Cập nhật mới

Khác Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8

Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 59: Súng Tiểu Liên Và Bánh Tông


我大叫了一声,举起枪就开,被胖子一下压住枪头。子弹全部打在了地上,惊天动地地响。地下那尸体的毛长得飞快。我去看那尸体的脸,尸体的眼窝一下子塌陷了下去,他的嘴巴张得更大了,绿色的液体顺着那些黑毛直往外渗。

Tôi gào toáng lên một tiếng, giơ súng bắn luôn, bị Bàn Tử đè dúi dụi nòng súng xuống.

Toàn bộ số đạn bắn xuống đất, vang lên một tràng tiếng động kinh thiên động địa.

Thi thể dưới đất kia mọc lông rất nhanh.

Nhìn khuôn mặt nó, hai hốc mắt đã sụp hẳn xuống, miệng lại càng mở lớn hơn, chất lỏng màu xanh nọ chảy ra ngoài theo số lông đen sì kia.

我靠,变成粽子了!

Mẹ kiếp, biến thành bánh tông rồi!

我们两人连滚带爬地退开了好几步,我大骂胖子:"你他妈说话像放屁一样!什么时候能准点儿?"

Chúng tôi cùng lùi về phía sau mấy bước, tôi quát Bàn Tử: "Con mẹ nó, cái mồm anh nói như đánh rắm vậy!

Bao giờ mới chịu nói đúng một tí hả?"

胖子道:"我已经承认错了。老子还真没看过这样也能尸变的,这他妈简直是粽子界身残志坚的典范!"

Bàn Tử nói: "Tôi thừa nhận là tôi sai rồi.

Ông đây quả thực chưa bao giờ thấy cái dạng này mà cũng thi biến được, đây đúng là tấm gương mẫu mực thân tàn chí kiên trong giới bánh tông con mẹ nó rồi!"

我问他道:"你看看那百宝袋里有没有黑驴蹄子,或者其他能用的东西。"

Tôi hỏi anh ta: "Anh ngó xem cái túi bách bảo kia liệu có móng lừa đen không, hay có gì khác còn dùng được không?"

"我靠!那袋子就那么大,你说可能有这种东西吗?你以为世界上有吉娃娃驴吗?"

"Mẹ nó!

Cái túi đấy to có ngần này, cậu nghĩ đựng được bao nhiêu thứ?

Cậu tưởng trên thế giới này có con lừa nào to bằng con chihuahua chắc?"

我用手电照着尸体,那尸体竞然已经翻了过来。我忙把手电转到其他地方去,道:"你快去把小哥弄过来,或者弄点他的血过来也行!"

Tôi cầm đèn pin chiếu vào cái xác kia, cái xác ấy đã đột ngột bật chồm dậy.

Tôi vội vã cầm đèn pin chiếu sang chỗ khác, nói: "Anh mau đi gọi Tiểu Ca dậy đi, hoặc là xin tí máu của hắn cũng được!"

胖子忽然想起了什么,道:"我有,我有,不用现成的,我有血!"

Bàn Tử bỗng như sực nhớ ra điều gì, kêu: "Tôi có, tôi có, không cần hàng dự trữ, tôi có máu rồi!"

"你的血有个鸟用啊!"

"Máu anh thì hữu dụng chỗ đéo nào!"

"不是我的血,是小哥的血。我之前问小哥要的。"胖子从兜里掏出一个东西。我发现是一片卫生巾,上面有一些血迹。

"Không phải máu tôi, là máu Tiểu Ca.

Hồi trước tôi từng xin Tiểu Ca một ít rồi."

Bàn Tử móc từ trong túi ra một vật.

Tôi phát hiện ra đó là một miếng băng vệ sinh, bên trên thấm một ít vết máu.

"你——"我真想用头撞墙,"你哪儿来的?"

"Anh..."

Tôi thực sự muốn đâm đầu vô tường cho rồi, "Anh lấy từ đâu ra?!"

"有一次小哥受伤的时候,我偷偷攒的。攒这么多很不容易。"胖子道,"我告诉你,夏天放家里,蚊香都不用点。"

"Có một lần Tiểu Ca bị thương, tôi trộm tích trữ đấy.

Tích trữ được nhiều như thế chẳng dễ dàng gì đâu."

Bàn Tử nói, "Tôi nói cậu hay, mùa hè đem đặt trong nhà, đếch cần đốt nhang muỗi luôn."

"我操。"我无法理解。胖子道:"别讲究了。来吧,咱们今天耍耍威风。"说着就把那片卫生巾对着尸体,道:"趴下,把手伸出来

"Con mẹ nó..."

Tôi không thể hiểu nổi.

Bàn Tử nói: "Đừng để ý quá nhiều.

Nào nào, hôm này chúng ta phải oai phong một phen."

Nói đoạn, anh ta chĩa miếng băng vệ sinh kia về phía cái xác, nói: "Nằm xuống, chìa tay ra."

一看之下。地面上只有一摊子绿水,尸体根本不知道哪儿去了。再往地上一照。我一下就蒙了一只见那尸体趴在一旁的棺材上。"他理解得不对啊,你确定这是小哥的血吗?"我问道。"绝对确定!这种保命的东西,我可是从来不打马虎眼的。"胖子道,"你等等,你知道古人的发音和现代人不一样,你试试古语发音。"

Nhìn xuống dưới, mặt đất chỉ còn lại một vũng nước xanh lè, không biết cái xác lăn đi đâu rồi.

Lại chiếu xuống một chút, tôi liền ngẩn ra – thì ra cái xác kia đang nằm úp sấp bên cạnh cỗ quan tài.

"Nó hiểu sai rồi, anh có chắc đây là máu Tiểu Ca không?"

Tôi hỏi.

"Chắc chắn một trăm phần trăm luôn!

Thứ đồ để bảo vệ tính mạng này, xưa nay tôi không chơi hàng giả đâu."

Bàn Tử nói, "Cậu chờ một tí, cậu phải biết người cổ đại phát âm khác người hiện đại bọn mình, hay cậu thử phát âm bằng tiếng thời cổ đại xem nào."

"老子不会。"我道,"小哥当时震慑女尸的时候,也没有说什么啊!"

"Ông đây đéo biết."

Tôi nói, "Hồi ấy khi Tiểu Ca dọa hết hồn vía cái xác nữ kia, cũng đâu có nói gì!"

胖子扯着卫生巾。又叫了几声。见尸体还是没反应,就道:"难不成小哥的血只能搞定女尸?这尸体是爷们儿?"

Bàn Tử kéo căng miếng băng vệ sinh, lại kêu mấy tiếng.

Thấy cái xác kia vẫn không có phản ứng gì, liền bảo: "Chẳng lẽ máu Tiểu Ca chỉ dọa được xác nữ thôi?

Còn cái xác này là đàn ông?"

我摇头,看着那长满黑毛的尸体一一只有一只手,但竟然十分灵活地从棺材上跳到了地上,朝我们爬了过来。我们立即后退了十几米,生怕被他抓住。

Tôi lắc đầu, nhìn cái xác mọc đầy lông đen kia.

Nó chỉ còn một cái tay, nhưng vẫn cử động hết sức linh hoạt, từ trên quan tài nhảy phắt xuống dưới, bò về phía chúng tôi.

Chúng tôi lập tức lùi về phía sau mấy bước, sợ bị nó tóm mất.

胙子还是举着卫生巾。尸体还是完全不怕的洋子。胖子脑门上青筋暴露,忽然把卫生巾直接拍在了尸体的脸上,从背上把冲锋枪翻了出来,对我道:"狗日的,不靠谱。还是咱们爷俩玩狠的吧,直接把他给秒了!"

Bàn Tử vẫn giơ băng vệ sinh.

Cái xác hoàn toàn không có vẻ gì là sợ hãi cả.

Trán Bàn Tử bắt đầu nổi đầy gân xanh, anh ta đột nhiên cầm miếng băng vệ sinh đập cái bép lên giữa mặt cái xác, rút khẩu tiểu liên từ sau lưng ra, nói với tôi: "Mẹ kiếp, không đáng tin tí nào, chúng ta vẫn nên ra đòn độc thôi, bắn vỡ mặt nó luôn!"

我立即跟着他一就在尸体迅速朝我们逼近了几步的时候,我们俩举着冲锋枪直接对着尸体开火。雨水一样的子弹全部打在了尸体身上。直把尸体打得连翮了十几个跟头,一下折到了棺材后面我们立即绕过去,就看到尸体身上全是。烟的孔。但是尸体一个翻身还是转了过来。继续朝我们爬。

Tôi lập tức làm theo anh ta.

Ngay khi cái xác nhanh chóng tiến gần về phía chúng tôi thêm mấy bước, cả hai chúng tôi liền giương súng, bóp cò nã thẳng về phía nó.

Loạt đạn dày đặc như nước mưa nã thẳng vào cái xác, khiến nó ngã lộn cổ lăn đến mười mấy vòng, đến tận phía sau cỗ quan tài.

Chúng tôi liền đi vòng qua, thấy trên cái xác toàn là những lỗ đạn còn bốc khói.

Nhưng cái xác đột ngột lật mình dậy, tiếp tục trườn về phía chúng tôi.

"我就说机关枪打僵尸没用,这枪的口径太小了!"胖子直接几个点射,阻碍了尸体的前进我看到,尸体的手被我们打断了。

"Tôi bảo rồi, súng máy bắn cương thi vô dụng thôi, đường kính nòng súng này nhỏ quá!"

Bàn Tử thẳng tay nã thêm mấy phải, cản cái xác trườn về phía trước.

Tôi thấy cánh tay của nó đã bị chúng tôi bắn đứt hẳn rồi.

"未必!"我说道,"集中火力,我们把他的头打烂!"说着,我和胖子扣动扳机追着尸体一阵猛打了无数子弹打过去。打完一个弹夹我就换一个:一直打到尸体的脑袋完全破碎,尸体不动了。我们才停下来。

"Chưa chắc!"

Tôi nói, "Tập trung hỏa lực, bắn vỡ sọ nó!"

Vừa dứt lời, tôi với Bàn Tử bóp cò đuổi theo cái xác ra sức bắn.

Vô số đạn bắn tới, cứ bắn hết một băng lại thay một băng.

Bắn cho đến khi cái đầu thi thể vỡ tan nát, cái xác bất động, chúng tôi mới dừng lại.

绿水横流,满地都是。

Thứ chất lỏng xanh lè chảy đầy đất.

我和胖子在尸体边上等了半天。发现他真的不动才击掌庆贺胖子道:"丫我就发现每人一把火器比小哥要灵光得多啊!"

"别这么说。毕竞小哥的弹药比我们充足。"我道

Tôi với Bàn Tử đứng canh cái xác suốt một lúc lâu, thấy nó bất động thực sự, mới vỗ tay ăn mừng.

Bàn Tử nói: "Chậc, tôi thấy mỗi người một cây súng còn thần kỳ hơn Tiểu Ca nhiều ấy chứ!"

"Đừng nói thế, dù sao đạn dược của Tiểu Ca vẫn còn đầy đủ hơn chúng ta."

Tôi nói.

胖子指了指棺材,问我还要不要看。我摇头,对胖子进:"从现在开始,任何东西都不打开了。"

Bàn Tử chỉ cỗ quan tài, hỏi tôi có muốn xem tiếp hay không.

Tôi lắc đầu, nói: "Bắt đầu từ bây giờ không được mở bất cứ cái gì ra nữa."

不是我不想着其实我还是很想知道,在棺材盖儿的内壁内雕刻的是什么内容,但是我实在没有精力去处理更多的突发状况了。刚才我是一念之差才答应了胖子,其实自己心中还是相当忐忑的很显然。我们两个的体质,绝对不适合干这一行——个是必然会撺掇我开棺材的体质,一个是开棺材必然遇到粽子的体质。我觉得以后一定要有自知之明,爷爷不让我干这一行显然是相当睿智的的。

Không phải là tôi không muốn xem.

Thực ra tôi vẫn muốn biết vách trong nắp quan tài khắc cái gì lắm, nhưng bây giờ tôi không có hơi sức đâu để xử lý nhiều tình huống đột ngột xảy ra nữa.

Lúc nãy tôi chỉ nghĩ chệch một li thôi nên mới đồng ý với Bàn Tử, chứ thực ra trong lòng vẫn thấp thỏm bất an lắm.

Rõ ràng với số mạng của hai đứa bọn tôi, hoàn toàn không hợp làm nghề này tí nào.

Một thằng thì suốt ngày xúi giục thằng kia mở quan tài, một thằng thì cứ mở quan tài là gặp bánh tông.

Tôi cảm thấy về sau nhất định phải tự biết thân biết phận, ông nội không cho tôi làm nghề này rõ ràng là đã nhìn xa trông rộng.

胖子想了想,点头道:"同意"

Bàn Tử suy nghĩ một chút rồi gật đầu: "Đồng ý."

继续往前走的路,就在那些筘子后面那些箱子被我和胖子打得七零八落我们走过去就肴到了第三道石门,不过这道石门是从上面吊下来的石门上雕刻了一个兽头:石门半开,下面用一台千斤顶顶着。千斤顶也是锈得十分厉害,让人感觉一碰就可能会断裂。

Con đường phía trước nằm ở đằng sau đống rương gỗ.

Số rương đó đã bị tôi với Bàn Tử bắn nát cả rồi.

Chúng tôi đi tới đó, liền nhìn thấy cánh cửa đá thứ ba, nhưng có điều cửa đá này mở theo chiều dọc.

Trên cửa khắc hình đầu một con thú.

Cánh cửa mở được một nửa, bên dưới có một cái đội xe đang nâng cửa lên.

Cái đội đã rỉ sét hết cả, trông như thể chạm một cái là gãy ngay.

兽头的上方有一块石头,大概有三四百斤重:那是石门的负承石,用来压迫石门下降

Bên trên phù điêu hình đầu thú là một hòn đá, nặng chừng ba bốn trăm cân.

Đó là tảng đá để tăng sức nặng cho cửa, đè cửa đóng sập xuống.

我探进去半个头,用手电照了照。然后,两个人爬了进去,看到了一个更大的石室。

Tôi thò nửa cái đầu vào, cầm đèn pin chiếu thử.

Sau đó, hai chúng tôi chui qua cửa, đến một căn phòng đá rộng hơn.

这是一个巨大的圆形石室,足足有半个足球场那么大。有七根巨大的柱子立在石室的四周。上头是一个七星顶。这里真是稍微有点橡—个墓室了,但是比起其他的大型古墓,还是显得缺乏细节。石室中间有一座和张家古楼外形很像的高台。高台前有两条小河,从墓室的前方流过

Đó là một gian phòng lớn hình tròn, rộng khoảng nửa sân bóng vậy.

Quanh gian phòng có cả thảy bảy cây cột lớn, bên trên là đỉnh thất tinh.

Nơi này quả thực có vẻ giống một ngôi mộ rồi, nhưng so với các cổ mộ quy mô lớn khác thì vẫn còn thiếu khá nhiều chi tiết.

Chính giữa gian phòng có một bệ đá cao hình dạng giống Trương gia cổ lâu.

Trước bệ đá có hai con sông nhỏ, chảy vòng qua trước gian mộ.

我测了小河的宽度,第一条小河大概六人宽。上面什么都没有,而第二条小河,也就是比较靠近我们的那条,上面有六座石头桥,每座桥的样子都很不一样。每座桥的桥头都安放着一只可怖的动物石像。说不清楚是什么,但是看上去都是阴恻恻的,不怀好意的样子。

Tôi ước lượng độ rộng của sông, con sông thứ nhất rộng khoảng sáu người, bên trên không có gì cả, con sông thứ hai, cũng chính là con sông ở gần chúng tôi nhất, trên sông bắc sáu cây cầu đá, mỗi cây cầu lại có dáng vẻ khác nhau.

Mỗi đầu cầu lại đặt một bức tượng hình động vật đáng sợ, không rõ là con gì, nhưng nhìn trông cứ âm u, chẳng có vẻ gì là tốt đẹp.

胖子抬脚就想上去。我把他拦住了,指了指上面。我刚刚看到墓顶之上有一条绳索,是后人架上去的,而且很新,是现代的登山绳——显然是闷油瓶他们进来的时候弄上去的。

Bàn Tử nhấc chân định đi lên.

Tôi liền cả anh ta lại, chỉ chỉ phía trên.

Tôi vừa thấy trên trần mộ có một sợi dây thừng, là sau này người ta mới treo lên, hơn nữa vẫn còn rất mới, chứng tỏ là dây thừng leo núi của thời hiện đại.

Rõ ràng, nhóm Muộn Du Bình khi tiến vào đây đã sử dụng thứ này.

我往上一看,上面的七根石梁呈伞状,好像一把大伞撑在了石室的上方,上面雕满了奇怪的浮雕有些浮雕上有钩子一样的造型,比如说鹰嘴、鲤鱼的尾巴。反正都好像一只只钩子一样,这是不正常的。我一眼就能看出来。这些浮雕是经过伪装的。安装这些钩子的目的一定是为了让绳索能够在上面这些浮雕中巧妙地穿过,肯定是古代的工匠为了吊装什么东西而设计的。完事之后,这些钩子就被雕刻成了各种各样的图案,

Tôi ngước lên nhìn, thấy trên trần có bảy cây xà đá nữa, hình dạng giống như cái ô, như thể một tán ô to tướng che ngay phía trên gian mộ thất vậy, trên xà nhà còn khắc đầy những phù điêu kỳ quái.

Một số phù điêu có hình dạng như cái móc câu, có thể đó là mỏ chim ưng hay đuôi cá chép gì đó, dù sao chúng đều cong vút lên như cái móc câu vậy, điều này thật không bình thường.

Tôi liếc mắt một cái là nhìn ra, những bức phù điêu đó vốn là để ngụy trang.

Mục đích của những móc câu này chắc chắn là để xỏ dây thừng qua một cách khéo léo, thợ thủ công thời cổ đã thiết kế ra nó, chắc chắn là để treo thứ gì đó.

Mà sau khi xong việc, những móc câu này liền được chạm trổ đủ các loại hình vẽ lên.

另一面是一把铁钩,应该是从对面甩过来,钩到了天花板上的某一处。这种准头肯定是小哥的手笔。绳子在那些钩子中巧妙地穿梭,在上面形成了一道绳桥,

Ngoài ra còn có một cái móc sắt nữa, chắc là được ném lên từ phía đối diện, móc vào một vị trí nào đó ở tít trên trần nhà.

Đây chắc chắn là tác phẩm của Tiểu Ca đây.

Sợi thừng đó cứ xỏ qua xỏ lại giữa các móc câu một cách tài tình, tạo thành một cây cầu bằng dây thừng ngay trên không trung.

这七座桥应该都有蹊晓一如果你上错了,很可能会遭遇横祸。闷油瓶为了避免多生事端,选择了从其他的途径通过一这也是他的风格,绝对不走别人给他安排好的道路。

Chắc hẳn bảy cây cầu đá này có gì đó không ổn, ngộ nhớ nếu giẫm lên nhầm cầu, rất có thể sẽ gặp phải tai bay vạ gió gì đó.

Để tránh phát sinh nhiều rắc rối, Muộn Du Bình liền chọn một con đường tắt khác để đi qua – đây cũng chính là phong cách của hắn, tuyệt đối không bao giờ đi theo con đường mà người khác đã chuẩn bị sẵn cho hắn.

六人宽的小河,也就是说有十米往上。以我和胖子的体力,直接过河是绝对没戏了。于是,只得走小哥给我们留下的道路,

Con sông nho nhỏ rộng chừng sáu người, tức là khoảng hơn mười mét.

Với thể lực của tôi và Bàn Tử, bơi thẳng qua sông chắc chắn là không được rồi.

Vì vậy, chúng tôi đành phải đi theo con đường mà Tiểu Ca đã để lại.

我们找到绳索的那头,爬了上去,一路倒吊在天花板上,过了外面那条小河,来到了里面的小河前。胖子在上头往下看的时候,道:"河里好像有什么东西?"

Chúng tôi tìm được một đầu của sợi thừng, đu lên, treo mình trên trần nhà, qua con sông nhỏ, rồi sang đến bờ bên kia của con sông.

Bàn Tử bám phía trên nhòm xuống dưới, nói: "Hình như dưới sông có cái gì thì phải?"

"什么东西,难道是鳄鱼?"我道,心说就算是鳄鱼也应该是死鳄鱼了。

"Có cái gì, chẳng lẽ là cá sấu?"

Tôi nói, nghĩ bụng nếu có là cá sấu thực thì cũng chỉ có thể là cá sấu chết mà thôi.

"不是,是个死人!"胖子道。我们从另一头下来。胖子撂下身上背的东西,立即就用铁刺做了一个钩子,来到他看到死人的地方,蹚水下去拨弄。一个黑色的东西竞被他从河里面拉了上来。

"Không phải!

Là người chết!"

Bàn Tử nói.

Chúng tôi xuống ở bờ bên kia sông.

Bàn Tử hạ đống đồ đạc vác trên lưng xuống, rồi lập tức cầm chông sắt làm móc, đến chỗ mà anh ta nhìn thấy có người chết, nhúng chông sắt xuống nước khuấy khuấy một lúc.

Sau đó, anh ta móc lên từ dưới sông một thứ gì đó màu đen sì.

把这黑色东西拉到岸上后,我们立马闻到一股非常难闻的腐臭味道。

Sau khi kéo thứ đó lên bờ, một mùi hôi thối cực kỳ khó ngửi ập thẳng vào mặt chúng tôi.

果然是一具尸体,而且还不是古尸一难道是小哥队伍中的人?"会不会是走了桥,中招死掉的人的尸体?"胖子问道。我摇头:"小哥很少会让自己队伍里的人犯这种错误死掉,除非是你这种完全没组织没纪律的人。"

Quả nhiên là một xác chết, hơn nữa, lại không phải là xác cổ.

Chẳng lẽ đây là một người thuộc đội ngũ của Tiểu Ca?

"Chẳng lẽ là đi đường cầu kia, trúng bẫy nên chết?"

Bàn Tử hỏi.

Tôi lắc đầu: "Tiểu Ca rất hiếm khi để người trong đội mình chết vì phạm phải loại sai lầm này lắm, trừ phi anh là loại người vô tổ chức, vô kỷ luật."

我们把尸体翻过来,只见他的身上全是淤泥,带着一股熟悉的中药味,我捧出小河里的水。往尸体身上一冲,一下就看到麒麟纹身露了出来。在鼓胀的尸体上,文身无比清晰。胖子惊叫了起来:"是小哥!小哥什么时候又死了?"

Chúng tôi lật cái xác lên, chỉ thấy khắp mình mẩy cái xác dính đầy bùn lầy, bốc lên một mùi thuốc bắc quen quen.

Tôi múc một gáo nước sông, dội xuống cái xác, ngay lập tức, một hình xăm Kỳ Lân lộ ra.

Trên phần thi thể đã trương phềnh, hình xăm hiện lên cực kỳ rõ ràng.

Bàn Tử sợ hãi kêu lên: "Là Tiểu Ca!

Tiểu Ca chết từ bao giờ thế?!"
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 60: Lại Có Một Cái Xác Của Tiểu Ca


虽然尸体已经完全泡烂了。我们还是认出了那文身是麒麟的文身:但是稍微一辨认。就能知道这不可能是小哥。因为文身虽然非常相似。但是粗糙了很多,皮肤也更加黝黑。最主要的,这人的头发中有很多白发,

Mặc dù cái xác đã trương phình lên, nhưng chúng tôi vẫn nhận ra hình xăm đó chính là hình xăm Kỳ Lân.

Nhưng để ý kỹ một chút là biết ngay đó không thể là Tiểu Ca được.

Bởi vì tuy rằng hình xăm này rất giống, nhưng cẩu thả hơn hình xăm của Tiểu Ca nhiều, hơn nữa, người này có nước da ngăm đen, và quan trọng nhất là, đầu tóc người này lẫn rất nhiều sợi bạc.

我们把尸体重新放进水里,因为味道实在是太难闻了。在他入水的那一刹那,我才意识到这具尸体,竞然是盘马老爹,

Chúng tôi lại thả thi thể xuống nước, bởi vì mùi xác thối thực sự quá khó ngửi.

Ngay khi cái xác vừa rơi xuống nước, tôi mới liền nhận ra, không ngờ cái xác này lại chính là lão Bàn Mã.

他应该是跟着闷油瓶的队伍进人这里的我心说,不知道为什么死在了这儿。

Hẳn là lão ta đã bám theo đội ngũ của Muộn Du Bình vào đến nơi này.

Tôi nghĩ thầm, không biết làm sao mà chết ở đây.

我最后一次见到盘马老爹的时候。他的状况似乎是被刺激了疯了一样。我也不知道他是真的疯了,还是装疯。之后他-直就没有出现过,我对他的亊情也没有了兴趣他这样的人一之前为了几袋粮食。可以杀死那么多人。又和那鬼影保持着千丝万缕的联系。肯定是一个小利益导向的人不管他是以什么目的跟踪闷油瓶的队伍,我都没有兴趣猜测了

Lần cuối cùng khi gặp lão Bàn Mã, tình trạng của lão ta như thể đã bị kích thích đến phát điên rồi.

Tôi cũng không biết là lão ta điên thật, hay giả điên.

Sau đó, lão ta không hề xuất hiện nữa, tôi cũng chẳng có hứng thú với câu chuyện của lão ta.

Loại người như lão – ngày trước là vì mấy túi lương thực mà có thể ra tay tàn sát nhiều người như thế, đã vậy lại còn duy trì đầu dây mối nhợ với cái bóng ma kia – nhất định là một kẻ tham lợi trước mắt.

Bất kể là lão theo dõi đội ngũ của Muộn Du Bình với mục đích gì, tôi cũng không có hứng thú suy đoán.

尸体慢慢地又沉了下去。整个尸体已经泡肿了,显得无比可怕。盘马老爹是一个很苍老的人。如今水把他的尸体泡得一点皱纹都看不到了如果不是闷油瓶就在外面。我真的会以为,这就是闷油瓶的尸体。

Cái xác lại từ từ chìm xuống.

Thi thể đã trương phình, trông rất đáng sợ.

Lão Bàn Mã rất già, nhưng bây giờ thi thể lão đã ngấm no nước đến mức không thấy được một nếp nhăn nào nữa.

Nếu không phải Muộn Du Bình vẫn còn ở bên ngoài, tôi sẽ còn tưởng đây là thi thể Muộn Du Bình thật ấy chứ.

盘马这辈子就是一个悲剧不过,他也算是罪有应得。每一个人邯必须为自己所做的事情怙出代价,盘马现在才有这样的结果。其实已经挺合算了。

Cuộc đời này của lão Bàn Mã là một tấn bi kịch.

Có điều, lão ta cũng coi như là phải kiếp lắm.

Con người ai cũng phải trả giá cho tất cả những gì mình đã làm, lão Bàn Mã có kết cục như bây giờ thực ra cũng là hợp lý.

我们翻了过去,走上台阶,走进那帷幔之中。翻开帷幔之前经历了那么多。我已经混不吝,不再有任何的迟疑和好奇。

Chúng tôi đi qua, bước lên bậc thang, bước vào trong mấy tấm màn che.

Tôi đã trải qua quá nhiều lần lật tung các tấm màn che rồi, chẳng còn tiếc gì nữa, cũng không còn bất kỳ cảm giác hồi hộp hay tò mò gì nữa.

那帷幔之中是一个玉石做的大床:大床上什么都没有,空空如也。

Giữa các lớp màn che là một chiếc giường lớn bằng ngọc thạch.

Trên giường lại chẳng có gì cả, trống trơn.

胖子问道:"怎么没东西?这么大阵仗。最大的墓室里,竞然什么都没有?"

Bàn Tử hỏi: "Sao lại chẳng có gì thế này?

Cả một thế trận to như vậy, gian mộ thất lớn nhất luôn rồi, thế mà lại chẳng có gì cả?"

我问胖子:"你进过的古墓多。你觉得这是一张棺床吗?"

Tôi hỏi Bàn Tử: "Anh đi qua nhiều cổ mộ rồi, anh có cảm thấy đây là một quan sàng hay không?"

从高度来说,很有可能是。"胖子道。

"Từ độ cao mà nói thì có thể lắm."

Bàn Tử nói.

我就道:"你看这棺床上,有很深的被长时间压过的痕迹:显然。应该是有一具非常沉重的棺材曾经压在这张玉床上。但是。这具棺材现在不见了"我摸着棺床上的痕迹一这一定不是木头棺材划出的痕迹。不管是多么沉重的木头。也不可能划出这样的效果因为这种玉石特别坚硬。能造成这样的效果。要么是一具金属棺材,要么就就是在木头棺材的外沿。有着大量的金属配件。

Tôi liền bảo: "Anh nhìn cái quan sàng này mà xem, có dấu vết bị đè nghiến xuống rất sâu trong một thời gian dài.

Chắc hẳn đã từng có một cỗ quan tài cực nặng đặt trên chiếc giường này.

Thế nhưng, bây giờ không thấy cỗ quan tài đó đâu nữa."

Tôi sờ lên dấu vết còn sót lại trên quan sàng – đây chắc chắn không phải dấu vết do chất liệu gỗ đóng quan tài để lại, cho dù là chất gỗ nặng đến mấy thì cũng không thể để lại dấu vết sâu như vậy được.

Bởi vì loại ngọc thạch này rất cứng, để tạo nên dấu vết như thế này thì chắc hẳn phải là một cỗ quan tài bằng kim loại, hoặc là mép ngoài cỗ quan tài gỗ có lắp ráp nhiều bộ phận bằng kim loại.

我觉得后者的可能性更大一点儿。因为我们在上头看到的棺材几乎都是全木的而且里面的尸体基本都已经成骨了。完全的金属棺。如果有矿石的话在这里也可以浇铸。但是这个房间里,我没有看到长年使用冶炼炉具的痕迹在古代,要是真想冶炼出金属器具,那需要的不是一般的大排场:同时。冶炼还需要大量煤炭。张家人既然为这里设计了种树那么有远见的计划,说明木材一定是他们首选的东西。这从之前我们在上面看到的木制棺材和古楼所用的木材完全一样就能推断出来。

Tôi cảm thấy giả thiết sau có khả thi hơn một chút, bởi vì tất cả các cỗ quan tài chúng tôi từng bắt gặp ở phía trên đều làm bằng gỗ cả.

Hơn nữa, thi thể bên trong đa phần đều đã hóa thành xương trắng hết rồi.

Nếu là quan tài hoàn toàn bằng kim loại, giá mà có khoáng thạch ở đây thì cũng có thể đúc được.

Nhưng tôi lại không thấy dấu vết của lò luyện kim loại được sử dụng lâu năm trong gian mộ thất này.

Vào thời cổ đại, nếu muốn đúc ra được món đồ kim loại to như thế thì phải tốn kém lãng phí không ít chút nào đâu.

Hơn nữa, rèn đúc đòi hỏi một lượng nguyên liệu than đá cực lớn.

Nếu người Trương gia đã tính toán một kế hoạch trồng cây cho hàng trăm năm xa xôi như thế, chứng tỏ, nguyên liệu gỗ là lựa chọn hàng đầu của bọn họ.

Các cỗ quan tài mà chúng tôi từng bắt gặp ở phía trên có cùng chất gỗ với vật liệu xây cất cả tòa cổ lầu, đã thể hiện rõ điều này.

能在深山之中修建这样的古楼。过程已经很牛逼了。细节上差一些就差一些吧。

Xây dựng cả một tòa lầu gác hoành tráng đến thế ngay trong thâm sơn cùng cốc, xét toàn bộ khối lượng công việc đã khủng khiếp lắm rồi, còn về các chi tiết lặt vặt, cứ bớt được cái nào hay cái đó thôi.

"不见了。棺材难道长脚了,自己会走吗?"胖子道,"这年头,张家古楼里的棺材也能成精了。这不是成了变形金棺了!我靠,以后倒斗可他妈费劲了!"

"Không còn nữa.

Chẳng lẽ quan tài tự mọc chân mà chạy rồi?"

Bàn Tử nói, "Năm nay quan tài trong Trương gia cổ lâu cũng biến thành tinh rồi, thế chẳng phải là thành quan tài biến hình* rồi à!

Úi giời ơi, sau này đổ đấu khổ chết mẹ rồi!"

* Nhại lại Transformers, tên tiếng Trung của dòng phim này là "Biến hình kim cang", Bàn Tử nói thành nói là "Biến hình kim quan".

"我觉得这棺材是被搬走了。他们把这个地方腾了出来,应该是准备存放另外一具尸体的。"我道:我看着玉床上的痕迹一这些痕迹不是安放棺材的时候留下的,而是棺材被抬走的时候留下的。但这些痕迹产生的年份无法判断

"Tôi nghĩ quan tài này chắc đã bị chuyển đi rồi.

Bọn họ dọn dẹp chỗ này, chắc là đang chuẩn bị để đưa một thi thể khác vào."

Tôi nói.

Tôi nhìn dấu vết trên chiếc giường ngọc – những dấu vết này không phải bị hằn lên trong lúc sắp đặt quan tài, mà là trong lúc di chuyển quan tài đi.

Nhưng không thể nào phán đoán được dấu vết này bị hằn lên vào khoảng thời gian nào nữa.

我在棺床的四周看了看,果然发现我上来的台阶上,两边各有几个地方被打了孔。

Tôi đứng ở vị trí quan sàng, nhìn khắp xung quanh một lượt, quả nhiên phát hiện mấy cái lỗ ở hai bên bậc thang nơi tôi bước lên.

在古代给石头打孔是十分巧妙的技术,很多孔洞的打磨都相当精细。但是,这几个孔洞都不是垂直打进去的,能在里面摸到淸晰的螺旋的痕迹。孔洞打得非常深,这是古代技术不可能做到的。想想应该是现代钻孔机械打出来的一一不知道是手动的还是使用汽油的。显然。这里装置过简易的吊装设备。我推测得果然没错,

Vào thời cổ đại, khoan lỗ trên đá là một kỹ thuật hết sức tinh vi, vết mài trên các cái lỗ cũng tương đối tỉ mỉ.

Tuy nhiên, những lỗ thủng này không phải được đục vào theo chiều thẳng, mà tạo thành hình xoắn ốc rất rõ ràng ở bên trong lỗ.

Những lỗ này được đục rất sâu, kỹ thuật thời cổ không thể nào làm được.

Có lẽ những cái lỗ này được đục bằng máy khoan thời hiện đại cũng nên, nhưng không biết là máy khoan tay hay là máy chạy xăng.

Rõ ràng, nơi này đã được lắp đặt sơ qua một số thiết bị.

Quả nhiên suy đoán của tôi không sai.

胖子点头:"我懂了。你是说,他们原来想运进来的那具尸体是打算放在这里。所以他们先把放置在这里的那具棺材挪走了,所谓的鸠占鹊巢就是如此。不过,为什么现在上面什么都没有呢?他们运进来的尸体呢?"

Bàn Tử gật đầu: "Tôi hiểu rồi.

Ý cậu là, bọn họ vốn là muốn vận chuyển cái thi thể kia vào chỗ này, cho nên bọn họ phải di dời cỗ quan tài nguyên gốc ở đây đi trước, tu hú chiếm tổ chim khách chính là đây.

Nhưng mà vì sao ở đây vẫn không có gì cả?

Cái thi thể mà bọn họ chuyển vào đi đâu rồi?"

那具尸体有没有被成功地运进来,其实谁也不知道。我有点后悔,当时没有找鬼影问得仔细一点。他们到底有没有成功地把尸体运进来?不过,我觉得应该是成功了。不然以组织的习惯,一次不行必然会有第二次。巴乃考古只有一次,而且从阿贵的叙述来看,离开的队伍似乎是非常正常。属于凯旋的范畴了。

Thực ra cái thi thể kia có được vận chuyển vào đây thành công hay không thì chẳng ai biết.

Tôi có hơi hối hận, sao lúc trước tôi không bám lấy cái bóng kia hỏi cho rõ ràng một chút.

Rốt cuộc bọn họ đã vận chuyển thi thể đó vào chưa?

Nhưng tôi nghĩ chắc hẳn là đã vào rồi.

Bằng không, với thói quen của tổ chức, lần thứ nhất không được tất sẽ có lần thứ hai.

Mà chuyến khảo cổ ở Ba Nãi chỉ có một lần, hơn nữa, theo lời kể của A Quý, thì đội ngũ rời đi có vẻ rất bình thường, như thể là đã chiến thắng trở về vậy.

"现在怎么办?"我看了看四周,发现这里竞然没有地方能走了此外。我也知道。我们的四周基本上全是流沙,现在我们的位置就是在刚才走过的流沙层的中间。如果我计算得没错的话。当时我们走过的流沙层的位置。应该是在我们的头顶上。

"Thế làm sao bây giờ?"

Tôi nhìn xung quanh, phát hiện nơi này lại chẳng còn chỗ nào để đi nữa.

Ngoài ra, tôi cũng biết, xung quanh chúng tôi cơ bản toàn là cát chảy cả thôi, vị trí của chúng tôi bây giờ chính là ở ngay giữa tầng cát lún mà chúng tôi từng đi qua.

Nếu tôi tính toán không lầm, thì vị trí tầng cát lún nơi chúng tôi đã từng đến chắc hẳn đang nằm ở ngay trên đỉnh đầu chúng tôi bây giờ.

当时我就觉得奇怪,一个流沙层为什么会那么浅,双脚都能碰到底现在想来,那完全是因为流沙之中包裹着一个墓室,脚碰到的就是墓室的顶部。如果不知道那条密道能通下来,想从其他地方挖掘下来,那是完全不可能实现的事情,那么细腻的沙子,肯定是经过特殊处理的,我们不可能在上面进行任何工程。

Lúc ấy tôi còn thấy lạ, một tầng cát lún mà sao lại nông như thế, duỗi hai chân ra là chạm đến đáy.

Bây giờ ngẫm lại, đó hoàn toàn là bởi dòng cát chảy bao bọc lấy một ngôi mộ, nền đá mà chân tôi chạm phải chính là đỉnh mộ.

Nếu không biết đến đường mật đạo kia, thì hoàn toàn không thể nào đào xuống mộ này từ chỗ khác được.

Cát mịn như thế, chắc chắn là đã được xử lý đặc biệt gì đó rồi, chúng tôi không thể tiến hành bất cứ công trình nào ở trên mặt cát ấy.

我问胖子如何是好,这里竞然是一条死路。以现在掌握到的所有线索去推断,最有可能的情况竟然是一一闷油瓶当时是从棺床里上来的,他从这里走了出去,通过密道到了古楼的第一层。

Tôi hỏi Bàn Tử làm sao đây, không ngờ đến đây thì lại là ngõ cụt.

Dựa vào toàn bộ manh mối có được để phán đoán, thì giả thiết khả dĩ nhất là: lúc đó Muộn Du Bình đã chui lên từ bên dưới quan sàng này, hắn chui ra ngoài từ nơi đây, rồi đi qua mật đạo kia, lên đến tầng thứ nhất của tòa cổ lâu.

但棺床四周没有出口,于是我和胖子开始分头在墓室里摸索,想尽快寻找到有利用价值的蛛丝马迹。要知道,这么多人从这里出来。不可能什么都没留下。相信一定会有什么线索是能帮助我们的。果然,胖子在一处墙根边,发现了一个烟头。

Nhưng quanh quan sàng này lại chẳng có cánh cửa nào, vì vậy, tôi với Bàn Tử bắt đầu chia nhau ra lục soát gian mộ thất này, muốn mau chóng tìm được một chút dấu vết có giá trị nào.

Phải biết rằng, đã có rất nhiều người đi ra khỏi nơi này, thì không lý gì lại không để lại bất cứ dấu vết nào cả.

Tôi tin rằng chắc chắn sẽ có manh mối nào đó có thể giúp chúng tôi.

Quả nhiên, Bàn Tử tìm được một tàn thuốc ở bên một chân tường.

"没错。天真。他们就是从这里出来的。这是'玉溪',我刚才在一个挂了的哥们儿身上看到过这种烟。"胖子道。"这哥们儿带着一条这种烟呢,肯定是个大烟枪。这烟一定是他抽的。"

"Chuẩn rồi.

Thiên Chân, bọn họ ra ngoài từ đây này.

Đây gọi là 'Suối Ngọc', lúc nãy tôi cũng tìm được loại thuốc lá này trên người một người anh em đã tèo đấy."

Bàn Tử nói, "Người anh em này mang cả cây thuốc loại này cơ, chắc hẳn là một cái ống khói di động đây.

Thuốc này nhất định là do anh ta hút đấy."

我到了胖子的边上,看了看这烟头四周,发现在这墓墙边上的缝隙里还塞着几个烟头。

Tôi đến chỗ Bàn Tử, nhìn quanh vị trí của tàn thuốc này, phát hiện còn có mấy đầu lọc thuốc lá khác bị nhét vào trong khe hở trên tường gần đó.

烟头的摆放位置很分散一这种情况要么是一个穷极无聊的人,一边抽烟一边往缝隙里塞,要么就是有好多人在这儿抽烟所形成的这个场景。

Vị trí vứt tàn thuốc rất rải rác – hoặc là do một người nhàm chán đến cực độ, vừa hút thuốc vừa đi nhét đầu lọc thuốc vào khe tường, hoặc là do từng có rất nhiều người hút thuốc ở đây.

我猜测这场景形成的原因基本上属于后者。但是很奇怪,为什么他们会全部聚集在这面墙下抽烟呢?这又不是老墙根的底下——大家一起抽烟唠嗑看日升日落,穷极无聊地混日子。这里可以抽烟的地方太多了。他们这么多人聚在这里抽烟。难道,洞口就在这面墙的后面?

Tôi đoán là vế sau.

Nhưng mà lạ thật, vì sao bọn họ lại tụ tập hết ở bờ tường này để hút thuốc?

Dù sao đây cũng không phải dưới khu Bờ Tường Cũ – mọi người cùng nhau hút thuốc tán gẫu, ngắm mặt trời mọc lại lặn, cuộc sống nhàn nhã nhàm chán cực kỳ.

Bọn họ tập trung bao nhiêu người lại đây hút thuốc, chẳng lẽ cửa hang nằm ở ngay sau bức tường này?

可是这也说不通啊!我心说,谁他妈规定从哪里进来,就必须在哪里抽烟的。而且按照胖子的说法,他们进来的过程特别紧张,很多人都已经中毒了,哪有进来之后抽烟的道理

Nhưng thế thì thật vô lý!

Tôi nghĩ thầm, có đứa mẹ nào quy định hễ cứ đi vào từ đâu là phải ngồi xổm hút thuốc ở đó.

Hơn nữa, theo giải thích của Bàn Tử, quá trình bọn họ tiến vào nơi này căng thẳng cực kỳ, nhiều người đã trúng độc, có lý nào lại nhàn nhã hút thuốc ở đây làm gì.

我和胖子说:"我们来搞一下情景再现。如果你是一个已经中了毒的人,你千辛万苦进了这里,你会做什么?"

Tôi nói: "Chúng ta mô phỏng lại tình huống lúc đó xem sao.

Nếu anh là một người đã bị trúng độc, trăm cay ngàn đắng mới vào được nơi này, anh sẽ làm gì?"

胖子道:"我肯定胡喘,躺在能躺的地方。如果不是老大踹我的屁股。或者后面还有什么危险,老子一定躺到自己能缓过来为止。"

Bàn Tử nói: "Nhất định là sẽ thở gấp, chỗ nào nằm được là nằm vật ra đó luôn.

Trừ phi là bị lão đại đạp mông, hoặc phía sau còn có nguy hiểm gì đe dọa, chứ không, ông đây thế nào cũng phải nằm đến khi tỉnh lại mới thôi."

"你缓的时候会抽烟吗?"

"Thế lúc anh nghỉ ngơi liệu có hút thuốc không?"

"我靠,那你要看是什么时候了啊!要是老子一夜七次之后。那缓的时候不仅得抽烟。还得来几碗牛鞭汤补补啊但是在这儿要是中了毒,气都喘不利索了还抽烟,那不是找死吗?"

"Mẹ nó chứ, hút thuốc thì phải xem là lúc nào đã!

Nếu là sau một đêm quần nhau bảy lần, lúc nghỉ ngơi không chỉ hút thuốc, mà còn phải quất mấy bát canh ngẩu pín nữa để bồi bổ mới được.

Nhưng nếu bị trúng độc ở đây, đến thở còn không ra hơi nữa là hút thuốc, làm thế để chết à?"

我点头,这和我想的一样胖子接着道:"你问这个做什么?"

Tôi gật đầu, Bàn Tử liền hỏi tiếp giống y như tôi đã nghĩ: "Cậu hỏi cái này làm gì?"

我给胖子说了一下我的想法。胖子道:"咳。我告诉你,纵观这里所有的地方,最佳的抽烟地点应该是那边的台阶。那里视野比较开阔,而且能坐着抽烟而在这儿,要么是蹲在墙根,要么就只能是站着。多憋屈啊!所以这个位置肯定是有讲究的。我和你说,很像一种情况......像是......等女人上厕所!"

Tôi kể lại một lượt suy nghĩ của mình cho Bàn Tử nghe.

Bàn Tử nói: "Chậc, tôi nói cậu hay, nhìn hết chỗ này một lượt xem, nơi hút thuốc tốt nhất chính là chỗ bậc thang kia kìa.

Nơi đó có tầm nhìn rộng mở, hơn nữa, còn có thể ngồi mà hút thuốc.

Chứ ở chỗ này, hoặc là phải ngồi xổm dưới chân tường, hoặc là phải đứng, bực cả mình!

Cho nên, vị trí này chắc chắn là có ý nghĩa gì đó.

Tôi bảo cậu nhé, cái này rất giống một trường hợp...

đó là... chờ phụ nữ đi vệ sinh!"

"什么上厕所?"我奇怪:胖子说道:"没谈过恋爱吧?我告诉你。女人特别麻烦,她们上个厕所的时间。够男人打三圈麻将了。所以。要是几个朋友一起逛街,女人们都去上厕所了,那么这些女人的男人肯定得立即找一个地方抽烟,一般就是待在厕所的墙根旁;你可以想象一个场景——夜风瑟瑟,几个男人抽着烟。缩着肩膀,互相苦笑,聊聊自己"正想聊的事情等他们走后,哪里的场景就和这儿的情况一模一样了。"

"Cái gì mà đi vệ sinh?"

Tôi lấy làm lạ hỏi.

Bàn Tử nói: "Chưa có bạn gái bao giờ à?

Tôi nói cậu hay, phụ nữ phiền phức cực kỳ, mỗi lần các cô vào nhà vệ sinh là đủ thời gian cho cánh đàn ông tụi mình quất liền ba ván mạt chược lận.

Cho nên, nếu có một đám bạn bè cùng nhau đi chơi, cánh phụ nữ vào nhà vệ sinh, thì trong lúc đó, đám đàn ông của các cô thế nào cũng sẽ kéo nhau tìm một chỗ mà hút thuốc, thường là ở chân tường gần nhà vệ sinh ấy.

Cậu có thể tưởng tượng thế này – gió đêm hiu hắt, mấy thằng đàn ông đứng ngồi hút thuốc, hai vai co rúm lại, cùng nhau cười khổ, tâm sự những chuyện mà mình thực sự muốn tán gẫu.

Đến khi bọn họ đi rồi, thì tàn tích của chỗ đó sẽ giống y như thế này này."

我挠了挠头,无法理解道:"你的意思是说,那是因为霍老太和队伍里的姑娘们突然想去厕所了,所以男人们都要回避?"

Tôi gãi đầu gãi tai, chẳng hiểu gì cả: "Ý anh là, đó là bởi cánh phụ nữ trong đội và Hoắc lão thái đột nhiên muốn đi vệ sinh, cho nên đám đàn ông phải lánh mặt đi?"

"我看这里的烟头数量。好像又不太对;霍老太总不会上个厕所还要兼顾补补妆吧?"胖子道,"我觉得是和上厕所的性质差不多,但是做这事花费的时间要比上厕所长很多不过就我判断,这件事不应该是受伤了要脱衣服抢救之类的。如果要抢救那肯定谁也顾不上了,也没有什么礼仪不礼仪的了,男人根本不需要回避所以,我觉得最大的可能是——女人换衣服"

"Tôi xem số lượng tàn thuốc nơi này thì thấy cũng không đúng lắm.

Chẳng lẽ Hoắc lão thái đi vệ sinh xong còn phải đắp lại lớp trang điểm à?"

Bàn Tử nói, "Tôi cảm thấy tính chất tương tự với đi vệ sinh thôi, nhưng xem ra cái việc này còn tốn thời gian hơn đi vệ sinh nhiều.

Nhưng mà tôi đoán, việc này không phải là bị thương phải cởi quần áo cấp cứu gì gì đó đâu.

Nếu là cấp cứu thì chắc chắn là ai cũng quýnh cả lên rồi, làm gì để ý cái gì mà lễ nghi hay không lễ nghi, tụi đàn ông chẳng cần phải tránh mặt gì hết.

Cho nên, tôi cảm thấy khả năng lớn nhất là... cánh phụ nữ thay quần áo."

"换衣服?为什么要突然换衣服,又不是什么晚宴,还有前场礼服和后场礼服之分?"

"Thay quần áo?

Sao đột nhiên lại thay quần áo?

Có phải dạ tiệc gì đâu, mà còn phải phân biệt lễ phục trước và sau chứ?"

胖子想了想。忽然就肴向护棺河看向护棺河:"湿了,他们的衣服湿了!他们是从水里出来的!"

Bàn Tử suy nghĩ một chút, bỗng nhìn về phía con sông hộ quan: "Ướt, quần áo của họ bị ướt!

Bọn họ vừa ra khỏi nước!"
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 61: Thông Đạo Ở Trong Nước


我立马跳进水里,水其实只到腰部,我在水里慢慢地摸着,很快就摸到了护棺河的边缘墙壁上确实有一个洞口。

Tôi lập tức nhảy tùm xuống nước.

Thực ra nước chỉ ngập đến eo tôi, tôi từ tốn lần mò trong nước, chẳng mấy đã mò được một cửa hang thực, nằm ở trên vách tường sát mép con sông hộ quan.

在水底有一具已经被泡烂的尸体,使得水的味道相当难闻。我用手电照着洞口四周,摸几下洞口边缘的墙壁就忙用手电照一照那尸体的位置,生怕尸体漂到我这里来。

Dưới nước có một cái xác đã nát bấy, khiến nước có mùi rất khó ngửi.

Tôi cầm đèn pin soi quanh miệng hang, mò mẫm vách tường bên mép hang một lúc rồi vội vàng cầm đèn pin chiếu về phía thi thể đang nổi lềnh bềnh kia, chỉ sợ cái xác ấy lại trôi đến chỗ tôi.

胖子也下来帮忙,他摸到洞口后,站起来对我说:"没错了,他们是从这个洞里出来的。看来,这里的结构,大体上和西沙那里很相似。"

Bàn Tử cũng lội xuống giúp đỡ.

Anh ta mò đến chỗ cửa hang, rồi đứng lên nói với tôi: "Chuẩn rồi, bọn họ đi ra ngoài từ hang động này.

Xem ra kết cấu ở đây, về mặt nguyên tắc thì rất giống chỗ ngôi mộ dưới đáy biển ấy."

所有的技术似乎都来自于汪藏海,看样子张家和汪藏海还是有相当多的联系的,他们之间有着很多技术和知识的传承。

Dường như mọi kỹ thuật đến bắt nguồn từ Uông Tàng Hải, xem ra Trương gia và Uông Tàng Hải có rất nhiều đầu dây mối nhợ dính nhằng với nhau đây.

Giữa bọn họ có sự chuyển giao và tiếp nhận rất nhiều kỹ thuật và kiến thức.

胖子潜到水底,在水里摸了半天,探入了那个洞里。我看着手电光一点一点地深入,之后又慢慢地退了出来。

Bàn Tử lặn xuống nước, dò dẫm suốt một lúc lâu ở dưới ấy, rồi thử thò đầu vào trong hang động kia thám thính.

Tôi thấy ánh đèn pin chui dần vào trong, rồi lại từ từ lùi ra.

"里面很宽敞,往前几米就有去往上面的台阶了!"胖子浮出水面道,"但是我估计是一条水路,不知道前路情况如何,但是要想出去可能只有在此一试了。"

"Bên trong rất rộng, tiến vào trong khoảng mấy mét thì có bậc thang đi lên!"

Bàn Tử ngoi lên khỏi mặt nước, nói: "Nhưng tôi đoán là cả một đoạn đường dưới nước đấy, không biết quãng đường phía trước như thế nào, nhưng nếu muốn ra ngoài thì chỉ có thể thử một lần thôi."

我稍微有些安下心来。

Tôi hơi hơi an tâm.

我俩爬出护棺河,按原路返回,准备背着闷油瓶再次过来。

Hai chúng tôi trèo lên khỏi con sông hộ quan, đi theo đường cũ quay về, chuẩn bị cõng Muộn Du Bình quay lại.

但是,上去后我刚把闷油瓶背起,才走了几步,就觉得有些不太对劲了一我的喉咙真是不太舒服。

Tuy nhiên, ngay sau khi tôi vừa cõng Muộn Du Bình lên lưng, vừa bước được mấy bước, lại cảm thấy có gì đó không ổn – cổ họng tôi có cảm giác rất không thoải mái.

胖子的呼吸系统看来已经受伤了,他的不适显然比我更甚,他才走了几步,就立即捂住口鼻,表情痛苦地扭曲起来。

Hệ hô hấp của Bàn Tử đã bị thương rồi, anh ta còn khó chịu hơn cả tôi.

Mới đi được mấy bước, anh ta đã vội bịt mũi miệng, vẻ mặt rất đau đớn.

我觉得很奇怪,我俩怎么会出现这种情况?

Tôi lấy làm lạ, tại sao hai chúng tôi lại gặp phải tình trạng này.

胖子的脸色已经铁青了,他忽然做了一个让我别动的手势,然后扭头向到这里来的密道口跑去。一路过去。他几乎是连滚带爬地在跑

Sắc mặt Bàn Tử đã xanh mét, bỗng nhiên anh ta giơ tay ra hiệu tôi đừng cử động, rồi sau đó nghiêng đầu chạy một mạch vào trong mật đạo.

Nói là chạy, mà anh ta gần như là vừa lăn vừa trèo vừa chạy.

我放下了闷油瓶,也跟着跑了过去,结果还没到进来时的密道口处。我们就看到有一团浓雾飘了进来。在这个地方只要呼吸一口。就感觉到剧烈的灼烧痛苦,一路从鼻腔烧到了肺里。

Tôi thả Muộn Du Bình xuống, cũng chạy theo, kết quả còn chưa chui được qua lối vào mật đạo, chúng tôi đã thấy một làn sương mù dày đặc bồng bềnh trôi xuống.

Ở chỗ này, chỉ cần hít một hơi, là cảm thấy cả một quãng từ lỗ mũi đến phổi đau rát như bị thiêu cháy.

"我靠。机关启动了?"我大惊失色。

"Mẹ kiếp, cơ quan khởi động rồi?"

Tôi cực kỳ khiếp hãi.

胖子在旁边拼命地点头:"快走!"

Bàn Tử bên cạnh ra sức gật đầu: "Chạy mau!"

我们连滚带爬地往回跑,我心说,狗日的,太阴了,竟然连一点动静都没有,这机关就这么悄无声息地启动了。

Chúng tôi lại vừa lăn vừa bò vừa chạy trở về, tôi nghĩ thầm, tiên sư cha nhà nó thật là nham hiểm, cái cơ quan này cứ thế lẳng lặng khởi động, thậm chí còn không có lấy một chút động tĩnh nào.

跑到闷油瓶待的地方,我背起他,胖子抄起放下的背包。然后我们继续不顾一切地向护棺河那边跑。

Chạy đến chỗ Muộn Du Bình, tôi cõng hắn lên, Bàn Tử nhặt cái ba lô vừa đặt xuống lúc nãy, sau đó chúng tôi bất chấp hết cắm đầu cắm cổ chạy một mạch về phía con sông hộ quan kia.

到了河边,我们毫不犹豫地跳了下去。接着迅速找到洞口,一路潜水向里,不到十米,胖子拉着我的手臂,我背着闷油瓶一边向上浮一边往前狂摸,很快就发现前面果然是有台阶的。我们踩着台阶一步步向上走,很快就完全浮出了水面。

Đến bờ sông, chúng tôi không chút do dự, nhảy tùm xuống.

Sau đó vội vàng mò đến chỗ cửa hang kia, lặn xuống nước, chui vào trong, chưa đến mười mét, Bàn Tử kéo tay tôi, tôi cõng Muộn Du Bình vừa cố ngoi lên vừa điên cuồng mò mẫm, chẳng mấy liền phát hiện quả nhiên có bậc thang ở trước mặt.

Chúng tôi giẫm lên từng nấc thang mà trèo lên, chẳng bao lâu sau liền nổi lên khỏi mặt nước hẳn.

我们用手电四处一照,发现这里是一条通道,通道的积水只到膝盖位置。而顺着这条通道一路往前看。大概有七八米远就能到达洞口了。

Chúng tôi cầm đèn pin chiếu khắp nơi, phát hiện nơi này là một lối đi, nước đọng trong này ngập đến đầu gối, mà đi men theo lối này thẳng về phía trước chừng bảy tám mét là đến một cửa hang.

是那个全是水潭的毒气洞吗?如果是的话,总算是冇惊无险地出来了。没想到这一次还挺顺利,如果真这么出去了。我肯定要好好地找个神仙表示一下。

Liệu có phải là cái hang khí độc toàn là đầm nước kia chăng?

Nếu quả đúng là nó, thì xem như có thể thoát khỏi đây mà không gặp nguy hiểm lớn gì rồi.

Không ngờ lần này lại thuận buồm xuôi gió đến thế, nếu có thể ra ngoài thực, chắc chắn tôi phải tìm một ông thần phật nào đó bày tỏ lòng thành một chút.

我心中狂喜,一路趟水冲了过去,胖子跑在我的前面。刚到那个洞口,胖子却立即停住了,我整个人掩在了他的熊背上,还没反应过来,胖子已开始往后退了。

Trong lòng tôi mừng rỡ như điên, cứ thế lội nước mà xông tới, Bàn Tử chạy ngay phía trước tôi.

Vừa mới bước qua cửa hang kia, bước chân Bàn Tử lập tức khựng lại, cả người tôi va phải tấm lưng gấu to tướng của anh ta.

Còn chưa kịp phản ứng gì, Bàn Tử đã bắt đầu giật lùi về phía sau.

"搞什么?"我问道。胖子就道:"奶奶的,这事情麻烦了,咱们仨凶多吉少了。"

"Làm gì đấy?"

Tôi hỏi.

Bàn Tử nói: "Con mụ nội nhà nó, phiền phức rồi, phen này ba đứa tụi mình lành ít dữ nhiều."

我从胖子的肩膀上方往前看去。就看到前面的洞口处,出现了非常奇怪的东西一我看到好多丝线一样的东西横挂在前面通道内。丝线上面挂着好多果实一样的东西。

Tôi nghển cổ nhìn về phía trước qua bả vai của Bàn Tử, liền thấy một cảnh tượng vô cùng kỳ quái xuất hiện ở bên ngoài cửa hang trước mặt: tôi nhìn thấy một lối đi có chăng đầy những thứ gì nom như sợi tơ, trên những sợi tơ này còn treo lủng lẳng vô số thứ gì đó trông như là trái cây vậy.

我怎么来形容这个洞穴的结构呢,它实在是太难形容了。

Làm sao để hình dung được kết cấu của hang động này bây giờ.

Thực sự quá khó để miêu tả.

这是一个基本呈圆形的洞穴。洞穴的底部有一个深度到我们脚踝的水潭,能看到有一条用铁链修筑的独木桥,在水下一直通到对面,对面也有一个洞口。然后,在洞穴口的地方,横亘着无数的不知道是铁丝还是其他材质的丝线状的东西,密集得好像盘丝洞一样在这些丝线上,我之前看到的那些果实一样的东西,是一种我早就见过而且有点闻风丧胆的东西一六角铃钤。我看到了无数的六角铃铛挂在上面,难道胖子说我们凶多吉少指的就是这个?只要有一根丝线被牵动,这里所有的六角铃铛就都会响起来。如果是这样,情形将完全不受我们控制,根本不知道会出什么事情,我倒吸了一口冷气,心说,闷油瓶他们是怎么过来的?不过,我判断当时所有人的情况都很糟糕,闷油瓶如果一个一个地背他们过来,以他的身手和定力,还是有可能的

Đây là một hang động hình tròn cơ bản, đáy hang là một đầm nước ngập đến mắt cá chân chúng tôi.

Có thể thấy ở giữa có một cây cầu khỉ bắc bằng xích sắt, kéo dài đến tít phía xa trước mặt, ở phía đó có một cửa hang.

Nhưng ở giữa hang lại có vô số sợi tơ gì đó không biết là dây sắt hay là chất liệu khác giăng ngang chằng chịt, nom cứ như là cái Động Bàn Tơ vậy.

Trên những sợi dây này lại treo vô số thứ gì trông như trái cây, nhưng thực ra là một món đồ tôi đã từng gặp trước kia mà mỗi lần nghe về nó đều sợ mất mật – chuông đồng lục giác.

Tôi nhìn thấy cơ man là chuông đồng lục giác treo chi chít đầy trên các sợi dây, chẳng lẽ Bàn Tử nói lành ít dữ nhiều chính là chỉ cái này?

Chỉ cần vô tình động phải một sợi tơ, tất cả số chuông đồng lục giác ở đây sẽ đồng loạt vang lên.

Nếu thế, chúng tôi sẽ hoàn toàn không thể khống chế được tình hình nữa, không biết sẽ xảy ra chuyện gì.

Tôi rùng mình ớn lạnh, nghĩ thầm, không biết nhóm Muộn Du Bình đã vượt qua nơi này như thế nào?

Có điều, tôi đoán lúc ấy tình huống của mọi người đã rất tệ, nếu Muộn Du Bình cứ cõng từng người một đi qua, với thân thủ và định lực của hắn thì cũng có khả năng lắm.

"这是防盗系统啊"胖子道他指了指洞壁上一些雕着龙嘴的口子,"张家人通过这里的时候,肯定会通过这些口子往这里灌水,把铃铛全部淹掉,然后自己潜水过来。"

"Hệ thống chống trộm đây mà."

Bàn Tử nói.

Anh ta chỉ lên trên vách hang, ở đó có mấy cái lỗ, được trang trí bằng phù điêu miệng rồng, "Mỗi khi người Trương gia đi qua đây, ắt hẳn họ sẽ đổ nước ngập đầy hết số chuông này thông qua các lỗ kia, sau đó lặn xuống mà qua."

我们显然不可能去启动机关了,我往丝线的上头看了看,如果能从洞穴的顶部过去,也行。不过正看着,我就发现头顶上也有大量的铃铛。

Hiển nhiên, chúng tôi không thể đi khởi động cơ quan được nữa.

Tôi ngẩng lên nhìn phía trên các sợi tơ, nếu có thể trèo qua đường trần hang thì cũng được.

Nhưng đến khi nhìn lên, mới thấy trên trần hang cũng treo đầy chuông đồng.

"从水下走?"我问胖子道。胖子摇头:"你看,这个洞穴宽有三十米左右,但是只有半个巴掌深,我们不可能从水下潜过去。除非咱们能变成蟑螂"

"Hay chui xuống dưới nước?"

Tôi hỏi Bàn Tử.

Bàn Tử lắc đầu: "Cậu xem, cái hang này rộng khoảng ba mươi mét, nhưng mực nước này lại chỉ sâu có nửa bàn tay, chúng ta làm sao mà lặn qua được.

Trừ phi tụi mình biến thành gián hết."

"变成王八也行。"我道:

"Biến thành rùa cũng được."

Tôi nói.

胖子就道:"不过,咱们至少现在暂时安全了,先别急,休息一下,总能想出办法来的。"

Bàn Tử liền bảo: "Có điều bây giờ tụi mình vẫn tạm thời an toàn.

Đừng nóng vội, nghỉ ngơi một chút, thế nào cũng nghĩ ra cách."

我往地上一坐,心说这一路上,有个能安心休息的地方也真他妈不容易,然后就去看小哥。我看到小哥的眼睛睁了一下,我对他道:"我们已经出来了,你放心,很快我们就安全了。"闷油瓶非常虚弱,他立即又闭上了眼睛,我就道:"你好好休息:"说完就看到闷油瓶的嘴巴动了动。

Tôi ngồi phịch xuống đất, nghĩ thầm, trên con đường này mà được một chỗ có thể yên tâm nghỉ ngơi thực chẳng dễ dàng tẹo nào, sau đó tôi đi xem Tiểu Ca.

Tôi thấy Tiểu Ca hơi chớp chớp mắt một chút, tôi liền nói: "Chúng ta đã ra ngoài rồi, anh yên tâm, chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ an toàn thôi."

Muộn Du Bình rất yếu ớt, hắn lập tức nhắm nghiền hai mắt lại, tôi nói: "Anh cứ nghỉ ngơi đi cho khỏe."

Nói xong, tôi liền thấy đôi môi Muộn Du Bình mấp máy.

我觉得他好像在说什么,等了等,果然他的嘴巴又动了动:我确定他是想说话,就把耳朵凑了过去听,听到他在说:"酷爱舟。"

Tôi cảm thấy hắn ta như thể đang nói điều gì.

Chờ một lúc, quả nhiên môi hắn lại giật giật lần nữa.

Tôi đã chắc chắn là hắn muốn nói chuyện, bèn áp sát tai lại gần để nghe, mới nghe thấy hắn nói: "Cha ai mao."

酷爱舟是什么意思?是什么电脑的品牌吗?我就道:"好,乖,我们出去就给你买。"胖子转头,他已经有点恍惚了,问道:"买什么?"

Cha ai mao là cái gì?

Một thương hiệu sản phẩm máy tính nào à?

Tôi liền bảo: "Được rồi, ngoan, ra ngoài rồi bọn tôi mua cho."

Bàn Tử quay đầu lại, anh ta đã hơi hoảng rồi, hỏi: "Mua cái gì cơ?"

我让胖子去听,胖子听了听,就皱眉道:"不对,小哥让我们快煮粥。他想喝粥"

Tôi kể cho Bàn Tử nghe.

Bàn Tử bèn lắng nghe, rồi cau mày nói: "Không phải, Tiểu Ca bảo chúng ta nấu cháo, cậu ta muốn ăn cháo đấy."

喝粥,我心说小哥什么时候这么不靠谱啊。胖子突然一拍大腿,"什么喝粥,小哥让我们快走!"

Sao lại ăn cháo, Tiểu Ca trở nên nhảm nhí như vậy từ bao giờ?

Bàn Tử bỗng nhiên vỗ đùi cái đét, "Cái gì mà ăn cháo, Tiểu Ca bảo chúng ta chạy mau!"

"快走?快走是什么意思,难道这里也会有危险?"我道。

"Chạy mau?

Chạy mau là sao?

Chẳng lẽ ở đây cũng có nguy hiểm?"

Tôi nói.

胖子看了看四周黑暗的通道,就往回走了几步,刚走几步他就大骂起来:"我操,快走!"

Bàn Tử dòm vào trong lối đi tối om om, liền thử quay về mấy bước, vừa mới đi được vài bước anh ta đã gào ầm lên: "Cái con mẹ nó, chạy mau!"

"怎么了?"

"Làm sao?"

"雾气!"我也探过去看了一眼,就看到来时的通道里,墙壁上有两个小孔,正在冒着白色的强碱雾气,好像有生命一样。在空中慢慢地弥漫开来,雾气非常浓。

"Sương mù!"

Tôi cũng thò đầu vào nhìn thử, liền thấy trên vách tường bên trong lối đi có hai cái lỗ nhỏ, sương mù kiềm mạnh màu trắng đang rỉ ra từ đó.

Sương mù cứ dần dần lan tràn khắp không trung, cứ như là có sinh mệnh vậy, ngày càng dày đặc.

这里的毒气杀虫系统看样子是没死角的,所有的通道都会进人毒气!

Hệ thống khí độc giết sâu bọ ở đây đúng là không có góc chết tí nào, tất cả mọi lối đi đều sẽ bị bơm đầy khí độc!
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 62: Sương Mù Dày Đặc


我立即背起小哥。胖子已经对毒气有反应了,一阵狂咳,血都从鼻孔里喷出来了。我们根本顾不上这些,一路冲到进洞的地方,胖子又停住了。他还是不敢进去。

Tôi lập tức cõng Tiểu Ca lên vai, Bàn Tử đã bắt đầu phản ứng với khí độc, ho càng nặng, đến nỗi máu mũi phun ra khỏi lỗ mũi.

Chúng tôi không rảnh để ý đến được, chỉ biết cắm đầu chạy thẳng vào trong hang, rồi Bàn Tử lại khựng lại.

Anh ta vẫn không dám đi vào.

同时我看到,在那个洞穴里,本来雕着龙口的地方,竞然也在往外冒着雾气。洞穴的上方已经有一层雾气正在缓缓地往下降落,好像来自地狱的炊烟,里面就是另外一个世界。

Cùng lúc đó, tôi nhìn thấy trong hang động kia, sương mù trăng trắng cũng bắt đầu phun ra khỏi những phù điêu hình miệng rồng.

Phía trên hang động đã kết một lớp sương mù, đang từ từ hạ xuống, nó giống như một thứ khói bếp đến từ địa ngục vậy, bên trong nó là cả một thế giới khác.

"死定了死定了死定了。"胖子急得直跳脚,"我靠,天真你他妈赶快冲着我脑门儿来一枪,我可不想变成鬼影那样子。"

"Chết chắc rồi chết chắc rồi chết chắc rồi."

Bàn Tử cuống quít đến nỗi nhảy tưng tưng liên tục không ngừng, "Mẹ nó chứ, Thiên Chân cậu nã cho tôi ngay một phát súng vào giữa trán luôn mẹ nó đi, tôi không muốn biến thành cái bộ dạng giống như bóng ma kia."

"你死了谁来弄死我?"我骂道,胖子道:"没事,你对着自己的嘴巴来一枪就行了。放心吧,一点儿痛苦也不会有。"

"Anh chết rồi thì ai giết tôi bây giờ?"

Tôi mắng, Bàn Tử nói: "Không sao, cậu cứ nhét nòng súng vào mồm mình rồi bóp cò là được.

Yên tâm đi, không đau đớn tí nào đâu."

"要么你来?"我叫道,"这种事情你怎么都找我。"

"Hay là anh làm đi?"

Tôi kêu lên, "Loại chuyện này sao lại kêu tôi làm chứ."

"老子他妈的是基督徒,不能自杀。"

"Con mẹ nó, ông đây là tín đồ Cơ Đốc, không được tự sát."

"你什么时候信奉基督了?"我道。胖子就道:"刚才我已经向上帝祈祷过了。"

"Anh theo Công giáo từ lúc mẹ nào thế?"

Tôi nói.

Bàn Tử liền đáp: "Mới nãy vừa cầu nguyện với Chúa trời đấy."

我看着前面无数的六角钤铛,就对胖子道:"搏一搏,也许还有一线生机。在这里必死无疑。要死也死在六角铃铛手里吧。疯了不痛苦,死就死了,比活活烂死好。"

Tôi nhìn vô số chuông đồng lục giác trước mặt, liền nói với Bàn Tử: "Cứ liều đi, biết đâu còn có một cơ hội sống.

Chứ cứ đứng đây thì chết chắc khỏi bàn cãi, có chết thì cũng chết trong tay đám chuông đồng lục giác kia đi.

Điên rồi thì không biết đau nữa, chết thì chết, còn hơn là sống mà nát bét thế kia."

胖子一咬牙,一下就钻了出去,我紧随其后,两个人开始小心翼翼地在独木桥上往前面走去。

Bàn Tử nghiến răng, rồi tiến bước ngay.

Tôi theo sát ngay phía sau, hai chúng tôi bắt đầu rón ra rón rén bước chân lên cây cầu độc mộc.

情况非常混乱,胖子竟然比我镇定,迅速地连续绕过了好几条丝线,没有触动一个铃铛。我跟在后面,跟着他的动作,竞然也绕了过去。在那一霎,我感觉自己的动作行云流水,竞然有了一丝虚假的信心。觉得有门儿。

Tình hình lúc này hết sức rối ren, nhưng Bàn Tử bình tĩnh hơn tôi, nhanh chóng né qua đến mấy sợi tơ liền, không chạm đến một cái chuông nào.

Tôi bước theo phía sau, bắt chước động tác của anh ta, cũng né qua.

Trong một thoáng chốc đó, tôi có cảm giác động tác của mình thật là lưu loát uyển chuyển, thế là dâng lên một chút lòng tin giả tạo, cảm thấy có cửa sống rồi.

说不定胖子信了基督之后,真的能被保佑一次。我们一路过来各种倒霉,难道所有的运气。都是在为这里准备着的?那老天爷简直太睿智了,哈利路亚阿弥陀佛。我一定会报答你们的!

Có khi là do Bàn Tử tin vào Thiên Chúa nên mới được phù hộ một lần đấy.

Suốt chặng đường tới đây chúng tôi gặp toàn xui xẻo, chẳng lẽ tất cả mọi may mắn đều dồn hết cả cho chặng đường này?

Thế thì lão Thiên gia trên cao kia thật là cơ trí, Hallelujah A Di Đà Phật, tôi nhất định sẽ báo đáp các ngài!

才想着,胖子哎呀一声,整个人从独木桥上滑了下去,他勉强控制住身体。但是他的手还是碰到了一根丝线。就看到一丝非常轻微的震动在丝线上开始传动,其中最近的一只铃铛,已经抖动了起来。

Vừa mới nghĩ đến đó, Bàn Tử kêu ui da một tiếng, cả người loạng choạng suýt ngã lộn khỏi cây cầu độc mộc, may mà anh ta miễn cưỡng thăng bằng được cơ thể, nhưng tay vẫn gạt phải một sợi tơ.

Liền đó, tôi nhìn thấy một chút rung động nhè nhẹ bắt đầu lan truyền trên sợi tơ, một cái chuông gần nhất sắp sửa rung lên.

瞬间就看到小哥的手从我嘴边伸了过来,两根奇长的手指以非常快的速度,非常稳地夹住了那只铃铛。

Trong chớp mắt đó, tay Tiểu Ca vươn ra sượt qua mép tôi, hai ngón tay dài kỳ quái đó lập tức kẹp chặt lấy chiếc chuông kia với tốc độ cực nhanh.

丝线瞬间稳定了下来。我一头冷汗。小哥慢慢地放手,低声说道:"继续,不要停。"

Sợi tơ được giữ ổn định lại ngay lập tức, toàn thân tôi toát hết cả mồ hôi lạnh.

Tiểu Ca từ từ buông tay ra, thấp giọng nói: "Tiếp tục, đừng có dừng."

"小哥,你到底有没有事啊,有没有昏迷啊?"胖子道,"老子压力太大了,你要没事就你来开道啊,我们真搞不定。"

"Tiểu Ca, rốt cuộc cậu có làm sao không, có phải đang hôn mê không đấy?"

Bàn Tử nói, "Ông đây áp lực lớn quá, cậu có muốn đi trước mở đường không, tụi này thực sự không giải quyết được vụ này rồi."

但闷油瓶没有任何反应,胖子大骂。我就道:"继续!"

Nhưng Muộn Du Bình không có bất kỳ phản ứng nào cả.

Bàn Tử chửi thề.

Tôi liền gắt: "Tiếp tục."

胖子骂道:"怎么继续啊,你探头过来看看前面是什么情况。"我绕过胖子的脸往前面看。就看到在胖子前面的丝线,是一张无比复杂的网。以胖子的体形,要从网中间的缝隙穿过去。需要极其夸张的身体控制能力。

Bàn Tử mắng: "Tiếp tục thế đếch nào đây, cậu thò đầu ra xem phía trước đi!"

Tôi rướn cổ vòng qua người Bàn Tử, nhìn về phía trước, mới thấy trước mặt Bàn Tử là cả một tấm lưới tơ đàn cài vô cùng phức tạp.

Với hình thể của Bàn Tử, muốn chui qua khỏi khe hở giữa tấm lưới phải đòi hỏi khả năng khống chế cơ thể cực kỳ khủng khiếp.

"相信自己,你行的!"我鼓励胖子道。胖子忽然展开双手,做了一个仙鹤亮翅的动作。喝了一声:"咿呀!"然后忽然往前一冲,腾空而起,竟然从网中间那个最大的空隙中钻了过去,接着一个大马趴摔进水里。

"Tin vào bản thân mình, anh làm được!"

Tôi cổ vũ Bàn Tử.

Bàn Tử bỗng nhiên giang hai tay ra, tạo thành thế tiên hạc giương cánh, gào lên một tiếng: "Hây da!"

Sau đó đột ngột nhào về phía trước, nhảy lên, bay xuyên qua cái khe hở to nhất giữa tấm lưới, sau đó té xuống đầm nước trong tư thế sấp mặt.

我目瞪口呆。

Tôi trợn cả mắt, há hốc cả mồm.

胖子摸了一把脸上的水,就对我道:"相信自己,你行的!"

Bàn Tử lau nước trên mặt, rồi nói với tôi: "Tin vào bản thân mình, cậu làm được!"

我看着胖子,忽然觉得自己真的非常失败。狗日的。这胖子果然是深藏不露:虽然平时不靠谱。但关键时刻还真不掉链子。可我这怎么弄法?不说我背着小哥,就算我没背着小哥。我也不可能咿呀一声跳过去啊

Tôi nhìn Bàn Tử, bỗng nhiên cảm thấy bản thân mình thật thất bại vô cùng.

Mẹ kiếp, tay Bàn Tử này quả nhiên là thâm tàng bất lộ.

Tuy lúc bình thường chẳng đáng nhờ cậy tí nào, nhưng vào thời khắc quan trọng thì rõ là trơn tru.

Nhưng tôi thì sao có thể?

Đừng nói tôi đang cõng Tiểu Ca, cho dù không cõng Tiểu Ca, tôi cũng không thể chỉ "hây da" một tiếng là nhảy qua được.

果然,胖不胖不是评判任何问题的标准。我在那网面前愣了很久。胖子看着头顶,急道:"快点,雾气下来了。"

Quả nhiên, béo hay gầy không phải là tiêu chuẩn để phát xét bất cứ vấn đề gì.

Tôi đứng sững người trước tấm lưới đó một lúc lâu, Bàn Tử ngước lên nhìn, vội la lên: "Nhanh lên nào, sương mù xuống rồi."

我抬头看,雾气还在上面大概六七米的地方。胖子已经捂住了嘴巴,我也觉得剧烈的灼烧感开始从鼻腔直往下冲。

Tôi ngẩng đầu lên nhìn, thấy lớp sương mù còn đang ở khoảng sáu bảy mét phía trên, nhưng Bàn Tử đã vội bịt mũi miệng, tôi cũng cảm thấy cơn đau cháy rát bắt đầu từ lỗ mũi của mình lan thẳng xuống dưới.

"先把小哥带出去。"我忽然镇定了下来,一边对胖子说,一边把小哥从背上翻了下来,然后用公主抱将小哥抱了起来,把小哥的头伸入了网中间的空隙里。胖子在那边也用同样的动作,一点一点把小哥接了过去。

"Đưa Tiểu Ca ra ngoài trước đã."

Tôi bỗng nhiên bình tĩnh lại, nói với Bàn Tử, vừa nói vừa thả Tiểu Ca xuống khỏi lưng.

Sau đó bế thốc Tiểu Ca lên theo kiểu bế công chúa, sau đó đưa đầu Tiểu Ca chui qua khe hở giữa tấm lưới kia.

Bàn Tử ở đầu bên kia cũng động tác y như thế, đỡ lấy Tiểu Ca từng chút từng chút một.

小哥的体重加上我的紧张,使得我浑身出了大量的虚汗。等把小哥顺过去,由胖子背到肩膀上,我就对胖子说道:"前面的路线好走,你先走。"

Sức nặng của Tiểu Ca cộng thêm sự căng thẳng của tôi khiến toàn thân tôi ướt đẫm mồ hôi.

Đến khi đưa Tiểu Ca sang bên kia rồi, Bàn Tử đã cõng trên vai, tôi mới nói với Bàn Tử: "Đoạn đường phía trước dễ đi, anh cứ đi trước."

"你呢?"胖子问道。

"Còn cậu?"

Bàn Tử hỏi.

我做个仙鹤亮翅的动作,道:"这玩意儿我没信心,你别琢磨了。前面的路比较好走,你往前走,先出去,不要管我。等你们都过去了,我再过去。"

Tôi làm động tác tiên hạc giương cánh, nói: "Cái thứ của nợ này tôi không tự tin lắm, anh đừng suy nghĩ gì nữa.

Đoạn đường phía trước khá dễ đi, anh cứ đi đi, ra ngoài trước, mặc kệ tôi.

Hai người đi qua rồi tôi sẽ qua."

我说的时候。一点儿也不觉得自己有多英勇,只是觉得这本身就是最合算的方式。

Trong lúc nói những lời này, tôi chẳng hề cảm thấy mình có tí anh dũng nào, chẳng qua chỉ nghĩ rằng đây chính là cách tốt nhất mà thôi.

胖子拍了拍我,看了我一眼,还是没动。我对胖子道:"你他妈还在等什么?gdbyekiss吗?快走!"胖子这才转头离开。

Bàn Tử vỗ tôi, liếc tôi một cái, tôi vẫn không động.

Tôi nói với Bàn Tử: "Anh còn chờ cái mẹ gì nữa?

Goodbye kiss à?

Đi đi!"

Lúc này, Bàn Tử mới quay đầu chạy đi.

我蹲下来,看着胖子的手电光在前面不停地闪烁腾挪,胖子的身手真是相当好,竞然真的就没有触动任何的东西,很快就消失在远处的出口。胖子在出口处停了一下,对我道:"我们一直往前,你别犹豫了。要是二十分钟内你还没赶上来。我就给你烧纸。"

Tôi ngồi xổm xuống, nhìn ánh đèn pin của Bàn Tử phía trước không ngừng di chuyển, thực ra thân thủ Bàn Tử khá tốt, thế mà không hề chạm đến bất kỳ vật gì, loáng cái đã biến mất ở tít phía cửa ra xa xa.

Bàn Tử dừng lại một lúc ở chỗ cửa ra, nói với tôi: "Bọn tôi cứ tiếp tục tiến bước, cậu đừng có do dự nữa.

Nếu trong vòng hai mươi phút mà cậu không đuổi theo kịp, tôi sẽ đốt vàng mã cho cậu đấy."

"去你妈的!"我刚说完,胖子的手电光一下就往通道深处晃去,没有影子了。

"Cút mẹ nhà anh đi!"

Tôi vừa chửi xong, ánh đèn pin của Bàn Tử lập tức rung rung lắc lắc về phía sâu hơn, rồi mất hút.

我看了看头顶,现在只剩下我一个人,四周一片安静,雾气仍然在往下降,可速度似乎是越来越慢了。这是好事,但是鼻腔中的剧烈灼痛让我几乎无法呼吸。我拍了拍手,对自己说道:"走一个。"

Tôi ngước nhìn lên trần, bây giờ chỉ còn lại một mình tôi, bốn phía tĩnh lặng, sương mù vẫn dần dần giáng xuống, nhưng tốc độ ngày một chậm hơn.

Đây là chuyện tốt, nhưng cơn đau dữ dội trong lỗ mũi khiến tôi không tài nào hít thở được.

Tôi vỗ tay một cái, tự nhủ: "Đi thôi."

刚想跳跃,忽然就听到,从山洞的角落之中传来了一个声音。我愣了一下,那是一个人的呻吟声。我试着把手电来回地转,但发现我看不到这个人在什么地方。这个洞太大了,全是丝线,手电光不够清楚,根本找不到边缘。

Vừa định nhảy, bỗng nhiên nghe thấy từ trong một góc hang động vang lên một tiếng rên rỉ.

Tôi sửng sốt ngẩn ra, đó là tiếng rên rỉ của một người.

Tôi thử chiếu đèn pin qua, nhưng lại không thấy được người đó đang ở đâu.

Hang động này quá lớn, đâu đâu cũng toàn là tơ giăng, ánh đèn pin lại không đủ rõ, tôi không tìm được đâu là bến bờ nữa.

完了,我中毒了,这种毒气还能产生幻听吗?我心说。忽然就听到又是一声传来。我咳嗽了几声,发现唾沫中已经开始带血。就弯下腰来。忽然。洞穴壁上,也亮起了手电光。

Xong rồi, tôi trúng độc rồi, loại khí độc này còn sinh ra cả ảo thính nữa à?

Tôi nghĩ thầm.

Bỗng nhiên, tôi lại nghe thấy một tiếng động vang lên, tôi ho khan mấy tiếng, phát hiện trong số đờm tôi ho ra đã bắt đầu có máu rồi, liền khuỵu người xuống.

Bỗng nhiên, trên vách hang động cũng có một ánh đèn pin sáng bừng lên.

我转头,仔细往那里看,那里的手电暗了,有一个声音叫道:"小三爷!"

Tôi quay đầu, nhìn thật kỹ về phía đó, ở đó ánh đèn pin khá mờ tối, một giọng nói vang lên: "Tiểu Tam Gia!"

"潘子!"我惊了一下,但是没法靠过去看。对方道:"小三爷,快走。"声音相当微弱。接着,我听到了一连串的咳嗽声。

"Phan Tử!"

Tôi kinh ngạc, nhưng không sao tới gần xem anh ấy được.

Anh nói: "Tiểu Tam Gia, đi mau đi."

Giọng anh khá yếu ớt.

Sau đó, tôi nghe thấy một tràng ho khan.

"你怎么样?"我问道。"你怎么会在这儿?"

"Anh sao rồi?"

Tôi hỏi, "Sao anh lại ở đây?"

潘子在黑暗中说道:"说来话长了,小三爷,你有烟吗?"

Trong bóng tối, Phan Tử nói: "Dài dòng lắm, Tiểu Tam Gia, cậu có thuốc lá không?"

"在这儿你还抽烟,不怕肺烧穿?"我听着潘子的语气,觉得他特别地淡定,忽然起了一种非常不祥的预感

"Ở đây mà dám hút thuốc, anh không sợ đốt thủng phổi luôn à?"

Tôi nghe giọng Phan Tử, cảm thấy anh ấy cực kỳ bình tĩnh, bỗng nhiên dâng lên một dự cảm hết sức không lành.

"哈哈哈,没关系了。"潘子道,"你看不到我现在是什么样子。

"Ha ha ha, không sao cả."

Phan Tử nói, "Cậu không thấy được tôi bây giờ trông như thế nào đâu."

我心中的不祥感越来越其,道:"别磨蹭了,赶快过来。你不过来我就过去扶你。"说着,我用手电去照,隐约能照到他的样子。我就意识到为什么前几次我都看不到他

Dự cảm không lành trong tôi lại ngày càng đậm, tôi nói: "Đừng có lằng nhằng nữa, mau chạy ra đây, anh không ra được thì tôi ra dìu anh."

Nói đoạn, tôi cầm đèn pin chiếu lại, có thể nhìn thấy mang máng dáng vẻ của anh.

Bấy giờ tôi mới nhận ra vì sao mấy lần trước tôi nghe tiếng mà không nhìn thấy anh ở đâu cả.

潘子似乎是卡在了岩层中,我扩大了光圈,一下子就看到,他的身子融在岩层里,成了人影。

Phan Tử hình như đang bị kẹt ở một tầng đá núi, tôi vặn quầng sáng đèn pin lớn hơn, lập tức nhìn thấy cơ thể anh ấy đã tan ra trong đá, tạo thành một cái bóng.

潘子的咳嗽声传来,我一下坐在地上,问道:"怎么回事?小花他们呢?"

Tiếng ho khan của Phan Tử lại vang lên, tôi ngồi phịch xuống đất, hỏi: "Chuyện gì xảy ra vậy?

Còn Tiểu Hoa bọn họ đâu?"

"花儿爷应该没事,其他人都死了,那玩意儿太厉害了。我醒来的时候就在这儿了。"潘子道。

"Hoa Nhi Gia chắc không sao đâu, những người khác thì chết cả rồi, thứ của nợ kia lợi hại thật, khi tỉnh lại tôi đã như vậy rồi."

Phan Tử nói.

"你等我,我过来。我帮你砸开。"

"Anh cứ chờ đấy, tôi tới, tôi giúp anh đập đá ra."

"千万别过来。"潘子道,"小三爷。你不知道我在石头里的部分现在是什么样子。你过来也不可能救得了我,太危险了。小三爷,你有烟吗?你先把烟给我,我和你说几件事情。"

"Tuyệt đối đừng có qua đây."

Phan Tử nói, "Tiểu Tam Gia, cậu không biết phần cơ thể trong đá của tôi đã thành cái dạng gì đâu.

Cậu qua đây cũng không cứu tôi được, quá nguy hiểm.

Tiểu Tam Gia, cậu có thuốc lá không?

Cậu cứ cho tôi thuốc lá trước đã, tôi nói với cậu mấy lời này."

我看不到潘子,但是我忽然就觉得浑身的力气都没有了,我意识到这是一种什么样的气氛。

Tôi không nhìn thấy rõ Phan Tử, nhưng bỗng nhiên sức lực toàn thân tôi như bốc hơi hết, tôi ý thức được tình cảnh bây giờ là như thế nào.

我从来没有经历过这样的气氛,但是我能知道。

Tôi chưa bao giờ phải trải qua tình cảnh nào như vậy, nhưng tôi có thể nhận ra nó.

"小三爷,烟!"潘子虚弱地叫着,"我没时间了。"

"Tiểu Tam Gia, thuốc!"

Phan Tử yếu ớt kêu lên, "Tôi không còn thời gian nữa rồi."

我把烟和打火机拿了出来,问潘子道:"你在哪儿呢?"

Tôi lấy thuốc lá và bật lữa ra, hỏi Phan Tử: "Anh đang ở đâu đấy?"

那边的手电亮了起来,我找了一个丝线少一点的空当,把烟和打火机都扔了过去,我不知道潘子有没有接到,就听到潘子叫了起来:"小三爷,你就不能靠谱一次吗?你把烟先给我点上不行吗?"

Ánh đèn pin bên kia lại sáng lên, tôi tìm được chỗ trống đó, bèn ném thuốc lá và bật lửa tới.

Không biết Phan Tử có nhận được hay không nữa.

Liền nghe thấy Phan Tử kêu lên: "Tiểu Tam Gia, cậu không thể chu đáo một lần được sao?

Cậu châm thuốc trước rồi hẵng đưa tôi không được à?"

我脑中一片空白,什么话也说不出来。潘子道:"小三爷,别点烟了,你背上是不是有枪?"

Trong đầu tôi trống rỗng, không nói được lời nào.

Phan Tử nói: "Tiểu Tam Gia, đừng châm thuốc nữa, sau lưng cậu có súng không?"

"有!"我道。

"Có!"

Tôi nói.

"把枪给我。"潘子道,"小三爷,我得自己给自己来个了断。你走吧,如果有时间,我还想和你聊会儿。但是你也没时间了。你也没没工夫可怜我,等下你要是过不去,就会和我一样,你快走吧如果你能出去,记得找人搜索整片后山,花儿爷出去后,一定是在后山。"

"Đưa súng cho tôi."

Phan Tử nói, "Tiểu Tam Gia, tôi phải tự cho mình một cái kết thôi.

Cậu đi đi, giá mà có thời gian, thì tôi cũng muốn trò chuyện với cậu một chút.

Nhưng cậu cũng không còn thời gian nữa rồi.

Cậu cũng đừng mất công thương hại tôi, lát nữa nếu cậu không qua được, thì rồi cũng sẽ như tôi mà thôi, nên cậu cứ đi đi.

Nếu cậu thoát ra ngoài được, thì hãy dẫn người tìm kiếm phía sau quả núi này, Hoa Nhi Gia rời khỏi đây rồi, chắc chắn là chỉ ở sau núi thôi."

我把枪甩了过去,就听到了潘子的笑声:"得了,小三爷,好家伙,想不到临死前拿到的是这种枪,这对着脑壳打都不一定能把自己打死。"

Tôi quăng cây súng tới chỗ anh, liền nghe thấy tiếng cười của Phan Tử: "Được rồi, Tiểu Tam Gia, vũ khí tốt, không ngờ trước khi chết lại được xài loại súng này, súng này tự dí vào đầu mà bắn có khi cũng không chết được ấy chứ."

我站了起来,就听到一声枪响,接着,潘子就笑了起来:"小三爷,走吧。"

Tôi đứng lên, liền nghe thấy một tiếng súng vang, sau đó, Phan Tử cười nói: "Tiểu Tam Gia, đi đi."

"别催我,我前面的路也不那么好走,等下要是挂了,咱们在黄泉路上还能做伴。"

"Đừng có giục nữa, con đường phía trước cũng chẳng dễ đi tí nào, đợi lát nữa tèo rồi, chúng ta còn có thể làm bạn trên đường xuống suối vàng."

"小三爷,有我潘子在,还能让你受累?"随后,我就听到一声拉枪栓的声音。"小三爷,潘子我没力气说别的话了,最后再为你保驾护航一次吧,我去见三爷了,你机灵点,给我和三爷有个好的交代。"

"Tiểu Tam Gia, có Phan Tử này ở đây, sao có thể để cậu phải chịu liên lụy được?"

Sau đó, tôi lại nghe thấy tiếng lên đạn.

"Tiểu Tam Gia, Phan Tử tôi không còn hơi sức để nói những lời khác nữa, đây là chuyến hộ tống cuối cùng của tôi dành cho cậu rồi, tôi sắp đi gặp Tam Gia đây, cậu lanh lợi lên xem nào, để tôi xuống kia còn có mặt mũi ăn nói với Tam Gia chứ."

"你想干什么?"我问他。潘子道:"你往前走吧。小三爷你大胆地往前走啊,往前走,别回头。"潘子说着说着,就唱了起来,

"Anh định làm gì?"

Tôi hỏi anh.

Phan Tử nói: "Cậu đi về phía trước đi.

Tiểu Tam Gia, cậu cứ mạnh dạn mà tiến bước đi, đi về phía trước đi, chớ quay đầu lại."

Phan Tử cứ nói mãi, nói mãi, rồi cuối câu lại hát vang lên.

我往前小心翼翼地探身过去,心中的酸楚无法形容,才迈过去一步,一下子我的后脑勺就碰到了一条丝线,我心中一惊,心说死就死了。瞬间,我听见一声枪响,丝线上的六角铜铃被打得粉碎。

Tôi dè dặt thò người về phía trước, nỗi chua xót trong lòng không tài nào hình dung nổi, mới bước qua một bước, ngay lập tức sau gáy tôi lại chạm phải một sợi tơ.

Tôi giật thót mình, nghĩ thầm thôi chết rồi chết rồi.

Ngay trong nháy mắt ấy, tôi nghe một tiếng súng vang lên, chiếc chuông lục giác treo trên sợi tơ ấy bị bắn vỡ nát ngay tức thì.

"大胆地往前走!"潘子笑道:

"Mạnh dạn đi về phía trước!"

Phan Tử lại cười nói.

我继续往前走,眼泪一下子就流下来了,我根本看不清楚前面的路我一步一步地走着,就听到枪声在身后不停地响起。

Tôi tiếp tục tiến bước, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng, căn bản không thể nhìn rõ được đường đi nữa.

Tôi cứ dò dẫm bước từng bước, nghe tiếng súng sau lưng không ngừng vang lên.

"通天的大路,

九千九百九千九百九哇。

妹妹你大胆地往前走呀。往前走,莫回呀头。

从此后,你搭起那红绣楼呀,

抛撒那红绣球呀,

正打中我的头呀,与你喝一壶呀,

红红的高粱酒呀,红红的高粱酒嘿!"

"Đường lớn lên thẳng trời cao,

Có chín ngàn chín trăm chín ngàn chín trăm cái,

Em ơi em cứ mạnh dạn đi về phía trước, đi về phía trước, chớ quay đầu

Từ nay về sau, em bắc mái lầu đỏ,

Ném trái tú cầu đỏ, ném trúng lên đầu anh,

Cùng em uống chung một hũ rượu, là rượu cao lương đỏ, rượu cao lương rực đỏ!"*

* Bài hát trong chương là nhạc mở đầu phim Cao lương đỏ năm 1987 của Trương Nghệ Mưu.

我终于走到了独木桥的尽头,走进了通道里。

Cuối cùng tôi cũng đi đến cuối cây cầu độc mộc, vào trong cửa ra.

雾气已经逐渐笼罩了整个洞穴,我几乎无法呼吸,只得往前狂奔。忽然听到身后一声枪响,潘子的声音消失不见了。

Sương mù đã dần dần bao trùm lên toàn bộ hang động, tôi gần như không thể thở được, buộc phải cắm đầu chạy về phía trước, chạy như điên.

我的眼泪止不住地流下来。一路往前狂奔。前面又出现一个楼梯通往水下。我跳了下去,等我浮起来的时候。已经在那个全是水潭的毒气洞中了。胖子把我拉了起来。说道:"行啊,我都已经在给你念往生咒了,想不到你还活着,"

Nước mắt tôi không ngừng chảy xuống ròng ròng, vẫn cắm đầu cắm cổ điên cuồng lao về phía trước.

Phía trước lại xuất hiện một lối cầu thang dẫn xuống nước.

Tôi nhảy tùm xuống.

Chờ đến khi tôi nổi lên, thì đã đến hang động khí độc đầy đầm nước rồi.

Bàn Tử kéo tôi lên bờ, nói: "Được đấy, tôi đã đọc Vãng Sinh Chú cho cậu rồi, không ngờ cậu vẫn còn sống được."

"继续念。"我对胖子道。

"Tiếp tục đọc đi."

Tôi nói với Bàn Tử.

边上就是通道,我们一路冲进去,一下就回到了之前熟悉的那条通道里。不知道是什么驱使着我们,我们觉得非常地恐惧、害怕。我也不知道是哪里来的力气,只是一路狂奔下去。终于,我看到前面出现了光亮,接着,我们一下就冲了出去。

Bên cạnh chính là lối thoát rồi, chúng tôi chạy vọt vào trong, loáng cái, đã vào đến đoạn đường hầm quen thuộc trước kia.

Không biết thứ gì đã giục giã chúng tôi, khiến chúng tôi vô cùng sợ hãi, kinh hoàng.

Tôi cũng không biết mình đã lấy sức lực từ đâu ra, mà cứ thế điên cuồng chạy một mạch.

Cuối cùng, tôi cũng nhìn thấy ánh sáng xuất hiện trước mặt, sau đó, chúng tôi liền thoát ra ngoài.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 63: Giải Cứu Lần Nữa


我不知道自己是怎么回到巴乃的。我们是在回到湖边之后,被裘德考的队伍营救的,几个人被分别架着进行了抢救,我被戴上了呼吸器。

Tôi không biết mình đã quay về Ba Nãi như thế nào.

Sau khi quay lại bờ hồ, chúng tôi được đội ngũ của Cầu Đức Khảo cứu, mấy người bọn họ chia nhau ra đưa chúng tôi đi cấp cứu, tôi được chụp một cái mặt nạ thở.

我的疲惫已经超出身体的承受范围,他们打了很多针镇静剂才让我的肌肉放松下来,我的咬肌几乎全都麻木了。之后还进行了长时间的洗肺和中和碱性毒气的治疗,他们把一种气体混入我吸的氧气里,吸入这种气体,好像在吸醋一样。

Sự mệt mỏi trong tôi đã vượt quá ngưỡng chịu đựng của cơ thể, bọn họ phải tiêm cho tôi rất nhiều liều an thần mới làm cơ bắp tôi thả lỏng xuống được.

Toàn thân tôi gần như tê dại.

Sau đó tôi còn phải tiến hành súc rửa phổi và trung hòa khí độc kiềm, bọn họ trộn lẫn một loại chất khí đặc biệt vào trong ống thở của tôi, hít loại khí này vào xong, cảm giác cứ như thể đang hít phải giấm vậy.

我在当天晚上才睡着,足足睡了十几个小时后才被针刺的疼痛扎醒,发现裘德考的队伍正在送我们出山。我立即想起了小花的事情,告诉了他们,他们答应肯定会派人去找,

Đến tận đêm hôm đó tôi mới ngủ được, nhưng chỉ mười mấy tiếng sau lại bị kim châm đau quá mà tỉnh lại.

Tôi phát hiện đội ngũ Cầu Đức Khảo đang đưa chúng tôi rời khỏi núi.

Tôi liền nhớ lại chuyện Tiểu Hoa, liền báo cho bọn họ, bọn họ đáp ứng nhất định sẽ phái người đi tìm.

之后的分散治疗,我没有什么记忆。不可否认,逃出张家古楼的狂喜冲淡了对于潘子死亡的悲切。但是,等我缓过来,一想起潘子,我始终觉得那不是真的。

Sau đó, tôi được đưa đi chữa trị, không còn nhớ gì nữa.

Không thể phủ nhận, sự mừng rỡ quá đỗi khi chạy thoát khỏi Trương gia cổ lâu đã phần nào hòa bớt đi nỗi đau thương do cái chết của Phan Tử.

Nhưng đến khi tôi tỉnh lại, nghĩ tới Phan Tử, tôi vẫn cứ có cảm giác hết sức không thật.

小花在第二天就被发现了,他们的人和解家的人取得了联系。小花立即就被接走了。我没有看到秀秀,而且霍老太的头颅也不见了。我不知道具体情况是怎么样,但是听人说,秀秀完全崩溃了。

Tiểu Hoa được tìm thấy vào ngày hôm sau.

Bọn họ đã liên lạc được với nhà họ Giải, Tiểu Hoa liền được đưa đi ngay.

Tôi không thấy Tú Tú, cũng không thấy cái đầu lâu của Hoắc lão thái.

Tôi không biết tình hình cụ thể như thế nào, nhưng tôi nghe người ta nói, Tú Tú hoàn toàn suy sụp.

我不知道胖子是怎么说的,但这一次的事情是。我们这么多人进去。出来的就只闷油瓶和一个人头。因为这件亊情,霍家和解家顺势发展,我想。肯定会有很多人恨我,可是我现在没有任何精力去琢磨这些了。

Tôi cũng không biết Bàn Tử đã nói như thế nào, nhưng chuyện lần này, chúng tôi có bao nhiêu người đi vào như thế, nhưng cuối cùng chỉ có mỗi Muộn Du Bình là trở ra được.

Vì chuyện này, Giải gia và Hoắc gia cứ thuận thế mà theo, tôi nghĩ, chắc là có nhiều người căm hận tôi lắm, nhưng bây giờ tôi không có sức lực nào mà suy nghĩ đến những điều này.

当地人给我们弄了很多草药,吃下去似乎有些效果。

Dân địa phương cho chúng tôi rất nhiều thảo dược, ăn vào hình như đúng là có chút hiệu quả thật.

大概是五天之后,我已能下床走动。出去晒太阳的时候,忽然见到了让我惊讶的一幕,我看到闷油瓶已经穿戴整齐。

Khoảng năm ngày sau, tôi đã có thể xuống giường đi lại.

Khi ra ngoài phơi nắng, bỗng nhiên tôi thấy một cảnh tượng khiến tôi kinh ngạc vô cùng.

Tôi thấy Muộn Du Bình đã ăn mặc chỉnh tề cả rồi.

"他想干吗?"我问边上的人。

"Hắn ta muốn làm cái gì?"

Tôi hỏi người bên cạnh.

"他要离开了。"

"Anh ta muốn rời đi."

离开?他离开到哪儿去?

Đi?

Đi đâu?

我心中惊惧,心说老子好不容易把你救出来。你要去什么地方?"扶我过去。"我对身边的人说道。对方把我抬了起来,我来到了闷油瓶的身边,问他道:"你到底想子什么?"

Tôi hoảng sợ, nghĩ thầm, ông đây vất vả bao nhiêu mới cứu được mi ra, mà mi còn muốn chuồn đi đâu nữa?

"Đỡ tôi qua đó đi."

Tôi nói với người bên cạnh.

Anh ta dìu tôi đi, tôi đến bên Muộn Du Bình, hỏi hắn: "Rốt cuộc là anh muốn làm cái gì?"

闷油瓶看向我。淡淡地说道:"没有时间了,已经到尾声了。"

Muộn Du Bình nhìn tôi, bình thản nói: "Không có thời gian, đã đến hồi cuối rồi."

"你他妈到底想干什么?"我道。

"Rốt cuộc là anh muốn làm cái con mẹ gì thế?!"

Tôi nói.

"我要去完成一件事情最后的步骤。"闷油瓶道。"我没有时间了。"他收拾着自己的东西,放进背包。

"Tôi phải hoàn thành bước cuối cùng của một việc."

Muộn Du Bình nói, "Tôi không có thời gian."

Hắn dọn dẹp đồ đạc của mình, rồi đeo túi lên lưng.

我看向边上的人:"你们就这么让他走了?作为医生也不能让病人就这么草率地走了吧。你们老大呢?这家伙知道好多事情呢,让你们的老大过来,把他绑起来严刑逼供!"

Tôi nhìn người bên cạnh: "Các anh cứ mặc cho hắn đi thế à?

Là bác sĩ, sao lại để cho bệnh nhân cứ thế mà bỏ đi chứ?

Lão đại của các anh đâu rồi?

Thằng cha này biết nhiều chuyện lắm, gọi lão đại các anh tới đây, bắt trói hắn lại, nghiêm hình bức cung!"

"他已经无碍了,他的身体比你们好得多。"我边上的人道,"而且,我们老大,已经——"

"Anh ta không sao rồi, cơ thể anh ta tốt hơn mấy người nhiều."

Người bên cạnh tôi nói, "Hơn nữa, lão đại bọn tôi, đã..."

我看向他。他叹了口气:"毕竞年纪大了,时间很快就到了。"

Tôi nhìn anh ta, anh ta thở dài: "Dù sao cũng ngần ấy tuổi rồi, chẳng mấy mà hết thời gian."

"裘德考已经得到他自己想得到的东西了。"闷油瓶拉紧自己的背包,"他终于可以安静地离开了。"

"Cầu Đức Khảo đã lấy được thứ mà mình muốn."

Muộn Du Bình xốc lại ba lô trên vai, "Cuối cùng ông ta cũng đã có thể bình yên mà đi rồi."

"什么东西?"我问道。

"Là thứ gì?"

Tôi hỏi.

闷油瓶道:"两个环。人有的时候并不会只求长生,也会追求死亡。"

Muộn Du Bình nói: "Hai cái vòng.

Con người, cũng có lúc không chỉ cầu trường sanh, mà còn truy cầu cả cái chết."

我不理解,闷油瓶也不想解释下去,我大吼了一声:"胖子你死哪儿去了?小哥他娘的要跑"

Tôi chẳng hiểu gì cả, Muộn Du Bình cũng không giải thích nữa, tôi gào lên: "Bàn Tử anh chết dí ở xó mẹ nào rồi?!

Tiểu Ca sắp chạy mẹ nó rồi!"

"没用,他已经来过一次了,那胖子已经妥协了。"边上的人说道。

"Vô dụng, anh ta đã tới đây một lần rồi, tên Bàn Tử đó đã thỏa hiệp rồi."

Người bên cạnh tôi nói.

"后面的路,我只能一个人走,你们已经没有办法和我同行了。太危险了,而且这事儿和你们也没有关系。"闷油瓶背起包襄就朝外面走去。

"Đoạn đường tiếp theo, tôi chỉ có thể đi một mình.

Hai người không thể đồng hành với tôi được nữa, nguy hiểm lắm, hơn nữa, chuyện này cũng không liên quan gì đến hai người."

Muộn Du Bình vác ba lô lên, đi ra ngoài.

这就是结果?

Đây chính là kết quả?

我愣住了,一股无名火起。忽然心中所有的期望和担心都消失了。我转身,摇头。心说狗日的,爱咋咋地吧。

Tôi ngẩn ra, một ngọn lửa giận không tên cứ thế bùng lên, bỗng nhiên, tất cả mọi kỳ vọng và lo lắng trong lòng vụt biến mất.

Tôi xoay người, lắc đầu, nghĩ thầm, mẹ kiếp, thôi đấy, thích làm gì thì làm đi.

我往回走去,正好看到胖子从屋子里出来,应该是听到了我的叫声。看我的样子和旁边默默不语的小哥,他大概就知道发生了什么。我走到他的身边,他拍了拍我,就道:"强扭的瓜不甜,咱们怎么说。也算是局外人。咱们没有权利逼小哥按照我们的想法生活。"

Tôi quay về, đúng lúc nhìn thấy Bàn Tử đi ra từ trong nhà, chắc là đã nghe thấy tiếng tôi gọi.

Thấy bộ dạng của tôi với Tiểu Ca đang lẳng lặng đứng đó không nói lời nào, anh ta cũng hiểu đại khái vấn đề rồi.

Tôi đi đến bên cạnh anh ta, anh ta vỗ vai tôi một cái, nói: "Dưa ép hái thì không ngọt được, chúng ta có nói thế nào thì cũng chỉ là người ngoài cuộc.

Chúng ta không có quyền ép Tiểu Ca sống theo ý chúng ta muốn."

"我们怎么就算局外人了?"我道,"这样都要算局外人。那什么人算局内人?非得躺倒死在里面才算是局内人吗?"

"Chúng ta làm sao mà lại là người ngoài cuộc được?"

Tôi nói, "Đến thế rồi mà còn coi là người ngoài cuộc, thế thì phải làm sao thì mới là người trong cuộc?

Phải nằm vật ra chết rục xương ở trong ấy thì mới được coi là người trong cuộc à?"

"你的局,未必是小哥的局。"胖子说道。

"Đấy là 'cuộc' của cậu, không phải 'cuộc' của Tiểu Ca."

Bàn Tử nói.

我看着胖子的表情,似乎他一点儿也不觉得寒心,就问他道:"小哥是不是和你说过些什么?"

Tôi nhìn vẻ mặt Bàn Tử, trông anh ta như thể chẳng đau lòng một chút gì, liền hỏi: "Có phải Tiểu Ca đã nói cái gì với anh rồi phải không?"

胖子摇头道:"他和你都不说,怎么会和我说。不过,我们对小哥也算了解,小哥做的决定,一定都有其充分的理由。这个理由我们是触摸不到的,也不会有任何阻止他的办法。"

Bàn Tử lắc đầu: "Cậu ta còn không nói với cậu thì thôi, làm sao mà lại nói với tôi được.

Có điều, chúng ta cũng coi như là hiểu tính Tiểu Ca, Tiểu Ca đã quyết định làm gì thì ắt có nguyên do đầy đủ của nó.

Nguyên do này, tụi mình không chạm đến được, cũng không có bất kỳ cách nào ngăn cản được cậu ta cả."

我叹了口气,两个人坐在吊脚楼的走廊上:,看着闷油瓶越走越远。心中慢慢就静了下来。

Tôi thở dài, hai chúng tôi ngồi trên hành lang của căn nhà sàn, nhìn Muộn Du Bình ngày càng đi xa.

Trong lòng tôi dần dần tĩnh lặng trở lại.

"他还会不会回来?"我问道。

"Liệu hắn ta có quay về nữa không?"

Tôi hỏi.

胖子道:"以前他突然消失的时候,你有没有担心过这个?"

Bàn Tử nói: "Lúc trước khi cậu ta đột ngột biến mất, liệu cậu đã bao giờ lo nghĩ đến vấn đề này chưa?"

我摇头:"那个时候。我们只是发现他不见了,没有所谓的分别。这一次,他是第一次拒绝了我们同行,我觉得事情有些不一样。"

Tôi lắc đầu: "Khi đó, chẳng qua là tụi mình phát hiện ra hắn biến mất thôi, chứ không phải cái gì gọi là 'chia ly'.

Lần này, đây là lần đầu tiên hắn từ chối đồng hành với chúng ta, tôi cảm thấy có gì đó không giống trước nữa."

胖子道:"没什么不一样的,你就当你没有看到他离开就行了。"

Bàn Tử nói: "Có gì mà không giống, cậu cứ coi như mình chưa từng nhìn thấy cậu ta bỏ đi là được."

我转头就问胖子:"你有什么打算?"

Tôi quay đầu hỏi Bàn Tử: "Anh có tính toán gì không?"

胖子唢了一声:"打算很多啊,要么回北京去,安安稳稳过过日子,不知道新月饭店那事儿摆平没有。如果还回不去,我就想在这里先待着。看看我的小媳妇儿,反正这儿风景好,空气好,妞儿也漂亮。我那点儿存款,在这儿能当大爷好多年。你呢?"

Bàn Tử tặc lưỡi một tiếng: "Nhiều lắm, chắc là về Bắc Kinh, yên ổn sống qua ngày, không biết vụ ở khách sạn Tân Nguyệt kia đã giải quyết xong chưa nữa.

Nếu không về, thì tôi muốn ở lại đây đợi trước đã, xem nàng vợ nhỏ của tôi đã, đằng nào thì ở đây phong cảnh đẹp, không khí trong lành, mà nàng cũng đẹp nữa.

Tôi có một khoản tiết kiệm ở ngân hàng, đủ để làm ông lớn ở thôn này suốt nhiều năm rồi.

Còn cậu?"

我沉默不语。我不知道,不知道从什么时候起,一旦我停下了对谜题答案的追寻,我的生活就没有什么意义了。

Tôi yên lặng không nói gì.

Tôi không biết, không biết bắt đầu từ khi nào, cuộc sống của tôi đã chẳng còn chút ý nghĩa gì nếu tôi dừng việc truy tìm đáp án cho câu đố này lại.

其实,我的生活本来就没有什么意义,就是不停地发呆,想着下个月的水电费,然后思考自己活着的意义。想着我就苦笑,我的生活变成这个样子,真是无话可说。

Thực ra, cuộc sống của tôi vốn đã chẳng có ý nghĩa gì.

Chỉ biết ngây người ra, nghĩ đến tiền điện nước tháng sau, rồi lại suy ngẫm ý nghĩa cuộc sống của mình.

Ngẫm nghĩ một hồi, tôi cười khổ.

Cuộc sống của tôi đã biến thành cái dạng này rồi, thật là không còn lời nào để nói nữa.

"我不知道,我得好好想想。"我对胖子说道,"但是要等这一切都平息了之后。这一切的谜题,我大概是知道了一些,很多能推测的。我也都推测出来了。我觉得,这件事情很快就会有一个结果。我会等到事情慢慢地平息,看最后露出水面的礁石是什么样子。"

"Tôi không biết, tôi phải nghĩ kỹ đã."

Tôi nói với Bàn Tử, "Nhưng phải đợi tất cả mọi chuyện lắng xuống đã.

Mọi câu đố này, tôi biết một ít đại khái, nhiều thứ có thể suy đoán ra, tôi cũng đoán ra được.

Tôi cảm thấy, chẳng bao lâu nữa sẽ có kết quả.

Tôi sẽ chờ, đến khi mọi chuyện từ từ lắng xuống, để xem rặng đá ngầm cuối cùng cũng lộ ra khỏi mặt nước sẽ có hình dạng gì."

我说的是实话,我确实有一种预感,这件事情已经接近完结了。胖子拍了拍我:"反正不管怎么说,你最好先把你的脸换回来。"

Tôi nói thật.

Tôi quả thực có một dự cảm, rằng mọi chuyện sắp đến hồi kết thúc rồi.

Bàn Tử vỗ tôi một cái: "Bất kể thế nào, tốt nhất là cậu cũng phải đổi lại cái mặt về như cũ đã."

我摸了一把我的面具,又想起了潘子,就觉得所有的心事都沉了下去:"我已经无所谓了,这张脸,最后还有点用处。"

Tôi sờ lên mặt lên cổ mình, rồi lại nghĩ đến Phan Tử, cảm thấy tất cả nỗi lòng lại trầm hẳn xuống: "Tôi thấy sao cũng được, khuôn mặt này, cuối cùng vẫn có chỗ để dùng."

和胖子聊完之后,我回了房间。我以为这已经是尾声了。在张家古楼的整个过程。我都有点记不清楚了,只觉得和以往一样,到了这一步。所有的一切都应该平息了。

Trò chuyện với Bàn Tử xong, tôi quay về phòng.

Tôi cho là đã đến hồi cuối.

Toàn bộ quá trình ở Trương gia cổ lâu tôi đã không còn nhớ rõ nhiều chỗ nữa, chỉ cảm thấy cũng giống như lúc trước, đến bước này rồi, có lẽ tất cả mọi thứ cũng nên lắng xuống rồi.

但是我错了,接下来又发生了一件事情,这件亊情虽然和故亊的发展已经没有了太大的关系,但是,我还是必须把它写下来。

Nhưng tôi đã sai rồi.

Ngay sau đó đã xảy ra một chuyện, chuyện này mặc dù không có nhiều liên quan đến diễn biến của câu chuyện này, nhưng tôi vẫn phải viết nó xuống.

在闷油瓶走后的第三天,云彩死了。

Ngày thứ ba sau khi Muộn Du Bình rời đi, Vân Thái chết.

我当时朦朦胧胧地听到外面的骚乱声,爬起来就听到有人说有一个女孩子死了。

Lúc ấy, tôi nghe bên ngoài loáng thoáng có tiếng nhốn nháo, tôi bò dậy, liền nghe nói có một cô gái đã chết.

我完全没有意识到是云彩。我当时已经觉得,不可能再有人死了。这种情况下,一切都已经这么安定了。我们都出来了,竞然还会有人死去。

Lúc đó tôi vẫn hoàn toàn không ý thức được rằng, đó là Vân Thái.

Lúc ấy, tôi cảm thấy, đáng ra không thể có người chết nữa chứ.

Trong tình huống lúc ấy, mọi thứ đều đã lắng xuống rồi mà.

Tất cả chúng ta đã ra ngoài, thế mà lại có người chết.

云彩死了,他们在溪流虽发现了她的尸体。是被枪打死的,子弹穿过了她的肺叶。当时她一定没有立即死去,而是逃到了溪水里,一路被冲了下来。

Vân Thái chết rồi.

Bọn họ tìm thấy xác cô bé ở trong dòng suối.

Bị một phát súng bắn chết, đạn xuyên qua lá phổi cô bé.

Lúc ấy, cô bé không chết ngay tức khắc, mà đã kịp bỏ chạy đến bên dòng suối, cứ thế, nhảy xuống ấy.

所有的村民都认为是裘德考的人干的,他们和裘德考的人发生了激烈的冲突。我真的没有反应过来,太多的悲伤使我只是呆看着那具苍白的尸体,没有任何表情。

Tất cả thôn dân trong làng đều cho rằng việc này do người của Cầu Đức Khảo làm, bọn họ và đám người của Cầu Đức Khảo xảy ra mâu thuẫn ác liệt.

Tôi thực sự không kịp suy nghĩ được gì cả, quá nhiều đau khổ ập đến cùng lúc, khiến tôi chỉ biết sững người ra nhìn cái xác xám ngoét kia, không thể biểu lộ được bất kỳ điều gì.

我知道是谁干的。是那个鬼影,是那个塌肩膀的人。我忽然想起之前在阿贵家二楼看到的那个人影。

Tôi biết việc này do ai làm.

Đó là cái bóng ma kia, là cái người có hai bả vai sụp kia.

Tôi chợt nhớ lại cái bóng mà tôi từng nhìn thấy trên lầu hai trong nhà A Quý ngày trước.

那个鬼影。从一开始就在监视着我们,是谁为他打开二楼的门的?

Cái bóng đó, đã giám sát chúng tôi ngay từ khi bắt đầu.

Là ai đã mở cửa lầu hai cho hắn?

我没法在这个时候去问阿贵,但是我知道,除了盘马,鬼影和阿贵一定也有联系。阿贵也许不知道他是什么人,但是一定和他有利益往来。

Tôi không thể đi hỏi A Quý vào lúc này, nhưng tôi biết, trừ Bàn Mã ra, chắc chắn A Quý cũng có liên lạc với cái bóng kia.

Có lẽ A Quý không biết hắn là ai, nhưng chắc chắn có qua lại với hắn vì lợi ích.

也许,云彩就是阿贵派去和这个鬼影接头的人。云彩她并不是真的对我们那么有兴趣,她伪装出天真的样子和我们混在一起,也许只是为那个鬼影刺探情报

Có lẽ, Vân Thái chính là người mà A Quý sai đi liên lạc với cái bóng.

Vân Thái thực ra không có hứng thú với bọn tôi như vậy, cô bé ra vẻ ngây thơ, trà trộn vào với bọn tôi, có lẽ chỉ là để cung cấp tin tình báo cho cái bóng kia.

如今,那个鬼影要抹去很多东西,云彩知道得太多,便被他抹去了我想,我再去那个山洞。肯定不可能再见到他了。

Hôm nay, cái bóng đó muốn xóa rất nhiều dấu vết.

Vân Thái đã biết quá nhiều, liền bị hắn trừ khử.

Tôi nghĩ, bây giờ dù tôi có quay lại hang động kia, cũng không thể gặp lại hắn được nữa.

我觉得一切于我都没有什么太大的意义了。为什么还有人会继续杀害那么可爱的生命?

Tôi cảm thấy tất cả mọi thứ không còn ý nghĩa quá lớn gì với tôi nữa.

Tại sao vẫn còn có người muốn tiếp tục giết hại một sinh mạng đáng yêu như thế?

胖子推开人群的时候,我选择了退缩,我没有任何力气去面对同伴的悲伤了。我听到了一声响彻山谷的悲号,那是胖子的怒吼:"谁?谁干的!"他被这突如其来的一切冲昏了头脑,没有想到我想到的我找了一个不起眼的角落坐了下来,觉得好累好累。

Khi Bàn Tử xô đám người ra để xông vào, tôi lựa chọn lùi bước.

Tôi không còn chút sức lực nào để đối mặt với nỗi đau đớn của người bạn.

Tôi nghe một tiếng gầm xé tim xé phổi vang lên vọng khắp cả thung lũng núi, đó tiếng Bàn Tử: "Ai?!

Là ai làm?!"

Sự đột ngột này đã choán hết toàn bộ đầu óc anh ta, anh ta không ngờ là tôi cũng đã tới.

Tôi tìm một cái xó nhỏ tầm thường, ngồi xuống đó, cảm thấy vô cùng mệt mỏi, thực sự, vô cùng mệt mỏi.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 64: Trở Về


那一天傍晚,我从白莲机场起飞,在上海虹桥机场落下,然后乘坐机场大巴,从上海回杭州。

Chiều tối hôm đó, tôi cất cánh từ sân bay Bạch Liên, rồi hạ cánh xuống sân bay Hồng Kiều ở Thượng Hải, sau đó lên xe buýt sân bay, từ Thượng Hải về Hàng Châu.

在虹桥机场的厕所里,我看到自己的脸。面具非常巧妙地避过了我会长胡子的所有地方,否则我现在的胡子应该已经顶着面具往我肉里长了。以前我一直觉得,自己留点胡子也会挺男人的,现在看来,并不是所有人都适合留胡子,特别是现在这么一张满是胡楂的老脸,加上身上不合身的衣服,看上去像是拾荒界的某个型男。

Trong nhà vệ sinh ở sân bay Hồng Kiều, tôi nhìn khuôn mặt mình.

Chiếc mặt nạ cực kỳ khéo léo, tránh khỏi những chỗ lún phún râu ria trên mặt tôi, bằng không bây giờ râu tôi đã đâm phải mặt nạ rồi cắm ngược xuống da thịt tôi rồi.

Hồi trước tôi cứ nghĩ phải để râu thì mới trông ra dáng đàn ông, bây giờ xem ra không phải ai cũng hợp để râu.

Nhất là khuôn mặt già nua lún phún đầy chân râu này, lại cộng thêm bộ đồ không vừa người tôi đang mặc nữa, trông cứ như một người thu lượm ve chai điển hình.

听小花说,在中国古代,戴这种面具的人要用药水把面部皮肤的毛孔全部毁掉,过程很痛苦。长不出胡子对于我这样的人来说虽然并不是特别悲剧的事情,但是,我还是庆幸他们没有这么干。

Tôi nghe Tiểu Hoa nói, thời cổ đại, những người đeo mặt nạ này phải bôi một thứ thuốc nước đặc biệt lên mặt để phá hủy toàn bộ lỗ chân lông trên da, cực kỳ đau đớn khổ sở.

Đối với cái ngữ như tôi, không mọc được râu cũng chẳng phải nỗi bất hạnh gì quá lớn, nhưng tôi vẫn mừng vì bọn họ không làm vậy với tôi.

那是最晚的一班大巴,大巴上只有我和一个学生模样的姑娘,那姑娘一直戴着耳机,看着窗外,眼神很迷离。她梳着一条辫子,很干净,有一种很特殊的气质。

Đó là chuyến buýt muộn nhất trong ngày.

Trên xe chỉ có tôi và một cô bé bộ dạng nom như học sinh.

Cô bé này đeo tai nghe suốt, nhìn ra ngoài cửa sổ, ánh mắt mơ màng.

Cô buộc một cái bím tóc, rất gọn gàng, một khí chất rất đặc biệt.

我不由得又想起了云彩,心中的感觉难以言喻从广西出发的那一刻起,我一直绷着自己的情绪,如今看着路边闪过的路灯,心中弥潘的各种痛苦一点一点地泄露了出来。

Tôi bất giác lại nghĩ đến Vân Thái, cảm giác trong lòng lúc này không thể diễn tả thành lời.

Bắt đầu từ khoảnh khắc khi rời khỏi Quảng Tây, tôi vẫn luôn kiềm nén toàn bộ cảm xúc của mình.

Bây giờ nhìn ánh đèn đường loang loáng ngoài kia, trong lòng tôi dần dần trào dâng đủ các loại cảm xúc đau khổ chua xót.

我闭上眼睛,努力不让自己哭出来。胖子的哭号声还在我的耳边回荡。我想起了云彩的那张画,画里的我们,第一次去巴乃的我们。虽然心中充满了谜团,但我们看上去很幸福,因为那个时候,命运还在我们自己的手里。

Tôi nhắm mắt lại, cố gắng để không bật khóc.

Tiếng gào khóc của Bàn Tử vẫn như văng vẳng bên tai tôi.

Tôi nhớ lại bức tranh mà Vân Thái từng vẽ, trong tranh là bọn tôi, là bọn tôi trong chuyến đi Ba Nãi lần đầu tiên.

Mặc dù trong lòng đầy những câu hỏi lớn, nhưng trông chúng tôi có vẻ rất hạnh phúc, bởi vì thời khắc đó, số mệnh vẫn còn nằm trong tay chúng tôi.

可笑的是,接下来我们所做的一切,都是在把我们握在手里的命运全部送到现在的境地里去。

Điều nực cười là, tất cả những gì chúng tôi làm sau đó, lại là ném hết toàn bộ số mệnh mà chúng tôi nắm giữ trong tay, tự đẩy mình đến hoàn cảnh hiện tại.

我心中还有的恐惧是什么?即使是在如此的情绪当中。我还是觉得自己心中的任何纠结都没有减轻。

Tôi vẫn còn sợ hãi điều gì đây?

Mặc dù đang tràn ngập giữa những cảm xúc như thế, vậy mà tôi vẫn thấy những vướng mắc xoắn xuýt trong lòng mình không được giảm bớt tí nào.

我的心魔并没有消退,或者说,这一次回来。我甚至并不认为这是一次终结。我深深地知道,我只是回来做一个过客的。事情并没有结束,反而正没有停顿地继续进行着。

Tâm ma tôi vẫn không hề suy giảm hay biến mất.

Hoặc có thể nói, lần này quay về, thậm chí tôi vẫn không cho rằng đây chính là kết cục cuối cùng.

Sâu trong lòng tôi biết rõ, lần này tôi trở về, chẳng qua chỉ là để làm một người khách qua đường, mọi chuyện vẫn không hề kết thúc, thậm chí, vẫn đang tiếp tục không ngừng diễn tiến.

车子的终点站在凯旋路,我下来打的回家。已经是子夜,看着熟悉的街道,对比着前几次回到杭州的心态。那几次,我回到杭州的第一个感觉就是疲惫:再也不要去那种地方,这一次一定是最后一次了。这是当时常有的想法。

Bến cuối của chuyến xe nằm trên đường Khải Hoàn, tôi xuống xe, bắt taxi về nhà.

Đã là nửa đêm, nhìn đường phố quen thuộc, tôi lại bất giác so sánh với cảm xúc của mình trong mấy chuyến về Hàng Châu ngày trước.

Trong mấy lần ấy, cảm giác đầu tiên của tôi khi về Hàng Châu, đó là mệt mỏi.

Không bao giờ đi mấy cái nơi như thế nữa, lần này chắc chắn là lần cuối cùng.

Đó là suy nghĩ vẫn thường hiện lên trong đầu tôi lúc ấy.

但是这一次没有。我没有疲惫,我甚至有一种不过如此的感觉。

Nhưng lần này không như thế.

Tôi không mệt mỏi, thậm chí, tôi còn có một loại cảm giác "chẳng qua chỉ đến thế".

"再这么下去。你就要病入膏肓了。"

"Nếu cứ tiếp tục như thế nữa, bệnh cậu hết thuốc chữa."

病就病了吧。我点上一支烟,下车之后,看着眼前的一切,忽然一阵愕然。

Bệnh thì bệnh vậy.

Tôi châm một điếu thuốc, xuống xe, nhìn cảnh vật trước mặt, bỗng nhiên kinh ngạc.

我的面前,是三叔的铺子。

Trước mặt tôi là cửa tiệm của chú Ba.

我不是应该回家吗?我有一些恍惚,忽然就想起,上车时和司机说的地址,就是三叔的家。

Không phải tôi nên về nhà ư?

Tôi có chút hoảng hốt, bấy giờ mới sực nhớ lại, khi lên xe, nói địa chỉ với tài xế, tôi đã nói địa chỉ nhà chú Ba.

我不能回自己的家,即使是回到杭州,我也必须住在这里。

Tôi không thể về nhà mình, cho dù là về Hàng Châu, tôi vẫn phải ở nơi này.

我转头。出租车已经开走了。站在黑暗的胡同里,我不由得觉得好笑,从口袋里掏出潘子之前给我的钥匙。来到铁门之前,吸了一口气,打开。

Tôi quay đầu lại, tài xế taxi đã đánh xe đi.

Đứng trong con hẻm tối tăm, tôi không khỏi thấy nực cười, thò tay vào túi lấy chùm chìa khóa Phan Tử đã giao cho tôi trước đó, đến trước cánh cửa sắt, hít một hơi, mở cửa.

整幢小洋房没有任何灯光。我走进院子,看到三叔的盆栽。因为有园丁打理。盆栽长得非常好。凌乱地四处摆着。三叔平时用来喝茶的茶桌放在院子中间。

Cả căn nhà nhỏ kiểu Tây không một ánh đèn.

Tôi đi vào sân, thấy mấy chậu cây cảnh của chú Ba.

Vì vẫn có người làm vườn thường đến chăm sóc, các chậu cây trông tươi tốt vô cùng, xếp sắp bừa bãi khắp nơi.

Bình thường chú Ba hay đặt một chiếc bàn trà con con ở giữa sân để uống trà.

这里就是三叔平时生活的地方。我在这里待过几天,没有想到,这一次回来,来的还是这个地方。

Đây chính là nơi mà chú Ba vẫn thường sinh hoạt.

Tôi từng ở đây mấy ngày, thật không ngờ, lần này quay về, vẫn là đến đây.

我没有立即进屋,因为我不知道进去能干什么。我不想在这样的子夜,在这样的房子里徘徊不知道为什么。接下来的生活让我很抗拒,能晚-点开始。就晚一点开始吧

Tôi không vào nhà ngay, bởi vì tôi không biết, vào đó rồi tôi còn có thể làm gì nữa.

Tôi không muốn luẩn quẩn trong căn nhà này vào giữa nửa đêm như thế.

Không biết vì sao, tôi có cảm giác rất bài xích cuộc sống sắp tới, có thể lần lữa được lúc này hay lúc ấy.

坐到了茶椅上,我裹紧了衣服。看着夜空,一动不动,一直到了天亮。

Ngồi trên ghế, tôi bọc kín bản thân mình trong lớp quần áo, nhìn bầu trời đêm, ngồi yên không nhúc nhích, mãi cho đến khi trời sáng.

是每天到这里的园丁吵醒了我:我睁开眼睛的时候,一张脸正莫名其妙地看着我。

Người làm vườn vẫn thường đến đây mỗi ngày đã đánh thức tôi dậy.

Khi tôi mở mắt ra, tôi nhìn thấy một gương mặt ngơ ngác đang nhìn mình.

"东家,回来了?怎么睡在这儿?"

"Ông chủ, về rồi sao?

Làm sao mà lại ngủ ở chỗ này?"

"何叔?"我迷迷糊糊地回了一句,立即意识到不对,马改口道,"老何,这么早就来了?"

"Chú Hà?"

Tôi mơ mơ màng màng đáp một câu, rồi sực nhớ ra không đúng, liền sửa lời ngay, "Lão Hà, sao sớm vậy đã đến rồi?"

"快回房里去吧。天冷。东家。"老何说道

"Mau vào nhà đi đã, ông chủ, trời lạnh đấy."

Lão Hà nói.

我点头,看了看屋内。小时工还没来。三叔这里每天都会有小时工打扫,但是只限于三楼,二楼和一楼是放货的地方。

Tôi gật đầu, nhìn vào trong nhà, người giúp việc còn chưa tới.

Mỗi ngày lại có người giúp việc đến quét dọn nơi này, nhưng chỉ giới hạn ở tầng ba thôi, tầng hai và tầng một là nơi chứa hàng.

搞古物的人大多不喜欢特别干净和现代的装潢设计,一般卖古董的都喜欢把所有的东西凌乱地摆着。这是为了满足顾客的心态,因为在凌乱的古董中挑选货物,会给人更放心的感觉。很多地区性的古董铺子。都喜欢把古董乱丢在地上卖,也是一样的道理。要是做得和什么首饰店一样,找些穿小西装的营业员,反而显得不专业了。

Người làm nghề về cổ vật thường không thích những thiết kế trang hoàng theo lối quá sạch sẽ gọn gàng và hiện đại, người bán đồ cổ đa phần thích bày bừa lộn xộn tất cả mọi thứ lên.

Đó là để thỏa mãn tâm tư của khách hàng, bởi lẽ, chọn lựa đồ cổ giữa cả một đám đồ cổ lộn xộn thường đem lại cảm giác yên tâm hơn cho khách hàng.

Nhiều cửa hàng đồ cổ ở các khu đặc thù thích vứt đồ cổ lộn xộn hết lên rồi bán, cũng là vì lẽ này.

Chứ nếu mà trang hoàng như tiệm nữ trang vàng ngọc gì đó, rồi lại có nhân viên cửa hàng mặc com-lê cà vạt thẳng thớm, lại trông chẳng có vẻ chuyên nghiệp gì cả.

其实,要是所有人都懂股东也就算了,事实是,真正懂古董的收藏家太少了。做这一行。我们每年见的百分之九十九的人都是完全不懂的假内行。这些买东西的人。特别在乎感觉。

Thực ra, nếu mọi người ai ai cũng hiểu đồ cổ thì thôi, nhưng sự thật là, những nhà sưu tầm am hiểu đồ cổ thật sự lại quá ít.

Làm nghề này, chúng tôi thấy phải đến chín mươi chín phần trăm những người từng gặp đều là hạng tỏ vẻ mình là người trong nghề.

Những người này đặc biệt để ý đến cảm giác.

我绕过这些古董,经过几道门禁来到三楼,一楼的东西都不值钱。二楼有保险柜,东西稍微好点。真正的好东西,不开张的时候都放在三叔三楼的密室里。三楼门禁看着破破烂烂,其实都是钨钢的。用的是三叔找的老锁匠设计的锁,机关都在墙里面,一般人除非拿炸药轰,否则根本打不开。

Tôi đi vòng qua số đồ cổ này, đi qua mấy cánh cửa an toàn, mới lên đến tầng ba.

Đồ dưới tầng một không đáng tiền, tầng hai có két sắt, đồ tốt hơn một xíu.

Nhưng những thứ tốt nhất, khi không mở hàng sẽ được đặt trong mật thất trên tầng ba.

Ba lượt cửa an toàn kia trông có vẻ đồng nát, nhưng thật ra đều làm bằng thép vonfram cả, khóa cửa là do một thợ khóa già mà chú Ba mời về thiết kế, cơ quan đầy trong tường, trừ phi dùng thuốc nổ oanh tạc thẳng, bằng không, người bình thường không thể mở ra được.

三楼是个大套间。三叔是个很会享受但是并不外露的人,他对于很多现代的玩乐都没兴趣这个大套间里所有的红木东西都非常昂贵,但是相比这些,我其实更喜欢柔软的沙发,所以我知道,既然要在这里住相当长的时间,我肯定得添点东西。

Tầng ba là cả một gian lớn.

Chú Ba là người rất biết hưởng thụ, nhưng không khoe khoang ra ngoài, chú cũng không có hứng thú với nhiều trò giải trí hiện đại.

Tất cả những đồ gỗ hồng đào, lim, trắc trong gian phòng này đều cực kỳ quý giá, nhưng so ra, tôi lại thích ghế sô-pha êm ái hơn.

Cho nên, tôi biết, nếu đã muốn ở đây lâu dài, thì thế nào tôi cũng phải mua sắm thêm ít đồ đạc.

其实上次在这里住的时候,我已经发现了三叔其实活得挺苦逼的,像他这样年轻的时候经历太多,享受得太多的人,什么女人、财富、地位对他都已经完全没有吸引力了。他的整个房间里,家具、字画、文房四宝等各种玩物看着很多,其实你拉开他的抽屉就会发现,几乎所有的抽屉都是空的,而且有一些薄薄的灰尘。

Thật ra lần trước khi ở lại đây một thời gian, tôi đã phát hiện ra, cuộc sống của chú Ba kỳ thực rất khắc kỷ, như thể thời trẻ chú đã trải qua quá nhiều, hưởng thụ quá nhiều, cái gì mà đàn bà, tiền tài, địa vị, đối với chú đã hoàn toàn không còn chút hấp dẫn nào.

Cả căn phòng của chú, thoạt trông có vẻ rất nhiều đồ đạc đủ các loại như đồ nội thất, tranh chữ, văn phòng tứ bảo vân vân, nhưng nếu kéo ngăn tủ của chú sẽ thì sẽ thấy, gần như tất cả các ngăn kéo đều rỗng không, hơn nữa, còn phủ một lớp bụi mong mỏng.

这说明这些抽屉从家具买来到现在,就从来没有放过东西。

Điều này chứng tỏ từ khi mua đồ đạc cho đến nay, số ngăn tủ này chưa từng được chứa đựng bất kỳ đồ vật gì.

没有生活。

Chẳng có cuộc sống sinh hoạt gì cả.

一个单身的老男人,除了自己盘口的一些东西:账本、茶杯、茶叶。再就是很多用来装饰的古书。书倒都是货真价实的古书,但看得出来,三叔基本就没有翻过。在他房间里能找到的最多的,就是各种过期的报纸,

Một người đàn ông đứng tuổi độc thân, ngoài trừ địa bàn của mình ra thì chỉ còn có vài ba thứ: sổ sách, chén trà, lá trà, và còn rất nhiều sách cổ đa phần chỉ dùng để trang trí nữa.

Thực ra sách toàn là sách cổ thứ thiệt giá trị thiệt, nhưng có thể nhìn ra được, chú Ba chẳng bao giờ lật ra xem làm gì.

Trong phòng chú, thứ tìm được nhiều nhất lại chính là các loại báo giấy đã cũ.

这个地方,对于他来说太大了,他没有那么多的内容能把这些抽屉都填满

Đối với chú, nơi này quá rộng, chú không có nhiều đồ đạc để có thể lấp đầy được hết toàn bộ số ngăn tủ này.

我从西沙回来之后,对这里进行过彻底的搜刮,所以知道我感兴趣的东西在什么地方。三叔当年调查考古队的文件基本没有什么用处,但我还是打算再看一遍,只是不是现在。

Sau khi trở về từ Hoàng Sa, tôi đã vơ vét hết toàn bộ nơi này, cho nên tôi biết thứ mình thấy hứng thú nằm ở đâu.

Những tài liệu điều tra đội khảo cổ năm xưa của chú Ba vốn chẳng dùng được vào việc gì, nhưng tôi vẫn quyết định xem lại một lần nữa, chỉ là chưa phải lúc này.

我坐到他的书桌前面,他的书桌上就一盏台灯、一个香炉、一部电话和一些纸笔。和我走之前一模一样。

Tôi ngồi xuống trước bàn sách của chú, trên bàn của chú có một ngọn đèn, một lư hương, một bộ điện thoại bàn và một ít giấy bút.

Vẫn y hệt như lúc trước khi tôi rời đi.

稍微像样点的,是一台电脑,但是是一台很老式的电脑。显示器只有十五寸,三叔平时用它来打纸牌游戏和看一些电子的账本。他不会用电脑,只会用鼠标做一些简单的操作,里面的系统也是最初装的windws2000,没有网卡,完全不能上网。

Chỉ có duy nhất một thứ là hơi ra dáng một chút, đó là chiếc máy tính.

Nhưng lại là một chiếc máy tính bàn đời rất cũ.

Màn hình có 15 inch, bình thường chú Ba chỉ dùng nó để chơi bài và ghi chép sổ sách.

Chú không biết dùng máy tính, chỉ biết cầm chuột làm vài thao tác đơn giản, hệ thống trong máy cũng là cài Windows 2000 đời đầu, không có card mạng, hoàn toàn không lên mạng được.

我闭了闭眼睛,想感觉一下自己是不是能睡着。虽然感觉有些疲倦,但是也许是这段时间密集的下地活动让我已经习惯了这样高强度的疲劳,我完全没有任何睡意。

Tôi nhắm mắt, thử xem có phải mình muốn ngủ hay không.

Mặc dù cảm thấy có chút mệt mỏi, nhưng có lẽ những hoạt động xuống đất liên tục trong thời gian gần đây đã khiến tôi quen với việc chịu đựng mệt nhọc ở cường độ cao, tôi hoàn toàn không buồn ngủ chút nào.

我拿出手机,给所有人都发了一条我已经到达的短信,之后深吸了一口气,忽然不知道应该做什么。

Tôi lấy di động ra, gửi tin nhắn cho tất cả mọi người, báo rằng tôi đã về đến nơi.

Sau đó, tôi hít sâu một hơi, bỗng nhiên không biết mình phải làm gì.

难道三叔每天也都是这样,在这张桌子后面胡思乱想吗?

Chẳng lẽ ngày nào chú Ba cũng như vậy, ngồi bên cái bàn này, suy nghĩ vẩn vơ?

难怪他会那么纠结,如果他穷得连水费都交不上,也许就不会有这样的结局了。

Thảo nào chú vướng bận nhiều khúc mắc như thế, nếu chú nghèo đến mức không trả nổi tiền điện nước, thì có lẽ đã không có kết cục như vậy rồi.

人真是一种奇怪的生物,他们最重要的目的是生存,然而生存却往往不是这个人最大的烦恼。当人满足了自己所有的需要时,他们往往会为自己寻一个无法解决的烦恼。

Con người thực đúng là một sinh vật kỳ quái, mục đích quan trọng nhất của loài người là sinh tồn, nhưng sinh tồn thường lại không phải nỗi phiền não lớn nhất của họ.

Khi họ đã thỏa mãn được tất cả những nhu cầu thiết yếu của mình, họ sẽ đi tìm những vấn đề mình không thể giải quyết được để mà phiền não.

与生俱来,人就是为了烦恼而存在的。而且,即使想通了这个问题也没有用。总有一些烦恼是让人即使明白道理也不得不去招惹的,就如现在的我。

Bẩm sinh đã thế, con người tồn tại là để phiền não.

Cho dù đã nghĩ thông suốt được vấn đề này thì cũng vô ích.

Bao giờ cũng có một số vấn đề phiền não khiến người ta không dám chọc vào, dù đã hiểu rõ nguyên lý của nó, ví dụ như tôi lúc này.

我摸了摸自己的脸,知道这段时间必须给自己找点事情做做,否则我会被各种回忆逼死。潘子已经不在了,虽然我不准备公布他的死讯,但是,没有他,很多事情做起来不会像以前那么顺畅。

Tôi sờ lên mặt mình.

Tôi biết, trong khoảng thời gian này, tôi phải tìm vài việc để làm, nếu không tôi sẽ bị đủ các loại ký ức dồn ép đến chết mất.

Phan Tử đã không còn, mặc dù tôi không định công bố tin tức về cái chết của anh, nhưng mà, không có anh ấy, có nhiều việc không thể làm được trót lọt như trước nữa.

还有哑姐和二叔,前者是我必须要说服的人;二叔的话,我最好是能不和他相见,就不和他相见,因为他太聪明了,我绝对不可能瞒过他。还有七天才能拿掉我的面具,为了应付突发事件,我应该有一些事情要做。

Còn cả Chị Câm và chú Hai.

Chị Câm là người tôi nhất định phải thuyết phục được, còn về phần chú Hai, tốt nhất là nếu trốn được thì tôi cứ trốn, không gặp chú.

Vì chú quá thông minh, chắc chắn tôi không thể qua mặt chú được.

Còn bảy ngày nữa tôi mới tháo mặt nạ xuống được, để ứng phó với một số vấn đề bất ngờ có thể xảy ra, tôi phải làm một vài việc trước đã.

我去了三叔家的厕所,挂了自己的胡子,洗了个澡,然后给手下一个管事的伙计打了个电话,告诉他今天我不见客人,我要睡一天。然后我便爬上了床,打开电视看卡通片,一直看到睡着。

Tôi vào nhà vệ sinh trong nhà chú Ba, cạo râu, tắm rửa, sau đó gọi điện cho một tay quản sự dưới quyền, nói với hắn rằng hôm nay tôi không tiếp khách, tôi phải ngủ nguyên một ngày đã.

Sau đó, tôi trèo lên giường, bật ti vi xem hoạt hình, mãi cho đến khi ngủ thiếp đi mất.

这一觉睡得很艰难,各种梦境让我不止一次地惊醒。有好几次我都感觉看到潘子满身是血,站在我的身边。

Giấc ngủ này rất khó khăn, đủ các loại giấc mơ ập đến khiến tôi giật mình tỉnh giấc không chỉ một lần, có nhiều lần tôi còn thấy Phan Tử, toàn thân đầy máu, đang đứng ngay bên cạnh tôi.

我没有感觉到一点恐惧。只觉得绝望,那种绝望无时无刻不在吞噬着我。

Tôi không cảm thấy sợ hãi, mà chỉ thấy tuyệt vọng, cảm giác tuyệt vọng đó cứ liên tục ngấu nghiến lấy tôi.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 65: Manh Mối Trong Sự Tuyệt Vọng


之后的几天我都是浑浑噩噩地度过的,只有在一些突发事件发生时,我才能回到这个世界来。在其他的时间里,我大都是躺着或者坐着。脑子里一遍一遍地过以前发生的事情。所有的事情,细节我已经不去思考,只是在脑子里放电影。

Mấy ngày sau đó, tôi vẫn luôn trong tình trạng ngẩn ngẩn ngơ ngơ, chỉ khi nào có vài chuyện đột ngột xảy ra, tôi mới quay trở về thế giới này được.

Còn lại, phần lớn thời gian của tôi chỉ dành để nằm hoặc ngồi, trong đầu hồi tưởng lại những chuyện đã xảy ra trước kia.

Tôi đã không thể suy nghĩ được bất cứ chi tiết nào nữa, mọi thứ chẳng qua cứ hiện lên như đang chiếu phim trong đầu.

但是我没有任何情绪。

Nhưng tôi không có bất kỳ cảm xúc nào cả.

绝望是一种最大的情绪,它可以吞噬掉一切。有一刻我甚至意识到,我对于生命已经没有太多的依恋了。要么让我知道这背后的一切,要么就让我死在去了解这一切的路上吧。

Tuyệt vọng là một loại cảm xúc lớn nhất, nó có thể nuốt chửng hết tất cả.

Có một khoảnh khắc, thậm chí tôi còn nghĩ rằng, tôi đã không còn quá nhiều lưu luyến với sinh mạng này nữa.

Hoặc là cho tôi biết tất cả mọi thứ đằng sau mọi chuyện, hoặc là cứ mặc tôi chết trên đường tìm hiểu mọi chuyện đi.

这是我应得的报应,因为我的执念,已经害死了好多人,我如果不死,那这个世界真是太不公平了。

Đây là báo ứng đáng đời tôi, vì sự cố chấp của mình, tôi đã hại chết biết bao nhiêu là người.

Nếu tôi không chết, thế giới này thật quá bất công.

想这些的时候,我的心情特别平静,没有丝毫以前的那种焦虑。我感觉,即使最后知道了这一切背后的所有关键,我也不会有如释重负的感觉。

Trong lúc nghĩ những điều này, tâm trạng tôi bình tĩnh vô cùng, hoàn toàn không có trạng thái lo âu như lúc trước.

Tôi có cảm giác, cho dù tôi biết hết được toàn bộ những mấu chốt đằng sau mọi chuyện, thì tôi vẫn không cảm thấy trút đi được gánh nặng gì.

以后我再也不会有之前那种强烈的*了,任何的未知,都不可能打动我了。可是,就在几天之后我就发现我错了。看来这件事情的发展,永远不会在我的意料之中。

Về sau, tôi sẽ không bao giờ nổi lên cái ham muốn mãnh liệt như trước nữa, bất kỳ điều chưa biết gì cũng sẽ không làm tôi lung lay được nữa.

Thế nhưng, chỉ vài ngày sau, tôi mới nhận ra mình đã sai rồi.

Xem ra, diễn biến của chuyện này, vĩnh viễn không bao giờ nằm trong dự liệu của tôi.

几天之后,我得到了一个很出乎意料的消息,裘德考的公司开始资产重组了。

Vài ngày sau, tôi nhận được một thông tin hết sức bất ngờ.

Công ty của Cầu Đức Khảo bắt đầu được tái cơ cấu.

显然,因为第一股东裘德考健康状况的恶化。裘对于自己公司很多方面的控制开始衰弱,其他股东开始活跃起来。暗股之间的斗争越来越激烈。很多人沦为了这场斗争的牺牲品,包括裘德考核心队伍里的一些高层。

Hiển nhiên, đó là bởi tình hình sức khỏe của cổ đông lớn nhất công ty - Cầu Đức Khảo - đã có chuyển biến xấu, sự kiểm soát của họ Cầu về nhiều phương diện trong công ty đã bắt đầu suy yếu, những cổ đông khác bắt đầu nổi lên, cuộc đấu tranh giành cổ phần ngày càng ác liệt.

Rất nhiều người đã trở thành vật hi sinh cho cuộc chiến này, bao gồm cả một số nhân vật lớn trong nhóm nòng cốt của Cầu Đức Khảo.

这些高层在云顶天宫的时候和我还有胖子有着很好的私交,虽然联系并不密切,但是有的时候,我还是会去请教他们很多问题,他们也会私下给我一些建议。

Những người nòng cốt này đã có mối quan hệ cá nhân rất tốt với tôi và Bàn Tử khi chúng tôi ở Vân Đỉnh Thiên Cung.

Mặc dù liên lạc không thường xuyên, nhưng đôi khi tôi vẫn đến hỏi ý kiến họ về nhiều vấn đề, và họ cũng cho tôi một số lời khuyên riêng tư.

公司混乱之后。很多这样的高层开始离职,其中有几个人便开始发送一些本来是公司保密的卷宗给我。

Sau khi công ty gặp hỗn loạn, rất nhiều người trong số các lãnh đạo cấp cao này đã bắt đầu nghỉ việc.

Trong đó, có vài người đã bắt đầu gửi cho tôi một số hồ sơ mà lẽ ra là tuyệt mật của công ty.

这些卷宗在裘德考掌权的时候是顶级保密的,但是裘德考一倒。这些东西就变成了鸡肋,根本没有人相信卷宗里面的信息。这些卷宗纷纷被分开而且销毁。

Những tập hồ sơ này từng là tuyệt mật khi Cầu Đức Khảo còn nắm quyền, nhưng chỉ cần Cầu Đức Khảo sụp đổ, những thứ này liền trở thành vô dụng, căn bản không ai tin vào thông tin bên trong hồ sơ.

Những tập hồ sơ này lần lượt bị phân tán và tiêu hủy.

那几个人说。既然公司已经不重视了,与其销毁,还不如给我这个需要的人看看。是否有有用的信息。

Mấy người đó nói, nếu công ty đã không coi trọng nó nữa, thay vì tiêu hủy, thì thà rằng cứ cung cấp cho người cần đến nó là tôi đây, biết đầu tìm được chút tin tức hữu dụng gì.

卷宗的数量之多,令人咋舌。显然,这些人虽然好心,却也没有好心到为我分类。几个文件加起来最起码有几百g,全都是图片文件。是用扫描仪扫描下来的。

Số lượng hồ sơ cực nhiều, khiến người ta phải líu cả lưỡi.

Hiễn nhiên, những người này tuy là có ý tốt, nhưng cũng chẳng ai tốt bụng đến mức phân loại chúng giùm tôi.

Mấy tập tài liệu cộng lại tối thiểu phải nặng đến mấy trăm Gb lận, toàn bộ đều là file hình ảnh, là do scan lại.

我泡着红茶,从第一个文件包开始。将这些卷宗在两天内全部看完了。

Tôi pha hồng trà, bắt đầu xem từ tập tin đầu tiên, rồi dần dần đọc hết toàn bộ số hồ sơ này chỉ trong vòng hai ngày.

卷宗的内容相当丰富,虽然并不是每一卷都有价值,但是其中有价值的部分相当有价值,而没有价值的部分,也有蹊跷的地方。

Nội dung những hồ sơ này khá phong phú, mặc dù không phải tập tài liệu nào cũng có giá trị, nhưng đa phần trong đó đều có giá trị tương đối, còn những tập tài liệu không có giá trị, thì cũng có những điểm hay ho riêng của nó.

我把这些文件全部整理出来,分成三大类,一类是有价值的文件,一类是有疑点的文件,一类是无价值的文件。

Tôi chỉnh lý sắp xếp lại toàn bộ số tài liệu này, chia làm ba mục lớn.

Một loại là những tập tin có giá trị, một loại là những tập tin có điểm khả nghi, còn loại cuối cùng là những tập tin vô giá trị.

让我最恍然大悟的,是其中一份关于西沙考古的综述文件。这份文件的主要目的是为了向董事会要求资金,这种文件必须向董事会解释,开展西沙的项目为什么是有必要的。潜在价值是多少。

Điều khiến tôi phải bừng tỉnh đại ngộ, đó là một phần tài liệu khái quát về chuyến khảo cổ ở Hoàng Sa.

Mục đích của tài liệu này chủ yếu là để xin hội đồng quản trị công ty cấp vốn, do đó, nội dung tài liệu cần phải giải thích rõ với hội đồng quản trị về tính thiết yếu của việc triển khai hạng mục công việc ở Hoàng Sa, cùng với giá trị tiềm ẩn của hạng mục này.

这份文件的核心部分分为两块,一块是解释为什么:裘德考认为西沙地下有古墓的概率相当高,其中有着大量的民间传说和历史记载。这些资料就有几百,很多都是古籍的照片。然而,决定性的证据并不是这个。决定性的证据,是一份"内部文件"。

Nội dung chính của tài liệu này chia làm hai phần, một phần là giải thích lý do vì sao Cầu Đức Khảo cho rằng xác suất dưới biển có cổ mộ cao, từ đó đưa ra nhiều ghi chép về lịch sử và truyền thuyết dân gian, số tư liệu tham khảo này nặng đến mấy trăm Mb, đa phần là ảnh chụp sách cổ.

Tuy nhiên, chứng cứ mang tính quyết định lại không phải thứ này.

Chứng cứ mang tính quyết định, lại là một tập "tài liệu lưu hành nội bộ".

这封内部文件很奇特,它是一份红头文件,是以很高的价钱买来的一个考古队员的死亡报告。

Tập tài liệu lưu hành nội bộ này rất lạ, đó là một tập văn kiện của Đảng, đã được mua lại với giá cực cao.

Nội dung là bản báo cáo về cái chết của một thành viên đội khảo cổ.

经过仔细推敲之后,我意识到。这个死亡的人,是第—个进入西沙古墓的人。就是他带出了第一批资科。然后,公司内部有眼线把这个消息带给了裘德考——当时的情况。应该是在黑暗的海上,裘德考的船冒充了组织的船,截获了资料。

Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, tôi nhận ra, người chết này chính là người đầu tiên bước vào cổ mộ dưới biển, cũng chính là người đã mang những tư liệu đầu tiên ra ngoài.

Tai mắt của Cầu Đức Khảo trong nội bộ công ty đã báo cho lão biết về tin tức này: tình huống lúc đó có lẽ là như sau, giữa đêm hôm mịt mù, ngay trên biển, tàu của Cầu Đức Khảo đã giả mạo làm tàu của tổ chức, hốt ngay phần tư liệu này về.

之后,裘德考将这份资料交给了解连环,于是才有了三叔的那次西沙事件。

Sau đó, Cầu Đức Khảo giao số tư liệu này cho Giải Liên Hoàn, bởi vậy mới xảy ra sự kiện Hoàng Sa lần đó của chú Ba.

那么,我一直觉得奇怪的一件事——裘德考是如何获得西沙内部资料的,由此就有了解释。

Như thế, điểm mà tôi vẫn luôn thắc mắc suốt bao lâu nay - Cầu Đức Khảo có được số tư liệu nội bộ về Hoàng Sa từ đâu ra - đã có lời giải thích.

看样子,组织的习惯是:先用自己的人进入古墓探索,看是否能获得第一手资料,如果不行,就把所有的资料提交给考古队,让考古队进行第二次探索。

Xem ra, tổ chức có thói quen thế này: đầu tiên dùng người của mình tiến vào cổ mộ thăm dò trước, để xem có lấy được những tư liệu trực tiếp mắt thấy tai nghe hay không, nếu không được, liền giao tất cả tư liệu có được cho đội khảo cổ, để đội khảo cổ tiến hành thăm dò lần thứ hai.

还有一个特别重要的信息是,三叔当年欺骗裘德考,让裘德考出钱出力时,使用了一个信物,这个信物就是"铁块"。

Ngoài ra còn có một thông tin đặc biệt quan trọng khác, năm đó chú Ba đã lừa Cầu Đức Khảo, để Cầu Đức Khảo phải bỏ tiền bỏ sức ra, chú đã sử dụng một thứ coi như là vật làm tin.

Tín vật này chính là "cục sắt".

这东西就是当年巴乃事件中,从巴乃带出来的几只箱子里的铁块。三叔以这个铁块,证明了他有当时巴乃的全部资料,以此交换了他那次去西沙的资源

"Cục sắt" chính là những thứ trong các rương hòm lấy ra từ Ba Nãi trong sự kiện Ba Nãi năm xưa.

Chú Ba đã lấy cục sắt này để chứng minh mình đã có toàn bộ tư liệu thiết yếu về Ba Nãi lúc ấy, đổi lấy tài nguyên đi Hoàng Sa.

我暂时还不知道三叔是如何得到那种铁块的,但是显然他是得到了,这背后肯定还有我不知道的步骤

Tôi tạm thời không biết làm sao mà chú Ba lấy được những cục sắt đó, nhưng rõ ràng là chú đã lấy được, chắc chắn đằng sau chuyện này vẫn còn những bước đi nào đó mà tôi không biết rõ.

而最让我疑惑的一份卷宗,我需要重点地说。这个卷宗,只有一个题目:关于吴三省宅附近地貌特征调查。

Nhưng có một tập hồ sơ mà tôi nghi ngờ nhất, tôi cần phải đặc biệt nhấn mạnh vào thứ này.

Hồ sơ này chỉ có một tiêu đề, tên là: Bản khảo sát về đặc thù địa hình khu vực xung quanh nhà riêng của Ngô Tam Tỉnh.

没有具体的卷宗内容,在这封卷宗的封面上,有英文的"不予通过"的字样。

Hồ sơ này không có nội dung cụ thể, trên bìa tập hồ sơ này chỉ có vài chữ "không được thông qua" bằng tiếng Anh.

这份卷宗的提案人,竞然是阿宁,阿宁的英文我认了很久才认出来。

Người thực hiện đề án này lại chính là A Ninh.

Tên tiếng Anh của A Ninh, tôi phải mất một lúc lâu mới nhận ra được.

阿宁提案,要对我三叔住的地方附近的地貌特征进行调査,这是为什么?难道我三叔家附近都有古墓吗?

Đề án của A Ninh là điều tra đặc thù địa hình khu vực xung quanh nhà riêng của chú Ba tôi, để làm gì?

Chẳng lẽ gần nhà chú Ba tôi lại có cổ mộ ư?

我记忆中的阿宁是一个非常靠谱而且敬业的女人,她不可能做出毫无意义的提案来,她做的提案肯定是有目的的。

A Ninh trong ký ức của tôi là một người phụ nữ rất đáng tin cậy và có vẻ chuyên nghiệp, cô ta không thể thực hiện một đề án vô nghĩa được, đề án này của cô ta chắc chắn là có một mục đích nào đó.

我看了看日期,应该是在我们第一次下地之前。显然,对于我三叔,裘德考的公司早就开始监控了。

Tôi xem ngày tháng, đó là vào khoảng thời gian trước lần đầu tiên chúng tôi xuống đất.

Rõ ràng, công ty Cầu Đức Khảo đã bắt đầu theo dõi chú Ba tôi từ lâu.

不过,在国外专业的公司体系中,资金和董事会始终是最大的,这个提案显然没有被实施,

Có điều, trong hệ thống công ty chuyên ngành của nước ngoài, bao giờ vốn và hội đồng quản trị cũng là lớn nhất, hiển nhiên đề án này chưa được thực hiện.

我靠在椅子上,一边抽烟一边想,却完全没有概念。我来到三叔铺子的房顶上,往四周看去。

Tôi tựa mình vào ghế, vừa hút thuốc vừa suy nghĩ, nhưng hoàn toàn chẳng có khái niệm gì.

Tôi lên sân thượng cửa hàng của chú Ba, nhìn khắp xung quanh.

三叔的铺子在一个农民房特别密集的地方,四周全都是各种农民房,很多都相当老旧了。在这种地方,哪有什么地貌可言,连地面都看不到,

Cửa hàng của chú Ba nằm ở nơi nhà dân tập trung rất đông đúc, khắp bốn phía toàn là nhà tự xây, nhiều ngôi nhà khá cũ kỹ.

Ở nơi này thì có cái địa hình gì để mà bàn cơ chứ, ngay cả mặt đất còn không nhìn thấy được.

如果能看到卷宗,我说不定还能猜到这到底有什么意义,可惜,现在只能如此没有方向地去猜测,

Nếu xem được nội dung hồ sơ, thì có lẽ tôi còn có thể đoán ra được ý nghĩa của nó, nhưng đáng tiếc, bây giờ chỉ có thể đoán bừa mà thôi.

我给自己琢磨了一个大概的理由,没准儿阿宁是觉得三叔的铺子四周可能有古墓。很多盗墓贼选择一个地方,看上去是想做点小生意,但是实际上可能是用来做掩护,在地下挖掘很长的通道盗墓。而且,三叔这种疯子,如果地下的宝贝够值钱,他挖掘地道的计划可能会持续几年。

Tôi tự nghĩ ra một cái lý do đại khái, có lẽ A Ninh cảm thấy quanh cửa hàng của chú Ba có thể có cổ mộ.

Nhiều tên trộm mộ chọn một địa điểm, nhìn qua thì tưởng là muốn mở một cửa hàng kinh doanh nho nhỏ, nhưng thực tế lại dùng để ngụy trang, âm thầm đào một lối đi rất dài xuống cổ mộ.

Hơn nữa, với loại người điên như chú Ba, nếu bảo bối dưới đất đủ đáng giá, kế hoạch đào đường hầm của chú có thể sẽ kéo dài đến mấy năm ấy chứ.

除此之外,卷宗中还有大量信息,可以对我之前的很多信息作补充。我看完之后,很多飘忽的想法都确定了下来,但是那些都意义不大。

Trừ điều này ra, trong số hồ sơ này còn rất nhiều thông tin khác nữa, có thể bổ sung cho nhiều tin tức trước kia tôi có được.

Sau khi xem xong, nhiều suy nghĩ trôi nổi trong tôi quả thực đã lắng xuống, nhưng không có ý nghĩa lớn gì cho lắm.

其中还有很多信息,但英文实在是太难了,我看不太懂。我把这些全部打包发给我英文好的朋友,让他们帮我翻译之后再来仔细查询一所有的操作,都是在我的手提电脑上进行的,但是文档实在太多了,我一个屏幕很难操作得顺畅。

Trong số đó còn nhiều tin tức khác, nhưng đọc tiếng Anh quả thực rất khó, tôi không hiểu rõ cho lắm.

Tôi tổng hợp hết số tài liệu này, nén lại vào một file rồi gửi cho mấy anh bạn giỏi tiếng Anh của tôi, nhờ họ dịch lại giúp tôi rồi mới tra xét kỹ lưỡng.

Mọi thao tác đều dùng bằng máy tính hết, nhưng thực sự số hồ sơ này nhiều quá, chỉ với một cái màn hình thì khó làm việc quá.

这时我才想到,三叔这里有一台电脑。我把电脑打开,用u盘把文件拷了过去,进行对比操作。

Bấy giờ tôi mới nhớ ra chú Ba có một cái máy tính ở đây.

Tôi bật máy tính lên, dùng USB cóp hết số hồ sơ sang, rồi bắt đầu tiến hành đối chiếu.

在进行这个操作的时候,我发现了一个很奇怪的现象,在两台不同的电脑上,很多文档中显示的细节都不一样。我打开了刚才看的阿宁的那个文档,在三叔的电脑上,竞然比之前多了一页,之前只有一个封面,而在三叔的电脑上,却多了一页扉页。

Trong lúc đối chiếu, tôi phát hiện ra một hiện tượng rất lạ, ở hai cái máy tính khác nhau thì các chi tiết hiện lên trong nhiều tập tin cũng khác nhau.

Tôi mở tập hồ sơ của A Ninh vừa xem xong, trong máy tính của chú Ba, tập số sơ đó lại nhiều hơn lúc trước một trang.

Lúc trước tôi chỉ thấy có mỗi một trang bìa, mà khi ở trong máy tính của chú Ba, nó lại nhiều thêm một trang bìa lót nữa.

我觉得有些奇怪,打开来看,就发现这扉页是一个说明页,说系统版本太旧,无法显示全部的页面

Tôi rất lấy làm lạ, mở ra xem kỹ, mới phát hiện trang bìa trong này là một trang giải thích, ghi rằng phiên bản hệ thống này đã quá cũ, không thể hiển thị hết toàn bộ nội dung trang này.

难道,这些卷宗之中还有蹊跷?我顿时一个激灵,想到很多加密文件,必须在特定的机器上才能将其所有的页面都显示出来,而在其他的机器上显示出来的,只能是对方想给你看的那几页,真正的核心信息不会显示。

Chẳng lẽ, trong số hồ sơ này vẫn còn điểm huyền bí nào hay chăng?

Tôi tức thì giật thót mình, nghĩ đến rất nhiều văn kiện bị mã hóa, cần phải được mở bằng một loại máy chỉ định đặc thù thì mới có thể hiển thị hết toàn bộ các trang lên được.

Còn nếu mở bằng các máy bình thường khác, thì chỉ hiển thị được những thông tin mà người ta muốn cho mình xem mà thôi, chứ những tin tức quan trọng sẽ không bao giờ hiển thị.

我心说,看样子得找髙手来处理,我自己是肯定无能为力了。我把电源都关了,脑子里过了几遍,发现我在杭州真没有认识多少懂电脑的。在济南一带倒是有朋友,以前的大学同学,不过,专程把他叫过来似乎太夸张,还是找时间从杭州找几个靠谱的吧。

Tôi nghĩ thầm, xem ra phải nhờ đến cao thủ ra tay rồi, chỉ một mình tôi thì chắc chắn là bất lực.

Tôi tắt máy, tắt cả nguồn điện, trong đầu lướt qua mấy cái tên.

Bấy giờ tôi mới nhận ra mình chẳng quen biết mấy ai hiểu rõ về máy tính ở Hàng Châu.

Nhưng ở khu Tế Nam thì tôi lại có bạn, đó là bạn bè học chung đại học hồi xưa, có điều, bây giờ mà đặc biệt gọi cậu ta qua đây một chuyến thì có phần quá đáng quá, vẫn là bỏ thời gian ra tìm vài người đáng tin cậy ở Hàng Châu thôi.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 66: Máy Tính Kỳ Quái


这一天,我和手下几个杭州附近的伙计开了一个小会,把所有的事情都交代了一下。下午四点,我躺回床上,很快就又睡着了。等我醒来的时候,时间是半夜十二点左右。我再也睡不着了,来到三叔家的阳台上,对着杭州灰沉沉的天抽了几支烟。

Trong ngày này, tôi với mấy thủ hạ dưới quyền mình ở gần Hàng Châu mở một cuộc họp nho nhỏ, khai báo lại tất cả mọi chuyện.

Bốn giờ chiều, tôi nằm ườn trên giường, chẳng mấy chốc lại ngủ.

Đến khi tỉnh giấc, đã là gần mười hai giờ khuya.

Tôi cũng không ngủ được nữa, ra ngoài ban công phòng chú Ba, nhìn về phía bầu trời Hàng Châu ảm đạm, hút mấy điếu thuốc.

等我被冻得有些不舒服。想回屋子拿外套的时候,我忽然发现房间里有些异样。

Đến khi tôi rét cóng cả người, cảm thấy không thoải mái, định quay vào phòng lấy áo khoác, tôi chợt phát hiện trong phòng có chút là lạ.

房间里我是灭着灯的,原本应该是一片漆黑,但是回去的时候,我就发现房间里的某个角落,亮起了一种特别诡异的光。

Tôi đã tắt hết đèn trong phòng, đáng ra căn phòng phải tối thui, nhưng khi tôi quay lại, lại thấy một góc phòng lóe lên một thứ ánh sáng rất quỷ dị.

那不是灯光,也不是火光,而是一种惨恻恻的冷荧光。

Đó không phải ánh đèn, cũng không phải ánh lửa, mà là một loại ánh sáng huỳnh quang lành lạnh.

我愣了一下,仔细一看,忽然就发现,三叔桌子上的电脑。已经亮了起来。

Tôi sửng sốt, cẩn thận nhìn kỹ, tôi mới phát hiện, thì ra là chiếc máy tính trên bàn chú Ba đã sáng lên.

我皱了皱眉头,心说,是什么时候打开的?我用完电脑后明明是关掉了啊。怎么忽然就被打开了,难道是出什么故障了?于是我走到书桌前坐了下来,就看到那电脑的屏幕上,什么都没有,但是在电脑右下角,有一个小小的提示气泡。

Tôi nhíu mày, nghĩ thầm, tôi đã bật máy tính lúc nào?

Sau khi dùng xong máy tính, rõ ràng là tôi đã tắt máy rồi, sao bỗng dưng lại tự bật lên?

Chẳng lẽ là có trục trặc gì rồi?

Vì vậy, tôi liền đến trước bàn sách, ngồi xuống, mới thấy màn hình máy tính không hiển thị cái gì cả, nhưng bên dưới góc phải của máy tính lóe lên một bong bóng thông báo.

"您有一封新邮件。"

【Bạn có một thư mới.】

我看了看四周,心中的疑惑更甚,想到了几种可能性:第一是,这电脑是下午被几个伙计打开的,也许是在我不知道的时候。他们想干吗?

Tôi nhìn xung quanh, mối nghi ngờ trong lòng lại càng sâu hơn, nghĩ đến mấy khả năng liền: đầu tiên là, có lẽ máy tính này đã bị mấy tên thủ hạ bật lên từ hồi chiều, lúc ấy tôi không biết.

Bọn họ muốn làm gì?

这我倒不担心,三叔的电脑本身就是一片空白,不管打开电脑的伙计是出于什么目的,他什么都不会得到。

Cái này thì tôi không lo.

Bản thân chiếc máy tính của Chú Ba đã hoàn toàn trống rỗng rồi.

Bất kể người nào mở máy tính ra với mục đích gì, anh ta cũng sẽ không thu được bất cứ điều gì.

第二种可能是,这台电脑难道一直没有被关闭,而是处在一种主板可以唤醒的休眠状态?

Thứ hai là, có thể, máy tính này vẫn chưa được tắt hẳn, mà đang ở trong trạng thái ngủ đông?

但是最离奇的是,这台电脑绝对没有上网,这邮件是从哪儿发来的?三叔他懂电子邮件吗?

Nhưng ly kỳ nhất là, máy tính này chắc chắn không có mạng internet, thế thì thư điện tử này được gửi tới từ đâu?

Chú Ba biết cách sử dụng thư điện tử ư?

我坐到电脑边上,移动老迈的鼠标。点中了那个气泡,一下,邮件窗口就跳出来了。

Tôi ngồi xuống trước máy tính, di chuyển con chuột bi cũ kỹ, click vào cái bong bóng nọ.

Ngay lập tức, một cửa sổ hòm thư nhảy ra ngoài.

我一看。竞然还不是什么windws邮件软件自动发送的提醒邮件,而是一封真正的从其他地址发来的邮件。

Tôi nhìn xem, không ngờ đó lại không phải là thư nhắc nhở do hệ thống hòm thư từ Windows tự động gửi, mà thực sự là một thư điện tử gửi từ địa chỉ khác tới.

邮件只有一句话:

Nội dung thư chỉ có đúng một câu:

你终于回来了。计划进行得如何?

【Anh đã quay về, kế hoạch tiến hành thế nào rồi?"】

我坐在电脑前面,看着这一句话,足足呆了有半个小时。

Tôi ngồi thừ người trước máy tình, nhìn một câu này, ngây người suốt nửa tiếng đồng hồ.

我对着这句话简直是浮想联翻,各种可能性都被我翻了出来。首先第一点就是:三叔竟然有一个秘密的邮箱。

Tôi suy nghĩ miên man mãi về một câu này, liên tưởng đến đủ các loại khả năng.

Đầu tiên, điểm thứ nhất là: không ngờ chú Ba tôi lại có một hòm thư điện tử bí mật.

三叔会使用电脑我是知道的,但是,我并不知道他会到什么份上,我觉得无非也就是和我老爹差不多。而在一台系统是windws2000的电脑上设置邮箱软件,这可是比较高级的技巧。特别是对于他这样的老头子来说。是别人给他设置的?但核心问题是,这台电脑仅仅用于行电子账本,我从来不知道它能上网。

Tôi biết, chú Ba biết sử dụng máy tính, nhưng tôi không biết trình độ sử dụng của chú ở mức nào, tôi nghĩ cùng lắm chỉ tương đương với bố tôi mà thôi.

Thế mà lại cài đặt được một phần mềm hòm thư điện tử trong một chiếc máy tính chạy trên nền hệ điều hành Windows 2000, đây là một thủ thuật tương đối cao cấp, nhất là đối với một người lớn tuổi như chú.

Chẳng lẽ là người khác cài đặt cho chú?

Nhưng vấn đề quan trọng là, chiếc máy tính này vốn chỉ dùng để xem sổ sách điện tử, xưa nay tôi không hề biết rằng nó có thể lên mạng được.

显然是能上网的。

Vậy là, hiển nhiên nó có kết nối mạng.

显然是他隐瞒了这一点。

Hiển nhiên, chú đã che giấu điều này.

第二点是,竞然有一个人,正和三叔使用邮件联系,即使什么亊情都没有发生,我都会很好奇这个人是谁。从这只有一句话的简单的邮件看来,这个人和三叔显然非常熟,没有任何抬头,没有任何签名。只有一句话直达问题的核心。

Điểm thứ hai là, không những thế, lại còn có một người luôn liên lạc với chú Ba qua hòm thư điện tử.

Mặc dù không có chuyện gì xảy ra cả, nhưng tôi vẫn thật tò mò, không biết người này là ai.

Từ một câu đơn giản trong lá thư điện tử này, có thể thấy, người này rất quen thuộc với chú Ba, chẳng cần mào đầu, chẳng cần ký tên, chỉ có đúng một câu, vào thẳng vấn đề chính.

而且。他问的问题,里面有"计划"二字。

Hơn nữa, trong câu hỏi của người này còn có hai chữ "kế hoạch".

从现在掌握的所有情况来看,我知道三叔确实有一个计划。这个计划牵涉到所有的方面。就是这个计划,使得老九门脱离了强大的控制,使得所有的一切,甚至是那个看似无比强大的"它",分崩离析。

Từ tất cả những gì tôi biết hiện nay, có thể thấy, chú Ba tôi quả thực có một kế hoạch, kế hoạch này dính líu đến tất cả mọi phương diện.

Chính kế hoạch này đã giúp Lão Cửu Môn thoát ly khỏi sự khống chế mạnh mẽ, khiến cho tất cả mọi thứ, thậm chí bao gồm cả cái "nó" có vẻ cực kỳ cường đại kia, hoàn toàn sụp đổ.

吴家为了这个计划,几乎牺牲了三代人一当然,第三代的我是属于自杀——而三叔是绝对不会允许计划执行到百分之九十就不再执行的,他必须使这个计划最后百分之百完成,不能让这一切有任何反复的机会。

Vì kế hoạch này, Ngô gia gần như đã hi sinh cả ba thế hệ – đương nhiên, cái thế hệ thứ ba là tôi đây thuộc dạng tự đâm đầu vào tự sát rồi – nên chú Ba tuyệt đối không cho phép cái kế hoạch này lại dừng lại khi đã triển khai được đến chín mươi chín phần trăm, chú phải thúc đẩy kế hoạch này hoàn thành đến một trăm phần trăm, không chừa cho bất kỳ cơ hội phản kháng lật lọng nào.

会和我听说的这个计划有关吗?难道这封邮件来自于一个非常关键的人?

Liệu có liên quan gì đến cái kế hoạch mà tôi từng nghe nói hay không?

Chẳng lẽ lá thư này được gửi đến từ một nhân vật vô cùng mấu chốt?

我査看了邮件软件。邮箱里没有任何的其他邮件,只有这一封邮件。

Tôi kiểm tra toàn bộ phần mềm thư điện tử này, trong hòm thư không còn bất kỳ lá thư nào khác, chỉ có duy nhất một lá thư này thôi.

如果这个电脑可以上网。就不可能产生这样的情况。三叔肯定是把之前的邮件全都删除了,这说明三叔对这个邮箱往来的邮件很重视

Nếu cái máy tính này có kết nối mạng, thì không bao giờ có chuyện như vậy được.

Chắc chắn là chú Ba đã xóa sạch tất cả những lá thư điện tử trước đó, điều này chứng tỏ chú Ba rất coi trọng hòm thư điện tử này.

我忽然觉得有戏。事情这样发展真的是非常出人意料。

Tôi bỗng nhiên cảm thấy có hi vọng trong vụ này, diễn biến này quả thực ngoài dự đoán.

我必须回复这封邮件,这条信息太短了,我需要更多的信息才能做出更多的判断

Tôi phải hồi âm lại cho lá thư này.

Nhưng nội dung thư này quá ngắn, tôi cần nhiều thông tin hơn mới có thể đưa ra phán đoán được.

如何回复呢?

Tôi phải trả lời như thế nào đây?

我点上烟,看着邮件想了很长时间,键入了这么一封回信:

Tôi châm điếu thuốc, nhìn lá thư mà suy nghĩ suốt một hồi lâu, rồi gõ một lá thư hồi âm như sau:

计划有变故,有些信息不明。明日给你详细的消息。你那边如何?

【Kế hoạch có biến, chưa rõ một vài tin tức.

Ngày mai sẽ gửi thông tin cụ thể hơn.

Bên anh sao rồi?"】

我按了回复的按钮。邮件瞬间就发出去了。我靠在椅子上,等待他的回复。手不停地敲着桌子。我知道,一般情况下,发这种询问邮件的人,发出邮件后不会离开电脑,很快应该就会有邮件回复。

Tôi ấn nút trả lời.

Trong nháy mắt, lá thư được gửi đi.

Tôi tựa người vào ghế, chờ hồi âm, tay liên tục gõ bàn không ngừng.

Tôi biết, trong tình huống như vậy, thường thì người gửi thư hỏi thăm sẽ không rời khỏi máy tính sau khi đã gửi thư đi, chẳng bao lâu nữa sẽ có thư trả lời ngay thôi.

果然,不到十分钟,显示器右下角又冒起了气泡。

Quả nhiên, chưa đầy một phút, góc dưới cùng bên phải màn hình lại có một bong bóng nổi lên.

我立即点开:

Tôi liền mở ra:

我没事。

【Tôi không sao.】

三个字在电脑屏幕上闪烁,再没有更多的话。

Ba chữ này lóe sáng ngay giữa màn hình vi tính, không nhiều lời hơn nữa.

我叼上烟,想着再发什么过去,忽然就把手缩了回来。

Tôi ngậm điếu thuốc, nghĩ xem nên gửi tiếp cái gì bây giờ, bỗng nhiên rụt tay lại.

我说了两条信息,第一条信息是,明天会再给他发邮件,第二条是问他的情况。

Tôi đã đưa ra hai tin tức, tin thứ nhất là, ngày mai sẽ lại gửi thư điện tử cho hắn, tin thứ hai là thăm hỏi tình hình của hắn.

他只回了一条,而且非常简短。

Hắn chỉ trả lời một tin, hơn nữa, còn rất ngắn gọn.

以三叔谨慎的习惯,他们之间是否已经习惯这种非常简洁的交流?如果我再发一封邮件去,会不会产生违和的感觉,被他察觉到这边的异样?

Với thói quen cẩn trọng của chú Ba, phải chăng giữa bọn họ đã hình thành thói quen trao đổi thông tin cực kỳ ngắn gọn như vậy?

Nếu bây giờ tôi lại gửi thêm một lá thư nữa, liệu có tạo cảm giác kỳ quái hay không?

Liệu hắn có phát giác ra sự khác thường ở đây hay không?

我看着这三个字,想了半天,绝对不能再回了。保险起见,还是明天给他发比较合适。反正到明天也只有几个小时了,不如用这几个小时的时间好好想想该如何套话,反正我也睡不着了。

Tôi nhìn ba chữ này, suy nghĩ mãi hồi lâu, đã không thể quay đầu được nữa rồi.

Để an toàn, vẫn là cứ chờ đến ngày mai rồi lại gửi thư cho hắn thì hơn.

Dù sao cũng chỉ còn vài tiếng nữa là đến "ngày mai" rồi, chi bằng trong vòng mấy tiếng này cứ suy nghĩ thật kỹ xem nên nói gì với hắn, đằng nào thì bây giờ tôi cũng không ngủ được nữa.

我站了起来,不停地在屋子里来回踱步,之前那种平静的思绪全部消失,一下就回到了最开始我那种焦虑的状态。

Tôi đứng lên, liên tục đi đi lại lại trong phòng.

Trạng thái bình tĩnh suy nghĩ trước đó đã biến mất, loáng cái đã quay về trạng thái lo âu bồn chồn hồi đầu của tôi.

我都有点瞧不起自己,琢磨了半天,我意识到自己发回去的邮件写错了。

Tôi hơi bực dọc với chính bản thân mình, suy nghĩ cho lắm vào, rồi bây giờ tôi lại nhận ra mình đã viết lời hồi âm sai rồi.

计划有变故,有些信息不明。明日给你详细的消息。你那边如何?

【Kế hoạch có biến, chưa rõ một vài tin tức.

Ngày mai sẽ gửi thông tin cụ thể hơn.

Bên anh sao rồi?】

那就说明,我明天的邮件必须涉及计划的内容,但是我根本不知道这计划是什么一其实我是知道的,但是我的认知层面和三叔的层面完全不一样,我不可能知道三叔知道的东西。所以即使我能提到计划里的某些内容,对方也很可能觉得不对劲。

Như vậy đã nói rõ, lá thư ngày mai của tôi bắt buộc phải đề cập đến nội dung kế hoạch, nhưng tôi vốn lại chẳng biết kế hoạch này là cái gì.

Thực ra thì tôi biết, nhưng phương diện mà tôi biết lại hoàn toàn khác với phương diện mà chú Ba biết, tôi không biết những thứ mà chú Ba biết, nên dù cho tôi có đề cập đến một vài nội dung của kế hoạch này, rất có thể đối phương vẫn sẽ cảm thấy không ổn.

比如说,真实的计划,可能是美国已经全部准备好要攻打伊拉克了,但是我发给美国的邮件很可能还在说,我觉得我们攻打伊拉克的计划是可行的。

Ví dụ như, kế hoạch thực sự có thể là nước Mỹ đã chuẩn bị xong toàn bộ kế hoạch tấn công Iraq rồi, nhưng rất có thể tôi lại gửi mail cho Mỹ nói rằng, tôi cảm thấy kế hoạch tấn công Iraq của chúng ta có thể thực hiện được.

我来到阳台上,继续抽烟,心中有了几个方案。首先,我在对方察觉之前,最好能知道对方是在哪个地方。听我的朋友说,这通过邮件地址査询应该是可行的。不过,即使我找我朋友过来,他赶到这里也是明天晚上的事了。

Tôi ra ngoài ban công, tiếp tục hút thuốc, trong lòng đã nghĩ đến mấy phương án.

Đầu tiên, trước khi đối phương phát giác ra, tốt nhất là phải moi ra được tin tức đối phương đang ở chỗ nào.

Tôi từng nghe một người bạn nói, có lẽ anh ta có thể tra ra được vị trí của một người dựa vào địa chỉ hòm thư điện tử của người đó.

Tuy nhiên, cho dù có gọi cho anh bạn của tôi ngay bây giờ, thì cũng phải tối mai anh ta mới chạy đến nơi.

所以,明天的邮件我绝对不能发得太早,否则对方一察觉到问题立即就会离开,我就会犯我之前经常犯的错误。

Bởi vậy, trong lá thư ngày mai, tôi tuyệt đối không được để bản thân bị phát giác ra quá sớm.

Nếu không, một khi đối phương đã đánh hơi ra được vấn đề, hắn sẽ rời đi ngay lập tức, tôi sẽ lại phạm phải sai lầm mà trước kia tôi thường xuyên phạm phải.

在这个局里的人,其谨慎的程度是我无法想象的。当时巴乃的鬼影,只看我们的几个举动就可以干出那么多惊世骇俗的事情,就可以证明。为了不让自己的计划败露,他们是绝对不会冒任何风险的,也没有怀疑这么一说,他们一旦感觉到有任何不对劲,立即就会采取最有力的处理措施

Tất cả những người trong cái thế cục này đều cực kỳ cẩn trọng, cẩn trọng đến mức độ mà tôi không tài nào tưởng tượng nổi.

Bằng chứng là cái bóng ở Ba Nãi lúc ấy, hắn chỉ nhìn thấy vài hành động của chúng tôi thôi mà đã có thể làm ra nhiều chuyện kinh thế hãi tục như vậy rồi.

Để kế hoạch của mình không bị bại lộ, bọn họ chắc chắn sẽ không mạo hiểm bất kỳ điều gì, cũng không cần biết thế nào là "nghi ngờ", chỉ cần nhác đánh hơi thấy có điều không ổn, bọn họ sẽ lập tức áp dụng ngay những phương pháp xử lý đanh thép nhất.

不过仔细想想后,我不认为立即回信是错误的,也不认为我回的信是错误的,因为他当时的邮件我同样无法回复,同样会牵涉到计划的内容。所以我这么回信,其实也算是为我自己争取了更多的时间。

Có điều, sau khi suy nghĩ kỹ, tôi không cho rằng việc trả lời thư ngay lập tức của mình là sai lầm, cũng không cho rằng nội dung thư hồi âm của tôi có gì sơ suất.

Bởi vì, với lá thư lúc đó của hắn, tôi cũng không còn cách hồi âm nào khác nữa, cũng không thể đề cập đến nội dung của kế hoạch.

Cho nên, tôi viết hồi âm như vậy thực ra là để kéo dài thêm thời gian cho mình.

那么,假设我找不到对方呢?

Nhưng nếu như tôi không tìm được đối phương thì sao?

我其实知道最基本的套路,和这些人斗智斗勇那么多回了,我知道,其实最简单的方法,就是告诉这个人这里出了事情,把事情说得特别严重,也许可以把他逼出来。

Thực ra tôi biết một chiêu trò cơ bản nhất, sau khi đấu trí đấu dũng với những người này biết bao nhiêu lần, tôi rút ra được một phương pháp đơn giản nhất, đó là cứ gào lên rằng đã xảy ra biến cố rồi, phóng đại sự việc lên thật nghiêm trọng, từ đó biết đâu có thể ép hắn thò đầu xuất hiện.

但是,如果对方是一个极其谨慎的人,很可能就此就消失了。所以这一招我不到最后的时候不能用。更有甚者,如果三叔和对方有某种默契,对方觉得三叔这边的情况崩坏了,要找人把三叔杀了,那我不就是倒霉催的了吗?

Tuy nhiên, nếu đối phương là một người cực kỳ cực kỳ thận trọng, rất có thể hắn sẽ lủi mất ngay tức khắc.

Cho nên, chưa đến phút cuối cùng thì tôi chưa muốn dùng chiêu này.

Thậm chí, nếu như giữa hắn và chú Ba có một giao hẹn ngầm nào đó, khi hắn vừa cảm thấy tình hình phía chú Ba đã hỏng bét, liền tìm người thủ tiêu chú Ba, thế thì chẳng phải chính tôi đã tự mình đâm đầu vào xui xẻo hay sao?

我把我身上所有的烟都抽完了,也没有想出任何的办法来,只得回去。

Tôi hút sạch tất cả số thuốc có trên người mà vẫn chưa nghĩ ra được cách nào khác, đành phải quay vào trong phòng.

回去之后,我一下发现电脑又亮了,不由得脑门一跳——刚才明明已经暗了的。

Sau khi về phòng, tôi liền phát hiện máy tính lại sáng, không kìm được giật thót mình – vừa rồi rõ ràng đã tối rồi mà.

我立即走过去,就发现又有一封邮件。

Tôi lập tức đi tới, nhận ra lại có một lá thư được gửi đến.

早点休息,我们的路还很长,别老是吹风。

【Nghỉ ngơi sớm đi, chặng đường của chúng ta vẫn còn rất dài, đừng suốt ngày ra hóng gió nữa.】

我看了看阳台,一下就一个激灵。

Tôi quay ra nhìn ban công, giật thót tim.

我靠,他能看见我!

Mẹ kiếp, hắn có thể nhìn thấy tôi!

我的第一反应竟然是想立即去拉窗帘,但是一想不对,立即把自己压住。我几乎在凳子上坐了三分钟才压下那种震惊的反应。

Phản ứng đầu tiên của tôi là muốn đứng bật dậy đi kéo rèm cửa sổ lại ngay tức khắc, nhưng suy nghĩ lại thì thấy không ổn, liền tự kìm mình lại.

Tôi ngồi trên cái ghế đôn suốt ba phút liền mới áp chế được phản ứng khiếp sợ lúc đó.

看来这个人和三叔的关系比我想的更复杂,而且看这人的语气,我猜这个人不是以一种情侣,就是以一种长辈或者兄长的心态在和三叔发着邮件。

Xem ra, quan hệ giữa chú Ba và người này phức tạp hơn tôi nghĩ nhiều.

Hơn nữa, xem giọng điệu của người này thì tôi đoán, hắn ta với chú Ba không phải tình nhân gì cả, mà giọng điệu này là giọng điệu của một người anh trai, hoặc một bậc trưởng bối nào đó.

我回信:

Tôi hồi âm lại:

了解,共勉。

【Biết rồi.

Cùng cố gắng.】

发完之后,我立即就回到房间里,关上了门,拿出我自己的手机,马上给我朋友发短信。

Gửi xong, tôi lập tức quay vào gian phòng trong, đóng cửa lại, lấy di động của mình ra, gửi tin nhắn cho anh bạn của tôi ngay lập tức.

我有一种预感,我甚至能猜到这个人可能是谁了。

Tôi có một dự cảm, rằng thậm chí tôi có thể đoán ra được người này là ai.

如果是我猜想的那样,那接下来的事情会完全出乎我的意料,所有人的命运都会有转机。

Nếu đúng như tôi phỏng đoán, vậy thì những gì xảy ra tiếp theo sẽ hoàn toàn nằm ngoài dự liệu của tôi, số mệnh của tất cả mọi người sẽ có cơ hội xoay chuyển.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 67: Bí Mật Của Máy Tính


我的朋友是下午两点到的,我和他说,我叔叔需要他帮忙査电脑,费用是十万。这家伙缺钱,五点起床一个飞机就到了。我和他说,我自己有事就不来找他了,让他自己把这份钱给踏踏实实赚了。

Anh bạn của tôi đến nơi vào lúc hai giờ chiều.

Tôi nói với anh ta, rằng chú tôi cần anh ta kiểm tra máy tính giúp, tiền công là một trăm ngàn.

Anh chàng này thiếu tiền, nghe vậy liền dậy từ năm giờ sáng, lên máy bay đến thẳng chỗ tôi.

Tôi nói, tôi có việc nên không đến gặp anh ta được, cho anh ta kiếm khoản tiền này đấy.

这人是我一个同学,在电脑上有一些技术,上次我查那个网站也是他帮的忙。我把我的要求和他一说,他立即就明白了,也没问为什么,立即开整。

Người này là bạn học với tôi ngày trước, có tay nghề khá tốt về máy tính, lần trước tôi muốn tra trang web kia cũng phải nhờ anh ta giúp một tay.

Tôi nói rõ yêu cầu của mình, anh ta liền hiểu ngay, cũng không hỏi tại sao, bắt tay vào việc luôn.

但是他刚把电脑整个搬了起来,看了一眼,就"咦"了一声。

Nhưng khi anh ta vừa mới dời cả dàn máy tính đi, nhìn một cái, bỗng kêu "ơ" một tiếng.

我问怎么了,他道:"您这台电脑没有联网啊。"

Tôi hỏi sao thế, anh ta đáp: "Máy tính này của chú không có kết nối mạng mà."

"没有联网?"

"Không có mạng?"

"您看,没有网线啊。"

"Đây chú xem, làm gì có dây cáp mạng."

我趴下去一看,也愣了。果然,这电脑后面光溜溜的,连我这种没什么电脑知识的人也能肯定,这台电脑绝对没有连通网线,因为它只有一条电源线连接着插座。

Tôi nằm sấp xuống, thò đầu vào nhìn, cũng sửng sốt.

Quả đúng là phía sau CPU hoàn toàn chẳng có gì, ngay đến loại người kiến thức máy tính cùi bắp như tôi cũng có thể thấy rõ, máy tính này chắc chắn không có kết nối mạng, bởi vì nó chỉ có duy nhất một đường dây nguồn nối với ổ điện.

"无线网络?"

"Mạng không dây thì sao?"

"不可能。电脑里没有安装无线网络驱动系统"

"Không thể nào, máy tính này không lắp đặt hệ thống thu phát không dây."

"那这是怎么回事?"我奇怪。

"Vậy thì thế là thế nào?"

Tôi ngạc nhiên.

我靠。这是啊,我心说。以前我看过一个电视剧。里面的电脑可以通过某种灵力和另一个世界的另一台电脑连接,里面的人说这种网络叫做"鬼网"。

Mẹ kiếp, thế thì là "ghost net" à, tôi nghĩ thầm.

Ngày xưa tôi từng xem một bộ phim truyền hình, trong đó một máy tính có thể kết nối với một máy tính khác thông qua một loại linh lực nào đó, các nhân vật trong phim nói loại kết nối mạng này là "ghost net".

我不知道是什么原理,但是绝对不会是鬼网,我忽然意识到这亊情很关键

Tôi không biết nguyên lý của nó là gì, nhưng chắc chắn đây không phải ma quỷ gì cả.

Tôi bỗng nhận ra một điểm rất mấu chốt trong sự việc này.

我坐回到电脑前,冷静了一下。他就道:"我得拆开来看看,才能知道是什么情况,否则的话,你就是在自己和自己对话。"

Tôi ngồi xuống trước máy tính, bình tĩnh lại.

Anh ta nói tiếp: "Để cháu mở ra xem xem, mới biết được cụ thể là thế nào, bằng không, thì chính là chú đã tự nói chuyện với chính mình rồi."

"我不懂。你说得详细点。"

"Tôi không hiểu lắm, cậu nói cụ thể hơn đi."

"理论上也能做到这一点。一台电脑里面可以设置两个账户,在同一个电脑里互相通信。"

"Về mặt lý thuyết thì có thể làm được việc này.

Trong một máy tính có thể tạo ra được hai tài khoản, có thể gửi mail qua lại cho nhau trong cùng một máy tính."

"不需要网络?"

"Không cần kết nối mạng?"

"不需要,不过。您的邮件往来有实际内容吗?"

"Không cần, nhưng mà, số mail qua lại đó có nội dung thực tế không ạ?"

我点头:"当然有。"

Tôi gật đầu: "Đương nhiên là có."

"那就不可能是这样的,我觉得机箱里面一定有蹊跷。"他说道:

"Thế thì không phải vậy rồi.

Cháu cảm thấy chắc chắn là vấn đề nằm bên trong CPU này."

Anh ta nói.

我问他会不会损坏机器,他摇头说绝对不会。

Tôi hỏi liệu có làm hư hại máy không, anh ta lắc đầu nói không đâu.

他速度很快。显然在电脑城里装电脑装惯了,很快就把主机的壳子拆了下来。里面全是我看不懂的电路板:他用镊子在里面敲来敲去,看完后脸色苍白,对我道:"叔,这真他娘的诡异了,这里面没网卡。"

Tốc độ của anh ta rất nhanh, rõ ràng là đã quen lắp đặt máy tính rồi, loáng một cái đã tháo lớp vỏ ngoài của thùng máy ra, lộ ra những bảng mạch điện bên trong mà tôi xem chẳng hiểu gì cả.

Anh ta cầm cái nhíp gõ tới gõ lui bên trong, xem xong, sắc mặt anh ta tái nhợt, nói với tôi: "Chú, cái này quái thấy mẹ luôn á, trong này không có card mạng."

我不理解这有多严重,露出疑惑的表情他道:"在计算机的层面里,这是违反物理定律的。你没有网卡,就绝对不可能收到任何外网的邮件。不可能。你收到的这封邮件,只能是来自于你这台电脑本身"

Tôi không hiểu việc này nghiêm trọng đến mức nào, vẻ mặt nghi hoặc.

Anh ta nói: "Trong máy tính, thì việc này rất chi là phản khoa học, trái với định luật vật lý.

Không có card mạng, chắc chắn không thể nhận được bất kỳ thư điện tử nào từ bên ngoài.

Không thể có chuyện đó được, số mail mà chú nhận được chỉ có thể đến từ chính cái máy tính này thôi."

"什么意思?"

"Tức là sao?"

"您要么是自己在和自己发邮件,要么,您这台电脑自己能发邮件给您。"

"Tức là chú đã tự gửi thư cho chính mình, hoặc là, máy tính này của chú gửi thư cho chú."

我摇头,这绝对不可能。"绝对不可能,你仔细看看。"我道。忽然就想起昨天最后一封邮件,我靠,难道这电脑是有智慧的,它是在这个房间里看到我出去抽的烟,并不是在这里其他某个地方监视我的阳台?

Tôi lắc đầu, không thể có chuyện đó được.

"Chắc chắn không thể thế được, cậu xem kỹ một tí cho tôi đi."

Tôi nói.

Bỗng nhớ lại lá thư cuối cùng tôi nhận được ngày hôm qua, mẹ kiếp, chẳng lẽ cái máy tính này có trí thông minh, nó ở trong căn phòng này, nhìn thấy tôi ra ngoài hút thuốc nên mới gửi thư như thế, chứ không phải là một ai đó khác ở một nơi khác đang giám sát ban công phòng tôi?

我浑身涌上一阵寒意。如果是这样,那我们现在的举动是不是就是在强奸它?不,解剖它。

Tôi rùng hết cả mình.

Nếu thế, vậy thì hành động của chúng tôi lúc này có phải là đang cưỡng hiếp nó không?

À không, là giải phẫu nó chứ.

我很快打消了这个可笑的念头。这其中一定有蹊跷。我同学继续研究机箱内部。忽然,他"咦"了一声,用手电照到了一根很细的白色电线,说道:"原来如此。"

Tôi bỏ ngay cái suy nghĩ buồn cười này đi.

Trong chuyện này chắc chắn có điểm gì ly kỳ đâu.

Anh chàng bạn học cũ của tôi tiếp tục cắm mặt vào nghiên cứu thùng máy, bỗng nhiên, anh ta "ồ" lên một tiếng, cầm đèn pin chiếu vào một sợi dây điện rất nhỏ màu trắng, nói: "Thì ra là thế."

"是什么原因?"我急不可待地问道。他说:"现在还不知道,不过,这里有一条奇怪的电线。"他拨弄着那条白色的电线,电线非常细。他摸着,一直摸到电线的源头,电线连接到了电脑的电源里去。

"Là nguyên nhân gì thế?"

Tôi sốt ruột hỏi.

Anh ta đáp: "Bây giờ vẫn chưa biết, nhưng mà, ở đây có một sợi dây điện rất kỳ quái."

Anh ta gắp sợi dây điện màu trắng kia lên, sợi dây cực nhỏ.

Anh ta sờ thử, lần mò đến tận nguồn của sợi dây điện kia.

Thì ra sợi dây điện này nối thẳng vào trong bộ nguồn của máy tính.

他立即动手拆卸电源。在把电源拆卸完成之后,用螺丝刀挑出了那条白色的电线。发现电线接在一个很小的电子元件上。

Anh ta lập tức tháo nguồn điện ra, sau khi tháo xong, cầm tua-vít lựa sợi dây điện màu trắng kia ra, mới phát hiện sợi dây này nối đến một linh kiện điện tử rất nhỏ.

我完全看不懂,看着我的同学摸着下巴。他想了半天。就道:"不敢相信我看到了什么,我竟然会在这个时代看到这个东西。我说了您可能也无法理解:这是一个非常原始的网卡,它利用接地线来传递信号。这是一个点对点的网络。对方的计算机只和您的计算机相连。其实就是一个摩斯密码解析器:"

Tôi hoàn toàn không hiểu gì hết, chỉ thấy anh bạn học của tôi sờ cằm suy nghĩ.

Suy nghĩ mãi hồi lâu, anh ta mới nói: "Cháu không dám tin mình đang nhìn thấy cái gì nữa, không ngờ ở thời đại này rồi mà còn có thể nhìn thấy thứ này.

Cháu nói ra chắc chú cũng không hiểu đâu.

Nhưng đây là một dạng card mạng đời đầu, cực kỳ cổ lỗ sĩ, nó sử dụng dây nối đất của bộ nguồn để truyền phát tín hiệu.

Đây là mạng ngang hàng, máy tính của người ta chỉ kết nối với máy tính của chú thôi.

Thực ra là một loại thiết bị phân tích mã Morse."

"那他在什么地方?"我根本不想知道运作原理。

"Thế người đó ở đâu?"

Tôi vốn không muốn biết nguyên lý vận hành của thứ này.

"不知道,他使用的是电源的接地线,这是一条专门的线路。您有这间房子的电路图吗?如果有的话,我可以帮您查出来。"

"Không biết nữa, người này sử dụng dây nối đất của bộ nguồn, đây là một đường dây đặc biệt.

Chú có sơ đồ mạch điện của căn phòng này không?

Nếu có thì cháu mới tra được giúp chú."

我摇头,不消说我不知道那东西在什么地方,就算以前真的有过这个东西,三叔肯定也销毁掉了。以三叔的谨慎,他不可能让可以暴露这条线路的可能性存在。

Tôi lắc đầu.

Chưa nói đến việc tôi không biết thứ đó nằm ở đâu, mà cho dù có thứ đó thực, thì chắc chắn cũng đã bị chú Ba tiêu hủy từ lâu rồi.

Với tính cẩn thận của chú, chắc chắn chú sẽ không chừa lại bất kỳ khả năng nào có thể khiến tuyến đường này bị bại lộ.

他说:"那唯一的办法是把这条线路扯出来。线路的一端在这里。那么另一端只要顺着线路去找就能找到。"说着他指了指嵌入地板的插座,"这里就是源头。我们得把地板全部撬开,找到这条线的走向,另一台电脑一定也连在这根线上。"

Anh ta nói: "Thế thì chỉ còn cách duy nhất là kéo đường dây này ra.

Một đầu của đường dây nằm ở đây, như vậy chỉ cần lần theo đường dây này là có thể tìm được đầu kia."

Nói rồi, anh ta chỉ vào ổ cắm điện dưới sàn nhà, "Đây là nguồn điện, chúng ta phải cạy hết sàn nhà ra, tìm được hướng đi của đường dây này, chiếc máy tính còn lại chắc chắn cũng nối với đường dây này thôi."

我想了想,让他先别轻举妄动。我得琢磨一下,动静太大一定会被人发现,必须举重若轻地搞。他道:"这种专用网络传播距离很短,而且不可能离开这户人家太远,否则就会牵涉到路边的街道变压器:所以,他的位置一定不会离这里太远,肯定在几百米之内,很快就能找出来。"

Tôi suy nghĩ, bảo anh ta trước hết đừng vội hành động.

Tôi phải nghĩ đã, việc này sẽ gây ra động tĩnh quá lớn, chắc chắn sẽ bị phát hiện, phải làm sao cho nhẹ nhàng một chút.

Anh ta nói: "Mô hình mạng chuyên dụng này chỉ truyền phát trong khoảng cách rất ngắn, hơn nữa cũng không thể cách căn nhà này quá xa, nếu không sẽ phải dính đến cả máy biến thế ở trên phố nữa.

Cho nên, vị trí của người này nhất định chỉ ở rất gần đây thôi, chắc chắn là trong khoảng bán kín một trăm mét đổ lại, loáng cái là tìm ra được."

"你觉得,最多需要多少时间?"

"Cậu nghĩ cần nhiều nhất là bao nhiêu thời gian?"

"最多三个小时就能找到。"

"Nhiều nhất là ba tiếng là tìm ra được."

我拍了拍他,就道:"这样,你先休息一下,我们等晚上天黑之后再弄。你先把电脑给我装起来。"

Tôi vỗ vai anh ta, nói: "Thế thì, cậu cứ đi nghỉ ngơi một lát trước đã, đến tầm chiều tối chúng ta lại làm tiếp.

Cậu lắp lại cái máy tính về như cũ cho tôi trước đã."

情况继续变化,需等到子时。

【Tình hình lại có thay đổi, cần chờ đến giờ Tý.】

这是我发的邮件,让那人继续等一等。这样的话,这个人子时的时候一定会等在电脑边上。如果能找到,我就能破门而人抓个现行。

Đây là nội dung lá thư tôi gửi, để người kia tiếp tục chờ đợi.

Như thế, vào thời điểm giờ Tý, chắc chắn người này sẽ chờ sẵn ở bên máy tính.

Nếu lúc đó có thể tìm được vị trí của hắn, tôi cứ thế phá cửa mà xông vào bắt ngay tại trận.

对方一直没有回信,我一直等到天完全黑下来,便让我同学用布包着手电筒开工。

Đối phương vẫn không hồi âm lại, cho đến khi trời tối hẳn.

Tôi bảo anh bạn học lấy vải bọc đèn pin, bắt đầu làm việc.

三叔的家其实是一栋老式农民房改造的,所有的线路都是明线,但是三叔为了安全,在地面上加了一层。我朋友小心翼翼地把地板撬开后,敲破保护线外面的保护壳,把电线扯了出来。

Căn nhà của chú Ba thực ra vốn là một nhà nông dân kiểu cũ cải tạo lại.

Tất cả các đường dây đều được đi nổi, nhưng vì an toàn, nên mới xây sàn cao lên.

Anh bạn tôi dè dặt cạy sàn nhà ra, đập vỡ lớp vỏ bảo vệ bọc ngoài đường dây, kéo đường dây điện ra.

我跑到二楼,看房顶上的外接电线哪一根被扯动。

Tôi chạy xuống tầng hai, ngó lên trần nhà xem đường dây điện nào bên ngoài bị kéo.

然后一路找下来,发现这根电线又直接连到了屋子外面。我把固定这根电线的所有铆钉全部拔掉,继续让我同学抽动。

Sau đó cứ lần theo đường dây đó, phát hiện đường dây này nối ra tận bên ngoài căn nhà.

Tôi nhổ hết toàn bộ số đinh tán dùng để cố định đường dây, để anh bạn kia tiếp tục kéo dây.

再到一楼。我们跟着这根电线一路往前走,就来到了院子里。接着,我们就看到电线直接往下走,一路通到了地下。

Lại xuống đến tầng một, chúng tôi tiếp tục lần theo đường dây, vào trong sân.

Sau đó, chúng tôi nhìn thấy đường dây điện này cứ thế nối thẳng xuống dưới đất.

我心中奇怪,三叔的院子不大,也就六七平方米,那一束电线有四五根,全都是在墙壁的房檐下走,只有这一根电线是往地下走的。

Tôi rất lấy làm lạ, sân nhà chú Ba không rộng, chỉ khoảng sáu bảy mét vuông.

Cả một bó dây điện có khoảng bốn năm sợi dây, tất cả đều chạy dọc theo mái hiên trên vách tường, duy chỉ có đường day điện này là nối xuống dưới đất.

地面上堆满了凌乱的盆栽,足有十几盆。我和朋友小心翼翼地一盆一盆搬开,我惊讶地看到了一个窨井盖:

Trong sân chất đầy những chậu cây cảnh lộn xộn, có chừng mười mấy chậu cây liền.

Tôi với anh bạn kia cẩn thận khiêng từng chậu một ra, tôi mới kinh ngạc nhìn thấy một nắp giếng thông với đường nước ngầm dưới mặt đất.

电线一路往下,竞然通到了这个窨井里。

Dây điện này cứ thế thông xuống, chui thẳng qua nắp giếng này.

我从来不知道三叔家里还有这个东西。窨井盖上有一个提手,我上去提了一下,发现可以提动,里面一片漆黑,心就吊了起来。

Xưa nay tôi chưa bao giờ biết đến thứ này trong nhà chú Ba.

Trên nắp giếng này có một cái tay cầm để kéo lên, tôi thử cầm vào, thấy có thể kéo lên được, bên trong đường ống tối mịt, thần kinh tôi như căng ra.

有门儿。

Có cửa rồi.

我吸了口气,就对我的同学说:"行了,到这儿就行了吧。"把他支走后,我立即就去屋里拿了手电,来到窨井盖前,深吸了一口气,拉起来就往下照。

Tôi hít sâu một hơi, nói với anh bạn học: "Được rồi, đến đây là được rồi."

Tôi tống tiễn anh ta rời đi, sau đó lập tức chạy ngay vào trong nhà, cầm đèn pin ra, đến trước nắp giếng, hít sâu một hơi, nhấc nắp giếng lên rồi chiếu đèn xuống dưới.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 68: Bí Mật Dưới Của Hàng Của Chú Ba


我看到了一段铁皮梯子,里面很黑,但能看到最下面有水。

Tôi thấy một đoạn thang bằng sắt tây, bên dưới tối đen, nhưng có thể thấy phía dưới cùng có nước.

真的是个窨井。

Đúng là một cái giếng thoát nước.

我想了想,觉得也是,这盖子上全是窟窿,要是下雨肯定得往里灌。这电线肯定还得继续往下走一段。

Tôi suy nghĩ một chút, cảm thấy cũng phải, trên nắp giếng này toàn là lỗ hổng, nếu trời mưa ắt nước sẽ đổ hết xuống đây, đường dây điện chắc chắn còn kéo dài xuống một đoạn nữa.

窨井非常小,我进去之后几乎没有任何空隙让我转身。下去之后,下面是一个大概一米左右的立方空间,全是水和落叶。在左边还有一个只能靠爬行进入的洞口,我看着电线一路下去,直接连接到了这个洞口里。

Cái giếng này rất nhỏ, tôi chui vào rồi là chẳng còn khe hở nào đủ để xoay người nữa.

Bên dưới là một khoảng không gian rộng khoảng một mét, toàn là nước và lá rụng.

Phía bên trái có một cửa hang rất nhỏ, phải bò mà chui vào.

Tôi thấy đường dây điện từ trên xuống, đi thẳng vào trong cái hang này.

我用嘴巴咬住手电筒,爬进这个洞口,一直往前爬。

Tôi dùng miệng cắn giữ đèn pin, chui qua cửa hang này, bò về phía trước.

这种感觉让我又想起了爬盗洞的时候,我心中很不舒服。咬牙坚持着,爬了六七米,终于爬完了通道。

Cảm giác này làm tôi liên tưởng đến những lúc chui qua hang trộm, khiến tôi rất không thoải mái, phải nghiến răng kiên trì, chui được chừng sáu bảy mét, cuối cùng cũng chui vào được một lối đi.

用手电一扫,我就发现。这个通道的尽头,是一个房间。房间是架空的,地下的架子是铁和木头做的,水从架子下面流过去。架子和木头腐朽得很厉害。我踩上去,感觉像是踩在棉花上。

Tôi cầm đèn pin chiếu qua, liền nhận ra phía cuối lối đi này là một căn phòng.

Căn phòng này được bắc trên cao, bên dưới là dàn giáo bằng gỗ và thép, nước chảy qua bên dưới.

Giá gỗ đã mục nát lắm rồi, tôi giẫm lên mà có cảm giác như đang giẫm trên bông vải vậy.

架子上摆了几个书架,一张床和一张桌子,电子上面有一台电脑。一台录像机和一台电视上所有的这些东西都因为潮气霉变得很厉害,上面都有很多的霉斑。

Trên dàn giáo này bày mấy kệ sách, một cái giường và một cái bàn, đồ điện tử thì gồm có một cái máy tính, một máy thu hình và một vô tuyến điện.

Tất cả những thứ này đã mốc xanh mốc đỏ lên vì không khí ẩm ướt, loang lổ nhiều đốm mốc.

电线就通到这个房间里的这台电脑上。但是我没有看到任何人。

Đường dây điện nối đến chiếc máy tính trong phòng này.

Nhưng tôi không nhìn thấy ai cả.

那人还没回来?

Người nọ vẫn còn chưa quay lại?

我愣了一下,摸了摸那台电脑。是凉的。

Tôi sửng sốt, thử sờ lên chiếc máy tính kia.

Lạnh tanh.

刚才我进来的那个井口的盖子上压了那么多的盆栽,如果他要出去,必须移开那些盆栽。他不可能是从我进来的地方进出的。

Vừa rồi khi tôi chui xuống giếng này, vốn có nhiều chậu cây cảnh đè lên nắp giếng như vậy, nếu hắn ta muốn chui ra ngoài thì buộc phải dời những chậu cây này đi.

Tức nghĩa là, hắn không thể ra vào từ nơi mà tôi đã vào đây được.

我打着手电在房间里找了一圈,就发现在右边的墙上还有一个口子,水从我来的方向流进来,从这个口子流出去。我往口子里照了照。很深,没有人在里面。

Tôi bật đèn pin, tìm kiếm khắp một lượt, mới phát hiện trên vách tường bên phải có một khe nứt, nước từ chỗ tôi đổ vào trong khe nứt đó, chảy ra ngoài.

Tôi chiếu ánh đèn vào trong khe nứt, không có ai ở trong.

这他圌妈是谁呢?竞然有人生活在三叔家的下水道里,还是以这么一种隐秘的方式。还和三叔使用这种方式保持着联系。

Mẹ kiếp rốt cuộc người này là ai?

Tại sao lại có một người sống trong cống thoát nước dưới nhà chú Ba cơ chứ?

Rồi còn liên tục duy trì liên lạc với chú Ba bằng phương thức bí ẩn như thế này.

这他圌妈太诡异了。

Thực quá là quái dị.

我把手电照向那几个书架,上面竟然全都是录像带。

Tôi cầm đèn pin chiếu đến chỗ mấy kệ sách kia, thì ra trên kệ toàn là hộp băng hình.

我的手开始颤抖起来。抽圌出来一盒......我发现书架上面所有的录像带全都是有编号的,和我当时收到的那几盒一模一样。但是我抽圌出来时的感觉有些不对,太轻了。打开一看,里面竟然是空的。

Tay tôi bắt đầu run lên bần bật, rút ra một hộp...

Tôi phát hiện tất cả hộp băng hình trên kệ đều được đánh số thứ tự, giống hệt mấy hộp băng mà lúc trước tôi nhận được.

Nhưng khi rút ra tôi lại cảm thấy không đúng, hộp này nhẹ quá.

Mở ra nhìn, thì ra bên trong rỗng không.

我又拆了几盒,发现里面全都是空的。我心中讶异,为什么他要把空盒子放在这里?

Tôi lại rút thêm mấy hộp nữa ra, vẫn hoàn toàn rỗng không.

Tôi kinh ngạc, vì sao hắn phải cất những hộp băng trống ở đây?

我冷静了一下,心中非常混乱,我要把所有的事情稍微理一下。

Tôi cố gắng lấy lại bình tĩnh, lúc này trong lòng tôi vô cùng hỗn loạn, tôi phải sắp xếp lại tất cả mọi chuyện một chút.

三叔的屋子下面有个人。和三叔使用一种特别奇怪的方式保持着联系。三叔知道这个人在这里吗?

Phía dưới nhà của chú Ba có người, người này duy trì liên lạc với chú Ba bằng một phương thức rất đặc biệt.

Chú Ba có biết người đó ở dưới này hay không?

我想不可能有人可以在三叔眼皮底下。在三叔的房子下面做这么一个暗室,三叔肯定是知道的,甚至这个暗室里的一切本身就是三叔安棑的。

Tôi nghĩ, nhất định không kẻ nào có thể lén lút xây dựng một căn phòng bí mật bên dưới nhà chú Ba sau lưng chú được, vậy nên, chắc chắn là chú biết việc này, thậm chí, căn phòng bí mật này có thể là do chính chú Ba xây dựng nên.

那么这个人在这个暗室里待了多少年?

Vậy thì, người này đã ở trong căn phòng bí mật này suốt bao nhiêu năm rồi?

从这些木头和铁架子生锈的程度来看,这些东西显然已经存在很长时间了。我无法准确判断到底是多久,但是我觉得要达到这种老旧的程度,最起码要六七年时间,甚至。上限可能达到几十年。杭州虽然雨水比较多,但总体来说肯定是晴天和阴天占的比例更大。按照这种结构,这个下水管道一定不会常年有水,所以能腐蚀到这个程度。时间可能是非常长的。

Xem xét mức độ rỉ sét của dàn giáo bằng gỗ và thép thì rõ ràng những thứ này đã tồn tại từ rất lâu.

Tôi không thể phán đoán chính xác được là bao lâu, nhưng tôi cảm thấy, để đạt đến được mức độ cũ kỹ như thế này, thì ít nhất cũng phải mất khoảng sáu bảy năm, thậm chí, tối đa có thể lên đến mấy chục năm.

Ở Hàng Châu, mặc dù lượng mưa khá nhiều, nhưng xét tổng thể ra thì số ngày trời trong và trời nhiều mây chiếm tỉ lệ lớn hơn.

Theo đó, chắc chắn đường thoát nước này không phải lúc nào cũng ngập nước, bởi vậy, để dàn giáo bị ăn mòn đến mức này thì nhất định phải là một khoảng thời gian rất dài.

从这张床的样子来看,这人肯定是生活在这里的。我翻了翻床和被子,都很干净。而且被子和床都很整齐。显然这个人虽然生活在这种环境下,但是依然保持着极度的自律。

Có chiếc giường ở đây, chứng tỏ người này sinh sống ở nơi này.

Tôi lật giường với chăn lên xem, rất sạch sẽ, hơn nữa, giường chiếu rất gọn gàng.

Rõ ràng, người này tuy phải sống trong hoàn cảnh này, nhưng vẫn duy trì nếp sống vô cùng kỷ luật.

这个人一定是三叔计划中一个极其重要的人,甚至可能是最为核心的人物。否则不可能会以这样的形式存在。

Người này nhất định là một nhân vật cực kỳ quan trọng trong kế hoạch của chú Ba, thậm chí, còn có thế là nhân vật trụ cột nhất, nếu không đã không phải tồn tại trong hoàn cảnh như thế.

不过,这个人现在去了哪儿?如果他必须待在这种地方,他不应该经常出去才对。

Có điều, bây giờ người này đang ở đâu?

Nếu hắn đã luôn phải ở đây, thì hắn không nên thường xuyên ra ngoài mới đúng.

这个人一定是一个不可以存在于世界上的人,所以才会用这种方式藏匿,这有点像《安妮日记》里的安妮当时住的暗格了。

Người này nhất định là một người không thể tồn tại trên thế giới này, cho nên mới phải ẩn náu ở đây bằng cách này, hơi giống như cái hốc kín mà cô bé Anne đã phải chui lủi trong "Nhật ký Anne Frank".

我坐下来,揉了揉脸,听了听周围的动静。没听见什么动静,便打开了电脑。

Tôi ngồi xuống, day day mặt, lắng nghe động tĩnh xung quanh.

Không nghe thấy tiếng động gì, tôi liền bật máy tính lên.

这台电脑和三叔的完全是一个型号的。电脑很平稳地开机运行着。很快就跳出和三叔电脑上一模一样的界面。

Máy tính này hoàn toàn cùng một loại với máy tính của chú Ba.

Chiếc máy tính bắt đầu khởi động, chẳng mấy chốc, đã hiện lên hình nền màn hình giống hệt như trong máy của chú Ba.

我圌操作了几下,发现和三叔的电脑一样。里面几乎什么东西都没有。

Tôi thực hiện vài thao tác, phát hiện chiếc máy này cũng giống hệt như máy tính chú Ba vậy, gần như chẳng có gì cả.

我立即就打开了邮件软件。

Tôi liền bật phần mềm thư điện tử lên.

我看到了一个空白的列表,里面只有一封邮件。

Tôi nhìn thấy một danh sách trống trơn, bên trong chỉ có một lá thư điện tử.

我点开,一下就发现,是我自己最后写的那一封。

Tôi mở ra, liền nhận ra, đó chính là lá thư cuối cùng mà tôi đã gửi.

其他的,无论是收件箱还是发件箱,完全是空白的。

Còn lại, cả hòm thư nhận lẫn hòm thư gửi đều trống trơn.

我忽然有种不祥的预感,我站了起来,去看了床底下,打开了书架上所有的录像带盒子,翻看了录像机

Tôi bỗng có dự cảm không lành, tôi bèn đứng lên, cúi xuống gầm giường, mở tất cả các hộp băng hình trên kệ sách ra.

这封最后的邮件证明,和我进行邮件往来的这个人,就是在这里收发邮件的。

Lá thư cuối cùng này đã cho thấy, người vẫn luôn gửi thư qua lại với tôi đã nhận thư ở chính nơi này.

但是,这里什么都没有。

Thế nhưng, ở đây lại không có ai hết.

如果是一个人藏匿在这里,不可能是这种状况,肯定会有更多生活的痕迹要么这个人就是一个机器人,他除了收发邮件处理信息之外,完全什么都不干。

Nếu đã có người ẩn náu tại nơi này, thì không thể xảy ra tình huống này được, chắc chắn phải có nhiều dấu vết sinh hoạt hơn nữa chứ.

Hoặc là người này chính là một con robot, ngoài việc nhận thư điện tử và xử lý thông tin ra thì chẳng làm gì khác nữa.

这绝对会让人疯掉的。如果是一个人住在这里的话,他绝对会疯掉的。

Cuộc sống như thế chắc chắn sẽ khiến con người phát điên.

Nếu có người ở đây, thế nào cũng sẽ phát điên.

我在这个斗室内不停地踱步,一边想是怎么回事,难道这里面不止一个房间?

Tôi đi đi lại lại liên tục trong căn phòng ổ chuột nho nhỏ này, vừa ngẫm nghĩ xem việc này là thế nào, chẳng lẽ ở đây không chỉ có một căn phòng?

这也有可能。我心中想着,蹲下来看了看另一边的口子。也许从这个口子爬过去,还有另外一个房间。里面全都是生活用品,甚至还有篮球场什么的。也许还会有充圌气圌娃圌娃。

Cũng có thể lắm.

Tôi nghĩ vậy, ngồi xổm xuống, nhìn vào trong khe nứt kia.

Có lẽ phải chui qua cái khe này, đến một gian phòng khác, mới nhìn thấy những vật dụng sinh hoạt hàng ngày trong đó, thậm chí có khi còn có cả sân bóng rổ hay gì gì đó, hoặc cũng có thể là chất đầy búp bê bơm hơi chẳng hạn.

那人也许生活在另一个房间里。

Có lẽ, người đó sinh hoạt trong một căn phòng khác.

我深呼吸。蹲下来就钻了进去。这个管道更窄,我得缩着肚子才能一点一点往里挤。挤到一半的时候,我就意识到这人肯定不会是一个大个子。如果是一个大个子,天天过这样的生活,我宁可死了算了。

Tôi hít thở sâu, ngồi xổm xuống, lách mình vào trong.

Đường ống này ngày càng hẹp, tôi phải hóp cả bụng vào, cố lách người vào từng chút một.

Chui vào được nửa người, tôi mới nghĩ người này chắc chắn không phải một kẻ cao to lực lưỡng.

Nếu là một kẻ cao to lực lưỡng, ngày nào cũng phải trải qua cuộc sống như thế này, tôi thà chết còn hơn.

一路往前,又爬了大概十几米,前面忽然出现了光亮。我爬了出去,发现尽头并不是我想的另一个房间,而是一块木板,木板上面坑坑洼洼的全是孔洞,有光透进来。

Đi về phía trước, rồi lại chui rúc khoảng mười mấy mét, trước mặt bống xuất hiện ánh sáng.

Tôi chui ra ngoài, phát hiện phía cuối con đường không phải là một căn phòng khác, mà là một tấm ván.

Tấm ván gỗ này thủng lỗ chỗ, ánh sáng theo đó chiếu vào.

我推开木板,一下就发现。这里是一条暗巷。

Tôi đẩy tấm ván ra, liền phát hiện nơi này là một con hẻm ngầm.

所谓的暗巷就是,以前造农民房的时候,两栋房子挨在一起,中间会形成一条非常狭窄的通道,两边是两栋房子的墙。这样的建筑结构非常不安全,因为盗贼可以踩着两边的墙一步一步地蹬上楼,所以很多居民干脆就把自家的围墙和邻居家的围墙修得连起来,封死狭长通道的两个入口。

Hẻm ngầm là thứ như thế này: ngày xưa khi nông dân xây nhà, hai căn nhà sát cạnh nhau sẽ chừa ra một khoảng rất hẹp ở giữa, hai bên là hai vách tường của hai nhà.

Kết cấu như vậy rất không an toàn, bởi những tên trộm có thể đạp lên hai vách tường hai bên, dần dần trèo lên tầng cao, bởi vậy, nhiều người đã nối luôn tường rào của nhà mình với tường rào nhà hàng xóm, bịt kín cả hai đầu của con hẻm nhỏ vừa hẹp vừa dài này.

这样,很快人们就会忘记了,在己的房子和邻居的房子之间还隔着一个非常狭窄的空间。

Như thế, chẳng bao lâu sau, người ta sẽ quên mất rằng, giữa nhà mình với nhà hàng xóm còn có một khoảng không gian vô cùng chật hẹp kia.

这种结构被很多古董商所利用。很多时候,这里用来摆放一些违禁品。

Lối kết cấu này thường được nhiều thương nhân buôn đồ cổ sử dụng, dùng để bày một số hàng cấm.

这个暗巷人只能侧身通过,出来之后几乎不可能再回到那个洞。我侧身来到墙边上,那儿有几块可以借力的砖头,我踩着登了上去。然后翻圌墙下去。

Ở trong con hẻm ngầm này, phải nghiêng người mới đi qua được, mà đã chui ra rồi là không thể nào quay đầu chui vào lại cái hang hốc kia được nữa.

Tôi nghiêng người, áp sát mình vào tường, ở đó có mấy cục gạch tôi có thể giẫm lên, tôi bèn đạp lên đó, rồi trèo tường mà qua.

下去就是三叔家的外墙。我看了看四周,自己也觉得莫名其妙。只能灰溜溜地从正门回去,心说这是怎么回事呢?

Nhảy xuống là ra bờ tường nhà chú Ba rồi.

Tôi nhìn xung quanh, cảm thấy không thể hiểu nổi.

Đành phải ảo não quay vào nhà từ cửa chính, nghĩ thầm thế là thế nào nhỉ?

我在院子里走了一圈儿,摸了摸脑袋。如果是这样的结构的话。这说明地下的这个家伙应该是和我一样,从暗巷出去了。

Tôi đi một vòng trong sân, gãi đầu gãi tai.

Nếu là kết cấu như vậy, chứng tỏ thằng cha dưới đất kia cũng làm giống tôi vậy, chui qua con hẻm ngầm đó để ra ngoài.

那等一下他怎么回来啊?难道还是从那儿翻圌墙回来?我心说这倒也行,我可以去暗巷堵他,那地方那么狭窄,随便怎样他都没有办法逃。

Nhưng hắn quay trở vào như thế nào nhỉ?

Chẳng lẽ lại leo tường theo đường ấy mà vào?

Tôi nghĩ thầm, thế cũng được, tôi có thể chui vào con hẻm ngầm kia chặn đường hắn, chỗ đó hẹp như thế, có làm sao hắn cũng không trốn được.

但是我想了想,觉得还是在他房间里堵他更合适。

Tôi suy nghĩ một lát, lại nghĩ, vẫn là nên bắt quả tang hắn trong căn phòng ngầm kia thì hợp lý hơn.

我再次下到那个窨井里,到了那个房间。

Tôi lại chui xuống cái giếng thoát nước một lần nữa, đến căn phòng kia.

这次一爬,我已经累得气喘吁吁了。我在椅子上坐下,集中注意力死死地盯住那个通道口。只要有任何东西从里面探出来,我就一下扑上去把他按死。

Lần này, chui vào xong, tôi mệt đến nỗi thở hồng hộc.

Tôi ngồi xuống ghế, dồn hết sức tập trung vào cái khe nứt kia.

Chỉ cần có bất kỳ thứ gì thò đầu ra khỏi đó, tôi sẽ bổ nhào vào đè chết hắn ngay tức khắc.

我不敢开手电,就在黑暗中静静地待着。

Tôi không dám bật đèn pin, chỉ lẳng lặng chờ đợi trong bóng tối.

也不知道过了多久。我都有点恍惚了,忽然听到有人说话。我一下就从恍惚的状态中冲了回来,一个激灵,立即屏住呼吸,向通道口的方向看去。

Cũng không biết bao lâu sau, tôi bắt đầu có chút ngẩn ngơ rồi, bất chợt lại nghe thấy tiếng người nói chuyện.

Tôi lập tức bừng tỉnh khỏi trạng thái ngẩn ngơ, giật thót mình, lập tức ngừng thở, nhìn ngay về phía lối đi.

那边一片漆黑

Ở đó vẫn tối đen.

我愣了一下,幻听?

Tôi ngẩn ra, nghe lầm rồi?

刚想完,又传来一声说话的声音。

Vừa nghĩ vậy, thì một giọng nói lại vang lên.

"朋友。"

"Anh bạn à."

这个声音不知道是从房间的哪个角落传来的。我吓得几乎屁滚尿流,立即就打开了手电,像机关枪扫射一样四处乱照,

Giọng nói này không biết vang lên từ góc nào trong căn phòng này.

Tôi sợ đến mức suýt đái cả ra quần, lập tức bật đèn pin lên, khua đi khắp bốn phía như rải đạn liên thanh.

但是照了一圈儿发现,房间里还是什么人都没有。难道是在下水道里?我刚想去照照,那个声音又响了起来:"打开电脑"

Nhưng chiếu khắp một vòng mà vẫn không thấy ai xuất hiện trong căn phòng này.

Chẳng lẽ lại ở trong cống thoát nước?

Tôi vừa định chiếu vào xem thử, thì giọng nói kia lại vang lên lần nữa: "Bật máy tính lên."

我一个激灵,这一次我清晰地分辨出来,这声音是从天花板上传来的。

Tôi giật mình, lần này tôi đã nghe ra rõ ràng rồi, giọng nói này vọng từ trên trần nhà xuống.

那一瞬间,我忽然就感觉在这个房间的房顶似乎挂着什么东西,立即抬头。

Trong nháy mắt đó, bỗng nhiên, tôi cũng có cảm giác như thể có thứ gì đó đang treo mình trên trần căn phòng này, bèn ngẩng phắt đầu lên.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 69: Thiên Hoa Bản


就在那一瞬间,我甚至感觉天花板上挂了一大团头发,一定是之前几次把我们吓死的东西。所以我抬起头,一下看到上面用手电照出的影子时,浑身的鸡皮疙瘩全部起来了。同时,整个人几乎条件反射般地就往一边靠去。

Ngay trong nháy mắt đó, thậm chí tôi còn có cảm giác như thể một đống tóc đang treo ngược ngay trên trần nhà, chắc chắn là cái thứ đã hù tôi sợ chết khiếp vài lần trước.

Nên tôi liền ngẩng phắt đầu lên, ngay khi nhìn thấy một cái bóng lù lù hiện lên dưới ánh đèn pin của mình, toàn thân tôi nổi hết cả da gà.

Cùng lúc đó, theo phản xạ có điều kiện, tôi lùi lại về một phía.

但是,随即我就发现,我什么都没有看到,上面只是一些水管和一吊灯。

Nhưng ngay sau đó, tôi lại không phát hiện thấy gì cả.

Phía trên chỉ có một vài ống nước và một cái đèn treo.

我觉得奇怪,仔细在天花板上扫了一圈。上面不可能有人。就在这时,天花板上又传来了一个声音。

Tôi cảm thấy rất là lạ, cẩn thận chiếu đèn khắp trần nhà một lượt, phía trên này chắc chắn phải có ai đó chứ?

Đúng lúc này, từ trên trần nhà lại vọng xuống một giọng nói.

"我正在你的房间里说话,这个房间刚设计的时候,就专门设计了你的房间和这间暗室的传音效果,好让我时时能够得知上面的动态。"

"Tôi đang ở trong phòng của anh để nói đây, khi xây căn nhà này đã đặc biệt thiết kế một cơ chế truyền âm giữa phòng của anh và căn phòng bí mật này, để tôi lúc nào cũng có thể biết được động tĩnh phía trên."

我立即就知道是怎么回事了。我靠,这样的话,我在上面和我同学拆卸电脑的过程,他妈的这里全部能听到,难怪他跑了。

Tôi liền hiểu ngay ra vấn đề.

Mẹ nó, như vậy tức là ở nơi này có thể nghe thấy hết toàn bộ quá trình tôi với anh bạn học kia tháo chiếc máy tính ra, thảo nào hắn đã kịp chạy biến.

哎呀,我真笨,这么谨慎的人,不可能会犯那么低级的错误,一定会有后招,三叔房间里所有的动静全都被他监控的

Trời ạ, tôi thật ngu ngốc, loại người cẩn trọng đến thế không thể phạm phải thứ sai lầm cấp thấp như vậy được, thế nào cũng thòng một chiêu phía sau, thì ra tất cả động tĩnh trong phòng chú Ba đều bị hắn giám sát cả.

我深吸了口气,就问道:"你是谁?"

Tôi hít sâu một hơi, lại hỏi: "Anh là ai?"

"我知道你听得到我的声音,现在你有半小时的时间明确自己的处境。我封闭了你所在房间的两个出入口,你已经被困死在那个房间里了。"对方道。声音在这种传播方式下显得特别沉闷,听不出具体的声音特征。

"Tôi biết anh nghe thấy tôi nói gì, bây giờ anh có nửa giờ để hiểu rõ tình cảnh của mình lúc này.

Tôi đã bịt kín hai lối ra vào của căn phòng nơi anh đang đứng, hiện tại, anh đang bị mắc kẹt trong căn phòng đó rồi."

Đối phương nói.

Với phương thức truyền âm này, giọng nói kia nghe rất tù mù, không nghe ra được đặc trưng cụ thể của giọng nói.

"你是谁?你想干什么?"我大叫道

"Anh là ai?

Anh muốn làm gì?"

Tôi gào lên.

"你不是吴三省,你的出现证明他出现了问题,我必须知道问题出在什么地方:等你明确了你的处境,你可以用你面前的电脑来回答我提出的问题"

"Anh không phải Ngô Tam Tỉnh, sự xuất hiện của anh cho thấy phía Ngô Tam Tỉnh đã xảy ra vấn đề, tôi phải làm rõ vấn đề này ở đâu.

Sau khi anh rõ được tình cảnh của mình lúc này, anh có thể sử dụng máy tính trước mặt mình để đặt câu hỏi cho tôi."

我又叫了一声,忽然意识到不对,很可能。我这里发出的声音他是听不到的,只有单向的监听才是监听,否则不是变成电话了吗?

Tôi lại gào lên một tiếng nữa, rồi mới nhận ra có điều không đúng.

Rất có thể hắn ta không nghe thấy tiếng động tôi phát ra ở nơi này, phải rồi, chỉ có một bên nghe trộm động tĩnh của bên khác thì mới gọi là "nghe trộm", bằng không thì là điện thoại rồi còn gì?

我立即来到电脑边上。我知道这个人说的话不用去验证,出人口肯定是被封住了。

Tôi lập tức đi đến bên chiếc máy tính, tôi biết mình không cần đi kiểm nghiệm lời nói của người này, chắc chắn là hai lối ra vào đã bị bịt kín.

难怪这里什么东西都没了。他听到我和我同学的对话之后。一定把这里的所有东西都清空了。

Thảo nào ở đây chẳng có đồ đạc gì cả.

Sau khi nghe thấy đoạn đối thoại giữa tôi với anh bạn học, chắc chắn hắn đã xóa sạch mọi dấu vết ở nơi này.

但是他留了一封邮件没有删除,他是想我回复起来方便一些。真他妈贴心啊。

Nhưng hắn lại để lại một lá thư điện tử, không xóa đi.

Hắn muốn tôi hồi âm cho hắn thuận tiện hơn một chút.

Con mẹ nó, có lòng thật.

我立即回信:

Tôi lập tức gửi thư trả lời:

"我听到了,你是谁?"

【Đã nghe thấy.

Anh là ai?】

等了片刻,对方回了过来:

Giây lát sau, đối phương trả lời:

"你是谁?这个房间的密封性非常好,你怎么叫外面都不可能听到。你如果不想在房间里被困死,就要说实话。"

【Anh là ai?

Gian phòng đó bịt rất kín, cách âm rất tốt, dù anh có kêu gào đến thế nào, bên ngoài cũng không nghe thấy gì đâu.

Nếu anh không muốn bị mắc kẹt đến chết trong đó, thì hãy nói thật.】

我刚想回答,立即又有一封信发了过来:

Tôi vừa định trả lời, thì lại có một lá thư nữa gửi tới.

"你时间不多了,我不能逗留太久。如果你有任何谎话。我立即会离开。永远不会有人知道你在里面。"

【Anh không còn nhiều thời gian, tôi không thể ở lại đây quá lâu.

Nếu anh có bất kỳ lời nói dối nào, tôi sẽ bỏ đi ngay lập tức.

Vĩnh viễn sẽ không có ai biết anh ở dưới đó.】

我心中暗骂,心说怎么办?说谎,怎么说?他肯定知道我不是三叔了,如果我说我是三叔他立马就走,但是我说我是谁呢......难道说实话说我是吴邪吗?那不是露馅了吗?

Tôi thầm chửi um lên trong bụng, nghĩ thầm biết làm sao bây giờ?

Nói dối, biết nói thế nào?

Hắn đã biết chắc tôi không phải chú Ba rồi, nếu bây giờ, tôi nói tôi là chú Ba, hắn sẽ bỏ đi ngay tức khắc...

Nhưng tôi nên nói mình là ai bây giờ?

Chẳng lẽ lại nói thật tôi là Ngô Tà ư?

Thế thì không phải là lộ tẩy luôn rồi sao?

虽然说现在露馅也没有什么大问题,但是,这么一吓就说实话,是不是太弱了?

Mặc dù bây giờ có lộ tẩy cũng chẳng sao, nhưng mà mới bị dọa một cái đã nói thật rồi, như vậy có phải là quá yếu đuối hay không?

我想了想,立即回了一封邮件:

Tôi suy nghĩ một lát, rồi gửi lại một lá thư:

"我说出来你也不知道我是谁:"

【Tôi nói ra anh cũng không biết tôi là ai.】

对方几乎立即就回了:

Đối phương gần như lập tức gửi lại:

"你说出来,由我来判断"

【Anh cứ nói, để tôi phán đoán.】

我靠。这家伙还挺强势的。我心说,刚想着如何回,对方立即又来了一封邮件:

Mẹ kiếp, thằng cha này gớm thật.

Tôi nghĩ thầm, vừa suy nghĩ xem nên trả lời như thế nào, đối phương lại gửi ngay một lá thư tiếp theo:

"你还有最后一封邮件。我必须马上离开,不要浪费时间了,你是谁?"

【Anh còn một lá thư điện tử cuối cùng, tôi phải đi ngay bây giờ, không muốn lãng phí thời gian.

Anh là ai?】

我摸了摸脸,心里特别焦虑,打了两个字:未必。马上又删掉了,我知道这种人特别决绝。

Tôi sờ sờ mặt, trong bụng lo lắng đến cồn cào, gõ hai chữ: Chưa chắc.

Nhưng rồi lại xóa ngay, tôi biết loại người như hắn cực kỳ quyết đoán.

但是,即使我说了实话,他如何判断我说的是实话呢?

Nhưng mà, cho dù tôi nói thật, thì làm sao mà hắn đoán được là tôi đang nói thật chứ?

其实他要判断的并不是我说的是不是实话,因为只通过邮件。他完全不可能判断得出来。他只是想知道我到底是哪边的人。

Thực ra, cái mà hắn muốn phán đoán không phải là liệu tôi có nói thật hay không, bởi vì chỉ thông quan thư điện tử, hắn không thể làm được điều đó.

Hắn chỉ muốn biết, rốt cuộc tôi là người của phe nào mà thôi.

而无论我说的是否是实话,他听完之后。基本不会理会我,他还是会走的。最可怕的是。我从这个地方所有的迹象都能看出,这是个非常谨慎、雷厉风行和自律的人,他说马上要离开一定不是骗人的,我若不回答,他也不会因为想知道答案而多留一会儿。

Nhưng dù tôi có nói thật hay không, thì sau khi có được câu trả lời, hắn sẽ không cần để ý đến tôi nữa, hắn vẫn sẽ bỏ đi.

Đáng sợ nhất là, từ tất cả những dấu vết ở đây, tôi có thể nhìn ra hắn là người cực kỳ cẩn thận, phong thái quyết đoán, mạnh mẽ, và rất kỷ luật.

Hắn nói hắn phải rời đi ngay lập tức chắc chắn không phải nói dối, nếu tôi không trả lời, hắn cũng sẽ không nán lại đây lâu chỉ để chờ đợi một câu trả lời.

我要做的不是说实话,而是让他产生对我的兴趣,让他把我放出去。

Điều tôi phải làm lúc này không phải là nói thật, mà là làm sao để khơi gợi sự hứng thú của hắn với tôi, sau đó, khiến hắn thả tôi ra ngoài.

那么,如何让他对我产生兴趣呢?我想东想西,现在能确定的一点就是,他很信任我三叔。但是我不能说我是三叔,难道要告诉他,我是三叔的亲戚吗?

Thế thì, làm sao để hắn có hứng thú với tôi?

Tôi nghĩ loạn cả lên, bây giờ tôi chỉ có thể xác định được một điểm, đó là hắn rất tin tưởng chú Ba tôi.

Nhưng tôi lại không thể nói mình là chú Ba được, chẳng lẽ lại nói với hắn rằng, tôi là người thân của chú Ba ư?

难道和他说,我是二叔?还是说,我是三叔手下的伙计?

Chẳng lẽ lại nói với hắn, tôi là chú Hai?

Hay là nói rằng, tôi là một thủ hạ của chú Ba?

"我走了。"

【Tôi đi đây.】

就在我焦虑的时候。又有一封信发了过来。

Ngay trong lúc tôi lo lắng, lại một lá thư nữa gửi tới.

我一下就慌了,几乎是条件反射地,我立即打了几个字过去。"我是吴邪。吴三省的侄子。"

Tôi liền phát hoảng, gần như là theo phản xạ, tôi lập tức gõ mấy chữ rồi gửi luôn.【Tôi là Ngô Tà, cháu của Ngô Tam Tỉnh.】

瞬间邮件就发了出去,我甚至来不及后悔,立即看着那个屏幕,

Trong nháy mắt khi vừa gửi thư xong, thậm chí tôi còn không kịp hối hận, liền nhìn chằm chằm vào màn hình.

时间一分一秒地过去,屏幕上再没有任何回信,我浑身开始冰冷起来,心说不至于吧,走得那么快,那么决绝?

Thời gian cứ trôi đi từng giây từng phút, trên màn hình vẫn không có bất kỳ thư hồi âm nào, toàn thân tôi bắt đầu lạnh lẽo, thầm nghĩ không đến nỗi ấy chứ, sao lại đi nhanh thế, quyết tuyệt như vậy?

不可能的,这条网络的传输速度很快,他发完这个消息之后,我立即就回了,他应该可以看到啊,又一想,不对!就算他看到了又如何呢?也许吴邪这个名字他完全没有兴趣,看了一眼就走了。

Không thể thế được, tốc độ truyền mạng rất nhanh, sau khi hắn gửi lá thư kia đi, tôi liền gửi hồi âm ngay, chắc hẳn hắn vẫn kịp nhìn thấy chứ?

Lại nghĩ một chút, không đúng, dù hắn nhìn thấy thì làm sao chứ?

Có lẽ hắn hoàn toàn không có hứng thú với cái tên Ngô Tà này, chỉ liếc một cái rồi bỏ đi.

我靠,我要被困死在这里了,怎么办?怎么办?

Mẹ nó, tôi sắp bị kẹt đến chết ở chỗ này, làm sao bây giờ?

Làm sao bây giờ?

我用深呼吸来让自己镇定下来,这种情况对我来说并不是第一次了。我立即在四周翻找,想找任何可以使用的工具。等我发现这里只有大量的录像带空盒子时,我几乎暴怒得去踢铁架子了。

Tôi cố gắng hít thở sâu để khiến mình bình tĩnh lại.

Cũng không phải lần đầu tiên tôi gặp phải những chuyện như thế này.

Tôi lập tức lục lọi khắp xung quanh, xem có công cụ nào tôi có thể sử dụng hay không.

Đến khi tôi nhận ra ở đây chỉ có một đống vỏ hộp băng hình, tôi gần như phát rồ, đạp cái kệ sắt một cái thật mạnh.

但是,我很快又冷静了下来,我知道自己并不是没有机会。

Nhưng rồi, rất nhanh, tôi bình tĩnh lại.

Tôi biết mình chưa phải là đã hết cơ hội.

明天,明天早上园丁老何会过来浇花,我只要能够引起他的注意,就能让别人来救我。

Ngày mai, sáng sớm ngày mai, lão Hà làm vườn sẽ tới đây tưới hoa, tôi chỉ cần thu hút sự chú ý của ông ấy, là có thể gọi người khác đến cứu tôi ra rồi.

我靠。我不知道该如何解释三爷为什么会被困在自己家的密室里,这里有这么多录像带盒子和录像机,他们总不会认为我是在拷贝黄片贩卖吧?不管了,反正几天之后我就能恢复吴邪的真身了,丢脸就丢脸吧

Nhưng con mẹ nó, tôi không biết nên giải thích vì sao Tam Gia lại tự mắc kẹt ngay trong căn phòng bí mật ở nhà mình nữa, trong này có nhiều vỏ hộp băng hình như thế, cộng thêm một cái máy thu hình nữa, liệu bọn họ có tưởng là tôi đang ghi băng phim đồi trụy để buôn bán hay không?

Thôi mặc kệ, đằng nào thì vài ngày nữa là tôi có thể quay về với thân phận Ngô Tà rồi, mất mặt thì kệ mất mặt.

但是,怎么能吸引他的注意力呢?这里的隔音措施肯定非常好,句港片中的台词来形容:我就是叫破嗓子,也不会有人来救我的。

Nhưng làm thế nào để thu hút được sự chú ý của ông ấy đây?

Chắc chắn là nơi này đã thiết kế để cách âm rất tốt, có thể dùng một câu lời thoại trong phim Hồng Kông để hình dung thế này: cho dù tôi có kêu gào đến khản cổ, thì cũng chẳng có ai đến cứu tôi đâu.

我看着房顶上的水管,心说,这些水管不知道是什么水管,把这些管子敲破了,对着管子吼叫,不知道外面能不能听到。

Tôi nhìn lên mấy đường ống nước trên trần nhà, thầm nghĩ, không biết đây là ống nước gì nữa, nếu đập vỡ chúng ra, rồi gào tướng lên vào trong ống, không biết người bên ngoài có nghe thấy không.

我把铁架子当楼梯搭着爬了上去看,就发现这不可靠:这些水管肯定不是三叔家的水管,一定是邻居家的,而且一定是排污管:水管很结实尚且不说。我就算能打破,大粪也一定会喷我一脸;就算这些我都忍了,这声音从水管传到对方马桶的机会也太小了;而且。如果有人听到马桶里发出奇怪的声音,肯定认为是水管的气压声,最多认为闹鬼了,等他反应过来,我早就饿死了。

Tôi sắp xếp mấy cái kệ sắt tạo thành bậc thang, leo lên nhìn, mới phát hiện thứ này chẳng đáng tin cậy tí nào: số ống nước này chắc chắn không phải là đường ống nước nhà chú Ba, mà là của nhà hàng xóm, hơn nữa, lại còn là đường ống nước thải; chưa nói đến việc đường ống rất bền chắc, cho dù tôi có phá ra được, thì nhất định tôi sẽ phải ăn cả cái bể phốt vào mặt; thôi thì ăn phân coi như tôi cũng đành nhịn đi, nhưng xác suất để giọng tôi truyền qua ống nước đến bồn cầu nhà người ta là quá thấp; hơn nữa, nếu có người nghe thấy âm thanh kỳ quái phát ra từ bồn cầu, thế nào cũng tưởng là tiếng áp suất phát ra từ đường ống, hoặc cùng lắm thì tưởng là ma làm, chờ người ta kịp nhận ra, thì tôi đã chết đói từ tám hoánh rồi.

不过,我立即就想到了另外一个办法,我看到一边的电灯了。

Có điều, tôi lại nghĩ đến một biện pháp khác.

Tôi nhìn qua cái đèn treo bên cạnh.

这里的电线是有电的,我如果把电线连接到水管上,那边有人洗澡的时候,就可能会被电死。

Dây điện ở đây có điện, nếu tôi nối dây điện này vào đường ống nước kia, bên kia khi có người tắm, sẽ bị điện giật chết.

这样,警察就会来査为什么水里会带电。不过,一命换一命,这不是我的为人之道啊:

Như thế, cảnh sát sẽ đến điều tra vì sao đường nước lại có điện.

Có điều, cách này lại là một mạng đổi một mạng, đây không phải đạo làm người của tôi.

想了半天,我还是决定先试试对着马桶吼叫。于是我爬下来,用力从一边的铁架子上,利用金属疲劳的效果去折一根已经生锈的铁捧。没想到这铁捧非常结实,我用力掰,竞然纹丝不动。

Ngẫm nghĩ hồi lâu, tôi vẫn quyết định thử biện pháp gào thét với cái bồn cầu xem sao.

Thế là, tôi trèo xuống, vớ lấy cái kệ sắt ở bên cạnh, lợi dụng độ mỏi của kim loại để bẻ một thanh sắt đã rỉ sét xuống.

Nhưng không ngờ kệ sắt này lại chắc chắn quá, tôi cố sức bẻ mãi mà không nhúc nhích tí gì.

我折了几下,心里立即就发毛了,更加发狠地用力摇晃。就在这时,我听到一边的下水道里传来一个苍老的声音。

Tôi vận sức bẻ liền mấy lần, trong lòng liền cuống quít sợ hãi, lại càng ra sức bẻ vặn hơn.

Đúng lúc này, tôi nghe thấy một giọng nói già nua vọng ra từ đường thoát nước.

"出来吧。"

"Đi ra đi."

我愣了一下,就听到那边传来了铁栏杆打开的声音:"慢慢地出来。'

Tôi sửng sốt, liền nghe thấy tiếng mở cửa sắt lách cách: "Từ từ mà ra."

我刚才看到了这个下水道里的铁栏杆。但我怎么也没想到这里能够打开。我一下有点尴尬,不过刚才那样子也只有我自己知道。我俯下身子看了看下水道,就看到那边的手电光照了过来,非常刺眼,照得我睁不开眼睛

Vừa nãy tôi có nhìn thấy ô cửa sắt của đường thoát nước này, nhưng tôi không bao giờ nghĩ nó lại có thể mở ra được.

Tôi có chút lúng túng, nhưng may quá, bộ dạng vừa rồi của tôi cũng chỉ có mình tôi biết.

Tôi cúi xuống nhìn đường thoát nước một chút, liền thấy ánh sáng đèn pin từ đó chiếu vào, cực kỳ chói mắt, tôi không mở mắt ra nổi.

"慢慢地出来,不要乱动。"对方又道。

"Từ từ đi ra, đừng có lộn xộn."

Đối phương lại nói.

我立即道:"不要伤害我,我不会乱动的。"

Tôi liền đáp ngay: "Đừng có hại tôi, tôi sẽ không lộn xộn."

说着我蹲了下去。一点一点地往外爬等到我的脑袋刚刚爬出下水道口的时候,一把刀一下顶住了我的脖子。

Nói rồi, tôi ngồi xổm xuống, từ từ chui ra ngoài.

Đến khi vừa chui ra khỏi miệng cống thoát nước, một lưỡi dao đã kề vào cổ tôi ngay tức khắc.

"别动。",那声音道,我脑袋抬不上去。根本看不清楚这人的样子,就看到那人捏了捏我的脸。又翻了翻我的后脖子。忽然他笑了。

"Đừng cử động."

Giọng nói kia lại vang lên.

Tôi không ngẩng đầu lên được, nên không nhìn rõ dáng vẻ của người này.

Người nọ nhéo mặt tôi một cái, rồi lật sau cổ tôi lên.

Bỗng nhiên hắn phì cười.

"笑什么!"我有些恼怒。

"Cười cái gì!"

Tôi nổi cáu.

"吴三省说得果然没错,小苍蝇也能坏大事你活得好好的,为什么要自寻狼狈?"

"Quả nhiên là Ngô Tam Tỉnh nói đúng, một con ruồi nhỏ cũng có thể phá hoại cả chuyện lớn.

Anh bạn đang sống rõ là yên ổn, sao lại tự lao đầu vào khổ sở?"

我不知道该怎么回答,就感觉他一下子抽身起来,迅速爬出了窨井。等我挣扎着爬上窨井再狂冲到三叔屋外的巷子里时,就发现任何方位都看不到人了,只剩下一片漆黑的街道。

Tôi không biết phải trả lời thế nào nữa.

Tôi liền cảm thấy hắn lập tức bật người lên, nhanh chóng trèo ra khỏi cái giếng.

Đến khi tôi giãy giụa trèo ra khỏi giếng, rồi ngay lập tức chạy vọt vào con hẻm bên ngoài căn nhà chú Ba, thì đã chẳng thấy một ai nữa, hướng nào cũng vắng tanh, chỉ còn lại con phố tối mịt.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 70: Khám Phá Sâu Hơn Nữa


我发狂一般地冲回了房间,连打了十几个电话,把杭州几个比较得力的伙计全部叫了过来。我布置了几个任务。一批人给我找人,我没看到那人是什么样子,只说找形迹可疑的人。第二批人,给我四处乱翻垃圾桶,看有没有录像带。那么多的录像带,他不可能立即带走,要么是销毁,要么肯定是藏匿在其他地方。就算是只找到一堆灰,也必须给我带回来。第三批人,找人把那个密室里面的东西全都给我弄出来。我要一寸一寸地研究,我就不信任何痕迹都找不到。

Tôi cuống cuồng chạy ào vào trong nhà như phát rồ, gọi liên tiếp mười mấy cuộc điện thoại, gọi hết toàn bộ thủ hạ tương đối đắc lực của tôi ở Hàng Châu đến.

Tôi sắp xếp vài nhiệm vụ, một nhóm giúp tôi tìm người, tôi không nhìn thấy bộ dạng của người nọ, nên chỉ nói là tìm người có dáng vẻ khả nghi; một nhóm khác lật tung hết các thùng rác quanh khu này cho tôi, tìm xem có cuộn băng hình nào hay không.

Bao nhiêu là băng hình như thế, hắn không thể mang đi hết ngay hoặc kịp đem đi tiêu hủy được, chắc chắn hắn đã giấu chúng ở một nơi nào đó khác.

Cho dù là tìm được một đống tro than, thì cũng phải đem về cho tôi.

Nhóm thứ ba, khuân hết tất cả đồ đạc trong căn phòng bí mật kia mang ra cho tôi.

Tôi phải kiểm tra từng chi tiết nhỏ một, tôi không tin là mình không tìm ra được bất kỳ dấu vết nào.

第一批人肯定没有什么结果,我只是心中郁闷,找几个人发下狠。但是啥人也没有找到。第二批人一直没回来。第三批人更是郁闷,因为也许当时设计下面那个屋子的时候,是先把家具放在里面的,如今要把家具从那么小的通道里弄出来简直是不可能的。伙计问我怎么办,我心说还能怎么办,就道:"拆了!"

Chắc chắn nhóm thứ nhất không đem về kết quả gì, tôi chỉ thấy buồn bực trong lòng, muốn tìm vài thằng để trút giận thôi, thế mà chẳng tìm được bất kỳ người nào.

Nhóm thứ hai đi mãi vẫn chưa về.

Nhóm thứ ba thì lại càng bực mình hơn, có lẽ là do đồ đạc đã được đặt vào trong đó ngay từ trước khi thiết kế nên căn phòng ngầm đó, nên bây giờ hoàn toàn không thể khuân đồ đạc qua ô cửa nhỏ xíu đó được.

Thủ hạ hỏi tôi làm sao bây giờ, tôi nghĩ thầm, còn có thể làm sao nữa, liền nói: "Phá!"

里面所有的东西都被拆成碎片堆在了院子里,我看着所有的碎片,一片一片地翻动,直到发现完全没有任何线索的时候,我才冷静了下来。

Tất cả đồ đạc bên trong bị dỡ thành nhiều mảnh nhỏ, chất thành đống trong sân nhà tôi, tôi nhìn đống mảnh vụn đó, lục tung từng thứ một, cho đến khi hoàn toàn không tìm ra bất kỳ manh mối nào, tôi mới bình tĩnh lại.

我把所有人都赶走了,自己一个人坐在院子里,点上一支烟,琢磨着。我觉得自己太失败了,这么好的一个机会又丢了。但是我看着那些被褥,看着那些桌子椅子,忽然又发现了一些不对的地方,然后就冷笑了起来。

Tôi đuổi tất cả mọi người đi, một mình ngồi giữa sân, châm một điếu thuốc, ngẫm nghĩ.

Tôi cảm thấy mình quá sức thất bại, một cơ hội tốt như vậy mà lại quăng đi mất.

Nhưng nhìn đống chăn nệm, bàn ghế kia, bỗng nhiên phát hiện ra một vài điểm, tôi liền cười khẩy.

我意识到,我完全没有失败,我想知道的事情,已经全部在我面前了。只是我需要一些措施把它解析出来。

Tôi đã nhận ra, tôi không hoàn toàn thất bại, toàn bộ những chuyện mà tôi muốn biết đã ở trước mặt tôi rồi.

Chẳng qua tôi phải cần đến một số biện pháp để phân tích được nó.

我拿起了手机,打通了一个伙计的电话:"不管多少钱。给我找一个能检验dna的机构。"我摊开被子,在里面仔细地寻找着,挑出了其中一根头发。"对,钱不是问题。"

Tôi cầm di động lên, gọi một cú điện thoại cho một tên thủ hạ: "Tìm cho tôi một trung tâm xét nghiệm DNA, bao nhiêu tiền cũng được."

Tôi lật tấm chăn ra, cẩn thận tìm kiếm bên dưới, lựa ra được một sợi tóc trong đó.

"Đúng, tiền không thành vấn đề."

如果一个人在一个密室里待了几十年,而唯一和他交流的人是我的三叔,最大的问题是什么?

Nếu có một người ở trong một căn phòng bí mật suốt vài chục năm, chỉ có duy nhất một người để trao đổi là chú Ba tôi, thì vấn đề lớn nhất ở đây là gì?

这个人对于现代科技的知识一定少得可怜,我不知道他们在使用电脑之前是怎么沟通的。但是显然,他们对于科技的认识不会太深。

Người này nhất định biết rất ít về khoa học kỹ thuật hiện đại, tôi không biết bọn họ đã liên lạc với nhau như thế nào trước khi biết sử dụng máy tính, nhưng rõ ràng bọn họ không hiểu biết quá nhiều về khoa học kỹ thuật.

我把找到的几根头发让他们送去检验,如果我的猜测是正确的,那这事情我他妈的就能知道一半了。

Tôi đưa sợi tóc mình tìm được cho bọn họ đem đi xét nghiệm, nếu suy đoán của tôi chính xác, thì chuyện này tôi có thể biết đến một nửa con mẹ nó rồi.

另一方面,我把两台电脑全部送到我同学那里。让他继续研究。我知道在电脑里删除东西是删除不干净的,就算把硬盘格式化,里面的资料也可能还原。我对所有的一切已经有所了解,某些碎片对我来说,可能是极其珍贵的提示。

Mặt khác, tôi chuyển toàn bộ hai chiếc máy tính đến chỗ anh bạn tôi, để anh ta tiếp tục nghiên cứu.

Tôi biết dù có xóa trên máy tính cũng không thể xóa sạch được, dù cho có format lại cả ổ cứng thì vẫn có cách để cứu lại dữ liệu về như cũ.

Tôi đã hiểu đại khái về tất cả mọi chuyện, những mảnh ghép nho nhỏ này đối với tôi chính là những gợi ý cực kỳ quý giá.

长话短说,dna的检验结果没有那么快出来,但是第二天,我同学就来了。

Tóm lại, không thể có được kết quả xét nghiệm DNA ngay, nhưng đến ngày thứ hai, anh bạn học của tôi đã tới rồi.

出乎我的意料,我同学是空手来的,我投以疑问的目光。他摇头:"这电脑里的硬盘没用,只是个空壳子。"

Ngoài dự liệu của tôi, anh bạn này đến tay không.

Tôi ngờ vực nhìn anh ta, anh ta lắc đầu: "Ổ cứng máy tính này vô dụng, chỉ mỗi cái vỏ rỗng."

空壳子?

Rỗng?

"这是一个工作站。"他道,"我在光驱里找到了这个。"他拿出一张光盘。"这台电脑的硬盘是个摆设,这是使用光驱驱动的一个工作站。"

"Đây là một máy trạm."

Anh ta nói, "Cháu tìm được cái này trong ổ đĩa quang."

Anh ta lấy một đĩa CD ra, "Ổ cứng của máy tính này chỉ để trưng bày, đây là một máy trạm, dùng ổ đĩa quang để chạy."

我听不太懂,他就解释道:"总之,这电脑没有硬盘,所有的信息全都是存在内存中的,没有任何记录。只要一关机,一切归零。

Tôi không hiểu lắm, anh ta liền giải thích: "Tóm lại thì máy vi tính này không có ổ cứng, mọi dữ liệu trong máy chỉ được lưu trong bộ nhớ máy tính, không sao ra bất kỳ thứ gì đâu.

Chỉ cần tắt máy một cái, là toàn bộ về mo hết."

"我点上烟,让他坐下,问道:"这种技术是不是很高端?"

Tôi châm điếu thuốc, bảo anh ta ngồi xuống, hỏi: "Cái kỹ thuật này có cao cấp lắm không?"

他摇头:"不是。其实是比较低端的技术。很多时候,是用在大学的多媒体教室和网吧里的。这样的话,就没有那么多病毒和重装系统的困扰。"

Anh ta lắc đầu: "Không, thực ra còn khá là thấp ấy chứ.

Cách này thường được áp dụng trong hệ thống máy tính và mạng ở các trường đại học, như thế sẽ không phải lo về vấn đề virus và cài đặt lại hệ thống nữa."

我叹了口气。心说果然是滴水不漏。不过,就我三叔和这个常年生活在暗室中的人的这种状态,这些东西是怎么实现的?肯定得有一个懂技术的人来指导他们啊。

Tôi thở dài, nghĩ thầm đúng là không để lọt ngay đến một giọt nước.

Có điều, chú Ba với một người thường xuyên sinh sống trong căn phòng bí mật làm sao mà thực hiện được những lắp đặt này?

Chắc chắn phải có một kẻ nào đó am hiểu về kỹ thuật máy tính hướng dẫn bọn họ thực hiện việc này.

我不相信三叔是一个暗中修习了很多现代知识的人,肯定是有这么一个人存在的。

Tôi không tin chú Ba là một người âm thầm tiếp thu học hỏi nhiều tri thức hiện đại.

Nhất định là có một nhân vật thứ ba tồn tại.

我叹了口气,就问他道:"那你仔细检查了这两台电脑,有任何奇怪的地方吗?有任何不同的地方吗?"

Tôi thở dài, rồi hỏi: "Vậy cậu kiểm tra kỹ hai cái máy tính đó, có thấy gì khác lạ không?

Có chỗ nào lạ thường không?"

他挠了挠头,在我的边上坐下来,道:"不知道当讲不当讲。"我道:"讲,讲出来我就给你加钱。"

Anh ta gãi đầu gãi tai, ngồi xuống bên cạnh tôi, nói: "Cháu không biết có nên nói hay không nữa."

Tôi bỏ: "Nói đi, nói ra tôi cho cậu thêm tiền."

他道:"我在电脑城修电脑很多年,见过各种各样的电脑,说三叔您在古董行算是数一数二,那我相信,但是您也得信我,我修这么多年电脑,任何电脑到我手里,我都能看出主人是个什么样的人,平时有什么习惯。甚至是胖是瘦,性格如何,平时在电脑上爱玩什么,我都能看出来。"

Anh ta nói: "Cháu sửa máy tính ở khu điện máy nhiều năm lắm rồi, từng gặp đủ các loại máy tính khác nhau, người ta nói chú Ba là số một số hai trong nghề đồ cổ, cháu tin, nhưng chú cũng phải tin cháu, cháu sửa máy tính bao nhiêu năm rồi, máy tính gì vào tay cháu, cháu cũng nhìn ra được chủ nhân của nó là hạng người gì, có thói quen gì.

Thậm chí mập hay gầy, tính cách ra làm sao, bình thường thích chơi gì trên máy tính, cháu cũng đoán ra được."

我给他点上烟,看这小子说这话的时候,眼中放光,满是自豪,就觉得好玩。

Tôi cho anh ta điếu thuốc, nhìn thấy trong lúc nói những lời này, thằng ranh này hai mắt sáng bừng lên, tràn đầy tự hào, tôi cảm thấy rất buồn cười.

他看我给他点烟,立即受到了鼓励,道:"您可能不信,我举个例子,玩游戏的和文字工作者,所用的电脑绝对不同,包括键盘的磨损情况,都有很大的区别。我可以根据键盘的磨损来判断,"

Anh ta thấy tôi đưa điếu thuốc qua, lập tức được khích lệ, liền nói tiếp: "Chú có thể không tin, cháu lấy một ví dụ, người dùng máy tính để gõ chữ làm việc hoàn toàn khác với người dùng máy tính để chơi trò chơi, ngay cả mức độ mòn của bàn phím cũng khác nhau rất nhiều.

Cháu có thể căn cứ vào độ mòn của bàn phím để phán đoán."

我点头,让他继续,他道:"这台电脑是七年前的流行款,也就是说,这台电脑基本上已经使用了七年了,在现在这个时代。这个使用时间已经算是很长了。但是我检查了所有的部件,我发现一个非常离奇的地方。"他顿了顿。"这台电脑基本上所有的部件都没有磨损。"

Tôi gật đầu, bảo anh ta tiếp tục, anh ta nói: "Máy tính này là loại được lưu hành vào bảy năm trước, nói cách khác, máy tính này cơ bản là đã được sử dụng bảy năm liền.

Trong thời buổi bây giờ, thời gian sử dụng này đã được coi là rất dài rồi.

Nhưng cháu đã kiểm tra tất cả các bộ phận, phát hiện một điều vô cùng lạ."

Anh ta dừng lại một chút, "Gần như tất cả các bộ phận của máy tính này đều không bị hao tổn chút nào."

我皱起眉头,意识到他说的东西确实可能很有价值。

Tôi nhíu mày, nhận ra điều mà anh ta đang nói có thể sẽ rất có giá trị.

"我们知道,人如果使用键盘,手指上的油脂一定会沾在键盘上,无论这个人多爱干净,用完一次之后,这些油脂都会在键盘上形成一层薄膜,然后会有灰尘附着在上面形成污垢。一台用了七年的电脑,无论有多么爱干净,这种污垢是不可避免的。"

"Chúng ta đều biết, khi sử dụng bàn phím máy tính, dầu mỡ trên ngón tay sẽ dính vào phím bấm, cho dù người sử dụng có thích sạch sẽ đến đâu, thì sau khi sử dụng một lần, dầu trên ngón tay vẫn sẽ dính trên phím bấm, tạo thành một lớp màng, sau đó, bụi bặm sẽ bám lên phím, dần dần tạo thành những vết bẩn.

Một chiếc máy tính dùng được bảy năm liền, cho dù người sử dụng có thích sạch sẽ đến đâu, thì vẫn không thể tránh khỏi những vết bẩn được."

"你直接说你的意思。"

"Cậu cứ nói thẳng ra."

"键盘太干净了,鼠标的滚轮太干净了,这种干净不是擦拭之后的干净。要知道鼠标是非常难以清洁的。这种干净到什么程度了呢?如果这台电脑刚刚从库房里拿出来不久也不过如此。但是,根据这台电脑放在你桌子上的印子和外壳氧化变黄的程度来看,确实就是在外面摆了很长时间了,所以结论几乎只有一个。"他道,"这两台电脑很少被人使用,几乎是没有被人使用过。"

"Bàn phím quá sạch, con lăn chuột cũng quá sạch, kiểu sạch này không phải là do lau chùi mà sạch.

Phải biết rằng, con chuột máy tính rất khó mà giữ sạch được hoàn toàn.

Thế mà nó lại sạch, sạch đến mức độ nào chứ?

Một chiếc máy tính vừa được lôi từ kho ra cách đây không lâu cũng chỉ đến thế mà thôi.

Nhưng mà, dựa vào dấu vết máy tính để lại trên bàn của chú, cộng với mức độ biến vàng của lớp vỏ ngoài CPU, thì quả thực máy tính này đã được bày ở ngoài rất lâu.

Cho nên, kết luận gần như chỉ có một."

Anh ta nói, "Hai chiếc máy tính này được sử dụng rất ít, gần như không có ai động vào."

我摸着下巴,完全明白了他的意思,我拍了拍他。心说:我靠,原来是这么回事。

Tôi sờ cằm, hoàn toàn hiểu rõ ý của anh ta, tôi vỗ vai anh ta, nghĩ thầm: Mẹ kiếp, hóa ra là như vậy.

三叔在这七年里,如果经常使用电脑和暗室里的人交流,绝对不会是这种情况。但是,电脑绝对是放在这里的,我每次来都能看到;如果这台电脑不常用,但又放在这里,同时还兼顾着和暗室里的人沟通的任务......

Trong bảy năm chú Ba ở đây, nếu chú thường xuyên sử dụng máy tính để trao đổi với người trong căn phòng bí mật, thì chắc chắn không thể có chuyện này được.

Thế mà, máy tính chắc chắn được đặt ở đó, lần nào tôi đến cũng nhìn thấy, nếu chiếc máy tính này không được sử dụng thường xuyên, mà lại đặt ở chỗ này, hơn nữa lại còn được dùng để liên lạc với người trong căn phòng bí mật...

这是一个矛盾,证据相左。

Đây là một sự mâu thuẫn, các chứng cứ không tương thích với nhau.

"这是个陷阱,狗日的。"我把烟头掐掉,在心里狂骂自己。

"Đây là một cái bẫy, mẹ kiếp."

Tôi gảy tàn thuốc, thầm chửi bới bản thân mình.

这是一个试探机制,当暗室里的人察觉到这里有某些不对劲的时候,他使用了这台电脑发送消息,如果是真的三叔。也许会回复约定的暗号。

Đây là một cơ chế thăm dò, khi người trong căn phòng bí mật nhận ra có gì đó không ổn ở đây, hắn sẽ sử dụng máy tính để gửi tin tức đi, nếu là chú Ba thực, có lẽ chú sẽ trả lời ám hiệu đã giao hẹn trước.

但是,我的思维没有那么深入,没考虑那么多,所以一下就中招了:之后那么多的对话,我一直以为是我在试探他。现在看来。他那么滴水不漏地回答,反而是在试探我。在所有的设局内,我处于完全的劣势。

Nhưng lúc đó tôi lại không suy nghĩ sâu đến thế, không nghĩ được nhiều thế, cho nên liền rơi vào cái bẫy.

Sau nhiều lần đối thoại như vậy, tôi vẫn cứ tưởng là mình đang thử thăm dò hắn, bây giờ nhìn lại, những câu trả lời của hắn vẫn hoàn toàn kín kẽ không để lọt một chút gì, ngược lại, là hắn đang thăm dò lại tôi.

Trong tất cả bố cục này, tôi hoàn toàn rơi vào thế bị động.

由这种可怕的陷阱和设局能看出,之前这几股势力之间的斗智,已经到了一种无法形容的地步了。每个人都如履薄冰,每做一件事情都要穷尽推算之能。

Từ cái bẫy đáng sợ này, có thể thấy, cuộc đấu trí giữa các phe thế lực trước kia đã đạt đến mức độ mà tôi không tài nào hình dung nổi.

Người nào người nấy đều như đang bước đi trên lớp băng mỏng, trước khi làm bất cứ việc gì đều phải suy tính hết toàn bộ mọi khả năng.

"叔,您到底是想从这上面查到什么,您要方便的话告诉我,这样査我没有方向性。"他看我的表情就知道我认可了他的说法,积极性顿时高涨。"吴邪那小子以前也总让我查东西,有目的就好查多了。"

"Chú, rốt cuộc chú muốn điều tra cái gì về phương diện này vậy?

Nếu được thì chú cứ nói cho cháu, như thế, cháu tra cứu cũng có phương hướng hơn."

Anh ta nhìn vẻ mặt tôi, cũng biết là tôi đã hài lòng với lời giải thích đó rồi, tức thì trở nên cực kỳ hăng hái.

"Thằng ranh Ngô Tà hồi trước cũng hay bắt cháu tra cứu các thứ lắm, có mục đích thì dễ tra hơn nhiều."

我啧了一声,道:"我给你讲一个故事。"

Tôi tặc lưỡi một tiếng, nói: "Để tôi kể cho cậu nghe một câu chuyện."

于是,我把在这房子里发生的事情,编成了一个很暧昧的故事,对他讲了一遍。

Thế là, tôi đã biên lại toàn bộ câu chuyện đã xảy ra trong căn phòng này thành một câu chuyện rất mập mờ, thuật lại hết cho anh ta nghe.

听完之后,他觉得很好玩:"这简直就是二战时候的谍战戏码"

Nghe xong, anh ta vui vẻ nói: "Nghe cứ như tình tiết trong phim phản gián và tình báo về Thế chiến thứ hai ấy nhỉ."

"我就想找到这个人,这人一定是一个关键。"

"Tôi muốn tìm người này, người này chắc chắn là một nhân vật then chốt."

"但是说不通。"他道,"叔,您刚才说的这个故事,是说不通的。"

"Nhưng mà không hợp lý."

Anh ta nói tiếp, "Chú, câu chuyện vừa rồi của chú, có chỗ không hợp lý."
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 71: Bẫy Máy Tính


"为什么?"我略微有些诧异。他道:"他如果要试探您,根本不需要使用那么复杂的设备,只要往您的手机上发一条信息,看您回复的是不是约定的信息就可以了。这些电脑什么的,都是多余的。"

"Tại sao?"

Tôi hơi ngạc nhiên.

Anh ta nói: "Nếu hắn ta muốn thăm dò chú, thì không cần phải sử dụng đến thiết bị phức tạp như thế, chỉ cần nhắn một cái tin vào số di động chú là xong, để xem chú có hồi âm lại đúng câu trả lời đã giao hẹn sẵn hay không là được rồi àm.

Chứ còn mấy thứ vi tính này, rất thừa thãi."

我想了想,有道理,就道:"你似乎是有什么想法?"

Tôi ngẫm thấy cũng có liền, liền nói: "Thế cậu có suy nghĩ gì?"

他道:"这肯定不是陷阱,这两台电脑一定是有用处的,那个人也确实一直是住在这栋房子的下面。否则您下去也不会看到那些被子。"

Anh ta nói: "Đây chắc chắn không phải cạm bẫy.

Hai chiếc máy tính này nhất định là có hữu ích gì đó, còn người kia quả thực vẫn luôn ở bên dưới căn nhà này.

Nếu không, chú xuống đó đã không thấy mấy cái chăn kia rồi."

"那你不是说,这两台电脑基本上没有人使用过吗?"我道,"你怎么理解其中的矛盾?"

"Không phải cậu đã nói, hai cái máy tính này gần như không có ai sử dụng sao?"

Tôi nói, "Cậu lý giải sự mâu thuẫn trong đó như thế nào?"

"矛盾的归矛盾,恺撒的归恺撒。"他道,"很简单啊,这个人是住在下面的,但是,他和您的沟通,并不是依靠这台电脑,这台电脑。是一个陷阱,但是下面这间地下室不是。"

"Của mâu thuẫn, thì trả về cho mâu thuẫn.

Của Caesar, thì trả về cho Caesar."

Anh ta nói, "Đơn giản lắm, người này vẫn luôn ở bên dưới, nhưng mà, hắn ta không dựa vào chiếc máy tính này để liên lạc với chú, cái máy tính này vốn là một cái bẫy, nhưng căn phòng bí mật dưới đất thì không phải."

我抽了口烟:"那他们是依靠什么东西来沟通的呢?"

Tôi rít một hơi thuốc lá: "Vậy bọn họ liên lạc với nhau bằng cách nào?"

这上面所有的对话,地下室里都能听得一淸二楚,但是我能肯定,下面的人说话,哪里都听不到。

Tất cả những tiếng động phía trên này, trong căn phòng bí mật dưới đất kia đều nghe rõ hết mồn một, nhưng tôi có thể chắc chắn, nếu ở bên dưới nói chuyện, thì không đâu nghe được cả.

"也许不需要沟通呢?"他道,"也许并不是藏匿,而是监视呢?"

"Có lẽ không cần phải liên lạc đâu?"

Anh ta nói, "Có khi không phải là ẩn nấp, mà là giám sát?"

我只是想了一秒,忽然就犹如五雷轰顶一般,前面的几个矛盾全都有眉目了。

Tôi chỉ suy nghĩ một giây, rồi đột nhiên giật mình bừng tỉnh như thể sấm sét giáng xuống đỉnh đầu, mấy sự mâu thuẫn trước kia giờ đều đã thông suốt cả.

三叔电脑里的改装,不是由他自己改装的,也许三叔根本就不知道他家里的地下有这么一间屋子,也不知道他自己的电脑连通着另外一台电脑。更不知道自己所有说的话,都能被人听到,所有三叔的信息,那人全部可以截获。

Máy tính của chú Ba được cải tạo, có lẽ không phải là do chính chú cải tạo.

Có thể chú Ba vốn không hề biết bên dưới nhà mình lại có một căn phòng như thế, cũng không biết vi tính của mình đã được kết nối với một chiếc máy tính khác, càng không biết tất cả những gì mình nói ở đây đều bị người khác nghe thấy hết.

Tất cả mọi tin tức của chú Ba, người nọ đều nắm được hết.

这人是谁呢?就好比是住在三叔肚子里的蛔虫。

Người này là ai chứ?

Cứ như là con giun trong bụng chú Ba vậy.

我把我同学给打发走,答应三天内付款,让他继续琢磨。有什么新的想法立即告诉我。

Tôi đuổi khéo anh bạn học đi, hứa sẽ trả tiền trong ba ngày, bảo anh ta cứ tiếp tục suy nghĩ, có ý gì mới thì báo lại cho tôi ngay lập tức.

之后,我就坐在院子的杂物之中,坐在三叔喝茶的台子之后。靠在椅子上打了个电话。我打给了二叔,我问他:"三叔的这间房子是什么时候造的?"

Sau đó, tôi ngồi giữa đống đồ lặt vặt trong sân, bên chiếc bàn trà của chú Ba, tựa mình vào ghế gọi điện thoại.

Tôi gọi cho chú Hai, hỏi: "Nhà chú Ba được xây từ bao giờ thế ạ?"

二叔沉吟了一下。没有回答,忽然问我道:"你在哪里?"

Chú Hai trầm ngâm một lúc, không trả lời tôi, mà đột ngột hỏi: "Cháu đang ở đâu?"

我搪塞地说了一个地方,二叔还是沉吟,显然并不是特别相信。他的语气有些怪,我听着总觉得出事了,但是此时我也不想多了解。只是追问。二叔便告诉我:"那房子的地基是上个世纪七十年代打的,之后重修过几次就不知道了。最初只有一小间平房,后来老三赚的钱多了。慢慢扩建起来。时间最长的一次扩建是在一九八八年,那段时间他几乎都住在我家里。"

Tôi đáp lấy lệ, nói bừa một địa điểm.

Chú Hai vẫn trầm ngâm, hiển nhiên chú không tin cho lắm.

Giọng chú có hơi là lạ, tôi cứ cảm thấy như có chuyện gì đó đã xảy ra, nhưng lúc này tôi cũng không muốn biết rõ thêm, chỉ tiếp tục gặng hỏi.

Chú Hai liền đáp: "Móng của nhà kia được đào từ những năm bảy mươi của thế kỷ trước, về sau còn trải qua vài lần trùng tu nữa, chú cũng không biết.

Ban đầu chỉ là một căn nhà cấp bốn có một gian thôi, về sau, thằng Ba kiếm được nhiều tiền hơn, mới dần dần mở rộng thêm.

Cái lần xây sửa dài nhất là vào năm 1988, trong khoảng thời gian đó nó hầu như lúc nào cũng ở lại nhà chú."

二叔说完这个之后,忽然抛了一句:"你最近别折腾了,好好待在杭州。"说完立即就挂了电话。

Chú Hai nói xong, bỗng nhiên vứt lại một câu: "Trong khoảng thời gian này cháu đừng có lộn xộn, ngoan ngoãn ở lại Hàng Châu đi."

Nói xong, chú cúp điện thoại liền.

我听着总觉得二叔正在忙着什么事,挂了电话之后,我想了想,就给自己的老爹打了电话。

Tôi nghe mà cứ có cảm giác chú Hai đang bận bịu chuyện gì, cúp điện thoại xong, tôi suy nghĩ một lát, rồi gọi điện cho bố mình.

我靠在那里一边抽烟,一边和我老爹唠家常,我没有想特定的问题。就是有一句没一句地聊着。同时思考一些对我自己的推理有帮助的小细节。

Tôi tựa người vào ghế, vừa hút thuốc vừa lải nhải chuyện nhà với bố tôi.

Tôi không có câu hỏi đặc biệt nào muốn hỏi, chỉ trò chuyện vớ vẩn đôi ba câu, đồng thời suy nghĩ đến một số chi tiết có lợi cho suy đoán của tôi.

我这几年少有的和老爹聊天聊得那么开心,我老爹都蒙了。聊到一半的时候,就小心翼翼地暗示我:"小邪,是不是失恋了啊。有什么伤心的和爸爸说啊"

Mấy năm gần đây, tôi ít khi nào chuyện trò vui vẻ với bố như thế, bố tôi cũng ngẩn ra, hàn huyên được một nửa, ổng mới dè dặt ám chỉ tôi: "Tiểu Tà, có phải gần đây thất tình hay không, có tâm sự gì đau lòng, cứ nói với bố xem nào."

我嘿嘿一笑,心说我老爹心思还挺敏感的,还能听出我心里有事。但是我太了解我老爹了,就算把事情全部告诉他,也于事无补,

Tôi cười hề hề, nghĩ thầm tâm tư bố tôi vẫn còn nhạy bén thật, thế mà cũng nghe ra được trong lòng tôi đang có chuyện.

Nhưng tôi hiểu rõ bố mình, cho dù tôi có kể ra mọi chuyện với bố, cũng chẳng có ích gì.

从和老爹的聊天里,我把我们吴家从长沙到杭州的整个过程,全都套了出来。听完之后,我发现这简直就是一部连续剧:特别是我爷爷和霍仙姑还有我奶奶的故事。在那个历史背录下听来,简直就是一部特别好的故事片。

Trong lúc nói chuyện phiếm, tôi với bố nhắc đến toàn bộ quá trình của nhà họ Ngô tôi từ khi ở Trường Sa cho đến khi chuyển đến Hàng Châu.

Nghe xong, tôi mới phát hiện đây đúng là một bộ phim truyền hình dài tập.

Nhất là câu chuyện gút mắc giữa ông nội tôi với Hoắc Tiên Cô và bà nội tôi, trong bối cảnh lịch sử lúc đó, quả thực là một bộ phim truyện cực hay.

我爷爷成名是在长沙。他成名的时候非常年轻,他是第一个训练用狗闻土的土夫子。一条训练成熟的狗。探穴的效率是人的十倍,而且狗能敏锐地闻出各种火油类机关,甚至能闻出粽子是否尸变。

Ông nội tôi thành danh ở Trường Sa.

Thời điểm đó, ông hẵng còn rất trẻ.

Ông là thổ phu tử đầu tiên huấn luyện chó ngửi đất.

Một con chó đã được huấn luyện kỹ càng, hiệu suất dò huyệt phải gấp mười lần người thường, hơn nữa, chó có thể đánh hơi được các loại cơ quan dùng đến dầu hỏa, thậm chí, còn có thể ngửi xem bánh tông có bị thi biến hay không.

从我爷爷训练出第一只狗开始,他的财富积累极其地快。没出几年,他可能已经是整个长沙城几个第一:知道古墓位置的数量第一,没有出手的冥器数量第一,等等。包括连张大佛爷的手下,都会来问我爷爷要位置:

Sau khi ông nội tôi huấn luyện thành công con chó đầu tiên, kể từ đó, tài sản của ông tích lũy được ngày càng nhiều.

Chẳng được bao năm, ông đã có được mấy cái danh hiệu đệ nhất ở cả thành Trường Sa liền: số lần biết được chính xác vị trí cổ mộ nhiều nhất, số lượng minh khí nắm giữ nhiều nhất, vân vân.

Ngay cả thủ hạ của Trương Đại Phật Gia cũng tìm đến ông nội hỏi vị trí cổ mộ.

当时,霍家、齐家、解家虽然都已经小有名气,但霍家因为内乱特别严重,后来被迫慢慢地把精力放在了经营上,谁也不去下地(下地很容易损兵折将),而齐家一直是以经营见长,不温不火,解九爷则刚从日本回来,我爷爷在这几年里的积累,甚至超过了齐家几代人的积累。

Lúc ấy, Hoắc gia, Tề gia, Giải gia, mặc dù cũng đều đã có chút tiếng tăm, nhưng Hoắc gia vì vướng phải lục đục nội bộ nghiêm trọng, về sau bị thúc ép, phải dần dần dồn hết tinh lực vào mảng kinh doanh, nên không ai xuống đất nữa (xuống đất rất dễ hao binh tổn tướng).

Tề gia xưa nay vẫn lấy việc kinh doanh làm sở trường, không có gì nổi bật, còn Giải Cửu Gia chỉ mới vừa trở về từ Nhật Bản.

Trong vài năm này, lượng tài sản tích lũy của ông nội tôi thậm chí còn vượt qua cả tích lũy mấy đời của Tề gia.

我爷爷当时说起这一段经历,颇为得意,一直道:"科技创新才生产力,特别是在倒斗这种传统行业内,一点点创新就能带来翻天覆地的变化。"

Hồi đó, khi kể đến giai đoạn này, ông nội tôi rất đắc ý, cứ luôn miệng nói: "Cải tiến đổi mới khoa học kỹ thuật mới là thứ thúc đẩy năng suất lao động hàng đầu, nhất là trong những nghề truyền thống như đổ đấu này, một chút sáng tạo là có thể tạo nên sự thay đổi long trời lở đất."

我爷爷在长沙的的确确风光了一些时候,那个时候他年轻而且传奇。但是又丝毫没有架子,挥金如土,却又和蔼可亲,这种人肯定会有无数的朋友前来结交,无数的朋友对他充满了仰慕。他和霍仙姑的感情就是从这里开始的。当时霍仙姑年纪还比他大,喜欢他简直喜欢得要死。

Giai đoạn khi ông nội tôi ở Trường Sa quả thực là khoảng thời gian rạng rỡ nhất, năm đó ông còn trẻ mà đã thành truyền kỳ như thế, nhưng lại không hề kiêu căng phách lối chút nào, ông tiêu tiền như nước, nhưng lại hòa ái dễ gần, loại người như thế chắc chắn sẽ có vô số bạn bè muốn kết giao, vô số người ngưỡng mộ.

Tình cảm giữa ông và Hoắc Tiên Cô bắt đầu nảy nở từ đây.

Lúc ấy, Hoắc Tiên Cô còn lớn tuổi hơn ông, nhưng lại thích ông cực kỳ, thích muốn chết luôn.

之后遇到了以前说过的长沙大案,裘德考出卖了所有人,我爷爷家财散尽,在古墓里躲了一段时间。之后逃到了杭州。解九爷当时已经起来了,虽然财富没有我爷爷那么雄厚,但是因为家族底子在,人脉广,善于经营,于是解家就成了老九门中政商关系经营得最好的一家正是通过解九爷的保护,我爷爷才碰到了我的奶奶:

Về sau, gặp phải vụ đại án Trường Sa kia, Cầu Đức Khảo bán đứng tất cả mọi người, cả gia tài của ông nội tôi đều bốc hơi, ông phải ẩn nấp trong cổ mộ một thời gian, rồi sau này chạy trốn đến Hàng Châu.

Thời điểm đó, Giải Cửu Gia đã phất lên, mặc dù tài sản không hùng hậu như ông nội tôi trước đó, nhưng vì có căn cơ của cả gia tộc, lại giao thiệp rộng, giỏi kinh doanh, bởi vậy Giải gia trở thành gia tộc làm ăn phát đạt nhất trong mối quan hệ quan – thương câu kết của Lão Cửu Môn.

Chính nhờ sự bảo vệ của Giải Cửu Gia, ông nội tôi mới gặp phải bà nội.

当时应该是我爷爷在解九爷的介绍下,先住到了我奶奶家(我奶奶和解家是外戚关系,我奶奶负责照顾我爷爷,当时江南小家碧玉和湖南的女盗墓贼气质完全不同,我爷爷当时应该是劈腿了。在没有和霍仙姑交代的情况下,直接完败给了我奶奶。当然,当时我奶奶也不知情

Năm đó, có lẽ là nhờ Giải Cửu Gia giới thiệu, nên ông nội tôi mới đến ở tạm tại nhà bà nội (bà nội tôi là họ hàng bên ngoại của Giải gia).

Bà nội tôi chịu trách nhiệm chăm sóc cho ông nội, lúc ấy, thiếu nữ đất Giang Nam khác với nữ tặc trộm mộ miền Hồ Nam nhiều lắm, ông nội tôi khi đó chắc là đã xiêu lòng luôn rồi.

Trong cảnh xa cách với Hoắc Tiên Cô, thế là ông nội tôi đã hoàn toàn thua dưới tay bà nội.

Đương nhiên, lúc ấy bà nội tôi vẫn không biết chuyện về Hoắc Tiên Cô.

当时全国的形势是一片兵荒马乱,就连书信都不通。这事情就这么慢慢熬过去了。大概是两年后,霍仙姑来杭州的时候。我爷爷已经和我奶奶成亲了,我奶奶已经怀了我老爹:当时霍仙姑也没有见我爷爷。只是很客气地在房里和我奶奶聊了一个时辰的天就走了。

Thời ấy, cả nước đang trong cảnh loạn lạc, ngay cả thư tín cũng không gửi đến nơi được, thế là chuyện này cứ thế dần dần trôi qua.

Khoảng hai năm sau, khi Hoắc Tiên Cô đến Hàng Châu, thì ông nội tôi đã cưới bà nội mất rồi, bà nội còn đang mang bầu bố tôi.

Lúc ấy Hoắc Tiên Cô cũng không gặp ông nội tôi, chỉ ngồi trong nhà nói chuyện với bà nội tôi rất khách sáo, khoảng một canh giờ sau, liền rời đi.

从此天各一方,大家都知道对方的存在。也知道对方过得如何,就是再不相见。

Từ đó về sau, mỗi người một nơi, trời nam đất bắc, ai nấy cũng đều biết rõ sự tồn tại của nhau, cũng biết người kia đang sống như thế nào, nhưng không bao giờ còn gặp lại nhau nữa.

谁也不知道当天她们聊的是什么。只听下人说,她们聊得很开心。

Chẳng ai biết ngày hôm ấy, hai cô gái đó đã trò chuyện điều gì, chỉ nghe đám tôi tớ nói, bọn họ trò chuyện rất vui vẻ.

我爷爷当时听到这个消息的时候,肯定是满头的瀑布汗。我听了都不由得同情他:

Khi ông nội tôi nghe được tin tức này, chắc chắn là mồ hôi tuôn như suối.

Tôi nghe mà không khỏi thương cảm với ông vô cùng.

大概是过了三年,我爷爷才把生意继续反推回长沙,之后基本就是两地来回住。每次去长沙,我奶奶必定陪同,我爷爷和霍仙姑再也没有死灰复燃的机会。再过一年,霍仙姑就嫁到北京去了。我爷爷说起来还感慨。在的时候。觉得可怕,走了。却也觉得惆怅。

Khoảng ba năm sau, ông nội tôi mới bắt đầu dần dần chuyển hướng làm ăn về Trường Sa, sau này gần như thường xuyên đi đi về về giữa hai nơi.

Mỗi lần ông đi Trường Sa, là bà nội lại khăng khăng đi cùng, ông nội tôi với Hoắc Tiên Cô không có cơ hội nào để tro tàn lại bén nữa.

Một năm sau, Hoắc Tiên Cô lấy chồng ở Bắc Kinh.

Ông nội tôi nhắc lại chuyện này vẫn còn thở dài, lúc đó cảm thấy đáng sợ thật, nhưng đi rồi, lại cũng thấy hơi buồn.

我三叔应该是在十三岁时自己入行的,先是在长沙混下地,后来得了一些经验和钱,便到杭州来,买下了现在的这块地:当时还没有买这个概念,是通过关系拿的,盖了房子,便慢慢地把重点转换到了经营上。这个地方经过多次扩建,也越来越好。

Chú Ba tôi có lẽ đã tự dấn thân vào nghề từ năm mười ba tuổi.

Đầu tiên chú lăn lộn xuống đất ở Trường Sa, về sau khi đã kiếm được ít kinh nghiệm và tiền bạc rồi, chú mới đến Hàng Châu, mua lại miếng đất này.

Thời ấy còn chưa có khái niệm "mua đất" đâu, chỉ là có được miếng đất thông qua quan hệ, rồi xây nhà, dần dần chuyển hướng sang lĩnh vực kinh doanh.

Nơi này trải qua nhiều lần mở rộng, cũng ngày càng khấm khá.

二叔一直在做学问。大概是在七年前开了茶楼,也不是为了赚钱,单纯就是为了和他的那些朋友有个聚会的地方。我从来没有见过我二叔身边有女人。他似乎是红花滴水不进。但也许是二叔心思特别缜密,他的破事儿谁也不知道。我老爹则很早就离家了,当时支边,从南方去了北方做地质勘探,上个世纪七十年代末期才回来。

Chú Hai đi theo con đường học vấn.

Khoảng bảy năm trước, chú mở quán trà, nhưng không phải để kiếm tiền, mà chủ yếu là để chú với đám bạn bè có chỗ tụ họp mà thôi.

Tôi chưa bao giờ thấy một người đàn bà nào bên cạnh chú Hai, chú cứ như thể hồng hoa một đóa không lọt một giọt sương ấy.

Nhưng có lẽ là do tâm tư chú Hai quá kín đáo, những chuyện hư hỏng của chú, không ai biết được.

Bố tôi thì rời nhà đi từ rất sớm, lúc ấy bố đi công tác kiến thiết vùng biên cương, từ phương Nam lặn lội lên tận phương Bắc thăm dò địa chất, đến tận cuối thập niên bảy mươi của thế kỷ trước mới trở về.

回来之后,他们结婚有了我,我老娘是个强势户,杭州本地官宦家的姑娘,后来有段时间天天和我爸闹离婚。差点把我烦死。

Sau khi trở về, bố tôi lấy vợ, sinh ra tôi.

Mẹ tôi là người quá mạnh mẽ, là con gái một nhà dòng dõi quan lại địa phương ở Hàng Châu, về sau có một khoảng thời gian mẹ giận dỗi đòi ly hôn với bố tôi suốt, suýt chút nữa thì làm tôi phiền chết luôn.

吴家在杭州的整个过程到此就很明确很清晰了。现在的问题是。这栋楼底下的房间,到底是怎么来的?是在修建之前就挖好的。还是在重达的时候完成的?

Cả quãng thời gian từ khi Ngô gia đến Hàng Châu cho đến nay thì đã rất rõ ràng rồi.

Vấn đề bây giờ là, rốt cuộc căn phòng bí mật bên dưới căn nhà này đã được xây như thế nào?

Nó đã được hoàn thành từ trước khi xây nhà, hay là từ khi trùng tu xây sửa lại ngôi nhà?

如果三叔本身不知道这间密室的存在,那这间密室一定是偷偷完成的。所以不可能是当初修违时就设计的,很可能是之后某次重建时挖掘的。

Nếu bản thân chú Ba không biết đến sự tồn tại của căn phòng bí mật này, tức nghĩa là, căn phòng này được lén lút xây nên, cho nên, chắc chắn nó không phải thiết kế ban đầu từ khi mới xây ngôi nhà này, rất có thể là đã được đào ra trong một lần trùng tu xây sửa nào đó.

我是学诖筑的,我知道挖地下室并不是一件简单的事情,我出去走了几步,以步伐来丈量,很快我发现,事情没有我想的那么复杂。

Tôi học kiến trúc, biết rõ chuyện đào một căn phòng bí mật dưới đất không hề đơn giản.

Tôi đi ra ngoài mấy bước, lấy bước chân để đo, chẳng mấy chốc liền phát hiện, vấn đề không hề phức tạp như tôi tưởng.

这个地下室的确切位置并不是在三叔房子的底下,而是在和隔壁屋子交接的墙壁底下。

Vị trí chính xác của căn phòng bí mật dưới đất không phải nằm dưới căn nhà của chú Ba tôi, mà là ở bên dưới căn nhà hàng xóm sát vách.

我看了看隔壁的楼,我从来没有注意过它。这里的农民房很密集,每次来三叔这里,我总是直接上二楼看货,也不会待得太久,隔壁是谁,我真的是不晓得。

Tôi nhìn qua ngôi nhà sát vách, từ trước đến nay tôi chưa bao giờ để ý đến nó.

Vùng này tập trung rất nhiều những ngôi nhà nông dân tương tự, mỗi lần đến chỗ chú Ba, tôi toàn lên thẳng lầu hai để xem hàng, mà thường cũng không ở lại đây quá lâu.

Hàng xóm cách vách là ai, tôi thực sự không biết.

我脑子里一片混乱。浑浑噩噩地走到了隔壁的大门口,鬼使神差地敲门。

Trong đầu tôi rối tung lên như mớ bòng bong, bất giác đã đến trước cửa nhà hàng xóm, ma xui quỷ khiến thế nào, tôi lại gõ cửa.

那是铁皮门,特别熟悉并且特别结实的那种农民房专用防盗门。敲了几下,我发现门上有一张已经剥落得差不多的纸条,上面写着"有房出租",下面是电话号码。

Đó là cánh cửa bằng sắt tôn, loại cửa chống trộm cực kỳ bền chắc mà những loại nhà như thế này thường sử dụng.

Gõ vài cái, tôi liền phát hiện trên cửa có dán một tấm giấy đã bong tróc gần hết, trên đó viết "Có nhà cho thuê", bên dưới là một dãy số điện thoại.

没有人来开门,我敲了半天,毫无反应。我拿出手机,拨通了这个号码:

Không ai ra mở cửa, tôi gõ một hồi lau, vẫn không có chút phản ứng nào.

Tôi lấy di động ra, bấm gọi vào dãy số này.

声音响了三四下,没有人接。

Đổ chuông suốt ba bốn hồi, vẫn không ai nhấc máy.

我看了看四周无人,便找了个地方一下翻上了墙,跳了进去。

Tôi nhìn xung quanh, thấy không có ai, bèn tìm một chỗ gần bờ tường, nhảy lên trèo vào trong.

我自己的身手那么敏捷,把自己都吓了一跳,看来这都是这两年"下地"锻炼出来的结果。落地之后,我就发现这个房子应该是没人住的,院子内一片萧条,全都是落叶。我正奇怪这些落叶是哪儿来的,就又见几片飘了下来。我一抬头就看到,这间屋子的房顶上种着一些植物,植物长久没有人打理,都枯死了,叶子是从上头飘落下来的。

Thấy thân thủ của mình nhanh nhạy như thế, ngay cả tôi cũng phải giật mình, xem ra, đây chính là kết quả sau hai năm liên tục "xuống đất" trui rèn nên.

Sau khi đáp xuống đất, tôi liền phát hiện ngôi nhà này hình như không có ai ở.

Sân nhà đìu hiu, toàn là lá rụng.

Tôi đang lấy làm lạ số lá rụng này từ đâu ra, thì thấy có mấy chiếc lá nhẹ nhàng rơi xuống.

Tôi ngẩng đầu lên, thì ra trên sân thượng căn nhà này có trồng một ít cây cối, nhưng lâu không có ai chăm sóc, chúng đã chết khô cả.

Lá cây từ trên đó bay xuống dưới.

我用步伐丈量这个院子,发现如果有人要从这边挖一个通道到三叔的楼下,确实可行。但是我必须知道是什么时候挖的。

Tôi lại dùng bước chân để đo đạc ngôi nhà này, mới phát hiện, việc đào một đường hầm từ đây thông xuống bên dưới căn nhà của chú Ba quả thực rất khả thi.

Nhưng tôi phải biết là nó đã được đào từ lúc nào.

我走向楼的门脸,这里还有一道门禁,那是一扇大的包铜门。这家没什么品位,黄铜的大门看上去金光灿灿的,很气派,所以很多农村的土老板都喜欢这样的门。

Tôi đi về phía cổng chính, ở đây còn có một lớp cửa an toàn nữa, đó là một cánh cửa bọc đồng cực lớn.

Nhà này chẳng có gu thẩm mỹ gì hết, cánh cửa bọc đồng thau vàng khè chói lọi, trông rất khí thế, cho nên nhiều tay nhà giàu mới phất ở nhà quê rất thích loại cửa này.

这门虽然看上去很俗气,但是保险的性能确实极好,我估计用普通的小炸药都炸不开,而且这种门一般都有六七个门闩,要撬起来实在是费劲。

Cánh cửa này tuy trông tục tằn, nhưng tính năng bảo vệ rất tốt.

Tôi ước chừng, có lẽ dùng đến thuốc nổ cũng không nổ tung nó ra được, hơn nữa, loại cửa này thường có đến sáu bảy cái then cài, muốn cạy ra cũng rất tốn sức.

如何才能进去?我想了想,看到二楼也是铁栏杆森严,所有的窗户被包得死死的,好像专门来防备一大帮人人室盗窃一样。就在我准备打电话找人来帮忙的时候,忽然我的电话响了,我一看,是我刚才拨打的那个电话拨回来了。

Vậy phải làm sao mới chui vào nhà được đây?

Tôi suy nghĩ.

Thấy lan can sắt tầng hai cũng có vẻ rất nghiêm ngặt, toàn bộ cửa sổ trong nhà đã bị bịt kít hết, cứ như thể sắp có cả một toán cướp đến trộm cắp ở đây nên mới phải đề phòng cẩn thận đến vậy.

Khi tôi định gọi điện tìm người tới giúp, bỗng nhiên điện thoại tôi đổ chuông.

Tôi nhìn xem, thì ra là chủ nhân dãy số ban nãy đã gọi lại cho tôi.

我接了起来,里面是一个男人的声音,问我干吗,我说我要租房子,他道:"房子早就租出去了。"

Tôi nhấc máy, đầu dây bên kia vang lên một giọng đàn ông, hỏi tôi có chuyện gì.

Tôi nói tôi muốn thuê nhà.

Người đó nói: "Nhà đã cho thuê từ lâu rồi."

我道:"不可能啊,房子一直没有人住。"对方道:"房子十九年前就租出去了,那张纸条可能一直没有撕掉。十九年来,房租每年都会准时打过来,所以我在外地也从来不过问。"

Tôi nói: "Không thể nào, nhà đó làm gì có ai ở."

Đối phương đáp: "Đã cho thuê từ mười chín năm trước cơ, chắc là tờ giấy kia vẫn chưa xé.

Mười chín năm qua, cứ hàng năm, tiền thuê nhà sẽ được gửi đến đầy đủ, cho nên tôi ở vùng khác cũng không hỏi han gì nữa."

十九年前?我愣了一下,看了看这房子的格局,十九年前的房子肯定不会是现在这样,这房子肯定是翻修过,我就问他十九年间这房子是否有过修整。

Mười chín năm trước?

Tôi sửng sốt, xem kết cấu của căn nhà này, thì mười chín năm trước chắc chắn là không như bây giờ, căn phòng này nhất định đã từng được tu sửa rồi.

Tôi liền hỏi anh ta, trong vòng mười chín năm này có phải đã từng sửa nhà hay không.

对方说不知道,他也没法管,反正钱每年都有一个递增比例,说完他就问:"是不是出什么事了?"我道:"也没什么事情,只是想租房子。"说着我灵机一动,就问他,"你能不能把这个人的联系方式给我,我想他做个二房东,租两间房子给我。"

Đối phương nói không biết, anh ta cũng chẳng quản lý được, dù sao thì tiền thuê nhà mỗi năm đều tăng lên theo tỉ lệ.

Nói xong, anh ta liền hỏi: "Đã xảy ra chuyện gì à?"

Tôi nói: "Cũng không có vấn đề gì, chỉ là muốn thuê nhà."

Nói rồi, tôi lại nhanh trí nghĩ ra một cách, liền hỏi ngay: "Anh có thể cho tôi phương thức liên lạc với người thuê nhà của anh được không?

Tôi muốn anh ta cho tôi thuê lại hai căn phòng."

对方还挺热情的,说稍等,很快就把电话报了过来,说他自己也很久没联系了,如果有什么问题,就继续打电话去找他。

Đối phương có vẻ rất nhiệt tình, bảo tôi chờ một chút.

Rất nhanh, anh ta liền gọi lại, đọc số điện thoại cho tôi, còn nói, bản thân anh ta đã lâu rồi không liên lạc với người này, nếu có vấn đề gì, cứ việc gọi cho anh ta.

我听得心中暖暖的,心说世界上毕竟还是有温暖的。于是,我拨通了他给我的电话号码。响了几声没人接,我放下电话看是否拨错了号码,忽然,我看到我的手机屏幕上跳出了一个名字,这个号码竟然在我的手机号码簿里!

Tôi nghe mà lòng ấm áp, nghĩ thầm, thì ra trên thế giới này vẫn còn những điều ấm lòng như thế.

Vì vậy, tôi liền bấm số điện thoại mà anh ta cho.

Đổ chuông mấy tiếng mà không ai nghe máy, tôi mới xem lại di động của mình, kiểm tra xem mình có bấm sai số hay không.

Khi đó, tôi mới thấy trên màn hình di động hiện ra một cái tên, thì ra, số điện thoại này không ngờ lại nằm trong danh bạ của tôi!

看着这个名字,我立即把电话按掉了,心说狗日的,不可能吧。

Nhìn thấy cái tên này, tôi lập tức tắt điện thoại ngay tức khắc.

Thầm nghĩ, mẹ cha ơi, không thể thế được.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 72: Quá Khứ Của Ông Nội


手机上跳出来的名字,已经很久很久都没有在我手机上出现过了。看到的那一刹那,我的想法是,无论是谁的名字从我的手机上跳出来,我都不会惊讶。但是唯独这个人,我是无比惊讶。

Cái tên vừa xuất hiện chính là một cái tên đã rất lâu rồi chưa từng hiển thị trên màn hình di động tôi.

Vào khoảnh khắc đó, tôi đã nghĩ, cho dù là bất cứ cái tên nào trong danh bạ tôi xuất hiện, tôi cũng sẽ không ngạc nhiên gì.

Nhưng không ngờ lại duy chỉ có cái tên này, là khiến tôi vô cùng kinh hãi.

其实。也不是一个名字,而是一个称呼。

Thực ra đó không phải là một cái tên, mà là một đại từ xưng hô.

"爷爷"!

【Ông nội】

手机上显示出的名字,是我爷爷去世之前使用的号码。他入葬之后就没有人打过了。没有想到,竞然现在都没有停机。

Cái tên hiển thị trên di động tôi chính là dãy số điện thoại mà ông nội tôi từng sử dụng trước khi qua đời.

Kể từ khi ông được an táng, không một ai gọi đến dãy số ấy nữa.

Thật không ngờ, đến tận bây giờ mà dãy số ấy vẫn chưa bị hủy.

我在院子里来回踱步,心说狗日的,看来真的非常接近核心了。我的方向对了,但是我还是弄不懂,这些人到底在干什么?

Tôi đi đi lại lại trong sân, nghĩ thầm, mẹ kiếp, xem ra là đã đến gần điểm mấu chốt lắm rồi.

Phương hướng thì đúng, nhưng tôi vẫn không hiểu, những người này rốt cuộc đang làm cái gì?

我想了想,继续拨出这个号码,把手机放到耳朵边。我不知道自己能听到什么,但是我其实挺期待的,无论是什么声音,我都非常期待

Tôi suy nghĩ một lát, rồi tiếp tục gọi vào số điện thoại này.

Không biết tôi có thể nghe được cái gì đây.

Thật ra tôi cảm thấy rất mong chờ, dù là nghe thấy bất kỳ thứ gì, tôi đều rất mong chờ.

"对不起,您拨打的电话无法接通"

"Số máy quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được..."

我放下手机,爷爷的手机肯定已经没电了,可能里面还有一些钱,因为吴老狗最后的日子过得相当富裕。我三叔给我爷爷充电话卡,可能一充就是够用几年的钱,所以没有停机。但是,那部手机,肯定没有人充电了。

Tôi buông di động xuống, di động của ông nội tôi chắc chắn đã hết pin, có lẽ trong đó vẫn còn một ít tiền, bởi những ngày tháng cuối đời của Ngô Lão Cẩu khá là sung túc.

Chú Ba tôi thường nạp thẻ điện thoại cho ông nội, có lẽ mỗi lần nạp là đủ dùng đến mấy năm liền, cho nên dãy số này vẫn chưa bị hủy.

Nhưng còn chiếc di động kia, thì chắc chắn là không có ai sạc pin cho.

我奶奶不是一个为情所累的人,她活得非常聪明,对我爷爷的去世她并不是太伤心,我现在也不想去打扰她

Bà nội tôi không phải tuýp người lụy tình.

Bà rất sáng suốt, khi ông nội tôi qua đời, bà có vẻ không quá suy sụp.

Bây giờ tôi cũng không muốn làm phiền bà.

这套房子是爷爷租的,而且一租就是十九年。

Căn nhà này là do ông nội tôi thuê, hơn nữa, còn thuê một lèo suốt mười chín năm.

我已经不想去细琢磨其中的可能性。我再次拨了那个房东的电话,告诉他,我联系上了二房东,我会给二房东的账上和房东的账上每个月各打五百块钱。二房东让我直接找房东打一张他以前的打款证明给中介。

Tôi đã không còn muốn suy nghĩ đến những khả năng trong đó nữa.

Tôi gọi lại cho chủ nhà, nói với anh ta, rằng tôi đã liên hệ được với người thuê kia, tôi sẽ trả cho người kia và anh chủ nhà mỗi người một khoản tiền là năm trăm đồng mỗi tháng.

Người thuê kia đã bảo tôi liên hệ thẳng với chủ nhà, nhờ chủ nhà gửi biên lai chuyển khoản của anh ta lúc trước cho bên trung gian là tôi.

房东很热心,大概知道自己每个月又能多收五百块钱,很快就把他的账户清单打给了我。我点上烟。翻出了墙头。一边让手下找几个会橇门的过来,一边就找银行的朋友,査询这个账户的款项打款人。

Chủ nhà rất nhiệt tình, biết từ nay mỗi tháng mình có thể thu được thêm năm trăm đồng mỗi tháng nữa, anh ta liền gửi ngay danh sách chuyển khoản cho tôi.

Tôi châm điếu thuốc, nhảy ra khỏi bờ tường, vừa gọi cho thủ hạ, sai mấy thằng biết cạy cửa đến đây, vừa tìm đến một anh bạn làm việc ở ngân hàng, nhờ anh ta truy tìm chủ nhân của số tài khoản đã chuyển tiền này.

一开始朋友在电话里很为难。我说会给他点好处费,并且告诉他只需要这个打款人的账号他才同意。很快账号发了过来。我在自动存款机上输入这个账号,很快这个账号对应的名字跳了出来。

Ban đầu, anh bạn ngân hàng này có vẻ khó xử lắm, tôi liền nói, xin biếu anh ta một chút gọi là tiền trà nước, còn nói, tôi chỉ cần biết tên tài khoản của số tài khoản đã gửi tiền này thôi, thì anh ta mới chịu đồng ý.

Chẳng bao lâu sau, tên tài khoản đã được gửi tới.

Tôi nhập tên tài khoản này nào máy gửi tiền tự động, rất nhanh, một cái tên tương ứng với tên tài khoản này hiển thị ngay trên màn hình.

我对着自动存款机愣了半天。

Tôi nhìn vào màn hình, ngẩn ra một lúc lâu.

是我爷爷的名字。

Là tên của ông nội tôi.

可能是爷爷采用了自动划账的方式。

Có thể là ông nội đã sử dụng dịch vụ chuyển khoản tự động.

我回到街上,在过人行道的时候差点被卡车撞到。我已经顾不得这些,浑浑噩噩地来到一家咖啡厅,找地方坐下来,发现自己已经无法思考了。

Tôi quay lại con phố, lúc qua đường, tôi suýt nữa thì bị xe tải tông trúng.

Nhưng tôi mặc kệ tất cả, cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn bước vào một quán cà phê, tìm một chỗ, ngồi xuống, nhận ra mình đã không tài nào suy nghĩ được gì nữa.

这是怎么回事?难道,那个地下室,是爷爷挖的?

Thế là thế nào?

Chẳng lẽ, căn phòng bí mật dưới đất đó là do ông nội tôi đào nên?

爷爷租了边上的房子。挖了一个地下室,然后监视自己的儿子?

Ông nội thuê căn nhà bên cạnh, đào một căn phòng bí mật dưới lòng đất, sau đó, theo dõi chính con trai của mình?

爷爷没那么变态吧,在我印象中的爷爷,已经基本出世,活在自己的世界和回忆里。在晚年的时候,他的心中只有一杯茶、几条狗和一个牵着手顺着西湖边走走的老太婆。

Ông nội tôi không biến thái như vậy đâu, ông nội trong ấn tượng của tôi đã gần như là xuất thế rồi, ông chỉ sống trong hồi ức và thế giới của chính mình.

Những năm tháng cuối đời, trong lòng ông chỉ có một chén trà, vài con chó, và một bà lão dắt tay ông đi dọc theo bờ Tây Hồ.

不过,十九年,我想到了这个数字。十九年前的爷爷是什么样的?

Có điều, mười chín năm.

Tôi nhớ đến con số này, mười chín năm trước ông nội tôi là người như thế nào?

我脑子里闪过很多零碎信息,我想到了二叔和我说的一些暖昧的话,暗示他们并不是不知道三叔是假的。

Trong đầu tôi xẹt qua rất nhiều thông tin vụn vặt, tôi nhớ đến những câu mập mờ mà chú Hai từng nói với tôi, ám chỉ rằng, bọn họ không phải là không hề biết chú Ba đó là giả.

十九年前。当年似乎正好是假三叔从西沙回到杭州的时间。他回来之后,二叔和我爷爷很快发现了不对劲。但是又不知道出了什么事情。

Mười chín năm trước, hình như đó cũng chính là lúc chú Ba giả từ Hoàng Sa trở về Hàng Châu.

Sau khi chú trở về, chẳng bao lâu, chú Hai và ông nội tôi phát hiện ra điều không ổn, nhưng lại không biết đã xảy ra chuyện gì.

当时所有人对于"它"还是相当的忌讳,特别是爷爷。肯定会想到和他有关,为了不打草惊蛇,爷爷在这里挖了这么一个地窖,用来监视这个假三叔。

Lúc ấy, tất cả mọi người vẫn còn khá kiêng kỵ "nó", đặc biệt là ông nội tôi, chắc chắn mọi người sẽ nghĩ chuyện này có liên quan đến "nó", vì thế mới không muốn bứt dây động rừng.

Ông nội đào một căn hầm ngầm dưới lòng đất, mục đích là để theo dõi chú Ba giả này.

有可能,很有可能。

Có thể là vậy, rất có thể là vậy.

那为什么会有一个人常年住在地窖之中呢?难道当时爷爷他们找了一个人监视三叔,这个人常年待在地窖之中,到现在都没下班?

Vậy thì, tại sao lại có một người quanh năm ở trong căn hầm ngầm đó chứ?

Chẳng lẽ hồi đó, ông nội đã tìm một người theo dõi chú Ba, người này ở trong căn hầm đó ròng rã nhiều năm, không chịu tan ca, cho đến tận bây giờ?

那他妈的这真是世界上最苦逼的工作了,上班地点居然是在下水道里,而且还没有假期。如果是十九年前修的密室。那就是在这里暗无天日地待了十九年,比在小煤窑还苦。

Vãi thật, thế thì đó đúng là một công việc khốn khổ bậc nhất thế giới này con mẹ nó rồi, địa điểm công tác nằm ở dưới cống thoát nước, hơn nữa, lại còn không có ngày nghỉ.

Nếu căn phòng bí mật đó được đào ra từ mười chín năm trước, tức nghĩa là người đó đã phải chờ đợi dưới lòng đất tối tăm đó suốt mười chín năm, không được nhìn thấy ánh mặt trời, như vậy còn khổ cực hơn cả làm việc trong mỏ than nữa.

另外。还有一个不可能说通的问题。十九年,以爷爷、二叔的魄力。十九年的监视,什么都没有改变吗?十九年,都可以改变一个王朝了,为什么到了现在还是在监视?或者说,爷爷和二叔应该很快就会发现问题的所在。从二叔给我的暗示里,也有这一层意思,他们知道三叔就是解连环,那为什么他们不采取任何措施?

Ngoài ra, còn một vấn đề không hợp lý nữa.

Mười chín năm ấy, với sự quyết đoán của ông nội tôi, của chú Hai tôi, chẳng lẽ lại không có gì thay đổi hay sao?

Mười chín năm, cũng đủ để thay đổi cả một vương triều rồi, thế mà vì sao vẫn còn theo dõi cho đến tận bây giờ?

Có thể là, ông nội và chú Hai có lẽ đã phát hiện ra điểm bất thường từ rất sớm, những ám chỉ mà chú Hai gợi ý cho tôi cũng có ý nghĩa này, bọn họ đã sớm biết chú Ba thực chất chính là Giải Liên Hoàn, nhưng vì sao bọn họ lại không có bất kỳ hành động nào?

难道。这么监视着,他们监视出感情了?还是说,二叔和爷爷还有自己的计划?那又是什么计划呢?

Chẳng lẽ, cứ theo dõi mãi lại cuối cùng nảy sinh tình cảm?

Hay là chú Hai và ông nội còn có kế hoạch gì của riêng mình?

Nếu vậy thì đó là kế hoạch gì?

我想来想去都想不通,快扛不住了。我意识到,哪怕二叔再难搞,再精明,我也必须得向他摊牌了。我真的必须知道,他们到底在想些什么。

Tôi nghĩ tới nghĩ lui mà vẫn không nghĩ ra, sắp không thể chịu nổi nữa.

Tôi ý thức được rằng, cho dù chú Hai có khó xơi, khôn khéo đến mức nào đi nữa, thì tôi cũng quyết phải lật cho được lá bài này của chú.

Tôi phải biết, rốt cuộc bọn họ đang suy nghĩ cái gì.

回到三叔那儿,我躺在沙发上瞎琢磨

Quay lại chỗ chú Ba, tôi nằm dài trên ghế sô-pha, suy nghĩ vẩn vơ.

在我以往的认识中,算计二叔基本就等于找死,二叔识破一个局是不需要中间过程的,他看看表情和大概的说辞。立即就能知道对方背地里搞的花样。而且,他最喜欢的就是顺着你设的局走。有一次我们去老家,三叔为了私吞一个祖上留下来的东西做了个局,二叔一直假装自己在局里,其实一路上各种安排,以局破局,借蕾三叔的局破掉了另外一个族人更大的局。当三叔以为自己终于赢了一次的时候,二叔几句话摘走了所有的胜利果实。

Theo kinh nghiệm trước kia, tính kế chú Hai về cơ bản thì chẳng khác gì tự lao đầu vào chỗ chết.

Chú Hai chẳng cần đến quá trình trung gian để nhìn thấu được một ván cờ, chú chỉ cần nhìn nét mặt và tổng thể lý do lý trấu là đủ để biết ngay đối phương đang ngấm ngầm giở trò rồi.

Hơn nữa, chú còn thích nhất là trò vờ vịt thuận theo bố cục của bạn để giăng lưới.

Tôi nhớ có một lần, chúng tôi về quê, chú Ba muốn nuốt chửng báu vật mà tổ tiên để lại, bèn bày ra một thế cục.

Chú Hai từ đầu đến cuối đều vờ vịt như thể mình đang bị xoay trong thế cục này, nhưng thực ra chú đã sắp đặt đủ các loại bố trí ở dọc đường rồi.

Chú mượn cục để phá cục, mượn bố cục của chú Ba để phá một bố cục khác còn lớn hơn của một người trong gia tộc.

Khi chú Ba đang hí hửng tưởng mình cuối cùng cũng thắng được ông anh một phen, thì chú Hai, chỉ bằng vài câu nói, đã gặt hái hết sạch mọi thành quả thắng lợi.

我在想二叔会不会把所有的事情全部说给我听,他说给我听的前提是什么?

Tôi nghĩ, không biết liệu chú Hai có kể tất cả mọi chuyện cho tôi nghe hay không?

Muốn chú kể cho tôi nghe, thì điều kiện tiên quyết phải là gì?

我实在想不出来,二叔软硬不吃,我能逼他就范的唯一的可能性,就是以性命相逼。

Tôi quả thực không nghĩ ra được.

Chú Hai là loại người mềm không ăn, cứng cũng không ăn, cách duy nhất để tôi có thể ép chú chính là lấy mạng mình ra mà ăn vạ.

但是。二叔是非常精明的人。他知道我是那种绝对不可能以命相搏的人,我觉得他最有可能的是在那里喝茶,丝毫不理会我。我总不能真的自己把自己弄死。

Nhưng mà, chú Hai rất khéo léo.

Chú biết thừa tôi là loại người không thể lấy mạng ra mà liều, tôi nghĩ, rất có thể chú sẽ ngồi một chỗ thảnh thơi uống trà, chẳng thèm đếm xỉa gì đến tôi.

Dẫu sao thì tôi cũng không thể thật sự tự giết chết chính mình được.

我必须做成一种让他明白,他不告诉我,我真的会死的这种境地。也就是说,我必须把事情做得连我自己都控制不了。

Tôi phải khiến chú hiểu rằng, nếu chú không nói cho tôi biết, tôi thực sự sẽ chết.

Nói cách khác, tôi phải đẩy sự việc đến mức ngay cả bản thân tôi cũng không thể kiểm soát được nữa.

难道要假装被绑架吗?我心说,如果我切掉自己的手指,给二叔寄过去,二叔会不会就范?

Hay là tôi giả vờ mình bị bắt cóc?

Tôi nghĩ thầm, nếu tôi tự chặt đứt một ngón tay của mình, gửi cho chú Hai, liệu có ép chú được không nhỉ?

我觉得会就范。但是,我觉得二叔不会立即就范,一根手指肯定是不够的,二叔的神经起码能坚持到三根。

Tôi cảm thấy, nếu làm thế thì chú sẽ chịu thua tôi thôi.

Nhưng mà, tôi nghĩ chú sẽ không chịu ngay từ đầu đâu, một ngón tay chắc chắn là không đủ, thần kinh của chú Hai có thể chịu đựng đến ít nhất là ba ngón.

来到了厨房,我看着自己的左手,拿起了菜刀,选了其中三根似乎不太能用得到的,比画了一下,忽然觉得人生特别美好,自己何必呢?

Vào phòng bếp, tôi nhìn tay trái của mình, cầm con dao phay lên, chọn ra ba ngón tay không cần sử dụng quá nhiều, ướm thử một chút, đột nhiên cảm thấy cuộc đời này quá tốt đẹp, mình hà tất phải đi đến nước này?

二叔会不会亲自过来主动和我说?这个洞如果是他挖的,那下面的人逃出去了,二叔肯定立即就会知道。那二叔会不会有什么应急的措施启动呢?等一下会不会有一颗定向导弹飞过来。把我炸上天去?时间已经过了很久,我回来的时候什么都没有发生。这他妈奇怪了,如果没有任何的应急措施。这种监视又有什么用呢?

Liệu chú Hai có đích thân chủ động kể cho tôi biết hay không?

Nếu cái hang bên dưới là do chú đào, người bên dưới kia đã chạy đi rồi, vậy thì chắc chắn là chú đã biết.

Nếu vậy, liệu chú có thực hiện các biện pháp cấp thiết gì hay không?

Liệu một lát nữa sẽ có quả tên lửa hành trình cài sẵn định vị lao thẳng vào đây, nổ bùm một cái, bắn tôi lên trời cao không?

Đã qua một lúc khá lâu rồi, khi tôi quay về đây, vẫn không có gì xảy ra cả.

Thế thì lạ thật, nếu không có bất kỳ biện pháp cấp thiết nào, thì loại giám sát này được ích lợi gì chứ?

我觉得所有的方向,在这件事情上似乎都能说得通。但我缺少一把钥匙,唯一的一把钥匙。以前的我,离真相太远了,只能看到很多成直线的线索,它们之间互相矛盾。可是,这一次我离真相太近了,所以我看到的是无数的可能性。相比之下,绝对不可能和无数的可能性,我现在发现还是前者更加仁慈一些。

Tôi nghĩ đến mọi phương hướng, trong chuyện này, gần như theo hướng nào cũng có thể nói xuôi được, nhưng tôi lại thiếu mất một cái chìa khóa, một cái chìa khóa duy nhất.

Tôi của trước kia cách chân tướng sự việc quá xa, chỉ có thể nhìn thấy rất nhiều manh mối kéo dài thẳng tắp, những mâu thuẫn qua lại giữa các bên.

Nhưng lần này, tôi đã ở quá gần với chân tướng, cho nên, tôi nhìn thấy vô số khả năng.

Đem so sánh giữa "tuyệt đối không thể" với "vô số khả năng", tôi nhận ra, cái thứ nhất kia lại nhân từ hơn cái thứ hai một chút.

算计二叔。

Tính kế chú Hai.

我又拿起菜刀,把自己的手按在砧板上,好像这是我唯一的办法了,虽然有点蠢,但是,我好像走投无路了。

Tôi lại cầm con dao làm bếp lên, đè tay mình xuống thớt, như thể đây đã là biện pháp duy nhất của tôi rồi.

Mặc dù có chút ngu xuẩn, nhưng tôi cứ như thể đã đi đến đường cùng rồi.

一股决绝和森然的情感从我心底涌了起来,此时我意识到自己快疯了,我的心魔已经到了无法抑制的地步了。

Một cảm xúc vô cùng quyết liệt và đáng sợ dần dâng lên từ tận đáy lòng tôi, lúc này, tôi ý thức được là mình sắp phát điên rồi, tâm ma của tôi đã đến một mức độ không tài nào kìm chế lại nổi.

救救我!我自言自语了一句,刚想一刀狠狠地劈下去,就在这一瞬间,我放在一旁的手机一下响了。

Cứu tôi với!

Tôi lầm bầm một câu, vừa định phang một nhát dao thật mạnh xuống, ngay trong chớp mắt này, chiếc di động đặt bên cạnh tôi bỗng nhiên réo vang.

我吓了一跳,瞬间,所有的锐气都泄了。人几乎虚脱了一样。拿起手机,我顿了顿,发现是个陌生的号码,接起来就问是谁。对方道:"把刀放下,看窗外。"

Tôi giật bắn cả mình, ngay lập tức, mọi quyết tâm cũng tụt hẳn xuống.

Toàn thân như mệt lả đi vậy.

Tôi cầm di động lên, khựng lại một chút, đó là một số điện thoại xa lạ.

Tôi nghe máy, hỏi đối phương là ai.

Đối phương nói: "Buông dao xuống, nhìn ra ngoài cửa sổ."

我一听这声音,就反应过来是我在地窖里听到的那人的声音,立即往窗外看去。就看到远处一栋农民房里,有一道手电光闪了闪。

Tôi vừa nghe giọng nói này, liền kịp thời nhận ra đó chính là giọng nói của người trong căn hầm ngầm kia.

Tôi lập tức nhìn ra ngoài cửa sổ.

Liền thấy trong một căn nhà phía xa xa, có một ánh đèn pin lóe lên.

我正纳闷,就听到电话里的人叹了一口气:"我把手电放在这里,你想知道的事情,我留在了手电边上。你看完之后,就知道应该怎么做了。"

Tôi đang buồn bực hết sức, liền nghe thấy đầu dây bên kia vang lên một tiếng thở dài: "Tôi đặt đèn pin ở chỗ này, những gì mà cậu muốn biết, tôi đều để lại ở bên cạnh chiếc đèn pin rồi.

Sau khi đọc xong, cậu sẽ biết mình nên làm cái gì."
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 73: Quỷ Dị


我一路跟着手电光来到了那栋农民房下面,敲门进去,发现门并没有锁。一路往上,所有的门禁都是打开着的,整栋楼似乎都是空的。我来到了那个房间,那是一个什么摆设都没有的空房间。一扇窗子大开着,手电就放在窗沿上。

Tôi đi theo hướng ánh đèn pin, chạy thẳng đến phía dưới căn nhà kia, gõ cửa, phát hiện cửa không khóa.

Tôi đi thẳng lên lầu, tất cả các cánh cửa an toàn đều đã được mở toang, cả căn nhà hình như đều trống không.

Tôi vào trong gian phòng kia, đó là một gian phòng trống, chẳng bày trí gì cả.

Một ô cửa sổ mở toang, một cái đèn pin đặt ngay trên bệ cửa sổ.

透过窗子,能直接看到三叔那楼的阳台和厨房,我看到了一架望远镜,架在窗边上。

Nhìn qua ô cửa sổ này có thể thấy được ban công và phòng bếp nhà chú Ba, tôi thấy một cái ống nhòm được gác lên bệ cửa sổ.

我看了一眼,发现望远镜正对着三叔家的厨房。

Tôi thử nhìn qua, phát hiện ống nhòm này nhắm thẳng vào phòng bếp nhà chú Ba.

手电下面压着一张纸条,我一下子展开,发现那竟然是一封信,信的第一句话特别奇怪。

Chiếc đèn pin được đè lên trên một tờ giấy, tôi liền giở ra ngay.

Thì ra đó là một lá thư, câu đầu tiên trong lá thư rất quái đản.

"看一看四周,你所在的地方,是一片鬼蜮"

【Nhìn xung quanh mà xem, nơi mà cậu đang ở, là một nơi ma quỷ.】

我拿着信,看了看四周,一开始我不明白这句话是什么意思。但是,看了一圈我就明白了,一股强烈的寒意扑面而来,从窗口吹进来的凉风似乎一下子降低了这个空间里的温度

Tôi cầm lá thư lên, nhìn xung quanh, ban đầu tôi không hiểu câu này mang ý nghĩa gì.

Nhưng mà khi nhìn quanh một lượt, tôi liền hiểu ra.

Một cảm giác rùng mình chạy dọc sống lưng, gió lạnh thốc qua cửa sổ, gần như hạ thấp nhiệt độ trong phòng xuống đột ngột.

我从这个窗口看去,整片区域,连同所有的农民房。全都没有亮灯,四周一片漆黑。

Từ ô cửa sổ này nhìn ra khắp xung quanh, toàn bộ khu vực này, bao gồm tất cả những căn nhà nông dân, không có lấy một ánh sáng đèn điện.

Bốn phía, tối đen như mực.

只有三叔那栋房子有灯光。

Chỉ có duy nhất ánh đèn phát ra từ căn nhà của chú Ba.

我看了看手表,现在是九点多,正常的话不可能是这样的情况。我立即低头继续看信。

Tôi nhìn đồng hồ đeo tay, bây giờ là hơn chín giờ, bình thường không bao giờ có tình trạng này xảy ra.

Tôi lập tức cúi đầu, tiếp tục đọc thư.

信上面写着:

Trên thư viết:

从十九年前开始,你爷爷或买下或租下了这里所有的房子。每栋房子都有专人定期打扫,但不做任何使用。十九年之后,你三叔住的那栋房子的四周,几乎全都空了。夜晚没有任何灯光,就如同一片鬼域一般。

【Bắt đầu từ mười chín năm trước, ông nội cậu đã mua hoặc thuê toàn bộ các căn nhà ở khu này.

Mỗi căn nhà đều có người thường xuyên đến quét dọn, nhưng không sử dụng để làm bất kỳ việc gì.

Mười chín năm sau, hầu như tất cả các căn nhà quanh nhà chú Ba cậu đều là nhà trống.

Ban đêm không có bất kỳ ánh đèn nào, tựa như một khu vực ma quỷ vậy.

这一切,都是因为这片区域的地下,埋藏着一个巨大的秘密,而这个秘密并不是古来有之的。这下面埋的是一个撒手锏,是一次巨大博弈之后的一件遗留品。

Tất cả những điều này, cũng chỉ bởi vì dưới lòng đất khu vực này đã chôn giấu một bí mật khổng lồ.

Mà bí mật này cũng không phải đã tồn tại từ xưa đến nay.

Nơi này chôn giấu một ngón đòn sát thủ*, là một thứ còn sót lại sau một ván cờ khủng khiếp.】

* Nguyên gốc là "撒手锏", có thể là nhầm với "杀手锏" (âm pinyin giống nhau), cũng có thể là mang dụng ý riêng.

"撒手锏" với "杀手锏" gần tương tự nhau, nhưng có đôi chút khác biệt về mặt phương thức.

"撒手锏" nghĩa là chiêu số được bất ngờ tung ra trong thời khắc quan trọng nhất của cuộc chiến, thay đổi hoàn toàn cục diện trận chiến.

Ý nghĩa của từ này nhấn mạnh vào kỹ thuật cao, uy lực tác chiến mạnh của chiêu số, và đặc biệt nhất mạnh vào yếu tố "bất ngờ", sử dụng vào thời điểm mấu chốt nhất, đạt được hiệu quả "một chiêu chế ngự quân địch", một ngón đòn xoay chuyển được cả cục diện cuộc chiến.

我屏住呼吸。在这个黑暗的房间里,找了一个角落蹲了下来,用手电照明。慢慢地把这封信看完。

Tôi nín thở, tìm một xó trong căn phòng tối tăm này, ngồi xổm xuống, cầm đèn pin chiếu sáng, dần dần đọc hết lá thư này.

这封信中的很多信息都需要和前面的很多信息互联,其中一些信息已经表述过。这里再表述会非常麻烦。我只是陈述几个最重要的部分。这几部分一出来,整件事情就全部联系上了。

Rất nhiều thông tin trong lá thư này đòi hỏi phải liên kết với nhiều tin tức trước đó, trong đó có thuật lại rõ ràng một số thông tin, nếu nhắc lại toàn bộ thì quá phiền phức, nên tôi chỉ tóm lại những phần quan trọng nhất.

Khi ghép lại những phần mấu chốt này, toàn bộ câu chuyện liền thông suốt.

这封信里,非常明确地说了一件事情,就是当年有一队人,将几十盒奇怪的东西,送到了我爷爷的手上,我爷爷将其放在一个棺材内,埋在我现在所在的这片区域之下。这几十盒东西十分重要。

Lá thư này đã nói rất rõ một chuyện, đó là về đội ngũ năm xưa.

Đội ngũ này đã đem mấy chục cái hộp chứa những thứ kỳ quái ra ngoài, đưa đến chỗ ông nội tôi, ông nội đã đem bỏ chúng vào trong một cỗ quan tài, chôn dưới khu vực mà tôi đang đứng.

Mấy chục cái hộp này vô cùng quan trọng.

这几十盒东西。一想就知道,是当年那支掉包的考古队从张家古楼里面带出来的东西。记得盘马说过,当年考古队离开的时候,带走了很多箱子。

Mấy chục cái hộp này, nghĩ một chút là biết, đó chính là những thứ đã được đội ngũ khảo cổ đánh tráo kia đưa ra khỏi Trương gia cổ lâu.

Tôi nhớ Bàn Mã từng nói, năm đó, khi đội khảo cổ rời đi, đã mang theo rất nhiều rương hòm.

找了一个地方藏了起来?难道,狗日的那具尸体就藏在这里,在我眼前这片区域里?

Tìm một chỗ giấu đi?

Chẳng lẽ, cái thi thể chết tiệt đó đã được giấu ở đây, bên dưới khu vực ngay trước mắt tôi đây?

这果然是撒手锏,这具尸体太重要了,这具尸体的出现,会毁掉"它"的一切依存。

Quả nhiên là một ngón đòn sát thủ, thi thể này quá quan trọng, sự xuất hiện của thi thể này sẽ hủy diệt toàn bộ những gì mà cái "nó" đang dựa vào.

信的内容不长,我将全文附录下来。里面有很多叙述比较杂乱,但是,只要是对这件事情有一定了解的人。看完这封信之后,必然会完全理解,并发现信中所包含的巨大信息量:

Nội dung bức thư không dài, tôi sẽ ghi lại toàn bộ văn bản ở bên dưới, có nhiều lời tự thuật trong đó khá lộn xộn, nhưng người nào có một lượng hiểu biết nhất định về chuyện này sẽ hoàn toàn hiểu được lá thư, cũng phát hiện được một lượng thông tin cực lớn bên trong nội dung lá thư này.

吴邪:

【Ngô Tà,

看一看四周,你所在的地方,是一片鬼蜮从十九年前开始,你爷爷或买下或租下了这里所有的房子。每栋房子都有专人定期打扫,但不做任何使用。十九年之后,你三叔住的那栋房子的四用,几乎全都空了。夜晚没有任何灯光。就如同一片鬼蜮一般。

Nhìn xung quanh nơi cậu đang ở đi, đó là một mảnh đất ma quỷ.

Kể từ mười chín năm trước, ông nội cậu đã mua hoặc thuê tất cả các căn nhà tại đây.

Mỗi căn nhà đều có người chuyên trách đến dọn dẹp định kỳ, nhưng không hề được sử dụng vào mục đích nào cả.

Sau mười chín năm, bốn phía xung quanh căn nhà Chú Ba bạn đang ở hầu như đều trống không.

Ban đêm không có một chút ánh sáng nào.

Nó giống hệt như một mảnh đất ma quỷ.

这一切,都是因为这片区域的地下。埋藏着一个巨大的秘密,而这个秘密并不是古来有之的。这下面埋的是一个撒手锏,是一次巨大博弈之后的一件遣留品。

Tất cả những điều này, cũng chỉ bởi vì dưới lòng đất khu vực này đã chôn giấu một bí mật khổng lồ.

Mà bí mật này cũng không phải đã tồn tại từ xưa đến nay.

Nơi này chôn giấu một ngón đòn sát thủ, là một thứ còn sót lại sau một ván cờ khủng khiếp.

在很久以前,有一支由收编的盗墓贼组成的考古队,准备将一具装载着尸体的棺材,送入一个古塞,在这个古墓中,尸体会发生一种匪夷所思的变化。这种变化,对于尸体所在的这个组织十分重要

Rất lâu về trước, có một đội khảo cổ được tập hợp từ những kẻ trộm mộ, chuẩn bị đưa một cỗ quan tài chứa một thi thể vào trong một ngôi mộ cổ.

Trong ngôi mộ cổ này, thi thể đó sẽ xảy ra một sự biến đổi không thể tưởng tượng được.

Sự biến đổi đó vô cùng quan trọng đối với tổ chức đang chứa chấp thi thể này.

然而,这群盗塞贼中有人预见到了将尸体送入古塞之后,会发生什么可怕的后果,其中有几个盗墓贼,为了阻止这种后果,背叛了其他人。他们杀死了同伙,假扮成了他们的样子,将那具尸体隐藏了起来。

Thế nhưng, trong số những tên trộm mộ đã có người dự liệu được hậu quả đáng sợ gì sẽ xảy ra nếu đưa thi thể này vào cổ mộ, một vài tên trộm mộ trong số đó đã phản bội những người khác để ngăn hậu quả này xảy ra.

Bọn họ đã giết chết đồng bọn của mình, giả trang thành dáng vẻ của bọn họ, giấu thi thể kia đi.

这具尸体,现在就在你面前所看到的这片鬼域之中,你千万不要试图去寻找它。在这片区城之内,只要是触及核心秘密的人,要么成为我们的一员,要么,就会被无情地抹杀掉。就算你是这个计划的最初参与者的孙子也是一样。

Thi thể này hiện giờ đang ở trong mảnh đất ma quỷ ngay trước mặt cậu.

Cậu tuyệt đối đừng đi tìm nó.

Trong khu vực này, hễ là người chạm đến được bí mật cốt lõi nhất, thì hoặc là sẽ trở thành một thành viên trong số chúng tôi, hoặc là sẽ bị xóa sổ thẳng tay.

Cho dù là cậu, cháu trai của một trong những người đầu tiên tham dự vào kế hoạch này, cũng vậy.

我想,你也应该察觉到了,在你的经历中,有的人就算在再怎么无法继续撒谎的情况下,也一定会继续对你撒谎。应该有人和你说过了,有些说言是为了保护一个人,这就是核心的原因。

Tôi nghĩ, chắc cậu cũng đã nhận ra rồi, trong tất cả những gì cậu đã trải qua, có người cho dù đã ở trong hoàn cảnh không thể nào tiếp tục nói dối cậu được nữa, nhưng nhất định vẫn phải tiếp tục lừa dối cậu.

Chắc hẳn, có người đã nói với cậu, rằng có một số lời nói dối là để bảo vệ một người, đây chính là nguyên nhân chính.

因为这个核心的秘密实在是太重要了,我们无法承担任何风险。

Bởi vì, bí mật cốt lõi này thực sự quá quan trọng.

Chúng tôi không thể gánh vác được bất cứ sự mạo hiểm nào.

不过,我现在之所以给你写这一封信,是因为我们的时间到了。明天一过,一切都会烟消云散,

Có điều, sở dĩ bây giờ tôi đang viết lá thư này cho cậu, là vì thời gian của chúng tôi đã đến.

Qua ngày mai, tất cả sẽ tan thành mây khói.

你也许要问为什么,我想说,我们终于熬到了,熬到那个组织最后一个领导者的死亡,那个组织终于完全消失了。就在明天,那个组织将成为一粒永远不能被揭露的历史尘埃,谁也不知道它曾经存在过,谁也不知道它曾经有多任大。

Có lẽ cậu muốn hỏi tại sao, tôi muốn nói rằng, cuối cùng chúng tôi cũng đã chịu đựng được đến thời điểm này, thời điểm mà kẻ lãnh đạo cuối cùng của tổ chức kia chết đi.

Tổ chức đó cuối cùng cũng sẽ biến mất hoàn toàn.

Chỉ ngay ngày mai thôi, tổ chức đó sẽ trở thành một hạt bụi trong dòng chảy lịch sử, vĩnh viễn không bao giờ được bóc trần.

Sẽ không ai biết được sự tồn tại của nó trong quá khứ, cũng không ai biết được, nó đã từng hùng mạnh đến mức nào.

你不用去思索时间到了的意义,我可以很直白地告诉你:这具尸体,只要过了这个时间,对于一切就都没有任何作用了,这便是时间到了的含义。一直以来,这具尸体是一个巨大的秘密,他们一直害怕我们把这具尸体以及背后所有的荒唐计划暴露出来。依靠这具尸体,在任何情况下他们都不敢对我们进行最大力量的捕杀,

Cậu không cần phải suy ngẫm về ý nghĩa của câu "thời gian đã đến", tôi có thể nói thẳng với cậu như thế này: thi thể này, chỉ cần qua được thời điểm này, sẽ hoàn toàn không còn bất kỳ tác dụng nào nữa đối với tất cả mọi chuyện.

Đây cũng là ý nghĩa của "thời gian đã đến".

Từ trước đến nay, thi thể này vẫn luôn là một bí mật khổng lồ, bọn chúng vẫn luôn nơm nớp lo sợ chúng tôi sẽ vạch trần thi thể này cùng với toàn bộ kế hoạch hoang đường đằng sau nó.

Nhờ vào thi thể này, bọn chúng mới không dám lùng giết chúng tôi bằng sức mạnh lớn nhất, dù trong bất kỳ tình huống nào.

不过,现在我们也不打算将它公之于世。我们的成胁消失了,那么,成胁的证据,虽然还是可以级灭很多东西,但我们也不想引火烧身了。

Có điều, bây giờ chúng tôi cũng không định công bố nó với thế gian.

Thứ uy hiếp chúng tôi đã biến mất, như vậy, chứng cứ của sự uy hiếp đó tuy vẫn còn có thể hủy diệt rất nhiều thứ, nhưng chúng tôi cũng không muốn tự dẫn lửa thiêu cháy thân mình.

明天就是这个时间点了,明天的九点四十五分,我们就会毁掉那具棺材和所有相关的东西,离开这里,

Ngày mai chính là thời điểm mấu chốt đến, vào chín giờ bốn mươi lăm phút ngày mai, chúng tôi sẽ hủy diệt cỗ quan tài kia cùng với tất cả những gì liên quan, rời khỏi nơi này.

整个宿命彻底地终结了。

Tất cả số mệnh sẽ hoàn toàn kết thúc.

你不要再为这宿命的终结。做任何牺牲和猜测,事实就在这里你要感榭你上一辈对你的保护和之后做的所有一切,那些隐瞒、欺骗、设计。让整件事情终于可以在你这一代人完结因为,原本你是很可能要接替我们。继续和命运对抗的。但是,现在终于不需要了。

Cậu đừng tiếp tục suy đoán hay hi sinh bất kỳ điều gì chỉ vì sự kết thúc của số mệnh này nữa.

Sự thật nằm ở chính nơi này.

Cậu phải cảm ơn sự bảo vệ và tất cả những gì sau cùng mà thế hệ trước của cậu đã làm cho cậu.

Những che giấu, lừa dối, toan tính đó, là để tất cả mọi việc cuối cùng cũng có thể kết thúc tại thế hệ của cậu.

Bởi vì, vốn là, rất có thể cậu sẽ phải thay thế chúng tôi, tiếp tục hành trình kháng cự với số mệnh này.

Nhưng mà, bây giờ cuối cùng cũng không cần nữa.

我想你应该非常想知道,我到底是谁?我在很久之前就用一种最决绝的方法隐去了我的身份,只有你爷爷和你三叔知道我的存在。快二十年了,如今我终于可以离开,希望我之后的人生,可以忘掉这一切。

Tôi nghĩ, chắc hẳn cậu rất tò mò muốn biết tôi là ai?

Rất lâu trở về trước, tôi đã dùng một phương pháp quyết liệt nhất để che giấu thân phận của mình, duy chỉ có ông nội và chú Ba cậu là biết đến sự tồn tại của tôi.

Gần hai mươi năm rồi, hôm nay, cuối cùng tôi cũng có thể rời đi.

Hy vọng cuộc đời sau này của tôi có thể quên hết tất cả những điều này.

我之所以破例放你一条生路,也是因为我们之间不寻常的关系。但是。这是我唯一一次犹豫了,不会发生第二次。

Sở dĩ tôi phá lệ, chừa cho cậu một con đường sống, đó là bởi giữa chúng ta có một mối quan hệ không hề tầm thường.

Tuy nhiên, đây là lần duy nhất tôi do dự, sẽ không có lần thứ hai.

你爷爷和我父亲,当时是最早两个对于所有事情萌生退意的人,但是他们各自走的路线不同——你爷爷一直想等待,希望通过时间,将一切都洗去;而我父亲则知道,只要那件事情的可能性存在,我们所有的宿命就都不会终结。

Ông nội cậu và cha tôi là hai người đầu tiên nảy sinh ý định thối lui khỏi tất cả mọi chuyện.

Nhưng hướng đi của bọn họ lại hoàn toàn khác nhau.

Ông nội cậu luôn muốn chờ đợi, hi vọng có thể rửa sạch tất cả bằng thời gian.

Nhưng cha tôi lại biết rõ, hễ vẫn còn khả năng sự việc kia tồn tại, thì số mệnh của tất cả chúng ta sẽ không được kết thúc.

所以,我父亲便展开了自己的计划。我们掉包了那支考古队,藏起了棺材。但是。我们逃亡时,却在杭州遇到了最大的围剿,走投无路之下。我们只能求助于你爷爷。

Bởi vậy, cha tôi đã triển khai kế hoạch của mình.

Chúng tôi đã đánh tráo đội khảo cổ kia, giấu cỗ quan tài đi.

Thế nhưng, trong khi chạy trốn, chúng tôi đã vấp phải sự bao vây tiêu diệt lớn nhất ở Hàng Châu.

Đến bước đường cùng, chúng tôi buộc lòng phải nhờ đến sự giúp đỡ từ ông nội cậu.

你爷爷给了我们最大的帮助。而在之后的岁月里,吴三省也帮了我们很多。你们吴家虽然一开始并没有参与,但是没有你们,这个计划不可能在当年最可怕的岁月里坚持下来。这也是我这次手下留情的另一个原因。

Ông nội cậu đã cho chúng tôi sự trợ giúp lớn nhất.

Trong những năm tháng sau này, Ngô Tam Tỉnh cũng đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều.

Mặc dù ban đầu, nhà họ Ngô các người không can dự vào việc này, nhưng nếu không có các người, kế hoạch này đã không thể đứng vững được trong những năm tháng khủng khiếp nhất đó.

Đó cũng là một nguyên nhân khác khiến tôi hạ thủ lưu tình lần này với cậu.

吴邪,我听吴三省提过很多次关于你的事情。我看到你的时候很惊讶,你竞然会陷入这么深。幸好,你直到现在才发现了我的存在,也幸好,你单纯地相信了你三叔的各种说言。

Ngô Tà, tôi đã nghe Ngô Tam Tỉnh nhắc đến cậu rất nhiều lần.

Thời điểm khi tôi gặp cậu, tôi đã rất kinh ngạc, không ngờ cậu lại lún sâu vào vụ này đến vậy.

Thật may mắn, rằng đến bây giờ cậu mới phát hiện ra sự tồn tại của tôi, cũng thật may mắn, rằng cậu đã ngây thơ tin vào đủ mọi lời dối trá của chú Ba cậu.

你三叔第一次带你进入古墓时。已经是在准备当他自己无力承担的时候,由谁来替代他的位置。他选择了你。

Khi chú Ba cậu đưa cậu vào cổ mộ lần đầu tiên, đó cũng là sự chuẩn bị của anh ta cho thời điểm anh ta bất lực, không thể gánh vác được vị trí của mình nữa.

Anh ta đã chọn cậu, thay thế cho vị trí của mình.

你也许不知道,你从小练习的所有技巧。包括你的笔迹,还有你三叔给你讲的各种故事,都包含了什么秘密。你用来练字的所有字帖,全部都是来自一个叫做齐羽的人的笔迹。从小你三叔和你说了很多很多故事,里面无数次地暗示着这个人的名字。这都是为了在所有的计划中,让所有人谋会,你就是齐羽。你不知道,从七星鲁王宫的那次探险开始,你的出现,让无数暗中调查这件事情的人摸不着头脑,

Có lẽ cậu không biết, tất cả những kỹ xảo cậu được luyện tập từ nhỏ, bao gồm cả nét chữ của cậu, và những câu chuyện mà chú Ba từng kể cho cậu nghe, cũng đều ẩn chứa những bí mật gì đó.

Toàn bộ những tập chữ mẫu mà cậu dùng để luyện tập, đều là nét chữ của một người tên là Tề Vũ.

Từ nhỏ, cậu đã được chú Ba kể cho nghe rất nhiều câu chuyện, trong đó đã vô số lần ám chỉ đến tên người này.

Đây là vì trong tất cả các kế hoạch, đều dẫn dắt tất cả mọi người hiểu lầm rằng, cậu chính là Tề Vũ.

Cậu không biết, bắt đầu từ lần thám hiểm Thất Tinh Lỗ Vương Cung, sự xuất hiện của cậu đã khiến vô số người âm thầm điều tra chuyện này không thể ngờ nổi.

他们根本不知道你是谁,也不知道你的真实身份。他们调查你的笔记就会发现,你很可能就是当年失踪的齐羽。你是一个巨大的烟雾弹,帮我们消耗了敌人无数的精力。

Bọn chúng vốn không biết cậu là ai, cũng không biết thân phận thực của cậu.

Bọn chúng điều tra chữ viết của cậu, liền phát hiện ra, cậu rất có thể là Tề Vũ đã mất tích năm xưa.

Cậu chính là một trái đạn khói to tướng, giúp chúng tôi tiêu hao vô số tinh lực của kẻ địch.

后来你并始调查了,万幸的是你只是发现了一些蛛丝马迹,并没有深入思考。但是你肯定会头疼吧,你应该不止一次怀疑自己的真实身份。

Sau đó, cậu bắt đầu lao vào điều tra.

Vô cùng may mắn là cậu chỉ phát hiện được một ít dấu vết, chứ không đi sâu vào suy tính.

Nhưng chắc hẳn cậu đã đau đầu lắm, có lẽ cậu đã không chỉ một lần hoài nghi thân phận thực của mình.

我知道你还有很多的不解,但,不该让人知晓的,我就不会让人知晓。

Tôi biết cậu còn rất nhiều điều còn chưa hiểu, thế nhưng, những gì không nên cho người khác biết, tôi sẽ không bao giờ cho người khác biết.

你不要再伤害自己了,因为一切已经没有意义了,没有人会为了你的安危而暴露这个秘密。相比于这个秘密来说,你大微不足道了。这封信,其实本身已经没有意义了,一切都无法改变。

Cậu đừng tự hại mình nữa, bởi vì tất cả đã không còn ý nghĩa gì cả, sẽ không ai tiết lộ bí mật này ra chỉ vì sự an nguy của cậu đâu.

So với bí mật này, cậu chẳng là cái thá gì cả.

Bản thân lá thư này, thực ra đã không có ý nghĩa gì cả rồi, tất cả đều không thể thay đổi được nữa.

当一切结束之后,我会找一个适当的时机,把一切都告诉你。不要试图去寻找那具棺材,揭下你可笑的面具,回到你自己的家里,忘记这一切,等待我将真相送给你的那一刻

Sau khi mọi chuyện kết thúc, tôi sẽ tìm một thời cơ thích hợp, kể lại cho cậu tất cả.

Đừng cố thử đi tìm cỗ quan tài kia, tháo lớp mặt nạ buồn cười kia của cậu xuống đi, quay về nhà, quên hết mọi thứ, chờ đến khoảnh khắc tôi giao chân tướng sự việc cho cậu đi...】

我看了看手表,离第二天的九点四十五分还有差不多十二个小时,看样子,这个人应该现在就在这片鬼蜮之中。

Tôi nhìn đồng hồ đeo tay, còn khoảng gần mười hai tiếng nữa là đến thời điểm chín giờ bốn mươi lăm phút ngày hôm sau.

Xem ra, có lẽ người này đã ở trong khu vực ma quỷ rồi.

看完之后,我靠在墙壁上琢磨这封信写得十分简短,但是,它是唯一一封真真正正把事情讲淸楚的信件。我看完就明白了这封信说的东西都是真的,并且我总觉得写信的人似乎与我有特别的关系。这封信的行文非常稳定,显然写这封信的时候,他的心态没有任何波澜变化,这一定是一个极其冷静的人,冷静到,就算明天一切宿命完结,他都不会有任何起伏。

Sau khi đọc xong lá thư, tôi tựa vào vách tường suy nghĩ.

Lá thư này viết rất ngắn gọn, nhưng mà, nó lại chính là lá thư duy nhất thực sự nói rõ ràng sự việc cho tôi biết.

Tôi đọc xong, liền hiểu rằng, những gì mà lá thư này nói đều là thật, hơn nữa, tôi luôn cảm thấy người viết lá thư này hình như có mối quan hệ nào đó đặc biệt với tôi.

Hành văn trong lá thư này vô cùng ổn định, hiển nhiên, trong lúc viết lá thư này, tâm trạng người này không gợn một chút biến đổi nào.

Đây chắc chắn phải là một người cực kỳ lạnh lùng, lạnh lùng đến mức, cho dù đến ngày mai là mọi số mệnh kết thúc, mà tâm trạng hắn vẫn không hề có một chút lên xuống nào.

在这里,我能看到三叔的楼房。如果真如信上所说的那样,在这个时候,如果我是他,一定是坐立不安,无比忐忑。而他还可以在这个地方监视我,甚至冷静地写好这封信。

Ở nơi này, tôi có thể nhìn thấy căn nhà của chú Ba.

Nếu quả thực đúng như trong lá thư đã nói, vào lúc này, nếu tôi là hắn, nhất định sẽ đứng ngồi không yên, vô cùng thấp thỏm.

Ấy vậy mà, hắn lại có thể ở nơi đây, quan sát tôi, theo dõi tôi, thậm chí, còn tỉnh táo viết hết lá thư này.

如今我应该如何?

Tôi phải làm thế nào đây?

如果是小说的桥段,此时我应该奋发图强,一直到明天九点四十五分。我还是有大量的时间可以去折腾,可以一个个窨井地去翻找,一个个地窖地去挖掘,

Nếu đây là một tình tiết trong tiểu thuyết, lúc này hẳn là tôi sẽ vô cùng hưng phấn, chờ đến đến thời điểm chín giờ bốn mươi lăm phút ngày mai.

Tôi vẫn còn nhiều thời gian để suy nghĩ, toan tính, tôi có thể lục soát từng cái giếng một, đào khoét từng cái hố một.

但是我实在动不了了,这几年的疲惫似乎一下涌了上来。

Nhưng quả thực tôi không thể động đậy được.

Bao nhiêu mệt mỏi trong suốt mấy năm gần đây đều ùn ùn dâng lên.

他说会给我一个答案,那么我就等待这个答案吧,我现在什么都不做,至少也还有一线希望。就算从此再没有任何提示,我还是可以等下去,等到自己对此完全没有兴趣为止。

Hắn nói, sẽ cho tôi một đáp án, vậy thì tôi cứ chờ đợi đáp án này đi, bây giờ tôi không làm gì cả, ít nhất thì còn có một chút hy vọng.

Cho dù từ nay trở đi không còn bất kỳ gợi ý nào, tôi vẫn có thể chờ đợi, đợi đến khi nào mình hoàn toàn không còn chút hứng thú với sự việc này mới ngừng.

我靠在墙角,拿着那封信,一直等待着,似乎在中途睡着过两次。五点时,天就蒙蒙亮了,我困得不行,终于完全睡着了,一直到警笛的声音把我吵醒:

Tựa người vào góc tường, cầm lá thư trên tay, tôi cứ chờ mãi, hình như trong lúc đó đã thiếp đi hai lần liền.

Vào lúc năm giờ, trời tảng sáng, tôi buồn ngủ quá, cuối cùng ngủ gục xuống.

Mãi cho đến khi tiếng còi báo động vang lên, đánh thức tôi dậy.

我爬了起来,看了看手表,十点多了。我赶紧出了那间空房,爬上顶楼,四处眺望,就看到这片区域之内,有十几处着火点,正在冒着浓浓的黑烟。

Tôi lồm cồm bò dậy, nhìn đồng hồ đeo tay.

Hơn mười giờ.

Tôi vội vàng ra khỏi căn phòng trống nọ, trèo lên sân thượng, nhìn khắp xung quanh.

Mới thấy, trong khu vực này có đến mười mấy chỗ đang cháy phừng phừng, bốc lên từng cột khói đen dày đặc.

消防车试图进来,但是所有的街道都被违章建筑堵得很不通畅。我在房顶上坐下来,点上烟,静静地看着这一切。

Xe cứu hỏa muốn đi vào, nhưng tất cả các con phố ở đây đều bị những ngôi nhà xây trái quy hoạch cản đường, không thể chui vào được.

Tôi ngồi xuống trên nóc nhà, châm điếu thuốc, lẳng lặng chứng kiến hết thảy.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 74: Trở Về Số Không


之后的几个月里,发生了很多事情。

Rất nhiều chuyện đã xảy ra trong vài tháng sau đó.

我的生活慢慢恢复了正常,我用三叔的身份告诉底下的人,我要去其他地方考察很长一段时间,需要把铺子的生意交代给自己的侄子打理,

Cuộc sống của tôi dần dần trở về bình thường.

Tôi dùng thân phận của chú Ba giải thích với người dưới quyền rằng mình phải đến nơi khác khảo sát một thời gian dài, việc làm ăn của cửa hàng giao lại hết cho thằng cháu quản lý.

小花的人从长沙过来,在一个宾馆里给我除去了面具。

Khi người của Tiểu Hoa từ Trường Sa đến, tôi mới được tháo mặt nạ trong một khách sạn.

当我再一次看到自己的脸的时候,我顿时痛哭流涕,我没有想到自己会在这个时候脆弱,那种感觉,好像是卸下了无数的必需的坚强、必需的勇敢、必需的担当、必需的决绝、必需的血淋淋和残忍。我终于变回吴邪了。

Khi nhìn thấy gương mặt của mình một lần nữa, tôi đã xúc động đến nỗi bật khóc nức nở.

Tôi không ngờ vào giờ phút này mình lại yếu đuối đến thế.

Cảm giác khi ấy như thể tôi vừa tháo xuống không biết bao nhiêu áp lực phải kiên cường, phải dũng cảm, phải gánh vác, phải quyết liệt, phải đổ máu, phải tàn nhẫn.

Thế rồi cuối cùng, tôi trở lại làm Ngô Tà.

我终于是那个可以退缩、可以软弱、可以嘻嘻哈哈、可以出糗、可以天天半死的天真吴邪了。我可以毫不犹豫地问别人"为什么""不会吧",甚至可以毫不犹豫地骂别人:"狗日的,你不知道。那我问谁去?"

Cuối cùng tôi có thể làm một "Thiên Chân" Ngô Tà được phép chùn chân, được phép yếu đuối, được phép cười hi hi ha ha, được phép ngớ ngẩn, được phép sống dở chết dở mỗi ngày.

Tôi có thể hỏi thẳng người khác không chút do dự, rằng cái này "tại sao", cái kia "không thể nào", thậm chí, còn có thể chửi thẳng mặt người khác không chút kiêng nể: "Tiên sư cha nếu ông mà còn không biết thì tôi biết đi hỏi ai đây?"

我哭了很长时间,失而复得或者是情绪崩溃?什么都不为,只是止不住地流眼泪,我抱着那个姑娘,她拍着我的后背,什么也没有说。我放开她的时候,发现她的眼眶里也闪着泪花。她说从来没有见到一个人,哭得如此悲伤。

Tôi đã khóc rất lâu, khóc vì lấy lại được thứ tưởng chừng đã mất hay vì tâm trạng suy sụp?

Chẳng vì lí do gì cả, chỉ là tôi không sao cầm được nước mắt.

Tôi ôm lấy cô gái kia, cô vỗ vỗ lưng tôi, không nói một lời.

Khi buông cô ra, tôi phát hiện vành mắt cô cũng đã ầng ậng nước.

Cô nói mình chưa bao giờ nhìn thấy ai khóc lóc đau khổ đến thế.

晚上我喝了很多酒。我在桌子上摆了很多杯子,孤魂野鬼都来助兴吧,我希望里面有我熟悉的人,能看到我现在的样子,从而由衷地感到欣慰。

Tối đến, tôi nốc rượu cật lực.

Tôi xếp rất nhiều cốc chén lên bàn, mong cô hồn dã quỷ cùng đến chung vui.

Tôi ước chi trong số đó có người quen của mình, họ có thể nhìn thấy tôi ngay lúc này, nghĩ vậy trong lòng tôi bỗng cảm thấy vui vẻ.

然而,脸上的面具脱掉了,人心上的面具却很难脱掉。之后的几天,我还是经常会突然以三叔的口气说话,会突然在睡眠中惊醒,觉得自己露馅并前功尽弃了,甚至在照镜子时,有一种陌生的感觉。

Thế nhưng, mặt nạ trên mặt dễ tháo, mặt nạ vô hình che giấu lòng người mới khó cởi.

Vài ngày sau, tôi thường đột ngột nói bằng giọng điệu của chú Ba, hay đôi khi lại đột nhiên bừng tỉnh giữa cơn mơ, có cảm giác rằng mình đã bị lộ tẩy, bao nhiêu công sức đã đổ sông đổ biển hết, thậm chí khi tự soi mình vào gương cũng cảm thấy thật xa lạ.

在。我这种错觉,随着时间的推移也慢慢地淡化了。

Cũng may, thời gian dần trôi, ảo giác này cũng dần phai nhạt.

我至少还是一个非常能适应环境的人,胖子说得没错。

Bàn Tử nói không sai, tôi chí ít cũng là một người rất giỏi thích ứng với hoàn cảnh,

休息完之后。我回到了自己的铺子,王盟看到我的时候。露出了陌生的表情,好久才意识到是我回来了。他胖了一些,又颓废了一些。我看了看架子上摆放的拓本,似乎是少了一些,看来,再没有生意,也总有一两单上天恩赐的。

Nghỉ ngơi một thời gian, sau đó tôi trở về với cửa hàng nhỏ của mình.

Khi Vương Minh nhìn thấy tôi, cậu ta còn tỏ ra bỡ ngỡ, phải rất lâu sau mới nhận ra tôi đã trở về.

Cậu ta trông béo tốt hơn một chút, cũng suy sụp ít nhiều.

Tôi liếc nhìn xấp bản rập đang bày bán trên giá, hình như là đã vơi đi một chút rồi.

Xem ra, dù không còn kinh doanh thì vẫn luôn có một vài cái đơn hàng ông trời ban cho.

我躺到了里屋的躺椅上,看着四周熟悉而又陌生的环境。又开始过那种做白日梦一样的生活。但是,很快我就发现不可能了,三叔那边繁重的业务,让我不得不勤奋起来。

Tôi nằm ngả trên ghế dựa ở buồng trong, nhìn khắp căn phòng vừa quen thuộc lại vừa lạ lẫm này, lại bắt đầu cái cuộc sống mơ mộng giữa ban ngày.

Nhưng chẳng bao lâu sau đó, tôi cảm thấy mình không thể tiếp tục sống thế này được nữa.

Phần việc của chú Ba phía bên kia rất nặng nề, tôi buộc phải chăm chỉ hơn.

王盟在那天晚上第一次向我提了辞职,我给他涨了工资,他才答应继续干下去。

Tối hôm đó, Vương Minh xin tôi cho thôi việc, lần đầu tiên.

Tôi tăng lương cho cậu ta, cậu ta mới đồng ý ở lại.

即使是最稳定最单纯的人心,也总是在慢慢发生着变化。当然,这种变化是正向的,而错误更多的是在我这一边。

Ngay cả những người vững vàng nhất, đơn thuần nhất thì rồi cũng sẽ dần dần thay đổi theo thời gian.

Đương nhiên, sự thay đổi này là đúng đắn, chỉ có tôi là luôn luôn sai lầm mà thôi.

其实在之前,我很想把他炒掉。但是如今,我只希望有更多的东西,能让我感到自己的真实存在。尽量不要去做任何改变。我不知道这是一种什么心态,不过在网络上,很多人把这种想法称为:你老了。

Thực ra hồi trước tôi đã từng rất muốn sa thải cậu ta.

Nhưng bây giờ, tôi chỉ mong xung quanh mình có thật nhiều người, để tôi có thể thực sự cảm nhận được sự tồn tại của mình, cố gắng không thay đổi bất cứ thứ gì.

Tôi không biết gọi tâm trạng này là gì, nhưng trên mạng có rất nhiều người gọi nó là: cậu già rồi.

用吴邪的身份去接管三叔的生意还有一些困难。在一些问题上,我得到了二叔的帮忙。经营管理上总是磕磕绊绊,但是我已经完全不害怕了。因为,就算现在手上的所有东西都失去了,我也不在乎了。人一旦有了这种心态,反而能更加冷静客观地判断那些重要的东西。

Dùng thân phận Ngô Tà đi quản lý công việc làm ăn của chú Ba vẫn còn chút khó khăn.

Tôi được chú Hai giúp đỡ trong nhiều vấn đề.

Quản lý mấy chuyện kinh doanh luôn khó khăn trắc trở, nhưng tôi hoàn toàn không sợ.

Bởi vì lúc này, cho dù có mất hết tất cả, tôi cũng chẳng còn quan tâm nữa.

Những ai đã đạt đến cảnh giới này, thì lại càng thêm tỉnh táo và khách quan để nhận định những vấn đề hệ trọng.

在这段时间里,我也得到了一些小花的信息。这一切对于他来说。并不算太困难,只是有一些艰难。

Trong khoảng thời gian này, tôi cũng nhận được một ít tin tức của Tiểu Hoa.

Tất cả những chuyện kia đối với cậu ta không đến nỗi quá mức khốn đốn, chỉ là hơi khó khăn một chút thôi.

他的伤势很严重。回去之后在协和待了一段时间,便转去美国进行治疗。大概两个月后才从美国回来。回国后没几天,我接到了他的一封邮件,在邮件里他和我说了他的大概情况。

Cậu ta bị thương rất nghiêm trọng, sau khi nằm ở bệnh viện Hiệp Hòa một thời gian, cậu ta được chuyển sang Mỹ chữa trị, khoảng hai tháng sau mới trở về.

Sau khi về nước được vài ngày, cậu ta gửi cho tôi một phong thư, trong thư có kể sơ lược về tình hình của cậu ta lúc này.

霍老太太的葬礼,他并没有参加。霍家按照霍老太太的指示,由秀秀接班,秀秀以个人的力量,很难平衡家族里的各种纠纷。小花断掉了和霍家的所有生意,勉强压住了局面。各路的牛鬼蛇神肯定还有各种表演,只是霍老太太的那封家书,决定了一切都只能在水面下进行了。

Lễ tang của Hoắc lão thái, cậu ta không tham dự.

Chiếu theo chỉ thị của Hoắc lão thái, Tú Tú tiếp quản Hoắc gia.

Nhưng thế lực cá nhân của Tú Tú chưa đủ mạnh để cân bằng được các mâu thuẫn tranh chấp trong gia tộc.

Tiểu Hoa phải cắt đứt mọi mối làm ăn với Hoắc gia mới miễn cưỡng trấn áp được cục diện.

Bọn đầu trâu mặt ngựa đó chắc chắn còn bày đủ trò nữa, chẳng qua là nhờ phong thư nhà của Hoắc lão thái, những trò này chỉ có thể ngấm ngầm tiến hành trong bóng tối.

以后的日子相当地难走,但是小花说比起他小时候。已经是很好的局面了。他让我不用担心。

Cuộc sống về sau chắc sẽ rất gian nan, nhưng Tiểu Hoa nói, tình hình bây giờ đã là khá tốt so với hồi cậu ta còn bé rồi.

Cậu ta bảo tôi đừng lo lắng nhiều.

我在杭州代表吴家,也表明了态度。我知道有小花在,秀秀一定可以走下去,并且可以走得很安稳,而需要我的地方,我也一定会帮忙:虽然未来一定有着大量的磕磕绊绊,但是现在也只能走一步是一步了。

Tôi đại diện cho Ngô gia ở Hàng Châu, cũng thể hiện rõ thái độ trước sự việc này.

Tôi biết, có Tiểu Hoa ở bên, Tú Tú nhất định có thể tiếp tục bước đi trên con đường này, hơn nữa, còn bước đi rất yên ổn.

Nếu bọn họ có gì cần nhờ đến tôi, tôi nhất định cũng sẽ giúp đỡ hết mình.

Tuy thời gian tới sẽ có rất nhiều khó khăn, nhưng giờ đây chúng tôi cũng chỉ có thể đi bước nào hay bước ấy thôi.

在回来后大概三个月的时候,我为潘子举行了一场很小的葬礼。做了一个小小的追悼会。潘子的衣冠冢与大奎相距六个牌位,大奎墓前没有人扫墓,已经一片狼藉,我简单地清扫了一下。之后,便帮潘子去处理他生前没有来得及处理的一些琐事。

Ba tháng sau khi trở về, tôi cử hành một đám tang nhỏ cho Phan Tử, làm một lễ truy điệu cũng không quá lớn.

Mộ Phan Tử chôn theo ít quần áo và di vật, nằm cách mộ Đại Khuê sáu bài vị.

Mộ Đại Khuê lâu rồi không có ai đến thăm nom, giờ đã trở thành một đống bừa bộn, tôi cũng tiện tay quét dọn qua loa một chút.

Sau đó, tôi đi xử lý vài việc vặt mà Phan Tử lúc sinh thời chưa kịp làm.

我进到潘子的出租屋的时候,看到桌子上有一碗已经腐烂霉变的面条。筷子就在边上,碗中的一叠霉豆腐已经完全变黑变干了。

Khi bước vào căn phòng trọ của Phan Tử, tôi thấy trên bàn có một bát mì đã thối um, mọc đầy nấm mốc.

Chiếc đũa đặt ngay bên cạnh, trong bát có mấy lát đậu phụ đã mọc cả tầng nấm mốc, hoàn toàn chuyển sang màu đen.

显然,潘子离开之前,正在吃这碗面,他连收拾都来不及收拾就离开了,从此再也无法回来。

Rõ ràng, trước khi đi Phan Tử đã ở đây ăn dở bát mì này. sau đó vội đi đến mức còn chưa kịp thu dọn bát đũa, rồi từ đó cũng vĩnh viễn không thể trở về nữa.

我总觉得,他是知道自己肯定回不来了,所以没有做任何处理。

Nhưng rồi tôi lại nghĩ, chắc chắn anh ấy đã đoán biết mình sẽ không về được, cho nên mới không thu dọn bất cứ thứ gì.

我在桌子前坐了一会儿,开了两瓶啤酒,自己喝了一瓶,然后把这碗面倒了,把碗都洗干净。接着,我出门找到了潘子的房东,把拖欠的房租全补上了。

Tôi ngồi thừ người trước bàn một hồi lâu, rồi mở hai lon bia, uống hết một lon rồi đổ bát mì đi, rửa bát đũa sạch sẽ.

Sau đó tôi ra ngoài tìm chủ nhà của Phan Tử, trả toàn bộ số tiền thuê nhà anh ấy khất nợ đã lâu.

那房东还很好奇:"那哥们儿人呢?"

Chủ nhà tò mò hỏi: "Người anh em kia đâu rồi?"

我想了想,就对他道:"回老家娶媳妇了。"

Tôi ngẫm nghĩ một chút rồi đáp: "Về quê cưới vợ rồi."

这是我认为的潘子最好的结局了,他本来有机会脱离这个圈子的,但是他选择了一条老路,虽然我不知道,他更喜欢哪种结局。以潘子来说,他说不定更喜欢现在的结局,但是,对于外人来说,他选择的还是错误的。

Tôi cho rằng, đây là cái kết tốt nhất đối với Phan Tử.

Anh ấy vốn có cơ hội thoát khỏi cái giới này, vậy mà cuối cùng vẫn chọn con đường cũ, mặc dù tôi không biết bản thân anh ấy thích cái kết nào hơn.

Với Phan Tử, không chừng anh ấy thích cái kết như bây giờ hơn.

Nhưng đối với người ngoài, lựa chọn của anh lại chính là sai lầm.

胖子一直待在巴乃。电话联系也不方便,我只能打给阿贵,问一下胖子的近况。阿贵说,胖子现在的生活很规律,白天做做农活,抖抖簸箕,晚上就做饭,看着月亮发呆。很多时候他和胖子一天也就只能说上两三句话。

Bàn Tử vẫn ở lại thôn Ba Nãi.

Liên lạc bằng điện thoại rất khó khăn, tôi chỉ có thể gọi cho A Quý, hỏi sơ qua tình hình gần đây của Bàn Tử.

A Quý nói, hiện giờ Bàn Tử sinh hoạt rất điều độ, ban ngày ra đồng cày cấy, sàng gạo, buổi tối nấu cơm, ăn xong thì ngẩn người ngắm trăng.

Nhiều khi cả ngày anh ta cũng chỉ nói được với Bàn Tử có hai ba câu.

我问胖子有什么情绪没有?还是像以前那样完全呆滞吗?

Tôi hỏi Bàn Tử có cảm xúc gì không?

Không lẽ vẫn còn đờ đẫn như trước?

阿贵说看不出什么情绪,不过胖子干活儿很利索,话也不多,比以前好的是,有很多时候他能吐几句俏皮话了。

A Quý bảo, chịu, chẳng nhìn ra được có cảm xúc gì không nữa.

Nhưng Bàn Tử làm việc rất nhanh nhẹn, cũng không nói nhiều.

Nhưng so với lúc trước thì khá hơn một chút, lâu lâu cũng biết xổ ra vài câu dí dỏm rồi.

我告诉阿贵,如果胖子在那边缺钱的话,就直接和我说,我给他汇过去。

Tôi bảo A Quý, nếu ở bên đó Bàn Tử thiếu thốn tiền bạc gì thì cứ nói thẳng với tôi, tôi sẽ chuyển tiền.

我觉得胖子会好起来的,胖子不是一个能把自己沉浸在抑郁之中的人,他知道云彩肯定也不希望看到胖老板变得不好玩了。胖子会慢慢地好起来,虽然,在这一件事情上,他心中一定会留下无法愈合的伤疤。但是,胖子是一个好人,上天不会为难他太久。

Tôi nghĩ Bàn Tử rồi sẽ khá lên thôi.

Bàn Tử không phải là người dễ chìm đắm trong đau buồn u uất, anh ta biết Vân Thái cũng không muốn thấy ông chủ Béo của mình trở nên kém thú vị hơn xưa.

Bàn Tử sẽ dần dần khá lên thôi, mặc dù chuyện này chắc chắn sẽ để lại trong lòng anh ta một vết sẹo không bao giờ lành.

Nhưng Bàn Tử là người tốt, ông trời sẽ không làm khó anh ta quá lâu.

王盟在我给他涨了工资之后,工作态度积极了很多,加上我也回到了铺子里,三叔那边的业务又会到铺子里向我汇报,很多人不知道我和他的关系,以为他是我的亲信,对他马屁有加。他的人生价值似乎在慢慢显现了,精气神也好了很多。

Sau khi tôi tăng lương cho Vương Minh, thái độ làm việc của cậu ta đã tích cực hơn nhiều.

Hơn nữa tôi cũng đã quay về, công việc của chú Ba bên kia có gì sẽ được báo cáo đến tận cửa hàng của tôi.

Nhiều người không biết quan hệ của tôi với cậu ta, nghĩ cậu ta là thân tín của tôi nên ra sức nịnh bợ cậu ta.

Giá trị cuộc đời của cậu ta hình như đang dần dần tăng lên, tinh thần cũng sáng sủa hơn nhiều.

看到他做事的态度很好,我慢慢地开始教他处理一些工作上的事情,他上手很快,后来也确实能帮上我不少忙了。虽然我并不指望他能成为像潘子一样的得力助手,但是,我馒慢也开始觉得可以依靠他了。

Thấy thái độ làm việc của cậu ta tốt, tôi bắt đầu dạy cậu ta cách xử lý một số công việc, cậu ta lên tay rất nhanh, sau đó quả thực cũng giúp đỡ tôi không ít.

Tuy tôi không trông mong cậu ta có thể trở thành một trợ thủ đắc lực như Phan Tử, nhưng dần dần tôi cũng bắt đầu nghĩ, mình có thể dựa vào cậu ta trong nhiều vấn đề rồi.

老海,之后因为业务方面的事情同我联系了几次。老海的业务发展得很快,但是似乎是被某个有关部门盯上了,他在税务上一直不干净,加上古董买卖又一直是地下的现金交易,所以他后来做事情十分谨愤,为了避免连累他,我们用了许多奇怪的招数。很多交易他都没有出面,直接是我和买家联系,然后把钱换成实物或黄金带给他家的姑娘。

Lão Hải, vì vấn đề làm ăn và công việc nên tôi cũng có liên lạc với ông ta vài lần.

Lão Hải phất lên rất mau, nhưng hình như lão ta bị một cơ quan có liên quan nào đó theo dõi.

Ai bảo lão làm mấy vụ thuế má vốn đã bất minh, cửa hàng đồ cổ của lão lại còn giao dịch bằng tiền mặt, cho nên về sau lão ta làm việc cẩn thận hơn nhiều.

Để tránh liên lụy, bọn tôi đã dùng rất nhiều thủ đoạn lạ.

Lão ta không thò mặt ra trong nhiều vụ mua bán, mà tôi trực tiếp liên hệ với bên mua, sau đó đổi tiền sang hiện vật hoặc vàng, giao cho cô con gái của lão.

他家的那个姑娘。原本是我很喜欢的类型,俏皮的小黄蓉。不过,自从那次见完之后,我们真的就很少见面了,后来她也慢慢地长大成熟了,当初我对她的那种喜欢便渐渐淡化了。

Con gái lão ta vốn là mẫu con gái tôi thích nhất, một tiểu Hoàng Dung xinh xắn hoạt bát.

Tuy nhiên, kể từ sau lần gặp mặt kia là chúng tôi chẳng còn mấy dịp tiếp xúc với nhau nữa.

Về sau, con bé cũng dần dần trưởng thành, cái cảm giác yêu thích ban đầu của tôi đối với con bé cũng dần dần phai nhạt đi.

有一次我出去散心的时候,路过英雄山。周末的时候人山人海,我在五花八门的铺子中找到了老海的铺子,可是,卷帘门紧锁:我知道他在里面,但是想到各种寒暄,就觉得太疲倦了,便转身离开了。随着时间的推移,逐渐地我们之间的联系就更少了,不知道他后来是进去了,还是逃出国了。

Có lần tôi ra ngoài giải sầu, đi ngang qua Anh Hùng Sơn.

Lúc đó là cuối tuần, biển người đông nghìn nghịt, giữa biết bao nhiêu các cửa hàng, cửa hiệu đủ loại đủ màu sắc, tìm mãi tôi mới thấy được cửa hàng của lão Hải, thế nhưng, cửa lẫn rèm cửa đều đóng kín mít.

Tôi biết tỏng lão ta vẫn ở bên trong, nhưng lại nghĩ đến mấy thứ chào hỏi rồi tán chuyện này nọ, tự dưng thấy mệt mỏi quá, tôi liền quay người bỏ đi.

Thời gian cứ thế trôi qua, dần dần, số lần gặp gỡ giữa tôi và lão ngày càng ít.

Chẳng biết về sau lão ta làm ăn sinh sống thế nào nữa, không biết vẫn còn ở trong nước, hay đã chạy ra nước ngoài rồi.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 75: Giải Thích và Những Ghi Chép Vặt Vãnh


裘德考从巴乃回来之后,又活了三个月,便驾鹤西归了。国际打捞公司股东重组,拍卖了一些资产,裘德考队伍里有一些和我有私交的人,在许多项目组撤销的时候。拿走了很多卷宗。当然,这些卷宗都寄到了我这里,但是都没有之前给我的那十二卷重要。虽然我在其中找到了很多细节去补充故事内容,但是整体拼凑出来的故事,并没有往前进。

Sau khi từ Ba Nãi trở về, Cầu Đức Khảo sống được ba tháng thì hạc giá quy tiên.

Các cổ đông của công ty trục vớt quốc tế đã tái cơ cấu, bán đấu giá một ít tài sản.

Vài người trong đội ngũ của Cầu Đức Khảo quan hệ cá nhân với tôi, nên sau khi nhiều hạng mục bị hủy bỏ, họ đã lấy đi rất nhiều hồ sơ tài liệu.

Đương nhiên, tất cả những tài liệu bị lấy đi đó đều được gửi về chỗ tôi, nhưng vẫn không quan trọng bằng mười hai tập hồ sơ mà tôi nhận được lúc trước.

Tuy số tài liệu có trong tay đã giúp tôi bổ sung thêm nhiều chi tiết còn thiếu về chuyện đã xảy ra trong quá khứ, nhưng để ghép ra được đầy đủ tổng thể câu chuyện thì vẫn không có tiến triển gì.

我和其中几个人一起喝咖啡,他们告诉我,国际打捞公司的高层还会继续寻找更多的可能性,他们的资金还是很充足的。几个可能接班的大佬拜托他们给我带话,如果有机会的话,还想继续和我们合作,条件会比裘德考在的时候更丰厚。

Tôi đi uống cà phê với vài người trong đó, bọn họ cho tôi biết, cấp cao của công ty trục vớt quốc tế có thể sẽ còn tiếp tục triển khai thêm nhiều cuộc tìm kiếm nữa, năng lực tài chính của bọn chúng vẫn còn rất lớn.

Mấy bố già có khả năng ngồi lên cái ghế trống của Cầu Đức Khảo nhờ bọn họ tiện thể nhắn lại cho tôi rằng, nếu có cơ hội, muốn tiếp tục hợp tác với chúng tôi, điều kiện đưa ra sẽ béo bở hơn năm xưa khi chúng tôi hợp tác với Cầu Đức Khảo rất nhiều.

我做了一个*的手势,让他们帮我把意思传达回去。

Tôi giơ ngón giữa 凸 thay cho câu trả lời, nhờ bọn họ nhắn nhủ giùm nguyện vọng của mình đến bọn chúng.

哑姐在半年后结婚了,新郎是一个很不起眼的男人,有一点秃顶。人到中年了,似乎也没有多少钱。很多人说他并不是真的喜欢哑姐,而是贪图哑姐的钱和地位。我参加了婚礼,这个男人名字好像叫做阿邦,眼中全是狡狯之色,但是很殷勤,不停地给大家敬酒、递烟而哑姐,一直面无表情,看着我身边空着的那个座位。

Nửa năm sau, chị Câm kết hôn.

Chú rể là một gã đàn ông rất tầm thường, đầu hơi hói, đã ngoài trung niên, hình như nhà cũng chẳng có bao nhiêu tiền.

Nhiều người nói gã ta không thực sự yêu chị Câm gì cho cam, mà chỉ là yêu tiền tài địa vị của chị ta thôi.

Tôi tham gia hôn lễ, biết người này hình như tên là A Bang, mặt mũi đầy vẻ xảo trá quỷ quyệt, nhưng hành động thì rất ân cần, không ngừng mời mọc, kính rượu, châm thuốc cho mọi người.

Mà chị Câm, gương mặt vẫn không hề biểu lộ cảm xúc, chỉ nhìn chằm chằm chỗ trống bên cạnh tôi.

很多男人,并不是因为这样那样而被人记住,他被人记住,是因为他永远不会回来了。

Nhiều người đàn ông, không phải được ghi nhớ vì thế nọ thế kia, anh ta được người ta khắc ghi trong lòng, bởi vì anh ta vĩnh viễn không bao giờ trở về nữa.

据说哑姐和这个男人好上,是因为这个男人是酒行里送酒的,送的次数多了,每次看到女主顾喝得烂醉,就顺手照顾一下,这才发生了关系。

Có người nói, chị Câm với người đàn ông này có quen biết.

Bởi vì gã ta là một kẻ tiếp rượu, thường xuyên rượu vào rượu ra, tiếp rượu nhiều lần, cho đến khi thấy nữ khách hàng say bí tỉ chẳng biết trời trăng gì nữa, gã tiện thể "chăm sóc khách hàng" một chút, thế mới xảy ra quan hệ.

皮包的伤好了之后,洗心革面。去参加了自考,专业好像是国际贸易。但是专业课考试科科挂,用他自己的话说。以自己的文化水平很多时候连题目都没法读通,更别说该怎么答了。英语的话。连二十六个字母他都认不全。

Sau khi thương thế của Bao Da khỏi hẳn, cậu ta hoàn toàn hối cải, học hành đi thi, hình như là thi vào chuyên ngành thương mại quốc tế.

Thế nhưng cậu ta cứ kẹt ở kỳ thi đầu vào mãi, theo như cậu ta kể lại thì trình độ văn hóa của cậu ta cũng chỉ tầm tầm, nhiều đề bài đọc còn chả hiểu, chứ nói gì làm bài.

Còn tiếng Anh, hai mươi sáu chữ trong bảng chữ cái cậu ta còn chả thuộc hết.

最后他还是回了这一行,但是绝对不做大买卖了。他的搭档说,他现在的口头禅就是"有钱赚没命花,不如回家去卖豆腐花"。皮包变成了他们那一批人中手艺最好,但胆子最小的人。我觉得,他很快就会变成一代枭雄的,至少会相当的富有。

Cuối cùng, cậu ta đành quay lại nghề cũ, nhưng tuyệt đối không đi buôn lớn như xưa nữa.

Người hợp tác với cậu ta còn bảo, hiện giờ, câu cửa miệng của cậu ta là "Có lắm tiền mà phải bán mạng, chi bằng về nhà bán đậu hũ còn hơn."

Bao Da thành kẻ có tay nghề xuất sắc nhất trong nhóm, nhưng cũng là kẻ nhát gan nhất.

Tôi nghĩ, trong tương lai cậu ta sẽ trở thành bậc trí dũng kiệt xuất, hay chí ít cũng giàu có dư dả.

还要说到秀秀,我觉得秀秀应该是喜欢小花的。毕竟他们是真正一起长大、一起承担过事情的人,但是那种喜欢,未必就是我认为的那种喜欢,因为他们两个对于对方太熟悉了,很多应该有的情愫,还未产生便成了另一种更深的东西。

Nhắc đến Tú Tú, tôi nghĩ, Tú Tú hẳn là thích Tiểu Hoa lắm, dù sao hai người họ cũng lớn lên bên nhau, cùng nhau gánh vác rất nhiều chuyện.

Tuy nhiên, cái tình cảm "thích" này, tôi không cho rằng đó là "yêu".

Bởi vì, hai người họ đã quá quen thuộc, quá hiểu rõ nhau, đương nhiên là có rất nhiều tình cảm với nhau, nhưng chưa nảy sinh ra thứ tình cảm khác sâu đậm hơn.

秀秀没有再和我联系,也许是被我伤了心,也许是事情最后出现的惨状和我那时候做出的决定,让她无法再面对我。

Tú Tú không còn liên lạc với tôi nữa, chắc là bị tôi làm tổn thương nhiều lắm.

Có lẽ, thảm cảnh sau khi sự việc kết thúc và quyết định của tôi khi ấy đã khiến con bé không cách nào nhìn mặt tôi được nữa.

此时我的内心,已经修炼得足够好。她这种逃避对于我来说,似乎是无关紧要的。

Nội tâm của tôi bây giờ đã được trui rèn đủ chai sạn rồi, sự trốn tránh của con bé đối với tôi mà nói, dường như không quá quan trọng.

最后要说的。就是闷油瓶了。

Người cuối cùng tôi muốn nhắc đến, là Muộn Du Bình.

有些人说,我最担心的就是他。因为他好像不属于这个世界。他是一个为了目的而一直往前走的人,就算他走的道路上竖立着无数的倒刺,他也会一直往前走,一路不管任何伤害,直到他所有的肉被倒刺刮掉或者他活着到达目的地。

Nhiều người bảo, người khiến tôi lo lắng nhiều nhất chính là hắn, bởi vì hắn dường như không thuộc về thế giới này.

Hắn là người chỉ một mực hướng đến mục đích của mình, luôn luôn tiến thẳng về phía trước.

Dù rằng trên bước đường này có bao nhiêu chông gai, hắn nhất định vẫn tiếp tục tiến bước, dù phải chịu bao nhiêu vết thương, thì hắn vẫn kiên trì tiến bước, cho đến khi nào toàn bộ thịt da hắn bị lóc sạch, hoặc là, đến khi nào hắn đạt được mục đích của mình mới thôi.

其实,对于我们这两辈人来说,前一辈的事情,我已经知道一个大概轮麻了,唯独对于他。他的目的,我真的是完全不知道。

Thực ra hai người bọn tôi, hai thế hệ khác nhau, chuyện của thế hệ trước tôi cũng đã biết đại khái sơ sơ.

Chỉ có mình hắn, mục đích của hắn là gì, tôi vẫn hoàn toàn không biết.

所有人的目的。我都可以清晰地列出来。但是闷油瓶,他似乎一直是一个很被动的傀儡。他在所有的事情中,似乎都是为了别人的目的而行动的。

Tôi có thể phán đoán được rõ ràng mục đích của tất cả mọi người.

Thế nhưng, chỉ có Muộn Du Bình, hắn giống như một con rối rất bị động vậy, trong tất cả mọi chuyện, hình như hắn đều hành động vì mục đích của người khác.

然而,从我和闷油瓶相处的经历来看,他是一个目的性非常明确的人,他每次进去一个地方,都有自己的目的。从他的职业失踪技能和一路上那种经常梦游的状态来看,他知道的一定比我们多得多。

Thế nhưng, nếu nhìn lại tất cả những chuyện tôi với Muộn Du Bình đã cùng nhau trải qua, tôi lại thấy hắn là một người xác định mục đích rất rõ ràng.

Mỗi lần hắn đến đâu, đều có mục đích riêng của mình.

Từ nghề nghiệp của hắn - skill mất tích thần thánh, và cái trạng thái ngẩn ngơ như mộng du trên suốt quãng đường đi, chắc chắn hắn biết nhiều chuyện hơn chúng tôi rất nhiều.

很多次我都觉得,在他心里,我们的目的都是可笑的,而他的目的才是核心。

Đã rất nhiều lần tôi nghĩ, có lẽ, trong lòng hắn, mục đích của chúng tôi đều thật nhảm nhí nực cười, mà chỉ có mục đích của hắn mới là quan trọng.

当时他拒绝了所有人的再次陪伴,毅然独自走上了自己选择的道路。

Lúc ấy, hắn đã từ chối lời đề nghị đồng hành của tất cả mọi người, sau đó, lựa chọn một mình lên đường không chút do dự.

"你们陪我走得够多了,接下来的道路,是最后的道路,你们谁也无法承受,希望你们不要再跟着我了。"

"Hai người đã đi cùng tôi đủ nhiều rồi, con đường tiếp theo chính là chặng cuối cùng, hai người không ai chịu nổi đâu.

Tôi mong hai người đừng đi theo tôi nữa."

狗日的,这叫什么事情,我们卷进了这么大的一个阴谋里面,我好不容易看清楚了状况,却发现闷油瓶心中根本不关心这些,他关心的是一件我们都不知道的事情。

Con mẹ nó, cái thể loại chó má gì đây, chúng tôi bị cuốn vào một âm mưu lớn đến thế, vất vả lắm tôi mới hiểu rõ được tình hình, ấy thế mà hóa ra trong lòng Muộn Du Bình căn bản không hề quan tâm đến những chuyện này.

Điều hắn quan tâm nhất lại là những thứ mà chúng tôi không biết tí gì.

当时我是否应该抱着他的大腿狂哭"不要丢下我们"呢?以当时的情绪和状况,谁也没有力气这样做,我们就这么让他走了。

Phải chăng lúc ấy tôi nên ôm chân hắn gào khóc "Ới anh ơi đừng bỏ chúng em lại" chăng?

Đương nhiên, lúc ấy xét cả tình hình lẫn tâm trạng, chẳng ai còn hơi sức đâu mà làm vậy, cho nên chúng tôi đành phải để hắn đi.

如今,这个被设计的阴谋似乎是结束了,我身边的大部分谜团都已经烟消云散但是,围绕在他身边的谜团,一直都没有任何要散开的迹象

Bây giờ, âm mưu sắp đặt suốt bao lâu ấy hình như đã kết thúc rồi, những bí ẩn xung quanh tôi đã tiêu tan thành mây khói.

Thế nhưng, những bí ẩn xung quanh hắn vẫn chẳng có dấu hiệu gì là sắp được giải mã.

而我和他分别之后,他就再也没有了任何消息。

Mà, kể từ ngày tôi và hắn chia tay nhau, tôi không còn nghe thấy bất kỳ tin tức gì của hắn nữa.

各安天命,他一路向北,似乎是走向了自己的终点。从他离开时显露的表情来看,我们当时所有的惨状,对于他来说都是无关紧要的。

Số trời đã định, hắn thẳng đường về phương Bắc, cứ như là đi đến tận điểm cuối của mình.

Nhìn cái vẻ mặt của hắn lúc bỏ đi là biết, thảm trạng của bọn tôi lúc đó đối với hắn chẳng là cái thá gì.

我还记得胖子说的那句话:如果你身边的亲人有一个去世了,而其他人都健在,你会觉得这一次的去世,是一次巨大的浩劫。而如果你身边的亲人,在一年内一个接一个地去世了,你会慢慢地麻木。而小哥离开时的眼神,似乎就是后者。在很长的岁月里,看着自己身边的人一个接一个地以各种方式死去,你发现任何人都无法在你身边留下来,这个时候,对于死亡,你就会有另一种看法。

Tôi còn nhớ rõ câu nói kia của Bàn Tử: Nếu một người thân của anh qua đời mà những người khác đều khỏe mạnh, thì lúc đó, cái chết của người thân ấy, đối với anh sẽ là một cú sốc rất lớn.

Nhưng nếu như những người thân thiết của anh, cứ mỗi năm lại lần lượt từng người từng người qua đời, dần dần, anh sẽ trở nên chai sạn.

Mà ánh mắt của Tiểu Ca lúc bỏ đi, có lẽ chính là loại thứ hai.

Năm tháng dài dằng dặc trôi qua, nhìn những người bên cạnh mình lần lượt người này lại đến người kia ra đi, anh sẽ phát hiện ra, không một ai có thể ở bên anh mãi mãi.

Bấy giờ, anh sẽ có một cái nhìn hoàn toàn khác đối với cái chết.

比麻木更深的一层,就是淡然,对于死亡的淡然。

Hơn cả chai sạn, chính là sự thản nhiên.

Thản nhiên với cái chết.

时间缓缓过去,我一直在等待着那封信上所说的秘密被揭晓,但是一直没有任何东西寄给我。一开始我每天去收两次邮件,后来是一天一次,后来是三天一次,到最后是一周一次,却一直没有收到任何信息。

Thời gian chậm chạp trôi đi, tôi vẫn chờ đợi mãi một lá thư tiết lộ cho tôi biết toàn bộ bí mật.

Ban đầu, tôi kiểm tra hòm thư mỗi ngày hai lần, về sau là mỗi ngày một lần, sau đó là ba ngày một lần, cuối cùng là một tuần một lần.

Thế nhưng, chờ mãi chờ mãi vẫn không có bất cứ thứ gì được gửi đến cho tôi.

我想,再也不会有任何邮件寄给我了,我又一次受骗了,而所有的一切,似乎就应该这么了结了。

Tôi bắt đầu nghĩ, sẽ chẳng có thư từ bưu kiện gì gửi cho tôi đâu.

Tôi lại bị lừa gạt một lần nữa, mà tất cả mọi thứ, có lẽ nên chấm dứt như thế này thôi.

我不伤心,甚至也不纠结。到了后来,我甚至是希望那封邮件不要来了。每周去打开邮箱,然后默默关上,在西湖边看看风景,骂骂手下,这样的日子,似乎也挺好的。

Tôi không đau lòng, cũng không luyến tiếc.

Về sau, thậm chí tôi còn mong lá thư ấy đừng gửi tới nữa.

Mỗi tuần lại mở hòm thư, sau đó lẳng lặng đóng hòm lại, đi ngắm cảnh Tây Hồ, chửi mắng đám người làm.

Mỗi ngày trôi qua như thế là đủ.

事实上,那封邮件早就到了,但是当时的我并不知道,有一个和我长得一模一样的人,已经把那封邮件领走了,我是在很久之后才发现了这件事情。

Trên thực tế, lá thư ấy đã được gửi đến từ lâu.

Nhưng lúc đó tôi lại không hề hay biết rằng, có một người trông giống tôi y đúc đã đến lấy lá thư đó đi.

Rất lâu về sau tôi mới phát hiện ra chuyện này.

一年之后的立秋,我骑着自行车绕着西湖骑了一圈锻炼身体,虽然经过这段时间的锻炼,王盟已经是一个特别沉得住气的孩子。如今这表情,表示他今天碰到了他自己没有办法解决的事情。

Một năm sau Lập Thu, tôi đạp xe đạp một vòng quanh Tây Hồ để rèn luyện thân thể.

Mặc dù qua một thời gian rèn luyện, Vương Minh đã trở thành một đứa trẻ cực kỳ điềm tĩnh, nhưng biểu cảm hiện tại của cậu ta cho thấy hôm nay cậu ta đã gặp phải một chuyện mà bản thân cậu ta không thể giải quyết được.

我问他怎么了,他指了指边上,我就看到,在铺子的角落里,站着一个人,他正在翻阅我们出售的一些滞销的拓本。

Tôi hỏi cậu ta có chuyện gì vậy, cậu ta liền chỉ chỉ sang bên cạnh, tôi mới thấy có người đã đứng trong một góc cửa hàng từ lúc nào rồi.

Hắn đang lướt mắt qua một ít bản dập chúng tôi chưa bán được.

这个人的身形我相当熟悉,但是那一霎,我没有认出来,他穿着一身黑色的卫衣,身边放着一只很大的背包。

Tôi đã khá quen thuộc với vóc dáng của người này, nhưng trong một thoáng kia, tôi đã không nhận ra hắn.

Hắn mặc áo thun đen, bên cạnh dựng một chiếc ba lô to tướng.

"小哥。"他转过头的时候,我认出了他。"你......怎么......怎么回来了?"

"Tiểu Ca."

Hắn vừa quay đầu lại tôi liền nhận ra ngay, "Anh...

Sao lại....

Sao đã quay về rồi?"

他淡淡地看着我,很久,才说道:"我来和你道别,我的时间到了。"

Hắn thản nhiên nhìn tôi hồi lâu rồi mới lên tiếng: "Thời gian của tôi đã đến, tôi tới đây để tạm biệt cậu."
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 76: Lời Từ Biệt Của Muộn Du Bình


我和闷油瓶在楼外楼找了一张靠窗的桌子。天色很阴,阴沉的多云天气,乌云一片压抑,似乎很快就会下雨。

Tôi đưa Muộn Du Bình đến Lâu Ngoại Lâu, tìm một bàn kê gần cửa sổ.

Sắc trời thật u ám, mây đen trĩu nặng bao phủ bầu không, có lẽ chẳng mấy chốc trời sẽ mưa.

闷油瓶一如既往地沉默,好在我之前就已经很习惯他的这种漠然,自己一个人点完菜,就看到他默默地看着窗外。

Muộn Du Bình vẫn trầm lặng như thường lệ, cũng may từ lâu tôi đã quen với thái độ hờ hững này của hắn nên tự động gọi món, nhìn sang thì thấy hắn vẫn lặng lẽ dõi mắt ra bên ngoài cửa sổ.

我知道,如果我不开口说话,他的状态可能会持续到他离开为止,他绝对不会因为冷场而首先开口说话。

Tôi hiểu rõ, nếu mình không mở miệng nói chuyện thì tình hình này sẽ cứ tiếp diễn cho đến khi hắn rời đi.

Hắn tuyệt đối sẽ không mở miệng nói chuyện trước để phá tan bầu không khí tẻ nhạt này đâu.

在西湖的冷风中吹了五六分钟,第一个菜上来的时候,我点上了香烟,问他道:"你的事情,完成了?"

Ngồi năm sáu phút đồng hồ để gió Tây Hồ lùa cho lạnh ngắt, khi món ăn đầu tiên được dọn lên, tôi châm điếu thuốc lá rồi hỏi: "Chuyện của anh đã xong rồi hả?"

"嗯,"他点了点头。我意识到是真的,他的眼神中,之前那种执著的气场已经不见了,取而代之的是那种更深的淡然。不同于他失去记忆的那个时候,这种更深的淡然,是一种极度的心灵安宁。

"Ừ."

Hắn khẽ gật đầu.

Tôi nhận ra trong ánh mắt hắn thực sự đã không còn thấy vẻ cố chấp trước kia nữa, mà thay vào đó là cảm giác hờ hững càng lúc càng khắc sâu.

Không giống như khi hắn mất đi ký ức, loại hờ hững sâu sắc này toát ra từ một tâm hồn bình yên đến cực điểm.

"所有的一切都完成了?"我问他道。

"Mọi chuyện đã xong cả rồi sao?"

Tôi hỏi hắn.

他转头看我:"结束了。"

Hắn quay đầu lại nhìn tôi: "Ừ, kết thúc cả rồi."

"那你之后打算怎么办?有想去的地方吗?要不,在杭州住下来?"我问道,心中默算自己的财产。最近杭州的房价涨得很快,这穷光蛋如果想在杭州买房的话,肯定会问我借钱!他的钱也不知道都用到什么地方去了,从来没见过他兜里有大票子。狗日的,我的钱根本不够啊。要是他真向我借钱买房,我还是先劝他租一段时间再说吧,

"Vậy chuyện sau này anh tính sao?

Có tính đi đâu không?

Nếu không thì hay là anh ở lại Hàng Châu nhé?"

Tôi hỏi, âm thầm tính toán số tài sản của mình.

Gần đây giá nhà đất ở Hàng Châu tăng chóng mặt, cái tên nghèo kiết xác này nếu muốn mua nhà ở Hàng Châu thì thế nào chẳng phải hỏi vay tiền tôi!

Tiền của hắn cũng chẳng biết là tiêu vào chỗ nào hết rồi, xưa nay tôi chưa từng thấy trong túi quần hắn có tờ tiền nào lớn.

Mẹ nó chứ, tôi đâu có đủ tiền!

Nếu hắn tới tìm tôi để vay tiền mua nhà thật, chắc tôi đành khuyên hắn thuê phòng ở tạm một thời gian đã rồi tính sau.

"我得回我自己应该去的地方了。"他道。

"Tôi sẽ trở lại nơi mình cần phải đến."

Hắn nói.

"你应该去哪里呢?远吗?"我问他,他拿起筷子,默默地夹了一口菜,点了点头。。

"Anh phải đi đâu?

Có xa không?"

Tôi hỏi hắn.

Hắn nhấc đũa lên, lặng lẽ gắp một nhúm thức ăn, khẽ gật đầu.

"那你是来......"我很少这么正经地和他聊天,觉得特别尴尬,只得顺着他的话有一搭没一搭地问。

"Vậy anh đến là để..."

Tôi rất ít khi nói chuyện đứng đắn với hắn như thế này nên cảm thấy khá là gượng gạo, đành phải đưa đẩy câu được câu chăng theo hắn.

"我来和你道别的。"他道。"这一切完结了,我想了想我和这个世界的关系,似乎现在能找到的。只有你了。"

"Tôi đến để từ biệt cậu."

Hắn nói, "Khi mọi chuyện đều đã kết thúc, tôi nghĩ, mối liên hệ giữa tôi và thế giới này, hình như bây giờ chỉ có mình cậu."

"没事,你以后可以打电话给我。或者写信给我。打字你不会,写字总会吧?"我道,"现代社会,没有什么真正意义上特别远的距离。"

"Không sao đâu, sau này anh có thể gọi điện thoại hoặc là viết thư cho tôi mà.

Anh không biết đánh máy, nhưng viết chữ chắc phải biết chứ?"

Tôi nói, "Xã hội hiện đại rồi, không có khoảng cách nào là xa xôi về mặt ý nghĩa thực sự cả."

他没有反应,继续吃菜。

Hắn không hề phản ứng, vẫn cắm cúi ăn.

闷油瓶的动作很轻,似乎是轻得不需要使用任何力气,这其实是他手腕力量极大以及对于自己动作的把控力极端准确的原因。我之前和他一起吃饭的时候,总有各种人在四周。我没有太注意过他,现在看着,就觉得非常奇妙。

Động tác của Muộn Du Bình rất nhẹ nhàng, gần như không hề dùng sức.

Thật ra đây là do lực cổ tay hắn cực mạnh, thêm vào đó là khả năng khống chế động tác chuẩn xác cực kỳ.

Trước đây, những lúc ăn cơm cùng với hắn luôn có nhiều người vây kín xung quanh nên tôi cũng không quá chú ý đến hắn, hiện giờ nhìn kĩ mới thấy thật là một chuyện hay ho.

气氛再次很沉默,我开始无比怀念胖子,原来我从来都没有觉得冷场的原因是因为胖子默默地为气氛付出了那么多包袱,如今只有我们两个,我还真是毫无办法。

Bầu không khí lại rơi vào thinh lặng khiến tôi bắt đầu nhớ nhung Bàn Tử da diết.

Hóa ra từ trước tới giờ tôi chưa từng thấy tẻ nhạt là do Bàn Tử đã lặng lẽ bỏ rất nhiều công lao để tạo dựng bầu không khí.

Đến hôm nay chỉ còn lại hai người, tôi thật chẳng biết phải làm sao nữa.

"说吧,你准备去哪里?我们经历了那么多,肯定是一辈子的朋友,常联系就行了。"我继续道。"你有什么需要,也尽管跟我开口。我虽然不算富裕,基本的生活我还是可以支援你的。"

"Nói xem, anh định đi đâu?

Chúng ta đã cùng nhau trải qua nhiều chuyện như vậy, nhất định sẽ là bạn tốt cả đời, thường xuyên giữ liên lạc là được rồi."

Tôi nói tiếp, "Anh cần gì cũng đừng ngại mở miệng nói với tôi.

Tôi tuy không được tính là sung túc, nhưng những nhu cầu cơ bản tôi vẫn có thể giúp đỡ anh."

"我要去长白山。"他说道。

"Tôi phải đến núi Trường Bạch."

Hắn nói.

"哦。那是很冷的地方啊。"我道,"江南多好,四季分明。气候湿润,是个养人的好地方。"

"À, chỗ đó lạnh lắm đấy."

Tôi đáp, "Ở Giang Nam vẫn hơn, bốn mùa phân rõ rệt, khí hậu lại ẩm ướt, là một nơi an dưỡng rất tốt."

"我只能去那里。"他说着就放下了筷子。

"Tôi chỉ có thể đến đó."

Nói rồi, hắn liền buông đũa.

他说完这句话之后,我们再没有进行像样的对话了。在安静中,我们默默地吃完东西,我已经没有任何的尴尬了。他放下筷子,看了看我,就对我道了句:"再见。"

Sau khi hắn nói ra câu đó, chúng tôi cũng không đả động gì đến những chuyện tương tự nữa.

Trong bầu không khí tĩnh lặng, cả hai cứ thế lặng lẽ ăn tới cuối bữa, tôi cũng không còn khó xử nữa.

Cuối cùng hắn buông đũa, nhìn tôi, rồi bật ra một câu: "Tạm biệt."

说完。他站了起来,背起自己的包就往楼下走去。我有些讶异。在那里叫道:"咱们菜还没吃完呢。"

Nói rồi hắn đứng dậy xốc ba lô lên vai, đi xuống dưới lầu.

Tôi hơi ngạc nhiên, bèn gọi với theo: "Chúng ta còn chưa ăn xong mà."

他已经下楼了,我闷闷地抽了几口烟。站起来靠在窗户旁,就看到他已经沿着孤山路远去了。

Nhưng hắn đã xuống lầu mất rồi.

Tôi rầu rĩ rít vài hơi thuốc, đứng tựa vào cửa sổ nhìn xuống thì thấy hắn đã men theo đường Cô Sơn đi được khá xa.

我坐下来,心说这是什么情况,他是没钱埋单怕尴尬吗?以前没钱的时候多了去啊,没见他这么见外过。品了一下刚才他说的那些话,我觉得有点奇怪,总觉得他的话语中,有一种特别莫名的感觉。

Tôi lại ngồi xuống, trong lòng tự hỏi chuyện quái quỷ gì đây, bộ hắn không có tiền trả nên xấu hổ chắc?

Trước kia còn hay kẹt tiền hơn mà có bao giờ thấy hắn khách khí như vậy đâu?

Ngẫm nghĩ một chút những lời hắn nói ban nãy, tôi cảm giác có gì đó là lạ, hình như trong đó ẩn chứa một thứ cảm xúc đặc biệt khó hiểu.

"我是来和你道别的。"

"Tôi đến để từ biệt cậu."

"这一切完结了,我想了想我和这个世界的关系,似乎现在能找到的,只有你了。"

"Khi mọi chuyện đều đã kết thúc, tôi nghĩ, mối liên hệ giữa tôi và thế giới này, hình như bây giờ chỉ có mình cậu."

我忽然一下从座位上站了起来,想起他的一个称呼一职业失踪人员。

Nghĩ đến đây tôi bỗng đứng bật dậy khỏi ghế, nhớ tới một biệt hiệu khác của hắn - chuyên gia mất tích.

他以前要离开,要走,从来不会说一句,在巴乃和我们道别的时候,也没有说过任何话。道别这种事情在职业失踪人员身上,似乎是不太可能出现的,而且这次还是他千里迢迢,从其他地方赶到了我的面前,特意来和我道别。

Trước kia, những lúc muốn rời đi, phải rời đi, hắn chưa từng hé răng lấy một lời.

Khi chia tay chúng tôi ở Ba Nãi tôi cũng chẳng thấy hắn nói câu nào.

Chuyện đến chào từ biệt này hình như rất khó tin với cái tên chuyên gia mất tích kia.

Hơn nữa, lần này để tìm tôi nói lời từ biệt, hắn còn có lòng lặn lội từ một nơi xa xôi ngàn dặm đến tận đây.

这道别一定和他以往的离开是不一样的。

Lần từ biệt này nhất định khác với những lần hắn bỏ đi trước kia.

一种强烈的不祥感让我如坐针毡,他要离开的,是这个城市,和我这个朋友吗?不是!那他要离开的,难道是这个世界?

Một cảm giác mất mác mãnh liệt khiến tôi như ngồi trên bàn chong.

Hắn muốn bỏ đi, là đi khỏi cái thành phố này, và người bạn là tôi sao?

Không phải!

Vậy cái mà hắn muốn đi khỏi, lẽ nào là thế giới này sao?

"长白山?"我甩下我所有的现金,告诉服务员把找的钱送到隔壁的西泠印社去,然后抓起椅子上的衣服就去追。

"Núi Trường Bạch?"

Tôi rút hết số tiền mặt mang trong người, bảo nhân viên phục vụ mang tiền thừa sang trả cho Tây Linh Ấn Xã ngay cạnh đó, sau đó vơ lấy đống quần áo vứt trên ghế mà vội vã đuổi theo.

我一路追到了北山路,跑得我浑身是汗,也没有追上他。北山路上只有无数空的士在路面上来回穿梭。

Tôi chạy một mạch đến tận đường Bắc Sơn, gấp đến nỗi toàn thân ướt đẫm mồ hôi, nhưng vẫn không đuổi kịp hắn.

Trên đường Bắc Sơn chỉ có vô số taxi trống lượn lờ qua lại như thoi đưa.

我又跑回自己的铺子里,简单地收拾了一下自己的行李,背起来就和王盟说:"我要出去一下。"

Tôi lại quay về cửa hàng của mình, gói ghém sơ sơ ít hành lý, vừa đeo lên vai vừa dặn Vương Minh: "Anh muốn ra ngoài một lát."

王盟立即脸色惨白,一下拉住了我。我问他干吗,他说:"老板,以往这样的情况,铺子里来一人,然后你匆匆忙忙要走,肯定都得离开很久。你得交代一下。"

Vương Minh tái mặt, bỗng kéo tay tôi lại.

Tôi hỏi cậu ta làm cái gì thế, cậu ta mới nói: "Ông chủ, chuyện thế này cũng đã xảy ra rất nhiều lần rồi.

Tự dưng có một người đến cửa hàng, sau đó y như rằng anh lại vội vội vàng vàng cuốn gói đi ngay, mà lần nào cũng đi mất hút luôn.

Anh giải thích chút đi xem nào."

我心说没空交代了,就对他道:"来人找我就说我出去度假了,事情全部由你打理。如果有什么大件的买卖,不是特别保险的就不走了,一切等我回来再说。"

Tôi nghĩ bụng đây không rảnh mà giải thích, bèn đáp qua loa: "Nếu có ai đến tìm anh thì chú cứ bảo anh đi nghỉ mát rồi, việc làm ăn giao cho chú quản hết đấy.

Nếu có phi vụ mua bán nào lớn mà chú không chắc chắn thì đừng tiến hành, cứ chờ anh về rồi tính sau."

"你真会回来吗?"王盟问道。

"Anh sẽ quay về thật chứ?"

Vương Minh hỏi.

我问他:"为什么这么问?"

Tôi hỏi ngược lại: "Sao lại hỏi thế?"

他道:"你不是说再也不乱走了吗?一般电视里,所有的高人,都是退隐江湖之后再次被人叫出去就必死的。老板你可要当心哦"

Cậu ta nói: "Chẳng phải anh đã nói sẽ không bao giờ đi lung tung nữa sao?

Em xem tivi thấy cao nhân nào đã thoái ẩn giang hồ mà còn bị người ta gọi ra cũng đều chết ráo cả, ông chủ anh nhất định phải thật cẩn thận nha."

我拍了拍他,心说,狗日的,回来再收拾你这乌鸦嘴,我不再理会他,转身就跑了出去。

Tôi vỗ vai cậu ta, bụng bảo dạ khi về phải cho mi biết tay cái tội mồm miệng bá láp xui xẻo mới được.

Rồi tôi cũng không thèm để ý nữa, quay người chạy như bay ra ngoài.

闷油瓶没有身份证。没法坐飞机,他肯定得坐汽车或者火车。火车是有班次的,我在出租车上。用手机查询了火车的时刻表,立马发现他不可能坐火车。去吉林方向的火车班次只有晚上很晚才有。看来他应该是坐长途汽车。

Muộn Du Bình không có chứng minh thư nên không thể mua vé máy bay, chắc chắn sẽ phải đi xe khách hoặc xe lửa.

Nhưng xe lửa có chuyến cố định, khi ngồi trên taxi tôi thử lấy di động tra cứu giờ khởi hành của những chuyến đi trong ngày, nhanh chóng nhận ra hắn không thể đi xe lửa được.

Xe lửa khởi hành đi Cát Lâm phải đến khuya mới có chuyến, xem ra hắn đã đi xe khách đường dài.

于是,我让出租车把我送到长途汽车站去。这样即使我在长途汽车站找不到他,也还有时间去火车站,他总不可能是走路去吧?想到这里,我就觉得我的计划相当稳妥。

Nghĩ vậy, tôi liền bảo taxi chở mình đến bến xe khách.

Như thế dù không tìm thấy hắn ở bến xe thì vẫn còn thời gian đến ga xe lửa, chứ không lẽ hắn lại cuốc bộ?

Nghĩ đến đây, tôi cảm thấy kế hoạch của mình đã tương đối ổn thỏa.

一路到了汽车站,不知道又是什么运输期的旺季,人山人海。我挤进人群,不停地找。好几次都感觉自己似乎是看到了,挤过去却发现不是。

Cứ thế đi thẳng một mạch đến bến xe, chẳng biết đây là cái mùa đắt khách chết toi nào mà người đông như kiến cỏ.

Tôi chen giữa đám người, không ngừng tìm kiếm, đã nhiều lần có cảm giác hình như mình thấy rồi, đến khi chen lại gần mới biết chỉ là nhầm nhọt.

接着我跑到上车的入口处,继续在附近寻找。但还是没有。我满头大汗,心说,难道是出租车司机极速飞车,我竞然超过他了,先到达了这里?还是说,小哥确实没钱,他根本不是打车来的,而是走路。那他现在能走到延安路口都算是不错了。

Sau đó tôi chạy đến cửa đón khách, tiếp tục tìm kiếm khắp xung quanh nhưng vẫn chẳng thấy người đâu.

Đầu tôi nhễ nhại mồ hôi, nghĩ bụng chẳng lẽ tài xế taxi phóng quá nhanh nên tôi đã vượt qua hắn mà đến đích trước?

Hay là Tiểu Ca thực sự không có tiền nên không lên xe mà cứ tà tà cuốc bộ?

Nếu như thế, giờ này hắn giỏi lắm cũng chỉ đến giao lộ Diên An là cùng.

挤了几圈之后。我发现不可能在这种情况下找到他,便去看汽车的发车时刻表,我这才发现没有去吉林方向的汽车。似乎是因为这条线路太远了。我的心一下就安定了下来,刚想说看来他只有火车这一线路可走了。恍惚间,我一下就看到,在外面停的一辆车里,他就坐在里面,车子已经开动了,从候车室的窗外开过去。

Lại chen chúc thêm vài bận nữa, tôi dần cảm thấy không thể tìm được hắn bằng cách này, bèn đi tra thời gian khởi hành của xe khách.

Đến lúc này tôi mới phát hiện ra không có xe đi Cát Lâm, có lẽ là vì tuyến đường này quá xa.

Lòng tôi phút chốc dịu đi, vừa định nói xem ra hắn chỉ có một con đường là đi xe lửa.

Nhưng trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt thấy hắn đang ngồi trong một chiếc xe đỗ ngoài bãi.

Xe đã nổ máy, sau đó nghênh ngang lái qua bên ngoài cửa sổ phòng chờ.

我咦了一声,心说什么情况,没有去吉林方向的车啊。我立即去问值班员。值班员说,这是一辆去北京的车。

Tôi ơ một tiếng, nghĩ bụng cái quái gì vậy, rõ ràng không có xe đi Cát Lâm mà.

Tôi lập tức đến hỏi nhân viên trực ca, anh ta nói đó là xe đi Bắc Kinh.

我靠。我心说这是什么情况,不管什么车。只要是一个方向,先上了再说啊,这是闷油瓶的逻辑,只有他自己知道自己的所有行为,和理智已经没关系了。

Tiên sư cha, cái quái quỷ gì thế này, tôi nghĩ thầm.

Bất kể là xe gì, miễn là đi cùng về một hướng, cứ lên xe trước đã tính sau, đây đúng là logic của Muộn Du Bình.

Chỉ có bản thân hắn mới hiểu rõ mọi hành động của mình, chẳng liên quan tí nào đến lý trí cả.

我追出站,汽车的出站口离候车室很远,等我到了,车子连尾灯都看不到了。我喘着气告诉自己必须冷静。狗日的,我就不信,在这种城市里,我会输给一个生活能力九级伤残的人。

Tôi vội vàng chạy đến cửa ra, nhưng cửa ra của bến xe cách phòng chờ một quãng rất xa, khi tôi đến nơi thì khói xe cũng chẳng kịp ngửi.

Tôi thở hổn hển, tự nhắc mình phải thật tỉnh táo.

Tôi không tin mình lại thua một kẻ có kĩ năng sống thương tật đến cấp 9 ngay trong địa bàn thành thị này.

我打车重新回了铺子,王盟正兴高采烈地玩着"扫雷",我一进去,差点把他吓得从座位上摔下去。

Tôi lại vẫy xe quay về cửa hàng, thấy Vương Minh đang hớn hở chơi dò mìn.

Khi bước vào, tôi suýt nữa đã dọa cho cậu ta té nhào khỏi ghế.

"老板,你这一次这么快就回来了。"

"Ông chủ, lần này sao anh quay về nhanh thế."

"少废话:"我把他从座位上踹下来,上网订了机票,然后迅速在网络上查了所有的行程,汽车到站的地方、时间,他可能继续走一程的途径。全部记录下来之后,一路狂奔去机场。

"Bớt nói nhảm đi."

Tôi đạp cậu ta ra chiếm chỗ, lên mạng đặt vé máy bay, sau đó nhanh chóng tra cứu mọi lộ trình, thời gian địa điểm xe khách cập bến, những con đường hắn có thể sẽ đi tiếp.

Sau khi ghi chép tất tật mọi thứ, tôi chạy như điên ra sân bay.

飞到北京之后,我比汽车的到达时间最起码早了五个小时。我在汽车站的出站口买了几个茶叶蛋吃着,等着闷油瓶的到来。我在想,我应该怎么去劝他?

Bay đến Bắc Kinh rồi, tôi xem đồng hồ, thấy mình đã đến sớm hơn xe khách ít nhất năm tiếng.

Ở cửa ra của bến xe, tôi mua mấy quả trứng luộc nước trà ăn lót dạ, chờ Muộn Du Bình đến.

Trong lúc đó, tôi suy nghĩ mãi, phải làm sao để khuyên bảo được hắn đây?

打是根本打不过他的,跑也跑不过,如果他心意已决,我一点办法也没有,只不过是在这里浪费口舌。要么我就趁其不备,从背后偷袭他。我在边上找了一块板砖,掂量了一下,看了看旁边卖茶叶蛋的。他的身高和闷油瓶差不多,就比画了几下。

Đánh nhau xem chừng không lại, đuổi theo cũng không kịp.

Nếu hắn tâm đã quyết, ý đã định, tôi thực sự cũng không biết phải làm gì hơn, chẳng qua chỉ phí lời vô ích.

Hay là mình thừa dịp hắn sơ ý, đánh lén từ sau lưng?

Tôi nhìn quanh, tìm được một cục gạch, ước lượng một chút, rồi nhìn sang tay bán trứng luộc vóc dáng xấp xỉ Muộn Du Bình ở gần đó, khua tay múa chân ướm thử vài lần.

我的脑子里浮现出闷油瓶反身一脚把我直接踹到墙上去的画面。他的我的脑子里浮现出闷油瓶反身一脚把我直接踹到墙上去的画面。他的警觉性太高了,我觉得偷袭他的成功概率实在太低,而且,万一我成功了,一下把他拍死了,老子还得坐牢被枪毙。要是到下面去和他再见,不知道该怎么和他解释。

Trong đầu tôi lập tức hiện lên cảnh Muộn Du Bình xoay người tung cước đá tôi một phát dính bẹt vào vách tường.

Tính cảnh giác của hắn quá cao, tôi ảo não nhận ra xác suất đánh lén hắn thành công cực thấp.

Hơn nữa, ngộ nhỡ tôi thành công quá mức, một đòn phang hắn chết tươi, ông đây dễ chừng phải ngồi tù hoặc là dựa cột.

Mà xuống dưới đó lỡ đâu còn gặp lại hắn, biết ăn nói thế nào với hắn cho phải.

用药?

Chuốc thuốc?

我心里想,不知道现代的安眠药对他的体质是否也有作用。如果有用,我就先骗他去一个地方休息,然后说我有一件特别重要的事情要和他商量,希望他能帮我。之后,我在饮料里放人安眠药,等他昏迷过去,我就把他绑结实了,找小花要辆车,直接送回杭州。

Nhưng tôi cũng không rõ thuốc ngủ thời hiện đại có tác dụng gì với thể chất của hắn hay không.

Nếu có, thì trước hết tôi phải dụ hắn vào nhà nghỉ, kiếm cớ là tôi có chuyện quan trọng muốn bàn bạc, mong hắn ra tay giúp đỡ.

Sau đó bỏ thuốc ngủ vào đồ uống của hắn, đợi hắn lăn ra ngất thì trói chặt lại, nhờ Tiểu Hoa chuẩn bị xe, tống thẳng về Hàng Châu.

我的脑子里又浮现出闷油瓶在听说我要找他商量事情的时候,毫无反应扭头就走的画面,我此时必然上去拖他,然后他又是反身一脚,把我踹到墙壁上去。

Trong đầu tôi lại hiện lên cảnh tượng Muộn Du Bình sau khi nghe tôi nói muốn tìm hắn bàn chuyện, hắn hoàn toàn dửng dưng quay đầu bước đi.

Tất nhiên tôi sẽ níu kéo hắn lại, sau đó hắn xoay người tung cước đá tôi một cú dính vào vách tường.

我头疼欲裂,怎么想都无济于事,就算绑回杭州了,我也没有办法留住他,除非我做个铁笼子把他关起来,否则他说走就会走。如果把他关到精神病院去,也许还可能,但是他的身手太好,我觉得任何地方都不可能困住他,到时候还会连累精神病院的医生护士。

Đầu tôi đau muốn nứt, nghĩ ra đủ mọi cách cũng chẳng ăn thua gì.

Cho dù có gông cổ hắn tống thẳng về Hàng Châu thì cũng không sao giữ hắn lại được, trừ khi nhốt hắn vào lồng sắt, chứ không hắn nói đi là sẽ đi liền.

Nếu tôi tống hắn vào bệnh viện tâm thần, may ra có thể sẽ giữ chân được hắn.

Nhưng bản lĩnh của hắn quá mức siêu phàm, tôi cảm thấy chẳng nơi nào có thể trói chân hắn nổi, không chừng tống hắn vào đấy còn liên lụy đến bác sĩ và y tá của bệnh viện.

想着想着我就心凉了,我发现怎么都不可能,我是不可能改变他的主意的。

Càng nghĩ càng ngán ngẩm, tôi nhận ra phương án nào cũng bất khả thi, có lẽ tôi không thể nào thay đổi được quyết định của hắn.

但是,我还是要尽力一试。我还想到,闷油瓶是否只是去长白山下的那个村子里定居,每天看看雪山,抽抽老烟袋,准备在那个地方度过晚年呢?

Nhưng gì thì gì, tôi vẫn muốn thử hết sức một lần.

Tôi còn nghĩ, phải chăng Muộn Du Bình chỉ muốn đến định cư trong một thôn nhỏ dưới chân núi Trường Bạch, ngày ngày ngắm đỉnh núi tuyết, hút tẩu thuốc cũ, chuẩn bị an hưởng tuổi già ở đó?

无所谓,就算那样,我最多出个丑而已,没关系。

Không sao cả, cho dù là thế, cùng lắm tôi chỉ biến thành kẻ ngáng chân đáng ghét thôi, chẳng có gì đáng kể.

我收回思绪的时候,看到卖茶叶蛋的人正看着我手里的砖头,急急忙忙地收摊走人。也许是我刚才想的时候,表情非常奇怪。我赶紧把砖头甩掉,心中已经做了决定:这是最后一劝,如果我劝不了,也就不强求了。

Khi tôi thoát khỏi dòng suy nghĩ, liền thấy gã bán trứng luộc nước trà đang nhìn chằm chằm cục gạch trong tay tôi, hấp ta hấp tấp dọn quán rời đi.

Có lẽ là vừa rồi trong lúc suy nghĩ, vẻ mặt tôi đã vô cùng quái lạ.

Tôi vội vàng vứt cục gạch đi, thầm hạ quyết tâm: đây là lần cuối cùng mình tìm cách khuyên nhủ hắn, nếu không khuyên nổi thì thôi, mình cũng chẳng cưỡng cầu làm gì nữa.

然而,闷油瓶是永远不会让我如意的。我在汽车站一直等,等到凌晨那辆车到站,就发现车子上根本没有闷油瓶。

Có điều Muộn Du Bình vĩnh viễn không để cho tôi toại nguyện.

Tôi cứ thế đợi ở bến xe ròng rã suốt nhiều giờ, đợi đến rạng sáng, khi xe kia vào bến mới phát hiện ra Muộn Du Bình không ở trong xe.

我看着所有人一个一个地下车,然后离开,在他们背后望了好久,最终确定没有闷油瓶。我立即上车,直接把司机揪住,问闷油瓶去哪儿了。

Tôi nhìn từng người từng người một xuống xe rồi tản đi, cứ dõi theo bóng lưng họ một hồi lâu như thế, cuối cùng mới dám khẳng định Muộn Du Bình thực sự không ở trên xe.

Tôi lập tức leo lên, túm cổ tài xế, hỏi Muộn Du Bình đi đâu mất rồi.

折腾了老久,司机才意识到我在说什么。他和我说,闷油瓶中途在一个收费站下车了。我摇着司机的脑袋。问他:"你确定是下车了,而不是上厕所上太久落下了吗?"司机说闷油瓶自己和他说的,绝对错不了。

Hỏi đi hỏi lại mãi tài xế mới hiểu tôi muốn hỏi gì, anh ta nói Muộn Du Bình đã xuống một trạm thu phí dọc đường rồi.

Tôi lắc lắc tài xế liên tục, hỏi: "Anh khẳng định anh ta xuống xe chứ không phải là kẹt trong nhà xí lâu quá nên bị bỏ rơi đấy chứ?"

Tài xế đáp, chính miệng Muộn Du Bình đã nói thế mà, chắc chắn không lầm đâu.

我问了那个收费站的位置,然后在附近找了一个网吧,把地图全部打开,自己査看。我就发现从那个收费站下去不远有个小镇,那里有能通往二道白河的车。

Tôi hỏi vị trí trạm thu phí kia rồi tìm một quán net gần đó, cẩn thận tra cứu bản đồ.

Tôi phát hiện ra một thị trấn nhỏ cách trạm thu phí kia không xa, ở đó có thể bắt xe đến Nhị Đạo Bạch Hà.

我打电话给了小花,让他直接给我安排了一辆车,所有的费用我出,直接就冲向二道白河。我心中感慨,这生活能力九级伤残的小哥。我还真是小看了。显然,他对于到某些地方的捷径,脑子相当淸晰,不管在古墓中还是在现代社会里都是一样。

Tôi gọi cho Tiểu Hoa, nhờ cậu ta sắp xếp cho tôi một chiếc xe ngay, tốn bao nhiêu tiền tôi chịu hết, đi thẳng tới Nhị Đạo Bạch Hà.

Tôi cũng phải thầm than thở trong lòng, xem ra mình đã quá coi thường gã Tiểu Ca kinh nghiệm sống thương tật đến cấp 9 này rồi.

Rõ ràng, đối với những nơi đã đi qua, hắn rất giỏi ghi nhớ đường tắt, cho dù là trong cổ mộ hay trong xã hội hiện đại cũng không hề thay đổi.

路途上闲话不表,第二天天亮,我已经到达了二道白河。下车之后,我立即问了当地人黑车的下客点,赶到下客点的时候。正好看到闷油瓶背着行李朝一个方向走去。

Tạm thời không nhắc tới những chuyện vặt vãnh trên đường đi, rạng sáng hôm sau tôi đã tới Nhị Đạo Bạch Hà.

Vừa xuống xe, tôi lập tức hỏi thăm dân địa phương điểm trả khách trái phép của cái xe dù kia.

Khi tìm đến nơi, vừa hay tôi nhìn thấy Muộn Du Bình lưng đeo hành lý đang cắm cúi hướng về một phương trời xa.

我立即把他叫住了,他回头看到我,有轻微的诧异。但是,他竟然没有问我为什么跟来,而是继续转身一路往前走去。我只好立即跌跌撞撞地跟了上去。

Tôi vội vàng gọi hắn.

Hắn quay đầu lại, thấy tôi, hắn hơi có vẻ kinh ngạc.

Nhưng hắn không buồn hỏi vì sao tôi đuổi theo đến đây, mà quay lại, tiếp tục cắm đầu đi về phía trước.

Tôi đành phải lảo đảo chạy đuổi theo ngay lập tức.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 77: Lại Đến Nhị Đạo Bạch Hà


秋天的二道白河十分冷,好在小花很温馨地给我准备了衣服我裹着冲锋衣就跟到了他的边上,和他一起往前走。我问他:"你该不是想到这里来自杀吧?"

Nhị Đạo Bạch Hà vào mùa thu lạnh tê người, may mà Tiểu Hoa chu đáo, chuẩn bị sẵn quần áo ấm cho tôi.

Tôi khoác thêm áo gió rồi bám sát bên cạnh hắn, cùng đi về phía trước.

Tôi hỏi: "Không phải anh muốn đến đây tự sát đấy chứ?"

他看了我一眼,摇头,继续往前走。我道:"那你准备来这里长住?你为什么选这么寒冷的地方?"

Hắn liếc nhìn tôi, lắc đầu, rồi tiếp tục cất bước.

Tôi lại hỏi: "Hay anh muốn sinh sống lâu dài ở đây?

Sao lại chọn cái chỗ rét mướt này mà ở chứ?"

他看着前方,过了很久才道:"不是这里,我要到那里去。"我抬头,顺着他的目光我看到了前面地平线上耸立的那连绵的雪山。

Hắn nhìn thẳng về phía trước, hồi lâu mới đáp: "Không phải ở đây, tôi muốn lên trên đó."

Tôi ngước nhìn theo ánh mắt của hắn, thấy nơi chân trời đứng sừng sững một dãy núi tuyết.

我在那一瞬间不得不停下脚步,愣了一会儿,才继续追上去:"你要进山?"

Trong khoảnh khắc ấy tôi không thể không ngừng bước, ngây người trong giây lát rồi mới hoàn hồn mà đuổi theo: "Anh muốn lên núi?"

他没有回答我,只是一路往前,直直地往雪山走去。

Hắn không đáp lời, cứ cắm cúi bước về phía trước, hướng thẳng về phía ngọn núi phủ trắng tuyết.

一路上闷油瓶没有说一句话,而且他也不打算停留。不管我是否能跟上,他都一路往前走。

Trên đường đi, Muộn Du Bình không thèm hé răng nửa lời, lại càng không định dừng lại.

Bất kể tôi có đuổi kịp hay không, hắn vẫn cứ tiến thẳng về phía trước.

我一路不停地追问,都没有任何结果。好几次我都内火上涌,心说就这么算了,你丫想去死就去死吧。

Tôi cứ dồn dập truy hỏi mãi mà không có kết quả.

Nhiều lần tôi nổi giận đùng đùng, nghĩ bụng, được lắm, anh đã muốn chết đến thế thì cứ chết quách đi.

我的判断是,闷油瓶本身就是为了死亡而去的,因为我在他身上看不到任何食物包裹:他一路往前。身上就只有那个背包。以我们上次进山的经验,这样的装备进山之后不到三天就会饿死,更不要说回城了。

Theo phán đoán của tôi, Muộn Du Bình nhất định muốn tìm đến cái chết, bởi lẽ tôi không thấy hắn mang theo bất cứ thứ đồ ăn nào.

Hắn đi thẳng một mạch mà trên người chỉ đeo có một cái ba lô.

Theo kinh nghiệm lần leo núi trước, trang bị sơ sài như thế mà đòi leo núi, chưa trụ nổi ba ngày đã chết đói chứ đừng nói đến chuyện trở về.

我越走越觉得要糟糕,很快就看到有拉人上山的小黑车。我一路上只好看到一个商店就买些东西,往我的包里硬塞。买那些干货不占多少空间,包里塞满了各种各样的塑料袋子。

Tôi càng đi càng cảm thấy chuyến này gay go to, chưa gì đã thấy có mấy cái xe dù đang lén chở người lên núi.

Trên đường đi tôi đành phải tìm một cửa hàng mua vài món đồ, ra sức nhồi nhét vào túi hành lý mang theo.

Cũng may những món đồ khô kia không chiếm chỗ cho lắm, giờ trong hành lý của tôi đã chất đủ loại túi nhựa.

之后我们两个上了小面的,一路往山上开去。

Sau đó hai chúng tôi lên một chiếc xe con, chạy về hướng lên núi.

这个时候,闷油瓶才看向我,对我道:"你不能跟着我去。"

Đến đây, Muộn Du Bình mới quay sang nói với tôi: "Cậu không thể tiếp tục đi theo tôi nữa."

"如果我劝你别去,你会不去吗?"我问他。他摇头,我就火大了:"狗日的。所以,如果你劝我别去,我也不会听的。所以你别多嘴了。我就要跟着。"

"Nếu tôi bảo anh đừng đi thì anh có chịu ở lại không?"

Tôi hỏi.

Hắn lắc đầu làm tôi điên tiết: "Mẹ nó chứ, thế nên anh bảo tôi ở lại thì cũng đừng mong tôi ngoan ngoãn nghe theo.

Tóm lại anh đừng nhiều lời nữa, tôi cứ muốn đi theo anh đấy."

他看向我,又把脸转了过去。真的就不说话了。

Hắn liếc tôi một cái rồi lại quay mặt đi, lặng thinh không nói.

我们一路什么也没说,一直到了山中的一个旅游客栈。下来的时候,气温已经相当低了,他径直走人客栈,订了房间。我看也不看就跟了上去,此时我心里赌上气了。

Trên đường đi chúng tôi chẳng nói với nhau câu nào, mãi cho đến khi gặp một khách sạn du lịch trong núi.

Lúc ấy nhiệt độ đã xuống khá thấp, hắn đi thẳng vào khách sạn, đặt phòng.

Tôi chẳng thèm nhìn trước ngó sau, cứ lẽo đẽo bám theo, lúc này tôi đã nghẹn uất lên đến tận họng.

闷油瓶还是一句话都没有,等到房间里躺下来,我就开始后悔了。

Muộn Du Bình vẫn không buồn rặn ra một câu nào, cho đến khi vào phòng, nằm xuống giường, tôi mới bắt đầu hối hận.

以我们现在的情况进山。之前闷油瓶准备的装备是正确的,而我的装备太简陋了,必死无疑。恐怕连我们的目的地的一半都到不了,我就会冻死在里面。闷油瓶一定是明白这点,才完全不阻止我,因为我一上雪线,面临的问题必然就是立即死亡还是退缩。我用我的生命去威胁他。在这一次似乎是没有什么用的。

Xem tình hình hiện giờ của hai người chúng tôi mới thấy, những hành trang Muộn Du Bình chuẩn bị trước đây đều rất phù hợp cho việc leo núi, mà hành trang của tôi lại quá sơ sài, cứ đà này kiểu gì cũng chết chắc.

Chỉ e hai chúng tôi còn chưa đi được nửa đường đến đích thì tôi đã chết cóng mất rồi.

Chắc chắn Muộn Du Bình hiểu rất rõ điều ấy nên mới không thèm ngăn cản tôi, bởi vì ngay khi vượt qua ranh giới vùng tuyết phủ tôi sẽ phải đối mặt với hai lựa chọn, hoặc là bỏ mạng, hoặc là bỏ cuộc.

Lần này dù tôi lấy tính mạng mình ra uy hiếp hắn, có lẽ cũng vô ích.

闷油瓶以前说过,他只救不愿意死的人,如果对方自己可以选择死还是不死,而对方选择了死亡。他是不会插手的。我现在的情况和他说的一样一如果我自己选择上雪线,跟着他然后冻死,他是不会插手救我的。

Muộn Du Bình có lần đã từng nói, hắn chỉ cứu người muốn sống.

Nếu như đối phương được quyền lựa chọn giữa sống và chết mà vẫn nhất quyết chọn cái chết, hắn sẽ không nhúng tay vào.

Tình hình hiện giờ của tôi cũng giống như thế: nếu tôi tự mình lựa chọn đi theo hắn vào vùng tuyết phủ thì sau đó dù tôi có chết cóng hắn cũng sẽ không ra tay can thiệp.

我趁他休息的时候。立即出去添购装备。旅馆里的驴友很多,我拿着现金,这里买一点,那里买一点,钱不够了,就和旅馆老板刷卡,以十比八的比例换取现金,继续收购。好不容易凑了一套眼下可以用的装备出来。

Tôi lựa lúc hắn nghỉ ngơi, vội vàng ra ngoài mua thêm trang bị.

Trong khách sạn có khá nhiều du khách, tôi cầm tiền mặt mua chỗ này một ít chỗ kia một ít.

Hết tiền, tôi quét thẻ ở chỗ ông chủ khách sạn, đổi sang tiền mặt với tỉ lệ mười ăn tám rồi tiếp tục thu mua, vất vả lắm mới gom đủ một bộ trang bị coi như xài được.

我穿上之后,简直是惨不忍睹。小花的冲锋衣本来就不够厚。我不得不在外面再套了一件,显得相当臃肿。简直像只狗熊。两只手套各不一样,左手的还是女式的。特别小,戴上之后几乎不能操作,所有的工作基本都得靠右手。

Sau khi mặc cái đống đó vào người, trông tôi thê thảm vô cùng.

Áo gió của Tiểu Hoa vốn không đủ dày, tôi đành cắn răng khoác thêm một lớp áo nữa ra bên ngoài.

Người tôi tròn vo như cái kén, nhìn không khác gì con gấu chó.

Hai cái găng tay không cùng một đôi, tay trái là găng của nữ nên khá chật, đeo lên rồi cử động cũng bị hạn chế, thành ra mọi hoạt động chủ yếu đều dựa vào tay phải.

登山靴倒是一双的,不过之前的主人显然是双汗脚,臭得简直可以熏死粽子。我也没有办法,只能硬着头皮穿上。

Giày leo núi lại là một đôi hoàn chỉnh, có điều chủ nhân trước kia của nó đích thị là một thằng cha thối chân, thối đến nỗi bánh tông lỡ ngửi được cũng phải lăn quay ra chết.

Tôi không còn cách nào khác, đành phải bịt mũi nhăn nhó mà đi vào chân.

还有一些登山吃的压缩饼干,我归整了一下,把炊具、无烟炉这些东西全部装进弄来的大登山包里,然后把之前买的零食打散了装进一个大塑料袋,也放了进去,才勉强安心。

Còn một ít lương khô để ăn khi lên núi, tôi sắp xếp cho gọn gàng rồi nhặt đồ làm bếp và lò không khói bỏ hết vào một cái ba lô leo núi to đùng.

Tiếp đó tôi chia nhỏ đồ ăn vặt đã mua lúc trước rồi cất vào một cái túi nhựa cỡ bự, cũng nhét cả vào ba lô, đến đây mới tạm thời yên tâm.

弄完之后,我也回去休息,躺到床上我就打起了退堂鼓。我不知道我是为了什么,但是我实在无法让他一个人进山。我没有任何理由劝他,因为我不知道他到底要干吗,我只能跟他进去,知道他想干什么了,才有办法说服他回来。

Chuẩn bị xong xuôi, tôi quay về phòng nghỉ ngơi.

Duỗi thẳng cẳng trên giường, tự nhiên tôi lại muốn bỏ cuộc.

Cũng không hiểu rốt cuộc mình muốn gì, nhưng tôi thật sự không thể để hắn một thân một mình lên núi.

Tôi không biết lấy gì khuyên nhủ hắn, bởi vì tôi còn không rõ rốt cuộc hắn muốn làm gì.

Tôi chỉ có thể đi cùng hắn đến tận nơi, biết rõ hắn muốn làm gì rồi mới từ từ nghĩ cách thuyết phục hắn quay về.

但是,不知道为什么,我觉得这一次,我的行为非常糟糕。半夜我完全睡不着,醒来后给老爹和小花各打了一个电话,把我的想法和小花说了。

Nhưng không hiểu vì sao, tôi cứ cảm thấy lần này tôi làm vậy thật sự là quá tệ hại.

Nửa đêm tôi trằn trọc mất ngủ, đành vùng dậy gọi hai cuộc điện thoại cho ông già ở nhà và Tiểu Hoa, bộc bạch hết suy nghĩ của mình với Tiểu Hoa.

老爹只说让我玩得开心点,我心说怎么可能开心得起来。小花听完之后,沉吟了片刻就道:"这件事情我本打算建议你不要跟下去,不过我觉得你可以暂且一试。毕竟如果什么都不做,你这辈子都不会安生的。但是我建议你进去的时候注意距离,现在是秋天,长白山还没有封山。你该知道跨过哪一条线再往里走就九死一生了,如果你在这条线之前都没有劝回他,你就回头吧,"

Bố tôi chỉ bảo tôi cứ thoải mái mà chơi cho vui vẻ, tôi nghĩ bụng vui vẻ thế quái nào được.

Còn Tiểu Hoa nghe xong, cậu ta trầm ngâm giây lát rồi nói: "Chuyện này tôi vốn định khuyên cậu đừng đi theo, có điều, tôi lại cảm thấy cậu có thể tạm thời thử một lần xem sao.

Dù sao nếu không làm gì cả, thì thế nào cậu cũng day dứt cả quãng đời còn lại.

Nhưng tôi phải nhắc cậu, khi lên núi rồi nhớ chú ý đến khoảng cách.

Giờ đang là mùa thu, núi Trường Bạch vẫn chưa đóng cửa.

Cậu phải biết, vượt qua ranh giới nào là cửu tử nhất sinh.

Nếu cậu không thể khuyên nhủ được anh ta trước ranh giới này, thì cậu quay về đi."

我道:"但是他根本不和我沟通。我如何去劝?"

Tôi nói: "Nhưng hắn vốn chẳng chịu nghe lọt tai lời tôi nói, biết khuyên nhủ thế nào bây giờ?"

"我相信,他既然来和你道别,你只要说,即使他不回答,也还是会把你的话听到耳朵里的。"小花说了

"Nếu anh ta đã chịu đến để từ biệt cậu, thì tin chắc, cho dù anh ta không trả lời, nhưng thực ra anh ta vẫn lắng nghe lời cậu nói đấy."

Tiểu Hoa nói.

第二天中午,我和闷油瓶一起出发。他出门的时候,回头看了我一眼,我也看了他一眼,我道:"放心,就陪你走最后一程。"他才转身出发。

Giữa trưa ngày hôm sau, tôi cùng Muộn Du Bình lên đường.

Ra đến cửa, hắn còn quay đầu lại liếc tôi một cái, tôi cũng liếc trả, nói: "Yên tâm, tôi chỉ muốn cùng anh đi nốt chặng đường cuối cùng."

Nghe vậy hắn mới chịu quay người xuất phát.

之后的一切没有什么值得记述的,就算是记流水账也没有必要。一晃就是三天,我们进人了雪线。

Những chuyện về sau không có gì đáng nói, cũng chẳng cần thiết phải liệt kê ra từng sự kiện làm gì.

Thấm thoắt đã qua ba ngày, chúng tôi tiến vào ranh giới vùng phủ tuyết.

秋天是长白山的旅游旺季,雪线以上有很多景点,甚至还有可以补给的地方,我很兴奋地在雪线上的几个录点完成了资源的补充。

Mùa thu là mùa du lịch, mùa làm ăn phát đạt nhất của núi Trường Bạch, bên ngoài vùng tuyết phủ có rất nhiều danh lam thắng cảnh, thậm chí còn được dùng làm điểm tiếp tế.

Tôi cực kỳ phấn khởi bổ sung nốt những trang bị cần thiết tại mấy điểm thắng cảnh ngoài vùng tuyết này.

再往里走,走过有游人的区域,就是之前我们进入雪山的小道,如今已经完全不同了。但是闷油瓶还是很有办法。他一路往前走,不停地看四周的山和太阳的方位,那一天的黄昏,我们到了一座雪山的山脊上。

Đi sâu hơn vào phía trong, qua khu vực giành cho khách du lịch chính là con đường nhỏ dẫn vào núi tuyết mà chúng tôi đã đi lần trước.

Hiện giờ nó đã hoàn toàn thay đổi, nhưng Muộn Du Bình vẫn giải quyết êm thấm.

Hắn đi một mạch về phía trước, không ngừng xem xét núi non và hướng nắng xung quanh.

Ngày hôm đó khi mặt trời sắp lặn, chúng tôi đã leo đến lưng chừng một ngọn núi tuyết.

黄昏中,我又看到了熟悉的景象:雪山在夕阳下,呈现出一种温暖与冰冷完全无缝衔接的感觉。当时闷油瓶就在同样的夕阳下,对着远处的雪山膜拜。但是这一次他并没有跪下来,而是淡淡地看着,夕阳照在他的脸上,有一种极致的苍凉之感。

Dưới ánh hoàng hôn, tôi lại nhìn thấy một cảnh tượng quen thuộc: ngọn núi tuyết trong ánh chiều tà toát lên một thứ cảm giác pha trộn giữa ấm áp và buốt giá.

Ngày ấy, cũng dưới ánh nắng chiều giống như hôm nay, Muộn Du Bình đã bái lạy ngọn núi tuyết xa xôi.

Nhưng lần này hắn không quỳ xuống nữa mà chỉ hờ hững liếc nhìn.

Ánh tà dương hắt lên khuôn mặt hắn, toát lên cảm giác quạnh quẽ đến khôn cùng.
 
Đạo Mộ Bút Ký - Quyển 8
Chương 78: Thánh Tuyết Sơn


闷油瓶站在雪山上,神情十分肃穆,我不知道这是一种怎样的情绪,但是我知道,这些雪山对于他来说,有着特殊的意义。

Muộn Du Bình đứng trên núi tuyết với vẻ mặt cực kỳ trang nghiêm.

Tôi không biết thứ cảm xúc này là gì, nhưng tôi hiểu rõ đối với hắn những ngọn núi tuyết này có ý nghĩa vô cùng đặc biệt.

可以想象,此时他的心中不可能是一片空白,这里的一切和他一定有相当的渊源,但是,我连猜测的方向都没有。

Tôi có thể tượng tượng được, trong lòng hắn lúc này nhất định không còn là một khoảng trống rỗng nữa.

Mọi thứ nơi đây đều có chung nguồn gốc sâu xa với hắn, nhưng cụ thể là nguồn gốc ra sao thì tôi chẳng có lấy một hướng suy đoán nào.

闷油瓶就这样站了很久。

Muộn Du Bình cứ thế đứng lặng hồi lâu.

当晚我们没有继续前进,而是在雪地之中挖了一个雪窝,铺上防水布,燃起了无烟炉子,过了一夜。

Đêm ấy chúng tôi không đi tiếp mà đào một cái hang trong ổ tuyết đọng, trải bạt chống thấm lên trên rồi nhóm bếp lò không khói, cứ thế qua một đêm.

第二天,我们带着行李再次出发,继续往山中走。

Ngày hôm sau, chúng tôi lại thu dọn hành lý xuất phát, tiếp tục đi sâu vào trong núi.

一路上,只有我在不停地说话,说这个世界的美好,说还有什么地方是他没有去过的,什么地方有着无比诱人的美食。他始终没有说话,也没有表现出任何厌烦的情绪。

Dọc đường đi chỉ có mình tôi thao thao bất tuyệt, nói về những điều tốt đẹp của thế giới này, kể cho hắn nghe còn nơi nào có món ăn ngon hết sẩy, chốn nào hắn chưa từng đặt chân tới.

Từ đầu đến cuối hắn vẫn im như thóc, nhưng cũng không tỏ vẻ chán ngán.

其实我并不知道他对什么东西有兴趣,我搜刮我和他在一起的所有经过,寻找一些他似乎有兴趣的东西。比如说,他总是看着窗外。我觉得他对于旅行可能有一种特别的喜好。

Kỳ thực tôi cũng chẳng rõ hắn cảm thấy hứng thú với điều gì, chỉ biết gắng sức lục lọi trong những chuyện đã trải qua cùng hắn để tìm ra thứ có khả năng khiến hắn lưu tâm.

Ví dụ như chuyện hắn luôn luôn dõi mắt ra ngoài cửa sổ chẳng hạn.

Tôi cảm thấy có lẽ hắn đặc biệt có sở thích du lịch.

开始的时候,我劝说的密度还是相当大的,可是到了后来,路越来越难走,我的体力消耗越来越大,我也只能缄默前行。一连走了几天,我们已经进人没有任何裸露地表,全是积雪覆盖的雪山的雪冠地带站在高处向身后眺望,来时的所有村落都看不到了。

Ban đầu tôi còn có thể huyên thuyên khuyên nhủ hắn như cái máy, nhưng về sau đường ngày càng khó đi, thể lực của tôi tiêu hao càng lúc càng nhiều.

Tôi cũng đành ngậm miệng không nói, lầm lũi tiến về phía trước.

Đi liên tục vài ngày, chúng tôi đã tiến vào một nơi nhìn ngút mắt cũng chỉ thấy tuyết phủ trắng xóa, mặt đất đã biến mất hoàn toàn.

Đứng từ trên cao quay đầu nhìn lại, những thôn xóm nơi chúng tôi xuất phát đều đã vượt ra khỏi tầm mắt.

一眼望去,我看到长白山山脉绵亘无际,这其中有上千个山峰和山谷,很多都是人迹罕至。我已经无法判断,我们这次的路线,是否和上一次进山的路线一致。

Đưa mắt nhìn lại, tôi thấy dãy núi Trường Bạch trải dài ngút ngàn, trong đó có hàng ngàn đỉnh núi lẫn vực sâu, phần lớn đều là nơi vắng dấu chân người.

Tôi không sao đoán nổi liệu con đường chúng tôi lên núi lần này có cùng một lối với lần trước hay không.

我记得当时顺子带我们来的时候,曾经和我讲过一些山峰的名称,三圣雪山、鹞子雪山。那时候那些山峰的样子,似乎和我现在看到的都不一样。我记得当时潘子还有各种调侃,如今。山和人都是另外一番景象了。

Còn nhớ, anh chàng Thuận Tử dẫn đường của chúng tôi khi đó đã từng nhắc tên một số đỉnh núi, nào Tam Thánh tuyết sơn, nào Diêu Tử tuyết sơn.

Hình dáng của những ngọn núi đó xem ra không hề giống với những gì tôi thấy lúc này.

Còn nhớ, Phan Tử vẫn làm đủ trò chòng ghẹo đúng lúc đúng chỗ, mà giờ đây cả cảnh lẫn người đều đã khác quá xa.

第三天晚上,我们搭起了帐篷过夜。这里离我之前设定的要分开的线已经很近了,估计只有一天的路程了。

Ngày thứ ba, chúng tôi dựng lều bạt ngủ qua đêm.

Chỗ này rất gần nơi lần trước chúng tôi lấy làm mốc mà chia hai ngả, ước chừng chỉ cách một ngày đường.

这天晚上,我们找到了一块比较干燥的地方生起了火,坐在火堆前。他第一次沉默地把目光投向了我。

Đêm ấy, chúng tôi tìm được một khoảnh đất tương đối khô ráo để nhóm lửa.

Ngồi trước đống lửa, lần đầu tiền, hắn mới lặng lẽ ném cho tôi một ánh mắt.

我也盯了他好久,他一直就这么看着,我开始判断,他目光的焦点是不是我。但是我发现他真的是在看着我的时候,我觉得十分奇怪我道:"我身上出什么问题了。我身后有一个怪物吗?"我问了几次,他都毫无反应,我想这人平时就不是特别正常,现在这个情况,我一定无法理解也无须理解。可是过了一会儿,他忽然问我要了一根烟。

Tôi cũng ngước mắt đáp trả hồi lâu, nhưng hắn cứ nhìn chằm chằm như vậy mãi, tôi bắt đầu băn khoăn không biết hắn có thực sự là đang nhìn tôi thật hay không nữa.

Đến khi phát hiện ra đúng là hắn đang nhìn mình thật, tôi lại cảm thấy hết sức kỳ quái.

Tôi ướm hỏi: "Trên người tôi có gì hay mà nhìn?

Hay là sau lưng tôi có quái vật à?"

Hỏi đi hỏi lại mấy lần hắn vẫn không mảy may phản ứng, tôi mới nghĩ người này vào lúc bình thường cũng nào phải bình thường gì cho lắm.

Tình huống lúc này, tôi nhất định không thể hiểu nổi, mà cũng chẳng cần phải tìm hiểu làm quái gì.

Nhưng một lát sau, hắn lại đột ngột hỏi xin tôi điếu thuốc.

我递给他,以为他又要像以前一样直接嚼了。没想到他放到火中点燃了,接着真的抽了起来。

Tôi đưa thuốc, cứ ngỡ hắn sẽ nhét vào miệng nhai luôn như lần trước, ai dè hắn lại đưa vào đống lửa để châm, sau đó thật sự bắt đầu hút.

"丫竞然真会抽烟。"我心中暗骇。

"Ái chà chà, thế mà cũng biết hút thuốc thật."

Tôi trộm giật mình.

在火光映照不,他忽然说道:"你准备跟到什么时候?"

Dưới ánh lửa bập bùng, hắn đột nhiên hỏi: "Cậu định đi theo tôi tới khi nào?"

我不禁一愣,道:"和你没关系。这是我自己的事情。"

Tôi không khỏi sững sờ, độp ngay lại: "Chẳng liên quan gì đến anh, đây là chuyện của riêng tôi."

他道:"你继续跟着我的话,我明天会把你打晕,"

Hắn tiếp lời: "Nếu ngày mai cậu còn đi theo tôi, tôi sẽ đánh ngất cậu."

我看着他的表情。知道他绝对不是在开玩笑,不由得一下就不知所措,结结巴巴地说:"你、你想干什么?你可不要乱来。"

Tôi nhìn vẻ mặt hắn cũng hiểu hắn tuyệt đối không đùa, không biết làm sao cho phải, lắp bắp kêu lên: "Anh... anh định làm gì?

Đừng có làm bậy đấy."

他道:"你不会有事的。"

Hắn bảo: "Cậu sẽ không sao đâu."

我实在是又好气又好笑,道:"我不会让你把我打晕的。"

Tôi thật sự cảm thấy vừa tức vừa buồn cười, bèn nói: "Tôi không để anh đánh ngất được tôi đâu."

他淡淡地道:"那你现在就可以逃跑,或者从现在开始,和我保持相当远的距离。"

Hắn thản nhiên trả lời: "Thế thì ngay bây giờ cậu có thể chạy trốn, hoặc là từ giờ trở đi cách xa tôi ra một chút."

我道:"要多远?"

Tôi hỏi: "Xa cỡ nào?"

闷油瓶道:"只要你离我没超过一百米,我都能用石头打中你。我会把你背到一个安全的地方,等你醒来,你已经找不到我了。"

Muộn Du Bình đáp: "Chỉ cần cậu cách tôi không quá 100 mét, tôi vẫn có thể dùng đá ném trúng cậu.

Tôi sẽ vác cậu đến một nơi an toàn, đến khi tỉnh lại thì cậu đã không thấy tôi đâu nữa."

在那一霎。我呆了一下,我忽然意识道。虽然这样的对话很好玩,但是其中蕴含的意思。十分明确

Trong một tích tắc kia tôi ngây ngẩn cả người.

Tôi chợt nhận ra đoạn đối thoại này nghe qua có vẻ thú vị, song ý tứ ẩn chứa trong đó lại cực kỳ rõ ràng.

他不希望我再继续送下去了,他显然不相信我说的到了那条线就会放弃的想法,他还是按照自己的节奏,他觉得,现在已经是分别的时候了。

Hắn không muốn tôi tiếp tục tiễn hắn nữa.

Hắn rõ ràng không tin lời tôi nói, rằng đến cuối chặng đường này tôi sẽ buông tay.

Chiếu theo nhịp điệu riêng của mình, hắn cảm thấy giờ đã đến lúc chia xa rồi.

我道:"你就不能再认真地考虑一下吗?现在你这样做有意义吗?"

Tôi kiên trì thuyết phục: "Anh không thể nghiêm túc cân nhắc thêm lần nữa sao?

Hiện giờ anh làm như vậy thì có ý nghĩa gì đâu?"

"意义这种东西,有意义吗?"闷油瓶对于"意义'这个词语,少有地显出了些许在意,他看着熊熊燃烧的篝火,道,"'意义'这个词语,本身就没有意义。"

"Cái gọi là ý nghĩa, nó có ý nghĩa sao?"

Muộn Du Bình tỏ ra một chút lưu tâm đến từ "ý nghĩa" này, hắn đăm đăm nhìn đống lửa đang bốc cháy rừng rực, lại tiếp: "Cái từ 'ý nghĩa' này, bản thân nó đã không có ý nghĩa rồi."

我看着他有三分钟之久,再没有说什么,然后转身走进了帐篷之中。

Tôi ngơ ngẩn nhìn hắn dễ phải đến ba phút, không còn gì để nói nữa, đành quay người chui vào trong lều.

我放弃了,我实在没有什么可说的了。如果可以的话,我想上去抽他几个嘴巴,我觉得他立即翻身起来夹爆我的头的概率不大。但很可能我是打不着他的,他的速度太快了。如果是骂他的话,就好像是骂一块石头一样,毫无快感可言。该说的道理我都说了,我知道现在做什么都已经没用了。

Tôi bó tay, tôi thật sự không còn lời nào để nói nữa.

Nếu có thể thì tôi rất muốn xông đến táng cho hắn mấy phát vỡ mồm, có lẽ xác suất hắn lập tức trở mình quay ra kẹp gãy cổ tôi không cao lắm.

Nhưng rất có thể là tôi đánh không lại hắn, vì tốc độ của hắn quá nhanh.

Còn chửi mắng hắn thì có khác gì mắng cái đầu gối đâu, chẳng đã chút nào.

Có bao nhiêu lý lẽ đã rao giảng rã cả họng rồi, tôi biết rõ hiện giờ mình có làm gì cũng vô ích.

反正也只有一天的路程了,与其到了那条我自己定下的线的时候,我继续纠结无助,直至崩溃,最后被他打晕,不如就在这里放弃吧。我还可以在这里待着,目送他消失在雪原里。

Dù sao cũng chỉ còn có một ngày đường, thay vì đi cùng hắn cho đến ranh giới tự mình đặt ra rồi tiếp tục vặn xoắn trong bất lực cho đến khi gục ngã, rồi bị hắn đập cho ngất xỉu, thì chi bằng cứ buông tay ngay tại đây.

Ít ra tôi còn có thể đứng lại nơi này mà chờ đợi, mà dõi mắt nhìn theo bóng hình hắn biến mất giữa đồng tuyết mênh mông.

此时我已经决定了,明天天一亮,我就回去。我会在这里做上一个记号,以后每年到这里拜一拜,扫扫墓。

Lúc này đây tôi đã hạ quyết tâm: tảng sáng ngày mai tôi sẽ quay về.

Tôi sẽ đặt một ký hiệu ở đây, sau đó hàng năm đến nơi này tảo mộ cúng bái.

我躺进睡袋里,心中各种郁闷,无法人睡躺了十几分钟,闷油瓶也走了进来,开始整理自己的东西。整理了一会儿,他才道:"再见。"

Tôi chui vào túi ngủ nằm, trong lòng phiền muộn không sao tả xiết, không chợp mắt nổi.

Nằm được hơn mười phút thì Muộn Du Bình cũng bước vào lều, bắt đầu sắp xếp lại đồ đạc của mình.

Sắp xếp xong, hắn mới lên tiếng: "Tạm biệt."

我道:"朋友一场,明天再走吧,我不会再跟着你了。"他点点头,拿出守夜的装备就离开了帐篷:我心中满是绝望。

Tôi nói với hắn: "Làm bạn bè một chuyến, ngày mai hẵng đi.

Tôi sẽ không đi theo anh nữa đâu."

Hắn gật gật đầu, lấy trang bị để gác đêm rồi bước ra khỏi lều.

òng tôi tràn ngập sự tuyệt vọng.

你一个很好的朋友,执意寻死,你看着他,但是你阻止不了他,你和他之间隔着一层用任何工具都无法打穿的东西。你能用任何方式去触碰到这个东西,但是你却找不到可以将它攻破的缺口。

Người rất thân thiết với bạn một mực tìm đến cái chết nhưng bạn chỉ có thể trơ mắt đứng nhìn mà không sao ngăn cản được, giữa bạn và người kia tồn tại một vách ngăn mà dùng bất cứ thứ gì cũng không thể đục thủng được.

Bạn chỉ có thể chạm vào vách ngăn kia, nhưng không sao tìm ra nổi một lỗ hổng để phá tan nó.

我决定了之后很难过,但是又觉得,我是不是应该理解,理解闷油瓶那句话:"意义"这个词语,本身就没有意义。

Quyết định rồi tôi cảm thấy vô cùng khổ sở, nhưng rồi tôi lại nghĩ, phải chăng tôi nên cố gắng lý giải câu nói kia của Muộn Du Bình: cái từ "ý nghĩa" này, bản thân nó vốn đã không có ý nghĩa.

我转过脸去,心里慢慢地平静了下来。不去理睬外面的人,自顾自闭目养神。

Tôi xoay mặt đi, nội tâm từ từ trở về với tĩnh lặng, cố gắng không để ý gì đến người bên ngoài nữa, cứ thế nhắm mắt dưỡng thần.

我在不知不觉中睡去。然后,也不知道睡了多久。就被一种奇怪的声音吵醒了。那种声音在睡梦中听起来好像是一群奇怪的人在唱歌,那歌声悠悠扬扬的。人数似乎特别多,在这种地方听到,感觉十分奇怪:

Thế rồi tôi thiếp đi lúc nào không hay.

Cũng không biết ngủ được bao lâu, tôi lại bị một âm thanh lạ lùng đánh thức.

Thứ âm thanh này trong lúc mơ màng nghe cứ như có một đám người quái gở đang ca hát.

Tiếng ca du dương êm ả, số người hát hình như cũng khá nhiều, lại cất lên ở nơi khỉ ho cò gáy này khiến người ta càng cảm thấy quái lạ.

我醒过来之后,睁开眼睛便意识到,那是风的声音。

Tỉnh lại rồi, tôi vừa mở mắt đã nhận ra đó là tiếng gió.

我的帐篷正在左右摇晃着,里面用来照明的风灯好像随时会掉下来,光线一会儿亮一会儿暗。我起身走出去,发现四周起了大风。狂风卷着雪屑,正往山谷里灌来。闷油瓶并不在四周,他的行李也不见了。

Căn lều bạt của tôi lắc lư dữ dội, hết nghiêng sang phải lại ngả sang trái, ngọn đèn bão chiếu sáng bên trong chao đảo muốn rơi xuống, ánh lửa lập lòe lúc sáng lúc tối.

Tôi đứng dậy đi ra ngoài, thấy bốn phía nổi gió lớn, cơn cuồng phong cuốn lên vô vàn mảnh tuyết vụn, thốc thẳng vào khe núi.

Muộn Du Bình đã đi mất dạng, hành lý của hắn cũng không thấy đâu nữa.

狗日的,招呼也不打一声就走了。我摸摸头,想看看他是不是在我睡觉的时候已经打晕过我了。头上没事。看来他看我睡着了,连打晕我都免了。

Con mẹ nó, không thèm chào nhau một tiếng đã đi rồi.

Tôi sờ sờ đầu, xem xem có phải hắn đã thừa lúc tôi ngủ mà choảng tôi thêm một cú cho ngất hẳn không.

Trên đầu không có cảm giác gì, có lẽ hắn thấy tôi ngủ say quá nên cũng chả buồn đánh ngất.

我又看了看天,知道要糟糕了。这天气,如果再犹豫下去,肯定要倒大霉,长白山的第一场大雪。今天肯定就要来了。

Tôi lại nhìn lên bầu trời, biết rằng chuyện đã tệ rồi.

Với thời tiết thế này, nếu cứ chần chừ thêm nữa, chắc chắn sẽ gặp đại họa; trận tuyết lớn đầu tiên của Trường Bạch Sơn chắc chắn sẽ đến ngay hôm nay.

如果再往山中走,基本是九死一生。我看到闷油瓶连一点食物都没有带走,心中感慨万千。知道一切已经成为定局了。

Nếu còn đi sâu vào trong núi, cơ bản là cửu tử nhất sinh.

Tôi thấy Muộn Du Bình không hề mang theo chút thức ăn nào, trong lòng cảm xúc lẫn lộn, biết rằng mọi chuyện đã trở thành định cục rồi.

风越来越大,帐篷几乎要被刮得飞起来。我看了看时间,往回走个三天,就能有补给的地方。而我走得越早,被暴风雪追上的机会就越小,于是我开始收拾自己的一切。等我把一切都装好,就看到四周雪坡上的积雪被刮得一丝一丝地在半空中飘舞,一切似乎随时会崩溃。

Gió càng ngày càng dữ dội, lều bạt hứng gió, xém chút nữa đã bị thổi bay.

Tôi xem đồng hồ, giờ quay về đi cỡ ba ngày đường là có thể đến khu tiếp tế.

Mà cuốn gói càng sớm thì khả năng bị bão tuyết đuổi kịp lại càng nhỏ, vì thế tôi bắt đầu thu dọn đồ đạc mang theo.

Khi đã gói ghém xong xuôi, tôi chợt thấy lớp tuyết đọng trên sườn dốc xung quanh bị gió thổi bay mù mịt giữa không trung, tựa như bất cứ lúc nào cũng có thể sụp xuống.

在这之前。我觉得闷油瓶还是有生还的机会的,甚至是我回到旅游区之后。如果我告诉他们这山中有一个人失踪了,他们也许还会派遗人进山搜索。人多说不定还可以把闷油瓶绑出来。但是现在这个天气情况,我怕就算是派一个团、一个师的人进去搜索。闷油瓶都没有生还的机会了。

Trước đây, tôi cứ đinh ninh Muộn Du Bình vẫn còn cơ hội sống sót.

Thậm chí sau khi trở về khu du lịch, nếu tôi báo cho người ta biết trong núi có người mất tích, nhiều khả năng còn nhờ được họ lên núi tìm kiếm, nếu đông người không chừng có thể trói cứng Muộn Du Bình khiêng về.

Nhưng dưới thời tiết này, e rằng có phái cả một đoàn hay sư đoàn đi tìm thì Muộn Du Bình cũng không còn cơ hội sống sót.

好就好在,他没有什么亲人,没有什么牵挂。

Thôi như thế cũng tốt, hắn không có thân nhân, coi như chẳng vướng bận gì.

中国有一句老话:吃了秤砣铁了心。闷油瓶决定了的事情,是没人能改变的。

Trung Quốc có một câu cách ngôn: nuốt quả cân, lòng hóa sắt đá.

Chuyện Muộn Du Bình đã quyết, không ai có thể thay đổi.

我走到这里,也算是尽了人事了。我压了压心中的各种悲伤,便开始往回走去。

Tôi đi đến đây coi như đã hết trách nhiệm của mình đối với hắn rồi.

Cố gắng kìm nén cảm giác bi thương đến cực độ trong lòng, tôi bắt đầu quay người rời bước.

风越来越大,我才走了几步,忽然,前面的雪坡上的积雪大片大片地滑下来,我的路开始越来越难走。

Gió càng lúc càng ác liệt, tôi mới đi được vài bước, bỗng lớp tuyết đọng trên sườn núi phía trước bắt đầu trượt xuống từng tảng lớn, con đường trước mặt trở nên ngày càng khó đi.

走出了几百米,我绕过一个山口,就发现槽糕了。前面的山体全部塌了下来,我看到一片之前没有见过的雪包。

Đi thêm mấy trăm mét, tôi đi vòng qua một con đèo, phát hiện tình hình không ổn.

Ngọn núi trước mặt đã sụp đổ hoàn toàn, chỉ thấy những đụn tuyết lớn trước đây chưa từng gặp.

我往上爬了几米,一看就晕了,这些雪包把之前我来时的路线全部搞乱了,我一下分不清楚我应该走哪条路回去。

Tôi trèo lên cao vài mét, vừa nhìn xuống đã choáng váng mặt mày.

Những đụn tuyết này đã vùi lấp toàn bộ con đường tôi đi tới đây, khiến tôi không tài nào nhìn ra đường về nằm ở đâu nữa.

我点上烟,抽了几口,琢磨该怎么办。毕竟这里离旅游还是比较近的,不管怎么说,我都是有办法出去的,只怕我万一走错了方向,那就麻烦了。虽然我对于闷油瓶的命运非常悲伤,但是想到我很有可能会死在他前头,还是相当郁闷的。

Tôi châm điếu thuốc, rít vài hơi, cân nhắc xem mình nên làm gì bây giờ.

Dẫu sao nơi này cũng khá gần với khu du lịch, dù chuyện gì xảy ra tôi vẫn có cách thoát ra ngoài, chỉ e lỡ đâu mình đi sai hướng thì phiền phức to.

Tuy hết sức thương tâm cho vận mệnh của Muộn Du Bình, nhưng cứ nghĩ mình rất có thể còn chết sớm hơn cả hắn, tôi cũng cảm thấy khá là buồn bực.

就好比有一个重病弥留的人,基本上你去了之后,是准备参加他的追悼会的那种。可到了之后,奄奄一息的濒死者却端着一把冲锋枪在等你,等你到了。他哒哒哒地扫你一梭子,你倒在了血泊里,然后他自己才倒进棺材里挂了。你躺在地上,眼看着自己的身体正往外飙血。心中的情绪会何等复杂。

Giống như có một người bệnh nặng hấp hối, bạn đến thăm anh ta vốn là để chuẩn bị đưa tiễn anh ta về nơi chín suối.

Nhưng đến nơi rồi, cái người đang thoi thóp sắp ngỏm kia lại vác một khẩu tiểu liên phục sẵn chờ bạn.

Thấy bạn đến, anh ta pằng pằng pằng lia cho bạn nguyên một băng đạn, đợi bạn giãy chết trong vũng máu rồi mới ung dung chui vào quan tài mà ngỏm.

Bạn nằm trên mặt đất, tận mắt nhìn thấy máu trong thân thể mình không ngừng tuôn ra như suối, cảm xúc trong lòng lúc ấy sẽ phức tạp đến nhường nào?

我现在就是这种感觉。

Cảm giác của tôi bây giờ chính là như thế.

抽完烟,我继续往上爬,忽然我发现头顶上落下来很多拳头大小的雪球。

Hút thuốc xong, tôi tiếp tục trèo lên cao, bất ngờ phát hiện trên đỉnh đầu mình lăn xuống vô số quả cầu tuyết to cỡ nắm tay.

雪球大小不一,显然是自然形成的。我抬头看去,看到上面的积雪滑坡得相当厉害,不停地有一片一片的雪坡断裂,直往下滑。

Những quả cầu tuyết này lớn nhỏ không đều, dễ nhận thấy chúng hình thành hoàn toàn tự nhiên.

Tôi ngẩng đầu nhìn lên, thấy lớp tuyết đọng phía trên đã bắt đầu sạt lở dữ dội, từng mảng tuyết phủ trên sườn núi liên tục nứt gãy, trượt dài xuống phía dưới.

我小心翼翼地爬了上去,到了山顶的时候,我一下就找到了继续往前的路线。

Tôi hết sức cẩn thận trèo lên cao, lên đến đỉnh núi không ngờ lại tìm ra con đường tiếp tục tiến về phía trước.

我心中安定了下来。我从山顶顺势而下,到了山的另一边,那边是一个阳面。我抬头一看,正看到太阳从山后升起。对面的雪坡犹如一面巨大的镜子。我觉得浑身涌起一股暖意,接着,我忽然发现,四周变成了粉红色,变得非常地模糊:

Tôi dần dần an tâm hơn, thuận thế trượt từ đỉnh núi xuống sườn phía bên kia, cũng chính là sườn núi phía Nam.

Tôi ngẩng đầu nhìn lên, vừa hay trông thấy mặt trời mọc lên sau rặng núi xa, sườn núi đối diện bỗng chốc biến thành một mặt gương khổng lồ.

Tôi cảm thấy toàn thân dâng lên cảm giác mờ mịt khó tả, quang cảnh xung quanh bỗng chốc chuyển thành màu hồng phấn rồi dần dần trở nên mơ hồ.

我愣了愣,心说这是怎么回事。随即我就意识到了,这是雪盲症。我立即闭上了自己的眼睛,我知道我自己绝对不能再使用眼睛了,再使用一下,眼前立即就会全黑,什么都看不见。

Tôi ngẩn người, nghĩ bụng chuyện gì đang xảy ra vậy?

Ngay lập tức tôi đã hiểu ra đây là chứng quáng tuyết.

Nhắm nghiền hai mắt, tôi biết từ giờ mình đã không thể dùng đôi mắt này nữa rồi.

Nếu còn cố tình mở mắt, trước mắt sẽ biến thành màu đen hoàn toàn, không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì.
 
Back
Top Bottom