[BOT] Wattpad
Quản Trị Viên
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 79: Quáng Tuyết
Chương 79: Quáng Tuyết
雪盲症的恢复时间是一天到三天,如果我在这里得了这个,不仅会比闷油瓶死得早,而且会比他死得惨。
Bị quáng tuyết phải mất từ một đến ba ngày mới hồi phục lại như cũ, nếu vì thế mà tôi bị kẹt cứng ở đây thì không những chết sớm hơn mà thậm chí còn chết thảm hơn Muộn Du Bình nữa.
我图什么啊?
Tôi rốt cuộc là vì cái gì?
我闭着眼睛,心中无比地郁闷,狗日的,上次来的时候到处是阴沉的雪云,哪有机会得这毛病,所以这次一点准备都没有,可谁承想这次偏偏就遇到了这种事情。这一次还真他妈的是自己把自己作死了。
Tôi nhắm nghiền hai mắt, trong lòng vô cùng ảo não.
Mẹ kiếp, lần trước khi đến đây bầu trời xám xịt đầy mây, nào có cơ hội được biết quáng tuyết là gì, cho nên lần này không hề chuẩn bị gì cả, ai mà biết lại gặp phải chuyện đen đủi này.
Tiên sư nó chứ, lần này đúng là tự mình đâm đầu vào chỗ chết rồi.
雪盲是一种非常奇怪的病。一般人认为是由于视网膜受到强光刺激引起暂时性失明的一种症状。一般休息数天后,视力会自己恢复。得过雪盲的人,不注意会再次得雪盲。再次雪盲症状会更严重。多次得雪盲会逐渐使人视力衰弱,引起长期眼疾,严重时甚至永远失明。
Quáng tuyết là một chứng bệnh hết sức kì lạ, người ta thường cho rằng bệnh này phát sinh do võng mạc bị ánh sáng cường độ quá mạnh kích thích nên rơi vào trạng thái mù tạm thời.
Thường thì chỉ cần nghỉ ngơi mấy ngày thị lực tự khắc sẽ khôi phục như cũ.
Người đã từng bị quáng tuyết nếu không chú ý rất có thể sẽ tiếp tục bị quáng, mà lần quáng tuyết sau bệnh tình lại càng thêm nặng nề.
Bị quáng tuyết nhiều lần sẽ khiến thị lực người ta dần dần suy yếu, về lâu về dài mắt sẽ bị tật, nếu nghiêm trọng thậm chí có thể mù vĩnh viễn.
在雪原中行走,一般都会戴上护目镜。或者一般的墨镜也能缓解和预防雪盲。
Khi đi trên đồng tuyết, bình thường người ta đều đeo kính bảo hộ, không thì dùng kính râm bình thường cũng có thể ngăn ngừa hoặc giảm bớt tác động của chứng quáng tuyết.
但是美国人还有一项研究显示,雪盲症其实是因为双眼在雪地中找不到聚焦物体(雪山上很多时候能看到的只有一片纯白色),双眼过度紧张导致的。雪盲症很少会突然暴盲,但是一旦出现症状。就绝对不能再用眼睛了,必须绐眼睛休息的时间。
Nhưng người Mỹ còn có một công trình nghiên cứu đưa ra kết luận chứng quáng tuyết thực ra là do hai mắt không tìm thấy vật thể làm tiêu điểm trong đồng tuyết (thường thì đứng trên núi tuyết chỉ có thể nhìn thấy một sắc trắng thuần), hai mắt căng thẳng quá độ mà thành tật.
Chứng quáng tuyết rất hiếm khi gây mù vĩnh viễn, nhưng một khi xuất hiện bệnh trạng thì tuyệt đối không được mở mắt, phải để đôi mắt có thời gian nghỉ ngơi.
也就是说,依我现在的情况,估计十二个小时之后我才能放心地继续用眼,在这期间。间歇性用眼也要十分小心。这就意味着,我肯定得闲在这儿很长一段时间。
Nói cách khác, căn cứ vào tình hình hiện tại, ước chừng mười hai giờ sau tôi mới có thể yên tâm mở mắt.
Còn bây giờ dù thi thoảng hé mắt ra ngó đường một cái cũng phải cực kì cẩn thận.
Cũng có nghĩa là tôi chắc chắn phải ở lại đây một khoảng thời gian khá dài.
想着我就觉得非常非常郁闷,心说为什么来的时候一帆风顺。如今却变成了这副德行。如果来的时候我出点什么事情,闷油瓶可能还得把我送回去。
Nghĩ đến đây tôi cảm thấy cực kì cực kì ảo não, trong lòng tự nhủ tại sao khi lên xuôi chèo mát mái là thế mà đến lúc về lại thê thảm nhường này.
Nếu trên đường tới đây tôi gặp chuyện bất trắc, có khi Muộn Du Bình còn phải đưa tôi về.
早知道前几天我就应该找个理由把自己敲瘸了。
Biết thế, mấy ngày trước tôi đã kiếm cớ tự đánh què chân mình rồi.
正想着生闷气呢,忽然我觉得屁股底下一松,我坐着的整块雪坡滑了下去。
Còn đang nhớ lại chuyện cũ mà sinh ấm ức, tôi chợt cảm thấy dưới mông lỏng lẻo, thế rồi nguyên mảng tuyết tôi đang ngồi bỗng trượt xuống.
在雪坡上往下滑是完全不可能停住的。我根本没有反应过来,只感觉自己一路打转下滑。双手只得漫无目的地在四周乱抓。此时已经不可能闭眼了,我几次把手深深地插进雪里,想依靠阻力使自己停下来。可是每次插入都只是使得更大的雪块滑坡。
Mảng tuyết phủ trên sườn núi một khi đã trượt xuống thì hoàn toàn không thể phanh lại, tôi còn chưa kịp phản ứng đã thấy mình vừa lăn vừa trượt thẳng xuống dưới, hai tay chỉ biết quơ quào loạn xạ khắp bốn vùng quanh.
Giờ khắc này không thể nhắm mắt nữa rồi, đã mấy lần tôi vùi tay thật sâu vào tuyết, mong tạo ra lực cản giữ mình dừng lại, song mỗi lần nắm tay chỉ làm lở xuống một khối tuyết lớn hơn.
我惊叫着一路滚下山坡。那下面,我知道是一个非常陡峭的悬崖。往下落差最起码有三十米,就算下面有积雪,我也绝对不会安然无恙。
Tôi vừa la hét trong kinh hoàng vừa lăn thẳng xuống triền dốc.
Tôi biết dưới kia là một vách núi dựng đứng, độ cao bét ra cũng có 30m.
Dù bên dưới phủ một tầng tuyết dày đi chăng nữa thì tôi cũng không thể bình yên vô sự.
在以前我可能心说死就死吧,但是现在我觉得没法接受。我惊恐地到处乱抓,但是瞬间,我就滑出了悬崖,凌空摔下去。
Trước kia tôi có thể nhủ thầm chết thì chết sợ quái gì, nhưng hiện giờ lại không tài nào chấp nhận kết cục ấy.
Tôi hoảng hốt quơ quào loạn xạ, nhưng ngay sau đó thân thể đã trượt ra khỏi vách núi, chơi vơi ngã xuống.
在我翻滚着滑出悬崖往下落了六七米的时候,我发现四周的一切全部变成了慢动作。跟着我飞出来的雪块我全部能看到。各种奇怪的轨迹,
Khi rơi khỏi sườn núi được chừng 6, 7m, tôi nhận thấy cảnh vật xung quanh dường như đã biến thành một thước phim quay chậm, thậm chí tôi hoàn toàn có thể nhìn rõ quỹ đạo kỳ quái của những khối tuyết rơi xuống theo mình.
接着我就仰面摔进了雪地里。
Tiếp đó tôi gần như ngã ngửa vào tuyết.
从三十米高的地方摔进一块棉花一样的雪里,想想就是一件特别过瘾的事情,我都不知道我摔进雪里有多深。但是我知道,在雪地上面看到的,一定是一个人体形状的坑,姿态肯定特别诡异。
Từ độ cao 30m ngã xuống một lớp tuyết xốp như bông, nghĩ kĩ thì đây có lẽ là một chuyện đặc biệt thú vị.
Tôi cũng không rõ thân thể mình vùi sâu vào tuyết đến chừng nào, nhưng chắc chắn nếu có người đứng trên mặt tuyết, nhất định sẽ thấy một cái hố hình người với tư thế cực kì quái đản.
这里的雪特别松软,摔下来之后,无数的碎雪从边缘滚下来,扑面就砸在我的脸上。我头蒙得要死。但是万幸的是,我没有感觉我摔下来的时候,撺到了什么坚硬的东西。但凡雪里有一两块石头。我肯定不会有现在这种感觉。
Tuyết ở đây đặc biệt xốp và mềm, sau khi tôi bị ngã xuống, vô số hạt tuyết vụn từ mép vực lăn xuống, đổ ập vào mặt tôi.
Đầu óc tôi choáng váng muốn chết.Nhưng thật may mắn, khi ngã xuống tôi không hề cảm thấy mình va vào bất cứ thứ gì cứng rắn.
Chỉ cần có một hai hòn đá trong tuyết thôi, tôi chắc chắn sẽ không còn cảm giác như bây giờ.
我拨开脸上的雪,努力地往上爬去,把头探出了坑外,刚想骂脏话,忽然就感觉到上头似乎有个什么影子。我抬头一眼就看到,刚才在悬崖上被我带动的那片雪坡,全部从悬崖上滑了下来。
Tôi gạt gạt lớp tuyết phủ trên mặt, cố gắng bò lên, thò đầu ra khỏi hố.
Còn chưa kịp chửi thề mấy tiếng cho bõ tức, tôi bỗng cảm thấy phía trên hình như bị một cái bóng che phủ.
Ngẩng đầu nhìn lên, vừa hay thấy tảng tuyết bị tôi khuấy động ban nãy giờ đang từ từ trượt xuống khỏi vách núi.
那个影子就是那片雪坡:看那阵仗,我估计有一吨重的雪会直接拍在我的脸上,直接把我重新拍回坑里。
Thì ra cái bóng kia chính là tảng tuyết phủ trên triền núi.
Nhìn thoáng qua, tôi ước chừng sẽ có khoảng một tấn tuyết đổ ụp xuống mặt mình, một lần nữa đẩy tôi xuống đáy hố sâu.
碎雪犹如沙子一样,瞬间就把我身边所有的地方堵住了。包括我的鼻子和嘴巴。
Tuyết vụn giống như những hạt cát nhỏ nhanh chóng lấp kín mọi khoảng trống xung quanh tôi, kể cả mũi lẫn miệng.
我努力挣扎,发现上头盖的碎雪特别厚。就像封土一样把我埋得严严实实的。无论我怎么扒拉,都没法找到可以出去的位置。
Tôi cố gắng đào bới, chợt phát hiện ra tuyết vụn đã phủ lên mặt hố một lớp cực dày, chôn vùi tôi kín mít như lấp một nấm mồ, dù bới mỏi tay cũng không sao tìm nổi một vị trí có thể thoát ra.
我已无法继续闭气了,我开始呼吸,但是一吸就是一口一鼻子的冰碴。在雪中和在水中有两个很大的不同,雪不是实的,中间会有无数的小空间,里面都是有空气的。我扭动头部,压缩出一个小空间来,立即呼吸了几口,虽然不那么憋得慌了,但还是觉得胸口极其地闷,而且头晕。
Đến khi không nhịn nổi nữa, tôi bắt đầu hít thở, nhưng vừa hít một cái vụn băng đã chui đầy vào mũi.
Chìm dưới đống tuyết so với chìm vào trong nước có một điểm khác biệt rất rõ ràng, đó là tuyết không phải một khối đặc, bên trong còn chứa vô số không gian nhỏ tràn đầy không khí.
Tôi xoay trái xoay phải, nén tuyết xung quanh lộ ra một khoảng không nhỏ, thở gấp vài hơi.
Tuy chưa đến mức hoảng hốt sợ sệt nhưng vẫn cảm thấy lồng ngực tức anh ách, đầu óc choáng váng.
就在我几乎要绝望的时候,忽然我就听到了外面有动静,接着,我不停乱动的手被人抓住了,然后我整个人被拉出了雪坑。我大口喘气,就看到闷油瓶抓住了我的后领,用力把我从雪地里扯了出来。
Đúng vào lúc tôi đắm chìm trong tuyệt vọng, bên tai bỗng nghe thấy tiếng động gì đó từ ngoài kia truyền vào.
Tiếp theo, đôi tay không ngừng quơ quào loạn xạ bị người nào đó túm lấy, thế rồi toàn thân tôi được kéo ra khỏi hố tuyết.
Tôi há mồm thở dốc, sau đó lại thấy Muộn Du Bình túm lấy gáy áo tôi, dốc sức kéo tôi ra khỏi tuyết.
我的眼睛看到的还是一片粉红色,相当模糊:我看着他,气就不打一处来,问他道:"你怎么又回来了?"
Trước mắt tôi vẫn là một màu hồng phấn mông lung, mờ mờ ảo ảo.
Thấy hắn, tôi không dưng nổi giận vô cớ, sẵng giọng: "Anh còn vác xác về đây làm gì?"
他看了看我。又看了看头顶的悬崖,对我道:"我听到你的求救声了。"
Hắn nhìn tôi chằm chằm, lại nhìn vách núi trên đầu rồi đáp: "Tôi nghe tiếng cậu kêu cứu."
雪地传音非常好,加上我是在上风口,他能听到我的呼声不奇怪:我心说:"丫的,当时我是在问候你祖宗吧:"我爬起来,眯着眼睛看四周。立即就意识到,他一定是从三十米高的地方跳下来的,不由得有些感动。
Đất tuyết truyền âm cực nhạy, hơn nữa tôi còn ở đầu gió, hắn nghe thấy tiếng tôi cũng không lạ.
Tôi chỉ nghĩ bụng, quái, lúc ấy tôi đang ân cần hỏi thăm mười tám đời tổ tông nhà anh cơ mà.
Tôi đứng lên, nheo mắt nhìn quanh, lập tức hiểu ra hắn nhất định đã nhảy xuống từ độ cao 30m, trong lòng không khỏi cảm động.
他还是回来了。我忽然觉得他是不是开窍了,这是不是上天给我的一个说服他的机会?他回来,说明他对世间还是有依恋的。
Hắn đã quay lại.
Tôi bỗng có cảm giác phải chăng hắn đã thông suốt ít nhiều, đây chẳng phải là cơ hội trời cho để tôi thuyết phục hắn sao?
Hắn còn quay lại, chứng tỏ hắn còn lưu luyến thế gian này.
可还没等我开口,他就先说话了。
Nhưng tôi còn chưa kịp mở miệng, hắn đã giành nói trước.
"你跟我来。"闷油瓶道,"这是一个死谷,还会有更多的雪坍塌下来,先到山谷的中心去。"他指了指四周。接着我就发现,这个地方,四周全都是三十多米高的悬崖,不由得暗骂了一声。
"Cậu mau theo tôi."
Muộn Du Bình nói, "Đây là một cái khe cụt, càng ngày sẽ càng nhiều tuyết sụp xuống.
Trước tiên hãy đi tới trung tâm khe núi này đi."
Hắn chỉ xung quanh.
Ngay sau đó tôi phát hiện ra khắp bốn phía nơi này đều bị bao phủ bởi những vách núi cao trên 30m, không kiềm được một tiếng chửi thầm.
我四面看看。发现完全没有任何路线可以出去,接着,我看到了闷油瓶捏着他自己的手。
Tôi nhìn quanh bốn phía nhưng hoàn toàn không thấy bất cứ lối đi nào thông ra bên ngoài, kế đó, tôi thấy Muộn Du Bình tự nắm lấy cổ tay mình.
他面无表情,但是他的手一看就是紧紧地捏着自己的手腕,我忙问他:"怎么了?你受伤了?"他淡淡道:"没事,来之前就有的伤。没好透。"我松了一口气,就想帮他背包,他用手挡了一下,我一下就看到,他的手是以一种特别奇怪的角度弯曲着的,一看就知道他的手已经断了。
Mặt hắn vẫn hoàn toàn không biểu lộ chút gì, nhưng một tay hắn lại đang nắm chặt cổ tay bên kia.
Tôi vội hỏi: "Làm sao thế?
Anh bị thương à?"
Hắn thờ ơ đáp: "Không sao, trước khi đến đây tay hơi trật chút thôi, giờ vẫn chưa lành."
Tôi thở dài một hơi, muốn mang ba lô giùm hắn, hắn lại xua tay ngăn cản.
Tôi bỗng nhận ra cánh tay hắn uốn thành một độ cong kì lạ, nhìn qua đủ biết nó đã gãy rồi.
我不禁皱眉:"你的手一怎么?似乎是断了?"
Tôi không khỏi nhíu mày: "Tay anh... làm sao thế?
Gãy rồi phải không?"
闷油瓶道:"见你之前就断了,恢复了一点,刚才跳下来的时候,甩得太厉害。"
Muộn Du Bình đáp: "Trước khi gặp lại cậu đã gãy rồi, vừa mới bình phục chút ít, ban nãy nhảy xuống lại vung hơi mạnh."
我呆了半晌,不由得就笑了起来。
Tôi ngây ngẩn hồi lâu, rồi không nén nổi một nụ cười.
事情突然发展到这种地步,实在是出乎我的意料。
Mọi chuyện đột ngột phát sinh theo hướng này, quả thực đã vượt quá dự liệu của tôi.
我们现在被困住了,我有了雪盲症的前期症状,天气越来越坏,闷油瓶为了救我,断了腕骨,我如今的选择已经不多了。
Giờ đây hai chúng tôi đã bị vây khốn, tôi còn có triệu chứng quáng tuyết thời kì đầu.
Sắc trời ngày càng xấu, Muộn Du Bình vì cứu tôi mà gãy xương cổ tay, tôi đã không còn nhiều lựa chọn nữa.
如果我不能陪他出去,那么我只能陪着他走下去,一直走到他把我打晕了为止。否则,这事实在说不过去了。
Nếu không thể kéo hắn quay về, tôi chỉ còn cách đi tiếp chặng đường này với hắn, đi mãi đi mãi đến khi nào hắn đánh ngất tôi mới thôi.
Bằng không, chuyện này quả thực tôi không thể ăn nói nổi.
手腕骨断裂是十分痛的,我看了看我的装备,想找点有用的东西先给闷油瓶急救一下。还好其中没有东西被摔破,背包和食物都算完好。有一些在我滚动的过程中被甩了出去,埋在雪里不可能找到了,但是最重要的压缩食品还在。我找了一个雪坡,掰下两根冰凌作为固定器把闷油瓶的手腕固定住。在这里风不是特别大,但是上面不时有雪球被吹下来,砸在我们头上,非常疼,如果有稍微大一点或者包含着冰块的雪球,很可能会把我们砸伤。
Xương cổ tay gãy hẳn là đau nhức vô cùng, tôi lục lọi hành trang của mình, muốn tìm thứ gì đó hữu dụng để sơ cứu tạm thời cho Muộn Du Bình.
May mà trong hành lý không có món gì bị vỡ, ba lô với đống đồ ăn vẫn còn xài ngon.
Có mấy thứ bị văng ra ngoài trong lúc tôi lăn lộn quẫy đạp, giờ đã vùi sâu dưới tuyết, Tề Thiên cũng không mò được, nhưng mấy món đồ ăn quan trọng nhất vẫn không suy suyển gì.
Tôi tìm một sườn dốc phủ tuyết, bẻ hai que băng thay nẹp để cố định cổ tay Muộn Du Bình.
Gió ở nơi này không quá dữ dội, nhưng phía trên thi thoảng lại có những quả cầu tuyết bị thổi xuống, nện xuống đầu chúng tôi, đau vô cùng.
Lỡ như có quả cầu tuyết bự hơn chút nữa hoặc trong ruột chứa khối băng rơi trúng đầu, rất có thể chúng tôi sẽ bị thương.
我帮他弄完之后,就对他道:"不管你要去干什么,你首先肯定是要到达一个地方,但是以你现在的状况,你可能会死在半路上,我觉得你最好是先回去养伤。我们不如往回走。"
Tôi băng bó giùm hắn rồi lựa lời khuyên nhủ: "Tôi cóc cần biết anh muốn làm chuyện gì, anh nhất định phải đi đến đâu.
Nhưng với tình trạng sức khỏe của anh bây giờ, không chừng đi được nửa đường đã mất mạng, tôi thấy tốt nhất anh nên quay lại dưỡng thương cho tốt.
Không bằng chúng ta về nhà trước."
他摇摇头,默默道:"这是小事,你走吧。"
Hắn lắc đầu, lặng lẽ nói: "Chỉ là chuyện nhỏ, cậu về đi."
我道:"你是为了救我而断的手,如果因为这个而导致你最后的计划失败,我于心不忍,所以我必须跟你去。"
Tôi kiên trì: "Anh cứu tôi nên mới gãy tay, nếu vì thế mà kế hoạch cuối cùng của anh thất bại thì tôi không đành lòng chút nào, nên tôi nhất định phải đi cùng anh."
他道:"那我还是会用我昨晚说的办法来。"
Hắn nói: "Vậy thì tôi chỉ có thể dùng đến biện pháp đã nói tối qua."
"也行,随便你怎么样,如果你真的把我打晕了,我也没有什么可说,但是我希望你知道,如果你需要有一个人陪你走到最后,我是不会拒绝的。"我道,"我要陪你去,这是我自己的决定,所以你不用纠结。"
"Được, tùy ý anh thôi, nếu anh thật sự đánh ngất tôi thì tôi cũng không còn gì để nói.
Nhưng tôi mong anh hiểu rõ một điều, nếu anh cần có người cùng anh đi đến cuối con đường này, tôi nhất định sẽ không từ chối."
Tôi tiếp lời, "Tôi muốn đi cùng anh, đây là quyết định của riêng tôi, cho nên anh không cần phải lo lắng."
没有再说什么,闷油瓶和我说这么多话,我觉得他也是实在没有办法了。我们沉默了片刻继续前进。在走到这个山谷中心的时候,闷油瓶说:"第一场暴风雪会在三天内来临。如果我们不能到达之前的温泉,我们都会死在这里。而从这里往回走,你很快就能回到你们的世界中去。"
Bầu không khí lại rơi vào im lặng, Muộn Du Bình nhiều lời đột xuất như vậy khiến tôi có cảm giác hắn cũng thật sự bó tay với tôi rồi.
Hai người trầm mặc trong chốc lát rồi lại tiếp tục cất bước.
Khi tiến vào giữa khe núi, Muộn Du Bình nói: "Trận bão tuyết đầu mùa sẽ đến trong vòng ba ngày tới, nếu chúng ta không thể đến chỗ suối nước nóng lần trước, cả hai sẽ chết ở chỗ này.
Nhưng nếu cậu quay đầu, chẳng bao lâu là cậu sẽ trở về thế giới của mình."
闷油瓶是想告诉我,即使我要陪他走下去,事情也不是我想的那么容易的。但是我已经下定了决心,我不再理会,甚至不再思考他的话的合理性。我道:"那我也会去。这是我自己的想法。"我把所有的装备分装整理了一下,让他少负重一些。但是他接过了他自己的装备,没有让我去拆分,而是单肩背上。他的装备不多,但是相当重,压在他的身上,显得沉重无比。
Muộn Du Bình muốn cho tôi biết, dù tôi có muốn tiếp tục đi cùng hắn thì chuyện cũng không dễ dàng như tôi tưởng.
Nhưng tôi đã hạ quyết tâm nên không thèm để ý hắn nói gì nữa, thậm chí không thèm suy xét những điểm hợp lý trong lời hắn nói.
Tôi đáp trả: "Tôi sẽ đi, đây là lựa chọn của bản thân tôi."
Tôi sửa soạn lại đống hành lý, định san bớt đồ của hắn sang túi mình nhưng hắn nhất quyết không chịu, giành lấy túi đồ rồi đeo lên vai.
Hành trang của hắn không nhiều nhưng trọng lượng cũng khá lớn, đè nặng trĩu lên vai.