Cập nhật mới

Khác Gia đình lầu trên

Gia Đình Lầu Trên
20


Nhiều tháng trôi qua.

Phineas đã bước sang tuổi mười ba, cổ lộ yết hầu, mép bắt đầu có ria.

Tôi đã cao thêm được một inch nữa, tóc cuối cùng cũng đã dài ra, đủ để vuốt sang một bên.

Em gái tôi và Clemency ngày càng trở thân thiết đến phát rồ, hai đứa nói chung một thứ tiếng bí mật, ngày nào cũng trốn trong những cái ổ làm bằng ga trải giường và mấy cái ghế lật ngược trong căn phòng trống trên tầng gác mái đến mấy tiếng đồng hồ.

Nhóm nhạc của Birdie ra một đĩa đơn mới dở tệ, xếp vị trí thứ 48 trên bảng xếp hạng, và Birdie giận dỗi bỏ đi, nhưng cũng chẳng có tờ báo âm nhạc nào để ý hay quan tâm đến chuyện cô ta rời nhóm, rồi cô ta bắt đầu dạy đàn violin chuyên nghiệp trong phòng nhạc của gia đình tôi.

Cùng lúc đó, Justin đã biến khu vườn của cha tôi thành một xí nghiệp thương mại, chuyên buôn bán các loại thảo dược tự chế, và quảng cáo trên mục rao vặt ở trang cuối của các tờ báo địa phương.

Sally dạy cả bốn đứa chúng tôi, bốn tiếng mỗi ngày, trên bàn ăn trong bếp.

Còn David thì tuần cũng có lịch dạy ba lớp ở hội trường nhà thờ trong khu dân cư World's End về các phương pháp trị liệu

thay thế, và về nhà với một túi đầy tiền mặt.

Những gì Phin dự đoán mấy tháng trước là hoàn toàn chính xác.

Nhà Thomsen không đi đâu cả.

Tôi nhìn lại những năm tháng tôi sống ở căn nhà trên phố Cheyne với nhà Thomsen và tôi biết chính xác đâu là điểm mà giọt nước tràn ly, khiến trục quay số phận của chúng tôi xoay chuyển, và làm câu chuyện của gia đình tôi trở nên méo mó, biến dạng.

Tôi nhớ bữa ăn tối ở Chelsea Kitchen, nơi tôi thấy cha tôi đã hoàn toàn thất bại trong cuộc đấu tranh giành quyền lực; trận đấu mà ông quá kém cỏi nên không nhận ra rằng nó đã bắt đầu.

Tôi nhớ ngày mẹ tôi cố giữ mình trước David, không dám phô ra, vì sợ ông ta sẽ thèm khát bà.

Tôi nhớ mọi chuyện bắt đầu từ đâu, nhưng tôi không hiểu nổi từ đêm đó cha mẹ tôi đã làm gì, mà để những kẻ lạ mặt này chín tháng sau chiếm hết từng ngóc ngách trong ngôi nhà của chúng tôi.

Cha tôi giả vờ như ông quan tâm đến những gì đang diễn ra.

Ông làm mấy công việc vặt vãnh trong khu vườn của Justin, tỏ ra vẻ thích thú khi nhìn thấy những hàng cây cối và thảo dược của ông ta; rồi đến bảy giờ mỗi tối, ông đổ ra hai chiếc cốc lớn, và ngồi tranh luận căng thẳng với David trong bếp về chính trị và những vấn đề quốc tế, mắt ông hơi trợn lên để thể hiện rằng ông biết mình đang nói gì. (Quan điểm của bố tôi chỉ có trắng hoặc đen, điều gì thì cũng chỉ có sai hoặc đúng, tốt hoặc xấu: thế giới quan của ông không có chút sắc thái nào ở giữa cả.

Rất đáng xấu hổ.) Nhiều hôm ông ngồi trong bếp khi chúng tôi đang học bài, trông ông có vẻ hơi choáng vì thấy chúng tôi quá thông minh.

Tôi không thể hiểu nổi chuyện gì đã xảy ra với bố tôi.

Như thể Henry

Lamb đã bỏ nhà ra đi, chỉ để cái xác ở lại vậy.

Tôi muốn được nói cho ra nhẽ với ông về những gì đang xảy ra, khiến thế giới của tôi bị đảo lộn, nhưng tôi sợ rằng làm thế chẳng khác nào rứt nốt miếng vảy đang che đậy vết thương của ông, chút ý thức về tầm quan trọng còn sót lại cuối cùng mà ông đang níu giữ.

Nhìn ông thật yếu đuối, tuyệt vọng.

Một buổi trưa đầu hè, tôi thấy ông đang ôm chặt lấy cái mũ và chiếc áo khoác, đứng kiểm tra ví ở trước cửa.

Hôm đấy chúng tôi đã học xong bài và tôi đang thấy chán.

"Cha đi đâu đấy?"

Tôi hỏi.

"Đi đến câu lạc bộ," ông trả lời.

À, cái câu lạc bộ của ông.

Một dãy phòng ám đầy khói trong con hẻm nhỏ cuối đường Piccadilly.

Tôi từng đến đó một lần, khi mẹ tôi đi ra ngoài, và cô trông trẻ của chúng tôi không xuất hiện.

Thay vì bị mắc kẹt ở nhà chơi với hai đứa nhóc tẻ nhạt, ông đã bế chúng tôi lên ghế sau của một chiếc taxi màu đen và đưa chúng tôi đến câu lạc bộ của ông.

Tôi và Lucy ngồi trong góc phòng uống nước chanh và ăn đậu phộng, trong khi cha tôi hút xì gà và uống whiskey với những người đàn ông mà tôi chưa thấy bao giờ.

Ở đây tôi cảm thấy rất thú vị, và tôi ước mình không bao giờ phải rời đi, ước là cô trông trẻ của chúng tôi sẽ mãi mãi không đến.

"Con đi với được không?"

Ông ngây ra nhìn tôi, như thể tôi vừa đố ông một bài toán khó.

"Đi mà.

Con sẽ giữ trật tự.

Con sẽ không nói gì đâu."

Ông ngước mắt nhìn lên cầu thang như thể lời giải cho câu hỏi hóc búa tôi vừa đặt ra sắp rơi xuống đầu.

"Con học xong chưa?"

"Rồi ạ."

"Được thôi."

Ông đợi tôi mặc áo khoác; rồi chúng tôi cùng nhau đi bộ xuống phố và ông bắt taxi.

Ở trong câu lạc bộ ông không tìm thấy ai mà ông biết cả, trong lúc chúng tôi đợi đồ uống được mang đến, ông nhìn tôi rồi nói, "Vậy, con thế nào rồi?"

"Con thấy bối rối," tôi bắt đầu.

"Bối rối?"

"Đúng, về chuyện của nhà mình gần đây."

Tôi nín thở.

Nếu ngày xưa mà tôi giở cái thái độ hỗn xược này ra, cha tôi đã nhăn mặt, quay về phía mẹ tôi, và hỏi bà bằng giọng hăm dọa rằng liệu bà thấy hành vi của tôi có chấp nhận được không, liệu tôi có xứng đáng là con của cha mẹ tôi không.

Nhưng giờ ông chỉ nhìn tôi với đôi mắt màu xanh ậng nước và nói ngắn gọn, "Ừ."

Ngay lập tức ông nhìn ra chỗ khác.

"Cha có cảm thấy bối rối không?"

"Không, con trai, không.

Cha không thấy bối rối chút nào cả.

Cha biết chính xác chuyện gì đang xảy ra."

Tôi không biết liệu ông đang muốn nói rằng ông biết chuyện gì đang diễn ra và ông vẫn kiểm soát được, hay ông đang nói là ông biết chuyện gì đang diễn ra, và ông không thể làm gì để cản được cả.

"Vậy... chuyện gì ạ?"

Tôi hỏi.

"Chuyện gì đang xảy ra mới được

chứ?"

Đồ uống của chúng tôi đã đến: một cốc nước chanh trên miếng lót bằng giấy màu trắng cho tôi, rượu whiskey và nước lọc cho cha tôi.

Ông vẫn chưa trả lời câu hỏi của tôi, và tôi nghĩ có lẽ ông sẽ không nói gì.

Nhưng rồi ông thở dài.

"Con trai," ông nói, "ở đời nhiều khi con sẽ phải đứng trước ngã tư đường.

Giờ cha và mẹ con đang đứng giữa ngã tư đường.

Mẹ con muốn đi một đường, cha lại muốn rẽ lối khác.

Mẹ con thắng."

Chân mày tôi dựng lên.

"Ý cha là mẹ muốn tất cả mấy người họ ở trong nhà mình á?

Mẹ thực sự muốn như thế á?"

"Muốn ư?"

ông buồn rầu hỏi, như thể câu hỏi của tôi rất nực cười, trong khi rõ ràng không phải vậy.

"Mẹ có muốn sống với mấy người đó không?"

"Chúa ơi, cha không biết.

Cha không biết giờ mẹ con muốn gì nữa.

Và đây, nghe lời cha này.

Đừng bao giờ lấy phụ nữ làm vợ.

Nhìn thì đẹp đấy, nhưng họ sẽ hủy hoại con."

Điều này chẳng có nghĩa lý gì cả.

Chuyện lấy vợ—điều mà tôi chưa từng có ý định muốn làm, nhưng hồi đó tôi cũng không biết mình còn có lựa chọn nào khác; nếu không lấy phụ nữ thì lấy ai đây?—thì liên quan gì đến mấy người lầu trên cơ chứ?

Tôi nhìn ông chằm chằm, cầu mong ông nói điều gì đó rõ ra để khai sáng cho tôi.

Nhưng cha tôi không có sự thông minh về mặt cảm xúc ấy, hay đúng hơn, kể từ khi ông bị đột quỵ, ông cũng không còn cả từ vựng để mà diễn đạt rõ ràng, chứ đừng nói là khai sáng.

Ông lấy một điếu xì gà từ trong túi áo, và dành ít thời gian cuộn nó lại để chuẩn bị hút.

"Con không thích mấy người đấy à?"

cuối cùng ông nói.

"Không," tôi trả lời.

"Con không thích.

Vậy họ có đi không?"

"Chà, nếu cha có quyền quyết định..."

"Nhưng đó là nhà của cha mà.

Tất nhiên là cha có quyền rồi."

Tôi nín thở, sợ rằng tôi đã đi quá xa.

Nhưng ông chỉ thở dài.

"Con hẳn là đã nghĩ như vậy, đúng không?"

Sự ngu ngốc của ông đang giết chết tôi.

Tôi muốn hét lên.

Tôi nói, "Cha bảo họ đi đi có được không?

Bảo họ là cha muốn lấy lại nhà của mình.

Bảo họ là bọn con muốn đi học trở lại.

Bảo họ là chúng ta không muốn họ ở đây nữa?"

"Không," cha tôi nói.

"Không, cha không thể."

"Nhưng tại sao?"

Giọng tôi đã đẩy lên đến quãng tám và tôi thấy cha tôi giật mình.

"Cha bảo con rồi mà," ông gắt lên.

"Vì mẹ con.

Mẹ con cần họ.

Mẹ con cần hắn ta."

"Hắn ta?"

Tôi nói.

"David á?"

"Đúng.

David.

Hắn làm cho mẹ con cảm thấy tồn tại trên đời này bớt vô vị.

Hắn giúp cuộc đời mẹ con có ý nghĩa.

Giờ thì," ông gầm lên, tay mở một tờ báo, "con đã bảo là con sẽ không nói gì cơ mà.

Con giữ lời được không?"
 
Gia Đình Lầu Trên
21


Miller Roe đứng đợi ở ngoài căn nhà trên phố Cheyne, mắt dán chặt vào điện thoại.

Trông anh ta có vẻ còn nhàu nhĩ hơn sáng nay, lúc ở quán cà phê trong hẻm West End.

Anh chỉnh trang lại một chút khi thấy Libby và Dido tiến lại gần, miệng anh nở nụ cười.

"Miller, đây là Dido, đồng nghiệp của tôi..."

Nói đoạn cô tự sửa lại.

"Cũng là bạn tôi.

Dido, đây là Miller Roe."

Họ bắt tay nhau rồi cùng quay mặt về phía ngôi nhà.

Cửa sổ của căn nhà sáng rực lên trong ánh nắng chiều.

"Libby Jones," Dido nói, "khủng thật.

Em có hẳn một căn biệt thự."

Libby cười, quay người mở khóa.

Khi bọn họ đứng cạnh nhau trong hành lang và ngó nghiêng quanh ngôi nhà, cô vẫn không có cảm giác gì là mình đã sở hữu nơi này.

Cô vẫn đợi có một ông luật sư nào đó xuất hiện, bước phía trước họ đầy uy quyền.

"Giờ thì tôi hiểu ý cô khi cô bảo căn nhà này toàn là gỗ rồi," Miller nói.

"Cô biết không, ngôi nhà này từng là nơi chứa đầy đầu động vật nhồi bông và dao săn.

Tôi nghe nói ở đây còn có cả hai cái ngai

vàng thật nữa, ngay đây..."

Anh chỉ tay vào vị trí hai bên cầu thang.

"Một cái cho ông và một cái cho bà," anh gượng gạo bổ sung.

"Ai kể cho anh nghe về mấy cái ngai vàng?"

Dido hỏi.

"Bạn cũ của Henry và Martina, người vẫn thường đến đây dự những bữa tiệc tối linh đình vào những năm bảy mươi và đầu tám mươi.

Hồi mà Henry và Martina vẫn còn là socialite.

Khi con của họ còn bé xíu.

Tôi nghe nói ngày xưa ở đây nguy nga tráng lệ lắm."

"Vậy mấy người bạn cũ đó," Dido tiếp lời, "họ ở đâu khi mọi chuyện trở nên tồi tệ?"

"Trời ơi, họ có phải là bạn bè tử tế gì đâu.

Họ chỉ là phụ huynh có con học cùng trường, rồi mấy người hàng xóm tạm thời, thêm mấy thành phần phù du đến từ khắp nơi trên thế giới.

Không ai thực sự quan tâm đến họ cả.

Chỉ có mấy người còn nhớ họ thôi."

"Và nhớ cả hai cái ngai vàng của họ nữa."

"Đúng rồi," Miller cười.

"Cả cái ngai vàng nữa."

"Vậy còn họ hàng của họ thì sao?"

Dido hỏi.

"Mấy người đó ở đâu?"

"Chậc, Henry không còn ai là họ hàng cả.

Ông ấy là con một, cả bố và mẹ đều đã qua đời.

Martina bị cha ghẻ lạnh, còn mẹ bà thì tái giá và ở cùng với gia đình chồng mới ở Đức.

Tôi cũng có nghe là mẹ Martina muốn sang thăm nhưng Martina cứ từ chối mãi.

Bà còn nhờ một đứa con trai sang, năm 1992; ông ấy đến và gõ cửa suốt năm ngày liên tiếp nhưng không ai ra mở cửa.

Ông ấy nói ông ấy nghe thấy tiếng động trong nhà, và còn thấy rèm cửa kéo ra kéo vào.

Điện thoại trong nhà không đổ chuông.

Bà mẹ cứ day dứt mãi, bà cảm thấy tội lỗi vì bà đã không cố gắng tiếp cận con gái mình nhiều

hơn.

Chưa bao giờ nguôi.

Cho phép tôi...?"

Anh rẽ sang bên trái, hướng về phía nhà bếp.

Libby và Dido đi theo sau anh ta.

"Đây, đây là nơi trẻ con trong nhà học bài," anh nói.

"Các ngăn kéo tủ đựng đầy giấy, rồi sách giáo khoa, rồi cả sách bài tập nữa."

"Ai dạy chúng?"

"Cũng không rõ.

Nhưng chắc chắn không phải Henry Lamb.

Ông ta trượt tất cả các và cũng chẳng học lên cao hơn.

Tiếng Anh không phải tiếng mẹ đẻ của Martina nên chắc cũng không phải bà dạy.

Cho nên, chúng tôi nghĩ đó là một trong số 'những người khác' bí ẩn kia.

Và người dạy rất có thể là phụ nữ."

"Vậy chuyện gì đã xảy ra với những quyển sách đó?"

Libby hỏi.

"Tôi không biết," Miller nói.

"Biết đâu chúng vẫn ở đây."

Libby hướng mắt về chiếc bàn gỗ lớn ở giữa phòng với hai hàng ngăn kéo ở mỗi bên.

Cô nín thở và lần lượt kéo chúng ra.

Không có gì cả.

Cô thở dài.

"Đấy là bằng chứng của cảnh sát," Miller nói.

"Có thể họ đã tiêu hủy hết rồi."

"Vậy cảnh sát còn lấy gì làm bằng chứng nữa?"

Dido hỏi.

"Áo chùng.

Chăn ga gối đệm.

Tất cả các đồ dùng bào chế dược phẩm, chai lọ, khay và những thứ mà cô cũng có, như xà phòng, rồi khăn mặt, khăn tắm này.

Mấy thứ vải vóc kiểu đấy.

Nhưng thực sự, ở đây cũng không có gì nữa cả.

Không còn tranh ảnh gì treo trên tường, không đồ chơi, không giày dép."

"Không giày dép?"

Dido hỏi lại.

Libby gật đầu.

Đó là một trong những chi tiết gây sốc nhất trong bài báo trên tờ Guardian của Miller.

Một căn nhà chật ních người và không có lấy một đôi giày.

Dido nhìn quanh.

"Căn bếp này," cô nói, "hẳn là đỉnh cao của những mẫu bếp thời thượng vào những năm bảy mươi đây."

"Chẳng phải thế sao?"

Miller đồng ý.

"Nội thất cũng toàn hàng xịn cả.

Hầu như mọi thứ trong nhà, trước khi họ đem bán đi hết, đều được mua ở Harrods.

Nhân viên lưu trữ ở bộ phận bán hàng cho tôi xem hóa đơn, mãi từ cái hồi mà Henry mua nhà ấy.

Trang thiết bị trong nhà, giường tủ, đèn đóm, xô-pha, quần áo, hoa tươi giao đến nhà hàng tuần, hẹn đi làm tóc, đồ vệ sinh cá nhân, khăn tắm, thức ăn, tất cả mọi thứ."

"Kể cả cái cũi của tôi."

"Đúng, kể cả cái cũi của cô.

Nếu tôi không nhầm, nó được mua vào năm 1977, khi Henry con ra đời."

"Vậy tôi là đứa trẻ thứ ba ngủ trong đó?"

"Đúng.

Tôi đoán vậy."

Họ tiến về phía căn phòng nhỏ ở trước nhà và Dido nói, "Vậy giả thuyết của anh là gì?

Anh nghĩ chuyện gì đã xảy ra?"

"Tóm lại à?

Người lạ chuyển đến sống với gia đình giàu có.

Vài điều quái gở xảy ra, mọi người chết hết, ngoại trừ vài đứa trẻ vị thành niên mà từ đó đến nay không ai biết thêm tin tức gì về họ nữa.

Và tất nhiên, còn cả đứa bé nữa.

Serenity.

Rồi người ta tìm được bằng chứng là đã có một người khác nữa sống ở đây.

Ai đó trồng khu vườn thảo dược.

Tôi dành cả tháng trời theo dõi tất cả những người bào chế thuốc nam từng sống ở London vào thời điểm

đó, cả ở Anh và ở nước ngoài.

Không thấy gì hết.

Không một dấu vết."

Cả tường lẫn sàn trong căn phòng họ đang đứng đều được ốp gỗ.

Trên bức tường phía xa xa có xây một lò sưởi bằng đá rất lớn, còn bên kia tường treo một thanh gỗ gụ.

"Họ tìm thấy một thứ dụng cụ ở đây," Miller nghiêm túc nói.

"Cảnh sát ban đầu nghĩ đó là vật dụng dùng để tra tấn, nhưng hóa ra nó là đồ tập tự chế.

Hai trong ba nạn nhân có cơ thể rất thon gọn và cơ bắp.

Đây rõ ràng là nơi họ tập thể dục.

Có thể việc này giúp giảm đi tác hại của việc không bao giờ ra khỏi nhà.

Vì thế nên tôi lại dành thêm cả tháng nữa để săn lùng mọi huấn luyện viên callisthenics tôi có thể tìm được, để xem có ai biết về kiểu kỹ thuật tập xà này ở Chelsea những năm tám mươi và đầu chín mươi hay không.

Và tất nhiên, vẫn không thấy gì cả."

Anh thở dài, rồi quay ngoắt sang Libby.

"Cô đã tìm thấy lối cầu thang bí mật chưa?

Dẫn lên gác mái ấy?"

"Rồi, ông luật sư đã chỉ cho tôi khi ông ấy dẫn tôi đến đây."

"Cô có thấy cái ổ khóa không?

Trước cửa phòng ngủ của trẻ con ấy?"

Libby bỗng cảm thấy toàn thân cô như đang run rẩy.

"Lúc đó tôi chưa đọc bài báo của anh," cô nói, "nên tôi không để ý.

Và lần trước tôi đến đây..."

Cô dừng lại.

"Lần đó tôi nghĩ là tôi đã nghe thấy có tiếng ai ở trên đó, tôi sợ quá nên bỏ đi."

"Vậy chúng ta lên đấy thử xem sao?"

Cô gật đầu.

"Được."

"Trong nhà của cha mẹ tôi cũng có một lối cầu thang bí mật như

thế này," Dido nói, bám chặt lấy tay vịn khi họ bước lên đoạn cầu thang hẹp.

"Hồi bé nó luôn làm tôi cảm thấy bất an.

Tôi đã từng nghĩ rằng sẽ có một con ma đến và khóa cả hai đầu cầu thang lại, để tôi bị mắc kẹt trong đó mãi mãi."

Nghe đến đây, Libby tăng tốc, và khi trèo lên đến gác mái, cô đứng thở hổn hển.

"Cô ổn chứ," Miller hỏi ân cần.

"Mm," cô lào thào.

"Tôi vẫn ổn."

Anh đặt tay lên tai.

"Cô nghe thấy chứ?" anh nói.

"Nghe thấy gì?"

"Tiếng cọt kẹt ấy?"

Cô gật đầu, mở tròn mắt.

"Mấy căn nhà cổ khi trời nóng quá, hay lạnh quá hay có tiếng kêu như thế.

Chúng đang than phiền.

Đó là tiếng cô nghe thấy hôm trước.

Tiếng nhà cô than phiền."

Cô suy nghĩ không biết có nên hỏi anh xem khi trời nóng nhà có ho không, nhưng cuối cùng lại thôi.

Miller lấy điện thoại từ trong túi ra và hướng ống kính về trước, vừa đi vừa quay phim.

"Trời ơi," anh thì thầm.

"Nó đây rồi.

Nó đây rồi."

Anh quay ống kính về phía cửa của căn phòng đầu tiên ở bên trái.

"Nhìn đi," anh nói.

Cả cô và Dido cùng nhìn.

Có một cái khóa gắn ở bên ngoài căn phòng.

Họ đi theo anh đến căn phòng tiếp theo.

Lại thêm một cái khóa nữa.

Rồi thêm cái khóa thứ ba, thứ tư.

"Cả bốn phòng, đều khóa ngoài được.

Cảnh sát cho rằng đây là nơi trẻ con trong nhà ngủ.

Đây cũng là nơi họ tìm thấy vết máu và những vết cào trên tường.

Nhìn này," anh nói, "thậm chí nhà vệ sinh cũng có khoá ngoài.

Chúng ta vào thử chứ?"

Tay anh đặt lên tay nắm cửa của một căn phòng.

Libby gật đầu.

Khi cô mới đọc bài báo của Miller, cô lướt qua đoạn viết về những căn phòng trên tầng gác mái, vì những gì được miêu tả trong đó cô nuốt không trôi.

Nhưng giờ cô chỉ muốn làm một lần cho xong.

Đó là một căn phòng với diện tích vừa đủ, sơn trắng, điểm chút vàng xung quanh những ván ốp ở dưới chân tường, sàn để trần, rèm trắng rách bươm ở quanh cửa sổ, thêm mấy tấm nệm mỏng ở các góc phòng, ngoài ra không có gì hơn.

Căn phòng tiếp theo cũng thế.

Và căn phòng sau đó cũng y hệt.

Libby nín thở khi họ bước vào căn phòng thứ tư; cô tin rằng đằng sau cánh cửa kia sẽ có một người đàn ông.

Nhưng chẳng có người đàn ông nào ở đấy cả, và lại thêm một căn phòng trống rỗng, tường sơn trắng, rèm cửa cũng trắng và sàn để trần.

Khi họ chuẩn bị đóng cửa phòng thì Miller dừng lại, quay camera ra tới góc xa nhất trong phòng, hướng ống kính vào tấm nệm.

"Gì vậy?"

Anh tiến gần về phía cái đệm, kéo nhẹ nó ra khỏi góc tường, và phóng ống kính vào thứ gì đó nhét ở bên trong.

"Cái gì vậy?"

Anh nhặt nó lên, đặt nó trước ống kính, rồi kéo nó lại gần.

"Một chiếc tất."

"Một chiếc tất?"

"Đúng vậy.

Một chiếc tất đàn ông."

Chiếc tất có hai màu, đỏ và xanh, một sự phối hợp màu hơi lạ trên cái nền trống trơn của căn phòng gác mái.

"Kỳ cục thật," Libby nói.

"Còn hơn cả kỳ cục nữa," Miller nói.

"Điều này là không thể.

Vì đây, nhìn xem."

Anh quay chiếc tất ra, đưa cho Libby và Dido xem.

Trên tất có logo của Gap.

"Gì cơ?"

Dido hỏi.

"Tôi không hiểu."

"Đây là logo hiện tại của Gap," Miller nói.

"Và họ mới chỉ dùng mẫu logo này trong mấy năm gần đây thôi."

Mắt anh không rời mắt Libby.

"Chiếc tất này mới."
 
Gia Đình Lầu Trên
22


Lucy gọi cho Michael vào lúc năm giờ chiều ngày thứ Sáu, từ một bốt điện thoại công cộng gần chỗ cô ở.

Hắn ta bắt máy ngay.

"Anh nghĩ chắc là em," hắn nói, và cô có thể nghe thấy nụ cười dâm đãng đằng sau giọng nói của hắn.

"Anh khỏe không?"

Cô hỏi, giọng vui vẻ.

"Ồ, anh khỏe, còn em thì sao?"

"Em cũng khỏe."

"Em mua điện thoại chưa?

Đây là số cố định mà, phải không?"

"Em đang nhờ người quen mua hộ em một cái," cô nói dối trôi chảy.

"Một cái điện thoại cũ sửa lại.

Chắc ngày mai là có."

"Tốt," Michael nói, "thế thì tốt.

Và anh nhận ra đây không phải là một cuộc gọi xã giao, anh đoán em muốn hỏi về việc em nhờ anh hôm trước đúng không?"

Cô cười nhẹ.

"Em rất muốn biết," cô nói.

"Mẹ kiếp," hắn tiếp tục, "Lucy Lou, em sẽ phải yêu anh đến chết mất thôi, bởi vì giờ anh bao em trọn gói.

Hộ chiếu cho em, cho

Marco, cho con gái em và cả con chó của em nữa.

Anh trả nhiều tiền cho mấy cuốn hộ chiếu ấy đến nỗi người ta cho không cho con chó, coi như tặng kèm."

Cô cảm thấy dịch mật của cô như đang trào lên, làm những gì cô mới ăn lúc trưa đông cứng lại.

Cô không muốn nghĩ về số tiền Michael đã phải trả để lấy hộ chiếu cho cô, và những gì hắn muốn được nhận lại.

Cô gượng cười và nói, "Ôi!

Họ tốt bụng quá!"

"Tốt cái con khỉ," hắn đáp.

Và rồi hắn bảo, "Vậy em muốn qua đây chứ?

Qua mà lấy về?"

"Dạ được ạ!" cô nói.

"Được ạ.

Nhưng hôm nay thì không được.

Hay để ngày mai đi.

Hoặc Chủ nhật?"

"Chủ nhật qua đây," hắn nói.

"Qua ăn trưa với anh.

Chủ nhật Joy nghỉ, nên hai ta có cả căn nhà cho riêng mình."

Cô cảm thấy mật cô lúc nãy còn ở dạ dày giờ đã trào lên đến tận cuống họng.

"Mấy giờ thì được ạ?"

Cô hỏi, cố tỏ ra hào hứng.

"Một giờ nhé.

Anh sẽ cho mấy miếng thịt bò bít tết lên vỉ nướng barbecue.

Em có thể làm cái món mà ngày xưa em vẫn làm, món gì ấy nhở?

Có bánh mì với cà chua ấy."

""

"Chính nó.

Lạy Chúa, món đó em làm ngon quá trời."

"Ồ vâng," cô nói, "cảm ơn anh.

Em mong em vẫn là bàn tay vàng trong làng bếp núc."

"Chao ôi, đôi bàn tay vàng của em.

Anh nhớ tay em rất, rất, rất nhiều."

Lucy cười.

Cô chào tạm biệt, và cô nói cô sẽ gặp lại hắn lúc một

giờ chiều Chủ nhật.

Rồi cô gác máy, chạy vào nhà vệ sinh, nôn thốc nôntháo.
 
Gia Đình Lầu Trên
23


Một mùa buổi chiều mùa hè năm 1990, khi tôi vừa tròn mười ba tuổi, tôi thấy mẹ tôi ở đầu cầu thang.

Bà đang đặt chồng ga giường mới giặt lên tủ hong quần áo.

Ngày xưa tuần nào cũng một chiếc xe tải với dòng chữ vàng đến nhà và lấy quần áo của chúng tôi đi giặt, rồi mấy ngày sau gửi lại đồ cho chúng tôi trong những kiện hàng buộc ruy băng đẹp không tì vết, hoặc treo lên những chiếc mắc quần áo bằng gỗ, có túi bóng kính bọc bên ngoài.

"Mấy người ở dịch vụ giặt là đâu hả mẹ?"

Tôi hỏi.

"Dịch vụ giặt là gì cơ?"

Tóc mẹ tôi đã dài ra nhiều.

Nếu tôi không nhầm, đến nay đã là hai năm mẹ tôi chưa đi cắt tóc, kể từ ngày mấy người kia chuyển vào nhà chúng tôi.

Birdie để tóc dài, và Sally cũng vậy.

Trước nay mẹ tôi vẫn để tóc ngang tới cằm.

Giờ tóc bà đã dài quá bả vai, chia ngôi ở giữa.

Tôi tự hỏi không biết có phải mẹ tôi đang muốn bắt chước những người phụ nữ kia hay không, cũng giống như cái cách mà tôi muốn bắt chước Phin.

"Mẹ nhớ không?

Ông già vẫn lái xe van màu trắng đến đây để lấy

đồ mang đi giặt, cái ông người nhỏ con mà mẹ vẫn sợ là ông ấy không ôm nổi hết chỗ quần áo ấy?"

Mắt mẹ tôi hướng sang bên trái, như thể bà đang cố tìm về một giấc mơ xa xôi nào đó, và bà nói, "Ồ đúng rồi, suýt nữa thì mẹ quên mất ông ấy."

"Tại sao ông ấy không đến nữa ạ?"

Bà vê các đầu ngón tay vào nhau, còn tôi nhìn bà với ánh mắt báo động.

Tôi biết cử chỉ này có nghĩa là gì, và đó cũng là điều mà tôi đã nghi ngờ từ lâu, nhưng đây là lần đầu tiên tôi có thể tự xác nhận.

Chúng tôi hết tiền.

"Nhưng tiền của cha đi đâu hết cả rồi ạ?"

"Suỵt."

"Nhưng con không hiểu."

"Suỵt!"

Bà nhắc lại.

Rồi bà nhẹ nhàng kéo tay tôi lên phòng ngủ và để tôi ngồi trên giường.

Bà nắm lấy tay tôi, mắt nhìn tôi không rời.

Tôi để ý thấy hôm nay bà không trang điểm, và tôi tự hỏi, bà đã ngừng việc ấy từ khi nào.

Quá nhiều thứ cứ dần dần thay đổi trong một khoảng thời gian dài nhiều khi khiến con người ta khó mà phát hiện ra đâu là điểm bắt đầu.

"Con phải hứa, hứa, và hứa với mẹ," bà nói, "là con sẽ không nói cho ai khác biết chuyện này.

Con sẽ không nói cho em gái con.

Không nói cho những đứa trẻ con khác.

Không nói cho cả những người lớn trong nhà.

Không nói cho ai cả, được không?"

Tôi gật đầu lia lịa.

"Và mẹ nói với con điều này vì mẹ tin con.

Con rất là biết suy xét.

Nên đừng để mẹ thất vọng, được chứ?"

Tôi càng gật đầu mạnh hơn nữa.

"Cha con hết tiền từ lâu rồi."

Tôi nuốt nước bọt.

"Gì cơ, hết sạch ấy ạ?"

"Về cơ bản là thế."

"Vậy, giờ nhà mình sống bằng gì?"

"Cha đang bán cổ phiếu và chứng khoán.

Nhà mình vẫn còn một vài tài khoản tiết kiệm.

Nếu mỗi tuần không tiêu quá ba mươi bảng, thì nhà mình sẽ vẫn ổn thôi, ít nhất là trong vài năm tới."

"Ba mươi bảng một tuần?"

Mắt tôi trợn lên.

Ngày xưa chỉ riêng việc mua hoa tươi thôi mẹ tôi đã chi hết ba mươi bảng một tuần.

"Nhưng điều đó là không thể!"

"Không phải đâu.

David đã ngồi xuống và tính toán cùng bố mẹ."

"David?

Nhưng David thì biết gì về tiền cơ chứ?

Đến một ngôi nhà ông ta còn chẳng có nữa là!"

"Suỵt."

Bà đặt ngón tay lên môi tôi, thận trọng ngoảnh ra nhìn cánh cửa phòng ngủ.

"Con phải tin bọn mẹ, Henry.

Bọn mẹ là người lớn, và con phải tin bọn mẹ.

Birdie kiếm được tiền từ những buổi dạy đàn violin.

David cũng kiếm tiền từ việc làm huấn luyện viên thể dục.

Justin cũng đang kiếm ra rất nhiều tiền nữa."

"Đúng vậy, nhưng họ đâu có định đưa tiền ấy cho nhà mình?"

"Có chứ.

Ai cũng góp một ít.

Và bọn mẹ đang cố vun vén để mọi thứ đều hoạt động trơn tru."

Đó là lúc suy nghĩ ấy ập đến tôi.

Dứt khoát và rõ ràng.

"Vậy giờ nhà mình thành nhà tập thể ạ?"

Tôi hoảng sợ hỏi.

Mẹ tôi bật cười, như thể câu tôi vừa hỏi rất lố lăng.

"Không!" bà nói.

"Tất nhiên là không rồi."

"Vậy thì tại sao cha mẹ không bán nhà đi?"

Tôi hỏi.

"Cả nhà ta có thể chuyển ra sống ở một căn hộ nhỏ nào đó.

Như thế cũng tốt thôi.

Và chúng ta sẽ có rất nhiều tiền."

"Nhưng đây không chỉ là vấn đề tiền, và con biết điều đó, phải không?"

"Vậy là gì ạ?"

Tôi hỏi.

"Vấn đề là gì mới được ạ?"

Bà thở dài, ngón tay bà nhẹ nhàng xoa bóp lòng bàn tay tôi.

"Vấn đề là, chà, vấn đề có lẽ chính là mẹ, mẹ đoán vậy.

Cách mẹ tự cảm nhận về bản thân mình, và những nỗi buồn mẹ đã phải trải qua biết bao lâu nay, và tất cả những thứ này," bà chỉ tay quanh căn phòng rộng lớn của mình, với rèm che rủ xuống, và đèn chùm sáng trưng, "những thứ này không khiến mẹ hạnh phúc, không một chút nào.

Và rồi David tới và chỉ cho mẹ thấy mẹ có thể sống một cuộc sống khác, một cuộc sống ít ích kỷ hơn.

Nhà mình có quá nhiều thứ, Henry ạ.

Quá, quá nhiều thứ, và khi con có quá nhiều thứ, tài sản của con cũng sẽ chính là thứ kéo con xuống.

Và giờ tiền của nhà ta gần như sắp cạn, đó là dấu hiệu tốt để thay đổi, để suy nghĩ về những thứ ta ăn và những thứ ta dùng, những thứ ta chi tiêu, cả cách chúng ta san sẻ thời gian của mình.

Sống ở đời phải biết cho đi nữa, chứ đâu chỉ mãi nhận lại.

Con biết không, David..."

Tôi nghe giọng bà ngân lên, như tiếng thìa bạc gõ vào ly rượu vang, khi nhắc đến tên ông ta.

"...

Bác ấy quyên góp gần hết tiền của mình cho các quỹ từ thiện.

Và giờ, dưới sự hướng dẫn của bác ấy, chúng ta cũng

sẽ làm như thế.

Giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn hơn giúp tâm hồn ta được thanh thản.

Cuộc sống trước đây của gia đình ta lãng phí quá.

Chúng ta đã đi lầm đường.

Con có hiểu điều ấy không?

Nhưng giờ, có David ở đây để dẫn dắt chúng ta, chúng ta có thể bắt đầu lấy được lại cân bằng."

Tôi tự cho mình thời gian để tiếp thu được đầy đủ ý nghĩa của những gì mẹ tôi vừa nói.

"Vậy họ sẽ ở lại đây," cuối cùng tôi nói.

"Mãi mãi ạ?"

"Đúng vậy," mẹ tôi nói, khẽ cười.

"Đúng.

Mẹ mong là vậy."

"Và nhà chúng ta nghèo?"

"Không.

Chúng ta không nghèo, con yêu.

Mà là không còn gánh nặng.

Chúng ta là những người tự do."
 
Gia Đình Lầu Trên
24


Libby, Miller và Dido lùng sục từ trên xuống dưới ngôi nhà để xem người đàn ông với chiếc tất bí ẩn đó đã đột nhập vào từ đâu.

Sau nhà có một cánh cửa kính lớn dẫn ra lối cầu thang bằng đá xuống vườn.

Cánh cửa này được bắt vít từ bên trong, và khi họ cố mở nó ra, trên kính bắt đầu bốc hơi, cửa bị khóa.

Giàn cây đậu tía bên ngoài mọc um tùm, tràn cả vào những kẽ hở ở giữa cánh cửa và khung cửa, cho thấy cánh cửa này chưa được ai mở ra trong nhiều tuần, thậm chí nhiều năm liền.

Họ cố đẩy những chiếc cửa sổ trượt đầy bụi ra, nhưng tất cả đều bị khóa.

Họ nhòm vào trong những góc tối để xem có cánh cửa bí mật nào không, nhưng cuối cùng cũng chẳng có.

Họ thử từng chiếc chìa trên chùm chìa khóa của Libby để mở cánh cửa kính.

Nhưng cánh cửa vẫn không nhúc nhích.

Miller ngó xuống nhìn qua lớp kính ra phía bên ngoài của cánh cửa.

"Nó bị khóa móc lại rồi," anh nói, "từ bên ngoài.

Trong chùm của cô có cái chìa khóa nào be bé không?"

Libby tìm chiếc chìa khóa nhỏ nhất và đưa cho Miller.

"Cô cảm thấy thế nào nếu tôi gỡ một tấm kính trên cửa ra?"

"Gỡ ra?" cô nói.

"Bằng cái gì mới được chứ?"

Anh giơ khuỷu tay lên.

Cô nhăn mặt.

"Thế thì anh cứ tự nhiên."

Anh lấy tấm rèm hoa đã rách làm đệm bọc khuỷu tay lại để giảm tác động của sự va chạm.

Tấm kính nứt ra thành hai mảnh hoàn hảo.

Anh thọc tay qua cái lỗ và mở khóa với chiếc chìa khóa bé tí hon.

Cuối cùng thì họ cũng mở được cánh cửa ra, làm mấy bụi đậu tía đổ rạp hết xuống.

"Đây," Miller nói, sải bước trên bãi cỏ.

"Đây là chỗ họ trồng thảo dược."

"Loại thảo dược đã giết chết cha mẹ Libby á?"

Dido hỏi.

"Đúng, Atropa belladonna.

Hay còn gọi là bóng đêm chết chóc.

Cảnh sát đã tìm thấy một bụi lớn mọc ở đây."

Họ đi bộ đến cuối khu vườn, dưới bóng cây keo mát rượi.

Ở đây có đặt một băng ghế uốn lượn, trải dài theo tán cây, hướng ra đằng sau nhà.

Dù cho giờ đang là giữa mùa hè nóng nhất ở London trong hai mươi năm vừa qua, băng ghế này vẫn bị ẩm và mốc.

Libby khẽ đặt đầu ngón tay lên thành tay vịn.

Cô tưởng tượng ra hình ảnh Martina Lamb ngồi đây vào một buổi sáng đầy nắng, một tay đặt tách trà lên chính chỗ mà Libby đang để tay lên lúc này, ngắm chim chóc bay lượn trên bầu trời.

Cô tưởng tượng tay bên kia của bà đang ôm lấy cái bụng bầu, và bà mỉm cười khi thấy con mình đang đạp bên trong.

Và cô tưởng tượng ra cảnh một năm sau bà uống thuốc độc trong

bữa tối, rồi nằm vật xuống sàn nhà bếp, chết chẳng vì lý do chính đáng gì, để con bà đơn độc một mình trên lầu.

Libby giật tay lại, quay ngoắt người về phía ngôi nhà.

Từ đây họ có thể nhìn thấy bốn cửa sổ lớn kéo dài ở phía sau phòng khách.

Họ có thể thấy thêm bốn ô cửa sổ nhỏ nữa ở phía trên, hai chiếc ở mỗi phòng ngủ phía sau, và một chiếc cửa sổ nhỏ hơn ở giữa, ngay trên đầu cầu thang.

Nhìn lên cao nữa là tám chiếc cửa sổ hẹp với mái hiên ở bốn phòng ngủ trên gác mái, mỗi phòng hai cái, cùng với một chiếc cửa sổ hình tròn nhỏ xíu ở giữa phòng tắm.

Cuối cùng là cái mái bằng, ba cái ống khói, và một bầu trời xanh.

"Nhìn kìa!"

Dido nói, chân kiễng lên, tay chỉ trỏ.

"Nhìn kìa!

Ở kia có phải là cái thang xếp không?

Hay là lối thoát hiểm?"

"Ở đâu cơ?"

"Kìa!

Nhìn đi!

Ở ngay sau cái ống khói, cái màu đỏ ấy.

Nhìn đi."

Libby thấy một tia sáng của kim loại lóe lên.

Cô đưa mắt nhìn theo nó xuống đến một rìa gạch, sau đó là mép trên của mái hiên, và một ống thoát nước được gắn vào chỗ tường gạch nhô lên ở bên hông ngôi nhà, nhìn qua bức tường liền kề chắn trước khu vườn, rồi xuống cái gì đó trông như là hầm bê tông, và rồi xuống đến khu vườn.

Cô xoay một vòng.

Đằng sau là tán cây leo rậm rạp trên bức tường gạch cũ.

Cô đẩy đám lá cây sang một bên để tìm lối đi, chân cố lần theo những vạt cỏ đã mòn.

Tơ nhện xen lẫn trong đám cỏ dại bám đầy lên quần áo và đầu tóc cô.

Nhưng cô vẫn tiếp tục đi.

Cô cảm nhận được con đường này, nó đã ở sẵn trong cô rồi, và cô biết

mình cần phải tìm kiếm điều gì.

Và rồi nó ở đó, một cái cổng bằng gỗ xập xệ, sơn màu xanh lá cây đậm, bản lề treo lơ lửng, dẫn về phía sau của khu vườn cỏ mọc um tùm của nhà bên cạnh.

Miller và Dido đứng sau cô, rướn mắt nhìn qua vai cô đến cánh cổng gỗ.

Cô gồng hết sức lên đẩy cánh cổng thật mạnh, và nhìn sang bên khu vườn nhà hàng xóm.

Khu vườn trông nhếch nhác và có vẻ không được cắt tỉa.

Giữa vườn có một cái đồng hồ mặt trời lỏng lẻo, vài lối đi rải sỏi bụi mù.

Ở ngoài không có bàn ghế, cũng chẳng có đồ chơi của trẻ con.

Và ở đó, ngay bên cạnh ngôi nhà, là một lối đi trông có vẻ như dẫn thẳng xuống đường.

"Tôi hiểu rồi," cô nói, tay chạm vào cái khóa móc đã được ai cắt sẵn từ trước bằng kim cộng lực.

"Nhìn đây.

Có vẻ như người ngủ trên tầng gác mái đã đi qua cánh cổng này, rồi băng qua khu vườn, rồi trèo lên cái khối bê tông ở kia," cô dẫn họ lại phía khu vườn, "rồi trèo lên tường bao của vườn, lên cái ống thoát nước ở trên bề mặt kia, nhìn mà xem, đó, trên đó, rồi từ đó bám vào rìa tường, trèo lên mái, rồi lên thang xếp.

Giờ chúng ta chỉ cần tìm xem cái thang đó dẫn đi đâu nữa thôi."

Cô nhìn Miller.

Anh nhìn lại cô.

"Tôi không được nhanh nhẹn cho lắm," anh nói.

Cô quay sang nhìn Dido.

Dido phồng má lên và nói, "Ồ, thôi nào."

Họ quay vào trong nhà và leo lên tầng gác mái.

Ở đây họ tìm thấy một cánh cửa sập nhỏ bằng gỗ ở trên trần hành lang.

Miller kiệu Libby lên vai và cô mở cánh cửa ra.

"Cô thấy gì không?"

"Một cái hầm đầy bụi.

Và có thêm một cái cửa nữa.

Kiệu tôi cao lên chút nữa."

Miller gầm gừ và đẩy cô lên thêm một lần nữa.

Cô bám lấy thanh gỗ và đu người lên.

Trên đây rất nóng, cô cảm thấy quần áo mình đang dính chặt vào người vì mồ hôi.

Cô bò dọc theo đường hầm và đẩy cánh cửa sập tiếp theo ra.

Ngay lập tức cô được chào đón bởi những tia nắng chói lòa.

Cô đang ở trên mái nhà, nơi có mấy chậu cây cảnh chết khô và hai cái ghế nhựa.

Cô đặt tay lên hông và phóng tầm mắt ngắm nhìn khung cảnh từ trên đây: phía trước là những tán cây xanh ngập nắng trong các khu vườn bên đường đê, xa hơn là dòng sông tối màu uốn khúc.

Ở đằng sau cô, cô có thể thấy hệ thống đường ngang ngõ tắt trải dài từ đây đến King's Road; một vườn bia đông khách, mấy mảnh vườn ghép lại thành sân sau, và vài chiếc ôtô đang đậu trên đường.

"Em nhìn thấy những gì thế?"

Cô nghe thấy tiếng Dido hét lên từ bên dưới.

"Em thấy mọi thứ," cô nói.

"Tất cả mọi thứ."
 
Gia Đình Lầu Trên
25


Marco nheo mắt nhìn Lucy.

"Tại sao bọn con lại không thể đi cùng mẹ cơ chứ?"

Cậu hỏi.

"Con không hiểu."

Lucy thở dài, chỉnh lại đường viền mi mà cô vừa mới kẻ qua một cái gương nhỏ và nói, "Không là không, hiểu chứ?

Bố con đã giúp mẹ một việc mà mẹ rất cảm kích, và bố con muốn mẹ đến một mình, vậy nên mẹ sẽ đến một mình."

"Nhỡ ông ta làm mẹ đau thì sao?"

Lucy cố để không tỏ ra nao núng.

"Bố con sẽ không làm gì mẹ đâu.

Bố mẹ có một cuộc hôn nhân đổ vỡ, nhưng giờ bố mẹ đâu còn sống với nhau nữa đâu.

Mọi thứ giờ đã khác rồi.

Con người ta cũng có thể thay đổi."

Cô không thể nhìn con trai mình khi cô nói dối nó.

Cô sợ nó sẽ thấy được nỗi sợ trong mắt cô.

Nó sẽ đoán ra được cô chuẩn bị làm gì.

Và nó sẽ không hiểu tại sao cô lại làm như thế, vì nó đâu có biết về tuổi thơ của cô, và hai mươi tư năm trước cô đã phải chạy trốn những gì.

"Mẹ cần có mật mã riêng," Marco nói, giọng đầy hách dịch.

"Con

sẽ gọi cho mẹ, và nếu mẹ cảm thấy sợ, mẹ chỉ cần nói, Fitz thế nào rồi, mẹ đồng ý chứ?"

Cô gật đầu và mỉm cười.

"Đồng ý," cô nói.

Cô kéo Marco vào lòng và hôn lên sau tai cậu.

Riêng lần này thì cậu chịu để cô làm thế.

Stella và Marco đứng ở trong bếp nhìn cô trước khi cô ra khỏi cửa mấy phút sau đó.

"Mẹ trông xinh lắm, mẹ ơi," Stella nói.

Lòng Lucy nặng trĩu.

"Cảm ơn con yêu," cô đáp.

"Khoảng bốn giờ mẹ về.

Lúc đấy mẹ sẽ có hộ chiếu và mẹ con mình có thể bắt đầu lên kế hoạch cho chuyến đi về London."

Cô tươi cười, để lộ hàm răng.

Stella ôm lấy chân cô.

Một lúc sau Lucy tách con ra rồi bước đi mà không hề ngoảnh lại.

Đống phân của Fitz vẫn ở đấy, chỉ có điều nhiều ruồi nhặng gấp đôi.

Nhìn cảnh ấy bỗng làm cô thấy yên tâm lạ thường.

Michael ra mở cửa; hắn mặc quần soóc rộng, áo phông trắng, và cài kính râm trên đầu.

Hắn giúp cô xách túi đồ ăn, gồm có cà chua, bánh mì và cá cơm cô đã mua trên đường tới đây, rồi hắn lao đến hôn lên má cô.

Lucy ngửi thấy mùi bia trong hơi thở của hắn.

"Nhìn em xinh chưa kìa?"

Hắn nói.

"Ôi chao.

Vào đây, vào đây."

Cô đi theo hắn vào bếp.

Hai miếng bít tết nằm trên giấy đã được bày sẵn ra trên quầy, thêm cả một chai rượu vang trong thùng đựng rượu màu bạc.

Hắn đang nghe Ed Sheeran hát trên dàn âm thanh Sonos và trông có vẻ đang vui.

"Để anh lấy gì cho em uống nhé," hắn nói.

"Em muốn uống gì?

Gin tonic, ?

Rượu vang?

Hay bia?"

"Em uống bia ạ," cô nói, "cảm ơn anh."

Hắn đưa cho cô một chai Peroni và cô nhấp một ngụm.

Cô nhận ra đáng lẽ mình nên ăn sáng trước khi đến đây, vì mới uống ngụm đầu tiên mà cô đã thấy đầu hơi quay quay.

"Chúc sức khỏe em," hắn nói, cụng ly với cô.

"Chúc sức khỏe anh," cô đáp lại.

Trên quầy bếp có bát khoai tây chiên giòn hiệu hắn thích, cô bốc lấy một nắm đầy.

Cô cần phải giữ cho mình đủ tỉnh táo để kiểm soát tình hình, nhưng cũng cần có chút hơi men để làm đến cùng điều mà cô sẽ định làm.

"Vậy," cô nói, đoạn mở ngăn kéo ra tìm dao thớt, và lấy cà chua từ trong túi ra.

"Việc viết lách của anh đến đâu rồi?"

"Chúa ơi, đừng hỏi anh chuyện đấy," hắn vừa nói vừa đảo mắt.

"Tuần này không phải là một tuần làm việc hiệu quả, cứ hiểu vậy đi."

"Em đoán ai cũng thế đúng không?

Vấn đề nằm ở mặt tâm lý."

"Hừm," hắn nói, tay đưa đĩa cho cô.

"Nói như vậy cũng có ý đúng.

Nhưng mặt khác, tất cả những nhà văn giỏi nhất đều phải học cách vượt qua.

Nó như kiểu vì trời mưa mà quyết định không chạy bộ nữa ấy.

Đó chỉ là cái cớ thôi.

Vì thế mà anh phải cố gắng hơn nữa."

Hắn cười với cô, trong giây lát, nhìn hắn có chút gì đó khiêm tốn, và ở chính khoảnh khắc đó, cô nghĩ có khi hôm nay sẽ không tệ như cô tưởng, mà đơn giản họ sẽ chỉ dùng bữa trưa và trò chuyện cùng nhau, rồi hắn sẽ đưa hộ chiếu cho cô và để cô đi mà không đòi hỏi gì, ngoại trừ một cái ôm khi họ tiến ra đến cửa.

"Cũng đúng," cô nói, cảm nhận được con dao siêu sắc của Michael bổ đôi quả cà chua chín nhẹ như cắt một lát bơ.

"Em đoán nó cũng chỉ là một công việc, như mọi công việc khác.

Phải đến và làm cho xong."

"Chính xác," hắn nói, "chính xác."

Hắn uống nốt chỗ bia còn lại và ném cái chai rỗng vào trong thùng tái chế.

Hắn lấy một chai nữa từ trong tủ lạnh ra và thêm một chai nữa cho Lucy.

Cô lắc đầu và giơ cái chai vẫn còn đầy của cô lên cho hắn xem.

"Uống đi," hắn nói.

"Anh có một chai Sancerre xịn ướp lạnh dành riêng cho em, đúng loại em thích."

"Xin lỗi anh," cô nói, đưa chai lại gần môi.

"Em đã cai rượu được một thời gian rồi."

"Ô thế à?"

"Cũng không hẳn là em muốn thế," cô đáp lại.

"Chỉ là em không có tiền."

"Vậy thì, hãy gọi đây là Chiến dịch giúp Lucy tái nghiện, chịu không?

Thôi nào.

Uống đi."

Và chính ở đó, cái ranh giới ấy đã xuất hiện, cái ranh giới mong manh giữa sự thân thiện và lấn át.

Những gì Michael vừa nói không phải một thỉnh cầu bông đùa, mà là một mệnh lệnh.

Cô mỉm cười và nốc hết nửa chai.

Hắn nhìn cô chăm chú và nói, "Ngoan lắm," hắn nói, "ngoan lắm.

Nốt nào."

Cô cười nhạt và tu hết chỗ còn lại, suýt nữa thì sặc vì uống quá nhanh.

Hắn nhìn cô hau háu như cá mập săn mồi, rồi ngoác miệng cười và nói, "Ôi, ngoan lắm.

Ngoan lắm."

Hắn vứt chai rỗng đi hộ cô, rồi quay ra để lấy hai cái ly uống rượu từ trên tủ.

"Ta uống tiếp chứ?" hắn nói, chỉ tay về phía cửa hướng ra vườn.

"Để em cắt nốt đã."

Cô hướng mắt xuống chỗ cà chua đang cắt dở.

"Cái đó để sau đi," hắn ra lệnh.

"Uống trước đã."

Cô đi theo hắn ra ngoài hiên, một tay cầm bát khoai tây chiên, tay kia ôm túi xách.

Hắn rót rượu vào hai cái ly lớn và đẩy một cái về phía cô.

Họ chạm ly một lần nữa, rồi hắn trói chặt cô bằng ánh mắt.

"Vậy, Lucy Lou, nói cho anh biết, nói cho anh biết tất cả mọi thứ.

Em đã làm gì trong suốt mười năm qua?"

"Ha!"

Giọng cô the thé.

"Anh muốn em phải bắt đầu từ đâu?"

"Sao không bắt đầu bằng việc kể cho anh nghe về người đàn ông đã cho em một cô con gái nhỉ?"

Bụng Lucy quặn lên.

Cô biết ngay từ giây phút Michael nhìn thấy Stella, hắn đã nghĩ về chuyện cô quan hệ tình dục với một người đàn ông khác.

"Ôi, thật là," cô nói, "cũng không có gì nhiều để kể.

Đó là một thảm họa.

Ngoài trừ việc nhờ nó mà em có Stella.

Thế nên, anh biết đấy."

Hắn nghiêng người về phía cô, đôi mắt màu hạt dẻ của hắn dính chặt lấy cô.

Miệng hắn cười, nhưng nụ cười không ánh lên trong mắt

hắn.

"Không," hắn nói.

"Anh thực sự không biết.

Hắn ta là ai?

Em gặp hắn ta ở đâu?"

Cô nghĩ về những cuốn hộ chiếu đang nằm ở đâu đó trong ngôi nhà này.

Cô không thể làm hắn giận.

Cô không thể nói với hắn rằng bố Stella là tình yêu của cuộc đời cô, là người đàn ông đẹp nhất mà cô từng để mắt tới, rằng anh ấy là một nghệ sĩ chơi dương cầm đầy tinh tế, và âm nhạc của anh khiến cô rơi nước mắt.

Cô không thể nói với hắn rằng anh đã làm trái tim cô tan vỡ, và rằng tới tận bây giờ cô vẫn mang những mảnh vụn đó trong lòng, dù đã ba năm trôi qua kể từ lần cuối cô nhìn thấy anh.

"Hắn ta là một thằng khốn nạn," cô nói.

Rồi cô dừng lại và nhấp một ngụm rượu lớn.

"Chỉ được cái đẹp mã, thế thôi.

Còn lại hắn ta là một tên tội phạm đầu rỗng tuếch.

Em cảm thấy thương hại thay cho hắn.

Hắn không xứng đáng có được em, và chắc chắn hắn cũng không xứng đáng có được Stella."

Cô buông ra những lời kết tội chắc nịch, vì cô đang nhìn thẳng vào mắt Michael, và hắn ta đâu có thể đoán được là cô đang miêu tả hắn.

Trong giây lát, những lời ấy có vẻ như đã khiến Michael thấy thỏa mãn.

Nụ cười hắn giãn ra, và nét mặt hắn nghiêm túc trở lại.

"Vậy cái thằng ngu đó đang ở đâu?"

"Hắn bỏ trốn.

Quay lại Algeria.

Làm tan vỡ trái tim của mẹ hắn.

Mẹ hắn đổ lỗi cho em."

Cô nhún vai.

"Nhưng sự thật là, không sớm thì muộn hắn cũng sẽ làm bà ấy thất vọng thôi.

Hắn sẽ làm tất cả mọi người thất vọng.

Kiểu người của hắn là như thế."

Michael lại rướn người về phía cô.

"Em có yêu hắn không?"

Cô khịt mũi chế nhạo.

"Chúa ơi," cô nói, trong đầu vẫn nghĩ về

Michael.

"Không."

Hắn gật đầu, như thể tỏ ý tán thành.

"Và em còn yêu thêm ai nữa không?

Trong ngần ấy năm?"

Cô lắc đầu.

Lại thêm một lời nói dối nữa, nhưng lần này dễ hơn.

"Không," cô nói.

"Không có ai cả.

Em làm còn chẳng đủ ăn, đã thế lại có hai con nhỏ.

Kể cả em có gặp ai đi nữa, chắc cũng chẳng đi đến đâu.

Em không thu xếp được."

Cô nhún vai.

"Ừ.

Anh hiểu.

Mà em biết không, Lucy," hắn nhìn cô bằng ánh mắt sốt sắng, "em biết không, nếu em hỏi, anh đã giúp em rồi.

Em chỉ cần nói với anh một lời thôi."

Cô lắc đầu buồn bã.

Hắn nói, "Ừ.

Anh biết mà.

Em quá tự trọng."

Những gì Michael nói khác xa sự thật đến nực cười, nhưng cô vẫn cố tình gật đầu.

"Anh hiểu em quá rõ," cô nói, và hắn cười.

"Xét về nhiều mặt thì ta đến với nhau là một sự kết hợp dở tệ, tệ nhất trên đời này.

Ý anh là, em còn nhớ thời gian mình ở bên nhau không?

Chúa ơi chúng ta thật điên rồ.

Nhưng lạy Chúa, ở nhiều mặt khác, mẹ kiếp, chúng ta cũng thật tuyệt, em thấy phải không?"

Lucy gắng cười và gật đầu đồng ý, nhưng cô không thể ép bản thân mình nói hai từ đồng ý thành lời.

"Có lẽ lúc đó chúng ta nên cố thêm chút nữa," hắn nói, tay rót thêm rượu vào ly của hắn và cả ly của Lucy, trong khi Lucy chưa uống nổi hai ngụm.

"Nhiều khi đời là vậy mà anh," cô buông một câu vô nghĩa.

"Đúng vậy, Lucy," hắn đồng tình, như thể cô vừa nói điều gì sâu

sắc lắm.

Hắn nhấp một ngụm rượu đầy và nói, "Kể cho anh nghe tất cả mọi thứ về cậu bé của anh đi nào.

Con có thông minh không?

Con có thích chơi thể thao không?"

Con có tốt bụng không?

Cô thầm hỏi.

Con có ngoan không?

Con có biết chăm sóc em không?

Con có giúp mình cảm thấy cân bằng không?

Người con thơm tho không?

Con có biết hát không?

Con có thể vẽ những bức chân dung đẹp nhất không?

Con có xứng đáng có được cuộc sống tốt hơn cuộc sống tệ hại mà mình cho con không?

"Con khá thông minh," cô trả lời.

"Toán với khoa học chỉ ở mức trung bình thôi, nhưng ngôn ngữ, nghệ thuật với tiếng Anh thì xuất sắc.

Và con không thích thể thao.

Không chút nào."

Cô nhìn hắn một hồi lâu, cố tìm lấy sự thất vọng trong mắt hắn.

Nhưng trông hắn có vẻ vẫn rất lý trí.

"Không thể cái gì cũng giỏi hết được," hắn nói.

"Vả lại con anh đẹp trai thế cơ mà.

Đã có vẻ thích đứa con gái nào chưa?"

"Con mới mười hai tuổi," Lucy nói, có phần cục cằn.

"Thế cũng là lớn rồi," hắn nói.

"Chúa ơi, em không nghĩ là con mình đồng tính, đúng không?"

Cô muốn hất rượu vào mặt Michael, và đi khỏi đây.

Nhưng thay vào đó cô nói, "Ai biết được?

Không có dấu hiệu gì cả.

Nhưng em nói rồi đấy, con chưa có hứng thú gì với mấy chuyện đó lắm.

À mà," cô đổi chủ đề, "chắc em nên quay vào trong làm nốt chỗ panzanella.

Để cho nó ngấm trước khi chúng ta ăn."

Cô đứng dậy.

Hắn cũng đứng dậy và nói, "Thế chắc giờ anh mang thịt đi nướng là vừa."

Cô tiến vào bếp, nhưng trước khi cô kịp quay lưng đi, hắn nắm lấy tay cô và xoay cô về phía hắn.

Cô thấy mắt hắn

đang mơ màng, và hắn bắt đầu mất tập trung, dù giờ mới chỉ một rưỡi chiều.

Hắn đặt tay lên hông cô và kéo cô sát lại gần.

Rồi hắn vén tóc cô lên, cúi sát vào tai cô thì thầm, "Đáng lẽ anh không nên để em đi."

Môi hắn lướt nhẹ qua môi cô, sau đó hắn vỗ mông cô rồi nhìn cô đi vàotrong bếp.
 
Gia Đình Lầu Trên
26


Ít lâu sau khi mẹ tôi nói với tôi rằng David bảo chúng tôi phải quyên góp tiền cho các quỹ từ thiện, và rằng ông ta sẽ ở với chúng tôi mãi mãi, tôi thấy ông ta hôn Birdie.

Tôi cảm thấy thật kinh tởm, ở nhiều cấp độ.

Thứ nhất, như bạn đã biết, tôi thấy Birdie xấu kinh khủng.

Chỉ cần nghĩ đến cảnh đôi môi mỏng dính của cô ta gán vào cái miệng rộng ngoác của David, rồi cảnh tay David đặt lên cái hông xương xẩu của Birdie, cảnh cái lưỡi gớm ghiếc của Birdie lùa lưỡi của David trong cái động ẩm ướt là hai cái miệng họ.

Oẹ.

Thứ hai, tôi là người theo chủ nghĩa truyền thống, và chuyện ngoại tình khiến tôi sốc đến tận tâm can.

Và thứ ba: thú thật, ngay lúc đó tôi không nhận ra điều tồi tệ thứ ba là gì.

Bởi vì không phải hệ lụy nào của những gì tôi vừa vô tình nhìn thấy cũng là hiển nhiên.

Nhưng chắc chắn tôi đã cảm thấy có một nỗi sợ hãi chạy dọc sống lưng mình, khi tôi thấy cảnh David và Birdie đến với nhau.

Giác quan thứ sáu của tôi mách bảo rằng ở bên nhau họ sẽ lộ ra những bản chất mà đáng lẽ ra họ nên chôn vùi.

Chuyện xảy ra vào một buổi sáng thứ Bảy.

Hôm đó Sally đi vắng; cô ta có buổi chụp hình cho một phim trường ở đâu đó.

Justin cũng đi ra chợ dựng quầy hàng để chuẩn bị bán thảo dược.

Mẹ tôi và cha tôi lúc ấy đang ngồi trong vườn đọc báo và uống trà, cả hai vẫn còn mặc đồ ngủ.

Tôi ngủ dậy vào lúc tám giờ ba mươi, khá muộn so với mọi ngày.

Tôi vẫn là người hay dậy sớm; hiếm có khi nào chín giờ mà tôi chưa lên giường đi ngủ, ngay cả khi tôi bước sang tuổi thiếu niên.

Lúc nhìn thấy họ quấn vào nhau trước cửa phòng David, tôi vẫn còn hơi ngái ngủ.

Cô ta mặc chiếc váy ngủ vải xô.

Ông ta mặc áo chùng cotton màu đen, quanh eo quấn thắt lưng.

Chân cô ta bị kẹp giữa hai đầu gối ông ta.

Hai háng họ ép lại với nhau.

Ông ta đặt tay lên cái cổ họng nhợt nhạt, đầy nốt ruồi của cô ta.

Cô ta đặt tay lên mông trái của ông ta.

Tôi lui về phòng ngay lập tức, tim đập mạnh, dạ dày tôi lộn tùng phèo lên hết cả.

Tôi đặt cả hai tay lên cổ họng, cố nén cơn buồn nôn và cảm giác kinh hoàng.

Tôi thì thào hai tiếng chết tiệt.

Rồi tôi nói chết tiệt thêm lần nữa, lần này đàng hoàng hơn.

Một lúc sau tôi mở hé cửa ra nhìn và họ đã đi mất.

Tôi không biết phải làm gì.

Tôi cần phải nói cho ai đó biết; tôi cần phải kể chuyện này với Phin.

Phin vén những lọn tóc vàng ra khỏi mặt.

Thật lạ là qua tuổi dậy thì cậu ấy còn đẹp trai hơn nữa.

Cậu ấy mới chỉ mười bốn tuổi mà đã cao đến một mét tám mươi hai.

Và nếu tôi không nhầm, thì cậu ấy không hề có tí mụn trứng cá nào.

Nếu cậu ấy có thì tôi đã thấy rồi, vì ngắm gương mặt cậu ấy gần như đã trở thành thú vui của tôi.

"Tớ cần nói chuyện với cậu," tôi rít vào mặt cậu gấp gáp.

"Có một chuyện rất, rất quan trọng."

Chúng tôi đi bộ ra cuối khu vườn, đến chỗ cái băng ghế uốn lượn đang đắm mình trong nắng mai.

Dưới hàng cây xum xuê đầy lá và hoa, không ai từ trong nhà có thể nhìn thấy chúng tôi.

Chúng tôi quay mặt vào nhau.

"Tớ vừa chứng kiến một cảnh," tôi nói.

"Một cảnh rất, rất kinh khủng."

Phin nheo mắt nhìn tôi.

Tôi đoán chắc là cậu ấy lại đang nghĩ tôi chuẩn bị nói tôi thấy con mèo liếm đĩa bơ, hay cái gì đó trẻ con và ngớ ngẩn tương tự như thế.

Tôi đoán chắc là cậu không tin tôi có thể truyền đạt một thông tin gì đó thực sự gây sốc.

"Tớ thấy cha cậu.

Và Birdie..."

Nét mặt thiếu kiên nhẫn của cậu bỗng chốc thay đổi, và cậu nhìn tôi đầy cảnh giác.

"Họ đi ra từ phòng của Birdie và Justin.

Và họ đã hôn nhau."

Cậu khẽ giật mình trước những lời tôi vừa nói.

Tôi vừa gây ra được một tác động gì đó.

Cuối cùng, sau hai năm liền, Phin đã phải thực sự nhìn vào mắt tôi.

Tôi thấy cơ hàm của Phin co giật.

"Mẹ kiếp, cậu đang đùa tớ phải không?"

Cậu hỏi, giọng như đang gầm lên.

Tôi lắc đầu.

"Tớ thề," tôi nói.

"Tớ chứng kiến tận mắt.

Vừa mới đây thôi.

Khoảng hai mươi phút trước.

Tớ thề."

Tôi thấy mắt Phin ngấn nước, nhưng rồi tôi lại thấy cậu cố nuốt nước mắt lại.

Nhiều người nói với tôi rằng tôi không biết đồng cảm với người khác.

Có lẽ đúng.

Tôi không hề nghĩ đến việc nghe tin này Phin có thể sẽ cảm thấy buồn.

Sốc.

Có.

Thấy bị xúc phạm.

Thấy kinh

tởm.

Nhưng buồn thì tôi chắc là không.

"Tớ xin lỗi," tôi nói.

"Tớ chỉ..."

Cậu lắc đầu.

Mái tóc vàng tuyệt đẹp của cậu rũ xuống mặt và rồi rẽ ra hai hướng, để lộ ra nét mặt buồn rầu, cố tỏ ra mạnh mẽ đến não lòng.

"Không sao đâu," cậu nói.

"Tớ mừng là cậu đã kể cho tớ nghe."

Cả hai chúng tôi im lặng.

Tôi không biết phải làm gì.

Mọi sự chú ý của Phin đều dồn về tôi.

Nhưng tôi đã làm tổn thương cậu ấy.

Tôi nhìn đôi bàn tay to, rám nắng của cậu đan vào nhau đặt trên đùi, tôi muốn cầm tay cậu lên và vuốt ve, rồi đặt tay cậu vào môi mình mà hôn, để giúp cậu quên đi những nỗi đau.

Tôi cảm thấy ham muốn xác thịt từ sâu thẳm trong tôi bỗng nhiên trỗi dậy, khiến cho tôi khao khát cậu đến đau đớn, quằn quại.

Tôi vội quay mặt đi, chuyển ánh nhìn từ tay cậu xuống khoảng trống giữa hai đôi bàn chân trần của mình dưới đất.

"Cậu có định nói với mẹ cậu không?" cuối cùng tôi hỏi.

Phin lắc đầu.

Tóc cậu lại rủ xuống và che đi khuôn mặt cậu, không để cho tôi thấy.

"Bà ấy sẽ chết mất," Phin đáp.

Tôi gật đầu, như thể tôi biết ý cậu là gì.

Nhưng thú thật là tôi chẳng biết gì cả.

Tôi mới mười ba tuổi.

Mà tôi cũng chỉ vừa bước sang tuổi mười ba thôi.

Tôi kinh tởm khi thấy David và Birdie mặc quần áo ngủ hôn nhau say đắm.

Tôi biết một người đàn ông đã có vợ hôn người phụ nữ khác không phải vợ của mình là sai.

Nhưng ngoại trừ những cảm giác trên, tôi không thể suy luận thêm điều gì.

Tôi không thể tưởng tượng nổi nếu biết chuyện ấy, những người

khác sẽ cảm thấy thế nào.

Tôi cũng không hiểu tại sao Sally lại muốn chết khi biết chồng bà ta hôn Birdie.

"Thế cậu có định kể cho em gái cậu nghe không?"

"Tớ đếch kể cho ai hết," Phin gắt lên.

"Lạy Chúa.

Và cậu cũng thế.

Nghiêm túc đấy.

Đừng kể cho ai hết.

Đừng kể cho ai trừ khi tớ bảo cậu, được không?"

Tôi gật đầu thêm lần nữa.

Việc này vượt quá khả năng giải quyết của tôi, và tôi vui vẻ làm theo sự dẫn dắt của Phin.

Tôi cảm thấy khoảnh khắc đó như đang rớt ra khỏi đầu tôi.

Tôi dám chắc Phin chuẩn bị đứng lên và đi vào trong nhà, và chắc cậu sẽ chẳng bảo tôi đi cùng đâu, tôi sẽ bị bỏ lại đây một mình, trên cái băng ghế này, nhìn về phía sau ngôi nhà, trong khi lòng tôi vẫn rối tung lên như mớ bòng bong, tất cả những nhu cầu, những ham muốn, những khao khát còn đang nóng hổi.

Và tôi biết, dù chuyện mới chỉ xảy ra cách đây ít phút thôi, chúng tôi sẽ phải quay trở lại trạng thái bình thường, quay trở lại với cung cách lịch sự kín đáo của cả hai.

"Hôm nay mình đi đâu chơi đi," tôi nói không kịp thở.

"Làm cái gì đấy."

Phin quay lại nhìn tôi.

Cậu ta nói, "Cậu có tiền không?"

"Không.

Nhưng tớ có thể kiếm được một ít."

"Tớ cũng có thể kiếm được một ít," cậu nói.

"Tớ gặp cậu ở sảnh lúc mười giờ nhé."

Sau đó Phin đứng dậy và bỏ đi.

Tôi nhìn cậu ấy đi, nhìn cột sống cậu nổi lên dưới áo phông, nhìn cả bờ vai rộng và đôi bàn chân to

của cậu chạm xuống dưới đất, và cái đầu xinh đẹp nhưng cũng không kém phần bi kịch treo trên cổ cậu.

Tôi tìm thấy một nắm xu trong túi chiếc áo hiệu Barbour của cha tôi.

Tôi lấy hai bảng từ trong ví của mẹ tôi.

Tôi chải tóc mái và khoác chiếc áo khoác thể thao kéo khóa mà mấy tuần trước mẹ mua cho tôi từ một tiệm bán đồ giá rẻ trên đường Oxford, và cái áo này đẹp hơn những thứ tôi có từ gấp cả trăm lần.

Phin ngồi trên cái ngai vàng ở dưới chân cầu thang với một quyển sách bìa mềm trong tay.

Tới tận ngày hôm nay, đây vẫn là hình ảnh mà tôi luôn nhớ về Phin—ngoại trừ trong trí tưởng tượng của tôi, cậu ấy hạ quyển sách xuống, ngước mắt lên nhìn tôi, đôi mắt cậu sáng rực lên khi thấy tôi, và cậu ấy mỉm cười.

Thực tế là cậu ấy còn chẳng buồn quan tâm đến sự có mặt của tôi.

Phin chậm rãi đứng dậy, rồi thoáng nhìn quanh nhà.

"An toàn rồi, đi thôi."

Cậu chỉ tay ra hiệu cho tôi đi theo cậu ra cửa chính.

"Mình đi đâu thế?"

Tôi hỏi, vừa đuổi theo cậu vừa thở hổn hển.

Tôi nhìn cậu giơ tay lên bắt taxi và ra đứng ở lề đường.

Một chiếc taxi dừng lại và chúng tôi nhảy vào.

Tôi nói, "Tớ không có đủ tiền trả taxi.

Tớ có mỗi hai bảng và năm mươi xu thôi."

"Đừng lo," cậu ấy đáp lạnh lùng.

Cậu rút từ trong túi một cuộn giấy bạc đầy những tờ mười bảng Anh, và nhướng mày với tôi.

"Chúa ơi!

Cậu lấy ở đâu ra thế?"

"Từ quỹ đen của cha tớ."

"Cha cậu có quỹ đen á?"

"Đúng vậy.

Ông ấy nghĩ không ai biết cả.

Nhưng tớ biết mọi thứ."

"Vậy ông ấy có phát hiện ra không?"

"Có thể có," cậu nói.

"Mà cũng có thể không.

Nhưng mà có thế đi chăng nữa ông ấy cũng chẳng có cách nào tìm ra ai đã lấy cả."

Xe taxi thả chúng tôi trên đường Kensington.

Tôi ngước lên nhìn tòa nhà trước mặt chúng tôi: một mặt tiền dài, với hàng chục cửa sổ hình vòm ở trên dòng chữ "CHỢ KENSINGTON" bằng đồng.

Tôi nghe thấy tiếng nhạc phát ra từ cửa ra vào, thứ ầm ĩ, náo loạn.

Tôi đi theo Phin vào bên trong, và tôi kinh hãi khi thấy những hành lang quanh co, nối liền nhau như những cái hang thỏ, mỗi hành lang lại có một vài quầy bán đồ nho nhỏ, ở trước mặt tiền là những người đàn ông mặt lạnh, và những người phụ nữ tóc nhuộm đủ bảy sắc cầu vồng, mắt viền đen, mặc đồ da rách te tua, môi trắng bệch, áo voan cắt tua rua, quần tất lưới, khuyên tai, giày đế xuồng, khuyên mũi, khuyên mặt, xích cổ chó, tóc vuốt ngược ra đằng sau, rèm che, váy lót lưới, oxy già, vải kẻ ca rô màu hồng, bốt cao cổ đến tận bắp đùi bằng nhựa tổng hợp, bốt cổ ngắn, áo khoác bóng chày, râu quai nón, tóc phồng tổ ong, váy dạ hội, môi đen, môi đỏ, kẹo cao su, người ăn bánh cuộn thịt xông khói, người uống trà từ những chiếc cốc hoa lá, ngón út sơn đen giơ lên, người ôm một con chồn sương đeo xích da đính đá.

Mỗi quầy hàng lại bật một thứ nhạc của riêng mình; vì thế mỗi lần đi từ quầy này sang quầy khác là chúng tôi lại được chuyển kênh, cảm giác như đang nghe nhạc trên sóng radio vậy.

Vừa đi Phin vừa giơ tay ra sờ nắm thử những món hàng: nào là chiếc áo khoác bóng chày cổ điển, chiếc áo phông bowling bằng lụa với chữ "Billy" thêu ở

sau lưng, một cái giá đựng đĩa than, chiếc thắt lưng bằng da đính đá.

Tôi không chạm vào cái gì cả.

Tôi sợ chết khiếp.

Hương trầm bay sang từ cửa hàng nhỏ tiếp theo mà chúng tôi đi qua.

Người phụ nữ ngồi bên ngoài trên chiếc ghế đẩu, da trắng, tóc bạc trắng, ngước lên nhìn tôi trong chốc lát với đôi mắt màu xanh băng giá và tôi ôm chặt lấy trái tim mình.

Cửa hàng tiếp theo có một người phụ nữ đang ngồi bế con.

Tôi không thể tưởng tượng nổi đây lại là nơi thích hợp cho trẻ con.

Chúng tôi dành cả tiếng đồng hồ đi lang thang khắp các ngóc ngách của cái chốn kỳ lạ này.

Chúng tôi mua bánh cuộn thịt xông khói và hai tách trà đậm đặc từ một quán cà phê quái dị ở tầng trên cùng và ngắm mọi người đi qua đi lại.

Phin mua cho mình một chiếc khăn trắng đen, loại mà những người đàn ông ở sa mạc Sahara vẫn hay đội, và mấy đĩa than nhạc mà tôi chưa nghe đến bao giờ.

Cậu ấy cố thuyết phục tôi để cậu ấy mua cho tôi chiếc áo phông màu đen in hình rắn rết và dao kiếm ở trên.

Tôi từ chối, mặc dù một phần nào đó trong tôi cũng cảm thấy thích nó.

Cậu ấy thử một đôi giày da lộn màu xanh với đế cao su dày mà cậu gọi là giày nhà thổ.

Cậu ngắm mình trong chiếc gương soi toàn thân, tay vén lọn tóc xoăn ra khỏi mặt, và vuốt ngược nó ra đằng sau, biến mình thành chàng thơ của những năm 1950, hao hao giữa và

Tôi mua cho mình một chiếc cà vạt dây có cái đầu cừu bằng bạc.

Hai bảng tất cả.

Nó được thả vào trong chiếc túi giấy bởi một người đàn ông trông như cao bồi cuồng nhạc rock.

Một tiếng sau, chúng tôi trở về với trạng thái bình thường của buổi sáng thứ Bảy, của những gia đình đi mua sắm, của những người lên xuống xe buýt.

Chúng tôi đi bộ khoảng một dặm đến công viên Hyde Park, rồi tìm một băng ghế và ngồi xuống.

"Nhìn này," Phin nói, mở lòng bàn tay phải ra cho tôi xem.

Tôi nhìn vào và thấy chiếc túi nhỏ trong suốt nhàu nát.

Bên trong có hai miếng giấy nhỏ xíu hình vuông.

"Cái gì thế?"

Tôi hỏi.

"Axít đấy," Phin trả lời.

Tôi không hiểu.

"" cậu nói.

Tôi đã từng nghe tới LSD.

Nó là một loại thuốc, có liên quan gì đó đến dân hippi và những thứ gây ra ảo giác.

Mắt tôi mở to.

"Cái gì cơ?

Nhưng làm thế nào cậu...?

Mà tại sao?"

"Cái gã ở cửa hàng bán băng đĩa ấy.

Hắn bảo với tớ là hắn có hàng.

Tớ còn chẳng phải hỏi.

Chắc hắn nghĩ tớ già hơn tuổi thật."

Tôi nhìn chằm chằm vào những mảnh giấy hình vuông bé tí xíu trong cái túi cũng bé tí xíu nốt.

Đầu óc tôi quay cuồng, mải mê suy nghĩ về những hệ lụy.

"Cậu không định...?"

"Không.

Ít nhất không phải hôm nay.

Nhưng có thể một lúc nào khác?

Khi chúng mình ở nhà.

Cậu muốn thử chứ?"

Tôi gật đầu.

Tôi sẵn sàng thử cái gì cũng được, miễn là điều đó cho tôi thêm thời gian để được ở bên Phin.

Phin mua sandwich cho cả hai đứa ở một khách sạn sang trọng

nhìn ra công viên.

Chúng được bày trên đĩa có viền bạc, cộng thêm một con dao và một cái dĩa.

Chúng tôi ngồi cạnh khung cửa sổ vòm cao và tôi tự hỏi không biết từ ngoài nhìn vào trông chúng tôi như thế nào: một anh chàng cao ráo, đẹp trai, nhìn nửa người lớn, mà cũng nửa trẻ con, đi cùng một người bạn có khuôn mặt bé tí, non choẹt, mặc chiếc áo khoác thể thao nhăn nhúm.

"Cậu nghĩ mấy người lớn ở nhà đang làm gì?"

Tôi hỏi.

"Tớ đếch quan tâm," Phin nói.

"Nhỡ họ gọi cảnh sát thì sao?"

"Tớ có để lại lời nhắn rồi."

"Ồ vậy hả," tôi nói, ngạc nhiên trước hành động ngoan ngoãn này.

"Cậu viết gì?"

"Tớ viết con và Henry đi ra ngoài chơi, một lát sau chúng con về."

Con và Henry.

Trái tim tôi lỡ một nhịp.

"Kể cho tớ nghe chuyện gì đã xảy ra ở Bretagne đi?"

Tôi hỏi.

"Tại sao nhà cậu lại chuyển đi?"

Phin lắc đầu.

"Cậu không muốn biết đâu."

"Không, tớ muốn biết mà.

Chuyện gì đã xảy ra?"

Cậu thở dài.

"Tại cha tớ.

Ông ấy lấy đồ không phải của mình.

Rồi ông ấy phân bua, như cậu cũng biết đấy, ôi, tôi tưởng đáng lẽ ra chúng ta chia sẻ mọi thứ với nhau chứ, nhưng đây là một vật gia truyền.

Đáng giá khoảng một nghìn bảng Anh.

Ông ấy đem lên thành phố bán, rồi giả vờ là ông ấy thấy có người lẻn vào trong nhà và ăn trộm nó.

Tiền bán được ông mang giấu đi.

Người cha trong gia đình ấy phát hiện ra qua lời người ta truyền tai nhau.

Lanh tanh

bành lên hết cả.

Ngay ngày hôm sau gia đình tớ bị tống cổ ra khỏi nhà."

Cậu nhún vai.

"Còn mấy chuyện khác nữa.

Nhưng đó là lý do chính."

Tôi bỗng hiểu tại sao cậu lại không cảm thấy tội lỗi khi ăn trộm tiền của cha mình.

David tuyên bố là ông ta kiếm được rất nhiều tiền từ mấy lớp thể dục, nhưng thực sự, ông ấy kiếm được bao nhiêu tiền từ việc dạy mấy học viên hippi trong hội trường nhà thờ hai lần một tuần cơ chứ?

Có lẽ nào ông ta cũng đã bán thứ gì đó mà nhà chúng tôi không biết không?

Ông ta đã tẩy não mẹ tôi, để mẹ tôi cho ông ta quản lý tài chính của gia đình tôi.

Có khi ông ta đang rút tiền trực tiếp từ tài khoản ngân hàng của chúng tôi cũng nên.

Hoặc có khi đó là tiền mà mẹ tôi vẫn nghĩ ông ấy mang đi ủng hộ cho các quỹ từ thiện để giúp đỡ người nghèo.

Tất cả những hoài nghi mơ hồ của tôi về David Thomsen bắt đầu liên kết lại thành một thứ gì đó rõ rành rành và có thật.

"Cậu có thích cha cậu không?"

Tôi hỏi, tay loay hoay với cọng cải xoong ở trên đĩa.

"Không," cậu ấy trả lời ngắn gọn.

"Tớ khinh bỉ ông ta."

Tôi gật đầu, cảm thấy yên tâm.

"Thế còn cậu thì sao?"

Phin hỏi.

"Cậu có thích cha cậu không?"

"Cha tớ nhu nhược lắm," tôi trả lời, trong lòng biết rõ điều này là đúng.

"Đàn ông ai cũng nhu nhược cả," Phin nói.

"Đó chính là cốt lõi của mọi rắc rối trên thế giới này.

Vì nhu nhược nên mới không biết yêu

thương đúng cách.

Vì nhu nhược nên mới không dám nhận là mình sai."

Tôi nghẹt thở trước sức mạnh của lời tuyên bố này.

Và ngay lập tức tôi biết đây là điều đúng đắn nhất từ trước đến nay mà tôi từng được nghe.

Sự nhu nhược của đàn ông là gốc rễ của mọi điều tồi tệ.

Tôi nhìn Phin lấy hai tờ mười bảng ra từ trong cuộn tiền của cậu ấy để trả cho hai cái bánh sandwich đắt đỏ.

"Tớ rất xin lỗi nhưng tớ không có tiền để trả lại cho cậu," tôi nói.

Cậu lắc đầu.

"Cha tớ sẽ lấy đi tất cả những gì cậu có và làm đời cậu tan nát.

Đây là điều tối thiểu mà tớ có thể làm cho cậu."
 
Gia Đình Lầu Trên
27


Libby, Dido và Miller khóa cửa nhà lại và đi đến một quán rượu.

Đó chính là quán rượu mà Libby thấy từ trên mái nhà.

Lúc này quán đông nghịt, nhưng họ tìm được một cái bàn cao trong vườn bia và kéo thêm được hai cái ghế từ mấy bàn khác.

"Hai người nghĩ đó là ai?"

Dido nói, tay lấy ống hút khuấy ly gin pha với tonic.

Miller trả lời, "Không phải một ai đó vô gia cư.

Ở đấy không có đủ đồ.

Hai cô biết đấy.

Nếu anh ta thực sự sống ở đó, thì sẽ phải có nhiều thứ hơn."

"Vậy anh nghĩ người đó chỉ thỉnh thoảng mới qua à?"

Libby nói.

"Tôi đoán là như thế."

"Và vậy là đã có ai đó ở đấy khi tôi đến hôm thứ Bảy?"

"Tôi cũng đoán thế."

Libby rùng mình.

"Cô xem," Miller nói, "đây là những gì tôi nghĩ.

Ngày cô sinh rơi vào khoảng tháng Sáu năm 1993?"

"Mười chín tháng Sáu."

Cô thấy ớn lạnh khi cô nói ra ngày sinh của mình.

Làm sao có ai biết được?

Nhiều khi là bịa đặt cũng nên.

Có phải cán bộ công tác xã hội đã nghĩ ra ngày sinh cho cô không?

Hay mẹ nuôi cô?

Cô cảm thấy những gì cô vẫn cho là chắc chắn bắt đầu trượt khỏi tay mình.

"Đúng rồi.

Vậy anh chị cô sẽ phải biết ngày sinh nhật của cô, vì lúc cô ra đời họ cũng là thanh thiếu niên cả rồi.

Và nếu họ biết là căn nhà được ủy thác cho cô khi cô tròn hai mươi lăm tuổi, thì có khả năng họ muốn quay lại căn nhà đấy.

Để gặp cô..."

Libby thở gấp.

"Ý anh là, anh nghĩ đó có thể là anh trai tôi?"

"Đúng, tôi nghĩ đó có thể là Henry."

"Nhưng nếu anh ấy biết đó là tôi, và anh ấy đã ở đấy, trong cùng một nhà, thì tại sao anh ấy lại không xuống để gặp tôi?"

"Chuyện đó thì tôi không biết."

Libby nâng ly rượu lên, định đặt lên môi, rồi lại đặt xuống.

"Không," cô nói dứt khoát.

"Không hợp lý chút nào."

"Có thể anh ấy không muốn làm em sợ?"

Dido gợi ý.

"Anh ấy đã có thể để lại giấy nhắn cho em?" cô nói.

"Anh ấy có thể liên hệ với văn phòng luật sư và nhờ họ nhắn là anh ấy muốn gặp em?

Nhưng thay vào đó, anh ấy lại trốn trên gác mái như một kẻ lập dị."

"Cũng có thể anh ấy lập dị thật thì sao?"

Dido nói.

"Anh có thêm thông tin gì về anh ấy không?"

Libby hỏi Miller.

"Ngoài việc anh ấy là anh trai tôi ra?"

"Thực sự là cũng không có gì," Miller nói.

"Tôi biết anh ấy học ở

trường Portman House School từ lúc anh ấy mới lên ba cho đến năm anh ấy mười một tuổi.

Giáo viên nói anh ấy là một cậu bé thông minh, nhưng hơi kiêu ngạo.

Anh ấy không thực sự có ai là bạn.

Và năm 1988 anh ấy chuyển đi, được trường St.

Xavier's College ở Kensington mời học nhưng cuối cùng lại không đi.

Và đó là lần cuối người ta nghe tin về anh ấy."

"Tôi không hiểu nổi," Libby nói.

"Ẩn náu trong nhà, chui vào trong đường hầm, rồi lách qua cả bụi rậm, trốn ở trên nhà, trong khi anh ấy biết tôi đang ở dưới nhà.

Anh có chắc đó là Henry không?"

"Ồ, không, tất nhiên là không rồi.

Nhưng có ai mà biết cô sẽ ở đó nữa nhỉ?

Ai mà lại biết cách lẻn vào trong nhà?"

"Một trong những người khách sống ở nhà của cha mẹ tôi," cô nói.

"Có thểđó là một trong số họ."
 
Gia Đình Lầu Trên
28


Lucy xem giờ trên điện thoại trong lúc Michael bị xao lãng bởi một con ong bắp cày đang vo ve trên đĩa của hắn.

Hắn cố phủi phủi cái khăn giấy đuổi nó đi, nhưng nó cứ quanh quẩn ở đó.

Đã gần ba giờ chiều rồi.

Cô muốn về lúc bốn giờ.

Cô cần mấy cuốn hộ chiếu, nhưng cô cũng biết là bây giờ cô mà hỏi đến chúng thì cô sẽ phải lên giường với Michael sớm thôi.

Cô bắt đầu dọn gọn đĩa lại.

"Đây," cô nói, "mình mang mấy thứ này vào bên trong đi, như thế thì mấy anh bạn phiền phức này sẽ không tới thăm nữa."

Mắt hắn đờ ra, còn miệng hắn thì mỉm cười biết ơn.

"Đúng," hắn nói.

"Ý hay đấy, với cả mình nên pha thêm cà phê nữa."

Cô đi vào trong bếp trước và bắt đầu cho bát đĩa vào máy rửa chén.

Hắn cho hạt cà phê vào trong máy xay, mắt vẫn không rời cô nửa bước.

"Em vẫn giữ được dáng đấy, Luce," hắn nói.

"Không tệ tí nào với một bà mẹ bốn mươi tuổi, một nách hai con."

"Ba mươi chín."

Cô cười mỉm, đoạn cho hai cái dĩa vào rổ đựng dao kéo.

"Nhưng cảm ơn anh."

Bầu không khí giữa họ dần trở nên lúng túng, ngượng nghịu, có phần gắt gỏng.

Họ đã để những gì sắp xảy ra đợi quá lâu.

Họ uống quá nhiều, ăn quá nhiều, ngồi quá lâu trong bầu không khí uể oải của khu vườn.

Lucy nói, "Em sắp phải về với con."

"Ồ," Michael nói nhẹ bẫng, "Marco lớn rồi.

Nó trông em thêm tí nữa cũng được."

"Dạ, vâng, nhưng Stella hay cảm thấy bất an khi không có em bên cạnh."

Cô thấy quai hàm hắn hơi giật giật.

Michael không thích nghe về sự yếu đuối của người khác.

Hắn ghét cay ghét đắng.

"Vậy thì," hắn vừa nói vừa thở dài, "anh đoán là giờ em muốn lấy hộ chiếu đúng không?"

"Vâng, nếu anh không phiền."

Tim cô lúc này đang đập thình thịch trong lồng ngực, mạnh đến nỗi cô có thể cảm nhận được nó từ tận trong ống tai mình.

Hắn nghiêng đầu và mỉm cười với cô.

"Nhưng em đừng đi ngay vội?

Được không?"

Hắn đi vào phòng làm việc và cô nghe thấy tiếng hắn mở đóng ngăn kéo.

Một lúc sau, hắn quay trở lại, tay cầm mấy cuốn hộ chiếu đựng trong cái túi dây rút bằng nỉ.

Hắn vẫy vẫy nó trước mặt cô.

"Anh là người biết giữ chữ tín," hắn nói, chậm rãi tiến về phía cô, mắt nhìn cô, tay đung đưa cái túi nỉ.

Cô không hiểu nổi hắn đang làm gì.

Hắn muốn cô giật cái túi từ tay hắn sao?

Hay muốn cô phải đuổi theo hắn?

Hắn muốn cái gì thế vậy?

Cô mỉm cười lo lắng.

"Cảm ơn anh," cô nói.

Và rồi hắn đứng sát vào cô, ép đáy lưng cô vào quầy bếp, tay vẫn nắm chặt cái túi nỉ, miệng hắn tiến dần đến cổ cô.

Cô cảm nhận được môi hắn đặt trên cổ họng mình.

Cô nghe thấy tiếng hắn rên rỉ.

"Ôi, Lucy, Lucy, Lucy," hắn nói.

"Chúa ơi, người em thơm quá.

Và em..."

Hắn áp cơ thể hắn lên cô.

"Em ngon quá.

Em thật là..."

Hắn tiếp tục rên rỉ, miệng hắn tìm miệng cô, và cô đáp lại nụ hôn của hắn.

Đây chính là lý do tại sao cô có mặt ở đây.

Cô đến đây để đụ Michael, và giờ cô chuẩn bị phải đụ Michael, cô đã từng đụ hắn rồi và cô có thể đụ hắn lại lần nữa, cô có thể, nhất là khi cô cố nghĩ hắn là Ahmed, hay chỉ là một người lạ thôi cũng được, đúng vậy, cô có thể làm được, cô có thể làm được.

Cô để lưỡi hắn trôi vào trong miệng mình và cô cố nhắm mắt thật chặt, thật chặt, thật chặt.

Tay hắn đang đẩy cô từ phía sau, bế cô lên trên quầy bếp, rồi hắn kéo chân cô và quấn chân cô quanh người hắn, tay hắn nắm chặt lấy cổ chân cô, đủ mạnh để khiến cô nhăn mặt, nhưng cô không thể dừng lại, cô vẫn sẽ phải tiếp tục, vì đây chính là lý do tại sao cô đến đây.

Sau lưng họ là tiếng máy pha cà phê sôi sùng sục đang rít lên.

Cô làm đổ một cái ly rỗng và nó lăn sang phía bên kia quầy, đập vào cái bình đun nước, và vỡ ra từng mảnh.

Cô cố di chuyển tay mình ra khỏi những mảnh thủy tinh, nhưng Michael vẫn cứ đẩy cô về phía cái ly vỡ, tay hắn ấn vào váy cô để tìm cạp quần lót.

Cô cố đẩy người ra khỏi quầy bếp, nhưng cô không muốn dừng cái đà này lại, cô muốn làm cho xong, để cô có thể kéo quần lên, lấy hộ chiếu và về nhà với con.

Cô cố tập trung giúp hắn cởi đồ lót của cô ra, nhưng cô cảm thấy một mảnh thủy

tinh dưới thắt lưng đang ép vào da thịt cô.

Cô lại cố đẩy người ra khỏi quầy bếp, và lần này Michael đột ngột buông cô ra và nói, "Đồ chó đẻ, mày đừng vặn vẹo nữa được không?

Mẹ kiếp," rồi hắn đè lên người cô, và cô cảm nhận được miếng thủy tinh xuyên qua da mình.

Cô ngồi bật dậy và hét lên vì đau.

"Cái quái gì nữa thế?

Mẹ kiếp!"

Gần như trong một thước phim quay chậm, cô thấy bàn tay hắn đang di chuyển tới mặt cô, và cô thấy hai hàm răng mình rung lên, còn não cô thì đập vào sọ.

Hắn đánh cô.

Và giờ dòng máu ấm chảy ra từ dưới thắt lưng cô.

"Em bị đau," cô nói.

"Nhìn này, ở đây có mảnh thủy tinh và..."

Nhưng hắn không thèm đếm xỉa gì đến những lời cô nói.

Ngược lại, hắn lại ép cô xuống quầy bếp, những mảnh thủy tinh đâm xuyên qua da thịt cô, hắn ấn mình vào bên trong cô, và tay hắn bịt miệng cô lại.

Cô không thể để chuyện xảy ra như thế này được.

Đáng lẽ ra cô đã để cho hắn làm.

Nhưng đó phải là sự đồng thuận của cả hai bên.

Nhưng giờ cô đã bị thương, và máu cô đã chảy, cô ngửi thấy mùi thịt cháy sém ở trên tay hắn, thấy sự giận dữ trống rỗng ở trên mặt hắn, và cô chỉ muốn mấy cuốn hộ chiếu mà thôi, mấy cuốn hộ chiếu chết tiệt, và cô không muốn làm chuyện này, rồi cô lần tay tìm con dao; đó là con dao cô dùng để thái cà chua, con dao bổ đôi quả cà chua nhẹ tênh như cắt một lát bơ, và nó đây rồi, trong tay cô, ngay lúc này, cô cắm thẳng nó vào người Michael, vào khoảng trống ngay dưới đường viền áo phông của hắn, vào phần da thịt trắng, mong manh, mềm mại như da em bé của hắn, và con dao ấy xuyên qua người hắn ngọt đến nỗi cô không nhận ra nổi là cô vừa mới đâm

Michael.

Cô thấy mắt hắn tối sầm lại trong chốc lát vì bối rối, nhưng rồi lại sáng lên khi hắn hiểu được chuyện gì vừa mới xảy ra.

Hắn rút ra khỏi người cô và loạng choạng lùi về phía sau.

Hắn nhìn xuống dòng máu đang phun ra từ cái lỗ nhỏ ở bên hông hắn và cố lấy tay đậy lại, nhưng máu vẫn tiếp tục tuôn ra.

"Ôi Chúa ơi, chết mẹ rồi, Luce.

Em đã làm cái quái gì thế này?"

Hắn nhìn cô với đôi mắt mở to, kinh hãi.

"Cứu anh.

Mẹ kiếp."

Cô tìm lấy cái khăn lau bát và đưa cho hắn.

"Giữ chặt lấy," cô vừa nói vừa thở hổn hển, "ấn vào chỗ kia đi."

Hắn lấy cái khăn và ấn vào bên hông, nhưng rồi cô thấy chân hắn oằn lại và hắn ngã xuống sàn.

Cô cố giúp hắn thêm lần nữa nhưng hắn đuổi cô đi.

Trong giây lát Lucy bỗng nhận ra Michael đang hấp hối.

Cô tính đến chuyện gọi cứu thương.

Cô tưởng tượng ra cảnh họ ở đây, hỏi cô chuyện gì đã xảy ra.

Cô sẽ nói với họ là hắn đã hiếp cô.

Cô có bằng chứng.

Những mảnh thủy tinh vỡ vẫn còn đang cắm trên lưng cô sẽ là bằng chứng.

Sự thật là quần hắn vẫn đang tụt xuống tận mắt cá chân.

Đúng vậy, họ sẽ tin cô.

Họ sẽ tin cô.

"Em đang gọi cứu thương," cô nói với Michael.

Mắt hắn đăm đăm nhìn vào hư vô.

"Cố thở đi.

Cứ tiếp tục thở đi.

Em đang gọi đây."

Cô lấy điện thoại ra từ trong túi, ngón tay run cầm cập.

Cô bật điện thoại lên, và khi chuẩn bị bấm số điện thoại đầu tiên thì cô nhận ra một điều: có thể người ta sẽ tin cô, nhưng người ta sẽ không để cô đi.

Cô sẽ phải ở lại Pháp để trả lời câu hỏi chất vấn; cô sẽ phải thú nhận là cô ở đây bất hợp pháp, rằng cô không tồn tại, và họ sẽ mang con cô đi, và mọi thứ, tất cả mọi thứ sẽ được làm sáng

tỏ một cách nhanh chóng, tồi tệ, như một cơn ác mộng.

Ngón tay cô vẫn đặt trên màn hình điện thoại.

Cô nhìn xuống Michael.

Hắn ta đang run rẩy.

Máu từ bên hông hắn vẫn tuôn ra.

Cô thấy buồn nôn và phải quay mặt vào bồn rửa, thở dốc.

"Ôi Chúa ơi ôi Chúa ơi ôi Chúa ơi.

Ôi Chúa ơi ôi Chúa ơi ôi Chúa ơi."

Cô quay lại, nhìn vào màn hình điện thoại, rồi nhìn xuống Michael.

Cô không biết phải làm gì lúc này.

Và rồi cô thấy điều ấy xảy ra; cô thấy sự sống biến mất khỏi cơ thể Michael.

Cô từng nhìn thấy chuyện ấy trước đây.

Cô biết chuyện ấy trông như thế nào.

Michael đã chết.

"Ôi Chúa ơi.

Ôi Chúa ơi, ôi Chúa ơi."

Cô ngồi thụp xuống và vội vàng bắt mạch Michael.

Cô không thấy gì cả.

Cô bắt đầu nói với chính mình.

"Rồi," cô nói, đứng dậy.

"Rồi.

Giờ thì.

Có ai biết mày ở đây nhỉ?

Joy, rất có thể hắn đã nói với Joy.

Nhưng rất có thể hắn đã nói là Lucy Smith sẽ tới.

Đúng.

Lucy Smith.

Nhưng đó không phải là tên thật của mày và giờ mày cũng không phải là Lucy Smith.

Mày là..."

Tay cô run lên tìm cái túi nỉ và lấy đống hộ chiếu ra.

Cô giở trang cuối cùng và lần theo dòng chữ.

"Tôi là Marie Valerie Caron.

Tốt.

Tốt.

Tôi là Marie Caron.

Đúng vậy.

Lucy Smith không tồn tại.

Joy không biết mày sống ở đâu.

Nhưng..."

"Trường học!" cô nói.

"Michael biết Marco học ở đâu.

Nhưng hắn có nói cho Joy biết không?

Không.

Hắn chắc không nói với Joy đâu.

Chắc chắn là không.

Mà nếu hắn có nói đi chăng nữa, họ cũng chỉ biết Lucy Smith thôi, họ đâu biết Marie Caron.

Stella học trường

khác Marco và không ai ngoài chính mày và Samia biết trường Stella ở đâu.

Vậy còn mấy người làm hộ chiếu thì sao?

Không.

Họ ở đâu đó vùi sâu trong thế giới ngầm của tội phạm nên chắc chẳng có ai nghĩ ra mà tìm.

Còn bọn trẻ con: chúng biết mày ở đây, nhưng chúng sẽ không nói cho ai biết cả.

Tốt.

Ổn rồi."

Cô đi đi lại lại, vừa đi vừa lẩm bẩm một mình.

Rồi cô nhìn xuống xác Michael.

Cô có nên để thế không?

Để thế để sáng mai Joy còn tìm thấy hắn.

Hay cô nên di chuyển hắn đi đâu đó, rồi dọn sạch mọi thứ?

Giấu xác hắn đi?

Hắn là một gã to con.

Cô biết giấu hắn ở đâu bây giờ?

Cô sẽ không thể làm cái xác biến mất hoàn toàn được, nhưng có lẽ đủ lâu để cô đưa con sang được đến London.

Được, cô quyết định, được, nên như thế.

Cô sẽ dọn dẹp mọi thứ.

Cô sẽ giấu xác hắn xuống hầm rượu.

Cô sẽ tìm cái gì đấy để bọc xác hắn lại.

Ngày mai Joy đến bà ấy sẽ nghĩ chắc là hắn đi đâu.

Bà ấy sẽ không để ý cho đến khi xác hắn bốc mùi.

Tới lúc đó thì Lucy và các con cô đã cao chạy xa bay rồi.

Và mọi người sẽ đoán chắc là hắn bị ai đó từ mấy thương vụ mờ ám của hắn thanh trừ.

Cô mở tủ ở dưới bồn rửa ra.

Cô cầm lấy chai thuốc tẩy.

Cô bóc một cuộn khăn giấy siêu thấm.

Cô bắt đầu dọn dẹp.
 
Gia Đình Lầu Trên
29


Tôi và Phin ngồi trên mái nhà.

Phin là người tìm thấy đường lên mái nhà.

Tôi còn không biết đến sự tồn tại của nó.

Để lên được mái nhà, chúng tôi phải đẩy cánh cửa sập ở trên trần của tầng gác mái, trèo vào một đường hầm lụp xụp, rồi đẩy thêm một cánh cửa sập nữa ra, và thế là chúng tôi leo lên được sân thượng ở trên cùng, nhìn ra bên kia sông, phía trước phong cảnh hữu tình.

Nhưng có vẻ như chúng tôi không phải là người đầu tiên tìm ra được đường leo lên đây.

Ở trên mái đã có sẵn vài chiếc ghế nhựa cũ, vài chậu cây đã héo khô, và một cái bàn nhỏ.

Tôi không thể tin được là cha tôi không biết gì về chỗ này.

Ông ấy hay phàn nàn về chuyện khu vườn nhà tôi quay ra hướng bắc, làm ông không ngắm được hoàng hôn.

Vậy mà ở trên đây chúng tôi lại có một ốc đảo cho riêng mình, muốn ngắm mặt trời lúc nào cũng được.

Hóa ra bên trong hai miếng giấy nhỏ xíu mà Phin kiếm được ở chợ Kensington tuần trước lại có thêm bốn miếng giấy nhỏ hơn nữa ghép lại.

Trên mỗi ô vuông bé tí có in hình một cái mặt cười.

"Nhỡ chúng ta phiêu quá rồi làm điều gì dại dột thì sao?"

Tôi hỏi, cảm thấy những ngôn từ mình vừa phát ra ngớ ngẩn đến khó tả.

"Thì mỗi đứa mình thử nửa cái thôi," Phin nói, "để xem sao."

Tôi gật đầu lia lịa.

Thực lòng tôi chẳng muốn thử tí nào cả.

Tôi không phải kiểu người như thế.

Nhưng như cái câu sến súa mà các cụ vẫn hay nói, giờ nếu Phin có bảo tôi nhảy xuống vực sâu thì tôi cũng nhảy.

Tôi nhìn cậu nuốt mảnh giấy bé xíu và cậu cũng nhìn tôi khi tôi làm theo.

Bầu trời xanh vắt như có ai tô màu nước lên.

Hôm nay trời nắng nhạt, nhưng ở trên cái ổ này, chúng tôi vẫn cảm nhận được những tia nắng ấm áp chạm lên da mình.

Một lúc sau chúng tôi vẫn chưa cảm thấy gì.

Chúng tôi nói với nhau về những gì mà chúng tôi nhìn thấy: những người ngồi trong vườn của họ, những con thuyền trôi trên dòng sông Thames, cảnh nhà máy điện bên kia sông.

Nửa tiếng trôi qua, tôi cảm thấy thư thái hơn, và tôi nghĩ rằng liều axít này rõ ràng là giả, rằng sẽ chẳng có gì xảy ra cả, rằng tôi sẽ bình an vô sự.

Nhưng sau đó tôi bắt đầu cảm thấy máu tôi sôi lên dưới da; tôi ngước lên trên, thấy bầu trời đầy những đường vân trắng dãn nở, rồi dần trở nên sáng rực và đa sắc như xà cừ, càng nhìn tôi càng thấy giống.

Tôi nhận ra bầu trời không chỉ một màu xanh, mà là cả triệu những màu sắc hoà quyện với nhau, tạo nên một màu xanh nhạt lừa mắt, còn bầu trời thì nhắm mắt làm ngơ trước sự dối trá ấy, và thực sự bầu trời thông minh hơn chúng ta rất nhiều, mà có khi tất cả những thứ chúng ta vẫn cho là vô tri vô giác thực ra lại thông minh hơn chúng ta bội phần và đang cười vào mặt chúng ta.

Tôi nhìn hàng cây trước mặt và tôi nghi ngờ màu xanh của chúng.



thực sự là lá màu xanh không?

Tôi tự hỏi bản thân mình.

Hay chúng chỉ là những phân tử nhỏ xíu màu tím, đỏ và vàng đang tiệc tùng với nhau và ngoác miệng ra cười, cười, cười mãi.

Tôi liếc sang nhìn Phin.

Tôi nói.

"Có thật là da cậu màu trắng không?"

Phin nhìn xuống da cậu.

Cậu nói, "Không.

Nó..."

Cậu ấy nhìn tôi cười lớn.

"Da tớ có vảy!

Nhìn đi.

Tớ có vảy.

Và cả cậu nữa!"

Cậu chỉ tay vào tôi với vẻ mặt thích thú.

"Cậu có lông kìa!

Ôi Chúa ơi," cậu nói, "chúng ta biến thành cái gì thế này?

Chúng ta là những con thú!"

Trong một phút chúng tôi rượt đuổi nhau trên mái nhà, miệng phát ra những tiếng kêu của thú vật.

Tôi vuốt lông mình.

Phin lè lưỡi.

Cả hai chúng tôi đều tỏ vẻ ngạc nhiên ra mặt trước độ dài của lưỡi Phin.

"Cậu có cái lưỡi dài nhất tớ từng thấy."

"Bởi vì tớ là con thằn lằn."

Cậu rụt lưỡi vào rồi lại thè lưỡi ra.

Tôi chăm chú nhìn.

Và khi lưỡi cậu thè ra lần nữa, tôi rướn người lại, và bắt lấy nó bằng hàm răng của mình.

"Úi!"

Phin nói, lấy ngón tay chộp lấy lưỡi mình và nhìn tôi cười.

"Xin lỗi!"

Tôi nói.

"Tớ chỉ là một con chim ngu ngốc mà thôi.

Tớ tưởng đó là một con sâu."

Rồi chúng tôi không cười nữa, chỉ ngồi trên chiếc ghế nhựa và nhìn, nhìn, nhìn mãi, nhìn vào vòng xoáy cực quang ở trên trời, tay chúng tôi buông thõng, thỉnh thoảng lại lấy các đốt ngón tay cọ vào nhau, và mỗi lần da Phin chạm vào da tôi, tôi lại cảm thấy như cả cơ thể của cậu ấy đang thâm nhập qua lớp biểu bì của tôi, con người cậu ấy hòa vào trong con người tôi, tạo thành một món xúp đặc biệt của riêng tôi và cậu ấy, và món xúp ấy cứ như đang trêu ngươi tôi,

tôi cần phải lao thẳng vào người cậu ấy ngay lúc này, để tôi húp trọn được hết tất cả những gì tinh túy nhất, và cậu ấy để tôi, cậu ấy để tôi cầm tay cậu ấy, và tôi cảm thấy cậu ấy ùa vào trong tôi, như một lần chúng tôi đi thuyền trên kênh, có một người đàn ông mở khóa kênh ra cho chúng tôi xem nước chảy từ bên này sang bên kia.

"Đây," tôi nói, quay sang nhìn Phin.

"Đây.

Tớ và cậu.

Giờ chúng ta là một."

"Thật ư?"

Phin hỏi, mắt mở to nhìn tôi.

"Ừ, nhìn này."

Tôi chỉ vào tay chúng tôi.

"Chúng ta là một."

Phin gật đầu và chúng tôi ngồi cùng nhau một lúc lâu, bao lâu thì tôi không biết, có thể là năm phút, có thể là một tiếng, hai tay đan chặt vào nhau, mắt nhìn lên trời, chìm đắm trong những mộng mơ của riêng mình, dưới sự tác động của chất hóa học.

"Cú phê pha này cũng không tệ lắm nhỉ," cuối cùng thì tôi nói.

"Không," Phin đáp.

"Tuyệt là đằng khác."

"Tuyệt nhất luôn," tôi nói.

"Đúng," cậu ấy nói.

"Tuyệt nhất luôn."

"Chúng ta nên lên đây sống," tôi nói.

"Mang chăn ga gối đệm lên và sống ở trên đây."

"Phải, chúng ta nên làm như thế.

Chúng ta nên làm như thế.

Ngay bây giờ!"

Cả hai chúng tôi đứng dậy và nhảy xuống đường hầm ở trên tầng gác mái qua cánh cửa sập.

Tôi cảm thấy tường ở hai bên đường hầm đang đập thình thịch, như thể chúng tôi đang đi trong cơ thể của ai đó; tôi cảm thấy như thể chúng tôi đang đi trong cổ họng,

hay có khi đến thực quản rồi cũng nên.

Suýt nữa thì chúng tôi ngã từ cửa sập xuống dưới hành lang, và bỗng nhiên tôi cảm thấy như mình đang đứng nhầm chỗ, như Doctor trong Doctor Who mở cánh cửa ra và không biết mình đã đi về đâu.

"Chúng ta đang ở đâu vậy?"

Tôi hỏi.

"Chúng ta xuống dưới rồi," Phin nói.

"Xuống thế giới bên dưới rồi."

"Tớ muốn đi lên."

"Đi lấy gối đã," Phin nói.

"Nhanh."

Cậu kéo tay tôi vào phòng ngủ của cậu, chúng tôi lấy mấy cái gối và khi chúng tôi chuẩn bị trèo lại lên hầm, David xuất hiện trước mặt chúng tôi.

Ông ta vừa mới tắm xong, người vẫn còn ướt, nửa dưới quấn khăn, nửa trên để trần.

Tôi nhìn chằm chằm vào núm vú của ông ta.

Chúng nhìn như miếng da lộn tối màu.

"Hai đứa đang làm gì vậy?"

ông ta hỏi, mắt nhìn Phin dò xét, chuyển sang nhìn tôi, rồi quay lại nhìn Phin.

Giọng ông ta ồm ồm như tiếng sấm.

Dáng người ông ta cao và rắn chắc đến tuyệt đối, sừng sững như một pho tượng.

Tôi thấy máu mình lạnh ngắt trước sự có mặt của ông ta.

"Bọn con đang đi lấy gối," Phin nói.

"Để đi lên."

"Đi lên đâu?"

"Đi lên," Phin nhắc lại.

"Đây là ở dưới."

"Ở dưới?"

"Ở dưới," Phin nói.

"Hai đứa mày đang bị cái quái gì vậy?"

David nói.

"Nhìn tao này."

Ông ta tóm chặt lấy hàm Phin và nhìn chằm chằm vào mắt cậu ấy.

"Mày đang phê đúng không?"

Ông ta hỏi, hướng mắt sang nhìn tôi.

"Chúa ơi, cả hai đứa chúng mày.

Chúng mày chơi cái quái gì đấy?

Cần sa?

Thuốc?

Cái gì?"

Sau đó không lâu chúng tôi được lệnh phải đi xuống nhà, cha mẹ tôi bị triệu tập, cả mẹ Phin nữa, David thì vẫn chỉ có một chiếc khăn tắm quấn quanh người, còn mắt tôi thì vẫn dán vào hai đầu núm vú nhìn như da lộn của ông ta, và tôi bắt đầu cảm thấy bữa sáng của mình trào lên ở trong ruột.

Chúng tôi đứng ở phòng khách, xung quanh là những bức tranh sơn dầu vẽ chân dung, bóng của những con thú đã chết bị đóng ở trên tường, và bốn người lớn chất vấn, chất vấn và chất vấn.

Thế nào?

Cái gì?

Ở đâu ra?

Lấy tiền ở đâu ra mà mua?

Bọn họ có biết tuổi thật của các con không?

Nguy hiểm chết người.

Các con còn nhỏ tuổi quá.

Các con nghĩ cái quái gì vậy?

Và chính xác tại thời điểm đó, Birdie bước vào phòng.

"Có chuyện gì thế?" cô ta hỏi.

"Ồ, biến đi," Phin nói, "không liên quan gì đến cô."

"Sao mày dám nói chuyện với người lớn như thế hả," David nói.

"Cái loại đó," Phin nói, tay chỉ Birdie, "không phải là người lớn."

"Phin!"

"Cô ta không phải là người lớn.

Cô ta không phải là người nữa kìa.

Cô ta là một con lợn.

Nhìn đi.

Nhìn da cô ta đi, hồng như da lợn, mắt cũng ti hí như mắt lợn.

Cô ta là một con lợn."

Cả căn phòng há hốc miệng.

Tôi giương mắt lên nhìn Birdie và cố tưởng tượng cảnh cô ta là lợn.

Nhưng với tôi cô ta trông giống một

con mèo già hơn, một con mèo gầy giơ xương, lông thì loang lổ và mắt đầy gỉ.

Rồi tôi quay sang nhìn Phin, thấy mắt cậu đang dán chặt vào cha cậu, rồi tôi thấy cậu ngoác miệng ra cười và tôi nghe thấy cậu nói, "Vậy, thế hóa ra cha là người mà lại đi hôn lợn à."

Cậu cười sặc sụa.

"Cô ta là một con lợn và cha là người hôn lợn.

Cha có biết điều đó không, khi cha hôn cô ta, cha có biết cô ta là lợn không?"

"Phin!"

Sally nhăn mặt.

"Henry thấy cha hôn Birdie.

Tuần trước.

Đó là lý do tại sao bọn con lấy hết tiền của cha để đi chơi mà không hỏi.

Vì con giận cha.

Nhưng giờ con biết tại sao ông ta hôn cô ta rồi.

Bởi vì..."

Giờ Phin cười lớn đến mức cậu không nói nổi thành lời.

"...

Ông ta muốn hôn một con lợn!"

Tôi cũng muốn cười, bởi vì tôi và Phin là một, nhưng giờ tôi không cảm nhận được điều ấy nữa, sợi dây gắn kết mãnh liệt ấy đã biến mất, và giờ tất cả những gì tôi có thể cảm nhận được chỉ là một nỗi khiếp sợ lạnh lẽo, kinh hoàng.

Sally chạy ra khỏi phòng; Phin đi theo Sally, rồi đến lượt David, người đến giờ vẫn không mặc gì ngoài chiếc khăn tắm.

Tôi nhìn Birdie bằng ánh mắt khó xử.

"Xin lỗi," tôi nói vì một lý do kỳ lạ nào đó.

Cô ta trố mắt ra nhìn tôi, rồi cũng bỏ đi.

Giờ chỉ còn tôi, mẹ tôi và cha tôi.

Cha tôi đứng dậy.

"Đấy là ý tưởng của ai?"

ông hỏi.

"Chơi thuốc

ấy."

Tôi nhún vai.

Tôi thấy cảm giác phê pha trong tôi dần biến mất.

Tôi có thể cảm nhận cơ thể tôi đang trôi về với thực tại.

"Con không biết."

"Là nó đúng không?"

"Con không biết," tôi nhắc lại.

Ông thở dài.

"Sẽ có hậu quả đấy, anh bạn trẻ," ông nói cộc cằn.

"Chúng ta sẽ phải thảo luận về vấn đề này kỹ càng hơn.

Nhưng giờ, con phải uống nước và ăn cái gì đi đã.

Cái gì chắc bụng ấy.

Bánh mì nướng thì sao, Martina?"

Mẹ tôi gật đầu, và tôi bẽn lẽn đi theo bà xuống bếp.

Tôi nghe thấy tiếng người ở trên nhà: những nguyên âm vô hồn của Sally, tiếng David gầm lên, tiếng Birdie rên rỉ.

Tôi nghe thấy tiếng bước chân, tiếng cửa đóng vào rồi mở ra.

Mẹ tôi và tôi liếc mắt nhìn nhau khi mẹ tôi bỏ bánh mì vào lò nướng cho tôi.

"Có thật không?"

Mẹ tôi hỏi.

"Những gì Phin vừa nói về Birdie và David ấy?"

Tôi gật đầu.

Mẹ tôi hắng giọng nhưng không nói gì cả.

Một lúc sau chúng tôi nghe thấy tiếng cửa trước đóng sầm.

Tôi nhìn ra hành lang và thấy Justin, vừa đi bán hàng từ chợ phiên thứ Bảy về, tay cầm một đống túi vải bao bố.

Không lâu sau, ông ta cũng góp giọng vào bản giao hưởng của những tiếng hét ở trên nhà.

Mẹ đưa bánh mì cho tôi và tôi ăn trong im lặng.

Tôi nhớ lại cảm giác kinh hãi kỳ lạ tuần trước, khi tôi thấy David hôn Birdie, cái cảm

giác như sắp có thứ gì đó thối tha xổng ra và xâm chiếm thế giới này, như thể hai người đó là hai cái chìa khóa, và họ tự mở khóa cho nhau.

Rồi tôi nghĩ về cảm giác được Phin cầm tay ở trên mái nhà, và nghĩ rằng chúng tôi cũng là hai chiếc chìa khóa đang tự mở khóa cho nhau, nhưng tất cả những thứ mà chúng tôi mở ra đều tốt đẹp và đáng được ghi nhận.

"Chuyện gì sẽ xảy đến tiếp theo hả mẹ?" tôi hỏi.

"Mẹ không biết," mẹ tôi nói.

"Nhưng sẽ không có gì tốt đẹp cả.

Không có gì tốt đẹp cả.
 
Gia Đình Lầu Trên
30


Tôi và Phin ngồi trên mái nhà.

Phin là người tìm thấy đường lên mái nhà.

Tôi còn không biết đến sự tồn tại của nó.

Để lên được mái nhà, chúng tôi phải đẩy cánh cửa sập ở trên trần của tầng gác mái, trèo vào một đường hầm lụp xụp, rồi đẩy thêm một cánh cửa sập nữa ra, và thế là chúng tôi leo lên được sân thượng ở trên cùng, nhìn ra bên kia sông, phía trước phong cảnh hữu tình.

Nhưng có vẻ như chúng tôi không phải là người đầu tiên tìm ra được đường leo lên đây.

Ở trên mái đã có sẵn vài chiếc ghế nhựa cũ, vài chậu cây đã héo khô, và một cái bàn nhỏ.

Tôi không thể tin được là cha tôi không biết gì về chỗ này.

Ông ấy hay phàn nàn về chuyện khu vườn nhà tôi quay ra hướng bắc, làm ông không ngắm được hoàng hôn.

Vậy mà ở trên đây chúng tôi lại có một ốc đảo cho riêng mình, muốn ngắm mặt trời lúc nào cũng được.

Hóa ra bên trong hai miếng giấy nhỏ xíu mà Phin kiếm được ở chợ Kensington tuần trước lại có thêm bốn miếng giấy nhỏ hơn nữa ghép lại.

Trên mỗi ô vuông bé tí có in hình một cái mặt cười.

"Nhỡ chúng ta phiêu quá rồi làm điều gì dại dột thì sao?"

Tôi hỏi, cảm thấy những ngôn từ mình vừa phát ra ngớ ngẩn đến khó tả.

"Thì mỗi đứa mình thử nửa cái thôi," Phin nói, "để xem sao."

Tôi gật đầu lia lịa.

Thực lòng tôi chẳng muốn thử tí nào cả.

Tôi không phải kiểu người như thế.

Nhưng như cái câu sến súa mà các cụ vẫn hay nói, giờ nếu Phin có bảo tôi nhảy xuống vực sâu thì tôi cũng nhảy.

Tôi nhìn cậu nuốt mảnh giấy bé xíu và cậu cũng nhìn tôi khi tôi làm theo.

Bầu trời xanh vắt như có ai tô màu nước lên.

Hôm nay trời nắng nhạt, nhưng ở trên cái ổ này, chúng tôi vẫn cảm nhận được những tia nắng ấm áp chạm lên da mình.

Một lúc sau chúng tôi vẫn chưa cảm thấy gì.

Chúng tôi nói với nhau về những gì mà chúng tôi nhìn thấy: những người ngồi trong vườn của họ, những con thuyền trôi trên dòng sông Thames, cảnh nhà máy điện bên kia sông.

Nửa tiếng trôi qua, tôi cảm thấy thư thái hơn, và tôi nghĩ rằng liều axít này rõ ràng là giả, rằng sẽ chẳng có gì xảy ra cả, rằng tôi sẽ bình an vô sự.

Nhưng sau đó tôi bắt đầu cảm thấy máu tôi sôi lên dưới da; tôi ngước lên trên, thấy bầu trời đầy những đường vân trắng dãn nở, rồi dần trở nên sáng rực và đa sắc như xà cừ, càng nhìn tôi càng thấy giống.

Tôi nhận ra bầu trời không chỉ một màu xanh, mà là cả triệu những màu sắc hoà quyện với nhau, tạo nên một màu xanh nhạt lừa mắt, còn bầu trời thì nhắm mắt làm ngơ trước sự dối trá ấy, và thực sự bầu trời thông minh hơn chúng ta rất nhiều, mà có khi tất cả những thứ chúng ta vẫn cho là vô tri vô giác thực ra lại thông minh hơn chúng ta bội phần và đang cười vào mặt chúng ta.

Tôi nhìn hàng cây trước mặt và tôi nghi ngờ màu xanh của chúng.



thực sự là lá màu xanh không?

Tôi tự hỏi bản thân mình.

Hay chúng chỉ là những phân tử nhỏ xíu màu tím, đỏ và vàng đang tiệc tùng với nhau và ngoác miệng ra cười, cười, cười mãi.

Tôi liếc sang nhìn Phin.

Tôi nói.

"Có thật là da cậu màu trắng không?"

Phin nhìn xuống da cậu.

Cậu nói, "Không.

Nó..."

Cậu ấy nhìn tôi cười lớn.

"Da tớ có vảy!

Nhìn đi.

Tớ có vảy.

Và cả cậu nữa!"

Cậu chỉ tay vào tôi với vẻ mặt thích thú.

"Cậu có lông kìa!

Ôi Chúa ơi," cậu nói, "chúng ta biến thành cái gì thế này?

Chúng ta là những con thú!"

Trong một phút chúng tôi rượt đuổi nhau trên mái nhà, miệng phát ra những tiếng kêu của thú vật.

Tôi vuốt lông mình.

Phin lè lưỡi.

Cả hai chúng tôi đều tỏ vẻ ngạc nhiên ra mặt trước độ dài của lưỡi Phin.

"Cậu có cái lưỡi dài nhất tớ từng thấy."

"Bởi vì tớ là con thằn lằn."

Cậu rụt lưỡi vào rồi lại thè lưỡi ra.

Tôi chăm chú nhìn.

Và khi lưỡi cậu thè ra lần nữa, tôi rướn người lại, và bắt lấy nó bằng hàm răng của mình.

"Úi!"

Phin nói, lấy ngón tay chộp lấy lưỡi mình và nhìn tôi cười.

"Xin lỗi!"

Tôi nói.

"Tớ chỉ là một con chim ngu ngốc mà thôi.

Tớ tưởng đó là một con sâu."

Rồi chúng tôi không cười nữa, chỉ ngồi trên chiếc ghế nhựa và nhìn, nhìn, nhìn mãi, nhìn vào vòng xoáy cực quang ở trên trời, tay chúng tôi buông thõng, thỉnh thoảng lại lấy các đốt ngón tay cọ vào nhau, và mỗi lần da Phin chạm vào da tôi, tôi lại cảm thấy như cả cơ thể của cậu ấy đang thâm nhập qua lớp biểu bì của tôi, con người cậu ấy hòa vào trong con người tôi, tạo thành một món xúp đặc biệt của riêng tôi và cậu ấy, và món xúp ấy cứ như đang trêu ngươi tôi,

tôi cần phải lao thẳng vào người cậu ấy ngay lúc này, để tôi húp trọn được hết tất cả những gì tinh túy nhất, và cậu ấy để tôi, cậu ấy để tôi cầm tay cậu ấy, và tôi cảm thấy cậu ấy ùa vào trong tôi, như một lần chúng tôi đi thuyền trên kênh, có một người đàn ông mở khóa kênh ra cho chúng tôi xem nước chảy từ bên này sang bên kia.

"Đây," tôi nói, quay sang nhìn Phin.

"Đây.

Tớ và cậu.

Giờ chúng ta là một."

"Thật ư?"

Phin hỏi, mắt mở to nhìn tôi.

"Ừ, nhìn này."

Tôi chỉ vào tay chúng tôi.

"Chúng ta là một."

Phin gật đầu và chúng tôi ngồi cùng nhau một lúc lâu, bao lâu thì tôi không biết, có thể là năm phút, có thể là một tiếng, hai tay đan chặt vào nhau, mắt nhìn lên trời, chìm đắm trong những mộng mơ của riêng mình, dưới sự tác động của chất hóa học.

"Cú phê pha này cũng không tệ lắm nhỉ," cuối cùng thì tôi nói.

"Không," Phin đáp.

"Tuyệt là đằng khác."

"Tuyệt nhất luôn," tôi nói.

"Đúng," cậu ấy nói.

"Tuyệt nhất luôn."

"Chúng ta nên lên đây sống," tôi nói.

"Mang chăn ga gối đệm lên và sống ở trên đây."

"Phải, chúng ta nên làm như thế.

Chúng ta nên làm như thế.

Ngay bây giờ!"

Cả hai chúng tôi đứng dậy và nhảy xuống đường hầm ở trên tầng gác mái qua cánh cửa sập.

Tôi cảm thấy tường ở hai bên đường hầm đang đập thình thịch, như thể chúng tôi đang đi trong cơ thể của ai đó; tôi cảm thấy như thể chúng tôi đang đi trong cổ họng,

hay có khi đến thực quản rồi cũng nên.

Suýt nữa thì chúng tôi ngã từ cửa sập xuống dưới hành lang, và bỗng nhiên tôi cảm thấy như mình đang đứng nhầm chỗ, như Doctor trong Doctor Who mở cánh cửa ra và không biết mình đã đi về đâu.

"Chúng ta đang ở đâu vậy?"

Tôi hỏi.

"Chúng ta xuống dưới rồi," Phin nói.

"Xuống thế giới bên dưới rồi."

"Tớ muốn đi lên."

"Đi lấy gối đã," Phin nói.

"Nhanh."

Cậu kéo tay tôi vào phòng ngủ của cậu, chúng tôi lấy mấy cái gối và khi chúng tôi chuẩn bị trèo lại lên hầm, David xuất hiện trước mặt chúng tôi.

Ông ta vừa mới tắm xong, người vẫn còn ướt, nửa dưới quấn khăn, nửa trên để trần.

Tôi nhìn chằm chằm vào núm vú của ông ta.

Chúng nhìn như miếng da lộn tối màu.

"Hai đứa đang làm gì vậy?"

ông ta hỏi, mắt nhìn Phin dò xét, chuyển sang nhìn tôi, rồi quay lại nhìn Phin.

Giọng ông ta ồm ồm như tiếng sấm.

Dáng người ông ta cao và rắn chắc đến tuyệt đối, sừng sững như một pho tượng.

Tôi thấy máu mình lạnh ngắt trước sự có mặt của ông ta.

"Bọn con đang đi lấy gối," Phin nói.

"Để đi lên."

"Đi lên đâu?"

"Đi lên," Phin nhắc lại.

"Đây là ở dưới."

"Ở dưới?"

"Ở dưới," Phin nói.

"Hai đứa mày đang bị cái quái gì vậy?"

David nói.

"Nhìn tao này."

Ông ta tóm chặt lấy hàm Phin và nhìn chằm chằm vào mắt cậu ấy.

"Mày đang phê đúng không?"

Ông ta hỏi, hướng mắt sang nhìn tôi.

"Chúa ơi, cả hai đứa chúng mày.

Chúng mày chơi cái quái gì đấy?

Cần sa?

Thuốc?

Cái gì?"

Sau đó không lâu chúng tôi được lệnh phải đi xuống nhà, cha mẹ tôi bị triệu tập, cả mẹ Phin nữa, David thì vẫn chỉ có một chiếc khăn tắm quấn quanh người, còn mắt tôi thì vẫn dán vào hai đầu núm vú nhìn như da lộn của ông ta, và tôi bắt đầu cảm thấy bữa sáng của mình trào lên ở trong ruột.

Chúng tôi đứng ở phòng khách, xung quanh là những bức tranh sơn dầu vẽ chân dung, bóng của những con thú đã chết bị đóng ở trên tường, và bốn người lớn chất vấn, chất vấn và chất vấn.

Thế nào?

Cái gì?

Ở đâu ra?

Lấy tiền ở đâu ra mà mua?

Bọn họ có biết tuổi thật của các con không?

Nguy hiểm chết người.

Các con còn nhỏ tuổi quá.

Các con nghĩ cái quái gì vậy?

Và chính xác tại thời điểm đó, Birdie bước vào phòng.

"Có chuyện gì thế?" cô ta hỏi.

"Ồ, biến đi," Phin nói, "không liên quan gì đến cô."

"Sao mày dám nói chuyện với người lớn như thế hả," David nói.

"Cái loại đó," Phin nói, tay chỉ Birdie, "không phải là người lớn."

"Phin!"

"Cô ta không phải là người lớn.

Cô ta không phải là người nữa kìa.

Cô ta là một con lợn.

Nhìn đi.

Nhìn da cô ta đi, hồng như da lợn, mắt cũng ti hí như mắt lợn.

Cô ta là một con lợn."

Cả căn phòng há hốc miệng.

Tôi giương mắt lên nhìn Birdie và cố tưởng tượng cảnh cô ta là lợn.

Nhưng với tôi cô ta trông giống một

con mèo già hơn, một con mèo gầy giơ xương, lông thì loang lổ và mắt đầy gỉ.

Rồi tôi quay sang nhìn Phin, thấy mắt cậu đang dán chặt vào cha cậu, rồi tôi thấy cậu ngoác miệng ra cười và tôi nghe thấy cậu nói, "Vậy, thế hóa ra cha là người mà lại đi hôn lợn à."

Cậu cười sặc sụa.

"Cô ta là một con lợn và cha là người hôn lợn.

Cha có biết điều đó không, khi cha hôn cô ta, cha có biết cô ta là lợn không?"

"Phin!"

Sally nhăn mặt.

"Henry thấy cha hôn Birdie.

Tuần trước.

Đó là lý do tại sao bọn con lấy hết tiền của cha để đi chơi mà không hỏi.

Vì con giận cha.

Nhưng giờ con biết tại sao ông ta hôn cô ta rồi.

Bởi vì..."

Giờ Phin cười lớn đến mức cậu không nói nổi thành lời.

"...

Ông ta muốn hôn một con lợn!"

Tôi cũng muốn cười, bởi vì tôi và Phin là một, nhưng giờ tôi không cảm nhận được điều ấy nữa, sợi dây gắn kết mãnh liệt ấy đã biến mất, và giờ tất cả những gì tôi có thể cảm nhận được chỉ là một nỗi khiếp sợ lạnh lẽo, kinh hoàng.

Sally chạy ra khỏi phòng; Phin đi theo Sally, rồi đến lượt David, người đến giờ vẫn không mặc gì ngoài chiếc khăn tắm.

Tôi nhìn Birdie bằng ánh mắt khó xử.

"Xin lỗi," tôi nói vì một lý do kỳ lạ nào đó.

Cô ta trố mắt ra nhìn tôi, rồi cũng bỏ đi.

Giờ chỉ còn tôi, mẹ tôi và cha tôi.

Cha tôi đứng dậy.

"Đấy là ý tưởng của ai?"

ông hỏi.

"Chơi thuốc

ấy."

Tôi nhún vai.

Tôi thấy cảm giác phê pha trong tôi dần biến mất.

Tôi có thể cảm nhận cơ thể tôi đang trôi về với thực tại.

"Con không biết."

"Là nó đúng không?"

"Con không biết," tôi nhắc lại.

Ông thở dài.

"Sẽ có hậu quả đấy, anh bạn trẻ," ông nói cộc cằn.

"Chúng ta sẽ phải thảo luận về vấn đề này kỹ càng hơn.

Nhưng giờ, con phải uống nước và ăn cái gì đi đã.

Cái gì chắc bụng ấy.

Bánh mì nướng thì sao, Martina?"

Mẹ tôi gật đầu, và tôi bẽn lẽn đi theo bà xuống bếp.

Tôi nghe thấy tiếng người ở trên nhà: những nguyên âm vô hồn của Sally, tiếng David gầm lên, tiếng Birdie rên rỉ.

Tôi nghe thấy tiếng bước chân, tiếng cửa đóng vào rồi mở ra.

Mẹ tôi và tôi liếc mắt nhìn nhau khi mẹ tôi bỏ bánh mì vào lò nướng cho tôi.

"Có thật không?"

Mẹ tôi hỏi.

"Những gì Phin vừa nói về Birdie và David ấy?"

Tôi gật đầu.

Mẹ tôi hắng giọng nhưng không nói gì cả.

Một lúc sau chúng tôi nghe thấy tiếng cửa trước đóng sầm.

Tôi nhìn ra hành lang và thấy Justin, vừa đi bán hàng từ chợ phiên thứ Bảy về, tay cầm một đống túi vải bao bố.

Không lâu sau, ông ta cũng góp giọng vào bản giao hưởng của những tiếng hét ở trên nhà.

Mẹ đưa bánh mì cho tôi và tôi ăn trong im lặng.

Tôi nhớ lại cảm giác kinh hãi kỳ lạ tuần trước, khi tôi thấy David hôn Birdie, cái cảm

giác như sắp có thứ gì đó thối tha xổng ra và xâm chiếm thế giới này, như thể hai người đó là hai cái chìa khóa, và họ tự mở khóa cho nhau.

Rồi tôi nghĩ về cảm giác được Phin cầm tay ở trên mái nhà, và nghĩ rằng chúng tôi cũng là hai chiếc chìa khóa đang tự mở khóa cho nhau, nhưng tất cả những thứ mà chúng tôi mở ra đều tốt đẹp và đáng được ghi nhận.

"Chuyện gì sẽ xảy đến tiếp theo hả mẹ?" tôi hỏi.

"Mẹ không biết," mẹ tôi nói.

"Nhưng sẽ không có gì tốt đẹp cả.

Không có gì tốt đẹp cả.
 
Gia Đình Lầu Trên
31


"Tôi sẽ ở lại ngôi nhà tối nay," Miller nói, tay đặt ly bia đã uống cạn của mình lên bàn.

"Cô thấy như thế được chứ?"

"Anh định ngủ ở đâu?"

"Tôi sẽ không ngủ."

Khuôn mặt anh ta lộ rõ vẻ quyết tâm.

Libby gật đầu.

"Được," cô nói.

"Tôi thấy được."

Họ đi bộ về phía ngôi nhà và Libby mở khóa thêm một lần nữa, kéo miếng pano gỗ xuống thêm một lần nữa; và họ đi vào trong nhà thêm một lần nữa.

Họ đứng một lúc, mắt ngước lên trên, cố nghe xem có tiếng động nào lạ không.

Nhưng ngôi nhà im lìm.

"Vậy thì," Libby nói, liếc mắt nhìn Dido, "em nghĩ chị em mình nên đi về thôi."

Dido gật đầu và Libby tiến một bước về phía cửa trước.

"Anh sẽ ổn chứ?"

Cô hỏi.

"Ở đây?

Một mình?"

"Này," Miller đáp, "nhìn tôi đi.

Trông tôi có giống kiểu sợ hãi khi phải ở một mình trong căn nhà trống tối tăm, nơi có ba tín đồ dị

giáo mặc áo chùng tự tử chết không?"

"Anh có muốn tôi ở lại với anh không?"

"Không.

Cô về nhà đi, về mà ngủ ở trên giường cho êm."

Anh nhìn cô với đôi mắt cún con cầu khẩn, ngón tay sờ râu lóng ngóng.

Libby cười.

"Anh muốn tôi ở lại, phải không?" cô nói.

"Không.

Không không không."

Libby phá lên cười, rồi quay sang nhìn Dido.

"Chị có phiền không?" cô hỏi.

"Sáng mai em sẽ có mặt ở chỗ làm.

Em hứa đấy."

"Ở lại đi," Dido nói.

"Mà ngày mai đến lúc nào cũng được.

Không có gì phải vội."

Libby quay trở lại ngôi nhà lúc trời vừa sẩm tối, sau khi cô đi bộ cùng Dido ra ga tàu điện ngầm.

Cô hít thở bầu không khí của buổi tối mùa hè nóng nực ở Chelsea, nhìn ngắm đám đông thanh niên tóc vàng mặc quần bò rách và đeo giày thể thao quá cỡ, cảnh vật bên trong những khung kính cửa sổ trên những căn phòng tuyệt đẹp.

Trong khoảnh khắc, cô tự vẽ nên cảnh mình sống ở đây, là một phần của thế giới tao nhã này, và trở thành một cô gái Chelsea thực thụ.

Cô tưởng tượng ra ngôi nhà trên phố Cheyne được trang trí đầy đồ cổ, đèn chùm pha lê và những tác phẩm nghệ thuật đương đại.

Nhưng giây phút cô mở cửa nhà số mười sáu, tất cả những mộng tưởng của cô đều tan biến.

Chỉ còn một ngôi nhà nhơ nhuốc và xuống cấp.

Miller đang đứng trong bếp cạnh cái bàn gỗ lớn.

Anh ngước mắt lên nhìn khi cô bước vào và nói, "Nhanh lên, nhìn cái này này.

Nhìn đi."

Anh lấy đèn điện thoại để soi, mắt nhòm vào trong ngăn kéo.

Cô ngó vào cùng anh.

"Nhìn đi," Miller nhắc lại.

Ở mặt trong cùng của ngăn kéo, có ai đã viết nguệch ngoạc dòng chữ bằngbút chì đen: "TÔI LÀ PHIN".
 
Gia Đình Lầu Trên
32


Vài tuần sau đó, Sally chuyển ra ngoài.

Rồi mấy ngày sau, Birdie chuyển vào phòng của David.

Nhưng Justin không chuyển ra ngoài.

Ông ta vẫn giữ căn phòng cũ mà ngày xưa ông ta ở cùng với Birdie.

Vụ chơi thuốc lần trước tôi vẫn chưa bị phạt, và Phin cũng vậy.

Nhưng rõ ràng là Phin cảm thấy mất mẹ còn kinh khủng hơn bất cứ hình phạt nào mà cha cậu ấy có thể nghĩ được ra.

Trước hết, cậu ấy tự trách mình.

Sau đó cậu ấy trách Birdie.

Phin khinh thường Birdie, và thường gọi cô ta là "nó".

Rồi cậu ấy trách đến cha mình.

Và cuối cùng, đáng tiếc là trong tiềm thức, cậu ấy đổ lỗi cả cho tôi.

Suy cho cùng, chính tôi là người đã truyền đạt cho cậu điều kinh khủng đó, đưa cho cậu viên đạn thông tin chí mạng, viên đạn mà cậu ấy vô tình bắn ra, làm cuộc hôn nhân của cha mẹ cậu tan vỡ.

Nếu tôi không nói cho cậu ấy nghe thì chắc sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra: không đi mua sắm, không phê thuốc, và buổi chiều hôm đó mọi người đã không phải chứng kiến cái cảnh gớm ghiếc khi mà Phin tiết lộ cha cậu ấy là người hôn heo.

Và thế là mối liên kết giữa chúng tôi trên mái nhà hôm nọ không phải chỉ phai dần đi nữa, mà đã cháy

thành khói độc.

Rất khó để phủ nhận rằng họa này không phải là do tôi tự chuốc vào thân.

Tôi nghĩ về những mưu tính trong đầu tôi khi tôi háo hức kể cho Phin nghe, để gây sốc, để tạo ấn tượng, tôi thiếu sự cảm thông, tôi đã không nhận thức được cậu ấy sẽ phản ứng như thế nào, và vâng, tôi cảm thấy có một phần trách nhiệm.

Tôi đã phải trả giá cho những hành động của mình, thực sự là như vậy.

Bởi vì khi tôi vô tình phá vỡ cuộc hôn nhân của cha mẹ Phin, tôi cũng đã vô tình huỷ hoại toàn bộ cuộc đời của chính mình.

Ngay sau khi Sally chuyển ra ngoài, tôi hay bắt gặp Justin ngồi phân loại hoa và thảo mộc trên chiếc bàn ở ngoài hiên kế bên khu vườn.

Việc ông ta chịu ở dưới cùng một mái nhà với cô bạn gái lăng loàn khiến tôi vừa thấy buồn vừa có chút gì đó muốn nổi loạn.

Ông ta tỏ ra như không có việc gì xảy ra, vẫn chăm sóc và thu hoạch cây cỏ như trước, rồi nghiền chúng thành bột, và bỏ chúng vào những cái túi vải nhỏ, hay những lọ thuốc nhỏ, trên có gắn mác "Người bào chế thuốc ở Chelsea".

Ông ta vẫn mặc những bộ quần áo cũ, đẩy cái xe cút kít cũ; vẻ mặt không biểu lộ bất cứ khổ đau hay xáo trộn nào ở trong lòng.

Tôi tò mò muốn biết trong đầu ông ấy nghĩ gì, vì chính tôi cũng đang cố gắng vượt qua nỗi đau khi mối quan hệ của tôi và Phin kết thúc.

Không chỉ có vậy, giờ khi Sally đã bỏ đi, Birdie thì cặp kè với David, cha mẹ tôi cũng dần thu nhỏ lại và tự biến thành cái bóng của chính mình, thì Justin, dù nghe có vẻ lạ, lại trở thành một trong số ít những người bình thường còn sót lại ở ngôi nhà này.

Tôi ngồi xuống đối diện với ông ta, rồi ông ta ngước lên nhìn tôi trìu mến.

"Chào cậu bé.

Mọi thứ thế nào rồi?"

"Mọi thứ..."

Tôi định nói là mọi thứ vẫn ổn, nhưng rồi tôi nhớ ra là mọi thứ chẳng ổn tí nào.

Thế là tôi nói, "không bình thường ạ."

Ông ta nhìn tôi kỹ hơn.

"Chà," ông nói.

"Cái đó thì chắc rồi."

Chúng tôi im lặng trong giây lát.

Tôi nhìn ông ta cẩn thận tách nụ ra từ cành hoa và đặt chúng lên một cái khay.

"Tại sao chú vẫn sống ở đây?" cuối cùng tôi nói.

"Khi mà giờ chú và Birdie đã...?"

"Câu hỏi hay đấy," ông ta nói, không buồn nhìn tôi.

Ông đặt thêm một cái nụ nữa xuống khay, xoa hai đầu ngón tay vào nhau, rồi đặt tay lên đùi.

"Chú nghĩ, vì kể cả khi chú không ở cùng cô ấy nữa, cô ấy vẫn là một phần của chú?

Cháu biết không, cái phần ấy không phải vì tình dục, mà là vì tình yêu, và nó không tự động chết ngay được.

Hoặc chí ít, nó cũng không cần phải chết."

Tôi gật đầu.

Điều này chắc chắn đúng với tôi.

Mặc dù khả năng cao là tôi sẽ không bao giờ được cầm tay Phin lần nữa, hay có một cuộc hội thoại đúng nghĩa với cậu ấy, điều đó không làm giảm đi tình cảm của tôi dành cho cậu ấy.

"Chú có nghĩ là chú sẽ có cơ hội quay lại với cô ta không?"

Ông ta thở dài.

"Ừ," ông nói.

"Có thể có.

Mà cũng có thể không."

"Chú nghĩ gì về David?"

"À."

Ngôn ngữ cơ thể của ông có chút thay đổi.

Ông co hai vai lại, ngón tay đan vào nhau.

"Chú cũng chưa biết phải nghĩ thế nào," cuối cùng ông nói.

"Một

mặt chú thấy ông ta rất tuyệt.

Nhưng mặt khác..."

Ông lắc đầu.

"Ông ta làm chú thấy sợ."

"Vâng," tôi nói, giọng tôi vang lên to hơn và nhiệt thành hơn tôi dự định.

"Vâng," tôi lặp lại, khe khẽ.

"Ông ta cũng làm cháu sợ."

"Sợ như thế nào mới được chứ?"

"Ông ta rất..."

Tôi đưa mắt nhìn lên trời, cố tìm một từ để diễn tả sao cho chính xác.

"Nham hiểm."

Justin phá lên cười giòn giã.

"Ha, đúng vậy," ông nói.

"Rất chính xác.

Đúng.

Nham hiểm."

"Đây."

Ông ta đưa cho tôi một nắm hoa màu vàng, trông như hoa cúc dại, và một cuộn dây.

"Buộc chúng lại thành từng bó nhỏ, quấn dây vào thân ấy."

"Cây gì đây ạ?"

"Cúc vạn thọ.

Giúp làm dịu đi các bệnh ngoài da.

Tốt lắm."

"Thế kia là gì ạ?"

Tôi chỉ tay về phía chiếc khay đầy những nụ hoa vàng tí hon.

"Đây là hoa cúc họa mi.

Dùng để pha trà.

Ngửi mà xem."

Ông ta đưa cho tôi một cái nụ.

Tôi đưa lên mũi ngửi.

"Thơm đúng không?"

Tôi gật đầu, tay lấy dây quấn quanh mấy nhành cúc vạn thọ, rồi buộc lại thành một cái nơ.

"Thế này được chưa ạ?"

"Xuất sắc.

Đúng rồi đấy.

Mà," ông ta mở lời, "chú nghe chuyện của cháu và Phin.

Mấy tuần trước.

Chắc cháu cũng biết, chuyện chơi thuốc ấy."

Tôi đỏ mặt.

"Này chàng trai," ông ta nói, "chú không dám động vào bất cứ

loại thuốc phiện nào cho đến tận năm chú mười tám tuổi.

Giờ cháu mấy tuổi rồi?

Mười hai à?"

"Mười ba," tôi trả lời chắc nịch.

"Cháu mười ba tuổi."

"Trẻ quá!"

ông ta nói.

"Chú xin ngả mũ kính nể."

Tôi không hiểu ông có ngụ ý gì.

Rõ ràng những gì tôi làm là xấu.

Nhưng tôi cười trừ cho qua.

"Cháu biết không," ông ta nói đầy bí ẩn.

"Chú có thể trồng bất cứ loại thảo dược gì ở đây.

Gần như là thế.

Cháu có hiểu ý chú không?"

Tôi lắc đầu.

"Chú không chỉ trồng những thứ tốt cho cháu.

Chú còn có thể trồng cả những thứ khác nữa.

Bất cứ thứ gì cháu thích."

Tôi gật đầu nghiêm túc.

Và rồi tôi nói.

"Ý chú là trồng thuốc phiện ấy ạ?"

Ông ta cười, bụng rung lên.

"Chà, đúng rồi đấy, chú đoán thế.

Các loại thuốc tốt."

Ông ta chạm tay lên mũi mình.

"Và cả những loại không tốt nữa."

Ngay lúc đó, cửa sau nhà bật mở.

Cả hai chúng tôi quay lại để xem đó là ai.

David và Birdie xuất hiện.

Họ vòng tay ra ôm lấy eo nhau.

Họ thoáng nhìn về hướng hai chúng tôi, rồi đi ra ngồi ở đầu bên kia của khu vườn.

Bầu không khí xung quanh bỗng thay đổi.

Giống như vừa có một đám mây bay ngang qua và che đi mặt trời.

"Chú ổn chứ?" tôi thốt lên với Justin.

Ông ấy gật đầu.

"Chú ổn."

Chúng tôi ngồi một lúc trước sự hiện diện của hai con người kia,

cảm giác như đang bị một cái chăn trùm kín lên đầu, tán gẫu về các loại cây và thảo dược cùng công dụng của chúng.

Tôi hỏi Justin về thuốc độc và ông ấy kể cho tôi nghe về Atropa belladonna, hay còn gọi là bóng đêm chết chóc.

Truyền thuyết kể rằng loại cây này đã được dùng bởi những chiến binh của để đầu độc quân đội Anh đang tới.

Còn cây độc cần được sử dụng để hành quyết Socrates.

Justin cũng kể cho tôi nghe về cách sử dụng các loại thảo mộc khiến cho người ta mê đắm, cùng với bùa chú và các loại chất kích dục, như bạch quả.

"Chú học được những điều này ở đâu ạ?" tôi hỏi.

Justin nhún vai.

"Từ sách vở là chủ yếu.

Vả lại mẹ chú cũng thích làm vườn.

Vậy nên, cháu biết đấy, chú lớn lên cùng với đất và hoa cỏ.

Thực sự cũng chỉ là... tiến bộ dần dần, thuận theo lẽ tự nhiên thôi."

Đến thời điểm này, kể từ khi Sally bỏ đi, chúng tôi chưa được học thêm một ngày nào.

Mấy đứa trẻ con chúng tôi được tự do chạy nhảy trong nhà, lúc nào cũng cảm thấy chán nản, hoặc bồn chồn.

"Đi đọc sách đi," là điệp khúc mà chúng tôi hay nhận được khi một trong số chúng tôi phàn nàn là không có gì để làm cả.

Hay "Làm tính đi."

Có lẽ chính vì thế mà giờ tôi sẵn sàng học thêm bất cứ thứ gì mới, ngoại trừ những bài tập thể dục quái dị của David và những buổi học chơi đàn violin với Birdie.

"Có loại cây nào có thể khiến ta làm những điều trái với ý muốn của chính mình không ạ?"

"Chà, tất nhiên là có các loại cây gây ra ảo giác, như

hoặc đại loại thế."

"Chú có thể trồng những loại cây đấy không?" tôi hỏi.

"Trong một khu vườn như thế này?"

"Chú có thể trồng bất cứ thứ gì, ở bất cứ đâu, cậu bé ạ."

"Cháu giúp chú được không?" tôi hỏi.

"Cháu có thể giúp chú trồng các loại cây được không?"

"Được chứ," Justin nói.

"Cháu có thể trở thành tập sự nhí của chú.

Sẽ rất vui."

Tôi không biết đằng sau cánh cửa đáng sợ kia, những lúc chung chăn sẻ gối thì David và Birdie nói những chuyện gì; tôi không thích suy nghĩ quá nhiều về những thứ xảy ra bên kia cánh cửa ấy.

Tôi đã nghe thấy những điều mà cho đến tận bây giờ, gần ba mươi năm sau, mỗi khi nghĩ đến tôi vẫn phải rùng mình.

Đêm nào ngủ tôi cũng phải lấy gối bịt tai lại.

Vào buổi sáng họ sẽ đi xuống nhà cùng nhau, với vẻ mặt mãn nguyện và trịch thượng.

David cuồng si mái tóc dài đến hông của Birdie.

Ông ta mân mê tóc cô ta cả ngày.

Ông cuốn tóc cô ta vào ngón tay, rồi búi nó lại.

Mỗi lần nói chuyện với Birdie, David lại luồn tay vào tóc cô ta, rồi vuốt từ trên xuống dưới, hay xoắn chân tóc cô ta thành từng vòng.

Có lần tôi còn nhìn thấy ông ta cầm một lọn tóc lên và đưa đến gần lỗ mũi, rồi hít một hơi thật sâu.

"Tóc Birdie đẹp quá phải không," một hôm ông ta nói.

Ông nhìn sang em gái tôi và Clemency, cả hai đều cắt tóc ngắn ngang vai.

"Hai đứa không muốn để tóc dài như thế này à?"

"Các cháu biết không," Birdie nói, "nhiều tôn giáo coi việc phụ nữ để tóc dài là một điều rất thiêng liêng."

Mặc dù cả hai đều không theo một tôn giáo nào, David và Birdie nói rất nhiều về tôn giáo khi họ mới hẹn hò.

Họ nói về ý nghĩa của cuộc sống, và thực trạng mọi thứ sản xuất ra chỉ để sử dụng vài lần rồi bỏ đi.

Họ nói về chủ nghĩa tối giản và phong thủy.

Họ hỏi mẹ tôi liệu bà có thấy được không nếu họ sơn lại phòng ngủ của họ màu trắng, và chuyển cái khung giường cổ bằng kim loại của họ ra phòng khác, để họ có thể bỏ nệm xuống dưới sàn.

Họ căm thù các loại bình xịt, thức ăn nhanh, thuốc tây, sợi nhân tạo, túi nylon, ôtô và máy bay.

Ở thời điểm đấy họ đã bắt đầu nói về biến đổi khí hậu và lo lắng về lượng khí carbon mà họ sẽ thải ra.

Nếu nhìn vào viễn cảnh của một ngày tận thế đang đến gần, điển hình như đợt nắng nóng kỷ lục năm 2018, hay đại dương đầy những sinh vật biển nuốt nhầm rác thải nhựa, và những con gấu Bắc Cực trượt ngã trên mặt băng tan, David và Birdie là những người đi trước thời đại.

Nhưng trong bối cảnh của những năm 1990, khi thế giới mới chỉ học cách tiếp nhận tất cả những gì công nghệ hiện đại và nền tạo ra, họ là những kẻ dị biệt.

Và rất có thể tôi đã dành cho nỗ lực bảo vệ môi trường của David và Birdie sự tôn trọng nhất định, nếu David không bắt tất cả mọi người phải sống theo ý của ông ta.

Chỉ mỗi mình ông ta và Birdie ngủ dưới sàn thôi là chưa đủ.

Tất cả chúng tôi đều phải bỏ nệm xuống dưới sàn.

Chỉ mỗi mình ông ta và Birdie từ bỏ việc đi ôtô, tránh dùng aspirin và kiêng ăn cá viên chiên là chưa đủ.

Tất cả chúng tôi cũng không được đi ôtô, không được dùng aspirin, không

được ăn cá viên chiên.

Điều mà trực giác đã mách bảo tôi từ mấy tuần trước, khi tôi nhìn thấy David hôn Birdie, đang xảy ra ngay trước mắt tôi.

Cô ta đã mở khóa cho một cái gì đấy kinh khủng bên trong David xổng ra, và giờ cô ta muốn David kiểm soát tất cả mọi thứ.

Có vẻ như chúng tôi đã không còn tự do.
 
Gia Đình Lầu Trên
33


Phải đến tận mười giờ đêm trời mới tối hẳn.

Libby và Miller ngồi nói chuyện đối diện nhau qua chiếc bàn ở trong vườn.

Họ không nhận ra bóng đêm đang ập xuống, cho đến khi họ không thể nhìn thấy lòng trắng trong mắt nhau nữa.

Họ thắp một cây nến lên, ngọn lửa uốn lượn trong gió.

Họ đã dành ra những giờ cuối cùng dưới ánh sáng mặt trời để lục soát quanh căn nhà, và giờ họ ngồi đây để cùng nhau lý giải những gì họ tìm thấy.

Ngoài dòng chữ "TÔI LÀ PHIN" viết vội ở trong ngăn kéo, họ tìm thấy những dòng chữ với nội dung tương tự ở mặt dưới bồn tắm trên tầng áp mái, ở chân tường cạnh cánh cửa của một phòng ngủ, và bên trong chiếc tủ quần áo cao kịch trần ở một phòng ngủ dưới tầng hai.

Họ tìm thấy một nắm dây đàn trong căn phòng tiếp khách nhỏ hơn ở tầng dưới và một chiếc giá để bản nhạc bị nhét vào trong góc tủ bếp.

Họ tìm thấy một chồng tã bông sạch, ghim băng, kem chống hăm tã, và áo liền quần của trẻ sơ sinh trong tủ quần áo ở căn phòng mà Libby tìm thấy cái cũi của mình.

Họ tìm thấy một chồng sách trong cái hòm phía sau hành lang, xám xịt và ẩm mốc,

sách về đặc tính trị bệnh của các loại thảo dược, sách về phù thủy thời Trung cổ, sách bùa chú.

Những cuốn sách được bọc trong cái chăn cũ và phủ đệm bên trên, chắc được dùng để trang trí bàn ghế ở ngoài vườn.

Họ tìm thấy một chiếc nhẫn vàng mỏng kẹt giữa sàn gỗ và ván ốp tường.

Trên nhẫn có một dấu nhỏ.

Miller chụp lại chiếc nhẫn bằng máy ảnh của mình rồi phóng to nó lên.

Khi họ tìm kiếm trên mạng thử, họ phát hiện ra dấu trên nhẫn được khắc vào năm 1975, cùng năm với ngày cưới của Henry và Martina.

Một thứ nhỏ bé, lạc lõng trong thế giới này, tránh được cả mắt xanh của thám tử điều tra và những kẻ trộm cướp, ẩn náu nơi tối tăm này suốt hơn hai mươi lăm năm qua.

Libby đeo thử chiếc nhẫn lên tay, trên ngón áp út của bàn tay trái.

Nhẫn của mẹ cô.

Nó vừa khít.

Vừa nói chuyện, cô vừa xoay xoay chiếc nhẫn.

Họ dừng lại một lúc, lắng nghe tiếng bước chân trong bụi rậm.

Thi thoảng Miller lại đi ra sau vườn, để tìm xem có bóng ai đi qua cánh cổng ở bức tường phía sau không.

Họ mang những miếng bọc đệm họ tìm thấy trong hòm ra, thổi nến, rồi ngồi trong góc xa nhất từ phía cửa sau.

Họ đang thì thầm với nhau thì Miller đột nhiên nhìn Libby chằm chằm, mắt mở to, ngón tay đưa lên miệng.

"Suỵt."

Rồi mắt anh đảo về phía sau vườn.

Có gì đó ở đấy.

Libby ngồi thẳng lưng.

Ngay ở đó, phía sau vườn.

Và họ thấy một người đàn ông đi ngang qua bãi cỏ, một người đàn ông cao, gầy, tóc ngắn, kính phản chiếu ánh trăng, chân đi giày thể thao màu trắng, vai đeo túi.

Họ nhìn người đàn ông đó quăng cái túi lên trên hầm và thế là họ cũng

đi theo gã.

Họ nghe thấy tiếng gã leo lên ống thoát nước trên doi đất tầng hai.

Rồi cả hai di chuyển trong im lặng và theo dõi gã ta biến mất trên mái nhà.

Tim Libby đập thình thịch.

"Ôi Chúa ơi," cô thì thầm, "ôi Chúa ơi.

Chúng ta phải làm gì bây giờ?"

"Tôi cũng đếch biết," Miller thì thầm đáp lại.

"Chúng ta có nên mặt đối mặt với gã không?"

"Tôi cũng không biết.

Cô nghĩ thế nào?"

Cô lắc đầu.

Cô nửa sợ, nửa lại muốn được gặp trực tiếp người đàn ông này.

Cô nhìn Miller.

Anh ta sẽ bảo vệ cô.

Hay chí ít, trông anh ta có vẻ như sẽ bảo vệ được cho cô.

Người đàn ông họ nhìn thấy nhỏ con hơn anh, đã thế gã ta còn đeo kính.

Giờ thì cô gật đầu và nói, "Được, chúng ta vào trong đi.

Nói chuyện với gã."

Miller trông có vẻ hơi đơ ra một chút, nhưng nhanh chóng tập trung trở lại và nói, "Được.

Phải đấy."

Căn nhà tối om, chỉ có ánh đèn đường mờ ảo ngoài kia lọt vào, cộng thêm ánh sáng lung linh bàng bạc từ mặt trăng rọi xuống dòng sông.

Libby đi theo Miller, cảm thấy yên tâm bởi bờ vai vững chãi của anh.

Họ dừng ở chân cầu thang.

Rồi họ đi lên, từng bước từng bước một, chậm và chắc, cho tới khi họ lên đến đầu cầu thang tầng hai.

Trên đây sáng hơn, mặt trăng hiện rõ qua khung cửa sổ lớn nhìn ra đường cái.

Cả hai liếc lên trên, rồi quay sang nhìn nhau.

"Cô ổn chứ?"

Miller thì thầm.

"Ổn," Libby đáp lại.

Cánh cửa sập trên trần tầng áp mái để mở, còn cửa nhà tắm thì đóng.

Họ nghe thấy tiếng ai đang đi tiểu vào bồn cầu, tiếng ngắt nghỉ khi dòng nước tiểu sắp xả ra hết, tiếng vòi nước chảy, tiếng hắng giọng.

Sau đó cửa mở, và một người đàn ông bước ra ngoài, trông gã ta rất dễ thương.

Đó là ý nghĩ đầu tiên nảy ra trong đầu Libby.

Một người đàn ông dễ thương, tóc cắt tỉa gọn gàng, mặt mũi trẻ trung, râu cạo sạch sẽ, cánh tay săn chắc, áo phông xám, quần jeans bó, kính hợp thời trang, đôi giày thể thao cũng đẹp.

Gã ta giật bắn mình, hai tay ôm lấy ngực khi gã ta thấy họ đang đứng ở đó.

"Ôi lạy Chúa quỷ thần ơi," gã nói.

Libby giật thót lên.

Và Miller cũng thế.

Cả ba nhìn nhau chằm chằm trong giây lát.

"Cô là...?" cuối cùng người đàn ông đó hỏi, cũng cùng lúc Libby thốt lên, "Ông là...?"

Họ chỉ tay vào nhau, cả hai quay lại nhìn Miller, như thể anh biết câu trả lời.

Rồi người đàn ông quay lại nhìn Libby và nói, "Cô có phải là Serenity?"

Libby gật đầu.

"Còn ông là Henry?"

Người đàn ông ngây ra nhìn họ trong giây lát.

Một lúc sau gã định thần trở lại và nói, "Không, tôi không phải Henry.

Tôi là Phin."
 
Gia Đình Lầu Trên
34


Mẹ tôi là người Đức, cho nên bà rất biết cách tổ chức một bữa tiệc Giáng sinh thịnh soạn.

Đấy là biệt tài của bà.

Căn nhà sẽ được trang hoàng từ đầu tháng Mười Hai với những đồ trang trí tự làm bằng cam bọc đường, vải bông kẻ ca rô đỏ, và những quả thông được sơn thứ dây kim tuyến hay vòng hoa giấy rẻ tiền, cũng không có hộp kẹo Quality Street hay Cadbury nào hết.

Đến cả cha tôi cũng thích Giáng sinh.

Ông có một bộ quần áo ông già Noel mà ông thường mặc mỗi đêm Giáng sinh khi chúng tôi còn nhỏ, và tôi vẫn không giải thích nổi tại sao chúng tôi có thể cùng lúc vừa biết mà lại vừa không biết đó là cha tôi.

Đến giờ nhìn lại, tôi thấy có lẽ đó là sự tự lừa dối bản thân, và cũng chính sự tự lừa dối ấy đã làm chúng tôi có những cảm nhận khác về David Thomsen.

Người ta có thể nhìn và chỉ thấy một người đàn ông, nhưng cũng trong cùng cái nhìn ấy, họ lại tìm thấy lời giải cho mọi vấn đề của họ.

Cha tôi không mặc bộ đồ ông già Noel đêm Giáng sinh năm ấy.

Ông nói giờ chúng tôi đều lớn hết cả rồi, và có lẽ là ông nói đúng.

Nhưng ông cũng nói là ông cảm thấy không được khỏe.

Mẹ tôi vẫn tổ chức tiệc mừng vào đêm Giáng sinh như bình thường.

Chúng tôi ngồi quanh một cây thông Bắc Âu (nhỏ hơn mọi năm) và bóc quà (cũng ít hơn mọi năm), trên nền nhạc của những bài hát Giáng sinh phát ra từ đài radio, và tiếng lửa cháy lách tách trong lò.

Khoảng nửa tiếng trước bữa tối, cha tôi nói là ông cần nằm nghỉ một lát, vì ông đau đầu kinh khủng.

Ba mươi giây sau, ông đột quỵ ở trên sàn phòng khách.

Lúc đó chúng tôi không biết là ông đang bị đột quỵ.

Chúng tôi cứ nghĩ là ông bị ngất.

Hay bị nhồi máu cơ tim.

Bác sĩ Broughton, bác sĩ riêng của cha tôi, đến để thăm khám cho ông, trên người vẫn mặc nguyên trang phục Giáng sinh, áo len đỏ cổ chữ V và đeo nơ in hình lá cây nhựa ruồi.

Tôi vẫn nhớ nét mặt ông ta khi cha tôi nói rằng ông không có bảo hiểm y tế tư nhân nữa, và thế là ông ta chạy nhanh ra khỏi cửa, vứt bỏ thái độ ngọt xớt của ông ta như vứt một viên gạch.

Ông ta gọi xe cấp cứu của Dịch vụ Y tế Quốc gia chở cha tôi thẳng đến bệnh viện, rồi bỏ đi mà không thèm nói lời từ biệt.

Cha tôi về nhà đúng ngày Lễ Tặng Quà.

Họ nói cha tôi giờ đã ổn, chỉ là trong thời gian tới ông sẽ gặp phải một số trở ngại về mặt nhận thức, một số vấn đề liên quan đến dây thần kinh vận động, nhưng não của ông ấy sẽ tự lành, đợi thêm vài tuần nữa ông ấy sẽ trở lại bình thường.

Hoặc có thể sớm hơn.

Nhưng, cũng giống như trận đột quỵ đầu tiên, cha tôi không bao giờ bình phục hoàn toàn.

Giờ khoảng trống ở trong đó có lẽ còn lớn

hơn.

Ông sử dụng sai từ.

Hoặc ông chẳng tìm được từ nào cả.

Cả ngày ông chỉ ngồi trên ghế bành trong phòng ngủ ăn bánh quy, một cách hết sức chậm rãi.

Nhiều khi ông cười vào những lúc không thích hợp.

Khi khác ông lại chẳng hiểu những điều chúng tôi bông đùa.

Ông di chuyển chậm, ông tránh đi lên đi xuống cầu thang.

Và ông không ra khỏi nhà nữa.

Cha tôi càng yếu thì David Thomsen càng tiến tới gần mục đích.

Đến khi tôi bước sang tuổi mười bốn, tháng Năm năm 1991, chúng tôi bắt đầu có những quy tắc.

Không phải là những quy tắc thông thường trong gia đình, như không được gác chân lên đồ đạc, hay làm bài tập về nhà trước khi xem ti-vi.

Không phải những quy tắc mà chúng tôi vẫn tuân theo từ tấm bé.

Không, giờ chúng tôi có những quy tắc điên rồ, bạo ngược, viết bằng bút dạ đen trên tấm áp phích lớn dán trên tường phòng bếp.

Tới tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ những quy tắc ấy:

Không cắt tóc NẾU KHÔNG CÓ sự CHO PHÉP của David và/hoặc Birdie

Không ti-vi

Không mời khách đến nhà NẾU KHÔNG CÓ sự CHO PHÉP của David và/hoặc Birdie

Không phù phiếm Không tham lam

Không ai được ra khỏi nhà nếu không có sự CHO PHÉP CỤ THỂ của David và/hoặc Birdie

Không thịt

Không dùng các sản phẩm từ động vật

Không dùng đồ bằng da/da lộn/lông cừu/lông vũ Không dùng hộp nhựa

Mỗi người chỉ được thải ra không quá bốn thứ rác thải một ngày, bao gồm đồ ăn thừa

Không mặc quần áo nhuộm bằng thuốc nhuộm nhân tạo Không thuốc tây

Không hóa chất

MỖI NGƯỜI được tắm một lần MỖI NGÀY Mỗi tuần gội đầu một lần

MỌI NGƯỜI TRONG NHÀ phải dành ra ít nhất hai tiếng một ngày tập thể dục với David

TẤT CẢ TRẺ CON TRONG NHÀ phải dành ra ít nhất hai tiếng một ngày tập đàn với Birdie

Tất cả thức ăn phải được chế biến ở nhà, chỉ sử dụng nguyên liệu hữu cơ

Không dùng sưởi bằng điện hay khí đốt Không la hét

Không chửi thề Không chạy nhảy

Mới đầu cái danh sách này cũng ngắn thôi, nhưng có nhiều quy tắc

được thêm vào giữa chừng, khi càng ngày David càng kiểm soát gia đình tôi chặt chẽ hơn.

Sally, tại thời điểm đó, vẫn thường ghé qua nhà tôi mỗi tuần một hoặc hai lần, để đưa Phin và Clemency đi uống trà.

Bà ngủ nhờ trên ghế xô-pha nhà một người bạn ở Brixton và đang cố gắng tìm một chỗ đủ lớn để chứa cả ba mẹ con.

Mỗi lần đi chơi với mẹ về là Phin lại càng thêm ủ rũ.

Cậu ấy tự nhốt mình trong phòng và bỏ ăn vài bữa.

Thực tế có nhiều quy tắc là do Phin mà ra.

David không chấp nhận nổi tâm tính thất thường của cậu ấy.

Ông ta không chấp nhận nổi chỗ đồ ăn thừa mà cậu ấy bỏ đi, hay cảnh ông ta không mở được cửa phòng Phin bất cứ lúc nào ông ta muốn.

Ông ta không chấp nhận nổi bất cứ ai làm bất cứ điều gì trái với thế giới quan của ông ta.

Ông ta không chấp nhận nổi những đứa trẻ đến tuổi vị thành niên.

Hai quy tắc mới được thêm vào: Không khóa cửa

TẤT CẢ các thành viên trong gia đình đều phải có mặt trong TẤT CẢ CÁC BỮA ĂN

Một buổi sáng, không lâu sau lần thứ năm Phin đi chơi với mẹ về và phá vỡ quy tắc "Không khóa cửa", tôi đi lên trên nhà và thấy David tháo ổ khóa ra khỏi cửa phòng Phin, hai hàm răng ông ta nghiến lại, các khớp ngón tay siết chặt cán tua vít.

Phin ngồi trên giường nhìn cha mình, tay khoanh trước ngực.

Đến giờ ăn tối Phin vẫn ngồi khoanh tay trên giường.

David, với vẻ mặt đáng sợ, lẳng lặng lôi Phin—lúc này vẫn đang khoanh tay trước ngực—xuống dưới nhà và quẳng cậu lên ghế.

David đẩy cái ghế vào chỗ và lấy cho Phin một bát cơm trộn bí nấu cà ri.

Tay Phin vẫn khoanh trước ngực.

David đứng dậy, xúc một thìa cà ri và đút vào miệng Phin.

Môi Phin mím chặt.

Tôi có thể nghe thấy tiếng thìa cụng vào răng cậu.

Bầu không khí trong nhà lúc này khiến ai cũng căng thẳng.

Phin, khi ấy, mới mười lăm tuổi rưỡi, nhưng nhìn cậu già dặn hơn rất nhiều.

Cậu cao và khỏe.

Tình huống này rất dễ thượng cẳng chân hạ cẳng tay.

Nhưng Phin vẫn giữ vững lập trường của mình, mắt nhìn như muốn khoét thủng bức tường đối diện, mặt cậu rắn đanh lại vì tức giận, kiên quyết không ăn.

Cuối cùng David cũng chịu thua, từ bỏ việc đút cơm vào miệng con trai mình và ném cái thìa sang một bên, xốt cà ri bắn lên, để lại một vệt vàng hình trăng lưỡi liềm xấu xí trên tường, cái thìa rơi xuống đất choang một tiếng chói tai.

"Đi về phòng!"

David hét lên.

"Ngay lập tức!"

Mạch máu trên thái dương ông ta giần giật.

Cổ ông ta căng ra, tím ngắt lại.

Tôi chưa từng thấy một ai sôi máu lên vì giận như David lúc này.

"Rất sẵn lòng," Phin rít lên.

Và rồi bàn tay của David xuất hiện; sau đó, gần như một thước phim quay chậm, khi Phin bước ngang qua, tay ông ta đập thẳng vào đầu cậu ấy.

Phin quay lại; mắt cậu nhìn thẳng vào mắt cha mình, và tôi thấy sự thù hằn hiện rõ giữa cha con họ.

Phin vẫn tiếp tục bước đi.

Chúng tôi nghe thấy tiếng chân của cậu ấy bước lên cầu thang, đều đều, từng bước một.

Có ai đó hắng giọng.

Tôi thấy Birdie và David liếc mắt nhìn nhau.

Ánh mắt của Birdie, dằn vặt và bất bình, như thể muốn nói, Anh đang mất bình tĩnh.

Làm gì đó đi chứ.

Ánh mắt của David, tối tăm và giận dữ, như

thể muốn nói, Anh đã tính hết cả rồi.

Khi bữa ăn tối hôm đó kết thúc, tôi lên phòng Phin.

Cậu ấy ngồi trên giường, đầu gối co lên sát cằm.

Cậu liếc lên nhìn tôi.

"Gì thế?"

"Cậu ổn không?"

"Thế cậu nghĩ sao?"

Tôi nhích vào trong phòng thêm mấy bước.

Tôi đợi cậu ấy đuổi tôi đi nhưng cậu ấy không làm thế.

"Lúc ông ta đánh cậu, cậu có đau không?" tôi hỏi.

Dù không được bình thường cho lắm, nhưng cha mẹ tôi chưa bao giờ đánh tôi.

Tôi còn không thể tưởng tượng ra nổi điều ấy.

"Cũng không đau lắm."

Tôi tiến lại gần hơn.

Rồi đột nhiên Phin ngước lên nhìn tôi, ánh nhìn ấy.

Cậu ấy đã nhìn tôi.

Đúng nghĩa.

"Tớ không thể ở đây được nữa," cậu vừa nói vừa lắc đầu.

"Tớ phải thoát ra khỏi đây."

Trái tim tôi lỡ một nhịp.

Phin là điều duy nhất khiến tôi cảm thấy sự tồn tại của tôi có ý nghĩa.

"Cậu định đi đâu?"

"Tớ không biết.

Sang ở với mẹ tớ."

"Nhưng..."

Tôi định nói là mẹ của cậu ấy còn đang ngủ nhờ trên ghế xô-pha ở Brixton.

Nhưng cậu ấy cắt ngang.

"Tớ không biết, được chưa?

Tớ chỉ biết là tớ cần phải thoát ra khỏi nơi này.

Tớ không thể ở đây thêm được nữa."

"Vậy khi nào?"

"Ngay bây giờ."

Cậu ấy nhìn tôi qua hàng mi dài đến phi lý của mình.

Tôi cố đọc những biểu cảm trên khuôn mặt cậu.

Tôi cảm nhận được sự thách thức.

"Vậy cậu...

Liệu tớ... có nên đi với cậu không?"

"Không!

Mẹ kiếp.

Không."

Tôi thu mình lại.

Không.

Tất nhiên là không rồi.

"Vậy tớ nên nói gì?

Nếu người lớn hỏi."

"Không gì cả," cậu rít lên.

"Không gì cả.

Đừng nói gì."

Tôi gật đầu, mắt mở to.

Tôi nhìn cậu ném đồ vào trong cái túi có dây rút: quần và tất, một cái áo phông, một quyển sách, bàn chải đánh răng.

Cậu ấy quay lại và thấy tôi đang nhìn cậu.

"Đi đi mà," cậu nói.

"Làm ơn."

Tôi rời khỏi phòng Phin và từ từ đi ra cầu thang phía sau, rồi tôi ngồi ở bậc thứ ba từ trên xuống, đóng hờ cánh cửa phía trên cầu thang lại, và qua đấy tôi nhìn Phin biến mất qua cửa sập trên tầng gác mái với cái túi của cậu.

Tôi không hình dung nổi cậu đang làm gì hay cậu đang đi đâu.

Trong giây lát tôi đã nghĩ có thể cậu ấy định sống trên mái nhà.

Nhưng dù giờ đã là tháng Năm, trời vẫn còn lạnh, và chắc kế hoạch ấy không khả thi.

Rồi tôi nghe thấy tiếng ai

đó vật lộn ở bên ngoài, và thế là tôi lao ngay vào phòng ngủ của Phin, khum tay đặt lên tấm kính cửa sổ mái nhà, và nhìn ra phía sau vườn.

Cậu ấy kia rồi: băng qua khu vườn vào trong những bóng cây tối đen như mực.

Và bỗng nhiên cậu ấy biến mất.

Tôi quay mặt về phía căn phòng trống.

Tôi lấy gối của cậu rồi áp vào mặt.Tôi hít hà mùi hương của cậu.
 
Gia Đình Lầu Trên
35


Sáng hôm sau Lucy rời ngôi nhà Xanh khi trời vẫn còn tối.

Hai đứa trẻ con im lặng, sợ sệt.

Cô nín thở khi đưa tiền cho người phụ nữ bán vé tàu đi Paris, như thể cô ta biết hết những bí mật sâu kín nhất của cô.

Cô lại tiếp tục nín thở khi họ lên tàu, và cô nín thở lần nữa khi nhân viên soát vé bước lên toa và kiểm tra vé của ba mẹ con cô.

Mỗi lần tàu giảm tốc là một lần cô nín thở, mắt liếc xung quanh xem có ánh sáng xanh nào lóe lên không, hay mũ kê-pi màu xanh đậm của hiến binh Pháp.

Đến Paris, cô chọn một góc yên tĩnh nhất, trong quán cà phê yên tĩnh nhất để ngồi đợi tàu đi Cherbourg với hai con và con chó.

Và rồi mọi thứ lại bắt đầu lại từ đầu: nỗi sợ hãi vớ vẩn từng giai đoạn, từng thời điểm.

Đến giờ ăn trưa, khi họ bước lên chuyến tàu tiếp theo, cô lại tưởng tượng ra cảnh Joy ở nhà Michael, bà bắt đầu tự hỏi không biết hắn ta đang ở đâu, và cô cảm thấy adrenaline chạy dọc cơ thể mình nhanh và mạnh đến nỗi có thể giết chết cô.

Trong đầu cô hình dung ra xung quanh nhà Michael, cô cố tự nhớ xem mình có quên gì không, hay còn dấu hiệu cảnh báo rõ rành rành nào mách bảo Joy phải chạy vào hầm rượu tìm ngay lập

tức.

Nhưng không, cô chắc chắn, hoàn toàn chắc chắn, là cô không để lại bất kỳ dấu vết hay manh mối nào cả.

Cô đã tự câu giờ cho mình.

Ít nhất là thêm một ngày nữa.

Có thể là ba hay bốn ngày cũng nên.

Mà đến lúc đó, liệu Joy có thể kể lại với cảnh sát điều gì mà khiến họ nghi ngờ cô cơ chứ, người phụ nữ tử tế tên là Lucy, mẹ của con trai Michael?

Không, bà sẽ kể cho họ nghe về những mối quan hệ mờ ám của Michael với thế giới ngầm, những người đàn ông trông có số má thỉnh thoảng đến nhà để bàn chuyện "làm ăn".

Bà sẽ dẫn họ đi theo một hướng hoàn toàn khác, và đến lúc họ nhận ra đó là ngõ cụt, thì lúc đó Lucy đã cao chạy xa bay.

Tối hôm đó, khi tàu đến ga Cherbourg, nhịp tim của cô đã dần ổn định, và cô đã lấy lại được vị giác để ăn cái bánh sừng bò cô mua ở Paris.

Ở bến xe taxi, ba mẹ con ngồi vào ghế sau một chiếc Renault Scenic cũ nát và nhờ tài xế chở đến Diélette.

Con chó ngồi trên đùi cô, cằm tựa lên cánh cửa sổ mở hờ.

Giờ cũng đã muộn rồi.

Cả hai đứa trẻ con đều lăn ra ngủ.

Diélette là một thị trấn cảng nhỏ bé, xanh tươi và nhiều đồi núi.

Chỉ có khách du lịch Anh, chủ yếu là các gia đình có con nhỏ, đến đây để bắt chuyến phà muộn sang Guernsey.

Lucy nắm chặt cuốn hộ chiếu trong lòng bàn tay ướt nhẹp mồ hôi của cô.

Hộ chiếu của cô là hộ chiếu Pháp, nhưng cô là người Anh.

Trên hộ chiếu của cả hai đứa con cô đều không có họ cô.

Màu da của Stella cũng khác màu da của cô.

Trên lưng họ đeo những chiếc ba lô khổng lồ bẩn thỉu, và lúc này cả ba mẹ con đều đã thấm mệt, nên trông họ có vẻ không được khỏe.

Và họ dùng hộ chiếu giả.

Lucy chắc chắn, cam

đoan đến một trăm phần trăm là họ sẽ bị chặn lại, kéo sang một bên để tra hỏi.

Cô đã phải lên kế hoạch cho chuyến hành trình về London dài và ngoắt ngoéo hơn bình thường để đánh lạc hướng và tránh để lại dấu vết, nhưng bây giờ, khi cô phải đưa hộ chiếu cho nhân viên hải quan ở bến phà, tim cô lại bắt đầu đập mạnh, đến nỗi cô cảm tưởng như anh ta có thể nghe thấy được nhịp tim cô.

Anh ta lướt qua cuốn hộ chiếu, nhìn ảnh, ngước lên nhìn cô, rồi lại nhìn tấm ảnh thêm lần nữa, đưa cuốn hộ chiếu lại cho cô, ra hiệu cho họ đi.

Và giờ họ đã lênh đênh trên biển, giữa bọt sóng xám xịt, cuộn trào của Eo biển Anh, để nước Pháp lại phía sau.

Cô đặt Stella lên đùi, ngồi ở phía cuối phà, để con bé có thể ngắm nhìn quê hương duy nhất của mình lần cuối, ngắm nhìn đất nước nơi con bé được sinh ra dần biến thành một vòng hoa cổ tích ở cuối chân trời.

"Tạm biệt, nước Pháp," Stella vừa nói vừa vẫy tay.

"Tạm biệt, nướcPháp."
 
Gia Đình Lầu Trên
36


Libby nhìn Phin chằm chằm.

Gã ta nhìn lại Libby.

"Tôi từng sống ở đây," gã nói, dù không ai yêu cầu gã phải giải thích gã ta là ai.

Ngay sau đó, trước khi Libby kịp đáp lại, gã nói, "Cô rất xinh đấy."

Libby nói, "Ồ."

Rồi gã nhìn Miller và hỏi, "Anh là ai?"

"Xin chào."

Miller chìa tay ra bắt.

"Tôi là Miller Roe."

Phin nhìn anh đầy thắc mắc.

"Tại sao tôi nghe tên anh thấy quen quen nhỉ?"

Miller thì thào một tiếng gì đó kỳ lạ và nhún vai.

"Anh là tay nhà báo, phải không?"

"Đúng vậy."

"Anh viết bài báo đó như cứt vậy.

Sai tùm lum hết cả."

"Đúng vậy," Miller nhắc lại, "giờ thì tôi cũng biết điều đó."

"Tôi không thể tin được cô lại xinh như thế này," gã nói, quay mặt lại phía Libby.

"Cô trông giống hệt như..."

"Mẹ tôi?"

"Đúng vậy," gã ta nói.

"Giống như mẹ cô."

Libby nghĩ về những tấm ảnh của mẹ cô với mái tóc nhuộm đen phong cách Priscilla Presley, và đôi mắt viền phấn côn đen huyền.

Cô cảm thấy hãnh diện.

Rồi cô nói, "Ông làm gì ở đây?"

Phin đáp, "Đợi cô tới."

"Nhưng hôm trước tôi đã ở đây.

Tôi nghe thấy tiếng ông ở trên lầu.

Vậy tại sao lúc đấy ông không đi xuống?"

Gã ta nhún vai.

"Tôi có xuống.

Chỉ là khi tôi xuống đến nơi thì cô đã đi mất rồi."

"Ồ."

"Vậy chúng ta có nên..."

Phin chỉ tay về phía cầu thang.

Họ theo gã xuống cầu thang và đi vào trong bếp.

Phin ngồi ở một bên bàn; Libby và Miller ngồi phía còn lại.

Libby quan sát khuôn mặt của gã.

Gã ta chắc phải ngoài bốn mươi tuổi, nhưng trông gã trẻ hơn nhiều.

Gã có đôi hàng mi dài khác thường.

"Vậy," gã nói, hai cánh tay dang rộng, "cả căn nhà này là của cô."

Libby gật đầu.

"Nhưng đáng ra cũng phải là của cả anh trai và chị gái tôi nữa."

"Ôi dào, mấy đứa ngốc nghếch.

À mà, đáng ra tôi nên nói chúc mừng sinh nhật cô mới phải.

Dù có hơi muộn một chút."

"Cảm ơn ông," cô nói.

"Lần cuối ông ở đây là từ khi nào?"

"Cách đây vài thập kỷ."

Giữa họ có một khoảng lặng dài, đầy e ngại.

Rồi Phin cất tiếng,

"Tôi nghĩ cô có một vài câu hỏi."

Miller và Libby liếc mắt nhìn nhau.

Libby gật đầu.

"Vậy thì," Phin nói, "chúng ta có nên đi ra khỏi đây không?

Tôi sống ở bên kia sông.

Tôi có rượu đã ướp lạnh sẵn.

Trên nhà tôi có sân thượng.

Và cả mấy con mèo nhìn như cái đệm bông nữa."

Họ lại liếc mắt nhìn nhau.

"Tôi không ăn thịt hai người đâu mà sợ," Phin nói.

"Và cả mèo nhà tôi cũng thế.

Đi sang nhà tôi.

Tôi sẽ kể cho hai người nghe tất cả mọi thứ."

Hai mươi phút sau, Libby và Miller theo chân Phin ra khỏi chiếc thang máy bóng loáng, bước vào một hành lang được lát đá cẩm thạch.

Căn hộ của gã ta ở đầu bên kia.

Đèn trong nhà tự động bật lên khi gã ta dẫn họ bước vào sảnh phía trước phòng khách ốp cửa kính, bên kia là sân thượng nhìn ra sông.

Thứ gì trong nhà trông cũng mờ mờ nhạt nhạt.

Một tấm da cừu trắng khổng lồ được choàng lên lưng chiếc ghế xô-pha dài màu kem.

Một bình hoa lộng lẫy cắm toàn hoa hồng và hoa ly, trông chẳng khác gì phòng trưng bày của thương hiệu Northbone Kitchens.

Phin dùng chiếc điều khiển nhỏ mở cửa sân thượng và mời họ ngồi xuống cặp ghế xô-pha cạnh chiếc bàn thấp.

Trong lúc gã đi lấy rượu, Libby và Miller lại nhìn nhau.

"Căn này có khi phải đến vài triệu bảng Anh đấy nhỉ," Miller nói.

"Ít nhất là như thế," Libby đáp.

Cô đứng dậy và nhìn sang bên kia

sông.

"Nhìn kìa!" cô nói.

"Ngôi nhà ở kia kìa.

Chúng ta đang ở ngay phía đối diện."

Miller ra đứng cùng cô.

"Chà," anh đáp gọn lỏn, "tôi nghĩ ta có thể cho rằng đây không phải một sự trùng hợp ngẫu nhiên."

"Anh có nghĩ ông ta theo dõi chúng ta không?"

"Có, tôi tin là gã đã theo dõi chúng ta.

Còn lý do nào khác để chọn một căn hộ nhìn ra hướng này cơ chứ?"

"Anh nghĩ gì về ông ta?"

Cô thì thầm.

Miller nhún vai.

"Tôi nghĩ gã hơi..."

"Kỳ lạ?"

"Phải, hơi kỳ lạ.

Và hơi..."

Nhưng rồi Phin quay trở lại, một tay cầm thùng đá đựng chai rượu vang và ba cái ly thủy tinh, tay kia ôm một con mèo trên ngực.

Gã ta đặt thùng đá xuống bàn nhưng giữ con mèo ở trên tay.

"Đây là Mindy," gã nói, tay cầm chân con mèo vẫy vẫy chào.

"Mindy, đây là Libby và Miller."

Con mèo phớt lờ họ và cố lách ra khỏi tay Phin.

"Ồ," gã ta nói với con mèo đang cố trượt ra đằng sau, "được thôi.

Đồ quỷ cái, để xem tao có thèm quan tâm không nhé."

Rồi gã quay về phía họ và nói, "Nó là con tôi thích nhất.

Tôi luôn yêu những người không ưa gì tôi.

Đó là lý do tại sao đến giờ tôi vẫn độc thân."

Gã mở chai rượu ra và rót rượu vào từng cái ly một.

"Hãy nâng cốc," gã nói, "để chúc mừng ngày đoàn tụ."

Họ cụng ly và theo sau đó là sự im lặng có phần nặng nề.

"Cảnh từ đây nhìn ra đẹp thật," Miller nói, "Anh sống ở đây được bao lâu rồi?"

"Không lâu lắm.

Mà thật ra, họ cũng chỉ mới xây xong mấy căn hộ này năm ngoái."

"Vị trí này đúng là quá tuyệt vời, phải không, ngay đối diện với đường Cheyne."

Phin gật đầu.

"Tôi muốn ở gần," gã quay sang nói với Libby, "để chờ cô quay trở về."

Một con mèo Ba Tư nữa xuất hiện trên sân thượng.

Con này béo phì, mắt thì lồi ra.

"À," Phin nói, "đây rồi.

Quý-ngài-thích-chú-ý.

Chắc nó biết tôi có khách đây mà."

Gã bế con mèo khổng lồ lên và đặt nó vào lòng.

"Đây là Tôi đặt tên nó như vậy vì đó là cách duy nhất tôi có thể đảm bảo là tôi cũng có được một cái cho riêng mình."

Libby phá lên cười và nhấp một ngụm rượu.

Trong một thế giới khác, đây có thể là một đêm đàn đúm tuyệt vời: hai người đàn ông đẹp trai, trời hè ấm áp, trên sân thượng của tòa nhà sang trọng nhìn ra sông Thames, ly vang trắng mát lạnh.

Nhưng ở trong thế giới này, mọi thứ đều méo mó, và Libby cảm thấy bị đe dọa, dù đó chỉ là những cảm nhận mơ hồ.

Ngay cả mấy con mèo cũng thế.

"Vậy," Miller nói, "nếu anh định kể cho chúng tôi nghe tất cả những gì đã xảy ra trên đường Cheyne, thì đây sẽ là phát ngôn không chính thức?

Hay tôi lại đóng vai trò phóng viên?"

"Anh cứ làm những gì anh muốn."

"Tôi ghi âm lại được không?"

Miller rút điện thoại của mình từ trong túi quần ra.

"Được thôi," Phin nói, ngón tay cào cào bộ lông dày trên lưng con mèo.

"Tại sao không chứ?

Tôi chẳng còn gì để mất cả.

Anh cứ tự nhiên."

Miller loay hoay với chiếc điện thoại của mình một lúc.

Libby để ý thấy tay anh hơi run, cho dù mặt anh rõ là phấn khích.

Cô nhấp thêm ngụm rượu nữa để trấn an tinh thần.

Rồi Miller đặt điện thoại lên bàn và hỏi, "Anh nói mọi thứ trong bài báo tôi viết đều sai bét.

Vậy chúng ta có thể bắt đầu ở đấy được không?"

"Chắc chắn rồi."

Con mèo béo nhảy ra khỏi đùi Phin, và gã lơ đãng lấy tay phủi lông dính trên quần.

"Vâng, khi tôi thu thập thông tin để viết báo, tôi tìm thấy một người đàn ông tên là David Thomsen.

Thomsen với chữ E."

"Vâng," Phin nói.

"Cha tôi."

Libby thấy vẻ nhẹ nhõm đắc thắng ngập tràn trên gương mặt Miller.

Anh ta thở phào và nói, "Và mẹ ông là Sally?"

"Đúng, Sally là mẹ tôi."

"Và Clemency...?"

"Vâng, đó là em gái tôi."

"Còn thi thể thứ ba..."

"Chính là cha tôi."

Phin gật đầu.

"Đúng chính xác.

Thật đáng tiếc là anh lại chẳng tìm hiểu tất cả những thông tin này trước khi viết bài."

"Ồ, tôi cũng có làm đấy chứ.

Nhưng tôi không thể tìm thấy bất kỳ ai.

Tôi đã cố truy lùng suốt mấy tháng trời, nhưng không thấy một dấu vết nào cả.

Vậy, điều gì đã xảy ra với gia đình anh?"

"Ừm, tôi biết chuyện gì đã xảy ra với tôi.

Nhưng tôi e là tôi không biết chuyện gì đã xảy ra với mẹ tôi hay Clemency."

"Ba người không giữ liên lạc với nhau à?"

"Không hề.

Tôi đã không gặp họ từ khi tôi còn là thiếu niên.

Theo như tôi biết thì mẹ tôi sống ở Cornwall và tôi đoán em gái tôi cũng vậy."

Gã ta nhún vai và nhấc ly rượu của mình lên.

"Penreath," gã nói.

Miller nhìn gã bằng ánh mắt khó hiểu.

"Tôi khá chắc là họ sống ở Penreath."

"Ồ ra vậy," Miller nói.

"Tuyệt.

Cảm ơn anh."

"Rất sẵn lòng," gã đáp.

Rồi gã xoa xoa hai bàn tay vào nhau và nói, "Hỏi tôi điều gì khác đi!

Hỏi tôi điều gì đã xảy ra trong cái đêm mà cả ba người cùng chết."

Miller cười nhạt và nói.

"Được.

Vậy, điều gì đã xảy ra?

Trong cái đêm mà cả ba người cùng chết?"

Phin tinh quái đưa mắt nhìn cả hai bọn họ, rồi rướn người về phía trước, ghé sát miệng vào micrô trên điện thoại của Miller và nói, "Chà, trước hết, đó không phải một vụ tự tử.

Đó là vụ án mạng."
 
Gia Đình Lầu Trên
37


Phin bỏ đi đã được một tuần.

Tôi không thể chịu nổi cuộc sống chán chường vô nghĩa này khi không có cậu ấy ở bên.

Khi cậu ấy ở nhà, mỗi lần đi xuống bếp là tôi lại háo hức, vì biết đâu đấy tôi có thể được ngắm nhìn khuôn mặt cậu ấy, thậm chí mỗi sáng thức dậy tôi cũng thấy hân hoan khi nghĩ đến những cuộc gặp gỡ đầy tiềm năng này.

Nhưng thiếu cậu ấy, tôi phải ở trong căn nhà tối tăm toàn những người xa lạ.

Và rồi, một tuần sau, tôi nghe thấy tiếng cửa trước đóng sầm lại và tiếng người í ới ở hành lang.

Phin xuất hiện, sau lưng là Sally, giọng khẩn khoản nói điều gì đó với David, người đang đứng khoanh tay trước bụng.

"Tôi đâu có bảo nó đến đâu.

Lạy Chúa.

Dù có chuyện gì đi chăng nữa thì tôi cũng không làm như thế.

Một mình tôi ăn nhờ ở đậu Toni là đã quá đủ rồi.

Lại còn thêm thằng con trai đang tuổi ăn tuổi lớn của tôi nữa."

David nói.

"Thế tại sao cô không gọi tôi?"

"Nó nói là anh biết nó đến chỗ tôi!

Làm sao mà tôi biết được?

Vả

lại, giờ tôi cũng đã gọi rồi còn gì nữa?"

"Tôi nghĩ nó đã bị ai đó giết rồi cơ.

Chúng tôi lo sốt vó."

"Chúng tôi?

'Chúng tôi' là những đứa chết mẹ nào cơ chứ?"

"Chúng tôi," David nói.

"Cả nhà chúng tôi.

Và làm ơn đừng ăn nói kiểu đó trong nhà chúng tôi."

"Phin nói là anh đánh nó."

"Ôi, tôi không đánh nó.

Lạy Chúa.

Chỉ là một cái tát mà thôi."

"Anh đã tát nó à?"

"Ôi lạy Chúa lòng lành, Sal, cô không biết một cái gì hết.

Cô không biết sống với thằng bé này như thế nào đâu.

Nó cục cằn thô lỗ.

Nó ăn cắp.

Nó chơi thuốc.

Nó xúc phạm mọi người trong nhà..."

Sally giơ tay lên.

"Đủ rồi," bà nói.

"Nó đang tuổi thiếu niên.

Nó là một đứa trẻ ngoan, nhưng giờ nó đang ở tuổi thiếu niên.

Đó là những chuyện hết sức bình thường."

"Thế à, điều đó có thể đúng với cái thế giới quan lệch lạc của cô.

Nhưng phần còn lại của thế giới thì không nghĩ thế.

Không có lời nào để biện hộ cho những hành động của nó cả.

Ở tuổi nó có mơ tôi cũng không dám làm như thế.

Đúng là đồ quỷ ám mà."

Tôi thấy tay Sally nắm lấy vai Phin.

Tôi thấy hai má bà hõm lại.

Rồi bà nói, "Ngày mai tôi sẽ đi tìm một căn hộ mới.

Ở Hammersmith.

Hai phòng ngủ.

Chúng ta nên bắt đầu chia quyền nuôi con."

David nhìn bà bằng ánh mắt hoài nghi.

"Thế cô định trả tiền nhà như thế nào?"

"Tôi đã đi làm được một thời gian, và tôi cũng có một khoản tiết kiệm."

"Chà, để xem.

Nhưng nghiêm túc mà nói, tôi không nghĩ cô có thể lo được cho Phin.

Cô dễ dãi với nó quá."

"Tôi không dễ dãi, David, tôi yêu thương các con tôi.

Có khi anh cũng nên thử làm thế xem sao."

Sally ở lại thêm vài tiếng nữa.

Không khí trong nhà vô cùng độc hại.

Birdie không đi xuống, nhưng tôi nghe thấy tiếng cô ta giả vờ ho, hết thở dài rồi đi đi lại lại trong phòng.

Khi Sally rời đi, Birdie phi ngay xuống cầu thang và lao vào vòng tay của David, rồi thì thầm vào tai David những lời sướt mướt, "Anh có ổn không, anh yêu?"

David gật đầu bình thản.

"Anh ổn."

Sau đó ông ta nhìn thẳng vào Phin, mắt nheo lại, và buông những lời báo hiệu cho một cơn ác mộng sắp biến thành hiện thực.

David nói, "Mọi thứ trong nhà sẽ thay đổi từ hôm nay.

Mày nhớ lấy."

Điều thay đổi đầu tiên là Phin bị nhốt ở trong phòng khi không có sự giám sát của David hay Birdie.

Không hiểu sao tất cả người lớn trong nhà lại thông đồng với nhau để thuyết phục chúng tôi việc này là hoàn toàn bình thường, thậm chí còn đúng mực và hợp lý là đằng khác.

Câu thần chú mà họ hay đọc là vì sự an toàn của Phin.

Cậu ấy được phép ra ngoài để tắm rửa, chăm bón vườn cây, giúp việc trong bếp, học violin, ăn uống và tập thể dục.

Vì từ trước đến nay chúng tôi vẫn dành hầu hết thời gian rảnh rỗi ở trong phòng, nên lúc đầu chúng tôi thấy chuyện Phin bị nhốt trong phòng không đáng sợ như mọi người vẫn tưởng, nhất là khi tôi viết lại thế này.

Nhìn lại, tôi thấy cách bọn trẻ con tự biết chấp nhận những tình cảnh tréo ngoe mới lạ làm sao.

Nhưng dù thế, ở thời

điểm này, khi nghĩ về những chuyện đã xảy ra, tôi vẫn cảm thấy sốc.

Hôm ấy, không lâu sau khi mẹ Phin đưa cậu ấy trở về nhà, tôi đang ngồi vắt chân trên giường và đọc cuốn sách mà Phin cho tôi mượn từ mấy tuần trước.

Tôi nhảy dựng lên khi thấy cậu ấy, vì lúc đấy cũng tối muộn rồi và tôi cứ tưởng cửa phòng cậu ấy đã bị khóa rồi cơ.

"Làm thế nào mà...?"

Tôi bắt đầu.

"Justin đưa tớ lên phòng sau bữa tối," cậu nói.

"Vô tình nhưng cố ý quên vặn khóa cửa."

"Đúng là Justin," tôi nói.

"Cậu định làm gì?

Cậu không định bỏ đi đấy chứ?"

"Không," cậu đáp.

"Vô ích thôi.

Tuần sau mẹ tớ sẽ chuyển đến căn hộ mới và tớ sẽ sang sống với bà ấy.

Rồi tất cả những thứ chết tiệt này sẽ kết thúc."

Tôi cảm thấy như cậu ấy vừa đấm vào cổ họng tôi.

Giọng tôi như vỡ ra khi tôi trả lời cậu, "Nhưng cha cậu...

Liệu ông ấy có để cậu làm thế không?"

"Tớ đếch quan tâm đến chuyện ông ấy cho hay không cho.

Đến tháng Mười Hai tớ đủ mười sáu tuổi.

Và tớ muốn sống với mẹ của tớ.

Ông ấy chả làm gì tớ được."

"Thế còn Clemency thì sao?"

"Con bé cũng sẽ đi cùng tớ."

"Cậu có nghĩ rằng cha cậu và Birdie cũng sẽ chuyển ra ngoài không?

Một khi cậu và Clemency không ở đây nữa."

Cậu cười cay nghiệt.

"À.

Không.

Không đời nào.

Ván đã đóng

thuyền cả rồi.

Mọi thứ đều theo đúng ý ông ta."

Một thoáng im lặng xen vào giữa chúng tôi.

Rồi Phin nói, "Nhớ đêm hôm trước không?

Khi chúng mình ở trên mái nhà ấy?

Hôm chúng mình chơi thuốc ấy?"

Tôi gật đầu lia lịa.

Làm sao tôi có thể quên được kia chứ.

"Cậu biết là tớ vẫn còn đúng không?

Ở trên đấy?"

"Vẫn còn...?"

"Một tem nữa.

Một tem thuốc nữa.

Gã ở chợ Kensington cho tớ hai tem.

Chúng mình mới dùng có một tem thôi."

Tôi để những thông tin này ngấm vào đầu trong giây lát.

"Ý cậu là...?"

"Tớ đoán thế.

Ý tớ là, bọn họ đều nghĩ tớ đã bị nhốt an toàn.

Hai đứa con gái thì đang ngủ.

Không có ai lên đây nữa.

Cậu có thể đi xuống và bảo với mọi người là cậu chuẩn bị đi ngủ, rồi mang một cốc nước lên.

Tớ đợi ở đây."

Và tất nhiên tôi làm y chang những gì tôi được bảo.

Chúng tôi mặc thêm áo len và mang theo chăn.

Tôi trèo qua cửa sập đầu tiên, Phin đưa cho tôi cốc nước rồi sau đó cũng trèo lên theo sau.

Dù giờ mới là tháng Bảy thôi, nhưng bầu không khí đã ẩm và lạnh.

Phin đi tìm chiếc túi nhỏ mà cậu để ở trong một chậu cây.

Thực ra tôi không muốn thử thêm chút nào nữa.

Tôi thầm mong là nó đã mất đi một phần độc tính trong suốt những tháng vừa qua, khi nó nằm ở ngoài này, tùy thuộc vào các thành phần hóa học trong đấy.

Tôi thầm mong là sẽ có một cơn gió ập đến và thổi bay nó đi.

Hoặc Phin sẽ đặt nó lại chỗ cũ và nói, "Chúng ta đâu cần thứ

đó.

Chúng ta có nhau là đủ rồi."

Chúng tôi phủi lá khô ra khỏi hai cái ghế nhựa và ngồi xuống cạnh nhau.

Phin đặt cái tem vào trong lòng bàn tay cậu.

Bầu trời hôm nay đẹp khác thường.

Xanh hoàng gia, hổ phách cháy, hồng son môi.

Trước dòng sông bầu trời như tự nhân đôi.

Phía xa xa là cây cầu Battersea lấp lánh.

Tôi thấy Phin cũng đang nhìn ngắm bầu trời.

Có gì đấy khác so với lần cuối bọn tôi ở trên đây.

Phin cũng khác.

Trầm ngâm, ít nổi loạn hơn.

"Cậu nghĩ sau này cậu sẽ làm gì?"

Phin hỏi.

"Khi cậu lớn ấy?"

"Cái gì đấy liên quan đến máy tính," tôi nói.

"Hoặc làm phim."

"Hoặc cả hai, biết đâu đấy?" cậu ấy gợi ý.

"Ừ," tôi vui vẻ đồng ý.

"Dựng phim trên máy tính."

"Tuyệt," cậu nói.

"Còn cậu thì sao?"

"Tớ muốn đến châu Phi sống," cậu nói.

"Làm hướng dẫn viên safari."

Tôi cười.

"Từ đâu mà cậu có ý tưởng đó vậy?"

"Nhà tớ đi tour safari trong một chuyến du lịch.

Lúc đấy tớ mới lên sáu.

Nhà tớ xem mấy con hà mã giao cấu với nhau.

Đó là thứ mà tớ nhớ nhất.

Nhưng tớ cũng nhớ anh hướng dẫn viên.

Một tay người Anh rất ngầu.

Anh ấy tên là Jason."

Tôi nhận ra có chút gì đấy khao khát ẩn trong giọng Phin lúc này.

Nó khiến tôi cảm thấy gần cậu ấy hơn, theo cách mà tôi không biết

phải xử lý như thế nào.

"Tớ đã nói với cha mẹ tớ rằng đó là việc mà tớ muốn làm khi lớn lên.

Cha tớ nói tớ sẽ không bao giờ kiếm được đủ tiền từ việc lái Land Rover chở khách du lịch.

Như thể tiền là thứ quan trọng duy nhất vậy..."

Cậu thở dài rồi nhìn xuống lòng bàn tay mình.

"Vậy," cậu nói, "chúng ta có nên thử không?"

"Chỉ một chút thôi," tôi nói.

"Một tí ti thôi ấy."

Và mấy tiếng tiếp theo trôi qua như một giấc mơ.

Chúng tôi ngắm nhìn bầu trời cho đến khi đủ thứ sắc màu biến thành một màu đen duy nhất.

Chúng tôi nói những điều vô nghĩa về ý nghĩa của cuộc sống này.

Chúng tôi cười khúc khích cho đến khi chúng tôi phát nấc cả lên.

Đến một lúc nào đấy Phin nói, "Khi tớ chuyển đến Hammersmith, thi thoảng cậu phải đến thăm tớ đấy nhé.

Cậu phải đến và ở lại với tớ."

"Chắc chắn.

Chắc chắn rồi."

Rồi một lúc sau tôi nói, "Cậu sẽ làm gì nếu bây giờ tớ hôn cậu?"

Và Phin cười lăn cười bò cho đến khi cậu ấy ho sặc sụa mới thôi.

Cậu ấy cười gập cả người lại, và tôi thì quan sát cậu ấy với nụ cười mù quáng, cố gắng lý giải xem phản ứng của cậu có nghĩa là gì.

"Không," tôi nói.

"Thật đấy!

Cậu sẽ làm gì?"

"Tớ sẽ đẩy cậu xuống khỏi cái mái nhà này," cậu nói, miệng vẫn mỉm cười.

Rồi cậu xòe ngón tay ra và nói, "Bụp."

Tôi tự làm mình cười.

Ha ha.

Hài hước quá đi.

Rồi cậu nói, "Nào, hãy ra khỏi đây."

"Và đi đâu?"

"Tớ sẽ chỉ cho cậu thấy.

Đi theo tớ."

Và tôi đi theo cậu ta.

Ngớ ngẩn, lúc đó tôi mới thật ngớ ngẩn làm sao.

Tôi đi theo cậu ấy xuống tầng áp mái, rồi trèo cửa sổ trốn ra khỏi nhà, một hành động liều mạng, đáng sợ, điên rồ, đầy thách thức, khiến tôi kinh hãi, buồn nôn.

"Mày đang làm gì vậy," tôi cứ tự hỏi, ngón tay bám vào những viên gạch trơ trụi, ống quần của tôi rách toạc ra trên những gờ tường.

"Chúng ta đi đâu vậy?"

"Lối bí mật của tớ!"

Cậu ấy nói, nhìn tôi với đôi mắt mở to.

"Chúng mình đi ra bờ sông đi!

Không ai biết đâu mà sợ!"

Đến lúc chân chúng tôi chạm được đến bãi cỏ, mình mẩy tôi đã sây sát chảy máu ở ba chỗ khác nhau, nhưng tôi không quan tâm.

Tôi lần theo bước chân của cậu trong bóng tối, đến chỗ cánh cổng mà trước đó tôi còn không biết đến sự tồn tại của nó ở ngay cuối khu vườn.

Bỗng nhiên, giống như trong chúng tôi bước vào khu vườn của ai khác, Phin nắm lấy tay tôi và kéo tôi qua hai góc phố, qua bóng tối mờ ảo trên đường Đê Chelsea, qua bốn làn xe, và đến bờ sông.

Ở đây cậu ấy buông tay tôi ra.

Trong một khoảnh khắc chúng tôi đứng im lặng, vai kề vai, ngắm những con sâu vàng sâu bạc nhảy múa trên mặt nước.

Tôi cứ nhìn chằm chằm vào Phin, trong bóng tối, dưới ánh sáng lập lòe, trông cậu ấy đẹp hơn bao giờ hết.

"Đừng nhìn tớ chằm chằm như thế nữa," cậu ấy nói.

Mắt tôi lại càng dán chặt vào cậu ấy hơn.

"Tớ nghiêm túc đấy," cậu ấy nói.

"Đừng nhìn nữa."

Và rồi cậu ấy đẩy tôi, bằng cả hai tay, đẩy tôi thật mạnh xuống làn nước đen ngòm, và lúc này tôi đã ở dưới nước, hai bên tai tôi nổi đầy bong bóng, quần áo tôi bỗng nặng trĩu, dính chặt vào da thịt tôi.

Tôi cố hét lên, nhưng thực tế tôi chỉ uống thêm nước mà thôi.

Tay tôi sờ soạng cố tìm bờ kè nào đấy để bám vào, còn chân tôi thì giãy đạp trong hư vô, nặng trịch, nhớp nháp.

Và rồi mắt tôi mở to ra và tôi thấy những khuôn mặt: những khuôn mặt đen ngòm tập hợp lại với nhau, kéo đến vây quanh tôi.

Tôi cố nói chuyện với họ, cố nhờ họ giúp tôi, nhưng họ đều quay mặt đi.

Nhưng rồi tôi cũng nổi được lên, cổ tay tôi đau nhói, và mặt Phin hiện ra, kéo tôi qua những bậc thang đá để lên bờ sông.

"Đồ điên," cậu ta nói rồi phá lên cười, như thể tôi là người tự nhảy xuống dòng sông Thames, như thể đây chỉ là một trò đùa tinh nghịch.

Tôi đẩy cậu.

"Đồ khốn nạn!"

Tôi gào lên, chất giọng còn-chưa-vỡ của tôi nghe the thé khó chịu.

"Cậu là đồ chó chết khốn nạn!"

Tôi lao qua người cậu ta, lao qua cả bốn làn xe, khiến ai đó phải hú còi, và đứng trước cửa nhà.

Phin đuổi theo tôi và tiến lại gần tôi trên thềm cửa, thở hổn hển.

"Cậu đang làm cái quái gì thế?"

Đáng lẽ ra lúc ấy tôi nên dừng lại ở đó, tôi nên làm như thế.

Tôi nên hít một hơi thật sâu, đánh giá tình hình và đưa ra một quyết định khác.

Nhưng lúc đó máu tôi đã sôi lên vì tức giận, không chỉ vì tự nhiên tôi bị đẩy xuống dòng sông Thames lạnh cóng, bẩn thỉu, mà còn vì thái độ lúc nóng lúc lạnh của Phin suốt bao nhiêu năm

qua, chỉ khi nào cần cậu ấy mới đoái hoài đến tôi, còn không thì lạnh nhạt, dửng dưng.

Tôi nhìn cậu ấy, cậu ấy khô ráo và đẹp đẽ, còn tôi thì ướt nhẹp và xấu xí, rồi tôi quay lại, và giơ ngón tay lên ấn thật mạnh vào chuông cửa.

Mắt cậu ấy nhìn tôi không rời.

Tôi có thể đoán được lúc này cậu đang quyết định xem có nên bỏ chạy hay không.

Nhưng chỉ một giây sau cửa đã mở, và David xuất hiện.

Ông ta nhìn tôi, quay sang nhìn Phin, rồi lại nhìn tôi, vai ông ta rướn lên, còn hai hàm răng thì cắn chặt lại, như một con thú hoang sắp sửa sổ lồng.

Rồi từ từ, giọng ông ta gầm lên như sấm, "Đi vào nhà ngay."

Lúc đó Phin quay mặt đi và bắt đầu chạy, nhưng cha cậu không những cao hơn, mà còn khỏe hơn; ông ta tóm được cậu trước khi cậu kịp chạy đến góc phố và ghì cậu xuống vỉa hè.

Tôi vừa nhìn họ vừa hếch cằm lên phòng thủ, tiếng hai hàm răng tôi va lập cập vào nhau vang lên trong hộp sọ còn non nớt của tôi, hai tay tôi ôm lấy người.

Mẹ tôi xuất hiện trước cửa.

"Chuyện quái gì đang xảy ra thế?"

Bà hỏi, ngó qua đầu tôi.

"Con đã làm cái quái gì vậy?"

"Phin đẩy con xuống sông," tôi lắp bắp qua hàm răng vẫn va vào nhau lập cập.

"Ôi Chúa ơi," bà nói, kéo tôi vào trong nhà.

"Lạy Chúa.

Vào đây.

Cởi quần áo ra.

Chuyện quái quỷ gì thế..."

Tôi không đi vào để thay quần áo.

Tôi đứng đó và nhìn David kéo cậu con trai đã trưởng thành của ông ta trên vỉa hè, như một con thú vừa bị bắn hạ.

Thế là hết, tôi thầmnghĩ, thế là hết.
 
Gia Đình Lầu Trên
38


Vào sáng thứ Tư, sau hai đêm ngủ tại và chuyến hành trình đầy sóng gió qua phần còn lại của eo biển Anh, Lucy tới Portsmouth, thuê một chiếc ôtô và lái đến London.

Cô rời Anh vào mùa đông, nên trong tâm trí cô ở đây lúc nào cũng lạnh, cây cối lúc nào cũng trơ trụi, và mọi người lúc nào cũng trùm kín mít để chống lại thời tiết khắc nghiệt.

Nhưng giờ nước Anh đang phải trải qua một mùa hè nắng nóng kéo dài, và trên phố da ai cũng rám nắng, nét mặt rạng rỡ, trên đeo kính râm, dưới mặc quần soóc, bàn ăn tràn ra vỉa hè, trẻ con đứng vây quanh đài phun nước, ghế phơi nắng đặt ngoài các cửa hàng.

Mắt Stella dán chặt vào cửa kính đằng sau xe hơi, với Fitz nằm trên đùi.

Con bé chưa bao giờ rời khỏi Pháp.

Trước giờ nó còn chưa bước ra khỏi Côte d'Azur nữa kìa.

Cả cuộc đời ngắn ngủi của con bé nằm gọn trên những con phố ở Nice, giữa ngôi nhà Xanh, căn hộ của bà nội và trường mẫu giáo.

"Con thấy nước Anh thế nào?"

Lucy hỏi, đưa mắt nhìn qua gương chiếu hậu.

"Con thấy thích ạ," Stella nói.

"Ở đây có nhiều màu sắc."

"Màu sắc ấy hả?"

"Vâng.

Cây cối xanh tươi hơn."

Lucy cười và Marco chỉ cho cô đường đi tới cao lộ trên Google Maps.

Ba tiếng sau, những con phố chính tồi tàn ở London bắt đầu xuất hiện.

Cô thấy Marco quay mặt ra phía cửa sổ, mong được nhìn thấy tháp Big Ben, cung điện Buckingham, được ăn và mua đồ điện tử ở những cửa hàng đồ cũ.

Cuối cùng thì họ cũng lái tới bên kia sông và hôm nay là một ngày nắng đẹp rực rỡ: dòng sông phản chiếu ánh mặt trời lấp lánh như những viên kim cương; ngôi nhà ở trên đường Cheyne sáng lên trong nắng.

"Đến nơi rồi," cô nói với Marco.

"Chính là ở đây."

"Ở đâu cơ ạ?" cậu hỏi, đoạn thở dốc.

"Đây," Lucy nói, tay chỉ số mười sáu.

Cô nói nhẹ nhàng, nhưng trái tim cô quặn lên vì đau đớn khi nhìn thấy ngôi nhà này.

"Ngôi nhà có tấm ván ở trước cửa ấy ạ?"

Marco nói.

"Đây đúng không ạ?"

"Ừ," cô nói, vừa liếc nhìn ngôi nhà, vừa đảo mắt tìm chỗ để xe.

"To thật đấy," cậu nói.

"Ừ," cô nói, "hẳn là thế rồi."

Nhưng vì một lý do kỳ lạ nào nó, qua đôi mắt của người trưởng thành, giờ cô lại thấy ngôi nhà nhỏ đi.

Hồi bé cô cứ nghĩ nó là một

căn biệt thự.

Giờ cô chỉ thấy một ngôi nhà.

Một ngôi nhà đẹp, nhưng vẫn chỉ là một ngôi nhà.

Họ không tìm được chỗ đậu xe nào gần nhà nên cuối cùng họ phải để xe ở đầu bên kia phố King's Road, cạnh World's End, và chỗ này bắt cô phải tải một ứng dụng đỗ xe trên điện thoại di động.

Ngoài trời khoảng ba mươi độ, nóng như ở miền nam nước Pháp.

Đến khi họ quay về ngôi nhà thì cả ba mẹ con đều mồ hôi nhễ nhại, còn con chó thì thở hổn hển.

Tấm phản bằng gỗ trước nhà bị khóa lại.

Họ đứng thành hàng và quan sát ngôi nhà.

"Mẹ có chắc là đúng nhà không đấy?"

Marco nói.

"Làm sao mà lại có người sống ở đây được cơ chứ?"

"Hiện tại thì không có ai sống ở đây," cô nói.

"Nhưng chúng ta sẽ đi vào bên trong và chờ những người khác tới."

"Nhưng làm sao mình vào được bên trong ạ?"

Lucy hít một hơi thật sâu và nói, "Đi theo mẹ."
 
Gia Đình Lầu Trên
39


Sáng hôm sau Libby thức dậy thì ánh mặt trời đã chói chang.

Cô lần tay xuống sàn dưới gầm giường, rồi mò mẫm trên mặt bàn bên cạnh giường, cố xác định xem điện thoại của cô đang ở đâu.

Nó không có ở đó.

Đêm trôi qua êm đềm và không trọn vẹn.

Cô ngồi bật dậy và nhìn quanh căn phòng.

Cô đang ở trong một căn phòng nhỏ, sơn màu trắng, trên chiếc giường gỗ thấp tẹt, với một tấm nệm khổng lô.

Và Miller cũng vậy.

Theo bản năng, cô vội ôm chặt tấm ga trải giường vào trước ngực, cho đến khi cô nhận ra là cô vẫn mặc quần áo; cô đang mặc cái áo mà cô mặc tối hôm trước, bên dưới chỉ có độc chiếc quần lót.

Cô mơ hồ nhớ lại cô đã tụt quần soóc ra khi Miller ở trong nhà tắm và chui xuống dưới lớp ga trải giường.

Cô mơ hồ nhớ lại lúc chải răng và cảm thấy kem đánh răng vẫn dính trên răng cô.

Cô mơ hồ nhớ lại rất nhiều thứ.

Cô đang ở trong căn hộ của Phin.

Cô đang ở trên giường với Miller.

Cả hai đều mặc quần áo và ngủ ngay cạnh nhau.

Tối qua Phin rót rượu cho cả hai, hết ly này đến ly khác.

Rồi gã ta cứ khăng khăng mời họ ở lại, đến nỗi cô cảm thấy thật kỳ quặc.

"Đừng đi mà," gã nói.

"Xin cô đấy.

Tôi mới tìm được cô.

Tôi không muốn để lạc mất cô lần nữa."

Và cô nói, "Làm sao mà ông lạc mất tôi được.

Chúng ta gần như đã là hàng xóm rồi.

Nhìn mà xem!"

Và cô chỉ tay sang dãy biệt thự bên kia sông nơi nhà số mười sáu tọa lạc.

"Làm ơn đi mà," gã dỗ ngon dỗ ngọt, đôi hàng mi dài chạm vào hàng lông mày được chải chuốt hoàn hảo.

"Chắc chắn ngủ ở đây sẽ dễ chịu hơn ngủ trên những tấm nệm cũ kỹ bên kia.

Thôi nào.

Tôi sẽ nấu một bữa sáng thật ngon cho hai người!

Tôi có mấy quả bơ.

Đó là món các cô thích, phải không?"

"Tôi thích ăn trứng hơn," Miller trả lời.

"Mà anh có được tính là millennial không đấy?"

Phin hỏi, mắt nheo lại, mỉa mai.

"Vừa đúng," Miller đáp lại.

"Nhưng tôi đã bỏ lỡ quãng thời gian khi mốt ăn bơ thịnh hành."

Libby nhìn đồng hồ báo thức bên cạnh giường và nhận ra rằng nếu trong tám phút nữa cô rời khỏi đây, cô sẽ vẫn kịp đến chỗ làm trước chín giờ.

Với cô thế là muộn, nhưng nếu chỉ để tiếp khách đến thăm phòng trưng bày và nghe những cuộc điện thoại gọi đến thì như thế không sao.

Cô mặc quần soóc vào và ra khỏi chiếc giường thấp.

Miller cọ quậy.

Cô liếc nhìn anh ta.

Cô thấy hình như trên bắp tay anh có xăm hình gì đó, ngay chỗ tay áo phông của anh vén lên.

Cô ghét hình xăm.

Trong thời đại này, điều ấy càng khiến chuyện hẹn hò của cô trở nên oái oăm.

Nhưng trông anh rất dễ thương, và cô không thể thôi ngắm anh được.

Rất dịu dàng và quyến rũ.

Cô thôi không nhìn dáng ngủ của anh nữa, nhón chân bước vào buồng tắm trong phòng mà cô nhớ mang máng là cô đã dùng rất muộn đêm qua.

Trong gương trông cô có vẻ vẫn bình yên vô sự.

Mái tóc cô sấy từ sáng hôm trước vẫn sống sót qua những cuộc phiêu lưu từ buổi tối hôm qua.

Cô lại chải răng và súc miệng bằng nước máy.

Cô buộc tóc đuôi ngựa, và tìm lọ lăn khử mùi trong tủ buồng tắm.

Khi cô bước ra thì Miller đã dậy.

Anh nhìn cô mỉm cười.

"Chào buổi sáng," anh nói.

Anh vươn tay qua đầu và cô nhìn thấy toàn bộ hình xăm trên tay anh.

Một biểu tượng Celtic gì đấy.

Cũng không tệ lắm.

"Tôi đi đây," cô nói, tay xách túi lên.

"Đi đâu?"

"Đi làm," cô đáp.

"Chúa ơi, thật ư?

Cô không nghĩ sếp cô sẽ cho cô nghỉ sáng nay à?"

Cô ngừng lại.

Tất nhiên là sếp cô sẽ cho cô nghỉ buổi sáng ngày hôm nay rồi.

Nhưng Libby không làm như thế.

Chỉ nghĩ đến thôi cũng đủ làm cô khó chịu rồi.

"Không," cô nói.

"Tôi muốn đi làm.

Hôm nay là một ngày quan

trọng.

Tôi có vài cuộc hẹn với khách hàng đã lên lịch từ trước."

"Và cô không muốn làm người khác thất vọng?"

"Tôi không muốn làm người khác thất vọng."

"Vậy thì," anh nói, ném tấm ga trải giường sang một bên, để lộ ra là anh đang mặc quần lót màu đỏ và xanh và có cặp đùi rắn chắc như cầu thủ bóng bầu dục, "cho tôi ba mươi giây, tôi sẽ đi cùng cô."

"Anh có biết điện thoại của tôi ở đâu không?" cô hỏi.

"Chịu," anh nói, đoạn nhảy ra khỏi giường và lấy quần dài mặc vào.

Đầu tóc anh trông không đâu vào đâu.

Râu ria anh trông cũng không đâu vào đâu.

Cô cố nhịn cười.

"Anh có định, anh biết đấy, kiểm tra bộ dạng mình trước gương không?"

"Tôi nên làm thế à?" anh bối rối.

Cô thầm nghĩ xem đã mấy giờ rồi và nói, "Không.

Anh ổn.

Chúng ta nên đi tìm điện thoại và rời khỏi đây."

Cô đặt tay lên nắm cửa và nhấn xuống.

Cửa không mở.

Cô lại tiếp tục nhấn xuống.

Cửa vẫn không mở.

Cô nhấn thêm bốn lần nữa.

Rồi cô nhìn Miller và nói, "Cửa bị khóa rồi."
 
Back
Top Bottom