Cập nhật mới

Khác LỊCH SỬ TRUNG QUỐC 5000 NĂM

Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
39-40


KẾ VIỄN GIAO CẬN CÔNG CỦA PHẠM THƯ

Lạn Tương Như và Liêm Pha đồng tâm hiệp lực bảo vệ nước Triệu, quả nhiên nước Tần không dám xâm phạm Triệu nữa.

Nhưng Tần lại chiếm được nhiều đất đai của Sở và Ngụy.

Lúc đó, thực quyền của nước Tần nằm trong tay thái hậu và người anh em của bà là Nhương hầu Ngụy Nhiễm.

Năm 270 TCN Nhương hầu cử quân đi đánh nước Tề.

Chính vào lúc đó, Tần Chiêu Tương Vương nhận được một bức thư, kí tên là Trương Lộc, nói có việc quan trọng xin vào yết kiến.

Trương Lộc nguyên là người nước Ngụy, tên là Phạm Thư, vốn là môn khách của Tu Giả, đại phu nước Ngụy.

Có lần, Tu Giả đem theo Phạm Thư đi sứ nước Tề.

Tề Tương Vương nghe nói Phạm thư rất có tài, ngầm cử người đến gặp Phạm Thư, tặng lễ vật rất hậu, Phạm Thư kiên quyết chối từ.

Vì việc đó, Tu Giả nghi ngờ Phạm Thư tư thông với Tề.

Khi về đến Ngụy, liền cáo giác với tướng quốc Ngụy Tề.

Ngụy Tề dùng hình phạt nặng nề để tra khảo, đánh Phạm Thư đến tơi tả, gãy mấy cái xương và rụng hai răng cửa.

Cuối cùng Ngụy Tề sai người bó Phạm Thư vào một chiếc chiếu, vứt ra nhà xí.

Tới đêm khuya, Phạm Thư tỉnh lại, thấy một lính gác đứng canh, liền khẩn cầu anh ta giúp đỡ.

Người lính đó lẻn thả Phạm Thư ra và báo với Ngụy Tề rằng Phạm thư đã chết.

Sợ Ngụy Tề truy bắt, Phạm Thư thay đổi tên họ thành Trương Lộc.

Lúc đó vừa đúng dịp có sứ giả củaTần sang Ngụy.

Phạm Thư lẻn gặp sứ giả, xin mang mình về Tần.

Phạm Thư đến nước Tần, dâng thư lên Tần Chiêu Tương Vương.

Tần Vương hẹn ngày tiếp ông ở Ly cung.

Đến ngày đi gặp, Phạm Thư gặp Tần Chiêu Tương Vương đang đi xe trên đường tới Ly cung.

Phạm Thư cố tình làm ra vẻ không biết Tần Chiêu Tương Vương, không tránh ra bên đường.

Quân hầu lớn tiếng la hét: "Đại vương tới!".

Phạm Thư cười nhạt, nói: "Cái gì, nước Tần còn có đại vương sao?"

Đang lúc cãi cọ thì Tần Chiêu Tương Vương tới, thấy Phạm Thư còn đang lớn tiếng: "Tôi chỉ nghe nước Tần có Thái hậu và Nhương hầu, chứ làm gì có đại vương nào?"

Câu nói chọc đúng vào nỗi niềm tâm sự của Tần Vương.

Ông ta vội mời Phạm Thư tới Ly cung, đuổi tả hữu ra ngoài, một mình tiếp Phạm Thư.

Tần Chiêu Tương Vương nói: "Ta thành khẩn xin tiên sinh chỉ giáo.

Bất kể là liên quan đến ai, trên từ Thái hậu, dưới tới bách quan trong triều. xin tiên sinh cứ nói thẳng".

Phạm Thư được lời, liền bắt đầu trình bày ý kiến của mình: "Nước Tần đất rộng người đông, sĩ tốt dũng mãnh.

Việc thống trị chư hầu không mấy khó khăn.

Thế mà 15 năm nay không thu hoạch được thành tựu gì.

Điều đó không thể nói là tướng quốc (tức Nhương hầu) không hết lòng làm việc, mà do đại vương cũng có chỗ thất sách"

Tần Vương liền vội hỏi: "Tiên sinh nói ta thất sách ở chỗ nào?"

Phạm Thư nói: "Nước Tề cách nước Tần rất xa, ở giữa còn có nước Hàn và nước Ngụy, đại vương đem quân đi đánh Tề, giả thử đánh bại được Tề một cách thuận lợi, thì cũng không có cách gì nối liền Tề với Tần.

Tôi trộm nghĩ thay cho đại vương, biện pháp tốt nhất là viễn giao cận công (giao hảo với nước ở xa, đánh nước ở gần), đối với nước Tề ở xa nên tạm thời giao thiệp bình thường, và trước hết nên đánh chiếm những nước lân cận, như vậy thì có thể mở rộng được đất đai của Tần, chiếm được một tấc là của ta một tấc, chiếm được một thước là của ta một thước.

Cứ dần dần như thế, mà thôn tính hai nước Hàn, Ngụy.

Đến lúc đó thì nước Tề cũng không thể giữ được nữa".

Tần Chiêu Tương Vương gật đầu khen phải: "Đúng!

Đúng!

Nước Tần muốn đánh bại được sáu nước, thống nhất Trung nguyên hoàn toàn phải dựa vào kế sách viễn giao cận công của tiên sinh"

Lập tức Tần Chiêu Tương Vương phong Phạm Thư làm khách khanh và theo kế sách đó, lấy Hàn, Ngụy làm mục tiêu tiến công chủ yếu.

Qua mấy năm, Tần Chiêu Tương Vương bãi chức tướng quốc của Nhương hầu và không để Thái hậu tham dự triều chính nữa, đồng thời chính thức phong cho Phạm Thư làm Thừa tướng.

Ngụy Vương bị nước Tần suy yếu thì rất sợ hãi, tướng quốc Ngụy Tề nghe nói thừa tướng nước Tần là người nước Ngụy, liền phái Tu Giả sang Tần cầu hòa.

Phạm Thư nghe tin Tu Giả sang nước Tần, liền ăn mặc quần áo rách rưới, đến nhà khách gặp Tu Giả.

Tu Giả thấy Phạm Thư còn sống, giật nảy mình, liền hỏi: "Hiện nay, ông làm gì?"

Phạm Thư nói: "Tôi ở đây làm những việc vặt do người ta sai phái"

Tu Giả thấy Phạm Thư ăn mặc phong phanh, rét run cầm cập, liền đưa cho Phạm Thư một chiếc áo lụa dài và giữ lại cùng ăn cơm với mình.

Tu Giả nói: "Nghe nói Tần Vương hết sức trọng dụng thừa tướng Trương Lộc, tôi rất muốn được gặp ông ta, không biết có ai dẫn giúp cho không?"

Phạm Thư nói: "Ông chủ của tôi rất gần gũi thừa tướng.

Đại phu muốn gặp thừa tướng, tôi xin giúp ngài".

Phạm Thư dẫn Tu Giả đến cửa phủ thừa tướng rồi nói: "Đại phu đợi ở đây, tôi xin vào báo"

Không lâu sau, thấy bên trong truyền lệnh: Thừa tướng đã thăng đường, cho Tu Giả vào, Tu Giả hỏi người canh cửa: "Ông Phạm vừa đi với tôi tới đây, sao không thấy ra?"

Người canh cửa hỏi: "Ông Phạm nào?

Người vừa rồi chính là thừa tướng đó"

Tu Giả biết thừa tướng Trương Lộc chính là Phạm Thư thì sợ toát mồ hôi.

Ông bước vào phủ thừa tướng, quì xuống, bò đến trước mặt Phạm Thư, liên tục dập đầu xuống đất nói: "Tu Giả tôi thật là kẻ có mắt không có ngươi, thật đắc tội với thừa tướng, xin thừa tướng trị tội"

Phạm Thư quở trách Tu Giả một trận nặng nề, rồi nói: "Hôm nay ngươi gặp ta, còn cho ta áo, coi như còn chút tình người.

Vì điều đó, ta tha mạng cho ngươi".

Sau đó liền bảo Tu Giả về nước, nói với Ngụy Vương, yêu cầu Ngụy Vương giết Ngụy Tề thì Tần mới cho phép Ngụy cắt đất xin hòa.

Tu Giả về Ngụy, báo cáo với Ngụy Vương về lời của Phạm Thư.

Ngụy Vương tình nguyện cắt đất xin hòa.

Ngụy Tề không còn cách nào khác, đành tự sát.

Nước Ngụy xin hòa, Tần theo kế hoạch viễn giao cận công của Phạm Thư, bắt đầu tiến đánh nước Hàn.

TRIỆU QUÁT CHỈ GIỎI ĐÁNH GIẶC MỒM

Năm 262 TCN, Tần Chiêu Tương Vương phái đại tướng Bạch Khởi tiến công nước Hàn, chiếm đất Dã Vương (nay là Tầm Dương, Hà Nam), cắt đứt liên hệ giữa quận Thượng Đảng (trị sở nay ở Trường Trị, Sơn Tây) với thủ đô Hàn.

Tình hình Thượng Đảng rất nguy cấp, các tướng lĩnh của Hàn ở Thượng Đảng không muốn đầu hàng Tần, liền phái người đem dâng địa đồ Thượng Đảng cho Triệu.

Triệu Hiếu Thành Vương (con của Triệu Huệ Văn Vương) cử quân tiếp thu Thượng Đảng.

Hai năm sau, nước Tần lại phái Vương Hột vây chặt Thượng Đảng.

Triệu Hiếu Thành Vương nghe tin, liền cử Liêm Pha mang 20 vạn quân cứu Thượng Đảng.

Họ mới đến Trường Bình (nay ở tây bắc huyện Cao Bình, Sơn Tây) thì Thượng Đảng đã bị Tần chiếm mất.

Vương Hột còn muốn tiến công Trường Bình, Liêm Pha vội bố trí phòng thủ, sai binh sĩ xây đắp thành lũy, đào hào sâu để cầm cự với quân Tần từ xa tới, chuẩn bị phòng ngự lâu dài.

Vương Hột nhiều lần khiêu chiến, nhưng Liêm Pha trước sau đều không chịu ra đánh.

Vương Hột không có cách gì đành phái người về báo cáo với Tần Vương: "Liêm Pha là một lão tướng có nhiều kinh nghiệm, không khinh suất giao chiến.

Quân ta từ xa tới, nếu ở lâu, sợ rằng lương thực tiếp tế không nổi.

Không biết làm thế nào".

Tần Chiêu Tương Vương hỏi ý kiến Phạm Thư.

Phạm Thư nói: "Muốn đánh bại nước Triệu, trước hết phải làm cho Triệu điều Liêm Pha về".

Tần Chiêu Tương Vương nói: "Làm thế nào thực hiện được điều đó"

Phạm Thư nói: "Để thần nghĩ kế"

Mấy ngày sau, Triệu Hiếu Thành Vương thấy tả hữu xì xầm: "Nước Tần chỉ sợ Triệu Quát là người trẻ tuổi hăng hái chỉ huy quân đội.

Chứ Liêm Pha già cả chẳng làm được gì, xem ra sắp phải đầu hàng rồi"

Triệu Quát là con của danh tướng Triệu Xa trước kia, từ nhỏ đã thích học binh pháp, nói đến chuyện đánh trận thì đâu ra đó, tự cho mình là giỏi nhất thiên hạ, coi cả cha là Triệu Xa cũng không ra gì.

Triệu Vương nghe tả hữu bàn luận, liền gọi Triệu Quát tới, hỏi xem có thể đánh lui quân Tần không.

Triệu Quát nói: "Nếu nước Tần cử Bạch Khởi, thì thần còn phải nghĩ cách đối phó.

Chứ như Vương Hột hiện nay, chẳng qua chỉ là loại đối thủ của Liêm Pha.

Còn đối với thần, việc đánh bại hắn không có khó khăn gì".

Triệu Vương rất mừng, liền phong Triệu Quát làm đại tướng, ra thay thế Liêm Pha.

Lạn Tương Như nói với Triệu Vương: "Triệu Quát chỉ biết đọc binh thư của cha, không biết ứng biến khi lâm trận, không thể cử anh ta làm đại tướng".

Nhưng Triệu Vương không nghe theo lời khuyên đó.

Mẹ của Triệu Quát cũng dâng lên Triệu Vương một sớ tâu, xin Triệu Vương đừng cử con mình làm tướng.

Triệu Vương mời bà đến hỏi lí do tại sao, Triệu mẫu nói: "Cha nó trước khi mất, có dặn đi dặn lại tôi rằng: thằng Triệu Quát coi việc dùng binh đánh trận như trò chơi, nói tới binh pháp thì trên trời dưới biển, mục hạ vô nhân.

Sau này, nếu đại vương không sử dụng nó thì tốt, nếu dùng nó làm đại tướng, e rằng quân Triệu sẽ vì nó mà bị tiêu diệt.

Vì vậy tôi khẩn cầu đại vương muôn ngàn lần.

Xin chớ cho nó làm đại tướng".

Triệu Vương nói: "Ta đã quyết định rồi, bà không phải nói nhiều nữa"

Năm 260 TCN, Triệu Quát dẫn 20 vạn quân tới Trường Bình, đòi Liêm Pha giao lại binh quyền.

Liêm Pha chuyển giao lại quyền chỉ huy, rồi trở về Hàm Đan.

Triệu Quát thống lĩnh 40 vạn đại quân, thanh thế lừng lẫy.

Quát phế bỏ mọi chế độ qui định của Liêm Pha, hạ lệnh cho tướng sĩ: "Nếu quân Tần đến đánh thì lập tức nghinh chiến.

Nếu quân địch thua chạy phải lập tức đuổi theo, chưa đánh cho chúng không còn mảnh giáp thì chưa thôi"

Phạm Thư nghe tin Triệu đã thay Liêm Pha, biết rằng kế phản gián của mình đã thành công, liền bí mật cử Bạch Khởi làm thượng tướng quân, sang chỉ huy quân Tần.

Bạch Khởi tới Trường Bình, bố trí mai phục, cố ý đánh thua mấy trận.

Triệu Quát không biết đó là kế của quân Tần, cứ liều mạng đuổi theo.

Bạch Khởi nhử quân Triệu đến nơi bố trí sẵn phục binh, cử 2 vạn rưỡi quân tinh nhuệ cắt đứt đường lui của quân Triệu, ngoài ra còn cử 5000 kỵ binh xông vào trại quân Triệu, chia cắt 40 vạn quân Triệu làm hai bộ phận.

Lúc đó Triệu Quát mới biết quân Tần lợi hại, đành xây thành đắp lũy cố thủ, chờ viện binh tới cứu.

Nước Tần lại phái quân chặng đường quân cứu viện và đường tải lương của quân Triệu.

Quân của Triệu Quát hết lương thảo, lại không có viện binh, giữ được hơn 40 ngày, quân lính đều kêu khổ, không còn lòng dạ nào chiến đấu nữa.

Triệu Quát dẫn quân xông xáo phá vây, bị tên bắn dày đặc của quân Tần bắn chết.

Quân Triệu thấy chủ tướng bị giết, liền đua nhau vứt bỏ vũ khí đầu hàng.

Bốn mươi vạn quân Triệu dưới sự chỉ huy của Triệu Quát, kẻ chỉ giỏi đánh giặc mồm, cuối cùng đã bị tiêu diệt hoàn toàn.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
41-42


MAO TOẠI TỰ TIẾN CỬ

Đại quân của Tần đánh phá thủ đô Hàm Đan của Triệu.

Tuy nước Triệu cố sức chống giữ, nhưng vì sau thảm bại ở Trường Bình, không còn đủ lực lượng nữa.

Triệu Hiếu Thành Vương cử Bình Nguyên quân Triệu Thắng sang cầu cứu nước Sở.

Bình Nguyên quân là tướng quốc nước Triệu, lại là chú của Triệu Vương.

Ông quyết tâm thân hành sang nước Sở để đàm phán với Sở Vương về vấn đề liên hợp chốngTần.

Bình Nguyên quân dự định đem theo 20 người tài kiêm văn võ cùng đi sang Sở.

Nhưng trong số 3000 môn khách, chọn ra những người tài kiêm văn võ cũng không phải chuyện dễ.

Vì vậy ông cân nhắc mãi, mới chọn được 19 người, còn một người nữa, mãi vẫn chưa tìm ra.

Trong lúc sốt ruột, có một môn khách ngồi ở hàng ghế cuối đứng lên nói: "Có thể lấy tôi cho đủ số không?"

Bình Nguyên quân kinh ngạc hỏi: "Tiên sinh tên là gì?

Đến nhà tôi đã lâu chưa?"

Môn khách đó nói: "Tôi tên là Mao Toại, tới đây đã 3 năm rồi"

Bình Nguyên quân lắc đầu nói: "Những người có tài năng, sống ở trên đời, giống như một cái dùi để trong túi, mũi nhọn sẽ nhanh chóng đâm thòi ra.

Thế mà tiên sinh tới đây đã 3 năm rồi, tôi chưa từng nghe nói tiên sinh có tài năng gì"

Mao Toại nói: "Bởi vì cho tới hôm nay tôi mới đề nghị ngài xem cái dùi đó.

Nếu ngài sớm bỏ nó vào trong túi, thì nó không chỉ thòi ra có cái mũi nhọn, mà thòi ra toàn bộ".

Mọi người đều cho là Mao Toại nói khoác, ai cũng cười giễu ông ta.

Song Bình Nguyên quân lại thích thú trước sự gan dạ và tài ăn nói của Mao Toại, liền chấp nhận ông làm người thứ 20, và ngay hôm đó, từ biệt Triệu Vương, dẫn sứ đoàn sang Sở.

Bình Nguyên quân và Sở Khoảnh Tương Vương bàn bạc về vấn đề hợp tung chống Tần tại triều đình nước Sở.

Mao Toại và 19 môn khách khác chờ đợi dưới thềm.

Cuộc đàm phán diễn ra suốt từ sáng sớm đến giữa trưa, Bình Nguyên quân cố gắng thuyết phục Sở Vương, nói đến khô cả cổ mà Sở Vương trước sau vẫn không chịu nhận đưa quân sang chống Tần.

Mọi người chờ đợi dưới thềm đã hết sức nôn nóng, nhưng không ai biết nên làm thế nào.

Có người nhớ tới lời Mao Toại nói với Bình Nguyên quân trước lúc ra đi, liền bảo nhỏ Mao Tọai: "Mao tiên sinh, xem cái mũi dùi của tiên sinh thế nào?"

Mao Toại ung dung, xách bảo kiếm, bước lên bậc thềm nói lớn: "Có hợp tung hay không, chỉ vài ba câu là có thể giải quyết được, cớ sao suốt từ sớm đến giờ, mặt trời đã đứng bóng, mà vẫn chưa xong là làm sao?"

Sở Vương ngạc nhiên, hỏi Bình Nguyên quân: "Người này là ai?"

Bình Nguyên quân nói: "Là Mao Toại, môn khách của tôi"

Sở Vương nghe nói chỉ là môn khách, lại càng nổi giận, mắng Mao Toại: "Ta và chủ ngươi thương lượng quốc gia đại sự, đâu có phần ngươi nhúng mõm vào?

Mau cút xuống ngay"

Mao Toại chống bảo kiếm, nhảy lên một bước nói: "Ngài không được cậy thế ức hiếp người.

Chủ tôi đang ngồi đây.

Sao ngài có thể quát mắng tôi như vậy?"

Sở Vương thấy Mao Toại cầm kiếm, và giọng nói rất gay gắt, thì hơi sợ, liền đổi nét mặt hòa nhã nói: "Vậy tiên sinh có gì cao kiến, xin nói đi"

Mao Toại nói: "Nước Sở có 5000 dặm đất đai, 100 vạn tướng sĩ, vốn là một nước lớn vào hàng bá chủ.

Ngờ đâu nước Tần mới nổi lên, Sở đã luôn luôn thua trận, thậm chí đường đường một vị quốc quân cũng bị chúng bắt làm tù binh, phải chết ở nước Tần.

Đó là một nỗi sỉ nhục lớn cho nước Sở.

Bạch Khởi của Tần chẳng qua chỉ là một kẻ thất phu không có gì đáng kể, thế mà hắn đem mấy vạn quân, đánh một trận đã chiếm được Ảnh đô của nước Sở, buộc đại vương phải dời đô.

Nỗi nhục nhã đó, ngay người nước Triệu chúng tôi cũng hổ thẹn thay cho đại vương.

Ngờ đâu đại vương lại không có ý gì rửa nhục cả.

Nói thực, việc hợp tung mà chủ tôi bàn với đại vương hôm nay, chủ yếu là vì nước Sở, chứ không chỉ vì nước Triệu chúng tôi"

Lời Mao Toại đúng như một mũi dùi, từng câu từng câu làm đau lòng vua Sở.

Ông ta bất giác đỏ bừng mặt, nói liên tiếp: "Đúng!

Đúng!"

Mao Toại nắm ngay lấy, nói: "Vậy đại vương quyết định hợp tung chứ?"

Sở Vương nói: "Quyết định rồi!"

Mao Toại quay đầu lại, gọi người hầu của Sở, lập tức mang máu gà, chó, ngựa lại.

Ông bưng chậu đồng đựng máu, quì dâng lên Sở Vương nói: "Đại vương là tung ước trưởng của hợp tung.

Xin quệt máu thề" (quệt máu xung quanh miệng là một nghi thức thời xưa khi ký kết minh ước để biểu lộ sự thành tâm).

Sở Vương quệt máu xong, đến lượt Bình Nguyên quân và Mao Toại lần lượt quệt.

Sau khi ký kết liên minh, Sở Khoảnh Tương Vương liền phái Xuân Thân quân Hoàng Yết làm đại tướng, dẫn 8 vạn quân sang cứu nước Triệu.

TÍN LĂNG QUÂN CỨU TRIỆU

Cùng lúc nước Sở phái quân sang cứu Triệu, thì nước Ngụy cũng nhận được thư cầu viện của Triệu.

Ngụy An Hy Vương phái đại tướng Tấn Bỉ mang quân sang cứu.

Tần Chiêu Tương Vương nghe tin hai nước Sở, Ngụy đều đưa quân tới tăng viện, liền thân tới Hàm Đan dốc chiến.

Đồng thời, cử sứ giả sang nói với Ngụy An Hy Vương: "Hàm Đan sớm muộn sẽ bị hạ.

Ai dám đến cứu thì diệt xong Triệu, Tần sẽ đánh nước đó".

An Hy Vương hoảng sợ, vội cử người đuổi theo, bảo Tấn Bỉ dừng quân lại, không tiến binh nữa.

Tấn Bỉ liền cho dừng 10 vạn đại quân tại Nghiệp Thành, án binh bất động.

Nước Triệu cử sứ giả sang Ngụy thúc giục tiến quân.

Ngụy An Hy Vương nghĩ nếu tiến quân thì sợ đắc tội với Tần, nếu không tiến quân thì mất lòng nước Triệu, nên vẫn dùng dằng chưa quyết.

Triệu Hiếu Thành Vương rất nôn nóng, liền bảo Bình Nguyên quân viết thư cầu nguyện gửi cho Tín Lăng quân Ngụy Vô Kỵ, vì vợ của Bình Nguyên quân là chị của Tín Lăng quân, hai nhà có quan hệ anh rể em vợ.

Tín Lăng quân được thư, nhiều lần xin An Hy Vương hạ lệnh cho Tấn Bỉ tiến quân, nhưng An Hy Vương vẫn không chịu nghe theo.

Tín Lăng quân không có cách gì, liền nói với các môn khách: "Đại vương không chịu tiến quân.

Ta quyết định tự mình sang Triệu, để cùng chết với họ".

Nhiều môn khách tình nguyện cùng đi theo Tín Lăng quân.

Tín Lăng quân có một người bạn hơn tuổi mà ông rất kính trọng, tên là Hầu Doanh.

Ông đến từ biệt.

Hầu Doanh nói: "Các vị sang Triệu đánh quân Tần, có khác gì ném thịt béo trước miệng hổ đói, chẳng phải là chỉ chết uổng mạng sao?"

Tín Lăng quân than thở: "Tôi biết làm như thế cũng chẳng có tác dụng gì.

Nhưng không còn biện pháp nào nữa"

Hầu Doanh đuổi mọi người trong nhà lui ra, rồi hỏi: "Trong cung của đại vương có một sủng phi là Như Cơ có phải không?"

Tín Lăng quân trả lời: "Đúng!"

Hầu Doanh lại nói: "Nghe nói binh phù thường để trong phòng ngủ của đại vương, chỉ có Như Cơ có thể lấy được.

Trước kia Như Cơ có người cha bị kẻ khác giết hại.

Nàng đã xin đại vương giúp nàng tìm kẻ thù, nhưng tìm suốt ba năm không được.

Cuối cùng, chính công tử đã sai môn khách đi tìm được kẻ thù cho nàng.

Vì việc đó Như Cơ vô cùng biết ơn công tử.

Nay nếu công tử nhờ Như Cơ lấy trộm binh phù thì nhất định nàng sẽ đồng ý.

Công tử cầm binh phù đến tiếp thụ quân đội của Tấn Bỉ, sang cứu nước Triệu thì có phải hơn là tay không sang chết uổng hay sao"

Tín Lăng quân nghe nói, như nằm mơ chợt tỉnh, vội cử người đến bàn với Như Cơ, nàng lập tức nhận lời.

Nửa đêm đó, nhân lúc Ngụy Vương ngủ say, Như Cơ liền lấy trộm binh phù rồi cử người tin cẩn đưa ngay đến cho Tín Lăng quân.

Tín Lăng quân có được binh phù, lại đến từ biệt Hầu Doanh.

Hầu Doanh nói: "Tướng ở ngoài, có lúc có thể không tuân theo lệnh vua.

Vạn nhất Tấn Bỉ nhận binh phù mà vẫn không trao lại binh quyền thì công tử làm thế nào?"

Tín Lăng quân ngớ người, không biết trả lời ra sao.

Hầu Doanh nói: "Tôi đã suy xét mọi việc giúp công tử.

Anh bạn Chu Hợi của tôi là một đại lực sĩ nhất nhì nước Ngụy.

Công tử có thể đem anh ta theo.

Đến lúc đó, nếu Tấn Bỉ vui vẻ chịu trao lại binh quyền thì thôi, nếu ông ta ngăn trở thì để Chu Hợi xử lý"

Tín Lăng quân cùng Chu Hợi và các môn khách đến đến Nghiệp Thành gặp Tấn Bỉ, giả truyền mệnh lệnh của Ngụy Vương, yêu cầu Tấn Bỉ trao lại binh quyền.

Tấn Bỉ ghép binh phù, thấy đúng nhưng vẫn còn chút hoài nghi, nói: "Đây là việc quân cơ đại sự, để tôi tâu lại đại vương rồi mới có thể làm theo"

Tấn Bỉ chưa nói xong thì Chu Hợi đứng cạnh Tín Lăng quân đã thét lớn: "Mày không nghe theo lệnh của đại vương, định làm phản sao?"

Không đợi Tấn Bỉ phân trần, Chu Hợi đã rút từ ống tay áo ra một chiếc dùi sắc nặng 40 cân, nện mạnh vào đầu Tấn Bỉ, kết thúc tính mạng ông ta.

Tín Lăng quân cầm binh phù, hạ lệnh cho binh sĩ: "Nếu cha con cùng ở trong quân thì cho người cha trở về, nếu anh em cùng ở trong quân thì cho người anh trở về, nếu là con một không có anh em, cũng cho trở về nuôi nấng cha mẹ.

Số còn lại theo ta sang cứu nước Triệu".

Cuối cùng, Tín Lăng quân có tám vạn tinh binh, tiến sang cứu Hàm Đan.

Ông tự dẫn đầu tướng sĩ xông vào trại quân Tần chém giết.

Tướng Tần Vương Hột không đề phòng quân Ngụy tiến công, vội cuống cuồng chống trả, nhưng không cầm cự nổi.

Bình Nguyên quân ở trong thành thấy quân Ngụy đến cứu, liền dẫn quân Triệu mở cửa thành xông ra, hai bên ép lại, đánh cho quân Tần tơi tả.

Rất nhiều năm nay, chưa bao giờ nước Tần bị thảm bại như vậy.

Vương Hột dẫn tàn quân rút chạy, còn lại hơn hai vạn quân bị quân Triệu vây chặt, phải đầu hàng.

Tín Lăng quân cứu được Hàm Đan, bảo toàn được nước Triệu.

Triệu Hiếu Thành Vương và Bình Nguyên quân vô cùng cảm kích, thân ra ngoài thành tiếp đón Tín Lăng quân.

Xuân Thân quân nước Sở dẫn quân sang cứu Triệu, còn trông ngóng ở Vũ Quan, nghe tin quân Tần đã bị thua, thành Hàm Đan đã được giải vây, liền dẫn quân quay về nước Sở.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
43-44


LÝ TƯ CAN VIỆC ĐUỔI KHÁCH

Nước Tần tuy bị thua một trận lớn ở Hàm Đan nhưng thực lực còn rất mạnh.

Năm sau (256 TCN), lại đem quân đánh thắng hai nước Hàn, Triệu.

Sau đó quyết diệt luôn vương triều Chu đến lúc đó chỉ còn lại trên danh nghĩa.

Sau khi Tần Chiêu Tương Vương chết, con là Tần Trang Tương Vương lên nối ngôi được 3 năm cũng chết.

Thái tử Doanh Chính mới 13 lên ngôi.

Lúc đó đại quyền trong triều nằm trong tay tướng quốc Lã Bất Vi.

Lã Bất Vi vốn là một phú thương ở đất Dương Địch (nay là huyện Vũ, tỉnh Hà Nam), vì giúp Trang Tương Vương giành được ngôi vua nên được phong tướng quốc.

Sau khi làm tướng quốc, ông ta học theo lối Mạnh Thường Quân, chiêu tập rất nhiều môn khách, trong đó nhiều người từ các nước tới.

Thời kỳ chiến quốc có rất nhiều học phái đua nhau viết sách, đưa ra học thuyết, lịch sử gọi hiện tượng đó là "trăm nhà đua tiếng".

Bản thân Lã Bất Vi không viết được sách, ông ta tổ chức các môn khách biên soạn một bộ sách, gọi là "Lã thị Xuân Thu".

Sách viết xong, Lã Bất Vi cho treo trên cổng thành Hàm Dương, dán thông cáo nói ai có thể đề xuất ý kiến, dù chỉ thêm bớt một chữ, cũng thưởng 1000 lạng vàng.

Do đó, danh tiếng của ông ta càng lừng lẫy.

Tần Vương Doanh Chính mỗi ngày một trưởng thành.

Năm nhà vua 22 tuổi, trong cung xảy ra một vụ phản loạn, liên quan tới Lã Bất Vi.

Tần Vương cảm thấy còn để Lã Bất Vi sẽ gây trở ngại, liền miễn chức ông ta.

Sau lại thấy Lã Bất Vi có thế lực lớn, liền buộc ông ta tự sát.

Lã Bất Vi chết, một số quí tộc và đại thần nước Tần đua nhau bình luận, cho rằng những người nước khác đến Tần đều vì nước của họ, có người có thể còn là gián điệp nữa.

Tất cả đều xin Tần Vương đuổi hết người nước ngoài ra khỏi Tần.

Tần Vương Doanh Chính nghe theo, liền ra lệnh đuổi khách, qui định mọi quan chức dù lớn hay nhỏ, nếu không phải là người nước Tần, đều phải rời khỏi Tần.

Có một khách khanh từ Sở tới, tên là Lý Tư, vốn là học trò của Tuân Huống một đại biểu nổi tiếng của học phái Nho gia.

Ông đến Tần, được Lã Bất Vi lưu lại làm khách khanh.

Lúc này, Lý Tư cũng nằm trong số người bị đuổi, trong lòng cảm thấy rất không hợp lý.

Trước khi rời Hàm Dương, ông ta dâng lên vua Tần một sớ tấu can ngăn.

Trong sớ tấu, Lý Tư viết: "Trước kia, Tần Mục Công sử dụng Bách Lý Hề, Kiển Thúc nên nước Tần được làm bá chủ; Tần Hiếu Công sử dụng Thương Ưởng thay đổi pháp luật khiến cho nước Tần giàu mạnh; Huệ Văn Vương sử dụng Trương Nghi, đã phá vỡ được liên minh hợp tung của sáu nước; Chiêu Tương Vương có Phạm Thư giúp mở mang thế lực nước Tần.

Bốn vị quân vương đó đều nhờ các vị quan khách nước ngoài mà lập nên công nghiệp.

Ngày nay, đại vương lại đuổi hết nhân tài người nước ngoài, làm như thế chẳng phải là tăng thêm sức mạnh cho các nước thù địch hay sao?".

Tần Vương Doanh Chính thấy Lý Tư nói có lý, vội sai người đuổi theo mời Lý Tư quay trở lại, khôi phục quan chức cho ông, đồng thời hủy bỏ lệnh đuổi khách.

Sau khi Tần Vương dùng Lý Tư làm mưu sĩ, một mặt tăng cường thế công với các nước, một mặt cử người du thuyết các nước chư hầu, dùng các thủ đoạn phản gián mua chuộc, phối hợp với tiến công bằng vũ lực.

Hàn Vương là An thấy tình hình đó thì rất lo sợ, liền phái công tử Hàn Phi sang nước Tần cầu hòa, xin tình nguyện làm thuộc quốc của Tần.

Hàn Phi cũng là học trò của Tuân Huống, là đồng học của Lý Tư.

Ở nước nhà, ông thấy đất nước ngày càng suy yếu, nhiều lần xin Hàn Vương cải cách chính trị, nhưng không được chú ý.

Hàn Phi vốn có học vấn uyên bác, nhưng không được trọng dụng, liền đóng cửa ngồi viết sách gọi là bộ "Hàn Phi tử".

Trong tác phẩm, ông chủ trương nhà vua phải tập trung quyền lực, tăng cường pháp trị.

Bộ sách đó truyền tới nước Tần, Tần Vương Doanh Chính xem xong hết sức tán thưởng, nói: "Nếu ta được gặp con người đó thì tốt biết bao".

Lần này Hàn Phi được cử đến nước Tần, thấy nước Tần lớn mạnh, liền dâng thư lên Tần Vương, tình nguyện góp sức phục vụ sự nghiệp thống nhất thiên hạ của Tần.

Lá thư được dâng lên, Tần Vương chưa kịp trọng dụng Hàn Phi thì Lý Tư đã hết sức lo lắng, sợ Hàn Phi giành mất địa vị của mình.

Lý Tư nói với Tần Vương: "Hàn Phi là công tử nước Hàn, đại vương đang kiêm tính chư hầu, Hàn Phi nhất định sẽ lo toan cho nước Hàn.

Nếu để ông ta về nước thì sẽ gây hậu loạn.

Chi bằng ta ghép cho ông ta một tội danh rồi giết đi".

Tần Vương còn hơi do dự, hạ lệnh trước hết hãy giam Hàn Phi lại, chuẩn bị thẩm vấn.

Hàn Phi bị giam trong ngục, không có cơ hội biện bạch.

Lý Tư lại đưa thuốc độc vào bắt uống, Hàn Phi đành uống thuốc độc tự sát.

Tần Vương giam Hàn Phi, hơi có hối ý, sai thả Hàn Phi ra nhưng đã muộn.

Vì vậy rất lấy làm tiếc.

Lúc đó có một người nước Ngụy tên là Liêu đến Tần.

Tần Vương đàm luận, biết ông là một nhân tài hiếm có, liền phong làm quan Úy nước Tần.

Người sau thường gọi ông ta là Uý Liêu.

KINH KHA HÀNH THÍCH TẦN VƯƠNG

Tần Vương Doanh Chính trọng dụng Úy Liêu, quyết tâm thống nhất Trung nguyên, không ngừng tiến công các nước chư hầu.

Ông phá vỡ liên minh giữa Yên với Triệu, khiến nước Yên mất một số tòa thành.

Thái tử Đan của nước Yên vốn trước kia làm con tin ở Tần.

Ông thấy Tần Vương quyết tâm kiêm tính các nước, lại chiếm của Yên một số tòa thành, liền trốn về Yên.

Ông rất căm thù nước Tần, quyết báo thù cho nước Yên.

Nhưng ông không rèn luyện binh mã, cũng không nghĩ tới việc liên kết với các nước để cùng chống Tần, lại gửi gắm vận mệnh nước Yên vào hành động ám sát Tần Vương.

Thái tử Đan đem hết của cải để tìm cho được người có thể hành thích Tần Vương.

Sau đó, thái tử Đan chọn được một dũng sĩ rất có tài năng là Kinh Kha.

Ông tôn Kinh Kha làm thượng khách, nhường xe ngựa của mình cho Kinh Kha dùng, để Kinh Kha cũng ăn mặc như mình.

Vì vậy Kinh Kha hết lòng cảm kích thái tử Đan.

Năm 230 TCN, Tần diệt Hàn.

Hai năm sau, đại tướng Vương Tiễn của Tần chiếm được đô thành Hàm Đan của Triệu, rồi tiến quân lên phía bắc, tới sát nước Yên.

Thái tử Đan vội vã đi tìm Kinh Kha và nói: "Nếu đem quân chống lại Tần thì như trứng chọi đá, muốn liên kết với các nước để hợp tung chống Tần, cũng không kịp nữa.

Tôi nghĩ chỉ còn cách cử một dũng sĩ đóng vai sứ giả sang yết kiến vua Tần, thừa cơ tiến sát vua Tần, buộc ông ta trả lại đất đai cho các nước.

Nếu vua Tần thuận theo thì tốt nhất, nếu không thì giết đi.

Tráng sĩ xem như thế có được không?"

Kinh Kha nói: "Cũng có thể được.

Nhưng muốn đến sát vua Tần, nhất định phải làm cho ông ta tin là ta đến cầu hòa.

Nghe nói vua Tần từ lâu đã muốn có miền đất phì nhiêu là Đốc Kháng (nay ở huyện Trác, Hà Nam).

Ngoài ra tướng nước Tần là Phàn Vu Kỳ đang lưu vong tại nước Yên, vua Tần đang treo thưởng để bắt ông ta.

Nếu tôi có thể mang theo đầu của tướng quân Phàn Vu Kỳ và bản đồ vùng Đốc Kháng sang dâng lên vua Tần, thì ông ta mới chịu tiếp kiến tôi.

Như vậy tôi mới có thể hành sự được".

Thái tử Đan cảm thấy khó xử nói: "Bản đồ vùng Đốc Kháng thì được, còn Phàn tướng quân thì vì bị nước Tần bức hại nên mới chạy sang nương nhờ ta, ta sao có thể nhẫn tâm làm hại ông ta?"

Kinh Kha biết thái tử Đan không nỡ làm việc đó, liền tự mình tới gặp Phàn Vu Kỳ, nói: "Tôi có ý định giúp nước Yên trừ hậu hoạn và còn có thể báo thù cho tướng quân, nhưng còn một điều rất khó nói"

Phàn Vu Kỳ vội nói: "Điều gì?

Xin cứ nói!".

Kinh Kha trả lời: "Tôi quyết định đi hành thích, nhưng lại sợ không được Tần Vương tiếp kiến.

Hiện nay Tần Vương đang treo thưởng để bắt tướng quân.

Nếu tôi có được chiếc đầu của tướng quân đem dâng cho ông ta, thì nhất định được tiếp kiến"

Phàn Vu Kỳ nói: "Được, ngài hãy lấy đi".

Nói rồi rút bảo kiếm, đâm cổ tự sát.

Thái tử Đan chuẩn bị một con dao găm cực sắc, có tẩm thuốc độc, chỉ cần đâm sướt da chảy máu là người bị đâm sẽ chết ngay.

Ông trao dao găm cho Kinh Kha để dùng làm dụng cụ hành thích.

Ngoài ra còn cử một dũng sĩ mới 13 tuổi tên là Tần Vũ Dương đi theo làm trợ thủ cho Kinh Kha.

Năm 227 TCN, Kinh Kha từ nước Yên lên đường đi Hàm Dương.

Thái tử Đan và một số tân khách mặc quần áo tang tiễn Kinh Kha ở bên sông Dịch (nay ở huyện Dịch, Hà Bắc).

Trước khi từ biệt, Kinh Kha cất tiếng hát: "gió hiu hiu chừ, sông Dịch lạnh ghê, tráng sĩ một ra đi chừ, không trở về"

Nghe lời ca bi tráng, mọi người có mặt đều rơi nước mắt.

Kinh Kha kéo Tần Vũ Dương lên xe, không hề quay đầu lại.

Kinh Kha tới Hàm Dương.

Tần Vương Doanh Chính nghe nói nước Yên phái sứ giả mang đầu Phàn Vu Kỳ và bản đồ vùng Đốc Kháng tới thì rất phấn khởi, liền hạ lệnh cho Kinh Kha vào tiếp kiến ở cung Hàm Dương.

Nghi thức triều kiến bắt đầu, Kinh Kha bưng chiếc hòm đựng đầu Phàn Vu Kỳ, Tần Vũ Dương bưng khay đựng bản đồ, tiến từng bước lên bậc thềm cung điện.

Tần Vũ Dương thấy khung cảnh uy nghiêm của triều đình nước Tần, bất giác run lên cầm cập.

Các thị vệ của vua Tần liền quát lớn: "Sứ giả tại sao biến sắc?"

Kinh Kha quay đầu lại nhìn, thấy mặt Tần Vũ Dương vừa trắng bệch vừa xanh xám, liền cười nói với Tần Vương: "Kẻ thôn dã đó, xưa nay chưa từng được thấy sự uy nghiêm của đại vương nên không tránh được sợ hãi.

Xin đại vương nể tình cho"

Tần Vương có chút hoài nghi, liền bảo Kinh Kha: " Bảo Tần Vũ Dương trao bản đồ cho nhà ngươi, một mình nhà ngươi lên thôi"

Kinh Kha nhận lấy bản đồ, đặt lên chiếc hòm đựng thủ cấp, bưng dâng lên Tần Vương.

Tần Vương Doanh Chính cho mở hòm, quả nhiên là đầu của Phàn Vu Kỳ.

Lại sai Kinh Kha mở bản đồ ra xem, Kinh Kha từ từ giở cuốn bản đồ, tới khi giở hết thì lộ ra chiếc dao găm đã được chuẩn bị sẵn từ trước.

Tần Vương nhìn thấy, giật mình nhảy thót lên.

Kinh Kha vội cầm dao găm, tay trái níu chặt tay áo Tần Vương, tay phải nhằm ngực Tần Vương đâm tới.

Tần Vương Doanh Chính dằng mạnh về phía sau, làm đứt ống tay áo rồi bỏ chạy về phía bình phong toan chạy ra ngoài.

Kinh Kha xông lên đuổi, Tần Vương thấy chạy không thoát liền chạy quanh chiếc cột đồng trên điện.

Kinh Kha đuổi theo sau, hai người chạy vòng quanh như đèn cù.

Xung quanh Tần Vương có rất nhiều quan hầu, nhưng tay không tấc sắt, thị vệ đứng dưới thềm tuy có vũ khí, nhưng theo pháp luật của nước Tần, không có lệnh của Tần Vương thì không được lên điện.

Mọi người kinh hoàng.

Nhưng Tần Vương trong cơn hoảng hốt, không kịp lên tiếng gọi võ sĩ.

Trong số quan hầu cận, có một thầy thuốc nhanh trí, lấy túi thuốc ném mạnh vào Kinh Kha.

Kinh Kha dùng tay gạt, túi thuốc đó bay sang một bên.

Trong giây lát đó, Tần Vương Doanh Chính xoay mình rút được bảo kiếm, chém đứt chân trái của Kinh Pha.

Kinh Kha ngã xuống, cầm dao găm phóng về phía Tần Vương.

Tần Vương né tránh, con dao bay vụt qua tai, trúng vào cột đồng, tóe lửa.

Tần Vương thấy trong tay Kinh Kha không còn vũ khí, liền tiến đến chém thêm mấy nhát.

Kinh Kha bị tám vết thương, biết sự việc đã hoàn toàn thất bại, liền cười đau đớn nói: "Ta không sớm hạ thủ ngay là vì muốn bức ngươi phải trả lại đất đai cho nước Yên".

Lúc đó võ sĩ đã ùa lên điện, giết chết Kinh Kha, và Tần Vũ Dương ở dưới thềm cũng bị các võ sĩ kết thúc tính mạng.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
45-46


TẦN VƯƠNG DIỆT SÁU NƯỚC

Tần Vương giết chết Kinh Kha, lập tức hạ lệnh cho đại tướng Vương Tiễn gấp rút đánh nước Yên.

Thái tử Đan dẫn quân chống lại, nhưng đâu phải là đối thủ của quân Tần, nên bị đánh tan tác ngay.

Yên Vương Hỷ và thái tử Đan chạy tới Liêu Đông, Tần Vương phái quân đuổi, quyết đánh cho tới khi bắt được thái tử Đan mới thôi.

Yên Vương Hỷ không còn cách nào, đành giết thái tử Đan để xin hòa.

Tần Vương Doanh Chính hỏi ý kiến Úy Liêu.

Úy Liêu nói: "Nước Hàn đã bị ta chiếm, nước Triệu chỉ còn lại tòa Đại Thành (nay là huyện Úy, Hà Bắc), Yên Vương đã chạy tới Liêu Đông.

Chúng đều sắp tận số rồi.

Hiện nay đang mùa lạnh.

Chi bằng trước hết, ta quay sang thu phục nước Ngụy và nước Sở ở phương Nam".

Tần Vương nghe theo kế đó, liền phái Vương Bôn là con Vương Tiễn dẫn 10 vạn quân sang đánh Ngụy.

Ngụy Vương cử người sang cầu cứu nước Tề, nhưng Tề Vương Kiến từ chối.

Năm 225 TCN, Vương Bôn diệt nước Ngụy, bắt Ngụy Vương và các đại thần giải về Hàm Dương.

Sau đó Tần Vương chuẩn bị đánh Sở, liền triệu tập tướng lĩnh lại bàn bạc.

Trước hết hỏi Lý Tín là một tướng trẻ, xem đánh nước Sở cần bao nhiêu quân.

Lý Tín nói: "Bất quá 20 vạn là đủ".

Ông ta lại hỏi lão tướng Vương Tiễn.

Vương Tiễn trả lời: "Nước Sở là một nước lớn, dùng 20 vạn quân không đủ.

Theo tính toán của thần, nếu không có 60 vạn là không được".

Tần Vương không vui nói: "Vương tướng quân già rồi.

Sao nhát gan thế?

Ta cho rằng Lý tướng quân nói đúng".

Liền sai Lý Tín dẫn 20 vạn quân đi đánh phương nam.

Vương Tiễn thấy Tần Vương không nghe theo ý kiến mình, liền cáo bệnh về quê.

Lý Tín dẫn 20 vạn quân đánh Sở, đúng như Vương Tiễn đã dự đoán, bị quân Sở đánh cho đại bại, quân lính chết rất nhiều, lại chết mất bảy viên tướng, phải chạy về Tần.

Tần Vương Doanh Chính cả giận, cách chức Lý Tín và thân hành đến tận nhà Vương Tiễn, mời ông ra cầm quân.

Tần Vương nói: "Lần trước, ta đã sai lầm, không nghe theo lời tướng quân.

Quả nhiên Lý Tín đã làm hỏng việc.

Lần này không có tướng quân chỉ huy thì không xong".

Vương Tiễn nói: "Đại vương nhất định bắt tôi chỉ huy thì phải có đủ 60 vạn quân mới được.

Nước Sở đất rộng người đông, họ muốn huy động một triệu quân cũng không khó.

Tôi nói ta phải có 60 vạn quân, còn sợ không đủ.

Nếu ít hơn nữa thì không thể được".

Tần Vương cười: "Lần này nghe theo tướng quân".

Liền cấp cho Vương Tiễn 60 vạn người ngựa.

Hôm xuất quân, còn thân tới Bá Thượng chúc rượu tiễn đưa.

Đại quân Vương Tiễn rầm rộ tiến đánh nước Sở.

Sở cũng mang toàn bộ binh lực chống lại.

Vương Tiễn đến tiền phương, sai quân sĩ xây thành đắp lũy , không cho ra đánh.

Đại tướng Sở là Hạng Yên nhiều lần khiêu chiến, Vương Tiễn vẫn không tiếp chiến.

Kéo dài một thời gian, Hạng Yên nghĩ: "Thì ra Vương Tiễn chỉ đến đây để trú phòng thôi", liền lơ là không chú ý lắm tới quân Tần nữa.

Không ngờ trong lúc Hạng Yên thiếu chuẩn bị, quân Tần bất ngờ mở cuộc tiến công với khí thế ào ạt như dời núi lấp sông, 60 vạn quân mã xông pha chém giết.

Tướng sĩ Sở như nằm mơ chợt tỉnh, gắng gượng chống đỡ lại đòn đánh sấm sét của quânTần, nhưng cuối cùng nao núng tan vỡ.

Quân Tần đuổi đến Thọ Xuân (nay ở phía tây huyện Thọ, An Huy) bắt được vua Sở là Phụ Sô.

Hạng Yên được tin vua Sở bị bắt, liền vượt Trường Giang, muốn tiếp tục thu thập lực lượng để chống lại.

Vương Tiễn liền cho đóng thuyền chiến, huấn luyện thủy quân rồi vượt sông truy kích.

Hạng Yên thấy đại thế đã hỏng, liền than dài và rút kiếm tự sát.

Vương Tiễn diệt xong Sở, trở về Hàm Dương, trao lại quân cho con là Vương Bôn làm đại tướng đem quân sang đánh Yên.

Nước Yên vốn đã suy yếu lắm rồi, nên không thể chống lại được quân Tần.

Năm 222 TCN Vương Bôn diệt xong nước Yên, và chiếm nốt Đại Thành là thành lũy cuối cùng của nước Triệu.

Đến lúc này, duy nhất chỉ còn Tề.

Các đại thần của Tề đã bị Tần dùng vàng bạc mua chuộc hết.

Tề Vương Kiến xưa nay không dám đắc tội với Tần, lần nào các nước khác sang cầu cứu, ông cũng đều cự tuyệt.

Ông cho rằng Tề ở xa Tần, miễn là một mực vâng theo Tần thì sẽ không bị tiến công.

Đến khi thấy năm nước kia đã lần lượt bị Tần thôn tính hết thì mới cuống cuồng vội vã đưa quân ra phòng giữ biên giới phía tây, nhưng đã muộn rồi.

Năm 221 TCN Vương Bôn dẫn mấy chục vạn quân Tần từ phía nam nước Yên đổ xuống Lâm Tri, khí thế như núi Thái Sơn đè xuống.

Tề Vương Kiến thấy các nước xung quanh không còn ai để xin cứu viện nữa, thế cô lực mỏng, chỉ trong mấy ngày là xin đầu hàng.

Sáu nước chư hầu do chỉ biết bo bo nghĩ đến mình, lại còn đánh lẫn nhau, mong chiếm đất của người khác để bù vào số bị mất với quân Tần, hòng duy trì tình trạng cát cứ, nên đã tạo cơ hội cho Tần đánh dần từng nước một.

Nước Tần lúc đó không những chiếm ưu thế về chính trị, kinh tế và quân sự, mà quan trọng hơn là hành động phù hợp với xu thế thống nhất của lịch sử, nên chỉ trong không đầy 10 năm đã diệt hết sáu nước.

Từ năm 475 TCN bắt đầu thời kỳ Chiến quốc, qua hơn 250 năm phân tranh giữa các nước chư hầu, cuối cùng đã kết thúc cục diện cát cứ lâu dài, xây dựng nên một quốc gia phong kiến thống nhất nhiều dân tộc là Vương triều Tần.

TẦN THỦY HOÀNG - HOÀNG ĐẾ ĐẦU TIÊN TRONG LỊCH SỬ TRUNG QUỐC

Tần Vương Doanh Chính kiêm tính xong sáu nước, kết thúc cục diện cát cứ thời Chiến quốc, thống nhất nước Trung Hoa.

Ông ta cảm thấy công tích của mình còn lớn lao hơn cả tam hoàng ngũ đế trong truyền thuyết, không thể cứ dùng danh hiệu "vương" nữa, mà cần tìm một danh hiệu tôn quí hơn cho xứng với công tích đó, liền quyết định dùng danh hiệu "hoàng đế".

Vì là hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc, nên ông tự xưng là Thủy Hoàng đế (thủy có nghĩa: đầu tiên).

Ông ta còn qui định, con cháu về sau nối ngôi, cứ theo thứ tự mà gọi, như Nhị thế Hoàng đế, Tam thế Hoàng đế...cho tới Vạn thế Hoàng đế.

Đất nước đã thống nhất, làm thế nào để cai trị một quốc gia rộng lớn như vậy?

Trong một cuộc triều nghị, bọn thừa tướng Vương Quán nói: "Hiện nay các chư hầu vừa bị tiêu diệt, đặc biệt là ba nước Yên, Sở, Tề cách Hàm Dương rất xa, không phong mấy tước vương cai trị ở đấy thì không được.

Xin hoàng thượng phong cho mấy hoàng tử đến đó".

Tần Thủy Hoàng cho đại thần bàn bạc.

Rất nhiều người tán thành ý kiến của Vương Quán, chỉ có Lý Tư phản đối.

Lý Tư nói: "Khi Chu Vũ Vương lập nên triều Chu, đã phong không ít chư hầu.

Giữa họ phần nhiều là người cùng tông tộc.

Thế mà sau này, do xung đột quyền lợi mà tàn sát nhau như thù địch, thiên tử nhà Chu cũng không ngăn cản được.

Từ đó thấy rằng biện pháp phân phong là không tốt.

Không bằng thiết lập quận huyện trong toàn quốc mà cai trị".

Ý kiến của Lý Tư hoàn toàn hợp với ý Tần Thủy Hoàng.

Vì vậy, ông phá bỏ chế độ phân phong mà áp dụng chế độ quận huyện, chia cả nước làm 36 quận, dưới cấp quận là cấp huyện.

Quan cai trị đứng đầu quận do triều đình trực tiếp bổ nhiệm.

Việc chính sự quốc gia từ to đến nhỏ đều do hoàng đế quyết định.

Theo nói lại, mỗi ngày Tần Thủy Hoàng phải đọc 120 cân tờ trình do dưới gửi lên (lúc đó chưa có giấy, chữ viết phải khắc trên thẻ tre), chưa đọc xong là chưa nghỉ.

Đủ biết quyền lực tập trung trong tay ông ta tới mức cao như thế nào.

Trước khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung nguyên, chế độ giữa các nước đều khác nhau, thí dụ về mặt giao thông, chiều dài trục xe mỗi nước qui định một khác, nên độ rộng mặt đường cũng khác nhau.

Khi thống nhất đất nước, xe chạy từ vùng này sang vùng khác gặp khó khăn, nhiều khi phải đổi xe, gây phiền phức và mất thời gian.

Do đó, nhà nước trung ương qui định: từ nay nhất loạt đóng xe theo kích thước tiêu chuẩn, khoảng cách giữa hai bánh xe là 6 thước (gần bằng 2m), để việc đi lại được thuận tiện trong cả nước.

Việc đó được gọi là "xa đồng quĩ" (xe có cùng vết bánh xe).

Về mặt chữ viết, trước khi thống nhất, giữa các nước có nhiều cách viết cho cùng một chữ.

Từ nay qui định cách viết thống nhất tiện lợi nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu văn hóa và giấy tờ, công văn của nhà nước.

Việc đó được gọi là "thư đồng văn" (viết cùng bằng một thứ chữ).

Giao thông đã tiện lợi, thương nghiệp theo đó cũng phát đạt, nhưng phương tiện cân đong trước kia rất khác nhau.

Nhà nước trung ương liền qui định thống nhất phương tiện đo lường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi, mua bán.

Tần Thủy Hoàng đang tiến hành việc cải cách trong nước, thì bộ tộc Hung Nô ở biên giới phía bắc đánh vào nội địa.

Hung Nô là bộ tộc ở vùng bắc lãnh thổ Trung Quốc.

Suốt thời Chiến quốc, quí tộc Hung Nô nhân dịp hai nước Yên, Triệu suy yếu, đã từng bước tiến xuống phía nam, chiếm đoạt một khu vực lớn ở vùng Hà Sáo.

Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung nguyên, liền phái đại tướng Mông Điềm đem 30 vạn quân chống lại, thu hồi lại vùng Hà Sáo, lập nên 44 huyện.

Để đề phòng Hung Nô xâm phạm, Tần Thủy Hoàng lại điều động dân phu nối liền các bức thành do ba nước Yên, Triệu, Tần xây dựng trước kia và xây thêm nhiều thành mới, tạo thành một bức Vạn Lý Trường Thành chạy suốt từ Lâm Triệu (nay là huyện Mân, Cam Túc) ở phía tây đến Liêu Đông (nay ở tây bắc Liêu Dương, Liêu Ninh) ở phía đông.

Công trình kiến trúc nổi tiếng toàn thế giới đó mãi mãi là tượng trưng của văn minh lâu đời của dân tộc Trung Hoa.

Sau này, Tần Thủy Hoàng lại phái 50 vạn quân bình định phương nam, lập thêm 3 quận.

Năm thứ hai, Mông Điềm đánh bại Hung Nô lập thêm một quận.

Như vậy cả nước có 44 quận.

Năm 213 TCN, do mở mang được quốc thổ, Tần Thủy Hoàng cử hành một yến hội chúc mừng ở Hàm Dương.

Nhiều đại thần dâng lời tán tụng công lao thống nhất quốc gia của hoàng đế.

Nhân dịp này, bác sĩ Thuần Vu Việt lại nêu lên kiến nghị phân phong.

Ông ta cho rằng không thể không làm theo qui cũ đã có từ thời cổ.

Lúc đó, Lý Tư đã làm thừa tướng.

Tần Thủy Hoàng liền hỏi ý Lý Tư.

Lý Tư nói: "Ngày nay đất nước đã an định, pháp lệnh đã thống nhất.

Thế mà có một số kẻ đọc sách không chịu học ngày nay, cứ một mực học theo ngày xưa, bình luận lung tung về đại sự quốc gia, gây hỗn loạn trong dân chúng.

Nếu không cấm chỉ, sẽ ảnh hưởng đến uy tín của triều đình".

Tần Thủy Hoàng làm theo chủ trương của Lý Tư, lập tức hạ lệnh thu thập toàn bộ sách vở trong thiên hạ, trừ những sách dạy về y dược, trồng cây..., còn tất cả thi, thư và sách vở của bách gia chư tử đều nhất loạt đem đốt hết.

Nếu ai tàng trữ các loại sách vở đó, sẽ ghép vào tử tội.

Những ai dựa vào chế độ xưa để phê phán chế độ hiện thời, sẽ xử tội chém ngang lưng.

Năm thứ hai, có hai phương sĩ (một loại người chuyên cầu thần tiên và luyện đan để bịp người) tên là Lư Sinh và Hầu Sinh bình phẩm về Tần Thủy Hoàng.

Tần Thủy Hoàng được tin, liền cử người đi lùng thì họ đã trốn mất.

Tần Thủy Hoàng nổi giận, lại phát hiện ở Hàm Dương có một số nho sinh đã từng bình phẩm về mình, liền hạ lệnh bắt đến thẩm vấn.

Các nho sinh không chịu nổi tra khảo, khai ra thêm một loạt người.

Tần Thủy Hoàng hạ lệnh đem tất cả hơn 460 nho sinh phạm vào cấm lệnh đó chôn sống ở ngoài thành Hàm Dương.

Một số người phạm cấm lệnh khác bị đày ra vùng biên cương.

Sự kiện đó được lịch sử gọi là "phần thư khanh nho" (đốt sách, chôn nhà nho).

Trong khi Tần Thủy Hoàng nóng giận, các đại thần không dám khuyên can.

Con trưởng là Phù Tô nhận thấy làm như thế là quá nghiêm khắc, liền can ngăn Tần Thủy Hoàng.

Tần Thủy Hoàng nổi giận, hạ mệnh lệnh đuổi Phù Tô khỏi Hàm Dương, lên miền bắc phòng giữ biên thùy cùng với Mông Điềm.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
47-48


CUỘC HÀNH THÍCH Ở BÁC LÃNG SA

Tần Thủy Hoàng biết rằng tuy đã diệt sáu nước nhưng những quí tộc cũ của sáu nước lúc nào cũng muốn nổi dậy để chống lại ông.

Vì vậy ông hạ lệnh cho 12 vạn hộ giàu có trong cả nước phải tập trung về Hàm Dương để dễ dàng giám sát, lại hạ lệnh tập trung toàn bộ binh khí trong cả nước lại, trừ số cần dùng cho quân đội của nhà nước, số còn lại đem nấu chảy, đúc thành 12 chiếc tượng đồng, mỗi chiếc nặng 20 vạn cân và một loạt chuông lớn dùng làm nhạc cụ.

Ông cho rằng đã thu hết binh khí rồi thì có muốn nổi loạn cũng không được nữa.

Tần Thủy Hoàng còn thường xuyên đi tuần du khắp nước, để tế lễ ở các núi cao sông lớn, sai các đại thần làm văn ca tụng công đức mình khắc trên đá núi để lưu lại đời sau, đồng thời biểu dương uy vũ, làm cho quí tộc cũ của sáu nước phải sợ hãi.

Mùa xuân năm 218 TCN, ông lại mang đại quân đi tuần du.

Một hôm đi đến Bác Lãng Sa (nay thuộc huyện Nguyên Dương, Hà Nam), khi quân đội đang từ từ hành tiến, thì đột nhiên từ trên núi ven đường, một quả chùy sắt nặng được vun vút ném xuống làm bẹp nát chiếc xe đi ngay sau xe của Tần Thủy Hoàng.

Quân đội dừng lại, các võ sĩ tỏa ra khắp xung quanh lùng sục, nhưng thích khách đã trốn chạy mất.

Tần Thủy Hoàng nổi giận, lập tức hạ lệnh tiến hành tra hỏi, bắt bớ trong toàn quốc, cho tới khi bắt được kẻ hành thích mới thôi.

Nhưng tra xét trong nhiều ngày không có kết quả, ông ta đành bãi lệnh.

Người chủ trương cuộc hành thích đó là Trương Lương, có ông và cha đều làm tướng quốc nước Hàn.

Khi nước Hàn bị diệt, Trương Lương còn trẻ tuổi, ông bán hết gia sản, rời quê hương, đi kết giao với các anh hùng hảo hán, quyết tâm tìm cách báo thù cho nước Hàn.

Sau này, Trương Lương kết bạn được với một đại lực sĩ.

Đại lực sĩ này chuyên sử dụng một quả chùy sắt nặng 120 cân (= 60kg).

Hai người bàn nhau, tìm cách hành thích Tần Thủy Hoàng trên đường tuần du.

Họ dò biết được Tần Thủy Hoàng sẽ đi qua Bác Lãng Sa, liền phục trong rừng cây ven đường, đợi khi xe Tần Thủy Hoàng đi tới, sẽ tung chùy đánh vào xe.

Không ngờ đòn đánh không chuẩn, chỉ trúng vào xe sau.

Thất bại, Trương Lương ẩn tích mai danh, trốn đến Hạ Bì (nay ở tây bắc Tuy Ninh, Giang Tô), thoát được cuộc tra xét của triều Tần.

Ở Hạ Bì, ông vừa nghiên cứu binh pháp, vừa chờ thời cơ báo thù.

Trương Lương đã học binh pháp như thế nào?

Có một truyện truyền kì nói rằng: một lần, Trương Lương đi dạo trên một chiếc cầu lớn, thấy một ông già chân đi giày vải thô đang ngồi bên cầu.

Thấy Trương Lương, ông già cố ý co chân lại, một chiếc giày rơi xuống dưới cầu.

Ông già quay lại, giọng hách dịch: "Này cậu, xuống nhặt cho ta chiếc giày".

Trương Lương hơi bực, muốn cự lại, nhưng thấy ông ta đã già, liền nén giận, xuống dưới cầu nhặt chiếc giày lên đưa cho ông.

Ai ngờ ông già không cầm giày, lại chìa chân ra: "Xỏ vào chân cho ta".

Trương Lương nghĩ: thôi thì đã xuống nhặt rồi, thì xỏ giày vào cho ông ta cũng không sao.

Tới lúc đó ông già mới mỉm cười, đứng dậy đi.

Trương Lương ngây người, thấy ông già có vẻ kì quái, liền đứng nhìn theo, tới lúc ông già đi xa mới thôi.

Ông già đi khoảng một dặm, liền quay lại nói với Trương Lương: "Cậu này khá, ta muốn dạy cậu.

Năm ngày nữa, lúc trời sáng, tới cầu này gặp ta".

Nghe giọng nói, Trương Lương biết ông già không phải người thường, vội vàng quì xuống nhận lời.

Ngày thứ năm, Trương Lương dậy sớm, vội vàng đi tới cầu.

Ai ngờ vừa tới nơi, đã thấy ông già ở đó.

Ông già nổi giận nói: "Cậu hẹn với người già, thì phải đến sớm một chút, chứ sao lại để ta phải đợi?".

Trương Lương đành nhận lỗi.

Ông già lại nói: "Thôi về đi, năm ngày nữa lại đến.

Mà đến sớm một chút đấy!".

Nói xong đứng dậy đi.

Năm ngày sau, Trương Lương vừa nghe tiếng gà gáy, liền vội vàng chạy tới cầu.

Chưa lên cầu đã nhìn thấy ông già đứng đó.

Ông già nhìn Trương Lương bảo: "Thôi, năm ngày sau lại đến".

Trương Lương rút kinh nghiệm hai lần trước, đến nửa đêm ngày thứ tư, liền đi ra cầu, lặng lẽ ngồi đợi trời sáng.

Một lát sau, ông già lững thững đi tới.

Thấy Trương Lương, ông cười hiền từ: "Như thế mới đúng con ạ".

Nói xong rút từ ống tay áo ra một cuốn sách, trao cho Trương Lương và nói: "Về nhà hãy chịu khó đọc, sau này sẽ có tác dụng lớn đấy".

Trương Lương còn muốn hỏi thêm.

Ông già không nói thêm gì nữa, quay đầu đi thẳng.

Đợi tới lúc trời sáng, Trương Lương mở sách ra xem.

Thì ra đó là cuốn "Thái Công binh pháp" do Thái Công Vọng đầu thời Chu soạn ra.

Từ đó về sau, Trương Lương chuyên cần, khổ công nghiên cứu, trở thành một nhà mưu lược tiếng tăm.

ÂM MƯU Ở SA KHÂU

Năm 210 TCN, Tần Thủy Hoàng đi tuần du ở dải Đông nam, đi cùng ông có thừa tướng Lý Tư và hoạn quan Triệu Cao.

Con của Tần Thủy Hoàng là Hồ Hợi xin đi theo.

Thường ngày, Tần Thủy Hoàng rất quí Hồ Hợi, nên đồng ý cho đi.

Tần Thủy Hoàng vượt qua sông Tiền Đường, đến quận Cối Kê, rồi quay lên bắc đến Lang Nha (nay thuộc huyện Giao Nam, Sơn Đông).

Ra đi từ mùa đông, tới mùa hạ mới trở về.

Trên đường về, ông cảm thấy trong mình không được khỏe, đến Bình Nguyên Tân (nay ở phía nam huyện Bình Nguyên, Sơn Đông) thì ốm nặng.

Quan ngự y xem bệnh cho thuốc, nhưng không công hiệu.

Đến Sa Khâu (nay ở phía tây huyện Quảng Tông, Hà Bắc), bệnh ngày càng nặng.

Ông ta biết không thể qua khỏi, liền dặn dò Triệu Cao: "Mau viết thư cho Phù Tô, gọi Phù Tô về ngay Hàm Dương, vạn nhất ta mất đi, để Phù Tô chủ trì tang lễ".

Thư viết xong, chưa kịp gửi sứ giả mang đi, thì Tần Thủy Hoàng mất.

Thừa tướng Lý Tư và Triệu Cao bàn nhau: "Ở đây cách Hàm Dương rất xa, trong một hai ngày không thể về kịp, lỡ tin tức về việc hoàng đế mất tiết lộ ra thì trong ngoài có thể phát sinh biến loạn, không bằng tạm thời giữ bí mật, chưa phát tán, đến Hàm Dương sẽ hay".

Bọn họ để thi thể Tần Thủy Hoàng trong xe, đóng cửa, buông rèm để người ngoài không nhìn thấy.

Ngoài Hồ Hợi, Lý Tư, Triệu Cao và năm sáu thị vệ, các đại thần khác không ai biết Tần Thủy Hoàng đã chết.

Xe vẫn theo thường lệ, đi về Hàm Dương.

Đến mỗi địa phương, bá quan văn võ vẫn đứng ngoài xe tâu trình công việc.

Lý Tư bảo Triệu Cao mau cử người mang thư đi, gọi công tử Phù Tô về Hàm Dương.

Triệu Cao là tâm phúc của Hồ Hợi, lại có thù với Mông Điềm.

Y liền ngầm bàn với Hồ Hợi, chuẩn bị làm giả di chúc của Tần Thủy Hoàng, hạ lệnh giết Phù Tô, truyền đế vị cho Hồ Hợi.

Hồ Hợi tất nhiên sung sướng đồng ý.

Triệu Cao biết muốn làm việc đó thì nhất định phải được sự tán thành của Lý Tư, liền trao đổi với Lý Tư: "Hiện nay di chiếu và ngọc tỉ của Hoàng thượng đều ở trong tay Hồ Hợi.

Việc quyết định ai là người tiếp thu đế vị hoàn toàn phụ thuộc vào hai người chúng ta.

Ông thấy thế nào?"

Lý Tư giật mình nói: "Sao ông dám nói lời đại nghịch đó?

Đó không phải là việc mà các bày tôi chúng ta có thể làm".

Triệu Cao nói: "Ông chớ vội.

Tôi hỏi ông, tài năng của ông có bằng Mông Điềm không?

Công lao của ông có bằng Mông Điềm không?

Quan hệ giữa ông và Phù Tô có bằng được Mông Điềm không?"

Lý Tư lặng người một lát, rồi nói: "Tôi không thể bằng ông ta".

Triệu Cao nói: "Nếu Phù Tô lên ngôi hoàng đế, thì nhất định ông ta sẽ cử Mông Điềm làm thừa tướng.

Tới lúc đó, ông chỉ có một con đường là từ chức về quê.

Đó là một việc rất rõ ràng.

Công tử Hồ Hợi là người có tâm địa tốt, đối đãi với mọi người chu đáo.

Nếu Hồ Hợi làm hoàng đế thì ông và tôi sẽ vinh hoa phú quý suốt đời.

Ông thử nghĩ xem".

Nghe Triệu Cao vừa đe dọa vừa dụ dỗ, Lý Tư cũng thấy nếu để Phù Tô làm hoàng đế thì mình khó giữ được chức vị thừa tướng, liền đồng mưu với Hồ Hợi và Triệu Cao, làm giả chiếu thư gửi Phù Tô, nói Phù Tô đã không có công lao gì, lại oán giận phụ hoàng, còn tướng Mông Điềm đồng mưu với Phù Tô, phải cùng tự sát với Phù Tô, trao lại binh quyền cho Vương Ly.

Phù Tô nhận được chiếu thư giả, khóc lóc toan tự sát.

Mông Điềm nghi ngờ đó là chiếu thư giả, đề nghị Phù Tô về minh oan với Tần Thủy Hoàng.

Phù Tô là người thực thà, nói: "Cha đã bắt con chết, có gì mà minh oan nữa".

Liền đâm cổ tự sát, Mông Điềm không biết làm thế nào, đành tự sát theo.

Triệu Cao và Lý Tư vội vàng thúc xe đi gấp về Hàm Dương.

Lúc đó đang giữa mùa hè, thời tiết nóng nực, qua mấy ngày, thi thể Tần Thủy Hoàng rửa nát, bốc mùi hôi thối.

Triệu Cao cử người đi mua rất nhiều các muối, xếp lên các xe, làm mùi cá muối át đi mùi hôi thối của thi thể Tần Thủy Hoàng.

Đến Hàm Dương, bọn chúng mới công bố tin tức về cái chết của Tần Thủy Hoàng, tổ chức tang lễ và công bố di chiếu giả, cử Hồ Hợi lên nối ngôi hoàng đế.

Đó là Tần Nhị Thế.

Nhị Thế và Triệu Cao sau khi chôn cất Tần Thủy Hoàng, rất lo sợ mưu gian bại lộ.

Theo lời xúi giục của Triệu Cao, Nhị Thế liền ghép tội chết cho 12 công tử và 10 công chúa.

Những đại thần có liên quan nhiều không tính xuể.

Một năm sau, Triệu Cao lại dùng quỉ kế xui Nhị Thế bắt giam và giết kẻ đồng mưu là Lý Tư.

Triệu Cao lên làm thừa tướng, một mình nắm trọn đại quyền.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
49-50


CUỘC KHỞI NGHĨA Ở LÀNG ĐẠI TRẠCH

Để chống lại Hung Nô, Tần Thủy Hoàng cho xây dựng Trường thành, phái 30 vạn quân và trưng tập rất nhiều dân phu, số lượng có lúc lên tới mấy chục vạn, để mở mang phương nam ông ta lại huy động 30 vạn quân dân.

Ngoài ra còn dùng 70 vạn tù phạm đế xây dựng Cung A Phòng đồ sộ và cực kì tráng lệ.

Đến khi Nhị Thế lên ngôi, lại trưng tập mấy chục vạn tù phạm và dân phu, để xây dựng lăng mộ Tần Thủy Hoàng với qui mô lớn.

Lăng mộ đó xây dựng rất lớn, rất sâu, dùng rất nhiều đồng nấu chảy đổ xuống làm nền móng, bên trên xây dựng những tòa nhà bằng đá, làm đường đi vào mộ và huyệt mộ.

Nhị Thế lại sai thợ đào thành hình dạng sông hồ, đồ thủy ngân vào và táng Thủy Hoàng ở đó.

An táng xong, để đề phòng có kẻ đào trộm, lại sai thợ lắp đặt trong mộ những khí cụ giết người.

Cuối cùng, để giữ bí mật công trình, liền thủ tiêu tất cả thợ thuyền tham gia xây dựng, chôn xác trong mộ đạo, không chừa lại một người nào.

Xây xong phần mộ, Nhị Thế và Triệu Cao lại tiếp tục xây dựng Cung A Phòng.

Lúc đó, nhân khẩu toàn Trung Quốc có không quá 20 triệu.

Số bị huy động đi xây dựng Trường thành, khai phá miền nam, xây Cung A Phòng, xây lăng mộ và những việc khác, tất cả tới hai-ba triệu, tiêu hao không biết bao nhiêu nhân tài, vật lực, khiến nhân dân kêu ca, oán giận vang trời dậy đất.

Năm 209 TCN, quan địa phương ở Dương Thành (nay ở đông nam Đăng Phong, Hà Nam), cử hai viên quan cấp dưới dẫn 900 dân phu đến Ngư Dương (nay ở tây nam Mật Vân, thành phố Bắc Kinh) làm nhiệm vụ phòng thủ.

Hai viên quan chọn trong số tráng đinh hai người to lớn nhất, lại có năng lực làm việc, cử làm đồn trưởng, để họ chỉ huy những người khác.

Hai người đó, một người tên là Trần Thắng, người ở Dương Thành, vốn đi làm thuê dài hạn cho người khác.

Một người tên là Ngô Quảng, người ở Dương Hạ (nay là huyện Thái Khang, Hà Nam), là một nông dân nghèo khổ.

Khi còn trẻ tuổi, Trần Thắng đã tỏ ra là một người có chí khí.

Ông cùng các bạn làm công khác cùng đi làm ruộng cho địa chủ, thường nghĩ: "ta còn trẻ trung, khỏe mạnh, tại sao quanh năm suốt tháng cứ phải đi làm trâu ngựa cho kẻ khác.

Thế nào rồi cũng có ngày, ta phải làm nên sự nghiệp lớn."

Một lần, trong khi ngồi nghỉ với các bạn bên bờ ruộng, ông nói: "Chúng ta sau này nếu ai giàu sang, đừng quên bạn bè cũ nhé!".

Mọi người thấy câu nói có vẻ nực cười, liền nói: "Cái thân đi làm thuê cho người ta, lấy đâu ra giàu sang".

Trần Thắng thở dài, nói: "Ôi, loài chim sẻ, hiểu sao được chí hướng của hồng nhạn".

Trần Thắng và Ngô Quảng vốn không biết nhau.

Tới khi đi làm phu mới gặp, cùng hoàn cảnh và chí hướng nên nhanh chóng trở thành bạn bè thân thiết.

Họ chỉ lo lỡ kỳ hạn, nên ngày ngày mải miết đi lên phía bắc.

Đến làng Đại Trạch (nay ở đông nam huyện Túc, An Huy) gặp mưa lớn ròng rã nhiều ngày, nước dân lên ngập đường không đi tiếp được.

Họ đành phải nghỉ lại, chờ trời ngớt mưa để tiếp tục hành trình.

Pháp luật triều Tần rất nghiêm,dân phu bị điều động nếu đến chậm sẽ bị chém.

Mọi người thấy trời mưa liên tục, ai cũng lo cuống như kiến trên chảo nóng, không biết làm sao.

Trần Thắng bàn riêng với Ngô Quảng: "Ở đây còn cách Ngư Dương mấy ngàn dặm, không có cách gì đến đúng kì hạn được, chẳng lẽ chúng ta đành đến chịu chết sao?".

Ngô Quảng nói: "Như thế sao được.

Hay chúng ta bỏ trốn đi".

Trần Thắng nói: "Trốn mà bị bắt lại cũng chết, vùng lên chống lại cũng chết.

Đằng nào cũng chết nhưng chống lại mà chết còn vẻ vang hơn.

Dân chúng đã khổ vì triều Tần nhiều lắm rồi.

Nghe nói Nhị Thế là một thằng trẻ con, vốn không đến lượt làm hoàng đế.

Làm hoàng đế đáng ra phải là Phù Tô, vốn được mọi người yêu mến.

Còn Hạng Yên là một đại tướng nước Sở, từng lập công lớn, mọi người đều biết ông ta là một trang hảo hán, hiện nay không biết còn sống hay đã chết.

Nếu chúng ta lấy danh nghĩa Phù Tô và Hạng Yên để hiệu triệu thiên hạ, thì người nước Sở nhất định sẽ hưởng ứng chúng ta".

Ngô Quảng hoàn toàn tán thành chủ trương của Trần Thắng.

Để thu phục lòng người, họ lợi dụng lòng tin quỉ thần của người thời đó, nghĩ ra một kế, dùng một mảnh lụa, mài chu sa viết lên ba chữ đỏ "Trần Thắng vương" rồi nhét vào bụng một con cá mới đánh được.

Binh sĩ mua con cá đó mang về, mổ cá ra, phát hiện thấy ba chữ đó thì vô cùng kinh lạ.

Tới nửa đêm, Ngô Quảng lại lẻn đến một tòa miếu cổ gần đó, thắp đuốc lên, trước hết giả làm tiếng cáo kêu, sau đó gào lên "Đại Sở hưng, Trần Thắng vương" (nước Đại Sở dấy lên, Trần Thắng làm vua).

Binh sĩ trong doanh trại nghe tiếng, vừa kinh lạ vừa sợ hãi.

Hôm sau mọi người thấy Trần Thắng, đều xì xào nói cho nhau những chuyện nghe được.

Lại thấy Trần Thắng hàng ngày đối đãi với mọi người rất tốt, nên càng tôn kính ông ta.

Một hôm, hai viên quan uống rượu say, Ngô Quảng cố ý tới chọc tức, nói dù sao thì cũng đã lỡ hạn rồi, chi bằng giải tán cho mọi người trở về thôi.

Hai viên quan quả nhiên nổi giận, dùng gậy đánh Ngô Quảng, lại rút kiếm ra, toan chém.

Ngô Quảng giằng lấy kiếm, thuận tay chém chết luôn một tên, Trần Thắng chạy đến, giết nốt tên còn lại.

Trần Thắng triệu tập các binh sĩ và dân phu lại nói: "Kẻ nam tử, đại trượng phu không nên đi để chết uổng mạng.

Nếu chết cũng phải chọn cái chết cho xứng đáng.

Vương hầu tướng soái chẳng dành cho riêng ai, miễn kẻ nào có chí là được".

Mọi người hô lớn: "Đúng như vậy, chúng tôi xin nghe theo ngài".

Trần Thắng bảo mọi người dựng một cái đài, may một lá cờ, trên viết một chữ "Sở" rất lớn.

Mọi người cùng tuyên thệ sẽ một lòng một dạ đánh đổ triều Tần.

Họ tiến cử Trần Thắng, Ngô Quảng làm thủ lĩnh.

Chín trăm hảo hán liền chiếm luôn làng Đại Trạch.

Nông dân gần đó nghe tin, đều mang lương thực tới úy lạo, thanh niên đều đem cuốc xẻng gậy gộc đến xin tòng quân.

Người nhiều, không đủ dao kiếm và cờ quạt, họ liền chặt cây đẽo gỗ làm kiếm, chặt tre làm cờ.

Như vậy, Trần Thắng và Ngô Quảng đã tổ chức nên cuộc khởi nghĩa nông dân đầu tiên trong lịch sử.

Sử sách gọi sự kiện này là "giơ gậy làm cờ".

Quân khởi nghĩa đánh hạ huyện Trần (nay là Hoài Dương, Hà Nam), Trần Thắng mời các phụ lão huyện Trần tới bàn bạc.

Mọi người nói: "Tướng quân báo thù cho trăm họ khắp thiên hạ, chinh phạt nước Tần bạo ngược.

Công lao to lớn như thế, cần phải xưng vương".

Trần Thắng liền được tôn làm vương, lấy quốc hiệu là "Trương Sở" (nước Sở mở rộng).

LƯU BANG VÀ HẠNG VŨ

Sau khi Trần Thắng, Ngô Quảng khởi nghĩa, nhân dân các nơi rầm rộ vùng lên giết quan lại, hưởng ứng cuộc khởi nghĩa.

Không bao lâu, làn sóng nổi dậy của nông dân dâng trên quá nửa nước Trung Hoa.

Trần Thắng điều binh khiển tướng đi tiếp ứng cho các cuộc khởi nghĩa khắp nơi.

Họ đánh đâu thắng đó, giành được nhiều đất đai.

Nhưng vì chiến tuyến dài, hiệu lệnh không thống nhất nên có nơi bị quí tộc cũ của sáu nước chiếm mất.

Sau khi khởi nghĩa nổ ra chưa đầy ba tháng, ở các nước Triệu, Tề, Yên, Ngụy đã có nhiều người giương ngọn cờ khôi phục sáu nước, tự lập làm vương.

Trần Thắng phái cánh quân của Chu Văn tiến công về hướng tây, nhanh chóng tiến vào Quan Trung (tức vùng từ Hàm Cốc quan về phía tây) đến gần thủ đô Hàm Dương.

Tần Nhị Thế hoang mang lo sợ, vội phái đại tướng Chương Hàm thu thập dân phu và phạm nhân đang làm lao dịch ở Ly Sơn, biên chế thành đội ngũ, phản công lại nghĩa quân.

Bọn quí tộc cũ tại sáu nước tự chiếm lĩnh địa địa bàn của mình, không hề tiếp viện cho nghĩa quân.

Cánh quân của Chu Văn phải tác chiến đơn độc, cuối cùng thất bại.

Ngô Quảng bị kẻ phản bội giết hại ở Huỳnh Dương.

Tới tháng thứ sáu từ khi khởi nghĩa bắt đầu, Trần Thắng cũng bị kẻ phản bội giết trên đường lui quân.

Tuy Trần Thắng, Ngô Quảng mất, nhưng ngọn lửa chống Tần do họ nhóm lên vẫn lan rộng khắp nơi.

Tại quận Cối Kê ở miền nam (trị sở nay ở Tô Châu, Giang, Tô), thanh thế quân khởi nghĩa rất lớn.

Người lãnh đạo nghĩa quân ở Cối Kê là Hạng Lương cùng với cháu là Hạng Vũ.

Hạng Lương là con của Hạng Yên, đại tướng nước Sở trước kia.

Khi Sở bị đại tướng Vương Tiễn của Tần tiêu diệt, thì Hạng Yên thất bại tự sát.

Hạng Lương vẫn muốn khôi phục Sở.

Cháu Hạng Lương là Hạng Vũ, một người to lớn và rất thông minh.

Hạng Lương thân dạy Hạng Vũ học chữ, nhưng chỉ học mấy ngày, Hạng Vũ không muốn học nữa.

Hạng Lương lại dạy Hạng Vũ học múa kiếm, nhưng sau một thời gian, Hạng Vũ cũng bỏ.

Thấy Hạng Lương rất giận, Hạng Vũ thản nhiên giải thích: "Học chữ thì có tác dụng gì?

Biết chữ, chẳng qua chỉ để viết cái tên mình.

Còn học kiếm, dù có giỏi, cũng chỉ để đánh được mấy người, không có gì ghê gớm.

Đã học, thì phải học cái gì đối phó được hàng vạn người".

Hạng Lương thấy khẩu khí Hạng Vũ như thế, liền đem binh thư do tổ tiên truyền lại dạy cho Hạng Vũ.

Hạng Vũ chỉ nghe qua là hiểu, nhưng chỉ nắm đại ý, không chịu đi sâu vào chi tiết.

Hạng Lương vốn là người ở Hạ Tương (nay ở tây nam Túc Thiên, Giang Tô), vì có thù oán với người khác nên tránh đến Ngô Trung thuộc quận Cối Kê.

Thanh niên ở Ngô Trung thấy Hạng Lương tài kiêm văn võ đều rất khâm phục, tôn là đại ca.

Hạng Lương liền dạy họ học binh pháp, luyện võ nghệ.

Khi nghe tin Trần Thắng khởi nghĩa, họ thấy cơ hội đã đến, liền nổi lên giết quận thú Cối Kê, chiếm lấy quận.

Chỉ trong mấy ngày, đã tổ chức được một đội ngũ gồm tám ngàn người.

Vì đại đa số trong đó đều là người địa phương, nên gọi là "tử đệ binh" (quân con em).

Hạng Lương, Hạng Vũ dẫn 8000 "tử đệ binh" vượt sông, nhanh chóng chiếm được quận Quảng Lăng (trị sở nay là thành phố Dương Châu, Giang Tô), sau đó lại tiếp tục vượt Hoàng Hà, tiến quân lên phía bắc.

Trên đường tiến quân, có rất nhiều cánh quân xin sáp nhập, tình nguyện đứng dưới sự chỉ huy của Hạng Lương.

Năm sau, lại có cánh quân hơn 100 người do Lưu Bang chỉ huy, đi theo Hạng Lương.

Lưu Bang vốn là người huyện Bái (nay là huyện Bái, Giang Tô), đã làm chức đình trưởng (triều Tần qui 10 dặm là một đình, đình trưởng là chức quan nhỏ cai trị trong phạm vi 10 dặm) dưới triều Tần.

Một lần, quan trên sai ông ta dẫn dân phu đến Ly Sơn làm lao dịch.

Trên đường mỗi ngày lại có mấy dân phu bỏ trốn, Lưu Bang không thể ngăn trở được, nếu cứ tiếp tục như thế, thì đến Ly Sơn, Lưu Bang không còn đủ dân phu để giao nộp nữa.

Một hôm, trong lúc ngồi nghỉ, Lưu Bang nói: "Các anh đến Ly Sơn làm phu, không chết vì mệt nhọc cũng chết vì bị đánh đập.

Nếu không chết thì cũng không biết năm tháng nào mới được về quê quán.

Bây giờ, ta tha các anh ra, các anh tự đi tìm đường sống đi".

Mọi dân phu đều cảm động rơi nước mắt, nói: "Thế còn ngài, ngài sẽ làm thế nào?"

Lưu Bang nói: "Ta cũng không thể trở về được.

Thôi thì sẽ trốn đến một nơi nào đó vậy".

Lúc đó có hơn 10 dân phu tình nguyện đi theo Lưu Bang.

Họ đi đến núi Mang Đãng, ẩn náu ở đó.

Qua mấy ngày, đã tập hợp được hơn 100 người.

Ở huyện Bái có một người làm văn thư tên là Tiêu Hà và một người coi ngục là Tào Tham, biết Lưu Bang là người nghĩa khí nên rất đồng tình và ngầm giao thiệp với ông.

Đến khi Trần Thắng nổi lên chiếm được huyện Trần, Tiêu Hà và dân chúng trong huyện Bái liền giết chết quan huyện và phái người đến núi Mang Đãng mời Lưu Bang về, xin ông đứng đầu huyện Bái.

Mọi người gọi ông ta là Bái Công.

Lưu Bang khởi binh ở huyện Bái, chiêu tập được vài ba ngàn người, liền đánh chiếm quê hương của mình là Phong Hương.

Sau đó, ông ta dẫn quân đánh chiếm các huyện thành khác, không ngờ số quân ở Phong Hương làm phản.

Lưu Bang nghe tin, muốn về chiếm lại Phong Hương, nhưng không đủ quân, đành đến nơi khác mượn quân.

Đến Lưu Thành (nay ở đông nam huyện Bái, Giang Tô) thì vừa gặp Trương Lương dẫn hơn một trăm người đi tìm quân khởi nghĩa.

Hai người gặp nhau, bàn bạc, thấy trong số quân khởi nghĩa trong vùng, chỉ có Hạng Lương là có thanh thế lớn nhất, liền quyết định đến theo Hạng Lương.

Hạng Lương thấy Lưu Bang cũng là một nhân tài, liền cấp cho một số người ngựa để về chiếm lại Phong Hương.

Từ đó, Lưu Bang, Trương Lương đều trở thành bộ hạ của Hạng Lương.

Sau khi các lãnh tụ khởi nghĩa chủ yếu là Ngô Quãng, Trần Thắng mất đi, quyền lãnh đạo các nơi rơi vào tay các quí tộc cũ của sáu nước.

Họ tranh giành đất đai của nhau, gây nên tình thế chia năm xẻ bảy.

Đại tướng Chương Hàm và Lý Do của Tần toan nhân cơ hội đó để lần lượt diệt từng lực lượng một.

Trước tình hình khẩn cấp đó, Hạng Lương mở một hội nghị ở Tiết Thành, quyết tâm chỉnh đốn lại lực lượng khởi nghĩa.

Để có danh nghĩa chính đáng, Hạng Lương nghe theo lời mưu sĩ Phạm Tăng, tìm người cháu (tên là Tâm) của Sở Hoài Vương đang lưu lạc trong dân gian, lập làm Sở Vương.

Vì người nước Sở vốn thương Sở Hoài Vương vì bị lừa phải chết ở Tần nên đều đi theo.

Để tăng thêm sức hiệu triệu, người ta lại tôn xưng vua mới của Sở là Sở Hoài Vương.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
51-52


TRẬN ĐẠI CHIẾN Ở CỰ LỘC

Sau khi chỉnh đốn lại quân đội, Hạng Lương đánh thắng mấy trận liền, đánh bại đại tướng Chương Hàm của Tần.

Hạng Vũ, Lưu Bang dẫn cánh quân khác, giết được tướng Ly Do.

Sau khi thắng trận, Hạng Lương tỏ ra kiêu ngạo, không coi quân Tần ra gì, nên có phần lơi lỏng.

Chương Hàm chỉnh đốn lại quân đội, nhân lúc Hạng Lương không phòng bị, tổ chức phản công mãnh liệt, Hạng Lương tử trận.

Hạng Vũ, Lưu Bang phải lui về giữ Bành Thành.

Chương Hàm đánh bại Hạng Lương, cho rằng quân Sở đã thiệt hại nặng, không còn sức, liền tạm thời bỏ mặt trận phía nam Hoàng Hà, đem quân về bắc đánh nước Triệu (đây không phải nước Triệu thời Chiến quốc, mà là một chính quyền mới thành lập) và nhanh chóng chiếm được đô thành Hàm Đan.

Triệu Vương tên là Yết chạy đến Cự Lộc (nay ở tây nam Bình Dương, Hà Bắc).

Chương Hàm cử tướng Chương Ly bao vây thành Cự Lộc, còn tự mình dẫn quân đóng tại Cứu Nguyên, phía nam Cự Lộc.

Ông ta còn sửa một con đường tải lương từ Cứu Nguyên đến Cự Lộc để tiếp tế cho Vương Ly.

Triệu Vương Yết nhiều lần cử người đến gặp Sở Hoài Vương xin cứu viện.

Lúc đó, Sở Hoài Vương đang muốn phái quân sang phía tây đánh Hàm Dương.

Hạng Vũ nóng lòng muốn báo thù cho chú (tức Hạng Lương) nên xin đem quân đánh vào cửa quan (tức cửa Hàm Cốc, đường dẫn tới Hàm Dương).

Một số lão thần nói riêng với Sở Hoài Vương: "Hạng Vũ tính tình xốc nổi, ham giết người, Lưu Bang là người trung hậu, nên cử Lưu Bang đi".

Vừa lúc nước Triệu đến xin viện binh, Sở Hoài Vương liền phái Lưu Bang đi đánh Hàm Dương, và phái Tống Nghĩa làm thượng tướng quân, Hạng Vũ làm phó tướng, đem 20 vạn quân đi cứu nước Triệu.

Tống Nghĩa dẫn đại quân đến An Dương (nay ở đông nam An Dương, Hà Nam), nghe nói thanh thế quân Tần rất lớn, liền hạ lệnh cho dừng lại, để chờ cho quân Tần đánh nhau với Triệu, tiêu hao bớt lực lượng rồi sẽ tiến quân.

Tống Nghĩa án binh bất động, đóng ở An Dương suốt 46 ngày.

Hạng Vũ không chờ đợi nổi, đến nói với Tống Nghĩa: "Quân Tần bao vây Cự Lộc, tình hình khẩn cấp như vậy, chúng ta nên mau mau vượt sông, phối hợp với quân Triệu ở trong thành, cùng nhau đánh ép lại, thì nhất định thắng được quân Tần".

Tống Nghĩa nói: "Chúng ta hãy đợi cho quân Tần và quân Triệu quyết chiến một trận rồi sau sẽ liệu".

Ông ta lại nói với Hạng Vũ: "Nói về chuyện xông xáo ngoài chiến trường thì ta không bằng anh, nhưng nói về mặt bày mưu kế trong màn trướng, thì anh không bằng ta được".

Ông ta còn hạ lệnh: "Tướng sĩ nếu ai không phục tùng chỉ huy thì sẽ chém đầu theo quân pháp".

Mệnh lệnh đó rõ ràng là nhằm vào Hạng Vũ, khiến Hạng Vũ tức điên người.

Lúc đó đã là tháng 11, thời tiết phương bắc lạnh giá, lại gặp mưa lớn, doanh trại quân Sở không nhận đủ lương thảo tiếp tế, quân lính đói rét, nhiều người oán thán.

Hạng Vũ nói: "Hiện nay trại quân không đủ lương thực, nhưng thượng tướng quân vẫn án binh bất động, cứ uống rượu nghe nhạc, không lo đến việc quốc gia, không thương xót quân lính.

Như vậy thì sao xứng là thượng tướng quân nữa"

Hôm sau nhân lúc hội nghị, Hạng Vũ liền rút kiếm chém đầu Tống Nghĩa.

Ông xách đầu Tống Nghĩa, nói với tướng sĩ: "Tống Nghĩa phản bội lại đại vương, ta vâng lệnh đại vương, đã giết hắn ta rồi".

Đại đa số tướng sĩ là người dưới quyền cũ của Hạng Lương, còn Tống Nghĩa thì không có uy tín gì lớn.

Mọi người thấy Hạng Vũ đã giết Tống Nghĩa, đều tình nguyện nghe theo sự chỉ huy của Hạng Vũ.

Hạng Vũ cử người báo cáo với Sở Hoài Vương về việc giết Tống Nghĩa.

Sở Hoài Vương tuy rất không bằng lòng, nhưng cũng đành phong Hạng Vũ làm thượng tướng quân.

Sau khi giết chết Tống Nghĩa, Hạng Vũ liền phái Anh Bố và Bồ tướng quân dẫn hai vạn người làm tiên phong, vượt qua Chương Thủy, cắt đứt đường tải lương của quân Tần và cắt rời liên lạc giữa Chương Hàm với Vương Ly.

Sau đó, Hạng Vũ dẫn quân chủ lực vượt sông.

Vượt sông xong, Hạng Vũ hạ lệnh cho quân sĩ, mỗi người mang theo ba ngày lương khô, rồi sai đập vỡ hết số nồi nấu cơm, đục thủng hết các thuyền vượt sông (việc đó được gọi là "phá phủ trầm chu"-phá nồi, dìm thuyền) và nói với tướng sĩ: "Chúng ta đánh trận này, chỉ tiến chứ không lùi, hẹn trong ba ngày, nhất định phải đánh lui quân Tần".

Quyết tâm và dũng khí của Hạng Vũ có tác dụng cổ vũ sĩ khí rất lớn.

Quân Sở bao vây quân của Vương Ly, dũng cảm chém giết, một người địch nổi mười người quân Tần.

Qua chín trận đánh kịch liệt, bắt sống được Vương Ly.

Quân Tần phần bị chết, phần tan chạy.

Thành Cự Lộc được giải vây.

Lúc đó, có tới mười mấy đạo quân đến cứ Triệu, nhưng họ đều sợ quân Tần lớn mạnh, chỉ đóng trại mà không dám giao chiến.

Lần này, nghe tiếng hô giết vang trời dậy đất của quân Sở, họ leo lên chiến lũy đứng xem, thấy quân Sở hăng hái chém giết quân Tần, đều nín thở kinh hãi.

Tới khi Hạng Vũ đánh tan quân Tần, mời họ đến họp ở quân doanh, thì các tướng chỉ huy mấy đạo quân đó quì lết tiến vào, không dám ngẩng đầu lên.

Tất cả ca ngợi Hạng Vũ: "Thần uy của tướng quân thật là từ cổ đến nay chưa từng có.

Chúng tôi xin tình nguyện nghe theo sự chỉ huy của tướng quân".

Từ đó về sau, trên thực tế, Hạng Vũ trở thành thủ lĩnh của tất cả các cánh quân đánh Tần.

LƯU BANG VÀO HÀM DƯƠNG

Quân Tần thua ở Cự Lộc, nhưng Chương Hàm vẫn còn hơn 20 vạn quân đóng ở Cứu Nguyên.

Ông ta tâu về triều xin viện binh.

Nhị Thế và Triệu Cao không những không cử quân tới cứu, còn kể tội Chương Hàm.

Chương Hàm sợ Triệu Cao hại mình, đành dẫn quân đầu hàng Hạng Vũ.

Tin Chương Hàm đầu hàng truyền tới Hàm Dương, vương triều Tần rối loạn.

Lúc đó mọi quyền hành trong triều đều nằm trong tay Triệu Cao.

Sau khi giết Lý Tư, Triệu Cao biết đại thần có nhiều người không phục mình.

Một lần, hắn ta dắt một con hươu vào trong sân rồng, và nói trước Nhị Thế và các đại thần: "Thần có được con ngựa quí, xin dâng lên bệ hạ".

Nhị Thế tuy là kẻ hồ đồ, nhưng cũng vẫn phân biệt được hươu và ngựa, liền cười nói: "Thừa tướng đừng nói đùa.

Đây là con hươu, sao lại nói là ngựa".

Triệu Cao nói: "Sao lại không phải là ngựa, xin mời mọi người nói xem".

Nhị Thế liền hỏi các đại thần.

Rất nhiều người hiểu rõ dụng ý của Triệu Cao, liền nói hùa theo: "Thật là một con ngựa tốt".

Cũng có người sợ hãi, không dám lên tiếng.

Chỉ có số ít đại thần kiên quyết nói rằng đó là con hươu.

Mấy hôm sau, những người nói là hươu, đều bị Triệu Cao tìm cớ ghép tội.

Từ đó về sau, trong cung và ngoài triều đình, các quan từ lớn đến nhỏ đều sợ Triệu Cao, không ai dám nói với Nhị Thế về sai lầm của hắn nữa.

Năm 206 TCN, quân của Lưu Bang đánh phá Vũ Quan (nay ở đông nam huyện Đan Phượng, Thiểm Tây), cách Hàm Dương không xa.

Nhị Thế nghe tin thì giật mình run sợ, liền vội bảo Triệu Cao cử quân đi cứu viện.

Triệu Cao biết rằng không thể giấu giếm được nữa, liền phái tâm phúc bức tử Nhị Thế.

Triệu Cao giết Nhị Thế, rồi triệu tập các đại thần nói: "Hiện nay sáu nước đã khôi phục, nước Tần không thể giữ cái hư danh hoàng đế nữa, nên lại xưng vương như trước.

Ta thấy Tử Anh là cháu của Nhị Thế, có thể lập làm Tần Vương".

Các đại thần không dám trái lời Triệu Cao, đành đồng ý.

Tử Anh biết Triệu Cao giết Nhị Thế và muốn lên làm vua nhưng sợ các đại thần và các chư hầu phản đối, nên mới giả vờ lập mình làm vua.

Vì vậy, Tử Anh bàn với hai con, đến ngày lên ngôi, Tử Anh cáo bệnh không ra.

Triệu Cao tự mình đến thúc giục, liền bị giết chết.

Tử Anh giết xong Triệu Cao, liền cử 5 vạn quân ra giữ Nghiêu Quan (nay ở tây bắc huyện Thương, Thiểm Tây).

Lưu Bang dùng kế Trương Lương, cử người lên cắm cờ la liệt ở trái phải Nghiêu Quan làm nghi binh, một mặt phái đại tướng Chu Bột đem toàn bộ binh mã vòng qua Nghiêu Quan từ góc đông nam đánh vào, giết chết tướng giữ cửa quan, tiêu diệt quân Tần ở đó.

Quân Lưu Bang tiến qua Nghiêu Quan, vào Bá Thượng (nay ở phía đông thành phố Tây An, Thiểm Tây).

Tần Vương Tử Anh đem theo các đại thần ra xin hàng.

Tử Anh cổ quàng đai (tỏ ý xin chịu tội), tay bưng ngọc tỉ, binh phù và tiết trượng khom lưng đợi ở bên đường.

Cấp dưới của Lưu Bang muốn giết Tử Anh, nhưng Lưu Bang nói: "Sở Hoài Vương cử ta vào Hàm Dương là vì tin ta biết đối xử khoan hậu.

Thêm nữa, người ta đã đầu hàng rồi mà còn giết là không tốt".

Nói xong ông ta nhận ngọc tử, giao Tử Anh cho tướng sĩ coi giữ.

Như vậy vương triều Tần lớn mạnh do Tần Thủy Hoàng xây dựng nên, chỉ duy trì được 15 năm, đã bị làn sóng khởi nghĩa nông dân tiêu diệt.

Quân Lưu Bang vào Hàm Dương, tướng sĩ tranh nhau đi lùng sục kho tàng của vua Tần để lấy vàng bạc, khiến cung đình hỗn loạn.

Chỉ có Tiêu Hà không chú ý gì đến những cái đó, mà chạy ngay đến thừa tướng phủ, thu thập mọi hồ sơ về hộ khẩu, bản đồ để bảo quản lại.

Lưu Bang có các tướng sĩ đi kèm, tiến vào Cung A Phòng nguy nga tráng lệ.

Ông ta hoa mắt trước các đồ đạc, màn trướng sang trọng, xa hoa và biết bao cung tần mĩ nữ xinh tươi, ngây người ra mãi, không muốn trở ra.

Lúc đó bộ tướng Phàn Khoái xông vào, nói: "Bái Công muốn chiếm thiên hạ hay chỉ muốn làm một phú ông?

Những thứ đồ xa xỉ hoa lệ này đã làm triều Tần diệt vong, ngài muốn dùng chúng làm gì?

Nên mau trở về trại quân đi thôi".

Lưu Bang không nghe theo nói: "Để ta nghỉ một lát đã".

Vừa may Trương Lương cũng tiến vào, nghe thấy lời Phàn Khoái, liền nói với Lưu Bang: "Tục ngữ nói: lời nói ngay thẳng nghe chướng tai nhưng lợi cho công việc.

Thuốc chữa bệnh tuy đắng nhưng chữa được bệnh.

Lời của Phàn Khoái là rất đúng.

Mong bệ hạ nên nghe theo".

Lưu Bang xưa nay vẫn rất tín nhiệm Trương Lương, nghe lời ông ta liền tỉnh ngộ, dặn dò tướng sĩ niêm phong kho tàng, dẫn các tướng sĩ trở về trại quân ở Bá Thượng.

Sau đó Lưu Bang triệu tập các phụ lão ở vùng Hàm Dương, nói với họ: "Dân chúng ở đây đã cực khổ vì chính sách bạo ngược của triều Tần.

Hôm nay tôi xin cùng các vị ước định 3 điều pháp lệnh: Một là, giết người thì phải đền mạng.

Hai là đánh người bị thương phải trị tội.

Ba là trộm cắp sẽ phải xử tội.

Ngoài 3 điều đó, mọi pháp luật, cấm lệnh cũ của nước Tần đều nhất loạt phế bỏ hết.

Các phụ lão và dân chúng cứ an cư lạc nghiệp, bất tất phải kinh sợ".

Lịch sử gọi 3 điều qui định trên của Lưu Bang là "ước pháp tam chương".

Lưu Bang còn bảo phụ lão các huyện và quan lại cũ của triều Tần đi các nơi phổ biến cho dân chúng về 3 điều qui định đó.

Trăm họ nghe được qui định của Lưu Bang thì vô cùng phấn khởi.

Họ tranh nhau mang bò, lợn, rượu và lương thực đến úy lạo quân của Lưu Bang.

Lưu Bang khôn khéo từ chối, bảo họ mang các thứ đó về vì: "Kho tàng của nhà Tần đã có đủ lương thực, không dám phiền đến sự đóng góp của trăm họ nữa".

Từ đó về sau, quân của Lưu Bang đã lưu lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng dân Hàm Dương.

Mọi người chỉ muốn Lưu Bang lưu lại đó làm vương.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
53-54


YẾN TIỆC Ở HỒNG MÔN

Sau khi tiếp nhận sự đầu hàng của Chương Hàm, Hạng Vũ muốn nhân dịp nước Tần nổi loạn, đem quân với Hàm Dương.

Đại quân đến Tân An (nay là Tân An, Hà Nam), số quân Tần đầu hàng bàn bạc với nhau:" Gia đình chúng ta ở Quan Trung, bây giờ đánh vào đó, người bị tai nạn lại chính là gia đình chúng ta.

Nếu đánh vào không được, quân Sở lại đem chúng ta sang phía đông, gia đình chúng ta sẽ bị triều Tần giết hết.

Làm thế nào bây giờ?".

Các bộ tướng nghe thấy lời bàn bạc đó, liền báo với Hạng Vũ.

Hạng Vũ sợ không quản lý được, liền nảy ra ý định tàn sát, trừ Chương Hàm và hai hàng tướng ra, còn lại chỉ trong một đêm, đem chôn sống hết hơn 20 vạn quân Tần.

Từ đó về sau, Hạng Vũ nổi tiếng là người tàn bạo.

Đại quân của Hạng Vũ đến cửa Hàm Cốc, thấy trên cửa quan có quân đóng giữ, không cho tiến vào.

Tướng sĩ giữ cửa quan nói: "Chúng tôi vâng lệnh Bái Công, bất kì đội quân nào cũng không cho vào".

Hạng Vũ bừng bừng nổi giận, hạ lệnh cho tướng sĩ đánh mạnh vào Hàm Cốc quan.

Binh lực của Lưu Bang ít, nên chẳng mấy lúc, Hạng Vũ đã đánh vào cửa quan, sau đó tiếp tục tiến lên, đến thẳng Tân Phong, Hồng Môn (nay ở đông bắc Lâm Đồng, Thiểm Tây) rồi đóng quân lại.

Thủ hạ của Lưu Bang có một viên quan tên là Tào Vô Thương, muốn đi theo Hạng Vũ, liền phái người đến mật cáo với Hạng Vũ: "Lần này Bái Công vào Hàm Dương là muốn làm vương ở đó".

Hạng Vũ nghe tin, nổi giận chửi rủa tàn tệ.

Mưu sĩ Phạm Tăng nói với Hạng Vũ: "Lần này Lưu Bang vào Hàm Dương, không tham lấy của cải và gái đẹp, tỏ rằng ông ta có mưu đồ lớn.

Bây giờ không tiêu diệt đi thì hậu loạn sẽ khôn cùng".

Hạng Vũ hạ quyết tâm tiêu diệt binh lực của Lưu Bang.

Lúc đó, quân của Hạng Vũ có 40 vạn, đóng tại Hồng Môn.

Quân của Lưu Bang có 10 vạn, đóng tại Bá Thượng.

Hai bên đóng cách nhau 40 dặm, lực lượng lại rất chênh lệch, nên Lưu Bang ở vào tình thế rất nguy hiểm.

Chú của Hạng Vũ là Hạng Bá, vốn là bạn cũ của Trương Lương đã từng chịu ơn cứu mạng của Trương Lương.

Ông ta sợ nếu hai bên đánh nhau thì Trương Lương sẽ bị nguy hiểm, liền phóng ngựa suốt đêm tới Bá Thượng gặp Trương Lương, khuyên Trương Lương nên trốn đi.

Trương Lương không chịu rời bỏ Lưu Bang, và nói cho Lưu Bang biết tình hình đó.

Lưu Bang liền cùng Trương Lương đến gặp Hạng Bá, ra sức biện bạch là bản thân không hề có ý chống Hạng Vũ, xin Hạng Bá nói giúp với Hạng Vũ.

Hạng Bá nhận lời và dặn Lưu Bang nên thân đem lễ vật tới chào Hạng Vũ.

Sáng hôm sau, Lưu Bang dẫn Trương Lương, Phàn Khoái và hơn 100 tùy tùng, đến Hồng Môn bái kiến Hạng Vũ.

Lưu Bang nói: "Tôi cùng với tướng quân đồng tâm hiệp lực đánh quân Tần, tướng quân ở phía bắc sông, tôi ở phía nam sông (Hoàng Hà).

Bản thân tôi cũng không ngờ lại vào được cửa quan trước.

Hôm nay gặp tướng quân ở đây, thật là một việc vui mừng.

Ngờ đâu lại có người gièm pha trước mặt tướng quân khiến tướng quân giận dữ.

Thật là một điều đại bất hạnh".

Hạng Vũ thấy Lưu Bang ăn nói nhún nhường, liền tiêu tan cơn giận, thật thà nói: "Đó chính là do Tào Vô Thương, bộ hạ của ông nói ra.

Nếu không, ta làm sao biết được".

Hôm đó, Hạng Vũ giữ Lưu Bang ở lại quân doanh dự tiệc, mời Phạm Tăng, Hạng Bá, Trương Lương cùng dự.

Trong tiệc rượu, mấy lần Phạm Tăng đưa mắt ra hiệu cho Hạng Vũ và nâng ngọc quyết đeo bên mình lên, tỏ ý yêu cầu Hạng Vũ hạ quyết tâm thừa cơ giết ngay Lưu Bang.

Nhưng Hạng Vũ cố ý làm ra vẻ không nhìn thấy.

Phạm Tăng thấy Hạng Vũ không nỡ hạ thủ, liền lấy cớ đi ra ngoài tìm người anh em họ của Hạng Vũ là Hạng Trang, nói: "Đại vương của chúng ta (chỉ Hạng Vũ) mềm yếu quá.

Anh hãy vào chúc rượu, rồi lựa dịp đâm chết Lưu Bang đi cho xong".

Hạng Trang vào chúc rượu, rồi nói: "Trong quân không có gì giải trí, tôi xin múa kiếm giúp vui".

Nói xong, rút kiếm ra múa, mỗi lúc tiến dần tới trước Lưu Bang.

Hạng Bá thấy dụng ý của Hạng Trang là muốn giết Lưu Bang, liền nói: "Để ta cùng múa đôi cho vui".

Rồi ông ta cũng rút kiếm ra múa, vừa múa vừa lấy thân mình ra che đỡ cho Lưu Bang, khiến Hạng Trang không thể tới gần được.

Trương Lương thấy tình hình căng thẳng, liền xin phép đi ra ngoài, tìm Phàn Khoái đang đứng ngoài cửa chính.

Phàn Khoái vội hỏi: "Có việc gì vậy?".

Trương Lương nói: "Tình thế rất nguy cấp, hiện Hạng Trang đang múa kiếm, có ý muốn hạ thủ Bái Công".

Phàn Khoái nhảy lên nói: "Đã thế thì cùng chết".

Rồi tay phải cầm kiếm, tay trái cầm thuẫn, xông vào quân doanh.

Vệ sĩ muốn ngăn lại, Phàn Khoái cầm thuẫn gạt mạnh, làm vệ sĩ ngã quay ra đất.

Ông ta gạt màn, xông thẳng vào, giận dữ nhìn Hạng Vũ, đầu tóc dựng ngược, hai mắt trợn trừng, tưởng như nứt cả kẽ mắt.

Hạng Vũ giật mình, chống kiếm hỏi: "Kẻ nào đó?

Đến đây làm gì?"

Trương Lương đã cùng vào, trả lời thay: "Thưa Đại vương, đây là người đánh xe cho Bái Công, tên là Phàn Khoái".

Hạng Vũ nói: "Đúng là một tráng sĩ".

Rồi gọi tùy tùng mang đến cho Phàn Khoái một bát rượu và một đùi lợn.

Phàn Khoái vừa uống rượu vừa giận dữ nói: "Lúc trước, Hoài Vương có giao hẹn với tướng sĩ là ai vào cửa quan trước, người đó sẽ được phong vương.

Nay Bái Công vào trước, đã không lên làm vương, lại niêm phong kho tàng, đóng cửa cung điện, đem quân đóng ở Bá Thượng, ngày ngày mong chờ tướng quân đến.

Công lao to lớn như thế, đã không được khen thưởng gì, mà tướng quân lại còn muốn giết ông ta.

Đó là tướng quân lại muốn đi theo con đường cũ của Tần Vương, tôi trộm lấy làm lo thay cho tướng quân".

Hạng Vũ nghe nói, không trả lời được, chỉ nói: "Ngồi xuống đi".

Phàn Khoái liền ngồi xuống cạnh Trương Lương.

Một lát sau, Lưu Bang đứng dậy đi tiểu, Trương Lương và Phàn Khoái cùng theo ra.

Lưu Bang trao lễ vật cho Trương Lương để dâng lên Hạng Vũ, nhờ Trương Lương từ biệt giúp với Hạng Vũ, còn mình cùng Phàn Khoái theo đường tắt chạy về Bá Thượng.

Lưu Bang đi một lúc lâu, Trương Lương mới trở vào, nói với Hạng Vũ: "Lưu Bang tửu lượng kém, đã uống quá say nên xin phép trở về trước, có sai tôi dâng lên một đôi bạch bích tặng tướng quân và một đôi ngọc đẩu tặng á phụ (chỉ Phạm Tăng)".

Hạng Vũ nhận bạch bích, để cạnh chỗ ngồi, còn Phạm Tăng thì đùng đùng nổi giận, quăng ngọc đẩu xuống đất, rút kiếm băm vằm tan nát, nói: "Hầy!

Đúng là thằng trẻ con (chỉ Hạng Vũ).

Chẳng có cách nào bày mưu kế cho được.

Sau này, người giành được thiên hạ, nhất định sẽ là Lưu Bang, chúng ta chỉ có việc chờ bị bắt làm tù binh thôi".

Cuộc yến tiệc dày công sắp đặt, đã kết thúc một cách không kèn không trống như vậy đó.

TIÊU HÀ ĐUỔI THEO GIỮ HÀN TÍN

Hạng Vũ vào Hàm Dương, giết chết Tần Vương Tử Anh và hơn 800 quí tộc Tần, rồi hạ lệnh đốt cháy Cung A Phòng.

Hơn 50 vạn binh sĩ theo Hạng Vũ vào Hàm Dương, không ai là đã không chịu sự áp bức của triều Tần.

Nhìn thấy Cung A Phòng tráng lệ, nghĩ tới mối hận cũ, lòng căm thù bốc lên ngùn ngụt.

Nay được lệnh của Hạng Vũ, mỗi người đều góp một mớ lửa.

Đám cháy lớn bốc lên suốt 3 tháng trời mới tắt.

Cung A Phòng chỉ còn lại một đống tro tàn.

Hạng Vũ vốn là một quí tộc nước Sở, nhân cơ hội khởi nghĩa nông dân mà tham gia cuộc chiến tranh chống Tần.

Sau khi diệt triều Tần, ông không nghĩ tới quyền lợi của quảng đại nông dân, nên lại quyết định phân phong đất đai, khiến cục diện thống nhất của Trung Quốc lại bị chia năm xẻ bảy.

Lúc đó, thủ lĩnh danh nghĩa là Sở Hoài Vương, Hạng Vũ đổi gọi ông là Nghĩa đế, bề ngoài tuy thừa nhận là đế, nhưng thực tế chỉ có hư danh, mọi việc phân phong đều do Hạng vũ chủ trương.

Ông cho các quí tộc cũ của sáu nước và các tướng lĩnh có công, tất cả 18 người làm vương, và tự xưng là Tây Sở Bá Vương.

Thời kì Xuân thu đã có Bá Vương, Hạng Vũ tự xưng Bá Vương có nghĩa là tự tuyên bố mình có quyền ra lệnh cho các chư hầu, các chư hầu đều phải nghe theo sự chỉ huy.

Đến năm sau, Hạng Vũ cũng giết luôn vua bù nhìn là Nghĩa đế.

Sau khi phân phong, các chư hầu phải mang quân về đất phong của mình.

Hạng Vũ cũng kéo quân về đô thành Bành Thành (nay là thành phố Từ Châu, Giang Tô).

Trong 18 chư hầu, Hạng Vũ kỵ nhất là Lưu Bang.

Ông phong Lưu Bang ở vùng xa xôi nhất là Ba Thục và Hán Trung, gọi là Hán Vương.

Lại phân phong miền Quan Trung cho ba hàng tướng Tần là Chương Hàm và hai người khác, yêu cầu họ chặn đường, không để Lưu Bang ra khỏi đất phong.

Hán Vương Lưu Bang rất không hài lòng về đất phong của mình, nhưng vì binh lực nhỏ yếu, không thể so đo được với Hạng Vũ, đành dẫn quân về Nam Trịnh (nay ở phía đông Hán Trung, Thiểm Tây) là đô thành của vùng này.

Đến Nam Trịnh, Hán Vương phong Tiêu Hà làm thừa tướng; Tào Tham, Phàn Khoái, Chu Bột làm tướng quân, chuẩn bị lực lượng để tranh đoạt thiên hạ với Hạng Vũ.

Nhưng binh lính dưới quyền ông chỉ muốn về quê hương, ngày nào cũng có người bỏ trốn, làm cho Hán Vương lo lắng ăn không ngon.

Một hôm bỗng có người vào báo: "Thừa tướng trốn mất rồi".

Hán Vương lo cuống quít, như bị chém đứt một cánh tay.

Đến sớm ngày thứ ba, Tiêu Hà mới trở về.

Hán Vương nhìn thấy vừa giận, vừa mừng, trách Tiêu Hà: "Tại sao ngươi lại bỏ trốn?".

Tiêu Hà nói: "Thần đâu có bỏ trốn?

Thần chỉ đuổi theo giữ kẻ bỏ trốn lại thôi".

Hán Vương hỏi: "Ngươi đuổi theo ai?".

Tiêu Hà nói: "Hàn Tín".

Hàn Tín vốn là người ở Hoài Âm.

Sau khi Hạng Lương khởi binh, dẫn quân qua Hoài Âm, Hàn Tín liền đi theo, làm một tên lính trong quân Sở.

Hạng Lương chết, Hàn Tín lại theo Hạng Vũ.

Hạng Vũ thấy Hàn Tín nhanh nhẹn hơn một tên lính thường, liền cho làm một chức quan nhỏ.

Mấy lần Hàn Tín hiến kế, Hạng Vũ đều không dùng.

Hàn Tín rất thất vọng.

Tới khi Hán Vương vào Nam Trịnh, Hàn Tín liền đi theo Hán Vương.

Hàn Tín đến Nam Trịnh, Hán Vương cũng chỉ cho làm một chức quan nhỏ.

Có lần, Hàn Tín phạm pháp, suýt bị chém đầu.

May mà lúc đó, một bộ tướng của Lưu Bang là Hạ Hầu Anh đi qua, Hàn Tín liền kêu lớn: "Hán Vương không muốn chiếm thiên hạ hay sao mà lại chém tráng sĩ".

Hạ Hầu Anh thấy dáng điệu Hàn Tín quả là một trang hảo hán, liền tha ông ta ra và tiến cử với Hán Vương.

Hán Vương cử Hàn Tín làm chức quan quản lý lương thực.

Sau đó thừa tướng Tiêu Hà gặp Hàn Tín, cùng nhau đàm đạo, thấy Hàn Tín là người có tài, rất khâm phục và nhiều lần đề nghị Hán Vương trọng dụng, nhưng Hán Vương vẫn không nghe theo.

Hàn Tín thấy Hán Vương không trọng dụng mình, nên nhân lúc nhiều người bỏ trốn cũng tìm cơ hội trốn đi.

Tiêu Hà được tin Hàn Tín bỏ trốn, liền vội vã tự mình cưỡi ngựa tốt đuổi theo.

Đuổi suốt hai ngày mới theo kịp và giữ Hàn Tín lại.

Hán Vương thấy Tiêu Hà đuổi theo giữ Hàn Tín, thì nổi giận nói: "Tướng tá bỏ trốn có tới hàng chục người mà ngươi không quan tâm, lại đuổi theo giữ Hàn Tín là cớ làm sao?".

Tiêu Hà nói: "Tướng thông thường thì có hay không cũng được, nhưng nhân tài như Hàn Tín thì có một không hai.

Nếu Đại vương muốn ở Hán Trung suốt đời thì không cần dùng đến Hàn Tín; còn nếu muốn chiếm lấy thiên hạ thì không thể không dùng ông ta.

Như vậy, Đại vương định thế nào?".

Hán Vương nói: "Đương nhiên ta muốn sang phía đông, chứ sao lại muốn ở đây mãi".

Tiêu Hà nói: "Đại vương muốn giành thiên hạ thì mau mau trọng dụng Hàn Tín.

Nếu không trọng dụng thì trước sau anh ta cũng bỏ đi thôi".

Hán Vương nói: " Thôi được, ta nghe lời ngươi, cho ông ta làm tướng"

Tiêu Hà nói: "Phong làm tướng cũng không giữ được ông ta đâu"

Hán Vương nói: "Thì phong ông ta làm đại tướng vậy".

Tiêu Hà phấn khởi nói: "Đại vương thật là sáng suốt".

Hán Vương bảo Tiêu Hà gọi Hàn Tín tới, định phong ngay làm đại tướng.

Tiêu Hà thẳng thắng nói: "Thường ngày đại vương ít chú ý đến lễ tiết.

Phong đại tướng là một việc lớn, không thể tùy tiện gọi người ta đến như trò đùa của trẻ con.

Nếu đại vương quyết tâm phong Hàn Tín làm đại tướng, thì phải chọn ngày tốt, lập đàn, tiến hành nghi thức bái tướng long trọng mới được".

Hán Vương nói: "Cũng được!

Ta nghe theo ngươi"

Trong trại Hán lưu truyền tin tức: Hán Vương đang chọn ngày lập đàn bái tướng.

Mấy tướng theo Hán vương từ đầu từng có công, đều phấp phỏng không ngủ được, cho rằng chắc chắn chức đại tướng sẽ phong cho mình.

Đến ngày bái tướng, mọi người mới được biết là người được phong làm đại tướng lại là anh chàng Hàn Tín mà hàng ngày ai cũng coi thường, thì tất cả đều ngơ ngác.

Sau khi cử hành nghi thức bái tướng, Hán Vương tiếp kiến Hàn Tín và nói: "Thừa tướng đã nhiều lần tiến cử tướng quân.

Tướng quân nhất định có kế sách hay, xin tướng quân chỉ giáo".

Hàn Tín tạ ơn tướng quân, sau đó trình bày tường tận cho Hán Vương nghe mọi điều kiện của hai bên Hán, Sở (chỉ Hạng Vũ), và cho rằng nếu đông chinh nhất định sẽ chiến thắng Hạng Vũ.

Hán Vương càng nghe càng phấn khởi, cứ tiếc mãi là không sớm phát hiện nhân tài.

Từ đó về sau, Hàn Tín chỉ huy tướng sĩ, thao luyện binh mã, dần dần chuẩn bị đủ điều kiện để tiến sang phía đông đánh Hạng Vũ.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
55-56


SỞ HÁN TRANH HÙNG

Hán Vương Lưu Bang bái Hàn Tín làm đại tướng, Tiêu Hà làm thừa tướng, chỉnh đốn hậu phương, huấn luyện binh mã.

Tháng 8 năm 206 TCN, Hán vương và Hàn Tín mang quân đánh Quan Trung.

Trăm họ ở Quan Trung vốn có cảm tình với Hán vương từ ngày ban hành "ước pháp tam chương", nên khi quân Hán tới, đại đa số không muốn chống lại.

Chưa đầy ba tháng, Hán vương đã tiêu diệt được lực lượng của mấy hàng tướng là bọn Chương Hàm, hoàn toàn chiếm lĩnh vùng Quan Trung.

Tình hình đó khiến Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ rất tức giận.

Hạng Vũ toan đưa quân lên phía tây đánh Lưu Bang, nhưng ở phía đông lại xảy ra sự biến: Điền Vinh ở nước Tề nổi lên đánh đuổi Tề vương do Hạng Vũ phong, tự lập làm vương, tình hình có phần nghiêm trọng hơn phía tây.

Hạng Vũ đành đem quân đánh Tề trước.

Hán vương Lưu Bang lợi dụng tình hình Hạng Vũ đánh Tề chưa ngã ngũ, liền đưa quân qua phía đông, đánh chiếm Bành Thành, đô thành của Tây Sở Bá Vương.

Hạng Vũ lại vội rời bỏ nước Tề, quay binh lại giao chiến với quân Hán một trận lớn ở Tuy Thủy.

Quân Hán đại bại, một số lớn chết đuối dưới sông Tuy Thủy, một số khá lớn bị bắt.

Cha của Hán vương là Thái Công và vợ là Lã Hậu cũng bị Hạng Vũ bắt sống.

Hán vương lui về dải Huỳnh Dương, Thành Cao (nay đều thuộc huyện Huỳnh Dương, Hà Nam), thu thập số quân tản mát.

Lúc đó, Tiêu Hà điều một số quân từ Quan Trung tới, Hàn Tín cũng dẫn quân tới hợp với Hán vương, quân Hán mới phấn chấn lên được.

Hán vương dùng biện pháp đánh để giữ, một mặt giữ vùng Huỳnh Dương, dùng một binh lực nhỏ kiềm chế Hạng Vũ, một mặt phái Hàn Tín mang quân lên bắc, thu phục các nước Ngụy, Yên, Triệu.

Mưu sĩ của Hạng Vũ là Phạm Tăng khuyên Hạng Vũ nhanh chóng đánh chiếm Huỳnh Dương.

Hán vương hết sức lo lắng.

Mưu sĩ Trần Bình vốn là người từ phía Hạng Vũ chạy sang, hiến kế cho Bái Công tìm cách ly gián Hạng Vũ với Phạm Tăng.

Hạng Vũ vốn tính đa nghi, bị trúng kế phản gián, đem lòng nghi Phạm Tăng.

Phạm Tăng vô cùng uất ức, nói với Hạng Vũ: "Đại thế trong thiên hạ đã định rồi, đại vương nên định liệu cho khéo.

Thần đã già yếu, xin cho về quê nghỉ ngơi".

Phạm Tăng rời Huỳnh Dương, trên đường vừa buồn vừa giận, sinh bệnh.

Chưa về tới Bành Thành thì phát một nhọt độc sau lưng rồi chết.

Phạm Tăng chết, trong quân Sở không có người bày mưu lập kế cho Hạng Vũ, vì vậy sức ép với Bành Thành giảm đi.

Hán vương dùng thiểu số binh lực kiềm chế quân Hạng Vũ ở Huỳnh Dương, Thành Cao; để Hàn Tín tiếp tục đánh phía bắc và phía đông; lại sai Bành Việt đem quân cắt đứt đường tiếp lương sau lưng quân Sở, làm cho Hạng Vũ phải tới lui tác chiến không ngừng.

Hai bên Hán Sở cứ như thế cầm cự nhau hơn hai năm,

Năm 203 TCN, Hạng Vũ thân đi đánh Bành Việt, để tướng dưới quyền là Tào Cữu ở lại giữ Thành Cao, và dặn dò kỹ lưỡng là tuyệt đối không được đưa quân ra đánh nhau với quân Hán.

Hán vương thấy Hạng Vũ đã đi khỏi, liền phái quân khiêu chiến.

Tào Cữu nhất định không chịu ra đánh.

Hán vương liền sai quân suốt ngày đứng cách sông Ty Thủy réo gọi chửi rủa.

Suốt mấy ngày liền, Tào Cữu chịu không nổi, liền quyết định đưa quân qua sông quyết chiến.

Quân Sở lính nhiều thuyền ít, phải chia ra từng tốp vượt sông.

Quân Hán nhân cơ hội quân Sở vượt được nửa chừng, liền đánh bại tiền quân Sở, hậu quân rối loạn, giẫm đạp lên nhau.

Tào Cữu thấy không còn mặt mũi nào gặp lại Hạng Vũ, liền tự sát bên bờ sông Ty Thủy.

Hạng Vũ đang đánh thắng ở phía đông, nghe tin Thành Cao thất thủ, liền vội quay về phía tây đối phó với Hán vương.

Hai bên Hán-Sở lại cầm cự nhau ở Quảng Vũ (nay ở đông bắc huyện Huỳnh Dương, Hà Nam).

Thời gian kéo dài, lương thực của quân Sở tiếp tế không kịp.

Hạng Vũ không có cách gì, liền trói cha của Hán vương lại, để trên bàn mổ lợn, cử người lớn tiếng thét: "Lưu Bang không mau chóng đầu hàng thì ta sẽ giết chết cha ngươi".

Hán vương cũng biết là Hạng Vũ dọa dẫm, cũng lớn tiếng đáp lại: "Ta với ngươi đã từng kết nghĩa anh em.

Cha ta cũng là cha ngươi.

Nếu ngươi định giết cha lấy thịt nấu canh thì cho ta xin một bát nếm thử".

Hạng Vũ nghiến răng giận dữ, muốn đem Thái Công ra giết thật, nhưng được Hạng Bá khuyên ngăn.

Hạng Vũ cử sứ giả đến nói với Hán vương: "Thiên hạ hiện nay loạn lạc là do hai người chúng ta cứ chống chọi mãi với nhau.

Nay ta thách ngươi ra cùng ta quyết so tài cao thấp một trận cho xong".

Hán vương cử sứ giả trả lời: "Ta chỉ đấu trí, chứ không đấu lực với ngươi".

Hạng Vũ gọi Hán vương ra đối thoại trước trận, Hán vương liền vạch ra 10 tội của Hạng Vũ; nào là bất nghĩa, đã giết hại Nghĩa đế; nào là tàn bạo, tàn sát nhân dân trăm họ.

Hạng Vũ nổi nóng, cầm kích chỉ sang, lập tức từ phía sau, tên bắn tua tủa sang trại Hán.

Hán vương vội lui ngựa, nhưng đã trúng một mũi tên vào ngực bị thương nặng.

Hán vương nhanh trí, nhịn đau, khom mình sờ xuống chân rồi chửi: "Quân chó đểu, nó bắn trúng ngón chân ta rồi".

Làm như vậy để binh sĩ tưởng rằng vết thương không đáng kể và lòng quân khỏi hoang mang.

Tướng sĩ xung quanh vội vực Hán vương về trại.

Để làm yên lòng quân, Trương Lương khuyên Hán vương cố gắng đi thăm quân sĩ một lượt để mọi người an tâm vì thấy Hán vương vô sự Hạng Vũ nghe tin Hán vương không chết thì rất thất vọng.

Ngay sau đó, Hàn Tín lại đánh bại quân Tề ở đất Sở, đường tải lương của quân Sở lại bị Bành Việt cắt đứt, làm cho lương thực thiếu thốn.

Hán vương lợi dụng lúc Hạng Vũ đang gặp khó khăn, liền cử người sang giảng hòa, yêu cầu quân Sở tha Thái Công và Lã Hậu ra, đồng thời đề nghị hai bên lấy Hồng Câu (ở đông nam Huỳnh Dương) làm ranh giới, phía đông thuộc về Sở, phía tây thuộc về Hán.

Hạng Vũ thấy đề nghị đó tương đối hợp lý, liền chấp thuận, thả Thái Công và Lã Hậu ra rồi đem quân về Bành Thành.

Kỳ thực, việc giảng hòa của Hán vương chỉ là kế hoãn binh.

Sau đó, Hán vương theo kế của Trương Lương, Trần Bình, tổ chức ba đạo quân của Hàn Tín, Bành Việt, Anh Bố do Hàn Tín thống lĩnh, truy kích Hạng Vũ.

Trận quyết chiến cuối cùng giữa hai bên Hán-Sở bắt đầu.

BÁ VƯƠNG TỰ SÁT Ở Ô GIANG

Năm 202 TCN, Hàn Tín bố trí quân mai phục mười mặt, vây khốn Hạng Vũ ở Cai Hạ (nay ở đông nam huyện Linh Bích, An Huy).

Hạng Vũ ít quân, thiếu lương muốn thoát khỏi vòng vây, nhưng quân Hán và quân chư hầu bao vây trùng trùng điệp điệp, lớp này bị giết lại có lớp khác lên thay, không tài nào thoát ra được.

Hạng Vũ phá vây không nổi, đành lại quay về giữ Cai Hạ, dặn dò quân sĩ phòng giữ cẩn thận để chờ thời cơ.

Đêm đó, Hạng Vũ ở trong doanh trại buồn bực.

Sủng phi là Ngu Cơ thấy Hạng Vũ không vui, liền cùng Hạng Vũ uống rượu giải sầu.

Tối khuya, thấy lẫn trong tiếng gió thổi có lời ca của quân lính bao vây.

Hạng Vũ lắng tai nghe, thấy lời hát từ trại Hán truyền ra, các bài hát đều là dân ca nước Sở, số người hát xem ra có vẻ rất nhiều.

Hạng Vũ thấy bốn mặt đều là tiếng hát giọng Sở thì hoảng hốt: "Hỏng rồi!

Chẳng lẽ Lưu Bang đã chiếm hết nước Sở rồi sao?

Làm sao mà trong quân Hán có nhiều người Sở như vậy?

Hạng Vũ không nhịn được, cũng thuận miệng cất lên lời hát bi thương:

"Sức nhổ núi, khí trùm trời

Ngựa Chuy chùn lại bởi thời không may

Ngựa chùn biết tính sao đây?

Nàng Ngu, biết tính sao đây hở nàng?"

Hạng Vũ hát mấy lần Ngu Cơ cũng hát họa theo.

Bá vương vừa hát vừa rơi nước mắt.

Người xung quanh đều thương tâm, không ai dám ngẩng đầu lên.

Đêm đó Hạng Vũ nhảy lên ngựa Ô Chuy, dẫn theo 800 tử đệ binh xông vào trại quân Hán, người ngựa xông xáo chém giết để vượt qua vòng vây.

Đến khi trời tản sáng, quân Hán mới phát hiện Hạng Vũ đã phá được vòng vây, liền vội phái 5000 kỵ binh đuổi theo.

Hạng Vũ ra sức chạy, tới khi vượt Hoàng Hà, chỉ còn hơn 100 người đi theo.

Tiếp tục chạy một đoạn nữa, thì bị lạc đường.

Hạng Vũ chạy tới một ngã ba, thấy một nông dân, liền hỏi đường đi Bành Thành.

Nông dân đó biết là Hạng Vũ, liền nói dối: "Rẽ sang bên trái".

Hạng Vũ cùng hơn 100 người chạy về phía trái, càng chạy càng thấy đường khó đi, cuối cùng chỉ thấy một vùng đầm ao, không còn đường nữa.

Hạng Vũ biết bị mắc lừa, liền dẫn quân quay lại, thì quân Hán đã đuổi tới.

Hạng Vũ lại chạy về hướng đông nam, dọc đường số quân còn lại người thì chết, người thì bị thương.

Đến Đông Thành (nay ở đông nam huyện Định Nguyên, An Huy), đếm lại số quân, chỉ còn 28 kỵ binh, trong khi quân Hán có tới mấy ngàn kỵ binh, khép chặt vòng vây lại.

Hạng Vũ biết rằng không thể thoát được, nhưng vẫn không chịu hàng, nói với tùy tùng: "Từ khi ta khởi binh đến nay đã 8 năm, trải qua hơn 70 trận chiến, xưa nay chưa từng thua trận nào, mới làm được Bá vương.

Ngày nay ta bị vây ở đây là trời muốn diệt ta, chứ không phải ta không đánh nổi chúng".

Hạng Vũ liền chia 28 người còn lại thành bốn đội rồi nói: "Hãy xem ta giết một đại tướng của nó, các ngươi có thể phá vây ở bốn hướng rồi đến tập hợp ở dưới núi phía đông".

Nói xong, Hạng Vũ thét lớn, rồi xông vào quân Hán, quân Hán không chống đỡ nổi, gạt ra.

Một tướng Hán bị Hạng Vũ chém chết.

Hạng Vũ đến núi phía đông, bốn đội nhân mã đã hội đủ.

Hạng Vũ lại chia họ làm ba đội, giữ ba mặt.

Quân Hán cũng chia làm ba cánh, vây chặt họ lại.

Hạng Vũ xông xáo chém giết, lại giết được một đô úy và mấy trăm binh sĩ Hán.

Cuối cùng, Hạng Vũ lại hợp ba đội quân lại, điểm số trong 28 người chỉ thiệt mất 2 người.

Hạng Vũ hỏi: "Các ngươi thấy thế nào?"

Bộ hạ đều trả lời: "Qủa đúng như lời đại vương đã nói".

Hạng Vũ phá vòng vây quân Hán, dẫn 20 kỵ binh chạy về phía nam.

Chạy đến Ô Giang (nay ở đông bắc huyện Hòa, tỉnh An Huy) thì vừa gặp người đình trưởng ở Ô Giang đậu một con thuyền nhỏ ở đó.

Đình trưởng khuyên Hạng Vũ vượt sông ngay và nói: "Giang Đông tuy nhỏ, nhưng cũng có hơn 1000 dặm đất đai và mấy chục vạn nhân khẩu.

Đại vương qua sông, vẫn có thể xưng vương ở đó"

Hạng Vũ cười đau đớn: "Ta khởi binh ở Cối Kê, mang theo 8000 con em vượt sông, đến nay không còn ai, chỉ có một mình ta trở về Giang Đông.

Dù các phụ lão ở Giang Đông có thương ta, lập ta làm vương, ta cũng không còn mặt mũi nào nhìn họ nữa"

Hạng Vũ liền đưa ngựa Ô Chuy cho đình trưởng, bảo các binh sĩ xuống ngựa, dùng đoản đao xông vào chém giết quân Hán.

Họ giết được mấy trăm quân Hán, binh sĩ của Hạng Vũ cũng lần lượt ngã xuống.

Hạng Vũ bị mấy vết thương, cuối cùng rút kiếm tự sát bên bờ Ô Giang.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
57-58


ĐẠI PHONG CA

Sau trận quyết chiến Cai Hạ, Hán vương Lưu Bang giành được thắng lợi cuối cùng, xây dựng nên vương triều Hán còn lớn mạnh hơn vương triều Tần.

Năm 202 TCN, Hán vương Lưu Bang chính thức lên ngôi Hoàng đế, tức là Hán Cao Tổ (niên biểu triều Hán ghi năm đầu là năm 206 TCN, khi Lưu Bang xưng là Hán vương).

Hán Cao Tổ đóng đô ở Lạc Dương, sau lại dời về Trường An (nay là Tây An, Thiểm Tây).

Từ đó suốt 210 năm, đô thành của nhà Hán đều ở Trường An.

Lịch sử gọi thời kì này là Tây Hán hay Tiền Hán.

Sau khi lên ngôi, Hán Cao Tổ mở một yến tiệc mừng công ở Nam Cung, Lạc Dương và nói với các đại thần: "Hôm nay chúng ta cùng nhau vui vẻ, mọi người nói năng không phải kiêng kị gì, các ngươi nói xem tại sao ta lại được thiên hạ?

Hạng Vũ tại sao thất bại?"

Đại thần Vương Lăng nói: "Hoàng thượng phái tướng sĩ đánh chiếm được thành trì, đều có phong thưởng, nên mọi người tình nguyện phục vụ; còn Hạng Vũ thì nghi ngờ đố kỵ những người có tài năng và công lao, đánh thắng trận cũng không ghi công cho người ta.

Vì vậy mà mất thiên hạ".

Hán Cao Tổ cười nói: "Các ngươi mới biết một, mà không biết hai.

Nên nhớ rằng thành công hay thất bại đều phụ thuộc vào việc dùng người.

Ngồi trong màn trướng định ra kế sách để giành thắng lợi ngoài ngàn dặm, thì ta không bằng Trương Lương; cai trị đất nước, vỗ về trăm họ, cung cấp lương thực cho tiền phương thì ta không bằng Tiêu Hà; thống lĩnh trăm vạn đại quân, đã đánh là thắng, công phá thành trì là hạ được, thì ta không bằng Hàn Tín.

Ba người đó đều là hào kiệt thời nay.

Ta biết trọng dụng họ, đó là nguyên nhân giúp ta giành thắng lợi.

Còn Hạng Vũ có một Phạm Tăng mà không biết dùng, nên mới bị ta tiêu diệt".

Mọi người đều khâm phục ý kiến của Hán Cao Tổ.

Từ đó về sau, người ta gọi Trương Lương, Tiêu Hà, Hàn Tín là "Hán sơ tam kiệt" (ba người hào kiệt đầu đời Hán).

Trong chiến tranh Sở-Hán, có một số đại tướng lập công lớn, Hán Cao Tổ không thể không phong họ làm vương.

Những vương chư hầu đó tuy không phải là quí tộc cũ của sáu nước, nhưng đều muốn cát cứ một khoảng đất, không nghe theo sự chỉ huy của triều Hán.

Trong số đó, Sở vương Hàn Tín, Lương vương Bành Việt, Hoài Nam vương Anh Bố có công lao lớn nhất, binh lực mạnh nhất.

Hán Cao Tổ rất không yên tâm về họ.

Một tướng cũ của Hạng Vũ là Chung Ly Muội đang bị Hán Cao Tổ lùng bắt, nhưng lại được Hàn Tín thu dụng.

Năm thứ hai, có người tố giác với Hán Cao Tổ là Hàn Tín mưu phản.

Hán Cao Tổ hỏi các đại thần xem các đại thần nên làm thế nào.

Rất nhiều người chủ trương nên đem quân đi đánh.

Chỉ có Trần Bình phản đối, Trần Bình nói: "Quân đội của Hàn Tín tinh nhuệ hơn chúng ta.

Tướng ta dưới quyền Hàn Tín cũng mạnh hơn chúng ta.

Dùng vũ lực đối phó với Hàn Tín khó lòng thắng được".

Sau đó, Hán Cao Tổ dùng kế của Trần Bình, giả vờ đi tuần du đến đầm Vân Mộng, lệnh cho các chư hầu đến họp.

Hàn Tín nhận được lệnh, không thể không đến.

Đến đất Trần, Hán Cao Tổ sai võ sĩ trói Hàn Tín lại, xử tội.

Có người khuyên Hán Cao Tổ nghĩ tới công lao cũ của Hàn Tín, nên xử lý khoan hồng.

Hán Cao Tổ bèn miễn tội, nhưng thu lại tước Sở vương, giáng phong là Hoài Âm hầu.

Sau khi bị giáng chức, Hàn Tín buồn rầu, thường mượn cớ có bệnh, không vào triều kiến.

Mấy năm sau, tướng Trần Hy làm phản, tự xưng là Đại vương (vương ở đất Đại), trong một thời gian ngắn chiếm được hơn 20 thành.

Hán Cao Tổ sai Hoài Âm hầu Hàn Tín và Lương vương Bành Việt cùng đem quân đánh Trần Hy, nhưng cả hai người đều thác cớ có bệnh, không chịu xuất binh.

Hán Cao Tổ đành tự đem quân đi đánh Trần Hy.

Sau khi Hán Cao Tổ đem quân đi khỏi Trường An, có người tố giác với Lã hậu là Hàn Tín đồng mưu với Trần Hy, toan phối hợp với nhau để cùng khởi loạn.

Lã hậu bàn bạc kế sách với thừa tướng Tiêu Hà, cố ý truyền ra tin tức, nói Cao Tổ đã bắt được Trần Hy, triệu các đại thần về cung chúc mừng.

Hàn Tín về tới cung, bị các võ sĩ mai phục sẵn bắt giết đi.

Không đầy ba tháng sau khi Hàn Tín bị giết, Hán Cao Tổ diệt được Trần Hy.

Về đến Lạc Dương, lại nhận được cáo giác của thủ hạ Bành Việt, nói Bành Việt mưu phản.

Hán Cao Tổ được tin, sai người bắt Bành Việt, giam vào ngục.

Sau vì không tra xét thấy chứng cớ mưu phản của Bành Việt, liền giáng ông ta xuống làm dân thường, đày vào đất Thục.

Trên đường đi vào Thục, Bành Việt gặp Lã hậu, liền khóc lóc trình bày là mình vô tội, xin Lã hậu nói giúp với Hán Cao Tổ, cho mình về quê hương.

Lã hậu nhận lời, đưa Bành Việt về Lạc Dương.

Lã hậu về Lạc Dương, nói với Hán Cao Tổ: "Bành Việt là một tráng sĩ.

Đưa hắn ta vào Thục thì khác gì thả hổ về rừng, mua lấy phiền phức sau này" .

Hán Cao Tổ nghe lời Lã hậu, liền giết Bành Việt.

Hoài Nam vương Anh Bố nghe tin Hàn Tín, Bành Việt đều bị giết cả, liền quyết tâm nổi loạn.

Ông ta nói với bộ hạ: "Hoàng thượng đã già rồi, không thể tự mình đem quân đến đây.

Trong số đại tướng chỉ có Hàn Tín, Bành Việt là tài giỏi nhất, đều đã chết rồi.

Các tướng khác không phải là đối thủ của ta, không có gì sợ cả".

Anh Bố xuất binh, quả nhiên đánh thắng liền mấy trận, chiếm được toàn bộ đất Kinh Sở.

Hán Cao Tổ đành phải mang quân đối địch.

Ông ta ra trước trận, mắng Anh Bố: "Ta đã phong ngươi làm vương.

Cớ sao ngươi còn làm phản?"

Anh Bố nói thẳng: "Ta muốn làm hoàng đế".

Hán Cao Tổ chỉ huy đại quân tấn công mãnh liệt.

Quân Anh Bố bắn tên sang, Hán Cao Tổ bị một phát tên trúng ngực, may mà vết thương không nặng lắm.

Ông nhịn đau, tiếp tục chỉ huy tiến công.

Anh Bố đại bại tháo chạy, giữa đường bị giết chết.

Hán Cao Tổ bình định được Anh Bố tiện đường về thăm quê hương ở huyện Bái, mời các phụ lão và những người quen biết cũ đến dự một buổi tiệc, cho mọi người uống rượu vui chơi thoải mái mấy ngày.

Trong lúc vui vẻ, Hán Cao Tổ hồi tưởng lại quá trình gian khổ trong cuộc chiến với Hạng Vũ, lại nghĩ tới việc sau này cai trị đất nước thế nào, thật không dễ dàng.

Ngoài việc các chư hầu không chịu an phận, lại thêm những mối lo ngoài biên cảnh, làm thế nào tìm được đủ dũng sĩ giúp mình bảo vệ ngôi hoàng đế.

Nghĩ đến đó, tâm tình xúc động, liền cất tiếng hát:

"Gió thổi lớn, mây cuộn trôi

Oai lưng khắp nước về nơi quê nhà

Mong nhiều dũng sĩ giúp ta

Giữ cho yên ổn sơn hà bốn phương"

BỊ VÂY Ở BẠCH ĐĂNG

Từ sau khi Tần Thủy Hoàng đánh bại Hung Nô, biên cương phía bắc yên ổn được mười mấy năm.

Tới khi Tần Thủy Hoàng bị diệt, miền Trung nguyên có chiến tranh Sở-Hán, Hung Nô nhân cơ hội, từng bước lấn xuống phía nam.

Thời Hán Cao Tổ, thiền vu (tên gọi chức thủ lĩnh của Hung Nô) Mạo Đồn của Hung Nô mang 40 vạn quân bao vây Hàn vương Tín (quí tộc nước Hàn cũ, tên là Tín, được phong vương, không phải là Hàn Tín) ở đất phong là Mã Ấp.

Hàn vương Tín không chống nổi, xin hòa với Mạo Đồn.

Hán Cao Tổ được tin, phái sứ giả đến quở trách Hàn vương Tín.

Hàn vương Tín sợ bị Hán Cao Tổ trị tội, liền đầu hàng Mạo Đồn.

Mạo Đồn chiếm được Mã Ấp, tiếp tục tiến xuống phía nam, bao vây Tấn Dương.

Hán Cao Tổ thân đem quân tới Tấn Dương, đối địch với Mạo Đồn.

Mùa đông năm 200 TCN, tuyết xuống nhiều, trời rất lạnh.

Quân lính Trung nguyên chưa từng phải gặp thời tiết lạnh như vậy, nhiều người bị chết rét, có người rụng cả ngón tay vì bị cóng.

Nhưng quân Hán giao chiến mấy trận, quân Hung Nô đều thua.

Sau mấy trận thua liên tiếp, nghe nói Mạo Đồn trốn đến Đại Cốc (nay ở tây bắc huyện Đại, Sơn Tây).

Hán Cao Tổ vào Tấn Dương, cử người đi trinh sát, đều về báo cáo là quân của Mạo Đồn đều là tàn binh gì yếu, ngựa cưỡi rất gầy còm, Nếu thừa thế tiến đánh thì nhất định thắng lợi.

Hán Cao Tổ sợ những tin tức đó chưa đủ tin cậy, lại phái Lưu Kính đến trại Hung Nô dò xét.

Lưu Kính về báo cáo: "Chúng tôi thấy người ngựa của Hung Nô đúng là đều già yếu.

Nhưng tôi cho rằng Mạo Đồn nhất định đã cho quân tinh nhuệ mai phục.

Xin bệ hạ chớ nên mắc lừa chúng".

Hán Cao Tổ giận dữ mắng: "Ngươi dám nói năng xằng bậy, định ngăn cản ta tiến quân sao?".

Liền sai giam Lưu Kính lại.

Hán Cao Tổ dẫn một đạo quân vừa tới Bình Thành (nay ở đông bắc thành phố Đại Đồng, Sơn Tây) bỗng thấy bốn phía đều có quân Hung Nô xông tới, người ngựa đều khỏe mạnh, chẳng thấy số quân già yếu đâu.

Hán Cao Tổ dẫn quân mở một đường máu, lui tới núi Bạch Đằng ở đông nam Bình Thành.

Thiền vu Mạo Đồn điều 40 vạn tinh binh vây chặt Hán Cao Tổ ở Bạch Đăng Sơn, quân Hán xung quanh không thể nào tới gần được.

Hán Cao Tổ và số người ngựa đi theo bị vây khốn trên núi suốt 7 ngày đêm, không có cách gì thoát ra được.

Mưu sĩ Trần Bình cũng đi theo Hán Cao Tổ liền phái người mang vàng bạc, châu báu đến gặp yên chi (tức vương hậu) của Mạo Đồn, đề nghị bà ta nói giúp với thiền vu.

Thấy nhiều vàng bạc châu báu như vậy, yên chi của Mạo Đồn rất phấn khởi, liền nói với chồng: "Chúng ta chiếm đất đai của người Hán nhưng cũng không thể ở lâu được, vả lại thế nào rồi hoàng đế Hán cũng có đại quân tới cứu, chi bằng ta rút quân sớm thì hơn".

Mạo Đồn nghe theo, sớm hôm sau, hạ lệnh cho quân Hung Nô mở ra một lối cho quân Hán rút.

Nhân lúc sương mù, Hán Cao Tổ dẫn quân lặng lẽ rời khỏi núi Bạch Đăng.

Trần Bình còn hạ lệnh cho quân lính sẵn sàng giương cung hướng ra hai bên, bảo vệ cho Hán Cao Tổ xuống núi.

Hán Cao Tổ nơm nớp lo sợ.

Vừa ra thoát vòng vây, liền ra roi chạy thẳng về Quảng Vũ.

Sau khi định thần, ông ra lệnh tha Lưu Kính ra, nói: "Ta không nghe theo lời ngươi nên bị Hung Nô vây ở Bạch Đăng Sơn, suýt nữa thì không còn gặp lại ngươi nữa".

Sau khi thoát khỏi miệng cọp, Hán Cao Tổ biết không đủ lực lượng để đánh Hung Nô, liền trở về Trường An.

Sau đó, Hung Nô liên tục xâm phạm phía bắc khiến Hán Cao Tổ ngày đêm lo lắng.

Ông hỏi Lưu Kính nên làm thế nào.

Lưu Kính nói: "Tốt nhất là nên áp dụng chính sách hòa thân, (tức hai bên giảng hòa), đem con gái gả cho thiền vu, kết làm thân thích, cùng sống hòa bình với nhau".

Hán Cao Tổ nghe theo, phái Lưu Kính sang Hung Nô giảng hòa.

Mạo Đồn đồng ý.

Hán Cao Tổ chọn một cô gái do cung nữ sinh ra, xưng là đại công chúa, mang gả cho Mạo Đồn.

Mạo Đồn lập nàng làm yên chi.

Từ đó, triều Hán áp dụng chính sách hòa thân, tạm thời hòa hoãn quan hệ với Hung Nô.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
59-60


GIẾT NGỰA TRẮNG ĂN THỀ

Những năm cuối đời , Hán Cao Tổ yêu quí Thích phu nhân.

Thích phu nhân sinh con trai, đặt tên là Như Ý, được phong làm Triệu vương.

Hán Cao Tổ thấy thái tử Lưu Doanh do Lã hậu sinh ra, tính tình nhu nhược, sợ sau này không làm nổi việc lớn, còn Như Ý thì nói năng và sử xự rất giống mình, vì vậy có ý đổi lập Như Ý làm thái tử.

Ông đưa vấn đề này ra bàn bạc với các đại thần, nhưng các đại thần đều phản đối, ngay cả Trương Lương là người được Hán Cao Tổ kính trọng cũng ủng hộ Lã hậu và mời bốn ẩn sĩ rất có danh vọng đương thời, được gọi là "Thương sơn tứ hạo" (hạo: ông già đầu bạc) đến để phù tá thái tử Lưu Doanh.

Hán Cao Tổ không có cách gì phế được thái tử, liền nói với Thích phu nhân: "Thái tử có người giúp đỡ, đã đủ lông đủ cánh, không có cách gì thay đổi được".

Thích phu nhân lo lắng không biết làm sao được.

Khi trước, Hán Cao Tổ thảo phạt Anh Bố, đã bị trúng tên vào ngực.

Sau này, vết thương cũ tái phát nghiêm trọng.

Một lần, có người nói riêng với Hán Cao Tổ: "Phàn Khoái (em rễ Lã hậu) hợp tác với Lã hậu, chỉ đợi hoàng thượng mất là sẽ giết Thích phu nhân và Như Ý".

Hán Cao Tổ nổi giận, liền gọi Trần Bình và tướng Chu Bột vào cung, bảo họ: "Các ngươi mau đến quân doanh, chém đầu Phàn Khoái mang về đây cho ta".

Lúc đó Phàn Khoái đang chỉ huy quân ở nước Yên.

Trần Bình, Chu Bột nhận lệnh xong, bàn với nhau: "Phàn Khoái có công lớn, lại là em rễ của hoàng hậu, chúng ta không nên tùy tiện giết ông ta.

Bây giờ hoàng thượng nổi giận muốn giết, lỡ sau này hối hận thì làm thế nào?" .

Hai người bàn nhau, chỉ bắt giam Phàn Khoái vào xe tù, đưa về Trường An, sau quả nhiên được Lã hậu tha ra.

Hán Cao Tổ bệnh nặng, cho triệu tập các đại thần tới, bảo thủ hạ giết một con ngựa trắng, bắt mọi người quệt máu thề trước mặt mình: "Từ nay về sau, không phải họ Lưu thì không được phong vương; không phải công thần thì không được phong hầu.

Ai làm trái lời thề, sẽ bị mọi người thảo phạt".

Các đại thần đều tuyên thệ, Hán Cao Tổ mới yên tâm.

Bệnh ngày càng nặng, Hán Cao Tổ gọi Lã hậu tới, dặn dò công việc về sau.

Lã hậu hỏi: "Sau khi bệ hạ trăm tuổi, nếu Tiêu tướng quốc (tức Tiêu Hà) mất thì cử ai thay?".

Hán Cao Tổ đáp: "Tào Tham có thể thay".

Lã hậu lại hỏi: "Sau Tào Tham, thì là ai?"

Hán Cao Tổ nói: "Vương Lăng có thể thay.

Nhưng Vương Lăng cương trực quá, nên để Trần Bình giúp đỡ ông ta.

Trần Bình có nhiều mưu trí nhưng không độc lập đảm đương nhiệm vụ được.

Chu Bột là người trung hậu, làm việc thận trọng, nhưng ít chữ nghĩa.

Nhưng người bảo vệ thiên hạ của họ Lưu sau này chính là Chu Bột".

Lã hậu định hỏi nữa nhưng Hán Cao Tổ lắc đầu: "Việc về sau nữa, thì bà không thể biết được".

Năm 195 TCN, Hán Cao Tổ mất.

Lã hậu giữ kín tin tức, bí mật gọi người tâm phúc là Thẩm Tự Cơ tới nói: "Các đại tướng là những người cùng khởi binh với tiên đế.

Họ phục vụ tiên đế nhưng vẫn không chịu cam tâm.

Nay tiên đế mất đi, khó lòng mà tin cậy họ được, chi bằng đem giết cả đi".

Thẩm Tự Cơ thấy công việc khó thực hiện, liền hẹn với anh của Lã hậu là Lã Thích Chi để cùng hợp sức.

Nhưng con của Lã Thích Chi là Lã Lộc liền tiết lộ tin mật đó cho bạn thân là Lịch Ký.

Lịch Ký lại nói với cha mình là Lịch Thương.

Lịch Thương biết tin, vội vàng tìm gặp Thẩm Tự Cơ nói: "Nghe tin hoàng đế mất đã 4 ngày, hoàng hậu không chịu phát tang, lại còn dự tính giết hại đại thần.

Làm như vậy, các đại thần và tướng quân sẽ chống lại, không nói tới việc thiên hạ đại loạn, mà sợ rằng tính mạng của ông cũng không giữ được".

Thẩm Tự Cơ cả sợ, vội đi báo với Lã hậu.

Lã hậu cũng cảm thấy âm mưu của mình khó thực hiện, liền hạ lệnh phát tang.

Sau khi an táng Hán Cao Tổ, thái tử tức vị, tức là Hán Huệ Đế.

Lã hậu trở thành thái hậu.

Hán Huệ Đế đúng là một người nhu nhược bất tài, mọi việc đều do Lã hậu quyết định.

Lã thái hậu nắm đại quyền trong tay, muốn làm gì thì tùy thích.

Bà vốn căm ghét Thích phu nhân và Triệu vương Như Ý, nên trước hết giáng Thích phu nhân làm nô lệ, đồng thời cho người đi gọi Triệu vương Như Ý về Trường An.

Hán Huệ Đế biết thái hậu muốn giết Như Ý, liền để Như Ý vào sống trong cung, cùng ăn cùng ngủ với mình, khiến thái hậu chưa tìm ra cách hạ độc thủ.

Một buổi sớm, Huệ Đế trở dậy ra ngoài tập bắn cung, muốn gọi Như Ý dậy cùng đi.

Nhưng Như Ý trẻ tuổi đang ngủ ngon, Huệ Đế không nỡ đánh thức, liền đi ra một mình.

Không ngờ khi trở về, Huệ Đế đã thấy Như Ý chết ở trên giường Biết là Như Ý bị đầu độc, nhưng Huệ Đế cũng chỉ còn biết ôm xác Triệu vương gào khóc đau đớn.

Lã thái hậu đã giết Như Ý, còn tàn bạo sai chặt hết chân tay của Thích phu nhân, móc hai mắt và cho uống thuốc câm, rồi vứt vào chuồng lợn.

Hán Huệ Đế thấy Thích phu nhân bị Lã thái hậu hành hạ đến mức như vậy thì khóc lóc rồi sinh bệnh.

Ông cho người nói với thái hậu: "Việc làm đó không phải là việc của con người.

Ta là con của thái hậu, không còn mặt mũi nào cai trị thiên hạ".

Từ đó, Hán Huệ Đế không muốn hỏi han gì đến việc triều chính nữa.

HAI TƯỚNG QUỐC TIÊU HÀ, TÀO THAM

Năm thứ hai đời Hán Huệ Đế, tướng quốc Tiêu Hà tuổi già lâm bệnh.

Hán Huệ Đế tới thăm và hỏi sau này ai thay thế ông là thích hợp nhất.

Tiêu Hà không chịu nói rõ ý kiến, chỉ nói: "Ai hiểu rõ bày tôi hơn nhà nhà vua nữa?".

Hán Huệ Đế hỏi: "Ngài thấy Tào Tham thế nào?".

Tiêu Hà và Tào Tham đều làm quan lại ở huyện Bái trước kia, đều theo Cao Tổ khởi binh.

Quan hệ giữa hai người rất tốt, sau này Tào Tham lập được nhiều chiến công, nhưng ở địa vị thấp hơn Tiêu Hà, nên quan hệ có phần kém thân mật hơn trước.

Nhưng Tiêu Hà biết Tào Tham là người có tài cai trị, nên khi nghe Huệ Đế hỏi, liền tỏ ý tán thành và nói: "Ý định của bệ hạ rất đúng.

Có Tào Tham thay thế, thì tôi chết cũng yên tâm".

Tào Tham vốn là một võ tướng.

Khi Hán Cao Tổ phong con cả là Lưu Phì làm Tề vương, liền cử Tào Tham đi theo làm thừa tướng cho Lưu Phì.

Lúc đó, chiến tranh vừa kết thúc.

Tào Tham đến Tề liền triệu tập hơn 100 phụ lão và nho sinh, hỏi họ xem nên cai trị trăm họ như thế nào.

Mỗi người nói một cách, không biết nên nghe theo ai.

Sau Tào Tham nghe nói ở Tề có một ẩn sĩ nổi tiếng là Cái Công, Tào Tham liền mời đến thỉnh giáo.

Cái Công là người tin theo học thuyết Hoàng Lão (tức Hoàng Đế và Lão Tử), chủ trương việc cai trị thiên hạ là phải thanh tĩnh vô vi, để dân chúng được sống yên ổn.

Tào Tham nghe theo lời Cái Công, gắng sức không làm phiền nhiễu dân chúng.

Ông làm thừa tướng ở Tề trong 9 năm, hơn 70 thành trì ở Tề đều yên.

Tiêu Hà mất, Hán Huệ Đế lập tức gọi Tào Tham về Trường An, phong làm tướng quốc.

Tào Tham vẫn vận dụng chính sách thanh tĩnh vô vi, hoàn toàn giữ nguyên mọi luật lệ qui định của Tiêu Hà, không thay đổi chút gì.

Một số đại thần thấy Tào Tham dường như không làm gì cả, thì tỏ ra nôn nóng, có người gặp Tào Tham đề xuất ý kiến.

Nhưng lần nào họ đến nhà, Tào Tham cũng chỉ mời uống rượu, hễ ai muốn bàn chuyện quốc gia đại sự, Tào Tham đều nói lảng sang chuyện khác, khiến ai cũng không nói được gì.

Cuối cùng khách khứa ai cũng say khướt đi về mà không kịp nói gì cả.

Hán Huệ Đế thấy Tào Tham như thế, thì cho là ông già lão rồi, có ý coi thường và trong lòng cũng thấy không yên.

Con Tào Tham là Tào Truất phục vụ Huệ Đế trong hoàng cung.

Huệ Đế dặn dò: "Khi ngươi về nhà, tìm cách hỏi cha ngươi rằng: Cao Tổ đã chầu trời, đương kim hoàng thượng thì còn trẻ.

Mọi việc quốc gia đại sự đều trông cậy vào tướng quốc là cha.

Thế mà cha ngày nào cũng uống rượu, không làm việc gì cả.

Cứ như thế mãi thì làm sao cai trị được thiên hạ?

Xem cha ngươi trả lời ra sao".

Tào Truất về nhà, theo lời dặn của Huệ Đế, lựa cơ hội hỏi Tào Tham.

Tào Tham vừa nghe đã nổi nóng mắng: "Nhãi ranh như mày thì biết cái gì mà dám lảm nhảm về chuyện quốc gia đại sự".

Nói rồi gọi đầy tớ mang gậy đến đánh cho Tào Truất một trận.

Tào Truất không hiểu sao mình bị đánh, cảm thấy oan ức, khi trở về cung, liền than thở với Huệ Đế.

Huệ Đế rất không vui.

Hôm sau khi lâm triều, Huệ Đế nói với Tào Tham: "Lời Tào Truất nói với tướng quốc, chính là ta bảo hắn nói đấy.

Tại sao tướng quốc lại đánh hắn?".

Tào Tham nhận tội rồi nói: "Thần xin phép hỏi bệ hạ, bệ hạ so với Cao Tổ thì ai sáng suốt hơn?"

Hán Huệ Đế trả lời: "Điều đó cần gì phải hỏi.

Ta làm sao so sánh được với Cao hoàng đế".

Tào Tham lại hỏi: "Thế tôi so với Tiêu tướng quốc thì thế nào?"

Huệ Đế bật cười trả lời: "Có vẻ không bằng Tiêu tướng quốc"

Tào Tham nói: "Bệ hạ nói đều rất đúng.

Bệ hạ không bằng Cao hoàng đế, tôi không bằng Tiêu tướng quốc.

Sau khi bình định thiên hạ, đã định sẵn một loạt qui chương chế độ, chúng ta cứ theo thế mà thực hiện, không để sai sót là được, cần gì phải sửa đổi thêm bớt gì nữa"

Hán Huệ Đế lúc đó mới hiểu rõ ý định của Tào Tham.

Tào Tham vận dụng học thuyết Hoàng Lão, làm tướng quốc trong ba năm.

Vì lúc đó là sau thời chiến loạn lâu dài, trăm họ cần được yên ổn, biện pháp đó của ông khiến dân chúng được giảm nhẹ đóng góp.

Do đó, đương thời có người làm ca dao để ca ngợi Tiêu Hà và Tào Tham.

Lịch sử gọi sự kiện đó là "Tiêu qui Tào tùng" (Tiêu Hà định ra qui chương chế độ, còn Tào Tham thì theo đó mà vận dụng).
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
61-62


CHU BỘT GIÀNH LẠI BINH QUYỀN

Hán Huệ Đế không có con.

Lã thái hậu chọn từ bên ngoài một đứa trẻ rồi mạo xưng là con của Huệ Đế, lập làm thái tử.

Năm 188 TCN, Huệ Đế chết, đứa trẻ đó liền nối ngôi vua.

Lã thái hậu có danh chính ngôn thuận để lâm triều chấp chính.

Để củng cố quyền lực của mình, Lã thái hậu muốn lập người họ Lã lên làm vương, liền hỏi ý kiến các đại thần.

Hữu thừa tướng Vương Lăng vốn là người cương trực nói: "Cao hoàng đế đã giết ngựa trắng ăn thề, ai không phải họ Lưu thì không được làm vương".

Lã thái hậu nghe nói rất không vui, lại hỏi tả thừa tướng Trần Bình và thái úy Chu Bột.

Trần Bình, Chu Bột nói: "Cao Tổ bình định thiên hạ,, phân phong con em mình làm vương, điều đó rõ ràng là đúng.

Nay thái hậu lâm triều, phong con em mình làm vương, thì sao lại không được?".

Lã thái hậu sung sướng gật đầu.

Tan buổi chầu, Vương Lăng trách Trần Bình và Chu Bột: "Khi tuyên thệ trước mặt tiên đế, các ông đều có dự.

Thế mà bây giờ các ông lại đi ngược với lời thề.

Như vậy thì sao xứng với tiên đế?".

Trần Bình và Chu Bột nói: "Thừa tướng đừng giận.

Hôm nay dám tranh luận với thái hậu giữa triều đình thì chúng tôi không bằng ông; nhưng sau này bảo toàn được thiên hạ của họ Lưu ông sẽ không bằng được chúng tôi".

Sau đó, Lã thái hậu lần lượt phong các cháu là Lã Thai, Lã Sản, Lã Lộc, Lã Gia, Lã Thông làm vương; còn trao cho họ nắm quân quyền.

Toàn bộ đại quyền trong triều hầu như đều nằm trong tay họ Lã..

Gia tộc của Lã hậu chiếm hết quyền của họ Lưu, làm nhiều đại thần không phục nhưng đa số chỉ hậm hực không dám nói ra.

Hán Cao Tổ có một người cháu tên là Lưu Chương, phong hiệu là Chu Hư hầu, có vợ là con của Lã Lộc.

Có lần, Lã thái hậu mở tiệc, chỉ định Lưu Chương làm giám tửu.

Lưu Chương tâu với Lã thái hậu: "Tôi là dòng dõi nhà võ, xin cho phép tôi theo quân pháp để làm giám tửu".

Lã thái hậu đồng ý.

Lưu Chương thấy mọi người uống rượu vui vẻ, liền đề nghị hát bài "Canh điền ca" để giúp vui cho thái hậu.

Lã thái hậu nói: "Ngươi hát đi".

Lưu Chương liền cao giọng hát:

"Cày sâu cuốc bẫm cấy thưa

Gặp giống không tốt thì bừa bỏ đi"

Lã thái hậu nghe hát, thấy có ngụ ý, tỏ ra rất bực.

Một lát sau, một người họ Lã uống rượu quá say, không nói gì mà tự tiện ra ngoài.

Lưu Chương đuổi theo, lấy cớ y không chấp hành qui định của yến hội, liền tuốt kiếm chém chết.

Khi Lưu Chương trở về báo cáo tình hình với Lã thái hậu, các đại thân đều sợ hãi, lo lắng cho ông.

Nhưng vì Lã thái hậu đã đồng ý cho phép Lưu Chương theo quân pháp để làm giám tửu nên không trị tội gì được.

Lã thái hậu chấp chính đến năm thứ 8 thì lâm bệnh nặng.

Trước khi chết, phong Triệu vương Lã Sản làm tướng quốc, thống lĩnh Nam quân, Lã Lộc làm thượng tướng quân, thống lĩnh Bắc quân; đồng thời dặn bọn họ: "Hiện nay họ Lã nắm quyền, các đại thần đều không phục.

Sau khi ta mất, các ngươi nhất định phải nắm lấy quân sĩ mà bảo vệ cung đình, không được đi đưa đám, đề phòng có kẻ ám hại".

Sau khi Lã thái hậu chết, binh quyền đều nằm trong tay Lã Sản, Lã Lộc.

Họ muốn phát động chính biến nhưng chưa dám ra tay.

Lưu Chương qua lời vợ, biết được âm mưu của họ Lã, liền cử người báo cho anh là Tề vương Lưu Tương biết, hẹn với Lưu Tương đem quân từ ngoài vào Trường An.

Tề vương Lưu Tương đem quân tiến về phía tây.

Lã Sản được tin, liền phái tướng Quán Anh đem quân ra đối phó.

Quán Anh đến Huỳnh Dương, bàn bạc với các bộ tướng: "Họ Lã thống lĩnh đại quân toan chiếm thiên hạ của họ Lưu.

Nếu chúng ta tiến đánh Tề vương thì chẳng phải là giúp họ Lã làm loạn hay sao?".

Mọi người quyết định án binh bất động và ngầm thông báo cho Tề vương biết, đề nghị ông ta liên lạc với các chư hầu, chờ thời cơ để cùng khởi binh chống họ Lã.

Tề vương nhận được thông báo, cũng tạm thời án binh bất động.

Chu Bột, Trần Bình biết họ Lã muốn làm loạn, toan ra tay trước; nhưng binh quyền còn nằm trong tay họ Lã nên chưa biết làm thế nào.

Họ nghĩ tới Lịch Ký, con trai của Lịch Thương là bạn thân của Lã Lộc, liền cử người đến bảo Lịch Ký nói với Lã Lộc: "Lã hậu mất rồi, hoàng đế còn ít tuổi.

Ngài là Triệu vương (vương cai trị đất Triệu), lại cứ ở Trường An nắm quân đội, các đại thần và chư hầu đều nghi ngờ ngài, điều đó rất bất lợi.

Nếu ngài giao binh quyền cho thái úy (tức Chu Bột) và về đất phong của mình thì quân Tề sẽ rút đi và các đại thần đều an tâm".

Lã Lộc tin theo lời của Lịch Ký, liền giao Bắc quân cho thái úy Chu Bộ nắm.

Chu Bột nắm được tướng ấn Bắc quân, liền tới ngay trại Bắc quân, nói các tướng sĩ: "Ngày nay họ Lã muốn cướp quyền của họ Lưu, các ông xem nên làm thế nào?

Ai theo họ Lã thì sắn tay áo bên phải lên, ai theo họ Lưu thì sắn tay áo bên trái lên".

Tướng sĩ Bắc quân xưa nay đều hướng về họ Lưu, nên vừa nghe lệnh, đã nhất tề sắn tay áo bên trái.

Chu Bột đã tiếp quản được Bắc quân, giành được binh quyền từ tay Lã Lộc một cách êm thấm.

Lã Sản chưa biết Bắc quân của Lã Lộc đã rơi vào tay Chu Bột, nên vào cung Vị Ương để chuẩn bị phát động chính biến.

Chu Bột phái Chu Hư hầu Lưu Chương dẫn hơn một ngàn quân ập tới, giết được Lã Sản.

Tiếp đó, Chu Bột dẫn Bắc quân tiêu diệt thế lực họ Lã.

Đến lúc đó, các đại thần mới dám mạnh dạn.

Họ nói: "Trước kia, người được Lã thái hậu đưa lên ngôi vua không phải là con của của hoàng thượng (tức Huệ Đế).

Ngày nay chúng ta diệt họ Lã, mà vẫn để thái tử giả đó làm hoàng đế, thì lớn lên chẳng vẫn là người họ Lã hay sao?

Chi bằng chúng ta chọn trong số chư vương họ Lưu một người hiền minh nhất tôn lên làm hoàng đế".

Các đại thần bàn bạc và nhận thấy trong số các con của Cao Tổ, có Đại vương (vương ở đất Đại) Lưu Hằng là người lớn tuổi nhất, lại có phẩm cách tốt nhất, liền phái người tới Đại quận (trị sở nay tại huyện Úy, Hà Bắc), đón Lưu Hằng về Trường An, lập làm hoàng đế.

Đó là Hán Văn Đế.

ĐỀ VINH CỨU CHA

Mẹ của Hán Văn Đế là Bạc thái hậu xuất thân nghèo hèn, khi Hán Cao Tổ còn sống, là một cung phi không được sủng ái, bà sợ ở trong cung sẽ bị Lã hậu hãm hại, nên xin ra ở với con ở quận Đại.

Ở quận Đại không sang trọng, xa cách như ở hoàng cung nên hai mẹ con ít nhiều hiểu được nỗi khổ của dân chúng.

Lên ngôi không lâu, Hán Văn Đế liền hạ một chiếu thư, nói: "Ai phạm tội thì xử tội người đó là đúng.

Tại sao lại xử tội cả vợ con người ta?

Ta không cho rằng việc xử tội như vậy là tốt, các đại thần hãy bàn bạc mà sửa đổi".

Các đại thần theo ý của Hán Văn Đế, liền bãi bỏ pháp lệnh về việc liên đới của gia đình người phạm tội.

Năm 167 TCN, ở Lâm Phần có một cô gái nhỏ tuổi tên là Thuần Vu Đề Vinh, cha cô ta là Thuần Vu Ý, vốn là người có kiến thức, ham thích y học, thường chữa bệnh cho người khác, trở nên nổi tiếng.

Sau ông ta làm chức Thái thương lệnh (viên quan trông coi kho tàng) nhưng không thích giao du với giới quan lại, cũng không nịnh nọt cấp trên.

Không bao lâu, ông từ chức, chỉ làm thầy thuốc.

Có lần, vợ một đại thương nhân có bệnh, mời Thuần Vu Ý chữa trị.

Sau mấy hôm dùng thuốc, chẳng những bệnh không khỏi mà còn bị chết, người chồng kiện lên quan, nói Thuần Vu Ý cho nhầm thuốc, dẫn tới tử vong.

Quan địa phương xử Thuần Vu Ý tội nhục hình (tức thích chữ vào mặt hoặc cắt mũi, chặt đi một chân...) và giải đi Trường An chịu tội.

Thuần Vu Ý có năm người con gái nhưng không có con trai.

Trước khi bị giải đi Trường An, ông nhìn các con gái, than: "Khổ cho ta, không có con trai, gặp hoạn nạn, chẳng đứa con nào giúp được gì".

Mấy cô con gái đều thương tâm, cuối đầu than khóc.

Chỉ có cô gái nhỏ nhất là Đề Vinh thì vừa thương tâm, vừa uất ức, cô nghĩ: "Tại sao con gái lại không giúp được gì?".

Cô yêu cầu được đi theo cha đến Trường An, mặc cho ai khuyên can cũng không nghe.

Đến Trường An, Đề Vinh nhờ người viết cho một sớ tấu, đến cửa cung nộp cho người giữ cửa.

Hán Văn Đế nhận được sớ tấu, biết là của một cô gái, thì rất chú ý, giở ra xem: "Tiểu dân là Đề Vinh, con gái nhỏ của Thái thương lệnh Thuần Vu Ý.

Khi cha của tiểu dân làm quan, dân địa phương đều nhận là quan thanh liêm.

Lần này cha tiểu dân phạm tội, bị ghép vào nhục hình.

Tiểu dân chẳng những lo buồn vì cha mà còn thương xót cho những người phạm tội.

Một người bị chặt chân sẽ trở thành tàn phế, bị cắt mũi không thể chắp lại được.

Sau này có muốn chữa lỗi lầm cũng không có điều kiện.

Tiểu dân xin tình nguyện để quan phủ Sung làm nô tỳ chuộc tội cho cha, để cha tiểu dân có cơ hội sửa chữa sai lầm".

Hán Văn Đế xem thư, rất đồng tình với cô gái, cảm thấy cô ta nói rất có lý, liền triệu tập đại thần tới nói: "Phạm tội thì phải xử , đó là điều tất nhiên.

Nhưng người bị xử tội cũng cần được tạo cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

Nay xử tội một phạm nhân, lại thích chữ vào mặt hoặc hủy hoại thân thể.

Cách làm đó có khuyến khích người ta làm điều thiện không?

Các khanh hãy bàn bạc, tìm ra biện pháp khác để thay thế nhục hình đi".

Các đại thần bàn bạc, thay thế nhục hình bằng đánh đòn.

Trước kia nếu bị chặt chân thì thay bằng đánh 500 bản (miếng gỗ mỏng); trước kia nếu cắt mũi thì thay bằng đánh 300 bản.

Hán Văn Đế liền hạ lệnh phế bỏ nhục hình.

Do đó, Đề Vinh đã cứu được cha.

Hán Văn Đế bỏ nhục hình, xem qua thì tưởng rằng tốt.

Nhưng khi thực hiện thì lại thấy tệ hơn.

Có người bị đánh chưa tới 300 hoặc 500 bản, thì đã chết rồi.

Như vậy hình phạt lại trở thành nặng hơn.

Tới đời con của Hán Văn Đế là Hán Cảnh Đế, hình phạt trên mới được giảm nhẹ.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
63-64


DOANH TẾ LIỄU CỦA CHU Á PHU

Hán Văn Đế lên ngôi, vẫn tiếp tục chính sách hòa thân với Hung Nô, giữa hai bên không còn xảy ra chiến tranh lớn.

Nhưng về sau, thiền vu Hung Nô tin theo lời xúi của Hán gian, liền tuyệt giao với triều Hán.

Năm 158 TCN, thiền vu Quân Thần của Hung Nô đem 6 vạn quân xâm phạm Thượng quận (trị sở nay ở đông nam Du Lâm, Thiểm Tây) và Vân Trung (trị sở nay ở đông bắc Tuốc Tua, Nội Mông Cổ), giết nhiều dân thường, cướp nhiều tài sản.

Các đài đốt lửa ở biên cảnh liên tiếp báo động, ở Trường An cũng nhìn rõ lửa cháy sang.

Hán Văn Đế vội cử 3 viên tướng dẫn 3 đạo quân đi chống cự.

Ngoài ra, để bảo vệ Trường An, lại cử 3 viên tướng nữa đem quân đóng tại vùng phụ cận Trường An: Lưu Lễ đóng ở Bá Thượng, Từ Lịch đóng ở Cức Môn (nay ở đông bắc Hàm Dương, Thiểm Tây), Chu Á Phu đóng ở Tế Liễu (nay ở tây nam Hàm Dương).

Có lần, Hán Văn Đế thân hành tới các nơi đó để úy lạo quân đội và đồng thời thị sát tình hình.

Trước hết ông tới Bá Thượng, Lưu Lễ và các tướng sĩ vừa thấy xa giá hoàng đế, đều phóng ngựa tới đón.

Xa giá của Hán Văn Đế xông thẳng vào quân doanh, không ai ngăn cản.

Hán Văn Đế úy lạo rồi ra về.

Các quân sĩ tíu tít tiễn đưa.

Sau đó, ông đến Cức Môn, cũng được đưa đón long trọng như thế.

Cuối cùng, Hán Văn Đế đến Tế Liễu, trạm gác trước cửa trại Chu Á Phu thấy xa xa có một đoàn ngựa đi tới, lập tức báo cáo với Chu Á Phu.

Các tướng sĩ đều mặc giáp, đội mũ chiến, cung lắp tên, đao rút khỏi vỏ, sẵn sàng chuẩn bị chiến đấu.

Đội đi trước của Hán Văn Đế tới cửa doanh, lính gác lập tức ngăn lại, không cho vào.

Viên quan chỉ huy đội đi trước thét lớn uy nghiêm: "Xa giá hoàng thượng tới".

Quân sĩ gác cửa không chút sợ hãi, trả lời: "Trong quân chỉ nghe theo lệnh tướng quân, tướng quân chưa có lệnh, chúng tôi không thể cho ai vào".

Hai bên đang đôi co thì xa giá Hán Văn Đế tới, các tướng sĩ gác cổng doanh cũng ngăn lại.

Hán Văn Đế phải sai tùy tùng đưa phù tiết của hoàng đế ra và cử người vào báo với Chu Á Phu: "Trẫm cần vào úy lạo quân sĩ".

Chu Á Phu hạ lệnh mở cửa doanh, để Hán Văn Đế tiến vào.

Người ngựa hộ tống Hán Văn Đế đến cửa doanh, quan quân giữ cửa trịnh trọng nhắc nhở họ: "Trong quân có qui định, trong quân doanh không cho phép xe ngựa đi nhanh".

Quan quân tùy tùng đều nổi giận, nhưng Hán Văn Đế liền hạ lệnh buông lỏng dây cương, cho xe ngựa từ từ tiến vào.

Đến giữa trại quân, chỉ thấy Chu Á Phu khôi giáp chỉnh tề, mang binh khí oai phong lẫm liệt, đứng trước Hán Văn Đế, đưa tay vái nói: "Thần mang khôi giáp, không thể quì lạy, xin được triều kiến theo quân lễ".

Hán Văn Đế giật mình, vịn vào tay ngang xe, cúi mình đáp lễ, rồi cử người truyền đạt lời thăm hỏi tới toàn thể quân sĩ.

Sau khi úy lạo quân sĩ, Hán Văn Đế rời khỏi doanh Tế Liễu.

Trên đường về Trường An, quan quân tùy tùng đều xôn xao tỏ ý bất bình cho rằng Chu Á Phu quá vô lễ với hoàng đế.

Nhưng Hán Văn Đế lại khen ngợi không ngớt, nói: "Thế mới là một võ tướng chân chính.

Quân đội ở Bá Thượng và Cức Môn quân pháp không nghiêm, như trò chơi của trẻ nhỏ.

Nếu kẻ địch đến tập kích thì tránh sao khỏi bị bắt làm tù binh hết.

Quản lý quân đội như Chu Á Phu thì kẻ địch nào dám xâm phạm".

Một tháng sau, đội tiên phong của quân Hán tới miền bắc, Hung Nô phải lui quân.

Ba đội quân phòng vệ Trường An được rút bỏ.

Qua lần thị sát đó, Hán Văn Đế cho Chu Á Phu là một nhân tài quân sự, liền thăng ông lên cấp trung úy (chức quan võ đứng đầu đội quân bảo vệ kinh thành).

Năm sau, Hán Văn Đế bị bệnh nặng.

Trước khi mất, ông gọi thái tử lại dặn dò: "Nếu sau này quốc gia có động loạn, thì để Chu Á Phu thống soái quân đội, con yên tâm".

Sau khi Hán Văn Đế mất, thái tử Lưu Khải nối ngôi, tức là Hán Cảnh Đế.

TRIỆU THÁC CẮT GIẢM ĐẤT PHONG

Hán Cảnh Đế cũng áp dụng chính sách vỗ về dân chúng như Hán Văn Đế, quyết tâm chỉnh đốn nền chính trị trong nước.

Khi Cảnh Đế còn là một thái tử, có một quản gia tên là Triệu Thác, rất có tài, được mọi người gọi là "túi khôn".

Sau khi Cảnh Đế lên ngôi, liền thăng ông ta làm ngự sử đại phu.

Triều Hán thực hành chế độ quận huyện, nhưng đồng thời vẫn có 22 nước chư hầu.

Những nước chư hầu đó đều là con cháu của Hán Cao Tổ, tức là các tước vương trong họ Lưu.

Đến thời Hán Cảnh Đế, thế lực các nước chư hầu rất lớn, có nhiều đất đai, như nước Tề có hơn có hơn 70 tòa thành, nước Ngô có hơn 50 tòa thành, nước Sở có hơn 40 tòa thành.

Một số chư hầu không chịu sự chi phối của triều đình, đặc biệt là Ngô vương Lưu Phì, rất kiêu ngạo ngang ngược.

Đất phong của ông sát biển, lại có mỏ đồng, tự mình khai thác muối và đồng, giàu có ngang với hoàng đề.

Ông ta không bao giờ tới Trường An triều kiến hoàng đế, tự coi nước Ngô là một vương quốc độc lập.

Triệu Thác thấy nếu cứ để tiếp tục như thế sẽ bất lợi cho việc tập quyền của trung ương, liền tâu với Hán Cảnh Đế: "Ngô vương không bao giờ đến triều kiến, theo lý thì đã phải tội từ lâu.

Khi tiên đế (tức Hán Văn Đế) còn sống, đã rất rộng lượng với ông ta, nhưng ông ta càng ngang ngược tự đại.

Ông ta tự khai thác đồng để đúc tiền, ngăn biển khai thác muối, chiêu binh mãi mã, chuẩn bị nổi loạn.

Chi bằng nên sớm cắt bớt đất phong của ông ta đi".

Hán Cảnh Đế còn do dự: "Làm được thế thì tốt, nhưng lại sợ sẽ thúc đẩy Ngô vương làm loạn".

Triệu Thác nói: "Người muốn làm phản thì nếu cắt đất mà làm phản, không cắt đất sớm muộn cũng sẽ làm phản.

Bây giờ làm phản thì mối nguy còn nhỏ, sau này thế lực họ hùng hậu lên rồi mới làm phản thì mối nguy càng lớn".

Hán Cảnh Đế thấy lời Triệu Thác có lý, liền quyết tâm giảm bớt đất phong của các chư hầu.

Các chư hầu đại đa số nếu không hoang dâm vô độ, cũng hoành hành phi pháp; nhưng muốn tìm ra tội lỗi của họ để tạo lý do cắt giảm đất cũng không phải chuyện dễ.

Một thời gian sau, có chư hầu cắt giảm một quận, có chư hầu bị cắt giảm mấy huyện.

Cha của Triệu Thác nghe tin đó, liền từ quê hương Dĩnh Xuyên (nay ở huyện Vũ, Hà Nam) tìm đến kinh sư, nói với Triệu Thác: "Con làm ngự sử đại phu.

địa vị đã đủ cao rồi, sao không an phận, mà còn bới việc ra?

Con thử nghĩ xem, các vua chư hầu đều là anh em ruột thịt của hoàng thất, con quản làm sao được?

Con cắt giảm đất phong của họ, ai ai cũng oán con.

Con làm như thế để làm gì?

Triệu Thác nói: "Nếu không làm như vậy thì hoàng thượng không thể phát huy được quyền lực, nước nhà tất sẽ rối loạn".

Người cha thở dài nói: "Con làm như thế thì thiên hạ của họ Lưu được an định, nhưng họ Triệu nhà ta sẽ nguy hiểm.

Cha đã già không muốn nhìn thấy tai họa giáng xuống gia đình".

Triệu Thác khuyên nhủ cha, nhưng người cha vẫn không an tâm, trở về quê hương Dĩnh Xuyên, liền uống thuốc độc tự sát.

Triệu Thác đang bàn với Cảnh Đế về việc cắt đất phong của Ngô vương Lưu Phì, thì Lưu Phì đã cất quân làm phản.

Ông ta lấy lý do "trừng trị gian thần Triệu Thác cứu vãn thiên hạ của họ Lưu" để xúi giục các chư hầu khác cùng làm phản.

Năm 154 TCN, 7 chư hầu là Ngô, Sở, Triệu, Giao Tây, Giao Đông, Tri Xuyên, Tề Nam đều nổi dậy, lịch sử gọi đó là "Thất quốc chi loạn" (loạn bảy nước).

Quân nổi loạn có thanh thế rất lớn, Hán Cảnh Đế hơi sợ.

Ông nhớ tới lời dặn dò của Hán Văn Đế lúc lâm chung, liền cử danh tướng Chu Á Phu làm thái úy, dẫn đầu 36 tướng khác cùng đi dẹp loạn.

Lúc đó trong triều có kẻ đố kỵ Triệu Thác, nói là 7 nước phát binh đều là do Triệu Thác.

Y khuyên Cảnh Đế: "Chỉ cần làm theo yêu cầu của 7 nước, giết Triệu Thác đi, và miễn tội khởi binh cho các nước chư hầu, khôi phục lại đất phong cho họ như cũ, thì họ sẽ rút quân về".

Hán Cảnh Đế nghe theo lời đó, nói: "Nếu quả thật họ chịu rút quân, thì ta tiếc gì một Triệu Thác".

Tiếp đó một số đại thần dâng sớ vạch tội Triệu Thác, nói ông ta đại nghịch vô đạo, cần xử tội chém ngang lưng.

Một hôm, trung úy đến nhà Triệu Thác, truyền đạt mệnh lệnh hoàng đế, gọi ông ta lên triều bàn việc.

Triệu Thác vẫn hoàn toàn không hay biết gì, lập tức mặc triều phục, cùng trung úy lên xe vào triều.

Xe ngựa đi tới cửa đông Triều An, trung úy bỗng rút chiếu thư, yêu cầu Triệu Thác xuống xe nghe chiếu.

Sau khi trung úy tuyên đọc mệnh lệnh của Cảnh Đế, một toán võ sĩ ùa tới, trói Triệu Thác lại.

Con người rất mực lo toan giữ gìn cơ đồ nhà Hán như Triệu Thác, phút chốc đã bị xử tội chém ngang lưng.

Hán Cảnh Đế giết xong Triệu Thác liền cử người mang chiếu thư, yêu cầu 7 nước rút quân.

Lúc đó Ngô vương Lưu Phì đã đánh thắng mấy trận, chiếm được nhiều đất đai.

Khi nghe yêu cầu quì xuống để nghe chiếu thư, liền cười nhạt: "Ta bây giờ cũng là hoàng đế, việc gì phải quì".

Trong trại quân Hán có viên quan tên là Đặng Công về Trường An để báo cáo tình hình quân sự.

Cảnh Đế hỏi y: "Ngươi từ quân doanh về, đã biết tin Triệu Thác bị giết chưa?

Quân Ngô, Sở có chịu lui quân không?"

Đặng Công nói: "Để khởi loạn, Ngô vương đã chuẩn bị mấy chục năm rồi.

Lần này mượn cớ phát binh, đâu phải vì Triệu Thác.

Bệ hạ đã giết nhầm Triệu Thác rồi.

E rằng sau này sẽ không có ai dám bày mưu giúp triều đình nữa".

Hán Cảnh Đế biết mình sai, nhưng hối hận thì đã muộn.

May nhờ có Chu Á Phu rất giỏi dùng binh, trước hết ông không đánh thẳng vào quân Ngô, Sở mà phái kỵ binh đánh bọc phía sau, cắt đứt đường tiếp lương của quân phiến loạn.

Hai cánh quân Ngô, Sở không có lương ăn, trước hết tự rối loạn.

Chu Á Phu mới phái tinh binh xuất kích đánh cho quân Ngô, Sở thất bại thảm hại.

Hai nước Ngô, Sở dẫn đầu làm loạn, nay đã thất bại, năm nước khác cũng nhanh chóng tan vỡ.

Không đầy 3 tháng, quân Hán đã dẹp yên loạn 7 nước.

Sau khi Hán Cảnh Đế dẹp xong loạn 7 nước, tuy vẫn cho con cháu đời sau của họ kế thừa vương vị, nhưng từ đó về sau, vua chư hầu chỉ được thu tô thuế trên đất phong, không được can dự công việc chính quyền ở trên địa phương nữa, quyền lực giảm đi rất nhiều.

Chính quyền trung ương của triều đình Hán từ đó mới được củng cố vững mạnh.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
65-66


TRẬN ĐÁNH DỤ ĐỊCH Ở MÃ ẤP

Hai đời Hán Văn Đế, Hán Cảnh Đế đều áp dụng chính sách vỗ về dân chúng.

Trong hơn 60 năm, từ một thời gian ngắn có loạn 7 nước, còn không xảy ra chiến tranh lớn.

Do đó, nền kinh tế được khôi phục và phát triển.

Theo nói lại, ở cuối đời Cảnh Đế, tiền đồng tích trong kho không biết có tới bao nhiêu vạn, dây xâu tiền đều mục nát hết, lương thực trong kho ăn không hết, hàng năm lại chồng chất thêm, tràn ngập cả ra ngoài kho, thậm chí cũng bị thối mục.

Lịch sử gọi thời kì đó là "Văn Cảnh chi trị" (Cảnh thịnh trị đời Văn Đế, Cảnh Đế).

Nhưng Hán triều cường thịnh mà vẫn bị quân Hung Nô ở phương bắc uy hiếp.

Từ sau khi Hán Cao Tổ vây ở núi Bạch Đăng, triều Hán vẫn áp dụng chính sách hòa thân với Hung Nô.

Loại hòa thân này trên thực tế là một loại thỏa hiệp, không những phải đem con gái trong hoàng thất nhà Hán gả cho thiền vu Hung Nô, mà hàng năm còn phải tặng cho Hung Nô nhiều tiền của.

Mặc dù đã làm như vậy, Hung Nô vẫn thường xuyên xâm phạm Trung nguyên, giết hại dân chúng, cướp bóc lương thực và bò dê, khiến vùng phía bắc chẳng lúc nào yên.

Sau khi Hán Cảnh Đế chết, Hán Vũ Đế Lưu Triệt lên ngôi.

Đây là một ông vua có tài năng và hoài bão lớn, quyết tâm làm thay đổi tình hình lúc đó.

Năm 135 TCN, thiền vu Quân Thần của Hung Nô lại phái sứ giả đến yêu cầu hòa thân.

Hán Vũ Đế yêu cầu các đại thần bàn bạc.

Tướng Vương Khôi nói: "Trước kia, triều đình cùng Hung Nô hòa thân nhưng Hung Nô không bao giờ tuân thủ minh ước, vẫn cứ xâm phạm biên giới.

Ta cần đem quân chinh phạt chúng".

Rất nhiều đại thần phản đối ý kiến của Vương Khôi.

Hán Vũ Đế thấy chưa quyết định được nên tạm thời vẫn giữ mối hòa thân với Hung Nô.

Hai năm sau, ở Mã Ấp có một đại thương nhân là Nhiếp Nhất, đến tìm Vương Khôi nói: "Quân Hung Nô thường đến xâm phạm biên giới, là nguồn gốc gây tai họa. hiện nay, nhân dịp đang hòa thân, dụ chúng vào rồi phục kích, thì nhất định sẽ thắng lớn".

Vương Khôi hỏi: "Ông có biện pháp gì để dụ chúng?"

Nhiếp Nhất nói: "Tôi thường buôn bán trên biên giới, người Hung Nô đều quen biết tôi.

Tôi lấy cớ vì lợi ích buôn bán, giả vờ hiến Mã Ấp cho chúng.

Thiền vu ham được tiền của của Mã Ấp, nhất định sẽ đến.

Chúng ta mai phục đại quân ở vùng phụ cận, chỉ cần đợi thiền vu tới Mã Ấp, tướng quân có thể đem quân chặn đường về để bắt sống thiền vu".

Vương Khôi tâu với Hán Vũ Đế về ý kiến của Nhiếp Nhất.

Hán Vũ Đế quyết tâm thực hiện kế của Nhiếp Nhất, liền phái các tướng Vương Khôi, Hàn An Quốc, Công Tôn Hạ, Lý Quảng đem 30 vạn quân mai phục trong hẻm núi gần Mã Ấp.

Nhiếp Nhất cố ý chạy sang Hung Nô, nói với thiền vu: "Tôi có biện pháp trà trộn vào Mã Ấp, giết chết quan lại ở đó.

Như vậy có thể dễ dàng chiếm được Mã Ấp".

Thiền vu Quân Thần nghe nói thế thì rất mừng, nhưng hơi nghi ngờ, liền phái mấy người tâm phúc theo Nhiếp Nhất về Mã Ấp, đợi nếu Nhiếp Nhất giết các quan lại ở đó thật, thì sẽ phái quân đội sang.

Nhiếp Nhất về tới Mã Ấp, theo kế hoạch đã bàn với Vương Khôi, đem giết mấy tên tù phạm đã bị ghép vào tử tội, rồi bêu đầu ngoài cửa thành, bảo sứ giả Hung Nô đến xem, nói dối đó là đầu các quan lại của Mã Ấp.

Sứ giả Hung Nô thấy đầu người, tin là thực, lập tức về báo với thiền vu Quân Thần.

Thiền vu Quân Thần dẫn 10 vạn kỵ binh đi tiếp quản Mã Ấp.

Đi tới Vũ Châu (nay là huyện Tả, Vân Sơn Tây) cách Mã Ấp khoảng 100 dặm, chỉ thấy trên thảo nguyên có rất nhiều gia súc, nhưng không có người chăn thì sinh nghi.

Lúc đó, Quân Thần thấy phía trước có một chòi canh, liền đánh chiếm chòi đó để hỏi tình hình.

Chiếm được chòi, Quân Thần dọa người phụ trách chòi gác: nếu không khai thực tình hình thì sẽ chém đầu.

Người phụ trách chòi gác sợ hãi, khai hết tình hình quân Hán mai phục cho thiền vu Quân Thần biết.

Biết tình hình, Quân Thần giật mình, liền hạ lệnh lui quân.

Ra khỏi địa giới Vũ Châu, thiền vu mới thở phào: "May mà bắt được tên phụ trách gác chòi.

Nếu không thật nguy hiểm".

Quân Hán mai phục ở Mã Ấp, được tin quân Hung Nô đã rút, liền đưa toàn đại quân đuổi theo, nhưng đuổi sao cho kịp được, đành phải rút quân về.

Trận dụ địch của Hán Vũ Đế không thành công.

Nhưng từ đó, quan hệ hòa thân giữa hai bên tan vỡ, và chiến tranh đại quy mô đã liên tiếp xảy ra giữa hai bên.

PHI TƯỚNG QUÂN LÝ QUẢNG

Năm 129 TCN, Hung Nô phái quân xâm phạm Thượng Cốc (trị sở nay ở đông nam Hoài Lai, Hà Bắc).

Hán Vũ Đế phái Vệ Thanh, Công Tôn Ngao, Công Tôn Hạ, Lý Quảng dẫn quân chia đường tiến đánh.

Trong 4 danh tướng đó, Lý Quảng là người lớn tuổi nhất, có nhiều công lao nhất.

Thời Hán Văn Đế, Lý Quảng đã làm tướng; thời Hán Cảnh Đế, đã cùng Chu Á Phu dẹp loạn 7 nước, lập được công lớn.

Hán Cảnh Đế còn cử ông làm thái thú Thượng quận (trị sở nay ở đông nam Du Lâm, Thiểm Tây).

Có lần, quân Hung Nô tiến vào Thượng quận.

Lý Quảng dẫn 100 kỵ binh đuổi theo 3 xạ thủ Hung Nô, đuổi mấy chục dặm mới kịp.

Ông bắn chết hai tên và bắt sống một tên, đang chuẩn bị trở về thì thấy mấy ngàn kỵ binh Hung Nô đang từ xa xông tới.

Quân lính của Lý Quảng thấy quân Hung Nô đông như vậy thì hoang mang sợ hãi.

Lý Quảng nói: "Chúng ta đã đi xa đại doanh mấy chục dặm.

Nếu cố chạy về thì quân Hung Nô sẽ đuổi kịp, không thể sống sót được.

Chi bằng dừng hẳn lại, quân Hung Nô sẽ nghĩ là ta đến dụ chúng, nhất định là sẽ không dám tiến công chúng ta đâu".

Sau đó Lý Quảng hạ lệnh cho quân lính tiến lên, cách quân Hung Nô chỉ hai dặm thì dừng lại, bảo quân lính xuống ngựa, dỡ bỏ yên ngựa, ngồi nghỉ tại chỗ.

Quân lính hoảng hốt nói: "Quân Hung Nô ở gần như thế, lại đông như thế, nếu chúng đánh tới thì làm thế nào?"

Lý Quảng nói: "Chúng ta làm thế này, tỏ ra ung dung, khiến kẻ địch cho rằng chúng ta cố tình dụ chúng tới".

Tướng lĩnh Hung Nô thấy quân Hán như vậy, rất sợ có quân phía sau.

Vì vậy, chúng chỉ quan sát từ xa, không dám tiến lên.

Lúc đó, trận địa Hung Nô có một viên tướng cưỡi ngựa trắng, phóng ngựa ra kiểm tra đội ngũ.

Lý Quảng cùng hơn 10 kỵ binh khác bất ngờ nhảy lên ngựa, phi tới, bắn chết viên tướng đó, rồi lại quay về chỗ cũ nghỉ ngơi.

Quân Hung Nô càng thêm nghi ngờ.

Trời tối dần, quân Hung Nô cho rằng quân Hán nhất định có mai phục, sợ bị quân Hán tập kích ban đêm, liền vội vàng rút lui.

Đến khi trời sáng, Lý Quảng nhìn phía trước không còn một bóng quân Hung Nô nào, mới ung dung dẫn hơn 100 quân trở về trại doanh.

Lần chiến tranh đó, Hán Vũ Đế phái 4 đội quân đi đánh Hung Nô.

Thiền vu Quân Thần do thám tình hình quân Hán, biết rằng trong số 4 danh tướng Hán, Lý Quảng là người khó đối phó nhất, liền bố trí đại đa số quân mai phục ở Nhạn Môn, ra lệnh cho bộ hạ bắt sống kỳ được Lý Quảng.

Quân Hung Nô đông, có thế áp đảo, nên sau một trận chiến đấu kịch liệt, quân Lý Quảng bị đánh bại, bản thân Lý Quảng bị thương và bị bắt làm tù binh.

Quân Hung Nô thấy Lý Quảng bị thương, liền đưa lên một chiếc võng, do hai ngựa cáng đưa về đại doanh thiền vu.

Trong khi đi đường, Lý Quảng nằm im trên võng như chết.

Sau mười mấy dặm đường, Lý Quảng hé mắt nhìn, thấy tên lính Hung Nô đi kèm cưỡi một con ngựa tốt, liền bất thần vùng lên, cướp lấy ngựa và cung tên, đẩy tên lính xuống đất, rồi ra sức phóng ngựa chạy.

Quân Hung Nô phái mấy trăm kỵ binh đuổi theo, Lý Quảng vừa quặp chặt ngựa, vừa ngoái lại, giương cung bắn chết mấy tên chạy đầu, cuối cùng chạy thoát về với quân Hán.

Tuy thoát hiểm, nhưng vì thua trận, thiệt quân, nên Lý Quảng bị ghép vào tội chết.

Do triều Hán có qui định có thể dùng tiền chuộc tội nên Lý Quảng đem hết tài sản ra chuộc tội, trở về quê làm dân thường.

Không lâu sau, quân Hung Nô lại vào quấy nhiễu.

Hán Vũ Đế lại triệu Lý Quảng, phong ông làm thái thú quận Hữu Bắc Bình (tri sở bay ở tây nam Lăng Nguyên, Liêu Ninh).

Suốt trong nhiều năm, Lý Quảng đều phòng thủ ở biên giới phía bắc.

Vì ông có tài hành động nhanh, bắn tên giỏi, chợt đến, chợt đi, kẻ địch khó lòng dò tìm tung tích, nên người Hung Nô đặt cho ông biệt hiệu "Phi tướng quân".

Lý Quảng làm thái thú Hữu Bắc Bình; Hung Nô sợ oai Lý Quảng nên không dám xâm phạm.

Miền Hữu Bắc Bình không có quân Hung Nô, nhưng lại có hổ dữ hại người.

Lý Quảng hễ nghe nói ở đâu có hổ là tìm tới đó săn bắn và giết được nhiều hổ dữ.

Theo kể lại, có một lần Lý Quảng trở về muộn, trời đã nhập nhoạng tối, ông cùng tùy tùng vừa đi vừa đề phòng hổ, bỗng thấy trong đám cỏ dưới chân núi lù lù một vật loang lổ như con hổ lớn đang ngồi.

Lý Quảng liền giương cung bắn một phát tên cực mạnh.

Với tài bách phát bách trúng của ông, tên cắm phập vào mục tiêu.

Thủ hạ vác đao thương chạy tới, nhìn kỹ thì hóa ra không phải hổ mà là một khối đá lớn.

Mũi tên cắm quá sâu, mấy người rút ra mà không nổi.

Tất cả vừa kinh ngạc, vừa khâm phục.

Lý Quảng đến xem, cũng lấy làm lạ.

Tên làm sao xuyên vào được đá?

Ông liền trở lại chỗ đứng cũ, bắn tiếp tục mấy phát nữa vào tảng đá, nhưng chỉ thấy tóe lửa, tên không thể nào xuyên qua được.

Nhưng vì có phát tên đó, người ta đều đồn rằng tướng quân Lý Quảng có tài bắn tên xuyên vào đá.

Cuộc đời Lý Quảng hầu như toàn bộ đều hiến dâng cho sự nghiệp chống Hung Nô, do anh dũng, thiện chiến, đã trải qua hơn 70 cuộc chiến đấu, quí tộc Hung Nô đều sợ ông, coi ông là kình địch.

Nhưng trong chiến đấu, Lý Quảng cũng hay gặp những thất bại bất ngờ, không gặp thuận lợi như hai tướng trẻ Vệ Thanh và Hoắc Khứ Bệnh, đã lập những chiến công lừng lẫy.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
67-68


VỆ THANH VÀ HOẮC KHỨ BỆNH

Vệ Thanh xuất thân nghèo hèn, cha ông là người hầu hạ trong nhà Bình Dương Hầu Tào Thọ.

Khi lớn lên, Vệ Thanh đi chăn ngựa cho Bình Dương Hầu.

Sau đó, chị của Vệ Thanh là Vệ Tử Phu được tuyển làm cung phi, được Hán Vũ Đế sủng ái, nên Vệ Thanh dần dần được hiển quí.

Vào năm Lý Quảng bị quân Hung Nô bắt và trốn được về, trong bốn đội quân Hán thì ba đội bị thất bại, chỉ có Vệ Thanh đánh thắng, được phong làm quan nội hầu.

Sau đó lại liên tiếp đánh thắng Hung Nô, lập nhiều chiến công.

Năm 124 TCN, Vệ Thanh dẫn 3 vạn kỵ binh, đuổi quân Hung Nô ra ngoài Trường Thành, Hữu Hiền vương của Hung Nô tưởng rằng quân Hán còn rất xa, không phòng bị gì, cứ uống rượu say túy lúy trong lều.

Vệ Thanh lợi dụng đêm tối, hành quân gấp sáu bảy trăm dặm, bao vây chặt cánh quân của Hữu Hiền vương.

Quân Hán từ 4 mặt đánh vào, làm cho quân Hung Nô hoảng loạn tan vỡ.

Hữu Hiền vương hốt hoảng, chỉ kịp dẫn mấy trăm thủ hạ thân tín chạy trốn.

Trận đó, quân Vệ Thanh bắt được một vạn năm ngàn tù binh, trong đó có hơn 10 tiểu vương Hung Nô.

Tả, Hữu Hiền vương của Hung Nô chỉ thấp hơn thiền vu một bậc.

Lần chiến tranh này, toàn quân của Hữu Hiền vương bị tiêu diệt là một tổn thất lớn đối với thiền vu Hung Nô.

Hán Vũ Đế được tin, liền phái sứ giả đem ấn đại tướng quân đến phong cho Vệ Thanh tại quân doanh và phong cho cả ba con trai còn vị thành niên của ông tước hầu.

Vệ Thanh từ chối nói: "Thần mấy lần đánh thắng là do công lao của tướng sĩ.

Ba đứa con thần còn là trẻ nít, chưa làm được việc gì.

Nếu hoàng thượng phong cho chúng tước hầu thì làm sao khuyến khích được tướng sĩ lập công".

Hán Vũ Đế được Vệ Thanh gợi ý, liền phong cho 7 tướng dưới quyền Vệ Thanh tước hầu.

Năm sau, Hung Nô lại tiến công.

Hán Vũ Đế phái Vệ Thanh cùng 6 tướng khác đem quân đi đánh.

Vệ Thanh có người cháu gọi bằng cậu, tên là Hoắc Khứ Bệnh.

Năm đó mới 18 tuổi, vô cùng dũng cảm, lại giỏi cưỡi ngựa, bắn cung, lần này cũng theo Vệ Thanh đi đánh Hung Nô.

Quân Hung Nô nghe tin đại quân Hán tiến công liền rút chạy.

Vệ Thanh chia quân làm 4 đường truy đuổi. quyết đánh bại chủ lực Hung Nô.

Riêng Vệ Thanh thì trấn giữ đại doanh để chờ tin tức.

Đến tối, bốn cánh quân đều trở về, không tìm thấy chủ lực Hung Nô, có cánh quân giết được trăm địch, có cánh quân chỉ về tay không.

Hoắc Khứ Bệnh lúc đó chỉ là một hiệu úy trẻ tuổi, lần đầu đi đánh trận.

Ông dẫn đầu 800 tráng sĩ, tổ chức thành một đội quân nhỏ, đi lùng tìm quân Hung Nô.

Họ tiến mãi lên phía bắc, dọc đường không thấy bóng dáng lính Hung Nô nào, mãi tới mấy trăm dặm mới thấy xa xa có trại quân Hung Nô.

Họ lặng lẽ đi vòng ra phía sau, nhằm vào chiếc lều lớn nhất, xung phong mãnh liệt.

Hoắc Khứ Bệnh nhanh nhẹn, chém chết ngay một quí tộc Hung Nô, thủ hạ của ông cũng bắt sống được hai quí tộc.

Quân Hung Nô mất người đứng đầu, tan chạy ra các ngã, 800 tráng sĩ đuổi theo giết được hơn 2000 quân Hung Nô rồi mới trở về đại doanh.

Vệ Thanh đang nóng lòng chờ đợi thì thấy Hoắc Khứ Bệnh xách một chiếc đầu tiến vào, các binh sĩ phía sau còn giải theo hai tù binh.

Qua thẩm vấn, được biết trong hai tù binh, một là chú của thiền vu, một là tướng quốc; còn kẻ bị Hoắc Khứ Bệnh giết là một tước vương vào hàng ông của thiền vu.

Lần đầu tham gia chiến đấu mà chàng thanh niên 18 tuổi Hoắc Khứ Bệnh đã lập công lớn.

Sau khi chiến tranh kết thúc, ông được phong là Quán quân hầu.

Năm 121 TCN, Hán Vũ Đế lại phong Hoắc Khứ Bệnh làm phiêu kỵ tướng quân, dẫn một vạn kỵ binh, xuất phát từ Lũng Tây, tiến công Hung Nô.

Binh mã của Hoắc Khứ Bệnh giao chiến với quân Hung Nô trong sáu ngày liền.

Quân Hung Nô cầm cự không nổi, thua chạy về phía sau.

Hoắc Khứ Bệnh dẫn quân vượt qua núi Yên Chi (nay ở phía tây huyện Vĩnh Xương, Cam Túc), truy kích hơn 1000 dặm.

Ở đó còn có những thuộc quốc Hung Nô như Hồn Nha (nay ở trong tỉnh Cam Túc), Hưu Đồ (nay ở bắc huyện Vũ Uy, Cam Túc).

Quân Hán bắt sống được vương tử và tướng quốc của Hồn Nha vương, chiếm được người vàng (thực chất là tượng đồng) dùng để tế trời của vua Hưu Đồ.

Để khen thưởng cho Hoắc Khứ Bệnh, Hán Vũ Đế muốn xây cho ông một dinh thự.

Hoắc Khứ Bệnh khảng khái từ chối nói: "Quân Hung Nô còn chưa bị tiêu diệt, lo tới nhà cửa làm gì?".

Để diệt trừ tận gốc sự xâm phạm của Hung Nô, năm 119 TCN, sau khi chuẩn bị đầy đủ, Hán Vũ Đế lại phái Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh, mỗi người mang 5 vạn quân tinh nhuệ, chia hai đường hợp kích Hung Nô.

Vệ Thanh từ quận Định Tương vượt qua biên giới, đi qua sa mạc Gô-bi, hành quân hơn 1000 dặm.

Thiền vu Y Chat Nha thân dẫn tinh binh đối địch.

Hai bên triển khai kịch chiến.

Lúc trời vừa tối, trên sa mạc bỗng nổi cuồng phong, trời đất mịt mù, đá bay cát chạy.

Vệ Thanh chống chọi với gió cát, ra lệnh cho kỵ binh chia làm hai cánh đánh ép lại.

Thiền vu Y Chat Nha không chống cự nổi, dẫn mấy trăm kỵ binh phá vây chạy lên phía bắc.

Vệ Thanh đuổi tới thành Triệu Tín, núi Điền Nhan (nay ở phía nam cao nguyên Mông Cổ) thì thành đã bỏ trống, còn lại rất nhiều lương thảo.

Vệ Thanh cho người ngựa ăn uống no nê, rồi đốt hết số còn lại, sau đó đem quân về.

Ở cánh quân kia, Hoắc Khứ Bệnh cũng vượt qua sa mạc, tiến lên hơn 2000 dặm, đánh tan quân mã của Tả Hiền vương, đuổi tới núi Lang Cư Tư (nay thuộc khu tự trị Nội Mông, có thuyết nói là nay thuộc nước Cộng hòa nhân dân Mông Cổ) và dựng một bia đá tại đây để làm kỷ niệm.

Đây là trận truy kích có quy mô lớn nhất, tiến quân sâu nhất của quân Hán.

Sau đó, Hung Nô lui tới miền bắc sa mạc, miền nam sa mạc không còn triều đình Hung Nô nữa.

TRƯƠNG KHIÊN MỞ ĐƯỜNG SANG TÂY VỰC

Những năm đầu đời Hán Vũ Đế, có người Hung Nô đầu hàng triều Hán.

Qua họ, Hán Vũ Đế biết qua về tình hình Tây Vực (nay là Tân Cương và một số nước vùng Trung Á).

Họ cho biết có nước Nguyệt Chi bị Hung Nô đánh bại, chạy về phía tây, định cư ở Tây Vực.

Họ căm thù Hung Nô, muốn báo thù, nhưng không được ai giúp đỡ.

Hán Vũ Đế nghĩ, Nguyệt Chi ở phía tây Hung Nô, nếu triều Hán liên hợp được với Nguyệt Chi, cắt đứt liên hệ giữa Hung Nô với các nước Tây Vực thì có khác gì chặt đứt cánh tay phải của Hung Nô.

Thế rồi, ông liền hạ chiếu thư, tìm người có khả năng đi liên hệ với Nguyệt Chi.

Lúc đó, không ai biết nước Nguyệt Chi ở đâu và cách bao xa.

Muốn đảm nhận việc đó, phải là người rất có dũng khí.

Có một viên lang trung (một chức quan) tên là Trương Khiên, thấy đây là một việc hay, liền xin nhân nhiệm vụ.

Sau đó, hơn 100 tráng sĩ cũng mạnh dạn xin cùng đi.

Một người thuộc tộc Hung Nô ở Trường An tên là Đường Ấp Phụ cũng tình nguyện đi cùng Trương Khiên sang nước Nguyệt Chi.

Năm 138 TCN, Hán Vũ Đế phái Trương Khiên dẫn hơn 100 người đi tìm nước Nguyệt Chi.

Nhưng muốn đến Nguyệt Chi phải đi qua địa giới của Hung Nô.

Bọn Trương Khiên mới đi được mấy ngày đã bị quân Hung Nô vây chặt, bắt làm tù binh.

Nguời Hung Nô không giết họ, chỉ phân tán ra để giám sát, chỉ có Đường Ấp Phụ được ở cùng chỗ với Trương Khiên.

Họ bị giam giữ suốt hơn 10 trời.

Càng về sau, người Hung Nô không còn giám sát họ chặt chẽ nữa.

Trương Khiên và Đường Ấp Phụ bàn nhau, nhân lúc họ sơ hở, liền ăn trộm hai con ngựa trốn chạy.

Hai người nhằm hướng tây đi mấy chục ngày, chịu mọi gian khổ mới ra khỏi địa giới Hung Nô, không tìm thấy nước Nguyệt Chi nhưng lại đi lạc vào nước Đại Uyển (nay ở vùng Trung Á).

Đại Uyển là nước láng giềng với Hung Nô.

Người địa phương hiểu được tiếng Hung Nô nên Trương Khiên và Đường Ấp Phụ giao dịch rất thuận lợi.

Họ xin yết kiến vua Đại Uyển.

Vua nước Đại Uyển đã nghe nói Hán là một nước rất cường thịnh, lần này lại thấy sứ giả triều Hán thì rất hoan nghênh và phái người đưa họ đến nước Khang Cư (nay ở khoảng giữa hồ Bai Can và Biển mặn), rồi từ Khang Cư đến Nguyệt Chi.

Sau khi Nguyệt Chi bị Hung Nô đánh bại thì dời đến vùng phụ cận Đại Hạ (nay là phía bắc Afghanistan) xây dựng nên nước Đại Nguyệt Chi, không còn có ý muốn đánh Hung Nô nữa.

Quốc vương Đại Nguyệt Chi nghe Trương Khiên trình bày, không hưởng ứng nhiệt tình lắm, nhưng vì thấy Trương Khiên là sứ giả triều Hán nên vẫn tiếp đãi trọng thể.

Trương Khiên và Đường Ấp Phụ ở Đại Nguyệt Chi hơn một năm, lại đến thăm Đại Hạ một lần, được thấy rất nhiều sự vật mới lạ chưa từng được biết.

Nhưng họ không thể thuyết phục được Đại Nguyệt Chi cùng chống Hung Nô nên đành trở về.

Khi qua địa giới Hung Nô, lại bị bắt lại một thời gian, may nhờ Hung Nô có nội loạn nên mới trốn về được Trường An.

Trương Khiên ở nước ngoài tới 13 năm mới trở về, Hán Vũ Đế cho rằng ông đã lập công lớn, nên phong làm Thái trung đại phu.

Trương Khiên báo cáo tỉ mỉ với Hán Vũ Đế tình hình ở các nước Tây Vực.

Ông nói: "Thần thấy ở Đại Hạ có một gậy trúc sản xuất ở Cung Sơn (nay là tỉnh Tứ Xuyên) và vải mịn sản xuất ở đất Thục (nay là Thành Đô, Tứ Xuyên).

Người địa phương cho biết do thương nhân từ Thiên Trúc (nay là Ấn Độ) mang tới ".

Ông cho rằng Thiên Trúc đã có thể mua được hàng hóa của đất Thục thì chắc hẳn phải ở không xa đất Thục.

Hán Vũ Đế liền cử Trương Khiên làm sứ giả, mang theo lễ vật từ đất Thục sang kết giao với Thiên Trúc.

Trương Khiên chia người ngựa làm bốn đội, chia đường đi tìm nước Thiên Trúc.

Mỗi đội đều đi khoảng 2000 dặm nhưng đều không tới được Thiên Trúc, có đội còn bị nhân dân địa phương đánh đuổi về.

Đội đi về phía nam tới được Côn Minh, cũng bị ngăn lại.

Sứ giả triều Hán vòng qua Côn Minh, tới được Điền Việt (nay là Vân Nam).

Tổ tiên của quốc vương Điền Việt nguyên là người nước Sở, đã sống cách biệt với Trung nguyên mấy đời rồi.

Ông vui lòng giúp Trương Khiên tìm đường qua Thiên Trúc, nhưng lại bị Côn Minh ngăn ở giữa đường, không cho đi qua.

Trương Khiên trở về Trường An, Hán Vũ Đế cho rằng tuy ông không tìm thấy nước Thiên Trúc nhưng đã kết giao được với Điền Việt, là nước chưa từng có quan hệ nên cũng hết sức vui lòng.

Đến khi Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh tiêu diệt được quân chủ lực Hung Nô.

Hung Nô chạy lên phía bắc sa mạc, nhiều nước Tây Vực thấy Hung Nô đã thất thế, đều không chịu tiến cống và nộp thuế cho Hung Nô.

Hán Vũ Đế nhân dịp đó lại phái Trương Khiên đi Tây Vực.

Năm 119 TCN, Trương Khiên và mấy trợ thủ đem theo cờ tiết của triều Hán, tổ chức một đoàn 300 dũng sĩ, mỗi người dùng hai con ngựa, đem theo hơn một vạn bò dê và vàng bạc, tiền tệ, lụa là vải vóc làm lễ vật đi kết giao với Tây Vực.

Trương Khiên đến Ô Tôn (nay ở Tân Cương) được nhà vua đón tiếp.

Trương Khiên dâng lên món lễ hậu, đề nghị hai nước kết làm thân thích, cùng nhau đối phó Hung Nô.

Vua Ô Tôn thấy triều Hán cách Ô Tôn rất xa, không biết mạnh yếu thế nào.

Ông ta muốn được sự giúp đỡ của triều Hán nhưng lại sợ làm mất lòng Hung Nô.

Do đó, vua tôi nước Ô Tôn bàn bạc mấy ngày vẫn không quyết định được việc liên minh đối phó với Hung Nô.

Trương Khiên sợ kéo dài, lỡ mất thời gian liền phái các thủ hạ chia nhau mang lễ vật tới liên lạc với Đại Uyển, Đại Nguyệt Chi, Vu Điền (ở giữa Tân Cương và Điền).

Vua Ô Tôn còn phái mấy người phiên dịch đi theo giúp đỡ họ.

Những thủ hạ đó đi mãi không thấy trở về.

Vua Ô Tôn liền tiến Trương Khiên về Trường An và phái một sứ đoàn mấy chục người theo Trương Khiên về Trường An để xem xét triều Hán, đem theo mấy chục con ngựa cao to tặng triều Hán.

Hán Vũ Đế thấy sứ đoàn thì rất phấn khởi, lại thấy những con ngựa cao to lạ lùng lại càng quí, nên đón tiếp sứ giả rất nồng nhiệt.

Một năm sau, Trương Khiên bị bệnh mất, thủ hạ của ông đi các nước cũng lần lượt trở về Trường An.

Họ tính tổng cộng đã đi tới 36 nước.

Từ đó về sau, hàng năm Hán Vũ Đế đều phái sứ giả đi sang các nước Tây Vực, xây dựng quan hệ qua lại với các nước đó.

Sứ giả và thương nhân các nước Tây Vực cũng lũ lượt đến Trung Quốc.

Hàng tơ và hàng dệt tơ lụa của Trung Quốc đi qua Tây Vực tới các nước Tây Á rồi đi tiếp sang Châu Âu.

Người đời sau gọi con đường đó là "con đường tơ lụa".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
69-70


TÔ VŨ CHĂN DÊ

Sau khi Hung Nô bị Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh đánh bại, mấy năm liền không có chiến tranh với triều Hán.

Nhưng tuy bên ngoài, Hung Nô tuyên bố là sẽ hòa hảo với triều Hán, trên thực tế vẫn âm mưu xâm phạm Trung nguyên.

Thiền vu Hung Nô thường phái sứ giả tới triều Hán, nhưng khi sứ giả triều Hán tới Hung Nô thường bị họ giữ lại.

Do đó, triều Hán cũng giữ lại một số sứ giả Hung Nô.

Năm 100 TCN, Hán Vũ Đế đang dự tính đem quân đánh Hung Nô, thì sứ giả Hung Nô đến cầu hòa và thả hết sứ giả Hán về.

Để đáp lại thiện ý đó, Hán Vũ Đế liền phái trung lang tướng Tô Vũ cùng phó đoàn Trương Thắng và tùy viên Thường Huệ đi sứ Hung Nô, đem theo cờ tiết của triều Hán.

Tô Vũ đến Hung Nô, trao trả các sứ giả bị bắt giữ và dâng tặng lễ vật.

Tô Vũ đang đợi thiền vu Hung Nô viết thư trả lời để mang về thì không ngờ xảy ra một chuyện rủi ro.

Trước khi Tô Vũ đến Hung Nô, có một người Hán tên là Vệ Luật, sau khi sang sứ đã đầu hàng Hung Nô.

Thiền vu đặc biệt trọng dụng, phong y làm vương.

Vệ Luật có một bộ hạ tên là Ngu Thường, rất không bằng lòng với Vệ Luật.

Ngu Thường là bạn cũ của Trương Thắng, phó đoàn của Tô Vũ, liền bàn với Trương Thắng muốn giết Vệ Luật và bắt cóc mẹ của thiền vu rồi về Trung Quốc.

Trương Thắng đồng tình.

Không ngờ kế hoạch của Ngu Thường không thành, lại bị người Hung Nô bắt giữ, ra lệnh cho Vệ Luật thẩm vấn Ngu Thường và tra ra những người đồng mưu.

Tô Vũ vốn không biết việc này, đến lúc đó, Trương Thắng sợ liên lụy, mới cho Tô Vũ hay.

Tô Vũ nói: "Sự việc đã đến mức thế này, nhất định sẽ liên quan đến ta.

Nếu để họ tra khảo đến chết thì sẽ làm mất mặt triều đình".

Nói rồi rút dao toan tự sát.

Trương Thắng và Thường Huệ nhanh tay dằng lại được rồi hết sức khuyên can.

Ngu Thường bị đánh đập dã man, chỉ biết thừa nhận là bạn với Trương Thắng, có nói cho biết, nhưng không thừa nhận là đồng mưu.

Vệ Luật báo cáo với thiền vu.

Thiền vu nổi giận, muốn giết Tô Vũ, nhưng các đại thần ngăn lại.

Thiền vu lại sai Vệ Luật đi dụ dỗ Tô Vũ đầu hàng.

Tô Vũ nghe lời dụ dỗ của Vệ Luật, liền nói: "Ta là sứ giả triều Hán, nếu phản bội lại sứ mạng, đánh mất khí tiết thì còn mặt mũi nào sống để nhìn người khác".

Nói rồi lại rút dao đâm vào cổ.

Vệ Luật hoảng sợ, ôm chặt lấy Tô Vũ.

Tô Vũ đã bị trọng thương, ngất đi.

Vệ Luật vội gọi người đến cứu chữa cho tỉnh lại.

Thiền vu thấy Tô Vũ là một hảo hán có khí tiết, rất khâm phục.

Khi Tô Vũ bình phục, thiền vu lại khuyên ông theo Hung Nô.

Thiền vu sai Vệ Luật tra hỏi Ngu Thường trước mặt Tô Vũ.

Trước hết, Vệ Luật ghép Ngu Thường vào tội chết, đem giết đi.

Sau đó lại vung kiếm uy hiếp Trương Thắng.

Trương Thắng tham sống sợ chết, liền hàng Hung Nô.

Vệ Luật nói với Tô Vũ: "Cấp phó của ông có tội, ông cũng bị liên đới".

Tô Vũ nói: "Tôi không đồng mưu với anh ta, cũng không phải là thân thích của anh ta, sao lại bị liên đới?".

Vệ Luật lại giơ kiếm dọa Tô Vũ.

Tô Vũ không hề biến sắc.

Vệ Luật phải hạ kiếm xuống khuyên nhủ: "Bản thân tôi cũng bất đắc dĩ phải hàng Hung Nô.

Thiền vu đối đãi với tôi rất tốt, phong tôi làm vương, cho tôi mấy vạn người hầu hạ và từng đàn bò dê, hưởng mọi vinh hoa phú quí.

Nếu tiên sinh đầu hàng Hung Nô thì ngày mai cũng như tôi.

Việc gì phải uống phí sinh mạng của mình?".

Tô Vũ bừng bừng nổi giận, đứng dậy nói: "Vệ Luật, ngươi là con dân nhà Hán, là bầy tôi trong triều.

Ngươi đã vong ân bội nghĩa, phản bội lại cha mẹ, phản bội lại triều đình, làm một tên Hán gian vô sĩ, còn mặt mũi nào mà nói chuyện với ta.

Ta quyết không đầu hàng.

Ngươi đừng nói nhiều vô ích".

Vệ Luật tiu nghỉu trở về tâu lại với thiền vu.

Thiền vu cho giam Tô Vũ trong hầm đất, không cho ăn uống, toan dùng cách dày vò lâu ngày để khuất phục Tô Vũ.

Lúc đó đang là mùa đông, tuyết xuống nhiều.

Tô Vũ chịu đói khát, chỉ hứng tuyết để ngậm, vặt dây da để nhấm cho qua cơn đói.

Mấy ngày sau vẫn không chết.

Thiền vu thấy không có kết quả, liền đưa Tô Vũ tới vùng cạnh hồ Bai Can bắt chăn dê, ngăn cách Tô Vũ và Thường Huệ ra hai nơi, không cho liên hệ với nhau.

Đồng thời nói với Tô Vũ: "Bao giờ dê đực đẻ con, sẽ tha cho ngươi về".

Nói như vậy, tức là muốn giam hãm, đầy đọa Tô Vũ mãi mãi.

Tô Vũ tới Bai Can, xung quanh không có bóng người, chỉ có lá cờ tiết của nhà Hán làm bạn.

Hung Nô không cho lương ăn, Tô Vũ phải đào hang bắt chuột và ăn rễ cây.

Lâu ngày, tua cờ đem theo cũng rụng hết.

Mãi tới năm 85 TCN, thiền vu Hung Nô chết.

Hung Nô phát sinh nội loạn, chia sẻ làm ba nước.

Thiền vu mới không có đủ lực lượng để gây chiến với triều Hán, liền cử sứ giả đi cầu hòa.

Lúc đó Hán Vũ Đế đã chết, con là Hán Chiêu Đế nối ngôi.

Hán Chiêu Đế phái sứ giả đến Hung Nô đòi thả Tô Vũ.

Hung Nô nói dối là Tô Vũ đã chết.

Sứ giả tưởng là thực, không nhắc đến chuyện ấy nữa.

Năm sau, sứ giả Hán lại đến Hung Nô.

Thường Huệ, tùy tùng của Tô Vũ còn ở Hung Nô.

Ông nhờ người Hung Nô giúp đỡ, tìm gặp sứ giả, nói cho sứ giả biết tình hình Tô Vũ chăn dê ở Bai Can.

Sứ giả gặp thiền vu nói nghiêm khắc: "Nếu Hung Nô thực lòng muốn hòa hảo với Hán triều thì không nên lừa dối nữa.

Vừa rồi hoàng thượng của chúng tôi bắn được trong ngự hoa viên một con chim nhạn, dưới chân có buộc một dải lụa, trên đó ghi rõ là Tô Vũ đang còn sống.

Tại sao các người lại nói là đã chết rồi?".

Thiền vu giật nảy mình, tưởng lòng trung nghĩa của Tô Vũ đã làm cảm động đến loài chim chóc, nên chim nhạn đã giúp ông truyền tin tức, liền vội nói với sứ giả: "Quả thật Tô Vũ hiện còn sống.

Chúng tôi sẽ thả ông ta về nước".

Khi đi sứ, Tô Vũ mới 40 tuổi.

Qua 19 năm chịu đủ mọi đày đọa, khổ cực, đến nay râu tóc ông đã bạc trắng.

Ngày ông về tới Trường An, nhân dân Trường An đều xô ra đường chào đón.

Họ thấy Tô Vũ râu tóc bạc phơ, lá cờ tiết trên tay chỉ còn cái cán.

Ai cũng cảm động rơi nước mắt.

Tất cả đều ca ngợi ông là một đại trượng phu có khí tiết.

TƯ MÃ THIÊN VIẾT SỬ KÍ

Một năm sau khi Tô Vũ đi sứ Hung Nô, Hán Vũ Đế phái Nhị sư tướng quân Lý Quảng Lợi đem 3 vạn quân đánh Hung Nô, bị đại bại, hầu như toàn quân bị tiêu diệt, Lý Quảng Lợi phải chạy về.

Cháu của Lý Quảng (đây là Lý Quảng đã kể ở phần trên, không phải Lý Quảng Lợi) là Lý Lăng, lúc đó là Kỵ đô úy, đem 5000 quân bộ, tác chiến với Hung Nô.

Thiền Vu Hung Nô thân chỉ huy 3 vạn kỵ binh vây chặt toán quân ít ỏi của Lý Lăng.

Mặc dù Lý Lăng có tài bắn tên rất giỏi, binh sĩ cũng hết sức dũng cảm, nhưng 5000 bộ binh sau khi đã giết chết năm, sáu ngàn kỵ binh Hung Nô vẫn bị quân địch đông đảo đánh bại.

Do không có quân cứu viện, nên cuối cùng chỉ còn hơn 400 quân Hán chọc được vòng vây chạy thoát.

Riêng Lý Lăng bị quân Hung Nô bắt được, phải đầu hàng.

Tin Lý Lăng đầu hàng Hung Nô làm chấn động triều đình.

Hán Vũ Đế bắt mẹ và vợ con Lý Lăng giam vào ngục, rồi triệu tập đại thần, nghị tội Lý Lăng.

Các đại thần đều buộc tội Lý Lăng tham sống sợ chết, nên đã đầu hàng Hung Nô.

Hán Vũ Đế hỏi ý kiến Thái sử lệnh Tư Mã Thiên về việc này.

Tư Mã Thiên nói: "Lý Lăng chỉ đem theo không tới 5000 bộ binh, đi sâu vào đất địch, đánh lại với mấy ngàn kỵ binh.

Tuy bị thua trận, nhưng ông ta đã giết được nhiều địch như thế, cũng có thể tạ tội với thiên hạ.

Lý Lăng không chịu hy sinh tính mệnh, hẳn là có chủ ý để sau này lập công chuộc tội báo đáp lại hoàng thượng".

Hán Vũ Đế nghe nói, cho rằng Tư Mã Thiên có ý chê bai Lý Quảng Lợi (Lý Quảng Lợi là anh ruột của Lý quý phi của Hán Vũ Đế) liền đùng đùng nổi giận, nói: "Ngươi ra sức biện bạch cho kẻ đầu hàng, chẳng phải là cố ý phản bội lại triều đình sao?".

Liền quát võ sĩ lôi Tư Mã Thiên vào nhà giam, giao cho đình úy luận tội.

Sau khi luận tội, Tư Mã Thiên bị xử vào tội đáng bị phủ hình (tội bị thiến).

Tư Mã Thiên không có tiền chuộc tội, phải chịu hình phạt và giam vào ngục.

Tư Mã Thiên cảm thấy bị phủ hình là một điều hết sức nhục nhã, đã định tự sát.

Nhưng lại nghĩ bản thân còn một việc hết sức quan trọng chưa hoàn thành xong, không thể chết được.

Ông đang dồn hết tinh lực để viết một bộ sử, đó là một trước tác lịch sử vĩ đại nhất của Trung Quốc cổ đại - Bộ Sử ký.

Vốn là, ông cha mấy đời của Tư Mã Thiên đều làm quan chép sử.

Cha ông là Tư Mã Đàm cũng làm thái sử lệnh.

Khi lên 10 tuổi, Tư Mã Thiên đã theo cha lên Trường An và đọc rất nhiều sử sách.

Để sưu tập sử liệu, mở mang tầm mắt, từ năm 20 tuổi, Tư Mã Thiên đã đi khắp nơi trong nước.

Ông đã tới Cối Kê của Triết Giang, thăm nơi vua Vũ đã triệu tập thủ lĩnh các bộ lạc, đến Trường Sa, viếng nơi Khuất Nguyên trẫm mình trên sông Mịch La; đến Khúc Phụ, khảo sát nơi Khổng Tử từng dạy học; đến quê hương của Hán Cao Tổ, nghe các phụ lão kể chuyện khởi binh của Lưu Bang.

Việc đi thăm thú và khảo sát đó, khiến Tư Mã Thiên thu nhận được nhiều tri thức và học tập được nhiều ngôn ngữ dân gian phong phú, đặt cơ sở vững chắc cho việc viết văn của ông sau này.

Sau này, Tư Mã Thiên còn làm quan tùy tòng của Hán Vũ Đế, được theo nhà vua đi các nơi và được cử đi thị sát ở các vùng Ba, Thục, Côn Minh.

Sau khi Tư Mã Đàm chết, Tư Mã Thiên kế thừa chức vụ của cha, làm thái sử lệnh, lại càng sưu tập và đọc được nhiều sử liệu.

Chính lúc ông đang chuẩn bị bắt tay vào việc viết bộ sử đó thì xảy ra sự kiện Lý Lăng, và do biện hộ cho Lý Lăng mà ông bị xử phủ hình, giam vào ngục.

Ông đau đớn nghĩ rằng do sai lầm trong nói năng mà thân thể bị tàn phế, không còn đáng sống nữa.

Nhưng nghĩ lại, trước kia Chu Văn Vương bị giam ở ngục Dĩu Lý, đã viết nên bộ "Chu Dịch"; Khổng Tử chu du các nước, bị khốn ở Trần, Thái, sau đã viết nên bộ "Xuân Thu"; Khuất Nguyên bị đày đã viết nên "Ly Tao"; Tả Khâu Minh bị mù, đã viết "Quốc ngữ"; Tôn Tẫn bị tháo xương bánh chè, đã viết "Binh pháp".

Còn 300 bài trong Kinh Thi, tuyệt đa số là do người xưa đã viết nên trong tâm tình bi phẫn.

Những trước tác nổi tiếng đó đều do các tác giả có điều uất ức trong lòng hoặc khi lý tưởng không thực hiện được mà viết ra.

Tại sao không nhân lúc này mà hoàn thành tác phẩm đã ôm ấp và chuẩn bị từ lâu?.

Vì vậy, ông bắt đầu mải miết viết Sử ký, ghi chép từ thời Hoàng Đế trong truyền thuyết đến năm thứ hai niên hiệu Thái Thủy đời Hán Vũ Đế (95 TCN), soạn thành một cuốn sách đồ sộ gồm 130 thiên, tất cả 52 vạn chữ.

Trong tác phẩm Sử ký, Tư Mã Thiên đã thuật lại tỉ mỉ về sự tích các nhân vật nổi tiếng thời cổ.

Ông đã đánh giá rất cao các lãnh tụ khởi nghĩa nông dân Trần Thắng, Ngô Quảng; luôn giữ thái độ thái độ đồng tình với những nhân vật bị áp bức thuộc tầng lớp dưới.

Ông còn thay đổi chữ viết rất khó của thời cổ thành chữ viết tương đối đơn giản đương thời.

Sự miêu tả nhân vật với tình tiết sinh động, hình tượng trong sáng, lời văn sống động trôi chảy, đã làm cho Sử ký không những là một trước tác lịch sử, mà còn là một trước tác văn học kiệt xuất.

Sau khi ra khỏi nhà ngục, Tư Mã Thiên làm trung thư lệnh, sau đó đã mất trong đau buồn.

Nhưng tác phẩm "Sử Ký" của ông còn sống mãi và có địa vị cao trong sử học và văn học Trung Quốc và thế giới.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
71-72


HOẮC QUANG PHỤ CHÍNH

Để đánh Hung Nô, thông Tây Vực, cộng thêm đời sống xa xỉ, thích phô trương, lại thêm mê tín thần tiên, năm nào cũng mở mang cung điện...Hán Vũ Đế đã làm hao tốn nhân, tài, vật lực trong nước, hầu như đã sử dụng hết nguồn dự trữ quốc gia tích lũy được trong hai đời Văn Đế và Cảnh Đế.

Để có đủ tiền, ông ta trọng dụng những quan lại tàn ác, ép dân nộp thuế nặng, thậm chí còn cho phép những kẻ giàu có bỏ tiền ra mua chức tước.

Những kẻ đó ra làm quan, đương nhiên phải vơ vét tiền của để bù lại số tiền mua chức tước.

Lại thêm thiên tai hạn hán, làm cho đời sống dân chúng khốn khó trăm bề.

Nông dân nhiều địa phương đã nổi dậy chống lại quan lại.

Đến những năm cuối đời, Hán Vũ Đế mới quyết tâm đình chỉ dụng binh và đề xướng việc cải tiến nông cụ và kĩ thuật canh tác.

Ông còn tiến hành nghi thức hạ điền, xuống ruộng làm mẫu, dặn dò quan lại phải khuyến khích nông dân tham gia sản xuất.

Vì vậy, tình hình trong nước mới được ổn định.

Năm 87 TCN, Hán Vũ Đế bị bệnh mất, Hán Chiêu Đế lên nối ngôi khi mới 8 tuổi.

Theo di chúc của Hán Vũ Đế, đại tướng quân Hoắc Quang nhận nhiệm vụ phò tá vua mới.

Hoắc Quang nắm đại quyền triều đình, giúp Hán Chiêu Đế thực hiện chính sách vỗ về dân chúng, giảm nhẹ thuế má và lao dịch, quản lý tốt mọi việc lớn nhỏ trong nước.

Nhưng một số đại thần trong triều coi Hoắc Quang như cái gai trong mắt, muốn tìm mọi cách loại bỏ ông.

Tả tướng quân Thượng Quan Kiệt muốn đem cháu gái 6 tuổi gả cho Hán Chiêu Đế làm hoàng hậu, nhưng Hoắc Quang không đồng ý.

Sau đó Thượng Quan Kiệt dựa vào sự giúp đỡ của chị ruột Hán Chiêu Đế là Cái Trưởng công chúa, thực hiện được việc đưa cháu gái vào làm hoàng hậu.

Thượng Quan Kiệt và con là Thượng Quan An muốn phong một người thân cận của Cái Trưởng công chúa tước hầu, nhưng Hoắc Quang nhất định không nghe.

Cha con Thượng Quan Kiệt và Cái Trưởng công chúa rất căm tức Hoắc Quang, liền câu kết với Yên vương Lưu Đán, dùng mọi cách toan hãm hại Hoắc Quang.

Năm Hán Chiêu Đế 14 tuổi, có lần Hoắc Quang kiểm duyệt đội Vũ lâm quân (quân cận vệ của hoàng đế) và điều một hiệu úy về phủ đại tướng quân.

Thượng Quan Kiệt nắm lấy việc đó, liền mạo một sớ tâu của Yên vương và cử một tay sai tâm phúc mạo xưng là sứ giả của Yên vương, đem tờ tấu vào dâng lên vua.Trong sớ tâu, đại ý nói: "Trong khi đại tướng quân kiểm duyệt Vũ lâm quân, đã dùng xe ngựa giống như xe ngựa của hoàng đế.

Ông ta còn tự tiện điều động sử dụng hiệu úy, nhất định là có âm mưu.

Thần tình nguyện rời đất phong để về kinh thành bảo vệ hoàng đế, tránh việc kẻ xấu làm loạn".

Hán Chiêu Đế xem đi xem lại sớ tâu đó rồi để sang một bên.

Hôm sau Hoắc Quang toan vào cung triều kiến, nghe được tin Yên vương Lưu Đán dâng đem sớ cáo giác mình thì sợ hãi không dám vào cung.

Hán Chiêu Đế nói: "Đại tướng quân cứ đội mũ vào.

Ta biết có người cố ý làm hại khanh".

Hoắc Quang khấu đầu nói: "Bệ hạ làm thế nào để biết được?".

Hán Chiêu Đế nói: "Chẳng rất rõ ràng là gì?

Việc đại tướng quân kiểm duyệt Vũ lâm quân ở Trường An và điều dụng viên hiệu úy là việc mới xảy ra chưa tới 10 ngày.

Yên vương ở miền bắc sao biết được việc này?

Mà dù có biết, viết sớ tấu gửi ngay về làm sao cho kịp được?

Vả lại nếu đại tướng quân muốn làm phản thì cũng chẳng cần điều một viên hiệu úy.

Điều đó rõ ràng là có người muốn hãm hại tướng quân, và sớ tâu của Yên vương là giả".

Hoắc Quang và các đại thần khác nghe nói, không ai là không phục trí thông minh của Hán Chiêu Đế.

Hán Chiêu Đế sầm mặt, nói với các đại thần: "Các khanh cần bắt kẻ đưa sớ tấu giả để thẩm vấn xem sao?".

Thượng Quan Kiệt sợ Hán Chiêu Đế truy xét gắt gao thì âm mưu sẽ bại lộ, liền vội tâu: "Sự việc nhỏ nhặt đó, bệ hạ bất tất phải truy xét làm gì nữa".

Từ đó về sau, Hán Chiêu Đế bắt đầu nghi ngờ bọn Thượng Quan Kiệt.

Bọn Thượng Quan Kiệt vẫn chưa chịu thôi, liền bàn bạc ngầm với nhau, đề nghị Cái Trưởng công chúa đứng ra, mời Hoắc Quang đến dự tiệc.

Chúng mai phục sẵn, đợi khi Hoắc Quang tới thì giết đi, lại cử người báo cho Yên vương Lưu Đán, gọi ông về kinh.

Thượng Quan Kiệt dự tính sau khi giết Hoắc Quang liền phế luôn Hán Chiêu Đế, để tự mình lên làm hoàng đế.

Không ngờ âm mưu đó bị lộ khiến Hoắc Quang biết được.

Hoắc Quang vội vã tâu với Hán Chiêu Đế.

Hán Chiêu Đế hạ lệnh cho thừa tướng Điền Thiên Thu gấp rút mang quân tới vây bắt và xử tử bọn Thượng Quan Kiệt.

Hán Chiêu Đế mới 21 tuổi thì mắc bệnh mất, không có con nối dõi.

Hoắc Quang nghe theo lời người khác, lập cháu của Hán Vũ Đế là Xương Ấp vương Lưu Hạ lên làm hoàng đế.

Lưu Hạ vốn là người lưu đãng, lên ngôi đem theo hơn 200 thân tín từ Xương Ấp (nay ở đông nam Cự Dã, Sơn Đông) về Trường An, ngày ngày vui chơi ăn uống.

Mới lên ngôi được 27 ngày đã làm 1127 sự việc xấu xa, gây rối loạn cả hoàng cung.

Hoắc Quang và các đại thần họp nhau, cùng dâng thư xin Hoàng thái hậu hạ chiếu phế bỏ Lưu Hạ, lập một tằng tôn (cháu gọi bằng cụ) của Hán Vũ Đế là Lưu Trần lên làm hoàng đế, tức Hán Tuyên Đế.

VƯƠNG CHIÊU QUÂN SANG HỒ (HUNG NÔ)

Thời kỳ Hán Tuyên Đế tại vị, triều Hán lại cường thịnh được một thời gian.

Lúc đó, các quí tộc Hung Nô tranh giành quyền lực nên thế lực càng ngày càng suy yếu.

Sau này, nội bộ Hung Nô chia rẽ, phân lập ra 5 thiền vu, đánh lẫn nhau liên miên.

Trong số đó có một thiền vu tên là Hô Hàn Nha, bị anh là thiền vu Chất Chi đánh bại, giết hại nhiều người ngựa.

Hô Hàn Nha bàn với các đại thần, quyết tâm hòa hảo với triều Hán, thân dẫn tùy tùng đến triều kiến Hán Tuyên Đế.

Hô Hàn Nha là thiền vu đầu tiên đến Trung nguyên triều kiến.

Hán Tuyên Đế tiếp đãi ông ta như khách quí, thân ra đón từ bên ngoài Trường An và mở yến tiệc chiêu đãi long trọng.

Thiền vu Hô Hàn Nha ở Trường An hơn một tháng.

Ông yêu cầu Hán Tuyên Đế giúp ông trở về.

Hán Tuyên Đế đồng ý, cử hai viên tướng dẫn một vạn quân hộ tống ông về Mạc Nam.

Lúc đó, Hung Nô đang thiếu lương thực, triều Hán còn cho họ 34 vạn đấu lương thực.

Hô Hàn Nha rất cảm kích, quyết tâm hòa hảo với triều Hán.

Các nước Tây Vực nghe tin Hung Nô hòa hảo với triều Hán, cũng tranh nhau đến giao hảo.

Sau khi Hán Tuyên Đế mất, con là Lưu Thích nối ngôi, tức Hán Nguyên Đế.

Không lâu sau, thiền vu Chất Chi xâm phạm các nước Tây Vực, còn giết mất sứ giả của triều Hán.

Triều Hán phái quân đội tới Khang Cư, đánh bại thiền vu Chất Chi và giết được Chất Chi.

Thiền vu Chất Chi bị chết, địa vị của thiền vu Hô Hàn Nha được ổn định.

Năm 33 TCN, Hô Hàn Nha lại đến Trường An một lần nữa, xin kết làm thân thiết với triều Hán, Hán Nguyên Đế đồng ý.

Trước đây, mỗi lần kết thân, triều Hán đều chọn một công chúa hoặc một người con gái trong vương thất để gả cho thiền vu Hung Nô.

Lần này, Hán Nguyên Đế quyết định thay bằng một cung nữ.

Ông cử người vào hậu cung truyền đạt: "Ai tình nguyện lấy vua Hung Nô sẽ được đối đãi như công chúa".

Cung nữ trong hậu cung đều được chọn lựa trong dân gian.

Họ vào hoàng cung, bị giam giữ như chim trong lồng, ai cũng mong tới ngày được ra khỏi cung vua.

Nhưng nghe nói phải rời đất nước sang Hung Nô thì không ai muốn đi.

Trong số cung nữ, có Vương Tường, còn gọi là Vương Chiêu Quân nhan sắc rất xinh đẹp, lại rất có kiến thức.

Nghĩ đến tương lai của mình, cô xin tình nguyện đi Hung Nô.

Các đại thần đang lo không tìm được người, nay thấy có người tình nguyện ghi tên, liền vội báo tên họ lên Hán Nguyên Đế.

Hán Nguyên Đế bảo các đại thần chọn ngày để tổ chức lễ thành hôn cho Hô Hàn Nha và Vương Chiêu Quân ở Trường An.

Hô Hàn Nha được một cô vợ trẻ trung xinh đẹp như vậy thì hết sức vui mừng.

Khi Hô Hàn Nha và Vương Chiêu Quân tạ ơn Hán Nguyên Đế, Hán Nguyên Đế thấy Vương Chiêu Quân xinh đẹp, phong thái lại tự nhiên như vậy thì luyến tiếc, nhưng không có cách gì lấy lại được.

Nghe nói, Hán Nguyên Đế về tới nội cung càng nghĩ càng thấy hối tiếc, ông liền hạ lệnh cho đem bức vẽ chân dung Vương Chiêu Quân đến cho mình xem.

Nhìn qua thì có vẻ giống, nhưng hoàn toàn không có vẻ mĩ miều khả ái như người thật.

Nguyên là cung nữ sau khi tiến cung, nói chung đều không được giáp mặt hoàng đế, mà do thợ vẽ vẽ chân dung, dâng lên cho hoàng đế tuyển chọn.

Có người thợ vẽ là Mao Diên Thọ, khi vẽ chân dung cho cung nữ, cô nào có tặng phẩm biếu xén thì được vẽ đẹp lên.

Vương Chiêu Quân không chịu biếu tặng nên Mao Diên Thọ không vẽ nàng đẹp như người thật.

Hán Nguyên Đế nổi giận, cho giết ngay Mao Diên Thọ.

Vương Chiêu Quân được các quan chức triều Hán và Hung Nô hộ tống, ra khỏi Trường An.

Nàng cưỡi ngựa, lên đường trong gió buốt, vượt ngàn dặm tới Hung Nô, làm yên chi của thiền vu Hô Hàn Nha.

Lâu dần, Vương Chiêu Quân quen dần với cuộc sống ở Hung Nô, có quan hệ rất tốt với họ, được người Hung Nô yêu mến và tôn trọng.

Vương Chiêu Quân xa cách quê hương, sinh sống lâu dài ở Hung Nô.

Nàng khuyên Hô Hàn Nha không nên gây chiến tranh với triều Hán, và còn truyền bá văn hóa Trung Quốc tới Hung Nô.

Từ đó về sau, Hung Nô và triều Hán hòa hảo, trong hơn 60 năm không có chiến tranh.

Vương Chiêu Quân rời Trường An không lâu, thì Hán Nguyên Đế mất, con là Lưu Ngao lên nối ngôi, tức là Hán Thành Đế.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
73-74


VƯƠNG MÃNG "PHỤC CỔ CẢI CHẾ"

Hán Thành Đế là một hoàng đế hoang dâm.

Sau khi lên ngôi, đại quyền trong triều đình dần dần rơi vào tay ngoại thích (thân thích của hoàng thái hậu hoặc hoàng hậu).

Hoàng hậu Vương Chính Quân, mẹ của Thành Đế có 8 anh em, trừ một người chết sớm, 7 người còn lại đều được phong hầu, trong đó Vương Phượng được phong làm đại tư mã, đại tướng quân.

Vương Phượng nắm được đại quyền, mấy anh em con cháu của ông ta đều kiêu ngạo, xa xỉ; chỉ có một người cháu tên là Vương Mãng, cha mẹ mất sớm không có thói quen đó.

Ông ta làm việc thận trọng như mọi người có học khác, sinh hoạt cũng tương đối tiết kiệm.

Ai cũng ca ngợi Vương Mãng là người tốt nhất trong số vương gia tử đệ.

Sau khi Vương Phượng chết, hai người anh em của ông ta lần lượt làm tư mã.

Sau đó đến Vương Mãng làm đại tư mã.

Ông ta rất chú ý chiêu mộ nhân tài, một số trí thức mến mộ tên tuổi của ông cũng tìm đến, đều được ông thu nhận.

Sau khi Hán Thành Đế chết, trong không đầy 10 năm, liên tiếp thay đổi hai hoàng đế khác, là Ai Đế và Bình Đế.

Khi Hán Bình Đế lên ngôi, mới có 9 tuổi, mọi việc lớn của triều đình đều do đại tư mã Vương Mãng quyết định.

Một số kẻ nịnh nọt đều nói Vương Mãng là đại công thần có công giữ yên triều Hán, xin Thái hoàng thái hậu phong cho Vương Mãng làm An Hán Công.

Nhưng Vương Mãng nhất định không chịu nhận tước phong và đất phong.

Sau đó, do các đại thần khuyên mãi, Vương Mãng mới chịu nhận tước phong, nhưng trả lại đất phong.

Công nguyên năm thứ 2, Trung nguyên có hạn hán và sâu bọ.

Do trong nhiều năm quí tộc và quan lại không ngừng xâm chiếm đất đai, bóc lột nông dân nặng nề, nên khi có thiên tai, dân chúng không sao sống nổi, xã hội rung động.

Để làm dịu bớt nỗi căm giận của dân chúng đối với triều đình và quan lại, Vương Mãng kiến nghị nhà nước tiết kiệm lương thực và vải vóc, tự mình cũng bỏ ra 100 vạn đồng tiền và 30 khoảnh đất để cứu tế cho dân.

Do ông ta làm gương, một số quí tộc và đại thần cũng phải bỏ tiền và ruộng đất ra.

Thái hoàng thái hậu lấy hơn 2 vạn khoảnh đất ở Tân Dã (nay là Tân Dã, Hà Nam) để thưởng cho Vương Mãng, nhưng Vương Mãng lại từ chối không nhận.

Vương Mãng còn phái 8 đại thần tâm phúc chia nhau đến các địa phương quan sát tình hình và lòng dân.

Họ ra sức loan truyền và ca ngợi việc Vương Mãng không nhận đất thưởng ở Tân Dã, là một hành động rất khiêm tốn, nhường nhịn.

Lúc đó, những địa chủ vừa và nhỏ rất căm giận việc xâm chiếm đất đai của bọn quí tộc, quan lại.

Khi nghe nói Vương Mãng không chịu nhận đất phong thì đều cho rằng ông ta là người tốt hiếm có.

Vương Mãng càng không chịu nhận đất phong thì càng có nhiều người xin Thái hoàng thái hậu phong đất cho ông ta.

Theo nói lại, có tất cả 80 vạn người gồm các đại thần trong triều đình, các quân địa phương và các dân thường dâng thư lên xin gia phong cho Vương Mãng, cộng lại có tất cả 3 vạn chữ.

Thanh danh và uy tín của Vương Mãng ngày càng lên cao.

Khi thấy người khác ngày càng ca ngợi Vương Mãng thì Hán Bình Đế ngày càng lo sợ và căm giận.

Vì Vương Mãng không cho mẹ của Bình Đế ở gần hoàng đế, lại giết hết những người bên họ mẹ nên khi lớn lên, Bình Đế không tránh khỏi có những lời oán thán sau lưng.

Một hôm, các đại thần mừng thọ Bình Đế, Vương Mãng dâng lên một cốc rượu độc.

Hán Bình Đế không nghi ngờ gì, liền uống cạn.

Hôm sau, trong cung truyền tin Hán Bình Đế ốm nặng, và mấy hôm sau thì chết.

Vương Mãng làm bộ kinh hoàng than khóc thảm thiết.

Khi chết, Hán Bình Đế mới 14 tuổi, đương nhiên chưa có con.

Vương Mãng chọn một đứa trẻ 2 tuổi trong hoàng thất họ Lưu làm hoàng thái tử, gọi là Nhũ Tử Anh, Vương Mãng tự xưng là "giả hoàng đế" (giả, có nghĩa: thay mặt).

Một số đại thần văn võ muốn lập công khuyên Vương Mãng lên ngôi hoàng đế.

Vương Mãng cũng cảm thấy làm "giả hoàng đế" không bằng làm hoàng đế thật.

Do đó, một số kẻ xu nịnh đua nhau bịa ra một số hiện tượng mê tín để lừa bịp.

Nào là Vương Mãng là "chân mệnh thiên tử", đã được ghi trong sách; nào là trong miếu Hán Cao Tổ có phát hiện một chiếc hộp đồng có ghi: "Hán Cao Tổ truyền ngôi cho Vương Mãng".

Con người nổi tiếng khiêm nhượng là Vương Mãng bây giờ không khiêm nhượng nữa.

Vương Mãng đòi Thái hoàng thái hậu trao cho mình ngọc tỉ hoàng đế của họ Lưu.

Bấy giờ Thái hoàng thái hậu Vương Chính Quân mới giật nảy mình, không chịu giao ngọc tỉ.

Sau, vì bị ép quá, bà phẫn nộ quăng ngọc tỉ xuống đất.

Năm thứ 8 công nguyên, Vương Mãng chính thức lên ngôi hoàng đế, đổi quốc hiệu là Tân, vẫn đóng đô ở Trường An.

Vương triều Tây Hán bắt đầu từ khi Hán Cao Tổ xưng đế tới lúc đó vừa đúng 210 năm, đã kết thúc như vậy.

Vương Mãng lên ngôi hoàng đế, lấy danh nghĩa "phục cổ cải chế" (thay đổi chế độ theo đời cổ), hạ lệnh thay đổi pháp luật: Một là, coi đất đai trong toàn quốc là "vương điền" (ruộng đất của nhà vua), không cho phép mua bán; hai là, đổi nô tỳ thành "tư thuộc", không cho mua bán; ba là: qui định giá cả, cải cách tiền tệ.

Những cải cách đó, nghe qua có vẻ tốt, nhưng khi tiến hành thì xảy ra nhiều chuyện xấu.

Việc thay đổi chế độ ruộng đất và nô tỳ, ngay từ đầu đã bị bọn quí tộc và quan lại phản đối, không sao thực hiện được.

Việc qui định giá cả lại rơi vào tay bọn quí tộc quan liêu, chúng lợi dụng chức quyền để đầu cơ gây rối và tham nhũng, làm cho đời sống dân chúng càng khốn khổ hơn.

Tiền tệ được cải cách nhiều lần, lần sau lại đúc nhỏ hơn lần trước, nhưng lại mang giá trị lớn hơn, vô hình trung lại vơ vét mất nhiều tài sản nhân dân.

Việc phục cổ cải chế như vậy không những bị nông dân phản đối, mà nhiều địa chủ vừa và nhỏ cũng không ủng hộ.

Sau 3 năm, Vương Mãng lại hạ lệnh cho phép mua bán vương điền và nô tỳ như cũ.

Vương Mãng muốn dùng chiến tranh với bên ngoài để xoa dịu mâu thuẫn trong nước.

Do đó, lại gặp phải sự chống lại của Hung Nô, Tây Vực và các bộ tộc tây nam.

Vương Mãng còn trưng dụng dân phu, tăng thuế má, dung túng cho quan lại hà hiếp dân chúng, tăng nặng hình phạt.

Vì vậy phong trào khởi nghĩa nông dân đã bùng lên để phản kháng.

KHỞI NGHĨA LỤC LÂM, XÍCH MI

Sự bóc lột của Vương Mãng cộng với thiên tai liên tiếp khiến nông dân không còn đường nào khác, phải vùng lên khởi nghĩa.

Ở miền đông và miền nam đều có nhiều nhóm nông dân nổi dậy chống lại quan binh.

Năm 17 công nguyên, vùng Kinh Châu ở miền nam bị nạn đói, dân chúng phải vào rừng và vùng đầm ao đào rễ cây và các thứ củ để ăn chống đói.

Dần dần, những thứ đó trở nên khan hiếm, dân đói phải tranh giành nhau.

Ở Tân Thị (nay ở đông bắc Kinh Sơn, Hồ Bắc) có 2 người uy tín là Vương Khuông và Vương Phượng đứng ra dàn xếp, được nhân dân ủng hộ.

Mọi người bầu họ làm thủ lĩnh.

Vương Khuông và Vương Phượng liền tổ chức dân đói lại, phát động khởi nghĩa.

Họ nhanh chóng tập hợp được mấy trăm người và một số phạm nhân vượt ngục đến tham gia.

Bọn họ chiếm vùng núi Lục Lâm (nay là núi Đại Hồng, Hồ Bắc) làm căn cứ địa, rồi chiếm vùng nông dân phụ cận.

Chỉ trong mấy tháng, nghĩa quân phát triển thành 78 nghìn người.

Vương Mãng cử 2 vạn quân quan đến dẹp quân Lục Lâm, bị đánh cho đại bại phải tháo chạy.

Quân Lục Lâm thừa thế đánh chiếm mấy tòa huyện thành, phá nhà giam, thả tù phạm, phá kho lương thực chia cho người nghèo và vận chuyển lên núi Lục Lâm.

Người nghèo theo về càng đông, quân khởi nghĩa tăng lên hơn 5 vạn.

Năm sau, trên núi Lục Lâm không may có dịch bệnh, số người bị chết vì dịch bệnh lên tới hơn 2 vạn.

Số còn lại đành rời núi Lục Lâm, chia làm 3 cánh quân là: Tân Thị binh, Bình Lâm (nay ở đông bắc huyện Tùng, Hồ Bắc) binh và Hạ Giang (tên gọi đoạn sông Trường Giang từ phía tây Hồ Bắc trở xuống) binh.

Ba cánh quân đều chiếm địa bàn riêng, đội ngũ lại lớn mạnh lên.

Trong khi ở miền nam, quân Lục Lâm đánh lại quân quan ở vùng Kinh Châu, thì ở miền đông quân khởi nghĩa cũng phát triển.

Ở Hải Khúc, Lang Nha (nay thuộc huyện Nhật Chiếu, Sơn Đông), có một bà già họ Lã có con trai là công sai trong huyện, vì không chịu đánh đập người nghèo không đủ tiền nộp thuế theo lệnh quan, nên bị quan huyện giết.

Việc đó gây nên căm phẫn, có hơn 100 nông dân nghèo vùng lên báo thù cho Lã mẫu, giết quan huyện rồi cùng Lã mẫu trốn đến Hoàng Hải, có dịp là lên bờ đánh bại quan quân.

Lúc đó, một lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa khác là Phàn Sùng dẫn mấy trăm người đến núi Thái Sơn.

Sau khi Lã mẫu chết, thủ hạ của bà đi theo quân khởi nghĩa Phàn Sùng.

Không đầy một năm, đội ngũ tăng thêm hơn một vạn, di chuyển trong vùng Thanh Châu-Từ Châu, đánh lại bọn quan lại, địa chủ.

Quân khởi nghĩa Phàn Sùng có kỷ luật rất nghiêm, qui định kẻ nào giết hại dân chúng sẽ bị xử tử; kẻ nào làm hại dân chúng bị xử tội.

Vì vậy, họ được dân chúng nhiệt liệt ủng hộ.

Năm 21 công nguyên, Vương Mãng phái thái sư Vương Khuông (trùng tên với Vương Khuông, lãnh tụ quân Lục Lâm) cùng tướng Liêm Đan đem 10 vạn quân trấn áp quân khởi nghĩa Phàn Sùng.

Phàn Sùng đã chuẩn bị đầy đủ, tiến hành đại chiến với quân Vương Mãng.

Để tránh lầm lẫn khi giao chiến, Phàn Sùng hạ lệnh cho quân mình tô màu đỏ lên lông mày, để dễ phân biệt.

Do đó, quân khởi nghĩa Phàn Sùng có biệt danh là "quân Xích Mi" (xích: màu đỏ; mi: lông mày).

Trong trận đại chiến đó, quân Vương Mãng đại bại, chạy trốn quá nửa.

Thái sư Vương Khuông bị Phàn Sùng đâm một thương trúng đùi, được quân cứu chạy thoát; còn tướng Liêm Đan bị giết trong đám loạn quân.

Quân Xích Mi càng đánh càng mạnh, phát triển tới hơn 10 vạn người.

Tin tức về quân khởi nghĩa Lục Lâm và Xích Mi đánh bại quân Vương Mãng ở miền đông và miền nam lan truyền đi khắp nơi, nông dân các địa phương khác cũng rục rịch hưởng ứng.

Trên vùng bình nguyên bao la hai bên bờ Hoàng Hà có mấy chục cánh quân khởi nghĩa với qui mô khác nhau.

Một số quí tộc, địa chủ, cường hào sa sút cũng nhân cơ hội khởi binh chống lại Vương Mãng.

Ở Thung Lăng thuộc quận Nam Dương (nay ở phía bắc Ninh Viễn, Hồ Nam) có hai anh em cường hào là Lưu Dần và Lưu Tú, vốn oán giận trước việc bị Vương Mãng tước bỏ phong hiệu tông thất triều Hán, không cho người họ Lưu làm quan, liền phát động người trong họ và tân khách được bảy tám ngàn người khởi binh ở Thung Lăng.

Họ liên hợp với 3 cánh quân khởi nghĩa nông dân Lục Lâm, liên tiếp đánh bại mấy danh tướng của Vương Mãng, nên thanh thế rất lừng lẫy.

Mấy cánh quân khởi nghĩa Lục Lâm không có sự chỉ huy thống nhất.

Các tướng sĩ cho rằng binh mà đông đảo thì cần có một thủ lĩnh mới có thể thống nhất hiệu lệnh.

Một số tướng lĩnh xuất thân quí tộc, lợi dụng quan niệm chính thống còn tồn tại trong số đông, đề xuất ý kiến phải chọn một người họ Lưu làm thủ lĩnh thì mới phù hợp lòng người.

Trong quân Lục Lâm có rất nhiều người họ Lưu, biết chọn ai là thủ lĩnh?

Quân Thung Lăng muốn đề cử Lưu Dần nhưng quân Tân Thị và quân Bình Lâm thấy Lưu Dần thế lực quá lớn, muốn chọn một quí tộc sa sút là Lưu Huyền lên làm hoàng đế.

Lưu Dần lại nêu ý kiến là nên đợi tới lúc tiêu diệt xong Vương Mãng và thu phục được quân Xích Mi rồi hãy lập hoàng đế.

Ý kiến này bị phản đối.

Lưu Dần thấy lực lượng của mình chưa đủ, đánh đồng ý lập Lưu Huyền.

Năm 23 công nguyên, tướng sĩ các cánh quân Lục Lâm chính thức tôn Lưu Huyền lên làm hoàng đế, khôi phục quốc hiệu triều Hán, lấy niên hiệu là "Canh Thủy", nên Lưu Huyền cũng được gọi là Canh Thủy Đế.

Canh Thủy Đế phong Vương Khuông, Vương Phượng làm thượng công; Lưu Dần làm đại tư đồ; Lưu Tú là thái thượng thiên tướng quân.

Những tướng lĩnh khác cũng đều được phong chức.

Tới lúc đó, quân Lục Lâm còn gọi là Hán quân.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
75-76


ĐẠI CHIẾN CÔN DƯƠNG

Sau khi Canh Thủy Đế Lưu Huyền lên ngôi, liền phái Vương Phượng, Vương Thường, Lưu Tú đem quân đánh Côn Dương (nay là huyện Diệp, Hà Nam).

Họ nhanh chóng chiếm được Côn Dương, sau đó lại chiếm được Yên Thành (nay là huyện Yên Thành, Hà Nam) và Định Lăng (nay ở tây bắc huyện Yên Thành, Hà Nam) ở gần đó.

Vương Mãng nghe tin quân khởi nghĩa đã lập Lưu Huyền lên làm hoàng đế đã rất lo lắng, nay nghe tin mất liền mấy tòa thành lại càng sợ hãi, vội phái hai đại tướng Vương Tầm, Vương Ấp dẫn 43 vạn quân xuất phát từ Lạc Dương tiến thẳng tới Côn Dương.

Để hư trương thanh thế, quân Vương Mãng không biết kiếm từ đâu được một người rất to lớn, tên là Cự Vô Bá.

Cự Vô Bá có thân hình đặc biệt cao, lại to khỏe như một con bò mộng.

Anh ta còn có tài huấn luyện thú dữ như hổ, báo, tê giác, voi.

Vương Mãng phong anh ta làm hiệu úy, sai anh ta dẫn đám mãnh thú ra trận trợ uy.

Hán quân giữ Côn Dương chỉ có tám, chín ngàn người.

Có tướng lĩnh đứng trên thành quan sát, thấy quân Vương Mãng đông như thế, sợ không đối phó nổi, chủ trương bỏ Côn Dương, lui về cứ điểm cũ.

Lưu Tú nói với mọi người: "Hiện nay binh mã và lương thảo của chúng ta đều thiếu thốn, chỉ dựa vào sự đồng tâm hiệp lực để đánh địch.

Nếu mọi người rời rã để Côn Dương thất thủ thì các cánh Hán quân khác cũng bị tiêu diệt, sự nghiệp của chúng ta sẽ thất bại".

Mọi người thấy Lưu Tú nói có lý nhưng lại thấy lực lượng quân Vương Mãng quá mạnh, tử thủ Côn Dương cũng không phải là biện pháp hay.

Sau khi bàn bạc, liền để Vương Phượng, Vương Thường giữ Côn Dương, Lưu Tú đem một số binh mã phá vây, chạy về Định Lăng và Yên Thành để điều cứu binh tới.

Đêm đó, Lưu Tú đem theo 12 dũng sĩ cưỡi ngựa tốt, lợi dụng đêm tối xông ra khỏi cửa nam thành Côn Dương.

Quân Vương Mãng không phòng bị, để họ thoát khỏi vòng vây.

Thành Côn Dương tuy không lớn nhưng rất kiên cố.

Quân Vương Mãng tưởng rằng có nhiều binh lính và vũ khí, sẽ dễ dàng hạ thành.

Họ chế tạo các lâu xa cao 10 trượng (= 33m), từ trên đó bắn tên vào thành như mưa.

Người trong thành ra giếng lấy nước đều phải mang mộc che tên.

Quân Vương Mãng còn dùng xe chở gỗ húc cửa thành và đào đường hầm toan xuyên dưới chân thành.

Nhưng Hán quân dùng mọi biện pháp hữu hiệu để chống lại, nên thành vẫn được giữ vững.

Lưu Tú đến Định Lăng, toan điều toàn bộ binh mã ở Định Lăng và Yên Thành đi cứu Côn Dương.

Nhưng một số tướng lĩnh Hán quân tham tiếc của cải, không chịu rời hai tòa thành trên.

Lưu Tú khuyên họ: "Ta nên tập trung mọi lực lượng ở đây đến cứu Côn Dương để đánh bại địch, hoàn thành sự nghiệp lớn.

Nếu cứ tử thủ ở đây, địch đánh xong Côn Dương, sẽ đánh tới đây, chúng ta không giữ được, thì ngay tính mạng cũng không còn, chứ đừng nói tới của cải nữa".

Các tướng lĩnh được thuyết phục, liền đem toàn bộ binh mã theo Lưu Tú đến Côn Dương.

Lưu Tú thân tự dẫn hơn 1000 bộ binh và kỵ binh, tổ chức thành đội quân tiên phong tiến tới Côn Dương bày thành thế trận cách Côn Dương khoảng 4, 5 dặm.

Vương Tầm, Vương Ấp thấy số lượng quân Hán ít ỏi, chỉ phái mấy ngàn binh sĩ đối phó.

Nhân lúc quân địch chưa dàn xong trận thế, Lưu Tú tranh thủ tiến công trước, thân dẫn bộ đội tiên phong xông lên, giết được mấy chục lính địch.

Đại đội binh mã cứu viện vừa tới kịp, thấy đội quân tiên phong của Lưu Tú đang chiến đấu dũng mãnh, cũng hăng hái nhất tề xông vào chiến đấu.

Vương Tầm, Vương Ấp buộc phải lui quân.

Hán quân thừa thắng tràn sang, càng đánh càng mạnh, một người có sức địch lại mười kẻ địch.

Quân cảm tử do Lưu Tú chỉ huy có 3000 người, xông thẳng vào đội quân chủ lực của Vương Mãng.

Vương Tầm thấy Hán quân ít ỏi, có ý coi thường, đưa một vạn quân ra toan đè bẹp, nhưng không ngờ một vạn quân vẫn không nổi 3000 quân cảm tử của Lưu Tú.

Sau một thời gian giao chiến, quân đội của Vương Tầm bắt đầu rối loạn.

Hán quân càng đánh càng hăng, nhằm thẳng phía Vương Tầm xông tới, giết được Vương Tầm.

Vương Phượng, Vương Thường chỉ huy quân Hán trong thành Côn Dương, thấy quân cứu viện đánh thắng, liền mở cửa thành xông ra, đánh ép lại, tiếng hô "giết" vang trời dậy đất.

Quân Vương Mãng nghe nói chủ tướng bị giết, thì tất cả hoảng loạn, dẫm đạp lên nhau trốn chạy.

Suốt dọc đường hơn 100 dặm, phơi đầy thi thể quân Vương Mãng.

Lúc đó, trời bỗng tối sầm, sấm sét vang rền, gió thổi mạnh rồi mưa như trút xuống.

Đàn mãnh thú do Cự Vô Bá đưa ra trợ chiến cũng run rẩy sợ hãi, không những không xông lên, mà lại quay đầu xông bừa vào đám quân Vương Mãng.

Quân Hán bám sát truy đuổi, khiến quân Vương Mãng như nước trào ra sau cơn đê vỡ, chạy về phía Trĩ Thủy (nay là Sa Hà, ở Lỗ Sơn, Hà Nam), hàng ngàn hàng vạn quân chết đuối trên sông Trĩ Thủy, hầu như làm ứ tắc cả dòng sông.

Khi viên đại tướng còn lại là Vương Ấp chạy về tới Lạc Dương thì 43 vạn đại quân Vương Mãng chỉ còn lại mấy ngàn.

Hán quân thu dọn chiến trường ngổn ngang thi thể, binh khí, khôi giáp, xe cộ, lương thảo của quân Vương Mãng.

Việc thu dọn phải làm hơn một tháng, những thứ còn lại phải châm lửa thiêu hủy.

Tin tức về trận đánh tiêu diệt quân chủ lực Vương Mãng ở Côn Dương lan truyền đi khắp nước, đã động viên dân chúng các địa phương nổi dậy hưởng ứng quân khởi nghĩa.

Nhiều nơi tự động giết quan lại ở địa phương, chờ đợi quân khởi nghĩa tới.

Canh Thủy Đế phái đại tướng Thân Đỗ Kiến và Lý Tùng dẫn Hán quân thừa thắng tiến công Trường An.

Vương Mãng cuống cuồng sợ hãi, vội tha các tù phạm trong ngục ra, tổ chức chắp vá một đội quân phòng giữ.

Nhưng một đội quân như thế làm sao có thể chiến đấu vì Vương Mãng?

Vừa tiếp xúc với Hán quân, họ đã lần lượt tan chạy.

Không lâu sau, Hán quân tiến công vào Trường An, nhân dân trong thành sôi nổi hưởng ứng, phóng hỏa đốt cháy cửa lớn cung Vị Ương.

Mọi người lớn tiếng đòi Vương Mãng ra đầu hàng.

Vương Mãng hoảng hốt, dẫn một số tùy tùng chạy vào Tiệm Đài là một tòa lầu xung quanh là nước, lửa không cháy tới được.

Hán quân vây chặt Tiệm Đài, đợi cho quân trên đó bắn hết tên mới xông lên, giết chết Vương Mãng.

Triều Tân của Vương Mãng tồn tại được 15 năm, cuối cùng sụp đổ trước cuộc khởi nghĩa nông dân.

LƯU TÚ DỰNG LẠI VƯƠNG TRIỀU HÁN

Sau đại chiến Côn Dương, tiếng tăm của anh em Lưu Dần, Lưu Tú càng lớn.

Có người khuyên Canh Thủy Đế trừ bỏ Lưu Dần, Canh Thủy Đế liền mượn cớ Lưu Dần chống lệnh, xử tội chết.

Lưu Tú nghe tin anh bị giết, biết lực lượng mình chưa địch nổi Canh Thủy Đế liền đến ngay Uyển Thành (nay là thành phố Nam Dương, Hà Nam) gặp Canh Thủy Đế tạ tội.

Có người hỏi Lưu Tú về trận Côn Dương, ông khôn khéo không nhận công về mình mà nói đó đều là công lao của tướng sĩ.

Ông cũng không dám để tang anh mà vẫn vui vẻ cười nói bình thường, không để lộ tình cảm xót thương, oán giận.

Canh Thủy Đế cho rằng Lưu Tú không hận thù mình, lại cảm thấy không nỡ trị tội, còn phong Lưu Tú làm Phá Lỗ đại tướng quân nhưng cuối cùng vẫn không trọng dụng.

Sau này khi hạ được Trường An về giết được Vương Mãng, Canh Thủy Đế về Lạc Dương mới giao cho Lưu Tú một ít binh mã, sai đi chiêu dụ các quận huyện Hà Bắc.

Lúc đó, cường hào quí tộc các nơi có vũ khí, kẻ tự xưng làm tướng, kẻ tự xưng làm vương, còn có kẻ tự xưng hoàng đế, đua nhau cát cứ.

Canh Thủy Đế cử Lưu Tú đi Hà Bắc lại chính là tạo cơ hội cho Lưu Tú mở rộng thế lực.

Ông phá bỏ mọi luật lệ hà khắc thời Vương Mãng, tha cho các tù phạm, một mặt tiêu diệt các thế lực cát cứ, một mặt trấn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân ở vùng Hà Bắc.

Toàn bộ vùng Hà Bắc hầu như bị Lưu Tú chiếm lĩnh.

Năm 25 công nguyên, Lưu Tú và các thủ hạ thấy thời cơ đã chín muồi, liền tự xưng làm hoàng đế ở đất Hào (nay ở phía bắc huyện Bách Hương, Hà Bắc).

Đó là Hán Quang Quang Vũ Đế.

Canh Thủy Đế lúc đầu đóng đô ở Lạc Dương, sau lại chuyển về Trường An.

Sau khi về Trường An, ông ta cho rằng giang sơn đã nằm trong tay, liền bắt đầu cuộc sống hủ bại.

Ông lạm phong quan tước, không hề chăm lo đến chính sự, suốt ngày uống rượu vui chơi trong hoàng cung, còn dung túng binh lính hoành hành cướp bóc.

Số tướng lĩnh của quân Lục Lâm cũ rất bất mãn với Canh Thủy Đế.

Phàn Sùng, thủ lĩnh quân Xích Mi thấy Canh Thủy Đế như vậy, liền dẫn 20 vạn quân tiến công Trường An, Canh Thủy Đế đem quân chống lại, liên tiếp bị đánh bại, vô cùng sợ hãi.

Một số tướng lĩnh quân Lục Lâm khuyên Canh Thủy Đế rời Trường An, lại bị Canh Thủy Đế ngờ vực, giết hại.

Một số tướng lĩnh khởi nghĩa chạy theo quân Xích Mi.

Nội bộ lực lượng Canh Thủy Đế rối loạn, quân Xích Mi liền dễ dàng đánh vào Hàm Cốc quan.

Quân Xích Mi quyết định phế bỏ Canh Thủy Đế.

Nhưng Phàn Sùng và những người lãnh đạo vẫn chưa thoát khỏi quan niệm chính thống của quí tộc cũ triều Hán, cố tìm một người họ Lưu để tôn làm hoàng đế.

Lúc đó, trong quân Xích Mi có tất cả hơn 70 người họ Lưu, trong đó có một cậu chăn bò 15 tuổi tên là Lưu Bồn Tử, nghe nói có huyết thống gần gũi nhất với hoàng tộc Tây Hán.

Thế là họ lập Lưu Bồn Tử lên làm hoàng đế.

Quân Xích Mi đánh vào Trường An, Canh Thủy Đế chạy ra ngoài thành.

Phàn Sùng phái sứ giả đến gặp Canh Thủy Đế, yêu cầu phải đầu hàng trong kỳ hạn 20 ngày.

Canh Thủy Đế cùng đường, đành phải đem ngọc tỉ đến đầu hàng quân Xích Mi.

Quân Xích Mi tiến vào Trường An, thanh thế lừng lẫy.

Nhưng mấy chục vạn quân không có nguồn cung cấp lương thực.

Bọn phú thương và địa chủ nhân cơ hội đầu cơ tích trữ, thành Trường An hôm nào cũng có người chết đói.

Cứ như vậy, tình hình hỗn loạn ở Trường An không có cách nào dẹp yên được.

Phàn Sùng dẫn quân rời Trường An đi sang hướng tây, nhưng ở hướng này cũng không giải quyết được khó khăn về lương thực.

Đến Thiên Thủy (tên quận, nay ở Cam Túc), lại bị bọn địa chủ cường hào địa phương chặn đánh, Phàn Sùng lại phải dẫn quân sang hướng đông.

Hán Quang Vũ Đế Lưu Tú nhân lúc Xích Mi vào Trường An liền chiếm lấy Lạc Dương.

Nghe tin quân Xích Mi chuyển sang phía đông, liền dẫn 20 vạn đại quân chia làm 2 cánh mai phục chờ đợi.

Quang Vũ Đế phái đại tướng Phùng Dị đến Hoa Âm nhử quân Xích Mi sang phía đông.

Phùng Dị dùng kế bao vây một đội quân Xích Mi ở dưới núi Hào Sơn.

Ông đưa chiến thư, hẹn quân Xích Mi quyết chiến với thời gian và địa điểm đã định.

Phàn Sùng thật thà, không hiểu rõ mưu kế của đối phương, nên phái hơn một vạn quân Xích Mi tiến công.

Phùng Dị cử một số ít quân đối địch.

Quân Xích Mi thấy Hán binh ít ỏi nên đem toàn quân tiến đánh.

Không ngờ, phục binh đổ ra, ăn mặc và tô vẽ giống như quân Xích Mi, hai bên hỗn chiến không phân biệt nổi ai là quân lính của bên nào.

Quân Xích Mi đang bối rối thì số Hán binh giả trang làm quân Xích Mi hô lớn: "Đầu hàng!

Đầu hàng!".

Binh sĩ Xích Mi thấy nhiều người bên mình kêu đầu hàng như vậy thì hoang mang nao núng.

Toàn bộ cánh quân đó bị tước vũ khí.

Tháng giêng năm 27 công nguyên, Phàn Sùng dẫn số quân Xích Mi còn lại di chuyển về Nghi Dương (nay là huyện Nghi Dương, Hà Nam).

Phùng Dị sai người báo cáo hỏa tốc cho Quang Vũ Đế.

Quang Vũ Đế thân dẫn 2 cánh quân đã chuẩn bị sẵn đánh chặn, vây chặt quân Xích Mi lại.

Đến bước này, Phàn Sùng đành phái người đến gặp Quang Vũ Đế xin hòa.

Hán Quang Vũ Đế dẫn Lưu Bồn Tử và hàng binh Xích Mi về Lạc Dương, phân cho nhà cửa đất đai và giữ họ ở Lạc Dương.

Nhưng chỉ mấy tháng sau, liền ghép Phàn Sùng vào tội mưu phản và sát hại.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
77-78


VIÊN LẠC DƯƠNG LỆNH CỨNG CỔ

Sau khi Hán Quang Vũ Đế trấn áp xong 2 đội quân khởi nghĩa nông dân lớn là Lục Lâm, Xích Mi lại tiến hành trấn áp hai thế lực cát cứ lớn ở Lũng Hữu và Thục, thống nhất lại Trung Quốc.

Hán Quang Vũ Đế đóng đô ở Lạc Dương.

Để phân biệt với triều Hán do Lưu Bang sáng lập đóng đô ở Trường An gọi là Tây Hán, lịch sử gọi vương triều này là Đông Hán hoặc Hậu Hán.

Sau khi lập vương triều Đông Hán, Hán Quang Vũ Đế biết rằng dân chúng rất chán ghét các cuộc chiến tranh giành giật đất đai giữa các địa chủ cường hào các địa phương; vì vậy ông đã vận dụng chính sách vỗ về dân chúng như giảm nhẹ tô thuế, giải phóng nô tỳ, giảm bớt quan lại và mấy lần hạ lệnh đại xá thiên hạ.

Do đó, đầu thời Đông Hán, kinh tế được khôi phục và phát triển.

Quang Vũ Đế biết rằng chinh phục thiên hạ cần dựa vào vũ lực, nhưng cai trị thiên hạ lại phải dựa vào pháp luật.

Nhưng pháp luật chỉ có hiệu lực với dân chúng, còn đối với hoàng thân quốc thích thì vẫn không phát huy được tác dụng.

Thí dụ Quang Vũ Đế có người chị cả là Hồ Dương công chúa, thường cậy thế có em là hoàng đế để làm mọi chuyện ngang ngược.

Ngay đến bọn tay sai của bà cũng không coi pháp luật của triều đình ra gì.

Quan lệnh Lạc Dương Đổng Tuyên là một người cứng cỏi.

Ông cho rằng hoàng thân quốc thích mà phạm pháp thì cũng phải chịu tội như mọi người.

Hồ Dương công chúa có một tên gia nô cậy thế hành hung, giết người.

Hung thủ trốn trong phủ công chúa, Đổng Tuyên không thể vào khám xét trong phủ công chúa, nên ông cử người hàng ngày chờ ngoài cổng phủ để đón bắt.

Một hôm, Hồ Dương công chúa ngồi xe đi ra ngoài, có tên hung thủ đó đi cùng.

Đổng Tuyên được tin, liền dẫn nha dịch tới ngăn xe công chúa lại.

Hồ Dương công chúa cho rằng ông đã xúc phạm tới mình, liền sầm mặt mắng: "Tên Lạc Dương lệnh này to gan thật!

Dám ngăn trở xe của ta sao?"

Đổng Tuyên không hề sợ hãi, rút bảo kiếm ra vạch ngang dưới đất, thẳng thắn quở trách Hồ Dương công chúa dung túng gia nô phạm pháp giết người.

Ông không đếm xỉa đến sự ngăn cản của công chúa, sai nha dịch bắt ngay hung thủ, xử tử tại chỗ.

Hành động đó khiến Hồ Dương công chúa tức uất người.

Bà vào cung, khóc lóc kể với Quang Vũ Đế việc Đổng Tuyên ức hiếp mình.

Quang Vũ Đế nổi giận, lập tức cho gọi Đổng Tuyên vào cung, ra lệnh cho nội thị đánh Đổng Tuyên trước mặt Hồ Dương công chúa để bà hả giận.

Đổng Tuyên nói: "Xin bệ hạ hãy khoan đánh hạ thần, để hạ thần nói xong, sẽ xin tình nguyện được chết".

Hán Quang Vũ Đế nổi giận đùng đùng nói: "Ngươi còn có gì để nói nữa?"

Đổng Tuyên nói: "Bệ hạ là một hoàng đế trung hưng, cần phải tôn trọng pháp lệnh do chính hoàng đế ban ra.

Nay bệ hạ lại để công chúa dung túng nô bộc giết người, thì làm sao cai trị thiên hạ được?

Bệ hạ không cần phải đánh, thần xin tự sát trước mặt bệ hạ".

Nói xong, ông đứng dậy lao đầu vào cột

Hán Quang Vũ Đế vội bảo nội thị giữ ông lại, thì Đổng Tuyên đã toạc đầu, máu chảy đầm đìa.

Hán Vũ Đế thấy Đổng Tuyên nói đúng, và tự thấy đáng ra không nên trách phạt ông.

Nhưng để giữ thể diện cho Hồ Dương công chúa, Quang Vũ Đế yêu cầu ông dập đầu lạy xin lỗi công chúa.

Đổng Tuyên thà chết chứ nhất định không chịu khấu đầu.

Nội thị ấn đầu ông xuống đất, ông chống hai tay, vươn cổ lên, cố sức không để đầu chạm đất.

Nội thị biết Quang Vũ Đế cũng không muốn trị tội ông, nhưng để mở lối thoát cho Quang Vũ Đế, liền nói lớn: "Muôn tâu bệ hạ, cổ Đổng Tuyên rất cứng, không sao ấn xuống được".

Quang Vũ Đế đành cười, ra lệnh: "Dẫn anh chàng cứng cổ này ra ngoài".

Hồ Dương công chúa thấy Quang Vũ Đế tha Đổng Tuyên thì rất tức giận nói: "Khi bệ hạ còn là bình dân, còn dám lưu giữ những tội nhân phạm tử tội trốn trong nhà mình, không cho quan lại vào khám xét.

Nay đã làm thiên tử, tại sao lại không trừng trị được một tên quan nhỏ như Lạc Dương lệnh".

Hán Vũ Đế nói: "Chính vì bây giờ em đã là thiên tử nên không thể hành động như lúc còn là bình dân nữa".

Cuối cùng, Quang Vũ Đế không những không trị tội Đổng Tuyên, mà còn thưởng cho ông ta 30 vạn đồng tiền vì đã chấp hành pháp luật nghiêm minh.

Đổng Tuyên về đến dinh quan, liền đem toàn bộ số tiền đó chia cho cấp dưới.

Sau đó, Đổng Tuyên tiếp tục trừng trị các hành động phi pháp của bọn hào môn quí tộc.

Các thổ hào ở Lạc Dương nghe đến tên Đổng Tuyên là sợ phát run.

Người đời gọi ông là "ngọa hổ" (con hổ nằm).

Khi đó những quan cai trị giữ nghiêm pháp luật, ngoài Đổng Tuyên còn có nhiều người khác, điển hình là một viên quan nhỏ giữ cổng thành Lạc Dương, tên là Chất Uẩn.

Có lần, Hán Quang Vũ Đế mang theo một số người ra ngoài thành Lạc Dương đi săn.

Khi trở về, trời đã tối.

Xa giá hoàng đế về tới cửa đông thì cổng thành đã đóng.

Quan thị vệ tùy tòng gọi người giữ thành mở cổng, nhưng Chất Uẩn cự tuyệt.

Hán Quang Vũ Đế thân tới cửa thành gọi bảo Chất Uẩn mở cửa.

Không ngờ, Chất Uẩn trả lời: "Ban đêm nhìn không rõ, không thể tùy tiện mở cổng".

Hán Quang Vũ Đế không biết làm thế nào, đành vòng xe sang cổng khác, vào thành.

Hôm sau, Hán Quang Vũ Đế đang định gọi Chất Uẩn vào trách mắng thì không ngờ đã nhận được sớ tấu của Chất Uẩn dâng lên.

Sớ tấu viết: "Bệ hạ đi săn vào vùng rừng núi xa xôi, ban ngày còn chưa đủ, mãi tới đêm khuya mới về.

Cứ như vậy thì làm sao giải quyết được quốc gia đại sự?".

Hán Quang Vũ Đế xem sớ tấu, liền thưởng cho Chất Uẩn 100 tấm vải và giáng chức viên quan đã mở cổng cho vào.

LẤY KINH, RƯỚC TƯỢNG PHẬT

Năm 63 tuổi, Hán Quang Vũ Đế bị bệnh mất.

Thái tử Lưu Trang nối ngôi, tức là Hán Minh Đế.

Có lần, Hán Minh Đế nằm mơ, thấy có một người vàng, trên đầu có đội một đạo hào quang sáng chói, bay vòng xung quanh điện rồi bỗng bay thẳng lên không về phía tây.

Hôm sau, hoàng đế kể lại giấc mơ đó cho các đại thần, nhiều đại thần không nói được rõ người vàng tỏa hào quang đó là ai.

Chỉ có bác sĩ Phó Nghị nói: "Thiên Trúc có một vị thần được gọi là Phật, người vàng mà bệ hạ nằm mơ thấy đúng là Phật ở Thiên Trúc".

Thiên Trúc mà Phó Nghị nói còn gọi là Thận Độc, nơi xuất sinh của Thích Ca Mâu Ni, người sáng lập ra Phật giáo (Thiên Trúc là tên gọi nước Ấn Độ thời cổ, Thích Ca Mâu Ni sinh ở nước Ấn Độ thời cổ, nay thuộc Nepan).

Thích Ca Mâu Ni sinh khoảng năm 565 TCN, vốn là một vương tử.

Truyền thuyết nói vào năm 29 tuổi, Thích Ca Mâu Ni vứt bỏ đời sống vương giả, xuất gia tu đạo.

Ông sáng lập ra tôn giáo gọi là Phật giáo.

Thích Ca Mâu Ni tuyên truyền giáo lý phật giáo khắp nơi.

Ông truyền giáo trong 43 năm, thu nạp rất nhiều môn đồ.

Mọi người tôn xưng ông là Phật Đà.

Sau khi ông mất, các đệ tử ghi chép lại học thuyết của ông, soạn thành kinh.

Đó tức là Kinh Phật.

Lời của Phó Nghị đã khêu gợi tâm lý hiếu kì của Hán Minh Đế.

Ông liền phái hai viên quan là Thái Âm và Thái Cảnh đến Thiên Trúc xin Kinh Phật.

Thái Âm và Thái Cảnh vất vả lặn lội qua trăm núi ngàn sông, cuối cùng đã tới được nước Thiên Trúc.

Người Thiên Trúc nghe nói sứ giả Trung Quốc đến xin Kinh phật thì rất hoan nghênh.

Thiên Trúc có 2 sa môn (chức sắc cao cấp của phật giáo), một người tên là Nhiếp Ma Đằng, một người tên là Trúc Pháp Lan, đã giúp Thái Âm và Thái Cảnh hiểu được ý nghĩa của kinh phật.

Thái Âm và Thái Cảnh liền mời họ sang thăm Trung Quốc.

Năm 67 công nguyên, Thái Âm và Thái Cảnh dẫn 2 sa môn, dùng ngựa trắng thồ một tượng phật và 42 chương kinh phật đi qua Tây Vực về Lạc Dương.

Hán Minh Đế không rõ kinh phật và cũng không hiểu đạo lý phật giáo, nhưng vẫn đối đãi hết sức tôn kính với 2 vị sa môn đưa kinh phật đến giảng.

Năm sau ông hạ lệnh xây một ngôi chùa ở phía tây thành Lạc Dương theo đúng kiểu cách ở Thiên Trúc và nuôi con bạch mã thồ kinh ở đấy.

Ngôi chùa đó vì vậy có tên là Bạch Mã tự (nay ở phía tây thành phố Lạc Dương).

Hán Minh Đế không hiểu kinh phật, Vương Công đại thần cũng không tin phật giáo, nên người đến thắp hương cúng lễ ở Bạch Mã tự cũng không đông.

Riêng Sở Vương Lưu Anh là hết sức coi trọng, đặc biệt phái người đến Lạc Dương để thỉnh giáo 2 vị sa môn.

Hai vị sa môn liền họa một bức tượng phật và chép một bài kinh phật trao cho đem về.

Ảnh phật và Kinh phật được đem về đặt trong phòng của Sở vương.

Sở vương Lưu Anh liền treo tượng phật trong cung để sớm chiều lễ bái.

Sở vương Lưu Anh là người có dã tâm.

Ông ta mượn danh nghĩa tín ngưỡng phật giáo để kết giao với các phương sĩ và dùng mọi thủ đoạn mê tín để lừa người.

Năm 70 công nguyên, có người cáo giác với Hán Minh Đế, nói Sở vương Lưu Anh tụ tập bè đảng, tự đặt ra quan chức, muốn làm phản.

Hán Minh Đế liền cử người điều tra, thấy đúng có những dấu hiệu mưu phản, liền tước bỏ vương vị của Sở vương, đày ông ta tới Đan Dương.

Lưu Anh đến đó biết tội của mình liền tự sát.

Hán Minh Đế còn tra xét những người có quan hệ với Lưu Anh.

Sở vương Lưu Anh trước đó đã đưa tất cả những người có tiếng tăm trong nước vào một danh sách.

Khi phát hiện danh sách, triều đình liền chiếu theo đó bắt tất cả mọi người được ghi tên, làm rất nhiều người bị liên lụy.

Việc đó kéo dài hơn một năm, khiến nhiều người chết.

Sau đó, một đại thần tâu với Hán MInh Đế rằng đại đa số người bị bắt là oan uổng.

Hán Minh Đế tự mình tra hỏi quả nhiên phát hiện trong nhà ngục Lạc Dương đang giam giữ hơn 1000 người vô tội, liền hạ chiếu thư xá miễn cho tất cả.

Hán Minh Đế tuy cử người đi xin kinh phật và tượng phật, nhưng không tin theo phật giáo mà đề xướng học thuyết Nho gia.

Ông còn thân đến nhà Thái học (trường đại học thời cổ) để giảng kinh sách (sách kinh điển của Nho gia).

Theo nói lại, có tới hàng chục vạn người tới xem và nghe giảng.
 
Back
Top Bottom