Cập nhật mới

Khác LỊCH SỬ TRUNG QUỐC 5000 NĂM

Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
79-80


BAN SIÊU NÉM BÚT TÒNG QUÂN

Sau khi Hán Quang Vũ Đế xây dựng vương triều Đông Hán, liền mời một đại học giả là Ban Bưu chỉnh lý lịch sử thời Tây Hán.

Ban Bưu có hai con trai là Ban Cố và Ban Siêu, một con gái là Ban Chiêu, từ nhỏ đều theo học văn học và lịch sử với cha.

Sau khi Ban Bưu mất, Hán MInh Đế phong Ban Cố làm Lan Đài lệnh sử, tiếp tục biên soạn bộ sử mà cha ông đang làm dở.

Đó là bộ Hán Thư (ghi chép lịch sử thời Tây Hán).

Ban Siêu theo anh, làm công việc ghi chép.

Hai anh em đều có học vấn, nhưng tính tình và hoài bão khác nhau.

Ban Cố thích nghiên cứu học thuyết của Bách gia, dốc lòng chăm chú vào việc viết bộ Hán thư, còn Ban Siêu lại không thích việc suốt đời cắm cúi bên bàn viết.

Ông nghe nói Hung Nô thường quấy nhiễu biên cương, cướp bóc tài sản và gia súc, bắt người đem lên phía bắc, thì nổi giận quăng bút nói: "Đại trượng phu cần phải như Trương Khiên, đi lập công ngoài biên giới, chứ sao lại suốt đời ru rú trong thư phòng".

Thế là ông vứt bỏ mọi công việc trên bàn viết, quyết tâm xin đi tòng quân.

Năm 73 công nguyên, đại tướng quân Đậu Cố đem quân đánh Hung Nô, Ban Siêu xin đi theo, làm đại lý tư mã, lập được chiến công.

Để chống lại Hung Nô, Đậu Cố muốn vận dụng biện pháp của Hán Vũ Đế, cử người đi liên lạc với các nước Tây Vực.

Ban Siêu dẫn sứ đoàn 36 người, trước hết đến Thiện Thiện (nay thuộc Tân Cương).

Thiện Thiện vốn trước vẫn qui phục Hung Nô, vì Hung Nô buộc họ tiến cống và nộp thuế quá nặng nên quốc vương Thiện Thiện rất oán ghét.

Nhưng mấy chục năm gần đây, triều Hán không với được tới Thiện Thiện, nên ông ta vẫn phải miễn cưỡng nghe lệnh Hung Nô.

Lần này thấy sứ giả triều Hán tới, ông liền tiếp đãi hết sức ân cần.

Mấy ngày sau, Ban Siêu phát hiện thấy quốc vương Thiện Thiện bỗng đối đãi lạnh nhạt hẳn đi, thì cảm thấy nghi ngờ.

Ông nói với những người cùng đi: "Các ngươi có thấy không?

Quốc vương bỗng dưng đối đãi với chúng ta khác hẳn mấy ngày đầu.

Ta đoán rằng sứ giả Hung Nô nhất định đã đến đây".

Tuy nói vậy, nhưng vẫn chỉ là phỏng đoán.

Vừa lúc đó, người hầu của quốc vương Thiện Thiện mang thức ăn tới.

Ban Siêu làm ra vẻ đã biết rồi, hỏi: "Sứ giả Hung Nô tới đây mấy ngày rồi?

Họ ở đâu?".

Quốc vương Thiện Thiện giao dịch với sứ giả Hung Nô, vốn định giấu không cho Ban Siêu biết.

Người hầu đó bị Ban Siêu đánh lừa, tưởng rằng ông đã biết việc đó, liền thực thà nói: "Đã đến 3 hôm rồi.

Họ ở cách đây 30 dặm".

Ban Siêu giữ người hầu đó lại, rồi lập tức triệu tập 36 người trong sứ đoàn lại nói: "Chúng ta cùng nhau đến Tây Vực không ngoài mục đích lập công báo quốc.

Hiện nay sứ giả Hung Nô mới tới được mấy hôm mà thái độ của quốc vương Thiện Thiện đối với chúng ta đã đổi khác.

Nếu y bắt chúng ta nộp cho Hung Nô thì mảnh xương tàn cũng không còn được trở về quê quán nữa.

Các ngươi thấy thế nào?.

Mọi người đều nói: "Tình hình nguy hiểm thế này, chỉ còn trông mong ở ngài thôi".

Ban Siêu nói: "Kẻ đại trượng phu không vào hang hổ thì làm sao bắt được hổ con.

Bây giờ chỉ có một biện pháp, là nhân lúc đêm tối, chúng ta tìm tới lều của bọn Hung Nô, vừa phóng hỏa, vừa tiến công.

Chúng không biết chúng ta có bao nhiêu người, nhất định sẽ hoảng loạn.

Chỉ cần giết được hết sứ giả Hung Nô, thì mọi việc sẽ dễ giải quyết".

Mọi người đều nói: "Hay!

Hay!

Chúng ta phải liều một chuyến".

Tới nửa đêm, Ban Siêu dẫn 36 tráng sĩ tìm tới lều của sứ đoàn Hung Nô.

Vừa may đêm đó có gió lớn, Ban Siêu phân công 10 tráng sĩ mang trống phục phía sau lều, 20 tráng sĩ mai phục phía trước lều, bản thân Ban Siêu và 6 người còn lại theo hướng gió đốt lửa.

Khi lửa bùng lên, 10 người thúc trống, la hét, 20 người còn lại hô giết và xông vào trong lều.

Sứ đoàn Hung Nô giật mình tỉnh dậy, kinh hoàng trước tình hình đó.

Ban Siêu dẫn đầu xông vào lều, hơn 20 người theo sau xông vào chém giết.

Sứ giả Hung Nô và hơn 30 tùy tòng đều bị giết hết, toàn bộ lều đều biến thành tro.

Đoàn của Ban Siêu về tới chỗ ở thì trời vừa sáng.

Ban Siêu mời quốc vương Thiện Thiện tới.

Thiện Thiện thấy sứ đoàn Hung Nô đã bị Ban Siêu giết hết, liền tình nguyện nghe theo mệnh lệnh của triều Hán.

Về tới triều Hán, Ban Siêu được Hán Minh Đế thăng làm quân tư mã, rồi lại cử ông tới Vu Điền.

Minh Đế bảo ông đem theo nhiều người ngựa.

Ban Siêu nói: "Vu Điền là nước lớn, đường lại xa, có mang tới mấy trăm người cũng không có tác dụng gì.

Nếu gặp việc gì bất trắc, có nhiều người lại thêm phiền phức".

Cuối cùng, Ban Siêu vẫn chỉ mang theo 36 người cũ đến Vu Điền.

Quốc vương Vu Điền thấy Ban Siêu mang theo một số người ít ỏi nên tiếp kiến không nhiệt tình lắm.

Ban Siêu khuyên ông ta nên bỏ Hung Nô và kết thân với triều Hán.

Ông ta không quyết định được, phải nhờ vu sư xin ý kiến thần linh.

Vu sư này vốn không tán thành việc Vu Điền kết giao với triều Hán, nên mượn lời thần linh nói: " Tại sao nhà vua lại muốn kết thân với triều Hán?

Sứ giả triều Hán có con ngựa màu đen nhạt là loại ngựa tốt, có thể chiếm lấy".

Quốc vương Vu Điền phái tướng quốc đến gặp Ban Siêu đòi tặng con ngựa.

Ban Siêu nói: "Được!

Xin mời vu sư đến lấy".

Vu sư đắc ý đến chỗ Ban Siêu nhận ngựa.

Ban Siêu không nói năng gì, rút kiếm chém chết.

Sau đó, ông xách đầu vu sư đến gặp quốc vương Vu Điền, trách: "Nếu nhà vua còn câu kết với Hung Nô thì vu sư này sẽ là tấm gương cho nhà vua".

Quốc vương Vu Điền từ lâu đã nghe uy danh của Ban Siêu, thấy thế thì run sợ nói: "Xin tình nguyện hòa hảo với triều Hán".

Thiện Thiện và Vu Điền là những nước chủ yếu ở Tây Vực.

Họ đã kết giao với triều Hán, nên những nước khác như Qui Từ, Sơ Lặc (nay đều thuộc Tân Cương) cũng theo họ kết giao với triều Hán.

Từ thời kỳ Vương Mãng, các nước Tây Vực đã không giao thiệp với triều Hán tới 65 năm.

Đến nay, mới khôi phục lại tình hình như khi Trương Khiên thông Tây Vực.

Hai bên lại thường xuyên trao đổi sứ giả và thực hiện việc buôn bán hàng hóa.

Hai năm sau, Hán Minh Đế mất, con là Lưu Đát nối ngôi, đó là Hán Chương Đế.

TRƯƠNG HÀNH VÀ MÁY ĐO ĐỘNG ĐẤT

Thời kỳ Hán Chương Đế trị vì, tình hình chính trị Đông Hán tương đối ổn định.

Tới khi Hán Chương Đế mất, con là Hán Hòa Đế lên ngôi, mới lên 10 tuổi.

Đậu thái hậu lâm triều chấp chính để anh là Đậu Hiến nắm đại quyền trong triều, vương triều Đông Hán bắt đầu đi xuống.

Trong thời kì này, xuất hiện một nhà khoa học nổi tiếng là Trương Hành.

Trương Hành quê quán ở Nam Dương.

Năm 17 tuổi, ông rời quê hương, lần lượt đến Trường An và Lạc Dương, cần cù học tập trong nhà thái học.

Lúc đó, Trường An và Lạc Dương đều là các đô thị phồn hoa, vương công quí tộc ở những nơi đó sống cuộc đời kiêu sa dâm dật.

Trương Hành thấy hiện tượng đó rất ngang tai chướng mắt, liền viết 2 tác phẩm "Tây kinh phú" và "Đông kinh phú" (Tây kinh là Trường An, Đông kinh là Lạc Dương) để châm biếm.

Theo lời kể lại, để hoàn thành 2 tác phẩm đó, ông đã dày công quan sát và suy nghĩ, sửa đi sửa lại nhiều lần trong 10 năm công bố.

Đủ thấy tinh thần nghiên cứu và trước tác của ông là hết sức nghiêm túc.

Nhưng sở trường của Trương Hành không phải là văn học.

Ông đặc biệt ham thích nghiên cứu toán học và thiên văn học.

Triều đình thấy Trương Hành là người có học vấn, liền triệu ông lên kinh làm quan, lúc đầu làm lang trung, sau làm thái sử lệnh và phụ trách thiên văn.

Công việc này rất phù hợp với hứng thú nghiên cứu của ông.

Qua quan sát nghiên cứu, ông đoán định Trái Đất là hình tròn, Mặt Trăng có ánh sáng là do phản chiếu ánh sáng của Mặt Trời.

Ông còn cho rằng trời giống như vỏ trứng gà, bao bọc xung quanh trái đất.

Trái đất giống như lòng đỏ trứng gà ở trung tâm của trời.

Nhận thức đó tuy không hoàn toàn chính xác, nhưng trước đây 1800 năm mà đã có được kiến giải như vậy, thì thật đáng kính phục.

Không chỉ như vậy, Trương Hành còn chế ra một dụng cụ đo thiên văn bằng đồng, gọi là "hỗn thiên nghi", ngoài mặt có khắc các hiện tượng thiên văn như Mặt Trời, Mặt Trăng, và tinh tú.

Theo kể lại, "hỗn thiên nghi" đó giúp người ta thấy rất rõ ràng sao nào mọc từ phía đông, sao nào lặn ở phía tây.

Khi đó thường xảy ra động đất, có khi một năm một lần, có khi một năm hai lần.

Những lần động đất lớn, gây ảnh hưởng tai hại tới mười mấy quận, tường thành và nhà cửa sụp đổ, người và gia súc chết hại rất nhiều.

Nhưng không ai biết cách dự báo và đề phòng ra sao.

Vua chúa phong kiến và nhân dân nói chung đều coi động đất là điềm dữ do trời giáng xuống, nên lưu truyền rất nhiều loại đồn đại, lừa bịp làm xao xuyến lòng người.

Nhưng Trương Hành không tin vào thần thánh và các tà thuyết.

Ông theo dõi, ghi chép đầy đủ mọi hiện tượng trong các lần động đất, rồi dày công nghiên cứu, thí nghiệm, phát minh ra một cỗ máy đo đạc và dự báo động đất, gọi là "địa động nghi".

Địa động nghi(máy đo động đất) được chế bằng đồng đen, hình dáng giống như một vò rượu, xung quanh có 8 con rồng, đầu rồng hướng ra 8 phương.

Trong miệng mỗi con ngậm một quả cầu bằng đồng.

Dưới đầu mỗi con rồng, có một con cóc há miệng chờ sẵn.

Khi động đất xảy ra ở phương nào thì con rồng quay đầu về phương bị chấn động đó, há miệng ra nhả quả cầu đồng rơi vào miệng con cóc phía dưới, phát ra tiếng kêu vang, báo cho người ta biết phương phát sinh động đất.

Một ngày tháng 2 năm 138, trên địa động nghi của Trương Hành, con rồng hướng về phương tây đột nhiên há miệng, làm rơi quả cầu đồng xuống miệng cóc.

Theo thiết kế của Trương Hành, đó là tín hiệu báo có động đất ở hướng tây.

Nhưng ở Lạc Dương hôm đó không hề có dấu hiệu động đất, cũng không nghe nói vùng phụ cận có động đất.

Vì vậy, một số người bàn tán sôi nổi, nói địa động nghi của Trương Hành chỉ là một trò bịp, thậm chí còn có người cho rằng Trương Hành cố tình bịa chuyện, gây hoang mang.

Mấy ngày sau, có người hỏa tốc về báo cáo với triều đình là ở Kim Thành, Lũng Tây cách Lạc Dương hơn 1000 dặm có động đất lớn làm lở sụt cả núi, lúc đó mọi người mới tin phục.

Nhưng lúc đó những kẻ nắm quyền trong triều đình đều là hoạn quan và ngoại thích, những người có tài năng như Trương Hành không những không được trọng dụng mà còn bị bài xích và đả kích.

Khi Trương Hành làm chức thị trung, được gần hoàng đế.

Bọn hoạn quan sợ Trương Hành vạch rõ với hoàng đế sự dốt nát của chúng, nên ra sức gièm pha, nói xấu Trương Hành.

Vì vậy, ông bị điều khỏi kinh thành, đến Hà Giang làm quốc tướng.

Trương Hành bị bệnh mất vào năm 61 tuổi.

Ông đã lưu lại thành tựu rực rỡ trong lịch sử khóa học Trung Quốc.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
81-82


LƯƠNG KÝ, VIÊN TƯỚNG CHUYÊN QUYỀN

Vương triều Đông Hán từ Hán Hòa Đế trở đi, các hoàng đế khi lên ngôi đều còn là trẻ con, vị hoàng đế nhỏ nhất là một em bé mới sinh ra được hơn 100 ngày.

Hoàng đế nhỏ tuổi, theo lệ thì Thái hậu sẽ lâm triều chấp chính, Thái hậu lại trao quyền cho người trong họ mình.

Như vậy xảy ra tình thế ngoại thích chuyên quyền.

Có hoàng đế chết đi mà không có con, thái hậu và ngoại thích liền tìm chọn một chú bé trong hoàng tộc đưa lên làm hoàng đế để dễ bề khuynh đảo triều chính.

Nhưng, tới khi hoàng đế lớn lên, bắt đầu hiểu biết, không chịu làm bù nhìn mãi, muốn thoát khỏi sự khống chế của ngoại thích, biết dựa vào ai?

Chỉ còn một số hoạn quan hàng ngày phục vụ hoàng đế là gần gũi nhất.

Kết quả là hoàng đế phải dựa vào lực lượng này để tiêu diệt thế lực ngoại thích.

Và do đó, quyền lực của ngoại thích lại chuyển sang tay hoạn quan.

Bất kỳ là ngoại thích hay hoạn quan, tất cả đều là đại biểu của thế lực thối nát nhất trong tầng lớp cường hào, địa chủ.

Hai tập đoàn ngoại thích và hoạn quan tranh giành quyền lực với nhau, luân lưu nắm triều chính, khiến nền chính trị của Đông Hán ngày càng hủ bại.

Năm 125, vị hoàng đế thứ 7 triều Đông Hán là Hán Thuận Đế lên ngôi, ngoại thích họ Lương nắm quyền.

Lương Thương và Lương Ký, cha và anh của thái hậu kế tiếp nhau làm đại tướng quân.

Lương Ký là một con người hết sức kiêu ngạo và ngang ngược.

Ông ta càn rỡ, công khai ức hiếp, tống tiền, hoàn toàn không đếm xỉa đến hoàng đế.

Khi Hán Thuận Đế chết, chú bé 2 tuổi nối ngôi là Xung Đế được nửa năm sau cũng chết, Lương Ký chọn trong hoàng tộc một chú bé 8 tuổi lên thay, tức là Hán Chất Đế.

Hán Chất Đế tuy nhỏ nhưng rất linh lợi, không ưa sự ngang ngược của Lương Ký.

Có lần, trước mặt tất cả bá quan văn võ trong triều, Hán Chất Đế chỉ mặt Lương Ký nói: "Ngươi đúng là một tướng quân ngang ngược".

Lương Ký rất căm, nhưng không tiện nổi nóng lúc đó.

Ông ta nghĩ: thằng bé này mới chừng ấy tuổi mà đã ghê gớm thế, lớn lên sẽ khó mà bắt nạt được.

Rồi ngầm sai người trộn thuốc độc vào bánh, dâng lên hoàng đế.

Hán Chất Đế ăn bánh xong, cảm thấy trong bụng khó chịu, liền sai nội thị gọi thái úy Lý Cố vào.

Lý Cố thấy hoàng thượng ôm bụng nhăn nhó, liền hỏi: "Hoàng thượng thấy ngọc thể ra sao?"

Chất Đế nói: "Ta vừa ăn bánh xong, thấy bụng đau quặn, miệng khô muốn uống nước".

Lương Ký đứng cạnh vội tâu: "Không được!

Uống nước vào sẽ bị nôn mửa".

Nói chưa xong thì vị hoàng đế 8 tuổi đã ngã lăn ra chết tức khắc.

Giết xong Chất Đế, Lương Ký lại chọn một chú bé 15 tuổi trong hoàng tộc là Lưu Chí lên làm hoàng đế.

Đó là Hán Hoàn Đế.

Hán Hoàn Đế lên ngôi, Lương hoàng hậu trở thành Lương thái hậu, triều chính hoàn toàn nằm trong tay Lương Ký, Lương Ký càng hoành hành ngang ngược hơn nữa.

Để hưởng thụ cuộc sống xa hoa không kém gì hoàng đế, Lương Ký cho xây dựng rất nhiều lâu đài, dinh thự, chiếm rất nhiều ruộng đất của dân chúng ở ngoại thành Lạc Dương để làm vườn hoa riêng, trong đó có đủ đình đài, lầu, các đẹp đẽ xa hoa.

Hắn ta thích nuôi thỏ, xây dựng một khu nuôi thỏ ở phía tây thành, lệnh cho các địa phương nộp thỏ, đưa vào vườn.

Hắn đóng dấu vào mỗi con thỏ làm ký hiệu riêng.

Ai lỡ tay bắn chết một con thỏ trong vườn nhà họ Lương đều bị ghép vào tử tội.

Có một thương nhân từ Tây Thành đến Lạc Dương, không biết lệnh cấm đó, bắn chết một con thỏ.

Vụ án đó gây liên lụy, làm thiệt mạng hơn 10 người.

Lương Ký bắt mấy ngàn con cái dân lương thiện về làm nô tỳ, gọi những nô tỳ đó là người "tự bán mình", tỏ ý rằng họ tự bán thân cho Lương Ký.

Hắn còn cho người đi điều tra những nhà giàu, bắt họ về, tùy tiện ghép cho một tội và buộc gia đình phải mang tiền đến chuộc.

Ai ít tiền thì bị xử tội chết.

Có một người rất giàu, tên là Tôn Phấn.

Lương Ký tặng ông ta một con ngựa và hỏi vay 50 triệu, Tôn Phấn bị bắt buộc, đành đưa cho vay 30 triệu.

Lương Ký nổi nóng sai quan dưới quyền bắt Tôn Phấn lại, vu cho mẹ Tôn Phấn là nô tỳ của nhà họ Lương đã bỏ trốn, lại ăn trộm và mang theo rất nhiều châu ngọc, vàng bạc, nay phải mang trả lại.

Tôn Phấn không chịu, liền bị đánh chết và tịch thu toàn bộ tài sản.

Lương Ký hoành hành ngang ngược, chà đạp lên pháp luật như vậy suốt gần 20 năm, cuối cùng xảy ra mâu thuẫn với Hán Hoàn Đế.

Vì Lương Ký cử người giết hại mẹ của Lương quý nhân là người được Hoàn Đế sủng ái nên Hán Hoàn Đế chịu không nổi, liền bí mật liên hệ với 5 hoạn quan có thù riêng với Lương Ký.

Nhân dịp Lương Ký không phòng bị, đem hơn 1000 vũ lâm quân, bất ngờ bao vây chặt nhà ở của Lương Ký.

Lương Ký hoảng hốt, không có cách nào đối phó, đành uống thuốc độc tự sát.Toàn bộ họ hàng, con cháu của Lương Ký đều bị xử lý, kẻ bị giết, kẻ bị cách chức trong triều, hơn 300 quan chức thuộc bè cánh Lương Ký đều bị cách chức.

Triều đình bỗng chốc hầu như rỗng không, không còn quan chức nữa.

Gia tộc họ Lương sụp đổ, trăm họ mừng vui phấn khởi.

Hán Hoàn Đế ra lệnh tịch thu gia sản của Lương Ký, tổng cộng lên tới 3000 triệu, tương đương với một nửa số tô thuế trong cả năm của toàn quốc.

Những ruộng đất của nông dân bị Lương Ký chiếm làm vườn hoa, vườn nuôi thỏ đều được trả lại cho chủ cũ.

Hán Hoàn Đế luận công ban thưởng, phong cho 5 hoạn quan làm hầu tước, gọi là "Ngũ hầu".

Từ đó trở đi, chính quyền Đông Hán lại chuyển từ tay ngoại thích sang tay hoạn quan.

SỰ KIỆN "ĐẢNG CỐ"

Sau khi ngũ hầu hoạn quan lên nắm quyền, chúng lại càn rỡ chẳng khác gì Lương Ký.

Chúng nắm giữ triều chính, mua quan bán tước, từ trong triều đến các quận huyện trong cả nước, đều có tay chân của chúng.

Tình hình xã hội vô cùng đen tối.

Lúc đó, có một số quan chức xuất thân địa chủ, trí thức, bất mãn với sự chuyên quyền của hoạn quan, chủ trương cải cách triều chính, bãi chức các hoạn quan.

Một số thái học sinh xuất thân địa chủ vừa và nhỏ thấy xã hội hủ bại, không tìm thấy lối thoát, cũng đòi hỏi cải cách.

Họ phê bình triều chính, hết sức căm thù bọn hoạn quan nắm quyền và những kẻ thân với hoạn quan.

Năm 165, Trần Phiêm làm thái úy, danh sĩ Lý Ưng làm tư lệ hiệu úy, họ đều là những người không ưa hoạn quan.

Thái học sinh đều ủng hộ họ, coi họ là những nhân vật mẫu mực.

Sau khi Lý Ưng làm tư lệ hiệu úy, có người cáo giác em của hoạn quan Trương Nhượng, huyện lệnh huyện Dã Vương (nay là huyện Tầm Dương, Hà Nam) là Trương Sóc tham nhũng, cướp đoạt của dân.

Lý Ưng điều tra xét vụ Trương Sóc.

Trương Sóc chạy đến Lạc Dương ẩn nấp trong nhà của anh.

Lý Ưng tự dẫn sai dịch đến khám xét nhà Trương Nhượng tìm thấy Trương Sóc trong bức tường kép, liền giải đi.

Trương Nhượng vội nhờ người đến xin xỏ, nhưng Lý Ưng đã định xong tội Trương Sóc và đem hắn ra xử tử rồi.

Trương Nhượng căm giận, khóc lóc với Hán Hoàn Đế.

Nhưng Hán Hoàn Đế xét thấy Trương Sóc đúng là có tội, nên không xử phạt gì Lý Ưng.

Qua vụ đó, Lý Ưng càng trở nên nổi tiếng.

Rất nhiều người trong giới trí thức muốn được gặp Lý Ưng.

Ai được Lý Ưng tiếp kiến, đều coi là vinh dự đặc biệt, gọi đó là "đăng long môn" (đến cửa rồng).

Năm sau có một phương sĩ (người làm nghề nghiệp phép thuật mê tín) tên là Trương Thành, thường giao du mật thiết với hoạn quan, được biết qua lời hoạn quan Hầu Lãm là triều đình sắp ban bố lệnh ân xá, liền dung túng cho con giết người.

Lý Ưng lập tức cho bắt hung thủ, chuẩn bị xử án.

Hôm sau, lệnh đại xá được ban bố, Trương Thành đắc ý nói với mọi người: "Chiếu thư hạ xuống rồi.

Tư lệ hiệu úy không thể không tha con ta ra".

Lời nói đó tới tai Lý Ưng, ông nổi giận nói: "Trương Thành biết trước lệnh đại xá, cố ý cho con giết người.

Lệnh đại xá không đến lượt con hắn ta".

Rồi sai chém đầu con Trương Thành.

Trương Thành quyết không chịu bỏ qua, liền nhờ Trương Nhượng, Hầu Lãm giúp mình báo thù.

Chúng tìm ra một quỉ kế cho đệ tử của Trương Thành là Lao Tu dâng thư tố cáo lên Hoàn Đế, vu cáo Lý Ưng kết bè đảng với các danh sĩ và thái học sinh phỉ báng triều đình, làm bại hoại phong tục.

Hán Hoàn Đế nhận được tố cáo của Lao Tu, liền hạ lệnh bắt bớ người trong "bè đảng" đó.

Ngoài Lý Ưng, còn có Đỗ Mật, Trần Thực, Phạm Bàng...cả thảy hơn 200 người.

Tất cả đều bị chúng đưa vào danh sách đen của "bè đảng chống đối".

Triều đình hạ lệnh ban thưởng, yêu cầu bắt hết những người đó.

Đỗ Mật cũng là một viên quan có tinh thần dũng cảm như Lý Ưng, dám đối đầu với các thế lực hoạn quan.

Tiếng tăm 2 người tương đương nhau.

Người đời thường gọi gộp họ là Lý-Đỗ.

Lý Ưng bị bắt nên Đỗ Mật tất nhiên cũng không thoát.

Trần Thực vốn là thái học sinh, nhưng vì nổi tiếng nên cũng bị đưa vào danh sách đen.

Có người khuyên ông bỏ trốn, nhưng Trần Thực nói: "Tôi trốn được, nhưng còn những người khác thì sao?

Tôi vào nhà giam, còn có thể giúp người khác can đảm lên".

Rồi ông lên kinh thành, tự báo danh, vào nhà giam.

Phạm Bàng cũng giống như Trần Thực, hiên ngang đi vào nhà giam.

Chiếu thư bắt đảng nhân được đưa xuống các quận, quan chức các quận liền ghi danh sách những người có liên quan, báo cáo lên, có quận có tới mấy trăm người, chỉ có thái thú quận Bình Nguyên ở Thanh Châu là Sử Bật không báo.

Chiếu thư của triều đình liên tiếp giục giã ông và quan cai trị Thanh Châu còn cử người xuống Bình Nguyên tra xét.

Viên quan đó tìm Sử Bật, quở trách ông tại sao không báo danh sách lên.

Sử Bật nói: "Ở đây không có đảng nhân, tôi lấy gì để báo?".

Viên quan đó nghiêm mặt nói: "Thanh Châu có 6 quận, 5 quận kia đều có đảng nhân, tại sao quận Bình Nguyên lại không có?".

Sử Bật trả lời: "Thủy thổ phong tục mỗi nơi một khác.

Các nơi khác có đảng nhân, tại sao Bình Nguyên cũng nhất định phải có?".

Viên quan đó nín lặng, không biết nói thế nào.

Sử Bật lại nói: "Nếu ngài cứ nhất định bắt oan người tốt, thì nhà nào ở Bình Nguyên cũng có đảng nhân.

Tôi thà chết, chứ bắt tôi báo đảng nhân thì tôi không thể nói ra người nào cả".

Viên quan đó không biết làm thế nào, liền ghi bừa tên một số quan chức ở Bình Nguyên để báo lên triều đình.

Những đảng nhân bị giam trong ngục bị bọn hoạn quan sai người tra tấn tàn bạo.

Họ phải đeo gông, xiềng ở cả đầu và tay chân, gọi là "tam mộc", và bịt mắt tra hỏi từng người.

Cứ như vậy trong hơn một năm.

Năm sau có một người ở Dĩnh Xuyên tên là Giả Bưu dũng cảm tự mình tới Lạc Dương kêu oan cho các nạn nhân.

Đậu Vũ, cha của Đậu hoàng hậu cũng dâng thư lên Hán Hoàn Đế tha cho các đảng nhân.

Ở trong ngục, Lý Ưng dùng biện pháp lấy tiến công để bảo vệ, ông cố ý đưa ra tên rất nhiều con em hoạn quan, nói chúng cũng là đảng nhân.

Bọn hoạn quan lúc đó mới hoảng sợ, liền tâu với Hán Hoàn Đế: "Hiện nay thời tiết không bình thường, xin bệ hạ xuống lệnh đại xá cho thiên hạ".

Hán Hoàn Đế xưa nay vốn nghe theo bọn hoạn quan mọi điều, liền tuyên bố đại xá, tha hết hơn 200 người bị quy là đảng nhân.

Những người này tuy được tha nhưng bọn hoạn quan không cho phép họ lưu tại kinh thành mà bắt tất cả trở về quê hương, đồng thời thông báo tên tuổi họ về địa phương, phạt họ suốt đời không được làm quan.

Lịch sử gọi sự kiện này là "đảng cố" (giam giữ những phần tử kết bè đảng).

Không lâu sau, Hán Hoàn Đế mất, Đậu hoàng hậu và cha là Đậu Vũ bàn nhau, chọn trong hoàng tộc một chú bé 12 tuổi là Lưu Hoằng lên kế thừa ngôi hoàng đế.

Đó là Hán Linh Đế, một hoàng đế hủ bại nổi tiếng trong lịch sử.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
83-84


PHẠM BÀNG VÀO NHÀ GIAM

Khi Hán Linh Đế mới lên ngôi, Đậu thái hậu lâm triều, phong cha là Đậu Vũ làm đại tướng quân, Trần Phiên là thái úy.

Đậu Vũ, Trần Phiên là những người ủng hộ phái danh sĩ.

Họ gọi những người bị cấm cố chung thân trước kia như Lý Ưng, Đỗ Mật trở lại làm quan.

Trần Phiên nói với Đậu Vũ: "Nếu không tiêu diệt hoạn quan thì thiên hạ không thể thanh bình được.

Tôi gần 80 tuổi rồi còn tham vọng gì nữa?

Tôi còn ở đây, chỉ là để vì triều đình trừ hại, giúp đỡ tướng công lập công".

Đậu Vũ vốn cũng có ý đó, hai người bàn nhau, để Đậu Vũ nói với Đậu thái hậu, yêu cầu tiêu diệt hoạn quan.

Nhưng Đậu thái hậu lại rất tin hoạn quan giống như Hán Hoàn Đế, nên không sao thuyết phục được.

Trần Phiên lại dâng sớ tấu lên thái hậu, nêu ra các tội ác của bọn hoạn quan Hầu Lãm, Tào Tiết, Vương Phủ; Đậu thái hậu vẫn gạt bỏ sớ tấu một bên, không xét tới.

Sự việc tiết lộ đã làm bọn hoạn quan sợ hãi.

Tào Tiết, Vương Phủ liền ra tay trước.

Chúng cướp ngọc tỉ và ấn thụ của Đậu thái hậu rồi giam lỏng Đậu thái hậu lại.

Sau đó dùng danh nghĩa của Linh Đế, tuyên bố Đậu Vũ và Trần Phiên mưu phản rồi bắt giết đi.

Thế là hoạn quan lại nắm quyền.

Tất cả những người do Trần Phiên, Đậu Vũ đưa lên làm quan đều bị bãi chức.

Lý Ưng, Đỗ Mật bị đuổi về quê; một số danh sĩ, thái học sinh càng tôn sùng họ và căm ghét bọn hoạn quan.

Bọn hoạn quan cũng coi họ là tử thù, tìm mọi cơ hội hãm hại họ.

Có một danh sĩ là Trương Kiệm từng cáo giác hoạn quan Hầu Lãm.

Hầu Lãm để tâm báo thù, vừa gặp lúc gia đình Trương Kiệm đuổi một nô bộc, Hầu Lãm xúi giục người nô bộc đó vu cáo Trương Kiệm cùng 24 người đồng hương kết thành một đảng, phỉ báng triều đình, âm mưu làm phản.

Hoạn quan Tào Tiết nắm cơ hội đó xúi giục tay chân dâng sớ tấu, xin Hán Linh Đế ra lệnh bắt đảng nhân.

Hán Linh Đế mới 14 tuổi, không hiểu thế nào là đảng nhân, liền hỏi Tào Tiết: "Tại sao lại bắt giết họ?

Họ có tội gì?".

Tào Tiết vung tay múa chân, nói một tràng, nào là đảng nhân rất đáng sợ, luôn nói xấu triều đình, nào là họ mưu phản, muốn lật đổ hoàng đế...Hán Linh Đế nghe nói thế, lập tức hạ lệnh lùng bắt đảng nhân trong cả nước.

Lệnh truyền xuống, các châu quận đều xôn xao.

Có người được tin, vội đến báo cho Lý Ưng.

Lý Ưng thản nhiên nói: "Tôi không trốn, nếu trốn sẽ làm hại bao nhiêu người khác.

Vả lại tôi đã 60 tuổi rồi, sống chết có số mệnh, trốn tránh làm gì".

Ông liền tự đến xin chịu giam, và bị đánh chết.

Đố Mật biết không tránh khỏi chết, nên tự sát.

Đốc Bưu của quận Nhữ Nam được lệnh đến Trưng Khương (nay là Yển Thành, Hà Nam) để bắt Phạm Bàng.

Tới dịch quán Trưng Khương ông đóng cửa lại, ôm chiếu thư phục trên giường khóc lóc.

Người trong dịch quán nghe tiếng khóc, không biết tình hình ra sao.

Phạm Bàng nghe tin, liền nói: "Tôi biết viên Đốc Bưu đó khóc là vì không muốn bắt tôi".

Ông liền tự đến huyện xin chịu bắt.

Huyện lệnh Quách Trấp cũng là người chính trực, thấy Phạm Bàng đến thì giật nảy mình nói: "Trời đất rộng lớn thế này, sao ngài không đi đâu, lại đến đây làm gì?".

Ông ta định treo ấn từ quan rồi cùng đi trốn với Phạm Bàng.

Phạm Bàng cảm kích trước biểu hiện đó của Quách Trấp, nhưng nói: "Không cần thiết.

Nếu bắt được tôi, có thể triều đình sẽ ngừng việc bắt đảng nhân.

Tôi không thể để liên lụy đến ngài.

Vả lại, mẹ tôi đã già, nếu tôi đi trốn sẽ làm liên lụy đến người".

Huyện lệnh không có cách nào khác phải đưa Phạm Bàng vào nhà giam và cử người đi đón bà mẹ và các con của Phạm Bàng tới gặp mặt.

Phạm mẫu và các cháu theo công sai tới nhà giam thăm Phạm Bàng.

Phạm Bàng an ủi bà: "Con chết đi còn có em con phụng dưỡng mẹ, mẹ không nên quá thương tâm".

Phạm mẫu nói: "Con đã theo được gương tốt của hai ông Lý-Đỗ (Lý Ưng và Đỗ Mật) để lại tiếng tốt cho đời sau, thì mẹ cũng thỏa lòng.

Mẹ không đau buồn đâu".

Phạm Bàng quỳ nghe mẹ nói xong, quay đầu lại bảo các con: "Xưa nay cha không dạy các con làm việc xấu, vì việc xấu không bao giờ nên làm.

Cha vẫn dạy các con làm việc tốt.

Thế mà suốt đời cha chưa làm việc xấu, nhưng lại rơi vào tình cảnh này đây".

Người xung quanh nghe ông nói, không ai không rơi nước mắt.

Phàm Bàng bị giết, những người lâm vào tai họa như Lý Ưng, Đỗ Mật và ông có tới hơn 100 người.

Ngoài ra, còn có sáu, bảy trăm người nổi tiếng trong toàn quốc hoặc có chút thù oán với hoạn quan đều bị hoạn quan vu cáo là đảng nhân và bắt giam.

Người bị giết, người bị sung quân, nhẹ nhất cũng bị cấm cố suốt đời.

Chỉ có Trương Kiệm, người đối đầu với hoạn quan Hầu Lãm là chạy thoát khỏi cuộc bắt bớ.

Ông trốn tránh khắp nơi, nhiều người không quản nguy hiểm tới tính mạng, tình nguyện che giấu ông.

Khi quan lại nghe tin tìm đến thì ông đã được báo và trốn đi nơi khác.

Vì vậy những người đã che giấu ông đều gặp tai họa, nhẹ thì bị giam giữ, nặng thì chết, thậm chí toàn thể quận huyện đều bị trừng phạt.

Qua hai lần "họa đảng cố", mọi quan chức tương đối ngay thẳng trong triều đình đều bị bức hại.

Mọi chức vụ từ nhỏ đến lớn hầu như đều nằm trong tay hoạn quan và vây cánh của chúng.

QUÂN KHỞI NGHĨA KHĂN VÀNG

Hán Linh Đế u mê, tin vào bọn hoạn quan, giao mọi việc triều chính cho chúng, chỉ vùi đầu vào ăn chơi hưởng lạc.

Của kho nhà nước dùng hết, để kiếm tiền, bọn chúng liền lập ra một cửa hàng đặc biệt ở Tây Viên.

Những kẻ có tiền có thể công khai đến đây mua quan tước.

Chúng treo bảng ngoài cửa Hồng Đô, yết rõ giá cả từng loại quan tước.

Muốn mua chức thái thú một quận phải bỏ ra 20 triệu, chức huyện lệnh trị giá 4 triệu.

Nếu chưa đủ tiền có thể mua chịu, sau khi nhận chức sẽ phải trả gấp đôi.

Những kẻ bỏ tiền ra mua chức, khi làm quan liền ra sức bóc lột hút máu mủ dân chúng.

Sự đen tối và hủ bại của vương triều Đông Hán có thể coi là tột đỉnh.

Sự thối nát của triều đình, sự bóc lột của quan lại cộng thêm thiên tai liên tiếp khiến dân không còn đường sống, chỉ còn cách vùng lên phản kháng.

Bắt đầu từ Ngô quận, một số nông dân nổi lên chiếm huyện thành, giết quan lại.

Ở quận Cối Kê, Hứa Sinh khởi binh ở Cú Chương (nay là Từ Khê, Triết Giang), chỉ trong mấy ngày đã tụ tập được hơn 1 vạn người.

Hán Linh Đế hạ lệnh đem quân đi dẹp, bị quân khởi nghĩa đánh bại.

Thanh thế của Hứa Sinh ngày càng lừng lẫy, liền tự xưng là "Dương Minh Hoàng Đế".

Năm 174, tư mã Ngô quận chiêu mộ người ngựa, liên hợp với quan binh các châu quận, đánh bại Hứa Sinh.

Quân khởi nghĩa Ngô quận tuy bị trấn áp, nhưng một cuộc khởi nghĩa vũ trang lớn hơn đang được nhen nhóm.

Ở quận Cự Lộc có 3 anh em, người anh cả là Trương Giác, hai em là Trương Bảo và Trương Lương.

Cả 3 đều có tài và có hoài bão cứu dân.

Trương Giác biết nghề y, chữa bệnh cho người nghèo, không bao giờ lấy tiền nên được người nghèo quý mến và tin theo.

Ông biết nông dân chịu sự áp bức bóc lột của địa chủ cường hào và gánh chịu mọi tai họa thiên nhiên, luôn ước mong một cuộc sống thái bình để sống yên ổn.

Ông quyết định tổ chức họ lại dưới hình thức tôn giáo, lập ra một đạo gọi là Thái Bình giáo, thu nạp một số đệ tử, cùng đi truyền giáo với ông.

Người tin theo Thái Bình giáo ngày càng nhiều.

Trương Giác cử em là Trương Bảo, Trương Lương và các đệ tử đi các nơi vừa chữa bệnh, vừa truyền đạo.

Sau khoảng 10 năm, Thái Bình giáo đã truyền đi khắp nước.

Dân chúng cả những người theo đạo và không theo đạo, không ai là không biết Thái Bình giáo.

Tín đồ các nơi có đến mấy chục vạn.

Lúc đó, quan lại các địa phương mới chỉ biết Thái Bình giáo khuyên người ta làm điều thiện và chữa bệnh cho mọi người, không có ai lưu tâm hỏi han cặn kẽ.

Trong triều có hai đại thần thấy được mầm mống của nó liền tâu xin Hán Linh Đế hạ lệnh cấm Thái Bình giáo.

Hán Linh Đế còn mải lo xây dựng cung điện và hoa viên, không hề chú ý đến Thái Bình giáo.

Anh em Trương Giác tổ chức mấy chục vạn nông dân trong 8 châu lại, chia làm 36 phương, phương lớn có từ 1 vạn người trở lên, phương nhỏ có sáu, bảy ngàn người, mỗi phương đều bầu ra thủ lĩnh, do Trương Giác thống nhất chỉ huy.

Họ bí mật ước hẹn với nhau vào ngày mồng 5 tháng 3 năm Giáp Tý (184 TCN) thì đồng thời phát động khởi nghĩa ở kinh thành và trong toàn quốc, nên khẩu hiệu "Trời xanh đáng chết, trời vàng lập nên; vào năm Giáp Tý, thiên hạ địa cát".

"Trời xanh" là chỉ vương triều Đông Hán, "trời vàng" là chỉ Thái Bình giáo.

Họ còn cử người bí mật viết hai chữ "Giáp Tý" trong các chùa miếu ở Lạc Dương và trên cổng lớn của dinh quan các châu quận để làm ám hiệu khởi nghĩa.

Nhưng, còn cách thời gian quy định hơn 1 tháng, nội bộ quân khởi nghĩa có kẻ phản bội, cáo giác với triều đình.

Triều đình lập tức khám xét ở Lạc Dương, người phụ trách liên lạc ở Lạc Dương là Mã Nguyên Nghĩa không may bị bắt, hy sinh, hơn 1000 người có liên quan đến Thái Bình giáo bị giết hại.

Vì tình hình đột biến đó, Trương Giác quyết định khởi nghĩa trước 1 tháng.

Trương giác tự xưng Thiên Công tướng quân, gọi Trương Bảo là Địa Công tướng quân, Trương Lương là Nhân Công tướng quân, nông dân khởi nghĩa ở 36 phương nhận được lệnh của Trương Giác, đồng thời nổi dậy.

Quân khởi nghĩa đều quấn khăn vàng trên đầu làm dấu hiệu, nên được gọi là quân Khăn vàng.

Quân khởi nghĩa ở các địa phương tiến đánh các quận huyện, đốt dinh quan, mở nhà giam, tha tù phạm, tịch thu tài sản của quan lại, phá kho lương thực, trừng trị quan lại và địa chủ gian ác.

Không tới 10 ngày, cả nước đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa.

Quân khởi nghĩa từ các địa phương tiến về Lạc Dương.

Văn thư cáo cấp từ các nơi tới tấp bay về kinh đô.

Hán Linh Đế cuống quýt triệu tập đại thần bàn biện pháp trấn áp cuộc khởi nghĩa, sau đó phái Hà Tiến làm đại tướng quân, cùng với các tướng Hoàng Phủ Tung, Chu Tuấn, Lư Thực đem mấy cánh quân đi trấn áp quân khởi nghĩa.

Nhưng nghĩa quân các nơi như nước trào qua đê vỡ, quân triều đình không chống đỡ nổi.

Đại tướng quân Hà Tín phải xin Hán Linh Đế gửi chiếu thư cho các châu quận, để họ tự triệu tập binh mã đối phó với quân Khăn vàng.

Lợi dụng cơ hội đó, các tôn thất quí tộc, quan chức các châu quận và địa chủ cường hào nhiều địa phương mượn danh nghĩa đánh quân Khăn vàng, tranh nhau giành giật địa bàn, mở rộng thế lực, khiến cho toàn quốc chia năm xẻ bảy.

Đứng trước cuộc đàn áp đẫm máu của triều đình Đông Hán và địa chủ cường hào các địa phương, quân Khăn vàng đã giữ vững cuộc chiến đấu ngoan cường anh dũng trong 9 tháng.

Trong giờ phút then chốt của cuộc chiến đấu, lãnh tụ Trương Giác không may bị bệnh mất; Trương Bảo, Trương Lương lãnh đạo tướng sĩ, nghĩa quân tiếp tục chiến đấu anh dũng và đều lần lượt hy sinh.

Quân chủ lực của nghĩa quân tuy đã thất bại, nhưng những cánh quân Khăn vàng còn tiếp tục chiến đấu trong hơn 20 năm nữa.

Nền thống trị thối nát của Đông Hán, qua đòn đánh trí mạng của cuộc khởi nghĩa quy mô lớn này, chỉ còn tồn tại thoi thóp.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
85-86


VIÊN THIỆU GIẾT HOẠN QUAN

Sau đòn tiến công của quân khởi nghĩa Hoàng Cân, vương triều Đông Hán đã rất suy yếu.

Tới khi Hán Linh Đế chết, hai tập đoàn ngoại thích và hoạn quan lại tranh chấp kịch liệt, càng đẩy nhanh sự suy sụp của nó.

Năm 189, hoàng tử Lưu Biện mới 14 tuổi lên nối ngôi, tức là Hán Thiếu Đế.

Theo lệ thường, Hà thái hậu lâm triều, ngoại thích là đại tướng quân Hà Tiến nắm quyền.

Hoạn quan Kiển Thạc vốn là đầu mục quân cấm vệ, toan mưu sát Hà Tiến, nhưng không thành.

Hà Tiến liền bắt và giết Kiển Thạc.

Dưới quyền Hà Tiến có trung quân hiệu úy Viên Thiệu, là con cháu một đại sĩ tộc.

Tổ tiên ông cha 4 đời liền đều là đại thần ở bậc tam công (thái úy, tư đồ, tư không), rất nhiều quan lại trong triều và các châu quận đều là môn sinh hoặc thủ hạ cũ của nhà họ Viên.

Vì vậy, Viên Thiệu có thế lực rất lớn.

Sau khi Kiển Thạc bị giết, Viên Thiệu khuyên Hà Tiến triệt để thanh trừ thế lực hoạn quan trong triều.

Ông nói: "Trước kia, Đậu Vũ muốn tiêu diệt hoạn quan, vì tiết lộ mưu cơ nên bị hoạn quan giết.

Nay tướng quân giữ binh quyền nên trừ hại cho thiên hạ, chớ bỏ lỡ cơ hội này".

Hà Tiến không dám chủ động, liền đem bàn với thái hậu, nhưng Hà thái hậu không nhất định không chịu nghe theo.

Viên Thiệu lại bày kế cho Hà Tiến, khuyên Hà Tiến bí mật triệu tập binh mã các nơi về kinh đô, bức thái hậu phải đồng ý trừ hoạn quan.

Hà Tiến cho đó là biện pháp hay, liền triệu tập các nơi về làm áp lực với thái hậu.

Chủ bạ của Hà Tiến (chủ bạ, viên quan quản lý văn thư, giải quyết công việc, giải quyết công việc sự vụ hàng ngày) là Trần Lâm nghe thấy thế, vội can ngăn Trần Tiến: "Trong tay tướng quân nắm nhiều binh mã, muốn giết hoạn quan thì dễ như đốt sợ lông trên lò lửa, việc gì phải gọi quân bên ngoài về kinh thành?

Gọi quân bên ngoài về có khác gì đưa dao cho người khác, tránh sao xảy ra chuyện nguy biến".

Hà Tiến không nghe theo lời can ngăn đó.

Ông ta thấy trong các châu, có Tịnh Châu (nay gồm các vùng thuộc Sơn Tây, Hà Bắc, Nội Mông Cổ) là mạnh nhất, nên cho rằng gọi Tịnh Châu mục là Đổng Trác về giúp mình là tốt nhất.

Vì vậy liền sai người cấp tốc mang thư cho Đổng Trác, bảo Đổng Trác đem quân về ngay Lạc Dương.

Tin tức đó nhanh chóng đến tai bọn hoạn quan.

Chúng bàn nhau: "Nếu không ra tay trước thì chúng ta sẽ đi đời".

Vì vậy, chúng mai phục sẵn dũng sĩ trong cung, rồi giả truyền mệnh lệnh thái hậu, gọi Hà Tiến vào cung.

Hà Tiến vừa vào khỏi cửa cung, liền bị vũ sĩ vây chặt và giết chết.

Viên Thiệu được tin Hà Tiến bị giết, liền sai em là Viên Thuật đem quân vây đánh hoàng cung.

Viên Thuật phóng hỏa đốt luôn cửa hoàng cung rồi dẫn quân xông vào, cứ thấy hoạn quan là giết.

Có người không phải là hoạn quan nhưng vì không có râu, nên cũng bị coi là hoạn quan và bị giết luôn.

Qua cuộc xung đột đó, cả ngoại thích và hoạn quan đều bị tổn thất.

Đúng lúc đó, quân Đổng Trác từ Tịnh Châu tiến vào Lạc Dương.

Đổng Trác vốn là một cường hào ở Lương Châu (nay ở khoảng Cam Tức, Ninh Hạ và Thanh Hải, Nội Mông Cổ), kết giao với bọn cường hào Khương, xưng bá một phương.

Sau khi khởi nghĩa Khăn vàng, hắn nhờ công lao đàn áp quân khởi nghĩa, được thăng làm Tịnh Châu mục (quan cai trị đứng đầu Tịnh Châu).

Vốn có dã tâm xâm chiếm Trung nguyên, nhân cơ hội có thư triệu tập của Hà Tiến.

Đổng Trác liền nhanh chóng mang 3000 người ngựa về kinh.

Tới Lạc Dương, Đổng Trác muốn nắm đại quyền, nhưng vì binh mã quá ít, sợ không đè bẹp được lực lượng của quan binh ở Lạc Dương.

Hắn liền nghĩ ra một mẹo, cứ đêm tối là cho 3000 binh mã lặng lẽ đi ra khỏi thành, đến ban ngày là trống giong cờ mở rầm rộ kéo vào thành.

Cứ như thế liên tục mấy ngày, mọi người ở Lạc Dương cứ tưởng rằng Đổng Trác có rất nhiều quân, một số tướng sĩ trước kia thuộc quyền Hà Tiến thấy thế cũng đua nhau chạy sang phía Đổng Trác.

Vì vậy, binh quyền ở Lạc Dương đã rơi toàn bộ vào tay Đổng Trác.

Để độc chiếm đại quyền, Đổng Trác quyết định phá bỏ Hán Thiếu Đế, lấy em của Thiếu Đế là Trần Lưu vương Lưu Hiệp lên làm hoàng đế.

Hắn biết rằng trong số quan chức ở Lạc Dương, thì thế lực họ Viên là mạnh nhất, liền mời Viên Thiệu tới trao đổi về việc đó.

Đổng Trác nói: "Tôi thấy Trần Lưu vương là người anh minh hơn đương kim hoàng đế, nên có ý định đưa ông ta lên thay, ngài thấy thế nào?".

Viên Thiệu trả lời: " Hoàng thượng vừa lên ngôi, tuổi còn trẻ, cũng không nghe nói có lỗi lầm gì.

Ngài muốn làm việc phế lập e rằng thiên hạ không phục".

Đổng Trác bị từ chối liền nổi giận nắm chuôi kiếm đe dọa: "Đại quyền nắm trong tay ta.

Ta muốn làm thế, ai dám phản đối?

Chẳng lẽ ngài cho rằng kiếm trong tay ta không đủ sắc hay sao?"

Viên Thiệu cũng nổi giận đỏ bừng mặt nói: "Hảo hán trong thiên hạ, đâu phải chỉ có một mình Đổng Trác nhà ngươi".

Nói xong rút kiếm ra khỏi vỏ bao, hầm hầm bước ra.

Ông sợ Đổng Trác không buông tha mình, liền vội vàng về luôn Ký Châu (nay ở khoảng Hà Bắc, tây bắc Sơn Đông và bắc Hà Nam).

Em của Viên Thiệu là Viên Thuật nghe tin, cũng vội rời Lạc Dương, chạy về Nam Dương (nay thuộc tỉnh Hà Nam).

Sau khi anh em Viên Thiệu bỏ đi, Đổng Trác liền triệu tập bá quan văn võ, tuyên bố quyết định phế lập.

Lưu Hiệp lên làm hoàng đế, tức là Hán Hiến Đế.

Đổng Trác tự làm tướng quốc.

Đổng Trác là kẻ cực kỳ tàn bạo.

Sau khi làm tướng quốc, hắn dung túng binh sĩ tàn sát dân vô đối.

Có lần ở Dương Thành (nay ở đông nam Đăng Phong, Hà Nam) gần Lạc Dương có lễ hội.

Dân chúng tụ tập rất đông.

Đổng Trác dẫn quân tới, giết hết nam giới, bắt phụ nữ và của cải chở trên xe đem về, buộc đầu người xung quanh xe, diễu võ giương oai trở về Lạc Dương.

Dọc đường, còn cho binh sĩ hô "vạn tuế", nói là đánh thắng giặc trở về.

Hành động ngang ngược tàn bạo của Đổng Trác khiến kinh thành Lạc Dương hỗn loạn.

Những người có kiến thức đều lũ lượt rời bỏ Lạc Dương, trong đó có điển quân hiệu úy thành Lạc Dương là Tào Tháo.

TÀO THÁO KHỞI BINH

Tào Tháo là người huyện Triều đất Bái (nay thuộc huyện Bạc tỉnh An Huy).

Cha là Tào Tung, con nuôi của một hoạn quan.

Từ nhỏ, Tào Tháo đã thông minh lanh lợi, giỏi làm việc.

Đương thời có một danh sĩ tên là Hứa Thiệu, có tài xét người.

Khi Tào Tháo trưởng thành, đến xin Hứa Thiệu nhận xét, Hứa Thiệu nói: "Ta thấy anh nếu sống trong thái bình, sẽ là một bày tôi giỏi, nếu trong thời loạn, sẽ là một kẻ gian hùng".

Năm 20 tuổi, Tào Tháo là Bắc bộ úy ở Lạc Dương (chức quan trông coi việc trị an ở phần phía bắc Lạc Dương).

Vừa nhận chức, ông sai thợ làm 20 cái gậy ngũ sắc, treo 2 bên nha môn.

Ông hạ lệnh, nếu ai phạm tội thì bất kể là hào môn đại tộc, cũng đều bị đánh gậy.

Lúc đó, Kiển Thạc (hoạn quan) có một ông chú là ác bá nổi tiếng, dựa vào quyền thế của Kiển Thạc, đã hoành hành ngang ngược khắp Lạc Dương, không ai dám gây chuyện với hắn.

Có lần trong đêm, hắn vác dao đi gây sự ầm ĩ, phạm vào lệnh cấm của Tào Tháo.

Tào Tháo không đếm xỉa gì đến thế lực của hắn, sai người bắt lại, dùng gậy ngũ sắc đánh cho một trận tơi tả.

Tên ác bá đó chịu không nổi, chết tại chỗ.

Sự kiện đó làm rung động cả kinh thành Lạc Dương.

Mọi người đều ca ngợi Tào Tháo là người không sợ quyền uy, giữ nghiêm pháp luật.

Bọn hoạn quan vừa căm tức vừa sợ hãi, liền tìm cách điều Tào Tháo khỏi Lạc Dương làm huyện lệnh ở nơi xa.

Trong thời kỳ khởi nghĩa Khăn vàng, Hán Linh Đế phong Tào Tháo làm kỵ đô úy, cử đến Dĩnh Xuyên (trị sở nay tại huyện Vũ, Hà Nam) trấn áp quân khởi nghĩa.

Ông đã đánh bại cánh quân khởi nghĩa do Ba Tài lãnh đạo.

Vương triều Đông Hán thấy Tào Tháo có công, phong làm Tế Nam tướng.

Mấy năm sau, lại điều về Lạc Dương.

Đổng Trác nắm quyền ở Lạc Dương, để thu phục lòng người, đã dùng quan cao bổng hậu để mua chuộc các quan.

Nghe nói Tào Tháo có chút ít tiếng tăm, liền thăng Tào Tháo làm kiêu kỵ hiệu úy.

Nhưng Tào Tháo thấy Đổng Trác làm nhiều việc càn rỡ, không được lòng người, sớm muộn cũng bị đánh đổ nên không chịu làm thủ hạ của Đổng Trác mà mạo hiểm trốn khỏi Lạc Dương về Trần Lưu (nay là huyện Trần Lưu, Hà Nam) tìm cha.

Cha Tào Tháo có một số tài sản ở Trần Lưu, khi Tào Tháo về, được cha đồng ý, liền bỏ tiền ra chiêu binh mãi mã, chuẩn bị đánh Đổng Trác.

Ở địa phương, có một người giàu có là Vệ Từ, cũng bỏ tiền của và lương thực ra giúp đỡ Tào Tháo.

Dần dần, Tào Tháo tụ tập được hơn 5000 người ngựa vừa tiến hành luyện tập, vừa nghe ngóng các nơi.

Từ sau khởi nghĩa Khăn vàng, các châu quận đều có binh mã.

Rất nhiều thứ sử, thái thú các châu quận vốn có dã tâm cát cứ, nên nhân lúc Lạc Dương có rối loạn, liền mượn cớ thảo phạt Đổng Trác, đua nhau chiêu tập binh mã.

Trong số đó, lực lượng mạnh nhất phải kể tới Viên Thiệu.

Sau khi xung đột với Đổng Trác ở Lạc Dương, Viên Thiệu chạy về Ký Châu, làm thái thú Bột Hải.

Vì Viên Thiệu thuộc dòng họ quan chức lớn, Ký Châu mục Hàn Phức cũng là bộ hạ cũ của nhà họ Viên, nên Viên Thiệu nhanh chóng tổ chức được một đội quân lớn ở Bột Hải.

Năm 190, Tào Tháo và các đội quân thảo phạt Đổng Trác gồm mười mấy vạn người, tập hợp ở Toan Tảo (nay ở tây nam Diên Tân, Hà Nam) gần Trần Lưu, tổ chức thành liên quân và cử Viên Thiệu làm minh chủ.

Tin tức về cuộc khởi binh ở các địa phương truyền tới Lạc Dương, khiến Đổng Trác lo sợ.

Mặc các đại thần phản đối, Đổng Trác quyết định đưa Hán Hiến Đế và hàng triệu dân Lạc Dương dời vào Trường An, còn tự mình lưu lại vùng phụ cận Lạc Dương để đối phó với liên quân.

Khi Hán Hiến Đế bị buộc rời Lạc Dương, Đổng Trác sai đốt hết cung điện, dinh thự và nhà dân trong khoảng 200 dặm xung quanh Lạc Dương.

Một kinh thành hoa lệ và một vùng dân cư trù phú đã bị lửa thiêu trụi, trở thành một vùng không còn tiếng gà gáy, chó sủa.

Dân chúng bị lùa đi, bị đánh đập, chết đói chết khát, thi thể rải khắp đường.

Nhưng liên quân thảo phạt Đổng Trác tập trung ở vùng Toan Tảo vẫn còn trông nhau, ai cũng án binh bất động không dám ra tay trước.

Có lần tướng lĩnh chỉ huy các đội quân thuộc liên quân họp bàn trong đại doanh của Viên Thiệu.

Tào Tháo nói với mọi người: " Chúng ta khởi binh là để thảo phạt Đổng Trác.

Hiện nay Đổng Trác đã cướp thiên tử đem đi, đốt cháy cung điện và kinh thành, lòng người cả nước đều kinh hoàng căm giận.

Đây đúng là thời cơ tốt để trừ nghịch tặc.

Tại sao chúng ta cứ do dự, không quyết định hành động?".

Dù Tào Tháo nói năng khẳng khái, cảm động nhưng không ai nhiệt tình hưởng ứng.

Ngay cả minh chủ Viên Thiệu còn chưa hành động, thì ai còn tình nguyện ra tay trước?

Tào Tháo thấy mọi người chỉ lo bảo toàn lực lượng, không dám đánh Đổng Trác thì tức giận, liền tự mình dẫn 5000 người ngựa, tiến binh về Thành Cao (nay là Trấn Dĩ Thủy, Huỳnh Dương, Hà Nam).

Đổng Trác nghe tin Tào Tháo tiến binh về Thành Cao, liền bố trí sẵn thế trận ở Biện Thủy (nay ở tây nam Huỳnh Dương, Hà Nam).

Quân Tào Tháo vừa tới Biện Thủy, thì gặp bộ tướng của Đổng Trác là Từ Vinh đánh chặn.

Quân Từ Vinh đông, quân Tào Tháo ít, vừa giao chiến quân Tào Tháo đã tan vỡ.

Trong khi cưỡi tháo lui, Tào Tháo trúng một mũi tên vào vai, vội thúc ngựa chạy gấp.

Một phát tên khác lại trúng vào con ngựa, ngựa giật mình, hất Tào Tháo ngã xuống đất.

Quân Từ Vinh từ phía sau đang la hét đuổi tới gần.

Trong lúc nguy cấp, Tào Hồng tới kịp, nhường ngựa cho Tào Tháo, ông ta mới chạy thoát.

Chạy về tới Toan Tảo, thấy các cánh quân trong liên minh, không những án binh bất động mà còn rượu chè, ca hát say sưa, không nghĩ gì tới việc đánh Đổng Trác.

Tào Tháo giận dữ, chạy tới giữa yến tiệc của Viên Thiệu và các tướng, lớn tiếng trách mắng: "Các ngài lấy danh nghĩa mang quân trừ nghịch tặc, mà cứ chần chừ trông ngóng ở đây khiến dân chúng thất vọng, tôi thật lấy làm hổ thẹn thay cho các ngài".

Không lâu sau, mấy chục vạn quân liên minh ăn hết lương thực, liền rã đám.

Qua trận chiến đấu với Đổng Trác, Tào Tháo thấy rõ cộng tác với đám người đó thì chẳng bao giờ làm nổi việc lớn, liền tới Dương Châu (nay ở Hoài Thủy, An Huy và phía nam Trường Giang thuộc Giang Tô) chiêu binh mãi mã để chuẩn bị lại khởi binh.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
87-88


VƯƠNG DOÃN LẬP MƯU TRỪ ĐỔNG TRÁC

Đổng Trác thấy đám thứ sử, thái thú đem binh đánh mình, người nào cũng có tính toán riêng, không thể nhất trí liên hiệp với nhau được, nên không cảm thấy có gì đáng sợ, liền tự xưng là Thái sư ở Trường An, bắt Hán Hiến Đế coi mình là "Thượng Phụ" (coi như cha).

Hắn còn phong em và cháu mình làm tướng quân hiệu úy, ngay đến đứa con oe oe mới sinh của hắn cũng được phong hầu.

Để hưởng lạc, hắn ta cho xây dựng cách Trường An 200 dặm một thành lũy, gọi là My Ổ.

Thành lũy được xây dựng cao và dày, chứa đầy của cải và lương thực.

Riêng lương thực, đủ cho hắn và quan lại, quân lính dùng trong 30 năm.

Xây dựng xong My Ổ, Đổng Trác đắc ý nói với mọi người: "Đại sự mà thành, thì thiên hạ là của ta.

Dù có thất bại, ta vẫn cứ sống yên ổn ở đây, chẳng kẻ nào đánh vào được".

Khi Đổng Trác ở Lạc Dương, đã giết hại nhiều quan lại; tới Trường An, hắn lại càng càn rỡ, bá quan văn võ ai không thận trọng, lỡ có lời xúc phạm đến hắn là mất đầu như chơi.

Một số đại thần sợ không giữ được tính mạng của mình, đều ngấm ngầm tìm cách trừ khử hắn.

Dưới quyền Đổng Trác có một thủ hạ tâm phúc là Lã Bố, một dũng sĩ nổi tiếng.

Lã Bố có sức khỏe hơn người, võ nghệ lại đặc biệt cao cường.

Hắn vốn là bộ hạ của Đinh Nguyên, thứ sử Tịnh Châu.

Khi Đổng Trác vào Lạc Dương, Đinh Nguyên đang đem quân giữ Lạc Dương.

Đổng Trác cử người đem rất nhiều tiền bạc đến mua chuộc Lã Bố, xúi Lã Bố giết Đinh Nguyen.

Bị cám dỗ vì tiền tài, Lã Bố liền giết Đinh Nguyên rồi theo Đổng Trác.

Trác nhận Lã Bố làm con nuôi, để Lã Bố làm tùy tùng bảo vệ, luôn luôn đi kèm Đổng Trác.

Mọi người sợ sức mạnh của Lã Bố nên không dám hạ thủ Đổng Trác.

Tư đồ Vương Doãn quyết tâm trừ Đổng Trác.

Ông biết rằng muốn trừ Đổng Trác thì trước hết phải lôi kéo được Lã Bố.

Ông thường mời Lã Bố đến nhà uống rượu, nói chuyện.

Lâu ngày, Lã Bố thấy Vương Doãn tốt với mình nên cũng thổ lộ hết về tình hình quan hệ của mình với Đổng Trác cho Vương Doãn nghe.

Thì ra Đổng Trác đối với Lã Bố tuy là cha con nhưng tính tình Đổng Trác rất thô bạo, hơi có gì không vừa ý là nổi nóng nặng lời mắng mỏ Lã Bố.

Có lần Lã Bố cãi lại, bị Đổng Trác cầm chiếc kích để sẵn bên cạnh lao vào Lã Bố, may mà Lã Bố nhanh nhẹn đã tránh thoát được.

Sau đó, Lã Bố phải nhận lỗi, Đổng Trác mới tha thứ nhưng Lã Bố cảm thấy rất khó chịu.

Vương Doãn nghe biết chuyện đó thì rất mừng, liền đem chuyện muốn giết Đổng Trác nói với Lã Bố.

Vương Doãn nói: "Đổng Trác là quốc tặc.

Chúng tôi muốn trừ hại cho nước, rất mong được tướng quân làm nội ứng".

Lã Bố thấy nói đến chuyện giết Đổng Trác có vẻ do dự nói: "Tôi là con nuôi của Đổng Trác.

Con sao có thể giết cha?".

Vương Doãn lắc đầu nói: "Ồ sao tướng quân lại hồ đồ thế.

Tướng quân họ Lã, hắn ta họ Đổng, vốn chẳng có tình cốt nhục gì.

Vả lại khi hắn lao kích vào tướng quân, thì có tình cảm cha con gì không?".

Lã Bố tỉnh ngộ, liền đồng ý cộng tác với Vương Doãn.

Năm 192, Hán Hiến Đế bị bệnh mới khỏi, các đại thần vào cung Vị Ương để chúc mừng.

Đổng Trác liền từ My Ổ đến Trường An.

Để đề phòng bị hành thích, hắn mặc áo giáp bên trong triều phục.

Hai bên đường vào Trường An, hắn bố trí vệ binh dày đặc.

Hắn còn sai Lã Bố đi sau hộ vệ.

Bố trí cẩn mật như vậy, Đổng Trác tự cho rằng không thể xảy ra chuyện gì bất trắc.

Hắn đâu biết rằng Lã Bố và Vương Doãn đã bàn bạc kĩ.

Lã Bố sắp xếp một số võ sĩ tâm phúc đi lẫn trong đội ngũ đứng sẵn trước cửa cung.

Đổng Trác vừa tới cửa cung liền bị võ sĩ cầm kích đâm vào ngực, nhưng vì có áo giáp bảo vệ nên kích không xuyên thủng được.

Đổng Trác dùng tay gạt kích, nhảy xuống xe hô lớn: "Lã Bố, con ta đâu?".

Lã Bố đứng phía sau, lớn tiếng tuyên bố: "Phụng mệnh hoàng đế, diệt trừ tặc thần Đổng Trác".

Đổng Trác thấy con nuôi trở mặt, liền mắng: "Thằng chó đẻ...mày dám..." .

Chưa nói xong đã bị Lã Bố đâm một nhát giáo xuyên qua họng.

Binh sĩ ùa tới, cắt lấy đầu hắn.

Lã Bố lấy trong tay áo ra tờ chiếu thư, dõng dạc đọc: "Lệnh của hoàng thượng chỉ giết Đổng Trác, không truy cứu những người khác".

Tướng sĩ nghe đọc, đều sung sướng hô "vạn tuế".

Trăm họ ở Trường An đã chịu mọi áp bức tàn khốc của Đổng Trác, nghe nói đã trừ được gian tặc, liền ùa ra đường phố tụ họp, ca múa.

Nhiều người còn mua rượu thịt về ăn mừng.

Tên giặc đầy rẫy tội ác tuy đã bị tiêu diệt, nhưng tai họa của nhân dân vẫn chưa qua.

Không lâu sau, bộ tướng của Đổng Trác là Lý Thôi, Quách Dĩ lại đem quân đánh vào Trường An, giết Vương Doãn, đuổi Lã Bố.

Nhân dân Trường An lại một lần nữa lâm vào cảnh bị chém giết, cướp bóc.

DỜI ĐÔ ĐI HỨA THÀNH

Sau loạn Đổng Trác, vương triều Đông Hán chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa, không còn điều khiển được các châu quận.

Bọn quan liêu, cường hào các địa phương tranh nhau chiếm địa bàn, hình thành cục diện cát cứ khắp nơi.

Những kẻ có thế lực lớn là Viên Thiệu ở Ký Châu, Viên Thuật ở Nam Dương, Lưu Biểu ở Kinh Châu (nay gồm 2 tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc và một phần Hàn Nam, Quí Châu, Quảng Đông, Quảng Tây).

Đào Khiêm và Lã Bố ở Từ Châu (nay ở vùng phía bắc Trường Giang, Giang Tô và phía nam Sơn Đông).

Họ thường đem quân đánh nhau khiến đất nước loạn lạc, hàng triệu dân chúng bị chém giết, nhiều vùng không còn một bóng người.

Thế lực của Tào Tháo vốn rất nhỏ, sau đó ông đánh bại lực lượng tàn dư của quân Khăn vàng ở Duyên Châu (nay ở tây nam tỉnh Sơn Đông và phía đông tỉnh Hà Nam), tiến vào Duyên Châu xây dựng căn cứ.

Ông còn lựa chọn trong số hàng binh quân Khăn vàng một số lực lượng tinh nhuệ, mở rộng lực lượng vũ trang của mình.

Sau đó ông còn đánh bại Đào Khiêm và Lã Bố, trở thành một lực lượng cát cứ lớn mạnh.

Năm 195, Lý Thôi và Quách Dĩ xung đột nhau ở ở Trường An, ngoại thích Đổng Thừa và một số đại thần mang Hán Hiến Đế trốn khỏi Trường An, về Lạc Dương.

Cung điện ở Lạc Dương đã bị Đổng Trác đốt hết, khắp nơi là tường xiêu ngói vỡ, gai góc mọc đầy.

Hán Hiến Đế không có cung điện, phải ở trong một ngôi nhà cũ nát.

Các bá quan văn võ không có nơi ở, phải dựng lều nơi các góc tường cũ để che mưa che nắng.

Khó khăn lớn nhất là không có nguồn lương thực.

Hán Hiến Đế cử người đi khắp nơi, kêu gọi địa phương cung cấp lương thực cho triều đình.

Nhưng họ còn mãi tranh đoạt lẫn nhau, chẳng đoái hoài gì tới hoàng đế, không ai mang lương thực tới.

Các đại thần không có cách gì, từ quan thượng thư trở xuống đều phải tìm kiếm cây cỏ ăn cho đỡ đói.

Các vị xưa nay quen ăn cao lương mỹ vị làm sao chịu được khổ, mới qua mấy ngày, nhiều vị đã đói gục chết nơi xó tường, trong các căn lều rách nát.

Lúc đó, Tào Tháo đang đóng quân ở Hứa Thành (nay là Hứa Xương, Hà Nam) biết tin đó, liền họp các mưu sĩ lại bàn xem có nên đón Hán Hiến Đế về đó không.

Mưu sĩ Tuân Húc nói: "Trước kia Tấn Văn Công phái quân đưa Chu Tương Vương về Lạc Ấp mà giành được ngôi bá chủ, Hán Cao Tổ phát tang cho Nghĩa đế mà được lòng người trong thiên hạ.

Những thí dụ đó có nhiều trong lịch sử.

Hiện nay hoàng thượng ở Lạc Dương, khổ không kể xiết.

Nếu tướng quân đón được hoàng thượng về đây thì rất hợp lòng mong muốn của nhiều người, nếu không đi đón ngay, để kẻ khác đón mất thì chúng ta mất cơ hội tốt".

Tào Tháo nghe Tuân Húc nói rất hợp ý mình, liền cử ngay Tào Hồng đem một đội quân đi đón Hán Hiến Đế về Hứa Thành.

Một số đại thần sợ Tào Tháo, liền cử quân ngăn chặn Tào Hồng.

Sau đó, Tào Tháo thân tới Lạc Dương, nói rõ hiện nay Lạc Dương đã bị tàn phá, lại thiếu lương thực Hứa Thành có lương thực, nhưng vận chuyển không tiện lợi, xin mời hoàng đế và các đại thần tạm đến đó, để tránh tình trạng đói rét ở đây.

Hán Hiến Đế và các đại thần nghe nói Hứa Thành có nhiều lương thực, đều muốn dời đô đến đó ngay.

Năm 196, Tào Tháo đón Hán Hiến Đế tới Hứa Thành.

Từ đó, Hứa Thành trở thành đô thành đô thành tạm thời của Đông Hán, nên cũng gọi là Hứa đô.

Tào Tháo xây dựng cung điện cho Hán Hiến Đế ở Hứa đô, để Hán Hiến Đế chính thức thiết triều.

Tào Tháo tự xưng là đại tướng quân, bắt đầu dùng danh nghĩa Hán Hiến Đế ra lệnh cho các châu quận.

Trước hết, Tào Tháo dùng danh nghĩa Hán Hiến Đế hạ chiếu thư quở trách Viên Thiệu là có đất rộng, quân nhiều mà chỉ lo mở rộng thế lực đánh chiếm các châu quận khác không đến giúp đỡ triều đình.

Viên Thiệu có thế lực lớn nhưng dù sao cũng là thần tử của Hán Hiến Đế, nên nhận được chiếu thư quở trách, không còn cách nào khác là dâng tấu chương lên biện hộ.

Tào Tháo lại dùng danh nghĩa Hán Hiến Đế phong Viên Thiệu làm thái úy.

Việc đó làm Viên Thiệu nổi giận.

Ông ta cho rằng Tào Tháo làm đại tướng quân, mình là thái úy tức là thấp hơn Tào Tháo thì mất thể diện, liền nổi giận đùng đùng nói: " Tào Tháo nếu không nhờ có ta thì sao có ngày nay, nay hắn ta lại dùng danh nghĩa hoàng thượng để ra lệnh cho ta sao?".

Liền dâng sớ tấu, từ chối không nhận chức thái úy.

Tào Tháo cảm thấy địa vị của mình chưa vững chắc, chưa tiện gây sự với Viên Thiệu, liền nhường chức đại tướng quân cho Viên Thiệu, tự mình đổi xưng là xa kỵ tướng quân.

Tình hình Hứa đô dần dần ổn định, nhưng lâu dần bộ máy quan chức đông đảo và số đông quân lính không đủ lương thực, bắt đầu có khó khăn.

Qua 10 năm hỗn loạn, khắp nơi hoang tàn, nhân dân đói khát, nếu vấn đề lương thực ở Hứa đô không giải quyết được thì lực lượng Tào Tháo khó lòng đứng vững.

Có một viên quan là Tảo Kỳ hiến kế cho Tào Tháo: chiêu tập dân lưu tán đến vùng xung quanh Hứa đô để khai khẩn đất hoang, lập đồn điền.

Nhà nước cho họ thuê nông cụ và sức kéo, thu hoạch được bao nhiêu nộp cho triều đình một nửa, còn được giữ lại một nửa.

Tào Tháo làm theo ý đó, ra lệnh thực hiện chế độ đồn điền, đất hoang hóa xung quanh Hứa đô nhanh chóng được khai khẩn và canh tác.

Một năm sau, vùng đất hoang được mùa lớn.

Chỉ riêng số lương thực nộp lên của vùng ngoại vi Hứa đô đã đạt tới một triệu hộc.

Tào Tháo lại mở rộng chế độ đồn điền ở các châu quận dưới quyền kiểm soát của mình và đặt ra chức điền quan.

Sau đó những nơi thực hiện chế độ đồn điền, lương thực đều đầy ấp các kho tàng.

Tào Tháo một mặt dùng danh nghĩa của hoàng đế để ra lệnh cho thiên hạ, một mặt vận dụng thành công chế độ đồn điền, giải quyết được vấn đề quân lương.

Ngoài ra còn thu nạp được nhiều nhân tài như Tuân Du, Quách Gia, Mãn Sủng.

Thực lực ngày càng hùng mạnh tạo điều kiện tiến lên thực hiện mọi tham vọng và hoài bão về chính trị.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
89-90


MẬT CHIẾU TRONG ĐAI ÁO

Vào năm Tào Tháo đón Hán Hiến Đế về Hứa đô, Từ Châu mục là Lưu Bị bị Viên Thuật và Lã Bố giáp công, bị thua, phải chạy tới nương nhờ Tào Tháo.

Lưu Bị là người quận Trác (nay là huyện Trác, Hà Bắc), vốn là dòng dõi hoàng thất thời Tây Hán.

Ông mồ côi cha từ nhỏ, nhà nghèo khổ, phải cùng mẹ đan dép. dệt chiếu để kiếm sống.

Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của người trong họ, mới theo học được một ít chữ nghĩa.

Nhưng ông ta không ham đọc sách, chỉ thích kết giao với hào kiệt trong thiên hạ.

Có hai người lái buôn ngựa qua quận Trác, gặp Lưu Bị, rất kính trọng ông, liền bỏ tiền ra giúp ông chiêu binh mãi mã.

Lúc đó, có 2 tráng sĩ đến quận Trác ứng mộ, một người tên là Quan Vũ, một người tên là Trương Phi.

Lưu Bị thấy Quan Vũ, Trương Phi võ nghệ cao cường, lại có cùng chí hướng với mình, nên đối đãi đặc biệt thân thiết.

Dần dần, tình cảm giữa họ với nhau phát triển thân mật hơn anh em ruột thịt.

Do đó, truyền thuyết dân gian thường kể về họ là 3 anh em kết nghĩa.

Sau khi Lưu Bị tới nương nhờ Tào Tháo, Tào Tháo và Lưu Bị cùng nhau đánh Lã Bố, tiêu diệt thế lực cát cứ của Lã Bố.

Về tới Hứa đô, Tào Tháo tâu xin Hán Hiến Đế phong cho Lưu Bị làm tả tướng quân và tỏ ra rất tôn trọng Lưu Bị, mỗi khi đi đâu, đều mời Lưu Bị đi cùng.

Lưu Bị thấy Tào Tháo tôn trọng mình như vậy, trong lòng lại thấy áy náy không yên, bởi vì bản thân ngầm nuôi chí lớn, rất sợ Tào Tháo đoán ra và nghi ngờ.

Tào Tháo ngoài mặt tôn trọng Lưu Bị, nhưng bên trong vẫn đề phòng.

Ông cử người theo dõi hàng ngày, chỉ thấy Lưu Bị cuốc đất trồng rau và xách nước tưới rau không có gì đáng nghi, nên cũng dần yên tâm.

Lúc đó, trong triều xảy ra một sự kiện.

Vì quyền lực Tào Tháo quá lớn, Hán Hiến Đế thấy ông quá chuyên quyền, nên cùng ngoại thích Đổng Thừa bí mật bàn mưu diệt trừ.

Hiến Đế viết một tờ mật chiếu, giấu vào một đai áo, rồi ban tặng cho Đổng Thừa chiếc đai áo đó.

Đổng Thừa nhận được mật chiếu, liền bí mật mời những người tin cậy nhất đến họp, bàn cách thực hiện nhiệm vụ.

Ông thấy lực lượng mình còn ít, lại thấy Lưu Bị là dòng dõi hoàng thất, liền bí mật tìm đến mời Lưu Bị tham gia.

Lưu Bị nhiệt thành nhận lời.

Không lâu sau, Tào Tháo mời Lưu Bị đến uống rượu, nói chuyện vui vẻ chan hòa.

Câu chuyện dần dần chuyển sang đề tài đại sự trong thiên hạ.

Tào Tháo nâng cốc rượu nói: "Tướng quân xem, hiện nay bao kẻ đang ôm ấp hi vọng tranh giành thiên hạ, trong số đó ông thấy những ai đáng mặt anh hùng?".

Lưu Bị khiêm tốn: "Tôi làm sao mà biết được".

Tào Tháo cười, ung dung nói với Lưu Bị: "Theo tôi anh hùng trong thiên hạ đời nay chỉ có 2 người là tướng quân và Tháo này mà thôi.

Bọn người như Viên Thuật thì có đáng kể gì".

Lưu Bị vì đã nhận lời với Đổng Thừa, trong lòng lúc nào cũng nơm nớp, nghe Tào Tháo nói thế thì giật nảy mình, đánh rơi đôi đũa đang cầm trong tay xuống đất.

May vừa đúng lúc đó, một làn chớp lóe lên, rồi một tiếng sét vang dội.

Lưu Bị nhanh trí vừa cúi xuống nhặt đũa vừa nói: "Tiếng sét ghê gớm quá, làm giật nảy cả người".

Nhờ vậy ông đã che giấu được tình cảm thật, không để Tào Tháo thấy được.

Sau buổi gặp đó, Lưu Bị nghiền ngẫm kĩ lời lẽ của Tào Tháo, cảm thấy Tào Tháo đã coi mình là địch thủ duy nhất, thì sẽ không dễ dàng bỏ qua mình.

Từ đó, một mặt ông liên lạc với Đổng Thừa, tìm cách trừ Tào Tháo, một mặt tìm cơ hội rời khỏi Hứa đô.

Vừa gặp dịp Viên Thiệu cử con đem binh đến Thanh Châu để tiếp ứng cho em mình là Viên Thuật.

Đường đi phải qua Từ Châu, Tào Tháo thấy Lưu Bị hiểu rõ khu vực đó, liền cử Lưu Bị đi đánh chặn.

Lưu Bị đang nóng lòng muốn đi, liền tức tốc dẫn Quan Vũ và Trương Phi đem binh mã lên đường.

Mưu sĩ quách Gia nghe nói Tào Tháo cử Lưu Bị đi, liền vội tới can Tào Tháo: "Lưu Bị có dã tâm, không nên để hắn đi".

Tào Tháo nghe ra, vội cử người đuổi theo, thì Lưu Bị đã đi xa.

Lưu Bị đánh bại Viên Thuật, chiếm được Từ Châu, quyết định không trở về Hứa đô nữa.

Từ Châu là nơi Lưu Bị đã từng làm châu mục, các quận huyện đều hưởng ứng theo, không phục tùng Tào Tháo nữa.

Tào Tháo nghe tin Lưu Bị chống lại mình, thì vô cùng tức giận, Mùa xuân năm sau, có người cáo giác với Tào Tháo việc Lưu Bị đồng mưu với Đổng Thừa ở Hứa đô, Tào Tháo liền giết Đổng Thừa và 3 người tâm phúc, đồng thời quyết định tự mang quân đi đánh Lưu Bị.

Lúc đó, Viên Thiệu đã kiêm tính cả U Châu (nay là miền bắc Hà Bắc và đại bộ phận tỉnh Liêu Ninh) có tới mấy chục vạn quân, phao tin sẽ đánh Hứa đô.

Thủ hạ khuyên Tào Tháo: "Hiện nay kẻ tranh thiên hạ với ngài là Viên Thiệu.

Nghe nói Viên Thiệu sắp đánh tới, mà ngài lại sang phía đông đánh Lưu Bị, lỡ Viên Thiệu từ phía bắc đánh xuống, thì làm thế nào?".

Tào Tháo nói: "Lưu Bị không phải là kẻ tầm thường, nay không sớm trừ đi, thì hậu họa thì sẽ vô cùng".

Quách Gia cũng nói: "Lưu Bị mới phản biến, người qui phục chưa nhiều, ta lập tức đánh ngay, nhất định sẽ thắng.

Còn Viên Thiệu vốn tính đa nghi, dù muốn đến đánh ta, cũng không thể nhanh được".

Tào Tháo liền cử một số tinh binh giữ chặt Quan Độ (nay ở đông bắc Trung Mâu, Hà Nam) phòng Viên Thiệu tấn công.

Còn tự mình dẫn đại quân tiến đánh Từ Châu.

Lưu Bị cử người đến cầu cứu Viên Thiệu.

Thủ hạ của Viên Thiệu là mưu sĩ Điền Phong khuyên Viên Thiệu nên nhân dịp Hứa đô bỏ trống, đem quân nhanh chóng tập kích chiếm lấy, nhưng Viên Thiệu không nghe theo.

Đại quân Tào Tháo tiến công Từ Châu, Lưu Bị ít quân, không chống đỡ nổi, đành bỏ Từ Châu, chạy sang Ký Châu nương nhờ Viên Thiệu.

ĐẠI CHIẾN QUAN ĐỘ

Lưu Bị chạy đến Nghiệp Thành (trị sở của Ký Châu, nay ở tây nam Lâm Chương, Hà Bắc) khiến Viên Thiệu thấy được Tào Tháo là một địch thủ đáng gờm.

Vì vậy, ông quyết tâm đánh Hứa đô.

Điền Phong, người trước kia khuyên Viên Thiệu đánh Hứa đô hồi trước, bây giờ lại khuyên Viên Thiệu không nên.

Ông nói: "Hiện nay Hứa đô không còn bị bỏ trống nữa, sao có thể vội đánh được, Tào Tháo tuy ít quân nhưng lại giỏi dùng binh, nhiều tài biến hóa, không nên xem thường hắn.

Tôi thấy nên tính toán kỹ lưỡng hơn đã".

Viên Thiệu không nghe, Điền Phong cứ cố can mãi.

Viên Thiệu cho rằng Điền Phong làm rối lòng quân, liền bắt giam lại.

Sau đó, sai người thảo hịch kể tội Tào Tháo, gửi đi các nơi.

Năm 200, Viên Thiệu đem 10 vạn tinh binh, phong Thư Thụ làm giám quân, từ Nghiệp Thành xuất phát tiến tới Lê Dương (nay ở huyện Tuấn, Hà Nam), phái Nhan Lương làm đại tướng, đi tiên phong dẫn quân vượt qua Hoàng Hà, tiến đánh Bạch Mã (nay là huyện Hoạt, Hà Nam).

Lúc đó, Tào Tháo đã dẫn quân về tới Quan Độ, nghe tin Bạch Mã bị vây, chuẩn bị tới cứu.

Mưu sĩ Tuân Du khuyên: "Kẻ địch đông quân, chúng ta ít quân, không nên đọ sức với chúng.

Chi bằng phái một đạo quân làm ra vẻ muốn vượt sông ở Diên Tân (nay ở tây bắc Diên Tân, Hà Nam) thu hút quân chủ lực Viên Thiệu sang phía tây.

Lúc đó chúng ta sẽ phái đội khinh kỵ tới Bạch Mã đánh thì chúng sẽ trở tay không kịp".

Tào Tháo nghe theo Tuân Du, dùng kế giương đông kích tây để đánh lừa Viên Thiệu.

Thiệu nghe tin Tào Tháo muốn vượt sông ở Diên Tân, quả nhiên phái đại quân đến ngăn chặn.

Ngờ đâu Tào Tháo đã thân dẫn khinh kỵ binh đánh tới Bạch Mã.

Đại tướng Nhan Lương đang bao vây thành Bạch Mã không phòng bị, bị quân Tào Tháo đánh đại bại.

Nhan Lương bị giết, Bạch Mã được giải vây.

Viên Thiệu nghe tin Tào Tháo đến cứu Bạch Mã, giết mất đại tướng của mình thì nổi giận đùng đùng.

Giám quan Thư Thụ khuyên Thiện lưu đại quân ở Diên Tân, chỉ đưa một bộ phận xuất kích.

Nhưng Thiệu nóng báo thù, không nghe theo lời khuyên đó, cứ hạ lệnh cho toàn quân vượt sông đánh đuổi quân Tào, và phái đại tướng Văn Sú mang năm sáu nghìn kỵ binh đi tiên phong.

Lúc đó, Tào Tháo đang rút từ Bạch Mã về Quan Độ, nghe nói quân Viên Thiệu đuổi theo, liền cử 600 kỵ binh mai phục ở phía dốc Diên Tân, cho binh sĩ cởi bỏ yên cương, thả ngựa đi tản mát trên sườn núi, quăng vũ khí, khôi giáp vứt đầy đường.

Kỵ binh của Văn Sú tới dốc phía nam, thấy vậy cho rằng quân Tào đã chạy xa nên cho binh sĩ đi thu nhặt vũ khí, khôi giáp trên đường.

Bất ngờ, theo lệnh Tào Tháo, 600 phục binh bất ngờ xông ra chém giết, quân Thiệu không kịp chống trả, bị đánh tơi tả, Văn Sú cũng bị giết chết trong đám loạn quân.

Mới đánh 2 trận, Viên Thiệu đã mất luôn 2 viên đại tướng, tinh thần tướng sĩ hoang mang.

Nhưng Viên Thiệu vẫn cay cú, nhất định truy kích Tào Tháo, giám quân Thư Thụ bàn: "Quân ta tuy đông, nhưng không dũng mãnh bằng quân Tào; quân Tào tuy dũng mãnh nhưng không nhiều lương thực như quân ta.

Vì vậy, ta nên giữ vững ở đây đợi khi quân Tào hết lương, chúng sẽ phải tự động lui quân".

Viên Thiệu vẫn không nghe lời khuyên của Thư Thụ, cứ ra lệnh cho tướng sĩ tiếp tục tiến quân, đuổi tới tận Quan Độ, mới dừng lại hạ trại.

Binh mã của Tào Tháo đã về tới Quan Độ từ lâu, bố trí xong thế trận, giữ vững thành lũy.

Viên Thiệu thấy quân Tào dựa vào thành lũy cố thủ, liền sai quân đắp núi đất dựng đài cao ở ngoài thành, để binh sĩ leo lên bắn tên vào thành.

Quân Tào phải dùng khiên mộc để chống lại mỗi khi di động trong thành.

Tào Tháo bàn với các mưu sĩ, thiết kế ra một máy bắn đá, gọi là "xe sấm sét".

Xe gồm một cần bẩy lớn, có thể phóng những tảng đá nặng mấy chục cân, phá nát các đài cao của Viên Thiệu, khiến nhiều quân Viên Thiệu bị toạc đầu vỡ trán.

Viên Thiệu lại nghĩ cách khác.

Ông sai quân ngầm đào các đường hầm vào ban đêm, định xuyên vào thành của Tào Tháo.

Nhưng hành động đó sớm bị quân Tà phát hiện, đối phó bằng cách đào các hào dài và sâu trong chân thành để sớm tìm và chặn các đường ra của hầm ngầm.

Kế hoạch của Viên Thiệu lại thất bại.

Cứ như vậy, quân 2 bên cầm cự nhau ở Quan Độ hơn 1 tháng.

Thời gian càng kéo dài thì quân Tào càng khó khăn về lương thực, binh sĩ cũng mỏi mệt.

Tào Tháo thấy khó giữ được lâu, liền viết thư cho Tuân Húc ở Hứa đô, báo tin sắp lui quân.

Tuân Húc vội viết thư trả lời, khuyên Tháo cố gắng giữ vững dù có gặp khó khăn thế nào, để sẵn sàng nắm bắt thời cơ mới.

Lúc đó, lương thực của quân Viên Thiệu từ Nghiệp Thành lại ùn ùn chở tới.

Viên Thiệu cử đại tướng quân Thuần Vu Quỳnh dẫn 1 vạn quân đi hộ tống đoàn xe chở lương tới tích trữ tại Ô Sào cách Quan Độ 40 dặm.

Mưu sĩ của Viên Thiệu là Hứa Du biết quân Tào Tháo thiếu lương, liền hiến kế với Viên Thiệu, cử 1 đội quân nhỏ vòng qua Quan Độ đánh úp lấy Hứa đô, Viên Thiệu vẫn không nghe, cứ một mực thúc quân đánh Quan Độ.

Hứa Du đang muốn khuyên thêm nữa, thì từ Nghiệp Thành có tin tới, nói người nhà Hứa Du phạm pháp, đã bị quan địa phương bắt giam.

Viên Thiệu đọc thư, liền trách mắng Hứa Du thậm tệ.

Hứa Du căm giận, lại nghĩ mình với Tào Tháo là bạn cũ, nên ngay trong đêm, rời bỏ trại quân của Viên Thiệu, chạy sang với Tào Tháo.

Tào Tháo vừa cởi bỏ quần áo ngoài chuẩn bị đi ngủ, nghe tin Hứa Du tới, thì vô cùng mừng rỡ, không kịp khoác áo xỏ giày, vội chạy ra đón reo to: "Hay quá, bạn ta đến, chắc là đại sự sắp thành công rồi".

Hứa Du vừa ngồi xuống liền hỏi: "Quân Viên Thiệu mạnh lắm.

Ngài định đối phó thế nào?

Lương ăn của quân sĩ còn được bao nhiêu?".

Tào Tháo nói: "Còn đủ ăn 1 năm nữa".

Hứa Du cười nhạt nói: "Không còn nhiều thế đâu".

Tào Tháo lại nói: "Đúng vậy!

Chỉ còn khoảng nửa năm nữa thôi".

Hứa Du giả làm mặt giận nói: "Ngài chẳng lẽ không muốn đánh thắng Viên Thiệu sao?

Lẽ nào với bạn cũ mà còn nói dối như vậy?".

Tào Tháo đành nói thực: "Lương thực trong quân chỉ đủ dùng 1 tháng nữa thôi.

Ông xem có cách nào không?".

Hứa Du nói: "Tôi biết bạn cũ đang gặp khó khăn nên tìm tới giúp đỡ đây.

Hiện Viên Thiệu có hơn 1 vạn xe lương thực và khí giới, để cả ở Ô Sào.

Thuần Vu Quỳnh phòng bị rất lơi lỏng.

Ngài nên phái một đội khinh kỵ đến tập kích phóng hỏa đốt tất cả đi, thì chỉ không tới 3 ngày, quân Viên Thiệu không cần phải đánh cũng tan".

Nhận được tin tình báo quan trọng đó, Tào Tháo liền gọi ngay Tuân Du, Tào Hồng tới, dặn dò giữ vững Quan Độ, còn mình tự dẫn 5000 kỵ binh đi suốt đêm tới Ô Sào.

Quân Tào đều mang cờ hiệu của Viên Thiệu, gặp quân canh gác, đều nói là Viên Thiệu sai tới tăng viện cho Ô Sào, quân canh gác không nghi ngờ gì, cứ để họ đi qua.

Quân Tào tới Ô Sào, liền vây chặt rồi phóng hỏa, đốt hết 1 vạn xe lương, tướng giữ Ô Sào là Thuần Vu Quỳnh đang mải chè chén, luống cuống đem quân đối phó, bị quân Tào giết chết.

Tướng sĩ của Viên Thiệu đang vây đánh Quan Độ thấy phía Ô Sào lửa cháy rực trời, thì hoang mang rối loạn.

Hai đại tướng của Viên Thiệu là Trương Cáp, Cao Lãm chạy sang hàng quân Tào.

Quân Tào thừa thế xông ra đánh mãnh liệt.

Viên Thiệu và con là Viên Đàm không kịp mang khôi giáp, cuống quýt đem theo 800 kỵ binh chạy về phía bắc.

Qua trận quyết chiến này, quân chủ lực của Viên Thiệu bị tiêu diệt.

Hai năm sau, Viên Thiệu ốm chết.

Tào Tháo mất 7 năm nữa mới quét hết thế lực tàn dư của Viên Thiệu, thống nhất được miền bắc Trung Quốc.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
91-92


TÔN SÁCH CHIẾM CỨ GIANG ĐÔNG

Trong khi Tào Tháo và Viên Thiệu tranh giành kịch liệt ở miền bắc thì ở miền nam, một thế lực cát cứ dần dần lớn mạnh.

Đó là anh em Tôn Sách, Tôn Quyền ở Giang Đông (nay là vùng Giang Nam, ở hạ du Trường Giang).

Cha của Tôn Sách là Tôn Kiên, nguyên là thái thú Trường Sa, vốn là bộ hạ của Viên Thuật.

Sau khi Tôn Kiên mất, Tôn Sách đem quân theo Viên Thuật, Viên Thuật thấy Tôn Sách là 1 thiếu niên anh tuấn, rất yêu quí, nói với mọi người: "Nếu ta có được một con trai như Tôn lang thì chết cũng yên tâm".

Tuy nói như vậy nhưng Viên Thuật cũng không trọng dụng Tôn Sách.

Tôn Sách muốn được làm thái thú quận nhưng Viên Thuật không cho.

Cậu của Tôn Sách là Ngô Cảnh làm thái thú Đan Dương (nay là Tuyên Thành, An Huy) bị thứ sử Dương Châu là Lưu Do đuổi đi.

Tôn Sách xin Viên Thuật cho đến Giang Đông giúp cậu đánh Lưu Do.

Viên Thuật vốn có mâu thuẫn với Lưu Do, liền cấp cho Tôn Sách hơn 1000 binh mã.

Tôn Sách dẫn quân về phía nam, dọc đường có nhiều người xin đi theo.

Tôn Sách có người bạn thân từ nhỏ là Chu Du, cũng mang người ngựa đến hội họp.

Vì vậy lực lượng dần lớn mạnh lên.

Tôn Sách chiến đấu dũng cảm, quân đội lại có kỷ luật nghiêm minh, nên được dân chúng ủng hộ.

Do đó, sau khi vượt sông không những nhanh chóng đánh bại được Lưu Do, giành lại được Đan Dương, mà còn chiếm được quận Ngô và quận Cối Kê.

Như vậy, một vùng rộng lớn gồm 8 quận Giang Đông đã bị Tôn Sách chiếm lĩnh.

Tôn Sách chiếm được Giang Đông, còn có hoài bão muốn phát triển lên phía bắc.

Nhân dịp Tào Tháo và Viên Thiệu đang kìm chân nhau ở Quan Độ, Sách chuẩn bị đánh úp Hứa đô để cướp lấy Hán Hiến Đế.

Nhưng đang lúc điều binh khiển tướng, chuẩn bị lương thảo thì xuất hiện một sự kiện bất ngờ.

Số là khi đánh chiếm quận Ngô, Tôn Sách giết thái thú ở đó là Hứa Cống, các môn khách của Hứa Cống quyết báo thù cho chủ.

Có lần, nhân dịp Tôn Sách lên núi đi săn, họ phục sẵn trong rừng cây bắn lén ra, một phát tên trúng vào mắt Tôn Sách.

Tôn Sách bị trọng thương, mời thầy thuốc điều trị chẳng những không khỏi mà bệnh tình ngày càng nặng.

Biết mình không sống nổi, Tôn Sách gọi các bộ hạ đến dặn dò: "Hiện nay chúng ta đã có đất và có quân, có thể đọ sức với người khác.

Mong các ông hết lòng giúp đỡ em ta là Tôn Quyền".

Tôn Quyền năm đó 19 tuổi, tuy còn trẻ nhưng vốn thích kết giao bè bạn, quí trọng nhân tài nên đã có tiếng tăm trong giới danh sĩ Giang Đông.

Tôn Sách gọi Tôn Quyền tới, trao lại ấn thụ và nói: "Hai anh em ta, nếu xét về tài năng xông pha trận mạc thì em không bằng anh; nhưng xét về mặt xem xét người hiền tài, trọng dụng người có công thì anh không bằng em.

Mong em từ nay gắng sức giữ gìn lấy cơ nghiệp ở Giang Đông".

Nói xong, Tôn Sách trút hơi thở cuối cùng.

Tôn Quyền gục trên giường khóc lóc thảm thiết.

Trương Chiêu khuyên ông nên thay ngay sang quan phục, lên ngựa đi thị sát 3 quận và nhanh chóng phái người tới Ba Khâu (nay là Nhạc Dương, Hồ Nam) báo cho Chu Du biết.

Chu Du vội đem quân đi suốt đêm về Ngô Trung cùng với Trương Chiêu giúp đỡ Tôn Quyền trong mọi việc.

Lúc đó, nói chung 6 quận ở Giang Đông tuy đã bị Tôn Sách chiếm, nhưng những nơi xa trung tâm vẫn còn những thế lực chưa chịu phục tùng mệnh lệnh.

Có người còn chờ xem tình thế ra sao để quyết định thái độ.

May nhờ Chu Du, Trương Chiêu đồng tâm hiệp lực phò tá Tôn Quyền nên cục diện mới dần dần ổn định.

Tôn Quyền nhớ lời anh dặn, chú trọng chiêu mộ nhân tài.

Chu Du giới thiệu với Tôn Quyền: "Tiểu tướng có người bạn là Lỗ Túc, là người rất có kiến thức, xin tướng quân cho mời đến giúp.

Ông ta nhất định sẽ có ích cho tướng quân".

Tôn Quyền liền cử ngay người mời Lỗ Túc đến.

Hai người gặp nhau, chuyện trò rất tương đắc.

Có lần Tôn Quyền tiếp kiến tân khách khi tiễn mọi người ra về còn lưu Lỗ Túc lại để tiếp tục đàm luận.

Tôn Quyền nói: "Nay nhà Hán suy vi, thiên hạ loạn lạc, tôi muốn kế thừa sự nghiệp của cha anh, phù trợ thiên tử nhà Hán, lập nên công nghiệp như Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công xưa kia.

Tiên sinh thấy thế nào?".

Lỗ Túc nói: "Kẻ bất tài này đã nghiên cứu kỹ đại thế trong thiên hạ.

Nhà Hán không còn hưng khởi được nữa.

Thế lực Tào Tháo đã rất lớn mạnh, không thể trừ được hắn ngay.

Tôi trộm suy nghĩ thay cho tướng quân: ta hãy nên giữ vững mảnh đất Giang Đông này để chờ đợi thời cơ.

Hiện Tào Tháo còn đang bận đối phó với các thế lực ở miền bắc, chưa chú ý đến ta.

Ta nên nhân cơ hội này đem quân đánh Lưu Biểu, chiếm lấy Kinh Châu, sau đó sẽ bình định thiên hạ.

Như thế có thể sánh với sự nghiệp của Hán Cao Tổ".

Nghe Lỗ Túc phân tích, Tôn Quyền thấy sáng hẳn ra, nhưng ngoài miệng còn nói giọng khiêm tốn: "Lời tiên sinh dạy bảo khiến Quyền này xiết bao cảm kích, nhưng nghĩ mình tài sơ đức mỏng, sao dám có cao vọng như thế!".

Thấy Tôn Quyền tôn trọng nhân tài nên khắp miền Giang Đông, nhiều danh sĩ tìm đến, văn thần võ tướng dưới trướng ngày càng đông đảo, quang cảnh ngày càng hưng vượng.

Tào Tháo nghe tin Tôn Quyền kế thừa địa vị của Tôn Sách.

Để mua chuộc Tôn Quyền, liền lấy danh nghĩa vua Hiến Đế, phong Tôn Quyền làm Chinh Lỗ tướng quân, kiêm thái thú Cối Kê.

Từ đó về sau, trên thực tế, Tôn Quyền đã xây dựng một chính quyền cát cứ ở Giang Đông.

GIA CÁT LƯỢNG VẠCH ĐỐI SÁCH Ở LONG TRUNG

Sau khi đại chiến Quan Độ, Lưu Bị chạy tới Kinh Châu nương nhờ Lưu Biểu.

Biểu cấp cho Lưu Bị một số người ngựa, cho ra đóng ở Tân Dã (nay là huyện Tân Dã, Hà Nam).

Lưu Bị ở Kinh Châu mấy năm, được Lưu Biểu đối đãi như thượng khách.

Nhưng Lưu Bị là người có hoài bão lớn, chí hướng chưa thực hiện được nên trong lòng lúc nào cũng buồn rầu.

Có lần, Lưu Bị nắn bóp bắp chân mình, thấy mềm nhẽo thì buồn bã rơi nước mắt.

Lưu Biểu nhìn thấy, liền hỏi lý do.

Lưu Bị nói: "Không có chuyện gì lớn.

Chỉ vì trước kia, Bị này thường xuyên đi trận mạc, hàng ngày không rời khỏi yên ngựa nên bắp chân rắn chắc; nay lâu ngày nhàn rỗi, bắp chân chảy xệ ra.

Nhìn ngày tháng qua đi, tuổi sắp già rồi, chẳng làm nên việc gì lớn, nên thấy tự cảm thương thân thế".

Lưu Biểu an ủi một hồi, nhưng Lưu Bị luôn luôn nghĩ tới kế lâu dài, muốn tìm 1 người tài cao học rộng để giúp đỡ mình.

Ông nghe nói ở Tương Dương có một danh sĩ là Tư Mã Huy, liền tìm đến bái yết.

Tư Mã Huy tiếp đãi rất trân trọng và hỏi xem Lưu Bị cần gì.

Lưu Bị nói: "Chẳng dám giấu gì tiên sinh, Bị này tìm đến chỉ để chân thành nghe lời chỉ giáo về đại thế trong thiên hạ".

Tư Mã Huy cười lớn nói: "Một kẻ quê mùa như lão phu, hiểu sao được đại thế thiên hạ.

Muốn nói về đại thế thiên hạ, phải là những bậc tuấn kiệt tài năng".

Lưu Bị năn nỉ: "Xin tiên sinh chỉ cho, ở đâu có những người tuấn kiệt như thế?".

Tư Mã Huy nói: "Vùng này có Ngọa Long, lại có Phượng Sồ.

Nếu ngài tìm được một trong hai người đó thì có thể bình định thiên hạ".

Lưu Bị vội hỏi: "Ngọa Long, Phượng Sồ là những ai?".

Tư Mã Huy nói: "Ngọa Long tên là Gia Cát Lượng, tự là Khổng Minh; Phượng Sồ tên là Bàn Thống, tự là Sĩ Nguyên".

Lưu Bị hết lời cảm tạ Tư Mã Huy rồi trở về Tân Dã.

Đúng lúc ấy có 1 nho sĩ tìm đến gặp.

Lưu Bị thấy người đó cử chỉ đàng hoàng, cho rằng nếu không phải Ngọa Long thì cũng là Phượng Sồ, liền tiếp đãi rất nhiệt tình.

Sau khi nói chuyện, mới biết người đó là Từ Thứ, một danh sĩ địa phương, nghe nói Lưu Bị đang chiêu mộ nhân tài nên đến xin theo. lưu Bị cả mừng, lưu Từ Thứ lại làm mưu sĩ.

Từ Thứ nói: "Tôi có 1 người bạn cũ là Gia Cát Khổng Minh, mọi người gọi ông ta là Ngọa Long, tướng quân có muốn gặp ông ta không?".

Qua lời Từ Thứ, Lưu Bị được biết kỹ về Gia Cát Lượng.

Thì ra Gia Cát Lượng không phải là người địa phương.

Quê ông ở huyện Dương Đô, quận Lang Nha (nay ở phía nam huyện Nghi Thủy, Sơn Đông).

Ông mồ côi cha khi còn ít tuổi.

Chú là Gia Cát Huyền, là bạn của Lưu Biểu nên đem ông đến Kinh Châu.

Ít lâu sau, ông chú mất, ông liền định cư ở Long Trung (nay ở phía tây Tương Dương, Hà Bắc), dựng một lều nhỏ, vừa cày cấy vừa đọc sách.

Ông mới 27 tuổi nhưng học vấn uyên bác, kiến thức hơn người, bạn bè hết sức khâm phục.

Ông cũng thường tự ví mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị khi xưa.

Nhưng ông thấy thiên hạ loạn ly, Lưu Biểu lại không phải là người biết dùng nhân tài, nên đành ẩn cư ở Long Trung, sống cuộc đời bình lặng.

Lưu Bị nghe Từ Thứ giới thiệu, liền nói: "Tiên sinh đã là bạn thân của Gia Cát Lượng, vậy phiền tiên sinh không quản vất vả đi cho 1 chuyến, mờ ông ta về đây với bỉ nhân".

Từ Thứ lắc đầu nói: "Làm như vậy không được!

Với 1 người như thế, tướng quân nhất định phải tự đến mời thì mới tỏ được thành ý".

Lưu Bị đã nghe Tư Mã Huy nói, nay lại thấy Từ Thứ giới thiệu như vậy, biết rằng Gia Cát Lượng là 1 người hiếm có, liền dẫn theo Quan Vũ, Trương Phi cùng đến Long Trung tìm Gia Cát Lượng.

Gia Cát Lượng biết Lưu Bị đến tìm mình, cố ý tránh mặt, nên Lưu Bị tới nơi không gặp được.

Quan Vũ, Trương Phi thấy xa xôi phiền phức quá, có ý nản, nhưng Lưu Bị nhớ lời Từ Thứ nói, hết sức kiên nhẫn, đi 1 lần không gặp, lại đi lần thứ 2, rồi đến lần thứ 3.

Lần này, sau hồi lâu chờ đợi, Lưu Bị được Gia Cát Lượng tiếp vì thấy Lưu Bị thành tâm và tha thiết quá.

Lưu Bị để Quan Vũ và Trương Phi bên ngoài rồi theo Gia Cát Lượng vào lều cỏ.

Khi trong lều chỉ có 2 người, Lưu Bị thành khẩn nói: "Nay nhà Hán suy vi, đại quyền rơi vào tay gian thần Tào Tháo.

Bị này tuy tài hèn sức kém, vẫn rất muốn cứu vãn cục diện, nhưng không tìm ra kế sách gì, nên một lòng tìm đến đây để xin tiên sinh chỉ giáo".

Gia Cát Lượng thấy Lưu Bị chân thành khiêm tốn như vậy, liền trình bày với Lưu Bị những gì mình đã tính toán và ôm ấp từ lâu.

Ông nói: "Hiện nay Tào Tháo đã dẹp xong Viên Thiệu, trong tay có hàng tẳm vạn quân, lại nắm được cái thế hiếp thiên tử để ra lệnh cho chư hầu.

Vì vậy khó dùng vũ lực để tranh hơn thua với hắn.

Tôn Quyền chiếm cứ một dải Giang Đông đã qua 3 đời.

Giang Đông địa thế hiểm yếu, trăm họ đã qui phục ông ta, lại có nhiều nhân tài phù trợ.

Xem ra ta có thể liên hợp với ông ta, chứ không thể đánh ông ta".

Sau đó, Gia Cát Lượng phân tích tình hình ở Kinh Châu và Ích Châu (nay là Tứ Xuyên, Vân Nam và 1 phần thiểm Tây, Cam Túc, Hồ Bắc, Quí Châu), cho rằng Kinh Châu là địa điểm trọng yếu về quân sự, lại là nơi mà Lưu Biểu không có đủ tài năng để giữ được.

Ích Châu là nơi đất đai phì nhiêu, rộng lớn, xưa nay vẫn nổi tiếng là "thiên phú chi quốc" (nơi kho tàng thiên nhiên), mà Lưu Chương là người chủ ở đó lại là kẻ nhu nhược bất tài, không được ai coi trọng.

Cuối cùng, Gia Cát Lượng nói: "Tướng quân là dòng dõi hoàng thất, thiên hạ đều nghe danh.

Nếu tướng quân chiếm được Kinh Châu, Ích Châu, ngoài thì liên hợp với Tôn Quyền, trong thì chỉnh đốn nội chính.

Một mai có thời cơ, có thể tiến quân từ 2 hướng Kinh Châu, Ích Châu để đánh Tào Tháo.

Đến lúc đó, ai mà không chào đón tướng quân?

Nếu làm được như vậy sẽ lập nên nghiệp lớn, nhà Hán có thể khôi phục được".

Lưu Bị càng nghe càng thấy khâm phục tầm mắt và kiến thức của người trẻ tuổi đó, liền sụp xuống đất nói: "Lời tiên sinh khiến Bị này như vén màn mây mù mà thấy được mặt trời.

Bị xin nghe theo lời dạy của tiên sinh.

Xin tiên sinh cùng Bị này xuống núi giúp đời".

Gia Cát Lượng cảm động trước sự thành tâm mến mộ của Lưu Bị, liền cùng với ông về Tân Dã.

Sau này người ta gọi sự kiện Lưu Bị đi đón Gia Cát Lượng là "tam cố thảo lư", và ý kiến trình bày của Gia Cát Lượng là "Long Trung đối sách".

Từ đó, Lưu Bị coi Gia Cát Lượng như bậc thầy, và Gia Cát Lượng cũng coi Lưu Bị như chúa công của mình, tình cảm giữa 2 người ngày càng thân mật.

Quan Vũ và Trương Phi thấy thế thì rất không bằng lòng, luôn phàn nàn sau lưng, cho Gia Cát Lượng còn ít tuổi, chưa chắc đã có tài năng gì mà Lưu Bị phải quá trọng vọng như thế.

Lưu Bị giải thích với họ: "Ta gặp được Khổng Minh tiên sinh, như cá gặp nước.

Từ nay cấm các ngươi không được ăn nói lung tung".

Quan Vũ, Trương Phi không dám nói gì nữa.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
93-94


CHU DU ĐÁNH HỎA CÔNG Ở XÍCH BÍCH

Sau khi dẹp yên miền bắc, năm 208 Tào Tháo đem đại quân xuống miền nam đánh Lưu Biểu.

Binh mã Tào Tháo chưa tới Kinh Châu, Lưu Biểu đã ốm chết.

Con Lưu Biểu là Lưu Tông nghe nói thanh thế quân Tào lớn mạnh thì sợ hãi rụng rời, vội cử người đến xin hàng.

Lúc đó, Lưu Bị đang giữ Phàn Thành (nay là thành phố Tương Phàn, Hồ Bắc) nghe tin quân Tào tiến đánh liền lui về Giang Lăng (nay là Giang Lăng, Hồ Bắc).

Dân chúng Kinh Châu thấy Lưu Bị đối đãi tốt với dân, liền tình nguyện cùng đi theo quân Lưu Bị.

Tào Tháo đến Tương Dương, nghe tin Lưu Bị rút về Giang Lăng, lại dò biết ở đó có kho lương lớn của Lưu Biểu, sợ Lưu Bị chiếm mất nên dẫn 5000 khinh kỵ đuổi gấp.

Quân mã của Lưu Bị phải đem theo vũ khí trang bị nặng nề, lại phải hộ tống hơn 10 vạn dân đi theo, nên mỗi ngày chỉ đi được hơn 10 dặm.

Kỵ binh của Tào Tháo mỗi ngày đêm đi được 300 dặm, nên rất nhanh chóng đuổi kịp Lưu Bị ở dốc Đương Dương, Trường Bản (nay ở đông bắc huyện Đương Dương, Hồ Bắc).

Quân Lưu Bị bị kỵ binh Tào Tháo chia cắt, đánh tan tác, may nhờ có Trương Phi chặn được ở dốc Trường Bản nên Lưu Bị và Gia Cát Lượng mới đem được một số ít quân thoát khỏi quân truy kích.

Nhưng đường về Giang Lăng đã bị đã bị quân Tào án ngữ, Lưu Bị đành lui về Hạ Khẩu (nay là thành phố Vũ Hán, Hồ Bắc).

Tào Tháo chiếm được Giang Lăng, liền tiến quân men theo Trường Giang về phía đông, gần tới Hạ Khẩu.

Gia Cát Lượng nói với Lưu Bị: "Tình hình rất nguy cấp, chỉ còn một cách cầu cứu Tôn Quyền".

Vừa may lúc đó Tôn Quyền cũng sợ Tào Tháo chiếm mất Kinh Châu, nên phái Lỗ Túc đến tìm Lưu Bị bàn việc liên hiệp chống Tào.

Gia Cát Lượng liền cùng Lỗ Túc đến Sài Tang (nay ở tây nam Cửu Giang, Giang Tây) gặp Tôn Quyền.

Khi yết kiến Tôn Quyền, Gia Cát Lượng nói: "Nay Tào Tháo đã chiếm được Kinh Châu, đang chuẩn bị đánh Đông Ngô.

Nếu tướng quân quyết tâm chống lại thì nên sớm đoạn tuyệt quan hệ với Tào Tháo và liên hợp với chúng tôi; nếu không thì thà hàng quách Tào Tháo.

Lúc này mà còn do dự thì tai họa đến nơi, thì không còn kịp đối phó nữa".

Tôn Quyền hỏi lại: "Thế tại sao Lưu Bị không đầu hàng Tào Tháo đi?"

Gia Cát Lượng nghiêm chỉnh nói: "Lưu tướng quân là dòng dõi nhà Hán, có tài đức trùm trời, sao có thể cúi đầu hàng phục Tào Tháo được?".

Tôn Quyền nghe Gia Cát Lượng nói thế, bị kích động, cũng nói: "Ta cũng không thể đem đất đai Giang Đông và 10 vạn quân mã biếu không cho kẻ khác.

Nhưng Lưu tướng quân vừa thua trận, làm sao chống lại được Tào?".

Gia Cát Lượng nói: "Xin tướng quân yên tâm.

Tuy Lưu hoàng thúc mới thua trận, vẫn còn 2 vạn thủy quân.

Quân Tào tuy đông nhưng từ xa đến đã rất mệt mỏi.

Vả lại quân miền bắc không quen thủy chiến, dân Kinh Châu không tuân phục chúng, nếu chúng ta đồng tâm hiệp lực thì nhất định đánh thắng được chúng".

Nghe Gia Cát Lượng phân tích, Tôn Quyền thấy vững tâm, phấn khởi, liền lập tức triệu tập tướng lĩnh, bàn cách đánh quân Tào.

Đúng lúc đó, Tào Tháo gửi chiếu thư tới.

Thư viết: ta phụng mệnh hoàng đế, đem quân nam chinh.

Nay trong tay ta có 80 vạn binh hùng tướng mạnh, sẵn sàng đọ sức với tướng quân" .

Tôn Quyên đưa thư cho các quan xem, đại đa số đều hoảng sợ, không biết nói sao.

Trương Chiêu là đại thần kì cựu nhất của Đông Ngô, nói: "Tào Tháo dùng danh nghĩa thiên tử đem quân thảo phạt.

Nếu chúng ta chống lại, là thua về lý.

Vả lại, xưa nay chúng ta vẫn dựa vào sự hiểm trở của Trường Giang, nay ưu thế đó không còn nữa.

Tào Tháo đã chiếm được Kinh Châu, có hàng ngàn chiến thuyền.

Chúng tiến đánh theo cả 2 đường thủy bộ thì ta chống đỡ sao nổi.

Vì vậy, theo thiển ý, ta chỉ còn có cách đầu hàng thôi".

Trương Chiêu nói xong, có rất nhiều người phụ họa.

Chỉ có Lỗ Túc im lặng, lạnh lùng nghe, không nói một lời.

Tôn Quyền thấy thế rất bực dọc, bỏ cuộc họp đi ra ngoài, Lỗ Túc liền ra theo.

Tôn Quyền kéo tay Lỗ Túc, hỏi: "Tiên sinh thử nói xem, nên thế nào bây giờ?".

Lỗ Túc nói: "Ý kiến bọn Trương Chiêu vừa rồi không thể nghe theo được.

Nếu nói chuyện đầu hàng thì Lỗ Túc này đầu hàng còn được chứ tướng quân sao có thể làm như thế.

Bởi vì nếu đầu hàng thì Túc này có thể bỏ về quê, giao du với các danh sĩ, gặp cơ hội còn có thể làm quan cấp châu, quận.

Còn nếu tướng quân đầu hàng, thì 6 quận Giang Đông này đều rơi vào tay Tào Tháo, tướng quân còn biết đi đâu?".

Tôn Quyền thở dài nói: "Lời của mọi người vừa rồi, thật khiến Quyền này vô cùng thất vọng.

Chỉ có lời tiên sinh mới hợp ý ta".

Tan họp, Lỗ Túc khuyên Tôn Quyền triệu tập ngay Chu Du đang ở Phiên Dương về để bàn bạc.

Chu Du về đến Sài Tang, Tôn Quyền lại triệu tập các quan văn võ lại họp bàn.

Trong cuộc họp, Chu Du khảng khái nói: "Tào Tháo về danh nghĩa là thừa tướng triều Hán, nhưng thực tế là gian tặc triều Hán.

Lần này hắn đến đây là tự tìm lấy cái chết, sao có thể đầu hàng hắn được?".

Tiếp đó, Chu Du phân tích cho mọi người rất nhiều điều bất lợi của Tào Tháo: quân miền bắc không quen thủy chiến, lại từ xa xôi tới một chiến trường lạ lẫm, thủy thổ không hợp, nhất định sẽ phát sinh tật bệnh.

Binh mã tuy nhiều, nhưng không thể phát huy được tác dụng.

Nghe Chu Du phân tích, Tôn Quyền hết do dự, cả quyết đứng lên, rút phăng bảo kiếm, chém sạt một góc bàn, rồi nghiêm nghị tuyên bố: "Ý ta đã quyết, ai còn nói đến chuyện đầu hàng thì sẽ như chiếc bàn này".

Tối hôm đó, Chu Du lại một mình đến gặp Tôn Quyền nói: "Tôi đã cho quân do thám tìm hiểu rõ ràng, Tào Tháo hư trương thanh thế, nói là có 80 vạn quân; kì thực chỉ có hơn 20 vạn, trong đó lại có nhiều quân mới thu phục ở Kinh Châu, không thật lòng theo Tào.

Chỉ xin tướng quân trao cho tôi 5 vạn tinh binh, tôi bảo đảm đánh bại được hắn".

Hôm sau, Tôn Quyền phong Chu Du làm đô đốc, giao cho chỉ huy 3 vạn thủy quân, hiệp lực với Lưu Bị cùng chống lại Tào Tháo.

Chu Du lĩnh binh tiến quân, gặp tiền quân Tào Tháo ở Xích Bích (nay ở núi Xích Cơ, ở phía tây huyện Vũ Xương, Hồ Bắc).

Quả nhiên đúng như dự liệu của Chu Du, quân Tào nhiều người không quen thủy thổ, đã phát sinh dịch bệnh.

Hai bên chạm trán, tiền quân của Tào Tháo thua trận, buộc phải rút về bờ bắc Trường Giang.

Chu Du dẫn quân đóng ở miền nam, 2 bên đối diện ghìm giữ nhau.

Đúng như nhận định của Chu Du, binh sĩ quân Tào là người miền bắc, không quen thủy chiến, mỗi khi gặp sóng gió, binh sĩ trên thuyền say sóng, không còn sức chiến đấu.

Tào Tháo phải cho xích chặt các thuyền lại với nhau để thuyền đỡ chòng chành.

Hoàng Cái, bộ tướng của Chu Du thấy tình hình đó, liền hiến kế: "Quân Tào nhiều, quân ta ít, nếu tách riêng thuyền ra thì ta bất lợi, nay chúng đã liên kết cả lại bằng xích sắt thì theo thiển ý của tiểu tướng, ta có thể dùng hỏa công để đánh bại chúng".

Chu Du thấy đó là 1 ý kiến hay liền bàn với Hoàng Cái, sai Hoàng Cái viết 1 bức thư gửi sang cho Tào Tháo, xin tình nguyện rời bỏ Đông Ngô, đem chiến thuyền dưới quyền sang hàng Tào.

Tào Tháo cho rằng trước lực lượng mạnh của mình, các tướng lĩnh Đông Ngô dao động muốn hàng là điều tự nhiên, nên không đề phòng gì.

Hoàng Cái sai binh sĩ chuẩn bị 10 thuyền lớn, trên chất đầy củi nỏ và cỏ khô tẩm dầu, bên ngoài phủ vải che kín, cắm đầy cờ quạt.

Lại chuẩn bị 1 số thuyền nhẹ, buộc sau thuyền lớn để khi phóng hỏa thì chuyển người sang, xông pha chiến đấu.

Tháng 11 , đang mùa rét đậm, tiết trời bỗng chuyển sang ấm, gió nam nổi lên.

Đêm đó Hoàng Cái đem quân giương buồm trên 10 thuyền lớn dẫn theo thuyền nhỏ, đi như tên bắn ngược dòng Trường Giang tiến về phía thủy trại Tào.

Tướng sĩ quân Tào nghe tin đại tướng Đông Ngô dẫn chiến thuyền đến hàng, đều chen chúc đứng trên mũi thuyền trông ngóng.

Không ngờ, chiến thuyền Đông Ngô cách thủy trại quân Tào khoảng 2 dặm thì 10 thuyền lớn đùng đùng bốc lửa.

Lửa nhờ sức gió nhanh chóng bốc cao và như những con rồng lửa lao và thủy trại Tào.

Chiến thuyền quân Tào đã xích chặt vào nhau, trong lúc bối rối, không gỡ ra kịp nên lập tức bén lửa, bốc cháy.

Chỉ trong chốc lát, mặt sông Trường Giang biến thành 1 biển lửa.

Lửa từ thủy trại lan cả sang doanh trại trên bờ, khiến quân Tào vừa chết cháy, vừa chết đuối.

Quang cảnh kinh hoàng tán loạn, không còn chỉ huy được nữa.

Thấy doanh trại Tào trên bờ bắc bốc cháy, Chu Du lập tức dẫn quân vượt sông tiến đánh mãnh liệt.

Lửa cháy sáng rực, trống trận vang lừng, tiếng hô giết vang dội khiến quân Tào không biết đối phương có bao nhiêu quân, không còn dám chống đỡ, chỉ cuống quýt tìm đường tháo chạy.

Tào Tháo dẫn tàn binh bại tướng chạy về theo đường nhỏ Hoa Dung (nay ở tây nam huyện Tiên Giang, Hồ Bắc).

Con đường này rất chật hẹp, lầy lội, kỵ binh đi lại khó khăn.

Tháo vội sai quân chặt cành cây và cắt cỏ lát đường rồi thúc kỵ binh liều mạng vượt qua.

Vì vội vã, số binh lĩnh làm việc lát đường bị ngựa dẫm chết, nằm la liệt trên đường.

Lưu Bị hiệp lực với Chu Du đem cả quân thủy và bộ đuổi riết tới tận Nam Quận (nay là Giang Lăng, Hồ Bắc).

Mấy chục vạn đại quân vừa chết bệnh, vừa chết trận mất quá nửa, số còn lại tan tác khắp nơi.

Tào Tháo đành cử Tào Nhân, Tào Hoảng, Nhạc Tiến chia nhau giữ Giang Lăng và Tương Dương, con mình dẫn tàn binh về Hứa đô.

Qua đại chiến Xích Bích, cục diện phân chia 3 nước đã cơ bản hình thành.

HOA ĐÀ TRỊ BỆNH

Tào Tháo đại bại ở Xích Bích, chạy về Hứa đô, trong lòng buồn bã.

Đúng vào lúc đó, đứa con nhỏ mà Tào Tháo yêu mến nhất là Thương Thư lại mắc bệnh nặng, tìm nhiều thầy thuốc mà vẫn không có hiệu quả.

Nhìn thấy đứa con sắp chết, Tào Tháo thương cảm than: "Nếu có Hoa Đà, thì con ta không phải chết sớm thế này".

Hoa Đà là 1 thầy thuốc nổi tiếng trong lịch sử y học Trung Quốc, là người đồng hương với Tào Tháo.

Từ lúc trẻ tuổi, Hoa Đà đã thông lầu kinh truyện, đặc biệt là tinh thông y học.

Dù gặp loại bệnh kì dị, khó khăn thế nào, nếu được Hoa Đà cứu chữa, thì tuyệt đại đa số trường hợp đều khỏi.

Các quan lại địa phương cho tới thái úy trong triều, nghe danh tiếng của Hoa Đà, nhiều lần mời ra làm quan, nhưng ông đều từ chối.

Hoa Đà đoán bệnh vô cùng chuẩn xác.

Có lần, 2 viên quan bị nhức đầu phát sốt, lần lượt tìm tới xin Hoa Đà chữa trị.

Hoa Đà xem bệnh cho 2 người, cho 1 người đơn thuốc đi ngoài, 1 người đơn thuốc phát tán mồ hôi.

Có người đứng cạnh thấy Hoa Đà cho 2 đơn thuốc khác nhau thì lấy làm lạ, liền hỏi tại sao bệnh tình giống nhau mà lại cho đơn thuốc khác nhau.

Hoa Đà nói: "Triệu chứng bệnh tuy giống nhau nhưng thực chất căn nguyên bệnh lại khác nhau.

Người trước do nguyên nhân bên trong, nên phải cho uống thuốc để tống chất độc ra theo đường tiêu hóa; còn người sau chỉ là do ngoại cảm, nên cho thuốc phát tán mồ hôi là khỏi".

Quả nhiên, 2 viên quan uống thuốc, đều nhanh chóng khỏi bệnh.

Có 1 viên tướng họ Lý, mời Hoa Đà tới xem bệnh cho vợ.

Hoa Đà tới, xem mạch nói: "Đây là do lúc mang thai bị tổn hại thân thể, cái thai còn tại trong bụng".

Viên tướng nói: "Vợ tôi bị sảy thai, thai đã ra rồi mà".

Hoa Đà nói: "Theo chẩn đoán của tôi, thai còn ở trong bụng".

Viên tướng không tin, sau khi Hoa Đà đi khỏi, hơn 100 ngày sau, bệnh người vợ càng nặng thêm, lại phải mời Hoa Đà đến xem.

Hoa Đà nói: "Đúng là có một cái thai chết lưu.

Nguyên là phu nhân có mang sinh đôi, một thai đã bị sảy, một thai vẫn còn trong bụng".

Hoa Đà liền cho thuốc kết hợp với châm cứu, quả nhiên làm thoát ra được 1 cái thai đã chết.

Bệnh nhân nhanh chóng được bình phục.

Hoa Đà không những giỏi về nội khoa mà còn thành thạo cả giải phẫu ngoại khoa.

Ông chế ra một loại thuốc gọi là "Ma phất tán".

Một bệnh nhân bị đau bụng dữ dội, mới qua 10 ngày, râu tóc và lông mày rụng hết.

Hoa Đà chẩn đoán nói: "Đó là trong tùy tạng có viêm nhọt, phải mau chữa trị".

Hoa Đà cho bệnh nhân uống ma phất tán, rồi mổ khoang bụng, cắt bỏ phần bị hoại tử, rồi khâu bụng lại, dán thuốc cao.

Bốn năm ngày sau, vết mổ liền lại, 1 tháng sau bệnh nhân bình phục.

Lịch sử còn ghi chép rất nhiều truyền thuyết về tài chữa bệnh của Hoa Đà.

Như trường hợp có 1 viên thái thú bị bệnh, rất nhiều thầy thuốc chữa không khỏi.

Hoa Đà xem bệnh thấy bệnh này chỉ có thể khỏi khi bệnh nhân lên cơn nóng giận dữ dội.

Ông cố ý đòi thật nhiều tiền đặt trước, rồi cứ rề rà không cho đơn thuốc.

Mấy ngày sau, ông đột nhiên bỏ đi, để lại một bức thư mắng mỏ viên thái thú là mắc bệnh như thế là đáng đời, mình làm mình chịu.

Thái thú quả nhiên nổi giận, cử người tìm bắt Hoa Đà.

Người con của thái thú biết Hoa Đà có dụng ý, ngầm dặn dò người nhà chớ có bắt Hoa Đà.

Thái thú nghe nói không bắt được Hoa Đà thì nộ khí xung thiên, uất quá thổ ra toàn máu đen.

Ngờ đâu, sau khi thổ ra máu, bệnh tự nhiên khỏi.

Tào Tháo xưa nay có bệnh nhức đầu.

Mỗi khi công việc bận rộn, đầu lại đau không chịu nổi.

Nghe nói Hoa Đà chữa bệnh giỏi có tiếng, liền cho mời đến.

Hoa Đà châm cứu mấy lần, bệnh nhức đầu ngừng hẳn.

Tào Tháo không cho ông đi, mà lưu lại làm thầy thuốc trong nhà để chữa bệnh cho mình.

Hoa Đà thích chữa bệnh cứu người, không muốn bị giữ lại để chỉ khư khư ôm hòm thuốc phục vụ một mình Tào Tháo.

Có lần, ông mượn cớ về thăm gia đình, luôn tiện lên núi tìm thuốc.

Tào Tháo không nghi ngờ gì, để ông đi.

Hoa Đà về đến nhà, bảo người nhà viết 1 bức thư cho Tào Tháo, nói vợ ông mắc bệnh rất nặng, phải ở lại chăm sóc, không về ngay Hứa đô được, Tào Tháo nhiều lần viết thư thúc giục nhưng Hoa Đà vẫn lần lữa không đến.

Tào Tháo lại ra lệnh cho các quan ở quận huyện đến tìm, Hoa Đà đều từ chối không đi.

Tào Tháo nổi nóng, liền phái sứ giả đến huyện Tiều điều tra, và dặn sứ giả: "Nếu vợ Hoa Đà ốm thật thì tặng ông ta 40 hộc (hộc - đơn vị do dung lượng thời cổ, bằng 10 đấu) lương và định thời hạn để Hoa Đà trở lại.

Nếu Hoa Đà nói dối thì lập tức bắt đem về".

Kết quả Hoa Đà bị bắt giải về Hứa đô.

Tào Tháo cho rằng Hoa Đà dối trá, phạm vào tội đại nghịch vô đạo, liền ghép ông vào tội chết.

Mưu sĩ Tuân Húc cảm thấy hình phạt đó quá nặng, liền khuyên Tào Tháo: "Hoa Đà có y thuật rất cao minh, nếu giết ông ta thì thiệt thòi cho nhiều người.

Xin thừa tướng xử phạt khoan dung".

Tào Tháo vốn cũng là người yêu chuộng nhân tài, nhưng từ sau khi đánh bại Viên Thiệu, bắt đầu có tính kiêu ngạo, lại đang cơn nóng giận, không chịu nghe lời Tuân Húc, hầm hầm tuyên bố: "Chẳng lẽ trong thiên hạ không còn có ai chữa bệnh giỏi như hắn ta hay sao?".

Nói xong, liền sai người giết ngay Hoa Đà.

Trong lúc Hoa Đà bị giam trong ngục, bên mình luôn có bộ sách y học quí do ông dựa vào bao năm kinh nghiệm để viết nên.

Ông không ngờ mình lại bị ghép vào tử tội, không có cách nào cứu vãn được.

Nhưng lại tiếc bộ sách đã chứa đựng kiến thức và tâm huyết nhiều năm, nếu để mất đi thì thiệt thòi lớn cho đời.

Trước ngày thụ hình, ông mời viên quan coi ngục đến nói: "Xin ông hãy giữ gìn bộ sách này.

Sau này có thể chữa bệnh giúp đời".

Nhưng viên quan coi ngục nhát gan, sợ tiếp nhận bộ sách đó, sau này Tào Tháo truy cứu sẽ bị liên lụy nên nhất định không chịu nhận.

Hoa Đà thất vọng, ngẩng lên nhìn trời than thở rồi xin quan ngục lại cho một mớ lửa, đốt cháy bộ sách quí đó trong ngục.

Sau khi Hoa Đà chết, Tào Tháo lại mắc bệnh nhức đầu, nhưng không thầy thuốc nào chữa khỏi được.

Song Tào Tháo vẫn không chịu nhận sai lầm, còn nói: "Tên Hoa Đà này cố ý không chịu chữa khỏi bệnh cho ta.

Dù ta không giết hắn, cũng không mong gì hắn hết lòng vì ta".

Mãi tới khi đứa con nhỏ là Thương Thư chết, Tào Tháo mới hết sức hối hận, nhưng đã muộn.

Hoa Đà chết, con cái và học trò ông vẫn tiếp tục chữa bệnh cứu người.

Nhưng đáng tiếc là bộ sách vô giá của ông đã vĩnh viễn thất truyền.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
95-96


LƯU BỊ VÀO ÍCH CHÂU

Sau trận Xích Bích, Chu Du lại mất hơn 1 năm nữa mới đánh đuổi được quân Tào Tháo ra khỏi Kinh Châu.

Sau đó giữa Lưu Bị và Tôn Quyền xảy ra chuyện tranh chấp Kinh Châu.

Lưu Bị cho rằng Kinh Châu vốn là của Lưu Biểu, là người anh em đồng tộc với mình.

Lưu Biểu chết đi thì Lưu Bị phải là người thừa kế.

Nhưng Tôn Quyền cho rằng Kinh Châu là do mình chiếm lại được từ tay Tào Tháo, nên Kinh Châu phải thuộc về Đông Ngô.

Vì Chu Du đã giao cho Lưu Bị cai quản một số đất đai ở nam ngạn Trường Giang, nhưng Lưu Bị thấy vùng đất đó còn nhỏ hẹp quá, rất không vừa vừa ý.

Không lâu sau, Chu Du chết, Lỗ Túc liền khuyên Tôn Quyền cho Lưu Bị mượn tạm đất Kinh Châu.

Đất đai đi mượn của người khác không phải là biện pháp lâu dài.

Vì vậy Lưu Bị phải tìm cách mở rộng địa bàn.

Theo kế hoạch mà Gia Cát Lượng đã vạch ra ở Long Trung, thì Lưu Bị cần phát triển vào Ích Châu.

Vừa may lúc đó, Lưu Chương là thứ sử Ích Châu phái người tới mời Lưu Bị.

Lưu Chương vốn có 2 mưu sĩ, một người là Pháp Chính, một người là Trương Tùng.

Hai người đều có tài, lại là bạn thân của nhau.

Họ thấy Lưu Chương nhu nhược bất tài, làm tay chân của ông ta không thể có tiền đồ rạng rỡ.

Khi Tào Tháo đánh chiếm Kinh Châu, Lưu Chương đã phái Trương Tùng đến liên lạc với Tào Tháo.

Lúc đó, Tào Tháo vừa thắng trận, thái độ rất kiêu ngạo, lại thấy sứ giả Trương Tùng vóc người thấp bé, tướng mạo bình thường, nên Tào Tháo không coi Trương Tùng ra gì.

Trương Tùng tức giận ra về.

Về tới Thành Đô (trị sở của Ích Châu), Trương Tùng nói với Lưu Chương: "Tào Tháo có dã tâm rất lớn, e rằng hắn sẽ thôn tính Ích Châu của chúng ta".

Lưu Chương tỏ ra lo sợ, Trương Tùng liền nói: "Lưu Bị là người đồng tộc với chúa công, lại là địch thủ của Tào Tháo.

Nên kết giao với ông ta để đối phó với Tào".

Lưu Chương vốn là người không có chủ kiến gì, nghe Trương Tùng nói như vậy thì đồng ý ngay và cử luôn Pháp Chính đi ngay Kinh Châu để liên lạc với Lưu Bị.

Đến Kinh Châu, Pháp Chính được Lưu Bị tiếp đãi hết sức ân cần.

Hai người cùng đàm luận về đại thế trong thiên hạ, ý kiến vô cùng hòa hợp.

Trở về Thành Đô, Pháp Chính và Trương Tùng bí mật bàn bạc với nhau, tìm cách đón Lưu Bị vào làm chủ Ích Châu.

Ít lâu sau, Tào Tháo dự định tiến quân chiếm Hán Trung (nay ở phía đông thành phố Hán Trung, Thiểm Tây).

Ích Châu bị uy hiếp, Trương Tùng nhân cơ hội này khuyên Lưu Chương mời Lưu Bị vào giữ hộ Hán Trung.

Lưu Chương lại cử Pháp Chính đem 4000 binh mã ra Kinh Châu đón Lưu Bị.

Pháp Chính đến Kinh Châu, nói thẳng với Lưu Bị: "Ích Châu là nơi rất giàu có, được người sáng suốt như tướng quân, lại có Trương Tùng làm nội ứng thì việc chiếm Ích Châu không có gì dễ dàng hơn".

Lưu Bị vẫn còn do dự chưa quyết định.

Lúc đó, Bàng Thống đã làm quân sư của Lưu Bị, kiên quyết chủ trương cần chiếm lấy Ích Châu.

Ông nói: "Ở Kinh Châu này địa thế trống trải, phía đông có Tôn Quyền, phía bắc có Tào Tháo, không dễ công thủ.

Muốn làm được sự nghiệp lớn, cần chiếm lấy Ích Châu làm căn cứ địa".

Lưu Bị nghe theo ý kiến của Pháp Chính và Bàng Thống, liền để Gia Cát Lượng và Quan Vũ ở lại giữ Kinh Châu, tự mình và Trương Phi cùng một số tướng sĩ do Bàng Thống làm quân sư vào Ích Châu.

Sau đó, việc Trương Tùng làm nội ứng bị phát giác, Lưu Chương liền giết Trương Tùng rồi phái binh mã chống lại Lưu Bị.

Lưu Bị tiến đến Lạc Thành (nay ở bắc Quảng Hán, Tứ Xuyên), bị tướng giữ Lạc Thành kiên quyết chặn đánh, suốt 1 năm trời không hạ được.

Bàng Thống lại bị trúng tên, hy sinh trong chiến đấu.

Sau, Lưu Bị chiếm được Lạc Thành, tiến đánh Thành Đô.

Gia Cát Lượng nghe tin Bàng Thống chết, liền để Quan Vũ lại giữ Kinh Châu, tự mình đem quân vào hội với Lưu Bị.

Lưu Chương không giữ nổi, đành phải đầu hàng.

Năm 214, Lưu Bị vào Thành Đô, tự xưng là Ích Châu mục (quan cai trị đứng đầu ở Ích Châu, như thứ sử ở các châu khác).

Ông xét công ban thưởng, cho rằng lần đầu chiếm Ích Châu này, Pháp Chính có công lao lớn nhất, liền phong Pháp Chính làm thái thú quận Thục (quận là đơn vị hành chính dưới cấp châu, thái thú là chức quan đứng đầu quận) trực tiếp quản lí Thành Đô, đồng thời còn là 1 trong các mưu sĩ cho Lưu Bị.

Pháp Chính là người có tâm địa hẹp hòi.

Vừa nắm quyền, ông ta lập tức nghĩ đến chuyện thanh toán ân oán.

Ai đã mời ông ta ăn 1 bữa cơm cũng được báo đáp; ai từng có xích mích nhỏ cũng bị trả thù.

Mấy người đã bị chết vì việc làm này của Pháp Chính.

Gia Cát Lượng thì khác hẳn.

Ông giúp đỡ Lưu Bị cai quản Ích Châu, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, không kể đến tình cảm và quan hệ cá nhân.

Một số hào môn đại tộc địa phương vì không lung lạc được Gia Cát Lượng nên oán trách ông.

Pháp Chính khuyên Gia Cát Lượng: "Khi xưa Hán Cao Tổ vào Hàm Dương, chỉ ban bố có 3 điều qui định (ước pháp tam chương) mà trăm họ đều đi theo Người.

Nay ngài vừa tới, tưởng cũng nên khoan dung một chút mới được lòng người".

Gia Cát Lượng nói: "Thái thú chỉ biết một mà không biết hai.

Triều Tần vì hình pháp nghiêm khắc tàn bạo nên trăm họ oán giận.

Cao Tổ phế bỏ pháp luật của Tần, định ra ba điều ước pháp chính là hợp với lòng người.

Tình hình hiện nay khác hẳn, Lưu Chương nhu nhược tầm thường, pháp luật lơi lỏng, quan lại trong Thục hoành hành phi pháp, công việc rối tung.

Nếu hiện nay không xiết chặt pháp luật thì làm sao ổn định được tình hình?".

Pháp Chính nghe Gia Cát Lượng nói, trong lòng hết sức khâm phục.

Từ đó cũng không dám tùy tiện trả thù báo oán nữa.

THÁI VĂN CƠ VỀ HÁN

Từ sau khi thua trận Xích Bích, Tào Tháo để ra mấy năm chỉnh đốn nội chính, khôi phục quân đội và tự phong làm Ngụy Công.

Năm 216 lại nâng tước vị của mình làm Ngụy Vương (đô thành ở Nghiệp Thành).

Uy danh của Tào Tháo ở miền bắc rất lớn, ngay đến thiền vu của Nam Hung Nô cũng đến Nghiệp Thành bái yết.

Tào Tháo giữ thiền vu Nam Hung Nô lại Nghiệp Thành, đối đãi như khách quí, để Hữu Hiền vương Hung Nô về cai quản dân Hung Nô.

Quan hệ giữa Nam Hung Nô và triều Hán từ đó giữ được hòa hảo.

Tào Tháo nhớ tới người bạn cũ của mình là Thái Ung, có 1 cô con gái ở Nam Hung Nô, tên là Thái Văn Cơ.

Tào Tháo muốn đón Thái Văn Cơ về Hán.

Thái Ung là 1 danh sĩ cuối đời Đông Hán, vì xúc phạm bọn hoạn quan nên bị đày tới Sóc Phương (nay ở phía bắc Hàng Cẩm Kỳ thuộc Nội Mông Cổ).

Khi Đổng Trác nắm quyền, Thái Ung trở về Lạc Dương.

Đổng Trác muốn mua chuộc lòng người, nghe tiếng tăm Thái Ung liền mời ông ra làm quan, trong 3 ngày thăng lên 3 cấp.

Thái Ung vì vậy cảm thấy Đổng Trác còn tốt hơn Hán Linh Đế nhiều.

Sau khi Đổng Trác bị giết, Thái Ung thấy Đổng Trác lúc trước đối đãi tốt với mình nên buông lời thương tiếc.

Tư đồ Vương Doãn nổi giận, cho Thái Ung thuộc bè đảng Đổng Trác, liền bắt giam lại.

Mặc dù nhiều đại thần ra sức kêu xin cho Thái Ung, nhưng Vương Doãn vẫn không tha.

Kết quả, Thái Ung chết trong ngục.

Thái Văn Cơ, con gái của Thái Ung còn có tên là Thái Viên, cũng là người học rộng, đa tài như cha.

Sau khi cha chết, miền Quan Trung lại xảy ra hỗn chiến giữa Lý Thôi và Quách Di, dân chúng lại điêu đứng lầm than, lưu ly thất tán.

Thái Văn Cơ cũng đi tránh loạn, gặp phải quân Hung Nô vào cướp phá.

Lính Hung Nô thấy Thái Văn Cơ có nhan sắc liền cướp lấy, đem dâng cho Tả Hiền vương.

Từ đó, Thái Văn Cơ trở thành phu nhân của Tả Hiền vương, được Tả Hiền vương rất sủng ái.

Sống ở Hung Nô suốt 12 năm, tuy cũng sung sướng và cũng quen dần tập quán Hung Nô nhưng không lúc nào Thái Văn Cơ nguôi lòng nhớ cố quốc.

Lúc này, Tào Tháo nhớ tới con gái người bạn cũ, liền phái sứ giả đem lễ vật tới Nam Hung Nô, đón Thái Văn Cơ về.

Tả Hiền vương không muốn rời Thái Văn Cơ, nhưng không dám chống lại ý Tào Tháo, đành để Thái Văn Cơ về Hán.

Được về nước, Thái Văn Cơ cũng rất muốn, nhưng phải rời bỏ con cái sinh ra ở Hung Nô, thì không khỏi thương tâm, liền sáng tác ra bài thơ nổi tiếng phổ vào "Mười tám phách sáo Hồ".

Về tới Nghiệp Thành, Tào Tháo thấy nàng một mình một bóng, liền cho nàng tái giá với Đổng Trự là quan úy đồn điền.

Ngờ đâu một thời gian sau, Đổng Trự phạm pháp, bị quan trên bắt, ghép vào tử tội, chuẩn bị hành hình.

Thái Văn Cơ hoảng hốt, chạy tới Ngụy Vương phủ xin gặp Tào Tháo để cầu xin.

Lúc đó, Tào Tháo đang mở tiệc, mời các công khanh đại thần, danh nho học sĩ.

Tất cả đang tụ tập trong vương phủ, thị tòng vào báo với Tào Tháo việc Thái Văn Cơ xin gặp.

Tào Tháo biết trong số danh sĩ có mặt không ít người từng biết Thái Ung, liền nói: "Con gái của Thái Ung bị lưu lạc sang nước ngoài nhiều năm, vừa được về nước.

Hôm nay cho phép nàng được vào yết kiến các vị, nên chăng?".

Mọi người vui vẻ đồng ý, Tào Tháo liền bảo thị tòng dẫn Thái Văn Cơ vào.

Thái Văn Cơ buông xõa đầu tóc, đi chân đất, tiến vào quỳ trước Tào Tháo, xin tha tội cho chồng.

Giọng nàng vỡ ra trong nước mắt, lời lẽ hết sức thương tâm, cử tọa có rất nhiều người từng quen biết với Thái Ung, thấy tình cảnh đó, hết sức ngậm ngùi thương cảm.

Tào Tháo nghe xong, liền nói: "Tình cảnh của phu nhân thật đáng chiếu cố, nhưng văn bản xử tội đã phát ra, biết làm thế nào?".

Thái Văn Cơ năn nỉ: "Trong chuồng ngựa của đại vương có hàng vạn con ngựa tốt, võ sĩ dưới trướng nhiều như cây rừng, chỉ xin đại vương cử một võ sĩ, cưỡi con ngựa tốt, đi thu hồi lại văn bản thì chồng tiện thiếp sẽ lưu lại được chút mạng thừa".

Tào Tháo liền viết ngay lệnh xá tội, phái võ sĩ phi ngựa tức tốc đem đi, tuyên bố tha tội chết cho Đổng Trự.

Lúc đó đang ngày đông tháng giá.

Tào Tháo thấy Thái Văn Cơ ăn mặc phong phanh, liền gọi người hầu mang khăn áo cho nàng.

Tào Tháo hỏi: "Nghe nói sinh thời, tôn phụ có tàng trữ nhiều thư tịch quí, nay trong nhà có còn giữ được không?".

Thái Văn Cơ cảm động nói: "Trước kia, cha tiện thiếp cho tiện thiếp hơn 4000 cuốn sách quí, nhưng qua loạn lạc đã thất tán hết, có điều tiện thiếp còn nhớ thuộc lòng được hơn 400 thiên".

Tào Tháo thấy Thái Văn Cơ còn nhớ được nhiều như thế liền nói: "Ta sẽ cử mười người tới nhà phu nhân, để họ chép lại những đoạn phu nhân còn nhớ.

Có tiện không?"

Thái Văn Cơ nói: "Không cần phải như vậy, cứ xin đại vương cấp cho giấy mực, tiện thiếp sẽ tự ghi chép lại".

Sau đó, Thái Văn Cơ quả nhiên dựa vào trí nhớ, chép lại mấy trăm thiên sách quí, dâng lên Tào Tháo.

Tào Tháo vô cùng mãn ý.

Việc Tào Tháo đón Thái Văn Cơ trở về đã góp phần bảo tồn một phần di sản văn hóa cổ.

Chuyện "Văn Cơ qui Hán" được lưu truyền như một giai thoại trong lịch sử Trung Quốc.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
97-98


QUAN VŨ DÌM BẢY ĐẠO QUÂN

Sau khi Lưu Bị chiếm được Ích Châu, Tôn Quyền cử người sang đòi lại Kinh Châu, Lưu Bị không đồng ý trả.

Vì tranh chấp Kinh Châu, 2 bên suýt phá vỡ liên minh.

Sau vì Tào Tháo chuẩn bị đánh Hán Trung, trực tiếp uy hiếp Ích Châu, Lưu Bị và Tôn Quyền đều thấy Tào Tháo mới là đối thủ đáng gờm nhất, nên dùng biện pháp dung hòa, chia Kinh Châu làm 2 phần, lấy sông Tương làm giới hạn, phía tây thuộc Lưu Bị, phía đông thuộc Tôn Quyền.

Lưu Bị giải quyết xong vụ tranh chấp Kinh Châu, liền chuyên tâm đối phó với Tào Tháo, cử Gia Cát Lượng ở lại giữ Thành Đô, còn tự mình cùng Pháp Chính đem quân tiến vào Hán Trung, Pháp Chính làm mưu sĩ trong quân.

Tào Tháo nghe tin, lập tức ra quân để tranh chấp với Lưu Bị.

Tào Tháo đích thân đến đóng ở Trường An để chỉ huy chiến sự ở Hán Trung.

Hai bên cầm cự suốt 1 năm.

Đến năm thứ 2, trong trận đánh lớn ở Dương Bình quan, quân Thục thắng lớn, chủ tướng Ngụy là Hạ Hầu Uyên bị giết, Tào Tháo buộc phải rút khỏi Hán Trung, lui quân về Trường An.

Qua trận này, Ích Châu được củng cố.

Năm 219, các tướng tá văn võ Ích Châu tôn Lưu Bị lên làm Hán Trung Vương.

Theo chiến lược của Gia Cát Lượng, dự định tiến công Tào Tháo từ 2 cánh.

Lần này, cánh phía tây đã thắng ở Hán Trung, thì nhân cơ hội, sẽ từ Kinh Châu ở phía đông, trực tiếp tiến đánh Trung nguyên.

Trấn thủ Kinh Châu là đại tướng Quan Vũ, một người gồm đủ dũng và mưu, nhưng kiêu căng tự phụ.

Khi Lưu Bị lên làm Hán Trung vương, liền phái người mang ấn phong Quan Vũ làm Tiền tướng quân.

Quan Vũ vẫn chưa bằng lòng.

Sau được nghe giải thích về tình nghĩa của Hán Trung vương, ông mới chịu nhận vui vẻ.

Lần đó, sau khi nhận được lệnh tiến quân, Quan Vũ giao cho bộ tướng ở lại giữ Giang Lăng và Công An, còn tự mình dẫn đại quân tiến đánh Phàn Thành.

Tướng giữ Phàn Thành là Tào Nhân vội cầu cứu Tào Tháo.

Tháo liền phái 2 đại tướng là Vu Cấm và Bàng Đức dẫn 7 đạo quân đi cứu viện.

Tào Nhân vội cho họ đóng quân trên vùng đất bằng phía bắc Phàn Thành, liên hệ chặt với trong thành khiến Quan Vũ không có cách nào đánh vào thành.

Trong khi 2 bên đang cầm cự chưa phân thắng bại thì vùng Phàn Thành có mưa lớn, nước sông Hán Thủy dâng cao, ngập vùng đất bằng sâu tới hơn 1 trượng (=3,3m).

Trại quân Vu Cấm bị ngập lụt, 7 đạo quân ngoi ngóp trong nước.

Vu Cấm phải dẫn quân tìm lên các gò cao xung quanh.

Ngay từ đầu, Quan Vũ đã phát hiện thấy nhược điểm trong bố trí của đạo quân Vu Cấm là chọn vùng đất thấp, trong khi thời tiết đang là mùa mưa. vì vậy, ông đã cho chuẩn bị trước thuyền bè, và lúc đó dẫn thủy quân tiến công.

Trước hết, ông cho vây chặt cánh quân của Vu Cấm, gọi hàng.

Vu Cấm bị vây trên một chiếc gò nhỏ bên sông Hán Thủy, không còn đường thoát, đành cúi đầu chịu hàng.

Bàng Đức dẫn 1 cánh quân khác đóng trên 1 con đê, Quan Vũ đưa thuyền đến áp sát, bắn tên lên như mưa.

Một bộ tướng của Bàng Đức sợ hãi, khuyên Bàng Đức nên đầu hàng.

Bàng Đức nổi giận quát mắng rồi rút kiếm chém chết ngay tên viên tướng đó.

Binh sĩ thấy Bàng Đức kiên quyết như vậy nên đều liều chết chống lại.

Bàng Đức đứng trên đê, cũng dùng cung tên bắn lại thủy quân của Quan Vũ.

Nhiều binh sĩ quân Thục bị chết vì tài bắn cung của Bàng Đức.

Hai bên chiến đấu suốt từ sáng sớm đến quá trưa, quân Bàng Đức bắn hết tên, liền theo lệnh Bàng Đức, rút đoản dao ra đánh giáp lá cà với số quân Thục từ thuyền đổ bộ lên đê.

Bàng Đức vừa chiến đấu vừa động viên tướng sĩ: "Người tướng giỏi không thể vì sợ chết mà trốn chạy, kẻ anh hùng không thể vì mạng sống mà để mất khí tiết.

Hôm nay là ngày ta lấy cái chết để báo đáp lại thừa tướng đây" (chỉ Tào Tháo).

Lúc đó nước mỗi lúc một dâng cao thêm, phần đê không bị ngập mỗi lúc càng hẹp lại.

Thủy quân của Quan Vũ đem thêm thuyền lớn tiến công mãnh liệt, quân Tào lũ lượt đầu hàng.

Bàng Đức nhân lúc nhốn nháo, liền cùng 3 tướng sĩ khác nhảy lên chiếm 1 thuyền nhỏ, toan chạy về Phàn Thành.

Không ngờ, 1 con sóng làm thuyền bị lật.

Bàng Đức rơi xuống nước, bị thủy quân Quan Vũ bắt sống.

Quân sĩ dẫn Bàng Đức về đại doanh của Quan Vũ.

Quan Vũ dùng lời lẽ ngon ngọt khuyên Bàng Đức đầu hàng.

Bàng Đức quát mắng lại: "Trong tay Ngụy vương có hàng trăm vạn quân mã, uy danh vang lừng thiên hạ; Lưu Bị nhà các người là một kẻ tầm thường, làm sao đối địch nổi với Ngụy vương.

Ta thà làm quỷ của triều đình, còn hơn làm tướng của các ngươi".

Quan Vũ nổi giận, vẫy tay, sai đao phủ đem Bàng Đức ra chém.

Sau khi tiêu diệt 7 đạo quân của Vu Cấm, Bàng Đức; Quan Vũ thừa thắng tiến công Phàn Thành.

Phàn Thành trong ngoài đều có nước, tường thành đã bị nước ngấm lở 1 số đoạn.

Các tướng sĩ dưới quyền Tào Nhân đều lo sợ.

Có người khuyên Tào Nhân: "Trong tình hình này, chúng ta khó lòng giữ được.

Nên nhân lúc thủy quân của Quan Vũ chưa kịp hợp vây, ta nên dùng thuyền nhỏ tháo chạy".

Tào Nhân cũng thấy khó lòng giữ được, liền bàn với Mãn Sủng.

Mãn Sủng nói: "Nước lũ không thể kéo dài, chỉ mấy ngày nữa là sẽ phải rút.

Nghe nói Quan Vũ đang tìm một con đường khác để tiến quân lên phía bắc, nhưng ông ta vẫn chưa dám thực hiện, chỉ vì sợ chúng ta ở đây chặn mất đường về.

Nếu chúng ta bỏ Phàn Thành thì một dải đất từ Hoàng Hà về phía nam sẽ mất hết.

Mong tướng quân cố gắng giữ gìn vững ít ngày nữa".

Tào Nhân thấy lời phân tích có lý, liền cổ vũ tướng sĩ kiên trì giữ thành.

Lúc đó ở Lục Hồn (nay ở đông bắc huyện Tung, Hà Nam), Tôn Lang phát động dân chúng khởi nghĩa, giết quan lại để hưởng ứng Quan Vũ.

Dân chúng từ Hứa đô về nam có nhiều người đi theo quân khởi nghĩa.

Uy danh của Quan Vũ rung động cả Trung nguyên.

Ngụy vương Tào Tháo đến Lạc Dương, nhận được tin tức các nơi báo về, có phần sợ hãi, liền họp các quan lại bàn, có ý kiến tạm thời bỏ Hứa đô để tránh mũi tiến công của Quan Vũ.

Mưu sĩ Tư Mã Ý nói: "Đại vương bất tất phải lo lắng.

Hạ thần thấy giữa Lưu Bị và Tôn Quyền tuy bề ngoài hòa hảo, nhưng bên trong vẫn ngờ vực lẫn nhau.

Lần này Quan Vũ thắng trận, Tôn Quyền nhất định không vui, chúng ta nên cử người đưa du thuyết với Tôn Quyền, phong cho ông ta chính thức cai trị miền Giang Đông và hẹn với ông ta cùng đánh Quan Vũ.

Như vậy Phàn Thành sẽ được giải vây".

Tào Tháo nghe theo, liền phái ngay sứ giả xuống Giang Đông thương lượng với Tôn Quyền.

LÃ MÔNG ÁO TRẮNG QUA SÔNG

Lời Tư Mã Ý rất phù hợp với tình hình thực tế.

Lưu Bị và Tôn Quyền tuy liên minh với nhau, nhưng vẫn chứa chất nhiều mâu thuẫn.

Khi Lỗ Túc còn sống, luôn chủ trương hòa hảo để cùng nhau đối phó với Tào Tháo.

Nhưng khi Lỗ Túc chết đi, người thay thế ông là Lã Mông lại chủ trương khác.

Lã Mông là danh tướng Đông Ngô, thời trẻ võ nghệ cao cường, lập nhiều chiến công, được Tôn Quyền quí trọng.

Một lần Tôn Quyền bảo Lã Mông: "Trách nhiệm của khanh hiện nay rất nặng, cần dành thời gian đọc sách để mở mang kiến thức".

Lã Mông nói: "Trong quân doanh có rất nhiều việc, bản tướng làm gì có thời gian đọc sách".

Tôn Quyền cười nói: "Ta đâu có yêu cầu khanh tinh thông binh sách như các quan bác sĩ (tên 1 chức quan văn), chỉ muốn khanh đọc thêm binh thư và hiểu thêm về lịch sử.

Khanh nói mình bận nhiều việc, nhưng nhiều sao được bằng ta!

Ta có kinh nghiệm là đọc một ít sách binh pháp và lịch sử, thấy rất có ích.

Khanh cứ thử xem".

Lã Mông nghe theo lời khuyên của Tôn Quyền.

Từ đó, hễ có thời gian là tranh thủ đọc sách.

Khi Lỗ Túc mới thay Chu Du làm đại tướng quân, có đến thăm Lã Mông.

Vốn cho rằng Lã Mông chẳng qua chỉ là 1 vũ tướng, không có hùng tài đại lược gì, nhưng sau 1 hồi Lỗ Túc thấy Lã Mông nghị luận hùng hồn, kiến giải sâu sắc, thì rất khâm phục, liền nói: "Tài năng và kiến thức của tướng quân hiện nay so với chàng Lã Mông hồi còn ở Ngô Trung thật khác xa".

Lã Mông tự hào nói: "Vốn một người ba ngày không gặp lại, đã phải nhìn bằng con mắt khác, đô đốc không nên đánh giá người theo cách nhìn cũ nữa".

Sau khi thay Lỗ Túc, Lã Mông đem quân đóng ở Lục Khẩu (nay ở tây nam Gia Ngư, Hồ Bắc).

Ông thấy Quan Vũ có dã tâm kiêm tính Đông Ngô, liền dâng thư lên Tôn Quyền, xin đem quân đối phó.

Thư viết: "Chúa tôi Lưu Bị và Quan Vũ, đều là những kẻ phản phúc không tin cậy được, xin chúa công đừng đối đãi như bạn bè liên minh chân chính".

Tôn Quyền cũng thấy Quan Vũ quá ngông cuồng, tự đại.

Năm trước, để thắt chặt tình thân, Tôn Quyền đã cử người sang hỏi xin con gái Quan Vũ về làm vợ con trai mình, Qua Vũ không những không nhận, còn nói với sứ giả 1 cách hỗn xược: "Ông về bảo với Tôn Quyền: con gái một hổ tướng sao gả cho loài chó hèn hạ được!".

Vì việc đó, Tôn Quyền vô cùng uất giận.

Lần này nghe lời Lã Mông, Tôn Quyền quyết tâm diệt trừ Quan Vũ cho kì được.

Đúng vào lúc đó thì sứ giả của Tào Tháo tới, đề nghị cùng đánh ép Quan Vũ.

Tôn Quyền lập tức trả lời, đồng ý đem quân đánh vào hậu phương của Quan Vũ.

Quan Vũ cũng biết Lã Mông là viên tướng lợi hại của Đông Ngô, nên tuy đem đại quân đi đánh Phàn Thành, vẫn bố trí phòng vệ nghiêm mật vùng giáp giới Thục-Ngô.

Lã Mông vốn hay đau ốm, lần này ông ta giả vờ tái phát bệnh cũ và tình hình nặng hơn trước.

Tôn Quyền cũng chính thức hạ lệnh điều Lã Mông về phía sau chữa bệnh, cử 1 tướng trẻ là Lục Tốn lên thay.

Tin tức đó được báo tới Phàn Thành.

Quan Vũ nghe tin Lã Mông ốm nặng, lại được thay thế bằng anh thư sinh Lục Tốn thì tỏ ra mừng thầm.

Mấy hôm sau, Lục Tốn từ Lục Khẩu cử người tới bái yết Quan Vũ, mang theo thư và lễ vật, thư viết: "Nghe tin tướng quân dìm chết bảy đạo quân Tào ở Phàn Thành, bắt sống Vu Cấm, khắp gần xa không ai không ca ngợi thần uy của tướng quân.

Lần này quân Tào thất bại, Đông Ngô chúng tôi cũng rất vui mừng.

Kẻ thư sinh này mới được cử lên nhận chức, muôn phần lo lắng vì gánh nặng trên vai.

Xin được tướng quân chiếu cố giúp đỡ cho".

Quan Vũ xem thư, thấy anh chàng thư sinh này khiêm tốn, thật thà, cảm thấy rất yên tâm, liền điều bớt binh mã phòng bị phía Đông Ngô lên tăng cường cho quân đánh Phàn Thành.

Lục Tốn lập tức báo cáo tình hình điều quân của Quan Vũ lên cho Lã Mông và Tôn Quyền.

Lúc đó, ở Phàn Thành, Quan Vũ tiếp nhận thêm mấy vạn hàng binh của Vu Cấm, nên tình hình lương thực có khó khăn, liền sai người đến cướp kho lương thực dự trữ của Đông Ngô ở Tương Quan.

Tôn Quyền được tin, càng nổi giận, lập tức cử Lã Mông làm đại đô đốc, đem quân nhanh chóng tập kích vào hậu phương của Quan Vũ.

Lã Mông đến Tầm Dương (nay ở tây nam Hoàng Mai, Hồ Bắc), ngụy trang toàn bộ chiến thuyền thành thuyền buôn, chọn các binh sĩ tinh nhuệ nhất giấu trong khoang thuyền.

Lính chèo thuyền đến mặc quần áo trắng, giả làm thương nhân, lũ lượt đưa thuyền tiến sang bờ bắc.

Tới bờ bắc, quân canh giữ của Thục đều tưởng là thuyền buôn, nên cho phép họ kéo thuyền vào bờ.

Không ngờ đến đêm, quân ẩn náu trong khoang thuyền bí mật tiến lên chiếm hết các lầu canh, bắt giữ toàn bộ quân của Quan Vũ.

Quân đội Lã Mông như quỷ binh thần tướng bất ngờ xuất hiện chiếm hết bờ bắc rồi tiến đánh Công An.

Quân Thục giữ Công An và Giang Lăng vốn không ưa Quan Vũ, thấy quân Lã Mông bất ngờ xuất hiện, bao vây gọi hàng, liền nhất loạt đầu hàng.

Lã Mông vào thành, sai người phủ dụ gia đình các tướng sĩ quân Thục, nhắc nhở quân Ngô giữ nghiêm kỉ luật, không xâm phạm tính mệnh tài sản dân chúng trong thành.

Có 1 tên lính Đông Ngô là người đồng hương của Lã Mông, vì trời mưa nên lấy tạm chiếc nón của nhà dân để che cho khỏi ướt khôi giáp.

Lã Mông phát hiện thấy, cho rằng tên lính đó vi phạm quân lệnh, tuy là đồng hương nhưng không thể không tôn trọng quân pháp, liền sai đem chém.

Do đó, toàn quân đều chấn động, không ai còn dám phạm vào lệnh quân nữa.

Lúc đó Tào Tháo đã phái Từ Hoảng mang viện binh đến tiền tuyến Phàn Thành.

Từ Hoảng cho sao chép thư của Tôn Quyền gửi Tào Tháo, hẹn cùng đánh kẹp vào quân Quan Vũ thành nhiều bản rồi buộc vào tên, cho bắn vào trại quân Quan Vũ.

Quan Vũ được tin Lã Mông đã tập kích chiếm hậu phương của mình, đang bối rối, thì Từ Hoảng đem quân đánh mạnh, buộc Quan Vũ phải bỏ vây Phàn Thành.

Quan Vũ phái sứ giả về Giang Lăng tìm hiểu tình hình.

Sứ giả được Lã Mông tiếp đãi ân cần và dẫn đi thăm các gia đình tướng sĩ.

Người nhà tướng sĩ đều nói là được quân Đông Ngô đối đãi rất tử tế.

Sứ giả trở về, đem tình hình đó nói với tướng sĩ.

Họ đều thấy Đông Ngô là tốt, không muốn đánh nhau với Đông Ngô nữa.

Một số binh sĩ thậm chí còn lẻn trốn về Giang Lăng.

Tới lúc đó, Quan Vũ mới thấy việc phòng bị với Đông Ngô là sơ suất, nhưng đã muộn mất rồi.

Tiến thoái lưỡng nan, Quan Vũ cuối cùng phải dẫn quân chạy về Mạch Thành (nay ở đông nam Đương Dương, Hồ Bắc).

Tôn Quyền tiến quân tới Mạch Thành, sai người kêu gọi Quan Vũ đầu hàng.

Quan Vũ không thể chịu nhục như vậy, liền đem theo hơn 10 kỵ binh chạy về phía tây.

Tôn Quyền đã cử quân mai phục sẵn trên đường nhỏ, chặn đường chạy và bắt sống được Quan Vũ.

Biết Quan Vũ không chịu đầu hàng, Tôn Quyền hạ lệnh đưa Quan Vũ ra chém.

Tào Tháo cho rằng Tôn Quyền có công lớn, liền phong làm Nam Xương hầu.

Tới khi Tào Phi kế vị và xưng đế, lại phong Tôn Quyền là Ngô vương.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
99-100


TÀO THỰC BẢY BƯỚC THÀNH THƠ

Tôn Quyền chiếm được Kinh Châu, giết Quan Vũ, sợ Lưu Bị báo thù, liền phái sứ giả đem thư gửi Tào Tháo, tỏ ý sẵn lòng qui thuận và khuyên Tào Tháo nên thuận theo mệnh trời, lên ngôi xưng đế.

Tào Tháo nhận thư, tiện tay đưa cho các thủ hạ xem, rồi cười nói: "Thằng nhãi Tôn Quyền muốn nướng ta trên lò lửa đây".

Từ khi Hán Hiến Đế về Hứa đô, việc triều chính và quyền chỉ huy quân đội hoàn toàn nằm trong tay Tào Tháo.

Việc phế bỏ Hán Hiến Đế và tự mình xưng đế đối với Tháo là rất dễ dàng.

Nhưng ông ta nghĩ rằng, nhà Hán tuy đã vô cùng suy yếu, nhưng vẫn còn có danh nghĩa chính thống.

Nếu mình lên làm hoàng đế, mọi người chưa dễ phục tòng.

Vì vậy, Tào Tháo cho rằng, việc Tôn Quyền xui mình phế bỏ Hiến Đế, tự xưng hoàng đế, là cố ý đẩy mình vào thế bị thiên hạ phản đối.

Trầm ngâm một lát, Tào Tháo nói: "Nếu quả thật là mệnh trời, ta sẽ chỉ làm Chu Văn Vương thôi" (ý nói để tới đời con sẽ chiếm ngôi hoàng đế).

Sau đó ít lâu, bệnh cũ của Tào Tháo tái phát, thuốc thang điều trị đều không có hiệu quả.

Cuối cùng mất tại Lạc Dương.

Năm đó, Tào Tháo 66 tuổi.

Tào Tháo mất, thế tử Tào Phi kế vị làm Ngụy vương và thừa tướng, tiếp quản mọi quyền hành của Tào Tháo.

Sau khi Tào Phi nối ngôi Ngụy vương, có người tố giác là Tào Thực, em Tào Phi làm Lâm Trung hầu thường xuyên uống rượu mắng người, lại giam cả sứ giả do Tào Phi cử tới.

Tào Phi lập tức cử người tới Lâm Trung bắt Tào Thực đem về Nghiệp Thành hỏi tội.

Tào Phi và Tào Thực vốn là 2 anh em do vương hậu Biện thị sinh ra.

Tào Tháo không những là nhà chính trị, nhà quân sự mà còn là nhà văn học nổi tiếng.

Hai anh em Tào Phi, Tào Thực cũng giỏi thơ văn.

Ba cha con đều là những người đứng đầu trường phái thơ, gọi là trường phái Kiến An (Kiến An là một trong những niên hiệu của Hán Hiến Đế).

Lịch sử văn học gọi gộp 3 cha con Tào Tháo là "tam Tào".

Tào Thực từ nhỏ đã rất thông minh, mới hơn 10 tuổi đã nổi tiếng học rộng và có tài văn chương mẫn tiệp.

Có lần,Tào Tháo xem văn của Tào Thực, tỏ ý nghi ngờ, liền hỏi: "Có phải con ta nhờ người khác làm hộ không?".

Tào Thực quì xuống nói: "Con xuất khẩu thành văn, hạ bút thành thơ, sao lại phải nhờ người khác làm hộ?

Nếu phụ vương không tin, xin cứ cho thử tại chỗ".

Tào Tháo thử mấy lần, quả thấy Tào Thực tài hoa xuất chúng, nên đặc biệt yêu quí.

Nhiều lần, Tào Tháo muốn phong Tào Thực làm thế tử nối nghiệp, nhưng vì có nhiều đại thần khuyên can không nên bỏ trưởng lập thứ, nên mới không thực hiện việc đó.

Tào Phi sợ địa vị thế tử của mình không vững nên tìm mọi cách làm vừa lòng Tào Tháo.

Có lần, Tào Tháo chuẩn bị ra trận, Tào Phi, Tào Thực đều tiến đưa.

Trước lúc chia tay, Tào Thực ứng khẩu đọc 1 đoạn văn ca ngợi ông đức Tào Tháo, mọi người nghe đều thán phục nức nở.

Có người ghé tai mách nước cho Tào Phi: "Đại vương sắp xông pha chiến trận, thế tử không nên dùng lời lẽ hào nhoáng mà cần tỏ tình cảm quyến luyến, buồn lo.

Như thế sẽ có hiệu quả hơn".

Tào Phi nghe theo, nắm vạt áo Tào Tháo, sụt sùi cáo biệt, nhắc nhở phụ vương muôn ngàn lần nên bảo trọng thân thể.

Tào Tháo cũng cảm động rơi nước mắt.

Sự việc đó khiến Tào Tháo nghĩ rằng Tào Phi tuy tài năng không bằng Tào Thực, nhưng tâm địa trung hậu, thực thà hơn nên không nghĩ tới chuyện thay đổi địa vị thế tử nữa.

Lại thêm Tào Phi nhờ rất nhiều người nói tốt cho mình và gièm pha Tào Thực khiến tình cảm mến yêu của Tào Tháo với Tào Thực dần giảm sút đi.

Còn Tào Thực là người tính tình phóng khoáng, ít chú ý đến tiểu tiết.

Có lần sai đánh xe ngựa, tự mở cửa vương cung đi ra ngoài.

Việc đó vi phạm vào qui định của vương cung.

Tào Tháo nghe biết, nổi giận, liền xử viên quan giữ cửa vương cung vào tội chết.

Lại có lần, Tào Tháo cử Tào Thực đem quân xuất chính.

Tào Phi nghe tin, sai chuẩn bị sẵn tiệc rượu tiễn, mới Tào Thực uống say túy lúy.

Một lát sau, Tào Tháo sai người đến giục Tào Thực lên đường, nhưng giục giã mấy lần Tào Thực vẫn chưa tỉnh rượu.

Tào Tháo đành bãi bỏ việc sai Tào Thực cầm quân.

Tất cả những sự việc đó khiến địa vị thế tử của Tào Phi càng thêm vững chắc.

Sau khi Tào Phi lên làm Ngụy vương, thấy Tào Thực giao du rộng, trong lòng vẫn gờm sợ.

Một lần, nhân một cớ nhỏ, Tào Phi liền sai bắt Tào Thực toan xử vào tội chết.

Vương thái hậu Biện thị nghe tin, cuống quýt sợ hãi, vội chạy đến xin hộ Tào Thực, mong Tào Phi nghĩ đến tình anh em cùng mẹ mà khoan thứ.

Tào Phi không thể không nghe lời mẹ.

Vả lại, chỉ vì một chuyện nhỏ mà giết em ruột, cũng sợ mọi người chê cười, liền gọi Thực tới mắng: "Ta với ngươi tuy tình là anh em, nhưng nghĩa là vua tôi, nếu không kính nể Thái hậu thì ta quyết không tha mạng cho ngươi.

Xưa nay ngươi vẫn cậy tài, vậy hôm nay để chuộc tội, ngươi hãy đứng trước ta bảy bước tiến về phía ta.

Hết bảy bước chân, nếu không làm xong bài thơ thì ta sẽ chém.

Trong lời thơ, ngươi không được nói gì tới hai chữ anh em và nhắc gì tới chuyện hôm nay.

Ngươi có làm được không?".

Tào Thực sụp lạy nói: "Xin vâng mệnh".

Sau đó lùi xa 7 bước và ung dung tiến lên.

Biện thị và các thị thần xung quanh chăm chú nhìn Tào Thực, phập phồng lo sợ.

Tào Thực đi lên.

Một bước, hai bước, ba bước...vẫn chưa đọc được gì.

Mọi người, đặc biệt là Biện thị càng lo thắt ruột.

Bỗng nhiên, Thực ngẩng cao đầu, sang chảnh đọc:

"Chử đậu nhiên đậu cơ

Đậu tại phủ trung khấp

Bản thị đồng căn sinh

Tương tiên hà thái cấp"

Dịch:

Cành đậu đun hạt đậu

Hạt đậu trong nồi khóc

Cùng một gốc sinh ra

Đốt nhau sao quá gấp

Từ bước thứ 4 tới bước thứ 7, mỗi bước đọc xong 1 câu thơ, và hoàn thành đúng như qui định khắt khe của Tào Phi.

Ý thơ khiến Tào Phi cũng phải trào lệ, ân hận.

Ba mẹ con ôm nhau khóc.

Mọi người vừa xúc động, vừa vui mừng cảm phục tài năng mẫn tiệp của Tào Thực.

Dù vậy, Tào Phi vẫn triệt bỏ tước Lâm Truy hầu của Thực và giáng xuống 1 tước thấp hơn, bắt đi nhận chức xa kinh thành.

Câu chuyện "thất bộ thi" (bài thơ làm trong 7 bước) của Tào Thực trở thành một giai thoại trong lịch sử văn học Trung Quốc và được truyền tụng mãi.

Lên làm Ngụy vương, Tào Phi không e ngại dư luận như Tào Tháo.

Mùa thu năm đó, Tào Phi sai thân tín liên danh dâng thư lên Hán Hiến Đế, khuyên (thực chất là buộc) Hán Hiến Đế nhường ngôi cho Ngụy vương.

Hán Hiến Đế đã ngồi trên ngai vàng, làm hoàng đế bù nhìn suốt hơn 30 năm.

Nay nhận được biểu quyết của các đại thần, đành tuyên bố nhượng vị, đổi xưng là Sơn Dương công. các đại thần còn bày đặt ra 1 nghi thức nhường ngôi long trọng, để Hán Hiến Đế bưng ngọc tỉ dâng cho Ngụy vương Tào Phi, tỏ rằng hoàn toàn tự nguyện.

Năm 220 Tào Phi xưng đế, dựng nên triều Ngụy.

Đó là Ngụy Văn Đế.

Tào Phi truy xưng cha mình là Tào Tháo làm Ngụy Võ Đế.

Vương triều Đông Hán do Lưu Tú dựng nên, tới lúc đó mới chính thức kết thúc.

LỤC TỐN THIÊU CHÁY TRẠI QUÂN LƯU BỊ

Tin Tào Phi xưng đế truyền tới Thục Hán, kèm theo rất nhiều lời đồn rằng Hán Hiến Đế đã bị Tào Phi giết chết, Hán Trung vương Lưu Bị tin vào lời đồn đó, đã cho tổ chức tang lễ Hán Hiến Đế ở Thành Đô.

Các đại thần cho rằng, Hán Hiến Đế đã chết, Tào Phi đã xưng đế thì Lưu Bị là dòng dõi nhà Hán, rất nên tiếp ngôi hoàng đế.

Năm 221, Lưu Bị lên ngôi hoàng đế ở Thành Đô, đó là Hán Chiêu Liệt Đế.

Vì vùng thống trị là đất Thục (nay là đại bộ phận Tứ Xuyên, Vân Nam, toàn bộ Quí Châu, một bộ phận của Thiểm Tây, Cam Túc) nên lịch sử gọi triều đại này là Thục Hán, gọi gọn lại là Thục.

Lưu Bị rất căm giận và đau lòng trước việc Đông Ngô chiếm mất Kinh Châu và giết Quan Vũ, nên sau khi lên ngôi, liền coi việc quan trọng trước hết là tiến đánh Đông Ngô để báo thù trả hận.

Đại tướng Triệu Vân can rằng: "Kẻ cướp ngôi vua là Tào Phi chứ không phải Tôn Quyền.

Nếu diệt được Tào Ngụy thì Đông Ngô tự nhiên phải khuất phục.

Không nên bỏ qua Tào Ngụy mà đánh Đông Ngô".

Các đại thần khác cũng đều khuyên can, nhưng Lưu Bị nhất định không nghe.

Ông ta giao cho Gia Cát Lượng ở lại Thành Đô phò tá thái tử Lưu Thiền, còn tự mình dẫn quân đi đánh Đông Ngô.

Lưu Bị 1 mặt chuẩn bị xuất quân, 1 mặt gọi Trương Phi đem quân đến Giang Châu (nay là Trùng Khánh, Tứ Xuyên) hội hợp.

Nhưng Lưu Bị chưa kịp xuất quân, thì bộ tướng của Trương Phi đã làm phản, giết Trương Phi và sang hàng Đông Ngô.

Lưu Bị mất liền 2 viên đại tướng, lực lượng yếu đi nhiều.

Nhưng do tâm lý nôn nóng báo thù, không còn cân nhắc tỉnh táo được nữa.

Tin cấp báo về tới Đông Ngô, Tôn Quyền thấy Lưu Bị ra quân lần này thanh thế lừng lẫy, có phần lo sợ, liền cử người sang gặp Lưu Bị xin hòa.

Nhưng trong tâm trạng kiên quyết báo thù, Lưu Bị thẳng thừng cự tuyệt.

Chỉ mấy ngày sau, quân Thục Hán đã đánh chiếm huyện Vu (nay là phía bắc huyện Vu Sơn, Tứ Xuyên) và tiến tới Tỉ Qui (nay ở phía tây tỉnh Hồ Bắc).

Tôn Quyền biết không còn hi vọng giảng hòa, liền cử Lục Tốn làm đại đô đốc, đem 5 vạn quân chống lại.

Chỉ sau mấy tháng ra trận, Lưu Bị đã chiếm được năm, sáu trăm dặm đất đai Đông Ngô.

RỒi từ Tỉ Qui tiếp tục đánh gấp về hướng đông.

Hoàng Quyền, làm chức tùy quân mưu sĩ, vội can Lưu Bị: "Quân Đông Ngô xưa nay chiến đấu rất dũng mãnh.

Xin hoàng thượng chớ coi thường chúng.

Quân ta thuận dòng sông đi xuống, tiến lên thì dễ nhưng lui quân rất khó.

Vậy xin để tiểu tướng đi trước mở đường, bệ hạ ở phía sau tiếp ứng.

Như vậy tiến quân sẽ thuận lợi và đảm bảo hơn".

Nhưng Lưu Bị lòng như lửa đốt, nhất định không chịu nghe theo Hoàng Quyền.

Liền sai Hoàng Quyền đóng lại giữ Giang Bắc, đề phòng quân Ngụy.

Còn mình dẫn quân xuôi theo bờ nam vượt núi trèo non tiến tới Hào Đình (nay ở tây bắc Nghi Đô, Hồ Bắc).

Các tướng sĩ Đông Ngô thấy quân thục cứ tiến sâu mãi, đều tức tôi, hăng hái muốn đem quân quyết chiến, nhưng đại đô đốc Lục Tốn kiên quyết không cho.

Lục Tốn phân tích: "Lần này Lưu Bị mang đại quân đông chinh, sĩ khí đang hăng, có sức chiến đấu mạnh.

Vả lại chúng chiếm thượng du, có địa hình hiểm yếu, không dễ đánh phá.

Nếu liều lĩnh quyết chiến, vạn nhất gặp thất bại thì ảnh hưởng đến sự mất còn của cả Đông Ngô.

Chúng ta hãy giữ gìn lực lượng, suy xét chiến lược kéo dài thời gian đợi đến khi quân địch mỏi mệt, sẽ tìm cơ hội phản công".

Tướng lĩnh dưới quyền Lục Tốn, có người là lão tướng có công từ thời Tôn Sách, có người là quí tộc họ Tôn, vốn đã không phục khi Tôn Quyền cử 1 thư sinh làm đại đô đốc.

Nay lại thấy Lục Tốn không chịu cho xuất kích, thì đều cho Lục Tốn là kẻ nhát gan, sợ địch nên bực bội, nói xấu sau lưng. từ huyện Vu đến Di Lăng (nay ở phía đông huyện Nghi Xương, Hồ Bắc), dọc đường tiến quân, quân Thục dựng mấy chục trại quân lớn, dựng cây làm hàng rào, nối liền các trại quân, trước sau dài tới 700 dặm. lưu Bị cho rằng như thế khác gì thiên la địa võng, chỉ chờ quân Đông Ngô đến đánh là xuất quân tiêu diệt.

Nhưng Lục Tốn vốn án binh bất động suốt từ tháng giêng đến tháng 6 năm đó (năm 222), hai bên kìm giữ nhau trong nửa năm.

Lưu Bị quá nóng lòng, liền sai Ngô Ban dẫn mấy ngàn quân từ trên núi kéo xuống đất bằng hạ trại để khiêu khích quân Đông Ngô.

Tướng sĩ Đông Ngô nhịn không nổi, xin ra đánh.

Lục Tốn cười nói: "Ta quan sát địa hình rồi, số quân Thục trước mắt tuy ít, nhưng ở các hẻm núi xung quanh nhất định có phục binh.

Chúng hò hét, nhử chúng ta ra để tiêu diệt.

Đừng để bị mắc lừa chúng".

Các tướng vẫn không tin.

Nhưng mấy ngày sau, Lưu Bị thấy Đông Ngô không chịu giao chiến, biết Lục Tốn đã hiểu rõ kế của mình, liền điều 8000 quân mai phục từ trong núi rút ra. tướng sĩ Đông Ngô lúc đó mới tin sự phán đoán của Lục Tốn là chính xác.

Một hôm, Lục Tốn bất ngờ triệu tập các tướng đến, tuyên bố chuẩn bị xuất kích.

Nhiều người nói: "Muốn đánh Lưu Bị, thì đánh ngay từ đầu.

Bây giờ để chúng tiến vào năm sáu trăm dặm, chiếm hết các đường hiểm yếu, mới nói chuyện đánh, thì đánh làm sao?".

Lục Tốn giải thích: "Khi Lưu Bị mới đến sĩ khí đang hăng, chúng ta không dễ thắng được.

Nay chúng đã đóng quân suốt nửa năm, không tiến lên được nữa, binh sĩ đã mỏi mệt.

Đây chính là thời cơ ta đánh thắng chúng".

Sau đó, Lục Tốn phái một toán quân nhỏ tiến đánh 1 trại quân Hán Thục.

Vừa tiếp cận hàng rào thì quân Thục đã từ 2 bên đổ ra chém giết.

Quân lính ở mấy trại gần đó cũng ùa ra tăng viện.

Quân Đông Ngô chống cự không nổi, vội vã rút lui thì đã thiệt hại mất nhiều binh mã.

Các tướng đều oán Lục Tốn.

Lục Tốn nói: "Đó là ta chỉ thăm dò hư thực của chúng thôi.

Nay ta đã có kế đánh tan quân Thục rồi".

Đêm đó, Lục Tốn lệnh cho tướng sĩ, mỗi người mang 1 bó lau tẩm dầu và dụng cụ đánh lửa, mai phục sẵn trong rừng phía nam.

Đợi tới canh 3, thì nhất loạt áp sát các trại quân Thục và phóng hỏa đốt trại.

Canh 3, bốn đại tướng Đông Ngô dẫn mấy vạn quân, xông tới trại quân Thục, nhất tề phóng lửa.

Vì trại Thục liền sát nhau, trị này bốc lửa liền lan sang trại khác, lại vì đêm đó gió nổi rất to, nên trong chốc lát, hơn 40 đại doanh của Lưu Bị đã trở thành biển lửa.

Tới khi Lưu Bị phát hiện thì đã không còn cách gì cứu vãn, chỉ vội nhảy lên ngựa do các tướng sĩ hộ tống, xông ra khỏi đám lửa, chạy lên núi Mã Yên.

Lục Tốn ra lệnh các cánh quân Đông Ngô vây chặt núi Mã Yên và xông lên tiến công mãnh liệt.

Hơn 1 vạn quân Thục trên núi Mã Yên tan vỡ, chết và bị thương nhiều không kể xiết.

Chiến đấu suốt 1 ngày, tới chập tối, Lưu Bị dẫn tàn binh bại tướng phá vây chạy về phía tây.

Quân Đông Ngô đuổi riết phía sau.

May nhờ các kho trạm dọc đường của quân Thục, đem hết xe cộ khôi giáp ra lấp các đường hẻm, cản đường truy kích của Đông Ngô, nên Lưu Bị mới chạy thoát về thành Bạch Đế (nay là núi Bạch Đế, huyện Phụng Tiết, Tứ Xuyên).

Trận đại chiến này, quân Thục hầu như bị tiêu diệt hết toàn quân.

Toàn bộ thuyền bè, vũ khí, vật tư quân dụng đều bị quân Đông Ngô chiếm hết.

Lịch sử gọi trận đánh này là "Hào Đình chi chiến".

Lưu Bị thua trận, vừa buồn vừa uất nói: "Ta bị Lục Tốn đánh thua, chẳng phải là ý trời sao?"

Một năm sau, Lưu Bị ốm chết ở Vĩnh An (nay là Phụng Tiết, Tứ Xuyên).
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
101-102


BẢY LẦN BẮT MẠNH HOẠCH

Tiên chủ Lưu Bị của Thục Hán khi lâm bệnh nặng, liền triệu Gia Cát Lượng từ Thành Đô tới, dặn dò công việc về sau.

Lưu Bị nói: "Tài năng của thừa tướng gấp mười lần Tào Phi, nhất định sẽ cai quản tốt đất nước.

Con ta là A Đẩu (tên lúc nhỏ của Lưu Thiền) tài hèn, nếu thừa tướng thấy giúp được thì giúp, nếu không thì thừa tướng cứ tự mình giành lấy ngôi vị làm chủ đất nước này".

Gia Cát Lượng giật mình kinh sợ, chảy nước mắt, dập đầu nói: "Thần chịu ơn tri ngộ của bệ hạ, đâu dám không hết lòng hết sức phò tá hậu chủ để báo đáp lại bệ hạ, đến chết mới thôi".

Lưu Bị gọi con nhỏ là Lưu Vinh tới bên mình, căn dặn: "Ta chết đi, anh em con phải tôn kính thừa tướng như cha mới được.

Mọi việc phải nhất nhất nghe theo lời thừa tướng".

Sau khi Lưu Bị mất, Gia Cát Lượng trở về Thành Đô, phò tá Lưu Thiền lên kế vị.

Lịch sử gọi Lưu Thiền là Thục Hán hậu chủ.

Lưu Thiền lên ngôi, mọi việc lớn nhỏ trong triều đều giao cho Gia Cát Lượng quyết định.

Gia Cát Lượng tận tụy làm việc, mong phục hồi lại sức mạnh của Thục Hán.

Không ngờ tại vùng Nam Trung (nay là vùng từ sông Đại Độ trở về phía nam thuộc tỉnh Tứ Xuyên và vùng Vân Nam, Quí Châu) lại xảy ra cuộc nổi loạn ở mấy quận.

Một cường hào ở Ích Châu là Ung Khải nghe tin Lưu Bị chết, liền giết thái thú Ích Châu và nổi loạn.

Hắn 1 mặt cử người sang đưa thư đầu hàng Đông Ngô, 1 mặt lôi kéo thủ lĩnh dân tộc thiểu số ở vùng Nam Trung là Mạnh Hoạch, xúi giục Mạnh Hoạch lôi kéo thêm một số bộ tộc khác cùng chống lại Thục Hán.

Bắt chước Ung Khải, thái thú Tường Kha (nay là vùng Tuân Nghĩa, Quí Châu) là Chu Bảo và một tù trưởng bộ tộc thiểu số là Cao Định cũng hưởng ứng cuộc nổi loạn.

Tình hình đó có nguy cơ khiến Thục Hán mất gần nửa đất đai, khiến Gia Cát Lượng vô cùng lo lắng.

Nhưng lúc đó Thục Hán vừa thua trận Hào Đình và Lưu Bị mới mất, nên không thể xuất binh.

Gia Cát Lượng phải cử người sang giảng hòa với Đông Ngô để giữ yên phía đông.

Một mặt ra sức phát triển sản xuất, xây dựng công trình thủy lợi, tích trữ lương thảo, huấn luyện binh mã.

Qua 2 năm, tình hình mọi mặt đều khởi sắc, Gia Cát Lượng quyết định dẫn quân nam chinh.

Năm 225, tháng 3, Gia Cát Lượng dẫn đại quân xuất phát.

Mã Tốc là em ruột Mã Lương, vốn là 1 bạn tốt của Gia Cát Lượng, tiễn theo mấy chục dặm trường.

Trước lúc chia tay, Gia Cát Lượng nắm tay Mã Tốc nói: "Ta với tôn huynh và tướng quân quen biết và cộng tác với nhau đã lâu, nay ta đem quân nam chính, tướng quân có ý kiến gì hay góp với Lượng này không?".

Mã Tốc nói: "Người vùng Nam Trung dựa vào địa hình hiểm yếu, lại xa kinh thành, từ lâu đã có ý không tuân theo triều đình, dù ta có cùng đại quân đánh bại được họ thì sau đó, họ vẫn cứ nổi dậy.

Tôi nghe nói phép dùng binh chủ yếu là đánh vào lòng người, còn đánh thành là thứ yếu.

Lần này thừa tướng nam chinh, nhất định phải làm sao khiến họ tâm phục thì mới mong chỉ vất vả một lần mà yên tâm mãi mãi".

Lời Mã Tốc hoàn toàn trùng hợp với ý Gia Cát Lượng.

Gia Cát Lượng gật đầu nói: "Cám ơn tướng quân đã khuyên bảo. ta nhất định sẽ làm như thế".

Gia Cát Lượng đem quân Thục xuống miền nam, liên tục đánh thắng.

Quân mới đi tới nửa đường, thì giữa Cao Định và Ung Khải đã xảy ra xung đột, bộ hạ của Cao Định đã giết chết Ung Khải.

Quân Thục tiến tới, cũng giết được luôn Cao Định.

Gia Cát Lượng cử 2 đại tướng Lý Khôi và Mã Trung chia đường tiến công.

Không đầy nửa tháng, Mã Trung đã đánh phá Tường Pha, tiêu diệt được phiến quân ở đó.

Tình hình phản loạn trong 4 quận nhanh chóng được dẹp yên.

Nhưng sự việc chưa kết thúc.

Tù trưởng bộ tộc ở Nam Trung là Mạnh Hoạch tiếp nhận tàn binh của Ung Khải, tiếp tục chống lại quân Thục.

Gia Cát Lượng điều tra biết được rằng Mạnh Hoạch không chỉ giỏi chiến đấu mà còn có uy tín rất cao trong các bộ tộc vùng Nam Trung.

Vì vậy, nhớ tới lời Mã Tốc, Gia Cát Lượng quyết tâm tìm cách chinh phục Mạnh Hoạch.

Ông ra lệnh cho 3 quân, chỉ được bắt sống chứ không được làm tổn thương tới Mạnh Hoạch.

Do Gia Cát Lượng giỏi dùng mưu kế, mỗi khi giao chiến, quân Thục chạm trán với quân Mạnh Hoạch, đều cố ý rút lui.

Mạnh Hoạch ỷ vào người đông, thông thạo địa hình nên cứ thúc quân đuổi tràn.

Lúc đó, phục binh Thục mới xông ra, đánh tan quân Nam Trung và bắt sống Mạnh Hoạch.

Mạnh Hoạch bị trói dẫn về trại Thục, tự nghĩ lần này chắc khó lòng sống được.

Nào ngờ vừa vào khỏi cửa dinh, Gia Cát Lượng đã lập tức quát lính sai cởi trói, mời ngồi, rồi ân cần khuyên nhủ Mạnh Hoạch qui hàng triều đình.

Nhưng Mạnh Hoạch không chịu phục, nói: "Chỉ vì ta thiếu thận trọng, nên mới trúng kế của ngươi.

Vì vậy, làm sao khiến ta phục được?".

Gia Cát Lượng không nài ép, cho Mạnh Hoạch cùng mình cưỡi ngựa đi xem khắp doanh trại Thục để thấy binh mã và sự bố trí rồi hỏi: "Tù trưởng, ngươi thấy binh mã triều đình ra sao?".

Mạnh Hoạch ngạo mạn trả lời: "Trước kia ta không nắm rõ được hư thực của quân Thục nên mới thua trận.

Lần này đã tận mắt thấy rõ, đối với loại quân đội như thế này, ta có thể đánh thắng không khó khăn gì".

Gia Cát Lượng cười lớn nói: "Nếu quả như vậy, tù trưởng hãy về chuẩn bị cho cẩn thận, rồi chúng ta lại cùng thử sức một lần nữa".

Mạnh Hoạch được tha, trở về bộ lạc của mình, chấn chỉnh lại lực lượng rồi lại đem quân ra đánh.

Nhưng vốn là 1 kẻ hữu dũng vô mưu, Mạnh Hoạch đâu phải là đối thủ của Gia Cát Lượng, nên quân Thục dễ dàng bắt sống hắn.

Gia Cát Lượng lại khuyên hàng.

Mạnh Hoạch vẫn chưa chịu phục, nhưng vẫn được thả về.

Cứ như vậy, bắt rồi lại thả, trước sau tất cả 7 lần.

Sau khi bắt được lần thứ 7, vừa thấy dẫn Mạnh Hoạch vào, Gia Cát Lượng lại muốn thả ra lần nữa.

Nhưng Mạnh Hoạch chảy nước mắt nói: "Đội ơn thừa tướng bảy lần bắt bảy lần tha, thật là chí nhân chí nghĩa.

Mạnh Hoạch này cảm thấy hổ thẹn và kính phục thừa tướng vô cùng.

Từ nay trở đi, quyết không dám làm phản nữa".

Mạnh Hoạch trở về, khuyên tất cả các bộ lạc khác đầu hàng.

Vùng Nam Trung lại chịu sự khống chế của Thục Hán.

Bình định Nam Trung xong, Gia Cát Lượng ra lệnh cho Mạnh Hoạch và các thủ lĩnh bộ lạc khác cứ cai quản vùng đất của mình như cũ.

Có người khuyên Gia Cát Lượng: "Chúng ta trải bao khó khăn mới bình định được Nam Trung.

Tại sao thừa tướng không cử quan lại đến cai trị, mà lại cứ để cho các đầu lĩnh của họ cai quản như cũ?".

Gia Cát Lượng nói: "Cử quan lại tới, không phải là cách hay, chỉ thêm nhiều bất tiện.

Vì đã cử quan lại thì phải đóng quân.

Quân lính đóng ở nơi xa, phải tiếp tế lương thực khó khăn.

Thêm nữa, hai bên vừa đọ can qua, nhiều dân địa phương tử trận.

Nếu chúng ta cử quan lại tới cai trị, không khỏi khơi lại thù hận, nhất định sẽ sinh ra hậu loạn.

Nay ta vừa không phái quan lại tới, lại không đóng quân, để họ tự trị, giữa người Hán và các bộ lạc khác không có va chạm gì, chẳng tốt hơn sao?".

Mọi người nghe nói, đều khâm phục tầm nhìn của thừa tướng.

Gia Cát Lượng dẫn quân, ca khúc khải hoàn trở lại Thành Đô.

Hậu chủ và các đại thần đều ra ngoài thành đón tiếp.

Mọi người rất vui mừng vì đã bình định được Nam Trung.

Từ đó, Gia Cát Lượng ra sức chỉnh đốn nội trị, khuyến khích sản xuất, tích lũy lương thực, thao luyện quân sĩ, một lòng một dạ chuẩn bị cho việc đánh Tào Ngụy ở phía bắc.

MÃ TỐC ĐỂ MẤT NHAI ĐÌNH

Sau khi bình định Nam Trung, qua 2 năm chuẩn bị, mùa đông năm 227, Gia Cát Lượng dẫn đại quân lên giữ Hán Trung.

Vì Hán Trung ở gần nơi giáp giới giữa Thục và Ngụy nên ở đây dễ chọn thời cơ tiến đánh Tào Ngụy.

Trước khi rời Thành Đô, Gia Cát Lượng dâng biểu lên hậu chủ, khuyên hậu chủ không nên thỏa mãn với hiện trạng, thiếu chí tiến thủ; cần gần gũi hiền thần, xa lánh bọn tiểu nhân.

Đồng thời tỏ ý mình quyết không phụ sự ủy thác của tiên đế, kiên quyết gánh vác trách nhiệm khôi phục triều Hán.

Bài biểu này là 1 tác phẩm nổi tiếng của Gia Cát Lượng, được lịch sử văn học gọi là "Tiền xuất sư biểu" (

Sau này Gia Cát Lượng trong lần xuất quân sau còn 1 bài biểu nữa, được gọi là "Hậu sư xuất biểu").

Tới đầu năm sau, Gia Cát Lượng dùng biện pháp giương đông kích tây, tung tin là sẽ đánh My Thành (nay là huyện My, tỉnh Thiểm Tây) và phái đại tướng Triệu Vân đem một toán quân tới đánh ở Cơ Cốc (nay ở phía bắc Bao Thành, Thểm Tây), làm ra vẻ sắp đánh My Thành.

Nhân lúc quân Ngụy bị thu hút về hướng đó, Gia Cát Lượng tự dẫn đại quân bất ngờ đánh vào Kỳ Sơn (nay ở phía đông huyện Lễ, Cam Túc).

Quân Thục trải qua mấy năm được Gia Cát Lượng huấn luyện, có đội ngũ chỉnh tề, kỷ luật nghiêm minh, sĩ khí hết sức hăng hái.

Từ sau khi Lưu Bị chết, Thục Hán không có hành động gì ở phía bắc, nên quân Ngụy thiếu phòng bị.

Lần này bất ngờ bị tiến đánh, quân Ngụy ở Kỳ Sơn không chống đỡ nổi, nên liên tục thua trận, buộc phải rút về phía sau.

Quân Thục thừa thắng tiến lên.

Tướng giữ 3 quận Thiên Thủy, Nam An, An Định đều phản lại Ngụy và phái người tới xin hàng Gia Cát Lượng.

Lúc đó, Ngụy Văn Đế Tào Phi mới ốm chết, bá quan văn võ trong triều đình Ngụy nghe tin quân Thục tiến công, đều hoảng hốt kinh sợ.

Ngụy Minh Đế Tào Nhuệ mới lên ngôi, còn tương đối trấn tĩnh, lập tức phái đại tướng Trương Cáp đem 5 vạn quân tới gấp Kỳ Sơn đối địch.

Còn bản thân Minh Đế cũng tới Trường An để đốc chiến.

Gia Cát Lượng tới Kỳ Sơn, quyết định phái 1 đội quân tới chiếm Nhai Đình (nay ở đông nam Trang Lãng, Cam Túc) để làm cứ điểm hỗ trợ cho việc tiến thoái.

Gia Cát Lượng cân nhắc, thấy đây là 1 nhiệm vụ quan trọng cần cử người có tài năng mưu trí.

Bên cạnh Gia Cát Lượng lúc đó có mấy lão tướng dày dạn kinh nghiệm chiến trận, nhưng ông không chọn, lại cử tham quan Mã Tốc nhận nhiệm vụ này.

Mã Tốc là người đã từng đọc không ít binh thư, ngày thường rất thích đàm luận quân sự.

Gia Cát Lượng tìm ông tới để nói chuyện về việc dụng binh, Mã Tốc say sưa nói không dứt, trong đó từng có những đề xuất đúng đắn, được Gia Cát Lượng tán thưởng; ví như kế sách về việc bình định Nam Trung.

Vì vậy Gia Cát Lượng rất tin dùng.

Nhưng Lưu Bị khi còn sống đã phát hiện thấy nhược điểm của Mã Tốc là thiếu thực tế, nên đã có lần nói với Gia Cát Lượng: "Mã Tốc là con người hay nói quá mức, không nên để giao đảm đương việc lớn".

Nhưng Gia Cát Lượng không lưu tâm đúng mức tới lời dặn của Lưu Bị.

Lần này, ông cử Mã Tốc làm tiền phong, Vương Bình làm phó Tướng.

Mã Tốc và Vương Bình dẫn quân tới Nhai Đình thì Trương Cáp cũng đang dẫn viện binh của quân Ngụy tiến tới.

Mã Tốc quan sát địa hình, rồi nói với Vương Bình: "Chỗ này địa hình hiểm yếu, bên cạnh Nhai Đình lại có một ngọn núi, nên đóng quân trên đó để mai phục".

Vương Bình nhắc Mã Tốc: "Trước lúc xuất quân, thừa tướng có nhắc là phải giữ vững thành lũy, lập dinh trại cho tốt.

Nếu đóng quân trên núi thì mạo hiểm quá".

Mã Tốc thiếu kinh nghiệm chiến đấu, tự cho mình đọc nhiều binh thư, nên không nghe theo lời nhắc nhở của Vương Bình, cứ nhất định đóng quân trên núi.

Vương Bình can ngăn mãi không được, liền xin Mã Tốc cấp cho mình hơn 1000 quân, dẫn tới đóng ở chân núi gần đó.

Trương Cáp dẫn đại binh tới Nhai Đình, thấy Mã Tốc bỏ không dùng thành trì sẵn có dưới núi mà lại mang quân lên đóng trên núi thì mừng lắm, lập tức điều quân chiếm lấy thành lũy dưới núi, rồi vây chặt trái núi có quân Mã Tốc đóng trên đó.

Mã Tốc nhiều lần ra lệnh cho quân xông xuống núi, nhưng do Trương Cáp giữ vững thành lũy, quân Thục không sao phá được, lại bị quân Ngụy bắn chết khá nhiều.

Quân Ngụy xiết chặt vòng vây và cắt đứt nguồn nước, khiến quân Thục không có nước nấu cơm, dần dần sinh ra rối loạn.

Trương Cáp thấy cơ hội đã đến, liền ra lệnh tổng công kích.

Quân Thục tan vỡ, đua nhau lủi trốn, không sao ngăn cản được.

Cuối cùng Mã Tốc đành liều chết phá vây chạy về hướng tây.

Vương Bình có 1000 binh mã, giữ vững dinh trại.

Thấy quân Mã Tốc bị bị đánh bại, liền hạ lệnh thúc trống, làm ra vẻ chuẩn bị tiến công.

Trương Cáp ngỡ là quân Thục có mai phục nên không dám tới gần.

Vương Bình chỉnh đốn đội ngũ, rồi từ từ rút về, không những không tổn thất 1 tên lính nào, mà còn thu nhận được một số quân tán lạc của Mã Tốc nữa.

Nhai Đình thất thủ, quân Thục bị mất 1 cứ điểm quan trọng, lại tổn thất nhiều người ngựa.

Để tránh bị tổn thất lớn hơn nữa, Gia Cát Lượng đành rút lui toàn bộ về Hán Trung.

Về tới Hán Trung, qua thẩm vấn, được biết việc mất Nhai Đình do hoàn toàn là lỗi của Mã Tốc đã không tuân theo mệnh lệnh về việc bố trí quân đội.

Mã Tốc cũng không thể không thừa nhận lầm lỗi của mình.

Theo quân pháp, Gia Cát Lượng hạ lệnh đưa Mã Tốc vào nhà giam và định vào tử tội.

Mã Tốc tự biết mình không thể tránh khỏi chết, liền từ trong ngục viết 1 lá thư cho Gia Cát Lượng.

Thư viết: "Thường ngày thừa tướng đối đãi với mạt tướng thân thiết như đối với con đẻ của mình.

Mạt tướng cũng kính trọng thừa tướng như cha.

Lần này mạt tướng phạm vào tử tội, không dám kêu oan, chỉ cúi xin thừa tướng đoái thương con cái của mạt tướng, như vua Thuấn ngày xưa đã giết Cổn mà dùng Vũ.

Được như vậy, mạt tướng dù có chết cũng được yên lòng".

Gia Cát Lượng theo quân pháp phải giết Mã Tốc, nhưng nghĩ tới tình cảm xưa kia giữa mình với Mã Lương, Mã Tốc nên cũng trào lệ cảm thương.

Ông phái người chăm nom chu đáo cho gia đình Mã Tốc.

Lại thấy Vương Bình ở Nhai Đình đã từng can gián Mã Tốc, lại biết dùng mẹo khi lui quân, bảo toàn được binh mã, lập được công, cần được khen thưởng để khích lệ tướng sĩ, liền thăng Vương Bình làm tham quân, giao cho chỉ huy 5 đạo binh mã.

Gia Cát Lượng nói với các tướng sĩ: "Lần này ra quân thất bại, cố nhiên là do Mã Tốc làm trái mệnh lệnh, nhưng cũng do lỗi của ta dùng người không minh".

Liền dâng tấu chương lên hậu chủ Lưu Thiền, xin giáng chức mình xuống cấp.

Lưu Thiền nhận được tấu chương, không biết nên xử trí thế nào.

Có đại thần nói: "Thừa tướng đã có ý kiến như vậy, bệ hạ nên làm theo ý thừa tướng".

Lưu Thiền liền hạ chiếu, giáng Gia Cát Lượng xuống làm Hữu tướng quân, nhưng vẫn đảm trách công việc của thừa tướng.

Do Gia Cát Lượng thưởng phạt nghiêm minh, tự mình gương mẫu nên tướng sĩ Thục đều rất cảm phục.

Toàn quân rút bài học thất bại, sĩ khí vẫn được giữ vững.

Mùa đông năm đó, Gia Cát Lượng lại đem quân đánh ra Tản Quan (nay ở tây nam Bảo Kê, Thiểm Tây), bao vây Trần Thương (nay ở đông Bảo Kê), giết được 1 tướng Ngụy.

Mùa xuân năm sau, lại đem quân thu phục 2 quận Vũ Đô (nay là huyện Thành, Cam Túc) và Âm Bình (nay ở phía bắc huyện Văn, Cam Túc).

Hậu chủ Lưu Thiền cho rằng Gia Cát Lượng đã lập được công, lại hạ chiếu thư khôi phục lại chức thừa tướng cho ông như cũ.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
103-104


KHỔNG MINH MẤT Ở GÒ NGŨ TRƯỢNG

Năm 229, tháng 4 Ngô vương Tôn Quyền chính thức xưng đế.

Đại đa số các đại thần Thục Hán cho rằng Tôn Quyền xưng đế là tiếm hiệu, cần phải cắt đứt liên minh với Đông Ngô.

Nhưng Gia Cát Lượng cho rằng, trước mắt Tào Ngụy mới là đối thủ chủ yếu của Thục Hán.

Vì vậy ông vẫn liên minh với Đông Ngô, và chuẩn bị bắc phạt.

Năm 231 Gia Cát Lượng đem quân thực hiện cuộc bắc phạt lần thứ 4, tiến quân đến Kỳ Sơn.

Ngụy đế cử đại tướng Tư Mã Ý và Trương Cáp cùng dẫn quân đến Kỳ Sơn đối địch.

Gia Cát Lượng để 1 bộ phận lưu tại Kỳ Sơn, còn tự mình dẫn quân chủ lực đánh chặn Tư Mã Ý.

Tư Mã Ý tìm hiểu chiến lược của Gia Cát Lượng, thấy quân Gia Cát Lượng tiến xa hậu phương, quân lương tiếp tế khó khăn.

Vì vậy, quyết định xây dựng thành lũy ở nơi hiểm yếu, ra lệnh cho tướng sĩ giữ vững chứ không ra đánh.

Tướng sĩ Ngụy cho rằng Tư Mã Ý sợ quân Thục, nên nhiều lần xin ra đánh và nói: "Tướng quân sợ Gia Cát Lượng như sợ hổ, không sợ người trong thiên hạ cười cho hay sao?".

Tư Mã Ý liền dẫn quân tiến lên giao chiến, bị quân Thục đánh cho 1 trận tơi bời.

Nhưng phía quân Thục, do lỗi lầm của quan vận lương nên lương thảo tiếp tế không đủ, đành chủ động rút quân.

Đại tướng Ngụy là Trương Cáp dẫn quân đuổi riết, tới 1 hẻm núi trong rừng cây rậm rạp, bị phục binh do Gia Cát Lượng bố trí sẵn, dùng cung tên bắn chết.

Gia Cát Lượng mấy lần xuất quân đều không thành công.

Một trong những nguyên nhân quan trọng là lương thực tiếp tế không kịp.

Do đường núi nhỏ bé, gập ghềnh, xe tải lương đi lại khó khăn, chậm chạp.

Vì vậy, Gia Cát Lượng liền thiết kế ra trâu gỗ, ngựa gỗ gọi là "mộc ngưu", "lưu mã" (thực chất là 1 loại xe vận chuyển cải tiến, có thể đi trên đường nhỏ, gập ghềnh), chở lương thực đến dự trữ sẵn ở hang Tà Cốc (nay ở tây nam huyện My, Thiểm Tây).

Năm 234, sau khi chuẩn bị đầy đủ, Gia Cát Lượng dẫn 10 vạn đại quân, lại tiến hành bắc phạt lần cuối cùng.

Ông cử sứ giả sang Đông Ngô, hẹn với Tôn Quyền đồng thời cử quân để phối hợp đánh Ngụy cả từ 2 phía.

Đại quân Gia Cát Lượng qua hang Tà Cốc, đến gò Ngũ Trượng ở bờ nam sông Vị.

Để tính kế lâu dài, Gia Cát Lượng cho tướng sĩ đôn đốc binh lính xây dựng dinh lũy chuẩn bị tác chiến, đồng thời cử 1 bộ phận binh sĩ khai khẩn đất đai, cày cấy cùng với nhân dân địa phương để sản xuất lương thực tại chỗ.

Nhờ có kỷ luật nghiêm minh, nên giữa quân Thục và dân địa phương có quan hệ rất tốt.

Ngụy Minh đế phái Tư Mã Ý dẫn quân Ngụy vượt qua sông Vị, cũng xây thành đắp lũy phòng thủ để cầm cự với quân Thục.

Tôn Quyền nhận được thư của Gia Cát Lượng, lập tức cử 3 cánh quân lên bắc đánh Ngụy.

Ngụy Minh đế cũng là người có bản lĩnh, 1 mặt dẫn đại quân xuống phía nam chống lại, 1 mặt báo cho Tư Mã Ý biết, cứ giữ vững ở Ngũ Trượng Nguyên, không ra quân chống lại.

Gia Cát Lượng chờ đợi tin tức ở mặt Đông Ngô, nhưng kết quả khiến ông thất vọng.

Cuộc tiến công của Tôn Quyền đã bị thất bại.

Ông muốn quyết chiến cùng quân Ngụy, nhưng Tư Mã Ý trước sau nhất định giữ vững thành lũy, không chịu đem quân ra đánh.

Gia Cát Lượng dùng mọi biện pháp để khiêu chiến, nhưng đều không có hiệu quả.

Hai bên kìm giữ nhau ở đây hơn 100 ngày.

Muốn buộc quân Ngụy ra đánh, Gia Cát Lượng nghĩ ra 1 cách chọc tức Tư Mã Ý, lợi dụng tâm lý và phong tục coi khinh phụ nữ thời đó, ông phái sứ giả mang tặng Tư Mã Ý một bộ áo phụ nữ, tỏ ý coi thường Tư Mã Ý hèn nhát như đàn bà, không đáng mặt làm tướng cầm quân ra chiến trường.

Tướng sĩ quân Ngụy thấy chủ tướng bị lăng nhục như vậy, thảy đều căm giận, muốn đem quân quyết một trận sống mái với quân Thục.

Tư Mã Ý biết đây là thủ đoạn khích tướng của Gia Cát Lượng nên không hề nổi giận.

Ý an ủi tướng sĩ: "Được!

Nếu các ngươi muốn đánh, thì ta dễ dàng tấu chương lên triều đình, xin hoàng đế chuẩn y cho chúng ta quyết chiến cùng quân Thục".

Mấy ngày sau, Ngụy Minh đế phái 1 đại thần tới trại quân, truyền đạt chỉ dụ của hoàng đế: không cho ra đánh.

Tướng sĩ Thục nghe tin, đều lấy làm thất vọng.

Chỉ có Gia Cát Lượng hiểu được dụng ý của Tư Mã Ý, liền nói: "Việc Tư Mã Ý dâng biểu xin đánh, chỉ là trò làm yên lòng tướng sĩ thôi.

Chứ bao giờ có chuyện đại tướng quân ở ngoài xa ngàn dặm lại phải dâng biểu về triều đình xin đánh"

Tư Mã Ý và Gia Cát Lượng đều là những đối thủ rất hiểu rõ tâm lý của nhau, và luôn tìm cách để thăm dò tình hình đối phương.

Có lần Gia Cát Lượng phái sứ giả đến khiêu chiến, Tư Mã Ý tiếp đãi rất ân cần, rồi hỏi thăm và nói chuyện vãn.

Tư Mã Ý hỏi: "Thừa tướng bên quí quốc chắc là bận rộn lắm.

Gần đây sức khỏe thừa tướng thế nào?

Ăn uống có được ngon miệng không?"

Sứ giả nghĩ rằng đó là lời thăm hỏi theo phép xã giao, không có gì quan trọng nên thực thà trả lời: "Thừa tướng của chúng tôi đúng là rất bận rộn, phải tự mình giải quyết mọi việc lớn nhỏ trong quân doanh.

Ngài thường thức khuya dậy sớm.

Có điều gần đây ăn uống không được ngon miệng, mỗi bữa chỉ dùng rất ít".

Sau khi sứ giả ra về, Tư Mã Ý liền nói với các tướng sĩ: "Các ngươi xem, Gia Cát Lượng làm việc thì nhiều mà ăn uống lại ít, làm sao mà kéo dài được?".

Đúng như Tư Mã Ý dự đoán, Gia Cát Lượng do làm việc quá mệt nhọc nên ít lâu sau sinh bệnh ngay tại quân doanh.

Hậu chủ nghe tin Gia Cát Lượng ốm liền cử đại thần Lý Phúc tới Ngũ Trượng Nguyên thăm hỏi.

Sau khi nói chuyện quan trọng trong triều với Gia Cát Lượng, Lý Phúc cáo từ ra về.

Mấy hôm sau Lý Phúc lại tới, thấy Gia Cát Lượng vàng hẳn đi, liền bật khóc.

Gia Cát Lượng mở to mắt nhìn Lý Phúc rồi nói: "Ta đã hiểu ý hoàng thượng sai ông tới đây là để hỏi gì rồi.

Hoàng thượng muốn biết sau khi ta mất đi thì ai là người thay thế.

Ta xin tiến cử Tưởng Uyển thay ta làm thừa tướng".

Lý Phúc nói: "Thừa tướng đoán rất đúng.

Hoàng thượng phái hạ chức tới đây chính là hỏi, vạn nhất thừa tướng mệnh chung thì ai là người đảm đương nổi trọng trách quốc gia.

Vậy sau Tưởng Uyển thì ai là người kế nhiệm được?".

Gia Cát Lượng nói: "Có thể giao cho Phí Vi".

Lý Phúc còn muốn hỏi tiếp thì Gia Cát Lượng đã nhắm mắt không trả lời nữa.

Mấy hôm sau, con người đầy tài năng và tâm huyết, mới 54 tuổi đã trút hơi thở cuối cùng, ôm theo mối hận vì hoài bão lớn không thực hiện được.

Theo lời dặn dò của Gia Cát Lượng, quân Thục giữ bí mật tin tức về cái chết của Gia Cát Lượng.

Họ để thi thể Gia Cát Lượng trong xe rồi bố trí lui quân có trật tự.

Khi thám tử quân Ngụy dò biết được tin tức, cấp báo lên Tư Mã Ý, Ý lập tức cho quân đuổi theo.

Vừa qua Ngũ Trượng Nguyên, bỗng nhiên đội ngũ quân Thục quay lại, thúc trống vang lừng rồi xông tới chém giết.

Tư Mã Ý giật mình, tưởng bị trúng kế, vội quay đầu ngựa, hạ lệnh rút quân.

Chờ cho quân Ngụy rút xa, quân Thục lại từ từ rút khỏi Ngũ Trượng Nguyên.

Dân chúng biết việc đó, liền đặt ra 1 câu vè chế giễu Tư Mã Ý:

"Gia Cát Lượng đã về trời

Còn làm Trọng Đạt rụng rời chân tay"

(Trọng Đạt là tên tự của Tư Mã Ý).

Tư Mã Ý nghe được câu vè, cũng không tỏ ý bực, chỉ nói: "Ta chỉ dự đoán được mưu mẹo của Gia Cát Lượng lúc sống, chứ sao có thể biết được sự bố trí của ông ta sau khi chết".

Sau đó, Tư Mã Ý tự đến nơi bố trí doanh trại của quân Thục, xem xét kĩ rồi than: "Gia Cát Khổng Minh thực là bậc kì tài trong thiên hạ".

Hoài bão thống nhất Trung Nguyên của Gia Cát Lượng không thực hiện được, nhưng trí tuệ và phẩm cách của ông được người đời sau mãi mãi truyền tụng.

Trong truyền thuyết dân gian, hình tượng Gia Cát Lượng trở thành hóa thân của trí tuệ.

Trong bài "Hậu xuất sư biểu" của ông có câu: "Cúc cung tận tụy, tử nhi hậu dĩ" (hết lòng tận tụy, đến chết mới thôi) được người đời cho rằng đó là sự đánh giá xác đáng nhất đối với toàn bộ cuộc đời ông.

TƯ MÃ Ý GIẢ ỐM

Mấy năm sau khi Gia Cát Lượng mất, Thục Hán chỉ giữ thế thủ với Ngụy.

Nước Ngụy ngày càng lớn mạnh, nhưng nội bộ lại xảy ra động loạn.

Đại tướng Tư Mã Ý của Ngụy vốn là dòng dõi đại sĩ tộc địa chủ.

Khi Tào Tháo mới lên cầm quyền có mời Tư Mã Ý ra làm quan.

Lúc đó, Tư Mã Ý thấy Tào Tháo xuất thân từ tầng lớp thấp kém hơn mình, nên không nhận ra làm quan dưới quyền Tào Tháo.

Nhưng vì không dám để mất lòng Tào Tháo, Tư Mã Ý phải lấy cớ có bệnh phong thấp, Tào Tháo ngờ là Tư Mã Ý cố tình thoái thác, liền cho tay sai giỏi võ nghệ ban đêm lẻn vào nhà Tư Mã Ý quan sát, quả nhiên thấy Tư Mã Ý nằm trên giường, có người hầu hạ xung quanh.

Thích khách vẫn chưa tin Tư Mã Ý có bệnh, liền xông vào rút kiếm chĩa vào cổ Tư Mã Ý.

Anh ta cho rằng nếu Tư Mã Ý không mắc bệnh thì nhất định sẽ vùng lên.

Nhưng Tư Mã Ý vốn nhiều mưu trí, đoán ngay ra phép thử của Tào Tháo, vẫn nằm im như không cất nhắc được chân tay, chỉ mở mắt ra lờ đờ hỏi: "Nhà ngươi có thù gì với ta?".

Thích khách tin là Tư Mã Ý ốm thật, liền quay phắt trở ra, nhảy qua tường, về báo với Tào Tháo.

Tư Mã Ý biết rằng nếu cứ bất hợp tác mãi thì Tào Tháo không để yên.

Vì vậy, một thời gian sau, cho loan tin là đã khỏi bệnh phong thấp.

Tào Tháo lại triệu ra làm quan.

Tư Mã Ý liền nhận lời.

Lần lượt trong 2 đời Tào Tháo và Tào Phi, Tư Mã Ý đều giữ chức vị cao, có nhiều ý kiến đóng góp được trọng nể.

Đến khi Ngụy Minh Đế Tào Duệ lên ngôi, Tư Mã Ý đã là 1 nguyên lão đại thần của nước Ngụy.

Do suốt trong thời gian dài, Tư Mã Ý đã đảm việc thống lĩnh quân Ngụy đánh nhau với quân Thục ở Quan Trung, nên phần lớn binh quyền ở nước Ngụy đã nằm trong tay ông.

Sau đó, thái thú Liêu Đông là Công Tôn Uyên câu kết với bọn quí tộc người Tiên Ti nổi dậy chống lại Ngụy.

Ngụy Minh đế lại cử Tư Mã Ý đem binh mã đi dẹp loạn.

Dẹp xong Liêu Đông, Tư Mã Ý chuẩn bị dẫn quân về triều thì nhận được chiếu thư khẩn cấp, triệu về Lạc Dương.

Về tới Lạc Dương, Ngụy Minh đế đã lâm bệnh nặng.

Minh đế gọi Tư Mã Ý và đại thần trong hoàng tộc là Tào Sảng đến bên giường bệnh, dặn dò họ cùng nhau hiệp lực phò tá thái tử Tào Phương.

Sau khi Ngụy Minh đế mất, thái tử Tào Phương lên nối ngôi, tức là Ngụy Thiếu Đế.

Tào Sảng làm đại tướng quân, Tư Mã Ý làm thái úy.

Mỗi người lĩnh 3000 quân thay nhau trực trong hoàng cung.

Tào Sảng được nhận trọng trách, chủ yếu là thuộc hoàng tộc, còn về tài năng và tư cách thì kém xa Tư Mã Ý.

Khi mới nhận chức, ông ta không thể không tôn trọng Tư Mã Ý, có việc gì đều đến hỏi ý kiến Tư Mã Ý.

Sau đó, một số tay chân tâm phúc nhắc nhở Tào Sảng: "Đại tướng quân là người trong hoàng tộc, không nên chia sẻ đại quyền cho người ngoài".

Họ xui Tào Sảng lấy danh nghĩa Thiếu Đế, thăng Tư Mã Ý lên cấp thái phó, thực chất là cướp binh quyền của Tư Mã Ý, vì thái phó tuy có tước vị cao hơn thái úy, nhưng lại thuộc ngạch văn quan, không nắm binh quyền.

Sau đó, Tào Sảng lại bố trí cho anh em và tay chân trong họ Tào giữ những chức vụ trọng yếu.

Tư Mã Ý thấy rõ ý đồ đó, nhưng cứ giả câm giả điếc, không hề nói 1 lời nào.

Tào Sảng nắm được đại quyền, liền bắt đầu lao vào cuộc sống xa xỉ hoan lạc.

Sau, nghe lời bộ hạ, Tào Sảng lại muốn diễu võ giương oai, đem đại quân đi đánh Thục Hán, toan lấy võ công để tăng thêm uy tín.

Không ngờ, đại quân Tào Ngụy dưới sự chỉ huy ngu dốt của Tào Sảng, bị quân Thục đánh cho đại bại, suýt nữa thì bị tiêu diệt hết toàn quân.

Tư Mã Ý không để lộ thái độ, nhưng đã có dự tính ngầm.

Vì tuổi đã cao, ông ta liền dâng sớ nói tuổi già nhiều bệnh, không tham dự triều chính nữa.

Tào Sảng thấy Tư Mã Ý sinh bệnh thì rất mừng rỡ, nhưng vẫn chưa thật yên tâm, liền tìm cách thử xem Tư Mã Ý ốm thật hay ốm giả.

Vừa gặp dịp người thân tín của Tào Sảng là Lý Thắng được cử đi làm thứ sử Kinh Châu.

Trước lúc lên đường nhậm chức, Sảng sai Lý Thắng mượn cớ đến chào từ biệt Tư Mã Ý để xem hư thực ra sao.

Lý Thắng tới tận giường nằm của Tư Mã Ý để thăm hỏi và nói lời cáo biệt.

Ông ta thấy Tư Mã Ý nằm trên giường bệnh, có 2 nha hoàn đang hầu hạ bón cháo.

Ý không cầm nổi bát cháo, chỉ ngậm miệng vào miệng bát, uống 1 cách khó khắn.

Vừa được vài ngụm, nước cháo đã trào ra bên mép, rớt xuống ướt hết cả ngực áo.

Lý Thắng đứng bên cạnh, cảm thấy Tư Mã Ý đã thực sự ốm đau tới mức đáng thương hại.

Lý Thắng nói: "Kính bẩm thái phó, hạ quan nhờ ân điển của hoàng thượng, được về nhận chức thứ sử ở bản châu (Lý Thắng là người Kinh Châu, vì vậy gọi là bản châu, tức châu của quê nhà) nên xin tới cáo từ thái phó".

Tư Mã Ý vừa nghẹn vừa nói: "Ôi, thật là tội nghiệp cho ngài, phải đi nhậm chức xa quê, Tịnh Châu ở miền bắc, giáp với người Hồ, ngài cần phòng bị chu đáo.

Lão phu bệnh nặng thế này, sợ không còn dịp gặp ngài nữa".

Lý Thắng nói: "Bẩm, thái phó nghe nhầm, hạ quan được về quê Kinh Châu, chứ không phải lên Tịnh Châu".

Tư Mã Ý nghiêng tai nghe, vờ nghe chưa rõ, lại hỏi: "À, thế ra là Thanh Châu à?"

Lý Thắng lại phải nói rành rọt lại 1 lần nữa, Tư Mã Ý mới nghe ra, rồi thở dốc lên nói: "Ta già quá rồi, mắt mờ tai điếc, không nghe rõ lời ngài.

Ngài được về Kinh Châu thì tốt quá rồi".

Lý Thắng cáo từ ra về, nói tường tận cho Tào Sảng nghe, rồi nói thêm: "Thái phó chỉ còn chút hơi tàn, đại tướng quân chẳng phải lo gì nữa".

Tào Sảng nghe nói, rất vui mừng và hoàn toàn yên tâm.

Năm 249, nhân ngày đầu năm, Ngụy Thiếu Đế Tào Phương dân bá quan ra ngoài thành để tế lễ tại khu lăng mộ các tiên đế.

Tào Sảng và toàn bộ tay chân thân tín đều đi theo.

Vì cho rằng Tư Mã Ý bệnh nặng, nên không có ai tới mời ông ta đi cùng.

Ngờ đâu, khi biết Tào Sảng và thân tín ra hết khỏi hoàng thành.

Tư Mã Ý liền hết mọi bệnh tật, mặc khôi giáp, lên ngựa, dẫn 2 con là Tư Mã Sư và Tư Mã Chiêu đem binh mã chiếm cửa thành và kho vũ khí, đồng thời giả truyền chiếu lệnh của Hoàng thái hậu, cách chức đại tướng quân của Tào Sảng.

Được tin, Tào Sảng và thân tín cuống cuồng rối loạn, không biết đối phó ra sao.

Có người xui ông ta mang Thiếu đế rút về Hứa đô, lệnh cho các nơi đem binh mã về đánh bại Tư Mã Ý.

Nếu làm như vậy thì nhất định sẽ đẩy Tư Mã Ý vào thế khó khăn.

Nhưng Tào Sảng và đám họ hàng thân tín đều là 1 lũ bất tài chỉ quen ăn chơi hưởng lạc, làm gì có dũng khí để thực hiện kế sách đó.

Đúng lúc đó, Tư Mã Ý lại phái người đến khuyên Tào Sảng đầu hàng, nói là chỉ yêu cầu giao lại binh quyền chứ không có ý gì làm hại.

Tào Sảng liền ngoan ngoãn xin hàng.

Mấy hôm sau, dựa vào 1 lời cáo giác là phe cánh Tào Sảng chuẩn bị làm phản, Tư Mã Ý liền cho bắt toàn bộ và đem xử tử.

Sau sự việc đó, chính quyền trong nước Ngụy trên danh nghĩa vẫn là của họ Tào, nhưng trên thực tế đã hoàn toàn chuyển sang tay họ Tư Mã.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
105-106


DÃ TÂM CỦA TƯ MÃ CHIÊU

Sau khi giết Tào Sảng được 2 năm, Tư Mã Ý cũng chết.

Người thay thế chức vị của Tư Mã Ý là Tư Mã Sư, con cả ông.

Đại quyền trong nước Ngụy rơi vào tay 2 anh em Ta Mã Sư và Tư Mã Chiêu.

Trong số đại thần, ai dám có ý kiến chống lại, đều bị Tư Mã Sư giết.

Ngụy Thiếu đế Tào Phương rất căm tức Tư Mã Sư.

Có người khuyên Tào Phương nên tước bỏ binh quyền của 2 anh em họ Tư Mã, nhưng Tào Phương chưa kịp thực hiện ý định, đã bị Tư Mã Sư ra tay trước, bằng cách buộc thái hậu ra chiếu lệnh phế Tào Phương và lập Tào Mao, 1 cháu nội của Tào Phi lên kế vị.

Một số tướng lĩnh Ngụy cai trị ở địa phương vốn không phục sự chuyên quyền của họ Tư Mã, nên sau khi Tào Phương bị phế, thứ sử Dương Châu là Văn Khâm và Trấn Đông tướng quân là Quán Khâu Kiệm liền đem quân chống lại Tư Mã Sư.

Tư Mã Sư thân đem quân đi đánh, dẹp được 2 đạo quân trên, nhưng trên đường dẫn quân về Hứa đô, Tư Mã Sư bị bệnh mất.

Tư Mã Chiêu liền thay anh làm đại tướng quân.

Ba cha con, anh họ Tư Mã, người sau càng ghê gớm hơn người trước, càng ngang ngược chuyên quyền hơn người trước.

Ngụy đế Tào Mao không sao chịu nổi.

Một hôm, ông ta cho gọi bọn thượng thư là Vương Kinh và 2 đại thần khác vào cung, thổ lộ lòng căm giận nói: "Dã tâm của Tư Mã Chiêu khắp mọi người đều biết.

Trẫm không thể ngồi chờ tới lúc hắn giết mình.

Hôm nay trẫm muốn cùng chư khanh đi trừ khử hắn".

Các đại thần đều thấy nếu đối đầu với Tư Mã Chiêu, không khác gì lấy trứng chọi đá, đều khuyên hoàng đế nên nín nhịn, kẻo chuốc lấy tai họa.

Nhưng Tào Mao đã rút từ trong tay áo ra 1 đạo chiếu thư đã viết sẵn, quăng xuống đất nói: "Trẫm đã quyết tâm, dù có chết cũng không sợ, mà cũng không hẳn là có thể thất bại mà chết.

Các khanh nếu còn lòng trung thành với cơ nghiệp do Võ đế xây dựng, thì hãy một lòng vì trẫm".

Nói xong đi thẳng vào nội cung để bẩm với thái hậu.

Nào ngờ, trong số 3 vị đại thần trên, đã có 2 vị vội lẻn ra ngoài, báo ngay cho Tư Mã Chiêu biết.

Vị hoàng đế mới 20 tuổi là Tào Mao, mang lòng phẫn uất của tuổi trẻ, nhưng không biết chống lại Tư Mã Chiêu bằng cách nào.

Ông ta tập hợp số quân cấm vệ ít ỏi trong nội cung, cùng với các thái giám hầu hạ quanh mình, rầm rộ kéo từ trong cung ra toan giết Tư Mã Chiêu.

Bản thân Tào Mao rút bảo kiếm, đứng trên xe chỉ huy chiến đấu.

Tướng tâm phúc của Tư Mã Chiêu là Giả Sung dẫn 1 đội quân tới, chặn đứng quân cấm vệ lại.

Hai bên xô xát.

Tào Mao tiến lên, vung kiếm xông vào đánh.

Thủ hạ của Giả Sung thấy hoàng đế tự ra tay, cũng có chút hoảng sợ, có kẻ đã toan tháo chạy.

Thủ hạ có kẻ tên là Thành Tế, hỏi Giả Sung: "Tướng quân, chẳng lẽ chúng ta đánh nhau với hoàng thượng sao?".

Giả Sung lớn tiếng quát: "Tư Mã Công bình thường nuôi các ngươi làm gì, mà còn phải hỏi!".

Nghe Giả Sung quát như vậy, Thành Tế liền hăng tiết vung trường mâu tới đâm thẳng vào Tào Mao.

Tào Mao không kịp đỡ, bị Thành Tế đâm xuyên qua ngực, gục xuống xe chết ngay.

Tư Mã Chiêu nghe tin quân mình đã giết mất hoàng đế, cũng có phần lo ngại, vội đến triều đình, họp các đại thần lại bàn.

Trước các triều thần, Tư Mã Chiêu giả bộ bất ngờ, thương khóc thảm thiết, rồi hỏi lão thần Trần Thái: "Lão quan, bây giờ ta nên giải quyết thế nào?".

Trần Thái nói: "Sự việc đã đến nước này, chỉ có chém đầu Giả Sung thì mới tạ tội được với thiên hạ"

Tư Mã Chiêu thấy khó liền nói: "Lão quan xem, còn có thể có biện pháp nào khác nữa không?".

Trần Thái nói: "Theo lão phu, chỉ có thể xử nặng hơn nữa, chứ không thể có biện pháp nào nhẹ hơn được". (ý của Trần Thái là cần phải truy cứu lên tới cấp trên của Giả Sung nữa).

Tư Mã Chiêu chột dạ, lặng im không nói gì.

Sau đó, Tư Mã Chiêu dùng danh nghĩa thái hậu, ban 1 đạo chiếu thư, chụp cho Tào Mao rất nhiều tội trạng, phế làm bình dân và cố tình dìm vụ án giết vua này đi.

Nhưng mọi người vẫn xôn xao bàn luận, chê trách Tư Mã Chiêu bao che cho hung thủ.

Tư Mã Chiêu bất đắc dĩ, liền dồn toàn bộ tội trạng cho 1 mình Thành Tế, qui vào tội đại nghịch vô đạo, đem chém cả nhà.

Giết Tào Mao xong, Tư Mã Chiêu chọn trong hoàng tộc họ Tào 1 người ít tuổi là Tào Hoán lên nối ngôi hoàng đế.

Đó là Ngụy Nguyên Đế, hoàng đế cuối cùng của Tào Ngụy.

ĐẶNG NGẢI NGẦM VƯỢT KIẾM CÁC

Tư Mã Chiêu đã trừ được Tào Mao, cho rằng nội bộ đã ổn định, liền quyết tâm cử đại quân đi đánh Thục Hán.

Lúc đó, những người thay thế Gia Cát Lượng làm thừa tướng là Tưởng Uyển, Phí Vi đều đã mất.

Người làm đại tướng quân của Thục Hán là Khương Duy.

Khương Duy nuôi hoài bão kế thừa sự nghiệp bắc phạt của Gia Cát Lượng nên hầu như năm nào cũng ra quân đánh Ngụy.

Nhưng lực lượng Thục Hán mỗi ngày một yếu, Khương Duy không thể giành được thắng lợi, mà còn bị hao mòn nhiều binh lực.

Năm 263, Tư Mã Chiêu phái Đặng Ngải và Gia Cát Tự, mỗi người đem 3 vạn quân.

Chung Hội mang mười mấy vạn quân, chia đường tiến đánh Thục Hán.

Khương Duy thấy thế quân Ngụy quá mạnh, khó có thể chống chọi lại, liền tập trung quân Thục giữ chặt nơi hiểm yếu là Kiếm Các (nay là huyện Kiếm Các, Tứ Xuyên), không ra giao chiến.

Chung Hội dẫn đại quân tới, không đánh vào được.

Đặng Ngải thấy chủ lực quân Thục tập trung cả ở Kiếm Các, liền dẫn tinh binh ngầm đi vòng theo triền núi rậm rạp phía tây Kiếm Các rồi tiến xuống phía nam.

Đó là vùng rừng núi xưa nay không có dấu chân người.

Đội tinh binh của Đặng Ngải vừa mở lối, bắc cầu.

Đi suốt 700 dặm mà vẫn không bị quân Thục phát hiện.

Cuối cùng, đội quân Đặng Ngải tới 1 đỉnh núi dựng đứng, dưới là thung lũng sâu, không thể đi tiếp được.

Lương khô mang theo đã gần cạn, không thể vòng tìm lối khác, tướng sĩ đều hoang mang lo lắng.

Đặng Ngải quyết đoán, dùng chăn quấn chặt thân mình, lăn từ vách đá cao xuống.

Quân sĩ thấy chủ tướng dũng cảm, cũng làm theo, từng người một xuống tới thung lũng.

Đặng Ngải cho điểm lại quân số, chỉnh đốn đội ngũ, tiến nhanh tới Giang Du (nay là huyện Giang Du, Tứ Xuyên).

Quân Thục ở Giang Du không ngờ quân Ngụy xuất hiện từ phía sau lưng, ồ ạt bất ngờ đánh vào tòa thành nhỏ, không được bố phòng vững chắc, không kịp chống trả, phải nhanh chóng đầu hàng.

Đặng Ngải tiếp tục tiến đánh Miên Trúc (nay là tây nam Miên Dương, Tứ Xuyên).

Tướng giữ Miên Trúc là Gia Cát Chiêm, con của Gia Cát Lượng.

Đặng Ngải đưa thư dụ hàng, nói nếu đầu hàng, sẽ phong làm Lang Nha vương.

Gia Cát Chiêm uất giận trước lời lẽ ngạo mạn trong thư, liền sai chém luôn sứ giả, rồi bày trận quyết một phen sống chết.

Nhưng quân Thục dưới sự chỉ huy của Gia Cát Chiêm không thể địch nổi đội tinh binh của Đặng Ngải.

Gia Cát Chiêm và con là Gia Cát Thượng đều chết trận.

Hạ xong Miên Trúc, không còn chướng ngại nào nữa, quân Đặng Ngải xông thẳng tới kinh thành Thục là Thành Đô.

Dân chúng Thành Đô không thể nào ngờ quân Ngụy bỗng nhiên đã xuất hiện dưới thành, tất cả nháo nhác sợ hãi, tan tác chạy vào rừng rậm núi cao để lẩn tránh.

Triều đình Thục Hán lại càng rối loạn.

Hậu chủ cuống quýt triệu tập đại thần tới bàn.

Các vị mũ cao áo dài quen sống sung sướng tại kinh thành nằm sâu trong hậu phương, trước tình hình quân địch như trên trời rơi xuống như vậy, cũng cuống quýt không kém.

Người thì nêu ý kiến nên mở cửa nam thành chạy trốn, người nêu ý kiến nên chạy sang với Đông Ngô, kẻ khác lại thấy đại quân Ngụy quá hùng dũng, chỉ có đầu hàng là hơn.

Hậu chủ là kẻ nhát gan, lại không bao giờ ý có kiến độc lập, không dám nghĩ tới việc chống lại.

Mặt khác, vì toàn bộ quân chủ lực đều tập trung ở Kiếm Các, kinh thành hầu như trống rỗng.

Cuối cùng, Hậu chủ chỉ còn cách tự trói mình, dẫn bá quan văn võ mở cửa thành đầu hàng Đặng Ngải.

Đặng Ngải vào được Thành Đô, thấy mình lập được công to nhất, lên mặt coi thường Chung Hội là kẻ mang số quân đông hơn nhưng vẫn bị chặn lại trước Kiếm Các.

Ngải sai người dâng thư lên Tư Mã Chiêu, xin nhân đà thắng lợi, kéo quân sang diệt luôn Đông Ngô.

Không ngờ Tư Mã Chiêu lập tức trả lời: "Không cho phép tự tiện hành động".

Tướng Thục Khương Duy đang cầm cự với Chung Hội ở Kiếm Các, được tin Đặng Ngải tập kích Thành Đô, vừa định mang quân về cứu thì nhận được lệnh của Hậu chủ, yêu cầu phải đầu hàng ngay quân Ngụy.

Nhận được lệnh, tướng sĩ Thục vẫn phẫn uất, đau đớn, nhiều người tức giận rút đao kiếm chém bừa vào đá núi.

Trước tình hình đó, Khương Duy trầm tĩnh tính toán.

Ông bàn mật kế với các tướng thân cận, rồi quyết định đầu hàng Chung Hội.

Chung Hội xưa nay vẫn kính trọng tài năng và phẩm cách của Khương Duy nên không coi Khương Duy như 1 hàng tướng bình thường, mà đối đãi trân trọng.

Chung Hội cùng Khương Duy khi ra vào đều ngồi chung xe, mời Khương Duy tham gia bàn bạc mọi việc, coi như bạn bè thân thiết.

Biết giữa Chung Hội và Đặng Ngải có mối bất hòa, Khương Duy khuyên Chung Hội bí mật viết thư cáo giác với Tư Mã Chiêu là Đặng Ngải mưu phản.

Tư Mã Chiêu xưa nay vốn có tính đa nghi, nhận được báo cáo của Chung Hội, liền dùng danh nghĩa của Ngụy Nguyên đế Tào Hoán, cử người tới Thành Đô bắt Đặng Ngải, nhốt vào xe tù chở về Lạc Dương.

Sợ Đặng Ngải chống lại, Tư Mã Chiêu lại hạ lệnh cho Chung Hội mang đại quân tới gấp Thành Đô.

Chung Hội tới Thành Đô, đọc chiếu lệnh bắt Đặng Ngải nhốt vào xe tù giải đi rồi sai người giết chết giữa đường.

Trừ được Đặng Ngải, toàn bộ binh quyền Ngụy ở Thục đều rơi vào tay Chung Hội.

Thấy đất Thục rộng rãi, hiểm yếu, Chung Hội liền nảy ra ý mưu phản, muốn lập một giang sơn riêng.

Chung Hội đem ý đó ra bàn với Khương Duy, được Khương Duy nhiệt liệt tán đồng.

Bản thân Khương Duy vốn có ý định lợi dụng Chung Hội để giết các tướng lĩnh Ngụy rồi cuối cùng giết luôn Chung Hội, khôi phục lại Thục Hán.

Vì vậy, Khương Duy cử người mang mật thư cho Lưu Thiền: "Xin bệ hạ nhẫn nhịn mấy ngày nữa, thần nhất định sẽ có cách khôi phục lại quốc gia".

Chung Hội vẫn tưởng rằng Khương Duy thực lòng hợp tác với mình để chống lại Tư Mã Chiêu, liền giả truyền mệnh lệnh của thái hậu sai mình đem quân thảo phạt Tư Mã Chiêu.

Sợ các tướng Ngụy không phục, Chung Hội liền giam lỏng họ trong cung điện Thục.

Các tướng sĩ Ngụy đem lòng nghi ngờ Chung Hội, sau có người phao tin là Chung Hội và Khương Duy sẽ giết hết hết các tướng Ngụy.

Họ nhao nhao tìm cách chống lại, có người phóng hỏa đốt cung điện.

Tình hình hỗn loạn, Chung Hội và Khương Duy không khống chế nổi, đều bị loạn binh giết chết.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
107-108


A ĐẨU ĐỚN HÈN

Sau khi Đặng Ngải diệt Thục, Hậu chủ Lưu Thiền còn lưu lại Thành Đô.

Tới khi Chung Hội và Khương Duy làm binh biến thất bại, Tư Mã Chiêu thấy để Hậu chủ ở Thành Đô sẽ dễ sinh nhiều bất trắc, liền phái Giả Sung vào Thành Đô dẫn Lưu Thiền về Lạc Dương.

Lưu Thiền vốn là kẻ u mê bất tài.

Khi Gia Cát Lượng còn sống, mọi công việc quốc gia đại sự đều giao cho Gia Cát Lượng giải quyết, Lưu Thiền không bao giờ đưa ra được chủ trương gì.

Sau khi Gia Cát Lượng mất, tuy vẫn có các đại thần như Tưởng Uyển, Phi Vi, Khương Duy phò tá nhưng Lưu Thiền không còn kính trọng họ như đối với Gia Cát Lượng nữa.

Sau khi Tưởng Uyển, Phí Vi mất, hoạn quan Hoàng Hạo đắc thế lộng hành, triều chính Thục Hán càng ngày càng thối nát.

Tới khi Thục Hán diệt vong, Khương Duy bị giết, các đại thần người thì chết, người thì bỏ đi.

Đi theo Hậu chủ về Lạc Dương chỉ có 2 viên quan cấp thấp là Khích Chính là Lưu Thông.

Lưu Thiền hết sức ngốc nghếch, mỗi khi tiếp xúc, xưng hô đều phải nhờ Khích Chính chỉ dẫn.

Lúc thường, Lưu Thiền không coi Khích Chính ra gì, đến nay mới thấy Khích Chính là người tận tụy trung thành.

Lưu Thiền đến Lạc Dương, Tư Mã Chiêu lấy danh nghĩa Ngụy Nguyên Đế, phong Lưu Thiền làm An Lạc công.

Ngoài ra, còn phong con cháu Lưu Thiền và những đại thần cũ của Thục Hán, tất cả gồm hơn 50 người làm tước hầu, Làm như vậy, Tư Mã Chiêu chỉ nhằm lung lạc nhân tâm, để ổn định tình hình trong vùng đất mới chiếm được.

Nhưng Lưu Thiền lại coi đó là ân huệ to lớn.

Một hôm, Tư Mã Chiêu mở tiệc lớn, mời Lưu Thiền và các đại thần của Thục Hán cũ tham dự.

Trong yến tiệc, Tư Mã Chiêu cố ý cho đoàn ca nữa biểu diễn các điệu ca múa của Thục.

Các đại thần ngồi xem, nghĩ tới nhục mất nước, ai cũng xúc động rơi nước mắt.

Chỉ có Lưu Thiền là há miệng nghe chăm chú say sưa như khi còn ngồi trong cung điện cũ của mình vậy.

Tư Mã Chiêu quan sát thái độ của Lưu Thiền, sau bữa tiệc liền nói với Giả Sung: "Lưu Thiền hèn đớn tới mức này, thì dù Gia Cát Lượng còn sống, e cũng không thể giữ nổi Thục Hán, nói gì đến Khương Duy".

Mấy ngày sau, Tư Mã Chiêu lại gặp Lưu Thuyền hỏi: "An Lạc công có nhớ mong đất Thục không?".

Lưu Thiền hồn nhiên trả lời: "Ở đây rất vui.

Thiền này chẳng nhớ gì đất Thục cả".

Khích Chính đứng bên, nghe Lưu Thiền nói năng không ra sao, khi về chúa phủ liền nói: "Chúa công không nên trả lời Tấn vương (tức Tư Mã Chiêu) như thế".

Lưu Thiền ngây ngô hỏi: "Thế theo ý ngươi thì phải trả lời thế nào?".

Khích Chính nói: "Lần sau, nếu Tấn vương có hỏi như thế nữa, chúa công cần phải sụt sùi rơi lệ mà nói: phần mộ tổ tiên của Thiền này đều ở đất Thục, trong lòng luôn luôn tưởng nhớ khôn nguôi.

Nói như vậy, may ra Tấn vương có thể tha chúng ta về đất Thục".

Lưu Thiền gật đầu nói: "Ngươi nói rất đúng.

Ta sẽ ghi nhớ để lần sau nói như vậy".

Lần sau, quả nhiên Tư Mã Chiêu lại hỏi: "Triều đình đối đãi tốt như thế, ông còn nhớ đất Thục không?".

Lưu Thiền nhớ tới lời Khích Chính dặn, liền cố gắng đáp lại đúng từng câu từng chữ, 1 mặt cố làm ra dáng bi thương, nhưng không sao rặn ra được nước mắt, đành nhắm tịt mắt lại.

Tư Mã Chiêu thấy bộ dạng đó, đã đoán biết được, liền cười lớn hỏi: "Câu nói này sao có vẻ giống lời lẽ Khích Chính thế?".

Lưu Thiền giật mình mở mắt, ngây người nhìn Tư Mã Chiêu: "Dạ đúng!

Đúng là Khích Chính dạy Thiền này nói như thế".

Tư Mã Chiêu cười vang, tùy tòng tả hữu cũng không ai nhịn được cười.

Từ đó, Tư Mã Chiêu thấy rõ Lưu Thiền là kẻ đớn hèn vô dụng, chẳng có thể làm hại gì mình được, liền bỏ qua, không giết.

Sự đớn hèn, ngu ngốc của Lưu Thiền trở thành nổi tiếng trong lịch sử.

Cho tới ngày nay, người ta vẫn dùng câu "đớn hèn như A Đẩu" để nói về những kẻ ngu ngốc, vô dụng.

VƯƠNG TUẤN DÙNG LÂU THUYỀN ĐÁNH NGÔ

Sau khi diệt được Thục Hán, Tư Mã Chiêu chưa kịp đánh Đông Ngô thì đã bị bệnh mất.

Con Tư Mã Chiêu là Tư Mã Viêm phế luôn hoàng đế bù nhìn là Ngụy Nguyên đế Tào Hoán, tự mình lên làm hoàng đế, lập ra triều Tấn.

Đó là Tấn Vũ Đế.

Từ năm 265 đến năm 316, triều Tấn đóng đô ở Lạc Dương, lịch sử gọi triều đại đó là Tây Tấn.

Khi triều Tây Tấn được kiến lập, thì Đông Ngô, nước duy nhất còn lại của thời Tam quốc đã rất suy yếu.

Tôn Hạo, hoàng đế cuối cùng của Đông Ngô là 1 bạo quân nổi tiếng, ngoài việc xây dựng cung thất, hưởng lạc xa xỉ, ông ta còn dùng những hình phạt tàn khốc vô nhân đạo như lột da móc mắt để trấn áp nhân dân, nên trên từ quan lại, dưới tới dân đen đều căm ghét.

Năm 279, một số đại thần triều Tấn cho rằng thời cơ đã chín muồi, đều khuyên Tấn Vũ Đế diệt Đông Ngô.

Tấn Vũ Đế liền huy động hơn 20 vạn quân, chia làm mấy đường tiến công Kiến Nghiệp (nay là thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô).

Trấn Nam đại tướng quân Đỗ Dự chỉ huy cánh quân đi giữa, tiến xuống Giang Lăng; An Đông tướng quân Vương Hồn chỉ huy cánh quân phía đông, tiến xuống Hoàng Giang (nay thuộc tỉnh An Huy); ngoài ra còn có 1 cánh thủy quân do thứ sử Ích Châu là Vương Tuấn, theo Trường Giang từ phía tây tiến xuống.

Vương Tuấn là 1 viên tướng có tài, ông đã sớm chuẩn bị việc đánh Ngô, cho chế tạo nhiều chiến thuyền ở Ích Châu.

Loại chiến thuyền này rất lớn, có thể chở được 2000 người, trên có lầu cao, từ đó có thể quan sát được khá xa.

Vì vậy ông gọi đó là lâu thuyền.

Việc chế tạo lâu thuyền được tiến hành bí mật.

Nhưng trong khi đóng thuyền, có 1 số mảnh gỗ vương vãi rơi xuống nước, thuận dòng trôi nổi tới tận Đông Ngô.

Ngô Ngạn là 1 thái thú của Đông Ngô phát hiện thấy hiện tượng đó liền tâu lên hoàng đế Tôn Hạo: "Thần thấy những mảnh gỗ đó nhất định là do quân Tấn đang đóng thuyền để vương vãi xuống.

Quân Tấn đóng thuyền, rõ ràng là nhằm tiến công Đông Ngô ta.

Hạ thần khẩn thiết xin bệ hạ sớm cho phòng bị".

Nhưng Tôn Hạo thản nhiên trả lời: "Sợ cái gì!

Ta không đánh chúng thì thôi, chúng làm sao dám xâm phạm đến ta".

Ngô Ngạn vẫn không yên tâm, liền cho đóng nhiều cọc gỗ xuống lòng sông ở những nơi hiểm yếu, dùng xích sắt chằng ngang sông; lại cho đóng những cọc sắt dài hơn 1 trượng chìm dưới mặt nước như đá ngầm để cản thủy quân Tấn.

Qua 1 năm, cánh trung quân của Đỗ Dự và cánh phía đông của Vương Hồn liên tiếp thắng trận, chỉ có thủy quân của Vương Tuấn bị xích sắt và cọc sắt ngăn lại ở Ti Qui, không tiến lên được.

Vương Tuấn liền nghĩ ra biện pháp đối phó: ông cho quân Tấn đóng nhiều bè gỗ lớn, trên có dựng bù nhìn rơm mặc áo giáp, đội mũ, mang binh khí; cho 1 số thủy binh linh lợi điều khiển bè xuôi dòng.

Những cọc sắt chôn ngầm bị vướng vào đáy bè gỗ, đều bị cuốn đổ.

Để đối phó với xích sắt, Vương Tuấn cho đặt nhiều bể lò rèn lớn trên bè, nung đỏ và chặt đứt hết xích ngang sông.

Sau khi khắc phục được hết cọc sắt và xích sắt, thủy quân của Vương Tuấn xuôi dòng thuận lợi và nhanh chóng hội họp được với cánh trung quân của Đỗ Dự.

Đại quân Đỗ Dự đi theo đường bộ hạ được Giang Lăng, giành thắng lợi lớn.

Có người đề nghị hãy tạm dừng lại nghỉ để chỉnh đốn quân đội rồi sẽ tiếp tục đánh.

Nhưng Đỗ Dự nói: "Hiện nay, quân uy của ta đang vang dội, thế như chẻ tre, cần phát huy thanh thế tiến đánh đến cùng.

Bây giờ không phải là lúc nghỉ ngơi".

Ông hết sức cổ vũ Vương Tuấn dẫn thủy quân đánh thẳng tới Kiến Nghiệp.

Lúc đó, cánh quân phía đông của Vương Hồn cũng đã gần tới Kiến Nghiệp.

Tôn Hạo phái thừa tướng Trương Đễ dẫn 3 vạn quân Ngô vượt sông nghênh chiến, bị quân Tấn tiêu diệt toàn bộ.

Vừa lúc, đoàn thủy quân hùng mạnh của Vương Tuấn đã tiến gần, Tôn Hạo hoảng hốt cử Trương Tượng đem 1 vạn thủy quân chống lại.

Quân của Trương Tượng vừa kéo ra, đã thấy thuyền đội của Vương Tuấn đứng kín mặt sông, những lá cờ phấp phới bay rợp trời.

Thủy quân Đông Ngô từ lâu đã không tập luyện, thấy thanh thế quân Tán như thế thì sợ mất vía, chưa giao chiến đã vội đầu hàng.

Một tướng Đông Ngô là Đào Tuấn đến tìm Tôn Hạo.

Tuấn là kẻ hồ đồ nhưng lại muốn lập công, liền tâu với Tôn Hạo: "Hạ thần thấy thủy quân Ích Châu đều là thuyền nhỏ, xin bệ hạ cấp cho thần 2 vạn thủy binh, dùng chiến thuyền lớn, thần nhất định sẽ đánh bại quân Tấn".

Tôn Hạo lập tức phong Tuấn làm đại tướng, trao cho cờ tiết để chỉ huy toàn bộ thủy quân chống Tấn.

Đào Tuấn liền hạ lệnh cho tướng sĩ: hôm sau sẽ ra quân đánh Tấn.

Nhưng tướng sĩ dưới quyền thấy rõ tình thế, không muốn theo Tuấn vào chỗ chết, nên ngay đêm đó đã bỏ trốn sạch.

Thủy quân của Vương Tuấn hầu như không gặp sự kháng cự nào, xuôi dòng tới thẳng Kiến Nghiệp.

Suốt gần 100 dặm trên mặt sông, dày đặc chiến thuyền của Tấn.

Vương Tuấn dẫn 8 vạn quân đổ bộ, tiến vào thành Kiến Nghiệp trong tiếng hò reo như sấm dậy.

Tôn Hạo đã đến bước sơn cùng thủy tận, đành cởi áo, gọi người trói quặt tay lại, dẫn các đại thần Đông Ngô đến quân doanh của Vương Tuấn xin hàng.

Như vậy thời kì 3 nước phân lập tính từ khi Tào Phi xưng đế (năm 220) cho tới lúc đó là kết thúc.

Triều Tấn đã thống nhất toàn Trung Quốc.

Thời kì Tam quốc có rất nhiều chuyện sinh động, trong dân gian cũng lưu truyền không ít truyền thuyết.

Đến đầu triều Minh, nhà văn La Quán Trung đã căn cứ vào những tư liệu lịch sử và các thoại bản dân gian, viết thành bộ tiểu thuyết lịch sử trường thiên "Tam quốc diễn nghĩa", đã dùng hình tượng nghệ thuật tái hiện các nhân vật lịch sử như Tào Tháo, Gia Cát Lượng, Quan Vũ...Đó là 1 tác phẩm văn học lớn mang tính sử thi hùng tráng trong văn học Trung Quốc.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
109-110


THẠCH SÙNG, VƯƠNG KHẢI THI GIÀU CÓ

Sau khi Tấn Vũ Đế thống nhất toàn quốc, cảm thấy thỏa mãn ý nguyện, liền chìm đắm trong cuộc sống xa hoa dâm dật.

Chưa bằng lòng với số cung nữ đông đảo vốn có, ông ta cho thu nạp số cung nữ của Thục Hậu chủ Lưu Thiền và của Đông Ngô Qui Mệnh Hầu Tôn Hạo (riêng số cung nữ của Tôn Hạo đã là gần 5000), đưa tổng số cung nữ lên gần 1 vạn người.

Theo gương ông ta, các đại thần trong triều đều coi việc khoa trương sự giàu có và thói ăn chơi làm phong thái thời thượng.Tại kinh đô Lạc Dương lúc đó có 3 đại phú hào nổi tiếng.

Một là Trung bộ quân Dương Tú, giữ chức chưởng quản quân cấm vệ; người thứ 2 là Hậu tướng quân Vương Khải, cậu của Tấn Vũ Đế; người thứ 3 là Tản kỵ thường thị Thạch Sùng.

Dương Tú và Vương Khải đều là ngoại thích nên có quyền thế hơn Thạch Sùng, nhưng Thạch Sùng lại đứng đầu về sự giàu có.

Không ai biết rõ Thạch Sùng có bao nhiêu tiền, chỉ biết rằng rất nhiều.

Nguồn tiền bạc ấy do đâu mà có?

Nguyên là Thạch Sùng từng làm thứ sử Kinh Châu trong mấy năm.

Trong thời gian đó, ngoài việc bóc lột, hút máu mủ nhân dân, hắn còn nhúng tay vào các hành động cướp bóc bẩn thỉu, phi pháp.

Các sứ thần và thương nhân ngoại quốc đi qua Kinh Châu đều bị bộ hạ của Thạch Sùng vòi vĩnh tiền đút lót và nhiều khi còn đóng vai giặc cướp, giết người, chiếm đoạt hết hàng hóa.

Vì vậy, hắn tích lũy được rất nhiều tiền bạc và đồ châu ngọc quí giá, trở thành người giàu có nhất nước lúc bấy giờ.

Thạch Sùng về Lạc Dương, nghe nói Vương Khải giàu có nổi tiếng nên có ý so đọ hơn thua.

Nghe nói nhà Vương Khải thường cọ nội bằng đường mạch nha, Thạch Sùng liền hạ lệnh cho gia nhân dùng nến để đun nấu thay củi.

Chuyện đó được lan truyền, nhiều người cho rằng như vậy là Thạch Sùng xài sang hơn Vương Khải.

Vương Khải liền cho dựng bình phong bằng lụa tía suốt 2 bên đường trước nhà mình, dài tới 40 dặm.

Ai muốn tới nhà Vương Khải, đều phải đi giữa 2 hàng bình phong lụa tía dài dằng dặc ấy.

Kiểu trang trí xa xỉ ấy làm rung động toàn kinh thành Lạc Dương.

Thạch Sùng chơi trội hơn, cho dùng đoạn màu, là thứ đắt tiền hơn lụa tía nhiều lần, cũng làm 2 dãy bình phong dài dài suốt 50 dặm, hơn hẳn Vương Khải cả về chiều dài và sự lộng lẫy.

Vương Khải bị thua lần thứ 2, rất cay cú nhưng chưa cam chịu.

Khải liền nhờ Tấn Vũ Đế - là cháu gọi bằng cậu giúp đỡ 1 tay.

Tấn Vũ Đế cho là cuộc thi đó rất thú vị, liền tặng cho Vương Khải 1 cây san hô cao hơn 2 thước vẫn được bày trong hoàng cung để ông cậu có thể gỡ thể diện trước mọi người.

Được hoàng đế giúp đỡ, Vương Khải tin chắc lần này mình sẽ thắng, liền mở tiệc, mời Thạch Sùng và nhiều quan chức tới dự.

Trong bữa tiệc, Vương Khải đắc ý tuyên bố: "Nhà tôi có một cây san hô hiếm có.

Chư vị có vui lòng thưởng ngoạn không?".

Tất nhiên mọi người đều muốn xem.

Vương Khải liền sai một số thị nữ khiêng cây san hô ra.

Đó là 1 cây san hô cao hơn 2 thước, hình dáng đầy đặn, cân xứng; có màu phấn hồng rất tươi đẹp.

Mọi người khen nức nở, đều cho đó là một bảo vật hiếm có trên đời.

Chỉ có Thạch Sùng là đứng bên cạnh cười nhạt.

Hắn nhìn thấy trên bàn có 1 chiếc gậy như ý (1 đồ trang trí thời xưa) bằng sắt, liền thuận tay cầm lấy, không nói năng gì, đập thẳng vào cây san hô.

Một tiếng "choang" khô đục, cây san hô gãy vụn, rơi lả tả.

Mọi người kinh hoàng thất sắc.

Chủ nhân Vương Khải giận run người, tím mặt, nói không thành tiếng: "Sao...sao...ngươi dám làm thế?".

Thạch Sùng vẫn ung dung tươi tỉnh: "Tướng quân khoan nổi giận, Thạch Sùng này không để tướng quân chịu thiệt, sẽ xin đền ngài 1 cây san hô khác".

Vương Khải vừa xót của, vừa uất giận, nói lắp bắp: "Được, được, ngươi đền ngay cho ta"

Thạch Sùng lập tức cho gia nhân về nhà khuân toàn bộ san hô trong nhà tới để Vương Khải chọn.

Lát sau, lũ gia nhân đông đảo mang tới mấy chục cây san hô, trong số đó có 6, 7 cây cao ba bốn thước, có cây cao vừa gấp đôi cây của Vương Khải, cây nào cũng có hình dáng, màu sắc đẹp đẽ.

Còn số cây giống như cây san hô của Vương Khải, thì càng nhiều hơn.

Các quan khách đứng ngây người.

Vương Khải lúc đó mới biết Thạch Sùng giàu có hơn mình nhiều lần, đành chịu thua, không còn gì để đua tranh nữa.

Cuộc thi giàu kết thúc.

Sự hào phú của Thạch Sùng lừng danh khắp Lạc Dương và truyền lan ra khắp nước.

Lúc đó, một đại thần là Phó Hàm liền dâng sớ tấu lên Tấn Vũ Đế, nói tình hình xa xỉ, lãng phí nghiêm trọng đó còn tai hại hơn cả thiên tai.

Việc thi sang trọng, thi xa xỉ đó không những không bị trách phạt, mà còn được coi là vẻ vang hơn người.

Nếu cứ tiếp tục như vậy thì sẽ dẫn tới hậu quả khôn lường.

Tấn Vũ Đế xem sớ tấu, bỏ qua luôn.

Bản thân ông cũng giống như Thạch Sùng, Vương Khải, đều ra sức vơ vét bóc lột, sống cuộc đời xa hoa cùng cực.

Triều Tây Tấn vừa bắt đầu mà đã thối nát như vậy, tất nhiên không tránh khỏi phát sinh đại loạn.

CHU XỨ TRỪ "TAM HẠI"

Thời Tây Tấn, ngoài những kẻ có quyền thế và sự giàu có, xa xỉ cùng cực như Vương Khải, Thạch Sùng ra, còn có rất nhiều kẻ trong giới quan liêu sĩ tộc no cơm ấm áo, chẳng làm việc gì có ích, chỉ tụm năm tụm ba, đàn đúm nói chuyện bậy bạ ngông cuồng, bịa đặt ra nhiều chuyện hoang đường quái đản.

Họ gọi loại hoạt động đó là "thanh đàm".

Nhưng những người đó lại có tiếng tăm lớn, địa vị cao trong giới thượng lưu.

Điều đó chứng tỏ phong khí không lành mạnh của xã hội thời đó.

Tuy nhiên, trong số quan chức vẫn có những người tương đối chính trực có những việc làm đáng khen, Chu Xứ đầu thời Tây Tấn là 1 trong số đó.

Khi ông làm thái thú Quảng Hán (nay là ở bắc Quảng Hán, Tứ Xuyên), vì quan lại địa phương trước đó rất thối nát, các đơn từ kiện cáo để dồn đống suốt 30 năm không hề xét xử.

Chu Xứ vừa đến nhận chức, liền bắt tay vào xét xử hết những vụ án tồn đọng đó.

Sau, ông được điều về triều làm Ngự sử trung thừa, không kể là hoàng thân quốc thích, hễ phạm pháp, ông đều thẳng thắn yêu cầu trừng phạt.

Chu Xứ vốn là người ở Nghĩa Hưng (nay là huyện Nghi Hưng, Giang Tô) thuộc Đông Ngô cũ.

Khi còn trẻ, ông có vóc dáng cao lớn và sức khỏe hơn người.

Cha mất sớm từ nhỏ, ông suốt ngày chơi bời lêu lỏng, không chịu học hành, tính nết lại hung hãn, hơi có chuyện gì là vung nấm đấm đánh người, thậm chí là dùng tới cả đao kiếm.

Dân chúng ở vùng Nghĩa Hưng đều sợ ông.

Trên Nam Sơn gần Nghĩa Hưng có 1 con mãnh hổ trán trắng, thường làm hại người và gia súc mà phường săn địa phương chưa làm gì được.

Trong dòng sông, bên dưới Trường Kiều có 1 con cá sấu, hay bất ngờ xuất hiện, khiến không ai dám bơi lại gần.

Dân chúng vùng Nghĩa Hưng gọi gộp cả Chu Xứ, con hổ trán trắng trên Nam Sơn và con cá sấu dưới Trường Kiều là "Nghĩa Hưng tam hại" .

Trong số "tam hại" này, Chu Xứ lại là cái "hại" làm dân chúng địa phương đau đầu nhất.

Có lần, Chu Xứ đang đi đường, thấy mọi người đều có vẻ buồn bã, liền hỏi 1 ông già: "Cụ ơi, năm nay mùa màng thu hoạch khá, tại sao ai cũng buồn bã, ủ ê như vậy?".

Cụ già xẵng giọng đáp: "Tam hại còn chưa trừ được, thì vui sướng nỗi gì!"

Chu Xứ lần đầu tiên nghe thấy từ "tam hại", liền hỏi: "Cụ nói cho cháu biết "tam hại" là cái gì?".

Cụ già nói: "Con hổ trán trắng trên Nam Sơn, con cá sấu dưới Trường Kiều, cộng thêm bản thân anh nữa.

Chẳng là tam hại là gì?".

Chu Xứ giật mình, thì ra lâu nay bà con địa phương vẫn coi mình là đồ gây hại giống như hổ và cá sấu.

Ông trầm ngâm một lát rồi nói: "Thôi thì thế này, xưa nay bà con vẫn buồn khổ vì tam hại, cháu sẽ trừ diệt hết chúng".

Hôm sau, Chu Xứ quả nhiên vai mang cung tên, lưng đeo kiếm sắc, vào trong núi tìm hổ.

Đi mãi, đi mãi, sâu vào vùng cây cối rậm rạp, bỗng nghe 1 tiếng gầm ghê rợn, con hổ trán trắng từ bụi rậm lao ra.

Vốn can đảm và nhanh nhẹn, Chu Xứ nhảy phắt sang 1 bên, nấp vào 1 thân cây lớn, giương cung lắp tên.

Đúng lúc con hổ đang gầm ghè lấy đà toan chồm tới, thì "phựt", mũi tên của Chu Xứ đã xuyên vào giữa trán.

Kết thúc tính mạng con mãnh thú từng gieo rắc tai họa 1 thời.

Chu Xứ trở về thông báo cho mọi người biết.

Dân thôn còn bán tín bán nghi, nhưng cũng cử 1 đoàn thợ săn theo vào rừng.

Con hổ to lớn được khiêng về trong tiếng reo mừng rộn rã của trẻ già trai gái khắp vùng.

Nhiều người đến chúc mừng cho Chu Xứ, nhưng ông gạt đi, nói: "Khoan đã, để tôi đi tìm nốt con cá sấu".

Hôm sau, Chu Xứ thay quần áo chẽn, lại mang cung tên đao kiếm nhảy xuống sông dưới Trường Kiều.

Con cá sấu thường ngày ẩn nấp dưới sâu, thấy có người liền nổi lên, xông tới toan đớp.

Đã chuẩn bị sẵn, Chu Xứ lao tới đâm mạnh 1 nhát kiếm, ngập gần lún tới cán.

Con cá sấu bị trọng thương, đau đớn quay đầu bơi xuôi theo dòng sông.

Thấy nó chưa chết, Chu Xứ quyết không buông tha, tìm cách giữ chặt đuôi kiếm.

Người và cá sấu vật lộn, lúc chìm xuống đáy nước, lúc cùng nổi lên, trôi nổi xuôi dòng suốt mấy chục dặm.

Ba ngày ba đêm trôi qua, vẫn chưa thấy Chu Xứ trở về.

Mọi người xôn xao bàn tán, những người chứng kiến từ đầu cho rằng cá sấu đã bị kiếm đâm trúng như thế, khó lòng còn sống được; nhưng trước khi chết, chắc nó cũng đớp và quật chết Chu Xứ rồi.

Và như vậy, cả 2 chắc đã chìm sâu dưới đáy nước rồi sẽ trôi ra biển.

Lúc đầu, dân chúng cho rằng, nếu Chu Xứ trừ được hổ và cá sấu, đã là tốt lắm rồi, nay không ngờ cả "tam hại" đều đã chết, thật là vượt cả mong muốn, từ nay dân chúng trong vùng được sống bình yên.

Thế là khắp phố phường thôn xóm, đều tưng bừng phấn khởi, không khí vui mừng như ngày hội.

Ngờ đâu, tới ngày thứ 4, Chu Xứ vẫn lành lặn trở về.

Mọi người đều kinh lạ.

Thì ra, con cá sấu bị trọng thương, lại bị Chu Xứ bám riết.

Cuối cùng, máu ra nhiều quá, không còn động cựa được nữa, bị Chu Xứ bồi thêm nhiều nhát kiếm, kết thúc tính mạng.

Về tới nhà, Chu Xứ ngạc nhiên được biết mọi người đoán rằng mình đã chết, lại tỏ ra vui mừng phấn khởi.

Lúc đó, ông mới tỉnh ngộ, nhận thức rõ rằng sự căm ghét của dân chúng trong vùng đối với hành vi trước kia của mình là sâu sắc tới mức độ nào.

Quyết tâm sửa chữa lỗi lầm, Chu Xứ liền rời quê hương, tới Ngô quận tìm thầy học tập.

Lúc đó, ở Ngô quận có 2 danh sĩ nổi tiếng là Lục Cơ và Lục Vân.

Chu Xứ tìm đến thì Lục Cơ đi vắng, chỉ có Lục Vân ở nhà.

Chu Xứ trình bày với Lục Vân về quyết tâm sửa lỗi của mình.

Ông nói: "Con vô cùng hối hận vì đã hiểu ra quá muộn, để trôi qua uổng phí bao nhiêu tháng năm quí giá.

Bây giờ muốn làm được việc gì hữu dụng, chỉ sợ rằng không kịp nữa".

Lục Vân khuyến khích ông: "Chớ nản lòng.

Anh đã có quyết tâm như thế, lo gì không có tiền đồ tươi sáng.

Một con người, miễn là có ý chí vững vàng, thì nhất định sẽ làm nên sự nghiệp hữu dụng cho đời".

Từ đó, Chu Xứ miệt mài học tập dưới sự dạy bảo ân cần của Lục Cơ, Lục Vân; vừa trau dồi tri thức, vừa rèn luyện phẩm hạnh.

Tinh thần nghiêm túc, cần mẫn của ông được nhiều người biết tiếng và ca ngợi.

Ít lâu sau, quan chức ở châu, quận gọi ông ra làm quan.

Sau khi Đông Ngô bị Tấn tiêu diệt, ông trở thành 1 đại thần của triều Tấn.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
111-112


MỘT HOÀNG ĐẾ NGÂY NGÔ

Tấn Vũ Đế Tư Mã Viêm cũng giống như ông nội (Tư Mã Ý), bác (Tư Mã Sư) và cha (Tư Mã Siêu), đều là những người giỏi giang và nhiều thủ đoạn.

Nhưng đến đời con kế vị Viêm là thái tử Tư Mã Trung thì lại là 1 kẻ ngu ngốc, ngây ngô, không có được đầu óc của 1 người bình thường.

Vì vậy, từ triều đình tới các địa phương, ai cũng lo lắng sau khi Tấn Vũ Đế chết đi, đến lượt vị thái tử ngây ngô đó làm hoàng đế, thì đất nước khó tránh khỏi rối loạn.

Một số đại thần muốn khuyên Tấn Vũ Đế lập người con khác làm thái tử, vì trong số con cái đông đúc (gần 20 người) của ông có khá nhiều người giỏi giang, tài trí hơn thái tử Tư Mã Trung, nhưng họ sợ, không dám dám nói rõ ý ấy ra.

Một hôm, khi Tấn Vũ Đế mở tiệc, đại thần Vệ Quán giả vờ say rượu, ngã quay ra trước ngự tọa, sờ soạng vào ngai vàng của Tấn Vũ Đế, miệng lè nhè: "Đáng tiếc, chỗ ngồi này đáng tiếc quá".

Vốn là người thông minh, Tấn Vũ Đế hiểu ngay ý Vệ Quán muốn nói gì, nhưng giả vờ làm như hiểu ra nghĩa khác, nổi giận quát: "Ngươi nói bậy bạ gì thế!

Say quá rồi phải không?".

Rồi gọi thị vệ vực Vệ Quán dậy, lôi ra ngoài.

Từ đó, không còn ai dám đề cập đến việc xin thay thái tử nữa.

Tuy vậy, bản thân Tấn Vũ Đế cũng có chút do dự, ông ta muốn thử xem con mình có thật là quá kém cỏi không, liền viết 1 đầu đề, nội dung có mấy vấn đề quốc sự, giao cho thái tử xem rồi nêu ý kiến giải quyết.

Vợ của thái tử là Giả Phi, vốn là 1 người đàn bà lanh lợi, thấy đề tập đó, hiểu ngay rằng đây là 1 việc có tầm quan trọng ảnh hưởng tới ngôi hoàng đế của chồng và ngôi hoàng hậu của mình trong tương lai.

Bà ta lại càng biết rằng chồng mình không thể làm được, liền mời thầy dạy thái tử tới, yêu cầu ông viết cho 1 đáp án.

Thầy dạy thái tử là 1 người có học vấn cao, lập tức vung bút viết 1 bài văn, vận dụng mọi kinh điển nho gia và sử sách cổ kim, lập luận đanh thép, lời văn bay bướm, giải quyết xác đáng những vấn đề mà Tấn Vũ Đế đưa ra, nộp cho thái tử.

Giả Phi xem thấy, rất vui mừng, nhưng 1 nội thị trong phủ biết chút chữ nghĩa, thường hầu hạ Giả Phi, vội nhắc nhở: "Kính thưa nương nương, quyển văn này hay thì hay thật, nhưng hoàng thượng rất sáng suốt, Người thừa biết rằng thái tử vốn không giỏi lắm, bây giờ lại viết được thế này thì Người nghi ngờ.

Lỡ hoàng thượng sai truy cứu biết rõ sự việc, thì ta tránh sao khỏi tội khi quân.

Xin nương nương cẩn trọng, minh xét".

Giả Phi cũng giật mình nói: "Đúng, may mà có ngươi nhắc ta.

Quyển văn này hãy tạm cất đi, để thái tử dùng về sau.

Bây giờ, thôi thì ngươi cũng là người biết chút chữ nghĩa, ngươi hãy viết cho thái tử một quyển văn khác, cố viết cho khá một chút.

Sau này, ngươi sẽ cùng được chung hưởng phú quí".

Viên nội thị liền viết 1 quyển văn khác, tất nhiên là vụng về và thô thiển, rồi đưa cho thái tử chép lại đúng từng chữ, sau đó nộp lên Tấn Vũ Đế.

Tấn Vũ Đế xem, thấy bài làm tuy chẳng lấy gì làm hay ho, nhưng cũng trả lời đúng vào được những câu hỏi nêu ra, chứng tỏ đầu óc thái tử không đến nỗi đần độn lắm.

Thói đời ai chẳng xót xa, nương nhẹ với con mình, huống gì đây lại là con kế vị của hoàng đế.

Vì vậy, Tấn Vũ Đế yên lòng cho qua.

Năm 290, Tấn Vũ Đế bị bệnh nặng.

Thái tử Tư Mã Trung đã ngoài 30 tuổi.

Thông thường, đã 30 tuổi thì hoàn toàn có thể giải quyết được chính sự.

Nhưng Tấn Vũ Đế vẫn không yên tâm, liền lập di chiếu, yêu cầu quốc trượng (cha của hoàng hậu) Dương Tuấn và chú mình là Nhữ Nam vương Tư Mã Lượng cùng phụ chính.

Khi Tấn Vũ Đế hấp hối, chỉ có Dương Tuấn có mặt cạnh long sàng.

Để độc chiếm quyền binh, Dương Tuấn liền thông đồng với con gái là Dương hoàng hậu, lập 1 tờ di chiếu giả, trao quyền phụ chính cho một mình Dương Tuấn.

Tấn Vũ Đế mất, thái tử Tư Mã Trung lên kế vị, đó là Tấn Huệ Đế, Giả Phi trở thành hoàng hậu.

Tấn Huệ Đế ngồi trên ngai vàng, nhưng chẳng biết giải quyết chính sự quốc gia thế nào, nên gây ra rất nhiều chuyện nực cười.

Có lần, vị hoàng đế ngây ngô này đi cùng bọn thái giám dạo chơi trong vườn ngự uyển, lúc đó là đầu mùa hè, trong các bụi cỏ ven hồ vang lên tiếng cóc kêu ì ộp.

Tấn Huệ Đế ngơ ngác hỏi các thái giám: "Con vật nào thế?

Nó kêu cho quan nghe hay cho dân nghe?".

Bọn thái giám nhìn nhau, không biết nên trả lời sao cho phải.

Một tên thái giám láu lỉnh liền trả lời: "Muôn tâu bệ hạ, đó là những con cóc, cóc của nhà quan thì kêu cho quan nghe; còn cóc của nhà dân thì kêu cho dân nghe".

Tấn Huệ Đế gật đầu, như đã hiểu rõ.

Một năm, toàn quốc mất mùa, lâm vào nạn đói.

Các địa phương tới tấp gửi sớ tấu lên triều đình, nói dân bị chết đói rất nhiều.

Tấn Huệ Đế nghe tâu, liền hỏi các đại thần: "Những người đang khỏe mạnh, sao lại chết đói được?".

Các đại thần tâu: "Vì không có lương thực để ăn".

Tấn Huệ Đế bỗng nhanh nhẹn phán: "Tại sao chư khanh không bảo họ nấu cháo thịt mà ăn?".

Toàn bộ triều thần đều mím miệng nín cười.Triều Tấy Tấn mới truyền được tới đời thứ 2, đã nảy nòi ra 1 hoàng đế ngây ngô như vậy, nên 1 loạt các vương hầu có dã tâm đều nhăm nhe nổi lên giành chiếc ngai vàng.

Và bà hoàng hậu gian xảo, nhiều tham vọng, đã có vai trò châm ngòi cho cuộc hỗn chiến sắp tới.

TÁM VƯƠNG HỖN CHIẾN

Tấn Vũ Đế cho rằng triều Ngụy diệt vong là vì đã không chia quyền lực cho các anh em trong hoàng tộc, khiến hoàng thất bị cô lập.

Vì vậy, khi lên ngôi, ông ta đã phong vương cho 27 người, mỗi vương quốc đều có quân đội riêng; các quan văn võ trong vương quốc đều do vương chư hầu tự tuyển chọn.

Tấn Vũ Đế tưởng rằng làm như vậy thì triều đình sẽ được nhiều anh em trong hoàng tộc giúp đỡ và nền thống trị của họ Tư Mã sẽ vững vàng.

Nào ngờ, cách làm đó lại gieo sẵn mầm loạn.

Năm 290, Tấn Huệ Đế lên ngôi, ngoại thích Dương Tuấn dùng âm mưu đoạt quyền, gạt Nhữ Nam vương Tư Mã Lượng khỏi cương vị phụ chính, giành riêng cho mình.

Một số vương chư hầu đương nhiên không cam chịu tình hình đó, nhưng nhất thời chưa có cơ hội ra tay chống lại.

Tấn Huệ Đế ngây ngô, nhưng hoàng hậu Giả Nam Phong (là con gái của Giả Sung, 1 người từ lâu đã là thân tín của Tấn Vũ Đế và trước đó đã thực hiện lệnh giết Tào Mao do Tư Mã Chiêu giao cho-xem chương 105) lại là người đàn bà gian xảo, quỉ quyệt.

Bà không chịu để 2 cha con Dương thái hậu thao túng triều chính, liền bí mật sai người liên lạc với Nhữ Nam vương Tư Mã Lượng và Sở vương Tư Mã Vĩ, yêu cầu họ đem quân về Lạc Dương thảo phạt Dương Tuấn.

Năm 291, Sở vương Tư Mã Vĩ từ Kinh Châu đem quân về Lạc Dương.

Dựa vào sự ủng hộ của Tư Mã Vĩ, Giả hoàng hậu lấy danh nghĩa Tấn Huệ Đế, hạ chiếu ghép Dương Tuấn vào tội mưu phản, sai Tư Mã Vĩ đem quân tới vây tư dinh của Dương Tuấn và giết chết cả 3 họ.

Số người có liên quan bị giết có tới mấy ngàn.

Sau khi Dương Tuấn bị giết, Nhữ Nam vương Tư Mã Lượng về Lạc Dương làm đại thần phụ chính.

Nhưng binh quyền lúc đó đã nằm trong tay Tư Mã Vĩ (Vĩ là con thứ 5 của Tư Mã Viêm, tức là em Huệ Đế và là cháu gọi Tư Mã Lượng là ông ngành thứ).

Giữa 2 vương ông cháu nảy sinh mâu thuẫn về quyền lực.

Hoàng hậu Giả Nam Phong thấy đây là cơ hội tốt để trừ luôn cả 2 vương lúc này đã trở thành vật cản đối với tham vọng lũng đoạn triều chính của mình.

Bà dùng quỉ kế: trước hết, giả truyền mệnh lệnh của Huệ Đế, sai Tư Mã Vĩ đem quân vây tư dinh của Tư Mã Lượng và bắt đem về trị tội vì có âm mưu phản nghịch, luôn tiện cũng làm tương tự đối với đại thần Vệ Quán là người đã từng khuyên Tư Mã Viêm lập thái tử khác.

Cả 2 người và toàn gia đình lập tức bị chém, không được thanh minh biện bạch gì.

Sự việc này gây bàng hoàng cho toàn thể triều đình vì Tư Mã Lượng là 1 nguyên lão trong hoàng tộc và quan Tư không Vệ Quán là 1 lão thần chính trực, có uy tín cao.

Bước tiếp theo, Giả hoàng hậu phủi tay, làm ra bộ không hay biết gì, xui Huệ Đế ra chiếu bắt và giết Tư Mã Vĩ vì tội giả mạo chiếu chỉ, tự tiện giết hại những trọng thần của triều đình, Sở vương Tư Mã Vĩ biết mình đã bị Giả hoàng hậu lừa, tưởng rằng đã lập được công vì chấp hành mau mắn "mặt chỉ" của hoàng đế, nào ngờ lại nhận được kết cục bi thảm.

Ông ta ra sức kêu oan, nhưng Huệ Đế với sự giật dây của Giả hoàng hậu, không thèm nghe và sai hành hình tức khắc.

Từ đó, triều đình không còn đại thần phụ chính.

Huệ Đế là hoàng đế trên danh nghĩa.

Nhưng trên thực tế, hoàng hậu Giả Nam Phong nắm toàn bộ quyền lực.

Giả hoàng hậu nắm quyền liên tục bảy tám năm, gạt hoàng đế ngây ngô sang 1 bên, chuyên quyền độc đoán, làm đủ mọi chuyện bẩn thỉu, dân trong kinh thành Lạc Dương ai cũng biết những vụ bê bối, dâm loạn của bà, nhưng không ai dám nói ra.

Giả hoàng hậu không có con trai, nhưng Huệ Đế lại có 1 con trai với 1 bà phi là Tạ phu nhân, đặt tên là Tư Mã Duật và được phong làm thái tử.

Giả hoàng hậu sợ thái tử Duật trưởng thành thì ngôi hoàng hậu của mình khó mà giữ được, liền lập mưu diệt trừ thái tử.

Bà sai 1 nội thị tâm phúc viết 1 bức thư nhân danh thái tử Duật gửi cho Huệ Đế, nội dung đại ý nói với giọng xấc xược, là Huệ Đế bất tài, nên sớm nhường ngôi lại cho thái tử và tự kết liễu đời mình đi, "nếu bệ hạ không dám tự kết liễu, thì thần tử này sẽ vào cung giúp kết liễu".

Sau đó, Giả hoàng hậu cho gọi thái tử tới, chuốc rượu say sưa tới mức mất hết lý trí rồi đưa bức thư đó ra và nói: "Hoàng đế có một văn bản quan trọng, bảo ta đưa cho thái tử và để thái tử tự tay sao lại ngay một bản đưa lên ngự cung".

Đang trong trạng thái mê mụ, thái tử Duật không còn đủ tỉnh táo để hiểu được ý nghĩa văn bản, chỉ biết cắm đầu chép từng chữ theo bản mẫu có sẵn 1 cách máy móc.

Hôm sau, Giả hoàng hậu bảo Tấn Huệ Đế triệu tập quần thần, đưa bức thư đó ra cho bọn họ xem và tuyên bố là thái tử mưu phản, là kẻ đại nghịch, bất trung bất hiếu, có chứng có bằng giấy trắng mực đen.

Nhiều đại thần tỏ ý ngờ rằng bức thư đó là giả, Giả hoàng hậu liền bảo họ sao tự dạng.

Kết quả, khi so với những văn bản do thái tử viết trước kia thì thấy đúng là bút tích của 1 người.

Thường ngày, thái tử tỏ ra là người trung hậu, thành thực, được nhiều người yêu mến.

Nhưng trước chứng cớ đó, không ai có cách gì bào chữa giúp được.

Huệ Đế là người vừa ngây ngô, vừa rất sợ Giả hoàng hậu, mọi việc đều nghe theo vợ.

Vì vậy, nghe Giả hoàng hậu nói là tội thái tử đáng chết, nhưng nghĩ tình ruột thịt, trước hết hãy phế bỏ và đem giam lỏng ở 1 nơi xa, Huệ Đế liền nghe theo ngay.

Tuyệt đa số đại thần từ lâu vốn đã rất bất bình trước sự lộng quyền và gian xảo, tàn bạo của Giả hoàng hậu.

Lần này, trước việc phế bỏ thái tử, họ không dám công khai chống lại, nhưng sau buổi chầu nhiều người đã tụ tập, tỏ sự căm phẫn, bàn tán xôn xao.

Triệu vương Tư Mã Luân (con thứ 9 của Tư Mã Ý, vào hàng ông của Huệ Đế) là người chỉ huy quân cấm vệ, từ lâu đã có mộng tưởng vươn lên nắm đại quyền, thấy đây là cơ hội lớn để ra tay.

Vốn cũng rất nham hiểm, ông ta không muốn là theo ý kiến của đa số đại thần là tìm cách phế Giả hoàng hậu và phục hồi cho thái tử, mà muốn trừ cả 2 để dọn đường cho mình.

Tư Mã Luân đi 1 nước cờ cao: trước tiên phao tin cho Giả hoàng hậu biết là các đại thần đang bí mật mưu toan phục hồi chức vị thái tử.

Giả hoàng hậu nghe tin, rất lo sợ, liền vội phái người đến đầu độc thái tử.

Bà ta đâu ngờ, làm như vậy là đổ thêm dầu vào ngọn lửa căm phẫn đang âm ỉ trong đại đa số triều thần.

Nắm ngay sự kiện đó, Triệu vương Tư Mã Luân phái hiệu úy cấm quân là Tề vương Tư Mã Quýnh (em họ của Huệ Đế) đem quân vào cung bắt Giả hoàng hậu.

Người đàn bà xưa nay vốn nhiều mưu mô xảo quyệt, lần này bị sa bẫy của Tư Mã Luân.

Vừa thấy Tư Mã Quýnh dẫn quân xông vào, Giả hoàng hậu giật nảy mình, nhưng vẫn làm mặt cứng cỏi, quát: "Các ngươi dám tự tiện vào đây làm gì?".

Tề Vương Quýnh đáp: "Ta phụng chiếu của hoàng thượng, đến bắt nhà ngươi".

Giả hoàng hậu đáp: "Chiếu thư của hoàng thượng đều do ta phát ra, Làm gì còn có chiếu thứ nào nữa?".

Nói rồi la thét ầm ĩ, sai cung nữ đi gọi Huệ Đế tới.

Tư Mã Quýnh không nói không rằng, sai quân cấm vệ xông vào trói Giả hoàng hậu lại cho dẫn đi, đồng thời cho lùng bắt, giết hết tay chân thân tín của bà.

Trong chốc lát, trong hoàng cung vang dậy tiếng hô giết của quân lính và tiếng kêu khóc của hoạn quan, nội thị.

Trong nhà, ngoài đường ngổn ngang xác chết, tràn ngập máu me (sự kiện này đã xảy ra vào năm 300 công nguyên).

Diệt xong Giả hoàng hậu, Triệu vương Tư Mã Luân tự lên làm tướng quốc, nắm toàn bộ triều chính.

Ông ta còn chuyên quyền hơn cả Giả hoàng hậu.

Trong mọi việc, không thèm để ý đến hoàng đế bù nhìn Tấn Huệ Đế nữa.

Một năm sau đó, vẫn chưa thỏa mãn tham vọng, Tư Mã Luân liền phế luôn Huệ Đế, tự mình lên ngôi hoàng đế (năm 301).

Sau khi lên ngôi, để xây dựng vây cánh, Tư Mã Luân phong quan chức rộng rãi cho đồng đảng, kể từ tên lính trong đội quân cũ của ông ta cũng trở thành quan.

Trên mũ của các quan từ lớn đến nhỏ đều cắm đuôi điêu (1 loại chồn phương bắc) để trang trí.

Vì quá nhiều quan, nên số đuôi điêu có trong kho hoàng cung không đủ dùng, phải dùng thêm đuôi chó cho đủ.

Dân gian liền đặt ca dao để châm biếm: "đuôi điêu chẳng đủ để dùng, đành thay đuôi chó lộn sòng cho qua".

Các vương chư hầu khác thấy Triệu vương Tư Mã Luân bỗng chốc nhảy tót lên ngôi hoàng đế, chiếm mất ngai vàng mà từ lâu họ từng dòm ngó, thì đâu chịu ngồi yên.

Tất cả đều lấy cớ thảo phạt tội thoán nghịch, rùng rùng đem binh mã về kinh đô Lạc Dương.

Cuộc đại hỗn chiến bắt đầu.

Diễn biến đại lược như sau: Ngay trong năm đó (năm 301) Tề vương Tư Mã Quýnh liên hợp với Thành Đô vương Tư Mã Dĩnh (con thứ 16 của Tư Mã Viêm, em cùng cha của Huệ Đế) cùng đánh Tư Mã Luân.

Sau hơn 60 ngày kịch chiến, số Lính chết trận của 2 bên lên tới gần 10 vạn.

Cuối cùng, Tư Mã Luân thua trận, bị giết.

Huệ Đế được trở lại làm hoàng đế bù nhìn, do Tư Mã Quýnh làm đại thần phụ chính, nắm toàn bộ thực quyền.

Năm 302, Tư Mã Ngung lại liên hợp với Trường Sa vương Tư Mã Nghệ (con thứ 6 của Tư Mã Viêm, em Huệ Đế) đánh vào thành Lạc Dương.

Qua 3 ngày kịch chiến, Tư Mã Quýnh đại bại, bị Tư Mã Nghệ bêu đầu thị chúng.

Quyền lực lại rơi vào tay Tư Mã Nghệ.

Năm 308, Tư Mã Dĩnh lại cùng Tư Mã Ngung đem 27 vạn quân đánh vào Lạc Dương.

Tư Mã Nghệ ít quân hơn, phải đem Huệ Đế chạy khỏi Lạc Dương.

Quân Tư Mã Dĩnh vào kinh thành, thả sức chém giết cướp bóc, hàng vạn người dân vô tội bị giết. sau đó, quân Tư Mã Dĩnh rút ra ngoài thành.

Huệ Đế được đưa về cung, còn Tư Mã Nghệ bị bắt và bị thiêu chết.

Năm 304, Đông Hải vương Tư Mã Việt (chú họ Huệ Đế) dẫn Huệ Đế đem quân thảo phạt Tư Mã Dĩnh.

Hai bên kịch chiến, Tư Mã Việt bị Tư Mã Dĩnh đánh bại, bỏ chạy về đất phong của mình ở Sơn Đông.

Huệ Đế trúng 3 mũi tên, bị Tư Mã Dĩnh bắt đưa vào Nghiệp Thành.

Trong lúc 2 vương kia đánh nhau, thì Tư Mã Ngung thừa cơ chiếm Lạc Dương.

Tư Mã Dĩnh ở Nghiệp Thành bị 1 số lực lượng địa phương đánh đuổi, phải đem Huệ Đế chạy về Lạc Dương, phụ thuộc vào Tư Mã Ngung.

Tư Mã Ngung thấy Lạc Dương đã tan hoang, liền buộc Huệ Đế và Tư Mã Dĩnh cùng vào Trường An, rồi phế Tư Mã Dĩnh, độc chiếm triều chính.

Năm 305, Tư Mã Việt lại từ Sơn Đông đem quân vào chiếm Trường An, ép Huệ Đế cùng Tư Mã Ngung, Tư Mã Dĩnh trở về Lạc Dương.

Năm 306, Tư Mã Việt lần lượt giết Tư Mã Dĩnh, Tư Mã Ngung và Huệ Đế, rồi lập Tư Mã Sí (em Huệ Đế), đó là Tấn Hoài Đế.

Đại quyền nằm hoàn toàn trong tay Tư Mã Việt.

Chiến loạn kết thúc.

Trong hơn 15 năm, kể từ khi Giả hoàng hậu giết Dương Tuấn (năm 291) đến khi Hoài Đế được lập (năm 306), kinh đô Lạc Dương và cố đô Trường An bị tàn phá, cướp bóc tan hoang.

Ở Lạc Dương, nam giới từ 13 tuổi trở lên đều bị bắt đi lính.

Lương thực hiếm hoi, 1 thạch lúa giá 1 vạn tiền.

Vì vậy, người chết đói đầy đường.

Quân lính các phe phái thiếu lương ăn, đã giải quyết bằng cách giết người, lấy thịt bù vào số thịt bò ngựa không đủ.

Tham gia vào cuộc hỗn chiến đó có Triệu vương Tư Mã Luân, Tề vương tư Mã Quýnh, Thành Đô vương Tư Mã Dĩnh, Hà Giang vương Tư Mã Ngung, Trường Sa vương Tư Mã Nghệ, Đông Hải vương Tư Mã Việt, cộng thêm Nhữ Nam vương Tư Mã Lượng, Sở vương Tư Mã Vĩ bị giết ngay từ đầu cuộc, tất cả là 8 vương.

Đến mà cuối, 7 vương bị giết, chỉ còn lại 1 vương là Tư Mã Việt.

Lịch sử gọi sự kiện này là "bát vương chi loạn" (loạn 8 vương).

Triều Tây Tấn vừa lên được 26 năm (265-291) đã lâm vào cảnh hỗn chiến cốt nhục tương tàn này nên nhanh chóng suy yếu.

Do đó, chỉ 11 năm sau đó, nó đã bị các dân tộc thiểu số phương bắc, lực lượng tàn dư phải chạy xuống phương nam, lập ra triều Đông Tấn.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
113-114


LÝ ĐẶC LẬP TRẠI CHO DÂN LƯU TÁN

Nền thống trị thối nát và cục diện hỗn chiến dưới thời Tây Tấn đã gieo tai họa vô cùng vô tận xuống đầu dân chúng.

Cộng thêm vào đó là thiên tai liên tiếp khiến nông dân nhiều địa phương không đủ lương ăn, phải rời bỏ làng quê, lũ lượt tới các vùng khác kiếm sống.

Số nông dân đi lánh nạn đó được gọi là "lưu dân" (dân lưu tán).

Năm 298, vùng Quan Trung lâm vào nạn đói lớn, các quận Lược Dương, Thiên Thủy (nay thuộc Cam Túc) và 4 quận lân cận có hơn 10 vạn dân lưu tán vào đất Thục.

Đi cùng với dân lưu tán có 3 anh em thuộc 1 gia đình dân tộc Để là Lý Đặc, Lý Tường, Lý Lưu.

Trên đường đi, trong số dân lưu tán có ai đói khát, ốm đau, 3 anh em Lý Đặc đều giúp đỡ và chăm sóc tận tình.

Vì vậy, họ được dân lưu tán cảm kích và tôn trọng.

Đất Thục cách Trung nguyên khá xa nên nhân dân được sống tương đối yên ổn.

Tới Thục, số lưu dân liền phân tán đi làm thuê dài ngày cho các nhà giàu để kiếm ăn.

Nhưng thứ sử Ích Châu là La Thượng không muốn để vùng đất dưới quyền cai trị của mình bị dân lưu tán làm cho nhiễu loạn, nên chủ trương đuổi họ trở về Quan Trung.

Ông cho đặt trạm kiểm soát tại các ngả đường ra vào Thục để ngăn chặn dân lưu tán đi vào và cướp đoạt tài sản mang theo của họ.

Dân lưu tán nghe biết có lệnh đuổi của địa phương, lại nghĩ tới tình cảnh đói khát ở quê nhà, nếu phải trở về thì không có cách gì sống nổi, tất cả đều than trời kêu khổ.

Mọi người liền nhờ Lý Đặc giúp đỡ.

Lý Đặc nhiều lần thay mặt dân lưu tán, viết tờ thỉnh cầu xin lùi hạn đuổi lại, để dân lưu tán có thời gian tìm ra cách kiếm sống mà không gây ra xáo động cho địa phương.

Họ thấy Lý Đặc có uy tín để giao thiệp với quan chức địa phương nên rủ nhau đến nhờ ông che chở.

Lý Đặc liền lập 1 trại lớn ở vùng Miên Trúc để tập trung dân lưu tán lại.

Chưa tới 1 tháng, đã có khoảng 2 vạn người tới theo.

Em ông là Lý Lưu cũng lập 1 trại riêng, tiếp nhận được mấy ngàn người.

Sau khi tập trung dân lưu tán vào 1 khu, để họ khai phá ruộng nương, tự túc được lương thực.

Lý Đặc liền cử đại diện là Diêm Húc đến gặp La Thượng, xin hoãn dài hạn việc đuổi dân lưu tán.

Diêm Húc đến phủ thứ sử, thấy ở đó đang diễn ra quang cảnh tấp nập sửa sang đồn lũy và tập trung người ngựa, rõ ràng là đang chuẩn bị cho 1 hành động quân sự.

Diêm Húc gặp La Thượng, đề đạt lời thỉnh cầu của dân lưu tán.

La Thượng làm ra vẻ dễ dãi trả lời: "Ta đã chuẩn bị ban hành lệnh hoãn đuổi, ông cứ an tâm, về báo cho họ biết, đừng lo lắng gì nữa".

Thấy thái độ La Thượng không có ý chân thật, Diêm Húc nói: "Xin La công đừng nghe lời xúi giục của những người nuôi ý định xấu đối với dân lưu tán chúng tôi.

Nhìn tình hình ở nơi đây, tôi thấy các ngài không có ý dung nạp chúng tôi.

Nhưng tôi khuyên ngài, không nên coi thường đám dân đói khát, nhìn bề ngoài họ có vẻ yếu đuối; nhưng nếu bị bức đến bước đường cùng, họ sẽ buộc phải phản kháng.

Đến lúc đó, e rằng sẽ không có điều gì hay cho ngài đâu!".

La Thượng giả bộ nghiêm chỉnh nói: "Ta không đánh lừa đâu, ông cứ về nói với họ ý kiến trên của ta".

Diêm Húc trở về Miên Trúc, nói tường tận tình hình đã quan sát và những lời lẽ của La Thượng cho Lý Đặc nghe, rồi bổ sung thêm: "Theo tôi, tuy La Thượng nói như thế, nhưng chúng ta không nên nhẹ dạ tin lời ông ta, cần phải chuẩn bị đề phòng ông ta đem quân tới tập kích".

Lý Đặc cũng cùng chung nhận định, lập tức cho tổ chức dân lưu tán thành đội ngũ, chuẩn bị vũ khí, bố trí trận thế, sẵn sàng chống trả nếu bị quân Tấn tiến công.

Quả nhiên, một đêm sau đó, La Thượng phái bộ tướng dẫn dẫn 3 vạn bộ binh và kỵ binh đến đánh úp trại lớn Miên Trúc.

Quân Tấn tiến tới doanh trại của Lý Đặc.

Lý Đặc làm ra vẻ không hay biết gì, toàn trại vẫn im phắc không có động tĩnh.

Quân Tấn tưởng Lý Đặc trúng kế của La Thượng, không đề phòng gì, liền nổi hiệu lệnh, quân lính reo hò, ào ạt xông vào trại.

Nào ngờ, khi 3 vạn quân Tấn đã vào hết trong khu trại, thì 4 phương 8 hướng vang dậy tiếng trống và thanh la.

Toàn thể dân lưu tán đã mai phục sẵn cầm trường mâu, đại đao xông ra chém giết.

Dân lưu tán đã chất chứa sẵn lòng uất ức, chiến đấu hết sức dũng mãnh, một địch nổi mười, mười địch nổi trăm.

Quân Tấn bị bất ngờ, từ chỗ chủ quan, chuyển sang hoảng sợ, không kịp đối phó, bị dân lưu tán đánh cho khôi giáp tả tơi, ôm đầu tháo chạy.

Mấy viên tướng Tấn chạy không kịp, bị giết chết.

Sau trận đó, dân lưu tán biết bọn thống trị Tấn nhất định không bỏ qua, nên đều xin Lý Đặc đứng ra chỉ huy họ, chống lại quân triều đình và địa phương.

Qua bàn bạc giữa thủ lĩnh của dân lưu tán 6 quận với Lý Đặc, mọi người tôn Lý Đặc làm Trấn Bắc đại tướng quân, Lý Lưu làm Trấn Đông tướng quân.

Mấy thủ lĩnh khác của dân lưu tán cũng được cử làm tướng.

Họ tổ chức, chỉnh đốn lại binh mã, thanh thế lừng lẫy 1 vùng.

Mấy ngày sau, đội quân đó đánh chiếm Quảng Hán, đuổi viên thái thú đi.

Lý Đặc vào quận Quảng Hán, học theo cách làm của Hán Cao Tổ Lưu Bang, ban bố "ước pháp tam chương", mở kho thóc công, cứu tế cho dân nghèo địa phương.

Quân đội của lưu dân, dưới sự lãnh đạo của Lý Đặc, đã giữ nghiêm kỉ luật, không quấy nhiễu dân địa phương.

Dân chúng trong đất Thục, xưa nay chịu mọi áp bức khắc nghiệt của quan quân triều Tấn, nay nhờ có quân lưu dân của Lý Đặc, đời sống được yên ổn và dễ thở hơn.

Họ đều phấn khởi và sáng tác ca dao ca ngợi đội quân của Lý Đặc:

"La Thượng tàn ác trăm bề

Nay nhờ Lý Đặc vỗ về muôn dân"

Trước thanh thế của quân lưu dân, La Thượng ngoài mặt phải cử người đến cầu hòa, nhưng một mặt ngấm ngầm cấu kết với thế lực cường hào địa phương đánh Lý Đặc.

Sau 1 số trận chống trả anh dũng, Lý Đặc thua trận, anh dũng hy sinh.

Con của Lý Đặc là Lý Hùng tiếp tục lãnh đạo lưu dân chiến đấu.

Năm 304, Lý Hùng tự lập làm Thành Đô vương.

Hai năm sau, lại tự xưng là hoàng đế, lấy quốc hiệu là Đại Thành.

Sau, tới đời cháu Lý Hùng là Lý Thọ nối ngôi hoàng đế, liền đổi quốc hiệu là Hán.

Do đó, sử còn gọi chính quyền này là Thành Hán.

NGƯỜI HUNG NÔ XƯNG LÀM HÁN ĐẾ

Trong cùng năm khi Lý Hùng xưng làm Thành Đô vương (304), thì ở miền bắc, 1 nhân vật quí tộc Hung Nô là Lưu Uyên cũng tuyên bố độc lập với triều Tấn, tự xưng là Hán Vương.

Từ cuối đời Tây Hán, 1 bộ phận tộc Hung Nô từ phía bắc dời vào cư trú ở các quận huyện miền biên giới.

Họ chung sống lâu dài với nhân dân tộc Hán, dần dần tiếp thu nền văn hóa Hán.

Giới quí tộc Hung Nô cho rằng các đời trước, đã nhiều lần thông hôn với hoàng thất nên họ cũng là họ hàng thân thích với nhà Hán.

Vì vậy, họ liền đổi sang họ Lưu, là họ của hoàng đế Hán.

Cuối thời Đông Hán, đầu thời Tam quốc, sau khi Tào Tháo thống nhất được miền bắc Trung Quốc, liền phân 3 vạn dân thuộc các bộ lạc Hung Nô thành 5 bộ, mỗi bộ có 1 bộ soái.

Quí tộc Hung Nô Lưu Báo là một trong năm bộ soái đó.

Lưu Uyên là con Lưu Báo, từ nhỏ đã học chữ và tiếng Hán, có đọc khá nhiều thư tịch Hán, lại có sức khỏe và võ nghệ cao cường, có thể kéo được đoạn dây cung có lực căng 300 cân.

Sau khi Lưu Báo chết, Lưu Uyên kế thừa chức bộ soái của cha, có thời gian làm tướng dưới quyền Thành Đô vương Tư Mã Dĩnh (một trong tám vương đã nói ở phần trên) đóng quân ở Nghiệp Thành chỉ huy toàn thể quân đội Hung Nô thuộc cả 5 bộ.

Sau khi cuộc hỗn chiến 8 vương nổi ra, một số quí tộc Hung Nô họp nhau lại bàn bạc ở Tả Quốc Thành (nay ở phía bắc Ly Thạch, Sơn Tây).

Một quí tộc già nói: "Từ đầu triều Hán, người Hung Nô chúng ta kết thân với người Hán.

Trải qua hai triều Ngụy, Tấn, con cháu các thiền vu Hung Nô tuy vẫn có tước phong, nhưng không có một tấc đất của riêng mình, không khác gì dân thường.

Nay triều Tấn có nội loạn, hoàng tộc đang tàn sát lẫn nhau, đây chính là thời cơ để người Hung Nô ta khôi phục lại địa vị".

Mọi người đều thấy ý kiến đề xuất đó là đúng.Nhưng chọn ai là người đứng đầu?

Qua thảo luận, mọi người đều cho rằng Lưu Uyên có tài năng và uy tín cao, rất thích hợp với chức vị thiền vu.

Hội nghị quí tộc liền cử đại diện đến Nghiệp Thành, báo cho Lưu Uyên biết ý kiến của hội nghị và mời ông trở về.

Lưu Uyên mừng rỡ, liền lấy cớ về Hung Nô an táng cho cha, xin phép Tư Mã Dĩnh cho nghỉ.

Nhưng Tư Mã Dĩnh nhất định không đồng ý.

Lưu Uyên đành cho người đại diện về trước và hẹn cả 5 bộ của Hung Nô tập trung lực lượng quân sự và di chuyển xuống phía nam.

Sau đó, thứ sử Tịnh Châu là Tư Mã Đằng cùngvới tướng Vương Tuấn liên hợp với quí tộc Tiên Ty đánh Tư Mã Dĩnh.

Tư Mã Dĩnh bị thua, chạy về Lạc Dương.

Nhân cơ hội đó, Lưu Uyên xin Tư Mã Dĩnh cho về Hung Nô để lấy quân đến trợ chiến.

Tư Mã Dĩnh tin là thật cho đi.

Năm 304, Lưu Uyên về đến Tả Quốc Thành được cả 5 bộ tôn là Đại thiền vu.

Ông dẫn 5 vạn quân tiến xuống phía nam, giúp quân Tấn đánh lại quân Tiên Ty.

Có người hỏi: "Tại sao ông không nhân cơ hội này diệt phăng triều Tấn đi, mà lại giúp đỡ quân Tấn?".

Lưu Uyên trả lời: "Diệt triều Tấn thì dễ như kéo đổ cây củi mục, nhưng dân Tấn chưa hẳn đã chịu theo chúng ta.

Triều Hán đã dựng nước lâu dài, có ảnh hưởng sâu trong lòng người.

Các đời ông cha ta chúng ta đã từng thông hôn với triều Hán trở thành anh em thân thích với nhau.

Nay triều Hán đã mất, ta nên lấy danh nghĩa kế thừa triều Hán, thì sẽ được lòng người hơn".

Mọi người đều phục, Lưu Uyên liền tự xưng là Hán Vương.

Sau đó Lưu Uyên liên tiếp đánh chiếm được các quận Thượng Đảng, Thái Nguyên, Hà Đông, Bình Nguyên, thế lực càng ngày càng mạnh.

Một số lực lượng chống Tấn của các bộ tộc nhỏ đều quy phục Lưu Uyên.

Năm 308, Lưu Uyên xưng làm Hán Đế.

Năm sau liền dời đô đến Bình Dương (nay ở tây nam Lâm Phần, Sơn Tây) rồi tập trung binh lực tiến đánh Lạc Dương.

Nhân dân Lạc Dương tuy căm ghét triều Tây Tấn thối nát, nhưng không muốn bị quí tộc Hung Nô thống trị.

Vì vậy, qua 2 lần tiến công, Lưu Uyên đều gặp phải sự chống trả mãnh liệt của quân dân Lạc Dương, đều phải lui quân.

Trong lúc đó, vương cuối cùng còn lại sau "loạn tám vương" là Đông Hải vương Tư Mã Việt vẫn còn sa vào việc chém giết với các đại thần khác.

Vì vậy, chút ít lực lượng quân sự còn sót lại của triều Tấn cũng bị tiêu hao hết.

Sau khi Lưu Uyên chết, con là Lưu Thông nối ngôi hoàng đế Hán, lại phái các đại tướng là Lưu Diệu và Thạch Lặc tiến công Lạc Dương.

Quân dân Lạc Dương chống trả quyết liệt, nhưng cuối cùng do lực lượng quá chênh lệch không thể kéo dài cuộc chiến đấu.

Năm 211, thành Lạc Dương thất thủ, Tấn Hoài Đế bị bắt làm tù binh.

Lưu Thông tiến vào Lạc Dương, tàn sát hàng loạt quan chức và nhân dân.

Một lần, Lưu Thông mở tiệc, sai Tấn Hoài Đế mặc áo xanh của nô bộc, đứng hầu rượu.

Một số triều thần cũ của triều Tấn nhìn thấy cảnh đó, không kìm lòng được, òa lên khóc.

Lưu Thông thấy các đại thần của triều Tấn còn nặng tình cảm với Hoài Đế như vậy, thì nổi giận, đem Hoài Đế giết đi.

Sau khi Tấn Hoài Đế bị giết, các quan triều Tấn ở Trường An liền tôn cháu của Hoài Đế là Tư Mã Nghiệp lên kế thừa kế vị.

Đó là Tấn Mẫn Đế.

Năm 316 Lưu Thông chiếm được Trường An, Tấn Mẫn Đế cũng lâm vào số phận giống như Tấn Hoài Đế, sau khi chịu mọi nhục nhã rồi cũng bị giết đi.

Triều Tây Tấn duy trì được 52 năm, tới đây kết thúc.

Sau khi Tây Tấn bị diệt, các bộ tộc miền bắc Trung Quốc (chủ yếu là 5 bộ tộc Hung Nô, Tiên Ty, Kiệt, Để, Phương) dồn dập khởi nghĩa.

Tầng lớp trên trong các bộ tộc đó thừa cơ khởi binh, giống như Lý Hùng, Lưu Uyên đã làm, trước sau xuất hiện 16 chính quyền cát cứ.

Lịch sử gọi tình hình đó là "Ngũ Hồ, thập lục quốc".
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
115-116


LƯU CÔN LẬP CHÍ CỨU NƯỚC

Trong khi quí tộc Hung Nô hoành hành ở miền bắc và vương triều Tây Tấn đứng trước họa diệt vong thì 1 số tướng lĩnh trung thành vẫn kiên trì chiến đấu.

Một đại biểu kiệt xuất trong số đó là Lưu Côn.

Thời thanh niên Lưu Côn có 1 người bạn thân là Tổ Địch.

Đầu thời Tây Tấn hai người cùng làm chức chủ bạ (chức quan trông coi việc giấy tờ) ở Tư Châu (trị sở đông bắc Lạc Dương ngày nay).

Đêm đêm hai người cùng ngủ chung 1 giường, đàm luận việc quốc gia đại sự, thường say sưa sôi nổi đến canh khuya.

Một hôm, khi họ đang ngủ ngon thì có tiếng gà gáy làm Tổ Địch thức dậy.

Nhìn ra ngoài cửa sổ thấy mảnh trăng tàn còn treo ở chân trời, phương đông vẫn chưa rạng.

Nhưng Tổ Địch không muốn ngủ nữa, liền lấy chân hích Lưu Côn.

Côn giật mình, dụi mắt, hỏi xem có việc gì.

Tổ Địch nói: "Anh nghe xem, tiếng gáy hay biết bao.

Nó giục chúng ta trở dậy đấy!".

Hai người phấn khởi vùng dậy, lấy kiếm đang treo trên vách, đi ra ngoài, cùng nhau múa kiếm dưới ánh trăng mờ nhạt dưới hừng đông.

Cứ như vậy, ngày ngày, họ khổ công tập luyện võ nghệ, nghiên cứu binh pháp.Cuối cùng, cả 2 đều trở thành tướng lĩnh nổi tiếng.

Năm 308, Tấn Hoài Đế phongLưu Côn làm thứ sử Tịnh Châu.

Lúc đó, Tịnh Châu trong tình trạng bị Hung Nô, cướp bóc, tàn sát, dân chúng tán loạn khắp nơi.

Lưu Côn chiêu mộ hơn 1000 binh sĩ,xông pha vô vàn gian nan nguy hiểm, tiến tới Tấn Dương thuộc Tịnh Châu (nay ở tây nam thành phố Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây).

Trong thành phố Tấn Dương, nhà cửa bị đốt phá, gai góc mọc đầy, cảnh hoang vắng thê lương bao phủ khắp nơi.

Trong khi xông pha tìm kiếm, đội quân của Lưu Côn phát hiện thấy 1 số dân còn sót lại, đang thoi thóp vì nhịn đói quá lâu.

Nhìn thấy cảnh đó, Lưu Côn rất thương tâm.

Ông ra lệnh cho các binh sĩ phát quang gai góc, chôn cất những người chết, sửa sang lại nhà cửa, thành trì, phòng bị chống lại sự tập kích của Hung Nô.

Ông còn dùng mưu, khiến các bộ lạc Hung Nô nghi ngờ lẫn nhau.

Nhờ đó, về sau hơn 1 vạn người Hung Nô đầu hàng Lưu Côn, lực lượng ông hùng hậu lên, ngay cả Hán Đế Lưu Uyên cũng gờm sợ, không dám xâm phạm vào vùng đất ông cai quản.

Lưu Công chiêu tập dân đào vong trở về đất cũ, khai hoang phục hóa, ổn định cuộc sống.

Không tới 1 năm, vùng đất hoang vu cũ đã có tiếng gà gáy chó sủa, thành Tấn Dương dần dần khôi phục lại cảnh tượng phồn vinh.

Sau khi Lưu Thông đánh chiếm Lạc Dương, binh lực của triều Tây Tấn ở miền bắc phần lớn bị đánh tan chỉ còn lại 1 mình Lưu Côn kiên trì chiến đấu ở dải Tịnh Châu.

Sau khi Tấn Mẫn Đế lên ngôi ở Trường An, liền cử người phong Lưu Côn làm đại tướng quân, giao cho ông chỉ huy toàn bộ lực lượng quân sự ở Tịnh Châu.

Lúc đó, đại tướng Hán là Thạch Lặc đã chiếm được Tương Quốc (ở phía tây nam Hình Đài, tỉnh Hà Bắc ngày nay), tập kết 1 đội quân lớn tới mấy chục vạn, toan đánh chiếm Tịnh Châu.

Lưu Côn ở vào tình thế bị kẹt giữa Lưu Thông ở phía nam và Thạch Lặc ở phía bắc, khó khăn đến cực điểm.

Nhưng ông không hề sợ hãi, không chịu lui và co ngụm lại.

Trong sớ tấu gửi lên Tấn Mẫn Đế, ông viết: "Hạ thần không thể đội trời chung với Lưu Thông, Thạch Lặc.

Nếu không dẹp yên được chúng, thần quyết không về triều".

Theo kể lại, khi Lưu Côn ở Tấn Dương, có lần bị kỵ binh Hung Nô bao vây nhiều lớp.

Thành Tấn Dương rất ít quân, không thể đánh lui được địch.

Mọi người rất sợ hãi, nhưng Lưu Côn vẫn bình thản.

Đêm tới, ông trèo lên thành lầu, hú từng hồi dài dưới ánh trăng.

Tiếng hú nghe bi thương, ai oán.

Quân Hung Nô nghe thấy, đều buồn rầu than thở.

Tới nửa đêm, Lưu Côn lại sai người dùng sáo Hồ (1 nhạc cụ của các dân tộc miền bắc Trung Quốc), thổi các điệu nhạc Hung Nô, gợi lên tình cảm nhớ quê hương.

Binh lính Hung Nô xúc động rơi nước mắt.

Trước khi trời sáng, tiếng sáo Hồ lại cất lên, binh lính Hung Nô tự động lui hết.

Sau đó, Lưu Côn bắt liên lạc với thủ lĩnh tộc Tiên Ty, cùng nhau phối hợp đánh Lưu Thông, nhưng không thành công.

Tiếp đó, Thạch Lặc tiến công Lạc Bình (ở tây nam Tích Dương, tỉnh Sơn Tây ngày nay).

Lưu Côn phái quân đi cứu, bị Thạch Lặc dùng tinh binh mai phục dọc đường, tiêu diệt hầu như toàn bộ.

Đúng vào lúc đó, lại truyền tới tin Lưu Thông đã chiếm Trường An, bắt được Mẫn Đế.

Tình hình diễn biến tới mức đó, thì dù có ngoan cường dũng cảm đến đâu cũng khó lòng giữ được Tịnh Châu, Lưu Côn đành dẫn tàn binh chạy lên U Châu.

HỌ VƯƠNG GIÚP HỌ TƯ MÃ

Trong khi Lưu Thông chiếm được Trường An, thì miền nam Trung Quốc vẫn còn nằm trong tay các quan lại địa phương triều Tấn.

Trước khi bị bắt, Tấn Mẫn Đế để lại chiếu thư yêu cầu Lang Nha vương Tư Mã Duệ lúc đó đang trấn thủ ở Kiến Khang (vốn có tên là Kiến Nghiệp, nay là thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô) kế thừa ngôi hoàng đế.

Trong hoàng tộc Tây Tấn, địa vị và danh vọng của Tư Mã Duệ không cao.

Thời Tấn Hoài Đế, ông được phái xuống trấn thủ miền Giang Nam.

Khi nhậm chức, ông mang theo 1 số quan chức có học vấn từ miền bắc xuống, trong đó, người có danh vọng nhất là Vương Đạo.

Tư Mã Duệ coi Vương Đạo là người bạn chí thiết, luôn làm theo ý kiến và mưu kế do Vương Đạo bày cho.

Khi mới tới Kiến Khang, Tư Mã Duệ bị 1 số địa chủ thuộc các dòng họ lớn coi thường vì địa vị và tiếng tăm của ông tương đối thấp.

Họ không chịu đến chào quan trấn thủ mới.

Thấy thế, Tư Mã Duệ hơi hoang mang, liền nhờ Vương Đạo bày cho cách đối phó.

Vương Đạo có người anh họ là Vương Đôn, lúc đó làm thứ sử Dương Châu, có thế lực tương đối lớn.

Vương Đạo mời Vương Đôn đến Kiến Khang cùng nhau bàn bạc, tìm ra 1 biện pháp.

Ngày mồng 3 tháng 3 năm đó, theo phong tục địa phương là ngày lễ trừ tai, dân chúng và quan chức đều ra sông để "cầu phúc tiêu tai".

Hôm đó, Vương Đạo để Tư Mã Duệ ngồi trên 1 cỗ kiệu trang hoàng lộng lẫy, có 1 đội nghi trượng đánh chiêng mở đường, tiến ra bờ sông.

Vương Đạo, Vương Đôn và các quan chức, danh sĩ người miền bắc cưỡi những con ngựa cao lớn đi sau kiệu, hình thành 1 đội ngũ uy nghiêm, hùng dũng.

Hôm đó, người đi xem lễ bên bờ sông ở Kiến Khanh rất đông.

Mọi người thấy cảnh tượng chưa từng thấy đó thì đều náo động, xôn xao.

Cố Vinh là 1 đại địa chủ có tiếng ở vùng Giang Nam cùng 1 số đại địa chủ khác nghe được tin đó, đều hé rèm cửa nhìn ra.

Họ thấy những nhân vật có uy vọng cao như Vương Đạo, Vương Đôn đều tôn kính Tư Mã Duệ như vậy thì đều giật mình.

Để chuộc lại lỗi đã ngạo mạn không tới chào hôm trước, tất cả không ai bảo ai đều ra đứng xếp hàng ven đường, bái kiến Tư Mã Duệ.

Từ đó, uy tín của Tư Mã Duệ lên cao trong giới địa chủ, sĩ tộc Giang Nam.

Tiếp theo, Vương Đạo lại khuyên Tư Mã Duệ: "Cố Vinh và Hạ Tuấn là danh sĩ nổi tiếng ở vùng này.

Chỉ cần lôi kéo được hai người đó thì không còn phải lo người khác không theo chúng ta nữa".

Tư Mã Duệ cử Vương Đạo đến tận nhà Cố Vinh, Hạ Tuấn, mời ra làm quan.

Cả 2 phấn khởi đến bái kiến Tư Mã Duệ.

Tư Mã Duệ ân cần tiếp kiến và phong quan tước cho từng người.

Từ đó về sau, các dòng họ lớn ở Giang Nam đều tới tấp quây quần xung quanh Tư Mã Duệ.

Địa vị của ông ở Kiến Khang vì vậy ngày càng vững chắc.

Sau khi miền bắc xảy ra đại loạn, các danh gia, địa chủ ở miền bắc dồn dập chạy xuống ở miền nam chạy nạn.

Vương Đạo lại khuyên Tư Mã Duệ chọn những người có uy tín nhất trong số đó, mời vào làm việc trong vương phủ.

Nghe theo ý kiến Vương Đạo, Tư Mã Duệ trước sau đã mời 106 người vào làm cho vương phủ.

Nhờ sự sắp đặt mưu kế của Vương Đạo mà Tư Mã Duệ chinh phục được lòng tin của của sĩ tộc Giang Nam, lại tiếp nhận được nhân tài từ miền bắc xuống củng cố, vững chắc được địa vị.

Do đó, đối với Vương Đạo, Tư Mã Duệ vô cùng cảm kích.

Ông nói với Vương Đạo: "Ngài đúng là Tiêu Hà của ta!".

Năm 317, Tư Mã Duệ lên ngôi hoàng đế ở Kiến Khang, xây dựng lại triều Tấn, đó là Tấn Nguyên Đế.

Từ đó về sau, quốc đô của triều Tấn đặt tại Kiến Khang.

Để phân biệt với triều Tấn do Tư Mã Viêm kiến lập, đóng đô ở Lạc Dương, được gọi là Tây Tấn, lịch sử gọi triều Tấn do Tư Mã Duệ xây dựng là Đông Tấn.

Hôm Tấn Nguyên Đế làm lễ đăng quang, Vương Đạo cùng bá quan văn võ vào cung triều kiến.

Tấn Nguyên Đế nhìn thấy Vương Đạo, liền từ ngai vàng đứng dậy, nắm chặt tay kéo tới ngai vàng, bảo Vương Đạo cùng ngồi để nhận sự triều bái của bách quan.

Cử chỉ bất ngờ đó làm Vương Đạo rất hoảng sợ vì dưới thời phong kiến tuyệt đối không cho phép có việc như vậy.

Vương Đạo cuống quýt kiếu từ, nói: "Muôn tâu bệ hạ, không thể như thế được.

Nếu mặt trời cùng ở một chỗ với muôn vật, thì muôn vật làm sao có thể nhận được ánh sáng mặt trời?".

Lời kiếu từ khôn khéo mang tính tâng bốc đó khiến Tấn Nguyên Đế vô cùng phấn khởi.

Ông không ép Vương Đạo nữa, nhưng ông biết rất rõ ràng mình được kế thừa đế vị, hoàn toàn là do sức của anh em Vương Đạo, Vương Đôn.

Vì vậy, Tấn Nguyên Đế đặc biệt tôn trọng họ.

Ông phong Vương Đạo làm thượng thư, nắm đặc quyền chính trị trong triều, và trao cho Vương Đôn trách nhiệm tổng quản về quân sự, Trong số con em họ Vương, rất nhiều người được phong các chức trọng yếu.

Đương thời, trong dân gian lưu truyền câu nói: "Vương với Mã, chung thiên hạ", để tỏ ý rằng họ Vương cùng họ Tư Mã của hoàng tộc cùng nhau nắm đại quyền Đông Tấn.

Vương Đôn nắm quyền về quân sự, tự cho mình là quan trọng, không coi Tấn Nguyên Đế vào đâu.

Tấn Nguyên Đế cũng thấy được sự lộng hành của Vương Đôn, liền trọng dụng thêm các đại thần Lưu Nguy và Điêu Hiệp, rồi lạnh nhạt dần với anh em họ Vương.

Do vậy, triều Đông Tấn vừa được thành lập thì nội bộ đã xuất hiện sự rạn nứt.
 
Lịch Sử Trung Quốc 5000 Năm
117-118


THẠCH LẶC ĐỌC HÁN THƯ

Năm thứ 2 đời Tấn Nguyên Đế (tức 318 công nguyên), quốc vương nước Hán của tộc Hung Nô là Lưu Thông bị bệnh mất, nội bộ nước Hán bị phân liệt.

Cháu Lưu Thông là Lưu Diệu kế thừa ngôi quốc vương.

Ông thấy việc dùng danh nghĩa triều Hán cũng không đánh lừa được dân, nên năm 319 liền đổi tên quốc hiệu là Triệu.

Đại tướng nước Hán là Thạch Lặc, trong cuộc chiến tranh chống Tấn đã mở rộng được binh lực, nắm trong tay 1 đội quân lớn, không chịu đứng dưới Lưu Diệu, cũng tự xưng là Triệu Vương.

Thạch Lặc là người tộc Kiệt, đời ông cha là đầu mục nhỏ trong bộ lạc Kiệt.

Thời trai trẻ, vùng Tinh Châu có nạn đói, Thạch Lặc lưu lạc, từng làm nô lệ, làm thuê cho các nhà hào phú.

Một lần, Thạch Lặc bị loạn binh bắt, nhốt trong xe tù.

May nhờ lúc đó có 1 đàn hươu chạy qua, binh lĩnh lũ lượt rượt đuổi hươu nên Thạch Lặc thừa cơ trốn thoát.

Thạch Lặc trải qua mọi nỗi khổ, thấy tiền đồ mờ mịt, liền chiêu tập 1 toán nông dân lưu tán, tổ chức thành một đội quân dũng mãnh.

Sau khi Lưu Uyên khởi binh, Thạch Lặc đi theo và trở thành 1 đại tướng của Hán.

Trình độ văn hóa của người Kiệt thấp hơn người Hung Nô.

Từ nhỏ, Thạch Lặc không được giáo dục theo văn hóa Hán như Lưu Uyên, bản thân không biết chữ.

Sau khi làm đại tướng, ông ta nhận thấy là muốn làm nên sự nghiệp lớn thì không thể chỉ dựa vào vũ lực.

Ông ta nhờ 1 học giả người Hán là Trương Tân giúp vạch ra nhiều biện pháp chính trị.

Ông còn lưu giữ nhiều người nghèo khổ, có học thuộc dân tộc Hán, tổ chức thành 1 "quân tử doanh" (doanh trại của những người quân tử).

Do Thạch Lặc anh dũng thiện chiến, lại được nhiều mưu sĩ như Trương Tân giúp bày mưu lập kế, nên thế lực ngày càng lớn mạnh.

Đến năm 328, Thạch Lặc tiêu diệt được Lưu Diệu.

Hai năm sau (330), Thạch Lặc tự xưng hoàng đế ở Tương Quốc, vẫn lấy quốc hiệu là Triệu.

Lịch sử gọi nước Triệu của Lưu Diệu là "Tiền Triệu" và nước Triệu do Thạch Lặc lập nên là "Hậu Triệu".

Bản thân Thạch Lặc không có văn hóa nhưng lại hết sức coi trọng các bậc thức giả.

Sau khi lên ngôi hoàng đế, Thạch Lặc hạ lệnh cho cấp dưới, mỗi khi bắt được 1 người có học thì không được phép giết mà phải giải về Tương Quốc để ông xử lý.

Nghe Trương Tân, ông cho mở trường học, yêu cầu con em và các tướng dưới quyền đến trường học tập.

Ông còn lập ra chế độ tiến cử và chế độ thi tuyển.

Phàm những người do các địa phương tiến cử lên, qua bình xét thấy hợp cách, đều được tuyển dụng làm quan.

Thạch Lặc nghiêm cấm cấp dưới nói tới chữ "Hồ", "Kiệt", nhưng để phù dụ kẻ sĩ người Hán, đôi khi ông cũng bỏ qua không trị tội khi họ lỡ dùng theo thói quen.

Một lần, có 1 người Hán là Phàn Đản được bổ dụng làm quan.

Khi Phàn Đản vào cung triều kiến, trên mình, áo quần rất rách rưới.

Thạch Lặc ngạc nhiên hỏi: "Khanh sao lại nghèo khổ tới mức này?"

Phàn Đản quên mất lệnh cấm, liền trả lời: "Gia đình thần vừa gặp một lũ giặc Kiệt, chúng cướp bóc sạch sành sanh, đến một bộ quần áo cho ra hồn cũng còn nữa".

Thạch Lặc thấy anh ta gặp rủi ro, liền an ủi: "Bọn giặc Kiệt cướp bóc bừa bãi như thế thật là bậy.

Ta sẽ thay chúng để đền cho khanh".

Phàn Đản chợt nhớ ra, thấy mình đã xúc phạm tới hoàng đế thì sợ hãi run lẩy bẩy, cuống quýt dập đầu xin chịu tội.

Thạch Lặc cười nói: "Lệnh cấm đó của ta là để đối phó với dân thường.

Còn đối với những người có học như khanh, ta không trách".

Nói xong, sai người đền trả Phàn Đản 1 số quần áo, tiền bạc, còn thưởng cho 1 cỗ xe, 1 con ngựa.

Thạch Lặc rất thích đọc sách.

Bản thân ông không biết chữ, liền dùng 1 số người có học đọc sách cho mình nghe.

Ông vừa nghe, vừa tùy lúc phát biểu kiến giải của mình.

Một lần, ông nghe đọc Hán Thư (bộ sử chính triều Hán, do Ban Cố soạn), nghe đến đoạn có người khuyên Hán Cao Tổ Lưu Bang phong tước cho con cháu quí tộc cũ của 6 nước (Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, Yên, Tề) liền nói: "Hầy!

Lưu Bang dùng biện pháp sai lầm đó, tại sao lại giành được thiên hạ?".

Người giảng sách vội giải thích: sau nhờ có lời khuyên của Trương Lương, nên Hán Cao Tổ không làm việc đó nữa.

Thạch Lặc gật đầu: "Như thế mới đúng chứ!".

Một lần khác, Thạch Lặc mở tiệc chiêu đãi các đại thần.

Trong bữa tiệc, ông hỏi 1 đại thần: "Khanh xem, trẫm có thể sánh với hoàng đế nào trong lịch sử cổ đại?".

Viên đại thần đó nói nịnh: "Bệ hạ anh minh thần vũ, còn hơn cả Hán Cao Tổ, những hoàng đế khác càng không thể sánh với bệ hạ".

Thạch Lặc cười đáp: "Khanh nói quá lời rồi, nếu ta gặp Hán Cao Tổ thì chỉ có thể làm bày tôi, đại khái như Hàn Tín, Bành Việt.

Nếu ta sinh vào thời Hán Quang Vũ Đế, thì có thể đua tranh với ông ta, chưa biết ai sẽ thắng ai".

Do Thạch Lặc quí trọng nhân tài, có chủ trương sáng suốt về chính trị nên đầu thời Hậu Triệu, miền bắc Trung Quốc đã xuất hiện cảnh hưng thịnh.

TỔ ĐỊCH VƯỢT SÔNG BẮC PHẠT

Từ khi người Hung Nô chiếm lĩnh Trung nguyên(chỉ lưu vực Hoàng Hà) , rất nhiều người Hán ở miền bắc tị nạn xuống miền nam.

Người bạn thân của Lưu Côn là Tổ Địch cũng dẫn mấy trăm người thân thích trong làng chạy xuống vùng lưu vực Hoàng Hà.

Tổ Địch tự đứng ra chỉ huy đoàn người tị nạn, nhường ngựa xe cho người già cả, ốm yếu, bỏ lương thực, quần áo của gia đình mình cho mọi người cùng sử dụng.

Mọi người hết sức kính trọng ông, đồng thanh tiến cử ông làm thủ lĩnh.

Khi đến Tứ Khẩu (nay ở phía bắc thành phố Thanh Giang, tỉnh Giang Tô), thủ hạ của Tổ Địch đã bao gồm nhiều tráng sĩ.

Họ đều là người miền bắc đã buộc lòng rời bỏ quê hương.

Tất cả đều mong muốn Tổ Địch lãnh đạo, dẫn dắt họ sớm trở về khôi phục lại Trung nguyên.

Lúc đó, Tư Mã Duệ chưa nhường ngôi hoàng đế.

Tổ Địch vượt Trường Giang, đến Kiến Khang, khuyên Lang Nha vương Tư Mã Duệ: "Triều Tấn đại loạn, chủ yếu là do nội bộ hoàng thất tàn sát lẫn nhau, khiến cho người Hồ nhân cơ hội tiến công Trung nguyên.

Nay trăm họ ở Trung nguyên bị kẻ địch bức bại tàn khốc, ai cũng muốn vùng lên chống lại.

Chỉ cần đại vương hạ lệnh xuất binh, cử chúng tôi đi thu phục lại đất đai đã mất, thì nhân dân khắp các vùng ở miền bắc sẽ rầm rộ hưởng ứng".

Tư Mã Duệ vốn không có ý định thu phục Trung nguyên, nhưng thấy Tổ Địch nói có tình, có ký, không tiện từ chối, đành miễn cưỡng đáp ứng yêu cầu của ông, cử ông làm thứ sử Dự Châu (là vùng gồm phía đông tỉnh Hà Nam và phía bắc tỉnh An Huy ngày nay), cấp cho ông số lương thực đủ nuôi 1000 người, cùng 3000 tấm vải.

Còn người ngựa và vũ khí thì do Tổ Địch tự lo liệu.

Tổ Địch khắc phục mọi khó khăn, lấy mấy trăm người thân thuộc đi theo mình từ miền bắc xuống làm nòng cốt, tổ chức 1 đội quân, tự sắm sửa thuyền bè vũ khí, vượt Trường Giang tiến lên vùng bị chiếm.

Khi thuyền tới giữa sông, Tổ Địch dùng mái chèo đập vào mạn thuyền, thề với mọi người: "Tổ Địch này, nếu không quét sạch được quân địch chiếm lĩnh Trung nguyên thì quyết không qua con sông này nữa".

Giọng nói hùng hồn và ý chí gang thép của ông khiến mọi tráng sĩ đi theo đều xúc động, càng thêm hăng hái.

Đến Hoài Âm, họ dừng lại chiêu mộ thêm binh mã, rèn thêm vũ khí, tăng lực lượng lên hơn 2000 người ngựa, sau đó tiến thẳng lên phía bắc.

Trên đường tiến binh, quân của Tổ Địch được nhân dân vùng bị chiếm nhiệt liệt ủng hộ, nên nhanh chóng thu hồi được nhiều đất đai.

Khi đó, vùng bắc Trường Giang còn rất nhiều cường hào địa chủ, nhân lúc Trung nguyên đại loạn liền tập hợp lực lượng, xây thành đắp lũy, tranh đoạt đất đai và tài sản của nhau.

Tổ Địch gặp gỡ, thuyết phục họ ngừng việc tranh chấp để cùng với ông tiến hành bắc phạt chống lại lực lượng xâm chiếm ngoại tộc.

Kẻ nào không nghe theo, lại còn dựa thế kẻ địch để chống lại, ông đều kiên quyết dùng vũ lực tiến công, tiêu diệt.

Do đó, uy tín của Tổ Địch ngày một cao.

Lưu Côn lúc đó đang ở miền bắc, nghe tin người bạn thân đem quân bắc phạt thì rất vui mừng.

Ông nói: "Ta nung nấu tinh thần chiến đấu, đêm nào cũng gối lên vũ khí, đợi tời sáng để đi giết giặc.

Nay Tổ Địch đã đến hợp sức với ta rồi".

Năm 319, Trần Xuyên, một địa chủ cường hào ở vùng Trần Lưu đầu hàng Thạch Lặc, quốc vương Hậu Triệu.

Tổ Địch quyết định đem quân tiến công Trần Xuyên.

Thạch Lặc đưa 5 vạn quân đến cứu, bị Tổ Địch Đánh cho đại bại.

Tiếp đó, diễn ra cuộc tranh đoạt thành Bổng Pha (nay ở gần thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam) giữa Đào Báo, tướng của Hậu Triệu với Hàn Tiềm, bộ hạ của Tổ Địch.

Hai bên đánh nhau trong 40 ngày, giằng co mãi, đều gặp khó khăn về tiếp tế lương thực.

Tổ Địch nghĩ kế đánh lừa địch, cho dùng túi vải đựng đầy đất, cho hơn 1000 quân vận chuyển tới trại quân của Hàn Tiềm, làm như vận tải lương thực.

Cuối đoàn vận tải đất, cử một số nhỏ binh lính khiêng mấy bao lúa, đi chùng chình tới nửa đường thì giả bộ dừng lại nghỉ.

Đào Báo từ trong trại của Hậu Triệu, quan sát thấy quân Tấn vận chuyển nhiều lương thực, thì nổi máu tham; lại thấy 1 số lính Tấn nghỉ giữa đường, liền sai quân lính xông ra cướp.

Quân Tấn thấy vậy, bỏ mấy bao lúa lại, chạy về.

Quân Triệu đang cạn lương, cướp được mấy bao lúa chẳng bõ bèn gì, thấy doanh trại quân Tấn xếp đầy lương thực thì hoang mang, lo lắng.

Đào Báo vội sai người về cầu cứu với Thạch Lặc.

Mấy hôm sau, Thạch Lặc phái 1 đoàn vận tải có hơn 1000 lừa ngựa chở lương thực cho Đào Báo.

Tổ Địch dò được tin tức, phái quân mai phục giữa đường, đoạt được toàn bộ số lương thực đó.

Do không được tiếp tế, Đào Báo không trụ nổi, ngay trong đêm, phải bỏ trận địa rút chạy.

Dưới sự lãnh đạo của Tổ Địch, quân Tấn qua chiến đấu gian khổ, đã thu phục lại được toàn bộ đất đai phía nam Hoàng Hà.

Khá nhiều binh lính của Hậu Triệu theo hàng Tổ Địch.

Sau khi Tấn Nguyên Đế lên ngôi, thấy Tổ Địch có công lớn, liền phong ông làm Trấn Tây tướng quân.

Trong hoàn cảnh chiến đấu gian khổ, Tổ Địch sát cánh, đồng cam cộng khổ với tướng sĩ, bản thân hết sức tiết kiệm, có tiền bạc dư thừa đều giúp đỡ cấp dưới.

Ông còn khuyến khích sản xuất, chiêu nạp, phủ dụ những người mới qui phục.

Dù là những người ở địa vị thấp kém và những người không có quan hệ thân thích, ông đều đối xử nhiệt tình.

Do đó, nhân dân vùng mới thu hồi đều nhiệt liệt hoan nghênh và ủng hộ Tổ Địch.

Một hôm, Tổ Địch mở tiệc mời phụ lão địa phương.

Mọi người vui mừng ca hát, nhảy múa.

Một số cụ già rưng rưng nước mắt nói: "Chúng tôi đều già cả rồi, hôm nay còn được sống để gặp lại người thân, thì dù có chết cũng yên tâm nhắm mắt".

Tổ Địch vừa luyện quân, vừa phát triển thêm quân đội để chuẩn bị tiếp tục cuộc bắc phạt thu hồi lại vùng đất phía bắc Hoàng Hà.

Nào ngờ, Tấn Nguyên Đế ngu tối, thấy Tổ Địch có lực lượng mạnh thì đem lòng nghi kỵ, sợ không khống chế được ông liền phái 1 người tin cậy là Đái Uyên là Chinh Tây tướng quân, nắm quyền chỉ huy quân sự cả 6 châu miền bắc và đặt Tổ Địch dưới quyền chỉ huy của Đái Uyên.

Tổ Địch trải bao gian khổ mới thu hồi được vùng đất bị mất, nay lại bị triều đình khống chế nên rất buồn bực.

Không lâu sau, lại nghe tin người bạn thân là U Côn đang ở Lưu Châu bị Vương Đôn cử người bức hại.

Lại biết được giữa Tấn Nguyên Đế và Vương Đôn đang tranh đoạt quyền lực, khi thì công khai, khi thì ngấm ngầm, nội bộ triều chính chia làm 2 phe kình địch nhau thì lo phiền giận dữ, cuối cùng bị bệnh mất.

Già trẻ trai gái ở Dự Châu nghe tin Tổ Địch mất, ai ai cũng đau buồn thương tiếc như mất người thân của mình.

Tuy Tổ Địch chưa hoàn thành được sự nghiệp khôi phục Trung nguyên, nhưng khí phách anh hùng và lời thề khi đập mái chèo giữa dòng Trường Giang vẫn mãi mãi được người sau truyền tụng.
 
Back
Top Bottom