Làng Phù Ủng mưa rơi rả rích suốt mấy ngày liền, sau cùng trời cũng hửng nắng.
Phạm Bân ngồi trong y quán chuyên tâm xắp những tán thuốc ra cái mẹt để mang ra phơi ngoài sân, mấy ngày mưa khiến không khí ẩm ướt làm thuốc lá cũng ảnh hưởng ít nhiều.
Đương lúc bưng cái mẹt cuối cùng ra sân thì thằng cu Dần từ ngoài hớt hải chạy vào, trên tay cầm một phong thư.
"Anh Bân, có người gửi thư cho anh từ kinh thành nè."
Phạm Bân thoáng ngỡ ngàng, chưa đoán ra được người nào gửi thư, xong cũng xoa xoa đầu cu Dần, nói:
"Cho anh xin."
Cu Dần cười híp mắt, lễ phép đưa phong thư cho cậu rồi lại hí hửng chạy đi chỗ khác.
Phạm Bân đặt nốt cái mẹt lên giá phơi rồi mới trở lại phòng, ngồi xuống chiếc ghế gần cửa sổ, mở phong thư ra đọc.
Hoá ra là thư của bác cả trên kinh thành, trong thư cũng không viết nhiều, chỉ bảo dạo này bác cả lâm bệnh nặng nên muốn vời cậu lên kinh để giúp bác trông coi tiệm thuốc.
Bác cả không có con cái, trước nay vẫn luôn yêu quý cậu hết mực.
Lần này bác gửi thư đến tận đây, e rằng cậu phải đi một chuyến lên kinh.
.oOo.
Đầu kiếm gỗ sượt qua tóc mai, Minh Chí nhanh nhẹn né tránh, tay phải cầm kiếm thừa cơ vung lên đỡ đồng thời đâm chọt về phía trước.
Bóng hai người thanh, thiếu niên đổ dưới nền cỏ uyển chuyển đều đặn mỗi khi người kia ra đòn, còn lại phòng thủ, lúc giao nhau, lúc tan rã.
Đánh nhau trên dưới năm mươi hiệp, cả hai mới thấm mệt bèn kết thúc hiệp cuối để phân thắng bại.
Sau cùng vì một phút bẩn cẩn, đầu kiếm gỗ của hắn đã kề lên cổ Minh Chí chỉ trong thời khắc ngắn ngủi.
"Giang, giỏi lắm, tôi thua rồi."
Giang là cái tên mà Minh Chí đã vắt óc ra để đặt cho hắn.
Chàng bảo bởi hắn được vớt từ dưới sông lên, mà sông trong tiếng hán chính là giang.
Đương ấy, hắn chỉ biết gật đầu chấp nhận cái tên mới, ngẫm lại đúng là có ý nghĩa sâu xa.
"Quá khen, do anh nhường thôi."
Hắn khiêm tốn cười cười cũng khiến chàng bớt thẹn.
"Không ngờ anh mất trí mà thân thủ vẫn giỏi như vậy.
Xem chừng có khi anh xuất thân từ con nhà võ."
"Nghe anh nói cũng có lý."
Hắn không nhớ gì về thân thế của mình, tất nhiên càng không nhớ loại võ nghệ mình đã từng học.
Chỉ là mỗi lần giao đấu với Minh Chí, trong đầu hắn lại xoẹt qua vài hình ảnh chớp nhoáng về chiêu thức rồi tay chân cứ theo đó mà hành động, tựa như một loại phản xạ tự nhiên.
Minh Chí toan hỏi xem rốt cục hắn có nhớ ra điều gì không thì thấy qua vai hắn là Phạm Bân, tay xách con cá quả đang tiến đến gần, vừa tới cậu ta đã oang oang:
"Các anh lại đấu võ đấy hả?"
"Ừm.
Bọn tôi vừa giao đấu vài hiệp xong, cảm thấy thật thoải mái."
Minh Chí đáp.
"Giang, cái tên này...
ừm tôi không quen lắm.
Anh vừa mới khoẻ, không nên vận động mạnh."
Phạm Bân quay sang hắn nhìn sắc mặt hơi tái đi, mồ hôi nhễ nhãi khắp thân nên nói vài câu nhắc nhở.
"Ta khoẻ rồi, không sao cả."
Giang xuề xoà cười cười.
Nói vài câu gợi chuyện xong, Phạm Bân bỗng nghiêm mặt đưa con cá quả khá to ra trước mặt mà nói.
"Lúc tới đây thấy con cá ngon quá nên tôi đã mua, tối nay ba người chúng ta đánh chén một trận no nê."
Ngưng lại giây lát, cuối cùng cậu mới đi vào việc chính.
"Ngày kia tôi phải lên kinh thành rồi, có lẽ sẽ khó gặp lại mọi người."
"Kinh thành?"
Không hẹn mà cả Minh Chí và Giang đồng thanh.
"Đúng vậy."
Đáp lại ngắn gọn, không thêm một lời giải thích rõ ràng, chỉ thấy đôi mắt Phạm Bân thoáng buồn trái ngược với khoé môi vẫn tươi cười hớn hở.
...
Bên trong nhà tranh, ánh đèn leo lắt giữa gian nhà soi sáng một khoảng vừa đủ để trông rõ những người ngồi đối diện.
Ba gã thanh, thiếu niên vừa uống rượu vừa chuyện trò vui vẻ, đôi lúc còn phá lên cười rung cái bàn gỗ lâu năm.
Trà dư tửu hậu, ánh trăng xuyên qua khe cửa lẻn vào bên trong nghe ngóng câu chuyện của nhân gian.
Phạm Bân thoáng lặng im, giây sau liền buột miệng:
"Hay là hai anh đi cùng tôi lên kinh, nghe nói ở kinh thành náo nhiệt lắm."
Giang đương đưa chén rượu lên môi thì khựng lại, liếc nhìn Minh Chí ngồi bên cạnh dò xét, song chẳng thấy biểu hiện gì, hắn thoáng do dự nhưng rồi cũng đưa ra quyết định.
"Nếu vậy, ta cũng muốn lên kinh xem thế nào.
Biết đâu chuyến đi này có ích."
Phải, biết đâu hắn tìm được ký ức thì sao?
Minh Chí bấy giờ tay cầm chén rượu liền dứt khoát đưa lên miệng rồi đổ vào, men rượu cay nồng đã chẳng còn khiến người uống say sưa.
Đặt chén rượu xuống bàn, chàng nói:
"Hai người đi đi.
Tôi còn ở đây để chờ."
Phạm Bân cùng Giang không biết chàng muốn chờ ai, chờ điều gì.
Dù cho bọn họ có gặng hỏi thì câu trả lời vẫn chỉ là cái điệu cười nhạt thếch, chàng không bao giờ tiết lộ cho bất cứ ai và cũng chẳng có người nào hứng thú để ép hỏi cả.
Sự tĩnh lặng bao trùm lên gian nhà tranh chẳng mấy chốc cũng bị xé toạc ra bởi tiếng rượu rót vào chén, bởi đôi ba câu nói khơi mào của Phạm Bân.
Cứ thế ba người ngồi bên nhau say một trận cho đến tận khuya.
...
Hai ngày sau, y hẹn.
Phạm Bân và Giang khăn gói lên kinh, bỏ lại sau lưng bóng chàng trai Phù Ủng đưa tiễn đứng trên con đê một mình trông thật cô độc.
Kỳ thực, chàng không thể đi với họ, bởi chàng còn đang chờ một cơ hội của đời mình.
Đi được hơn một ngày, trời bỗng đổ mưa khiến Phạm Bân khó chịu không nén được mà càu nhàu với ông trời.
Mưa như trút cả dòng sông Phú Lương xuống nhân gian, khắp một miền lênh láng nước.
Vừa trông thấy có ngôi miếu dưới gốc đa phía trước, Giang đã mừng rỡ kéo theo Phạm Bân chạy đi.
Từng hạt mưa rơi lộp bộp trên mái, chợt vỡ tung ra thành từng giọt nhỏ rồi trượt dài một quãng hòa vào dòng chảy trong rãnh cùng rơi xuống mặt đất, chết lặng trong một vũng bùn.
Bỗng thấy hai thiếu niên chạy vào miếu, thiếu nữ đang lau chùi ban thờ Thần thoáng giật mình quay đầu lại.
Trông hai người đó áo quần ướt nhẹp như chuột đồng, nàng cố ém nhẹm đi một nụ cười.
Xong cũng chẳng buồn để ý đến, liền quay lưng tiếp tục công việc dang dở.
Phạm Bân khẽ huých tay vào hắn, ánh mắt phong tình nhìn thiếu nữ mà xuýt xoa.
"Không ngờ trong miếu lại có thiếu nữ đẹp đến thế, so với tiên tử chẳng khác là bao."
Giang tròn mắt, gặng hỏi:
"Cậu đã từng gặp tiên nữ rồi ư?"
Phạm Bân đưa mắt nhìn hắn đầy chán nản.
"Chưa."
Không để hắn có cơ hội bắt bẻ, cậu nói tiếp.
"Nếu gặp rồi tôi đâu còn ở đây nữa."
Dáng vẻ yêu kiều, tóc đen dài mềm mượt, nàng mặc viên lĩnh tối màu, mộc mạc.
Riêng chỉ nhìn phía sau thôi cũng đủ khiến Phạm Bân phải cảm thán một lời chắc nịch.
Mưa vẫn rơi ngoài hiên, chẳng nghe thêm lời bình luận của người đi cùng.
Phạm Bân chỉ biết chẹp miệng cho bớt nhàm chán.
Đột nhiên từ bên ngoài có hai người cưỡi ngựa, mặc áo tơi, đội nón lá vừa tới bước vào miếu.
Phạm Bân và hắn biết ý tránh đường cho họ vào.
Thoáng trông một già, một trẻ mặc giáp trụ khi họ cởi áo tơi, cả hai lờ mờ đoán ra họ là người trong quân đội.
Người già râu tóc hoa râm, thân hình cao lớn, dáng vẻ đạo mạo, uy dũng.
Người trẻ thì khác, gương mặt tuy non nớt nhưng phong thái chững chạc dường như đã từng can qua sương gió không ít.
Hai người nọ vào miếu cũng giống bọn Phạm Bân, trú mưa.
Bởi thế nước sông không phạm nước giếng, ngôi miếu cũng không quá chật chội nên mỗi người mỗi góc chỉ nhìn ra ngoài ngắm mưa.
Phía bên trong cấm cung bất chợt có tiếng kêu la của thiếu nữ nọ, cả bốn người giật mình chạy vào.
Thiếu nữ kia mặt mày tái mét, tay trái ôm tay phải.
Vừa nhìn trên mu bàn tay trắng muốt thấy có hai chấm đỏ của máu, Giang nhanh trí đoán ra chuyện vừa xảy ra, liếc mắt sang hướng thiếu nữ nhìn, hắn liền thấy cái đuôi bóng nhẫy bé xíu vừa chui tụt qua khe cửa cấm cung.
"Cô ấy bị rắn cắn, mau... mau giúp cô ấy nặn máu độc."
Phạm Bân nghe thế vội vội vàng vàng mở hộp đồ nghề, chẳng để lỡ mất thời gian, chân tay liến thoắng dùng ngón nghề gia truyền mà nặn độc.
Thực may cho nàng, trong cơn nguy kịch lại gặp được quý nhân, mà đúng ra nọc độc của rắn không quá mạnh, cùng lắm chỉ khiến tay ngưa ngứa một chút.
Nàng được chữa trị, lại nghe Phạm Bân luyên thuyên đủ điều về tài năng của mình thì cũng bớt hoảng sợ.
Mãi sau khí huyết mới lưu thông, tâm trạng đỡ hơn chút.
"Đa tạ công tử đã cứu mạng."
Thiếu nữ kia định quỳ gối vái lạy, nào ngờ Phạm Bân đã đỡ lên.
"Không có gì, cũng may cho cô là gặp được tôi."
Phạm Bân cười vui sướng vừa cứu được giai nhân, lại được nàng mang ơn.
Lúc Giang quay đầu định ra ngoài thì thấy người đàn ông lớn tuổi đứng ngay phía sau, ánh mắt ông ta lộ vẻ sững sờ nhìn nàng không rời.
Hắn chỉ cảm thấy kỳ lạ, xong cũng chẳng nói gì, dẫu sao chẳng liên quan đến mình.
"Quế...
Quế Lan?"
Bờ môi người đàn ông lớn tuổi khẽ run rẩy, chỉ lâu sau mới thốt ra được tiếng không trọn vẹn.
Thiếu nữ nọ thoáng ngây người, đôi mắt hạnh hiền hoà hướng về người đàn ông ấy... mơ hồ.
Mà ông ta, đứng lặng hồi lâu, trong thoáng chốc những ký ức năm xưa bỗng dội về cùng cái tên vừa quen vừa lạ ấy.
Đó là ngày rằm tháng ba năm Thiệu Long thứ bảy, mặt trăng tròn vàng vạnh rải xuống nhân gian những mảnh sáng bạc.
Gió trên cao lùa qua khóm tre xào xạc, đám mây lững thững ngó xuống vùng Hải Đông rồi lại lẳng lặng bay đi.
Đêm nay cảnh đẹp là thế nhưng khắp các đường phố, ngõ hẻm trong vùng chẳng có nổi một bóng người qua lại, tất cả đều chìm trong sự tĩnh lặng vô cùng.
Bất chợt góc phường phía Đông nổi lên những tiếng ồn ào náo nhiệt, người trong nhà hé cửa nhìn ra chỉ thấy toán quan binh cầm giáo mác chạy rầm rập ngoài đường, dẫn đầu đoàn là một người đàn ông cưỡi ngựa, bởi trời tối nên chẳng rõ là ai, chỉ thấy dáng vẻ oai phong, lẫm liệt.
Đoán chừng là vị tướng quân nào đó từ kinh thành về cũng nên.
Hôm sau, những kẻ nhàn rỗi lại có dịp vung nước miếng trong các quán trà, tửu lâu.
Họ nói rằng đêm qua quan binh triều đình đã tóm gọn đám thương buôn muối lậu ở Nguyệt Lâu phía Đông thành, có người còn kể rõ chi tiết quá trình sự vụ ấy như thể đã tận mắt chứng kiến.
Nào là đám thương buôn nuôi con hổ dữ canh gác, nào là vị tướng quân nọ thân hình lực lưỡng cầm thanh đao ngàn cân vung một nhát chém đứt mãnh hổ, rồi thì cả chuyện hoang đường như là một kẻ trong đám thương buôn có phép thần thông chỉ trong chớp mắt đã biến mất tăm trong không khí.
Ngồi ở một góc trong quán rượu, Quốc Tuấn mặc bộ viên lĩnh thường dân bấy giờ vẫn vểnh tai chăm chú lắng nghe người nọ kể, vờ như không biết chút gì về chuyện đêm qua, thi thoảng khẽ mỉm cười rồi lắc đầu trước những lời kể thú vị của đám nông phu nhàn rỗi.
Đúng là dân ta có trí tưởng tượng thực cao siêu.
Gắp một miếng mồi, bỏ vào miệng, lại cầm bát rượu uống ừng ực.
Thứ rượu nếp ngòn ngọt, cay nồng đổ vào khoang miệng, đi qua yết hầu xuống khoang bụng rồi theo đó từ từ ngấm vào da thịt.
Chính bởi tin rằng tửu lượng của mình không thua kém bất kỳ ai nên Quốc Tuấn cứ tuỳ tiện uống hết bình này sang bình khác, vừa uống vừa nghe kể chuyện.
Chẳng mấy chốc trời đã xẩm tối, bên ngoài thưa thớt người qua đường.
Vẳng lại đâu đó khúc hát xẩm ỉ ôi của gã đàn ông khắc khổ ven chợ, nghe mà não lòng.
Quốc Tuấn bước ra khỏi quán rượu, tâm trí cũng đã ngà ngà say sưa nhưng đôi chân vẫn vững như vại, mỗi bước đi đều chuẩn xác, chắc chắn.
Từ đây về tư dinh của An phủ sứ còn phải đi qua bến sông, lúc ngang qua đó, ông bỗng dừng chân nhìn sóng nước lăn tăn xô vào bờ, ánh trăng tàn soi xuống mặt nước đằng xa méo mó, rồi vỡ tan.
"Quan khách có muốn xuống đò chăng?"
Giọng nói thanh thoát, dễ nghe bỗng vọng lại từ dưới bến.
Quốc Tuấn nương theo ánh đèn treo lúc lắc trên sông, chợt trông ra người thiếu nữ xinh đẹp mặn mà đang đứng ở mui thuyền mời gọi.
Ánh mắt ấy, nụ cười ấy bỗng lôi kéo tâm trí ông về một quãng hồi ức xa xưa mang tên ...
Quế Lan!
Một thưở thiếu thời ngông cuồng, kiêu ngạo chàng từng nắm tay nàng thề non hẹn biển dưới gốc cây hoa hoè rực rỡ nhưng rồi đến cuối cùng tất thảy chỉ là gió thoảng, mây trôi.
Chàng kết thân với công chúa cao quý chốn cung cấm xa hoa, nàng biệt tăm biệt tích chẳng một lời từ biệt.
Dẫu là một kẻ chung tình với vương phi thì suy cho cùng Quốc Tuấn vẫn là một người đàn ông, mà yếu điểm lớn nhất của ông chính là trong góc tim luôn khắc khoải về mối tình đầu dang dở.
Gặp lại cố nhân, mọi cảm xúc bấy lâu cố gắng kìm nén thì nay lại bùng phát, tựa như pháo hoa phát sáng rực rỡ trong chớp mắt rồi lụi tàn hóa hư không.
Một đêm điên loan đảo phượng triền miên trong cơn mơ màng trôi đi mau chóng, tưởng rằng chỉ thoáng qua tựa xuân phong, nào ngờ dây dưa suốt kiếp.
Sáng hôm sau, men say tan dần.
Quốc Tuấn giật mình tỉnh dậy trong khoang thuyền, quần áo xộc xệch, mùi thơm hoa nhài tỏa ra từ bóng lưng trần mịn màng bên cạnh, thoảng qua cánh mũi khoai khoái.
Nàng nằm gối lên cánh tay rắn chắc suốt đêm khiến tay ông tê tái, nhưng vẫn cố giữ nguyên tư thế tránh để nàng tỉnh giấc.
Không lâu sau, nàng cũng tỉnh, trở người nằm quay lại đối diện với ông, khẽ mỉm cười.
"Chàng ngủ có quen không?"
Đáp lời nàng là ánh mắt đầy do dự và tội lỗi không dám đối diện sự thật, giọng ông trầm xuống.
"Chuyện đêm qua...
Ta sẽ chịu trách nhiệm với nàng."
Quế Lan khẽ thở dài:
"Do thiếp tự đa tình mà thôi, chàng đừng nhọc tâm."
Giọng nàng trầm buồn như có như không thoảng qua tai Quốc Tuấn, trong thoáng chốc ông tự hỏi liệu rằng mình làm thế có đúng không?
Rốt cuộc ông vẫn đưa ra quyết định của riêng mình.
Đặt bàn tay thô ráp lên vai nàng, ông nhìn nàng trực diện, kiên định.
"Quế Lan!
Hãy chờ ta vài hôm, ta sẽ cho người tới rước nàng về phủ."
"Chàng không cần lo cho thiếp."
Nàng lưỡng lự đáp.
"Không cần nói gì cả.
Hãy chờ ta."
Người thiếu nữ ấy nhìn Quốc Tuấn với cặp mắt tròn, sáng trong, mọi sự tin tưởng đặt nơi ngài đều là tuyệt đối.
Tất cả những gì trân quý nhất của người con gái nàng đã trao cho ngài, còn có điều gì để nàng nghi ngờ nữa.
Nàng yêu ngài từ cái lần gặp gỡ thoáng qua năm ấy, trải ra bao thăng trầm, cuối cùng nàng cũng đợi được ngày này.
Chẳng cầu vinh hoa, chỉ cần được ở cạnh người mình yêu là mãn nguyện rồi.
"Ta tặng nàng chiếc vòng ngọc, coi như là vật định ước của chúng ta."
Lúc rời đi, Quốc Tuấn đâu thể ngờ lời nói khi ấy lại khiến trái tim của một thiếu nữ tàn úa theo năm tháng bởi hai chữ đợi chờ.
Mọi sự tin tưởng của nàng, tình yêu của nàng hoá ra cũng chỉ như áng mây kia chẳng mấy chốc sẽ tan biến vào cõi hư vô.
Ngài đã một đi không trở lại nơi ấy nữa.
...
Ngoài trời mưa đã ngớt rồi tạnh hẳn, chẳng muốn mất thời gian ở đây thêm chút nào nữa, phía trước còn một chặng đường dài.
Giang quay đầu gọi Phạm Bân mau lên đường, tuy còn vương vấn giai nhân nhưng cậu ta cũng chẳng muốn nghe thêm lời thúc giục nào của hắn.
Sau cùng chỉ hỏi được tên thiếu nữ ấy trước lúc bước chân ra khởi miếu.
Vân Tĩnh.