Cập nhật mới

Khác Gia đình lầu trên

Gia Đình Lầu Trên
61


Lucy đặt điện thoại xuống và nhìn Henry chằm chằm.

"Con bé đang ở đây rồi."

Họ cùng nhau đi ra trước cửa.

Con chó bắt đầu sủa khi nghe thấy tiếng người ở ngoài, Henry bế nó lên rồi suỵt cho nó im lặng.

Tim Lucy đập loạn xạ khi tay cô chạm vào tay nắm cửa.

Cô chạm tay lên tóc mình, rồi vuốt vuốt xuống.

Cô cố mỉm cười.

Và con bé đây rồi.

Đứa con gái mà cô đã phải bỏ lại phía sau.

Đứa con gái mà cô đã phải giết người để quay lại tìm.

Con gái cô có chiều cao trung bình, vóc dáng cũng trung bình, không hề giống với đứa bé bụ bẫm cô đã bỏ lại trong chiếc cũi hiệu Harrods.

Con gái cô có mái tóc vàng mềm mại, nhưng lại không có lọn tóc nào xoăn.

Mắt con bé xanh, nhưng không phải màu xanh nước biển nhạt như đứa bé mà cô đã bỏ lại.

Con bé đang mặc quần soóc vải cotton, áo cánh ngắn tay và đi đôi giày vải màu hồng.

Con bé đang ôm chặt lấy chiếc túi xách màu xanh cỏ vào trong bụng.

Con bé đeo đôi khuyên tai nhỏ bằng vàng, toòng teng hai hạt pha

lê, mỗi bên một chiếc.

Con bé không trang điểm.

"Serenity à...?"

Con bé gật đầu.

"Hay Libby.

Đi làm mọi người gọi con như thế."

Con bé cười nhẹ.

Lucy cũng cười.

"Libby.

Tất nhiên rồi.

Con là Libby.

Vào đây.

Vào đây."

Cô phải cưỡng lại ý muốn choàng tay mình lên người con bé.

Thay vào đó, cô đặt một tay lên vai con bé và dẫn nó qua hành lang.

Đi đằng sau Serenity là một người đàn ông cao to, đẹp trai, mặt để râu.

Con bé giới thiệu đó là Miller Roe.

Libby nói, "Đây là bạn con."

Lucy dẫn Libby và Miller vào bếp, nơi có các con cô đang hồi hộp chờ đợi.

"Các con," cô nói, "đây là Serenity.

Hay thật ra là Libby.

Và Libby là..."

"Libby chính là em bé ạ?"

Marco nói, mắt mở to.

"Ừ, Libby chính là em bé."

"Em bé nào hả mẹ?"

Stella nói.

"Mẹ sinh Libby khi mẹ còn rất trẻ.

Libby chính là đứa con mà mẹ phải bỏ lại ở London.

Mẹ chưa bao giờ kể với ai về Libby cả.

Nhưng Libby chính là chị cả của các con."

Cả Marco và Stella đều ngồi há hốc mồm.

Libby vẫy tay chào hai đứa.

Lúc này ai cũng cảm thấy khó xử.

Nhưng rồi Marco nói, "Con biết mà!

Con biết từ lâu rồi!

Từ lúc con nhìn thấy cái thông báo ở trên điện thoại của mẹ!

Con đã biết đấy là con của mẹ!

Con biết

mà!"

Rồi thằng bé đứng dậy, chạy qua bếp và trong giây lát Lucy tưởng nó bỏ đi, tưởng nó giận cô vì cô có một đứa con bí mật, nhưng rồi Marco chạy đến bên Libby, vòng tay qua eo con bé và ôm con bé thật chặt.

Lucy thấy Libby mở to mắt vì ngạc nhiên, nhưng ánh mắt con bé xen lẫn với cả niềm vui.

Libby xoa đầu Marco và mỉm cười với Lucy.

Và rồi, tất nhiên, vì Marco đã làm trước, nên Stella cũng bắt chước làm theo, chạy ra bám vào hông Libby.

Đây rồi, Lucy nghĩ, chúng ở đây hết rồi.

Cả ba đứa con của cô.

Bên cạnh nhau.

Cuối cùng thì ngày này cũng đến.

Cô đứng đó, tay ôm lấy miệng, nước mắt lăn dài trên má.
 
Gia Đình Lầu Trên
60


Libby nhìn Clemency chằm chằm.

"Cô đi đâu?"

Libby hỏi.

"Cô đã đi đâu?"

"Cô đi đến bệnh viện.

Cô đi theo các biển hiệu đến Khoa Cấp cứu.

Cô thấy mọi người nhìn cô.

Nhưng cháu biết đấy, khuya như thế, ở trong phòng cấp cứu, thật sự cũng chẳng có ai buồn để ý.

Mọi thứ đều điên rồ, ai cũng nhìn như bị say rượu hay bị mất trí.

Mọi người sợ hãi và lo lắng.

Cô đi đến bàn lễ tân và nói, 'Cháu nghĩ anh trai cháu sắp chết.

Anh ấy cần được cứu chữa.'

"Bà y tá nhìn cô.

Bà hỏi, 'Anh cháu bao nhiêu tuổi?' "Cô nói, 'Anh ấy mười tám.'

"Bà ấy đáp, 'Thế bố mẹ cháu đâu?' Và cô chỉ thấy ngao ngán.

Cô thực sự không thể giải thích nổi.

Cô đã cố nói gì đó, nhưng những lời nói ấy không thoát ra được khỏi miệng cô.

Cô chỉ có hình ảnh cha cô ở trong đầu, đã chết, nằm dài ra đấy như một thánh nhân quái đản.

Và Birdie ở trên mái nhà bị quấn lại như một xác ướp.

Cô nghĩ: làm sao cô có thể bảo người ta đến ngôi nhà ấy lúc này được cơ chứ?

Họ sẽ nói gì?

Điều gì sẽ xảy ra với đứa bé?

Điều gì sẽ xảy ra

với Henry?

Và thế là cô quay đầu bước đi.

Cả đêm đấy cô di chuyển từ băng ghế này sang băng ghế khác trong bệnh viện.

Mỗi lần thấy có ai nhìn cô với ánh mắt hiếu kỳ và trông có vẻ như họ chuẩn bị nói gì đấy với cô, cô lại đi chỗ khác.

"Sáng hôm sau, cô tắm rửa trong nhà vệ sinh và rồi đi thẳng tới cửa hàng giày.

Cô mặc áo khoác vào; cô buộc tóc ra đằng sau.

Cô cố gây ít sự chú ý nhất có thể, dù lúc đó là đầu tháng Tư, và cô lại đang đi chân đất.

Cô có một túi đầy tiền.

Cô mua một đôi giày.

Rồi cô đi lang thang trong thành phố.

Không ai nhìn cô cả.

Không ai để ý tới cô.

Cô đi bộ theo các bảng chỉ dẫn ở trên đường tới tận ga Paddington.

Mặc dù cô đã sống ở London được sáu năm, trong đầu cô không có bất kỳ khái niệm gì về phương hướng cả.

Nhưng rồi cô cũng đến được đấy.

Và cô mua vé tàu đi Cornwall.

Cô thấy bực vì cô không biết số điện thoại của mẹ cô.

Cô cũng chẳng có địa chỉ của bà ấy.

Cô còn không biết thị trấn bà ấy ở tên là gì.

Nhưng cô có ký ức, cô nhớ những điều mẹ cô kể, khi mẹ cô đến thăm anh em cô sau khi bà ấy chuyển đến đây.

Lần cuối anh em cô gặp bà ấy, bà ấy có nhắc đến một nhà hàng trên bãi biển mà bà sẽ đưa anh em cô đến nếu anh em cô xuống chơi, và bà ấy nói là ở đấy có bán kem màu xanh và đá bào.

Mẹ cô nói chỗ bà ấy ở có rất nhiều vận động viên lướt sóng, và bà ấy hay thấy họ qua cửa sổ trên căn hộ của mình.

Mẹ cô cũng nhắc đến một nghệ sĩ lập dị sống ở nhà bên cạnh, có một khu vườn đầy những tác phẩm điêu khắc bằng đồng khảm đầy màu sắc.

Mẹ cô nói ngay góc phố khu nhà bà ở có một cửa hàng bán cá tẩm bột và khoai tây chiên, và bà ấy nhớ những chuyến tàu nhanh đến London, vì giờ bà ấy phải đi qua mười tám trạm dừng."

"Vậy nên, nhờ những manh mối đó mà cô tìm được mẹ mình.

Cô đến Penreath, rồi đến con phố nơi bà ấy ở, rồi đến căn hộ của bà ấy."

Mắt cô ta đẫm lệ khi nhớ đến những ký ức ấy, và ngón tay cô ta lại tìm đến gói thuốc lá trước mặt.

Cô ta lấy ra một điếu mới, châm lửa và hít một hơi.

"Mẹ cô ra mở cửa và bà nhìn thấy cô ở đó."

Cô ta thở dốc, từng tiếng thốt ra nức nở.

"Mẹ cô nhìn thấy cô ở đó và bà kéo cô vào, bà kéo cô thẳng vào nhà và ôm chặt lấy cô một lúc lâu.

Và cô ngửi thấy mùi rượu cũ trên người bà ấy; cô biết bà ấy cũng chẳng hoàn hảo gì, và cô biết tại sao bà ấy không đến để đón bọn cô đi, nhưng cô biết, cô biết là mọi chuyện đã kết thúc.

Và cô biết giờ cô đã an toàn.

"Bà đưa cô vào nhà, rồi để cô ngồi trên ghế xô-pha, căn hộ của bà ấy rất bừa bộn, đồ đạc vứt ở khắp mọi nơi.

Đến tận bây giờ cô vẫn chưa quen với điều đó; cô đã quen sống trong những căn phòng trống, không có gì cả.

"Mẹ cô phải bỏ bớt đồ trên xô-pha xuống thì cô mới có chỗ để ngồi.

Rồi bà nói, 'Còn Phin thì sao?

Phin đâu rồi?'

"Và tất nhiên đến lúc đó thì cô dừng lại.

Bởi vì sự thật là cô đã chạy trốn và bỏ anh ấy lại đằng sau, có lẽ lúc đấy anh ấy vẫn đang bị nhốt ở trong phòng.

Và nếu cô giải thích tại sao anh ấy bị nhốt ở trong phòng thì cô sẽ phải giải thích tất cả mọi chuyện.

Cô nhìn bà ấy, trông bà ấy mới tội nghiệp làm sao, và chính cô cũng bị tổn thương, và có lẽ cô nên kể hết với bà ấy.

Nhưng cô không thể làm được.

Vậy nên cô kể với bà ấy rằng tất cả người lớn trong nhà đã tự tử.

Rằng Henry, Lucy và Phin vẫn ở trong nhà với cháu.

Rằng cảnh

sát đang tới rồi.

Rằng mọi chuyện sẽ ổn thôi.

Và cô biết mọi chuyện nghe có vẻ rất vô lý.

Nhưng cháu hãy nhớ cô đã ở đâu và cô đã phải trải qua những gì.

Khái niệm về lòng trung thành của cô rất lệch lạc.

Suốt bao nhiêu năm, trẻ con bọn cô ngoài nhau ra thì đâu có ai.

Cô và Lucy đã có lúc không thể tách rời, thân thiết như chị em ruột... cho đến khi Lucy có bầu."

"Lucy?"

Libby nói.

"Lucy có bầu sao?"

"Đúng vậy," Clemency nói.

"Cô tưởng...

Cháu không biết sao?"

Tim của Libby bắt đầu đập loạn nhịp.

"Biết gì cơ ạ?"

"Biết Lucy là..."

Nhưng Libby đã đoán ra được những gì Clemency chuẩn bị nói.

Tay cô ôm lấy cổ họng, và cô nói, "Lucy là gì cơ ạ?"

"Lucy là mẹ cháu."

Libby nhìn chằm chằm vào bức ảnh ung thư vòm họng trên bao thuốc của Clemency, tập trung vào tất cả những chi tiết kinh tởm, gớm ghiếc nhất, cố nén lại cảm giác buồn nôn đang trào lên trong cô.

Mẹ cô không phải là một socialite xinh đẹp với mái tóc như Priscilla Presley.

Mẹ cô là thiếu nữ vị thành niên.

"Vậy ai là cha cháu?" một lúc sau cô hỏi.

Clemency nhìn cô đầy hối lỗi và nói, "Cha cháu chính là... cha cô."

Libby gật đầu.

Cô cũng nửa đoán ra chuyện này.

"Vậy lúc đó Lucy bao nhiêu tuổi?"

Clemency gục cằm xuống ngực.

"Lucy lúc ấy mười bốn.

Còn cha cô thì khoảng bốn mươi."

Libby từ từ chớp mắt.

"Và chuyện đó là...?

Có phải ông ấy đã...?"

"Không," Clemency nói.

"Không.

Theo lời Lucy nói thì không.

Theo lời Lucy nói chuyện đó..."

"Có sự đồng thuận của cả hai?"

"Đúng vậy."

"Nhưng bà ấy còn trẻ quá.

Ý cháu là, theo luật thì đó vẫn là hiếp dâm."

"Đúng vậy.

Nhưng cha cô...

Ông ấy rất có sức lôi cuốn.

Ông ấy biết cách để làm ai đó cảm thấy họ đặc biệt.

Hoặc cảm thấy mình vô giá trị.

Và tất nhiên ai cũng muốn mình là người đặc biệt rồi.

Ý cô là, cô hiểu tại sao chuyện đó xảy ra.

Cô có thể hiểu...

Không phải cô muốn nói là cô đồng tình với hành động ấy.

Cô căm thù nó.

Cô căm thù chính cha mình vì đã làm điều ấy.

Và cô căm thù cả Lucy nữa."

Trong chốc lát cả hai đều im lặng.

Libby cố gắng đợi vài phút để thẩm thấu hết được những điều mà Clemency vừa kể.

Mẹ cô là một cô gái vị thành niên, giờ đã là một phụ nữ trung niên, đang trôi dạt ở phương trời nào đó.

Cha cô là một ông già bẩn thỉu, một kẻ lạm dụng trẻ em, một con thú.

Khi nghĩ tới đây, Libby chợt thấy thông báo trên điện thoại.

Đó là tin nhắn WhatsApp từ số điện thoại mà cô không nhận ra.

"Xin lỗi," cô nói với Clemency, tay nhấc điện thoại lên.

"Cô có phiền không?"

Trong tin nhắn có một bức ảnh đính kèm.

Trên bức ảnh dòng chú thích viết, Chúng tôi đang ở đây đợi cô!

Quay lại đi!

Libby nhận ra vị trí của bức ảnh.

Đó là ngôi nhà trên đường Cheyne.

Ngay chính giữa là một người phụ nữ đang ngồi trên sàn nhà, tay giơ lên trước máy ảnh: mảnh khảnh, tóc sẫm màu, da rám

nắng.

Cô ấy mặc chiếc áo ba lỗ, lộ ra những hình xăm bao quanh cánh tay gân guốc.

Ở bên trái người phụ nữ là một cậu bé rất đẹp trai, da rám nắng, tóc đen, và một cô bé xinh xắn với những lọn tóc quăn vàng, da màu ô liu, mắt màu xanh lục.

Ngồi dưới chân họ là con chó nhỏ, lông màu nâu đen pha trắng, lưỡi thè ra vì nóng.

Ở cận cảnh của bức ảnh là người đàn ông tự gọi mình là Phin, tay đang cầm máy ảnh quay về phía mình, nhìn ống kính cười rạng rỡ, răng trắng bóng.

Libby quay màn hình sang cho Clemency xem.

"Đây có phải...?"

"Ôi Chúa ơi."

Clemency đưa đầu ngón tay lại gần màn hình và chỉ vào người phụ nữ.

"Chính là cô ấy!

Chính là Lucy."

Libby dùng đầu ngón tay để phóng to khuôn mặt người phụ nữ ấy lên.

Lucy trông giống Martina, người phụ nữ mà cô đã tưởng là mẹ mình.

Da bà rám nắng, tóc đen nhánh, nhưng ngọn tóc thì hơi nâu đỏ.

Trán bà hơi nhăn.

Mắt bà nâu đậm, giống mắt của Martina.

Giống màu mắt của con trai bà nữa.

Trông bà có vẻ hao mòn và mệt mỏi.

Nhưng trông bà vẫn đẹp tuyệt vời.
 
Gia Đình Lầu Trên
62


Tôi không phải là kẻ không có trái tim, Serenity, tôi hứa với cháu đấy.

Cháu còn nhớ ngày cháu ra đời tôi đã cho cháu nắm ngón tay tôi, nhớ khi tôi nói tôi nhìn thấy cháu và tim tôi như nở hoa không?

Hai hôm trước khi tôi gặp mặt cháu, cảm giác ấy trong tôi vẫn vẹn nguyên.

Với tôi cháu vẫn chỉ là một đứa trẻ; cháu vẫn còn sự ngây thơ ấy, không một chút ranh ma.

Nhưng ở cháu còn có một cái gì đó khác.

Cháu có đôi mắt xanh của cậu ấy, làn da mịn màng của cậu ấy, hàng lông mi dài sắc nét của cậu ấy.

Nhìn cháu không giống Lucy lắm.

Nhìn cháu lại càng không giống David Thomsen chút nào.

Nhìn cháu giống y hệt cha cháu.

Nghĩ lại tôi cảm thấy thật nực cười vì không nhận ra điều ấy, khi nó lù lù ngay trước mắt tôi.

Khi nhìn những lọn tóc vàng của cháu, đôi mắt màu xanh và khuôn miệng đầy đặn của cháu, sao mà David lại không biết cơ chứ?

Sao mà Birdie lại không biết cơ chứ?

Sao

không ai phát hiện ra?

Tôi nghĩ có lẽ chuyện đó rất khó tin.

Khó để mà hình dung ra nổi nữa kìa.

Chuyện em gái tôi ngủ với cả David và Phin cùng một lúc.

Tôi không biết gì cho đến tận sau hôm sinh nhật Birdie.

Lúc đó tôi và Lucy vẫn chưa quyết được là chúng tôi sẽ phải làm gì.

Phin đang đập phá ở trong phòng của cậu ấy, vậy nên tôi trói cậu ấy vào cái máy sưởi, để giữ cho cậu ấy được an toàn.

Chỉ vì tôi muốn tốt cho cậu ấy mà thôi.

Lucy thất kinh.

"Anh làm gì thế?" con bé khóc.

"Cậu ta sẽ làm đau bản thân mình," tôi nói, giọng trịch thượng.

"Chỉ như thế này cho đến khi chúng ta quyết định chúng ta sẽ làm gì với cậu ấy."

Con bé đang bế cháu trên tay.

Lucy chưa rời cháu nửa bước kể từ đêm hôm trước, khi con bé giành lại cháu từ tay Birdie.

"Chúng ta cần phải giúp anh ấy."

"Đúng.

Chúng ta cần làm như thế.

Nhưng chúng ta cũng cần nhớ là chúng ta vừa giết người và rất có thể chúng ta sẽ phải đi tù."

"Nhưng đó là do không may thôi," con bé nói.

"Không ai trong chúng ta cố ý giết người cả.

Cảnh sát sẽ biết điều đó."

"Không.

Họ sẽ không biết.

Chúng ta làm gì có bằng chứng là chúng ta đã bị lạm dụng.

Chúng ta cũng chẳng có bằng chứng nào cho thấy điều gì đã xảy ra ở đây cả.

Mọi việc chỉ diễn ra trong trí nhớ của chúng ta mà thôi."

Nhưng rồi tôi dừng lại.

Tôi nhìn Lucy, rồi tôi quay sang nhìn cháu

và tôi nghĩ: Đây rồi.

Bằng chứng là đây chứ đâu, nếu chúng tôi cần trợ giúp, bằng chứng của việc chúng tôi bị lạm dụng đang ở ngay đây.

Ngay đây.

Tôi nói, "Lucy.

Đứa bé.

Đứa bé chính là bằng chứng rằng em đã bị lạm dụng.

Em mười lăm tuổi.

Em mới mười bốn khi đứa bé ra đời.

Họ có thể làm xét nghiệm DNA.

Chứng minh David là cha đứa bé.

Em có thể nói là ông ta đã cưỡng hiếp em nhiều lần, từ khi em còn là một đứa trẻ.

Em có thể nói là Birdie đã khuyến khích ông ta làm như thế.

Và rồi họ chiếm đoạt con của em.

Ý anh là sự thật cũng gần như thế.

Và rồi anh có thể nói... anh có thể nói là anh đã chứng kiến những người lớn làm như thế.

Anh có thể để lại một tờ giấy nhắn giả, ghi là họ cảm thấy rất xấu hổ vì những gì họ đã gây ra.

Và cái cách mà họ đã đối xử với chúng ta."

Đột nhiên tôi cảm thấy bị choáng ngợp trước cảm giác chúng tôi có thể thoát ra khỏi mớ bòng bong này.

Chúng tôi có thể bước ra khỏi đây mà không phải đi tù, và Phin sẽ khỏe lại, còn Lucy thì được giữ lấy đứa con của mình, và tất cả mọi người sẽ đối xử tốt với chúng tôi.

Sau đó Lucy nói, "Henry.

Anh biết Serenity không phải con của David, đúng không?"

Ôi Chúa ơi, tôi đúng là một thằng ngốc cả tin, tôi không hề nhận ra điều đó.

Tôi còn nghĩ, "Ủa, vậy nó là con ai?"

Nhưng rồi tôi lắp những mảnh ghép lại.

Đầu tiên tôi cười.

Và sau đó tôi cảm thấy phát ốm.

Rồi tôi nói, "Thật ư?

Em?

Và Phin?

Thật ư?"

Lucy gật đầu.

"Nhưng làm sao mà hai người có thể?" tôi hỏi.

"Lúc nào vậy?

Anh không hiểu."

Con bé cúi đầu và nói, "Ở trong phòng anh ấy.

Chỉ hai lần thôi.

Nó như kiểu, em không biết nữa, một điều gì đấy để an ủi.

Em đến thăm anh ấy vì em lo lắng cho anh ấy.

Vì trông anh ấy ốm yếu quá.

Nhưng rồi bọn em..."

"Ôi Chúa ơi.

Đồ con điếm!"

Con bé cố gắng xoa dịu tôi, nhưng tôi đẩy nó ra.

Tôi nói, "Tránh xa tao ra.

Mày làm tao ghê tởm.

Mày là đồ bệnh hoạn, và mày làm tao ghê tởm.

Mày là một con đĩ.

Một con đĩ, một con đĩ đê tiện, bẩn thỉu."

Vâng, tôi phản ứng có phần hơi thái quá.

Hiếm có ai làm tôi cảm thấy ghê tởm như Lucy ngày hôm đó.

Tôi không thể nhìn nổi cái bản mặt của nó.

Đầu óc tôi lúc này không được thông suốt.

Mỗi lần tôi cố nghĩ về điều gì đó, cố nghĩ xem tôi nên làm gì tiếp theo, tâm trí tôi lại tràn ngập những hình ảnh của Phin và Lucy: cảnh Phin đè lên người Lucy, hôn hít con bé, còn tay cậu, đôi bàn tay hôm ấy tôi đã nắm ở trên mái nhà, thì sờ soạng khắp người em gái tôi.

Tôi chưa bao giờ cảm thấy tức giận đến như thế, chưa bao giờ cảm thấy căm thù, tổn thương và đau đớn đến như thế.

Tôi muốn giết một ai đó.

Và lần này tôi làm có chủ đích.

Tôi đi lên phòng Phin.

Lucy cố ngăn tôi lại.

Tôi đẩy con bé ra.

"Có thật không?"

Tôi hét vào mặt cậu ta.

"Có thật là cậu đã quan hệ với Lucy không?"

Phin ngây người nhìn tôi.

"Đúng không?"

Tôi lại hét lên.

"Nói cho tôi biết ngay!"

"Tôi sẽ không nói cho cậu biết cái gì sất," cậu ấy nói, "cho đến khi cậu cởi trói cho tôi."

Nghe cậu ấy nói có vẻ như cậu ấy đã kiệt sức.

Nghe cậu ấy nói như thể cậu ấy đang lả dần đi.

Ngay lập tức tôi cảm thấy cơn thịnh nộ của mình bắt đầu tan biến và tôi ngồi xuống cạnh chân giường cậu.

Tôi gục đầu vào tay mình.

Khi tôi ngẩng lên, tôi thấy mắt cậu ấy đã nhắm lại.

Trong khoảnh khắc cả hai chúng tôi đều im lặng.

"Cậu sắp chết rồi à, Phin?" tôi hỏi.

"Tôi.

Đéo.

Biết."

"Chúng ta cần ra khỏi đây," tôi nói.

"Chúng ta cần làm gì đó.

Nghiêm túc đấy."

"Tôi không thể."

"Nhưng cậu không có sự lựa chọn nào khác."

"Mẹ kiếp vậy thì cứ để tôi ở đây.

Tôi muốn chết."

Tôi phải thú nhận là tôi đã nghĩ về chuyện ấy, nghĩ về việc lấy cái gối và đè mặt cậu ấy xuống, rồi giữ nó cho đến khi cậu ấy trút hơi thở cuối cùng, thì thầm vài lời dễ nghe vào tai cậu ấy, chế ngự cậu ấy, bóp nghẹt hết sinh lực của cậu ấy, và giành lấy sức mạnh của cậu ấy cho riêng mình.

Nhưng, hãy nhớ lấy điều này, ngoại trừ cái bào thai của mẹ tôi ra, và trong suốt bao nhiêu năm qua tôi đã tìm hiểu điều này trên mạng rất nhiều lần, thực sự rất khó để phá bỏ

một thai nhi khỏe mạnh nếu chỉ sử dụng mùi tây, tôi chưa bao giờ cố tình giết bất kỳ ai.

Tôi là một con người có tâm đen tối, Serenity, tôi biết điều đó.

Tôi không cảm nhận cuộc sống theo cách mà người khác cảm nhận.

Nhưng tôi có lòng từ bi và tôi biết cách yêu thương.

Và tôi yêu Phin hơn tất cả những người tôi đã từng yêu từ trước đến nay.

Tôi cởi trói cổ tay của cậu ấy ra khỏi máy sưởi, và tôi nằm xuống bên cạnh cậu ấy.

Tôi nói, "Cậu đã bao giờ thích tớ chưa?

Dù chỉ là một phút thôi?"

Cậu ấy nói, "Tớ vẫn luôn thích cậu.

Tại sao tớ lại không thích cậu cơ chứ?"

Tôi dừng lại để suy nghĩ về câu hỏi của cậu.

"Bởi vì tớ thích cậu à?

Vì tớ thích cậu quá nhiều à?"

"Phiền phức," cậu ấy nói, có chút gì đó châm biếm, giọng nhạt dần.

"Rất phiền phức."

"Ừ," tôi nói.

"Tớ có thể thấy điều đó.

Tớ xin lỗi.

Tớ xin lỗi vì đã để cha cậu nghĩ là cậu đẩy tớ xuống sông Thames.

Tớ xin lỗi vì đã hôn cậu.

Tớ xin lỗi vì đã làm phiền cậu."

Quanh nhà phát ra những tiếng kêu kẽo kẹt.

Cháu đang ngủ.

Lucy đã đặt cháu vào cái cũi ở trong phòng thay đồ của cha mẹ tôi.

Ba mươi sáu tiếng đồng hồ trôi qua và tôi vẫn chưa được chợp mắt.

Sự im lặng cùng tiếng thở của Phin đã ru tôi vào trong giấc ngủ sâu ngay tức khắc.

Hai tiếng sau, khi tôi tỉnh dậy, Lucy và Phin đã bỏ đi, còn cháu thì vẫn đang ngủ trong cũi.
 
Gia Đình Lầu Trên
63


Libby nhìn Lucy.

Xung quanh người phụ nữ này là những đứa trẻ thân yêu mà bà ấy đã đưa từ tận Pháp về Anh.

Bà ấy còn mang theo cả con chó nữa.

Rõ ràng là bà ấy không phải kiểu người có thể bỏ những người bà ấy yêu thương lại đằng sau.

Libby hỏi, "Tại sao mẹ lại bỏ con?"

Ngay lập tức Lucy lắc đầu.

"Không," bà nói, "Không.

Không.

Mẹ không bỏ con.

Mẹ không bao giờ bỏ con lại.

Nhưng Phin ốm quá, còn con thì vẫn khỏe mạnh.

Thế nên mẹ đặt con vào trong cũi, chờ đến khi con ngủ, rồi mẹ lên phòng Phin.

Henry đang ngủ, và cuối cùng thì mẹ cũng đã thuyết phục được Phin đứng dậy.

Anh ấy nặng lắm; mà mẹ thì yếu.

Mẹ đưa anh ấy ra khỏi nhà và bọn mẹ đi đến nhà bác sĩ riêng của cha mẹ ngày xưa.

Bác sĩ Broughton.

Mẹ nhớ là hồi bé mẹ đã từng đến đấy, nhà ông ấy ở ngay góc phố thôi.

Ông ấy có một cánh cửa đỏ tươi ở trước nhà.

Mẹ nhớ.

Lúc ấy cũng nửa đêm rồi.

Ông ấy ra mở cửa trong bộ quần áo ngủ.

Mẹ nói với ông ấy mẹ là ai.

Và rồi mẹ nói," bà cười nhăn nhó khi nhớ lại, "Mẹ nói, 'Cháu có tiền!

Cháu có thể trả

tiền cho chú.'

"Lúc đầu trông ông ấy có vẻ tức giận.

Nhưng rồi ông nhìn Phin, ông quan sát cậu ấy một hồi rồi ông nói, 'Ôi trời, ôi trời, ôi trời ơi.' Ông vội chạy lên nhà, vừa chạy vừa càu nhàu; rồi ông đi xuống, quần áo chỉnh tề.

"Ông đưa bọn mẹ vào phòng phẫu thuật.

Đèn đã tắt hết.

Ông bật đèn lên, hai dãy đèn liền, tất cả sáng cùng một lúc.

Mẹ phải che mắt lại.

Ông đặt Phin lên giường, rồi kiểm tra tất cả các dấu hiệu sinh tồn, và ông hỏi mẹ chuyện quái gì đã xảy ra.

Ông hỏi, 'Cha mẹ cháu đâu rồi?' Mẹ không biết phải nói gì.

"Mẹ nói, 'Họ đi rồi.' Và ông nhìn ngang sang mẹ.

Như thể muốn nói, Mình nói chuyện đó sau.

Rồi ông gọi ai đó.

Mẹ nghe thấy ông ấy đang cố giải thích tình hình, sử dụng rất nhiều thuật ngữ y tế.

Nửa tiếng sau một chàng trai trẻ xuất hiện.

Anh ta là y tá của bác sĩ Broughton.

Cả hai bọn họ thực hiện cả tá các thể loại xét nghiệm.

Anh y tá rời đi lúc nửa đêm với một túi đồ để mang đến phòng thí nghiệm.

Đã hai ngày rồi mẹ chưa ngủ.

Mẹ bắt đầu nhìn thấy sao.

Bác sĩ Broughton pha cho mẹ một cốc chocolate nóng.

Nghe thì có vẻ điên rồ, nhưng đó là cốc chocolate ngon nhất mẹ từng được uống.

Rồi mẹ ngồi trên ghế xô-pha trong phòng tư vấn của ông ấy và ngủ thiếp đi mất.

"Khoảng năm giờ sáng mẹ tỉnh dậy và anh y tá cũng đã quay trở về từ phòng thí nghiệm.

Phin đang được truyền nước.

Nhưng mắt anh ấy đã mở.

Bác sĩ Broughton nói với mẹ là Phin bị suy dinh dưỡng nặng.

Ông ấy nói nếu được cung cấp đủ chất lỏng và dành ra một thời gian để nghỉ ngơi thì anh ấy sẽ hồi phục.

"Mẹ chỉ gật đầu và nói, 'Cha anh ấy chết rồi.

Cháu không biết mẹ anh ấy ở đâu.

Hai đứa cháu có một đứa con.

Cháu không biết phải làm gì cả.'

"Khi mẹ nói mẹ có con, mặt ông ấy chùng xuống.

Ông ấy nói, 'Chúa lòng lành.

Giờ chính xác là cháu bao nhiêu tuổi?'

"Mẹ đáp, 'Cháu mười lăm.'

"Ông ấy nhìn mẹ bằng một ánh mắt kỳ lạ và nói, 'Thế đứa bé ở đâu?'

"Mẹ nói, 'Ở nhà cháu ạ.

Với anh cháu.' '"Còn cha mẹ cháu?

Họ đi đâu rồi?' "Mẹ nói.

'Họ chết rồi ạ.'

"Lúc đó ông thở dài.

Ông nói, 'Chú không biết.

Chú rất tiếc.' Và rồi ông nói.

'Nghe này.

Chú không biết chuyện gì đang xảy ra và chú không muốn bị liên lụy.

Nhưng cháu đã mang cậu bé này đến trước cửa nhà chú và chú có nghĩa vụ phải chăm sóc cậu ấy.

Vậy nên, hãy để cậu ấy ở đây một thời gian.

Chú có phòng cho cậu ấy.'

"Và sau đó mẹ nói mẹ phải đi, mẹ phải về với con, nhưng ông ấy nói, 'Cháu trông có vẻ bị thiếu máu.

Chú muốn làm một vài xét nghiệm trước khi chú để cháu về.

Cháu ăn cái gì đi đã.'

"Thế là ông ấy cho mẹ ăn một bát ngũ cốc và một quả chuối.

Ông ấy lấy máu của mẹ, kiểm tra huyết áp, kiểm tra răng lợi, rồi kiểm tra tai, như một con ngựa được mang ra chợ bán vậy.

"Ông ấy nói với mẹ là mẹ bị mất nước và ông ấy cần dành thời gian để theo dõi sức khỏe và truyền dịch cho mẹ."

Rồi Lucy ngẩng lên nhìn Libby và nói.

"Mẹ xin lỗi, rất, rất xin lỗi.

Nhưng đến lúc ông ấy bảo mẹ là mẹ có thể đi, thì mọi chuyện đã kết thúc rồi.

Cảnh sát đã tới, các cán bộ công tác xã hội đã tới, và con đã biến mất."

Mắt bà ngấn nước.

"Mẹ đã đến muộn."
 
Gia Đình Lầu Trên
64


Bác là người đã chăm sóc cháu, Serenity.

Bác là người đã ở lại cho cháu ăn chuối nghiền, uống sữa đậu nành, ăn cơm, ăn cháo.

Bác đã thay tã lót cho cháu.

Bác hát ru cho cháu ngủ.

Bác cháu mình, chúng ta đã dành rất nhiều thời gian bên nhau.

Nhưng một lúc nào đó bác nhận ra là rõ ràng Phin và Lucy sẽ không quay trở về, và nếu bác ở lại lâu hơn thì những cái xác chết trong bếp sẽ bắt đầu phân hủy.

Bác cũng nghĩ là đến giờ này chắc đã có ai đi báo chính quyền rồi.

Bác biết đã đến lúc bác phải đi.

Bác viết thêm mấy dòng nữa vào bức thư tuyệt mệnh.

"Con gái của chúng tôi tên là Serenity Lamb.

Con bé mười tháng tuổi.

Xin làm ơn thay chúng tôi đảm bảo con bé được gửi vào tay người tốt."

Bác đặt cái bút bác dùng để viết thư vào tay mẹ bác, sau đó bác lấy nó ra và đặt nó lên bàn cạnh bức thư.

Bác cho cháu ăn và thay cho cháu bộ áo liền quần mới.

Sau đó, khi bác chuẩn bị đi, bác sờ thấy cái chân thỏ của Justin ở trong túi áo.

Bác đặt nó vào trong cũi của cháu để lấy may, không phải vì bác tin vào những điều ấy, và rõ ràng nó chẳng giúp bác được chút nào kể từ khi bác mang nó từ phòng Justin về.

Nhưng bác

muốn những gì tốt đẹp nhất cho cháu, Serenity.

Cháu là thứ thuần khiết duy nhất trong căn nhà đó, điều tốt đẹp duy nhất đến từ tất cả những chuyện này.

Thế nên bác đã lấy cái chân thỏ và bác để nó vào trong cũi với cháu.

Sau đó bác hôn cháu và nói, "Tạm biệt, cô bé đáng yêu."

Bác đi ra từ phía cửa sau, trên người mặc bộ suit Savile Row cũ của cha bác, chân đi đôi giày mua trên phố Jermyn cũng của ông ấy nốt.

Bác đeo cái cà vạt dây lên cổ áo cũ của cha bác, và chải tóc sang một bên.

Trong túi của bác nhét đầy tiền mặt và trang sức.

Bác sải bước dưới ánh nắng mai, cảm giác như những tia nắng ấy đang dát vàng lên làn da mệt mỏi của bác.

Bác tìm một bốt điện thoại công cộng rồi quay số khẩn cấp 999.

Bác giả giọng nói chuyện với cảnh sát rằng bác cảm thấy lo lắng cho hàng xóm của bác.

Đã lâu rồi bác chưa nhìn thấy họ.

Và rằng bác nghe thấy tiếng trẻ con khóc.

Bác đi bộ đến đường King's Road; lúc này hàng quán vẫn đóng cửa.

Bác tiếp tục đi bộ đến ga Victoria rồi ngồi bên ngoài một quán cà phê tồi tàn trong bộ suit Savile Row và gọi một cốc cà phê.

Bác chưa uống cà phê bao giờ.

Bác rất muốn thử xem nó ra sao.

Người ta mang cốc cà phê ra, bác uống một ngụm và vị của nó thật kinh tởm.

Bác đổ hai gói đường vào và bắt mình phải uống cho bằng hết.

Sau đó bác tìm thấy một khách sạn ẩn danh và trả tiền phòng cho ba đêm.

Không ai hỏi tuổi của bác cả.

Khi bác ký tên vào tờ đăng ký, bác sử dụng cái tên Phineas Thomson.

Thomson ở giữa là chữ o.

Không phải là E.

Bác muốn trở thành một người gần giống như Phin.

Nhưng không hẳn là Phin.

Bác nằm trong khách sạn xem ti-vi.

Có một bài báo nhỏ ở cuối

chuyên mục bản tin.

Ba cái xác.

Một vụ tự tử tập thể.

Một em bé khỏe mạnh và được chăm sóc đến nơi đến chốn.

Những đứa trẻ bị mất tích.

Cảnh sát đang đi tìm.

Những tấm ảnh họ đăng là ảnh chụp ở trường khi bác và mẹ cháu còn học tiểu học.

Lúc đấy bác mới mười tuổi, tóc bác cắt ngắn và vuốt sang một bên.

Lucy mới tám tuổi, tóc cắt đầu nấm.

Nhìn cả hai bây giờ sẽ không ai nhận được ra.

Phin và Clemency không được đề cập đến.

Bác thở phào nhẹ nhõm.

Và sau đó thì sao?

Chuyện gì đã xảy ra trong suốt bao nhiêu năm qua, kể từ khi bác mới mười sáu tuổi, mặc quần lót nằm xem ti-vi trên cái ga giường nylon trong một khách sạn rẻ tiền cho đến khi bác bước sang tuổi trung niên như bây giờ?

Cháu có muốn biết không?

Cháu có quan tâm không?

Bác kiếm được một công việc.

Bác làm cho một cửa hàng sửa đồ điện ở Pimlico.

Cửa hàng ấy là của một gia đình người Bangladesh điên rồ, và họ chẳng thèm quan tâm gì đến gốc gác của bác cả, miễn sao là bác đi làm đúng giờ.

Bác chuyển vào một căn hộ studio.

Bác mua mấy cuốn sách dạy lập trình và một cái máy tính để tự học vào buổi tối.

Đến lúc đó đã có mạng Internet và điện thoại di động.

Bác rời cửa hàng sửa chữa đồ điện để đến làm việc cho Carphone Warehouse trên phố Oxford.

Bác chuyển vào căn hộ một phòng ngủ ở quận Marylebone, ngay trước khi Marylebone trở nên đắt đỏ.

Bác nhuộm tóc vàng.

Bác đi tập thể hình.

Bác bắt đầu có cơ bắp.

Bác đi đến các câu lạc bộ đêm và ngủ với người lạ.

Bác yêu một người, nhưng anh ta đánh bác.

Bác lại yêu thêm một người nữa, nhưng anh ta bỏ bác mà đi.

Bác đi làm trắng răng.

Bác nuôi mấy con cá nhiệt đới.

Chúng chết.

Bác có công việc mới ở một công ty Internet.

Đầu tiên công ty chỉ có năm người.

Sau ba năm công ty có năm mươi người, lương bác sáu con số một năm và bác có văn phòng của riêng mình.

Bác mua một căn hộ ba phòng ngủ ở Marylebone.

Bác lại yêu thêm một người nữa.

Anh ta nói với bác là bác rất xấu xí và sẽ chẳng có ai yêu nổi bác cả rồi bỏ bác mà đi.

Bác đi sửa mũi.

Bác đi nối mi.

Tiêm thêm một chút chất độn vào môi nữa.

Và đến năm 2008, bác đi đến văn phòng luật sư có tên trên bản di chúc cuối cùng của cha mẹ bác.

Đã rất lâu rồi bác muốn bỏ lại đằng sau những gì đã xảy ra trên đường Cheyne và cố tạo dựng một cuộc sống mới, với một danh tính mới (dù có hơi vay mượn một chút).

Bác không muốn liên quan gì đến cậu bé Henry Lamb bé bỏng đáng thương và quá khứ của cậu ta.

Với bác cậu bé ấy chết rồi.

Nhưng khi bác già đi và cuộc sống của bác bắt đầu ổn định hơn, càng ngày bác lại càng hay nghĩ về cháu; bác muốn biết cháu là ai, cháu ở đâu và liệu cháu có đang được sống một cuộc sống hạnh phúc hay không.

Đọc báo bác biết người ta cho rằng cháu là con của Martina và Henry Lamb.

"Bức thư tuyệt mệnh" của bác được mặc định là đúng và không ai tiến hành xét nghiệm ADN của cháu để xác nhận cả.

Nhớ lại những điều khoản trong bản di chúc của cha mẹ mình, bác nhận ra là có thể một ngày nào đó cháu sẽ trở lại cuộc đời của bác.

Nhưng bác không biết quỹ ký gửi ấy còn được giao cho văn phòng luật sư đó hay không.

Mà nếu thế đi chăng nữa, bác cũng không

biết David có làm gì để thay đổi các điều khoản không, nhất trong thời gian ông ta điều khiển mẹ của bác.

Đến lúc đó bác cũng đã bước sang tuổi ba mươi rồi.

Bác cao ráo, tóc vàng, người cơ bắp, da rám nắng.

Bác tự giới thiệu bác là Phineas Thomson.

Bác nói, "Tôi đến để tìm kiếm thông tin về một gia đình mà tôi từng được biết.

Tôi tin các ông là luật sư của họ.

Nhà Lamb.

Trên đường Cheyne."

Một người phụ nữ trẻ lật một vài tập giấy tờ lên, ấn một vài nút trên bàn phím, rồi nói cho bác biết rằng họ đang quản lý một quỹ ký gửi cho một gia đình nhưng không thể tiết lộ thêm bất kỳ thông tin nào nữa.

Trong văn phòng có một chàng trai rất dễ thương.

Bác để mắt đến cậu ấy khi bác ngồi đợi trong phòng lễ tân.

Bác đã đợi ở ngoài cho đến giờ ăn trưa và bác bắt chuyện với cậu ấy khi cậu ấy rời khỏi văn phòng.

Tên cậu ấy là Josh.

Tất nhiên rồi.

Thời buổi này ai cũng tên là Josh cả.

Bác đưa cậu ấy về nhà, nấu cho cậu ấy ăn rồi ngủ với cậu ấy, và tất nhiên, bởi vì bác chỉ muốn lợi dụng cậu ta, nên cậu ta đã phải lòng bác.

Bác chỉ mất hơn một tháng giả vờ đáp lại tình cảm của cậu ta, và thế là cậu ta tự động copy hết tất cả giấy tờ và mang đến cho bác.

Và rồi nó ở đó, giấy trắng mực đen, y như những gì cha mẹ bác đã chỉ định, khi bác còn bé tí và Lucy còn chưa ra đời.

Số nhà mười sáu trên đường Cheyne và tất cả tài sản trong đó sẽ được giao phó cho con cháu của Martina và Henry Lamb đến khi con cả của ông bà hai mươi lăm.

Rốt cuộc thì David vẫn chưa động tay được vào nó, và

có vẻ như Lucy cũng chưa xuất hiện để đòi quyền thừa kế.

Bản ký gửi vẫn ở đó, sẵn sàng, mong ngóng, chờ cháu đủ hai mươi lăm tuổi.

Ai đó đa nghi sẽ nghĩ bác đến tìm cháu chỉ bởi vì bác muốn được hưởng phần tài sản thừa kế của mình.

Dù sao thì bác cũng chẳng có cách nào chứng minh được bác là Henry Lamb, nên bác sẽ chẳng thể tự đến đòi một mình được, và nếu có cháu thì bác sẽ có cơ hội được chạm tay vào thứ đáng ra là của mình.

Nhưng cháu biết đấy, đây thực sự không phải vì tiền.

Bác có đầy tiền.

Mà là để kết thúc.

Và cũng là để gặp cháu nữa, Serenity, để nối lại mối liên kết mà bác cháu mình đã từng có.

Và thế là, tháng Sáu năm nay, bác thuê một căn hộ Airbnb ở bên kia sông.

Bác mua một cặp ống nhòm và bác đứng trên sân thượng để quan sát.

Một hôm bác đi ra đằng sau ngôi nhà ở trên đường Cheyne và dành cả buổi sáng trên mái nhà để tháo dỡ bộ xương của Birdie ra khỏi cái vỏ xác ướp.

Gỡ những mẩu xương bé tí của cô ta ra.

Bỏ chúng vào trong cái túi nhựa màu đen.

Đến khi trời tối, bác thả cái túi xuống dòng sông Thames.

Nó nhỏ đến nỗi chính bác cũng tự cảm thấy ngạc nhiên.

Bác ngủ lại trên chiếc đệm cũ và trở về căn hộ Airbnb vào buổi sáng ngày hôm sau.

Sau đó bốn ngày, cháu đã có mặt ở đó.

Cháu và ông luật sư.

Nhấc tấm pano lên.

Mở cửa.

Rồi đóng cửa lại.

Bác thở phào nhẹ nhõm.

Cuối cùng thì.

Em bé cũng trở về.
 
Gia Đình Lầu Trên
65


Libby nhìn Lucy chằm chằm.

"Vậy chuyện gì đã xảy ra với Phin?

Sau khi mẹ bỏ ông ấy ở lại nhà bác sĩ Broughton?

Ý con là, ông ấy có khỏe lại không?"

"Có," Lucy nói.

"Anh ấy có khỏe lại."

"Vậy ông ấy còn sống chứ?"

"Theo như mẹ biết thì còn."

Libby lấy tay ôm miệng.

"Lạy Chúa," cô nói.

"Vậy ông ấy ở đâu?"

"Mẹ không biết.

Mẹ đã không nhìn thấy anh ấy kể từ khi mẹ mười tám tuổi.

Bọn mẹ ở Pháp cùng nhau một vài năm.

Và sau đó bọn mẹ mất liên lạc."

"Thế làm sao mà cả hai người lại sang được đến Pháp?"

Libby hỏi.

"Bác sĩ Broughton mang bọn mẹ sang.

Hay đúng hơn là ông nhờ người đưa bọn mẹ đi.

Bác sĩ Broughton có vẻ biết tất cả mọi người.

Ông ấy là kiểu người như thế, một người chuyên kết nối, mẹ đoán người ta gọi ông ấy như thế.

Ông ấy lúc nào cũng có một số điện thoại để gọi, lúc nào cũng có thể nhờ vả, hết người này đến người

khác.

Ông từng làm bác sĩ riêng của nhiều tay tội phạm cấp cao.

Mẹ nghĩ trước đấy ông cũng từng bị gọi dậy lúc nửa đêm, để khâu lại những vết thương do trúng đạn trong phòng mổ của mình.

"Khi ông ấy nhìn thấy bọn mẹ ở trên bản tin ông ấy muốn bọn mẹ đi ngay tức khắc.

Một tuần sau khi mẹ gõ cửa nhà ông ấy, ông ấy nói bọn mẹ đã đủ khỏe để đi.

Một người đàn ông tên là Stuart nhét cả hai đứa bọn mẹ vào ghế sau của một chiếc Ford Transit và đưa bọn mẹ qua đường hầm eo biển Manche, tới tận Bordeaux.

Ông ta đưa bọn mẹ đến nông trại của một phụ nữ tên là Josette.

Lại thêm một người quen khác của bác sĩ Broughton.

Bà ấy để bọn mẹ ở lại vài tháng, đổi lại bọn mẹ phải làm việc cho nông trại của bà ấy.

Bà ấy cũng không hỏi bọn mẹ là ai, và tại sao bọn mẹ lại ở đây.

"Mẹ và Phin, bọn mẹ không... con biết đấy.

Chuyện xảy ra giữa bọn mẹ chỉ là vì hoàn cảnh của bọn mẹ khi ấy mà thôi.

Một khi bọn mẹ thoát khỏi tất cả những điều đó, bọn mẹ trở lại là bạn bè.

Gần như anh em vậy.

Nhưng bọn mẹ nói về con suốt, tự hỏi không biết con thế nào rồi, ai đang chăm sóc cho con, con đã ngoan ra làm sao, sau này con lớn con sẽ tuyệt vời thế nào, và cả hai bọn mẹ đã sáng suốt như thế nào khi có con."

"Hai người có bao giờ nói về việc quay lại tìm con không?"

Libby hỏi, trầm ngâm.

"Có chứ," Lucy trả lời.

"Có.

Bọn mẹ có.

Hoặc chí ít là mẹ có nói.

Phin thì thận trọng hơn, anh ấy lo lắng về tương lai nhiều hơn quá khứ.

Bọn mẹ không nói về những chuyện khác.

Bọn mẹ không nói về cha mẹ mình, về những chuyện đã xảy ra.

Mẹ có cố gợi lại, nhưng Phin thì không.

Như thể anh ấy đã xóa hết đi.

Và anh ấy hồi

phục rất nhanh một năm sau đó.

Da anh ấy rám nắng, còn người anh ấy thì săn chắc.

Cả hai bọn mẹ đều thế.

Và Josette có một cái đàn violin cũ bà ấy không chơi, thế nên bà ấy cho mẹ.

Mùa đông mẹ biểu diễn cho bà ấy xem, và rồi đến mùa hè, khi nông trại của bà ấy đón thêm học sinh và khách du lịch, mẹ biểu diễn cho cả bọn họ xem nữa.

Bà ấy để mẹ mang cái đàn violin vào trong thị trấn và chơi vào tối thứ Sáu và tối thứ Bảy, và thế là mẹ bắt đầu kiếm được tiền.

Mẹ bắt đầu tiết kiệm số tiền đó để một ngày mẹ và Phin sẽ quay trở lại London và đi tìm con.

"Nhưng một buổi sáng, khoảng hai năm sau, mẹ thức dậy và Phin biến mất.

Anh ấy để lại cho mẹ một tờ giấy nhắn ghi: 'Đi đến Nice.'" Lucy thở dài.

"Mẹ ở lại Bordeaux đến hết hè, sau khi tiết kiệm đủ tiền để mua vé xe buýt đi Nice.

Suốt mấy tuần trời đêm thì mẹ ngủ ở trên bãi biển, sáng thì mẹ đi tìm Phin.

Cuối cùng thì mẹ bỏ cuộc.

Mẹ có cây đàn violin của Josette.

Đêm nào mẹ cũng chơi.

Mẹ kiếm đủ tiền để thuê một phòng ở trong nhà nghỉ.

Mẹ bước sang tuổi mười chín, rồi hai mươi, hai mốt.

Và rồi mẹ gặp một người đàn ông.

Một người đàn ông rất giàu có.

Ông ấy lấy mẹ làm vợ.

Mẹ có thêm một đứa con.

Mẹ bỏ người đàn ông giàu có kia và quen một người đàn ông rất nghèo.

Mẹ lại có thêm một đứa con nữa.

Người đàn ông nghèo ấy bỏ mẹ mà đi..."

Bà dừng lại và Libby quan sát nét mặt của bà.

Có điều gì đó mà cô không thể biết được, thậm chí là không thể tưởng tượng được ở trong đó.

Nhưng rồi nét mặt ấy qua đi và bà tiếp tục.

"Và rồi đến ngày sinh nhật con, mẹ đã quay trở lại."

"Nhưng tại sao mẹ không quay trở lại trước đó?"

Libby hỏi.

"Tại

sao mẹ quay trở lại đúng lúc con hai mươi lăm?

Mẹ có biết về quỹ ủy thác không?"

"Đúng, mẹ có biết." bà nói.

"Nhưng mẹ không có cách nào để chứng minh mẹ là Lucy Lamb cả.

Mẹ không có giấy khai sinh.

Đến hộ chiếu của mẹ cũng là giả.

Mẹ có cuộc hôn nhân rất tồi tệ với cha của Marco.

Chỉ là mọi thứ rất..."

Lucy thở dài.

"Và rồi mẹ nghĩ, con biết đấy, nếu Henry không đến để đòi ngôi nhà, và mẹ cũng không đòi ngôi nhà, thì nó sẽ tự động thuộc về đứa bé, và cũng chính là con, bởi vì mọi người đều nghĩ con là con của Henry và Martina Lamb.

Và mẹ nghĩ đó là điều mẹ sẽ làm.

Mẹ sẽ chờ cho đến khi con hai mươi lăm tuổi và lúc đó mẹ sẽ quay lại tìm con.

Mấy năm trước mẹ có chiếc điện thoại thông minh đầu tiên và việc đầu tiên là mẹ đặt thông báo trên lịch điện thoại để mẹ không quên.

Mẹ đã chờ từng giây từng phút để được đến ngày này.

Mẹ đã chờ để được quay trở về."

"Còn Phin?"

Libby hỏi, tuyệt vọng.

"Chuyện gì đã xảy ra với Phin?"

Lucy thở dài.

"Mẹ chỉ có thể đoán rằng anh ấy đã đi đâu đó để không ai có thể tìm thấy anh ấy.

Mẹ chỉ có thể đoán rằng đó là điều mà anh ấy muốn."

Libby thở dài.

Cuối cùng thì nó cũng đã ở đây rồi.

Toàn bộ bức tranh.

Chỉ thiếu đúng một mảnh ghép.

Cha cô.
 
Gia Đình Lầu Trên
66


Libby ngồi giữ chặt ngón tay cái trên điện thoại.

Từ chín giờ sáng, cô đã không rời mắt khỏi tài khoản ngân hàng của mình, cứ mười lăm phút cô lại cập nhật một lần xem số dư có tăng lên không.

Hôm nay là ngày cô bàn giao ngôi nhà trên phố Cheyne.

Phải đến mãi tháng trước họ mới bán được nhà, sau rất nhiều tháng không có ai xem, thế là họ hạ giá nhà xuống, và một loạt các lời đề nghị tới tấp bay đến, sau đó là hai nỗ lực trao đổi hợp đồng không thành công, nhưng cuối cùng có một người mua đến từ Nam Phi, mua không cần trả góp, mọi thỏa thuận đều thành công tốt đẹp, ký tên và đóng dấu chỉ vỏn vẹn trong hai tuần.

Bảy triệu bốn trăm năm mươi ngàn bảng Anh.

Nhưng giờ số dư tài khoản của cô vẫn chỉ là 318 bảng.

Chút ít còn sót lại từ tháng lương cuối cùng của cô.

Cô thở dài và quay lại nhìn màn hình máy tính của mình.

Dự án thiết kế nhà bếp cuối cùng của cô.

Đồ nội thất nhỏ nhắn sơn lại theo phong cách Shaker, tay nắm bằng đồng và mặt bếp bằng đá cẩm thạch.

Ngôi nhà đầu tiên của một cặp đôi mới cưới.

Nhìn sẽ đẹp lắm

đây.

Cô ước cô sẽ ở đây để được nhìn thấy dự án hoàn thành.

Nhưng cô sẽ không được nhìn thấy căn bếp ấy.

Không phải bây giờ.

Hôm nay là ngày cuối cùng của cô ở Northbone Kitchens.

Hôm nay cũng là ngày sinh nhật lần thứ hai mươi sáu của cô.

Ngày sinh nhật thứ hai mươi sáu thực sự của cô.

Không phải ngày 19 tháng Sáu, mà là ngày 14 tháng Sáu.

Cô già hơn năm ngày so với những gì cô vẫn thường nghĩ.

Cũng chẳng sao.

Mất năm ngày là một cái giá rất nhỏ so với bảy triệu bảng Anh, một người mẹ, một người bác, và hai đứa em cùng mẹ khác cha.

Vả lại giờ cô cũng chẳng cần trèo lên một nấc thang nào đó mà cô vẫn tự tạo ra ở trong đầu, đâu có ai quan tâm nếu cô sớm năm ngày so với kế hoạch cơ chứ?

Cô lại ấn cập nhật thêm một lần nữa.

Ba trăm linh chín bảng.

Một khoản thanh toán bằng PayPal tuần trước giờ đã bị trừ khỏi tài khoản của cô.

Đó là một ngày đẹp trời.

Cô liếc sang nhìn Dido.

"Chị có muốn ra ngoài ăn trưa không?

Em mời."

Dido nhìn lên qua chiếc kính đọc sách của cô ấy và mỉm cười.

"Tất nhiên rồi!"

"Tùy thuộc vào số tiền này có chuyển qua được hay không, bữa trưa hôm nay có thể là bánh mì sandwich và Coca-Cola, cũng có thể là tôm hùm và sâm-panh."

"Tôm hùm nghe được đấy," Dido nói, trước khi hạ kính xuống và hướng ánh mắt trở lại màn hình máy tính.

Điện thoại của Libby rung lên lúc 11 giờ.

Một tin nhắn đến từ Lucy.

Bà nói, Hẹn con tối nay!

Mẹ đã đặt bàn lúc 8 giờ tối!

Lucy giờ đang sống với Henry trong căn hộ sang trọng của ông ấy ở Marylebone.

Có vẻ như mấy người họ không hợp nhau lắm.

Henry, người đã sống một mình trong suốt hai mươi lăm năm qua, cảm thấy khó chịu khi phải chia sẻ không gian sống của mình với trẻ con, và mấy con mèo của ông ghét con chó.

Lucy đã bắt đầu đi săn nhà.

Ở St Albans.

Bản thân Libby cũng đã để ý đến một ngôi nhà nhỏ xinh đẹp phong cách George, rộng hơn hai nghìn mét vuông, nằm ngay ở ngoại ô thị trấn.

Cô ấn cập nhật thêm lần nữa.

Vẫn là ba trăm linh chín bảng.

Cô kiểm tra email, phòng trường hợp có thông báo về sự cố hay gì đó.

Nhưng cũng chẳng có gì cả.

Số tiền sẽ được chia ba sau khi nộp thuế tài sản thừa kế.

Cô đã đề nghị bỏ quyền thừa kế.

Đó không phải là nhà của cô.

Cô không phải em ruột của họ.

Nhưng họ nhất quyết không đồng ý.

Cô nói, "Con không cần một phần ba.

Mấy ngàn thôi là được rồi."

Nhưng họ vẫn cứ khăng khăng.

"Con là cháu của ông bà," Lucy nói, "Con cũng có quyền như Henry và mẹ thôi."

Lúc một giờ chiều cô và Dido rời phòng trưng bày.

"Em e rằng hôm nay chúng ta sẽ phải ăn bánh sandwich rồi."

"Tốt," Dido nói.

"Chị cũng đang thèm bánh sandwich đây."

Họ đi đến một quán cà phê trong công viên và ngồi ở bàn bên ngoài, dưới ánh mặt trời.

"Chị không thể tin rằng em sắp chuyển đi," Dido nói.

"Cái văn phòng này sẽ, chà, chị định nói là yên ắng, mà em thì cũng không

hẳn là một người ồn ào, nhưng nó sẽ... nó sẽ thiếu đi chất của Libby vì không có em ở đó.

Và mái tóc đáng yêu của em.

Và cả những chồng giấy tờ xếp gọn gàng của em nữa."

"Chồng giấy tờ xếp gọn gàng của em á?"

"Đúng vậy, chồng..."

Cô lấy tay ra hiệu một chồng giấy xếp vuông vắn.

"Em biết đấy.

Tất cả các góc thẳng hàng."

Cô mỉm cười.

"Chị sẽ nhớ em lắm.

Chỉ có thế thôi."

Libby nhìn cô và nói, "Chị có bao giờ nghĩ đến chuyện bỏ việc không?

Sau khi chị được thừa kế căn nhà chị đang ở?

Và tất cả những thứ khác?

Ý em là, chị chắc đâu có cần phải đi làm, đúng không?"

Dido nhún vai.

"Chị đoán thế.

Và đã có lúc chị chỉ muốn bỏ hết và dành cả ngày trong chuồng ngựa với Spangles trước khi nó chết.

Nhưng xét cho cùng, chị chẳng có gì khác cả.

Nhưng em, giờ em có tất cả.

Tất cả mọi thứ mà thiết kế tủ bếp không thể bù đắp cho em."

Libby mỉm cười.

Cũng đúng.

Không phải chỉ vì tiền.

Hoàn toàn không phải chỉ vì tiền.

Mà là vì những người cô thuộc về, vì cái gia đình đã bao bọc cô.

Và vì con người thật của chính cô mà cô đã tự khám phá ra, dưới vỏ bọc của những chồng giấy xếp gọn gàng và những tính toán kỹ lưỡng.

Nhưng cô thực sự không phải là con người ấy.

Cô đã biến mình trở thành như thế để đối trọng với sự không nhất quán của mẹ cô.

Để hòa nhập ở trường.

Để hòa nhập với nhóm bạn với những giá trị mà cô không thực sự chia sẻ, không đến từ sâu thẳm bên trong cô.

Ở cô còn có nhiều thứ hơn là những tình bạn xã giao, và những yêu cầu cấm đoán ngớ ngẩn trên Tinder.

Cô là sản phẩm của những con

người tốt hơn người cha mẹ ruột mà cô đã tưởng tượng ra, nhà thiết kế đồ họa, hay PR thời trang, với ôtô thể thao và mấy con chó tí hon.

Cô thật đúng là thiếu trí tưởng tượng.

Cô lơ đãng ấn cập nhật trên điện thoại.

Cô nhìn thêm lần nữa.

Con số đần độn kia đã ngồi yên ở đấy.

Con số chẳng có nghĩa lý gì cả.

Nó có quá nhiều số không, quá nhiều tất cả mọi thứ.

Cô đưa điện thoại cho Dido xem.

"Ôi.

Chúa.

Ơi."

Dido lấy tay ôm mặt và thở dốc.

Sau đó cô quay ra trước quán cà phê.

"Phục vụ bàn," cô nói.

"Cho xin hai chai Dom Pérignon hảo hạng nhất của nhà hàng.

Và mười ba con tôm hùm.

Và làm nhanh lên nhé."

Tất nhiên là chả có phục vụ bàn nào ở đấy cả và những người ở bàn kế bên đang ném cho họ những ánh mắt kỳ lạ.

"Bạn tôi," Dido nói, "vừa trúng số rồi."

"Ồ," một người phụ nữ nói.

"Cô may quá nhỉ!"

"Em biết không," Dido nói, quay lại nhìn Libby.

"Sau đây em cũng chẳng cần quay lại chỗ làm nữa đâu.

Hôm nay là sinh nhật em.

Và em vừa nhận được mười một nghìn tỉ bảng Anh.

Nếu em muốn, em có thể nghỉ cả ngày còn lại."

Libby mỉm cười, xoáy cái khăn giấy lại và đặt lên khay nhựa.

"Không," cô nói.

"Không đời nào.

Em không phải kẻ bỏ cuộc giữa chừng.

Vả lại, em khá chắc là em vẫn còn để mấy tờ giấy hơi lệch."

Dido nhìn cô mỉm cười.

"Thế thì đi thôi," cô nói, "ba tiếng rưỡi được sống bình thường.

Làm cho xong để còn về, phải không nào?"
 
Gia Đình Lầu Trên
67


Lucy có căn hộ cho riêng mình thêm một tiếng nữa.

Cô dùng một tiếng ấy để đi tắm, để sơn móng tay, để sấy tóc, để chải tóc gọn gàng qua vai, để dưỡng ẩm và để trang điểm.

Cô không coi điều gì là lẽ dĩ nhiên.

Đã một năm trôi qua kể từ ngày Henry tìm thấy cô ở ngôi nhà trên đường Cheyne, từ ngày anh ấy mang Serenity về với mẹ con cô, từ ngày cả gia đình cô được đoàn tụ.

Một năm qua Lucy sống trong căn hộ không tỳ vết với Henry ở Marylebone, cô ngủ trên chiếc giường đôi, trải ga vải cotton mềm mại, cả ngày không phải làm gì cả ngoại trừ dắt chó đi dạo và chuẩn bị những bữa ăn ngon.

Mỗi tháng cô và Clemency gặp nhau một lần để uống sâm-panh, tán gẫu về những đứa con của mình, tính cách lập dị của Henry, và tất cả những chuyện khác, ngoại trừ những chuyện đã xảy ra với họ khi họ còn nhỏ.

Họ sẽ không bao giờ thân được như trước nữa, nhưng họ vẫn là bạn tốt của nhau.

Marco giờ đã mười ba tuổi và Henry trả tiền cho cậu theo học một ngôi trường tư thục thời thượng ở Regent's Park, và có vẻ như ở đấy "ai cũng hút vape và chơi ketamine".

Cậu đã mất hoàn toàn giọng

Pháp và, cũng như cậu bé hay nói, "tôi tự xem mình là người London."

Stella giờ đã sáu tuổi và đang theo học tại một trường tiểu học rất tốt ở khu Marylebone, ở đấy con bé có hai người bạn thân cùng tên là Freya.

Hôm qua Lucy đi xe buýt sang Chelsea và đứng bên ngoài ngôi nhà.

Tấm pano đã được gỡ xuống, và tấm biển bán nhà đã được thay thế bằng tấm biển đã bán.

Sớm thôi ngôi nhà này sẽ sống trở lại, với tiếng khoan và tiếng búa khi người ta tháo rời nó ra và lắp ráp lại cho phù hợp với thị hiếu và nhu cầu sử dụng của một gia đình khác.

Sớm thôi, ai đó sẽ gọi đây là nhà và họ sẽ không bao giờ biết, không bao nghi ngờ đằng sau những bức tường kia bằng ấy năm về trước, đã có bốn đứa trẻ bị giam giữ, đánh đập, rồi được thả ra thế giới bên ngoài, tổn thương, không hoàn chỉnh, mất mát và lệch lạc.

Thật khó để Lucy nhớ lại cô gái năm ấy, thật khó để cô có thể chấp nhận được kiếp người của chính bản thân cô, rằng cô thèm khát sự quan tâm đến nỗi đã ngủ với cả một cặp cha và con.

Đôi khi cô nhìn Stella, cô con gái nhỏ bé, hoàn hảo của cô, và cố tưởng tượng con bé ở tuổi mười ba, cho đi cả bản thân mình chỉ để cảm thấy được yêu thương.

Chỉ nghĩ đến cảnh đấy thôi cũng đủ làm cô cảm thấy đớn đau khôn xiết.

Điện thoại cô rung lên, như thường lệ, và có lẽ là sẽ luôn như vậy, cô cảm thấy rùng mình vì bất an.

Vụ án mạng của Michael vẫn chưa đi đến hồi kết, nhưng hầu hết mọi nguồn tin đều cho rằng, đây là kết quả của những khoản vay nợ chưa trả liên quan đến cộng sự của anh ta trong thế giới ngầm.

Cô nhìn thấy tên cô được nhắc đến một lần trên một tờ báo Pháp, không lâu sau khi vụ án làm nóng các

trang thông tin:

Rimmer, người đã hai lần kết hôn, được cho là có một đứa con với người vợ trước, một phụ nữ người Anh có tên "Lucy".

Theo quản gia của Rimmer, anh và vợ cũ gần đây đã có một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, nhưng cô không được coi là nghi phạm trong vụ án này.

Nhưng cô sẽ không bao giờ thực sự thanh thản được, khi nghĩ về khả năng cô có thể đang bị theo dõi bởi một thám tử trẻ, mặt non choẹt, vừa mới đủ điều kiện để tham gia điều tra và đang muốn tìm mọi cơ hội để chứng tỏ bản thân mình.

Cô đoán có lẽ cô sẽ không bao giờ thực sự thanh thản.

Nhưng đó không phải tin nhắn từ một thám tử tân binh, mà là tin nhắn của Libby: ảnh chụp màn hình tài khoản ngân hàng của con bé kèm theo chữ

Đây rồi, Lucy nghĩ, và một cơn rùng mình cùng cảm giác nhẹ nhõm chạy dọc qua sống lưng cô.

Cuối cùng thì giai đoạn này của cuộc đời cô cũng kết thúc.

Đánh dấu bước khởi đầu cho những giai đoạn tiếp theo.

Giờ thì cô có thể tự mua được một căn nhà cho riêng mình.

Rốt cuộc thì ngày ấy cũng đến.

Một nơi cho cô, cho các con và cho con chó của cô.

Một nơi chốn vĩnh cửu, không ai có thể cướp từ tay cô được.

Và sau đó, cô nghĩ, sau đó cô sẽ có thể tìm ra chính xác thứ mà cô muốn làm với cuộc đời mình.

Cô nghĩ cô sẽ muốn học đàn violin.

Trở thành một nhạc công chuyên nghiệp.

Và giờ trên con đường của cô không còn rào cản nào nữa.

Nửa trước của cuộc đời Lucy ô uế và tối tăm, hết cuộc đấu tranh này đến cuộc đấu tranh khác.

Nửa còn lại sẽ là vàng son.

Cô trả lời tin nhắn của Libby.

Mở sâm-panh ăn mừng thôi!

Chút nữa gặp con yêu.

Mẹ không thể chờ đến lúc được ăn mừng với con.

Vì tất cả mọi thứ.

Libby trả lời: Con cũng không thể chờ đến lúc được gặp mẹ!

Yêu mẹ.

Mẹ cũng yêu con, cô đáp lại, rồi thêm một hàng dài những cái hôn và tắt điện thoại.

Con gái của cô thật tuyệt vời: một tâm hồn dịu dàng, chu đáo, có chút gì đó pha trộn giữa Stella và Marco, nhưng cũng giống cả cha nó nữa, cái cách con bé tự tìm lối đi, tự đặt ra những quy tắc riêng, và sống đúng với bản chất của mình.

Libby đang trưởng thành và thay đổi, để lại đằng sau những cảm xúc và những ràng buộc tâm lý đã giữ chân con bé lại, để cuộc đời cho nó thấy con đường mà nó cần đi, hơn là áp đặt những cột mốc đã được định sẵn lên chính cuộc đời của mình.

Con bé đáng giá từng khoảnh khắc tồi tệ mà Lucy đã phải trải qua, từ khi cô đặt con bé xuống cũi, cho đến khi cô quay trở về tìm lại con mình.

Con bé là một thiên thần.

Lucy nhấc điện thoại lên và cô lướt qua danh bạ cho đến chữ G.

Cô soạn một tin nhắn:

Chú Giuseppe thân mến.

Cháu Lucy đây.

Cháu nhớ chú rất nhiều.

Cháu chỉ muốn chú biết là cháu và các con của cháu vẫn khỏe mạnh và hạnh phúc, cả Fitz cũng thế.

Cháu sẽ không quay lại Pháp đâu.

Giờ cháu đã có một cuộc sống tuyệt vời mới và cháu muốn an cư lạc nghiệp ở đây.

Nhưng lúc nào cháu củng vẫn nghĩ về chú và cháu sẽ mãi mãi biết ơn chú vì đã ở bên cháu khi cuộc đời cháu xuống dốc không phanh.

Nếu không có chú chắc giờ này cháu vẫn lạc lối.

Yêu chú, mãi mãi, Lucy.
 
Gia Đình Lầu Trên
68


Trong một nhà hàng ở Marylebone buổi tối hôm đó, gia đình của Libby đang ngồi đợi cô tới.

Lucy, Marco, Stella và Henry.

Marco chào cô bằng một cái ôm nửa người có phần quá khích và vụng về, đầu cậu đập vào xương quai xanh của cô.

"Chúc mừng sinh nhật, chị Libby," cậu nói.

Stella nhẹ nhàng ôm cô và nói, "Chúc mừng sinh nhật, Libby.

Em yêu chị."

Hai đứa trẻ này, em trai và em gái cô, là món quà tuyệt vời nhất mà cô từng nhận được.

Cả hai đều là những đứa trẻ tuyệt vời và Libby xem đó hoàn toàn là công lao của người phụ nữ đã nuôi dạy chúng.

Cô và Lucy trở nên thân thiết rất nhanh.

Khoảng cách tuổi tác không lớn khiến cô cảm thấy Lucy như một người bạn mới quen, hơn là người phụ nữ đã sinh thành ra cô.

Lucy đứng dậy.

Bà vòng tay qua cổ cô và hôn thật to ở ngay sát tai cô.

"Chúc mừng sinh nhật," bà nói.

"Đây mới là sinh nhật đúng

nghĩa của con này.

Ngày này hai mươi sáu năm trước.

Chúa ơi.

Mẹ tưởng là người mẹ sắp rách ra làm đôi."

"Đúng vậy," Henry đồng ý.

"Nó rống lên như một con bò.

Hàng tiếng đồng hồ.

Chúng tôi đã phải bịt tai lại."

Sau đó ông trao cho cô một trong những cái ôm thận trọng của ông.

Libby vẫn không hiểu Henry lắm.

Đôi lúc cô nghĩ về những lời của Clemency, rằng có một phần trong tính cách của ông thuộc về quỷ dữ và một cơn ớn lạnh chạy dọc qua da thịt cô.

Cô nghĩ về những gì ông đã làm, hành quyết bốn con người, ướp xác một người phụ nữ trẻ, cắt xén cơ thể của một con mèo.

Nhưng ông chưa bao giờ có ý định giết người và Libby vẫn tin rằng nếu đêm đó cả bốn người họ ra đầu thú với cảnh sát khu vực, rồi giải thích những chuyện đã xảy ra, rằng họ đã bị đối xử tệ bạc rồi bị giam giữ ra sao, nói rằng đó chỉ là một tai nạn khủng khiếp mà thôi, thì người ta đã tin họ và giúp họ hoà nhập xã hội.

Nhưng đó không phải cách mà câu chuyện đã diễn ra, tất cả bọn họ đều biến bản thân thành những kẻ đào tẩu, và sống trên những tiếp tuyến khó ai có thể hình dung ra được.

Henry lập dị, nhưng ông rất cởi mở về vấn đề này.

Ông vẫn cứ khăng khăng là ông không cố tình nhốt cô và Miller trong phòng ở căn hộ Airbnb ông thuê đêm đó, ông không lấy điện thoại của họ và cũng không xóa bản ghi âm trên điện thoại của Miller.

Ông nói, "Nếu tôi làm thế, thì chắc là tôi đã say hơn tôi nghĩ rất nhiều."

Và Libby cũng chưa tìm thấy một thiết bị theo dõi hay nghe lén nào trên điện thoại của cô.

Và cô cũng chưa thay đổi mật mã mở điện thoại của mình.

Ông cũng phủ nhận rằng ông phẫu thuật thẩm mỹ để nhìn giống

Phin.

Ông nói, "Tại sao tôi lại muốn nhìn giống Phin cơ chứ?

Tôi đẹp hơn cậu ta rất nhiều."

Ông rất thiếu kiên nhẫn với trẻ con và có vẻ hơi hoang mang trước sự xuất hiện của quá nhiều người trong cái thế giới nhỏ bé, được kiểm soát chặt chẽ của ông.

Ông thường hay gắt gỏng, nhưng thỉnh thoảng vui nhộn.

Ông có những khái niệm rất mơ hồ về sự thật và có vẻ như ông đang sống ở bên lề thực tại.

Nhưng làm sao Libby có thể trách ông được cơ chứ?

Có lẽ cô cũng sẽ sống ở bên lề thực tại nếu cô phải trải qua một tuổi thơ dữ dội như tuổi thơ của ông.

Cô mở tấm thiệp ông tặng cho cô ra và bắt đầu đọc: "Libby Jones thân mến, bác rất tự hào khi được gọi cháu là cháu gái của bác.

Bác đã yêu quý cháu từ ngày xưa, và sẽ mãi luôn như vậy.

Chúc mừng sinh nhật, cô gái xinh đẹp của bác."

Ông nhìn cô, mặt hơi đỏ lên vì ngượng, và lần này cô không chấp nhận cái ôm thận trọng của ông nữa.

Lần này cô vòng cả hai tay qua cổ ông và siết chặt người ông lại cho đến khi ông cũng siết chặt người cô.

"Cháu cũng yêu bác," cô nói vào tai ông.

"Cảm ơn bác vì đã tìm thấy cháu."

Sau đó Miller tới.

Dido đã đúng.

Giữa cô và Miller có một cái gì đó.

Mặc dù thực tế là họ Roe không hợp đặt cạnh họ Jones, còn mẹ anh thì có phần xa cách, ngấn bụng anh thì lắc lư, mặt anh có quá nhiều râu, anh không nuôi con gì, đã thế lại có thêm một người vợ cũ, Libby vẫn thấy có một thứ gì đó hơn tất cả những thứ đó cộng lại.

Với cả, một hình xăm thì khác gì một bản vẽ trên da cơ chứ?



không phải là cả hệ tư tưởng.

Nó chỉ là những nét vẽ nguệch ngoạc mà thôi.

Miller đã từ bỏ câu chuyện của mình vì Libby.

Sau đêm mùa hè năm trước, khi Libby đoàn tụ với gia đình, anh lấy sổ ghi chép của mình ra và xé hết các trang đi.

"Nhưng," cô nói, "đó là nghề của anh, là sự nghiệp của anh.

Anh đã có thể kiếm được rất nhiều tiền."

Anh khiến cô im lặng bằng một nụ hôn và nói, "Anh sẽ không lấy gia đình này ra khỏi tay em.

Em xứng đáng có được họ hơn là anh xứng đáng có một bản tin sốt dẻo."

Giờ Libby đang ngồi xuống chiếc ghế trống ở ngay cạnh anh và chào anh bằng một nụ hôn.

"Chúc mừng sinh nhật, Lamb," anh nói vào tai cô.

Đó là biệt danh anh đặt riêng cho cô.

Trước đó chưa có ai gọi cô bằng biệt danh cả.

Anh đưa cho cô một phong thư dày.

Cô nói, "Cái gì đây?"

Anh cười và trả lời, "Anh đề nghị là em mở thử nó ra mà xem."

Ở trong có một cuốn tập san, dày và bóng bẩy, về chuyến du lịch safari năm sao trong một khu nghỉ dưỡng ở Botswana có tên gọi là Chobe Game.

"Có phải đây là...?"

Miller cười.

Anh nói, "Chà, đúng, có vẻ như là thế.

Theo một người đàn ông rất nhiệt tình mà anh đã nói chuyện cùng khi anh gọi đến số tiếp tân, hướng dẫn viên trưởng của họ là người đàn ông tuổi

trạc bốn mươi tên là Phin.

Nhưng giờ ông ấy lại đánh vần tên mình bằng chữ F.

Finn.

Finn Thomsen."

"Vậy đó có phải?

Có phải là ông ấy không?"

"Anh đoán khoảng chín mươi phần trăm là như vậy.

Nhưng chỉ có một cách duy nhất để biết chắc chắn thôi."

Anh rút một tập giấy từ trong túi áo khoác ra và đưa cho cô.

Đó là một email xác nhận đặt phòng deluxe cho hai người ở khu nghỉ dưỡng Chobe Game.

"Anh có thể đưa mẹ anh đi," anh nói.

"Nếu em không muốn đi.

Mẹ anh lúc nào cũng muốn đi thử một chuyến safari."

Libby lắc đầu.

"Không," cô nói.

"Không.

Em muốn đi.

Tất nhiên là em muốn đi rồi."

Cô lướt qua tập giấy, rồi quay lại cuốn tập san.

Và rồi ánh mắt cô bị thu hút bởi một bức ảnh: một chiếc xe jeep chở đầy khách du lịch đang ngắm nhìn một đàn sư tử.

Cô quan sát bức ảnh kỹ hơn.

Cô thấy một hướng dẫn viên đang ngồi ở khoang lái của xe jeep, quay lại nhìn ống kính cười.

Ông ta có mái tóc dày màu vàng cháy nắng.

Khuôn mặt ông hân hoan; và nụ cười của ông như mặt trời tỏa nắng.

Ông trông giống như người đàn ông hạnh phúc nhất trên thế giới này.

Ông trông giống cô.

"Anh có nghĩ đây là ông ấy không?" cô hỏi.

"Anh không biết," Miller nói.

Anh nhìn sang bên kia bàn, về phía Henry và Lucy, rồi quay cuốn tập san về phía họ.

Họ chụm mặt lại

vào nhau và cùng nhau xem xét bức ảnh.

Và rồi Lucy đưa nắm tay lên miệng, còn Henry thì ngã ra sau ghế.

Lucy gật đầu cái rụp.

"Đúng rồi," bà nói, giọng đứt quãng.

"Đúng, chính là anh ấy.

Đấy chính là Phin.

Anh ấy còn sống.

Nhìn anh ấy xem!

Anh ấy còn sống."
 
Gia Đình Lầu Trên
69


Cậu ấy còn sống.

Phin còn sống.

Trái tim tôi xoắn lại, nhịp tim tôi khuấy động, và tôi cảm thấy chóng mặt.

Cậu ấy vẫn đẹp như tất cả những lời nguyền rủa.

Nhìn cậu ấy ở đó với làn da rám nắng, với đôi bốt cổ cao, nụ cười toe toét tự mãn, ngồi trên một chiếc xe jeep ở châu Phi, không quan tâm tới bất cứ điều gì trên thế giới này cả.

Tôi cá là cậu ấy chẳng bao giờ nghĩ về tôi đâu, tôi cá là cậu ta chẳng nghĩ về ai trong chúng tôi cả.

Đặc biệt là cháu, Serenity.

Đặc biệt là cháu.

Cậu ta đã chẳng quan tâm gì đến cháu khi cháu còn ở trong ngôi nhà của chúng tôi.

Giờ cậu ta cũng sẽ chẳng quan tâm gì đến cháu đâu.

Rõ ràng là Lucy đã nói dối khi bảo là hai đứa chúng nó nói về cháu suốt khi hai đứa nó sống ở bên Pháp.

Phin không phải là người ưa trẻ con.

Cậu ấy không phải là "người đàn ông của gia đình".

Cậu ấy sống hướng nội.

Cậu ấy là một con người cô độc.

Lần duy nhất tôi kéo được cậu ấy ra khỏi chính con người của cậu ấy là lần đầu tiên chúng tôi thử chơi thuốc.

Cái khoảnh khắc chúng tôi nắm tay nhau, khi tôi cảm nhận được cậu ấy nhập vào trong tôi và tôi biến

thành Phin.

Nhưng cậu ấy không biến thành tôi, tất nhiên rồi, ai lại muốn trở thành tôi cơ chứ?

Nhưng tôi biến thành cậu ấy.

Tôi vẫn thường viết ở khắp nhà, bất kỳ lúc nào tôi có thể, như những tiếng hét im lặng vào trong những ngóc ngách và những góc khuất.

"TÔI LÀ PHIN"

Nhưng làm sao tôi có thể trở thành Phin được nếu Phin cứ ở đó để liên tục nhắc nhở tôi rằng tôi không phải là cậu ấy?

Mỗi lần cậu ấy hững hờ hất tóc mái, mỗi lần cậu ấy nhún vai, hướng mắt cậu nhìn vào khoảng không và nghiền ngẫm, rồi từ từ lật từng trang của một cuốn tiểu thuyết hợp thời.

Tôi bắt đầu với một liều tình dược.

Đáng ra nó phải làm cậu ấy yêu tôi.

Nhưng nó không có tác dụng.

Tất cả những gì liều thuốc ấy làm là khiến cho cậu ấy thu nhỏ dần lại.

Làm cho cậu ấy yếu hơn.

Xấu đi.

Và cậu ấy càng yếu thì tôi càng khỏe.

Vậy nên tôi tiếp tục đưa thuốc cho cậu ta uống.

Không phải để giết chết cậu ta, tôi chưa bao giờ có ý định đó, mà chỉ làm cậu ta mờ nhạt đi một chút để tôi có thể tỏa sáng.

Và đêm hôm đó, đêm sinh nhật tuổi ba mươi của Birdie, khi Lucy nói với tôi rằng, Phin mới chính là cha của đứa bé, tôi đã lên phòng để giết cậu ấy.

Nhưng khi cậu ấy bảo tôi cởi trói cho cậu ấy, tôi nói, "Chỉ khi nào cậu để tôi hôn cậu."

Và tôi hôn cậu ấy.

Tay cậu ấy vẫn bị trói chặt vào cái ống nước, cơ thể của cậu ấy sắp vỡ vụn đến nơi, còn tôi thì hôn cậu ấy, hôn lên môi, hôn lên mặt.

Cậu ấy không chống cự.

Cậu ấy để tôi làm thế.

Tôi hôn cậu ấy suốt một phút dài.

Tôi chạm ngón tay lên môi cậu ấy, tôi lướt tay qua tóc cậu ấy, tôi làm tất cả những gì tôi đã ao ước được làm kể từ giây phút đầu tiên cậu ấy đặt chân

vào trong nhà tôi khi tôi mới mười một tuổi, khi tôi còn chưa biết là sẽ có ngày tôi muốn hôn ai đó.

Tôi đợi cậu ấy đẩy tôi ra.

Nhưng cậu ấy không làm như thế.

Cậu ấy phục tùng.

Sau đó, khi tôi đã hôn cậu ấy đủ, tôi cởi trói cho cậu ấy khỏi chiếc máy sưởi và tôi nằm xuống bên cạnh cậu.

Tôi vòng tay qua cơ thể ấm áp của cậu ấy.

Tôi nhắm mắt lại.

Tôi ngủ thiếp đi.

Khi tôi tỉnh dậy, Phin đã biến mất.

Tôi đã đi tìm cậu ấy kể từ ngày hôm đó.

Và giờ cậu ấy đã được tìm thấy.

Tôi biết gấu bự của Libby sẽ tìm thấy cậu ấy.

Và anh ta đã làm được.

Tôi ngước lên nhìn Miller; tôi ngước lên nhìn cháu.

Tôi nặn ra nụ cười Bác Henry vui tính thuyết phục nhất có thể và tôi nói, "Còn chỗ cho một người nữa chứ?"
 
Back
Top Bottom