạc.

Đa số đại thần cho rằng giữa Nam Lương và Bắc Ngụy bao năm nay hòa thuận không va chạm gì với nhau, nay nếu lại tiếp nhận phản tướng của Bắc triều thì e rằng sẽ dẫn tới xung đột.

Nhưng Lương Vũ Đế cho rằng tiếp nhận Hầu Cảnh thì có thể nhân cơ hội khôi phục được Trung nguyên.

Lại nhớ tới giấc mơ của mình, ông cho rằng việc này là do Phật tổ phù hộ nên mới có.

Vì vậy, ông không nghe lời khuyên ca của các đại thần, quyết định tiếp nhận sự đầu hàng của Hầu Cảnh, phong Hầu Cảnh làm đại tướng quân, tước vị là Hà Nam vương.

Đồng thời phái cháu là Tiêu Uyên Minh dẫn 5 vạn quân lên tiếp ứng cho Hầu Cảnh.

Tiêu Uyên Minh dẫn quân lên phía bắc, bị quân Đông Ngụy tiến công.

Quân Lương từ nhiều năm nay không hề luyện tập chiến trận, kỷ luật và kỹ năng đều kém nên vừa giao phong với quân Đông Ngụy là tan vỡ, hầu như bị tiêu diệt hoàn toàn.

Tiêu Uyên Minh bị bắt sống.

Đông Ngụy lại tiến đánh Hầu Cảnh, Hầu Cảnh đại bại, chỉ còn hơn 800 người chạy xuống Thọ Dương thuộc Nam Lương.

Đông Ngụy phái sứ giả đến Nam Lương, đề nghị 2 bên lại giảng hòa và Đông Ngụy sẵn sàng thả Tiêu Uyên Minh về Nam Lương.

Hầu Cảnh được tin, rất sợ hãi, liền nghĩ ra 1 kế thăm dò, phái 1 người giả làm sứ giả Đông Ngụy, đi xuống Kiến Khang đưa thư đề nghị đổi Tiêu Uyên Minh lấy Hầu Cảnh.

Lương Vũ Đế không phân biệt được thật giả nhận được thư liền phúc đáp ngay, là chỉ cần Tiêu Uyên Minh được tha về thì sẽ lập tức trao Hầu Cảnh cho Đông Ngụy.

Hầu Cảnh vốn đã không thực lòng đầu hàng Nam Lương, nay lại xem được thư của Lương Vũ Đế muốn bán rẻ mình, liền quyết định chống lại Nam Lương.

Số quân trong tay Hầu Cảnh đã bị Đông Ngụy đánh cho tan tác, nhưng đối với triều Nam Lương thối nát thì lại vẫn là 1 lực lượng lợi hại.

Khi quân đội Hầu Cảnh sắp tới bờ bắc Trường Giang, Lương Vũ Đế phái cháu là Tiêu Chính Đức đem quân phòng thủ ở bờ nam.

Hầu Cảnh cử người dụ dỗ Tiêu Chính Đức là nếu chịu làm nội ứng thì sau khi lật đổ được Lương Vũ Đế, sẽ tôn Tiêu Chính Đức lên làm vua.

Hám ngôi vị hoàng đế, được lời hứa của Hầu Cảnh, Tiêu Chính Đức liền bí mật phái mấy chục chiếc thuyền lớn, giúp quân Hầu Cảnh vượt Trường Giang, rồi lại tự mình dẫn đội quân đó qua Hoài Hà.

Hầu Cảnh rất nhanh chóng tiến vào Kiến Khang, bao vây chặt Đài Thành là nơi cư trú của Lương Vũ Đế.

Quân Hầu Cảnh dùng mọi biện pháp đánh phá Đài Thành, quân dân trong Đài Thành kiên quyết chống lại: dùng nước dập tắt lửa do địch bắn vào; dùng đá tảng phá vỡ thang đánh thành của địch.

Quân Hầu Cảnh lại xẻ đất đắp núi để trèo vào thành, quân dân trong thành cũng đắp núi đất để chống lại.

Hai bên giằng co trong hơn 130 ngày.

Bắt đầu cuộc chiến tranh, trong thành có mười mấy vạn dân và hơn 2 vạn quân.

Trong quá trình chiến đấu, số thì chết trận, số thì chết đói và chết bệnh, cuối cùng chỉ còn lại không đầy 4000 người.

Trong thành đầy rẫy xác chết không có người chôn.

Mọi người hết lòng mong ngóng quân đội của các vương chư hầu của các châu về cứu viện.

Nào ngờ, các vương chư hầu đem hai, ba chục vạn quân về gần Kiến Khang rồi án binh bất động, lấy cớ còn chờ các cánh quân khác.

Người được tạm thời cử làm làm đại đô đốc là Liễu Trọng Lễ thì nằm lì ở nhà, uống rượu vui chơi.

Một lần, Lương Vũ Đế hỏi các đại thần xem có cách gì để đánh lui quân Hầu Cảnh, thì 1 vị đại thần trả lời: "Các vương công đại thần dưới quyền bệ hạ đều là một lũ bất trung bất hiếu, sao có thể đối phó với quân phản nghịch được?".

Đến bước đó, không còn ai cứu vãn được tình thế nữa.

Quân Hầu Cảnh tiến vào Đài Thành, Lương Vũ Đế trở thành tù binh của Hầu Cảnh.

Hầu Cảnh tự phong làm đại đô đốc, nắm đại quyền trong triều.

Trước hết, hắn giết kẻ đồng mưu vì hám làm hoàng đế là Tiêu Chính Đức, rồi giam lỏng Lương Vũ Đế, tiếp tế ăn uống rất hạn chế.

Lương Vũ Đế thiếu thốn khổ sở quá, cuối cùng chết đói trong Đài Thành.

Sau khi Lương Vũ Đế chết, Hầu Cảnh lần lượt lập nên 2 hoàng đế bù nhìn, mỗi người làm hoàng đế được 1 năm: đó là Tiêu Cương, tức giản Văn Đế năm 550 và Tiêu Đống, tức Dự Chương Vương năm 551.

Cuối cùng, Hầu Cảnh phế Tiêu Đống, tự lập làm hoàng đế (năm 551).

Hầu Cảnh tàn bạo, cho quân lính và tay sai thả cửa cướp bóc, tàn sát dân chúng, khơi dậy lòng căm thù sôi sục khắp miền Giang Nam.

Năm 552, đại tướng triều Lương là Trần Bá Tiên và Vương Tăng Biện dẫn đại quân xuất phát từ Giang Lăng, tiến đánh Kiến Khang.

Quân đội của Hầu Cảnh lập tức tan rã.

Hầu Cảnh dẫn mấy chục thủ hạ dùng thuyền nhỏ chạy trốn, nửa đường bị thủ hạ giết chết.

Vương triều Nam Lương qua cuộc biến loạn này, nội bộ chia năm xẻ bảy.

Đến năm 557, Trần bá Tiên xây dựng nên triều Trần ở Kiến Khang.

Đó là Trần Vũ Đế.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TRẦN HẬU CHỦ HƯỞNG LẠC MẤT NƯỚC


Khi Trần Vũ Đế xây dựng nên vương triều Trần thì ở miền bắc, Bắc Tề và Bắc Chu đã thay thế Đông Ngụy và Tây Ngụy.

Năm 550, Cao Tường, con của Cao Hoan ở Đông Ngụy xây dựng nên triều Bắc Tề.

Năm 557, Vũ Văn Giác, con của Vũ Văn Thái ở Tây Ngụy xây dựng nên triều Bắc Chu.

Bắc Tề và Bắc Chu lại xung đột nhau, đến đời Bắc Chu Vũ Đế (năm 561-579) thì Bắc Chu tiêu diệt Bắc Tề (578) và thống nhất miền bắc Trung Quốc.

Bắc Chu Vũ Đế là 1 hoàng đế khá giỏi giang, nhưng đến đời Tuyên Đế tiếp sau ông, thì lại là 1 hoàng đế hoang dâm bạo ngược.

Sau khi Chu Tuyên Đế chết đi, nhạc phụ là Dương Kiên tiếm quyền.

Năm 581, Dương Kiên lập ra triều Tùy, đó là Tùy Văn Đế.

Trong khi miền bắc ở trong tình trạng rối ren về chính trị, thì vương triều Trần ở miền nam tạm thời có được cục diện ổn định, kinh tế dần được khôi phục.

Nhưng đến đời thứ 5, lại là 1 ông vua buông thả vô độ đến kỳ lạ.

Đó là Trần Hậu Chủ.

Trần Hậu Chủ tên là Trần Thúc Bảo, là 1 hoàng đế không hiểu gì việc trị nước, chỉ biết uống rượu và vui chơi.

Ông ham mê việc xây dựng, cho dựng lên ở Kiến Khang 3 tòa lầu các hào hoa tráng lệ làm nơi ở cho các sủng phi.

Tể tướng Giang Tổng, thượng thư Khổng Phạm cũng đều là những văn nhân thối nát.

Mỗi khi Trần Hậu Chủ và các sủng phi mở tiệc trong cung, bao giờ cũng có Giang, Khổng tham gia.

Họ uống rượu ngâm thơ thâu đêm suốt sáng, người xướng kẻ họa, rồi phổ nhạc, chọn ra hơn 1000 cung nữ vừa múa vừa ca những tác phẩm của họ.

Để có cuộc sống phóng túng, xa hoa như vậy, đương nhiên Trần Hậu Chủ phải ra sức vơ vét bóc lột nhân dân.

Trăm họ lầm than, ly tán, khắp nơi có thể thấy thây người chết đói.

Một đại thần là Phó Tể dâng sớ lên nói: "Tình hình đất nước đã đến lúc trời giận, người oán, dân chúng chống lại, người thân xa rời rồi.

Nếu còn tiếp tục như thế này, e rằng vương triều ta sẽ diệt vong mất".

Trần Hậu Chủ xem xong sớ tấu, liền nổi giận đùng đùng, phái người tới bảo Phó Tể: "Ngươi có thấy như thế là đại bất kính không?

Nếu ngươi chịu nhận rõ tội thì Trẫm còn có thể khoan thứ cho ngươi".

Phó Tể trả lời sứ giả của Trần Hậu Chủ: "Tấm lòng của tôi cũng như khuôn mặt của tôi.

Nếu khuôn mặt có thể thay đổi được thì tấm lòng tôi mới có thể thay đổi được!".

Trần Hậu Chủ liền sai giết Phó Tể.

Năm thứ 5 đời Trần Hậu Chủ, triều Tùy ở miền bắc dần dần lớn mạnh lên, quyết định đem quân tiêu diệt triều Trần ở phương nam.

Tùy Văn Đế làm theo kế hoạch do các mưu sĩ đưa ra: cứ gần đến mùa gặt của miền Giang Nam thì Tùy cho tập kết người ngựa ở biên giới, tuyên bố chuẩn bị đánh xuống phía nam, làm cho dân chúng Trần xôn xao sợ hãi, không dám đi gặt lúa.

Chờ đến khi Trần tập trung đủ quân đội để chuẩn bị chống lại thì quân Tùy lại không tiến công nữa.

Cứ liên tục như vậy trong mấy năm, nền nông nghiệp Trần bị ảnh hưởng nặng và sự cảnh giác của quân đội cũng lơi lỏng.

Quân Tùy còn thường xuyên phái những toán nhỏ lẻn xuống tập kích, đốt phá kho tàng của Trần, khiến thực lực của Trần bị sứt mẻ nghiêm trọng.

Năm 588, Tùy Văn Đế chuẩn bị đội ngũ chiến thuyền hùng hậu, phái con là Tấn vương Dương Quảng cùng thừa tướng Dương Tố làm nguyên soái, Hạ Nhược Bật và Hàn Cầm Hổ làm đại tướng, dẫn 11 vạn quân, chia làm 8 đường, chuẩn bị vượt sông đánh Trần.

Tùy Văn Đế hạ chiếu thư, tuyên bố thảo phạt triều Trần, vạch ra 20 tội trạng của Trần Hậu Chủ và in ra 30 vạn bản, cử người phân phát khắp các địa phương ở Giang Nam.

Trăm họ nước Trần vốn đã căm giận Trần Hậu Chủ, nay nhận được chiếu thư của Tùy Văn Đế, đều rục rịch xôn xao cả lên.

Thủy quân Tùy do Dương Tố chỉ huy xuất phát từ Vĩnh An.

Mấy ngàn chiến thuyền lớn mang hiệu Hoàng Long (rồng vàng) theo dòng Trường Giang tiến xuống.

Cờ xí rợp sông, khôi giáp và vũ khí sáng lóa dưới ánh mặt trời.

Quân phòng thủ của Trần nhìn thấy cảnh đó, đều sợ hãi ngây người, làm gì còn tinh thần chiến đấu nữa.

Mấy cánh quân khác của Tùy đều tiến quân thuận lợi tới sát bờ sông.

Cánh bắc do Hạ Nhược Bật chỉ huy tiến tới Kinh Khẩu, cánh quân của Hàn Cầm Hổ tiến đến Cô Thục.

Quân phòng thủ của Trần gửi thư cáo cấp về Kiến Khang tới tấp như bươm bướm.

Trần Hậu Chủ cùng các sủng phi và văn nhân đang say nghiêng ngả.

Nhận được thư cáo cấp, ông ta chẳng thèm bóc xem, ném hàng đống trên giường, chẳng đoái hoài gì.

Về sau, thư cáo cấp càng lúc càng gấp.

Có đại thần nhiều lần xin họp để bàn việc chống quân Tùy, Trần Hậu Chủ mới cho họp đại thần lại bàn bạc.

Trần Hậu Chủ nói: "Đông nam là vùng phúc địa, trước kia Bắc Tề đã tiên công 3 lần, Bắc Chu cũng tiến công hai lần, nhưng đều thất bại.

Lần này quân Tùy đến, cũng chỉ là đến nộp mạng mà thôi.

Không có gì đáng sợ cả!".

Sủng thần Khổng, Phạm phụ họa theo nói: "Bệ hạ nói rất đúng.

Chúng ta có Trường Giang là thiên hiểm (chướng ngại thiên nhiên).

Quân Tùy không có cánh làm sao bay qua được!

Đây là do các tướng giữ biên thùy muốn kể công nên dựng chuyện ra thôi".

Các đại thần đua nhau dựa ý nhà vua, không coi quân Tùy ra gì.

Bàn quấy một hồi, rồi vua tôi lại cho ca nữa tấu nhạc, tiếp tục yến ẩm.

Năm 589, tháng giêng, quân mã của Hà Nhược Bật vượt sông ở Quảng Lăng, đánh chiếm Kinh Khẩu.

Cánh quân của Hàn Cầm Hổ vượt sông ở Hoàng Giang, tiến xuống Thái Thạch.

Hai cánh quân Tùy áp sát Kiến Khang.

Lửa đã cháy tới lông mi, Trần Hậu Chủ bắt đầu hoảng sợ.

Trong thành Kiến Khang có mười mấy vạn quân, nhưng các sủng thần Giang Tổng, Khổng Phạm vốn chỉ biết ngâm thơ, không biết chỉ huy quân đội thế nào.

Trần Hậu Chủ cuống cuồng khóc mếu, không có biện pháp gì.

Chẳng mấy lúc, quân Tùy đã tràn vào Kiến Khang.

Quân bảo vệ số thì đầu hàng, số thì bị bắt, không có sự kháng cự nào đáng kể.

Quân Tùy vào cung, tìm khắp nơi không thấy Trần Hậu Chủ đâu.

Sau, có mấy thái giám nói là Hậu Chủ đã chạy ra hậu điện, đâm đầu xuống giếng rồi.

Quân Tùy tìm tới hậu điện, nhìn xuống thì là cái giếng khô, thấp thoáng bên dưới thấy có người.

Quân Tùy thét hỏi, không thấy tiếng trả lời.

Quân lính liền dọa: "Nếu không trả lời sẽ ném đá xuống".

Một số lính vác đá tới, làm ra vẻ chuẩn bị ném xuống.

Trần Hậu Chủ sợ hãi kêu thất thanh, quân lính Tùy liền thả dây thừng xuống.

Lúc kéo lên thấy rất nặng.

Thì ra, ngoài Trần Hậu Chủ, còn có 2 sủng phi nữa cùng bám vào dây thừng, mặt mũi tái xanh tái xám.

Triều Trần, triều đại cuối cùng của Nam Triều diệt vong.

Như vậy, tính từ năm 316 khi Tây tấn diệt vong, qua hơn 270 năm chia cắt, Trung Quốc lại trở lại thống nhất dưới triều Tùy.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TRIỆU XƯỚC LÀM VIỆC THEO PHÁP LUẬT


Sau khi Tùy Văn Đế thống nhất đất nước, liền áp dụng các biện pháp củng cố nền chính trị, như cải cách quan chế, binh chế, lập chế độ khoa cử, tuyển dụng các quan chức có năng lực, trừng phạt nghiêm khắc tham quan ô lại.

Tùy Văn Đế còn sai sửa đổi hình luật, phế bỏ những hình phạt tàn khốc.

Đó vốn là 1 việc tốt, nhưng bản thân Tùy Văn Đế lại không làm theo hình luật đã sửa đó, mà thường khi nổi giận thì tùy tiện hạ lệnh giết người, không theo các qui định do luật đề ra.

Tình hình đó gây khó xử cho các quan chức tòa Đại lý (cơ quan phụ trách về tư pháp).

Đại lý thiếu khanh Triệu Xước thấy trách nhiệm của mình là bảo vệ pháp luật, nên thường có ý kiến trái với ý Tùy Văn Đế.

Tùy Văn Đế từng hạ lệnh cấm sử dụng những đồng tiền không phù hợp tiêu chuẩn do luật qui định.

Một lần, trên đường phố phường ở Đại Hưng (thành phố triều Tùy, nay là Tây An, Thiểm Tây) có người đem tiền nhẹ đổi lấy tiền đủ tiêu chuẩn, bị tố giác bắt giải đến nha môn.

Tùy Văn Đế nghe tin có kẻ dám phạm vào lệnh cấm của mình thì nổi nóng, hạ lệnh đem chém cả 2 người.

Triệu Xước nhận được lệnh, vội vào cung xin tiếp kiến Tùy Văn Đế và nói: "Hai người đó phạm vào lệnh cấm, theo hình luật chỉ có thể đánh trượng, chứ không nên xử tử".

Tùy Văn Đế bực bội nói: "Đó là lệnh của trẫm, không phải việc của khanh".

Triệu Xước nói: "Bệ hạ đã không ngại thần ngu muội, cho thần làm quan Đại lý.

Nay gặp phải việc giết người không theo đúng luật pháp, sao có thể nói là không phải việc của thần?".

Tùy Văn Đế nổi giận đùng đùng, nói: "Ngươi toan lay động đại thụ chăng?

Đại thụ không lay động được đâu, ngươi hãy cút đi!"

Triệu Xước nói: "Thần chỉ muốn khuyên bệ hạ thay đổi quyết định, đâu dám lay động đại thụ".

Tùy Văn Đế quát lại: "Ngươi muốn xúc phạm đến sự uy nghiêm của thiên tử chăng?".

Mặc dù bị dọa như vậy, Triệu Xước vẫn kiên trì ý kiến của mình, mặc cho Tùy Văn Đế quát mắng và đuổi ra, ông vẫn không chịu đi.

Tùy Văn Đế không biết làm thế nào, liền mặc ông đứng đó, bỏ đi vào nội cung.

Sau, do có 1 số đại thần khác cũng dâng sớ khuyên can, nên Tùy Văn Đế cuối cùng đã hủy bỏ lệnh xử tử 2 người đổi tiền.

Một lần khác, một viên quan tên là Tân Đản bị tố giác là có hoạt động mê tín dị đoan, vi phạm vào pháp luật.

Tùy Văn Đế lại hạ lệnh cho tòa Đại lý xử tử Tân Đản.

Triệu Xước vào triều, tấu với Tùy Văn Đế: "Tội của Tân Đảng không đáng chết.

Thần không thể chấp hành lệnh của bệ hạ".

Tùy Văn Đế giận run người, nói: "Ngươi muốn cứu Tân Đản thì cả ngươi cũng phải chết!".

Nói rồi, quát tả hữu lôi Triệu Xước xuống dưới điện.

Triệu Xước không hề sợ hãi, nói: "Bệ hạ có thể giết hạ thần, nhưng không nên giết Tân Đản".

Thị vệ đã lôi Triệu Xước xuống dưới điện, đang lột mũ áo của Triệu Xước, chuẩn bị đem chém thì Tùy Văn Đế cảm thấy nếu giết Triệu Xước là quá vô lý, liền sai người xuống hỏi: "Ngươi có còn gì muốn nói nữa không?".

Triệu Xước quì dưới đất, vươn thẳng lưng lên nói: "Thần một lòng bảo vệ pháp luật, không ngại gì cái chết".

Tùy Văn Đế vốn không có ý định giết Triệu Xước, suy nghĩ 1 hồi lâu, cơn giận nguôi đi.

Ông thấy Triệu Xước ra sức bảo vệ pháp luật, xét cho cùng là có lợi có việc cai trị của mình, liền hạ lệnh tha Triệu Xước.

Hôm sau, còn cử người tới an ủi Triệu Xước.

Trong tòa Đại lý, có 1 viên quan tên là Lai Khoáng, nghe nói Tùy Văn Đế nhiều lần không hài lòng với Triệu Xước, liền phụ họa với Tùy Văn Đế, dâng sớ tấu nói rằng tòa Đại lý chấp hành pháp luật không nghiêm.

Tùy Văn Đế xem sớ tấu, cho rằng Lai Khoáng nói đúng, liền thăng quan cho y.

Lai Khoáng cho rằng mình đã được hoàng đế tin dùng, lại dâng sớ vu cáo Triệu Xước vì tư tình mà làm điều sai trái, đã miễn tội cho kẻ phạm pháp.

Tùy Văn Đế tuy có không ưa Triệu Xước hay trái ý mình, nhưng cũng không hoàn toàn tin vào lời tâu của Lai Khoáng.

Ông cử người thân tín đi điều tra thì thấy không hề có chuyện đó.

Tùy Văn Đế nổi giận, lập tức hạ lệnh xử tử Lai Khoáng và giao cho tòa Đại lý chấp hành.

Trao việc này cho tòa Đại lý, ông nghĩ rằng Triệu Xước là người bị vu cáo, tất nhiên sẽ nhanh chóng thi hành.

Ngờ đâu, Triệu Xước lại tâu lên: "Lai Khoáng tuy có tội, nhưng chưa đến mức phải xử tử".

Tùy Văn Đế bực mình, phất tay áo, bỏ đi vào nội cung.

Triệu Xước ở đằng sau, kêu to lên: "Thần không nói về chuyện Lai Khoáng nữa.

Nhưng thần có việc rất quan trọng, muốn được trực tiếp tâu lên bệ hạ".

Tùy Văn Đế tưởng là thực, liền cho gọi Triệu Xước vào nội cung.

Tùy Văn Đế hỏi Triệu Xước xem có chuyện gì quan trọng.

Triệu Xước tâu: "Thần có ba tội lớn, xin bệ hạ trừng phạt.

Một là, bản thân thần là Đại lý thiếu khanh mà không quản lý được các quan chức dưới quyền, để cho Lai Khoáng vi phạm pháp luật.

Hai là, tội Lai Khoáng không đáng xử tử, thần không đủ khả năng biện luận cho hết lý lẽ.

Ba là, thần xin vào cung, vốn không có việc gì, chỉ vì nôn nóng vội vã nên đã đánh lừa bệ hạ là có việc quan trọng".

Tùy Văn Đế nghe đến mấy câu cuối cùng thì không nhịn được cười.

Độc Cô hoàng hậu ngồi bên cạnh thấy vậy, cũng rất nể trọng sự chính trực của Triệu Xước, liền lệnh cho tả hữu ban cho Triệu Xước 2 cốc rượu.

Tùy Văn Đế cũng đồng ý miễn án tử cho Lai Khoáng, đổi thành cách chức và đày đi xa.

Tùy Văn Đế rút ra bài học từ sự mất nước của Trần Hậu Chủ nên rất chú ý đến việc tiết kiệm.

Khi phát hiện các quan lại có hành vi tham ô, xa xỉ, ông đều nghiêm trị.

Ngay đến con đẻ của mình, ông cũng không tha.

Tần vương Dương Tuấn là con của Tùy Văn Đế, vì ở xa nên đã tự ý cho xây dựng cung thất hoa lệ cho mình.

Tùy Văn Đế phát hiện, lập tức tước bỏ vương vị của Dương Tuấn và đem giam lại.

Các đại thần tâu lên: "Tần vương không phạm tội gì lớn, chẳng qua chỉ tiêu phí một ít tiền của để xây dựng nhà cửa, xin bệ hạ hãy khoan dung".

Tể tướng Dương Tố cũng thấy xử phạt Dương Tuấn như thế là quá nặng.

Tùy Văn Đế nói: "Trẫm là người đứng đầu một nước, đâu phải chỉ là người cha của mấy đứa con.

Vì vậy, phải xử lý theo luật pháp.

Nếu nói như các khanh, thì phải chăng cần soạn riêng một bộ luật dành cho các hoàng tử?".

Các đại thần không biết nói gì nữa.

Tùy Văn Đế lại phát hiện thái tử Dương Dũng sinh hoạt xa xỉ, thích phô trương, nên rất không hài lòng, gọi đến giáo huấn nghiêm khắc: "Từ xưa tới nay, phàm những đế vương thích xa hoa, số mệnh không bao giờ lâu dài được.

Ngươi là thái tử, cần phải đặc biệt chú ý tiết kiệm mới phải!".

Hoàng tử Tấn vương Dương Quảng là người giảo hoạt hơn 2 người anh em của mình.

Ông nắm vững tính nết của cha, nên ngoài mặt làm ra vẻ hết sức thật thà, giản dị, đánh lừa được cả Tùy Văn Đế và Độc Cô hoàng hậu, được cả 2 người yêu mến và tin cậy.

Lại nhờ có Dương Tố giúp đỡ nói thêm vào.

Kết quả, Tùy Văn Đế quyết định phế truất Dương Dũng, lập Dương Quảng làm thái tử.

Cho mãi tới khi bệnh nặng, Tùy Văn Đế mới phát hiện Dương Quảng là người có phẩm hạnh rất xấu.

Ông toan cho Dương Dũng trở lại ngôi thái tử, nhưng không kịp nữa rồi.

Dương Quảng nhanh tay hơn, đã đầu độc giết cha, giành lấy ngôi vua.

Đó là Tùy Dạng Đế, một bạo quân nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
TÙY DẠNG ĐẾ CHƠI GIANG ĐÔ


Sau khi Tùy Dạng Đế Dương Quảng lên ngôi, liền nghĩ cách tăng cường sự khống chế về chính trị trong cả nước, đồng thời làm cho vật tư dồi dào của miền Giang Nam có thể vận chuyển thuận lợi lên miền bắc, cộng thêm tính ham hưởng lạc, nên chủ trương làm ngay 2 việc "lớn": một là, xây dựng Lạc Dương thành một đô thành mới, gọi là Đông Đô.

Hai là đào 1 con sông thông suốt nam bắc, gọi là Đại vận hà.

Năm 605, Tùy Dạng Đế trao cho Vũ Văn Khải, 1 đại thần chuyên quản lý việc xây dựng, nhiệm vụ xây dựng Đông Đô.

Vũ Văn Khải là 1 công trình sư có tài.

Ông ta đoán đúng tâm lý thích phô trương xa xỉ của Tùy Dạng Đế nên đã cho xây dựng Đông Đô hết sức to lớn, tráng lệ.

Mọi thứ gỗ tốt, đá quí đều được vận chuyển từ vùng phía nam Trường Giang, phía bắc Ngũ Lĩnh lên.

Chỉ riêng 1 cây gỗ lớn dùng làm cột, đã phải điều hàng ngàn người kéo.

Để xây dựng Đông Đô, mỗi tháng phải huy động 2 triệu dân công thi công liên tục suốt ngày đêm.

Ở phía tây Lạc Dương, còn làm 1 vườn hoa lớn, dành riêng cho Tùy Dạng Đế thưởng ngoạn, gọi là Tây Uyển.

Vườn có chu vi 200 dặm, bên trong có biển và núi nhân tạo, các đình đài lầu các, kỳ hoa dị thảo, không thứ gì không có.

Điều đặc biệt không tưởng tượng được, là vào mùa đông khi cây trụi hết lá, rất nhiều người đã được cắt cử đến để dán lên mọi cành cây các mảnh lụa màu theo đúng hình hoa lá của từng loại cây, khiến cho khắp vùng vườn rộng lớn được xanh tốt như mùa xuân, hạ.

Cũng trong năm khởi công xây dựng Đông Đô, Tùy Dạng Đế còn hạ lệnh điều động hơn 1 triệu dân phu thuộc Hà Nam và Hoài Bắc để đào 1 con sông từ vườn Tây Uyển ở Lạc Dương đến Sơn Dương (nay là Hoài An, Giang Tô) ở bờ nam Hoài Thủy và đặt tên là "Thông Tế cừ".

Ngoài ra, còn điều hơn 10 vạn dân phu ở Hoài Nam để nạo vét Hàn Cừ nối Sơn Dương với Giang Đô (nay là Dương Châu, Giang Tô).

Hàn Cừ vốn được Ngô vương Phù Sai cho đào từ thời Xuân thu, đến lúc đó nhiều chỗ đã bị lấp cạn.

Hai đoạn đường thủy trên được mở ra và khai thông khiến cho việc giao thông đường thủy từ Lạc Dương đến Giang Nam tiện lợi hơn trước rất nhiều.

Trong 5 năm sau đó, Tùy Dạng Đế lại 2 lần hạ lệnh điều dân phu để đào vận hà.

Đoạn thứ nhất từ bờ bắc Hoàng Hà ở Lạc Dương đến Trác Quận (nay là Bắc Kinh), gọi là "Vĩnh Tế cừ".

Đoạn thứ 2 từ Kinh Khẩu (nay là Trấn Giang, Giang Tô) đến Dư Hàng (nay là Hàng Châu, Triết Giang), gọi là "Giang Nam Hà".

Cuối cùng, nối liền 4 vận hà trên lại với nhau, thành ra 1 Đại vận hà xuyên suốt bắc nam, dài tới 4000 dặm.

Đại vận hà này là 1 trong những công trình vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Nó có vai trò tích cực trong việc phát triển kinh tế, văn hóa và duy trì sự thống nhất của Trung Quốc.

Tất nhiên, để có được công trình vĩ đại này, nhân dân lao động đã phải đổ mồ hôi và thậm chí cả sinh mạng mới hoàn thành được.

Tùy Dạng Đế đặc biệt thích đi tuần du bên ngoài kinh đô Lạc Dương, một là để chơi bời hưởng lạc, hai là để tỏ rõ uy phong với trăm họ.

Khi vận hà nối liền Lạc Dương (tức Đông Đô) với Giang Đô vừa làm xong.

Tùy Dạng Đế liền dẫn 1 đội ngũ đông đảo gồm 20 vạn người đi tuần du Giang Đô.

Trước đó, Tùy Dạng Đế đã cho đóng hơn 1 vạn chiếc thuyền lớn dùng cho việc này.

Ngày xuất phát, Tùy Dạng Đế và Tiêu hoàng hậu mỗi người dùng 1 chiếc thuyền cực lớn 4 tầng.

Trên mỗi thuyền, có bố trí cung điện và hơn 100 gian cung thất, trang trí vàng son rực rỡ.

Tiếp sau 2 thuyền lớn là mấy ngàn thuyền hoa dành cho các cung phi, vương công quí tộc, văn võ bá quan.

Sau đó là mấy ngàn thuyền lớn chở binh lính tùy tùng cùng vũ khí, màn trướng.

Trên 1 vạn chiếc thuyền dàn trên mặt sông, từ thuyền đầu tới thuyền cuối dài tới 200 dặm.

Đoàn thuyền lớn như vậy vận hành bằng cách nào?

Các quan lo việc phục vụ ăn chơi cho hoàng đế đã chuẩn bị đầy đủ: hai bờ vận hà, đã trồng liễu thành hàng tít tắp, sát bờ sông là con đường đất nhỏ, 8 vạn dân phu được điều động để kéo thuyền, có kỵ binh đi kèm đốc thúc.

Quang cảnh chuyển đi thật tưng bừng, rộn rã.

Dưới sông là đoàn thuyền dài vô tận, treo đèn kết hoa rực rỡ; trên bờ là kỵ binh và phu kéo thuyền mang những lá cờ ngũ sắc lớn.

Về đêm, đèn đuốc sáng trưng, chiêng trống vang rền, quang cảnh hào hoa không lời nào tả xiết.

Để cung cấp mọi hưởng dụng cho đoàn du ngoạn, Tùy Dạng Đế hạ lệnh cho nhân dân vùng 2 bờ sông phải nộp đủ rượu thịt và lương thực, gọi việc đó là "hiến thực".

Các quan châu huyện nhận lệnh, liền bắt dân soạn sửa tiệc rượu dâng lên hoàng thượng.

Mỗi huyện phải chuẩn bị hàng trăm mâm tiệc.

Tùy Dạng Đế và cung phi, thái giám, vương công đại thần không thể nào ăn hết.

Thức ăn dư thừa được sai đổ xuống 1 hố lớn ven bờ rồi lấp đi.

Trong khi đó, những người dân lo toan chạy vạy để hiến thực, có nhiều người phải khuynh gia bại sản.

Giang Đô thời đó là 1 đô thị phồn hoa.

Tùy Dạng Đế đến đó ngoài việc thả sức ăn chơi hưởng lạc, còn nhân dịp phô diễn oai phong.

Chỉ riêng đồ dùng và nghi trượng phục vụ cho 1 lần tuần du, đã cần hơn 10 vạn nhân công chế tác và tiêu tốn hàng trăm triệu quan tiền.

Lần tuần du đầu tiên kéo dài đúng nửa năm trời.

Sau đó Dạng Đế mới trở lại Đông Đô.

Từ đó trở về sau, hầu như năm nào Tùy Dạng Đế cũng mở cuộc tuần du.

Một lần, ông ta đi đường bộ lên phía bắc, điều động dân phu của mười mấy quận huyện Hà Bắc, đục núi Thái Hàng, lấy đá rải trên đường sẽ đi qua.

Để đảm bảo an toàn cho cuộc tuần du, còn điều động hơn 1 triệu người sửa lại Trường Thành, hẹn trong 20 ngày phải xong.

Sau đó, dưới sự hộ tống của 50 vạn quân, Tùy Dạng Đế tiến hành cuộc tuần du dọc biên cảnh phía bắc.

Ở miền bắc, không có sẵn cung điện dành cho Tùy Dạng Đế nghỉ ngơi, công trình sư Vũ Văn Khải liền đặc biệt chế tạo 1 cung điện di động dành cho hoàng đế và hoàng hậu, cung phi, thị vệ, đặt tên là "Quan phong hành điện".

Loại "hành điện" này khi sử dụng đến thì lắp lại, lúc thường có thể tháo ra để vận chuyển theo.

Khi lắp, toàn bộ hành điện có thể di động nhờ những bánh xe đặt bên dưới, bên trong có thể chứa mấy trăm người.

Vào thời bấy giờ, loại cung điện di động này có thể kể là 1 phát minh.

Nhưng đáng tiếc, nó chỉ nhằm phục vụ riêng cho Tùy Dạng Đế mà thôi.

Việc xây dựng Đông Đô, đào vận hà, đắp Trường Thành, cộng thêm những cuộc tuần du liên miên hết năm này đến năm khác, khiến cho nhân dân phải lao dịch và đóng góp sưu thuế nặng nề tới mức không sao chịu đựng nổi.

Trước tình hình đó, sự kiêu sa, dâm dật của Tùy Dạng Đế lại càng ngày càng tăng thêm.

Để phô trương sức mạnh và khoe khoang vũ công, năm 611, Tùy Dạng Đế phát động cuộc chiến tranh xâm lược Cao Ly (nay là bán đảo Triều Tiên).

Năm đó, ông xuất phát từ Giang Đô, cưỡi thuyền rồng theo vận hà đi lên Trác Quận, đích thân chỉ huy cuộc chiến.

Ông hạ lệnh cho quân đội trong cả nước không kể xa gần, đều phải tập trung về Trác Quận.

Ngoài ra, còn hạ lệnh bắt thợ thuyền về cửa biển Đông Lai (nay thuộc huyện Dịch, Sơn Đông) chế tạo gấp 300 thuyền chiến lớn.

Các dân phu làm thuyền có quan lại đôn đốc nghiêm ngặt, thay nhau làm việc suốt ngày đêm, ngày nào cũng phải ngâm nửa mình dưới nước biển, nên từ lưng trở xuống đều bị bợt da, thối thịt.

Rất nhiều người không chịu đựng nổi, đã gục chết trong nước biển.

Đồng thời, Tùy Dạng Đế còn hạ lệnh cho các vùng Hà Nam, Hoài Nam, Giang Nam chế tạo 5 vạn cỗ xe lớn, đưa đến Cao Dương vận chuyển khôi giáp, màn trướng cho binh lính.

Một mặt, lệnh cho miền Giang Nam, Hoài Nam huy động dân phu và thuyền bè chở lương thực từ kho Lê Dương (nay ở đông nam huyện Tuấn, Hà Nam) và kho Lạc Khẩu lên Trác Quận.

Thế là, thuyền bè xe cộ khắp nước, không kể ngày đêm từ các hướng nườm nượp đi lên Trác Quận.

Mấy chục vạn dân phu quá mỏi mệt, nhiều người chết gục trên đường, suốt dải đường dài đầy xác chết.

Dân phu vì thế bị thiếu, trâu bò cày liền được điều đi thồ thay người, làm cho đồng ruộng bỏ hoang, toàn dân lâm vào nạn đói.

Nhân dân không chịu nổi nữa, liền vùng lên phản kháng.

Đầu tiên là Vương Bạc ở Trâu Bình (nay thuộc Sơn Đông) lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở núi Trường Bạch.

Vương Bạc sáng tác ra bài hát "không đi chết uổng ở Liêu Đông", kêu gọi nhân dân chống lại quan lại triều đình.

Lời ca viết:

"...Nếu thấy quan quân đến

Vác dao vùng chém luôn

Dù đầu rơi máu chảy

Còn hơn đi Liêu Đông..."

Tiếp đó, ở các vùng rộng lớn thuộc Sơn Đông, Hà Bắc liên tiếp nổ ra các cuộc khởi nghĩa nông dân.

Nền thống trị của vương triều Tùy bắt đầu lung lay.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LÝ MẬT ĐỌC SÁCH TRÊN LƯNG TRÂU


Trong cuộc tiến công Cao Ly lần thứ nhất, quân Tùy bị đại bại.

Hơn 1 triệu quân xuất chinh, chỉ còn chạy về được 2700.

Thảm bại như vậy, nhưng Tùy Dạng Đế vẫn chưa thôi cuồng vọng.

Ông lại thu góp lực lượng, phát động cuộc tiến công lần thứ 2, và đích thân chỉ huy đại quân tiến công Liêu Đông.

Đại thần Dương Huyền Cảm được phân công lo việc vận chuyển lương thảo từ hậu phương Lê Dương ra mặt trận.

Cha Dương Huyền Cảm là Dương Tố đã từng là người thân tín của Tùy Dạng Đế, giúp Dạng Đế rất đắc lực trong việc tranh giành ngôi hoàng đế.

Nhưng sau lại bị Dạng Đế nghi ngờ, nên uất ức mà chết.

Vì thế, Dương Huyền Cảm rất bất mãn với Tùy Dạng Đế.

Lần này, thấy tình hình hỗn loạn, Dương Huyền Cảm muốn lợi dụng thời cơ để lật đổ Tùy Dạng Đế.

Lấy danh nghĩa đại thần phụ trách đôn đốc việc vận chuyển lương thảo, Dương Huyền Cảm ra lệnh điều động 8000 trai tráng làm phu và người chở thuyền để vận chuyển lương thực ra tiền tuyến Liêu Đông.

Những thanh niên này rất chán ghét việc làm phu phen, lần này nghe tin phải đi lao dịch ra tiền tuyến nên đều hết sức phẫn nộ.

Dương Huyền Cảm tập hợp đám dân phu đó lại, tuyên bố: "Đương kim hoàng thượng không đếm xỉa gì đến sự sống chết của trăm họ, buộc hàng ngàn hàng vạn người từ già cả đến trai tráng đi bỏ mạng ở Liêu Đông.

Tình hình này không thể chịu đựng được nữa.

Ta bị buộc phải làm việc này.

Nay ta quyết tâm cùng mọi người vùng lên lật đổ bạo quân, các ngươi có dám theo ta không?".

Mọi người thấy có 1 đại thần dẫn đầu họ chống lại triều đình thì tất thảy đều tán thành, tiếng hoan hô vang dậy.

Dương Huyền Cảm tổ chức 8000 người đó thành đội ngũ, phân phát vũ khí cho họ để chuẩn bị chống lại quân Tùy.

Nhưng lúc đó, Dương Huyền Cảm thấy bên cạnh mình thiếu 1 người làm mưu sĩ để giúp việc bày mưu tính kế, liền nhớ tới 1 người bạn thân lúc đó đang ở Trường An.

Người đó là Lý Mật.

Ông cha của Lý Mật từng là quí tộc dưới triều Bắc Chu và triều Tùy.

Khi còn thanh niên, Lý Mật đã được cử vào cung làm thị vệ cho Tùy Dạng Đế.

Vốn tính tình linh hoạt hay tò mò, khi phục vụ Tùy Dạng Đế, Lý Mật hay nhìn ngang nhìn ngửa, nên bị Tùy Dạng Đế cho là không đáng tin cậy và thải ra khỏi hàng ngũ thị vệ.

Lý Mật không buồn nản, về nhà liền vùi đầu đọc sách, quyết tâm là 1 kẻ sĩ.

Một hôm, Lý Mật cưỡi 1 con trâu đi thăm bè bạn.

Dọc đường, không bỏ phí thời gian, ông buộc sách Hán thư vào sừng trâu để vừa đi vừa đọc.

Đúng lúc đó, tể tướng Dương Tố đi xe ngựa từ phía sau vượt lên, thấy trước mặt có 1 thanh niên đang đọc sách trên lưng trâu thì lấy làm lạ.

Dương Tố ngồi trên xe, hỏi sang: "Này cậu học trò kia, sao mà chăm chỉ thế?".

Lý Mật quay sang, nhận ra là tể tướng, liền vội vàng tụt từ lưng trâu xuống, vái chào Dương Tố và xưng rõ họ tên.

Dương Tố hỏi: "Cậu đọc sách gì thế?".

Lý Mật thưa: "Kẻ thư sinh này đang đọc Hán thư, phần truyện kí về Hạng Vũ".

Dương Tố hỏi chuyện Lý Mật hồi lâu, nhận thấy chàng thanh niên này có hoài bão lớn.

Về nhà liền nói với con là Dương Huyền Cảm: "Ta thấy học thức và tài năng của Lý Mật hơn mấy anh em con nhiều.

Sau này có việc gì quan trọng, các con nên hỏi Lý Mật".

Từ đó, Dương Huyền Cảm giao du thân thiết với Lý Mật.

Lần này cần tìm mưu sĩ, Dương Huyền Cảm nhớ tới lời dặn của cha, liền cử người về Trường An, đón Lý Mật tới Lê Dương.

Khi Lý Mật tới, Dương Huyền Cảm hỏi về việc muốn đánh đổ Tùy Dạng Đế thì nên hành động thế nào.

Lý Mật nói: "Có ba phương án hành động.

Phương án thứ nhất: hiện nay Tùy Dạng Đế đang ở Liêu Đông, chúng ta đem quân lên phía bắc, chặn đường lui của hôn quân.

Như vậy, chỉ không quá mười ngày, lương thực không được tiếp tế, phía trước có Cao Ly, phía sau ta trấn giữ, chúng tự khắc tan vỡ, ta không cần đánh cũng giành được thắng lợi.

Đó là thượng sách.

Phương án hai là đem quân về phía tây, chiếm lấy Trường An, là hậu phương của triều Tùy; nếu quân triều đình kéo về, ta sẽ lấy vùng Quan Trung làm căn cứ địa, dựa vào địa thế hiểm yếu mà giữ vững.

Đó là trung sách.

Phương án thứ ba là đánh chiếm Đông Đô Lạc Dương ở gần đây; nhưng đó chỉ là hạ sách, bởi vì Đông Đô còn một số quân triều đình đóng giữ, không chắc chắn chiếm nhanh được".

Dương Huyền Cảm vốn nôn nóng, muốn thành công ngay, nghe 3 phương án của Lý Mật, thấy 2 phương án đầu tốn thời gian quá, liền nói: "Tôi thấy hạ sách lại là phương án tốt.

Hiện nay gia đình quân quan triều đình đều ở Đông Đô, chúng ta chiếm được Đông Đô, bắt hết gia đình của họ, thì lòng quân sẽ dao động, ta sẽ giành thắng lợi".

Dương Huyền Cảm liền điều quân từ Lê Dương tiến đánh Đông Đô.

Trên đường tiến công, rất nhiều nông dân hăng hái tham gia quân khởi nghĩa, quân số tăng lên tới 10 vạn, đánh thắng liên tục mấy trận.

Tùy Dạng Đế đang chỉ huy quân đội đánh dữ dội vào Liêu Đông, được tin cáo cấp, liền lui binh ngay trong đêm, phái đại tướng Vũ Văn Thuật cùng 1 số tướng khác chia đường tiến đánh Dương Huyền Cảm.

Dương Huyền Cảm không chống nổi, muốn kéo quân về Trường An.

Vũ Văn Thuật dẫn quân đuổi riết, vây chặt quân Dương Huyền Cảm lại.

Dương Huyền Cảm hết đường chạy, cuối cùng bị giết.

Lý Mật từ trong đám loạn quân chuồn ra, định trốn về Trường An, nhưng bị quân Tùy lùng bắt được.

Tướng Tùy phái quân áp giải Lý Mật về chỗ Tùy Dạng Đế.

Dọc đường, Lý Mật bàn với hơn 10 phạm nhân cùng bị áp giải, đem hết tiền bạc có trong người, hối lộ cho quân áp giải để chúng chè chén say sưa.

Nhân lúc quân Tùy lơi lỏng, Lý Mật và các phạm nhân khác vượt tường trốn thoát.

Sau khi thoát vòng nguy hiểm, Lý Mật toan dựa vào 1 thủ lĩnh quân khởi nghĩa đang nổi lên ở miền bắc để tiếp tục chống lại triều Tùy.

Nhưng 1 số thủ lĩnh nghĩa quân thấy Lý Mật là 1 thư sinh yếu đuối, nên tỏ ý coi thường.

Lý Mật phải thay tên đổi họ, trốn tránh khắp nơi, mấy lần suýt bị quan quân triều đình bắt được.

Cuối cùng nghe tin ở Đông Quận (nay ở phía đông huyện Hoạt, Hà Nam) có cánh quân khởi nghĩa ở trại Ngõa Cương, có binh lực rất mạnh, người đứng đầu là Trác Nhượng, rất trung hậu, thích kết giao với anh hùng hào kiệt, liền quyết định đến Đông Quận, đi theo quân Ngõa Cương.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
QUÂN NGÕA CƯƠNG PHÁ KHO, CHIA LƯƠNG THỰC


Trác Nhượng, thủ lĩnh quân Ngõa Cương vốn là 1 viên lại nhỏ ở Đông Quận, vì có lỗi với quan trên, bị bắt giam và xử tử tội.

Một người coi ngục thương cảm bảo: "Tôi thấy ông là một trang hảo hán, sao có thể cứ ở đây mà chờ chết".

Đêm tối, người đó lén phá xiềng xích, mở cửa nhà ngục, thả ông ra.

Trác Nhượng thoát khỏi ngục, chạy đến trại Ngõa Cương ở gần đó, chiêu tập một số nông dân nghèo khổ, tổ chức 1 đội quân khởi nghĩa.

Thanh niên trai tráng trong vùng nghe tin đến theo rất đông.

Trong số đó, có 1 thanh niên tên là Từ Thế Tích, mới 17 tuổi, không những võ nghệ cao cường, lại rất có mưu trí.

Từ Thế Tích khuyên Trác Nhượng: "Quanh đây đều là dân làng nghèo khổ.

Chúng ta không nên bắt họ đóng góp.

Tôi thấy vùng Huỳnh Dương có rất nhiều nhà giàu có, chi bằng ta nên tới đó để lấy lương thực".

Trác Nhượng nghe theo ý kiến Từ Thế Tích, dẫn quân tới Huỳnh Dương, chuyên đánh vào dinh quan và các nhà phú thương, đoạt được rất nhiều tài sản.

Nông dân quanh vùng đi theo Trác Nhượng ngày một nhiều, đội ngũ nhanh chóng tăng lên tới hơn 1 vạn người.

Sau khi Lý Mật đến với Trác Nhượng, liền giúp Trác Nhượng chỉnh đốn người ngựa thành đội ngũ chỉnh tề.

Lúc đó, vùng lân cận cũng có 1 số nhóm nông dân khởi nghĩa.

Lý Mật tới các nơi đó bắt liên lạc, thuyết phục họ liên hợp lại dưới sự chỉ huy của Trác Nhượng.

Trác Nhượng rất phấn khởi, dần dần thân thiết với Lý Mật.

Đội ngũ ngày càng phát triển mạnh, nhưng Trác Nhượng không nghĩ rằng mình có thể lật đổ Tùy Dạng Đế.

Lý Mật liền nói với Trác Nhượng: "Trước kia Lưu Bang, Hạng Vũ cũng chỉ là những người dân bình thường, mà cuối cùng lật đổ được triều Tần.

Nay hoàng đế ngu tối, bạo ngược, trăm họ oán giận, quân đội triều đình đại bộ phận ở xa mãi Liêu Đông.

Trong tay ngài có đủ quân mạnh ngựa khỏe, muốn đánh hạ Đông Đô và Trường An thì không khó khăn gì?".

Trác Nhượng Nghe xong rất phấn khởi, nói: "Lời của tiên sinh rất đúng, tôi chưa nghĩ được tới điều đó".

Sau đó, 2 người bàn bạc, quyết định đánh Huỳnh Dương trước.

Thái thú Huỳnh Dương cáo cấp với Tùy Dạng Đế, Tùy Dạng Đế phái đại tướng Trương Tu Đà đem quân trấn áp.

Trương Tu Đà là viên tướng đã từng trấn áp nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân.

Trác Nhượng đã từng bị hắn đánh thua, lần này nghe tin hắn lại mang quân đến, nên có ý sợ.

Lý Mật nói: "Trương Tu Đà hữu dũng vô mưu, lại thêm hắn cậy có nhiều quân nên nên kiêu ngạo khinh địch.

Chúng ta lợi dụng nhược điểm của hắn, thì có thể đánh bại hắn".

Lý Mật đề nghị Trác Nhượng bày trận, đón đánh chính diện quân địch, còn tự mình dẫn 1000 người ngựa bố trí mai phục trong rừng rậm ở phía bắc chùa Đại Hải thuộc Huỳnh Dương.

Trương Tu Đà khinh thường, coi Trác Nhượng không phải là đối thủ của mình, nên đùng đùng dẫn quân xông thẳng tới Trác Nhượng chống cự qua loa rồi vờ thua chạy.

Trương Tu Đà đuổi theo hơn 10 dặm, đường đi ngày càng hẹp, rừng càng lúc càng rậm rạp, vào tới giữa vùng bố trí phục binh.

Lý Mật lập tức nổi hiệu lệnh, quân Ngõa Cương mai phục sẵn, nhất tề xông ra chém giết, vây chặt Trương Tu Đà lại.

Trương Tu Đà tuy dũng mãnh, nhưng bị bao vây nhiều lớp, tả xung hữu đột nhưng không sao thoát ra được.

Toàn bộ cánh quân lớn của Trương Tu Đà cuối cùng bị tiêu diệt, bản thân Trương Tu Đà bị giết chết.

Qua cuộc chiến đấu này, uy tín của Lý Mật trong quân Ngõa Cương lên cao.

Lý Mật giữ kỷ luật nghiêm minh, sinh hoạt lại rất giản dị. phần tiền bạc tịch thu từ quân triều đình, ông ta đều đem chia cho tướng sĩ.

Lâu ngày, các tướng sĩ dần dần qui tụ xung quanh Lý Mật.

Mùa xuân năm 617, Lý Mật khuyên Trác Nhượng nên nhân lúc Tùy Dạng Đế tuần du Giang Đô, Đông Đô bị bỏ trống, nên tiến công vào Đông Đô.

Người của quân Ngõa Cương phái đến Đông Đô thám thính, bị quân phòng thủ bắt được, nên việc phòng thủ được tăng cường.

Lý Mật liền đổi kế hoạch, đề nghị trước hết hãy đánh kho Hưng Lạc (nay ở huyện Củng, Hà Nam).

Kho Hưng Lạc, còn gọi là kho Lạc Khẩu, là kho lương thực lớn nhất của triều Tùy.

Chu vi kho dài tới hơn 20 dặm, trong đó có 3000 hầm cất giấu lương thực, mỗi hầm chứa 8000 thạch lúa.

Đây là mồ hôi nước mắt của nông dân bị triều Tùy bóc lột trong nhiều năm, tích trữ ở đây.

Trác Nhượng, Lý Mật dẫn 7000 tinh binh tiến đánh kho Hưng Lạc.

Nghĩa quân vốn đều là nông dân bị tan cửa mất nhà, khi nghe tin đi đánh kho lương thực thì đều hăm hở, hăng hái bội phần.

Bị tiến công, quân phòng thủ cố gắng chống trả nhưng không thể nào chống nổi với quân Ngõa Cương dũng mãnh như hùm mọc cánh.

Chẳng mấy chốc, kho Hưng Lạc lọt vào tay nghĩa quân.

Chiếm được kho, quân Ngõa Cương lập tức hạ lệnh mở kho, phân phát thóc lúa cho dân.

Binh sĩ chuyển các bao lúa ra cho nhân dân thỏa sức lĩnh về.

Nông dân đói khổ khắp nơi các vùng ùn ùn kéo đến kho xin lĩnh lúa.

Từ người già đầu bạc đến phụ nữ địu con sau lưng ai nấy đều xúc động, nước mắt lưng tròng, vô cùng cảm kích trước ân tình của quân khởi nghĩa.

Tiếp sau, quân Ngõa Cương lại đánh bại quân cứu viện của triều đình.

Lúc này, quyền chỉ huy nghĩa quân dần dần tập trung trong tay Lý Mật.

Trác Nhượng thấy tài năng của mình không bằng Lý Mật, liền nhường địa vị thủ lĩnh cho Lý Mật.

Mọi người tôn Lý Mật làm Ngụy Công, kiêm Hành quân nguyên soái.

Sau khi quân Ngõa Cương xây dựng chính quyền của mình ở Lạc Khẩu, liền thừa thắng đánh chiếm quận, huyện.

Quan lại và binh lính triều Tùy tới tấp đầu hàng.

Quân Ngõa Cương tiến đánh Đông Đô, đồng thời phát hịch kể tội Tùy Dạng Đế và kêu gọi trăm họ cùng đứng lên lật đổ nền thống trị của vương triều Tùy.

Sự kiện này làm khắp vùng Trung nguyên chấn động.

Chính trong lúc quân Ngõa Cương phát triển thắng lợi thì nội bộ lại xảy ra chia rẽ nghiêm trọng.

Sau khi Trác Nhượng nhường quyền thủ lĩnh cho Lý Mật thì 1 số tướng lĩnh và thủ hạ của Trác Nhượng không hài lòng.

Một số người khuyên Trác Nhượng đòi lại quyền, nhưng Trác Nhượng vẫn cười ha hả, cho chuyện đó không đáng để tâm.

Nhưng những lời đó đến tai Lý Mật, khiến Lý Mật rất không hài lòng.

Thủ hạ của Lý Mật xúi giục ông ta nên trừ khử Trác Nhượng đi.

Để giữ vững địa vị của mình, Lý Mật liền ngả theo ý kiến đó, bắt đầu nuôi dã tâm.

Một hôm, Lý Mật mở tiệc mời Trác Nhượng.

Giữa buổi tiệc, Lý Mật đuổi những binh sĩ bảo vệ Trác Nhượng ra ngoài, rồi giả vờ đưa ra 1 cây cung tốt, đề nghị Trác Nhượng giương thử.

Trác Nhượng đang khom mình giương cung thì đao phủ do Lý Mật bố trí sẵn đã chém gục ông xuống.

Sau biến cố đó, quân Ngõa Cương bắt đầu đi xuống.

Trong khi đó, cánh quân chống Tùy do Lý Uyên lãnh đạo đang dần lớn mạnh lên.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LÝ UYÊN KHỞI BINH Ở THÁI NGUYÊN


Lý Uyên vốn là quí tộc của vương triều Tùy, kế thừa tước vị của ông cha, nên được phong là Đường quốc công.

Năm 617, Tùy Dạng Đế phái Lý Uyên đi giữ chức lưu thủ Thái Nguyên (nay là thành phố Thái Nguyên, thủ phủ tỉnh Sơn Tây) để trấn áp quân khởi nghĩa nông dân.

Ban đầu, ông đánh thắng 1 số trận, nhưng quân khởi nghĩa càng ngày càng mạnh, mỗi lúc một đông thêm nên ông rất bối rối.

Lý Uyên có 4 con trai, con trai thứ 2 là Lý Thế Dân, năm ấy mới 18 tuổi, là 1 thanh niên gan dạ và mưu trí, thường thích kết giao với những người có tài.

Mọi người thấy Lý Thế Dân hào phóng, hiếu khách, nên ai cũng thích giao du.

Lý Thế Dân thấy triều Tùy không thể kéo dài sự thống trị được nữa, nên thâm tâm từ lâu đã có dự tính hành động.

Huyện lệnh Tấn Dương (nay thuộc Thái Nguyên, Sơn Tây) là Lưu Văn Tĩnh hết sức coi trọng Lý Thế Dân; Lý Thế Dân cũng coi Lưu Văn Tĩnh là bạn tri kỷ.

Lưu Văn Tĩnh lại có quan hệ thân thích với Lý Mật.

Sau khi Lý Mật tham gia quân khởi nghĩa chống triều đình, Tùy Dạng Đế hạ lệnh tróc nã thân thích và bạn bè của Lý Mật.

Lưu Văn Tĩnh liền bị cách chức huyện lệnh và bị giam ở nhà giam huyện Tấn Dương.

Lý Thế Dân nghe tin Lưu Văn Tĩnh bị bắt giam, liền vội vã đến thăm.

Lý Thế Dân cầm tay Lưu Văn Tĩnh nói: "Lưu đại ca, tôi đến thăm đại ca, không phải chỉ là tỏ tình cảm mà còn có việc muốn thỉnh giáo đại ca đấy".

Lưu Văn Tĩnh từ lâu đã hiểu rõ tâm trạng của Lý Thế Dân, liền nói: "Hiện nay hoàng đế ở mãi tận Giang Đô.

Lý Mật đã áp sát Đông Đô, khắp nơi đều nổi lên làm phản.

Đó là thời cơ tốt để giành thiên hạ.

Tôi có thể giúp đại huynh tập hợp được mười vạn người ngựa.

Và lệnh phụ (chỉ Lý Uyên) đã có trong tay mấy vạn người.

Nếu dùng lực lượng đó đánh vào Trường An, ban bố hiệu lệnh cho thiên hạ, thì không tới nửa năm sẽ giành được thiên hạ".

Lý Thế Dân hết sức vui mừng, nói: "Đại ca đã nói đúng điều tôi muốn hỏi".

Về nhà, Lý Thế Dân nghĩ tới lời Lưu Văn Tĩnh, càng nghĩ càng thấy có lý.

Nhưng muốn thuyết phục cha nghe theo ý kiến đó, không phải là chuyện dễ.

Vừa may lúc đó, ở phía bắc Thái Nguyên, khả hãn Đột Quyết (một dân tộc thiểu số ở miền bắc Trung Quốc) đem quân tiến công Mã Ấp.

Lý Uyên đem quân chống lại, liên tiếp bị thua trận.

Lý uyên hết sức lo Tùy Dạng Đế biết được việc này sẽ trừng phạt mình, nên luống cuống không biết xử trí ra sao.

Lý Thế Dân nắm ngay thời cơ đó, liền khuyên cha đem quân chống lại triều đình.

Lý Uyên nghe nói, hết sức run sợ, nói: "Sao con dám nói những lời phản nghịch đó.

Nếu ta đi báo quan thì con sẽ bị bắt giam ngay lập tức".

Lý Thế Dân không hề sợ hãi, nói: "Cha muốn cáo giác thì cáo giác đi.

Con không sợ chết đâu!".

Đương nhiên Lý Uyên không đi cáo giác, chỉ dặn Lý Thế Dân từ sau không được nói lời lẽ như thế.

Hôm sau lý Thế Dân lại nói với Lý Uyên: "Cha được hoàng đế phái tới đây để dẹp loạn.

Nhưng xem tình hình trước mắt, thì người làm phản càng ngày càng nhiều, ch làm sao có thể dẹp được?

Thêm nữa, hoàng thượng rất hay nghi kỵ, dù cha có lập được công thì địa vị cũng bị đe dọa nghiêm trọng.

Chỉ có làm như lời con nói hôm qua, thì mới có đường thoát".

Lý Uyên do dự rất lâu rồi mới thở dài nói: "Suốt đêm qua cha đã suy nghĩ về ý kiến của con, cảm thấy cũng có lý.

Nhưng cha vẫn không dám quyết đoán.

Thôi thì bây giờ, hoặc là nhà tan người chết, hoặc là biến nhà thành nước (ý nói chiếm được cả nước, lên làm hoàng đế) đều tùy ở con cả!".

Thế là Lý Uyên mở nhà ngục, tha Lưu Văn Tĩnh ra.

Lưu Văn Tĩnh giúp Lý Thế Dân, cùng đi chiêu binh mãi mã.

Lý Uyên còn gọi 2 con trai khác là Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát đang đánh giặc ở Hà Đông, về tập trung ở Thái Nguyên.

Hai quan chức cấp phó ở Thái Nguyên thấy hành động của cha con Lý Uyên không bình thường, muốn can ngăn lại.

Lý Uyên liền lấy cớ họ câu kết với Đột Quyết, sai bắt lại và giết đi.

Lý uyên còn nghe theo kế của Lưu Văn Tĩnh, phái người mang lễ vật rất hậu, đến giảng hòa với khả hãn Đột Quyết, hẹn nhau cùng chống lại triều Tùy.

Khả hãn Đột Quyết thấy như vậy rất có lợi cho mình, liền nhận lời giúp đỡ Lý Uyên.

Giải quyết ổn thỏa xong với Đột Quyết, Lý Uyên liền chính thức khởi binh chống Tùy.

Lý Uyên tự xưng là Đại tướng quân, cử Lý Kiến Thành và Lý Thế Dân làm tả, hữu Lĩnh quân đại đô đốc, Lưu Văn Tĩnh làm tư mã, và gọi toàn thể binh sĩ là "nghĩa sĩ".

Họ dẫn 3 vạn quân rời Tấn Dương, tiến về Trường An.

Dọc đường tiến quân, tiếp tục chiêu mộ người ngựa, đồng thời học theo cách làm của quân khởi nghĩa nông dân, mở kho lương thực để phân phát cho dân nghèo.

Nhờ thế, dân chúng tham gia vào hàng ngũ ngày càng đông.

Quân Đường (vì tước vị của Lý Uyên là Đường quốc công nên quân đội dưới quyền được gọi là Đường quân) đến Hoắc Ấp (nay ở huyện Hoắc, Sơn Tây) thì gặp phải lực lượng đánh chặn của Tống Lão Sinh, 1 viên tướng của triều đình.

Đường xa ở vùng Hoắc Ấp rất chật hẹp, lại thêm mưa liền mấy ngày, việc tải lương bị gián đoạn.

Trong binh lính có tin đồn xôn xao là quân Đột Quyết chuẩn bị đánh úp Tấn Dương; Lý Uyên hoang mang, muốn lui quân về Tấn Dương.

Lý Thế Dân nói với cha: "Nay đang là mùa thu, ngoài đồng đầy lúa chín, lo gì không có lương thực!

Tống Lão Sinh cũng không có gì đáng sợ, Chúng ta dùng danh nghĩa nghĩa binh để hiệu triệu thiên hạ, nếu không chiến đấu mà đã rút lui thì sao tránh khỏi khiến mọi người thất vọng.

Nếu trở về Tấn Dương thì sẽ không còn triển vọng gì nữa".

Lý Kiến Thành cũng ủng hộ ý kiến của người em.

Do đó Lý Uyên mới thay đổi ý định, không nói đến việc lui quân nữa.

Một ngày tháng 8, trời vừa tạnh mưa, từ sáng sớm, quân Đường đã ven theo đường nhỏ dưới chân núi, hành quân gấp tới bên thành Hoắc Ấp.

Lý Uyên phái Kiến Thành dẫn mấy chục kỵ binh tới dưới thành khiêu chiến.

Tống Lão Sinh thấy quân Đường ít ỏi, liền mở toan cửa thành, dẫn 3 vạn quân ra đánh.

Lý Thế Dân dẫn quân đã bố trí sẵn từ 1 ngọn núi phía nam ào ạt xông xuống chém giết.

Quân mã của Tống Lão Sinh bị cắt rời tan tác.

Tống Lão Sinh hoảng sợ, toan dẫn quân quay trở lại thành, nhưng thành đã bị 1 cánh quân khác của Lý Uyên chiếm mất; cửa thành bị đóng chặt.

Tống Lão Sinh hết đường tiến lui, bị quân Đường giết chết.

Sau khi đánh chiếm Hoắc Ấp, quân Đường tiếp tục tiến về phía tây, vượt qua Hoàng Hà với sự phối hợp của quân nông dân Quan Trung.

Con gái của Lý Uyên lúc đó ở Trường An cũng chiêu mộ được hơn 1 vạn người ngựa, lập 1 đội "Nương tử quân", hưởng ứng quân Đường.

Lý Uyên tập trung hơn 20 vạn quân đánh Trường An, quân Tùy giữ Trường An không thể chống lại được.

Lý Uyên vào Trường An, liền tuyên bố 12 điều ước pháp để tranh thủ lòng dân, đồng thời phế bỏ hết mọi pháp lệnh hà khắc của vương triều Tùy.

Tạm thời, Lý Uyên đưa cháu của Tùy Dạng Đế là Dương Hựu lên làm hoàng đế bù nhìn.

Năm sau (618), khi có tin Tùy Dạng Đế bị giết từ Giang Đô truyền lên, Lý Uyên liền phế Dương Hựu, tự xưng là hoàng đế, đổi quốc hiệu là Đường.

Đó là Đường Cao Tổ.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
LÝ THẾ DÂN CHIẾM ĐÔNG ĐÔ


Trong khi Lý Uyên đánh Trường An thì quân khởi nghĩa ở khắp nơi trong nước cũng phát triển và lớn mạnh.

Ngoài quân Ngõa Cương còn các lực lượng chủ yếu khác như quân khởi nghĩa ở Hà Bắc do Đậu Kiến Đức lãnh đạo, quân khởi nghĩa ở Giang Hoài do Đỗ Phục Uy cầm đầu.

Các cánh quân khởi nghĩa đều dồn dập tiến đánh quân triều đình.

Hôn quân tàn bạo, Tùy Dạng Đế biết ngày tàn của mình sắp đến, liền bỏ chạy xuống Giang Đô, ngày ngày cùng Tiêu hoàng hậu và các phi tần uống rượu vui chơi, chìm đắm trong say sưa điên đảo.

Ông không muốn nghe biết mọi tin tức thất bại của quân triều đình, nhưng trong lòng đã cực kì hoang mang, nói với Tiêu hoàng hậu: "Nghe nói bên ngoài có nhiều kẻ muốn thanh toán ta.

Nhưng mặc kệ, ta cứ việc uống rượu cho sướng!".

Có lần, ông ta cầm gương lên soi, tự ngắm nghía hồi lâu, rồi nói: "Cái đầu đẹp quá, không biết kẻ nào sẽ tới chặt đây".

Cái ngày mà Tùy Dạng Đế lo lắng cuối cùng đã tới.

Binh lính trong đội quân cấm vệ của Tùy Dạng Đế, đa số là người Quan Trung (tức phía tây Hàm Cốc quan, gần Trường An, nay gồm tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc).

Họ thấy trước mắt nếu cứ đi theo Tùy Dạng Đế thì sẽ rất nguy hiểm.

Tướng Vũ Văn Hóa Cập nắm được tâm lý binh lính đang muốn đào ngũ trốn về quê hương, liền phát động binh biến.

Vũ Văn Hóa Cập dẫn binh sĩ tiến công hoàng cung, cử người giam lỏng và giám sát chặt Tùy Dạng Đế.

Tùy Dạng Đế hỏi người giám thị: "Ta phạm tội gì?".

Viên giám thị nói: "Ngươi phát động chiến tranh, xa xỉ cùng cực, tin dùng kẻ gian tà, cự tuyệt lời ngay thẳng, làm cho đàn ông phơi xác trên chiến trường, đàn bà trẻ nhỏ bỏ mạng nơi đường xá, trăm họ lưu tán khắp nơi.

Ngươi còn nói là vô tội sao?".

Tùy Dạng Đế nói: "Đúng là ta có lỗi với trăm họ, nhưng các ngươi đều cùng ta hưởng phú quí, ta đâu có lỗi với các ngươi.

Việc làm hôm nay do ai đứng đầu?".

Viên giám thị trả lời: "Nhân dân cả nước đều căm giận hôn quân.

Đâu chỉ riêng người đứng đầu!".

Tùy Dạng Đế không còn nói gì được nữa, liền cởi khăn quấn trên đầu giao cho viên giám thị.

Các vệ sĩ dùng dải khăn đó thắt cổ giết chết kẻ thống trị tàn bạo.

Triều Tùy chỉ thống trị Trung Quốc được 38 năm, tới đây là kết thúc.

Sau khi Tùy Dạng Đế chết, Đông Đô Lạc Dương vẫn nằm trong tay viên lưu thú Đông Đô và Dương Đồng (cháu của Tùy Dạng Đế) và đại thần Vương Thế Sung.

Vương Thế Sung lập Dương Đồng lên làm hoàng đế, tiếp tục giương lá cờ của triều Tùy để chống lại quân khởi nghĩa.

Vùng xung quanh Đông Đô vốn thuộc phạm vi hoạt động của quân Ngõa Cương.

Lý Mật đã nhiều lần đánh bại quân Tùy, nhưng vì kiêu ngạo tự mãn, lại nghi ngờ các tướng lĩnh nghĩa quân, nên sau trận đánh thắng lợi với lực lượng của Vũ Văn Hóa Cập từ Giang Đô kéo lên, lực lượng quân Ngõa Cương của Lý Mật dần suy yếu.

Vương Thế Sung nhằm đúng nhược điểm của Lý Mật, liền mở 1 trận tập kích, đánh tan đại quân Lý Mật.

Lý Mật dẫn tàn binh bại tướng chạy lên Trường An, theo triều Đường.

Vương Thế Sung đuổi được Lý Mật, tự cho là có lực lượng mạnh, liền phế Dương Đồng, tự xưng là hoàng đế, lấy quốc hiệu là Trịnh.

Lúc đó, quân Đường đã dẹp được mấy thế lực cát cứ của địa chủ cường hào ở tây bắc, ổn định được hậu phương.

Năm 620, Đường Cao Tổ cử Lý Thế Dân thống lĩnh đại quân đi đánh Đông Đô.

Quân Lý Thế Dân ra khỏi cửa Hàm Cốc, rất nhiều châu huyện thuộc Hà Nam liên tiếp đầu hàng, nên đã nhanh chóng hình thành thế bao vây với Đông Đô.

Lý Thế Dân không những giỏi đánh trận mà còn khéo dùng người.

Ông thu nạp được 1 số hàng tướng từ hàng ngũ quân Ngõa Cương và các thế lực cát cứ khác.

Trong số này, có những người đã trở thành trợ thủ đắc lực của ông, như Tần Thúc Bảo, Trình Giảo Kim, Uất Trì Cung tức Uất Trì Kính Đức.

Một lần, Lý Thế Dân đang dẫn 500 kỵ binh tuần tra trên trận địa thì bị Vương Thế Sung phát hiện và đem 1 vạn kỵ binh ra vây chặt.

Đại tướng của Vương Thế Sung là Đan Hùng Tín xông tới sát Lý Thế Dân, phóng trường mâu đâm sang.

Ngay lúc đó, Uất Trì Kính Đức phi ngựa tới, hét 1 tiếng lớn, đâm Đan Hùng Tín ngã nhào xuống ngựa, rồi bảo vệ Lý Thế Dân vượt khỏi vòng vây.

Sau đó, 2 người lại dẫn kỵ binh quay lại xông xáo chém giết hàng ngũ quân Trịnh, khiến quân Trịnh hoảng sợ không chống đỡ được.

Ngay sau đó, quân Đường kéo ra nườm nượp, đánh cho quân Trịnh thảm bại.

Từ mùa xuân năm đó đến mùa xuân năm sau, quân Đường ngày càng vây chặt Đông Đô, liên tiếp đánh suốt ngày đêm.

Vương Thế Sung tổ chức phòng thủ nghiêm mật, không ngừng dùng máy bắn đá và nỏ bắn lại quân Đường.

Chiến đấu kéo dài, tướng sĩ Đường cũng cảm thấy mệt mỏi, có người đề nghị Lý Thế Dân cho ngừng tiến công và lui quân về Trường An nghỉ ngơi, chỉnh đốn lại rồi sẽ tiến đánh sau.

Lý Thế Dân nói: "Hiện nay các châu xung quanh đều đầu hàng, Lạc Dương trở nên một tòa thành cô lập, sắp sửa bị hạ, sao có thể nửa chừng bỏ dỡ được?".

Rồi hạ lệnh cho toàn thể tướng sĩ: "Chưa hạ được Đông Đô, quyết không lui quân".

Vương Thế Sung không còn cách nào khác, phải cử người trốn khỏi vòng vây, lên Hà Bắc xin Đậu Kiến Đức mang quân về cứu viện.

Quân khởi nghĩa do Đậu Kiến Đức lãnh đạo là 1 lực lượng rất lớn mạnh ở vùng Hà Bắc.

Đậu Kiến Đức cũng tự xưng là hoàng đế, quốc hiệu là Hạ, đã đánh chiếm rất nhiều đất đai của Đường.

Nhận được thư xin cứu viện của Vương Thế Sung, Đậu Kiến Đức 1 mặt đem 30 vạn người ngựa đi theo 2 đường thủy bộ về cứu Đông Đô, 1 mặt gửi thư cho Lý Thế Dân, yêu cầu quân Đường rút về Quan Trung.

Các tướng Đường hoảng sợ trước binh lực lớn mạnh của quân Hạ, chủ trương tạm thời rời khỏi Đông Đô.

Nhưng lại có ý kiến khác, cho rằng quân Vương Thế Sung còn rất mạnh, chỉ có khó khăn về lương thực.

Nếu để quân Đậu Kiến Đức liên kết được với quân Vương Thế Sung, dùng lương thực của Hà Bắc tiếp tế cho Đông Đô, thì không còn hi vọng gì thắng được chúng nữa.

Vì vậy, nhất định phải chặng đường tiến quân xuống phía nam của Đậu Kiến Đức.

Lý Thế Dân nghe theo, quyết định để Lý Nguyên Cát tiếp tục bao vây Đông Đô, còn tự mình dẫn 3000 tinh binh tiến lên phía bắc giữ chặt Vũ Lao quan (tức Hổ Lao quan, nay ở thị trấn Dĩ Thủy, Huỳnh Dương, Hà Nam).

Đại quân của Đậu Kiến Đức đến Vũ Lao quan bị quân Đường chặn đứng.

Quân Hạ mấy lần tổ chức tiến công, đều không thành công.

Trong khi đó, Lý Thế Dân lại phái kỵ binh đi vòng đường nhỏ, cắt đứt đường tiếp lương của quân Đậu Kiên Đức.

Đậu Kiến Đức cậy thế quân đông, cho rằng nhất định sẽ hạ được Vũ Lao quan, nên đã cự tuyệt lời khuyên ngăn của vợ và cấp dưới, huy động toàn quân dàn trận, khua chiêng giống trống ào ạt tiến công.

Lý Thế Dân trèo lên điểm cao, quan sát trận thế của quân Hạ rồi nói: "Đậu Kiến Đức chưa từng giao phong với đối thủ mạnh nào, nên bố trí trong trận thế, đã tỏ rõ tính kiêu căng khinh địch.

Chúng ta hãy cứ án binh bất động, chờ cho quân của hắn mỏi mệt, sẽ nhất tề xuất kích thì nhất định sẽ giành thắng lợi".

Quân Hạ dàn trận, chuẩn bị giao phong, nhưng suốt sáng sớm tới giữa trưa, vẫn không thấy quân Đường ra giao chiến.

Quân vừa mệt vừa đói, có người ngồi bệt xuống đất, người ra sông múc nước uống.

Lý Thế Dân thấy thời cơ đã đến, liền hạ lệnh cho tướng sĩ vượt sông Dĩ Thủy, xông thẳng vào đại doanh của Đậu Kiến Đức.

Đậu Kiến Đức đang hội họp với các tướng soái trong đại doanh, thấy quân Đường đột nhiên xông tới, vội vàng chỉ huy kỵ binh ứng chiến.

Hai bên xung sát kịch liệt, trận địa mù mịt, tên bay tua tủa như mưa.

Lý Thế Dân nhân lúc quân Hạ không phòng bị, dẫn 1 toán quân thọc sâu vào sau trận địa quân Hạ, giương cao lá cờ Đường.

Quân Hạ từ phía trước nhìn lại, thấy thế, tưởng rằng quân Đường đã chiếm được đại doanh, thì không còn lòng dạ nào tiếp tục chiến đấu nữa, chen lấn nhau chạy trốn thục mạng.

Đậu Kiến Đức bị thương trong cuộc hỗn chiến và bị quân Đường bắt làm tù binh.

Sau khi đánh bại Đậu Kiến Đức, Lý Thế Dân đem quân về tiếp tục bao vây Đông Đô.

Vương Thế Sung toan phá vây, nhưng các tướng nói: "Nay Hạ vương đã thất bại, dù chúng ta có phá được vây, cũng không có tác dụng gì".

Vương Thế Sung thấy đại cục đã hỏng, đánh đầu hàng quân Đường.

Đậu Kiến Đức bị giải về Trường An, ít lâu sau liền bị giết.

Bộ tướng của Đậu Kiến Đức là Lưu Hắc Thát tiếp tục lãnh đạo quân Hạ ở Hà Bắc, chống lại quân Đường.

Quân Đường phải mất 3 năm mới dẹp yên được các lực lượng chống đối ở Hà Bắc.

Năm 623, chiến tranh thống nhất quốc gia của Đường kết thúc về cơ bản.

Nhưng mâu thuẫn trong nội bộ hoàng thất nhà Đường lại trở nên gay gắt.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
SỰ BIẾN CỬA HUYỀN VŨ


Sau khi Đường Cao Tổ lên ngôi, liền phong Lý Kiến Thành làm thái tử, Lý Thế Dân làm Tần vương, Lý Nguyên Cát làm Tề vương.

Trong 3 người, phải kể Lý Thế Dân là người có công lao lớn ở Thái Nguyên, ban đầu là do ông đề xuất, trong mấy cuộc chiến sau đó, ông cũng lập được nhiều chiến công nhất.

Chiến công của Lý Kiến Thành không bằng Lý Thế Dân, chỉ vì là con cả nên mới được phong thái tử.

Lý Thế Dân không những gồm đủ trí, dũng mà thủ hạ cũng có nhiều nhân tài.

Trong phủ Tần vương về văn thì có 18 học sĩ loại như Phòng Huyền Linh, Đỗ Như Hối; về võ thì có những dũng tướng nổi danh như Uất Trì Kính Đức, Tần Thúc Bảo, Trình Giảo Kim.

Thái tử Kiến Thành biết mình không có uy tín bằng Lý Thế Dân, nên sinh lòng đố kị, liền cùng em là Tề vương Lý Nguyên Cát liên hợp để loại trừ Lý Thế Dân.

Kiến Thành, Nguyên Cát dùng biện pháp gây thiện cảm, thường xuyên nịnh nọt các hoàng phi được cha sủng ái để nhờ họ nói tốt cho mình trước mặt Đường Cao Tổ.

Lý Thế Dân không chịu làm như vậy.

Sau khi bình định Đông Đô, có bà phi đòi có những bảo vật lấy được từ cung Tùy và yêu cầu phong quan tước cho thân thích của mình, đều bị Lý Thế Dân từ chối.

Vì vậy, các sủng phi thường nói tốt cho thái tử và nêu nhiều thiếu sót của Tần vương.

Đường Cao Tổ tin lời các sủng phi, dần dần lạnh nhạt với Lý Thế Dân.

Lý Thế Dân nhiều lần lập được công lớn, Kiến Thành và Nguyên Cát ngày càng ghen ghét, muốn mau chóng trừ bỏ.

Có lần Kiến Thành mời Lý Thế Dân đến Đông cung uống rượu, Thế Dân uống mấy chén bỗng nhiên bụng đau quặn.

Thủ hạ vực về cung, ông thổ ra huyết, thuốc thang mãi mới khỏi.

Lý Thế Dân hiểu rằng Kiến Thành đã dùng rượu độc định hại mình.

Kiến Thành, Nguyên Cát muốn hại Lý Thế Dân, nhưng lại sợ thủ hạ của Lý Thế Dân có nhiều dũng tướng, nếu gây sự sẽ gặp khó khăn.

Vì vậy họ nghĩ cách mua chuộc các dũng tướng đó.

Kiến Thành phái người mang 1 phong thư và 1 xe vàng bạc đến biếu Uất Trì Kính Đức, tỏ ý muốn cùng Kính Đức kết bạn.

Uất Trì Kính Đức nói với người mang thư: "Tôi là bộ hạ của Tần vương.

Nếu đi lại riêng tư với thái tử và mang lòng này nọ với Tần vương thì sẽ trở thành kẻ tiểu nhân tham vàng bỏ nghĩa.

Một người như vậy thì có ích gì cho thái tử".

Nói rồi, nhất định từ chối không nhận xe vàng bạc.

Kiến Thành bị Uất Trì Kính Đức cự tuyệt thì giận run người.

Sợ lộ việc này, đêm đó Kiến Thành sai thích khách đến nhà Uất Trì Kính Đức hành thích.

Uất Trì Kính Đức đã dự liệu đến khả năng đó, nên cố ý ở rộng cửa, nằm trên giường giữa nhà, để cây trường mâu bên cạnh.

Thích khách lẻn vào sân, thấy tình hình đó, lại biết Uất Trì Kính Đức có vũ dũng hơn người, nên không dám hành động.

Kiến Thành, Nguyên Cát thất bại trong chuyện này, liền nghĩ kế khác.

Lúc đó, Đột Quyết xâm phạm Trung nguyên, Kiến Thành tâu với Đường Cao Tổ, xin cử Nguyên Cát thay Thế Dân đem quân bắc chinh.

Sau khi được Đường Cao Tổ phong làm chủ soái, Lý Nguyên Cát lại xin điều 3 viên tướng Uất Trì Kính Đức, Tần Thúc Bảo và Trình giảo Kim cùng số tinh binh của phủ Tần vương sáp nhập vào đội quân của mình.

Làm như vậy, để tước bớt lực lượng của Lý Thế Dân, tạo thuận lợi cho việc trừ bỏ sau này.

Có người báo âm mưu đó cho Lý Thế Dân biết.

Lý Thế Dân thấy tình thế nguy cấp liền mời người con cậu là Trưởng Tôn Vô Kỵ và Uất Trì Kính Đức đến bàn bạc.

Hai người đều khuyên Lý Thế Dân ra tay trước, Lý Thế Dân nói: "Anh em tàn sát lẫn nhau là chuyện chẳng đẹp đẽ gì.

Thôi hãy để họ động thủ trước, rồi ta sẽ đối phó sau".

Uất Trì Kính Đức và Trưởng Tôn Vô Kỵ vội vã nói, nếu Lý Thế Dân không ra tay thì họ không thể cứ ngồi trong phủ Tần vương để chờ chết được.

Thấy bộ hạ kiên quyết, Lý Thế Dân liền quyết tâm hành động.

Ngay đêm đó, Lý Thế Dân vào cung tố cáo với Đường Cao Tổ về việc thái tử Kiến Thành đồng mưu với Nguyên Cát mưu hại mình.

Đường Cao Tổ quyết định sớm hôm sau sẽ gọi cả 3 anh em vào cung để tự xét hỏi.

Sớm hôm sau, Lý Thế Dân sai Trưởng Tôn Vô Kỵ và Uất Trì Kính Đức dẫn 1 toán tinh binh mai phục tại cửa Huyền Vũ phía bắc hoàng cung, chờ Kiến Thành và Nguyên Cát tới.

Chốc lát sau, Kiến Thành và Nguyên Cát cưỡi ngựa tới.

Đến cạnh cửa Huyền Vũ, Kiến Thành và Nguyên Cát thấy không khí có vẻ khác thường, nên sinh nghi, quay đầu ngựa chuẩn bị đi về.

Lý Thế Dân từ trong cửa Huyền Vũ phóng ngựa ra, kêu to: "Điện hạ, chớ đi".

Nguyên Cát quay mình lại, cầm cây cung đem theo sẵn, muốn bắn chết Thế Dân.

Nhưng vì hồi hộp quá, không giương được cung.

Lý Thế Dân nhanh mắt, nhanh tay, bắn 1 phát tên, giết chết Kiến Thành.

Ngay lúc đó, Uất Trì Kính Đức dẫn 70 kỵ binh xông ra, bắn 1 phát tên, giết chết Nguyên Cát.

Các tướng sĩ ở Đông cung và phủ Tề vương nghe tin cửa Huyền Vũ có biến, liền huy động hết lực lượng tiến đánh phủ Tần vương.

Lý Thế Dân vừa chỉ huy tướng sĩ chống lại, vừa sai Uất Trì Kính Đức vào cung tâu với Đường Cao Tổ.

Đường Cao Tổ đang chờ 3 con vào triều kiến, thì thấy Uất Trì Kính Đức cầm trường mâu xồng xộc chạy vào, tâu lớn: "Thái tử và Tề vương nổi loạn.

Tần vương đã giết được chúng.

Tần vương sợ làm kinh động bệ hạ nên sai thần vào hộ giá".

Cao Tổ biết rõ sự việc đã xảy ra, kinh sợ và thương tâm, ngồi lặng đi không biết nói gì.

Tể tướng Tiêu Vũ nói: "Kiến Thành, Nguyên Cát vốn không có công lao gì.

Hai người đố kỵ Tần vương nên đã thực hiện gian kế.

Nay Tần vương đã tiêu diệt được họ, thì là việc tốt.

Bệ hạ giao việc nước cho Tần vương thì sẽ không có chuyện gì cả!".

Đến bước này, Cao Tổ có phản đối cũng vô ích, đành làm theo ý các đại thần, tuyên bố Kiến Thành, Nguyên Cát có tội, ra lệnh cho tướng sĩ các phủ phải chịu sự chỉ huy của Tần vương.

Hai tháng sau, Đường Cao Tổ nhường ngôi cho Tần vương, tự mình làm Thái thượng hoàng.

Lý Thế Dân lên ngôi.

Đó là Đường Thái Tông.
 
Back
Top Bottom