Cập nhật mới

Khác [FULL] Vãng Sự Vi Phong - truyện dài, cảm hứng sử

[Full] Vãng Sự Vi Phong - Truyện Dài, Cảm Hứng Sử
Ngoài lề 4: Dụ chư tỳ tướng hịch văn (諭諸裨將檄文)


Hịch tướng sĩ (Ngô Tất Tố dịch)

Ta thường nghe: Kỷ Tín lấy thân chết thay, cứu thoát được vua Cao-đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo che chở được vua Chiêu-vương; Dự Nhượng nuốt than để trả thù cho thầy; Thân Khoái chặt tay để gánh nạn cho nước; Uất Trì Cung một viên tướng nhỏ, còn biết che đỡ Đường-chủ, ra khỏi vòng vây của Thế Sung; Nhan Cảo-Khanh là bầy tôi xa, còn biết mắng chửi Lộc Sơn, không nghe lời dụ của nghịch-tặc.

Từ xưa, những bậc trung-thần nghĩa-sĩ, lấy thân theo nước, đời nào là không có đâu?

Nếu mấy người kia, chăm chăm học thói dút-dát của con gái trẻ con, chẳng qua cũng đến chết dũ ở dưới cửa sổ, đâu được ghi tên vào trong thẻ tre lụa trắng, danh tiếng cùng trời đất cùng lâu bền?

Các người đời đời là con nhà võ, không biết chữ nghĩa, nghe những chuyện ấy, thảy đều nửa tin nửa ngờ.

Thôi thì những việc cổ xưa, hãy để đó không nói đến nữa.

Nay ta hãy đem chuyện nước Tống, giống Thát(là chuyện gần đây) kể cho các người cùng nghe: Vương công Kiên là người gì?

Nguyễn văn Lập tỳ-tướng của y lại là người gì, chỉ có vòng thành Điếu-ngư nhỏ bằng cái đấu hai người ấy chống nổi toán quân trăm vạn của Mông-kha, khiến cho con dân nước Tống, đến nay hãy còn nhớ ơn.

Đường ngột Ngại là người gì?

Xích tu Tư tỳ-tướng của y lại là người gì? xông pha lam-chướng trên đuờng muôn dặm, hai người ấy đánh được quân Nam-chiếu trong vài tuần, khiến cho vua chúa giòng Thát nay còn để tiếng!

Huống chi ta với các ngươi, sinh ở buổi rối ren, lớn lên nhằm khi khó nhọc, chính mắt ngó thấy sứ ngụy đi lại, đường xá nghẽn-ngang, chúng múa cái lưỡi cú quạ làm nhục chốn triều-đình, chúng giơ cái thân chó dê, kiêu ngạo với quan tể-phụ; chúng nhờ mệnh lệnh của chúa Mông-Cổ, mà đòi nào ngọc nào lụa, sự vòi vĩnh thật vô cùng; chúng mượn danh hiệu của vua Vân-nam mà hạch nào bạc nào vàng; của kho đụn đã hồ hết Cung-đốn cho chúng giống như đem thịt mà liệng cho cọp đói, sao cho khỏi lo về sau?

Ta thường thì tới bữa quên ăn, giữa đêm vỗ gối, nước mắt tràn xuống đầy mép, tấm lòng đau như bị đâm, vẫn lấy cái sự chưa thể ăn thịt nằm da, nuốt gan uống máu của chúng làm tức.

Dẫu cho một trăm cái thân của ta phải đem đốt ở đồng cỏ, một nghìn cái thân của ta phải đem bọc vào da ngựa, ta cũng vui lòng.

Các ngươi lâu nay ở dưới cửa ta cầm giữ binh-quyền, thiếu áo thì mặc áo cho, thiếu ăn thì sẻ cơm đỡ, quan nhỏ thì cho lên chức, bổng ít cho thêm lương, đi thủy cấp thuyền, đi bộ cấp ngựa, những khi trận mạc, sự sống thác thầy chung với trò, những lúc mừng khao, tiếng vui cười ai cũng như nấy.

So với Công Kiên làm chức thiên-lý, Ngột Ngại ở ngôi phó nhị, có khác gì đâu.

Thế mà các ngươi thấy chủ bị nhục chẳng lấy làm lo, gặp nước bị dơ chẳng lấy làm thẹn, làm tướng nhà nước phải hầu mấy đứa chum mường, mà không có lòng căm hờn, nghe khúc nhạc thờ đem thết một tên ngụy sứ, mà không có vẻ tức giận; kẻ thì chọi gà cho thích, kẻ thì đánh bạc mua vui, có người chỉ chăm vườn ruộng, cốt nuôi được nhà; có người chỉ mến vợ con, lấy mình làm trọng; cũng có kẻ chỉ lo làm giàu làm có, việc quân quốc chẳng thèm đoái hoài, cũng có người chỉ ham về săn-bắn mà quên việc binh, hoặc là đam mùi rượu ngọt, hoặc là mê tiếng hát hay.

Một khi giặc Mông đến nơi, thì cựa con gà nòi không thể đâm thủng áo-giáp của giặc; thuật ở bàn bạc không thể đem làm mưu mẹo ở trong quân; vườn ruộng tuy giàu, tấm thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vợ con tuy sẳn, trong đám ba quân khó dùng, của cải tuy nhiều, không thể mua được đầu giặc; chó săn tuy khỏe, không thể đuổi được quân thù, rượu ngon không đủ để cho giặc phải mê; hát hay không đủ làm cho giặc phải điếc; lúc đó thầy trò ta sẽ cùng bị trói, đáng đau đớn biết chừng nào!

Nếu thế, chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng-lộc của các ngươi cũng bị kẻ khác chiếm mất; chẳng những là gia- quyến của ta phải đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi; chẳng những xã tắc của tổ tông ta sẽ bị dày xéo, mà đến mồ mả của cha mẹ ngươi cũng sẽ bị kẻ khác đào lên, chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục, và trăm kiếp khác tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu vẫn còn, mà gia thanh của các ngươi cũng chẵng khỏi mang tiếng là nhà bại tướng.

Đã đến khi đó các ngươi muốn chơi bời cho thỏa, được chăng?

Nay ta bảo rõ các ngươi: cái chuyện dấm lửa đống củi phải lo, mà câu sợ canh thổi rau nên nhớ.

Các ngươi hãy nên huấn luyện quân-sĩ, rèn-tập cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ, bêu đầu Tất-Liệt dưới cửa khuyết, ướp thịt Thoát-Hoan trong trại rơm.

Như thế chẳng những là thái-ấp của ta mãi mãi là của gia truyền, mà bổng-lộc các ngươi cũng được suốt đời hưởng thụ; chẳng những gia- quyến của ta được yên giường nệm, mà vợ con các ngươi cũng được sum họp đến già; chẳng những là tông-miếu ta sẽ được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được thờ cúng quanh năm; chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các người dưới trăm đời nữa tiếng thơm vẫn lưu truyền; chẳng những tên tuổi ta không bị mai một, mà đến tên họ các người cũng để tiêng thơm trong sử xanh.

Khi ấy các ngươi không muốn vui chơi, được chăng?

Nay ta lựa chọn binh pháp các nhà, làm một quyển sách, đặt tên là sách "Binh-thư yếu-lược".

Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách ấy, nghe lời dạy-bảo của ta, ấy là duyên thầy trò kiếp xưa; Nếu các ngươi bỏ bê sách ấy, trái lời dạy-bảo của ta, ấy là mối cựu thù kiếp xưa, Sao vậy?

Bởi vì như vậy tức là kẻ thù không đội chung trời, thế mà các ngươi không nghĩ tới, điềm nhiên không lo đến sự rửa thẹn, không tinh; đến việc trừ hung, không nhớ đến chuyện dạy-tập quân-sĩ.

Thế là giở giáo hàng giặc, nắm tay chống giặc.

Rồi đây, sau khi dẹp yên quân giặc, các ngươi sẽ phải thẹn muôn đời, còn mặt-mũi nào đứng giữa khoảng trời đất che chở?

Ta muốn các ngươi biết rõ bụng ta, nhân viết mấy lời đó làm hịch.
 
[Full] Vãng Sự Vi Phong - Truyện Dài, Cảm Hứng Sử
Chương 76: Hội nghị Bình Than


Mùa đông năm nay đến sớm bằng cơn gió lạnh đầu mùa.

Mới tờ mờ, mặt trời còn chưa ló rạng nhưng thằng Hến đã phải thức dậy xuống bếp nấu nước sôi rồi hầu Đức ông rửa mặt, thay quần áo.

Hôm nay Quan gia có lệnh triệu tập các vương hầu, tướng lĩnh tập trung ở bến Bình Than để bàn họp kế sách đối phó với Đại đô nên hầu hết các vương hầu đã tới vũng Trần Xá từ đêm qua, duy chỉ có vài người như Chiêu Thành vương còn bận việc quân thì sớm nay mới xuất phát được.

May thay khi tới nơi cũng không hẳn là muộn, các vương hầu và quan văn võ tướng đều chưa đến đông đủ.

Nhác thấy phía xa dưới bến thuyền có bóng người quen thuộc, Trần Viễn lệnh cho gia nô đứng chờ trên bến rồi một mình thong thả tới gần người đó.

"Anh đến lâu chưa?"

Người kia quay đầu, hơi ngạc nhiên đáp lại:

"Ồ chú ba à, ta đến từ hôm qua nhưng không thấy chú đâu."

"Hôm qua em còn bận công vụ nên sáng sớm nay mới tức tốc về đây."

"À ra thế."

Trần Thông gật gù.

"Mà em nghe nói chị dâu lại có thai rồi?"

Trần Viễn lại hỏi.

"Ừ, có vẻ là một bé trai."

Trần Thông vẫn điềm đạm đáp.

"Chúc mừng anh."

"Chú cũng mau mau lập gia đình đi chứ."

Nhìn cậu em chỉ biết cười trừ, Trần Thông lắc đầu nói.

"Mà chú ba này, mẹ mong chú lắm đấy, anh biết việc quân bận rộn nhưng thỉnh thoảng hãy sắp xếp về thăm gia đình."

"Vâng, em biết rồi.

Sắp tới em sẽ về."

"Ta nghe nói chú và Công chúa An Tư có gì à, nàng ấy là một người tốt, chú hãy trân trọng nàng ấy.

Nếu có dịp thì đưa nàng về thái ấp cho mẹ gặp."

Trần Viễn không ngờ anh trai cũng biết chuyện này, chắc hẳn quản gia đã ngầm gửi tin về thái ấp, chỉ là hắn không biết anh và mẹ có biết chuyện trúng độc kia không, hắn sợ họ sẽ lo lắng.

"Em biết rồi.

Em đang tính qua thời gian nữa sẽ xin Thượng hoàng cho hỏi cưới nàng."

"Vậy thì tốt."

Nhìn qua vai hắn thấy Quan gia cùng các thân vương đều đã tới đông đủ, Trần Thông thúc giục.

"Chúng ta xuống thuyền thôi."

...

Trời hửng nắng.

Quan nội thị mới dâng được hai tuần trầu nước, các vương hầu còn đang thăm hỏi nhau và đàm đạo ngoài lề, chờ xong tuần trà nữa thì nhà vua khai diễn nghị hội.

Bỗng Trần Viễn nghe có tiếng chim đại bàng kêu, bay chao liệng trên bầu trời, hắn quay đầu hướng ra mặt sông liền trông thấy một chiếc thuyền chở đầy than đằng xa, đúng lúc gió lớn thổi ngược chiều làm vén cả vạt áo ngắn của người lái thuyền, phơi ra tấm lưng xăm hình mãnh thú và chiếc nón lá đội đầu cũng xô cụp xuống che nửa khuôn mặt.

Khi người ấy hất chiếc nón lên, hắn sửng sốt rồi quay sang nói với Quan gia đang đứng bên cạnh:

"Quan gia nhìn kìa."

Trần Khâm hơi xoay người, đưa mắt về hướng hắn chỉ, chàng khẽ nheo mắt nhìn, dưới cái nắng nhàn nhạt phản chiếu lên gương mặt của người lái thuyền, chàng ngờ ngợ rồi buột miệng hỏi:

"Người kia có phải Nhân Huệ Vương không?"

"Thần cũng không rõ."

Sau Trần Khâm lại sai người chèo thuyền nhỏ đuổi theo đến cửa Đại Than, đám lính bèn đồng thanh hô to:

"Ông lái ơi, có lệnh vua triệu."

Người lái thuyền vẫn đủng đỉnh chèo và đáp lại:

"Lão chỉ là người buôn bán, có việc gì mà phải triệu."

Quân về tâu lại như thế, Trần Khâm mỉm cười nói.

"Đúng là Nhân Huệ đấy, ta biết người thường tất không dám nói thế."

Chàng lại sai quan nội thị đi gọi lần nữa.

Không cưỡng được mệnh vua, người kia mặt mũi lem luốc, vận áo vải ngắn, đội nón lá ra mắt hai vua.

Trông mặt mũi Trần Khánh Dư lúc này thật đúng là một ông lão bán than chất phác, khác hẳn với ngày trước rất nhiều.

Thượng hoàng nhìn gã mà mủi lòng xót xa đến độ cũng phải thốt lên:

"Nam nhi cực khổ đến thế là cùng."

Nhận ra thái độ thương tiếc của Thượng hoàng, Trần Viễn đánh bạo đứng ra cung tay nói:

"Bẩm Thượng hoàng, bẩm Quan gia.

Nhân Huệ vương là một tướng tài mưu lược, về chuyện cũ thì ông ấy cũng đã chịu sự trừng phạt rồi.

Hiện nay, Hốt Tất Liệt đang lăm le bờ cõi sớm muộn gì cũng sẽ tràn sang nước ta, quốc gia lâm nguy nên thần thiết nghĩ Đại Việt đang rất cần những nhân tài như ông ấy.

Kính mong Thượng hoàng và Quan gia suy xét."

Thượng hoàng nghe xong thì cho là phải, ngài khẽ gật đầu rồi lập tức xuống chiếu tha tội và ban cho áo ngự khoác bên ngoài, lại cho gã vào dự bàn việc nước, việc quân.

Đợi mọi người đều đã yên vị, Trần Khâm nhìn một lượt các vương hầu, quan viên, tướng lĩnh.

Khi mắt chạm đến Hưng Nhượng vương ngồi ở hàng thứ tư, chàng bỗng dừng lại, trong tâm trí chợt nhớ đến những lời tâu của Trần Viễn về con người này.

Chỉ thoáng chốc, chàng lấy lại bình tĩnh rồi ôn tồn nói:

"Như các khanh đã biết, từ trước đến nay Hốt Tất Liệt năm lần bảy lượt đòi yêu sách, có những yêu sách chúng ta đáp ứng hắn để giữ mối hòa hảo bang giao nhưng cũng có những yêu sách chúng ta khéo léo chối từ.

Tuy rằng các việc đó không làm thỏa mãn hắn, bên Đại Đô cũng vài lần đưa thư khiển trách nhưng mọi việc rồi cũng cho qua.

Đến năm Kỷ Mão [1279], sau khi đã diệt xong nhà Nam Tống, đặt nền móng thống trị ở Đại Lục thì hắn ngày càng tỏ ra hống hách.

Ai cũng biết hắn đang muốn dùng sức ép bang giao để buộc ta phải trở thành nước chư hầu.

Hồi đầu năm Sài Thung và đám sứ đoàn nghênh ngang bày trò giữa đất Thăng Long hòng khiêu khích chúng ta nhằm tạo ra cái cớ để Đại Đô bắt bẻ nhưng chúng ta đã hạ mình nín nhịn, không phải vì chúng ta không có quốc sỉ quốc nhục mà bởi khi ấy chúng ta chưa có đủ năng lực để chống chọi với khí thế của bọn chúng.

Nhưng nay, Hốt Tất Liệt lại đưa ra một yêu sách quá đáng là cho chúng mượn đường sang xâm lược Chiêm Thành, liệu lần này chúng ta hạ mình lần nữa mà phục tùng hắn hay tiếp tục chống đối yêu sách vô lý đó?

Các khanh hãy cùng ta nghị bàn."

Nghe nhà vua bố cáo xong việc quân quốc đại sự, tất thảy mọi người đều im lặng.

Dường như chỉ còn nghe thấy tiếng sóng vỗ mạn thuyền, tiếng chim trời chao liệng trên nền trời xanh.

Giữa lúc ấy, bên ngoài đột nhiên có tiếng huyên náo phá vỡ bầu không khí trầm lắng bên trong khoang thuyền.

Chuyện là Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản nài nỉ thế nào thì đám lính gác cũng không chịu mở đường cho cậu vào, cậu đứng trên bờ thẫn thờ nhìn xuống bến Bình Than tấp nập thuyền lớn nhỏ neo đậu dài san sát, sơn đủ các màu của các vương, hầu từ khắp nơi về hội tụ.

Trên mũi các thuyền lại cắm những lá cờ hiệu sặc sỡ mà uy nghiêm, tự do tung bay phất phới trong gió đẹp như gấm hoa.

Quốc Toản càng nhìn càng ganh tỵ đến đỏ mắt.

Qua các cửa sổ có chấn song triện và rủ mành mành hoa của thuyền rồng, cậu thấy các vương hầu đang ngồi bàn việc nước với Quan gia, cậu chẳng biết các vị đang nói gì chỉ nghe được loáng thoáng câu được câu mất của Quan gia, hình như ngài nói đến nín nhịn và phục tùng hắn.

Thế là cậu lựa lúc quân hiệu sơ sẩy mà đẩy họ ra, chạy băng xuống bến, vừa chạy vừa la lớn:

"Xin Quan gia cho đánh!

Xin Quan gia chớ cho giặc mượn đường!

Ưm ựm."

Quốc Toản hô được hai câu, chạy tới mạn thuyền rồng thì bị quân hiệu vây lấy, bịt miệng và giữ chặt lại.

Không thể diện kiến vua, cậu càng bực tức giãy dụa nhưng thể lực còn yếu đâu thể so với đám quân hiệu lực lưỡng kia.

Cuối cùng, cậu đành nghiến răng quỳ mọp xuống đất chịu tội.

Tiếng ồn ào của Quốc Toản làm kinh động đến hai vua và các vương hầu, Trần Khâm cùng một số vương đi ra mui thuyền thì thấy quân hiệu đang bắt giữ một người, chàng cau mày hỏi thị vệ Trần Kính đứng gác bên ngoài.

"Xảy ra chuyện gì?"

Mọi chuyện vừa xảy ra đều thu vào mắt Trần Kính nên gã đã nắm bắt được tình hình, vội cung tay thuật lại sự tình.

Nghe xong đầu đuôi câu chuyện, Trần Khâm và các vương cười xòa.

Các đại vương nhiều người xin chàng cho tiếp tục nghị bàn, nhưng cũng có người đòi phải nghiêm trị.

Người đó là Chương Hiến Thượng hầu Trần Kiện, y nói:

"Quốc có quốc pháp, gia có gia quy.

Hoài Văn hầu vô pháp vô thiên, cúi xin Quan gia nghiêm trị để giữ phép nước!"

Khác với Trần Kiện, bởi cảm kích lòng trung của thiếu niên trẻ, Trần Viễn vội đứng ra quỳ sụp xuống cầu xin.

"Bẩm Quan gia, Hoài Văn hầu đúng là làm trái phép nước, tội ấy đáng lẽ không thể tha.

Nhưng xét về cái tình thì hầu còn trẻ mà lại biết lo cho dân, cho nước, chí ấy nên đáng được trân trọng.

Xin Quan gia suy xét lại."

Chiêu Thành vương rất hợp ý vua, Trần Khâm mỉm cười ôn hoà nâng hắn đứng dậy.

Đoạn, chàng quay sang Quốc Toản rồi nói:

"Khanh có lòng trung với quốc gia trẫm sẽ ghi nhận, tuy nhiên tuổi của khanh hẵng còn nhỏ nên trước mắt hãy về phụng dưỡng mẹ già và rèn luyện thêm.

Chờ mấy năm nữa trưởng thành rồi trẫm sẽ suy xét mà trọng dụng."

Quốc Toản nghe xong mặc dù không phục nhưng cậu chẳng thể làm gì hơn là lạy tạ ân điển của vua vì không trách phạt.

Trước khi bị quân hiệu dẫn đi, Quan gia còn ban cho cậu một quả cam nhưng nghĩ đến việc ngài vẫn coi cậu như đám con trẻ vắt mũi chưa sạch, lại không được vào nghị bàn việc quốc sự, lòng cậu càng trở nên cay đắng.

Nghiến chặt răng, mắt cậu bỗng rực sáng.

Được, để rồi xem thằng con nít này sẽ làm được gì.

"Hầu gia, xin ngài hãy trở về cho, đừng làm khó chúng tôi."

Tiếng anh lính dội vào tai cắt ngang dòng suy nghĩ của Quốc Toản, cậu xoè tay ra để nhận lấy dây cương thì phát hiện quả cam khi nãy đã bị bóp nát từ bao giờ, chỉ còn lại một mảnh xác xơ.
 
[Full] Vãng Sự Vi Phong - Truyện Dài, Cảm Hứng Sử
Chương 77: Tế minh thệ (hội thề)


Sau khi cuộc họp bàn ở Bình Than kết thúc, phái chủ chiến đàn áp phái chủ hòa.

Các vương tôn tướng lĩnh đều đồng lòng đánh giặc, giữa lúc ấy vua Thiệu Bảo cũng phục chức cho Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư làm Phó đô tướng quân, và cắt cử các tướng đi trấn giữ những nơi hiểm yếu.

Bổ dụng Thái úy Chiêu Minh vương Quang Khải làm Thượng tướng thái sư, Đinh Củng Viên làm Hàn lâm học sĩ phụng chỉ, lại sai chọn các quân hiệu có tài chỉ huy, chia đi nắm giữ các đơn vị.

Tháng hai, trị tội Thượng vị hầu Trần Lão, cho Lão chuộc tội một ngàn quan tiền, đồ làm lính, lăng trì tên Khoáng là gia nô của Lão ở chợ Đông, vì tội làm thư nặc danh phỉ báng nhà nước.

...

Tháng tư, triều đình mở hội thề đền Đồng Cổ ở ngoại thành.

Thời Lý Thái Tổ, Thái tử Phật Mã đem quân đi đánh Chiêm Thành.

Một đêm nọ ngủ tại đền Đồng Cổ, Thái tử được báo mộng có một vị thần xin đi theo để trừ giặc.

Trận đó quả nhiên thắng to.

Tám năm sau, trước hôm Lý Thái Tổ qua đời, Thái tử chiêm bao được thần Đồng Cổ báo mộng rằng sắp có loạn tam vương.

Quả nhiên, sáng hôm sau khi Lý Thái Tổ vừa qua đời, ba hoàng tử là Vũ Đức vương, Đông Chinh vương và Dực Thánh vương đem quân ém trong Cấm thành để đánh úp.

Do có phòng bị, lại được các tướng Lê Phụng Hiểu, Lê Nhân Nghĩa phù trợ nên Thái tử đã dẹp được cuộc nổi loạn và chính thức lên ngôi.

Mấy ngày sau vua xuống chiếu giao cho Hữu ty dựng miếu ở bên hữu thành Đại La, sau chùa Thánh Thọ.

Lấy ngày hai nhăm tháng ấy, đắp đàn ở trong miếu, cắm cờ xí, chỉnh đốn đội ngũ, treo gươm giáo ở trước thần vị để làm lễ thề.

Cuối thời nhà Lý thì lễ ấy bị gián đoạn mãi đến năm Kiến Trung thứ ba [1227] thì Tiên đế Trần Thái Tông mới tuyên bố duy trì lại lễ tế ấy hàng năm.

Bên ngoài vừa điểm canh ba, Phạm Bân lại trở mình.

Suốt đêm cậu trằn trọc không sao ngủ được, không phải vì chuyện gì to tác mà bởi lòng cậu đang háo hức.

Đây là lần đầu tiên cậu được tham gia lễ hội của triều đình, trong vai trò một quan viên.

Khẽ xoay người ngồi dậy, qua khung cửa sổ nhìn ra bên ngoài trời vẫn tối đen như mực.

Chợt, cậu thấy đăng đắng miệng bèn rời khỏi giường thắp đèn rồi đi đến bàn trà, rót nước uống ừng ực cho bõ cơn.

Nửa đêm ông Phạm dậy đi tiểu tiện thì thấy phòng thằng cháu vẫn sáng đèn, ông đành tiến tới nhắc nhở:

"Thằng Bân ngủ đi kẻo mệt, mai còn phải vào chầu vua từ sớm đấy."

"Dạ, cháu dậy uống nước thôi.

Bác chớ lo."

Thấy bóng đen trên vách rời khỏi, Phạm Bân quyến luyến đưa mắt nhìn bộ quan phục treo ngay ngắn trên giá lần nữa rồi cầm đèn trở về giường.

Đèn tắt, cả căn phòng tối om, không gian đặc quánh chỉ còn nghe tiếng dế gọi nhau bên ngoài.

Càng về khuya đôi mắt cậu càng trĩu nặng, tiếng dế kêu như ru ngủ, chẳng mấy chốc cậu đã chìm vào giấc chiêm bao.

Canh năm vừa điểm, con gà trống vỗ cánh bành bạch bay lên đỉnh ngọn rơm, vươn cao cổ gáy ba tiếng.

Ngay sau đó, những con khác trong xóm cũng không chịu kém cạnh, thi nhau gáy ò ó o ầm ĩ cả vùng.

Phạm Bân choàng tỉnh giấc, nhìn ra ngoài trời đã tang tảng sáng, cậu giật thót mình vội vã vực dậy lao ra sân giếng múc nước rửa mặt và súc miệng qua loa, rồi lại nhanh chóng trở vào phòng thay y phục.

Ông Phạm đang loay hoay mang từng nia thuốc ra sân phơi thì thấy bóng đen từ trong nhà vụt ra, nom thằng cháu chạy như ma đuổi ông lắc đầu nói với theo.

"Đi từ từ kẻo ngã."

"Vâng."

Phạm Bân chạy ra cổng thì thấy trống trơn, vốn dĩ hôm qua cậu đã thuê xe ngựa để tránh trường hợp ngủ quên nhưng đến giờ này mà gã phu vẫn chưa đến.

Cậu nóng ruột không thể chờ thêm nữa bèn co giò chạy về hướng Cấm thành.

Thực ra thường ngày cậu vẫn xuất phát vào giờ này, đi bộ khoảng nửa canh giờ là tới nơi nhưng hôm nay khác, thà tới sớm còn hơn bị muộn.

Đương đi được nửa đường, bỗng có cỗ xe ngựa chạy tới dừng trước mặt cậu.

Gã phu xe nhìn cậu, nói:

"Đức ông tôi có ý mời ông lên xe."

Phạm Bân ngạc nhiên, cậu đưa tay lên trán lau đi giọt mồ hôi, đoạn ngước lên cửa xe nhìn, đúng lúc người trong xe cũng vén rèm lên.

Trông người nọ mặc áo bào tía dát vàng, đội mũ Củng thần ba bậc đính hình ong bướm bằng vàng sống động.

Cậu ngờ ngợ nhận ra là Chiêu Thành vương đã lâu không gặp, khẽ thở phào, cúi đầu với người đó rồi lưỡng lự bước lên xe.

Nhìn Phạm Bân mặt đỏ tía tai, mồ hôi nhễ nhại, áo mũ xộc xệch, Trần Viễn vươn tay lấy chiếc khăn trong tủ đồ đưa cho cậu lau tạm rồi hỏi:

"Sao không đi ngựa mà lại chạy bộ như thế?"

Phạm Bân ngượng nghịu vừa đáp vừa chỉnh lại mũ Ngân Miện trên đầu, vuốt lại mép áo Cổn cho phẳng phiu.

"Tôi... tôi không biết cưỡi ngựa.

Hôm qua cũng thuê xe ngựa để đi cho kịp giờ nhưng sáng nay xe không đến nên đành đi bộ."

Trần Viễn khẽ thở dài rất nhỏ, cũng không nói thêm gì.

Chẳng mấy chốc, xe ngựa đã tới cửa Tây.

Trần Viễn cùng Phạm Bân bước xuống xe tiến vào điện Đại Minh, kịp lúc trăm quan văn, võ cũng đến đông đủ.

Phạm Bân quay sang cảm tạ hắn lần nữa rồi tìm chỗ đứng cho mình trong ban Ty thái y, hắn cũng gật đầu rồi hòa vào hàng ngũ các vương hầu.

Tảng sáng.

Ánh mặt trời dần ló rạng.

Trên dãy hành lang dẫn tới đại điện, nhác thấy bóng người đội mũ Bình Thiên, mặc Giáng sa bào đỏ, theo sau là đội nghi trượng đang đi tới, Thái sư Quang Khải khẽ đánh động mọi người.

Thoáng chốc, không khí dưới sân trước điện Đại Minh bỗng trầm lắng hẳn.

Trăm quan văn, võ lật đật di chuyển, màu bào tía dát vàng tách hẳn ra khỏi những bộ tú phục phượng cá, lựa theo thứ tự phẩm trật mà xếp thành những hàng dài ngay ngắn.

Khi Quan gia bước tới cửa Hữu Lang thì Thượng hoàng cũng đến.

Các hàng quan văn, võ đồng loạt phủ phục xuống đất.

Muôn người như một cùng hô vang theo nhịp trống đồng.

"Thượng hoàng vạn tuế, Quan gia vạn tuế.

Vạn vạn tuế."

Hai chữ "Bình thân." của người chủ quân đáp lại nhẹ như gió thoảng, bách quan phía dưới lại sột soạt đứng lên.

Giờ lành đến.

Lính gác mở cửa Quảng Phúc sơn son đỏ nặng trịch.

Cấm quân dẫn đầu rầm rập bước ra, giáo gươm sáng chói.

Cờ Đại Việt vàng rỡ thêu chữ Trần (陳) đỏ rực, vươn cao bay phần phật theo sau.

Tiếng kèn, tiếng chiêng xen nhau hoạt náo khiến dân chúng tò mò, háo hức kéo nhau đứng chật kín hai bên đường.

Người đông hơn cả trẩy hội rước thành hoàng.

Phải đến khi long đình ra khỏi cổng thành, xung quanh mới thực sự chìm trong hỗn loạn.

Dòng người phấn khích, xô đẩy nhau, ai cũng muốn chen lên nhìn ngắm hoàng đế.

Tám con rồng lớn dát vàng uốn quanh kiệu rồng, sáng lấp lánh sống động như thần long hiện hữu.

Gió thổi tung rèm lụa, để lộ dáng vẻ thuần túy đạo mạo, thần khí tươi sáng của hoàng đế nhưng không kém phần uy nghiêm càng khiến người dân thêm ngưỡng mộ.

Ba hồi trống đột ngột vang lên.

Tọa lạc trên một doi đất cao ở thôn Nam - làng Đông Xã gần sông Tô Lịch, đền Đồng Cổ sừng sững hiện ra trước mắt.

Kiệu bát cống đầu rồng được hạ đòn, Trần Khâm nhắm mắt, hít một hơi sâu rồi điềm tĩnh bước xuống.

Chàng nhìn Thượng hoàng, rồi cùng ngài chậm rãi bước qua cổng tam quan đi vào bên trong đền.

Ba hồi chín tiếng chiêng, trống vang lên rộn rã.

Sau đó, không gian đột ngột tĩnh lặng, chìm vào thanh âm của cờ xí bay ngợp trời.

Lính canh cùng hai hàng quan văn võ sắp dọc bên ngoài sân đền.

Trong chính điện, phẩm vật được bộ Lễ lần lượt bày lên hương án đã đặt sẵn long ngai, bài vị và áo mũ thần Đồng Cổ.

Khói nhang nghi ngút làm không gian trong đền càng thêm huyễn hoặc, thiêng liêng.

Bước qua vua và Thượng hoàng đang đứng giữa gian thờ tự, Thượng tướng thái sư Quang Khải kính cẩn cúi đầu chắp lễ rồi đặt chức văn lên án thờ.

Từ hậu cung bước ra, gia lễ quỳ mọp xuống đất, khẽ khàng dâng khay đựng chậu nước và khăn khô lên cho ông làm lễ quán tẩy.

Nhạc bát âm réo rắt vang lên.

Nắng vàng trải xuống mỗi lúc một đậm, nhưng cái oi ả đầu hè chẳng khiến người kinh thành phiền lòng.

Tất thảy, người bên ngoài đồng loạt nín lặng như đang chờ đợi.

Cần cổ vươn lên, đưa ánh mắt tò mò chui tọt vào chính điện.

Bỗng Trần Viễn có linh cảm phía sau, hắn liền ngoái đầu lại.

Lẫn trong đám nam, nữ đang chen chúc, hắn loáng thoáng nhận ra bóng người thương đang nhìn về phía này.

Chẳng cần nói, chỉ qua ánh mắt cũng hiểu được tâm tư nàng đang rất nhớ, rất mong.

Phải, đã hơn tháng nay bận bịu công việc ở quân doanh nên hắn chưa thể về gặp nàng.

Nhân dịp hội thề mới được về Thăng Long, hắn nhớ nàng xiết bao, muốn lao ngay đến ôm chặt lấy nàng, hít hà mùi hương từ tóc nàng cho thỏa nỗi lòng.

Nhưng, hắn phải kìm nén cảm xúc ấy lại, bởi hiện tại không phải lúc thích hợp.

"QUỴ!"

Tiếng hô khản đặc của Thái sư như sấm vang rền bên tai, kéo sự chú mục của Trần Viễn về chính điện.

Phạm Bân đứng trong hàng ngũ phía sau thoáng giật mình, mất vài giây mới bình tĩnh, tiếp tục dõi mắt vào bên trong.

Sau hiệu lệnh, vua và Thượng hoàng cùng quỳ xuống manh chiếu trải sẵn, mỗi người nhận lấy ba thẻ nhang từ tay gia lễ rồi vái lạy theo những tiếng hô.

"Phục mệnh tựu bái vị.

Hưng.

Bình thân."

Đứng lên, lại quỳ xuống lạy.

"Từ thần.

Cung cúc bái.

Hưng.

Bình thân."

Đứng lên, trao lại nhang cho Thượng tướng thái sư.

Làn khói nghi ngút bay lên khi ông đưa tay lên trán niệm và nhẩm khấn.

Sau khi vái đủ ba lần, ông tiến lên trước một bước, kính cẩn dâng hương lên điện thờ.

Cầm trên tay chức văn phụ tế vừa mang xuống, Quang Khải một lần nữa hô dõng dạc:

"GIAI QUỴ!"

Bấy giờ, tất cả chủ quân, gia lễ hay vương hầu tướng lĩnh cùng toàn bộ người dân đứng bên ngoài đồng loạt phủ phục xuống đất.

Ba hồi chiêng trống vang lên từng nhịp ròn rã.

Trong tiếng nhạc bát âm, người ta vẫn nghe bên tai từng lời, từng chữ rạch ròi của thái sư:

"Từ thuở xa xưa thời vua Hùng dựng nước, đức thần Đồng Cổ đã hiển linh giúp ngài đánh đuổi giặc ở Hồ Tôn.

Đến thời Đại Hành hoàng đế và Lý Thái Tổ, đức thần hai lần hiển linh bảo vệ non sông Đại Việt.

Lại sau loạn tam vương năm Mậu Thìn [1028], sự thiêng liêng của ngài càng không thể chối cãi.

Diệu cơ linh ứng, quốc thái dân an không sao kể xiết.

Bản triều ta hưởng lây phúc thái bình, há lại quên ơn sâu nặng.

Noi phép tiền vương, để tỏ lòng và biểu dương các bác liệt thánh, vua quan dâng lễ tạ ơn việc thần ngầm phù giúp vận nước, khiến âm dương hòa hợp.

Bát diệp sơ, Đồng Cổ sơn ngôn, lịch đại bao phong lưu ngọc điệp,

Thiên tải bậu, Chu Bàn bài thệ, nhất tầm trung biểu Phụng kim cương.

Hiện nay, giặc phương Bắc đang lăm le bờ cõi, nhân dân sắp lâm vào cảnh nguy khốn.

Kính mong đức thánh thần hiển linh, tiếp tục phù trợ quân dân ta lần nữa đánh thắng địch, giữ trọn đất nước an yên.

Nhân hội thề Đồng Cổ, xin bố cáo rộng khắp thiên hạ cho mọi người đều biết."

Lời dứt, quan Trung thư kiểm chính bước lên tuyên đọc:

"Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái thề này, thần minh giết chết."

Khi những tiếng "Xin thề" đồng loạt vang lên cùng âm thanh của trống đồng như phá tan bầu khí tĩnh lặng bao trùm khắp Thăng Long, chức văn được bỏ vào lư đồng đỏ lửa.

Giấy hóa thành tro, nội quan lại lũ lượt mang bát rượu máu phân phát cho từng người như một lời khẳng định của lời thề.

Thanh âm trầm ổn mà uy hùng một lần nữa vang lên:

"Tạ lễ.

Cúc cung bái.

Hưng.

Phục vị."

Đồng loại vua quan tướng lĩnh và dân bên ngoài lại phủ phục xuống, lạy ba lạy.

"Lễ tất."

Sau lời ấy, tể tướng sai người đóng cửa điểm danh, ai vắng mặt phải phạt năm quan tiền.

Hội thề hoàn tất, đến khi ra về Trần Viễn nhìn ngang ngó dọc đã chẳng thấy người thương đâu.

________

Phần trang phục của vua, quan tham khảo Ngàn năm áo mũ

Phần nghi lễ tham khảo Lịch triều hiến chương loại chí - Lễ nghi
 
[Full] Vãng Sự Vi Phong - Truyện Dài, Cảm Hứng Sử
Chương 78: Lời hứa


Từ hồi Quan gia và Thượng hoàng cùng các vương hầu tướng lĩnh họp bàn ở Bình Than, nhân dân Đại Việt lại bắt đầu rục rịch.

Đi về bất cứ nẻo đường nào cũng đều nghe thấy tiếng rèn đúc khí giới, tiếng quân lính tập luyện reo hò sôi nổi, và từng đoàn người tấp nập chuyển tải quân lương.

Ai ai cũng có nhiệm vụ của mình, nhưng tất cả đều hướng đến mục tiêu chung là chuẩn bị cho cuộc chiến sắp tới.

Ngay cả Lưu Vân thường ngày ham chơi cũng đã theo cha chuyên tâm học y thuật, phòng khi có việc cần đến.

Bởi thế, dạo gần đây An Tư không còn xuất cung nữa, nàng tự biết thân biết phận không muốn hoàng huynh lo lắng, càng không muốn người thương phân tâm để mà lo việc nước việc quân.

Thay vào đó nàng cùng các cung nhân bận rộn đan giỏ đựng tên, may túi vải, may áo mền mùa đông cho các binh sĩ, cũng gọi là góp chút công sức của mình.

Có mỗi hôm vừa rồi nhân hội thề ở Đồng Cổ, nàng đánh liều xin hoàng hậu cho xuất cung cốt cũng chỉ để nhìn hắn một lát cho thỏa cái nỗi nhớ nhung bấy lâu.

Trông hắn có vẻ gầy hơn, sắc mặt cũng mệt mỏi nhưng ánh mắt vẫn kiên cường, sáng ngời ngợi như sao mai lấp lánh.

Trời tối muộn, cơm nước xong xuôi An Tư lại đi đến chiếc bàn gần cửa sổ đang để ngổn ngang vải vóc và kim chỉ, nàng cầm chiếc áo gấm màu xanh đang thêu dở hai chữ "Trần Viễn" nơi ngực trái, và tiếp tục đưa mũi kim thêu nốt những nét còn lại.

***

Sau khi hội thề kết thúc, Trần Viễn theo lệnh Quan gia lên mạn Tây Bắc thị sát, mãi cho tới tận hôm nay mới trở về.

Trời nhá nhem tối, vừa vào thành hắn đã vội tiến cung diện kiến vua để bẩm báo lại những điều đã thấy.

Đại tư xã cấu kết với gian thương Hồi Hột đẩy giá mua cỏ dại lên cao, dân chúng thấy lời lãi nên đổ xô đi trồng cỏ thay vì trồng lúa như mọi năm, dẫn đến hậu quả là khan hiếm lương thực.

Cũng may vụ việc được phát hiện kịp thời, nên đã xử trí tên Đại tư xã đó và vận động dân trên ấy quay lại với nghiệp làm nông thuần túy.

Trần Khâm gặp hắn trong đình cạnh hồ Thủy Tinh, gió hè mát rượi xua tan đi cái oi ả khiến người ta cũng dễ chịu hơn.

Sau khi nghe hắn bẩm báo xong, chàng im lặng một hồi rồi đột nhiên giữa khoảng không gian đặc quánh đang bị bao trùm bởi bóng tối, chàng bỗng buột miệng hỏi người đối diện về kế sách chống giặc.

Hệt như năm xưa Tiên đế cũng từng hỏi cha hắn khi giặc Thát tràn vào.

Trần Viễn kinh ngạc trong giây lát, nhớ lại cách đây ít ngày khi hắn quay về Yên Sơn thăm sư phụ, nhân tiện cũng hỏi việc này.

Bấy giờ ông ấy trầm ngâm hồi lâu rồi dùng ngón trỏ làm bút, nước trà làm mực viết lên mặt bàn một chữ "dân".

Lúc này khi được vua hỏi, hắn cũng làm tương tự, dùng ngón tay miết lên bàn đá lạnh ngắt chữ "dân".

Trần Khâm cau mày, có khi hiểu cũng có khi không hiểu, mù mờ như sương đêm dưới mặt hồ.

Chàng bèn hỏi:

"Ý chú là...?"

Trần Viễn trầm tư hướng ra mặt hồ lăn tăn gợn sóng, không gian yên tĩnh thi thoảng còn nghe được cả tiếng loài cá quý quẫy đuôi nghịch nước.

Hắn đáp:

"Bẩm, Tuân Tử thời Chiến Quốc từng viết Quân giả, chu dã, thứ nhân giả, thủy dã; thủy tắc tái chu, thủy tắc phúc chu.

Nghĩa là vua là thuyền, dân là nước, nước nâng thuyền, nước cũng có thể lật thuyền.

Qua đó cũng thấy được vai trò quan trọng của dân.

Muốn củng cố giang sơn, đánh đuổi giặc thù thì phải làm cho dân chúng đồng lòng, một lòng ủng hộ triều đình.

Muốn thế trước tiên phải khiến dân chúng tin tưởng, toàn tâm toàn ý dốc sức cùng triều đình bảo vệ non sông."

Nghe xong những lời này, Trần Khâm bỗng thấy nhẹ nhõm như gỡ được tảng đá trong lòng, tầng tầng lớp lớp sương mù cũng dần tan biến đi.

Bấy giờ, chàng thoáng mỉm cười, thâm tâm đã tự có những dự tính riêng.

Không còn chuyện gì nữa, Quan gia cho phép hắn được cáo lui.

Khi ra đến sân rồng rộng lớn của điện Thiên An, bước chân hắn chậm lại rồi quay đầu rẽ sang hướng hậu cung.

Đi qua mấy cung điện lớn nhỏ nằm im lìm trong màn đêm tối tĩnh mịch, lại qua vườn Xuân Quang rộng lớn ngợp kỳ hoa dị thảo tỏa hương thơm ngát.

Khi tới ngã tư, trên hành lang dài hun hút hắn bỗng loáng thoáng thấy một bóng người, bởi trời tối nên không rõ ai chỉ khi người đó đến gần, hắn mới biết đó là Phó đô tướng quân Trần Khánh Dư.

Ông ta bước đến chào hắn, hắn cũng đáp lễ.

Sau, ông nói:

"Chiêu Thành Vương, chuyện lần trước ở bên Bình Than ta còn chưa có dịp cảm tạ ông."

Trần Viễn mỉm cười, đáp:

"Không có gì, chẳng qua ta cũng không muốn uổng phí một tướng tài mà thôi, quốc gia lâm nguy rất cần những người như ông phù trợ."

"Ta hiểu, dù sao vẫn cảm ơn ông đã nói giúp."

Khánh Dư chắp tay, khom lưng, cúi đầu với người đối diện.

Trần Viễn chỉ đành gật đầu, rồi ái ngại đỡ ông ta lên.

Trong bóng tối, hắn ngờ ngợ nhìn ra nét buồn bã hiện lên trong đáy mắt Khánh Dư, rồi hắn nhìn lại con đường ông ta vừa đi qua thì cũng lờ mờ đoán ra được phần nào.

Con đường ấy dẫn tới cung Mộc Miên của Thiên Thụy, người mà lẽ ra ông ta không nên gặp vào lúc này.

Khẽ thở dài, lắc đầu.

Hắn nói:

"Ta có điều này muốn nhắc nhở ông, ta có thể xin giúp ông một lần, nhưng nếu còn tái phạm thì ta cũng không chắc sự nhân từ của Quan gia có còn đủ lớn để ban phát cho ông lần nữa hay không?"

Đôi mắt Khánh Dư lóe sáng rồi trầm xuống, như đã hiểu được ý tứ của hắn, ông hơi cúi đầu và đáp:

"Ông hiểu lầm rồi, ta đến gặp nàng ấy cũng chỉ muốn nói lời từ biệt."

"Từ biệt?"

Lần này, đến lượt Khánh Dư thở dài.

Trong giọng nói khó giấu nổi sự tiếc thương.

"Phải, nàng ấy đã xin Quan gia đến Văn Úc để xuất gia cầu phúc cho muôn dân."

Thực ra ta đoán, nguyên nhân có lẽ cũng là vì ta.

Ngừng lại một chút, ông nói tiếp.

"Nhưng rốt cuộc nàng ấy vẫn không chịu gặp ta."

"Thì ra là vậy."

Chỉ là tiếng than vô nghĩa, Khánh Dư không nói thêm gì, ông cúi chào cáo biệt rồi xoay người rời đi.

Trần Viễn đứng ngẩn ngơ nhìn theo bóng người khuất dạng trong đêm tối rồi mới nhấc chân hướng về cung Họa Nguyệt.

...

Tiếng chuông gió bên hiên khẽ động, hương sen nhàn nhạt theo sương đêm len lỏi vào phòng.

An Tư thoáng rùng mình, nàng dừng mũi thêu.

Đưa mắt nhìn xa xăm qua cửa sổ, nàng bỗng hoang hoải về những ngày hội yến cùng nhau đan tay nhảy múa, hay những ngày nàng đánh đàn, chàng thổi sáo trong thủy đình, và cả những lần chèo thuyền hóng mát trên sông Tô Lịch đầy gió.

"Đang nhớ ta à?"

Chiếc ôm đột ngột đến từ phía sau khiến An Tư giật thót, cơ thể căng cứng, nàng toan hô lên vì tưởng kẻ trộm, chỉ đến khi giọng nói trầm ấm quen thuộc kia phả vào tai thì nàng mới buông lỏng người.

Gương mặt hốt hoảng dần chuyển sang sắc đỏ thẹn thùng, e ấp như một đóa hồng liên chớm nở.

Hắn siết chặt tay, mũi áp sát vào suối tóc mềm mại của nàng, mắt nhắm hờ mà hít hà hương thơm.

Nàng giả bộ chối bay:

"Ai thèm nhớ chàng chứ."

"Thật không?"

"Thật."

"Vậy ta về đây."

Hắn lạnh lùng buông tay, vờ vịt rời đi nhưng nàng đã kịp ngăn lại.

"Đừng đi."

Nàng ngượng nghịu, giọng nói có chút hờn dỗi.

"Em thừa nhận, em rất nhớ chàng.

Chàng đi biền biệt, chẳng nói một lời cũng chẳng thư từ gì khiến em ngày đêm lo lắng."

Trần Viễn biết sai, cũng bởi công vụ bận bịu quá, hắn thực chỉ muốn làm xong rồi trở về với nàng.

Vội kéo nàng vào lòng, hắn cúi đầu xuống áp sát vào mặt nàng rồi như có điều gì thôi thúc mãnh liệt, hắn đặt lên môi nàng một nụ hôn ngấu nghiến mút trọn bờ môi ngọt ngào ấy hồi lâu mới dứt, giọng hắn trầm ấm bên tai:

"Ta xin lỗi, vì đã khiến nàng lo lắng."

An Tư khẽ mỉm cười, nàng dựa đầu vào vòm ngực rắn chắc của hắn, vòng tay qua eo và ôm ghì lấy hắn cho khỏa lấp nỗi nhớ mong đang trống trải trong lòng.

Giọng nàng nỉ non:

"Hứa với em, từ giờ trở đi dù ở bất cứ đâu hay làm gì thì chàng cũng phải cho em biết chàng vẫn sống, vẫn bình an để trở về."

Trần Viễn im lặng.

Chiến tranh xảy ra, bản thân hắn là tướng của triều đình ắt sẽ phải cầm quân xông pha trận mạc, đứng nơi đầu sóng ngọn gió là điều khó tránh khỏi.

Chiến trường khốc liệt, ranh giới sống chết khi ấy cũng chỉ cách nhau trong gang tấc, không thể nói trước được gì.

Chính vì vậy, hắn đã suy nghĩ rất lâu khi có ý định xin Thượng hoàng ban hôn, nhưng cuối cùng vẫn đành hoãn lại.

Nhỡ có điều chẳng may xảy ra, hắn không muốn vì hắn mà nàng lỡ mất nhân duyên với người khác.

"Được, ta hứa với nàng.

Nhưng... nàng cũng vậy nhé.

Dù xảy ra chuyện gì cũng phải sống, phải bình an."

"Vậy chúng ta ngoắc tay."

Một lời đã định, nhưng đâu ai biết tương lai sẽ xảy chuyện gì?

Lời hứa khi ấy, liệu có giữ trọn hay chăng?

...

Mùa thu, tháng bảy, sai trung phẩm Hoàng Ư Lệnh và nội thư gia Nguyễn Chương sang Nguyên gặp hoàng tử Thoát Hoan, Bình chương A Lý Hải Nha ở Hồ Quảng để đòi trả lại các sứ đã bị bắt giữ.
 
[Full] Vãng Sự Vi Phong - Truyện Dài, Cảm Hứng Sử
Chương 79: Hào khí Đông A


Tháng mười, từng cơn gió bấc đầu mùa tràn vào, người ta đã bắt đầu mặc thêm tầng tầng lớp lớp áo khoác bên ngoài cho đỡ lạnh.

Ấy thế mà với những binh sĩ hừng hực khí thế đang ngày đêm tập luyện ngoài bờ sông thì cái giá rét đó cũng chẳng thấm vào đâu.

Ý chí sắt đá, lòng tự tôn dân tộc trong mỗi người con của đất Việt từ bao đời nay vẫn luôn mạnh mẽ vươn lên để vượt qua mọi chướng ngại, đánh đuổi mọi loài giặc thù xâm lăng.

Trời đổ mưa phùn mấy hôm thì hửng nắng.

Hôm ấy trời quang, trong và xanh, Trần Khâm thân hành đi thuyền ngự ra bến Đông Bộ Đầu xem điều quân thủy bộ tập trận.

Quân chủ lực nhà Trần gồm cấm quân và quân các lộ.

Quân các lộ ở đồng bằng gọi là chính binh, ở miền núi gọi là phiên binh.

Năm Kỷ Hợi [1239], tiên đế Thái Tông ra lệnh tuyển lính, chia làm ba bậc thượng, trung, hạ.

Cấm quân được chú ý xây dựng, gọi là quân túc vệ.

Bảy năm sau, lại đặt ra các vệ tứ thiên, tứ thánh, tứ thần và chọn người khỏe mạnh sung quân:

Quân các lộ Thiên Trường, Long Hưng nhập vào quân Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh, Củng Thần.

Quân các lộ Hồng châu, Khoái châu nhập vào các quân tả hữu Thánh Dực.

Quân các lộ Trường Yên, Kiến Xương nhập vào các quân Thánh Dực, Thần Sách.

Năm Đinh Mão [1267], Thái Tông lập thêm Toàn Kim Cương đô, Chân Thượng đô, Cấm vệ thủy dạ xoa đô, Chân Kim đô.

Đứng đầu mỗi quân là một đại tướng quân.

Mỗi quân có ba mươi đô, chỉ huy mỗi đô có chánh phó đại đội.

Mỗi đô có năm ngũ, đứng đầu mỗi ngũ là đầu ngũ.

Ước tính số cấm quân khoảng hai vạn người đóng ở Thăng Long, Tức Mặc và một số địa phương quan trọng.

Đây là quân chuyên nghiệp, là lực lượng tinh nhuệ nhất, tuyển chọn kỹ lưỡng, chủ yếu có nhiệm vụ bảo vệ hoàng gia và triều đình.

Cấm quân ở kinh thành Thăng Long có thích chữ "Thiên tử quân" vào trán do tông thất hoặc người được đặc biệt tin tưởng chỉ huy, gọi là Điện tiền chỉ huy sứ (gọi tắt lá điện súy).

Cấm quân là lực lượng nòng cốt trong chiến tranh chống ngoại xâm, có thể được điều động đi các lộ để tác chiến.

Ngoài ra, khi có lệnh của vua, các vương hầu được phép chiêu mộ quân riêng.

Gồm hai loại: Sương quân là quân của các đại gia tộc hay các quan quyền thế nhưng không thuộc hoàng tộc.

Và vương hầu quân do các quý tộc thuộc hoàng gia chiêu mộ, tự tổ chức huấn luyện và trang bị.

Hàng ngày, tất cả các binh lính, tướng sĩ ngoài rèn luyện thân thể ra thì đều phải học binh thư do Hưng Đạo vương dốc tâm huyết soạn thảo là Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư.

...

Giữa trưa, thuyền rồng cập bến Đông.

Bước ra khỏi khoang thuyền, gió lạnh từ mặt sông lùa vào chỉ khiến Trần Khâm rùng mình trong giây lát, chàng nán lại trên mui, phóng tầm mắt ra xa toàn cảnh khu vực Đông Bộ Đầu tấp nập chiến thuyền neo đậu.

Từng hàng, từng hàng thuyền chiến nào là Mông Đồng, Lưỡng Phúc, hay những Châu Kiều, Đinh Sắt, Cổ Lâu đủ các loại lớn nhỏ cùng cờ tiết sặc sỡ của các vương hầu nối đuôi nhau dàn thành đội hình ngay ngắn, trải dài khắp bến sông.

Sự chú mục của chàng dừng lại trên lá cờ lớn màu vàng thêu sáu chữ Phá Cường Địch, Báo Hoàng Ân đang vươn mình tung bay cuối dãy, trong đầu đột nhiên hiện ra hình ảnh cậu thiếu niên Hoài Văn hầu năm nào, tuy tuổi còn trẻ nhưng ý chí và sự gan dạ lại chẳng kém cạnh bất kỳ ai.

Trên một doi đất bằng phẳng, quân triều đình đã dựng lên một đài cao hướng ra mặt sông từ tối hôm trước.

Quân hiệu vây kín lưng và hai bên tả hữu.

Giáo sắt phản chiếu ánh nắng, vô tình tạo nên những hàng lấp lánh, chĩa thẳng lên trời.

Người dân chen nhau đứng dọc bờ đê, dài đến cả trăm dặm.

Hàng nghìn ánh mắt đổ vào mũi giày thêu rồng vừa rời thuyền lớn, chạm xuống mặt đất.

Từng bước đi chậm rãi tiến về phía đài gỗ.

Không gian im phăng phắc, chỉ còn tiếng cờ rồng vàng cùng cờ tiết màu đỏ rực cắm đối xứng trên đài cao bay phần phật.

Bàn chân Quốc Tuấn theo gót rồng thiêng tiến lên đài rồi dừng lại.

Từ trên cao, ông có thể thấy từng lớp lính tráng chỉnh tế của các vị quân dưới bến.

Hàng tượng binh, thủy binh tinh nhuệ của chi Vạn Kiếp.

Đô lính toàn tài của thượng tướng thái sư, đội Tinh Cương uy dũng của Chiêu Quang vương hay quân Thần Sách oai hùng của Chiêu Thành vương.

Và cả những thiếu niên chừng mười sáu, đôi mươi mang khát vọng góp công cứu nước trong đoàn binh của Hoài Văn hầu.

Quốc Tuấn thấu tỏ nỗi niềm của từng ánh mắt, lẫn cái hồi hộp, trông ngóng giấu trong những hơi thở loạn nhịp.

Đứng phía sau Trần Khâm, viên thông tán đọc to đạo sắc phong.

Lời dứt, viên nội quan kề cận dâng lên tráp gỗ sơn sơn đặt ấn Quốc công trên lá cờ gấp gọn.

Trần Khâm cầm ấn và trịnh trọng trao lại cho Quốc Tuấn, chàng nói:

"Thời Nguyên Phong đức tiên đế Thái Tông và thượng phụ Thủ Độ đã trao kiếm Hộ Quốc cho khanh.

Nay thuận theo ý trời, ta trao ấn Quốc công tiết chế cho khanh.

An nguy xã tắc này nằm cả trong tay Quốc công.

Đừng phụ sự kỳ vọng của muôn dân."

Quốc Tuấn bỗng thấy đôi vai nằng nặng, hai tay đưa lên cao quá đầu để nhận ấn, ngài chỉ đáp ngắn gọn:

"Tạ ơn sự tin tưởng của Quan gia."

Ngay sau đó, người gia nô của Quốc công là Dã Tượng theo lệnh của thông tán cũng nhanh chóng tiến về phía trước, vung cờ tiết chế lên giữa nền trời xanh thẳm.

Tiếng trống hào hùng hòa cùng tiếng hân hoan vỡ òa của dân chúng và binh sĩ bên dưới như càng dậy vang hào khí Đông A.

***

Mùa đông, tháng mười một, sai Trung đại phu Trần Khiêm Phủ sang hành tỉnh Kinh Hồ, nước Nguyên xin hoãn binh nhưng thất bại.

...

Trống điểm canh ba nhưng cụ Ngọ vẫn không tài nào chợp mắt được, trong lòng cứ bồi hồi mãi, tim đập thình thịch như ngựa phi, chưa bao giờ cụ lại mong trời mau sáng đến vậy.

Sớm mai, khi gà gáy là cụ sẽ lên đường vào kinh, đại diện cho toàn bộ người dân làng Bưởi nói lên nguyện vọng của họ cho thánh thượng nghe.

Đã lâu rồi, cụ mới thấy mình như trẻ lại.

Giá mà, cụ vẫn còn khỏe như đám thanh niên trai làng nhỉ, cụ sẽ sung quân xông pha trận mạc đánh đuổi lũ giặc Thát khốn nạn ấy ra khỏi mảnh đất thiêng liêng này.

Giống như cái hồi năm Nguyên Phong thứ bảy, cụ cũng từng theo chân Thái sư Thủ Độ đánh bọn Ngột Lương Hợp Thai không còn mảnh giáp.

Tiếc rằng, sau trận ở Quy Hóa cụ bị mất một cánh tay nên khi thái bình, cụ được ra quân cho về quê lấy vợ sinh con.

Chớp mắt cũng ngót nghét ba mươi năm rồi, dã tâm thôn tính Đại Việt của bọn chúng lại trỗi dậy.

Nhưng với sức mạnh đoàn kết và ý chí kiên cường của muôn dân, cùng với sự dẫn dắt sáng suốt của ông hoàng, cụ tin chắc lần này chiến thắng sẽ lại về tay ta.

Trời còn chưa tỏ, con gà đã theo linh tính vươn cổ gáy vang.

Thằng Sơn đương nằm trên chõng cũng phải giật mình, nó quay sang không thấy ông nội đâu thì đâm ra hoảng.

Hôm nay là ngày trọng đại của toàn dân, nó được giao trọng trách hộ tống ông nội vào kinh gặp vua.

Kể cũng lạ, từ xưa đến nay đâu có chuyện nhà vua hỏi ý kiến dân về việc nước bao giờ, ấy vậy mà chuyện này lại là thật.

Nghe ông nội nó bảo, đó là triều đình đang thể hiện sự tôn trọng với muôn dân, bởi dẫu sao đất nước này cũng đâu phải của riêng họ Trần.

Sơn ngồi dậy khoác thêm áo rồi chạy ra sân thì thấy cụ Ngọ đang ngồi ngoài thềm cửa, ngẩn ngơ nhìn vầng trăng mờ.

Nó buột miệng hỏi:

"Ông không ngủ ạ?"

Cụ Ngọ ngoảnh đầu sang nhìn vẻ mặt còn ngái ngủ của thằng cháu nội thì lắc đâu, cụ không đáp lại câu hỏi mà chỉ dặn dò:

"Trời sắp sáng rồi, cháu đi rửa mặt cho tỉnh rồi vào chuẩn bị đi rồi ông cháu ta lên đường."

Sơn vâng dạ, rồi làm theo, không dám than nửa lời.

...

Giờ lành đến, cổng Đại Hưng mở cửa lớn đón các vị phụ lão từ khắp nơi đổ về hội họp.

Khi các cụ được quan nội thị dẫn vào sân điện Diên Hồng sắp xếp chỗ ngồi xong xuôi, thì đám cung nhân cũng hoàn tất việc dọn những món ăn cuối cùng từ trù phòng lên bàn tiệc.

Viên quan nội thị đứng trên bậc thềm, kính cẩn nói:

"Thưa các vị phụ lão, cảm thương các vị tuổi đã cao mà không ngại đường xá xa xôi tới đây họp bàn nên Thượng hoàng đã ban yến mời các vị.

Xin các vị cứ dùng tự nhiên, xong xuôi ngài sẽ đến gặp các vị để vào việc chính."

Các phụ lão cả đời thân phận thấp hèn, tay bùn chân lấm, nay bỗng dưng được triều đình mời vào tận hoàng cung và được thết đãi chu đáo để bàn chuyện quốc gia đại sự, tinh thần của các vị phụ lão càng trở nên phấn chấn khác thường.

Trong lòng ai nấy đều hân hoan, thoải mái vô cùng.

Gần đến giờ Ngọ, yến tàn.

Dưới sân điện bỗng im bặt, mọi ánh mắt đều đổ dồn lên đại sảnh dõi theo bóng chủ quân mặc áo bào trắng đi tới.

Sắc mặt ngài hồng hào, ánh mắt nhân từ cùng nụ cười ôn hòa dễ khiến người ta sinh ra thiện cảm ngay từ lần đầu gặp mặt.

Khi gót rồng dừng lại giữa đại sảnh, nhất loạt bên dưới đều sụp lạy, hai tiếng "Muôn tuổi" cùng hô vang.

Thượng hoàng ra hiệu cho các phụ lão đứng lên, xong lại ôn tồn nói:

"Như các cụ đã biết từ năm ngoái giặc Thát đã gửi thư chiếu xin mượn đường đánh Chiêm Thành, ai cũng biết đó chỉ là cái cớ sang xâm lược nước ta.

Vậy nhân dịp các phụ lão đều hội tụ đông đủ ở đây, trẫm muốn hỏi ý kiến các cụ một câu: Chúng ta nên hòa hay nên đánh?"

Lời vừa dứt, tất thảy cũng chỉ chờ đến lúc này.

Muôn người cùng hô lớn như bật ra từ một cửa miệng:

"XIN ĐÁNH!"

Âm vang hào khí lan tỏa vút cao lên tận mây xanh.
 
[Full] Vãng Sự Vi Phong - Truyện Dài, Cảm Hứng Sử
Chương 80: Thất thủ


Tháng Chạp năm Giáp Thân [1285], quân Nguyên chia làm ba đạo chính thức đánh vào Đại Việt.

Đạo chủ lực năm mươi vạn đại quân do Trấn Nam vương Thoát Hoan và phó tướng A Lý Hải Nha chỉ huy từ Tư Minh tiến vào, khi đến Lộc Châu thì chia làm hai cánh tiến quân.

Cánh phía Tây do vạn hộ Bột Đa Cáp Đáp Nhĩ và chiêu thảo A Thâm chỉ huy tiến theo con đường huyện Khâu Ôn đánh phá các ải Chi Lăng, Thiết Lược.

Cánh phía Đông do Sát Tháp Nhi Đài và vạn hộ Lý Bang Hiến chỉ huy đi theo đường núi Cấp Lĩnh tiến xuống.

Đại quân của Thoát Hoan đi sau cánh thứ hai.

Đạo thứ hai chỉ gồm hơn một nghìn quân Mông Cổ và Vân Nam do Mãng Cổ Thái chỉ huy đi từ Vân Nam vào Đại Việt qua vùng Thu Vật, Bạch Hạc theo đường sông Chảy.

Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật được cắt cử đón đánh ở vùng này.

Đạo thứ ba là đạo quân đang chiến đấu ở Chiêm Thành do Toa Đô chỉ huy đã chiếm được thành Đồ Bàn, đang truy kích quân Chiêm, khi được lệnh sẽ quay sang tấn công Đại Việt từ phía nam tạo thế gọng kìm chặn mọi đường thoát thân của quân ta.

...

Ngày hai mươi sáu, giặc tràn sang như đê vỡ.

Mặt đất rung chuyển, bụi đỏ phủ mờ thế gian.

Mưa tên dày đặc trút xuống chiến trường.

Quân Trần ít, kháng cự được vài trận thì thất thủ, từng lớp lính tráng anh dũng ngã xuống.

Biên ải chỉ còn vang vọng tiếng vó ngựa lẫn trong âm thanh gào thét man rợ của loài ác quỷ khát máu.

Núi rừng rực lửa bao quanh làng mạc.

Sự sống dần trở thành một điều xa xỉ.

Vó ngựa Mông Cổ đi đến đâu, cỏ không mọc được ở đó.

Khả Lý vỡ nát.

Quản quân phụng ngự Đỗ Vĩ, Đỗ Hựu bị Tôn Hựu bắt giết.

Động Bản tan tành.

Tướng Tần Sâm tử trận.

Vậy là chỉ sau ba ngày tiến quân từ phía Tây xuống, bọn Bột Đa Cáp Đáp Nhĩ, A Thâm đã phá vỡ mọi phòng tuyến nơi biên cương.

Vào sâu trong đất Lạng, bọn chúng chia quân đánh vào các ải Chi Lăng và Thiết Lược.

Một vạn kỵ binh của A Thâm sau khi giao chiến kịch liệt với Chiêu Thành vương mấy ngày ở ải Thiết Lược không làm gì được, gã bèn bỏ tiền ra mua chuộc một tên thổ ty, tên này chỉ đường núi cho giặc đánh vòng qua sau ải.

Giữa đêm, tiếng tù và báo động bị tập kích của lính gác chòi vang lên gấp gáp mấy hồi rồi im bặt, binh sĩ chưa kịp phản ứng gì đã phải hứng chịu những đợt hỏa tiễn, độc tiễn từ tứ phía đổ xuống, ào ào như thác lũ.

Thoáng chốc, quân doanh hoảng loạn như ong vỡ tổ, từng người đổ gục, lửa đỏ bao trùm tất cả.

Trần Viễn đang trong trướng giật mình cầm theo đao lao vụt ra ngoài.

Giữa biển lửa vây chặt tứ bề, hắn không thấy bất kỳ hình thù nào giống người, càng chẳng hề xuất hiện một cái gì đó từa tựa như trang phục của binh lính Đại Việt.

Quân Nguyên phá thành lũy, lao vào điên cuồng chém giết bất cứ ai cản đường.

Chẳng mấy chốc, giặc tràn tới trung quân.

Những binh sĩ tinh nhuệ của quân Trần vẫn tiếp tục kiên cường bảo vệ chủ soái, nhưng giặc đông quá lớp người này ngã xuống thì lớp sau lại ào ạt xông lên, thây người chất đống, máu và bùn đất lẫn lộn.

"Nếu thất bại phải lập tức rút để bảo toàn binh lực, tuyệt đối không được liều mạng."

Câu nói của Quốc công vang vọng bên tai Trần Viễn như một lời cảnh tỉnh giúp hắn bình tĩnh lại, tình thế càng lúc càng căng thẳng.

Không phí một khắc nào, đầu hắn xoay chuyển rồi hô hiệu lệnh rút.

Các tùy tướng và binh sĩ sót lại nghe lệnh lập tức lao ra đánh phá vòng vây, giữa lúc nguy khốn hắn lại nói.

"Trâu!

Mau dùng đốt đuôi chúng, mở đường."

Một viên tùy tướng hiểu ý chạy ra sau trại, mở chuồng trâu rồi đốt đuôi.

Mấy con trâu to khỏe bị nóng đít, điên cuồng lao về phía trước, sừng trâu nhọn húc lòi ruột quân thù khiến chúng hoang mang, vòng vây đứt gãy.

Nhân lúc ấy, Trần Viễn cùng tướng sĩ cũng lên ngựa, thúc đuôi tháo chạy vào bìa rừng.

Phía sau lưng, tiếng hô hoán của kẻ địch chìm dần vào đêm tối.

Ải Thiết Lược cũng hoàn toàn sụp đổ.

A Thâm chiếm được Thiết Lược.

Tại ải Chi Lăng, Bột Đa Cáp Đáp Nhĩ cũng đánh Phạm Ngũ Lão tơi bời khiến chàng phải bỏ trại, lui binh về sông Hóa chờ lệnh.

...

Cánh quân phía Đông không chịu thua kém, chỉ sau năm ngày đã tiến vào Nội Bàng.

Nhìn thấy đồn trại của quân Trần trùng điệp, bọn Sáp Tháp Nhĩ Đài liệu đánh không nổi bèn đóng trại ở thôn Biến Trú, đợi đại quân cùng chủ tướng Thoát Hoan đến.

Nửa ngày sau, Thoát Hoan đến.

Y biết Hưng Đạo vương đang ở đây thì lấy làm khoái trá, lập tức hạ lệnh tấn công ngay.

Phó tướng A Lý Hải Nha vội khuyên can:

"Xin Đại Vương cân nhắc, Trần Quốc Tuấn là tay xảo trá lươn lẹo, lại đã từng đối địch với quân ta.

Tốt nhất là đợi cánh quân của tướng Bột Đa Cáp Đáp Nhĩ sang hợp lực rồi rồi hẵng đánh."

Thoát Hoan là viên tưởng trẻ tuổi kiêu dũng, đang khao khát lập công, y gạt phắt đi, một mực hô quân dàn trận công phá trại quân Trần ngay.

Biết Hưng Đạo vương đang trong trung quân, y phi ngựa ra trước trận tiền gọi to:

"Quốc Tuấn!

Hôm nay ta sẽ cho nhà ngươi biết thế nào là sức mạnh quân Mông Thát.

Ngươi biết điều thì hãy mở cổng thành xin ta tha mạng"

Quốc Tuấn đứng trên vọng lâu, vuốt râu chỉ gươm quát:

"Lũ giặc hung tàn các ngươi quen thói chém giết dân lành vô tội.

Các ngươi đã xâm phạm Đại Việt thì sẽ chỉ có một đường bại vong thôi.

Thằng oắt con vắt mũi chưa sạch Thoát Hoan kia, hãy mau quay ngựa về bắc thì ta sẽ để yên cho qua biên giới.

Còn muốn chết mất xác thì hãy xông vào!"

Dám mắng ta là trẻ con vắt mũi chưa sạch.

Thoát Hoan đỏ mặt tía tai, gầm lên một tiếng vang trời, vung gươm quát lớn:

"Bay đâu, xông lên bắt lấy tên giặc già kia cho ta."

Kỵ binh Nguyên Mông lập tức xuất trận tên bắn như mưa trút vào trại quân Trần.

Quân Trần che chắn bằng khiên mộc, từ trong trại phóng lao, bắn tên đáp trả.

Hỏa pháo của quân ta nổ đinh tai bắn mưa đạn về phía giặc.

Trống đồng thúc rộn rã.

Tiếng hò Sát Thát rền vang.

Cả một vùng Nội Bàng rộng lớn rầm rập ngựa phi, bụi đỏ cuộn lên, khói lửa mịt mùng.

Đánh nhau hồi lâu nhưng quân Nguyên chưa công phá được cổng thành, người chết như ngả rạ.

Bọn chúng đông quá, nhưng quân Trần cũng chẳng hề nao núng, vẫn cố thủ cổng thành.

Hai bên giao chiến kịch liệt cả ngày không phân thắng bại, đến xế chiều, giặc Nguyên bỗng khua chiêng thu quân về án binh bất động.

Mãi đến tận sáng sớm hôm sau, khi thấy Bột Đa Cáp Đáp Nhĩ và A Thâm dẫn quân tới, Thoát Hoan mừng rỡ lập tức chia sáu đạo quân bao vây bốn phía tấn công trại quân Trần.

Đôi bên giao chiến cả buổi chiều.

Thế giặc mạnh, quân Trần lại ít, chống cự không được bao lâu thì tuyến phòng ngự tan vỡ.

Đại liêu ban Đoàn Thai bị bắt sống, binh sĩ hy sinh nhiều vô số.

Thấy đánh nữa không lợi, Quốc Tuấn phát lệnh rút.

Quân Trần lập tức mở đường máu, lui nhanh về các cứ điểm định sẵn.

Quốc Tuấn cùng các tùy tướng phi ngựa xuôi theo bờ sông Lục, về phía bãi Tân.

Thoát Hoan cay cú dẫn kỵ binh đuổi theo sát lắm.

Có viên tùy tướng thấy vậy nói:

"Hay là ta bỏ bờ sông, rẽ vào đường núi đi tắt về Vạn Kiếp, kỵ binh giặc sẽ không đuổi theo được, xuống bãi Tân nhỡ không có thuyền chờ thì sao?"

Nhưng Dã Tượng gạt đi: "Yết Kiêu vẫn đợi ở bãi Tân, cậu ta chưa thấy đức ông đến sẽ không đi đâu."

Không để lãng phí thì giờ, Quốc Tuấn nói vội với các tùy tướng:

"Ta đi cùng Dã Tượng, các ngươi chia nhau ra.

Cùng hội ở Vạn Kiếp."

"Rõ!!!"

Đến ngã tư, người ngựa chia năm xẻ bảy ra các ngả đường, lao đi vun vút.

Khi ngựa Dã Tượng chạy đến bãi Tân, ngoài bến vắng không có lấy một mui thuyền.

Bụi mù từ biên ải theo gió dạt đến, che mờ toàn bộ bãi lau hai bên, bay là là trên mặt nước như âm khí, vó ngựa kẻ thù dồn dập đuổi theo.

Gần sát mép nước, Dã Tượng vẫn thúc ngựa chạy điên cuồng.

Một tay gồng lên nắm chắc hơn dây cương, rồi đột ngột đưa tay còn lại lên miệng, dồn hết hơi thở trong buồng phổi vào tiếng sáo huýt.

Từ bãi lau sậy bên mé trái, Yết Kiêu lập tức đẩy thuyền lớn trôi ra.

Cả người và ngựa lao khỏi bến gỗ, nhảy bổ xuống thuyền, cây sào tre lún xuống bùn cả tấc khi Yết Kiêu oằn người giữ thăng bằng.

Thoáng chốc, y lấy lại sức chèo nhanh như gió về phía Vạn Kiếp.

Thoát Hoan đuổi tới nhìn theo bóng thuyền tức tối nói vớt:

"Trần Quốc Tuấn, ta chờ ngươi ở Thăng Long."

Thuyền đi một quãng xa, Quốc Tuấn vuốt nhẹ chòm râu, quay vào nói:

"Chim bồng bộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh.

Nếu không có sáu chiếc trụ cánh ấy thì cũng là chim thường thôi.

Ta thân làm tướng, có lập được công ích gì thì cũng là công lao của các ngươi."

Khi về đến Vạn Kiếp, ông chia quân đóng giữ ở Bắc Giang.
 
[Full] Vãng Sự Vi Phong - Truyện Dài, Cảm Hứng Sử
Chương 81: Chia ly


Trời còn chưa tỏ, điện Tuyên Đức nằm im lìm trong bóng tối.

Bên trong nội điện, Trần Khâm ngồi thẫn thờ bên long án, tay vò nát lá thư báo biên thùy thất thủ vừa được đưa tới.

Trăm mối lo lắng, vạn nỗi bất an cứ thế dâng lên trong lòng chàng như có cả đàn kiến đang nhâm nhi từng thớ thịt.

Rồi, chàng bỗng vực dậy vội vã dẫn theo cấm quân, dong thuyền nhẹ xuôi lộ Hải Đông.

Trước mắt Trần Khâm hiện lên một khung cảnh tiêu điều, xơ xác.

Mọi năm tầm này các gia đình đang vui vẻ quây quần chuẩn bị đón Tết, khắp nơi rộn ràng niềm vui, vậy mà giờ đây chỉ còn lại sự u ám buồn khổ và ngột ngạt đang bao phủ bốn bề.

Khí chiều càng lạnh.

Gió xộc tới thổi bay tà áo khiến Trần Khâm thoáng rùng mình, viên nội quan vội vã khoác lên vai chàng thêm tấm áo cho đỡ lạnh.

Chợt, sự chú mục của chàng hướng về phía tên lính chèo thuyền đang lấm lét nhìn mình, hai tay để sau lưng, vẻ mặt hiện rõ sự bối rối.

Khẽ nhíu mày, chàng gọi cậu ta đến hỏi:

"Nhà ngươi có chuyện gì sao?"

Cậu ta sợ quá, quỳ sụp xuống khóc nức nở, giọng nói run run không nên lời:

"Dạ thưa... thưa..."

Thấy cậu ta có vẻ vô hại, Trần Khâm hơi hạ giọng hỏi lại:

"Có chuyện gì nói ta nghe xem."

Phải mất một lúc cậu lính mới bình tĩnh lại, khẽ khàng thưa:

"Xin quan gia tha tội chết cho.

Chẳng là sáng nay trước khi đi hầu quan gia, mẹ con có nắm cho con một vắt cơm.

Thấy quan gia từ sáng chưa ăn uống gì, đã mấy lần con định dâng, nhưng sợ phạm tội vì đây là đồ ăn của sĩ tốt."

Vừa nói cậu ta vừa mở túi giấu sau lưng và lôi ra một nắm cơm bọc lá chuối, hai tay run run dâng lên, giọng nghẹn ngào: "Dạ bẩm, con chưa dám đụng tới một hạt nào, xin quan gia tha tội."

"Ngươi tên gì?"

Cậu lính ngỡ ngàng, đáp rành rọt:

"Dạ thưa, con tên Trần Lai."

Bấy giờ, Trần Khâm mới sực nhớ đúng là cả ngày nay chàng và mọi người đều chưa ăn gì.

Bỗng chàng nở nụ cười, ánh mắt hiền hậu nhìn cậu lính rồi nói:

"Ngươi có tội tình gì đâu mà xin tha tội, ngươi có tấm lòng trung như thế, trẫm sẽ ghi nhớ.

Trẫm không chê cơm xấu, là do lỗi của trẫm mà các ngươi phải chịu vất vả."

Nói rồi, chàng quay sang thị vệ Trần Kính dặn gã chia đều bọc cơm cho tất cả mọi người trên thuyền.

Khi thuyền ngự ghé vào đất hương Vạn Kiếp, lính viễn thám tức tốc về tâu.

Quốc Tuấn vội vàng lên ngựa phóng ngay ra bến sông.

Đến nơi, ông thấy tay nhà vua đang cầm miếng cơm gạo hẩm đưa lên miệng.

Chứng kiến cảnh vua tôi lam lũ, Quốc Tuấn thực sự đau lòng, và ông cảm như chính mình có lỗi.

Ông ném cây kích ra xa và nhảy xuống ngựa, rồi lật đật leo lên thuyền ngự sụp lạy:

"Không cản được giặc, để quan gia phải nhọc tâm, tội thần đáng muôn chết."

Trần Khâm vội đỡ ông dậy và hỏi han gấp gáp các trận giao chiến và việc lui quân.

Quốc Tuấn tâu trình mọi việc đâu ra đấy.

Nghe xong, chàng cũng tạm yên tâm vì thế không giữ được đành phải lui quân để bảo tồn binh lực, đó cũng là một chiến lược của kẻ làm tướng nhưng nhớ đến khung cảnh tiêu điều, dân chúng lầm than thì chàng lại nói:

"Thấy thế giặc hùng mạnh, trẫm lo lắm.

Không phải quân ta không có sức, tướng sĩ không tận tâm, nhưng vì quân giặc quá đông, lại thạo nghề chinh chiến, mấy bữa nay lòng trẫm lại càng thương xót.

Dân chúng có tội tình gì đâu mà bọn chúng tàn sát đầy đồng, máu nhuốm đỏ biên cương.

Hay là..."

Chàng do dự nhìn Quốc công rồi thở dài.

"Hay là ta cứ tạm thời hàng chúng trước rồi tìm cách sau."

Quốc Tuấn nghe xong cũng giật mình trong thoáng chốc, ông vội quỳ xuống và vòng tay thưa:

"Đại Việt ta có được chủ quân nhân hậu như quan gia là phúc của trăm họ, nhưng còn tông miếu xã tắc thì sao?

Nếu quan gia muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước."

Lời đáp khẳng khái cùng ánh mắt kiên định sáng ngời của vị Quốc công khiến Trần Khâm bỗng thấy hổ thẹn, chàng hơi cúi người nâng ông đứng lên rồi nói:

"Quốc công đứng lên đi.

Trẫm thấy thẹn vì đã có ý nghĩ hèn nhát kia.

Quốc công đã quả quyết thế thì không còn nghi ngại gì nữa, ý trẫm đã quyết, vì an nguy xã tắc, vì bách tính Đại Việt, trẫm thề chống cự đến cùng."

"Tạ quan gia."

Sau đó, Quốc Tuấn dẫn nhà vua về đại bản doanh để cùng bàn việc kế sách chống giặc.

Ông đã điều động thêm quân từ các lộ Hải Đông, Vân Trà, Ba Điểm, chọn những người dũng cảm làm tiên phong.

Lại điều cả quân của các vương hầu về hợp lực.

Riêng các vương tử của ông là Hưng Vũ Vương Nghiễn, Minh Hiến Vương Uất, Hưng Nhượng Vương Tảng, Hưng Trí Vương Hiện đốc suất gần hai mươi vạn quân với trên một nghìn thuyền chiến từ các xứ Bàng Hà, Na Sầm, Trà Hương, Yên Sinh, Long Nhãn đều đến hội ở Vạn Kiếp theo quyền điều khiển của Quốc công Tiết chế cùng chống quân Nguyên.

Trần Khâm thấy vậy càng thêm vững dạ, lúc sắp trở về chàng liền làm thơ đề ở đuôi thuyền rằng:

Cối Kê cựu sự quân tu ký,

Hoan Diễn do tồn thập vạn binh.

...

Tin các đồn ải biên thùy và Nội Bàng thất thủ bay về làm chấn động cả Thăng Long.

Vừa về đến điện Càn Nguyên, Trần Khâm cho gọi viên quan Trần Thì Kiến đến lệnh cho y phải thu xếp cho người già, đàn bà, trẻ con gấp rút đi lánh nạn.

Sai Nhân Túc vương Toàn là người coi sóc phủ Tông Chinh đem phân tán bớt đồ tế khí, thờ tự về Long Hưng, cùng phối hợp với hoàng hậu thu xếp nơi ăn ở cho hậu cung về hành cung Vũ Lâm.

Và giao quyền coi việc Bắc cung Nội sát viện cho Hàn lâm phụng chỉ Đinh Củng Viên.

Thánh dụ được loan ra khắp hậu cung, các cung phi tần ngự ở các điện đều tất bật thu dọn đồ đạc.

An Tư nhìn đám thị nữ dọn dẹp thì bồn chồn không yên, tay chân lóng ngóng đi ra đi vào.

Rồi khi thấy trời sắp tối dần, nàng càng nôn nóng hơn và tự nhủ: "Ta sắp phải rời Thăng Long rồi, lẽ nào lại không gặp chàng để tạm biệt."

Cuối cùng, nàng đánh liều chạy tới cung Phượng Tê xin hoàng hậu cho xuất cung một chuyến.

Nàng cùng Mạc Yên phi ngựa cả buổi ra ngoại thành, đến đồn trại ở tận Gia Lâm để gặp tình lang.

Tết đang đến gần hơn nhưng khắp các nẻo đường, ngõ phố đã chẳng còn tiếng cười đùa vui vẻ, hay tiếng ngựa xe tấp nập đi sắm đồ mới.

Thay vào đó là sự trầm lắng và những nét mặt u buồn của người dân đang hối hả thu dọn đồ đạc, để rời khỏi mảnh đất kinh kỳ vốn đã gắn bó bấy lâu.

Tối hai mươi chín trăng sáng, gió thổi đón đông rét lạnh.

Trần Viễn có đôi chút nhớ nhà, và khắc khoải vì An Tư.

Hắn và nàng cùng dưới một khoảng sao trời, chỉ tiếc rằng hiện giờ người trong cung cấm xa hoa, kẻ ngoài chiến trường khói lửa, đôi bên chia cắt chưa biết bao giờ mới có dịp gặp lại.

Việc quân việc nước cứ cuốn lấy hắn không rời, giặc sắp tràn xuống, bọn chúng lại hiếu chiến và ranh ma.

Quân Thần Sách của hắn đóng tại nơi phòng tuyến hiểm yếu, chặn đường tiến về Thăng Long của giặc nên luôn phải cảnh giác cao độ, càng không cho phép khinh suất.

Cho nên từ sau trận đánh thất bại ở Thiết Lược, hắn vẫn luôn cố thủ ở đây không dám lơ là nửa bước.

Bất giác, hắn lần tay vào ngực áo lấy ra chiếc khăn lụa năm nào, mải miết ngắm nhìn đóa sen tựa hồ bóng hình nàng đang hiển hiện ngay trước mắt.

Giữa lúc ấy, thằng Hến đứng bên ngoài trướng bẩm báo có người từ cung cấm tới, Trần Viễn chắc mẩm quan gia có chỉ dụ gì nên cho vời người đó vào ngay.

Chẳng ngờ, khi người đó bước vào, hắn như vỡ òa.

Người đó, vừa gặp đã nhào tới ôm choàng lấy hắn, gục đầu vào ngực hắn nức nở.

Hắn cũng siết chặt nàng trong vòng tay, đặt lên má, lên môi nàng những nụ hôn nồng thắm.

Hai người trò chuyện với nhau hồi lâu, An Tư chợt rầu rĩ:

"Em nhớ chàng quá."

Nàng nằm trong ngực hắn, thở dài.

"Ngày mai, em phải rời Thăng Long về hành cung Vũ Lâm rồi."

"Ngày mai sao?"

Trần Viễn ngỡ ngàng.

Hắn sớm đã nhận được tin quan gia đã lệnh cho người dân kinh thành và hoàng gia phải đi sơ tán lánh nạn giặc, chỉ là hắn không ngờ lại là ngày mai.

Vậy là mỗi lúc nàng lại càng xa hắn hơn rồi, vòng tay ấm áp của hắn càng ôm chặt lấy nàng, và hắn an ủi.

"Nàng đừng buồn, rồi chúng ta sẽ sớm dẹp được giặc và về lại Thăng Long thôi."

"Nhưng em sẽ rất nhớ chàng.

Không biết khi nào mới thái bình đây?"

"Ta cũng sẽ rất nhớ nàng, nhưng..."

Hắn không nói nữa vì thấy nàng im lặng, cúi xuống mới biết nàng đã thiếp đi, hàng mi cong dài khẽ rung rinh như cánh bướm tuyệt đẹp.

Đêm đã khuya, sương rơi lạnh, bên trong trướng lặng ngắt chỉ còn nghe tiếng tí tách từ cây đèn dầu đang le lói.

Bóng hai người ôm nhau ngủ hằn lên vách xiêu vẹo như đang diễn chèo.

Đêm ấy, trong vòng tay hắn, nàng đã có những giấc mơ đẹp.

Giấc mơ cùng hắn về một mái nhà ấm áp, giấc mơ về một Đại Việt thái bình sạch bóng quân thù và niềm vui hân hoan hiện rõ trên từng khuôn mặt của những người dân.

Hừng đông.

Trần Viễn không yên tâm để nàng về, bèn đích thân hộ tống nàng đến tận cửa Tường Phù rồi mau chóng trở lại quân doanh.

An Tư lưu luyến nhìn theo bóng hắn dần khuất trong sương sớm, nàng không biết rằng lần chia ly này cũng là lần cuối cùng nàng gặp được hắn.

Ngày mai, trên chiến trường loạn lạc, đâu ai biết sống chết ra sao?

Mồng một Tết, Thăng Long vắng không một bóng người.

Mùa xuân, ngày mồng sáu tháng giêng, tướng Ô Mã Nhi dẫn quân đánh vào Bình Than.

Ngày mồng chín lại đánh các xứ Vạn Kiếp và núi Phả Lại, quan quân vỡ chạy.
 
[Full] Vãng Sự Vi Phong - Truyện Dài, Cảm Hứng Sử
Chương 82: Tử trận


Ngày mười hai tháng giêng, giặc đánh vào Gia Lâm, Vũ Ninh, Đông Ngàn.

Thành Gia Lâm đã sớm bị đại quân của Lý Hằng vây chặt như nêm cối, từ trên tường thành nhìn xuống chỉ thấy lớp lớp đen đặc bốn bề.

Trần Viễn đứng trên vọng lâu chỉ huy đại quân trấn giữ Gia Lâm, nơi quân giặc đang ào ạt tràn vào.

Trong ánh chiều tà, bóng dáng dũng tướng hiện rõ giữa sa trường, thể hiện rõ khí thế hiên ngang, bất khuất của một vị tướng Đại Việt.

Hắn lập tức cho quân bày binh bố trận, lập nên một bức tường thành kiên cố ngăn chặn bước tiến của quân thù.

Thiết kỵ Mông Thát tới trước cổng thành, vạn kỵ binh ở trước trận triển khai dàn hàng ngang, tuy rằng đối với việc công thành không có tác dụng gì, nhưng xem như biểu dương lực lượng, làm chấn động lá gan của quân binh Đại Việt.

Có mấy kỵ mã phía sau trận tiền phi lên, giơ lá cờ phất qua phất lại mấy cái, đội kỵ binh liền giục ngựa lên trước trận tuyến, chia thành hai cánh thối lui, lộ ra đội quân cầm khiên trong tay, xe công thành, thang, khí giới chờ công thành chậm rãi đẩy về phía trước, tiếng tù và xung trận vang lên, tiếng lưỡi mác bốn phía vung lên, đại quân Lý Hằng chỉ huy như thủy triều đen cuồn cuộn thẳng tiến xông tới, chỉ cần đổ ập xuống là có thể san bằng tất cả mọi thứ cản đường.

Đôi bên giao chiến kịch liệt nửa ngày thì quân Trần thủ thành thất bại, giặc Thát đã leo được lên tường thành, vung đại đao bổ về phía thủ binh Đại Việt, lưỡi đao cắm phập vào trong cơ thể phát ra âm thanh nặng nề, người bị chém trợn trừng hai mắt, ngoại trừ nỗi hoảng sợ còn có một tia không cam lòng.

Tên lính vừa vung đao chém còn chưa kịp hoan hô thì khoang bụng đã bị một ngọn thương dài không biết từ đâu lao đến đâm thủng, máu theo đầu thương chảy ra, gã cúi đầu, mắt thấy máu đỏ theo đầu thương rút ra, nội tạng lòi cả ra ngoài.

Chẳng mấy chốc chiến trường ngổn ngang xác người, tiếng gươm giáo va chạm vang vọng cả không gian.

Những người lính Đại Việt với khí thế ngút trời, tay cầm gươm giáo sắc bén, lao vào trận chiến với sức mạnh phi thường.

Mũi tên phóng như mưa xối xả, tạo nên những âm thanh rít gió rền rĩ.

Chiến trường ngập tràn trong tiếng hò hét, tiếng kêu la thảm thiết và tiếng gươm giáo đâm chém vào nhau.

Những người lính dũng cảm hy sinh, xác người chất đống thành từng lớp.

Mặt đất đỏ thẫm máu, nhuốm đầy bi thương.

Quân giặc đông như kiến cỏ, tiếng hò hét và tiếng binh khí va chạm vang trời.

Dẫu quân số chênh lệch, nhưng quân sĩ dưới quyền Trần Viễn vẫn chiến đấu ngoan cường, cố gắng đẩy lùi đợt tấn công này đến đợt tấn công khác của quân thù.

Nhưng thế giặc quá mạnh, chúng tràn vào như thác đổ, xé tan hàng ngũ của quân đội nhà Trần.

Trần Viễn vẫn đứng vững giữa vòng vây của quân địch, tay cầm trường kiếm, mắt sáng như sao, chém giết kẻ thù không chút nao núng.

Trần Viễn thấy tiếp tục thế này sẽ không ổn, để bảo toàn lực lượng hắn liền hô hiệu lệnh rút quân.

Các binh sĩ nhanh chóng theo kế cũ, vừa công vừa thủ tháo chạy theo đường cũ.

Một nửa chạy đường bộ, một nửa chạy đường thủy.

Trần Viễn phi ngựa dẫn toán quân cuối cùng cắt đuôi giặc rồi chạy ra bến sông, khi tới nơi chỉ còn vài chiếc thuyền neo đậu chờ, các nhóm binh sĩ lần lượt di chuyển xuôi theo dòng nước đi về hướng Đông.

Đứng trên mui thuyền cùng phó tướng và thằng Hến, Trần Viễn liếc mắt một lượt rồi hốt hoảng:

"Phạm Bân đâu?"

"Bẩm ông, ngài ấy chạy sau cùng, nói là quay lại lấy đồ, con tưởng ngài ấy đi cùng ông."

Thằng Hến ngờ ngợ hỏi lại.

"Chết tiệt!"

Chỉ nghe một câu mắng thề như thế, Trần Viễn mau chóng nhảy phóc lên tuấn mã rồi quay đầu dặn dò.

"Nếu không thấy ta quay lại, cứ cho thuyền xuất phát theo kế hoạch."

Nói xong liền phi thẳng về hướng thành Gia Lâm cứu người.

Phạm Bân từng cứu hắn một mạng, là ân nhân của hắn nên nhất định không thể để cậu ta chết ở nơi sa trường.

Quả nhiên cách cổng thành không xa, một vài binh sĩ vẫn bị mắc kẹt giữa vòng vây trùng trùng của quân địch, trong đó có bóng dáng nhỏ nhắn của Phạm Bân.

Cậu ta dường như bị thương nặng ở cánh tay, chỉ thấy máu thấm ra rất nhiều nhưng vẫn đang chiến đấu hết mình cùng các binh sĩ khác, dẫu vậy sức lực dường cũng cạn kiệt khiến không ít lần trúng chiêu.

Trần Viễn từ xa trông thấy không do dự mà lao vào chiến đấu.

Giữa lúc hỗn loạn một mũi đao sắc nhọn bất ngờ đâm xuyên qua lưng hắn từ phía sau.

Hắn đau đớn ngã xuống đất, phun ra một ngụm máu tươi.

Cố gắng ngoái nhìn kẻ vừa đâm mình, ánh mắt kinh hoàng khi nhận ra đó chính là một binh sĩ mặc giáp phục Đại Việt.

Không đúng!

Kẻ đó không phải là binh sĩ thực sự, hình ảnh gương mặt khó quên của ả đàn bà điên khùng từng bị hắn lừa gạt vụt qua.

Đúng, không ai khác chính là ả.

Trần Viễn chỉ cảm thấy trời đất quay cuồng, cơ thể yếu đuối ngã quỵ xuống, bên tai ù ù tiếng gọi của Phạm Bân.

Trước khi mất đi ý thức, hắn chỉ kịp nghe loáng thoáng giọng ả đàn bà kia đay nghiến.

"Đi chết đi, ha ha.

Đừng tưởng Ngọc Băng ta dễ bị người cổ đại các người bắt nạt nhá.

Quân tử trả thù mười năm chưa muộn, tên khốn."

...

Ngoài cửa thành cách đó không xa, trên một sườn dốc nho nhỏ, Trấn Nam vương Thoát Hoan ngồi trên chiến mã, khuôn mặt lạnh lùng, khóe miệng hơi mím lại, giống như ẩn chứa một nụ cười thỏa mãn, vẻ mặt chuyên chú nhìn cảnh công thành.

Mấy chục kỵ mã thân mặc giáp đen đứng phía sau hắn, chiến trường thì ồn ào, nhưng ở đây lại duy trì sự im lặng kinh người, ngay cả thủ hạ chiến mã đều giống nhau, lạnh lùng như băng giá.

Sương mù tháng giêng che phủ nhân gian, dưới thành Gia Lâm lại là một màn gió tanh mưa máu, khói lửa mịt mùng, khắp nơi u ám chẳng khác nào cõi âm ty.

...

Trời xế chiều, phó tướng Lê Lân và Hến đứng trên mui thuyền nôn nóng chờ người, lòng nhộn nhạo như lửa đốt.

Phía xa xa, tiếng vó ngựa càng dồn dập đến gần, khói bụi mù mịt cả góc trời.

Lúc sau, chỉ thấy trên đê có con tuấn mã của Chiêu Thành vương lao tới bến thì dừng lại, không thấy người, chỉ thấy máu nhuốm đầy thân ngựa.

Thằng Hến kinh hoàng sốt sắng:

"Đức ông, đức ông đâu rồi?"

Lê Lân chưa kịp đáp lời, liếc mắt thấy tình hình không ổn khi phía trên bầu trời mưa tên lại trút xuống ào ào.

Giặc Thát đang rất gần chỗ họ, không để lỡ một khắc nào nữa y ra lệnh cho thuyền rời bến để bảo toàn lực lượng, trận chiến này quân ta đã tổn thất nhiều rồi.

"Chiêu Thành vương e rằng lành ít dữ nhiều rồi.

Chúng ta phải về bẩm báo với Quốc công thôi."

Lời nói như đao cứa lên người, thằng Hến đột nhiên giận dữ vung tay đấm mạnh vào Lê Lân nhưng y đã kịp thời né tránh, còn tức giận đáp trả nó bằng cái bạt tai đau điếng.

Hến trừng mắt nhìn y, gào to:

"Không thể nào, Đức ông nhất định sẽ tới.

Không được rời bến."

Mặc dù cái tát khiến miệng nó bật máu nhưng nó chẳng hề bận tâm, nó không thể để gã họ Lê kia cho thuyền nhổ neo được, nhỡ Đức ông nó tới không thấy thì sao?

Nhưng lời của thằng hầu chẳng có trọng lượng nào, gã phó tướng mặc kệ bỏ ngoài tai.

Binh sĩ đã ngã xuống nhiều vô kể, chỉ còn cách thoái lui để bảo toàn lực lượng, y cũng là bất đắc dĩ.

Hơn nữa, không thể vì một người mà đánh đổi cả trăm chục mạng người khác được.

Hơn nữa, trước khi đi Vương cũng đã dặn nếu không thấy ngài về thì cứ nhổ neo.

Y cũng chỉ làm theo mệnh lệnh mà thôi.

Thằng Hến lực bất tòng tâm đứng trên mui thuyền cố nhoài người về phía bến mà gào thét gọi tên Đức ông nó, nhưng đáp lại chỉ là tiếng rầm rập vó ngựa Nguyên Mông đuổi tới.

Lê Lân phía sau cũng chỉ biết ôm chặt nó không cho nó nhảy xuống bến làm chậm kế hoạch lui binh.

Bất đắc dĩ, y liền đánh ngất nó bằng một cú đánh sau gáy.

Gia Lâm sụp đổ.

Vũ Ninh, Đông Ngàn cũng vỡ tan.

Giặc Thát cứ thế tràn xuống kinh đô như đê vỡ.

Rồi chúng đến Đông Bộ Đầu, dựng một lá cờ lớn.

Thấy tình hình bất ổn, Trần Khâm muốn sai người dò xét tình hình giặc mà chưa tìm được ai, đúng lúc có Chi hậu cục thủ Đỗ Khắc Chung tiến lên tâu rằng:

"Thần hèn mọn bất tài, nhưng xin được đi."

Chàng mừng rỡ, nói rằng:

"Ngờ đâu trong đám ngựa xe kéo xe muối lại có ngựa kỳ, ngựa ký như thế!"

Lúc Đỗ Khắc Chung đem thư giảng hòa tiến vào trại giặc, vẻ mặt vô cùng điềm tĩnh, phong thái ung dung như đi vào chỗ quen thân, không có chút sợ hãi nào khiến Ô Mã Nhi cũng có chút kiêng dè nhưng sau khi đọc lướt bức tín thư của nhà vua, gã lại bật cười chế nhạo rồi vò nát.

Gã trừng mắt hỏi sứ thần:

"Quốc vương ngươi vô lễ, sai người thích chữ "Sát Thát", khinh nhờn thiên binh, lỗi ấy to lắm."

Khắc Chung bình thản đáp:

"Chó nhà cắn người lạ không phải tại chủ nó.

Vì lòng trung phẫn mà họ tự thích chữ thôi, Quốc vương tôi không biết việc đó.

Tôi là cận thần, tại sao lại không có?"

Nói rồi giơ cánh tay cho xem.

Ô Mã Nhi nói:

"Đại quân từ xa tới, nước ngươi sao không quay giáo đến hội kiến, lại còn chống lệnh.

Càng bọ ngựa cản bánh xe liệu sẽ ra sao?"

Khắc Chung lại đáp:

"Hiền tướng không theo cái phương sách Hàn Tín bình nước Yên, đóng quân ở đầu biên giới, đưa thư tin trước, nếu không thông hiếu thì mới là có lỗi.

Nay lại bức nhau, người ta nói thú cùng thì chống lại, chim cùng thì mổ lại, huống chi là người."

Ô Mã Nhi càng gằn giọng:

"Đại quân mượn đường để đi đánh Chiêm Thành, Quốc vương ngươi nếu đến hội kiến thì trong cõi yên ổn, không bị xâm phạm mảy may.

Nếu cứ chấp mê thì trong khoảnh khắc núi sông sẽ thành đất bằng, vua tôi sẽ thành cỏ nát."

Khắc Chung không nói thêm gì chỉ cung tay xin về rồi cáo lui, Ô Mã Nhi quay sang bảo các tướng rằng:

"Người này ở vào lúc bị uy hiếp mà lời lẽ tự nhiên, không hạ chủ nó xướng là Chích, không nịnh ta lên là Nghiêu, mà chỉ nói "chó nhà cắn người" giỏi ứng đối.

Có thể nói là không nhục mệnh vua.

Nước nó còn có người giỏi, chưa dễ mưu tính được."

Rồi sai người đuổi theo Khắc Chung định bắt lại nhưng không kịp.

...

Thoát Hoan đã lấy được Bắc Giang, quân ta lập đồn trại theo bờ sông phía nam để phòng ngự.

Quân Nguyên bắn súng, hô to thách đánh.

Phía nhà Trần lại sai Nguyễn Hiệu Nhuệ sang doanh trại giặc xin rút quân nhưng y không nghe, bèn bắc cầu phao qua sông, đóng doanh lũy sát chân thành.

Ngày hôm sau, chính thức kéo quân vào thành, thì lúc bấy giờ vua tôi đã chạy ra ngoài rồi, khắp thành Thăng Long trống không một mống người, y tức giận phái quân đuổi theo nhưng không kịp.
 
[Full] Vãng Sự Vi Phong - Truyện Dài, Cảm Hứng Sử
Chương 83: Phận hồng nhan


An Tư mệt mỏi lê bước về tẩm điện sau một ngày dài cùng Hoàng hậu sắp xếp, an bài cho các cung nhân khác ở hành cung Vũ Lâm.

Dù rất mệt, cứ ngỡ ngả lưng xuống giường là sẽ ngủ được ngay nhưng nàng trở mình mấy lần mà vẫn chưa chìm được vào giấc.

Nàng rời giường, chong đèn rồi lấy một quyển kinh Phật đọc cũng chỉ được vài trang lại buông xuống, không hiểu sao cả ngày nay tim nàng cứ đập thình thịch, bồn chồn lo lắng không yên.

Có chăng là do nghe tin bại trận từ chiến trường biên giới liên tục truyền về nên mới vậy.

Thế địch mạnh quá, Quốc công tiết chế còn suýt bị bọn Thát bắt được.

Thiên Thành công chúa khi nghe tin này sắc mặt đã tái nhợt, Bảo Thánh hoàng hậu phải lựa lời trấn an dù trong lòng cũng tràn ngập lo lắng cho phụ thân.

Cuộc chiến này rồi sẽ đi về đâu?

Liệu quân dân Đại Việt có ca khúc thắng trận như hai mươi năm trước không?

Gánh nặng trách nhiệm dồn lên vai những người đàn ông hoàng tộc họ Trần đang cầm quân chống giặc ngoài chiến trường kia không chỉ là gánh nặng của những người lãnh đạo, bảo vệ đất nước con dân trong nguy biến, mà còn là gánh nặng phải giữ gìn cơ nghiệp của gia tộc họ Trần đã vất vả mà gây dựng nên.

Và gánh nặng trên bờ vai mảnh mai nhưng không yếu đuối của những phụ nữ quý tộc mang họ Trần cũng vậy.

...

Trời vừa hửng chút ánh sáng phía đông, khu viện nơi An Tư đang ở đột nhiên xuất hiện tiếng bước chân dồn dập lại gần, chỉ thấy vẻ mặt của Lưu Vân đẫm nước mắt, thị đi được vài bước lại ngã, luống cuống đứng lên lại đi tiếp tới căn phòng tối đèn thì gõ cửa, giọng nức nở khẽ gọi:

"Công chúa, công chúa ơi."

An Tư không biết đã thiếp đi từ lúc nào, chỉ đến khi nghe có người gọi nàng mới choàng tỉnh đưa tay dụi mắt, nhìn ra bên ngoài dường như đã sáng.

Nàng mệt mỏi đứng lên đi ra mở cửa, không hiểu có chuyện gì mà Lưu Vân gọi sớm như vậy, chắc hẳn là chuyện quan trọng.

Cánh cửa vừa mở tung, Lưu Vân đã lao tới ôm chầm lấy An Tư khiến nàng càng thêm hoảng, và thị bật khóc, giọng nói đứt quãng, không nghe ra được gì, nàng phải vỗ vai thị cho bình tĩnh lại.

Thị nhìn nàng lúc lâu mới nói rõ ràng mọi sự:

"Chiêu Thành vương, ngài ấy... ngài ấy vì cứu Phạm thái y... nên... nên đã bỏ mạng nơi sa trường.

Anh Bân... cũng không rõ tung tích, hai người họ e là... hu hu."

"Em nói gì cơ?

Không!!!"

An Tư choáng váng ngồi bệt xuống đất, đôi mắt mở to, không thể tin vào những gì vừa nghe.

Chiêu Thành vương, người mà nàng đã thề nguyền sẽ ở bên nhau suốt kiếp, đã tử trận rồi ư?

Không thể, không thể nào, hắn từng hứa sẽ bình an trở về, hắn không thể thất hứa như vậy được, nàng không cho phép.

Từng cơn đau như cắt vào tim, An Tư cảm thấy như toàn bộ thế giới của nàng đã sụp đổ.

Nàng không thể tin rằng số phận lại tàn nhẫn đến thế.

Chưa đầy một tháng trước, họ còn ở bên nhau, cười nói vui vẻ.

Nhưng bây giờ, hắn đã ra đi mãi mãi.

Nàng không thể kìm được nước mắt.

Bật khóc nức nở, khóc cho người thương, khóc cho cả chính bản thân mình.

Nàng cảm thấy như mình đã mất đi một phần của bản thân, rồi nàng lịm đi trong vòng tay của Lưu Vân.

***

Thoát Hoan dạo bước qua bậc cửa Thái Thanh, đi qua ao Liên Trì rồi tiến vào cung Trường Xuân.

Ở đây vườn hoa, cây cảnh, cầu nước, lầu đài, cùng hòa hợp để vẽ nên một cảnh không kém chốn thần tiên, một nơi tuyệt mỹ độc nhất xứ An Nam.

Kiến trúc cung Trường Xuân ở ngoài đã nhẹ nhàng trang nhã, trong cung lại bày ra một cảnh huy hoàng.

Cột vàng sàn tía, sáng soi gương được, bước đi trên thảm gấm, tường có treo những bức thêu quý hay những bức họa tươi.

Bình vàng bình ngọc, hay bình sứ đẹp để cắm những kỳ hoa dị thảo.

Toàn thể rộng rãi, sáng sủa, kiểu cách, phảng phất một vẻ gì đài các, trang nghiêm, mà vẫn vui vầy ấm cúng.

Trong cung khi ấy nến trắng đốt có hàng trăm cây, trong ánh sáng tưng bừng của nến, những vàng ngọc chảy lóng lánh rất vui.

Hoa ngoài vườn và hoa trong cung tỏa một mùi thơm quyến rũ nhưng dường như chẳng khiến Thoát Hoan bận tâm, y cứ thế rảo bước ngắm nhìn các đồ vật trong cung điện.

Rồi đột nhiên, y dừng lại trước một bức họa vẽ thiếu nữ cưỡi ngựa đang mỉm cười, bức tranh rất đẹp, rất giống nàng.

Đứng ngắm nhìn bức họa hồi lâu, gió lạnh từ ngoài thổi vào khiến y cảm thấy nhoi nhói vết thương trên ngực.

Vết thương suýt chút nữa đã cướp đi sinh mạng của y, cũng may phước lớn mạng lớn y mới có thể sống sót mà quay lại nơi này.

Trên môi thoáng nhếch lên một nụ cười, giọng y thì thầm như đang nói với người trong tranh:

"An Tư, chúng ta sẽ sớm gặp lại thôi."

...

Trong lúc đó, phía nam tướng nhà Nguyên là Toa Đô trước kia đem thuyền chiến ra Quảng Châu, vượt biển sang đánh Chiêm Thành, nhưng đánh không được.

Vua nhà Nguyên hạ chiếu cho Toa Đô đi đường bộ đem quân về phối hợp với quân của Thoát Hoan.

Khi Quốc công Trần Quốc Tuấn nghe được tin ấy, ngài đã xin Quan gia sai Thượng tướng Trần Quang Khải đem quân vào đóng ở Nghệ An, việc này cốt để chặn lối đường xung yếu mà Toa Đô sẽ đi qua.

Quân của Toa Đô kéo về đến Nghệ An.

Chúng đi đến đâu đánh tan đến đấy, quân của Thượng tướng thái sư Quang Khải không thể chống lại được.

Trần Kiện cùng với thuộc hạ là Lê Trắc đem gia quyến đón đường để đầu hàng.

Cùng lúc, Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng đánh nhau với quân nhà Nguyên ở bãi Thiên Mạc, bị bại trận.

Ông bị giết chết.

Thất bại liên tiếp xảy ra, lại xuất hiện cả lũ phản quốc hàng giặc càng khiến long nhan phẫn nộ.

Chỉ nghe tiếng loảng xoảng chén vỡ bên trong thư phòng của Quan gia, viên nội thị già đứng bên ngoài cửa giật thót đến độ thở cũng phải nhẹ nhàng, lão ngao ngán liếc nhìn thằng hầu của Chiêu Thành vương đang quỳ mọp dưới sân lại lưỡng lự chẳng dám vào kinh động tới Quan gia.

Có chăng cứ để nó chịu thiệt một chút, chờ cho Quan gia hạ hỏa thì lão mới dám vào xin thưa chuyện.

Mãi tới giờ Ngọ, bầu trời nổi gió, mây đen kéo đến sấm chớp giật đùng đùng chẳng bao lâu thì đổ mưa rào.

Chuyện lạ, tiết tháng riêng mà lại có mưa rào, nhưng chẳng mấy ai quan tâm thiên tượng, âu cũng là bởi người ta còn đang bận lòng đến việc đại sự khác.

Viên nội thị nhìn bóng dáng thằng hầu vẫn kiên trì quỳ dưới mưa, lòng thương xót của lão trỗi dậy, lão đành thở dài rồi đánh bạo mà lên tiếng khẽ khàng:

"Bẩm Quan gia, có người hầu của phủ Chiêu Thành vương muốn diện thánh, lão khuyên mãi hắn vẫn quỳ không chịu đi."

"Có chuyện gì?"

Nghe thấy người bên trong đáp lại, thằng Hến ở bên ngoài như bừng tỉnh sau một ngày dài quỳ dưới nền đất, nó hô lớn át cả tiếng mưa.

"Xin Quan gia phái người đi cứu Đức ông, ngài ấy vẫn chưa chết.

Xin Quan gia cứu lấy Đức ông."

Nói xong chẳng màng cơn mưa buốt lạnh, nó lại dập đầu xuống đất ba cái.

Chờ một khắc trôi qua, phía bên trong không có phản ứng nào nữa.

Thằng Hến tưởng Quan gia không nghe thấy, nó lại hô lớn lần nữa, lời vừa dứt thì cánh cửa cũng mở toang.

Người bước ra không phải là Quan gia mà là gã thị vệ Trần Kính, gã cầm ô bước tới che cho thằng hầu rồi nói:

"Quan gia cắt cử ta đi cùng ngươi một chuyến, hy vọng Chiêu Thành vương vẫn sống như lời ngươi nói."

Mưa ngớt dần, Hến lại dập đầu lần nữa.

"Tạ ơn Quan gia!"

***

An Tư vật vã suốt mấy ngày liền, không ăn không uống khiến sắc mặt tái nhợt đi rất nhiều.

Khi tỉnh táo, nàng lại nhớ người mà khóc, khóc đến khi cạn nước mắt thì mệt quá mà lịm đi.

Mạc Yên đau xót cho nàng, nhưng thị không có cách nào khuyên can, chỉ đành nhủ phải luôn theo sát nàng mọi lúc đề phòng nàng nghĩ quẩn.

Đến hôm nay, khi nàng vừa tỉnh giấc thì có người của Thượng hoàng tới gọi, Mạc Yên khuyên nhủ mãi nàng mới chịu húp chút cháo rồi chỉnh trang lại y phục, đầu tóc để đến gặp ngài.

"An Tư, có tin tức từ Thăng Long gửi tới nói là Thoát Hoan muốn em vào gặp hắn."

Lời Thượng hoàng vừa dứt, An Tư như bừng tỉnh rồi ngỡ ngàng hỏi lại:

"Gặp em ư?

Tại sao?"

Thượng hoàng lắc đầu, bản thân ngài cũng không rõ nguyên do.

"Hắn còn nói chỉ cần em đi sẽ lập tức nghi binh một thời gian."

Ngài ngưng một lúc, liếc nhìn đối phương không có phản ứng gì mới nói tiếp.

"Chuyến đi này e rằng một đi không trở lại, nên nếu em không muốn thì ta cũng không ép buộc.

Ta từng hứa với tiên đế sẽ bảo vệ em, chăm sóc em, cho em một đời bình an."

An Tư thinh lặng hồi lâu, không rõ nàng đang nghĩ gì chỉ thấy vẻ mặt đăm chiêu nhìn vào khoảng không, đôi bàn tay nhỏ nhắn hơi xiết chặt trong gấu áo.

Thượng hoàng cũng chỉ biết im lặng chờ đợi, chuyện này cũng thật khó cho nàng, nếu nàng đồng ý thì chuyện nghi binh là điều tốt của ta, khi ấy sẽ có thêm thời gian chuẩn bị nhưng như thế ngài cũng rất áy náy trong lòng.

Còn giả như nàng không đồng ý thì ngài cũng sẽ thuận theo, chuyện này coi như chưa từng được nhắc đến.

"Em sẽ đi."

Vỏn vẹn ba từ đã phá tan bầu không khí ngột ngạt, đồng thời tảng đá trong lòng Thượng hoàng cũng vơi bớt nặng nề hơn.

Ngài chẳng ngờ, lại không dám nhìn đứa em gái bé bỏng ngày nào, chỉ sợ ánh mắt của đối phương sẽ khiến ngài thêm đau đớn hơn.

"Giặc Thát nghi binh là chuyện tốt với quân ta, em hiểu.

Thân đàn bà yếu liễu đào tơ khi quốc gia lâm nguy không giúp được gì còn khiến anh phải lo lắng, em thật có lỗi.

Nay, nếu thân mọn này giúp được ích gì cho đại cuộc thì em cũng sẵn sàng."

Chợt, cái siết tay nhè nhẹ của Thượng hoàng khiến An Tư ngẩn lặng.

Bàn tay thô ráp và ấm áp như tiên đế đã từng nắm tay nàng hồi nhỏ càng khiến nàng thêm vững dạ, cả buổi ngài không nói thêm gì mà chỉ buông một tiếng thở dài, sau cùng giọt nước từ khoé mắt ngài cũng rơi xuống mu bàn tay, lạnh ngắt.

...

Đêm xuân sương lạnh, Trần Khâm đang ngồi bên long án thì có bóng đen bay vụt vào, chàng thoáng giật mình nhìn kỹ lại hóa ra là con chim cắt, dưới chân còn buộc một mảnh giấy ố vàng.

Chàng tiến lại gần, cẩn thận gỡ mảnh giấy ra rồi mở ra đọc.

"Thần đã tìm thấy Chiêu Thành vương, ngài ấy bị thương rất nặng.

Phạm thái y đang cật lực chữa trị."

Vỏn vẹn vài chữ Trần Kính cũng khiến chàng ngỡ ngàng đến choáng váng.

Trấn tĩnh lại, chàng thở phào.

Cũng may, vương còn sống nhưng ta phải nói sao với hoàng cô đây?

Ngày mai, hoàng cô sẽ phải sang trại giặc.

Thế giặc đang mạnh như vũ bão, trận đánh gần đây đều liên tiếp thất bại, tướng sĩ hy sinh không ít.

Ngay cả Bảo Nghĩa vương Trần Bình Trọng cũng đã tử trận bên bờ sông Thiên Mạc, Thoát Hoan nhiều lần yêu sách đòi hoàng cô.

Chỉ còn cách tiến cống nàng nhằm trì hoãn thế địch, nếu nàng biết Chiêu Thành vương chưa chết thì liệu kế hoãn binh này còn thực hiện được không?

Chỉ e càng làm sự kiên nhẫn của Thoát Hoan đạt đến giới hạn, tới lúc ấy sẽ càng khó lường.

Mắt Trần Khâm bỗng hằn lên nỗi uất hận, chàng nghiến chặt răng.

Giá mà, giá mà không có lũ giặc ấy thì tốt biết bao.

Nhìn ra ngoài trời không trăng không sao tối đen như mực, rất lâu sau cũng vì muôn dân trăm họ, vì quốc thái dân an, vì sự nghiệp giang sơn xã tắc Đại Việt, chàng đã đi đến quyết định cuối cùng.

Quyết định ấy đã trở thành cái kim day dứt trong lòng chàng cho đến mãi về sau.

Đêm ấy, Lưu Vân bưng khay thuốc tới cho An Tư theo lời căn dặn, thị nhìn khay thuốc lưỡng lự lúc lâu mới đưa cho nàng.

"Chị thật sự muốn uống sao?

Thuốc này rất mạnh, phụ nữ một khi đã uống vào sẽ không thể sinh con được nữa.

Xin chị hãy suy nghĩ lại."

"Thân ta phải sang trại giặc đã là nỗi nhục nhã quá lớn rồi, ta không muốn con mình mang dòng máu kẻ thù, càng không muốn mang thai cho hắn."

An Tư gượng cười chua chát.

Nói xong, nàng nâng chén thuốc lên một hơi uống cạn.

Đời này, nàng sẽ không thể làm mẹ được nữa, nhưng nàng không hối hận.

...

Đứng trên mui thuyền hướng về trại giặc, An Tư khẽ nhắm mắt hứng những hạt mưa xuân lạnh buốt, và nàng hồi tưởng về những ngày tháng bên nhau.

"Chiêu Thành vương, thiếp đi đây.

Dưới hoàng tuyền hãy đợi thiếp, trả nợ nước, báo thù nhà.

Ta sẽ tới gặp chàng."

Tháng hai, sai người đưa công chúa An Tư (em gái út của Thánh Tông) đến cho Thoát Hoan, là muốn làm thư giãn loạn nước vậy.

Chẳng lâu sau, Thượng vị Văn Chiêu hầu Trần Lộng đầu hàng Thoát Hoan.

Kế đó ngay cả Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc và bọn Phạm Cự Địa, Lê Diễn, Trịnh Long cũng đem gia thuộc đầu hàng quân Nguyên.
 
[Full] Vãng Sự Vi Phong - Truyện Dài, Cảm Hứng Sử
Chương 84: Trăng lạnh


Bờ bắc sông Phú Lương đã ở trước mặt.

Doanh trại của Thoát Hoan cờ xí rợp trời, những chiếc lều tròn to lớn vững chãi chẳng còn cách bao xa.

Cứ ngỡ sẽ được trở lại Thăng Long trong niềm vui hân hoan thắng trận, nhưng ai ngờ lại trở về sớm trong hoàn cảnh này.

An Tư hít sâu một hơi cố ép bản thân mình phải trấn tĩnh, hai bàn tay cứ run run nắm chặt lấy nhau.

Tất cả còn chưa bắt đầu sao nàng lại đột nhiên thấy sợ, chơi vơi như thế này.

Không biết là lần thứ mấy trong cả quãng đường, An Tư phải tự nhủ, tự cổ vũ bản thân mình mạnh mẽ, kiên cường lên.

Nàng là con cháu họ Trần, là công chúa Đại Việt, dù thế nào cũng phải ngẩng cao đầu không được khuất phục.

"Công chúa, thần chỉ có thể đưa người tới đây thôi.

Con đường phía trước sẽ còn gian nan, xin Công chúa hãy bảo trọng."

Đỗ Khắc Chung kính cẩn, ánh mắt nuối tiếc nhìn nàng.

An Tư chỉ khẽ gật đầu rồi đứng lặng trên bờ nhìn đoàn thuyền xa dần.

Nàng hít một hơi thật sâu rồi thở ra chậm rãi, ánh mắt kiên định một mình tiến vào trại giặc.

Không được đón tiếp long trọng, chỉ có một tên lính dẫn nàng vào trong.

Lều của Thoát Hoan lớn nhất, vững chãi nhất và xa hoa nhất được dựng giữa doanh trại.

Tên lính dẫn đường vén cửa trướng cho nàng bước vào rồi lui ra.

Trong lều rất rộng, nến thắp sáng trưng, bày biện sang trọng hoành tráng lộng lẫy như cung điện.

Xung quanh không có ai, chỉ thấy bóng một người mặc bào tía, đội mũ lông cừu ngồi ở chính giữa quay lưng về phía nàng, tuy không rõ mặt mũi nhưng chắc hẳn đó là Trấn Nam vương.

Nàng nhẹ nhàng cúi đầu, thi lễ:

"An Tư xin cúi lạy vương gia."

Người kia không đáp lại, lúc lâu mới xoay người về hướng này.

Ánh sáng từ những ngọn nến toả ra càng làm hiện rõ đường nét trên gương mặt của kẻ chủ soái.

Ánh mắt, đôi môi và cả giọng nói của y đều khiến An Tư kinh ngạc đến nỗi chân đứng không vững mà ngã quỵ xuống, người kia hốt hoảng nhanh chóng vươn tay ôm lấy eo nàng giữ lại.

Mặt đối mặt, mắt giao nhau.

Chỉ thấy đôi lông mày nàng khẽ nhíu chặt, môi hồng run rẩy bật ra một cái tên mà nàng tưởng chừng y đã chết từ lâu.

"Nguyên?"

Nguyên, không, Thoát Hoan mỉm cười.

Giọng y dịu dàng, ấm áp và thản nhiên như vừa gặp lại cố nhân.

"Liên, chúng ta lại gặp nhau rồi!"

***

Ngày ấy, khi giặc Thát càn quét chiến trường Gia Lâm rồi tiến sâu vào đất kinh kỳ.

Vó ngựa của đoàn quân cuối cùng vừa dứt, trả lại không gian im lìm đến đáng sợ, thỉnh thoảng còn có tiếng quạ đói kêu quác quác đi tìm thức ăn.

Giữa xác người và ngựa ngổn ngang, Phạm Bân mặt đầy máu lồm cồm bò dậy.

Nếu cậu không giả chết, có lẽ cũng trở thành hồn ma ngạ quỷ từ lâu.

Nghe ngóng một hồi, khi chắc chắn đã an toàn thì cậu mới lê lết tới cái xác Chiêu Thành vương cách đó không xa.

Khẽ đưa tay lên cánh mũi xem thử, cậu giật mình khi vẫn cảm nhận được luồng hơi thở mong manh của hắn.

Dù bản thân bị thương không nhẹ, cậu vẫn cố dùng hết sức bình sinh kéo hắn tới một ngôi miếu hoang cách đó không xa để chữa trị.

Trong rủi có may, nhờ vào đống dược liệu quý giá mà Phạm Bân đánh đổi cả tính mạng kia đã kéo được hắn từ quỷ môn quan trở về.

Coi như cậu đã không uổng phí.

Dẫu đã qua cơn nguy kịch nhưng với thể trạng hiện tại thì một mình cậu cũng không thể đưa hắn về hành cung bởi đường xá xa xôi, đi lại sẽ không tốt cho bệnh nhân.

Còn nếu cứ tiếp tục ở nơi tồi tàn thiếu điều kiện thế này cũng không phải là ý hay, đau đầu về vấn đề này suốt mấy ngày thì đến ngày thứ năm đã có người giải quyết giúp cậu.

Trần Kính và Hến trở lại chiến trường tìm kiếm ròng rã suốt hai ngày hai đêm cũng không thấy người, sau cùng họ quyết định mở rộng phạm vi tìm kiếm.

Không rõ tổ tiên mách bảo hay ông trời thương xót mà thằng Hến tìm thấy căn miếu hoang khuất sâu trong luỹ tre rậm rạp, linh tính mách bảo nó tiến vào xem xét thử thì vừa hay thấy bóng dáng Phạm Bân từ ngoài trở về, tay xách theo ít quả dại.

Thấy đức ông chưa chết thật, Hến nhào đến ôm lấy hắn rồi bật khóc nức nở như một đứa trẻ con.

Phạm Bân khuyên nhủ mãi nó mới chịu nín, cậu nói:

"Mặc dù đã qua cơn nguy kịch nhưng vương vẫn hôn mê, thể trạng còn yếu lắm."

Thằng Hến nghe xong đột nhiên quỳ sụp xuống trước sự ngỡ ngàng của Phạm Bân, nó nói:

"Con lạy ông, xin ông cứu lấy Đức ông con, con xin cắn rơm cắn cỏ lạy ông."

Phạm Bân thở dài, lắc đầu rồi đỡ lên:

"Tất nhiên rồi, đó là trách nhiệm của tôi.

Nhưng trước tiên phải đưa ngài đến một nơi khác tốt hơn, không thể tiếp tục ở nơi ẩm thấp như này nữa."

Trần Kính bấy giờ mới lên tiếng:

"Chuyện này trước tiên ta sẽ bẩm báo với Quan gia, ngài ấy sẽ tự có sắp xếp."

Chẳng phải chờ lâu, sau khi nhận được tin báo Trần Khâm liền sắp xếp người đi đón bọn họ về nơi trú ẩn bí mật, lại phân phó Phạm Bân ở lại tiếp tục chữa thương cho Chiêu Thành vương.

***

An Tư ở trong điện Lập Nghi thuộc cung Trường Xuân cả tuần liền không thấy tăm hơi Thoát Hoan đâu, thời gian này cũng đủ dài để nàng cẩn thận suy nghĩ mọi chuyện.

Thật chẳng ngờ, cậu thiếu niên từng cứu nàng năm đó lại là thủ lĩnh gián điệp Thiên triều, lại chẳng thể ngờ hơn khi y chính là Trấn Nam vương Thoát Hoan, con trai thứ chín của Hốt Tất Liệt.

Trên đời, đúng là chuyện gì cũng có thể xảy ra.

Rồi như vỡ lẽ, chuyện y đòi gặp nàng cũng đã rõ ràng.

Thật nực cười.

Nếu đã vậy, nàng cũng chỉ thuận nước đẩy thuyền mà thôi.

Đêm lặng, An Tư ngồi trước tấm gương, tự tay nàng chải tóc, tô son, kẻ lông mày, điểm trang khuôn mặt vốn đã mang vẻ quốc sắc thiên hương.

Ngắm nhìn bản thân trong gương, nàng bỗng mỉm cười rồi đột nhiên hỏi tỳ nữ bên cạnh:

"A Thi, cô thấy ta có đẹp không?"

A Thi vốn là người Tống mà Thoát Hoan đã bắt về để làm quân nô trong doanh trại, bây giờ lại sắp xếp thị làm tỳ nữ của nàng.

Thị bị câm điếc nên nghe không hiểu, chỉ biết im lặng cúi gằm mặt xuống đất.

"Xin lỗi, ta quên mất cô không nói được."

An Tư tự nói với chính mình, nàng vươn tay nắm lấy bàn tay chai sạn của thị rồi viết bằng chữ Hán.

"Muộn rồi, cô về nghỉ ngơi sớm đi."

Bấy giờ, A Thi mới ngẩng mặt lên rụt rè nhìn nàng rồi khẽ gật đầu, thu xếp lại một chút mới lui ra.

Cánh cửa khép lại, An Tư đứng lên đốt nến thơm và lấy cây đàn bầu rồi đi về phía cửa sổ.

Bên ngoài trăng sáng, vài đoá hoa đào chớm nở đương rung rinh trước gió như vẫy gọi xuân về.

Nàng ngồi bên cửa sổ gảy độc huyền cầm, giọng ngâm nga câu hát dân ca quan họ Kinh Bắc.

"Bèo dạt mây trôi chốn xa xôi

Anh ơi em vẫn đợi bèo dạt

Mây trôi, chim sa tang tính tình cá lội

Ngậm một tin trông, hai tin đợi

Ba bốn tin chờ sao chẳng thấy anh..."

Một mảnh trăng treo suốt năm canh

Anh ơi trăng đã ngả ngang đầu

Thương nhớ ai sao rơi đêm sắp tàn trăng tà

Cành tre đầu trước ngõ là gió la đà

Em vẫn mong chờ sao chẳng thấy đâu.

Ngày ngày ra trông chốn xa xăm

Anh ơi em vẫn đợi mỏi mòn

Ra trông sao xa tang tính tình cá vờn

Người đi xa có nhớ là nhớ

Ai ngồi trông cánh chim trời sao chẳng thấy đâu.

Mòn mỏi chim bay suốt canh thâu

Anh ơi em vẫn đợi mỏi mòn

Thương nhớ ai chim ơi cho nhắn gửi đôi lời

Người đi xa có nhớ là nhớ ai ngồi

Trông cánh chim trời sao chẳng thấy anh."

Cánh cửa đột nhiên bật mở, bóng người liêu xiêu nồng nặc mùi rượu xộc vào.

An Tư thoáng giật mình, ngưng câu hát.

Nàng quay người nhìn Thoát Hoan chẳng khác nào loài lang sói, cố nén nỗi sợ hãi xuống đáy lòng, giọng nàng nỉ non pha chút chút hờn dỗi:

"Thiếp tưởng ngài đã quên kẻ hèn mọn này rồi?"

Đáy mắt Thoát Hoan dìu dịu, tia ngỡ ngàng thoáng hiện ra, y không ngờ nàng lại nói như vậy, kiểu như nàng đang trách y vì đã bỏ mặc nàng suốt mấy ngày qua.

Trong lòng y bỗng vui sướng, lại thêm men rượu càng khiến y kích động hơn.

Y lao tới ôm chầm lấy nàng, hơi rượu phả vào tai tuy khó chịu nhưng An Tư vẫn cắn răng nhẫn nhịn.

"Ta xin lỗi vì bận việc quân mà bỏ bê nàng.

Nàng chớ giận ta nhé?"

"Thiếp nào dám giận ngài, chẳng qua đêm xuân giá lạnh, thân đàn bà con gái một mình trong phòng chỉ cảm thấy trống trải và tủi thân mà thôi."

Nàng nũng nịu, vờ đưa tay lên lau khoé mắt.

Mỹ nhân rơi lệ lay động lòng người, nàng đã thốt ra lời ấy, đấng quân tử còn không hiểu ý tứ thì chỉ có là kẻ ngốc.

Thoát Hoan trong cơn men rượu càng hứng chí, một tay nhấc bổng nàng đến bên nệm gấm thêu hoa ấm áp.

Thoát Hoan cúi xuống hôn tới tấp lên mặt An Tư nhưng nàng nghiêng đầu né tránh, y càng hung hăng xé rách trang phục của nàng vứt xuống đất để lộ mập mờ một tấm thân ngọc ngà, cân đối và nõn nà.

Nàng càng giãy giụa, càng kích thích ham muốn của y.

Y bóp chặt cằm nàng và ngấu nghiến hôn môi rồi trượt xuống cổ, xuống ngực.

Đôi gò bồng đào chắc tròn và mềm mại, hồng hào như son.

Nàng không ngờ bản thân lại trở nên nhơ nhuốc như vậy, mắt nàng nhắm nghiền trong cơn thổn thức, tay nàng cố kéo những mảnh áo quần để che đậy tiết trinh nhưng Thoát Hoan đã vứt hết những trang sức của nàng, chỉ còn chiếc vòng xuyến trên cổ tay người thiếu nữ và không nói gì, thái độ lẳng lơ của một người kiêu hãnh, y nằm xuống bên nàng, bàn tay phũ phàng lướt trên da thịt mịn màng.

Cả đêm triền miên.

Thoát Hoan giày vò nàng không biết bao nhiêu lần.

Đắng cay, trớ trêu, tủi nhục cho một công chúa lá ngọc cành vàng.

Hoan lạc chán chê, y lăn ra ngủ để mặc An Tư nằm bất động.

Đôi mắt nàng trống rỗng vô hồn nhìn lên mái nhà.

Tóc tai rối loạn.

Đêm nay nàng có khác gì một ả điếm chốn thanh lâu, đem thân mua vui cho kẻ khác.

Nàng chỉ muốn giết chết kẻ đang nằm bên cạnh mình rồi quyên sinh để chấm dứt sự đau khổ này, nhưng rồi nàng biết rõ là mình không thể.

Giết y lúc này chỉ khiến Hốt Tất Liệt thêm giận dữ, và kế hoạch phản công của Hưng Đạo vương chưa chín mùi để chống đỡ.

Nàng chỉ còn cách nén nỗi uất hận xuống và chịu đựng, đêm nay mới chỉ là sự khởi đầu.

***

Trần Viễn được đưa về Vũ Lâm, hắn hôn mê gần tháng trời cũng chịu tỉnh dậy, trải qua một trận thập tử nhất sinh lần nữa đã rút cạn đi sức khoẻ của hắn ít nhiều.

Trông hắn gầy gò xanh xao đến đáng thương.

Đã mấy ngày liền chỉ thấy Phạm Bân và Hến ở bên mình, lâu lâu còn có Lưu Vân thay Bân đưa thuốc đến.

Người hắn muốn gặp nhất lại không thấy đâu, trong lòng bồn chồn khó tả nên mới sinh nghi.

Hôm nay, đúng lúc Phạm Bân bận việc, Lưu Vân lại đưa thuốc tới nên hắn tiện miệng hỏi:

"Lưu tiểu thơ, tại sao đã lâu rồi ta không thấy Công chúa tới thăm ta, lẽ nào nàng đang bận việc gì ư?"

Tay đang bưng thuốc bỗng run lên, mắt Lưu Vân ướt nhoà rồi thị bật khóc nức nở trong sự ngỡ ngàng của hắn.

"Công chúa... công chúa đã nguyện hy sinh thân mình đến trại giặc nhằm kéo dài thời gian nghi binh cho quân ta rồi."

Lời vừa dứt chỉ thấy mắt Trần Viễn hiện lên đầy căm phẫn, vết thương trên người đã chẳng còn đau đớn so với nỗi đau trong tim.

Hắn nghiến răng, bàn tay siết chặt đến bật máu, nỗi đau đớn tột cùng ấy sau cùng cũng thoát ra cuống họng bằng một tiếng gầm lớn, vang thấu tận trời xanh.

Những ngày sau đó, Trần Viễn ăn uống như hùm gấu, điên cuồng lao vào tập luyện ngày đêm.

Có lúc còn tập luyện ngoài quân doanh tới tận khuya mới chịu nghỉ, dẫu Phạm Bân có khuyên nhủ hắn nên tự lượng sức mình thì hắn vẫn mặc kệ, ý chí kiên cường trỗi dậy, hắn không cho phép bản thân thất bại lần nữa.

Chỉ có cách rèn luyện thân thể sắt đá mới giúp hắn có thêm sức mạnh đánh đuổi giặc thù và cứu người mình yêu, An Tư đã phải chịu khổ rồi, không thể để hy sinh của nàng trở nên công cốc.

"An Tư, hãy chờ ta.

Nhất định phải chờ ta."

Tháng ba, ngày Giáp Tuất, mùng một hai vua bỏ thuyền đi bộ đến Thuỷ Chú.

Lấy thuyền ra sông Nam Triệu (tức huyện Thuỷ Đường) vượt biển Đại Bàng vào Thanh Hóa.
 
[Full] Vãng Sự Vi Phong - Truyện Dài, Cảm Hứng Sử
Chương 85: Thăng trầm


Gần tháng nay Thoát Hoan mê mẩn An Tư trong điện Lập Nghi, nhiều hôm vì cả đêm vần vũ nên thân thể mệt mỏi không thèm đi duyệt quân.

Ngay tới việc vua Trần lần nữa khất hẹn không tới nghị hoà, y cũng mặc kệ.

Mấy lão tướng A Lý Hải Nha, Ô Mã Nhi trong quân doanh bắt đầu nóng ruột, mỗi lần nhắc tới An Tư đều nghiến răng chỉ muốn một đao chém chết nàng.

Tháng ba đã qua, mùa hạ bắt đầu bằng những trận mưa rào ẩm ướt.

Ngày nắng nóng, đêm mưa lạnh khiến những kẻ quen sống trên thảo nguyên mát mẻ quanh năm không thích nghi nổi mà dễ đổ bệnh, thầy thuốc đi theo chữa không xuể.

Tinh thần đội quân Thoát Hoan càng rệu rã khi lương thảo đang dần cạn kiệt, không kiếm được vì quân Trần thực hiện kế vườn không nhà trống, ngay cả hạt thóc, cọng rau cũng không kiếm nổi.

Tình hình trở nên căng thẳng, tin tức về vua Trần ở Tam Trĩ Nguyên của Ích Tắc cũng trở nên vô nghĩa khi lần nữa lại để vụt mất.

Thoát Hoan nghị bàn với các lão tướng ở ngoài quân doanh suốt ba ngày mới trở về điện Lập Nghi, tâm trạng không giấu nổi tâm tư phiền muộn.

Nến trong điện bập bùng cháy.

Mùi đàn hương nồng đượm.

Tự tôn, kiêu ngạo của một công chúa lá ngọc cành vàng đã chết rồi, chết từ khi nàng bước chân sang trại giặc.

Đêm nay, An Tư mang hết hương sắc, hấp dẫn của người đàn bà ra quyến rũ Thoát Hoan.

Những kỹ thuật phòng the mà nữ quan dạy cho nàng trước khi sang trại giặc càng khiến y đắm chìm vào trong sắc dục.

"Lang quân."

Giọng An Tư mềm mại thay đổi xưng hô thân mật, nàng đưa tay lên ôm lấy lưng y hỏi vẻ quan tâm.

"Có chuyện gì mà trông ngài phiền lòng như vậy?"

Đang chìm trong khoái cảm đê mê, đầu óc lâng lâng vì nhục dục, Thoát Hoan buột miệng đáp:

"Quân của Toa Đô đang đói vì thiếu lương."

"Vậy thì ngài tính thế nào?"

An Tư cố ý rướn người, phả hơi nóng vào vành tai y, vòng tay nàng ôm lấy thắt lưng chặt hơn, ép sát bầu ngực thanh xuân căng đầy của thiếu nữ vào người y.

Thoát Hoan căng người, hì hục tiến sâu hơn, vừa thở hổn hển vừa đáp.

"Ta đã ra lệnh cho ông ta dẫn quân lên Trường Yên kiếm lương rồi."

Sau những cuộc truy đuổi rầm rộ ở vùng ven biển phía đông bắc Đại Việt, quân Nguyên một lần nữa vồ hụt vào khoảng trống.

Đường Ngột Đài dẫn thủy quân Nguyên lùng sục vua Trần trên khắp một vùng biển rộng lớn trong vô vọng.

Lúc này, cả hai cánh quân của Thoát Hoan và Toa Đô đều đã cạn lương thực.

Thoát Hoan không muốn cho Toa Đô hội quân vì sợ không chu cấp nổi lương thực, y hạ lệnh cho Toa Đô đóng quân ở lộ Trường Yên để tự kiếm lương ăn.

Mệnh lệnh này quả thực làm cho toàn bộ khối quân dưới trướng Toa Đô vô cùng thất vọng.

Đội quân đã theo Toa Đô chinh chiến mấy năm ròng từ Chiêm Thành đến vùng trung tâm Đại Việt, chịu trăm ngàn gian khổ, lập được không ít công lao cuối cùng lại bị chủ soái bỏ mặc tự lực cánh sinh.

Vì điều này mà tinh thần của binh lính dưới trướng Toa Đô sa sút trầm trọng.

Sau trận hoan lạc, Thoát Hoan lăn ra ngủ như mọi khi.

An Tư nằm bên cạnh vờ ngủ nhưng thực ra nàng đang suy nghĩ làm cách nào để báo tin ra ngoài đây?

Cả đêm trắng, cuối cùng nàng cũng nghĩ tới cái hồ nhỏ nằm trong ngự hoa viên phía trước cung Trường Xuân.

Hôm sau, Thoát Hoan trở mình thức giấc.

Y lại dậy quá giờ duyệt quân.

An Tư ngồi trước gương, thong thả chải tóc, nàng nhìn vào trong gương biết y đã dậy nên chậm rãi thoa lớp sáp thơm lên môi, kẻ đôi chân mày.

Sau, nàng vuốt vạt áo đứng dậy, uyển chuyển bước tới bên giường giúp y rửa mặt, thay đồ.

Xong xuôi, thấy Thoát Hoan định rời đi thì bị nàng níu lại, ngữ điệu có hơi buồn rầu:

"Chàng làm gì mà vội vàng thế?"

"Đã quá giờ duyệt quân rồi, ta phải đi kẻo mọi người chờ."

Y đáp, rồi nhận ra sắc mặt nàng không vui, y gặng hỏi.

"Có điều gì mà nàng buồn bã vậy."

"Cũng không có gì đâu, ngài đừng bận tâm."

"Nàng cứ nói thử cho ta nghe xem nào!"

"Cũng không gì, chỉ là thiếp nghe nói hoa gạo trong ngự hoa viên đã nở rất đẹp, tiết trời hôm nay mát mẻ mà lại phải ở trong điện cả ngày nên cảm thấy buồn chán quá thôi."

Nàng cong môi nói, đôi mắt trùng xuống buồn bã khiến Thoát Hoan cũng không nỡ lòng, y bật cười vuốt má nàng.

"Ta tưởng chuyện gì, chờ ta duyệt quân xong sẽ đích thân dẫn nàng đi ngắm hoa."

"Thật sao?

Đa tạ lang quân."

An Tư vui mừng nhảy cẫng lên, hôn chụt vào má y rồi thẹn thùng đỏ mặt.

Thoát Hoan sung sướng cười hà hà rồi gõ trán nàng.

"Nàng thật đáng yêu."

Nói rồi, y phất tay áo rời khỏi điện tới quân doanh duyệt quân và nghị sự mãi tận cuối chiều mới trở lại.

Y giữ đúng lời hứa sai người sắp xếp bàn rượu dưới gốc cây gạo sừng sững bên hồ nước trong vắt, hai bên hồ trồng nhiều loại kỳ hoa dị thảo nên hầu như quanh năm hoa nở ngát hương.

Y ngồi nhâm nhi chén rượu, ngắm nhìn An Tư thích thú nhặt từng cánh hoa, hít hà mùi hương nhè nhẹ của nó.

Nhân lúc Thoát Hoan không để ý, nàng lén dùng móng tay bấm nhẹ lên cánh hoa thành những đường gạch chéo vô nghĩa rồi lại thả hoa xuống hồ, nhờ dòng nước chuyển đi tin tức của nàng ra ngoài.

Phía bên kia tường thành, Chiêu Quốc vương Ích Tắc cũng gửi gắm tin về Trần Kiện vào những chiếc lá ngô đồng thả trôi theo dòng suối.

Y đứng lặng hồi lâu nhìn ngắm bầu trời xanh biếc rồi buông tiếng thở dài, chấp nhận làm một quân cờ trong tay Thượng hoàng, chịu mang điều tiếng xấu muôn đời, y cũng chỉ mong sự đánh đổi này sẽ không uổng phí.

...

Vốn dĩ hồ nước trong Trường Xuân cung thông với con suối nhỏ chảy ra sông Tô Lịch, viên mật thám trực chờ bên sông suốt mấy ngày cuối cùng lại thấy một bông hoa gạo cùng những chiếc lá ngô đồng trôi theo dòng nước mắc kẹt ở bờ sông.

Thoạt đầu gã không để ý gì nhưng nhìn qua ngó lại một hồi thì thấy rõ ràng dọc bờ sông không hề trồng cây gạo và ngô đồng, vậy thì những thứ này ở đâu ra?

Hơn nữa, lại chỉ có một bông?

Ý nghĩ chợt lóe lên, y vội cúi người nhặt hoa và vớt hết lá rồi mau chóng chạy về cấp báo.

Trần Nhật Duật cầm trên tay bông hoa gạo mật thám gửi về, y ngắm nghía một hồi rồi mỉm cười một cách kỳ lạ.

Quốc công Trần Quốc Tuấn khó hiểu vội hỏi:

"Bông hoa này có điều gì đặc biệt sao?"

"Vâng, đúng là vậy."

Nhật Duật đáp.

"Có điều gì em nói cho mọi người xem nào!"

Thượng hoàng nóng lòng giục giã.

"Bẩm Thượng hoàng, bẩm Quốc công.

Ngày trước, thần từng dạy An Tư mật mã của người Miến Điện, trên cánh hoa này nhìn những vết cắt tưởng như vô nghĩa nhưng thật ra là mật mã đó.

Đây đích thực là An Tư truyền tin cho chúng ta."

Nhật Duật chậm rãi nói.

"Hoàng cô viết gì vậy chú?"

Trần Khâm hỏi vội.

"Toa Đô Trường Yên."

Nhật Duật nhấn mạnh từng chữ, lại cầm lá ngô đồng lên đọc.

"Còn những chiếc lá này là dấu ấn của Chiêu Quốc vương, ghi Trần Kiện về Bắc."

"Vậy là bọn thằng Kiện sẽ được đưa về Yên Kinh, còn Toa Đô sẽ tới Trường Yên."

Quốc Tuấn nghe xong liền hiểu, ông nói rõ hơn cho mọi người cùng nghe, ai nấy cũng gật gù.

Nghĩ tới An Tư, ông khẽ thở dài.

Tin tức quả là hữu dụng, nàng ấy chắc đã phải chịu nhiều khổ sở rồi.

Và nhanh chóng trấn tĩnh lại, ông cho gọi tên gia nô là Nguyễn Địa Lô lập tức lên phía Bắc phối hợp với thổ hào Lạng Giang là Nguyễn Thế Lộc và Nguyễn Lĩnh mai phục đánh bọn Trần Kiện ở trại Ma Lục.

Kết cục cho kẻ phản đồ là Trần Kiện bị bắn chết.

Lê Trắc phải cõng xác gã trên mình ngựa, giữa đêm chạy trốn vài mươi dặm đến Khâu Ôn mới chôn xác ở đấy.

...

Đêm Thanh Hóa gió lộng, trăng sáng.

Quốc công tiết chế Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn như trút hết cả ý chí, máu huyết và cả tủy xương mình dồn lên đầu ngọn bút với mong muốn truyền được tấm lòng yêu giận tới từng tướng sĩ và muôn dân.

Ông thường nghĩ, phải đánh quân giặc hung bạo kia bằng tất cả những gì mà dân tộc mình có.

Nhưng trước hết phải đánh chúng không những bằng sức mạnh của ba quân, mà còn bằng tinh thần quật khởi của binh dân trong toàn cõi.

Ông cứ mải miết viết cho tới lúc tàn canh.

Ánh bình minh đã le lói dội những tia nắng thu vàng qua khe cửa khép hờ vào thư phòng.

Tới lúc ấy, ông cũng vừa viết xong.

Ông buông bút vươn vai bước qua thềm điện với đầu óc nhẹ nhõm siêu thoát, như người mới từ cõi thái hư trở về.

Sau một hồi đi dạo quanh khu hồ bán nguyệt có hàng liễu rủ, rồi quành về bãi kim cúc, hoa đã nở vàng, hương đưa thi thoảng hòa

quyện với không khí thanh khiết của buổi mai nắng đẹp.

Ông sực nhớ đến bản "Dụ chư tỳ tướng hịch văn" nên bèn quay về cung, sai mấy đứa thư đồng đi mời tất cả các gia tướng, gia thần đến đầu giờ Mão tới nhà đại bái nghị bàn.

Khi mọi người đã tề tựu rồi Quốc Tuấn mới xuất hiện.

Bữa nay, ông mặc bộ áo thụng tía, ngực thêu đôi chim phượng màu kim tuyến.

Đầu quấn khăn vành dây, sau gút khăn gài một chiếc lông đuôi trĩ, sắc lông óng ánh đủ màu.

Chân ông đi đôi hài cỏ bồng.

Một tay cầm chiếc tráp nhỏ sơn màu cánh gián, tay kia ve vuốt chòm râu bạc.

Ông thong dong bước lên bậc tam cấp, nom thư thái như một văn nhân, một nhà hiền triết, chứ không mang dấu ấn gì của một vị Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân sự trong toàn cõi Đại Việt.

Các gia thần, gia tướng và cả gia nô đều nhận thấy ông có gì vui lắm.

Gương mặt hồng hào tươi nhuận, ánh mắt như hé cười với mọi người. một cách chân tình.

Quốc Tuấn vừa bước vào thềm, hết thảy các quan đều cúi rạp đầu chào.

Ông vừa nói vừa vẫy tay cho mọi người an tọa.

Để mọi người bàn tán xầm xì một lát, Quốc Tuấn nói:

"Cách đây hơn một năm, các ông đã dâng kế phải làm thế nào truyền được lòng căm giận quân Mông - Thát của vua quan, tướng lĩnh xuống đến bách tính.

Để ai ai cũng căm ghét quân kia, thì mỗi người dân của ta sẽ là một người lính.

Quân giặc đi tới đâu cũng đụng phải sức kháng cự.

Nơi nơi đều là chiến địa, thì dẫu quân kia có đông tới cả triệu đứa cũng không làm gì nổi nước ta.

Kế của các ông diệu kỳ lắm.

Song thực hiện được là muôn khó.

Lòng ta không lúc nào không để ý tới.

Nay thời cơ đã đến, và việc lo chống giặc bây giờ gấp lắm.

May thay, nhờ phúc ấm tổ phụ, suốt đêm qua ta đã viết xong được bài hịch mà ta ấp ủ tới cả chục năm nay.

Vậy các ông thử nghe qua xem, nếu được thì sẽ trình lên Quan gia, rồi bố cáo cho các tướng sĩ và bách tính."

Nói xong, ông mở tráp lấy ra một tập sách mỏng đã đóng bìa, rồi trao cho Trương Hán Siêu.

Ông truyền:

"Hán Siêu tốt giọng, đọc to lên cho mọi người cùng nghe."

Ai nấy đều hồi hộp.

Chính Trương Hán Siêu, một chàng trai vẫn được coi là điềm đạm, gan dạ, gặp nguy mặt không biến sắc, mà tay cầm tờ hịch lòng cũng thấy nao nao.

Hán Siêu thoắt nghĩ, chắc cũng là một bài hiệu triệu ba quân phải kỷ cương, gan dạ khi lâm trận.

Bởi bình sinh trong việc dạy dỗ tướng sĩ, vương thường huấn hỗ điều này.

Trương Hán Siêu hít sâu một hơi vào tận huyệt đan điền để lấy lại sự bình tâm, rồi chàng cất cao giọng đọc.

"...Ta thường thì tới bữa quên ăn, giữa đêm vỗ gối, nước mắt tràn xuống đầy mép, tấm lòng đau như bị đâm, vẫn lấy cái sự chưa thể ăn thịt nằm da, nuốt gan uống máu của chúng làm tức.

Dẫu cho một trăm cái thân của ta phải đem đốt ở đồng cỏ, một nghìn cái thân của ta phải đem bọc vào da ngựa, ta cũng vui lòng.

Các ngươi lâu nay ở dưới cửa ta cầm giữ binh-quyền, thiếu áo thì mặc áo cho, thiếu ăn thì sẻ cơm đỡ, quan nhỏ thì cho lên chức, bổng ít cho thêm lương, đi thủy cấp thuyền, đi bộ cấp ngựa, những khi trận mạc, sự sống thác thầy chung với trò, những lúc mừng khao, tiếng vui cười ai cũng như nấy.

So với Công Kiên làm chức thiên-lý, Ngột Ngại ở ngôi phó nhị, có khác gì đâu..."

Càng đọc, lời hịch càng hào sảng tha thiết mà cao thượng, rõ ra cái chí của bậc thánh nhân.

Lời hịch như thức tỉnh đến tận đáy sâu huyết quản của mỗi con người, hễ đã biện biệt được với loài dã thú, thảy đều phải có lòng tự trọng giữ lấy thân mình, không để cho giặc Mông - Thát kia động tới.

Lại phải giữ lấy hương hỏa, phần mộ, đất đai cùng non sông nòi giống do tổ tông để lại.

"...Nay ta lựa chọn binh pháp các nhà, làm một quyển sách, đặt tên là sách "Binh-thư yếu-lược".

Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách ấy, nghe lời dạy-bảo của ta, ấy là duyên thầy trò kiếp xưa; Nếu các ngươi bỏ bê sách ấy, trái lời dạy-bảo của ta, ấy là mối cựu thù kiếp xưa, Sao vậy?

Bởi vì như vậy tức là kẻ thù không đội chung trời, thế mà các ngươi không nghĩ tới, điềm nhiên không lo đến sự rửa thẹn, không tinh; đến việc trừ hung, không nhớ đến chuyện dạy-tập quân-sĩ.

Thế là giở giáo hàng giặc, nắm tay chống giặc.

Rồi đây, sau khi dẹp yên quân giặc, các ngươi sẽ phải thẹn muôn đời, còn mặt-mũi nào đứng giữa khoảng trời đất che chở?

Ta muốn các ngươi biết rõ bụng ta, nhân viết mấy lời đó làm hịch."

Lời hịch như truyền sức mạnh phi thường và lòng căm uất sục sôi, hệt như một trận cuồng phong nâng bồng khí phách và phẩm giá ta lên.

Khi Trương Hán Siêu ngừng lời, chàng thấy một cảnh tượng hết sức lạ lùng.

Tất cả các gương mặt đều bừng bừng lửa giận, mắt đỏ hoe, và tâm trí họ như đang trút lên đầu ngọn giáo.

Phút trầm hùng cao khiết tưởng như hồn thiêng sông núi đang tụ hội, bỗng ở đâu đó bật nẩy lên hai tiếng đanh sắc như một lời sấm truyền:

"Sát Thát!"

Thế là kéo theo những tiếng hô ầm ầm như trời long đất lở.

Quốc Tuấn đọc trên từng gương mặt các tướng lĩnh và văn thần, ông biết ông đã truyền cho họ được điều mà non sông đất nước mong đợi.

Thiên thời, địa lợi, nhân đồng lòng đều có đủ.
 
[Full] Vãng Sự Vi Phong - Truyện Dài, Cảm Hứng Sử
Chương 86: Sát Thát


Bấy giờ tiết trời dần chuyển sang oi bức.

Quân Nguyên ngoài việc chịu khổ sở vì thiếu đói cũng bắt đầu xuống sức do không quen thủy thổ.

Sau khi chiếm được Thiên Trường, tả thừa Lý Hằng đã bàn với Thoát Hoan nên chia quân đóng giữ tại đây, trích lương xây thành để chiếm đóng lâu dài, đề phòng vua Trần trở lại khôi phục căn cứ địa.

Tuy nhiên ý kiến này đã bị các tướng khác phản đối và bị chủ soái Thoát Hoan bác bỏ vì lo ngại càng chia quân nhiều nơi càng dàn mỏng lực lượng, dễ bị quân Đại Việt tập kích.

Bấy giờ quân Nguyên đã không còn điều kiện để dàn quân kiểm soát nhiều vùng như trước, nhưng cũng không thể dồn ứ lại một chỗ để chịu đói.

Thoát Hoan chia khối quân của mình thành một chuỗi đồn trại lớn nhỏ kéo dài từ Thăng Long đến các vùng Thiên Mạc, Khoái Châu nằm dọc theo sông Phú Lương với các đồn trại lớn là Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, A Lỗ.

Mục đích là để vừa có thể tỏa ra cướp bóc, vừa có thể ứng cứu cho nhau khi bị tấn công.

Còn bản thân Thoát Hoan vẫn đóng đại doanh ở Thăng Long chỉ huy toàn quân.

Khi Toa Đô tiến ra Bắc hội quân với Thoát Hoan thì các lộ từ Thanh Hóa, Diễn Châu đến Nghệ An, Bố Chính, Thuận Hóa trở thành những vùng vắng bóng quân giặc.

Quốc Tuấn đã nắm được điều đó, khéo léo thực hiện một chiến dịch nghi binh, rút lui tài tình để đưa toàn quân vào đóng tại Thanh Hóa.

Vào đến đây, triều đình và đại quân tạm thời được an toàn, có thời gian củng cố lại lực lượng, đồng thời tiếp tục kiên nhẫn chờ đợi sự suy kiệt của quân địch.

Quân Đại Việt đóng gần mặt biển, chia quân đóng giữ các chỗ hiểm yếu để phòng địch tấn công.

Vài ngày sau, Toa Đô dò biết được tung tích quân Đại Việt.

Gã bèn báo lên chủ soái Thoát Hoan.

Nắm được tin tức, Thoát Hoan phái Ô Mã Nhi đem sáu mươi chiến thuyền, hơn một ngàn quân thủy phối hợp cùng khối quân của Toa Đô quay trở lại Thanh Hóa để tấn công quân Đại Việt.

Lúc này quân của Toa Đô đã hết sức suy kiệt, chán nản vì thiếu thốn lương thực và những chặng đường hành quân dài ngày, khổ sở.

Binh lính ở Trường Yên ì ạch kéo xuống Thanh Hóa.

Tại đây, quân Nguyên gặp phải sự kháng cự của Thượng tướng thái sư – Chiêu Minh vương Trần Quang Khải.

Lần này với thế và lực mới, Quang Khải đã nắm được ưu thế trên chiến trường.

Toa Đô và Ô Mã Nhi giao chiến với Quang Khải nhiều trận đều không thắng nổi.

Càng giằng co ở Thanh Hóa lâu ngày, Toa Đô, Ô Mã Nhi càng tuyệt vọng.

Một mặt, quân của Quang Khải lấy thế quân nhàn hạ mà kiên trì phòng thủ, chắn ngang đường tiến quân của chúng, không sao đánh hạ nổi.

Mặt khác, vùng Thanh Hóa bây giờ thưa thớt hoang vu, lại ở quá xa hậu phương dẫn đến tình trạng đã đói khát trong quân của Toa Đô càng thêm trầm trọng.

Không thể làm được gì hơn, Toa Đô cùng Ô Mã Nhi dẫn quân ngược ra Bắc, đóng tại bến Tây Kết.

Quang Khải không vội truy kích Toa Đô, bỏ mặc cho quân Nguyên tự suy yếu dần vì đói khát, bệnh tật.

Với sự che chắn vô cùng tốt, triều đình nhà Trần và toàn quân Đại Việt có được sự an toàn tuyệt đối tại Thanh Hóa, yên tâm dưỡng sức, tích lũy lương thực.

Quân Nguyên đánh trận xa nhà lâu ngày, thiếu thốn cực khổ trăm bề, lại thêm dịch bệnh hoành hành, vốn sĩ khí đã xuống dốc.

Nhưng để làm cho chúng hoàn toàn nhụt chí, trước sau quân Trần vẫn phải đánh thắng chúng trong những trận chiến quy mô lớn.

Có như thế thì niềm kiêu hãnh cuối cùng, cũng là hy vọng cuối cùng của đạo quân xâm lược mới sụp đổ.

Khi đó, quân Trần mới có thể thuận lợi tiến tới mục tiêu cuối cùng là đuổi sạch quân giặc về nước, đồng thời gây cho chúng nhiều thiệt hại nhất có thể.

Cuối tháng năm, quân Đại Việt ào ào tiến ra Bắc, bắt đầu chiến dịch tổng phản công.

Khối quân phía Đông do đích thân Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đốc suất quân thủy vượt biển quay trở lại vùng Thiên Trường, Trường Yên, len lỏi vào các nhánh sông lớn nhằm đánh vào những bộ phận rệu rã nhất của đoàn quân dưới trướng Toa Đô.

Mục đích là để giành lại vùng đất căn cơ của hoàng tộc Trần, tạo thế đứng vững cho toàn quân Đại Việt tiện bề tiến thủ.

Dưới trướng Quốc Tuấn là các con trai của ông gồm Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn, Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng, Hưng Trí vương Trần Quốc Hiện, Hưng Hiển vương Trần Quốc Uy.

Họ đều là những người tài tuấn.

Ngoài ra, còn có các gia tướng Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng, Cao Mang, Đại Hành là những người luôn sát cánh với chủ công của mình từ đầu cuộc chiến.

Khối quân phía Tây dưới quyền chỉ huy của Chiêu Minh vương Trần Quang Khải và Quan gia, Thượng hoàng chia đường thủy, bộ nhắm thẳng vào các đồn trại lớn dọc sông Phú Lương, nằm gần kinh thành.

Mục tiêu của cánh quân này là cắt đứt liên lạc giữa Toa Đô và Thoát Hoan, rồi thừa thắng thu phục lại Thăng Long.

Trong khối quân này có nhiều vương hầu và tướng lĩnh chủ chốt của triều đình.

Mở màn cho chiến dịch là trận chiến tại đồn A Lỗ, một căn cứ trấn giữ chốt ngã ba sông Phú Lương và sông Luộc của quân Nguyên.

Tướng trấn giữ đồn A Lỗ là vạn hộ Lưu Thế Anh với hơn một vạn quân trong tay.

Binh thuyền của Quốc Tuấn âm thầm hành quân tiếp cận căn cứ của quân Nguyên với tiến độ nhanh chóng.

Khi quân Nguyên phát hiện ra đoàn quân của Quốc Tuấn hùng hổ kéo tới thì đã muộn, các đồn trại khác không còn đủ thời gian để đến ứng cứu.

Quân Đại Việt đông hơn gấp mấy lần, tấn công dữ dội vào đồn A Lỗ, nhanh chóng làm chủ tình hình.

Vạn hộ Lưu Thế Anh cùng một ít tàn quân mở đường máu chạy về hướng Thăng Long.

Sau hai trận đánh mở đầu cuộc tổng phản công, Quốc Tuấn đã chiếm lại được quyền làm chủ Thiên Trường một cách dễ dàng, cũng nhờ đó mà cô lập một lực lượng đáng kể quân Nguyên ở vùng Trường Yên.

Đồng thời, quân Đại Việt còn mở thông các tuyến đường sông quan trọng ở phía Đông Phú Lương.

Trong khi quân của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đánh thắng địch ở vùng Thiên Trường, thì khối quân phía tây dưới sự chỉ huy của hai Quan gia và Chiêu Minh vương Trần Quang Khải cũng tung hoành ở vùng Thiên Mạc, Khoái Châu.

Quân Đại Việt tiến thẳng một mạch từ Thanh Hóa vùng trung tâm Thăng Long mà không gặp phải sự kháng cự nào đáng kể nhờ tài hành quân thần tốc và do quân Nguyên đã co cụm lại trên trục sông.

Đến gần hai cứ điểm liền kề nhau là Hàm Tử – Tây Kết, quân Đại Việt tập kết lại, chuẩn bị tổ chức một trận quyết chiến lớn.

Trần Khâm rước Thượng hoàng từ hậu quân tới.

Thượng hoàng đích thân làm tướng soái, cùng Quang Khải dự trù kế sách, dàn trận chia quân cho các đại tướng.

Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật cùng một số tướng lĩnh dẫn năm vạn quân đánh vào Hàm Tử quan.

Các tướng Nguyễn Khoái, Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản, Chiêu Thành vương Trần Viễn chuẩn bị sẵn sàng đánh vào Tây Kết để phối hợp.

Các hiệu cấm quân tinh nhuệ nhất đều được tung vào trận.

Đó là những tinh hoa của toàn quân Đại Việt, là những mũi giáo sắc bén nhất mà vua Trần đã dành riêng cho những trận đại chiến mang tính chất sống còn.

Về phía quân Nguyên, binh lính đóng ở Hàm Tử – Tây Kết có quân của Toa Đô và cả quân của Thoát Hoan phái tới.

Quân Nguyên nằm dưới sự chỉ huy của các tướng Toa Đô, Giảo Kỳ, Đường Ngột Đài, Ô Mã Nhi...

Tại đây quân Nguyên bố trí nhiều thủy quân để trấn giữ.

Hiển nhiên hai cụm cứ điểm này rất vững mạnh vì có quân đông tướng giỏi, có sự kết hợp giữa thủy và bộ.

Hai cứ điểm nằm kề nhau khá tiện lợi cho việc ứng cứu hoặc rút lui.

Tuy nhiên, nhuệ khí và thể chất quân Nguyên đã suy giảm nhiều, không thể so bì với lúc ban đầu mới tiến sang nữa.

Quân Đại Việt đem binh thuyền đánh vào Hàm Tử quan, nhanh chóng làm chủ tuyến sông và cho quân đổ bộ ồ ạt.

Hai bên đánh nhau dữ dội.

Toa Đô đang ở bến Tây Kết, thân điều động binh thuyền sang ứng cứu Hàm Tử.

Quân Toa Đô cũng đổ bộ lên bờ, xông vào giáp chiến với quân Trần.

Lúc này, Nhật Duật tung đội kỵ xạ người Tống của mình vào trận.

Đội Quân này dưới sự chỉ huy của Triệu Trung, gia tướng của y.

Triệu Trung và binh lính người Tống trước kia khi nước Tống bị diệt đã chạy sang quy phụ Đại Việt, được y thu nhận.

Nhật Duật cho quân của Triệu Trung ăn mặc trang phục của quân Tống để đánh trận.

Trước khi vào trận, Thượng hoàng đã cẩn thận dặn dò toàn quân:

"Đây là quân Thát của Chiêu Văn vương đấy, nên nhận cho kỹ chúng."

Việc cho quân ăn mặc theo kiểu quân Tống là mưu cao của Nhật Duật, vừa khích lệ tinh thần báo thù của bọn Triệu Trung, vừa có tác dụng uy hiếp tinh thần quân Nguyên.

Hiệu quả của mưu kế này đã thành công vượt cả mong đợi.

Quân Nguyên đang bị hãm trận, lại nhìn thấy trước mắt chúng một đoàn quân Tống thì vô cùng kinh hoàng, bảo nhau rằng lẽ nào nước Tống đã phục quốc và đem quân sang giúp Đại Việt.

Do đó mà quan tâm của địch rối loạn.

Triệu Trung rất dũng mãnh, lúc này ra sức giết địch để báo thù cho cố quốc.

Nhật Duật thừa thế tiến quân đánh mạnh, quân Nguyên tan vỡ lớn.

Cùng với chiến sự diễn ra tại Hàm Tử, quân Đại Việt dưới sự chỉ huy của các tướng Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản, tướng quân Nguyễn Khoái, Chiêu Thành vương Trần Viễn cũng tấn công vào đồn Tây Kết vừa lúc Toa Đô đem quân sang cứu Hàm Tử.

Các tướng Nguyên đang lo dồn về phía Hàm Tử, lại bị tấn công ở Tây Kết nên sớm nao núng.

Quân Đại Việt thả sức chém giết.

Các tướng Nguyên từ Hàm Tử – Tây Kết mạnh ai nấy bỏ chạy về phía đông, toan rút ra ven biển.

Quân ta thu được chiến thắng quan trọng.

Bấy giờ nhuệ khí quân Đại Việt dâng cao, tiếp tục nỗ lực để đi đến chiến thắng cuối cùng.

Chiến thắng Hàm Tử – Tây Kết đã làm rúng động toàn bộ hệ thống phòng thủ của quân Nguyên, khiến tinh thần của chúng hoang mang tột độ.

Quân Nguyên bấy giờ ở tản mác tại Thiên Trường, Thiên Mạc, Trường Yên vẫn còn đông nhưng hầu như đã như cá nằm trên thớt, hoàn toàn mất phương hướng do bị cô lập với chỉ huy và hậu cần.

Quân của Thoát Hoan đóng tại Thăng Long cũng đã khiếp vía và bị uy hiếp dữ dội do mất đi những lá chắn ở hạ lưu sông Phú Lương.

Toàn quân Đại Việt lại chia làm ba bộ phận.

Khối quân thứ nhất cũng là khối quân mạnh nhất do Chiêu Minh vương Trần Quang Khải làm tổng chỉ huy, thừa thắng đánh thẳng vào khối quân của Thoát Hoan ở Thăng Long.

Khối quân thứ hai do Quan gia và thượng hoàng chỉ huy, chốt giữ các địa bàn vừa mới chiếm lại được và đem quân tiêu trừ giặc ở các vùng Thiên Mạc, Trường Yên, Thiên Trường.

Khối quân thứ ba do Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn làm tổng chỉ huy từ Thiên Trường theo dòng sông Thái Bình – Lục Nam tiến chiếm lại Vạn Kiếp, chuẩn bị đón đánh quân Nguyên rút chạy hoặc phối hợp với quân của Quang Khải hai mặt giáp công địch nếu cần.

Quốc Tuấn còn phái gia tướng Phạm Ngũ Lão dẫn tinh binh từ khối quân của mình sang chi viện cho Chiêu Minh vương để cùng hợp lực chiếm lại kinh thành.

Quân dưới trướng Thoát Hoan vẫn còn hàng chục vạn bất chấp những thất bại nặng nề liên tiếp.

Các khối quân của Toa Đô, Giảo Kỳ, Ô Mã Nhi... rải rác ở các nơi trong nước dù bị đánh tan tác, bị cô lập thành từng mảnh nhưng vẫn chưa hoàn toàn bị diệt.

Vì vậy, trận chiến thu phục kinh thành là một trận chiến lớn, vô cùng quan trọng và không hề dễ dàng.

Trải qua nhiều tháng chiến đấu với quân giặc, những nông dân Đại Việt giờ đã trở thành những chiến binh thực thụ, cùng sát cánh với quân đội triều đình đánh lớn.

Quang Khải đem các quân dùng thuyền ngược sông vây đánh mạnh vào bến Chương Dương, lại ngầm cho quân đi vòng mai phục trên đường từ thành Thăng Long đến Chương Dương.

Quân Trần khí thế đang lên, đồn Chương Dương dù là một cứ điểm đông và mạnh của quân Nguyên cũng không chống cự được lâu.

Nhận tin cấp báo, Thoát Hoan từ Thăng Long phái quân đi tiếp viện thì bị phục binh Đại Việt chặn đánh tan dọc đường.

Đồn Chương Dương cô thế, trước sau đều bị quân Trần vây đánh nên cũng bị hạ không lâu sau đó.

Hàng vạn quân tại Chương Dương bị tiêu diệt.

Quang Khải lại phái Trung Thành vương đem một cánh quân tấn công đồn ngoại vi của địch ở Giang Khẩu, tướng Nguyên trấn giữ tại đây là Thiên hộ Mã Vinh chống không nổi phải rút chạy.

Quân Nguyên rút hết vào trong thành Thăng Long cố thủ.

Quang Khải hạ lệnh cho toàn quân vây thành mấy vòng, thủy và lục quân cùng nhau phối hợp ngày đêm công phá thành.

Quân Nguyên ở trong thành dùng cung tên, dựa vào thành cao hào sâu chống trả lại.

Kỵ binh của quân Nguyên bị dồn ứ trong thành, ngựa chiến trở nên vô dụng trong một điều kiện chiến trường hoàn toàn khác biệt so với những gì chúng thường trải qua ở các quốc gia khác.

Quân Nguyên chỉ có thể trông cậy vào bộ binh để thủ thành.

Cả phía quân Đại Việt và quân Nguyên đều chịu nhiều tổn thất trong trận chiến giữa công và thủ thành.

Tuy nhiên quân Trần không hề nao núng, hết lớp này đến lớp khác quyết xông lên hạ thành.

Chiến sự căng thẳng nên cả nửa tháng nay Thoát Hoan không tới gặp An Tư, y luôn ở đại bản doanh cho tiện nghị sự với các lão tướng.

Nhiều lúc nhớ nhung, ngứa ngáy trong người vì không được gần nàng khiến y càng khó chịu, mặt mày lúc nào cũng cau có, buồn bực, thiếu tập trung.

Những lần nghị sự họp bàn cũng vì thế bị ảnh hưởng ít nhiều.

Bấy giờ, quân Nguyên đã vào thế bị vây khốn, càng đánh càng mỏi mệt, tên đạn hết, lương thực cạn.

Khi tình thế quá bi đát, Thoát Hoan cho họp các tướng, bàn nhau rút quân về nước hòng bảo toàn lực lượng, chờ cơ hội về sau.

Nhưng bấy giờ toàn cõi Đại Việt đã trở thành một cái bẫy lớn chờ đợi tiêu diệt quân Nguyên, quyết đánh cho địch không còn manh giáp chứ không cho phép chúng có cơ hội thực hiện một cuộc "rút lui chiến lược."

Tin tức Chiêu Minh vương Trần Quang Khải phá thành tràn vào dội đến, bên ngoài náo loạn ầm ĩ bao nhiêu thì bên trong điện Lập Nghi vẫn im ắng lạ thường.

An Tư ở trong phòng đứng ngắm nhìn tấm lụa đỏ được vắt trên xà ngang rất lâu, rồi nàng mỉm cười, nói như thì thầm với chính bản thân mình:

"Chiêu Thành vương, chúng ta thắng rồi, ta đã làm rất tốt đúng không?

Chàng vẫn đợi ta chứ?

Đừng lo, thiếp tới gặp chàng đây."

Và cuối cùng ngày này cũng đến, nàng nhắm mắt, giọt lệ trượt xuống chạm vào nền gạch vỡ tan, những hình ảnh nhạt nhòa cùng hắn vui vẻ trong những tháng ngày thái bình vắng bóng giặc thù lần lượt hiện ra.

Nàng mỉm cười, tựa như mãn nguyện, chiếc cổ trắng ngần quàng lên dải lụa, đôi tay buông thõng, bỏ mặc lại thế gian đầy đau thương.

"Rầm!!!"

Tiếng cửa bật mở, Thoát Hoan thấy nàng đang treo trên cao thì hốt hoảng chạy tới vội vã đỡ nàng xuống.

Nàng vùng vẫy, mắt nhìn y đầy căm hận:

"Bỏ ta ra, lũ mọi Thát các ngươi."

Thoát Hoan giận dữ vung tay bạt tai nàng, giọng y đầy gầm gừ uy lực:

"Nàng đã là người của ta, ta không cho phép nàng chết như vậy.

Ít ra không phải là lúc này.

Nàng phải theo ta về Yên Kinh."

Rồi chẳng để nàng thêm cơ hội kháng cự nào, y dùng dải lụa bịt miệng, trói chặt tay nàng, mặc cho nàng gầm gừ giãy giụa, y vẫn một mực kéo nàng ra ngoài, vứt nàng lên yên ngựa như một món hàng rồi cùng đám quân lính tháo chạy khỏi Thăng Long.

Hỏi Thoát Hoan có yêu An Tư không?

Vốn dĩ y chỉ coi nàng là một vật khi không có được thì khao khát thèm muốn, khi có được rồi thì nàng cũng chỉ như một món đồ giúp y thỏa mãn cơn khát dục vọng của đấng nam nhi.

Rồi đến lúc nào đó, y sẽ dùng nàng làm tấm khiên chắn cho bản thân.

Y tin rằng, đám người họ Trần kia dù thế nào cũng sẽ không nhẫn tâm bỏ mặc máu mủ ruột thịt của mình đâu.

Thoát Hoan trong cơn nguy khốn, điều động hết binh mã phá vòng vây chạy về hướng bắc.

Thoát ra được ngoài vòng vây của quân Trần với thiệt hại lớn, quân Nguyên tụ lại ở Gia Lâm để rút lui.

Lúc này thì tàn quân Nguyên dưới trướng của tướng Giảo Kỳ bại trận ở Hàm Tử quan mấy hôm trước vẫn chưa hay biết Thoát Hoan đã bại trận rút lui, kéo nhau về Thăng Long thì đụng độ quân Trần, lại bị đánh một trận tơi tả.

Gã cố gắng lắm mới chạy được đến Gia Lâm hội quân với Thoát Hoan.

Trong khi đó, Quang Khải cho quân vào chiếm lại kinh thành, lại lệnh cho Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản thống lĩnh kỵ binh truy kích Thoát Hoan.

Hưng Đạo vương Quốc Tuấn cũng đã đợi sẵn quân địch từ trước, phái Hưng Ninh vương Trần Tung đem hai vạn quân tấn công phối hợp.

Quân Quốc Toản từ hướng Thăng Long đánh lên, cùng Hưng Ninh vương từ hướng Vạn Kiếp đánh xuống, kẹp khối quân của Thoát Hoan vào giữa.

Quân Nguyên chưa kịp hoàn hồn sau trận đánh ở Thăng Long đã bị hai mặt giáp công, lại nhanh chóng thua trận.

Đến sông Sách, quân Nguyên lại phải dừng quân bắc cầu phao qua sông.

Nơi này là chỗ nhạy cảm, tất nhiên quân Trần không bỏ qua.

Chiêu Thành vương Trần Viễn đã cho đặt phục binh trong rừng chờ đón giặc từ trước.

Quân mai phục của Đại Việt ít hơn nhiều, chỉ dựa vào khí thế truy kích nên không đánh ngay vì sẽ ép địch vào thế cùng đường, tất chúng sẽ dựa vào sông tử chiến, sẽ gây cho ta những tổn thất không đáng có.

Chờ cho quân Nguyên bắc xong cầu phao, chuẩn bị vượt sông thì quân Trần Viễn mới nhất tề xông ra đánh.

Lúc này quân địch chỉ mong nhanh chóng thoát thân, không còn ý chí nào mà chiến đấu nữa, tranh nhau mà chạy.

Quân Trần thừa thế đánh giết.

Hậu quân Nguyên dưới trướng tướng A Thích chưa qua sông kịp, bị kẹt bên bờ nam và bị quân Trần tàn sát.

Trong đám hỗn loạn, Trần Viễn nhác thấy Thoát Hoan lôi kéo một người con gái cùng đám tàn binh lên thuyền, tim hắn bỗng co thắt lại, mắt hằn lên những tia máu đỏ.

Tay siết chặt thanh đao, cưỡi trên chiến mã dũng mãnh, với sức mạnh phi thường hắn điên cuồng chém giết lũ giặc Thát đang cản đường.

Bấy nhiêu ngày tháng cực khổ rèn luyện cho thân thể trở nên rắn rỏi, mình đồng da sắt cũng chỉ chờ đến giây phút này mà xông pha trận mạc.

A Thích đánh cố sống chết, che chắn cho Thoát Hoan vượt sông lên chiến thuyền để tháo lui theo đường thủy.

Cầu phao yếu, đám tàn binh Nguyên lại đông như kiến nên không chịu nổi mà bị gãy.

Quân giặc bị rơi xuống sông chết đuối rất nhiều.

Trần Viễn tiếp tục cưỡi trên lưng ngựa, hùng hổ chạy dọc bờ đê truy sát đám tàn binh giặc đang cố trốn thoát dưới sông.

Chiếc thuyền nhờ gió đi mỗi lúc một xa, cứ khi tới gần thuyền lại không thể bắt kịp.

Chỉ đến khi con thuyền tới gần cửa sông hẹp, hắn thúc ngựa nhanh hơn tới gò đất cao, bốn chân chiến mã to khoẻ mạnh đạp gió phi nước kiệu.

Trong nháy mắt, cả người và ngựa lao vút lên không trung, nhảy bổ xuống thuyền giặc.

Chiến thuyền chấn động rung lắc nhẹ, lũ giặc Nguyên hốt hoảng đùn đẩy nhau xông tới chĩa mũi giáo vào hắn, đâm chém loạn xạ.

Trong đám hỗn loạn trên thuyền, An Tư bị nhốt trong lồng sắt, nàng run rẩy nắm chặt chắn song khi thấy bóng hình Chiêu Thành vương uy dũng trên chiến mã, hắn như một vị thần đang không ngừng chém giết tướng địch.

Mắt nàng nhòe nhoẹt đi vì nước mắt, nàng không tin, nàng cứ ngỡ hắn đã vĩnh viễn không thể xuất hiện trước mặt nàng được nữa.

Vậy mà, lẽ nào nàng đang mơ?

Quân Nguyên vốn đã yếu sẵn, trước sự tấn công mạnh mẽ của Trần Viễn đã không chống chọi nổi, từng kẻ đổ gục xuống, máu tươi loang lổ chảy thành dòng, nhuốm đầy mặt sàn.

Thoát Hoan thấy tình hình không ổn, tương kế tự kế phái quân lính đổ dầu khắp nơi và châm lửa rồi nhảy sang thuyền khác tháo chạy.

Thời tiết vốn hanh khô, một mồi lửa nhỏ nhanh chóng lớn dần thành những ngọn lửa lớn.

Trần Viễn, chém chết tướng địch cuối cùng, lửa cháy càng mãnh liệt nhưng hắn mặc kệ mà lao vào biển lửa tới chiếc lồng sắt đáng chết kia.

"Chàng... chàng vẫn sống?

Ta không nằm mơ chứ?"

Môi nàng run rẩy, lệ nhòa đẫm nước.

Chỉ đến khi bàn tay chạm lên má hắn, lau đi vết máu còn vương thì nàng mới dám chắc chắn sự hiện diện của hắn là thật.

"An Tư, nàng không nằm mơ.

Ta thật sự vẫn sống, là Quan gia đã cứu ta."

"Quan gia ư?"

Nàng giật mình.

"Sao Khâm lại nói với ta rằng chàng đã tử trận, trên chiến trường ngày ấy."

"Sao cơ?

Không thể nào, Quan gia sao lại gạt nàng chứ?"

Đáy mắt hắn xao động, hoang mang, càng khó tin những lời nàng nói không giống với lời Trần Khâm kể.

Có điều gì uẩn khúc ở đây sao?

Nhưng những ý nghĩ đó không quan trọng nữa, vào thời khắc này, hắn cần nhanh chóng phá ổ khóa chết tiệt kia, mau chóng đưa nàng ra khỏi chốn này.

Hắn dồn hết sức lực dùng thanh đao chém mạnh vào ổ khóa liên tiếp, tiếng kim loại va vào nhau chan chát nghe đến gai người.

Sau, ổ khóa cũng bật mở, chỉ là đột nhiên từ ổ khóa phun ra một luồng khói đen cay xè mắt.

Hắn chỉ sơ sẩy một giây, vậy mà luồng khí đen kia đã thâm nhập vào đôi mắt đang sáng rỡ khiến hắn đau đớn, trước mắt tối sầm không thấy gì nữa.

An Tư hốt hoảng, nàng đẩy cửa lao ra đỡ lấy hắn.

"Chàng sao vậy?

Có chuyện gì vậy?"

"Mắt của ta, mắt của ta."

Hắn vừa nói, hai hốc mắt bỗng nhiên rỉ máu.

Nhưng chưa kịp nói thêm lời nào, trên cao thanh xà ngang cháy dữ dội ầm ầm đổ xuống.

Tứ bề là biển lửa ngùn ngụt, chẳng mấy chốc đã nuốt gọn chiếc thuyền chiến, cả chiếc thuyền trong nháy mắt đã hóa thành ngọn đuốc lớn chiếu sáng rực cả một vùng trời.

Chẳng lâu sau, chỉ còn trơ trọi một đống tro tàn.

Tất cả đều theo con thuyền dần dần chìm xuống đáy sông, nước sông vẫn chảy xiết, cuồn cuộn sóng vỗ.

Quốc Toản dẫn binh tới bến sông thấy tình cảnh này cũng chỉ biết đứng trên bờ bất lực gào thét tên người chú, cậu oán giận nhìn những chiến thuyền giặc đã đi xa.

Chỉ tiếc bản thân đã tới chậm một bước, nếu không tình thế có thể đã được cứu vãn rồi.

...

Thoát Hoan cùng đám bại binh qua được sông Sách thì thiệt hại đã quá nửa.

Y chạy đến trại Vĩnh Bình thì Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn đã cho quân mai phục sẵn chỗ hiểm, tên độc bắn ra như mưa.

Tả thừa Lý Hàng trúng tên độc, bị thương nặng.

Tỳ tướng của Lý Hằng là Lý Quán cùng quân tướng còn lại chừng năm vạn quân hộ tống Thoát Hoan cố chạy về phía châu Tư Minh, chúng bắt được ống đồng trong dân, Thoát Hoan chui vào đó rồi cho quân lính đẩy đi dưới làn tên mũi đạn của quân Đại Việt.

Khi đã vào địa phận châu Tư Minh rồi, đám bại binh vẫn chưa thoát nạn.

Hưng Hiến vương Trần Quốc Uy cùng Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn thừa thắng đuổi tràn cả qua biên giới, đánh một trận nữa ngay tại châu Tư Minh, trong đất của Thiên triều để triệt tiêu đạo quân xâm lược, cho quân giặc một trận nhớ đời.

Lý Quán trúng tên bỏ mạng trong trận này, chỉ còn lại rất ít quân tướng dưới trướng Thoát Hoan thoát chết chạy đến nơi an toàn nằm sâu trong lãnh thổ.
 
[Full] Vãng Sự Vi Phong - Truyện Dài, Cảm Hứng Sử
Chương 87: Trùng Hưng (hết)


Đại Việt sạch bóng quân thù, Thăng Long chính thức hoàn trả cho chủ cũ.

Ngày mồng sáu tháng sáu, Quang Khải đón hai vua trở về kinh sư.

Khi ấy, vị tướng già cao hứng làm thơ rằng:

Đoạt sáo Chương Dương độ,

Cầm hồ Hàm Tử quan.

Thái bình tu trí lực,

Vạn cổ thử giang san.

Chiến sự qua đi, bao đau thương mất mát cũng cuốn theo vó ngựa Nguyên Mông về phương Bắc, muôn dân trăm họ lại lục đục trở về, bận rộn dọn dẹp tàn dư của chiến tranh.

Mặt sông Sách kinh qua bão tố, chưa bao giờ tĩnh lặng như lúc này, dọc hai bên bờ các binh sĩ nhiều ngày vất vả đi tìm kiếm đồng đội, chỉ mong có thể đem xác họ về cố hương.

Trăm người, vạn người lần lượt được vớt lên đưa về quê an táng, song giữa ngàn người ấy lại chẳng tìm được thân xác của Chiêu Thành vương cùng An Tư công chúa.

Thằng Hến ngày đêm miệt mài không ngừng lặn lội tìm kiếm chủ nhân, kỳ thực nó không mong sẽ tìm thấy họ bởi điều ấy có nghĩa họ còn sống.

Song nó lại sợ lỡ như họ quy tiên rồi, lại không có lấy một nơi an nghỉ đàng hoàng, trở thành cô hồn dã quỷ chốn nhân gian chẳng phải càng đáng thương hơn sao?

Nghĩ thế nó lại gồng mình, kiên trì tìm kiếm dọc bờ sông.

"Tướng quân, đã tìm thấy Chiêu Thành vương rồi."

Có tiếng đội trưởng Lãm hét đằng xa ập tới, thằng Hến đứng cạnh Phạm Ngũ Lão giật mình xúc động, chẳng đợi thêm một giây nào nó vội lao về phía ấy.

Trước mắt hiện ra hai xác người tàn tạ, bị sóng đánh dạt vào vào bãi lau sậy rậm rạp.

Chẳng trách tìm lâu như vậy cũng không thấy, thật may ông trời có mắt để binh sĩ tìm được xác người.

Thân rướm máu, nát bươm, mặt cũng biến dạng nhưng dựa vào trang phục và vật tùy thân thằng Hến dù không muốn vẫn phải chấp nhận sự thật.

Nó run rẩy nhặt chiếc khăn lụa chủ nhân coi như báu vật trên xác người mặc giáp tướng, lệ không ngừng rơi.

Liếc mắt xuống cánh tay tróc thịt của ngài vẫn siết chặt bàn tay xác người thiếu nữ bên cạnh, trong lòng không khỏi chua xót.

Trải qua tháng ngày đau thương vô tận, cuối cùng họ cũng được bên nhau, từ nay về sau không gì có thể chia cắt họ được nữa.

Kết thúc hóa ra lại là một sự bắt đầu.

Ánh mắt Hến hướng lên trời cao, như đang nhìn thấy họ mỉm cười hạnh phúc, bất giác nó cũng mỉm cười.

Bầu trời hôm ấy xanh thật xanh.

Ngày đó, Phạm Ngũ Lão đưa xác hai người về thành Thăng Long, ngàn người bởi thương tiếc, xót xa, không cầm lòng được mà rơi lệ.

Trời cũng đổ mưa lất phất như khóc thương người đoản mệnh, Trần Khâm lệnh cho Bộ Lễ bí mật an táng họ trong lăng mộ ở núi Tản, tận sâu thâm sơn cùng cốc, đời đời kiếp kiếp không để bất cứ ai quấy rầy đến họ nữa.

Chủ nhân vương phủ không còn, những kẻ gia nhân người ở cũng lần lượt khăn gói rời đi, có người về lại thái ấp, có người xin về quê hoặc tìm nơi chốn mới.

Chẳng mấy chốc, phủ Chiêu Thành trở nên vắng bóng người.

Hến đứng ngẩn lặng trước cổng phủ nhìn một lượt từng bóng cây, mái hiên, thềm nhà rồi buông một tiếng thở dài, nó khép cửa lại và lặng lẽ rời đi.

Nó không về thái ấp mà chọn cách về quê ngoại ở tận bên đất Chiêm xa xôi, đã lâu rồi nó không gặp họ, trải qua những tháng ngày vào sinh ra tử trên chiến trường, nó chỉ cảm thấy đời người thực ngắn ngủi.

Nay sống mai chết không biết thế nào, chi bằng ngay lúc còn may mắn ở trên cõi đời này thì hãy cùng những người thân yêu của mình, sống trọn những ngày tháng thật an yên.

Như vậy không phải tốt hơn sao?

Sau bao ngày đi đường vất vả, cuối cùng Hến cũng đặt chân lên mảnh đất quê hương thứ hai của mình.

Đó là Bế Gia Trang nằm ở bìa rừng Thạch Bị, nó chẳng thể ngờ quyết định về quê lần này lại giúp nó gặp được họ.

Đứng chết lặng giữa đường, tay chân Hến run rẩy, hai mắt mở to kinh ngạc khi thấy phía trước có đôi vợ chồng nọ đang dìu nhau.

Người đàn bà đội nón che đi nửa gương mặt đầy sẹo, dắt tay người đàn ông vĩnh viễn không còn thấy được ánh sáng đang đi về phía cuối làng.

Phải mất một khắc trôi qua, nó mới trấn tĩnh lại rồi vừa chạy vừa bật khóc nức nở gọi với theo.

"Đức ông... công chúa...?"

***

"Nàng không cùng ta trở về sao?"

"Từ lúc quyết định sang trại giặc, thiếp đã không còn nơi để quay về nữa rồi.

Thiếp không muốn trở thành gánh nặng của hoàng tộc, giống như...

Thiên Thụy.

Thà rằng, cứ để họ nghĩ thiếp đã chết rồi."

"Nếu không có nàng bên cạnh, ta còn trở về làm gì nữa.

Nếu không chê kẻ tàn phế này, hãy để ta chăm sóc nàng trong quãng đời còn lại, có được không?"

"Vậy thì, từ giờ thiếp sẽ là đôi mắt của chàng."

"Được, nhưng chúng ta sẽ đi đâu bây giờ?"

"Thiếp nghe nói thần y ở Bế Gia Trang bên đất Chiêm Thành rất giỏi, chúng ta hãy đi tìm ông ta, biết đâu có thể chữa được mắt cho chàng."

"Được, vậy chúng ta hãy tới đó."

...

Tháng sáu, sai Trung phẩm phụng ngự Đặng Du Chi đưa bọn tề thần của Chiêm Thành là Bà Lậu, Kê Na Liên ba mươi người về nước, vì đi theo Toa Đô nên bị bắt.

Mùa thu, tháng tám, sai Tả bộc xạ Lưu Cương Giới tuyên phong công thần theo thứ bậc khác nhau và trị tội những kẻ hàng giặc.

Tháng chín, đổi niên hiệu là Trùng Hưng năm thứ nhất.

Đại xá.

.

.

.

"Viễn, chàng nói xem, sen trong hồ Dâm Đàm năm nay chắc đã nở rộ rồi nhỉ?"

"Liên, nàng lại nhớ Thăng Long à?"

"Hơn hai mươi năm rồi, thiếp đã chẳng còn nhớ mùi hương sen ấy nữa."

"Sen trong hồ phía sau núi chắc cũng đã nở rồi, sớm mai ta và nàng cùng đi ướp trà nhé?"

"Cả Vọng Hương nữa, con bé cũng thích hoa sen."

"Ừ, ta chỉ sợ nó không dậy sớm được thôi."

"Còn cả cậu Hến nữa."

"Vậy tất cả cùng đi."

HẾT
 
[Full] Vãng Sự Vi Phong - Truyện Dài, Cảm Hứng Sử
Lời cuối


Lần đầu tiên tui lên ý tưởng là khoảng năm 2011, 2012.

Hồi đó Zing Forum là diễn đàn sáng tác rất sôi nổi, tuy nhiên các tác phẩm phần lớn đi theo mô típ Vườn Sao Băng, hoặc Vương gia vương phi... mang đậm văn hóa Trung.

Lúc đó tui nghĩ sao không thấy tác phẩm nào viết về lịch sử Việt nhỉ? (

Sau này mới biết các tác giả viết sử Việt hầu hết hoạt động ở wordpress).

Thế là tui bắt tay vào tìm hiểu, duyên số thế nào tui chọn thời Trần, giai đoạn chiến tranh Nguyên Mông lần 2.

Phiên bản đầu tui chọn yếu tố xuyên không, kỳ ảo, tên truyện là Người tình của công chúa đăng trên Zing Forum được khoảng 10 chương thì diễn đàn bị sập, tui chuyển sang Gác Sách.

Sau khoảng hai năm mới hoàn thành xong bộ truyện dài 59 chương.

Nhưng khi đọc lại thì tui thấy thật là Ối dồi ôi, ảo tung chảo quá.

Vậy là tui lại bắt đầu viết lại phiên bản 2, lần này tui loại bỏ yếu tố kỳ ảo, thay vào đó là trinh thám, tên truyện là Luân hồi chi viễn đăng trên diễn đàn nào đó không nhớ tên nữa.

Viết được khoảng 20 chương, tui drop vì thấy càng ngày càng lan man quá.

Mãi tới khoảng năm 2016, tui mới bắt đầu viết lại lần 3, chính là phiên bản hiện tại.

Ở phiên bản này loại bỏ hẳn xuyên không, trinh thám, kỳ ảo, tui tập trung vào cuộc chiến trước và sau khi giặc Nguyên xâm lược và mối nhân duyên của hai nhân vật chính và đăng trên Gác Sách - khi đó cũng rất sôi nổi, tên truyện là Hồi ức viễn phương.

Đến năm 2018 tui mới đăng trên Wattpad lần 1, khi viết được khoảng 40 chương thấy truyện flop quá nên cũng nản lòng, lại thêm công việc bận rộn, tui tạm drop.

Đến năm 2022, tui đăng lại các chương cũ và viết tiếp thêm vài chương nữa, đầu năm 2023 tui cưới vợ rồi sinh con, công việc và cuộc sống càng bận rộn nên tui tiếp tục drop.

Mãi cho đến tận hôm nay, khi thời gian dư dả đôi chút tui mới có thể hoàn thành câu chuyện này.

Và tui quyết định đổi tên truyện là Vãng sự vi phong, ý nghĩa là Chuyện cũ như gió thoảng, giống như câu chuyện của hai nhân vật chính dù cống hiến bản thân cho cuộc chiến rất nhiều nhưng đến khi giành thắng lợi, khải hoàn trở về thì lại không được nhắc đến công lao, sử sách cũng rất sơ sài.

Vậy là 12 năm, cuối cùng tui cũng hoàn thành bộ truyện tâm huyết của mình.

Dù truyện vẫn có nhiều điểm chưa tốt, lan man hoặc thừa thãi, trong tương lai tui sẽ Beta lại lần nữa.

Cám ơn các bạn độc giả đã theo dõi bộ truyện này.

Năm mới sắp đến, chúc mọi người một năm đầy may mắn, vui vẻ và an yên.

Thăng Long, ngày Bính Thân, tháng Ất Sửu, năm Quý Mão. (02/02/2024)

Phong Du Đức
 
Back
Top Bottom