Cập nhật mới

Quân Sự Binh Lâm Thiên Hạ

Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 632: Sự cứng rắn của Tuân gia


Trần Quần rời trướng của Tuân Úc, lo lắng bồn chồn lại đến doanh trướng của Tào Tháo. Lúc này Tào Tháo đang đợi gã. Nghe nói Trần Quần quay lại rồi, liền lệnh người mời gã vào.

Trần Quần bước vào trướng, khom người thi lễ:

- Vi thần để Thừa tướng đợi lâu rồi.

- Mời ngồi đi!

Tào Tháo mời Trần Quần ngồi xuống, liền có chút cấp bách không nhịn được hỏi:

- Thế nào? Nhạc phụ ngươi đồng ý rồi chứ?

Trần Quần cười khổ lắc lắc đầu:

- Thừa tướng hẳn cũng biết, muốn thuyết phục ông ấy rất khó, tính tình của ông ấy quá cứng rắn.

Trên mặt Tào Tháo lộ một tia tức giận, cực kỳ không vui nói:

- Tại sao y lại như vậy? Lẽ nào ta không phải là thần tử Đại Hán? Lẽ nào Tào Tháo ta đã soán vị, tự lập đế sao? Chỉ là phong Nguỵ công, nhận cửu tích cho xong, với địa vị và công tích của ta, lẽ nào ta chịu hổ thẹn, lẽ nào đây là đi quá giới hạn sao? Y rốt cuộc có chỗ nào bất mãn?

Tào Tháo càng nói càng giận, cuối cùng lão cũng ý thức được mình thất thố, liền kìm chế lửa giận, nói:

- Sau đó thì sao? Tiếp tục nói!

Trần Quần mãi lâu mới than thở nhẹ một tiếng nói:

- Nhạc phụ thần là người chết vì lí, có lẽ ông hy vọng Thừa tướng hoàn trả triều chính cho Thiên tử.

- Thật là những lời hàm hồ!

Lần này Tào Tháo thực sự tức giận, lão khoanh tay đi đi lại lại trong đại trướng, trong lòng buồn giận không nguôi:

- Thiên tử có đạo, nước tự khắc trong sạch, Thiên tử vô đạo, nước tự khắc loạn. Từ loạn Khăn vàng đến nay, triều cương suy bại, quần hùng xưng bá, dân sinh khốn khổ, nạn lưu dân ngày càng trầm trọng, ngàn dặm đồng hoang, xương trắng lấp đầy khe rãnh, thời thế loạn này không phải hùng tài đại lược không thể thống trị!

Cái gọi là Thiên tử đó thì có thể xoay chuyển tình thế sao? Có thể cứu thiên hạ bách tính khỏi nước lửa sao? Không thể! Gã chính là một tên hôn quân, là con ông cháu cha, căn bản không biết nỗi khổ của dân gian, chỉ biết hưởng lạc loạn chính, nếu gã nắm quyền chấp chính chỉ khiến xã tắc càng thêm suy bại, nhân dân càng thêm bi thảm!

Nói đến đây, Tào Tháo hít một hơi sâu, lại chậm rãi nói:

- Thẳng thắn mà mói, ta tuy coi Lưu Cảnh là mối hoạ tâm phúc của ta nhưng người ta thích nhất lại là hắn. Hắn mới là vị vua chân chính, mới là người chân chính trị loạn cho Đại Hán, mới là người chủ chân chính phục hưng Đại Hán, chỉ tiếc ta và hắn lửa nước không dung, nếu không ta thực sự muốn phong hắn làm đế, nhất thống thiên hạ, nếu Tuân Úc nguyện ý đi hiếu trung Lưu Cảnh, ta thực sự không có lời nào để nói, nhưng y lại trung thành với một tên tầm thường, khiến ta thất vọng vô cùng!

Trần Quần thấp giọng hỏi:

- Nếu nhạc phụ thần thực sự đi theo Lưu Cảnh, Thừa tướng sẽ chấp thuận sao?

Tào Tháo cười lạnh một tiếng, hỏi lại:

- Ngươi nói xem?

Trần Quần không dám nói nhiều, lúc này Tào Tháo đã bình tĩnh lại, lão biết Trần Quần tất nhiên không nói nguyên văn, lại hỏi:

- Nhạc phụ ngươi nói nguyên văn thế nào?

- Ông ấy nói, nếu Thừa tướng có thể bỏ tước Nguỵ công, có thể từ lễ cửu tích, ông ấy bằng lòng dốc sức trước sau như một với Thừa tướng, nếu không ông ấy sẽ không bày một kế sách nào nữa.

- Ta biết rồi!

Tào Tháo khoát tay:

- Ta sẽ không miễn cưỡng y nữa, nhưng y cũng không thể ở lại bên cạnh Thiên tử, để y ở Uyển Thành dưỡng lão vậy.

Đúng lúc này, ngoài trướng truyền đến những tiếng xôn xao nhẹ, dường như có người đang chạy trốn. Tào Tháo ngẫn ra, đi đến trước cửa trướng hỏi:

- Xảy ra chuyện gì?

Một lát, một tên thị vệ đến báo:

- Không biết tại sao? Thân binh của tướng quân Tào Hồng và thân vệ của tướng quân Trương Liêu xảy ra xung đột,

Trần Quần đứng bên cạnh cả kinh:

- Bọn họ thực sự động thủ sao?

Tào Tháo nghi ngờ quay đầu nhìn gã:

- Trường Văn có vẻ biết chuyện này!

Trần Quần gật gật đầu:

- Hôm nay lúc uống rượu, vi thần mới phát hiện Tử Liêm và Văn Viễn hình như có mâu thuẫn, lại hỏi Văn Viễn, cụ thể xảy ra chuyện gì hắn lại không chịu nói.

Tào Tháo hừ mạnh một tiếng, lập tức nói với Hứa Chử:

- Ngươi mau dẫn Hổ Bí vệ binh đi dẹp xung đột, tất cả những người tham gia xung đột, cho dù binh lính hay tướng lĩnh đều trọng đánh một trăm quân côn cho ta, ngoài ra gọi Trương Liêu đến gặp ta!

Hứa Chử tuân lệnh, dẫn quân đến nơi có xung đột. Xung đột phát sinh ở tây doanh, Trương Liêu và Tào Hồng đều ở tây doanh. Mười mấy tên thân binh của Tào Hồng đang vây lấy tấn công một tên thân vệ của Trương Liêu, dẫn đến hỗn loạn gần trăm người. Lúc này xung đột đã được Trương Liêu dẹp dừng, gần trăm người tay nắm đao côn, trợn mắt nhìn nhau, không ít người bị thương, trên mặt đất mười mấy tên binh lính máu thịt lẫn lộn.

Thân binh của Tào Hồng thấy Trương Liêu đi ra, nhao nhao quay người muốn đi. Đúng vào lúc này, Hứa Chử dẫn đại đội nhân mã đến, lập tức vây lấy hơn trăm người. Hứa Chử trên ngựa ôm quyền với Trương Liêu, nói:

- Trương tướng quân, Thừa tướng cho mời ngài tới, ở đây để ta xử trí.

Trương Liêu nhìn về phía đại trướng của Tào Hồng một cái, lại thấy bên đó không có động tĩnh gì, bèn hỏi:

- Thừa tướng chỉ cho gọi mình ta thôi sao?

- Đúng vậy!

Trương Liêu gật gật đầu, bước nhanh về đại trướng trung quân. Hứa Chử thấy Trương Liêu đã đi, lập tức ra lệnh:

- Bắt hết lại cho ta!

Năm trăm Hổ bí vệ sĩ binh như lang như sói trói tất cả hơn trăm binh lính tham gia vào cuộc ẩu đả lại. Lúc này Tào Hồng lại xuất hiện, gã đi lên trước chắp tay với Hứa Chử nói:

- Hứa tướng quân, ở đây chắc là có hiểu lầm, có thể nể mặt ta, để ta đưa binh lính đi, ta sẽ gia tăng việc quản thúc bọn họ.

Hứa Chử nghiêm mặt nói:

- Tử Liêm Tướng quân đến giải thích với Thừa tướng đi! Thừa tướng có lệnh, tất cả những người tham gia cuộc xung đột đều đánh một trăm quân côn, ra tay cho ta!

Năm trăm Hổ bí vệ binh lật binh lính hai bên, vung côn dồn sức đánh, đánh cho binh lính kêu thảm kêu ngút trời. Sắc mặt Tào Hồng lúc trắng lúc đỏ. Lúc này, một tên thị vệ chạy đến, thi lễ với Tào Hồng:

- Tử Liêm Tướng quân, Thừa tướng lệnh cho ngài qua gặp.

Trong lòng Tào Hồng có một loại cảm giác không ổn. Gã không dám không nghe theo, đành đi theo vệ binh về phía trung quân đại trướng.

Trong đại trướng, Trương Liêu báo cáo chi tiết quá trình y giết đồng hương của Tào Hồng vi phạm quân luật tại bờ nam, cũng nói lại việc hôm nay trong bữa tiệc rượu Tào Hồng khiêu khích mình. Sắc mặt Tào Tháo xanh mét, sau một lúc lâu mới hỏi:

- Thế tại sao ngươi lại nhịn được?

- Hồi bẩm Thừa tướng, Lưu Cảnh dẫn quân Hán sắp đánh tới nơi, vi thần không muốn gây ra nội chiến để quân đội của Lưu Cảnh thừa cơ, tất cả đợi sau khi chiến tranh kết thúc sẽ tranh luận phải trái.

- Tốt lắm! Tốt lắm!

Tào Tháo nói liền hai câu rất tốt, khen ngợi nói:

- Văn Viễn nhẫn nhục, rất có phong thái Lận Tương Như, không hổ là tướng cốt cán của ta. Ta sẽ khắc trong tâm khảm, ta sẽ khiến Tào Hồng nhận lỗi với ngươi.

- Vi thần không dám nhận, nhưng đây chỉ là lời một phía của vi thần, mong Thừa tướng điều tra rõ ràng rồi hãy xử lý.

- Ta hiểu, ngươi quay về trước đi!

Trương Liêu thi lễ, đứng dậy lui ra. Vừa ra khỏi đại trướng đúng lúc gặp Tào Hồng đi đến. Trương Liêu lạnh lùng nhìn thoáng qua gã, không nói một lời, vội vàng đi. Tào Hồng quay đầu nhìn bóng Trương Liêu xa dần, trong mắt sát khí phóng ra. Gã biết Trương Liêu nhất định trước mặt Thừa nói lời bất lợi cho gã.

Lúc này, thân binh đi ra trướng nói:

- Tử Liêm Tướng quân, Thừa tướng mời ngài vào!

Tào Hồng ngang ngạnh đi vào trong đại trướng, chỉ thấy Tào Tháo đang khoanh tay đừng trầm tư trước sa bàn. Tào Hồng vội quỳ một gối xuống, ôm quyền nói:

- Bỉ chức tham kiến Thừa tướng.

Tào Tháo liếc mắt nhìn gã một cái, thản nhiên nói:

- Quân hầu vi phạm quân kỷ bị xử tử kia có quan hệ thế nào với ngươi?

Tào Hồng hồi lâu mới nói:

- Hai mươi năm trước, cha hắn là thân binh của thần, lúc ở Thanh Châu chết trận.

- Đã là như vậy, tại sao ngươi không giữ hắn lại bên mình?

Tào Tháo lại hỏi.

- Thần không thích người này lắm, phẩm hạnh không đứng đắn.

Tào Tháo cười lạnh một tiếng:

- Ngươi cũng biết người này phẩm hạnh không đứng đắn, y ở Tương Dương gian dâm phụ nữ, giết người cướp của, xúc phạm quân quy. Văn Viễn giết y cũng không sai, tại sao ngươi không cảm kích Văn Viễn, lại còn làm phiền y, ngươi nói xem, đây là đạo lý gì?

Tào Hồng cúi đầu, gã thở dài:

- Thực ra là đệ ghen ghét Trương Liêu được huynh trưởng trọng dụng, lúc giết người không nể mặt đệ, cho nên đệ mượn cớ này khiêu khích.

Tào Tháo nhìn gã hồi lâu, gật gật đầu:

- Cái này còn có chút giống lời nói thật, là như vậy chứ?

- Vâng!

- Rất tốt, vậy ngươi chuẩn bị làm thế nào? Cho ta một câu trả lời hợp lý, hiện giờ ta không phải là huynh trưởng của ngươi.

Tào Hồng cắn chặt môi dưới nói:

- Bỉ chức cam đoan với Thừa tướng, sẽ không xảy ra việc như này một lần nữa.

- Không được, ta không chấp nhận cách này.

Tào Tháo quả quyết cự tuyệt cam đoan của gã, lạnh lùng nói:

- Sáng mai ở trung quân đại trướng, ngươi phải công khai nhận lỗi với Văn Viễn.

Tự ái của Tào Hồng khó có thể chấp nhận hình phạt này, gã đập đầu, rơi lệ nói:

- Trừ cách này ra, bỉ chức nguyện nhận bất cứ cách xử lý nào của Thừa tướng!

- Ngươi!

Tào Tháo căm tức nhìn Tào Hồng, lão kìm chế sự giận dữ trong lòng, chậm rãi nói:

- Tử Liêm, ngươi làm ta thất vọng quá!

Tào Hồng cúi đầu, không nói một lời. Bất luận thế nào gã tuyệt sẽ không nhận lỗi với Trương Liêu. Tào Tháo nhìn gã, qua một hồi lâu mới gật gật đầu:

- Ta cho ngươi công khai xin lỗi Văn Viễn là cho ngươi một cơ hội miễn tội, ngươi lại không muốn, vậy ta cũng không có cách nào khác. Lúc hai bên đang đối chọi, ngươi gây nội chiến, tự ý tạo xung đột bên trong, theo quân quy phải chém, nể ngươi có công cũ, ta miễn ngươi tội chết, nhưng tội sống không thể tha, người đâu!

Mấy tên thị vệ xuất hiện tại trước đại trướng. Tào Tháo chỉ Tào Hồng:

- Lôi người này xuống, đánh một trăm quân côn cho ta!

Thị vệ tiến lên nhấc Tào Hồng ra khỏi trướng, lại nghe tiếng Tào Tháo lạnh lùng nói:

- Miễn Lệ phong tướng quân của ngươi, giáng chức làm Dương võ Trung lang tướng!

Tào Hồng toàn thân chấn động, Dương võ Trung Lang tướng là chức vụ của y ở Kiến An mười năm trước, không ngờ khiến y tụt lùi bảy năm, lúc này Tào Tháo khoát tay, ngăn thị vệ lại, lại đi đến trước mặt gã hỏi:

- Ta cho ngươi một cơ hội nữa, ngươi muốn xin lỗi hay là nguyện bị đánh và bãi chức?

Tào Hồng nhắm mắt, Tào Tháo lập tức giận dữ, ra lệnh:

- Lôi xuống cho ta, đánh thật mạnh vào!

Tào Hồng bị kéo xuống. Trong lòng Tào Tháo lúc này vô cùng bực bội, ngày hôm nay Tuân Úc không chịu trung thành với mình, Tào Hồng lại không chịu yếu thế, những người này đều bị làm sao vậy, không nể mặt lão như vậy.

Tào Tháo lại nghĩ tới Lưu Cảnh giống như một khúc xương cứng khó nhằn, khiến lão bó tay không có biện pháp, lão càng tâm phiền ý loạn. Lão giận dữ rút kiếm ra, hung hăng bổ một nhát lên bàn, lại đạp một cái lật bàn, ngửa mặt lên trời than một tiếng:

- Bực chết ta mất!
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 633: Ép ngược Giang Đông


Sau khi viện quân của Lưu Cảnh đến Tương Dương, khiến binh lực Tương Dương gia tăng đến bảy vạn, giằng co với cách một con sông với quân Tào. Lưu Cảnh lại hạ lệnh hậu táng Hoàng Hân chết trận, truy phong y làm Dũng liệt tướng quân. Sau một vài ngày, một nghìn hai trăm chiến thuyền của thuỷ quân Giang Lăng cũng đến Hán Thủy, khiến tổng binh lực quân Hán ở Tương Dương gia tăng đến chín vạn người.

Nhưng Tào Tháo không hề hạ lệnh rút quân, vẫn ở lại Phàn Thành và giằng co với quân Hán như trước. Không chỉ có vậy, Tào Tháo còn hạ lệnh cho Tào Thuần dẫn hai vạn kỵ binh đã đến Uyển Thành tiếp tục xuôi về nam, tập trung trọng binh ở bờ bắc Hán Thủy, bày ra thế không đánh không nghỉ.

Mục tiêu chiến lược của Tào Tháo cũng rất rõ ràng, chính là muốn hãm Lưu Cảnh và quân chủ lực quân Hán ở Kinh Châu, khiến quân Hán không có cách nào tiến hành bắc chinh ở tây tuyến, giúp Tuân Du đang bố trí phòng ngự ở tây tuyến tranh thủ thời gian.

Thời gian dần dần trôi qua nửa tháng, thế cục Kinh Châu vẫn ở trạng thái giằng co, quân Tào không có chút dấu hiệu rút quân nào, quân Hán cũng vững vàng giằng co với quân Tào, còn hai vạn quân Giang Đông sớm đã đóng quân ở phía nam Hợp Phì, lại chần chừ không chịu phát động tiến công. Thái độ lá mặt lá trái của Tôn Quyền cũng ngày càng rõ ràng.

Lúc này đã là trung tuần tháng ba, đúng tiết giữa xuân. Giang Bắc, Giang Nam chỗ nào cũng trăm hoa khoe sắc, xuân ý dạt dào, quận Hoài Nam cũng bước vào thời khắc bừng bừng sức sống nhất trong một năm. Quận Hoài Nam nằm ở bờ bắc quận Đan Dương, vốn là khu vực trung tâm của Viên Thuật xưng bá, đô thành Thọ Xuân của Viên Thuật ở mặt bắc của quận Hoài Nam.

Vị trí địa lý của quận Hoài Nam vô cùng trọng yếu, là đầu mối then chốt của Giang Đông bắc tiếp giáp với Trung Nguyên, cũng là lô cốt đầu cầu của Trung Nguyên xuôi nam về Giang Đông, trong đó Hợp Phì là trung tâm. Quân Tào lúc đông nhất ở Hợp Phì đóng quân năm vạn, nhưng vì bạo phát chiến dịch Kinh Châu, binh lực Hợp Phì bị điều đến Kinh Châu, khiến binh lực Hợp Phì chỉ có một vạn người, do Đại tướng Mãn Sùng dẫn đầu.

Buổi trưa hôm nay, một đoàn thuyền gồm năm mươi chiến thuyền một ngàn thạch tổ hợp thành đang xếp hàng chạy nhanh trên mặt hồ mênh mông vô tận. Bầu trời xanh ngắt giống mặt biển rộng lớn yên tĩnh, không có một gợn mây, không khí tươi mát mà ướt át. Dưới ánh mặt trời, đoàn thuyền căng buồm, thuận gió lướt sóng mà đi.

Trên đầu chiếc thuyền lớn đầu tiên, Cam Ninh mặc khôi giáp, tay cầm chuôi kiếm nhìn về phương bắc. Đây là một vạn thuỷ quân Giang Hạ do y dẫn đầu, chia ra ngồi năm mươi chiếc thuyền lớn, xuôi dòng Trường Giang về phía đông. Từ Nhu Tu Khẩu ở thượng Trường Giang tiến vào Nhu Tu thuỷ, một mạch lên phía bắc, sau hai ngày tiến vào hồ Sào, lại từ hồ Sào tiến vào Phì Thuỷ, cuối cùng đến Hợp Phì. Mục tiêu của họ chính là Hợp Phì.

Bên tai của Cam Ninh dường như vẫn còn vang lại lời Lưu Cảnh, “Lần này quân Tào phá được phòng tuyến Hán Thủy ở huyện Nghi Thành, trách nhiệm không phải tại Hưng Bá mà tại Lưu Cảnh ta, hai mươi vạn quân Hán, Kinh Châu lại chỉ có năm vạn, quân tinh nhuệ đều ở Hán Trung, phòng ngự Kinh Châu yếu kém, quân Tào làm sao có thể không thừa cơ mà vào? Cho nên ta sẽ không trách tội thuỷ quân Giang Hạ.”

Cam Ninh khe khẽ thở dài. Tuy Châu Mục không trách y phòng ngự Hán Thủy không hiệu quả, nhưng y cũng tự cảm thấy áp lực rất lớn, hơn nữa lần này hành quân Hợp Phì, nếu y không thể thành công, thật là hổ thẹn với Châu Mục. Cam Ninh biết rõ tầm quan trọng của chuyến hành quân Hợp Phì lần này.

Cho dù thuỷ quân Kinh Châu đã hoàn thành việc phong toả Hán Thủy, quân Tào không thể lại xuống phía nam nhưng do chiến trường ở Kinh Châu, cho dù đối với thế lực quân Hán hay là đối với nông nghiệp, mậu dịch và ổn định lòng dân… của Kinh Châu, đều có ảnh hưởng rất lớn, cuói cùng tổn hại đến lợi ích của Kinh Châu. Có thể nói, quân Tào đóng quân ở Phàn Thành càng lâu, tổn hại về lợi ích đối với Kinh Châu cũng càng lớn.

Từ trên chiến lược có thể thấy, hiện nay trọng tâm quân Hán ở tây tuyến, lực lượng và sự chú ý của Kinh Châu tự nhiên sẽ yếu đi, điều này khiến quân Tào có thể thừa cơ mà vào, phá vỡ chiến lược cân bằng Kinh Châu. Lưu Cảnh đặc biệt lo lắng thời gian kéo dài quá, quân Tào sẽ hình thành sự chiếm lĩnh thực sự đối với Phàn Thành. Như vậy sẽ ép thế lực tiên phong từ phía nam Uyển Thành đến Hán Thủy, uy h**p đối với Kinh Châu quá lớn, hơn nữa quân Tào lợi dụng bè da dê từ Long Trung vượt sông rút lui thành công, điều này chứng minh Hán Thủy đã không ngăn được quân Tào nữa rồi.

Cho nếu bắt buộc nhanh chóng ép quân Tào rút quân, mà muốn phá vỡ cục diện bế tắc trước mắt của Kinh Châu, chỉ có thể từ đông tuyến tiến hành phá cục, cố tình lá mặt lá trái quân Giang Đông, xuất công không xuất lực, rơi vào đường cùng, Lưu Cảnh chỉ có thể mệnh lệnh Cam Ninh từ xa ngàn dặm đến Hợp Phì, ở ra chiến trường mới ở Hợp Phì.

- Tướng quân, trạm canh gác thuyền của chúng ta đã trở về!

Một tên lính chỉ về nơi xa.

Cam Ninh cũng nhìn thấy rồi, ba chiếc thuyền nhanh chóng chèo từ phía đông hướng về phía đoàn thuyền, trên đầu chiếc thuyền đầu tiên cắm cờ quân Hán, dưới ánh mặt trời nổi bật rõ ràng. Cam Ninh vừa khoát tay:

- Giảm tốc độ chậm lại!

Đoàn thuyền dần dần đi tốc độ chậm lại, không bao lâu, ba chiếc thuyền nhanh đến gần thuyền quân Hán.

Ba chiếc thuyền nhanh này chính là thuyền thám báo đi trước một bước đến liên hệ với quân Giang Đông. Bọn họ đưa tình báo quân Giang Đông đến. Lúc này, Cam Ninh nhìn thấy một vị tướng lĩnh quân Giang Đông dáng người khôi ngô đứng trên chiếc thuyền đầu tiên, đang cười chắp tay thi lễ với mình. Cam Ninh vừa liếc nhìn liền nhận ra, người này chính là Đại tướng quân Giang Đông Lã Mông.

Điều này khiến Cam Ninh có chút kinh ngạc. Lã Mông sao lại đến đây. Y vội vàng nghênh đón, cười đáp lễ:

- Lã tướng quân, đã lâu không gặp!

Lã Mông là phó tướng của chuyến xuất binh Hợp Phì của quân Giang Đông lần này, nhận sự uỷ thác của chủ tướng Hoàng Cái, đến trước để bàn bạc với quân Hán về việc hai quân hiệp đồng tác chiến. Lần này quân Giang Đông xuất binh Hợp Phì, tuy mệnh lệnh của Tôn Quyền là công mà không đánh, là làm một tư thế tiến công nhưng quân đội Giang Đông lại mạnh mẽ chủ trương dùng cơ hội lần này để đoạt lấy Hợp Phì.

Tướng lĩnh quân đội bao gồm Lỗ Túc, Hoàng Cái, Lã Mông, Thái Sử Từ, Lục Tốn, Hàn Đương … đều hy vọng có thể chính thức xuất binh tấn công Hợp Phì, thậm chí bao gồm Trình Phổ trước nay căm thù Kinh Châu cũng hai lần kiến nghị với Tôn Quyền đoạt lấy Hợp Phì, đến nội bộ quan văn cũng xuất hiện phân hoá ý kiến, quan lớn như Trương Hoành, Lã Phạm, Bộ Chất … cũng bắt đầu lên tiếng ủng hộ ý kiến quân đội.

Chính là dưới áp lực của quân đội và bộ phận quan văn, lập trường của Tôn Quyền cuối cùng cũng có chút dao động, hạ lệnh cho Hoàng Cái tuỳ cơ hành động. Mệnh lệnh này vẫn còn rất hàm hồ, đã không đồng ý đánh Hợp Phì, cũng không có nói không cho đánh, kỳ thực cũng là để Hoàng Cái đợi cơ hội, nếu cơ hội thích hợp thì có thể xem xét tiến công Hợp Phì.

Hiện tại, mười ngàn thuỷ quân quân Hán đến không thể nghi ngờ khiến Hoàng Cái nhìn thấy cơ hội, nhưng đồng thời cũng có vài phần nghi hoặc, quân Hán tại sao muốn tiến công Hợp Phì? Nếu sau khi đánh hạ Hợp Phì, chiến lược này phải quy về cho ai tất cả, chính là có chút nghi ngờ, Hoàng Cái bèn cử Lã Mông đến cùng Cam Ninh tiến hành kết nối bàn bạc.

Cam Ninh và Lã Mông hàn huyên vài câu, liền đi vào trong khoang thuyền. Hai người ngồi xuống đối diện, Cam Ninh cười nói:

- Không ngờ Lã tướng quân lại đích thân đến, ta nghĩ nhất định là mang tin tức khiến chúng ta cảm thấy hứng thú đến đây.

Lã Mông vội vàng khom người nói:

- Vì sự tình rất quan trọng, Hoàng Cái tướng quân hy vọng có thể hết sức kết nối với quý quân, nếu có thể, chúng ta hy vọng có thể hiệp đồng tác chiến.

Cam Ninh đương nhiên hiểu rõ mục đích chính thức khi Lã Mông đến đây, hẳn là sự đột nhiên xuất hiện của quân Hán khiến bọn họ nghi ngờ. Bọn họ lo lắng quân Hán cũng tham gia tranh đoạt Hợp Phì. Kỳ thực đây chính là dụng ý xuất binh Hợp Phì của Lưu Cảnh, ép quân Giang Đông chính thức xuất binh Hợp Phì, nếu không dựa vào một vạn thuỷ quân mà muốn chiếm Hợp Phì gần như là không thể.

Cam Ninh thản nhiên cười:

- Vì sự giằng co giữa Tương Dương và quân Tào ảnh hưởng rất lớn đối với Kinh Châu, cho nên chủ công chúng ta hy vọng có thể phá vỡ thế cục ở Hợp Phì, ép Tào Tháo rút quân. Vốn dĩ chỉ hy vọng quân Giang Đông có thể lấy được Hợp Phì, nhưng hơn một tháng rồi, quân Giang Đông trước sau vần không có hành động, tất nhiên chủ công nhà chúng ta cũng thông cảm chỗ khó xử của quân Giang Đông, cho nên chúng ta quyết định vất vả một chút, tự mình nắm lấy Hợp Phì.

Sắc mặt Lã Mông nóng bừng lên, hành động nhỏ của Ngô Hầu người ta thấy rất rõ ràng, khiến trong lòng y hổ thẹn. Lã Mông có chút ngại ngùng nói:

- Chúng ta quả thực có chút khó xử, là vì tiếp tế tiếp viện không đủ, lương thực của quân đội chậm chạp chưa đến, cho nên không có cách nào khỏi phát tiến công Hợp Phì. Bây giờ vấn đề lương thảo đã giải quyết, vừa hay quý quân cũng đến, ý của Hoàng tướng quân là hy vọng hai quân liên hợp tác chiến, đánh lấy Hợp Quỳ. Không biết ý Cam tướng quân thế nào?

Đây cũng không phải là quyết định tuỳ tiện của Lã Mông, mà là ý của Hoàng Cái, mấu chốt là Ngô công đã thoải mái hơn, Hoàng Cái bèn quyết định liên hợp với quân Hán tiến công Hợp Phì, không thể nhường Hợp Phì cho quân Hán. Cam Ninh chính là đang đợi câu nói này của Lã Mông. Y giả lả cười nói:

- Chúng ta đương nhiên chấp nhận bắt tay tác chiến với quân Giang Đông, chỉ là Hoàng tướng quân có thể quyết định không? Có cần bẩm báo trước với Ngô Hầu không?

Lã Mông lắc lắc đầu, nghiêm nghị nói:

- Việc tiến công Hợp Phì, Hoàng tướng quân có thể quyết định, nếu Cam tướng quân cho rằng cần bàn bạc chi tiết, có thể đợi Hoàng tướng quân đến.

- Không cần, ta có một cách, chúng ta không ngại nói một chút.

Cam Ninh quay người dặn dò thân binh ngoài cửa:

- Mang bản đồ đến đây cho ta!

Quân Giang Đông đóng quân cách Hợp Phì khoảng năm mươi dặm, cách hồ Sào chỉ có vài dặm, quân doanh chiếm mấy trăm mẫu đất, dùng bùn đất và gỗ đầm, tường cao lớn mà chắc chắn, từng dãy lều trại sắp hàng chỉnh tề, tổng cộng có hai vạn quân đóng.

Quân Giang Đông đóng quân ở đấy đã gần một tháng, nhưng bọn họ vẫn không phát động tiến công với thành Hợp Phì. Đồng thời, Tào Tháo cũng không phát động tiến công bọn họ. Hai bên giống như hẹn ngầm với nhau, không thăm dò đối phương.

Giữa trưa, Lã Mông kịp quay về quân doanh. Y trực tiếp đến đại trướng của Hoàng Cái. Lúc này Hoàng Cái đang trầm tư nghĩ kế chiếm lấy Hợp Phì trước bản đồ. Đây là lần thứ hai quân Giang Đông tiến công Hợp Phì. Lần đầu là lúc đại chiến Xích Bích, Tôn Quyền nhân cơ hội quân chủ lực Tào bị kiềm chế ở Xích Bích, phát động chiến dịch đối với Hợp Phì, đáng tiếc trúng kế hư binh của quân Tào, vội vã rút quân.

Còn lần này, Tôn Quyền cũng không có ý tưởng thực sự muốn tiến công Hợp Phì, chỉ là muốn tỏ vẻ. Điều này khiến Hoàng Cái vô cùng thất vọng, chỉ là ông ta không cam tâm, liên tiếp dâng thư cho Tôn Quyền. Dưới sự nỗ lực của các quan lớn khác, Tôn Quyền cuối cùng đồng ý cho ông ta có thể tuỳ cơ hành động.

Hiện nay quân Hán tiến công Hợp Phì, Hoàng Cái cho rằng chính là cơ hội. Nếu thực sự bị quân Hán chiếm lấy Hợp Phì, quân Giang Đông sẽ chịu tổn thất chiến lược nặng nề, bất luận thế nào, Hoàng Cái quyết không thể cho phép Kinh Châu chiếm lấy Hợp Phì. Đương nhiên, ông sẽ không hợp tác với quân Tào, ngăn chặm quân Hán hành động, mà sẽ cướp lấy trước khi quân Hán công chiếm Hợp Phì.

Ít nhất như vậy ông có thể tìm được lý do báo cáo với Tôn Quyền. Lúc này đối với Hoàng Cái một lòng muốn chiếm Hợp Phì mà nói, không nghi ngờ là một việc khiến người ta phấn chấn.

Lúc này, bên ngoài trướng có binh lính bẩm báo:

- Khởi bẩm tướng quân, Lã Giáo Uý đã về!

- Mau cho hắn vào!

Lã Mông bước nhanh vào đại trướng, khom người nói:

- Bỉ chức may mắn không làm nhục mệnh, lấy được tin tốt rồi.

- Tử Minh ngồi xuống nói đi.

Lã Mông ngồi xuống, rồi mới cười nói:

- Ta gặp được Cam Ninh. Y quả thực là đi tấn công Hợp Phì. Sau khi chúng ta song phương bàn bạc, Cam Ninh đồng ý hai bên tác chiến, cùng đánh hạ Hợp Phì.

- Vậy sau khi đánh hạ, Hợp Phì là của ai?

Đây mới là vẫn đề mấu chốt nhất của Hoàng Cái.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 634: Đêm tấn công Hợp Phì


Lã Mông cười nói:

- Tướng quân cho rằng mục đích thực sự mà quân Kinh Châu đến là gì?

Hoàng Cái trầm ngâm một chút rồi nói:

- Ý của Tử Minh là, Cam Ninh không muốn cướp Hợp Phì?

- Bọn họ chỉ mang có một vạn quân đội đến, tướng quân cho rằng dựa vào một vạn quân này mà có thể cướp được Hợp Phì sao?

Hoàng Cái đã hơi hiểu ý của Lã Mông, quân Kinh Châu đến là để thúc ép mình dẫn quân tấn công Hợp Phì, giải nguy cho Kinh Châu, ông ta gật đầu nói:

- Ngươi nói không sai, Hợp Phì chẳng có ý nghĩa gì với Kinh Châu, nhưng lại rất quan trọng với chúng ta. Tuy Cam Ninh đến là để ép chúng ta tấn công Hợp Phì nhưng ta còn muốn lợi dụng cơ hội này vừa để tấn công chiếm đoạt Hợp Phì, vừa để xem bọn họ có kế hoạch gì không?

- Có!

Lã Mông chỉ vào bản đồ nói:

- Trước Hợp Phì là bến sông Tiêu Dao, có 3 ngàn quân đóng ở đó. Cam Ninh làm ra vẻ bọn chúng tấn công bến sông Tiêu Dao để thu hút sự trợ giúp của quân Tào. Chúng ta phụ trách tấn công thành Hợp Phì, thực ra đây chính là nhường Hợp Phì lại cho chúng ta.

Hoàng Cái gật gật đầu nói:

- Quân Tào ở Hợp Phì chỉ có 1 vạn người, còn liên quân của chúng có đến 3 vạn người lấy được Hợp Phì là điều đương nhiên, tôi muốn biết khi nào thì ra tay?

- Ngay tối nay!

- Tối nay?

Hoàng Cái do dự một chút, buổi tối thích hợp để tấn công lén doanh trại nhưng không thích hợp để công thành, nhưng cuối cùng ông ta vẫn gật đầu:

- Nếu đã như vậy, lập tức truyền lệnh Tam quân, chuẩn bị xuất phát!

Bến sông Tiêu Dao là bến sông đi vào Hợp Phì, là một vùng hồ nước mênh mông nối thẳng với sông đào để bảo vệ thành. Nơi này không chỉ có địa thế khá có mà quan trọng hơn là, một nửa khác của bến sông Tiêu Dao thuộc nội thành Hợp Phì. Không cần tấn công tường thành có thể trực tiếp vào hội thành Hợp Phì. Đây là yếu địa chiến lược của bên ngoài huyện Hợp Phì.

Vì thủy quân Giang Đông nhanh nhạy khiến quân Tào lo lắng quân Giang Đông sẽ tấn công đường thủy. Vị trí của bến sông Tiêu Dao rất nổi bật, chủ tướng Mãn Sủng của quân Tào bố trí phòng ngự rất cẩn mật, chỗ trọng yếu của bến sông y cho 3 ngàn quân chiếm đóng. Xây dựng đại doanh chắc chắn từ ở bờ đông tạo thành nơi yếu địa.

Cam Ninh ra binh trước, y biết được tin tình báo về Hợp Phì rất tỉ mỉ từ một thương nhân đến từ chính nơi đó. Y biết bến sông Tiêu Dao chính là nơi trọng yếu của thành Hợp Phì, một khi bến sông Tiêu Dao bùng nổ trận chiến kịch liệt sẽ thu hút hơn nửa quân đội Hợp Phì đến đây. Đây chính là điều kiện để quân Giang Đông cướp lấy Hợp Phì.

Màn đêm đã buông xuống, quân Hán nhổ neo trên bến thuyền cách thị trấn khoảng 10 dặm, bốn bề tĩnh lặng không một bóng người. Đèn trong thuyền chủ sáng trưng, Cam Ninh đang triệu tập mười mấy bộ tướng thảo luận phương án tác chiến.

Ban ngày Cam Ninh đã phái 2 gã thám báo giả danh là thợ đánh cá dùng thuyền qua bến sông Tiêu Dao đi vào thành Hợp Phì vẽ một bản đồ phòng ngự giản lược. Cam Ninh chỉ vào bản đồ nói với mọi người:

- Ở bến sông Tiêu Dao quân Tào có 3 điểm phòng ngự quan trọng. Bờ tây là Đại quân doanh, phỏng chừng có khoảng hơn 2 ngàn quân. Bờ đông có 1 tiểu quân doanh, dựa vào bến, nghe nói trong quân doanh có thuyền bè, chắc là thủy trại của trinh sát tuần tra. Còn có một trạm canh gác trên một ngọn núi, có thể nhìn bao quát toàn bộ bến sông Tiêu sao, cho nên trận chiến này ta cho phép chia làm 2 đường.

Cam Ninh chỉ vào tiểu quân doanh trên bản đồ nói:

- Ban đêm trại canh gác không nhìn rõ thuyền bè trên sông, chỉ cần chúng ta tắt hết đèn dầu là được, nhưng quân Tào trong tiểu quân doanh sẽ tập kích chúng ta từ phía sau cho nên nhất định phải đánh hạ được nó.

Nói đến đây, y cười nói với Phó tướng Trần Sóc:

- Trần tướng quân có đồng ý với vụ mua bán này không?

Trước kia Trần Sóc vốn là tướng lĩnh của thủy quân Kinh Châu. Sau khi đầu hàng Lưu Cảnh đến nay vẫn cùng Lý Tuấn trấn thủ Vũ Xương, đã được thăng lên làm Giáo Uý. Lần này Lý Tuấn đóng giữ Giang Hạ, Trần Sóc làm Phó tướng theo Cam Minh tấn công Hợp Phì.

Ông ta cũng khom người cười nói:

- Cam chưởng quầy giao việc mua bán, tôi sao có thể từ chối, tôi đồng ý đi.

Tất cả mọi người đều mỉm cười, Cam Ninh lại không cười nữa mà nhìn mọi người với vẻ mặt nghiêm trọng:

- Trận chiến này liên quan đến phá cục giằng co của Kinh Châu, cũng liên quan đến việc tây tuyến bắc phạt có thuận lợi hay không, cho nên ta yêu cầu các vị, bằng bất cứ giá này cũng phải giành được thành Hợp Phì.

Mọi người liền đứng dậy nghiêm nghị nói:

- Ty chức tuân lệnh.

Lúc quân Hán nhổ neo ở Phì Thủy, ở bên kia Phì Thủy đã có mấy tên kỵ binh quân Tào chạy từ xa tới. Mấy tên lính này là thám báo Mãn Sủng phái đi theo dõi quân Giang Đông. Bọn chúng phát hiện ra quân Giang Đông có dị động từ trưa hôm nay liền vội vàng về thành Hợp Phì bẩm báo.

Lúc này, tên thám báo thủ lĩnh bỗng ghìm chặt ngựa nhìn chăm chú vào mặt sông, một lát sau y chỉ vào mặt sông đối diện nói:

- Các ngươi nhìn thấy mặt sông có gì không?

Mấy tên lính nhìn một lúc lâu rồi gần như đồng thanh nói:

- Là đội thuyền!

- Không chỉ là đội thuyền mà còn là cả một đội chiến thuyền.

Tên thám báo thủ lĩnh căng thẳng, tại sao lại có một đội thuyền khổng lồ như vậy? Ai ở trên thuyền? Y không kịp nghĩ lại liền dặn dò một tên thám báo khác tiếp tục theo dõi mặt sông, còn những người khác theo y tức tốc chạy về thành Hợp Phì.

Đối với quân Tào, Hợp Phì như một yếu địa chiến lược vô cùng quan trọng, là điểm mấu chốt để phòng ngự hướng tấn công mở rộng của quân Giang Đông. Đồng thời cũng là lô cốt đầu cầu để theo dõi quân Giang Đông, có trọng binh đóng quân nhiều năm. Khi Giang Đông có nội loạn, có lần số quân đóng ở đây lên đến 8 vạn. Khi thế cục Giang Đông dần đi vào ổn định, số quân Tào đóng quân ở đây mới dần giảm xuống. Lần này, quân Tào nam chinh Kinh Châu đã bắt đầu rút một bộ phận lớn quân đóng ở đây làm cho Hợp Phì chỉ còn lại 10 ngàn người do đại tướng Mãn Sủng cầm đầu.

Quân Tào cũng không quá lo lắng về vấn đề quân Giang Đông sẽ tấn công Hợp Phì. Một mặt triều đình đã sắc phong cho Tôn Quyền làm Ngô công, Tả tướng quân. Mặt khác, cũng bởi vì năm ngoái quân Giang Đông bị Giang Hạ đánh cho đại bại, nguyên khí vẫn chưa được khôi phục. Chưa nói đến lên bắc mà ngay cả việc bình ổn người Sơn Việt làm loạn cũng đã phải cố hết sức rồi. Hơn nữa, Tào Tháo còn cho rằng ngồi nhìn hạc-trai tranh chấp lại càng phù hợp với lợi ích của Tôn Quyền.

Chính cách nghĩ này dã khiến Tào Tháo nhận định Tôn Quyền sẽ không tấn công Hợp Phì. Mà cho dù có tấn công thì cũng chỉ là nể mặt Lưu Cảnh mà tỏ một chút thái độ mà thôi. Nhìn biểu hiện trước mắt của quân Giang Đông thì quả thực là như vậy, đã một tháng quân Giang Đông vẫn án binh bất động.

Nhưng Mãn Sủng lại rất cẩn thận, y phái mật thám theo dõi từng động tĩnh của quân Giang Đông.

Đêm đến, Mãn Sủng tuần tra trên đầu thành giống như mọi khi. Cách y không xa, từng đội tuần tra trên đầu thành cũng bắt đầu đi tuần tra. Y bố trí 7 ngàn quân trong nội thành, còn bến sông Tiêu Dao là 3 ngàn quân. Mãn Sủng không yên tâm nhất chính là bến sông Tiêu Dao kia, đó là vùng không có tường thành, chiến thuyền có thể dọc theo sông đào mà vào thẳng thành. Hơn nữa, với sự sắc bén của thủy quân Giang Đông, vị trí chiến lược của bến sông Tiêu Dao càng trở nên quan trọng.

Mãn Sủng đứng trên đầu thành nhìn bến sông Tiêu Dao phía xa xa. Trong đêm không nhìn thấy đại doanh nhưng có thể nhìn thấy điểm sáng lờ mờ. Y biết rằng, đó chính là đèn lồng treo trên trạm canh gác, đèn lồng sáng chứng tỏ bên sông Tiêu Dao bình yên vô sự.

Đúng lúc này có một tên lĩnh vội chạy đến thi lễ bẩm báo:

- Trương quân hầu quay về rồi, nói có tin tình báo quan trọng.

Trương quân hầu chính là thủ lĩnh đám thám báo mà Mãn Sủng phái đi theo dõi quân Giang Đông. Y có tin tình báo quan trọng, chắc chắn là quân Giang Đông đã có động tĩnh gì rồi. Mãn Sủng vội vàng ra lệnh nói:

- Dẫn y lên!

Không lâu sau, Trương quân hầu được binh lĩnh dẫn lên, y khom người thi lễ nói:

- Tham kiến đô đốc!

- Tình hình Quân Giang Đông thế nào rồi?

Mãn Sủng hỏi.

- Quân Giang Đông có động tĩnh, từ trưa hôm nay chúng đã bắt đầu thu dọn hành lí chuẩn bị xuất phát.

- Đi đâu?

- Chắc là thành Hợp Phì!

Mãn Sủng giật mình, y đã nghĩ chuẩn bị thu dọn hành lý rút lui, không ngờ là đi về phía Hợp Phì. Y vẫn có vẻ không tin liền truy vấn:

- Chắc chắn không? Đi về phía chúng ta à?

- Có thể chắc chắn, ty chức tận mắt nhìn thấy bọn họ đi, hơn nữa ty chức còn có tin quan trọng hơn.

- Tin gì?

Trương quân hầu có vẻ căng thẳng nói:

- Lúc ty chức trở về, có phát hiện trên mặt nước Phì Thủy có chiến thuyền, ít nhất phải hơn 10 chiến thuyền trở lên, đại bộ phận đề là chiến thuyền ngàn thạch.

Tin này khiến Mãn Sủng chấn động,y vội vàng nói:

- Chiến thuyền đang ở đâu?

- Cách chúng ta khoảng 10 dặm.

Tin tình báo này khiến trong lòng Mãn Sủng căng thẳng. Y biết quân Giang Đông không có chiến thuyền trên 1 ngàn thạch, chiến thuyền cũng không đến đây hết. Hợp Phì lại càng không có đến mấy chục chiến thuyền ngàn thạch, đội thuyền chiến này xuất hiện có vẻ kì lạ, đây là có chuyện gì? Chiến thuyền của nơi nào?

Nhưng cho dù y có nghĩ thế nào thì y cũng không thể ngờ đó chính là chiến thuyền Kinh Châu. Dù sao cũng rất xa xôi, thủy quân Kinh Châu không thể bôn ba ngàn dặm mà đến được. Nghĩ đi nghĩ lại, chỉ có thể là quân Giang Đông, lẽ nào là chiến thuyền tiếp ứng của quân Giang Đông sao?

Mãn Sủng nghĩ đến dị động của quân Giang Đông, đội thuyền này xuất hiện như vậy cũng có thể giải thích đây chắc chắn là viện quân của Hoàng Cái do Tôn Quyền phái đến. Nhưng điều khiến Mãn Sủng cảm thấy nghĩ ngờ chính là tại sao quân Giang Đông lại phải xuất phát về phía Hợp Phì? Lẽ nào bọn họ không muốn giả vờ chuẩn bị tấn công Hợp Phì trên quy mô lớn sao?

Trong lòng Mãn Sủng rối bời, nghĩ mãi mà không ra, lúc này phó tướng Tào Chân vội vàng đến. Mặc dù Tào Chân là con nuôi của Tào Tháo nhưng kinh nghiệm và sách lược của y không được bằng Mãn Sủng cho nên Tào Tháo đã bổ nhiệm y làm phó tướng.

Thực tế Tào Chân là trợ thủ của Tào Thuần thống lĩnh Hổ báo kỵ cùng với Tào Hưu làm phó tướng Hổ báo kỵ cho Tào Thuần. Sở dĩ hiện tại y xuất hiện ở Hợp Phì là vì trong 10 ngàn quân đội Hợp Phì có 1 ngàn kỵ binh của Hổ báo kỵ. Tào Chân là thủ lĩnh của 1 ngàn binh Hổ báo kỵ đó.

Tào Chân đi lên hỏi:

- Đô đốc, đã xảy ra chuyện gì vậy?

Mãn Sủng thở dài nói:

- Thám báo phát hiện ra có đội thuyền trên mặt sông cách đây hơn 10 dặm, đều là chiến thuyền ngàn thạch, ước có khoảng mấy chục thuyền. Quân Giang Đông đã rời khỏi đại doanh, tấn công về phía Hợp Phì.

Tào Chân cũng giật mình kinh hãi, y vội nói:

- Đô đốc cho rằng đội chiến thuyền này là của quân Giang Đông sao?

- Ta không biết nhưng ta không ngờ là vẫn còn khả năng khác là thủy quân Kinh Châu?

- Tuy khả năng này khá thấp nhưng cũng không phải là không thể. Nhưng hiện tại với hơn 10 chiến thuyền này, đối phương vượt xa chúng ta về binh lực, Đô đốc, bến sông Tiêu Dao nguy hiểm rồi.

Tào Chân nhắc nhở Mãn Sủng một câu, đối phương đến bằng chiến thuyền chắc chắn sẽ vào thành qua bến sông Tiêu Dao. Y lại nhìn về bến sông Tiêu Dao thấy ngọn đèn giữa không trung vẫn còn, không có gì lạ thường khiến lòng y yên ổn hơn một chút.

Lúc này Tào Chân ôm quyền nói:

- Ty chức đi thủ bến sông Tiêu Dao! Ty chức đã từng luyện thủy chiến ở hồ Huyền Vũ, có thể đánh với địch một trận.

Mãn Sủng biết y võ nghệ rất cao cường, hơn nữa, tên pháp cũng xuất chúng liền gật đầu nói:

- Ta giao 1 ngàn kỵ binh cho ngươi, tổng cộng là 4 ngàn người phải bảo vệ được bến sông Tiêu Dao.

- Tuân lệnh!

Tào Chân thi lễ rồi vội vàng đi, lúc này Mãn Sủng liền xoay người ra lệnh:

- Truyền lệnh của ta, toàn quân lên thành.

Lính liên lạc chạy như bay về phía doanh trại. Mãn Sủng xoay người xuống thành, lúc này trong đầu y có một suy nghĩ: “Vì sao không phải thủy quân Kinh Châu? Rõ ràng là chiến thuyền ngàn thạch, chỉ có thủy quân Kinh Châu đến thì quân Giang Đông mới có thể chính thức tấn công Hợp Phì”.

Lúc này đây, Mãn Sủng bỗng nhiên hiểu ra thủy quân trên mặt sông là đến từ đâu, trong lòng y càng thêm căng thẳng.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 635: Kịch chiến Hợp Phì (thượng)


Trong đêm tối, Trần Sóc dẫn theo 2 ngàn binh lính đi dọc theo bờ tây Phì Thủy, nhiệm vụ của ông ta là đánh vào tiểu quân doanh ở bờ tây, phòng quân Hán tấn công từ phía sau. Quân đội của ông ta đi rất bí mật, dần dần đã đến quân doanh, tuy chỉ là tiểu quân doanh nhưng cũng phải chiếm đến mấy mẫu đất. Đây là nơi đóng quân của 1 ngàn quân Tào, cũng có 50 chiến thuyền, là trạm canh gác thủy trại của sông đào bảo vệ thành.

Sau khi Trần Sóc quan sát doanh trại quân địch tỉ mỉ liền phái 2 gã thám báo đến thăm dò cách bố trí doanh trại của quân địch. Một lát sau, hai gã thám báo trở về thấp giọng bẩm báo:

- Bốn phía không có cây củ ấu và sừng hươu, cũng không có hố ngựa vùi lấp, là một doanh trại bình thường.

- Có lính gác không?

Trần Sóc lại hỏi.

- Có nhưng nhiều nhất cũng chỉ có thể nhìn được 20-30 bước.

Trần Sóc đảo mắt lập tức ra lệnh nói:

- Mọi người xếp thành hàng, theo ta đi vào doanh trại của địch.

Chủ tướng Mãn Sủng đã ra lệnh cảnh báo đến bến sông Tiêu Dao nhưng vì mặt sông cách trở tạm thời tin này vẫn chưa đến được tiểu doanh trại bên bến bờ đông. Lúc này, đã là canh 1, đại bộ phận binh lính đang chìm say trong giấc ngủ, trong quân yên tĩnh lạ thường. Trên tháp canh hai bên trái phải của cửa chính có hai tên lính đang tuần tra.

Lúc này, một tên lính bỗng phát hiện ra trong bóng đêm có đội quân xếp thành hàng đang đi tới, y hét lớn:

- Ai, đứng lại.

- Chúng tôi phụng lệnh Thừa tướng, từ Nam Dương đến đây viện trợ, Mãn Sủng tướng quân có ở đây không?

Đối phương cao giọng trả lời nhưng đội quân kia vẫn không dừng lại mà càng lúc càng đến gần. Lính gác hơi chần chừ, y đã được cảnh báo từ lâu nhưng lại không ngờ là có quân đội từ Nam Dương đến, là viện quân mà Thừa tướng phái đến.

Lúc y đang do sự thì đối phương đã đi được mấy chục bước nữa, lúc này tên lĩnh gác mới bừng tỉnh ngộ hô lớn:

- Không được bước về phía trước.

Y vừa dứt lời thì một mũi tên phóng đến nhanh như tia chớp, mũi tên cắm trúng cổ họng của tên lĩnh gác, y ôm cổ rồi ngã vào tháp canh. Bỗng một tên lính khác kịp phản ứng, kinh hãi hô to:

- Có biến, có kẻ thù!

Không đợi cho y gõ chuông cảnh báo, mấy mũi tên đã đồng thời lao về phía y. Y kêu thảm một tiếng rồi ngã xuống. Lúc này, Trần Sóc hét lớn:

- Giết vào trong!

Hàng trăm tên lính ôm cây gỗ xông lên, “ầm” một tiếng vang rất lớn, đâm thủng cửa chính của doanh trại. Ba ngàn quân Hán reo hò liều chết xông vào trong. Tất cả quân Tào đã tỉnh giấc, nhất là hơn 10 lều lớn gần đó không đợi cho binh lính kịp tỉnh lại chúng đều đã trở thành ma dưới lưỡi đao.

Quân Tào bị đánh thức, hoảng sợ la to chạy tán loạn, có rất nhiều binh lính không thể chạy trốn liền quỳ xuống đất xin đầu hàng, tha mạng. Lúc này, trên con đường bên ngoài doanh trại, Tào Chân đã dẫn theo 1 ngàn kỵ binh vội vàng chạy về phía tiểu doanh trại. Y vừa đi ra khỏi thành theo đường vòng đến đây, cách doanh trại có 1 dặm thì bỗng có một tên lính chỉ vào tiểu doanh trại hô to:

- Tướng quân mau nhìn xem!

Tào Chân ghìm chặt chiến mã, y đã nhìn thấy lửa cháy từ phía tiểu doanh trại:

- Không hay rồi!

Tào Chân bỗng hiểu ra, đây chắc chắn là tín hiệu báo tin cho một đội quân khác tấn công bến sông Tiêu Dao.

Tào Chân đang định quay ngựa nhưng lại ghìm chặt chiến mã, từ từ tháo giáo dài xuống. Vì sao y lại bị động? Vì sao phải đi? Y muốn giết địch trong tiểu doanh trại, y bỗng giơ cây giáo dài trong tay hét lên:

- Các huynh đệ, theo ta giết vào!

Một ngàn Hổ báo kỵ liền chạy, như một trận sấm đánh về hướng về tiểu doanh trại.

Lửa trong tiểu doanh trại đúng là tín hiệu phát đi cho Cam Ninh. Lúc này, đội thuyền của Cam Ninh đã ở ngoài doanh trại đang lẳng lặng đợi lúc xuất kích. Nhìn thấy lửa từ tiểu doanh trại cháy từ phía xa nhưng Cam Ninh vẫn chưa truyền lệnh tấn công.

Cam Ninh đứng ở đầu thuyền nhìn chăm chú vào ngọn đèn lồng trên trạm canh gác phía xa. Đèn lồng đã tắt, đây là tín hiệu cảnh báo, nhưng điều khiến Cam Ninh thấy lạ chính là trước khi tiểu doanh trại đốt lửa làm tín hiệu thì đèn ở trạm canh gác đã tắt rồi.

Điều này chứng tỏ quân Tào đã phát hiện ra từ trước khi bọn họ đến. Nếu đã như vậy có thể nào doanh trại chủ đã có sự chuẩn bị hay không? Ánh mắt của Cam Ninh nhìn về phía doanh trại chủ, tràn đầy sự nghi ngờ.

Lúc này, có một gã nha tướng đến gần thuyền lớn của Cam Ninh hỏi:

- Tướng quân, có đánh một trận không?

Cam Ninh gật gật đầu, cho dù đối phương có phát hiện ra bọn họ hay không thì trận chiến này cũng không thể tránh khỏi. Cam Ninh liền ra lệnh:

- Có thể xuất chiến rồi, bảo các huynh đệ dùng tấm chắn bảo vệ mình.

Vừa ra lệnh, chiến thuyền của Cam Ninh liền phát đi tín hiệu. Đây là tín hiệu ra lệnh cho 30 chiến thuyền tấn công. Trong bóng đêm, 30 chiến thuyền cùng xuất phát, dùng sức đạp của con người bánh xe gỗ chuyển động chiến thuyền càng lúc càng nhanh. Lính đứng đầy trên chiến thuyền tay cầm trường mâu, căng thẳng nhìn bến thuyền trong bóng đêm.

Trên bến thuyền rất yên tĩnh dường như không ai phát hiện ra chiến thuyền Kinh Châu. Càng lúc càng gần, 300 bước, 200 bước chiến thuyền đã đi vào trong 100 bước. Trong bóng đêm bỗng có tiếng mõ, ánh lửa xuất hiện trên bến thuyền, vô số lính mai phục trên bến thuyền xuất hiện.

Trên bến thuyền có khoảng hơn 10 ngàn quân đội, bọn chúng giương cung nỏ bắt lên chiến thuyền của quân Hán. Tên bay như vũ bão, bắn về phía thủy binh quân Kinh Châu, không ngừng có người kêu lên thảm thiết ngã xuống nước.

Lúc này, chỉ nghe thấy “ầm” một tiếng vang thật lớn. Một con thuyền phía trước đã va phải một tảng đá lớn, đầu thuyền bị dập nát, thân thuyền lật úp. Gần trăm binh lính trên chiến thuyền ngã xuống nước, mấy chiến thuyền ngay sau đó cũng va phải đá lớn loạn thành một bầy.

Đây chính là “ám khí” Mãn Sủng thiết lập để đề phòng chiến thuyền của quân Giang Đông xâm lấn. Chỉ có thuyền trăm thạch hoặc thuyền nhỏ mới có thể lách qua được. Không ngờ, chiến thuyền quân Giang Đông chưa đến thì chiến thuyền quân Kinh Châu đã đánh vào. Chiến thuyền của quân Hán đều là 500 thạch cho nên không thể lách qua được những tảng đã ngầm dưới sông này.

Dưới nước có đá lớn chắn đường, trên mặt nước tên như mưa, binh lính chết thê thảm và nghiêm trọng, chiến thuyền Kinh Châu không thể đổ bộ, đành phải rút lui về phía sau.

Lúc bến sông Tiêu Dao bị ngăn cản thì tiểu doanh trại cũng xuất hiện cục diện bất lợi. Tào Chân dẫn theo 1 ngàn kỵ binh Bổ báo giết vào trong quân doanh, triển khai trận chém giết thảm khốc với 3 ngàn thủy quân Kinh Châu.

Hổ báo kỵ là đội quân tinh nhuệ nhất của quân Tào. Trước năm Kiến An thứ 10, kỵ binh của Hổ báo kỵ không nhiều lắm, chỉ có hơn 6 ngàn người nhưng trong cuộc chiến tranh tấn công người Ô Hoàn, Tào Tháo đã lựa chọn ra 3 ngàn trai tráng Ô Hoàn có kỹ thuật cưỡi ngựa tốt thành lập tân Hổ báo kỵ binh, giao cho Tào Thuần huấn luyện. Mấy năm qua đi, kỵ binh của Hổ báo kỵ đã là chủ lực chiến đấu trên bộ của quân Tào.

Tào Thuần dẫn theo chỉ vẻn vẹn 1 ngàn kỵ binh đánh tan 10 ngàn quân của Viên thị, lúc tiêu diệt Điền Ngân, Tô Bá người Hà Gian tạo phản, 3 mãnh tướng họ Tào là Tào Thuần, Tào Hưu, Tào Chân đã dẫn theo 2 vạn Hổ kỵ binh một trận chiến đã đánh bại 200 ngàn quân khởi nghĩa, làm cho Hổ báo kỵ uy danh khắp Hà Bắc Trung Nguyên.

Đây là lần đầu tiên Hổ báo kỵ gặp thủy quân Kinh Châu. Cho dù thủy quân trên mặt nước là vô địch thiên hạ nhưng trên đất liền thì thua xa Hổ báo kỵ. Từng đội từng đội Hổ báo kỵ tung hoành trong quânh doanh, chiến đao bổ chém, trường mâu đâm nhanh. Lính Kinh Châu hưng phấn phản kích nhưng cuối cùng vẫn không thể chống lại kỵ binh của quân Tào. Họ không ngừng bị kẻ địch đâm chết, kêu la thảm thiết từ tứ phía. Trận hình tập kết của Thủy quân Kinh Châu bị kỵ binh tấn công, dẫn dần lâm vào hỗn loạn.

Trần Sóc thấy tình thế không ổn, ông ta biết rút lui ra ngoài doanh trại thì chỉ còn đường chết, liền chỉ vào trong nước hô lớn:

- Rút lui lên mặt nước!

Hai ngàn thủy quân đã tử thương mất hơn 400 người, còn lại hơn 1500 binh lính đều chạy về phía doanh trại bến thuyền phía tây nam, một ngàn kỵ binh thì đuổi giết phía sau.

Lúc này, Tào Chân nhìn thấy Tào Sóc. Y biết đây là chủ tướng của quân địch liền treo giáo dài, giương cung lớn. Tào Chân có cánh tay sức mạnh ngàn cân, tiễn pháp xuất chúng, từng cưỡi ngựa bắn hổ, hồ kêu lên rồi ngã gục.

Tào Chân phóng ngựa, lắp cung tên một mũi tên bắn về phía chủ tướng của quân địch. Lúc này, Trần Sóc lui binh trên bờ, bất ngờ gặp mũi tên bắn nhanh như tia chớp liền tránh không kịp. Một mũi tên bắn trúng đầu, ông ta đã chết thảm dưới cung tên của Tào Chân.

Tào Chân thấy chủ tướng quân địch đã chết liền giơ giáo lên hét lớn:

- g**t ch*t hết cho ta.

Một ngàn kỵ binh từ tứ phía tấn công thủy quân Kinh Châu, còn thủy quân Kinh Châu thì đều nhảy xuống nước ra sức bơi ra đảo nhỏ trong hồ từ cách đó một dặm. Tào Chân đang muốn hạ lệnh dùng mũi tên bắn quân địch dưới nước thì lúc này có một gã kỵ binh chạy đến lớn tiếng bẩm báo:

- Tướng quân, quân địch đã bắt đầu tấn công vào doanh trại chủ rồi, có hơn trăm chiến thuyền, thanh thế rất lớn.

Tào Chân bị chấn động, Mãn Sủng giao bến sông Tiêu Dao cho y, nếu doanh trại chủ bị chiếm đóng, đường thông hành vào trong thành sẽ bị mở. Y không tiếp tục đuổi giết binh lính rơi xuống nước nữa, liền phất tay hô:

- Đi theo ta!

Một ngàn Hổ báo kỵ quay ngựa đi theo Tào Chân phi gấp về phía ngoài đại doanh.

Thủy quân Kinh Châu tấn công doanh trại chủ cũng không được thuận lợi. Thuyền va phải đá ngầm dưới nước đã không thể cập bờ, hơn nữa mũi tên của địch bắn xuống cũng dày đặc. Thủy quân chỉ có thể dùng cung tên để đánh trả, cho dù có lá chắn hộ thân nhưng thủy quân vẫn bị thương vô số. Xa xa, cửa thành phía tây có tiếng la hét giết rung trời, đây là quân Giang Đông đã phát động tấn công thành trì.

Theo ước định của hai bên, quân Hán lấy bến sông Tiêu Dao thu hút quân Tào chủ lực, làm giảm sự phòng ngự của quân Tào ở thành trì để quân Giang Đông có cơ hội phá thành, nhưng tình huống không ngờ khiến quân Hán tấn công gặp phải khó khăn, không thể thi hành theo tiến độ kế hoạch ban đầu đã đề ra.

Lúc này Cam Ninh đã biết tin Trần Sóc bỏ mạng, y tức sùi bọt mép, hai mắt đỏ ngầu, tay cầm đơn kích và tấm chắn nhảy lên một con thuyền 3 lá quát to:

- Đi theo ta!

Hơn 10 thuyền ba lá chở 200 tên lính đi theo sau Cam Ninh chạy về phía bến thuyền.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 636: Kịch chiến Hợp Phì (hạ)


Một Nha tướng dẫn hơn 1 ngàn binh lính lên bến sông Tiêu Dao, Tào Chân dẫn theo kỵ binh đến trước tiểu quân doanh, đã bố trí xong tuyến phòng ngự quân địch phục kích vòng đầu tiên. Vì đá ngầm dưới sông đã cản chở chiến thuyền của quân Kinh Châu nên quân Tào đã chiếm thế thượng phong, bọn họ phong tỏa đường tấn công của quân Hán theo 3 hướng. Mũi tên bay như mưa ép cho binh lính quân Hán trên chiến thuyền không thể ngóc đầu lên được.

Lúc này, trong tiếng trống cổ vũ cuộc chiến, hơn 10 chiếc thuyền ba lá nhỏ tiến vào bến thuyền. Một chiếc thuyền ba lá dẫn đầu, Cam Ninh tay cầm lá chắn, ánh mắt nhìn chằm chằm vào quân Tào trên bến, thuyền ba lá lướt cực nhanh chỉ trong chớp mắt đã luồn lách qua các tảng đá ngầm.

Lính Tào gần như bắn tên đồng loạt, mũi tên dày đặc lao về phía Cam Ninh. Cam Ninh nửa quỳ trên thuyền nâng lá chắn đón mũi tên. Âm thanh dồn dập, lá chắn đã cắm đầy mũi tên, Cam Ninh hét lớn từ đầu thuyền nhảy lên, đoản kích bổ ra chém ngã hai tên lính Tào rơi xuống đất.

Cam Ninh quăng tấm chắn xuống, rút một cây đoản kích khác hét lớn giết vào trong đám lính Tào. Song kích đâm chém, những nơi nó đi qua máu thịt văng tung tóe, tử thi quân Tào ngã xuống như ngả dạ, tiếng kêu thảm không ngừng. Nha tướng vội hô to:

- Đây là chủ tướng quân địch, xông lên giết y đi.

Vô số lính Tào đánh về phía Cam Ninh, nhưng y càng đánh càng hăng, như một con mãnh hổ xông vào bầy cừu, sắc bén không gì ngăn nổi. Lúc này, 200 quân Hán ở phía sau cũng xông lên bờ theo Cam Ninh cùng binh lính quân Tào chiến đấu rất kịch liệt.

Quân Hán tấn công lên bờ khiến quân Tào hỗn loạn, mũi tên cũng ngừng bắn, đá ngầm dưới nước cuối cùng cũng bị đám lính dùng dây thừng kéo đi mở ra một đường. Từng chiến thuyền xuyên qua con đường này tiến sát lên bờ.

Càng lúc càng nhiều quân Hán xông lên bờ, trợ giúp một chủ tướng và 200 binh lính chiến đấu anh dũng, binh lực dần đảo ngược tình thế, quân Tào ngăn cản không nổi, cuối cùng cũng bỏ chạy. Chạy trốn đầu tiên là Nha tướng, sau đó là mấy trăm binh lính chạy theo, liều mạng chạy về phía doanh trại chủ.

Cam Ninh cũng không vội vã đuổi theo mà lệnh cho đám lính trên bờ dùng dây thừng kéo dãn tảng đá ngầm lớn nhất ra, con đường đã được mở hoàn toàn thông thoáng. Chiến thuyền quân Hán bắt đầu cập bờ trên quy mô lớn, từng đám binh lính chạy từ trên thuyền xuống nhanh chóng tập kết thành hàng trên bờ biển.

Người Cam Ninh toàn là máu nhưng lại không hề bị thương, y đứng trên tảng đá lớn nhìn về phía doanh trại chủ và thành trì phía xa. Vừa rồi y được bẩm báo, tiểu doanh trại đã bị kỵ quân dũng mãnh của quân Hán đánh bại. Điều này khiến Cam Ninh ý thức được, có thể bọn họ sẽ gặp phải binh Hổ báo kỵ sắc lợi hại nhất của quân Tào.

Từ chỗ này đến doanh trại chủ khoảng 3 dặm, đó là một khoảng đất rộng lớn, bằng phẳng rất có lợi cho kỵ binh tấn công. Nếu cứ như vậy mà giết qua, rất có thể sẽ gặp phải sự tấn công đón đầu của Hổ báo kỵ quân Tào.

Cam Ninh quay đầu lại nhìn về phía bên cạnh, đó là một mô đất, cao khoảng mấy chục trượng, có cây cối rậm rạp rất thuận lợi cho kỵ binh tác chiến. Quan trọng hơn là rừng cây dài và hẹp, có hình trăng lưỡi liềm, tiếp cận được với doanh trại chủ rất nhanh. Lúc này, Cam Ninh ra lệnh:

- Quân đội lên gò đất!

Mấy ngàn quân đội đã tập kết trận hình lập tức lao lên gò đất, rồi nhanh chóng lao vào rừng cây, đi dọc hai bên mà chạy gấp về phía doanh trại chủ.

Dự đoán của Cam Ninh cũng không sai, Tào Chân đã dẫn theo 1 ngàn binh lính lợi dụng lúc quân Hán bị ngăn cản lách qua đường nhỏ mà đi. Một ngàn kỵ binh xếp thành hàng đi về phía cánh đồng phía trước, chuẩn bị đón sự tấn công của quân địch.

Lúc này, Tào Chân đã biết quân Kinh Châu đánh lén bến sông Tiêu Dao, y lập tức phái người đi bẩm báo với Mãn Sủng.

Tào Chân rất tự tin vào kỵ binh của mình, cha y đã từng nói tuy thủy quân Kinh Châu hùng mạnh nhưng đến bình nguyên phương bắc thì kỵ binh của họ sẽ đánh bại thủy quân Kinh Châu. Hôm nay, y muốn chứng minh điều này, nhưng đợi một lúc lâu vẫn không thấy binh lính quân Hán đến khiến y có vẻ ngạc nhiên.

Đúng lúc này, trong rừng cây ở gò đất bỗng có đàn chim bay tán loạn, Tào Chân lập tức tỉnh ngộ, quân Hán đã tiến vào rừng cây, y giận tím mặt hô lớn:

- Giết lên, đốt rừng cây, đốt cho bọn chúng ra.

Một ngàn kỵ binh bắt đầu hành động, tiếng vó ngựa chạy như sấm, bụi đất bay cuồn cuộn đánh về phía đồi núi cách đó 3 dặm.

- Cam tướng quân, bọn họ giết đến rồi!

Một gã lính vội chạy vào rừng cây hô lên.

Một gã Nha tướng khác cũng thấp giọng đề nghị:

- Dầu hỏa của quân Tào cũng rất lợi hại, chú ý bọn chúng đốt rừng.

Cam Ninh trầm tư một lát rồi nói với 3 gã Nha tướng:

- Ba người các ngươi dẫn quân canh gác ở phía bắc rừng cây, dùng cung tên chặn kỵ binh đến gần rừng cây.

Y nói với cấp dưới:

- Quân đội còn lại đi đến phía nam rừng cây, phục kích kỵ binh từ phía sau.

Mọi người lĩnh lệnh, 8 ngàn quân đội chia làm 2 đường tự chạy về hướng nam, bắc.

Chiến mã lao nhanh trong bóng đêm, hơn 1 ngàn Hổ báo kỵ trong nháy mắt đã giết đến trước núi. Tào Chân giơ tay, chiếm mã dần chậm lại rồi dừng hẳn, bắt đầu xếp thành hàng, 50 kỵ binh thành một đội, tổng cộng có gần 20 đội, tay cầm trường mâu và tấm chắn đằng đằng sắt khí nhìn chăm chú về phái đồi núi.

Bên cạnh từng cây trên gò núi, 3 ngàn quân Hán đang cầm nỏ, hợp thành trận nỏ, mũi tên sắc bén nhắm vào kỵ binh phía dưới dồi. Dựa và rừng cây là trận hình đau đầu nhất của kỵ binh, một khi kỵ binh xông đến đối phương sẽ nhanh chóng lui vào rừng khiến kỵ binh khó mà tấn công được.

Nhưng lúc này Tào Chân hy vọng quân Hán có thể lui vào rừng cây để y phóng hỏa đốt rừng. Y giơ cây thương lớn lên hét một tiếng:

- Giết lên!

Một ngàn kỵ binh Hổ báo kỵ phát run, mặt đất bắt đầu chấn động. Kỵ binh đông nghìn nghịt giương lá chắn và trường mâu, trận hình giống như vạn quân lôi đình thổi quét tới quân Hán.

Ba ngàn quân Hán xếp đội hình thành chữ “Phẩm” người nào cũng có nỏ, đồng loạt giương nỏ nhắm vào kỵ binh quân Tào. Kỵ binh càng lúc càng đến gần, nhanh chóng vào phạm vi sát thương. Lúc này có tiếng mõ vang lên, chỉ nghe thấy những tiếng ken két của nỏ cơ vang lên. Đợt nỏ đầu tiên b*n r* như một trận bão gào thét lao về phía kỵ binh.

Chiến mã kêu thảm, một đám người ngã ngựa đổ, tốp kỵ binh đầu tiên đã ngã quỵ khiến kỵ binh lâm vào cảnh hỗn loạn, nhưng dù sao Hổ báo kỵ cũng là đội kỵ binh ưu tú nhất, bọn họ nhanh chóng khôi phục lại, tiếp tục lao về phía trước. Lúc này, đợt tên thứ hai b*n r*, ngay sau đó là đượt tên thứ 3.

Ba ngàn quân Hán phối hợp vô cùng ăn ý, thay nhau bắn tên, chỉ trong khoảnh khắc đã b*n r* 3 lượt tổng cộng là 9 ngàn mũi làm cho Hổ báo kỵ bị thương hơn 300 người. Sự kiêu ngạo của họ đã bị đánh bại, Tào Chân thấy mũi tên của quân Hán sắc bén, kỵ binh chết thê thảm và nghiêm trọng trong lòng y vô cùng tức giận nhưng lại không thể làm gì khác, chỉ biết hô to một tiếng:

- Rút lui về phía sau.

Kỵ binh như thủy triều rút lui về phía sau ra khỏi tầm bắn của quân Hán, chỉ thấy chiến mã và kỵ binh ngã đầy trên sườn núi. Hơn 100 tên lính nhanh nhẹn lao vào trong quân địch đâm chết đám kỵ binh bị thương. Một lát sau, trên sườn núi tĩnh mịch, tiếng kêu thê thảm của thương binh cũng ngừng hẳn.

Trong lòng Tào Chân hơi lo lắng, y nhận được tin quân Giang Đông cũng đã phát động tấn công cửa thành phía tây. Đây rõ ràng là quân Kinh Châu đã liên thủ với quân Giang Đông để tấn công Hợp Phì, nhưng binh lực của bọn y không đủ chỉ e không giữ nổi Hợp Phì.

Tào Chân phải bảo tồn thực lực, suy nghĩ muốn rút khỏi Hợp Phì. Đúng lúc này, bỗng phía sau có tiếng kêu thảm, y ngẩn người ra quay đầu nhìn lại, chỉ thấy đám kỵ binh hỗn lọan. Trong bóng đêm không biết có bao nhiêu binh lính đánh tới, có một gã kỵ binh vội vàng chạy đến la lớn:

- Tướng quân, phía sau có rất nhiều quân địch tấn công chúng ta, các huynh đệ chết rất thê thảm và nghiêm trọng.

Tào Chân kinh hãi, y bỗng ý thức được mình đã bị quân địch bao vây. Lúc này trên gò núi có tiếng nổ lớn, 3 ngàn quân Hán cùng hò hét, bọn họ đổi dùng trường mâu, liều chết từ trên sườn núi lao xuốg. Kỵ binh quân Tào đều lui về phía sau. Tào Chân gấp gáp hô to:

- Không được rút lui, lên nghênh chiến.

Chỉ trong nháy mắt, kỵ binh và bộ binh quân Hán đã liều chết cùng một chỗ. Cùng lúc đó, Cam Ninh dẫn theo 5 ngàn quân Hán tấn công kỵ binh quân Tào từ phía sau, 8 ngàn bộ binh quân Hán hình thành một vòng bao vây hơn 600 Hổ báo kỵ.

Tào Chân thấy tình thế không ổn nếu không tháo chạy thì toàn quân của bọn y sẽ bị tiêu diệt, y phát hiện quân Hán phía tây bắc vẫn chưa đánh tới, vẫn còn một lỗ hổng rộng mấy chục trượng, y hét lớn:

- Đi theo ta.

Tào Chân múa giáo giết về phía tây bắc của quân Hán. Lúc này, mắt y đã đỏ ngầu, mở một đường máu xông ra ngoài. Y không dám dừng lại, lao một mạch hơn 10 dặm, lúc quay đầu lại thì chỉ thấy mấy tên thân binh cưỡi ngựa theo phía sau.

Tào Chân không khỏi thờ dài một tiếng, Hợp Phì không giữ được rồi. Y quay đầu lại bỏ chạy về phía Nhữ Nam.

Tào Chân giết ra khỏi vòng vây, thủ hạ của y lại không còn cơ hội nào nữa. Một lúc sau, hơn 600 kỵ binh đã bị trường mâu đâm chết dưới ngựa. Một ngàn Hổ báo kỵ đã bỏ mình, quân Hán thu được hơn 400 con chiến mã.

Tám ngàn quân Hán lập tức đánh về phía doanh trại chủ ở bên sông Tiêu Dao.

Cuộc chiến tây thành vô cùng thê thảm, ánh lửa trong tây thành sáng như ban ngày, tiếng trống vang vọng rung trời. Hoàng Cái và Lã Mông dẫn theo 2 vạn quân Giang Đông tấn công tây thành, còn 6 ngàn quân Tào trên thành đã nhập cuộc chiến, liều chết chống lại sự tấn công của quân Giang Đông.

Quân Giang Đông đã vượt qua sông đào bảo vệ thành, vác theo hơn 10 cái thang kê lên tường thành để tấn công. Đám lính anh dũng leo lên tường thành, trên đầu thành tên bắn xuống như mưa, những tảng đá lớn lăn xuống đập vào lính Giang Đông, thi thể chồng chất, máu tươi chảy như dòng suối nhỏ.

Hoàng Cái nhăn mày, kế hoạch ban đầu là quân Hán cướp bến sông Tiêu Dao trước để thu hút quân Tào chủ lực đến, nhưng dường như chúng không đến. Lẽ nào, quân Hán đã đánh phá được bến sông Tiêu Dao sao?

Lúc này, Lã Mông đi lên chắp tay nói:

- Khởi bẩm tướng quân, ty chức được tin từ bến sông Tiêu Dao, quân đội của Cam Ninh gặp phải sự tấn công của Hổ báo kỵ quân Tào, tổn thất rất thê thảm và nghiêm trọng, phó tướng Trần Sóc đã phải bỏ mình.

Hoàng Cái gật gật đầu, thì ra là thế, trong lòng ông ta hơi áy náy là ông ta đã hiểu lầm quân Hán. Ông ta trầm tư một lát rồi nói với Lã Mông:

- Xem ra, toàn bộ quân Tào đã tập trung vào tây thành, như vậy chắc chắn nam thành và đông thành sẽ trống không. Ngươi có thể dẫn theo 3 ngàn quân tấn công nam thành, chúng ta thành bại chính là ở chỗ này.

- Tuân lệnh!

Lã Mông dẫn theo 3 ngàn quân chạy về phía nam thành.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 637: Tin xấu đến


Lúc này trời đã là canh 5, trên trời có một tia sáng, thời khắc đen tối nhất đã qua, chiến dịch tấn công thành Hợp Phì cũng đã dần đi vào giai đoạn kết thúc.

Sau khi nghe tin Hổ báo kỵ bị quân Hán tiêu diệt hoàn toàn, doanh trại chủ của quân Tào đã không còn ý chí chống cự nữa.

Lúc Cam Ninh dẫn 8 ngàn dư quân Hán giết đến, 2 ngàn lính Tào trong doanh trại chủ lâm vào hỗn loạn. Một bộ phận chạy trốn theo cửa tây doanh trại còn dân bản xứ trong quân Tào thì không muốn trốn chạy, dưới sự dẫn đầu của một Nha tướng ở Hợp Phì, bọn họ đã lựa chọn đầu hàng.

Từng đội quân Hán xếp thành hàng, tiến sâu vào mấy trăm mẫu đất của doanh trại chủ, nhanh chóng khống chế các nơi quan trọng của doanh trại. Hơn 8 trăm binh lính đầu hàng bỏ khí giới, áo giáp tập trung ngồi trong hơn 10 lều lớn, chờ chiến tranh kết thúc để về nhà.

Cam Ninh đi cùng Nha tướng đầu hàng vào trạm canh gác phía tây của doanh trại. Đây là một trạm canh gác cao khoảng 500 trượng, là khu được xây dựng cao nhất của Hợp Phì, nhìn bao quát xung quanh 10 dặm rất rõ ràng.

Nha tướng họ Tưởng, người Hợp Phì, gần 50 tuổi, đã không còn lòng hiếu thắng cũng không trông mong gì vào con đường làm quan, chỉ muốn yên ổn sống nốt quãng đời còn lại. Vì thế sau khi có tin quân Hán tiêu diệt kỵ binh quân Tào, y đã lập tức quyết định vứt bỏ doanh trại đầu hàng.

Y đi cùng Cam Ninh lên trạm canh gác, ở đây có thể nhìn thấy tình hình của thành trì rất rõ ràng. Trong ánh nắng của buổi bình minh chỉ thấy quân Tào càng lúc càng ít đi, quân Giang Đông đã đánh vào thành Hợp Phì theo cửa nam. Nha tướng chỉ vào cửa thành bắc nói:

- Tướng quân nhìn thấy chưa? Cửa thành bắc đã mở, điều này chứng tỏ quân Tào đã bỏ thành rút lui rồi.

Cam Ninh gật gật đầu nhìn cửa thành bắc mở rộng, liền hỏi:

- Mãn Sủng sẽ thủ vững đến cùng sao?

- Chắc là không, nhiều tướng quân khá coi trọng binh lính, bến sông Tiêu Dao ở mặt đông đã thất thủ, thành nam cũng thất thủ. Tôi nghĩ y sẽ không kiên trì thủ thành, chắc chắn sẽ bảo tồn binh lính mà dẫn quân bỏ chạy theo cửa thành bắc.

Nói đến đây, Nha tướng không kìm nổi hỏi:

- Phá được Hợp Phì là thuộc Kinh Châu hay là Giang Đông đây?

- Hợp Phì cho Giang Đông, chúng ta tạm thời không cần.

Cam Ninh thấy sắc mặt của Nha tướng tỏ ra thất vọng, liền vỗ vỗ bả vai y cười nói:

- Tưởng tướng quân không cần lo lắng, ta và Hoàng Cái đã bàn luận xong, vẫn cho ông tiếp tục trấn thủ Hợp Phì, lúc quân Hán chính thức công phạt Hợp Phì sẽ gặp lại tướng quân một lần nữa.

Nha tướng hiểu ý của Cam Ninh liền lặng yên gật đầu. Lúc này, một gã kỵ binh Giang Đông chạy từ trong thành đến, được một tên lính dẫn lên tháp cao giọng nói:

- Cam tướng quân có ở đây không?

- Chuyện gì?

Cam Ninh dò hỏi.

- Hoàng tướng quân đã cướp thành Hợp Phì, mời tướng quân đi quận Nha một chuyến.

- Ta bết rồi, hãy nói với Hoàng tướng quân, ta sắp xếp việc quân xong sẽ đi.

Tên lính đưa tin chạy như bay, Cam Ninh xuống tháp canh. Lúc này có mấy tên cấp dưới đến khuyên nhủ:

- Tướng quân phải canh chừng quân Giang Đông có lòng ác, tốt nhất không nên đi.

Cam Ninh cười ha ha nói:

- Các vị cứ yên tâm! Ta hiểu lòng Hoàng Cái, y sẽ không gây bất lợi cho chúng ta. Hậu quả này, y đảm đương không nổi đâu, mọi người cứ bảo vệ doanh trại thật tốt, ta sẽ về nhanh thôi.

Lại dặn dò mọi người mấy câu, Cam Ninh dẫn theo hơn 100 thân binh cưỡi ngựa đi vào trong thành.

Thành Hợp Phì đã bị quân Giang Đông khống chế, Mãn Sủng nghe nói đến sông Tiêu Dao và cửa nam cùng thất thủ biết rằng đại thế đã mất, y liền dẫn theo mấy ngàn quân Tào rút theo cửa bắc, rút lui về Nhữ Nam. Lúc này, Hợp Phì đã giới nghiêm, không cho dân chúng đi trên đường phố, khắp nơi toàn là đội tuần tra của binh si Giang Đông, thỉnh thoảng có quân Giang Đông lại áp giải lính Tào đi qua.

Rất nhanh, Cam Ninh đã đi vào quận nha trong thành, đây cũng là quận Nha của quận Hoài Nam. Sau khi quân Tào rút lui, Thái thú Chung Quân cũng dẫn quan quân đầu hàng quân Giang Đông. Cam Ninh xoay người xuống ngựa, một gã thân binh của Hoàng Cái đã chờ sẵn trước cửa lớn, y vội vàng thi lễ nói:

- Tướng quân nhà tôi đang chờ Cam tướng quân, mời tướng quân đi theo tôi.

Cam Ninh đi theo y vào quận nha, trong một quan phòng lâm thời, Hoàng Cái đang đứng trầm tư một mình trước địa đồ. Cướp được Hợp Phì tuy đã hoàn thành nhiệm vụ của Ngô công giao cho, nhưng Hoàng Cái biết, cuộc chiến vẫn chưa chấm dứt, lần này Kinh Châu xuất quân giúp bọn họ cướp lấy Hợp Phì, ân tình này bọn họ phải trả.

Lúc này, tên thân binh đi vào bẩm báo:

- Khởi bẩm lão tướng quân, Cam tướng quân đến rồi!

- Mau mau mời vào!

Hoàng Cái vội vàng nói.

Một lát sau, Cam Ninh bước nhanh lên chắp tay nói:

- Xin được nói lời xin lỗi tới Hoàng tướng quân, không thể thu hút được quân Tào chủ lực, Cam Ninh chưa thực hiện được lời hứa.

Hoàng Cái là người biết lý lẽ, tuy quân Giang Đông vì tấn công Hợp Phì mà tổn thấy hơn 3 ngàn người nhưng ông ta biết nếu không có Cam Ninh dụ 4 ngàn quân Tào ở bến sông Tiêu Dao thì bọn họ cũng chưa chắc đã đánh hạ được Hợp Phì. Nhất là Hổ báo kỵ đã bị quân Hán tiêu diệt hoàn toàn, đây mới là ân tình lớn.

Ông ta vội vàng nói:

- Cam Ninh tướng quân không cần áy náy, Trần Sóc đã bỏ mìinh ta tiếc thương vô cùng, các ngươi cũng đã tận lực bám trụ quân Tào để chúng ta đánh hạ được thành trì, trong lòng ta rất hiểu.

Cam Ninh thấy ông ta đã hiểu liền cười nói:

- Theo ước định, Hợp Phì là do quân Giang Đông khống chế, tôi sẽ rút về Kinh Châu. Ngoài ra, tôi có gần 1 ngàn lính đều là dân bản địa Hợp Phì, tính cả Nha tướng sẽ cùng giao cho quân Giang Đông, mong tướng quân đối xử tốt với bọn họ.

Hoàng Cái mỉm cười nói:

- Cam tướng quân cứ yêm tâm, nếu là dân bản địa, đương nhiên ta sẽ tiếp tục sử dụng để bọn họ duy trì trật tự cho chúng ta. Ta mời tướng quân đến đây là muốn thảo luận một chút, bước tiếp theo chúng ta nên làm gì? Nếu hợp sức uy h**p quân Tào, có thể ép Tào Tháo rút quân.

Cam Ninh đi lên phía trước cười nói:

- Lúc tôi gần đi, Châu Mục đã cho tôi một phương án. Nếu lấy được Hợp Phì tôi sẽ tiếp tục lên bắc cướp lấy Thọ Xuân, xuất binh quận Tiếu. Hi vọng quân Giang Đông cũng có thể phái một phần quân đội phối hợp với tôi, chỉ cần Tào Tháo rút lui từ bắc Kinh Châu, tôi sẽ lập tức rúy về Hợp Phì, giao lại Hợp Phì cho Giang Đông, tôi dẫn quân về Kinh Châu, quyết không nuốt lời.

Phương án của Cam Ninh đã nằm trong dự liệu của Hoàng Cái, chẳng qua nếu như có thể cướp được Thọ Xuân, ông ta có thể giải thích với Ngô công, ông ta trầm tư một lát rồi nói:

- Ta lệnh cho Lã Mông dẫn theo 10 ngàn quân phối hợp với quý quân lên bắc nhưng cuối cùng chúng tôi phải cần Thọ Xuân.

Cam Ninh gật đầu nói:

- Chúng ta nói lời giữ lời.

Ba ngày sau, 2 vạn liên quân giết đến Thọ Xuân, vì Hợp Phì thất thủ khiến cửa đông của địa khu Trung Nguyên được mở rộng, mà 400 ngàn quân Tào tập trung chủ yếu ở Quan Lũng, Kinh Châu, Nghiệp Đô, Hứa Xương và phía bắc Từ Châu. Địa khu Trung Nguyên hoàn toàn không có binh lực, Thọ Xuân chỉ có mấy trăm quận binh.

Lúc biết được Giang Đông và Kinh Châu liên quân, huyện lệnh huyện Thọ Xuân đã bỏ chạy khiến liên quân không đánh mà thắng chiếm được Thọ Xuân, 2 vạn liên quân cũng không dừng lại ở Thọ Xuân mà tiếp tục hăng hái tiến quân về quận Tiếu, một đường tan tác, sau 5 ngày đã công chiếm huyện Phụ Thành, thẳng tiến huyện Tiếu, Trung Nguyên rơi vào hoảng loạn.

Tin tức liên quân Tôn Lưu chiếm được Hợp Phì, giết vàoquận Tiếu cuối cùng cũng truyền đến Kinh Châu, lúc này đã là cuối tháng tư, quân Hán và quân Tào đã giằng co hơn 1 tháng, hai bên cũng không có động tĩnh gì mà đều kiên nhẫn chờ đợi.

Tào Tháo vì kéo dài thời gian đã nhanh chóng thi hành phương án của Tuân Úc, chiếm lĩnh Phàn Thành, khiến cho biên giới của hai bên rơi vào Hán Thủy. Đồng thời điều binh đến Nhữ Nam, chuẩn bị tấn công quận An Lục, từ đó tấn công Kỳ Xuân.

Còn Lưu Cảnh một mặt chờ tin tức của Hợp Phì, mặt khác điều 3 vạn binh từ Ba Thục đi Kinh Châu, đồng thời giao 2 vạn quân từ Tương Dương đến Giang Hạ, tăng cường phòng ngự cho Giang Hạ. Hai bên đều tự điều binh khiến tưởng, có tư thế tử chiến một trận.

Nhưng trên thực tế, quân Tào đã có dấu hiệu duy trì không nổi. Lần này Tào Tháo xuôi quân nam Kinh Châu chỉ là quyết định tạm thời, không giống đại chiến Xích Bích lúc chiến đấu đã được chuẩn bị từ 1 năm trước đó, 100 ngàn đại quân tiếp viện bắt đầu báo nguy, lương thực của quân Tào cần vận chuyển từ Uyển Thành đến Phàn Thành. Cho dù Tào Tháo có trưng dụng 3 ngàn chiếc xe bò, ngày đêm vận chuyển cũng không đủ lương thực cho 100 ngàn đại quân.

Trương Liêu đã từng đóng không ít thuyền ở Uyển Thành, có thể lợi dụng đường thủy để vận chuyển lương thực. Nhưng một lần vượt sông đã làm mất gần 1 ngàn con thuyền nhỏ, thuyền bè đã hết cũng không thể vận chuyển trên quy mô lớn được.

Bất đắc dĩ, Tào Tháo bắt đầu dùng bè da dê để vận chuyển lương thực. Nhưng 2 ngày trước, một đội trạm thuyền canh gác của quân Hán đã dọc theo Bỉ Thủy lên bắc, thiêu rụi mất trăm con bè da dê và thu được lượng lớn lương thực. Lần này, tổn thất đau đớn và thê thảm khiến Tào Tháo vô cùng tức giận, lão hạ lệnh chém đầu 3 gã tướng quân canh gác dọc sông.

Nhưng lão không biết đó không phải là do tướng sĩ không làm tròn nhiệm vụ mà thực sự thủy quân quá yếu. Lão không thể không ngừng dùng bè da dê để vận chuyển lương thực, nhưng tin tức mà lão càng không tiếp nhận được đang lặng lẽ tới.

Trần Quần lại vội vàng đi vào lều của Tào Tháo, y cũng đã nghe được một vài tin đồn nói Hợp Phì bại binh. Quân Giang Đông đã lên bắc Trung Nguyên rồi. Tin đồn này khiến lòng Trần Quần bất an, y nóng lòng muốn Thừa tướng chứng thực chuyện này.

Trần Quần đi đến trước lều lớn rồi dừng bước, sau đó mới tiến lên thấp giọng hỏi Hứa Chử:

- Hứa tướng quân, Thừa tượng bây giờ thế nào rồi?

Hứa Chử nhẹ nhàng lắc đầu:

- Vừa rồi Thừa tướng nổi cơn giận dữ, từ trước đến đến nay ta chưa từng thấy Thừa tướng tức giận như vậy. Đề nghị tiên sinh tạm thời tránh mặt, đợi Thừa tướng tỉnh táo lại rồi nói sau.

- Nhưng chuyện Hợp Phì?

Trần Quần quan tâm hỏi.

Hứa Chử liếc mắt sang hai bên thấy không có người, lúc này mới nhỏ giọng nói với Trần Quần:

- Hợp Phì đúng là thất thủ rồi, Tào Chân bỏ chạy đi Hứa Xương, Mãn Sủng đã rút lui về Nhữ Nam rồi.

Trong lòng Trần Quần vô cùng khiếp sợ. Không ngờ Tôn Quyền lại ra tay với Hợp Phì, trong lòng y rối bời không thể hiểu được nguyên nhân trong đó. Lúc này, trong đại trướng có tiếng mệt mỏi của Tào Tháo:

- Là Trường Văn sao, mời vào đi?

Hứa Chử sợ đến mức lui lại hai bước, đứng không vững, Trần Quần đành phải đi vào đại trướng.

Tào Tháo ngồi trước bàn trong đại trướng, quay lưng về phía cửa đại trướng, lưng của lão hơi còng xuống, có vẻ rất mệt mỏi, Trần Quần liền quỳ xuống cúi đầu thi lễ:

- Tham kiến Thừa tướng!

- Không cần khách sáo, mời ngồi.

Tào Tháo chậm rãi xoay người cười khổ một tiếng rồi nói:

- Trường Văn nghe thấy tin đồn mới đến gặp ta sao?

- Vâng, ty chức không dám tin?

- Ta cũng không tin, nhưng dây là sự thật, không chỉ Hợp Phì thất thủ mà đến cả huyện Tiếu cũng thất thủ rồi.

Trần Quần liền ngây cả người ra, một lúc lâu sau mới thấp giọng nói:

- Là ty chức đã nhìn lầm Tôn Quyền, ty chức có trách nhiệm.

Tào Tháo lắc đầu:

- Ngươi không nhìn lầm Tôn Quyền, ta cũng không nhìn lầm Tôn Quyền, chỉ là chúng ta đã đánh giá thấp Lưu Cảnh, đánh giá thấp đối thủ lớn nhất này của chúng ta.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 638: Bị ép rút quân


Trần Quần ngạc nhiên:

- Đây có liên quan gì đến Lưu Cảnh?

- Ngươi không ngờ cũng là điều bình thường, bởi vì ta cũng không ngờ được.

Tào Tháo nhẹ nhàng thở dài một tiếng:

- Lần này tấn công Hợp Phì, lực lượng chủ yếu là 10 ngàn thủy quân Giang Đông. Vốn dĩ Hợp Phì là một nước cờ thua. Kết quả, 10 ngàn thủy quân Giang Hạ này của Lưu Cảnh liền xoay chuyển toàn bộ ván cờ Đông Nam, Tôn Quyền sao có thể khiến Giang Hạ cướp lấy Hợp Phì?

Một lúc lâu sau Trần Quần mới cười khổ nói:

- Chẳng trách, cả tháng nay Lưu Cảnh không hề có động tĩnh gì, hóa ra là hắn đang đợi kết quả này.

- Đúng vậy, vốn dĩ thái độ của Tôn Quyền rất mập mờ. Nhưng như thế này, y không thể dẫn quân đánh Hợp Phì, hơn nữa một khi lấy được Hợp Phì thì y sẽ có dã tâm bắc phạt. Bước cờ này của Lưu Cảnh quá cao minh, chắc là mưu của Giả Hủ. Thả Giả Hủ cho Lưu Cảnh, đây là tổn thất lớn nhất của ta. Chuyện đó là nghiệp chướng của ta.

Tào Tháo hung hăng đập một cái lên bàn, tức sùi cả bọt mép, vô cùng tức giận.

Trần Quần biết Tào Tháo ý nghỉ chính là con trai trưởng của Tào Tháo là Tào Phi, y trầm tư một lúc lâu sau lại hỏi:

- Vậy bước tiếp theo, chúng ta nên làm gì?

- Huyện Tiếu đã mất, còn có thể làm gì nữa? Ta quyết định rút quân.

Trần Quần giật minh kinh hãi rồi vội vàng nói:

- Thừa tướng đã suy nghĩ kĩ chưa? Binh lực liên quân Tôn Lưu không nhiều có lẽ cũng có 2-3 vạn người. Công chiếm huyện Tiếu là cực hạn của bọn họ. Lại lên bắc chính là độc quân thâm nhập, sẽ xảy ra vấn đề về cung ứng lương thảo. Thừa tướng có thể điều binh nghênh chiến nhưng vi thần cho rằng vẫn chưa đến mức Thừa tướng phải rút quân khỏi Kinh Châu.

- Đương nhiên là ta biết binh lực của bọn họ không nhiều, chỉ có 2 vạn người nhưng vấn đề là ván cờ này...

Nói đến đây, Tào Tháo khống chế cơn giận rồi lắc đầu nói tiếp:

- Hiện tại phái chủ chiến Giang Đông đang chiếm thế thượng phong, Tôn Quyền không hề hàm hồ, chắc chắn y sẽ dốc lực phối hợp với Lưu Cảnh. Hơn nữa chiếm được Hợp Phì khiến dã tâm của y bị kích phát. Ta dám khẳng định, y sẽ tiếp tục tăng binh về phía Hợp Phì, thế cục sẽ bị thay đổi, ta còn phải tiếp tục trốn ở Kinh Châu sao?

- Nhưng...

Không đợi cho Trần Quần nói tiếp, Tào Tháo lại xua tay ngắt lời của y:

- Hơn nữa trước đó chúng ta chuẩn bị chưa đủ, từ đó đến giờ lương thảo cung ứng cho quân quân gặp khó khăn. Đây cũng chính là nguyên nhân quan trọng khiến ta rút quân. Văn Trường không cần khuyên ta nữa, ta nghĩ kĩ rồi, đã quyết định rồi.

Trong lòng Trần Quần rất chán nản, sớm biết như vậy thì lúc trước hà tất phải xé bỏ hợp ước xuôi nam làm gì?

Dường như Tào Tháo hiểu được suy nghĩ của y, liền lạnh lùng cười nói:

- Lúc mới đầu ta cũng rất tức giận nhưng bây giờ bình tĩnh lại ta cũng đã dần thông suốt rồi. Thực ra không có thất bại, hơn nữa thu hoạch còn rất lớn. Một là ta thành công trong việc kéo Lưu Cảnh bắc phạt lại. Ít nhất cũng tranh thủ được nửa năm. Tiếp theo, là ta đã tìm được cách qua Hán Thủy. Sau này, ta sẽ chuẩn bị đầy đủ, bất cứ lúc nào cũng có thể công chiếm Tương Dương. Có thể nói, ta đã đạt được mục đích ban đầu, chỉ có điều sau này phải thêm nhiều kỳ vọng không thực tế cho nên bây giờ mới thất vọng. Văn Trường, hẳn là nghĩ về kế hoạch lúc đầu của chúng ta, phải không?

Trần Quần gật đầu:

- Thừa tướng nói không sai, lúc mới đầu chúng ta chỉ muốn cản Lưu Cảnh bắc phạt. Qủa thực đã thành công, bước tiếp theo Thừa tướng định làm thế nào?

Tào Tháo suy nghĩ một chút rồi nói:

- Bước tiếp theo ta sẽ chia làm 2 đường. Một đường là tăng cường tuyến phòng ngự phía tây, chuẩn bị cho chiến tranh Lưu Cảnh bắc phạt. Đường thứ hai là cướp lại Hợp Phì, tuyệt đối không để quân Giang Đông có cơ hội lên bắc Trung Nguyên.

- Vậy Thừa tướng chuẩn bị xử trí Tuân lệnh quân thế nào?

Trần Quân lại thấp giọng hỏi.

Vấn đề này khiến Tào Tháo hơi khó trả lời. Dù sao, Trần Quần cũng là con rể của Tuân Úc, lão trầm tư một lúc lâu rồi nói:

- Ta định bảo Tuân công trấn thủ Nam Dương. Có ông ta ở Nam Dương thì ta sẽ không phải lo lắng về Kinh Châu nữa.

Trần Quần thầm thở dài, điều này đã nằm trong dự liệu của y. Thừa tướng đã quyết định không cho nhạc phụ quay về triều đình. Nhưng như vậy cũng tốt. Trần Quần biết gần đây triều đình có đại biến, để nhạc phụ nằm ngoài đại biến đó cũng là chuyện tốt. Y cũng không nói lại chuyện này nữa.

Lúc này, Tào Tháo lấy một bức thư ra đưa cho Trần Quần nói:

- Thỉnh cầu Văn Trường vượt sông đi gặp Lưu Cảnh, thay ta giao bức thư này cho hắn.

- Vi thần nguyện dốc sức chia sẻ cho Thừa tướng.

Trần Quần nhận thư rồi nói:

- Vi thần nên nói với Lưu Cảnh thế nào đây?

- Viết hết trong thư rồi, thư vẫn chưa đóng Văn Trường có thể mở ra đọc một lần.

Nói xong, Tào Tháo đứng lên thở dài một hơi rồi nói:

- Ta mệt rồi, trước khi rút quân ta muốn ngủ say một giấc.

- Tào Tháo nói như vậy thật sao?

Tuân Úc ở trong doanh trướng lạnh lùng nói.

Trần Quần khom người nói:

- Đúng là Thừa tướng nói như vậy, ông ta hy vọng nhạc phụ có thể ở lại Nam Dương nhưng thực ra là muốn nhạc phụ suy nghĩ thật kỹ. Thực ra trong lòng nhạc phụ cũng hiểu triều đình sắp phát sinh đại biến mà.

Tuân Úc hừ lạnh một tiếng rồi nói:

- Con không biết hay là giả vờ không biết? có lẽ là con không biết, con cũng không hiểu suy nghĩ của Thào Tháo. Ta hiểu Tào Tháo hơn người khác. Để ta ở lại Nam Dương chính là hủy hoại thanh danh của ta. Ai cũng nói là do Tuân Úc ta làm, là Tuân Úc ta bán rẻ Thiên tử. Trường Văn, con nói xem đây là Tào Tháo suy nghĩ cho ta sao?

Trần Quần cúi đầu, quả thực y không nghĩ đến điều này. Mặc dù có phần khó ngờ nhưng nhạc phụ quả thực đã nhìn thấu Thừa tướng. Trần Quần cắn chặt môi dưới nói:

- Con sẽ đi nói với Thừa tướng, để ông ta thay đổi quyết định ban đầu, để nhạc phụ hồi kinh.

Tuân Úc lắc lắc đầu nói:

- Không cần con đi, con không khuyên được ông ta đâu,sẽ chỉ khiến ông ta bất mãn với con, con hãy đi sứ Kinh Châu đi! Có mội số việc nếu không tránh được thì hãy đối mặt mà chống đỡ.

Trần Quần khó chịu trong lòng, một lúc lâu sau mới nói tiếp:

- Con hổ thẹn với nhạc phụ!

- Đi đi!

Tuân Úc khoát ta nói:

- Để cho ta yên tĩnh một lúc.

Trần Quần đứng lên chậm rãi lui xuống. Tuân Úc khoanh tay đi đến trước cửa trướng nhìn trời chiều như màu màu, y khẽ thở dài. Y biết cuộc đời này y cũng không thể quay về triều đình được nữa.

Trần Quần chèo một con thuyền ba lá đi về phía bờ kia Hán Thủy. Lúc này ánh chiều tà chưa tan hết, sắc trời mông lung nước sông hiện lên một màu xanh quỷ dị như hòa một thể với chân trời. Trời, nước dường như một màu, cảnh tượng này vô cùng tráng lệ.

Nhưng y cũng không có tâm trạng để thưởng thức cảnh sắc này. Y ngồi trên mũi thuyền suy nghĩ về lúc gặp Lưu Cảnh. Trong lòng y rất khó xử. Thừa tướng lại yêu cầu Lưu Cảnh kí kết hiệp nghị ngừng chiến Kinh Châu một năm liệu hắn có đồng ý hay không?

Y thầm thở dài, lúc xé hiệp nghị thì vô tư là thế, bây giờ lại không muốn đánh, lại muốn khôi phục lại hiệp nghị, có mấy người sẽ đồng ý chứ? Y biết thực ra là Thừa tướng sợ Lưu Cảnh truy kích làm cho lão phải trở về trong thảm hại.

Lúc này lính chèo thuyền vội nhắc nhở y:

- Trần tiên sinh!

Y ngẩng đầu lên lúc này mới phát hiện xung quanh toàn là chiến thuyền của quân Hán, có vô số lính đang giương cung tên nhằm vào mình. Y cười khổ một tiếng rồi đứng dậy chắp tay nói:

- Tại hạ là sứ giả của Thừa tướng, phụng lệnh đến gặp Châu mục của các vị, xin các vị nhường đường!

Một gã tướng lĩnh đi ra từ chiến thuyền lớn. Ông ta chính là Giáo úy Thẩm Di, ông ta không hề l* m*ng mà đánh giá Trần Quần một chút rồi hỏi:

- Xin hỏi tiên sinh là người phương nào?

- Tại hạ Dĩnh Xuyên Trần Quần!

- Hóa ra là Trần tiên sinh, ngưỡng mộ đã lâu!

Thẩm Di vội vàng lệnh cho lính bỏ cung tên xuống rồi cười nói với Trần Quần:

- Để tiên sinh sợ hãi rồi, mời theo tôi đến thuyền lớn của Châu Mục!

- Lưu Châu Mục không ở trong thành Tương Dương sao?

Thẩm Di lắc đầu:

- Châu Mục không ở trong thành mà đang ở trên chiến thuyền, xin mời!

Trong lòng Trần Quần đầy nghi hoặc. Lưu Cảnh không ở trong thành mà ở trên chiến thuyền. Lẽ nào hắn biết Tào Tháo sẽ rút quân sao? Y không kịp nghĩ nhiều liền lên thuyền của Thẩm Di đi về hướng đông.

Thuyền bè đến Bỉ Thủy, Trần Quần nhìn thấy một con thuyền lớn 2 ngàn thạch, xung quanh có những thuyền nhỏ bảo vệ. Hẳn là thế, y thầm nghĩ trong lòng.

- Châu Mục ở trên thuyền, xin mời!

Thẩm Di dẫn Trần Quần lên thuyền lớn. Ông ta đi đến trước thuyền nói với thị vệ:

- Xin hãy bẩm báo với Châu Mục, có sứ giả Trần Quần của quân Tào cầu kiến Châu Mục.

Tên thị vệ gật đầu, bước nhanh vào khoang thuyền. Đèn đuốc trong khoang thuyền sáng trưng. Lưu Cảnh đang thảo luận với Giả Hủ về kế hoạch đuổi giết quân Tào. Lúc này Lưu Cảnh đã biết Cam Ninh và Hoàng Cái đã công phá Hợp Phì. Hắn ý thức được, quân Tào chắc sẽ rất nhanh mà rút lui, nhưng hắn cũng không muốn để cho Tào Tháo tự do mà về như vậy được phải cho lão một bài học.

Giả Hủ chủ trương cướp lấy quân nhu của quân Tào nhưng Lưu Cảnh lại có ý tưởng khác. Đúng lúc này thì thị vệ đứng trước cửa khoang bẩm báo:

- Sứ giả của Tào Tháo là Trần Quần xin cầu kiến!

Lưu Cảnh và Giả Hủ nhìn nhau không khỏi bật cười. Xem ra Tào Tháo hiểu mình, biết ta sẽ không bỏ qua cho lão đây mà. Lưu Cảnh gật đầu nói:

- Mời ông ta vào đi!

Một lát sau, thị vệ dẫn Trần Quần vào, y khom người thi lễ nói:

- Tham kiến Châu mục, tham kiến Giả quân sư!

- Trần tiên sinh miễn lễ!

Lưu Cảnh nháy mắt ra hiệu cho mấy tên thị vệ cầm bản đồ đi. Hắn không hi vọng Trần Quần nhìn ra ý đồ truy kích quân Tào của mình:

- Mời ngồi!

Hắn vừa cười vừa mời Trần Quần ngồi xuống.

Ba người phân làm chủ khách cùng ngồi xuống. Lưu Cảnh sai lính bưng trà. Lúc này Giả Hủ liền cười nói:

- Lần trước ở Thành Đô sơ xuất với Trường Văn rồi, xin Trường Văn thứ tội!

Trần Quần cười ha hả:

- Tuy ta không trách Văn Hòa chạy đi nhưng Văn Hoá đồng ý theo ta đi du ngoạn núi Thanh Thành mà lại không có câu dưới để lại, khiến ta canh cánh trong lòng.

Ba người cùng cười, không khí trong khoang thuyền trở nên rất thoải mái. Trần Quần lại lấy bức thư mà đích thân Tào Tháo viết đưa cho Lưu Cảnh:

- Đây là thư Thừa tướng tự tay viết cho Châu mục, mời Châu mục xem qua.

Lưu Cảnh nhận thư đọc một lần. Trong thư Tào Tháo tỏ vẻ lão nguyện rút quân về Nam Dương, cũng hi vọng có thể ký kết lại về hiệp ước ngừng chiến Kinh Châu. Chuyện này quá vô liêm sỉ mà không ngờ Tào Tháo lại viết được thành khẩn như vậy, tựa như lão không thể không dẫn quân xuôi nam.

Lưu Cảnh cười lạnh một tiếng nói:

- Khách phải đi, ta đây làm chủ đáng ra phải tiễn một đoạn đường. Xin tiên sinh hãy chuyển lời với Thừa tướng. Quân đội của ta đã được chuẩn bị, chiến bị “Lễ tiễn” quân Tào xuất cảnh.

Lưu Cảnh nhấn mạnh vào hai chữ lễ tiễn khiến trong lòng Trần Quần bất an. Y vội giải thích nói:

- Thừa tướng cũng rất xin lỗi. Đương nhiên, nếu Châu mục đồng ý kí hiệp nghị ngừng chiến thì chúng ta có thể thảo luận điều kiện, Châu mục sẽ không phải chịu thiệt đâu.

- Như vậy ta tính trước vể tổn thất, ba huyện Tân Dã, Phàn Thành, huyện Đặng bị hủy. Còn nữa, nhà kho hai tòa thành phụ Tương Dương bị cướp sạch không còn còn làm chậm việc cày bừa vụ xuân. Chắc chắc vụ chiêm năm nay sẽ mất mùa, tổn thất quá lớn. Thừa tướng chuẩn bị bồi thường thế nào đây?

- Trong thư Thừa tướng đã viết, có thể này mai sẽ tấu lên Thiên tử, để Châu mục có quyền phong tước.

Lưu Cảnh lắc đầu nói:

- Ta chỉ là một Phiêu Kỵ tướng quân nhỏ nhoi, có tư cách gì mà phong tước vị thuộc cấp. Xin hãy chuyển lời với Thừa tướng, đừng có ép ta vào chỗ bất nghĩa.

Trần Quần thấ hắn hăng khăng từ chối việc quyền phong tước liền cười khổ nói:

- Vậy Châu mục cần gì?

Lưu Cảnh cười nói:

- Tuy yêu cầu của Tào Tháo có hơi trội, như kiểu hủy sân nhà người ta, còn người khác thì phải mang ơn. Có lẽ là bất cứ ai cũng không thể chấp nhận, nhưng ta có thể hiểu Thừa tướng. Ta có thể chấp nhận nhưng điều quan trọng là Thừa tướng phải thỏa mãn điều kiện của ta, thì ra đồng ý với Thừa tướng cũng không sao cả.

- Mời Châu mục ra điều kiện. Trần Quân xin rửa tai lắng nghe.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 639: Đến dễ đi khó


Lưu Cảnh chậm rãi nói:

- Điều kiện của ta rất đơn giản, ta có thể thả cho quân Tào thoát thân, cũng có thể ký hiệp ước ngưng chiến với Thừa tướng trong 1 năm, nhưng trong văn bản Thừa tướng phải hứa với ta, không được bãi bỏ Phục hoàng hậu.

Điều kiện này khiến Trần Quân và Giả Hủ ngẩn cả người ra. Vừa rồi Giả Hủ còn đang nghĩ xem quân Tào phải trả giá nghiêm trọng và thê thảm thế nào thì không ngờ Lưu Cảnh lại đề xuất ra điều kiện chẳng hề liên quan đến nhau, khiến Giả Hủ cảm thấy vô cùng hoang mang và khó hiểu.

Trong lòng Trần Quần lại càng thêm khiếp sợ, đương nhiên là y biết Lưu Cảnh có ý gì. Điều này chứng tỏ rõ ràng rằng Lưu Cảnh hiểu về tình hình của kinh thành như lòng bàn tay. Hơn nữa, điều kiện mà hắn đưa ra chưa chắc Thừa tướng đã chấp nhận.

- Thế nào? Trần tiên sinh cho rằng Thừa tướng có đáp ứng không?

Trần Quần lắc đầu cười khổ nói:

- Quá nằm ngoài dự đoán của mọi người. Tôi không biết, tôi phải về xin chỉ thị của Thừa tướng.

- Trần tiên sinh xin mời! Trước sáng sớm ngày mai nếu chưa có được câu trả lời, vậy thì Thừa tướng rút lui sẽ không thuận lợi rồi.

Trần Quần cáo từ rồi đi, Giả Hủ hơi khó hiểu về lời mà Lưu Cảnh nói:

- Sao Châu Mục lại đề xuất ra điều kiện này?

- Gần đây ta có được chút tin tình báo, Nghiệp Đô có đại loạn. Lúc này đương nhiên là ta không thể không đếm xỉa đến.

Lưu Cảnh cười nói.

- Nhưng Châu mục cho rằng Tào Tháo sẽ đáp ứng sao?

Lưu Cảnh lắc lắc đầu nói:

- Nói thẳng ra là ta không biết. Nếu ông ta có hơi yếu đuối thì có lẽ sẽ đáp ứng. Nhưng như vậy ông ta sẽ không phải là Tào Tháo nữa rồi, cho nên ta cho rằng ông ta sẽ không đáp ứng.

- Khả năng không đáp ứng là lớn, chúng ta nên làm gì đó chứ?

Giả Hủ cười nói.

Lưu Cảnh cười híp mắt, đương nhiên hắn biết nên làm cái gì, hắn liền nói với thị vệ:

- Mau tìm Văn tướng quân đến gặp ta!

Thái độ của Tào Tháo nằm trong dự liệu của Lưu Cảnh. Bởi vì, đây không phải là nhượng bộ quân sự, cũng không phải là nhượng bộ lợi ích, mà là Lưu Cảnh đã tiến hành khiêu khích về mặt chính trị một cách trắng trợn với lão, trực tiếp xâm phạm đến lợi ích thiết thân của lão. Tào Tháo giận dữ đập bàn nói với Trần Quần:

- Nếu hắn không thức thời, vậy thì không còn gì để nói. Chúng ta sẽ rút quân suốt đêm, không cần để ý đến hắn.

Trần Quần có chút lo lắng nói:

- Nhưng vi thần lo lắng Lưu Cảnh sẽ không để cho chúng ta kinh địch mà rút quân như vậy. Lúc vi thần gặp hắn, là ở trên chiến thuyển ở cửa sông Bỉ Thủy. Điều này nói rõ rằng hắn chắc chắn sẽ truy kích chúng ta từ phía sau, Thừa tướng không thể không đề phòng.

- Ta biết!

Tào Tháo khẽ thở dài nói:

- Ta biết là hắn sẽ không dừng tay cho nên mới thỏa hiệp với hắn để ta rút lui an toàn. Chỉ có điều, điều kiện của hắn khiến ta không thể chấp nhận được.

- Nhưng bảo vệ Phục hoàng hậu cũng có lợi cho việc đảm bảo danh vọng cho Thừa tướng.

Trần Quần nhỏ giọng nói.

Sắc mặt của Tào Tháo bỗng trùng xuống rồi lạnh lùng nhìn Trần Quần nói:

- Trường Văn, đây không phải là lời ngươi nên nói.

Trần Quần sợ đến mức câm như hến, không dám nói nữa. Một lúc lâu sau, Tào Tháo mới ra lệnh nói:

- Trương Cáp đâu rồi?

Một lúc sau, Trương Cáp bước nhanh vào lều ôm quyền thi lễ nói:

- Ty chức tham kiến Thừa tướng.

Tào Tháo chậm rãi nói:

- Quân ta rút lui cả đêm nhưng Lưu Cảnh có thể chặn chúng ta từ thượng lưu Bỉ Thủy, ngươi có thể dẫn theo 2 vạn quân phục kích địch trên Bỉ Thủy. Bỉ Thủy cũng không quá rộng, ta tin rằng Tuấn Nghệ tướng quân sẽ không để cho ta thất vọng.

Trương Cáp khom người thi lễ rồi trầm giọng nói:

- Ty chức tuyệt đối sẽ không để cho Thừa tướng phải thất vọng.

Một lúc lâu sau, Tào Tháo dẫn đại quân bắt đầu rút lui. Tào Chân dẫn theo 2 vạn Hổ báo kỵ dẫn trước mở đường. Tào Hồng và Vu Cấm dẫn theo 4 vạn quân làm trung quân, bảo vệ cho Tào Tháo và văn võ bá quan. Trương Liêu và Lý Điển dẫn theo 2 vạn lính làm hậu quân, vận chuyển quân nhu, lương thảo lên bắc.

Từng đội binh sĩ rời khỏi đại doanh, trùng trùng điệp điệp rút lui về phía bắc. Lúc này, hơn 10 tên thám báo của quân Hán đã nắm được tình hình của quân Tào, họ vượt sông bẩm báo với Lưu Cảnh.

Gần trăm chiến thuyền lớn nhỏ tập hợp ở cửa sông Bỉ Thủy, thuyền lớn dẫn đầu, Thẩm Di kiễn nhẫn đợi lệnh của Lưu Cảnh. Lúc này, có một con thuyền nhỏ chèo đến rất nhanh, lính trên thuyền cao giọng hô:

- Thẩm tướng quân, Châu mục lệnh cho ông xuất phát.

Lúc này Thẩm Di lập tức ra lệnh:

- Xuất phát lên bắc.

Từng chiếc thuyền của quân Hán vào cửa sông Bỉ Thủy dưới sự che chắn của bóng đêm họ bắt đầu chạy về phương bắc với tốc độ rất nhanh. Dường như quân Hán phải ngăn cản quân Tào trước khi bọn họ quay về Nam Dương.

Đầu nguồn của Bỉ Thủy ở Nhữ Nam, còn đầu nguồn của Dục Thủy ở Nam Dương, hai nhánh sông này chảy song song về phía nam. Ở Tân Dã lấy cửa sông phía nam hợp lưu của hai dòng chảy, hình thành một Bỉ Thủy mới, rồi lại tiếp tục chảy trăm dặm nữa mới đổ vào Hán Thủy. Bỉ Thủy chỉ là một con sông có dòng chảy trung bình, chỗ rộng nhất là 20 trượng, chiều rộng bình quân là hơn 10 trượng nhưng chứa được chiến thuyền cả ngàn thạch.

Lúc này, hơn trăm chiến thuyền lớn nhỏ của quân Hán đều ngược dòng mà đi, không giương buồm. Bọn lính đều rất hiểu, một khi gặp hỏa công quân Tào, buồm chẳng khác nào chỗ trí mạng. Cả đội thuyền mượn lực hoạt động của chân vịt dọc theo bờ bắc Hà Đông bắc thượng, dài đến 10 dặm. Dẫn đầu là chiến thuyền ngàn thạch, Thẩm Di cảnh giác nhìn chăm chú vào hai bờ sông. Nhãn lực của ông ta rất tốt, có thể nhìn ra động tĩnh từ trong bóng đêm cách đó hơn trăm bước.

Hai bên bờ sông ngoài trăm bước đều là cánh rừng tươi tốt, trong rừng cây thâm sâu tỏa ra sát khí nhè nhẹ, đội thuyền bắt đầu tiến vào đoạn sông khá hẹp, lặng lẽ đi về phía trước 3 dặm. Bỗng nhiên Thẩm Di cảm giác được điều gì đó liền khoát tay chặn lại:

- Dừng thuyền.

Con thuyền chậm rãi dừng lại, chỉ thấy trên mặt sông có trôi một cái gì đó sáng bóng rất lạ, một mùi vị cay cay phả vào mặt. Thẩm Di lập tức ý thức được có nguy hiểm, thứ nổi trên mặt sông chính là dầu hỏa, ông taliền quay lại hạ lệnh nói:

- Đội thuyền quay đầu.

Trên đầu cột buồm có lửa lệnh lóe sáng, đội thuyền bắt đầu quay ngược về phía nam. Nhưng quay đầu quá chậm dường như đã không còn kịp nữa, Thẩm Di vội vàng ra lệnh nói:

- Lập tức mở phù áp ra.

Phù áp là dụng cụ của thủy quân Kinh Châu dùng để đối phó với dầu trôi trên mặt sông. Thực tế, đó là một cây gỗ lớn, thả gỗ trên mặt sông, nước vẫn tiếp tục chảy ở phía dưới nhưng dầu chảy sẽ bị cản lại. Nhưng chỉ có một đường Phù áp chắc chắn là không đủ, ít nhất cũng phải 3-4 đường Phù áp di động mới có thể ngăn cản được dầu nổi.

Hơn 10 tên lính nhảy xuống sông, nhanh chóng dựng mấy câu gỗ lớn lên. Hai đầu cắm xuống bùn, lập một đường Phù áp đầu tiên. Bọn họ lại lui sau mấy bước bắt đầu lập một đường Phù áp thứ 2. Đúng lúc này, một mảng hỏa tuyến nhanh chóng tràn đến từ phía xa. Thẩm Di biết tình thế không ổn, ông biết chiến thuyền đã không còn kịp nữa liền lệnh cho lính và thuyền thứ hai đáp lên boong thuyền dẫn dắt thủ hạ nhanh chóng rút lui lại phía sau thuyền lớn.

Chỉ trong khoảnh khắc, dầu hỏa đã cháy hừng hực trên dòng sông, khói đặc bay cuồn cuộn. Đúng lúc này, vô số lính Tào liều chết xông ra từ trong rừng cây. Bọn họ chạy gần đến bờ sông, loạn tên phát ra đồng loạt, tên dày đặc che phủ cả bầu trời phóng về phía thuyền lớn, còn kèm theo cả vô số hỏa tiễn. Lúc này, 2 vạn quân của Trương Cáp mai phục ở trong rừng cây ven bờ sông đã phát động tấn công đội thuyền của quân Hán trên mặt sông.

Sau khi quân Hán tránh ở mép thuyền đã bắt đầu phản kích về hướng bờ, họ dùng nước dập hỏa tiễn trên boong thuyền, thỉnh thoảng lại có người trúng tên rơi xuống nước kêu thảm thiết. Đội thuyền chạy trốn về phía nam, phải tránh lửa trên nước, lại phải trốn tập kích trên bờ, rõ ràng là vô cùng bị động. Lúc này, đã có 8 chiếc thuyền lớn đã bị hỏa tiễn và lửa dầu trên mặt nước đốt cháy, ngọn lửa càng lúc càng lớn, như một biển lửa, lính trên thuyền hoảng hốt nhảy xuống nước chạy trốn.

Trên bờ, Trương Cáp cưỡi chiến mã nhìn thuyền của quân Hán chật vật chạy trốn về hướng nam mà rất đắc ý. Bỉ Thủy không phải Hán Thủy, đường sông hẹp, quân đội trên bờ hoàn toàn có thể khống chế được đội thuyền dưới nước. Đúng lúc này, phía sau truyền đến tiếng ồn, tiếng kêu rung trời thảm thiết.

Trương Cáp kinh ngạc vội vàng quay đầu nhìn lại, chỉ thấy sau lưng có hai đội quân đang giết ra nhưng sói như hổ, xông vào quân đội của y chặt đứt quân Tào thành hai đoạn. Lính của y không kịp đề phòng đã loạn thành một bầy.

Trương Cáp ngẩn người ra, bỗng nhiên y ý thức được có thể mình đã trúng kế, đội thuyền trên mặt sông chắc chắn chỉ là mồi nhử, quân Hán thực sự đang tập kích ở phía sau mình kìa. Trương Cáp hoảng loạn, xách thương lớn xông đến. Lúc này, nghênh diện với y chính là đại tướng Ngụy Diên, gã vung đao chặn Trương Cáp lại, lớn tiếng hét:

- Ta là Ngụy Diên, tặc tướng hãy xưng tên.

Trương Cáp không nói một lời, đâm đầu thương, Ngụy Diên giận giữ vung đao bổ về phía y, hai người chiến đấu kịch liệt. Lúc này, 3 vạn quân Hán dưới sự dẫn dắt của Lưu Cảnh đánh đến từ mọi phía. Đội quân này đã trải qua mấy tháng huấn luyện ở quận Võ Đô, tác chiến vào ban đêm không có chút trở ngại nào, ai cũng dũng mãnh vô cùng, giết quân Tào bại lui.

Trương Cáp và Ngụy Diên giết hơn 20 hiệp, Trương Cáp không còn lòng dạ nào mà ứng chiến, y liên tiếp đâm ra 7-8 mũi thương ép Ngụy Diên phải lùi lại mấy bước, quay ngựa chạy ra khỏi vòng chiến. Ngụy Diên cũng không tha, gắt gao đuổi theo phía sau, lúc này có một tên lính phía xa hô lên:

- Ngụy tướng quân, Châu mục có lệnh, tướng quân đừng đuổi địch nữa, hãy chỉ huy tác chiến.

Ngụy Diên lập tức tỉnh ngộ tha cho Trương Cáp, gã thấy quân Tào đã xuất hiện hiện tượng bại trận, nhưng vẫn có không ít lính Tào đau khổ chống đỡ lại. Chạy qua rừng cây, ở cánh đồng rộng lớn phía tây bắc có hai đội binh mấy ngàn người đang chiến đấu kịch liệt, Ngụy Diên hét lớn:

- Đi theo ta.

Gã dẫn theo hơn 2 ngàn lính xông về phía quân Tào.

Đây là cái bẫy mà Giả Hủ bày ra, trăm thuyền trên sông chính là mồi nhử, nếu là Tuân Du hoặc Trinh Dục ở trong này thì có lẽ quân Tào sẽ không mắc mưu, nhưng dù sao Trương Cáp không giỏi mưu lược, dù y hay là một tướng khác của quân Tào cũng đều đã quen với quân Hán đi thuyền lên bắc. Giả Hủ đã lợi dụng suy nghĩ này của quân Tào để bày ra cái bẫy này.

Lúc này, mấy ngàn chiến thuyền quân Hán cũng đều rời khỏi cuộc chiến, quân Tào thụ địch 2 phía rốt cuộc cũng không duy trì nổi nữa. Trương Cáp thấy tình thế không ổn, so với thất bại chi bằng rút lui trước, y hô to một tiếng:

- Truyền lệnh lui lại!

- Keng...keng...keng...

Quân Tào gõ chuông lui quân, tuy trên danh nghĩa là rút quân nhưng thực ra là thất bại rút về phía bắc. Lòng quân và sĩ khí đã bị đả kích nặng rất dễ dẫn đến sụp đổ toàn tuyến quân. Trương Cáp cũng hiểu, nhưng y đã không còn lựa chọn nào khác, y chỉ cố gắng bảo tồn chút sinh lực.

- Rút lui, rút lui!

Y lớn tiếng quát to, gần 2 vạn quân Tào như thủy triều chạy trốn về phía bắc. Lúc này, Lưu Cảnh thấy quân Tào đã rút lui liền hạ lệnh tấn công, sĩ khí của 3 vạn quân Hán tăng vọt, một đường đuổi giết quân Tào. Thây xác quân Tào như ngả dạ trên cánh động, kẻ quỳ xuống đầu hành nhiều không kể xiết. Trận chiến này đuổi theo hơn 20 dặm, quân Tào chết và đầu hàng đã vượt qua hơn 1 vạn người, Lưu Cảnh mới thét lệnh thu binh.

- Khởi bẩm Châu mục!

Bàng Đức vội vàng chạy đến chắp tay thi lễ nói:

- Ty chức nguyện lãnh binh đi tiếp viện cho Văn tướng quân.

Văn Sính dẫn theo 2 vạn quân đổ bộ vào Phàn Thành tấn công vào quân nhu ở phía sau quân Tào. Tính về thời gian hẳn là đang chiến đấu kịch liệt. Lưu Cảnh gật đầu nói:

- Ngươi có thể dẫn theo 5 ngàn quân từ đường bộ tập kích phía sau quân Tào.

Lúc này, Giả Hủ dưới sự bảo vệ của mấy chục binh sĩ cưỡi ngựa chạy tới hô lên từ xa:

- Châu mục, vi thần có lời muốn nói.

Lưu Cảnh đi lên hỏi:

- Mời quân sư chỉ giáo!

Giả Hủ đi lên thấp giọng nói với Lưu Cảnh:

- Táo Tháo rất gian trá, nếu y phái Trần Quần đến cầu hòa chứng tỏ lão biết Châu Mục sẽ không tha cho lão rút lên bắc. Lão đã lệnh cho Tào Thuần dẫn Hổ báo kỵ làm tiên phong, chưa chắc đã là thật, có thể chỉ là để mê hoặc quân ta. Một khi hậu quân giao chiến, Hổ báo kỵ sao có thể không xuất hiện chứ?
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 640: Huyết chiến Giang Bắc (thượng)


Lưu Cảnh lập tức tỉnh ngộ, hắn kỵ nhất vẫn là Hổ báo kỵ của quân Tào. Một khi Tào Tháo biết được tin hậu quân bị tập kích chắc chắn lão sẽ lệnh cho Hổ báo kỵ đến cứu viện. Lưu Cảnh vội vàng nói:

- Chúng ta phải làm thế nào đây?

Giả Hủ khẽ mỉm cười nói:

- Binh bất yếm trá, Châu mục có thể làm chim sẻ núp đằng sau là được.

Lưu Cảnh gật gật đầu, hắn hiểu ý của Giả Hủ, hắn gọi Bàng Đức đến trước rồi nói với một gã thị vệ:

- Ngươi hãy mau đi nói với Văn Sính tướng quân, phải tăng cường thám báo, nếu như kỵ binh quân Tào đánh tới, có thể lập tức rút quân vượt sông, không thể ham chiến được.

Thị vệ trả lời rồi thúc ngựa chạy gấp về phía Phàn Thành. Lưu Cảnh nói với Bàng Đức và Ngụy Diên:

- Hai vị tướng quân có hãy dẫn theo 5 ngàn quân mai phục trên đường phía bắc, đợi kỵ binh quân Tào đến cứu viện cho hậu quân, các ngươi có phục kích địch, không được tác chiến trực diện với kỵ binh.

- Tuân lệnh!

Ngụy Diên và Bàng Đức đều thi lễ, cùng nhau quay ngựa dẫn quân chạy về hướng tây, nhìn bọn họ đi xa, lúc này Lưu Cảnh mới hạ lệnh:

- Tập trung tù binh lại, chuẩn bị vượt sông, rút lui về phía nam.

Trong sự sắp xếp ngăn cản của quân Hán, Lưu Cảnh đích thân dẫn theo 3 vạn quân là tuyến đông, lấy chiến thuyền trên Bỉ Thủy làm mồi nhử, dụ quân của Trương Cáp ra, còn Văn Sĩnh thì dẫn theo 2 vạn quân ở hướng tây từ Phàn Thành đổ bộ tấn công hậu quân của Tào Tháo, cướp lấy lương thảo quân nhu. Tuyến đông của Lưu Cảnh khá thuận lợi nhưng tuyến tây lại gặp phải sự chống cự ngoan cường của quân Tào.

Đồng thời với tuyến đông dụ quân của Trương Cáp ra để giết, Văn Sính ở tuyến tây cũng dẫn quân tấn công vào hậu quân Tào Tháo. Hai bên chiến đấu kịch liệt trên cánh đồng rộng phía bắc cách Phàn Thành 10 dặm. Cho dù rút lui lên bắc có gây bất lợi cho quân Tào nhưng Trương Liêu lại dùng kinh nghiệm tác chiến phong phủ của mình để bù lại sự bất lợi cho đại cục.

Trương Liêu không vội rút quân lên Bắc, lúc nghe thấy quân Hán tấn công y lập tức xây dựng tuyến phòng ngự. Y bố trí quân trên một bình đồi cao mấy chục trượng, cho quân chặt hết cây tùng cắt thành từng đoạn cây lăn. Bọn họ từ trên cao nhìn xuống, rồi lại dùng xe lương thực và xe quân nhu xây thành một vòng phòng ngự dài gần 10 dặm đồng thời cũng phái người cầu viện Tào Tháo.

Trương Liêu và Lý Điển dẫn theo 10 ngàn quân, lấy mấy ngàn chiếc xe ngựa đồ quân nhu để chống đỡ quân Hán lần lượt tấn công. Trên chiến tuyến vài dặm tiếng kêu vang trời, hai vạn quân Tào bố trí xe lương thực và xe quân nhu cao đến 1 trượng dùng cung nỏ và những đoạn gỗ vừa chặt để chống đỡ sự tấn công của quân Hán.

Đã là canh 2 đêm, hai quân Hán-Tào vẫn chiến đấu kịch liệt. Văn Sính đã dẫn 2 vạn đại quân tấn công quân Tào. Cho dù việc đánh nhau vào ban đêm đều không có lợi cho 2 bên nhưng cuộc chiến đang vào lúc gay cấn, không ai có thể dừng cuộc chiến lại được.

Gần 5 ngàn quân Hán đã đột phá phòng tuyến đầu tiên, đây là một đường chiến hào quân Tào mới đào, chỉ sâu 5 thước nhưng trong chiến hào lửa cháy dữ dội, khói đặc bay lên cuồn cuộn. Mũi tên phóng từ sườn núi xuống khiến quân Hán chết thê thảm và nghiêm trọng, xác chết chồng chất trong chiến hào như núi, máu chảy xuống khe như dòng suối nhỏ khiến không khí tràn ngập mùi gay tanh.

Quân Hán tấn công cũng có cả vạn mũi tên cùng bắn, tên của hai bên thế như vũ bão, đan vào nhau như lưới tên. Quân Hán giơ cao tấm chắn lên, lăn cây đỡ đòn, giẫm lên xác chết của đồng đội, ra sức tấn công lên sườn núi. Lúc này, cứ nháy mắt là lại có lính Hán bị trúng tên hoặc bị thân cây lớn nện trúng đầu chảy máu mà kêu lên thảm thiết nhào lộn từ trên sườn núi xuống.

Ở phía tây nam đồi núi xuất hiện tình hình nguy hiểm, cả trăm tên quân Tào đang điều khiển chiến tuyến dài mấy chục trượng. Mười mấy binh lính quân Hán dưới sự dẫn dắt của tên đồn trưởng đã xông lên núi, chiến đấu với trận hình xe quân nhu và mấy trăm lính Tào. Ở phía sau bọn họ, mấy trăm quân Hán đã dọc theo lỗ hổng này mà lao về phía trước.

Lúc này, đồn trưởng quân Hán đã tìm 1 cây gỗ dài cản xe quân nhu vượt qua, y ra sức mà đẩy vào trong:

- Các ngươi mau đến giúp ta!

Y rống lên nói.

Hơn 10 quân Hán xông lên trợ giúp y, mọi người cùng nhau hô:

- 1,2,3!

Xe ngựa chở quân nhu rất nặng chậm rãi nhúc nhích đi vào trong, dần dần ngửa ra sau, bắt đầu lay động dữ dội trọng tâm bị dời. Mười mấy lính Tào ở trên xe sợ hãi kêu lên, có người nhảy từ trên xe ngựa xuống, còn lại đa số đều nghiêng theo xe ngựa ngã xuống đất.

Ầm một tiếng rất lớn, xe ngựa lật nhào, cả trăm bao lương thực trên xe ngựa rơi xuống, hơn 10 tên lính Tào chết và bị thương, phần lớn đều bị bao lương thực đè lên không thể động đậy được. Quân Hán nhảy lên, trường mâu đâm vào binh lính quân Tào đang bị bao lương thực đè chặn, giữa tiếng kêu la thảm thiết mười mấy tên lính Tào bị đâm chết hết.

Cuối cùng góc phía tây cũng được mở rộng, hơn 100 tên lính Hán xông vào, phía sau còn có mấy trăm người nữa. Lúc này, Trương Liêu được cấp báo, dẫn theo hơn ngàn lính tức tốc đuổi tới. Trương Liêu thấy tình thế nguy cấp liền hô lớn:

- Dùng cung tên cả quân địch phía sau.

Hơn 1 ngàn lính Tào lao từ sườn núi vào quân Hán. Trương Liêu hét lớn một tiếng rồi vung đao chém liên tiếp mười mấy tên địch. Đồn trưởng quân Hán lêu la thảm thiết, y bị một mũi tên đâm trúng mặt mà ngã xuống. Một gã lính khác nhanh chóng đi lên thế chỗ y nhưng lại bị Trương Liêu đánh bay mất đầu.

Lại có mấy trăm tên lính Tào lao đến, quân Hán ngăn không nổi liên tiếp rút lui. Quân Tào dưới sự chỉ huy của Trương Liêu lại ngăn được lỗ hổng, lỗ hổng phía tây cuối cùng cũng không bị công phá, sau khi quân Hán chết hơn 200 người thì liền bị ép phải rút lui.

Qua gần 1 canh giờ chiến đấu, hai đội quân đều tổn thất thê thảm và nghiêm trọng. Con số người chết và bị thương lên đến 2 ngàn người, phần lớn đều bị tên bắn chết, còn một phần là bị xe quân nhu cán chết, cả hai bên đều chiến đấu rất lịch liệt.

Văn Sính đứng ở chỗ cao, lạnh lùng theo dõi trận chiến này, vẻ mặt của ông vẫn âm trầm không nói một lời. Thái Tiến học trò cưng đứng bên cạnh ông. Thái Tiến là nhóm chủ tướng tấn công lần thứ 3, lúc này trong lòng Thái Tiến có vẻ hơi lo lắng liền thấp giọng nói:

- Sư phụ, tổn thất lớn như vậy, chi bằng chúng ta rút lui trước, đợi quân Tào khởi hành rồi lại tiến hành truy kích.

Văn Sính lạnh lùng nhìn y, một lúc lâu sau mới lên tiếng:

- Đương nhiên là ta biết tấn công như vậy có tổn thất rất lớn, nhưng sớm muộn gì quân Kinh Châu cũng phải đối mặt với lục chiến quân Tào. Để bọn họ dũng cảm đánh một trận mới có lợi cho họ.

Bây giờ Thái Tiến mới hiểu, hóa ra đây sư phụ muốn lợi dụng cơ hội này để tôi luyện sức chiến đấu của binh sĩ. Đúng lúc này, Lưu Hổ dẫn theo 1 ngàn bộ binh xếp thành hàng đi tới, y đi lên ôm quyền thi lễ nói:

- Văn tướng quân, hãy để chúng tôi đi.

Năm ngày trước, Lưu Hổ mới từ Ba Thục đến Tương Duơng ứng chiến. Y mang theo 4 ngàn bộ binh trọng giáp nhưng hôm nay y chỉ dẫn theo hơn 1 ngàn bộ binh vượt sông, số lính còn lại đóng giữ thành Tương Dương. Vốn y cho rằng không phải chuyện của mình, không ngờ Văn Sính gặp phải trận chiến này, y lập tức chủ động xin đi giết giặc.

Lưu Hổ là Trung lang tướng, chức vị thấp hơn Văn Sính một bậc. Địa vị vủa y cũng rất cao, là nguyên lão của quân Hán, hơn nữa bên ngoài y là người vô cùng bình thản, tướng sĩ quân Hán không ai không thích y. Nếu Lưu hổ chủ động xin xuất chiến thì Văn Sính cũng không từ chối liền gật đầu nói:

- Tướng quân cẩn thận!

Lúc này, Thái gia vội vàng đề nghị:

- Hổ tướng quân, mặt đông triền núi khá bằng phẳng có lợi cho trọng giáp binh tấn công, hơn nữa ở phía đông cũng không có nhiều quân địch.

- Được! Hãy lên từ phía đông.

Lưu Hổ vung tay lên hô:

- Đi theo ta!

Đội quân mặc trọng giáp, tay cầm mã đao hô lớn rồi đi theo Lưu Hổ hướng về phía đông sườn núi. Để cổ vũ cho khí thế của họ, Thái Tiến đã đi lên trước trống trận cầm dùi đánh mạnh vào mặt trống.

- Tùng, tùng, tùng!

Tiếng trống vang lên, 1 ngàn trọng giáp bộ binh lao về phía quân Tào phòng ngự trên sườn núi, nghênh đón họ là mũi tên như vũ bão.

Trọng giáp bộ binh tay cầm lá chắn, xông lên không một chút sợ hãi. Lúc lên được 40 bước thì có từng đám cây gỗ đổ ập xuống. Trọng giáp bộ binh cúi đầu, nâng lá chắn nhưng vẫn có không ít lính bị gỗ đập trúng đầu lao xuống núi kêu lên thảm thiết.

Lưu Hổ giận giữ, y ném lá chắn xuống vung đao lên chém cây gỗ phía trước thành hai đoạn mà hét lớn:

- Ném lá chắn xuống, theo ta giết lên!

Trọng giáp bộ binh ném hết lá chắn xuống reo hò đi l*n đ*nh núi mười bước. Lưu Hổ anh dũng đi trước, y liên tiếp chém hai cây gỗ lớn, hét lớn nâng đao bổ vào xe ngựa trước mặt. Chỉ nghe thấy tiếng răng rắc, chiếc xe ngựa chở quân nhu bị gãy làm 2 đoạn. Lưu Hổ bổ ngang một đao, chém bay đầu hai gã lính Tào.

Y phá xe ngựa ầm ầm giết vào phía trong.

Ở góc phòng ngự phía đông bắc, quân Tào lại xuất hiện nguy hiểm, trên xe ngựa đồ quân nhuvùng này dài gần 200 trượng không có lương thảo, lính Tào cũng không nhiều, chỉ có 1500 lính cánh gác. So với những chỗ khác chỉ bằng 1/3, Thái Tiến phát hiện ra đây chính là lỗ hổng.

Mà tấn công vào lỗ hổng này lại chính là trọng giáp bộ binh tinh nhuệ nhất của quân Hán. Bọn họ là năm ngàn người được lựa chọn ra từ 20 vạn đại quân, ai cũng cao lớn, tác chiến hung hãn. Bọn họ đến là bắt đầu xoay chuyển thế tiến công cho bất lợi của quân Hán.

Một ngàn trọng giáp bộ binh mở ra một lỗ hổng rộng hơn 10 trượng,chiến đấu kịch liệt với hơn 1 ngàn quân Tào. Bọn họ dũng mãnh vô cùng, lính Tào chết rất thê thảm và nghiêm trọng, liên tục lui binh.

Trong bóng đêm đen tối, khắp nơi đều hỗn loạn, Lý Điển phụ trách phía đông đã thấy tình hình không hay liền dẫn theo 2 ngàn binh lính đến phòng vệ. Nhưng y đã đến chậm một bước, mấy trăm binh tinh nhuệ của trọng giáp bộ binh đã tiến đến thế như chẻ tre.

Hơn ngàn dân phu canh chừng hơn vạn con súc vật đã bắt đầu hỗn loạn, họ ném đá về quân Hán, dùng trường mâu đâm loạn xạ trong bóng tối, tiếng la hét loạn thành một bầy.

Một lát sau, xuất hiện Lưu Hổ dẫn theo mấy chục trọng giáp bộ binh xuất hiện trước trướng cỏ khô phía tây. Lúc này Lưu Hổ hung hãn vô cùng, y chém một đao bay đầu hai gã dân phu, cả người y đầy máu thịt. Sự hung tợn của y khiến mấy chục dân phu sợ đến hồn bay phách lạc, bỏ trường mâu xuống rồi chạy trốn. Đằng trước của hơn 10 trướng cỏ khô trống không, đã bị một tên lính châm lửa đốt cháy.

Lúc này, mấy trăm lính Tào bảo vệ súc vật thấy tình thế nguy cấp liền nhất tề xông lên nhưng Lưu Hổ đã nắm bắt cơ hội trong thời gian ngắn ngủi này, y nhảy lên đá văng cỏ khô khắp nơi rồi vung đao đâm chém. Chỉ một thoáng, lại 3 gã dân phu khác tử trận. Quay đầu lại, y thấy một nhóm binh lính Tào xông lên liền hét lớn hỗn chiến với quân Tào.

Lúc này, lại có hơn 100 trọng giáp bộ binh lao từ lỗ hổng đến ngăn đám trâu, ngựa lại. Số quân Hán đó đều mặc áo giáp rất nặng, thân hình cao lớn hung ác lao vào trong quân Tào như hổ lao vào bầy dê.

Một lát sau, có 40-50 tên lính Tào bị giết, quân Tào sợ mất hết hồn vía quay đầu bỏ trốn. Cùng lúc đó, cỏ khô trên đỉnh bị đốt cháy, ánh lửa cao ngút trời, ngọn lửa nhanh chóng lan đi khiến quân Tào càng thêm loạn lạc.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 641: Huyết chiến Giang Bắc (hạ)


Theo sự phân công, tuyến đông và tuyến bắc do Lý Điển phụ trách, Trương Liêu phụ trách tuyến nam và tuyến tây. Lý Điển dẫn theo 3 ngàn lính chạy về phía đông bắc, trong ánh trăng, y thấy vô số binh lính cao lớn mặc trọng giáp đang chiến đấu kịch liệt với bộ hạ của mình.

Quân địch hung hãn vô cùng, những nơi lưỡi đao đi qua máu bay tứ tung. Khắp nơi đều là lính Tào cụt chân, đứt tay máu tanh nồng nặc, cũng may quân địch hành động bất tiện, phần đông đã bị xe chở quân nhu chặn lại.

Đầu của Lý Điển như muốn nổ tung, y biết trọng giáp bộ binh là bộ binh nổi tiếng nhất của quân Hán.

Lúc này, phía sau y có một tên lính Tào hô to:

- Tướng quân, có mấy trăm quân địch đã vào vùng trung tâm rồi.

Lý Điển nghiêng đầu, trong bóng đêm chỉ thấy ánh lửa trên núi cao ngập trời, lửa cháy nghi ngút, đó là chỗ để cỏ khô, khắp nơi đều có ngựa và súc vật chạy trốn, loạn thành một bầy. Lúc Lý Điển cảm giác chân tay luống cuống thì có một gã kỵ binh vội vàng chạy tới hô lên:

- Lý tướng quân, Trương tướng quân mời ngài chặn địch đi vào vùng cửa, quân địch ở vùng trung tâm để ông ấy ứng đối.

Trong lòng Lý Điển bỗng được thả lỏng, y vẫy thương hô lớn:

- Các huynh đệ, theo ta chặn quân địch lại!

Lúc này 1500 quân Tào ở phía đông bắc thì đã phải bỏ mạng 1 ngàn người, mấy trăm người còn lại đang chiến đấu kịch liệt với đối phương. Trong lòng Lý Diển vừa sợ vừa giận dữ, y hét lớn một tiếng rồi vẫy trường mâu xông tới.Ba ngàn quân Tào như một đàn kiến bám sát theo y mà xông lên trước để chặn đường của bộ binh trọng giáp.

Quân Tào có hơn 2 vạn người, quân Hán cũng có 2 vạn người, lực quân của hai bên cân bằng nhau. Cho dù quân Tào lợi dụng ưu thế về địa hình nhưng dù sao cũng đã ở thế bị bao vây, còn quân Hán là thế tấn công. Quyền chủ động nằm trong tay quân Hán, cho nên cả hai bên thực ra là ngang tài ngang sức.

Nhưng 1 ngàn trọng giáp bộ binh xuất hiện đã phá vỡ sự ngang sức này. Chiến lực của trọng giáp bộ binh dũng mãnh đã nhanh chóng đã mở được chiến tuyến phòng ngự của quân Tào, khiến họ bị vây và lâm vào thế bị động. Trương Liêu cũng đã nhận được tin tuyến phòng ngự đã bị đột phá, y tự dẫn ba ngàn lính đốt cháy vùng trung tâm.

Lúc này, bộ binh trọng giáp của quân Hán do Lưu Hổ dẫn đầu đã có gần 500 người từ góc đông bắc giết vào vùng trung tâm, còn có một lượng lớn quân Hán vẫn không ngừng tấn công vào lỗ hổng bên này.

Nhưng Lưu Hổ cũng phạm phải một sai lầm, sau khi y dẫn quân vào vùng trung tâm lại không lập tức đi trợ giúp các tuyến phòng ngự khác của quân Hán mà lại đặt hết tinh lực chủ yếu tấn công quân Tào tại vùng này, bao gồm cả phá hủy rào chắn trâu, ngựa, thiêu hủy cỏ khô và chặt đứt chiến kỳ chính của quân Tào.

Đương nhiên, phá hủy rào chắn trâu ngựa là rất có lợi cho việc làm nhiễu loạn phòng ngự của quân Tào, chặt đứt cờ chiến cũng có thể tấn công vào sĩ khí của quân địch. Cách làm của Lưu Hổ không có gì là không ổn, phàm là chuyện đều có hai mặt. Phá hủy rào chắn trâu, ngựa, và chặt cờ chiến không giống như hành động bỏ gốc lấy ngọn.

Lúc này Trương Liêu dẫn theo 3 ngàn người giết đến, họ dùng đao chém tiễn bắn, xung kích ngăn trở, ý đồ phân cách tiêu diệt 500 trọng giáp bộ binh. Lưu Hổ cũng đã biết mình sai lầm, trong lòng y hối hận, ý chí chiến đấu càng bùng nổ mãnh liệt hơn, y hét lớn:

- Các huynh đệ, xếp thành hàng!

Lưu Hổ vung trảm mã trường đao tung bay như hoa tuyết trong nháy mắt đã chém bay đầu của 3 tên lính Tào, 500 trọng giáp bộ binh nhanh chóng hợp lại, cho dù quân Tào có liều mạng chia rẽ cũng khó mà ngăn họ hợp lại với nhau được. Trương Liêu cũng bị sự dũng mãnh của trọng giáp bộ binh làm cho kinh sợ.

Lúc này phía sau y có một trận gió thổi đến, Trương Liêu thầm nghĩ có sự không ổn liền cúi đầu lăn ra ngoài. Một ánh chớp bổ qua đầu y, chỉ thấy một gã Nha tướng trọng giáp bộ binh cao lớn tay cầm Trảm mã đao, một đao chém vào khoảng không.

Tên Nha tướng này lại hô to một tiếng, vung đao bổ chém về phía Trương Liêu bên cạnh. Thế đao vô cùng sắc bén và linh hoạt, gã chém từ trên cao xuống như chim ưng quắp thỏ, nhưng Trương Liêu né được, thoát khỏi nhát đao trí mạng này. Tiện tay y nhặt một cây trường thương lên đâm ngược trở lại, mũ thương đâm vào hốc mắt tên lính trọng giáp bộ binh, xuyên qua đầu. Một tiếng hét kinh hoàng, tên Nha tướng thân hình cao lớn đã bị cán thương của Trương Liêu làm bị thương, Trương Liêu lại vung cán thương lên, đánh thi thể của đối phương văng xa hơn trượng.

Nha tướng chết khiến mắt của 500 trọng giáp bộ binh long lên sòng sọc, họ giận giữ hét lớn kết thành tường đội, trảm mã trường đao bổ ra, khiến quân Tào liên tục lui binh.

Trương Liêu chỉ huy cho binh lính dùng chiến xa bao vây trọng giáp bộ binh mới cố gắng chống lại được thế tấn công của đối phương. Lưu Hổ thấy quân địch quá nhiều cũng hạ lệnh dừng tấn công, tạm thời rút lui đến chỗ rào chắn trâu ngựa để khôi phục thể lực, tạo thế giằng co với quân địch.

Tiếng trống trận của quân Hán lại vang lên, một đội hơn vạn quân Hán nhanh chóng giết lên từ phía tây, không ngừng tấn công vào phòng tuyến phía tây nam không ổn định nhất của quân Tào.

Lúc này, thế cục của quân Tào đã vô cùng bất lợi, nhưng Văn Sính cũng không vội đánh tan họ. Ông ta thay đổi thế tấn công, lệnh cho Thái Tiến dẫn theo nhóm quân Hán thứ hai tiến lên, tổng cộng có 10 ngàn đại quân tấn công tuyến tây.

Cho dù bị chết rất thê thảm và nghiêm trọng dưới trận tên dày đặc của quân Tào nhưng đã có một đội quân công phá được phòng tuyến phía tây nam. Mà 8 ngàn quân ở phía ngoài trăm bước cũng như hổ rình mồi, bất cứ lúc nào cũng có thể tiến lên.

Lúc này có một tên lính vội vào bẩm báo với Trương Liêu:

- Tướng quân, góc tây nam bị công phá, chúng tôi không cầm cự nổi, Tôn tướng quân cầu cứu!

Trương Liêu vừa mới củng cố lại góc tây nam, giao tuyến phòng ngự cho cấp dưới là Tôn Thái phụ trách. Y dẫn quân đến chặn trọng giáp bộ binh tấn công vùng trung tâm. Không ngờ mình vừa đi được một lát thì góc tây nam lại bị công phá. Trương Liêu giận đến tím mặt:

- Đi nói với y nếu trong vòng một khắc mà không chặn lỗ hổng lại được, ta sẽ lấy đầu của y.

Tuy rất hận nhưng Trương Liêu không thể không lo, y hạ lệnh cho 5 ngàn quân Tào tuyến bắc phái ra 2 ngàn người đi tiếp viện cho góc tây nam. Còn quân Tào góc tây nam đã chết mất hơn 1 ngàn người, chỉ còn chưa đến 800 người dưới sự chỉ huy của Giáo úy Tôn Thái chống cự một cách khổ sở.

Trong màn đêm, mũi tên của quân Tào đã không còn lực sát thương, sĩ khí tê liệt, chống đỡ thế tấn công của quân Hán càng khó khăn hơn. Nếu không phải Văn Sính vì tôi luyện sức chiến đấu cho quân Hán, phái các đội quân thay phiên tấn công vào phòng tuyến quân Tào thì lúc này quân Tào đã thất bại từ lâu rồi.

Văn Sính đứng ở chỗ cao, thần sắc vẫn bình tĩnh nhìn cuộc chiến trên bãi đất. Thỉnh thoảng ông ta lại quay đầu nhìn về hướng bắc, ông ta vừa mới nhận được lệnh của Lưu Cảnh. Kỵ binh quân Tào có thể sẽ xuôi nam viện trợ cho hậu quân, nhưng bảo ông ta vẫn theo như kế hoạch cũ, không nên bị kỵ binh ảnh hưởng.

Văn Sính hiểu ý của Lưu Cảnh, thì ra là phương bắc đã có sự bố trí rồi.

Lúc này, có một gã quân hầu cưỡi ngựa chạy gấp đến chắp tay nói:

- Chúng tôi đã phá thế phòng ngự ở tuyến tây của quân địch, Thái tướng quân xin chỉ thị có thể tấn công toàn tuyến không?

Văn Sính hỏi:

- Tình hình của Hổ tướng quân thế nào rồi?

- Hổ tướng quân đang giằng co với địch, hai bên tạm thời chiến đấu đã không còn kịch liệt nữa.

Văn Sính gật đầu nói:

- Truyền lệnh của ta cho Thái tướng quân, hãy kiên nhẫn chờ một chút, đợi lệnh của ta.

- Tuân lệnh!

Quân hầu thúc ngựa chạy như bay, Văn Sính lại nhìn về phía bắc, ông ta nhất định phải phối hợp với Lưu Cảnh để cục diện thành một chỉnh thể. Đánh tan quân địch quá sớm sẽ ảnh hưởng đến hành động phục kích của kỵ binh. Ông ta cần đợi một lúc nữa, xem tình hình phía bắc chiến đấu thế nào rồi mới quyết định tiếp.

Trong đêm tối, một đội kỵ binh 5 ngàn người dưới sự chỉ huy của Tào Hưu cũng hăng hái xuất phát về phía nam. Tào Hưu là cháu của Tào Hồng, dáng người khôi ngô, cao lớn, võ nghệ cao cường và cũng thiện chiến, cùng với Tào Chân được vinh danh là “Nhị hổ câu của Tào thị” trở thành thế hệ trẻ tuổi nổi bật của gia tộc Tào thị.

Tào Hưu không chỉ có dũng lực hơn người mà còn rất mưu lược, rất được Tào Tháo coi trọng, được lão bổ nhiệm chức Túc vệ kỵ binh thống lĩnh, phong Trấn Dũng Giáo úy. Vốn dĩ y theo Tào Thuần mở đường lên bắc nhưng lại nhận được tin khẩn cấp của Tào Tháo, lệnh cho y dẫn theo 5 ngàn kỵ binh đuổi theo cứu viện hậu quân của Trương Liêu.

Năm ngàn kỵ binh hành quân dưới ánh trăng, chỉ thấy bụi vàng bay lên cuồn cuộn, kỵ binh dài khoảng vài dặm trùng trùng điệp điệp xuất phát về phía nam.

Đây là Hổ báo kỵ tinh nhuệ nhất của quân Tào, phần lớn bọn họ không phải là người Hán mà là người Ô Hoàn. Họ có kỹ thuật cưỡi ngựa rất giỏi, giỏi về cưỡi ngựa bắn cung, bản lĩnh cá nhân rất mạnh, sau khi trải qua sự huấn luyện nghiêm khắc đã trở thành một đội kỵ binh rất tinh nhuệ khiến người ta nhìn thấy đã là sợ.

Cho dù kỹ thuật cưỡi ngựa của đội kỵ binh này giỏi nhưng hành quân ban đêm tốc độ vẫn không thể nhanh bằng ban ngày được. Không thể phóng ngựa mà chỉ rong ruổi, điều này khiến Tào Hưu hơi lo lắng. Hai canh giờ mới đi được hơn 50 dặm, y lo hậu quân sẽ cản không nổi.

Quân đội đã qua trấn Hà Khẩu, cách chỗ hậu quân bị bao vây ở đồi Bạch Long chỉ còn hơn 10 dặm. Cho đến giờ, vẫn chưa thấy bại binh của hậu quân, chứng tỏ quân đội của Trương Liêu cũng chưa thất bại, vẫn còn chống đỡ được. Lúc này trong lòng Tào Hưu mới được thả lỏng, y lập tức ra lệnh cho quân đội hạ tốc độ nghỉ ngơi. Đồng thời y cũng phái mấy tên thám báo đi lên phía trước tìm hiểu tình hình.

Lúc này, Tào Hưu nhìn xung quanh thấy đại bộ phận đều là bình nguyên, nhưng phía xa xa vẫn lờ mờ thấy hình ảnh của đồi núi. Hai bên đường là ruộng lúa mạch tươi tốt, đã đến kỳ trổ bông nhưng vì thiếu người chăm bón nên lúa mạch cũng không được tươi tốt, hơn nữa phần lớn đều bị quân đội giẫm đạp tàn phá.

Ngoài ruộng lúa mạch ra còn có rừng cây dài và hẹp, chỉ thấy bốn bề mông quạnh, bốn phía hoàn toàn tĩnh mịch. Tào Hưu thấy không có dấu hiệu của phục binh lại nhìn về phía trước, thám báo dẫn theo một gã lính mang tin của Trương Liêu đến.

Tên lính này tay cầm lệnh tiễn, ở trên ngựa ôm quyền nói:

- Khởi bẩm tướng quân, chúng tôi bị 2 vạn quân Hán bao vây ở quanh đồi Bạch Long, chết mất gần 4 phần, mong tướng quân viện trợ gấp.

- Ta biết rồi, mau đi đi!

Tào Hưu lớn tiếng quát nói:

- Truyền lệnh của ta, toàn quân tăng tốc.

Kỵ binh quân Tào lại tăng tốc vó ngựa đạp lên mặt đất như sấm rền. Không lâu sau, đội quân lại đi được mấy dặm, phía trước là rừng cây tươi tốt, thám tử đã tuần tra không thấy có dấu hiệu bất thường. Tào Hưu cũng không nghi ngờ nữa chỉ lệnh cho đội quân đi mau.

Nhưng sau khi thám tử tuần tra và quân đội đến khoảng một tuần trà thì Bàng Đức và Ngụy Diên đã dẫn theo 10 ngàn quân Hán từ phương xa nhanh chóng chạy vào rừng cây và dừng lại cách phía ngoài hơn 60 bước. Bọn họ trốn trong bụi cây hoặc cây đại thụ lén lút nhìn về kỵ binh xếp thành hàng đi phía xa.

Kỵ binh quân Tào kéo dài đến mấy dặm, phải đánh vào giữa kỵ binh mới đạt được hiệu quả lớn nhất. Mười ngàn binh lính quân Hán phân bố trải dài 2 dặm trong rừng cây. Bọn họ đã thầm giương quân nỏ, nhắm vào kỵ binh trên đường, đợi lệnh.

Đội kỵ binh tiên phong trên quan đạo chợt phát hiện mấy gốc cây đại thụ bên đường có kỳ lạ, một tên lính chỉ vào cây đại thụ, hỏi:

- Tướng quân, ngài nhìn xem trên đại thụ có gì?
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 642: Bàn lại điều kiện


Tào Hưu cũng nhìn thấy, bên cạnh đường đi có mười mấy cây đại thụ cao tám chín trượng, tán cây rất lớn, cành lá rậm rạp, trên ngọn mỗi cây đều có một vật thể hình cầu màu đen cực lớn, nhìn như tổ chim, nhưng đám binh lính chưa bao giờ nhìn thấy tổ chim to như vậy nên vô cùng kinh ngạc, bàn tán xôn xao.

Tào Hưu thấy có chút bất an trong lòng, con đường này y đã đi qua ba lần rồi, đặc biệt là mấy canh giờ trước mới vừa đi qua xong nhưng không hề nhìn thấy tổ chim nào, sao lại đột nhiên xuất hiện? Lúc này, bỗng nhiên có tên lính hô lên:

- Trên cây hình như có người!

Vừa dứt lời, trên cây đột nhiên xuất hiện ánh lửa, những vật thể hình cầu màu đen to lớn đó trong nháy mắt đều bốc cháy với tốc độ rất nhanh, làm cho đám kỵ binh trên đường đều kinh hoàng, lúc này con đường phía trước cũng bốc cháy rừng rực, cắt đứt đường đi của bọn chúng, trong lúc đám lính đang nhao nhao ghìm chặt chiến mã thì quả cầu lửa trên mười mấy cây đại thụ bỗng rơi xuống ầm ầm, đè vào đám kỵ binh, bọn chúng kêu la thảm thiết, chiến mã r*n r* thành một bầy hỗn loạn.

Tuy nhiên không ai ngờ đến, ngọn lửa trên đường bốc cháy, lan ra nhanh chóng, ngọn lửa mặc dù không lớn nhưng làm chiến mã kinh hoàng, lũ chiến mã đều giơ móng trước lên, hoảng sợ lao ra ven đường, nhưng bên trái đường là một con mương rất dài, khoảng hơn hai trượng, rất nhiều chiến mã lại quay đầu chạy về phía rừng cây bên trong.

Ánh lửa bốc cháy chính là tín hiệu, trong rừng cây lập tức bay ra hàng loạt mũi tên, năm nghìn chiếc tên nỏ điên cuồng bắn về phía đám kỵ binh trên đường, kỵ binh Quân Tào không kịp đều phòng, lần lượt kêu la thảm thiết rớt xuống khỏi ngựa, ngã vào đám lửa trên mặt đất, ngay sau đó đợt tên thứ hai lại bắn tới dồn dập, hai lần bắn tên khiến cho kỵ binh Quân Tào chết gần ngàn người, ngoài bị cung tiễn uy h**p, trong thì lửa cháy bừng bừng thiêu rụi, mấy ngàn kỵ binh lâm vào cảnh hỗn loạn cực độ.

Lúc này, ngọn lửa trên đường tiếp xúc với rất nhiều dầu hỏa chôn dưới tầng đất, lửa to bỗng chốc đốt cháy cả con đường, tạo ra một vành đại lửa dài một dặm, Tào Hưu liều mạng khua tay hô to:

- Rời khỏi đường! Mau rời khỏi đường!

Hơn ngàn tên kỵ binh Quân Tào liều chết tháo chạy ra phía ngoài như ong vỡ tổ, con mương bên trái lại cản đường sống của Quân Tào, vô số chiến mã đã rơi xuống mương.

Đám Quân Tào khắp người sắp cháy rụi kêu gào thảm thiết lao ra từ trong biển lửa, chạy về phía rừng cây, lúc này bọn họ đã bất chấp việc đối diện với phục kích cung tiễn, lửa lớn trên đầu bọn chúng, người bốc cháy rừng rực, rất nhiều người giang hai cánh tay, chỉ chạy được mấy bước thì đã cắm đầu xuống đất, lửa lớn thiêu rụi khiến bọn chúng phải cuộn mình lại, mấy chục chiến mã chạy chậm một chút cũng bị ngọn lửa nuốt sạch, chúng quỵ xuống đất lăn lộn, kêu thảm thiết không ngừng.

Trong rừng cây, Bàng Đức khẽ lắc đầu, thảm cảnh này cũng không khỏi quá tàn khốc, nhưng chiến tranh lại không cho phép gã có lòng thương hại, gã cắn răng hạ lệnh:

- Tiếp tục bắn tên!

Từng đợt mũi tên từ trong rừng cây b*n r*, rất nhiều đám kỵ binh Quân Tào leo lên từ trong mương cuối cùng cũng không thoát khỏi mũi tên dày đặc, bị bắn ngã xuống mặt đất, dần dần, con đường dài hai dặm trở nên yên tĩnh, ngọn lửa cũng tàn dần, trong không khí tràn ngập mùi khét lét khó chịu.

Tuy vậy không phải tất cả kỵ binh Quân Tào đều trúng mai phục, chỉ gần một nửa kỵ binh bị phục kích mà thôi, Tào Hưu đã thoát được ra, y sợ hãi hồn bay phách lạc, chỉ huy hơn hai ngàn binh lính phía sau quay đầu tháo chạy về phía bắc, nhưng không chạy được tới vài dặm thì bỗng nhiên một hồi trống vang lên, ánh lửa nổi lên bốn phía, một đội quân khác khoảng năm ngàn người xông ra từ trong rừng cây, đại tướng cầm đầu chính là Ngụy Diên.

Hắn vung đao hét lớn một tiếng:

- Tướng địch đừng chạy, Ngụy Diên ta ở đây chờ đã lâu!

Tào Hưu sợ đến mức hồn vía lên mây, không còn lòng dạ ứng chiến mà quay đầu tháo chạy, kỵ binh phía sau nhao nhao chạy theo y, Ngụy Diên dẫn quân bao vây liều chết, giết và bắt làm tù binh gần ngàn quân địch, chỉ có hơn một nghìn kỵ binh đã thoát khỏi truy kích, sợ hãi chạy trốn cùng Tào Hưu lên phía bắc.

Ngụy Diên lệnh cho binh lính dọn dẹp chiến trường, áp giải tù binh, binh lính dắt về từng bầy chiến mã, khoảng hơn bảy trăm con, ánh mắt Ngụy Diên bỗng sáng lên, đi đến trước một con chiến mã hùng tuấn lạ thường, vô vỗ cười nói:

- Con ngựa này tuyệt lắm!

- Ngụy tướng quân, con ngựa này ngài lấy đi ạ!

Mấy tên tướng lĩnh bên cạnh cười nói.

Ngụy Diên lắc đầu, bởi vì hắn bất chấp quân quy đã thua thiệt quá nhiều, lần này hắn đã rút kinh nghiệm rồi.

- Con chiến mã này dâng cho Châu Mục!

Lập tức hắn lệnh cho thân binh:

- Thu hồi con ngựa này lại!

Lúc này, một tên lính từ xa cưỡi ngựa chạy tới, chắp tay trên ngựa nói:

- Vừa rồi Châu Mục phái người đến truyền lệnh, yêu cầu chúng ta đi phía nam trợ chiến, Bàng tướng quân đã tập kết binh lực, đang đợi ở phía trước.

Ngụy Diên hớn hở đáp:

- Hãy chuyển lời tới Bàng tướng quân, chúng ta lập tức đến ngay.

Không lâu sau, hai nhóm quân đã hợp binh lại, trùng trùng điệp điệp đánh về phía nam.

Đã gần tới canh năm, quân Hán dừng tấn công, năm trăm quân bộ binh trọng giáp của Lưu Hổ cũng mở một đường máu, thẳng hướng tới ngọn núi. Chiến trường vô cùng yên tĩnh, Trương Liêu đứng trên một hòn đá lớn nhìn về phía bắc, vẻ mặt cực kỳ đăm chiêu, y đã nhìn thấy ánh lửa đốt cháy ở phía bắc từ lâu, chắc chắn là viện quân của bọn họ đã bị phục kích.

Lúc này, Lý Điển chậm rãi bước lên, khẽ nói:

- Thật sự rất kỳ quái, quân địch hoàn toàn có thể đánh tan phòng ngự của chúng ta, nhưng vào giây phút cuối cùng lại buông tha, bộ binh trọng giáp của quân địch cũng rút khỏi núi rồi, rốt cuộc bọn chúng đang làm cái gì?

Trương Liêu thở dài một tiếng:

- Nếu ta đoán không lầm thì kể cả chúng ta đột phá vòng vây thì cũng bị quân địch bao vây như thế.

Trương Liêu vừa dứt lời, phía xa đã vang lên tiếng trống chận “Tùng! Tùng!”, chỉ thấy phía đông xuất hiện một nhóm quân thanh thế rất lớn, khoảng mấy chục ngàn người, còn phương bắc cũng có một nhóm quân chục nghìn người, Lý Điển lập tức tái mặt, gã nhìn thấy một cây xích kỳ viền vàng, đây là vương kỳ của quân Hán, nghĩa là Lưu Cảnh đích thân dẫn quân tới.

- Văn Viễn, hắn muốn ép chúng ta đầu hàng sao?

Lý Điển run rẩy hỏi.

Trương Liêu mặt thất thần, một lát sau mới khẽ lắc đầu nói:

- Bọn họ ép chúng ta đầu hàng cũng không có nghĩa lý gì, ta nghĩ chắc là dùng chúng ta để trao đổi điều kiện với Thừa tướng!

Nói đến đây, Trương Liêu lại hỏi:

- Chúng ta còn bao nhiêu quân?

- Hơn tám nghìn quân còn sống, bị thương hơn sáu nghìn quân, còn hơn bốn ngàn người chết trận.

Trương Liêu gật đầu:

- Xây dựng lại công sự, giết bằng hết súc vật để làm thức ăn, cho huynh đệ được ăn no nê!

- Nhưng chúng ta không còn nhiều nước nữa.

- Còn bao nhiêu nước nữa?

Trương Liêu vội hỏi.

- Đại khái còn chống đỡ được ba ngày nữa.

Trương Liêu khẽ thở dài:

- Ta nghĩ ba ngày đã đủ rồi!

Dưới chân núi, sáu mươi ngàn đại quân Hán hội tụ, đúng như Trương Liêu nói, Lưu Cảnh đích thân dẫn đại quân tới, hắn không hạ lệnh tấn công tiếp lên núi mà cắm đại doanh bên dưới, doanh trướng trải dài bao vây lấy chân núi, lúc này Trương Liêu chính là con tin của họ, xem Tào Tháo cứu hay không cứu, nếu không cứu, uy tín của Tào Tháo sẽ mất sạch, còn nếu cứu thì bọn chúng tất nhiên sẽ phải trả một cái giá thảm hại hơn, lối thoát duy nhất là đàm phán, Lưu Cảnh đương nhiên sẽ không từ chối, có điều phải xem Tào Tháo ra giá thế nào.

Trong đại trướng, Văn Sính nộp lệnh tiễn cho Lưu Cảnh, Lưu Cảnh khen ngợi, cười nói:

- Trận chiến này Văn tướng quân đánh rất mưu trí, để lại cho ta đủ đường sống, nếu không phải Bàng tướng quân và Ngụy tướng quân đánh bại kỵ binh Quân Tào viện trợ thì ta vẫn chưa dám hạ quyết tâm như thế.

Văn Sính chắp tay đáp:

- Ty chức hổ thẹn, cách nghĩ cuối cùng của ty chức chỉ là nhân cơ hội này để tôi luyện năng lực thực chiến của binh lính, vì thế thay nhau cử quân đội đi tấn công, tuyệt nhiên không phải trí tuệ gì đâu.

- Văn tướng quân quá khiêm tốn rồi.

Lưu Cảnh bật cười, ánh mắt liếc nhìn Lưu Hổ, thấy Lưu Hổ đang muốn nói lại thôi bèn cười hỏi:

- Hổ tướng quân muốn nói gì?

Lưu Hổ gãi đầu ngượng ngùng đáp:

- May mà ty chức mới dẫn một ngàn huynh đệ đến, nếu dẫn hai ngàn huynh đệ, chẳng phải đã phá hỏng đại kế của Châu Mục?

Tất cả mọi người đều bật cười, lúc này, có thị vệ ở cửa trướng bẩm báo:

- Khởi bẩm Châu Mục, sứ giả của Quân Tào cầu kiến, vẫn là Trần Quần lần trước.

Lưu Cảnh cười ha hả:

- Nhanh hơn so với ta dự liệu, dẫn y đến trướng khác chờ một lát.

Mọi người lần lượt lui ra ngoài, trong đại trướng chỉ còn mình Giả Hủ, lúc này, Lưu Cảnh có chút cảm khái nói:

- Trước đây chúng ta không ngờ sẽ có kết quả này.

Giả Hủ cười đáp:

- Mặc dù nằm ngoài dự tính, nhưng cũng trong tình lý, hậu quân của Tào Tháo chạy không thoát.

- Quân sư nói không sai, có điều hiện giờ không phải là lúc tổng kết thành tựu, hãy nói đến việc đàm phán, nhìn từ việc Trần Quần đến vội vã như thế, chúng ta có thể thấy Tào Tháo giờ lòng nóng như lửa đốt, chúng ta có muốn nhân cơ hội này tăng giá lên không?

Lưu Cảnh cười hỏi.

Giả Hủ lại lắc đầu:

- Châu Mục tăng giá lúc này, sẽ chỉ làm cho mọi người có cảm giác Châu Mục nói năng bất nhất, không có nguyên tắc, trước đây Tào Tháo không chịu nhận điều kiện của Châu Mục mới dẫn đến thất bại này, vậy thì Châu Mục nên kiên trì nguyên tắc, chứ không nên lợi dụng lúc người ta gặp khó khăn, cho dù đối phương có phải là quân địch hay không.

Lưu Cảnh lặng lẽ gật đầu, khom người thi lễ:

- Quân sư phê bình rất đúng.

Giả Hủ lại cười xảo quyệt:

- Có điều, nếu Tào Tháo nhất định muốn đề cao điều kiện, trao các ưu đãi có lợi cho Châu Mục thì Châu Mục cũng cứ vui vẻ nhận, làm người cũng không thể quá mục nát bảo thủ, có đúng không?

Lưu Cảnh cười ha hả:

- Quân sư quả thật rất hiểu ta, chuyện này ta thỉnh cầu tiên sinh ra mặt thay ta.

Trong một trướng khác, Trần Quần chắp tay đi đi lại lại trong doanh trướng, thỉnh thoảng đi đến trước cửa trướng nhìn ra ngọn núi cách đó không xa, trong lòng vô cùng lo lắng, cục diện lúc này khiến bọn họ cực kỳ bị động, nếu không cứu đám hậu quân Trương Liêu, e rằng điều kiện của Lưu Cảnh lại làm bọn họ khó mà chịu được.

Lúc này, ngoài cửa trướng có tiếng ho lớn, Trần Quần quay đầu, chỉ thấy Giả Hủ thong thả chắp tay bước tới, điều này khiến Trần Quần như bị dội gáo nước lạnh, quả nhiên Lưu Cảnh không chịu ra mặt, vậy thì sự việc sẽ có phần khó giải quyết rồi đây.

Trần Quần vội vàng tiến lên thi lễ:

- Trần Quần mạo muội tới đây, quấy rầy quân sư rồi.

Giả Hủ khoát tay:

- Trường Văn không cần nhiều lời, sự tình chúng ta đều hiểu, mời ngồi đi!

Trần Quân và Giả Hủ ngồi xuống, Giả Hủ tiếp tục cười nói:

- Châu Mục bận việc quân sự, bảo ta thay người tiếp kiến Trường Văn, nếu thất lễ chỗ nào, xin Trường Văn thứ lỗi.

Trần Quần gượng cười một tiếng:

- Ta nhận sự ủy thác của Thừa tướng tới gặp và đàm phán với quý quân, hy vọng quý quân có thể để hậu quân của chúng ta quay về phía bắc, còn một số điều kiện bắt buộc, chúng ta có thể thương lượng, không biết Châu Mục cần điều kiện như thế nào mới chịu thả người?

- Vấn đề này không dễ trả lời!

Giả Hủ trầm ngâm một lát mới nói:

- Xin thứ cho ta nói thẳng, trước đây Trường Văn đã tới một chuyến, thực ra chính là tối qua, lúc ấy Châu Mục đã ra điều kiện nhưng bị Tào Thừa tướng cự tuyệt, mọi thứ đã thay đổi, giờ bảo chúng ta nêu lại điều kiện, dường như có phần không hay lắm, Trường Văn thấy có đúng không?

Ngụ ý của Giả Hủ chính là để đối phương tự nêu điều kiện, bọn họ không chủ động nữa, Trần Quần nghe hiểu được ý đối phương, đành gượng cười một tiếng rồi chắp tay:

- Đã như vậy, ta trở về sẽ bàn bạc lại với Thừa tướng!

Giả Hủ gật đầu, ra vẻ lo lắng nói:

- Trên núi mặc dù không lo thiếu lương thực, nhưng lại không có nguồn nước, việc này vẫn không thể kéo dài lâu, vất vả cho Trường Vằn phải mau chóng trở về rồi!
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 643: Trương Liêu trở về phương bắc


Tào Tháo lúc này đã hạ đại doanh tạm thời ở thành Tân Dã, kế hoạch ban đầu lão muốn tận lực rút về Uyển Thành, nhưng lui binh bất lợi khiến cho Tào Tháo vô cùng phiền não.

Trương Cáp trúng kế dụ binh ở Bỉ Thủy, tổn thất quá bán, Tào Tháo miễn cưỡng có thể chấp nhận, Tào Hưu gặp phục kích trên đường, năm ngàn kỵ binh tinh nhuệ bị thương vong quá bán, Tào Tháo cũng có thể nhẫn nhịn, nhưng lão lại không thể chấp nhận được việc hậu quân bị tiêu diệt toàn bộ.

Không chỉ là vấn đề quân đội, mà quan trọng hơn là chủ tướng hậu quân Trương Liêu chính là đại tướng tâm phúc mà lão nể trọng nhất, một khi Trương Liêu bị bắt hoặc đầu hàng Lưu Cảnh thì hậu quả quả thực không thể tưởng tượng nổi.

Đương nhiên Tào Tháo cũng biết Trương Liêu sẽ không đầu hàng Lưu Cảnh, nhưng nếu Trương Liêu không muốn bị bắt, thà lấy thân hi sinh cho tổ quốc thì đó cũng là nỗi đau như cắt mà lão không thể chịu nổi, làm thế nào cho Lưu Cảnh nhanh chóng rút quân, thả hậu quân trở về đã trở thành việc hệ trọng đè nén trong lòng Tào Tháo.

Tào Hồng đề ra phương án, gã chủ trương lại đưa đại quân xuống phía nam, quyết chiến với quân Hán, lợi dụng ưu thế của kỵ binh để một đòn đánh tan quân đội của Lưu Cảnh, nhưng phương án này cuối cùng bị Tào Tháo bác bỏ, Tào Tháo đã thân kinh bách chiến, lão biết kể cả có kỵ binh cũng chưa chắc đánh bại được quân Hán.

Quan trọng hơn là, lương thảo đều ở hậu quân, một khi đại quân của lão tiến xuống phía nam, Lưu Cảnh sẽ không cho lão cơ hội lần nữa, nhất định sau khi tiêu diệt quân Trương Liêu sẽ rút lui về bờ phía nam, nếu lương thảo bị cắt đứt làm cho lòng quân hỗn loạn, quân Hán nhân cơ hội phản kích, lão sẽ tan tác toàn tuyến, hậu quả này lão đảm đương không nổi.

Sau nhiều lần đắn đo, cuối cùng Tào Tháo quyết định cầu hòa, nhận thua để chấm dứt cuộc nam chinh lần này, cho dù thể diện sẽ khó coi nhưng lão vẫn đạt được mục đích, trì hoãn thành công cuộc bắc chinh của quân Hán ở tuyến phía tây, giành được thời gian để Tuân Du chuẩn bị chiến tranh.

Trong đại trướng, Tào Tháo đang chắp tay đi qua đi lại, lo âu bất an chờ đợi tin tức của Trần Quần, lúc này trời đã tối đen, theo lộ trình thì đáng lẽ Trần Quần phải trở về từ lâu rồi, hoặc sẽ sai người tới đưa tin, sao giờ cũng không có một chút tin tức gì, lẽ nào hắn cũng xảy ra chuyện gì sao?

Đúng lúc Tào Tháo bắt đầu hơi bực bội trong lòng thì có tên thị vệ ngoài cửa chạy vào bẩm báo:

- Khởi bẩm Thừa tướng, Trần tham quân đã về!

Tào Tháo mừng rỡ, vội nói:

- Mau cho hắn vào!

Một lát sau, Trần Quần vội vã bước vào đại trướng, khom người thi lễ:

- Vi thần tham kiến Thừa tướng.

- Không cần đa lễ, nói cho ta biết tình hình ra sao?

- Hồi bẩm Thừa tướng, vi thần không gặp được Lưu Cảnh, Giả Văn Hòa tiếp đãi ty chức, chỉ là gã tránh không nói đến điều kiện.

Tào Tháo ngơ ngẩn, đây là ý gì? Lão khoát tay:

- Ngồi xuống từ từ nói.

Hai người ngồi xuống, lúc này Trần Quần mới kể lại tỉ mỉ việc y gặp Giả Hủ, cuối cùng kết luận:

- Trên đường ty chức suy nghĩ, hẳn là Lưu Cảnh muốn nâng cao điều kiện, chỉ là hắn không muốn tỏ thái độ, mà hy vọng Thừa tướng chủ động đề xuất.

Tào Tháo gật đầu:

- Ngươi nói đúng, hắn đã bao vây mà không tấn công, tức là muốn mặc cả với chúng ta, nhưng hắn lại không muốn mượn cớ nhân lúc người khác gặp khó khăn, cho nên mới không chịu chủ động đưa ra điều kiện, hy vọng ta bày tỏ thái độ, chỉ là để xem ta ra giá thế nào?

Tào Tháo thở dài một tiếng, lại nói:

- Trước đây hắn đề nghị không được phế truất Phục hoàng hậu, đây là một điều kiện cực kỳ hà khắc rồi, hắn còn muốn thế nào nữa?

Trần Quần im lặng, rất nhiều người đều không thể lý giải được thâm ý của điều kiện này, nhưng y lại hiểu rất rõ, đây không phải là cuộc giao dịch vật tư có thể nhìn thấy được như thuế ruộng quân giới, mà là một nước cờ chính trị, một khi Phục hoàng hậu bị phế, tất nhiên Tào thị sẽ là Hoàng hậu, Tào Tháo liền trở thành Quốc trượng, chiếm được lợi thế cực lớn về chính trị, như vậy sẽ tạo thành cục diện Tào và Lưu cùng chung thiên hạ, tiện đà Thào Tháo sẽ tiến phong Ngụy vương.

Trần Quần biết, để có ngày này, Tào Tháo đã chờ đợi rất lâu rồi, thậm chí Phục Hoàn âm mưu thông đồng với đại thần, mua chuộc tử sĩ, những việc này Tào Tháo đều biết, thậm chí ngầm đồng ý sự mở rộng của hành vi này, như thế sẽ tạo điều kiện cho việc lão phế truất Phục hoàng hậu.

Nhưng Lưu Cảnh cũng nhìn ra vấn đề này, đưa ra điều kiện không được phế Phục hoàng hậu, đây rõ ràng đã đánh trúng vào điểm yếu của Tào Tháo, vì thế Tào Tháo mới kiên quyết không chịu đáp ứng, Trần Quần cũng không dám khuyên nhiều, chỉ kiên nhẫn chờ đợi chính bản thân Tào Tháo quyết định.

Tào Tháo chắp tay đi đi lại lại, sau đó dừng bước nhìn lên nóc trướng, mãi lâu sau, cuối cùng lão thở dài nói:

- Được rồi! Ta đồng ý với hắn, tạm thời không phế truất Phục hoàng hậu.

Trần Quần bỗng thấy nhẹ nhõm trong lòng, như vậy, ít nhất bản thân y cũng có thể khai báo được với nhạc phụ Tuân Úc, Trần Quần lại dè dặt nói:

- E rằng chỉ có điều kiện này vẫn chưa được.

- Ta biết!

Tào Tháo gật đầu nói:

- Ngươi nói với Lưu Cảnh, sẽ có thánh chỉ tới, hắn có thể được phong thưởng tước vị từ Hương hầu trở xuống, chỉ hy vọng hắn đừng lạm phong.

Trần Quần lại cưỡi ngựa ngày đêm vội tới Phàn Thành, trên đường thay ngựa chạy gấp, khi trời tờ mờ sáng, y đã trông thấy đại doanh của quân Hán từ xa.

Trên đồi Bạch Long, chiến trường đã được thu dọn xong, lương thảo và xe ngựa lại được dàn trận phòng ngự, đao thương cùng mũi tên đều được nhặt gọn lại, yên dê, bò cũng được sữa chữa hoàn chỉnh, hàng chục ngàn con trâu và ngựa đang yên lặng đứng trong vòng vây, trên bãi đất trống phía tây, quân Tào đã hạ hàng trăm đại trướng, đây là chỗ nghỉ ngơi của các binh lính bị thương.

Lúc này trời vừa mới sáng, phần lớn binh lính Quân Tào đang chìm trong giấc ngủ, trên núi đặc biệt yên tĩnh, Trương Liêu đã dậy từ sớm, y đang tuần tra tình hình lính bị thương ở đại doanh phía tây, một cuộc chiến ác liệt khiến Quân Tào bị thương hơn năm ngàn người, trong đó một ngàn lính bị thương nặng, đã có hơn năm trăm người chết vì bị thương quá nặng.

Thật ra theo tính toán thì tỉ lệ chết sau khi bị thương này đã rất nhỏ, đây đều là nhờ vào miếng dán ngưng máu và viên trị thương mà Trương Trọng Cảnh phát minh, được trang bị sớm nhất cho quân Giang Hạ, mỗi binh lính đều có một túi thuốc, về sau túi thuốc này được truyền tới Quân Tào, Tào Tháo cũng hạ lệnh mở rộng, các binh lính Quân Tào đều được trang bị một cái.

Đám binh lính gọi túi thuốc này là “túi cứu mạng”, sau khi bị thương, các binh sĩ đều có thể tự cứu mình, kịp thời cầm máu trị thương, như thế sẽ làm tỷ lệ tử vong trong chiến tranh giảm xuống rõ rệt, chiến dịch lần này cũng thế, mười binh lính mới có một người chết vì không chữa được vết thương, nếu như là trước đây thì ít nhất phải chết một nửa.

Trương Liêu tới thăm liên tiếp mấy đại trướng, lúc này, một binh lính chạy vội tới, chắp tay nói:

- Tướng quân, Lưu Cảnh phái sứ giả đến, muốn gặp tướng quân.

Trương Liêu gật đầu, xoay người đi theo tên lính, tới trước triền núi, chỉ thấy mấy trăm Quân Tào đang nhắm cung tiễn vào một gã văn sĩ trẻ tuổi, Trương Liêu tiến lên trầm giọng nói:

- Ngươi là người phương nào? Tìm ta có chuyện gì?

Văn sĩ trẻ tuổi khom người thi lễ đáp:

- Tại hạ Lưu Mẫn, là tham quân dưới trướng Châu Mục, nhận lệnh Châu Mục đưa cho Trương tướng quân một bức thư.

Lưu Mẫn nói thế nhưng lại không lấy bức thư ra, ý là muốn vào quân doanh nói chyện, không ngờ Trương Liêu lại lắc đầu:

- Hai quân đối chọi, thứ cho Trương Liêu không tiếp đãi sứ giả quân địch.

Lưu Mẫn đành phải lấy thư ra đưa cho Trương Liêu:

- Vậy mời tướng quân xem qua bức thư tay Châu Mục chúng ta viết.

Trương Liêu nhận lấy bức thư, chỉ thấy trên bì thư viết “Đại Hán Văn Viễn tướng quân thân khải”, y lại trả lại bức thư cho sứ giả:

- Ta không nhận bức thư này, mời Lưu tham quân về đi!

Lưu Mẫn ngạc nhiên:

- Tướng quân thế này là sao?

Trương Liêu trầm ngâm một lát, thản nhiên nói:

- Lưu Châu Mục nếu là việc công thì mời trực tiếp nói với Thừa tướng, Trương Liêu chẳng qua chỉ là một kẻ tì tướng, không dám nhận công thư của Châu Mục, còn nếu là vì việc riêng thì hình như Trương Liêu và Châu Mục không có giao tình, thứ cho Trương Liêu không nhận thư riêng.

Nói xong, y quay người bước nhanh đi, xa xa nghe được lệnh nói:

- Đưa Lưu tham quân xuống núi!

Trong lúc Lưu Mẫn bất đắc dĩ phải xuống núi về hồi bẩm Lưu Cảnh thì Trần Quần cũng đã tới đại doanh quân Hán, hai ngày nay Trần Quần phi ngựa thục mạng, đã mệt mỏi tới mức kiệt sức, gần như y đã được binh lính dìu vào đại trướng của Lưu Cảnh.

Lần này, Lưu Cảnh đích thân tiếp kiến y, trong đại trướng, Trần Quần uống một bát canh nóng, nghỉ ngơi thêm một lát mới dần hồi phục thể lực. Lưu Cảnh ngồi bên cạnh nheo mắt cười nhìn y nói:

- Tiên sinh đừng vội, ta vừa nghe được tin tức từ chỗ trinh thám của quý quân, trong quân còn nước vẫn có thể cầm cự được hai ngày, có đủ lương thực, nếu không tiên sinh đi ngủ một giấc trước đi rồi hãy nói chuyện?

Trần Quần lắc đầu:

- Đa ta Châu Mục quân tâm, sự việc trọng đại, ta phải vất vả một chút, Thừa tướng rõ ràng đã chấp thuận Châu Mục, tạm thời sẽ không phế truất Phục hoàng hậu.

Nói đến đây, Trần Quần lấy bức thư của Tào Tháo từ trong ngực ra, hai tay dâng lên Lưu Cảnh:

- Lời cam kết bằng văn bản của Thừa tướng ở trong thư, mời Châu Mục xem qua.

Lưu Cảnh mở thư ra đọc một lượt, trong thư quả nhiên Tào Tháo hứa hẹn sẽ không vì loạn ngoại thích mà phế bỏ Phục Hoàng hậu. Lưu Cảnh gật gật đầu, lấy thân phận của Tào Tháo, nếu chính mồm đã hứa hẹn thì sẽ không dễ dàng đổi ý, cái đó khác với việc lão xé bỏ hiệp nghị ngưng chiến, đây là một loại hứa hẹn trong chính trị, hắn nhân hứa hẹn này mà lấy được lợi ích.

Lúc này, Trần Quần lại nói:

- Mặt khác, Thừa tướng còn đáp ứng để Châu mục có quyền phong tước, đại khái qua vài ngày nữa Thánh chỉ sẽ tới, tuy nhiên giới hạn chỉ dưới Hương hầu.

Lưu Cảnh và Giả Hủ liếc nhìn nhau, hai người đều hiểu ý liền mỉm cười, xem ra Tào Tháo rất thông hiểu nhân tình thế sự, còn đưa ra một điều kiện phụ, hắn gật đầu:

- Tào Tháo đã có thành ý như thế, thì ta có thể thả hậu quân quay về phương bắc, có điều để lại tất cả vật tư, chỉ cho quân đội rời đi.

- Việc này không thành vấn đề!

Trần Quần vội vàng nói:

- Có thể cho ta lên núi nhắn nhủ với chư tướng được không?

- Tiên sinh xin tùy ý!

Lưu Cảnh sai người đưa Trần Quần lên núi, lúc này Giả Hủ mới thở dài nói:

- Mặc dù Tào Tháo đồng ý tạm thời sẽ không phế truất Phục hoàng hậu, nhưng sau này tất nhiên sẽ có biến cố, ty chức hiểu lão, việc lão muốn làm thì nhất định sẽ làm, có lẽ chỉ trì hoãn mấy năm về mặt thời gian mà thôi.

Lưu Cảnh cười cười:

- Điều này ta hiểu, chỉ là lão đã về già, rất nhiều chuyện kể cả lão muốn làm nhưng ít nhiều lão sẽ lo lắng cho danh tiếng sau khi chết.

Nói đến đây, Lưu Cảnh chắp tay đi đến trước đại trướng, nhìn lên đồi Bạch Long đang chìm trong ánh bình minh, nhìn đại kỳ của Quân Tào tung bay trong gió, hắn khẽ thở dài:

- Nếu như Trương Liêu chịu đầu hàng ta, ta tình nguyện không cần quyền phong tước này.

Giả Hủ cười nói:

- Văn Viễn là tướng trung nghĩa, sao Châu Mục không cho hắn toại nguyện?

- Quân sư nói đúng!

Lưu Cảnh lập tức hạ lệnh:

- Truyền lệnh của ta, quân đội rút khỏi vòng vây, lui binh về phía đông một dặm, thả cho Quân Tào quay về phương bắc.

Trên sườn núi, Trương Liêu dẫn theo Lý Điển và các tướng vái ba lạy về phía bắc, Trương Liêu cao giọng nói:

- Ơn cứu viện của Thừa tướng, Trương Liêu khắc cốt ghi tâm, nguyện máu chảy đầu rơi, hiến mạng phục vụ cho Thừa tướng!

Trần Quần gật đầu nói với Trương Liêu:

- Văn Viễn mau chóng rút khỏi đây đi! Thừa tướng vẫn đang ở Tân Dã chờ tướng quân cùng quay về phương bắc.

Trương Liêu nhìn theo quân Hán đang từ từ rút về phía đông, y quay đầu trầm giọng nói:

- Bỏ lại tất cả vật tư, lập tức xuống núi rút về phía bắc!

Từng đội quân Tào xếp thành hàng đi xuống núi, Trương Liêu cưỡi ngựa lao xuống núi trong sự bảo vệ của hơn một trăm thân binh, lúc này, y ghìm chặt chiến mã nhìn về phía đông.

Chỉ thấy trên bãi đất trống cách xa mấy trăm bước, một cây xích kỳ viền vàng tung bay trong gió, dưới đại kỳ, mấy trăm người vây quanh một đại tướng đội nón trụ, cưỡi bạch mã hùng tuấn, người đó đang nhìn chăm chú về phía này, Trương Liêu chắp tay thi lễ rồi lập tức quay đầu ngựa chạy gấp về phía bắc.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 644: Sứ giả Giang Đông tới


Quân Tào rút lui về Uyển Thành, Tào Tháo lập tức ra lệnh cho Trương Liêu làm chủ tướng, Lý Điển làm phó tướng, dẫn đầu ba mươi nghìn quân mau tới Hợp Phì, thu phục các thị trấn quan trọng của Hợp Phì, lại phong con trai thứ Tào Chương làm Đô đốc Nam Dương, chỉ huy hai mươi ngàn quân trấn thủ Uyển Thành, Tuân Úc làm quân sư phụ tá cho Tào Chương.

Bản thân Tào Tháo được sự hộ tống của mười lăm ngàn kỵ binh, trùng trùng điệp điệp trở lại Nghiệp Đô.

Sau khi Quân Tào rút về phương bắc, quân Hán một lần nữa chiếm lĩnh phía bắc Phàn Thành, thu được vô số quân tư, trên Hán Thủy, thuyền bè nhộn nhịp qua lại vận chuyển, đưa lượng lớn quân Hán và dân phu cường tráng qua Hán Thủy, chiến tranh đã kết thúc, lúc này quân dân đã chuyển từ trạng thái khẩn trương chuẩn bị chiến tranh sang khôi phục sau chiến tranh, phải xây dựng lại nhà cửa ruộng vườn, khôi phục canh tác.

Hơn nữa giờ đã là tháng năm, đúng lúc lúa mạch trổ đòng, bọn họ phải ngày đêm canh giữ ở ruộng để bảo vệ lúa trổ đòng, giảm sản lượng là tất nhiên nhưng việc phải làm bây giờ là cố gắng giảm bớt tổn thất thì mới có thể thu hoạch được một chút vào vụ hè tháng sáu này.

Sau khi Quân Tào rút về phương bắc, Lưu Cảnh lệnh cho Giả Hủ và Lưu Hổ dẫn theo hai mươi ngàn đại quân quay về Hán Trung, bởi vì sứ giả Giang Đông đã tới, hắn cần lưu lại để hội kiến sứ giả Giang Đông, sau đó mới trở về Thành Đô.

Sáng hôm nay, Lưu Cảnh cùng Thái thú Thái Diễm và Đô đốc Văn Sính cùng đi thị sát thành trì bị phá hủy, ba tòa thị trấn Phàn Thành, Đặng huyện và Tân Dã đều đã bị Quân Tào thiêu rụi, Đặng huyện và Tân Dã bị san thành bình địa, Phàn Thành tốt hơn một chút, còn lại một bước tường thành trơ trụi.

Kiến trúc bằng gỗ trong Phàn Thành đều bị lửa lớn thiêu cháy, khắp nơi là cảnh đổ nát thê lương cháy đen thui, bức tường thành cao lớn vẫn đứng sừng sững, tường bên trong bị khói dầy đặc hun đen kịt, từng nhóm tù binh Quân Tào dưới sự áp giải của binh lính quân Hán đang bận rộn thu dọn gạch ngói đổ nát bên trong thành.

Lưu Cảnh cưỡi ngựa đi qua con phố chính, hai bên vốn là những cửa hàng và quán rượu nhộn nhịp, giờ đều đã bị đốt thành bãi đất trống, rất nhiều thương nhân quay về nhà đang ngồi trong cửa hàng bị thiêu hủy của mình để lật tìm những đồ vật có thể dùng được, không ít người đứng ngây người ra ngơ ngẩn nhìn những cửa hàng bị đổ sụp.

Đi đến trước quán rượu của Tần gia bị thiêu rụi, Lưu Cảnh xoay người xuống ngựa, bước đến cạnh một ông lão, ngồi xuống hỏi:

- Lão trượng là chủ nhân nơi này sao?

Ông lão biết Lưu Cảnh, vội vàng kéo đứa con trai quỳ xuống hành lễ, Lưu Cảnh đỡ cha con họ dậy cười nói:

- Không cần đa lễ, ta chỉ hỏi thăm tình hình thôi.

Ông lão thở dài một tiếng:

- Tiểu nhân tên là Tần Húc, quán rượu Tần gia chính là chút sản nghiệp của tiểu nhân, trước kia là tửu lầu ba tầng, mà giờ không còn gì nữa rồi.

Nói đến đây, ông lão không kìm nổi khóc gào lên, con trai lão ở bên cạnh khẽ trách phụ thân:

- Châu Mục ở đây, cha khóc cái gì!

Ông lão vội lau nước mắt, nói tiếp:

- Vô cùng may mắn là người đều còn sống, tiểu nhân lại lấy nốt số tiền vốn ít ỏi ra xây dựng lại, chỉ hy vọng tương lai không bị thiêu hủy nữa.

- Yên tâm đi! Tương lai sẽ không bị đâu!

Lưu Cảnh động viên cha con họ mấy câu, rồi quay ra đường lớn, xoay người lên ngựa, nói với Thái Diễm:

- Thống kê tổn thất của từng hộ, chiến lợi phẩm thu được lần này hãy lấy ra một nửa bồi thường cho các hộ bị thiệt hại.

Thái Diễm mừng rỡ, vội vàng thi lễ:

- Đa tạ Châu Mục!

Lưu Cảnh lại nói với Văn Sính:

- Hôm nay quân điền thu hoạch dự tính sẽ giảm phân nửa, quân lương không cần thu nữa, để lại toàn bộ cho quân hộ đồn điền đi! Tổn thất của mỗi hộ cũng phải bồi thường giống như hộ dân.

- Vi thần chuẩn bị phân phát trâu ngựa thu được cho các quân hộ, coi như là đền bù.

Lưu Cảnh gật đầu:

- Được, việc này ngươi và Thái Thái Thái thú bàn bạc lo liệu đi, không cần phải xin chỉ thị của ta nữa.

Lúc này, một đội tù binh khênh mấy cột xà nhà bị cháy thành than đi qua, Lưu Cảnh lấy roi ngựa chỉ vào đám tủ bình hỏi:

- Tổng cộng có bao nhiêu tù binh?

- Hồi bẩm Châu Mục, khoảng tám nghìn năm trăm người.

Lưu Cảnh trầm ngâm một lát rồi nói với Văn Sính:

- Xử lý theo quy định của quân Giang Hạ trước đây, giải thích rõ cho bọn họ, ai muốn quy hàng quân Hán thì có thể chuyển sang làm binh lính chính thức, hưởng lương bổng như nhau, ai không muốn quy hàng thì đi khu mỏ lao dịch ba năm mới thả về quê nhà.

- Vi thần hiểu!

Mọi người quay đầu ngựa ra khỏi thành, lúc này, một gã thị vệ phi ngựa như bay tới:

- Khởi bẩm Châu Mục, Tư Mã quân sư dẫn sứ giả Giang Đông đến rồi, giờ đã tới bến tàu Tương Dương.

Lưu Cảnh mừng rỡ, quay đầu cười nói với Văn Sính và Thái Diễm:

- Hai vị tiếp tục tuần tra, ta đi trước đây.

Văn Sính và Thái Diễm cùng thi lễ:

- Châu Mục cứ trở về đi.

Lưu Cảnh quất chiến mã, phi về phía bến tàu với sự hộ tống của một trăm thị vệ.

Trên bến tàu Tương Dương có chiếc thuyền lớn ngàn thạch đang đỗ, chính là thuyền của Tư Mã Ý từ Giang Đông trở về, phó sứ Lưu Mẫn về trước, bẩm báo tình hình đi sứ với Lưu Cảnh, còn Tư Mã Ý đi muộn hơn vài ngày, dẫn theo sứ giả Giang Đông Lã Phạm cùng đi Tương Dương, chịu ảnh hưởng của chiến sự ở Phàn Thành, bọn họ liền tạm thời ở lại Vũ Xương chờ đợi, mãi khi chiến sự dần kết thúc mới vội tới Tương Dương.

Trên bến tàu, Tư Mã Ý và Lã Phạm đang đợi Lưu Cảnh, Lã Phạm không chịu vào thành trước nghỉ ngơi mà nhất định muốn chờ Lưu Cảnh. Lần này đi sứ Kinh Châu, Lã Phạm được Tôn Quyền ủy thác quan trọng, phải liên kết lại với quân Hán để cùng nhau đối phó Tào Tháo.

Tôn Quyền vẫn kiểu nửa muốn nửa không, thái độ đối kháng Tào vẫn mờ ám, mãi khi Hoàng Cái cướp được Hợp Phì mới làm dã tâm của y nổi lên, cuối cùng quyết định liên hợp với Lưu Cảnh chống Tào, giành lấy lợi ích với phương bắc.

Hơn thế cuộc tây chinh của quân Giang Đông đã kết thúc ba năm rồi, cùng với sự chuyển dời của thời gian, chuyện cũ không vui cũng dần phai nhạt, giờ lại có cơ hội liên minh lần nữa, vì thế lần đi sứ này của Lã Phạm rõ ràng đặc biệt quan trọng.

Lúc này, một con thuyền chậm rãi cập bến, Lưu Cảnh từ trong thuyền đi ra, Tư Mã Ý nhìn thấy trước liền cười nói với Lã Phạm:

- Chủ công nhà ta đến rồi đấy.

Lã Phạm lúc này mới nhìn thấy Lưu Cảnh đi xuống bến tàu, gã vội sửa sang áo mũ ra đón, khom người thật sâu thi lễ:

- Lã Phạm sứ giả Giang Đông tham kiến Châu Mục!

Vì Lưu Cảnh cưới Tôn Thượng Hương nên cũng rất có cảm tình với người làm mối Lã Phạm, hắn đáp lễ cười nói:

- Mấy năm không gặp, Lã công vẫn khỏe mạnh như xưa.

- Đa tạ Châu Mục khích lệ, xin hỏi Thượng Hương công chúa khỏe chứ?

- Nàng ở Thành Đô rất khỏe, nói ra ta vẫn phải cảm tạ trước đây Lã công đã làm mai mối, ta mới lấy được người vợ hiền như thế.

Lã Công gượng cười trong lòng, bọn họ đều biết Thượng Hương công chúa luôn đi theo Lưu Cảnh tuần tra khắp nơi, thực ra đó là tính cách hiếu động của công chúa, không có chút dịu dàng hiền thục nào, tuy nhiên sau khi Thượng Hương công chúa xuất giá cư xử rất tốt, tôn trọng người trên, yêu kính phu quân, khiến cho người làm mối như gã cũng thở phào nhẹ nhõm.

- Giang Đông chúng ta hy vọng nhất chính là công chúa sớm sinh con nối dõi, việc này phải kính nhờ Châu Mục rồi.

Lưu Cảnh cười ha hả:

- Ta nhất định cố gắng!

Lời này khiến tất cả mọi người đều thấy thoải mái, đám đồng cùng bật cười ha hả, Lưu Cảnh mời Lã Phạm lên xe ngựa, cùng đi tới thành Tương Dương.

Trong xe ngựa, Tư Mã Ý giờ mới tìm được cơ hội liền thì thầm hỏi:

- Việc của Tôn Bí, Châu Mục biết rồi sao?

Lưu Cảnh gật đầu:

- Giờ y đang ở Tương Dương, có điều ta vẫn chưa gặp y, ta muốn sau khi xác định mối quan hệ của Giang Đông mới quyết định sẽ xử lý y như thế nào?

Tư Mã Ý ngẩn người vội nói:

- Lẽ nào Châu Mục không muốn lợi dụng quân cờ này sao?

- Ta không phải không muốn lợi dụng y, chỉ là người này không đáng để dùng, ta lo dùng y trái lại sẽ làm hỏng chuyện, gây ra thù địch giữa Giang Đông và Kinh Châu, khiến cho đại cục bất lợi.

Tư Mã Ý cười đáp:

- Điểm này Châu Mục không cần lo lắng, người này giao thiệp sâu rộng với người Giang Đông, Tôn Quyền vì muốn ổn định Giang Đông mà không truy đến cùng vây cánh của y, điều này đã để lại hậu họa, vi thần dám chắc chắn, người này ắt là gốc rễ đại loạn của Giang Đông.

Lưu Cảnh im lặng suy nghĩ chốc lát bèn nói:

- Việc này cứ để đấy đã, đợi ta bàn bạc xong với Lã Phạm sẽ suy tính tiếp.

Xe ngựa từ từ dừng lại trước quận nha, Lưu Cảnh mời Lã Phạm vào quận nha, ngồi ở đại sảnh, Tư Mã Ý và Lưu Mẫn cùng Quận Thừa Đổng Doãn ngồi một bên, Lưu Cảnh thở dài nói:

- Nghe nói Công Cẩn qua đời, ta vô cùng buồn và cũng đã lập miếu cho y ở Sài Tang, không biết thê tử y hiện giờ thế nào, có khó khăn gì không?

Lã Phạm cảm kích Lưu Cảnh đã lập miếu cho Chu Du liền nói:

- Vợ của Công Cẩn Kiều thị cũng luôn được người Giang Đông yêu mến, hơn nữa con trai cả Chu Tuần là con rể tương lai của Ngô Công, Ngô Công đã đặc biệt chia cho mẹ con họ một trăm năm mươi khoảnh ruột tốt trong gia sản ở Thành nam nhằm chăm lo đến cuộc sống của mẹ con học, hơn nửa bổng lộc và thực ấp của Công Cẩn cũng được cấp như trước, về cuộc sống chắc không có vấn đề gì, đa tạ Châu Mục quan tâm.

Lưu Cảnh gật đầu:

- Cũng may là Tử Kính tiếp nhận chức Đại đô đốc, như vậy ta quả thật cảm thấy yên tâm.

Mọi người tiếp tục hàn huyên mấy câu, Lã Phạm mới rút ra sách lụa của Tôn Quyền, trình lên Lưu Cảnh:

- Đây là sách lụa mà Ngô Công tự tay viết cho Châu Mục, mời Châu Mục xem qua.

Lưu Cảnh nhận lấy sách lụa nhưng không vội mở ra xem, mà đặt một bên cười nói với Lã Phạm:

- Lần này tấn công Hợp Phì, ta cực kỳ cảm tạ thành ý của Tôn tướng quân, cũng thể hiện được tình bằng hữu thắm thiết của hai nhà, ta hy vọng bắt đầu từ cuộc chiến Hợp Phì, quan hệ của hai nhà Tôn – Lưu từ đây sẽ mở ra một chương mới.

- Chủ công nhà ta cũng có ý này, cho nên đặc biệt cử ta đi sứ Kinh Châu, thương lượng hai nhà liên kết, cùng đối phó với đại kế của Tào Tháo.

Lưu Cảnh gật đầu, mở sách lụa của Tôn Quyền ra, trong đó Tôn Quyền chính thức đề xuất phương án hai nhà liên minh, cuối thư, Tôn Quyền còn cô đọng chỉ ra tiền đề để liên kết chính là hai nhà bình đẳng, Lưu Cảnh hiểu ý nói hai nhà bình đẳng ở đây chính là yêu cầu hủy bỏ điều ước bất bình đẳng được ký kết trước đây.

Lưu Cảnh không tỏ thái độ, bật cười nói với Lã Phạm:

- Lã Công đi đường vất vả, hãy nghỉ ngơi trước đi, đợi hai ngày nữa theo ta đi Thành Đô, ở Thành Đô chúng ta sẽ bàn bạc cụ thể việc liên minh, đương nhiên, về nguyên tắc ta không phản đối liên kết, chỉ là phải cân nhắc kỹ một số chi tiết.

Lã Phạm hiểu ý của Lưu Cảnh, bọn họ cần phải thảo luận nội bộ với nhau, gã liền cười nói:

- Vừa hay ta cũng mang thư của Lão phu nhân đến, chuẩn bị đưa cho Thượng Hương công chúa, nhân tiện ghé thăm người một chút, ta rất chờ mong tới Thành Đô một chuyến.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 645: Quân cờ đặc biệt


Lã Phạm được mời tới Dịch quán, Lưu Cảnh đưa sách lụa cho mọi người truyền đọc, Tư Mã Ý nhìn sách lụa cười:

- Ý của Tôn Quyền rất rõ! Liên minh chỉ là một cái cớ, vì để lấy được Hợp Phì, giúp chúng ta đánh lui Tào quân thì y phải hủy bỏ điều ước trước đây.

Lưu Cảnh cười nhạt một tiếng:

- Trên thực tế, ta đã xóa bỏ hạn chế của chiến thuyền Giang Đông, buôn bán đường thủy ta cũng có thể hủy bỏ, chỉ là chính bản thân bọn họ chưa chắc đã muốn, then chốt là quận Kỳ Xuân, ta nghĩ mục đích thật sự của Tôn Quyền là muốn đòi lại quận Kỳ Xuân, nhưng điều này tuyệt đối không thể, trước đây ở Giang Đông, khi ta đồng ý trả quận Dự Chương cho Tôn Quyền, Tôn Quyền đã tỏ thái độ rõ ràng với ta, sẽ không lấy lại quận Kỳ xuân nữa, giờ y lại muốn nuốt lời sao?

Đổng Doãn cũng tiếp lời:

- Nếu y không phải vì quận Kỳ Xuân thì trong sách lụa y sẽ không cần nói tiền đề liên minh là hai nhà bình đẳng, y nói như thế này rõ ràng là vì điều ước trước đây, nhưng giờ ngoài quận Kỳ Xuân ra, ty chức nghĩ, y cũng không hứng thú với cái khác nữa.

- Có lẽ là vì đường thủy ở Trường Giang?

Tham quân Lưu Mẫn cười nói thêm:

- Đường thủy Trường Giang ở phía tây Hoàn Khẩu đều nằm trong sự kiểm soát của chúng ta, cả hồ Bành Trạch và huyện Bành Trạch nữa, vốn là nơi huấn luyện thủy quân của Giang Đông, giờ cũng bị chia cho chúng ta, nói không chừng, Tôn Quyền là vì hai nơi này, chứ không phải quận Kỳ Xuân.

- Điều này cũng có khả năng, hai nơi này ta có thể trả lại cho bọn chúng, thủy đạo Trường Giang cũng có thể thương lượng, nhưng quận Kỳ Xuân là tấm bình phong ở phía đông của chúng ta, đây là đường ranh giới của chúng ta, thà không kết minh chứ tuyệt không hoàn trả.

Quân doanh phía bắc Tương Dương là quân doanh lớn nhất của thành Tương Dương, nằm ở thành bắc, bao gồm thành kẹp giữa trong và ngoài thành, chiếm khoảng nghìn mẫu đất, có thể chứa được năm mươi ngàn binh.

Buổi xế chiều, hai cỗ xe ngựa tiến vào quân doanh trong sự bảo vệ của hơn một trăm kỵ binh, đi thẳng về phía bắc của quân doanh, tới một dãy phòng ở sát tường thành, xe ngựa dừng lại trước một tòa nhà ở góc, Lưu Cảnh và Tư Mã Ý lần lượt bước ra khỏi xe.

Lưu Cảnh nhìn quanh bốn phía, vùng này là kho hàng quân doanh, binh lính không nhiều, mà tòa nhà này nằm ở góc nên bốn phía được canh phòng nghiêm ngặt, ít nhất có hàng trăm binh lính canh giữ, không cho bất kỳ ai trong quân doanh lại gần.

Lưu Cảnh bước lên trước, một gã quân hầu vội tiến lên quỳ gối thi lễ:

- Tham kiến Châu Mục!

- Mọi người bên trong thế nào, có chuyện gây rối sao?

Lưu Cảnh hỏi.

- Hồi bẩm Châu Mục, mọi người bên trong rất yên tĩnh, không gây rối.

Lưu Cảnh gật đầu bước vào, tòa nhà khá lớn, chia thành hai phần trước sau, có bảy tám căn phòng, cả một khoảnh sân và sân vườn, trong đó có hòn nam bộ, mấy cây đại thụ, vô cùng yên tĩnh, mội trường cũng rất trong lành, chỉ là bị binh lính canh giữ nghiêm ngặt, không được tự do ra ngoài, đây rõ ràng là chỗ giam lỏng.

Lưu Cảnh bước vào sân, một phu nhân trẻ tuổi đang bưng mâm bước ra, đâm vào Lưu Cảnh sợ tới mức hoảng hốt trốn vào trong căn phòng bên cạnh.

- A Lai, ai đó?

Trong sân vườn có người hỏi.

Không thấy ai đáp lại, người trong sân vườn đi ra, người này khoảng hơn bốn mươi tuổi, dáng người cao, béo, mũi chim ưng, đôi mắt dài nhỏ, lòng trắng nhiều lòng đen ít, có vẻ cực kỳ gian xảo bạc tình, người này chính là tộc huynh của Tôn Quyền tên là Tôn Bí, nhân vật thứ hai của Giang Đông, được Lâu Phát cứu về từ hoang đảo lưu đày ở nước ngoài, tạm thời giam lỏng ở đây.

Gã chạm mặt với Lưu Cảnh, không khỏi ngây người, lần đầu tiên Lưu Cảnh đi Giang Đông cầu hòa, bọn họ đã gặp nhau một lần, Tôn Bí dần bình tĩnh lại, chắp tay lạnh lùng nói:

- Hóa ra là Lưu Châu Mục, thất kính rồi.

- Ta vẫn cứ gọi ngươi là Tôn Thái thú nhé! Chúng ta hẳn đã gặp nhau, hơn nữa nói ra thì chúng ta vẫn là thân thích.

Lưu Cảnh cười đáp lại.

Tôn Bí biết hắn muốn nhắc đến Tôn Thượng Hương bèn lắc đầu.

- Châu Mục đừng nhận thân thiết với ta, giờ ta là thịt cá, ngươi là dao thớt, ngươi muốn nói gì thì cứ việc nói thẳng.

Lưu Cảnh nhìn ra mảnh sân vườn, cười nói tiếp:

- Ở đây không phải chỗ nói chuyện.

Tôn Bí thấy phía sau Lưu Cảnh có Tư Mã Ý liền khoát tay nói:

- Xin mời vào nhà nói chuyện.

Lưu Cảnh và Tư Mã Ý bước vào phòng, ba người ngồi xuống, Lưu Cảnh lúc này mới nói thẳng:

- Ta hy vọng Tôn Thái thủ hiểu rõ một chút, ta không phải muốn giam lỏng ngươi, ngươi thật ra không có gì uy h**p ta mà là ta đang bảo vệ ngươi, nếu tin tức ngươi ẩn mình ở Tương Dương truyền đi, sẽ có hậu quả gì thì trong lòng ngươi hẳn rất rõ.

Dừng lại một chút, Lưu Cảnh nói tiếp:

- Ngươi được thuộc hạ của ta cứu về từ hoang đảo nước ngoài, có ơn cứu mạng đối với ngươi, mặc dù ta không cần ngươi cảm tạ hoặc báo đáp, nhưng ta hy vọng ngươi có thể đủ lý trí tỉnh táo, hay là chúng ta cùng hợp tác.

Tôn Bí yên lặng gật đầu, y hiểu ý của Lưu Cảnh, cái gọi là hợp tác chính là lợi dụng bản thân mình, có điều việc lợi dụng này có lẽ không có gì xấu với mình, cuối cùng y thu điệu cười nhạt chế giễu lại, thấp giọng nói:

- Ta hiểu ý của Châu Mục.

- Ngươi hiểu là tốt!

Lưu Cảnh ngẫm nghĩ một chút lại cười nói:

- Ta nghĩ Tôn Thái thú là người thông mình, chúng ta cứ nói thật, không cần quanh co, như thế hai bên đều thoải mái hơn, ta quyết định thả Tôn Thái thú về Giang Đông, đồng thời, ta sẽ âm thầm giúp đỡ ngươi, để ngươi có thể lật ngược tình thế, thế nào?

- Châu Mục muốn ta thay thế Tôn Quyền sao?

- Ta không nghĩ xa như thế, nói không chừng Tôn Thái thú chủ quản Giang Đông còn uy h**p lớn hơn Tôn Quyền đối với Kinh Châu, các ngươi ai làm chủ Giang Đông, ta không quan tâm lắm.

- Vậy Châu Mục muốn gì? Tại sao thả ta về Giang Đông?

Tôn Bí nghi ngờ hỏi.

Lưu Cảnh cười đáp:

- Bởi vì Tôn Quyền trước sau luôn đe dọa Kinh Châu, dã tâm của gã quá lớn, trong khi tinh lực của ta hiện giờ nằm ở cuộc bắc phạt Quan Trung, không rảnh chú ý đến Kinh Châu, vì thế ta cần một Giang Đông bất ổn nội bộ, không có sức tấn công Kinh Châu của ta, Tôn Thái thú rõ ràng là lựa chọn tốt nhất của ta.

Tôn Bí hiểu được lời của Lưu Cảnh, mặc dù thẳng thắn đến mức làm người khác khó chấp nhận, nhưng ít ra Tôn Bí hiểu được dụng ý thực sự của hắn, y suy nghĩ hồi lâu, cuối cùng gật đầu:

- Vậy chúng ta cam kết.

Lưu Cảnh mỉm cười:

- Tôn Thái thú là người thẳng thắn thật thà, ta thích phong cách này, ngoài ra, ta muốn hỏi một chút, sau khi Tôn Thái thú về Giang Đông sẽ chuẩn bị bắt tay từ đâu?

Tôn Bí thở dài:

- Châu Mục đã thẳng thắn như thế, ta cũng không giấu Châu Mục nữa, yếu điểm lớn nhất trong nội bộ Giang Đông chính là người Sơn Việt, mà quận Hội Kê nơi người Sơn Việt tập trung đồng thời cũng là quận bất ổn nhất Giang Đông, ta định sẽ bắt tay vào làm từ quận Hội Kê và người Sơn Việt.

Lưu Cảnh trở về quan phòng tạm thời của quận nha, Tư Mã Ý cũng bước vào theo, Lưu Cảnh trầm tư một lát liền hỏi:

- Quân sư thấy người đó có đáng tin không?

- Châu Mục cho rằng trong đó có rủi ro sao?

Lưu Cảnh gật đầu:

- Quả thật hơi mạo hiểm, một khi để Tôn Quyền biết được người này do ta thả về Giang Đông thì sự hòa thuận bề ngoài giữa Kinh Châu và Giang Đông e rằng cũng không giữ được nữa, ta lo Tôn Quyền vì thế sẽ quay hướng sang Tào Tháo.

Tư Mã Ý nghĩ một chút:

- Vi thần nghĩ kể cả không có người này, Giang Đông và Kinh Châu cũng chỉ là hòa thuận bề ngoài, lần này rõ ràng Tôn Quyền là ngư ông đắc lợi, nếu không phải Châu Mục phái Cam Ninh tấn công Hợp Phì thì sao Tôn Quyền quyết tâm tấn công Tào được? Vì thế, thái độ của Tôn Quyền với chúng ta không liên quan đến người này, chỉ liên quan đến lợi ích, cho dù Tôn Quyền biết được, nhưng lợi ích hợp tác Tôn – Lưu lớn hơn thì gã cũng sẽ ra vẻ như không biết.

Lưu Cảnh gật đầu:

- Quân sư nói đúng, quả thật là như thế, chỉ là ta muốn biết, người này còn có cơ hội lật ngược tình thế ở Giang Đông không?

- Y hoàn toàn có cơ hội!

Tư Mã Ý khẽ cười đáp:

- Tôn Quyền vì muốn ổn định Giang Đông, sẽ không trắng trợn gạt bỏ thế lực của Tôn Bí, chỉ trừng phạt Tôn Bí, Tôn Lãng và Chu Trị thôi, nhưng ty chức đã nghe ngóng được ở Giang Đông, Trình Phổ, Hàn Đương và Hạ Tề thật ra đều là người trong danh sách trước đây của Tôn Bí, mặc dù Tôn Quyền ngoài miệng nói không truy cứu trách nhiệm nhưng trên thực tế đã lạnh nhạt với bọn họ, Chu Du qua đời, đáng lẽ Trình Phổ tiếp nhận chức Đại đô đốc, nhưng cuối cùng lại do Lỗ Túc đảm nhiệm, đây dù là quan hệ phe phái nhưng cũng liên quan tới việc Tôn Quyền không tín nhiệm Trình Phổ, hơn nữa Tôn Bí nhậm chức Thái Thú Dự Chương nhiều năm, có thế lực rất mạnh ở quận Dự Chương, ty chức tin y ẩn núp trở về, chắc chắn làm nên chuyện.

Lưu Cảnh gật đầu thở dài:

- Vậy ta mỏi mắt mong chờ rồi.

… …

Chỗ phía tây thành Nghiệp Đô sát với cửa thành có một tửu quán rất nổi tiếng, tên là Tụ Hiền tửu quán, nó đã có lịch sử ba mươi năm, tửu quán này rộng khoảng năm mẫu, được tạo thành từ hai kiến trúc lớn, một kiến trúc nhỏ, trong đó hai tửu lầu đều cao ba tầng, có thể chứa được hơn một trăm khách cùng ngồi ăn, còn kiến trúc nhỏ kia là một dãy phòng trệt, là kho hàng, phòng để đồ linh tinh và chỗ ở cho đám phục vụ.

Tiếp giáp với tiểu lầu còn có một tòa nhà rộng ba mẫu, bóng cây dày đặc, sân nhỏ tĩnh mịch, nghe nói đây cũng là sản nghiệp của tửu quán, có điều khách bình thường không quan tâm lắm, cũng không ai đi hỏi.

Chủ của tửu quán này họ Trương, nghe nói là người Quan Trung, bình thường rất khó thấy bóng dáng, thông thường đều do người quản lý lo liệu kinh doanh, người quản lý của Tụ Hiền tửu quán họ Dương, là một người đàn ông trung niên hơn bốn mươi tuổi, tính tình hiền lành, trên mặt luôn nở nụ cười thành khẩn, làm cho mọi người cảm thấy dễ gần gũi.

Trưa hôm nay, tửu quán kinh doanh phát đạt như bình thường, hai tòa tửu lầu ngồi chật kín khách, ồn ào náo nhiệt, mười mấy tên phục vụ cũng vẫn bận rộn chóng mặt, mấy ả tửu nương mặc váy dài xinh đẹp, đi lại giữa đám tửu khách ve vẩy như bướm, ân cần bán rượu cho khách, thi thoảng có khách nhân cơ hội ăn bớt, tửu nương nũng nịu đánh mắng, tạo nên những tràng cười vang.

Lúc này, một gã trẻ tuổi cao lớn vạm vỡ vội vã bước vào cửa chính của tửu quán, tới trước quầy nhìn xung quanh thăm dò, chỉ thấy cơ thể mập mạp của người quản lý đang khom lưng tìm kiếm gì đó trong quầy, gã liền nhặt cái thước trên quầy lên gõ gõ sau lưng Dương chưởng quầy, vừa cười vừa nói:

- Dương chưởng quầy bận rộn quá nhỉ!
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 646: Gió nổi lên ở Nghiệp Đô (Thượng)


Dương chưởng quầy chậm rãi đứng thẳng người, hung dữ trợn mặt với người thanh niên:

- Không lo đi kiếm sống, chạy tới đây làm gì?

- Chưởng quầy, ta có việc mà! Trời sắp mưa rồi.

“Trời sắp mưa” là một ám hiệu, chứng tỏ gã có việc rất quan trọng, Dương chưởng quầy gật đầu, thấy hai bên không có ai chú ý liền rút ra một miếng nha bản màu đen đưa cho gã:

- Tự mình đi đi!

Người thanh niên nhận lấy nha bản, bước nhanh vòng qua cửa sau, đi vào trong sân, gã xuyên qua căn phòng trệt phía sau, đi đến góc trong cùng, ở đó có một cánh cửa nhỏ rất bình thường, người này gõ cửa, nhét miếng nha bản vào khe cửa rồi bước vào, lát sau, cửa mở kẹt cái hé ra khe nhỏ, gã lách người đi vào.

Phía bên kia của cánh cửa nhỏ là tòa nhà sâu thẩm, toàn bộ sân nhà đều mang vẻ âm u, bóng cây dày đặc trong sân, đa số các cửa sổ đều khép kín, ánh mặt trời khó len lỏi vào, tạo cho người ta cảm giác u ám, đặc biệt không nhìn thấy bóng người, giống như một tòa nhà bỏ không.

Người thanh niên đi theo một gã có dáng vẻ quản gia vội bước vào nội viện, hai người không nói không rằng, thậm chí cũng chẳng chào nhau, như thể hai người vốn không quen biết, hai người bước vào bên trong, dừng lại trước một căn phòng, gã quản gia gõ cửa, bên trong cuối cùng cũng có người trả lời:

- Ai đấy!

- Là ta, La Thanh.

Người thanh niên trả lời.

- Vào đi!

Quản gia né sang một bên, người thanh niên đẩy cửa bước vào, căn phòng ánh sáng tối tăm, trong chiếc lư đồng ở góc phòng nhả ra những làn khói xanh lượn lờ, làm cho căn phòng tràn ngập mùi hương thơm ngát dịu nhẹ, chỉ thấy đối diện một người đàn ông thân hình cao lớn đang ngồi đó, khuôn mặt hơi gầy, ánh mắt sắc sảo, trông cực kỳ tinh nhanh, người này chính là tổng quản tình báo của quân Hán ở Nghiệp Đô, nhậm chức Tham quân ở phủ tướng quân tên là Lý Phù.

Lý Phù ở Nghiệp Đô đã nhiều năm, xây dựng được một mạng lưới tình báo hoàn thiện, mấy năm nay, y bố trí hơn ba trăm tình báo khắp các vùng Nghiệp Đô, Hà Bắc, Hứa Xương và Trung Nguyên, đồng thời đặt cơ sở ngầm trong triều đình, y đã đưa cho Lưu Cảnh rất nhiều tin tức tình báo có giá trị, cực kỳ được Lưu Cảnh trọng dụng, Lý Phù đã được thăng làm Giáo Úy Tham quân.

Lý Phù đang viết báo cáo cho Lưu Cảnh, thấy người thanh niên bước vào, y dừng bút hỏi:

- Có tin tức gì sao?

Người trẻ tuổi tên là La Thanh, một gã thị vệ trong cung, năm nay hai mươi tuổi, vốn là túc vệ quân của Bắc Thành, võ nghệ cao cường, ba năm trước được chọn đưa vào cung, làm thị vệ bên cạnh Lưu Hiệp, gã là người Ba Quận, hai năm trước được Lý Phù phát triển làm cơ sở ngầm, trực tiếp báo cáo với Lý Phù.

Gã khom người thi lễ:

- Khởi bẩm Tham quân, quả thật có tin tức quan trọng, chiều hôm qua Phục Hoàn vào cung âm mưu với Thánh Thượng hơn một canh giờ, sau khi Phục Hoàng đi, Thánh Thượng vô cùng vui vẻ, tối qua còn uống hẳn một bầu rượu, nói những lời kỳ quái, cái gì mà “rốt cuộc phải làm đến cùng”, “mười bảy năm rồi”…

Lý Phù cười nhạt một tiếng lại hỏi:

- Vậy Phục hoàng hậu thì sao?

- Phục hoàng hậu vẫn rất bình tĩnh, không ngừng ngăn Thánh Thượng nói huyên thuyên, sau đó liền đuổi bọn tại hạ ra.

Lý Phù trầm tư một lát hỏi tiếp:

- Mễ hoạn quan có gì khác thường không?

- Mễ Công công nói bị bệnh, hôm nay không đến.

Lý Phù gật đầu, tình hình đã rất rõ, cuối cùng Phục Hoàn sắp động thủ, lúc này Tào Tháo đang nam chinh Kinh Châu, Nghiệp Đô chỉ có ba mươi ngàn quân đội, đây là thời điểm có ít quân đội nhất mấy năm nay, một cơ hội khó có được, Phục Hoàn nhất định sẽ nắm lấy.

- Còn tình hình gì nữa không?

Lý Phù lại hỏi.

- Cái khác thì không có.

Lý Phù chắp tay đi đi lại lại trong phòng, hôm qua y vừa hay cũng nhận được lệnh khẩn cấp của Châu Mục, bảo y phải giám sát nghiêm ngặt hành động của Phục Hoàn, cố hết sức kéo dài hành động cử binh của bọn chúng, nhưng Lý Phù biết, Phục Hoàn cử binh đã vô cùng cấp bách rồi, bọn họ rất khó trì hoãn, chỉ có thể cố gắng giữ Phục hoàng hậu lại.

Nghĩ tới đây, Lý Phù lập tức dặn dò kỹ lưỡng La Thanh vài câu, La Thanh khiếp sợ trong lòng, gã vội thi lễ:

- Ty chức xin ghi nhớ, tuyệt sẽ không hỏng việc!

Gã vội vã cáo lui.

Trong lúc La Thanh bẩm báo tình hình với Lý Phù thì tại phủ đệ của Phó Thừa tướng Tào Phi, Tào Phi cũng đang ngồi trước bàn xem kỹ bức mật thư mà Hoạn Quan Mễ sai người đưa tới, y xem đi xem lại hai lần rồi cười nhạt một tiếng, nói với Ngự Sử đại phu Hoa Hâm:

- Hắn tốt xấu gì cũng làm Hoàng đế hai mươi năm rồi, sao càng lúc càng yếu trí thế, năm đó viết Đai Y Chiếu còn có cả Lưu Bị và Mã Đằng nắm quân quyền, nhưng giờ lại phó thác cho một lão già hom hem sắp xuống lỗ, hắn thật sự nghĩ có thể làm nên chuyện sao?

Hoa Hâm khẽ cười nói:

- Trước đây còn có những đại thần có chút thực quyền như Đổng Thừa, Vương Tử Phục giúp hắn, nhưng hiện giờ, đại thần trong triều ai cũng tránh không kịp hắn, dòng họ hoàng thất cũng tìm đủ lý do để không phải yết kiến hắn, có thể nói, hắn đã là tên Hoàng Đế hư danh rồi, trên thực tế đã đến bước bị mọi người xa lánh, bản thân hắn chắc cũng rõ điều này, vì thế hắn sốt ruột không chịu được phải cử binh.

- Đại phu nói không sai, quả đúng là như vậy, nhưng tại sao hắn lại rơi vào tình cảnh này?

Hoa Hâm hơi tỏ vẻ xấu hổ, mãi không nói nên lời, Tào Phi liếc nhìn y, cười nói:

- Giữa ta và Đại phu còn có gì không thể nói được sao?

Hoa Hâm thở dài:

- Thật ra công tử hẳn cũng biết nguyên nhân trong đó mà.

- Ngươi muốn nói đến Lưu Cảnh?

Hoa Hâm gật đầu:

- Thế lực lớn mạnh của Lưu Cảnh trỗi dậy, đổi quân hiệu là Hán, rất nhiều đại thần thân thích trung thành với Hán thất đều đặt hy vọng phục hưng Hán thất lên vai Lưu Cảnh, Lưu Hiệp mặc dù không ngu ngốc nhưng yếu đuối, bất lực, đăng cơ hơn hai mươi năm mà lòng tin của mọi người với hắn đều bị quét sạch.

Sắc mặt của Tào Phi trở nên hết sức khó coi, mãi sau y mới hừ một tiếng thật mạnh:

- Chưa biết ai thắng ai, Lưu Cảnh nhiều nhất cát cứ Kinh Thục mà thôi, chứ hắn muốn thống trị thiên hạ thì e rằng chỉ là mộng tưởng hão huyền.

Nói đến đây, Tào Phi khoát tay:

- Thôi, không đề cập tới chuyện này nữa, bảo Phàn Phổ tới gặp ta, phải hết sức bí mật.

Phục Hoàn là phò mã của Hán Hằng Đế Lưu Chí, cưới con gái của Hằng Đế Lưu Hoa làm vợ, mười năm trước, Lưu Hoa bị bệnh qua đời, Phục Hoàn lại cưới Phàn thị làm vợ nữa, lão đã gần sáu mươi, cơ thể gày yếu nhiều bệnh tật, khí huyết suy kiệt, trong khi đó Phàn thị mới bốn mươi tuổi, đang lúc sức sống tràn đầy nhất, chồng già vợ trẻ, Phục Hoàn cực kỳ sợ thê tử Phàn thị, trong nhà chuyện lớn nhỏ gần như đều do Phàn thị làm chủ.

Phàn thị có một đệ đệ tên là Phàn Phổ, giữ chức Chấp Kim Ngô, trên danh nghĩa là Thống soái tối cao của Cấm vệ quân Hoàng thành, nhưng thực tế Cấm vệ quân đã bị quân Tào thay thế, Chấp Kim Ngô cũng chỉ là hư danh, có điều tên Phàn Phổ này rất linh hoạt, giao thiệp cực rộng, rất nhiều người cầu quan cầu chức thông qua y đều có được chức quan, hơn nữa y có tư duy nhanh nhẹn, Phục Hoàn có chuyện quan trọng thường tìm y bàn bạc.

Chỉ có điều Phục Hoàn nằm mơ cũng không ngờ rằng, cậu em vợ đã bán rẻ bí mật của lão từ lâu.

Sau nửa canh giờ, một chiếc xe ngựa bí mật dừng ở cửa sau của phủ Tào Phi, phủ Tào Phi cũng chính là phủ Thừa tướng trước kia, sau khi Tào Tháo chuyển tới Đồng Tước đài, đã giao lại phủ Thừa tướng cho con trai trưởng Tào Phi, cả chuyện xử lý chính vụ hàng ngày cũng giao luôn cho y, còn bổ nhiệm Trình Dục làm quân sư cho Tào Phi để trợ giúp y xử lý chính vụ.

Phàn Phổ xuống xe ngựa, được thị vệ dẫn vào cửa sau, một con đường xuyên qua tòa nhà, tới quan phòng của Tào Phi, Hòa Hâm đã ở cửa chờ y, thấy y đến liền vội vàng tiến lên cười nói:

- Văn Trọng cuối cùng đã đến, Trưởng công tử đợi ngươi đã lâu.

Phàn Phổ vội khom người hành lễ và giải thích:

- Sáng sớm đã cùng Phục Điển ra khỏi thành, vừa mới trở về nên để Hoa đại phu và Trưởng công tử chờ lâu.

Hoa Hâm cười ha hả:

- Văn Trọng không cần giải thích với ta, Trưởng công tử vẫn đang đợi ngươi kìa, đi theo ta!

Gã dẫn Phàn Phổ vào quan phòng của Tào Phi, cười nói với Tào Phi:

- Công tử, Phàn tướng quân đến rồi.

Phàn Phổ tiến lên một bước quỳ xuống bái lễ:

- Ty chức tham kiến Tào Thừa tướng!

Đây chính là chỗ linh hoạt của Phàn Phổ, người bình thường đều gọi Tào Phi là Trưởng công tử, cũng có một số quan viên gọi y là Phó Thừa tướng, duy chỉ có Phàn Phổ tự bỏ chữ “Phó” đi, thêm họ y đổi thành Tào Thừa tướng, mặc dù về xưng hô không có vấn đề gì, nhưng kiểu nịnh hót trắng trợn này khiến Hoa Hâm nghe thấy liền trợn mắt lên, tự thẹn mình không bằng.

Tâm nguyện lớn nhất của Tào Phi là sớm được phong Thế tử, chỉ có điều vấn đề này phụ thân vẫn cứ không làm rõ, còn có tin tức nói rằng, đám Quốc Uyên, Lưu Diệp từng dâng tấu lên phụ thân, ủng hộ Tam đệ làm Thế tử, điều này khiến Tào Phi rất buồn phiền, Tam đệ mặc dù năng lực không được nhưng phụ thân lại yêu quý nó một cách đặc biệt.

Điều càng làm cho Tào Phi khó chấp nhận là, phụ thân một mặt bổ nhiệm mình lo liệu chính vụ hàng ngày, mặt khác lại sai Tam đệ đi Quan Trung quản lý quân quyền của hai trăm ngàn đại quân, đây là nỗi buồn phiền lớn nhất hiện giờ của Tào Phi.

Phàn Phổ gọi y là Tào Thừa tướng, nghe có chút đường đột, nhưng trong lòng Tào Phi quả là có chút dễ chịu, hắn khoát tay cười tủm tỉm:

- Phàn tướng quân, mời ngồi!

Phàn Phổ ngồi xuống, Tào Phi lại nói với y:

- Gọi Phàn tướng quân tới đây, ta muốn tìm hiểu một chút động tĩnh của Phục Hoàn, ta biết hôm qua Phục Hoàn đã gặp Lưu Hiệp, bàn luận hơn một canh giờ, hẳn là bọn họ đã có hành động, ngươi có thể cho ta biết tin tức gì không?

Phàn Phổ vội đáp:

- Kể cả Thừa tướng không tìm ta, ta cũng sẽ tới bẩm báo, Phục Hoàn khởi binh ngay trong đêm nay!
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 647: Gió nổi lên ở Nghiệp Đô (Trung)


Phàn Phổ đi khỏi, lúc này, Ngự Sử đại phu Si Lự cũng chạy tới thư phòng Tào Phi. Si Lự vẫn là tâm phúc của Tào Tháo, đảm nhận chức Tham quân tế tửu trong thời gian dài, trước khi Tào Tháo chưa lập ra nước Ngụy, Si Lự đã giữ chức Ngự Sử đại phu của triều đình, suy đoán tâm tư của Tào Tháo để giáng chức triều thần, trong đó lần nổi tiếng nhất chính là Si Lự buộc tội Khổng Dung phỉ báng triều đình, muốn mưu đồ bất chính, đến nỗi Khổng Dung bị giết.

Lúc này, Si Lự và Hoa Hâm dù cùng giữ chức Ngự Sử đại phu, nhưng hai người vẫn có điểm khác biệt, Si Lự là Ngự Sử đại phu của triều đình, nắm giữ đại quyền giám sát triều đình, còn Hoa Hâm là Ngự Sử đại phu của nước Ngụy, tuy rằng thực quyền ở trong tay Hoa Hâm nhưng chức trách của Si Lự lại là thay Tào Tháo giám sát triều thần, việc đối phó với Phục Hoàn ắt phải có Si Lự ra mặt.

Tào Phi và hai người bàn bạc đối sách trong quan phòng, tối nay Phục Hoàn sẽ cử binh khởi sự, Tào Phi cũng quyết định không chờ đợi nữa, lúc này, Si Lự dè dặt hỏi:

- Trưởng công tử đã có chỉ ý của Ngụy công chưa?

Tào Phi hiểu ý của Si Lự, chuyện này trọng đại, lão muốn mình không được hành động tùy tiện mà phải được sự cho phép của phụ thân, Tào Phi liền gật đầu nói:

- Phụ thân trước khi xuất chinh đã nói với ta việc này, để ta làm việc tùy theo hoàn cảnh, lúc nguy cấp có thể dùng uy sấm sét, đề phòng chưa xảy ra.

- Vậy cũng có quyền điều binh sao?

Si Lự lại tiếp tục hỏi.

Tào Phi lấy kim bài hai mặt ra cười nói:

- Một mặt là lệnh của Cấm quân trong cung, một mặt là điều lệnh Túc vệ quân Bắc Thành, phụ thân đã xem xét thay ta rồi.

Si Lự gật đầu cười đáp:

- Một khi đã như vậy, ty chức cũng không có gì lo lắng.

Tào Phi lại hỏi Hoa Hâm:

- Ý của ngươi thế nào?

Hoa Hâm chậm rãi nói:

- Ý của ty chức là cần bằng chứng xác thực, làm rõ chuyện này, Phục Hoàn đã nuôi ba nghìn quân riêng thì chúng ta nên lấy mưu đồ phản nghịch để kết tội Phục Hoàn, Trưởng công tử, vi thần chỉ có một câu, cuộc đấu tranh quyền lực từ trước đến nay đều là một mất một còn, Thừa tướng tuyệt đối không muốn nhìn thấy Trưởng công tử có lòng dạ đàn bà vào lúc này.

Tào Phi rùng mình, y gật đầu, giọng điệu kiên quyết:

- Ngươi nói đúng, ta tuyệt đối không thể để phụ thân thất vọng lần nữa, chúng ta hãy chia binh lính làm ba đường, ta đích thân dẫn quân đi ra ngoài thành tiêu diệt quân riêng của Phục Hoàn, Hoa Hâm dẫn quân bao vây Phục phủ, lùng bắt Phục Hoàn, Hồng Dự vào cung bắt Phục hậu.

Màn đêm dần buông xuống, trong một điền trang mấy trăm mẫu ở ngoại thành Nghiệp Đô, ba nghìn giáp sĩ đã chỉnh binh tập hợp sẵn sàng, đây là quân đội riêng được Phục Hoàn nuôi dưỡng, luôn giấu ở Lỗ quận, mãi đến gần đây mới dần luân phiên tới Nghiệp Đô, hiện do con trai trưởng của Phục Hoàn là Phục Điển thống soái.

Phục Điển bốn mươi tuổi, nhậm chức Giáo Úy đồn kỵ, y kiên quyết ủng hộ phụ thân trung thành với Hoàng Đế và cũng ủng hộ hành động lần này, lần này bọn họ đã mưu tính một năm nay, ở địa phương nhận được sự ủng hộ của bốn quận Lỗ Quận, Thái Sơn, Bái Quốc…, đồng thời có mười ngàn quân đội ở Lỗ Quận.

Tối nay, bọn họ sẽ vào Hoàng cung cứu Hoàng đế Lưu Hiệp và Phục hoàng hậu ra, xây dựng lại Hán thất ở Lỗ Quận, sau đó kêu gọi Thái thú thiên hạ tới Thái Sơn xả thân vì triều đình trừng phạt Tào.

Mặc dù Phục Điển cũng biết hành động này cực kỳ khó khăn, nhưng giờ đang là cơ hội duy nhất của bọn họ, Tào Tháo đang tác chiến ở Kinh Châu, hai trăm ngàn quân chủ lực lại bị Lưu Cảnh kiềm chế ở Quan Trung và Lũng Tây, Kinh thành chỉ có ba mươi ngàn quân, nếu bọn họ hành động thần tốc thì trước khi Tào quân chưa được triệu tập đã có thể phá vòng vây thoát khỏi, nếu cơ hội lần này không nắm bắt lấy thì bọn họ hối hận cũng đã muộn.

Quân đội đã tập kết xong, Phục Điển đang chờ tin tức của đô thành, bọn họ sẽ từ Đông thành vào Nghiệp Đô, viên tướng giữ cửa Đông thành Lưu Ứng cũng là người của bọn họ, sắp đến giờ Hợi, thời gian ước hẹn đã đến, lúc này, Phàn Phổ cưỡi ngựa chạy gấp tới, chắp tay nói với Phục Điển:

- Công tử, trong thành đã chuẩn bị xong, Phục Công lệnh cho Công tử xuất binh!

Phục Điển gật đầu, thời khắc này cuối cùng đã đến, y rút trường kiếm ra quay đầu hạ lệnh:

- Truyền lệnh của ta, xuất phát, tiến quân tới Nghiệp Đô!

Trong bóng đêm, từng đoàn binh lính xếp thành hàng xuất phát, bọn họ đội nón trụ, mặc giáp sắt, tay cầm trường mâu chiến đao, sát khí đằng đằng, dưỡi sự chỉ huy của Phục Điển, tất cả rời khỏi điền trang, trùng trùng điệp điệp đi men theo đường hướng về cửa Đông thành Nghiệp Đô.

Tướng trấn thủ ở cửa Đông Thành tên là Lưu Ứng, khoảng chừng ba mươi tuổi, là con trai của Lai Dương Vương Lưu Tiến, quan hệ giữa Lưu Tiến và Phục Hoàn rất thân mật, sở dĩ Phục Hoàn được sự ủng hộ của Thái thú bốn quận Sơn Đông là cũng liên quan đến Lưu Tiến, tôn thất nhà Hán đa phần nhàn cư ở nhà, hoặc phân tán ở các quận, người nắm quân ở kinh thành cực ít, tên Lưu Ứng này chính là một trong số đó.

Lưu Ứng đã sắp xếp ổn thỏa với Phục Điển, tối nay gã trực ở Đông Thành, Phục Điển sẽ cử binh khởi sự vào đêm nay, thủ hạ của Lưu Ứng có năm trăm người, sau khi thả cho Phục Điển vào thành, gã còn phải chạy tới Phục phủ, hộ tống Phục Hoàn và người nhà ra khỏi thành.

Đã sắp đến giờ Hợi, qua nửa canh giờ nữa, Phục Điển sẽ dẫn quân tới, trong lòng Lưu Ứng có phần căng thẳng, gã đứng ở đầu thành nhìn về phía đông bắc, đúng lúc này, phía sau bỗng nhiên có tiếng xôn xao, Lưu Ứng ngẩn người, quay đầu lại nhìn, chỉ thấy đầu thành tự nhiên xuất hiện một đội quân lớn, gã giật mình kinh hại, có chuyện gì đây?

Hai đại tướng mặc áo giáp mũ trụ được rất đông binh lính bảo vệ tiến lên, một người trong đó là Túc vệ tướng quân Bắc thành Hạ Hầu Hành, con trai trưởng của Hạ Hầu Uyên, người kia khiến tim Lưu Ứng rớt xuống vực sâu, đại tướng bên cạnh Hạ Hầu Hành chính là Tào Phi.

Tào Phi mặc áo giáp, tay cầm chiến kiếm, đi lên lạnh lùng nói:

- Lưu tướng quân đang chờ gì thế?

Lưu Ứng kiên trì tiến lên thi lễ:

- Ty chức không chờ gì cả, đang tuần tra cửa thành.

- Hừ! Ngươi đang chờ Phục Điển mà!

Lưu Ứng mặt biến sắc, gã biết việc cơ mật đã bị bại lộ liền quay người định chạy thì mấy chục tên giáp sĩ đã giơ trường kích chặn gã lại, toàn thân Lưu ứng mềm nhũn ra, gã từ từ ngồi xuống đất, Tào Phi vung tay lên:

- Trói hắn lại!

Mấy tên lính lao đến trói Lưu Ứng lại, Tào Phi nói với Hạ Hầu Hành:

- Tiếp theo chúng ta chia nhau hành động, ngươi phục kích dưới thành, ta chờ ở trên thành, chúng ta cùng bắt con cá to này!

- Tuân lệnh!

Hạ Hầu Hành dẫn mười ngàn Túc vệ quân Bắc thành phi như bay ra phía ngoài thành, Tào Phi đi đến miệng lỗ châu mai, nhìn màn đêm đen kịt, lạnh lùng lẩm bẩm:

- Bọn chuột nhắt không biết tự lượng sức mình, chịu chết đi!

Phục phủ nằm ở phần giữa Nghiệp Đô, là một tòa nhà lớn khoảng năm mươi mẫu, Phục Hoàn là Phò mã của tiên đế, lại là Đương kim quốc trượng, địa vị cao quý trong triều đình, trên thực tế, ngay từ sự kiện Đổng Thừa năm Kiến An thứ tư, lão cũng là người tham gia trong đó, chỉ có điều lão cẩn trọng, chỉ liên hệ bí mật với Đổng Thừa, sau khi Đổng Thừa bị giết, lão cũng thoát được một kiếp.

Còn lần này là lần đánh cược cuối cùng khi lão đã gần sáu mươi, bất kể thành bại, lão đều muốn ghi vào sử sách, lưu danh muôn đời, lão không cam lòng cứ chết đi mà không có tiếng tăm gì, lão đã tới mức si mê việc phải ghi danh cho hậu thế, thậm chí không tiếc đặt cược bằng gia tộc, biết rõ cơ hội thành công cực nhỏ, nhưng lão cũng không chùn bước.

Lúc này, Phục Hoàn với mái tóc trắng xóa đang ngồi trong thư phòng, lặng yên nhìn chăm chú mười mấy cuốn sử ký trên bàn, lão ao ước trong trung thần truyền của Hán sử hậu thế thì cái tên Phục Hoàn có thể lưu danh thiên cổ.

Tính thời gian cử binh thì đáng lẽ phải đến rồi, Phục Hoàn hít một hơi thật sâu, chờ đợi thời khắc đó đến, nhưng đúng vào lúc này, ngoài cửa có tiếng chạy dồn dập, gã quản gia hoảng sợ bẩm báo:

- Lão gia, Hoa Hâm dẫn một ngàn quân xông vào phủ chém giết, phu nhân và mấy công tử đều bị binh lính bắt rồi.

Phục Hoàn giật mình, ánh mắt lộ ra vẻ khiếp sợ, lâu sau, lão chậm rãi nhắm mắt lại, giây phút lão lo lắng nhất cuối cùng đã đến, Tào Tháo có chuẩn bị từ lâu, bọn lão đã thất bại rồi.

“A!” ngoài cửa có tiếng hét thảm thiết vang lên, viên quản gia bị g**t ch*t bên ngoài, “ầm” một tiếng thật mạnh, cửa bị đá văng, mấy chục tên lính xông vào, bao vây chặt lấy lão, mấy chục trường mâu chĩa vào lão.

Lúc này, Hoa Hâm chắp tay đi vào thư phòng, nở nụ cười nham hiểm với Phục Hoàn:

- Phục Quốc trượng, không ngờ nhỉ!

Phục Hoàn thở dài, bình tĩnh hỏi:

- Các ngươi biết từ khi nào?

- Chuyện cho tới bây giờ ta cũng không giấu ngươi, ngay từ một năm trước, lúc Lưu Hiệp ở trong cung triệu kiến ngươi, Thừa tướng đã biết nhưng vẫn chờ đến ngày hôm nay.

Phục Hoàn lắc đầu, thở dài một tiếng:

- Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, đây là ý trời mà!

Nói xong, lão tỏ vẻ sầu thảm, lấy ra một bình nhỏ từ trong tay áo, uống một hơi cạn sạch kịch độc trong bình, ngửa mặt ngã xuống đất, lặng yên chờ đợi cái chết đến gần.

Hoa Hâm đi đến trước mặt lão, một chân đá lăn mười mấy cuốn sử ký trên bàn, thẻ tre rơi lả tả xuống đất, Hoa Hâm cười khinh thường, lại ghé sát vào lỗ tai lão khẽ nói:

- Quốc trượng quả thật sẽ danh truyền thiên cổ, có điều không phải là trung thần, mà là truyền đi với cái tiếng kẻ gian nịnh, ta bảo đảm!

Độc tính bắt đầu phát tác nhanh chóng, Phục Hoàn co giật toàn thân, khóe miệng chảy ra máu tươi ồ ạt, lão nói bằng hơi thở yếu ớt:

- Có Lưu Cảnh ở đây ta cũng sẽ không là kẻ gian nịnh, ngươi mới là.

Nói xong, lão nhắm mắt mà chết.

- Đồ điên!

Hoa Hâm hung hăng đá lão một cái, ra lệnh:

- Lôi tất cả bọn chúng đi!

Trong Hoàng cung, Hán Đế Lưu Hiệp đang cùng ngồi uống rượu với Phục Hoàng hậu, bọn họ đã chuẩn bị đơn giản xong, chờ theo quân đội của Phục Hoàn rời khỏi Hoàng cung, Lưu Hiệp tỏ ra rất hưng phấn, uống hết chén này đến chén khác.

Y làm con rối nhiều năm như vậy, vẫn luôn mong ngóng ngày hôm nay, có thể thoát khỏi sự khống chế của Tào Tháo, trở thành một Hoàng đế thật sự, mặc dù có mạo hiểm nhưng để đạt được tự do, y tình nguyện mạo hiểm như thế.

Y thấy Phục Hoàng Hậu có vẻ lo lắng liền cười nói:

- Hoàng hậu không cần lo lắng như thế, khi loạn Đổng Trác, Lý Thôi năm đó, sự khổ sở mà chúng ta phải chịu còn lớn gấp mười lần bây giờ, lang thang vất vưởng, ăn bữa hôm lo bữa mai, hiện giờ mặc dù hơi mạo hiểm nhưng là thời cơ tốt nhất, nếu chúng ta không nắm bắt cơ hội này thì sẽ hối hận không kịp.

Phục Hoàng hậu thấp giọng nói:

- Chẳng qua thiếp cảm thấy phụ thân làm việc không tin cậy lắm, kể cả chúng ta chạy trốn tới Lỗ Quận, thì có thể chống lại cuộc tiến công ồ ạt của Tào Tháo không?

- Điều này nàng không hiểu đâu, giờ Lưu Cảnh ở Lũng Tây, kiềm chế hai trăm ngàn đại quân của Tào Tháo, trong khi đó bản thân Tào Tháo lại chỉ huy một trăm ngàn đại quân tác chiến ở Kinh Châu, hơn nữa trẫm nghe được tin, quân Giang Đông công phá được Hợp Phì rồi, Trung Nguyên chấn động, có thể nói Tào Tháo lần này khó giữ vẹn toàn, sứt đầu mẻ trán, nếu ta không nắm bắt cơ hội này thì cả đời này không thoát ra được, lẽ nào Hoàng hậu thật sự muốn cùng với Trẫm làm con rối cả đời sao?

Phục hoàng hậu cúi đầu, khẽ nói:

- Thiếp không muốn!

- Thế là đúng rồi, không ai muốn, lần này trẫm kể cả mạo hiểm thiên đại cũng phải thử xem sao.

Hai người vừa nói đến đây thì ngoài cung bỗng vang lên tiếng khiển trách giận giữ của thị vệ:

- Si đại phu, ngươi muốn làm gì đây? Đây là tẩm cung của bệ hạ, ngươi mang đeo xông vào là muốn tạo phản sao?

Lưu Hiệp và Phục hoàng hậu ngơ ngác nhìn nhau, hai người kinh sợ mặt cắt không còn giọt máu, Si đại phu chính là Si Lự, đó là tâm phúc của Tào Tháo, y đến làm gì? Chỉ nghe thấy Si Lự cao giọng ngoài cung:

- Phục Hoàn có ý đồ mưu phản, đã bị tru sát, con gái lão là Phục Thọ cũng bị nghi dính líu đến, ta phụng mệnh Thừa tướng tới bắt, các ngươi ai dám cản trở sẽ bị hỏi tội đồng lõa!

Lưu Hiệp chỉ thấy “rầm” một tiếng trong đầu, Phục Hoàn bị tru sát, xong rồi, mưu đồ tất nhiên bị bại lộ, làm sao bây giờ? Phục hoàng hậu nghe nói phụ thân bị giết càng khóc như mưa, quỳ trước mặt Lưu Hiệp:

- Xin bệ hạ cứu mạng thần thiếp!
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 648: Gió nổi lên ở Nghiệp Đô (Hạ)


Lưu Hiệp cũng rơi lệ nói:

- Ngay cả ta cũng không cứu được mình, làm sao còn có thể cứu nàng, nàng mau chạy đi! Trốn đi, để bọn chúng không tìm thấy.

Lúc này, chỉ nghe thấy tiếng bước chân dồn dập từ ngoài cung truyền vào, Si Lự hô to:

- Việc này không liên quan đến Bệ hạ, Bệ hạ không cần lo lắng, vi thần chỉ là tới bắt loạn đảng Phục Thọ.

Phục Hoàng hậu sợ tới mức hồn bay phách lạc, nàng không màng tới Hoàng đế, đứng dậy chạy ra cửa sau, đúng lúc nàng vừa mới chạy ra cửa sau thì Si Lự dẫn hơn trăm võ sĩ giáp sắt xông vào, quân lính đông nghìn nghịt đứng đầy cung, y khom người thi lễ với Lưu Hiệp:

- Bệ hạ, thần phụng mệnh Thừa tướng đi bắt loạn đảng tạo phản Phục Thọ, xin Bệ hạ đừng hoảng loạn.

- Không phải Thừa tướng ở Kinh Châu sao?

Lưu Hiệp sợ tới mức toàn thân run rẩy.

- Là mệnh lệnh của Thừa tướng trước khi xuất chinh, hiện giờ Phục Hoàn tạo phản đã có chứng cớ vô cùng xác thực, Phục Hoàn sợ tội đã tự sát, huynh đệ của lão đều đã nhận tội, Hoàng hậu Phục Thọ là chủ mưu, xin hỏi người đang ở đâu?

- Trẫm không biết.

Si Lự đưa tay sờ chén rượu, vẫn còn hơi ấm, y lập tức ra lệnh:

- Nhất định chạy ra từ phía sau, đuổi theo cho ta!

Mấy chục tên lính đuổi theo từ cửa sau, Lưu Hiệp buồn bã bỗng khóc lớn:

- Si đại phu, đó là Hoàng hậu của Đại Hán mà! Ngươi vẫn là Hán thần chứ?

Si Lự đứng khựng lại, một lúc sau, y cúi người thật sâu thi lễ nói:

- Bệ hạ xin cứ yên tâm, Thừa tướng nhất định sẽ xử lý việc này theo lẽ công bằng.

- Thế nhưng hiện giờ Thừa tướng không ở Đô thành, có thể chờ Thừa tướng trở về hãy nói không.

- Hồi bẩm Bệ hạ, thần không có quyền quyết định.

Đúng lúc này, Hoa Hâm bước nhanh lao ra Đại điện, lớn tiếng hỏi:

- Si đại phu, loạn đảng Phục Thọ đã bắt được chưa?

Si Lự chỉ tay ra cửa sau:

- Người vừa mới chạy trốn!

Hoa Hâm thấy Si Lự bắt người không tận lực, bất mãn hừ một tiếng, cũng không thèm nhìn Lưu Hiệp mà đi nhanh ra cửa sau đuổi theo.

Trong lòng Phục Hoàng hậu cực kỳ sợ hãi, vội vàng chạy về tẩm cung của mình trốn, chỉ có hai cung nữ đi theo nàng, trong lúc hoảng sợ, hai chiếc giày của nàng cũng rơi mất, nàng đi chân trần chạy thục mạng về phía trước.

Nàng thở hồng hộc chạy đến một hành lang, lúc này, phía sau nàng có một thị vệ trẻ tuổi đuổi theo, hét lên sau lưng nàng:

- Hoàng hậu nương nương xin dừng bước, không thể tới tẩm cung!

Phục Hoàng hậu dừng lại, quay đầu nhận ra người này là thị vệ nội cung La Thanh, nàng vội vã giữ chặt La Thanh la lên:

- La thị vệ, cứu bản cung với!

- Nương nương, phía trước có đám binh lính.

Vừa dứt lời, ngay phía đầu hành lang xuất hiện rất nhiều bó đuốc, chặn lại đường đi tới tẩm cung, phía sau mấy chục bước có tiếng người hô:

- Bắt lấy ả, không cho ả chạy thoát.

Phục Hoàng hậu tuyệt vọng, phía trước có người bắt nàng, sau lưng cũng đuổi theo tới, nàng có thể trốn đi đâu chứ? Nàng gần như sắp khóc:

- La thị vệ, bản cung nên làm thế nào bây giờ?

- Nương nương xin nghe vi thần một lời!

La Thanh vẫn không có cơ hội nói chuyện với Phục Hoàng hậu, lúc này đã là thời khắc nguy cấp nhất, còn không nói sẽ làm hỏng đại sự, gã tiến lên một bước thì thầm với nàng mấy câu, Phục Hoàng hậu ngây người, điều này sao có thể, La Thanh quay đầu thấy binh lính đã đuổi theo cách mười mấy bước, gã vội đạp chân:

- Nương nương, đây là đường sống duy nhất của người, không nghe thì người sẽ không giữ nổi tính mạng.

Nói xong, gã tung người nhảy xuống hồ nước, bơi đi thật nhanh, Phục Hoàng hậu còn đang nghi hoặc, binh lính truy đuổi hai bên đã xông tới, chặn nàng và hai cung nữ trên hành lang, rất nhiều ngọn đuốc chiếu rọi hàng lang sáng như ban ngày, không ít binh lính vẫn bắn tên xuống nước.

Lúc này, Hoa Hâm rẽ đám binh lính ra, bước nhanh tới, y giáng xuống một cái bạt tai, đánh cho Phục Hoàng hậu xây sẩm mặt mày, té ngã xuống đất:

- Tiện nhân, còn muốn trốn sao!

Hoa Hâm lộ vẻ hung ác, một tay nắm lấy tóc của Phục hậu lôi đi.

Phục Hoàng hậu vô cùng sợ hãi, nàng bỗng nhớ tới lời La Thanh nói, vội hét lớn:

- Hoa Hâm, Tào Thừa tướng đã đồng ý với Lưu Cảnh sẽ không làm hại bản cung, không cho ngươi làm loạn!

Hoa Hâm lập tức ngây người, sao y không biết việc này? Do dự một chút, y từ từ buông Phục Hoàng hậu ra, giận dữ nói:

- Đừng có nói bậy, ngay cả Trưởng công tử cũng không biết, ngươi ở thâm cung thì làm sao biết được?

Phục Hoàng hậu sợ tới mức toàn thân run rẩy, nhưng liên quan đến sinh tử, nàng cũng không thèm đếm xỉa đến mà đứng dậy, ngẩng đầu nói:

- Bản cung đường đường là Hoàng hậu Đại Hán, chuyện này cũng nói xằng nói bậy sao? Có người đã nói cho bản cung, Tào Tháo đã bị Lưu Cảnh đánh bại, lão cam đoan không làm hại bản cung.

Hoa Hâm chợt hiểu ra, hét lớn với binh lính hai bên:

- Người vừa nhảy xuống nước, mau bắt hắn cho ta!

Đám binh lính thi nhau tìm kiếm men theo hồ nước, trong lòng Hoa Hâm nghi hoặc, mặc dù cảm thấy rất hoang đường nhưng tối qua bọn họ cũng nhận được bồ câu đưa thư, Hợp Phì thất thủ, Quân Tào ở Kinh Châu quyết định rút lui về phía bắc rồi, đây đúng là cuộc nam chinh thất bại, theo lý mà nói Phục Hoàng hậu không thể biết được, nhưng ả lại nói ra, lẽ nào thật sự có chuyện này?

Hoa Hâm dù hung ác lạnh lùng nhưng y lại không ngu dốt, hơn nữa đầu óc còn cực kỳ linh hoạt, y lập tức có chủ ý, việc này bất kể là thật hay giả thì hãy để Trưởng công tử xử trí ả, như vậy mình cũng tránh khỏi liên lụy, y hừ một tiếng, quát đám thuộc hạ:

- Dẫn ả đi!

Đám lính lôi Phục Hoàng hậu đi ra phía ngoài cung, Lưu Hiệp đang ở trong điện cầu xin Si Lự tha cho Hoàng hậu, Si Lự cúi đầu không nói, lúc này, rất nhiều binh lính đẩy Phục Hoàng hậu vào từ cửa sau, Phục Hoàng hậu tóc tai bù xù, chân đất, khóc sướt mướt, nàng ngã quỵ xuống đất, khóc không ra tiếng:

- Bệ hạ cứu thiếp!

Lưu Hiệp lòng đau như dao cắt, ôm nàng khóc lớn:

- Trẫm cũng không biết sống được đến khi nào?

Si Lự không đành lòng, quay đầu đi, Hoa Hâm ra lệnh:

- Dẫn đi!

Mấy tên lính lôi mạnh Phục Hoàng hậu, đẩy nàng đi ra, Lưu Hiệp hô lớn:

- Si ái khanh, thiên hạ vẫn có việc như vậy sao?

Si Lự thở dài, lắc đầu rồi đi, binh lính đầy điện thoáng chốc đi hết sạch, Lưu Hiệp lập tức té ngồi xuống đất, ra sức đập vào ngực mình:

- Trẫm không ra gì cả! Đến vợ mình cũng giữ không nổi.

Chiến dịch Thành Đông đã kết thúc, quân đội Phục Điển bị mười ngàn Quân Tào bao vây phục kích, toàn quân bị diệt, chết gần một nửa, người đầu hàng nhiều vô số kể, ngay cả Phục Điển cũng bị loạn tiễn bắn chết.

Tào Phi đứng ở đầu thành, ánh mắt sắc lạnh nhìn chăm chú từng đoàn tù binh bị áp giải vào thành, những tên tù binh này nhất định phải xử trảm toàn bộ, đưa đầu của bọn họ ra thị chúng, xem ai còn dám có mưu đồ tạo phản.

Lúc này, Hoa Hâm vội vàng bước tới:

- Trưởng công tử, Phục Hoàn đã tự sát, Phục Thọ cũng bắt được rồi, giờ đang tống giam ở trong nội cung.

- Hai đứa con trai của ả đâu?

Tào Phi lạnh lùng hỏi.

- Hai đứa con trai cũng bị ta bắt được.

Hoa Hâm do dự một chút lại nói:

- Chỉ có điều khi vi thần bắt Phục Thọ, nàng nói Thừa tướng đã đồng ý với Lưu Cảnh, không được làm hại ả, không biết là thật hay giả?

- Bậy bạ! Ả làm sao biết được, chẳng qua muốn bảo toàn sinh mạng mà thôi, đây là mộng tưởng hão huyền của ả, sao ta có thể tha cho ả được.

Tào Phi khinh thường nói.

Hoa Hâm nghĩ đến người chạy trốn kia, từ miệng hai cung nữ đi theo y được biết người đó là thị vệ nội cung La Thanh, còn tra được lai lịch của gã là người Ba Quận, khiến y giật mình, y nghi ngờ La Thanh chính là cơ sở ngầm được Lưu Cảnh cài vào trong cung.

Hơn nữa Phục Hoàng hậu lại biết Quân Tào bị đánh bại, điều này làm cho Hoa Hâm có chút lo lắng, y chỉ sợ nhỡ may là thật thì phiền phức rồi, vốn định theo kế hoạch của y và Tào Phi, bức Phục Hoàng hậu uống rượu độc, sau đó nói với bên ngoài là sợ tội tự sát.

Hiện giờ Hoa Hâm sợ nếu là thật, sau khi Thừa tướng trở về sẽ giáng tội y, y liền khuyên nhủ:

- Vi thần đề nghị hay là chờ Thừa tướng quay về hãy xử lý Phục Thọ, dù sao Thừa tướng rút quân, nếu chẳng may người và Lưu Cảnh đi đến thỏa hiệp gì đó, một khi Phục Thọ bị giết, Thừa tướng sẽ giận lây sang Công tử, nói Công tử không hiểu chính trị, chẳng phải là không ổn sao, ý của vi thần vẫn là nên thận trọng một chút.

Hoa Hâm đã nói trúng tâm can của Tào Phi, giờ phải thận trọng từng bước mới được, không thể lại làm phụ thân thất vọng, y trầm ngâm một lát, ánh mắt hiện lên một tia âm u lạnh lẽo:

- Phục Thọ có thể tạm thời không giết, nhưng hai đứa con trai của ả nhất định phải lập tức giết bằng thuốc độc, chấm dứt hậu họa.

……

Lưu Cảnh quay về Thành Đô đã được ba ngày, ba ngày này hắn gần như đều ở trong phủ, một năm nay, hắn và người nhà gặp nhau thì ít, xa nhau thì nhiều, phần lớn thời gian đều dành cho chinh chiến đối ngoại, cực ít khi quan tâm đến người nhà, điều này khiến hắn có chút day dứt trong lòng.

Ngày đầu tiên trở về, hắn liền ở bên người nhà suốt một ngày, có lẽ vì xa cách người thân quá lâu nên hắn đặc biệt quý trọng thời gian được ở cùng người nhà, vì thế hắn xin nghỉ ba ngày để cùng vui vẻ với thê nhi.

Trong thư phòng, đứa con cả của Lưu Cảnh là Lưu Trí đang ngồi luyện tập viết chữ ở chiếc bàn nhỏ, năm nay nó đã năm tuổi, trông rất điềm đạm nho nhã, còn cực kỳ thông minh, ba tuổi đã biết chữ, bốn tuổi bắt đầu học làm thơ, tới năm tuổi đã học được mấy ngàn từ trong bụng, đã có thể ngâm thơ làm phú, được các quan viên vinh là thần đồng.

Tuy nhiên Lưu Cảnh lại không thích cách gọi thần đồng này, hắn không cho con trai học thơ làm phú quá sớm, mà để cho nó tiếp tục đọc sách viết chữ, bởi vì Lưu Trí là con trai trưởng nên không chỉ Lưu Cảnh đặc biệt xem trọng nó, mà bách quan cũng đặc biệt quan tâm, về sư phụ của nó, mấy viên trọng thần vì việc này đã bàn bạc ba lần, cuối cùng nhất trí quyết định mời tiến sĩ Châu học Lai Mẫn làm thầy dạy vỡ lòng cho Lưu Trí.

Lai Mẫn là con trai của Hán Tư Không Lai Diễm, hậu thế của danh tướng Đông Hán Lai Hấp, người Tân Dã Kinh Châu, trong buổi loạn thế cuối thời Hán đã cùng tỷ tỷ chạy trốn tới Kinh Châu, do anh rể Hoàng Uyển là cháu của tổ mẫu Lưu Chương nên Lai Mẫn lại theo tỷ tỷ đến Ba Thục làm khách của Lưu Chương, học rộng tài cao đương nhiên là nhân tố hàng đầu, nhưng người học rộng ở Ba Thục quá nhiều, vì thế nhân tố quan trọng thứ hai chính là cân bằng, phải chú ý đến lợi ích của phương bắc, Kinh Châu và Ba Thục, Lai Mẫn rõ ràng là ứng cử viên tốt nhất.

Lai Mẫn cũng nghĩ giống như Lưu Cảnh, không cho Lưu Trí khoe khoang quả đáng, tỏ ra khôn vặt, mà dạy nó đọc các loại sách cơ sở, còn dạy nó cả thư pháp, phương án dạy học của Lai Mẫn được Lưu Cảnh rất tán thành, công nhận vị “Thái phó” của cậu con trai trưởng này.

Lưu Cảnh thấy con trai hết sức chăm chú, chữ viết khá đẹp, hắn liền mỉm cười xoa đầu nó:

- Không chỉ phải học văn, có thời gian còn phải luyện võ nữa, không cần con võ nghệ cao cường nhưng ít ra có thể giúp cơ thể khỏe mạnh.

Lưu Trí vội đặt bút xuống, đứng lên cung kính nói:

- Hài nhi thỉnh thoảng cũng học kiếm với nhị nương.

Lưu Cảnh vội kéo con ngồi xuống, cười ha hả:

- Tôn trọng phụ thân là tốt, nhưng cũng đừng gò bó như vậy.

- Vâng!

Lưu Cảnh lại tò mò hỏi:

- Chẳng phải nhị nương không chịu dạy con luyện võ sao?

Môi Lưu Trí mấp máy nhưng không dám nói, Lưu Cảnh cười nói:

- Có việc gì cứ nói thẳng, làm một hài nhi thẳng thắn, phụ thân cũng rất thích.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 649: Nhà có tiểu nữ


Lưu Trí cố lấy dũng khí đáp:

- Nhị nương chỉ là ngoài miệng nói hung ác nhưng tâm của người rất mềm yếu, hơn nữa người quên mất chuyện từng nói không dạy con luyện võ, còn ép con học kiếm với người, sáng sớm trời còn chưa tỏ đã kéo con dậy.

Nói đến phần sau, Lưu Trí có chút oán giận, Lưu Cảnh mỉm cười, tình ý sâu sa nói với con trai:

- Nhị nương con hy vọng con đừng trở thành con mọt sạch, người muốn tốt cho con, bảo con dậy sớm là để tôi luyện ý chí của con, khi phụ thân học võ, canh tư đã phải dậy rồi, kiên trì suốt tám năm, đến giờ vẫn dậy từ lúc trời chưa sáng, chỉ có người có ý chí kiên cường thì tương lai mới làm được việc lớn, con nên cảm tạ nhị nương mới phải.

Lưu Trí ngây người một lúc, chưa có ai nói với nó những đạo lý này, giờ nó mới hiểu được dụng tâm của nhị nương, không khỏi xấu hổ cúi đầu:

- Hài nhi hiểu rồi!

Lưu Cảnh vỗ đôi vai non nớt của nó:

- Sau này sư phụ sẽ từ từ dạy con những đạo lý này, mau viết chữ cho tốt đi!

- Vâng!

Lưu Trí lại ngồi nghiêm túc, bắt đầu chăm chỉ viết chữ, lúc này, Lưu Cảnh bỗng nhìn thấy một cái đầu nhỏ, thò đầu ra nhìn vào phòng, đúng là con gái bảo bối Lưu Châu của hắn, năm nay mới ba tuổi, khá nghịch ngợm, bình thường những ông bố đều thương yêu con gái, Lưu Cảnh đặc biệt quý mến nó.

Hắn vừa cười vừa bước lại gần, bế con gái lên, khẽ nhéo vào khuôn mặt nhỏ nhắn bầu bĩnh của nó cười hỏi:

- Heo nhỏ đang làm gì đấy?

Lưu Châu giống hệt mẫu thân của nó, mặt tròn vành vạnh, mắt to, khéo léo thông minh, nó chớp chớp mắt, cười hì hì nói:

- Con đang xem có phải phụ thân đang giáo huấn ca ca không.

- Nếu phụ thân đang giáo huấn ca ca thì sao?

Lưu Cảnh lại cười hỏi.

- Con giúp phụ thân cùng đánh!

Lưu Cảnh bật cười ha hả, hắn hôn vào mặt con gái:

- Ca ca có hoa quả đều cho con ăn, sao con còn đánh ca ca?

Lưu Châu giả làm mặt quỷ nhưng không đáp lại, Lưu Cảnh thấy con trai giống như lão tăng ngồi thiền, bất động liền gật đầu cười nói:

- Ca ca đang luyện chữ, ta dẫn con ra sân chơi nhé.

Lưu Châu vui sướng vỗ tay:

- Con muốn phụ thân giúp con hái hoa quả.

- Được, phụ thân giúp con hái.

Lưu Cảnh ôm con gái ra sân, Lưu Châu chỉ vào quả hạnh tử chín trên cây hạnh, vội la lên:

- Con muốn cái kia.

Lưu Cảnh giơ tay kéo cành cây xuống, Lưu Châu vươn bàn tay nhỏ bé nắm lấy hai quả hạnh tử, cười sung sường, lúc này, Tôn Thượng Hương đi vào sân, cười nói với Lưu Cảnh:

- Ban nãy gặp Ngô bà bà, nói Từ Trưởng sử đến đây, đang chờ phu quân ở thư phòng, phu quân không đi gặp sao?

Lưu Cảnh biết Từ Thứ nhất định là vì chuyện của Giang Đông, hắn gật đầu, giao con gái trong tay cho nàng:

- Heo nhỏ, để nhị nương chơi với con, phụ thân có việc rồi.

Lưu Châu mân mê miệng, vẻ mặt mất hứng, nó tha thiết mong ngóng tìm đến phụ thân, phụ thân lại chỉ chơi với nó một lát, Lưu Cảnh yêu quý con gái, xoa khuôn mặt nhỏ nhắn của nó cười nói:

- Tối phụ thân cùng con vẽ tranh nhé.

Lưu Châu lập tức vui sướng:

- Phụ thân gạt con thì là con chó nhỏ nhé!

Lưu Cảnh ngoắc ngón út với nó rồi cười với Tôn Thượng Hương, hắn quay người đi ra cửa liền nghe thấy Tôn Thượng Hương trêu chọc:

- Heo nhỏ, cho nhị nương một quả hạnh tử trong tay con.

- Không được! Đây là phụ thân cho con.

Lưu Cảnh cười lắc đầu, bước nhanh về phía thư phòng.

Đi vào thư phòng, Từ Thứ và Đổng Hòa đang ngồi trong phòng nói gì đó, thấy Lưu Cảnh bước vào, hai người vội vàng đứng dậy thi lễ:

- Vi thần tham kiến Châu Mục!

Cuối năm ngoái, phủ tướng quân thực hiện một cuộc cải cách quyền lực trọng đại, chính thức thi hành chế độ đa tướng, nhưng do Lưu Cảnh chưa lập quốc nên vẫn không thể gọi là Tướng quốc, hắn liền thiết lập chức vụ Thượng thư tham chính, gọi tắt là Thượng thư, người được phong chức vụ này cũng tức là có quyền hành của Tướng quốc.

Hiện tại năm người là Từ Thứ, Tưởng Uyển, Phí Quan, Đổng Hòa, Tư Mã Ý cùng đảm nhiệm chức Thượng thư tham chính, chung tay hiệp thương việc quân chính đại sự, còn lập chức Thượng thư lệnh phụ trách xử lý chính vụ thường ngày, quản lý bút chính sự, năm người này sẽ luân phiên giữ chức Thượng thư lệnh, mỗi người cai quản bút chính sự một tháng, vì thế đã đổi tên Nghị sự đường thành Bình Chương đài, Bình Chương cũng có nghĩa là hiệp thương, như vậy, chế độ đa tướng mà Lưu Cảnh khởi xướng đã hình thành.

Nhưng để hạn chế Thượng thư lạm dụng quyền lực, hắn còn lập chức Thị trung, do Doãn Mặc đảm nhiệm, quyết sách chính vụ của Thượng thư hoặc Thượng thư lệnh có điểm bất ổn lớn thì sẽ bị Thị trung bác bỏ, trả lại cho các Thượng thư ở Bình Chương đài hiệp thương lại, dưới Thị trung là mấy Thị lang, làm trợ thủ cho Thị trung.

Nếu ý kiến của Thượng thư và Thị trung trước sau không thể đi đến thống nhất thì sẽ do Lưu Cảnh đưa ra quyết định cuối cùng.

Mặt khác, Thị trung còn có một quyền lực quan trọng, đó là quyền phân biệt chính vụ, chính vụ nào có thể do Thượng thư lệnh tự quyết định, chính vụ nào cần năm Thượng thư của Bình Chương đài hiệp thương giải quyết, chính vụ nào lại phải trình lên Lưu Cảnh phê duyệt, cứ như vậy, Lưu Cảnh có thể giải thoát khỏi chính vụ nặng nề hàng ngày để chuyên tâm suy nghĩ việc đại sự quốc gia.

Đối với những biến động quyền lực lớn như vậy, tổn thất lớn nhất là Từ Thứ, trên thực tế chính là chia quyền của Trưởng Sử Từ Thứ thành năm phần, trước đây một mình Từ Thứ nắm giữ đại quyền chính vụ thì giờ biến thành năm người cùng nắm tướng quyền.

Mặc dù quyền lực bản thân bị tổn thất rất lớn, nhưng Từ Thứ lại là người thi hành kiên định chế độ đa tướng này, bởi vì Từ Thứ không suy tính đến quyền lực được mất của bản thân, mà nghĩ đến chế độ tướng quyền có thể ngăn được quân quyền, chế độ một tướng của Hán triều dễ đàng khiến Thừa tướng nắm hết quyền hành, cũng dễ tạo nên sự nghi kỵ của Hoàng đế đối với Thừa tướng, vì thế tướng quyền cũng không lớn.

Một khi thi hành chế độ đa tướng, giữa các Thừa tướng có thể chế ước cân bằng nhau, giảm mạnh sự uy h**p đối với Hoàng đế, do đó Hoàng đế cũng dễ giao quyền.

Từ Thứ biết, một khi đã hình thành chế độ đa tướng này thì cục diện quyền lực trong một trăm năm nữa đều sẽ có ảnh hưởng sâu rộng, nhìn từ góc độ quân tướng phân quyền mà xét, Từ Thứ cực lực ủng hộ lần cải cách này.

Cũng thật trùng hợp, tháng này đúng lúc Từ Thứ đảm nhiệm chức Thượng thư lệnh, quản lý bút chính sự, một số việc chính vụ nhỏ nhặt hàng ngày đều do y phụ trách.

Lưu Cảnh lệnh cho thị nữ dâng trà, rồi cười hỏi Từ Thứ và Đổng Hỏa:

- Chế độ đa tướng hoạt động đã năm tháng, cảm giác thế nào?

Từ Thứ khom người đáp:

- Vừa mới bắt đầu vẫn có chút không phù hợp, cũng có một số chỗ suy xét chưa chu toàn, nhưng thời dan dài tự nhiên sẽ từ từ phù hợp, vì thế chúng ta cũng không cần lo lắng, tóm lại, vẫn rất tốt, hoạt động suôn sẻ.

Lưu Cảnh gật đầu:

- Bởi vì tinh lực của ta chủ yếu suy nghĩ đến cuộc bắc phạt đông chinh, vì thế việc chính vụ về cơ bản ta không hỏi qua, có điều một khi tương lai ổn định, có lẽ ta cũng muốn tham gia chính vụ.

Đổng Hòa tiếp lời cười:

- Đây là lẽ đương nhiên, Châu Mục xin yên tâm, bọn ty chức sẽ không nhân cơ hội chiếm quyền lực của Châu Mục đâu.

Ba người cùng nhau mỉm cười, không khí trong phòng lập tức trở nên thoải mái, lúc này, Lưu Cảnh lại hỏi:

- Về chuyện tiếp tục chiêu binh một trăm ngàn người nữa, đã quyết định chưa?

Đây là việc Lưu Cảnh phải làm đầu tiên sau khi cuộc chiến Kinh Châu kết thúc, binh lực không đủ khiến hắn cực kỳ bị động trong cuộc giằng co với Tào Tháo, đành phải tạm thời dừng kế hoạch bắc phạt, cho nên tiếp tục mộ binh một trăm ngàn người, đưa tổng binh lực lên tới ba trăm ngàn người, điều này vô cùng cấp bách rồi.

Việc mộ binh do Đổng Hòa phụ trách, y chủ quản Binh Tào và Úy Tào, chức quyền tương đương với Binh bộ Thượng thư sau này, Đổng Hòa vội vã đáp:

- Hồi bẩm Châu Mục, phương án đã được chế định xong, chỉ đợi sau khi Bình Chương đài hiệp thương sẽ báo Châu Mục phê chuẩn là có thể thực thi.

- Nói đơn giản cho ta nghe xem nào.

Lưu Cảnh cười nói.

- Nói đơn giản là Ích Châu mộ binh năm mươi ngàn, Kinh Châu mộ binh ba mươi ngàn, Hán Trung mộ binh hai mươi ngàn, trong đó năm mười ngàn của Ích Châu đã bao gồm hai mươi binh lính Man Di phía nam Ích Châu, chúng ta đã đi đến nhất trí với Man Vương và Di Vương rồi.

Lưu Cảnh gật đầu, lại hỏi Từ Thứ:

- Chuyện kết minh với Giang Đông đã bàn bạc thế nào rồi?

……

Việc hai nhà Tôn Lưu kết minh cũng không thuận lợi, có thể nói là lâm vào cảnh bế tắc, mấu chốt là quyền sở hữu quận Kỳ Xuân, thái độ của Tôn Quyền rất rõ ràng, liên kết thì phải hủy bỏ hiệp ước bất bình đẳng ký kết trước đây, vậy thì quận Kỳ Xuân sẽ trả lại cho Giang Đông, nhưng các Thượng thư của phủ tướng quân sau khi hiệp thương đã nhất trí từ chối yêu cầu này của Giang Đông.

Lý do rất đơn giản, liên minh là việc của tương lai, còn quận Kỳ Xuân thuộc sở hữu Kinh Châu là kết quả cuộc tây chinh của quân Giang Đông lần trước, không thể vì việc kết minh hiện tại mà mạt sát sự thực cuộc tây chinh của quân Giang Đông, đương nhiên, với thành ý của Kinh Châu, có thể trả lại Giang Đông hồ Bành Trạch, huyện Bành Trạch cùng với đường thủy Trường Giang ở phía đông quận Kỳ Xuân, chỉ thế mà thôi.

Thái độ của phủ tướng quân khiến Lã Phạm vô cùng buồn phiền, bởi vì khi xuất phát, Ngô hầu liên tục dặn dò gã nhất định phải lấy được quận Kỳ Xuân về, nếu không thà rằng không liên kết, mặc dù Lã Phạm cũng hiểu được quận Kỳ Xuân uy h**p quá lớn đến Giang Hạ, phủ tướng quân chắc chắn sẽ không đồng ý, nhưng thái độ của Ngô hầu cũng rõ ràng như thế, làm gã lâm vào thế khó xử, không có cách nào khả thi.

Lã Phạm ở trong dịch quán khách quý của Thành Đô, môi trường ở đây rất tao nhã, làm gã thấy vô cùng thoải mái, nhưng thái độ của phủ tướng quân cứng rắn lại khiến gã buồn bực không vui, không có lòng dạ nào thưởng thực phong cảnh đẹp của dịch quán, thậm chí cũng không có tâm tư đi thăm Thượng Hương công chúa.

Giữa trưa, một chiếc xe bò chậm rãi dừng lại trước dịch quán khách quý, một người trung niên dẫn theo hai gã tiểu nhị xách mười mấy hộp đồ ăn xuống xe bò, lúc này chủ dịch quán bước ra, gã nhìn dò xét mấy người này, hỏi:

- Các ngươi là ai, tới đây làm gì?

Người đàn ông trung niên chắp tay thi lễ nói:

- Chúng ta là người của tửu quán Giang Nam, vị khách Giang Đông trong dịch quán đã đặt rượu thịt ở tửu quán nên chúng ta đưa tới đây.

Chủ quán ngây người, còn chưa nghe nói vị khách nào của dịch quán đặt rượu thịt bên ngoài, lúc này, Phó sứ Giang Đông Trương Thừa bước ra. Trương thừa là con trai trưởng của Trương Chiêu, hơn ba mươi tuổi, hiện giữ chức Tham quân phủ Đô đốc Giang Đông, rất khôn khéo giỏi giang, lần này được Tôn Quyền bổ nhiệm làm Phó sứ của Lã Phạm đi sứ Thành Đô.

Do cuộc đàm phán lâm vào bế tắc, trong lòng Trương Thừa cũng buồn khổ, liền muốn đi ra ngoài, gã đi ra cửa thì vừa hay nhìn thấy xe bò liền ngẩn người ra, lúc này người trung niên đưa rượu thịt vội vã tiến lên chắp tay nói:

- Hóa ra là Trương công tử, tiểu nhân là chưởng quầy tửu quán Giang Nam, tới đưa rượu thịt.

Trương Thừa chỉ thấy người này rất quen, nhưng nhất thời không nhớ ra đã gặp nhau ở đâu, gã trầm ngâm một lúc, không trả lời, người trung niên trừng mắt nhìn gã nói tiếp:

- Công tử quên rồi sao? Hôm qua ngài đã tới cửa hàng của tại hạ, tửu quan Giang Nam.

Trương Thừa lập tức tỉnh ra, tửu quán Giang Nam chẳng phải chính là một điểm tình báo mà quân Giang Đông thiết lập ở Thành Đô sao? Gã bật cười ha hả đáp;

- Đúng rồi, ta suýt nữa quên mất, mau mời mang vào đi!

......
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 650: Lời khước từ của Tôn phu nhân


Chủ dịch quán thấy đúng là Trương Thừa đặt rượu thịt nên không hỏi nhiều nữa, để bọn họ mang vào dịch quán, bước vào cửa chính, người trung niên khẽ cười nói:

- Trương công tử không nhớ ta sao?

Trương Thừa áy náy đáp:

- Ta nhìn các hạ rất quen, chỉ là không nhớ ra đã gặp ở đâu?

- Ta làm Thương Tào ở phủ Đô đốc, họ Tưởng, chúng ta đã từng quen biết.

Trương Thừa vỗ trán, gã nhớ ra rồi, người này tên là Tưởng Hoán, biệt hiệu Tưởng Cốc thần, năm kia đã gặp y không chỉ một lần ở phủ Đô đốc, sau đó nghe nói được điều đi, không ngờ lại ở Thành Đô, hơn nữa nhìn bộ dạng, hẳn là thống lĩnh tình báo của Giang Đông ở Ích Châu.

Gã vội nói:

- Ta nhớ ra rồi, ngươi là Cốc thần.

Người trung niên cười ha hả:

- Đúng vậy!

Y khép nụ cười lại, nghiêm nghị nói với Trương Thừa:

- Ngô hầu có lệnh khẩn cấp cho các ngươi, ta muốn gặp Lã tướng quân.

Trương Thừa gật đầu:

- Xin mời!

Trong phòng, Lã Phạm một mình uống rượu buồn, việc liên minh trở nên bế tắc, nếu chậm chễ không giải quyết được, gã sẽ chuẩn bị phải về phục mệnh, gã biết rằng Lưu Cảnh chắc chắn sẽ không nhượng bộ, nhưng Ngô hầu cũng không chịu nhượng bộ, gã ở lại Thành Đô cũng chẳng có ý nghĩa gì.

Đúng lúc này, Trương Thừa bước nhanh tới cửa, khom người nói:

- Tướng quân, người của tửu quán Giang Nam có việc gấp cầu kiến.

Lã Phạm cũng hơi ngây người, gã làm Chính sứ, đương nhiên càng hiểu rõ địa vị của tửu quán Giang Nam, gã lập tức ý thức được hẳn là Giang Đông có truyền tin đến, chỉ có điều gã hơi nghi ngờ tin tức đến bằng cách nào? Gã cũng mới đến Thành Đô ba ngày, sao tin tức của Giang Đông lại tới nhanh như vậy?

- Mời hắn vào!

Một lát sau, Trương Thừa dẫn trưởng quầy Tưởng Hoán vào phòng, Tưởng Hoán quỳ xuống hành lễ nói:

- Ti chức tham kiến Lã tướng quân!

- Hóa ra là Tưởng cốc thần.

Lã Phạm mỉm cười:

- Xin miễn lễ!

Tưởng Hoán đứng thẳng dậy, rút ra một bức thư tình báo đưa cho Lã Phạm.

- Đây là thư bồ câu khẩn mà Giang Đông truyền đến một canh giờ trước, đây là lần đầu tiên, ty chức không dám chậm trễ liền lập tức đưa tới.

Lã Phạm cũng có chút khiếp sợ trong lòng, lại là thư bồ câu, phải biết rằng từ Giang Đông đến Ba Thục đâu chỉ ngàn vạn dặm, thư bồ câu ít nhất phải trung chuyển vài lần, hơn nữa rủi ro cực lớn, tình huống này rất ít khi xảy ra, giờ lại đưa thư bồ câu đến, điều này chứng tỏ nội dung trong thư cực kỳ quan trọng.

Gã nhận lấy thư tình báo, lập tức mở ra xem một lượt, hồi lâu không nói gì, lúc này, Trương Thừa ra hiệu cho Tưởng Hoán lui ra, đợi trong phòng chỉ còn lại y và Lã Phạm, y mới hỏi:

- Tướng quân, đã xảy ra chuyện gì?

Lã Phạm thở dài:

- Quân Tào phản công Hợp Phì, tình thế Hợp Phì nguy cấp, hiện Ngô hầu cũng đích thân dẫn viện quân tới Hợp Phì rồi, người hy vọng chúng ta lập tức ký hiệp ước đồng minh với Lưu Cảnh.

- Nhưng quận Kỳ Xuân thì làm thế nào?

Trương Thừa bối rối hỏi.

Lã Phạm trầm ngâm:

- Trong thư Ngô hầu không đề cập, nhưng người đã bảo chúng ta lập tức ký kết, vậy thì quận Kỳ Xuân hẳn là từ bỏ, Tương tham quân thấy thế nào?

Trương Thừa gật đầu:

- Tướng quân nói đúng, Lưu Cảnh không thể trả quận Kỳ Xuân cho chúng ta, Ngô hầu vội vã kết minh, chỉ có thể là chúng ta từ bỏ quận Kỳ Xuân thôi.

Lã Phạm chắp tay bước mấy bước, lại cúi đầu suy nghĩ một lát, cuối cùng thở dài nói:

- Ta đoán Lưu Cảnh vẫn chưa biết sự việc ở Hợp Phì, chúng ta cũng đừng thể hiện quá nóng vội, ngày mai tiếp tục bàn bạc với phủ tướng quân, có điều hôm nay ta muốn đi thăm Thượng Hương công chúa, xem người có thể giành lấy chút lợi ích cho Giang Đông không.

Tôn Thượng Hương đã sớm biết việc Lã Phạm tới Thành Đô, phu quân cũng chuyển thư nhà của mẫu thân cho nàng, theo lý, Lã Phạm là người mai mối nàng và Lưu Cảnh, lại là nguyên lão Giang Đông, quan hệ với phụ thân vô cùng tốt, lão giống như bậc cha chú của mình, tới Thành Đô chắc chắn phải tới thăm mình, đây là lẽ thường tình, Tôn Thượng Hương cũng nóng ruột muốn biết một số việc của quê nhà qua lời Lã Phạm.

Tuy nhiên Tôn Thượng Hương chờ ba ngày rồi vẫn không thấy Lã Phạm tới gặp mình, điều này làm cho nàng có chút không vui. Buổi chiều, đúng lúc Tôn Thượng Hương chuẩn bị đi thăm Đào Trạm, bà quản gia bỗng đến bẩm báo có khách quý Giang Đông tới thăm, điều này khiến nàng rất xúc động, nhưng cũng có hơi bực mình.

Tôn Thượng Hương định nói không gặp nhưng nghĩ lại, nàng vẫn nên kìm nén tâm trạng không vui trong lòng lại, tới khách quý đường.

Trong quý khách đường, Lã Phạm đang chuyên tâm uống trà, lúc này, gã nghe thấy tiếng ngọc bội kêu, chỉ thấy mười mấy thị nữ vây quanh Thượng Hương công chúa xinh đẹp bước vào, Lã Phạm vội đứng dậy thi lễ:

- Vi thần tham kiến Thượng Hương công chúa!

- Lã tướng quân không cần đa lễ, mời ngồi!

Tôn Thượng Hương được gả cho Lưu Cảnh cũng gần ba năm, tính cách đáo để của nàng khi còn nhò cũng đã giảm đi nhiều, mực dù trong tâm khảm vẫn thẳng thắn ngay thẳng như cũ, nhưng trước mặt người ngoài, nàng lại có thêm thái độ ung dung của quý phu nhân, nàng biết trong một số trường hợp nàng đại diện cho Lưu Cảnh, nên cũng phải chú ý chút lễ nghĩa, kể cả trước mặt đồng hương cũng không ngoại lệ.

Lã Phạm thấy Tôn Thượng Hương cười chúm chím, phong thái thong dong, trong lòng không khỏi kinh ngạc, đây là Thượng Hương công chúa trước đây luôn hấp tấp dẫn theo một đám nữ kỵ binh khiến người Giang Đông đau đầu sao? Hoàn toàn cảm giác là một người khác.

Gã khẽ thở dài một tiếng trong lòng, Công chúa của bọn họ đã trưởng thành rồi, đây mới là người con gái đẹp nhất Giang Đông, lúc này. Tôn Thượng Hương sai thị nữ dâng trà lên, rồi mới mỉm cười hỏi:

- Lã Công tới Thành Đô khi nào? Chỉ có một mình Lã Công sao?

Lã Phạm vội khom người đáp:

- Vi thần tới đây ba ngày trước, vì bận công sự nên không đến thăm Công chúa trước, lần này tới Thành Đô, ngoài vi thần ra còn có Trưởng công tử của Trương quân sư, hắn là Phó sứ.

- Ra là thế.

Tôn Thượng Hương cười hỏi:

- Sao Trương công tử không đến gặp ta?

Lã Phạm nhất thời không biết trả lời thế nào, Trương Thừa không cùng đến với gã là vì có chút xấu hổ, năm đó Tôn Sách muốn thông gia với Trương Chiêu, gả muội muội Thượng Hương Hứa cho Trương Thừa, hai bên đều đã hứa hẹn, do Tôn Sách qua đời nên hôn sự này lại bị bỏ mặc đấy, Trương Chiêu cũng không nhắc tới.

Nhưng Lã Phạm là người trong cuộc, gã rất rõ căn nguyên hậu quả, Trương Chiêu rất muốn thông gia với Tôn thị, chỉ là Ngô lão phu nhân phản đối hôn sự này, bà thấy tuổi tác hai người chênh lệch hơn mười tuổi, không phù hợp, vì Ngô lão phu nhân phản đối nên Tôn Quyền cũng làm bộ như không biết, hơn nữa Tôn Quyền muốn thông gia với danh môn ở Ngô Quận là Cố thị, tức là con trai của Cố Ung, vì thế hôn sự này đã thất bại.

Chuyện này Tôn gia từ lâu đã không để ở trong lòng nữa, nhưng Trương gia vẫn không quên, Trương Thừa không chịu đi cùng mình, chứng tỏ trong lòng vẫn nhớ đến chuyện này, Lã Phạm gượng cười giải thích:

- Bởi vì ngày mai phải bàn bạc chuyện liên minh với phủ tướng quân, Trương công tử phải chuẩn bị rất nhiều tài liệu, cho nên không có thời gian tới bái kiến Công chúa, xin Công chúa thứ lỗi.

Tôn Thượng Hương cũng chỉ là buột miệng thì hỏi, chứ không để tâm, nàng cũng không biết trước đây giữa mình và Trương Thừa còn có hôn ước, tuy nhiên kể cả biết thì cũng chẳng có ý nghĩa gì, dù sao nàng đã được gả cho Lưu Cảnh từ lâu rồi. Tôn Thượng Hương hỏi tiếp:

- Mẫu thân của ta dạo này sức khỏe ra sao?

- Lão phu nhân mặc dù sức khỏe yếu, nhiều bệnh nhưng vấn đề không lớn, an dưỡng cẩn thận cũng sẽ trường thọ, xin Công chúa yên tâm, Ngô hầu và các tộc nhân khác đều khỏe, có cả thư lão phu nhân gửi Công chúa, Công chúa đã nhận được rồi chứ!

- Lưu tướng quân đã đưa cho ta, đa tạ Lã Công mang thư tới đây.

Im lặng một lát, Lã Phạm lại chậm rãi nói:

- Lần này vi thần đi sứ Thành Đô là phụng mệnh Ngô hầu, muốn kết minh với Châu Mục, hai nhà cùng chống lại Tào Tháo, nhưng ý của Ngô hầu là hai bên tốt nhất đạt được hiệp ước liên kết với tư thái bình đẳng, vì thế vi thần vẫn đang đàm phán với phủ tướng quân, chỉ có điều...

Không đợi Lã Phạm nói hết, Tôn Thượng Hương đã quyết đoán xua tay ngăn y lại, nàng nghiêm nghị nói:

- Ta hiểu ý của Lã Công, nhưng khi ta và phu quân thành hôn đã có ba chương ước pháp, ta tuyệt đối không tham gia vào việc giữa hai nhà Lưu – Tôn, nếu Lưu tướng quân nể mặt ta chiếu cố Giang Đông, đó là tâm ý của ngài, không liên quan đến ta, xin Lã Công chuyển lời đến huynh trưởng ta, ta là vợ của Lưu tướng quân, nếu nhất định muốn ta ra mặt, ta sẽ chỉ nghiêng về phía Lưu tướng quân, ngược lại gây bất lợi cho Giang Đông, do đó trước mặt ta tốt nhất đừng nói đến việc làm mọi người đều không vui.

Lã Phạm sau một lúc mới âm thầm thở dài, lời này gã cũng không dám nói với Ngô hầu…

Đêm đến, sau một cuộc ân ái triền miên, Lưu Cảnh cảm thấy cơ thể có chút mệt mỏi, hắn nhắm mắt lại, Tôn Thượng Hương thì như một con mèo lười biếng rúc sát vào người chồng, ánh đèn bên giường le lói, làm cho làn da nhẵn nhụi mà đàn hồi của nàng nổi lên một lớp sáng bóng mỡ màng, nàng cũng khép hờ hai mắt lại, còn đắm chìm trong sự vui sướng âm ỉ bên người.

Lưu Cảnh khẽ vuốt tóc nàng, dịu dàng nói:

- Chúng ta rất cố gắng rồi, trời xanh chắc sẽ cho chúng ta một đứa con thôi!

- Chàng vẫn chưa gắng sức đủ mà!

Tôn Thượng Hương hé miệng cười nói:

- Thiếp nghe đại tỷ nói, trước đây hai người để có được Trí nhi, đó mới gọi là vất vả, chàng hiện giờ là đang lười biếng thì có.

- Nàng muốn ta mệt chết à!

Lưu Cảnh trở mình ấn nàng xuống dưới người mình, hôn môi nàng, cười hì hì hỏi:

- Nương tử còn muốn nữa không?

Đôi mắt Tôn Thượng Hương như sao sáng, mơ màng, nàng khẽ gật đầu, Lưu Cảnh quay người thổi tắt đèn, lại một lần nữa chìm trong ân ái với Tôn Thượng Hương.

- Phu quân, hôm nay Lã Công tới thăm thiếp.

Trong bóng đêm, Tôn Thượng Hương khẽ nói.

- Ta biết, lúc ở Tương Dương y cũng nói với ta muốn tới thăm nàng.

Lưu Cảnh dùng giọng điệu cười nhạo nói tiếp:

- Nghe nói toàn thể già trẻ Giang Đông đều mong ngóng nàng có thể ôm con về thăm nhà mẹ đẻ.

Tôn Thượng Hương nhéo cánh tay hắn một cái, hờn dỗi nói:

- Chàng đang cười nhạo thiếp sao?

- Không có! Ta nào dám cười nhạo hiền thê.

- Tha cho chàng không dám đó!

Tôn Thượng Hương lại cúi đầu thở dài:

- Hôm nay ôm heo nhỏ, bỗng nhiên thiếp cũng muốn một đứa con gái, thiếp sẽ trang điểm cho nó như công chúa, thiếp còn dạy nó học nữa.

- Nàng không muốn dạy nó luyện võ ư?

Lưu Cảnh cười tiếp lời.

- Không dạy!

Tôn Thượng Hương lắc đầu.

- Không phải người đàn ông nào cũng sẽ giống phu quân ta, thích một cô gái luyện võ.

Lưu Cảnh thấy xúc động khó tả, hắn thương hại v**t v* khuôn mặt của Tôn Thượng Hương.

- Sẽ có mà, trời xanh nhất định sẽ cho chúng ta một đứa con gái.

- Vâng!

Tôn Thượng Hương đáp lại một tiếng, dụi mặt vào vai chồng, dịu dàng nói:

- Ngủ đi! Tối nay chàng rất mệt rồi.

Lưu Cảnh vẫn đang nghĩ đến Giang Đông, hôm nay hắn vừa nhận được tin tình báo, Trương Liêu dẫn năm mươi ngàn đại quân tấn công Hợp Phì, cứ như thế thì Giang Đông sẽ cấp thiếp hy vọng mình xuất binh, mâu thuẫn của quận Kỳ Xuân cũng tự nhiên được tháo gỡ dễ dàng.

Hắn vốn nghĩ rằng Tôn Thượng Hương sẽ nhắc chuyện kết minh Giang Đông với mình, không ngờ nàng không hề đề cập tới, khiến Lưu Cảnh vô cùng cảm động.

Hắn cúi đầu nhìn thê tử, thấy nàng đã ngủ liền cẩn thận đặt đầu nàng xuống gối, còn hôn lên má nàng, không lâu sau, hắn cũng chìm trong giấc ngủ thật say.
 
Binh Lâm Thiên Hạ
Chương 651: Xuất binh Hợp Phì


Sáng sớm ngày hôm sau, xe ngựa của Lưu Cảnh đã phủ Phiêu Kỵ tướng quân trong sự hộ tống của hơn một trăm thân vệ kỵ binh, đây là lần đầu tiên trong năm nay hắn tới nơi này.

Lúc này vừa bước qua giờ mão, trời vẫn còn chưa sáng rõ, bầu trời phía đông nhuộm đỏ ánh bình minh, từng đường ánh rạng đông xuyên qua tầng mây, bao phủ lên toàn bộ thành trì một tầng vàng óng.

Bên ngoài đại môn phủ tướng quân, liên tục có rất nhiều quan viên đến vào triều, mấy viên quan đang ân cần thăm hỏi, hàn huyên nói chuyện với nhau trước đại môn, lúc này có người hô:

- Châu Mục đến rồi!

Các quan viên lần lượt tránh đường, xe ngựa của Lưu Cảnh từ từ dừng lại, hắn bước xuống từ trên xe, gật đầu cười với đám đông, các quan cùng nhau tiến lên khom người thi lễ:

- Tham kiến Châu Mục!

- Sớm như vậy đã vội tới xuất triều, vất vả cho mọi người rồi.

Mọi người đều cười nói:

- Bọn ty chức đã quen rồi, trái lại Châu Mục nam chinh bắc chiến, tâm lo chuyện thiên hạ mới là vất vả thật sự.

Lưu Cảnh cười bước vào đại môn phủ tướng quân. Phủ tướng quân chính là châu nha của Ích Châu trước đây, qua mấy lần sửa chữa đã tạo nên khu kiến trúc gần năm trăm mẫu, khí thế khoáng đạt, bước vào đại môn sẽ thấy một quảng trường rộng lớn, ở giữa lập song khuyết, chính diện là Tập hiền đường của phủ tướng quân, trên thực tế chính là chính điện, hai bên là các quan sở.

Sau lưng đại đường nghị sự là nội đường nghị sự trước kia, giờ đổi tên là Bình Chương đài, cũng là nơi năm Thượng thư thảo luận chuyện chính vụ quân nước, xung quanh có mười ba kiến trúc tương đối nhỏ, đối diện với Thập tam Tào, là cơ quan thi hành cụ thể của Bình Chương đài.

Bên trái Bình Chương đài là quan phòng của Lưu Cảnh, tuy nhiên hôm nay Lưu Cảnh không đi thẳng vào quan phòng của mình, mà tới Bình Chương đài, hắn đã ký mệnh lệnh ở Hán Trung, tuyên bố thành lập chế độ năm Thượng Thư, nhưng đây vẫn là lần đầu tiên hắn tới Bình Chương đài.

Lưu Cảnh vừa bước vào Bình Chương đài đã chạm mặt Tư Mã Ý. Tư Mã Ý khẽ giật mình, vội tới thi lễ:

- Sao Châu Mục lại tới đây?

Lưu Cảnh cười đáp:

- Nghỉ ngơi ba ngày cũng đủ rồi, Trọng Đạt sau khi từ Tương Dương trở về không nghỉ ngơi đã sao?

- Vi thần cũng nghỉ một ngày, có điều công việc quá nhiều, vi thần được các vị Thượng thư mời đến nghị sự.

- Nói ra là ta đã đẩy những việc chính vụ vụn vặt cho mọi người rồi, ta thoải mái rồi nhưng các ngươi lại vất vả, nghĩ lại vẫn thấy có chút áy náy.

Lưu Cảnh mỉm cười nói.

Lúc này, sau lưng có tiếng nói vang vọng truyền tới:

- Châu Mục nên tập trung tinh lực suy xét thiên hạ đại sự, những việc chính vụ vụn vặt này để bọn ty chức gánh vác thay Châu Mục là được.

Lưu Cảnh quay đầu lại, hóa ra là Đổng Hòa liền cười gật đầu:

- Hóa ra là Đổng Thượng thư!

Đổng Hòa vội tiến đến thi lễ:

- Tham kiến Châu Mục!

Đổng Hòa trước đây là thủ lĩnh của Đông Châu sĩ ở Ba Thục, y đảm nhiệm chức một trong năm Thượng thư, chính là đại diện cho lợi ích của Đông Châu sĩ; Phí Quan lại đại diện cho lợi ích của phe bản thổ ở Ba Thục; Từ Thứ đại diện cho phe Giang Hạ trước đây; Tư Mã Ý đại diện cho phe phương bắc, còn Tưởng Uyển đại diện cho Kinh Châu hệ, năm Thượng thư đều có bối cảnh thế lực riêng. Là người giữ quyền lực cao nhất, mặc dù bản thân Lưu Cảnh không thích cục diện phân rõ phe phái thế này nhưng hắn cũng phải thích ứng với thực tại, cân bằng nhu cầu lợi ích các bên, nếu không nội bộ sẽ xảy ra tranh giành lợi ích, từ đó ảnh hưởng đến đại kế thiên hạ của hắn.

Lưu Cảnh hỏi Đổng Hòa:

- Mọi người đã tới chưa?

Đồng Hòa gật đầu:

- Hôm nay phải bàn bạc chuyện liên minh với Giang Đông, mọi người đến từ sáng sớm rồi, chiều qua Lã Phạm đã gửi một bức thư đến, tỏ ý muốn từ bỏ quận Kỳ Xuân, mau chóng kết minh, vì thế mọi người phải bàn bạc phương án cụ thể.

Lúc này, Tòng sự Phí Y bước nhanh lên, thi lễ với Lưu Cảnh rồi nói với Tư Mã Ý và Đổng Hòa:

- Đã đến giờ rồi, hai vị Thượng thư xin mời!

- Đang gấp rút rồi, chúng ta đi thôi! Hôm nay ta muốn dự thính một chút.

Lưu Cảnh cười ha hả, lững thững đi vào nội đường.

Trong nội đường bố trí trang trọng, bốn cột trụ lớn đứng sừng sững ở đại sảnh, treo những bức màn che cao mấy trượng, ở giữa đặt năm chiếc bàn hình bán nguyệt, trải đệm mềm, đây là chỗ ngồi của năm Thượng thư, phía sau còn có mấy chục chiếc bàn nhỏ, đó là vị trí của các Thương thư tòng sự và Thập tam Tào Tào lệnh cùng các chủ quan, thông thường chỉ có Thượng thư tòng sự ngồi, các chỗ khác đều trống, chỉ có một số nghị sự đặc biệt quan trọng thì bọn họ mới tham gia.

Ở phía trên bên trái chỗ ngồi của năm Thượng Thư, còn có một chiếc bàn rất lớn, đó là chỗ ngồi của Lưu Cảnh, trên bàn trải gấm vàng óng ánh và đặt hai con dấu của Châu Mục. Đương nhiên, chiếc bàn này chỉ có ý nghĩa tượng trưng, thực ra cũng là đặc điểm của chính trị Hán Đường, Hoàng đế không quản chính vụ, thực quyền chính vụ nằm trong tay Tướng quốc.

Nhưng cũng không phải hoàn toàn chiếm hết quyền lực của Lưu Cảnh, hôm nay chủ yếu thảo luận việc liên minh với Giang Đông, vì thế hôm qua Từ Thứ đã đặc biệt tới bái kiến Lưu Cảnh, trưng cầu ý kiến của hắn, hơn nữa quyết nghị liên minh cuối cùng vẫn cần Lưu Cảnh ký tên mới có thể thông qua.

Lưu Cảnh ngồi xuống chỗ của mình, hắn không can thiệp vào việc nghị sự của năm Thượng thư, đây là vấn đề nguyên tắc, hắn cũng không muốn phả bỏ nguyên tắc này, lúc này, năm vị Thượng thư đều đang ngồi, nghị sự vẫn chưa chính thức bắt đầu.

Lưu Cảnh cười nói:

- Nghị sự còn chưa bắt đầu thì ta nói với mọi người một tin trước, Tào Tháo đã phái Trương Liêu dẫn năm mươi ngàn quân phản công Hợp Phì, hiện tại tình thế ở Hợp Phì căng thẳng, Tôn Quyền nóng lòng muốn chúng ta xuất binh trợ chiến.

Nội đường lập tức xôn xao tiếng bàn luận, mọi người giờ mới biết tại sao sứ giả Giang Đông lại nóng lòng muốn kết minh, hóa ra là Hợp Phì xảy ra chiến sự, lúc này, Phí Quan hỏi:

- Xin hỏi Châu Mục, tin tức này có từ lúc nào?

- Đây là tin tức tối qua ta vừa nhận được, nghe nói Tôn Quyền đã đích thân dẫn quân tới Hợp Phì, chiến cục hẳn là bất lợi cho Giang Đông, cho nên Tôn Quyền mới nóng ruột muốn kết minh.

- Vậy Châu Mục quyết định xuất binh sao?

Tưởng Uyển lại tiếp lời hỏi.

Lưu Cảnh cười đáp:

- Việc này phải xem chư vị và sứ giả Giang Đông đàm phán thế nào, nếu có thể thỏa đàm, ta sẽ xuất binh, ngoài ra hôm qua ta cũng nói với Nguyên Trực, hồ Bành Trạch đe dọa khá lớn tới Sài Tang, huyện Bành Trạch có thể giao trả cho Giang Đông, nhưng hồ Bành Trạch thì không thể trả, hiện giờ tình hình đã thay đổi, Giang Đông đã chủ động yêu cầu kết minh, vậy thì ngoài đường thủy Trường Giang ở phía đông quận Kỳ Xuân ra, các vùng đất còn lại đều không nhượng bộ.

……

Việc kết minh của hai nhà Tôn – Lưu do Tôn Quyền nhượng bộ nên cuối cùng đã đi đến nhất trí, Kinh Châu giữ được quận Kỳ Xuân, huyện Bành Trạch và hồ Bành Trạch, cuối cùng chỉ nhượng bộ rất ít, trả lại đường thủy Trường Giang dài ba trăm dặm ở phía đông quận Kỳ Xuân cho Giang Đông.

Kết minh còn cần chủ công hai nhà ký tên đóng ấn, đi đi về về ít nhất mất mấy tháng, trong khi tình thế của Hợp Phì đã cực kỳ khẩn trương, Lưu Cảnh liền đồng ý để thủy quân Kinh Châu đi trước một bước, chạy tới cứu viện Hợp Phì.

Sáng nay, trên mặt sông phía đông Sài Tang, một đội thuyền gồm năm trăm chiến thuyền đang xếp thành hàng chạy trên mặt sông, đội tàu có thanh thế lớn, kéo dài mấy chục dặm, đây là hai mươi ngàn thủy quân Kinh Châu do Cam Ninh dẫn đầu tới Hợp Phì trợ giúp quân Giang Đông theo lệnh của Lưu Cảnh.

Trên chiếc thuyền đầu tiên, Cam Ninh tay cầm chiến đao nhìn chăm chú vào mặt sông mênh mông, y trở về Giang Hạ chưa đến một tháng, lại tiếp tục khởi hành đi Hợp Phì, có lẽ trải qua cuộc chiến Hợp Phì, y vô cùng lo lắng đối với cuộc phản công Hợp Phì lần này của Tào Tháo, không biết Hổ Báo kỵ của quân Tào có tham chiến hay không, nếu Hổ Báo kỵ cũng ở trong đó thì tình thế của quân Giang Đông quả thật bất lợi.

Đang trầm tư thì có binh lính chỉ vào mặt sông hét lên:

- Cam tướng quân, bên kia hình như có thuyền đang gọi chúng ta!

Cam Ninh đi đến mạn thuyền, chỉ thấy một con thuyền năm trăm thạch đang quay đầu, trên cột buồm treo quân kỳ của quân Giang Đông, một mặt hồng kỳ đang tung bay, đây là cờ hiệu, tức là thỉnh cầu lên thuyền, Cam Ninh lập tức ra lệnh:

- Đi chậm lại, tiếp đối phương lên thuyền!

Chiến thuyền từ từ đi chậm lại, không lâu sau, con thuyền của Giang Đông đã tới gần, một tên lính báo tin trèo lên thuyền, gã tiến lên quỳ một gối thi lễ:

- Ty chức là quân hầu của quân Giang Đông, phụng mệnh của Ngô hầu tới Giang Hạ truyền tin.

Nói xong, gã rút một ống thư ra, hai tay dâng lên Cam Ninh, đây là thư tay do Lỗ Túc viết cho Cam Ninh, đương nhiên, nếu là thư tay của Tôn Quyền thì nên là viết cho Lưu Cảnh, rõ ràng thời gian đã không kịp nữa.

Cam Ninh mở ống thư ra xem, giọng điệu của Lỗ Túc trong thư khá cấp thiết, hy vọng y có thể mau chóng xuất binh chi viện Hợp Phì, Hợp Phì đang trong tình thế nguy cấp.

Điều này khiến Cam Ninh không khỏi giật mình, tại sao Lỗ Túc lại vội vã như vậy? Còn nữa tại sao tình thế của Hợp Phì lại nguy cấp, tại sao không phải là Tiếu huyện hay Thọ Xuân? Trong thư không có câu trả lời, Cam Ninh liền hỏi tên quân hầu đưa thư:

- Quân Giang Đông đã từ bỏ Tiếu huyện và Thọ Xuân chưa?

Quân hầu thở dài:

- Tiếu Huyện đã từ bỏ rồi, nhưng Thọ Xuân lại là binh bại, Hoàng tướng quân ở Thọ Xuân đã bị quân Tào hỏa công, chiến thuyền thiêu rụi hầu như không còn, tổn thật hàng chục ngàn người, Hoàng tướng quân bị buộc phải rút về Hợp Phì.

- Thế Ngô hầu đã tới đâu rồi?

Cam Ninh lại hỏi.

- Khi ty chức xuất phát thì Ngô hầu đang ở Nhu Tu Thủy, tiến về phía Hợp Phì, vì sợ quân Tào hỏa công nên không đi đường thủy, chiến thuyền đều dừng lại ở Nhu Tu, đi theo đường bộ tới Hợp Phì.

- Ngô hầu dẫn theo bao nhiêu quân đội?

- Chừng một trăm ngàn quân.

Nghe thấy Tôn Quyền dẫn một trăm ngàn quân đi cứu viện Hợp Phì, Cam Ninh thở phào nhẹ nhõm, y cười nói với quân hầu:

- Yên tâm đi! Ta chính là tới Hợp Phì để trợ giúp quân Giang Đông, ta sẽ mau chóng đến.

- Đa tạ Cam tướng quân!

Quân hầu xuống thuyền, lúc này, Thẩm Di chậm rãi bước tới cạnh Cam Ninh thì thầm:

- Tướng quân, Tôn Quyền không dám đi thuyền lên phía bắc mà lại trông ngóng thủy quân chúng ta, điều này hình như có gì đó khó lường!

- Việc này ta biết!

Cam Ninh thở dài:

- Tôn Quyền không phải bụng dạ khó lường, mà là việc bày rõ trước mắt, giữ Hợp Phì phải cần thủy quân, gã lại sợ hỏa công không dám đi thuyền, trông cậy chúng ta tới, có điều quân Giang Đông nếu trận này bại, e rằng không bao giờ dám bắc chinh nữa, bất lợi đối với việc chia sẻ áp lực của chúng ta, xét từ đại cục, chúng ta nhất định phải ném sự bất mãn với quân Giang Đông đi.

Nói đến đây, Cam Ninh lập tức hạ lệnh:

- Truyền lệnh của ta, tốc độ chiến thuyền tăng thêm ba mươi phần trăm nữa.

Tốc độ chiến thuyền của thủy quân Kinh Châu vốn chạy đều đặn trên mặt sông, nay một lần nữa tăng tốc, Cam Ninh đã thay đổi kế hoạch tiếp viện, trước đây dự tính tám ngày tới Hợp Phì, nay đổi thành năm ngày, thủy quân Kinh Châu chạy ngày đêm không ngừng nhỉ, nhưng dù sao đường xá xa xôi, mà lúc này, nguy cơ của Hợp Phì đã vô cùng cấp bách.
 
Back
Top Bottom