Cập nhật mới

Khác Gia đình lầu trên

Gia Đình Lầu Trên
40


David nhốt Phin trong phòng suốt một tuần sau đêm cậu ấy đẩy tôi xuống sông.

Suốt một tuần trời.

Một phần nào đó tôi cũng cảm thấy mừng, vì tôi không chịu nổi cảm giác phải nhìn thẳng vào mắt Phin.

Cậu ấy đẩy tôi xuống sông, nhưng những gì tôi đã làm còn tệ hơn rất, rất nhiều lần.

Phần nhiều là tôi cảm thấy đau.

Đau vì hối hận, vì tiếc nuối, vì giận dữ, vì bất lực, và vì nhớ cậu ấy.

Đến bữa, thức ăn của Phin được mang đến tận nơi, và cậu ấy chỉ được phép đi vào nhà vệ sinh mỗi ngày hai lần, dưới sự giám sát của cha cậu, người đứng ngay ngoài cửa và khoanh tay trước bụng như một tay bảo kê hung ác.

Không khí trong nhà những ngày này rất nặng nề và khó mà đoán biết trước được.

Mọi thứ đều bắt nguồn từ David.

Ông ta tỏa ra thứ năng lượng đen tối khủng khiếp, và mọi người đều tránh chọc giận ông ta, trong đó có cả tôi.

Một buổi chiều trong thời gian Phin đang bị giam giữ, tôi ngồi phân loại thảo mộc với Justin.

Tôi nhìn lên bức tường sau nhà về phía cửa sổ phòng Phin.

"Chú có nghĩ," tôi nói, "David nhốt Phin lại như thế là đúng không?"

Ông nhún vai.

"Cậu ta đã có thể giết chết cháu, anh bạn à.

Cháu có thể đã chết rồi."

"Vâng, cháu biết.

Nhưng cậu ấy đã không làm như thế.

Cháu vẫn còn sống.

Chỉ là cháu thấy như thế là... sai trái mà thôi."

"Ừ, đúng vậy, nếu là chú có thể chú sẽ không làm như thế, nhưng chú chưa bao giờ làm cha, và chú không hiểu có con thì sẽ như thế nào.

David chỉ đang làm tròn 'trách nhiệm' của ông ấy mà thôi, chú đoán thế."

Ông giơ ngón tay ra hiệu dấu ngoặc kép khi nói hai từ đó.

"Trách nhiệm á?" tôi nói.

"Ý chú là gì?"

"Chà, cháu biết đấy, nắm quyền kiểm soát tuyệt đối với mọi thứ trong nhà."

"Cháu ghét ông ta," tôi nói, giọng tôi bỗng nhiên nức nở.

"Ừ, thế thì chú cháu mình có điểm chung đấy."

"Thế tại sao chú không bỏ đi?"

Ông liếc mắt nhìn tôi, rồi quay lại nhìn cánh cửa.

"Chú cũng định thế," ông thì thầm.

"Nhưng đừng nói với ai nhé, được chứ?"

Tôi gật đầu.

"Có một điền chủ nhỏ.

Ở Wales.

Người phụ nữ chú gặp ở chợ nói cho chú biết.

Nhà họ đang tìm ai đó để giúp trồng khu vườn thảo mộc.

Cũng giống như ở đây, chú sẽ được ăn ở miễn phí.

Nhưng sẽ không có chúa tể cu bự chết tiệt nào ở đó cả."

Ông đảo mắt về phía ngôi nhà một lần nữa.

Tôi cười.

Chúa tể cu bự.

Tôi thích cụm từ này.

"Chú định bao giờ đi?"

"Sớm thôi," ông nói.

"Rất sớm thôi."

Ông vội ngước lên nhìn tôi.

"Muốn đi cùng không?"

Tôi chớp mắt.

"Tới Wales ấy ạ?"

"Ừ.

Tới Wales.

Cháu có thể tiếp tục làm tập sự nhí của chú."

"Nhưng cháu mới chỉ có mười bốn tuổi."

Ông không nói gì, chỉ gật đầu và tiếp tục gói các loại thảo mộc.

Phải sau đó một lúc tôi mới hiểu những lời Justin nói.

Ông không rủ tôi tới Wales để làm tập sự nhí của ông; ông không rủ tôi đi cùng vì ông cần tôi.

Ông rủ tôi đi cùng vì ông nghĩ, khi đi cùng ông tôi sẽ an toàn hơn ở lại chính ngôi nhà của mình.

Hai ngày sau Justin biến mất.

Ông không nói chuyện này với ai, và ông bỏ đi từ sớm tinh mơ, đến cả David cũng chưa kịp thức dậy.

Rút kinh nghiệm từ vụ của Phin, tôi không nói với ai về người điền chủ ở Wales cả.

Tôi có cảm giác ông ấy không muốn ai biết mình đi đâu.

Chiều hôm đấy tôi vào phòng ông ấy.

Khi đến Justin không có nhiều đồ đạc, khi đi ông còn mang ít hơn.

Tôi bước đến bên bệ cửa sổ, nơi tất cả những quyển sách của ông xếp thành một hàng.

Ma thuật và Bùa chú thời Hiện đại.

Ma thuật cho người mới bắt đầu.

Cẩm nang Ma thuật các Bùa chú Thảo mộc.

Tôi cảm giác như ông cố tình để lại sách cho tôi.

Tôi liếc ra hành lang, sau khi biết chắc rằng không có ai ở đấy, tôi nhét mấy cuốn sách vào trong áo len của tôi.

Khi chuẩn bị chạy về phòng thì tôi bắt gặp thứ gì đó ở trên bàn

bên cạnh giường.

Thứ gì đó be bé và nhiều lông lá.

Đầu tiên tôi tưởng đấy là con chuột chết, nhưng hóa ra đấy lại là một cái chân thỏ được cắt ra và gắn vào sợi dây chuyền nhỏ.

Tôi biết lơ mơ là cái này dùng để cầu may, như cây thạch nam hay cỏ bốn lá.

Tôi vội nhét nó vào trong túi và chạy ngay về phòng, giấu tất cả mọi thứ tôi vừa tìm được xuống dưới đệm.

Tôi luôn mong được nghe thêm tin gì đấy về Justin.

Sau khi ba cái xác được phát hiện, cảnh sát bắt đầu vào cuộc để điều tra nguyên nhân cái chết và truy lùng dấu vết của "những đứa trẻ mất tích bi thảm" nhà Lamb, tôi đã chờ, chờ mãi, để thấy Justin xuất hiện trên bản tin thời sự lúc sáu giờ sáng và kể về quãng thời gian ông ở ngôi nhà này, cùng chuyện David Thomsen đã nhốt đứa con tuổi vị thành niên của mình trong phòng ngủ ra sao, và theo sát tất cả mọi người trong nhà đi đâu, về đâu, ăn gì, mặc gì.

Từ đó đến nay tôi đã thử tìm Justin rất, rất nhiều lần trên mạng, nhưng tôi không kiếm nổi bất cứ dấu vết nào của ông, ở bất cứ đâu.

Tôi chỉ có thể giả định rằng hoặc là ông ấy đã chết, hoặc là ông ấy di cư đến một nơi nào đó xa xôi hẻo lánh ít người biết tới, hoặc là ông biết chuyện gì đã xảy ra với gia đình chúng tôi nhưng quyết định giữ im lặng và không muốn bị liên lụy.

Dù sự thật là gì đi chăng nữa, trong thâm tâm tôi luôn cảm thấy nhẹ nhõm.

Nhưng khi ông ấy đi rồi, tôi thấy nhớ ông ấy.

Mới đầu tôi không thích Justin, nhưng hóa ra ông ấy lại là người khiến tôi ít lo lắng nhất, so với hàng đống thứ chết tiệt mà tôi đã phải trải qua.

Mấy tháng trôi qua.

Hè chuyển sang đông.

Tôi tiếp quản vườn thảo mộc của Justin.

David tích cực ủng hộ tôi trong chuyện này, vì

nó ăn khớp với hệ tư tưởng của ông ta.

Trẻ con cần lao động chăm chỉ, tập trung làm những công việc bổ ích, lành mạnh.

Trẻ con không nên học những kỹ năng mà sau này có thể khiến chúng phạm phải những tội ác của chế độ tư bản.

Ông ta không hề biết về những cuốn sách tôi đang giấu dưới gầm giường, hay những kỹ năng mới mà tôi đang tự mày mò nghiên cứu và phát triển.

Mỗi tối tôi lại mang một nắm rau húng tây và rau bạc hà tươi vào trong bếp, để chiếm được sự ưng thuận và cưng chiều từ những người lớn trong nhà.

Một buổi tối Birdie còn đổ nước vào trong bồn tắm sẵn cho tôi, khi cô ta thấy tôi đứng dưới mưa để che cho những cây giống mỏng manh mới gieo.

"Cháu làm tốt lắm," cô ta nói, tay đưa cho tôi cái khăn tắm khi tôi bước lên lầu.

"David rất hài lòng."

David rất hài lòng.

Tôi muốn cắn cô ta, như một con chó.

Như dự đoán, Sally không kiếm được căn hộ nào ở Hammersmith mà vẫn ngủ trên ghế xô-pha ở Brixton, và giờ bàn đến chuyện chuyển xuống Cornwall.

Một buổi tối xe kéo đưa cả Sally, Phin và Clemency về nhà tôi, sau khi Sally dẫn Phin và Clemency đến bữa tiệc ở nhà người bạn chiều hôm đó, và rõ ràng là ở đấy bà đã uống quá chén.

Trước đó tôi đã nhìn thấy người lớn say rượu rồi, nhiều nữa là đằng khác, khi cha mẹ tôi còn quảng giao và thích tổ chức tiệc vào mỗi cuối tuần.

Nhưng tôi không chắc tôi đã từng thấy ai say như Sally tối hôm ấy.

"Tôi không thể tin được," tôi nghe thấy tiếng David nói, giọng căng thẳng, giận dữ, "là cô lại nghĩ tôi sẽ cho cô cơ hội được đón hai

đứa trẻ này về nuôi.

Có xuống địa ngục tôi cũng không đồng ý.

Nhìn bộ dạng cô lúc này mà xem!"

"Anh!"

Sally nói.

"Anh mà cũng đòi dạy đời tôi sao!

Nhìn lại chính bộ dạng của anh đi!

Anh nghĩ anh là ai?

Anh thật đáng thương.

Đáng thương.

Anh và con ả xấu hoắc đó.

Có Chúa mới biết được anh còn đang dâm ô với ai nữa.

Chúa mới biết được."

Tôi thấy David đang cố xô Sally về phía cửa.

Tôi có thể thấy ông ta rất muốn đánh Sally, và đang cố kiềm chế để không phải thượng cẳng chân hạ cẳng tay.

Nhưng rồi mẹ tôi xuất hiện.

"Để tôi pha cho chị cốc cà phê," mẹ tôi nói, chạm nhẹ vào khuỷu tay Sally, rồi ném cho David ánh nhìn cảnh cáo.

"Thôi nào.

Có chuyện gì thì vào đây giải quyết."

Tôi vờ như không biết chuyện gì, ít phút sau lân la đi xuống bếp.

"Con xuống lấy nước," tôi nói, dù không ai quan tâm.

Tôi giả vờ bỏ đi, rồi lặng lẽ nấp sau cánh cửa của kho lương thực.

Sally khóc, nước mắt rơi trong im lặng, chấm chấm khăn tay lên mặt.

Tôi nghe thấy bà ấy nói, "Làm ơn giữ cho các con tôi được an toàn.

Làm ơn giữ cho các con tôi được an toàn giúp tôi.

Tôi không biết bao giờ tôi mới có thể..."

Những lời còn lại của bà ấy bị nuốt chửng bởi tiếng còi inh ỏi của một con thuyền trên sông ngoài cửa trước.

"Tôi lo lắm.

Phin kể với tôi là nó bị nhốt ở trong phòng, và tôi hiểu, vâng, việc nó làm là xấu.

Ý tôi là, Chúa ơi, Henry có thể đã chết rồi.

Nhưng như thế chẳng phải... quá lạnh lùng hay sao?

Đúng vậy không?

Nhốt một đứa trẻ con lại như thế.

Anh ta lạnh lùng quá..."

"Chị biết tính David thế nào mà..."

Mẹ tôi trả lời.

"Đấy là cách anh

ấy giữ cho mọi thứ đi đúng quỹ đạo của nó.

Anh ấy đã cứu vớt gia đình chúng tôi.

Thật lòng đấy.

Trước khi anh ấy tới, tôi không thấy sống từ ngày này qua ngày khác có bất cứ ý nghĩa gì.

Nhưng giờ mỗi buổi sáng thức dậy, tôi đều cảm thấy hạnh phúc về sự tồn tại của chính mình.

Của chính tôi.

Tôi không lấy đi thứ gì từ thế giới này.

Tôi không góp phần vào hiện tượng Trái Đất nóng lên.

Các con tôi khi lớn sẽ không phải ngồi sau những chiếc bàn kính và lấy tiền của người nghèo.

Tôi chỉ ước," bà nói, "rằng David bước vào cuộc đời chúng tôi sớm hơn."
 
Gia Đình Lầu Trên
41


Libby đập cửa.

Miller cũng thế.

Đây là cửa chống cháy, được xây rất chắc chắn.

Miller nhìn ra cửa sổ xem có đường nào khác để thoát ra không, nhưng tất cả đều bị đóng kín, chỉ còn lối duy nhất là nhảy từ trên tầng mười xuống đất.

Họ lục quanh phòng để tìm điện thoại, nhưng một lần nữa họ vẫn không thấy chúng ở đâu.

Sau nửa tiếng đồng hồ họ không đập cửa nữa, mà ngồi gục trên sàn, lưng tựa vào thành giường.

"Giờ sao?"

Libby hỏi.

"Chờ thêm nửa tiếng nữa, tôi sẽ đá thử xem nó có mở ra được không?"

"Sao anh không đá luôn bây giờ?"

"Cô biết đấy, trông tôi thế thôi nhưng tôi không khỏe lắm đâu.

Lưng tôi bị chấn thương từ ngày xưa.

Nên tôi phải cẩn thận."

"Vậy thì mười phút nữa nhé," cô nói.

"Được, mười phút."

"Mà anh nghĩ ông ta đang chơi trò quái quỷ gì vậy?" cô hỏi.

"Tôi chịu."

"Anh nghĩ ông ta có định giết chúng ta không?"

"Ôi, tôi không nghĩ thế đâu."

"Thế tại sao ông ta lại nhốt chúng ta ở đây?"

"Nhỡ tay chẳng hạn, biết đâu đấy?"

Libby nhìn anh ta với ánh mắt nghi ngờ.

"Anh không thực sự tin điều anh vừa nói, đúng không?"

Chiếc đồng hồ báo thức chỉ 7 giờ 37 phút sáng.

Cô đang cố tính chừng nào cô mới đến được chỗ làm, rồi cả hai ngồi thẳng lưng khi nghe thấy tiếng sập cửa.

Rồi họ nghe thấy một giọng nói.

Đấy là giọng của Phin, gã ta đang nói chuyện với một con mèo.

Họ nghe thấy những tiếng hôn chùn chụt.

Họ đứng dậy và bắt đầu đập cửa.

Một lát sau cửa mở, và Phin đứng nhìn họ.

"Ôi Chúa ơi," gã nói, tay ôm lấy miệng.

"Ôi Chúa ơi.

Tôi rất xin lỗi.

Tôi hay bị mộng du.

Có lần tôi đã đi vào trong phòng của khách, đã thế tôi còn lẻn vào giường ngủ cùng với họ.

Thế nên tôi khóa cửa phòng hai người trước khi tôi đi ngủ.

Và sáng nay tôi dậy sớm, sớm một cách ngớ ngẩn, vậy là tôi quyết định đi chạy bộ.

Quên béng đi mất là hai người vẫn còn đang ngủ.

Tôi vô cùng xin lỗi.

Nào, ra đây.

Ra đây.

Chúng ta ăn sáng cùng nhau nhé?"

"Tôi không ở lại ăn sáng được.

Tôi muộn làm rồi."

"Ôi dào, cô gọi điện cho sếp là được mà, kể cho sếp cô chuyện gì đã xảy ra.

Tôi chắc là người ta sẽ hiểu cho cô thôi.

Thôi nào.

Tôi có nước cam tươi và mọi thứ chuẩn bị sẵn sàng rồi.

Hôm nay trời đẹp

lắm.

Chúng ta có thể ăn trên sân thượng.

Đi mà."

Lại nữa, lại là cái giọng nài nỉ, y hệt đêm hôm trước.

Libby cảm thấy như mình đang bị mắc kẹt.

"Sao ông không nói trước với chúng tôi một câu," cô nói, "tối qua ấy?

Sao ông không nói trước là ông sẽ khóa cửa?

Hay bảo chúng tôi tự khóa cửa lại từ bên trong?"

"Lúc ấy cũng muộn lắm rồi," gã trả lời, "tôi lại say nữa, nên tôi đã có những hành động ngu ngốc."

"Ông suýt làm chúng tôi chết khiếp, ông biết không.

Tôi phát hoảng cả lên đấy."

Nói đến đây giọng Libby như vỡ ra, sự căng thẳng từ những giây phút trước cũng vơi đi dần.

"Làm ơn tha lỗi cho tôi," gã nói.

"Tôi là một thằng đần.

Tôi không biết suy nghĩ trước sau.

Hai người đang ngủ và tôi không muốn đánh thức hai người dậy.

Nên tôi khóa cửa lại.

Một cách vô thức.

Thôi nào.

Ra đây để tôi lấy cái gì cho hai người ăn."

Cô và Miller liếc mắt nhìn nhau.

Cô thấy là anh muốn ở lại.

Cô gật đầu.

"Được, nhưng nhanh thôi nhé.

Mà ông Phin này?"

Gã nhìn cô âu yếm.

"Điện thoại của chúng tôi đâu?"

"Ô," gã nói.

"Thế không có ở trong phòng à?"

"Không," cô trả lời.

"Cả hai đều không luôn."

"Vậy có khi tối qua cô để quên ở bên ngoài cũng nên.

Chúng ta ra đấy tìm thử nhé."

Họ đi theo gã ta qua hành lang và đi vào trong một phòng khách có không gian mở.

"Ồ," gã ta nói nhẹ bẫng.

"Đây rồi.

Cô sạc điện

thoại trong bếp.

Chắc tối qua chúng ta phải say bí tỉ thì mọi thứ mới gọn gàng ngăn nắp như thế này.

Đi," gã nói, "đi ra ngoài sân thượng ngồi.

Tôi sẽ mang bữa sáng ra cho hai người."

Họ ngồi cạnh nhau trên ghế xô-pha.

Lúc này mặt trời đang tỏa nắng rực rỡ phía bên kia sông, làm cửa sổ những ngôi nhà trên đường Cheyne sáng rực lên.

Cô cảm thấy Miller ghé sát vào người cô.

"Tôi không chấp nhận được cái lý do đó," anh thì thầm vào tai cô.

"Tôi không tin chuyện 'ôi tôi say quá, tôi nhốt hai người ở trong phòng mà không báo trước cho hai người biết'.

Và chuyện hai cái điện thoại di động tôi cũng không tin nốt.

Tối qua tôi say thật, nhưng tôi nhớ tôi vẫn cầm điện thoại trên tay khi chúng ta lên giường đi ngủ.

Tôi ngửi thấy có điều gì đó mờ ám."

Libby gật đầu đồng ý.

"Tôi biết," cô nói.

"Có điều gì đó không ổn lắm."

Cô bật điện thoại lên và gọi cho Dido.

Dido không bắt máy, nên cô để lại lời nhắn trong hộp thư thoại.

"Chuyện dài lắm," cô nói.

"Nhưng em vẫn ở Chelsea.

Chị có thể nhờ Claire tiếp nhà Morgan giúp em lúc mười giờ được không?

Cô ấy đã có đủ các thông tin chi tiết.

Giá mới nhất đã được cập nhật trên hệ thống.

Chỉ cần in ra là xong.

Những cuộc hẹn tiếp theo em sẽ có mặt.

Em hứa.

Em rất xin lỗi, và em sẽ giải thích mọi thứ khi em gặp chị.

Và nếu mười giờ ba mươi mà em vẫn chưa có mặt thì chị gọi cho em.

Nếu em không bắt máy," cô vội quay lại, và thấy Phin vẫn đang đứng ở quầy bếp cắt bánh mì.

"Em đang ở Battersea, trong một căn hộ chung cư ngay đối diện với nhà em.

Được chứ?

Em không biết số nhà là gì.

Nhưng

em ở trên tầng mười.

Lát nữa em gặp chị.

Em xin lỗi.

Tạm biệt chị."

Miller liếc mắt nhìn cô và mỉm cười dịu dàng.

"Tôi sẽ không để điều gì xấu xảy ra với cô đâu," anh nói.

"Tôi sẽ đảm bảo cô đến những cuộc họp tiếp theo đúng giờ.

Và vẫn còn sống.

Được chưa?"

Trong cô ngập tràn cảm giác yêu thương ấm áp.

Cô mỉm cười, gật đầu.

Phin xuất hiện với hai cái khay và đặt xuống trước mặt họ.

Trứng bác, quả bơ dầm, rắc hạt ở trên, một chồng bánh mì lúa mạch nguyên cám đã nướng sẵn, một miếng bơ trắng và một bình nước cam lạnh.

"Nhìn ngon chưa này," gã nói, rồi đưa đĩa cho Libby và Miller.

"Trông ngon tuyệt," Miller đáp, xoa tay vào nhau, trước khi lấy bánh mì bỏ vào đĩa của mình.

"Cà phê nhé?"

Phin mời.

"Hay trà?"

Libby xin một cốc cà phê và lấy sữa từ trong bình đổ thêm vào.

Cô lấy một lát bánh mì nhưng cô không có tâm trí đâu mà ăn.

Cô nhìn Phin.

Cô muốn hỏi gã về chuyện gã kể với họ đêm qua nhưng cô không nhớ nổi nó là gì; nó dần trôi vào trong miền ký ức xa lắc mà cô không chạm được vào.

Chuyện gì đó liên quan đến người phụ nữ chơi đàn violin tên là Birdie.

Chuyện gì đó liên quan đến con mèo.

Chuyện gì đó bao gồm một danh sách những luật lệ và sự hy sinh của kẻ ngoại giáo, và có một điều rất, rất kinh khủng liên quan đến Henry.

Nhưng tất cả đều quá mơ hồ đến nỗi khi cô tự ngẫm lại, cô cảm thấy như gã ta chưa bao giờ kể cho họ nghe bất cứ chuyện gì.

Thay vào đó, cô nói, "Ông có bức ảnh nào chụp các ông các bà hồi còn bé không?"

"Không," gã trả lời, giọng có phần hối lỗi.

"Một tấm cũng không có.

Cô nhớ không, trong nhà không còn một cái gì khi chúng tôi bỏ đi.

Cha tôi đem tất cả đi bán sạch, đến một mảnh vụn cũng không còn.

Và những thứ ông ấy không bán được, ông ấy ném cho mấy cửa hàng từ thiện.

Nhưng..."

Gã ngưng lại.

"Cô có nhớ một bài hát?

Từ những năm tám mươi ấy, gọi là gì ấy nhỉ...

Không, chắc cô không nhớ rồi, hồi đấy cô còn bé quá.

Nhưng có một bài hát của một ban nhạc tên là Original Version?

Đứng đầu bảng xếp hạng mấy tuần liền trong một mùa hè, trước khi chúng tôi đến sống ở ngôi nhà.

Birdie, người phụ nữ tôi kể cho cô tối qua.

Cô ta ở trong ban nhạc đó một thời gian.

Cả Birdie và Justin.

Và video ca nhạc của bài hát ấy được quay ở đường Cheyne.

Cô có muốn xem không?"

Libby thở gắt.

Ngoài bức ảnh cha mẹ cô mặc trang phục dạ hội trong bài báo của Miller đăng trên tờ Guardian, đây là cơ hội duy nhất giúp cô có thể hiểu thêm được phần nào về nơi cô đã sinh ra.

Họ đi vào trong phòng khách và Phin kết nối điện thoại của mình với chiếc ti-vi plasma màn hình lớn.

Gã lên YouTube tìm và bấm nút phát video.

Libby nhận ra bài hát này ngay lập tức.

Trước đây cô chưa từng biết nó tên là gì, hay của nhóm nào sáng tác, nhưng riêng phần nhạc thì cô biết rất rõ.

Video mở đầu với ban nhạc biểu diễn ở trước dòng sông.

Tất cả các thành viên đều diện quần áo may bằng vải tuýt, đeo dây nịt, đầu đội mũ, chân đi bốt Dr.

Martens.

Nhóm có nhiều thành viên, trông có vẻ như mười người tất cả.

Hai trong số đó là phụ nữ, một người chơi đàn violin, người kia chơi một loại trống da.

"Đây," Phin nói, đoạn tạm dừng video lại và chỉ vào màn hình.

"Đây là Birdie.

Người có mái tóc dài."

Libby dán mắt vào người phụ nữ trên màn hình.

Trông cô ta gầy giơ xương, cằm mỏng và có vẻ rất nghiêm túc.

Cô ta giữ chắc cây đàn violin ở dưới cằm, mắt ngước lên, nhìn thẳng vào camera.

"Đó là Birdie ư?" cô hỏi.

Cô không thể đánh đồng người phụ nữ mỏng manh, trông chẳng có điểm nào là ấn tượng này với người phụ nữ mà Phin kể với cô ngày hôm qua, người phụ nữ độc ác đã thống trị cả một gia đình và đứng đằng sau biết bao vụ ngược đãi tàn nhẫn.

Phin gật đầu.

"Chính xác.

Con quỷ cái độc ác."

Gã ấn nút phát tiếp video, và giờ ban nhạc đã ở bên trong một căn nhà, một căn nhà tráng lệ, huyên náo, với bức tranh sơn dầu và những món đồ nội thất hoành tráng, nào là chiếc ngai nệm nhung đỏ, những thanh kiếm sáng choang, những tấm ốp được đánh bóng loáng, rèm cửa cong, đầu nai sừng tấm, cáo nhồi bông và đèn chùm lấp lánh.

Camera đi theo ban nhạc khi họ lướt qua ngôi nhà với những nhạc cụ của họ, tạo dáng trên những bậc cầu thang được chạm khắc và trang trí công phu, nhảy xuống hành lang ốp gỗ, chơi đấu kiếm, đội mũ hiệp sĩ làm mẫu, cưỡi khẩu súng thần công ở trước vườn và trước một lò sưởi bằng đá khổng lồ, trong chứa đầy những khúc gỗ đang cháy.

"Ôi lạy Chúa," Libby nói.

"Đẹp quá đi mất thôi."

"Đúng vậy," Phin đáp khô khan.

"Đẹp phải không?

Vậy mà con quỷ cái kia và cha tôi đã phá hủy tất cả, một cách có hệ thống."

Libby hướng mắt lại về phía màn hình ti-vi.

Mười người trẻ, trong một ngôi nhà đầy đủ vật chất, tràn ngập sức sống, năng lượng và

hơi ấm.

"Tôi không hiểu," cô khẽ nói, "tại sao mọi chuyện lại ra nông nỗi này."
 
Gia Đình Lầu Trên
42


Cái nắng đầu giờ chiều vẫn còn bỏng rát trên làn da của họ khi Lucy, hai đứa trẻ con và con chó đi bộ quanh góc phố đến dãy căn hộ chung cư phía sau căn nhà số mười sáu trên đường Cheyne.

Họ rảo bước qua khu vườn công cộng và tiến đến cánh cửa ọp ẹp ở phía sau, rồi cô ra hiệu cho mấy đứa trẻ phải im lặng khi họ đi ngang một khu vực nhiều cây cối, sang một bãi cỏ khô cằn, héo úa vì nắng nóng kéo dài.

Cô ngạc nhiên khi thấy cửa sau nhà không khóa.

Một tấm kính đã bị vỡ.

Vết nứt trên kính nhìn vẫn còn mới.

Cô rùng mình, thấy lạnh dọc sống lưng.

Cô chui đầu qua tấm kính vỡ và mở cửa từ phía bên trong.

Cánh cửa mở ra, và cô thở phào nhẹ nhõm khi không phải trèo lên tường nhà để đi vào qua đường mái.

"Ở đây đáng sợ quá," Stella nói, theo Lucy đi vào trong nhà.

"Ừ," Lucy đồng ý.

"Đúng thế, có hơi đáng sợ thật."

"Con nghĩ ở đây rất tuyệt đấy chứ," Marco nói, tay chạy dọc theo những lò sưởi khổng lồ hình trụ, mắt nhìn quanh phòng.

Khi dẫn các con vào thăm nhà, Lucy cảm thấy như thể không có

một hạt bụi, hay một mạng nhện nào xê dịch kể từ ngày cuối cùng cô ở đây.

Cô cảm giác như ngôi nhà đã ngủ đông suốt bao nhiêu năm qua để chờ cô trở về.

Trong nhà toát ra mùi ẩm mốc và tối tăm thân thuộc.

Cách ánh sáng chiếu vào qua những căn phòng tối, tiếng chân cô nện lên sàn, những cái bóng đổ trên tường.

Mọi thứ vẫn nguyên vẹn như cũ.

Vừa đi cô vừa đặt ngón tay lên và cảm nhận các bề mặt trong căn nhà.

Chỉ trong một tuần mà cô đã thăm lại hai căn nhà quan trọng nhất trong cuộc đời cô, một ở Antibes và một ở Chelsea, và trong cả hai căn nhà ấy cô đều phải chịu những tổn thương, những rạn nứt, để đến cuối cùng cô buộc phải chạy trốn.

Gánh nặng của những ký ức ấy chồng chất lên trong trái tim cô.

Tham quan nhà xong xuôi, Lucy đưa các con ra vườn ngồi.

Bóng của những tán cây mọc um tùm trải dài ra, tạo nên bầu không khí mát mẻ.

Lucy nhìn Marco cầm cây gậy chơi loanh quanh trong vườn.

Cậu mặc chiếc áo phông màu đen, và trong khoảnh khắc, nhìn cậu cô bỗng như thấy Henry đang ngồi chăm sóc vườn thảo dược.

Suýt chút nữa thì cô nhảy dựng lên và định chạy ra kiểm tra khuôn mặt cậu.

Nhưng rồi cô nhớ ra: Henry giờ đã là một người đàn ông rồi, không phải một cậu bé nữa.

Đến giờ cô vẫn chỉ hình dung được ra anh trai mình như trong đêm cuối mà họ ở cùng nhau, hai hàm há hốc ra vì sốc trước những chuyện đã xảy ra, ánh nến leo lắt trên má anh và sự im lặng đáng sợ của anh.

"Cái gì đây ạ?"

Marco gọi cô.

Lucy đặt tay lên trán và rướn mắt nhìn sang bên kia vườn.

"Ồ," cô nói, đoạn đứng dậy và tiến về phía cậu con trai.

"Ngày xưa ở đấy là vườn thảo mộc.

Một trong số những người sống trong căn nhà này vẫn thường hay trồng các loại cây thuốc ở đây."

Marco dừng lại, và ôm chặt lấy cây gậy như một cậy quyền trượng ở giữa hai chân mình, rồi nhìn lên phía sau ngôi nhà.

"Chuyện gì đã xảy ra vậy ạ?"

Cậu cất tiếng hỏi.

"Ý con là sao?"

"Ý con là, con cũng đoán được phải có chuyện gì đấy.

Từ những cử chỉ của mẹ khi mình đến đây.

Tay mẹ run lên.

Vả lại, lúc nào mẹ cũng chỉ nói là dì của mẹ đưa mẹ sang Pháp vì mẹ là trẻ mồ côi.

Nhưng con nghĩ phải có chuyện gì đó cực kỳ, cực kỳ tồi tệ xảy ra, mới khiến bà ấy đưa mẹ đi.

Và con nghĩ điều ấy xảy ra ở đây, trong chính ngôi nhà này."

"Mình nói sau nhé," cô nói.

"Chuyện dài lắm."

"Thế cha mẹ của mẹ đâu?"

Marco nói và giờ Lucy thấy được rằng khi cô đưa con trai đến đây, cô đã mở ra cả một kênh đào không biết bao nhiêu là câu hỏi mà trước đấy con cô chưa từng nghĩ đến việc hỏi cô.

"Ông bà được chôn cất ở đâu ạ?"

Cô hít một hơi, cố nở nụ cười.

"Mẹ chịu.

Mẹ không biết."

Khi còn trẻ, Lucy thường xuyên ghi chép lại tất cả mọi chuyện.

Cô mua một tập giấy kẻ và một cây bút, rồi cô tìm chỗ nào đó để ngồi, ở đâu cũng được, và cô bắt đầu viết, viết, viết và viết.

Ghi chép lại những dòng suy nghĩ trong cô.

Phin bị trói vào thành giường, những người lớn chết cả rồi, một chiếc xe van chờ sẵn trong bóng tối, động cơ nổ ầm ầm, và chuyến đi xuyên đêm dài u ám, im lặng vì choáng váng, và những ngày tháng chờ đợi, chờ đợi một thứ nhưng nó

chẳng bao giờ đến, để rồi giờ đây, hai mươi tư năm sau, cô vẫn đợi thứ ấy, và cô đã ở rất gần rồi, gần đến nỗi cô có thể nếm được nó ở trên đầu lưỡi.

Đây là câu chuyện mà cô đã viết đi viết lại.

Cô sẽ viết nó ra, rồi cô xé tờ giấy vừa viết ra khỏi tập vở, vò nó lại và ném nó vào sọt rác, ném ra biển khơi, hay ném xuống một cái giếng trời ẩm ướt.

Cô sẽ đốt nó, hoặc ngâm nó xuống nước, hoặc xé nó ra thành từng sợi nhỏ.

Nhưng cô cần viết nó ra, và biến nó thành một câu chuyện, thay vì kể về sự thật của cuộc đời cô.

Và lúc nào sự thật cũng làm cô khó chịu, siết chặt cơ bụng của cô, khiến tim cô đập loạn nhịp, chế nhạo cô trong những giấc mơ, làm cô phát ốm mỗi khi tỉnh giấc, và không cho cô ngủ yên khi cô nhắm mắt mỗi đêm.

Cô luôn biết điều duy nhất có thể đưa cô trở về London, trở về ngôi nhà này, nơi có quá nhiều ký ức kinh hoàng diễn ra, chỉ có thể là em bé mà thôi.

Nhưng con bé ở đâu?

Nó đã đến đây, điều đó đã rõ.

Có đủ bằng chứng xung quanh ngôi nhà cho thấy những hoạt động diễn ra gần đây.

Trong tủ lạnh có đồ uống, trong bồn rửa bát có ly cốc bẩn, trên cửa kính có một cái lỗ.

Giờ cô chỉ cần đợi em bé quay về.
 
Gia Đình Lầu Trên
43


Điều tiếp theo xảy ra là mẹ tôi có bầu.

Và tất nhiên cái thai đấy không phải là của cha tôi.

Cha tôi còn chẳng đứng dậy nổi từ chiếc ghế của mình.

Cũng lạ là tôi không mấy ngạc nhiên khi nghe được thông tin này.

Bởi vì tại thời điểm đó, tôi đã biết quá rõ một sự thật ghê tởm là mẹ tôi cuồng si David.

Tôi nhớ đêm đầu tiên khi ông ta đến, mẹ tôi đã cố né tránh ông ta, và tôi biết bà làm như thế là vì bà đã bị ông ta thu hút.

Tôi cũng chứng kiến sự hấp dẫn ban đầu ấy chuyển thành mê đắm khi cha tôi ngày một yếu dần, và sức ảnh hưởng của David ngày càng mạnh hơn.

Tôi thấy rõ ràng là mẹ tôi đã trúng bùa mê thuốc lú của David, và bà sẵn sàng hy sinh mọi thứ để được David chấp thuận, kể cả chính gia đình của mình.

Nhưng gần đây tôi cũng thấy những điều khác nữa.

Tôi nghe thấy tiếng cửa đóng mở lúc nửa đêm.

Tôi nhìn thấy một vết đỏ trên cổ mẹ tôi, cảm thấy những khoảnh khắc nặng nề, nghe thấy những lời thì thầm cấp bách, ngửi thấy mùi hương của ông ta trên tóc mẹ tôi.

Tôi thấy Birdie thận trọng theo dõi từng bước đi của

mẹ tôi, thấy mắt David dán vào những bộ phận trên cơ thể mẹ tôi mà đáng lẽ ra ông ta không nên bận tâm tới.

Giữa mẹ tôi và David có một mối liên hệ nào đó rất hoang dại và mãnh liệt, và nó lan ra tất cả các ngóc ngách trong căn nhà này.

Chuyện mẹ tôi có bầu được thông báo như mọi thông báo khác trong nhà, trên bàn ăn tối.

David là người đưa ra thông báo ấy, tất nhiên, và trong khi ông ta thông báo với mọi người, ông ta ngồi giữa Birdie và mẹ tôi, tay ông ta nắm lấy tay của cả hai người.

Bạn có thể cảm thấy những mạch máu kiêu hãnh đang phồng lên dưới lớp biểu bì của ông ta.

Hẳn là ông ta đang rất mãn nguyện với chính mình.

Cái thằng cha này thật là.

Nhất tiễn song điêu.

Và giờ gạo cũng đã nấu thành cơm.

Cái.

Thằng.

Cha.

Này.

Em gái tôi bật khóc ngay lập tức, còn Clemency thì chạy ra khỏi bàn ăn, và tôi nghe thấy tiếng con bé ói mửa trong nhà vệ sinh cạnh cửa sau.

Tôi nhìn mẹ tôi bằng ánh mắt kinh hãi.

Những gì xảy ra giữa mẹ tôi và David không làm tôi ngạc nhiên cho lắm; điều làm tôi ngạc nhiên chính là việc mẹ tôi để chuyện này được thông báo một cách công khai, như thể đây là tin gì đó đáng mừng.

Tôi không thể tin được bà ấy lại không hiểu rằng có lẽ sẽ tốt hơn nếu bà ấy kín đáo thổ lộ thông tin này với các con mình trong một góc tối tăm nào đó.

Bà ấy không biết ngượng sao?

Bà ấy không thấy hổ thẹn sao?

Có vẻ như là không.

Mẹ tôi nắm lấy tay em gái tôi và nói, "Con yêu, chẳng phải con vẫn muốn có em gái hay em trai sao."

"Vâng.

Nhưng không phải như thế này!

Không phải như thế này!"

Lúc nào cũng làm quá lên, em gái tôi là như vậy.

Nhưng trong trường hợp này, tôi không thể đổ lỗi cho con bé được.

"Còn cha thì sao?"

"Cha biết," bà nói, giờ thì bà nắm lấy tay tôi và bóp chặt.

"Cha hiểu.

Cha muốn mẹ được hạnh phúc."

Ngồi giữa Birdie và mẹ tôi, David cẩn trọng theo dõi chúng tôi.

Tôi thấy đơn giản là ông ta chỉ đang cố chiều lòng mẹ tôi, bằng cách cho phép mẹ tôi được an ủi chúng tôi.

Tôi thấy là ông ta chẳng mảy may quan tâm đến việc chúng tôi nghĩ gì về ông ta hay hành động kinh tởm của ông ta, khi ông ta thâm nhập vào cơ thể mẹ tôi và khiến mẹ tôi có bầu.

Tôi nhìn Birdie.

Trông mặt cô ta đắc thắng đến kỳ lạ, như thể đây là kết quả của một kế hoạch vĩ đại nào đó mà cô ta đã vạch ra.

"Tôi không thể có con được," cô ta nói, như thể đọc được suy nghĩ của tôi.

"Vậy mẹ tôi là... cái gì?"

Tôi gắt lên.

"Là cái máy đẻ hả?"

David thở dài.

Ông ta lấy một ngón tay chạm vào môi mình, ông ta hay lặp đi lặp lại thói quen này, và cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn cảm thấy mất bình tĩnh khi thấy ai làm như thế.

"Gia đình này cần một tâm điểm," ông ta nói.

"Một trái tim.

Một lẽ sống.

Căn nhà này cần có một em bé.

Và người mẹ tuyệt vời của cháu đã đồng ý làm điều ấy cho tất cả chúng ta.

Mẹ cháu là một nữ thần."

Birdie cũng tỏ vẻ uyên bác, gật đầu đồng ý.

Clemency lúc này đã quay trở lại bàn, nhìn con bé nhợt nhạt và có vẻ không được khỏe.

Nó ngồi phịch xuống ghế, người run lên.

"Con yêu," David quay sang nói với Clemency.

"Hãy nhìn chuyện đã xảy ra theo hướng này.

Cái thai sẽ gắn kết hai gia đình chúng ta.

Cả bốn đứa con sẽ có một người em trai hoặc em gái chung.

Hai gia đình," ông ta với tay qua bàn, "giờ sẽ là một."

Em gái tôi bật khóc và Clemency nắm tay thành quả đấm.

Birdie thở dài.

"Ôi, giời ạ, hai đứa," cô ta rít lên, "người lớn lên tí xem nào."

Tôi thấy David ném cho cô ta một ánh nhìn cảnh cáo.

Cô ta quay lại nhìn ông ta, hất đầu cáu kỉnh.

"Sẽ mất vài ngày để các con quen được với tư tưởng này.

Ta hiểu," David nói.

"Nhưng các con phải tin ta.

Cái thai này sẽ là khởi đầu mới cho tất cả chúng ta.

Thực sự đấy.

Đứa bé đang trong bụng kia sẽ là tương lai của chính cộng đồng này.

Đứa bé sẽ là tất cả."

Bụng mẹ tôi to lên theo cách mà tôi không thể tưởng tượng được.

Từ trước đến giờ, thân hình bà lúc nào cũng rất mảnh mai, xương hông nhô ra, vòng eo hẹp và dài, nhưng giờ đột nhiên bà trở thành người phốp pháp nhất trong nhà.

Bà được cho ăn liên tục và được bảo là không phải làm gì cả.

"Đứa bé" có vẻ như cần thêm một nghìn calo mỗi ngày, và trong khi chúng tôi phải ngồi chọn giữa trộn nấm, hay xúp cà rốt, mẹ tôi thì được ngấu nghiến hết mì spaghetti lại đến mousse chocolate.

Mà tôi đã kể chuyện lúc này tất cả chúng tôi đều gầy như thế nào chưa nhỉ?

Ngay từ đầu chúng tôi đã không có ai bị thừa cân cả, ngoại trừ cha tôi.

Nhưng trong khi mẹ tôi được vỗ béo như một con dê lễ tế thần, tất cả chúng tôi đều tiều tụy hốc hác.

Tôi vẫn mặc vừa quần áo của tôi hồi tôi mười một tuổi, mặc dù giờ tôi đã mười lăm tuổi rồi.

Clemency và em gái tôi nhìn như hai đứa bị rối loạn ăn uống, còn Birdie về cơ bản là một que củi khô.

Tôi sẽ nói luôn cho

bạn biết, mấy cái món thuần chay này sẽ trôi tuột qua người bạn, và chẳng dính thêm được tí nào vào hai bên cả.

Nhất là khi những món ăn ấy lại được chia thành những khẩu phần ăn keo kiệt, còn bạn thì thường xuyên bị nhồi vào đầu là bạn không nên tham lam và xin thêm phần thứ hai.

Một người nấu ăn ghét ăn bơ, nên đồ ăn của chúng tôi chẳng bao giờ có đủ chất béo (mà trẻ con thì cần chất béo), người kia lại ghét ăn muối, nên các món ăn nhạt thếch, và một người nữa thì từ chối không nấu bất kỳ sản phẩm nào liên quan đến lúa mì, vì lúa mì khiến dạ dày của người đó sưng lên như cái nệm hơi, nên cũng chẳng có đủ tinh bột để ăn cho chắc dạ, vậy nên tất cả chúng tôi đều rất gầy, và bị suy dinh dưỡng.

Sau khi ba thi thể được tìm thấy, và báo chí xôn xao bu đến nhà chúng tôi với micrô và máy ảnh cầm tay, một người hàng xóm xuất hiện trên ti-vi và nói về việc mấy đứa trẻ con nhà bên trông gầy gò như thế nào.

"Tôi cũng từng tự hỏi," người hàng xóm nói (người mà cả đời tôi chưa nhìn thấy bao giờ), "không biết những đứa trẻ ấy có được chăm sóc đến nơi đến chốn không.

Tôi cũng thấy hơi lo ngại.

Ai trong nhà đấy nhìn cũng gầy xơ xác.

Nhưng chuyện nhà người ta thì đâu ai muốn can thiệp vào, phải không?"

Đúng vậy, thưa quý bà hàng xóm bí ẩn, không, rõ ràng câu trả lời của bà là không, bà không muốn can thiệp.

Nhưng trong khi cơ thể của chúng tôi bị tàn phá thì cái bụng của mẹ tôi ngày một lớn dần lên.

Birdie may áo dài thắt ngang lưng cho mẹ tôi mặc bầu từ kiện vải bông màu đen mà cô ta mua rẻ được trong đợt giảm giá mấy tháng trước, để làm túi đeo chéo mang ra chợ Camden bán.

Cô ta bán được tổng cộng hai chiếc túi trước khi bị

các chủ quầy có giấy phép kinh doanh đàng hoàng đuổi đi, ngay sau đó cô ta cũng từ bỏ luôn dự án này.

Nhưng giờ thì cô ta nhiệt tình may vá, vì cô ta muốn được là một phần của những gì đang diễn ra với mẹ tôi.

Sau đó ít lâu thì cả David và Birdie cũng mặc áo dài thắt ngang lưng màu đen luôn.

Họ ủng hộ hết quần áo cũ của mình cho các tổ chức từ thiện.

Trông họ thật lố bịch.

Đáng lẽ ra tôi đã phải đoán được là họ sẽ sớm bắt tất cả trẻ con trong nhà ăn mặc giống họ.

Một hôm Birdie đi vào phòng tôi và đem theo mấy cái túi đựng rác.

"Chúng ta sẽ ủng hộ hết quần áo của mình cho các tổ chức từ thiện," cô ta nói.

"Còn nhiều người cần những thứ này hơn chúng ta.

Cô lên đây để giúp cháu gói đồ lại."

Giờ nhìn lại tôi không thể tin được mình đã dễ dàng chịu đầu hàng đến thế nào.

Tôi chưa bao giờ tin vào các chuẩn mực đạo đức mà David đặt ra, nhưng tôi sợ ông ta.

Năm trước tôi đã thấy ông ta đè Phin xuống vỉa hè trước cửa nhà tôi trong cái đêm tồi tệ đó.

Tôi biết ông ta có khả năng gây ra nhiều điều kinh khủng hơn.

Và tôi cũng sợ Birdie không kém.

Cô ta chính là người đã giải phóng con quỷ dữ trong người ông ta.

Và vì vậy, cho dù tôi có rên rỉ ỉ ôi đến thế nào, tôi cũng không bao giờ làm trái lệnh.

Thế nên, vào lúc ba giờ chiều trong một buổi chiều ngày thứ Ba cuối tháng Tư, tôi ngồi dọn sạch tất cả các ngăn tủ của tôi, và bỏ những đồ tôi có vào trong túi rác; thế là hết, không còn chiếc quần jeans yêu thích của tôi, không còn chiếc áo hoodie H&M rất đẹp mà Phin đã cho tôi vì tôi thích nó quá.

Không còn áo phông, áo len hay quần soóc.

"Vậy ra ngoài thì cháu phải mặc gì?" tôi hỏi.

"Cháu không thể ở

truồng được."

"Đây," cô ta nói, đưa cho tôi một cái áo dài màu đen và một cái quần bó.

"Cả nhà mình từ nay ai cũng sẽ mặc thế này.

Thế mới hợp lý."

"Cháu không thể ăn mặc như thế này ra đường được," tôi nói, cảm thấy kinh hoàng.

"Chúng ta vẫn giữ áo khoác ngoài," cô ta trả lời.

"Với lại cháu cũng có bao giờ ra ngoài đâu."

Đúng là như thế.

Tôi trở thành một người sống ẩn dật.

Cũng chính vì những "luật lệ trong nhà", cả việc tôi "không được đi học nữa", giờ tôi chẳng còn nơi nào để đi, và tôi hầu như không ra khỏi nhà.

Tôi cầm lấy chiếc áo chùng đen và quần bó từ tay Birdie và ướm thử lên ngực.

Cô ta nhìn tôi đầy ẩn ý.

"Thôi nào," cô ta nói, "cho nốt chỗ còn lại vào đây."

Tôi nhìn xuống.

Ý cô ta là bộ quần áo mà tôi đang mặc.

Tôi thở dài.

"Làm ơn cho cháu xin chút riêng tư được không?"

Cô ta nhìn tôi bằng ánh mắt đầy nghi ngờ, nhưng rồi cũng ra khỏi phòng.

"Nhanh lên đấy nhé," cô ta nói qua cánh cửa.

"Cô bận lắm."

Tôi cởi quần áo ra nhanh hết sức có thể và gấp lại thành một chồng.

"Cháu giữ lại quần lót có được không?"

Tôi nói vọng qua cánh cửa.

"Được, tất nhiên là được rồi," cô ta sốt ruột trả lời.

Tôi mặc cái áo chùng màu đen ngớ ngẩn và cái quần bó sát vào,

rồi tự ngắm mình trong gương.

Nhìn tôi như một thầy tu nhỏ, vừa nhỏ vừa gầy.

Tôi cố nhịn cười thành tiếng.

Sau đó tôi vội sờ tay vào trong ngăn kéo để tìm một thứ.

Ngón tay tôi đã chạm được đến nó và tôi nhìn nó chằm chằm một lúc.

Đó chính là cái cà vạt dây mà tôi mua ở chợ Kensington hai năm trước.

Tôi chưa bao giờ diện nó cả.

Nhưng tôi không thể chịu đựng nổi khi nghĩ tới việc tôi sẽ không bao giờ được đeo nó nữa.

Tôi nhét nó xuống dưới đệm, cùng với chồng sách ma thuật và cái chân thỏ của Justin, rồi tôi mở cửa ra.

Tôi đưa chỗ quần áo đã gấp cho Birdie.

"Ngoan lắm," cô ta nói.

Cô ta nhìn tôi một lúc, như thể cô ta muốn chạm tay lên tóc tôi.

Nhưng thay vào đó cô ta chỉ mỉm cười và nhắc lại, "ngoan lắm."

Khoảnh khắc ấy khiến tôi khựng lại, và băn khoăn không biết liệu tôi có nên hỏi cô ta những câu mà tôi vẫn muốn hỏi hay không, nhân lúc cô ta trông có vẻ mềm lòng.

Tôi hít một hơi thật sâu rồi buột miệng thốt ra.

"Cô có ghen không?" tôi hỏi.

"Mẹ cháu có em bé cô có thấy ghen không?"

Trong tích tắc nhìn cô ta như sắp suy sụp đến nơi.

Đột nhiên tôi cảm thấy như tôi đã nhìn thấu được tận sâu bên trong, xuyên cả qua cái lòng đỏ sắp chảy ra của cô ta.

Birdie nao núng một chút, nhưng rồi cô ta bắt đầu lấy lại được tinh thần.

Cô ta nói, "Tất nhiên là không rồi.

David muốn có con.

Cô rất biết ơn mẹ cháu đã sinh con cho David."

"Nhưng như thế chẳng phải ông ta đã... quan hệ tình dục với mẹ cháu sao?"

Tôi cũng không chắc trước đó tôi đã bao giờ nói từ tình dục ra

thành tiếng, và tôi cũng bắt đầu cảm thấy mặt mình đỏ dần lên.

"Ừ," cô ta thô bạo nói.

"Tất nhiên rồi."

"Nhưng chẳng phải ông ta là bạn trai cô sao?"

"Đối tác," cô ta nói, "David là đối tác của cô.

Cô không sở hữu ông ấy.

Mà ông ấy cũng không sở hữu cô.

Điều quan trọng nhất là David được hạnh phúc."

"Vâng," tôi nói, vừa nói vừa trầm ngâm.

"Nhưng còn hạnh phúc của cô thì sao?"

Cô ta không trả lời.

Vài ngày sau khi tin mẹ tôi có bầu được thông báo, em gái tôi bước sang tuổi mười ba.

Có thể nói em gái tôi càng lớn càng trở nên xinh đẹp, mặc dù đây không phải là lĩnh vực mà tôi am hiểu quá nhiều.

Con bé cao ráo, giống mẹ tôi, và sau một năm kể từ khi luật "không cắt tóc" được ban hành, mái tóc đen của nó đã dài đến thắt lưng.

Không giống như mái tóc mỏng và chẻ ngọn của Clemency hay Birdie, tóc Lucy dày óng ả.

Người nó gầy, mà thực ra chúng tôi ai cũng gầy, nhưng dáng nó thì vẫn đâu ra đó.

Tôi có thể tưởng tượng (tôi không dành quá nhiều thời gian để làm mấy việc này đâu, tôi đảm bảo với bạn điều đó), chỉ cần thêm sáu kilôgam nữa, thì con bé sẽ có một cơ thể cực kỳ quyến rũ.

Lucy có khuôn mặt thú vị, với những nét duyên ngầm bắt đầu xuất hiện trên khuôn mặt trẻ thơ quen thuộc mà từ trước đến nay tôi vẫn thấy.

Tôi đề cập đến chuyện này, không phải vì tôi cho rằng bạn cần biết tôi đã nghĩ thế nào về ngoại hình của em gái tôi, mà bởi vì có lẽ lúc này bạn vẫn đang hình dung em gái tôi là một đứa trẻ.

Nhưng nó không còn là một đứa trẻ nữa.

Khi điều tiếp theo ập đến, lúc ấy gần như nó đã trở thành một người phụ nữ đích thực.
 
Gia Đình Lầu Trên
44


Libby tới chỗ làm, vừa đi vừa thở hổn hển, trễ hẹn hai phút với Cerian Tahany.

Cerian là một DJ ở địa phương, một ngôi sao mới nổi, đang định chi năm mươi ngàn bảng để làm lại căn bếp mới, và mỗi lần cô bước vào là lại có một tràng thì thào xôn xao khắp phòng trưng bày.

Bình thường Libby sẽ luôn luôn chuẩn bị kỹ càng trước khi gặp Cerian; cô sẽ có tất cả các loại thủ tục giấy tờ, cà phê cô cũng pha trước, sau đó cô sẽ soi gương, nhai kẹo bạc hà và chỉnh lại váy của mình.

Nhưng hôm nay khi Libby đến thì Cerian đã ngồi ở đó, mắt căng thẳng nhìn màn hình điện thoại.

"Tôi rất, rất xin lỗi," cô nói.

"Rất xin lỗi."

"Không sao," Cerian nói, đoạn tắt điện thoại đi và bỏ vào túi.

"Ta bắt đầu thôi chứ nhỉ."

Trong một tiếng đồng hồ, Libby không có thời gian đâu mà nghĩ về những sự kiện đã xảy ra trong mấy ngày qua.

Đầu cô lúc này chỉ toàn mặt bàn bằng đá cẩm thạch Carrara, ngăn đựng dao dĩa, ống thoát khí của máy khử mùi, rồi sự khác biệt giữa đèn trần bằng đồng so với đèn trần tráng men.

Công việc làm cô cảm thấy được an

ủi phần nào.

Cô thích nói về trang trí nhà bếp.

Trang trí nhà bếp là chuyên môn của cô.

Sau đó, khi Libby còn chưa kịp nhận ra thì buổi hẹn kết thúc, Cerian bỏ kính đọc sách vào trong túi, và ôm tạm biệt Libby.

Khi Cerian đi, không khí trong phòng trưng bày như xẹp xuống, và mọi người ai trông cũng có vẻ uể oải.

Dido vẫy tay gọi cô vào trong văn phòng.

"Thế," cô nói, tay bật nắp một lon Diet Coke.

"Chuyện quái gì đã xảy ra vậy?"

Libby chớp mắt.

"Em cũng không chắc nữa.

Mọi thứ kỳ lạ lắm."

Libby kể cho Dido nghe về chuyện gặp Phin ở trên mái nhà và đi theo gã qua cầu Albert đến căn hộ hướng ra sông, đối diện trực tiếp với nhà cô ở Battersea.

Cô thuật lại cho Dido nghe những gì cô có thể nhớ được từ những câu chuyện Phin kể.

Rồi cô nhắc đến chuyện sáng nay tỉnh dậy cạnh Miller trên một cái giường đôi, và thế là Dido tiếp lời, "À, riêng chuyện đấy thì chị có thể nói trước với em là kiểu gì cũng sẽ xảy ra."

Libby nhìn Dido với ánh mắt hoài nghi.

"Gì cơ?"

"Em và Miller ấy.

Giữa hai người có một sự kết nối."

"Em với anh ta chẳng có gì kết nối cả."

"Có mà.

Tin chị đi.

Riêng mấy chuyện này thì chị giỏi lắm.

Chị từng đoán được một cặp sẽ lấy nhau trước cả khi họ gặp mặt.

Nghiêm túc đấy."

Libby xua tay, cho rằng những lời Dido vừa nói là vô nghĩa.

"Bọn em say quá nên lăn lên giường cùng nhau.

Lúc đi ngủ cả hai vẫn mặc quần áo, sáng dậy quần áo vẫn y nguyên.

Vả lại, anh ta có hình

xăm, mà em lại không thích ai xăm mình."

"Chị tưởng giờ ai cũng thích xăm chứ."

"Vâng, chắc là người khác thích, còn em thì không."

Điện thoại cô rung lên và cô nhấc máy.

"Vừa nhắc đến Tào Tháo," cô nói khi nhìn thấy tên Miller hiện lên màn hình.

"Xin chào!"

"Nghe này," Miller bắt đầu gấp gáp.

"Có điều gì đấy lạ lắm.

Tôi vừa mở mấy file tối qua ra, mấy file ghi âm chuyện Phin kể ấy.

Tất cả biến mất rồi."

"Biến mất?"

"Đúng vậy.

Bị xóa đi."

"Anh đang ở đâu?"

"Tôi đang trong một quán cà phê ở Victoria.

Tôi định bóc băng ghi âm nhưng giờ không thấy đâu nữa."

"Nhưng...

Anh có chắc là nó ở đấy không.

Có thể anh chưa bấm nút ghi âm thì sao?"

"Tôi chắc chắn là tôi có bấm nút ghi âm.

Tôi nhớ, tối qua tôi có kiểm tra lại mà.

Tôi còn nghe thử nữa cơ.

Chắc chắn ở trong máy tôi có.

Tôi còn đặt lại tên cho mấy cái file ấy."

"Vậy, anh nghĩ...?"

"Chắc chắn là Phin rồi.

Cô có nhớ tối qua cô nói là cô mang điện thoại vào với cô khi đi ngủ không?

Tôi cũng thế.

Điện thoại tôi có khóa bằng vân tay.

Ý tôi là, gã ta phải vào trong phòng khi chúng ta đang ngủ, và lấy ngón tay tôi ấn vào điện thoại, trong lúc tôi đang

ngủ.

Và lấy cả điện thoại của cô nữa.

Rồi khóa cửa nhốt cả hai chúng ta lại.

Nhưng còn nữa.

Tôi kiếm thử tên gã trên Google.

Phin Thomsen.

Không có bất cứ dấu vết nào trên mạng.

Tôi kiếm thử cái căn hộ mà ông ta đang ở.

Thực ra nó là Airbnb.

Theo hệ thống đặt phòng cho biết thì nó mới chỉ được thuê từ giữa tháng Sáu thôi.

Về cơ bản là từ..."

"Từ sinh nhật tôi."

"Từ sinh nhật cô."

Phin thở dài, tay vuốt râu.

"Tôi không biết gã này là ai.

Nhưng hắn ta ranh ma vãi chưởng."

"Chuyện ông ta kể ấy," cô nói.

"Anh có nhớ chút nào không?

Cũng đủ để tìm ra sự thật đấy."

Anh ngừng lại một lúc.

"Nhưng trí nhớ của tôi mơ hồ lắm," anh nói.

"Tôi nhớ được gần hết.

Nhưng đoạn cuối thì hơi..."

"Tôi cũng thế," cô nói.

"Tôi cũng cảm thấy mơ hồ lắm.

Với lại tôi ngủ..."

"Say như chết," anh thêm vào.

"Và cả ngày hôm nay tôi thấy..."

"Rất, rất lạ."

"Rất lạ," cô đồng ý.

"Và tôi bắt đầu nghĩ..."

"Tôi cũng thế," cô xen vào, "tôi cũng thế.

Tôi nghĩ là gã đã gài thuốc chúng ta.

Nhưng vì lý do gì kia chứ?"

"Chuyện đó," Miller nói, "thì tôi không biết.

Nhưng cô nên kiểm tra lại điện thoại của mình.

Điện thoại cô có cài mật khẩu không?"

"Có," cô trả lời.

"Là gì thế?"

Cô thở dài.

Vai cô chùng xuống.

"Ngày sinh của tôi."

"Phải rồi," Miller nói.

"Vậy thì kiểm tra điện thoại của cô xem có gì lạ không.

Có thể gã đã cài cái gì lên đấy.

Phần mềm gián điệp hay mấy thứ đại loại thế."

"Phần mềm gián điệp?"

"Chúa ơi, có ma mà biết được.

Gã ta lạ lắm.

Mọi chuyện xảy ra tối qua cũng lạ nốt.

Gã ta đột nhập vào nhà cô.

Xong lại gài thuốc chúng ta nữa..."

"Có thể là gã đã gài thuốc chúng ta."

"Có thể là gã đã gài thuốc chúng ta.

Nhưng ít nhất thì gã cũng đã lẻn vào trong phòng chúng ta lúc chúng ta đang ngủ, sử dụng dấu vân tay của tôi để đăng nhập vào điện thoại của tôi, lấy điện thoại từ trong túi của cô, rồi khóa cả hai chúng ta lại.

Riêng với gã này, tôi sẽ không bỏ qua bất cứ khả năng nào."

"Vâng," cô nói nhẹ nhàng.

"Anh nói đúng.

Tôi sẽ làm thế.

Tôi sẽ kiểm tra điện thoại.

Mà biết đâu đấy, có khi gã còn đang nghe lỏm được cuộc hội thoại này của chúng ta thì sao."

"Đúng.

Rất có thể.

Này, ông bạn, nếu như anh đang nghe, thì tôi nói cho anh biết, chúng tôi biết tỏng hết cả rồi, anh đúng là cái thứ quái thai khốn nạn."

Cô nghe tiếng anh lấy hơi.

"Chúng ta nên gặp lại nhau sớm.

Tôi đang tìm hiểu về Birdie Dunlop-Evers.

Cô ta có một câu chuyện đằng sau khá thú vị.

Và tôi nghĩ có lẽ tôi đã tìm thêm được một người nữa đã từng sống ở nhà cô: Justin, bạn trai Birdie.

Cô rảnh hôm nào?"

Tim Libby đập nhanh trước chiều hướng phát triển của câu chuyện.

"Tối nay," cô vừa nói vừa thở hổn hển.

"Ý tôi là, kể cả..."

Cô liếc mắt lên nhìn Dido, người cũng đang nhìn cô chăm chú.

"Ngay bây giờ?"

Cô nhắm câu hỏi vào Dido.

Dido gật đầu lia lịa, miệng ra hiệu đi, đi.

"Tôi có thể gặp anh ngay bây giờ.

Đâu cũng được."

"Quán cà phê của chúng ta?" anh nói.

Cô biết chính xác chỗ anh đang muốn nói đến.

"Vâng," cô nói.

"Quán cà phê của chúng ta.

Một tiếng nữa tôi có mặt."

Dido nhìn cô sau khi cô cúp máy.

"Em biết không, chị nghĩ đây là thời điểm thích hợp để em xin nghỉ phép đấy."

Libby nhăn mặt.

"Nhưng..."

"Không nhưng nhị gì hết.

Chị sẽ tiếp quản dự án với nhà Morgan và Cerian Tahany.

Cứ nói là em ốm.

Dù chuyện quái gì đang xảy ra ở kia thì cũng quan trọng hơn mấy cái căn bếp này nhiều."

Libby định mở miệng ra nói điều gì đó liên quan đến tầm quan trọng của căn bếp.

Căn bếp rất quan trọng.

Bếp khiến người ta hạnh phúc.

Ai cũng cần bếp.

Bếp, và những người mua bếp, đã là một phần cuộc sống của cô trong suốt năm năm vừa qua.

Nhưng cô biết Dido nói đúng.

Thay vào đó cô chỉ gật đầu và nói, "Cảm ơn chị, Dido."

Sau đó cô thu dọn bàn làm việc của mình, trả lời hai email mới, đặt chế độ trả lời email tự động thành Không-có-ở-văn-phòng, và đi từ đại lộ St Albans ra ga tàu điện ngầm.
 
Gia Đình Lầu Trên
45


Đến tháng Năm năm 1992, gia đình chúng tôi đã vón cục lại và chuyển hóa thành một cái gì đó quái dị.

Chỉ những bài tập thể dục mồ hôi mồ kê nhễ nhại và những bông hoa xinh đẹp không đủ để chống chọi với thế giới toàn những kẻ ăn thịt, đầy vi khuẩn và khói bụi ngoài kia, và điều này chắc chắn sẽ giết chết nòi giống vô giá của David.

Chính vì thế mà không ai được phép đi ra khỏi nhà.

Mỗi tuần chúng tôi đều có người giao rau đến tận cửa, và trong chạn thức ăn chúng tôi đã tích trữ ngũ cốc và các loại đậu đỗ, đủ dùng trong ít nhất năm năm tới.

Rồi một ngày, không lâu sau sinh nhật thứ mười lăm của tôi, David ra lệnh cho chúng tôi phải mang bỏ giày dép của mình đi.

Giày dép của chúng tôi.

Tất cả các loại giày dép, kể cả loại không được sản xuất từ động vật chết, đều rất, rất, rất xấu.

Chúng chính là hiện thân của những vỉa hè bẩn thỉu, và những bước lê lết ủ rũ của giới văn phòng xấu xa, nơi những người giàu kiếm tiền và tiêu xài phung phí, để những người nghèo phải chịu xiềng xích trong cảnh túng thiếu do chính

phủ góp phần tạo nên.

Người nghèo ở Ấn Độ rõ ràng không có giày mà đi; vì vậy, chúng tôi cũng nên như thế.

Tất cả giày dép của chúng tôi được gom vào trong một thùng các-tông rồi mang để ở bên ngoài một cửa hàng từ thiện gần nhất.

Kể từ ngày David lấy giày của chúng tôi cho đến đêm chúng tôi chạy trốn hai năm sau đó, không có một ai trong nhà đặt chân ra ngoài.
 
Gia Đình Lầu Trên
46


Miller đang ngồi ăn khi Libby bước vào quán cà phê trên đường West End.

"Cái gì thế?"

Cô hỏi, treo túi xách lên lưng ghế rồi ngồi xuống.

"Bánh mì cuộn gà và chorizo," anh trả lời, đoạn lấy tay quẹt xốt còn đang dính trên khóe miệng.

"Ngon.

Rất, rất ngon."

"Đã bốn giờ chiều rồi," cô nói, "ăn thế này thì anh định tính là bữa trưa hay bữa tối?"

Miller cân nhắc câu trả lời.

"Bữa trưa muộn?

Hay bữa tối sớm?

Bữa tưa?

Bữa trối?

Cô ăn gì chưa?"

Cô lắc đầu.

Cả ngày hôm nay cô chưa ăn gì kể từ bữa sáng trên sân thượng nhà Phin.

Vả lại, cô cũng chẳng muốn ăn.

"Tôi không đói," cô nói,

Anh nhún vai và cắn thêm một miếng bánh mì.

Libby gọi một ấm trà và ngồi đợi Miller ăn xong.

Nhìn Miller ăn ngon lành làm Libby cảm thấy anh quyến rũ đến kỳ lạ.

Anh ăn như thể trên đời này anh không còn muốn làm việc gì

khác, ngoài ăn.

Cách anh ăn, theo Libby quan sát, rất tập trung và có chủ ý.

"Giờ thì," Miller nói, đoạn mở máy tính xách tay ra và gõ vài chữ, rồi quay màn hình lại cho Libby nhìn.

"Mời cô gặp Birdie Dunlop-Evers.

Tên đầy đủ là Bridget Elspeth Veronica Dunlop-Evers.

Sinh ra ở Gloucestershire, tháng Tư năm 1964.

Năm 1982 chuyển đến London và theo học violin tại Học viện Âm nhạc Hoàng gia.

Thường đi hát rong vào cuối tuần, sau đó tham gia vào một ban nhạc có tên gọi là Green Sunday với bạn trai cũ Roger Milton.

Ai ngờ cuối cùng Roger Milton lại trở thành hát chính của nhóm The Crows."

Anh nhìn cô với ánh mắt đầy mong đợi.

Cô ngây người nhìn anh.

"Nhóm đấy có nổi tiếng không?"

Anh đảo mắt.

"Thôi bỏ đi," anh tiếp tục.

"Dù sao thì, cô ta chơi violin kiếm tiền mấy năm, rồi sau đó ứng tuyển cho một ban nhạc tên là Original Version.

Cô ta bắt đầu quan hệ với một người đàn ông tên là Justin Redding, rồi đưa luôn ông này vào nhóm để chơi bộ gõ.

Dựa theo những bài phỏng vấn thời đó thì cô ta là người thích kiểm soát.

Không ai thích cô ta cả.

Họ có một ca khúc thành công, dẫn đầu các bảng xếp hạng vào năm 1988, rồi sau đó phát hành thêm một đĩa đơn nữa với cô ta và Justin, nhưng khi ca khúc ấy đổ bể, cô ta đổ lỗi cho tất cả mọi người, nổi cơn tam bành rồi đùng đùng bỏ đi, kéo theo luôn cả Justin.

Và đó là kết thúc của câu chuyện về cuộc đời Dunlop-Evers trên mạng Internet.

Từ đó đến nay không có thêm thông tin gì nữa.

Chỉ..."

Anh dùng tay để diễn tả một vật rơi xuống từ trên vách đá.

"Thế còn cha mẹ cô ta thì sao?"

"Không có gì cả.

Cô ta là một trong tám người con của một gia đình Công giáo giàu có.

Tôi đoán là cha mẹ cô ta vẫn còn sống, ít nhất từ những gì tôi tìm thấy thì không có gì cho thấy là họ đã chết cả, và có cả tá những Dunlop-Evers nhí ngoài kia chơi đủ các loại nhạc cụ và điều hành các dịch vụ giao thức ăn thuần chay.

Nhưng vì một lý do gì đấy, gia đình cô ta không để ý, hoặc có thể họ cũng chẳng quan tâm đến việc đứa con gái thứ tư của họ bốc hơi khỏi bề mặt Trái Đất này vào năm 1994."

"Thế còn bạn trai của cô ta thì sao?

Justin ấy?"

"Chẳng có gì cả.

Có vài bài báo nhắc đến ông ta dưới danh nghĩa là nghệ sĩ chơi bộ gõ trong hai bài hát nổi tiếng của Original Version.

Ngoài ra không có gì khác."

Libby tạm dừng để tiếp thu tất cả những thông tin này.

Làm sao người ta có thể sống ở bên lề xã hội được như thế?

Làm sao không có ai để ý đến sự biến mất của họ?

Anh quay màn hình lại và bắt đầu gõ.

"Và," anh nói, "sau đó tôi bắt đầu lục đến ca của Phin.

Tôi liên hệ với chủ nhà trên Airbnb, nói rằng tôi đang điều tra một vụ án giết người và cần tên của người cuối cùng thuê căn hộ đó.

Anh ta rất sẵn lòng, rõ ràng là cũng phấn khích vì muốn được tham gia.

Justin Redding."

Libby giật mình quay lại nhìn anh.

"Gì cơ?"

"Phin, dù tên thật của hắn là gì đi nữa, đã sử dụng tên bạn trai cũ của Birdie để đặt phòng Airbnb."

"Ồ," cô nói.

"Wow."

"Phải, đúng không?"

Anh lại tiếp tục gõ thêm gì đó vào trong máy tính.

"Và cuối cùng, nhưng tất nhiên cũng không kém phần quan

trọng, hãy để tôi giới thiệu tới cô Sally Radlett."

Anh lại quay màn hình về phía cô.

Ở trên đấy cô thấy một người phụ nữ lớn tuổi, tóc trắng, cắt kiểu gáo dừa úp ngược, mắt xanh ngấn nước, đeo kính gọng sừng, miệng cười khẽ, xương quai xanh thấp thoáng, các góc mặt toát lên vẻ đẹp của thiên thần.

Dưới ảnh của bà đăng dòng chữ, "Chuyên gia trị liệu và huấn luyện viên phong cách sống.

Penreath, Cornwall".

"Đúng địa chỉ.

Đúng tuổi.

Nhìn chung thì có vẻ nghề nghiệp cũng đúng nốt, cô biết đấy, chuyên gia trị liệu phong cách sống.

Một trong những thứ nhảm nhí mà cô sẽ làm, đúng không?

Nếu cô là Sally Thomsen?"

Anh nhìn cô, đắc thắng.

"Cô nghĩ sao?" anh nói.

"Có phải bà ta không?"

Cô nhún vai.

"Vâng, cũng có thể.

Tôi đoán thế."

"Và đây là địa chỉ của bà ta."

Anh chỉ tay vào màn hình, và cô có thể thấy được câu hỏi tiếp theo hiện lên trong mắt của anh.

"Cô nghĩ chúng ta có nên đi không?"

"Có, tôi nghĩ chúng ta nên đi?"

"Khi nào?"

Miller rướn mày, mỉm cười, rồi bấm số vào điện thoại.

Anh hắng giọng và nói, "Xin chào, cho hỏi đây có phải Sally Radlett không?"

Cô nghe thấy đầu dây bên kia trả lời vâng, đúng rồi ạ.

Rồi, cũng đột ngột như lúc anh gọi, Miller cúp máy.

Anh nhìn Libby và nói, "Giờ sao?"

"Nhưng..."

Cô chuẩn bị viện lý do tại sao giờ cô không thể đi cùng

anh được, nhưng chợt nhớ ra là cô không có lý do nào cả.

"Tôi cần đi tắm," cô xoay xở.

Anh mỉm cười, quay màn hình máy tính lại phía mình và bắt đầu gõ.

"Ở B&B?" anh nói.

"Hay nhà nghỉ Premier Inn?"

"Premier Inn."

"Tuyệt vời."

Chỉ với vài cú click chuột anh đã đặt hai phòng cho cả anh và cô ở "Cô có thể tắm ở đó."

Anh đóng màn hình lại và rút dây sạc máy tính ra, rồi cho vào trong bao đựng bằng nylon.

"Sẵn sàng chưa?"

Cô đứng dậy, cảm thấy hứng thú một cách lạ lùng, trước viễn cảnh được chia sẻ tất cả những khoảnh khắc còn lại trong ngày với anh.

"Sẵn sàng."
 
Gia Đình Lầu Trên
47


Tôi quyết định rằng đứa trẻ sắp chào đời chính là nguyên nhân của tất cả nỗi đau mà chúng tôi đang phải gánh chịu.

Tôi thấy mẹ tôi ngày một béo lên, còn tất cả chúng tôi thì ngày một gầy đi.

Và tôi thấy David hay ra vẻ ta đây, đầu tóc chải chuốt, dáng đi khệnh khạng.

Mẹ tôi tăng thêm được cân nào là bản mặt câng câng tự đắc của David lại dày thêm một lớp.

Tôi cố nhớ những gì Phin đã nói với tôi hôm chúng tôi đi chợ Kensington, về chuyện David bị tống cổ ra khỏi ngôi nhà trước mà ông ta đã cố gắng thâm nhập và kiểm soát.

Tôi cố tưởng tượng ra nỗi nhục nhã mà David phải hứng chịu khi ăn cắp và bị chủ nhà bắt quả tang.

Tôi cố tự nhắc bản thân mình rằng người đàn ông vô gia cư, không một xu dính túi gõ cửa nhà tôi bốn năm trước ấy, cũng chính là người đàn ông vênh váo như con gà tây xù lông trong nhà tôi bây giờ.

Tôi không thể chịu nổi khi nghĩ đến cảnh đứa bé này sắp được sinh ra đời.

Tôi biết David sẽ sử dụng nó để củng cố ngôi vị chúa tể của ông ta trong cái vũ trụ nhỏ bé và biến dạng của chúng tôi.

Nếu đứa bé này biến mất, mẹ tôi có thể ngừng ăn, và chúng tôi sẽ lại

được mang vi khuẩn vào nhà.

Và, quan trọng hơn nữa, gia đình tôi sẽ không có lý do gì để phải giữ mối quan hệ với David Thomsen.

Sẽ không có bất kỳ sợi dây nào gắn kết chúng tôi lại, chúng tôi không còn liên quan tới nhau.

Tôi biết điều tôi cần làm, và nghe thì bạn sẽ nghĩ tôi là người xấu.

Nhưng lúc đó tôi mới chỉ là một đứa trẻ.

Tôi không có cách nào khác.

Tôi chỉ cố cứu tất cả mọi người.

Tôi không ngờ liều thuốc ấy lại rất dễ thực hiện.

Tôi chỉ phải đảm bảo là tôi nấu cho mẹ ăn nhiều nhất có thể.

Tôi pha trà thảo mộc và ép các loại nước rau củ quả cho bà ấy uống.

Tôi đan xen các nguyên liệu được liệt kê trong chương "Phá thai bằng các phương pháp tự nhiên" từ quyển sách mà Justin để lại vào tất cả những món ăn mà tôi chuẩn bị cho bà ấy.

Cả tấn mùi tây, quế, ngải cứu, hạt vừng, hoa cúc và dầu hoa anh thảo.

Một lần, khi tôi đưa cho bà ly nước ép trái cây, bà vuốt tay tôi và nói, "Con đúng là một cậu bé ngoan, Henry.

Mẹ cảm thấy rất may mắn khi được con chăm sóc."

Mặt tôi đỏ ửng lên và tôi không trả lời, vì nếu nhìn ở góc độ nào đó, thì đúng là tôi đang chăm sóc cho bà ấy.

Tôi đang cố đảm bảo rằng bà ấy sẽ mãi mãi không bao giờ bị David cùm chân lại nữa.

Nhưng nhìn dưới góc độ khác, tôi đã không hề chăm sóc cho bà một chút nào.

Và rồi một ngày, khi mẹ tôi đã có bầu khoảng đến tháng thứ năm, lúc này đứa bé đã có đầy đủ hình dạng và trở nên chân thực hơn bao giờ hết, bắt đầu biết đạp, biết vặn vẹo, biết di chuyển, mẹ tôi đi xuống nhà, và tôi nghe thấy bà nói chuyện với Birdie trong bếp.

"Em bé cả ngày hôm nay chưa đạp," mẹ tôi nói.

"Chẳng động đậy tí nào."

Cả ngày hôm đấy, nỗi sợ hãi trong tôi cứ lớn dần lên, và tôi cảm thấy có một căn bệnh đen tối khủng khiếp đang ẩn sâu trong ruột gan mình, bởi tôi biết điều gì đang xảy tới.

Tất nhiên là chẳng có ai gọi bác sĩ và cũng chẳng có chuyến xe cứu thương nào đến Khoa Cấp cứu cả.

Hẳn là trong vô số kỹ năng mà David sở hữu, ông ta còn có tất cả chuyên môn cần thiết của một bác sĩ phụ khoa.

Ông ta phụ trách mọi thứ, cử người đi lấy khăn, nước và những lọ thuốc vô tác dụng.

Phải mất đến năm ngày đứa bé mới được lôi ra sau khi chết trong bụng mẹ.

Mẹ tôi kêu khóc hàng tiếng đồng hồ.

Bà ở trong phòng với David, Birdie và đứa bé, tiếng gào thét vang vọng cả ngôi nhà.

Bốn đứa trẻ chúng tôi ngồi túm tụm lại với nhau trên tầng gác mái, không ai có đủ khả năng để xử lý những gì đang diễn ra.

Và rồi cuối cùng, tối muộn hôm đó, mẹ tôi mang đứa bé xuống nhà, thi thể nó được quấn trong một chiếc khăn choàng màu đen.

David đào cho đứa bé một nấm mồ ở cuối vườn và đứa bé được chôn cất trong bóng tối, dưới ánh nến thắp sáng xung quanh.

Tối hôm đó tôi đi tìm cha tôi.

Tôi ngồi đối diện ông và nói, "Cha có biết là đứa bé đã chết rồi không?"

Ông quay lại nhìn tôi chằm chằm.

Tôi biết là ông sẽ không trả lời vì giờ ông không nói được nữa rồi.

Nhưng tôi nghĩ biết đâu sẽ có điều gì đấy hiện lên trong mắt ông, để nói cho tôi biết ông nghĩ gì về những sự kiện đã xảy ra trong ngày.

Nhưng tôi chỉ nhìn thấy trong mắt ông nỗi sợ hãi và buồn bã.

"Nó là con trai," tôi nói.

"Bọn họ gọi nó là Elijah.

Giờ họ đang chôn

nó rồi, ở cuối vườn ấy."

Ông vẫn nhìn tôi chằm chằm.

"Có lẽ như thế cũng tốt, phải không cha?

Cha có nghĩ vậy không?"

Tôi đang cố tìm sự cứu rỗi cho chính những tội lỗi mà mình đã gây nên.

Tôi quyết định coi sự im lặng của ông chính là lời đồng thuận.

"Ý con là, chắc gì ra đời đứa bé ấy đã sống nổi, cha thấy đúng không?

Nếu không được chăm sóc y tế kịp thời?

Hoặc tệ hơn, nhỡ đâu chính mẹ cũng không giữ nổi mạng.

Vậy nên, cha thấy đấy, có khi như thế này lại tốt hơn."

Tôi liếc nhìn hình ảnh phản chiếu của mình trong tấm kính tối màu trên cửa sổ đằng sau cha tôi.

Nhìn tôi trẻ con và ngu ngốc.

"Nó bé tí."

Nói đến đây giọng tôi vỡ ra.

Đứa bé ấy nhỏ xíu, như một con búp bê kỳ lạ.

Trái tim tôi đau nhói khi tôi nhìn thấy nó.

Em trai tôi.

"Dù sao thì, đó là những gì đang diễn ra.

Và giờ, con đoán mọi thứ có thể trở lại bình thường."

Nhưng đó mới là vấn đề.

Bởi vì chẳng có cái gì là bình thường ở đây cả.

Cuộc sống của cha tôi không bình thường.

Sự tồn tại của chúng tôi cũng không bình thường.

Đứa bé đã ra đi, nhưng tôi vẫn chẳng có đôi giày nào cả.

Đứa bé đã ra đi, nhưng cả ngày cha tôi vẫn ngồi trên ghế và nhìn chằm chằm vào một bức tường.

Đứa bé đã ra đi, nhưng chúng tôi vẫn không được tới trường, không có kỳ nghỉ, không bạn bè, không giao du với thế giới bên ngoài.

Đứa bé đã đi, nhưng David Thomsen vẫn ở đây.
 
Gia Đình Lầu Trên
48


Đã chín giờ tối.

Lucy và hai đứa trẻ chuẩn bị đi ngủ trong phòng của cha mẹ cô ngày xưa.

Ánh nến nhảy múa trên những bức tường.

Stella đã ngủ, con chó nằm cuộn tròn dưới chân con bé.

Lucy mở một lon rượu gin pha tonic.

Marco mở một lon Fanta.

Họ cụng ly ăn mừng vì đã tới được London.

"Thế," Marco khẽ nói.

"Mẹ có muốn kể cho con nghe về em bé ở trong điện thoại của mẹ không?"

Cô thở dài.

"Lạy Chúa."

Cô lấy tay vuốt mặt.

"Mẹ không biết nữa.

Tất cả chỉ là..."

"Mẹ kể cho con đi.

Đi mà."

"Ngày mai," cô nói, cố kìm cái ngáp.

"Ngày mai mẹ sẽ kể cho con nghe.

Mẹ hứa đấy."

Vài phút sau Marco cũng đi ngủ, và giờ chỉ mình Lucy còn thức, trong căn nhà xuống cấp mà cô đã thề là cô sẽ không bao giờ quay trở lại.

Cô cẩn thận nâng đầu Marco ra khỏi đùi mình và đứng dậy.

Từ cửa sổ cô nhìn mặt trời lặn qua những tấm kính trên khu chung cư bóng loáng ở phía bên kia sông.

Những căn hộ đó không có ở

đây hồi cô sống trong ngôi nhà này.

Nếu khu chung cư ấy được xây sớm hơn, cô tự hỏi, biết đâu đấy lại có ai đó nhìn thấy bọn cô, có ai đó biết được hoàn cảnh của cô, ai đó cứu vớt cô và giải thoát cho cô khỏi số phận đáng thương của mình.

Khoảng đâu đó sau ba giờ sáng cô ngủ thiếp đi, mấy tiếng trước đầu óc cô nhất quyết không chịu ngưng hoạt động, nhưng giờ đột nhiên, cô thấy mình đang mơ.

Và rồi, cũng đột nhiên như vậy, cô tỉnh giấc.

Cô ngồi thẳng dậy.

Marco cũng ngồi dậy.

Điện thoại cô báo là sáng nay cả ba mẹ con cô đều dậy muộn.

Trên đầu cô có tiếng bước chân.

Lucy đặt một tay lên người Marco, tay kia đặt ngón trỏ lên miệng.

Ngôi nhà im lặng, và cô bắt đầu thư giãn.

Nhưng rồi cô lại nghe thấy âm thanh ấy, đích thị là tiếng bước chân, và tiếng ván sàn kêu cót két.

"Mẹ ơi..."

Cô siết chặt tay Marco và từ từ đứng dậy.

Cô rón rén tiến về phía cửa.

Con chó tỉnh dậy và ngẩng đầu lên, duỗi mình, nhảy ra khỏi người Stella và đi theo cô ra cửa.

Tiếng móng nó khua lạch cạch trên sàn gỗ và cô bế nó lên.

Cô nghe thấy tiếng nó đang gầm gừ trong cổ họng, cô suỵt cho nó im lặng.

Marco đứng ngay đằng sau cô và cô nghe thấy tiếng cậu thở dốc, nặng nề.

"Lùi lại," cô khẽ nói.

Tiếng gầm gừ trong cổ họng Fitz ngày một rõ hơn.

Thêm một tiếng cọt kẹt nữa ở trên đầu và thế là Fitz sủa.

Tiếng cọt kẹt ấy dừng lại.

Và sau đó là những tiếng bước chân, chắc chắn và chậm rãi, đi xuống chiếc cầu thang gỗ dẫn ra bốn phòng ngủ trên tầng áp mái.

Cô ngừng thở.

Con chó lại bắt đầu sủa và cố gắng thoát ra khỏi cánh tay cô.

Cô đóng chặt cửa lại và lấy thân mình chặn cửa.

Lúc này Stella đã tỉnh giấc, mắt mở to nhìn cánh cửa chằm chằm.

"Có chuyện gì vậy mẹ?"

"Không có gì đâu, con yêu," cô thì thầm sang bên kia phòng.

"Không có gì cả.

Fitz ngốc ấy mà."

Cánh cửa ở chân cầu thang tầng hai kêu cọt kẹt, và sau đó đóng sầm lại.

Adrenaline chảy rần rật khắp cơ thể cô.

"Có phải đứa bé đấy không mẹ?"

Marco thì thầm, giọng khẩn khoản, mắt mở to kinh hãi.

"Mẹ không biết," cô trả lời.

"Mẹ không biết đấy là ai."

Bắt đầu có tiếng bước chân ở dưới chân cầu thang, và rồi phía sau cánh cửa có tiếng ai đó thở.

Con chó im lặng, cụp tai lại, răng nhe ra.

Lucy bước ra khỏi cánh cửa và mở he hé.

Rồi con chó nhảy ra khỏi tay cô và hích toang cánh cửa.

Có một người đàn ông đang đứng ở bên ngoài, con chó hết sủa rồi lại quay sang cắn gấu quần ông ta.

Người đàn ông cúi xuống nhìn con chó, cười mỉm, rồi đưa tay ra cho nó ngửi.

Fitz ngừng sủa, bắt đầu đánh hơi bàn tay của

ông ta, và để ông ta vuốt ve trên đỉnh đầu.

"Xin chào, Lucy," người đàn ông nói.

"Chó xinh thế."
 
Gia Đình Lầu Trên
49


Libby nằm dài trên chiếc giường khách sạn có tấm khăn màu cà tím quen thuộc trải phía cuối giường.

Mỗi lần đến Premier Inn là Libby lại cảm thấy hạnh phúc; ở khách sạn này làm cô nhớ đến những buổi tụ tập cùng với hội chị em, những chuyến đi chơi xa, và những bữa tiệc cưới ở những thành phố lạ.

Cô cảm thấy thân thuộc và thoải mái khi nằm trên giường của Premier Inn.

Cô có thể ở đây cả ngày.

Nhưng cô có hẹn với Miller ở sảnh khách sạn lúc chín giờ sáng.

Cô liếc nhìn đồng hồ trên điện thoại.

Tám giờ bốn mươi tám.

Cô kéo mình ra khỏi giường và đi tắm thật nhanh.

Chuyến đi từ London đến Truro đêm hôm trước là một hành trình dài, và Libby đã biết thêm được rất nhiều điều về Miller, qua năm tiếng họ ở trên xe cùng nhau.

Năm hai mươi hai tuổi, anh bị tai nạn xe hơi, phải ngồi xe lăn và điều trị phục hồi chức năng mất một năm.

Hồi còn trẻ anh rất gầy và thích chơi thể thao, nhưng sau vụ tai nạn thì anh không bao giờ lấy lại được vóc dáng linh hoạt như ngày xưa nữa.

Anh lớn lên ở thị trấn Leamington Spa, với hai chị gái và một ông bố đồng tính.

Lên

đại học anh theo học chuyên ngành chính trị và ở đây anh đã gặp vợ cũ của mình.

Cô ấy tên là Matilda, hay gọi tắt là Mati.

Anh cho Libby xem ảnh Mati trong điện thoại của anh.

Cô ấy xinh đẹp vô cùng, môi dày, tóc đỏ sẫm, cắt khối kiểu hipster, một kiểu tóc mà trừ Mati ra, 99% dân số còn lại nếu để thì trông sẽ rất thảm họa.

"Tại sao hai người chia tay?" cô hỏi, sau đó thêm vào, "Nếu anh không thấy phiền khi trả lời câu hỏi của tôi."

"Ồ, lỗi tại tôi," anh nói, đặt một tay lên ngực.

"Lỗi của tôi hoàn toàn.

Tôi ưu tiên tất cả mọi thứ khác trên đời này hơn cô ấy.

Bạn bè tôi, sở thích của tôi.

Đặc biệt là công việc của tôi.

Và chủ yếu là," anh dừng lại, mỉm cười gượng gạo, "bài báo trên tờ Guardian."

Anh nhún vai.

"Từ đó tôi cũng rút ra được bài học cho mình.

Tôi sẽ không bao giờ đặt công việc lên trên cuộc sống cá nhân nữa."

"Còn cô thì sao?" anh hỏi.

"Có chàng trai nào trong bức tranh của Libby không?"

"Không," cô trả lời.

"Không.

Dự án tìm kiếm vẫn đang tiếp tục."

"À, cô vẫn còn trẻ mà."

"Vâng," cô đồng ý, quên đi mất cảm giác lúc nào cũng thấy mình không có đủ thời gian để đạt được những mục tiêu đã định ra từ trước.

"Tôi vẫn còn trẻ."

Cô mặc lại quần áo của ngày hôm qua và đi xuống sảnh lúc chín giờ hai phút.

Miller đã ở đó đợi sẵn.

Anh không thay quần áo và có vẻ như cũng chưa tắm rửa gì cả.

Trông anh có vẻ hơi lôi thôi, giống một người đàn ông chưa được nhìn thấy giường của mình trong suốt bốn mươi tám tiếng đồng hồ.

Nhưng có điều gì đó khiến cô thích thú khi được nhìn thấy bộ râu tóc xồm xoàm và dáng vẻ hơi tiều tụy của

anh, và vì vậy cô phải tự kiềm chế bản thân mình, để không giúp anh chải lại tóc, hay duỗi thẳng cổ áo phông.

Tất nhiên, anh không thể bỏ lỡ bữa sáng thịnh soạn ở Premier Inn và khi cô xuống, anh đang đứng đổ bã cà phê.

Giờ anh nhìn cô mỉm cười, đặt chiếc cốc xuống và cả hai rời khách sạn.

Văn phòng của Sally nằm trên trục đường chính ở Penreath, trong một toà nhà nhỏ được xây bằng đá.

Mặt tiền của toà nhà có một cửa tiệm spa tên là The Beach.

Phòng của Sally nằm ở ngay đầu cầu thang tầng thứ hai.

Miller bấm chuông và một cô gái rất trẻ ra mở cửa.

"Vâng?"

"Xin chào," Miller nói.

"Chúng tôi muốn gặp Sally Radlett."

"Tôi rất tiếc, bây giờ bà ấy đang bận tiếp khách.

Tôi giúp gì được cho ông?"

Cô gái này xanh xao, tóc vàng tự nhiên và cấu trúc xương cân đối giống như Sally.

Trong giây lát Libby nghĩ đây chắc hẳn là con gái của Sally rồi.

Nhưng không thể nào.

Bây giờ Sally ít nhất cũng phải sáu mươi, có khi còn già hơn.

"Ờm, không, chúng tôi cần nói chuyện với Sally," Miller nói.

"Anh có hẹn trước không?"

"Không," anh nói, "tiếc là không.

Nhưng đây là trường hợp đặc biệt."

Cô gái nheo mắt lại rồi liếc sang chiếc ghế xô-pha bằng da kiểu

Chesterfield và nói, "Anh chị có muốn ngồi xuống đây chờ không?

Bà ấy sẽ xong nhanh thôi."

"Cảm ơn cô rất nhiều," Miller nói, và họ ngồi xuống cạnh nhau.

Căn phòng này bé tẹo; họ ngồi gần sát với bàn làm việc của cô gái kia, gần đến nỗi họ có thể nghe thấy tiếng cô thở.

Chuông điện thoại reo, phá tan sự im lặng ngượng ngùng.

Libby quay sang thì thầm vào tai Miller, "Nhỡ không phải bà ấy thì sao?"

"Thì thôi chứ sao," anh nhún vai đáp.

Trong tích tắc Libby liếc nhìn Miller.

Cô nhận ra anh nhìn đời bằng con mắt khác cô.

Anh không sợ sai, cũng không cần lúc nào cũng phải biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Bỗng dưng cô cảm thấy muốn sống cuộc đời mình như cách Miller đang sống.

Một người phụ nữ cao ráo xuất hiện.

Bà mặc chiếc váy ngắn tay màu xám và đi xăng đan màu vàng.

Bà chào tạm biệt một người phụ nữ trung niên, và sau đó bắt gặp ánh mắt của họ, ngập ngừng.

Bà quay sang cô gái ở phía sau bàn và nói, "Lola?"

Cô gái nhìn họ rồi trả lời, "Họ nói trường hợp của họ đặc biệt."

Bà quay lại nhìn hai người và mỉm cười phân vân.

"Xin chào?"

Rõ ràng là bà không thích những khách hàng bước vào và yêu cầu được gặp khẩn cấp.

Nhưng Miller không hề nao núng.

Anh đứng ngay dậy.

"Sally," anh nói.

"Tên tôi là Miller Roe.

Đây là bạn tôi Libby Jones.

Tôi tự hỏi không biết bà có thể dành ra cho chúng tôi mười phút được không?"

Bà quay lại nhìn cô gái tên là Lola kia.

Lola xác nhận là phải đến mười một giờ ba mươi Sally mới có cuộc hẹn tiếp theo.

Bà ra hiệu

cho họ theo bà vào văn phòng và đóng cửa lại.

Phòng tư vấn của Sally được trang trí theo phong cách Bắc Âu ấm cúng: một chiếc ghế xô-pha nhạt màu, trên có đặt chiếc chăn đan, tường màu xám nhạt, cùng bộ bàn ghế được sơn màu trắng.

Trên tường treo hàng tá những bức ảnh đen trắng đóng khung.

"Vậy," bà nói.

"Tôi có thể giúp gì được cho hai bạn?"

Miller liếc nhìn Libby.

Anh muốn cô mở lời.

Cô quay lại nhìn Sally và nói, "Tôi mới được thừa kế một căn nhà.

Một căn biệt thự thì đúng hơn.

Ở Chelsea."

"Chelsea?" bà ngờ ngợ nhắc lại.

"Vâng.

Trên đường Cheyne."

"Mm-mm."

Bà gật đầu đúng một cái.

"Số mười sáu."

"Vâng, vâng," bà nói, có vẻ hơi mất kiên nhẫn.

"Tôi không..." bà bắt đầu.

Nhưng rồi bà dừng lại, hơi nheo mắt.

"Ôi!" bà nói.

"Cô chính là đứa bé!"

Libby gật đầu.

"Bà có phải là Sally Thomsen không?" cô hỏi.

Sally tạm dừng.

"Biết nói thế nào nhỉ," một lúc sau bà đáp, "đúng ra thì không.

Một vài năm trước tôi đã đổi về tên thời con gái của tôi, khi tôi bắt đầu công việc này.

Tôi không muốn ai... cô cũng biết đấy.

Tôi đã gặp khó khăn trong suốt một khoảng thời gian dài, và tôi muốn có một khởi đầu mới, tôi nghĩ thế.

Nhưng đúng.

Đã có thời tôi là Sally Thomsen.

Nhưng giờ nghe này," đột nhiên bà nói giọng cộc lốc, có vẻ như đang ra lệnh.

"Tôi không muốn bị liên can, như cô cũng biết đấy.

Con gái tôi, nó bắt tôi phải thề là sẽ không bao giờ

thảo luận bất cứ chuyện gì liên quan tới căn nhà ở Chelsea nữa.

Nhắc tới cũng không.

Con bé đã phải hứng chịu hậu chấn tâm lý hàng năm trời sau những gì xảy ra trong căn nhà đấy, và thực sự, tới giờ nó vẫn cảm thấy bị tổn thương nặng nề.

Và dù cho tôi rất vui khi được nhìn thấy cô vẫn còn sống và khỏe mạnh bình thường, tôi e rằng tôi phải mời hai người ra khỏi đây."

"Liệu chúng tôi có thể nói chuyện với con gái bà được không?

Bà nghĩ thế nào?"

Sally ném cho Miller, người vừa đặt ra câu hỏi, một cái nhìn sắt đá.

"Tuyệt đối không," bà nói.

"Tuyệt đối không."
 
Gia Đình Lầu Trên
50


Mẹ tôi không bao giờ hồi phục hoàn toàn từ sau khi mất đứa bé.

Bà dần dần rút lui ra khỏi cuộc sống trong nhà.

Bà cũng rút lui ra khỏi David.

Bà bắt đầu dành nhiều thời gian hơn với cha tôi, cả hai người họ ngồi bên nhau trong im lặng.

Tất nhiên tôi cảm thấy mình phải chịu trách nhiệm hoàn toàn cho sự bất hạnh của mẹ.

Tôi cố gắng sửa lỗi bằng cách pha chế những bài thuốc có tác dụng chữa khỏi bệnh u sầu mà tôi học được từ mấy quyển sách của Justin.

Nhưng bà gần như không ăn uống được gì, nên tôi có cố gắng đến đâu cũng hầu như vô ích.

Có vẻ như David cũng đã từ bỏ bà ấy.

Tôi cảm thấy ngạc nhiên.

Tôi đã lầm tưởng rằng ông ta sẽ chăm sóc bà, giúp bà nhanh chóng hồi phục.

Nhưng ông ta giữ khoảng cách với mẹ tôi, gần như lạnh lùng.

Một ngày, không lâu sau khi mẹ tôi mất đứa bé, tôi hỏi David, "Tại sao bác không nói chuyện với mẹ cháu nữa?"

Ông ta nhìn tôi, thở dài.

"Mẹ cháu đang hồi phục.

Để làm được điều đó, mẹ cháu cần tự đi theo con đường của riêng mình."

Con đường của riêng mình.

Tôi cảm thấy máu trong người tôi bắt đầu sôi lên.

"Cháu không nghĩ là mẹ cháu đang hồi phục," tôi trả lời.

"Cháu nghĩ mẹ cháu đang yếu dần.

Và còn cha cháu thì sao?

Chẳng lẽ ông ấy lại không nhận được bất cứ sự chăm sóc nào sao?

Một vài liệu pháp điều trị?

Cả ngày ông ấy chỉ ngồi ở trên ghế.

Biết đâu ở ngoài kia có ai đó có thể giúp được ông ấy thì sao.

Biết đâu có phương pháp nào đó.

Biết đâu ngay cả sốc điện hay cái gì đại loại như thế có thể giúp được.

Biết đâu đã có rất nhiều tiến bộ y tế để giúp các bệnh nhân đột quỵ hồi phục mà chúng ta không biết tới vì tất cả chúng ta bị mắc kẹt ở đây..."

Tôi bắt đầu lớn tiếng, và ngay khi từ ngữ bắt đầu tuôn ra khỏi miệng tôi, tôi biết mình đã rơi vào thế xấu.

Thế rồi cái gì tới cũng tới, một bàn tay lạnh thình lình đập mạnh vào quai hàm của tôi.

Tôi nếm được mùi tanh như kim loại từ máu ở bên trong miệng tôi, cảm thấy môi tôi đang tê đi dần.

Tôi chạm ngón tay vào máu trên môi tôi, và nhìn David với ánh mắt kinh hãi.

Ông ta nhìn tôi chằm chằm, ánh mắt như muốn ghìm tôi xuống, hai vai ông ta gồng lên đến tận tai, tĩnh mạch nổi lên hai bên thái dương.

Thật khó có thể tin được rằng từ một người đàn ông duy tâm, trầm tính, hắn có thể biến thành một con quái vật hung hãn nhanh chóng đến như thế.

"Mày không có quyền gì để mà nói về những chuyện này," ông ta gầm lên.

"Mày không biết một cái gì hết.

Mày không khác gì một đứa trẻ sơ sinh."

"Nhưng ông ấy là cha tôi.

Và từ khi ông bước vào nhà tôi, ông đối xử với ông ấy như cứt vậy!"

Bàn tay ông ta quay trở lại, lần này đáp vào phía bên kia mặt tôi.

Tôi luôn biết rằng chuyện này sẽ xảy ra.

Kể từ lần đầu tiên gặp ông ta, tôi đã biết là David Thomsen sẽ tấn công nếu tôi dám đối đầu với ông ta.

Và cuối cùng thì ngày ấy cũng đến.

"Ông đã huỷ hoại mọi thứ," tôi nói, cảm xúc dâng trào, giờ tôi chẳng còn gì để mất.

"Ông nghĩ là ông rất quyền lực và quan trọng nhưng thật ra không phải thế!

Ông chỉ là một kẻ bắt nạt mà thôi!

Ông bước vào nhà tôi và ông bắt nạt tất cả mọi người, để tất cả chúng tôi phải nghe theo lệnh của ông.

Và rồi ông làm mẹ tôi có bầu, và giờ bà ấy đang rất đau khổ nhưng ông không thèm quan tâm, ông không thèm quan tâm một tí nào.

Bởi vì ông chỉ quan tâm đến bản thân ông thôi!"

Lần này ông ta đánh tôi mạnh đến nỗi tôi ngã xuống sàn.

"Đứng dậy!"

ông ta hét lên.

"Đứng dậy và đi vào trong phòng mày.

Mày sẽ bị cấm túc một tuần."

"Ông định nhốt tôi lại ư?" tôi nói.

"Vì tôi dám nói chuyện với ông?

Vì tôi dám nói lên những gì tôi thấy à?"

"Không," ông ta gầm gừ.

"Tao nhốt mày lại là bởi vì tao không thể nhìn nổi mày.

Mày làm tao ghê tởm.

Còn giờ, mày có muốn tự đi lên không, hay để tao phải kéo mày lên?

Chọn đi!"

Tôi đứng dậy và tôi chạy.

Nhưng tôi không chạy lên lầu, tôi chạy ra cửa chính.

Tôi xoay tay nắm cửa rồi kéo, và tôi đã sẵn sàng, sẵn sàng để phi ngay ra ngoài, ra hiệu cho một người lạ dừng lại và cầu cứu, Xin Chúa hãy giúp lấy chúng con, chúng con bị mắc kẹt trong nhà với một kẻ vĩ cuồng.

Chúa làm ơn hãy giúp chúng con!

Nhưng cửa đã bị khóa.

Làm sao mà tôi lại không biết cơ chứ?

Tôi ra sức kéo, rồi quay lại

nhìn ông ta và nói, "Ông đã nhốt chúng tôi lại!"

"Không," ông ta bảo.

"Chỉ là cửa đã bị khóa.

Hai điều này hoàn toàn không giống nhau.

Giờ, chúng ta đi chứ?"

Tôi giậm chân thình thịch từ chân cầu thang đằng sau cho đến tầng áp mái, David đi theo sau.

Tôi nghe thấy tiếng cửa phòng tôi bị khóa.

Tôi gào thét thảm hại như một đứa trẻ đã lớn đầu mà còn khóc nhè.

Tôi nghe thấy tiếng Phin hét lên từ bên kia bức tường phòng của cậu ấy: "Câm mồm đi!

Im đi!"

Tôi gào lên gọi mẹ tôi nhưng bà không tới.

Chẳng ai tới cả.

Đêm hôm đó mặt tôi đau nhức vì bị David đánh, còn dạ dày của tôi thì réo lên cồn cào.

Tôi không ngủ được, nên chỉ nằm thức ngắm những đám mây trôi qua mặt trăng, ngắm bóng của những con chim đậu trên cành, lắng nghe tiếng ngôi nhà hết kêu cọt kẹt lại thở hổn hển.

Tôi nghĩ tuần sau đó tôi đã phát điên.

Tôi lấy móng tay cào lên tường cho đến khi móng tay tôi chảy máu.

Tôi đập đầu vào tường.

Tôi gầm lên như thú.

Tôi nhìn thấy những thứ không có thật.

Tôi nghĩ David tưởng là sau thời gian bị giam giữ, tôi sẽ chịu khuất phục và sẵn sàng bắt đầu lại từ đầu.

Nhưng ông ta đã nhầm.

Một tuần sau, khi cửa phòng tôi mở và tôi lại được đi lại trong nhà, tôi không hề cảm thấy bị khuất phục.

Tôi cảm thấy như mình đã bị nuốt chửng bởi một cơn thịnh nộ khổng lồ, nhưng chính đáng.

Tôi sẽ kết liễu David, một lần cho mãi mãi.

Khi tôi lấy lại được tự do, tôi cảm thấy bầu không khí trong nhà có gì đó khác lạ.

Một bí mật lớn đang phảng phất giữa không trung, cuốn theo cùng những hạt bụi và những tia nắng, kẹt lại ở giữa những sợi tơ nhện trong góc nhà.

Buổi sáng đầu tiên sau khi được thả ra khỏi phòng, tôi ngồi xuống bàn ăn sáng với mọi người, và quay sang hỏi Phin, "Có chuyện gì thế?

Sao thái độ mọi người lạ vậy?"

Phin nhún vai và đáp, "Chẳng phải lúc nào thái độ mọi người cũng lạ sao?"

Tôi nói, "Không.

Lạ hơn bình thường.

Như thể có chuyện gì đó đang xảy ra vậy."

Tới thời điểm này, tôi có thể thấy rõ là Phin không được khỏe.

Da của cậu ấy từng rất mịn màng, không một khuyết điểm, giờ trông xám xịt và loang lổ.

Tóc cậu ấy bết lại và rũ sang một bên.

Và người cậu ấy có mùi gì đấy hơi ngai ngái, chua chua.

Tôi đề cập vấn đề này với Birdie.

"Có vẻ Phin đang bị ốm," tôi nói.

Cô ta cáu kỉnh đáp, "Phin chẳng làm sao hết.

Phin chỉ cần tập thể dục thêm thôi."

Qua cánh cửa phòng tập, tôi nghe thấy tiếng cha Phin đôn đốc cậu ấy, yêu cầu cậu ấy cần phải cố gắng hơn.

"Thêm nữa nào, con có thể làm được.

Đẩy về phía sau.

Đẩy mạnh về phía sau.

Thôi nào!

Con chẳng cố chút nào cả."

Và sau đó tôi nhìn thấy Phin rời khỏi phòng thể dục với vẻ uể oải và khổ sở, chậm rãi lết lên tầng áp mái, như thể chỉ bước đi thôi cũng đủ để làm cậu ấy đau.

Tôi nói, "Cậu nên đi ra vườn với tớ.

Ra ngoài thở khí trời cậu sẽ thấy khỏe hơn."

Cậu nói, "Tôi không muốn đi bất cứ đâu với cậu."

"Cậu không cần phải đi với tớ.

Cậu đi ra vườn một mình cũng được."

"Cậu không thấy à?"

Phin nói.

"Chẳng có cái gì trong ngôi nhà này có thể khiến tôi cảm thấy khỏe được cả.

Điều duy nhất giúp tôi khỏe trở lại đó là không ở trong cái nhà này nữa.

Tôi cần phải ra khỏi đây.

Tôi cần phải", Phin nói, ánh mắt cậu xoáy sâu vào mắt tôi, "ra khỏi đây."

Tôi cảm thấy chính căn nhà này cũng đang chết dần.

Đầu tiên là cha tôi lụi dần đi, sau đó đến mẹ tôi, và giờ đến Phin.

Justin đã bỏ chúng tôi mà đi.

Đứa bé thì đã chết.

Thực sự tôi không biết sống ở đây vì mục đích gì nữa.

Và rồi một buổi chiều tôi nghe thấy tiếng cười cất lên từ dưới cầu thang.

Tôi nhìn xuống hành lang và thấy David cùng Birdie đi ra từ phòng tập thể dục.

Cả hai đều khỏe mạnh rạng rỡ.

David vòng tay qua vai Birdie và ôm cô ta vào lòng, hôn lên môi cô ta một tiếng moa bệnh hoạn.

Chính bọn họ; tôi biết rất rõ.

Chính bọn họ là những kẻ đã bòn rút ngôi nhà này, như những con ma cà rồng, hút kiệt tất cả những năng lượng tử tế, tất cả tình yêu, tất cả sự sống, tất cả sự tốt đẹp, hút kiệt tất cả mọi thứ cho mình, hưởng thụ trên sự khốn khổ và suy sụp tinh thần của chúng tôi.

Sau đó tôi nhìn xung quanh, tất cả những gì tôi thấy là những bức tường trơ trọi, trên đó ngày xưa đã treo không biết bao nhiêu bức tranh sơn dầu, ở những góc trống, gia đình tôi đã trưng bày nhiều món nội thất cao cấp.

Tôi nhớ về chiếc đèn chùm lấp lánh trong ánh nắng mặt trời.

Vàng, bạc và đồng thau sáng loáng trên

mọi bề mặt.

Tôi nhớ về tủ quần áo hàng hiệu và những chiếc túi xách của mẹ tôi, những chiếc nhẫn tô điểm cho ngón tay của bà, những đôi khuyên tai bằng kim cương và mặt dây chuyền bằng đá sapphire.

Giờ thì tất cả đã biến mất.

Tất cả được mang đi để ủng hộ cho cái gọi là "từ thiện", để giúp "những người nghèo".

Tôi ước tính giá trị của những món tài sản đã mất.

Phải đến hàng nghìn bảng Anh, tôi đoán thế.

Hàng nghìn bảng Anh.

Rồi tôi lại nhìn xuống David, tay ông ta vẫn quấn lấy Birdie, hai người nhìn rất tự do tự tại, không phải chịu bất cứ áp lực nào từ những gì đang diễn ra trong ngôi nhà này.

Và tôi nghĩ: David Thomsen, ông không phải đấng cứu thế, đạo sư hay thần thánh.

Ông không phải là nhà hảo tâm, cũng không phải mạnh thường quân.

Ông không phải là một người theo đạo.

Ông là một kẻ tội phạm.

Ông đến và ông cướp bóc của cải nhà tôi.

Và ông cũng chẳng phải là người giàu lòng trắc ẩn.

Nếu ông có lòng trắc ẩn, bây giờ ông đã ở bên cạnh mẹ tôi khi bà ấy đang đau khổ vì mất đi đứa con của mình.

Ông đã giúp cha tôi tìm cách thoát ra khỏi cái địa ngục trần gian này.

Ông đã đưa con trai ông đến bác sĩ.

Ông đã không đứng đây cười đùa với Birdie.

Ông cũng sẽ cảm thấy ưu phiền bởi nỗi bất hạnh của những người khác.

Và nếu ông không có lòng trắc ẩn, thì chẳng đời nào ông lại quyên góp tiền ủng hộ cho người nghèo.

Ông sẽ giữ hết tiền cho riêng mình.

Và đó hẳn là cái "ngân quỹ đen" mà mấy năm trước Phin đã kể cho tôi.

Nếu đúng như vậy, thì cái ngân quỹ đó ở đâu?

Và ông định làm gì với nó?
 
Gia Đình Lầu Trên
51


Hai tuần sau khi David thả tôi ra khỏi phòng, trên bàn ăn tối, ông ta thông báo em gái tôi đã có bầu.

Con bé chỉ mới mười bốn tuổi.

Tôi thấy Clemency lùi xa khỏi em gái tôi, rụt người lại như thể bị bỏng dầu nóng.

Tôi nhìn mặt mẹ tôi, ánh mắt trống rỗng, chết lặng, rõ ràng là bà đã biết trước chuyện này.

Tôi nhìn Birdie.

Cô ta nhìn tôi cười.

Khi tôi thấy hàm răng bé tí của cô ta, tôi bốc hoả.

Tôi nhảy qua bàn và lao vào người David.

Tôi muốn cho ông ta một trận.

Thật ra, tôi muốn giết ông ta thì đúng hơn.

Đó là ý định của tôi.

Nhưng tôi thì nhỏ người, còn David thì to con, và tất nhiên Birdie cố nhảy vào giữa để can chúng tôi, và bằng một cách nào đó tôi bị kéo ra và đẩy về chỗ cũ.

Tôi nhìn em gái tôi, nhìn nụ cười kỳ lạ nở trên môi con bé.

Tôi không thể tin là tôi lại không dự đoán trước được điều này, không thể tưởng tượng nổi đứa em gái ngu ngốc của tôi lại mắc vào bẫy của David, và giờ David trong mắt nó cũng giống David trong mắt mẹ tôi và David trong mắt Birdie.

Cũng giống họ, có lẽ nó cảm thấy tự hào vì David đã chọn nó, và tự hào khi được mang trong mình giọt máu của ông ta.

Và rồi tôi nhận ra.

David không chỉ muốn lấy tiền của gia đình chúng tôi.

David còn muốn chiếm cả ngôi nhà.

Và đó là tất cả những gì ông ta muốn kể từ ngày đầu tiên ông ta bước chân vào ngôi nhà này.

Có con với em gái tôi sẽ giúp ông ta đảm bảo được mình cũng sẽ có phần trong đó.

Ngày hôm sau tôi vào phòng của cha mẹ tôi.

Tôi mở thùng các-tông đựng những món đồ có giá trị, nhưng giờ tất cả đều trống rỗng, cũng giống như đồ nội thất, chúng đã bị đem đi cho hết.

Tôi cảm thấy cha tôi đang nhìn tôi.

"Cha ơi," tôi nói, "bản di chúc của cha ở đâu?

Bản di chúc nói về điều gì sẽ xảy ra với ngôi nhà này sau khi cha mất ấy?"

Tôi cảm nhận được ông đang cố phát ra từ gì đó ở trong cuống họng.

Ông nhếch miệng lên được một hoặc hai milimét.

Tôi tiến lại gần ông hơn.

"Cha!

Cha có biết không?

Cha có biết giấy tờ ở đâu không?"

Ánh mắt ông chuyển từ khuôn mặt tôi sang cánh cửa phòng.

"Nó ở đó ạ?"

Tôi hỏi.

"Giấy tờ ở đó ạ?"

Ông nháy mắt.

Thỉnh thoảng khi được đút cho ăn ông cũng hay làm như thế.

Nếu mẹ tôi nói, "Có ngon không, anh yêu?"

ông sẽ nháy mắt và mẹ tôi sẽ nói, "Tốt.

Tốt," rồi đút cho ông thêm một thìa đầy nữa.

"Phòng nào ạ?" tôi hỏi.

"Phòng nào vậy cha?"

Tôi nhìn thấy mắt ông di chuyển một chút sang bên trái.

Về phía phòng của David và Birdie.

"Ở trong phòng của David ạ?"

Ông nháy mắt.

Trái tim tôi chùng xuống.

Tôi không thể vào phòng của David và Birdie được.

Đầu tiên là lúc nào cửa phòng họ cũng khóa.

Mà kể cả không thế đi chăng nữa, nếu bị bắt thì hậu quả của việc lẻn trộm vào phòng là rất khôn lường.

Một lần nữa tôi lại nhờ đến sự trợ giúp của cuốn sách thần chú rất hữu dụng mà Justin để lại.

"Thần chú gây mê tạm thời."

Điều đó nghe có vẻ như chính xác là thứ mà tôi đang cần.

Câu thần chú hứa hẹn sẽ khiến nạn nhân cảm thấy lơ mơ và buồn ngủ trong chốc lát, "một cảm giác tạm quên nho nhỏ và khó nhận ra".

Thành phần của nó bao gồm cây bóng đêm chết chóc, Atropa belladonna, một loại độc dược mà Justin đã kể với tôi từ nhiều tháng trước.

Tôi đã bí mật trồng nó, sau khi tôi tìm thấy hạt của cây này trong ngăn tủ bào chế thuốc của Justin.

Tôi đã ngâm hạt trong tủ lạnh được hai tuần.

Tôi nói với người lớn là tôi đang thí nghiệm loại thảo dược mới để giúp Phin bớt buồn chán.

Sau đó tôi mang hạt ra vườn và trồng chúng vào hai cái chậu lớn.

Phải mất ba tuần hạt mới nảy mầm, và lần cuối tôi ra kiểm tra cây đã trổ hoa.

Dựa theo tài liệu hướng dẫn, Atropa belladonna rất khó trồng, nên tôi cảm thấy vô cùng hài lòng về bản thân khi nụ hoa tím đầu tiên trổ bông.

Giờ thì tôi lẻn ra vườn và hái một vài nhánh, nhét vào trong cạp quần, rồi nhanh chóng chạy lên nhà.

Trong phòng tôi chế một loại thuốc với lá cúc La Mã, pha với đường và nước.

Đáng lẽ

ra công thức còn cần thêm hai sợi lông từ lưng của một con mèo vàng và hơi thở từ miệng của một bà già, nhưng tôi là dược sĩ, không phải là phù thủy.

Món trà thảo mộc của tôi rất được ưa chuộng.

Tôi nói với David và Birdie rằng tôi đang thí nghiệm một công thức pha chế mới gồm cúc La Mã và lá cây mâm xôi.

Họ nhìn tôi âu yếm và nói rằng nghe có vẻ ngon đấy.

Tôi xin lỗi Birdie khi cô ta uống trà và nói nó có thể hơi ngọt; tôi nói với cô ta rằng tôi chỉ cho một xíu mật ong thôi, để làm trung hòa vị đắng của lá cây mâm xôi.

Câu thần chú đã chỉ định rằng mỗi người phải uống ít nhất nửa cốc.

Thế là tôi ngồi và nhìn họ uống với ánh mắt trìu mến, như thể tôi đã cố lấy lòng họ, để họ tiếp tục uống, dù họ có thích vị trà tôi pha hay không.

Nhưng họ thích vị đó, và cả hai uống hết một cốc.

"Chà," một lúc sau Birdie nói khi chúng tôi rửa cốc và cất cốc đi.

"Loại trà cháu pha làm cô cảm thấy siêu, siêu thư giãn, Henry ạ.

Cô cảm thấy như cô có thể...

Thực ra..."

Tôi thấy mắt cô ta hơi ríu lại.

"Có khi cô phải đi ngủ đây."

Giờ tôi thấy David cũng đang phải cố lắm để giữ cho hai mắt ông ta không díp chặt, "Ừ," ông ta nói.

"Có khi phải đi chợp mắt một chút."

"Thôi đây," tôi nói, "để cháu giúp hai người.

Chúa ơi, cháu rất xin lỗi.

Chắc cháu lại cho hơi nhiều cúc La Mã vào trong trà ấy mà.

Đây, đây."

Tôi để Birdie bám lấy tay tôi.

Cô ta áp má vào vai tôi và nói, "Cô rất thích trà cháu pha, Henry ạ.

Cốc trà ngon nhất mà cô từng uống."

"Trà rất, rất ngon."

David đồng ý.

David lần mò tìm chìa khóa phòng trong túi áo choàng.

Khi ông ta tìm chìa khóa, tôi thấy dưới lớp áo ông ta có đeo một chiếc túi đeo chéo ở bên trong.

Tôi đoán chắc đây là chiếc túi mà ông ta đựng chìa khóa của tất cả các phòng trong nhà.

Giờ thì ông ta đang chật vật để đút chìa khóa vào trong ổ, nên tôi giúp ông ta.

Sau đó tôi đưa cả hai lên giường, và ngay lập tức họ chìm vào một giấc ngủ sâu.

Tôi đứng ở đó.

Trong phòng của David và Birdie.

Đã mấy năm rồi tôi chưa đặt chân vào căn phòng này, kể từ khi David và Sally vẫn ở bên nhau.

Tôi nhìn quanh và cảm thấy khó có tiếp thu hết nổi những gì tôi đang nhìn thấy.

Hàng chồng thùng các-tông chất đống lên nhau, nhìn qua kẽ hở tôi thấy có vẻ như bên trong đựng sách vở, quần áo, đồ đạc, những đồ đạc mà chúng tôi vẫn được dạy là xấu xa và tồi tệ.

Tôi nhìn thấy có hai đôi giày ở trong góc phòng, một đôi của ông ta và một đôi của cô ả.

Tôi nhìn thấy một chai rượu đang uống dở, nút chai bằng vỏ cây đã được thay thế bằng nút chai khác, một cái ly dưới đáy có dính chất gì đó sẫm màu, và vài chai rượu whiskey đắt tiền của cha tôi.

Tôi nhìn thấy một hộp bánh bích quy, vỏ của một thanh kẹo Mars.

Tôi nhìn thấy một chiếc quần lót lụa và một chai dầu gội đầu Elvive.

Nhưng giờ tôi sẽ lờ đi hết.

Tôi không biết trạng thái "gây mê tạm thời" này sẽ kéo dài trong bao lâu.

Tôi cần tìm giấy tờ của cha tôi và đi ra khỏi đây.

Khi tay tôi lướt qua những chiếc hộp, tôi bắt gặp hộp bút chì cũ

của tôi.

Tôi chưa được nhìn thấy nó kể từ ngày cuối cùng tôi đến trường tiểu học.

Tôi vội ôm nó trên tay và nhìn nó chằm chằm như thể chiếc hộp bút này là di tích của một nền văn minh khác.

Tôi thoáng nghĩ về cậu bé mặc chiếc quần knickerbocker màu nâu năm nào.

Cậu cố tình trốn buổi học cuối cùng, cằm cậu thì vênh lên tự đắc khi tưởng tượng một thế giới mới sắp được mở ra trước mắt.

Tôi kéo khóa hộp bút, hít hà mùi của vỏ bút chì và sự ngây thơ, sau đó tôi giắt nó vào trong cạp quần, để mang vào trong phòng giấu.

Tôi tìm thấy một chiếc váy dạ hội của mẹ tôi.

Tôi tìm thấy những khẩu súng ngắn của cha tôi.

Tôi tìm thấy chiếc áo nịt và váy xòe ba lê của em gái tôi, và lý do tại sao đến giờ nó vẫn được giữ ở đây thì tôi không hiểu nổi.

Và rồi, trong chiếc hộp thứ ba, tôi tìm thấy giấy tờ của cha tôi: trong hộp đựng tài liệu màu xám cẩm thạch, cùng những chiếc kẹp kim loại xấu hoắc.

Tôi lấy một tệp có nhãn "Việc Gia Đình" và giở qua để xem nội dung.

Đây rồi, bản chúc thư và di chúc cuối cùng của Henry Roger Lamb và Martina Zeynep Lamb.

Tôi lại nhét tập giấy vào trong cạp quần bó.

Về phòng rồi tôi sẽ đọc sau.

Tôi nghe thấy tiếng Birdie thở gấp và thấy chân cô ta hơi co lại.

Tôi vội lôi một cái hộp nữa về phía mình.

Trong đây tôi thấy có mấy cuốn hộ chiếu.

Tôi nhặt chúng lên và giở trang cuối ra: hộ chiếu của tôi, của em gái tôi, của cha mẹ tôi.

Tôi cảm thấy lửa giận bắt đầu bùng lên trong tôi.

Hộ chiếu của chúng tôi!

Người đàn ông này đã lấy đi hộ chiếu của chúng tôi!

Việc này còn ác hơn cả chuyện ông ta nhốt chúng tôi lại trong chính căn nhà của mình.

Ăn cắp hộ chiếu của một người khác, cũng chính là

cướp đi phương tiện để họ chạy trốn, phiêu lưu, khám phá, học hỏi và tận dụng tất cả những cơ hội mà thế giới này có thể mang lại.

Tim tôi lồng lên vì quá tức giận.

Tôi để ý thấy hộ chiếu của tôi đã hết hạn, của em gái tôi thì còn sáu tháng nữa.

Nhưng giờ thì cũng đâu có tác dụng gì.

Tôi nghe thấy tiếng David khẽ lầm bầm.

Sự gây mê tạm thời có vẻ như hơi tạm thời quá và tôi không chắc tôi có thể thuyết phục họ uống loại "trà mới" đặc biệt mà tôi pha một lần nữa hay không.

Có lẽ đây sẽ là cơ hội duy nhất mà tôi có được để khám phá những bí mật bị chôn vùi trong căn phòng này.

Tôi tìm thấy một gói nhỏ đựng paracetamol.

Một gói kẹo ho.

Một hộp bao cao su.

Và ở dưới tất cả những thứ này, tôi tìm thấy một đống tiền mặt.

Tôi lướt ngón tay xuống hai bên của chồng tiền.

Những tờ tiền kêu soàn soạt rất sướng tai, có vẻ như chỗ này cũng khá nhiều.

Một nghìn bảng chăng, tôi đoán thế.

Có khi còn nhiều hơn?

Tôi lấy một vài tờ mười bảng ở trên cùng, gấp lại và nhét vào chỗ giấy tờ tôi đã giấu sẵn trong cạp quần bằng thun co giãn của tôi.

Birdie rên rỉ.

David rên rỉ.

Tôi đứng dậy, kẹp chặt bản di chúc của cha tôi, hộp bút chì của tôi và năm tờ mười bảng ở dưới bụng.

Tôi nhón chân ra khỏi phòng, khẽ đóng cánh cửa đằng sau tôi lại.
 
Gia Đình Lầu Trên
52


Đầu óc Lucy quay cuồng.

Các đường nét trên khuôn mặt người đàn ông kia lúc mờ nhạt, lúc lại trở nên rõ nét.

Trong khoảnh khắc, nhìn gã ta giống người này, nhưng đến giây phút tiếp theo, gã ta lại giống người khác.

Cô hỏi gã là ai.

"Em biết anh là ai mà," gã đáp.

Giọng gã vừa quen vừa lạ.

Stella giờ đã ở phía bên này phòng và đang ôm chặt lấy chân Lucy.

Lucy thấy Marco tự tin đứng sát bên cô.

Con chó vui vẻ đón nhận sự âu yếm từ người đàn ông kia, và giờ thì nó đã nằm ngửa cả ra để cho gã ta vuốt ve bụng.

"Ai mà ngoan thế nhỉ," người đàn ông nói.

"Ai mà ngoan thế, ngoan thế nhỉ."

Gã ngước lên nhìn Lucy, đẩy kính lên mũi bằng đầu ngón trỏ.

"Anh cũng muốn nuôi một con chó," gã nói.

"Nhưng em biết đấy, nếu đi làm suốt ngày mà để chúng ở nhà mãi thì cũng không hay.

Thay vào đấy anh nuôi mèo."

Gã thở dài, rồi đứng thẳng người và

nhìn cô từ trên xuống dưới.

"Mà tiện thể, anh thích diện mạo của em bây giờ.

Anh không hình dung được là giờ em lại chuyển sang, em biết đấy, bohemian như thế này."

"Anh là...?" cô liếc mắt nhìn gã ta.

"Anh sẽ không nói cho em biết đâu," người đàn ông tinh quái đáp.

"Em phải tự đoán."

Lucy thở dài.

Cô mệt mỏi quá rồi.

Cô đã phải đi một chặng đường dài.

Cuộc đời cô cứ dài đằng đẵng, khó khăn chồng chất khó khăn, và không có một thứ gì, không có bất cứ thứ gì dễ dàng cả.

Dù chỉ là một giây.

Cô đã đưa ra những quyết định tồi tệ, và rơi vào những tình huống tồi tệ, với những con người tồi tệ.

Cô vẫn thường cảm thấy cô không khác gì một con ma, một bản phác thảo thô sơ của một con người có thể đã từng tồn tại, nhưng bị cuộc sống này xóa đi.

Và giờ cô ở đây: một người mẹ, một kẻ giết người, một người nhập cư bất hợp pháp đã đột nhập vào trong một ngôi nhà không phải của cô.

Cô chỉ muốn được đoàn tụ với đứa bé để khép lại vòng tròn tồn tại của chính mình.

Nhưng giờ có một người đàn ông ở đây và cô nghĩ gã ta có thể là anh trai của cô, nhưng làm sao gã có thể vừa là anh trai của cô mà vừa không phải anh trai của cô được?

Và tại sao cô lại cảm thấy sợ gã ta?

Cô ngước lên nhìn người đàn ông kia, và cô thấy bóng của hàng lông mi dài phủ trên gò má gã.

Phin, cô nghĩ.

Đây là Phin.

Nhưng rồi cô nhìn xuống tay gã ta: cánh tay nhỏ và thanh tú, cổ tay mỏng.

"Anh là Henry," cô nói, "phải không?"
 
Gia Đình Lầu Trên
53


Tôi đến gặp mẹ sau khi David thông báo em gái tôi có bầu, và tôi nói, "Mẹ để cho con gái của mẹ quan hệ tình dục với một người đàn ông bằng tuổi mẹ.

Điều đó thật bệnh hoạn."

Bà chỉ đáp lại, "Không liên quan gì đến mẹ hết.

Tất cả những gì mẹ biết là một em bé sắp chào đời và tất cả chúng ta nên cảm thấy hạnh phúc."

Cho đến tận bây giờ, chưa bao giờ tôi cảm thấy hoàn toàn cô độc như lúc ấy.

Tôi không còn cả cha lẫn mẹ nữa.

Chúng tôi không có khách tới thăm nhà nữa.

Chuông cửa không bao giờ reo.

Đường dây điện thoại đã bị ngắt kết nối từ mấy tháng trước.

Đã có thời gian, mấy ngày sau khi mẹ tôi mất đứa bé, có ai đó đã đến nhà tôi mỗi ngày, và đập cửa ba mươi phút liên tục, trong suốt gần một tuần liền.

Chúng tôi bị nhốt trong phòng khi người đó đập cửa.

Sau này mẹ tôi cho chúng tôi biết đó là anh trai của bà, bác Karl của tôi.

Tôi thích bác Karl.

Ông là kiểu người trẻ trung huyên náo, hay ném bọn trẻ con vào bể bơi, và nói những câu đùa khiếm nhã, khiến tất cả những người lớn khác phải tặc lưỡi.

Lần cuối chúng tôi nhìn thấy bác

là trong đám cưới của bác ở Hamburg, khi tôi khoảng mười tuổi.

Bác mặc bộ suit ba mảnh in hoa.

Nghĩ đến việc bác Karl đã đứng trước cửa nhà tôi nhưng chúng tôi lại không cho bác vào khiến một phần trái tim tôi tan vỡ.

"Nhưng tại sao ạ?" tôi hỏi mẹ.

"Sao chúng ta lại không cho bác ấy vào?"

Tôi bắt gặp Clemency trong nhà bếp vào một buổi chiều sau khi David thông báo em gái tôi có thai.

"Em đã biết trước rồi à?" tôi hỏi.

Mặt con bé đỏ lên một chút, vì rõ ràng là trong mấy năm vừa qua chúng tôi hiếm có khi nào nói chuyện, và giờ chúng tôi lại đang đề cập đến việc bạn thân nhất của nó đi ngủ với cha nó.

Nó nói, "Không.

Em không biết."

"Nhưng hai đứa thân thế cơ mà.

Làm sao em lại không biết được cơ chứ?"

Con bé nhún vai.

"Em chỉ nghĩ là họ tập thể dục cùng nhau."

"Thế em nghĩ thế nào về chuyện ấy?"

"Em thấy kinh tởm."

Tôi gật đầu liên tục, để nói với con bé rằng tốt, chúng ta có chung suy nghĩ.

"Vậy trước đấy cha em đã làm chuyện gì như thế này chưa?"

"Ý anh là..."

"Mấy đứa bé ấy.

Trước đấy ông ta đã làm ai có bầu bao giờ chưa?"

"Ồ," con bé khẽ nói.

"Chưa.

Chỉ có mẹ em thôi."

Tôi bảo con bé lên phòng tôi và phút đầu tiên trông nó có vẻ sợ

hãi, và điều đó làm tôi thấy bị tổn thương, nhưng rồi tôi thấy thế cũng tốt.

Nếu tôi chuẩn bị lật đổ David và đưa được tất cả bọn tôi ra khỏi căn nhà này, thì nó thấy sợ cũng là điều dễ hiểu.

Ở trong phòng, tôi kéo đệm ra khỏi tường và lấy ra những món đồ tôi đã tìm thấy trong phòng của David và Birdie.

Tôi rải chúng ra giữa sàn để cho con bé xem.

Tôi nói với con bé rằng tôi đã tìm thấy chúng ở đâu.

"Nhưng làm sao mà anh vào trong đấy được?" nó hỏi.

"Anh không nói với em được," tôi đáp.

Tôi thấy có chút gì đó bối rối chảy xuyên qua người con bé khi nó nhìn những vật dụng tôi bày ra sàn.

"Hộp bút chì của anh đây à?"

"Ừ.

Hộp bút chì của anh.

Và còn có rất nhiều thứ đồ khác."

Tôi kể với con bé về chiếc quần lót bằng lụa, mấy chai rượu whiskey và một đống tiền mặt.

Khi tôi kể cho con bé nghe, tôi có thể thấy là tôi đang khiến trái tim nó tan nát.

Cảm giác này giống như ngày tôi kể với Phin về chuyện nhìn thấy cha cậu hôn Birdie.

Tôi quên mất rằng tôi đang kể với một đứa trẻ về cha của nó, rằng giữa họ có những chuỗi phân tử di truyền bám sâu, những ký ức, những kết nối, rằng những lời tôi nói có thể xé nát trái tim của họ.

"Vậy là từ trước tới nay ông ấy đã nói dối chúng ta!"

Con bé nói, đoạn lấy mu bàn tay dụi mắt.

"Em cứ tưởng là chúng ta làm tất cả những việc này vì người nghèo.

Em không hiểu!

Em không hiểu!"

Tôi nhìn thẳng vào mắt con bé.

"Đơn giản thôi," tôi nói.

"Cha em đã lấy hết tất cả mọi thứ có giá trị từ cha mẹ anh, và giờ ông ta muốn chiếm căn nhà này.

Về mặt pháp lý, ngôi nhà này được đặt vào quỹ ủy thác cho anh và em gái anh cho đến khi bọn anh hai

mươi lăm tuổi.

Nhưng nhìn này."

Tôi cho con bé xem bản di chúc tôi lấy từ trong hộp ra.

Nó có thêm một điều khoản bổ sung bằng chữ viết tay của David.

Trong trường hợp cha mẹ tôi qua đời, ông ta tuyên bố bằng thứ ngôn từ pháp lý lố bịch, căn nhà giờ sẽ được chuyển giao cho David Sebastian Thomsen và con cháu của ông ta.

Bản bổ sung di chúc này đã được mẹ tôi và Birdie chứng kiến và tiếp ký.

Nếu mang ra tòa thì chắc đếch ai tin, nhưng ý định của ông ta thì đã rõ.

"Và ông ta muốn có một đứa con để đảm bảo mình cũng sẽ có phần trong căn nhà này."

Clemency im lặng một lúc.

Rồi con bé nói, "Chúng ta nên làm gì bây giờ?"

"Anh cũng chưa biết," tôi nói, tay xoa xoa cằm như thể tôi có râu giống các nhà thông thái, nhưng tất nhiên là tôi không có.

Phải đến tận những năm hai mươi tuổi tôi mới để râu, mà kể cả lúc đó nhìn râu của tôi cũng không được ấn tượng cho lắm.

"Nhưng chúng ta sẽ phải làm gì đó."

Con bé nhìn tôi, mắt mở to.

"Được."

"Nhưng," tôi nói chắc nịch, "em phải hứa đây là bí mật giữa hai chúng ta."

Tôi chỉ tay vào những đồ vật mà tôi đã thó được từ phòng của David và Birdie.

"Đừng nói với anh trai em.

Mà cũng đừng nói với em gái anh.

Đừng nói với ai cả.

Được chứ?"

Con bé gật đầu.

"Em hứa."

Con bé im lặng trong một phút, rồi ngẩng lên nhìn tôi và nói, "Ông ấy từng làm thế này rồi."

"Gì cơ?"

Clemency nhìn xuống đùi.

"Cha em đã cố ép bà của ông ấy ký tên

chuyển nhượng căn nhà cho ông ấy.

Khi bà già và lẫn.

Chú em phát hiện ra và đuổi cả nhà em đi.

Đó là khi gia đình em chuyển đến Pháp."

Con bé ngước lên nhìn tôi.

"Anh nghĩ mình có nên gọi cảnh sát không?"

Nó hỏi.

"Kể cho họ biết ông ta đã làm gì?"

"Không," tôi phản đối ngay lập tức.

"Không.

Bởi vì, thực sự, ông ta có phạm luật đâu, đúng không?

Cái chúng ta cần là một kế hoạch.

Chúng ta cần ra khỏi đây.

Em sẽ giúp anh chứ?"

Con bé gật đầu.

"Em sẵn sàng làm bất kỳ điều gì chứ?"

Con bé lại gật đầu lần nữa.

Thực sự chúng tôi đang ở giữa ngã ba đường.

Nhìn lại, có rất nhiều cách để chúng tôi vượt qua những cú sốc tinh thần từ chuyện này, nhưng vì tất cả những người tôi yêu nhất đã quay lưng lại với tôi, nên tôi đã chọn phương án tệ nhất có thể.
 
Gia Đình Lầu Trên
54


Mười phút sau, Libby và Miller rời văn phòng của Sally.

"Cô ổn không?" anh hỏi cô khi họ bước ra cái nóng oi ả.

Cô cố gượng cười, nhưng sau đấy cô nhận ra là cô sắp khóc và cô không thể ngăn nổi mình lại.

"Ôi Chúa ơi," Miller nói.

"Ôi trời.

Thôi nào, thôi nào."

Anh dắt cô đến một cái sân nhỏ yên tĩnh và cả hai ngồi xuống băng ghế dưới gốc cây.

Anh sờ túi quần áo.

"Không có khăn giấy rồi, xin lỗi nhé."

"Không sao," cô nói.

"Tôi có khăn giấy."

Cô lấy gói khăn giấy du lịch từ trong túi ra và Miller mỉm cười.

"Cô đúng là kiểu người đi đâu cũng sẽ mang một gói khăn giấy du lịch đi theo."

Cô nhìn anh chằm chằm.

"Ý anh là gì?"

"Ý tôi là...

ý tôi là..." nét mặt anh giãn ra.

"Không có gì cả," anh nói.

"Ý tôi là cô sống rất có tổ chức.

Thế thôi."

Cô gật đầu.

Riêng cái này thì cô biết.

"Tôi phải như thế," cô nói.

"Và tại sao lại như vậy?" anh hỏi.

Cô nhún vai.

Tính cô không thích nói chuyện riêng tư.

Nhưng với những gì họ đã trải qua trong hai ngày gần đây, cô cảm giác những giới hạn mà cô vẫn tự đặt ra cho sở thích trò chuyện thông thường đã bị phá vỡ.

Cô nói, "Mẹ tôi.

Mẹ nuôi của tôi.

Bà ấy hơi, biết nói thế nào nhỉ, hơi lộn xộn.

Rất, rất, rất đáng yêu.

Nhưng chính cha tôi là người giúp bà ấy sắp xếp mọi thứ.

Nhưng ông mất năm tôi tám tuổi và sau đó... tôi lúc nào cũng muộn.

Tôi không bao giờ mang đủ đồ tới trường.

Tôi còn không đưa cho bà ấy xem thông báo về những chuyến đi dã ngoại hay những thứ đại loại thế vì cũng chẳng có ích gì.

Bà ấy đặt vé đi nghỉ dưỡng ở Tây Ban Nha giữa lúc tôi thi chứng chỉ giáo dục phổ thông trung học.

Chuyển sang Tây Ban Nha sống khi tôi mười tám tuổi."

Cô nhún vai.

"Thế nên tôi phải làm người lớn.

Anh biết đấy."

"Người giữ khăn giấy?"

Cô cười.

"Đúng.

Người giữ khăn giấy.

Tôi nhớ có một lần tôi bị ngã trên sân chơi và cùi chỏ của tôi bị xước.

Mẹ tôi thì kiểu bối rối cố tìm xem có cái gì ở trong túi không, nhưng có một bà mẹ khác đến, tay mang một chiếc túi xách cùng kích cỡ với mẹ tôi, bà ấy mở nó ra và lấy ra hết miếng lau sát trùng rồi đến một gói băng vết thương.

Và tôi nghĩ trong đầu: Wow, sau này tôi cũng muốn trở thành người có chiếc túi ma thuật như thế, anh biết đấy."

Anh nhìn cô mỉm cười.

"Cô làm rất tốt," anh nói.

"Cô biết điều đó, phải không?"

Cô cười lo lắng.

"Tôi đang cố," cô nói.

"Cố để làm tốt nhất có thể."

Họ ngồi im lặng trong giây lát.

Đầu gối của họ chạm nhau, nhưng

lại vội tách xa nhau ra.

Rồi Libby nói, "Chà, thật đúng là tốn thời gian, phải không nào?"

Miller ném cho cô ánh nhìn ranh ma.

"Ồ," anh nói, "cũng không hẳn là phí thời gian đâu.

Cô gái ấy.

Lola nhỉ?

Cô ta là cháu của Sally."

Libby thở dốc.

"Làm sao anh biết?"

"Bởi vì tôi nhìn thấy trên bàn làm việc của Sally có bức ảnh Sally chụp với một người phụ nữ trẻ hơn đang bế một đứa trẻ sơ sinh.

Rồi tôi lại thấy ở trên tường có bức ảnh Sally chụp với một người phụ nữ trẻ tóc vàng.

Sau đó tôi thấy một bức tranh trẻ con vẽ được đóng khung trên tường có ghi 'Cháu yêu bà'."

Anh nhún vai.

"Tôi tổng hợp tất cả lại và úm ba la."

Anh nghiêng người về phía Libby và mở màn hình điện thoại ra cho cô xem.

"Cái gì vậy?"

"Đó là một lá thư gửi đến cho Lola.

Tôi thấy nó thò ra từ trong túi xách dưới bàn làm việc của cô ấy.

Tôi biểu diễn ngay trò quỳ-xuống-để-buộc-dây-giày kinh điển.

Click."

Libby nhìn anh bằng ánh mắt sửng sốt.

"Nhưng điều gì làm anh nghĩ...?"

"Libby.

Tôi là phóng viên điều tra.

Đây là nghề của tôi.

Và nếu giả thuyết tôi đưa ra là đúng, Lola chắc hẳn là con của Clemency.

Có nghĩa là Clemency chắc sẽ sống xung quanh đây.

Và vì thế, địa chỉ này," anh chỉ vào màn hình, "cũng chính là địa chỉ của Clemency.

Tôi nghĩ rất có thể chúng ta vừa mới tìm ra đứa trẻ mất tích thứ hai."

Họ tới căn nhà gỗ thanh lịch và một người phụ nữ ra mở cửa.

Con chó golden retriever ngoan ngoãn đứng bên cạnh cô ta, đuôi vẫy uể

oải.

Người phụ nữ này có vẻ hơi thừa cân; vòng một trông nặng nề, vòng hai đẫy đà, chân dài.

Tóc cô ta đen nhánh, cắt ngắn ngang cằm.

Cô ta đeo hoa tai tròn bằng vàng, mặc quần jeans màu xanh và áo hai dây màu hồng nhạt bằng vải lanh.

"Anh chị cần gì?"

"Ồ," Miller nói.

"Xin chào.

Cô là Clemency?"

Người phụ nữ gật đầu.

"Tôi tên là Miller Roe.

Đây là Libby Jones.

Chúng tôi đã nói chuyện với mẹ cô.

Ở trong thị trấn.

Bà ấy nói là cô sống ở gần đây và..."

Cô ta nhìn qua Libby rồi quay lại nhìn thêm lần nữa.

"Trông cô...

Tôi cứ có cảm giác tôi biết cô là ai."

Libby cúi đầu và nhường vinh dự được giới thiệu cho Miller.

"Đây là Serenity," anh nói.

Ngay tức khắc Clemency dựa tay vào khung cửa và bám chặt lấy nó.

Đầu cô ta hơi quay ra đằng sau, và trong giây lát Libby nghĩ là cô ta sắp ngất.

Nhưng rồi cô ta định thần lại, cô ta đưa tay về phía Libby và nói, "Tất nhiên!

Tất nhiên rồi!

Cháu đã hai mươi lăm tuổi!

Tất nhiên rồi.

Đáng lẽ ra tôi phải nghĩ...

Đáng lẽ tôi phải biết.

Đáng lẽ ra tôi phải đoán trước được là cháu sẽ đến.

Ôi lạy Chúa tôi.

Mời vào.

Mời vào."

Bên trong căn nhà rất đẹp: sàn bằng gỗ, trên tường treo những bức tranh trừu tượng, lọ cắm đầy hoa, ánh mặt trời chiếu qua những

ô cửa sổ kính màu.

Con chó ngồi dưới chân Libby trong lúc Clemency lấy nước cho họ, Libby vuốt đầu nó.

Trời nồm làm con chó thở hổn hển, hơi thở của nó có mùi hôi, nhưng Libby chẳng bận tâm.

Clemency quay lại và ngồi xuống đối diện họ.

"Ôi," cô ta nói, mắt nhìn chằm chằm vào Libby.

"Nhìn cháu mà xem!

Xinh quá đi mất!

Nhìn cháu... thật quá đi mất!"

Libby cười lo lắng.

Clemency nói, "Cháu chỉ mới lọt lòng khi cô bỏ đi.

Cô chẳng có bức ảnh nào của cháu cả.

Cũng không biết cháu đã đi đâu, ai nhận nuôi cháu rồi sau này cháu sống ra sao.

Và cô không hình dung nổi cháu trông như thế nào.

Tất cả những gì cô thấy là một đứa bé.

Một đứa bé xinh như búp bê.

Không giống thật cho lắm.

Và ôi..."

Mắt cô ta ngấn lệ, giọng cô ta nức nở.

"Cô rất, rất xin lỗi.

Cháu có...?

Cháu thế nào rồi...?

Mọi thứ có ổn không?"

Libby gật đầu.

Cô nghĩ về mẹ nuôi của cô, bên người đàn ông mà bà gọi là đồ chơi (dù ông ta chỉ trẻ hơn bà có sáu tuổi) nằm dài trên cái sân hiên bé tí tại căn hộ chỉ có một phòng ngủ của bà ở Dénia (nên không có chỗ cho Libby ở khi cô đến thăm), mặc áo choàng kaftan màu hồng nóng bỏng, gọi cho cô qua Skype giải thích rằng bà quá bận để đặt vé máy bay về thăm Libby nhân dịp sinh nhật cô, và đến lúc bà tìm trên mạng thì hết vé rẻ mất rồi.

Cô nhớ về ngày người ta chôn cha cô, cô nắm chặt tay mẹ cô, mắt nhìn lên trời, và tự hỏi không biết ông đã lên đến đấy an toàn hay chưa, lo lắng không biết từ giờ cô sẽ đến trường bằng cách nào vì mẹ cô không biết lái xe.

"Cũng ổn ạ," cô nói.

"Cháu được những người rất dễ thương nhận nuôi, cháu rất may mắn."

Gương mặt của Clemency bừng sáng lên.

"Vậy, giờ cháu sống ở đâu?"

"St Albans ạ," cô trả lời.

"Ồ!

Thế tốt.

Và... cháu đã lấy chồng chưa?

Cháu có con chưa?"

"Không, chỉ có mình cháu thôi ạ.

Cháu vẫn độc thân.

Sống một mình.

Cháu chưa có con cái.

Cháu cũng không nuôi con gì.

Cháu chuyên bán các mẫu thiết kế nội thất trong nhà bếp.

Chà, để nói về cháu thì cũng không có gì nhiều lắm.

Hay chí ít, không có gì nhiều cho đến khi..."

"Ừ," Clemency nói.

"Ừ.

Cô đoán là nghe tin này chắc cháu cũng cảm thấy sốc toàn tập."

"Nói nhẹ là như thế."

"Và cháu đã biết những gì rồi?"

Cô ta hỏi, thận trọng.

"Về ngôi nhà.

Và về tất cả mọi chuyện."

"Biết nói thế nào nhỉ," Libby bắt đầu, "mọi thứ có vẻ hơi rối rắm.

Đầu tiên là những gì cha mẹ cháu vẫn hay kể với cháu, rằng cha mẹ đẻ của cháu qua đời trong một vụ tai nạn ôtô khi cháu mới mười tháng tuổi.

Rồi sau đó là những gì cháu đọc được qua bài báo của Miller.

Bài báo đó nói rằng cha mẹ cháu là thành viên của một giáo phái và đã có một kiểu thỏa thuận tự tử nào đó diễn ra, sau đó cháu được người Digan chăm sóc.

Rồi hai ngày trước cháu và Miller đang ở trong ngôi nhà trên đường Cheyne, và một người đàn ông xuất hiện.

Lúc ấy cũng muộn rồi.

Ông ta nói với chúng cháu là..."

Cô ngừng lại.

"Ông ta nói với chúng cháu ông ta tên là Phin."

Clemency mở to mắt, miệng thở dốc.

"Phin ư?" cô ta nói.

Libby lưỡng lự gật đầu.

Mắt Clemency ngấn lệ.

"Cháu có chắc không?" cô ta hỏi.

"Cháu có chắc đấy là Phin không?"

"Dạ, người đàn ông đó nói với chúng cháu đó là tên của ông ta.

Ông ta nói cô là em gái ông ấy.

Và nhiều năm rồi ông ấy chưa được gặp cô hay mẹ của cô."

Cô ta lắc đầu.

"Nhưng lúc cô bỏ anh ấy đi anh ấy yếu lắm.

Yếu lắm.

Gia đình cô đã đi tìm anh ấy khắp nơi, cô và mẹ cô.

Khắp nơi.

Năm này qua năm khác.

Cô và mẹ cô đi hết tất cả các bệnh viện ở London.

Đi lang thang khắp các công viên và các vẹt đường tàu.

Cứ chờ mãi, chờ mãi, mong một ngày nào đó anh ấy sẽ xuất hiện trước cửa nhà cô.

Nhưng ngày đấy không bao giờ đến và cuối cùng thì... cô và mẹ cô nghĩ là anh ấy đã chết.

Nếu không thì tại sao anh ấy lại không quay về cơ chứ?

Tại sao anh ấy lại không đi tìm cô với mẹ cô?

Ý cô là, anh ấy sẽ làm như thế, đúng không?"

Cô ta dừng lại.

"Cháu có chắc đấy là Phin không?"

Clemency hỏi lại lần nữa.

"Tả cho cô nghe trông người đàn ông đó như thế nào."

Libby miêu tả cặp kính gọng sừng, mái tóc vàng, hàng mi dài, khuôn miệng đầy đặn.

Clemency gật đầu.

Sau đó cô kể cho Clemency nghe về căn hộ sang trọng, và những con mèo Ba Tư.

Cô nhắc lại câu nói đùa của Phin về con mèo tên là Dick, và Clemency lắc đầu.

"Không," cô ta nói.

"Nghe không giống Phin chút nào.

Không giống chút nào."

Cô ta dừng lại một lúc để suy nghĩ, mắt cô ta đảo

quanh phòng.

"Cháu biết cô nghĩ gì không?" cuối cùng cô ta nói.

"Cô nghĩ rất có thể người đàn ông đó là Henry."

"Henry ạ?"

"Phải.

Henry mê Phin lắm.

Nhưng tình cảm ấy không được đáp lại.

Như kiểu bị cuồng si vậy đó.

Anh ta cứ nhìn Phin chằm chằm cả ngày.

Anh ta ăn mặc giống Phin.

Bắt chước kiểu tóc của Phin.

Có lần anh ta còn định giết Phin nữa.

Đẩy Phin xuống sông.

Giữ Phin ở dưới nước.

Nhưng may là Phin khỏe hơn Henry.

To con hơn nữa.

Thế nên Phin cũng chống trả lại được.

Henry đã giết con mèo của Birdie, cháu có biết không?"

"Gì cơ?"

"Anh ta đã hạ độc con mèo.

Cắt đuôi của nó đi.

Ném xác nó xuống sông.

Các dấu hiệu đã có ở đó từ trước rồi.

Mặc dù nói về một đứa trẻ thế này có vẻ độc miệng, nhưng theo ý kiến của riêng cô, trong tính cách của Henry, có một phần thuộc về quỷ dữ."
 
Gia Đình Lầu Trên
55


Tôi không giết mèo của Birdie.

Tất nhiên là không rồi.

Nhưng đúng, con mèo chết là do tôi.

Tôi đang pha chế một loại thuốc gì đó với belladonna, một liều thuốc ngủ khác, mạnh hơn liều thuốc tôi đưa cho David và Birdie hôm trước để lẻn vào phòng họ.

Một thứ gì đó có tác dụng lâu hơn gây mê tạm thời một chút.

Tôi thử nghiệm trước với con mèo, tôi nghĩ rằng nếu con mèo không sao thì người cũng sẽ không sao.

Nhưng đáng buồn là con mèo có sao.

Coi như đây là một bài học kinh nghiệm.

Liều thuốc sau tôi đã làm loãng hơn rất, rất nhiều.

Riêng về cái đuôi của con mèo thì nghe có vẻ hơi cay nghiệt khi nói là tôi cắt đuôi của nó.

Tôi giữ lấy cái đuôi.

Cái đuôi rất đẹp, rất mượt và đầy màu sắc khác biệt.

Lúc đó tôi chẳng có gì, nhớ chứ, chẳng có thứ gì mềm mại, tất cả đều đã bị lấy đi hết.

Con mèo cũng đâu cần cái đuôi nữa.

Vâng nên đúng, tôi đã lấy cái đuôi của con mèo.

Và này, tin giả, tôi không hề ném con mèo xuống sông Thames.

Làm sao tôi có thể làm thế được kia chứ?

Tôi đâu có được ra khỏi nhà.

Sự thật là, cho đến ngày hôm nay, con mèo vẫn được

chôn trong vườn thảo dược của tôi.

Còn về chuyện tôi là người đã đẩy Phin xuống sông Thames thì phải nhìn vế ngược lại: nói thẳng ra thì điều đó không đúng.

Điều có thể đã xảy ra là Phin đẩy tôi trong lúc hai đứa bọn tôi vật lộn sau khi tôi cố đẩy cậu ấy.

Vâng.

Rất có thể điều đó đã xảy ra.

Cậu ấy nói với tôi là tôi đang nhìn cậu ấy chằm chằm.

Tôi nói, "Tớ nhìn cậu chằm chằm là vì cậu rất đẹp."

Cậu ấy nói, "Cậu kỳ quá.

Sao lúc nào cậu cũng quái đản như vậy?"

Tôi nói, "Cậu không biết sao Phin?

Cậu không biết là tớ yêu cậu sao?"

(Trước khi bạn cay nghiệt phán xét tôi, làm ơn nhớ rằng lúc này tôi đã dùng LSD.

Đầu óc tôi không được tỉnh táo.)

"Thôi ngay," Phin nói.

Cậu ta cảm thấy xấu hổ.

"Làm ơn đi mà, Phin," tôi cầu xin.

"Làm ơn đi mà.

Tớ đã yêu cậu kể từ giây phút đầu tiên tớ nhìn thấy cậu..."

Và rồi tôi cố hôn cậu ấy.

Môi của tôi chạm vào môi cậu ấy và trong giây lát tôi đã nghĩ rằng cậu ấy sẽ hôn lại tôi.

Tôi vẫn nhớ tôi đã cảm thấy sốc như thế nào, trước sự mềm mại của môi cậu ấy, và một chút hơi thở từ miệng cậu ấy truyền sang miệng tôi.

Tôi đặt tay lên má cậu ấy và cậu ấy cố đẩy tôi ra, rồi nhìn tôi với ánh mắt ghê tởm không giấu giếm, khiến tôi cảm thấy như vừa có một cây kiếm đâm xuyên qua tim mình.

Phin đẩy tôi và suýt nữa thì tôi ngã ngửa ra đằng sau.

Thế là tôi đẩy cậu, sau đó cậu đẩy tôi, rồi tôi lại đẩy cậu và cậu lại đẩy tôi, cuối cùng thì tôi ngã xuống nước, và tôi biết là cậu không cố ý.

Đó

là lý do tại sao mọi chuyện lại trở nên tệ hơn rất nhiều khi tôi nói với cha cậu ấy là cậu ấy cố tình đẩy tôi, và tôi để cậu ấy bị nhốt trong phòng suốt mấy ngày trời mà không nói với ai rằng chuyện đó chỉ là tai nạn không may.

Phin cũng không phân bua với ai cả, vì làm như thế cậu ấy sẽ phải tiết lộ chuyện tôi đã hôn cậu ấy.

Và, tất nhiên, không có lời thú nhận nào có thể tồi tệ hơn thế.
 
Gia Đình Lầu Trên
56


Vào một đêm mùa hè giữa tháng Sáu, tôi nghe thấy tiếng em gái tôi rống lên.

Không có từ nào khác có thể miêu tả khoảnh khắc đó.

Nó rống lên như một con bò.

Và âm thanh này tiếp diễn trong một thời gian dài.

Em gái tôi đã ở sẵn trong phòng ngủ dư, được chuẩn bị riêng cho nó.

Clemency và tôi bị dẫn ra ngoài cửa và được yêu cầu là phải ở nguyên trong phòng của mình, cho đến khi chúng tôi được phép quay lại.

Em gái tôi vẫn tiếp tục rống thêm một vài giờ nữa.

Và rồi, vào khoảng mười phút sau nửa đêm, tôi nghe thấy tiếng trẻ con khóc.

Đúng.

Chính là cháu.

Serenity Love Lamb.

Con gái của Lucy Amanda Lamb (14 tuổi) và David Sebastian Thomsen (41 tuổi).

Mãi đến tận cuối ngày hôm đấy tôi mới được nhìn thấy cháu, và tôi phải thú nhận rằng tôi rất thích vẻ bề ngoài của cháu.

Cháu có

khuôn mặt nhìn như một con hải cẩu con.

Và cháu nhìn tôi không chớp mắt, làm tôi cảm thấy như có một người thực sự chú ý đến sự hiện diện của tôi.

Tôi đã không được ai chú ý đến trong một thời gian dài.

Tôi để cháu cầm ngón tay của tôi, và tôi cảm thấy dễ chịu một cách kỳ lạ.

Tôi vẫn thường nghĩ là tôi ghét trẻ con, nhưng hóa ra, sau tất cả, sự thật lại không phải thế.

Và rồi, một vài ngày sau, cháu bị tách ra khỏi vòng tay của em gái tôi và được bế vào phòng của David và Birdie.

Em gái tôi lại phải chuyển vào căn phòng cũ ở trên lầu với Clemency.

Vào mỗi buổi tối, tôi nghe thấy tiếng cháu khóc ở dưới nhà và tiếng em gái tôi khóc ở bên cạnh.

Ban ngày con bé được đưa xuống dưới nhà để vắt sữa vào một dụng cụ trông như có từ thời Trung cổ, và đổ sữa vào một cái bình nhìn cũng Trung cổ nốt, rồi bị bắt đi về phòng.

Và từ đó mọi thứ lại thay đổi: ranh giới giữa họ và chúng tôi chuyển sang vài cấp độ mới, và một lần nữa, em gái tôi quay về đội của chúng tôi, và chính hành động tàn nhẫn cuối cùng này đã gắn kết tất cả chúng tôi lại.
 
Gia Đình Lầu Trên
57


Lucy bước về phía người đàn ông kia.

Anh trai cô.

Anh cả của cô.

Giờ thì cô có thể nhìn thấy điều ấy.

Cô nhìn sâu vào trong mắt anh ta và nói, "Anh đã ở đâu hả, Henry?

Anh đã ở đâu?"

"Ồ, em biết đấy, chỗ này chỗ kia."

Cơn thịnh nộ bắt đầu dâng lên và chuẩn bị nhấn chìm cô.

Biết bao nhiêu năm cô đã phải sống một mình.

Biết bao nhiêu năm cô không có ai ở bên.

Và giờ Henry ở đây, mặt mũi sáng sủa, cao ráo, đẹp trai, nói năng liến thoắng như thể chẳng có chuyện gì xảy ra.

Cô đấm vào ngực gã bằng cả hai nắm đấm.

"Anh bỏ con bé ở lại!" cô khóc.

"Anh bỏ con bé ở lại!

Anh bỏ con em ở lại!"

Gã nắm lấy tay cô và nói, "Không!

Chính em mới là người bỏ đi!

Chính là em!

Anh là người đã ở lại.

Người duy nhất ở lại!

Ý anh là,

em còn hỏi anh đã ở đâu ư?

Em đã ở chỗ quái nào thế?"

"Em đã ở..." cô bắt đầu, nhưng rồi cô buông nắm đấm ra và thả tay xuống.

"Em đã ở địa ngục."

Họ im lặng trong giây lát.

Sau đó Lucy lùi lại và gọi Marco ra với cô.

"Marco ơi," cô nói.

"Đây là Henry.

Henry là bác của con.

Henry, đây là con trai em.

Và kia là Stella, con gái em."

Marco nhìn mẹ, nhìn sang Henry, rồi quay lại nhìn mẹ.

"Con không hiểu, chuyện này thì có liên quan gì đến em bé cơ chứ?"

"Henry là..." cô bắt đầu.

Cô thở dài và bắt đầu lại từ đầu.

"Có một em bé sống cùng với tất cả bọn mẹ khi mẹ và Henry còn nhỏ.

Bọn mẹ phải bỏ em bé lại ở đây bởi vì... biết nói thế nào nhỉ, bởi vì bọn mẹ phải làm như thế.

Và cũng giống như mẹ, Henry đến đây để gặp em bé, giờ thì cô bé ấy đã trưởng thành."

Henry hắng giọng và nói, "Ừm."

Lucy quay sang nhìn anh mình.

"Anh gặp con bé rồi," gã nói.

"Anh đã gặp Serenity.

Con bé đã ở đây.

Trong ngôi nhà này."

Lucy khẽ thở dốc.

"Ôi Chúa ơi.

Con bé có ổn không?"

"Con bé ổn," gã trả lời, "khỏe mạnh bình thường.

Xinh như tranh vẽ."

"Nhưng con bé ở đâu?" cô hỏi.

"Giờ con bé đang ở đâu?"

"Chà, hiện giờ con bé đang ở chỗ một người bạn cũ của chúng ta, Clemency."

Lucy hít một hơi thật sâu.

"Clemency ư!

Ôi Chúa ơi.

Cô ấy ở đâu?

Giờ cô ấy sống ở đâu?"

"Anh tin là Clemency đang ở Cornwall.

Đây, nhìn này."

Henry bật điện thoại lên và chỉ cho cô xem một dấu chấm đang nhấp nháy trên bản đồ.

"Đây là Serenity," gã ta nói, chỉ vào dấu chấm.

"Số mười hai, đường Maisie, Penreath, Cornwall.

Anh đã đặt một thiết bị theo dõi vào trong điện thoại của con bé.

Chỉ để đảm bảo chúng ta sẽ không để mất con bé một lần nữa."

"Nhưng làm sao anh biết Clemency ở đó?"

"A ha," gã nói, đoạn thoát ra khỏi ứng dụng hiển thị vị trí của Serenity và mở một ứng dụng khác lên.

Gã ấn vào một mũi tên trên một thanh ghi âm.

Và bỗng nhiên những tiếng nói bắt đầu phát ra.

Hai người phụ nữ đang thì thầm nói chuyện.

"Con bé đang nói đấy à?"

Lucy hỏi.

"Đấy là Serenity đúng không?"

Gã lắng nghe.

"Đúng vậy, anh nghĩ đó là Serenity," gã nói, tay ấn tăng âm lượng.

Một giọng nói nữa chen vào.

"Và đó," gã nói, "là Clemency.

Nghe này."
 
Gia Đình Lầu Trên
58


Clemency đã nhờ Miller đi ra ngoài để hai người họ được ở một mình.

Cô ta muốn nói chuyện riêng với Libby.

Thế là Miller dắt chó đi dạo.

Clemency khoanh đôi chân dài của mình trên ghế xô-pha và chầm chậm bắt đầu.

"Kế hoạch là bọn cô sẽ giải cứu đứa bé.

Henry sẽ cho người lớn uống thuốc ngủ mà anh ta bào chế, rồi bọn cô sẽ lấy trộm giày trong thùng ở phòng của David và Birdie, lấy thêm vài bộ quần áo bình thường, lấy cả tiền và bế đứa bé đi, sau đó bọn cô sẽ lấy chìa khóa từ trong túi của cha cô và chạy xuống đường để tìm một chú cảnh sát hay một người lớn nào đó trông có vẻ đáng tin cậy, nói với họ rằng bọn cô đã bị giam giữ trong nhà như tù nhân suốt nhiều năm qua.

Sau đó tất cả bọn cô sẽ tìm cách xuống đây với mẹ của cô.

Nhưng lúc đó bọn cô chưa tìm ra cách gì để liên lạc với bà ấy cả.

Điện thoại công cộng, rồi để bà ấy tự trả tiền, một cái cánh và một lời cầu nguyện chăng?"

Clemency cười nhạt.

"Như cháu cũng thấy đấy, bọn cô suy nghĩ chuyện này chưa thực sự thấu đáo.

Bọn cô chỉ muốn ra khỏi căn nhà đấy mà thôi.

"Và rồi một ngày cha cô thông báo là ông sẽ tổ chức một bữa tiệc mừng sinh nhật thứ ba mươi của Birdie.

Henry gọi bọn cô vào trong phòng.

Lúc này anh ta như kiểu lãnh đạo không chính thức của bọn cô, cô đoán vậy.

Và anh ta nói hôm đấy tất cả sẽ hành động.

Trong bữa tiệc sinh nhật của Birdie.

Anh ấy nhờ cô may cho một chiếc túi nhỏ ở trong quần để anh ta giấu mấy lọ thuốc ngủ vào trong đấy.

Và rồi tất cả những gì bọn cô cần làm là giả vờ như bọn cô rất hào hứng với bữa tiệc sinh nhật của Birdie.

Thậm chí cô với Lucy còn học một bài violin mới cho cô ta."

"Còn Phin thì sao ạ?"

Libby hỏi.

"Phin đã ở đâu khi tất cả những chuyện này xảy ra?"

Clemency thở dài.

"Hầu hết thời gian là Phin ở một mình.

Và Henry không muốn anh ấy tham gia.

Hai người đó..."

Cô ta lại thở dài.

"Mối quan hệ của hai người đó rất độc hại.

Henry yêu Phin.

Nhưng Phin lại ghét Henry.

Tất nhiên thêm vào đó là Phin bị ốm nữa."

"Ông ấy bị làm sao ạ?"

"Bọn cô không biết.

Cô tự hỏi không biết có phải anh ấy bị ung thư hay gì đó đại loại thế hay không.

Đó là lý do tại mẹ cô và cô luôn nghĩ, cháu cũng biết đấy, là anh ấy đã qua đời."

cũng biết đấy, là anh ấy đã qua đời.Clemency tiếp tục.

"Hôm bữa tiệc diễn ra ai cũng rất căng thẳng.

Cả ba bọn cô.

Nhưng bọn cô vẫn cố giả vờ là bọn cô rất háo hức với bữa tiệc ngu ngốc đó.

Mà thực ra bọn cô cũng háo hức thật.

Đối với bọn cô đó là bữa tiệc của tự do.

Ở đầu kia của bữa tiệc là một cuộc sống bình thường.

Hay ít nhất là một cuộc sống khác.

"Cô và Lucy biểu diễn bài violin tặng Birdie, để làm người lớn phân tâm trong lúc Henry nấu ăn và thật lạ là sự tương phản giữa cha cô và Birdie với những người khác lại có thể rõ ràng đến như vậy.

Như cháu cũng biết đấy, tất cả bọn cô nhìn ai cũng rất ốm yếu.

Nhưng Birdie với cha cô, trông bọn họ thực sự mãn nguyện và tràn đầy sức sống.

Cha cô ngồi, tay vắt lên vai Birdie, đôi mắt ông ấy hiện rõ sự thống trị hoàn toàn và tuyệt đối."

Clemency bấu tay vào tấm đệm dưới đùi.

Ánh mắt cô ta đanh lại đầy khó nhọc.

"Như thể," cô ta tiếp tục, "như thể ông ấy đã 'cho phép' người phụ nữ của mình được có bữa tiệc này vậy, từ trong sâu thẳm trái tim ông, như thể ông đang nghĩ: hãy nhìn vào những niềm vui do chính tôi tạo nên.

Nhìn đi, tôi có thể làm bất cứ điều gì tôi muốn và mọi người vẫn sẽ tôn thờ tôi."

Giọng cô ta bắt đầu nức nở, Libby lấy tay chạm nhẹ vào đầu gối Clemency.

"Cô ổn chứ?"

Libby hỏi.

Cô ta gật đầu.

"Cô chưa kể với ai chuyện này bao giờ," cô ta nói.

"Kể cả mẹ cô, chồng cô, con gái cô.

Rất khó nói.

Cháu biết đấy.

Kể về cha của cô.

Về con người ông.

Và về chuyện đã xảy ra với ông ấy.

Bởi vì dù có chuyện gì đi chăng nữa, ông ấy vẫn là cha cô.

Và cô yêu ông ấy."

Libby nhẹ nhàng chạm lên tay Clemency.

"Cô chắc là cô vẫn ổn để tiếp tục kể chứ?"

Clemency gật đầu và duỗi thẳng vai.

Cô ta tiếp tục.

"Bình thường các đĩa thức ăn sẽ được đặt ở giữa bàn để mọi người tự lấy, nhưng tối hôm đó Henry muốn phục vụ cả nhà, như thể ở trong nhà hàng vậy.

Bằng cách ấy anh ta có thể đảm bảo đĩa của người nào được

đặt đúng vị trí của người ấy.

Sau đó cha cô nâng cốc chúc mừng, ông đưa cái cốc đi quanh bàn, đến từng người một, và ông ấy nói, 'Tôi biết cuộc đời không phải lúc nào cũng dễ dàng với tất cả chúng ta, đặc biệt là những người đã trải qua mất mát.

Tôi biết đôi khi chúng ta cảm thấy việc giữ được đức tin là rất khó khăn, và thực sự nó là như thế, nhưng thực tế là chúng ta vẫn ở đây, sau tất cả những gì đã xảy ra, qua nhiều năm, và chúng ta vẫn là một gia đình, và giờ, chúng ta còn là một gia đình lớn hơn,' ông vừa nói vừa xoa tay lên đầu cháu.

Và rồi ông quay sang Birdie và nói..."

Clemency dừng lại để lấy hơi.

"Ông ấy nói, 'Tình yêu của anh, cuộc sống của anh, mẹ của con anh, thiên thần của anh, lý do sống của anh, nữ thần của anh.

Chúc mừng sinh nhật em yêu.

Anh nợ em tất cả mọi thứ,' và rồi họ hôn nhau, và nụ hôn của họ vừa lâu vừa ướt át, không những thế họ còn hôn thành tiếng và cô nhớ cô đã nghĩ rằng..."

Cô ta dừng lại một lúc, ánh mắt cô ta nhìn Libby rất đáng thương.

"Cô nghĩ: Tôi thực sự thực sự hy vọng hai người chết quách đi cho rồi.

"Phải mất đến hai mươi phút liều thuốc mới bắt đầu có tác dụng.

Ba hay bốn phút sau đó tất cả người lớn trong nhà đều bất tỉnh.

Lucy ôm lấy cháu từ trong lòng Birdie và bọn cô bắt đầu hành động.

Henry nói với bọn cô là bọn cô chỉ có khoảng hai mươi phút, cùng lắm là nửa tiếng, trước khi thuốc bắt đầu hết tác dụng.

Bọn cô đặt bốn người lớn xuống sàn bếp, rồi cô lục áo choàng của cha cô để tìm cái túi da.

Ở trên cầu thang cô cứ cứ dò dẫm dò dẫm mãi cho đến khi cô tìm được cái chìa khóa mở cửa phòng của cha cô và Birdie.

"Và, lạy Chúa, cô cảm thấy bị sốc.

Henry đã nói trước cho bọn cô biết là bọn cô nên trông đợi những gì, nhưng kể cả thế, nhìn thấy tất cả mọi thứ ở trong phòng; những món đồ tuyệt đẹp của Henry và Martina vẫn được giữ lại và tích trữ, những món đồ cổ, nước hoa, mỹ phẩm, trang sức và rượu.

Henry nói, 'Nhìn đi.

Nhìn tất cả những thứ đồ này đi.

Trong khi chúng ta chẳng có gì.

Đây là tội ác.

Em đang chứng kiến một tội ác.'

"Năm phút đã trôi qua trong khoảng ba mươi phút mà bọn cô dự kiến.

Cô tìm thấy tã lót, quần áo trẻ em, bình sữa.

Sau đó cô nhận ra là Phin đang đứng sau lưng mình.

Cô nói, 'Nhanh lên!

Tìm lấy bộ quần áo mà mặc.

Anh cần phải giữ ấm.

Ngoài kia trời lạnh lắm.'

"Anh ấy nói, 'Anh không nghĩ là anh làm được.

Anh yếu quá rồi.'

"Cô nói, 'Nhưng bọn em không thể để anh ở lại đây được, Phin ơi.'

"Anh ấy đáp, 'Anh không thể!

Anh không thể làm được.

Được chứ?'

"Lúc đấy gần mười phút đã trôi qua và bọn cô không thể dành thêm thời gian để thuyết phục anh ấy được nữa.

Cô nhìn Henry cho tiền mặt vào trong một cái túi.

Cô nói, 'Chúng ta có nên để chỗ đấy lại làm bằng chứng không?

Cho cảnh sát thấy?'

"Nhưng anh ấy đáp, 'Không.

Chỗ này là của anh.

Anh sẽ không để nó lại.'

"Trong lúc đấy cháu đang đang gào khóc.

Henry hét lên, 'Vì Chúa!

Dỗ cho con bé im miệng lại!'

"Và rồi có tiếng chân ai bước lên cầu thang đằng sau bọn cô.

Một giây sau cửa mở và Birdie xuất hiện.

Trông cô ta điên rồ, các động

tác hầu như không ăn khớp với nhau.

Cô ta loạng choạng bước vào phòng, dang tay về phía Lucy, nhắc đi nhắc lại, 'Đưa em bé đây cho tôi!

Đưa nó cho tôi.'

"Và rồi Birdie lao tới," Clemency nói.

"Sà ngay đến chỗ cháu.

Và âm mưu của Henry lúc này đã bại lộ.

Anh ấy hét ầm lên vào mặt tất cả mọi người.

Phin chỉ đứng đó, trông có vẻ như sắp ngất đến nơi.

Còn cô thì đông cứng lại, thật đấy.

Bởi vì cô nghĩ rằng nếu Birdie tỉnh rồi thì tất cả mọi người cũng đã tỉnh.

Rằng bố cô cũng đã tỉnh.

Và mọi người sẽ xuất hiện bất cứ lúc nào và bọn cô sẽ bị nhốt trong phòng cho đến hết đời.

Tim cô đập loạn lên.

Cô cảm thấy sợ vô cùng.

Và rồi, cô không biết, cô cũng không hoàn toàn chắc chắn điều gì đã xảy ra, nhưng đột nhiên cô thấy Birdie ngã ra sàn.

Cô ta nằm trên sàn và có gì đó như máu rỉ ra từ trong khóe mắt của cô ta.

Như những giọt lệ đỏ vậy.

Và tóc của cô ta, ở ngay đây."

Clemency chỉ tay lên trên tai mình.

"Nó sẫm và bết lại.

Rồi cô quay sang nhìn Henry, anh ấy đang cầm một chiếc ngà."

Libby nhìn cô ta đầy thắc mắc.

"Nhìn nó giống như một chiếc ngà.

Một chiếc ngà voi.

Hay gạc của con hươu.

Đại loại vậy."

Libby nghĩ về video nhạc pop mà Phin đã cho cô và Miller xem.

Cô nghĩ về những chiếc đầu động vật thấp thoáng trên các bức tường và những con cáo nhồi bông đứng trên những chiếc bàn bằng gỗ gụ khổng lồ như thể chúng vẫn còn sống.

"Ở trên đấy có máu, một vệt máu.

Và nó ở trong tay Henry.

Và tất cả bọn cô ngừng thở.

Vài giây.

Kể cả cháu cũng thế.

Và ngôi nhà hoàn toàn im lặng.

Bọn cô đang cố nghe tiếng của những người

khác.

Bọn cô đang cố nghe tiếng thở của Birdie.

Lúc trước cô ta thở phì phò.

Nhưng giờ thì cô ta ngừng hẳn.

Một giọt máu nhỏ xíu từ trên tóc cô ta rơi xuống thái dương, rồi xuống mắt cô ta..."

Clemency dùng ngón tay để miêu tả trên chính khuôn mặt mình.

"Cô nói, 'Cô ta chết rồi sao?'

"Henry đáp, 'Im đi.

Im ngay đi, để anh nghĩ.'

"Cô đến bên cạnh để kiểm tra nhịp tim của cô ta và Henry đẩy cô ra.

Đẩy cô mạnh đến nỗi cô ngã cả ra đằng sau.

Anh ấy hét lên, 'Để cô ta ở đấy!

Để yên cô ta ở đấy!'

"Rồi Henry chạy xuống nhà.

Anh ta nói, 'Ở yên đây.

Cứ ở yên đây.' Cô nhìn Phin.

Anh ấy đang toát hết cả mồ hôi.

Cô nghĩ là anh ấy chuẩn bị ngất đến nơi.

Nên cô dìu anh về giường.

Rồi Henry quay trở lại.

Trông anh ấy xám xịt.

Anh ấy nói, 'Điều gì đó đã xảy ra.

Có điều gì đó không đúng.

Tôi không hiểu nổi.

Tất cả những người khác.

Họ chết cả rồi.

Tất cả bọn họ.'"

Những lời cuối phát ra từ miệng Clemency như những tiếng thở đầy khó nhọc.

Mắt cô ta đẫm lệ, tay cô ta đưa lên miệng.

"Tất cả bọn họ.

Cha cô.

Cha mẹ của Henry.

Và Henry cứ nói đi nói lại, 'Tôi không hiểu, tôi không hiểu.

Tôi có cho uống mấy đâu.

Mỗi một tí, còn chẳng đủ để giết chết một con mèo nữa là.

Tôi không hiểu.'

"Và rồi đột nhiên, toàn bộ kế hoạch này, nhiệm vụ giải cứu tuyệt vời này, đáng lẽ ra nó phải giúp bọn cô tìm lại được tự do, nhưng giờ thì nó đã bẫy tất cả bọn cô lại.

Làm sao bây giờ bọn cô có thể chạy xuống đường và đi tìm một chú cảnh sát thân thiện được cơ chứ?

Bọn cô đã giết bốn người.

Bốn người liền."

Clemency ngừng lại một lúc để lấy hơi.

Libby để ý thấy tay cô ta

đang run lên.

"Và giờ bọn cô phải chăm sóc một đứa trẻ con và tất cả mọi thứ, tất cả mọi thứ chỉ là...

Chúa ơi, cháu làm ơn đi ra vườn với cô được không?

Cô cần hút một điếu thuốc."

"Vâng.

Tất nhiên là được rồi ạ," Libby nói.

Sau vườn của Clemency toàn những khung giường sứt mẻ và những chiếc xô-pha bằng mây đan.

Buổi sáng giờ cũng đã muộn rồi và mặt trời đã di chuyển lên đến quá đầu, nhưng đằng sau nhà có nhiều bóng râm, không khí mát mẻ.

Clemency rút một bao thuốc lá ra từ dưới ngăn của chiếc bàn uống nước.

"Kho chứa bí mật của cô đấy," cô ta nói.

Đằng sau bao thuốc có ảnh của một người bị ung thư khoang miệng.

Libby cảm thấy khó chịu khi nhìn thấy nó.

Tại sao, cô tự hỏi, tại sao người ta lại hút thuốc?

Khi mà người ta biết rõ hút thuốc có thể gây ra những bệnh chết người.

Mẹ cô cũng hút thuốc.

"Những chàng trai của bà," bà gọi thuốc lá như thế.

Những chàng trai của tôi đâu rồi?

Cô quan sát Clemency cầm một que diêm ở đầu cây thuốc lá, hít vào một hơi, rồi thở ra.

Ngay lập tức, tay cô ta ngừng run.

Cô ta nói, "Cô nói đến đâu rồi nhỉ?"
 
Gia Đình Lầu Trên
59


Tôi biết mọi chuyện nghe có vẻ như một thảm họa khủng khiếp.

Tất nhiên là như thế rồi.

Bất kỳ tình huống nào liên quan đến bốn cái xác chết đều không thể coi là một kết quả lý tưởng được.

Nhưng có điều mà dường như không ai nhận ra, là nếu không có tôi, lạy Đấng cứu thế toàn năng, thì tất cả chúng tôi có thể vẫn mắc kẹt trong ngôi nhà đấy, như những bộ xương trung niên, và bỏ lỡ cả tuổi thanh xuân của mình.

Hoặc có khi chết rồi cũng nên.

Đúng vậy, đừng quên là chúng tôi có thể đã chết ở trong căn nhà ấy.

Và vâng, đúng vậy, mọi chuyện không đi đúng theo kế hoạch, nhưng ít nhất là chúng tôi cũng đã thoát được ra.

Chúng tôi đã thoát được ra.

Và cũng có ai có kế hoạch nào khác đâu, đúng không?

Đâu có ai xung phong đứng lên làm đầu tàu.

Chỉ trích thì dễ thôi.

Chỉ huy mới là khó.

Không những tôi phải giải quyết bốn cái xác chết, thêm một đứa trẻ sơ sinh, hai đứa con gái tuổi teen, mà tôi còn phải xử lý cả Phin nữa.

Nhưng đầu óc Phin có vẻ không được tỉnh táo, và lúc này cậu ấy chẳng khác gì một cục nợ cả, thế nên để mọi thứ dễ dàng hơn,

tôi nhốt cậu ấy vào phòng.

Vâng, tôi biết.

Nhưng tôi cần thời gian để suy nghĩ.

Chúng tôi nghe thấy tiếng Phin gào khóc trong phòng cậu ấy ở trên tầng.

Mấy đứa con gái muốn lên với cậu ấy, nhưng tôi nói, "Không, ở yên đây.

Chúng ta cần phải hợp tác với nhau.

Đừng đi đâu cả."

Việc đầu tiên tôi cần giải quyết là Birdie.

Thật kỳ lạ khi được nhìn thấy cô ta như thế này, nhỏ bé và bầm dập, vậy mà đây cũng chính là người đã kiểm soát cuộc đời chúng tôi suốt bao nhiêu lâu nay.

Cô ta đang mặc cái áo mà Clemency may tặng nhân dịp sinh nhật, cùng sợi dây chuyền David đưa cho cô ta.

Mái tóc dài của cô ta quấn lại thành một búi.

Đôi mắt nhợt nhạt của cô ta nhìn chằm chằm vào bức tường.

Một bên nhãn cầu của cô ta đỏ rực lên.

Chân cô ta để trần và xương xẩu, móng chân dài và hơi vàng.

Tôi tháo sợi dây chuyền của cô ta ra và đút vào túi.

Clemency đang khóc.

"Thật đáng buồn," con bé nói.

"Thật đáng buồn!

Cô ấy là con gái của một ai đó!

Và giờ thì cô ấy chết rồi!"

"Chẳng đáng buồn chút nào cả," tôi buông lời gắt gỏng.

"Cô ta chết là đáng."

Tôi và Clemency vác cô ta lên tầng áp mái và sau đó là lên mái nhà.

Cô ta rất nhẹ.

Ở phía bên kia mái bằng, nơi tôi đã từng ngồi nắm tay Phin, có một cái máng nước.

Ở trong máng có đầy lá khô, và từ đấy dẫn đến một cái ống thoát nước chạy xuống bên hông nhà.

Chúng tôi quấn cô ta lại trong khăn tắm và ga trải giường, rồi nhét cô ta xuống đó.

Sau đó chúng tôi lấy lá khô phủ lên, cùng mấy miếng giàn giáo cũ chúng tôi tìm thấy được ở trên mái.

Xong xuôi tôi đi xuống bếp và thản nhiên nhìn ba cái xác chết.

Tôi không thể để những gì đã xảy ra cứ níu kéo tâm trí mình mãi.

Tôi giết chết chính cha mẹ mình.

Người mẹ xinh đẹp, ngu ngốc của tôi, và người cha đáng thương, suy nhược của tôi.

Tôi phải tự tránh xa sự thật rằng vì tôi mà mẹ sẽ không bao giờ vuốt tóc tôi và gọi tôi là cậu bé đẹp trai của mẹ được nữa, rằng tôi cũng sẽ không bao giờ được ngồi ở trong câu lạc bộ nhìn cha tôi im lặng uống nước chanh.

Ngày Giáng sinh tôi sẽ không còn gia đình để mà đoàn tụ, sau này nếu tôi có con thì con tôi cũng sẽ không bao giờ được gặp ông bà, tôi cũng sẽ chẳng có ai để mà săn sóc lúc tuổi già, và cũng sẽ chẳng có ai lo lắng cho tôi khi tôi già đi.

Tôi là một đứa trẻ mồ côi.

Một đứa trẻ mồ côi, và một kẻ giết người vô ý.

Nhưng tôi không hoảng loạn.

Tôi tự kiểm tra cảm xúc của mình, nhìn ba cái xác nằm dài trên sàn và tôi nghĩ: Trông họ giống như những thành viên của một giáo phái.

Tôi nghĩ: Ai bước vào đây lúc này cũng sẽ nhìn những chiếc áo choàng màu đen họ đang mặc và nghĩ là họ đã tự tử.

Và rõ ràng đó là điều tôi cần làm.

Tôi cần dàn cảnh một vụ tự tử tập thể.

Chúng tôi sắp xếp lại những đồ dùng cá nhân của họ để hiện trường trông giống "một bữa tối cuối cùng" hơn là một "bữa tiệc sinh nhật mừng tuổi ba mươi phù phiếm".

Chúng tôi bỏ mấy cái đĩa thừa đi.

Chúng tôi rửa nồi niêu xoong chảo và vứt đống đồ ăn thừa.

Chúng tôi đặt lại ba cái xác về cùng một hướng.

Tôi ấn dấu vân tay của họ vào những lọ rỗng, đặt từng lọ lên bàn, rồi sắp xếp như thể họ đã uống cả ba chai thuốc độc cùng một lúc.

Chúng tôi không nói gì.

Tôi cảm thấy linh thiêng đến lạ.

Tôi hôn má mẹ tôi.

Người bà rất lạnh.

Tôi hôn lên trán cha tôi.

Và rồi tôi nhìn David.

Ông ta nằm ở đó, đúng như Phin dự đoán nhiều tháng trước đó, người đàn ông này đã khiến cho cuộc đời tôi trở nên tan nát.

Người đàn ông này đã hủy hoại tất cả chúng tôi, đánh chúng tôi, không cho chúng tôi ăn, cướp đi tự do của chúng tôi, lấy hộ chiếu của chúng tôi, làm mẹ tôi và em gái tôi có bầu, và cố chiếm đoạt căn nhà của chúng tôi.

Tôi đã kết thúc sự tồn tại đáng khinh của ông ta và tôi cảm thấy hân hoan vì mình đã chiến thắng.

Nhưng tôi cũng tự cảm thấy ghê tởm khủng khiếp.

Nhìn ông mà xem, tôi những muốn nói, cứ nhìn ông mà xem, cuối cùng thì trông ông có khác gì một thằng thất bại không.

Tôi muốn đạp chân lên mặt David và nghiền nát nó ra thành một cục bột đầy máu, nhưng tôi cố kháng cự niềm thôi thúc ấy lại và đi lên phòng của David và Birdie.

Chúng tôi dọn tất cả chỗ hộp ở trong phòng.

Trong một cái hộp, chúng tôi tìm thấy một chồng túi rút dây ngu ngốc mà Birdie đã làm để mang ra chợ Camden bán, và chúng tôi nhồi nhét vào trong đó nhiều đồ đạc nhất có thể.

Chúng tôi tìm thấy gần bảy nghìn bảng Anh tiền mặt và chúng tôi chia ra thành bốn.

Chúng tôi cũng tìm thấy trang sức của mẹ tôi, khuy măng sét bằng vàng, lót cổ áo bằng bạch kim và một hộp đựng đầy rượu whiskey của cha tôi.

Chúng tôi đổ chỗ rượu whiskey xuống bồn rửa và đặt những cái chai rỗng cạnh những chai rượu sâm-panh rỗng ở trước cửa.

Chúng tôi cho trang sức vào trong túi.

Rồi chúng tôi cắt những chiếc thùng các-

tông ra và xếp chúng thành một chồng.

Sau khi căn nhà đã chẳng còn bất cứ thứ gì để khiến ai đó nghi ngờ rằng đây không phải một giáo phái, chúng tôi lẳng lặng bỏ đi, từ cửa trước, ra đến dòng sông.

Giờ cũng đã tờ mờ sáng rồi.

Khoảng ba giờ gì đó.

Có vài chiếc xe chạy qua, nhưng không có ai chạy chậm lại hay để ý gì đến chúng tôi.

Chúng tôi đứng trước sông, ngay ở chỗ mà cuộc ẩu đả giữa tôi và Phin đã xảy ra mấy năm trước, để cuối cùng tôi bị rơi xuống và nhìn thấy ma quỷ dưới làn nước tối om.

Tôi cảm thấy đủ bình tĩnh để trân trọng sự tự do của mình sau hai năm.

Sau khi nhét những chiếc chai rỗng, cái quần lót lụa, mấy chai nước hoa, và những bộ váy dạ hội của mẹ tôi vào trong một cái túi đựng thêm đá và vứt xuống sông, chúng tôi đứng ở đó một lúc.

Tôi nghe thấy tiếng lũ chúng tôi đang hít thở, trong chốc lát, vẻ đẹp cùng sự bình yên của giây phút này đang làm lu mờ đi những nỗi kinh hoàng đã xảy ra.

Làn không khí bốc lên từ dòng sông đen kịt đặc quánh mùi dầu, tràn đầy sinh lực.

Nó có mùi như tất cả những gì chúng tôi đã bỏ lỡ kể từ thời điểm David Thomsen bước chân vào nhà chúng tôi, từ ngày ông ta và gia đình ông ta chuyển đến sống ở lầu trên.

"Ngửi đi," tôi nói, quay sang hai đứa con gái.

"Cảm nhận đi.

Chúng ta làm được rồi.

Chúng ta thực sự làm được rồi."

Clemency thầm khóc.

Con bé sụt sịt, lau đầu mũi bằng mu bàn tay.

Nhưng tôi có thể thấy là cả Lucy cũng cảm nhận được điều đó, cảm nhận được sức mạnh của những gì chúng tôi vừa làm.

Và nếu không phải vì cháu, Serenity, thì mẹ cháu đã yếu đuối hơn rất nhiều.

Con bé sẽ ngồi khóc thương cho mẹ mình, xì mũi vào lòng

bàn tay như Clemency.

Nhưng vì Lucy có cháu, con bé hiểu là còn có nhiều điều quan trọng hơn cái danh nghĩa là đứa con yêu quý của cha và mẹ.

Cằm mẹ cháu hất lên, dũng cảm, gần như nổi loạn.

Tôi rất tự hào về mẹ cháu.

"Chúng ta sẽ ổn thôi," tôi nói với con bé.

"Em biết điều đó, phải không?"

Con bé gật đầu và chúng tôi đứng ở đấy thêm một hai phút nữa, cho đến khi chúng tôi nhìn thấy ánh đèn của một con tàu lai dắt đang hướng về phía chúng tôi.

Chúng tôi lao đi, phóng qua đường và trở về nhà.

Và đó là khi điều ấy xảy ra.

Clemency chạy mất.

Con bé không đi giày.

Chỉ có mỗi tất mà thôi.

Chân nó to nên không đi vừa những đôi giày cũ của mẹ tôi mà Birdie đã giữ lại, còn giày của David thì lại to quá.

Trong giây lát, tôi đã nhìn con bé chạy.

Tôi để một hai phút do dự không biết nên làm gì trôi qua, sau đó tôi rít lên với Lucy: "Chạy ngay vào trong nhà, chạy ngay vào trong nhà."

Và sau đó tôi quay gót đuổi theo Clemency.

Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra những gì tôi đang làm chỉ gây thêm sự chú ý.

Có vài cái bóng đang lang thang trên phố: hôm đó là tối thứ Năm, những người trẻ đang đi về nhà từ những chuyến xe buýt đêm trên phố King's Road.

Tôi biết giải thích thế nào cơ chứ, khi tôi đang mặc áo chùng đen, đuổi theo một cô gái trẻ cũng mặc áo chùng đen nốt, đang trong trạng thái sợ hãi, chân lại không mang giày?

Tôi dừng lại ở góc phố Beaufort.

Tim tôi, vốn đã không quen với việc chạy từ rất lâu rồi, đập thình thịch dưới lồng ngực của tôi như một quả pít tông, đến nỗi tôi nghĩ là tôi sắp nôn ra đến nơi.

Tôi đổ sụp xuống, nghe tiếng không khí đi ra rồi đi vào cơ thể mình như một con vật nuôi bị bóp cổ.

Tôi quay lại và từ từ đi về nhà.

Lucy đang đợi tôi ở hành lang.

Cháu đang ngồi trong lòng con bé, bú sữa mẹ.

"Bạn ấy đâu rồi?" con bé hỏi.

"Clemency ấy?"

"Đi rồi," tôi nói. vẫn thở hổn hển.

"Nó đi mất rồi..."
 
Back
Top Bottom