Cập nhật mới

Quân Sự Binh Lâm Thiên Hạ

Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 615: Tân Dã gặp họa chiến tranh


Trước khi đại chiến Xích Bích diễn ra, huyện Tân Dã là một nơi có gần năm vạn nhân khẩu trú ngụ, được Lưu Bị cai trị khá tốt, nhưng sau khi Tào Tháo xuôi Nam, mấy vạn dân huyện Tân Dã cũng theo Lưu Bị trốn về phía đông, cuối cùng đã vượt sông đi Giang Hạ, sau khi đại chiến Xích Bích kết thúc dân chúng huyện Tân Dã cũng không trở về quê hương nữa mà an cư ở Tương Dương và Giang Hạ.

Huyện Tân Dã dần dần biến thành một tòa quân thành, phía Nam thị trấn hơn vạn khoảnh ruộng tốt cũng biến thành quân điền, ngoại trừ ba nghìn quân đóng nơi này còn có mười ngàn gia đình quân nhân, bọn họ trồng trọt quân điền, thu hoạch khá cao, được ưu đãi miễn thuế phục dịch.

Nhưng ngày vui chóng tàn, bỗng nhiên quân Tào tăng binh quy mô ở Nam Dương đã tạo nên sự uy h**p khá lớn đối với huyện Tân Dã, bóng ma chiến tranh lại tới gần, không đợi tướng quân thành đô hạ lệnh, Thái thú Tương Dương Thái Diễm và Đô úy Tương Phàn Văn Sính đã mà lui binh về hướng Nam, toàn bộ quân dân phía Bắc Hán Thủy lui binh về phía Nam Hán Thủy.

Lúc này là cuối tháng mười hai, đúng vào tháng rét lạnh nhất của năm, trong cái lạnh thấu xương, trên quan đạo từ Tân Dã thông qua Phàn Thành, một người đi trước có thêm một đội ngũ dân chạy nạn dài chừng mười dặm từ từ rút về hướng Nam. Những người dân dìu già dắt trẻ, người đông nghìn nghịt, phương tiện di chuyển chủ yếu là xe trâu, người già và trẻ nít đều ngồi trên xe trâu, trên xe chở lương thực, chăn nệm quần áo cùng các dụng cụ sử dụng hàng ngày.

Đàn ông đi trước dắt trâu, phụ nữ đi bộ bên cạnh xe, thỉnh thoảng lo lắng hỏi han đứa trẻ trên xe, không ít đứa trẻ mười mấy tuổi đi bên cạnh mẫu thân, đi sau dân chúng là mấy trăm chiếc xe chở vật tư lương thảo, đây là vật tư của quân đội cũng cùng dân chúng rút lui về phía Nam.

Hai bên đội ngũ là hai ngàn binh lính quân Hán có đầy đủ binh khí, họ phụ trách hộ vệ cho vạn dân chúng chậm rãi rút lui một cách an toàn theo hướng Nam, thỉnh thoảng bọn họ đỡ những cụ già té ngã, đưa một vài cụ già và em bé không có xe trâu để ngồi ngồi lên xe la của quân đội.

Tướng lĩnh thống soái đội quân này chính là phó tướng của Mã Siêu tên Bàng Đức, y được phong làm phó Giáo Úy phái đến hiệp trợ Văn Sính trấn thủ Tương Phàn, đảm nhiệm trấn tướng Tân Dã.

Bàng Đức đối với chức vị hiện giờ xem như cũng khá hài lòng, điều quan trọng y nắm được binh quyền, trong tay có ba nghìn quân, đối với một đại tướng mà nói được trọng dụng hay không, mấu chốt là có được quân quyền.

Tuy rằng trên danh nghĩa Văn Sính bổ nhiệm y làm trấn tướng Tân Dã nhưng trong lòng Bàng Đức hiểu được đây thật ra chính Lưu Cảnh bổ nhiệm.

Đầu hàng quân Hán được một năm, Bàng Đức ít nhiều cũng hiểu được quy cũ của quân Hán, Văn Sính tuy có quyền chỉ huy quân đội nhưng không có quyền bổ nhiệm quân chức, quân quan dưới Nha tướng trở xuống do Binh Tào Ti phủ Tướng quân thông qua khảo hạch mà được bổ nhiệm, mà từ Nha tướng trở lên được bổ nhiệm thì nhất định phải do Lưu Cảnh quyết định.

Bàng Đức khoảng chừng ba mươi mấy tuổi, người cao tám thước ba, đầu to, da ngăm đen, râu đen dài, sử dụng binh khí là thiết thương lớn khoảng chừng sáu mươi cân, võ nghệ cao cường.

Tuy diện mạo nhìn có vẻ hung hãn thô bạo nhưng từ nhỏ Bàng Đức lại là người đọc sách viết chữ, khi đi lính liền đọc đủ loại binh thư, có thể thấy được y là đại tướng văn võ song toàn, từ khi đi theo Mã Siêu, chính y đã dâng cho Mã Siêu nhiều mưu kế, cũng chính vì điều này Lưu Cảnh mới để y trấn thủ Tân Dã.

Bàng Đức cũng nhận ra quân Tào tăng thêm binh lực ở Nam Dương, cũng như phái binh từ Hợp Phì đến Nam Dương. Bàng Đức cũng biết được điều binh như thế này hao tổn khá lớn, không phải không có mục đích, quân Tào ở Uyển Thành đã có một trăm ngàn quân, điều này cũng thấy rõ lão chuẩn bị cho quân xuôi Nam Tương Dương rồi.

Trong lòng Bàng Đức cũng có chút lo lắn, không biết họ rút khỏi phía Nam lúc này có muộn không? Từ khi Tào Tháo đến Uyển Thành, nhìn góc độ quân sự thì quân Tào cũng không có ý nghĩ đánh bất ngờ Tương Dương, nếu đánh bất ngờ Tương Dương sẽ không đợi viện quân đến mới động thủ mà trực tiếp xuôi Nam tập kích Tân Dã, Phàn Thành, căn bản không để cho bọn y có đường rút lui.

Rất có thể quân Tào chỉ làm ra vẻ để bức bách quân Hán ngừng Bắc phạt Tây tuyến, dù sao hai bên cũng đã ký hiệp nghị ngưng chiến, chưa đến thời điểm cuối cùng quân Tào cũng không dễ dàng xóa bỏ hiệp nghị này.

Nghĩ thông suốt điều này lòng Bàng Đức an tâm một chút, y quay đầu nhìn dân chúng sơ tán, y có thể cảm nhận được cảm giác sợ hãi, lo âu trong những nét mặt kia. Qua ngày mai là năm mới rồi nhưng vẫn gặp tai ương chiến tranh, nghĩ đến đó Bàng Đức không khỏi thở dài.

Bàng Đức thấy mọi người di chuyển thật chậm, một ngày đi nhiều nhất ba bốn mươi lý, trong vòng ba bốn ngày mới có thể đến Phàn Thành, một khi quân Tào giết đến nơi sẽ nguy hiểm vô cùng, nghĩ đến đó y liền ra lệnh:

- Hãy tăng tốc độ một chút.

Đúng lúc này xa xa có vài tên thám báo kỵ binh xông như bay đến bẩm báo:

- Khởi bẩm tướng quân, quân Tào đã xuôi Nam rồi, quân tiên phong cách chúng ta chỉ có hơn ba mươi lý.

Tin tức này khiến Bàng Đức bị chấn động, y vừa nghĩ quân Tào sẽ không dễ dàng xuôi Nam, không nghĩ quân Tào đã đến nơi rồi, trong lòng y lo lắng không yên. Nếu đi theo hướng Nam sẽ không tránh khỏi sự đuổi giết của quân Tào, chỉ có theo hướng Đông trốn vào rừng rậm mới có đường thoát.

Cũng may cách ngoài hai mươi dặm là Bỉ Thủy, qua Bỉ Thủy là rừng rậm um tùm mênh mông, lại tiếp tục đi hướng Đông chính là Đồng Bách Sơn, chỉ cần qua sông, phá hủy cầu có thể bảo toàn lực lượng, nhưng đi vào rừng rậm kia xe trâu không thể nào đi được, lập tức y hô lớn:

- Mọi người hãy vứt bỏ quân nhu, chỉ mang đồ ăn dắt theo súc vật lập tức rút theo hướng Đông, quân Tào sắp đuổi tới rồi.

Tin tức quân Tào sắp đánh tới khiến hàng ngũ đại loạn, cho dù bọn lính luôn giải thích rằng quân Tào vẫn còn cách hơn ba mươi dặm nhưng vẫn không thể khống chế sự khủng hoảng của dân chúng, nhóm dân chúng kêu gào thảm thiết, bọn họ chẳng quan tâm đến sự mệt mỏi, đàn ông cõng người già, nữ nhân ôm con dại, tất cả mọi người vô cùng bối rối, những vật dụng đáng giá không cần nghĩ liền vứt lại, chỉ mang theo trâu cày.

Họ nhanh chóng rời xe trâu, các nữ nhân chỉ mang theo nữ trang, chút lương thực, còn lại đều vứt bỏ những vật phẩm không cần thiết, nhanh chóng rời khỏi con đường đó. Cảnh tượng thật hỗn loạn, họ chạy về hướng cánh đồng hướng Đông, đàn ông, phụ nữ, người già, con trẻ chạy nghiêng ngả lảo đảo, hỗn loạn, âm thanh hô gọi, tiếng khóc trẻ con ngã đau vang dội cả vùng quê.

Bàng Đức hét lớn:

- Quân đội nhanh chóng tập hợp, theo ta nghênh đón đánh địch.

Lúc này Bàng Đức không còn quan tâm đến dân chạy nạn nữa, y nhìn một gã quân hầu, ra lệnh:

- Ngươi hãy dẫn theo năm trăm huynh đệ hộ vệ dân chúng chạy nạn, sau khi qua sông lập tức phá cầu không được sai lệnh.

- Tuân lệnh!

Quân hầu khom người thi lễ, hướng sang quân lính bản bộ, vung tay:

- Đi theo ta!

Gã dẫn năm trăm binh lính đi theo sau dân chạy nạn, Bàng Đức nhìn bóng họ khuất xa lại lệnh thám báo tiến đến Phàn Thành báo tin. Lúc này một Nha tướng khuyên nhủ:

- Quân tiên phong của địch hiện tại có hơn vạn người, còn chúng ta chỉ có hơn hai ngàn người, sao có thể địch được, tại sao chúng ta không đi cùng dân chúng rút đến bờ đông của sông?

Bàng Đức trừng mắt nhìn gã lạnh lùng nói:

- Không đánh đã chạy sao có thể gọi là trượng phu, chết trận sa trường cũng là chuyện may mắn của chúng ta, ngươi không cần nói nhiều.

Nha tướng sợ tới mức không dám lên tiếng, Bàng Đức thấy quân lính đến đông đủ liền hô lớn:

- Các huynh đệ, ngăn chặn quân địch, tranh thủ thời gian sang sông cho dân chúng Phàn Thành, đấy là chức trách của chúng ta, mọi người cùng ta Bắc thượng chiến đấu với quân Tào.

- Nguyện đi theo tướng quân Bắc thượng!

Binh lính cùng hô to, Bàng Đức vung tay lên nói:

- Xuất phát.

Y nhanh chóng quay đầu ngựa suất lĩnh hai nghìn năm trăm quân Hán chạy về hướng bắc, chuẩn bị nghênh chiến quân tiên phong quân Tào.

Tám ngàn quân tiên phong của quân Tào đánh giết đến huyện Tân Dã chính do đại tướng Trương Cáp suất lĩnh, khi gã ta phát hiện ra huyện Tân Dã chỉ là một tòa thành trống không, gã đã nhanh chóng xuất quân xuôi Nam, truy kích quân Hán.

Bàng Đức đối với quân Tào cũng không phải hoàn toàn không hiểu, quy mô điều binh của Tào Tháo tụ tập đến Nam Dương cũng đã xé bỏ hiệp nghị ngưng chiến hai bên ký kết, sở dĩ không phái binh đánh bất ngờ Tương Phàn vì Tào Tháo không có ý định công kích dân chúng Phàn Thành.

Việc công chiếm Tương Phàn cũng không hứng thú lắm, điều lão ta quan tâm chính tạo thanh thế khiến Tương Phàn khủng hoảng, khiến tình thế Kinh Châu trở nên nghiêm trọng, như vậy mới có thể ảnh hưởng lớn đến quyết sách của Lưu Cảnh, để hắn tạm thời từ bỏ Bắc phạt Ký Thành, do đó quân Tào có thời gian bố trí phòng tuyến phía Tây.

Mà lúc này Tào Tháo đã nhận được tình báo Giả Hủ cũng chạy đến Tương Dương, đây chính là thời cơ chín muồi, lão lập tức hạ lệnh đại quân xuôi Nam, tạo áp lực toàn diện đối với Tương Phàn.

Trương Cáp xuất lĩnh tám ngàn quân gấp rút chạy trên quan đạo, gã liên tục nhận được tin tức do thám báo tiền phương gửi tới, cách ba mươi dặm trên quan đạo phát hiện một lượng lớn xe ngựa và đồ vật vứt bỏ ngổn ngang, tìm thấy dấu vết người dân bỏ chạy về hướng Đông. Trương Cáp hừ lạnh một tiếng, gã biết cách đó hai mươi dặm có con sông rộng chừng vài chục trượng, một khi dân chạy nạn qua được sông bọn họ khó mà đuổi theo kịp.

Lúc này phó tướng Dương Quang đứng bên cạnh nói:

- Tại hạ nhớ dường như có cầu bắt qua, hay chúng ta qua cầu đuổi về hướng Nam, họ đều là phụ nữ, trẻ em và người già, chạy sẽ không xa đâu.

Trương Cáp trầm tư lắc lắc đầu nói:

- Đuổi theo bọn họ thì sao? Giết hết họ à? Biến họ thành gánh nặng của chúng ta, Thừa tướng lệnh chúng ta mau chóng cướp Phàn Thành, tạo tiếng thế lớn, nếu lạm sát người vô tội chỉ sợ không đúng lệnh Thừa tướng giao phó.

- Tướng quân nói đúng, ty chức đã lo lắng không đúng rồi!

Trương Cáp quay đầu lại hét lớn một tiếng:

- Tăng thêm tốc độ xuất phát về hướng Phàn Thành.

Tám ngàn quân Tào nhanh chóng tăng tốc độ, tiếp tục đuổi dọc theo con đường hướng Nam, một lúc sau phía trước xuất hiện lượng lớn quân nhu xe ngựa mà quân Hán bỏ lại. Trên xe ngựa thu hoạch lớn một lượng lớn lương thảo, vũ khí, lều trại… không chỉ có vật tư của quân Hán, ngoài ra còn có chiếc xe kéo bình thường của dân chúng, người kéo xe, bao lớn bao nhỏ, các loại vật phẩm chất đầy xe ngựa.

Nhìn thấy vậy quân Tào bắt đầu có chút hỗn loạn, bọn lính tranh nhau cướp đoạt tài sản, Trương Cáp giận dữ xông lên phía trước rút kiếm nhìn binh sĩ hét lớn:

- Mau thả đồ vật kia xuống, nhanh chóng vào hàng ngũ.

Đúng lúc ấy cách đó không xa trên đường nhỏ bỗng nhiên xuất hiện một đội quân ước chừng hơn hai ngàn người, tướng dẫn đầu không ai khác mà chính là Bàng Đức. Y vốn định xuất quân Bắc thượng nhưng bỗng nhiên nghĩ có thể lợi dụng tài vật dân chúng vứt bỏ để làm mồi nhử, vì thế cho quân mai phục cách đó vài dặm, ẩn trong rừng cây, ngay khi quân Tào hỗn loạn tranh đoạt tài vật này nọ, y sẽ nắm bắt cơ hội này để tấn công.

Bàng Đức vung cao thiết thương, cao giọng hô lớn:

- Các huynh đệ, xông lên.

Hai nghìn năm trăm quân Hán hô gào vang trời ra sức tấn công, trong nháy mắt xông vào hậu quân của địch nhân, khiến đội ngũ quân Tào bị cắt làm hai, giết cho quân địch người ngã ngựa đổ, tiếng kêu vang trời. Bàng Đức vung thiết thương tung bay, nơi nào y đi qua thây ngã chất chồng.

Đại tướng Hậu quân là phó tướng Dương Quang, gã thấy quân địch thế tới dũng mãnh, khiến quân đội mình chết thê thảm, trong lòng cả giận vung đao giục ngựa tiến lên hướng Bàng Đức đánh tới:

- Tên mặt đen mọi rợ kia, đừng vội càng rỡ, hãy đỡ đao của ta!

Bàng Đức cười lạnh một tiếng, trường thương giơ cao giục ngựa tiến lên tiếp đón, hai người chiến đấu kịch liệt, chưa đến năm hiệp, Bàng Đức giả vờ thua giục ngựa chạy đi, Dương Quang đuổi theo sát, chạy đi vài chục mét Bàng Dức quay ngựa lại dùng thương đâm khiến Dương Quang ngã ngựa, lại dùng một thương kết liễu tính mạng gã.

Dương Quang chết trận, ba nghìn hậu quân đều run sợ, ý chí chiến đấu tiêu tan nên bị quân Hán giết nhiều không kể siết, bỗng chốc biến thành một bầy hỗn loạn, vô số binh lính bắt đầu chạy trốn, đội quân xuất hiện dấu hiệu tan rã. Đúng lúc đó, Trương Cáp bỗng nhiên xuất lĩnh mấy ngàn binh từ phía trước đánh tới.

Gã nhận ra Bàng Đức liền giơ cao giáo thép hô lớn:

- Bàng Lệnh Minh, ngươi có dám cùng Trương Cáp ta đánh một trận không?
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 616: Tương Phàn gặp nguy


Tuy Bàng Đức lợi dụng hậu quân của quân Tào hỗn loạn mà đánh lén, đánh bại được ba nghìn hậu quân nhưng dù sao quân số của quân Tào quá đông, nhìn trung quân và tiền quân khoảng hơn năm ngàn người đánh tới, quân số cao gấp hai lần mình nên Bàng Đức liền ý thức được nếu có thể hạ gục được chủ tướng quân địch may ra còn cơ hội.

Y không nói một lời giục ngựa chạy đến, dùng thương đâm thẳng vào cổ họng Trương Cáp. Trương Cáp được vinh danh là danh tướng Hà Bắc, sử dụng một cây thép giáo sáu mươi tám cân, là người văn võ song toàn, võ nghệ không thua gì Trương Liêu, Từ Hoảng. Tuy Bàng Đức dũng mãnh nhưng Trương Cáp cũng không phải là người không danh, gã cười lạnh vung giáo đánh vào Bàng Đức, hai người chiến đấu vô cùng kịch liệt.

Quân đội hai bên gõ trống trận, tiếng kêu la như sấm, trên chiến trường bụi vàng cuồn cuộn, hai người đã đánh hơn ba mươi hiệp bất phân thắng bại. Trương Cáp thấy Bàng Đức dùng thương pháp khá tốt, không hề có sơ hở trong lòng không khỏi thầm khen ngợi, nhưng gã không có thời gian cùng Bàng Đức tiêu diêu, thấy Bàng Đức có sơ hở nhanh chóng thoát ly vòng chiến nâng giáo hô quân:

- Giết cho ta.

Trống tiến công quân Tào vang dội, năm nghìn binh lính trào lên như nước lũ từ ba hướng đánh tới, quân Hán cũng nhanh chóng lên nghênh chiến, hai đội quân chiến đấu kịch liệt trên chiến trường rộng lớn.

Ngay tại thời điểm Bàng Đức và quân Tào ở cửa sông chiến đấu kịch liệt thì tại bên ngoài Phàn Thành trên Hán Thủy dân chúng và vật tư đang rút đi với quy mô cực lớn.

So với sự rút lui có vẻ hỗn loạn ở Tân Dã, Phàn Thành cùng Đặng huyện và những nơi khác rút lui một cách êm ả. Trên sông Hán Thủy có xây dựng hai tòa cầu nổi, hơn mười thuyền lớn đóng neo trên bờ biển, quân lính mang lương thực ở Phàn Thành lên thuyền di chuyển về Tương Dương.

Còn mấy vạn dân chúng rút lui qua cầu nổi, toàn bộ đồ vật được mang qua bờ bên kia, thậm chí có người ngay cả vại nước cũng mang đi theo. Các thương nhân nhanh chóng mang hàng hóa tiền bạc vận chuyển đến bờ bên kia, gửi vào kho hàng của Đào gia.

Lúc này dân tị nạn được đãi ngộ tốt hơn nhiều so với mấy năm trước, ở cánh đồng phía Nam Tương Dương xây dựng hơn vạn lều trại kéo dài gần trăm dặm, gần như là một lều trại gia đình, điều kiện đã được cải thiện nhiều.

Mặc khác, cư dân phía Bắc Hán Thủy không nhiều lắm chỉ hơn vạn gia đình, dễ dàng chiếu cố, về phương diện khác cũng bởi thực lực bản thân họ cũng dần dần hùng mạnh. Kinh Châu thống nhất, lại có Ích Châu và Hán Trung, đồng cỏ phì nhiêu mấy ngàn dặm, nhân khẩu mấy trăm vạn, có thực lực hùng mạnh làm lá chắn nên đãi ngộ với dân chúng đương nhiên cũng thỏa mái hơn trước.

Ở bến tàu phía Nam sông Hán Thủy, một loạt bàn thật dài được đặt ra, gần trăm danh sĩ Tương Dương đứng xếp hàng đăng ký tên, trước bàn cũng chuẩn bi cho dân chạy nạn đăng ký, bọn họ đứng xếp theo gia đình, hàng xếp rất dài theo thứ tự tiến hành đăng ký, khi đăng ký cũng thẩm tra đối chiếu từng hộ gia đình, gia đình nào được tặng khối đồng bài thì có thể có chỗ ở, lĩnh lương và chăn bông.

Thái thú Tương Dương Thái Diễm mang theo hơn mười quan viên thị sát dân chạy nạn từ bờ Bắc trốn tới. Y và Quận thừa Đổng Doãn phân công hợp tác, Đổng Doãn phụ trách việc sắp xếp nơi nghỉ ngơi cho dân chúng còn Thái Diễm phụ trách hướng dẫn đưa bọn họ đến ghi danh sau đó dẫn vào đại doanh thành nam.

Thái Diễm khoanh tay đứng trước bến tàu, nhìn dân chúng trên cầu nổi từ Nam chí Bắc, trong lòng y thật sự khá lo lắng. Dân chúng hai huyện Phàn Thành và Đặng Huyện cơ bản đã rút lui an toàn nhưng dân chúng bên Tân Dã lại chậm chạp hơn lúc này chưa thấy đến, chẳng lẽ có chuyện gì xảy ra sao? Dù có hơn một vạn dân nhưnh nếu bọn họ gặp chuyện gì không may thì Thái Diễm thật không biết phải báo cáo với Châu Mục thế nào.

Lúc này một binh lính chạy vội tới hướng về Thái Diễm khom người thi lễ nói:

- Khởi bẩm Thái thú, Văn đô úy cho mời!

Thái Diễm cũng đang muốn gặp Văn Sính một lần, y gật đầu theo binh lính đi dọc bờ sông, một chiếc thuyền đang thả neo gần bờ sông, Văn Sính đang đứng đầu thuyền chờ Thái Diễm. Tuy tiến quân Ba Thục, tấn công Hán Trung cùng Bắc chinh Lũng Tây đều không có phần Văn Sính nhưng cũng không ảnh hưởng gì đến việc thăng quan của Văn Sính. Văn Sính được thăng quan làm Bì tương, đồng cấp với Triệu Vân, mặc dù ta không tham chiến nhưng trên vai gánh vác trách nhiệm nặng nề, thủ vệ cửa Bắc Kinh Tương.

Lần này quân Tào lại từ Uyển Thành xuôi Nam đã trực tiếp tấn công vào phạm vi phòng ngự của Văn Sính, Văn Sính đứng đầu thuyền chăm chú nhìn về phương Bắc. Hai năm qua ông không tham gia cùng quân Hán mở rộng phía Tây mà vẫn trấn thủ Tương Dương, mặc dù không có chiến tích gì nhưng lại được đề bạt lên cao, điều này đã khiến không ít tướng sĩ quân Hán xôn xao, điều này trong lòng Văn Sính cũng hiểu rõ, cũng chính vì nguyên nhân này nên khi quân Tào theo Uyển Thành xuôi Nam đã khiến Văn Sính cảm nhận áp lực cực lớn.

Nếu trận chiến này ông đánh không tốt hoặc tổn thất đặc biệt nghiêm trọng tất ông không còn mặt mũi nào đứng trước quân Hán. Lúc này Văn Sính lo lắng nhất chính đội quân Bàng Đức gặp nguy, ông đã nhận được tin tức Bàng Đức phái người tới đưa tin, gần mười ngàn quân tiên phong Tào đã xuôi Nam, Bàng Đức đang suất quân nghênh chiến ngăn chặn quân Tào xuôi Nam nhưng trong tay Bàng Đức chỉ có hai nghìn năm trăm quân thôi.

Văn Sính không nén được thở dài, ông đã phái Thái Tiến dẫn trăm chiến thuyền xuôi Bỉ Thủy Bắc thượng tiếp ứng cho quân Bàng Đức và dân chúng Tân Dã, cũng không biết có giữ được đội quân Tân Dã không.

Lúc này phía sau có binh lính bẩm báo:

- Văn đô úy, Thái Thái thú đến rồi ạ.

Văn Sính quay đầu, đã thấy Thái Diễm nhanh chóng bước chân lên thuyền, Văn Sính và Thái Diễm quen biết nhau mấy chục năm, hơn nữa Thái Diễm là cha của đồ đệ Thái Tiến, nên quan hệ của hai người dĩ nhiên không tầm thường, Văn Sính cười ngênh đón:

- Mời Thái Thú đến nơi này, đã quấy rầy đến Thái thú rồi.

Thái Diễm khoát tay nói:

- Văn Đô úy không cần khách khí, chỉ là ta thật sự rất lo cho tình hình của dân chúng Tân Dã, không biết tướng quân có tin gì không?

Văn Sính gật đầu nói:

- Ta cho gọi Thái thú đến cũng vì việc này, ta vừa nhận tin tức quân Tào đã cho quân xuôi Nam, đã bị Bàng Đức ngăn chặn, trước mắt dân chúng Tân Dã qua Bỉ Thủy tiến sâu vào rừng rậm phía đông, ta đã phái một đội tàu tiến Bắc thượng nghênh đón, sẽ nhanh có tin thôi.

Dân chúng Tân Dã trốn vào rừng rậm, điều này khiến cho Thái Diễm nhẹ nhõm hơn, nhưng nhanh chóng y ý thức được nguy hiểm cận kề, khẩn trương hỏi:

- Quân Tào xuôi Nam sao?

- Đúng thế!

Văn Sính gật đầu nói:

- Quân tiên phong đã xuôi Nam, đội quân chủ lực chỉ xuất phát sau một ngày, ta mời Thái thú đến đây chính cũng muốn nói với Thái thú chuyện này, hai canh giờ sau ta sẽ dỡ bỏ cầu nổi, xin Thái thú hãy thông báo với dân chúng Phàn Thành nhanh chóng dời đi.

Thái Diễm yên lặng gật đầu, lúc này lại nghĩ đến một chuyện liền vội vàng hỏi:

- Không biêt thủy quân của Cam tướng quân khi nào mới có thể đến được Tương Dương?

- Chắc hẳn đang trên đường đến, đoán chừng ngày mai có thể đến Tương Dương, còn có mười ngàn viện quân của Giang Lăng hai ngày nữa đến rồi, xin Thái Thú yên tâm. Hán Thủy không đóng băng nên dù là mùa đông quân Tào cũng khó có thể đột phá được Hán Thủy, chỉ cần cho dân chúng rút lui đến bờ Nam là tuyệt đối an toàn, không có gì sai xót.

Thái Diễm nhẹ nhàng thở ra:

- Mấy ngày nữa là đến năm mới rồi, ấy vậy quân Tào cũng không để chúng ta sống yên ổn.

Y lại nói với Văn Sính:

- Mặt khác, ta còn cần năm trăm binh lính thay ta duy trì trật tự trại dân tị nạn, Thái đô úy có giúp đỡ được không?

- Không có vấn đề gì, ta sẽ cấp năm trăm binh lính cho Thái thú.

Thái Diễm cảm ơn nhanh chóng rời đi, Văn Sính trầm tư suy nghĩ một lát, ông thật sự vẫn không quá yên tâm về phòng ngự của Long Trung, hiện giờ Cam Ninh chưa tới, trong tay ông chiến thuyền không đủ, một khi quân Tào từ Phòng Lăng vượt sông đối với Tương Dương mà nói là sự uy h**p khá lớn, nhất định ông phải phòng ngự tốt ở Long Trung, không thể có sơ suất được.

Nghĩ thế Văn Sính nhanh chóng ra lệnh binh lính:

- Chuẩn bị ngựa cho ta, ta muốn đến Long Trung.

Một đội tàu khoảng hai trăm chiến thuyền tạo thành dọc theo Bỉ Thủy chạy về hướng Bắc, các chiến thuyền đều là thuyền loại nhỏ từ ba trăm thạch đến năm trăm thạch, trên mặt nước có lớp băng mỏng, nhưng trong nước sông lại không kết băng, hai trăm thuyền dọc theo đường sông hẹp đi theo thứ tự trước sau, đội tàu kéo dài hơn hai mươi dặm, có khoảng hai ngàn binh lính đi theo.

Dẫn đầu thuyền lớn này chính là Thái Tiến, y cầm vải che ánh mặt trời chiếu rọi, nhìn hai bờ sông tìm kiếm bóng dáng dân chúng Tân Dã. Từ đêm qua tuyết rơi khá dày khiến rừng rậm được phủ đầy tuyết trắng, tuyết bao phủ lên khắp mặt đất, bốn phía không một bóng người, từ năm đó sau khi trấn Hà Khẩu này bị thiết kỵ quân Tào tắm máu, toàn bộ trấn nhỏ đã bị vứt bỏ, không ai ở lại, cũng từ đó vùng này ít ai lui tới.

Căn cứ theo tin tức họ lấy được, dân chúng Tân Dã đã qua Bỉ Thủy, nhưng lúc này y chưa tìm thấy bóng dáng của dân chúng trốn nơi đây, chưa nói đến đội quân của Bàng Đức, điều này càng khiến Thái Tiến thêm lo lắng, chẳng lẽ toàn bộ đội quân của Bàng Đức bị tiêu diệt rồi sao? Quân Tào đã giết hại tất cả dân chúng trốn đi rồi ư? Nếu thật sự có chuyện này thì ít nhất cũng có vài tên lính chạy đi hoặc dân chạy nạn chạy thoát được mới đúng chứ, nhưng thuyền y đi một ngày rồi cũng không phát hiện một bóng người.

Đúng lúc này binh lính chỉ vào rừng rậm hô lớn:

- Tướng quân, dường như bên kia có người.

Thái Tiến nhìn theo hướng chỉ của gã, thấy ven rừng rậm ở hướng Đông Bắc vài dặm xuất hiện nhiều điểm đen di chuyển, không phải lộc cũng không phải dã thú mà giống người, Thái Tiến nhanh chóng ra lệnh:

- Nâng cao quân kỳ ra hiệu.

Hai tên lính nhanh chóng giơ cao chiến kỳ quân Hán đứng trên thuyền vung cao, chỉ trong chốc lát đã thấy một nhóm chấm đen lớn trong rừng rậm chạy ra, đúng là người, bọn họ liều mạng chạy về hướng bên có cờ phất, trong đó còn có con nít. Thái Tiến biết chắc đã tìm được dân Tân Dã trốn đi, y nhanh chóng ra lệnh:

- Tăng thêm tốc độ.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 617-1: Nghiêm trị không tha (1)


Đội tàu thuyền tăng thêm tốc độ, khoảng cách với đoàn người trong rừng rậm chạy ra càng lúc càng gần, quả nhiên đó chính là dân chạy nạn Tân Dã. Bọn họ không dám tiếp tục tiến về hướng Đông mà trốn trong rừng rậm chờ cứu viện, nên khi nhìn thấy chiến thuyền quân Hán đến họ hoan hô nhảy cẫng lên, rất nhiều người kích động đến nỗi quỳ gối trên đất tuyết khóc lớn.

Không lâu sau hơn vạn dân chạy nạn từ rừng rậm ùa ra, người cầm bao lớn bao nhỏ, người dắt trâu cày, người cõng cha mẹ già yếu, người ôm con nhỏ từ phía sau chạy tới, tiếng hoan hô vang tận mây xanh.

Chiến thuyền quân Hán đụng nát băng đóng trên mặt sông, từng chiếc thuyền nhỏ chậm rãi cập bến, binh lính nhảy từ thuyền xuống bắt đầu trợ giúp dân chúng lên thuyền. Lúc này quân Hán hộ vệ dân chúng chạy nạn hướng về Thái Tiến hành lễ:

- Khởi bẩm Thái tướng quân, bỉ chức phụng mệnh Bàng Đức tướng quân dẫn năm trăm huynh đệ bảo vệ dân chạy nạn, hiện đã hoàn thành nhiệm vụ, đang chờ lệnh Thái tướng quân.

Thái Tiến vỗ vỗ vai gã nói:

- Vất vả cho các ngươi rồi, dân chúng không ai bị sao chứ?

- Tối qua có mười mấy lão nhân qua đời, còn lại không sao cả.

- Có tin tức gì của Bàng Đức tướng quân không?

Thái Tiến lại hỏi.

Quân hầu tỏ vẻ chán nản nói:

- Đêm qua quân Tào phóng hỏa thiêu hủy xe ngựa lương thảo trên quan đạo, bỉ chức phái người tìm hiểu tình hình nhưng người đó đi chưa trở lại, bỉ chức cũng đang rất lo cho Bàng Đức tướng quân, bỉ chức nguyện dẫn các huynh đệ đến tiếp ứng Bàng Đức tướng quân.

Thái Tiến lắc đầu nói:

- Các ngươi không cần đi, hãy làm thay ta một chuyện.

- Xin tướng quân chỉ bảo.

Thái Tiến chỉ chỉ bầy trâu nói:

- Đàn trâu này có gần đến ngàn con mà thuyền chúng ta quá nhỏ không thể mang lên được, ngươi dẫn các huynh đệ lùa trâu đến bờ Bắc Hán Thủy, bên đó sẽ có đò tiếp ứng các ngươi vượt sông.

- Bỉ chức hiểu rồi ạ.

Quân hầu thi lễ nhanh chóng nhảy lên bờ nhắm đến chỗ đàn trâu, gã cùng năm trăm binh lính dẫn theo hơn hai ngàn trâu cày, cùng la ngựa trùng trùng điệp điệp lùa đi về hướng nam.

Lúc này từng chiếc, từng chiếc thuyền đón dân chạy nạn chậm rãi quay đầu, chạy về hướng Hán Thủy. Thái Tiến đứng ở bờ biển nhìn cánh đồng phía Tây bao la bát ngát, lòng y tràn đầy lo lắng, phân tích từ lời nói của quân hầu kia, nếu Tào Tháo phóng hỏa thiêu hủy xe ngựa, có thể nói được quân Hán đã bị đánh bại, không biết Bàng Đức có thoát được không?

Hướng Tây Tân Dã là đồng ruộng bao la bát ngát, ở giữa có xen kẽ những đồi núi nhấp nhô, lúc này lúa vụ thu đã được gặt sớm, chồi non của lúa mỳ vụ đông cũng đã mọc lên, mặt đất bao trùm tuyết trắng, gió thổi se lạnh, từng đàn chim kéo nhau tìm thức ăn trên đồng quê.

Sáng sớm tinh mơ cách con đường chính ước chừng năm trăm dặm, trong rừng cây hơn ngàn binh sĩ quân Hán đang ngủ say, trên người phủ kín chăn bông, tựa sát nhau vẻ mặt chưa tiêu tan mệt mỏi, trên tảng đá lớn bên cạnh Bàng Đức c** tr*n, miệng ngậm khúc gỗ, hai thân binh dùng dao găm sắc bén khoét đầu mũi tên ở lưng y ra.

Cuộc huyết chiến ngày qua kết thúc, quân Hán giết gần ba nghìn quân địch, nhưng người ít không đánh lại số đông nên chung quy vẫn bị thất bại. Đội quân thất bại nhanh chóng trốn đi, chạy một mạch xa ngoài năm mươi dặm mới thoát khỏi sự truy kích của quân Tào.

Tại trận huyết chiến này quân Hán tổn thấy một nghìn ba trăm người, ngay cả chủ tướng Bàng Đức cũng trúng phải tên lạc ở sau lưng. Bàng Đức cảm thấy một trận đau đớn thấu tận ruột gan, y cắn chặt nhánh cây mồ hôi trên trán vã ra như mưa, hai mắt tối sầm suýt nữa ngã nhào xuống đất ngất đi, chợt nghe phía sau "phực" một tiếng, đầu mũi tên cùng khối thịt bị khoét ra đặt trên mâm, máu đen chảy ra không ngớt.

Nhóm thân binh nhanh chóng bôi thuốc cho y, dùng vải lụa băng bó lại vết thương, một gã thân binh lau mồ hôi trên trán thấp giọng nói:

- Tướng quân nhúc nhích xem thế nào, có vấn đề gì không?

Bàng Đức chậm rãi lay cánh tay, nó vẫn còn đau nhức vô cùng nhưng ít ra vẫn còn cảm giác, có thể hoạt động được, điều này khiến y an tâm. Y chậm rãi mặc áo vào, lúc này lính gác trên cây hô:

- Thám báo chúng ta đã quay về.

Một lát, hai gã thám báo nhanh chóng bước vào hướng về Bàng Đức quỳ gối thi lễ:

- Tham kiến tướng quân!

Bàng Đức gật gật đầu hỏi:

- Tình hình bên ngoài thế nào?

- Hồi bẩm tướng quân, quân tiên phong của quân Tào đã thiêu hủy chiếc xe quan đạo sau đó họ quay về huyện Tân Dã rồi, không tiếp tục xuôi Nam nữa.

Điều này cũng nằm trong dự tính của Bàng Đức, quân Tào tổn thất cả gần ba nghìn quân, nếu chỉ với năm ngàn người mà xuôi Nam tất nhiên sẽ bị quân Hán ở Tương Dương đánh bại, tự bản thân họ cũng hiểu được điều này nên không tiến nữa. Trận chiến này mặc dù quân đội của y tổn thất nghiêm trọng nhưng ít ra cũng ngăn cản thành công quân tiên phong của quân Tào xuôi Nam.

Nhưng Bàng Đức vẫn có chút lo lắng cho sự an toàn cho dân chúng rút ở phía Đông, y đang muốn hỏi thám báo thì gã ta lại nói: tiếp:

- Trên đường đi chúng tôi có gặp một thám báo của quân Tào đang bị thương nặng, trước khi chết gã có nói cho chúng tôi biết gã phát hiện một đội thuyền đang dọc theo Bỉ Thủy Bắc thượng, hẳn có lẽ là thủy quân của ta.

Tin tức này thật sự khiến Bàng Đức cảm thấy nhẹ lòng hẳn, quân Tào không có thủy quân, vậy chỉ có thể đội tàu từ Tương Dương qua, có lẽ Văn Sính đã nhận được tin báo từ khi ở Tân Dã mà y đã phái người đi báo, chính thế mới phái thuyền tiếp ứng cho y, nếu dân chúng Tân Dã đã dọc theo Bỉ Thủy đi xuống thì nhất định có thể gặp được tàu thuyền kia, như vậy y có thể yên tâm.

Nghĩ vậy Bàng Đức quay sang nói với thân binh:

- Đi thông báo cho Quân hầu cùng nhóm Nha tướng đến gặp ta.

Vài tên thân binh nhanh chóng chạy đi thông báo, không bao lâu sau hai Nha tướng và bốn Quân hầu cùng nhau đi tới ngồi vây quanh Bàng Đức. Bàng Đức liền nói sơ qua tình hình cho các thuộc cấp, mọi người nghe xong hưng phấn cả lên, một gã Nha tướng nói:

- Nếu quân tiên phong của quân Tào đã lui về Tân Dã, chúng ta có thể nhanh chóng xuôi Nam rồi từ Đặng huyện vượt sông đến Long Trung.

Bàng Đức cười cười nói:

- Hiện tại lương khô của chúng ta có thể duy trì trong ba ngày, ta tính đi về hướng Tây, tại quận Phòng Lăng vượt sông, bên kia quận Phòng Lăng chỉ có hơn ngàn người, nếu quân Tào từ quận Phòng Lăng bằng cách vượt sông Hán Thủy có lẽ Tương Dương sẽ nguy mất, chi bằng chúng ta tiến đến quận Phòng Lăng, tăng phòng ngự cho quậnPhòng Lăng, mọi người thấy thế nào?

Mọi người nhìn nhau, cùng khom người nói:

- Nguyện nghe theo sự chỉ huy của tướng quân!

- Tốt.

Lúc này Bàng Đức ra lệnh:

- Gọi tất cả huynh đệ dậy, mười lăm phút sau chúng ta xuất phát.

Giữa trưa, Tào Tháo tự mình dẫn một trăm ngàn đại quân đến Tân Dã, đội hình cực lớn, tinh kỳ che khuất cả vùng trời. Lần này Tào Tháo xuôi Nam đến Kinh Tương còn xa mới có thể so sánh được với cuộc nam chinh Kiến An năm thứ mười ba, lần nam chinh đó quân Tào đã chuẩn bị mất mấy năm, tiêu hao hết tài sản quốc gia khiến cho đến nay quân Tào vẫn chưa thể khôi phục lại nguyên khí.

Còn lần này Nam chinh chỉ mang quân đội của Nam Dương và Hợp Phì sáp nhập lại làm một, lương thảo cũng lấy từ kho lương của Nam Dương, còn quân giới vật tư, chiến thuyền, dân phu vân vân gần như không chuẩn bị gì khá đặc biệt, điều này có thể thấy được Tào Tháo không có ý định tấn công Kinh Tương mà chỉ tạo thế kiềm chế chiến dịch Tây tuyến.

Trước đó Trương Cáp đã nhận được tin tức đuổi đến ngoài năm dặm báo cáo tình hình quân tiên phong xuôi Nam cho Tào Tháo, được thị vệ dẫn đường đến trước chiến mã Tào Tháo, y khom người bẩm báo:

- Mạt tướng tham kiến Thừa tướng.

Tào Tháo gật đầu hỏi:

- Trương tướng quân, đáng lẽ lúc này ngươi phải ở Phàn Thành sao lại còn ở Tân Dã thế này, ngươi giải thích ta xem nào?

Trương Cáp biết rằng có một số việc hẳn không trốn tránh được, đành phải kiên trì bẩm báo:

- Hồi bẩm Thừa tướng, trên đường bỉ chức xuôi Nam đã gặp tướng phòng giữ Tân Dã là Bàng Đức tập kích, hai bên chiến đấu kịch liệt, quân đội của bỉ chức tổn thất khá lớn, nghe theo lời dặn của Thừa tướng là phải cẩn thận nên bỉ chức đành tạm thời không xuôi Nam.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 617-2: Nghiêm trị không tha (2)


Tào Tháo nhướn mày quay đầu hỏi Trần Quần:

- Bàng Đức này có phải là Bàng Lệnh Minh, thuộc cấp của Mã Siêu không?

- Đúng là người này, gã ta cùng Mã Siêu đầu hàng Lưu Cảnh sau đó được phong làm phó Giáo Úy, đóng quân ở Tân Dã.

- Người này là một nhân tài, Lưu Cảnh chỉ phong hắn làm phó Giáo Úy, thực sự có chút đáng tiếc.

Tào Tháo khe khẽ thở dài lại chăm chú nhìn Trương Cáp nói:

- Ta bảo ngươi phải thận trọng, nhưng Trương tướng quân có thể nói cho ta biết bên chúng ta và đối phương tổn thất thế nào không?

Mặt Trương Cáp đỏ bừng, y đã báo cáo tình hình lên rồi sao Thừa tướng lại không biết chứ, còn ở nơi này cố ý hỏi y, trong lòng y thật sự sợ hãi vô cùng vội quì xuống ôm quyền nói:

- Bỉ chức bắt đầu trận chiến gặp nhiều bất lợi, nguyện chịu sự trừng phạt của Thừa tướng.

Tào Tháo hừ lạnh một tiếng nói:

- Hai quân giao chiến thắng bại là chuyện thường tình của nhà binh, ngươi tổn hại binh lính vượt xa đối phương ta cũng không trách ngươi, nhưng ta đã luôn dặn ngươi phải hành quân với tốc độ nhanh nhất đến Phàn Thành nhưng bộ hạ của ngươi lại bị của cải làm mê muội, rối loạn trận tuyến nên mới bị đối phương nhân cơ hội mà tập kích. Ngươi là người đi trước biết có của cải vật dụng sao không phái người tiến đến thiêu hủy để ngăn chặn lòng tham trong quân lính, cố tình để lại khiến cho binh lính nảy sinh lòng tham, đây có phải lỗi của một đại tướng không?

Trương Cáp cảm thấy hổ thẹn, một lúc sau mới ngập ngừng nói:

- Bỉ chức suy xét không chu toàn khiến Thừa tướng thất vọng.

- Ta rất thất vọng, ngươi là quân tiên phong nhưng không tận sức, làm mất thời cơ chiến đấu, hạ ngươi một bậc, cắt chức Bình Định tướng quân, phạt bổng lộc một năm.

Sắc mặt Trương Cáp trở nên trắng bệt, cúi đầu không nói, Tào Tháo xử phạt nghiêm khắc, cũng nên hiểu được năm đó Trương Cáp xuất quân chinh chiến Liêu Đông liều mạng mới được phong làm Bình Định tướng quân vậy mà trong lần hành quân không thành công này lại bắt bẻ, cắt chức vị của y, đấy là điều vị tướng quân xem trọng nhất.

Trương Liêu đứng cạnh cũng không đành lòng liền vội tiến lên quỳ xuống thay Trương Cáp cầu xin:

- Xin Thừa tướng bớt giận, Tuấn Nghệ tuy nhất thời suy xét không chu đáo nhưng không phải y dung túng binh lính để cướp tài vật mà y muốn binh lính phấn khởi xuất kích, nhưng không ngờ bị quân địch đánh lén, đánh quân địch thương vong một nửa xem như cũng đã lập công chuộc lỗi rồi, còn chuyện không xuôi Nam vì muốn thận trọng bố trí, khẩn cầu Thừa tướng xử phạt nương tay.

Các tướng đều tiến lên vì Trương Cáp mà cầu xin, Tào Tháo khoát tay áo nói:

- Ta đã suy tính kỹ rồi, vì sao quân đội chúng ta nhiều lần thua trong tay Lưu Cảnh, nghĩ tới nghĩ lui, ta nhận ra được kỷ luật trong quân chúng ta không nghiêm. Lưu Cảnh dùng quân tuy nhu mềm nhưng ai phạm vào quy tắc thì nghiêm trị không tha bất kể là ai cũng thế, có công thì hậu thưởng cũng tuyệt không keo kiệt cho nên tam quân quy thuận, tướng sĩ phục vụ quên mình. Còn chúng ta đã thất bại nhiều lần nhưng chưa từng có ai bị trừng phạt cả, nếu cứ thế trong lòng mọi người sẽ không sợ hãi, không chiến đấu hết mình, cho nên bắt đầu cuộc Nam chinh này, dù là phòng ngự Tây tuyến hay Đông tuyến Nam chinh thắng thì trọng thưởng, bại thì phạt tuyệt không tha.

Trương Cáp chán nản nói:

- Thừa tướng nói đúng, ta làm quân tiên phong, xuất binh gặp bất lợi, tuy rằng đánh bại đối phương nhưng là do binh lực cách xa, dù thắng nhưng cũng là thắng bại nên hẳn phải nhận phạt, bỉ chức nguyện chịu sự xử phạt của Thừa tướng.

Tào Tháo gật đầu:

- Tốt lắm, hôm nay phạt ngươi, nếu trong thời gian tới ngươi lại lập công thì ta sẽ thưởng gấp bội.

- Đa tạ Thừa tướng.

Tất cả mọi người không ai nói gì thêm, ai cũng cảm thấy hổ thẹn, trong lòng Trương Liêu cũng thế, tuy rằng y biện hộ thay Trương Cáp nhưng y cũng biết thất bại là thất bại, không có gì giải thích thêm, Thừa tướng xử phạt là chính đáng không có gì là bất công cả.

Lúc này Tào Tháo lại lấy kim lệnh tiễn nói với Trương Liêu:

- Văn Viễn, ta cho người ba vạn quân làm Tiền Quân, lập tức nhanh chóng xuôi Nam, quét ngang phía Bắc Hán Thủy san bằng Phàn Thành, Đặng huyện không để lại bất cứ thứ gì, cố gắng khếch trương thanh thế.

- Tuân lệnh!

Trương Liêu nhận Kim lệnh tiễn vội vàng đi.

Lúc này Tào Tháo chăm chú nhìn ngoài thành Tân Dã vài dặm, lại hạ lệnh nói:

- Đốt hủy thành Tân Dã, san bằng thành bình địa cho ta.

Lúc này một gã thị vệ chạy vội tới nhỏ giọng nói với Tào Tháo:

- Nghiệp Đô có tin tình báo khẩn cấp đến ạ.

Mặt Tào Tháo biến sắc, lão nhanh chóng nhận quyển lụa mở ra đọc, khóe miệng dần cười lạnh, lão trầm tư một lát viết một phong mệnh lệnh đưa cho gã thị vệ nói:

- Ngươi nhanh chóng hồi Nghiệp Đô, mang tin này giao cho Trưởng công tử, bảo hắn nhanh chóng thi hành lệnh.

Từ xế chiều, binh lính trên đầu thành Tương Dương có thể thấy được bờ Bắc Hán Thủy cuồn cuộn khói đặc, lúc bắt đầu chỉ có một đám khói đen, đám khói này rất nhỏ nhưng binh lính đều đoán được thành huyện Tân Dã đã biến thành trăm khói đen nên cách xa trăm dặm mới có thể nhìn thấy, đủ để tưởng tượng được cảnh tượng ở Tân Dã kh*ng b* như thế nào.

Sau nửa đêm, thành trì của Phàn Thành, Đặng huyện, Đặng Tắc ở bờ bắc Hán Thủy đều dấy lên hừng hực lửa lớn, nhất là Phàn Thành, ngọn lửa như muốn nuốt trọn cả huyện thành, khói đặc ngút trời, bụi mù cuồn cuộn xen lẫn lửa cháy đáng sợ, tiếng tường thành sập xuống vang lên không ngớt.

Lúc này cầu nổi trên Hán Thủy đã được dỡ bỏ, vừa rồi mấy trăm thuyền chiến ngàn thạch từ Giang Hạ đã được điều đến tuần tra trên Hán Thủy. Binh lính trên thuyền so với thành Tương Dương thì nhìn càng rõ ràng hơn, bọn họ có thể tính được hàng nghìn quân Tào đang đánh tới, bọn họ phá hủy tường thành, đốt cháy thị trấn, chẳng khác nào một bầy châu chấu phá hủy hết thảy. Hán Thủy rộng lớn lại tiếp tục ngăn chặn bước chân quân Tào xuôi Nam khiến cho quân Tào càn quét cũng không thật sự ảnh hưởng đến Kinh Tương.

Trên đầu thành Tương Dương, Giả Hủ, Văn Sính, Cam Ninh, Thái Diễm, Đổng Doãn và các văn võ bá quan đều lên đầu thành, vẻ mặt vô cùng nghiêm trọng, chăm chú quan sát quân Tào bên kia bờ Hán Thủy đang phá hỏng mọi thứ, nhưng duy chỉ có Giả Hủ gật đầu cười khẽ, dường như không để ý đến chuyện này lắm.

- Quân sư dường như không quá để tâm chuyện này?

Cam Ninh đứng bên cạnh không hiểu nhỏ giọng hỏi.

Giả Hủ khẽ mỉm cười:

- Phô trương thanh thế mà thôi, Tào Tháo thật sự không có dã tâm gì, mục đích của ông ta là cố tạo áp lực cho Châu Mục thôi, bức bách Châu Mục không thực hiện Tây tuyến Bắc phạt, trừ phi quân Tào có thể vượt qua Hán Thủy, nếu không lão không thể ngăn cản ý chí của quân Hán Bắc thượng.

Cam Ninh gật gật đầu hướng về mọi người nói:

- Lần này ta suất lĩnh ba trăm thuyền ngàn thạch bánh xe gỗ và năm nghìn thủy quân Bắc thượng đều là thủy quân tinh nhuệ nhất của quân Hán, đủ để xưng bá thiên hạ ở Giang Hải. Quân Tào không thể vượt qua Hán Thủy, ta cũng không cho lão bất cứ cơ hội nào, bao gồm cả Phòng Lăng và Thượng Dung đều có năm mươi thuyền chiến Bắc thượng, quân Tào dừng bước tại Hán Thủy là điều tất nhiên.

Văn Sính cũng vui vẻ nói:

- Cam tướng quân nói thế ta tin tưởng sách lược quân Tào tạo áp lực Đông tuyến tuyệt đối không thực hiện được.

Đúng lúc này bờ Bắc Hán Thủy bỗng nhiên truyền đến tiếng trống long trời lở đất.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 618: Quân địch không rõ lai lịch


Đúng lúc quân Tào xâm lấn Tương Dương với quy mô lớn, Lưu Cảnh ở tại Tây Thành quận Thiên Thủy đón ngày đầu tiên của năm Kiến An thứ mười bảy. Dựa theo kế hoạch hôm nay toàn bộ gia tộc Lưu thị tham gia lễ tộ tế ở Tương Dương, nhưng Lưu Cảnh lại không đi Tương Dương, hắn ủy thác cho Lưu Hổ đại biểu cho mình đi tới Tương Dương.

Từ sáng sớm tinh mơ, những tia ánh sáng mặt trời bắt đầu xuyên thấu qua tầng mây chiếu rọi ánh sáng lên đầu thành, từ phương xa nhìn lại Kỳ Sơn vẫn như cũ được bao trùm bởi lớp tuyết trắng dày đặc, dưới tia sáng mặt trời chiếu sáng, ánh kim quang lóe ra.

Hơn ngàn binh lính thủ thành đã phải chịu đựng cái giá rét lạnh dài nguyên một đêm, tinh thần phấn chấn hơn, họ chuẩn bị đổi ca trực về doanh trại nghỉ ngơi, đúng lúc này đầu thành bỗng nhiên xuất hiện tiếng xì xào nhốn nháo.

Chủ soái quân Hán Lưu Cảnh không ngờ xuất hiện tại đầu thành, khiến quân lính vui mừng khôn xiết, đây là điều khá bất ngờ đối với họ.

- Châu Mục, chúc mừng năm mới.

Mây tên lính nhìn thấy Lưu Cảnh đến vội hướng về hắn khom người thi lễ. Lưu Cảnh cười gật đầu nói:

- Chúc mọi người một năm mới vui vẻ!

Lúc này mấy trăm binh lính cũng xông tới:

- Châu Mục, chúc mừng năm mới.

Mọi người đều vấn an Lưu Cảnh, ngày đầu tiên của năm mới không ngờ Châu Mục đến nơi này cùng họ, đám binh lính vô cùng cảm động.

Lưu Cảnh cười phất tay:

- Các vị huynh đệ cực khổ rồi, hôm nay Nhật Đán có ít rượu thịt khao mọi người một bữa.

Mọi người hoan hô như sấm động, lúc này có binh lính xa xa hô lớn:

- Châu Mục, đội lương thực đến rồi.

Lưu Cảnh nhìn xuống con đường phía Nam, đã thấy một đội ngũ thật dài uốn lượn mà đi, đại kỳ quân Hán phấp phới, một đoàn trâu gỗ trên con đường chạy hăng hái về hướng Tây Thành, xe lương thực này từ Kỳ Sơn đưa tới ước chừng hai ngàn chiếc.

Từ khi chiếm được Tây Thành, trải qua gần hai tháng li hợp cùng với giao phó lượng trâu gỗ lớn cho đội quân, quân Hán đã bước đầu thành lập tuyến vận chuyển lương thực, tiến hành vận chuyển phân đoạn.

Từ huyện Hạ Biện quận Võ Đô vận chuyển lương thực đến thành Phong Vân, lại từ thành Phong Vân chuyển đến Lịch Thành sau đó đến thành Kỳ Sơn, cuối cùng từ thành Kỳ Sơn vận chuyển đến Tây Thành, tổng cộng chia làm bốn đoạn, mỗi đoạn hai ngàn chiếc trâu gỗ, cứ như thế sẽ hạn chế được việc binh lính phải lặn lội đường xa vất vả, về mặt khác lương thực cũng được nhanh chóng quay vòng, giảm bớt sự mạo hiểm trên đường vận chuyển.

Từ thành Kỳ Sơn đến Tây Thành bình quân vừa đi vừa về mười ngày, đến nay đã vận chuyển bốn chuyến, tính tổng cộng đã vận chuyển được bốn vạn thạch lương thực nên lương thực ở Tây Thành đã lên đến một trăm ngàn thạch. Lúc trước khi lần đầu tiên tiến hành Bắc phạt ở Tây Thành, lương thực cho quân doanh không tới mười ngàn thạch, nên không thể nào bằng lúc này được.

Lương thực sung túc, càng đảm bảo Bắc Phạt sẽ thành công, một khi quân lương Tây Thành tích cóp đến hai trăm ngàn thạch chính là thời cơ Bắc chinh rồi.

Cửa Tây Thành chậm rãi mở ra, từng chiếc trâu gỗ chở lương thực nối đuôi nhau mà tiến vào, hai ngàn binh lính Man tộc vận lương mồ hôi toát đầu nhưng vẻ mặt tràn đầy vui sướng, rốt cuộc bọn họ cũng mang lương thực đến Tây Thành vào ngày đầu năm mới.

Lúc này binh lính vận chuyển lương thực phát hiện ra Châu mục đang đứng trước cửa thành tươi cười, binh lính vận chuyển lương thực lập tức hò reo không ngớt.

Lưu Cảnh đi lên trước vỗ vỗ lên vai vài binh lính vận chuyển lương thực, hỏi thăm họ vài câu rồi lại cao giọng nói:

- Các huynh đệ vận chuyển lương thực, các tướng sĩ thủ thành, một năm trôi qua mọi người đã chịu nhiều vất vả, qua năm mới này mọi người chỉ cần hăng hái cố gắng thêm chút nữa ta tin tưởng nhất định sẽ thu hoạch tốt hơn, cải thiện cuộc sống người nhà các ngươi, cha mẹ con cái các ngươi cũng vì các ngươi mà hãnh diện.

Hai ngàn binh lính Man tộc im lặng lắng nghe lời chúc của Lưu Cảnh trong năm mới này, không chỉ có bọn họ mà còn có hơn vạn quân thủ thành đang bao quanh chủ công của họ, họ đang ngẩng đầu nhìn Lưu Cảnh, nuốt từng lời hắn nói.

- Hôm nay chính là bắt đầu năm Kiến An thứ mười bảy, lúc này Tào Tháo đang dẫn một trăm ngàn đại quân áp sát tới Tương Dương, lão ta muốn bức bách chúng ta ngừng việc Bắc phạt, nhưng lão đã lầm rồi chúng ta vẫn đang Bắc phạt. Năm nay dù thế nào cũng là một năm huy hoàng của quân Hán, đấy chính là lý do vì sao ta xuất hiện ở Tây Thành. Các huynh đệ, các tướng sĩ anh dũng, chúng ta hãy cùng nhau chỉ huy Bắc thượng, xây dựng đội quân Hán huy hoàng nhất.

Lời nói của Lưu Cảnh vang vọng, hơn hai vạn tướng sĩ quân Hán quân trong ngoài thành đều phấn khởi, bọn họ cùng hô to:

- Nguyện cùng Châu Mục Bắc phạt.

Tiếng hô vang vọng trời xanh, từng binh lính đều cảm thấy nhiệt huyết sôi trào, họ cảm nhận được khát vọng xuất chinh bắt đầu sớm hơn.

Chủ tướng vận chuyển lương thực chính là Vương Bình, y ở giữa đội ngũ, khi đội ngũ bắt đầu chậm rãi vào thành, y giục ngựa chạy tới trước thấy chủ công đang chuẩn bị quay vào thành:

- Châu Mục xin dừng bước.

Vương Bình ở sau la lớn.

Lưu Cảnh quay đầu lại thấy Vương Bình gọi mình, hắn cười bước lên hỏi:

- Vương Tướng quân không ở ở thành Kỳ Sơn sao?

Vương Bình xoay người xuống ngựa tiến lên khom người nói:

- Bỉ chức hơi lo lắng cho lần vận lương thực bắc thượng này nên đặc biệt đi theo.

Lưu Cảnh nghe được trong lời y nói có chuyện gì liền hỏi:

- Xảy ra chuyện gì sao?

- Hồi bẩm Châu Mục, khi ta trinh sát ở đường phía bắc Kỳ Sơn đã phát hiện một đội kỵ binh, tuyệt đối không phải quân Hán, nhưng cũng không rõ lai lịch, ước chừng trên dưới ngàn người.

- Chuyện xảy ra khi nào?

Ánh mắt Lưu Cảnh ngưng trọng, không ngờ đã phát hiện ra hơn ngàn kỵ binh, chẳng lẽ là quân Tào, nếu chỉ phát hiện ra khoảng mười mấy tên trinh sát quân Tào thì thấy cũng không có vấn đề gì lớn, nhưng không ngờ xuất hiện hơn ngàn quân Tào, vấn đề còn có điểm nghiêm trọng thêm, mấu chốt là sao quân Tào lại đến đây?

- Bốn ngày trước phát hiện nhưng vì buổi tối nên không phát hiện chính xác có phải là quân Tào hay không nên tạm thời chưa bẩm báo.

- Lần này Bắc thượng các ngươi có gặp lại không?

Lưu Cảnh lại hỏi.

Vương Bình lắc đầu:

- Bỉ chức vừa đi vừa thám thính nhưng bọn họ biến mất không có chút dấu vết nào.

Lưu Cảnh trầm ngâm chốc lát:

- Ngươi đi theo ta.

Lưu Cảnh trở mình lên ngựa, dưới sự bảo vệ củaở mấy trăm thị vệ kỵ binh dẫn theo Vương Bình chạy về phía đại doanh ngoài thành.

Trước mắt, binh lực của quân Hán tại Tây Thành có bốn vạn người, ngoại trừ mười ngàn người trú đóng bên trong thành, mặc khác có ba vạn người thì trú đóng ở ngoài Tây Thành. Không bao lâu sau Lưu Cảnh đến trước cửa đại doanh, hắn xoay người xuống ngựa đi về hướng đại doanh, lại chỉ bảo thân binh:

- Gọi Lưu Chính đến cho ta.

Trong đại trướng, Hoàng Trung cùng Pháp Chính thảo luận việc khao quân trong dịp năm mới. Trước mắt, Hoàng Trung vẫn là chủ tướng quân Hán ở Tây Thành như cũ, dù Lưu Cảnh có đến thị sát cũng không thể thay thế được vị trí chủ tướng của Hoàng Trung. Lúc này binh lính ở cửa lớn bẩm báo:

- Châu Mục đến rồi.

Lưu Cảnh nhanh chóng đi vào lều lớn, đi sau là Vương Bình và Lưu Chính, Hoàng Trung cùng Pháp Chính vội vàng đứng lên thi lễ:

- Tham kiến Châu Mục.

Lưu Cảnh khoát tay cười nói:

- Hôm này là năm mới vốn không nên bàn luận việc quân, nhưng Vương Bình tướng quân đã mang đến tin tức, ta cảm thấy hẳn cần phải xem trọng cho nên đặc biệt đến thảo luận cùng mọi người.

Lưu Cảnh bước nhanh đến sa bàn nói với Vương Bình:

- Vương tướng quân nói lại lần nữa xem.

Vương Bình hướng về mọi người thi lễ nói:

- Khoảng bốn ngày trước ta phái trinh sát tuần tra phát hiện ở phía Bắc Kỳ Sơn có hơn ngàn kỵ quân không rõ lai lịch, sau đó ta có truy tìm nhưng không thấy tung tích bọn họ đâu.

Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, họ khống chế Kỳ Sơn đạo nhưng sao lại có thể xuất hiện hơn ngàn binh mã, hơn nữa lại còn là kỵ binh, đây nhất định không phải quân Hán, vậy thì là ai? Chẳng lẽ quân Tào phát hiện ra con đường nhỏ nào khác sao?

Lúc này Lưu Cảnh nắm lấy cây gỗ chỉ vào cửa Đông nói:

- Ta hoài nghi Mộc Môn bảo có quân Tào, hoặc giả quân Tào tại Thượng huyện từ con đường nhỏ đến đây, các vị nghĩ sao?

Hoàng Trung lắc đầu:

- Ta cảm thấy không có khả năng này, hiện tại ngoại trừ con đường mòn kia miễn cưỡng đi lại được thì các địa phương khác gần như tuyết rơi phủ dày, ta đã phái binh lính dò xét qua nhưng khó có khả năng đi lại huống chi con đường nhỏ đó.

Pháp Chính trầm ngâm một chút nói:

- Có phải quân Tào đi từ phía Tây đến hoặc là quân đội của Đê Hồ?

- Quân Tào ở quận Nam An phía Tây không có kỵ binh, không phải là bọn họ. Còn quân đội Đê Hồ cũng có khả năng, tuy nhiên nếu bọn họ muốn tới nhất định phải đi từ Ký Thành vòng qua mà đến, nhắc tới sao đột nhiên Đê Hồ đến nơi này làm gì?

Hoàng Trung cũng không cho là Đê Hồ.

Lúc này Lưu Chính chần chừ một chút nói:

- Ta nghe thủ hạ nói hiện tại tuyết rơi dày đặc, tuy nhiên mặt sông đã đóng băng, hay là theo mặt sông mà qua.

Những lời này lập tức nhắc nhở mọi người, bọn họ lại nhìn sa bàn nhanh chóng thấy được hai đường sông băng, một từ Mộc Môn Bảo dọc Dạng Thủy có thể đến Nam Kỳ Sơn, một con đường khác là Bạch Thủy đi qua quận Lũng Tây. Hai con sông này nếu mùa hạ mùa xuân không có cách nào hành quân được, chỉ có mùa đông bị kết băng hơn nữa lại bị tuyết bao phủ, có thể hành quân trên mặt băng được.

Lúc này Lưu Cảnh chậm rãi nói:

- Hơn ngàn kỵ binh, màMộc Môn Bảo là tòa quân trại nhỏ bé không thể nuôi nổi nhiều chiến mã như vậy, ta hoài nghi quân Đê Hồ từ Lũng Tây đến. Nguyên nhân là khi Bắc phạt lần thứ nhất Đê Hồ đã giúp đỡ Tào Tháo lừa gạt chúng ta, bọn họ sợ chúng ta tính nợ cũ cho nên lúc này lại tiếp tục ra tay giúp đỡ Tào Tháo.

- Nếu đúng là người Đê thì sẽ không chỉ hơn ngàn người, hẳn còn nhiều hơn nữa để cắt đứt đường vận chuyển quân lương của chúng ta.

Pháp Chính vừa nói xong, ngoài lều lớn có binh lính bẩm báo gấp:

- Khởi bẩm Châu Mục, thành Kỳ Sơn có tin tức khẩn.

Trong lòng mọi người có cảm giác không ổn, Lưu Cảnh lập tức nói:

- Cho người báo tin vào.

Một lát sau, tên thám báo nhận tin tiến vào, gã quỳ xuống khóc không ra tiếng:

- Khởi bẩm Châu Mục, khuya ngày hôm trước dịch trạm Kỳ Nam bị tập kích bởi những người không rõ thân phận, ba trăm binh lính thương vong thê thảm, chỉ có vài chục người chạy thoát. Mặc khác, đội vận chuyển quân lương từ Lịch Thành đến Kỳ Sơn cũng bị tập kích, thương vong hơn hai trăm người, gần trăm chiếc xe trâu gỗ bị thiêu hủy, ít nhất bị hơn ngàn kỵ binh vây quanh giết, hình như là quân Tào nhưng cũng không giống quân Tào, hiện tại đường vận chuyển quân lương đã bị cắt.

- Rầm!

Lưu Cảnh hung hắn đạp mạnh lên bàn, hắn nghiến răng nói:

- Ngoại trừ Đê Hồ không thể là ai khác, đây tất nhiên là Dương Thiên Vạn phái người đến tập kích đường quân lương của chúng ta.

Trong lòng Vương Bình càng thêm hổ thẹn, nói xin lỗi:

- Ty chức có tội không kịp thời bẩm báo, xin cho ty chức lấy công chuộc tội, suất quân đi bình định đội kỵ binh này.

Lưu Cảnh ngẫm nghĩ một chút lại hạ lênh:

- Mau tìm Mã Đại đến đây.

Chỉ phút chốc Mã Đại đã có mặt, đại khái y hiểu sơ được tình huống, y hướng về Lưu Cảnh thi lễ. Lưu Cảnh nhìn Mã Đại và Vương Bình nói:

- Hai người các ngươi mau mang ba nghìn quân cùng Ưng Kích Quân xuôi Nam, tiêu diệt toàn bộ đội kỵ quân này cho ta, một tên cũng không để lại.

Mã Đại cùng Vương Bình khom người nhận lệnh:

- Tuân lệnh.

Hai người lĩnh mệnh mà đi, Hoàng Trung bên cạnh có chút lo lắng nói:

- Ta lo không chỉ hơn ngàn người mà hắn có đội ngũ tiếp viện, chúng ta cần phải tiếp ứng bọn họ.

Lưu Cảnh lắc đầu:

- Bọn họ có hơn sáu ngàn quân, nếu như vậy cũng không đối phó được Đê Hồ thì thật khiến ta thất vọng, quân đội đã đầy đủ rồi, lão tướng quân không cần tiếp ứng.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 619: Hồ Tặc ở Kỳ Sơn đạo


Đội kỵ binh thần bí kia xuất hiện tại Kỳ Sơn đạo đúng là kỵ binh Đê Hồ từ Bạch Thủy đến, Đê vương Dương Thiên Vạn nhận được lệnh của Tào Tháo đã tự mình suất lĩnh hai vạn kỵ quân đến quận Thiên Thủy trợ giúp quân Tào, đồng thời ông ta lệnh điệt tử Dương Chỉnh dẫn hai ngàn kỵ quân dọc theo Bạch Thủy tiến vào Kỳ Sơn tập kích đường vận chuyển lương thực của quân Hán.

Đối với người Đê và người Khương mà nói mùa đông ở Kỳ Sơn hoạt động không gặp khó khăn gì, bọn họ sớm đã hình thành thói quen kỵ binh hành quân trên vùng tuyết trắng, có thể bới tìm cỏ nuôi súc vật trong tuyết, bản năng sinh tồn cực kỳ mạnh mẽ và vô cùng nhạy bén, luôn trốn tránh được sự tuần tra của quân Hán, rồi nhân cơ hội đêm đến bất ngờ đánh trạm nghỉ chân cùng đội ngũ vận chuyển lương.

Lúc này kỵ binh Đê Hồ đã dọc theo Bạch Thủy thối lui khỏi lòng núi Kỳ Sơn, thật sự thì bọn chúng không rời khỏi mà như sói đang rình ẩn núp, chuẩn bị lần hai tiến vào Kỳ Sơn tập kích đội quân vận chuyển lương thực của quân Hán.

Dương Chỉnh năm nay ước chừng ba mươi, cao khoảng tám thước hai, cao to lực lưỡng, hai mắt lồi to chứa đầy tơ máu, tướng mạo vô cùng hung ác, gã dùng đồng chùy nặng sáu mươi cân cán dài, có sức mạnh của vạn người, gã nổi danh là mãnh tướng, không những tàn bạo mà còn vô cùng xảo quyệt, ở vùng Lũng Tây đi săn bắn nhiều năm, có kinh nghiêm phong phú.

Lúc này Dương Chỉnh cùng bộ hạ ẩn thân trong sơn cốc cách Tây Kỳ Sơn ước chừng năm mươi dặm. Trong thung lũng chúng dựng lên hơn trăm lều trắng, thung lũng này lối vào khá hẹp bốn phía lại là vách núi, hơn nữa vách núi nào cũng cao chót vót được tuyết trắng bao phủ nên bọn chúng khó bị phát hiện.

Lần này Dương Chỉnh mang đến một ngàn ba trăm người, trong đó có hơn một ngàn kỵ binh tinh nhuệ nhất, mặt khác còn có hơn ba trăm người tiếp tế. Lần đầu tiên tập kích thành công bọn chúng cũng biết quân Hán sẽ phái quân truy kích nên đã nhanh chóng ẩn mình kiên nhẫn đợi cơ hội thứ hai.

Trong lều phía trước hai gã thám báo kiên nhẫn chờ đợi, trong trướng truyền đến tiếng gầm l* m*ng của nam nhân và tiếng khóc nỉ non của nữ nhân. Âm thanh phát ra khiến mười người thân binh nôn nóng chờ đợi, nhìn bọn họ chẳng khác nào một đám chim kền kền chờ đợi canh thừa thịt thừa.

Đúng lúc này những âm thanh phát ra từ lều lớn dừng lại, ngay sau đó là tiếng r*n r* đau đớn phát ra, một cô gái trẻ tuổi tr*n tr**ng bị ném ra khỏi đại trướng, hơn mười thân binh cùng đồng loạt tiến lên túm lấy nữ nhân kia, nàng ta la khóc bên cạnh doanh trướng, rất nhanh, những tiếng cười độc ác đã che giấu tiếng khóc của nữ nhân kia.

- Tiến vào bẩm báo.

Tại lều lớn truyền đến âm thanh hung ác.

Hai gã do thám nhìn nhau khiếp đảm đi vào lều lớn, trong đại trướng được phủ một lớp da thú, đồ vật bừa bãi lộn xộn. Một gã thể trạng hùng tráng đang ngậm uống rượu từ túi da, tóc tai gã bù xù, làn da ngăm đen thân trên tr*n tr**ng, phía dưới cũng chỉ buộc một khối da thú, hai mắt lồi ra, trong khe mắt chứa đầy gân máu, hung tợn quay đầu nhìn hai gã thám tử nói:

- Có tin gì mới không?

Hai gã thám báo vội quỳ xuống, một gã cầm đầu nói:

- Chúng tôi ở Kỳ Sơn phát hiện một nhóm quân Hán đã xuôi Nam, ước chừng sáu ngàn người hướng về Bạch Thủy.

- Con mẹ nó, cũng không phải ngu xuẩn đó chứ.

Dương Chỉnh mắng một tràng dài, gã lại tiếp tục uống hai ngụm rượu, lạnh lùng nói:

- Tiếp tục giám sát bọn chúng, chú ý không nên bại lộ hành tung.

- Vâng!

Hai gã thám tử trả lời sau đó nhanh chóng rời khỏi lều mà đi.

Dương Chỉnh không lo lắng về quân Hán lắm, trong thâm tâm gã nắm chắc rằng quân Hán không thể nào tìm được thung lũng này, chỉ cần tránh thoát được truy tìm của quân Hán, ẩn nấp rồi lại đánh tập kích xe lương thực. Lương thực quân Hán quả thật không tệ, đáng tiếc bọn họ không thể nào dùng được chỉ có thể cướp lấy rồi thiêu hủy chúng mà thôi. Lúc này gã ta cảm thấy có chút hối hận, không nên đưa nữ nhân kia cho cấp dưới, không có nữ nhân sao có thể sống qua ngày được.

Gã vừa đứng lên đã nghe doanh trướng bên cạnh truyền đến tiếng kêu thảm thiết của nữ nhân, Dương Chỉnh cúi đầu mắng một câu:

- Thằng khốn Nhất Bang này.....

Gã đành phải ngồi xuống, ánh mắt hung ác nhìn chăm chú mặt đất, không biết đang suy nghĩ về cái gì.

Bạch Thủy bắt nguồn từ Tần Lĩnh, đi ngang qua địa khu Kỳ Sơn chảy về phía quận Lũng Tây, cuối cùng tiến vào Thao Thủy. Đại bộ phận khúc sông Bạch Thủy đều chạy qua Kinh Sơn, dòng nước chảy xiết, hai bờ dốc rất khó đi, hai mùa xuân hạ không thể lợi dụng lòng sông này đi về phía Tây nhưng đến mùa Đông nước sông kết thành những tảng băng dày, lại bị tuyết bao trùm, vừa đúng lúc hình thành một còn đường băng từ Lũng Tây tiến vào Kỳ Sơn.

Dưới ánh trăng ảm đạm, một đội quân hơn trăm người hành quân dọc theo sông Bạch Thủy hành quân về hướng Tây, đội quân đó chính là một nhánh của Ưng Kích Quân, cầm đầu tướng lĩnh là Nhậm Bình. Nhậm Bình bởi vì đã lập nhiều công lớn cướp đoạt được Lịch Thành nên được đề bạt thăng làm Nha tướng.

Gã cũng vì trận chiến tại Lịch Thành mà thanh danh đại chấn trong quân Hán, hơn nữa gã lại giỏi dùng hỏa, lại giỏi leo núi nên có biệt hiệu là "Vượn lửa" nên gã trở thành nhân vật thứ ba trong Ưng Kích Quân đứng sau Ưng hầu Lưu Chính và Phó tướng Ngô Ban.

Nhiệm vụ của Ưng Kích Quân ở hai bờ Bạch Thủy tìm kiếm vết tích của kỵ binh Đê Hồ, vì hai bờ sông Bạch Thủy núi non trùng điệp, có thể có người ẩn thân trong thung lũng, muốn trong phạm vi mấy trăm dặm tìm nơi có thể che dấu quân đội chẳng khác nào mò kim đáy biển.

Lúc này trời đã tối, ánh trăng vô cùng sáng tỏ, hai bên bờ sông Quái Thạch và Sơn Lĩnh xuất hiện một tầng màu bạc, đi lại trên mặt băng. Từng đợt không khí lạnh xông lên từ chân, dù thể trạng của Ưng Kích Quân mạnh hơn so với binh lính bình thường nhưng vẫn lạnh run cả người.

Đúng lúc này một binh lính chỉ vào sườn núi hô:

- Thủ trưởng, người xem kìa.

Nhậm Bình cũng nhìn thấy ở giữa sườn núi xuất hiện ánh sáng, không phải ánh sáng trăng chiếu rọi mà là ánh lửa, gã khoát tay chặn lại hạ giọng nói:

- Tiến lên.

Binh lính nhanh chóng rời khỏi mặt băng, dọc theo đường núi được tuyết bao phủ thật dày leo lên trước, không bao lâu sau liền bò lên giừa sườn núi. Lúc này họ mới phát hiện ở sườn núi có một nhà tranh được dựng lên tuy nhiên nó đã bị phá hủy cách đây không lâu. Tường đất sụp xuống một nửa, những vật phẩm trong nhà bị đập vỡ toang, một vàii bộ quần áo bị xé thành mảnh vải.

Trên tường còn bày một chén đèn dầu, một ngọn lửa to bằng hạt đậu, ngọn đèn vừa nhìn thấy chính là nó, chỉ có điều bốn phía không có ai. Nhậm Bình nhìn thoáng qua ngọn đèn, hơn một trăm người không ai không phát hiện ra ánh đèn, chỉ có thể nói nó vừa mới được thắp sáng lên liền bị binh lính phát hiện.

Như vậy người trốn ở đâu?

Nhậm Bình bỗng nhiên xoay người nói:

- Tìm kiếm khắp nơi cho ta.

Binh lính chia ra tìm kiếm bốn phía, đúng lúc này một bóng đen từ trên sơn nham nhảy xuống, nhanh nhẹn như khỉ chạy xuống dưới chân núi.

- Ở kia, bắt lấy hắn.

Binh lính bốn phía vây quanh bọc đánh, nhanh chóng chặn đường bóng đen kia, nhưng bóng đen vẫn nhanh nhẹn vô cùng, đối mặt với gã là trăm Ưng Kích Quân, binh lính tinh nhuệ nhất của quân Hán, gã rít gào như mãnh thú vung đao lao ra nhưng đã bị ba người lính đánh gục, đè gã ta lại đoạt đao rồi trói gã lại.

Nhậm Bình đến trước mặt gã ta lúc này mới nhìn rõ mặt, gã ta còn khá trẻ khoảng hai mươi mấy tuổi, dáng người không cao không thấp, vô cùng khỏe mạnh, nhìn cách ăn mặc giống như người Hán nhưng ánh mắt lại tràn đầy thù hận, gã ta nghiến răng căm phẫn như muốn cắn chết Nhậm Bình ngay tức khắc.

- Ngươi là ai?

Nhậm Bình cảm giác gã đó không phải thám báo quân Tào, nhìn có vẻ giống tiều phu hoặc thợ săn bắn ở Kỳ Sơn.

Gã ta trừng mắt, hai mắt đỏ ngầu, cổ họng rít gào như tiếng dã thú, gã cố liều mạng giẫy dụa, Nhậm Bình giận dữ, vung tay tát gã ta hai cái:

- Ngươi điên rồi sao?

Gã ta dường như tỉnh ra một chút, lúc này mới quan sát Nhậm Bình, sau một lúc gã khàn giọng hỏi:

- Các người có phải người Hồ không?

- Chúng ta là quân Hán, ngươi hẳn là biết chứ.

Sự thù hằn trong mắt nam tử nhanh chóng biến mất, gã ta nhếch nhếch miệng bỗng nhiên gào khóc lớn, cả người co rút lại, Nhậm Bình có thể đoán được người nam tử này đã gặp qua người Đê Hồ, đấy là một manh mối cực kỳ quan trọng. Đê Hồ nhất định mặc áo giáp quân Tào nên gã mới cho là mình cũng là quân Tào.

Nhậm Bình chờ gã ta khóc một lúc mới vỗ vai dịu dàng nói:

- Chúng ta đang đuổi giết Đê Hồ, bọn chúng hẳn đã giết người nhà của ngươi đúng không.

Nhậm Bình lệnh binh lính thả gã ra, lúc này mới ngồi xổm bên cạnh gã, nói:

- Hãy nói với chúng ta, chúng ta sẽ giúp ngươi.

Cuối cùng người nam tử này cũng kể ra sự bất hạnh gã gặp phải, nguyên gã sống tại Lịch Thành, là y tượng tên là Lâm Tiến, gã cùng phụ thân mở một hiệu thuốc bắc, gã có người vợ trẻ cùng đứa con nhỏ đáng yêu.

Năm trước lần đầu tiên quân Hán tấn công Lịch Thành, cả nhà bọn họ chạy ra khỏi thành, phụ thân lúc chạy trốn trượt chân ngã gãy xương cột sống không thể cử động được nên bọn họ tạm thời xây cất gian nhà lá tại đây, cố gắng chữa trị cho phụ thân để người nhanh chóng bình phục, cả nhà phải dựa vào tài săn bắn và hái thuốc của gã mà sống.

Trước đây bốn ngày hắn săn thú trở về đã phát hiện ra nhà tranh bị phá hủy, phụ thân cùng đứa con nhỏ bị giết, thê tử chẳng biết ở đâu, gã ta nổi điên tìm kiếm khắp nơi. Hai ngày trước gã bất ngờ phát hiện một gã thám báo người Hồ, đã bắt giữ lại, từ miệng tên này gã biết được thê tử mình bị người Hồ bắt, phụ thân cùng đứa con thì bị kỵ binh người Hồ g**t ch*t.

Gã giết tên thám báo người Hồ, chiếm giữ cung tên và đao chuẩn bị về nhà tìm một vài thứ thì lại bị quân Hán bắt được. Lúc này hai mắt nam tử đã khô giọt lệ, trong đó chỉ còn lại sự thù hận vô cùng sâu đậm.

Gã ta cắn răng nhỏ giọng nói:

- Thê tử của ta rơi vào tay bọn chúng, cũng sẽ bị bọn chúng làm nhục mà chết, ngoại trừ báo thù cuộc đời ta không còn tâm niệm nào khác.

Trong lòng Nhậm Bình tràn đầy sự cảm thông, gã thở dài nói:

- Bọn kỵ binh người Đê này tập kích đội vận lương của chúng ta, sát hại mấy trăm người, chúng ta cũng phụng mệnh tìm bọn họ để tiêu diệt sạch không tha.

Nam tử trẻ tuổi nhìn Nhậm Bình lắc đầu:

- Người các ngươi quá ít không phải là đối thủ của chúng.

Nhậm Bình cười:

- Chúng ta đang tìm kiếm hành tung của chúng, tác chiến cụ thể không phải chúng ta mà là nhóm quân khác. Mặt khác quân Hán có mấy ngàn người, chúng ta chỉ tìm nơi ẩn thân của chúng thôi.

Sau một lúc nam tử trẻ tuổi nhỏ giọng nói:

- Có lẽ ta biết nơi bọn chúng ẩn thân.

Sáu ngàn binh lính tinh nhuệ quân Hán được Mã Đại cùng Vương Bình tập hợp tại Kỳ Sơn thành, Kỳ Sơn thành là một tòa quân thành được mới tu sửa xây dựng nên, chu vi ước chừng sáu lý, nằm ở phía nam Kỳ Sơn bảo lúc trước của quân Tào, tường thành của tòa quân thành cao ba trượng, trú cả ngàn binh. Quân thành chủ yếu dùng để trữ lương thực, là một khâu quan trọng trong hệ thống vận chuyển lương thực của quân Hán mới xem vận chuyển lương thực là khâu quan trọng.

Lúc này trời đã tối, Vương Bình thương lượng với Mã Đại một chút rồi nhanh chóng quyết định qua đêm ở Kỳ Sơn, khi bọn họ chuẩn bị vào thành lại nghe một tên lính hô:

- Vương tướng quân, Mã tướng quân, Ưng Kích Quân phái người truyền tin đến.

- Cho hắn ta vào.

Một lát sau một gã Ưng Kích Quân được binh lính dẫn vào, gã ta quỳ một gối mang trình giấy báo:

- Tướng quân, tại hạ bẩm báo tin khẩn.

Vương Bình tiếp nhận tờ giấy, đưa lên gần ánh lửa xem qua, sau đó không kìm nén được gã mừng rỡ nói với Mã Đại:

- Bọn họ tìm được nơi ẩn thân của quân địch rồi.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 620: Tiêu diệt Đê Hồ


Trên vách núi cao chừng sáu mươi trượng, một gã thám báo quân Hán có thị lực vô cùng tốt đã đến vách núi thăm dò xung quanh, sau một lúc lâu gã quay lại nói khẽ với Nha tướng Nhậm Bình:

- Thủ lĩnh, có khoảng một trăm lều trại, phía Tây có hai mươi mấy lều khá lớn, hẳn là nơi chứa lương thực.

Lúc này một gã thám báo Ưng Kích Quân leo lên vách đá cẩn thận đến bên cạnh Nhậm Bình nói:

- Vương tướng quân và Mã tướng quân đã bố trí cả rồi, Vương tướng quân nói chúng ta có thể hành động bất cứ khi nào.

Nhậm Bình gật gật đầu, gã lại nhìn sắc trời một chút thấy hoàng hôn gần đến, rồi gã lại hướng sang Lâm Tiến - người giúp đỡ tìm họ được nơi ẩn thân của kẻ thù, cười nói:

- Ngươi hãy quay về Hán Trung đi, nơi này không có chuyện của ngươi nữa, chúng ta sẽ báo thù cho ngươi.

Lâm Tiến cắn chặt môi kiên quyết lắc đầu:

- Ta không đi, ta nhất định phải tự tay báo thù.

Nhậm Bình bất đắc dĩ đành nói với gã:

- Nếu thật sự ngươi muốn báo thù hãy xuống núi, đợi khi đánh nhau người Hồ nhất định sẽ chạy ra khỏi sơn cốc, khi đó tùy người chém giết.

Lâm Tiến không nói lời nào cũng không chuyển động, Nhậm Bình lại vỗ vai gã khuyên nhủ:

- Chúng ta phải nhanh chóng đi xuống, ngươi đi theo sẽ khiến chúng ta bị bại lộ còn liên lụy chúng ta nữa, hãy xuống dưới chân núi đi, dưới đó cũng có quân Hán, ngươi ở đó có thể cùng bọn họ giết địch.

Lâm Tiến cúi đầu, đột nhiên gã ta đứng lên chạy nhanh ra hướng rừng cây xa xa, Nhậm Bình nhìn gã ta chạy đi trong lòng có chút tiếc thương. Gã biết người thanh niên này muốn gia nhập quân Hán, chỉ có điều Ưng Kích Quân yêu cầu nghiêm khắc, không phải ai cũng có thể gia nhập, gã cũng không thể nói giúp gì được.

Không lâu sau màn đêm đã bao phủ, Nhậm Bình đứng bên vách núi kiên nhẫn chờ đợi, một canh giờ trôi qua trời rốt cuộc cũng tối hẳn, một vòng trăng khuyết ở được bao phủ trong tầng mây, ánh trăng lúc ẩn lúc hiện, âm thanh hết sức yên tĩnh, thời điểm động thủ đến rồi.

Nhậm Bình mang một sợi dây thừng dài hơn bốn mươi trượng nhẹ nhàng ném xuống vách đá, một đầu cột trên cây đại thụ ở đỉnh núi, tổng cộng có ba tên lính một người ở đỉnh phối hợp, Nhậm Bình cùng một tên khác đi xuống.

Bọn họ mang theo hai túi da đựng ba mươi lít dầu hỏa đeo trên lưng, kéo sợi dây thừng chậm rãi đi xuống ước chừng khoảng ba mươi trượng bọn họ chạm phải khối đá, khối đá này ban ngày khi thám thính bọn họ đã chọn nơi dừng chân, nơi này cách lều trại khoảng năm mươi bước, nếu bọn họ dùng đuốc ném trên lều hay hỏa tiễn đều không có khả quan, khả năng thành công rất thấp.

Người lính phía trên ném dây xuống dưới, bọn họ lại mang dây thừng cột vào tảng đá lớn, Nhậm Bình cùng thủ hạ lại tiếp tục chậm rãi trèo xuống, lúc này phía dưới nhìn lên có thể thấy bọn họ.

Cũng vì bọn họ lẻn vào từ bên trong thung lũng, nơi này không có lính canh, mặc dù như thế hai người vẫn vô cùng cẩn thận, gần như dán người thật chặt vào vách đá, chỉ dám di chuyển từng bước nhỏ, cuối cùng nhẹ nhàng nhảy xuống, rơi vào đống tuyết không một tiếng động.

Hai người đều khoác áo choàng trắng, nằm trên tuyết còn chưa dám nhúc nhích, bọn họ nghe tiếng có người đang ngâm nga đi về hướng bọn họ, là một tên lính người Hồ uống say khướt, gã ta định đi bên đó để đi tiểu, đang chuẩn bị cởi bỏ dây lưng quần thì Nhậm Bình đã nhảy dựng lên phóng về phía gã, gã bị hạ gục trong nháy mắt, dao găm trong tay Nhậm Bình đã cắt đứt cổ họng đối phương một cách gọn gàng dứt khoát.

Hai người vội kéo thi thể chôn vào trong tuyết, xong xuôi liền chạy về hướng lều lớn cách xa mười bước. Bọn họ đã quan sát tình huống bốn phía, ngoại trừ cửa cốc còn có trạm gác ra thì bên trong nhưng không có lính quân địch gác.

Nhưng không ngờ lúc này đã xảy ra cuộc đụng độ, khi bọn họ còn cách lều lớn vài chục bước, đúng lúc ấy lại có hai gã Hồ binh từ trong trướng đi ra, hai bên đã nhìn thấy nhau ở khoảng cách năm sáu bước chân.

- Là ai?

Một gã Hồ binh quát to.

Nhậm Bình liếc mắt một cái không nói gì nhanh chóng nhào đến dùng dao đâm xuyên qua ngực Hồ binh, tên này phát ra tiếng kêu thảm thiết, phá vỡ sự yên tĩnh của thung lũng, một gã Hồ binh khác liền xoay người chạy, Nhậm Bình liều rút dao găm phóng thẳng vào y, đáng tiếc hơi lệch một chút nên trúng phải vai đối phương, không giết đối phương được.

Tên Hồ binh kia chạy như điên, vừa chạy vừa hô:

- Có gian tế! Có gian tế!

Tình thế đột nhiên thay đổi, bọn họ không quan tâm việc chạy theo truy kích gã Hồ binh mà nhanh chóng gỡ dầu hỏa trên người xuống, phun lên lều lớn, một tên lính dính phải trở thành cây đuốc sống. Lều lớn trước mặt nhanh chóng bị đốt cháy, ngọn lửa cháy bùng lên, Nhậm Bình nhanh chóng cởi áo choàng ra, xé từng mảng gút lại thành từng cục, nhúng đầy dầu hỏa rồi đốt lửa sau đó ném về phía các lều trước mặt, nhanh chóng các lều lớn đều bị thiêu cháy.

Lúc này trong thung lũng khắp nơi đều có tiếng quát tháo, mười mấy tên Hồ binh cùng Dương Chỉnh chạy đến, hai mắt lồi của Dương Chỉnh bừng lên lửa giận, tay y xách cán chùy giơ cao hét lớn:

- Thu lều trại tránh lửa cháy lan.

Binh lính Đê Hồ nhanh chóng chạy đi cứu hỏa, còn Dương Chỉnh lại tìm kiếm người cứu hỏa. Đột nhiên y nhìn thấy xa xa có hai bóng đen chạy trốn hướng vách đá, y cười lạnh nhanh chóng đuổi theo, cách xa nhau hơn mười bước, y dùng chùy ném mạnh phía lưng binh sĩ Ưng Kích Quân.

Người lính này kêu thảm một tiếng đầu ngã xuống đất chết ngay tại chỗ, Nhậm Bình thấy thủ hạ chết thảm, ánh mắt tức thì đỏ ngầu, đột nhiên gã xoay người rút đao hét lớn một tiếng bổ vào Dương Chỉnh.

- Hay lắm!

Dương Chỉnh la lớn một tiếng nắm chặt lưỡi đao, hai tiếng "răng rắc" kêu lên, đã bẻ đao thành hai đoạn, đá Nhậm Bình một cước bay xa hai trượng. Y gầm nhẹ một tiếng nhanh chóng nhào tới, Nhậm Bình cũng không né tránh, ngay khi đối phương tiến đến gần trong nháy mắt gã đá đáy giày lên, một đoạn dao găm b*n r* trúng ngay ở bụng đối phương.

Dương Chỉnh như con dã thú, không chút phản ứng, ra sức bẻ gãy cổ Nhậm Bình, lực gã vô cùng mạnh, Nhậm Bình cảm thấy trước mắt tối sầm, như gần ngất đi, đúng lúc này chợt thấy một tia ánh điện xẹt qua, Dương Chỉnh lăn ra bất động, lát sau đầu trên cổ y lăn xuống, máu trên lỗ cổ phun tung tóe bắn đầy người Nhậm Bình.

Trong lòng Nhậm Bình kinh ngạc vô cùng, gã tung một đá đá văng thi thể kẻ địch ra liền thấy một người đứng sau tướng địch đang cầm đao, đó chính là thợ săn Lâm Tiến. Gã ta không rời đi mà đi theo Nhậm Bình, leo từ vách núi xuống, ở thời khắc quan trọng cứu Nhậm Bình một mạng.

Lâm Tiến cắn răng xoay người chạy đi về phía đại doanh quân địch, gã muốn cứu thê tử của mình, Nhậm Bình muốn gọi nhưng không kịp rồi, chỉ biết trơ mắt nhìn gã biến mất trong ngọn lửa.

Lúc này ngọn lửa lớn đã lan tràn khắp nơi, một nửa doanh trướng đều bị đại hỏa đốt cháy, lửa càng lúc càng lan dữ dội, khói đặc tràn ngập cả thung lũng, thủ lĩnh Đê Hồ mất tích, nơi nơi người hô ngựa hí, bên trong thung lũng cực kỳ hỗn loạn, Hồ binh không thể dập tắt ngọn lửa lớn, bọn họ nhanh chóng trở mình lên ngựa, giục ngựa hướng ngoài thung lũng chạy trốn.

Bên ngoài thung lũng là Bạch Thủy, lúc này trên mặt băng của hai bên lòng chảo có quân Hán đứng đông nghịt, mấy ngàn binh quân Hán đã chuẩn bị sẵn sàng, cung nỏ đã giương sẵn nhắm ngay cửa cốc, hoàn toàn chắn hai đầu con đường chạy trốn.

Nhóm kỵ binh đầu tiên của Đê Hồ từ trong thung lũng đi ra, cung nỏ hai bên b*n r* không ngừng, mười mấy tên Đê Hồ kêu thảm nhanh chóng ngã xuống, chiến mã cũng bị tên nỏ bắn khắp mình nhưng kỵ binh phía sau không ý thức được bên ngoài gặp chuyện thế nào, bọn họ vẫn tiếp tục trào ra, bên trong khói đặc cuồn cuộn, liệt hỏa ngút trời khiến cho bọn chúng hoảng hốt chạy bừa. Quân Hán nghênh đón bọn chúng cũng không chút lưu tình, giết không nương tay.

Mũi tên như mưa bão phun tới, chiến mã rên rĩ, kỵ binh kêu gào thảm thiết, từng nhóm kỵ binh ra cửa phụ cũng bị bắn chết mấy trăm người, binh lính trong thung lũng cũng không dám lao ra nữa.

Lúc này Vương Bình tự mình dẫn hai ngàn Trường mâu quân của quân Hán xếp thành hàng tấn công vào trong thung lũng, tiếng kêu nhanh chóng lan rộng khắp nơi. Chỉ trong vòng nửa canh giờ bên trong thung lũng mới dần trở lại như cũ, doanh địa Đê Hồ đã bị đốt thành bãi đất trống, thi thể nằm khắp nơi, hơn một ngàn ba trăm quân Đê Hồ hầu như bị giết hết.

Nhậm Bình cũng không rời đi, gã tìm mọi ngõ ngách trong thung lũng cuối cùng cũng tìm thấy Lâm Tiến, Lâm Tiến đã tìm được thi thể của vợ mình, nàng ta bị bọn Đê Hồ lăng nhục đến chết, thi thể bị vùi lấp trong tuyết. Lâm Tiến dùng chiến kỳ gói kỹ thi thể của vợ sau đó mang nàng đi hỏa táng.

Lâm Tiến yên lặng nhìn thi thể thê tử bị ngọn lửa nuốt trọn, nước mắt gã không ngừng rơi, lúc này Nhậm Bình đến bên cạnh gã, đứng một lúc lâu Nhậm Bình trầm giọng hỏi:

- Ngươi có tính toán gì chưa?

- Trước tiên ta muốn mang nàng và hài tử chôn một nơi.

- Sau đó thì sao?

Lâm Tiến lắc đầu nói:

- Ta cũng không biết nữa.

Trầm ngâm một lát Nhậm Bình thở dài nói:

- Ta nợ ngươi một mạng, sau này ngươi hãy theo ta đi.

Lâm Tiến quỳ một gối khóc không ra tiếng:

- Đa tạ Nhậm tướng quân thu dụng, ta nguyện trở thành một thành viên quân Hán, từ này đi theo tướng quân chiến đấu khắp chiến trường.

Nhậm Bình lấy quân bài đưa cho gã:

- Chúng ta phải trở về Tây Thành rồi, ngươi xử lý xong mọi chuyện hãy đến Tây Thành tìm ta.

Gã lại vỗ vỗ vai Lâm Tiến, tay cầm theo đầu Dương Chỉnh xoay người đi về hướng cửa cốc.

Sau nửa canh giờ quân Hán thu thập xong chiến trường, rời thung lũng, khởi hành đi về hướng Tây Thành.

Đi ra Bạch Thủy, Mã Đại lại để lại một ngàn binh lính, lệnh họ đóng trại canh giữ nơi hiểm yếu của Bạch Thủy, tuy bọn họ giết toàn bộ quân địch nhưng tín hiệu nguy hiểm vẫn còn, quân Hán nhất định phải phòng ngừa Đê Hồ lại vượt qua Bạch Thủy tiến vào Kỳ Sơn.

Kỵ binh Đê Hồ đến Kỳ Sơn chỉ là bước đệm nhưng nó lại cho thấy kẻ thù của quân Hán không chỉ có quân Tào, còn bao gồm cả Đê Hồ ở quận Lũng Tây, hai vạn kỵ binh Đê Hồ đã tiến vào quận Thiên Thủy, cộng thêm năm vạn quân Tào thực lực đã vượt xa quân Hán.

Lúc này, chỉ dựa vào ba vạn quân Hán mà đoạt Ký huyện thật không thể nào thực hiện, quân Hán cần tăng quân đang là điều cấp bách nhất.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 621-1: Xe bò vượt sông (1)


Ngày thứ ba sau khi kỵ binh Đê Hồ bị tiêu diêt tại Kỳ Sơn đạo, Lưu Cảnh cũng nhận được tin tức do thám báo truyền tới, hai vạn kỵ binh Đê Hồ của Đê Vương Dương Thiên Vạn nhanh chóng tiến đến quận Thiên Thủy, trú đóng ngoài Ký huyện ba mươi dặm, tạo thế hỗ trợ lẫn nhau với năm vạn quân Tào tại Ký huyện, có thể chuẩn bị nghênh chiến quân Hán Bắc thượng.

Tin tức này ở ngoài dự liệu của Lưu Cảnh, hắn đã chuẩn bị hết thảy để nghênh chiến cùng quân Tào ở Ký huyện, nhưng Lưu Cảnh không ngờ hai vạn người Hồ đến làm rối loạn kế hoạch của hắn, thậm chí việc quân Tào xuôi Nam Kinh Tương cũng tạo nhiều áp lực cho hắn.

Trong đại trướng, Lưu Cảnh khoanh tay đi qua đi lại, cố tìm sách lược đối phó. Lúc này Bàng Thống bên cạnh nhìn Lưu Cảnh cười nói:

- Thần cảm thấy kỵ quân Đê Hồ đến không phải là chuyện xấu, ít nhất để chúng ta biết mà cảnh giác, nếu không khi chúng ta và quân Tào chiến đấu kịch liệt thì kỵ binh Đê Hồ xuất hiện, hậu quả lúc đó khó mà lường được. Kỳ thật ta cảm thấy đây là sai lầm lớn của quân Tào, bọn họ hoàn toàn có thể dụng kế dẫn chúng ta đến Kỳ huyện sau đó xuất binh, bọn họ lộ viện binh quá sớm.

Lưu Cảnh lắc lắc đầu:

- Dù quân Tào không có sách lược sai lầm ta cũng không thể tái phạm sai lầm như cũ, nhanh chóng Bắc thượng. Trên thực tế khi Bạch Thủy xuất hiện kỵ binh Đê Hồ ta biết ngay Đê Hồ đã xuất binh rồi, trong tình huống này ta càng không thể mạo hiểm.

Hoàng Trung cũng cười nói:

- Hiện tại quân địch có bảy vạn, chúng ta chỉ có ba vạn, nếu đơn thuần nhìn bình lực bên ngoài quả thật chúng ta yếu thế, tuy nhiên quân địch cũng có nhược điểm, đó chính là họ phân chia làm hai đội quân, phối hợp sẽ không ăn ý, mỗi người có suy nghĩ riêng cho nên có thể khẳng định bọn họ sẽ không chủ động xuôi Nam tấn công mà chỉ phòng ngự là chính.

Lưu Cảnh gật gật đầu, lại nhìn Mã Siêu vẫn đang im lặng:

- Mạnh Khởi có đề nghị gì sao?

Đúng lúc Mã Siêu từ quận Võ Đô đến, y và Đê Hồ giao tiếp đã nhiều năm, đối với bọn chúng hiểu khá rõ. Lưu Cảnh hy vọng Mã Siêu sẽ đưa ra được sách lược đối phó được với Đê Hồ. Mã Siêu trầm tư chốc lát nói:

- Khu vực Lũng Hữu có nói đến bắc Khương nam Đê, có hai bộ lạc lớn người Đê và Phu Hãn Vương Tống Kiến đã liên kết để uy h**p người Khương, trên thực tế họ cũng có suy nghĩ riêng, tuy rằng không thừa cơ thâu tóm đối phương nhưng không thể thấy chết mà không cứu, nếu muốn người Đê lui binh cũng dễ thôi, chỉ cần khiến người Khương tấn công Lũng Tây là được, Châu Mục không phải quen biết Khương Vương Nam Cung Tác sao? Mời hắn xuất binh Lũng Tây, tự nhiên Dương Thiên Vạn sẽ lui binh.

- Mạnh Khởi cảm thấy Nam Cung Tác không sợ Tào Tháo mà đồng ý xuất binh sao?

Lưu Cảnh lại hỏi.

Mã Siêu mỉm cười:

- Tên Nam Cung Tác này lúc nào cũng mang chữ lợi làm đầu, chỉ cần có lợi ích cho gã thì nhất định gã sẽ xuất binh.

- Vậy gã ta muốn điều gì nhất?

Mã Siêu suy nghĩ một lát nói:

- Người Khương và Người Đê cũng giống nhau, cần nhất lúc này là sắt thô và lương thực, cũng không cần Châu Mục cho gã cái gì, chỉ cần cho mậu dịch sắt thô và lương thực, ta nghĩ nhất định gã ta sẽ đồng ý.

- Không được!

Bàng Thống quả quyết bác bỏ đề nghị của Mã Siêu, gã thi lễ thật sâu với Lưu Cảnh, nói:

- Dị tộc Khương Đê không nên để bọn chúng lớn mạnh, mấy trăm năm qua triều đình luôn phái sứ giả trấn an người Khương nhưng thủy chung không bán sắt thô mậu dịch, cũng vì lo lắng khi hùng mạnh bọn chúng sẽ tập kích vùng biên giới. Năm đó Đổng Trác vào kinh thành đã dẫn theo Khương binh đã gây lầm than cho Trung Nguyên, vì vậy có thể thấy được dù có muốn binh Tây Khương tương trợ nhưng cũng không bắt buộc phải phá bỏ tiền lệ cấm vận sắt thô. Nếu chỉ vì lợi ích trước mắt mà gieo hại lâu dài, xin Châu Mục suy nghĩ kỹ.

Lưu Cảnh trầm tư một lát lại quay sang cười hỏi Mã Siêu:

- Mạnh Khởi nghĩ sao?

Mã Siêu biết người Khương cần có sắt thô thượng hạng, nhưng nếu Lưu Cảnh không muốn cấp, y cũng không có cách nào, Mã Siêu chỉ cười khổ nói:

- Đúng thật người Khương cũng sẽ luyện thiết, chỉ có điều bọn họ luyện ra binh khí khá thô sơ, không luyện được binh khí tốt nhưng dù sao bọn họ cũng có ý muốn thôn tính Trung Nguyên, nếu Châu Mục thấy không cấp thép tinh được thì ta nên cho bọn chúng lương thực, có lẽ bọn chúng cũng đồng ý.

- Vậy thử lương thực xem sao.

Lưu Cảnh cũng hiểu không thể cung cấp thép được, lương thực thì tạm thời có thể đáp ứng, quan trọng hơn đợi sau khi công chiếm Lũng Hữu thì lại cùng Khương Đê thảo luận cũng không muộn.

Lúc này Mã Siêu lại đề nghị:

- Nếu Châu Mục không chọn được người thích hợp, vi thần đề cử đệ đee của tại hạ là Mã Đại đi sứ, đệ ấy và người Khương có quan hệ khá tốt, chắc có lẽ sẽ không phụ lòng phó thác của Châu Mục.

Lưu Cảnh gật gật đầu ra lệnh:

- Nhanh chóng cho gọi Mã Đại tướng quân đến gặp ta.

Một trăm ngàn đại quân của Tào Tháo đã đến Phàn Thành gần hai mươi ngày, đóng quân ở bờ Bắc Hán Thủy. Lúc này Phàn Thành, Đặng Huyện, Tân Dã và thị trấn Giang Bắc đều bị quân Tào san thành bình địa, thanh thế quân Tào khá lớn, hoàn toàn khống chế thành Tương Dương tại bờ nam Hán Thủy.

Mà viện quân của quân Hán cũng lần lượt đến thành Tương Dương, năm nghìn thủy quân Cam Ninh cùng mười lăm ngàn quân Giang Lăng cũng lần lượt chạy đến Tương Dương, quân Hán ở Tương Dương tăng lên ba vạn người. Văn Sính lệnh Thái Tiến dẫn ba nghìn quân đến phòng ở Quận Phòng Lăng phối hợp cùng đội quân Bàng Đức, phòng ngừa quân Tào từ quận Phòng Lăng vượt sông.

Mặc quân dù Tào đang trên thế áp đảo quân Hán nhưng quân Hán có thủy quân có thể khống chế được Hán Thủy, khiến quân Tào không thể vượt sông, nhưng qua thời gian dài, tìm phòng ngự quân Hán chắc chắn sẽ xuất hiện lỗ hổng.

Tối hôm đó, hơn một ngàn chiếc xe bò chở đồ quân nhu dọc theo bờ Bắc Hán Thủy tiến về hướng phía Đông Nam, hai bên xe bò có mấy ngàn quân Tào hộ vệ, sau vài dặm có hai vạn quân Tào đi theo, đây là đặc thù của việc vận chuyển quân lương. Trên mỗi chiếc xe bò đều dùng vải bao trùm, có vẻ vô cùng bí ẩn, trên chiếc xe bò vận chuyển cũng không phải lương thảo cũng không phải quân giới mà chính là sáu trăm thuyền nhỏ.

Thuyền nhỏ này được chế tạo bí mật ở quận Nam Dương, thời gian một năm mới làm xong, khi Tào Tháo xuôi Nam cũng không nóng lòng đưa ra vũ khí bí mật này, mà là đóng quân hai mươi ngày, đợi phòng ngự của quân Hán tại Tương Dương lơi lỏng chút lão mới xuất vũ khí bí mật ra.

Vì Quân Tào đã khống chế được Bỉ Thủy, đội thuyền này dọc theo Dục Thủy và Bỉ Thủy nam hạ, khi còn cách Hán Thủy khoảng chừng hai mươi dặm sẽ kéo lên bờ, sau đó dùng xe bò thồ đi. Tào Tháo cũng không định vượt sông ở Tương Dương, lão ta biết rằng chiến thuyền quân Hán sẽ không để cho lão có một cơ hội nào, nhưng quân Hán ở huyện Nghi Thành không có thủy quân, chính thế nên lão lợi dụng điều này dùng sáu trăm thuyền lập cầu nổi khiến đại quân có thể sang sông.

Điều này chính là lỗ hổng phòng ngự của quân Hán, tuy rằng chiến thuyền quân Hán phong tỏa các cửa sông, nhưng có nằm mơ quân Hán cũng không nghĩ quân Tào vận chuyển thuyền đi bằng đường bộ. Chính thế nên mặc dù chiến thuyền quân Hán có tuần tra trên sông Hán Thủy nhưng vì quân Tào đã áp sát Phàn Thành, đại bộ phận chiến thuyển Hán Thủy được điều đi Phàn Thành khiến cho chiến thuyền tuần tra ở Hán Thủy tương đối giảm.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 621-2: Xe bò vượt sông (2)


Nguyên bản một đội tàu tuần tra phụ trách trăm dặm trên mặt sông, mà hiện tại thuyền trinh sát tuần tra không đủ, đổi thành một chi đội tàu phụ trách ba trăm dặm trên mặt sông, khoảng cách này quá dài, trên mặt sông bên ngoài huyện Nghi Thành sẽ xuất hiện thời gian tuần tra ước chừng ba canh giờ tuần tra một vòng.

Cứ như vậy quân Tào liền nắm được chỗ sơ hở này lợi dụng trong vòng ba canh giờ này có thể tránh được sự tuần tra trinh sát của quân Hán trên mặt nước, có thể qua sông từ trung đoạn Hán Thủy.

Quan trọng hơn là chiến thuyền quân Tào phải đi qua Bỉ Thủy tiến vào Hán Thủy, mà Cam Ninh cũng biết trinh sát tuần tra không đủ cho nên y phái binh lính phong tỏa cửa sông Bỉ Thủy, bảo đảm thuyền của quân Tào không thể tiến vào Hán Thủy.

Nhưng quân Hán đã không ngờ rằng Tào Tháo lại vận chuyển thuyền bằng đường bộ vào Hán Thủy. Trên thực tế trong trận chiến Xích Bích, quân Tào cũng đã sử dụng phương pháp này, mang thuyền từ Vân Mộng Trạch đi đường bộ đến Trường Giang, còn lần này Tào Tháo làm càng bí mật hơn.

Bờ Bắc Hán Thủy là một vùng gò đất liên miền chập chùng, người ở thưa thớt, rừng rậm phân bố mênh mông vô bờ, đoàn xe của quân Tào chỉ có thể đi dọc vùng đất ven sông hẹp dài, trên đường đi bắc cầu sửa đường, đẩy mạnh tốc độ đi về hướng bến đò huyện Nghi Thành ngoài trăm dặm.

Lúc này khoảng canh tư, đội ngũ rốt cuộc cũng đã đến bến đò huyện Nghi Thành, chỉ thấy bờ tối đen như mực, bến tàu không nhìn thấy người, mặt sông cũng trống trơn không có một con thuyền nào cả, dưới ánh trăng có thể trông thấy mơ hồ hình dáng thị trấn bên kia.

Lúc này có binh lính chạy vội về hướng phía sau bẩm báo với chủ tướng Trương Liêu. Trương Liêu mang theo mấy trăm cận vệ chạy lên bến tàu, y cẩn thận quan sát tình huống bờ bên kia, mọi chuyện đúng như dự liệu của Thừa tướng. Thuyền thám thính của quân Hán còn tuần tra ngoài trăm dặm phía nam, ít nhất trong vòng ba canh giờ sau mới quay lại, nơi này quả nhiên là lỗ hổng phòng ngự của quân Hán.

Trương Liêu khoát tay nói:

- Nhanh chóng dựng cầu nổi.

Đội lính công sự nhanh chóng tháo bỏ thuyền từ xe bò xuống, thuyền nhỏ được dùng riêng biệt để tạo cầu nổi, trái phải đầu thuyền đuôi thuyền đều có xích sắt, chỉ cần cài xích sắt lại là thuyền có thể nối đuôi nhau trong nước.

Sáu trăm chiến thuyền nhanh chóng sắp hành trên sông, từng khối tấm ván gỗ chuyên dụng được đặt lên trên thuyền nhỏ, hình thành cầu nổi thẳng tắp nối liền với bờ bên kia.

Ba nghìn binh lính công sự làm việc nhanh chóng, thuần thục, bọn họ ở Nam Dương đã được huấn luyện qua nhiều lần, cầu nổi bình thường dựng nhanh nhất cũng hai canh giờ nhưng bọn họ chỉ cần một canh giờ đã hoàn thành.

Ánh mắt Trương Liêu chăm chú nhìn vào cầu nổi đang dần hình thành, vì chuẩn bị hai cầu tòa nổi này mà y đã tiêu hao một năm ròng, đó là tất cả tâm huyết của y. Hôm nay rốt cuộc hai tòa cầu nổi cũng phát huy tác dụng, trong lòng Trương Liêu cảm thấy kích động khó nói ra lời.

Y khẽ thở dài, chỉ mong Nam chinh lần này có thể thành công.

Một lúc sau Công sự Giáo úy chạy đến trước mặt Trương Liêu chắp tay bẩm báo:

- Khởi bẩm tướng quân, cầu nổi đã hoàn thành.

Trương Liêu mừng rỡ nhanh chóng bước đến bến tàu, đã thấy hai cầu nổi dài nằm ngang trên mặt sông, Hán Thủ luôn xem được xem là lạch trời Kinh Châu, hôm nay rốt cuộc cũng bị bọn họ chinh phục.

Trương Liêu quay đầu quát lớn:

- Truyền mệnh lệnh của ta, toàn quân bắt đầu xếp thành hàng vượt sông.

Ba vạn quân Tào sớm xếp thành hàng bắt đầu trùng trùng điệp điệp vượt qua sông Hán Thủy, tiến về hướng bờ Nam Hán Thủy.

Đúng lúc này, đầu thành của huyện Nghi Thành đột nhiên khói lửa bốc lên, quân coi giữ huyện Nghi Thành rốt cuộc cũng phát hiện ra quy mô vượt sông của quân Tào.

..........

Đầu thành Tương Dương, đêm nay Giả Hủ cảm thấy không yên lòng, y một mình đi qua đi lại đầu thành, khoanh tay nhìn chăm chú vào Tào doanh bờ bên kia Hán Thủy. Đã hai mươi ngày trôi qua, Tào Tháo lại thủy chung án binh bất động, điều này khiến Giả Hủ cảm thấy hoang mang, y và Tào Tháo biết nhau nhiều năm, y biết được với tính cách của Tào Tháo tuyệt sẽ không làm những điều vô nghĩa.

Giống như hiện tại việc quân Tào hạ trại ở thành Bắc, hủy diệt Phàn Thành và Đặng huyện nhưng lại không thể vượt sông thì có ý nghĩa gì? Chẳng lẽ chỉ với như thế mà Lưu Cảnh sẽ buông tha Bắc chinh? Tào Tháo không khỏi quá ngây thơ rồi.

Nhưng với mưu lược và phong cách của Tào Tháo, lão ta không có khả năng chỉ làm việc phô trương thanh thế, Giả Hủ âm thầm cân nhắc, chẳng lẽ Tào Tháo có tính toán khác?

- Quân sư đang nghĩ gì thế?

Chẳng biết tự lúc nào Văn Sính đã đứng ngay bên cạnh Giả Hủ.

Giả Hủ thở dài nói:

- Ta có một loại cảm giác bất an, có lẽ chúng ta quá xem thường Tào Tháo rồi.

- Sao quân sư lại có cảm giác này?

- Ta cũng không rõ lắm nhưng đã hai mươi ngày rồi Tào Tháo lại không có bất kỳ động tĩnh nào, nếu lão phô trương thanh thế với mục đích làm chúng ta sợ mà phải xé bỏ hiệp ước ngưng chiến, quyết định như thế Tào Tháo sẽ mất nhiều hơn được, đấy tuyệt nhiên không phải là phong cách của lão, lão biết rõ xé bỏ hiệp nghị có hậu quả nghiêm trọng thế nào.

Văn Sính trầm ngâm một chút hỏi:

- Quân sư nói thế, vậy là lão ta có ý đồ khác ư?

Giả Hủ gật đầu:

- Nhất định là như vậy, nếu không lão không còn là Tào Tháo nữa.

Vừa dứt lời đã thấy một tên lính vừa chạy vào chỉ hướng Đông hô to:

- Khói, Văn tướng quân, phía Đông xuất hiện khói lửa báo động.

Giả Hủ và Văn Sính cùng nhìn hướng Đông, đã thấy xa xa ánh lửa ngút trời, đúng là phong hỏa đài vùng ven sông có lửa đốt lên. Lúc này trong lòng Giả Hủ trầm xuống cảm giác không ổn, nhất định huyện Nghi Thành đã xảy ra chuyện rồi.

Sắc mặt Văn Sính trong nháy mắt đã trắng bệt, ông cũng ý thức được bên kia Huyện Nghi Thành xảy ra chuyện. Huyện Nghi Thành phòng ngự cực kỳ mỏng, quân coi giữ không đến một ngàn người, căn bản không thể bảo vệ thị trấn, nhưng Quân Tào vượt sông thế nào? Con thuyền từ đâu mà ra?

Trong lòng Văn Sính vô cùng khẩn trương, quay đầu lại hỏi Giả Hủ:

- Quân sư, hẳn là Nghi Thành đã xảy ra chuyện, không biết Quân Tào làm thế nào mà qua sông được?

Giả Hủ bình tĩnh hơn Văn Sính, y nhanh chóng cân nhắc một lát sau trầm giọng nói:

- Hiện tại tạm thời không cần lo Quân Tào vượt sông thế nào, một khi Quân Tào vượt được sông, binh lính tuyệt nhiên không ít hơn vạn người, cho nên việc cần thiết lúc này là nhanh chóng chặn Quân Tào Bắc Thượng Tương Dương.

Văn Sính gật gật đầu, ổn định lại tinh thần, ông lập tức ra lệnh:

- Truyền lệnh của ta, lệnh Hoàng Hân phải cản được Quân Tào Bắc thượng.

Quân Hán hạ một tòa quân doanh cách phía bắc Nghi Thành ba mươi dặm, đóng quân một ngàn người do Nha tướng Hoàng Hân thống lĩnh, tuy rằng nhân số không nhiều nhưng có thể làm chậm bước thời gian Quân Tào Bắc thượng.

Đúng lúc này đám người Cam Ninh cùng Thái thú Thái Diễm cũng chạy đến, Cam Ninh đã hiểu rõ tình huống, y là Đô đốc thủy quân của quân Hán, việc phòng ngự thủy quân do y phụ trách. Cam Ninh đối với việc phòng ngự Hán Thủy rõ như lòng bàn tay, y đã ý thức được vấn đề ở chỗ nào, nhất định Quân Tào đã từ nơi cách trinh sát tuần tra Hán Thủy quá dài, từ Huyện Nghi Thành vượt sông rồi. Toàn bộ Hán Thủy có ba nơi vượt sông, Huyện Nghi Thành là nơi đứng đầu.

Cam Ninh hoảng sợ vô cùng, người toát mồ hôi lạnh, y nghĩ đến không phải Tương Dương mà là Giang Hạ, trước mắt Giang Hạ chỉ có mười lăm ngàn quân phân bố ở Vũ Xương, Sài Tang, Hán Khẩu, một khi Quân Tào thẳng hướng đến Giang Hạ thì hậu quả không thể lường được.

Y vội tiến đến nói với Giả Hủ:

- Giang Hạ nguy cấp, bỉ chức nhất định phải lập tức dẫn thủy quân xuôi Nam, phá hủy chiến thuyền của Quân Tào, phá hủy cầu nổi, xin quân sư hạ lệnh.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 622: Tương Dương gặp nguy (thượng)


Giả Hủ trầm ngâm một chút nói:

- Phàn Thành cũng cần lưu lại thủy quân, chỉ cần một đội chạy đến Huyện Nghi Thành phá hủy cầu nổi vượt sông của quân Tào là được. Mặc khác, Cam tướng quân có thể lệnh thủy quân Giang Hạ chuẩn bị trong trạng thái chiến đấu, bất cứ lúc nào cũng phải tuần phòng mặt sông.

- Nhưng ta rất lo lắng quân Tào sẽ tiến đến Giang Hạ, Giang Hạ là nơi chúng ta khởi binh, phòng ngự so với Tương Dương tương đối yếu, nếu chẳng may.....

Không đợi Cam Ninh nói xong Giả Hủ cười nói:

- Nếu Quân Tào muốn tiến công Giang Hạ thì phải trải qua đại chiến Xích Bích lần nữa, yên tâm đi, lần này bọn họ sẽ không tấn công Giang Hạ, nhất định là tấn công Tương Dương, Cam tướng quân không cần lo lắng.

- Bỉ chức hiểu rồi.

Cam Ninh chắp tay thi lễ:

- Bỉ chức dẫn chiến thuyền đến Huyện Nghi Thành.

Cam Ninh vội vàng xuống thành, lúc này Giả Hủ lại nói với Thái Diễm:

- Quân Tào hẳn mới đến Huyện Nghi Thành, ít nhất phải đến xế chiều ngày mai mới có thể đến được Tương Dương, xin Thái thú hãy lập tức ra ngoài thành di dời và hướng dẫn dân chạy nạn vào thành, phải nhanh chóng, vứt bỏ mọi thứ, chỉ cần bảo toàn tính mệnh là được.

Thái Diễm gật đầu nhanh chóng xoay người cùng Đổng Doãn đi ra ngoài thành. Giả Hủ lại nói với Văn Sính:

- Nếu Cam tướng quân có thể kịp thời phá hủy cầu nổi nơi Quân Tào qua sông thì vấn đề không nghiêm trọng, nhưng dù có thế nào chúng ta cũng phải tính đến tình hình xấu nhất. Văn Sính tướng quân phải nhanh chóng bố trí phòng thủ, mặt khác phái một đội quân giúp đỡ dân chạy nạn ngoài thành lui vào trong thành, gắng sức mang theo của cải vật chất vào thành.

Giả Hủ lại thở dài, bọn họ đúng quá khinh thường Tào Tháo rồi nên mới bị kết quả nghiêm trọng như thế, Giả Hủ y phải gánh vác trách nhiệm chủ yếu, nghĩ thế nên Giả Hủ lại nói với Văn Sính:

- Ta sẽ bẩm báo việc này với Châu Mục, gánh hết thảy mọi trách nhiệm, Văn tướng quân cứ làm hết sức đi.

Văn Sính yên lặng gật đầu, chuyện này cũng có phần trách nhiệm của ông, cũng có trách nhiệm của Cam Ninh, chỉ có điều Văn Sính không muốn nói nhiều nhanh chóng xoay người đi ra đầu thành bố trí phòng

Lúc này ba vạn quân phòng thủ Tương Dương được huy động toàn bộ, thành Tương Dương cảnh báo bằng tiếng nổ lớn, nhiều đội binh lính chạy vội lên thành, hai vạn quân đội nhanh chóng ứng phó, được bố trí các điểm phòng ngự.

Cửa thành nam cũng đã mở, mấy ngàn dân chạy nạn hoảng sợ từ ngoài thành chen chúc len vào, hầu hết các vật dụng đều để lại, nhiều người trong tay cầm một tay nải hô hào gọi vợ con, tiếng thét chói tai, tiếng la khóc vang trời, nơi cửa thành vô cùng hỗn loạn, ngay cả binh lính duy trì trật tự bị chen lấn cũng luống cuống tay chân.

Trên mặt sông ngoài thành, trăm chiến thuyền đã mang hai ngàn thủy quân rời khỏi Tương Dương, từng chiến thuyền đã giăng buồm, xếp thành hàng chạy về hướng Nghi Thành.

Ở bến tàu Phàn Thành Giang Bắc, Tào Tháo khoanh tay đứng trên tòa đài cao nhìn chăm chú vào thế cục biến hóa bên kia sông, lúc này lão đã nhìn thấy vùng ven sông khói lửa cảnh báo nghi ngút, cũng nghe được âm thanh cảnh báo từ thành Tương Dương truyền đến. Khóe miệng Tào Tháo nhếch lên cười lạnh một tiếng, quân Hán nghĩ vấn đề đơn giản chẳng lẽ không có chiến thuyền nào có thể vượt qua được sông Hán Thủy sao? Đây không phải là Trường Giang.

Con thứ Tào Chương nhỏ giọng nói:

- Phụ thân, nhi thần cân nhắc kỹ rồi, nếu tấn công Giang Hạ có lẽ thu hoạch được lớn hơn, dù sao thành Tương Dương cũng khá vững chắc, lại có hai vạn quân đóng ở nơi đó, công phá nó không phải là chuyện dễ dàng.

Tào Tháo lắc lắc đầu.

- Vấn đề này phụ thân đã nghĩ qua, chúng ta có thể công phá Hạ Khẩu, thậm chí có thể đánh hạ Vũ Xương thu hoạch không nhỏ, nhưng dù sao Giang Hạ cũng không phải trung tâm quân chính của Lưu Cảnh, địa vị kém so với Tương Dương, nếu tình thế Tương Dương nguy cấp quân Hán dù thế nào cũng sẽ nhanh chóng về cứu viện, hơn nữa quân đội xâm nhập vào Giang Hạ quá sâu, chúng ta không có thủy quân trợ giúp, sợ sẽ có thất bại, còn Tương Dương thì chúng ta có thể tiếp ứng được.

Kỳ thật Tào Tháo không nói ra lần tấn công Kinh Tương này khá gấp gáp lần này, lão ta cũng không chuẩn bị chu đáo. Chỉ dựa vào mấy vạn quân đội của Trương Liêu đã không thể tấn công được toàn bộ Kinh Châu, huống chi mục đích chiến dịch lần này chủ yếu của lão là kiềm chế Tây tuyến quân Hán.

Nghĩ vậy, Tào Tháo lại nhìn qua con trai, nhận ra được trong ánh mắt tràn đầy khát vọng chiến đấu của gã, Tào Tháo vỗ nhẹ lên vai gã cười nói:

- Một ngày nào đó chúng ta sẽ quét xuống phía Nam thống nhất thiên hạ nhưng không phải là bây giờ, hy vọng ngày đó con có thể thay vi phụ đánh tan quân Hán lập nên sự nghiệp to lớn.

Tào Chương hiểu được ý của phụ thân, cuộc đại chiến này không muốn gã tham gia, trong lòng gã cảm thấy có chút hụt hẫng nhưng cũng đành phải gật đầu.

- Nhi thần cũng hy vọng ngày đó có thể sớm đến.

Sau khi Trương Liêu dẫn ba vạn đại quân vượt qua Hán Thủy gần như không tốn quá nhiều sức liền có thể công phá huyện Nghi Thành, cướp được hai vạn thạch lương thực giữ trong trấn.

Trương Liêu lợi dụng huyện Nghi Thành để làm nền móng tấn công Tương Dương, lệnh phó tướng Vu Cấm dẫn năm ngàn người đóng ở huyện Nghi Thành, y tự mình dẫn hai vạn năm ngàn người tiếp tục hướng Bắc mà tiến.

Lúc này mới tờ mờ sáng, quân Tào đang hăng hái hành quân trên quan đạo dài ước chừng hơn mười dặm ở huyện Nghi Thành tiến về hướng Tương Dương, hai bên đường là bờ ruộng lúa mạch mênh mông. Ruộng lúa gieo đã lâu nên lúc này mầm đã phát triển, nhiều nông dân trời chưa sáng đã bắt đầu ra đồng làm.

Nơi quân Tào đi qua đều khiến nông dân đều hoảng sợ buông cuốc, nhìn chăm chú vào đội quân xuất hiện, trong lòng đầy bất an. Hiển nhiên bọn họ không giống quân Hán nhưng mọi người dù thế nào cũng không nghĩ đột nhiên Quân Tào lại xuất hiện ở Kinh Châu.

Tuy nhiên vẫn có một vài nông dân thông minh bỏ lại cuốc chạy như bay về hướng nhà.

Trước đó không xa có một xóm nhỏ ước chừng dưới trăm gia đình sinh sống, nơi này là Tưởng Lý, hầu hết là họ Tưởng chiếm đa số, lúc này một gã kỵ binh chạy đến trước mặt Trương Liêu nói vài câu.

Trương Liêu ngẩn ra, mặt y giận dữ, hắn giục ngựa chạy về hướng thôn xóm, hơn trăm kỵ binh thân vệ nhanh chóng theo sau.

Trước một hộ gia đình bên thôn, mười mấy tên binh lính quân Tào vây quanh ở cửa, năm tên lính quân Tào đang quỳ gối, hai tay trói sau lưng cúi thấp đầu, mỗi người ai cũng thấp thỏm lo âu.

Lúc này có binh lính cao giọng:

- Tướng quân đến rồi.

Quân Tào đứng giãn ra, Trương Liêu giục ngựa chạy tới, y xoay người xuống ngựa mặt hầm hầm đi vào sân, đây là một hộ giàu có, nhà có kho thóc có hai con trâu.

Trong sân có năm thi thể, một lão nhân, một đôi vợ chồng trung niên, hai thiếu nữ trẻ tuổi. Có thể thấy được hai thiếu nữ bị đạp chết, phụ nữ trung niên có dấu viết bị làm nhục mà chết.

Trong phòng đồ đạc lộn xộn, vết máu loang lổ khắp nơi, những thứ đáng giá đều được bọc lại.

Trương Liêu xoay người bước nhanh đến cửa chính, năm tên lính quân Tào này được lệnh tuần tra, có một đồn trưởng dẫn đầu, khi đi ngang qua gia đình này đã nảy sinh ác ý.

Trương Liêu không nói lời nào, vung roi quất thật mạnh lên trên mặt năm người này, bọn chúng sợ tới mức dập đầu cầu xin tha thứ:

- Tướng quân, tha cho chúng ta đi, chúng ta thật không dám nữa.

Tên đồn trưởng dập đầu nói:

- Tướng quân, tại hạ là đồng hương của Tử Liêm tướng quân, xin tướng quân nể mặt Tử Liêm mà tha cho tại hạ.

Tử Liêm tướng quân chính là Tào Hồng, Trương Liêu thấy gã lấy Tào Hồng ra dọa y, trong lòng y càng thêm căm tức. Lúc này, phó tướng Lý Điển cũng chạy tới, y vội vàng đưa mắt liếc nhìn Trương Liêu một cái, Trương Liêu cũng không thèm nhìn quay đầu ra lệnh cho binh lính:

- Mang năm người này ra chém đầu cho ta, truyền lệnh cho ba quân ai dám cướp bóc dân chúng, hãm h**p con nhà lành thì hãy lấy điều này làm gương.

- Tướng quân tha mạng, tha mạng.

Năm tên lính liều lĩnh xin tha mạng, binh lính hùng hổ kéo năm người này đi. Lúc này binh lính quân Tào mới dẫn Lý trưởng và hơn mười lão nhân dẫn đến.

Lý Trưởng là người đàn ông trung niên khoảng chừng hơn bốn mươi tuổi, ông ta cúi đầu không nói một lời, phía sau mười người già cũng giống như ông ta chỉ cúi đầu không nói lời nào nhưng trong ánh mắt tràn đầy căm phẫn.

Trong lòng Trương Liêu thở dài, chắp tay nói:

- Xin các vị thứ lỗi, Trương Liêu trị quân không nghiêm nên mới gây cái sự việc thảm khốc này, xin bà con cô bác yên tâm, quân Tào sẽ không tái phạm nữa.

Rất nhanh, đầu của năm binh sĩ quân Tào được đưa đến, Trương Liêu sai người mang đi khắp địa phương để thị chúng, y thì trở mình lên ngựa, giục ngựa chạy ra con đường lớn.

Lý Điển cũng giục ngựa chạy đến bên cạnh Trương Liêu thở dài nói:

- Tên quan quân kia đã nói rồi sao ngươi còn giết hắn, không phải ngươi tự dưng muốn đắc tội với người ta sao? Ngươi cũng biết người kia không dễ nói chuyện chút nào.

Lý Điển không đề cập đến tên của Tào Hồng, y tin tưởng Trương Liêu hiểu được ý của y. Trương Liêu ghìm chặt chiến mà lạnh lùng nói:

- Lưu Cảnh còn biết mang mười vạn binh lính thả ra nhằm thu mua lòng người phương Bắc, chẳng lẽ chúng ta làm tướng lĩnh lại có thể tùy tiện hủy diệt thanh danh của Thừa tướng sao?

Nói xong y không thèm nhìn Lý Điển, nhanh chóng giục ngựa chạy đến đội ngũ phía trước. Lý Điển nhìn bóng lưng y chạy đi không khỏi lắc đầu, vì một chuyện nhỏ mà đắc tội với Tào Hồng thật sự không khôn ngoan chút nào, Văn Viễn thật sự có hơi làm quá rồi.

Quân Tào tiếp tục Bắc thượng, rất nhanh bọn họ đã gặp trở ngại thứ nhất, đó là quân đội đóng ở trấn Bình An cách phía Bắc huyện Nghi Thành ba mươi dặm.

Trấn Bình An cách Tương Dương khoảng trăm dặm, nơi này có hai con đường giao nhau, một con đường đi Giang Hạ, một con đường thông Nam Quận, vị trí địa lý vô cùng quan trọng, quân Hán đóng quân nơi này một ngàn người.

Quân doanh được dựng nên ước chừng hai trăm mẫu đất, cao hai trượng, được xây dựng vô cùng vững chắc. Chủ trướng Hoàng Hân là cháu của Hoàng Trung, tuổi chừng ba mươi mấy, rất giống bá phụ Hoàng Trung, sử đụng Kim bối hổ đao, tác chiến khá dũng mãnh, trong quân Hán có danh tiếng khá lớn.

Y đã nhận được mệnh lênh khẩn cấp của Văn Sính cần phải liều chết thủ doanh trại ngăn chặn quân Tào, tận lực để kéo dài thời gian cho Tương Dương chuẩn bị cuộc chiến.

Hoàng Hân tay cầm chuôi đao đứng trên đầu thành, y thấy được từ xa quân Tào kéo đến đen nghịt, y nắm chặt chuôi đao quát lớn:

- Đại trượng phu chết trận sa trường có gì phải hối tiếc chứ! Các huynh đệ, hãy cùng ta huyết chiến với quân Tào, tuyệt không lùi bước.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 623: Tương Dương gặp nguy (hạ)


Hai vạn năm nghìn quân Tào rốt cuộc cũng đã đến doanh trại quân Hán, cách khoảng chừng hai trăm dặm thì dừng lại. Lúc này Lý Điển giục ngựa đến trước mặt Trương Liêu chắp tay nói:

- Tướng quân, nơi này quy mô doanh trại cũng không lớn, nhiều nhất cũng chỉ hơn ngàn người, chúng ta không cần để ý lắm, cứ tiếp tục bắc thượng Tương Dương.

Trương Liêu lắc đầu:

- Nếu không tiêu diệt chỗ này ắt sẽ thành mũi nhọn tấn công sau lưng chúng ta, cũng tổn hại đến vận chuyển lương thực của chúng ta, tối đa một canh giờ ta chắc chắn san quân doanh này thành bình địa.

Trương Liêu không chấp nhận đề nghị của Lý Điển, ra lệnh:

- Tấn công bốn phía cho ta.

Chủ tướng ra lệnh nhưng thi hành lệnh cụ thể lại là phó tướng, bất đắc dĩ Lý Điển đành phải cho hai vạn quân từ bốn phía đồng thời tấn công về hướng doanh trại quân Hán.

Tiếng trống quân Tào vang như sấm, hai vạn Quân Tào như thủy triều hướng về đại doanh quân Hán mà khởi động tấn công, bốn phía tên bắn về phía doanh trại che phủ cả mặt đất, máy ném đá thay nhau ném vào doanh trại, tảng đá lớn đập trúng tường liên tiếp không ngừng, chỉ trong chốc lát tường doanh không chịu được lực khi đá bắn vào, chỉ trong nháy mắt đã xuất hiện hai lỗ thủng rộng hai trượng.

Binh lính Quân Tào reo hò tiến về phía doanh trại quân Hán, một ngàn quân Hán cũng phân theo bốn phía dùng cung tiễn bắn trả. Tuy rằng không ngừng bắn về phía Quân Tào nhưng binh lực Quân Tào rất mạnh, bọn họ không thể nào ngăn cản được lực tấn công của Quân Tào.

Bên trong mưa tên dày đặc binh lính quân Hán phòng ngự bị tên bắn trúng không ngừng kêu thảm thiết té xuống tường. Trong chốc lát, binh lính Quân Tào như cơn sóng dữ dâng trào, khi đến dưới tường thành đã dựng lên hơn mười cái thang, binh lính Quân Tào điên cuồng bám lên trước, tay cầm tấm chắn và trường mâu, quân Hán trên tường cũng chiến đấu liều chết giữ thành.

- Nhanh đi bẩm báo với Hoàng tướng quân, quân ta sắp không chống nổi rồi.

Gã quân hầu thủ ở phía Đông thành rống to.

Một tên binh lính chạy như điên về tường trại phía Nam, nhưng lúc này tình huống tường trại phía Nam càng nguy cấp hơn. Bốn máy bắn đá cùng hoạt động khiến cho đội quân Hán phòng ngự càng thêm khó khăn, tảng đã lớn bay đến đập vỡ tường tạo lỗ hổng lớn. Lúc này máy bắn đá ngừng tấn công lại nhưng mấy ngàn Quân Tào lại tấn công đến lỗ hổng đó, tên bắn dày đặc.

Nơi lỗ hổng đó có hơn trăm quân Hán tay nâng tấm chắn cùng trường mâu đón đỡ, hai bên tường trại có mười mấy tên lính Hán hướng bên ngoài bắn tên khiến binh lính Quân Tào leo lên cũng nhanh chóng rơi xuống, nhưng điều này cũng chỉ duy trì trong chốc lát, mấy ngàn Quân Tào xông vào lỗ hổng đánh chiếm, tiếng vũ khí chạm nhau nghe khá lớn. Ngay sau đó là tiếng binh lính bị đâm trúng kêu lên thảm thiết, hai bên đánh nhau kịch liệt ở lỗ hổng kia.

Tiếng trống quân Tào vang lên như sấm, tấn công từng đợt như sóng trào, quân Hán thật sự khó duy trì được, nguy cơ bốn phía:

- Hoàng tướng quân.

Binh lính báo tin chạy vội tới hô lớn:

- Phía Đông chúng ta khó có thể duy trì được, xin hãy cho viện trợ.

Hoàng Hân vừa quay đầu lại đã thấy quân Tào đánh giết doanh trại phía Đông rồi, mấy ngàn binh lính Quân Tào đã nuốt sống đội quân Hán phòng thủ, y lại nhìn phía Bắc, trên doanh tường cũng có quân Tào tràn ngập khắp nơi, đại kỳ màu lam của Quân Tào đã cắm trên đầu thành.

Đúng lúc này mấy trăm binh lính Quân Tào dùng dây thừng bao lấy doanh tường, cùng nhau dùng sức, đột nhiên nghe tiếng nổ ầm ầm vang lên, đại quân doanh đã bị kéo đổ, bụi đất bay tung tóe. Trong bụi đất tràn ngập hơn một ngàn quân Tào đánh vào doanh trại, đại thế đã mất, Hoàng hân hét lớn một tiếng:

- Các huynh đệ, theo ta chiến đấu đến giây phút cuối cùng.

Hoàng Hân trở mình lên ngựa múa đại đao hướng Quân Tào đánh tới, phía sau hơn trăm binh lính reo hò tấn công vào mấy ngàn binh lính Quân Tào. Thời gian dần qua, bọn họ bị Quân Tào bao vây tứ phía.

Chưa đầy một canh giờ, hai vạn quân Tào đã công chiếm doanh trại quân Hán chặn đường, một ngàn quân Hán bị tiêu diệt hoàn toàn, chủ tướng Hoàng Hân chết trong loạn quân, chỉ có vài chục tên lính chạy thoát ra khỏi đại doanh trốn về hướng Tương Dương.

Theo mệnh lệnh của Trương Liêu, hai vạn năm nghìn Quân Tào san doanh trại quân Hán thành bình địa. Bọn họ lại xếp thành hàng, lại đằng đằng sát khí tiếp tục tiến về hướng thành Tương Dương.

Thành Tương Dương qua một đêm và buổi sáng sơ tán khẩn cấp, hơn vạn dân chạy nạn ngoài thành gần Tương Dương đều đã rút vào trong thành, binh lính quân Hán cũng đã mang vật tư, lều trại, lương thực, xe ngựa vận chuyển những vật tư này vào thành, phải đến giữa trưa thành Tương Dương mới có thể đóng cửa được.

Lúc này hai vạn quân coi giữ đã tiến đến nhận nhiệm vụ phòng thủ thành, quan phủ Tương Dương đã chiêu mộ trong dân chúng hơn ba vạn thanh niên cường tráng tham gia giữ thành. Tất cả thanh niên cường tráng, dân phu đều được chia khôi giáp cùng binh khí đứng khắp trên đầu thành, nơi nơi có thể thấy được dân phu đang được xếp thành hàng huấn luyện.

Văn Sính cưỡi ngựa mang theo hơn trăm vệ binh tuần tra chung quanh thành, ông thật sự tin tưởng vào sự phòng thủ của Tương Dương. Tương Dương đã được Lưu Biểu tu sửa bốn lần, sau khi đến Tương Dương Lưu Cảnh lại tiến hành sữa chữa tường thành phòng ngự, tu sửa các lỗ hổng, mở rộng sông đào bảo vệ thành khiến thành Tương Dương trở nên chắc chắc hơn. Thành trì vững chắc, dễ thủ khó tấn công, phòng thủ kiên cố và được mệnh danh là "Tường sắt Tương Dương".

Thành Tương Dương có chu vi ước chừng bốn mươi dặm, được xưng là đệ nhất đại thành Kinh Sở, có nội thành và ngoại thành, tường thành ngoài cao ba trượng, tường nội thành cao hai trượng tám thước, tường trong và tường ngoài cách nhau hơn hai trăm bước, ở giữa được xây dựng quân doanh cho binh lính nghỉ chân, trong ngoài tường thành liên kết thông qua Ủng thành của hai tòa thành môn Nam Bắc.

Nhưng thành Tương Dương kiên cố nhất cũng chính vì có được sông hào bảo vệ thành, bốn phía được sông hào bảo vệ thành, từ Đàn Khê dẫn nước đến hộ thành Hà Nội. Sông hào bảo vệ thành rộng hơn mười trượng, sâu hơn năm trượng, thành phía Đông rộng nhất có chỗ sâu hơn hai mươi trượng, chiến thuyền có thể chạy vào nên có thể nói trong thiên hạ sông hào bào vệ thành này là duy nhất.

Bốn cửa thành đều có cầu treo, phòng ngự khá nghiêm ngặt nên thành Tương Dương từ xưa đến giờ trở thành nơi kiên cố khó phá nhất.

Lúc này Vi Đoan dừng ở Nam thành, khá hăng hái chăm chú nhìn một đội quân hơn ba trăm người tiến hành huấn luyện cung tiễn, đội ngũ này là người tự nguyện được lựa chọn trong ba ngàn sĩ tử từ thư viện Tương Dương. Bọn họ ai cũng thân thể cường tráng, bình thường đọc sách luyện võ hôm nay rốt cuộc cũng có cơ hội giết giặc. Họ được trang bị mũ giáp áo giáp đầy đủ, tay cầm cung tiễn, nhận được mệnh lệnh quân sĩ sẽ bắn tên ra ngoài thành.

Thủ lĩnh nhóm quân sĩ này trong quân Hán khá nổi danh, chính là Đặng Ngải. Đặng Ngải văn võ song toàn, từ nhỏ y đã dấn thân vào thư viện Lộc Môn, là môn sinh được Bàng Đức Công thích nhất, đồng thời y cũng theo Triệu Vân học võ, sử dụng ngân thương xuất thần nhập hóa, năm nay mới mười bảy tuổi y đã trở thành quân lính trẻ nổi bật nhất của quân Hán.

Nhiều lần Đặng Ngải muốn gác bút nghiên theo binh đao nhưng đã bị Lưu Cảnh kéo về thư viện buộc phải học sâu hơn, còn Văn Sính lại cực kỳ thích y, bổ nhiệm y làm Tham quân dưới trướng mình, điều này tạo cho Đặng Ngải khá nhiều cơ hội tham gia bàn luận việc quân sự.

Lúc này Đặng Ngải cũng nhìn thấy Văn Sính liền vội đến thi lễ:

- Học trò tham kiến Đô đốc.

Văn Sính xoay người xuống ngựa, vỗ vỗ bả vai y cười hỏi:

- Sao có nhiều sĩ tử tham gia phòng thủ đến vậy?

- Bẩm báo Đô đốc, thật ra ba nghìn sĩ tử tham gia hầu hết đều giúp quan phủ hướng dẫn dân chúng chạy nạn, ba trăm người chủ động nguyện ý nhập ngũ tham gia phòng ngự thành trì.

Văn Sính cười gật đầu nói:

- Tuy Châu Mục nói ngươi nhất định phải đến mười tám tuổi mới có thể nhập quân, nhưng hiện tại quân Hán đang Bắc chinh, nếu ngươi có thể nhân cơ hội này tham gia Bắc chinh thì tương lai tiền đồ của ngươi sẽ rộng mở sớm.

Đặng Ngải gật gật đầu lại thở dài nói:

- Ta cũng muốn, chỉ sợ Châu Mục không chịu.

- Ai nói Châu Mục không chịu, ngươi đang làm Tham quân ở quân doanh ta đấy thôi, ngươi cho là Châu Mục không biết ư? Như vậy đi, đánh xong trận chiến này, ta ghi công cho ngươi, để Thành Đô chính thức phong chức quan cho ngươi, như vậy Châu Mục cũng sẽ không nói gì được. Sau đó sẽ điều động ngươi đến bên cạnh Triệu tướng quân, như vậy có được không?

Đặng Ngải mừng rỡ, vội khom người thi lễ:

- Đa tạ Đô đốc đã giúp đỡ.

Lúc này Giả Hủ mang theo vài tùy tùng đi tới, Đặng Ngải vội hướng Giả Hủ thi lễ:

- Tham kiến Quân sư.

Giả Hủ tủm tỉm cười khoát tay nói:

- Ta đang định hỏi tên tiểu tử ngu ngốc này chạy đi đâu rồi? Vì trong thành không thấy ngươi hóa ra ngươi chạy đi thủ thành, thế nào rồi, bắt đầu bỏ văn theo võ sao?

Đặng Ngải gãi đầu ngượng ngùng nói:

- Học trò không dám đâu, chỉ là tạm thời theo võ, sau này vẫn học văn là việc chính.

- Kỳ thật theo võ cũng tốt, mấu chốt phải đi theo con đường chủ soái như Văn đô đốc ấy, tương lai có thể độc trấn một phương, có Văn đô đốc ở Tương Dương, Châu Mục cũng có thể yên tâm chuẩn bị Bắc phạt.

Mặt Văn Sính đỏ lên, hổ thẹn nói:

- Quân sư đừng chọc ta, lần này quân Tào xuôi Nam, ta không thể hoàn tất việc Châu Mục giao phó rồi.

Giả Hủ khẽ mỉm cười:

- Văn đô đốc đã xây nên Tương Dương chẳng khác nào tường đồng vách sắt, hai ba vạn nhân mã quân Tào khẳng định khó có thể công được. Tối hôm qua ta còn rất lo lắng nhưng hôm nay ta không còn lo gì cả.

- Quân sư nói không sai.

Đặng Ngải bên cạnh tiếp lời:

- Xem quân chủ lực quân Tào cũng không có ý tiến binh phía Nam là biết Tào Tháo cũng không có ý tấn công Kinh Tương, lão ta chỉ muốn tạo nên sự nguy cấp, náo loạn cho Tương Dương, nhiễu loạn Tây tuyến Bắc phạt.

Văn Sính và Giả Hủ nhìn nhau cùng mỉm cười, Đặng Ngải có chút bất an nói:

- Tiểu tử nói không đúng sao ạ?

- Ngươi nói cũng không tệ.

Văn Sính sâu xa nói với y:

- Tuy nhiên đã là tướng thì không thể vì đối phương chưa động, quân kỳ chưa đảo mà có thể xác định đối phương không ra tay, nhất định phải phái thám báo tìm hiểu mới có thể xác định tình hình, mới có thể phán đoán. Bất kể là tướng hay mưu sĩ đều cần phải làm như vậy.

Đặng Ngải yên lặng gật đầu:

- Học trò đã hiểu ạ.

Đúng lúc này quân quan sát trên đầu thành lại dùng chuông cảnh báo " Cheng...Cheng....Cheng! Tiếng cảnh báo vô cùng dồn dập, tiếng chuông này có ý nghĩa quân địch đã xuất hiện. Văn Sính bước nhanh đến miệng châu mai hướng phía Đông Nam nhìn ra xa, một lát sau ông mơ hồ nhìn thấy một đám xám xịt hiện ra, rốt cuộc quân Tào cũng đã đánh tới rồi.

Văn Sính nhanh chóng hạ lệnh:

- Lệnh toàn quân canh phòng cẩn thận, chuẩn bị chiến đấu.

Hai vạn binh lính nhanh chóng chạy ra tường thành, bọn họ sớm chuẩn bị giương cung rút kiếm, sẵn sàng trận địa đón quân địch.

Cuối cùng Trương Liêu cũng dẫn hai vạn năm ngàn quân tiến vào thành Tương Dương. Trương Liêu cưỡi chiến mã dừng chân cách xa tường thành, với thực lực bọn họ bây giờ nếu muốn công phá Tương Dương cũng không phải là không được, nhưng mục đích của bọn họ không phải đánh hạ Tương Dương, mà mục đích chiến lược lần này chính là đánh hạ Hán Thủy.

Trương Liêu vung đao ra lệnh:

- Dừng chân bên Hán Thủy.

Hơn hai vạn quân Tào trùng trùng điệp điệp giết về hướng Đông Bắc Tương Dương.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 624: Ngàn dặm cứu viện


Đúng vào lúc Quân Tào từ Huyện Nghi Thành qua sông, đồng thời công phá phòng tuyến Hán Thủy, Lưu Cảnh cũng dẫn quân từ Tây Thành quay trở về Trịnh Thành phía nam Hán Trung, bởi vì Kỵ binh Đê Hồ xuất binh hiệp trợ Quân Tào, làm loạn kế hoạch bắc thượng của Quân Hán, khiến cho Lưu Cảnh không thể không tạm đình chỉ bắc thượng, lệnh Hoàng Trung dẫn hai vạn quân trấn thủ Tây Thành, hắn thì quay trở về Hán Trung.

Một mặt Lưu Cảnh đồng thời phái Mã Đại đi sứ Khương Hồ, mặt còn lại thì mệnh Thành Đô lại lần nữa tăng binh năm vạn cho Hán Trung, khiến tổng binh lực của Hán Trung đạt đến mười hai vạn người, nhưng chính vào lúc này, Giả Hủ cấp báo phát từ Tương Dương cũng là do bồ câu truyền tin đến Hán Trung.

Đến đêm, Pháp Chính và Ngô Ý trấn thủ quận Hán Trung nhận được triệu lệnh khẩn cấp của Lưu Cảnh, vội vàng chạy ra quân doanh ngoài thành, một tên thân binh sớm đã ở trước cửa đại môn chờ đợi, nhìn thấy hai người họ đến, liền vội vàng đưa họ đến trung quân đại trướng.

- Đã xảy ra chuyện gì?

Ngô Ý thấp giọng hỏi thân binh.

Thân binh cười khổ một tiếng nói:

- Cụ thể thì bỉ chức cũng không rõ rằng lắm, dường như bên phía Tương Dương đã xảy ra chuyện rồi, Châu Mục có chút lo lắng.

Ngô Ý và Pháp Chính nhìn nhau, hai người đều có chút khẩn trương, việc khiến cho Châu Mục cũng cảm thấy lo lắng nhất định là bên phía Tương Dương xảy ra đại sự gì rồi, chẳng lẽ quân Tào đã công hạ được Tương Dương rồi? Nếu là như vậy, vấn đề thật sự nghiêm trọng.

Hai người đi đến đại trướng, thân binh ở trước cửa thay bọn họ bẩm báo:

- Khởi bẩm Châu mục, Ngô tướng quân và Pháp quân sư đã tới rồi.

- Mời vào!

Nghe thanh âm của Lưu Cảnh, cảm xúc xem ra khá là ổn định, đều này làm cho trong lòng Ngô Ý và Pháp Chính đều nhẹ nhàng thở ra một hơi, hai người bước nhanh đi vào đại trướng.

Chính giữ đại trướng đặt được một đài sa bàn (lấy cát để sắp xếp địa hình), Lưu Cảnh và Bàng Thống đang đứng thảo luận quân tình, lúc này, Ngô Ý và Pháp Chính đi tới, hai người cùng nhau thi lễ nói:

- Tham kiến Châu Mục!

- Hai vị không cần đa lễ, mau lại đây!

Hai người đến gần sa bàn, mới phát hiện đây là sa bàn Kinh Châu, Lưu Cảnh nói với hai người họ:

- Vừa mới nhận được phi cáp cấp báo của Giả quân sư, Tương Dương xảy ra một chút rắc rối.

Lưu Cảnh cầm cành gỗ lên, chỉ vào Huyện Nghi Thành nói:

- Ước chừng có ba vạn Quân Tào lợi dụng trinh sát tuần tra của Hán Thủy có quá nhiều lỗ hổng, ở Huyện Nghi Thành xây dựng cầu nổi, hỏa tốc vượt qua Hán Thủy rồi, hiện tại đã công chiếm Nghi Thành, nghe nói chủ soái có thể là Trương Liêu, bọn họ cũng không xác định được.

Ba vạn người vượt sông rồi, Ngô Ý và Pháp Chính ngơ ngác nhìn nhau, vấn đề này quả thật vô cùng nghiêm trọng, lúc này, Pháp Chính lại hỏi:

- Không biết Tương Dương dùng những biện pháp nào để đáp trả chưa?

- Phản ứng đáp trả thì cũng có, Cam Ninh hỏa tốc dẫn một bộ phận thủy quân nam hạ, hủy hoại cầu nổi của Quân Tào, tăng cường phòng ngự ở Giang Hạ, mặt khác toàn bộ dân chúng ngoài thành Tương Dương đã rút lui vào trong thành, quân đội Tương Dương tăng mạnh để chuẩn bị chiến đấu, trước mắt từ tình báo của Giả quân sư mang tới cho thấy Tào Tháo cũng không có dấu hiệu đại quy mô giết vào Tương Dương.

Lúc này Bàng Thống tiếp lời nói:

- Hiện tại rất lo lắng là Quân Tào có điều động trước tiên giết về hướng Giang Hạ hay không, Giang Hạ có ưu thế thủy quân, nhưng trên mặt đất, bất luận thế nào cũng không phải đối thủ của Quân Tào, nếu như Giang Hạ bị Quân Tào phá tan, hậu quả không thể tưởng nổi, chỉ sợ toàn bộ lòng quân đều bị dao động.

Tất cả mọi người đều trầm mặc, lúc này Ngô Ý hỏi nói:

- Vi thần có một nghi vấn, không biết có nên nên hỏi hay không?

- Tử Viễn cứ việc nói, không cần khiêm nhường như vậy.

Ngô Ý trầm tư một chút rồi nói:

- Vừa rồi Châu Mục nói, cầu nổi ở Huyện Nghi Thành đã bị thủy quân phá hủy, vậy bỉ chức liền không thể hiểu nổi, ba vạn Quân Tào này quay trở về như thế nào đây?

Lưu Cảnh gật gật đầu:

- Câu hỏi này của Tử Viễn nói lên một vấn đề mấu chốt, đầu tiên là Quân Tào dựng lên cầu nổi như thế nào, dựng cầu nổi tất nhiên sẽ dùng đến thuyền nhỏ, mà phía cửa sông đã bị chúng ta phong tỏa, vậy thuyền nhỏ của Quân Tào kia sao có thể chạy tới Huyện Nghi Thành được, tuy nhiên vấn đền này vừa rồi Bàng quân sư đã giải thích, thuyền nhỏ có thể dùng xe để tải, nhất định là theo đường bộ vận chuyển đến đó, nhưng từ chuyện này có thể nhìn ra, Tào Tháo đã làm rất nhiều chuẩn bị, nếu bọn họ có thể đem quân đội đưa qua sông, nhất định có biện pháp đem quân đội trở về.

Mọi người lại trầm mặc, lúc này, Lưu Cảnh lại nói tiếp:

- Mời các vị đến đây là muốn cùng mọi người thương lượng một chút, ta có phải là nên xuất binh đi Tương Dương không?

Đây chính là mấu chốt của vấn đề, ai cũng không biết Tào Tháo xuất binh Kinh Tương là vì làm loạn kế hoạch của Quân Hán tây tuyến bắc thượng, lúc mới bắt đầu Quân Tào tàn phá Phàn Thành, đóng quân phía bắc Hán Thủy, cũng không có ảnh hưởng đến kế hoạch tây tuyến, nhưng hiện tại Quân Tào đã vượt qua Hán Thủy, vấn để liền trở nên nghiêm trọng rồi.

Trong lòng ba người đều hiểu được, nếu Lưu Cảnh muốn bàn luận việc này, đã nói lên hắn có kế hoạch xuất binh cứu viện Tương Dương, nhưng mà như vậy, ít nhất trong nửa năm không thể quan thể đến việc bắc thượng nữa, như vậy kế sách vây Ngụy cứu Triệu của Toàn Tháo thành công rồi.

Trầm mặc một lát nữa, Lưu Cảnh lại chậm rãi nói:

- Ta có suy tính như thế bởi vì Đê Hồ xuất binh Thiên Thủy, khiến kế hoạch của ta bị phá hủy, ta cần đợi đại bản doanh người Khương xuất binh Đê Hồ, bức Đê Hồ kỵ binh quay về, việc này ít nhất mất đến thời gian hai ba tháng, sau đó ta cần phải đều binh khiển tướng, vận chuyển lương thực, tính toán ra cũng mất đến thời gian một hai tháng, trong khoảng thời gian này dù sao cũng là chờ đợi, vậy dứt khoát xuất binh Tương Dương, đẩy lui Quân Tào về Nam Dương, giải trừ ưu tư của Tương Dương và Giang Hạ, mọi người thấy như thế nào?

Pháp Chính thở dài nói:

- Châu Mục không phải nói muốn mời Tôn Quyền xuất binh Hợp Phì, bức Tào Tháo lui binh sao?

Lưu Cảnh lắc lắc đầu:

- Ta không đợi mong đợi Tôn Quyền xuất binh, ta nhận được tin tức từ Hứa Tĩnh, nói là Thiên tử đã hạ chỉ phong Tôn Quyền làm Ngô công, và bổ nhiệm Trình Phổ làm Thái thú quận Kiến An, ngoài ra, nghe nói Chu Du bệnh nặng, từ những tin tình báo này phân tích, Tôn Quyền mười phần thì tám chín phần sẽ không xuất binh, cùng lắm là làm ra chút bộ dạng, căn bản không thể giải vây được Tương Dương.

Nói đến đây, Lưu Cảnh lại thời dài một tiếng nói:

- Tuy rằng hiện tại Tào Tháo không có lòng thâu tóm Kinh châu, nhưng mà sợ rằng thời gian dài trôi đi, viện quân và lương thảo của lão nam hạ, Tào Tháo sẽ thay đổi quyết định, tiện đà phát động lần thứ hai nam chinh, lúc đó vấn đề liền lớn rồi.

Lời nói đến bước này, ba người đều đã hiểu Lưu Cảnh quyết định phải chi viện Tương Dương rồi, Ngô Ý liền đáp nói:

- Bắc phạt cũng không phải một lần hai lần có thể thành công, không chỉ cần giết xông lên, mà còn phải đứng được cho vững, điều này cần cẩn thận chuẩn bị, hiện tại chúng ta từng bước thận trọng bắc phạt, sách lược hoàn toàn chính xác, tận dụng tất cả, lợi dụng khoảng thời gian này vận lương bắc thượng, đem năm tòa thành trì đều chất đầy đủ lương thực, đợi nửa năm sau, chúng ra đã chuẩn bị đầy đủ xong, lần nữa bắt phạt Lũng Tây, bỉ chức tin tưởng nhất định sẽ thành công.

Lời của Ngô Ý nói đúng vào tâm khảm của Lưu Cảnh, hắn lại tiếp tục nói với ba người:

- Ta sẽ đích thân dẫn năm vạn quân đi đường Thượng Dung tiến đến Tương Dương, nhưng trước khi đi, ta cần phải làm một chút chuẩn bị, Bàng quân sư có thể đi Tây Thành phụ tá Hoàng lão tướng quân thủ thành, Pháp quân sư đi quận Võ Đô phụ tá Triệu đô đốc, phụ trách quân đội và vận chuyển lương thực, còn Ngô tướng quân ở lại quận Hán Trung bảo vệ Hán Trung lục đạo, phòng ngừa Quân Hán tiến công Hán Trung.

Ba người cùng nhau khom người thi lễ:

- Xin tuân mệnh Châu Mục!

Ngay tại ngày hôm sau, Lưu Cảnh liền suất lĩnh năm vạn đại quân, lấy Ngụy Diên làm tiên phong, rời khỏi Nam Trịnh thành, đi đường Thượng Dung trùng trùng điệp điệp thẳng hướng Tương Dương, tới giải bỏ nguy cơ cho Tương Dương.

Từ năm Kiến An thứ thứ mười bốn, Tôn Quyền và Lưu Cảnh sau khi đạt thành hiệp nghị giải hòa, quân Giang Đông liền được thời gian nghỉ ngơi và chỉnh đốn, Giang Đông bắt đầu nghỉ ngơi lấy lại sức, dần dần khôi phục những tổn thất nghiêm trọng về kinh tế do Tây chinh đem đến cho Giang Đông.

Cùng với lúc đó, Giang Đông cũng quét sạch nội loạn, Tôn Bí bị đày đi nhốt ở tiểu đảo hải ngoại, mà đệ đệ Tôn Lãng cũng bị tước đoạt quân quyền, cách chức làm thứ dân, mưu sĩ Chu Trị cũng bị bãi miễn hết chức quan, ở nhà dưỡng lão.

Tuy nhiên Tôn Quyền vì giữ gìn chính quyền ổn định, cũng không có quá mức truy cứu, sau khi chỉ xử phạt vài tên nhân vật nòng cốt xong, còn lại các vây cánh từng người từng người được đặc xá, khiến nội bộ Giang Đông đạt được hòa giải.

Sau khi thanh trừ nội loạn xong, Tôn Quyền rốt cục đã tiếp nhận lời khuyên của Trương Hoành, lần nữa dời đô tới huyện Mạt Lăng, rồi đổi tên thành Kiến Nghiệp, chính thức dời đô thành từ Kinh Khẩu chuyển đến ''hổ cứ long bàn'' thành Kiến Nghiệp, đây là một việc đại sự của Giang Đông, xây dựng thành trì, dựng lên cung điện, từ năm Kiến An thứ mười bốn đến năm Kiến An thứ mười sáu, toàn bộ Giang Đông trên dưới đều vì chuyện này mà trở nên bận rộn.

Tuy nhiên, trong lúc dời đô, Tôn Quyền cũng không quên mở rộng biên giới, từ năm Kiến An thứ mười lăm trở đi, Tôn Quyền bắt đầu bắt tay vào làm suy yếu thế lực người Sơn Việt, mệnh lệnh Trình Phồ không ngừng tiến công thành trì của người Sơn Việt, bắt cướp người Sơn Việt làm nô.

Mà lúc này, Tôn Quyền đã bắt đầu mở rộng thế lực hướng về phía nam, y biết rằng hiện tại không thể cùng Kinh Châu tranh phong, như vậy có thể mở rộng thế lực đến Lĩnh Nam, sau đó cướp lấy Giao Châu.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 625-1: Giang Đông mất anh hùng (1)


Tuy rằng sự chú ý của Tôn Quyền đều ở tại nam bộ, nhưng y cũng đang quan sát Lưu Cảnh khuếch trương phía tây và bắc chinh, ở trong lòng Tôn Quyền, Lưu Cảnh thủy chung vẫn là kình địch của y, cho dù Lưu Cảnh đã là muội phu của y, nhưng khát vọng tranh đoạt thiên hạ phải vượt xa tình thân từ liên hôn này.

Ngay tại hơn một tháng trước, Tôn Quyền tiếp nhận phong tước từ triều đình, được phong làm Ngô công, Hữu tướng quân, trưởng tử Tôn Đăng được phong làm Kiến quân giáo úy, đương nhiên Tôn Quyền cũng biết, đây là Tào Tháo lôi kéo y. Tào Tháo nhất định sẽ động thủ đối với Kinh Châu, quả nhiên, sau nửa tháng phong tước, Tào Tháo tự mình dẫn mười vạn đại quân nam hạ Kinh Tương.

Thành Kiến Nghiệp còn chưa hoàn toàn kiến tu hoàn thành, tường thành còn một nửa, trong thành cũng có hỗn loạn, khắp nơi là phủ đệ nhà ở đang xây dựng cải tạo, khác với Thiết Ủng thành của Kinh Khẩu, tất cả mọi người đều biết Thiết Ủng thành chỉ là thành đô tạm thời, cho nên đều không có hứng rầm rộ xây dựng cải tạo phủ đệ nhà ở, khiến cho bên trong Thiết Ủng thành thủy chung lạnh vắng, gia quyến cũng phần lớn còn ở lại Đông Ngô thành.

Còn lần này dời đô đến Kiến Nghiệp, tất cả mọi người đều biết nơi này sẽ là cơ nghiệp trăm năm của Giang Đông, sẽ không còn dễ dàng thay đổi nữa, bởi vậy bất kể là văn võ bá quan, hay là địa chủ đại phú, dân chúng phổ thông.v.v. tất cả đều mua đất xây nhà, đặt mua sản nghiệp gia tộc...

Xe ngựa của Tôn Quyền dưới sự hộ vệ của mấy trăm thị vệ, dọc theo đường cái Mạt Lăng chạy thẳng về hướng nam, không bao lâu, xe ngựa liền dừng lại ở trước một tòa phủ đệ. Nơi này là phủ đệ của Chu Du. Chu Du trong hai năm trước trong chiến dịch đối với người Sơn Việt đã bị trúng mũi tên lạc gây thương tích, nội thương nghiêm trọng, tuy rằng được Trương Trọng Cảnh chữa trị, bảo vệ được tính mạng, nhưng thương thế vẫn khó có thể chữa khỏi.

Ở đầu năm một trận luồng không khí lạnh tràn vào trong Giang Đông, thương thế của Chu Du lại phát tác, cho dù đã mời rất nhiều danh y đến trị liệu, nhưng thủy chung vẫn không thể chữa khỏi, mắt thấy Chu Du hấp hối sắp chết, Tôn Quyền đau lòng vô cùng, mỗi ngày đều phái người đến hỏi thăm.

Xe ngựa chậm rãi dừng lại ở trước cửa phủ đệ, lúc này, trưởng tử của Chu Du là Chu Tuần đã sớm đứng ở trước cửa phủ chờ đợi, Chu Du và Tiểu Kiều sinh được hai nam một nữ, trưởng tử Chu Tuần năm nay mới mười lăm tuổi, đã cùng trưởng nữ của Tôn Quyền là Tôn Lỗ Ban định hôn, chỉ có điều Tôn Lỗ Ban mới mười tuổi, cho nên cần phải đợi nàng sau khi thành niên mới có thể thành hôn.

Chu Tuần tiến lên quỳ xuống hành bái lễ:

- Vãn bối Chu Tuần bái kiến Ngô công!

Tôn Quyền vội vàng nâng cậu dậy, thân thiết hỏi han:

- Phụ thân ngươi sao rồi?

Chu Tuần cúi đầu thấp xuống, vẻ mặt ảm đạm, Tôn Quyền thờ dài một tiếng, vỗ bờ vai của y, bước nhanh vào trong phủ của Chu Du, trong phòng bệnh, hai mắt Chu Du nhắm nghiền, trông giống như là đang ngủ vậy, ở bên cạnh y là Tiểu Kiểu đang giúp y thu dọn quần áo.

Nàng gả cho Chu Du được mười mấy năm, phu thê hai người vô cùng ân ái, cuộc tình duyên phận của hai phu thê này mắt thấy đã phải đi đến cuối đoạn đường, trong lòng Tiểu Kiều vô cùng khó chịu, mấy tháng này nàng trông như già đi thêm mười tuổi, dung nhan xinh đẹp ngày xưa giờ không thấy bóng dáng, trên tóc mai cũng đã thấy vài sợi bạc.

Lúc này, ở ngoài cửa một nha hoàn bẩm báo nói:

- Phu nhân, Ngô công đến rồi!

Nàng gật gật đầu, nhẹ nhàng v**t v* trán của trượng phu, trông thấy trượng phu vì bệnh hiểm nghèo giày vò đến mức da bọc xương hai má hóp vào, khiến trong lòng nàng đau như cắt:

- Chu Lang! Chu Lang!

Nàng nhẹ nhàng gọi lên hai tiếng, Chu Du chậm rãi mở mắt, y cầm lấy tay thê tử, cười cười, thanh âm khe khẽ nói:

- Ta chưa ngủ say đâu!

Nàng nhìn thấy tinh thần hôm nay của trượng phu đặc biết tốt, trong lòng vui mừng, vội vã nói:

- Ngô công tới thăm người, Tuần nhi đã ra cửa nghênh đón, lập tức đến ngay.

- Ta biết rồi, nàng đi nghỉ ngơi đi!

Tiểu Kiểu khẽ hôn lên trán của trượng phu một cái, sau đó cười cười, bước nhanh ra khỏi cửa, không bao lâu, Chu Tuần dẫn Tôn Quyền tiến vào phòng, Chu Du vội vàng gắng gượng muốn ngồi dậy, Chu Tuần liền chạy đến đỡ phụ thân dậy, giúp y tựa lưng trên nệm giường.

Tôn Quyền ngồi ở bên cạnh Chu Du, cầm tay y hỏi han:

- Công Cẩn, gần đây cảm giác thấy thế nào?

- Đa tạ Ngô hầu, à không! Ngô công, gọi quen rồi, nhất thời sửa không được.

Chu Du cười khổ một tiếng nói:

- Cũng không tệ lắm, cảm giác còn một chút tinh thần rồi!

- Không cần gọi ta là Ngô công, hay là Ngô hầu, ta đã tuyên cáo với mọi người, bây giờ còn chưa phải thời khắc ta xưng công!

Nói đến đây Tôn Quyền nhìn Chu Du một chút, cười nói:

- Ừ! Hình như so với mấy hôm trước tốt hơn chút rồi, lời nói cũng được dài hơn chút, tinh thần cũng không tệ!

Chu Du tuy rằng bệnh nặng, nhưng y vẫn như trước chú ý thời cuộc, y hỏi lại:

- Ta nghe Tuần nhi nói, Tào Tháo lại nam chinh phải không?

Tôn Quyền không muốn để Chu Du vì chuyện này mà lao tâm, liền hàm hồ nói:

- Chỉ có điều giả vờ giả vịt thôi, nào có dễ dàng nam chinh như vậy đâu.

- Chủ công phải coi chừng, Tào Tháo phong thưởng cho chủ công chỉ sợ chính vì ly gián quan hệ của hai nhà Tôn Lưu, nếu như Lưu Cảnh đến cầu viện, cần phải xuất binh, nếu không tương lai Tào Tháo tiến công Giang Đông, chúng ta sao có thể hướng Kinh Châu cầu viện đây?

Tôn Quyền gật gật đầu:

- Tử Kính cũng khuyên ta như vậy, Lưu Cảnh dù sao cũng là muội phu của ta, nếu hắn mở miệng, ta nhất định sẽ suy xét.

Tôn Quyền không muốn nhiều lời, liền chuyển hướng đề tài khác, lại nói:

- Công Cẩn đệ trình đơn từ chức, ta đã phê chuẩn, nhưng ta muốn thỉnh Công Cẩn nói ta biết, ai có thể thay Công Cẩn đảm nhiệm chức đại đô đốc?

Chu Du hơi than thở nhẹ một tiếng:

- Nhất định phải là Tử Kính, Tử Kính là người trung hậu, Lưu Cảnh đối với trong số bách quan ở Giang Đông hắn bối phục nhất là y, để y đảm nhiệm đại đô đốc, có lợi cho Giang Đông Tây tuyến ổn định, chủ công có thể tập trung tinh lực nam chinh.

- Công Cẩn nói không sai, nhưng ta lo lắng đối với việc dụng binh Tử Kính dường như chưa đạt, ta lại muốn đùngLục Tốn làm phó đô đốc, Công Cẩn cảm thấy như thế nào?

Trong lòng Chu Du hiểu được, người mà Ngô hầu muốn sử dụng thật ra là Lục Tốn, bởi vì Lục Tốn mới cưới trưởng nữ của Tôn Sách, tồn tại quan hệ thông gia này, Ngô hầu đương nhiên là tin tưởng, chỉ là bởi vì kinh nghiệm lý lịch của Lục Tốn chưa đủ, mới không thể không dùng Lỗ Túc, tuy nhiên điều này đã không điều mà Chu Du y có thể quản được, Chu Du nhắm hai mắt lại.

Tôn Quyền thấy y có chút mệt mỏi rồi, liền đứng dậy cáo từ:

- Công Cần cứ an tâm dưỡng bệnh, ta hôm khác lại đến thăm.

- Đa tạ chủ công quan tâm.

Tôn Quyên dưới sự tiễn đưa cửa Chu Tuần đi rồi, chu Du cảm giác giới hạn của chính mình đã đến, không khỏi từ từ thở một hơi dài:

- Đại trượng phu ba mươi tám tuổi mới chết, không hối tiếc!

Vào lúc ban đêm, Chu Du chết bệnh ở trong nhà, tuổi gần ba mươi tám, nhận được tin tức, Tôn Quyền khóc ngã xuống nền, ngất đi, tin tức nhanh chóng được truyền đi, các quận ở Giang Đông đều khóc tang, bách quan lại nối liền không dứt tiến đến Chu phủ phúng điếu.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 625-2: Giang Đông mất anh hùng (2)


Tư Mã Ý và Lưu Mẫn đã đến Giang Đông được hai ngày rồi, lúc đó Tôn Quyền đã tiếp kiến hai người họ, còn bày tiệc chiêu đãi, sau đó cũng không nói ra lời nào là xuất binh hay không xuất binh, Tôn Quyền cũng không hề đáp lại rõ ràng, nhưng mà Tư Mã Ý cũng biết, sự việc quan hệ trọng đại, Tôn Quyền cũng cần phải cùng các trọng thần tiến hành bàn bạc.

Tư Mã Ý và Lưu Mẫn tại dịch trạm Qý Tân ở Kiến Nghiệp, đây là chuyên môn vì tiếp đãi sứ giả triều đình mà xây dựng, vô cùng xa xỉ hào hoa, trông giống như một tòa cung điện, không chỉ có cẩm y ngọc thực, đồng thời còn có hơn mười thị nữ mĩ mạo hầu hạ, có thể nói là chiêu đãi vô cùng cẩn thận.

Nhưng Tư Mã Ý ở đó lại thực sự không thoải mái, gã từ cứ điểm tình báo của thành Kiến Nghiệp nhận được tin mới nhất, quân Tào đã vượt qua Hán Thủy, đang vây công Tương Dương, điều này khiến cho gã có chút lòng nóng như lửa đốt, chỉ hy vọng mau chóng biết được kết quả, có thể hoàn thành sứ mệnh của mình.

Trên nội đường, Tư Mã Ý khoanh tay đi qua đi lại, hiện rõ vẻ ưu tư trùng trùng, hôm qua vào buổi chiều gã gặp Lỗ Túc, phát hiện Lỗ Túc đối với việc của Kinh Châu chỉ nghe qua loa, khiến cho Tư Mã Ý cảm thấy rất kinh ngạc, điều này nói rõ Tôn Quyền cũng không có cùng thủ hạ chúng thần thảo luận việc này.

Tôn Quyền đây là thể hiện thái độ gì đây? Chẳng lẽ y đúng như lời của Châu Mục nói, cũng không có thành ý xuất binh? Một khi đã là như vậy, vì sao Tôn Quyền kia còn nói ''Không thể từ chối'', lời nói của một người đứng đầu Giang Đông nói ra, chẳng lẽ lại là lời nói đùa sao?

Đủ loại băn khoăn khiến cho Tư Mã Ý cảm thấy tâm phiền ý loạn, gã cảm thấy không thể tiếp tục hàm hồ như vậy được, nhất định phải tìm Tôn Quyền nói rõ chút, mặc kệ Quyền có nguyện ý xuất binh hay không, gã đều phải tỏ thái độ rõ ràng.

- Quân sư!

Lưu Mẫn từ bên ngoài vội vàng đi vào. Lưu Mẫn hiện đang nhận chức Hồng lư tướng quân phủ, phụ trách ngoại giao và sự vụ, lần này cùng Tư Mã Ý đi sứ Giang Đông, y phụ trách ngoại liên, còn Tư Mã Ý thì suy xét quyết sách.

- Chuyện gì xảy ra?

Tư Mã Ý thấy Lưu Mẫn đi đến vội vàng, liền cảm giác dường như đã xảy ra chuyện.

- Bỉ chức vừa mới nhận được tin tức, tối hôm qua Chu Du chết bệnh rồi.

- A!

Tư Mã Ý chấn động, bọn họ cũng nghe Chu Du bệnh nặng, gã còn đang chuẩn bị đại diện Lưu Cảnh hai ngày nữa đến thăm Chu Du, không nghĩ tới hôm qua y đã qua đời rồi, trong lòng Tư Mã Ý có chút ảo não, sao mình không đến thăm y sớm hơn?

Chuyện đến mức này, Tư Mã Ý cũng không thể làm gì được nữa rồi, chỉ hỏi han nói:

- Linh bằng (lều của người chết) bày ra chưa?

Lưu Mẫn gật gật đầu:

- Bày ra rồi, rất nhiều quan viên đều đã đến tế bái.

- Vậy chúng ta cũng đi thôi!

Tư Mã Ý thở dài một hơi, trong ngực y còn một phong thư Lưu Cảnh tự tay viết cho Chu Du, không thể giao cho chính chủ rồi.

Bọn họ thay đổi một thân quần áo trắng, liền đi lên xa ngựa thẳng tiến về hướng phủ đệ của Chu Du.

Trước cửa phủ chu Du người người tấp nập, trên mặt đất bày đầy hương nến, rất nhiều người đang dập đầu khóc, người Giang Đông xưa nay kính trọng Chu Du, nghe nói Chu Du bệnh chết, mọi người đều đau buồn vạn phần, đều chạy tới trước cửa phủ của Chu Du tế lễ dọc đường, trước đại môn treo đầy vải trắng, hơn mười hạ nhân đốt giấy để tang, tay cầm chậu đồng đựng đầy hiếu phục (quần áo tang của con cháu), đứng trước cửa phủ nghênh đón những quan viên đến hiến tế.

Tư Mã Ý và Lưu Mẫn xuống xe ngựa, lúc này, bỗng nhiên nghe thấy phía sau có người gọi mình, vừa quay đầu lại, chính là Lỗ Túc, ánh mắt Lỗ Túc khóc đến đỏ bừng, đốt giấy để tang, cũng vừa mới xuống xe, y bước nhanh đi đến nghẹn ngào thi lễ nói:

- Chu đô đốc qua đời, là tổn thất lớn nhất của Giang Đông!

Tư Mã Ý thở dài:

- Chủ công nhà ta cũng biết Công Cẩn bệnh nặng, còn đặc biệt phó thác ta mang đến một phong thư đến hỏi thăm, không ngờ rằng người còn chưa gặp mặt thì đã ra đi rồi, vậy là ta không làm tròn bổn phận rồi.

- Tư Mã quân sư đừng nói quá như vậy, dù sao tiên sinh cũng mới đến có hai ngày, có sự việc trọng đại cần phải làm, muộn mấy ngày mới đi gặp Đô đốc cũng là chuyện thường tình của con người, không liên quan đền việc không làm tròn được bổn phận.

Lỗ Túc an ủi Tư Mã Ý vài câu, mọi người liền cùng nhau tiến vào bên trong phủ, Tư Mã Ý thay đổi đồ tang, đi thẳng tới trước linh bằng xếp hàng. Trước linh bằng đều là văn võ bá quan ở Giang Đông, đám người Trương Chiêu, Trương Hoành, Trình Phổ, Lục Tốn, Thái Sử Từ, Lã Mông đều ở trong đó.

Mọi người nhìn thấy Tư Mã Ý đến, đều tránh ra một bên đường, Trương Chiêu chắp tay nói:

- Trọng Đạt là quý khách, có thể đến bái tế Đô đốc nhà ta, đây là vinh hạnh của Giang Đông, mời trước!

Tư Mã Ý gật gật đầu, đi vào trong linh bằng, trong linh bằng treo đầy cờ trắng, ở chính giữa bày linh đài, trên có linh bài và quan tài của Chu Du, thê tử Tiểu Kiểu của Chu Du, hai người con trai, con gái và các chất tử đều đốt giấy để tang, quỳ gối ở hai bên.

Tư Mã Ý thắp hương lên, quỳ xuống bồ đoàn, hướng về linh bài dập đầu lạy ba cái, lại lấy từ trong người ra một phong thư, hai tay trình cho Tiểu Kiểu, thấp giọng nói:

- Phu nhân, đây là thư tay do Châu Mục nhà ta viết cho Công Cẩn, không nghĩ tới ta tới chậm một bước, không thể tự tay giao cho Công Cẩn, mong phu nhân tha thứ!

Tiểu Kiểu ánh mắt đỏ lên, tiếp nhận thư rơi lệ nói:

- Đa tạ Lưu Châu Mục quan tâm tướng quân nhà ta, đa tạ Tư Mã tiên sinh ngàn dặm truyền tin!

Nàng đem bức thư bỏ vào chậu than, rất nhanh liền hóa thành tro, nhìn lấy bức thư bị hỏa táng, nàng lại không kìm nổi nức nở khóc, hai người con trai bên cạnh vội vàng đỡ lấy nàng:

- Mẫu thân!

Trong lòng Tư Mã Ý chua xót, yên lặng đứng dậy lui xuống, đi ra khỏi linh bằng, lại thấy Tôn Quyền ở trong nhóm chúng thần nhanh nhanh bước tới, Tư Mã Ý vội vàng tiến lên diện lễ:

- Tham kiến Ngô công!

Tôn Quyền thở dài nói:

- Hai ngày này bởi vì an bài hậu sự của Đô đốc mà chậm trễ đối với Tư Mã quân sư, mong quân sư chớ trách móc!

- Ta có thể hiểu được!

Tôn Quyền ngẫm nghĩ một chút rồi nói:

- Về việc xuất binh, ta sẽ nhường cho Tử Kính cùng quân sự nói chuyện, không phải hôm nay, sẽ là ngày mai, mong quân sư chờ cho, bất luận thế nào, Giang Đông sẽ cho Kinh Châu một câu trả lời.

Tư Mã Ý vội vàng thi lễ nói:

- Ta đây sẽ đợi tin tức từ Ngô công!

Tư Mã Ý và Lưu Mẫn trước tiên cáo lui đi rồi, Tôn Quyền bái tế xong vong linh của Chu Du, liền lệnh cho Lỗ Túc cùng mình lên xe quay về Kiến Nghiệp cung, xe ngựa chậm rãi lăn trên đường cái, trong xe ngựa rộng rãi, Tôn Quyền trầm ngâm chốc lát rồi nói:

- Chiều hôm qua ta đến thăm Công Cẩn, Công Cẩn đề cử với ta để Tử Kính làm đại đô đốc kế nhiệm, ngươi cảm thấy như thế nào?

Lỗ Túc sợ hãi, vội vàng quỳ xuống nói:

- Vi thần vô đức vô năng, sao có thể bàn đến trọng trách này, rất nhiều người có thể bàn đến trọng trách này hơn bỉ chức, chủ công vì sao không suy xét đến?

Tôn Quyền vội vàng nâng y dậy, cười nói;

- Ngươi nói xem ai thích hợp đây?

- Tử Bố, Đức Mưu có kinh nghiệm thâm hậu, đặc biệt Đức Mưu đảm nhiệm lâu dài chức phó đô đốc, rất được quân tâm, y đảm nhiệm đại đô đốc là thích hợp nhất.

Tôn Quyền cười cười lại hỏi:

- Ngoại trừ Trương Chiêu và Trình Phổ, còn có người nào khác không?

- Hoàng tướng quân, Thái Sử tướng quân, Lã tướng quân đều là người có uy vọng trong quân, thậm chí đến Lục Tốn tướng quân tuổi trẻ tài cao, cũng thích hợp được chọn, vì sao chủ công không đặc biệt phân công y làm đô đốc?

Tôn Quyền ha hả cười:

- Tử Kính nói nhiều như vậy, vì sao không nhắc đến chính mình?

Lỗ Túc hổ thẹn nói:

- Vi thân năng lực không đủ, không thể đảm nhiệm.

Tôn Quyền im lặng, y quay đầu lại nhìn chăm chú ra ngoài cửa sổ, thật lâu sau, y cười khổ lắc lắc đầu nói:

- Mấy năm nay ta phạm phải sai lầm lớn nhất, đó chính là Tây chinh ba năm trước, trận chiến đó khiến cho nguyên khí Giang Đông mất hết, mà khi đó người ngăn cản ta Tây chinh, chỉ có hai người là Công Cẩn và Tử Kính, chỉ có hai người các ngươi biết ta sẽ phạm phải sai lầm lớn, tuy rằng sau này Công Cẩn phá vây thất bại, nhưng ta cũng không có trách y, bởi vì trách nhiệm là ở ta.

Nói đến đây, Tôn Quyền lại thở dài:

- Hai năm qua ta đã suy nghĩ hiểu rõ, Giang Đông có thể yên ổn không, mẫu chốt là ở chỗ thái độ của Lưu Cảnh đối với Giang Đông, đây cũng là nguyên nhân Công Cẩn khuyên ta để Tử Kính làm kế nhiệm Đại đô đốc, ta bây giờ không cần một mãnh tướng ở biên cương, ta hiện tại cần có một tấm kính soi ta không mắc phải sai lầm như trước, mà chiếc kính này không ai khác ngoài Tử Kính.

Tôn Quyền quay đầu lại nhìn chằm chú vào Lỗ Túc, chậm rãi nói:

- Ta suy tính cả một đêm, vẫn là để ngươi kế nhiệm chức Đại đô đốc tam quân!
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 626: So chiêu


Lỗ Túc đã quá hiểu Tôn Quyền, y biết rằng Tôn Quyền sẽ không dễ dàng bổ nhiệm một vị quan cao, nhưng một khi nói ra, chính là kết quả của suy nghĩ cặn kẽ. Y cũng biết cứ từ chối mãi sẽ thành làm cao, Lỗ Túc liền không từ chối nữa, quỳ xuống hành lễ:

- Vi thần tuân mệnh!

Tôn Quyền bổ nhiệm Lỗ Túc làm Đại Đô Đốc, cũng không hoàn toàn bởi vì Chu Du đề cử, y cũng có sự suy xét của riêng mình. Người mà Tôn Quyền thật sự muốn bổ nhiệm là Lục Tốn, một mặt Lục Tốn là con rể của Tôn Sách, mặt khác, gia tộc Lục Thị là đệ nhất gia tộc, mà Ngô Quận lại là nơi căn cơ của Giang Đông.

Nhưng kinh nghiệm của Lục Tốn vẫn còn non nớt, để y làm đô đốc, chỉ sợ nhiều người không phục, nhất là những đại tướng quan to trong quân đội. Đồng thời, Lục Tốn thuộc loại đại tướng khai thác, mà bây giờ lại cần nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, muốn giữ gìn cơ nghiệp, Lục Tốn đương nhiên không được thích hợp lắm.

Lỗ Túc vừa hay vô cùng thích hợp giữ gìn cơ nghiệp, y làm việc cẩn trọng, đối với Kinh Châu chủ trương hòa chứ không chiến, quan trọng hơn là lòng trung thành của Lỗ Túc cũng có thể khiến Tôn Quyền yên tâm, hơn nữa Lỗ Túc khoan hậu, nhân duyên tốt đẹp, thuộc phái Lư Giang của Chu Du, làm Đại đô đốc, bất luận phái phương Bắc của Trương Chiêu, Trình Phổ, hay là phái Bản Thổ của đám người Trương Hoành, Cố Ung, Lục Tốn đều có thể chấp nhận, sẽ không thể phá vỡ sự cân bằng thế lực của Giang Đông bây giờ.

Cho nên Tôn Quyền suy nghĩ cặn kẽ một đêm, vẫn quyết định để Lỗ Túc kế nhiệm chức Đại đô đốc, Tôn Quyền lại nâng y dậy cười nói:

- Bây giờ ta muốn thỉnh giáo Tử Kính, Tư Mã Ý yêu cầu Giang Đông xuất binh Hợp Phì, ta nên cứu hay không cứu?

Lỗ Túc trầm ngâm một chút nói:

- Suy nghĩ của chủ công thế nào?

Tôn Quyền mặc dù đau buồn vì sự ra đi của Chu Du, nhưng y cũng không đắm mình trong đau thương mãi, lúc đang bàn chuyện chính sự, tâm tình của y giống như lúc hoàn toàn bình thường, thản nhiên nói:

- Kỳ thật xuất binh cũng được, chỉ là ta không muốn uổng công cứu, ta muốn để Lưu Cảnh thả lỏng hiệp ước năm đó, Tử Kính cảm thấy có được không?

Lỗ Túc suy nghĩ một chút, nói:

- Kiến nghị của vi thần là nên dứt khoát xuất binh, đợi Kinh Châu giải trừ được nguy cơ xong thì bàn chuyện hiệp ước với Kinh Châu, thần nghĩ lúc đó Lưu Cảnh cũng sẽ xuất phát từ lòng cảm kích mà buông lỏng những điều hạn đối với Giang Đông.

Tôn Quyền gật gật đầu, nói:

- Chuyện này để ta suy nghĩ một chút!

Về đến Kiến Nghiệp cung, Tôn Quyền vừa mới bước đến phòng của mình, liền có thị vệ ở cửa bẩm báo:

- Khởi bẩm Ngô công, Quân sư cầu kiến.

Quân sư Giang Đông chính là Trương Chiêu. Tôn Quyền biết rằng lúc này y cầu kiến, tất nhiên là vì việc Kinh Châu, y trầm ngâm một lát nói:

- Mời y vào!

Chốc lát sau, Trương Chiêu vội vàng đi vào quan phòng, khom mình thi lễ nói:

- Vi thần tham kiến chủ công!

- Quân sư mời ngồi!

Tôn Quyền mời Trương Chiêu ngồi xuống, lại lệnh cho thị vệ dâng trà, Trương Chiêu vội vàng nói:

- Chủ công đồng ý xuất binh Kinh Châu sao?

- Vẫn còn chưa chính thức đồng ý, chỉ có điều để tỏ thái độ, ta sẽ lấy đại nghĩa của hai nhà Tôn Lưu làm trọng, nhưng cụ thể làm như thế nào, còn phải đợi thương lượng

- Vi thần chính là vì việc này mà đến, vi thần khuyên chủ công vạn lần không nên vì chuyện này mà đắc tội Tào Tháo.

- Ý của ngươi là, ta từ chối xuất binh?

Tôn Quyền nhướn mày hỏi.

- Vi thần cũng không phải có ý này, vi thần chẳng qua cảm thấy thế cuộc trước mắt, Giang Đông vẫn đứng thế trung lập thì hơn, Giang Đông nên giành được lợi ích lớn nhất từ giữa Lưu Cảnh và Tào Tháo.

Tôn Quyền khoanh tay đi lên phía trước cửa sổ, nhìn rất lâu ra phía bên ngoài, tuy rằng y quyết định bổ nhiệm Lỗ Túc làm Đại đô đốc, nhưng thái độ đối với cầu viện của Kinh Châu, suy nghĩ của y và đề nghị của Trương Chiêu lại không hẹn trước mà trùng hợp.

Bây giờ thế lực của Lưu Cảnh đã không còn là thế lực nhỏ độc chiếm vùng Giang Hạ như trước đây, cùng với Giang Đông môi hở răng lạnh, mà là thế lực lớn có thể chống lại Tào Tháo. Trong tình huống thế này, Giang Đông nhất định phải xem xét thời thế, lựa chọn lập trường của mình.

Theo Tôn Quyền, Lưu Cảnh và Tào Tháo tranh bá còn cần rất nhiều năm mới có kết quả. Dưới tình huống như vậy, Giang Đông bất kể là giúp Lưu Cảnh hay giúp Tào Tháo, cũng không phải là lựa chọn tốt nhất, lựa chọn tốt nhất chính là trung lập, giành được lợi ích lớn nhất từ tranh đấu giữa hai thế lực.

Sau một hồi trầm tư, Tôn Quyền quay đầu lại hỏi:

- Quân sư có phương án gì không?

Trương Chiêu cười nói:

- Phương án rất đơn giản, nếu Tào Tháo đã sắc phong chủ công, coi như là cho chúng ta lợi ích, Lưu Cảnh kia cũng nên tỏ vẻ một chút, chúng ta có thể đưa ra điều kiện với Tư Mã Ý, nếu như đối phương đồng ý, chúng ta có thể xuất binh Hợp Phì một cách tượng trưng, ít nhất ở bên ngoài cũng không nên trở mặt với Lưu Cảnh.

- Xuất binh một cách tượng trưng?

Tôn Quyền không khỏi mỉm cười, lại hỏi:

- Cụ thể là điều kiện gì?

- Có thể đưa ra ba điều kiện, một là hủy bỏ trói buộc đối với thuyền chiến của chúng ta, tiếp theo là trả lại quận Kỳ Xuân, thứ ba là hủy bỏ mậu dịch Nội Hà.

Tôn Quyền im lặng không nói gì, hai điều kiện trước y còn có thể hiểu được, còn điều kiện thứ ba chính là Trương Chiêu đại diện cho lợi ích của một số quan lớn, hủy bỏ mậu dịch Nội Hà, các thương nhân Kinh Châu không thể đi sâu vào quận Giang Đông trực tiếp mua hàng hóa, mà nhất dịnh phải làm ăn với thương nhân Giang Đông, chẳng khác gì thương nhân Giang Đông lại một lần nữa lũng đoạn Nội Hà Giang Đông.

Tuy nhiên Tôn Quyền cũng biết, Trương Chiêu làm việc trước nay luôn công tư vẹn cả đôi đường, sẽ không vì việc tư mà hỏng việc công, nếu công tư không thể vẹn toàn, Trương Chiêu nhất định sẽ tử bỏ việc tư mà toàn lực cho việc công.

Tôn Quyền lại hỏi;

- Nếu Kinh Châu thật sự đồng ý ba điều kiện này, có phải chúng ta có thể xuất binh Hợp Phì không?

Trương Chiêu lắc lắc đầu:

- Điều kiện hà khắc quá rồi, Kinh Châu chắc chắn sẽ không đồng ý, nhất là quận Kỳ Xuân, bọn họ chắc chắn sẽ không đồng ý, cho nên chúng ta xuất binh chẳng qua là làm cho có lệ, như vậy cả hai bên đều thu được lợi ích.

Nói đến đây, Trương Chiêu lại cười đầy ẩn ý:

- Chẳng lẽ chủ công không hi vọng bọn họ hai hổ cắn nhau con què con bị thương hay sao?

- Ta hiểu rồi.

Câu nói sau cùng của Trương Chiêu đã trúng tâm khảm của Tôn Quyền.

Tôn Quyền ngẫm nghĩ một chút liền cười nói:

- Chi bằng thế này, để quân sư đại diện cho ta đi thương lượng với Tư Mã Ý, xem xem ba điều kiện, bọn họ có thể đồng ý bao nhiêu?

Dừng một lát, Tôn Quyền lại nói:

- Còn một việc ta muốn nói cho quân sư, ta quyết định bổ nhiệm Tử Kinh kế nhiệm Đại đô đốc tam quân.

Trương Chiêu ngạc nhiên, hóa ra là Lỗ Túc đảm nhiệm đại đô đốc, nhưng trong lòng y lại hơi thả lỏng, Lỗ Túc còn tốt, chỉ cần không phải Lục Tốn đảm nhiệm là được…

Trương Chiêu rời khỏi Kiến Nghiệp cung, xoay người đi đến trạm dịch Quý Tân, trong lòng y hơi ngộ ra, tuy rằng chủ công bổ nhiệm Lỗ Túc làm đại đô đốc, nhưng lần đàm phán với Kinh Châu này, y lại để cho mình chủ đạo, bởi vậy có thể thấy y vẫn chưa yên tâm lắm với Lỗ Túc, hoặc là chủ trương của Lỗ Túc không hợp với tâm ý của y.

Không cần phải nói, Trương Chiêu cũng đoán được đề nghị của Lỗ Túc là gì, nhất định là xuất binh vô điều kiện, nếu như là ba năm trước đây, chủ trương như vậy được coi là khá lý trí, nhưng bây giờ xuất binh vô điều kiện, có vẻ hơi lỗi thời rồi.

Việc liên quan đến lợi ích của một quốc gia, không phải là đem chuyện tình cảm ra nói là có thể đạt được mục đích, ít nhất theo Trương Chiêu thấy là điều không thể nào, lợi ích căn bản của Giang Đông là gì, chính là an toàn.

Lưu Cảnh và Tào Tháo hai bên đều thương bại, như vậy Giang Đông sẽ có được sự bảo đảm an toàn, đáng tiếc Lỗ Túc không hiểu được điều này. Cũng may trong lòng Ngô công trong lòng, bất kể là quân Hán hùng mạnh, hay là Tào quân hùng mạnh, thì vẫn là sự uy h**p to lớn đối với Giang Đông.

Trương Chiêu được Dịch thừa lĩnh dẫn đến Quý Tân trạm, lúc này, Tư Mã Ý cũng đã nhanh chóng nghe được tin, ra ngoài nghênh tiếp. Gã vừa rồi còn nói với Lưu Mẫn, trong số trọng thần Giang Đông ai có thể làm khó lần cầu viện này của Kinh Châu, hai người đều đồng thời nghĩ đến Trương Chiêu. Y trước nay không phải bạn bè tốt của Kinh Châu, ai ngờ Trương Chiêu đúng thật đã đến.

Điều này khiến Tư Mã Ý ý thức được, chỉ sợ lần này Kinh Châu đi sứ đúng như điều bọn họ lo lắng, Giang Đông không có thành ý viện trợ Kinh Châu. Tuy rằng trong lòng có chút không hài lòng, nhưng Tư Mã Ý vẫn nhiệt tình nghênh đón Trương Chiêu vào nội đường.

Hai người hàn huyên vài câu, thị nữ dâng trà lên cho bọn họ, Trương Chiêu liền chủ động chuyển đề tài về việc Kinh Châu, y trầm ngâm một chút, nói:

- Kỳ thật chúng ta cũng nghe nói việc Tào Tháo xuôi nam, nhưng theo tình báo của chúng ta lấy được từ Nghiệp Đô, lần Nam chinh của quân Tào lần này cũng không chuẩn bị kĩ càng, cho nên chúng ta đoán rằng, mục đích thực sự của Tào Tháo không phải là Kinh Châu, mà là Lũng Tây. Chỉ cần Lưu Châu Mục đồng ý tạm thời dừng bắc chính Lũng Tây, Tào Tháo nhất định sẽ thu binh về Nam Dương.

Tư Mã Ý thầm khen Trương Chiêu quả nhiên lợi hại, vừa mới mở miệng đã đưa bản thân mình vào vị trí bị động.

Ý của Trương Chiêu là nói, chính các ngươi có thể giải quyết rắc rối, nhưng bây giờ muốn cầu tới sự viện trợ của Giang Đông, vậy thì Giang Đông nếu như xuất binh sẽ trở thành giúp quân Hán bắc chinh, đây cũng không phải là tặng than trong ngày tuyết rơi, mà là dệt hoa trên gấm. Tặng than trong ngày tuyết rơi, theo đạo nghĩa, nên là trợ giúp không điều kiện, nhưng dệt hoa trên gấm thì không, là cần phải trả cái giá thật đắt.

Tư Mã Ý cười nói:

- Thật ra chúng ta chúng biết mục đích của chiến lược của Tào Tháo là Tây tuyến, nhưng bây giờ hai quân Tây tuyến đang ở trạng thái giằng co, Tào Tháo cũng bố trí hơn mười vạn quân ở Quan Trung và Lũng Tây, nếu chúng ta bỏ qua Tây tuyến, ngược lại viện trợ Tương Dương, sẽ tạo thành lỗ hổng binh lực ở Tây tuyến, ngược lại sẽ dụ quân Tào tấn công vào Hán Trung, thậm chí uy h**p Ích Châu, cho nên chúng ta không dám dễ dàng điều động quân Ích Châu.

Trương Chiêu cười ha hả:

- Ta biết rằng quý quân đã có hai mươi vạn người, thật ra mười vạn giữ Hán Trung, mười vạn giằng co Tương Dương, thậm chí có thể tạm thời chiêu mộ dân đoàn, với thực lực hùng hậu của hai châu Kinh Ích, dư sức đối phó với Nam chinh của Tào Tháo, thật sự không cần quân sư Tư Mã vất vả chạy một chuyến như vậy.

Tư Mã Ý trầm mặc, một lúc sau lạnh lùng nói:

- Ta hiểu ý của Trương công, nói cách khác Giang Đông khéo léo từ chối thỉnh cầu của Kinh Châu, phải không?

- Không có, không có!

Trương Chiêu vội vàng xua tay, cười nói:

- Hai nhà chúng ta có mối thân tình, làm sao có thể từ chối, điều này làm cho công chúa ở Ích Châu cũng khó xử, ta chỉ là đưa ra vài đề nghị thôi.

Tư Mã Ý cũng hiểu được ý của Trương Chiêu, nói cho cùng là muốn có điều kiện, chỉ có điều Trương Chiêu không tiện mở miệng, y ngẫm nghĩ một chút rồi nói:

- Để tỏ lòng thành ý của hai bên, chúng ta cũng sẽ không để Giang Châu xuất binh không công, chúng ta hứa, chỉ cần quân Giang Châu chiếm lĩnh được Hợp Phì, một khi quân Tào phản công, chúng ta sẽ từ Tây tuyến phối hợp tác chiến để báo đáp.

Lưu Mẫn đứng bên cạnh không nói gì, chỉ lặng lặng nghe hai vị quân sư đàm phán, trong lòng y cũng có chút cảm phục, không hổ là hai quân sư, hai người dường như giao chiến cách không gian, đều chiếm vị trí cao, Trương Chiêu ra chiêu cố nhiên sắc bén, Tư Mã Ý đánh trả cũng không hề yếu thế, gã rất rõ ràng nói cho Trương Chiêu, nếu lần này Giang Đông không ứng cứu Tương Dương, như vậy lần sau cũng đừng trông cậy vào Kinh Châu cứu Giang Đông.

Trương Chiêu trầm ngâm một lát nói:

- Thật không dám gạt Tư Mã quân sư, hiện giờ quân Giang Đông đang tác chiến ở Quận Kiến An và người Sơn Việt, chúng ta viện trợ Kinh Châu cũng không phải là không thể, chính là nhất thời không thể rút ra quá nhiều quân, lo không thể giải quyết được mối nguy Kinh Châu.

Tư Mã Ý cười gằn trong lòng, nói đi nói lại, chính là Giang Đông không có thành ý xuất binh, nếu như mình cho ra điều kiện quá nhiều, mà Giang Đông lại không chịu hết sức, thì chẳng phải là hổ tự thịt hổ hay sao, thiên hạ nào có chuyện tốt thế này?

Nghĩ vậy, Tư Mã Ý chắp tay nói:

- Châu Mục ta cũng biết Giang Đông có chỗ khó, nhưng vẫn hi vọng Giang Đông có thể xuất binh Hợp Phì, mời Trương Công chuyển lời với Ngô Hầu, nếu như Giang Đông đồng ý xuất binh, Kinh Châu có thể đồng ý Giang Đông không còn bị chịu hạn chế về thuyền chiến ngàn thạch nữa.

Tư Mã Ý trước tiên chặn cơ hội đưa ra điều kiện của Giang Đông, chính là nói rõ ràng cho Trương Chiêu, Kinh Châu chỉ có một điều kiện, Giang Đông có đồng ý xuất binh hay không cũng không ép Giang Đông. Sắc mặt Trương Chiêu hơi tái, đứng dậy thi lễ, miễn cưỡng cười nói:

- Thế thì, để ta trở về bẩm báo với Ngô công!
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 627: Khách đến từ Tây Doanh


Tiễn Trương Chiêu xong, Lưu Mẫn căm phẫn nói với Tư Mã Ý:

- Nhìn là ra Giang Đông không hề có thành ý phái binh, ta chỉ không hiểu, chẳng lẽ sau này Giang Đông không phải nhờ chúng ta sao?

Tư Mã Ý lắc lắc đầu nói:

- Một người có lẽ nhìn không ra, chẳng lẽ nhiều quan lớn Giang Đông như vậy đều không nhìn ra sao? Đây chắc là kết quả của Giang Đông cân nhắc lợi hại, từ trong thâm tâm bọn họ hi vọng chúng ta và Tào Tháo hai bên đều bị thương, còn về phần Tào Tháo uy h**p Giang Đông, nói một cách thẳng thắn, trước khi chưa diệt được chúng ta chỉ có thể lung lạc Giang Đông, từ việc Tôn Quyên thụ phong Ngô Công có thể nhìn ra thái độ của Tào Tháo đối với Giang Đông.

Nói đến đây, Tư Mã Ý thở phào một tiếng:

- Ta bây giờ mới thật sự hiểu, vì sao Châu Mục nhất định phải đánh cho Giang Đông tan hoang mới xét đến Tây chinh, nếu như thực lực của Giang Đông vẫn còn, thì bọn ta bây giờ sẽ phải đối mặt với hai bên tấn công của Tào Tháo và Giang Đông. Bây giờ tấn công Tương Dương không chỉ còn là quân Tào, mà chính là quân Giang Đông. Quân Giang Đông không phải không muốn nhân cơ hội cướp lấy Kinh Châu, mà là muốn nhưng chưa đủ lực.

Lưu Mẫn yên lặng gật đầu, hơi xúc động nói:

- Đây là lợi ích căn bản của một quốc gia, cho dù thông gia cũng không có ý nghĩa.

- Thật ra thông gia vẫn có tác dụng!

Tư Mã Ý khẽ cười nói:

- Ít nhất hai bên sẽ không trở mặt, kết quả cuối cùng cũng không quá xấu. Nếu như ta đoán không nhầm, Giang Đông vẫn sẽ xuất binh, xuất binh cho có lệ, Tôn Quyền là một người hiểu chuyện, y biết nên làm thế nào để cân nhắc lợi hại.

Hai người đang nói chuyện, lúc này Dịch thừa ở ngoài đường bẩm báo:

- Khởi bẩm Tư Mã quân sư, ngoài quán có người cầu kiến, y nói y cũng là tướng lĩnh Kinh Châu.

Tư Mã Ý ngẩn người, Giang Đông sao lại còn có tướng lĩnh Kinh Châu? Y vừa suy nghĩ, đã biết là người nào, vội vàng dặn dò:

- Mau mời y vào!

Lưu Mẫn không hiểu hỏi:

- Quân sư, có thể là ai được?

Tư Mã Ý cười thần bí:

- Ngươi suy nghĩ một chút đi, một hai năm gần đây, ai mất tích không thấy bóng dáng đâu?

Lưu Mẫn trầm tư một lát, bỗng nhiên thốt lên:

- Lâu Phát!

Tư Mã Ý gật gật đầu:

- Đúng là y, y phụng mệnh Châu Mục, chấp hành một nhiệm vụ bí mất, bây giờ đã là lúc y trở lại.

Lúc này, dịch thừa dẫn một đại tướng khôi ngô bước nhanh vào trong nội đường. Làn da lão đen bóng, ánh mắt cực kì có thần, đúng là đại tướng thủy quân Kinh Châu Lâu Phát. Lâu Phát và Thẩm Di năm đó là phụ tá đắc lực của Cam Ninh sau dần dần một mình đảm đương một phía, trở thành đại tướng chủ lực của thủy quân Kinh Châu, đảm nhiệm chức vụ Giáo Úy.

Sau khi chiếm đánh Ích Châu, Lâu Phát liền được Lưu Cảnh phái đi làm nhiệm vụ bí mật, cũng chính là hiệp nghị mà năm đó Lưu Cảnh và Tôn Quyền đạt được, đổi quận Dự Chương lấy Di Châu, Di Châu cũng chính là đảo Đài Loan thời hậu thế. Nhưng nhiệm vụ của Lâu Phát không phải là đi Di Châu, mà là đảo Tây Doanh giữa Di Châu và Kiến An, cũng chính là quần đảo Bành Hồ đời sau, thành lập một điểm tiếp tế ở đó.

Mùa thu năm kia, Lâu Phát dẫn mười con thuyền hai ngàn thạch và tám trăm binh sĩ xuất phát về phía đảo Tây Doanh, đi liền một mạch một năm rưỡi cho đến nay vẫn không có tin tức gì, nhưng không ngờ hôm nay lão lại xuất hiện ở thành Kiến Nghiệp. Lâu Phát tiến lên một bước, quỳ gối thi lễ:

- Ty chức tham kiến quân sư!

Tư Mã Ý vội vàng nâng lão dậy:

- Lâu tướng quân miễn lễ, mau mau đứng dậy!

Lâu Phát lại thi lễ với Lưu Mẫn, lúc này mới ngồi xuống. Tư Mã Ý cười nói:

- Lâu tướng quân sao lại xuất hiện ở Kiến Nghiệp?

- Khởi bẩm quân sư, chúng ta trên đường về Kinh Châu đi qua Kiến Nghiệp, trong lúc tiếp tế trên tàu phát hiện ra thuyền chiến Kinh Châu, hỏi thăm một chút, hóa ra quân sư ở trong thành, ty chức liền tới bái kiến.

- Thì ra là thế, đúng là trùng hợp quá.

Tư Mã Ý cười, nói:

- Tình hình bên Tây Doanh đảo thế nào rồi?

- Chúng ta đã thành lập quân doanh ở trên đảo, sống rất hòa thuận với dân địa phương. Bây giờ có ba trăm binh sĩ đang xây thành trên đảo, hơn ngàn thổ dân cũng giúp sức, tòa thành đã xây được hơn nửa.

Tư Mã Ý gật gật đầu, lại hỏi:

- Huyện gần với Tây Doanh đảo nhất là huyện nào?

Lâu Phát suy nghĩ một chút, nói:

- Huyện gần nhất chắc là huyện Đông Trị Đô Thành của Nguyên Mân Việt quốc, tuy nhiên cũng phải mất mấy ngày mấy đêm mới đến.

Nói đến đây, Lâu Phát cười khổ một tiếng, nói:

- Nói thật, lần mua bán của Châu Mục và Ngô Hầu này lỗ vốn.

- Sao lại lỗ vốn? Là quá xa vời sao?

Tư Mã Ý cười nói.

Lâu Phát lắc lắc đầu:

- Thật ra vùng duyên hải có rất nhiều đảo nhỏ đều là hoang đảo, còn có rất nhiều cửa sông của quận Kiến An, đất đai phì nhiêu, người dân thưa thớt, Giang Đông cũng không thể chiếm lĩnh, chúng ta hoàn toàn có thể tiến công vào lục địa, không cần phải chiếm cứ đảo Tây Doanh. Thật ra chúng ta cũng chỉ là lừa gạt dân địa phương, nói là điểm tiếp tế của thuyền bè Kiến An, không có ý tranh giành đất đai của bọn họ, nếu không bọn họ cũng không cho phép chúng ta lên đảo.

- Ngươi nói không sai. Thật ra mục đích của chúng ta là muốn đâm một nhát dao vào sau lưng Giang Đông, tạo điều kiện để sau này tiêu diệt Giang Đông, nhưng lại không thể khiến Giang Đông sinh nghi ngờ, cho nên mới tạm thời xây dựng công thành ở Tây Doanh đảo. Có điểm tiếp tế này rồi, sau đó khuếch trương vào đại lục, ý của Châu Mục là, trong vòng năm năm, chúng ta phải từng bước thành lập mười tòa quân thành, đóng năm nghìn binh lính ở vùng duyên hải.

Lâu Phát khẽ gật đầu, lúc này, lão chợt nhớ tới một chuyện, cười nói:

- Khi chúng ta trở về, để tránh sóng gió, vô tình đã phát hiện ra một tên phạm nhân lưu đày trên một bị hoang đảo phía nam của Quận Hội Kê, quân sư đoán xem đó là người nào?

- Là ai?

- Là Tôn Bí – anh họ của Tôn Quyền. Không thể ngờ được, y lại có thể ở trên một hoang đảo.

Tư Mã Ý và Lưu Mẫn nhìn nhau, thần sắc hai người lập tức trở nên nghiêm túc, bọn họ từng nghe Lưu Cảnh nói về nội chiến Giang Đông, Tôn Bí chính là nhân vật chủ chốt trong nội chiến. Tư Mã Ý vội vàng hỏi:

- Tôn Bí đó bây giờ ở đâu?

Lâu Phát thấp giọng nói:

- Bây giờ y đang ở trên thuyền của ta, ta cảm thấy y hữu dụng nên đem y về.

Lưu Mẫn vội hỏi:

- Người khác có biết không?

Lâu Phát lắc lắc đầu:

- Trên đảo chỉ có một gã câm chăm sóc cho y, còn có năm tên lính trông coi, ta đem hết tất cả bọn chúng đi. Nghe nói quan phủ quận Hội Kê cứ ba tháng lại tiếp tế cho bọn chúng một lần, vừa mới tiếp tế một lần rồi, cứ coi như là phát hiện ra bọn chúng mất tích thì cũng phải là ba tháng sau mới phát hiện ra.

Tư Mã Ý khoanh tay đi vài bước, Tôn Bí này quả thực là một nhân vật quan trọng, sau này sẽ rất có ích, quan trọng là phải giữ bí mật, tuyệt đối không để Giang Đông biết được chuyện này. Nghĩ đến đây, Tư Mã Ý quyết định thật nhanh nói:

- Ta muốn mấy ngày nữa mới về, Lâu tướng quân không cần đợi ta, bây giờ ngươi rời Kiến Nghiệp về Kinh Châu, trước tiên tạm thời giấu Tôn Bí ở huyện Vũ Xương, rồi quay lại bẩm báo Châu Mục.

- Ty chức đã rõ, lập tức đi ngay!

Lâu Phát thi lễ, liền vội vàng rời đi. Tư Mã Ý mỉm cười với Lưu Mẫn:

- Lần này đi Giang Đông cũng không phải bõ công đi, ít nhất giành được một quân cờ tốt.

Lưu Mẫn cũng mỉm cười:

- Ta có thể tưởng tượng Tôn Quyền sau khi biết người nọ mất tích, sẽ nổi trận lôi đình thế nào.

Hai người liếc nhìn nhau, cùng không nhịn nổi cười ha hả.

Cuối cùng, giống như suy đoán của Tư Mã Ý, Tôn Quyền tiếp nhận điều kiện từ bỏ hạn mức đối với thuyền chiến của Lưu Cảnh, đồng ý xuất binh Hợp Phì. Tôn Quyền lập tức lệnh cho Hoàng Cái dẫn hai vạn quân từ Lịch Dương qua sông, thẳng hướng Hợp Phì.

Nhưng trước khi Hoàng Cái đi, Tôn Quyền cũng dặn dò y rất rõ ràng, lần xuất binh Hợp Phì này chỉ điều công chứ không đánh, không được phép tổn thất người nào.

Năm vạn đại quân của Lưu Cảnh men theo một đường Thượng Dung xuôi về phía nam, quân đội đi đến Huyện Phòng Lăng, đây là một huyện được đồi núi vây quanh, dân số ước chừng hơn hai ngàn hộ, đa số là sinh sống bằng nghề nông, trong thung lũng lấy hai bờ Trúc Thùy làm trung tâm, đất đai phì nhiêu, nguồn nước dồi dào, khí hậu ấm áp mà ẩm ướt, sản lượng lương thực vô cùng ổn định, khiến cho người dân ở đây an cư lạc nghiệp.

Phòng Lăng đương nhiên là quận trị quận Phòng Lăng, tuy rằng huyện thành không lớn, nhưng vị trí địa lợi lại hết sức quan trọng. Là nơi nhất định phải qua từ Thượng Dung đạo đi đến Tương Dương, từ chỗ này hướng về Tây Bắc có thể đi Huyện Võ Đương, ngồi thuyền đi Trúc Thủy có thể đến thẳng Hán Thủy, hướng về Đông Nam là tiến vào địa giới của Tương Dương.

Chính bởi vì vị trí địa lý quan trọng, cho nên huyện Phòng Lăng đồng thời cũng là vùng đất mà các binh gia tranh giành. Bàng Đức lo lắng quân Tào vượt sông từ Phòng Lăng quận, sau khi Tân Dã binh bại trận, liền trực tiếp dẫn tàn quân kéo về phòng ngự Phòng Lăng Huyện. Cùng lúc đó, Văn Sính lại lệnh Thái Tiến dẫn ba nghìn quân đi Phòng Lăng hội hợp với quân Đội Bàng Đức, số người đóng quân ở huyện Phòng Lăng lên tới hơn bốn nghìn người.

Buổi trưa nay, Lưu Cảnh dẫn nam vạn quân chậm rãi đi tới huyện Phòng Lăng, cách huyện thành còn vài dặm, Bàng Đức và Thái Tiến đã tới đón tiếp. Năm vạn đại quân ngừng lại, trong hàng trăm các đại kỳ, Bàng Đức và Thái Tiến nhìn thấy Châu Mục Lưu Cảnh, hai người liền vội vàng tiến đến chắp tay thi lễ:

- Ty chức tham kiến Châu Mục!

- Hai vị tướng quân vất vả rồi!

Lưu Cảnh đã biết chuyện Bàng Đức chiến đấu ác liệt ở Tân Dã, hắn xoay người xuống ngựa, vỗ vỗ bờ vai của Bàng Đức, quan tâm hỏi han:

- Vết thương thế nào rồi?

Bàng Đức không ngờ chuyện đầu tiên Châu Mục quan tâm chính là vết thương bị trúng tên của mình, trong lòng hết sức cảm động, vội vàng nói:

- Đa tạ Châu Mục quan tâm, vết thương không đáng ngại.

- Vậy thì tốt rồi, trận chiến Tân Dã lần này ta cũng nghe qua rồi, tuy rằng có rất nhiều tranh luận, nhưng ta ủng hộ quyết định của ngươi. Quân đội nếu không dám tác chiến, thì gọi gì là quân đội.

Bàng Đức dẫn ba nghìn quân, không kịp thời tản về phía đông mà chủ động nghênh chiến với quân tiên phong của quân Tào. Hành động này kéo theo nhiều dị nghị trong quân đội, có người nói y dũng mãnh thiện chiến, có thể nói là đại tướng gương mẫu, có người lại nói y vì yểm hộ cho dân chúng sơ tán mà chiến đấu, rất có bản lĩnh, nhưng cũng không ít người chê y hi sinh vô ích, rõ ràng có thể bảo toàn tính mạng cho binh lính, lại phải lấy yếu địch mạnh, cuối cùng dẫn đến thất bại thảm hại.

Nhưng Lưu Cảnh lại chủ động thay Bàng Đức giải vây, khen Bàng Đức là cử chỉ anh dũng, do đó kết thúc những tranh luận trong quân về Bàng Đức. Bàng Đức yên lặng gật đầu, khom người nói:

- Cảm tạ Châu Mục đã hiểu, ty chức chết cũng không uổng!

Lưu Cảnh cười gật gật đầu, lại nói với Thái Tiến:

- Quận Phòng Lăng có thể bị quận Tào thăm dò không?

- Hồi bẩm Châu mục, quân Tào không đi Phòng Lăng, mà đi huyện Nghi Thành, nhưng chúng ta không dám coi thường, đã bố trí một ngàn quân ở huyện Trúc Dương và huyện Võ Đương, chỉ cần quân Tào có dấu hiệu qua sông, chúng ta sẽ lập tức tiến đến chi viện.

Lưu Cảnh cười cười nói:

- Hai điểm qua sông của quận Phòng Lăng lần lượt là huyện Võ Đang và Trúc Dương, ta đề nghị hai vị tướng quân mỗi người dẫn hai nghìn quân phòng ngự một chỗ, chỉ là coi chừng, không nên trúng kế điệu hổ ly sơn của quân Tào.

Bàng Đức và Thái Tiến nhìn nhau, bọn họ đều hiểu được, Châu Mục không hài lòng về việc bọn họ xuất hiện tại huyện Phòng Lăng, cho rằng bọn họ nên đóng giữ ở Hán Thủy. Hai người đồng loạt khom người nói:

- Tuân lệnh!

Lưu Cảnh lúc này mới gật gật đầu, hắn xoay mình lên ngựa, ra lệnh cho tả hữu:

- Nghỉ ngơi ở ngoài huyện thành một tiếng, không được tiến vào thành, sau đó tiếp tục xuất phát về quận Tương Dương!

Năm vạn đại quân lại xuất phát, trùng trùng điệp điệp đi ra khỏi huyện thành!
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 628: Quân Tào rút về phương Bắc


Quân Tào bao vây Tương Dương đã là ngày thứ mười, nhưng không ai ngờ được, Quân Tào không hề tiến hành tiến đánh Tương Dương, mà chỉ đóng binh ở vùng bến tàu. Mặc dù thành hào rộng lớn dường như khiến Quân Tào hết đường xoay xở, nhưng Văn Sính biết rằng, quân Tào có hai ba vạn nhân mã, hoàn toàn có thể lấp đầy đoạn sông hào bảo vệ thành trong vòng một đêm, từ đó phát động tấn công thành trì.

Nhưng Quân Tào vẫn nhất mực không hề tấn công, Văn Sính cũng đoán được nguyên nhân Quân Tào bao vây không tấn công Tương Dương có lẽ chỉ là một thủ đoạn, chủ ý của Quân Tào không phải là phá được Tương Dương, mà chỉ là để ép Quân Hán dừng tiến công Tây tuyến.

Bây giờ xem ra, mục đích của bọn họ đã đạt được. Văn Sính nhận được tin tức, Lưu Cảnh tự mình dẫn năm vạn đại quân tới viện trợ Tương Dương, đã qua Huyện Phòng Lăng, nhiều nhất là hai ngày tới có thể đến Tương Dương.

Tuy nhiên, Quân Tào mặc dù không tấn công thành Tương Dương, nhưng huyện Trung Lư và huyện Khởi Quốc cách Tương Dương khoảng chừng hai mươi dặm lại lần lượt bị Tào Tháo công chiếm rồi, bọn họ cướp sạch hàng vạn thạch lương thực cùng một số tiền thuế lớn trong kho của hai huyện, làm tiếp viện cho quân đội.

Hai huyện thành bị công chiếm gây áp lực lớn cho thành Tương Dương.

Tin tức Lưu Cảnh tự mình dẫn năm vạn đại quân đến giúp đỡ khiến Văn Sính vô cùng phấn chấn, tâm trạng thấp thỏm đã vơi bớt đi một nửa. Hoàng hôn, Văn Sính dưới sự bảo vệ của mấy mươi lính thân cận đang tuần tra đường cái. Đường cái của Tương Dương rộng rãi, giăng đầy lều trại, khiến cho bên trong thành trở nên chật chội.

Trên đường cái, chỗ nào cũng có thể thấy bóng dáng bận rộn của đám sĩ tử. Lần này ba nghìn sĩ tử thành Tương Dương phát huy tác dụng vô cùng to lớn, bọn họ làm người trợ giúp cho quan phủ, trong tình huống quân đội đều dùng để thủ thành, bọn họ chủ động gánh vác trách nhiệm chăm lo cho dân chúng chạy nạn.

Trấn an lòng dân, phân phối lương thực, cứu trợ người già yếu, duy trì trật tự, đám sĩ tử đều dốc hết sức. Dưới sự nỗ lực của bọn họ, thành nội Tương Dương tuy rằng chật kín người, nhưng vẫn ngăn nắp có trật tự, cũng không có hỗn loạn, không có bệnh dịch bùng nổ.

Mặc dù Quân Tào chiếm lĩnh hai huyện Trung Lư và Khởi Quốc, một đợt khiến cho trong thành thần hồn nát thần tính, nhưng tâm trạng của dân chúng cuối cùng cũng bình tĩnh trở lại, kiên nhẫn chờ đợi Quân Tào lui binh.

Văn Sính đi tuần tra, sự yên tĩnh trong thành khiến ông hết sức hài lòng, lúc này ông đi đến gần Kim Đỉnh Môn, ở đây là Cửa thành phía Đông Bắc, cũng là một cửa thành nhỏ nhất trong sáu cửa thành của Tương Dương, bình thường rất ít mở.

Ông vừa đến bên cổng thành, bỗng nhiên nghe thấy trên thành có người gọi:

- Văn tướng quân!

Ông ngẩng đầu, thấy Đặng Ngải đang vẫy vẫy tay với mình, liền cười hỏi:

- Có chuyện gì không?

- Khởi bẩm tướng quân, phát hiện điều kì lạ!

Văn Sính ngẩn người, ông lập tức quay đầu ngựa chạy về hướng hành lang, trong chốc lát đã đến đầu thành, Đặng Ngại chạy ra chào đón, chắp tay nói:

- Vừa rồi chúng ta phát hiện trên sông ngoài thành xuất hiện mấy chục chiếc thuyền nhỏ tìm kiếm trên sông trong chốc lát, rồi lại đi về.

Văn Sính xoay người xuống ngựa, bước nhanh đến lỗ châu mai nhìn ra phía xa xa, thành hào bên ngoài Kim Đỉnh là đoạn hẹp nhất của Tương Dương, chiều rộng chỉ có mười trượng, nối liền một dòng sông nhỏ chảy về phía Đông Bắc. Lúc này Văn Sính cũng thấy trên sông có xuất hiện mười mấy con thuyền nhỏ, trên thuyền là lính gác của Quân Tào.

Trong lòng Văn Sính cũng không khỏi có chút nghi hoặc, mười ngày nay, Quân Tào bên ngoài Tương Dương hoàn toàn không có động tĩnh gì, sao tự nhiên lại xuất hiện ở nơi này. Thế này là ý gì? Chẳng lẽ Quân Tào muốn tập kích Tương Dương vào buổi đêm?

Văn Sính cũng biết Quân Tào đã vơ vét hơn trăm thuyền lớn nhỏ ở gần đây, nhưng muốn dựa vào những thuyền nhỏ này để đánh lén Tương Dương, đương nhiên là không thực tế.

Lúc này, Văn Sính bỗng nhiên nghĩ tới Lưu Cảnh đem viện quân tới, trong lòng ông hiểu ra, trầm tư một lát, liền dặn dò binh lính thủ thành:

- Phải giám sát nghiêm ngặt động tĩnh Quân Tào ngoài thành, nếu có biến, phải lập tức bẩm báo cho ta!

Văn Sính đã ý thức được, Quân Tào có thể sắp rút lui rồi.

Trời đã sắp tối, trong đại doanh Quân Tào, ba nghìn Quân Tào đã xếp thành hàng, khôi giáp tinh tươm, đao thương lóe sáng, đằng đằng sát khí, chuẩn bị ra tác chiến.

Quân Tào xuất chiến không phải là vì phá thành Tương Dương, mà ngược lại hoàn toàn, bọn họ chuẩn bị rút quân. Trương Liêu cũng nhận được cấp báo của thám báo, Lưu Cảnh dẫn năm vạn viện quân đánh tới thành Tương Dương, quân tiên phong đã qua huyện Phòng Lăng, nhiều nhất hai ngày, năm vạn quân Hán sẽ đuổi đến thành Tương Dương.

Tin tức này khiến Trương Liêu vô cùng lo lắng, y vội vã phái người vượt sông đi bẩm báo với Thừa tướng, nhanh chóng nhận được câu trả lời từ Thừa tướng là suốt đêm vượt sông rút quân. Thật ra Trương Liêu biết rõ, năm vạn viện quân công thêm hai vạn quân trong thành, tổng binh lực của quân Hán đạt gần bảy vạn, gần gấp ba so với mình, bất kể thế nào y cũng khó có thể ngăn cản, rút quân là lựa chọn tất yếu.

Chỉ có điều rút lui như thế nào? Trương Liêu có kinh nghiệm tác chiến phong phú, Văn Sinh tất nhiên cũng biết tin tức Lưu Cảnh trợ giúp, một khi mình rút khỏi, ông ta rất có thể sẽ xuất kích, bám theo mình, khiến y không có cách nào vượt sông, cuối cùng đối mặt với vận mệnh diệt vong hoàn toàn, cho nên y nhất định phải đảm bảo mình có thể toàn thây trở ra.

Trương Liêu vỗ vỗ bờ vai của Lý Điển, cười nói:

- Tất cả nhờ cậy vào Mạn Thành huynh rồi!

Lý Điển gật gật đầu:

- Tướng quân xin yên tâm, ta sẽ làm hết sức.

Lý Điển xoay mình trèo lên ngựa, vung tay lên:

- Xuất phát!

Lý Điển dẫn theo ba nghìn quân ra khỏi Tây Doanh, đi về hướng Tây, lúc này Trương Liêu nhìn đám quân lính đi xa, y lại xoay người nhìn chăm chú Hán Thủy. Trên mặt sông Hán Thủy một mảnh đen ngòm, mơ hồ có thể thấy những thuyền chiến của quân địch đang đi tuần tra, Trương Liêu gật gật đầu, quay đầu lại ra lệnh:

- Tam quân chuẩn bị rút lui!

Trong ngọn lửa hừng hực ở đại doanh, chỉ thấy binh lính Quân Tào đang nhanh chóng sửa sang lại vũ khí, còn về các vật tư như doanh trướng và lương thảo, không có lợi cho việc vượt sông, bọn họ đều từ bỏ, mỗi người đều cố gắng trang bị đơn giản nhất.

Còn vật tư cực kì quan trọng khác lại được các binh sĩ đem từ trong doanh trướng ra, dùng dây thừng buộc cuộn thật chặt, đó chính là mấy nghìn chiếc bè da dê, cái này bọn họ làm công cụ vượt sông, cũng có thể nói đây là vũ khí bí mật để Quân Tào thuận lợi quay về phương Bắc.

Lúc chinh phạt Mã Siêu, Quân Tào đã thu được hơn một ngàn bè da dê người Khương dùng để qua sông ở trong đại doanh của Dương Thu, thực tế chính là lột da dê, sau khi thu được một tấm da nguyên vẹn, gia công thành một cái túi da, đem mấy chục túi da dê buộc vào với nhau, thổi hơi phồng lên tạo thành bè da dê.

Bè da dê sau khi thả khi ra đem theo rất nhẹ nhàng mà thuận tiện, là vật bất li thân của người Hồ khi xuất chinh. Tào Tháo chính là nhờ vào bè da dê mà nghĩ ra để cho quân đội Trương Liêu mang theo bè da dê vượt sông, tuy rằng cầu nổi mà bọn họ vượt sông đã bị phá hủy, nhưng Trương Liêu vẫn có thể dựa vào bè da dê mà vượt sông trở về phương Bắc.

Đồng thời, dùng bè da dê vượt sông còn có thể cảnh cáo Lưu Cảnh, Hán Thủy đã không thể ngăn cản nổi Quân Tào.

Đã sắp đến giờ Hợi, cửa chính quân doanh chậm rãi mở ra, hơn hai vạn Quân Tào xếp thành hàng ào ào xông ra, động tác nhanh nhẹn, rời khỏi quân doanh liền hành quân về hướng Long Trung. Trên mặt sông ngoài thành Tương Dương bố trí hơn hai trăm chiếc thuyền chiến, điều này uy h**p khá lớn đến việc bọn họ qua sông, mà cả vùng Long Trung chỉ có khoảng hơn ba mươi chiếc thuyền chiến.

Đúng lúc Quân Tào vừa mới rời khỏi đại doanh, lập tức bị thám báo của quân Hán ở bên ngoài thành phát hiện, bọn họ lập tức hồi báo Tương Dương. Văn Sinh nghe tin chạy lên thành Bắc, nhìn xa xa phía bên ngoài thành, lúc này, Giả Hủ cũng vội vàng đuổi tới, vội hỏi:

- Có chuyện gì xảy ra?

Văn Sính chỉ ra quân doanh của Quân Tào nói:

- Vừa mới có thám báo đến bẩm báo, chủ lực Quân Tào đã rời khỏi quân doanh về phía tây rồi.

Giả Hủ nhướn mày:

- Chẳng lẽ là đi Long Trung?

- Chắc là vậy!

Văn Sính lại nói:

- Ty chức hoài nghi Quân Tào đi nghênh chiến viện quân của Châu Mục rồi, tính thời gian, viện quân của Châu Mục nhanh nhất là tối ngày mai có thể đến Long Trung. Trương Liêu có thể đi phục kích Châu Mục không?

- Có khả năng này, nhưng cũng có khả năng Trương Liêu muốn vượt sông từ Long Trung về phía Bắc, nhưng bọn họ không có thuyền, không có khả năng vượt sông, thật ra khả năng lớn nhất chính là kế dụ binh, dụ thủ quân Tương Dương ra khỏi thành truy kích, sau đó bị bọn họ đánh ngược lại một kích, cuối cùng trong lúc hỗn loạn cướp lấy Tương Dương.

Văn Sính thở dài, ông đang muốn ra khỏi thành truy kích, Giả Hủ vừa nói như vậy, ông mới ý thức được mình khinh địch rồi:

- Bây giờ chúng ta nên làm gì?

Ông lại hỏi.

Giả Hủ nghĩ ngợi một lát nói:

- Nhưng nếu phái năm nghìn quân đuổi theo, nếu đúng là phục kích Châu Mục, năm nghìn quân có thể tấn công Quân Tào từ phía sau, khiến cho bọn họ chuyển bại thành thắng. Nếu như là kế dụ binh của Quân Tào, năm nghìn quân đội có thể rút về đúng lúc, về phần vượt sông Long Trung, tuy rằng khả năng không lớn nhưng vẫn phải phòng bị Quân Tào phái thuyền tới tiếp ứng từ bờ bên kia, nhất định phải ngăn chặn Quân Tào bỏ trốn từ Long Trung, nên gia tăng số lượng thuyền chiến trên sông Long Trung.

Văn Sính gật gật đầu:

- Đích thân ta dẫn năm nghìn quân theo đuôi, chiến thuyền sắp xếp xong xuôi, ta sẽ lập tức phái người báo cho Thẩm tướng quân.

- Văn Đô Đốc cũng nên cẩn thận, để ý bị quân địch phục kích giữa đường.

Giả Hủ vừa cười vừa nhắc nhở.

- Ty chức sẽ cẩn thận, phòng ngự ở thành Tương Dương nhờ cậy vào quân sư!

Văn Sinh lập tức xuống thành, dẫn năm nghìn quân binh xuất phát từ cửa Tây ra khỏi thành, cũng đi theo hướng Long Trung. Ông rất cẩn thận, đi theo Quân Tào nhưng giữ khoảng cách rất xa.

Cam Ninh sau khi dẫn quân chạy về Giang Hạ, bốn nghìn thủy quân trên sông Tương Dương liền giao cho Giáo Úy Thẩm Di thống soái, tổng cộng hơn bốn trăm thuyền chiến lớn bé, phong tỏa từ Phòng Lăng đến hơn nghìn dặm sông huyện Nghi Thành, nhưng trọng điểm lại là tam địa Tương Dương, Nghi Thành và Phòng Lăng.

Nhất là vùng mặt sông Tương Phàn, hai chi đại quân Nam Bắc của Tào Tháo đóng ở hai vùng Tương Dương và Phàn Thành. Thẩm Di đích thân dẫn hai trăm thuyền chiến tuần tra trên sông, ngày đêm phòng bị, sẵn sàng trận địa đón quân địch.

Đúng lúc Trương Liêu rút quân về phía tây, Quân Tào ở bờ bắc sông cũng có động tĩnh, hàng vạn Quân Tào tay cầm đuốc xuất hiện ở vùng bến tàu Phàn Thành, giống như một biển lửa. Bọn chúng đem hơn bốn trăm chiếc thuyền nhỏ từ lục địa kéo vào giữa sông, tiếng trống trận gõ vang, phô rõ bộ dạng vượt sông.

Thẩm Di lập tức bày đại trận ngăn chặn, hai trăm thuyền chiến bố trí thành ba tuyến phòng ngự, đồng thời phái ra hơn mười thuyền chiến năm trăm thạch tấn công bến tàu, ý đồ phá hủy thuyền nhỏ của Quân Tào, nhưng mấy vạn Quân Tào ở trên bến tàu bắn tên về phía sông, tên bay như mưa, ép cho thuyền chiến thủy quân không thể tới gần.

Thẩm Di không thể tới gần bến tàu, liền ra lệnh:

- Không cần tiến lên nữa, duy trì trận hình, để bọn họ vượt sông!

Nếu Quân Tào nhất định muốn vượt sông tìm cái chết, vậy y sẽ thành toàn cho bọn chúng. Trên mặt sông vang lên tiếng nổ lớn, hơn mười thuyền chiến lại rút trở về. Đúng lúc này, một con thuyền nhỏ đến gần chiến thuyền nghìn thạch của Thẩm Di, trên thuyền có quân sĩ hô:

- Thẩm tướng quân có đó không?

Thẩm Di bước nhanh đến mép thuyền, thò người ra:

- Chuyện gì?

- Quân sư lệnh ngài phái một bộ phận thuyền chiến tăng cường phòng ngự trên sông Long Trung, quân chủ lực của Quân Tào ở bờ Nam đã đi về hướng tây rồi.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 629: Vượt sông phá vây


Thẩm Di nhướn mày, ông ta còn đang muốn điều thuyền ở Long Trung đến, quân sư lại lệnh cho ông ta phái thuyền đi Long Trung.

Cho dù Thẩm Di có chút không tình nguyện nhưng mệnh lệnh của Giả Hủ ông ta không dám không nghe theo. Ông quay đầu lại ra lệnh một gã Nha tướng:

- Chu tướng quân, lập tức dẫn bản bộ tới bến tàu Long Trung đi tuần tra mặt sông.

Nha tướng Chu Tín đáp lại một tiếng, xuống thuyền lớn, dẫn năm mươi chiến thuyền thoát ly trận hình phòng ngự, chạy theo hướng tây đến bến tàu Long Trung cách mấy chục dặm.

Văn Sính dẫn theo năm nghìn binh lính một mạch đuổi theo, quân đội cách con rạch vẫn còn mấy dặm. Từ xa phát hiện phía trước có ánh lửa, trong lòng Văn Sính nghi hoặc, lập tức cử trinh thám lên trước điều tra. Không bao lâu, trinh thám trở về bẩm báo:

- Khởi bẩm tướng quân, là cây cầu lớn trên suối bị quân Tào phóng hoả thiêu huỷ rồi!

Văn Sính sửng sốt, lại ngẩng đầu nhìn về phía nam thăm dò, chỉ thấy ngoài mười mấy dặm mơ hồ cũng có ánh lửa bùng lên, đó là một cây cầu khác cũng bị quân Tào phóng hoả thiêu huỷ. Việc này khiến Văn Sính giận dữ, lập tức ra lệnh:

- Lập tức chặt cây dựng cầu nổi!

Khe suối chỉ rộng có mấy trượng, dùng cây to là có thể trực tiếp bắc cầu qua sông. Hơn trăm tên lính nhanh chóng chặt mười mấy cây liễu rủ bên bờ sông, kéo về phía bờ sông, không ngờ đến bên bờ thì bờ bên kia đột nhiên có một loạt tiếng mõ vang lên, bốn phía dày đặc mũi tên bắn tới. Binh lính không kịp đề phòng, đều trúng tên ngã xuống, binh lính ở đằng sau sợ tới mức quay đầu tháo chạy.

- Tướng quân, bờ bên kia có quân Tào mai phục!

Một tên quân hầu khẩn cấp bẩm báo với Văn Sính.

Tin tức này khiến Văn Sính lập tức cảnh giác. Quân Tào lại có mai phục, ông ngẫm nghĩ một chút, quay đầu lệnh cho thuộc cấp Trương Nham:

- Dẫn một nghìn huynh đệ bắc cầu qua sông, coi chừng đối phương bắn lén!

Trương Nham đáp ứng một tiếng, dẫn một nghìn binh lính đi về phía khe suối bắc cầu. Văn Sính hết sức chăm chú nhìn bờ bên kia. Nếu vẫn có tên tập kích, ông có thể buộc phải vượt sông. Nếu không có động tĩnh gì nữa, ông lại cần đề phòng, có khả năng phía trước có mai phục.

Lúc này, quân Hán lại chặt hơn chục cây đại thụ, bắc qua mặt sông thành một cây cầu nổi cực kỳ thô sơ, nhưng không hề có tên bắn đến nữa, dường như cung thủ quân Tào đều chạy hết rồi. Trương Nham vừa định vượt sông, Văn Sính lập tức lệnh cho người ngăn gã lại. Ông thúc ngựa lên trước nói:

- Đây là kế dụ binh của quân địch, trên đường tất có mai phục, không thể bất cần tiến lên.

Trương Nham không hiểu hỏi:

- Bỉ chức không hiểu, đã không có tên chứng tỏ quân Tào chỉ quấy nhiễu chúng ta vượt sông, chắc hẳn không có mai phục mới đúng, tướng quân sao lại cho rằng có mai phục?

Văn Sính cưởi lạnh một tiếng:

- Phép dụng binh, thực hư hư thực, đối phương là danh tướng Trương Liêu, hắn sao có thể không biết cái khe suối nhỏ khó cản quân ta, hắn lại cố tình đốt cầu, cố ý phái người bắn lén tên chính là để dụ ta qua sông truy kích. Ta nếu nóng vội qua sông, chui vào vòng vây quân địch, đường lui bị cắt đứt, e rằng chúng ta sẽ bị tiêu diệt toàn quân.

- Tướng quân nói rất có lý, không bằng trước tiên cử trinh thám đi dò đường, sau khi không có gì bất thường thì chúng ta qua sông truy kích.

Văn Sính gật gật đầu:

- Được!

Trương Nham lập tức cử mấy tên thám báo đi thăm dò tin tức trước. Văn Sính dẫn năm nghìn quân lại không vội qua sông, kiên nhẫn đợi tin thám báo. Qua nửa canh giờ, một tên thám báo chạy về bẩm báo:

- Trong vòng mười dặm phía trước không có mai phục!

Trong lòng Văn Sính có chút nghi hoặc, lẽ nào mình phán đoán sai sao? Lúc này Trương Nham lại xin chỉ thị:

- Xin hỏi tướng quân có tiếp tục hành quân không?

Văn Sính gật đầu, ra lệnh ngay:

- Quân đội qua sông, tiếp tục hành quân!

Năm nghìn quân Hán vượt qua khe suối, tiếp tục truy kích về phía trước, một mạch truy theo mười mấy dặm. Lúc này Trương Nham chạy tới bẩm báo:

- Khởi bẩm tướng quân, tình hình có chút bất thưởng. Thám báo bỉ chức cử đi đều mất tích rồi, không thấy quay về.

Văn Sính cả kinh, vội ghìm chặt chiến mã, nhìn về bốn phía. Bọn họ đã tiến vào vùng núi Long Trung, phía trước ngoài hai dặm là trấn Long Trung, tứ phía đều là cao sơn cùng cốc, rất dễ bị địch mai phục. Ông lập tức ý thức được sự bất ổn, liền ra lệnh:

- Mau hồi quân!

Vừa dứt lời, chỉ nghe hai bên trong thung lũng tiếng trống vang dội, lửa cháy tứ phía, hai nhánh quân từ hai bên phải trái thung lung giết đi ra, trong bóng tối nhìn không rõ số lượng người có bao nhiêu, trong ánh lửa chỉ thấy một viên đại tướng vung thương lao ra, chính là đại tướng quân Tào Lý Điển.

Quân đội của Văn Sính hành quân kéo dài thành vào dặm, nhất thời không kịp tụ lại ứng chiến, lập tức bị quân Tào một đánh hai. Đội quân của Văn Sính lập tức náo loạn, Văn Sính vội vàng hô lớn với Trương Nham:

- Ổn định quân đội, phá vây quay về Tương Dương!

Ông vung liễu diệp đại đao lên, thúc ngựa hướng về phía Lý Điển, hét lớn một tiếng:

- Tặc tướng, nhận một đao của ta!

Trước mặt là một đao bổ tới, đao thế cực kỳ linh hoạt, sắc bén. Lý Điển cũng hét lớn một tiếng, vung thương nghênh chiến. Hai người chiến mã lần lượt giao nhau, cùng chiến đấu kịch liệt trên đường.

Văn Sính võ nghệ cao cường, từng là một trong ba mãngh tướng dưới tay Lưu Biểu. Về sau lại liệt vào một trong năm hổ tướng của Kinh Châu, mãi đến khi Mã Siêu và Bàng Đức đầu hàng, Văn Sính mới rút khỏi ngũ hổ tướng. Lý Điển cũng là danh tướng của Tào Tháo, văn võ song toàn, rất có mưu lược, kế sách đoạn cầu dụ binh là sự sắp xếp của gã, cuối cùng dụ được Văn Sính đến.

Nhưng về võ nghệ thì Lý Điển lại yếu hơn những người như Vu Cấm, Trương Liêu, cũng thua hơn Văn Sính một bậc. Hai người kịch chiến hai mươi mấy hiệp, Lý Điển dần dần không chống đỡ nổi, gã lợi dụng sơ hở điều ngựa thối lui khỏi vòng kịch chiến, thúc ngựa bại lui về hướng tây. Gã tháo chạy khiến cho thế công của quân Tào lập tức giảm đi vài phần.

Văn Sính nắm lấy cơ hội này, hô lớn:

- Các huynh đệ, phá vây ra ngoài!

Lúc này Trương Nham đã ổn định được tinh thần và trận hình quân Hán. Bọn họ dưới sự dẫn đầu của Văn Sính, một loạt hăng hái phá vòng vây của quân Tào, nhanh chóng lui về hướng thành Tương Dương. Lúc này, Lý Điển lại lao lên, gã thấy quân Hán đã tháo chạy liền không đuổi theo nữa, dẫn quân chạy về hướng bến tàu Long Trung.

Bến tàu Long Trung nhỏ bằng nửa bến tàu Tương Dương. Bờ bên kia là huyện Đặng. Cả vùng này địa thế bằng phẳng, cho dù không ở trên bến tàu thì cũng hoàn toàn có thể vượt sông, có thể lợi dụng bờ sông rộng mấy dặm, do quân Tào chủ yếu tập trung ở vùng Tương Phàn, do đó mặt sông Long Trung không phải là trọng điểm chiến thuyền quân Hán tuần phòng, chỉ có không đến hai mươi chiến thuyền.

Chiến thuyền chủ yếu là phòng ngự bờ bắc, vùng giáp bờ nam gần như không có chiến thuyền tuần tra. Quân của Trương Liêu đã dừng chân cách bến tàu khoảng một dặm. Binh lính thổi đủ bè da dê, rất nhanh hàng nghìn bè da dê đã chuẩn bị sẵn sàng.

Lúc này, một tên trinh thám chạy tới bẩm báo:

- Khởi bẩm tướng quân, trên sông gần bờ nam không có chiến thuyền quân địch, vùng bờ bắc có.

Trương Liêu lo chiến thuyền của quân Tương Dương đuổi kịp đến, y lập tức hạ lệnh:

- Xuất phát vượt sông!

Hơn hai vạn quân Tào khiêng bè da dê trùng trùng điệp điệp đi xông về phía bờ sông, từng chiếc bè được thả xuống sông. Binh lính ùn ùn nhảy lên bè, theo chế độ của quân Tào, mười người một bè, như vậy có Thập trưởng dẫn đầu để tiện chỉ huy và phân công, bốn tên lính dùng mái chèo gỗ rạch nước, sáu tên còn lại giương cung nỏ phụ trách việc cảnh giới bốn phía.

Chỉ trong chốc lát, trên sông xuất hiện chi chít hơn nghìn chiếc bè da dê, ra sức chèo sang bờ đối diện. Từ chỗ cao nhìn xuống, chỉ thấy vô số những chấm đen nhỏ trôi nổi trên mặt sông, thanh thế to lớn, đồ sộ.

Lúc này đã là canh tư, bóng đêm nặng nề, trên sông một mảng đen kịt, tiết xuân se lạnh, gió táp thấu xương. Chiến thuyền của quân Hán cuối cùng phát hiện sự bất thường ở bờ nam, hơn hai mươi chiến thuyền quay đầu chèo về phía nam mặt sông.

Chiến thuyền quân Hán trên sông Long Trung chủ yếu là chiến thuyền năm trăm thạch, cũng có chiến thuyền ngàn thạch, do một tên quân hầu thống soái. Gã nhìn thấy tình thế nguy hiểm, lập tức lệnh người chạy về Tương Dương cầu viện.

- Đụng ngã bọn chúng!

Quân hầu quân Hán lớn tiếng ra lệnh, tiếng trống trận thùng thùng vang lên trên mặt sông. Hơn hai mươi chiến thuyền quân Hán nhanh chóng xông tới đâm vào quân Tào. Khi thuyền gần đến gần, quân Tào trên bè da dê tới tấp giương cung bắn tên. Tên bay trên mặt sông như mưa, bắn vào những chiếc thuyền địch đang đâm tới.

- Ầm!

Một tiếng nổ lớn, một chiếc thuyền cầm đầu hung hăng đâm vào một chiếc bè da dê, tạo nên một con sóng lớn lật ngược cái bè. Trong một loạt tiếng kinh hô, mười tên lính Tào tới tấp rơi xuống nước, hoảng sợ scầu cứu.

Chiến thuyền không chút để ý, lại đón đầu một chiếc bè khác mà đâm. Chiến thuyền tuy chỉ to khoảng năm trăm thạch nhưng đối đầu với bè da dê vẫn có vẻ to lớn hơn, lực lượng cách xa nhưng về số lượng lại nhỏ hơn nhiều so với bè da dê nghìn thạch. Cho dù chiến thuyền đâm va lung tung trên mặt sông nhưng số lượng vẫn là ít quá, bè da dê của quân Tào xông qua phong toả Hán Thuỷ càng nhiều, vượt qua sông Hán Thuỷ.

Trương Liêu ở phía sau đội ngũ. Y muốn đợi quân của Lý Điển đuổi tới. Lúc này có binh lính đến báo, quân của Lý Điển đã qua trấn Long Trung, đang hăng hái đuổi tới bến tàu này. Lúc này Trương Liêu mới lên một cái bè da dê loại to ra, trên bè có năm mươi thân bình và hai chiến mã của y. Binh lính ra sức chèo thuyền, chèo về bờ đối diện.

Nhưng chính vào lúc này, xa xa trên mặt sông vọng lại tiếng kèn, “Ô…”, tiếng kèn vang vọng trên sông, tiếp sau đó là tiếng trống ù ù, bóng dáng mười mấy chiến thuyền của quân Hán hiện ra trên mặt sông. Đây là chiến thuyền mà thủ lĩnh Hán Thuỷ là Thẩm Di cử đến trợ giúp Long Trung, khoảng hơn năm mươi, bọn họ cũng biết có quân tình ở Long Trung, đang nhanh chóng đi về phía tây.

Lúc này, quân Tào còn có một nửa vẫn chưa vượt sông. Sắc mặt Trương Liêu biến đổi, lập tức ra lệnh:

- Mệnh lệnh hộ vệ quân nghênh chiến!

Trương Liêu ở Uyển Thành cũng huấn luyện một nhóm thuỷ quân Nam Dương hai nghìn người, so sánh với binh lính phương bắc, bọn họ am hiểu kỹ năng bơi hơn, có thể tác chiến trên sông. Trong kế hoạch vượt sông, Trương Liêu không hề suy tính việc thuỷ chiến với quân Hán Thuỷ, chỉ muốn mau chóng vượt sông, nhưng lúc này viện binh Hán Thuỷ tới, khiến y không thể không thay đổi kế hoạch.

“Tùng…tùng…tùng!”

Tiếng trống trận của quân Tào cũng gióng lên, kịch liệt nhưng lại có tiết tấu vang vọng trên mặt sông. Đây là mệnh lệnh xuất trận. Hai trăm chiếc bè da dê hộ vệ đang vượt sông bắt đầu nhanh chóng tập hợp, nghênh chiến với những chiếc chiến thuyền của quân Hán đang lao tới.

Nha tướng quân Hán là Chu Tín, lúc đầu ở Giang Lăng chính là gã bắt được Quan Vũ, cũng do đó từ Quân hầu được thăng làm Nha tướng. Sự thiện chiến dũng mãnh của gã chiếm được sự tán thưởng của Cam Ninh, đặc biệt cho gã làm phó tướng của Thẩm Di. Chu Tín là người sinh trưởng ở miền nam, trước nay chưa từng nhìn thấy bè da dê. Gã cũng có chút ngạc nhiên, nhưng lúc này, hai chiếc thuyền kỳ quái của quân Tào từ bốn phương tám hướng lao tới đội thuyền của gã, mũi tên trên mặt sông bắn như mưa, không ít binh lính trúng tên, gã không dám khinh địch, hạ lệnh:

- Dùng pháo đá công kích!

Pháo đá cũng chính là máy bắn đá, quân Tào gọi là Phích lịch pháo, giống một cái nỏ lớn, bắn những viên đá đi. Nó nhỏ hơn máy ném đá, bắn nhiều nhất cũng được hơn năm mươi bước, nhưng ưu thế của nó chính là khá chính xác, đặc biệt thích hợp sử dụng trên thuyền.

Chiến thuyền do Chu Tín dẫn đầu khác với thuyền tuần tra Long Trung, ít nhất một nửa là chiến thuyền chủ lực ngàn thạch, phần lớp lắp pháo đá. Theo tiếng bắn đá “Phịch!” vọng trên mặt sông, từng viên đá lớn hơn mười cân được ném tới bè da dê.

- Ầm!

Tiếng động cực lớn, một tảng đá to đập trúng một chiếc bè da dê, mấy tên lính Tào bị đập trúng, phát ra tiếng kêu thảm thiết, ngã từ bè da dê xuống nước, thuyền lớn theo đó đâm đến, đâm lật bè da dê. Hơn năm mươi chiến thuyền quân Hán vô cùng sắc bén, liền lúc đâm lật mười mấy chiếc bè. Trên mặt sông, chỗ nào cũng là binh lính quân Tào bị ngã xuống nước đang cầu cứu.

Nhưng sự phản kích mãnh liệt của quân Tào cũng khiến chiến thuyền quân Hán bị tổn hại nặng nề. Mấy chiếc bè da dê vây lấy một chiến thuyền ngàn thạch, binh lính quân Tào trên bè đem những bình gốm chất đầy dầu hoả ném sang thuyền lớn, dùng hoả tiễn đốt dầu hoả, thuyền lớn bắt đầu bị thiêu cháy mạnh, nhanh chóng bị lửa lớn nuốt chửng.

Quân Tào bắt chước làm theo, liên tiếp đốt cháy tám chiếc thuyền của quân Hán. Trên mặt sông lửa cháy ngút trời, khói đặc cuồn cuộn. Trên sông hai bên đang kịch chiến, vô số binh lính quân Tào liều mạng chèo thuyền, bè da dê dày đặc đang chèo sang bờ bên kia trong cơn sóng lớn.

Nhưng rất nhiều quân Tào bị ngã xuống nước cũng tìm được cách cứu mạng. Bọn họ dùng dao cắt dây thừng trên bè da dê, ôm một túi da dê bơm đầy khí, ra sức bơi sang bờ bên kia.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 630: Hai quân giằng co


Trời dần sáng, mặt sông Hán Thuỷ cũng khôi phục lại vẻ yên ả. Qua một đêm giao tranh sinh tử, trả giá hơn hai nghìn mạng người, chủ lực quân Tào do Trương Liêu dẫn đầu cuối cùng lợi dụng bè da dê để qua sông Hán Thuỷ, mà cùng lúc đó,Vu Cấm ở huyện Nghi Thành cũng lợi dụng bè da dê lén vượt sông Hán Thuỷ thành công, rút về bờ bắc. Quân Tào lại tụ tập ở đại doanh Phàn Thành.

Mặc dù lần này quân Tào vượt sông đánh bất ngờ cũng không có nhiều thành quả, lại còn trả cái giá không nhỏ nhưng chiến lược của Tào Tháo lại thành công, quân Tào vượt sông khiến quân Hán chịu áp lực cực lớn, Lưu Cảnh đành phải tạm dừng bắc phạt, dẫn quân chi viện Tương Dương.

Bắc phạt tuy chỉ là tạm dừng nhưng ít nhất cần sau nửa năm nữa mới có thể lại phát khởi thế công, đây chính là thời gian quân Tào thắng lợi để bố trí phòng ngự Lũng Tây. Từ góc độ này mà nói, Tào Tháo nam chinh Tương Dương đạt được mục tiêu dự tính, giành được thành công.

Sáng sớm ngày thứ hai sau khi quân Tào vượt sông, Nguỵ Diên dẫn năm nghìn quân Hán tiên phong đến Tương Dương, Đến buổi trưa, mấy vạn quân chủ lực do Lưu Cảnh dẫn đầu cũng xuất hiện ở Long Trung. Lúc này, Văn Sính và Giả Hủ cũng kịp đến Long Trung nghênh tiếp Lưu Cảnh.

- Bỉ chức phán đoán sai lầm, ngăn chặn quân Tào không hiệu quả, xin Châu Mục xử phạt!

Văn Sính vô cùng hổ thẹn. Tuy Giả Hủ đã ý thức được mục đích của quân Tào là muốn vượt sông Long Trung, nhưng y vẫn phán đoán nhầm, cho rằng quân Tào là đi chặn đánh cứu viện của quân Hán, từ đó không năm được cơ hội truy kích quân Tào.

Lưu Cảnh đã nhận được bẩm báo, hắn đỡ Văn Sính dậy cười nói:

- Lần này quân Tào qua nam về bắc, rõ ràng là đã có mưu kế tỉ mỉ, lại còn sử dụng bè da dê, cái này đối với quân đội miền nam mà nói quả thực khó có thể nghĩ đến. Lần này chỉ cần có thể giữ được Tương Dương, ta cho rằng các ngươi không có không làm tròn bổn phận, xứng đáng khen thưởng!

Lúc này, Giả Hủ cũng bước lên thi lễ nói:

- Nói ra thật hổ thẹn, Văn tướng quân không nghĩ đến việc quân Tào dùng bè da dê thì có thể lý giải, nhưng ta là người Tây Lương, từ nhỏ đã rất quen thuộc với kiểu vượt sông như thế này mà ta lại không nghĩ đến, thật khó nói. Lần này để quân Tào chạy thoát trách nhiệm là ở ta, không liên quan gì đến Văn tướng quân.

- Quân sư không nên tự trách, kỳ thực ta lo lắng quân Tào tiến công Gang Hạ, cũng may Tào Tháo tạm thời chưa có ý đó, cũng coi như là vận may của chúng ta.

Nói đến đây, Lưu Cảnh lại cười với mọi người:

- Đến bến tàu Long Trung xem chút đi!

Hắn quay người lên ngựa, mọi người vây quanh hắn đi về phía bến tàu Long Trung. Lúc này trên bến tàu Long Trung chất đầy quân tư và binh khí quân Tào vứt lại. Binh lính Hán đang thu dọn các loại vật tư. Lưu Cảnh đến trước một đống bè da dê, đây là bè bị nước sông xô lên bờ, có hơn bốn trăm chiếc, phần lớn bị xẹp khí, còn có hơn mười chiếc hoàn chỉnh chất thành một đống bên cạnh.

Lưu Cảnh cẩn thận nhìn những chiếc bè này, quay đầu hỏi Giả Hủ:

- Chiếc bè lớn nhất quân sư đã từng thấy lớn chừng nào?

Giả Hủ nghĩ một chút nói:

- Năm đó trong quân Đổng Trác có, kỳ thực chính là dùng ba mươi tấm da nhỏ ghép vào với nhau mà thành, bốn bên buộc gỗ lớn, hình thể vô cùng lớn, nhiều nhất có thể chở hơn hai trăm người, nhưng chủ yếu là dùng vận chuyển lương thực, cho dù là chiến thuyền nghìn thạch cũng e là không đâm lật được.

Lưu Cảnh gật gật đầu:

- Lần này quân Tào dùng bè da dê nhỏ mà đã có ích, ta lo lão sau này sẽ tạo ra cái bè lớn, dễ dàng vận chuyển, sự uy h**p đối với Kinh Châu chúng ta sẽ lớn hơn, hơn nữa lần này quân Tào vượt sông làm lộ rõ nhược điểm của việc phòng ngự eo hẹp của thuỷ quân của chúng ta. Hôm nay qua sông từ huyện Nghi Thành, nói không chừng ngày mai sẽ qua sông từ quận An Lục, khiến người ta khó lòng phòng bị a!

Giả Hủ cười khổ một tiếng, không nói gì. Lưu Cảnh lại nói với Văn Sính và Nguỵ Diên:

- Các ngươi về Tương Dương trước đi! Cho quân đội đóng quân xong xuôi, lát nữa ta và Giả quân sư đi thuyền về Tương Dương.

Mọi người thi lễ cáo từ. Lưu Cảnh và Giả Hủ lên một chiếc thuyền nghìn thạch lớn, xuôi dòng về Tương Dương.

Bên mạn thuyền, Lưu Cảnh nhìn thị trấn Đặng Huyện bị phá huỷ bên kia bờ hồi lâu, trong ánh mắt chứa đầy sự phẫn nộ. Lúc này, Giả Hủ chậm rãi đi đến bên Lưu Cảnh, một lúc lâu thở dài nói:

- Có lẽ chúng ta cần phải thay đổi kế hoạch.

Lưu Cảnh quay đầu nhìn y, không hiểu hỏi:

- Quân sư là có ý gì?

- Tào Tháo đã tìm được cách phá vỡ phòng ngự Hán Thuỷ, tạo nên áp lực vô cùng to lớn đối với việc chinh phục phương bắc của tuyến phía tây chúng ta. Dù sao binh lực của Tào Tháo vượt qua chúng ta rất nhiều, nếu trọng điểm chiến lược của chúng ta ở phía tây thì quân Tào lúc nào cũng có thể từ tuyến đông kiềm chế chúng ta. Ta cảm thấy quân Tào vượt sông này kỳ thực chính là cảnh cáo chúng ta, nếu chúng ta không từ bỏ bắc phạt, thì sẽ có lần vượt Hán Thuỷ thứ hai, lúc đó chỉ e không phải là Tương Dương mà là Giang Hạ rồi.

- Việc này có quan hệ gì đến việc chúng ta thay đổi kế hoạch?

- Kế hoạc trước đây của chúng ta là chiếm Lũng Tây trước, sau khi đứng vững chân ở Lũng Hữu thì lại tiến công Quan Trung, nhưng hiện nay xem ra chúng ta phải nhanh chóng chiếm lấy Quan Trung, nếu quân Tào lại từ Kinh Tương kiềm chế chúng ta, vậy thì chúng ta có thể từ Quan Trung uy h**p Tịnh Châu ở phía đông, thậm chí có thể từ đằng sau uy h**p Nam Dương. Như vậy sẽ thực hiện được việc bao vây hai mặt của quân Tào.

Lưu Cảnh trầm tư thật lâu rồi nói:

- Chúng ta có thể ủng hộ Thái thú Giao Chỉ Sĩ Tiếp, để gã có thực lực chống lại Lưu Bị. Như vậy thì ta sẽ có thể chuyển toàn bộ thuỷ quân và chiến thuyền của Giang Lăng đến Hán Thuỷ, tăng gấp đôi hàng phòng ngự thuỷ quân ở Hán Thuỷ, đồng thời tái mộ năm vạn binh, gia tăng binh lực Kinh Châu lên hai mươi vạn. Ta nghĩ như vậy sẽ không ảnh hưởng kế hoạch tây chinh của ta.

Giả Hủ hiểu ý của Lưu Cảnh. Hắn tạm thời vẫn chưa muốn tấn công Quan Trung trước, vẫn theo kế hoạch cũ, sau khi đứng vững chân ở Lũng Tây thì sẽ tiến quân Quan Trung. Như vậy cũng khá ổn thoả. Nghĩ đến đây, Giả Hủ cười nói:

- Có lẽ ta vẫn còn một cách, khiến quân Tào bị kiềm chế ở hướng Hợp Phì, tiến công Kinh Châu cũng sẽ hữu tâm vô lực.

- Hợp Phì?

Ánh mắt Lưu Cảnh sáng lên. Hắn có chút hiểu được ý của Giả Hủ. Nếu như vậy cũng là thượng sách. Hắn tin Tôn Quyền nhất định sẽ nuốt miếng mồi này.

Trương Liêu dẫn quân bình an trở về. Lưu Cảnh cũng bị ép dừng tây chinh, tiến đến viện trợ Kinh Châu. Điều này khiến trong lòng Tào Tháo vô cùng sảng khoái, nhân lúc quân của Lưu Cảnh vẫn chưa đến Tương Dương, Tào Tháo hạ lệnh bày tiệc ăn mừng lần xuất binh hành động thành công này.

Bên trong đại trướng, Tào Tháo bày tiệc rượu, mọi người ngồi xúm lại một vòng, mấy tên lực sĩ trong quân diễn vật trong trướng, mọi người cười nói không dứt, không khí vô cùng náo nhiệt.

Lúc này Tào Tháo nâng cốc rượu lên cười nói với mọi người:

- Các vị, xin nghe một lời của ta!

Trong đại trướng lập tức yên tĩnh lại, vô số ánh mắt chăm chú nhìn vào Tào Tháo. Lúc này Tào Tháo mới chậm rãi nói:

- Ý nghĩa của việc vượt sông lần này không chỉ là chúng ta ép Lưu Cảnh đến cứu viện Tương Dương thành công, cũng không phải là chúng ta có thể toàn mạng trở về, quan trọng hơn chính là những năm gần đây chúng ta luôn bị áp bức dưới thuỷ quân Kinh Châu, cuối cùng tìm ra được một con đường đối kháng với thuỷ quân Kinh Châu. Chúng ta không cần chiến thuyền truyền thống, hoàn toàn có thể lợi dụng sự tiện lợi của bè da dê, linh hoạt tác chiến với thuỷ quân Kinh Châu, nào, cốc rượu này chúng ta cùng nhau uống!

Mọi người cùng đồng thanh đáp ứng, nâng cốc uống cạn. Rất nhiều người ở đây đều không hiểu rõ thâm ý trong câu nói cuối cùng của Tào Tháo, Trương Liêu lại hiểu, vì có hàng trăm tên lính Tào bị rơi xuống nước, không ngờ mỗi người tự ôm một cái túi da dê bơi về bờ bên kia. Phát hiện này có ý nghĩa to lớn, cứ như vậy, binh lính Tào chỉ cần biết bơi một chút, bọn họ có thể thuận lợi qua Hán Thuỷ.

Trước đây cũng có người đề nghị binh lính có thể ôm cây gỗ qua sông, nhưng dù sao cây gỗ không tiện mang đi mà bè da dê lại có thể để trong bọc đeo lưng, mỗi binh lính tuỳ thân mang theo, mỗi người mang bốn cái, khôi giáp và binh khí thì có thể đặt trên túi da vượt sông.

Thậm chí có thể lâm thời ghép thành bè lớn, vận chuyển chiến mã và đồ quân nhu vượt sông, chính là phát hiện này mới khiến Tào Tháo mững rỡ như điên. Vấn đề vượt sông vẫn dằn vặt lão bao nhiêu năm qua cuối cùng giải quyết dễ dàng. Đương nhiên Trường Giang thì không được, nhưng ngoại trừ Trường Giang ra, quân Tào sẽ không bị bất cứ con sông nào gây khó khăn nữa.

Tào Tháo thấy Trương Liêu như có suy nghĩ bèn cười nói:

- Văn Viễn đang nghĩ gì vậy? Phải chăng đang nghĩ đến tác dụng kỳ diệu của túi da dê?

- Vâng! Bỉ chức đang nghĩ đến việc này, ngoài ra bỉ chức còn một chút lo lắng Hợp Phì, lo quân Giang Đông thừa cơ tập kích Hợp Phì.

Tào Tháo cười ha hả:

- Ta quả thực có nhận được cấp báo, Hoàng Cái dẫn hai vạn Giang Đông vượt sông từ Lịch Dương, tiến về Hợp Phì, nhưng ta một chút cũng không lo lắng Tôn Quyền sẽ thực sự ra sức vì Lưu Cảnh, giúp Lưu Cảnh đánh bại chúng ta y được lợi gì chứ? Đối với y mà nói, lợi ích lớn nhất chính là Tào Lưu lưỡng bại câu thương, cho nên y chỉ bày làm ra vẻ, tuyệt không thực sự tiến công Hợp Phì.

- Thừa tướng quả nhiên là nhìn rõ lòng người.

Mọi người đều nâng chén tán thưởng.

Tào Tháo lại uống hai chén rượu, vẫn chưa thấy đã, lão thở dai một tiếng nói:

- Năm đó Nhương Sơn sai lầm, giữ lại mạng Lưu Cảnh, không ngờ gã cuối cùng lại trở thành mối đại hoạ của ta, đến nỗi hôm nay bị động như vậy. Năm nay ta đã năm tám, tuổi gần sáu mươi, mà thiên hạ chưa bình, phương bắc lưu dân quá mức, liệt sĩ tuổi già, trí khí chưa đủ!

Nói xong lão lại nâng chén uống một hơi cạn, bất giác có chút men say. Hứa Chử đứng sau Tào Tháo cảm thấy Thừa tướng đã không chống đỡ được nữa, vội lên trước thấp giọng nói:

- Thừa tướng cần phải thay quần áo chăng?

Tào Tháo gật gật đầu:

- Cô quả thực muốn đi thay quần áo!

Hứa Chử đỡ Tào Tháo, Tào Tháo lại cười nói với mọi người:

- Ta đi chắc sẽ không quay lại nữa, ta biết mọi người đều hy vọng ta rời đi, vậy thì ta thành toàn cho các ngươi. Mọi người vui vẻ uống đi! Ngày mai chúng ta lại thảo luận làm thế nào đối phó Lưu Cảnh đến đây.

Mọi người cười lớn, đều đứng dậy thi lễ. Hứa Chử lúc này mới đỡ Thừa tướng cẩn thận từ hậu trướng rời đi. Tào Tháo đi rồi, mọi người đã không còn trói buộc, trong đại trướng lại náo nhiệt trở lại, mọi người cười nói, không khí nhộn nhịp.

Lúc này, Tào Hồng bưng một chén rượu đi đến trước mặt Trương Liêu, như cười như không nói:

- Văn Viễn trận này tuy thua nhưng thua một cách tráng liệt, đến Thừa tướng cũng khen không ngớt, còn bày tiệc rượu vì Văn Viễn ăn mừng, khiến người ta không khỏi khâm phục. Ta đến kính Văn Viễn một chén, bày tỏ tâm ý.

Trương Liêu nghe ra trong lời nói của gã có gai, trong lòng không vui, thản nhiên nói:

- Trương Liêu chỉ là cẩn tuân mệnh lệnh tác chiến của Thừa tướng, Thừa tướng bày rượu không có liên quan gì đến Trương Liêu, không dám nhận sự tán thưởng của tướng quân. Chén rượu này chúng ta hay là tự uống đi!

Y nâng chén rượu uống một hơi cạn. Tào Hồng mặt biết sắc, lạnh lùng nói:

- Văn Viễn không nể mặt ta sao?

- Cũng không phải! Ta chỉ là uống rượu của Tử Liêm tướng quân, không nhận sự tán thưởng của Tử Liêm tướng quân. Từ Liêm tướng quân, mời!

- Hừ!

Tào Hồng hừ mạnh một tiếng, thuận tay tạt chén rượu xuống nền đất, quay người bước đi. Tạt rượu ngay trước mặt, đây là hành động cực kỳ vũ nhục người khác. Trương Liêu lập tức giận dữ, đập bàn quát:

- Tào Hồng, ngươi đây là có ý gì?

Tào Hồng quay đầu liếc y một cái, dùng ngữ khí châm chọc nói:

- Không có gì, ta chỉ là đang tế những hương nhân vô tội bị tướng quân g**t ch*t thôi, tướng quân hà cớ gì phải tức giận?

Trương Liêu lập tức hiểu ra, chính là tên

Quân hầu dâm nhục dân nữ, giết người cướp của đó, Tào Hồng quả nhiên tìm mình làm khó dễ. Trương Liêu đâu phải là người chịu nhục mà không nói, y hít một hơi thật sâu, trầm giọng nói:

- Tào Hồng tướng quân, mời ngươi nói rõ ra đi!
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 631: Tuân Úc đã đến


Tào Hồng dừng bước, quay đầu liếc mắt nhìn Trương Liêu không chút biểu cảm. Cuối cùng cười lạnh một tiếng, quay người đi. Lúc này, trong đại trướng lặng ngắt như tờ, ánh mắt của tất cả mọi người đều dồn vào hai người bọn họ. Mọi người đều cảm thấy kinh ngạc, Tào Hồng sao lại có thể tạt rượu xuống đất? Hai người bọn họ đã xảy ra mâu thuẫn gì?

Lúc này, Trần Quần ngồi ở một bên mới thập giọng hỏi:

- Văn Viễn, đã xảy ra chuyện gì?

Trương Liêu biết lúc này không phải là lúc phát sinh nội chiến, y nhịn cơn giận này lại, lắc lắc đầu:

- Không có gì, tiên sinh mời tiếp tục uống rượu!

Ánh mắt Trần Quần càng thêm nghi ngờ. Người khác có thể không thấy rõ, nhưng y ngồi bên cạnh, nhìn rất rõ ràng, chính là Tào Hồng giận lây sang Trương Liêu, giữa hai người này có mâu thuẫn, Trương Liêu đã không chịu nói, Trần Quần cũng không hỏi nhiều.

Lúc này, trong đại trướng rộ lên tiếng xì xào bàn tán, dần dần cũng náo nhiệt trở lại. Đúng vào lúc này, có thị vệ ở trước cửa trướng cao giọng nói:

- Các vị tướng quân, triều đình phái sứ giả tới, là Tuân Lệnh quân!

Các tướng đều đứng dậy đi ra khỏi trướng. Trần Quần lại rất kinh ngạc, nhạc phụ đại nhân sao lại đến đây? Y không kịp nghĩ nhiều, cũng đứng dậy ra nghênh đón. Lúc này, Tào Hồng bước nhanh qua bên cạnh Trương Liêu, bước chân nhẹ nhàng, lạnh lùng liếc mắt nhìn y một cái, bước nhanh hơn ra ngoài. Trương Liêu coi như không nhìn thấy.

Lý Điển cũng bước tới bên cạnh Trương Liêu, gã áy náy nói:

- Buổi chiều Từ Liêm tướng quân đã tới tìm ta, hỏi về việc đồng hương của hắn bị giết. Việc này ta rất xin lỗi, không thể khuyên được hắn.

- Việc này không liên quan gì đến ngươi, Man Thành không cần tự trách, ta cũng không để nó trong lòng đâu.

Trương Liêu cũng không ra cửa doanh trại, quay người về trướng của mình. Lý Điển nhìn y đi xa, bất giác lắc đầu. Từ đầu gã biết Tào Hồng sẽ mang thù, còn khuyên Trương Liêu, y lại không chịu nghe. Việc này quả thực cũng chẳng trách mình được.

Ở đại doanh trại, Tuân Úc tay cầm phù tiết đi vào quân doanh. Ông là phụng ý chỉ Thiên tử đến Phàn Thành khao quân. Tuân Úc không hề muốn đến đại doanh của Tào Tháo, ông đã quyết tâm không tham gia vào quân vụ quân Tào, nhưng lần này lại bất đắc dĩ đến Phàn Thành, Tuân Úc rất rõ đây tất nhiên là ý của Tào Tháo, Thiên tử chỉ là Hoàng đế bù nhìn, y sao có thể làm chủ?

Lúc này, Trần Quần chạy ra nghênh đón, thi lễ cười nói:

- Không ngờ là nhạc phụ đại nhân đến, con rể vô cùng bất ngờ.

Tuân Úc là quan hệ cha vợ với Trần Quần, gặp con rể Trần Quần, trong lòng Tuân Úc cũng có chút vui mừng, ông cũng khẽ đáp lễ nói:

- Trường Văn, đã lâu không gặp!

Tuân Úc lại lần lượt chào chư tướng ra đón tiếp mình, ông lại phát hiện không thấy Tào Tháo bèn hỏi:

- Thừa tướng có ở đây không?

Trần Quần thấp giọng đáp:

- Thừa tướng uống say rồi, đang nghỉ trong đại trướng, chỉ e bây giờ không thể gặp nhạc phụ, xin nhạc phụ lượng thứ.

Tuân Úc lẳng lặng gật đầu:

- Không sao, ta ngày mai gặp Thửa tướng cũng được.

- Nhạc phụ xin mời theo con! Con đưa nhạc phụ đến trướng nghỉ ngơi, đường xa lặn lội đến đây, trên đường vất vả rồi.

Trần Quần vừa nói vừa dẫn Tuân Úc đi về trướng.

Tào Tháo ngủ một mạch đến tối mới tỉnh, chỉ cảm thấy đầu đau muốn nứt. Lão uống một cốc trà, ổn định tinh thần, lại hỏi Hứa Chử:

- Bờ bên kia có tình hình gì không?

Hứa Chử khom người đáp:

- Bờ bên kia rất yên tĩnh, không có bất cứ động tĩnh nào. Bên Long Trung cũng không có tin tức có đại quân nào đến.

Chần chừ một chút, Hứa Chử lại nói:

- Nhưng Tuân Úc đến rồi, phụng ý chỉ Thiên tử đến khao quân.

Tào Tháo ha hả cười:

- Y cuối cùng cũng đến rồi.

Tào Tháo tất nhiên biết Tuân Úc sẽ đến, chính lão mệnh lệnh cho con cả Tào Phi sắp xếp Thiên tử phái Tuân Úc đến khao quân. Một vài việc phát sinh ở kinh thành khiến lão cực kỳ tức giận. Nghe nói Tuân Úc cũng cuốn vào, điều này khiến Tào Tháo vừa tức giận vừa đau lòng. Người khác thế nào lão không quan tâm, nhưng lão không cho phép Tuân Úc phản bội mình.

Trầm ngâm một lát, Tào Tháo bèn nói với Hứa Chử:

- Ngươi đi mời Tuân công đến đây, hãy nói ta muốn gặp y.

- Thừa tướng muốn tiếp chỉ sao?

Hứa Chử hỏi, nếu là tiếp chỉ thì gã sẽ dặn dò vệ sĩ chuẩn bị hương án.

- Tiếp chỉ ngày mai hãy nói, tối nay ta muốn nói chuyện với y một chút, đi đi! Mời y đến đây.

- Tuân lệnh!

Hứa Chử quay người vội vàng đi.

Nơi Tuân Úc ở cách đại trướng của Tào Tháo rất gần. Không bao lâu, Hứa Chử liền dẫn Tuân Úc đến trướng của Tào Tháo. Tuân Úc tiến lên bình tĩnh thi lễ:

- Vi thần tham kiến Thừa tướng!

- Văn Nhược đi đường vất vả rồi, mời ngồi!

Tào Tháo cười tủm tỉm mời Tuân Úc ngồi.

Tuân Úc ngồi xuống, khom người nói:

- Vi thần phụng ý chỉ Thiên tử đến đại doanh khao quân. Thiên tử muốn vi thần chuyển lời với Thừa tướng, nếu cần gì Thừa tướng có thể trực tiếp nói đề xuất.

Tào Tháo hí mắt mỉm cười:

- Đa tạ Văn Nhược, ta tạm thời không có yêu cầu gì.

- Không biết Thừa tướng tìm vi thần đến có việc gì?

Tào Tháo cười như không cười, hồi lâu mới thản nhiên hỏi:

- Tháng trước Phục Quốc trượng mừng thọ, văn võ đại thần đi chúc mừng có hai trăm sáu mươi bảy người, Văn Nhược hẳn là cũng đi chứ!

Trong lòng Tuân Úc giật mình, Tào Tháo làm sao đến số người cụ thể cũng biết, ông vội vàng cúi người nói:

- Vi thần quả thực có đi, còn gặp trưởng công tử nữa.

Ý của Tuân Úc là nói Tào Phi cũng đi, sao phải hỏi ta việc này?

- Ha ha! Không có gì, ta chỉ là tuỳ tiện hỏi thôi.

Trong đại trướng yên tĩnh lại, hai người đều không nói gì, nhưng Tuân Úc cũng hiểu được Tào Tháo vẫn ngó chừng Phục Hoàn, cuối cùng Phục Hoàn giữ lại tám người bí mật thảo luận đại sự, mình cũng là một trong số đó, chỉ là ông không muốn tham gia vào kế hoạch của Phục Hoàn, Tào Tháo gọi mình từ Nghiệp Thành đến, chính là vì việc này.

Sau lưng Tuân Úc ướt đẫm, âm thầm oán trách Phục Hoàn hồ đồ, việc như thế này làm không xong, Tào Tháo biết thì Phục Hoàn chết chắc rồi, lại còn liên luỵ đến Phục Hoàng hậu. Ông nâng chén uống trà, tay hơi run run.

Lúc này, ánh mắt Tào Tháo liếc nhìn ông ta một cái sắc nhọn. Lão chuyển đề tài, bèn thở dài:

- Hôm nay ta nói với mọi người, sai lầm lớn nhất trong cuộc đời ta chính là tha cho Lưu Cảnh. Khi Lưu Cảnh khởi bước, ta không coi chừng hắn, kết quả cuối cùng hắn trở thành mối hoạ lớn của ta, khiến ta đêm không an giấc. Bây giờ hắn lại sắp bắc phạt, tuy bị ta dùng kế vây Nguỵ cứu Triệu tạm thời ngăn chặn bắc phạt nhưng hắn sẽ không buông tay, sẽ vẫn xuất chinh, Văn Nhược có thể dạy ta, ta nên ứng phó thế nào với việc bắc phạt của Lưu Cảnh không?

Tuân Úc trầm mặc chốc lát nói:

- Nhân tài dưới tay Thừa tướng đông đúc, Trọng Đức, Công Đạt lại còn có Trường Văn, người nào cũng đều là nhân tài kinh thiên vĩ địa, bọn họ đều có thể cho Thừa tướng những ý kiến sáng suốt, vi thần không hỏi việc quân đã lâu, đã lạ lẫm rồi, chỉ e không giúp được Thừa tướng.

Tào Tháo ngán ngẩm, một lúc lâu sau mới thở dài nói:

- Văn Nhược từng là tâm phúc ta tin tưởng nhất, cũng là thầy của ta. Năm đó ta đối xử với Văn Nhược cũng không bạc, bây giờ lúc ta khó xử nhất, Văn Nhược sao lại lạnh nhạt bàng quan?

Ngữ khí của Tào Tháo rất bi thương, khiến Tuân Úc không đành lòng. Ông lại nhớ lại trước đây Tào Tháo đối xử với mình quả thực nhân hậu, tuy mình từng hận lão soán quyền nhưng hai chữ tình nghĩa ông không thể bỏ qua được.

Bất đắc dĩ, Tuân Úc đành chậm rãi hỏi:

- Thừa tướng cho rằng, những khu vực Lưu Cảnh bây giờ đang chiếm đoạt, nhược điểm lớn nhất ở đâu?

Tào Tháo hơi suy nghĩ một chút, lập tức hiểu rõ:

- Văn Nhược là chỉ khoảng cách giữa hai châu Kinh Ích, phải không?

Tuân Úc gật đầu:

- Kinh Châu là đất Sở, Ích Châu là nguồn của Ba Thục. Hai nơi trước giờ là nước sông không phạm nước giếng, nhưng ta muốn nói ở đây là khoảng cách về mặt địa lý. Kinh Châu và Ích Châu bị núi non trùng điệp cách trở, chỉ có thể thông qua đường Trường Giang và Thục đạo liên lạc, hai nơi về chiến lược khó mà thống nhất, đây chính là nhược điểm lớn nhất của Lưu Cảnh.

Tào Tháo trầm giọng nói:

- Ta hiểu một chút rồi, mời Văn Nhược nói tiếp!

Tuân Úc cười cười, lại tiếp tục nói:

- Bây giờ Lưu Cảnh một lòng ở tây tuyến bắc phạt, hơn nữa Ích Châu có được không lâu, còn chưa ổn định, cho nên Lưu Cảnh sẽ chuyển dịch thực lực quân đội đến Ích Châu và Hán Trung. Điều này khiến thực lực quân sự ở Kinh Châu không đủ.

Hiện tại Lưu Cảnh tặp trung lực lượng Kinh Ích bắc chinh, có thể nói quân phía nam chiếm đất phương bắc, chiến mặc dù may mắn có thể thắng nhưng nếu cần đứng vững ở phương bắc lại không phải là việc một sớm một chiều. Ta khuyên Thừa tướng không nên suy nghĩ việc được mất Lũng Tây, nên quan sát thiên hạ, để ý Kinh Châu. Hắn bắc lên Thiên Thuỷ, quân đội của Thừa tướng nam xuống Hán Thuỷ, hắn chiếm Quan Trung, Thừa tướng lại chiếm lĩnh Kinh Châu.

Thừa tướng thậm chí còn có thể xuất binh quận An Lục, uy h**p Giang Hạ, đoạt lấy Kỳ Xuân. Như thế chiến lược Giang Đông cũng sẽ bị xáo trộn, bọn hắn liệu có xuất binh để đoạt lại quận Kỳ Xuân từ tay Thừa tướng hay không? Một khi Giang Đông cướp được quận Kỳ Xuân, phát hiện phòng ngự Giang Hạ yếu, bọn hắn liệu có tiếp tục tiến về phía tây nữa không?

Lúc đó Thừa tướng rút khỏi Giang Hạ, tập trung binh lực chiếm lĩnh Tương Dương, ép thế lực Giang Đông phát triển về hướng Nam quận và Kinh Nam, Lưu Cảnh liệu có cứu Kinh Châu không, một khi hắn toàn lực cứu Kinh Châu, chiến lược quân sự tất nhiên sẽ dịch chuyển về phía đông, mà lúc đó Quan Trung và Lũng Tây hắn vẫn có thể giữ được sao?

Lời khuyên của Tuân Úc khiến Tào Tháo có một loại cảm giác sáng tỏ thông suốt. Lão thực sự chỉ nghĩ đến trước mắt, từ trước đến nay không nghĩ đến việc Lưu Cảnh sau khi chiếm Quan Lũng mình ứng đối như thế nào. Tuân Úc đem thế cục nhìn rất rõ ràng, nhìn ra nhược điểm lớn nhất của thế lực Lưu Cảnh, cũng nhìn ra sự bằng mặt không bằng lòng giữa Giang Đông và Kinh Châu.

Căn cứ của Lưu Cảnh ở Kinh Châu, muốn hoàn toàn đánh bại hắn cũng chỉ có thể suy xét từ căn cứ gốc rễ mà lên. Tào Tháo cảm khái vạn phần. Tuân Úc là một nhân tài ưu tú như vậy, mình lại vứt bỏ không dùng y?

Tào Tháo bái Tuân Úc một lễ dài:

- Văn Nhược không hổ là Quân sư hàng đầu của ta, từ bây giờ trở đi, ta chính thức bổ nhiệm Tuân công làm Quân sư tướng quân, xin nhận của ta một lạy!

Tuân Úc lập tức biến đổi sắc mặt, Ông là trọng thần Đại Hán, tuyệt không thể làm thần nước Nguỵ của Tào Tháo.

- Không! Không! Thừa tướng xin nghe ta nói một lời.

Tào Tháo căn bản không nghe ông cự tuyệt, đứng dậy nói với Hứa Chử:

- Đưa Tuân Quân sư về trướng nghỉ ngơi, đồng thời hiệu lệnh ba quân, từ nay trở đi, Tuân Lệnh Quân sẽ là Quân sư tướng quân của ta, chỉ dưới ta, nếu dám khinh mạn Quân sư, chém!

- Thừa tướng!

Tuân Úc bỗng đứng lên, nghiêm nghị nói:

- Vi thần là Thị trung của vương triều Đại Hán, trì tiết tuần tra quân đội, Thừa tướng không thể tự ý bổ nhiệm thần làm Quân sư.

- Hiện tại ngươi không phải là Thị Tr nữa rồi!

Trên mặt Tào Tháo lộ ra tia cười đắc ý, lấy ra một quyển thánh chỉ, đưa cho Tuân Úc nói:

- Đây là chỉ ý từ Nghiệp Đô đưa tới từ hôm trước, ngươi tự xem đi!

Tuân Úc nghi ngờ tiếp ý chỉ, mở ra xem một lượt, lập tức như ngũ lôi oanh đỉnh. Trong chỉ ý đã bổ nhiệm ông làm Thị Trung Nguỵ quốc, Quang Lộc Đại phu, tham Thừa tướng Quân sư, miễn ông chức Thị Trung Triều đình Đại Hán.

Tuân Úc về trướng của mình, uống từng ly từng ly rượu buồn. Tào Tháo đã cưỡng ép phong ông làm Quân sư, càng khiến ông khó chấp nhận là việc Tào Tháo nhân cơ hội ông rời Nghiệp Đô bèn lệnh Thiên tử bãi miễn chức vụ trong triều của ông, chuyển thành thần tử Nguỵ quốc.

Việc này khiến tôn nghiêm của Tuân Úc gặp phải sự đả kích mạnh mẽ, cũng khiến trong lòng ông đầy sự bi ai. Vương triều Đại Hán nào còn Thiên tử, rõ ràng chỉ có Nguỵ công, Vương triều Đại Hán nào còn họ Lưu, rõ ràng đã sửa thành họ Tào, chẳng lẽ Tuân Úc ông cũng phải nối giáo cho giặc, biến thành loạn thần nghịch tặc sao?

Trong lòng Tuân Úc bi phẫn không nguôi. Lúc này, Trần Quần chậm rãi đi vào, gã ngồi sau lưng Tuân Úc, nhìn thân thể gầy ốm của nhạc phụ, trong lòng lặng lẽ thở dài, ngồi xuống bên cạnh Tuân Úc, không nói một lời.

Lúc này, Tuân Úc lại cầm bầu rượu lên rót cho mình, lại phát hiện rượu đã hết, ông quay đầu, đưa bầu rượu cho Trần Quần:

- Đi lấy cho ta một bầu rượu đến đây!

Tuân Úc mệnh lệnh.

Trần Quần nhận lấy bầu rượu, nhưng lại đặt sang một bên:

- Nhạc phụ, cha không thể uống nữa.

- Vì sao ta không thể uống nữa?

Tuân Úc liếc xéo gã cười lạnh nói:

- Ngươi thay Tào Tháo đến làm thuyết khách đúng không?

Trần Quần thở dài:

- Thừa tướng muốn con đến khuyên một lời, nhưng nhạc phụ lẽ nào không biết tại sao Thừa tướng muốn triệu nhạc phụ từ kinh thành tới không?

- Ta tất nhiên biết, lão muốn xuống tay với Phục Hoàng hậu!

Tuân Úc cười lạnh không ngớt.

- Thực sự Thừa tướng nghĩ cho nhạc phụ, lão sợ nhạc phụ cuốn vào vòng xoáy quyền đấu, cho nên mới gọi nhạc phụ từ Nghiệp Đô tới.

Trần Quần cũng vừa mới biết việc của Phục Hoàn, khiến gã vô cùng khiếp sợ, cũng âm thầm vui mừng vì nhạc phụ được Thừa tướng gọi đến Phàn Thành, nếu không thì nhạc phụ sẽ bị huỷ trong việc ngu xuẩn này, mình cũng sẽ bị liên luỵ.

Tuân Úc trầm mặc, một lát, ông chạm rãi nói với Trần Quần:

- Ngươi đi nói với Tào Tháo, nếu lão thực sự muốn ta thay lão mưu sách quân vụ, vậy ta chỉ có một điều kiện, để hắn bỏ chức Nguỵ công đi, trả lễ cửu tích, nếu không ta sẽ không thay hắn mưu hoạch việc gì.
 
Back
Top Bottom