Cập nhật mới

Quân Sự Binh Lâm Thiên Hạ

Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 701: Tranh chấp trong nhà


Thành Đô - trong phủ Châu Mục, Đào Trạm và Thường Nhất đi đến viện của Tôn Thượng Hương, sau khi từ Giang Đông trở về, Tôn Thượng Hương bỗng nhiên có điều khác thường, thỉnh thoảng lại nôn ọe, Đào Trạm đã có kinh nghiệm lập tức ý thức được có thể là có tin vui, sau đó nàng mời thầy thuốc trong phủ chẩn đoán, quả nhiên không năm ngoài dự đoán của nàng, rốt cục Tôn Thượng Hương đã mang thai.

Đây chính là chuyện lớn của Lưu phủ, Đào Trạm lập tức sắp xếp lại viện mới cho Tôn Thượng Hương, bố trí cho nàng ta ở tại Kỳ lân viện liền kề mình để tiện bề chăm sóc, lại cho thêm tám ả thị nữ và mười nữ binh bảo vệ Tôn Thượng Hương, lại còn rước một bà mụ có kinh nghiệm nhất ở Thành Đô về phủ, không chỉ như thế, Đào Trạm còn thuyết phục Lưu Cảnh, phái người đi Giang Đông báo tin vui cho mẫu thân của Tôn Thượng Hương.

Đào Trạm suy xét rất chu đáo, chăm sóc cho Tôn Thượng Hương vô cùng cẩn thận, tuy nhiên có một việc, trước sau nàng vẫn biểu hiện ra sự cương quyết của người làm vợ cả Lưu Cảnh, đó chính là thái độ đối với Thái Thiếu Dư, Thái Thiếu Dư có thể ở lâu dài trong phủ Châu Mục, nhưng cũng đừng mơ tưởng có được bất kì danh phận nào.

Thái độ của Đào Trạm rất rõ ràng, Thái Thiếu Dư từng là nhị tẩu của Lưu Cảnh, vả lại Lưu Tông vẫn còn ở Nghiệp Đô, mặc kệ giữa bọn họ có bao nhiêu ân oán không thể hiểu rõ, bọn họ cũng không thể lảng tránh sự thật này, một khi Lưu Cảnh nạp nàng ta làm thiếp, việc này đối với thanh danh của Lưu Cảnh là đả kích lớn đến bậc nào.

Nàng biết chồng của nàng ở phương diện khác tâm địa khá mềm, trong lúc nhất thời sẽ hồ đồ nạp Thái Thiếu Dư, nhưng Đào Trạm lại không hồ đồ, trước mắt nàng vì thể diện của Lưu Cảnh cho nên tạm thời không đề cập tới việc này, đợi thời gian qua đi, khi Lưu Cảnh rốt cục đã bình tĩnh lại, Đào Trạm sẽ làm rõ việc này, nàng kiên quyết phản đối Lưu Cảnh nạp Thái Thiếu Dư làm thiếp, thái độ vô cùng cứng rắn, không hề nhượng bộ.

Đây là pháp lễ từ xưa đến nay, nam nhân có thể ăn chơi trác táng ở bên ngoài, nhưng muốn dẫn nữ nhân vào nhà, nhất định phải được sự đồng ý của thê tử.

Bởi vì Đào Trạm phản đối mạnh mẽ, cuối cùng cũng khiến cho Lưu Cảnh không thể không tạm thời dẹp bỏ ý tưởng nạp Thái Thiếu Dư làm thiếp, đành phải trấn an Thái Thiếu Dư, để cho nàng ta an tâm ở lại trước, sau đó sẽ cho nàng ta một câu trả lời.

Đào Trạm đi vào trong viện, đã nghe thấy Tôn Thượng Hương tức giận hét lên:

- Bao giờ mới chấm dứt cái việc nôn ọe chết tiệt này?

Đào Trạm cười hiểu ý tiến đến, Tôn Thượng Hương có thai phản ứng rất nghiêm trọng, với tính cách của cô ấy, đương nhiên là khó có thể chịu được, tuy nhiên nữ nhân đều có cửa ải này, vượt qua thì tốt rồi, nàng tiến tới gian phòng cười nói:

- Làm sao vậy, giống như hôm nay tâm tình không tốt?

Tôn Thượng Hương nửa nằm nửa ngồi ở trên giường, thấy Đào Trạm bước vào, nàng ta vội vàng ngồi dậy, chau mày nói:

- Buổi sáng thức dậy mới hơn một canh giờ, muội đã nôn bốn lần rồi.

Mới nói được vậy, bỗng nhiên nàng ta che miệng lại, vọt tới phía sau tấm bình phong, nôn không ngừng, hai ả thị nữ vội vàng bưng chậu nước đến, sau một lúc lâu, Tôn Thượng Hương súc miệng, lúc này mới vịn lấy thị nữ chậm rãi quay lại, sắc mặt nhợt nhạt, tinh thần uể oải, Đào Trạm vội vàng đỡ nàng ta ngồi xuống, lại đưa trà nóng cho nàng ta, sau một lúc lâu, Tôn Thượng Hương mới thở dài nói:

- Từ nhỏ đến lớn muội chưa bao giờ trải qua khổ sở này, nếu biết trước sinh con thống khổ như vậy, muội sẽ không trông mong gì đâu!

Đào Trạm cười an ủi nàng ta, nói:

- Ai cũng phải như thế thôi, lúc trước ta sinh em bé, phản ứng còn nghiêm trọng hơn so với ngươi bây giờ, ban ngày thì bị hành, buổi tối thì đi tiểu đêm nhiều lần, bây giờ nghĩ lại vẫn còn cảm giác sợ hãi.

- Buổi tối muội không sao, cơ bản là yên ổn, chỉ có buổi sáng là đặc biệt nghiêm trọng, buổi chiều cũng tốt một chút, đại tỷ, nghe nói phải ba bốn tháng sau sẽ không còn nôn nữa, có đúng như vậy không?

- Không còn cái khổ cũ thì lại sang cái khổ mới, đến tháng thứ bảy thứ tám, buổi tối ngủ rất phiền, chỉ có thể nằm nghiêng, tuy nhiên nữ nhân nào cũng phải trải qua cửa ải này, không có sự cực nhọc của việc sinh đẻ, cũng sẽ không có sự vui sướng của việc làm mẹ.

- Rất muốn ngày mai sẽ sinh ra.

Tôn Thượng Hương nhỏ giọng lẩm bẩm.

Đào Trạm cười, lúc này, bên ngoài vang lên tiếng bước chân, đã nghe Thái Thiếu Dư ở trong viện cười hỏi:

- Thượng Hương, hôm nay khỏe chưa?

- Thái tỷ mời vào!

Thái Thiếu Dư bước nhanh đến, trong tay mang theo một cái hộp đựng thức ăn:

- Ta nấu chút cháo cho ngươi.

Nàng ta dừng bước một chút, không ngờ Đào Trạm cũng ở trong phòng, lập tức nàng ta cảm thấy có chút xấu hổ, Đào Trạm cười nói:

- Thiếu Dư thật có lòng nha! Còn nấu cháo nữa, ta thật không thể nghĩ ra, là cái gì, cho ta xem xem.

- Chỉ là một chút cháo gà ác hầm hạt sen, đây là bài thuốc dành cho phụ nữ mang thai Tương Dương, có thể giảm bớt hành thai.

Thái Thiếu Dư từ từ đi đến, đặt hộp đồ ăn lên bàn, gượng cười nói:

- Đại tỷ đến đây khi nào?

- Ta mới đến, Thiếu Dư mau ngồi xuống!

Tuy rằng Đào Trạm kiên quyết phản đối trượng phu nạp Thái Thiếu Dư làm thiếp, tuy nhiên bản thân nàng cũng không ghét Thái Thiếu Dư, thậm chí có chút thông cảm với nàng ta, thật lòng giữ Thái Thiếu Dư ở trong phủ. Thái Thiếu Dư cũng không có chỗ nào để đi, hơn nữa Lưu Cảnh vẫn cho nàng ta một chút hy vọng, nàng ta cũng an tâm ở lại đây.

Đào Trạm thân thiết khiến Thái Thiếu Dư xấu hổ, tâm trạng cũng trầm tĩnh lại, nàng ta cười cười, mở hộp đồ ăn ra, múc một chén cháo đưa cho Tôn Thượng Hương:

- Nhân lúc còn nóng mau uống đi!

Tôn Thượng Hương từ tốn ăn cháo, tâm tình cũng bình tĩnh trở lại, nàng cũng không biết chuyện Đào Trạm phản đối Lưu Cảnh nạp Thái Thiếu Dư làm thiếp, chuyện này rất bí mật, chỉ có ba người biết được, Đào Trạm đương nhiên cũng sẽ không nói cho nàng ta biết, không phải không thể cho Tôn Thượng Hương biết mà là Tôn Thượng Hương rất thẳng tính, tính tình bộc trực, rất dễ dàng nói lỡ miệng, truyền đi rất bất lợi cho thanh danh của Lưu Cảnh.

Lúc này, Tôn Thượng Hương nghĩ tới một chuyện, nói với Đào Trạm:

- Tướng quân Thượng Thứ từng nói với ta, rất có thể sang năm chúng ta sẽ chuyển đến Trường An, có thật như vậy không?

Đào Trạm khẽ mỉm cười, dịu dàng nói:

- Có lẽ có khả năng này, lần trước chuyển nhà đến Thành Đô, hắn đã nói cũng chỉ tạm thời ở Thành Đô vài năm, ta có hỏi qua Giả quân sư, Giả quân sư nói, tương lai chắc chắn sẽ dọn đi Trường An, chỉ có điều cụ thể khi nào thì ông ta cũng không nói chính xác, tuy nhiên nếu tướng quân đã nói cho muội biết, sang năm chuyển nhà, vậy thì chắc chắn là như vậy rồi.

Tôn Thượng Hương thở dài:

- Muội không thích phương bắc, quá lạnh rồi.

- Thiếu Dư, ngươi muốn đi phương bắc không?

Đào Trạm quay đầu lại cười hỏi Thái Thiếu Dư nói.

- Ta?

Thái Thiếu Dư sợ vội vàng lắc đầu:

- Ta không biết!

Sau một lúc lâu nàng lại thấp giọng nói:

- Cho tới bây giờ ta cũng không có suy nghĩ qua vấn đề này.

Lúc này, trong lòng Thái Thiếu Dư có chút không thoải mái, liền đứng lên nói:

- Ta đi về trước, hai người từ từ trò chuyện.

Đào Trạm cười nói với Tôn Thượng Hương:

- Ta cũng trở về trông nom đứa nhỏ, đợi lát nữa lại đến cùng muội nói chuyện phiếm.

Nàng đứng dậy đi theo Thái Thiếu Dư ra sân, Thái Thiếu Dư hiểu được ý của Đào Trạm, bước chân chậm lại, hai người bọn họ sóng vai đi dọc theo hàng liễu trên con đường nhỏ.

- Ngươi rất giận ta sao?

Đào Trạm thản nhiên hỏi.

Thái Thiếu Dư gật gật đầu, tiếp theo lại lắc đầu, cười khổ một tiếng nói:

- Lúc đầu thì có chút, tuy nhiên ngẫm lại cũng hiểu được, dù sao …

- Ngươi muốn nói cái gì?

Đào Trạm liếc nàng một cái hỏi.

Thái Thiếu Dư thở dài nói:

- Dù sao ta đã từng đường đường chính chính gả cho Lưu Tông, toàn thành đều đã nhìn thấy cảnh tượng hôn lễ rỡ ràng, đây là sai lầm của ta, nên phải gánh vác hậu quả của nó, cho nên ta nghĩ thông suốt, cũng có thể hiểu được thái độ của ngươi.

- Ngươi có thể hiểu được là tốt rồi, nếu như là người khác, ta sẽ không phản đối, nhưng lại là đường huynh của chàng, Thiếu Dư, ta hy vọng ngươi có thể gả cho một người tốt, đường hoàng mà tái giá, ngươi có hiểu được ý của ta không?

Thái Thiếu Dư cắn môi một cái, không nói gì, Đào Trạm lại nói:

- Đương nhiên, nếu ngươi không muốn gả, đồng ý ở lại, ta rất hoan nghênh, tùy ngươi ở bao lâu, ta sẽ đối đãi ngươi như tỷ muội của ta, chỉ là ta không thể bảo đảm những chuyện sau này.

Thái Thiếu Dư gật gật đầu:

- Ta hiểu!

Nói đến đây, Thái Thiếu Dư lại mỉm cười:

- Thật ra thì ta cũng nghĩ thông suốt, là một nữ nhân, hy vọng lớn nhất đó là có thể có một nơi để dựa vào, có một chỗ để sống yên ổn, ta ở nơi này rất vui vẻ, thật sự không muốn rời đi, chỉ cần đại tỷ đồng ý chứa chấp ta, ta cần gì phải tìm phiền toái cho mình, đại tỷ yên tâm đi! Ta sẽ không nhắc lại chuyện khiến cho mọi người đều thấy khó xử.

Đào Trạm gật đầu cười, nàng thật hài lòng khi thấy Thái Thiếu Dư hiểu được như vậy, nàng nhẹ nhàng khoác cánh tay của Thái Thiếu Dư, hai người kéo cánh tay chậm rãi mà đi:

- Thiếu Dư, ta muốn đổi thầy dạy cho Trí nhi, ngươi thấy ta phải nói chuyện này như thế nào với tướng quân?

- Ta cho rằng tốt nhất hãy nói suy nghĩ của ngươi với Giả quân sư, để cho bọn họ đến nói chuyện với tướng quân, dù sao thì việc đổi thầy dạy cho Trí nhi cũng là việc lớn.

- Ngươi nói đúng, bất quá vẫn là chờ sau khi hắn đánh xong trận này mới nói, hiện tại ta không muốn hắn phân tâm.

- Đại tỷ, tướng quân khi nào thì có thể trở về?

- Ta cũng không biết, chỉ hy vọng sang năm mới hắn có thể về thăm nhà một chút.

Hai người vừa đi vừa nói, thời gian trôi đi.

....

Trên mặt nước Trường Giang, một đội thuyền lớn của quân Hán gồm năm trăm thuyền ngàn thạch đang xuôi dòng, trùng trùng điệp điệp hướng về phía Hạ Khẩu xuất phát, kéo dài cả trăm dặm, thanh thế to lớn, đây là ba mươi ngàn quân Hán tiến đến quận An Lục, do Lưu Cảnh tự mình suất lĩnh.

Bên trong diễn võ đường trên chiếc thuyền chỉ huy, Lưu Cảnh và Tư Mã Ý đang ở trước sa bàn thảo luận một vài chi tiết cụ thể tiến đánh phía bắc Trung Nguyên lần này. Dựa theo thỏa thuận giữa quân Hán và quân Giang Đông, chiến dịch tấn công phía bắc Trung Nguyên bắt đầu vào đầu tháng mười, hôm nay đã là cuối tháng mười, thu hoạch vụ thu cũng đã qua, thời tiết dần dần rét lạnh, nhiều nhất là nửa tháng, cuộc đại chiến cũng sắp mở ra rồi.

- Theo tin tình báo từ Giang Đông đưa tới, lần này quân Giang Đông xuất chinh cũng không thuận lợi, nội bộ có nhiều ý kiến khác nhau, nghe nói các viên quan như Cố Ung, Ngu Phiên, Lục Tích và Ngô Việt kiên quyết phản đối tiến đánh phía bắc, nội bộ trong quân đội cũng có khác nhau, các lão tướng do Hoàng Cái cầm đầu cũng không tán thành.

Nói đến đây, Tư Mã Ý thở dài, lại nói:

- Ta rất lo lắng nội bộ Giang Đông không đoàn kết, sẽ ảnh hưởng đến chiến dịch tiến đánh phía bắc lần này.

Lưu Cảnh lại cười cười nói:

- Không cần quá lo lắng, tiến đánh phía bắc lần này, cũng không phải ta muốn đoạt được nhiều ích lợi, mục đích căn bản của ta chính là tạo áp lực với Tào Tháo, có thể thuận lợi đoạt quan ở Quan Lũng, cho nên chỉ cần Giang Đông xuất binh, làm chệch hướng binh lực của Tào Tháo, như vậy là đủ rồi, về phần Giang Đông thắng hay bại, ảnh hưởng không lớn với chúng ta.

Tư Mã Ý vẫn có một loại cảm giác, Châu Mục cũng chưa hoàn toàn nói rõ mục đích thật sự của chiến dịch tiến đánh phía bắc lần này với y, rất nhiều chuyện đều là do sau này y mới tỉnh ngộ, ví dụ như đem bốn quận Kinh Nam tặng cho Giang Đông, sau khi Tư Mã Ý hay tin Lưu Bị thống nhất Giao Châu, y mới đột nhiên tỉnh ngộ Lưu Cảnh mưu tính sâu xa.

Mặc dù như thế, y vẫn cảm thấy bản thân không biết tình báo, ví như chiến dịch Trung Nguyên làm thế nào gây áp lực cho Tào Tháo, nếu thắng có lẽ có thể tạo áp lực, nếu đánh bại thì sao? Nhất là Giang Đông, bên trong không yên, cho nên tiến đánh phía bắc Trung Nguyên cùng với quân Tào mạnh mẽ đối đầu, cơ hội thắng là không lớn.

Nhưng thái độ của Châu Mục, dường như thắng bại ở Giang Đông ảnh hưởng không lớn, cái này khiến Tư Mã Ý suy nghĩ trăm lần vẫn không có lời giải đáp, y trầm ngâm một lát, rốt cục không kìm nổi hỏi:

- Rốt cuộc Châu Mục bố trí ở Quan Lũng như thế nào, có thể nói trước cho vi thần được hay không?

----------oOo----------
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 702: Hết sức căng thẳng


Quận An Lục nằm ở phía bắc quận Giang Hạ, bởi vì phía bắc bị ngăn cản bởi vùng núi Hoài Dương, cho nên mới phân chia quận An Lục với khu vực Trung Nguyên, làm cho quận An Lục trở nên nửa đóng nửa mở, trong đại chiến nam bắc nhiều năm, ngoại trừ trận chiến Xích Bích ra thì các trận chiến còn lại cũng không ảnh hưởng gì đến quận An Lục.

Phía bắc của quận An Lục tuy đa phần đều là vùng núi, nhưng phần lớn lại là đồi núi. Không ngờ Kỳ Sơn núi non lại trùng điệp như vậy, giữa các đồi núi cũng có không ít lối đi, có thể trực tiếp xuyên qua khe núi đi về phương bắc.

Huyện Nghĩa Dương là một huyện ở tận cùng phía bắc của quận An Lục, cũng là nguyên quán của đại tướng Ngụy Diên. Địa hình nơi này đều là đồi núi, địa thế tây cao đông thấp. Tận cùng phía đông Nghĩa Dương chính là một vùng bình nguyên ước chừng một trăm dặm, từ nơi này sông Hoài uốn lượn chảy qua chia vùng bình nguyên này thành quận An Lục và quận Nhữ Nam.

Lúc này trên bình nguyên ở phía nam sông Hoài, một tòa quân doanh vô cùng lớn chiếm mấy ngàn mẫu đất. Đây là một tòa quân doanh xây bằng tường mà quân Hán mất gần hai tháng. Tường doanh cao hai trượng, cách một trăm bước lại đặt một tháp canh. Đại doanh dựa vào sông Hoài, đứng ở trên tháp canh có thể thấy rõ ràng huyện nhỏ An Dương bên kia bờ sông Hoài.

Huyện An Dương đã bị quân Hán chiếm lĩnh để làm đội quân tiền tiêu cho quân Hán bắc phạt. Bởi vì huyện Nghĩa Dương vốn bắt nguồn từ sông Hoài, sông Hoài ở vùng này cũng không rộng lớn, vượt sông tương đối dễ dàng, vì thế quân Hán dựng trên sông Hoài ba cây cầu nổi, làm cho quận Nhữ Nam liên hệ chặt chẽ với quận An Lục.

Lúc này đây đem quận An Lục trở thành chiến trường chính quân Hán bắc phạt, quân Hán ở huyện Nghĩa Dương trước sau tăng binh tới tám vạn người, Lưu Cảnh cũng đích thân đến quận An Lục để trấn thủ, mà quân Tào cũng ý thức được đem Nhữ Nam trở thành chiến trường chính, Tào Tháo cũng trước sau tăng binh cho Nhữ Nam lên mười vạn, bản thân lão cũng đích thân tới An Thành, chỉ huy trận đại chiến Trung Nguyên sắp bùng nổ này.

Thời gian dần tới thượng tuần tháng 11, địa khu Trung Nguyên đã tiến vào thời tiết đông giá rét, trên sông Hoài bắt đầu kết băng, tuy nhiên tầng băng rất mỏng, không thể trực tiếp hành quân trên mặt băng, nhưng tại dòng sông lớn nhỏ cảnh nội Nhữ Nam đều đúc kết tầng băng rất dày, gió lạnh thấu xương, khắp nơi hiu quạnh tiêu điều.

Tại vùng đồi núi cách phía Bắc huyện An Dương chừng hơn năm mươi dặm phân bố rừng rộng lớn và đồng ruộng, ở một thung lũng ngọn núi cản gió, một đội thám báo bởi mười kỵ binh đi trinh sát tuần tra đang nghỉ ngơi ăn cơm trưa trong khu rừng.

Mọi người đốt một đống lửa nướng một con heo rừng nhỏ vừa săn được, thịt lợn rừng nướng thơm lừng, mỡ chảy xuống vàng óng ánh, hương thơm lan tỏa bốn phía, đám lính sớm đã không kìm nổi đều dùng dao cắt một miếng thịt, ngồi bên cạnh đống lửa ăn nhồm nhoàm.

Đồn trưởng cầm đầu nhóm kỵ binh thám báo tên là Vương Hưng, là người quận An Lục, đám thám báo dưới tay y trên cơ bản cũng là người địa phương, hết sức quen thuộc hoàn cảnh xung quanh, nhiệm vụ của họ chính là giám thị quân Tào có xuôi nam hay không.

Vương Hưng đang gặm một đùi heo rừng, y ngẩng đầu phát hiện mười thủ hạ đều đang sưởi ấm ăn thịt, y hơi bất mãn đá một tên lính một đá:

- Ngô Tứ, đến lượt ngươi trực rồi, nhanh đi canh gác đi!

Binh lính kia bất đắc dĩ đành phải cắt một miếng thịt, vừa ăn vừa đi về phía khe núi, lúc này, một gã binh lính khác cười nói:

- Đồn trưởng, trời rét như vậy người cảm thấy quân Tào sẽ xuôi nam sao?

Vương Hưng lau vết mỡ bên miệng, nói:

- Điều này khó nói chính xác, hiện giờ chúng ta đang ở quận Nhữ Nam, là ở địa bàn của người ta, nếu xuất hiện một đội quân Tào, ta tuyệt đối không thấy kỳ lạ.

- Đồn trưởng, ngươi nói sao phải đánh giặc vào mùa đông?

Một binh lính khác nhồm nhoàm hỏi.

- Ngươi hỏi ta, ta đi hỏi ai đây?

- Ta xem chừng là muốn tấn công Hứa Đô rồi, nghe nói bên kia Tân Dã cũng có năm sáu vạn đại quân, hai bên giáp công, tựa như bọ cáp có hai kìm lớn.

- Không có khả năng đánh Hứa Đô, nếu không Giang Đông xuất binh có ý nghĩa gì chứ?

Đám binh lính tranh luận với nhau, lúc này Đồn trưởng Vương Hưng mất hứng mắng:

- Đừng rắm thối nữa, mau ăn thịt đi, ăn no rồi đi trinh sát tuần tra, nếu đụng phải quân Tào thì mạng nhỏ của mọi người khó mà bảo toàn.

Đúng lúc này, binh lính canh gác vừa chạy đi đang vội vàng chạy tí:

- Ta nhìn thấy quân Tào rồi, có rất nhiều người.

Mọi người sợ hãi nhảy dựng lên, lập tức hỗn loạn, không còn lòng dạ nào ăn thịt nữa, dập tắt đống lửa xong đều lên ngựa, thúc ngựa chạy ra ngoài khe núi.

Bên rừng cây trên một gò núi mười thám báo kỵ binh đang nhìn chung quanh xa xa, bọn họ quả nhiên nhìn thấy một đội quân Tào ước chừng hơn năm ngàn người, đang dọc theo quan đạo hăng hái hành quân về phía nam, rất rõ ràng là đi về phía huyện An Dương.

- Ngô Tứ, ngươi mang theo bốn huynh đệ tiếp tục giám thị quân Tào, còn lại đi theo ta!

Đồn trưởng Vương Hưng quay đầu ngựa lại, mang theo bốn gã kỵ binh giục ngựa chạy xuống đồi núi, đi đường nhỏ chạy gấp về hướng huyện An Dương.

Lúc này, Lưu Cảnh thị sát ngay cạnh huyện An Dương. Huyện An Dương là một tòa huyện nhỏ bé, nhân khẩu mấy trăm hộ, xây dựng cải tạo ở chỗ cao bờ bắc sông Hoài, tường thành cách sông Hoài chưa tới trăm bước, thành trì nhỏ hẹp, chu vi khoảng mười dặm, tường thành cũng khá cũ nát. Bản thân thị trấn không có giá trị chiến lược quân sự, nhưng bởi vì ba tòa cầu nổi xây dựng dựa vào thị trấn, huyện nhỏ An Dương là lô cốt đầu cầu, có tác dụng bảo vệ ba tòa cầu nổi, tác dụng quân sự của nó đực tạo bởi địa thế.

Huyện An Dương trước mắt có năm ngàn binh đóng trú, do Giáo Úy Liêu Hóa Thống soái, lúc này Liêu Hóa đang đi cùng Lưu Cảnh thị sát trong huyện thành, y chỉ vào huyện thành nói:

- Huyện An Dương ước chừng vào năm Kiến An thứ năm bị quân Khăn Vàng Lưu Tích phá hủy, sau lại được xây dựng đơn giản, trải qua mười mấy năm đã cũ nát vô cùng, ty chức tiến thành sửa chữa bộ phận, tu bổ một vài tường thành bị sập, gạch thành bị phá nát cũng được thay, nhưng muốn trùng tu toàn bộ thì ít nhất phải mất nửa năm, thời gian như vậy thì không kịp.

Lưu Cảnh gật gật đầu nói:

- Dựa vào một huyện An Dương muốn ngăn cản chủ lực quân Tào hiển nhiên là không thực tế, tác dụng của huyện An Dương là bảo vệ cầu nổi, tuy nhiên chủ lực quân Tào đã đến, cho dù bọn họ không đốt cầu nổi, chúng ta cũng phải thiêu hủy, chiến lược của chúng ta là muốn giằng co với quân Tào chứ không phải tác chiến, trước tiên ngươi phải hiểu điều này.

- Ty chức hiểu rồi!

Tuy rằng Liêu Hóa cũng không thật sự hiểu được ý đồ của Lưu Cảnh, nhưng có một điều y biết rõ, chỉ cần y nghiêm túc chấp hành mệnh lệnh của Lưu Cảnh là đủ rồi, về phần tại sao phải làm như vậy, điều này cũng không phải là việc y phải suy tính.

Đúng lúc này, có binh lính báo lại:

- Khởi bẩm Châu Mục, có thám báo kỵ binh đã trở lại, nói phát hiện tình hình quân địch!

Lưu Cảnh ngẩn ra, liền ra lệnh:

- Đưa thám báo tới gặp ta.

Cửa thành mở ra, vài tên thám báo kỵ binh vào thành, đi đầu là Vương Hưng rất nhanh được dẫn đến trước mặt Lưu Cảnh. Lưu Cảnh cười hỏi:

- Phát hiện được tình hình gì của quân địch?

Vương Hưng thật không ngờ lại gặp được Lưu Cảnh, trong lòng y có chút căng thẳng, vội vàng quì một gối bẩm báo:

- Có khoảng năm nghìn quân Tào đang men theo quan đạo hướng nam mà đến, hiện tại có lẽ là ở ngoài hai mươi dặm.

'Năm nghìn quân Tào, tương đương với binh lực của huyện An Dương, Tào Tháo có ý gì chứ?' Lưu Cảnh ngẫm nghĩ một chút, liền nói với Vương Hưng:

- Tiếp tục đi tra xét, cố gắng tra xét xa một chút, có biến phải bẩm báo ngay lập tức.

- Tuân lệnh!

Vương Hưng thi lễ, đứng dậy bước nhanh, lúc này Liêu Hóa nói:

- Ty chức phỏng chừng là quân Tào đến dò xét hư thật của chúng ta?

Lưu Cảnh gật gật đầu:

- Nếu ta đoán không lầm, ở phía sau bọn họ nhất định còn có đại đội kỵ binh, một khi quân coi giữ An Dương nghênh chiến, kỵ binh quân Tào sẽ từ phía sau bọc đánh, phá hủy huyện An Dương và cầu nổi, trước tiên đoạt người, tiêu diệt năm nghìn quân Hán ở Giang Bắc, nâng cao sĩ khí quân Tào.

- Ý của Châu Mục là, ty chức lấy bất biến ứng phó quân địch, thủ An Dương thành bất động.

- Ta cũng chỉ là đoán, không biết ý đồ thực sự của quân địch, hay là để phòng ngự cho thỏa đáng, tuy nhiên phía bên cầu nổi cần tăng cường phòng ngự, nếu như tình hình không ổn, bất cứ lúc nào cũng có thể bỏ An Dương lui về!

Liêu Hóa ôm quyền nói:

- Ty chức đã hiểu, xin mời Châu Mục lập tức quay về bờ nam.

Lưu Cảnh xoay mình lên ngựa, dưới sự bảo vệ của mấy trăm thân binh, chạy ra khỏi cửa thành, dọc theo bờ nam cầu nổi mà đi.

Năm nghìn quân tiên phong dưới sự chỉ huy của đại tướng Vu Cấm nhanh chóng đánh đến thành An Dương, quả thật như suy đoán của Lưu Cảnh, mục đích của quân Tào chính là muốn tiêu diệt hoàn toàn năm nghìn quân Hán ở thành An Dương, dùng thắng lợi trận chiến đầu tiên nâng cao sĩ khí, Vu Cấm đi trước, nhiệm vụ của y chính là thiêu hủy cầu nổi.

Mà sau lưng Vu Cấm, ba nghìn kỵ binh quân Tào đã chuẩn bị sắp xếp, một khi quân Hán trong thành ra khỏi thành chiến đấu kịch liệt với quân Tào, quân Tào sẽ nhanh chóng đánh tới, phối hợp quân đội Vu Cấm tiêu diệt quân Hán.

Lúc này, Vu Cấm suất lĩnh năm nghìn quân Tào đã tới gần tòa cầu nổi thứ nhất quân Hán. Cách thành đông An Dương một dặm, do năm trăm binh lính thủ vệ, năm trăm binh lính tay cầm nỏ, mai phục phía sau công sự, khẩn trương nhìn chăm chú vào quân Tào từ từ đánh tới.

Vu Cấm suất lĩnh năm nghìn quân Tào đã sắp thành trận hình công kích, một ngàn binh lính tay cầm lá chắn lớn xếp thành hai hàng, tạo thành bức tường lá chắn từ từ tiến về phía trước, ở mặt sau quân chắn còn lại là một ngàn nỏ binh, mặt sau nữa là ba nghìn quân trường mâu.

Vu Cấm ở giữa nỏ binh, gã huy động chiến đao hét lớn:

- Lên đi, phá hủy cầu nổi!

Tiếng trống trận của quân Tào ầm ầm vang lên, quân Tào bắt đầu chạy trốn, năm trăm quân coi giữ đồng loạt hướng về trận hình quân Tào bắn tên, tên bay dày đặc lên không, bắn về phía quân địch, nhưng hiệu quả cũng không lớn, thuẫn trận của quân Tào ngăn cản được lượt bắn thứ nhất của nỏ binh quân Hán, người trúng tên chưa tới hai mươi.

Cùng lúc đó, nỏ binh quân Tào cũng bắt đầu bắn tên, tên bắn như mưa về phía công sự đầu cầu, triệt để ngăn chặn năm trăm quân Hán, mắt nhìn quân Tào càng ngày càng gần, quân hầu quân Hán hô to một tiếng:

- Lui lại!

Đầu cầu năm trăm quân Hán đều rời khỏi công sự che chắn, chạy dọc theo cầu nổi hướng về phía nam, mười mấy người chạy ở phía sau bị loạn tiễn bắn trúng, kêu thảm ngã xuống đất, quân binh Tào như con nước lớn xông qua công sự che chắn, hoàn toàn chiếm lĩnh cây cầu nổi thứ nhất, rất nhanh, từ phía cầu nổi bốc lên ngọn lửa dữ dội, khói đặc cuồn cuộn.

Trên đầu thành, Liêu Hóa nhìn chăm chú vào cầu nổi bị thiêu hủy ở phía xa, mắt nhìn quân Tào lại quay đầu hướng cây cầu nổi thứ hai đánh tới, gã xiết chặt chuôi đao, không thể tiếp tục bị động như vậy nữa, một khi ba cây cầu nổi đều bị thiêu hủy, bọn họ cũng không thể trở về, nhưng rốt cuộc là xuất kích, hay là lui lại, Liêu Hóa nhất thời cũng không thể quyết định.

Đúng lúc này, thám báo kỵ binh Vương Hưng từ phương bắc quay lại, đứng dưới thành lớn tiếng nói:

- Nhanh chóng bẩm báo Liêu tướng quân, có tin quân địch khẩn cấp!

Liêu Hóa bước nhanh đi đến đầu thành, nghiêng đầu hỏi:

- Phát hiện cái gì?

- Phát hiện quân chủ lực quân Tào, ước chừng một trăm ngàn người, trùng trùng điệp điệp đang hướng về bên này đánh tới, đã không đến ba mươi dặm.

Liêu Hóa chấn động, gã vừa quay đầu lại, quân Tào đã chiếm lĩnh cây cầu nổi thứ hai, tình thế cực kỳ nguy cấp, Liêu Hóa lúc này ra lệnh:

- Lập tức ra khỏi thành, rút lui về bờ nam!

----------oOo----------
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 703: Cuộc hội ngộ lần thứ 3


Sau một hồi chiến đấu kịch liệt hai bên đều có thương vong, quân Hán đã khống chế được cầu nổi, cuối cùng có thể rút lui. Mấy nghìn quân Hán dưới sự suất lĩnh của Liêu Hóa nhanh chóng rút về phía bờ nam.

Quân Tào bao vây cây cầu, lúc này binh lính quân Tào chuẩn bị đổ dầu hỏa lên cầu, Vu Cấm ngăn quân lại:

- Không được đốt cháy cây cầu này.

Vu Cấm lạnh lùng nhìn bờ Nam, Thừa tướng ra lệnh phá hủy 3 cây cầu nổi nhưng đó là vì tiêu diệt quân Hán ở phía bờ bắc, bây giờ quân Hán đã rút khỏi cầu, giữ lại một cây cầu cũng có thể ăn nói với Thừa tướng.

Đúng lúc này có một tên lính chỉ ra phía xa hô:

- Tương quân, đại quân chúng ta đến rồi.

Vu Cấm quay đầu lại nhìn, chỉ thấy đằng xa xuất hiện một đường đen xì, kéo dài hơn 10 dặm, Thừa tướng tới rồi. Vu Cấp lập tức chỉ bảo gã Nha tướng:

- Trước tiên đi chiếm huyện An Dương.

Y đem theo vài tên kỵ binh quay đầu ngựa lại chạy nhanh về hướng chủ lực quân Tào.

Đội quân lần này đến là 10 vạn quân chủ lực do Tào Tháo tự mình dẫn quân, Tào Tháo vốn dĩ ở An Thành, lão hi vọng quân chủ lực của Lưu Cảnh có thể vượt qua sông Hoài Bắc tiến, đến An Thành đấu với lão, nhưng Tào Tháo dần nhận ra Lưu Cảnh không có ý đồ quyết chiến với lão mà chỉ muốn giằng co với lão. Tào Tháo thấy vậy liền thay đổi kế hoạch, chủ động dẫn đại quân tiến về phía nam, chuẩn bị giằng co với quân Hán ở sông Hoài.

Mười vạn quân Tào cách sông Hoài không đến mười dặm, có thể thấy rõ huyện An Dương ở phía xa xa. Lúc này, Vu Cấm chạy tới từ phía nam, chạy tới trước soái kỳ chắp tay hành lễ với Tào Tháo:

- Tham kiến Thừa tướng.

Tào Tháo gật đầu hỏi:

- Tình huống quân Hán ở huyện An Dương thế nào?

- Bẩm báo Thừa tướng, trước khi quân ta đến, Lưu Cảnh đã ở trong huyện An Dương, hắn phá vỡ kế hoạch của chúng ta, quân Hán đã chuẩn bị rút lui từ trước. Chúng ta triển khai chiến đấu ác liệt với quân Hán ở trên cầu nhưng bọn chúng vẫn chỉ bỏ chạy, quân ta giết được hơn 500 tên địch, bị thương 300 người.

Nghe được Lưu Cảnh ở trong thành, trong lòng Táo Tháo có chút thất vọng, sớm biết như vậy lão sẽ phái kỵ binh đến đánh lén cầu nổi rồi, nhưng sự thất vọng nhanh chóng biến mất, lão lại hỏi:

- Tình huống cây cầu thế nào?

Vu Cấm đã hiểu ý của Thừa tướng, trong lòng âm thầm cảm thấy may mắn vì y đã để lại một cây cầu nổi, vội vàng nói:

- Bẩm báo Thừa tướng, ba cây cầu hai cây bị phá hủy, cây cầu cuối cùng thần không ra lệnh thiêu hủy vẫn đang chờ Thừa tướng xử lí.

Trên mặt Tào Tháo cuối cùng cũng có nét cười:

- Ngươi làm rất tốt, ta bây giờ muốn đi xem cây cầu.

Tào Tháo lên ngựa, dẫn mấy nghìn binh lính tiến về hướng sông Hoài. Không lâu sau, Tào Tháo đã đến bờ sông Hoài, chỉ thấy sông Hoài đã đóng băng, một cây cầu nổi dài hai trượng nối hai bên bờ, lòng sông Hoài không hề rộng, chỉ hơn năm mươi trượng, có thể nhìn rõ doanh trại của quân Hán ở bờ bên kia.

Lúc này, bên kia bờ cũng xuất hiện một tốp kị binh, thị lực của Vu Cấm vô cùng tốt, y vừa nhìn đã nhận ra Lưu Cảnh ở trong đoàn kị binh liền nói với Tào Tháo:

- Thừa tướng, thần nhìn thấy Lưu Cảnh.

Tào Tháo gật đầu, lão trầm tư một lát, liền nhìn Vu Cấm cười nói:

- Vu tướng quân, ngươi có thể thay ta đi nói với Lưu Cảnh là ta muốn nói với hắn vài câu ở trên chính cây cầu nổi kia hay không?

Trong lòng Vu Cấm cực kì khổ sở, y không dám cự tuyệt chỉ đành bất chấp nói:

- Thần nguyện ý.

Y quay ngựa lại mang theo hai tên tùy tùng, thúc ngựa chạy về hướng bờ bên kia. Lúc này Hạ Hầu Đôn bật cười ha ha, Tào Tháo quay lại trừng mắt nhìn gã:

- Ngươi cười cái gì?

Hạ Hầu Đôn nhịn cười cúi đầu, Tào Tháo quay đầu lạnh lùng nói với các tướng quân:

- Ta biết các ngươi đang cười nhạo Vu tướng quân nhiều lần bại trong tay Lưu Cảnh, thế chẳng nhẽ chúng ta khác sao? Đánh với Lưu Cảnh bao nhiêu trận chúng ta thắng được mấy trận? Năm đó Vu tướng quân tha cho Lưu Cảnh ở Nhương Sơn, ta không phải không biết, ai mà biết trước được tương lai. Sau này ai còn dám cười nhạo Vu tướng quân ta nhất định sẽ xử lí.

Các tướng quân vội vàng cúi người nói:

- Không dám.

Tào Tháo nói với Trình Dục:

- Trọng Đức, ngươi nói xem trận chiến này chúng ta có thể đánh thắng không?

Trình Dục trầm tư một lúc nói:

- Từ tình hình hiện tại của quân Hán, bọn họ chính là muốn cùng chúng ta giằng co ở sông Hoài. Tuy nhiên vi thần vẫn cảm thấy có chút hoài nghi, vì sao Lưu Cảnh chọn mùa đông giá rét này để chiến đấu với chúng ta. Họ phải biết rằng họ là quân phía nam, chiến đấu trong hoàn cảnh giá rét quân của họ sẽ bị thất thế. Hơn nữa nước sông đóng băng cũng không thể phát huy được ưu thế của thủy quân, thần không thể nào hiểu nổi bọn họ muốn làm gì.

Tào Tháo gật đầu:

- Quân sư nghi ngờ là đúng, ta cũng có cảm giác hoang mang sâu sắc. Tuy nhiên việc đã đến nước này, chỉ có thể đi bước nào tính bước đấy.

Vu Cấm qua sông Hoài, đứng thật xa nói với Lưu Cảnh:

- Đừng bắn tên, ta phụng mệnh Thừa tướng có lời nhắn muốn chuyển đến Lưu Châu Mục.

Lưu Cảnh chậm rãi giục ngựa tiến lên, hắn liếc mắt một cái liền nhận ra Vu Cấm, cười nói:

- Hóa ra là Vu tướng quân, chúng ta đã nhiều năm không gặp, Vu tướng quân vẫn không khác xưa.

Vu Cấm cười khổ một tiếng nói:

- Đa tạ Châu Mục đã quan tâm, ta phụng mệnh Thừa tướng đến chuyển lời nhắn, Thừa tướng muốn nói vài lời với Châu Mục, Châu Mục có đồng ý hay không?

- Được, ta cũng rất chờ mong được nói chuyện với Thừa tướng.

Lưu Cảnh chỉ cây cầu nổi cười nói:

- Nói ở trên cầu nổi đi, đa tạ tướng quân đã không phá hủy cây cầu nổi này.

- Ta đi bẩm báo lại cho Thừa tướng.

Trong lòng Vu Cấm căng thẳng, quay đầu định đi, Lưu Cảnh đột nhiên gọi y lại:

- Vu tướng quân xin dừng bước.

Vu Cấm chậm rãi xoay người:

- Châu Mục còn chuyện gì cần phân phó sao?

Lưu Cảnh cười cười:

- Ta vẫn luôn coi Vu tướng quân như một người bạn cũ, mặc dù chúng ta có nhiều ân oán nhưng bây giờ nghĩ lại đấy đúng là một loại duyên phận. Ta có một câu muốn nói, mong Vu tướng quân nhớ kĩ.

- Châu Mục mời nói, ta sẽ rửa tai lắng nghe.

Lưu Cảnh chậm rãi nói:

- Vu tướng quân cần phải giữ lại một đường lui cho bản thân, ta tin rằng một ngày trong tương lại Vu tướng quân sẽ lại oai phong như ngày xưa.

Vu Cấm chấn động, y hiểu được ý tứ của Lưu Cảnh, y im lặng cúi người thi lễ, dẫn ngựa quay người bước đi.

Vẫn một mực nhìn Vu Cấm đi xa, Lưu Cảnh lúc này mới cười đầy thâm ý, Vu Cấm này nhất định đã bị lời nói của mình làm cho cảm động rồi. Cũng có thể nói lòng tin của y đối với Tào Tháo đã không còn như xưa, Vu Cấm đã như vậy vậy thì các tướng quân khác của quân Tào thì sao?

Sau nửa canh giờ, Lưu Cảnh và Tào Tháo mang theo hơn mười thị vệ đi lên cầu nổi. Gặp nhau ở giữa cầu nổi, bây giờ ở trung tâm cầu nổi đã có một đoạn bị tháo bỏ, hai bên cách nhau 5 trượng. Thị vệ hai bên mặc dù không mang cung nhưng vẫn luôn cảnh giác nhìn đối phương.

- Hiền chất, đã lâu không gặp!

Tào Tháo cười sang sảng nói.

Lưu Cảnh cúi ôm quyền thi lễ:

- Thừa tướng tuổi tác đã cao, lại muốn đích thân xuất chinh, thời tiết rét buốt như vậy mong ngài bảo trọng thân thể.

Sự châm chọc này khác với lần gặp trước ở Tử Ngọ cốc. Lúc này Lưu Cảnh nói rất thành khẩn, quan tâm đến sức khỏe của Tào Tháo, giống như vãn bối quan tâm bề trên nhưng lại khiến cho Tào Tháo có một tia cảm động.

Lão thở dài một tiếng:

- Con ta vô năng, không thể thay ta xuất chinh, chỉ có thể nói tuổi cao chí càng cao. Nhưng trời lạnh như vậy mà phải xuất chinh cũng chính là do hiền chất gây ra đó.

- Ta cũng không muốn tổn thương đến ai, hai mươi năm chiến loạn không ngừng, dân chúng thiên hạ chịu bao nhiêu khổ cực, ta rất hi vọng có thể mau chóng chấm dứt chiến tranh, thống nhất thiên hạ. Sau này bớt lao dịch, giảm thuế, để cho con cháu Đại Hán có thể nghỉ ngơi, đây là tâm nguyện lớn nhất của ta.

Tào Tháo gật đầu, cũng thở dài nói:

- Mong muốn của hiền chất ta cũng có thể hiểu được. Thật ra ta cũng là Hán tướng, ta và tổ tiên trước đây cũng đã từng chịu ơn của Hán thất. Ta cũng mong triều Hán có thể kéo dài, cũng mong có thể dùng văn để trị vì một lần nữa. Năm đó ta đã từng đề xuất tình nguyện lập hiền chất thành hoàng đế, chúng ta hai người chăm lo việc nước, phục hưng Đại Hán, lưu danh thiên cổ, tiếc rằng hiền chất không đồng ý khiến ta tiếc nuối đến tận bây giờ.

Lưu Cảnh thản nhiên cười:

- Ta có thể hiểu được ý tốt của Thừa tướng, nhưng Thừa tướng có thể chấp nhận cùng trị vì Thành Đô sao?

Tào Tháo biến sắc, lão tất nhiên hiểu được ý tứ của Lưu Cảnh, chính là muốn lão chấp nhận chế độ đa tướng, từ bỏ quyền lực, sao có thể, lão cười lạnh trong lòng, trên mặt tỏ ra tiếc nuối nói:

- Ta không hề luyến tiếc việc từ bỏ quyền lực, nhưng ta kết thù kết oán rất nhiều, chỉ sợ khi ta thất thế những kẻ có thù với ta đến phá nhà cửa của ta, để bảo toàn tính mạng ta không thể không cầm kiếm.

- Thừa tướng nói như vậy không ổn chút nào, chỉ cần ta không giết Thừa tướng thì trong thiên hạ không ai dám động đến một sợi lông của ngài. Nếu Thừa tướng đồng ý ủy quyền, ta sẽ đảm bảo Thừa tướng lông tóc vô thương, bảo vệ cả Tào thị không gặp bất cứ nguy hiểm gì. Nếu Thừa tướng vẫn cứ khăng khăng như vậy chỉ sợ tương lai sẽ không còn người họ Tào nữa rồi.

Tào Tháo giận tím mặt, tay đè chuôi kiếm căm tức nhìn Lưu Cảnh:

- Ngươi đang uy h**p ta?

- Ta không phải uy h**p Thừa tướng, chỉ là nói thẳng như vậy thôi. Thừa tướng tuổi tác đã cao còn có thể cầm quyền được bao lâu. Lúc này Thừa tướng cũng nên nghĩ đến danh tiếng sau này của bản thân rồi.

Tào Tháo nhìn chằm chằm Lưu Cảnh, một lúc lâu sau cắn răng nói:

- Năm đó không giết ngươi ở Nhương Sơn chính là mối hận cả đời này của ta.

Lưu Cảnh cười to, hắn vừa dừng cười, lạnh lùng nói:

- Đó là ý trời, trời để cho ta đến khôi phục Đại Hán, ta có câu châm ngôn mong Thừa tướng ghi nhớ.

- Ngươi nói đi.

Tào Tháo cố nén lửa giận ở trong lòng, rít ra hai chữ từ trong kẽ răng.

Lưu Cảnh chắp tay nói với Tào Tháo:

- Chuyện gia đình Thừa tướng cũng là chuyện của thiên hạ, ta nếu như là Thừa tướng, ta sẽ lập Thực công tử làm thế tử, sự thật thì mất lòng, Thừa tướng bảo trọng.

Nói xong, Lưu Cảnh xoay người nhanh chóng đi về bờ nam, Tào Tháo không có nổi giận, lão nhìn bóng lưng Lưu Cảnh, lặp đi lặp lại câu nói cuối cùng của Lưu Cảnh, lập Thực công tử làm thế tử. Lão hiểu được, đây không phải lời nói đe dọa của Lưu Cảnh, rất có ý tứ. Lúc này Tào Tháo thở dài, lão cảm giác dường như mình già đi mười tuổi.

Tào Tháo mệt mỏi xua tay:

- Đi thôi.

Lão được hai thị vệ đỡ xuống lảo đảo đi về bờ phía bắc.

Quân Tào dựng doanh trại ở bờ phía bắc, hơn vạn quân lính đang đào đất đóng cọc làm tường. Trong chướng của Tào Tháo, quân lính đã đốt chậu than lên, khiến cho không khí ấm áp như mùa xuân. Tào Tháo đang mặc áo bông ngồi ở trên giường, tay cầm sử kí im lặng đọc, nhưng lão không để tâm đến việc đọc sách mà vẫn luôn nghĩ đến cuộc gặp gữa lão và Lưu Cảnh.

Gặp gỡ vào lúc này, phong thái của Lưu Cảnh đã hoàn toàn khác xưa, sự tự tin của Lưu Cảnh đả kích lão rất nhiều cũng khiến cho lão cảm nhận được khí phách ngang ngược quân lâm thiên hạ của Lưu Cảnh, làm cho tim lão đập nhanh từng hồi.

Tào Tháo còn đang suy nghĩ đến câu nói cuối cùng của Lưu Cảnh: ‘chuyện gia đình cũng là chuyện thiên hạ, lập tức lập Thực công tử làm thế tử!’

Những lời này có ý tứ rất sâu xa, trong lòng Tào Tháo cũng hiểu được, Lưu Cảnh thật ra muốn ám chỉ dã tâm của đứa con cả Tào Phi, điều này cũng khiến cho Tào Tháo đắn đo rất nhiều, bất cứ lời khuyên của người nào cũng không có sức ảnh hưởng to lớn đối với Tào Tháo như một câu nói của Lưu Cảnh, dù sao quan hệ này cũng là quan hệ phía sau của lão, quan hệ đến cả Tào thị.

Lúc này Tào Tháo lại nghĩ tới một câu nói khác của Lưu Cảnh: ‘Thừa tướng tuổi tác đã cao, còn có thể cầm quyền được bao nhiêu lâu, lúc này Thừa tướng hẳn nên suy nghĩ đến chuyện sau này rồi.’

Lúc ấy lão đang giận dữ nên không để lời này ở trong lòng. Bây giờ nhớ lại khiến Tào Tháo bỗng khiếp sợ, lão đứng lên, khoanh tay đi đến trước cửa, xa xa nhìn về hướng tây bắc, tâm rối như tơ vò.

Đúng lúc này bên ngoài truyền đến giọng nói của Trình Dục:

- Ta có chuyện gấp cần bẩm báo lên Thừa tướng, nhanh chóng vào bẩm báo.

Tào Tháo đẩy màn trướng đi ra:

- Trọng Đức có chuyện gì gấp?

Trình Dục bước nhanh về phía trước hành lễ vẻ mặt lo lắng nói:

- Thừa tướng, vi thần đã hiểu được ý đồ thực sự của việc phát động tấn công Trung Nguyên của Lưu Cảnh rồi, tình huống chỉ e là rất không hay.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 704: Kì binh xuất kích


Tháng mười một, Hoàng Hà đã kết băng, gió lạnh thấu xương khiến lòng sông kết một tầng băng thật dày, tuyết vừa mới rơi xuống, bao trùm ở trên mặt băng một màu trắng xoá, liếc nhìn lại, giống hệt một thế giới băng tuyết ngập trời.

Nơi này là huyện Hạ Dương, quận Phùng Dực của Quan Trung. Bờ bên kia Hoàng Hà đó là bến sông Hà Tân trứ danh, ở trên vùng băng nguyên Hoàng Hà bị tuyết bao trùm mờ mịt này, một chi quân đội ước ba vạn người đang hăng hái hành quân theo hướng đông. Binh lính mặc ủng da thật dày, lúc giẫm lên tuyết tạo nên những tiếng két kẹt rung động, chiến mã cũng dùng cỏ khô bao bọc bốn vó, trên bụng được quấn chặt bằng vải bố dày, phòng ngừa bị hàn khí của băng nguyên làm tổn thương.

Đại quân một đường hướng đông, tinh kỳ phấp phới, xích kỳ quân Hán phần phật bay múa trong gió rét. Đại tướng dẫn đầu đúng là Triệu Vân. Dựa theo thống nhất bố trí của Lưu Cảnh trước đó, sau khi khai hỏa đại chiến ở Trung Nguyên, Triệu Vân suất quân xuyên thẳng Tịnh Châu, cướp lấy Thái Nguyên.

Ánh sáng mặt trời chiếu trên tuyết trắng, cực kỳ chói mắt, Triệu Vân giơ vòm tay nhìn về phương xa một lát, chỉ thấy từ xa có một gã kỵ binh đang cấp tốc chạy tới hướng bên này, đây là kỵ binh thám báo đến.

Một lát sau kỵ binh thám báo chạy tới trước mặt Triệu Vân, ở trên ngựa ôm quyền thi lễ nói:

- Khởi bẩm Đô đốc, năm trăm quân Tào ở bến sông Hà Tân đã bị Vương Bình tướng quân tiêu diệt, không thoát một người.

Triệu Vân mừng rỡ, quay đầu lại nói với Pháp Chính:

- Pháp quân sư, Vương Tướng quân không để cho người thất vọng a!

Pháp Chính biết rằng Triệu Vân càng coi trọng Vương Bình hơn, định để y là người nối nghiệp của mình, cũng cười nói:

- Lấy năng lực của Vương Tướng quân, bến Hà Tân nho nhỏ này tất nhiên y không coi là gì, mấu chốt là không để lọt tin tức, như vậy sẽ tạo điều kiện tốt nhất cho chúng ta cướp lấy Thái Nguyên.

Triệu Vân gật gật đầu, lúc này hạ lệnh:

- Truyền mệnh lệnh của ta, lấy tốc độ nhanh nhất vượt qua Hoàng Hà, trú doanh nghỉ ngơi ở Hà Tân.

Ba vạn quân đội đẩy nhanh tốc độ, đi về hướng bờ bên kia Hoàng Hà.

Tịnh Châu cũng chính là địa khu Hà Đông, hiện nay là tỉnh Sơn Tây, ban đầu cũng là địa bàn của Viên Thiệu, do cháu ngoại trai Cao Can đảm nhiệm Thứ sử Tịnh Châu. Sau khi Viên Thiệu bị giết, Cao Can cũng một lần đầu hàng Tào Tháo, về sau lại lại tạo phản, cuối cùng bị Tào Tháo tru sát. Trước mắt Thứ sử Tịnh Châu do nguyên Ti lệ Giáo Úy Vương Diễm đảm nhiệm.

Tịnh Châu nguyên bản có đóng ba vạn quân, bởi vì quân Hán tiến công Quan Lũng, Tào Tháo liền đem hai vạn quân Tịnh Châu điều đi Quan Trung, khiến binh lực Tịnh Châu giảm bớt đến mười ngàn, trong đó năm ngàn người trú đóng ở Thái Nguyên, do danh tướng Khiên Chiêu Thống soái.

Thái Nguyên là châu trị sở tại của Tịnh Châu, cũng là thành lớn nhất Tịnh Châu, thành trì cao lớn chắc chắn, chu vi hơn ba mươi dặm, gần hai trăm ngàn nhân khẩu, cũng là một trong năm tòa hùng thành nổi danh địa khu phương bắc cùng với Trường An, Lạc Dương, Nghiệp Đô, Hứa Đô.

Tịnh Châu bởi vì nguyên nhân địa vực, chịu xung kích của khởi nghĩa Hoàng Cân tấn công yếu hơn, hơn nữa thổ địa phì nhiêu, dân gian phổ biến khá giàu có và đông đúc, buôn bán cũng vô cùng phát đạt, Thái Nguyên là trung tâm thương nghiệp của Tịnh Châu, bên trong thành các loại cửa hàng san sát lẫn nhau, tửu quán, lữ xá, thanh lâu, quán đánh bạc v…v.. tùy ý có thể thấy được.

Mặc dù Quan Trung và Trung Nguyên đồng thời bạo phát hai trận chiến dịch, nhưng vì chiến trường khá xa, Thái Nguyên không bị ảnh hưởng chút nào, mỗi ngày vẫn bận rộn buôn bán, dân chúng trong thành bận rộn, tiếp tục cuộc sống của mình.

Buổi trưa hôm nay, một chi đội la ngựa chở đầy hàng hóa từ ngoài Nam Thành đi tới, đây là thương đội mà ở địa khu Tịnh Châu thường nhìn thấy. Bình thường đều là do hơn mười chi thương đội nhỏ ghép thành, chi thương đội này cũng không ngoại lệ, có khoảng mấy trăm thất la ngựa, mười mấy thương nhân, hơn một trăm tên tiểu nhị, coi như là một chi thương đội lớn.

Khi chi thương đội xuất hiện tại cửa thành, một gã quan quân thủ thành dẫn theo mấy tên lính chạy ra đón chào:

- Thương đội từ đâu đến, có thương dẫn hay không?

Thương dẫn là một tờ hóa đơn chứng minh kinh thương xuất phát từ quan phủ, mặt trên sẽ có bản ghi chép nộp thuế, phòng ngừa lặp lại thu thuế, thương đội sau khi tới đích, chuyện thứ nhất chính là phải tới thị thự địa phương báo nghiệm thương dẫn, nộp tiền thuế, như vậy mới có thể bán hàng hợp pháp.

Nói chung, quan binh thủ cửa thành cũng không cần nghiệm chứng thương dẫn cái gì, đây thật ra là một loại ám chỉ vô nghĩa. Thương nhân cầm đầu đem một quyển giấy lụa đưa cho gã, cười nói:

- Đây là thương dẫn của chúng ta.

Quan quân mở thương dẫn ra nhìn nhìn, như cười như không nói:

- Ồ! Hóa ra là từ Nam Dương lại đây, một đường bôn ba, rất vất vả đi!

- Chúng ta không khổ cực, nào có vất vả như tướng quân thủ thành.

Lúc nói chuyện, một thỏi hoàng kim mười lượng đã lặng lẽ nhét vào trong tay quan quân, quan quân ngầm hiểu, những thương nhân này xem ra hiểu quy củ lắm, gã liền trả lại thương dẫn cho bọn họ, cười hỏi:

- Có mang binh khí vi phạm lệnh cấm không?

- Đương nhiên không có, chỉ có một chút đao kiếm phòng thân bình thường, vũ khí dân gian tùy ý có thể mua được.

Quan quân đại khái đánh giá mọi người một chút, không thấy vi phạm lệnh cấm binh khí dài, nhân tiện nói:

- Nếu đã nộp thuế, thì chính là thương nhân hợp pháp, chúng ta sẽ không làm khó dễ, vào thành đi!

Gã vung tay lên, hô lớn với binh lính thủ thành:

- Cho đi!

Thương đội thúc giục la ngựa, bắt đầu trùng trùng điệp điệp vào thành, ngay lúc bọn họ vào thành không lâu, chủ tướng Thái Nguyên Khiên Chiêu suất lĩnh một chi trinh sát tuần tra đi ngang qua, y hỏi quan quân thủ thành nói:

- Là thương đội nơi nào?

- Khởi bẩm tướng quân, là từ Hứa Xương lại đây.

Quan quân hết sức giảo hoạt, không dám nói Nam Dương, Nam Dương tới gần Kinh Châu, sẽ chọc cho ra phiền toái không cần thiết, Khiên Chiêu gật gật đầu, có dặn dò:

- Gần đây bùng nổ chiến dịch Quan Trung, mặc dù cách Thái Nguyên khá xa, nhưng vẫn phải coi chừng, phải nghiêm khắc kiểm tra, không thể thiếu cảnh giác.

- Xin tướng quân yên tâm, ty chức tuyệt sẽ không để người khả nghi lẫn lộn vào trong thành.

Khiên Chiêu gật gật đầu, lại dặn dò vài câu, liền quay đầu ngựa đi về hướng cửa thành phía Tây. Đợi chủ tướng đi xa, quan quân nhéo nhéo hoàng kim nặng trịch trong ngực, trong lòng vui mừng, nói với đám binh lính thủ hạ:

- Giữ vững tinh thần để làm việc, buổi tối ta mời mọi người uống rượu.

......

Thương đội vào thành, cũng không sốt ruột đi tìm cửa hàng thương nhân bán hàng, mà là đi thẳng tới phụ cận góc tây nam Thái Nguyên. Vùng này người ở khá phức tạp, vàng thau lẫn lộn, ban đầu chỉ là bãi tha ma tập trung vô chủ, đổ nát hoang vu, chồn hoang thường lui tới, nhưng từ sau khi đại lượng lưu dân Hà Bắc vì trốn tránh loạn Hoàng Cân tiến vào Thái Nguyên, quan phủ đem góc tây nam hoang vắng cho bọn họ ở lại, đám lưu dân liền dựng túp lều ở lại, khiến góc tây nam thành trì trở thành nơi tập trung dân nghèo Thái Nguyên.

Thương đội đi qua một con đường nhỏ dơ dáy bẩn thỉu, đi vào trước nhà lữ xá cuối nhất. Thương nhân dẫn đầu nhìn nhìn chiêu bài của lữ xá, liền nói với mọi người:

- Chính là chỗ này, mọi người vào đi thôi!

Từ bên trong lữ xá vài tên tiểu nhị đi ra, bọn họ nhận ra thương nhân dẫn đầu, liền dẫn mọi người đi vào, lúc này, một gã tiểu nhị nói khẽ với thương nhân dẫn đầu:

- Ngô Tướng quân, xin mời đi theo ta.

Chi thương đội này đúng là do tinh nhuệ của quân Hán Ưng Kích Quân đóng giả, thương nhân dẫn đầu là Phó thống lĩnh Ưng Kích Quân Ngô Ban, y là nhận lệnh của Triệu Vân phái tiến vào Thái Nguyên trước, trên thực tế trước y, đã có mấy đám binh lính Ưng Kích dùng các loại phương thức xé nhỏ ra tiến nhập thành Thái Nguyên, Ngô Ban là một nhóm cuối cùng.

Chỗ lữ xá này là điểm liên lạc quân Hán thiết lập tại thành Thái Nguyên, thiết lập riêng tại góc tây nam khu dân nghèo, một là địa phương trọng đại, tiếp theo là quan phủ không quá hỏi đến, chỉ cần tiêu tiền mua được thủ lĩnh vô lại lưu manh vùng này, trên cơ bản là được bình an vô sự rồi.

Ngô Ban đi theo tiểu nhị bước nhanh đi đến hậu đường, một người nam tử trung niên chạy ra đón chào, thi lễ với y và nói:

- Tham kiến Ngô Tướng quân!

Người đàn ông trung niên là chưởng quầy nhà lữ xá này, tên là Chương Cừ, là một gã quan văn thư tá trong quân Hán, năm tháng trước bị phái tới Thái Nguyên, mua lại lữ xá này, đã thành lập nên điểm liên lạc, Ngô Ban gật gật đầu cười nói:

- Chương sứ quân không cần đa lễ, ta thân mang trọng trách, chúng ta vào nhà nói đi!

- Ngô Tướng quân mời!

Hai người đi vào nội đường ngồi xuống, Ngô Ban hỏi trước:

- Trước đó đã tới hai trăm huynh đệ, như thế nào không thấy?

Chương Cừ cười cười nói:

- Bọn họ bị phân tán đến các nơi ở thành Thái Nguyên, chủ yếu là hiện tại Khiên Chiêu tra thật sự nghiêm, khoảng trăm người ở lâu một chỗ, sẽ bị hoài nghi, ta liền thuê vài toà phủ trạch, đưa bọn họ phân tán ở đó, bất cứ lúc nào có thể tụ tập lại.

Ngô Ban gật gật đầu, lại nói:

- Còn có vấn đề binh khí khôi giáp, đã giải quyết xong chưa?

Chương Cừ đứng dậy cười thần bí nói với Ngô Ban:

- Tướng quân mời đi theo ta!

Bọn họ đi vào nội thất, nơi này xem bộ dáng là một gian thư phòng, Chương Cừ đẩy ra một loạt giá sách, mặt sau lộ ra một cái cửa nhỏ, Chương Cừ mở cửa, dẫn Ngô Ban vào gian phòng bí mật này. Đây là một gian thạch thất không có cửa sổ, phòng rộng rãi, bầy đặt hơn mười cái giá, cái giá treo cung nỏ căng dây, tấm chắn, chiến đao và khôi giáp, góc phòng bày đặt bó lớn trường mâu dựng thẳng.

- Tuy rằng thành Thái Nguyên không cho mang vũ khí vi phạm lệnh cấm vào thành, nhưng đây chẳng qua là quy định gần nhất, trên thực tế chỉ cần có tiền, các loại khôi giáp binh khí lúc nào cũng có thể mua được, đều là vũ khí quân đội chính quy, nơi này có năm trăm bộ vũ khí, tướng quân có thể tùy ý lấy dùng.

Ngô Ban tiến lên lấy ra một chi trường mâu, múa may hai cái, gật gật đầu thả lại chỗ cũ, lại nhặt lên một cái nỏ quân, dây cung nỏ đã tháo ra, chỉ cần cài đặt, bất cứ lúc nào có thể sử dụng, điều này làm cho y vô cùng hài lòng, quay đầu cười nói với Chương Cừ:

- Có binh khí, ta có thể yên tâm rồi, Chương sứ quân chuẩn bị vô cùng tốt, nếu thành công lớn, ta sẽ thượng tấu công lao của sứ quân.

- Đa tạ Ngô Tướng quân khen ngợi! Không biết khi nào thì động thủ?

- Nhanh thôi! Khi ta đi tới, quân Hán đã cướp lấy Hà Tân, đang mở rộng về hướng Thái Nguyên, ta phỏng chừng trong vòng 3 ngày đại quân đến Thái Nguyên.

Nói đến đây, Ngô Ban lại nói:

- Thời cơ đã tới rồi, phiền Chương sứ quân thông tri tất cả huynh đệ đêm nay tập trung ở trong này, ta muốn an bài nhiệm vụ.

- Tướng quân yên tâm, ta lập tức phái người đi thông tri.

Ba ngày sau, ba vạn quân Hán từ Hà Tân đánh tới qua quận Ly Thạch, tiến nhập trong quận Thái Nguyên. Chiều tối, ba vạn quân Hán rốt cục đã tới Thái Nguyên, quân đội kéo trong vòng hơn mười dặm, tinh kỳ phấp phới, thanh thế lớn, khi còn cách thành Thái Nguyên ước chừng mười dặm thì thả chậm tốc độ.

Quân Hán đến khiến dân chúng vùng Thái Nguyên đều hoảng sợ, mọi nhà đóng cửa cài then, không dám ra đường, trên quan đạo và cánh đồng bát ngát trống rỗng, nhìn không thấy một bóng người. Đúng lúc này, một đội thám báo quân Hán vội vàng chạy tới, bọn họ đã đưa đến một gã người đưa tin, là thủ hạ Ngô Ban phái ra trước khi cửa thành đóng cửa, người đưa tin rất nhanh được dẫn đến trước mặt Triệu Vân.

- Tham kiến Đô đốc!

Người đưa tin khom người thi lễ, đem lệnh bài tín vật trình lên.

Triệu Vân nhìn nhìn lệnh bài liền cười hỏi:

- Ngô Tướng quân hiện tại như thế nào rồi?

- Hồi bẩm tướng quân, chúng ta đã chuẩn bị sắp xếp, ở góc tây nam thành trì, chúng ta sẽ cướp lấy Tây Môn vào tối nay, thời gian là vào hai canh, hy vọng Đô đốc có thể phái quân đội phối hợp.

Ưng Kích Quân là quân đội thuộc trực tiếp Lưu Cảnh, không thuộc về Triệu Vân quản hạt, cho nên Ngô Ban có thể yêu cầu Triệu Vân phối hợp, quan trọng hơn là, cửa thành đã đóng Thái Nguyên, người đưa tin trở về không được, quân Hán cũng đành ở ngoài thành dựa theo phương án của Ngô Ban đến đoạt thành.

Triệu Vân gật gật đầu:

- Vất vả rồi, đi xuống trước nghỉ ngơi đi!

Y lệnh binh lính mang người đưa tin đi xuống nghỉ ngơi, lúc này Pháp Chính tiến lên cười nói:

- Nếu là cướp lấy Tây Môn, chúng ta đây hẳn là hạ trại ở Đông Môn.

----------oOo----------
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 705: Nghiêm mật điều tra


Lúc này bên trong thành Thái Nguyên đã là thần hồn nát thần tính, quân Hán đột nhiên giết tới, khiến bên trong thành Thái Nguyên lâm vào trong một mảnh hoảng sợ, cửa hàng đóng cửa, tửu quán ngừng kinh doanh, mọi nhà đóng cửa cài then, trên đường cái vắng ngắt, chỉ ngẫu nhiên sẽ có một đội binh lính xếp thành hàng chạy qua.

Không chỉ có lòng người dân chúng bình thường bàng hoàng, quân đội cũng cực kỳ khẩn trương. Năm nghìn quân đội ngoại trừ năm trăm người duy trì trật tự, còn lại toàn bộ quân đội lên thành phòng ngự, mặc dù như thế, vẫn nước xa lửa gần, còn lâu mới có thể đủ để thủ thành, từ trên xuống dưới, quan quân thủ thành và bọn lính đều không có gì tin tưởng.

Bên trong quan nha, Thứ sử Thái Nguyên, Thứ sử Vương Diễm, Đô đốc Tịnh Châu Khiên Chiêu cùng với Trưởng sử Tân Bình đang khẩn cấp thảo luận đối sách, tâm tình ba người đều vô cùng trầm trọng, như thế nào cũng thật không ngờ quân Hán lại đột nhiên giết tới, điều này làm bọn họ cực kỳ bị động.

Khiên Chiêu thở dài nói:

- Nghe nói Thừa tướng ở Nhữ Nam giằng co với quân Hán, Quan Trung bên kia chiến tranh còn chưa bình ổn, hiện tại quân Hán lại đột nhiên giết đến Thái Nguyên, quân Tào được cái này mất cái khác, bị Lưu Cảnh nắm mũi dẫn đi, quả thực rất bị động rồi.

- Khiên Đô đốc!

Thứ sử Vương Diễm có chút bất mãn kéo dài thanh âm:

- Bây giờ không phải là lúc nói những lời như thế này, hiện tại chúng ta phải thảo luận đối sách, làm như thế nào ứng đối quân Hán đột nhiên tập kích?

- Đối sách?

Khiên Chiêu cười lạnh một tiếng nói:

- Cuộc chiến Quan Trung đã điều đi đại bộ phận quân đội Tịnh Châu, toàn bộ Tịnh Châu chỉ có một vạn hai ngàn người, quận Nhạn Môn bốn ngàn, quận Hà Đông ba ngàn, thành Thái Nguyên cũng chỉ có năm ngàn người, còn đối phương chí ít có ba vạn người, một trận chiến này đánh như thế nào, ta cũng không hiểu!

Trong giọng nói Khiên Chiêu tràn đầy oán giận, lúc trước y mãnh liệt phản đối đem quân Tịnh Châu điều đi Quan Trung, Vương Diễm lại nói cho Thừa tướng vấn đề Tịnh Châu không lớn, hiện tại xuất hiện hậu quả, lại cần nhờ năm nghìn quân đội của y đến ứng đối, không bột đố gột nên hồ, cho dù y có tài năng thông thiên cũng không thể chiến đầu với ba vạn quân.

Lúc này Tân Bình ở một bên thật cẩn thận nói:

- Ta đề cử một phương án nhé!

Vương Diễm lạnh lùng liếc Khiên Chiêu một cái, hỏi Tân Bình:

- Nói một chút coi, phương án gì?

Tân Bình ngẫm nghĩ một chút nói:

- Chúng ta có thể động viên dân chúng tham dự thủ thành, mặt khác khẩn cấp cầu viện Nghiệp Đô, ta phỏng chừng quân Hán lặn lội đường xa mà đến, cũng không có vũ khí công thành gì, cho dù lâm thời chế tác vũ khí công thành cũng phải mấy ngày thời gian, chúng ta kiên trì hai ba ngày nữa, có lẽ viện quân Nghiệp Đô đã đến, hai vị thấy thế nào?

- Đây là phương án tốt nhất!

Vương Diễm khen:

- Nói như vậy, chúng ta sẽ có thời gian thủ thành, hơn nữa bên trong thành tiền lương không thiếu, hoàn toàn có thể dùng để chiêu mộ dân phu.

Nói đến đây, mặt y trầm xuống, lại hỏi Khiên Chiêu:

- Khiên tướng quân cảm thấy thế nào?

Khiên Chiêu tuy rằng trong lòng đầy oán hận, nhưng y cũng biết, bây giờ không phải là lúc oán giận, nhất định phải toàn lực ứng đối nguy cơ, y nhớ tới ba ngày trước thấy chi thương đội trăm người kia, trầm ngâm một chút nói:

- Ta cũng ủng hộ đề nghị của Tân Trưởng sử, ta vẫn lo lắng bên trong thành đã có gian tế quân Hán, thủ thành sợ nhất nội ứng ngoại hợp, hơn nữa binh lực chúng ta không nhiều lắm, một khi có trăm người trở lên nội ứng, thành trì liền nguy hiểm.

- Một khi đã như vậy liền lục soát thành!

Lúc này Vương Diễm quyết đoán nói:

- Tất cả lữ xá, tửu quán, thanh lâu, cửa hàng, cùng với tất cả đại trạch cho thuê đều phải điều tra toàn bộ, không buông tha cho một người nào. Khiên tướng quân, ta sẽ để cho quan phủ phối hợp quân đội, từ hiện tại bắt đầu lục soát thành.

Tuy nói quân đội và chính trị đều tự độc lập, nhưng Khiên Chiêu bất kể ở kinh nghiệm và sự từng trải hay là trên quan trường đều thấp hơn Vương Diễm nhiều, mệnh lệnh của Vương Diễm y cũng không được không chấp hành, y lập tức đứng lên nói:

- Ta đây liền đi an bài!

Vương Diễm lại nói với Tân Bình:

- Phát thư chim bồ câu cũng chậm, trước dùng khói lửa cảnh báo, lại phát thư chim bồ câu cầu viện!

Trời vừa tối đen, phía bắc thành Thái Nguyên đốt lên khói lửa, khói đặc xen lẫn lửa nóng bay lên trời, phát ra cảnh cáo cho hướng Nghiệp Đô, bay về hướng đông, từng tòa khói lửa lập tức cháy lên, trên Thái Hành Sơn cũng dấy lên khói lửa cảnh giác.

Cùng lúc đó, Khiên Chiêu điều động hai ngàn quân đội, cùng ba trăm nha dịch phối hợp, bắt đầu điều tra từng nhà bên trong thành Thái Nguyên. Trong thành Thái Nguyên lập tức gà bay chó sủa, một mảnh náo loạn.

Chưởng quầy Nam An lữ xá Chương Cừ vội vàng chạy về lữ xá của mình, vào cửa chính liền dặn dò:

- Đóng cửa tiệm, ngừng buôn bán!

Y tâm sự nặng nề đi vào hậu viện, vừa lúc nghênh diện gặp Ngô Ban, Ngô Ban thấy vẻ mặt y khác thường, liền hỏi:

- Chương sứ quân, đã xảy ra chuyện gì?

Chương Cừ có chút khẩn trương nói:

- Quân đội bắt đầu lục soát thành, ở trên phố đều là binh lính, vừa rồi đầu lĩnh lưu manh Ngưu Nhị nói cho ta biết, lần này lục soát thành rất nghiêm khắc, Khiên Chiêu tự thân dẫn đội, đưa tiền cũng vô dụng, mỗi nhóm mười người xứ khác trở lên đều bị bắt đi, lập tức sẽ lục soát nơi này của chúng ta.

Chương Cừ rất lo lắng, bên trong lữ xá của y có ba trăm Ưng Kích Quân, rất dễ dàng bị tra được, vậy phải làm sao bây giờ? Y ngẫm nghĩ một chút lại nói:

- Nếu không để các huynh đệ trốn trước vào căn phòng bí mật, chen chúc thì chen chúc, chịu đựng nửa canh giờ, sau đó sẽ không sao.

Ngô Ban trầm tư một chút hỏi:

- Là điều tra từng nhà? Nhà dân cũng phải lục soát sao?

- Các đại trạch cho thuê đều phải lục soát, nhà dân bình thường thì không lục soát.

Ngô Ban nhìn nhìn bóng đêm, liền cười nói:

- Như vậy thì vấn đề không lớn, ta có biện pháp ứng đối, sứ quân chỉ để ý xóa đi dấu vết chúng ta ở qua, sau đó thong dong đối mặt là được.

Trong lòng Chương Cừhồ nghi, “Y đây là muốn làm cái gì?”

Sau nửa canh giờ, mấy binh lính quân Tào rốt cục lục soát đến khu dân nghèo góc tây nam, vô số cây đuốc chiếu đường phố sáng như ban ngày. Khiên Chiêu cưỡi trên chiến mã, sắc mặt âm trầm, điều tra hơn một canh giờ, bắt đi vài trăm người, nhưng y cảm giác cũng không tìm được gian tế quân Hán thực sự. Hơn nữa thương đội trăm người ba ngày trước thấy được, đến nay vẫn chưa tìm được, cũng không có bản ghi chép bọn họ đã ra khỏi thành.

Trực giác nói cho y biết, những người đó nhất định có vấn đề, hơn nữa bọn họ ngay tại trong thành:

- Điều tra cẩn thận một chút, hầm cũng phải điều tra!

Khiên Chiêu lớn tiếng ra lệnh.

Lúc này, hơn mười người binh lính đập cửa Nam an lữ xá, sĩ binh cũng không giải thích, hơn trăm người như lang như hổ vọt vào, lật tung đồ đạc xuống đất điều tra. Khiên Chiêu cũng đi vào lữ xá, y đánh giá một chút nhà lữ xá này, chiếm diện tích rất lớn, phòng xá cũng nhiều, hiển nhiên có thể giấu rất nhiều người, trong lòng của y nổi lên nghi ngờ, liền nói với Nha tướng điều tra:

- Nhà lữ xá này phải lục soát càng cẩn thận cho ta, đặc biệt phải nhìn có hầm, căn phòng bí mật linh tinh hay không.

- Tuân lệnh!

Nha tướng dẫn dắt binh lính bắt đầu cẩn thận điều tra, Khiên Chiêu ở trong lữ xá đi một vòng, y phát hiện không ngờ lữ xá không có khách, điều này làm cho y càng thêm nghi ngờ, đúng lúc này, có binh lính chạy tới bẩm báo:

- Tướng quân, chúng ta phát hiện một gian mật thất.

Tinh thần Khiên Chiêu rung lên, bước nhanh đi theo binh lính đi đến hướng hậu viện. Lúc này, mấy trăm binh lính tập trung trong ngoài thư phòng, giương cung bạt kiếm, sẵn sàng trận địa đón quân địch. Trong thư phòng, giá sách cũng bị dời đi, Nha tướng đang thét ra lệnh Chương Cừ mở cửa, Chương Cừ luôn mãi giải thích nói:

- Gian mật thất này là ông chủ cũ dùng để tị nạn đấy, không quan hệ gì với ta, bên trong đều là tạp vật.

Lúc này, Khiên Chiêu bước vào thư phòng, bọn lính đều tản ra, Khiên Chiêu liếc qua cửa gian mật thất, lạnh lùng nói:

- Phá thông nó!

Ba tên lính tiến lên, đồng loạt dùng sức đá tới cửa nhỏ, 'Phanh!' một tiếng vang thật lớn, cửa gian mật thất bị đá văng, bên trong là một mảnh tối om. Mười mấy tên binh lính đồng thời bắn tên vào trong mật thất, sau một lúc lâu, mới có mấy tên lính châm lửa đi vào, Khiên Chiêu cũng đi vào gian mật thất. Gian mật thất khá lớn, bên trong chất đầy các loại hòm quầy giường rách nát, không có bất kỳ vật phẩm vi phạm lệnh cấm nào, càng không có người núp ở bên trong.

Chương Cừ giải thích:

- Ta đã nói rồi, thật sự đều là tạp vật, các ngươi cũng không tin.

Khiên Chiêu xoay người xốc cổ áo của y, hung ác nói:

- Ta tới hỏi ngươi, trong lữ xá của ngươi vì sao không có một người khách nào?

Chương Cừ ra vẻ hoảng sợ nói:

- Nguyên bản có mấy người khách từ Trung Nguyên tới, nghe nói quân Hán đánh tới rồi, bọn họ đều bị dọa chạy, tiểu đ**m ít vốn, ban đầu lại là bãi tha ma, nào có khách nào nguyện ý ở nơi này.

Lúc này bọn lính đã lục soát các nơi xong, trở về bẩm báo:

- Khởi bẩm tướng quân, không phát hiện nhân vật khả nghi.

Lúc này Khiên Chiêu mới buông ra vạt áo của y, oán hận nói:

- Bỏ qua cho ngươi trước, nếu có biến, lập tức báo cáo cho quân đội!

- Nhất định! Nhất định!

Khiên Chiêu vung tay lên:

- Đi tới nhà khác!

Mấy trăm binh lính rời khỏi lữ xá, lại đập cửa chính một nhà kỹ quán cấp thấp cách đó không xa. Chương Cừ thở phào một hơi, may mắn Ngô Ban không chịu trốn trong mật thất, nếu không thì xong rồi. Kỳ thật y không biết, cho dù bị lục soát rồi, ba trăm Ưng Kích Quân binh lính, đối phó những quân Tào cũng dư dả, chỉ có điều Ngô Ban không muốn rút dây động rừng thôi.

Thì ở nhà dân cách vách, Ngô Ban và mười mấy tên binh lính trốn trong phòng, một nhà chủ nhân ngồi xổm tại góc tường, sợ tới mức lạnh run, Ngô Ban thấy quân Tào đã đi rồi, rồi mới nói với chủ nhân:

- Ta không giết các ngươi, nhưng các ngươi dám báo tin, ta giết cả nhà các ngươi!

Nam chủ nhân sợ tới mức run run nói:

- Chúng ta không dám nói, liền coi như không có cái gì phát sinh.

- Vậy là được rồi!

Y mở cửa, dẫn dắt bọn lính lại nhảy tường trở về lữ xá, nhưng Ngô Ban vẫn tương đối cẩn thận, lưu lại mấy tên lính trông coi người nhà này, hai canh thời gian động thủ, hai canh giờ nữa đã đến

Lục soát liên tục gà bay chó sủa đến lúc canh một, lúc này ngoài thành bỗng nhiên truyền đến quân tình, ngoài Đông thành phát hiện quân Hán đang dùng bao cát lấp sông đào bảo vệ thành.

Tình huống đột phát khiến Khiên Chiêu không thể không đình chỉ quân đội lục soát thành, suất lĩnh quân đội lên Đông Thành. Trên đầu thành, hơn ngàn quân Tào đang phóng tên dày đặc về phía dưới, nhưng bóng đêm đen kịt, thấy không rõ tình huống phía dưới, bọn lính chỉ có thể tùy ý bắn tên, gần như không có bất kỳ hiệu quả nào.

Đúng lúc này, năm nghìn cung nỏ binh quân Hán đuổi tới, đồng loạt xếp thành hàng bắn tên về hướng đầu thành, tên dày đặc che trời phủ đất phóng tới, bắn cho đầu thành rung động, áp chế binh lính quân Tào.

Khiên Chiêu bước nhanh đi lên đầu thành, dưới hơn mười người binh lính chấp lá chắn yểm hộ, thật cẩn thận nhìn xung quanh xuống phía dưới thăm dò. Trong bóng đêm, chỉ thấy vô số bóng đen đang tới hướng sông đào bảo vệ thành.

Sông đào bảo vệ thành đã kết băng, nhưng bởi vì mặt nước quá nông, và hai bờ sông có chênh lệch nhất định, không tiện cho tổ xe, chùy công thành và khí cụ công thành cỡ lớn hành động, bởi vậy phải dùng bao cát lấp đầy mặt sông, ít nhất phải lấp thành một con đường.

Khiên Chiêu vô cùng lo lắng trong lòng, chẳng lẽ quân Hán dẫn theo khí cụ công thành cỡ lớn sao? Vô cùng có khả năng, khi tấn công Trần Thương, quân Hán chính là lâm thời lắp ráp tổ xe và khí cụ công thành trọng hình, có lẽ quân Hán sẽ lắp ráp suốt đêm, nếu không bọn họ sẽ không gấp gáp lấp đầy mặt sông như vậy.

Làm sao bây giờ? Ngày mai quân Hán sẽ công thành rồi.

----------oOo----------
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 706: Thái Nguyên thất thủ


Ngay tại khi quân Hán tập trung binh lực ở ngoài đông thành lấp kíp sông đào bảo vệ thành, ở phía tây thành môn cách hơn một dặm, Triệu Vân đã dẫn một vạn quân âm thầm mai phục ở trong một bià rừng cây, nhẫn nại chờ đợi tây thành môn mở ra, y đối với Ngô Ban rất có lòng tin, đối với Ưng Kích quân càng tin tưởng hơn, y rất rõ ràng sức chiến đấu cường đại của ba trăm Ưng Kích quân, sẽ không bị áp chế bởi ba ngàn quân đội.

Thời gian đang chậm chậm qua đi, khoảng cách đến hai canh giờ vẫn còn có nửa canh giờ nữa, Triệu Vân quay đầu lại thấp giọng hô:

- Truyền lệnh xuống dưới, không được buông lơi, thực hiện tốt chuẩn bị bất cứ lúc nào cũng có thể tiến công.

Trong một lữ xá góc nam phía tây nam thành Thái Nguyên, ba trăm sĩ binh Ưng Kích quân đã toàn bộ mặc xong khôi giáp nặng, mỗi người một cây trường mâu, một thanh chiến đao, một bộ tên nỏ và một chiếc thuẫn tròn, có mười mấy tên binh sĩ còn đeo lấy sợi dây thừng dài, chúng binh sĩ tinh thần hưng phấn, xếp đội thành sáu hàng. Ngô Ban hướng mọi người nói:

- Triệu Vân tướng quân đã ở ngoài thành chờ, nhiệm vụ của chúng ta là cướp lấy cửa thành phía tây, phải nhanh, phải độc, phải giải quyết gọn gàng, không được có trái tim thương tiếc, không được làm chậm chễ quân lệnh, kẻ trái lệnh trảm!

- Tuân lệnh!

Binh sĩ một loạt hô lên, thanh âm đều đặn có lực.

Lúc này, Chương Cừ vội vàng chạy đến thông báo:

- Ngô tướng quân, sĩ binh tuần tra trên đường đã đi qua rồi.

Ngô Ban gật gật đầu, vung tay lên:

- Xuất phát!

Ba trăm binh lính tinh nhuệ Ưng Kích quân nhanh chóng hướng phía ngoài chạy đi, quân phục của bọn họ hoàn toàn giống như quân Tào, đội ngũ chỉnh tề, hành động nhanh chóng hữu lực, chạy chậm về hướng tây môn, trên đường phố vang lên tiếng bước chân kêu rất có tiết tấu: '' cộp! cộp! cộp!

Ngay tại lúc sắp tiếp cận tây môn thành, vừa hay có hai mười mấy tên binh lính quân Tào đổi ca từ trên đầu thành đi xuống, bọn họ người người mệt mỏi không chịu nội, vặn eo bẻ cổ, ngáp, đâm đầu đi tới.

- Các người là bộ hạ của ai?

Tên quân hầu cầm đầu hỏi nói.

Ngô Ban cười lạnh một tiếng, trong kẽ răng tóe lên một chữ:

- Giết!

Ba trăm Ưng Kích quân cùng nhau nâng nỏ tên bắn, tên bay dày đặc mạnh mẽ, hai mươi mấy binh lính quân Tào đều kêu thảm thiết ngã xuống mặt đất, toàn bộ bị bắn chết, không để lại một người sống sót, nhưng tiếng kêu thảm thiết của binh lính quân Tào đã kinh động đến binh lính đang coi giữ ở đầu thành, mười mấy người đều dựa vào lỗ châu mai ngó xuống dưới nhìn ngó, bởi vì bóng đêm đen kịt, thấy không rõ tình hình phía dưới, chỉ có cảm giác có chút hoang mang, một tên quan quân cao giọng hỏi:

- Phía dưới xảy ra chuyện gì vậy?

Ngô Ban đối lại nói:

- Không có việc gì, có huynh đệ trượt chân ngã xuống thôi.

Y đánh mắt về phía quân đội Trương Kính một hồi, thấp giọng nói:

- Ta đi mở cổng thành, ngươi dẫn hai trăm huynh đệ chuẩn đoạt lấy Ủng thành (bức thành nhỏ ở ngoài cổng thành)!

Ngô Ban dẫn dắt trười người bước nhanh hướng đầu thành đi lên, vừa đi, vừa cao giọng nói:

- Phụng mệnh Vương thứ sử đến tiếp quản thành môn, các ngươi rút lui đi!

Mười mấy binh sĩ trên thành đều ngây ngẩn cả người, quân đội đều do Khiên tướng quân chưởng quản, lúc nào do Vương thứ sử quan tâm, chỉ là chi quân đội này đều là khôi giáp quân Tào, bọn họ nhất thời không phản ứng kịp, Ngô Ban bước rộng đi đến trên đầu thành, hét lớn một tiếng:

- Động thủ!

Y giơ tay chém xuống, chém chết quan quân cầm đầu ở trên đầu thành, thủ hạ ở phía sau mãnh liệt nhào tới, nhanh chóng vây quanh hai mười mấy binh lính quân Tào, không đợi bọn họ kịp thời phản ứng, hai mười mấy người đều bị loạn mâu đâm chết.

Có mấy tên lính chạy đi vặn then chốt ở đầu thành, phía dưới thành môn chậm rãi mở ra, hai trăm binh lính Ưng Kích dưới sự suất lĩnh của Trương Kính đã sớm đợi ở dưới thành lập tức xông vào Ủng thành, chạy hướng ra phía cửa thành.

Đúng lúc này, thanh âm cảnh báo trong thành bất lình lình vang lên, âm thanh vang dội chói tai, vang vọng ở trong trời đêm, Ngô Ban quay đầu lại, mới phát hiện ra một tên Binh lính quân Tào thoát được khiếp nạn, gõ chuông canh báo, Ngô Ban phẫn nộ, ra sức ném trường mâu trong tay phóng mạnh đi, trường mâu đâm xuyên qua lồng ngực của tên binh sĩ quân Tào, đóng người tên đó trên mặt đất.

Nhưng tiếng báo động đã kinh động đến quân đội coi giữ thành phía đông, có sĩ binh vội vàng bẩm báo với Khiên Chiêu. Khiên Chiêu lập tức ngây ra, quân Hán đang là dương đông kích tây, ở phía đông lấp sông đào bảo vệ thành, thu hút quân coi giữ phòng ngự, mục đích chính của bọn họ lại là phía tây thành.

Khiên Chiêu đột nhiên nhớ tới không bắt được gian tế quân Hán, y vội đến mức giậm châm một cái, ra lệnh:

- Đi theo ta!

Y trở mình lên thân ngựa, suất lĩnh gần hai ngàn binh lính chạy đi về hướng thành phía tây.

Quân thủ thành ở phía tây thành có hơn bốn trăm người, tuyện đại bộ phận đều tập trung ở ngoài thành, lúc này không cần cảnh báo, binh sĩ ở ngoài thành đã gặp phải sự tấn công mãnh liệt của Ưng Kích quân.

Ở hành lang trên thành, một trăm năm mươi binh lính Ưng Kích quân tay cầm trường mâu và hộ thuẫn đang cùng quân Tào chiến đấu kịch liệt, đường hành lang rất hẹp, chiều rộng không đến một trượng, ba trăm tên binh lính quân Tào trên cao nhìn xuống, số binh lực chiếm ưu thế, nhưng lại bị Ưng Kích quân công kích đến mức liên tiếp phải rút lui, thi thể chất đầy dũng đạo.

Hai mươi tên binh sĩ Ưng Kích quân ở dưới ngựa bắn tên, tiễn pháp chính xác, một mũi tên b*n r*, nhất định có một tên sĩ binh quân Tào trúng tên ngã xuống đất, chỉ trong thời gian chốc lát, liền có đến sáu bảy mười người bị trúng tên bắn, dọa cho binh sĩ quân Tào đều nhao nhao rút lui về phía sau, mắt thấy quân địch sắp giết lên đầu thành, hơn ba trăm tên binh lính quân Tào đã tử vong hơn nửa, binh lính còn lại cũng hồn bay phách lạc, quân tâm nhanh chóng mất đi, không biết ai hô to một tiếng:

- Chạy mau!

Trên đầu thành binh lính quân Tào bốn phía chạy loạn, Ưng Kích quân quân Hán chiếm lĩnh đầu thành, mở ra cổng thành, thả cầu treo xuống, giơ cao cây đuốc ra hiệu.

Triệu Vân xa xa nhìn thấy trên đầu thành cháy lên ngọn đuốc, lập tức mừng rỡ, y trở mình lên thân ngựa, dóng dạc hô to:

- Các huynh đệ, giết vào thành đi!

- Giết!

Một vạn binh lính quân Hán đã phát động tấn công, tiếng reo hò che trời phủ đất hướng bên trong thành đánh tới, chỉ khoảng nửa khắc đã vọt tới dười chân thành, Triệu Vân một mình đằng trước, xông vào đến thành môn, phía sau binh lính Quân Hán mãnh liệt như đại hồng thủy tràn đến tiến vào cửa thành phía tây.

Mà lúc này, Khiêu Chiêu suất lĩnh quân đội đang rất vội vàng chạy đến, khoảng cách phía tây thành còn có hơn hai trăm bước, y dừng lại chiến mã, trợn mắt há hốc mồm mà nhìn đội quân Hán mãnh liệt giết vào phía tây thành, một lúc sau, y quay đầu lại chạy về hướng bắc thành, y biết rằng Thái Nguyên đã thất thủ, giờ là phải xem y có thể từ phía bắc thành chạy đi hay không.

Từ hoàng hôn quân Hán đặt chân đến Thái Nguyên, đến hai canh giờ trong ứng ngoại hợp giành lấy Thái Nguyên, trước sau thời gian chưa đến bốn canh giờ, mà lúc này, Nghiệp Đô vừa mới xác định được, khói lửa báo động là từ phương hướng Thái Nguyên truyền đến.

Tào Phi ở trong phòng khoanh tay nôn nóng đi đi lại lại, trong lòng y cực kì lo sợ, cảm giác về chiến sự truyền đến từ Thái Nguyên, nhất định là quân Hán tấn công Tịnh Châu rồi, lúc này y nên làm như thế nào đây? Phụ thân điều động hai mươi lăm vạn đại quân tập hợp Trung Nguyên, Quan Trung còn có sáu vạn đại quân, ngoài ra ở U Châu và Liêu Đông bố trí có ba vạn quân đội, mà Nghiệp Đô và Hà Bắc chỉ có năm vạn quân đội trấn thủ.

Chẳng lẽ y lại phải suất lĩnh năm vạn quân đội này đi cứu Thái Nguyên sao? Hơn nữa y không có quyền điều động quân đội, cho dù y có thể điều động, y điều động quân đội đi Thái Nguyên, vậy thì Nghiêp Đô phải làm sao?

Trong lòng Tào Phi lo lắng, lại dừng bươc lại nhìn đến nóc nhà thở dài, lúc này, có binh sĩ đến bẩm báo:

- Tân Trưởng sử ở bên ngoài cầu kiến!

Tân Trưởng sử là mưu sĩ Tân Bì, quan đảm nhiệm Thừa tướng Trưởng sử. Tào Tháo mệnh y làm phụ tá cho Tào Phi, là một trong những tâm phúc mà Tào Phi tin tưởng nhất, cũng là phụ tá đắc lực của Tào Phi. Tào Phi nghe Tân Trưởng sử đến đây, vội vàng nói:

- Mau mau mời y vào!

Không bao lâu, Tân Bì liền bước nhanh đi vào nội đường, Tân Bì đến là vì việc của Thái Nguyên, y vội vàng quan tâm đến chuyện này, là bởi vì huynh đệ của y Tân Bình đang ở Thái Nguyên làm quan, y thực sự lo lắng cho an nguy của huynh đệ.

- Tham kiến trưởng công tử!

Tân Bì khom người thi lễ nói.

Tào Phi vội vàng khoát tay nói:

- Trưởng sử mời ngồi!

Tân Bì ngồi xuống liền nói:

- Trưởng công tử có biết việc chiến sự Thái Nguyên?

- Ta sao lại không biết!

Tào Phi thở dài nói:

- Hiện tại tâm ý ta phiền loạn, không biết nên làm thế nào mới tốt, mời Trưởng sử chỉ giáo.

- Rất đơn giản, trưởng công tử lập tức xuất binh, lệnh Từ Hoảng tướng quân dẫn hai vạn người tiến đến cứu Thái Nguyên.

- Nhưng..

Tào Phi do dự một chút rồi nói:

- Ta không có quyền điều động binh, Trưởng sử quên rồi sao?

- Ta biết, nhưng công tử có kim bài của Thừa tướng, có thể sử dụng kim bài điều binh đến Thái Nguyên.

Tào Phí có chút khó sử, phụ thân trước khi đi đã cho y một kim bài, đây là phòng ngừa lại xuất hiện giống như loạn Phục Hoàn điều động binh lúc khẩn cấp, chỉ giới hạn ở Nghiệp Đô, hiện tại là Thái Nguyên xảy ra chuyện, quan hệ đến đại cục của thiên hạ, dưới tình huống y không có chỉ thị của phụ thân mà tự tiện xuất binh, điều này được không?

Tân Bì liền biết được chỗ khó sử của Tào Phi, trầm giọng khuyên nhủ:

- Công tử không cần băn khăn, Tịnh Châu đã thuộc phúc địa Trung Nguyên, đối với Nghiệp Đô mà nói thậm chí so với Quan Trung còn trọng yếu hơn, nếu Tịnh Châu không giữ được, Nghiệp Đô và Thái Nguyên chỉ cách một tòa Thái Hành sơn, quân Hán bất cứ lúc nào cũng có thể giết đến, nếu chúng ta bị bắt dời đô, Hà Bắc liền khó bảo toàn được, cho nên Thái Nguyên có vị trí chiến lược cực kỳ trọng yếu, nếu công tử nhất định phải đợi mệnh lệnh của Thừa tướng, một khi đánh mất thời cơ chiến đấu sẽ tạo thành hậu quả nghiêm trọng, đối với địa vị của công tử sẽ ảnh hưởng rất lấn, không thua loạn dự nghiệt Viên thị lần trước.

Trong lòng Tào Phi hỗn loạn một đống, trong đầu y trống rỗng, sau một lúc lâu, y cắn môi một cái rồi nói:

- Để cho ta suy nghĩ thêm một chút.

- Công tử đừng chần chừ thêm nữa!

Tân Bì bỗng dưng đứng dậy, trừng mắt lạnh lùng nhìn Tào Phi nói:

- Hiện tại chính là khảo nghiệm sự quyết đoán của công tử, cảnh báo chiến sự đã qua đi được nửa canh giờ rồi công tử vẫn còn chưa ra được quyết định, đây chẳng là hiện rõ công từ không quả quyết, phải càng sớm điều binh càng tốt, cho dù cứu không được Thái Nguyên đi nữa, nhưng ít ra còn tỏ ra công tử quyết đoán, khiến Thừa tướng sẽ không trách cứ công tử cứu viện chậm chạp.

- Được rồi!

Tào Phi rốt cục cũng bị Tân Bì thuyết phục, y lấy ra kim bài, phủ lên một kiện y bào rồi nói:

- Chúng ta lúc này đi quân doanh!

Tào Phi và Tân Bì liền đi ra ngoài phủ trạch, trở mình lên thân ngựa, hai người dưới sự hộ vệ của hơn trăm binh sĩ chạy về phía quân doanh ngoài thành, không bao lâu, bọn họ liền chạy tới trước đại môn quân doanh. Lúc này Từ Hoảng đã nhận được tin tức, suất lĩnh các quan quân ra cửa doanh để đón tiếp.

- Bỉ chức tham kiếm trưởng công tử!

Tào Phi và Từ Hoảng cùng nhau bắc chinh Liêu Đông, tình nghĩa rất sâu đậm, cũng có được sự ửng hộ của y, y xoay người xuống ngựa, bước nhanh về phía trước đưa ra kim bài:

- Từ tướng quân, ta lệnh ngươi lập tức suất lĩnh hai vạn quân tinh nhuệ đi Thái Nguyên, hiện tại đi lập tức, không được có nửa điểm chậm trễ.

Từ Hoảng ngây ngẩn cả người, điều động quân đội y đi Tinh Châu nhất định phải có Hổ phù, chỉ dựa vào kim bài là không thể được, kim bài chỉ giới hạn điều binh ở nội thành Nghiệp Đô.

Tuy nhiên Từ Hoảng cũng biết Thái Nguyên tình thế nguy cấp, y nhìn kim bài Thừa tướng trên tay Tào Phi, cúi đầu trầm tư một lát, rồi dứt khoát nói:

- Bỉ chức tuân lệnh!

Từ Hoảng quay đầu hướng sang phó tướng Tang Bá nói:

- Ta sẽ tự mình dẫn hai vạn đại quân đi Thái Nguyên, ngươi phải dẫn quân lưu thủ Nghiệp Đô, tất cả đều phải nghe theo mệnh lệnh của trưởng công tử.

- Mạt tướng tuân lệnh!

Từ Hoảng bước nhanh trở về đại doanh, cùng Tang Bá nhanh chóng bàn giao quân quyền, nửa canh giờ sau, Từ Hoảng suất lĩnh hai vạn tinh nhuệ quân Tào trong đêm rời khỏi Nghiệp Đô, một đường hành quân hướng bắc, hành quân cấp tốc về hướng khe núi Thái Hành sơn.

Lúc này là thời gian canh hai đêm tối, Tào Phi và Từ Hoảng đều không biết, chính vào lúc này, quân Hán đã đánh vào được thành Thái Nguyên rồi.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 707: Toàn diện bị động


Quân Tào ở bên bờ bắc sông Hoài kiến tạo đại doanh, đối diện sừng sững cùng với đại doanh quân Hán ở bờ nam Sông Hoài, trận mưa tuyết lớn đầu tiên của mùa đông không hẹn mà tới, những bông tuyết giống như xé tơ che trời phủ đất từ trên không trung phiêu diêu bay xuống, mặt đất rất nhanh liền bị phủ đẩy một lớp áo tuyết dầy, toàn bộ thiên địa lúc đó biến thành một mảng mênh mông mờ ảo, tuyết lớn đã ảnh hưởng đến tầm mắt, đến ngay cả trăm bước ngoài Sông Hoài cũng không nhìn nhìn thấy rõ lắm.

Ở trong mảnh tuyết tán loạn rơi, Trình Dục vội vàng đi đến đại trướng của Tào Tháo, Hứa Chử tiến đến, dùng ngòn trỏ tay đưa lên môi cúi đầu thở dài một hơi, kéo Trình Dục sang một bên rồi nhỏ giọng nói:

- Tối hôm qua cả đêm Thừa tướng không ngủ, giờ vừa mới ngủ được, quân sư đợi một chút nữa mới đến đi!

Trình Dục gật gật đầu, trong lòng thầm thở một hơi dài, tuy rằng cuối cùng y đã nhìn ra sách lược chân chính của Lưu Cảnh, nhưng vẫn là chậm một bước, rốt cuộc Thái Nguyên vẫn thất thủ, quan phủ Tịnh Châu theo đó mà hàng, Thừa tướng đã bị kích động nặng nề, tự giam mình trong đại trướng đã hai ngày rồi.

Y lại hỏi:

- Vậy Thừa tướng đã ăn gì chưa?

Hứa Chử cười khổ một tiếng:

- Chỉ uống được vài ngụm cháo, nghe thị vệ đưa cháo nói, Thừa tướng dường như trong một đêm già đi mười tuổi rồi.

Trình Dục lắc đầu, tuổi cửa Thừa tướng đã cao, tiếp tục như vậy không thể được, y liền nói với Hứa Chử:

- Nếu Thừa tướng tỉnh lại, lập tức cho ta biết, ta đến khuyên Thừa tướng.

- Ta biết rồi, ta sẽ thông báo cho Thừa tướng.

Hứa Chử vừa dứt lời, trong đại trướng truyền đến âm thanh mệt mỏi của Tào Tháo:

- Bên ngoài là Trọng Đức phải không?

Trình Dục và Hứa Chủ ngơ ngác nhìn nhau, đều bất đắc dĩ cười khổ. Trình Dục đành tiến lên phía trước nói:

- Đúng là vi thần!

- Bên ngoài gió lạnh, mời vào trong!

- Thừa tướng nghỉ ngơi thêm chút nữa đi! Vi thần đợi một lát rồi quay lại!

- Trọng Đức mời vào!

Không thể làm gì hơn, Trình Dục chỉ có thể bước vào đại trướng, Hứa Chử cũng không yên tâm mà đi vào theo, chỉ thấy Tào Tháo choàng lên một bộ áo khoác, ngồi ở bên cạnh chậu than, dùng gậy khuấy khuấy đống lửa than, dưới sự soi rọi của ánh lửa, hai mắt lão đỏ ngầu, thần thái mệt mỏi, hơn nữa tóc càng thêm bạc phơ đi rồi, có thể nhìn ra được đích thức lão đã già đi rất nhiều.

Trình Dục vội vàng khom người thi lễ:

- Tham kiến Thừa tướng!

- Trọng Đức mời ngồi!

Tào Tháo mời Trình Dục ngồi xuống, lại nói với Hứa Chử:

- Ta bỗng nhiên muốn uống chút canh gà, tần một con gà đến đây! Tần nhừ một chút.

- Bỉ chức giờ đi lo liệu ngay!

Hứa Chứ vội vàng chạy ra ngoài, Tào Tháo thở dài lắc đầu lắc đầu, nói với Trình Dục:

- Trọng Đức người nói xem, vì sao chúng ta luôn bị động như vậy? Bị Lưu Cảnh nắm mũi dẫn đi.

Trình Dục trầm ngâm chốc lát rồi nói:

- Lưu Cảnh lấy Trường Giang Hán Thủy làm khe, lấy Ba Sơn Tần Lĩnh để ngăn, phòng thủ của hắn cực kỳ vững chắc kiên cố, cộng thêm căn cơ Kinh Châu được Lưu Biểu gây dựng, Ích Châu hắn mềm dẻo hỗ trợ, không tổn hại lợi ích người Thục, vả lại dùng người thỏa đáng, tuy rằng giữa Kinh Thục cũng có mâu thuẫn, nhưng thiên hạ dưới sự hấp dẫn vô cùng lớn này, thế lực Kinh Thục cũng có thể bình an vô sự, tề tâm hợp lực trợ quân Hán bắc chinh, vi thần cho rằng đây là cơ sở lớn nhất của Lưu Cảnh.

- Vậy ta thì sao?

Tào Tháo lại hỏi thêm:

- Điểm yếu của ta là ở đâu? Nền tảng của ta lại ở đâu?

Trình Dục quỳ xuống thi lễ nói:

- Thừa tướng thứ cho thần vô tội, vi thần mới dám nói.

- Ta xá ngươi vô tội, ngươi cứ việc nói lời thật, ta hiện tại chính là muốn nghe lời nói thật.

Trình Dục thở dài nói:

- Thừa tướng có ba cái bại, mới dẫn đến cục diện bị động toàn diện hôm nay.

- Nói tỉ mỉ hơn một chút nữa, ba cái bại nào?

Tào Tháo vẻ mặt trầm trọng, chăm chú nhìn Trình Dục.

- Bại thứ nhất là nam chinh quá sớm, vừa mới tiêu diệt Viên thị liền nóng lòng nam chinh, lại không biết Viên thị có ân với Hà Bắc, Cao Can ở Tịnh Châu rất được lòng quân dân, Thừa tướng diệt Viên thị, giết Cao Can, bản thân không có gì sai, nhưng là nên sau khi hoàn toàn ổn định Hà Bắc và Tịnh Châu mới nam chinh, kết quả Thừa tướng lại quá nóng vội, Xích Bích nhất bại, phương bắc sẽ không ổn định rồi.

- Ta cũng biết cần phải ổn định Hà Bắc và Tịnh Châu, thậm chí dời đô Nghiệp Thành, miễn giảm thu thuế, qua được sáu bảy năm sau mới bắt đầu đại quy mô nam chinh, chẳng lẽ vẫn còn chưa đủ sao?

- Tuy rằng Thừa tướng đã cấp ân huệ cho Hà Bắc, miễn thuế cho Tịnh Châu, nhưng một trận nam chinh lại bóc lột gấp đôi Tịnh Châu và Hà Bắc, vì tạo thuyền vượt sông, nhà dân ven bờ Hoàng Hà gần như bị phá hủy không còn, trưng lương thực trưng dân phu, tăng gấp mười lần, gấp trăm lần đòi lại, cho nên đám dư nghiệt Viên thị cùng nhau nổi lên, Hà Bắc ủng hộ, nguyên nhân chính là đây. Quân Hán bất ngờ tập kích Thái Nguyên, Tịnh Châu các nơi cũng nhìn nhau mà theo hàng, quân Hán tiên phong còn chưa đến, quận huyện đã đổi màu cờ, nguyên do của nó đây, Thừa tướng hiểu không? Người Tịnh Châu bất mãn với Thừa tướng lâu rồi!

Tào Tháo gật gật đầu, tuy rằng Trình Dục nói rất thẳng thắn, như châm vào da thịt, nhưng lão cũng không hề tức giận mà là yên lặng tiếp nhận chỉ trích của Trình Dục. Lão thở dài một tiếng nói:

- Trọng Đức nói đúng, ta mặc dù thống nhất phương bắc, nhưng phương bắc còn chưa ổn định, gấp gáp nam chinh, để cho Lưu Cảnh được đại lợi, có thể nói sai một li đi một dặm, mời Trọng Đức nói đến cái bại thứ hai.

- Cái bại thứ hai của Thừa tướng là bại Hàn Môn pháp gia, Thừa tướng lập Hàn môn biếm thế gia, tôn sùng Pháp gia, áp chế Nho gia, giết Biên Nhượng, giết Khổng Dung, khiến danh môn thế gia thất vọng, kỳ thực Lưu Canh làm cũng chưa được tốt, người sáng suốt tinh ý đều sẽ nhận ra hắn và Thừa tướng đều là tôn trọng Pháp gia, chỉ có điều hắn sáng suốt hơn một chút, Nho làm bì (vỏ), Pháp làm cốt, nhưng một điều “không phân chúng sĩ, chỉ cần có tài là được trọng dụng” của hắn khiến cho danh môn thế gia hết sức phản cảm, nhưng mà hắn có thêm thay đổi, trước tiên trên cơ sở chiếu cố thế gia, thêm nữa là công bằng, lại dần dần lũng lạc tâm của thế gia, ngoài ra, sau trận chiến ở Xích Bích, hắn liền thả ra hơn mười mấy vạn tù binh, có được cảm ân của đại tộc phương bắc, đây chính là cơ sở của hắn để hôm nay tiến công phương bắc.

Tào Tháo thở dài một tiếng:

- Người nói đúng, ta giết Khổng Dung, đích thực là thất sách rồi, giờ hối hận đã muộn.

Lúc này, màn trướng được gạt ra, Hứa Chử dẫn dắt vài tên thị vệ bê lên một vại canh gà tiến vào, lại mang đến mấy món ăn nhẹ, động tác Hứa Chử cực nhanh, không đợi Tào Tháo kịp phản đối, liền dọn bát đũa thức ăn, lại thêm một bát canh gà đầy đặn nồng đậm cho Tào Tháo.

Tào Tháo bưng canh gà lên uống một ngụm, gật gật đầu, nói với Hứa Chử:

- Cũng múc cho quân sư một bát đi.

Hứa Chử múc cho Trình Dục một bát, Trình Dục uống một ngụm xong cười nói:

- Hứa tướng quân rất có tâm!

Mặt Hứa Chử hơi đỏ lên, tâm tư của y bị Trình Dục nhìn thấu, đây cũng không phải là canh gà bình thường, bên trong có sơn dược và Nhân Sâm hòa trộn cùng nhau, trong lòng Tào Tháo cũng biết rõ ràng, lão thực ra không có tâm tình ăn cơm, nhưng sau khi Trình Dục giúp lão gỡ bỏ một chút khúc mắc, lão cũng có chút thèm khẩu vị, cảm thấy đói bụng, uống vào một bát canh lại húp thêm một bát cháo, đến lúc này mới lệnh Hứa Chử dọn dẹp đồ đi.

Lúc này, Tào Tháo lại hỏi:

- Mời quân sư nói cái bại thứ ba của ta.

Trình Dục do dự một lúc lâu sau:

- Bại thứ ba này, vi thân không dám nói.

- Ngươi nhất định phải nói, ta muốn nghe!

Tào Tháo nghiêm nghị nói.

Trình Dục yên lặng gật đầu rồi nói:

- Bại thứ ba này chính là Thừa tướng bại trên chính trị.

- Trọng Đực là nói ta phong Ngụy công, tăng cửu Tích sao?

- Không chỉ có thế, Thừa tướng ép Thiên tử lệnh chư hầu, về mặt pháp lý là thắng rồi, nhưng về đạo nghĩa thì lại thua rồi, vừa mới bắt đầu quần hùng dâng lên, cát cứ thiên hạ, Thừa tướng bài trừ tôn vương, lấy mệnh Thiên tử chi mệnh thảo phạt tứ phương, thống nhất phương bắc, đến lúc này Thừa tướng ép Thiên tử lệnh chư hầu, mọi người đều tiếp nhận, cũng sẽ ủng hộ, cho rằng theo quyền hành sự, nhưng lâu dần lại không ổn, sau khi thống nhất phương bắc, Thừa tướng lại lấy danh nghĩa Thiên tử thảo phạt tôn thất Lưu Bị và Lưu Biểu, kỳ thật trên chính trị là thua rồi, hiện tại Lưu Cảnh lấy danh nghĩa đại kỳ phục hưng Hán thất, lại còn xưng hô quân đội của hắn là Quân Hán, ngọn cờ tươi sáng, trên chính trị chiếm cứ được ưu thế, nếu không phải như vậy, quân Hán sao có thể thuận lợi như vậy giết đến Thái Nguyên, quan phủ dân chúng bên đường không phản kháng không quấy rầy sao?

- Trọng Đức nói đúng!

Tào Tháo bất đắc dĩ than thở một tiếng.

- Kỳ thực bỉ chức cũng là sau việc xảy ra mới từ từ hiểu được, lúc trước vi thần cũng hồ đồ như vậy, nam chinh Kinh châu, đó chẳng phải là chủ kiến của vi thần hay sao? Vi thần cũng rất hối hận đã không khuyên Thừa tướng nên muộn mấy năm nữa mới nam chinh Kinh Châu.

- Bây giờ nói những lời hối hận này thì có ích gì nữa đây? Quan trọng là ta nên như thế nào đối diện với nguy khốn trước mắt này, Lưu Cảnh công chiếm Thái Nguyên, Tịnh Châu nguy cấp, Nghiệp Đô nguy cấp, ta lại không thể phân tán quân lực, Trọng Đực nói ta biết, hiện tại ta nên làm gì?

Trình Dục cười cười nói:

- Thừa tướng còn nhớ chuyện cùng Lưu Cảnh ở cầu nổi không?

Tào Tháo gật gật đầu:

- Ta đương nhiên nhớ rõ, vậy thì sao nào?

Trình Dụ ý vị thâm trường nói:

- Thần nhiều lần suy xét, cảm giác Lưu Cảnh thật ra là đang ám thị Thừa tướng, hắn hy vọng cùng Thừa tướng lấy phương thức đàm phán để chấm dứt trận phân tranh này, thần cũng từng nói, Lưu Cảnh mấy năm liền liên tục chinh chiến, chỉ sợ hắn cũng sắp duy trì không nổi, lần này tấn công Thái Nguyên, bao gồm liên hợp Giang Đông bắc thượng Trung Nguyên, ta cảm thấy mục đích chân chính của hắn là muốn cùng Thừa tướng đàm phán, đương nhiên, hắn là vì có được lợi ích lớn nhất.

Kỳ thực Tào Tháo cũng ý thức được Lưu Cảnh là muốn cùng hắn thêm giá bớt giá, lấy thực lực của Lưu Cảnh hiện giờ, hắn không làm ba mặt đều tiến công được, cho nên mới kéo Giang Đông cùng xuống nước, tiến công Thái Nguyên cũng là dùng phương thức đánh lén, chưa chắc có thể chân chính chiếm lĩnh được Tịnh Châu.

Tào Tháo trầm tư chốc lát rồi nói:

- Ta có thể đem Quan Lũng cho hắn, nhưng hắn nhất định phải rời khỏi Tịnh Châu, quân sư xem có khả năng này không?

- Vi thần cũng không biết, tuy nhiên có thể thử xem xem thế nào, nếu Thừa tướng đồng ý, vi thần nguyện đại biểu Thừa tướng đi đàm phán với Lưu Cảnh.

Tào Tháo khoanh tay ở trong đại trướng bước đi vài bước, cuối cùng thở dài một tiếng nói:

- Trọng Đức ngươi nói đến tam bại của ta khiến ta đứng ngồi không yên, ta phải tận lực bổ sung, cũng được, Trọng Đức thay ta đi đi! Trận chinh chiến này ta cũng không muốn tiếp tục đánh tiếp nữa rồi.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 708: Đạt được thỏa hiệp


Tin tức Triệu Vân dẫn quân công phá Thái Nguyên tương tự cũng được truyền đến đại doanh quân Hán, cả đại doanh tưng bừng nhộn nhịp, các tướng sĩ đều mừng rỡ như phát điên, Lưu Cảnh liền hạ lệnh khao tam quân, giết lợn thịt dê, còn thưởng cho mỗi người một bình rượu, các tướng sĩ ăn no uống say, sĩ khí dâng cao, các đại tướng đều xin đi giết giặc, muốn tấn công Tào doanh, lập thêm công mới, Lưu Cảnh chỉ cười mà không hứa.

Trưa nay, Lưu Cảnh đang thảo luận kế sách ứng phó với Quân Tào trong đại trướng, Tư Mã Ý cười nói:

- Đoán chừng Tào Tháo cũng được biết việc của Tịnh Châu, chắc hẳn lão hiểu dụng ý thật sự của chúng ta, để xem lão có biết điều nhượng bộ hay không để xoay chuyển tình hình nguy khốn hiện nay, ta phỏng chừng rất nhanh nữa Tào Thào sẽ phái người đến cầu hòa.

Lưu Cảnh cũng thở dài:

- Ý định ban đầu của ta chỉ là muốn dùng Tịnh Châu để đổi lấy Quan Lũng, chứ không muốn lấy Tịnh Châu, không ngờ quan phủ các quận Tịnh Châu đều tỏ thái độ ủng hộ quân Hán của ta, điều này làm ta có chút khó xử, nếu ta từ bỏ Tịnh Châu, chẳng phải sẽ khiến bọn họ thất vọng, cũng sẽ liên lụy đến bọn họ.

Tư Mã Ý khuyên nhủ Lưu Cảnh:

- Vấn đề của Tào Tháo chính là địa bàn chiếm cứ quá nhiều nhưng lại không có sự kiểm soát thực lực tương ứng, mới dẫn đến tình cảnh khắp nơi đều bị động như hôm nay, đây là vết xe đổ, Châu Mục phải rút kinh nghiệm, không được tham lam quá nhiều, không sát thực tế, còn về các quan viên kia, phần lớn có rất nhiều quan hệ với thế gia địa phương, bọn họ chưa chắc đã ủng hộ Châu Mục, chẳng qua là bất mãn với Tào Tháo mà thôi, ta nghĩ có Châu Mục ở bên như hổ rình mồi, Tào Tháo cũng không dám rửa sạch quan trường Tịnh Châu một cách quá đáng, nhiều nhất là mất bò mới lo làm chuồng, lung lạc thế gia Tịnh Châu, ổn định quan trường, Châu Mục không cần áy náy gì với bọn họ.

Lưu Cảnh cũng biết hiện hắn vẫn chưa thâu tóm được thực lực của Hà Đông, nóng vội trái lại sẽ làm hắn bị động, phải làm đến nơi đến chốn, dần dần từng bước, biết tiến thoái mới là vương đạo, Lưu Cảnh cười nói:

- Mặc dù như thế, nhưng khiến bọn họ thất vọng cũng làm ta áy náy trong lòng, đây là lẽ thường tình.

Tư Mã Ý suy nghĩ một lát lại nói:

- Nếu Châu Mục cảm thấy băn khoăn, có thể bảo Triệu tướng quân nói chuyện với bọn họ, xin bọn họ hiểu cho, đây không phải là muốn vứt bỏ bọn họ, như vậy bọn họ cũng sẽ tâm phục khẩu phục.

- Nói rất đúng, đây là biện pháp hay.

Hai người đang nói thì một tên thị vệ đứng ở cửa đại trướng bẩm báo:

- Khởi bẩm Châu Mục, Tào Tháo phái sứ giả đến, hình như là Trình Dục.

Lưu Cảnh và Tư Mã Ý liếc nhau một cái, Lưu Cảnh không nhịn được bật cười:

- Không ngờ lại phái quân sư tới đàm phán, xem ra Tào Tháo đúng là rất cấp bách rồi.

Tư Mã Ý vội nói:

- Để vi thần đi nói chuyện với y!

Lưu Cảnh gật đầu cười nói:

- Nhưng về lễ nghi vẫn cần, Trình Dục là người ta kính trọng, ta muốn đích thân tới tiếp đón y.

Trình Dục chỉ dẫn theo một tên tùy tùng đi qua cầu nổi đến, y đứng chắp tay, nhìn thế giới tuyết trắng xóa ở nơi xa, tuyết dày chừng một thước, thời tiết như vậy thì hai quân đánh nhau như thế nào chứ? Lưu Cảnh rõ ràng không có ý tấn công Trung Nguyên, chỉ là tạo áp lực thôi.

Lúc này cửa đại doanh mở ra, tiếng trống nhạc vang lên, Trình Dục hơi ngẩn người, quay đầu nhìn, chỉ thấy từng đội binh lính lễ nghi xếp thành hai hàng, mấy chục tướng lĩnh vây quanh Lưu Cảnh đi ra từ trong doanh trại, Trình Dục vội tiến lên thi lễ:

- Châu Mục đích thân ra đón, Trình Dục thật không xứng!

Lưu Cảnh chắp tay đáp lễ với hắn rồi nói:

- Trọng Đức tiên sinh là danh sĩ thiên hạ, nổi tiếng xa gần, Lưu Cảnh cũng kính trọng và ngượng mộ đã lâu, hôm nay tiên sinh đích thân đến đây, Lưu Cảnh sao dám vô lễ, mời tiên sinh theo ta vào doanh trướng.

Mặc dù Lưu Cảnh rất khách khí, nhưng ý tứ lại rõ ràng, hắn đích thân ra đón không phải vì Trình Dục là quân sư của Tào Tháo, mà vì kính trọng danh tiếng của Trình Dục, điều này làm cho Trình Dục rất cảm động, cũng có chút đắc ý, y vuốt râu cười nói:

- Châu Mục khách khí như thế, Trình Dục cung kính không bằng tuân mệnh.

Trình Dục đi theo Lưu Cảnh vào đại doanh quân Hán, chỉ thấy doanh trướng trong đại doanh ngay ngắn, mặt đất sạch sẽ, các binh lính đi lại có trật tự, hai ba người cũng xếp thành hàng, tuyệt đối không có lính hành quân đơn độc, từ những chi tiết này có thể nhìn ra quân Hán huấn luyện rất nghiêm chỉnh, không hổ là kình địch của Quân Tào.

Trình Dục âm thầm gật đầu, cùng Lưu Cảnh đi vào đại trướng trung quân, hai người ngồi xuống, Tư Mã Ý và Cam Ninh ngồi hai bên, không đợi Trình Dục cất lời, Lưu Cảnh liền dẫn đắt chủ đề trước, cười nói:

- Nghe tin sau trận chiến Xích Bích, tiên sinh không mưu quân sự nữa mà luôn phò tá việc chính vụ, ta cũng thấy đáng tiếc, mưu lược quân sự mới là sở trường của tiên sinh.

Trình Dục không rõ ý của câu này liền cười gượng gạo:

- Thừa tướng tuổi đã cao, chính vụ hàng ngày đều giao cho Phi công tử, mấy năm nay ta luôn phò tá Phi công tử.

- Ra là thế!

Lưu Cảnh lại hỏi:

- Tiên sinh thấy Phi công tử và Thực công tử, ai thích hợp làm Thế tử hơn?

Trình Dục ngẩn người, lập tức hiểu ra, Lưu Cảnh muốn nói đến vấn đề nối nghiệp của Tào Tháo, có lẽ muốn mượn lời của mình để truyền đạt đến Tào Tháo cái gì đó, y thản nhiên cười, không lộ thanh sắc:

- Đây là chuyện nhà của Thừa tướng, kẻ bề tôi không tiện hỏi nhiều.

- Cũng không đúng, Thế tử của Thừa tướng liên quan đến hưng vong của nước Ngụy, sao lại là việc nhà? Hơn nữa, tiên sinh chẳng phải đã sắp xếp cho Phi công tử chinh phạt Liêu Đông sao? Sao nói là không hỏi đến?

Nói đến đây, Lưu Cảnh thản nhiên nhìn Trình Dục, Trình Dục thầm kêu lợi hại trong lòng, không ngờ chuyện này lại bị Lưu Cảnh nhìn thấu, khó tránh Tào Tháo chỗ nào cũng bị động, Trình Dục vừa không thừa nhận, cũng không phủ nhận, mỉm cười hỏi:

- Ta nghe Thừa tướng nói, lần trước khi gặp mặt Châu Mục khuyên Thừa tướng lập Thực công tử làm Thế tử, lý do là sao?

- Thật ra Tào Phi là hạng người gì, Trình tiên sinh còn rõ hơn ta, gã sẽ không chỉ cam tâm làm một Ngụy công nho nhỏ, từ lợi ích của ta mà nói, ta chỉ mong sao gã phế truất Đương kim thiên tử, lập Ngụy thay Hán, sau đó ta sẽ có thể danh chính ngôn thuận kế thừa Hán thống, chỉ có điều như vậy thì Tào thị cách ngày diệt môn không xa nữa rồi, ta kính phục Tào Thừa tướng thống nhất phương bắc, có công với xã tắc, vì thế ta mới khuyên lão, đừng đi tiếp lên phía trước nữa, còn đi nữa tức là vực sâu vạn trượng, Trình tiên sinh là tâm phúc của Thừa tướng, cũng là tri âm của lão, nên khuyên Thừa tướng yêu quý thanh danh sau khi chết của mình, như vậy mới xứng với ơn tri ngộ của Thừa tướng, tiên sinh nghĩ sao?

Những lời này được Lưu Cảnh nói với vẻ rất thành khẩn, khiến Trình Dục cũng có chút hổ thẹn, quả thật y không lo nghĩ đến danh tiếng sau khi chết thay cho Tào Tháo, còn cực lực ủng hộ Tào Phi, cũng là vì lợi ích của mình, về điểm này y không bằng Tuân Du, Tuân Du trước sau không chịu tham gia vào cuộc tranh giành giữa Tào Phi và Tào Thực.

Trình Dục thở dài đáp:

- Lời vàng ngọc của Châu Mục, ta sẽ chuyển đến Thừa tướng, lần này ta tới đại doanh quân Hán là muốn bàn chuyện bãi binh giữa hai nhà, không biết

Không chờ Trình Dục nói hết, Lưu Cảnh đã cắt lời, khoát tay cười nói:

- Chính sự thì buổi chiều hãy bàn, giờ đã gần trưa rồi, ta phải tiếp đãi tiên sinh trước đã.

Ăn cơm trưa xong, Trình Dục nghỉ ngơi một lát, lúc này mới có người đến mời Trình Dục đi bàn chính sự, Trình Dục bước vào đại trướng nhưng lại không thấy Lưu Cảnh, chỉ có một mình Tư Mã Ý ở đây, lúc này y mới hiểu ra, Lưu Cảnh không đàm phán với y mà là Tư Mã Ý, Trình Dục liền gượng cười, mình đúng là hồ đồ rồi, Lưu Cảnh ngang hàng với Thừa tướng, sao lại đàm phán với mình chứ?

Trình Dục nghĩ thông điều này nên cũng buông xuôi, ít ra thì Lưu Cảnh cũng chịu đàm phán với y, đây là một khởi đầu tốt đẹp, y vội tiến lên chắp tay cười nói:

- Để Tư Mã quân sư phải chờ lâu.

Lúc hoàng hôn buông xuống, Trình Dục trở về tới Tào doanh, Tào Tháo lập tức sai thị vệ đi mời y đến đại trướng của mình, hai người ngồi xuống, Tào Tháo sốt ruột liền hỏi:

- Thế nào rồi?

- Tóm lại không để cho Thừa tướng phải thất vọng, ít nhất chúng ta đoán không sai, Lưu Cảnh chuẩn bị kết thúc chiến dịch này bằng cách đàm phán, chỉ là về chi tiết vẫn cần hai bên cân nhắc tiếp, đặc biệt một số điều kiện của hắn, ty chức lo Thừa tướng khó có thể chấp nhận.

- Nói thử xem, hắn có điều kiện gì?

Tào Tháo bình tĩnh hỏi.

- Một là về Tịnh Châu, Lưu Cảnh không muốn rút quân, kế đến Quân Tào rút quân từ Quan Lũng, lấy Đồng Quan làm ranh giới.

Sắc mặt của Tào Tháo rõ ràng tối sầm lại, điều kiện đầu tiên lão đã không thể chấp nhận, Lưu Cảnh muốn chiếm giữ Tịnh Châu, sao có thể? Lát sau, lão lạnh lùng hỏi:

- Còn gì nữa không?

- Còn nữa, đó là điều kiện về chính trị và kinh tế, có ba điều, một là xin Thiên tử phong hắn làm Hán vương; Hai là Thừa tướng phải bảo đảm Phục Hoàng hậu tuyệt đối an toàn, không được phế truất Phục hậu; Ba là hoàn toàn mở cửa buôn bán, mở rộng Trừng Thủy, khơi thông đường sông giữa Nhữ Thủy và Dục Thủy.

Tào Tháo chắp tay đi qua đi lại trong đại trướng, lúc này lão đã hoàn toàn bình tĩnh, trong ba điều kiện cuối của Lưu Cảnh thì hai điều đầu tiên về căn bản không thành vấn đề, điều một thì lần trước lão cho con trai Tào Thực đi sứ Thành Đô đã bày tỏ thái độ rồi, muốn sách phong Lưu Cảnh làm Vương, chỉ là bản thân Lưu Cảnh không đồng ý; Còn điều thứ hai, bảo đảm an toàn của Phục Hoàng hậu, lão cũng đã đồng ý với Lưu Cảnh lần trước khi rút quân khỏi Kinh Châu, cũng chỉ là lời cũ nhắc lại, mấu chốt là điều thứ ba, mở cửa buôn bác, khai thác đường thủy, điều này mới là quan trọng nhất, hai điều trước chẳng qua là để che dấu điều thứ ba.

Tào Tháo rất rõ tình hình sau khi mở cửa buôn bán, cũng hiểu rõ hậu quả khi tiền của Kinh Châu lưu thông ở phương bắc, trước đây Giang Đông chẳng phải cũng bị Kinh Châu bóc lột như vậy, lấy đi rất nhiều vật tư, đặc biệt là quặng sắt, sắt luyện hảo hạng đều đổ vào Kinh Châu, nếu như mình mở cửa giao dịch, có lẽ cũng sẽ bị bóc lột y như vậy.

Tào Tháo chần chừ không nói, lúc này, Trình Dục lại khuyên nhủ:

- Thật ra Thừa tướng cũng không cần quá lo lắng việc buôn bán, phương bắc không phải là Giang Đông, không dễ bị bóc lột như thế, hơn nữa mở cửa mậu dịch là việc của hai bên, vật tư phương nam tương tự cũng sẽ đổ về phương bắc, huống hồ Lưu Cảnh đã chiếm lĩnh được vùng Quan Lũng, đã không còn là Chư hầu phương nam nữa, hắn cũng phải suy xét cho phương bắc, vì thế vi thần nghĩ Lưu Cảnh đưa ra điều kiện thứ ba thực sự không phải là bóc lột phương bắc.

- Vậy ý của hắn là gì?

Tào Tháo quay đầu lại hỏi.

- Ty chức cũng đã thảo luận qua chuyện này với Tư Mã Ý, ý của Tư Mã Ý nói là Lưu Cảnh muốn thông qua mậu dịch để tăng cường giao lưu nam bắc, mở rộng qua lại với phương bắc, đặt nền tảng cho việc hòa hợp thống nhất thật sự của Thiên hạ sau này.

- Thì ra là thế!

Lúc này Tào Tháo mới chợt hiểu, tên Lưu Cảnh này quả nhiên là tài trí mưu lược kiệt xuất, hiểu được điểm này, sự lo lắng của Tào Tháo cũng biến mất, lão cũng ủng hộ nam bắc giao lưu hòa hợp, điều này phù hợp với tư tưởng thiên hạ của lão, về phương diện thống nhất nam bắc, Tào Tháo luôn là người khởi xướng tích cực, bất luận tương lai ai nắm giữ thiên hạ nhưng quan niệm chính trị của Tào Tháo lại không hề thay đổi.

Tào Tháo lại suy ngẫm một lát mới nói:

- Ba điều kiện cuối ta có thể đồng ý với hắn, nhưng hắn phải rút quân khỏi Tịnh Châu, điểm này không được hàm hồ, hai bên lấy sông Hoàng Hà và Đồng Quan làm ranh giới, vũ khí mang về kho, cho dân chúng nghỉ ngơi lấy lại sức.

- Vi thần hiểu, ngày mai vi thần lại đi đàm phán với Lưu Cảnh.

Qua ba vòng đàm phán, Lưu Cảnh và Tào Tháo cuối cũng đã đạt được thỏa hiệp, Tào Tháo công nhận việc Lưu Cảnh chiếm giữ Quan Lũng, quân Hán thì rút khỏi Tịnh Châu, hai bên lấy Hoàng Hà và Đồng Quan làm ranh giới, mặt khác, Tào Tháo biểu tấu lên Thiên tử phong cho Lưu Cảnh làm Hán Vương, bảo đảm an toàn của Phụ Hoàng hậu, đồng thời hai nhà Tào – Lưu mở cửa buôn bán, còn về việc khơi thông đường sông giữa Nhữ Thủy và Dục Thủy thì hai bên sẽ hiệp thương cụ thể.

Ngày thứ ba sau khi hai bên đi đến nhất trí, Lưu Cảnh và Tào Tháo lần lượt ký tên và hiệp nghị hòa giải, tạm thời chấm dứt cuộc chiến giữa hai bên kéo dài gần mười năm, các bên tự rút lui, bắt đầu nghỉ ngơi hồi phục sức khỏe, nhưng cùng với sự mở rộng về phía tây của thế lực Giang Đông, quan hệ giữa Kinh Châu và Giang Đông bắt đầu xuất hiện sự rạn nứt.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 709: Chức quan mới của Đào Chính


Tuyết rơi lả tả ở quận An Lục, tuyết đọng dày tới một thước, thế nhưng ở quận Giang Hạ lại chỉ rơi ít tuyết, giữa núi cao nước biếc, giống như mái tóc mai của người đẹp hết thời, thi thoảng điểm màu trắng tuyết.

Tám vạn đại quân rút lui khỏi quận An Lục, nghỉ ngơi chỉnh đốn ở quân doanh Hạ Khẩu, còn Lưu Cảnh cũng không về Thành Đô ngay, mà nhân cơ hội này thị sát Giang Hạ, sáng sớm nay, Lưu Cảnh đã ngồi thuyền từ từ ép sát bến tàu Kỳ Xuân.

Thái thú quận Kỳ Xuân Đào Chính từ sớm đã dẫn một đám quan viên nghênh đón Châu Mục ở trên bến tàu. Đào Chính vốn giữ chức Trưởng sử quận Kỳ Xuân, ba năm trước, sau khi quận Kỳ Xuân chính thức thuộc về Kinh Châu, Đào Chính liền chính thức được thăng chức từ Trưởng sử lên Thái thú, y ở đây đã được bốn năm rồi.

Danh tiếng của y ở quận Kỳ Xuân rất tốt, năm ngoái khi chuẩn bị điều đi giữ chức Thái thú Nam quận, các bô lão quận Kỳ Xuân đã không cho y đi, ép y ở lại đây, Lưu Cảnh cũng nhìn thấy rất rõ thành tích của y, qua ba năm y quản lý, quận Kỳ Xuân đã từ một quận nhỏ lạc hậu, dân cư thưa thớt, thành trì cũ nát, dần dần trở thành quận có sản lượng lương thực đứng thứ năm ở Kinh Châu, chỉ xếp sau Tương Dương, Giang Hạ, Nam quận và Tr**ng S*, thậm chí vượt qua cả quận Linh Lăng.

Vì thế, phủ tướng quân đặc biệt phái người tới quận Kỳ Xuân điều tra ngầm, lúc này mới biết, dân số của quận đã tăng từ mười ngàn hộ lên đến hơn ba mươi ngàn hộ, dân số chủ yếu từ quận Lư Giang và Dự Chương đổ vào, ở quận Kỳ Xuân, dân chúng từ Dương Châu dời đến đều có ruộng canh tác của họ, mỗi hộ đều có hơn một trăm mẫu ruộng, quan phủ không bị ràng buộc phải cung cấp trâu cày và có thể miễn trừ lao dịch, trẻ con đi học được quan phủ cung cấp chỗ ăn ở, như vậy đã thu hút được lượng lớn dân chúng Dương Châu di cư đến, giúp dân số nhanh chóng gia tăng.

Cùng lúc đó, hãng buôn Đào thị chuyển toàn bộ kho hàng đến quận Kỳ Xuân, đội tàu cũng dừng lại hết ở đây, quan phủ mỗi năm thu được rất nhiều của cải, dân chúng bình thường cũng rất dễ tìm được việc kiếm tiền.

Trên thực tế, sự trỗi dậy của quận Kỳ Xuân chủ yếu dựa vào tài lực của Đào gia đã ủng hộ rất lớn cho quận Kỳ Xuân, đây là việc mà giới quan trường Kinh Châu đều biết rõ, Đào chính cũng bởi vậy đã đạt được công trạng mà người khác phải mất mười năm mới làm được, có điều chỉ cần Lưu Cảnh ngầm ưng thuận thì cũng không ai nói vì về “công trạng đặc biệt” này, dù sao quận Kỳ Xuân quả thật đã trỗi dậy rồi và cũng không hề làm giả.

Lưu Cảnh bước nhanh xuống boong thuyền, Đào Chính dẫn đám quan viên tiến ra chào đón, cùng nhau khom người thi lễ:

- Tham kiến Châu Mục!

Lúc này mấy tên thị vệ phía sau Lưu Cảnh đều bật cười khúc khích, Lưu Cảnh giờ mới phát hiện ra, mười mấy viên quan đều mặc quan bào cũ bạc màu, có người trên quan bào còn chắp vá, rõ ràng đã được bàn bạc chuẩn bị.

Lưu Cảnh vừa bựcc mình vừa buồn cười, nói với mọi người:

- Các vị cũng không cần xoắn xuýt nghênh đón ta quá thế, ta chỉ là tới thăm anh vợ của ta một lát thôi, mọi người hãy cứ thoải mái đi.

Mọi người nhìn quan bào của nhau, đúng là có phần quá mức, đám đông đều ngượng ngùng bật cười.

Lưu Cảnh trở mình lên ngựa, cùng mọi người đi về phía huyện thành, lần tới huyện thành Kỳ Xuân trước đã rất nhiều năm, cùng Tôn Quyền ký kết hiệp ước ứng phó với quân Tào ở đây, sau đó lập tức xảy ra đại chiến Xích Bích. Trong trí nhớ của Lưu Cảnh, huyện Kỳ Xuân cũ nát và lộn xộn, mặt đất lầy lội không chịu nổi, thế nhưng huyện Kỳ Xuân lúc này lại khiến hắn sáng mắt.

Từng dãy nhà chỉnh tể trật tự, rõ ràng đều mới được xây dựng, hai bên trồng đầy cây xanh, mặt đường lát đá xanh, đường phố rộng rãi mà sạch sẽ, trẻ con phần lớn mập trắng, nhà nhà đều mở cửa, hương án đặt trên cửa, quỳ lạy nghênh đón mình vào thành.

Đào Chính nhìn ra sự tán thành trong mắt Lưu Cảnh, y có phần ngượng ngùng giải thích:

- Khoảng bốn năm trước, ty chức tập trung toàn thể dân chúng đến bàn bạc, mọi người đã đặt ra quy định, nhà ở đều xây giống nhau, trước sau nhà trồng cây xanh và hoa, không được phép vứt rác bừa bãi, lại càng không được ỉa đại bậy bạ, đá trên các phố lớn ngõ nhỏ đều do dân chúng toàn huyện cùng nhau lát nên, nguyên liệu đá cũng không tốn bao nhiêu tiền, mất mấy năm cố gắng, huyện Kỳ Xuân đã thay đổi rất lớn, di dân từ Dương Châu tới đã vào huyện thành rồi đều không muốn đi.

Lưu Cảnh quả thực rất hài lòng với cảnh sắc đường phố trước mắt, đặc biệt thích sự sạch sẽ gọn gàng nơi đây, hắn lại cười hỏi:

- Nếu trái với quy định thì xử thế nào? Ý ta nói, ngươi bỏ được một số thói xấu bẩn thỉu của dân chúng sao?

- Rất đơn giản, quy tắc là do mọi người quyết định, mỗi nhà mỗi hộ đều ấn dấu vân tay, giả dụ không tuân thủ sẽ nghiêm trị, lần đầu tiên thì đánh năm mươi roi trước mặt mọi người coi như cảnh cáo, lần thứ hai tái phạm sẽ bị đuổi cả nhà ra khỏi huyện Kỳ Xuân, tới sống ở vùng quê gần đó, không cho vào thành nữa, có điều tới giờ, chỉ mới đánh mười mấy người, không có nhà nào bị đuổi ra khỏi thành, mọi người đều rất thích sự sạch sẽ trong lành này nên sẽ tự giác duy trì.

Lưu Cảnh gật đầu, hắn vẫn phải thừa nhận Đào Chính quả rất có năng lực, không chỉ bởi vì là anh vợ của mình.

Thật ra Lưu Cảnh luôn rất quan tâm đến sự phát triển của Đào gia trong quan trường, hiện giờ Đào gia đã không chỉ là thương nhân, mà cũng dần có tiếng nói trên quan trường, ngoài Đào Chính giữ chức Thái thú Kỳ Xuân ra, Thái thú quận Âm Bình Dương Lượng cũng là em rể của Đào Thắng, ngoài ra còn bốn năm con cháu Đào gia giữ chức quan viên các quận huyện, ngay cả bản thân Đào Thắng cũng vì Đào gia đã có những cống hiến lớn lao với Kinh châu mà được phong làm hương hầu.

Tuy nhiên điều khiến Lưu Cảnh hài lòng là, con cháu Đào gia khiêm tốn chăm chỉ, không bao giờ làm những việc xấu ức h**p dân chúng, trái lại được mọi người tôn trọng, trong quan trường cũng thanh liêm, kỷ luật. Đương nhiên, điều này có liên quan đến sự giàu có của Đào gia, bọn họ chỉ bỏ tiền ra cho mọi người chứ không hề kiếm tiền về trong nhà, Đào Chính là một vị quan tốt giản dị thanh liêm như thế, năm nào cũng được đánh giá là tốt nhất.

Lưu Cảnh bước vào quận nha nói chuyện với mọi người mấy câu, đám đông đều biết điều lui ra, trong phòng chỉ còn lại Lưu Cảnh và Đào Chính, Lưu Cảnh mỉm cười nói:

- Lần này ta đến quận Kỳ Xuân, chủ yếu là để bàn với ngươi một việc, chính xác là muốn bảo ngươi làm một việc.

Đào Chính cũng không vì y là anh vợ của Lưu Cảnh mà quên mất lễ nghi trên dưới, y cung kính khom người nói:

- Xin Châu Mục cứ chỉ bảo, vi thần đương nhiên sẽ tuân theo.

Lưu Cảnh gật đầu, trầm ngâm một chút:

- Là thế này, ta định điều ngươi đến Trường An nhận chức Thái thú quận Kinh Triệu kiêm Trường An lệnh, ngươi có đồng ý không?

Dù là Đào Chính đã có tâm lý chuẩn bị, nhưng vẫn bị kinh hãi, đảm nhiệm chức quan chính ở Trường An, y biết điều này đồng nghĩa với cái gì, trước đây Thái Diễm giữ chức Thái thú Tương Dương kiêm Tương Dương lệnh, về sau Đổng Hòa nhận chức Thái thú Thục quận kiêm Thành Đô lệnh, tuy nhiên giờ Đổng Hòa là một trong ngũ tướng, tương lai dời đô đến Trường An thì y sẽ là quan chính của kinh thành, Đào Chính không hề thấy vui sướng mà cảm nhận được áp lực nặng nề, y biết phân lượng của chức vụ này.

Lâu sau, y thấp giọng nói:

- Ty chức lo năng lực không đủ, cuối cùng sẽ khiến Châu Mục thất vọng.

Lưu Cảnh đứng dậy vỗ vai y, nói ý sâu sa:

- Ngươi phải hiểu một điều, nếu không có địa vị cao của Đào gia thì địa vị của Hán Vương phi tương lai e rằng sẽ bất ổn.

Đào Chính toàn thân chấn động, y bỗng hiểu ra, Lưu Cảnh đang muốn xây dựng thế lực ngoại thích cho muội muội, y thấy vừa cảm động vừa sợ hãi.

- Cảm tạ sự coi trọng của Châu Mục với Đào gia, ty chức chỉ lo không đủ kinh nghiệm, giữ chức Trường An lệnh sẽ khiến người khác dị nghị.

Lưu Cảnh mỉm cười:

- Ngươi nghĩ sẽ có người chỉ trích sao?

- Vi thần hiểu rồi, tuyệt đối sẽ không để Châu Mục thất vọng.

Lưu Cảnh gật đầu:

- Vậy là được rồi, Y Tịch mai mốt sẽ tới nhậm chức Thái thú Kỳ Xuân, ngươi bàn giao xong hãy đi thẳng tới Trường An, Giả Hủ sẽ tuyên đọc bổ nhiệm của ta trước mặt mọi người.

……

Lưu Cảnh chỉ ở lại huyện Kỳ Xuân có hai canh giờ, ăn xong cơm trưa, hắn liền đi thuyền tới mỏ đồng Giang Hà ở bở bên kia Trường Giang, núi Lục Đồng luôn là mỏ đồng và là nơi sản xuất mỏ vàng lớn nhất Kinh Châu, thậm chí là của cả phương nam, đây cũng là nơi cung cấp nguyên liệu đồng để đúc tiền Kinh Châu, nhất cử nhất động của nó đều có ảnh hưởng trong chính quyền Kinh Thục.

Hiện tại, mỏ đồng có sáu ngàn lính, khoảng một trăm ngàn người lấy quặng và tinh luyện kim loại ở đây, ngoài hơn mười ngàn người là lao động chiêu mộ ở địa phương ra, hơn tám mươi ngàn còn lại đều là tội phạm và tù binh của Kinh Châu và Ích Châu, sử dụng tù binh để đào mỏ đã là quy định nhiều năm nay của Kinh Châu, dù là tù binh của Tào quân hay quân Giang Đông, nếu không muốn gia nhập quân Hán thì phải phục dịch ba năm ở mỏ, sau khi mãn hạn sẽ phóng thích hồi hương.

Tuy nhiên cùng với hiệp ước hòa giải ngưng chiến được ký kết giữa quân Hán và quân Tào, tình hình tăng mạnh tù binh đã có sự xoay chuyển, theo đó tù binh liên tục được phóng thích, gây ra hiện tượng giảm bớt số lượng thợ mỏ ở đây, lần này Lưu Cảnh tới thị sát mỏ cũng chính vì nguyên nhân này.

So với tám năm trước, núi Lục Đồng hiện giờ đã thay đổi rất nhiều, trước là dùng một con sông nhỏ để vận chuyển khoáng thạch ra, nhiều nhất chỉ đi được thuyền kéo trăm thạch, nhưng giờ đường sông được đào sâu rộng hơn, đã cho phép những thuyền hàng năm trăm thạch qua lại, năng lực vận chuyển khoáng thạch cũng tăng lên mạnh mẽ, thậm chí không cần trung chuyển ở hồ Tây Tắc mà trức tiếp chuyển tới Hạ Khẩu.

Tuy nhiên thứ vận chuyển ra bây giờ không phải là khoáng thạch, mà là phôi đồng thô hoặc khối kim loại đã được luyện xong ở mỏ, ngay từ năm năm trước quận Giang Hạ đã xây dựng khu chế luyện trong mỏ, có mấy chục chiếc lò cao ngày đêm không ngừng nghỉ để luyện ra những thỏi đồng thô từ khoáng thạch, sau đó chuyển đến Hạ Khẩu tinh luyện và đúc tiền.

Lưu Cảnh đi cùng với người giám sát mỏ Đặng Chi và Giáo úy Trương Dực bước vào khu thợ mỏ rộng lớn, Đặng Chi năm ngoái đã tới đây nhậm chức giám sát mỏ, phụ trách khai thác và tinh luyện toàn bộ mỏ đồng, còn phụ trách thêm cả việc quản lý thợ mỏ, trong khi đó Trương Dực thì dẫn sáu ngàn quân canh giữ, chịu trách nhiệm cho an ninh ở mỏ và giám sát tù binh.

Khu thợ mỏ rộng khoảng mấy ngàn mẫu, bốn phía xây tường bao quanh, cứ cách trăm bước lại có một tháp canh, cảnh giới nghiêm ngặt, toàn toàn bộ khu thợ mỏ có năm ngàn đại trướng, doanh trướng sắp hàng chỉnh tề, đường rộng sạch sẽ, tổng cộng chia làm mười khu để quản lý, giữa mỗi khu đều có tường bao cao bằng đầu người ngăn cách.

Đặng Chi vừa đi vừa giới thiệu cho Lưu Cảnh:

- Khởi bẩm Châu Mục, hiện nay mỗi đại trướng có hai mươi người, lập một thập trưởng, hàng ngày mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ, mỗi tuần nghỉ một ngày, làm việc và nghỉ ngơi rất có quy luật, trị an cũng tốt, trong thời gian vi thần giữ chức giám sát mỏ, không hề xảy ra bạo động, chỉ xảy ra hai cuộc chạy trốn, bắt giữ được hơn ba trăm người, trừng phạt theo quy định, kéo dài thời gian phục dịch năm năm.

Lưu Cảnh gật đầu hỏi tiếp:

- Thức ăn thì thế nào?

- Thức ăn không khác biệt so với quân đội lắm, được ăn no, ba ngày ăn một bữa thịt, theo quy định, những tù binh này cũng có tiền tiêu vặt hàng tháng, mỗi tháng một trăm tiền, lúc phóng thích đều tính ra vàng để trả, gần như mỗi người có thể kiếm được một cân vàng về nhà, tội phạm cũng thế.

Lúc này, bọn họ đã tới khu Đông Tam, đây là khu phóng thích, tất cả tù binh chuẩn bị đến hạn phóng thích thì trước một tháng sẽ được chuyển đến sống ở đây, gồm một ngàn doanh trại tạo thành, mỗi trướng chỉ có mười người, hầu hết thời gian chỉ có năm sáu người ở, nhưng lần này lại chặt kín toàn bộ.

Đây là lần phóng thích quy mô lớn nhất từ khi xây dựng khu thợ mỏ đến nay, phóng thích một lần mười bốn ngàn người, đây là vì sau khi quân Hán chiếm lĩnh Quan Lũng đã phóng thích toàn bộ tù binh người Quan Lũng, những tù binh thật sự mãn hạn ba năm chỉ có chưa đến ba ngàn người, số còn lại đều là tù binh người Quan Trung hoặc Lũng Hữu.

Lưu Cảnh vừa bước vào khu Đông Tam đã nghe thấy tiếng ầm ĩ truyền đến.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 710-1: Người trong tộc quay về phía nam (1)


- Xảy ra chuyện gì thế?

Trương Dực gào lên xông tới, trong lòng gã cực hận, bình thường đều yên lặng phóng thích, sao hôm nay Châu Mục đến thị sát lại ầm ĩ gây ra chuyện, đúng là vả vào mặt gã.

Chỉ thấy mấy trăm tù binh ôm đầu gối ngồi chồm hổm trên mặt đất, gây gộc của binh lính hai bên đánh tới tấp như mưa, một gã quân hầu tiến lên bẩm báo:

- Khởi bẩm tướng quân, những tù binh này giả mạo là người Quan Lũng, mưu đồ lừa bịp để vượt qua cửa ải nhưng sau khi bị người khác tố cáo đã điều tra ra, bọn họ không phục liền kêu la gây chuyện, được các huynh đệ chế phục rồi.

Trương Dực mặt xanh mét ra lệnh:

- Lôi bọn họ đi, mỗi người đánh một trăm gậy!

Hơn ngàn tên lính lôi đám người này đi như hổ như sói, mấy trăm người gào khóc cầu xin, liều mạng dập đầu xin tha, lúc này Lưu Cảnh đi lên trước hỏi:

- Có chuyện gì đấy?

- Những tù binh này đoán chừng là muốn giả mạo người Quan Lũng để lừa dối vượt cửa ải, bị điều tra ra nhưng lại không cam lòng nên ra sức kêu la.

Lưu Cảnh đến trước mặt một gã tù binh trẻ tuổi, liếc mắt dò xét gã rồi hỏi:

- Ngươi là người ở đâu? Sao lại phải mạo hiểm chạy trốn, lẽ nào ngươi không biết hậu quả nghiêm trọng sao?

Gã tù binh trẻ tuổi rơi nước mắt đáp:

- Khởi bẩm tướng quân, tại hạ là người quận Hà Gian, tham gia cuộc tạo phản Tô Ngân nhưng bị trấn áp, ép làm quân Tào, bị bắt làm tù binh khi Ký Thành bị dìm, tại hạ đã rời nhà năm năm rồi, thực sự rất nhớ cha mẹ, khẩn cầu tướng quân tha cho tại hạ lần này, lần sau sẽ không dám chạy trốn nữa.

Đám tù binh đều cảm giác vị tướng quân trước mặt này dường như là quan lớn, ngay cả giám sát mỏ và Giáo Úy cũng đều cung kính lễ độ trước mặt hắn, bọn họ cùng quỳ xuống xin tha thứ, tiếng khóc vang lên ầm ĩ, khẩn cầu tha cho bọn họ một lần, bọn họ đều biết, không chỉ đơn giản là đánh một trận mà thời gian phục dịch còn phải kéo dài năm năm, điều này khiến bọn họ vô cùng sợ hãi.

Lưu Cảnh gật đầu:

- Lần này tha cho bọn họ đi! Lần sau không có ngoại lệ đâu.

Trương Dực quát:

- Coi như các ngươi may mắn, Châu Mục tha cho các ngươi lần này, lần sau ai dám chạy trốn nữa, ta sẽ phạt gấp đôi, dẫn bọn chúng đi!

Đám tù binh nghe nói là Châu Mục đều vô cùng xúc động, dập đầu cảm tạ, tiếng khóc vang một vùng, đám binh sĩ lôi chúng đi, trong lòng Lưu Cảnh rất lo lắng, im lặng bước ra khỏi khu thợ mỏ. Đặng Chi và Trương Dục cảm nhận được tâm trạng Châu Mục không vui nên rất bất an dẫn Lưu Cảnh tới kho hàng, kho hàng gần sát bờ sông, do ba khu kiến trúc lớn tạo thành, cất giữ năm ngàn tấn thỏi đồng, mỗi thỏi đồng nặng khoảng hai mươi cân, đều được xếp chồng lên nhau gọn gàng, trong kho hàng xếp đầy thỏi đồng, quy mô rất đồ sộ.

Lưu Cảnh bước vào phòng nghỉ ngơi ở bên trong kho hàng ngồi, có thị vệ dâng trà cho hắn, mãi đến lúc này, Lưu Cảnh mới nói với Đặng Chi và Trương Dực:

- Bởi vì ta vừa ký kết hiệp ước hòa giải với Tào Tháo nên chúng ta cần nghỉ ngơi lấy lại sức, ít nhất trong ba đến năm năm sẽ không xảy ra chiến tranh, nếu theo quy định phóng thích tù binh, e rằng ba năm nữa mỏ sẽ không còn thợ mỏ nữa rồi, vì thế ta đặc biệt tới đây thị sát mỏ là để giải quyết vấn đề này.

Đặng Chi và Trương Dực nhìn nhau, Đặng Chi cẩn thận nói:

- Trước đây Từ Trưởng sử từ đưa ra một phương án, nhưng vì cái giá quá lớn nên không được thực thi, vi thần thấy giờ có lẽ có thể suy xét.

- Nói xem nào, phương án gì?

Lưu Cảnh không nhớ rõ Từ Thứ từng đề xuất phương án gì.

- Lúc ấy, Từ Trưởng sử nói, có thể đổi các tù binh thành thợ mỏ chính thức, để bọn họ đi lại tự do, nâng cao đãi ngộ để giữ lại, đương nhiên sẽ có một bộ phận thợ mỏ muốn ở lại.

Lưu Cảnh nhớ ra, năm đó Từ Thứ quả thật từng đề xuất phương án này, nhưng tại sao không thực hiện thì Lưu Cảnh nhất thời cũng quên mất, hắn trầm ngâm hỏi:

- Ngươi thấy khả thi sao?

- Hồi bẩm Châu Mục, tuy ở mỏ đồng đều thống nhất với bên ngoài gọi là thợ mỏ, nhưng thực tế trong nội bộ chia thành thợ mỏ, nô bộc và tội phạm, nô bộc chính là tù binh với khoảng bày mươi ngàn người, hiện nay mỗi tháng được trả một trăm tiền, trong khi đó thợ mỏ được trả một nghìn tiền mỗi tháng, nếu chuyển toàn bộ nô bộc làm thợ mỏ thì gánh nặng quả thực rất lớn, trước đây chính vì điểm này mà không thực hiện, nhưng vi thần đoán nếu được đi lại tự do và thu nhập cao thì ít nhất có ba mươi ngàn người đồng ý ở lại, đồng thời người nhà của họ cũng sẽ từ phương bắc xuống Giang Hạ, rất có lợi cho việc bổ sung dân số Kinh Châu, mặc dù chi phí sẽ rất lớn nhưng đối với mỏ đồng mà bọn họ khai thác được thì chút chi phí này không đáng là gì.

Đặng Chi cố gắng đề cử cho Lưu Cảnh dùng phương án này, y giống Từ Thứ, phản đối lợi dụng tù binh để làm nô bộc, mấy lần y đã đề nghị thay đổi phương án nhưng đều không có kết quả, hiếm khi hôm nay được Châu Mục chủ động nêu ra kế hoạch lâu dài của mỏ, Đặng Chi nhân cơ hội này muốn đề xuất phương án của mình.

Y lại nhanh chóng nháy mắt với Trương Dực, bảo gã giúp mình nói mấy lời, đối với Trương Dực mà nói, rời khỏi mỏ đi đánh trận mới là lý tưởng của gã, gã cũng không muốn ở mỏ lâu để nhìn người khác lập công phong tước, Trương Dực hiểu ý của Đặng Chi liền nói với Lưu Cảnh:

- Nếu như chuyển nô bộc thành thợ mỏ thì cũng không cần sáu ngàn quân đội canh giữ, chỉ cần hai ngàn người trông giữ tội phạm và bảo vệ kho hàng là được, nhưng vậy cũng tiết kiệm được khoản chi lớn, ty chức cũng cảm thấy nếu gia quyến của đám thợ mỏ có thể tới mỏ đồng, có lẽ mỏ đồng sẽ hình thành một huyện thành mới, đó là chuyện tốt.

Lưu Cảnh gật đầu, hắn từng nghĩ sẽ đổi thời gian phục dịch của tù binh lên thành năm năm, nhưng sau khi đến mỏ, hắn đã bỏ ý nghĩ này, hắn cũng không để ý đến chi phí cao thấp mà điều hắn lo là cách kéo dài mỏ đồng này.

Trầm tư một lát, Lưu Cảnh nói với Đặng Chi:

- Ngươi hãy điều tra trước đi, xem sau khi chuyển thành thợ mỏ, sẽ có bao nhiêu người ở lại, nếu có thể đảm bảo ba mươi ngàn người ở lại thì ta sẽ xem xét phương án của ngươi, điều tra xong viết một bản báo cáo chi tiết, sau khi Bình Chương đài phê chuẩn thì có thể thực thi.

Đặng Chi mừng rỡ, vội vàng thi lễ nói:

- Vi thần tuân mệnh!

Rời khỏi mỏ, Lưu Cảnh lại đi Vũ Xương, mấy ngày sau hắn rời khỏi quận Giang Hạ, trở về Thành Đô.

Thời gian dần tới hạ tuần tháng mười hai, năm Kiến An thứ mười chín sắp sửa đến gần, nhà nhà ở Thành Đô đều quét dọn sạch sẽ, giăng đèn kết hoa, dâng các loại cống phẩm lên từ đường, trong thành đâu đâu cũng vang tiếng pháo đốt, lũ trẻ cũng bắt đầu được may áo mới, các thiếu nữ nghĩ đến việc thêm đồ trang sức, ba ngày trước năm mới, Thành Đô xảy ra một trận tuyết lớn, khắp trong ngoài thành lập tức biến thành biển tuyết trắng xóa, tuyết rơi báo hiệu năm được mùa, càng làm gia tăng thêm không khí năm mới.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 710-2: Người trong tộc quay về phía nam (2)


Phủ của Lưu Cảnh cũng giăng đèn kết hóa, năm nay vui mừng hơn năm ngoái, không chỉ vì Tôn Thượng Hương mang thai mà còn bởi chiến tranh chấm dứt, phải nghỉ ngơi lấy lại sức mấy năm, có nghĩa là thời gian cả nhà đoàn tụ sẽ nhiều hơn.

Lưu Cảnh đã trở về phủ một ngày trước, lúc này hắn đang bàn bạc với Lưu Hổ và Lưu Hiền trong thư phòng về việc sắp xếp tế tộc, năm nay, gia tộc Lưu thị sẽ tập trung ở Thành Đô, tham dự lễ tế năm mới mỗi năm một lần, đây cũng là lần đoàn tụ đầu tiên của gia tộc Lưu thị kể từ năm Kiến An thứ thứ mười.

Lưu Cảnh không để tâm tới chuyện vụn vặt như tế tộc mà giao hết cho Lưu Hổ lo liệu, năm nay tế tộc sẽ do Lưu Hổ và Lưu Hiền toàn quyền chủ trì, Lưu Hổ cười nói:

- Năm nay rất khác so với bình thường, người trong tộc ở Nghiệp Đô cũng đều đã tới Thành Đô dưới dự dẫn dắt của Tam thúc, người không biết đúng không!

Lưu Cảnh quả thật không biết, người trong tộc ở Nghiệp Đô cũng có bảy phòng, đã đi theo Lưu Tông tới Nghiệp Đô, từ đó về sau không còn qua lại, có điều từ sau khi Lưu Độ tới Nghiệp Đô, giữa mọi người trong tộc dần dần liên hệ với nhau, không ngờ bọn họ lại tới Thành Đô tham gia hiến tế nữa, đây đúng là lần đầu tiên.

- Không biết Lưu Tông có tới không?

Lưu Cảnh cười hỏi.

Lưu Hiền lắc đầu:

- Chỉ có hắn không chịu tới, nghe phụ thân nói, những người trong tộc đi cùng hắn tới Nghiệp Đô đều sống rất nghèo túng, bị người khác xem thường, chỉ dựa vào một chút tiền hàng tháng phủ Thừa tướng phát để sống qua ngày, không thì miệng ăn núi lở, trong đó còn có ba phòng đã khởi nghiệp buôn bán, bọn họ cực kỳ oán hận Lưu Tông, năm nay Lưu Tông vốn cũng muốn tổ chức tế tộc ở Nghiệp Đô nhưng kết quả mọi người trong tộc đều theo phụ thân tới Thành Đô, giờ đang ở trong tộc quán của Lưu thị.

Nói đến đây, Lưu Hiền lại chần chừ hỏi:

- Bọn họ đều rất muốn gặp Châu Mục, không biết Châu Mục có thể bớt chút thời gian gặp bọn họ một lần không?

Chưa đợi Lưu Cảnh tỏ thái độ, Lưu Hổ ở bên cạnh đã tức giận nói:

- Chẳng phải bọn họ muốn chút lợi ích sao, trước đây thì ngạo mạn lờ Kinh Châu đi, giờ thấy Kinh Châu lớn mạnh lại mặt dày đến nhờ vả, đám người nịnh nọt đó, gặp bọn họ làm gì?

Lưu Cảnh khoát tay cười:

- Lão Hổ nói những lời này quá cực đoan rồi, chim còn biết chọn cây tốt mà đậu, huống hồ là con người, đây cũng là lẽ thường tình, dù sao là người trong cùng một tộc, ngàn dặm xa xôi từ Nghiệp Đô tới đây, cũng không được quá lạnh nhạt với bọn họ, như thế này đi! Bảo bọn họ chọn ra hai đại diện, ngày mai tới phủ tướng quân gặp ta.

Lưu Hiền mừng rỡ vội vàng khom người:

- Ty chức sẽ đi nói với bọn họ.

Lúc này ngoài cửa có tiếng cậu con trai cả Lưu Trí:

- Phụ thân, hài nhi đến rồi.

Lưu Cảnh cười đáp:

- Mau vào!

Lưu Trí bước nhanh vào, năm nay nó bảy tuổi, dáng người vừa phải, tướng mạo rất giống mẫu thân, vô cùng tuấn tú, còn ôn hòa lễ phép, Lưu Cảnh cũng rất thích đứa con này, hắn gọi con trai đến đây cũng là muốn để Lưu Trí cung tham gia việc tế tộc.

Lưu Trí bước vào phòng quỳ xuống thi lễ với phụ thân, tiếp đó bái kiến Lưu Hổ và Lưu Hiền:

- Trí nhi bái kiến hai vị bá phụ!

Lưu Trí là chủ công tương lai nên văn võ bá quan trên dưới ở Kinh Châu và Ba Thục đều vô cùng coi trọng nó, quan tâm nó bội phần, tuy nhiên Lưu Hổ lại dành cho nó một sự yêu quý khác, xuất phát từ tình thân, Lưu Hổ vội kéo nó dậy, ôm bên cạnh mình và ngồi xuống, cười hỏi:

- Ta nghe Từ Thượng thư nói, cháu đổi sư phụ rồi phải không?

Sư phụ trước đây của Lưu Trí là Lai Mẫn, học thức uyên bác, dạy Lưu Trí đọc sách họ phú, rất có tiến bộ, nhưng y có một nhược điểm cực lớn, đó là yêu rượu như mạng, sau khi uống rượu thường thất lễ, nửa năm trước có người tố giác y uống rượu chơi gái, chuyện này bị Đào Trạm biết được, nàng cực kỳ bất mãn liền viết một phong thư cho Bình Chương đài, yêu cầu đổi sư phụ cho Lưu Trí, sau khi Bình Chương đài thảo luận đã nhất trí quyết định Tần Mật sẽ đảm nhận làm sư phụ cho Lưu Trí.

Chuyện này đương nhiên Lưu Cảnh cũng biết, Đào Trạm đã viết thư cho hắn trước và được sự đồng ý của phu quân, đầu tiên ý của Lưu Cảnh là giữ lại Lai Mẫn, rồi tìm một sư phụ khác cho con, tuy nhiên Lai Mẫn đã làm chuyện thất đức sau khi uống rượu thì quả thật không nên tiếp tục làm sư tôn của con trai nữa.

Lưu Trí sợ sệt liếc nhìn phụ thân, khẽ nói:

- Trí nhi đổi sang Tần sư phụ, Lai sư phụ sức khỏe không tốt nên về quê dưỡng bệnh rồi.

Lưu Hiền ở bên cạnh bật cười, tên tiểu tử này rất biết ăn nói! Rõ ràng là bị miễn vì thất đức sau khi uống rượu mà nó lại nói là sức khỏe không tốt xin cáo từ, giỏi lắm, cư xử với mọi người rộng lượng, rất có phong thái của kẻ bề trên, Lưu Cảnh cũng gật đầu:

- Con hãy chịu khó theo Tần sư phụ đọc sách học tập, hôm nay gọi con tới đây là vì sắp đến ngày hiến tế rồi, gia tộc chuẩn bị cử hành lễ tế tộc một năm một lần, theo lý, con phải đủ mười một tuổi mới được tham gia, nhưng phụ thân chuẩn bị phá lệ, cho con năm nay bắt đầu tham gia tế tộc, chiều mai, con hãy theo hiền bá bá tới từ đường học lễ, hiểu chưa?

Tất cả bọn trẻ đều hết sức tò mò với sự vật mới, Lưu Trí cũng không ngoại lệ, từ lâu nó đã nghe sư phụ nói đến tầm quan trọng của tế tộc, nhưng chưa bao giờ có cơ hội tham gia, năm nay phụ thân phá lệ bảo nó tham gia khiến nó vô cùng phấn khích, vội quỳ xuống thi lễ:

- Hài nhi hiểu rồi.

Lưu Cảnh vỗ vai đứa con bé bỏng, cười nói:

- Đi đi! Đi nói cho mẫu thân biết, người sẽ chuẩn bị áo bào buổi hiến tế cho con.

Lưu Trí khấu đầu lui ra, lúc này Lưu Cảnh mới nói với Lưu Hổ và Lưu Hiền:

- Mấy hôm nay ta sẽ rất bận, việc chuẩn bị cho buổi tế tộc phải giao cho hai vị huynh trưởng rồi.

- Châu Mục yên tâm, chúng ta sẽ bố trí ổn thỏa.

Đúng lúc này, quản gia vội vàng chạy đến, ở cửa bẩm báo:

- Khởi bẩm lão gia, sứ giả của Thiên tử tới rồi!

Lưu Cảnh lập tức đứng dậy, hắn biết đây là sứ giả Thiên tử phái đến để sắc phòng hắn làm Hán Vương.

Cuối năm Kiến An thứ mười tám, Lưu Cảnh cử hành nghi thức sắc phong long trọng, nhận sắc phong của Thiên tử, Hán đế Lưu Hiệp chính thức sắc phong Lưu Cảnh làm Hán Vương, sắc phong Đào thị làm Hán Vương phi, Tôn thị làm Lệnh phi, đồng thời chấp thuận cho Lưu Cảnh xây dựng nước Hán, đất phong gồm Kinh Châu, Ích Châu và Quan Lũng, đồng cỏ phì nhiêu mấy ngàn dặm, dân số ngàn vạn người.

Tin tức Lưu Cảnh được sắc phong làm Hán Vương truyền đi, khắp thành reo mừng nhộn nhịp, Lưu Cảnh vì thế hạ lệnh, đại xá tù nhân, miễn giảm một năm tiền thuế và lao dịch trong cả nước để cùng chúc mừng.

Bên trong nghị sự đường của Bình Chương đài, hàng trăm đại thần quỳ lạy chúc mừng Lưu Cảnh:

- Chúc mừng Châu Mục vinh dự trở thành Hán Vương điện hạ!

Mọi người vui mừng khôn xiết, chủ công được phong làm Hán Vương, nước Hán được thành lập, đây là thời khắc mà bọn họ tha thiết mong ước, cuối cùng đã được thực hiện, Từ Thứ không kìm được nước mắt lã chã rơi, từ khi Sài Tang tự lập đến nay suốt mười năm rồi, bọn họ từng bước đi từ yếu đến mạnh, từng bước mở rộng lãnh thổ, từ hai ngàn binh sĩ mở rộng lên mấy trăm ngàn binh giáp, lãnh thổ vạn dặm, nhớ lại sự bé nhỏ cô độc giữ thành năm đó thì sự thay đổi kinh thiên động địa này khiến Từ Thứ hết sức xúc động.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 711-1: Bàn bạc dời đô (1)


Lưu Cảnh cười nói với mọi người:

- Mặc dù là Hán vương, nhưng ta vẫn hy vọng mọi người gọi ta là Châu Mục, như vậy thân thiết hơn.

- Không được!

Đổng Hòa bước ra thi lễ, nghiêm nghị nói:

- Không lập quy củ, không thành phương viên, Điện hạ không được tùy tiện xưng hô như trước kia, Điện hạ tôn trọng cách xưng hô của mình cũng chính là tôn trọng đám ty chức.

Tư Mã Ý cảm thấy Đổng Hòa có phần quá nghiêm túc và không hiểu cho tâm trạng của Lưu Cảnh, gã cười cười hòa giải:

- Đổng Thượng Thư nói không sai, bọn ty chức cũng sắp thăng vị rồi, Điện hạ xưng là Châu Mục thì bọn ty chức không thể vẫn gọi là một đám Châu lại được!

Lời này rất nhẹ nhàng, lập tức khiến không khí căng thẳng trong đại đường dịu lại, Lưu Cảnh cũng cười nói:

- Mọi người đều đã muốn thăng chức, vậy ta cũng đành không làm khó nữa, ta đi trước một bước vinh dự được thăng Hán Vương điện hạ, có điều Đổng Thượng thư nói rất hay, không lập quy củ, không thành phương viên, chúng ta đã lập quốc thì phải có khí thế của một nước, chức quan của chúng ta tăng lên thì bổng lộc cũng phải tăng, đại tướng của chúng ta sẽ trở thành tướng quân, những thứ này đều phải thay đổi dần dần.

Nói đến đây, nụ cười của Lưu Cảnh biến mất, vẻ mặt trở nên cực kỳ nghiêm túc, cao giọng nói:

- Năm ngoái Tào Tháo đã lập nước Ngụy, đất phong bao gồm Trung Nguyên Hà Bắc, trên thực tế đã chiếm lĩnh được cả triều đình, thế nhưng, chỉ cần triều đình trung ương chưa bị hủy diệt thì Vương triều Đại Hán sẽ vẫn tồn tại, chúng ta cũng đã thành lập nước Hán, xin mời chư quân cùng ta cố gắng, lấy nước Hán làm nền tảng, chấn hưng Vương triều Đại Hán, tái hiện Đại Hán huy hoàng!

Mọi người cùng khom lưng:

- Vi thần nguyện hết lòng tận tụy để Đại Hán phục hưng, chết thì mới thôi!

- Các vị mời về quan nha đi! Ta muốn bàn một số việc kiến quốc với mấy vị Thượng thư, tin rằng sẽ có tin tức tốt lành mà mọi người mong đợi.

Đám đông tràn đầy hy vọng, lần lượt lui khỏi nghị sự đường, trong đại đường chỉ còn lại năm vị Thượng thư và thị trung Doãn Mặc, lúc này Lưu Cảnh khoát tay cười nói:

- Các vị mời ngồi đi!

Mấy vị Thượng thư ngồi xuống, Lưu Cảnh nói với mọi người:

- Chắc hẳn mọi người đều biết, lần này phong Hán Vương là một trong những điều kiện thỏa hiệp mà ta và Tào Tháo đã đạt được, cũng do ta chủ động đề xuất, đây là vì chúng ta đã công chiếm Quan Lũng, đã có nền móng lập quốc, còn về việc xưng hô chức quan thật ra đều là vấn đề nhỏ, công việc trọng đại mà chúng ta phải xem xét dời đô, đây mới là vấn đề mà hôm nay ta muốn thảo luận với các vị.

Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, quả thực có phần đột ngột, buổi sáng mới nhận sắc phong, mọi người đều đang nghĩ đến việc thay đổi cách xưng hô chức quan, không ngờ Lưu Cảnh đi thẳng vào vấn đề, bàn bạc chuyện dời đô với mọi người, không cần nói mọi người cũng hiểu, ngay cả Tư Mã Ý luôn hiểu Lưu Cảnh cũng cảm thấy hơi bất ngờ,

Lúc này Từ Thứ khom người nói:

- Điện hạ muốn dời đô tới Trường An, đám ty chức có thể hiểu, nhưng ty chức nghĩ giờ vẫn không phải lúc, ít nhất điều kiện trong một hai năm chưa được chín muồi, một là dân cư Quan Trung nghèo khổ, Trường An rách nát, cần chúng ta toàn lực khôi phục, kế đó là Lũng Hữu vẫn chưa đổn định, đám Hung Nô ở Khương Đê và phương bắc không chịu quy thuận, đe dọa lớn tới Quan Trung, nếu muốn dời đô đi Trường An thì trước tiên phải dẹp yên bốn dân tộc thiểu số, nếu không loạn trong giặc ngoài, chúng ta rất khó đứng vững ở Quan Lũng.

Tư Mã Ý cũng khuyên nhủ:

- Điện hạ quên Dương Thiên Vạn rồi sao? Đê Hồ cấu kết với Tào Tháo, suýt nữa đặt chúng ta vào chỗ chết ở Kỳ Sơn, hiện cũng không phái sứ giả đến nhận sai cầu hòa, rõ ràng không phục chúng ta, còn nữa Lương Châu đến giờ cũng không có tin tức, mặc dù chúng ta có được cái danh của Quan Lũng nhưng không có được cái thực của nó, ty chức nghĩ nên lợi dụng cơ hội dừng chiến với Tào Tháo để tập trung tinh lực bình định Quan Lũng, tạo điều kiện cho việc dời đô đến Trường An.

- Tất cả mọi người đều nói đúng, ta nói dời đô đến Trường An không có nghĩa là lập tức phải dời đô, mà là chúng ta phải bắt đầu chuẩn bị. Ví dụ lưu dân Quan Trung của Hạ Trung phải được điều về, còn nữa gần đây ta đi tới mỏ đồng Giang Hạ, ta định phóng thích toàn bộ tù binh, nhưng điều kiện là bọn họ phải ở lại Quan Trung, đây là để gia tăng dân số Quan Trung, còn về nhân sự ở mỏ đồng, có thể chiêu mộ thêm thợ mỏ người Man Di, mỗi tháng một nghìn tiền, cao hơn thu nhập làm lính, nhất định sẽ có rất nhiều người đồng ý, ngoài ra Ba Thục cũng có rất nhiều tam phụ lưu dân, cũng chính là Đông Châu sĩ, chỉ cần chúng ta dùng lợi ích để mê hoặc họ thì ty chức nghĩ rất nhiều người đều muốn đến Quan Trung.

- Lợi ích hấp dẫn mà Điện hạ nói là chỉ miễn thuế phú sao?

Tưởng Uyển ở bên cạnh dè dặt hỏi, gã quản lý thuế phú nên rất nhạy cảm với chuyện này.

Lưu Cảnh gật đầu:

- Không riêng gì miễn thuế phú, còn cả thụ điền, khi ở Hán Trung ta từng nói chuyện với một lão nông đến từ Quan Trung, cả nhà ông ta sở dĩ ở lại Hán Trung mà không chịu quay về Quan Trung là vì lợi ích mỗi mẫu nửa đấu gạo, giả dụ chúng ta miễn năm năm tiền thuế ở Quan Trung, ta nghĩ không chỉ di dân Quan Trung tranh nhau quay về, mà ngay cả Hà Bắc, Trung Nguyên cũng sẽ có rất nhiều người muốn dời đến Quan Trung, hai năm nữa, ta tin Quan Trung chắc chắn thay đổi lớn.

Tâm trí hùng tráng này của Lưu Cảnh không chỉ khiến những người phương bắc như Từ Thứ và Tư Mã Ý động lòng, mà ngay cả những người ở Ba Thục thời gian dài như Phí Quan, Đổng Hòa cũng dạt dào cảm xúc mênh mông, lúc này, Doãn Mặc đứng lên nói:

- Ta hoàn toàn ủng hộ phương án của Điện hạ, nên tiến hành sớm đừng chậm trễ, ta hy vọng chúng ta có thể quyết định trước năm mới để toàn lực thực thi sau khi năm mới qua đi.

Mọi người đều bày tỏ sự ủng hộ, ngay cả Tưởng Uyển thấy miễn thuế năm năm hơi nhiều cũng gật đầu đồng ý, còn về thụ điền, đất vô chủ hoang hóa ở Quan Trung cực nhiều, hoàn toàn có thể thu hồi lại để thụ điền lại, điều này quan phủ nên thực thi trước một bước.

Lúc này, Lưu Cảnh kiên quyết nói:

- Chư vị đã ủng hộ như thế, chúng ta sẽ phân công hợp tác, Bình Chương đài phụ trách khôi phục kinh tế dân số Quan Trung, ta sẽ dẫn quân đội bình định Tứ Di ở Quan Lũng, tạo môi trường an toàn để dời đô.

……

Lưu Cảnh trở lại quan phòng, một gã thị vệ tiến lên nói:

- Hổ tướng quân dẫn theo hai lão già đã đợi Châu Mục rất lâu rồi, nói là người cùng tộc với Châu Mục.

Lưu Cảnh giờ mới nhớ ra, hôm nay hắn bảo người trong tộc tới phủ tướng quân tìm hắn nên liền gật đầu:

- Mời họ vào!

Một lát sau, Lưu Hổ dẫn theo hai lão già bước nhanh vào, đáng nhẽ Lưu Hiền sẽ dẫn họ tới, nhưng Lưu Hiền phải giúp Lưu Trí học nghi thức lễ tế, vì thế Lưu Hổ đã dẫn bọn họ đến, hai lão già sớm đã bàn bạc với nhau, tuyệt đối không ra vẻ trưởng bối trước mặt Lưu Cảnh, thậm chí cả lễ nghi của người trong tộc cũng đều không có, vừa bước vào phòng, hai người đã vội vã quỳ xuống hành lễ:

- Lưu Phương, Lưu Ý bái kiến Hán Vương điện hạ!

Hai lão giả này đều là tộc đệ của Lưu Biểu, huyết thống khá thân thiết, sở dĩ Lưu Cảnh muốn tiếp kiến bọn họ ở phủ tướng quân là vì không muốn làm lễ vãn bối với hai người, hắn thấy hai người này quỳ xuống gọi hắn là Hán Vương điện hạ thì rất thú vị, sự ác cảm trong lòng hắn đã tốt hơn nhiều, liền vội vàng đỡ họ dậy cười nói:

- Hai vị đứng lên! xin đứng lên!

Hắn lại dặn dò thị vệ:

- Chuẩn bị ghế đệm!

Hai gã thị vệ trải ghế đệm, Lưu Cảnh mời bọn họ ngồi xuống, Lưu Hổ cũng ngồi một bên, Lưu Phương lớn tuổi o hơn cười nói:

- Nghe nói Điện hạ được phong làm Hán Vương, bọn tại hạ quả thật rất vui, giờ tôn thất mặc dù còn có một số quận vương, nhưng phần lớn hữu danh vô thực, đâu giống như Điện hạ, nắm trong tay ngàn dặm giang sơn xã tắc, đây mới là chân mệnh thiên tử, con rối chó má ở Nghiệp Đô có là cái gì.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 711-2: Bàn bạc dời đô (2)


Lưu Hổ nghe lão nói th* t*c trắng trợn quá liền ho một tiếng thật mạnh, trợn trừng mắt nhìn lão, Lưu Phương giờ mới ý thức được mình thất lễ, lão lúng túng cười gượng hai tiếng:

- Ý của ta là nói...

Lưu Cảnh không đợi lão nói tiếp liền khoát tay cười nói:

- Ta hiểu, không cần giải thích nữa, có điều ta muốn biết tình hình hiện tại của Lưu Tông và Thái phu nhân, bọn họ thế nào.

- Lưu Tông đã hết thuốc chữa, trẻ con ở Nghiệp Đô cũng đều biết y là hoạn quan, thanh danh đã mất, cả ngày ăn uống thả cửa, mập như con lợn, Thái phu nhân từ lâu đã mặc kệ y, Điện hạ không biết sao, ba năm trước Thái phu nhân đã tái giá rồi.

Lưu Cảnh ngẩn ra, quả thật hắn không biết việc này, liền vội hỏi:

- Tái giá với ai rồi?

- Thái Thú quận Thường Sơn Hạ Hầu Nghi, Điện hạ biết người này không?

Lưu Cảnh nhướn mày:

- Hình như là đệ đệ của Hạ Hầu Uyên.

- Đúng là người này, nghe nói là do Thái Mạo dẫn đường, tên Hạ Hầu Nghi cường tráng như trâu, Thái phu nhân mảnh mai thế kia, làm sao chịu được sự làm nhục của gã chứ.

Lưu Hổ ở bên cạnh lại ho mạnh một tiếng, một lần nữa cắt lời lão, bất mãn trừng mắt với lão, lão già này cũng gần đã sáu mươi tuổi rồi sao ăn nói lung tung vậy, Lưu Phương sợ tới mức không dám lên tiếng nữa.

Lưu Cảnh hiểu ra, Thái Mạo trước đây muốn gả con gái cho Hạ Hầu Bá, kết quả Thái Thiếu Dư không chịu, lão không còn cách nào liền gả quả muội cho Hạ Hầu Nghi, để bấu víu vào cây đại thụ như Hạ Hầu thị, có thể nói đã tính toán chu toàn, Thái phu nhân tái giá thì nàng cũng không phải chôn cất cạnh mộ Lưu Biểu rồi, đây không phải là chuyện xấu.

Lưu Cảnh không có thời gian tán gẫu với hai lão già này, thấy bọn họ chỉ tỏ thái độ mà thôi nên hắn liền trấn an bọn họ một chút, Lưu Cảnh cười nói:

- Tạm thời đừng vội vã rời Nghiệp Đô đi, ở lại Nghiệp Đô cũng có thuận lợi, bình thường qua lại với Tam thúc nhiều một chút, ta sẽ bảo Tam thúc chăm sóc mọi người, có gì khó khăn, Tam thúc sẽ tiếp tế, khi mọi người gần đi, ta cũng sẽ tặng mỗi người một phần hậu lễ, coi như là chút tâm ý của ta.

Lưu Phương và Lưu Ý mừng rỡ, vội vàng quỳ xuống dập đầu cảm tạ, Lưu Cảnh quả có chút mệt mỏi, liền nháy mắt với Lưu Hổ, bảo y dẫn hai người này đi, Lưu Hổ mời hai người này đi, không lâu sau lại vội vàng quay về:

- Châu Mục tìm ta sao?

Lưu Cảnh gật đầu:

- Ngồi xuống đi! Ta muốn bàn bạc chuyện bộ binh trọng giáp với huynh.

Tinh thần Lưu Hổ phấn chấn lên, đây mới là chủ đề mà y hứng thú nhất, Lưu Cảnh khoanh tay đến trước cửa sổ, chăm chú nhìn mai vàng đua nở trong tuyết bên ngoài cửa sổ, trầm tư một lát hỏi:

- Ta muốn mở rộng bộ binh trọng giáp lên tám ngàn người, tức là tăng thêm hai ngàn người nữa, trong vòng hai tháng có thể luyện được không?

Lưu Hổ suy nghĩ một lát rồi đáp:

- Huấn luyện thì không có vấn đề gì, mấu chốt là trang bị, trọng giáp và trảm mã đao đều rất tốn thời gian, hiện giờ trong kho của ta chỉ nhiều hơn năm trăm bộ, trong hai tháng chế tạo ra một ngàn năm trăm bộ e rằng không thực tế.

- Ta đã từng cân nhắc, có một nghìn Trảm mã đao tồn kho, ngoài ra Ưng Kích quân còn có năm trăm cái, có thể điều về đây, đao đã có rồi, mấu chốt là trọng giáp, ta sẽ tổ chức ba nghìn thợ thủ công ngày đêm chế tạo, lệnh cho bọn họ trong hai tháng phải làm ra một nghìn năm trăm cây, ngươi chỉ lo huấn luyện được hai ngàn tân binh cho ta.

- Không thành vấn đề, ty chức dùng thủ đoạn huấn luyện tàn khốc nhất, bảo đảm bọn họ đủ tư cách!

Nói đến đây, Lưu Hồ dè dặt hỏi:

- Chẳng lẽ phải đánh Đê Hồ sao?

Lưu Cảnh khẽ mỉm cười:

- Ai nói huynh ngu, đúng là nhìn lầm rồi, huynh thông minh hơn bất cứ ai khác.

Từ khi chiếm được Lũng Tây, đường Kỳ Sơn trở thành đường thương khách bận rộn, dù đã là cuối tháng nhưng trên đường Kỳ Sơn băng tuyết vẫn chưa tan, đường cực kỳ khó đi, nhưng thương đội đã gấp gáp thì cũng chẳng đếm xỉa đến đường đi gian nan, bôn ba lặn lội trên đường Kỳ Sơn phủ đầy băng tuyết, tương lai da lông, dược liệu và súc vật từ Lũng Hữu sẽ buôn tới đất Thục, còn tơ lụa, đồ sứ và các vật dụng hàng ngày của Thục sẽ được buôn đến Lũng Tây và Lương Châu.

Trưa hôm nay, ở phía bắc Kỳ Sơn có một nhóm thương đội quy mô khá lớn, trên thực tế số người không nhiều, chỉ hơn ba mươi người, nhưng bọn họ buôn hàng nghìn con chiến mã, thể hiện quy mô khổng lồ, một gã dẫn đầu cầm cờ một mặt hai con cá chép với hàm ý đây là thương đội của thương hành Đào thị.

Đào gia đã không còn là thương nhân bình thường nữa, mà chuyển thành quân thương, quân thương chính là thương nhân chuyên phục vụ cho quân Hán, bao gồm vận chuyển đồ quan nhu, xử lý chiến lợi phẩm, vận chuyển tù binh v.v…, lợi nhuận cực lớn.

Ở Kinh Châu, Đào gia nắm một đội thuyền Trường Giang đồ sộ, chuyên vận chuyển mua bán quặng sắt và lương thực, thật ra cũng là để phục vụ cho quân đội, vì thế, hai huynh đệ Đào Thắng và Đào Lợi đều có chức quan, Đào Thắng được phong làm Hương hầu, treo danh hiệu Ngự Sử đại phu.

Đào Lợi được phong làm Đình hầu, treo chức vụ Giáo Úy, dù đều là hư danh nhưng là thân phận quan viên thực sự, thương đội đến từ Kinh Châu chính là do Đào Lợi chỉ huy, trên danh nghĩa Đào Lợi đi Lương Châu mua ngựa cho quân đội, nhưng thực tế đi thực hiện nhiệm vụ bí mật mà Lưu Cảnh giao cho y, liên lạc với người Khương để liên hợp tấn công Đê Hồ.

Sứ giả của Khương Vương cũng cùng xuôi phía nam với Đào Lợi, sứ giả là một người đàn ông hơn ba mươi tuổi, cũng là phụ thân của Khương Duy tên là Khương Quýnh, lúc trước dẫn theo con trai của Khương Vương trốn khỏi Trường An, giờ làm phụ tá dưới trướng Khương Vương, y phụng mệnh Khương Vương tới gặp Lưu Cảnh để bàn bạc cụ thể về việc tấn công Đê Hồ.

Đoàn quân chạy gấp rút, nhưng vào lúc này, mấy kỵ binh hộ vệ người Khương chạy gấp tới, hô lớn:

- Phía sau có rất đông thổ phỉ không nhìn rõ đang đuổi theo, mau đi!

Đào Lợi kinh ngạc, sao Kỳ Sơn đạo lại xuất hiện đạo phỉ, Khương Quýnh phản ứng cực nhanh, lập tức hiểu ra, vội la lên:

- Không phải đạo phỉ gì đâu, nhất định là đám người Đê đến cản đường chúng ta.

Đào Lợi lập tức nóng lòng như lửa đốt, gã cuống quýt nói:

- Nơi này cách động phía trên gần nhất cũng khoảng năm mươi dặm, làm sao chúng ta tới kịp.

- Không kịp cũng phải trốn, nếu không sẽ chết ở đây!

Khương Quýnh thúc ngựa chạy trốn, Đào Lợi cũng cuống quýt đánh ngựa chạy gấp, mười mấy tên thuộc hạ thúc giục chiến mã chạy băng băng, phía sau có mười kỵ binh người Khương đi sau cùng.

Lúc này, tiếng vó ngựa truyền đến như sấm, rất nhanh, phía xa xuất hiện một lũ kỵ binh đuổi theo đông nghìn nghịt, tốc độ cực nhanh, có tới mấy trăm người, bọn họ đã g**t ch*t mười tên kỵ binh người Khương rớt lại phía sau rồi tăng tốc truy đuổi.

Những người này đều mặc da bào màu đen, đầu đội mũ da, tay cầm cung tiễn trường mâu, cách ăn vận giống như mã phỉ núi Kỳ Sơn trước đây, tuy nhiên mã phỉ Kỳ Sơn đã bị quân Hán tiêu diệt hầu như không còn, đây thực ra là kỵ binh của Đê Hồ từ Lũng Tây truy đuổi tới, mục tiêu của bọn họ chính là Đào Lợi và sứ giả của Khương Vương tên là Khương Quýnh.

Đại tướng Đê Hồ dẫn đầu nhìn theo đoàn ngựa thồ ở xa phía trước, y cười dữ tợn:

- Đuổi theo mau, giết bọn chúng!
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 712: Vương phi và gia sự


Kỵ binh Đê Hồ liên tiếp truy đuổi, bụi đất tung bay, bọn chúng cách mục tiêu ngày một gần, mười mấy kỵ binh quân Hán cũng bị bọn chúng g**t ch*t, hơn ngàn chiến mã im lặng tậm trung ở bên đường, con đường gập ghềnh khiến chúng không thể chạy trốn tiếp nữa, đành phải bất an chờ đợi sự an bài của số phận.

Nhưng mục tiêu của kỵ binh Đê Hồ lại không phải là đám ngựa này, mục tiêu của bọn chúng là hai người vẫn đang chạy thục mạng phía trước, cách chỉ hơn một trăm bước, kỵ binh Đê Hồ có kỹ thuật cưỡi ngựa siêu phàm bắt đầu hai chân điều khiển ngựa, gương cung lên bắn.

Tầm bắn cung tên của Đê Hồ thua xa quân đội Trung Nguyên, mặc dù bọn chúng cũng có một số cung ghép từ Trung Nguyên đến, nhưng phần lớn cung tiễn của người Đê vẫn là cung đơn tương đối nguyên sơ, tầm bắn chỉ sáu bảy mươi bước.

Mũi tên dày đặc phóng tới, hầu hết đều rơi xuống chỗ cách phía sau Đào Lợi và Khương Quýnh khoảng mười mấy bước, tuy nhiên cũng có mấy mũi tên mạnh hơn, vượt qua cả đỉnh đầu họ, tiếng rít vùn vụt, Đào Lợi và Khương Quýnh sợ đến toát mồ hôi, liều mạng thúc ngựa chạy trốn, trong lúc họ sắp tuyệt vọng thì phía trước bỗng nhiên xuất hiện một đội quân, là đội trâu gỗ chở lương thực, khoảng hơn ngàn xe trâu gỗ đang xếp thành hàng đi nhanh về phía này.

- Cứu mạng!

Đào Lợi kêu to.

- Phía sau quân Đê Hồ đuổi giết, cứu bọn ta với!

Giờ khắc này bọn họ lại nhìn thấy hy vọng liền lớn tiếng kêu cứu, gắng sức chạy về phía đội trâu gỗ, đội trâu gỗ từ Thượng Phương cốc tới, vận chuyển lương thực tới huyện Tân Ký, đại tướng dẫn đầu là Vương Bình, y bỗng nhiên nghe thấy tiếng kêu cứu phía trước liền ghìm chặt chiến mã, chỉ thấy trên con đường phía trước của có hai kẻ hối hả chạy tới, một trước một sau, vẻ mặt sợ hãi, phía sau bụi đất tung bay, tiếng vó ngựa như sấm, rõ ràng có đội quân lớn truy binh.

Y ngây người, khoát tay ra lệnh:

- Tên nỏ chuẩn bị!

Hơn ngàn tên lính người Man lần lượt lấy tên nỏ ra, giương nỏ cài tên, xếp thành trận địa công kích trên đường, rất nhanh, bọn Đào Lợi đã chạy tới. Đào Lợi thường qua lại đường Kỳ Sơn nên quen Vương Bình, gã kích động hô lớn:

- Vương tướng quân, cứu bọn ta, phía sau có Đê Hồ truy đuổi!

Vương Bình cũng nhận ra Đào Lợi, y kinh ngạc, vội vàng ra lệnh:

- Cung nỏ chuẩn bị, bắn đám truy binh phía sau đi!

Đám Đào Lợi nhanh như gió xông qua lũ lính vận chuyển lương thực cho người Man, mấy chục Man binh lập tức bố trí chướng ngại trên đường bằng cách dùng xe trâu gỗ, lúc này, kỵ binh Đê Hồ dần đuổi tới, bọn họ liều lĩnh đánh ngựa đuổi theo, quân Đê Hồ phía trước phát hiện trước mặt có sự khác lạ, không đợi bọn chúng ghìm chặt chiến mã, mũi tên dày đặc đã b*n r* rợp trời, mũi tên mạnh mẹ, bắn thủng đầu lâu và ngựa của kỵ binh, kỵ binh Đê Hồ đều kêu la thảm thiết rớt xuống ngựa.

Kỵ binh phía sau cuối cùng ghìm chặt chiến mã, đại dướng cầm đầu thấy phía trước có vô số binh lính quân Hán, biết bọn chúng không giết nổi mục tiêu, cộng thêm nơi đây đã là vùng đất kiểm soát thực tế của quân Hán rồi, một khi trước sau đều bị chặn thì bọn chúng chạy không thoát.

- Rút lui!

Đê tướng dẫn đầu hô to một tiếng, dẫn theo mấy trăm kỵ binh quay đầu đi, lát sau đã không còn thấy bóng dáng.

Vương Bình thấy Đê Hồ chạy trốn liền sai người đi lên phía trước xem xét, lúc này, Đào Lợi và Khương Quýnh tiến lên cảm tạ, hai người vẫn chưa hoàn hồn, vô cùng cảm kích ơn cứu viện của Vương Bình, giờ Vương Bình mới biết Đào Lợi đi cùng sứ giả Khương Quýnh, y cũng thầm thấy may mắn, may vì mình quyết đoán, nếu không suýt chút nữa xảy ra chuyện lớn.

- Hai vị xin yên tâm, ta sẽ đích thân hộ tống hai vị xuôi phía nam, trên đường xuống phương nam sẽ không còn bất kỳ nguy hiểm nào.

- Đa tạ Vương tướng quân cứu giúp!

Lúc này, lũ thuộc hạ của Đào Lợi mới đuổi tới nơi, thuật lại cho gã sự tàn bạo của người Đê, khi bọn chúng đi còn cướp mất quá nửa số ngựa, Đào Lợi trấn an bọn họ, hiện giờ giữ được tính mạng là quan trọng hàng đầu, ngựa bị cướp cũng không đáng gì nữa.

Gã chắp tay với Vương Bình bày tỏ sự cảm ơn lần nữa, Vương Bình sắp xếp quân sĩ vận chuyển lương thực, dẫn năm trăm lính hộ vệ, rồi mới cười nói với hai người:

- Đi thôi! Tiếp tục lên đường.

Đào Lợi và Khương Quýnh gật đầu, dưới sự bảo vệ của quân Hán tiếp tục xuôi xuống phía nam.

Mấy ngày nay trong phủ Lưu Cảnh cũng đang bừa bộn, chủ yếu là do Lưu Cảnh được sắc phong làm Hán Vương, Đào Trạm được sắc phong làm Hán Vương phi, phủ trái cũng trở thành vương phủ, điều này liên quan đến rất nhiều sự thay đổi chi tiết quy củ, cách xưng hổ phải đổi, lễ nghi phải đổi, quy định cũng khác, biển bài cũng phải đổi v.v… Cho dù Lưu Cảnh và Đào Trạm đều không quá để ý đến vấn đề lễ nghi thân phận, nhưng dù sao lời nói và việc làm của họ cùng Hán Vương phủ đại diện cho bộ mặt của cả nước Hán, vì thế rất nhiều chuyện cũng không tự chủ được, nhất định phải thay đổi.

Tuy nhiên Đào Trạm vẫn cố gắng đơn giản hóa, nàng không muốn bị quấy nhiễu bởi những lễ nhghi rườm rà, đặc biệt phải ràng buộc người trong phủ không được lấy danh nghĩa của Hán Vương phủ đi quấy rối vơ vét tài sản người khác.

Mặt khác, Tôn Thượng Hương mang thai cũng là một chuyện đại sự, một tháng trước nàng đã có dấu hiệu đẻ non khiến trên dưới Lưu phủ đều vô cùng căng thẳng, dốc sức bình sinh mới miễn cưỡng bảo vệ được thai nhi.

Đào Trạm không dám khinh suất, nàng biết, một khi có dấu hiệu đẻ non, sau này bất cứ lúc nào cũng có thể sinh non, cứ phải đến đủ tháng mới thở phào nhẹ nhõm được, hiện giờ Tôn Thượng Hương mới mang thai hơn sáu tháng, đang là lúc nguy hiểm nhất.

Ánh lửa trong phòng ấm áp, mùi thơm dịu nhẹ vấn vương trong chiếc lư đồng ở góc phòng, căn phòng tràn ngập mùi gỗ đàn hương thoang thoảng, Tôn Thượng Hương nửa nằm nửa ngồi trên giường, trên người đắp chiếc chăn nhẹ, sắc mặt có vẻ xanh xao, nàng đã ăn mấy thìa cháo rồi đặt bát cháo lên bàn, đôi mi thanh tú hơi nhíu mày nói:

- Đại tỷ, tỷ nói tướng quân khi nào trở về?

Đào Trạm hiểu được lo lắng của nàng, nàng ấy sợ Lưu Cảnh không về kịp lúc đứa bé ra đời liền cười an ủi nàng:

- Còn ba tháng nữa cơ mà! Ta nghĩ chàng chắn chắn về kịp.

Tôn Thượng Hương thở dài, có chút trách móc:

- Vừa mới trở về hai tháng đã lại đi rồi, Hán Vương như chàng cũng bận rộn quá, việc gì mà không thể giao cho thuộc hạ làm sao?

- Cũng không có cách nào.

Đào Trạm gượng cười một tiếng:

- Tào Tháo sắp sáu mươi tuổi rồi cũng vẫn muốn thân chinh, huynh trưởng nàng chẳng phải cũng thế sao? Bọn họ đều có số vất vả, nghe nói lần này đi quét sạch đám người Hồ, chỉ mong chàng đừng mang theo con gái của tù trưởng về.

Tôn Thượng Hương cười khúc khích.

- Hóa ra đại tỷ lo lắng chàng ở bên ngoài phong lưu vô độ?

Đào Trạm đỏ mặt, vội lắc đầu:

- Chàng không phải người như vậy, ta cũng không nhỏ nhen đến thế, chỉ có điều, ai! Ta không thích giao tiếp với con gái người Hồ, quy tắc thế này thế kia không giống với chúng ta, rất khó sống cùng nhau.

- Đại tỷ nói có lý, muội cũng không thích.

Tôn Thượng Hương giảo hoạt cười nói:

- Chi bằng chúng ta cùng viết thư cho chàng, cảnh cáo chàng một chút.

Đào Trạm do dự một chút:

- Chuyện này thôi bỏ đi.

Tôn Thượng Hương biết trong lòng Đào Trạm muốn, chỉ có điều trở ngại thân phận, không tiết viết thư như thế, nàng cũng mặc kệ, chàng dám cả gan dẫn Hồ nữ về đây thì hãy chờ xem, Tôn Thượng Hương cười cầm tay Đào Trạm khẽ nói:

- Chuyện này đại tỷ đừng bận tâm, để muội viết thư.

Đào Trạm cũng biết tướng quân rất sủng ái Thượng Hương, những chuyện nam nữ này, chàng không bao giờ nghe ý kiến của mình nhưng lại để ý đến cảm nhận của Thượng Hương, mặc dù đôi khi Đào Trạm cũng không thoải mái về điểm này, nhưng tấm lòng nàng khoan dung, hơn nữa bản thân Tôn Thượng Hương cũng là một người lòng dạ đơn giản, làm người khác yêu thích, nàng cũng rất kính trọng mình, vì thế Đào Trạm cũng cố gắng không so đo tranh giành sủng ái, để giữ gìn sự hòa thuận trong nhà.

Lúc này nàng cũng không nhịn được cười:

- Ta nói rõ trước nhé! Ta không có suy nghĩ này, không liên quan đến ta.

Tôn Thượng Hương nháy mắt mấy cái:

- Đương nhiên, đại tỷ là Hán Vương phi, nên lấy đại cục làm trọng, đanh đá như muội mới không bỏ qua cho chàng.

Nói đến đây, hai người đều mỉm cười, lúc này ở cửa có thị nữ bẩm báo:

- Khởi bẩm Vương phi, Đào hương hầu ở bên ngoài cầu kiến!

Đào hương hầu chính là phụ thân của Đào Trạm, tên là Đào Thắng, mặc dù cùng ở Thành Đô nhưng rất ít đến thăm con gái, Đào Trạm biết phụ thân nhất định có chuyện liền gật đầu nói:

- Bảo Đào hương hầu chờ chút, ta đến ngay.

Nàng quay sang nói với Tôn Thượng Hương:

- Nàng nằm nghỉ ngơi đi, tối ta đến thăm nàng.

- Vâng! Dẫn cả Châu nhi và Thiền nhi đến nữa, mấy ngày không gặp hai đứa nó, nhớ quá.

Đào Trạm dặn dò vài câu rồi nhanh bước ra phía ngoại trái.

Trong quý khách đường ở ngoại trái, Đào Thắng tâm sự nặng nề ngồi trên ghế đệm uống trà, hai tháng nay lão cũng rất bận rộn, vừa mới từ Trường An trở về, con trai thăng chức lầm Thái thú quận Kinh Triệu kiêm Trường An lệnh, đây là việc lớn của Đào gia, thậm chí còn quan trọng gấp mười lần so với hương hầu như lão, Đào Thắng thỉnh giáo qua Giả Hủ, Giả Hủ nói với lão, nhiều nhất hai năm nữa nước Hán sẽ dời đô đến Trường An, con trai Đào Chính nếu không có bất ngờ gì xảy ra sẽ là Kinh Triệu Doãn đầu tiên, nếu chiến tích cao thì mười năm nữa y thậm chí có thể vào Bình Chương đài làm Tướng.

Đào Thắng hết sức kích động, nếu phụ th*n d*** cửu tuyền biết được, không biết sẽ vui mừng thế nào, nhưng lão cũng biết rõ, việc thăng chức lớn của con trai hoàn toàn là vì con gái đã trở thành Hán Vương phi, là do Lưu Cảnh muốn gây dựng ngoại thích, nâng cao địa vị của con gái, vì thế lão biết mình nên làm chút gì đó, lão muốn nói với con gái, cho nó hiểu được hướng đi của gia tộc.

Lúc này, tiếng ngọc bội vang lên, Đào Trạm từ bên ngoài đi vào nội đường, Đào Thắng vội vàng đứng dậy, tiến lên thi lễ:

- Tham kiến Vương phi!

Đào Trạm hơi ngẩn người:

- Phụ thân, sao phải như vậy?

- Đây là lễ nghi, ta không hạ bái đã là rất vô lễ rồi.

Đào Thắng cười nói:

- Đây không chỉ là thể diện của con, ta phải giữ thể diện cho Hán Vương.

Đào Trạm yên lặng gật đầu:

- Phụ thân mời ngồi đi!

Đào Thắng ngồi xuống, cúi người cười nói:

- Con cũng biết chuyện huynh trưởng con giữ chức Thái thú quận Kinh Triệu chứ?

- Con đã nghe nói, có điều không phải tướng quân nói với con, con nghe đại tẩu nói, mấy ngày trước đại tẩu có đến đây.

- Những việc này Hán Vương không nói cho con sao?

Đào Thắng hỏi với giọng khó hiểu.

- Phụ thân!

Đào Trạm có vẻ bất mãn kéo dài giọng nói.

- Trước đây con đã nói với cha, con không quản việc của Đào gia, cũng mong Đào gia đừng mượn danh nghĩa của con làm càn ở bên ngoài, còn về vấn đề thăng chức của huynh trưởng, con và tướng quân đã có ước định từ lâu, chàng không cần nói những chuyện này với con, con cũng không muốn biết.

Đào Thắng có chút xấu hổ, lão lặng im mãi mới nói:

- Ta đương nhiên nhớ con đã từng nói, tuy nhiên có một số việc cũng không thể quá cực đoan, dù sao con là con gái Đào gia, hơn nữa huynh trưởng con đảm nhiệm chức Thái Thú quận Kinh Triệu kiêm Trường An lệnh cũng có liên quan đến con, đây là sự thật, con không thể phủ nhận.

- Phụ thân, con không phủ nhận, con chỉ nói con không muốn biết những việc này, tướng quân suy nghĩ thế nào, con sẽ không can thiệp, càng không chủ động đề xuất chàng chiếu cố Đào gia, phụ thân hiểu ý của con chứ? Chuyện của Đào gia có lẽ liên quan đến thân phận của con, nhưng không can hệ gì với con cả.

Đào Thắng cười gật đầu:

- Ta có thể hiểu được, con không can dự vào chính trị là hành động sáng suốt, chỉ có điều là một thành viên của Đào gia, một người con gái thì nên biết gia chủ như ta, cũng là phụ thân của con suy nghĩ ra sao, ta hy vọng con hãy nêu ra chút đề xuất.

Đâò Trạm trầm ngâm giây lát:

- Phụ thân cứ nói, con xin nghe.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 714: Không hề có thành ý


Lưu Cảnh sai người đưa Khương Quýnh đi nghỉ ngơi, rồi lại nháy mắt với Đào Lợi, bảo gã ở lại, Vương Bình cũng cáo lui. Lưu Cảnh liền mới Đào Lợi ngồi xuống, nói cho mọi người tình hình đi sứ Khương Hồ.

Đào Lợi thở dài:

- Thẳng thắn nói, lần này ấn tượng của ta với Khương Vương Nam Cung Tác rất không tốt, mặc dù ta quen biết lão đã mười mấy năm, trước đây thấy lão thành khẩn thẳng thắn, đối xử với moi người nhiệt tình, là người biết làm ăn, nhưng lần này cảm giác hoàn toàn thay đổi, người này rất hay dối trá, hơn nữa nham hiểm xảo quyệt, đưa ra rất nhiều điều kiện không an phận, lần này trở về từ Trương Dịch, lão lại chỉ phái mười kỵ binh bảo vệ bọn ta, ta rất nghi ngờ, chính là lão đã ngấm ngầm thông báo cho người Đê nên người Đê mới truy sát bọn ta.

Bàng Thống nhíu mày hỏi:

- Lần trước Mã Đại tướng quân đi sứ Trương Dịch, Khương Vương rất khiêm tốn, một lời đồng ý xuất binh, hơn nữa cũng làm được rồi, giờ chúng ta đã chiếm lĩnh Quan Lũng, đáng nhẽ lão càng phải khiêm tốn mới đúng, sao lại giở mặt, hơn nữa còn thông báo cho người Đê ngầm hiết hại các ngươi, chẳng lẽ tính mạng của Khương Quýnh cũng không quản sao?

- Đây là điểm hám lợi của Khương Vương, lần trước lão muốn đạt được lương thực và sắt thô nên xuất binh tấn công người Đê, nhưng cuối cùng chúng ta chỉ cấp lương thực cho lão, tinh sắt thượng đẳng mà lão muốn lại không cho nên trong lòng lão thầm căm tức, lần này liền tỏ vẻ không vui, muốn thị uy phủ đầu chúng ta, còn về tính mạng của Khương Quýnh, thật ra lão không bận tâm.

Mã Siêu ở bên cạnh nói:

- Đào Công nói hoàn toàn chính xác, Khương Vương đúng là người như vậy, trước đây ta không tới nương nhờ lão chính là sợ lão bán đứng ta cho Tào Tháo.

Lưu Cảnh vẫn không nói gì, hắn nhớ lại tình tiết năm đó, Nam Cung Tác bán ngựa cho Giang Hạ, nhìn thì vô cùng khỏe mạnh, nhưng tất cả chiến mã đều đã bị thiến, không hề hàm hồ với những điểm then chốt, Lưu Cảnh thầm cười nhạt, đưa thư của Nam Cung Tác cho mọi người:

- Các ngươi xem thư của lão đi!

Mọi người nhận lấy thư truyền đọc, Pháp Chính cười nhạt một tiếng:

- Khương Vương ra điều kiện giao toàn bộ người Đê cho lão, có thể nhìn thấy được dã tâm của Nam Cung Tác, lão muốn thống nhất Khương Đê, không chỉ chiếm cứ bãi cỏ Trương Dịch mà còn muốn mở rộng lên Hà Hoàng, sợ là sau khi chúng ta tiêu diệt xong người Đê thì sẽ phải đối mặt với một Khương Hồ lớn mạnh, rất rõ ràng, Nam Cung Tác muốn lợi dụng chúng ta.

Lưu Cảnh cân nhắc một lát lại hỏi Đào Lợi:

- Người Khương hiện giờ thực lực ra sao?

Đào Lợi vội khom người đáp:

- Vấn đề này ty chức đã hỏi Khương Quýnh trên đường, Khương Quýnh nói, người Khương hiện có hai trăm ngàn người, có thể tập trung năm mươi ngàn kỵ binh, có điều bộ lạc rất nhiều, Nam Cung Tác chẳng qua là tù trưởng của bộ lạc lớn nhất nên được các bộ lạc đề cử làm Khương Vương.

Lưu Cảnh đứng lên nói:

- Đã như vậy, chúng ta không cần liên hợp với người Khương, trực tiếp tiêu diệt Dương Thiên Vạn và Tống Kiến, còn về người Khương thì để đánh xong người Đê hãy nói.

Tối hôm đó, Lưu Cảnh liền hồi đáp một bức thư cho Nam Cung Tác, khéo léo từ chối đề nghị liên hợp với người Khương tấn công người Đê, phái người hộ tống Khương Quýnh trở về Trương Dịch, ngay lúc Khương Quýnh vừa đi, Lưu Cảnh lập tức hạ lệnh toàn quân xuất phát, suốt đêm tiến quân về phía bắc.

Năm vạn quân Hán đi dọc lên phía bắc, trang bị nhẹ nhàng, ba ngày sau đã tới Thượng Phương cốc, lúc này Thượng Phương cốc đã xây dựng lên một tòa quân thành, trong đó có một ngàn binh, tích trữ một trăm ngàn thạch lương thực, bầu trời đã tối, Lưu Cảnh liền hạ lệnh toàn quân trú doanh ở ngoài quân thành nghỉ ngơi.

Khi đại doanh vừa hạ xong thì lính tuần tra lại dẫn một sứ giả người Đê tới đại doanh, gã sứ giả này chính là Qua Viên hai lần trước đi sứ quân Hán, gã lo lắng bất an đi vào đại trướng, quỳ xuống dập đầu khóc không ra tiếng:

- Tội thần Qua Viên khấu kiến Hán Vương Điện hạ, khẩn cầu Hán Vương Điện hạ tha thứ cho sự ngu muội của người Đê, bọn tại hạ nguyện chuộc lại những tội nghiệt từ trước của bọn tại hạ bằng thành ý lớn nhất, nguyện làm chó ngựa cho Hán Vương, hiến sức cho Hán Vương tấn công Tào quân.

Lưu Cảnh cười nhạt một tiếng khinh thường”

- Tội nghiệt các ngươi phạm phải đã không thể tha thứ, chuyện cho tới bây giờ, chỉ có thể dùng đầu của các ngươi chuộc tội, không còn con đường thứ hai.

Qua Viên xợ khiếp vía, khổ sở cầu khẩn:

- Bọn tại hạ nguyện giao mười ngàn con chiến mã, ba trăm ngàn con dê, nguyện hiến những thiếu nữ đẹp nhất của người Đê cho Hán Vương, chỉ khẩn cầu Hán Vương bỏ qua cho bọn tại hạ.

Lúc này, Bàng Thống ở một bên nói nhỏ với Lưu Cảnh vài câu, Lưu Cảnh hiểu ý liền lạnh lùng hỏi:

- Đã có thành ý, vậy thì chuẩn bị khi nào giao cho bọn ta?

Qua Viên nhìn thấy được một tia hy vọng, cuống quýt dập đầu trả lời:

- Mười ngày nữa sẽ giao hàng, tuyệt đối không một chút lừa gạt.

- Được rồi! Ta sẽ cho các ngươi một cơ hội nữa, mười ngày nao giao hàng ở huyện Thủ Dương, nếu dám cả gan lừa dối, ta sẽ tiêu diệt toàn tộc các ngươi, cút đi cho ta!

Lưu Cảnh gầm lên một tiếng, Qua Viên sợ tới mức vắt giò lên cổ chạy, lúc này, Lưu Cảnh quay đầu hỏi Bàng Thống:

- Sao quân sư biết bọn chúng lừa gạt?

- Rất đơn giản, bọn chúng biết rõ quan hệ giữa Đào Công và Điện hạ, còn muốn chém giết sạch, nếu có nửa ý đầu hàng thì bọn chúng sẽ không chừa cho mình chút đường sống sao?

Lưu Cảnh gật đầu, một câu của Bàng Thống đã chạm tới điểm mấu chốt, từ đó thấy được, Đê Hồ đầu hàng ắt có sự lừa dối.

……

Quận Lũng Tây là một quận lớn nhất khu vực Lũng Tây, Phu Hãn ở phần tây bắc là lãnh địa do Bình Hán Vương Tống Kiến xây, thế lực xa mãi tới khu vực Hà Hoàng, còn phần đông bắc là địa bàn của Dương Thiên Vạn, bao gồm một bộ phận của quận Nam An và quận Kim Thành.

Vùng này thành trì rất thưa thớt, đồng cỏ ngàn dặm, cỏ nuôi súc vật tươi ngon, là nơi cư trú lý tưởng của dân tộc du mục, người Đê đã sống nghìn năm ở vùng này, sinh sản ra tất cả lớn nhỏ mấy trăm bộ lạc.

Tám ngày sau, trên thảo nguyên cách phía bắc huyện Thủ dương trăm dặm mọc lên hàng nghìn lều trại lớn nhỏ, trải dài hơn mười dặm, đây là do Dương Thiên Vạn tập trung toàn bộ hơn một trăm bọ lạc do y cai quản với gần hai trăm ngàn người lại cùng nhau, có cả mấy chục ngàn chiến mã và một triệu con dê, trong đó còn bao gồm ba vạn kỵ binh Đê Hồ tinh nhuệ, rất rõ ràng, Dương Thiên Vạn chuẩn bị một trận quyết thư hùng với quân Hán rồi.

Dương Thiên Vạn khoảng năm mươi tuổi, dáng người cường tráng, khuôn mặt góc cạnh rõ ràng, hằn lên vô số nếp nhăn, đôi mắt nhỏ cực kỳ nham hiểm độc ác, y giữ chức Khương Vương gần hai mươi năm, đánh gần trăm chiến dịch lớn nhỏ, thống nhất được Đông Đê, trở thành chủ của người Đông Đê.

Y để Qua Viên đi cầu xin quân Hán, chẳng qua muốn tranh thủ thời gian tập kết các bộ lạc, tổ chức quân đội lớn mạnh, hiện tại ba mươi ngàn kỵ binh người Đê đã đến nơi, Dương Thiên Vạn không còn sợ hãi nữa, lúc này, y khát vọng chiến đấu với quân Hán một trận, chỉ là năm mươi nghìn người thôi mà, ba mươi ngàn kỵ binh của y đủ để quét sạch quân địch.

Một gã kỵ binh chạy như bay vào đại trướng bẩm báo:

- Khởi bẩm Đại vương, quân Hán đã tiến sát cách ba mươi dặm rồi ạ!

Dương Thiên Vạn cười lớn đứng dậy, giây phút làm thịt quân Hán đến rồi, y hét lớn:

- Truyền mệnh lệnh của ta, tất cả kỵ binh lên ngựa chuẩn bị chiến đâu!

……

Lúc này, Lưu Cảnh dẫn chủ lực quân Hán tới cách đại doanh Đê Hồ hai mươi dặm nữa, phía trước là thảo nguyên mênh mông bát ngát, Lưu Cảnh dường như cảm thấy được điều gì đó, hắn chăm chú nhìn phía xa một lát rồi khoát tay ra lệnh:

- Bày trận!

Tiếng trống gõ vang, mấy chục ngàn quân Hán triển khai trận hình, năm mươi máy bắn đá khổng lò xếp thành một hàng, sau máy bắn đá là sáu ngàn tên nỏ, sắp thành ba hàng, sáu ngàn bộ quân giương cung lên, mũi tên lạnh lùng nhắm thẳng phía trước.

Phía sau nỏ binh là tám ngàn bộ binh trọng giáp, sau nữa là ba mươi ngàn quân trường mâu chủ lực, rất lạ là năm ngàn kỵ binh quân Hán lại không tìm thấy trong đội ngũ.

Bốn vạn năm ngàn quân Hán nghiêm chỉnh đứng chờ, gió lớn thổi tung bay vương kỳ của nước Hán, Lưu Cảnh đứng dưới đại kỳ, lạnh lùng nhìn chăm chú phía trước, lúc này hắn đã nhìn thấy một đường màu đen rất dài.

Hắn nhìn sắc trời, đã là lúc xế chiều rồi, trận chiến này nhất định phải kết thúc trước khi trời tối, mấy chục ngàn kỵ binh Đê Hồ càng lúc càng tiến gần, đại chiến nổ ra.

……

Tiếng chân như sấm, đại địa chấn động, kỵ binh Đê Hồ ngày một tới gần, một ngàn bước, tám trăm bước, sáu trăm bước, bốn trăm bước… đã dần dần áp sát tầm bắn của máy bắn đá.

Máy bắn đã của quân Hán đã phát động, liên tiếp kình phong vang lên, mấy chục khối đá lớn bay lên không trung tạo thành trận mưa đá dày đặc trên bầu trời, phát ra tiếng vang kinh dị, gào thét rơi xuống đỉnh đầu đám kỵ binh Đê Hồ.

Một đám kỵ binh Đê Hồ chạy trên cùng ngã xuống ngựa, đá lớn đập trúng binh lính, đầu người trong nháy mắt bị đập bay đi, máu thịt lẫn lộn, chiến mã bị ném trúng kêu thảm ngã sấp xuống, đè chết đám binh lính đang ngồi trên ngựa, đá lớn lăn lông lốc giữa những tiếng kêu gào thảm thiết, tử thương vô số.

Một trận mưa đá đã làm cho hơn ba trăm kỵ binh tử thương, khiến cho bộ dạng kiêu ngạo điên cuồng của đám kỵ binh Đê Hồ bị áp chế, nhưng bọn chúng vẫn không ngừng tiến công, người trước ngã xuống người sau tiến lên, tiếp tục lao vào đại doanh quân Hán, đợt mưa đá thứ hai đổ tiếp xuống, lại là một đám người ngã ngựa, lúc này, quân tiên phong của bọn chúng cách đại doanh quân Hán chưa tới mười bước.

Nỏ binh của quân Hán được phát động, một tiếng trống vang lên, sáu ngàn cung nỏ đồng thời b*n r*, mưa tên dày đặc bay lên trời, hình thành trận mây tên màu đen dài dằng dặc trên không trung, loáng chốc biến thành điểm đen, ùn ùn bắn xuống đầu đám kỵ binh Đê Hồ.

Kỵ binh Đê Hồ rối rít giơ lá chắn ra đỡ, nhưng tên nỏ của quân Hán hùng bá thiên hạ, không chỉ vì tầm bắn xa mà lực đạo mạnh mẽ, tấm chắn và áo giáp bình thường cơ bản không ngăn nổi, đặc biết là ném bắn từ không trung xuống, khi mũi tên hạ xuống càng mang theo trọng lực của nó khiến cho tấm chắn gỗ của kỵ binh Đê Hồ trở thành vật trang trí mà thôi.

Tên nỏ thấu giáp với lực đạo mạnh mẽ và nặng đã xuyên thủng tấm chắn của kỵ binh, bắn thủng áo giáp, kỵ binh trúng tên ào ào rớt khỏi ngựa, tiếng k** r*n khắp nơi, lập tức đợt tên thứ hai, thứ ba như mưa rơi gào thét bay tới, dày dặc khiến mọi người không thở nổi, mũi tên dài b*n r* xuyên thủng tấm chắn, bắn thủng mặt và ngựa của quân địch.

Đám kỵ binh Đê Hồ này như thể bị bão tố tàn phá hoa mầu, ngã xuống từng mảng, máu me văng tung tóe khắp nơi, binh lính chết trong tiếng k** r*n bi thảm, khí thế của kẻ địch biến mất nhanh chóng, mười ngàn kỵ binh bắt đầu dao động, tháo chạy, tứ tung bốn phía, giống như kình phong thổi bay mây đen, chỉ một lát mây đã tan biến, lần tấn công đầu tiên của kỵ binh Đê Hồ đã bị tan giã, bọn chúng bị đánh trầm trọng, quân Hán vẻn vẹn chỉ bắn hai đợt tên mà mười ngàn kỵ binh đã giảm mất ba phần, gần ba nghìn người chết.

Dương Thiên Vạn đứng phía sau xem cuộc chiến phải rít lên từng hồi, y chưa từng nhìn thấy cung tiễn mạnh mẽ bá đạo như thế, tầm bắn cung tiễn của người Đê chênh lệch quá xa so với quân Hán, dù sao cũng tiễn cũng không phải là điểm mạnh của người Đê, người Đê giỏi cưỡi ngựa bắn cung ở cự ly ngắn, ngay cả người Khương giỏi cung tiễn cũng không thể so được với cung tiễn của quân Hán, Dương Thiên Vạn sợ hãi khiếp vía.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 715: Tàn sát người Hồ ở thảo nguyên


Nhuệ khí của kỵ binh Đê Hồ đã biến mất sạch dưới tên nỏ mạnh mẽ của quân Hán, khẩu hiệu bảo vệ quốc gia hô vang ban nãy cũng tan tành theo mây khói, mọi người đều bất an xem xét đường lui của mình, bọn chúng vốn đều là dân du mục bình thường, làm thế nào bảo vệ tài sản nhỏ bé của mình mới là việc lớn hàng đầu mà bọn chúng quan tâm.

Trong khi cảm xúc giết địch mãnh liệt biến mất trong trận mưa tên tanh mùi máu, bắt đầu khiến bọn chúng có cảm giác sợ hãi, rất nhiều người đều đổ dồn ánh mắt hoài nghi về phía Dương Thiên Vạn, tại sao khi tiến công lão lại trốn ở phía sau, sau khi tình cảm mạnh mẽ và điên cuồng của kỵ binh Đê Hồ vô tình bị trận mưa tên của quân Hán đánh tan, bọn chúng đã bắt đầu tỉnh táo lại.

Nhưng điều này nằm trong dự liệu của Dương Thiên Vạn, lão biết ý chí chiến đấu của người Đê dễ bị tiêu tan, quy chỉ có lấy người nhà của bọn chúng ra làm con tin, chúng mới liều mạng chiến đấu với quân Hán.

Dương Thiên Vạn chỉ chiến đao về phía lều trại xa tít tắp phía sau, hét lớn:

- Thê nữ phụ mẫu của các ngươi đều ở phía sau, nếu các ngươi không liều mạng, ai sẽ bảo vệ thê nữ của các ngươi? Bọn họ sẽ trở thành nô lệ của người Hán, cha mẹ các ngươi bị giết, thê tử bị dâm nhục, con cái bị bán đi, đầu của các ngươi trở thành chiến quả của quân địch, treo tít trên cây tre thật cao.

Giọng nói khàn khàn của Dương Thiên Vạn vang dội trên thảo nguyên, từng câu lão nói đều làm lay động kỵ binh Đê Hồ một cách sâu sắc, khiến ý chí chiến đấu vừa mới biến mất của bọn chúng lại lần nữa bùng cháy lên.

Mấy chục ngàn kỵ binh giơ đao hô lớn:

- Quyết không lui bước!

Dương Thiên Vạn một lần nữa vung đao hô to:

- Vì vinh dự của thảo nguyên, đánh bại bọn chúng, giết sạch quân Hán!

- Giết sạch quân Hán!

Mấy chục ngàn người hô vang, chiến mã phi nhanh, mấy chục ngàn kỵ binh như từng mảng mây đen, gào rít lao đến trong cơn cuồng phong thổi mạnh, mặt đất rung lên bần bật, thảo nguyên đang nỉ non.

……

Lưu Cảnh đứng trên một đồi cỏ thấp lạnh lùng nhìn kỵ binh Đê Hồ ùn ùn kéo đến, mặt hắn lộ vẻ tươi cười tàn khốc.

- Quân cung nỏ lui về phía sau, bộ binh trọng giáp chuẩn bị!

Sáu ngàn quân cung nỏ lui về phía sau như thủy triều, giống hết như màn trướng được kéo ra, lộ ra tám ngàn bộ binh trọng giáp xếp hàng ngay ngắn phía sau, bọn họ xếp thành tám phe, mỗi hàng có một ngàn quân.

Bọn chúng trông đều lực lưỡng, cực kỳ khỏe mạnh, tay cầm một thanh Trảm Mã Đao dài hai trượng, trên người mặc giáp trụ lấp lánh ánh sáng, trên mặt chỉ lộ ra đôi mắt lạnh lùng khác thường, như thể đám thợ săn, lạnh lùng nhìn chằm chằm con mồi rơi vào bẫy.

Phía sau tám ngàn bộ binh trọng giáp là ba mươi ngàn quân trường mâu, trong tay mỗi người nắm cây mâu sắc dài một trượng năm thước, xếp thành ba phương trận khổng lồ, chủ tướng Ngụy Diên đã truyền đạt mệnh lệnh của Hán Vương, đánh bọc sườn kỵ binh Đê Hồ từ sau lưng để ngăn chặn bọn chúng trốn thoát.

- Tùng!

Tiếng trống vang lên, thong thả mà mạnh mẽ.

- Tùng! Tùng!

Tiếng trống có phần nặng nề, bộ binh trọng giáp từng bước ép sát kỵ binh Đê Hồ đang xông tới, từng bước đi đều làm mọi người khiếp vía, từng bước đi khí thế như núi.

Lúc này, Dương Thiên Vạn trong kỵ binh Đê Hồ hô to một tiếng:

- Xông lên!

Đám kỵ binh Đê Hồ bỗng tăng tốc, bọn chúng biết chỉ có giết lui quân địch mới có hy vọng sống, bản năng bảo vệ người thân khiến chúng liều mạng, bọn chúng giơ cao trường đao, múa may trường mâu, điên cuồng tấn công quân Hán, giống như gió bão mưa rào rào lao đến, bộ binh trọng giáp lại đứng bất động như ngọn núi sừng sững.

Lưu Hổ người mặc trọng giáp, tay cầm Trảm Mã Đao dài một trượng chín thước, toàn thân chỉ lộ ra hai con mắt, ánh mắt cực kỳ lạnh lẽo, đằng sau hắn là tám nghìn bộ binh trọng giáp đứng xếp thành hàng.

Tám ngàn bộ binh trọng giáp xếp mỗi hàng một ngàn người, tổng cộng sáu mươi hàng, trước sau cách xa nhau một trượng, toàn bộ đã thay trọng giáp, tám người người xếp hàng chỉnh tề như tường đồng vách sắt, sát khí hào hùng.

Tốc độ của kỵ binh Đê Hồ càng lúc càng nhanh, tiếng vó ngựa như sấm rền, khí thế hệt như sóng to gió lớn, cuốn phăng tất cả, làm tan tác tất cả, lao về phía binh lính quân Hán phòng ngự dày đặc với sự dữ dằn không gì đỡ nổi.

Ba hàng bộ binh trọng giáp đầu tiên của quân Hán liền ngồi xuống, tập trung sát vào nhau, chuôi đao cắm xuống mặt đất, ba nghìn chuôi đao giống hệt như rừng đao dày đặc.

Đám kỵ binh như cuồng phong bão táp tiến đến trước mặt quân Hán, chiến thuật của kỵ binh là muốn phá bỏ trận hình của quân địch, tiến vào thủ phủ của địch.

Nhưng bọn chúng lại nhìn thấy rừng trường đao sáng lấp lánh, lưỡi nhọn sắc ngắm trúng lồng ngực bọn chúng, kỵ binh phía trước đã không kịp trở tay, hoảng sợ hét lớn, không ít kẻ nhằm nghiền hai mắt lại.

Máu me văng khắp nơi, tiếng kêu thảm thiết vang vọng thảo nguyên, lực tấn công mạnh mẽ của kỵ binh Đê Hồ không xâm nhập được vào trận hình của quân Hán, trái lại còn bị chặn đứng bởi ba nghìn Trảm Mã Đao sắc bén, gần ba nghìn kỵ binh đã phải trả giá thê thảm, bọn chúng bị lưỡi dao đâm thủng.

Lưu Hổ giơ cao Trảm Mã Đao lên, tám ngàn bộ binh trọng giáp đồng thời phát ra một tiếng hô long trời lở đất:

- Giết!

Lưu Hổ vung Trảm Mã Đào, tám ngàn bộ binh trọng giáp đã phát động thế tấn công, khí thế ngưng trọng như núi, từng bước lao vào đám kỵ binh Đê Hồ đông ùn ùn kia.

Kỵ binh Đê Hồ cũng múa may trường mâu, đâm về phía bộ binh trọng giáp, cháu trai của Dương Thiên Vạn là Dương Đạt cưỡi ngựa dẫn đầu, gã vung trường mâu, hét lớn một tiếng, đâm về phía tên thủ lĩnh quân Hán có thân hình vạm vỡ.

Thủ lĩnh bộ binh trọng giáp là đại tướng Lưu Hổ, y hét lớn, giơ Trảm Mã Đao hung mãnh đón đầu, đao thế linh hoạt, lập tức bổ cả người Dương Đạt cùng với chiến mã dang xông tới trước mặt y ra thành hai nửa, máu bắn tung tóe, nội tạng tràn lan.

Bộ binh trọng đao vung vẩy trường đao, từng bước tiến lên, đao quang huyết ảnh, lúc bổ lúc đâm, đánh đâu thắng đó, đầu và thân tàn của kỵ binh Đê Hồ lăn lông lốc trên mặt đất, tiếng kêu thảm thiết vang vọng thảo nguyên, ở hai bên của bọn chúng, mũi tên quân Hán bay như châu chấu, khiến bọn chúng chết thảm hại, kỵ binh Đê Hồ bị thương xuống ngựa quỳ gối cầu xin, nhưng vẫn bị bộ binh trọng giáp dàn trận chém thành trăm mảnh, máu chảy thành sông, thi thể chất đầy, tạo nên một cảnh tượng sát sinh trên thảo nguyên.

Trên đồi cỏ, Lưu Cảnh cưỡi ngựa vẫn nhìn chăm chăm cuộc giết hại trên thảo nguyên, mặt không biến sắc, ánh chiều tà đã nhuộm đỏ thảo nguyên, khắp nơi là những tiếng kêu thảm thiết tuyệt vọng, tiếng la khóc thê lương cùng vang lên, Lưu Cảnh không nhúc nhích, Vương Bình đứng bên cạnh không đành lòng liền khẽ khuyên nhủ:

- Điện hạ, không bằng chấp nhận cho chúng đầu hàng đi!

Lưu Cảnh lạnh lùng liếc nhìn Vương Bình khiến y không dám nói tiếp nữa.

- Truyền lệnh của ta, kỵ binh xuất kích!

……

Một ngọn hỏa tiễn được bắn cao lên trời, vạch ra một đường khói đen sì rất dài, đây là mệnh lệnh xuất kích, phía sau đồi cỏ cách mười mấy dặm, tám ngàn kỵ binh quân Hán đã tập kết từ lâu đợi lệnh, khi vệt khói đen này được vạch lên bầu trời, Mã Siêu thét lớn:

- Xuất kích!

Tám ngàn kỵ binh đồng thời phát ra tiếng hò hét, chiến mã lao nhanh, trường mâu lấp lánh, ùn ùn kéo về phía đại doanh người Đê, đại doanh người Đê ở cách đó mười dặm, chỉ có chưa đến ba ngàn kỵ binh bảo vệ, khi kỵ binh quân Hán đông nghìn nghịt xuất hiện ở cách đó không xa, cả đại doanh như ong vỡ tổ, phụ nữ ôm trẻ nhỏ liều mạng chạy trốn, người già quỳ xuống đất khẩn cầu ông trời, số đông hơn là trốn trong lều trại, cuộn mình trong góc lều run rẩy.

Ba ngàn kỵ binh người Đê lao lên ứng chiến, nháy mắt đã đụng độ với kỵ binh quân Hán, kỵ binh quân Hán chia làm hai đường, Mã Siêu dẫn năm ngàn kỵ binh chiến đấu kịch liệt với người Đê, Mã đại dẫn ba ngàn kỵ binh xông vào đại doanh người Đê, chiến mã phi nhanh, đại trướng quay cuồng, kỵ binh chạy gấp đuổi theo đám phụ nữ và trẻ em chạy trốn, nhanh chóng vây quannh ép bọn họ quay về đại doanh.

Bên ngoài đại doanh, Mã Siêu chỉ huy kỵ binh quân Hán kết thành từng trận hình, tách rời kỵ binh Đê Hồ để đánh, kỵ binh quân Hán về kỹ thuật cưỡi ngựa có lẽ không bằng đối phương, chiến đấu đơn độc cũng sẽ yếu hơn đối phương, nhưng bọn họ được huấn luyện nghiêm chỉnh, trận hình chỉnh tề, lợi dụng sức mạnh tập thể chiến đấu với Đê Hồ, hiệu quả tác chiến hoàn toàn khác nhau, huống hồ binh lực quân Hán vượt xa đối thủ.

Tiếng la khóc vang lên khắp đại doanh, tiếng cầu khẩn không ngớt, tiếng khóc rung trời khiến cho kỵ binh Đê Hồ không còn lòng dạ chiến đấu, lần lượt quay đầu ngựa chạy về phía đại doanh, nhưng lại bị kỵ binh quân Hán bao vây, trường mâu chọc ngược xuống ngựa, mũi tên nhanh như sét đánh, trường đao chém xuống, máu me phụt ra, kỵ binh người Đê chết thê thảm, ngoài cách vứt trường mâu đầu hàng ra thì bọn chúng không còn lựa chọn nào khác.

Sắc trời đã gần đến lúc hoàng hôn, xa xa cuộc chiến trên chiến trường chinh đã tới hồi gay cấn nhất, kèn lệnh nức nở, chiến mã hí liên hồi, trường đao kêu leng keng, tiếng vó ngựa như sấm, Trảm Mã Đao vung chém, máu me tràn ngập, khắp mặt đất là đầu người lăn lông lốc và những thân thể cụt tay cụt chân, chất đầy thảo nguyên, tám ngàn bộ binh trọng giáp tiến lên như tường đồng vách sắt, giết cho người Đê Hồ ngã ngựa, liến tiếp bại lui, còn ba mươi ngàn trường mâu kết thành ba trận hình lớn, bọc đánh từ phía sau, cắt đứt đường chạy trốn của kỵ binh Đê Hồ.

Kỵ binh Đê Hồ đã chết hơn mười ngàn người, sĩ khí đê mê, dấu hiệu bại trận xuất hiện, Dương Thiên Vạn căng thẳng trong đội ngũ, bất kể y gào lớn thế nào cũng vô dụng tiếng kêu thảm thiết trên chiến trường đã che mất giọng khàn khàn của y.

Đúng lúc này, một gã kỵ binh chạy tới, khóc lóc bẩm báo:

- Đại vương, kỵ binh quân Hán đã xông vào đại doanh chúng ta, lính bảo vệ chết thê thảm, không ngăn cản được.

Dương Thiên Vạn lập tức sợ ngây người ra như bị sấm sét đánh trúng, ba đứa con nhỏ của y đều ở trong đại doanh, Dương Thiên Vạn quát to như phát điện, quay đầu ngựa chạy về, hàng trăm kỵ binh thị vệ cũng chạy theo y, bọn chúng chạy từ ra từ đường nối giữa hai phương trận trường mâu ở góc tây nam, hướng về đại doanh người Đê.

Nhưng chỉ chạy được vài dặm, đã có một nhóm ba nghìn kỵ binh nghênh đón, đại tướng dẫn đầu chính là Mã Siêu, họ chuẩn bị tập kích kỵ binh Đê Hồ từ phía sau lưng, nhưng vừa hay gặp Dương Thiên Vạn, Mã Siêu liếc một cái nhận ra Dương Thiên Vạn liền hô to:

- Hồ tù trưởng đừng chạy!

Y thúc ngựa chạy lên trước, đỉnh thương đâm xuống, Dương Thiên Vạn biết Mã Siêu, lập tức sợ đến nỗi hồn vía bay lên mây, quay đầu bỏ chạy, nhưng đã muộn rồi, chỉ chạy được mười mấy bước đã bị Mã Siêu đuổi kịp, Dương Thiên Vạn hô lớn:

- Mã đô đốc, nể giao tình trước đây, tha ta một mạng!

Mã Siêu cười nhạt một tiếng:

- Ngươi đi thương lượng với Diêm vương đi!

Y liền đâm một thương xuyên vào ngực Dương Thiên Vạn khiến lão mất mạng, ngã xuống ngựa, Mã Siêu tiến lên cắt đầu lão, sai người dắt Ngọc Long bảo mã của Dương Thiên Vạn đi, thị vệ của Dương Thiên Vạn thấy chủ công đã chết đều không còn muốn chiến đấu, chạy tán loạn bốn phía nhưng bị kỵ binh quân Hán bao vây, dưới trận mưa tên dày đặc, kỵ binh Đê Hồ chết hơn phân nửa, mấy chục người còn lại sợ đến nỗi xuống ngựa đầu hàng.

Lúc này, tin tức đại doanh người Đê bị quân Hán tập kích đã lan truyền khắp chiến trường, tin tức này như sấm sét bất ngờ giáng xuống, làm chút sĩ khí cuối cùng của kỵ binh Đê Hồ nhanh chóng sụp đổ, tất cả mọi người đều quay đầu ngựa, liều chết chạy trốn nhưng bị quân trường mâu và quânđao thuẫn bao vây, cùng đường, mũi tên bên ngoài liên tục b*n r*, khiến cho kỵ binh Đê Hồ chết thê thảm, lòng quân hoàn toàn tan rã.

Lúc này, Lưu Cảnh ra lệnh kết thúc chiến dịch:

- Kẻ đầu hàng có thể miễn tội chết, kẻ chống cự giết tất bất luận tội!

Trong tiếng hô vang của quân Hán thúc giục đầu hàng, đám kỵ binh người Đê tuyệt vọng lần lượt xuống ngựa quỳ xuống đầu hàng, hơn nghìn tên lính không muốn đầu hàng, chuẩn bị phá vây chạy trốn cũng bị mấy nghìn bộ binh trọng giáp bao vây, chém giết sạch.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 716: Lại đánh Phu Hãn


Chiến tranh cuối cùng đã kết thúc khi trời vừa mới tối lại, ba vạn kỵ binh Đê Hồ bị chém giết một vạn năm ngàn người, còn lại hơn một vạn người toàn bộ thành tù binh, không chỉ có thế, gần hai vạn người Đê già, trẻ, phụ nữ cũng trở thành tù binh của quân Hán, giành được đại tháng đầu tiên trong chiến dịch với người Hồ kể từ khi quân Giang Hạ thành lập đến nay, một mẻ lưới bắt sạch bộ lạc người Đông Đê.

Trời đã tối, từng đội trai, gái người Đê bị tước vũ khí, áp giải về phía đất trống đằng sau, hai trăm người ngồi khóc lóc trên thảo khuyên, bọn họ giống như hơn hai trăm ngàn con dê chỉ đợi làm thịt, không còn lựa chọn, số phận của họ sẽ do quân Hán quyết định, bốn phía có tám ngàn kỵ binh quân Hán trông giữ bọn chúng.

Mấy trăm quý tộc người Đê bị giam giữ trong một đại trướng khác, huynh đệ, con cháu của Dương Thiên Vạn đã bị giết sạch, đam quý tộc này là thủ lĩnh các bộ lạc, bọn họ càng sợ hãi hơn, tuyệt vọng chờ đợi giây phút bị giết hại đến.

Trong đại trướng trung quân, Lưu Cảnh đang cùng Bàng Thống và Pháp Chính thảo luận việc sắp xếp cho những người Đê này, giết sạch những phụ nữ và trẻ em tay không tấc sắt này rõ ràng không thực tế lắm, cũng không phải truyền thống của quân Hán, sự chia rẽ hiện giờ là làm thế nào bố trí yên ổn cho họ, dời bọn họ vào đất Thục, dung hợp với dân Hán hay để bọn họ tiếp tục ở lại Lũng Tây, khôi phục cuộc sống trước đây của họ.

Lưu Cảnh thiên về cách dời bọn họ vào đất Thục, nhưng Bàng Thống và Pháp Chính lại nhất trí cho rằng nên giữ bọn họ ở lại Lũng Tây, Bàng Thống nói:

- Điện hạ có nghĩ tới không, ở Lũng Tây còn có những người Hồ như người Khương, người Thổ Cốc Hồn, Hung Nô, Tây Đê v.v…, dời những người Đông Đê này đi thì khoảng trống để lại lập tức sẽ bị người Hồ khác thế vào, trái lại sẽ cổ vũ người Hồ khác lớn mạnh, chi bằng để cho bọn họ ở lại Lũng Tây, để người Hồ ở đây đa dạng hóa, cũng có lợi cho sự thống trị của chúng ta, mấu chốt là biến những người Hồ này thành dê, để Đê Hồ trở thành dê Đê, trở thành con dân của chúng ta, có lợi cho nguồn gốc chiến mã và súc vật của chúng ta.

- Sĩ Nguyên nói không sai!

Pháp Chính cũng bổ sung:

- Bọn họ là người Hồ, quen với cuộc sống du mục, rời bọn họ tới đất Thục, có thích ứng được với nông canh không là một chuyện, mấu chốt là đa số họ là phụ nữ và trẻ em, còn cần quan phủ bỏ tiền bạc lương thực ra chăm sóc họ, ngược lại gia tăng thêm gánh nặng cho quan địa phương, nếu như đề dính dáng tới phân chia đất đai, còn sẽ khiến người Thục căm thù, gây nên xung đột, ty chức cũng không tán thành cưỡng chế Hán hóa bọn họ, nên làm từ từ.

Lưu Cảnh gật đầu, lại quay sang hỏi Mã Siêu:

- Ý kiến của Mạnh Khởi thế nào?

Mã Siêu thản nhiên đáp:

- Biên cương nước Hán đều là con dân của Điện Hạ, hà cớ gì để ý đến Hán hay Hồ?

Lưu Cảnh thấy ba người đều không chủ trương di dân nên hắn cũng không kiên trì nữa, liền nói với thị vệ:

- Đi gọi trưởng lão mấy bộ lạc chính đến đây.

Không lâu sau, năm vị trưởng lão bộ lạc lớn tuổi được đưa vào đại trướng, bọn họ quỳ xuống khóc không ra tiếng:

- Khẩn cầu Hán Vương điện hạ tha mạng cho bộ tộc chúng tôi, đừng giết chúng tôi!

- Ta vốn không muốn giết người, nhưng các ngươi hết lần này đến lần khác đối địch với ta, giúp kẻ xấu làm điều ác, là các ngươi tự chuốc vạ vào mình thôi!

Lưu Cảnh lạnh lùng nói.

Một lão già cầm đầu dập đầu nói:

- Hồi bẩm điện hạ, chúng tôi cũng là bị Dương Thiên Vạn h**p bức, hơn nữa lão mê hoặc dân du mục trẻ tuổi chúng tôi, nói quân Hán muốn cướp bãi cỏ, đoạt thê nữ và giết hại người già chúng tôi, thanh niên bị lão lừa gạt, vì bảo vệ thê nhi và quê hương mới đánh nhau với quân Hán, bọn họ tuyệt đối không phải trời sinh muốn đối đầu với quân Hán, chỉ cần Điện hạ cho chúng tôi một cơ hội, chúng tôi nguyện quy hàng Điện hạ, trở thành con dân của Điện hạ.

- Chúng tôi nguyện quy hàng Điện hạ!

Các trưởng lão phía sau lần lượt hòa theo.

Lưu Cảnh thấy lão già này suy nghĩ rõ ràng, tiếng Hán lưu loát liền hỏi:

- Ngươi tên là gì? Là trưởng lão của bộ lạc nào?

- Hồi bẩm Điện hạ, tiểu lão tên là A Quý, là thủ lĩnh của bộ lạc Cừu Trì.

Mã Siêu ở bên cạnh bổ sung thêm:

- Cừu Trì là bộ lạc người Đê lớn thứ hai chỉ xếp sau bộ lạc Hưng Quốc, trưởng lão A Quý rất đáng tin cậy.

Lưu Cảnh trầm ngâm chốc lát nói tiếp:

- Các ngươi đã muốn trở thành con dân nước Hán, ta cũng không giết hại các ngươi nữa, ta có thể tha cho các ngươi một con đường sống, cũng sẽ không chiếm đoạt tài sản của các ngươi, nhưng ta có hai điều kiện, thứ nhất, các người phải thực hiện lời hứa trước đây của Dương Thiên Vạn, dâng mười ngàn chiến mã và ba trăm ngàn con dê cho quân Hán, tiếp theo, tất cả thiếu niên quý tộc dưới mười bốn tuổi đều phải tới Thành Đô học, sau mười tám tuổi có thể quay lại Lũng Tây.

Năm vị trưởng lão vô cùng xúc động, dập đầu lạy ta, A Quý nói:

- Chúng tôi hoàn toàn đáp ứng yêu cầu của Hán Vương, mặt khác ở bãi cỏ Tây Sơn chúng ta còn vô số con ngựa, nguyện sẽ chọn tiếp hai mươi ngàn tuấn mã nữa để hiến tặng cho Hán Vương điện hạ!

Lưu Cảnh cũng hài lòng với thái độ của bọn họ liền gật đầu đáp:

- Đã như vậy thì dê có thể giảm xuống một trăm ngàn con, từ hôm nay trở đi, A Quý là Đê Vương, thay thế cho Dương Thiên Vạn, mặc khác, quan Hán sẽ bảo vệ các ngươi không bị người Khương ức h**p.

Năm lão già nhìn nhau, không ngờ quân Hán lại đồng ý bảo vệ bọn họ khỏi sự ức h**p của người Khương, cả năm người đều rơi lệ nói:

- Sớm biết Hán Vương ân đức như thế này, chúng tôi tội gì để cho Dương Thiên Vạn lừa gạt, chết vô ích nhiều con cháu như vậy, chúng tôi xin thề ở đây, tuyệt đối không hai lòng, nguyện đời đời làm con dân Đại Hán.

Năm trưởng lão cắt cổ tay lấy máu xin thề, Lưu Cảnh mừng rỡ, chính thức sắc phong cho A Quý làm Đê Vương mới, tối hôm đó, Lưu Cảnh hạ lệnh thả người Đê về nhà, trả lại tài sản của họ, hơn hai trăm ngàn người Đê thu dọn lều trại và tài sản trong tiếng khóc cảm kích, dưới sự dẫn dắt của tân Đê Vương A Quý, bon họ cung bầy dê quay về đồng cỏ quê hương họ.

Quân Hán lập tức giết dê nấu rượu, khao thưởng tam quân, sau hai ngày nghỉ ngơi chỉnh đốn, năm mươi ngàn quân Hán tiếp tục tây tiến, trùng trùng điệp điệp hướng về thành Phu Hãn, phát động tấn công người Tây Đê.

Người Tây Đê có điểm khác biệt với người Đông Đê, thủ lĩnh của người Tây Đê Tống Kiến là một cường hào người Hán ở Lũng Tây, ba mươi năm trước gây chiến ở Phu Hãn, dần dần chinh phục hơn hai trăm bộ lạc lớn nhỏ của Tây Đê và người Thổ Cốc Hồn ở vùng Hà Hoàng, xây dựng một đội quân tám vạn người, nhiều lần đánh bại quan binh tới, cuối cùng triều đình đã ngầm đồng ý sự tồn tại của lão.

Tống Kiến thù hận nhà Hán, tự lập là Bình Hán Vương, thành lập chính quyền Vương phủ, sắc phong Vương hậu, Vương tử, cũng lập ra các chức quan như Thượng thư, Thị trung, thống trị địa phương, thực tế lão đã là chính quyền cát cứ tồn tại ba mươi năm rồi.

Phu Hãn là một thành đá kiên cố chu vi hơn mười dặm, bên trong xây dựng hoàng cung và phủ đệ của các đại thần rực rỡ huy hoàng, cuộc sống có hàng ngàn vạn nô lệ hầu hạ bọn chúng, trong vương cung địa cung chất đống vô số vàng bạc châu báu, cùng với da lông quý giá chất cao như núi, ngoài ra còn có ba mươi ngàn quân đội đóng giữ, trong kho hàng chất giữ lượng lớn lương thực, đủ để quân đội dùng một năm.

Tống Kiến từ đầu đã muốn liên hợp với Dương Thiên Vạn đối phó sự tấn công của quân Hán, nhưng vì giữa bọn họ có thù hận rất sâu, cộng với Dương Thiên Vạn tự tin có thể đánh bại quân Hán vì thế liên minh giữa bọn chúng không thành, lúc này, Tống Kiến đã nghe được tin Dương Thiên Vạn bị bại trận đã chết, lão vô cùng sợ hãi, lập tức lệnh cho hai đứa con trai Tống Kỳ và Tống Lân cầm kim tiễn của lão tới các bộ lạc, triệu tập quân đội chi viện cho thành Phu Hãn.

Nhưng tình thế dường như có chút bất ổn, đã năm ngày trôi qua mà viện quân các bộ lạc vẫn trì trệ chưa tới, Tống Kiến chắp tay đi lại trên đầu thành, nóng ruột như kiến bò trên chảo nóng.

Tống Kiến năm nay khoảng sáu mươi tuổi, lúc còn trẻ dáng người bậc trung, tướng mạo xấu xí, giờ đã qua tuổi sáu mươi, trở thành một lão già gày bé, mặc vương bào được dệt từ tơ vàng ngọc sợi, đầu đội vương miện nam hàng trăm viên đá quý, mặc dù dáng người nhỏ gầy nhưng có đến mấy chục thê thiếp, sinh hạ hàng trăm người con, có tài sản nhiều vô số kể, có lẽ là vì con cái và của cái quá đông làm cho lão có quá nhiều vướng bận, không thể rời khỏi thành Phu Hãn được.

Lúc này, có binh lính chỉ về phía xa hô to:

- Vương gia, Nhị vương tử đã trở về!

Tống Kiến ghé nhìn vào lỗ châu mai, chỉ thấy con trai thứ Tống Lân dẫn theo mười mấy người nhếch nháng chạy về, lão ngây người, sao không có quân đội? Tống Kiến lập tức hạ lệnh:

- Dẫn hắn đến gặp ta!

Không lâu sau, mấy tên thị vệ dẫn Tống Lân vào thành, Tống Lân quỳ gối trước mặt phụ thân kêu khóc:

- Hài nhi suýt nữa bị giết, không còn được gặp lại phụ thân.

- Xảy ra chuyện gì, con mau nói đi!

- Hài nhi đi triệu tập quân đội người Đê, không ngờ trước đó A Quý đã phái người chạy đi các bộ lạc truyền tin, bảo bọn họ đừng chống cự quân Hán, những bộ lạc này nghe theo lời mê hoặc của A Quý, không chịu xuất binh nữa, trái lại còn nhốt hài nhi, chuẩn bị dâng lên Lưu Cảnh, may mà tùy tùng liều chết cứu giúp, hài nhi mới trốn về được.

Tống Kiến nghe được há hốc mồm, lão còn trông cậy vào ba mươi ngàn quân đội người Đê tới chi viện nhưng hiện giờ không có nữa rồi, lão cực kỳ nóng ruột, quay đầu ra lệnh:

- Nhanh chóng phái người đi Hoàng Trung tiếp ứng Trưởng công tử.

Vừa dứt lời, đằng xa lại có kỵ binh chạy về, đó là tùy tùng của con cả Tống Kỳ, tên tùy tùng hoảng sợ hô lớn dưới thành:

- Vương gia, Trưởng công tử xảy ra chuyện rồi.

Đứa con cả Tống Kỳ là đứ con Tống Kiến yêu mến nhất, là Thái tử kế thừa sự nghiệp của lão, nghe nói con trai gặp chuyện, mắt lão tối sầm lại, suýt nữa ngã sấp xuống, lão đỡ lấy lỗ châu mai, vội sai người dẫn tùy tùng tới, tên tùy tùng quỳ trên mặt đất rơi lệ nói:

- Bọn tại hạ theo Trưởng công tử tới Hoàng Trung lệnh cho Thổ Cốc Hồn xuất binh, nhưng bọn họ lại tìm đủ cách thoái thác, không chịu xuất binh, bọn tại hạ đành phải quay về, giữa đường gặp phải một nhóm kỵ binh quân Hán, Trưởng công tử bị loạn tiễn bắn chết, phần lớn huynh đệ đều chết hết rồi, chỉ còn mấy người chạy thoát được.

Tống Kiến quát to một tiếng, ngửa mặt ngã quỵ, thị vệ vội cứu lão tỉnh lại, Tống Kiến nước mắt rơi như mưa, nghiến răng nghiến lợi:

- Không trả được thù này, Tống Kiến ta thề không làm người!

Lão cởi bỏ vương bào, thay áo giáp, dẫn ba vạn quân ngày đêm tuần tra ở đầu thành, Tống Kiến mặc dù là Tây Đê Vương, nhưng kỵ binh phải dựa vào người Đê và Thổ Cốc Hồn, hiện giờ hai nhà đều không muốn xuất binh, làm lão mất đi sự trợ giúp kỵ binh, chiến mã trong thành chưa đến ngàn con, binh lính trong thành đa số là bộ binh người Hán, Tống Kiến biết rõ ba vạn quân đội trong thành không phải là đối thủ của quân Hán, lão chỉ có thể dựa vào thành trì cao lớn kiến cố và lương thảo đầy đủ để giằng co với quân Hán, cuối cùng quân Hán sẽ không đánh mà lui.

Đây là bí quyết giúp Tống Kiến mấy chục năm nay nhiều lần đánh bại quân đội triều đình đến tiễu trừ, lần nào cũng đúng, lần này, lão vẫn muốn lợi dụng bí quyết này đánh bại quân Hán của Lưu Cảnh, sau đó tiếp tục đi thu thập lũ người Đê và người Thổ Cốc Hồn dám phản bội lão.

Buổi chiều ngày thứ bảy, chủ lực của quân Hán cuối cùng đã xuất hiện, từ xa từng đợt trống trận vang lên, chỉ thấy quân Hán thanh thế lớn mạnh chầm chậm tiến đến thành Phu Hãn, Tống Kiến hô lớn:

- Tất cả quân đội vào chỗ, cung tiễn thủ chuẩn bị!

Ba vạn quân đội dàn đầy đầu thành, cung tiễn dày đặc nhắm thẳng vào năm mươi ngàn đại quân cách đó mấy dặm, Lưu Cảnh ghìm chặt chiếm mã dưới tinh kỳ phủ rợp trời đất, hắn lạnh lùng dò xét thành đá kiên cố phía trước, hắn có kinh nghiệm công thành vô cùng phong phú, tòa thành này làm hắn cười nhạt một tiếng, lập tức hạ lệnh:

- Truyền lệnh của ta, toàn quân trú doanh tại chỗ!
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 717: Bình định Lũng Tây


Quân đội trên đầu thành bất an nhìn quân Hán hạ đại doanh ở bên ngoài, đại doanh với thanh thế đồ sộ kéo dài hơn mười dặm, đây là lần đầu tiên trong mấy chục năm nay bọn chúng nhìn thấy quan binh quy mô khổng lồ như thế.

Mấy năm trước đây, cũng có không ít lần quan binh tới bao vây tiễu trừ, nhưng nhiều nhất là hơn mười ngàn quân, thậm chí chỉ có mấy ngàn người, không quy mô và khí thế như hôm nay.

Đây vẫn chỉ là trí nhớ của một bộ phận cực nhỏ binh lính lớn tuổi, triều đình đã hai mươi năm nay không phái binh tới tiễu trừ bọn họ, đối với lớp binh sĩ trẻ, thậm chí không biết chiến tranh phải đánh thế nào?

Không ít binh lính đều sợ hãi ngồi chồm hỗm xuống, lấy tay che mặt, sắc mặt Tống Kiến nhợt nhạt nhìn ra đại doanh ngoài thành, lão cũng ý thức được, lần này khác với trước đây, nhưng lão đã không còn lựa chọn nữa rồi.

Cả nhà Dương Thiên Vạn bị xử tử, đó là kết cục của lão,Tống Kiến biết không phải ở chỗ đầu hàng hay không, mà Lưu Cảnh sẽ không dễ dàng tha thứ cho kẻ hay ngáy ở cạnh giường, Dương Thiên Vạn là một trong số đó, rõ ràng Tống Kiến lão cũng thế.

- Phấn chấn lên cho ta!

Tống Kiến vung kiếm hô to:

- Quân địch không có vũ khí công thành, bọn họ không phá được thành trì của chúng ta đâu!

Không ai hô theo lão, trên đầu thành vẫn là không khí lặng ngắt.

Màn đêm dần buông xuống, quân Hán không có bất kỳ hành động công thành nào, binh lính bắt đầu rút về quân doanh trong thành nghỉ ngơi, đầu thành chỉ cón lại năm ngàn binh lính, đúng lúc này, từ trong quân doanh của quân Hán lao ra những bóng đen khổng lồ.

Đây là một trăm máy bắn đá loại lớn, có thể ném những viên đá lớn nặng năm mươi cân từ khoảng cách ba trăm bước vào đầu thành, quân Hán mất một buổi chiều để lắp ráp một trăm chiếc máy như thế này.

Mười con trâu khỏe kéo một chiếc máy bắn đá đi trước cánh đồng bát ngát, cách đầu thành càng lúc càng gần, binh lính trên đầu thành cũng phát hiện ra sự khác thường, bọn chúng to nhỏ thì thầm với nhau, gõ chuông cảnh báo, ‘keng! Keng! Keng!’ tiếng chuông chói tai vang khắp thành Phu Hãn, đám binh lính vừa mới nằm ngủ nhốn nháo dậy, cầm vũ khí chạy tới đầu thành.

Lúc này, binh lính trên đầu thành đều đang căng thẳng nhìn những chiếc máy bắn đá cỡ lớn, ở thành Phu Hãn không có vũ khí phòng ngự như vậy, rất nhiều binh lính đều là lần đầu tiên nhìn thấy.

Một trăm chiếc máy ném đá loại lớn đã được mở ra kêu xèo xèo, bình gốm dầu hỏa khổng lồ đặt trên túi sắt, cùng với một tiếng trống nặng nề vang lên, một trăm chiếc máy bắn đá đồng thời quăng ra những chiếc can dài, bắn trăm bình gốm đựng đầy dầu hỏa lên phía đầu thành.

Tiếng “Cạch! Cạch!” vang lên, bình gốm vỡ vụn, lượng lớn dầu hỏa chảy đầy đầu thành, trong không khí tràn ngập mùi dầu hỏa nồng nặc khó chịu, điều này khiến binh lính đầu thành hoảng sợ bất an, bọn chúng không biết chất lỏng này là gì?

Liên tiếp ba lượt bắn, đã có ba trăm bình dầu hỏa được ném lên đầu thành, dầu hỏa giăng khắp đầu thành phía đông, lúc này, hàng chục quả cầu dầu hỏa bị đốt cháy bay lên không trung, vạch từng đường lửa chói mắt, đập ầm ầm xuống đầu thành, dầu hỏa được đốt lên, lửa nhanh chóng lan ra trong tiếng kêu la cực kỳ kinh sợ của đám quân giữ thành, dần dần, toàn bộ đầu thành đều bị đại hỏa nuốt sống.

Rất nhiều binh lính chạy không kịp, bị lửa cháy nuốt gọn, vô số người lửa đang kêu thảm chạy trốn, rất nhanh, một cái đầu rơi xuống đất, nhưng máy bắn đá của quân Hán vẫn vô tình ném từng bình gốm dầu hỏa lên đầu thành, khiến cho hỏa thế càng thêm mạnh mẽ, nửa canh giờ sau, cả bức tường thành dài vài dặm đều bị lửa nuốt trọn.

Tôn Kiến đứng trên nóc vương cung, trợn mắt há hốc mồm nhìn cảnh tượng này, lão quả thực không dám tin vào mắt mình, đây chính là lửa lớn địa ngục đến nuốt sạch bọn chúng, lão cầm kiếm đi lảo đảo về vương cung, trong vương cung tiếng khóc rung trời, đám thê thiếp và con cái lão chạy trốn tứ tung, Tống Kiến dường như không nhìn thấy gì nữa, đi vào căn phòng của mình, ầm ầm đóng cửa lại.

Cuộc tấn công của quân Hán ngoài thành đã bước vào giai đoạn thứ hai, thành Phu Hãn không sát sông nhưng vẫn đào một con mương cạn, trong mương bố trí kín gai nhọn và sừng hươu, nối liền bởi một cây cầu treo sừng sững.

Lúc này, mấy chục binh lính quân Ưng Kích đá qua được con mương khô hạn, bọn chúng leo lên cầu treo, dùng chiếc búa lớn chém vào khóa sắt trên cầu treo, ánh lửa văng khắp nơi, chỉ trong chốc lát, xích sắt đứt rời, chiếc cầu treo khổng lồ rời xuống ầm ầm, bụi banh tung trời.

Cách đó không xa, một trăm đại hán dáng người vạm vỡ ôm lấy một cây chùy công thành lớn, được chế từ một thân cây ngàn năm tuổi, đường kính sáu thước, dài mười trượng, phía trước bọc bằng gang, cứng chắc vô cùng.

Lửa cháy bừng bừng trên đầu, khói đặc ngút trời, bọn họ không phải lo sẽ có binh lính bắn tên từ đầu thành xuống nữa, trong tiếng thét ra lệnh của Ngụy Diên, hàng trăm đại hán ôm lấy chùy công thành lao về phía trước, bọn họ hét lớn một tiếng, đầu chùy khổng lồ đập vào cửa thành, chỉ nghe tiếng vang long trời lở đất, cửa thành lắc lư rất mạnh, cát đất bên trên đổ rào rào xuống, trên tường thành xuất hiện những khe nứt quanh co.

Đám lính lùi về phía sau, tiếp tục hô to, ôm lấy chùy công thành phi lên trước, một lần nữa đập vào cửa thành, tiếng va đập phát ra dường như khiến lòng người tan nát, cửa thành đã biến đạng, hiện ra những khe hở lớn, có thể nhìn thấy binh lính trong thành đang chạy trốn thục mạng.

- Tiếp tục!

Bọn lính một lần nữa lùi lại phía sau, chùy công thành như giông bão lần thứ ba đập lên cánh cửa chính, cánh cửa không còn chịu được lực va đập nặng mấy chục nghìn cân nên cửa thành đã bị đập pháp, để lộ ra một lỗ đen khổng lồ, từ xa, Lưu Cảnh cười nhạt, đánh hạ tòa thành đá nhìn tưởng kiên cố này không cờ đơn giản vậy, hắn vung chiến đao hạ lệnh:

- Xông vào thành đi!

Năm nghìn kỵ binh xông lên dưới sự chỉ huy của Mã Đại, như nước thủy triều trào dâng, chúng múa may trường mâu và chiến đao lao vào thành Phu Hãn, tiếp đó hai mươi ngàn lính trường mâu cũng xông vào trong thành, quân coi thành phía trong đã bị lửa mạnh dọa vỡ mật, rối rít quỳ xuống đất đầu hàng, quân Hán không gặp phải sự chống cự nào cả, Mã Đại dẫn đầu, chỉ duy hơn một ngàn kỵ binh tiến vào vương cung.

Một canh giờ sau, Lưu Cảnh được sự bảo vệ của mấy trăm kỵ binh đã chậm rãi tiến vào thành Phu Hãn, trong thành đã bị quân Hán khống chế hoàn toàn, từng đội tù binh ủ rũ bị quân Hán áp giải về quân doanh, khắp nơi đều có binh lính quân Hán tuần tra, bọn họ đập phá từng đại môn của phủ đệ, giải hết mọi người trong phủ đi, bắt đầu triệt để lục soát trong phủ, đây là mệnh lệnh của Lưu Cảnh, tiền bạc tìm ra một phần sẽ được dùng để khao thưởng tam quân.

Lưu Cảnh đi vào vương cung, vương cung đã bị hơn một ngàn binh lính chiếm đóng, tất cả thê thiếp con cái của Tống Kiến đều bị đuổi tới một gian phòng lớn, lúc này, Mã Đại tiến lên thi lễ:

- Khởi bẩm Điện hạ, chúng ta tìm được lối vào địa cung rồi.

- Tống Kiến đâu?

Lưu Cảnh hỏi, đây là tên đầu sỏ gây họa nên hắn tuyệt không thể bỏ qua người này.

- Tống Kiến đang ở trong địa cung, đã uống thuốc độc tự vẫn rồi, mời Điện hạ theo ty chức tới địa cung.

Lưu Cảnh gật đầu, đi theo Mã Đại vào trong địa cung, cửa vào của địa cung nằm nay dưới giường trong phòng ngủ của Tống Kiến, phủ lên bởi một tấm sắt lớn chu vi một trường, bên trên là một tấm thảm lông tinh xảo, đây là do tiểu thiếp được Tống Kiến sủng ái nhất dẫn binh lính đi tìm được chỗ vào này.

Tấm sắt được mở ra, hai bên có lính canh gác, Lưu Cảnh đi theo Mã Đại tiến vạo địa cung, địa cung cách mặt đất chừng một trượng, là cung điện dưới đất cực kỳ rộng lớn, gồm bảy tám căn phòng lớn, mỗi phòng đều chất đầy của cải, vàng bạc, châu báu, da lông quý, khiến người nhìn hoa cả mắt.

Thi thể của Tống Kiến ở trong một kho báu chất đầu những chiếc rương lớn đã được phát hiện, trong rương đều là thoi vàng, vùng Phu Hãn có rất nhiều vàng, ba mươi năm qua Tống Kiến đã vơ vét gần như một nửa số vàng ở đây, chất đống trong địa cung của lão, lên tới mấy chục nghìn cân, lần này là một trong những thu hoạch lớn nhất trong cuộc tây chinh của quân Hán.

Lúc này, thi thể của Tống Kiến được hai tên lính nâng lên, mặt lão đen thui, rõ ràng là uống thuốc độc mà chết, Lưu Cảnh nhìn người này, không khỏi lắc đầu.

- Đào hố chôn cất cho lão!

- Điện hạ, con cái thê thiếp của lão nên xử trí thế nào?

Mã Đại khẽ hỏi.

Lưu Cảnh trầm tư một lát nói:

- Con trai lão nhất loạt xử tử hết, không giữ lại hậu họa, phụ nữ thì chia lộ phí thả họ về quê nhà, ai không có chỗ để đi thì có thể phân cho quan quân làm vợ.

Mã Đại càng quan tâm đến ba vạn tù binh, đa phần bọn họ là người Hán ở khu vực Hà Hoàng, tổ tiên bọn họ hai trăm năm trước từ vùng Quan Lũng đến, sống bằng nông canh, nhưng vì hàng năm hỗn cư với người Khương Đê, nên rất nhiều người giỏi cưỡi ngựa, hoàn toàn có thể chọn quân tinh nhuệ trong đó để thành lập kỵ binh.

Y đề nghị tiếp:

- Trong ba mươi ngàn người này có không ít người Hán giỏi cưỡi ngựa, Điện hạ, bọn họ là tài nguyên quý báu đấy!

Lưu Cảnh gật đầu, hắn cũng suy nghĩ như thế liền cười nói:

- Ba vạn tù binh có thể miễn tội, thả họ về nhà tiếp tục nông canh, nếu không có đất thì bảo quan phủ quận Bình Tây chia đất cho họ, bọn họ phải trở thành nông dân tự canh tác, ngoài ra, trong ba vạn người này, hãy chọn ra mười ngàn người tinh nhuệ giỏi cưỡi ngựa để xây dựng kỵ binh mới.

Mã Đại mừng rỡ, vội khom người nói:

- Ty chức hiểu rồi, sẽ đi xử lý ngay đây.

Lưu Cảnh quay đầu lại nói với Vương Bình:

- Chuyển toàn bộ tài sản của thành Phu Hãn về đại doanh, giao cho Pháp quân sư xử lý, sau đó cải tạo thành Phu Hãn thành quân thành, đóng ba ngàn quân.

Vương Bình vội đáp lại, Lưu Cảnh dặn dò xong liền xoay người đi ra ngoài thành, hắn gặp Mã Siêu ở cửa thành lập tức nói với gã:

- Mạnh Khởi có thể sắp xếp một trăm đội kỵ binh, cầm lệnh tiễn của ta đến các nơi, cho dù là người Đê hay người Thổ Cốc Hồn đều triệu tập tất cả tù trưởng lập tức đến Phu Hãn gặp ta.

- Ty chức tuân mệnh!

Mã Siêu lập tức quay đầu ngựa về đại doanh, nửa canh giờ sau, một trăm đội kỵ binh rời khỏi đại doanh quân Hán, lao tới các vùng nhanh như gió để triệu tập tù trưởng các bộ lác tới yết kiến Hán Vương Điện hạ.

Ba ngày sau, hàng tăm tù trưởng từ các vùng của Lũng Tây và Hà Hoàng kéo tới, Dương Thiên Vạn bị giết, Tống Kiến đã chết, những việc này làm kinh động đám tù trưởng, thêm vào đó A Quý đã phái sứ giả tới các vùng tuyên dương ân đức của Hán Vương, người Đê đều tràn đầy hy vọng tới yết kiến Hán Vương.

Trong một chiếc trướng tròn khổng lồ, mấy trăm tù trưởng tập trung lại để Lưu Cảnh mở tiệc chiêu đãi, Lưu Cảnh nâng chén cao giọng nói với mọi người:

- Các vị đều là con dân của vương triều Đại Hán, thần phục với thiên tử, hiện giờ triều đình đã chuyển Quan Lũng thành lãnh thổ của nước Hán, vậy thì chư vị ngồi đây cũng là thần dân của nước Hán, Lưu Cảnh ta sẽ không xua đuổi mọi người khỏi quê hương của mình, hy vọng các vị giống như người Hán có thể an cư lạc nghiệp, sinh sản con cháu, đời đời kiếp kiếp chung sống hòa thuận bình đẳng, đều giống như thần dân Đại Hán ta, được quân Hán bảo vệ, gánh vác nghĩa vụ đến cùng, vì minh ước ngày hôm nay, chúng ta uống một chén.

Đám tù trưởng đều nghe ra trong lời nói có điểm khác với trước đây, trước bọn họ chỉ là thần dân Đại Hán trên danh nghĩa, không cần nộp thuế phú, hàng năm chỉ dâng lên quan phủ mấy tấm da dê mang tính tượng trưng, coi như bọn họ đã là thần dân của Đại Hán rồi, nhưng hôm nay trong lời nói của Lưu Cảnh có thêm một câu “được quân Hán bảo vệ, gánh vác nghĩa vụ tới cùng”, có nghĩa là từ hôm nay trở đi bọn họ phải nộp thuế cho quan phủ, đây không phải là việc bọn họ có thể từ chối, đám tù trưởng không biết làm sao, đành cùng nâng chén, hô to Hán Vương vạn tuế, cùng nhau uống chén rượu thần dân thoáng chút chua xót này.

Lưu Cảnh mỉm cười, Hán Hồ bình đẳng không chỉ là nói miệng nữa, mà về thuế phú cũng phải như nhau, như vậy mới thực sự là thần dân Đại Hán.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 718-1: Cha con Khương thị (1)


Khương Quýnh vài ngày trước đã sớm quay về Tây Lương, y trình lên thư tay của Lưu Cảnh gửi cho Khương Vương Nam Cung Tác, có thể nhìn ra Nam Cung Tác đối với nội dung trong thư không vui vẻ gì mấy, theo đó liền lạnh nhạt với Khương Quýnh, lệnh y về nhà nghỉ ngơi, rồi âysau đó không còn tin tức nào nữa.

Nhà của Khương Quýnh ở trong nội thành Trương Dịch, huyện Trường Dịch cũng là vương thành của người Khương, trong thành có đầy kiến trúc của người Hán và lều trướng người Khương, chủ trướng của Khương Vương Nam Cung Tác liền được dựng ở trung tâm huyện thành, mà nhà của Khương Quýnh thì ở góc phía tây huyện thành, là một tòa tiểu viện chiếm hai mẫu đất, tiểu viện kiên cố vững chắc, là một tòa thượng đẳng tiểu viện, vốn là tòa nhà của một thương gia, thương gia đó mười mấy năm trước đã thoát ly khỏi Kinh Châu, tòa tiểu viện này liền bỏ trống không, Nam Cung Tác vì để cảm kích Khương Quýnh mang nhi tử từ Trường An trở về liền đem tòa tiểu viện này thưởng cho y làm nơi cư ngụ.

Trong nhà chỉ có hai cha con Khương Quýnh cùng với mấy tên nô bộc, thê tử của Khương Quýnh tạm thời ở tại nhà mẹ đẻ tại Quan Trung, nàng không biết hai phụ tử bọn họ trước mắt đang ở Lương Châu, đối với Khương Quýnh mà nói, Tây Lương cũng là nơi dừng chân tạm thời, chỉ cần thế cục Lũng Tây được bình ổn thì y sẽ đưa nhi tử rời khỏi Lương Châu.

Hai ngày này, tâm tình của Khương Quýnh thật sự không tốt lắm, một tên phụ tá khác của Nam Cung Tác lén nói cho y biết, lần trước y cùng Đào Lợi đi đất Thục bị Đê Hồ đuổi giết, trên thực tế là do Nam Cung Tác tiết lộ tin tức cho Dương Thiên Vạn, mục đích là muốn mượn tay của Dương Thiên Vạn g**t ch*t Đào Lợi, chọc giận Lưu Cảnh xuất binh Lũng Tây, khiến cho Người Khương có được lợi ích trong đó nhiều hơn nữa.

Về phần Khương Quýnh y chỉ là trùng hợp thời gian, đây cũng chính là phán đoán đích thực của Đào Lợi hoàn toàn chính xác, y còn ở trên đường bảo vệ cho Nam Cung Tác, cho rằng Nam Cung Tác không thể bán đứng bọn họ, chính là cái tin tức này khiến cảm xúc của y trầm trọng, cho dù y tin tưởng Nam Cung Tác chưa chắc đã muốn giết chính mình, nhưng Nam Cung Tác hiển nhiên không có coi trọng mạng của y, Đê Hồ mà giết Đào Lợi, không nghi ngờ là sẽ giết luôn y, Nam Cung Tác làm sao không nghĩ đến việc này?

Giờ khắc này, Khương Quýnh rốt cuộc nhìn ra trong xương cốt Nam Cung Tác cũng không hề tin nhiệm mình, có thể trên danh nghĩa y là người Khương, nhưng trên thực tế đã không phân biệt với người Hán rồi, Nam Cung Tác đã có lòng phòng bị đối với y, căn bản cũng không đối đãi y như với người Hán.

Buổi chiều, Khương Quýnh rầu rĩ không vui quay trở về tiểu viện, hôm nay y đi từ biệt với Nam Cung Tác, chuẩn bị quay trở về Thiên Thủy, Tào Tháo là Lưu Cảnh đã đạt thành hiệp nghị ngưng chiến, Quan Lũng đã quy thuận Quân Hán, thế cục Thiên Thủy cũng liền hoàn toàn ổn định trở lại, đây là lúc y quay trở về rồi, cũng đón thê tử về, cả nhà có thể đoàn tụ rồi.

Nhưng Nam Cung Tác lại trốn tránh không gặp, y đợi đến gần một canh giờ Nam Cung Tác cũng không đồng ý gặp mặt, khiến tâm tình của y buồn bực, nhưng mà y đã quyết định, mặc kệ Nam Cung Tác có đáp ứng hay không, y cũng phải rời đi.

Khương Quýnh vừa về tiểu viện, nhi tử Khương Duy liền từ trong tiểu viện đi ra, cười nói:

- Phụ thân sao giờ mới về?

Khương Duy năm nay đã mười ba tuổi, thân hình cao lớn, thể trạng cường tráng, đôi lông mày vô cùng thanh tú, cậu đi theo phụ thân học sách luyện võ, đặc biệt võ nghệ tiến bộ thần tốc, đến ngay cả đám thị vệ bên người Nam Cung Tác đều không phải đối thủ của cậu.

Nhìn ánh mắt nụ cười sáng lạn tươi tắn của nhi tử, tâm tình Khương Quýnh lập tức thoải mái lên, y cũng cười nói:

- Vốn là đi cáo từ với Khương Vương nhưng y không chịu gặp mặt ta, thôi đi, ta để lại cho y một bức thư, chúng ta trực tiếp rời khỏi.

Dừng một lúc, Khương Quýnh lại hỏi:

- Con đã từ biệt với Nam Cung Bá Ngọc chưa?

Khương Duy gật gật đầu, cậu lấy ra một thanh kiếm khảm bảo thạch, đây là Bá Ngọc tặng cho cậu làm kỷ niệm, cậu cũng tặng cho thanh kiếm của mình cho gã rồi, lúc này, Khương Duy nhớ ra một việc, vội vàng nói:

- Phụ thân, Bá Ngọc khuyên chúng ta không nên trở về quận Thiên Thủy, đi Thục Trung hoặc là Quan Trung đều được.

- Vì Sao?

Khương Quýnh nhướn mày, không hiểu hỏi.

- Có thể là y biết được một chút tin tức, có thể Người Khương sẽ tấn công Lũng Tây.

- Cái gì?

Khương Quýnh chấn động, vội vàng giữ chặt bả vai nhi tử trầm giọng hỏi:

- Tin tức này có thật không?

- Là Bá Ngọc nói cho con biết, nguyên nhân cụ thể không biết, nhưng gã là vương tử, hẳn là tin tức rõ ràng hơn so với chúng ta.

Khương Quýnh biết quan hệ giữa nhi tử và vương tử Nam Cung Bá Ngọc cực kỳ tốt, nhân phẩm Nam Cung Bá Ngọc cũng không tệ, so với phụ thân gã thì gã tâm địa lương thiện, nếu như gã nói như vậy, nhất định là thật rồi, nhưng quận Thiên Thủy là căn cơ của gia tộc Khương thị nhà y, nếu người Khương tấn công quận Thiên Thủy, chẳng phải là hủy hoại căn cơ của gia tộc y sao.

Tuy rằng Khương Quýnh có còn mấy tình cảm gì đối với gia tộc nhưng dù sao cũng là gia tộc của y, hơn nữa y xuất sứ y Thục Trung, lại cam đoan Nam Cung Tác có thành ý, hiện tại Nam Cung Tác lại thừa dịp thời Quân Hán công đánh người Đê chuẩn bị công đánh Lũng Tây đang binh lực trống không, điều này khiến Khương Quýnh sau này làm sao đối mặt với Lưu Cảnh.

Khương Quýnh không kịp nghĩ ngợi, lập tức với nhi tử nói:

- Mau mau đi thu dọn đồ đạc, chúng ta lập tức đi ngay.

Rất nhanh, cha con Khương Thị thu dọn được một túi đò đạc, hai người dẫn ngựa ra khỏi tiểu viện, trở mình lên ngựa, chạy về hướng ngoài thành. Chính lúc y rời khỏi tiểu viện chưa lâu thì kỵ binh người Khương tiến đến bao vây lấy tiểu viện của Khương Quýnh, bọn họ phụng mệnh Khương Vương đến bắt Khương Quýnh, không để y rời khỏi Lương Châu.

- Bọn họ vừa mới đi chưa bao lâu, mau đuổi theo!

Một ngàn kỵ binh quay đầu ngựa lại, như gió bay điện chớp đuổi theo hướng bắc môn.

Khương Quýnh mang theo nhi tử ra khỏi bắc môn, chính tại lúc này, Khương Quýnh nghe thấy đằng sau tiếng võ ngựa như sấm, y quay đầu lại, chỉ thấy không xa bụi đất tung bay, một chi kỵ binh hung hãn chạy về hướng y. Khương Quýnh hoảng sợ thất sắc, y biết là Khương Vương không chịu bỏ qua cho y.

- Đi phía nam!

Y mang theo nhi tử chạy đi hướng phía nam, y chỉ có thể đi Đại Đầu Bạt cốc, xuyên qua Kỳ Liên sơn, có thể trực tiếp đến Hà Hoàng, hiện tại đại quân Lưu Cảnh hẳn là ở phía bên đó, phụ tử hai người một đường chạy gấp, nhưng phía sau hơn ngàn truy binh đuổi theo sát, càng ngày càng gần.

Khương Quýnh thấy tình thế nguy cấp, liền nói với con trai:

- Con đi đến Hán Trung tìm Lưu Cảnh, y từng đáp ứng với ta đưa con đi Tương Dương đọc sách, con đi mau!

- Phụ thân, con muốn cùng đi với phụ thân.

- Đừng ngốc nữa, Nam Cung Tác sẽ không giết ta, nhưng con mà để y bắt được, ta vĩnh viễn sẽ không thoát được, con đi đi!
 
Back
Top Bottom