Cập nhật mới

Quân Sự Binh Lâm Thiên Hạ

Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 652: Đại chiến Hợp Phì


Trương Liêu khi rút binh về Phàn Thành đã bị quân Hán bao vây, gần như toàn quân bị diệt, nếu không phải Tào Tháo dùng điều kiện chính trị cực lớn để chuộc quân đội của y ra thì ngay cả bản thân Trương Liêu cũng sẽ trở thành tù binh của quân Hán, nhưng Tào Tháo không vì y suýt nữa khiến hậu quân bị tiêu diệt mà lạnh nhạt với y, trái lại, khi Tào Tháo rút quân về Nghiệp Đô, lại lần nữa trọng dụng Trương Liêu, lệnh cho y dẫn năm người ngàn quân thu phục Hợp Phì.

Biết hổ thẹn sau đó sẽ dũng mãnh, sự nhẫn nhịn trong lòng Trương Liêu ở Kinh Châu cuối cùng đã trút hết xuống quân Giang Đông, năm mươi ngàn đại quân bức lui quân Giang Đông ở Tiếu huyện, rồi thừa thắng xông lên tấn công Thọ Xuân, đốt cháy chiến thuyền quân Giang Đông ở Phì Thủy, ba trăm chiến thuyền của quân Giang Đông đều bị đốt sạch banh, hơn mười ngàn quân chỉ chạy thoát được hơn trăm người, số binh lính còn lại toàn bộ chết trong lửa lớn và dưới mũi tên.

Trương Liêu có tác phong quyết đoán, lập tức dẫn quân xuôi phía nam tấn công Hợp Phì, lúc này Hợp Phì chỉ còn lại hơn mười ngàn quân canh giữ, chủ tướng Hoàng Cái vô cùng sợ hãi, trong đêm gửi thư cầu cứu Tôn Quyền.

Trong Liêu bao vây tấn công Hợp Phì đã quá mười ngày, lần này đánh thành Hợp Phì, hai bên đều có tổn thất, nhưng quân Tào có năm mươi ngàn người, trong khi quân Giang Đông chỉ có hơn mười ngàn lính, tổn thất hàng nghìn người đối với quân Tào không có ý nghĩa lớn, nhưng lại ảnh hưởng mạnh mẽ tới Giang Đông, binh lực Hoàng Cái đã không đủ mười ngàn, sao ông ta có thể giữ được thành Hợp Phì chứ?

Tuy nhiên lúc này Trương Liêu lại không vội vàng đánh hạ Hợp Phì nữa, mà y kiên nhẫn chờ đợi viện quân của Giang Đông tới, chuyển sang chiến lược bao vây thành đánh viện binh.

Quân Tào hạ đại doanh ở bên ngoài thành phía bắc của Hợp Phì, trải dài mười mấy dặm, lều trại nối tiếp nhau, khí thế to lớn đồ sộ, đây là kế tăng bếp mà Trương Liêu áp dụng, chỉ có năm mươi ngàn quân nhưng lại hạ trại quy mô một trăm ngàn đại quân, như vậy sẽ tạo nên áp lực cực lớn cho quân Giang Đông trong thành, khiến cho sĩ khí quân Giang Đông sụt giảm, cả ngày hoảng loạn bất an.

Trong đại trướng quân Tào, Trương Liêu đang cùng Phó tướng Lý Điển bàn bạc đối sách, lần này bọn họ phối hợp hết sức ăn ý, không còn sự mâu thuẫn nhỏ như ở Kinh Châu, có một số việc dù không nói toạc ra, nhưng trong lòng hai người bọn họ đều hiểu, khi giết năm quân sĩ đó ở Kinh Châu, xung quanh ngoài thân binh của Trương Liêu ra, chỉ có một người khác là Lý Điển, ngoại trừ Lý Điển ra, Tào Hồng còn có thể từ đâu mà biết được chi tiết lúc đó?

Nhưng hai người bọn họ đều không nói thẳng ra, hơn nữa sau khi tới Hợp Phì, Trương Liêu không còn so đo việc Lý Điển làm chuyện lén lút sau lưng nữa, hai người toàn lực ứng phó với quân Giang Đông, thời gian dần qua cũng làm phai nhạt sự bất hòa trong quan hệ của bọn họ.

- Hiện chủ lực của quân Giang Đông đã qua Sào hồ, còn cách Hợp Phì khoảng năm mươi dặm.

Trương Liêu dùng cây gỗ chỉ vào đoạn bắc Sào hồ trên sa bàn, trầm giọng nói:

- Nghe nói lần này chủ lực quân Giang Đông do Tôn Quyền đích thân dẫn binh, nếu cuộc chiến này chúng ta có thể đánh bại triệt để Tôn Quyền, vậy thì ít nhất trong năm năm nữa Tôn Quyền sẽ không còn dám dòm ngó phương bắc nữa, như thế sẽ phá vỡ ý nghĩa kết minh giữa Lưu Cảnh và Tôn Quyền.

Lý Điển gật đầu:

- Văn Viễn nói đúng, quả thật như thế, chúng ta không thể chỉ nghĩ đến việc đoạt lại Hợp Phì mà càng phải suy xét cho đại cục, hoàn toàn xóa bỏ dã tâm bắc chinh của quân Giang Đông, như vậy khi chúng ta đối phó với Lưu Cảnh sẽ không cần lo phía đông nam xảy ra chuyện nữa.

Nói đến đây, Lý Điển nhận lấy cây gỗ chỉ vào Giang Hạ hỏi:

- Văn Viễn nghĩ Kinh Châu có xuất binh viện trợ Giang Đông không?

Trương Liêu thở dài:

- Đây cũng là điều ta lo lắng, nếu Giang Châu xuất binh, hoặc là đi qua quận An Lục, qua Nhữ Nam cắt đứt đường lui của chúng ta, đây là đường bộ, hoặc là sẽ đi theo đường thủy Trường Giang tới Hợp Phì, đây là đường thủy, mặc dù đường bộ khá gần nhưng ưu thế của Kinh Châu là thủy quân, ta nghĩ bọn họ sẽ không bỏ ưu thế mà chuốc lấy tình thế xấu đâu, đặc biệt Tào Chân từng dẫn kỵ binh làm cho thủy quân Kinh Châu bị thương nặng, Cam Ninh hẳn là còn rất nhớ.

Lý Điển im lặng một lát nói tiếp:

- Thật ra ta lo thủy quân Kinh Châu sẽ tới kịp thời, chỉ sợ với binh lực của chúng ta đối phó với liên quân Tôn – Lưu sẽ lực bất tòng tâm, ta đề nghị mau chóng xuất chiến, đập tan quân Giang Đông trước khi viện quân Kinh Châu chưa tới, Tôn Quyền vì trốn tránh trách nhiệm nhất định sẽ chỉ trích quân Kinh Châu cứu viện bất lực, như thế sẽ gây ra mâu thuẫn giữa hai nhà Tôn – Lưu.

Trương Liêu giơ ngón tay cái lên cười nói:

- Thừa tướng thường nói với ta, Mạn Thành có tài danh soái, suy nghĩ cẩn thận, nghe được tiếng sấm sét ở nơi yên ắng, quả nhiên không sai, ta nghe theo lời của Mạn Thành, hôm nay sẽ công phá Hợp Phì, chuẩn bị nghênh chiến chủ lực của Tôn Quyền.

Trương Liêu lập tức hạ lệnh:

- Truyền lệnh của ta, đại quân tấn công mạnh mẽ bắc môn!

Y lại nói với Lý Điển:

- Binh lực của Hoàng Cái không đủ, tất sẽ nghĩ gặp may, cho rằng người phương bắc không quen thủy chiến, sẽ không đi theo đường thủy vào thành, Man Thành có thể dẫn ba ngàn quân từ bến Tiêu Dao qua sông để vào thành, phá địch ngay trong đêm nay.

Lúc này đã chạng vạng tối, trống trận trong đại doanh quân Tào bỗng gõ ầm ầm, quân Giang Đông ở đầu thành lập tức khẩn trương, có người vội vàng chạy xuống thành bẩm báo, không lâu sau, Hoàng Cái và Lã Mông nghe tin chạy lên đầu thành, quân Tào dưới thành đã được điều động quy mô lớn, từng đoàn quân Tào như các dòng sông hợp về biển lớn, từ bốn phương tám hướng tập kết về bên ngoài bắc thành, chiến kỳ như mây, giáo thương như rừng, thanh thế oai hùng.

Vẻ mặt Hoàng Cái nghiêm trọng khác thường, trong thành hiện ông ta chỉ có sáu ngàn quân phòng thủ, làm sao có thể ngăn cản quân Tào tiến quân quy mô lớn được, ông thở dài nói với Lã Mông:

- Chiến lược của quân Tào rất rõ ràng rồi, bọn họ chần chừ không chịu công thành chính là đang vây thành đánh viện binh, chờ viện quân của chúng ta đến, giờ thấy viện binh sắp đến nên quân Tào liền quyết định công thành, đây là cuộc tấn công vào thành chính thức, bọn chúng nhất định muốn công hạ Hợp Phì trước đêm nay.

Lã Mông lo lắng hỏi:

- Viện binh của chúng ta sắp tới rồi, nhanh nhất sáng ngày mai có thể đến, chúng ta có thể giữ vững được đến sáng mai không?

- Ta không biết!

Hoàng Cái lắc đầu, nỗi lo trong ánh mắt càng thêm nặng nề, ông kiên quyết nói với Lã Mông:

- Bất kể thế nào chúng ta đều phải dốc toàn lực giữ vững Hợp Phì, nhìn từ tình hình mấy hôm này quân Tào đắp sông có thể thấy quân Tào sẽ tấn công bắc môn và tây môn, bên bắc môn ta phụ trách trấn thủ, Tử Minh sẽ dẫn hai ngàn quân giữ tây môn, chỉ cần kiên trì trụ vững đến khi Ngô hầu đến, chúng ta đã lập được công lớn rồi.

- Ty chức tuân lệnh!

Lã Mông hành lễ, dẫn một đội quân vội vàng chạy tới hướng tây môn, lúc này Hoàng Cái hít sâu một hơi, lớn tiếng ra lệnh:

- Truyền lệnh của ta, tất cả binh lính và dân phu toàn bộ lên thành tham gia phòng ngự.

Quân Giang Đông không chỉ có sáu ngàn binh lính mà còn trưng tập được hai mươi ngàn dân phu cường tráng, gia tăng huấn luyện đơn giản, phát cho bọn họ vũ khí rồi cùng nhau tham gia giữ thành, hai mươi ngàn dân phu này cũng là hy vọng cuối cùng của Hoàng Cái.

Trời mới chập tối, năm mươi ngàn đại quân của quân Tào đã tập kết xong, bọn họ chia làm hai đường, một đường gồm hai mươi ngàn người tấn công Tây thành, Trương Liêu đích thân dẫn ba mươi ngàn lính công đánh Bắc thành, quân Tào ngoài thành đốt đuốc lên, mấy chục ngàn ngọn đuốc chiếu rọi thành trì sáng như ban ngày, trong từng hồi trống trận trào dâng, quân Tào bắt đầu xông vào tường thành như thủy triều.

Qua mười mấy ngày vây thành, mặc dù quân Tào không công thành nhưng bọn họ cũng không nhàn rồi, mà tranh thủ ngày đêm không ngừng dùng bùn đất lấp sông bảo vệ thành, mất mười mấy ngày, bất kể là sông bảo vệ thành ở bắc thành hay tây thành thì đều được đắp quá nửa, sông bảo vệ thành vốn rộng mấy chục trượng đã bị biến mất một phần, còn những phần biến mất của đoạn sông bảo vệ thành này đã trở thành chiến trường chính cho quân Tào công thành tối nay.

Mấy chục ngàn quân Tào vác hàng trăm chiếc thang chen chúc nhau chui lên chỗ hổng dài hai dặm đấy, đông nghịt như đàn kiến, phía sau bọn chúng, mười cỗ xe ổ khổng lồ đang chậm rãi lao tới tường thành.

- Ầm! Ầm! Ầm!

Tiếng trống trận dữ dội dường như muốn gõ nát tâm can của mọi người, mũi tên bắn như mưa cả trên thành và dưới thành, tạo nên từng mảng lớn mây tên đen nghìn nghịt, ép cho các binh lính ở trên và dưới thành đều không thở nổi.

Mười mấy máy ném đã hạng nặng của quân Tào luân phiên phóng ra, từng tảng đá lớn đập vào đầu thành, đá vụn bay lung tung, tường thành sụp đổ, trong tiếng gào thét thê thảm liên tiếp, binh lính Giang Đông cũng giết đỏ cả mắt, bọn họ dùng đá lớn và lăn cây để đập về phía thang công thành của quân Tào, chỉ thấy từng tối liên tiếp binh lính quân Tào bị đập ngược lại rớt xuống thành, phát ra tiếng kêu thê lương.

- Tướng quân, đông bắc nguy cấp rồi, các huynh đệ không chống đỡ nổi nữa!

Một tên lính gấp rút bẩm báo với Hoàng Cái:

- Xe ổ đã tới gần thành trì, binh lực quân địch quá nhiều.

Hoàng Cái cũng nhìn thấy, ba cỗ xe ổ ép sát góc phía đông bắc, vô số quân Tào dọc theo xe tấn công về phía đầu thành, hơn một trăm binh lính Giang Đông liều chết chống cự, quả thật đã sắp chống đỡ không nổi nữa rồi, Hoàng Cái gấp đến độ đổ mồ hôi đầy đầu, quay đầu lại hô:

- Tất cả quân hậu bị đi tiếp viện góc đông bắc!

- Khởi bẩm tướng quân, quân hậu bị đã bị ép lên toàn bộ rồi ạ.

- Vậy hãy để dân phu, điều ba ngàn dân phu lên thành.

Hoàng Cái hét lớn.

Đúng lúc này, lại một tên lính chạy vội tới, gấp rút bẩm báo:

- Hoàng tướng quân, tây thành nguy cấp, sắp không cản nổi nữa rồi, Lã tướng quân thỉnh cầu trợ giúp.

Hoàng Cái hít sâu một hơi, xua tay ra hiệu binh lính chờ một chút, lúc này, tên lính chạy ra điều động dân phu sợ hãi chạy tới bẩm báo:

- Hoàng tướng quân, toàn bộ dân phu đều chạy mất rồi, chỉ còn lại mấy chục người.

Hoàng Cái ngây người, ông bước nhanh tới trước tường góc lan can, thò đầu nhìn xuống dưới, chỉ thấy chỗ dân phu tập kết trống không, quả thực không nhìn thấy một bóng người, các loại binh khí ném đầy đất, hàng chục ngàn dân phu chạy trốn hết sạch, khiến cho Hoàng Cái lạnh người, binh lính cứu viện ở bên cạnh nói:

- Dân phu tây thành cũng chạy hết, bọn họ không chịu bán mạng cho quân Giang Đông.

Hoàng Cái tâm trạng hoảng loạn, làm sao bây giờ? Mới một canh giờ đã không chống đỡ nổi, thật sự phải bỏ thành mà chạy sao?

Ông chợt nhớ ra một việc liền quay ngoắt đầu lại hỏi:

- Tình hình ở phía bến Tiêu Dao thế nào?

- Hồi bẩm tướng quân, phía bến Tiêu Dao rất yên tĩnh, không có quân Tào tiến công.

Khi Hoàng Cái đang bố trí binh lực, lo lắng quân Tào từ bến Tiêu Dao ở phía đông vào thành nên đã bố trí riêng một ngàn quân ở phía đó, một ngàn binh lính ấy đã trở thành cây cỏ cứu mạng của ông, quân Tào đa phần là binh lính phương bắc, không giỏi thủy chiến, khả năng vào thành từ bến Tiêu Dao cực nhỏ, mặc dù cũng có một chút chút khả năng, nhưng Hoàng Cái giờ chẳng quan tâm nữa, ông lập tức hạ lệnh:

- Lệnh cho Trương tướng quân bỏ phòng ngự ở bến Tiêu Dao, lập tức dẫn quân đến chi viện bắc thành và tây thành.

Một ngàn quân phòng thủ Giang Đông ở bến Tiêu Dao nhận được mệnh lệnh của Hoàng Cái đã chia làm hai đường đến cứu viện bắc thành và tây thành, phòng ngự ở bến Tiêu Dao biến mất, lúc này, thuyền quân Tào chờ đợi đã lâu xuất hiện, tổng cộng hơn trăm chiếc thuyền nhỏ, chở đầy ba ngàn quân Tào lặng lẽ tiến vào trong thành.

Quân Tào quả thật không giỏi thủy chiến, nhưng Hoàng Cái lại bỏ qua một sự thật, Tào Tháo nhiều năm huấn luyện thủy quân trong hồ Huyền Vũ phía bắc Nghiệp Đô, qua nhiều năm huấn luyện, quân Tào lúc này đã không còn là quân Tào yếu ớt sợ nước như ở đại chiến Xích Bích nữa, ít nhất đi thuyền đã không còn là vấn đề, huống hồ mặt nước ở bến Tiêu Dao yên lặng, sóng không lớn nên hoàn toàn không gây ảnh hưởng tới quân Tào.

Lý Điển tay cầm trường thương và tấm chắn, ánh mắt sắc bén nhìn chằm chằm phía trước, y không nhìn thấy bất kỳ quân địch nào, từng chiếc thuyền nhỏ chậm rãi cập bờ, quân Tào chuẩn bị đổ bộ, Lý Điển nhảy lên bờ, y cảnh giác nhìn bốn phía một lát rồi vung tay lên, vô số quân Tào rời thuyền lên bờ, nhanh chóng tập kết ở trên bờ.

Không lâu sau, ba ngàn quân Tào đã tập kết xong, Lý Điển hô lớn:

- Các huynh đệ, phá thành ngay trong đêm nay, người đầu tiên xông vào thành sẽ được thưởng hai trăm lượng!

Được việc trọng thưởng cám dỗ, ba ngàn quân Tào chen lấn xô đẩy xông vào trong thành Hợp Phì.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 653: Tương kế tựu kế


Cho dù có 1 ngàn binh lính đến tiếp viện cho bắc thành và tây thành nhưng quân Tào càng lúc càng bị nhiều xe phá đâm vào tường thành. Phòng ngự đầu thành cuối cùng cũng bị phá, vẫn còn góc đông bắc, quân Giang Đông bị quân Tào đánh tan. Mấy trăm quân Tào chen chúc xông lên đầu thành, bọn họ nhanh chóng chiếm đầu thành mở ra một thông đạo.

Hoàng Cái dẫn theo hơn 1 ngàn binh lính chống đỡ quân Tào một cách khổ sở. Lúc này có một tên lính chạy đến thấp giọng bẩm báo:

- Hoàng tướng quân, góc đông bắc thất thủ rồi.

Hoàng Cái quay đầu nhìn lại chỉ thấy quân địch ở góc đông bắc không ngừng xông lên thành, có chưa đến 100 tên lính liều mạnh chống cự. Trong lòng Hoàng Cái nóng như lửa đốt, ông quát tên cấp dưới bên cạnh:

- Ngươi nhanh chóng dẫn theo ba trăm huynh đệ đến phòng ngự góc đông bắc!

Vừa dứt lời thì trong thành có tiếng kêu la thảm thiết, có lính vội chạy vào khóc lóc hô lên:

- Hoàng tướng quân, mấy ngàn quân Tào từ bến sông Tiêu Dao đang giết vào thành!

Hoàng Cái chỉ cảm thấy đấu ong ong, rồi trở nên trống rỗng. Lúc này có hơn 10 gã thân binh đang nhìn ông chờ quyết sách. Hoàng Cái chậm rãi thở dài, vẻ mặt đầy chua xót, mặc dù liều chết chống cự nhưng Hợp Phì cũng bị thất thủ rồi.

Kế hoạch lúc đầu của Tôn Quyền là đợi cho thủy quân Kinh Châu đến rồi hai binh cùng hợp một chỗ. Do thủy quân Kinh Châu đi đường thủy, y dẫn theo 100 ngàn quân đi đường bộ, thủy bộ đồng tiến cứu Hợp Phì. Nhưng một phong thư cầu viện của Hoàng Cái lại tới, Tôn Quyền cũng biết tình thế Hợp Phì nguy cấp không thể chậm trễ nữa.

Y không đợi được thủy quân Kinh Châu đến nữa mà ngày đêm hành quân đến Hợp Phì. Đối với Tôn Quyền mà nói, Hợp Phì có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng trong bản đồ phía bắc Trung Nguyên. Chỉ cần thủ vững Hợp Phì, một khi Tào Tháo bị Lưu Cảnh đánh ở tuyến tây, bất cứ lúc nào y cũng có thể xuất phát về Trung Nguyên.

Ngược lại, nếu mất Hơp Phì, chỉ e trong vòng 10 năm Giang Đông cũng không thể dùng binh lên bắc. Có thể nói, cuộc chiến Hợp Phì có liên quan đến cuộc chiến trong tương lai của Giang Đông. Là một nơi an toàn hay là bắc đồ Trung Nguyên để từ đó thống lĩnh thiên hạ.

Chính vì sự quan trọng của Hợp Phì nên Tôn Quyền mới đích thân dẫn theo 100 ngàn đại quân lên bắc cứu viện cho Hợp Phì.

Một trăm ngàn đại quân dọc theo bờ đông Bỉ Thủy hăng hái hành quân lên bắc. Lúc này bọn họ còn cách Hợp Phì có 20 dặm chỉ cần đi một canh giờ nữa là đến. Trong lòng Tôn Quyền nóng như lửa đốt, mấy canh giờ trước y đã nhận được tin cầu viện của Hoàng Cái nói, quân Tào đã bắt đầu tấn công vào thành Hợp Phì trên quy mô lớn nhưng bây giờ lại không có tin tức gì, khiến Tôn Quyền đứng ngồi không yên.

Một trăm ngàn đại quân kéo dài hơn 10 dặm, chạy gấp trên đường bên bờ sông lớn, lúc này đã là canh tư, hai bên đường vẫn tối om, không một ngọn đèn, yên tĩnh lạ thường. Chỉ có tiếng hành quân dồn dập của đại quân lên bắc.

Bỗng nhiên có thị vệ chỉ về phía trước hô to:

- Tướng quân mau nhìn về phía trước, hình như có đội quân.

Tôn Quyền ghìm chặt chiến mã, dường như y đã nhìn thấy mấy dặm về phía trước có một đội quân đang gấp rút chạy về phía này. Tiếng vó ngựa xôn xao, lúc này Thái Sử Từ dẫn theo 3 ngàn nỏ binh tinh nhuệ của quân Giang Đông bố trí trận hình phòng ngự trên đường, 3 ngàn quân nỏ đang giương nỏ lạnh lùng nhắm về phía bắc.

Có một đội kỵ binh vội chạy lên trước tìm hiểu tình hình. Một lát sau, có lính về bẩm báo:

- Khởi bẩm chủ công, là Hoàng tướng quân và Lã tướng quân.

Tôn Quyền trầm xuống, y lập tức biết rằng Hợp Phì đã xảy ra chuyện. Một lúc lâu sau y mới ra lệnh nói:

- Dẫn Hoàng tướng quân đến gặp ta.

Rất nhanh, một đội kỵ binh dẫn Hoàng Cái tiến lên, cả người Hoàng Cái toàn là máu, trên người trúng mấy mũi đao, nhìn ông có vẻ kiệt sức, ông đi lên ôm quyền thi lễ nói:

- Ty chức có tội, không thể bảo vệ Hợp Phì, hổ thẹn với chủ công!

Quả nhiên là Hợp Phì đã thất thủ, trong lòng Tôn Quyền vô cùng chán nản. Một lúc lâu sau y mới thở dài nói với xung quanh:

- Dẫn Hoàng lão tướng quân đi trị thương!

Hoàng Cái vô cùng áy náy trong lòng, ông muốn nói gì đó nhưng rồi lại không thể mở miệng đành đi theo binh lính. Tôn Quyền bảo người tìm Lã Mông đến hỏi ông ta:

- Còn bao nhiêu quân đội?

- Khởi bẩm chủ công, còn lại hơn 2 ngàn người!

Tôn Quyền đau đớn vô cùng, 2 vạn người trấn thủ Hợp Phì mà chỉ còn lại hơn 2 ngàn người. Tổn thất quá thê thảm và nghiêm trọng nhưng số tổn thất vẫn đang tiếp tục tăng lên. Quan trọng Hợp Phì là nơi trọng yếu đã bị mất khiến y khó lòng mà chấp nhận được. Y trầm tư một lúc lâu sau mới không cam lòng hỏi:

- Quân Tào còn bao nhiêu?

- Khởi bẩm chủ công, quân Tào lúc đầu có hơn 5 vạn 3 ngàn người, nhưng qua đại chiến, bọn chúng cũng bị tổn thất 7-8 ngàn người, có lẽ bây giờ chỉ còn hơn 4 vạn người.

Lúc này, Lỗ Túc chậm rãi thúc ngựa lên phía trước nói:

- Tường thành Hợp Phì cao rộng, chúng ta cũng không mang vũ khí phá thành cỡ lớn, chỉ e khó mà phá thành, chi bằng rút về Giang Đông trước sau đó tình tiếp.

Tôn Quyền lắc đầu nói:

- Ta hao binh tổn tướng mất gần 2 vạn người, cứ như vậy mà về ta thực sự không cam lòng.

Lục Tốn ở bên cạnh hiểu được tâm tư của Tôn Quyền liền chắp tay nói:

- Khởi bẩm chủ công, vi thần cho rằng chúng ta vẫn có hy vọng cướp lại Hợp Phì.

- Ngươi nói tiếp đi!

Tôn Quyền lập tức trở nên linh hoạt.

Lục Tốn cười nói tiếp:

- Như Lỗ đô đốc nói, thành Hợp Phì tường thành cao rộng khó mà tấn công, nhưng Hợp Phì lại có một nhược diểm, chúng ta có thế nắm lấy nhược điểm này. Lã tướng quân chắc là biết nhược điểm này ở chỗ nào?

Nói đến đây, Lục Tốn liếc nhìn Lã Mông cười cười. Từ cuộc chiến Sài Tang năm đó, Lục Tốn dẫn binh chạy trốn trước khiến Lã Mông bị bắt. Quan hệ của Lã Mông và Lục Tốn vẫn không được tốt nhưng hai người không biểu lộ ra ngoài, chỉ âm thầm làm khó đối phương.

Tôn Quyền lại hỏi Lã Mông:

- Nhược điểm ở chỗ nào?

Trong lòng Lã Mông rất khó chịu, ý của Lục Tốn chính là ám chỉ họ phòng ngự không nghiêm cho nên mới bị quân Tào đột nhập vào bến sông Tiêu Dao, chỉ có điều không thể không trả lời Ngô hầu. Lã Mông chỉ khom người nói:

- Khởi bẩm chủ công, nhược điểm của Hợp Phì chính là bến sông Tiêu Dao, là một hồ nước không có tường thành, có thể trực tiếp qua hồ vào thành.

Lúc này, Tôn Quyền bỗng hiểu ý của Lục Tốn, y lập tức hỏi:

- Ý của Lục tướng quân là, có thể đợi cho thủy quân Kinh Châu đến, lợi dụng thủy quân Kinh Châu đến để đột phá bến sông Tiêu Dao?

Lục Tốn gật đầu:

- Ý của vi thần chính là như vậy!

Lỗ Túc ở bên cạnh vội la lên:

- Xin Ngô hầu hãy bình tĩnh, chúng ta đang tiếp viện cho Hoàng tướng quân chứ không phải phá thành. Chúng ta chuẩn bị không đầy đủ nếu thay đổi quyết định gấp gáp như vậy chỉ e bất lợi cho cục diện. Ngô hầu nên rút quân trước chuẩn bị chu đáo rồi hãy tấn công Hợp Phì.

Tôn Quyền đã có mưu mô với Hợp Phì từ lâu, làm sao có thể dễ dàng từ bỏ chứ? Y không nghe theo lời khuyên của Lỗ Túc mà hạ lệnh:

- Truyền lệnh của ta, đại quân tiếp tục lên bắc, đóng quân ở bên Tiêu Dao phía đông Hợp Phì!

Một trăm ngàn đại quân lại xuất phát, lũ lượt hướng về phía thành Hợp Phì. Một canh giờ sau họ đã đến bờ bến Tiêu Dao, phía đông thành Hợp Phì bắt đầu dựng trại trên một mảnh đất trống.

Trong doanh trại của quân Giang Đông hoàn toàn yên tĩnh, qua 1 ngày 1 đêm hành quân tức tốc, lính đã kiệt sức đang nghỉ ngơi trong đại trướng, còn quân Tào cũng vừa mới cướp được Hợp Phì cần phải ổn định lại, tạm thời không tấn công quân Giang Đông. Cả hai bên tạm thời ngừng chiến.

Trong doanh trại quân Giang Đông, Lục Tốn vội vàng đi đến trước đại trướng của Tôn Quyền nói với thị vệ:

- Xin hỏi Ngô hầu đã ngủ chưa?

Lúc này, có tiếng của Ngô Quyền trong đại trướng vọng ra:

- Mời Bá Ngôn vào!

Lục Tốn gật đầu với thị vệ rồi nhanh chóng bước vào. Trong đại trướng, Tôn Quyền đang đứng khoanh tay xem xét địa hình trên sa bàn. Đây cũng là công cụ tác chiến tiên tiến mà Giang Đông học tập Kinh Châu. Sau đại chiến Xích Bích, Tôn Quyền liền sai người làm sa bàn Giang Đông. Mấy trăm thợ thủ công mất 1 năm cuối cùng cũng làm thành công sa bàn toàn cảnh Giang Đông, bao gồm cả Kinh Châu và mấy nơi của Giang Bắc. Phía bắc xa xôi chính là Thọ Xuân, sa bàn dài khoảng 3 trượng, do 8 mảnh sa bàn nhỏ ghép lại, rất dễ để mang theo lúc hành quân.

Lục Tốn tiến lên thi lễ nói:

- Tham kiến Ngô hầu!

- Bá Ngôn có chuyện gì sao?

Tôn Quyền hỏi.

Lục Tốn gật gật đầu nói:

- Vi thần tuần tra doanh trại, phát hiện các tướng sĩ vì Hợp Phì thất thủ mà sĩ khí mê muội, nếu chúng ta muốn đánh thắng trận chiến này thì nhất định phải nâng cao sĩ khí, lòng quân.

- Ta cũng biết sĩ khí không phấn chấn, Bá Ngôn có cách gì hay không?

Tôn Quyền nhìn chằm chằm mà hỏi.

- Khởi bẩm Ngô hầu, cách để nâng cao sĩ khí rất đơn giản, chính là phải đánh thắng trước, như vậy sĩ khí sẽ lên cao. Vi thần có 1 kế, có thể đánh bại quân Tào.

- Kế gì, mau nói tiếp!

Lúc Tốn cười cười:

- Vừa rồi, vi thần đi thăm Hoàng lão tướng quân bị thương, ông ấy có nói cho vi thần biết. Kho lương thực của Hợp Phì chỉ còn hơn 3 vạn thạch, phần lớn lương thực đều được giữ ở Thọ Xuân. Nếu quân Tào định đánh lâu dài với chúng ta thì chắc chắn phải vận chuyển lương thực từ Thọ Xuân đến. Chắc sẽ rất nhanh được vận chuyển bằng đường thủy đến Hợp Phì. Vi thần nguyện mang một đội quân đi phục kích thuyền lương thực, cướp lấy Thọ Xuân.

Tôn Quyền cảm giác Lục Tốn vẫn chưa nói hết, lại hỏi:

- Bá Ngôn nói chưa hết?

- Vâng, Vi thần còn muốn nói, chỉ cần quân Giang Đông lên bắc đánh Thọ Xuân, tất nhiên quân Tào sẽ cho binh bảo vệ Thọ Xuân. Chúng ta sẽ tiêu diệt luôn đội viện quân này. Cho dù quân Kinh Châu không đến nhiều nhất một tháng quân Tào cũng sẽ duy trì không nổi mà rút quân.

Tôn Quyền nhìn chăm chú vào sa bàn lúc lâu. Thọ Xuân ở phía bắc Hợp Phì, lấy sự liên kết giữa Hợp Phì với Phì Thủy quả thực chỉ cần cắt đứt Phì Thủy thì lương thực từ Thọ Xuân sẽ không thể vận chuyển về Hợp Phì được. Đề nghị của Lục Tốn đúng là thượng sách. Tôn Quyền lại trầm tư một lát rồi hỏi:

- Nếu Bá Ngôn dẫn quân đi thì cần bao nhiêu quân?

- Vi thần cần 3 vạn người, 1 vạn người làm sáng, 2 vạn người làm tối. Binh lực của quân Tào không nhiều lắm, nhiều nhất cũng chỉ cần phái mười ngàn người lên bắc. Như vậy vi thần có thể nắm chắc tiêu diệt được hoàn toàn mười ngàn quân Tào này.

Tôn Quyền gật gật đầu:

- Ta giao cho ngươi 3 vạn người, Chu Thái tướng quân làm phó tướng, hy vọng các ngươi đừng làm ta thất vọng.

Lúc Lục Tốn hiến kế cắt đứt đường vận chuyển lương thực địch cho Tôn Quyền thì trên đầu thành Trương Liêu và Lý Điển cũng đang nhìn đại doanh của Giang Đông phía xa.

Lý Điển chỉ vào đại doanh của Giang Đông cười nói:

- Không ngờ Tôn Quyền lại đóng quân ở bến sông Tiêu Dao, có thể thấy bọn họ muốn qua bến Tiêu Dao vào phá thành, nhưng bọn họ không có chiến thuyền.

Trương Liêu lo lắng nói:

- Chắc là bọn họ trông chờ vào chiến thuyền viện quân Kinh Châu. Một khi thủy quân Kinh Châu đuổi tới, cũng phải có ít nhất là 300-400 chiến thuyền. Bọn họ lại chiếm ưu thế về binh lực, rất có thể chúng ta sẽ thủ không vững Hợp Phì nhưng vấn đề bây giờ, biết rõ kế hoạch của quân Giang Đông chúng ta lại không có cách nào.

- Phải có đối sách chứ!

Lý Điển quay lại nhìn chằm chằm vào Trương Liêu.

Trương Liêu gật đầu nói:

- Quả thực là có 1 đối sách, chính là quyết chiến với quân Giang Đông, lúc thủy quân Kinh Châu còn chưa đến hãy đánh bại quân Giang Đông.

- Nhưng nếu quân Giang Đông không muốn tác chiến với chúng ta thì sao? hoặc là họ cắt đứt đường vận chuyển lương thực của ta?

Lý Điển không nói thêm gì nữa, vấn đề này họ đã nghiên cứu từ lâu. Lương thực trong thành chỉ còn 3 vạn, dân thường cũng đều không đủ lương thực, mà ở Thọ Xuân lại có hơn 10 vạn thạch lương thực. Trương Liêu đã phái người đi Thọ Xuân giục chuyển lương thực, bây giờ e rằng quân Giang Đông đã biết điều này mà phái quân đi cắt đứt đường vận chuyển lương thực của họ rồi.

Trương Liêu thản nhiên nói:

- Chắc chắn là quân Giang Đông sẽ phát hiện ra chúng ta không đủ lương thực, cũng chắc chắn sẽ có người đề nghị cắt đứt đường lương thực của ta. Thậm chí, còn dụ chúng ta lên bắc, khiến cho thành trống, nhưng nếu chúng ta dự liệu trước thì có thể tương kế tựu kế.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 654: Trương Liêu khoe uy


Vào canh 3, một đội quân Tào khoảng 3 vạn người rời khỏi thành Hợp Phì, đi dọc theo Phì Thủy lên bắc. Còn 1 canh giờ trước, hai đội quân Giang Đông cũng rời khỏi doanh trại, đi về phía Thọ Xuân.

Quân Giang Đông bố trí một lượng lớn thám báo ở các vùng gần Hợp Phì, khiến 3 vạn quân Tào vừa mới ra khỏi thành lên bắc lập tức đã bị thám báo của quân Giang Đông phát hiện. Mấy tên kỵ binh chạy như bay đến doanh trại Giang Đông:

- Chúng ta có tin tình báo quan trọng muốn bẩm báo với Ngô hầu!

Kỵ binh la lớn trong bóng đêm.

Lính gác đi lên kiểm tra kỵ binh báo tin rồi lập tức tránh đường. Kỵ binh xoay người xuống ngựa rồi chạy vội vào doanh trại lao về phía đại trướng trung quân.

Lúc này, Tôn Quyền vừa mới ngủ không lâu thì bị thị vệ nhẹ nhàng đánh thức:

- Ngô hầu, thám báo có tình hình khẩn cấp muốn bẩm báo!

Tôn Quyền xoay người ngồi dậy, khoác một chiếc áo bào đi ra ngoài trướng, tên thám báo đồn trưởng lập tức quỳ gối xuống bẩm báo:

- Khởi bẩm Ngô hầu, chúng ta phát hiện đại quân Tào đã rời thành đi về hướng bắc.

Tôn Quyền phấn chấn, đây đúng là tin mà y muốn nghe nhất, y lập tức hỏi:

- Có bao nhiêu quân Tào?

- Có khoảng 3 vạn người!

- Bao nhiêu?

Tôn Quyền ngạc nhiên hỏi lại.

- Khởi bẩm Ngô hầu, có khoảng 3 vạn người.

Tôn Quyền hơi căng thẳng, số quân Tào xuất binh nằm ngoài dự liệu của y. Ban đầu y nghĩ chỉ có khoảng 1 vạn quân Tào lên bắc, như vậy 3 vạn quân Giang Đông có thể đủ để tiêu diệt 1 vạn quân Tào, nhưng bây giờ không ngờ quân Tào lại xuất 3 vạn binh, đội quân đang bắc tiến của y sẽ gặp phải một chút nguy hiểm.

Y trầm tư một lát rồi hỏi:

- Các ngươi phải xác định số người, chắc chắn là lính Tào mà không phải dân phu giả dạng chứ?

Tên đồn trưởng thám báo lắc đầu:

- Chắc là khoảng 3 vạn người, không phải dân phu giả dạng, từ trạng thái hành quân có thể nhìn ra được, hơn nữa trong đó còn có 5 ngàn Hổ báo thiết kỵ.

Tôn Quyền giật mình kinh hãi, lại còn có 5 ngàn kỵ binh trong lòng y càng căng thẳng hơn, y lẩm bẩm:

- Lạ thật, lẽ nào Trương Liêu không cần thành Hợp Phì sao?

Trầm tư một lúc lâu sau, Tôn Quyền khoát tay lệnh cho thám báo rút lui, y chỉ vào thị vệ nói:

- Mau dẫn Lã Tử Minh tướng quân đến gặp ta!

Không lâu sau, Lã Mông đã vội vàng đi tới, ông ta cũng ngủ chưa được bao lâu thì đã bị thị vệ của Tôn Quyền đánh thức, ông ta đi lên thi lễ:

- Mạt tướng tham kiến chủ công!

- Tử Minh tướng quân, ta hỏi ngươi, nếu chúng ta toàn lực tấn công Hợp Phì, quân Tào dựa vào 1 vạn quân đội thì có thể thủ thành Hợp Phì được bao lâu?

- Khởi bẩm chủ công, nếu đối phương có dân phu trợ giúp, có thể thủ được 3 canh giờ!

- Nhưng các ngươi chỉ giữ được hơn 1 canh giờ?

Lã Mông thở dài:

- Lòng người Hợp Phì không ở Giang Đông, dân phu không chịu giúp sức, nếu là quân Tào thủ thành thì có lẽ họ sẽ trợ giúp. Hơn nữa, quân Giang Đông không có nhiều vũ khí phá thành còn quân Tào thì có mấy chục tổ xe. Cuối cùng dùng tổ xe mà tấn công, vi thần nói thật nếu 3 canh giờ mà đánh được Hợp Phì cũng là giỏi rồi.

Tôn Quyền chắp tay sau lưng đi đi đi lại, không phải là y không muốn tấn công thành Hợp Phì. Y đang suy nghĩ vì sao quân Tào lại dám xuất 3 vạn quân lên bắc. Rõ ràng không phải đi Thọ Xuân mà đi bảo vệ thuyền lương thực ở phía nam. Lã Mông phân tích như vậy, y đã hơi hiểu ra, quân Tào đương nhiên cũng phải cân nhắc nhiều lần, điều kiện tiên quyết là phải đảm bảo giữ vững thành trì mới phái 3 vạn quân lên bắc.

Nhưng cứ như vậy, quân đội của Lục Tốn sẽ nguy hiểm, đối phương có 3 vạn quân, còn có 5 ngàn thiết kỵ, nếu làm không tốt ngược lại họ sẽ bị quân Tào tiêu diệt. Nghĩ như vậy, trán Tôn Quyền mướt mát mồ hôi, lúc này y nói với Lã Mông:

- Lã tướng quân, ta cho ngươi 2 vạn quân, ngươi lập tức lên bắc hợp quân với Lục Tốn. Nếu đã giao chiến ngươi có thể tấn công quân Tào từ phía sau, nếu bọn họ vẫn chưa giao chiến ngươi hãy lệnh cho Lục tướng quân lập tức rút về đại doanh.

Nói xong, Tôn Quyền lấy kim bài của mình đưa cho Lã Mông:

- Tất cả phải nhờ Tử Minh rồi!

- Ty chức tuân lệnh!

Lã Mông vội nhận kim bài, thi lễ rồi lui xuống. Tôn Quyền khoanh tay đi ra trước đại trướng nhìn màn đêm mà khẽ thở dài, y không thể nửa phần khinh địch.

Cái gọi là”Binh bất yếm trá”, có nằm mơ y cũng không ngờ lúc này thành Hợp Phì đã gần như một tòa thành rỗng tuếch, chỉ có 3 ngàn lính và 1 ngàn dân phu trấn thủ. Còn đại quân đang ở bến sông Tiêu Dao phía tây, Trương Liêu dẫn theo 1 ngàn tinh binh chỉnh đốn sẵn sàng đang đợi tin của Lý Điển.

Lúc này, có một gã thám báo quân Tào vội chạy lại:

- Bẩm báo tướng quân, lại có 2 vạn quân Giang Đông rời khỏi doanh trại lên bắc rồi.

Trương Liêu cười đắc ý, điều này đã nằm trong dự liệu của y. Tôn Quyền nghe nói có 3 vạn quân lên bắc, y sao có thể không lo lắng 3 vạn quân Giang Đông đã bắc tiến trước đó chứ. Đương nhiên, y sẽ phải quân đội đi tiếp ứng, điều này quá đỗi bình thường.

Nhưng cứ như vậy, đại doanh ở bờ đông bến sông Tiêu Dao chỉ còn có 5 vạn quân, tương đương với binh lực của họ. Đây là tương kế tựu kế, một nửa quân Giang Đông đã được điều đi.

Y nhìn bầu trời, đã là canh tư, y quay đầu hạ lệnh:

- Phấn chấn lên cho ta, phá địch ngay đêm nay!

Tinh thần của 1 vạn quân Tào phấn chấn hẳn lên. Lúc này, Trương Liêu vung tay lên, 1 vạn quân Tào dọc theo đường mòn hành quân về hướng bến đối diện sông Tiêu Dao. Trên bán đảo của bến sông có một con đường thủy hẹp, cách bờ tây khoảng 10 trượng, có thể dùng thuyền nhỏ để tạo thành cầu nổi.

Lúc trước khi giao chiến với quân Kinh Châu, Tào Chân đã dẫn kỵ binh chính là lợi dụng con đường nhỏ này để giết tiểu doanh trại bờ tây của sông, diệt sạch 3 ngàn quân Kinh Châu, đại tướng Trần Sóc phải bỏ mình. Lúc này, Trương Liêu vẫn muốn lợi dụng con đường này bất ngờ đánh vào doanh trại trung tâm của quân Giang Đông.

Đã gần đến canh năm, doanh trại quân Giang Đông hoàn toàn yên tĩnh, đây là lúc đen tối nhất trước khi trời sáng, cũng là lúc binh lính ngủ say sưa nhất. Trên tháp canh của đại doanh, mấy tên lính đang đi đi đi lại, nhìn chăm chú ra bên ngoài rất cảnh giác.

Đúng lúc này có tiếng vó ngựa dồn dập phá tan sự yên tĩnh của bóng đêm, chỉ thấy mấy tên thám báo chạy đến hô to:

- Mau gõ chuông cảnh giác, quân Tào giết đến rồi!

Vừa dứt lời, hơn 10 mũi tên phóng từ xa tới, hai gã thám báo kêu lên thảm thiết lật nhào xuống ngựa. Còn một tên khác sợ đến mức chạy kinh hồn bạt vía, hai tên lính trên tháp xanh cũng sợ đến ngây cả người ra rồi cũng kịp phản ứng, vội vàng gõ chuông cảnh báo.

- Keng... keng.... keng...

Tiếng chuông trên tháp canh vang lên, 1 ngàn binh lính đang trực vội chạy đến cửa lớn. Tất cả cung tên giương lên nhắm ra ngoài đại doanh. Lúc này mặt đất từ xa đã bắt đầu rung lên, xa xa vọng lại thứ âm thanh nghe như sấm rền. Tên Nha tướng cầm đầu bỗng ý thức được điều gì đó bỗng hô lớn:

- Đây là kỵ binh, mau đi bẩm báo với Ngô hầu, kỵ binh quân Tào giết đén rồi!

Trong đêm tối, chỉ thấy một đội quân nghìn nghịt chạy từ hướng tây bắc đến xông về phía đại doanh quân Giang Đông, tốc độ càng lúc càng nhanh. Dễ dàng nhìn thấy mũi thương sáng loáng, phía sau kỵ binh là hơn 2 vạn quân Tào dưới sự chỉ huy của Lý Điển, họ reo hò đánh về phía đại doanh quân Giang Đông.

Đây là 3 vạn đại quân Tào lên bắc, lên bắc chỉ là một mánh khóe lớn của họ, là kế dụ địch. Sau khi lừa quân Giang Đông lên bắc, họ lại hăng hái quay đầu xuôi về nam lao thẳng về phía đại doanh quân Giang Đông. Lúc này trong doanh trại quân Giang Đông chỉ còn có 5 vạn người, còn quân Tào là hơn 4 vạn người, binh lực hai bên tương đương nhau. Hơn nữa, quân Tào lại có 5 ngàn Hổ báo kỵ binh, hơn nữa quân Tào còn dùng chiến thuật đánh bất ngờ khi người ta chưa kịp phòng bị.

Bọn họ muốn trước khi trời sáng lợi dụng việc đánh đột kích để tiêu diệt quân Giang Đông, chấm dứt trận chiến trước khi quân đội của Lục Tốn và Lã Mông gấp gáp trở về. Đây là một sách lược vô cùng can đảm, quân Tào chỉ có 1 canh giờ, nhất định phải làm được ổn, chuẩn, nhanh, độc. Nếu trận chiến trên bến sông Tiêu Dao này có thể thành công, uy danh của Trương Liêu sẽ lẫy lừng thiên hạ.

Quân Tào đánh lén quân Giang Đông khiến họ không kịp đề phòng. Trong đại doanh thành một cảnh hỗn loạn, 1 ngàn cung nỏ binh lao tới góc tây bắc để nghêng chiến, chỉ bắn một vòng tên thì 5 ngàn Hổ bao kỵ binh đã giết vào đại doanh của quân Giang Đông. Bọn họ cứ 1 trăm người thành một đội, đột kích liều chết xông vào đại doanh giết binh sĩ quân Giang Đông người ngã ngựa đổ, tử thi có ở khắp nơi.

Lúc này, Lỗ Túc dẫn theo 1 ngàn quân đội quần áo vẫn chưa nghiêm chỉnh lên nghênh chiến, họ vội vàng rất nhiều lính còn chưa mặc áo giáp, đội mũ giáp, thậm chí còn chưa kịp đi giày thì lại càng không có thời gian để mà chỉnh đốn đội ngũ. Dưới lệnh của Lỗ Túc, 1 ngàn quân xách trường mâu xông lên, liều chiến với 5 ngàn kỵ binh.

Cho dù binh sĩ khó mà cản được sự tấn công của kỵ binh nhưng vẫn tranh thủ được chút thời gian quý giá cho Tôn Quyền tập kết quân đội rút lui.

Lý Điển dẫn theo 2 vạn 5 nghìn quân cũng giết vào đại doanh Giang Đông, còn Lăng Thống và Toàn Tông cũng mang 5 ngàn quân vừa mới chỉnh đốn xong lên nghênh chiến với quân của Lý Điển.

Đúng lúc này, phía tây nam bỗng xuất hiện cảnh đại loạn. Trương Liêu đích thân dẫn theo 1 vạn quân Tào từ con đường nhỏ trực tiếp xông vào đại doanh quân Giang Đông. Một vạn quân Tào đột nhiên xông tới khiến 2 vạn quân Giang Đông đang tập kết lại rơi vào cảnh hỗn loạn. Sĩ khí quân Giang Đông sụp đổ, chạy trốn tứ tung, quân Giang Đông bại binh như núi đổ.

Trương Liêu huy động trường đao làm gương lên trước, theo sau y là 1 ngàn kỵ binh. Dưới lưỡi đao của Trương Liêu vô số lính bị tử thương. Trương Liêu suất lĩnh kỵ binh mở một đường máu lao thẳng đến trước đại trướng trung quân. Mười mấy tên kỵ binh vung đao chém đứt cán đại kỳ của quân Giang Đông. Đại kỳ bao gồm cả cột cờ cũng đổ ầm xuống, đại trướng trung quân hừng hực cháy lớn.

Lúc này trời đã tang tảng sảng, trong cảnh hỗn chiến Trương Liêu thấy mười mấy tên lính Giang Đông đang bảo vệ một gã có chòm quai nón chạy trốn về hướng đông. Người này mặc trang phục của quan văn phẩm thấp, Trương Liêu không dể ý liền xông lên quát hỏi:

- Tôn Quyền đâu?

Gã đàn ông râu quai nón chỉ về phía bắc nói:

- Người đội mũ giáp màu vàng chính là ông ta.

Trương Liêu vừa quay đầu lại lờ mờ nhìn thấy trong loạn quân có một gã đội mũ giáp màu vàng liền mừng thầm, quay ngựa đuổi về phía bắc. Gã nam tử có chòm râu quai nón thở phào nhẹ nhõm rồi liều mạng chạy trốn về hướng đông.

Trương Liêu chạy được trăm bước lại không thấy tên đội mũ màu vàng kia dâu liền bắt một gã lính Giang Đông hỏi:

- Tôn Quyền đâu?

Gã lính sợ hãi trả lời:

- Chính là người vừa rồi tướng quân hỏi.

Trương Liêu ngạc nhiên:

- Là tên râu quai nón mắt xanh kia sao?

- Đúng vậy!

Trương Liêu hối hận nhưng lại không thể bỏ qua cho Tôn Quyền, y không cam lòng lại đuổi về hướng đông. Phía sau y có cả ngàn ky binh quân Tào đuổi theo. Lúc này, y lại nhìn thấy bóng dáng của Tôn Quyền liền mừng thầm, hô lớn:

- Tôn Quyền, để đầu lại.

Tôn Quyền bị Trương Liêu đuổi đến cùng đường, y đang kêu khổ thấu trời, lần này chết là cái chắc. Đúng lúc này, một đội quân Giang Đông hơn 1 ngàn người mà dẫn đầu là đại tướng Thái Sử Từ lao tới, ông ta hét lớn:

- Tướng địch, chớ làm tổn thương chủ ta!

Ông ta giương thương lên nghênh chiến với Trương Liêu. Trương Liêu biết Thái Sử Từ võ công cao cường nên không dám khinh định. Một đao bổ về phía trước, hai con chiến mã tương giao, hai người chiến đấu kịch liệt.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 655: Thái Sử quy hề


Trương Liêu và Thái Sử Từ đại chiến hơn 50 hiệp bất phân thắng bại. Nhưng lúc này thuộc hạ của Thái Sử Từ đã bị kỵ binh của Trương Liêu giết gần như không còn một ai. Hơn 1 ngàn kỵ binh đã bao vây cuộc chiến của hai tướng.

Thái Sử Từ thấy tình hình không ổn, cho dù mình có đánh bại Trương Liêu thì cũng chưa chắc đã phá được vòng vây ra ngoài, chỉ có thể nhân lúc đám kỵ binh không dám bắn tên mà liều chết xông ra mới may mắn tìm được đường sống.

Hai ngựa lần lượt thay đổi, Thái Sử Từ tìm cơ hội quay đầu ngựa lại chạy bạt mạng về phía nam. Mấy chục tên kị binh xách trường mâu đâm tới. Thái Sử Từ trái đâm, phải giết, chỉ trong nháy mắt đã khiến mấy tên kỵ binh ngã ngựa phá khỏi trùng vây.

Trương Liêu lại cười lạnh lùng, treo đại đao lên rồi tháo đại cung 3 thạch, rút một mũi tên Lang Nha ra giương cung bắn nhắm vào Thái Sử Tử. Dây cung buông lỏng, một mũitên b*n r* nhanh như tia chớp.

Thái Sử Từ vừa mới thoát khỏi vòng vây không kịp chuẩn bị bỗng nghe thấy phía sau có tiếng gió nhưng không kịp tránh, sau lưng tràn đến một cơn đau nhức, mũi tên đâm trúng giữa lưng, suýt nữa y ngã ngựa.

Y nhịn cơn đau nhức này, giục ngựa phi gấp, một lát sau chạy được khá xa. Lúc này, một gã Nha tướng dẫn theo mấy trăm bại binh Giang Đông chạy trốn đến, theo Thái Sử Từ chạy về hướng nam.

Trương Liêu thấy Thái Sử Từ đã chạy được xa cũng không đuổi theo nữa mà đi tìm Tôn Quyền, nhưng cũng không còn thấy tăm hơi của y đâu nữa.

Trương Liêu nghĩ mình đã uổng công tha cho Tôn Quyền, trong lòng hối hận vô cùng liền vứt cung tên xuống đất.

Đúng là Thái Sử Từ liều mình cứu nên Tôn Quyền mới thoát nạn. Dưới sự bảo vệ của hơn 100 tên thị vệ, y hoảng sợ chạy trốn về hướng đông bắc.

Chạy xa được mười mấy dặm, bỗng phía trước xuất hiện một đội quân trùng trùng điệp điệp hướng về phía nam. Tôn Quyền lập tức ngây dại, lẽ nào lại gặp quân Tào sao?

- Là quân Giang Đông!

Một gã thị vệ nhận ra cờ chiến của đối phương.

Tôn Quyền vui sướng vô cùng giục ngựa lên trước.

Đây là 5 vạn quân Giang Đông vội vàng quay về đại doanh do Lục Tốn và Chu Thái chỉ huy. Lục Tốn không thấy quân Tào lên bắc mà lại gặp quân Lã Mông đến tiếp viện.

Lục Tốn lập tức tỉnh ra, bọn họ đã trúng kế điều binh của quân Tào cho nên mới vội vàng dẫn quân xuôi nam nhưng lại không dám đi quá gấp vì sợ nửa đường gặp phục kích.

Đến lúc họ đuổi đến đại doanh thì trời đã sáng rõ. Quân Tào đã thành công đánh bất ngờ vào đại doanh quân Giang Đông, nhưng đúng lúc bọn họ lại nhận được tin Tôn Quyền chạy trốn về phía bắc.

Lục Tốn quỳ xuống trước mặt Tôn Quyền thỉnh tội:

- Ty chức bất tài bị trúng kế của quân Tào khiến quân Giang Đông thảm bại, Ngô hầu lâm nguy, xin Ngô hầu hãy giết ty chức đi để tạ lỗi với tướng sĩ đã phải bỏ mình.

Tôn Quyền đỡ y dậy cũng rơi lệ nói:

- Ngươi quá lời rồi, kế sách căn bản không hề có sơ hở chỉ có điều kế của quân Tào cao hơn một bậc, thực ra là ta cũng sai.

Lúc này, Lỗ Túc, Lăng Thống đã dẫn toàn bộ tàn quân đến, 5 vạn quân bọn họ chỉ còn tập hợp lại chưa đến 1 vạn người.

Lỗ Túc đi lên bẩm báo nói:

- Khởi bẩm Ngô hầu, quân Tào đã lui về thành Hợp Phì, đại doanh không còn địch nữa, mời Ngô hầu trở về.

Tôn Quyền đỡ lấy cánh tay của Lỗ Túc rưng rưng hàng lệ nói:

- Ta hối hận đã không nghe lời của Tử Kính đến nỗi hôm nay phải bại trận, 10 vạn tướng sĩ đã tổn thất quá nửa. Ta còn mặt mũi nào mà đi gặp phụ lão Giang Đông?

Mọi người đều khuyên Tôn Quyền, nói tác chiến ban đêm phần lớn binh lính sẽ chạy loạn, thương vong chưa chắc đã quá nửa, cuối cùng y mới bình tĩnh trở lại gật đầu nói:

- Chắc chắn là bọn lính đã chạy trốn về phía nam, rút về hướng nam trước đi.

Quân Giang Đông thu dọn lều trại, chậm rãi rút về phía nam.

Trên đường xuôi nam họ không ngừng thu nạp bại quân. Lúc này có một gã thị vệ vội vàng tiến lên nói nhỏ với Tôn Quyền mấy câu khiến y chấn động, vội vàng đi theo thị vệ vào rừng cây.

Trong rừng cây có một toán lính Giang Đông, có kẻ hô to:

- Ngô hầu đến rồi.

Mọi người rối rít, Tôn Quyền vội tiến lên chỉ thấy Thái Sử Từ đang nằm trên mặt đất, mũi tên sau lưng đã được rút, máu tươi nhuộm đỏ cả chiến giáp, mặt y như giấy vàng, hôn mê bất tỉnh, rõ ràng là không sống được nữa rồi.

Tôn Quyền cầm tay Thái Sử Từ, nước mắt rơi như mưa, khóc gọi:

- Tử Nghĩa! Tử Nghĩa!

Thái Sử Tử dần tỉnh lại, hơi thở yếu ớt nói:

- Vi thần vì báo ân đi theo Khổng Bắc Hải, lại gặp Bá Phù, theo ông ta nam chinh bắc chiến. Tiếc là Bá Phù đi sớm, thần sống được đến hôm nay. Bây giờ tử chiến nơi sa trường, chết cũng có ý nghĩa, mong chủ công chăm sóc con ta, để nó lại dốc sức cho quân Giang Đông.

Nói đến đây, Thái Sử Từ thở dài một tiếng:

- Đại trướng phu sống trong loạn thế mang theo Tam Xích kiếm lập công bất thế, nay chí chưa toại, tiếc là phải chết.

Nói xong, Thái Sử Từ nhắm mắt, Tôn Quyền kinh hãi đau đớn kêu lên một tiếng rồi cũng ngất đi.

Thái Sử Tử tử trận, Tôn Quyền vô cùng đau xót hạ lệnh cho toàn quân chịu tang. Quân Giang Đông rút về hướng nam trong buồn bã, hai ngày sau thì đến Nhu Tu Khẩu, trên đường đi số quân thu nạp đã được gần 2 vạn tàn quân. Lúc này, quân Tào một lần tập kích bất ngờ trong đêm đã khiến quân Giang Đông thương vong hơn 3 vạn người, bao gồm cả đại tướng Thái Sử Từ phải bỏ mình.

Trận chiến trên bến sông Tiêu Dao khiến uy danh của Trương Liêu vang xa hiển hách, lấy 4 vạn quân mà đánh 10 vạn quân Giang Đông khiến Tôn Quyền hồn bay phách lạc. Sau cuộc chiến trên bến Tiêu Dao, danh tiếng của Trương Liêu ở quân Giang Đông đã gần bằng Lưu Cảnh, thậm chí hung danh còn vượt xa hắn, trẻ con Giang Đông chỉ nghe tên cũng không dám khóc đêm nữa.

Tôn Quyền cũng không còn lòng dạ nào mà tấn công Hợp Phì nữa mà ở Nhu Tu Khẩu chuẩn bị qua sông về phía Nam. Nhưng đúng lúc này, Cam Ninh dẫn theo 2 vạn thủy quân Kinh Châu cuối cùng cũng chạy đến Nhu Tu Khẩu

Sau khi đội thuyền của quân Kinh Châu đã trải qua 4 ngày hăng hái trên sông Trương Giang cuối cùng cũng đến Nhu Tu Khẩu, sau đó lại tiến vào Nhi Tu Thủy lên phía bắc, hai ngày sau là đến Hợp Phì. Tổng cộng thời gian đi là 6 ngày, giảm được số ngày so với đi bộ là từ 8 đến 10 ngày.

Nếu tất cả đều bình thường, chắc chắn bọn họ sẽ kịp tham gia vào cuộc chiến Hợp Phì. Cái gọi là “Trạng thái bình thường” chính là sau khi quân Giang Đông đến Hợp Phì sẽ giằng co với quân Tào trong một thời gian ngắn, theo thời cơ mà chiến. Nhưng quân Giang Đông lại không bình thường, đến Hợp Phì vào ban đêm lại bạo phát một trận chiến với quân Tào, điều này không cho thủy quân Kinh Châu cơ hội xuất chiến.

Mấy trăm chiến thuyền của quân Kinh Châu lẳng lặng bỏ neo ở bờ sông rộng lớn. Mấy dặm phía xa có thể lờ mờ nhìn thấy đại doanh của quân Giang Đông, Cam Ninh hạ chiến thuyền, được sự bảo vệ của hơn 100 thân hộ vệ đi vào đại doanh của quân Giang Đông.

Chờ một lúc, thị vệ của Tôn Quyền dẫn y vào đại trướng trong quân. Trong đại trướng, Tôn Quyền đang thảo luận với Lỗ Túc việc rút quân. Mặc dù trong tay họ còn có 7 vạn quân, thêm nữa là 2 vạn thủy quân Kinh Châu như vậy là 9 vạn, mà trong thành Hợp Phì chỉ có hơn 4 vạn quân Tào. Tính từ binh lực thì liên quân Tôn Lưu rất mạnh.

Nhưng Tôn Quyền lại mất đi ý chí chiến đấu, mất đi dũng khí tiếp tục tấn công Hợp Phì rồi. Qua một đêm thảm chiến, y đã hồn bay phách lạc, mất hết sĩ khí, không muốn đánh tiếp nữa mà chỉ một lòng muốn về Kiến Nghiệp.

Ý kiến tiếp tục tấn công Hợp Phì của Lỗ Túc cũng không được tán thành. Rõ ràng, bọn họ chuẩn bị không đủ, đến mấy trăm cái thang phá thành cũng đã bị quân Tào đốt mất, bọn họ lấy gì mà phá thành đây? Lỗ Túc chủ trương nghỉ ngơi mấy năm nữa, sau khi chuẩn bị đủ sức thì lại suy nghĩ tấn công lên bắc.

Lỗ Túc thấy Tôn Quyền lo lắng liền khuyên nhủ:

- Ngô hầu không cần phải áy náy, thắng bại là chuyện thường của nhà binh. Thần tin là dân chúng Giang Đông sẽ hiểu lần bại trận ở Hợp Phì này. Dù sao sức mạnh của chúng ta vẫn còn kém hơn Tào Tháo rất nhiều. Thắng trước, bại sau là chuyện rất bình thường.

- Sao ta lại không biết chứ.

Tôn Quyền thở dài nói:

- Chỉ có điều, tổn thất 3 vạn quân và 2 vạn quân lúc trước khoảng 5 vạn người, con số này đã vượt xa tổn thất tây chinh 3 năm về trước. Tổn thất 3 năm đó luôn là gánh nặng cho ta, lần này sao ta lại có thể phụ lòng phụ lão Giang Đông chứ?

- Ngô hầu quá lo lắng rồi, thất bại bây giờ và thất bại 3 năm trước đây không giống nhau. Ba năm trước chúng ta lấy lực của cả nước mà tây chinh, tổn thất về chiến thuyền và vật tư khiến chúng ta chật vật mất mấy năm trời. Còn lần này, tuy tổn thất về quân đội khá thê thảm và nghiêm trọng nhưng cũng may là tổn thất về vật tư không lớn, chúng ta cũng không phải động viên sức mạnh của cả nước. Lần thất bại này không ảnh hướng lớn đến dân chúng, chỉ là một chiến bại bình thường không cần phải giải thích gì với phụ lão Giang Đông. Thậm chí cũng không cần phải cho nhiều người Giang Đông biết về thất bại này.

Tôn Quyền lặng im gật gật đầu, Lỗ Túc nói có mấy phần có lý. Lúc này, trước trướng có thị vệ báo:

- Khởi bẩm Ngô hầu, chủ tướng Cam Ninh của thủy quân Kinh Châu đến cầu kiến!

Đương nhiên là Tôn Quyền biết thủy quân Kinh Châu đã đến. Y đã từng hi vọng thủy quân Kinh Châu đến biết bao, nhưng bây giờ suy nghĩ của y đã thay đổi không hề hi vọng họ đến chút nào. Y không muốn nhận ân tình này nữa, quan trọng hơn là y không muốn phải mất mặt trước Lưu Cảnh hoặc thuộc hạ của hắn.

Lỗ Túc thấy Tôn Quyền trầm ngâm không nói liền nhỏ giọng khuyên nhủ:

- Nếu họ đã đến Ngô Hầu hãy cứ gặp một lần!

- Được rồi, mời Cam tướng quân vào.

Tôn Quyền nói với thị vệ với vẻ bất đắc dĩ.

Cam Ninh ngoài trướng chờ một lúc, mặc dù là võ tướng nhưng suy nghĩ của y khá tinh tế. Nếu Tôn Quyền hi vọng mình đến thì chắc chắn sẽ đích thân ra đón để tỏ thành ý. Nhưng bây giờ Tôn Quyền vẫn ngồi trong trướng mà tuyên lời yết kiến, chứng tỏ rằng Tôn Quyền đã lạnh nhạt với mình, hoặc là Tôn Quyền không còn muốn tấn công Hợp Phì nữa.

“Xem ra Nhu Tu Khẩu chính là điểm cuối của mình rồi”. Cam Ninh thầm nghĩ trong lòng.

Cam Ninh đi theo thị vệ vào đại trướng, trong lòng y hơi bất mãn về sự thất lễ của Tôn Quyền. Mình không phải là sứ giả, lại càng không phải là cấp dưới của Giang Đông mà là đại diện cho Châu mục đến đây trợ giúp quân Giang Đông, là chủ tướng của thủy quân Kinh Châu, cho dù thân phận của Cam Ninh có thấp kém thì Tôn Quyền cũng phải đứng dậy nghênh đón chứ không phải ngồi ở đó chờ mình đến thi lễ.

Lỗ Túc cũng cảm nhận được sự thất lễ của chủ công liền vội vàng đưa mắt ra hiệu cho Tôn Quyền, còn ông ta đứng dậy trước cười nói:

- Cam tướng quân đi đường vất vả rồi!

Đương nhiên Tôn Quyền không phải là người không hiểu lễ nghi, y không nhấc nổi mình để đứng lên đón tiếp Cam Ninh là vì y cần thể hiện thái độ bất mãn này. Vì quân của Cam Ninh đến muộn mới khiến y thất bại thảm hại như vậy. Tôn Quyền chính là muốn đổ tránh nhiệm tấn công Hợp Phì thất bại lên đầu quân Kinh Châu. Như vậy, y cũng có cái lý để mà giải thích với phụ lão Giang Đông, cho nên y chẳng để ý gì đến sự ra hiệu của Lỗ Túc.

Cam Ninh thấy Lỗ Túc thi lễ thì lại đi lên khom người về phía Tôn Quyền:

- Kinh Châu Cam Ninh tham kiến Ngô hầu!

Tôn Quyền khoát tay lạnh nhạt nói:

- Cam tướng quân không cần đa lễ, mời ngồi!

Cam Ninh ngồi cuống nói:

- Nghe nói tướng quân Thái Sử Từ đã bỏ mạng nơi sa trường, Cam Ninh vô cùng đau xót, nguyện đại diện cho Châu mục đến trước mộ Thái Sử tướng quân bái tế!

- Đa tạ, ý tốt của Cam tướng quân, mộ của Thái Sử Từ cách đây không xa, cứ việc tùy ý!

Giọng của Tôn Quyền rất lanh nhạt, rồi y lại chuyển đề tài nói:

- Ta từng phái sứ giả đi Giang Hạ cầu viện, không biết Cam tướng quân có gặp không?

- Gặp ở nửa đường!

- Xin hỏi gặp ở chỗ nào?

Tôn Quyền lại truy vấn.

Cam Ninh cảm giác giọng điệu của Ngô Quyền không có thiện ý, trong lòng rất không thoải mái cho nên cũng lạnh lùng nói:

- Khởi bẩm Ngô hầu, là phía đông Sài Tang.

- Chẳng trách!

Tôn Quyền thở dài một tiếng:

- Ngày nào ta cũng trông mong viện quân Kinh Châu đến, có thể nói như mong sao, mong trăng nhưng các ngươi mãi vẫn không đến khiến ta không thể ngăn cản được thể tấn công trên nước của quân Tào, cuối cùng bại bởi quân Tào, thực sự khiến người ta quá tiếc nuối!

Lỗ Túc ngẩn người ra, sao Ngô hầu lại nói như vậy? Cam Ninh cũng nghe ra trong câu nói của y có điều không ổn liền bất mãn nói:

- Ý của Ngô hầu là vì thủy quân Kinh Châu đến không đúng lúc cho mới gây ra thất bại cho quân Giang Đông sao?
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 656: Phế hậu lập phi


Sự thẳng thắn của Cam Ninh khiến Tôn Quyền khó mà có thể thích ứng ngay được, sắc mặt của y cũng trùng xuống lạnh lùng nói:

- Ta không có ý này nhưng thủy quân Kinh Châu mà đến kịp thời thì quân Giang Đông đã không đến mức bị thua như vậy.

Tôn Quyền đã nói ra cảm nhận của mình, nếu thủy quân Kinh Châu đến đúng lúc thì y cũng không cần phải phái binh lên bắc chặn thuyền lương thực của quân Tào, ít nhất thủy quân Kinh Châu cũng có thể thay phần này. Như vậy, quân Tào cũng không dám tập kích ban đêm mà lộ liễu như vậy.

Dù là lý lẽ như vậy nhưng trong chuyện này cũng không đuợc hợp lý cho lắm, ví như quân Giang Đông vì sao lại không đợi thủy quân Kinh Châu đến rồi cùng lên bắc?

Trong lòng Cam Ninh rất bất mãn liền đứng lên giận dữ nói:

- Ta nhận được lệnh của Châu mục liền lập tức dẫn binh đi Hợp Phì, ngày đêm hành quân vốn phải mất 9 ngày mới đi hết lộ trình nhưng 7 ngày chúng ta đã tới, cũng không hề tiếp viện ven đường, thành ý như vậy xin hỏi Ngô hầu còn không hài lòng ở chỗ nào?

Lỗ Túc thấy họ cãi vã liền vội vàng hòa giải:

- Cam tướng quân hiểu lầm rồi, không phải là Ngô hầu bất mãn với thủy quân Kinh Châu, mà là tiếc vì không thể liên hợp tác chiến thôi.

Cam Ninh cứng rắn nói:

- Ta cũng rất tiếc, nhưng phải nói rõ ràng, quân Giang Đôg thất bại trách nhiệm không phải do quân Kinh Châu. Hai bên chúng ta đã hẹn ngày gặp, chúng tôi thực sự đã cố gắng hết sức, ta quả thực đã tận lực. Nếu Ngô hầu vẫn bất mãn thì có thể khiếu nại lên Châu mục.

Tôn Quyền cười lạnh một tiếng rồi nói:

- Chắc chắn là ta sẽ nói chuyện này với Lưu Châu mục.

Lúc này, rốt cuộc Cam Ninh cũng đã hiểu được ý của Tôn Quyền. Ý của y chính là muốn đổ trách nhiệm bại binh lên đầu mình để che dấu đi sự bất lực của y. Cam Ninh giận dữ, quay mặt thi lễ rồi nhanh chóng bước đi.

Lô Túc vội vàng đi theo ra ngoài khuyên Cam Ninh:

- Cam tướng quân xin bớt giận, Ngô hầu nhà tôi vì thương tiếc cho cái chết của Thái Sử tướng quân cho nên có hơi xúc động chứ thực sự không có ý vô lễ với tướng quân đâu, mong Cam tướng quân đừng so đo.

Cam Ninh thở dài:

- Lỗ đô đốc không cần khuyên ta nữa, ta chỉ là một tướng dưới trướng của Châu mục phụng lệnh xuất binh. Nếu lần sau hai nhà Tôn Lưu lại liên hợp, chỉ cần Châu mục có lệnh ta vẫn sẽ cố gắng hết sức, tuyệt đối không vì chuyện tư mà làm hỏng việc công. Nhưng ta phải nói rõ ràng với Châu mục, lần này chúng tôi đã cố gắng hết sức, quân Giang Đông thất bại không phải là trách nhiệm của chúng tôi, xin đô đốc hãy thông cảm.

Trong lòng Lỗ Túc bất đắc dĩ đành phải tiễn Cam Ninh ra khỏi doanh trại, rồi lại vội vàng quay về, chỉ thấy Tôn Quyền khoanh tay đi đi đi lại trong đại trướng, ánh mắt lặng lẽ, không hề giận, ông ta khẽ thở dài nói:

- Ngô hầu làm gì vậy?

Tôn Quyền khoanh tay nhìn lên nóc đại trướng, một lúc lâu sau mới lạnh lùng nói:

- Ta đang làm gì, trong lòng ta rất rõ. Nếu Lưu Cảnh không gánh vác trách nhiệm của việc bại binh, lẽ nào còn muốn Tôn Quyền ta gánh vách sao? Tử Kính, nếu ngươi ngồi ở vị trí của ta, ngươi sẽ hiểu nỗi khổ tâm của ta thôi.

Lỗ Túc cười khổ nói:

- Nhưng như vậy sẽ ảnh hưởng đến sự liên hợp hai nhà Tôn Lưu.

Tôn Quyền lắc lắc đầu:

- Từ trước đến giờ chưa bao giờ hắn thật lòng muốn giúp ta, đến giờ ta cũng chưa bao giờ thật lòng muốn giúp hắn. Chẳng qua cũng chỉ là lợi dụng nhau mà thôi. Nếu hắn không đồng ý giúp ta vậy thì cũng đừng mơ lần sau ta sẽ giúp hắn. Chuyện chính là như vậy, Tử Kính đừng khuyên ta nữa.

Lỗ Túc thấy chủ công quyết tâm muốn đổ trách nhiệm bại binh lên quân Kinh Châu, trong lòng quả thực rất nặng nề, tràn đầy chua xót vì khuyên bảo cũng không hiệu quả.

Sáng sớm ngày hôm sau, mấy trăm chiến thuyền Giang Đông cập bờ Trường Giang. Bảy vạn quân Giang Đông lên thuyền, đội thuyền đi về hướng đông, trở về Kiến Nghiệp, Cam Ninh đứng ở đầu thuyền nhìn đội thuyền Giang Đông đi xa mà cắn chặt môi. Tôn Quyền gây khó dễ khiến y cảm thấy vô cùng thất vọng và đau khổ.

- Tướng quân, chiến thuyền đều đã chuẩn bị xong, có thể xuất phát bất cứ lúc nào!

Phó tướng Thẩm Di bẩm báo.

Cam Ninh gật đầu:

- Xuất phát!

Mấy trăm chiến thuyền Kinh Châu cũng chậm rãi quay đầu đi vào Trường Giang, giương buồm đi về phía Giang Hạ.

Tào Tháo dẫn quân về Nghiệp Đô đã được 3 ngày rồi, lão lấy tội mưu phản hạ lệnh xử trảm huynh đệ, con cháu Phục Hoàn gần trăm người cùng với cha con Mã Đằng đang bị giam giữ ở trong ngục, cũng đày gia quyến Phục thị hơn mấy chục người đến Liêu Đông sung quân.

Tào Tháo rất hài lòng về thủ đoạn và cách xử trí của đứa con trưởng Tào Phi. Nhất là Phục hoàng hậu, Tào Phi hành hình bằng cách dùng gậy đánh chết hai con trai của nàng nhưng lại không giết Phục hoàng hậu. Hành động khôn khéo như vậy khiến Tào Tháo rất khen ngợi, chứng tỏ đứa con trưởng của ông ta đã có đầu óc chính trị, biết chuyện gì nên làm chuyện gì không nên làm. Trong chuyện này đúng là làm rất tốt.

Màn đêm buông xuống, Tào Tháo và Hoa Hâm đi đến Dịch Đình cung. Dịch Đình cung từ xưa đã là nơi nhốt cung nữ phạm tội, cũng là nơi gia quyến của các đại thần bị giam giữ. Thực tế đó là một nhà giam dành cho nữ tử trong cung, những nữ nhân thân mang tội danh bị ép lao động tại nơi này, thường bị nhốt cả đời.

Nhưng qua mười mấy năm chiến loạn, số cung nữ hoàng cung đã giảm đi nhiều. Hơn nữa Lưu Hiệp là một hoàng đế bù nhìn, đương nhiên Tào Tháo sẽ không phí nhiều tiền cho y, điều này làm cho số thái giám và cung nữ trong cung tổng cộng lại cũng chỉ có hơn hai trăm, số nữ phạm tội bị nhốt chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay.

Cho nên trong Dịch Đình Cung rất rộng, gần như không nhìn thấy cung nữ bị nhốt, cũng không có thủ vệ gì, phòng cung có vẻ như nhiều năm rồi chưa được tu sửa, rách nát rất nhiều. Có mấy tên thị vệ dẫn đường phía trước, Tào Tháo đè chặt chuôi đao bước nhanh đằng sau, Hoa Hâm nhắm mắt đi theo, phía sau còn có một đám thị vệ.

Hoa Hâm thầm cảm thấy may mắn, may là y khuyên Tào Phi đừng giết Phục Thọ nếu không hậu quả đã vô cùng nghiêm trọng. Bây giờ, xem ra, Tào Tháo đúng là đã có thỏa thuận gì đó với Lưu Cảnh. Cho dù, Tào Tháo không nhắc đến nhưng Hoa Hâm cũng có thể đoán ra được.

Chỉ có điều y hơi căng thẳng, chính là đợi lát nữa Phục Thọ tuyệt đối đừng lỡ miệng nói nàng biết thỏa thuận giữa Tào Tháo và Lưu Cảnh. Nếu một khi Tào Tháo truy ra bọn y không bắt được hoạn quan tiết lộ bí mật thì Hoa Ham y sẽ không gánh nổi rồi.

Tào Tháo bước nhanh vào trước khu kiến trúc đã cũ nát, chỗ này có hơn 20 tên lính gác. Lão đi thẳng vào điện phủ cũ nát, trong hành lang trống rỗng phủ đầy mạng nhện và tro bụi, ở một góc phòng có hơn 10 bàn tay thò ra khỏi lan can, trong phòng chỉ có một cái giường lớn và một bình nước tiểu.

Một người phụ nữ đang ngồi trên giường, tóc tai bù xù ôm một đống chăn đã rách, ánh mắt nhìn Tào Tháo đầy thù hận, nàng chính là đương kim Hoàng hậu Phục Thọ, nàng đã biết tin con trai mình bị giết, lúc này trong lòng nàng chỉ còn sự hận thù vô hạn.

Tào Tháo đến gần chỗ lan can nhìn nàng, cười lạnh nói:

- Ta đối xử với ngươi không tệ, ngươi lại có ý muốn hại ta, đây là ngươi gieo gió thì gặt bão thôi. Ta không giết ngươi là đã nhân nhượng với ngươi lắm rồi!

Hoa Hâm đứng bên cạnh sợ Phục Thọ lại nói ra chuyện của Lưu Cảnh liền hét lớn:

- Phục Thọ, Thừa tướng nói chuyên với ngươi vì sao ngươi không kiến lễ?

- Ngươi là con chó ác!

Phục hoàng hậu nghiến răng mắng Hoa Hâm:

- Sẽ có ngày ngươi chết mà không có chỗ chôn.

Hoa Hâm giận dữ, y đang định chửi thì lại phát hiện ra sắc mặt ác liệt của Tào Tháo đành phải nuốt cục tức vào lòng. Một lúc lâu sau Tào Tháo mới nói:

- Nể tình quân thần, ta sẽ không giết ngươi nhưng cũng không để ngươi ở Nghiệp Đô. Ngày mai sẽ đưa ngươi đến Hứa Xương, ngươi hãy tự bảo trọng!

Nói xong, Tào Tháo xoay người đi ra đi đến cửa, chợt nghe thấy tiếng lạnh lùng của Phục Thọ:

- Hôm nay ngươi kiêu ngạo như thế sau này Lưu Cảnh sẽ bỏ qua cho gia tộc họ Tào ngươi sao?

Tào Tháo bị chấn động, quay đầu nhìn Phục Thọ chằm chằm, một lúc sau lão hừ lạnh một tiếng rồi bước nhanh. Ra khỏi phòng lão dừng lại nói với Hoa Hâm:

- Ngay đêm nay hãy đưa ả đến cung cũ ở Hứa Đô, không được làm bà ta bị thương, dựa theo chế độ Tần phi chăm sóc cho ả, không được để bất cứ ai tiếp xúc với ả ta.

- Vi thần tuân lệnh!

Tào Tháo dặn dò xong liền đi về phía cung chính, Hoa Hâm quay đầu lại nói với binh lính trông coi:

- Mau đi chuẩn bị xe ngựa, cửa xe phải được phong nghiêm, tìm hai cung nữ phạm tội hầu hạ ả ta. Một lúc nữa sẽ xuất phát đi Hứa Đô.

Bọn lính lập tức đi lo việc, có mấy tên chạy đi tìm xe ngựa. Trong phòng, Phục hoàng hậu cười lạnh liên hồi. Cuối cùng bây giờ nàng cũng tin đúng là Lưu Cảnh và Tào Tháo có thỏa thuận với nhau, cho nên Tào Tháo mới không dám giết mình, nếu không lão sao có thể buông tha cho mình chứ?

Lúc này, có một gã lính đi đến trước lan can thấy xung quanh không có người liền nhét một tờ giấy vào phòng giam. Phục Thọ ngạc nhiên, vội vàng đứng dậy nhặt tờ giấy nhanh chóng mở ra, chỉ thấy hàng chữ “hãy tự bảo trọng, sẽ có ngày tự do”.

Phục Thọ nhét tờ giấy vào miệng nhai rồi nuốt xuống, nàng quay về giường lặng yên không nói gì. Nàng có thể đoán ra ai đưa tờ giấy này đến, giống như thị vệ La Thanh vào lúc mấu chốt đã nói với mình tin tức kia, trong đây chắc chắn có ván cục giữa Tào Tháo và Lưu Cảnh.

Nàng chợt nhớ đến con mình, trong lòng buồn bã vô cùng nước mắt lại rưng rưng. Rồi nàng lau nước mắt, cắn chặt răng lẩm bẩm:

- Ta biết rồi, nhất định ta sẽ đợi đến này Tào tặc bị chém đầu.

Trong cung, Lưu Hiệp ngồi sau bàn, vẻ mặt căng thẳng cả người hơi run run. Y nhìn Tào Tháo với ánh mắt cung kính và tràn đầy sợ hãi. Tào Tháo lại quỳ dưới chân Lưu Hiệp, cung kính dập đầu thi lễ:

- Thần ở Kinh Châu xa xôi, không thể ngăn chặn nghịch thần tạo phản kịp thời để Thánh thượng phải kinh hãi. Thần vô cùng đau đớn, hận không thể lấy thân mình chịu thay hoàng thượng.

Lưu Hiệp tận mắt nhìn hai đứa con trai của mình bị Tào Phi phái thị vệ đến nhét vào túi đánh chết, lúc này y đã không còn tức giận nữa mà là sự sợ hãi. Y sợ mình nói sai một câu cũng sẽ bị nhét vào túi đánh cho đến chết.

Nếu lúc trước Lưu Hiệp còn muốn đoạt lại quân quyền, nhưng kể từ sau chuyện của Phục Hoàn bị cha con Tào Tháo dùng thủ đoạn tàn độc dọa cho vỡ mật gần chết thì đừng nói là lấy lại quân quyền mà ngay cả đến tư cách làm một bù nhìn y cũng không có nữa rồi.

Lưu Hiệp run run một lúc lâu sau mới hỏi:

- Hoàng hậu của trẫm, Thừa tướng định xử trí thế nào?

Tào Tháo không đợi Lưu Hiệp tuyên mình bình thân lão đã ngồi ngay ngắn, thản nhiên nói:

- Phục Hoàn mưu nghịch, có ý đồ ép Thánh tượng đi Thái Sơn. Đây là tội đại nghịch bất đạo, phải tru di cửu tộc, nhưng vi thần niệm tình Hoàng hậu trong cung cho nên không thất đức, cho nên đề nghị Thánh thượng mở cho bà ta một lối thoát, thần đề nghị giữ lại ngôi vị hoàng hậu nhưng không để cho bà ta ở bên cạnh Thánh thượng nữa, thần đề nghị đưa bà ta đến Hứa Đô an trí.

Tào Tháo mở miệng là nói đề nghị, Lưu Hiệp một lúc lâu không nói ra lời. Đây đâu phải đề nghị gì, rõ ràng là quyết định của Tào Tháo, trong lòng y hỗn loạn, muốn đưa Phục hoàng hậu đi Hứa Đô nhưng lại giữ lại danh hiệu Hoàng hậu, đây là ý gì chứ?

- Thánh thượng!

Tiếng của Tào Tháo cao lên:

- Vì sao không trả lời đề nghị của vi thần?

Lưu Hiệp sợ đển mức cả người khẽ run:

- Trẫm chuẩn tấu!

Tào Tháo đắc ý mỉm cười, lại chậm rãi nói:

- Hậu cung không thể một ngày không chủ, tuy Hoàng hậu không ở đây nhưng Nguyên phi có thể làm chủ hậu cung thay mặt cho hoàng hậu. Con gái thần tên Tiết, năm nay vừa tròn 16 tuổi, tướng mạo song toàn có thể lập làm Nguyên phi xin Thánh thượng đồng ý.

Lưu Hiệp không dám không đồng ý, y thầm thở dài đành bất đắc dĩ nói:

- Trẫm nguyện phong con gái của Thừa tướng làm Nguyên phi!
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 657: Tin của Quan Trung


Mùa hè oi bức dần qua đi, trời tối mát mẻ, hơi thở mùa thu bắt đầu nồng đậm, tháng 8 đến, tế tháng 8 cũng dần dần đến cửa từng nhà. Tết Trung thu cũng là một ngày lễ tế thần truyền thống, thời gian ước chừng sau Bạch Lộ khoảng một ngày, người ta làm lễ hiến tế các thần.

Ngày này nhà nào cũng phải treo cây cỏ thi, yêu cầu trước ngày lễ 7 ngày không được có tang sự hoặc sinh đẻ. Ngày lễ này cần cả nhà đoàn viên đi ra khỏi thành tế sơn thần và hà bá, thực ra là để đi chơi thu. Bởi vì lễ Bạch Lộ phần lớn rơi vào khoảng mười lăm tháng 8, cho nên tế tháng tám thường là đến trước tết Trung thu.

Nhưng so với tết thì rằm tháng 8 cũng chỉ là một ngày tết nhỏ bình thường, ngoài thời gian hoặc điều kiện cho phép người ta, phần lớn người ta phải vì cuộc sống hối hả khó mà cả nhà được đoàn viên, nhiều lắm cũng chỉ treo được một vòng cây cỏ trước nhà để thể hiện ngày lễ đang đến gần.

Còn hai ngày nữa mới đến tế tháng 8 nhưng ở Trường An đã có rất nhiều người chuẩn bị cỏ thi, chuẩn bị đi chơi thu. Chỉ có điều mưa thu kéo dài làm cho kế hoạch đi chơi có hơi khó khăn.

Lúc này Trường An đã mát mẻ, mùa hè năm nay hơi dài mãi mới đến thời tiết Bạch Lộ, mưa thu kéo dài mới chấm dứt. Nhưng mọi người đã quen với mùa hè nóng bức, nghe nói mùa hè nóng là binh tai chi tướng. Rất nhiều người Trường An tin rằng, mùa thu này sẽ có đại chiến.

Đại chiến như lời của người Trường An đúng là xảy ra ở tuyến tây quận Thiên Thủy, cuộc chiến quân Hán bắc phạt. Vốn dĩ mùa xuân năm nay đã bùng nổ quân Hán bắc phạt lần hai, vì cuộc chiến Kinh Châu ở tuyến đông mà phải gặp trở ngại. Từ khi thế cục tuyến đông dần ổn định, chiến tranh tuyến tây lại lặng lẽ xuất hiện lần nữa.

Quân Hán bắc phạt đã được hơn 2 năm mà vẫn chưa thành công. Người Quan Trung dần dần đã thích ứng với chiến tranh, họ không bị ngạc nhiên nữa, mọi người đều sống cuộc sống bình thường. Cái gọi là chiến tranh cũng chỉ là những lời nói chuyện của kẻ say rượu trong quán.

Trưa hôm nay, người qua lại tây môn thành Trường An bắt đầu như bình thường. Khách từ bắc chí nam hối hả, rất náo nhiệt. Ti lệ Giáo úy Chung Diêu quản lý Trường An đã được mười mấy năm, dần dần đã khôi phục lại phồn vinh sau loạn Hoàng Cân.

Trường An có khoảng gần 30 ngàn người, còn có hơn 10 vạn thương nhân đi buôn, binh lính... từ khắp nơi đổ về khiến cho một tòa đô thành cổ xưa từng từng nhiều lần bị chiến tranh giày xéo đã bừng lên sức sống.

Có lẽ vì chiến tranh xảy ra ở quận Thiên Thủy cách Quan Trung khá xa vì thế mà Quan Trung cũng không đề phòng cẩn mật, thậm chí là khá buông lỏng. Đứng trước cửa thành không thấy binh lính, chỉ thấy có mấy lão tốt đang ngồi ngủ gật bên thành mặc cho người ngựa đi nườm nượp ra khỏi thành.

Lúc này có một đội thương nhân vận chuyển một lượng lớn hàng hóa bằng lạc đà vào thành Trường An. Đây là thương nhân từ Tây Vực xa xôi đến, bọn họ mang theo hương liệu Tây Vực, vải vóc, bảo thạch, vải Hồ và đồ bằngbạc, bọn họ muốn vận chuyển tơ lụa của Trung Nguyên về phía tây. Đế chế La Mã ở phương tây có thể đổi tơ lụa lấy vàng, các thương nhân Túc Lặc buôn bán bắt đầu từ thời kì Đông Hán, không quản ngàn dặm xa xôi đến Trung Nguyên mua tơ lụa.

Đội thương nhân này có 500-600 con lạc đà và hơn 100 thương nhân. Phần lớn bọn họ đều có mũi cao mắt sâu, người mang đậm nét phong sương của Tây Vực. Bọn họ dỡ hàng ở kho cách cửa thành khoảng 1 dặm, sau đó lạc đà phải dắt ra ngoài thành gửi nuôi, người thì ở lại trong thành.

Dẫn đầu đoàn thương nhân là một ông già khoảng 60 tuổi, trên mặt đầy nếp nhăn nhưng nụ cười lại rất lương thiện. Ông ta tên là Aba Đức, đã đi trên con đường tơ lụa 40 năm rồi, trải qua bao khó khăn, ông ta có thế nói tiếng Hán rất lưu loát cũng rất am hiểu cách đối nhân xử thế của người Trung Nguyên.

Ông ta đi đến trước một thương nhân trẻ tuổi cung kính thi lễ:

- Mã công tử tôn quý, theo thỏa thuận, chúng ta phải chia tay rồi!

Vị Mã công tử này có thân hình cao lớn, đầu đội mũ nhọn mái rộng của người Túc Đặc, để chòm râu ngắn, mặt mũi sáng sủa, ánh mắt rất sáng. Y còn dẫn theo mấy tùy tùng khôi ngô, họ không phải là người Túc Đặc mà phần lớn là thương nhân người Hán trà trộn vào.

Mã công tử này chính là Mã Đại, Giáo úy của quân Hán. Lúc trước, y phụng lệnh Lưu Cảnh liên hệ với Vương Khương Nam Cung Tác, hy vọng ông ta có thế phát động chiến tranh với người Đê, do đó khiến kỵ binh người Đê rời khỏi quân Tào. Nhưng sau khi Tào Tháo bình định được Mã Siêu, đội quân tiên phong lại đi thẳng về Hà Hoàng và Lương Châu, Đê Vương Dương Thiên Vạn và Khương Vương Nam Cung Tác lo ngại cái oai của Tào Tháo nên đều mang con trai đến Trường An làm con tin.

Cho dù Nam Cung Tác có lòng muốn giúp Lưu Cảnh, tấn công người Đê, làm suy yếu sự ủng hộ của kỵ binh người Đê đối với quân Tào, nhưng vì con trai độc nhất của ông ta đang phải ở Trương An làm con tin, cho nên thái độ của ông ta vẫn mập mờ, muốn bán ngựa cho Lưu Cảnh nhưng lại trậm trễ không chịu đồng ý tấn công người Đê, sợ chọc giận đến quân Tào.

Cho nên, nếu muốn khiến người Khương tấn công người Đê thì nhất định phải giải quyết nỗi buồn phiền của Nam Cung Tác, cứu con trai của ông ta đang làm con tin ở Trường An ra thì sẽ giải quyết được điểm mấu chốt để người Khương xuất binh.

Mã Đại từ Trương Dịch đến đây, cải trang thành thương nhân Đông Tiến, lợi dụng mấy tháng ngừng chiến, phòng bị lơi lỏng thuận lợi qua được quận Thiên Thủy đang bị quân Tào khống chế, đi theo đội thương nhân này vào thành Trường An.

Mã Đại cười thi lễ nói:

- Đa tạ Aba Đức, sau này chúng ta sẽ có ngày gặp lại.

- Sau này gặp lại!

Mọi người chia tay với Mã Đại, Mã Đại dẫn theo mấy tên tùy dùngỉời khỏi đội thương nhân đi về phía đông. Không lâu sau đã đến phố Nam An của Trường An tìm một lữ xá không lớn lắm ở cuối phố. Lữ xá này không nổi bật, nhìn bên ngoài rất bình thường không phải là nơi thu hút, có thể nhìn ra họ rất xem nhẹ chuyện kinh doanh.

Nhưng trước khi Mã Đại đến Trường An đã biết lữ xá coi nhẹ việc kinh doanh này không ngờ lại chính là điểm tình báo mà quân Hán thiết lập ở Trường An. Lần này cần nghĩ cách cứu Nam Cung Bá Ngọc con trai của Nam Cung Tác ra, cho nên lữ xá này có tác dụng rất lớn.

Vào lữ xá, có một tiểu nhị uể oải ra đón:

- Mấy này nay tiểu đ**m phải dọn dẹp, không đón khách, xin mấy vị đi nơi khác cho!

Mã Đại lấy lệnh bài ra, tiểu nhịn nhìn qua sắc mặt lập tức thay đổi. Gã bước nhanh đến cửa lớn, nhìn ra bên ngoài một chút rồi lập tức đóng cửa lại nói với Mã Đại:

- Mời đi theo tôi!

Gã để cho đám tùy tùng nghỉ ngơi ở gian ngoài rồi dẫn Mã Đại đi vào trong sân, đến một gian phòng gõ cửa:

- Chưởng quầy, bọn họ đến rồi!

- Mời vào!

Trong phòng vọng ra một tiếng nói ấm áp, nghe thì tuổi của người này cũng không lớn lắm.

Mã Đại đẩy cửa đi vào, trong phòng sạch sẽ có một gã văn sĩ khoảng 30 tuổi đang ngồi, dáng người cao gầy, lông mày thanh thoát. Y tiến lên cười chắp tay thi lễ nói:

- Chào đón Mã tướng quân đã đến!

- Ngươi biết ta?

Mã Đại ngạc nhiên nói.

Tên văn sĩ kia gật đầu:

- Lúc trước ta đã nhận được thư nhanh của Pháp quân sư, biết Mã tướng quân sắp tới.

Y vừa cười vừa tự giới thiệu:

- Tại hạ họ Chu, tên Trí, người Trường An, vốn là thư tá của Phủ tướng quân, hai năm trước phụng mệnh đến Trường An lập điểm tình báo này.

- Hóa ra là Chu tiên sinh, thất lễ rồi!

Mã Đại thi lễ, hai người ngồi xuống, lúc này Mã Đại mới thầm hiểu. Chu Trí này biết mình tới chắc chắn cũng biết nhiệm vụ của mình, y liền dò hỏi:

- Chu tiên sinh biết nhiệm vụ lần này ta đến chứ?

Chu Trí gật đầu:

- Trong thư Pháp quân sư đã dặn dò, trước đó ta đã đi nghe ngóng nhưng đêm nay mới có tin. Mời Mã tướng quân nghỉ ngơi trước đã, tối nay chúng ta lại bàn.

Mã Đại từ Trương Dịch đến đây, đi đường cũng đã mệt mỏi liền gật đầu cười nói:

- Vậy phiền tiên sinh rồi!

Đêm đến, một tên tiểu nhị cầm đèn ồng dẫn Mã Đại đến căn phòng ban ngày đã tới, ngoài Chu Trí ra, còn có thêm 1 người nữa, đó là một người đàn ông trung niên khoảng 40 tuổi có vẻ hơi béo. Ông ta cung kính gật gật đầu với Mã Đại, vẻ mặt tươi cười.

Mã Đại ngồi xuống, lúc này Chu Trí mới cười giới thiệu với y:

- Vị này là Khâu quản sự, là đại chưởng quầy của quán rượu Vọng Nguyệt Lâu lớn nhất ở Trường An. Vọng Nguyệt Lâu là sản nghiệm của Kinh Châu Đào gia, Mã tướng quân biết chứ?

Lúc này Mã Đại mới bừng tỉnh ngộ, Chu Trí mở một lữ xá kinh doanh nhỏ, thuộc hạ chưa đến 3 người. Mã Đại còn đang khó hiểu như vậy thì họ hoạt đ*ng t*nh báo thế nào đây? Hóa ra là bọn họ lợi dụng việc kinh doanh của Đào gia ở Trường An.

Chu Trí hiểu được suy nghĩ của y liền cười bổ sung nói:

- Không chỉ có Đào gia, mấy cửa hàng lớn của quận Hán Trung cũng có hợp tác với chúng ta. Chúng ta phải hành sự cẩn thận như vậy mới bí mật.

Mã Đại gật gật đầu:

- Ta hiểu rồi.

Lúc này, Khâu quản sự cười nói:

- Về con trai của Khương Vương Nam Cung Tác, ta đã đi thăm dò rồi, cậu ta ở trong quận Nha, có người chăm sóc riêng, thực tế là theo dõi, rất ít khi được ra ngoài.

- Người này bao nhiêu tuổi rồi?

Mã Đại hỏi.

- Khoảng 9 tuổi, tên là Bá Ngọc, Chung Diêu đối xử với cậu ta không tệ. Còn cử một nho sinh chuyên dạy cho cậu ta đọc sách viết chữ. Ngoài ra, cậu ta còn có 1 tùy tùng họ Khương, con trai của gã cùng học với Bá Ngọc, tuổi của hai đứa trẻ này xấp xỉ nhau.

Khâu quản sự giới thiệu Mã Đại cũng đã hiểu phần nào, như vậy chắc là không sai rồi, chính là người này.

Mã Đại trầm ngâm một lúc rồi nói:

- Nhưng có cách nào tiếp xúc với đứa trẻ này không?

Chu Trí ở bên cạnh cười hỏi:

- Có thể bắt đầu từ vị nho sinh dạy bọn trẻ học không?

- Không được!

Khâu quản sự lắc đầu phủ định:

- Vị nho sinh kia là một quan học bác sĩ của Trường An, ông ta và Chung Diêu là bạn thân sẽ không giúp chúng ta đâu. Nhưng có thể bắt đầu từ tay tùy tùng họ Khương, ta có cách để y đến quán rượu của chúng ta.

Mã Đại suy nghĩ một chút rồi hỏi:

- Người tùy tùng này tên là gì? Là người thế nào?

Khâu quản sự cười nói:

- Y là tộc nhân của đệ nhất vọng tộc Khương thị Thiên Thủy. Thiên Thủy Khương thị thực tế là người Khương đã được Hán hóa, người này tên là Khương Quýnh.

- Hóa ra là y.

Mã Đại ngạc nhiên nói.

Khâu quản sự và Chu Trí nhìn nhau, hai người cùng hỏi:

- Mã tướng quân quen người này?

Mã Đại gật đầu:

- Người này vốn dĩ là phụ tá của Thái thú Vi Khang, Vi Khang chết trong cuộc tranh đoạt huyện Ký với huynh trưởng tôi. Tên Khương Quýnh này chạy trốn được, không ngờ lại là tùy tùng của Nam Cung Bá Ngọc, chỉ e chuyện này không dễ làm rồi.

Mã Đại rất lo lắng, Khương Quýnh là phụ tá tâm phúc của Vi Khang, mà huynh trưởng mình lại g**t ch*t Vi Khang thì tên Khương Quýnh này sẽ đồng ý giúp mình sao?

Chu Trí ở bên cạnh cười nói:

- Trước khác giờ khác, bây giờ Mã tướng quân là đại diện cho Châu mục, lại muốn cứu người quay về Lương Châu. Ta nghĩ chắc chắc Khương Quýnh sẽ hiểu, hơn nữa con trai của người này cũng nổi tiếng là thần đồng, tên là Khương Duy, có khả năng thiên phú về đọc sách, học võ, thông minh hơn người. Đương nhiên là y cũng không muốn con trai mình mãi mãi không thể nổi danh.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 658: Ve sầu thoát xác


Quán rượu Vọng Nguyệt ở thành Trường An là một quán rượu lớn rộng 5 mẫu đất, do ba tòa kiến trúc tạo thành, có thể phục vụ cùng một lúc cho 200 người ăn cơm. Vì khu đất này rất đắt, hơn nữa cũng đã nghiên cứu để bố trí quán rượu, thức ăn ngon đã làm cho quán rượu này rất nổi tiếng ở Trường An, được vinh danh là “Trường An đệ nhất tửu quán”.

Hằng ngày đều có quan lại quyền quý và danh môn vọng tộc đến Trường An ăn cơm, thậm chí có rất nhiều thương nhân vì mộ danh mà đến, việc kinh doanh vô cùng phát đạt. Nhưng thực tế, rất ít người biết được bối cảnh của quán rượu này, chỉ biết đông chủ của nó là một đại thương nhân của quận Nam Dương. Không ai ngờ thực ra đông chủ của nó chính là Đào thị Kinh Châu.

Trưa hôm nay, quán rượu Vọng Nguyệt cũng nhộn nhịp như thường ngày, khách ra vào nườm nượp. Một người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi đi đến trước quán, y chính là Khương Quýnh tùy tùng của con trai Khương Vương. Hôm nay, y đồng ý lời mời của bạn bè đến quán này uống rượu.

Khương Quýnh khoảng 30 tuổi, dáng người khá cao, vạm vỡ nhưng không thô lỗ, từng cử chỉ hành động toát ra một khí chất tao nhã. Mặc dù y là người Khương nhưng đã bị Hán hóa từ mấy đời trước, y cũng không khác gì người Hán, hơn nữa lại văn võ song toàn, tài hoa xuất chúng. Nếu không phải do loạn Mã Siêu thì y cũng không bỏ chạy đến Lương Châu.

Khương Quýnh đi đến trước quán rượu, hơi do dự chắp tay nói với một tiểu nhị:

- Ta có hẹn bạn đến đây, bạn của ta họ Dương, không biết đã đặt chỗ chưa?

Tiểu nhị sửng sốt rồi vội vàng hỏi:

- Khách nhân là họ Khương đúng không?

- Đúng vậy!

Tiểu Nhị vội vàng cười nói:

- Dương thư tá có đặt phòng, mời Khương tiên sinh đi theo tôi.

Khương Quýnh vui vẻ gật đầu, đúng là y và thư tá quạn nha Dương Vân có hẹn đến đây uống rượu. Y liền đi theo tiểu nhị vào quán, tiểu nhị dẫn y di vào một phòng về mặt trái, rồi đi thẳng lên tầng 3. Điều này khiến cho Khương Quýnh thấy lạ, sao lại đặt phòng ở chỗ khuất như vậy?

Lầu 3 gần như không có khách, bọn họ đi đến tận cùng, tiểu nhị chỉ vào phòng ở cuối nói:

- Chính là chỗ này, xin mời!

Khương Quýnh do dự một chút rồi đẩy cửa đi vào, đi vào phòng y lập tức ngẩn người ra, thấy có 3 người ngồi trong phòng, bên phải là Dương Vân bạn mình, còn người bên trái là một gã văn sĩ mặc nho bào, thần thái rất thư nhàn.

Nhưng người ngồi ở chính giữa mắt to, mày rậm, dáng người khôi ngô tuấn tú, tuy đầu đội bình khăn nhưng lại có một khí chất rất dũng mãnh. Khương Quýnh chỉ cảm thấy người này nhìn rất quen, hình như đã gặp ở đâu rồi thì phải.

Trong lòng y có hơi nghi ngờ, lui về sau một bước, có hai gã người Hán cao lớn hung hăng chặn ở cửa. Khương Quýnh cảm thấy bất an, y nhìn chằm chằm vào 3 người hỏi:

- Các ngươi muốn làm gì?

Mã Đại khoát tay cười nói:

- Mời Khương tiên sinh ngồi, chúng tôi không có ác ý!

Khương Quýnh càng cảm thấy người này rất quen, nhưng lại không nhớ nổi đã gặp ở đâu, y chần chừ một lúc rồi đi lên trước ngồi xuống nói:

- Các ngươi có chuyện gì?

Mã Đại lấy một mũi tên ngắn đúc bằng đồng thau ở trong người ra giao cho Khương Quýnh cười tủm tỉm nói:

- Khương tiên sinh biết mũi tên này chứ?

Khương Quýnh ngây cả người ra, đương nhiên là y biết, đây chính là lệnh tiễn đồng của Nam Cung Tác, dùng để tập kết các bộ lạc người Khương, gọi là Khương Vương Lệnh. Y chậm rãi cầm lên, nhìn kĩ một chút rồi lại nhìn Mã Đại:

- Huynh là người Nam Cung Khương vương phái đến?

- Đúng thế, nhưng thân phân thật của ta là Giáo úy quân Hán, tại hạ họ Mã, chúng ta đã từng gặp nhau.

- Huynh là...

Khương Quýnh bỗng nhận ra người trước mặt, không ngờ là Mã Đại em trai của Mã Siêu, y lập tức vừa sợ vừa giận rồi bỗng đứng lên, căm tức Mã Đại nói:

- Hóa ra là ngươi!

Mã Đại cũng đứng lên chắp tay về phía y nói:

- Chuyện của Vi Khang ta xin lỗi nhưng Khương tiên sinh nên biết, hai đứa cháu và chị dâu của ta đều chết trong tay Vi Khang, chúng ta không vô duyên vô cớ mà giết người.

Khương Quýnh vốn là phụ tá cho Thái thú Vi Khang quận Thiên Thủy, chịu ơn của Vi Khang. Y tận mắt thấy cả nhà Vi Khang bị Mã Siêu sát hại. Tuy không phải Mã Đại xuống tay nhưng Mã Đại là em trai của Mã Siêu cũng không tránh khỏi liên quan. Khương Quýnh nghĩ đến tình cảnh thê thảm đó thì tức giận, lồng ngực hổn hển, nhìn Mã Địa chằm chằm như muốn phun ra lửa giận.

Lúc này, Dương Vân ở bên cạnh vội vàng đứng dậy khuyên nhủ:

- Khương huynh bớt giận, Mã tướng quân bây giờ là Giáo úy quân Hán, lần này là chịu sự ủy thác của Khương Vương đến Trường An.

Khương Quýnh lại nhìn vào lệnh tiễn đồng trên bàn, y nhịn cơn lửa giận trong lòng chậm rãi ngồi xuống rồi lạnh lùng hỏi:

- Có chuyện gì mời nói!

Mã Đại cũng ngồi xuống, nghiêm nghị nói:

- Ta chịu sự ủy thác của Khương Vương, đặc biệt đến đón Tiểu vương tử đi. Ta biết Khương tiên sinh có mối hận thù với ta nhưng bây giờ là việc công, hy vọng tiên sinh công tư phân minh, có oán hận gì chúng ta hoàn thành chính sự rồi nói tiếp.

Khương Quýnh dần tỉnh táo lại, rất nhanh y đã hiểu được điều huyền bí trong đó. Đây hẳn là Lưu Cảnh đã lôi kéo Khương Vương, còn Nam Cung Tác cũng nguyện dựa vào Lưu Cảnh cho nên mới có chuyện Giáo úy quân Hán đến cứu Nam Cung Bá Ngọc. Thực ra, Khương Quýnh cũng rất lo lắng cho sự an nguy của con trai mình và Bá Ngọc, hơn nữa y cũng không muốn Khương Duy con trai mình trở thành con tin, mãi mãi không thể nổi danh.

Khương Quýnh cúi đầu trầm tư một lúc lâu sau mới nói:

- Muốn đi cứu Bá Ngọc cũng không dễ, đừng nói đến người trông coi, cho dù là rời khỏi quận nha thì cũng sao có thể rời khỏi Trường An và Quan Trung?

Mã Đại thấy y đã có ý hợp tác liền mừng rỡ, vội vàng nói:

- Chúng ta có cách rời khỏi Quan Trung, quan trọng là phải rời khỏi được quận nha đã. Khương tiên sinh có thượng sách gì không?

Khương Quýnh gật đầu:

- Thực ra, 2 ngày này sẽ có 1 cơ hội.

Nam Cung Bá Ngọc là con trai độc nhất của Khương Vương Nam Cung Tác, cũng là Khương Vương tương lai, cậu ta bị giam lỏng ở Trường An làm con tin. Vì quân Hán bắc phạt, Tuân Du cũng lo lắng Lưu Cảnh sẽ lôi kéo Khương Vương liền lệnh cho Chung Diêu giám sát chặt chẽ Nam Cung Bá Ngọc, không chỉ có giam lỏng cậu ta ở quận nha mà còn phái theo hơn 10 binh lính chuyên đi canh giữ.

Nhưng dù sao Bá Ngọc cũng không phải là tù phạm, Chung Diêu cũng không dám làm quá. Một mặt hạn chế sự tự do của cậu ta, mặt khác y phái quan học Bác Sĩ Lâm Phưởng dạy Bá Ngọc đọc sách, đồng thời Chung Diêu còn chấp nhận để mỗi tháng bọn họ được ra ngoài chơi một lần.

Cơ hội như lời của Khương Quýnh nói chính là lần đi chơi này. Vừa đúng lúc hai ngày nữa sẽ đến ngày được đi chơi, kế hoạch đi chơi đã được Bác Sĩ Lâm Phưởng vạch ra từ trước đó. Theo phong tục chắc chắn phải ra khỏi thành đi tế sơn thần và hà bá, cho nên lần này đi chơi là để họ ra khỏi thành thưởng thu.

Sáng sớm, Nam Cung Bá Ngọc và Khương Duy lên một chiếc xe ngựa, Lâm Bác Sĩ có việc không đi theo được, chỉ có Khương Quýnh và khoảng hơn 10 binh lính đi để trông chừng, ra khỏi thành một vòng sẽ quay lại, xe ngựa chậm rãi khởi động, đi ra khỏi quận nha chạy về phía ngoại thành Trường An.

Nam Cung Bá Ngọc mới chỉ 9 tuổi, chẳng qua cũng chỉ là một đứa bé yếu đuối, chưa trưởng thành không có chủ kiến, nhưng bạn của cậu ta là Khương Duy thì lại thông minh hơn người. Tuy mới 11 tuổi nhưng mưu trí hơn hẳn người thường, can đảm cẩn trọng, lần này chạy trốn Khương Duy đóng vai trò là một nhân vật quan trọng.

Hôm nay mưa thu lất phất rơi, có cảm giác mát mẻ. Bọn họ đều mặc áo bào đen, đầu đội mũ, mũ chính là một cái nón tre, vành tre có bọc lụa mỏng, phủ khăn che mặt, bình thường các cô gái thường hay đội khi đi ra ngoài. Nhưng Khương Di nói có rất nhiều người đi thưởng thu rồi, bọn họ không muốn bị ai nhận ra, hơn nữa lại có mưa nên phải đội loại mũ này để ra ngoài. Đám lính trong coi chúng thấy cũng có lý liền đồng ý để chúng giả dạng như vậy.

Xe ngựa chạy qua góc tường, lúc này Khương Duy liền đá Nam Cung Bá Ngọc một cái, Nam Cung Bá Ngọc liền quát to:

- Mau dừng xe, bụng ta đau quá, ta phải đi đại tiện!

Khương Duy cung hô theo:

- Ta cũng muốn đi đại tiện!

Xe ngựa dừng lại, vị trí của họ lúc này chính giữa chỗ thuộc quận nha và cổng thành. Quay về quận nha hơi xa một chút, chỉ cách cổng có 1 đoạn. Gã lính cầm đầu thấy khó xử nhìn xung quanh thấy cách đó không xa có một căn phòng rách nát, chỉ chắn bằng mấy bức tường liền chỉ vào tường đó nói:

- Đi sang bên kia, đi nhanh về nhanh!

Khương Duy và Bá Ngọc liền nhảy xuống xe ngựa, cùng nhau chạy về phía tường. Mấy tên lính cưỡi ngựa lên trước, bám theo chúng từ xa, rất nhanh hai đứa trẻ đã biến mất sau bức tường đó, không bao lâu, hai đứa trẻ xách quần chạy ra, chúng đội mũ, cúi đầu chạy, cũng không nói gì mà lên thẳng xe ngựa.

Tên quan quân thét lệnh:

- Xuất phát!

Xe ngựa tiếp tục đi chạy về thành phía nam. Chạy đi rất xa rồi Khương Quýnh hơi quay đầu nhìn lại, liếc nhìn về phía bức tường, đợi xe ngựa biến mất, một chiếc xe ngựa khác đi tới, dừng ở chỗ tường đó, lúc này có hai cậu bé đội mũ từ sau đoạn tường đó đi ra, chính là Nam Cung Bá Ngọc và Khương Duy, hai cậu bé vừa rồi có cách ăn mặc giống hệt chẳng qua chỉ là hai thế thân trước đó trốn ở đó mà thôi. Nam Cung Bá Ngọc và Khương Duy lại nhanh chóng lên xe ngựa, xe ngựa quay đầu lao như bay.

Không lâu sau, Nam Cung Bá Ngọc và Khương Duy được đưa vào hậu viện của lữ xá, chưởng quầy Chu Trí chắp tay cười nói với hai cậu bé:

- Hai vị tiểu huynh đệ đã kiên nhẫn chờ ở đây nửa tháng, đợi sóng gió qua đi chúng ta sẽ rời khỏi Quan Trung.

Khương Duy lo lắng hỏi:

- Vậy cha ta thì sao?

Chu Trí khẽ cười nói:

- Yên tâm đi! Ngoài thành sẽ có một đại tướng võ công cao cường, ông ta sẽ cứu phụ thân ngươi, chúng ta đã sắp xếp cả rồi.

Đại chủ quản của Trường An không phải là Tuân Du mà là Ti lệ Giáo úy Chung Diêu. Chung Diêu trấn thủ Trường An đã nhiều năm, có tình cảm rất sâu sắc với nơi này, vì mùa xuân quân Hán không phát động bắc phạt, tất cả mọi người đều cho rằng có khả năng quân Hán sẽ phát động bắc phạt vào mùa thu. Cho nên, vào thu Chung Diêu vô cùng bận rộn, vì tích cực chuẩn bị cho chiến tranh.

Quan phòng của Chung Diêu cũng cách không xa phòng giam lỏng của Nam Cung Bá Ngọc. Nhưng trong thời gian này, y đã không còn thời gian mà để ý đến Bá Ngọc nữa, gần như cũng bỏ qua cả chuyện con tin của Khương Vương. Buổi trưa, Chung Diêu vào trong phòng giữa viết thư cho Tào Tháo.

Lúc này, trong sân có tiếng bước chân dồn dập, có người ở ngoài cửa bẩm báo:

- Khởi bẩm Giáo úy, xảy ra đại sự rồi!

Chung Diêu dừng bút nói:

- Vào nói đi!

Một gã thị vệ đi vào phòng khom người nói:

- Con trai của Khương Vương mất tích rồi.

Chung Diêu ngẩn người ra:

- Chuyện gì vậy, nó không ở quận nha sao?

- Khởi bẩm Giáo úy, hôm nay là lễ tháng 8, bọn họ ra ngoại thành thưởng thu, kết quả là được người ta cứu đi rồi, phần lớn đám lính trông coi đã bị giết, chỉ còn một người may mắn bị thương. Theo gã ta nói, bọn họ bị mười mấy tên người Khương phục kích, chúng cướp xe ngựa chạy trốn về phía tây rồi.

Chung Diêu giận dữ nhảy dựng lên nói:

- Lập tức phái người đuổi theo, nhất định phải bắt nó về cho ta.

Thị vệ lĩnh lệnh ra ngoài, Chung Diêu khoanh tay đi đi đi lại trong phòng. Lúc này người Khương lại cứu người đi, đây chắc chắn là Khương Vương đã bắt tay với Lưu Cảnh. Đây không phải là chuyện tốt, sẽ ảnh hưởng đến cả cuộc chiến, trong lòng y vừa hận vừa nóng ruột liền ra lệnh:

- Người đâu!

Một gã thuộc hạ lập tức đi vào, khom người nói:

- Xin Giáo úy chỉ bảo!

Chung Diêu lấy lệnh bài của mình ra đưa cho tên cấp dưới nói:

- Ngươi lập tức đi huyện Trần Thương, tìm Tào Nhân tướng quân, mời ông ta phong tỏa con đường phía tây không được để con tin của Vương Khương chạy ra khỏi Quan Trung.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 659: Binh sắp đến


Trong mưa thu dày đặc, quân đội của Lưu Cảnh đã đến huyện Hạ Biện quận Võ Đô, lúc này đã là hạ tuần tháng 8, cách lần trước phá thành tây thời gian đã trôi qua được hơn nửa năm, còn cách lần đầu tiên bắc phạt đã được 2 năm rồi.

Sau lần bắc phạt đầu tiên bị thất bại, quân Hán đã rút ra bài học xương máu. Ngoài việc nóng lòng muốn thành công họ đã bắt đầu chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc cho cuộc chiến. Đến giờ, 6 ngàn chiếc xe trâu gỗ chở lương thực đã được chế tạo, kho lượng tại huyện Hạ Biện đã có được gần 40 vạn thạch lương thực.

Điều quan trọng hơn là quân Hán đã xây dựng xong tuyến đường vận chuyển lương thực dài chừng 300 dặm bắt đầu từ phía nam huyện Hạ Biện đến phía bắc thành tây. Ven đường có xây 3 tòa quân thành và 6 dịch trạm tị nạn. Mỗi tòa quân thành đóng 3 ngàn quân và chứa hơn 100 ngàn thạch lương thực. Vấn đề về lương thực cho quân Hán bắc phạt đã hoàn toàn được giải quyết.

Ngoài ra, sau cuộc chiến Kinh Châu kết thúc quân Hán đã mộ binh từ 4 nơi: Kinh Châu, Ích Châu, Ích Nam và Hán Trung được tổng cộng 100 ngàn người làm cho tổng binh lực của quân Hán tăng lên 30 vạn người. Các nơi như quận Tương Dương, quận An Lục và Hán Trung đều có trọng binh chiếm đóng. Còn các quân thành thuộc huyện Hạ Biện và Kỳ Sơn đạo đã có một đội quân Hán tinh nhuệ đạt 10 vạn người chuẩn bị tham gia vào cuộc bắc phạt.

Thực ra Lưu Cảnh chỉ đi qua huyện Hạ Biện, mục đích cuối cùng của hắn là đi Tây Thành. Đến cùng Lưu Cảnh có Triệu Vân dẫn theo 6 vạn quân chủ lực đã được chuẩn bị.

Trong đại doanh ngoài thành, Lưu Cảnh và thuộc hạ là Triệu Vân và Trương Nhậm cùng đi thị sát quân doanh. Quân doanh nằm trên đất trống, nhìn đâu cũng thấy binh lính đang được huấn luyện.

- Theo tin tình báo tin cậy. Quân Tào đang bố trí ở quận Thiên Thủy và quận Quảng Ngụy hơn 15 vạn đại quân. Trong đó, 2 vạn đại quân là kỵ binh, chủ tướng là Hạ Hầu Đôn, quân sư Tuân Du. Bọn họ cũng đã chuẩn bị xong rồi.

Lưu Cảnh khẽ cau mày, sao kỵ binh người Đê vẫn còn ở quận Thiên Thủy? Hắn lại hỏi:

- Bên Mã Đại có tin tức gì chưa?

Triệu Vân lắc đầu:

- Tạm thời chưa có.

Lưu Cảnh có vẻ không vui, hắn và Khương Vương Nam Cung Tác đã bàn bạc xong. Đối phương đã đồng ý dẫn quân đánh vào sào huyệt của quân địch nhưng lại đề xuất một điều kiện là quân Hán phải thay y cứu con y đang làm con tin ở Trường An về. Mã Đại đi đã được gần 20 ngày vẫn không có tin tức gì. Nếu Khương Vương không chịu xuất binh sẽ ảnh hướng đến kế hoạch bắc phạt của hắn.

Lúc này có những tiếng la hét ồn ào làm Lưu Cảnh chú ý, chỉ thấy cách đó không xa, hơn 3 ngàn binh lính Man tộc xếp thành một vòng tròn, không ngừng vỗ tay cổ vũ. Triệu Vân cười nói:

- Bọn họ đang tỷ thí võ công, người Man tộc rất thích luận võ xếp hạng, ngày nào cũng phải có mấy trận tỉ võ.

Lưu Cảnh tò mò đi lên một khi đài cao, thấy trong đám người có mười mấy tên lính Man tộc vây quanh 1 người, đó là chủ tướng Vương Bình của quân Man. Qua mấy lần mộ binh, binh lính Man tộc trong quân Hán đã có 7 ngàn người, trong đó có 4 ngàn người được xếp vào đội vận chuyển trâu gỗ. Còn 3 ngàn người dũng mãnh làm thành một đội quân, vì bọn họ đều là thợ săn vùng thâm sơn, không sử dụng lá chắn, chạy như bay trong rừng núi, cho nênđược đặt tên là Vô Đương Phi quân, do Nha môn tướng Vương Bình thống soái.

Trước mắt thủ hạ của Lưu Cảnh có 5 đại tướng nha môn. Một người thống lính Bộ binh trọng binh là Lưu Hổ, một người thủ lĩnh Ưng kích quân là Lưu Chính, một người thống ĩnh kỵ binh là Mã Đại, còn một người thống lĩnh Vô Đương phi quân là Vương Bình. Người cuối cùng thủ lĩnh Thương nỏ nỏ binh là Lôi Đồng. Năm đại tướng thống lĩnh tổng cộng 15 ngàn người hợp thành các nha quân lệ thuộc trực tiếp của Lưu Cảnh.

Trong binh lính người Man, chỉ thấy Vương Bình cầm một cây mộc côn đang chiến đấu kịch liệt với hơn 10 quan quân Man tộc. Binh lính Man tộc đều để trần, tay cầm mộc côn, động tác rất nhanh nhẹn, bọn họ đều là thợ săn nơi núi sâu, rất giàu kinh nghiệm. Tiếng trống cổ vũ vang lên, bọn họ cần chiến đấu chấm dứt trong 1 tuần nhang.

Lưu Cảnh đã từng xem cuộc đấu của Vương Bình và người Man, biết bản lĩnh của Vương Bình. Nhưng lúc này hắn bị một người ở bên cạnh thu hút, người kia chắc là người ghi điểm. Mỗi người bị đánh mấy lần, Vương Bình bị đánh trúng mấy lần, anh ta đều ghi chép rành mạch, không sai sót một chút nào. Điều này khiến Lưu Cảnh ngạc nhiên, chuyện này cần người có khả năng ghi nhớ phải thật tốt mới có thể ghi đểm được.

Lúc này tiếng trống đã ngừng, cả hai bên cũng thôi chiến. Người ghi chép đứng lên tuyên bố thành tích. Y nói về mỗi số lần trúng côn của mỗi người khiến ai cũng phải tâm phục khẩu phục. Cuối cùng là Vương Bình bị đánh trúng 13 côn so với 240 côn đánh trúng đối phương và giành thắng lợi.

Lưu Cảnh gật gật đầu nói với Triệu Vân và Trương Nhậm:

- Vương tướng quân giỏi võ công nhưng ta cảm thấy người ghi điểm kia mới là đại tài.

Triệu Vân suy nghĩ một chút rồi nói:

- Người kia hình như là quân y dưới trướng của Vương Bình, họ Lâm, vốn ở Ưng kích quân sau lại bị điều đến Vô Đương phi quân làm quân y.

Lúc này, Vương Bình đã nhìn thấy Lưu Cảnh liền vội vàng đi lên cười nói với hắn:

- Người ghi điểm kia rất khá, trí nhớ tốt và có khả năng phân biệt giỏi.

Vương Bình vội vàng lôi người ghi chép ra, người ghi chép vội quỳ gối thi lễ nói:

- Quân y Lâm Tiến tham kiến Châu mục!

- Lầm Tiến?

Lưu Cảnh chỉ cảm thấy cái tên này nghe khá quen tai hình như đã gặp ở đâu đó rồi. Hắn lại nhớ ra là trong báo cáo của Lưu Chính, hắn liền cười nói:

- Ngươi bị tên y tượng bị người Đê hại làm cho tan cửa nát nhà đúng không?

Lâm Tiến chán nản nói:

- Chính là ty chức, ty chức được Nhậm Bình tướng quân cứu, gia nhập Ưng kích quân, tháng trước được điều xuống dưới trướng của Vương tướng quân.

Lưu Cảnh lại tò mò hỏi:

- Sao ngươi lại đi ghi chép điểm tỉ võ cho bọn họ?

- Khởi bẩm Châu mục, trí nhớ của ty chức khá tốt, hơn nữa nhãn lực cũng được cho nên có thể phân biệt rõ thành tích của bọn họ.

- Ngươi từng đọc sách?

Lưu Cảnh lại hỏi.

- Từ nhỏ ty chức đã theo cha đọc sách y.

Lưu Cảnh gật gật đầu cười hỏi:

- Ngươi làm quân y thật đáng tiếc, bên cạnh ta đang thiếu một thư thá phụ tránh kế toán, ngươi có muốn đảm nhiệm không?

Lâm Tiến mừng rỡ lập tức đồng ý nói:

- Ty chức nguyện đi theo Châu mục!

Lưu Cảnh cười ha ha:

- Chiều nay đi tìm Pháp quân sư đi! Ông ấy sẽ sắp xếp cho!

Lưu Cảnh xoay người đi về đại trướng, Vương Bình thấy Châu mục đi xa liền vỗ vỗ bả vai Lâm Tiến nói:

- Chúc mừng ngươi!

Lâm Tiến hổ thẹn nói:

- Ty chức không thể cống hiến dưới trướng của tướng quân nữa rồi!

Vương Bình khẽ mỉm cười nói:

- Có thể nhậm chức bên cạnh Châu mục không phải ai cũng có cơ hội này đâu. Đây là ngươi có năng lực, cũng là vận may của ngươi. Những ngày đau khổ của ngươi đã qua, ngày ngọt lành sẽ tới, ta mong tiền đồ của ngươi sẽ như gấm.

- Đa tạ tướng quân chi ân, còn ơn cứu mạng của Nhậm đại ca nữa, ty chức sẽ khắc sâu trong tâm khảm.

- Đi thu dọn đồ đạc đi! Chiều nay ta sẽ dẫn ngươi vào đại trướng trung quân báo cáo.

- Ty chức cáo lui!

Lâm Tiến đi rồi, Vương Bình nhìn bóng lưng của y liền gật đầu. Duyên của con người thật là kỳ diệu, Lâm Tiến vì không thể thích ứng với cường độ hành quân cao của Ưng kích quân mới điều đến chỗ mình, không ngờ cuối cùng lại được Châu mục nhìn trúng, có lẽ tương lai y sẽ có thành tựu.

Lưu Cảnh quay về đại trướng, Pháp Chính liền cười chào đón:

- Có tin của Mã đại tướng quân rồi.

Lưu Cảnh lập tức phấn chấn, hắn mới nhắc đến chuyện này thì không ngờ có tin ngay. Hắn cũng không nóng vội hỏi mà ngồi xuống, uống một ngụm trà nóng, lúc này mới thong thả hỏi:

- Tình hình bây giờ thế nào rồi?

- Mã đại tướng quân đã cứu được Nam Cung Bá Ngọc ra rồi. Thực tế, bọn họ đã cứu được con tin từ 10 ngày trước nhưng mãi đến hôm kia mới đưa con tin ra khỏi Quan Trung.

- Vì sao?

Lưu Cảnh khó hiểu hỏi.

- Nói ra mưu lược của họ quả là tuyệt, dùng kế ve sầu thoát xác, dùng hai cậu bé khác để đổi con tin, sau đó giấu người ở Trường An. Chung Diêu thấy con tin đã chạy trốn liền phong tỏa tìm kiếm ở Quan Trung mà không ngờ người lại giấu ngay ở chỗ mình. Một thời gian sau được thả lỏng, Mã Siêu liền dẫn con tin trà trộn vào đội thương nhân của người Túc Đặc rời khỏi Quan Trung.

- Làm hay lắm!

Lưu Cảnh khen ngợi:

- Nói như vậy, người Khương sẽ không có lý gì để từ chối yêu cầu xuất binh của ta nữa rồi?

Pháp Chính đưa thư của Mã Đại cho Lưu Cảnh. Hắn đọc kĩ một lượt, chợt phát hiện ra 1 chi tiết liền hỏi:

- Sao lại có hai cậu bé?

Trong thư không viết rõ, Pháp Chính cười nói:

- Tôi nghe người báo tin nói, một người là Nam Cung Bá Ngọc con trai của Khương Vương, người khác là con trai của người tùy tùng họ Khương, cùng học với Bá Ngọc.

Lưu Cảnh cũng không hỏi đến cùng, hắn trở về vấn đề chính:

- Bây giờ, con tin đã được cứu ra, người Khương sắp dẫn binh đến, ta nghĩ nhất định Tuân Du sẽ nghĩ cách hóa giải nguy cơ này. Rất có thể sẽ phái quân Tào đi trợ giúp, chúng ta không thể để quân Tào có cơ hội được nhất định phải lập tức xuất binh lên bắc.

Pháp Chính gật đầu:

- Châu mục nói đúng, chúng ta đã chuẩn bị đầy đủ, có thể xuất binh lên bắc rồi.

Lúc này Lưu Cảnh mới nói với Triệu Vân và Trương Nhậm:

- Hôm nay bắt đầu chuẩn bị, sáng mai đại quân lên bắc Tây Thành.

Trước mắt quân Hán và quân Tào đang giằng co ở Tây Thành. Quân Tào đã xây dựng một đại doanh trên Phương Cốc Khẩu cách phía bắc Tây Thành khoảng 20 dặm, đóng 3 vạn quân, làm tiền tiêu hòa hoãn xung đột của Ký huyện. Mặt khác cho 1 ngàn binh đóng ở huyện Thượng Khuê, đề phòng quân Hán tấn công từ đường đông vào Quảng Ngụy.

Không chỉ có thế, Tuân Du đã lợi dụng cơ hội Tào Tháo đánh Lưu Cảnh ở Kinh Châu mà xây lại thành Ký Thành, khiến Ký Thành trở thành một tòa thành kiên cố và vững chắc hơn Trường An. Bao gồm những vùng chiến lược yếu địa xung quanh Ký huyện như Thao Dương, Nhai Đình, Mộc Môn, Bắc Nguyên...Các pháo đài cũng được sửa chữa, trùng tu, gia cố, bố trí binh lực tạo thành thế bảo vệ xung quanh Ký Thành.

Nhưng kỵ binh người Đê là điều duy nhất khiến Tuân Du lo lắng, đầu năm một đội hai ngàn kỵ binh người Đê quấy rầy sau Kỳ Sơn đã bịquân Hán tiêu diệt hoàn toàn, Đê Vương Dương Thiên Vạn vô cùng sợ hãi, đã mấy lần ám chỉ lui binh nhưng Tuân Du vẫn kiên quyết không lui.

Nhưng mấy ngày trước, Tuân Du lại nhận được tin cấp báo của Chung Diêu. Con trai Khương Vương làm con tin ở Trường An đã được cứu đi, đến nay vẫn chưa rõ tung tích khiến Tuân Du lo lắng. Y lập tức hiểu ra đây là Khương Vương Nam Cung Tác đã muốn xuất binh rồi.

Đương nhiên là người Khương sẽ không xuất binh tấn công quân Tào nhưng bọn họ sẽ đánh vào người Đê tại vùng Lũng Tây Hà Hoàng, ép kỵ binh người Đê rút lui. Tuân Du đã ý thức được sách lược của quân Hán. Một khi kỵ binh người Đê rút lui về phía tây thì chắc chắn quân Hán sẽ bắc chinh rồi.

Trong quận nha Ký Thành, Tuân Du đi đi đi lại trong phòng. Y đang suy nghĩ phải làm thế nào để phá ván cục này với Lưu Cảnh, giữ kỵ binh người Đê lại. Đây là Lưu Cảnh dùng kế rút củi đáy nồi rồi, không còn kỵ binh người Đê, sức mạnh của quân Tào sẽ bị giảm bớt đi hai phần. Hơn nữa, qua hơn nửa năm huấn luyện, sức chiến đấu của kỵ binh người Đê không hề tầm thường, để bọ họ về tây quả thực là đáng tiếc.

Nhưng đúng là người Khương muốn tấn công vào hang ổ người Đê, không thả cho họ về tây thì phải làm sao? Trừ phi người Khương ngừng tấn công. Tuân Du ngửa đầu lên thở dài, nếu có Thừa tướng ở đây có thể viết một lá thư mời Thường tướng thuyết phục Khương Vương duy trì thế trung lập. Tiếc là Thừa tướng lại ở Nghiệp Đô, e là không kịp nữa rồi.

Càng nghĩ lại càng không có phương án khả thi, nghĩ đi nghĩ lại chỉ có thể mời Thừa tướng đích thân xuất mã. Nghĩ như vậy, Tuân Du lập tức ngồi xuống, chấp bút viết thư cho Tào Tháo nói rõ tình hình mong Tào Tháo có thể lợi dụng ưu thế của triều đình để khuyên bảo Khương Vương Nam Cung Tác duy trì thế trung lập.

Đồng thời, y cũng muốn nói với Tào Tháo, Lưu Cảnh đã đến quận Võ Đô, quân Hán lại sắp mở màn bắc chinh rồi.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 660: Binh đến Tây Thành


Từ huyện Hạ Biện đi thẳng đường lên bắc, quân Hán chỉ mất gần 2 năm để xây dựng hai tòa quân thành làthành Phong Vân và thành Kỳ Sơn, cộng với thành Hạ Biện, Lịch thành, Tây Thành vốn có đã được liên kết thành một thể thống nhất. Hơn nữa, giữa các quân thành lại xây dựng 6 tòa thành bảo là các điểm tị nạn, tạo thành những mắt xích liên hoàn vận chuyển vật tư lương thực hoàn chỉnh.

Đây là cơ sở để quân Hán bắc chinh, nếu không có sơ sở này, cho dù quân Hán có xuất binh thêm mấy lần nữa, dù có công chiếm được Lũng Tây cũng không thể sống yên, cuối cùng cũng phải rút lui mà thôi.

Nhưng những mắt xích vận chuyển này không phải chỉ để bắc phạt mà còn để nối liền Ba Thục, Hán Trung và Quan Lũng, đảm bảo cho quân Hán chiếm lĩnh Quan Lũng lâu dài, đây cũng là nguyên nhân sâu xa mà Lưu Cảnh lựa chọn con đường bắc phạt.

Ba ngày sau, Lưu Cảnh dẫn theo 6 vạn quân tinh nhuệ, đại quân đã đến Tây Thành. Lúc này Tây Thành đã có 2 vạn quân đội chiếm đóng, như vậy đã có 8 vạn quân Hán chiếm đóng ở đây.

- Tuy quân Tào có 15 vạn người nhưng đã mất đi 2 vạn kỵ binh người Đê, hơn nữa có khá nhiều chiến lược yếu địa quan trọng, binh lực phải phân tán. Binh lực một tuyến của quân Tào cũng khoảng 10 vạn người, cơ bản là ngang hàng với chúng ta.

Trong đại đường quân nha ở Tây Thành mọi người bắt đầu khởi động, tất cả Nha tướng đã tụ tập lại, nghe chủ soái là Lưu Cảnh phân tích việc quân trước mắt. Giữa hành lang có để một tấm giá gỗ, trên giá gỗ có treo bức bản đồ rất lớn. Lưu Cảnh dùng que gỗ chỉ vào bản đồ nói với mọi người:

- Trước mắt quân Tào chủ lực tập trung ở Ký Thành và Thượng Phương Cốc, có 5 vạn quân chiếm đóng, các chư quân còn lại đóng ở các pháo đài. Nếu ta đoán không sai, trước mắt quân Tào bố trí quân như vậy chỉ để giằng co, một khi đại quân của chúng ta lên bắc, tất nhiên là quân Tào cũng sẽ tăng binh lực cho Thượng Phương Cốc, hiện tại Thượng Phương Cốc chắc không chỉ có 5 vạn binh lực.

Nói đến đây, Lưu Cảnh liếc mắt nhìn mọi người, thấy ai cũng hết sức chú ý lắng nghe, ánh mắt tràn đầy sự mong chờ, hắn lại chậm rãi nói:

- Nhưng chúng ta nhất định phải nhận rõ thế cục, sự tương đương về binh lực chỉ ở thế tạm thời. Tào Tháo sẽ đến rất nhanh, ít nhất lão cũng sẽ dẫn theo 2 vạn Hổ báo thiết kỵ đến trợ chiến. Từ khi binh lực có sự đối lập, chúng ta sẽ không chiếm ưu thế nữa, hơn nữa Tào Tháo đã trải qua hàng trăm trận chiến, kinh nghiệm phong phú, sẽ không dễ bị u mê, lại có Tuân Du là chủ mưu phụ trợ. Chiến dịch này chúng ta muốn thắng quân Tào là vô cùng khó khăn, cho nên dù thế nào cũng phải có ý chí và sức chiến đấu bền bỉ. Không cần nghĩ đến chúng ta có thể chiến thắng quân Tào dễ dàng như trước đây, bây giờ là ở phương bắc, mọi người phải quên trận chiến Xích Bích đi, các vị đang ngồi đây phải chuẩn bị tâm lý chết trên sa trường. Điểm quan trọng của trận chiến này là chúng ta có thể lên bắc hay không.

Hành lang hoàn toàn yên tĩnh, mọi người đều lắng tai nghe Lưu Cảnh phát biểu, tâm trạng của họ bắt đầu nặng nề, ý thức được trận chiến này sẽ vô cùng tàn khốc.

Cuối cùng Lưu Cảnh lại nói:

- Các vị ngồi đây quân chức thấp nhất cũng là Nha tướng, các ngươi không phải là binh lính bình thường, sĩ khí của các ngươi không dễ bị dao động nhưng lời nói của ta hôm nay các ngươi không được đi nói với binh lính, không cho phép làm lòng quân nao núng. Nếu ai dám nói ra ảnh hưởng đến lòng quân, ta nhất định sẽ trảm không tha!

Các tướng nghiêm nghị, cùng khom người thi lễ:

- Tuân lệnh!

Các tướng lính giải tán, trong đại trướng chỉ còn lại Hoàng Trung, Triệu Vân, Trương Nhậm, Mã Siêu, Bàng Thống, Pháp Chính và mấy vị quan cao văn võ trung tâm. Lúc này Hoàng Trung cười nói:

- Buổi nói chuyện này của Châu mục khiến rất nhiều tướng lĩnh thay đổi sắc mặt, ta thấy lúc đầu có rất nhiều người đã bắt đầu nóng ruột muốn thử, cuối cùng vẻ mặt của họ đều biến thành rất nghiêm trọng.

Lưu Cảnh hừ lạnh một tiếng nói:

- Kiêu binh tất bại, từ trước chúng ta đánh bại quân Tào ở phía nam quá dễ dàng, khiến mọi người có suy nghĩ khinh địch. Nếu không làm suy nghĩ này của họ mất đi, thì việc bắc chinh của chúng ta sẽ thất bại.

Lúc này Mã Siêu ở bên mới tiếp lời nói:

- Thực ra Hổ báo kỵ binh ở Ký Thành có một khoảng đất trống để phát huy, Thượng Phương Cốc không được, kỵ binh không chịu được hạn chế về địa hình quá lớn, chúng ta cũng không cần phải tấn công Thượng Phương Cốc quá gấp, không cần phải lo lắng về viện quân Hổ báo kỵ của Tào Tháo.

Mã Siêu đầu hàng Lưu Cảnh đã được hai năm, thời gian trôi đi,ndã tâm của y sớm đã tiêu tan. Hơn nữa, y lại cưới Quả tỷ Lưu Hổ có quan hệ thông gia với Lưu Cảnh, cũng đã bắt đầu trung thành với hắn. Đương nhiên y cũng được Lưu Cảnh trọng dụng, trước mắt y là Phó tướng của Hoàng Trung.

Lần này bắc chinh, thực tế quân Hán dohai đội quân tạo thành. Một đội là Ba quân do Hoàng Trung chỉ huy, khoảng hơn 3 vạn người. Một đội là Hán trung quân của Triệu Vân, cũng có 3 vạn người. Hơn nữa, 2 vạn quân của Lưu Cảnh thuộc quân Kinh Châu đã hợp thành 8 vạn đại quân. Cho nên Lưu Cảnh muốn đích thân đảm nhiệm chức chủ soái, cũng làm thống soái cho hai đội quân này.

Lưu Cảnh nhìn Mã Siêu khen ngợi, sắc mặt hắn tươi cười:

- Nếu sợ quân Tào, ta đã không bắc chinh, ta chỉ nói cho các tướng về ưu điểm của quân Tào chứ không nhắc đến nhược điểm của họ. Trên thực tế, Tào Tháo bố trí 20 vạn đại quân ở Quan Lũng, chỉ còn 7, 8 vạn quân tinh nhuệ, phần lớn quân đội được chiêu mộ sau đại chiến Xích Bích, sức chiến đấu của chúng cũng không đáng sợ. Còn chúng ta tuy là quân phía nam nhưng lại có được đội quân tinh nhuệ. Ví dụ như trọng giáp bộ binh có thể tiến hành tác chiến đặc thù, Ưng kích quân 1 chọi 10. Vô Đương phi quân giỏi về tác chiến ở vùng núi, còn Thương nỏ quân không sợ cung tên, lực xung phong rất mạnh, quân Tào không có được như vậy. Sức mạng của quân ta ngang ngửa với quân Tào, thậm chí yếu lược của chúng ta còn hơn họ một bậc, đây chính là lợi thế để chúng ta dám lên bắc.

Triệu Vân cũng mỉm cười nói:

- Châu mục nói không sai, khiến lòng tin của người ta tăng lên gấp bội, ta cảm thấy điểm quan trọng là chúng ta là phải giải quyết vấn đề lương thực, điều này cũng đã khiến chúng ta vào thế thất bại rồi.

Lưu Cảnh gật đầu nói:

- Cho nên trận chiến đầu tiên của chúng ta là Thượng Phương Cốc, đây là một cuộc chiến cứng rắn, chúng ta phải chiếm được ưu thế địa lợi, có thể từ trên nhìn xuống được khe Vị Thủy. Mọi người cùng thảo luận một chút, trận chiến đầu tiên của chúng ta nên đánh thế nào?

Thượng Phương Cốc nằm ở phía bắc Tây Thành khoảng 50 dặm, là cửa ra vào của Kỳ Sơn, cũng là đường núi cao hiểm trở. Từ Thượng Phương Cốc nhìn về phía bắc là lòng chảo rộng gần trăm dặm. Lấy được Thượng Phương cốc cũnguộn thành một thế từ trên cao nhìn xuống huyện Ký.

Chính vì vị trí chiến lược vô cùng quan trọng của Thượng Phương Cốc mà quân Tào rất coi trọng nơi này. Ở chỗ đất trống họ đã xây dựng 3 doanh trại phân bố theo hình chữ “Phẩm”, có 5 vạn quân chiếm đóng.

Sở dĩ phải xây dựng 3 doanh trại cũng không phải là vì cần một chiến thuật gì mà là do địa thế quyết định của Thượng Phương Cốc. Quân Tào không có cách nào để tìm được một vị trí trống xây một đại doanh, cho nên chỉ có thể tách quân đội ra trong phạm vi 10 dặm.

Kiểu tách quân này có ưu điểm. Đầu tiên là hình thành thế góc, 3 doanh trại hỗ trợ cho nhau, viện trợ cho nhau. Tiếp theo là chiếm được nơi thoai thoải của Thượng Phương Cốc sẽ khiến quân Hán không thể đóng quân yên ổn được.

Tuy nhiên khuyết điểm cũng rất rõ ràng, ba doanh trại này cách nhau 4-5 dặm. Khoảng cách giữa chúng lại không phải là những con đường lớn bằng phẳng mà là đường núi gập gềnh, sẽ ảnh hưởng đến tốc độ cứu viện. Nói tóm lại, chính là dễ dàng bị quân Hán tiêu diệt từng phần một.

Như lời phán đoán của Lưu Cảnh, lúc quân Hán chủ lục đến Tây Thành, Tuân Du cũng dẫn theo 2 vạn quân chạy đến Thượng Phương Cốc làm cho số quân Tào ở đây lên đến 7 vạn người.

Chủ tướng của Thượng Phương cốc là Hạ Hầu Đôn, phó tướng là Từ Hoảng, Tuân Du làm quân sư. Nhưng trên thực tế, các quyết sách nằm trong tay Tuân Du, thậm chí 20 vạn đại quân ở khu Quan Lũng cũng do Tuân Du thống lĩnh. Còn Tào Thực chỉ là chủ soái trấn thủ Trường An trên danh nghĩa.

Nói từ phương diện khống chế tuyệt đối về quân đội, bình thường Tào Tháo sẽ không giao 20 vạn quân cho người ngoài, nhưng ngăn chặn quân Hán bắc chinh lại quá mức quan trọng, Tào Tháo sợ Hạ Hầu Đôn và Tào Nhân không phải là đối thủ của Lưu Cảnh, cho nên quyết sách cuối cùng của lão là giao quyền cho Tuân Du. Đương nhiên, quân đội cụ thể lại do Hạ Hầu Đôn và Tuân Du nắm giữ.

Hạ Hầu Đôn dẫn Tuân Du lên vào đại trướng, không đợi Tuân Du kịp hỏi, Hạ Hầu Đôn đã sốt ruột nói:

- Thám tử Tây Thành đưa tin tình báo đến, Lưu Cảnh đích thân dẫn theo gần 6 vạn đại quân đã đến Tây Thành. Lại thêm quân đội Tây Thành của Hoàng Trung, như vậy tổng số quân Hán đã đạt đến mức 8 vạn, khả năng sẽ phát động tấn công chúng ta.

Tuân Du gật đầu nói:

- Điều này đã nằm trong dự đoán của ta, cho nên ta mới vội vàng đến đây.

Y bước nhanh lên trước sa bàn, nhìn địa hình kĩ một chút rồi lại chỉ vào cốc đạo cách đó khoảng 10 dặm hỏi:

- Lần trước ta bảo Nguyên Nhượng tướng quân phát quang cây côi ở cốc đạo này, đã làm chưa?

Hạ Hầu Đôn khẽ mỉm cười nói:

- Quân sư yên tâm, ta đã phát quang cây cối ở cốc đạo đó rồi, dùng trúc doanh, bên trong là khu đất trống.

Lúc này, Từ Hoảng ở bên cạnh không hiểu liền hỏi:

- Xin hỏi, vì sao quân sư phải phát quang cây cối. Đợi quân Hán đi vào cốc đạo chúng ta có thể thiêu cháy kẻ thù, cây cối làm chất dẫn cháy chẳng phải là rất tốt sao?

Tuân Du cười lắc đầu nói:

- Công Minh chỉ biết một, xuất thân của Lưu Cảnh chính là chơi với lửa. Luận về sự thành thạo hỏa công chúng ta không bằng quân Hán. Sao hắn có thể dễ dàng trúng kế của ta chứ? Nhưng thực ra nếu để lại cây cối quân Hán sẽ có chỗ ẩn nấp, khiến chúng ta không thể nắm được vị trí của chúng ngược lại sẽ dễ bị đánh lén hơn. Hơn nữa nếu quân Hán cùng kế hỏa công thì cây cối này sẽ là tai họa ngầm cho chúng ta.

Lúc này Từ Hoảng mới hiểu liền khom người nói:

- Ty chức suy nghĩ không chu toàn, cảm thấy thật hổ thẹn, đa tạ quân sư đã giải nghi hoặc.

- Công Minh không cần hổ thẹn, hiểu ra bất cứ chuyện gì cũng có cái tốt, cái xấu. Thực ra Công Minh nghi ngờ cũng rất chính xác, phát quang cây cối đúng là chúng ta đã mất đi cơ hội hỏa công quân Hán. Chỉ có điều Lưu Cảnh luôn có kế sách lạ. Bao gồm cả Pháp Chính và Bàng Thống cũng chủ trương thắng bằng kế lạ, ta mới phải phát quang cây cối để Lưu Cảnh không thể sử dụng kỳ binh được. Nhưng chúng ta có được địa lợi, loại tác chiến cứng rắn chỉ có lợi cho chúng ta, điều này ta tin chắc rằng Lưu Cảnh hiểu rất rõ.

Nói đến đây, Tuân Du chỉ vào Mộc Môn Cốc ở phía đông Tây Thành tiếp tục nói:

- Nếu Lưu Cảnh không muốn chiến đấu cứng rắn với chúng ta thì hắn chỉ có một con đường, tức làphải hướng đông, đi Thượng Khê đạo đi đến quận Quảng Ngụy, nếu thực tế hắn quyết định như vậy thì hắn phải đối mặt với pháo đài Mộc Môn Cốc. Hơn nữa ta biết rằng, Lưu Cảnh nhất định sẽ phái binh đến Mộc Môn Cốc.

- Vì sao quân sư lại khẳng định như vậy?

Lúc này Hạ Hầu Đôn không hiểu.

Tuân Du bỏ cây gậy gỗ xuống vuốt râu đắc ý nói:

- Cái gọi là biết người biết ta, trăm trận trăm thắng. Tại sao Lưu Cảnh lại mang hai đội quân của Hoàng Trung và Triệu Vân cùng đến một lúc, không phải là muốn chia binh tác chiến sao? Một đường hướng bắc, một đường hướng đông, kế hoạch của hắn, ta sớm đã tường tận rồi.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 661: Huyết chiến Mộc Môn (Thượng)


Đang lúc hoàng hôn, cách Tây Thành về phía đông khoảng chừng năm mươi dặm, trên một đường núi gập ghềnh, một đội quân ba vạn người đang hăng hái hành quân về phía đông, đây là quân Hán Trung do Triệu Vân suất lĩnh, lão nhận lệnh của Lưu Cảnh xuất chinh tới thành Mộc Môn, khai thông Thượng Khuê đạo, tấn công lực lượng Quân Tào ở Quận Quảng Ngụy, cắt đứt liên hệ giữa Quan Trung và Lũng Tây.

Đây cũng là nguyên nhân chủ yếu mà Lưu Cảnh đồng thời để hai đội quân Hoàng Trung và Triệu Vân tới, bất kể là tấn công mạnh tới Thượng Phương cốc, hay là vào Ký Thành, Quân Hán đều bị rơi vào thế bất lợi, tất sẽ bị tổn thất nghiêm trọng và thảm hại, hơn nữa Tào Tháo bố trí hai vạn đại quân ở Quan Lũng, Quân Tào sẽ không ngừng tiếp tế, không ngừng bổ sung binh lực tới Lũng Tây, còn Quân Hán lại càng đánh càng ít, cuối cùng là vô lực chống đỡ Bắc phạt mà thất bại.

Đang suy nghĩ tới suy xét này, Lưu Cảnh sẽ không phải tử công tới Thượng Phương cốc, mà sẽ phân binh tiến vào nơi yếu kém của Quân Tào, đây chính là Quận Quảng Ngụy, nhất là huyện Thượng Khuê, một khi đoạt được huyện Thượng Khuê, Quân Hán ở Vị Thủy cốc sẽ có chỗ yên ổn, là có thể công một chút mà phá toàn cục.

Từ Tây Thành tới thành Thượng Khuê khoảng một trăm năm mươi dặm, núi cao cốc sâu, đường đi gian nan, xe chở đồ quân nhu rất khó đi, hơn nữa cứ tám mươi dặm lại phải xoay người một lần, kể cả là trâu gỗ cũng khó có thể đi qua vùng gian nguy này để về thủ đô, cho nên trên lưng mỗi một binh sĩ đều phải đeo năm cân lương khô, khiến họ tiêu hao mất năm ngày.

Đương nhiên, năm cân lương khô là không thể đủ, một khi không công phá được huyện Thượng Khuê, binh lính Quân Hán sẽ gặp phải nguy cơ cạn lương thực, vì vậy bọn họ phải xây dựng một điểm tiếp tế lương thực giữa đường, thật ra điểm tiếp tế lương thực này là tự nhiên, cách Mộc Môn trại khoảng sáu mươi dặm.

Mộc Môn trại nằm ở phía đông Mộc Môn cốc, là một điểm tiếp tế lương thực mà hai năm trước Tuân Du thực hiện liên hoàn kế mà xây dựng lên, lúc đó Từ Hoảng suất lĩnh năm vạn quân tiếp tế lương thực, sau khi lần đầu tiên Lưu Cảnh bắc phạt thất bại, Mộc Môn trại liền chính thức trở thành một pháo đài phòng ngự của Quân Tào, lại mở rộng ra lần nữa, hiện tại đóng năm ngàn quân, cùng với huyện Thượng Khuê do đại tướng Trương Cáp trấn thủ.

Quân Hán một đường hành quân, quân đội đã dần tới Mộc Môn cốc, Mộc Môn cốc dài khoảng bảy tám dặm, cuối cốc chính là Mộc Môn trại.

Lúc này, Pháp Chính thúc ngựa tiến lên nói với Triệu Vân;

- Triệu tướng quân, phía trước đã là Mộc Môn cốc rồi, không bằng chúng ta dừng lại hạ trại đi.

Triệu Vân ngẩng đầu nhìn sắc trời, màn đêm đã buông xuống, quả thật là bất lợi với việc hành quân, y liền nói với thân binh:

- Đi thông báo với Trương tướng quân, hạ trại tại đây.

Lệnh vừa truyền ra, quân đội liền ngừng hành quân, Trương Nhậm tìm một nơi trống, sắp xếp binh lính hạ trại nghỉ ngơi, lại phái hơn trăm thám báo, đi xung quanh tra xét địch tình.

Tại đại trướng vừa mới hạ, Triệu Vân, Pháp Chính, Trương Nhậm và Lưu Chính đang thảo luận đối sách trước bản đồ, Triệu Vân nói với ba người:

- Lúc gần đi, Châu Mục nói rất rõ ràng, hơn một năm nay Tuân Du luôn bố trí phòng ngự, chỉ có yếu kém về binh ít binh nhiều, mà không hề có sơ hổ trong phòng ngự, tuy là Mộc Môn trại, cũng phải ác chiến một lần, nhưng ta một đường suy xét, nếu Châu Mục để chúng ta Đông tiến, chính là không muốn tổn thất quá lớn, nếu ta vì mở đông đạo mà làm tổn hại nặng nề, thì cũng không có ý nghĩa gì, vì vậy, lần này tấn công Mộc Môn trại, ta không muốn tấn công mạnh.

Nói tới đây, Triệu Vân nhìn Pháp Chính, thấy Pháp Chính như thoáng có suy nghĩ, liền cười nói:

- Pháp quân sư có thượng kế gì không?

Pháp Chính cười nói:

- Dọc đường đi chúng ta hành quân thuận lợi, căn bản không thấy có dấu hiệu mai phục của Quân Tào, điều này chứng tỏ sách lược Mộc Môn trại của Quân Tào rất đơn giản, chính là tử thủ, có thể nói đây chính là dĩ bất biến, ứng vạn biến, hẳn là kế của Tuân Du, nhưng có những trường hợp Tuân Du cũng không thể ngờ được.

Mọi người cùng đồng thanh hỏi:

- Trường hợp như thế nào?

Pháp Chính cười nói:

- Đó chính là chúng ta có đội quân Ưng Kích quân tinh nhuệ nhất, cho dù Quân Tào phòng ngự không có sơ hở, nhưng chúng ta cũng sẽ tạo ra sơ hở.

Sắc mặt Lưu Chính đỏ lên, gã biết trận chiến này là để cho mình xung phong, khiến trong lòng gã thấy vô cùng hưng phấn, thật ra đây cũng là ý của Lưu Cảnh. Lưu Cảnh biết rõ đi Đông đạo là gian nan, cho nên liền trực tiếp giao Ưng Kích quân cho Triệu vân, để bọn họ có cơ hội lập kỳ công, Pháp Chính cũng hiểu được ý này của Lưu Cảnh, vì vậy đề xuất Ưng Kích quân công phá Mộc Môn cốc.

Nhưng cụ thể tấn công thế nào thì Pháp Chính cũng nhất thời chưa có phương án.

Mộc Môn trại nằm ở chỗ sườn núi hiểm trở, từ trên cao nhìn xuống, là Mộc Môn cốc, đồng thời cũng chặt đứt đường đi về phía đông, cả doanh trại rộng khoảng trăm mẫu đất, kết cấu gỗ đá, qua hai lần xây dựng, khiến doanh trại trở nên chắc chắn lạ thường, có thể chống đỡ sức đập của máy bắn đá, ở bốn góc của doanh trại xây các tháp canh cao ba trượng, có lính gác ngày đêm tuàn tra, vô cùng cảnh giác.

Canh một, cách Mộc Môn trại khoảng một dặm, trong một cốc đạo xuất hiện vài bóng đen, động tác của họ nhanh lẹ giống như khỉ, nhanh chóng bò lên trên một cành cây đại thụ, người cầu đầu là thủ lĩnh thám báo Nhậm Bình, hiện tại y đã là phó tướng của Lưu Chính, chủ quản thám báo Ưng KÍch quân.

Nhậm Bình chăm chú nhìn doanh trại quân địch cách đó không xa, không khỏi lăc đầu, với kinh nghiệm của y, y không tìm thấy sơ hở của doanh trại, lúc này, ánh mắt y dừng lại trên một ngọn núi cao phía sau lưng doanh trại, nếu nhất định phải tìm một sơ hở, thì ngọn núi cao này còn có chút hy vọng.

Lúc trước khi tấn công Lịch Thành, thành trì cũng dựa lưng vào một ngọn núi lớn đây cũng chính là mấu chốt để dung máy bắn đá đánh hạ Lịch Thành, nhưng ngọn núi này lại không có cơ hôi đó, trên núi đều là những hòn đá nhỏ, trụi lủi không có cây cối, hơn nữa lại vô cùng dốc đứng, một sườn dốc thẳng tắp về phía trước.

Điều này khiến cho Nhậm Bình hơi nhụt chí, lúc này, một tên thuộc hạ nói:

- Thủ lĩnh, hay là chúng ta lên núi xem sao, xem có cơ hội nào không.

Nhậm Bình trầm tư một lát, vậy cũng đúng, việc gì chỉ có đích thân tới xem xét mới có thể biết có cơ hội hay không, y liền hạ lệnh với mấy thuộc hạ:

- Mọi người theo ta lên núi.

Mảnh đất này sở dĩ gọi là Mộc Môn, cũng bởi vì cuối cốc có hai ngọn núi hiểm trở, hai ngọn núi đều sừng sững, cuối thũng lũng tạo ra thành hình một cái cửa, vì vậy liền đặt tên là Mộc Môn cốc, hai ngọn núi lần lượt là Nam Môn sơn và Bắc Môn sơn, phía dưới Bắc Môn sơn là một cái khe sâu không nhìn thấy đáy, không có đường đi.

Muốn đi qua Mộc Môn cốc, chỉ có thể đi qua sườn núi Nam Môn sơn, mới có thể vượt qua cái cửa đặc thù này, mà đại doanh của Quân Tào lại xây dựng ngay ở sườn núi Nam Môn sơn, chặn ngang đường đi.

Đám người Nhậm Bình dùng dây thừng bò l*n đ*nh cốc, dọc theo chân núi Nam Môn đi vài dặm, tới phía trái của Nam Môn sơn, nơi này lại hoàn toàn khác với cái mặt dốc đứng bên kia, bên này dày đặc cây cối, bốn phía đều là núi cao bao quanh, không có đường đi.

Năm tên thám báo của Quân Hán bò lên trên Nam Môn sơn, bọn họ nhìn xuống khe núi thăm dò, phía dười cao khoảng hơn mười trượng, vách đá như đao gọt, khiến người ta đầu váng mắt hoa, đêm nay trăng sáng, sắc bạc rải đầy triền núi, có thể nhìn rõ tình hình trong doanh trại quân địch, hẹp dài ở bên sườn núi, lưng tựa vào núi cao, bên kia xây một cái tường trại, bọn họ đang đứng phía sau lưng của doanh trại Quân Tào.

- Nhậm thủ lĩnh, ngài nói chúng ta có thể ném hỏa cầu xuống dưới, đốt chết mẹ đại doanh của chúng không?

Một tên thuộc hạ dò hỏi.

Nhậm Bình chăm chú nhìn một lát, lắc đầu:

- Ngươi không thấy phía dưới có một loạt bè gỗ sao? Đó chính là để phòng bị hỏa cầu ném từ trên núi xuống, quan trọng hơn là, nơi này không có cách nào dung máy bắn đá, căn bản là một nơi vô cùng yên ổn.

Nhậm Bình lại quan sát một lát, liền nói với thuộc hạ:

- Đi thôi, về bẩm báo.

Trời gần sáng, Nhậm Bình về tới nơi trú doanh, đi gặp Lưu Chính, báo cáo tình hình tra xét tối qua, Lưu Chính đưa y tới đại trướng của Triệu Vân, không bao lâu Trương Nhậm và Pháp Chính cũng vội vàng tới.

Nhậm Bình vẽ một hình đơn giản trên tấm bản đồ, nói với mọi người:

- Mộc Môn trại trên thực tế có hai tường trại, khoảng cách giữa hai tường trại khoảng chừng trăm bước, đầu tường xây dựng rất kiên cố, cao khoảng hai trượng, vô cùng rắn chắc, mặt trên có thể sắp xếp binh lính, hơn nữa, trên tường trại đều không có chỗ dung máy bắn đá, nhưng bên ngoài trại có nỏ sàn, có khoảng hơn trăm cái.

- Nghe nói Mộc Môn trại có một cái khe nham thạch rất rộng, đúng không?

Trương Nhậm hỏi.

- Thực tế là có hai cái khe, bên ngoài tường có một cái khe rộng chưa tới ba trượng, là tự nhiên, còn có một cái cầu treo, vấn đề không lớn, có thể ầung tấm ván gỗ đi qua, mấu chốt là cái khe nham thạch bên trong, rộng khoảng mười trượng, chỉ có một cái cầu gỗ nối hai cái khe, hiện tại cầu gỗ chỗ này không bị phá.

Mọi người đều trầm mặc, nếu quân địch tự mình hủy cái cầu gỗ này, hậu quả là không thể tưởng, nhưng Quân Tào lại không phá nó, đây cũng là một hy vọng cho mọi người.

- Tại sao ngươi biết được tình hình trong trại?

Pháp Chính có chút kỳ lạ nói:

- Các ngươi trèo lên núi sao?

- Vâng! Chúng tôi trèo lên núi phía sau doanh trại, vách núi là sườn dốc, thẳng tắp vô cùng, giống như đao, phía dưới có bè gỗ, không thể phóng hỏa tiễn hay hỏa cầu từ trên cao được, xem ra Quân Tào cũng hấp thụ sự giáo huấn của Lịch Thành

Pháp Chính và Triệu Vân nhìn nhau, Triệu Vân hỏi:

- Vậy có thể xuống núi từ phía sau, vào được Tào doanh không?

Nhậm Bình hiểu ý của chủ tướng, y do dự một lát nói:

- Vách đá rất trơn, có thể dùng dây thừng xuống núi, hoặc dễ bị binh lính Quân Tào phát hiện, sẽ trở thành mục tiêu sống

Pháp Chính mỉm cười:

- Cái này lại không liên quan, chỉ có thể đi vào hậu doanh, đánh một trận chúng ta có bảy phần cơ hội thắng.

Y quay đầu nhìn Lưu Chính:

- Lưu tướng quân, xem ra Châu Mục đã sớm nghĩ ra, mới để Ưng Kích quân đồng hành cùng chúng ta.

Lưu Chính khom người nói:

- Ty chức nguyện xin chiến.

Ban ngày Quân Hán không có bất cứ hành động nào, nghỉ ngơi một ngày, theo màn đêm buông xuống, hai vạn Quân Hán chia làm hai đội, Trương Nhậm suất lĩnh đi trước, Triệu Vân dẫn hai vạn quân phía sau, hai đội quân trước sau lần lượt đi vào trong Mộc Môn cốc, chạy về phía ngoài Mộc Môn trại vài dặm.

Chủ tướng doanh trại Quân Tào là Trương Cáp, y là ở huyện Thượng Khuê, nhưng y nhận lệnh của Tuân Du, Quân Hán rất có thể sẽ đi thẳng tới Quận Quảng Ngụy, liền lệnh cho y cần phải cảnh giác, cũng vì nguyên nhân này, Trương Cáp liền từ huyện Thượng Khuê huyện tới Mộc Môn trại, tự mình chủ trì phòng ngự trại lớn.

Khi Quân Hán ban ngày hạ trại ở miệng hang, Trương Cáp liền nhận được báo cáo của thám tử, điều này khiến y lo lắng, Quân Hán quả nhiên tới rồi, hơn nữa là ba vạn người, điều này khiến áp lực trên vai y trở nên nặng nề, bọn họ chỉ có năm ngàn người, nhưng đối với ba vạn người, so với binh lực, Mộc Môn trại có thể giữ được sao?

Cho dù trong lòng Trương Cáp vô cùng lo lắng, nhưng y vẫn không chịu buông tha, tự mình suất lĩnh binh lính tích cực phòng ngự, bọn họ trông coi cả ngày, khi màn đêm buông xuống, Trương Cáp hơi mệt mỏi, liền lệnh cho phó tướng Vương Anh tiếp tục giám sát, y thì về doanh nghỉ ngơi.

Ngay khi y vừa chìm vào giấc ngủ, một tên lính chạy vào, hô lớn bên ngoài trướng:

- Tướng quân, phát hiện động tĩnh quân địch, bọn chúng muốn tấn công rồi.

Trương Cáp nghiêng người đứng lên, y hợp giáp mà nằm, không cần mặc, một tay nhấc thương, liền chạy khỏi trướng vải.

Trương Cáp chạy một mạch tới tường trại, nhìn chằm chằm về phía ngoài, thấp giọng hỏi Vương Anh:

- Phát hiện bao nhiêu quân địch?

- Nhìn không rõ lắm, nhưng lính gác nói, số lượng hẳn là rất nhiều.

Trương Cáp ngẩng đầu nhìn lên bầu trời, đêm nay trời nhiều mây, một vầng trăng sáng đi qua mây, khiến bốn phía đại doanh trở lên lúc sáng lúc tối.

- Phóng nỏ sàn ra.

Trương Cáp hạ lệnh một cách dứt khoát.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 662: Huyết chiến Mộc Môn (trung)


Quân Hán mặc dù có ba vạn người, nhưng bởi vì địa hình hạn chế, trên thực tế quân đội có thể đầu nhập tác chiến nhiều nhất cũng chỉ năm ngàn người, chỉ có điều quân Hán có thể liên tục bổ sung không ngừng, đánh chiến tiêu hao, cuối cùng đánh hạ được Mộc Môn trại, nhưng đây cũng không phải là ý ban đầu của Triệu Vân, mặc dù y biết cái giá phải trả rất nhiều, thu hút quân địch, nhưng y cũng không muốn tổn thất nhiều binh lực.

Trương Nhậm là chủ tướng tiến công, gã suất lĩnh năm nghìn quân đã lặng lẽ tới gần Mộc Môn trại rồi, nơi này cách tường trại hoảng ba trăm bước, lực nhìn của mắt gã rất tốt, có thể thấy rõ tình huống phòng ngự của đối phương, khi ánh trăng từ trong mây xuyên ra, chiếu vào sườn núi, phòng ngự của quân Hán lập tức trở nên rõ ràng.

Chỉ thấy trước tường trại có một mương máng thiên nhiên, rộng chừng ba trượng, còn kéo một tòa cầu treo cao cao, trên tường trại xuất hiện đầy binh lính, không châm lửa, nhìn đông nghìn nghịt.

Đúng lúc này, trên tường trại vang vọng những tiếng “tạch, tạch” ngay sau đó vô số viên chấm đen nhỏ gào thét về hướng miệng cốc, trong nháy mắt đã tới ngay trước mặt, không ngờ là gần trăm tiễn lớn dài bốn thước, đây là tiễn nỏ sàn, trong vòng ba trăm bước có thể đoạn kim liệt thạch, lực đạo cực kỳ mạnh mẽ.

Tên nỏ nhắm vào trong rừng cây, chỉ nghe thấy vài tiếng kêu thảm thiết phát ra, đây rõ ràng là binh lính quân Hán bị trúng tên rồi. Trong trạm gác lập tức vang lên tiếng cảnh báo, tiếng hô to gọi nhỏ ở trên đầu tường, binh lính quân Tào hết sức khẩn trương. Đúng lúc này, Pháp Chính đi nhanh đến bên Trương Nhậm, nói nhỏ:

- Tướng quân, một khi quân Tào lui lại, họ tất nhiên thiêu hủy cầu, chúng ta nhất định phải phòng ngừa, ta có một kế, có thể nhanh chóng cướp lấy cầu.

Y ghé sát vào nói nhỏ bên tai Trương Nhậm vài câu, Trương Nhậm gật gật đầu:

- Ta đã hiểu ý của quân sư rồi, sẽ đi an bài ngay.

Đợi Pháp Chính lui ra, Trương Nhậm hét lớn:

- Đội thứ nhất lên!

Tiếng trống ầm ầm nổ lớn, từ trong rừng cây chạy ra hơn một ngàn binh lính, mỗi người tay cầm tấm chắn, trên vai khiêng tấm ván gỗ dài, dọc theo triền núi chạy về phía trước. Nhiệm vụ của họ là dựng tấm ván gỗ trên mương máng, ngay khi họ vừa mới chạy ra khỏi rừng cây lại nghênh đón trăm sàng nỏ tiễn phóng tới, tiễn lực mạnh mẽ, liên tiếp bắn thủng hơn mười tấm chắn, khiến binh lính quân Hán sau tấm chắn chết ngã trên đất.

Nhưng số lượng nỏ sản quá ít, không thể tạo thành uy h**p trí mạng đối với quân Hán, một ngàn binh lính vẫn lao mạnh liệt về phía doanh trại quân Tào...

Quân Tào bố trí hai ngàn quân bên ngoại doanh trại, do phó tướng Vương Anh thống soai, Trương Cáp thì dẫn ba nghìn quân thủ ở trong trại, lúc này Vương Anh đứng ở trên đầu tường quát ra lệnh:

- Cung nỏ thủ chuẩn bị, bắn!

Hai ngàn binh tiễn cùng nhau bắn lên không trung, vẽ thành một đường cong hẹp dài, bắn thẳng vào binh lính quân Hán đang càng lúc càng đến gần. Dù binh lính quân Hán giơ cao tấm chắn lên, nhưng tên dài dày đặc, vẫn không ngừng có binh lính bị bắn trúng, kêu thảm ngã xuống đất.

Lúc này, mặt sau lại xông lên một ngàn binh lính quân Hán, họ khiêng thùng gỗ dầu hỏa nặng hai mươi cần, chạy lên sườn núi, đi theo sau một ngàn binh sĩ đang chạy phía trước. Hai ngàn quân tre già măng mọc, dần dần vọt tới trước tường thành, đem từng tấm ván gỗ lần lượt đặt lên mương máng. Nhưng trong mưa tên dày đặc của quân Tào, vẫn không ngừng có binh lính ngã xuống.

Từng cây lăng trên doanh trại nện xuống, binh lính quân Hán dày đặc trên sườn núi quay cuồng lăn xuống, dù từng nhóm từng nhóm binh lính bị nện ngã, chết thê thảm và nghiêm trọng, nhưng phía sau một ngàn binh lính quân Hán vẫn xông lên, đem mấy trăm thùng dầu hỏa ném dưới tường trại.

Hai ngàn binh lính quân Hán nhanh chóng rút lui về phía sau, họ cũng không phải quân đội tiến công, phần lớn không mang binh khí, sau khi hoàn thành nhiệm vụ thì lập tức rút khỏi. Một vòng xung phong này khiến quân Hán đã phải trả cái giá là mấy trăm người, trên sườn núi và trong mương máng đầy khắp thi thể của binh lính bỏ mình.

Nhưng vòng tiến công thứ ba của quân Hán lại chậm chạp không tiến hành, trên chiến trường an tĩnh lại, Vương Anh thăm dò nhìn mấy trăm thùng dầu gỗ trên sườn núi và dưới góc tường, da đầu không khỏi như muốn nổ tung. Thật ra họ cũng có dầu hỏa nhưng lại sợ đốt ngược lại mình nên mới chập chạp không dám sử dụng.

Doanh trại quân Tào kết cấu bằng gỗ đá, rất dễ bị đốt, việc phòng cháy đặc biệt nặng nề. Vương Anh thấy quân Hán không tiến công nữa, hoàn toàn có thể bắt lấy cơ hội này để xử lý sạch tai họa ngầm, liền lập tức ra lệnh:

- Hai trăm người đi ra ngoài, vận chuyển toàn bộ thùng dầu gỗ về, ném tấm ván gỗ vào trong khe đi.

Cầu treo chậm rãi buông xuống, cửa trại mở ra, hai trăm binh lính quân Tào xông ra, động tác của họ nhanh chóng, vận chuyển tấm gỗ đặt lên mương máng ném vào trong mương máng, lại gánh từng thùng dầu lên vai, quay người chạy vào trong doanh trại.

Nhưng vào lúc này, chân núi bỗng có âm thanh mãnh liệt, mấy ngàn binh lính quân Tào múa may trường mâu chiến đao, từ trong thung lũng giết ra, họ giống giận, lao tới phía tường trại. Vương Anh quá sợ hãi, hô to:

- Mau nhấc cầu lên!

Cầu treo bỏ mặc quân Tào chưa chạy về kịp bắt đầu được kéo lên, nhưng không ngờ đúng lúc này đã xảy ra chuyện, mười mấy binh lính quân Hán bỏ mình ở hai bên cầu treo bỗng nhảy dựng lên, xông lên cầu treo.

Vài người thân hình cao to lực lưỡng vung rìu lớn chém xích sắt trên cầu treo, chỉ thấy ánh lửa văng khắp nơi, “răng rắc” mấy tiếng, xích sắt trước sau đã bị chém đứt, cầu treo kéo lên được ba thước lại ầm ầm rơi xuống.

Mười mấy binh lính này lập tức vọt vào cửa trại, dùng thân thể ngăn vững cửa trại, ác chiến với quân Tào tại trước sau cửa trại. Họ vô cùng dũng mãnh, lấy một chọi mười, giết cho quân Tào liên tiếp bại lui.

Trên tường trại, Vương An bị cảnh tượng trước mắt mà trợn mắt há hốc mồm, biến cố phát sinh đột ngột này khiến tất cả quân Tào đều trở tay không kịp.

Đây là diệu kế của Pháp Chíh, dùng ba mươi binh lính Ưng Kích Quân trà trộn vào trong binh lính thường, giả bộ bỏ mình, ngã vào xung quanh cầu treo.

Pháp Chính liệu định chủ tướng quân địch nhất định phái người ra thanh trừ dầu hỏa và tấm ván gỗ trên mương máng, như vậy cơ hội cướp lấy cầu gỗ và tường trại ngay tại một khắc này.

Vương Anh cuối cùng cũng kịp phản ứng, hét lớn:

- Tiêu diệt hết bọn chúng, đóng cửa trại lại!

Miệng cửa trại đã có trăm người đang chiến đấu kịch liệt với ba mươi binh lính Ưng Kích Quân, rất nhanh đã có thêm mấy trăm người nữa lao đến.

Mà cùng lúc đó, mấy ngàn quân Hán đã nhưng sóng lớn nhảy chồm giết tới, mắt thấy sắp giết tới miệng cửa trại, Vương Anh biết rằng trại ngoài đã khó bảo toàn, hô to:

- Lui lại!

Hai ngàn binh lính quân Tào đều nhảy xuống tường trại chạy vào trong trại.

Cái gọi là tường trại ngoài thực ra là một tuyến phòng ngự phụ trợ, cũng không phải là doanh trại chân chính, phá được tường ngoài trại chính là đến đến gần một bước doanh trại chính rồi.

Nhưng giữa hai tòa tường trại còn có một khe thiên nhiên rộng chừng mười trượng, dưới khe sâu không thấy đáy, ngã xuống chắc chắn chết không thể nghi ngờ.

Trên khe đã là một cầu gỗ dài bắc qua, cầu gỗ dài chừng sáu trựng, chiều rộng ba trượng, nhìn có vẻ khá cũ kỹ rồi, chỉ có thể xông qua cầu gỗ phá thông cửa trại bên trong mới chân chính giết nhập vào Mộc Môn trại.

Thật ra biện pháp phòng ngự tốt nhất chính là hủy cầu gỗ, ngăn quân Hán tại phía tây của khe, phòng ngự cũng chắc chắn hơn, nhưng Trương Cáp suy xét đến mặt trước còn có một tường phòng ngự, vốn cũng không phá hủy cầu gỗ.

Mấy trăm quân Hán tiên phong do Trương Nhậm suất lĩnh xông qua tường ngoài, trực tiếp thẳng hướng cầu gỗ, lúc này, hơn mười binh lính quân Tào dưới sự chỉ huy của Vương Anh, đang ở trên cầu hắt vẫy dầu hỏa, chuẩn bị đốt cầu.

Trương Nhậm gấp đến độ mắt đỏ ngầu, hét lớn một tiếng, xông lên cầu gỗ, đỉnh thương liên tiếp đâm ngã bảy tám người. Vương Anh thấy tình thế không ổn, ném cây đuốc trong tay ra, dầu hỏa trên cầu lập tức bùng lên.

Trương Nhậm hét lớn:

- Tướng địch nhận lấy cái chết!

Gã nhảy xông lên, vung thương đâm Vương Anh. Vương Anh kêu thảm một tiếng, ngã xuống trong khe đá sâu không thấy đáy.

Lúc này, binh lính quân Hán phía sau xông lên một loạt, dùng bùn đất dập lửa, họ vô cùng may mắn, trước khi quân địch thiêu hủy cầu đã chiếm cầu gỗ sống còn này trước.

Dựa theo kế hoạch ban đầu của Trương Cáp, một khi quân Tào rút lui qua cầu gỗ là có thể phóng hỏa đốt cầu, ngăn quân Hán ở bờ tây, quân Hán muốn dựng một cầu gõ trên khe rộng chừng mười trượng cũng không phải chuyện dễ, hơn nữa quân Tào có thể thiêu hủy cầu gỗ bất cứ lúc nào.

Nhưng kế hoạch dù gì cũng không bằng biến hóa, quân Tào khéo léo cướp lấy tường trại ngoài, quân Hán tiên phong chiếm lĩnh cầu gỗ trước, kế hoạch thiêu hủy cầu gỗ của Trương Cáp cũng theo đó mà thất bại.

Tình thế đã bắt đầu gây bất lợi cho quân Tào, càng nhiều quân Hán không ngừng tới, tuy nhiên binh lính quân Tào cũng phát hiện nhân số quân Hán không nhiều, lại chịu hạn chế về địa hình, nhiều nhất cũng chỉ có mấy ngàn người tấn công doanh trại.

Quan trọng hơn là, doanh trại có địa thế tương đối cao, cao hơn cầu gỗ chừng ba trượng, binh lính quân Tào từ trên cao nhìn xuống, doanh trại dễ thủ khó công, đây cũng là lòng tin của Tuân Du, chỉ cần bảo vệ địa lợi, cho dù quân Hán xuất binh ba vạn, cũng đừng mơ cướp được Mộc Môn trại.

Lúc này Trương Cáp đã từ trong hốt hoảng tỉnh táo lại, y mệnh lệnh đóng cửa trại, lập tức tổ chức binh lính tiến hành phản kích. Trong tường trại có hơn ba nghìn binh lính, bọn họ đều giương cung lắp tên, mưa tên dày đặc bắn về phía trên cầu mấy trăm quân Hán. Binh lính quân Hán thì nâng lá chắn đón đỡ, một mặt dùng mưa tên dày đặc bắn vào quân Tào, một mặt ý đồ ác chiến với hơn ngàn binh lính quân Tào để đoạt lại cầu gỗ.

Lúc này còn có gần 1500 binh lính quân Tào không kịp rút về trại lớn, cửa trại đã ầm ầm đóng lại, hơn ngàn binh lính quân Tào này trở thành nhóm đầu tiên chiến đấu với quân Hán. Cầu gỗ chật ních binh lính hai quân, trong không gian chật hẹp, song phương triển khai chém giết máu tanh.

Ngay lúc quân Hán quy mô tiến công doanh trại, thu hút chủ lực quân Tào, bốn trăm Ưng Kích Quân cũng bò lên trên núi cao sau trại lớn của quân Tào.

Nhưng lúc này ông trời đã không chiếu cố quân Hán nữa, mây đen trên không trung bắt đầu trở nên thưa thớt, một vầng trăng sáng chiếu vào Mộc Môn trên núi, làm thân núi bao trùm một mầu sáng bạc, nếu lúc này xuống núi, người dưới chân núi sẽ phát hiện rõ ràng có quân địch xâm lấn.

Nhưng Lưu Chính lại không chút do dự đưa ra quyết định, ném sợi dây xuống núi, gã không có lựa chọn, dưới chân núi chiến đấu kịch liệt, có nhiều binh lính bỏ mình cũng là vì yểm hộ bọn họ từ mặt sau giết nhập vào doanh trại quân Tào.

Từng đám dây thừng dài hơn mười trượng được vứt từ vách núi xuống, Lưu Chính trầm giọng ra lệnh:

- Doanh thứ nhất xuống nui!

Nhậm Bình làm Phó thống lĩnh, y là người đầu tiên vịn dây thừng dài xuống núi, binh lính Ưng Kích Quân phía sau cũng theo xuống, một lát, từng chấm đen nhỏ dài bám vào dây thừng dài năm trượng nhanh chóng bám leo xuống chân núi.

Lưu Chính chăm chú nhìn cấp dưới xuống núi, trong lòng gã cực kỳ khẩn trương, cắn chặt môi, gã biết rằng trong chuyện này rất phiêu lưu, chỉ cần bất luận một gã binh lính quân Tào quay đầu lại, đều có thể nhìn thấy binh lính Ưng Kích Quân trên vách núi đá.

Hôm nay, ông trời vốn là chiếu cố họ bỗng thay đổi chủ ý, điều này có phải có ý nghĩa bọn họ sẽ không thuận lợi hay không?
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 663-1: Huyết chiến Mộc môn (hạ) (1)


Cuộc tấn công vào doanh trại đang hồi gay cấn, trên cây cầu gỗ dài cả chục trượng xác chất thành núi, máu chảy thành sông, gần nghìn quân Tào không kịp tháo chạy gần như đều bị giết sạch, chỉ còn lại mấy trăm người khổ sở dựa vào cửa trại cố gắng chống chọi với từng lớp từng lớp quân Hán đang tiến lên tấn công.

Bọn họ tuyệt vọng chửi bới, không ngừng đập cửa trại, mong muốn cửa trại có thể hé ra một khe hở để bọn họ có thể rút vào trong trại, nhưng cánh cửa lớn không chút sứt mẻ, bên trong đã đóng rất chặt, bọn họ chỉ có một con đường duy nhất là tử chiến, thậm chí đến cả đường đầu hàng cũng không có, hai bên nếu ta sống ắt ngươi phải chết, đến nước này rồi chẳng ai còn hơi đâu mà suy xét chuyện tù binh.

Nhưng trận mưa tên dày đặc trên doanh trại quân Tào giảm nhẹ áp lực của bọn họ, trên tường trại chật ních binh lính quân Tào, chừng hơn ba ngàn người, bọn họ bắn tên từ hai bên, tên bay như châu chấu, những đám tên dày đặc che trời phủ đất không thông nổi gió mưa.

Lúc này quân Hán cũng chết thê thảm như vậy, kẻ chết trận con số đã lên đến trên ngàn người, đến chủ tướng Trương Nhậm cũng trúng hai tên, y dựa lưng vào thành cầu, mấy chục tên thân binh dùng khiên bảo vệ cho y, tiếp tục chỉ huy trận chiến trong màn mưa tên.

Trong lòng Trương Nhậm nóng như lửa đốt, lúc này quân Hán hoàn toàn bị động, bị kẹt giữa hai bên tường trại, chẳng khác gì bị phục kích, mưa tên từ hai bên bay tới khiến tướng sĩ quân Hán khó bề chống đỡ, chỉ có thể dựa lưng vào nhau dùng khiên phòng ngự.

Nhưng như vậy, bọn họ sẽ không có cách nào tiến công được, cả một lượng lớn quân lính bị chặn lại trên một đoạn cầu dài chục trượng, rộng bốn trượng, đoạn cầu ngắn ngủn đó không ngờ có thể chứa được gần nghìn rưỡi quân.

Tên dày đặc như mưa đá bay về phía mặt cầu, hai trăm binh lính quân Hán tay cầm khiên lớn, tạo thành những bức tường khiên chắc chắn hai bên cầu, hiệu quả ngăn chặn sức xiên của những mũi tên. Cho dù là như vậy, nhưng mặt cầu vẫn là nơi nguy hiểm, nếu quân Tào dùng hỏa dầu tấn công, quân của y nhất định sẽ chết rất thê thảm.

Tren thực tế, quân Tào cũng không ngừng dùng loại máy bắn đá loại nhỏ bắn từng thùng dầu hỏa về hướng cây cầu, chỉ tiếc là quân sĩ trên cầu quá nhiều, thùng gỗ chỉ có thể văng vào khiên, rồi lập tức bị rơi xuống rãnh sâu hai bên, không thể rơi trên mặt cầu được.

Vết nứt phía đông lửa đã hừng hực, ngọn lửa tuy không thể nào lan tới cây cầu, nhưng gió núi lại thổi tới những đợt khói cuồn cuộn, nhấn chìm cây cầu gỗ.

Từng tốp lính không thể chịu nổi làn khói dày đặc như thiêu đốt này, bị ép phải rút khỏi cây cầu, nhưng ngay lập tức lại có một toán quân mới tiến lên, cũng chính vì lẽ đó mà Trương Nhậm không muốn cho rút khỏi cầu gỗ, chống đỡ những loạt mưa tên và hỏa tiễn mà quân Tào không ngừng b*n r*.

Bây giờ bọn họ chỉ có thể cố trụ cho đến khi Ưng Kích quân tấn công vào doanh trại, doanh trại địa thế rất cao, từ trên cao nhìn xuống dường như đã khóa chặt bọn họ lại, khiến họ khó có thể triển khai tấn công được, một khi hỏa lực của quân Tào thiêu rụi cây cầu, bọn họ có muốn cướp được cánh cửa gỗ thì càng phải trả giá đắt hơn.

Trương Nhậm lòng nóng như lửa đốt, Ưng Kích quân sao vẫn chưa phát động tấn công?

………………..

Trương Nhậm cũng không nghĩ tới, lúc này Ưng Kích Quân cũng gặp phải một rắc rối lớn, khi bọn họ xuống núi đã để quân canh gác của quân Tào phát hiện, quân canh gác lập tức lên tiếng cảnh báo, Trương Cáp lúc này mới hay quân Hán thực ra đang dùng kế dương đông kích tây, liền lập tức phái năm trăm quân dùng cung tên tấn công lên phía quân Hán trên những vách đá cheo leo.

Lúc này hơn một trăm binh línhƯng Kích quân bị vây lại trên vách đá, bọn họ một tay nắm dây thừng từ từ xuống núi, một tay giơ cao khiên, ứng phó với làn tên dày đặc đang phóng tới.

Càng khốn khổ hơn là, dưới chân núi găm đầy những cây sắt nhọn dài đến vài thước, chỉ đến khi gần đến mặt đất mới phát hiện ra, những thứ này dùng để đối phó những tên đánh lén từ trên núi xuống, nếu bọn họ vội vàng nhảy xuống, chắc chắn sẽ chết.

Lúc này, đã có năm sáu binh línhƯng Kích Quân bị bắn trúng, kêu thảm thiết rơi xuống sườn núi, chết trên những cây chông, Nhậm Bình mồ hôi trên trán rơi lã chã, gã vẫn chưa phát hiện thảm chông trên mặt đất.

Nếu lần tập kích này thất bại, sẽ gây nên hậu quả nghiêm trọng, lúc này gã đột nhiên phát hiện một thông đạo phía bên phải vách núi, được xây bằng đá, rộng ba thước, dài hơn hai mươi bộ, thông thẳng tới bên trong doanh trại, đoán chừng được dùng để dựng những bè gỗ trên vách đá, mấy chục tên quân Tào liền đứng trên đó mà bắn tên về phía họ.

Phát hiện này khiến Nhậm Bình vô cùng mừng rỡ, gã quay đầu hô to:

- Tất cả theo ta!

Gã đeo khiên lên lưng, bám chặt vách đá, kéo sợi thừng dài chầm chậm tiếp cận thông đạo, người cũng không ngừng tuột xuống, khi còn cách thông đạo khoảng một thước gã đem sợi dây quấn mấy vòng vào một hòn đá nhô ra, cố định trên vách đá, thả người nhảy một cái lên thông đạo.

Gã tay trái cầm khiên, tay phải rút chiến đao ra, hét lớn xông lên phía trước, dùng khiên ghìm chặt trường giáo của một binh lính quân Tào, xoay tay một đao khiến tên địch nằm lăn trên thông đạo.

Lúc này, mấy chục binh lính Ưng Kích Quân cũng theo gã nhảy xuống thông đạo, xông lên phía trước, đám binh sĩ quân Tào cũng đã phát hiện có người nhảy lên thông đạo, hơn hai trăm tên lính ríu rít giơ trường mâu lên, reo hò hướng về phía đó nghênh chiến.

Thảm chông dày đặc trên mặt đất khiến Ưng Kích Quân không thể tiếp cận mặt đất, chỉ có thông đạo mới có thể sát phạt thẳng vào nội doanh, con đường này ngay tức khắc biến thành điểm giao tranh chủ yếu của hai bên.

- Xông lên!

Một gã nha tướng quân Tào chỉ huy chiến dịch, gã phát hiện dùng tên bắn địch trên vách núi không mấy hiệu quả, mấy lần bắn mới chết có năm tên địch, hơn nữa thông đạo đó có thể trở thành điểm đột phá của quân địch, gã liền thay đổi chiến thuật, lớn tiếng ra lệnh:

- Toàn quân tiến lên, dùng trường giáo giết giặc!

Mấy trăm binh lính quân Tào ùa lên, mấy chục binh lính Ưng Kích Quân rút nỏ đơn luôn mang theo mình ra, nhằm quân Tào phía thông đạo mà bắn, cho dù quân số của bọn họ không nhiều, nhưng tiễn pháp lại vô cùng tinh chuẩn, bắn cho đám binh lính quân Tào đang chen chúc lũ lượt kéo tới ngã rạp trên mặt đất.

Nhưng nhân số quân Tào đông lắm, vẫn còn hơn trăm người xông lên thông đạo, mà lúc này, lại có thêm mấy chục binh lính Ưng Kích Quân nhảy lên thông đạo, tổng cộng ba mươi người cầm khiên và chiến đao ác chiến với binh lính quân Tào, bọn họ thần dũng phi thường, đánh đến nỗi quân Tào liên tiếp bại lui.

Nhậm Bình dùng trường mâu cướp được đâm liên tiếp chết mấy người, dẫn đầu xông xuống dũng đạo, theo sau là ba mươi tên thuộc hạ cùng gã mở một đường máu, xông xuống dũng đạo, điều này có nghĩa là quân Hán đã cướp được thông đạo quan trọng này.

Quân Tào hai bên điên cuồng đánh tới, ý đồ giết sạch bọn họ, cướp lại thông đạo, lúc này, Trương Cáp cũng đã có được tin tức, để tránh quân địch tập kích doanh trại từ phía sau, y lại phái đi năm trăm binh sĩ tinh nhuệ, trước sau đầu tư hơn ngàn người, đều là quân sĩ dũng mãnh thiện chiến trong đội quân Tào, họ hình thành một hàng phòng ngự bằng tường thịt dày đặc đối kháng Ưng Kích Quân.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 663-2: Huyết chiến Mộc môn (hạ) (2)


Trận chiến giữa hai bên bước vào giai đoạn gay cấn, nhưng Ưng Kích Quân không được trang bị vũ khí dài, chỉ có khiên với chiến đao, điều này khiến sức mạnh chiến đấu của họ không thể phát huy được, chỉ có thể cướp lấy trường giáo của địch để tác chiến, hoàn toàn không thuận tay.

Nhưng cùng với một toán Ưng Kích Quân khác lên thông đạo, tình thế vũ khí của họ lập tức xoay chuyển, hai mươi mấy binh lính Ưng Kích Quân mang đến mấy chục thanh Trảm Mã đao.

Loại Trảm Mã dao này vốn dĩ để trang bị cho bộ binh trọng giáp, nhưng vì tính chất gọn nhẹ, chắc chắn, sắc bén vô cùng của nó, cùng với kĩ thuật đúc thành thục, Trảm Mã đao dần trở thành trang bị cho những quân chủng khác, Ưng Kích Quân là quân chủng đầu tiên được trang bị như thế.

Cùng với việc Trảm Mã Đao được trang bị cho Ưng Kích Quân, thế cục bị động dần xoay chuyển, Ưng Kích Quân dần trở nên tinh nhuệ vô cùng, Trảm Mã Đao dài bổ tới, máu liền theo đó tung ra, quân địch bị chém đứt ngang lưng, hoặc là bị chém bay đầu.

Lúc này quân Tào cũng say máu chém giết, hết lượt này chết lại lượt khác xông lên, ùn ùn không ngớt, xác chết chồng chất, cao đến ba thước, cản trở nghiêm trọng đường vào doanh trại.

Thế nên binh lính phía sau Ưng Kích Quân không ngừng dùng trường giáo đẩy thi thể ra, nhưng quân Tào quá đông, nhất là những mũi tên lạnh lùng khó chống đỡ được cũng khiến Ưng Kích Quân không thoát khỏi kết cục chết thê thảm, trong nửa canh giờ tranh giành, đã có gần ba mươi người chết trận, đây là lần thương vong lớn nhất kể từ khi Ưng Kích Quân được thành lập.

Lúc này phó Giáo Úy Ngô Ban của Ưng Kích Quân đã xuống đến dưới chân núi, xông lên trước nhất, gã có biệt hiệu là “Vượn tay dài”, là người cao lớn khôi ngô hiếm thấy trong Ưng Kích Quân, gã cao đến tám thước hai, khôi ngô khác thường, sức dài vai rộng, thanh Trảm Mã Đao dài một trượng tám trong tay gã giống như một con dao đồ tể.

Ngô Ban là em trai Ngô Ý, là mãnh tướng tề danh cùng với Lôi Đồng trong quân Ba Thục, gã không chỉ cao lớn, mà còn nhanh nhẹn linh hoạt vô cùng, Lưu Cảnh vì Ưng Kích Quân khuyết thiếu một mãnh tướng thiện chiến, bèn phong Ngô Ban là Phó giáo úy, làm Hữu phó tướng cho Lưu Chính, phụ trách đấu tranh anh dũng.

Gã dẫn theo năm mươi binh lính Ưng Kích Quân thiện chiến xuống vách đá, cũng lăn xả vào trận chiến, sự xuất hiện của gã làm thay đổi hoàn toàn thế cục, ánh đao thoáng qua, chỉ thấy đầu người lăn lông lốc trên đất, máu thịt văng lung tung, tứ chi đứt lìa, tiếng kêu la thảm thiết vang lên trong không trung.

Ngô Ban hét lớn một tiếng, nhảy vọt vào đám người, lưỡi dao sắc bén văng bổ, bốn gã binh lính quân Tào bị chém thành tám mảnh, lại xoay tay một cái, ba cái đầu người bay lên, máu phọt lên lỗ cổ cao cả trượng.

Thần sắc hung hãn của Ngô Ban đủ để dọa chết khiếp mấy chục binh lính quân Tào xung quanh, bọn họ xưa nay chưa từng gặp một sát thần nào hung hãn đến vậy, sợ đến nỗi hai chân run rẩy, Ngô Ban chém giết hăng say, điên cuồng hét lên một tiếng, vung đao bổ về phía mấy chục binh lính quân Tào, lại có mười mấy người đầu một nơi thân một nẻo, binh lính quân Tào sợ đến nỗi hét to một tiếng, quay đầu tháo chạy.

Ngô Ban ngửa mặt lên trời cười ha hả, gã vung tay lên, hô lớn:

- Các huynh đệ, tiến vào địch doanh!

Lúc này, ngày càng nhiều binh lính Ưng Kích Quân từ trên vách đá xuống, đến chủ tướng Lưu Chính cũng xông xuống, hơn bốn trăm binh lính Ưng Kích Quân dũng mãnh phi thường, con đường tới chiến thắng cuối cùng cũng đã khai thông.

……………

Cùng với việc mấy trăm binh lính Ưng Kích Quân tiến vào doanh trại, chiến cuộc cũng bắt đầu nghịch chuyển, ngày càng có nhiều quân Tào bị bắt phải quay đầu đối phó với Ưng Kích Quân, đến Trương Cáp cũng bị bắt quay đầu đối phó quân địch tấn công vào nội doanh.

Mà binh lính quân Tào cố thủ ở cửa doanh chỉ còn lại có hơn ngàn người, Trương Nhậm đã biết quân của Lưu Chính đã thắng thế, y lớn tiếng ra lệnh:

- Toàn quân tiến lên, công thành!

Tiếng kèn trầm thấp vang lên, trống trận như sấm, mấy ngàn quân Hán hò reo xông qua cầu gỗ, hơn trăm tên lính ôm chùy đâm vào bức tường cao của doanh trại. Sau lưng bọn họ, mấy ngàn quân Hán đang đồng loạt bắn tên, trận mưa tên át chế hoàn toàn quân Tào trên thành.

Hơn ngàn quân Tào thấy tình thế không ổn, lũ lượt rút từ thông đạo trên tường về phía cửa lớn, chuẩn bị tiếp nhận trận ác chiến nơi cửa lớn.

- Ầm!

Một tiếng vang thảm thấu lòng người, cánh cửa lớn rung mạnh, mấy chục binh lính quân Tào phía sau run sợ vội vàng lùi sau, lúc này, trăm tên quân Hán đột ngột hét lớn, cây chùy công thành khổng lồ lại lần nữa đâm vào cánh cửa, trại môn không chống đỡ được lực va chạm mạnh như vậy, cuối cùng cũng vỡ vụn, cửa lớn bị thủng một lỗ lớn.

Bức tường Mộc Môn trại tuy cao lớn vững trãi, mà từ trên cao nhìn xuống, đến thang công thành bình thường cũng không thể với tới, nhưng nó vẫn có hạn chế, giống như một cái thùng đựng đầy nước vậy, khi một viên bị vỡ, thì cả cái thùng cũng không thể nào đựng nước được nữa, cho dù những cái còn lại có kiên cố thế nào đi chăng nữa.

Đai môn bị phá thông, doanh trại trông có vẻ phòng thủ kiên cố trong chốc lát bị tan rã, quân Hán như nước thủy triều dâng tràn vào trong doanh giết chóc, Trương Nhậm dẫn mấy trăm binh lính xông lên trước nhất, như cuồng phong lướt qua đêm tối, vọt vào cửa trại đầu tiên.

Lúc này, quân Tào ở cửa trại đang chìm đắm trong sợ hãi và hoang mang cực độ, doanh trại bị công phá khiến bọn họ không biết phải làm thế nào, mấy ngàn binh lính quân Hán xông vào đại doanh, chiến đao bổ chém, trường mâu đâm tới, đầu người bay lên, ngực bị đâm thủng.

Phía trước quân Hán hung hãn như mãnh hổ, mọi sự kháng cự đều là vô ích, quân thủ trại lũ lượt quỳ gối xin hàng, kẻ ngoan cố chống lại sẽ bị giết tại trận, Trương Nhậm dẫn quân chạy thẳng tới, phi thẳng tới đông môn của Mộc Môn trại, lúc này đông môn đã bị Ưng Kích Quân chiếm giữ, Trương Cáp dẫn hơn ngàn quân định phá vòng vây quân địch, tháo chạy ra ngoài trại.

Hai bên giao tranh ác liệt tại cửa đông, Trương Cáp ngồi trên lưng ngựa, đang chiến đấu ác liệt với bộ tướng Ngô Ban, cho dù Ngô Ban là mãnh tướng đất Thục, nhưng so với danh tướng Hà Bắc Trương Cáp mà nói vẫn còn kém xa, bị đánh cho liên tiếp lùi sau, xem chừng không chống đỡ nổi.

Đúng lúc này, phía xa truyền tới tiếng hò hét rung trời, Trương Cáp phát hiện có mấy ngàn quân Hán đang đánh sang bên này, dẫn đầu dường như là chủ tướng quân Hán, trong lòng y biết là không ổn, cũng bất chấp Ngô Ban, quay đầu ngựa xông về phía cửa lớn, múa may cương sóc, một lượt giết mười mấy người, mở một con đường máu.

Thân binh của y nhân cơ hội đẩy mở cửa lớn, Trương Cáp hai chân thúc chiến mã, chạy ra khỏi cửa đông, mang theo hơn hai trăm thân binh hoảng sợ bỏ chạy theo hướng đông.

- Đầu hàng! Chúng tôi đầu hàng!

Hơn ngàn quân Tào thấy Trương Cáp bỏ chạy, bọn họ lại không có cả hi vọng chạy trốn, tiếng kêu đầu hàng thảm thiết của bọn họ vang lên.

Từng toán binh lính quân Tào bỏ vũ khí, chốc lát đã có gần hai nghìn người đầu hàng, bọn họ quỳ trên đất, khẩn cầu quân Hán tha mạng, trong lòng mỗi người tràn đầy sợ hãi, rất nhiều người run lẩy bẩy, đến quỳ cũng không vững, hoàn toàn xụi lơ trên mặt đất.

Lúc này Triệu Vân cũng tiến vào doanh trại, y híp mắt đánh giá tòa thành kiên cố này, đánh giá đám lương thực chất thành núi trong kho, thầm thở một hơi dài nhẹ nhàng, chiếm được Mộc Môn trại, có nghĩa là nhiệm vụ lần nãy của y đã thành công một nửa.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 664: Quân cứu viện đã đến


Ngay sau đêm quân Triệu Vân đông tiến, Lưu Cảnh cũng dẫn quân bắc tiến ngay trong đêm, hắn lệnh cho Ngụy Diên dẫn một vạn quân canh giữ Tây Thành, hắn đích thân dẫn bốn vạn quân lên bắc, trưa ngày hôm sau đã đến Thượng Phương cốc, Lưu Cảnh lệnh cho quân cắm trại ở phía nam Thượng Phương cốc. Thượng Phương cốc bốn bề thế núi trống trải, hơn nữa lòng cốc rộng nhất cũng chỉ có một dặm, có thể dựng đại doanh, nhưng cuối cùng thì Lưu Cảnh cũng không lựa chọn cắm trại giữa lòng thung lũng.

Thám báo quân Hán đã nhiều lần dò xét tình hình quân Tào ở Thượng Phương cốc, ba đại doanh của quân Tào, gần bẩy vạn quân chặn đứng đường phía bắc cốc, bất kể là binh lực hay địa thế, quân Tào đều chiếm ưu thế vô cùng lớn, Mộc Môn trại có thể vì lực lượng quân Tào ở đó quá mỏng, vẫn còn có khả năng phá được, nhưng phòng ngự trên Thượng Phương cốc của quân Tào cơ bản rất khó công phá.

Lưu Cảnh cũng không vội phát động tấn công, hắn cho xây dựng đại doanh, thiết lập doanh trại, kiên nhẫn đối đầu với quân Tào, chờ đợi cơ hội tiến công, quan trọng hơn là hắn đã cho xây dựng thành công hệ thống vận tải lương thảo, không còn phải lo lắng vấn đề quân lương nữa, hoàn toàn có thể thong dong giằng co với quân Tào.

Ngày thứ ba trong thế giằng co, Lưu Cảnh nhận được tin, Giả Hủ và lão tướng Nghiêm Nhan dẫn ba vạn viện quân đến Tây Thành, viện binh đến Tây Thành, đang tiếp tục bắc tiến, hướng về phía Thượng Phương cốc, thông tin này khiến cho Lưu Cảnh vui mừng quá đỗi, hắn đang đợi sự xuất hiện của Giả Hủ, bây giờ cuối cùng cũng chờ đợi được điều này, Lưu Cảnh đích thân ra cách trại năm dặm, nghênh đón quân tiếp viện.

Do Giả Hủ tuổi tác đã cao, sau chiến dịch ở Kinh Châu, lão đã không còn tham gia vào một chiến dịch cụ thể nào nữa mà vạch mưu lược tác chiến cho Lưu Cảnh, nhưng sau khi lão nghe tin Tào Tháo cũng rời khỏi Nghiệp Đô vội đi Thiên Thủy, Giả Hủ cũng đứng ngồi không yên, không quản tuổi tác, kiên quyết theo viện binh tới đây.

Giả Hủ và quân đội của nn sắp đến đai doanh quân Hán, người đồng hành còn có chủ Tượng Học viện Mã Quân, lão đem theo một trăm đệ tử ưu tú, đến góp sức cho quân đội, một tên lính chỉ về phía trước hét to:

- Quân sư mau nhìn xem, Châu Mục đến rồi!

Chỉ thấy phía trước một đại đoàn kị binh đi tới, tinh kì phấp phới, dưới một lá cờ đỏ viền vàng, mười mấy tên tướng đang vây quanh một vị tướng đầu đội kim khôi giáp, rất nhanh chóng lên trước, đó chính là Lưu Cảnh, Giả Hủ ha ha cười, xoay người xuống ngựa, bước vội lên phía trước, Nghiêm Nhan và Mã Quân cũng mau chóng xuống ngựa, cùng với mười mấy tên tướng lĩnh bước tới nghênh đón.

- Tham kiến Châu Mục!

Mọi người cùng hành lễ với Lưu Cảnh. Lưu Cảnh vội vàng xoay người xuống ngựa, đáp lễ mọi người,:

- Các vị vất vả rồi!

Hắn đến trước mặt Giả Hủ cười nói:

- Sao quân sư lại tới đây, cả đoạn đường khó nhọc này, chịu sao nổi?

Giả Hủ khẽ mỉm cười:

- Tuy lão chỉ còn nắm xương già này nhưng vẫn còn khỏe mạnh chán, Châu Mục yên tâm, chưa điên được đâu!

Cả bọn cười ầm lên, Lưu Cảnh lại hành lễ với Nghiêm Nhan và Mã Quân, lúc này hắn lại thêm ngạc nhiên khi phát hiện Đặng Ngải cũng đang ở trong quân, mặc áo giáp sắt, tay cầm thương bạc, khí khái hào hùng, Lưu Cảnh có chút không vui nói:

- Ngươi không ở Tương Dương chăm chỉ đọc sách, chạy tới đây làm gì?

Đặng Ngải có chút sợ Lưu Cảnh, cúi đầu không dám trả lời, Giả Hủ cười đỡ lời cho cậu:

- Đặng tiểu ca mang theo trăm sĩ tử ưu tú, một lòng tòng quân, ta biết trong quân văn quân khuyết thiếu, mới quyết định thay Châu Mục, đưa cậu ấy theo.

Lưu Cảnh đã trông thấy trong quân hơn trăm sĩ tử trẻ tuổi, bọn họ cùng lúc đi ra hướng Lưu Cảnh hành lễ, ai nấy đều tinh thần phấn chấn, tràn ngập hi vọng và mong chờ vào tương lai.

Giả Hủ nói không sai, quân đội của hắn quả thực đang khuyết thiếu quan văn, như xử lí công văn, ghi chép công danh,, hạch toán quân lương, lập danh sách quân vân vân….toàn là việc của quan văn, rất nhiều người đều phải kiêm nhiệm nhiều việc cùng một lúc, vô cùng bận rộn, có thể nói là, đám nhân sĩ trẻ tuổi này đến rất đúng lúc.

Lưu Cảnh vui vẻ gật đầu:

- Nếu đã đến đây rồi, thì ở lại vậy, mọi người vất vả suốt dọc đường rồi, mời theo ta vào trong doanh nghỉ ngơi!

Đám sĩ tử reo hò, đến cả Đặng Ngải cũng vui ra mặt, cậu biết mình có thể ở lại, Lưu Cảnh xoay người lên ngựa, dẫn mọi người đi vào doanh trại.

Quân cứu viện đã đến, khiến trong doanh trở nên khá náo nhiệt, Lưu Cảnh sai Hoàng Trung và Mã Siêu đi sắp xếp cho viện quân, Mã Quân cũng đưa đám đệ tử đi sắp đặt quân giới, Lưu Cảnh thì mời Giả Hủ vào trướng trung quân.

Trong đại trướng còn có Bàng Thống. Bàng THống vội vàng lên trước hành lễ với Giả Hủ:

- Tham kiến Giả công!

Giả Hủ gật gật đầu cười nói:

- Bàng quân sư không hổ là người được Châu Mục coi trọng, túc trí đa mưu, khiến ta vô cùng khâm phục, quân Hán sau này có người kế tục rồi!

- Giả công quá khen, vãn bối hổ thẹn!

Hàn huyên vài câu, bọn họ theo Lưu Cảnh tới trước sa bàn, Lưu Cảnh vô cùng mong chờ sợ xuất hiện của Giả Hủ, hi vọng Giả Hủ có thể giúp mình phá vỡ thế cục. Giả Hủ cũng hiểu được tâm tư của Lưu Cảnh, lão bước tới trước sa bàn chăm chú giây lát rồi cười nói:

- Không hổ là Tuân Du, phòng ngự rất cẩn thận, muốn đánh hạ được Lũng Tây, đúng là phải hơi tốn công sức.

Lưu Cảnh cũng khẽ thở dài nói:

- Ta tuy không nóng vội tiến công, nhẫn nại chờ đợi cơ hội, nhưng thực ra cũng là vì bất đắc dĩ không có cách nào khả thi cả, nếu quân Tào muốn giằng co với ta vài năm, ta thực sự cũng không có cách nào.

Giả Hủ cười tủm tỉm nói:

- Cách không phải là không có, đối đầu mười mấy năm, đợi Tào Thừa tướng về tây thiên rồi, thiên hạ không phải là của Chu Mục sao?

Mấy tên thị vệ bên cạnh đều phì cười thành tiếng, Lưu Cảnh bất đắc dĩ cười khổ một tiếng:

- Quân sư càng ngày càng biết nói đùa rồi đấy!

- Ha ha! Đương nhiên là nói đùa rồi, nhưng mà ta nghe nói kị binh rút về phía tây rồi, có đúng thế không?

Lưu Cảnh gật gật đầu:

- Quả đúng như thế, đây cũng coi như một tin tốt, người Khương xuất binh, tiến công hang ổ của Dương Thiên Vạn, Dương Thiên Vạn tất nhiên phải lui binh, bớt một cánh kị binh khiến người ta đau đầu.

Giả Hủ nhìn lại sa bàn một cái, trầm tư giây lát nói:

- Kì thực công phá Thượng Phương cốc không phải là không có cách, quan trọng là Ký Thành, lấy được Ký Thành mới là chuyện khó nhất.

Lưu Cảnh mừng rỡ, hắn tạm thời còn không suy xét đến Ký Thành, quan trọng là Thượng Phương cốc, chiếm được Thượng Phương cốc, quân Hán sẽ trực tiếp đối đầu với Vị Thủy cốc, có thể hô ứng với quân của Triệu Vân, ít nhất thì thế cục ngặt nghèo trước mắt có thể được giải quyết.

Lưu Cảnh vội vàng khom người thi lễ nói:

- Xin quân sư dạy ta kế sách công phá Thượng Phương cốc!

Giả Hủ vuốt râu mỉm cười:

- Kế sách không ở trên người tôi, Châu Mục tìm lộn người rồi, phải tìm Mã viện chủ mới đúng.

Lưu Cảnh ngạc nhiên, Bàng Thống bên cạnh phản ứng nhanh nhạy, lập tức tiếp lời:

- Chẳng lẽ Mã viện chủ mang vũ khí tiến công mới tới đây sao?

Giả Hủ gật gật đầu:

- Đúng vậy!

Lưu Cảnh vui mừng quá đỗi, sao hắn không nghĩ tới chứ:

- Thế thì chúng ta đi xem xem sao!

Hắn có chút sốt sắng không chịu nổi.

Mã Quân và đệ tử được an phái ở khu hậu cần quân doanh, lần này Giả Hủ đưa quân tiếp viện đến, mang theo một lượng lớn quân nhu, mấy ngàn quân sĩ đang bận rộn vận chuyển quân nhu và lương thảo vào kho trướng, ở một góc khác của doang trại, Mã Quân cũng đang cùng mấy trăm tên đệ tử lắp ráp hàng trăm linh kiện.

Đây là một cỗ máy bắn đá cỡ nhỏ do y lợi dụng nguyên lí cơ bản sáng chế ra, nhưng vận hành trong vùng núi, rất thuận tiện, hơn nữa tầm bắn cũng rất xa, thậm chí còn vượt xa hơn cả máy cỡ lớn, là tác phẩm tâm huyết mà Mã Quân đã phải bỏ ra những hai năm trời mới tạo ra được.

Lúc này, đám đệ tử lũ lượt đứng lên, Mã Quân quay đầu, thấy Lưu Cảnh đang nhìn Giả Hủ, Bàng Thống, đang vội vàng đi tới, y cũng đứng dậy hành lễ:

- Tham kiến Châu Mục!

Lưu Cảnh lên trước cười áy náy:

- Ban nãy nhiều người quá, đầu óc nhất thời không xoay nổi, không ngờ Cchủ viện tới tất có duyên do, may mà có Quân sư nhắc nhở ta mới kịp phản ứng, thất lỡ với Viện chủ rồi.

- Đâu có! Châu Mục bề bộn nhiều việc, ta hiểu.

Mã Quân đã không còn nói lắp như trước nữa, chỉ là y lời ít ý nhiều, cố hết sức nói ngắn gọn nhất, cười giới thiệu máy bắn đá với Lưu Cảnh:

- Châu Mục xem xem, có gì khác không?

Lưu Cảnh đi lên trước, đánh giá trên dưới cái máy bắn đá, chỉ thấy nó cao không bằng người đứng, cần pháo cũng rất dài nhỏ, khoảng hai trượng năm thước, bàn tời dùng hai gân đùi trâu, lực đàn hồi cực lớn, Lưu Cảnh suy nghĩ một lát:

- Cảm giác rất tiện lợi, nhưng mà hình như không bắn được vật nặng, hơn nữa nó còn có bánh xe, hẳn là có thể đẩy đi được!

- Nó thực ra chính là một con trâu gỗ, trong địa hình đồi núi này, ba người đã có thể sử dụng được rồi, có thể bắn được vậy nặng năm cân ra xa hơn năm trăm bước.

Lưu Cảnh lập tức vừa mừng vừa ngạc nhiên, sự linh hoạt của con trâu gỗ hắn đã được tận mắt chứng kiến, di chuyển như bay trên địa hình đồi núi, nếu cái giá bắn này cũng có thể như thế được, thì rõ nhiên là vũ khí lợi hại trong quân rồi, hơn nữa còn có thể bắn xa ngoài năm trăm bước, phải biết rằng máy bắn đá cỡ lớn cũng chỉ có thể bắn được bốn trăm bước, cái này làm sao có thể làm được?

Lưu Cảnh nghi ngờ nhìn Mã Quân. Mã Quân cười cười vỗ vỗ cần bẩy:

- Mấu chốt là cái cần bẩy này, không giống bình thường.

Lưu Cảnh nhận lấy cần bẩy, hắn lập tức cảm nhận được sự khác biệt, toàn bộ cần ném được sơn đen, lóe ra ánh sáng kim loại, nặng trình trịch, không biết được làm từ chất liệu gì? Lúc này, một tên đệ tử bên cạnh Mã Quân giới thiệu:

- Hồi bẩm Châu Mục, cần bẩy này thực ra được làm từ cây chá, làm một cái cần bẩy phải tốn mất hai năm.

Lưu Cảnh gật gật đầu, cây chá hắn biết, vô cùng dẻo dai, là vật liệu tốt nhất để làm cung, nhưng làm thế nào để đạt được mức chắc chắn mà không đứt đoạn, đây chính là kĩ thuật, chắc có liên quan đến hai năm tiêu tốn kia.

- Xin nói tiếp đi!

Đệ tử Mã Quân thi lễ, tiếp tục nói:

- Đầu tiên là dùng loại thân chá thượng hạng, tước thành từng sợi to đều nhau, sau đó ngâm đi ngâm lại trong dầu, ngâm cho đến khi nào không thể biến dạng được, không thể rạn nứt, ban nãy mới hoàn thành bước đầu tiên.

- Sau đó thì sao?

Lưu Cảnh cảm thấy rất hứng thú, truy hỏi.

- Bước này đã tiêu tốn hết một năm, sau một năm, vớt sợi chá ra, hong gió trong bóng râm mấy tháng. Sau đó dùng keo thượng hạng dán liền thành một cây cần bẩy dài hai trượng năm thước, bên ngoài quấn thêm gân trâu, đợi đến khi gân trâu khô hẳn, quét lớp sơn sống, lấy bao vải đay, khô lớp nào bọc lớp đấy.

- Đợi chút!

Lưu Cảnh bỗng nhiên có chút hiểu ra, hắn ngạc nhiên nói:

- Đây không phải là đang làm mã sóc sao?

Mã Quân cười nói:

- Đúng là cách làm mã sóc, nhưng lại có chút khác biệt, mã sóc chỉ dùng dây đay quấn quanh, còn chúng ta dùng gân trâu, mã sóc cần cứng rắn, còn chúng ta cần cương nhu.

Mã Quân khoát tay ra hiệu, hai tên đệ tử bắt đầu làm thí nghiệm, bọn họ cố định một đầu, đầu bên kia dùng sợi sora túm lại, chỉ thấy đòn bẩy bị kéo cong thành vòng cung, hoàn toàn không có chút dấu vết rạn nứt nào, hai người buông tay, đòn bẩy mạnh mẽ bật thẳng, binh sĩ xung quanh ai nấy đều ngạc nhiên thám phục, bọn họ trước nay chưa từng thấy một đòn bẩy nào dẻo dai như vậy.

Lưu Cảnh khẽ thở dài:

- Chả trách có thể bắn xa năm trăm bước, quả không giống bình thường!

Lúc này Mã Quân lại khẽ cười nói:

- Chúng tôi còn mang tới một bảo bối nữa, chắc chắn Châu Mục còn hứng thú nữa!
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 665-1: Điềm báo của quân kỳ gãy (1)


Lòng hiếu kỳ của Lưu Cảnh bị thu hút, hắn cười nói:

- Mã viện chủ xin đừng vòng vo nữa, hãy mang luôn bảo bối ra đây đi.

Mã Quân cười rồi nhận một bình gốm từ trong tay đệ tử. Y đi tới trước bàn, đổ thứ gì đó ở trong bình ra. Chỉ thấy thứ gì ấy chảy ra như đường, nó sền sệt, có màu đen tuyền. Lưu Cảnh đi lên phía trước nhìn thử, rồi kinh ngạc nói:

- Dầu hỏa!

Mã Quân gật đầu:

- Đây chính là dầu hỏa, sau khi trộn thêm một vài thứ thì nó sẽ thành như thế này. Bọn ta gọi nó là dầu dính.

- Cái này thì có khác gì loại dầu hỏa bùn thường dùng trên chiến thuyền, hiệu quả chắc cũng như nhau chứ?

- Thời gian cháy của loại này lâu hơn so với dầu hỏa bùn, hơn nữa hỏa lực cũng lớn hơn. Điều quan trọng là nó gặp gió cũng không tắt, Châu Mục không ngại nghĩ tới khuyết điểm của hỏa tiễn.

Lưu Cảnh đương nhiên là biết, vấn đề lớn nhất của hỏa tiễn chính là sau khi tên được bắn đi chưa lâu thì liền bị tắt trên không trung rồi. Cứ mười mũi thì có ít nhất tám mũi gặp gió là bị tắt. Vậy nên dùng hỏa tiễn để đốt thực tế không có nhiều hiệu quả. Cách thông thường là dùng hỏa tiễn phóng cùng một loạt và hi vọng rằng một trong số các hỏa tiễn đó không bị tắt.

Trong lòng Lưu Cảnh lập tức vui lên, cười nói:

- Nếu đã như vậy, thì ta cũng không ngại thử xem sao.

Hắn sai hai người cắm một người rơm cách chừng hơn trăm bước ở bên ngoài, rồi lấy cung tên của mình. Lưu Cảnh chỉ dùng cung cứng ba thạch, tầm bắn xa nhất là khoảng một trăm năm mươi bước. Lúc này, Mã Quân đưa cho hắn một mũi tên:

- Châu Mục mau chóng châm lửa cho mũi tên này.

Lưu Cảnh ngẩn ra, rồi nhận lấy mũi tên. Bề ngoài của tên này hoàn toàn giống những mũi tên bình thường khác, nhưng khi nhìn kỹ hắn phát hiện ra, đầu mũi tên lại có điểm khác biệt, đó là ở đầu mũi tên có một đường rãnh, dường như có thể đựng vật, rất rõ ràng đường rãnh này dùng để tra dầu dính vào đó.

- Châu Mục đừng xem thường đường rãnh này, nó có thể đảm bảo cho mũi tên vẫn cháy trong khoảng thời gian một chén trà.

Lưu Cảnh gật gật đầu, trong lòng thầm khen Mã Quân thông minh, hắn quết một lớp dầu dính lên đầu mũi tên. Trong đường rãnh cũng có một lượt dầu dính. Lưu Cảnh lắp tên, giương cung, ngắm vào người rơm cách đó trăm bước. Lúc này, một tên lính dùng đuốc điểm hỏa cho mũi tên. Một ngọn lửa màu xanh lam bốc lên. Lưu Cảnh buông tay ra, hỏa tiễn kêu vun vút lao đi, mang theo cả một vệt khói đen, bắn thẳng tới người rơm.

Thị lực của Lưu Cảnh vô cùng tốt, hắn thấy rất rõ, ngọn lửa trên đầu tên mặc dù bị gió xé rất nhanh, nhưng vẫn không hề bị tắt. Hỏa tiễn găm trúng ngực người rơm, rồi chỉ trong chốc lát, người rơm bỗng bốc cháy mãnh liệt. Binh lính bốn phía không khỏi kêu to:

- Bắn rất hay.

Lưu Cảnh gật gật đầu tỏ ý hài lòng, quả nhiên tên không bị tắt. Hắn quay lại hỏi Mã Quân nói:

- Xin hỏi Mã Viện Chủ, hai món bảo bối này, ngươi mang đến bao nhiêu?

Mã Quân cười nói:

- Dầu dính thì thần mang tới rất nhiều, máy bắn đá có thể sử dụng trâu gỗ để cải tạo lại. Nhưng cần ném của máy bắn đó thì bọn thần phải mất hai năm mới hoàn thiện. Tổng cộng chỉ làm ra ba trăm cây, nên cũng có thể nói rằng, nhiều nhất cũng củng làm được ba trăm máy bắn đá mà thôi.

- Ba trăm cũng được, vậy cần bao nhiêu thời gian?

Mã Quân suy nghĩ một chút nói:

- Thần cần tất cả các lính thợ phối hợp với thần, nhanh nhất cũng phải mất mười ngày.

Trong lòng Lưu Cảnh tràn đầy chờ mong, hắn dứt khoát nói:

- Thế là mười ngày, sau mười ngày ta sẽ thử tiến công Tào doanh.

Tin tức viện binh quân Hán đến nơi, nhanh chóng truyền đến các đại doanh Tào quân. Lúc này, Tuân Du đang ở bên trong một đại doanh, thảo luận quân tình với các tướng lĩnh. Sắc mặt của Tuân Du hơi trầm xuống, cũng không phải là bởi vì viện quân của địch đã đến mà là y đang lo lắng tình hình gần đây của Mộc Môn Trại. Theo ước định của y và Trương Cáp, Trương Cáp hẳn nên mỗi ngày thả một con bồ câu đưa thư lên trên cốc, báo tin Mộc Môn Trại bình an, nhưng bồ câu đưa thư đã hai ngày nay không đến, điều này khiến cho Tuân Du lo lắng.

Chẳng lẽ Mộc Môn Trại đã bị quân Hán công phá sao? Bằng không làm sao lại không có tin tức? Nhưng Tuân Du cho rằng với sự kiên cố vững chắc của Mộc Môn Trại, còn có năm nghìn quân thủ vệ, cứ cho là mấy vạn quân cũng khó mà phá được, quân Hán thì làm gì được chứ?

Nếu Mộc Môn Trại thất thủ, quân Hán có được lương thực, là có thể ung dung tấn công Thượng Khuê, thế thì Thượng Khuê làm sao có thể giữ nổi?

Trong lòng Tuân Du vô cùng lo âu, một khi huyện Thượng Khuê thất thủ, chẳng khác nào chặt đứt sợi dây liên hệ giữa Lũng Tây và Quan Trung, hậu quả rất nghiêm trọng. Đương nhiên, còn có thể vượt qua sông Vị Thủy, đi Nhai Đình lên phía bắc, rẽ qua Quan Nội để đi vào Quan Trung, đi nhiên như vậy đường sá sẽ xa gấp đôi.

Lúc này, Hạ Hầu Đôn ở bên cạnh nói:

- Nghe thám báo nói, hình như Giả Hủ cũng tới, Giả Hủ có thể dùng kế chiếm Thượng Phương Cốc không?

Tuân Du lắc lắc đầu:

- Ta lấy bất biến ứng vạn biến. Giả Hủ đến đây cũng vô dụng. Bây giờ ta đang lo cho huyện Thượng Khuê, huyện Thượng Khuê chỉ có ba nghìn quân coi giữ, Trương Cáp có thể chống chọi được mấy vạn quân đội của Triệu Vân tấn công hay không? Còn có Thừa tướng, bây giờ mới chỉ đến Quan Trung, nếu huyện Thượng Khuê thất thủ, Thừa tướng cũng không thể qua nổi!

Từ Hoảng đứng bên cạnh chắp tay nói:

- Nếu quân sư lo lắng, ty chức nguyện suất quân đi trợ giúp Thượng Khuê, chống chọi lại với sự tấn công của quân Hán.

Nghĩ tới nghĩ lui, Tuân Du cũng chỉ còn cách này. Nếu cứ ở trong này lo lắng, thà rằng phái binh đi cứu viện. Tuân Du lúc này gật đầu nói:

- Nếu Từ tướng quân đồng y đi trợ giúp huyện Thượng Khuê, ta sẽ cho tướng quân năm nghìn quân đội, hy vọng Từ tướng quân lập tức xuất phát.

- Tuân lệnh!

Từ Hoảng lĩnh lệnh đi rồi, Tuân Du lại đứng trước sa bàn, nhìn chăm chú vào quân đội của Lưu Cảnh. Vốn dĩ Lưu Cảnh chỉ còn lại có bốn vạn người, bây giờ lại thêm ba vạn viện quân đến nữa, thực lực tăng cường, chỉ sợ hắn sẽ nhanh chóng tiến công Thượng Phương cốc.

Hạ Hầu Đôn đi đến bên cạnh, thấp giọng nói:

- Quân sư cho rằng chúng ta không giữ được Lũng Tây sao?

Tuân Du thở dài:

- Cho dù ta bố trí một năm, có thể nói là cẩn thận không lỗ hổng, nhưng dù sao tác chiến cụ thể vẫn phải dựa vào người, trên chiến trường thay đổi trong nháy mắt, không phải ta có thể dự kiến, giống như bên Mộc Môn Trại kia, ta lo Trương Cáp không thể kịp thời phá cầu mộc, như vậy phòng ngự ta bố trí sẽ hỏng một nửa, cho nên mấu chốt vẫn là phải xem chấp hành!

- Quân sư nói, Trương Cáp sẽ phạm sai lầm này sao?

- Ta không biết!

Tuân Du lắc lắc đầu, buồn bã nói:

- Nhưng ta biết một điều, nếu Mộc Môn Trại bị công phá, như vậy cầu gỗ nhất định chưa bị phá hủy, có lẽ y muốn phá nhưng chưa kịp phá, bị quân địch chiếm trước rồi. Tóm lại, bây giờ ta chẳng còn tin tưởng với việc bố trí của mình rồi.



Quân đội của Triệu Vân sau khi chiếm Mộc Môn Trại, đại tướng Đặng Hiền dẫn ba nghìn quân đóng thủ Mộc Môn Trại, quân đội Triệu Vân tiếp tục đi về phía bắc, cũng trong hai ngày sau dần dần tiến đến huyện Thượng Khuê. Huyện Thượng Khuê thuộc quận Quảng Ngụy, nằm ở biên giới phía nam Vị Thủy – Hà Cốc, tương đương với vị trí của Thượng Phương Cốc, là vùng chuyển tiếp từ cao nguyên đến bồn địa Hà Cốc.

Huyện Thượng Khuê chỉ là một huyện nhỏ, bởi vì giá trị buôn bán không lớn khiến cho nhân khẩu huyện thành không nhiều lắm, chỉ có hơn tám trăm hộ, mấy nghìn người. Tuy nhiên vị trí quân sự của nó lại rất trọng yếu, tuy rằng không thuộc quận Quảng Ngụy nhưng lại là môn hộ của quận Quảng Ngụy, cướp được huyện Thượng Khuê, vùng Vị Thủy cốc rộng lớn sẽ hiện ra trước mắt.

Cũng chính do vị trí quân sự quan trọng, Tuân Du lại gia cố thêm huyện thành để nó có được khả năng phòng ngự nhất định. Tuy nhiên so với Ký thành, huyện Thượng Khuê vẫn kém xa.

Cách thị trấn còn khoảng mười dặm trời cũng nhá nhem tối, Triệu Vân hành quân cẩn thận, y không quen với địa hình huyện Thượng Khuê liền hạ lệnh cắm trại ngay tại chỗ, đợi ngày mai trời sáng lại đi về phía Bắc.

Trong đại trướng, Triệu Vân, Trương Nhậm cùng Pháp Chính dang thảo luận sách lược cướp lấy huyện Thượng Khuê. Pháp Chính chỉ vào Thượng PHương Cốc nói:

- Từ Thượng Phương Cốc đến huyện Thượng Khuê chỉ có chín mươi dặm, Mộc Môn Trại thất thủ, Tuân Du tất sẽ không khoanh tay đứng nhìn, nhất định phái binh đến cứu viện. Ta đề nghị dùng kế vây thành đánh viện binh, một mặt bao vây huyện Thượng Khuê, mặt khác phái chủ lực đánh bại viện quân từ Thượng Phương Cốc đến, chỉ cần viện quân bị đánh bại, huyện Thượng Khuê sẽ không giữ được nữa, Trương Cáp tất nhiên bỏ thành mà chạy.

Triệu Vân trầm tư chốc lát, nói:

- Trương Cáp đã đánh mất Mộc Môn Trại, quân sư cho rằng y còn có thể từ bỏ huyện Thượng Khuê sao?

Trương Nhậm cũng tiếp lời nói:

- Ta cũng hiểu Trương Cáp không dám làm mất huyện Thượng Khuê một lần nữa, như vậy y không còn cách nào khai báo với Tào Tháo.

-Ta cho rằng y nhất định sẽ từ bỏ.

Pháp Chính cười nói:

- Nếu chúng ta chỉ có mười ngàn quân, có lẽ Trương Cáp sẽ giữ bằng được huyện thành, nhưng chúng ta có hai vạn năm ngàn quân, không giữ được huyện Thượng Khuê, quan trọng hơn là, Tuân Du cho rằng tám ngàn quân đội của y, nếu như toàn quân bị tiêu diệt, y mới không còn cách nào báo cáo với Tào Tháo, dù sao huyện thành không giữ được, thà rằng giữ gìn sinh lực, từ bỏ thành trì mà rút lui.

Đang thảo luận, ngoài trướng lại vọng đến tiếng xôn xao, Triệu Vân có chút không vui hỏi:

- Chuyện gì xảy ra?

- Hồi bẩm tướng quân, dây thừng của quân kì bị đứt, quân kỳ của chúng ta bị gió thổi đi rồi.

Trong lòng Trương Nhậm sợ hãi, y nói với Triệu Vân và Pháp Chính:

- Ta là người khá tin vào ý trời, quân kỳ có điều dị thường, thông thường là ám chỉ sẽ có đánh úp bí mật doanh trại lúc nửa đêm, đêm nay Trương Cáp tất có động tĩnh.

Triệu Vân cũng trầm ngâm chốc lát, nói:

- Tuy rằng nghe hoang đường, nhưng nếu như nói đêm nay Trương Cáp bí mật đánh úp doanh trại, ta không cảm thấy kì lạ. Đây là thủ đoạn duy nhất để xoay chuyển tổn thất Mộc Môn Trại.

Nói đến đây, Trương Nhậm và Triệu Vân cùng nhìn về Pháp Chính, Pháp Chính lại hí mắt cười nói:

- Nếu quả thật có tập kích ban đêm, chúng ta cũng không ngại tương kế tựu kế.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 665-2: Điềm báo của quân kỳ gãy (2)


Trong bóng đêm, một nhánh ba nghìn quân đang đi nhanh về hướng nam, đây là một con đường nhỏ hẻo lánh, bình thường tiều phu và những người hái thuốc mới đi đường này, nhưng hôm nay lại xuất hiện quân đội hùng hậu.

Vị đại tướng cầm tay tay cầm giáo thep, dưới háng là ngựa bờm đen, uy phong hùng dũng, chính là đại tướng Trương Cáp, trong phòng ngự Lũng Tây mà Tuân Du bố trí, Trương Cáp phụ trách huyện Thượng Khuê và Mộc Môn Trại, tổng cộng thống lĩnh tám ngàn quân, không ngờ một trận chiến Mộc Môn Trại năm ngàn quân đều bị tiêu diệt, nháy mắt y chỉ còn lại ba nghìn quân, giữ một huyện thành Thượng Khuê bé nhỏ.

Trong lòng Trương Cáp rõ ràng hơn ai hết, huyện Thượng Khuê và ba nghìn quân đội của y không thể ngăn cản nổi ba vạn quân Triệu Vân tấn công. Nếu huyện Thượng Khuê còn thất thủ nữa, hoặc là quân đội của y tất cả đều bị tiêu diệt, y cũng chẳng còn cách nào khai báo với Thừa tướng.

Cân nhắc kĩ lưỡng, rốt cuộc Trương Cáp quyết định, nếu ngồi chờ chết, thà rằng buông tay đánh cược một lần, lợi dụng địa hình quen thuộc tập kích ban đêm vào đại doanh quân Hán, đánh bại hoàn toàn quân Triệu Vân.

Trương Cáp rất có niềm tin, y biết rằng có mấy con đường nhỏ có thể tránh tuần tra và trinh thám của quân Hán, chỉ cần không bị bọn họ phát hiện ra là y có thể tấn công khiến quân Hán trở tay không kịp. Lúc này, khoảng cách giữa y và trú doanh của quân Hán ngày càng gần, y ngẩng đầu nhìn sắc trời, đã sắp qua canh hai nửa đêm.

- Toàn quân tạm dừng!

Trương Cáp truyền quân lệnh, quân đội dừng lại, lúc này y lại tìm mấy tên thám báo, nhỏ giọng dặn dò bọn họ:

- Đi tra xét doanh địch, lập tức quay về báo cáo cho ta!

- Tuân lệnh!

Mấy tên thám báo nhanh chóng cưỡi ngựa đi, Trương Cáp lại truyền lệnh:

- Toàn quân tranh thủ thời gian nghỉ ngơi, chuẩn bị chiến đấu!

….

Đã gần đến canh ba, Trương Cáp dẫn ba nghìn quân đội lặng lẽ tới góc Tây Bắc mà quân Hán đang trú, y nhìn xuyên qua lùm cây có thể thấy rõ đại doanh quân Hán, thậm chí còn không được gọi là đại doanh, không có hàng rào, gần nghìn đỉnh lều dày đặc san sát cùng một chỗ, xung quanh đầy những lưỡi lê, chỉ thấy một đội trinh sát đang tuần tra hai bên cổng, nhìn quanh quanh bốn phía một cách cảnh giác. Ở trên một tòa nhà cao, một tên lính đang vươn vai, ngồi xổm xuống rồi cũng không thấy đứng lên nữa.

Trương Cáp cười thầm, cứ coi như mình bị phát hiện thì quân Hán cũng chẳng làm gì được. Bọn họ căn bản không kịp đề phòng. Bây giờ là lúc bọn chúng đang ngủ, thời cơ chín muồi rồi, Trương Cáp trở mình lên ngựa, vung giáo hô lớn:

- Lập công ngay tối nay, các huynh đệ, theo ta đi vào!

- Giết!

Trương Cáp thúc giục chiến mã, múa giáo dài đánh tới đại doanh quân Hán.

- Giết!

Ba nghìn quân Tào cũng kêu lên, từ trong lùm cây lao tới, như sóng triều đen ngòm dâng lên theo sau chủ tướng Trương Cáp, gào thét xông về phía đại doanh.

Đám binh lính trong quân doanh hô gọi, chạy trốn bốn phía, chiến mã của Trương Cáp chạy nhanh, đuổi vào đại doanh quân Hán. Y liên tiếp gạt đổ bảy tám tòa lều lớn, nhưng không có lấy một tên lính nào. Y ghìm chiến mã, ngẩn người. Lúc này, bọn lính Tào quân đều lần lượt xông vào đại doanh, nhưng bọn họ cũng như Trương Cáp, không thấy có một gã quân địch.

- Tướng quân, nơi này là một doanh trại hoang.

Có người nhỏ giọng bẩm báo.

Trong lòng Trương Cáp thầm kêu, trúng kế rồi. Đúng lúc này, tiếng hét bốn phía rung trời, tiếng trống như sấm, trong lòng Trương Cáp bối rối, dẫn lính lao ra ngoài đại doanh. Hai bên phải trái bỗng nhiên lửa cháy, bên trái là đại tướng Linh Bao đuổi tới, bên phái là đại tướng cưỡi bạch mã cầm ngân thương, dáng người cao lớn, dáng vẻ bệ vệ, đúng là chủ tướng đông chinh Triệu Vân.

Triệu Vân thúc ngựa xông đến, đâm trường thương chỉ thẳng vào cổ họng Trương Cáp:

- Tặc tướng, để mạng lại!

Trương Cáp và Triệu Vân đã từng có lần chiến đấu kịch liệt ở Nam Quận Đương Dương, y biết rõ Triệu Vân lợi hại, mình không phải là đối thủ của gã. Y muốn chạy trốn, nhưng ngân thương đã đến trước mặt, bất đắc dĩ, Trương Cáp chỉ đành giơ giáo tiếp chiêu, hai người chiến đấu kịch liệt hơn mười hiệp, Trương Cáp dần chống đỡ không nổi, y hét lớn một tiếng, vung giáo đâm thẳng sườn trái Triệu Vân. Ngay lúc Triệu Vân lắc mình, Trương Cáp một chân kẹp chiến mã, chiến mã liền xông ra ngoài.

Không ngờ y lại nghe thấy tiếng Triệu Vân cười lạnh, sau đầu tiếng gió rít gào, Trương Cáp sợ hãi khiếp đảm, đây là một chùy đập thẳng vào sau đầu Trương Cáp, nhanh như tia chớp, một chùy này nếu đánh trúng, đầu của Trương Cáp chắc chắn sẽ văng tung tóe mà chết.

Nhưng Trương Cáp dù sao cũng là danh tướng trải qua trăm trận chiến Hà Bắc, y ý thức được đây không phải là âm thanh của lưỡi lê, thân mình nằm úp trên lưng ngựa, gáy thoát được một chùy trí mạng, nhưng cán thương lại quất vào sau lưng Trương Cáp.

Chỉ nghe “bập” một tiếng, mảnh giáp bay tán loạn, đánh cho Trương Cáp phun ra máu. Y ôm chặt cổ ngựa sợ hãi chạy, Triệu Vân đuổi không kịp, gã ghìm ngựa, quay đầu cao giọng ra lệnh về phía quân Tào:

- Ta là Thường Sơn Triệu Vân. Kẻ đầu hàng tha cho tội chết, nếu không đầu hàng, tất cả đều giết.

Ba nghìn quân Tào đều tận mắt nhìn thấy Trương Cáp hộc máu chạy, lại nghe mãnh tướng Triệu Vân nổi tiếng thiên hạ, bọn lính sợ tới kinh hồn bạt vía, đều quỳ xuống đầu hàng. Mười lăm ngàn quân Hán từ bốn phương tám hướng vây đến, tước bỏ vũ khí của toàn bộ quân Tào.

Trận chiến này giống hệt như bắt rùa trong hũ, ngoại trừ chủ tướng Trương Cáp và hai gã tùy tùng ra, ba nghìn binh lính quân Tào không một ai chạy thoát, toàn bộ đều đầu hàng quân Hán.

Cùng lúc Trương Cáp dẫn quân đánh lén đại doanh quân Hán, Trương Nhậm lại dẫn mười ngàn quân đội tới huyện Thượng Khuê, nhìn bên ngoài huyện thành đen nhánh, Trương Nhậm khoát tay lệnh:

- Dừng lại!

Mười ngàn quân đội dừng lại, Trương Nhậm chăm chú nhìn thành trì một lát, quay đầu lại nói với gã quân hầu:

- Đi gọi thành mở cửa!

Quân hầu dẫn theo hai gã kỵ binh thúc ngựa chạy gấp lên, la lớn dưới thành:

- Quân Hán đã tới, nếu không mở cửa thành, tất phá cửa tàn sát!

Trong thành, quân coi giữ chỉ còn lại không đến trăm người, bọn họ thấy bên ngoài nghìn nghịt quân đội, lại nghe nói là quân Hán tới, sợ tới mức quân coi thành đều chạy trốn vào trong hộ dân.

Lúc này, Lã huyện lệnh dẫn mười mấy nha dịch tuần tra trị an trong huyện thành, vừa lúc gặp được binh lính trốn, gã vội vã tiến lênh hỏi:

- Chuyện gì xảy ra?

Một tên lính nơm nớp lo sợ nói:

- Khởi bẩm huyện lệnh, quân Hán đuổi tới, xem ra có hơn một vạn người, đang ở dưới thành bắt chúng ta mở cửa, các huynh đệ đều bỏ chạy rồi.

Lã Diên thất kinh, Trương Cáp dẫn quân tập kích xem chừng lành ít dữ nhiều rồi. Bây giờ quân Hán đuổi tới, làm thế nào cho phải đây? Trong lòng gã bối rối, nhưng nhanh chóng tỉnh táo lại, lẩm bẩm:

- Ta là lệnh của một huyện, danh tiết cá nhân là nhỏ, tính mạng toàn thành mới là lớn.

Gã lập tức lệnh cho nha dịch đi mở cửa thành, một lát, bọn nha dịch buông cầu treo xuống, mở cửa thành. Lã Diên thúc ngựa ra khỏi thành hô lớn:

- Ta là huyện lệnh bổn huyện, nguyện dâng huyện thành đầu hàng, mong quân Hán bình ổn binh đao, đối xử tử tế với lê dân.

Trương Nhậm dẫn mười ngàn quân đội tới trước cửa thành, y nhìn một lượt vị huyện lệnh, chỉ thấy áo bào gã hơi cũ, ba mươi mấy tuổi, bộ dạng coi như khôn khéo, có năng lực, liền hỏi:

- Ngươi chính là huyện lệnh Thượng Khuê?

Lã Diên tiến đến thi lễ:

- Khởi bẩm tướng quân, ta chính là Lã Diên Huyện lệnh, trong huyện đã không còn quân đội, có mấy ngàn lê dân, nguyện nghênh đón quân Hán vào thành, mong tướng quân không làm tổn thương dân chúng.

- Quân Hán quân kỉ nghiêm minh, cũng không làm tổn thương dân, ngươi có thể thay ta trấn an dân chúng, mặt khác, ta muốn biết trong thành có bao nhiêu lương thực?

- Khởi bẩm tướng quân, khoảng ba vạn thạch.

Trương Nhậm mừng rỡ, ba vạn thạch lương thực có thể chống đỡ được hai tháng. Y lập tức quay đầu lại lệnh:

- Quân đội xếp hàng vào thành, không được nhiễu dân, kẻ trái lệnh trảm.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 666: Kế thành không nhà trống


Trong bóng đêm, một nhánh quân đội đang men theo con đường ở bờ nam sông Vị Thủy để hành quân cấp tốc về hướng đông, nhánh quân đội này ước chừng hai vạn người, đang đi chi viện cho Quân Tào ở huyện Thượng Khuê. Bọn họ xuất phát từ Thượng Phương Cốc, ngày đêm không ngủ tiến đến huyện Thượng Khuê.

Chủ tướng của quân đội chính là Từ Hoảng, suốt dọc đường y không nói không rằng, có vẻ lo lắng. Y biết rõ nguy hiểm mà huyện Thượng Khuê đang đối mặt, lộ trình mà quân Hán đi về Thượng Khuê lại ngắn hơn bọn họ rất nhiều, mà đến bất giờ quân chi viện của Trương Cáp vẫn chưa đến, rất có thể huyện Thượng Khuê đã xảy ra chuyện rồi.

- Nơi này cách huyện Thượng Khuê còn xa lắm không?

Từ Hoảng quay đầu lại hỏi.

Một gã quan quân liền vội vàng tiến lên bẩm báo:

- Tướng quân, nơi này là Hồi Long cốc, qua Hồi Long cốc sẽ vòng hướng nam, chắc còn khoảng hơn ba mươi dặm.

Từ Hoảng gật gật đầu, đánh giá địa thế bốn phía. Vùng này địa thế trống trải bằng phẳng, nhưng phía trước có hai tòa núi lớn, thế núi cao và dốc, giữa sơn cốc lại cây cối rậm rạp, là nơi dễ bị phục kích. Từ Hoảng biết rằng quân Hán giỏi mai phục, liền ra lệnh:

- Quân đội dừng lại, nghỉ ngơi tại chỗ!

Đám lính đều dừng lại nghỉ ngơi, Từ Hoảng lại ra lệnh thám báo tiến lên tra xét tình hình đường xá. Lúc này, phó tướng Vu Cấm cưỡi ngựa chạy đến, y xoay người xuống ngựa, nói với Từ Hoảng:

- Công Minh, tính theo thời gian, chỉ e là Thượng Khuê đã xảy ra chuyện.

Từ Hoảng gật gật đầu, thở dài:

- Ta cũng biết Thượng Khuê gặp nguy hiểm, nhưng chúng ta không thể vì nguy hiểm nên không đi, kẻ làm tướng sao có thể không tuân quân lệnh.

Vu Cấm trầm mặc chốc lát, nói:

- Cứu Thượng Khuê mặc dù quan trọng, nhưng bảo vệ mình, không thể bị quân Hán phục kích, ta cảm thấy đây mới là việc cần cân nhắc đầu tiên. Công Minh nghĩ sao?

Từ Hoảng biết rằng Vu Cấm sợ quân Hán, gã đã bao lần thất bại trước quân Hán, ở trong quân Tào thậm chí có biệt danh “Quạ Đên”, chính là gã đi theo ai, người đó sẽ thất bại. Từ Hoảng là người nhân hậu, y hiểu được tâm tình của Vu Cấm, liền cười nói:

- Văn Tắc không cần quá lo lắng, chúng ta chú ý cẩn thận là được, cho dù không cứu được Thượng Khuê, cũng không thể để mạng ở đó.

Vu Cấm thở dài nói:

- Có câu này ta không biết có nên nói không, quân sư suy xét quá chu đáo, thường sẽ xảy ra vấn đề.

- Ồ, sao lại nói thế?

Từ Hoảng cười tò mò.

- Chính là muốn chỗ nào cũng chu đáo, kết quả chia binh nhiều quá, ngược lại càng khiến Lưu Cảnh tiêu diệt từng bộ phận. Lưu Cảnh là thế tấn công, chúng ta là thế phòng thủ, hắn nắm chủ động, hắn không đánh Thượng Phương Cốc, chuyển sang đánh Thượng Khuê, đều có thể đột phá phong tỏa, Thượng Phương Cốc sẽ không còn ý nghĩa gì nữa, chẳng thà tập trung binh lực giữ lấy Ký Thành, chỉ cần Ký Thành không mất, Lưu Cảnh cũng không chiếm được Lũng Tây, về phần các loại Nhai Đình, Thượng Khuê, xem thì có vẻ quan trọng, nhưng trên thực tế thì không có ý nghĩa.

- Nhưng Văn Tắc có nghĩ tới chưa, Thượng Khuê đã mất, cũng sẽ chặt đứt liên hệ của ta với Quan Trung. Nếu Lưu Cảnh phái một đội quân thủ Thượng Khuê, hắn sẽ dẫn chủ lực tấn công Quan Trung, Quan Trung sẽ nguy mất!

- Lưu Cảnh sẽ không đánh Quan Trung, ta hiểu hắn hơn ai hết, nếu như hắn muốn lấy Quan Trung, tất nhiên sẽ tiến công Nam Dương trước, từ Võ Quan tiến vào Quan Trung. Đây là cách làm trước nay của hắn, tiếc là quân sư không nghe theo kiến nghị của ta.

Nói xong lời cuối cùng, Vu Cấm có vẻ uể oải, gã không nén nổi tiếng thở dài. Từ Hoảng vỗ vỗ bờ vai của gã, cười an ủi:

- Chỉ cần sự thật cuối cùng chứng minh ngươi đúng, ta tin quân sư sẽ trả lại đạo lý cho ngươi.

Hai người đang nói, một tên lính vội chạy lại bẩm báo:

- Khởi bẩm tướng quân, Trương Cáp tướng quân đến rồi!

Từ Hoảng và Vu Cấm nhìn nhau, trong mắt hai người đều đã hiểu, Thượng Khuê đã mất. Hai người đứng dậy tiếp đón, rất nhanh, Trương Cáp được binh lính đỡ đến, y bị một kích của Triệu Vân quất vào lưng, bị thương rất nặng, hộc máu cả một quãng đường dài, sắc mặt cũng cực kì khó coi. May mà y thể trạng cường tráng mới có thể chống cự được.

Từ Hoảng vội vàng đỡ lấy y:

- Có chuyện gì?

Trương Cáp chống cự đến bây giờ, vừa nhìn thấy Từ Hoảng, trong lòng đã thả lỏng, lập tức hôn mê. Mọi người loạn cả lên, Từ Hoảng vội vàng lệnh quân y đến chữa trị. Lúc này, hai thân binh đi cùng Trương Cáp được truyền lên, Từ Hoảng hỏi:

- Các ngươi nói, có chuyện gì xảy ra?

Một gã thân binh rơi lệ nói:

- Bởi vì binh lực thủ thành quá ít, mà đối phương có hai vạn người, tướng quân muốn tập kích doanh địch vào ban đêm, kết quả bị quân địch biết được, xông vào doanh trại trống, ngược lại còn bị quân địch bao vây, tướng quân bị Triệu Vân làm bị thương, liều chết chạy ra ngoài, còn các huynh đệ còn lại đều tiêu diệt rồi.

- Huyện Thượng Khuê thì sao?

Từ Hoảng lại vội hỏi.

- Thượng Khuê chỉ có một trăm người coi giữ, có thể giữ nổi sao?

Từ Hoảng hồi lâu không nói nên lời, Vu Cầm đứng bên cạnh lại mừng thầm trong lòng, Từ Hoảng cũng là danh tướng Quân Tào, trước đánh mất Mộc Môn Trại, sau đánh mất Thượng Khuê, toàn quân tám ngàn quân bị diệt, có khác gì mình, còn ai dám cười nhạo mình?

Trong lòng tuy rằng mừng thầm, trên mặt lại không biểu hiện ra ngoài. Vu Cấm ra vẻ tâm trạng nặng nề, nói:

- Nếu đã đánh mất Thượng Khuê, nhiệm vụ của chúng ta cũng xong, về phần có đánh Thượng Khuê hay không, vẫn là mời quân sư quyết định! Công Minh thấy thế nào?

Từ Hoảng trầm mặc không nói, một lúc sau thở dài nói:

- Ngươi nói rất có lý, nhưng ta vẫn muốn đợi một chút để nhìn tình trạng Thượng Khuê, ta cũng muốn báo cáo với quân sư, không thể cứ thế này mà về được.

Đêm hôm đó, thám báo Quân Tào truyền đến tin tức, tin tức này khiến Từ Hoảng và Vu Cấm đều thất kinh, huyện Thượng Khuê không ngờ lại là một tòa thành trống, không có một gã đóng quân, quân Hán không rõ tung tích.

Mặc dù biết có thể đây là kế dụ binh của quân Hán, nhưng sau khi Từ Hoảng cân nhắc kĩ lưỡng, vẫn quyết định xuất phát về phía Thượng Khuê, nguyên nhân cũng rất đơn giản, y có hai vạn quân, quân Hán cũng hai vạn quân, hai bên binh lực tương đương, không thể bởi vì quân Hán bày ra kế thành không nhà trống, y liền bỏ mặc huyện Thượng Khuê như vậy được, như thế y không còn mặt mũi nào mà tiến lên phía trước.

Vào lúc canh ba, Quân Tào lại nhổ trại, trùng trùng điệp điệp đi về phía huyện Thượng Khuê. Từ Hoảng chia hai đường, năm nghìn quân do Vu Cấm dẫn đi phía trước, y dẫn mười lăm ngàn quân chủ lực theo sát phía sau, hai bên chỉ kém mười dặm, cho dù Vu Cấm ở phía trước bị quân mai phục, y cũng có thể cứu kịp thời.

Chủ lực quân Tào qua Hồi Long Cốc, lại quay đầu về hướng Nam, dọc theo một đường núi gập ghềnh tiến quân về Thượng Khuê cách hơn hai mươi dặm. Tuy rằng đường núi gập ghềnh, nhưng địa thế cũng không cao, thuộc loại giữa đồi và núi. Vu Cấm cực kì cẩn thận, phái mấy trăm binh lính mở đường phía trước, y sợ gặp phải quân Hán phục kích.

Rất rõ ràng, quân Hán sẽ không vô duyên vô cớ buông tha cho huyện Thượng Khuê, bọn họ đi về phía bắc chính là để cướp lấy Thượng Khuê, tại sao lại có thể từ bỏ? Lý do chỉ có một, quân Hán muốn đối phó với quân viện binh, bây giờ bọn y ở ngoài sáng, quân Hán trong bóng tối, Vu Cấm cảm thấy cực kì bị động.

Tuy nhiên, nằm ngoài dự liệu của y, chẳng gặp phải quân phục kích nào cả. Canh năm, quân đội của y thuận lợi tiến vào huyện Thượng Khuê, lúc này thám báo đến báo cáo, trong huyện thành không còn bóng dáng của quân Hán. Nhìn xa xa huyện thành đen nhánh, Vu Cấm do dự thật lâu, rốt cục ra lệnh:

- Truyền lệnh toàn quân vào thành!

Năm nghìn Quân Tào trùng trùng điệp điệp đi về phía huyện Thượng Khuê.

Quân chủ lực của Từ Hoảng ở phía sau mười dặm cũng không gặp bất cứ quân địch nào, vô cùng thuận lợi, điều này làm cho lòng Từ Hoảng có chút bất an. Việc khác thường tất có yêu, quân Hán không thể để bọn họ dễ dàng đoạt lại Thượng Khuê như thế, vậy thì vấn đề nằm ở đâu?

Ngay lúc Từ Hoảng suy nghĩ trăm lần vẫn không có câu trả lời, bỗng nhiên, ở phía sau ánh lửa dữ dội, người hô ngựa hý, loạn thành một bầy, đầu óc của Từ Hoảng ong lên một tiếng. Đó là hậu quân quân nhu của y, y đột nhiên hiểu ra, quân Hán muốn tập kích hậu quân quân nhu của y.

- Quân đội quay đầu!

Từ Hoảng quát lớn:

- Lập tức đi cứu hậu quân!

Quân Tào đang trong lúc hành quân lần lượt quay đầu, xông về phía sau. Lúc này, hậu quân quân nhu của Quân Tào đã loạn thành một bầy, Trương Nhậm dẫn mười vạn quân đội vượt qua Quan Đạo, theo đường khác trở về, vừa lúc chặn được hậu quân của quân Tào, ba nghìn quân áp giải quân nhu bị giết thê thảm, gào khóc chạy trốn. Còn hơn ngàn chiếc xe ngựa bị binh lính quân Hán tạt dầu hỏa đốt, ngọn lửa ngút trời, thiêu đốt tất cả, ngựa kéo xe hoảng sợ, chạy loạn, rất nhiều con ngã sấp, bị xe ngựa chặn lại, lửa mạnh cháy khiến chúng hí lên thảm thiết.

Hậu quân cách quân chủ lực cũng không xa, chỉ không đến một dặm. Chỉ trong chốc lát, chủ lực của quân Tào cũng giết trở về, nhưng đường đã bị những chiếc xe ngựa bị phá hỏng đang hừng hực cháy chặn lại, đa số binh lính không qua được, mà quân Hán bên kia đường lại bắn tên dày đặc như mưa, ngăn chặn triệt để quân Tào.

Lúc này, Từ Hoảng cầm Đại phủ đuổi tới, y thấy phía trước ngọn lửa ngút trời, tất cả xe lương thảo đều đang cháy, lòng y nóng như lửa đốt, quát lớn:

- Tiến lên dập lửa!

Mấy ngàn quân binh Tào bị ép, hò hét xông về phía hậu quân, nhưng chỉ chạy được mấy chục bước, mấy ngàn tên nỏ dày đặc phóng tới, binh lính Quân Tào kêu thảm thiết, cho dù có tấm chắn cũng không ngăn được những mũi tên, hơn trăm người chạy phía trước ngã sấp, binh lính phía sau sợ đến nỗi quỳ rạp trên mặt đất, không còn ai dám xông lên.

- Tướng quân, thế tiễn của quân địch của quá mạnh, các huynh đệ không xông lên được.

Từ Hoảng hận đến nỗi mắt bốc lửa, y hét lớn:

- Mau tránh hết ra.!

Bọn lính lảo đảo tránh về hai phía, nhường một đường, Từ Hoảng múa may rìu lớn, phóng ngựa xông lên. Y chỉ chạy hơn mười bước, bỗng nhiên, chiến mã hí dài một tiếng, móng trước giơ cao lên, mấy chiếc tên đã bắn thủng đầu chiến mã.

Chiến mã ngã nhào vào bên đường, Từ Hoảng cũng bị ngã văng ra ngoài, bị chiến mã đè lên cơ thể, thân binh phía sau nâng thuẫn xông lên, hơn mười người kết thành là tường chắn, thân binh còn lại khiêng Từ Hoảng trở về.

Trận đại hỏa ước chừng đốt nửa canh giờ, hai bên đồi núi tầm mười trượng đều bị đốt trơ trọi, gần ngàn chiếc xe ngựa chở quân nhu bị thiêu hủy, lương thảo, binh khí, lều trại, quân tư đều bị đốt sạch, hơn hai ngàn súc vật bị chết cháy hơn nửa, còn lại đều chạy không thấy bóng dáng tăm hơi.

Lúc này quân Hán tập kích bọn họ đã rút lui, hỏa thiêu hiện trường. Mấy ngàn binh lính quân Tào sang sửa sang lại những vật tư chưa bị thiêu cháy, thịt súc vật chết cháy cũng bị cắt bổ sung vào quân lương. Từ Hoảng nhìn thấy cảnh tượng thê thảm sau trận đại hỏa, trong lòng vừa phẫn hận, vừa ảo não, y chỉ nghĩ đến quân Hán phục kích ở phía trước, thật không ngờ lại phục kích hậu quận. Lương thảo quân tư mà bọn họ đem theo đều bị đốt rụi, giờ nên làm thế nào?

Đúng lúc này, một gã binh lính do Vu Cấm phái tới đến bẩm báo:

- Khởi báo tướng quân, huyện Thượng Khuê là một tòa thành trống, tất cả dân huyện đều đã rời đi, không có một bóng người.

Từ Hoảng ngẩn ngơ, vội vàng truy hỏi:

- Lương thực trong kho huyện thành thì sao?

- Không có gì còn lưu lại, một hạt gạo cũng không có.

Từ Hoảng ngây người, y bóp trán, rốt cuộc hiểu rõ sách lược của quân Hán. Sau một trận đại hỏa, lương thực hai vạn quân đội của y đã hết.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 667: Tiến thoái lưỡng nan


Trời cuối cùng cũng sáng, quân đội của Từ Hoảng cũng tiến vào huyện Thượng Khuê, cho dù lương thảo đồ quân nhu bị thiêu hủy, nhưng ở lại ngoài thành còn nguy hiểm hơn, chỉ có thể sau khi phán đoán tình huống rồi định đoạt.

Trên đầu thành, Từ Hoảng thở dài nói với Vu Cấm:

- Văn Tắc, ta nên nghe theo lời khuyên của ngươi, không nên bị thành trống của huyện Thượng Khuê dụ đỗ, cũng không đến nỗi thành bị động thế này.

Trong lòng Vu Cấm có chút đắc ý, nhưng trên mặt y không dám biểu lộ ra, trấn an Từ Hoảng:

- Công Minh không nên tự trách mình, tuy rằng đã mất quân nhu lương thảo, nhưng binh lực tổn thất không lớn, chỉ chết hơn vạn quân. Quan trọng hơn là, chúng ta đã đoạt lại được huyện Thượng Khuê, cũng coi như có lời để giải thích với quân sư. Mẫu chốt là chúng ta không thể bị quân địch nhiễu loạn nữa, phải phấn chấn sĩ khí lên, cân nhắc nên hành động gì tiếp theo.

Từ Hoảng gật gật đầu:

- Ngươi nói không sai, chúng ta không thể để sĩ khí ảm đạm, càng không thể bị quân Hán dắt mũi, nếu có thể quyết chiến một trận, ta quyết không né tránh.

Từ Hoảng đã suy nghĩ kĩ càng, hiện tại chính sách tốt nhất chính là quyết chiến với quân Hán. Hai bên binh lực ngang nhau, nhưng khả năng tác chiến đơn độc của tào quân mạnh hơn, đánh đến cuối cùng, bọn họ chưa chắc đã thất bại, cho dù thắng thảm, thì cũng đáng lắm.

Lúc này, Quan lương trong quân vội vàng tiến lên bẩm báo:

- Khởi bẩm tướng quân, lương thực đã kiểm kê xong.

- Còn có bao nhiêu lương thực?

Từ Hoảng vội hỏi. Tuy rằng lương thực quân nhu bị đốt trụi, nhưng binh lính quân Tào cũng mang theo chút đồ ăn, Từ Hoảng rất hi vọng vào điều này.

- Hồi bẩm tướng quân, bình quân mỗi binh lính có ba thăng lương thực và hai cân thịt, còn lại không còn lương thảo.

Từ Hoảng ngây người một lát, số lương thực này cùng lắm duy trì được hai ngày. Một lúc sau, y khoát tay bảo Quan lương lui ra, lúc này Vu Cấm nói:

- Ta đoán quân Hán sẽ không đi nơi khác, nhất định đóng quân ở Sơn Đạo phía nam, chi bằng chúng ta tập trung binh lực xuôi về nam, quyết chiến với quân Hán, có lẽ còn có chút hi vọng.

Từ Hoảng nhìn chăm chú vào ngoài thành, hồi lâu sau y lắc đầu:

- Văn Tắc, ta mặc dù hối hận trước đây không nghe lời khuyên của ngươi, nhưng lúc này đây ta vẫn không chấp nhận cách nghĩ của ngươi. Quân Hán ở chỗ cao chúng ta ở chỗ thấp, quân Hán sao có thể không phòng ngự. Nếu bọn họ từ chối không chiến đấu, thì nhiều nhất hai ngày lương thực của chúng ta cạn kiệt, lúc đó toàn quân sẽ bị tiêu diệt. Cho nên ta quyết định rút lui, trong thời gian hai ngày, mới có thể đuổi tới huyện Quảng Ngụy, nếu quân Hán truy kích chúng ta, chúng ta cũng không ngại giao chiến với bọn họ.

Vu Cấm còn muốn khuyên, nhưng Từ Hoảng khoát tay ngăn lại:

- Văn Tắc không cần phải khuyên nữa, như vừa nãy ngươi nói, bảo tồn binh lực mới là việc mà chúng ta cần giải quyết. Tuy rằng chúng ta cũng muốn bảo vệ huyện Thượng Khuê nhưng nếu gắng gượng chống đỡ, ngược lại sẽ bị tổn thất cả thành trị lẫn quân đội. Chi bằng ta giữ lấy một cái, tin là thừa tướng cũng sẽ tán thành quyết định của ta.

Vu Cấm bất đắc dĩ cười khổ nói:

- Nếu Công Minh đã quyết định vậy, ta là phó tướng, đương nhiên sẽ toàn lực ủng hộ.

- Tốt lắm, lệnh cho các huynh đệ lập tức tập kết, một khắc sau xuất phát Bắc thượng.

- Ta đề nghị một mồi lửa đốt trụi huyện Thượng Khuê thành mảnh đất hoang.

Vu Cấm lại đề nghị.

Từ Hoảng lắc lắc đầu:

- Huyện Thượng Khuê thành trì thấp bé, không ngăn được quân đội tấn công, đốt nó có ý nghĩa gì, tổn hại ngược lại chính là dân chúng. Chúng ta đã không bảo vệ được dân, lại còn hủy ruộng vườn của họ, không cần quản nữa, rút quân!

Vu Cấm bất đắc dĩ, đành tập hợp binh lính, một khắc sau, hai vạn Tào quân rời khỏi huyện Thượng Khuê, trùng trùng điệp điệp đi về hướng Đông bắc.

Sau khi quân Tào bỏ chạy không bao lâu, Triệu Vân dẫn quân Hán chủ lực quay lại huyện Thượng Khuê một lần nữa. Triệu Vân là người thận trọng, sẽ không vì tốc độ nhất thời mà quyết chiến với quân Tào. Hơn nữa y trường kì ở phương bắc, biết sức chiến đấu của quân Tào dẻo dài, khi binh lực tương đương, quân Hán nhất định không phải đối thủ, huống chi chủ tướng quân Tào lại là Từ Hoảng và Vu Cấm, đều là những tướng thiện chiến.

Nếu y l* m*ng xuất kích, quyết chiến với quân địch, một khi chiến bại, y không thể không lui về Mộc Môn, nhưng như vậy, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến chiến lược của Châu Mục, cho nên sách lược của Triệu Vân chính là ép quân Tào đi, cắt đứt lương thực của bọn họ chính là biện pháp tốt nhất.

Quân Hán vào thành, bọn lính phân công nhau dựng lều trại trên đất trống. Lúc này Pháp Chính tìm thấy Triệu Vân, cười nói:

- Tướng quân tìm ta sao?

Triệu Vân gật gật đầu nói:

- Quân sư mời đi theo ta!

Triệu Vân dẫn Pháp Chính lên đầu thành đi một vòng, Triệu Vân chỉ vào tường thành nói:

- Thị trấn quá nhỏ bé, không thể đóng hai vạn đại quân, hơn nữa tường thành lại mỏng manh, cực bất lợi cho phòng ngự. Ta định xây dựng công sự, đắp thêm chiều cao chiều rộng, quân sư thấy thế nào?

Pháp Chính cười cười nói:

- Xây công sự rất tốn thời gian, ít nhất phải ba tháng đến nửa năm, chỉ sợ không kịp thời gian. Một khi Tào Tháo đến Lũng Tây, nhất định sẽ tụ tập đại quân tấn công thành, cho nên ta đề nghị không nên xây công sự, mà là xây một lớp tường dọc theo tường thành, giống như một tuyến phòng ngự Mộc Môn Trại. Một khi quân Tào đánh hạ tường ngoài, binh lính còn có thể lui về tiếp tục chống cự.

Triệu Vân trầm tư một lát lại nói:

- Quân sư nói không sai, xây một vòng tường ở ngoài, chúng ta có hai vạn quân đội, cũng đủ phòng ngự. Nhưng ta vẫn muốn xây tường thành cao lên, xung quanh núi đá rất nhiều, có thể trực tiếp khai thác đá, đơn giản một chút, chỉ cần hơn một tháng là hoàn thành, hơn nữa cho dù quân Tào đến tấn công cũng không ảnh hưởng lớn.

Pháp Chính thấy Triệu Vân một lòng muốn xây công sự, cũng không phản đối nữa, cười nói:

- Nếu đơn giản một chút cũng không sao, thật ra ta cảm thấy không cần phải tốn công giữ huyện Thượng Khuê, giống như chúng ta lúc này đây, Tào quân đột kích, chúng ta lui lại, quân Tào đi chúng ta lại chiếm lĩnh, chỉ cần trong thành không có lương thực, hơn nữa lại có thể kịp thời cắt đường lương thực của quân Tào, thì quân Tào cũng không thể đóng quân trên Thượng Khuê được. Nếu tướng quân nhất định muốn xây công sự, ta cũng không phản đối, nhưng ta hi vọng tướng quân không bị tường thành làm khó khăn.

Triệu Vân lúc này mới chợt hiểu, y khom người thi lễ nói:

- Nhờ quân sư nhắc nhở, Triệu Vân suýt chút nữa tự hại mình trong thành.

Pháp Chính lại cười nói:

- Ta còn muốn nhắc nhở tướng quân, mệnh lệnh của Châu Mục không chỉ là chiếm lĩnh huyện Thượng Khuê, chúng ta phải phối hợp tác chiến tấn công Thượng Phương Cốc, thừa dịp Từ Hoảng rút quân đi huyện Lâm Vị, đây là cơ hội của chúng ta, nếu đợi Từ Hoảng bổ sung lương thực xong trở về, sẽ không còn thời cơ nữa.

Triệu Vân gật gật đầu:

- Quân sư nhắc nhở rất đúng, huyện Thượng Khuê ta giao cho Trương tướng quân, đêm nay ta dẫn quân đi về hướng Tây.

Triệu Vân lập tức giao quân cho Trương Nhậm, y dẫn mười ngàn quân rời khỏi huyện Thượng Khuê, hành quân về phía Tây bắc.

Trương Nhậm tiếp nhận phòng ngự huyện Thượng Khuê, lúc này y hạ lệnh chia đóng quân, trong thành chỉ đóng ba nghìn quân, lương thực trong thành không nhiều lắm, còn lại mười bảy ngàn người ở đường núi hiểm yếu bảo vệ lương thảo cho quân doanh. Như vậy, cho dù là từ bỏ huyện Thượng Khuê, cũng sẽ không làm thay đổi đại cực tiến quân vào Vị Thủy Cốc của quân Hán.

Ngay lúc Triệu Vân dùng kế bức lui viện quân của Từ Hoảng, cục diện Thượng Phương Cốc cũng vì Mã Quân đến mà thay đổi. Mã Quân đem đến cho quân Hán máy bắn đá kiểu mới, cho dù uy lực của máy bắn đá này không mạnh, không đủ để phá hủy tường doanh, nhưng cự ly bắn xa cũng mang đến cơ hội chiến thắng cho quân Hán.

Ở trong đại doanh của quân Tào có ba mươi mấy chiếc máy bắn đá, đây là xe mà năm đó quân Tào sử dụng đánh thắng Viên Thiệu, do trăm tên lính kéo, xa nhất có thể bắn một tảng đá năm mươi cân đến bốn năm trăm bước. Ba mươi mấy chiếc máy bắn đá đã hoàn toàn che lấp cả cửa cốc.

Nếu quân Hán muốn miễn cưỡng tấn công đại doanh của quân Tào, dưới sự tấn công nặng nề của máy bắn đá chắc chắn sẽ tổn thất thê thảm. Đây cũng là tổn thất mà Lưu Cảnh không muốn thừa nhận. Nếu dùng binh lính quy mô nhỏ tấn công, mấy ngàn nỏ thủ của quân Tào sẽ bị tiêu diệt ở khoảng cách gần.

Đang lúc lo lắng phòng ngự vũ khí sắc bén của quân Tào, Lưu Cảnh mới chậm chạp không muốn tiến công, nhưng Mã Quân đem đến máy bắn đá, tầm bắn có thể đạt tới năm trăm bước, dài hơn tầm bắn bốn trăm bước của quân Tào hoàn toàn có thể tránh được đòn nghiêm trọng của quân Tào.

Đêm này, màn đêm vừa buông xuống, ba vạn quân Hán liền tiến vào Thượng Phương Cốc, chậm rãi tiến lên phía trước. Đây thực tế là để yểm hộ tấn công của máy bắn đá. Phía trước là binh lính cho Vương Bình dẫn đầu, bọn họ đẩy hai trăm chiếc máy bắn đá đi trước, sau đó là ba nghìn lính bắn tên, những cái này để ứng phó với tấn công vòng thứ nhất của Quân Tào.

Ở sau quân bắn tên là năm nghìn bộ binh trọng giáp, dùng để đối phó với binh khí của kỵ binh. Ở sau quân trọng giáp là hai vạn bộ binh trường mâu, bọn họ tấn công chủ lực của đại doanh quân địch.

Lúc còn cách đại doanh quân Tào khoảng chừng năm trăm bước, quân Hán dừng lại, chiều rộng của cốc khoảng một dặm, đúng là vị trí tấn công tốt nhất. Vương Bình ra lệnh một tiếng, một ngàn binh lính nhanh chóng lắp ráp, hai trăm máy bắn đá kiểu mới bắt đầu xuất hiện trong cốc.

Ngay lúc quân Hán tiến vào Thượng Phương Cốc, quân Tào liền nắm được tin tức, Tuân Du và Hạ Hầu Đôn cùng xuất hiện trên tường trại. Lúc này Tuân Du càng quan tâm hơn đến tình hình huyện Thượng Khuê, tính toán theo thời gian, quân đội Từ Hoảng hẳn đã tới huyện Thượng Khuê. Theo ước định, Từ Hoảng lập tức sẽ đưa chim bồ câu đưa thư trở về, nhưng đến bây giờ còn không có tin tức, điều này khiến Tuân Du cực kì lo lắng, chẳng lẽ huyện Thượng Khuê xảy ra chuyện gì sao?

Thật ra lúc Tuân Du biết tin tức Mộc Môn Trại thất thủ, y liền biết huyện Thượng Khuê không thể giữ nổi. Thượng Khuê chỉ có ba ngàn quân coi giữ, thành trì thấp bé, căn bản không ngăn nổi hai vạn quân Hán tấn công. Nhưng vị trí chiến lược của huyện Thượng Khuê rất quan trọng, một khi thất thủ, sẽ phá tan mạng lưới phòng ngự mà y tỉ mỉ vẽ ra.

Điều này khiến Tuân Du vô cùng lo lắng, y chỉ có thể chờ mong Từ Hoảng có thể đến kịp thời, đoạt lại huyện Thượng Khuê. Bây giờ huyện Thượng Khuê không có tin tức, mà quân Hán lại tiến công Thượng Phương cốc rồi, giữa hai cái này, có liên hệ gì không?

Tuân Du tâm trạng nặng nề, Hạ Hầu Đôn lại không nghĩ xa như vậy, sự chú ý của y đều dồn vào quân Hán phía trước. Quan sát hồi lâu, y quay đầu nói với Tuân Du:

- Thám bào nói quân địch chỉ có ba vạn người tấn công, bây giờ là buổi tối, quân sư cảm thấy Lưu Cảnh có thể có quỷ kế không?

Tuân Du khe khẽ thở dài:

- Thẳng thắn mà nói, ta cũng không biết, Mộc Môn Trại đã thất thủ rồi, bây giờ ta đã không còn niềm tin. Đây là lần tấn công đầu tiên của quân Hán, ta nghĩ Lưu Cảnh trước giờ suy tính trước hành động sau, nếu như hắn không nắm chắc, chắc sẽ không tấn công ban đêm. Hắn tất nhiên là có cái để dựa, chúng ta không nên khinh thường.

- Chẳng lẽ là xe nhỏ mà quân Hán đẩy đi sao?

Hạ Hầu Đôn chợt nhớ tới thám báo báo cáo, ở phía trước đội ngũ quân Hán có một ngàn chiếc xe con, không biết là vật gì. Y hơi lo lắng:

- Quân sư, hay là quân Hán lại phát minh ra vũ khí kiểu mới?

Không chỉ có Hạ Hầu Đôn, gần như tất cả quân Tào đều đau đầu với hàng loạt vũ khí mới mà quân Hán phát minh ra. Rất nhiều đại tướng đều phải học tập quân Hán, cũng mở lớp dạy thủ công, để nghiên cứu chế tạo vũ khí mới. Giang Đông xây dựng lớp học thợ thủ công đã thất bại, nhưng đầu năm nay Tào Tháo lại cho xây dựng một lớp ở Vũ Xương.

Nghĩ vậy, Hạ Hầu Đôn cũng không cần biết là vũ khí mới gì, y cắn răng nói:

- Bất kể là bọn chúng dựa vào cái gì, trước phích lịch xe đánh của chúng ta, tất cả đều hóa thành bột mịn.

Hạ Hầu Đôn hô to một tiếng:

- Chuẩn bị đá lớn!

Ba mươi máy bắn đá khổng lồ được kéo ra, binh lính quân Tào đem hơn trăm tảng đá nặng nhét vào trong túi sắt, lúc này, ánh mắt của Hạ Hầu Đôn nhìn về đài quan sát ở bên cạnh trại, tòa quan sát cao bốn trượng sáng lên, có nghĩa là quân địch đã tiến vào trong tầm bắn. Hạ Hầu Đôn liền chờ đợi khoảnh khắc này.

Đúng lúc này, trên tòa quan sát bỗng nhiên rực sáng.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 668: Thượng Phương cốc (thượng)


Lưu Cảnh cưỡi ngựa đứng sau nỏ binh nhìn chăm chú vào trại lớn quân Tào tại Thượng Phương cốc xa xa, dù ánh trăng ảm đạm nhưng vẫn mơ hồ có thể thấy được mấy chục máy bắn đá sừng sững ở trong đại doanh, giống hết như quái thú dữ tợn trong quân.

Hôm nay là trận chiến đầu tiên của chủ lực quân Hán bắc công, một trận chiến này rất quan trọng đối với hắn, liên quan đến sĩ khí của mấy tướng sĩ và chiến lược kế hoạch tương lai, hắn nhất định phải đoạt được Thượng Phương cốc trước khi Tào Tháo đến Ký Thành, giành được ưu thế trên địa lý, như vậy dù hắn nhất thời khó có thể đánh hạ được Ký Thành thì cũng có thể tiếp tục yên ổn tại Vị Thủy cốc.

Nếu như không có máy bắn đá kiểu mới của Mã Quân, hắn cũng chỉ có thể dùng thủ đoạn cường công, bất kể cái giá phải trả như nào cũng phải cướp được Thượng Phương cốc, mà hiện tại có máy bắn đá kiểu mới, tổn thất của hắn ít nhất sẽ giảm bớt được một nửa, giờ phút này, hắn tràn đầy kỳ vọng vào máy bắn đá.

Lúc này, Vương Bình chạy vội đi lên, ôm quyền hành lễ nói:

- Khởi bẩm Châu Mục, máy bắn đá đã trang bị xong, xác nhận không có sai sót gì, bất cứ lúc nào cũng có thể khởi động.

Lưu Cảnh lại nhìn trại lớn quân Tào đen nhánh xa xa, gật gật đầu, ra lệnh:

- Có thể phóng ra!

Hai trăm máy bắn đá loại nhỏ kéo ra, tất cả cán ném đều được kéo thành hình vòng cung, quăng bình gốm đựng dầu dính, đúng lúc này, máy bắn đá trong quân Tào cũng ầm ầm phát động, ba mươi mấy khối đá lớn bay lên trời, hình thành một loạt điểm đen gào thét bắn về phía trận địa quân Hán.

Tảng đá lớn ầm ầm rơi xuống đất, khí thế làm cho người ta sợ hãi, kích khởi bụi đất bay mù mịt. Dù bụi đất vàng tràn ngập, dù đá lớn chỉ nện ngoài bốn trăm bước, nhưng tảng đá lớn lăn thêm hơn mười bước nữa, cách quân chính quân Hán chưa tới năm mươi bước, bụi đất che trời phủ đất đập vào mặt.

- Phóng ra!

Vương Bình lớn tiếng quát, đám lính dùng cây đuốc đốt dầu dính lên, bên ngoài bình gốm cũng thoa dầu dính, lập tức toàn bộ bình gốm cũng bốc cháy lên.

Hai trăm ngọn lửa màu lam hừng hực thiêu đốt, bỗng dưng phát b*n r*, chỉ thấy không trung nhiều điểm ánh lửa bay về hướng đại doanh quân Tào, ưu thế của dầu dính lập tức biểu hiện ra, nó không bị tắt trên không trung, cũng không dễ dàng vẩy ra từ trong cổ nhỏ của bình gốm, chúng quay cuồng trên không trung, lao thẳng tới trại lớn của quân Tào.

- Quân Hán dùng hỏa công!

Binh lính quân Tào đều hét to, Tuân Du cũng nhìn thấy điểm lửa đầy trời, y lập tức chấn động, không ngờ quân Hán có thể b*n r* bình dầu hỏa xa hơn bốn trăm bước. Nhưng không để y nghĩ được nhiều, hộp dầu hỏa đã đến đỉnh đầu, mấy chục thân vệ quân Tào đều xông lên trước nâng lá chắn chống cự, bảo hộ Tuân Du và Hạ Hầu Đôn.

Chỉ nghe những tiếng lốp bốp vang lên, bình gốm ơi xuống đất. Loại bình gốm này đặc biệt chế tác cho hỏa công, hộp gốm thành mỏng như giấy, nhẹ đến mức vừa gõ đã vỡ, nhưng lúc này vẩy ra không phải là dầu hỏa mà là dầu dính, ngay cả từng mảnh bình gốm vỡ ra cũng bốc cháy, dầu b*n r* chung quanh, một hộp dầu sẽ tràn ra hơn mười, thậm chí trên trăm đốm lửa. Chúng đập vào tường trại, máy bắn đá, tháp quan sát và từng tốp binh lính, tứ phía đại doan quân Tào lập tức bùng lên ngọn lửa.

Hạ Hầu Đôn gấp đến độ hô to:

- Mau mau dập tắt lửa!

Quân Tào cũng sử dùng dầu hỏa lâu rồi, bọn họ cũng có kinh nghiệm phong phú để dập tắt lửa, biết không có thể dùng nước dập lửa dầu được mà nhất định phải dùng bùn cát mới có thể dập được, trong mỗi đại doanh quân Tào đều đặc biệt chuẩn bị một lượng lớn bùn cát, vô số binh lính ôm từng bao bùn cát dập lửa, cũng giẫm loạn lên để dập tắt lửa.

Nhưng đây chỉ là dập lửa trên mặt đất, còn dầu dính đập trúng xe bắn đá và tường ngoài doanh trại thì lại không cách nào dập được. Lúc này, nhóm hỏa hộp thứ hai lại gào thét bay tới, bình gốm vỡ vụn, vô số điểm lửa vẩy ra, lửa mượn thế gió, vài máy bắn đá to lớn bị lửa lớn nuốt sống, trên doanh trại cũng dấy lên ngọn lửa lớn hừng hực, khói đặc tràn ngập, rất nhiều binh lính quân Tào cũng bị dầu dính dính vào, sợ hãi la to, hoặc bỏ mạng chạy trốn, hoặc lăn lộn trên mặt đất.

- Quân sư, bên này nguy hiểm, mau lui xuống đi!

Hạ Hầu Đôn gấp gáp hô to.

Tuân Du lại tựa hồ như bịt tai không thèm nghe, y ngồi xổm người xuống, dùng một con dao găm đẩy bùn đất ra, đào ở dưới ra một ít dầu dính, y chăm chú nhìn, lại hít hà, trong mắt trở nên hết sức ác liệt. Quân Hán không chỉ có vũ khí ném đá cự ly xa, hơn nữa dầu hỏa cũng không giống với loại trước đây, loại dầu hỏa này giống cục cao su, tạt nước vào lửa càng bốc cháy dữ dội hơn.

Tuân Du quay đầu ra lệnh với Hạ Hầu Đôn:

- Đổi hỏa cầu đánh trả đối phương!

Trong lửa lớn hừng hực, quân Tào cũng không tiếp tục sử dụng tảng đá lớn mà đổi dùng hỏa cầu cực lớn, quả cầu lớn được bọc vải bố có ngâm dầu hỏa, binh lính quân Tào đốt hỏa cầu lên, ba mươi máy bắn đá to lớn đồng loạt phóng ra, chỉ thấy ba mươi hỏa cầu bay lên trời, hướng về ngoài cách Thượng Phương cốc trăm bước.

Hiệu quả của hỏa cầu hoàn toàn khác biệt với đá lớn, từng hỏa cầu to lớn sau khi hạ xuống lại bắn lên cao, bay ra xa hơn trăm bước, đánh về phía quân Hán dày đặc. Binh lính quân Hán kêu to, đều quỳ rạp trên mặt đất, mặc dù như thế, hỏa cầu lớn vẫn đập lật ra hai mươi mấy máy bắn đá, gần trăm tên lính bị thương, trong đội ngũ quân Hán bắt đầu xuất hiện rối loạn.

Lưu Cảnh lại bất động, hắn mặt không thay đổi nhìn tường trại quân Tào và mấy máy bắn đá cỡ lớn bị đốt cháy, lạnh lùng hạ lệnh:

- Tiếp tục công kích!

Mấy ngàn Trọng thuẫn quân dưới sự chỉ huy của Đại tướng Lôi Đồng vọt tới trước máy bắn đá, bọn họ dùng trọng thuẫn kết thành tường lá chắn, bảo vệ máy bắn đá, hơn trăm đệ tử Mã Quân cũng chạy tới sửa chữa máy bắn đá bị nện trúng. Cùng lúc đó, quân Tào lại bắt đầu một vòng tiến công nữa, hỏa cầu thật lớn ào thét lên bay tới, nện trên tường lá chắn, vượt qua trận địa máy bắn đá, đạn hướng xa hơn nỏ quân, mỗi một quả hỏa cầu bay tới đều khiến cho quân Hán rối loạn.

Mà hỏa hộp quân Hán cũng dày đặc rơi vào đại quanh quân Tào, ánh lửa văng khắp nơi khiến binh lính quân Tào lo cái này, mất cái kia, từ tháp quan sát bị cháy bừng bừng rồi đổ ầm xuống, trong doanh trại ngày càng nhiều phương tiện và vũ khí bị điểm cháy, đã có quá bán máy bắn đá to lớn bị đại hỏa nuốt hết, một đoạn tường trại dài hơn mười trượng bị đốt trọi, mất đi chống đỡ mà ầm ầm sập.

Ngoài trăm bước, lều trại trong trại lớn của quân Tào đều đã thu thập sạch sẽ, Tuân Du kinh ngạc nhìn từng cái máy bắn đá to lớn bị điểm cháy, bị đốt trọi rồi ngã xuống, y biết rằng một khi phòng ngự trại lớn của quân Tào bị phá hủy thì chính là lúc quân Hán quy mô tiến công lớn.

Y cúi đầu thở dài, quay đầu lại nói với Hạ Hầu Đôn:

- Hạ Hầu tướng quân, chuẩn bị tập kết binh lực huyết chiến với quân Hán đi! Bọn họ rất nhanh triển khai tấn công rồi.

Hạ Hầu Đôn gật gật đầu:

- Mời Quân sư về phía sau trại đi! Bên này ta sẽ chỉ huy, cho dù Lưu Cảnh giết tiến vào, ta cũng khiến hắn phải trả giá thê thảm và nghiêm trọng.

Y quay đầu lại ra lệnh:

- Nhanh chóng đưa quân sư ra hậu trại!

Tuân Du và hơn mười quan văn được đưa ra hậu trại, hai vạn quân Tào bắt đầu tập kết, phía trước là ba nghìn nỏ binh, sắp hàng thành ba hàng, lúc này tường trại đã hoàn toàn bị đại hỏa nuốt hết, không thể phòng ngự ở trên tường trại, chỉ có thể đợi tường trại sập, quân Hán vọt vào đại doanh rồi thì sẽ dùng tiễn trận hùng mạnh ngăn chặn đối phương.

Theo chiếc máy bắn đá to lớn cuối cùng ngã xuống, cự thạch trận lực lớn nhất của quân Tào cũng theo đó biến mất, Lưu Cảnh rốt cục mỉm cười, ra lệnh:

- Kỵ binh phá trại, trọng giáp bộ binh chuẩn bị, nổi trống xuất kích!

Bên trong thung lũng vang lên tiếng trống trận ầm ầm, tiếng trống rung chuyển trời đất, trận hình quân Hán nhanh chóng biến hóa, từ thủ thế chuyển thành thế công, hai chi kỵ binh theo tả hữu giết ra, đều có hơn ngàn người, chiến mã chạy gấp phóng về hướng trại lớn quân địch. Lưu Hổ suất lĩnh ba nghìn trọng giáp bộ binh đi tới trước nhất, bọn họ nhanh chóng xếp thành hàng, lấy trăm người làm một hàng, tổng cộng ba mươi hàng, kỵ binh theo sát, trong tiếng trống trận tiến công, từng bước từng bước áp sát đến đại doanh quân Tào ngoài năm trăm bước.

Mặt sau là hai vạn Trường mâu quân, trường mâu như rừng, sát khí ngút trời, quân đội đi lại chỉnh tề như cuộn sóng phập phồng, đạp trên tiết tấu. Dưới sự suất lĩnh của đại tướng Mã Siêu chậm rãi đẩy tiến về phía trước.

Kỵ binh Quân Hán dùng dây chão dài kéo sập từng mảnh tường doanh quân Tào, theo tường doanh mấy trăm trượng ầm ầm ngã xuống đất, trung tâm đại doanh rộng lớn hiển lộ ra, xa xa có thể thấy binh lính quân Tào dày đặc, trận địa bọn họ sẵn sàng đón quân địch, một trận ác chiến thảm thiết sắp mở màn.

Theo tường trại ầm ầm ngã xuống, quân Tào nghênh đón cũng không phải tấn công của kỵ binh mà là sự xuất hiện của trọng giáp bộ binh quân Hán. Song phương giao chiến nhiều năm sớm hiểu biết lẫn nhau, Hạ Hầu Đôn biết sự lợi hại của trọng giáp bộ binh, đây là một đội quân cường mạnh mà Lưu Cảnh dùng thời gian gần mười năm mới tạo ra được, hao phí không biết bao nhiêu tiền lương, một thanh Trảm Mã Đao đã vượt qua tài sản của một hộ nhà nông.

Dù sự xuất hiện của trọng giáp bộ binh nằm trong dự liệu của Hạ Hầu Đôn, nhưng khi bọn họ thật sự xuất hiện vẫn làm cho Hạ Hầu Đôn vô cùng khẩn trương, lúc này, phó tướng Tang Bá tiến lên thấp giọng nói:

- Tướng quân, trọng giáp bộ binh giáp trụ dày, không sợ cung tiễn, dùng tên nỏ áp trận chỉ sợ không có hiệu quả.

Hạ Hầu Đôn làm sao không biết đối phó trọng giáp bộ binh chỉ có dùng nỏ sàn, đáng tiếc nỏ sàn đều trang bị ở trên tường trại cũng bị đại hỏa thiêu hủy rồi, y nhất thời vô kế khả thi, Tang Bá lại nói:

- Không bằng trực tiếp dùng trường mâu quân lên ác chiến với quân địch, để tránh nỏ binh bị tổn thất vô nghĩa.

Đề nghị của Tang Bá là phương pháp xử lý bất đắc dĩ, Hạ Hầu Đôn trầm ngâm chốc lát nói:

- Để nỏ tiễn bắn hai đợt rồi lui lại!

Con người luôn ôm một tâm lý may mắn, Hạ Hầu Đôn cũng không ngoại lệ, có lẽ tên nỏ dày đặc mạnh mẽ thật sự có thể mang đến lực sát thương nhất định cho trọng giáp bộ binh, y ra lệnh:

- Tên nỏ chuẩn bị!

Ba nghìn nỏ quân nâng lên, đầu mũi tên lạnh như băng nhắm ngay vào trọng giáp bộ binh quân địch càng ngày càng gần. Trăm trọng giáp bộ binh một hàng sóng vai mà đi, một tay chấp trảm mã lưỡi dài, một tay nâng tấm chắn, bước đi trầm trọng mà thong thả từng bước một đẩy mạnh tiến về phía trước.

Lúc trước, trọng giáp bộ binh cũng không dùng tấm chắn, trọng giáp bọn họ đủ để chống cự cung nỏ bình thường, nhưng trải quac hiến đấu trường kỳ, quân Hán cũng phát hiện trọng giáp bộ binh cũng không phải là mình đồng vách sắt, ở một số tình huống, giáp trụ trên người bọn họ vẫn không ngăn cản nổi xạ kích của tên nỏ.

Một là ở trong vòng ba mươi bước, tên nỏ dày đặc mạnh mẽ có thể bắn thủng trọng giáp, tiếp theo đó là đầu, khôi giáp có lỗ nhìn và lỗ hô hấp, tên quá dày đặc vẫn dễ dàng bắn trúng những cái lỗ này, quân Hán từng có giáo huấn như vậy. Cho nên cuối cùng trọng giáp bộ binh cũng bắt đầu chấp lá chắn, tấm chắn là hai lớp da trâu được ngâm dầu bao trùm lên ván gỗ cây táo, vô cùng nhẹ nhàng và khéo léo, giơ nó cũng không tốn sức, dù tấm chắn cũng không ngăn được tên nỏ hùng mạnh bắn tụ tập, nhưng nó cũng là một bộ đệm tuyệt vời.

Trọng giáp bộ binh càng ngày càng gần, Trảm Mã Đao sắc bén sáng lấp lánh trong ánh lửa chiếu rọi, đằng đằng sát khí, đáng tiếc Hạ Hầu Đôn cũng không biết được bí mật rằng trong vòng ba mươi bước có thể bắn thủng trọng giáp, khi trọng giáp bộ binh cách nỏ trận còn năm mươi bước, đây là khoảng cách bắn bình thường hữu hiệu nhất trong chiến dịch, Hạ Hầu Đôn hạ mệnh lệnh bắn.

Ba nghìn tên nỏ đồng thời phóng ra, tên nỏ dày đặc như gió bão mưa rào gào thét phóng tới, mùi tử khí hùng mạnh làm người ta hít thở không thông. Lưu Hổ hét lớn một tiếng, trăm tên trọng giáp bộ binh ở hàng đầu đồng thời giơ tấm chắn lên, thân thể nửa ngồi, ổn định hạ bàn, chỉ nghe những thanh âm chói tai, nỏ kình lực hùng mạnh giã tấm chắn trong tay bọn họ dập nát, lại không tổn hại đến bất kỳ người nào.

- Giết!

Lưu Hổ vung đao rống to.

Ba nghìn trọng giáp bộ binh cùng kêu lên:

- Giết!

Bọn họ nhảy dựng lên, bắt đầu chạy hai tay chấp chiến mã đao sắc bén mãnh liệt nhào đến nỏ trận quân Tào.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 669: Thượng Phương Cốc (hạ)


Trọng giáp bộ binh tuy rằng đi lại nặng nề, bước đi chậm chạp, nhưng một khi chạy đến thì không thể dễ ràng chống đỡ được, bọn họ trong chớp mắt có thể vọt đến ngoài hai mười bước, lúc này nỏ binh Quân Tào lên dây cung đã không kịp nữa, đều thoái lui phía sau, Hạ Hầu Đôn hét lớn một tiếng, trường mâu quân giết thẳng đi lên.

Ba vạn trường mâu quân bỗng giơ lên trường mâu, xếp thành hàng tiến lên, hướng tới nghênh chiến trọng giáp bộ binh như cuồng phong đang lao tới. 'Oành!' Một tiếng vang thật lớn vang lên, hai chi quân đội đụng vào nhau kịch liệt, theo đó sương máu đầm đìa, tứ chi bay tứ tung, tiếng k** r*n, tiếng kêu thảm thiết vang vọng đại doanh, đơn giản chỉ một kích, liền có hơn một trăm tên Quân Tào bị chém chết.

Trọng giáp bộ binh giống như gậy to Lang Nha nặng nề mà sắc bén liên tiếp giết thấu ba tầng phương trận Quân Tào, chém giết mấy trăm người, linh hoạt sắc bén không thể đỡ nổi, đến cuối cùng mới bị trường mâu của Quân Tào ngăn cản được, lúc này, trọng giáp sĩ binh hàng thứ nhất lui xuống, hàng thứ hai xông lên giết, hai bên đánh giáp lá cà, chiến đấu kịch liệt ở cùng một chỗ.

Nhưng quân doanh Quân Tào vô cùng rộng lớn, trọng giáp bộ binh chỉ chiếm cứ được một bộ phận nhỏ, đúng vào lúc Quân Tào chuẩn bị từ bên cạnh tiến hành bao vây trọng giáp binh để công kích, Mã Siêu suất lĩnh hai vạn trường mâu quân giết tới đây, vừa hay cắt đứt Quân Tào từ bên cạnh đánh tới, song phương lại ở một mặt khác triển khai chiến đấu kịch liệt.

Thời gian lúc này đã là canh bốn, ánh trăng mờ tối, đây là thời cơ đặc biệt mà Lưu Cảnh lựa chọn, quân Hán thay nhau ở Võ Đô huyện tiến hành huấn luyện trường kỳ dạ chiến đã gần hai năm, sớm đã thành thói quen chiến đấu vào ban đêm rồi, hơn nữa khôi giáp của hai quân đều có chỗ bất đồng, cánh tay trái quân Hán có buộc vải trắng, ở ban đêm cũng có thể nhận ra nhau.

Đây vốn là một trận chiến đấu rất kịch liệt với quân lực ngang nhau, thậm chí quân Tào còn hơi hơi chiếm ưu thế, nhưng ba nghìn trọng giáp bộ binh không nghi ngờ gì nữa là kẻ phá cục diện, bọn họ một tấn công năm, ngăn chặn gần đến một vạn năm nghìn quân Tào, như vậy liền là hai chi trường mâu quân đang chiến đấu kịch liệt xuất hiện binh lực không ngang bằng, quân Hán chiếm ưu thế hơn nhờ năm ngàn người.

Hạ Hầu Đôn đang tận lực giọng khàn chỉ huy chiến đấu, lúc này, thân binh của y bỗng nhiên hô lớn:

- Tướng quân, nguy hiểm!

Hạ Hầu Đôn vừa quay đầu, đã thấy một gã đại tướng đội ngân khôi từ cánh bên đâm giết đến đây, người này có dáng vóc cực kỳ hùng tráng, bạch mã ngân thương, uy phong mạnh mẽ, chính là Cẩm Mã Siêu được xưng Thiên hạ đệ tam mãnh tướng. Hạ Hầu Đôn chỉ có một con mắt, đến lúc Mã Siêu tiến đến gần trước y mới nhận ra, lập tức chấn động kinh hãi, nhưng Mã Siêu không cho y cơ hội thoát thân, hét lớn một tiếng:

- Hạ Hầu tặc, để mạng lại!"

Y thúc ngựa vội xông thẳng tới, đầu thương đâm ra, mũi thương rất sắc nhọn, trong phút chốc liền đâm tới trước mắt, Hạ Hầu Đôn thấy không thể thoát thân, chỉ có thể kiên trì giơ thương đón đỡ, đại thương đổi tay đâm về phía Mã Siêu, chiến mã hai người xoay quanhcũng là một trận đấu kịch liệt trên chiến trường, kịch chiến được mười mấy hiệp, Hạ Hầu Đôn dần dần không tiếp tục được, nhưng lại không thể trốn tránh khỏi những đợt công kích nhanh như cuồng phong vũ bão của Mã Siêu, mắt thấy sắp ngăn cản không được, trong lòng Hạ Hầu Đôn kêu khổ, thầm nghĩ, 'chẳng lẽ ta cũng phải giống như Diệu Tài bị chết ở Lững Tây sao?

Lúc này, Tang Bá thấy tình thế không ổn, giục ngựa chạy tới gấp, thấy Hạ Hầu Đôn sắp bị trường thương Mã Siêu đâm trúng, tình thế cấp bách, Tang Bá đoạt lấy một chiếc trường mâu, ném mạnh về hướng Mã Siêu, chính lúc Mã Siêu sắp một thương đâm Hạ Hầu Đôn ngã xuống ngựa thì trường mâu từ bên cạnh bay vụt tới, trong nháy mắt bay tới trước mắt, không thể không để ý tới, Mã Siêu Bất đắc dĩ, đành phải đổi hướng thương đánh bay trường mâu.

Nhưng Hạ Hầu Đôn lại nắm được cơ hội trong chớp nhoáng này, phóng ngựa chạy gấp, chạy ra khỏi vòng chiến khống chế của Mã Siêu. Mã Siêu đại nộ:

- Hạ Hẩu cẩu tặc, đừng mong chạy thoạt!

Y thúc ngựa mau chóng đuổi theo, tốc độ ngựa chạy rất nhanh, trường thương đã cách hậu tâm của Hạ Hầu Đôn không đến một thước, bọn thân binh của Hạ Hầu Đôn thấy tình thế nguy cấp, một loạt xông lên, hơn mười cây binh khí thẳng hướng Mã Siêu, chặn lấy con đường phía trước của Mã Siêu. Mã Siêu thốt nhiên tức giận, mua may trường thương như hoa lê bay tán loạn, tả hữu đâm đón, chỉ trong chốc lát, mười mấy tên thân binh của Hạ Hầu Đôn đã bị y đâm ngã ngửa trên mặt đất.

Nhưng Hạ Hầu Đôn lại tránh được một kiếp nữa, y không ngừng vó ngựa, cấp tốc chạy về phía hậu quân, dần dần được quân đội che khuất. Mã Siêu trái phải tìm không thấy Hạ Hầu Đôn, trong lòng hết sức căm tức, hét lớn một tiếng, xông thẳng vào nơi dày đặc nhất của Quân Tào, như mãnh hổ giữa bầy cừu, đánh đâu thắng đó, không gì cản nổi, dũng mãnh không thể đỡ, đến Tang Bá cũng không dám đến so tài mọn, trong lòng run sợ mà tránh xa.

Lúc này, một tên nha tướng xông lên phía trước, hô lớn với Tang Bá:

- Tướng quân, trọng giáp bộ binh của quân địch quá sắc bén, quân tiên phong chết thê thảm nghiêm trọng, đã sắp không thể chống đỡ nổi!

Tang Bá chấn động kinh sợ, thúc ngựa vội chạy tiến lên, chỉ thấy quân Tào ở phía tây quân doanh xuất hiện dấu hiệu tan dã, ba nghìn trọng giáp bộ binh giống như là kẻ điên, trên mặt đất máu chảy thành sông, thi thể chồng chất như núi, hơn nghìn tiên phong quân Tào bị giết đến mức lớp lớp bại lui, tiếng khóc thảm thiết vang trời, đã có sĩ binh đảo chiến chạy trốn rồi.

Tang Bá lòng nóng như lửa đốt, vừa quay đầu lại, chỉ thấy hai nghìn trường mâu quân trận bên phải trống không, chưa bị lọt vào thế tiến công của quân địch, dưới tình thế cấp bách, Tang Bá ra lệnh:

- Quân đội cánh phải xông lên tiên phong, giúp ta chống trả xông lên.

Bên cạnh một tên nha tướng vội la lên:

- Tướng quân, hữu quân không thể để trống, quá nguy hiểm.

Tang Bá hét lớn một tiếng:

- Tiền quân sắp xong đời rồi mà ngươi còn quản nhiều như vậy, lập tức đi báo cáo chủ tướng, để y điều quân dự bị bổ sung hữu quân.

- Nhưng chủ tướng đang ở nơi nào?

Tang Bá chỉ ra phía sau:

- Y vừa rồi rút về phía sau rồi, đi về phía sau mà tìm y, nhanh lên!

Tên nha tướng này quay đầu ngựa chạy hướng phía sau, Tang Bá hô lớn với hữu quân đang chạy lên:

- Đi theo ta, chống đỡ tiên phong!

Hai ngàn trường mâu quân reo hò đi theo Tang Bá nhằm phía tiền phong, chống đỡ trọng giáp bộ binh sắc bén, giúp trận tuyến tiền phong đang sắp sụp đổ ổn định lại, nhưng bởi vì hai ngàn trường mâu quân vốn dĩ là lâm thời được điều đi làm tiên phong hộ vệ cánh phải, như vậy liền khiến trận hình trường quân Tào mâu từ song cánh biến thành đơn cánh.

Quân Hán là do Lưu Cảnh tự mình chỉ huy, hắn lại không hề trực tiếp tham gia tác chiến, mà dưới sự hộ vệ nghiêm mật của hơn ngàn thị vệ đứng ở một nơi cao lạnh lùng quan sát tiến triển của trận chiến, lúc này hắn phát hiện phòng ngự phía tây bên phải trường mâu quân trận của quân Tào xuất hiện lỗ hổng.

Dựa theo tác chiến bình thường, chủ soái là Hạ Hầu Đôn hẳn là nên cấp tốc điều hậu quân dự bị lên bổ sung cho hữu quân đang bỏ trống, nhưng mà Hạ Hầu Đôn bị Mã Siêu giết bại, thoát ly khỏi trung tâm chỉ huy, không thể kịp thời biết được hữu quân bị điều đi, cũng liền không thể kịp thời bổ sung chỗ sơ hở này.

Cánh phải ngắn ngủi phía tây của đại trận Quân Tào biến mất, khiến quân Tào chủ lực phía bên phải đã không còn phòng ngự, mà lỗ hổng trí mạng này lại bị Lưu Cảnh phát hiện, thời cơ chiến đấu thường thường là một cái chớp mắt mà qua, liền xem chủ soái có thể quyết đoán nắm lấy cơ hội hay không, đây là mấu chốt quyết định cho toàn bộ trận chiến.

Lưu Cảnh lúc này ra lệnh với Mã Đại:

- Kỵ binh nhanh chóng công kích hữu quân phía tây quân Tào!

- Tuân lệnh!

Mã Đại ôm quyền tiếp lệnh, quay đầu hô lớn với hai ngàn kỵ binh:

- Các huynh đệ theo ta lên!

Y phóng ngựa chạy nhanh, một ngựa đằng trước, đằng sau là hai nghìn kỵ binh gắt gao đi theo, vọt vào đại doanh quân Tào, thẳng giết phía tây cánh phải quân Tào chủ lực, đã không còn quân đội phòng ngự cánh phải, hai ngàn kỵ binh quân Hán giết vào đại trận quân Tào khiến trận hình quân Tào lập tức hỗn loạn lên, rất nhanh, kỵ binh giống như lưới đao sắc bén chém chủ lực Quân Tào làm hai đoạn.

Lúc này, Lưu Cảnh lại hạ lệnh:

- Mệnh đao thuẫn quân tả hữu xuất kích, vây quanh phía tây tiên phong quân địch.

Lôi Đồng lập tức dẫn ba nghìn đao thuẫn quân xông ra quân doanh, chia hai đường giết về hai cánh trái phải của Quân Tào, tạo thành thế vây quanh đối với tiên phong quân Tào.

Tiên phong quân Tào ước chừng có năm nghìn người, đang đau khổ ác chiến với trọng giáp bộ binh, lúc này phía sau bọn họ bị kỵ binh quân Hán chặt đứt, mà đao thuẫn quân của quân Hán từ hai bên trái phải giết tới, liền hình thành thế bao vây với tiên phong quân Tào, Tang Bá lập tức ý thức được không ổn, nếu không phá vây, bọn họ sẽ bị bao vây, bị tiêu diệt hoàn toàn.

Y lập tức hô lớn:

- Hướng phía bên phải phá vây!

Năm nghìn trường mâu quân đình chỉ ác chiến cùng trọng giáp bộ binh đi theo Tang Bá hướng mặt phải để phá vây, lúc này, Lưu Cảnh nhìn ra ý đồ phá vây của quân địch, liền cười lạnh một tiếng ra lệnh:

- Thả quân địch phá vây, kỵ binh từ phía sau đánh lén!

Hai ngàn đao thuẫn binh bao vây phía bên phải lui ra, để một khoảng chống, năm nghìn quân Tào tiên phong đang hoang mang lo sợ chen chúc mà chạy ra, lúc này chúng binh sĩ quân Tào đã bị trọng giáp bộ binh giết đến sợ lộ mật gan, một khi thế trận xuất hiện đảo ngũ sẽ không còn người nào tiếp tục nguyện ý chỉnh quân để đánh trả, bọn họ hướng về phía bắc chạy trốn thục mạng, quăng mũ cởi giáp, giống như núi lở biển vỡ. Tang Bá kinh hãi lớn tiếng quát hô:

- Dừng lại, không được chạy, ngừng lại cho ta!

Y giết liên tiếp mười mấy đào binh lính đào ngũ, nhưng ngăn không nổi hơn mấy nghìn người chạy trối chết. Lúc này, hai ngàn kỵ binh quân Hán từ phía sau đánh lén mà đến, càng tăng thêm sự sụp đổ của quân Tào, năm nghìn quân Tào tan dã tựa như quân bài Domino, khiến cho các tuyến chiến của quân Tào đều đều không còn lòng dạ ham chiến, cũng theo tàn quân chạy trối chết, phía sau quân Hán đuổi theo sát, người đầu hàng không đếm hết.

Đúng vào lúc này, Hạ Hầu Đôn suất lĩnh hai ngàn quân dự bị tới bổ sung cho hữu quân bị điều động đi, nhưng y đã tới chậm, quân Tào đã hình thành thế cục tan dã toàn diện, Hạ Hầu Đôn thấy tình thế không ổn, cũng quay đầu ngựa chạy về phía sau quân doanh.
 
Back
Top Bottom