Cập nhật mới

Tiên Hiệp Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên

Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 100: Cơ duyên


Thật ra, người khốn đốn nhất những ngày này chính là đệ tử phòng hộ nhà họ Phong.

Đầu tiên, họ bị Thiên Túc thượng tiên tìm đến tận cửa, chưa gì đã ném ra hai chữ “trừ hoạ” rồi thật sự thanh trừng nhà bọn họ đến cạn khô không còn gì và rời đi.

Tiếp đó, họ gặp phải Linh Vương — vị ấy mân mê mặt nạ, tay cầm kiếm bạc chạm trổ hoa văn, đáp người xuống một cành cây cao phía bên ngoài sân nhà họ Phong, rảo mắt nhìn khắp cả tiên môn rộng lớn giờ đây không sót lại một chút tà khí nào, sau đấy để lại một lời “xin chia buồn” rồi cũng ngoảnh bước rời đi.

Chẳng đến một lúc sau, ngoài cửa phát động tĩnh thêm lần nữa.

Đệ tử phòng hộ ra cửa xem thì thấy…

Lại là Thiên Túc.

Lại là Linh Vương.

Phải mà không mang nỗi sợ tự nhiên kèm với bị áp lực chế ngự nặng nề thì họ đã muốn bật thốt, “Hai vị thần tiên có thể đi tra tấn gia tộc nào khác được không…”

Nhưng sau cùng, họ vẫn chẳng cả gan nói ra câu ấy mà chỉ cúi dập đầu chào hai vị khách tới. Thế mà chưa kịp đứng thẳng người dậy, họ đã nghe hai người cất giọng nghiêm nghị, “Đã có người tới rồi?”

“…”

Nói tóm lại, các đệ tử nhà họ Phong vừa ngẩng đầu lên đã trưng một vẻ mặt căng thẳng đến không thể căng hơn được nữa. Cũng may, hai vị nọ không tra tấn họ quá lâu mà chỉ lướt qua đã rõ mọi việc. Hai người sa sầm nét mặt rồi rời đi.

Hai người rời khỏi sau chót đó chính là Tiêu Phục Huyên và Ô Hành Tuyết.

Tất cả tàn cuộc ở nhà họ Phong đã được dọn dẹp sạch sẽ, thứ duy nhất còn sót lại là kiếm ý của Thiên Túc thượng tiên. Thiên Túc sẽ không nghiễm nhiên đi càn quét một tiên môn như vậy, nên chắc chắn hành động này là phụng chỉ từ thiên chiếu.

Hoá thân linh thức của hai người ngừng bước bên ngoại ô thành Mộng Đô, hai bóng người một đen một trắng đứng giữa đường núi.

Tiêu Phục Huyên vươn tay đón lấy luồng gió thoảng, vân vê rồi ngửi nó một chút để đoán định tung tích Linh Vương và Thiên Túc của dòng rối loạn. “Họ cũng đi trên con đường này, một trước một sau, đi về phía bắc.”

“Lần lỡ làng này quá khéo rồi, chỉ cần nhanh hay chậm một bước là hai phe sẽ chạm trán nhau ngay,” Ô Hành Tuyết vừa nói vừa nheo mày, nhưng khi kết câu lại muốn bật cười. Có điều chẳng mấy mà nét cười kia đã nhạt nhoà hẳn đi, chàng nghiêm giọng, “Ý đồ lại chẳng rõ ràng quá đi, nhà họ Phong bị diệt thì khởi nguồn của dòng rối loạn cũng bị xoá sạch ngay lập tức.”

Nguồn cơn ra đời biến mất, sự tồn tại của dòng thời gian này trở nên mơ hồ — làm gì có ai nguyện lòng thừa nhận bản thân chỉ là một ảo ảnh phản chiếu, người nào chẳng cảm thấy sự tồn tại bản thân mới là chân thật.

Miễn không còn bằng chứng đủ thuyết phục, bất kỳ ai cũng có thể chỉ vào dòng rối loạn này và nói “Đây là hiện thế.”.

Ô Hành Tuyết ngước mắt lên nhìn chín tầng trời cao, phía trên đó có một Linh đài đã không còn tồn tại trong hiện thế.

Năm xưa, chàng tưởng rằng Thiên đạo ngầm chấp nhận để dòng rối loạn sinh sôi loạn lạc nhằm mục đích tạo mối hiểm hoạ chung cho thế gian, nhờ đó mới được hưởng hương hoả từ năm này sang năm nọ, để Linh đài tiếp tục trường tồn mãi mãi.

Mà giờ đây chàng mới bất chợt nhận ra, đó hẳn chỉ là một đường lui mà Thiên đạo vĩnh viễn giữ lại cho mình mà thôi.

Chỉ cần còn một dòng thời gian rối loạn thì cho dù Tiên Đô hiện thế sụp đổ, Linh đài có bị huỷ diệt đi chăng nữa cũng không thành vấn đề.

Vì nó chỉ cần chuyển dần dòng rối loạn thành “hiện thế”, khiến Linh Vương nghĩ hiện thế chính là dòng rối loạn và diệt trừ, thế là hết thảy lại quy về bình yên.

“Trước đây ta đã cảm thấy thật kỳ lạ,” Ô Hành Tuyết thả nhẹ giọng. “Khi ta vừa rời khỏi Thương Lang Bắc Vực, nhìn thấy những toà thành và thị trấn dưới nhân gian thì cảm giác ấy càng rõ rệt hơn. Ta thắc mắc rằng nếu Tiên Đô đã sụp đổ, Linh đài không còn, tất cả thần tiên đều qua đời, vậy thì những tượng thần dưới nhân gian đó chứa linh của ai?”

“Mà chính vì tượng thần có linh nên bá tánh vẫn dâng hương thắp đèn nghi ngút như cũ. Vậy số hương hoả đó đưa về nơi nào?”

Người ta nói thiện ác sống dựa vào nhau, hễ có phúc thì phải có hoạ, có tiên thì phải có ma. Đây là lẽ thường với Thiên đạo.

Nhưng hai lăm năm trước, khi Tiên Đô sụp đổ và linh khí tràn vào Chiếu Dạ thành, tại sao những tà ma tề tựu nơi đó không chết sạch hết đi mà vẫn sống cả lũ như vậy?

Trong hai lăm năm này, tà ma mỗi ngày một thêm lộng hành, tiên môn dưới nhân gian không còn đương đầu nổi. Những toà thành chính càng lúc càng thu hẹp, người sống càng ngày càng ít. Cả nhân gian chìm trong mây mù ảm đạm, chẳng còn một ngày xanh trong nắng ấm. Tình huống này sao có thể gọi là lẽ thường thiện và ác sống dựa vào nhau?

“Ta từng nghĩ thế giới này quá mức kỳ lạ, đến mức chẳng hề có đạo lý. Mà giờ đây ngẫm lại…” Ô Hành Tuyết nói tiếp như đang chế giễu, “thì ra đạo lý đang ở đây.”

Nơi đây có một dòng rối loạn đang sắp trở thành “hiện thế”, trong dòng rối loạn này có một Tiên Đô còn nguyên vẹn.

Tượng thần ở hiện thế vẫn có linh là do chúng tiên đang tồn tại trong dòng rối loạn.

Và số hương hoả dạt dào mà bá tánh dâng cúng ở hiện thế cũng chuyển hết sang bên này.

Bởi vậy, tà ma ở hiện thế không chết hết vào hai lăm năm trước, mà trái lại, chỉ trong hai lăm năm chúng đã vượt xa các tiên môn ở nhân gian. Nguyên do nằm ở sự “cân bằng” được hình thành không chỉ đối với các tiên môn ở hiện thế mà còn có Linh đài trong dòng rối loạn này.

“Nhưng tại sao,” Ô Hành Tuyết thu lại nét chế giễu, dời mắt sang nhìn Tiêu Phục Huyên và nói, “Tại sao nó nói cái gì sống thì cái đó nên sống, nói cái gì đáng chết thì cái đó phải chết, nó nói thiện ác phải sống dựa vào nhau thì cần xác người la liệt. Tại sao nó không muốn biến mất thì có thể phất tay đổi một nhân gian khác?”

Tiêu Phục Huyên nhìn đôi mắt đượm đầy mỏi mệt của chàng rồi nghiêng đầu sang hôn vào đuôi mắt chàng và thì thầm, “Vậy thì cho nó biến mất.”

“Đã huỷ diệt Tiên Đô Linh đài một lần thì có thể huỷ diệt lần thứ hai.”

Tim Ô Hành Tuyết trật nhịp.

Chàng chợt nhớ ra, dù nhà họ Phong vạch ra dòng rối loạn này nhưng vẫn còn một ngọn nguồn mơ hồ hơn, Hoa Tín. Thậm chí ngoài Hoa Tín ra có lẽ còn có những nhân quả mờ ám khác.

Giờ chỉ cần có thể khiến Linh Vương dòng rối loạn này nảy lòng nghi ngờ thì vẫn còn cứu vãn được.

***

Trên đường đi về phương bắc, Linh Vương chợt bị gió cát táp nhoè mắt, phải nghiêng đầu đi chớp mắt.

Đến khi mở mắt ra trở lại, y cảm thấy có thứ gì đó cà qua mặt mình, không để ý thì nó chẳng khác nào chiếc lá bị gió thổi bay. Nhưng y nhấc khẽ tay, giữa hai ngón tay thon dài thẳng thóm kẹp một tấm bùa thư.

Lúc đầu khi mới từ Tiên Đô xuống, y có nhận hai tấm bùa thư như vậy. Bức thư thứ nhất do Thiên Túc gửi, nhắn rằng y sẽ mất thêm thời gian ở nhà họ Phong.

Bức thư thứ hai vẫn là nét chữ quen thuộc của Thiên Túc, viết ngắn gọn súc tích: Tới nhà họ Phong.

Chỉ với nội dung hai bức thư khó lòng đoán được vấn đề, Linh Vương không lấy làm nghi ngờ nên tạm thời bỏ qua việc điều tra dòng rối loạn để chuyển hướng sang nhà họ Phong.

Ngờ đâu khi đến nhà họ Phong, y không thấy bóng dáng Thiên Túc đâu, người kia xong xuôi mọi việc và đi mất rồi.

Ngay lập tức, Linh Vương cảm thấy thật kỳ lạ, bởi cho cùng xưa nay Thiên Túc chưa bao giờ lỡ hẹn.

Y xem lại hai tấm bùa thư kia mới phát hiện có chỗ khác biệt rất nhỏ. Hai bức thư này không xuất phát từ cùng một người.

Thế nhưng nét chữ này chắc chắn là chữ của Tiêu Phục Huyên, y không thể nhầm được.

Suốt dọc đường đi, Linh Vương thấy rất đáng ngờ. Y định đi tìm thẳng Thiên Túc, ngờ đâu giữa đường lại nhận được một tấm bùa thư mới.

Y mở bức thư ra, bên trong vẫn là nét chữ của Tiêu Phục Huyên, trên đó viết một địa điểm — Thung lũng Đại Bi.

“Thung lũng Đại Bi…” Y nhỏ giọng lẩm bẩm.

Nơi này đặt dưới sự quản lý của Vân Hãi, hàng năm ngựa xe nô nức, miếu thờ trước lối vào thung lũng nhận hương hoả dồi dào, rõ ràng là một địa danh khá tốt. Vậy bức thư nhắc đến nơi này nhằm mục đích gì?

Linh Vương do dự giây lát rồi siết chặt bức thư, xoay người cất bước đi đến thung lũng Đại Bi.

***

Cùng lúc đó, trên Tiên Đô của dòng thời gian rối loạn, có người gõ cửa ngoài cổng bạch ngọc của Toạ Xuân Phong.

Phương Trữ nghe tiếng động bèn quay sang, thấy một tiên quan tuấn tú vận áo bào xanh nhạt đang đứng bên cạnh cửa, trên tay hắn là hai bầu rượu bằng ngọc đang gõ vào nhau phát ra tiếng leng keng.

Thoạt nhìn, Phương Trữ thấy người tiên nhân này khá quen nhưng chưa kịp nhớ ra đã từng gặp ở đâu. Mãi đến khi nghe hai tiểu đồng tử ở Toạ Xuân Phong hô to, “Vân Hãi đại nhân.”

Nghe thấy cái tên “Vân Hãi”, Phương Trữ thất kinh. Bấy giờ hắn mới nhớ ra người này có gương mặt giống hệt tà ma bị trấn áp bên dưới lòng đất thung lũng Đại Bi.

Chẳng qua tà ma kia mang vết sẹo to và dài che mất một nửa mặt nên không nhìn rõ dung mạo vốn dĩ được nữa. Còn nửa gương mặt vẹn nguyên trắng bệch như tờ giấy, khác xa vẻ sống động của sinh linh trước mắt đây.

Hai tiểu đồng tử lon ton chạy ra đón người, cất giọng thắc mắc, “Sao hôm nay đại nhân ghé thăm còn gõ cửa vậy, trước giờ người đều trực tiếp gọi cơ mà?”

Vân Hãi lắc đầu, nói, “Chỉ trách ta ở lì trên Linh đài nhiều ngày liền chán quá nên bị nhiễm thói xấu này của Tiên thủ đại nhân.”

Tiểu đồng tử săm soi hắn một phen, ngờ vực hỏi, “Linh đài… chán hở?”

Vân Hãi gật gù. “Chán, cực kỳ chán, tiên sứ đồng tử ai nấy đều như ông cụ non.”

Tiểu đồng tử ra chiều hớn hở, xong lại tiếp tục tò mò hỏi, “Nhưng trông đại nhân vui vẻ thế mà, người đang chán à?”

Vân Hãi chỉ thẳng mặt hai tiểu đồng tử và nói, “Ngậm máu phun người.”

Nói xong, hắn quét mắt một vòng rồi hỏi, “Đại nhân nhà mấy đứa đâu? Chắc không phải bị Thiên Túc đại nhân bắt đi nữa rồi chứ…”

Tiểu đồng tử nói, “Ưm, đại nhân nhận một bức thư từ Thiên Túc đại nhân rồi bảo có việc cần làm.”

Vân Hãi châm ngòi, “Không dắt hai đứa theo?”

Tiểu đồng tử mếu máo, “Không dắt theo.”

Vân Hãi: “Thế thì toi rồi, đại nhân hai đứa chê hai đứa rồi, không thôi thì theo ta về phủ đi. Mấy tiểu đồng tử chỗ ta đứa nào cũng một kiểu như tạc vị Tiên thủ đại nhân nào đó, thậm chí còn chả biết cười.”

Tiểu đồng tử lắc đầu nguầy nguậy. “Không được, chúng ta mang trọng trách trên người.”

“Trọng trách? Trọng trách gì?”

“Đây. Thiên Túc và đại nhân nhặt một người về, giờ chúng ta phải trông chừng.” Tiểu đồng tử chỉ về phía Phương Trữ.

Vân Hãi đứng thẳng dậy và nhìn sang.

Hắn vốn tính thoải mái, nhấc bầu rượu hướng về phía Phương Trữ và nói, “Nếu đại nhân các ngươi không ở đây thì ta với hắn nhâm nhi trước vài chung cũng được.”

Phương Trữ: “…”

Song cuối cùng, Vân Hãi cũng không có cơ hội uống rượu cùng người lạ. Hắn vừa toan bước qua ngạch cửa thì nhận được một phong thư từ phủ mình gửi đến.

Hoa văn trên bức thư kia rất đặc biệt, chỉ nhìn qua Vân Hãi đã biết có chính sự — hễ nhận được bùa thư như vậy chứng tỏ có việc xảy ra ở nơi hắn cai quản và cần hắn xuống phàm giải quyết.

Mà nơi hắn cai quản có tên thung lũng Đại Bi.

Tiểu đồng thử thấy nét mặt nghiêm túc của hắn bèn hỏi, “Đại nhân có uống rượu không ạ? Nếu uống thì để chúng ta chuẩn bị chung ngọc.”

Vân Hãi nói, “E là hôm nay không uống được rồi, hẹn hôm khác vậy. Giờ ta phải xuống nhân gian, rượu này đưa cho mấy đứa.”

Hắn đưa hai bầu rượu ngọc cho tiểu đồng tử rồi xoay lưng rời khỏi phủ, chỉ trong chớp mắt đã tan biến nhẹ nhàng như làn khói.

Một lát sau, căn miếu dồi dào hương hoả trong thung lũng Đại Bi dưới nhân gian xuất hiện một tà áo xanh.

Căn miếu trước lối vào thung lũng Đại Bi chưa bao giờ dựng tượng thần, bởi vậy những bá tánh đến dâng hương có đứng bên cạnh Vân Hãi đi nữa cũng không biết đây chính là vị thần tiên cai quản nơi này.

Hơn nữa, tạm thời bọn họ cũng không có tâm trí đâu mà bận tâm, vì sự chú ý của tất cả đều đang dồn vào cái hố khổng lồ sụp trên nền đất…

Động đất thình lình nổ ra ở thung lũng Đại Bi, khiến cho sàn ngôi miếu nứt toạc ra thành một lỗ sâu đen ngòm, và một số dân thường đã vô tình rơi xuống dưới.

Nếu chuyện này xảy ra ở bên ngoài miếu hoặc trên đường núi thì cũng không cần Vân Hãi phải đích thân xuất hiện. Khốn nỗi nó lại ngay giữa miếu thờ nên vừa gây sự chú ý vừa trông như điềm gở.

Thà hắn không tới thì thôi, chứ vừa tới đã phát hiện bên dưới hang động này có gì đó khác thường, có cả… mùi hương của trận cục tà quái.

Nếu đã có thứ dị thường như này xuất hiện ở nơi hắn cai quản thì tất nhiên hắn không thể ngoảnh mặt làm ngơ.

Vì vậy, Vân Hãi tự nhận mình là đệ tử nhà họ Hoa tình cờ đi ngang qua đây, đẩy những bá tánh đứng nhòm ngó xung quanh sang bên rồi nhảy xuống đáy động. Một cú nhảy này đưa hắn xuống lòng đất dưới đáy thung lũng Đại Bi.

Vừa đứng thẳng người dậy, hắn thấy một pho tượng thần của bản thân, bức tượng rủ mắt nhìn xuống, một tay giương cờ phướn, một tay nâng cành hoa. Đoá hoa ở đầu cành che khuất một nửa gương mặt.

Vân Hãi đứng ngẩn ngơ trước tượng thần một lúc vẫn chưa hoàn hồn.

Sau hồi lâu, hắn mới từ từ nhíu mày. Hắn thân là sơn thần thung lũng Đại Bi mà còn không biết bên dưới đáy thung lũng có một tượng thần của chính mình.

Tượng thần này ở đâu ra? Do ai dựng? Tại sao nó ở bên dưới lòng đất…

Lòng Vân Hãi tràn đầy hoài nghi, hắn bước quanh tượng thần một vòng, duỗi tay chạm vào ấn thờ phía sau bức tượng. Không biết ai là người khắc ấn mà khi ngón tay hắn chạm vào thì chợt thấy con tim mình lạc nhịp vô cớ.

Khi hắn đứng thẳng dậy thì thấy có gió lộng tới từ sâu bên trong, mang theo mùi máu tanh nhàn nhạt.

“Thật lạ…”

Vân Hãi thì thầm, tiếp đó, hắn phóng mình vào sâu trong lòng thung lũng nhanh như chớp.

Mười dặm thung lũng với hắn chỉ là vài bước chân. Hắn chẳng nán lại nửa bước dọc đường mà đi thẳng một mạch đến thâm cùng sâu thẳm của thung lũng.

Trong tiếng gió rít thê lương dưới đáy thung lũng Đại Bi, hắn trông thấy đại trận “dùng mệnh nuôi mệnh” được người che giấu.
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 101: Cản trở


Vân Hãi chưa bao giờ chứng kiến trận cục nào giống vậy.

Ở chính giữa đại trận là một cái hố sâu hoắm, dây leo xanh tốt um tùm đan chằng chịt vào nhau thành lưới, lấp kín miệng hố sâu. Ở dưới đáy thung lũng Đại Bi không có ánh sáng mặt trời, vậy mà số dây leo kia lại trổ cành đơm hoa tươi non mơn mởn, tràn trề sức sống.

Vân Hãi đứng cách hố sâu một quãng tương đối, hắn giữ nguyên vị trí đứng nhìn mãi mà không bước tới gần.

Hồi lâu sau, hắn mới hoàn hồn, thấp giọng lẩm bẩm, “Thật quái lạ…”

Rõ ràng hắn chưa từng nhìn thấy trận cục giống vậy, mà thâm tâm lại tỏ ý kháng cự không muốn tới gần, giống như có thứ gì đó đang bị chôn bên dưới hố sâu.

Thật quái lạ.

Vân Hãi bật cười tự giễu, bụng nhủ thầm mình sống càng lâu càng tiến hoá lùi. Trên đời này có loại tà ma yêu đạo nào mình chưa từng gặp, vậy mà giờ lại chần chờ trước một trận cục huyền ảo ma mị.

“Nếu để Tiên thủ đại nhân nào đó biết được, thì e là nếu người không nói thẳng mặt cũng sẽ âm thầm đánh giá ta là loại đệ tử bỏ đi —” hắn lắc đầu, tự thầm thì với chính mình, đồng thời bước đến bên cạnh dây leo và huơ mũi chân đẩy những cành hoa mọc ra từ sợi dây leo ra.

Từ kẽ hở giữa những cành hoa đó, hắn nhìn vào bên trong hố sâu.

“Trống không?” Vân Hãi kinh ngạc.

Hắn vén áo bào, hạ người ngồi xuống, đẩy những cành hoa sang bên trong sự ngờ vực hòng nhìn kỹ hơn chút nữa. Dưới hố sâu thật sự không chôn thứ gì cả…

Không người, không xương, không có bất cứ đồ vật nào khả dĩ lập được trận. Bên dưới chỉ có những cành dây leo xoắn vặn một cách kỳ dị.

Trung tâm trận cục rỗng không, chỉ nuôi một mớ cành hoa dây leo… để làm gì?

Vân Hãi suy ngẫm, đoạn rút ra một tấm bùa viết thư trắng trơn từ trong tay áo.

Giữa hư không, hắn vung ra một cây bút và viết chữ lên tấm bùa thư:

“Ta thật hối hận vì ngày thường mãi lười biếng, để giờ đây gặp phải một trận cục bên dưới thung lũng Đại Bi nhưng không phát hiện được manh mối, chỉ đành thỉnh cầu Tiên thủ chỉ điểm đôi lời…”

Hiển nhiên là hắn có thể tự mình truy tìm ngọn nguồn sự việc, nhưng thật đáng tiếc nếu để vuột mất một cơ hội được hỏi ý. Xưa giờ hắn luôn vờ vịt như vậy, làm bộ không biết để gửi một tấm bùa thư lên Linh đài, rồi sau đó có thể lừa Tiên thủ đại nhân đóng vai “tiên sinh ở đệ tử đường” thêm lần nữa.

Khổ nỗi dạo gần đây diễn cùng vở tuồng tận hai lần, có hơi nhiều.

Vân Hãi tư lự rồi bổ sung thêm một câu ở mặt sau, “Hết lần này, ta nhất định sẽ sửa đổi tật lười biếng của mình.”

Hắn kẹp tấm bùa giữa hai ngón tay, vừa định vung thư đi thì chợt ngửi thấy mùi gì đó. Mùi hương này lan ra từ gốc rễ sâu bên dưới đám dây leo, gồm mùi máu kèm với một hương thoang thoảng nào đó nữa.

Ngửi được mùi hương ấy, Vân Hãi bỗng thấy kinh ngạc.

Hắn cứ cảm thấy mùi hương kia có phần quen thuộc mà chưa thể nhớ ra rốt cuộc từng ngửi mùi vị đó ở đâu. Song hắn đã rụt bức thư sắp gửi đi trở về trong vô thức.

Ngay tức khắc đó, đám dây leo chằng chịt thình lình chuyển động!

Có lẽ lá bùa thư được viết ra ban nãy đã toả tiên khí linh khí ra bên ngoài và k1ch thích đám dây leo kia. Vừa nghe tiếng gió gầm rít, đám dây leo như sống lại, vun vút lao tới chẳng khác nào một bầy mãng xà!

“Chúng bây tự tìm đấy nhé!” Vân Hãi nói, đồng thời vung tay tung một chiêu hung mãnh.

Hắn lách mình xuyên qua đám dây leo như một chú rồng uốn lượn, áo bào xanh tung bay tựa làn khói bị gió cuốn tan giữa rừng thẳm. Nơi hắn lướt qua, đám dây leo xanh tốt lập tức đông cứng lại, tiếp đó nứt toạc thành vô số vệt sâu hoắm.

Từ trong những vết nứt đó, tà khí nồng nặc tràn ra ngoài kèm với tiếng kêu thét hỗn loạn.

Tiếng thét đó pha tạp từ nam đến nữ, già đến trẻ, âm thanh đa dạng khiến người nghe tê tái đầu óc.

Vân Hãi tức thì sa sầm nét mặt.

Hắn đã đoán ra trận cục này là loại gì — có một số loại trận dùng cành hoa và dây leo với tác dụng cộng sinh, có ai đó đã dùng linh, xương, máu, thịt để nuôi đám hoa bên dưới hố này, qua đó cung phụng cho tính mạng một người nào chưa rõ.

Thoạt nhìn, trận cục bên dưới đáy thung lũng Đại Bi này được nuôi bằng mệnh của người lập trận. Song đám dây leo hút máu thịt linh phách nhiều đâm quen nên đâu chịu ở yên một chỗ. Nếu trận chỉ vận hành trong một hai ngày thì không nói, đằng này nó tồn tại từ năm này sang tháng nọ, khiến cho đám cành cây kia mỗi lúc một tham lam, càng ngày càng dễ đói. Để rồi khi chúng phát rồ lên lại hút đi tàn hồn toái linh của rất nhiều người ghé ngang qua khu vực này hòng tiếp tục cuộc sống của mình.

Bởi vậy mới có tiếng thét gào inh ỏi phát ra từ đám dây leo.

Thật không ngờ, hắn đã trông coi thung lũng Đại Bi ngần ấy thời gian, mà đến bây giờ mới phát hiện thứ này được bày bố ngay bên dưới thung lũng Đại Bi!

Tất nhiên Vân Hãi không thể để nó tiếp tục vận hành vô tội vạ. Hắn lách mình, phóng thẳng tới vị trí trung tâm trận cục như một mũi tên bén nhọn. Mu bàn tay hắn quét ngang nền trời, một lá cờ phiến xé không hiện ra.

Dây leo quét đến nơi nào, cờ phiến dài rộng cản lại đến nơi đó! Vân Hãi giẫm chân trên lá cờ, lướt xuống trên nền cờ như một cánh ưng xanh.

Hắn lướt đến đâu, dây leo đứt đến đấy.

Khi lướt tới cuối lá cờ dài rộng, Vân Hãi cúi người, vươn tay vói vào trong hố sâu. Năm ngón tay hắn siết chặt rễ dây leo rồi rứt mạnh ra —

***

Hiện thế, Chiếu Dạ thành, bên trong “Lễ trạch” của Phong Tiết Lễ.

Mấy thiếu niên không mặt trong “đệ tử đường” vẫn nhoài người trên bàn, nằm chép kinh trong lơ đãng. Một người trong họ bất chợt đẩy đổ lọ rửa mực, đánh vang lên tiếng lạch cạch rõ mồn một. Toàn bộ thiếu niên bên trong đệ tử đường đều ngẩn người, ngoái đầu nhìn lọ sứ mà không hề cử động thân hình.

Tiếng vang lanh lảnh thình lình giữa căn nhà tĩnh lặng thật khiến người ta hốt hoảng.

Người nằm trên trường kỷ đột ngột rung lên, hai mắt choàng mở.

“Thiếu gia…” Tiếu Hồ đang ngồi bên rìa trường kỷ, sắc mặt nhợt nhạt không chút máu, lưng dựa vào cột để dưỡng thương. Vậy mà gã vẫn ưu tiên chú ý đến động tĩnh của người trên giường. Sau khi khẽ khàng gọi, gã gượng người thẳng dậy và nói, “Cuối cùng thiếu gia cũng tỉnh lại rồi.”

Hôm đó bọn họ đến Tước Bất Lạc một chuyến mà chẳng chiếm được một chút lợi thế nào, bản thân Tiếu Hồ còn thiếu điều bỏ mạng. May mà ngay lúc ngàn cân treo sợi tóc, phần tàn hồn của Phong Tiết Lễ thực sự đã tỉnh lại trong thoáng chốc, giành lấy quyền sở hữu thân thể từ linh phách Hoa Tín, thu lại chiêu tấn công và nhanh chóng kéo gã rời đi.

Cũng nhờ hai vị ở Tước Bất Lạc kia bị một tiếng chuông kéo chân nên không bám theo bọn họ. Thế nên họ mới có đường rút lui trở về khu “Lễ trạch” niêm phong cửa nẻo.

Tiếu Hồ bị thương nặng, phải thiền định trong mê man hết mấy ngày mới dịu lại một chút. Còn Phong Tiết Lễ đã hoàn toàn bất tỉnh nhân sự từ hôm đó đến tận bây giờ.

Có lúc Tiếu Hồ lo lắng khôn cùng, tới lúc này rồi gã mới dám thở phào một phen. Gã nhìn người nằm trên trường kỷ rồi đứng thẳng dậy, nói, “Tôi đi lấy thuốc cho thiếu gia…”

Còn chưa nói xong chữ “uống”, cả người gã đã cứng đờ.

Vì gã thấy thiếu gia nhà mình chỉ vừa mới tỉnh dậy đã gồng vai thẳng thóm với tác phong chỉn chu như một dạng bản năng. Điều này cho thấy người tỉnh lại không phải là Phong Tiết Lễ thực sự, mà là Thiên thủ Minh Vô, Hoa Tín.

Tiếu Hồ hoảng sợ không thôi! Xong gã phát giác đối phương trợn to mắt, lồ ng ngực phập phồng trông rõ mồn một, thậm chí thấy được nhịp tim nặng nề đến mức độ nào.

Lẽ ra gã phải sợ hãi lắm, song vẫn hỏi tiếp, “Thưa thiếu gia… cậu có chuyện gì thế?”

Gã nghe “Phong Tiết Lễ” đáp lạnh tanh, “Có người muốn phá huỷ trận.”

Tiếu Hồ sửng sốt không rõ. “Trận? Trận ở đâu?”

Song gã không thể nghe được câu trả lời, vì ngay lúc đó “Phong Tiết Lễ” đã khép mắt lại.

Tiếu Hồ thấy người hắn run lên thật khẽ, sau đó nhẹ nhàng gục đầu xuống.

“Thiếu gia ơi?” Tiếu Hồ khẽ giọng gọi vài lần, gã không yên lòng bèn duỗi tay kiểm tra một chút mới phát hiện linh thức đối phương đã rời khỏi thân thể.

***

Hoa Tín đã trói linh phách và sinh mệnh mình với trận cục dưới đáy thung lũng Đại Bi từ lâu, giờ chỉ cần nhắm mắt lại là linh thức hắn có thể lập tức xuất hiện trong trận cục ở thung lũng Đại Bi.

Ngay khi đáp xuống đất, hắn thấy tà khí đen ngòm tràn ra từ những đoạn dây leo gãy lìa đang che phủ gần kín mít cả mặt đất. Hắn làm gì quan tâm ai là người ra tay huỷ trận, vừa tới đã tung sát chiêu.

Một chiêu đó mang theo sức mạnh của ngọn đèn dầu, cắt ngang qua làn khí đen. Hắn phóng thẳng vào bên trong nơi dây leo bén rễ.

Gió từ cánh tay hắn quét đến đâu, ánh lửa sáng bừng lên đến đó, soi tỏ phần gốc rễ của chùm dây leo xanh mướt. Hắn trông thấy có một bàn tay toan nhổ sạch gốc dây leo nên ngay khi sát chiêu vừa kết thúc, hắn nắm liền lấy cái tay nọ và nói, “Đây không phải chỗ để ngươi —”

Hắn chưa kịp nói xong hai chữ “làm loạn” thì ánh lửa bập bùng đã lan ra phạm vi rộng hơn.

Hắn ngẩng đầu trong ánh lửa, cuối cùng cũng nhìn thấy bộ dáng người đến phá huỷ trận.

Đó là sơn thần thung lũng Đại Bi, Vân Hãi.

Các tiên sứ Linh đài từng một thuở gọi hắn là “Lang quan”.

Còn từng một thuở Tiên thủ Minh Vô giờ đang nhìn người vận y bào xanh, lòng bất giác nhớ về ngày đầu Vân Hãi lên Tiên Đô, khi đó hắn khoác… một thân thuần trắng?

***

Năm đó, khi mới phi thăng lên Tiên Đô, Vân Hãi vẫn giữ thói quen ăn mặc của đệ tử nhà họ Hoa, ngoại trừ tấm eo bài đệ tử màu hồng phù dung thì phần còn lại của trang phục chỉ thuần sắc trắng cơ bản.

Rồi vào một ngày nào ấy? Vân Hãi bất chợt nói với hắn, “Cung phủ của Tiên thủ trắng thế nhỉ.”

Khi đó, hắn lướt mắt nhìn một vòng rồi nói, “Dao cung ngọc trên Tiên Đô đều như vậy, có gì để than thở.”

Vân Hãi lắc đầu cười nói, “Tiên thủ hiếm khi ghé qua cung phủ của các vị tiên quan khác, hoặc có đến cũng không để lọt mắt rồi. Các cung phủ đều có sự khác biệt tương đối đấy. Tỉ dụ cung phủ của Tang Phụng thuộc Lễ các có rất nhiều hồ cá, cá chép đa sắc bơi lượn thành đàn như gấm dệt. Còn nơi của Mộng Cô nào có như vậy, sau nhà chỉ toàn vách đá nhấp nhô vì nàng có nuôi một chú bạch hổ. Toạ Xuân Phong của Linh Vương đại nhân hoà cùng nhịp điệu nhân gian, hoa rơi tuyết đổ chưa từng ngơi nghỉ. Nghe đâu ngay cả căn viện của Thiên Túc đại nhân cũng đầy cây lá xanh tươi…”

Hắn hỏi, “Con từng đến chỗ Thiên Túc?”

“À, thật ra chưa đến. Ta nghe Linh Vương kể lại, mà Linh Vương chắc không điêu ngoa những việc như thế này, vậy hẳn cũng không sai lệch nhiều đâu.” Vân Hãi dừng đoạn, rồi nói tiếp, “Nơi đây ắt là nơi trắng nhất Tiên Đô rồi.”

Hắn đã sớm quen với không gian như vậy nên không để ý, rồi lại nghe Vân Hãi hỏi, “Tiên thủ không thích những thú vui hoa cá chim cảnh ấy ư?”

Hắn nói, “Dĩ nhiên không phải.”

Vân Hãi lại hỏi, “Vậy một màu trắng thuần thế này có khiến người buồn không?”

Hắn thinh lặng một chốc, nghĩ qua rồi nói, “Không buồn.”

Lời hắn đáp là “không buồn”, song dường như Vân Hãi lại hiểu khoảng suy nghĩ ngắn ngủi kia thành “đắn đo” và “chần chờ”. Bởi vậy mà sau hôm ấy, lần nào đến cung phủ hắn Vân Hãi đều sẽ chắp tay sau lưng, giấu trong tay áo một món đồ gì đó.

Về sau, hắn thường phát hiện trên cửa sổ bỗng có thêm một chậu hoa có thể nhại tiếng người, hoặc dăm ba chú cá chép tiên bên cạnh khay rửa cọ.

Về sau nữa, Vân Hãi còn đổi cả phục trang, không mặc những bộ y phục trắng giản đơn kia nữa. Những chiếc áo bào khi thì xanh lam, lúc thì vàng óng, lần nào bước qua cổng đình vào cung phủ, Vân Hãi đều trở thành khoảnh sắc màu duy nhất giữa căn phủ thuần nét trắng tinh.

Đến Lễ các chuyên trông nom công việc linh tinh ở các cung phủ Tiên Đô còn chưa làm tới mức như vậy.

Khi đó hắn cảm thấy khó hiểu, bèn hỏi, “Con đang làm gì vậy?”

Vân Hãi nghĩ suy rồi đáp, “Có lẽ là… lòng hiếu kính của đệ tử ạ.”

“Lòng hiếu kính của đệ tử” cứ thế len lỏi vào từng chút một, chẳng đáng chú ý mà bất giác hắn đã đâm quen. Cho đến một thời điểm rất lâu về sau, lâu đến hồi Tiên Đô đã mất đi sơn thần thung lũng Đại Bi, vào một ngày nọ trở về cung phủ, hắn chợt dừng bước trước cổng.

Tiên sứ đi theo hỏi hắn một cách rập khuôn, “Đại nhân sao thế ạ?”

Hắn đứng yên và đưa mắt nhìn khắp toàn bộ cung phủ, chẳng biết hết bao lâu rồi mới cất bước.

Hắn không trả lời tiên sứ.

Chẳng qua, hắn nhớ có người từng than thở rằng, “Cung phủ của Tiên thủ trắng như vậy có khiến người buồn không?”



<i>Có đấy.</i>
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 102: Huề nhau


Hoa Tín đột ngột rút tay về và thu sát chiêu lại.

Dù đã rút về nhưng áp lực từ sát chiêu chưa suy giảm ngay mà vẫn tiếp tục quét ngang tới. Nhất thời, cả lòng đáy thung lũng Đại Bi chấn động như sấm rền, đất đá nứt vỡ.

Hắn nhanh chóng bước lùi về sau, song linh thức vẫn bị oanh tạc tan nát. Tuy vậy chỉ trong một loáng mắt, hắn đã tụ ra được một cơ thể khác.

Cũng chính thời khắc đó, tà khí đen ngòm bủa trào từ đám dây leo bị quét sạch đi, lộ rõ khung cảnh bên dưới nền đất…

Ở chính giữa là hố sâu cung cấp chất dinh dưỡng cho đám dây leo, hai bên đầu là hai bóng người đứng đối diện nhau qua trận cục cùng hố sâu.

Vân Hãi liếc nhìn bàn tay đang siết chặt rồi vung tay ra sau vai. Tấm cờ phiến khổng lồ lộng gió phần phật cũng theo đó mà được thu về.

Hắn ngước mắt nhìn sang phía này, cất giọng, “Xem ra… ngươi chính là người lập tà trận này.”

Giọng điệu quá chi lạ lẫm, ánh mắt chẳng chút thân quen, Hoa Tín nghe hỏi mà chợt ngẩn người. Hồi sau, hắn mới sực nhớ ra khi linh thức mình hoá hình đã biến thành dáng vẻ của Phong Tiết Lễ theo bản năng.

Vì vậy, hai chữ “Vân Hãi” còn chưa ra khỏi miệng đã bị nuốt ngược vào trong. Mà ngoài việc gọi hai chữ “Vân Hãi”, Hoa Tín đã không còn biết phải nói gì.

Hắn nhìn vị tiên quan trong y bào xanh một hồi lâu mới nói, “Ngươi đến lòng đáy thung lũng Đại Bi để làm gì?”

Vân Hãi còn đang săm soi hắn, nghe hỏi thế thì bật cười, “Lạ thay, ta nên hỏi ngươi câu này mới phải. Toàn bộ khu vực thung lũng đều đặt dưới sự trông coi của ta, ta làm gì ở thung lũng Đại Bi cũng nên xếp vào hàng thiên kinh địa nghĩa, còn ngươi…”

Vân Hãi liếc nhìn trận cục, trông thấy đám dây leo xoắn vặn như mãng xà cuồng loạn giờ đã lặng im, nép xuống lòng hố một cách ngoan ngoãn. Nhưng khi hắn ngước mắt lên lần nữa, lại thấy tấm cờ phiến sau lưng rung lên cành cạch, chứng tỏ khí kình xung quanh vẫn luôn lưu chuyển chưa ngơi và có thể tung chiêu bất kỳ lúc nào.

Tuy thế, hắn lại nói tiếp chứ không ra tay ngay lập tức, “Ta thật sự rất tò mò, rốt cuộc ngươi là người phương nào mà có thể xuống tay bày trận ở nơi này trong thầm lặng không ai hay biết. Nếu hôm nay ta không nhận được truyền thư thì không biết đến chừng nào ta mới phát hiện ra sự dị thường bên dưới lòng đất này.”

Hoa Tín lặng người chốc lát. “Ngươi nhận được truyền thư?”

Vân Hãi có phần ngỡ ngàng, nét mặt cũng thâm trầm hẳn xuống. “Giọng điệu ngươi… ngươi biết truyền thư ta nhắc đến là gì?”

Hoa Tín một thời là Tiên thủ, tất nhiên biết truyền thư là gì.

Một khi vùng đất đặt dưới sự cai quản của tiên nhân nào đó xảy ra vấn đề cần họ phải hạ phàm giải quyết thì tiên nhân đó sẽ nhận được truyền thư. Nhưng nói cho cùng, đấy vẫn là quyết định của Thiên đạo Linh đài.

Thiên đạo tận dụng cơ hội này để đưa Vân Hãi xuống lòng đất thung lũng Đại Bi, khiến hắn phát hiện ra trận cục này…

Hoa Tín sa sầm hẳn nét mặt. Nhưng rồi hắn chợt nghe được lời chốt lại của Vân Hãi sau một hồi suy tư, “Ngươi thuộc tiên môn?”

Hoa Tín thình lình ngước mắt.

Vân Hãi nói, “Phản ứng như vậy hẳn là ta đoán đúng rồi.”

Hoa Tín: “Từ đâu lại nói thế?”

“Trực giác,” Vân Hãi nói. “Sau khi nghe thấy ta nói toàn bộ khu vực thung lũng đều đặt dưới sự trông coi của ta, ngươi chẳng mảy may lộ vẻ ngạc nhiên. Điều này chứng tỏ ngươi từng gặp ta, có biết ta? Hoặc đã từng nhìn thấy ta trong tiên phổ. Không chỉ thế, ngươi còn biết ý nghĩa của truyền thư mà ta nhắc đến. Thêm nữa…”

Hắn chợt ngưng giọng, hàng mày hơi chau lại. Ánh mắt hắn lia một lượt qua người Hoa Tín, thoáng dừng khi đến vai cổ người kia. Trông hắn ngẩn ngơ có vẻ như đang thất thần.

“Thêm nữa thế nào?” Hoa Tín hỏi.

“Thêm nữa tư thế ngươi quá mực thước, thật sự rất giống…”

Nói đến đây, Vân Hãi mới chợt hoàn hồn, bèn vội chỉnh lại lời, “Thật sự còn chuẩn mực hơn một tiên nhân chân chính như ta, nên chỉ nhìn qua là biết ngay xuất thân từ tiên môn. Ngươi họ gì?”

Hoa Tín bình tĩnh đáp, “Phong.”

Vân Hãi như đã tỏ tường. “À, nhà họ Phong, khó trách khó trách, đây là một trong những gia tộc tiên môn lớn nhất nhân gian.”

Cảm thán xong xuôi, nét mặt hắn đã đổi. Hắn từ tốn nói, “Nếu đã xuất thân từ tiên môn, tại sao lại sa đà xuống con đường này đến độ phải lập tà trận dưới đáy thung lũng Đại Bi?”

Hoa Tín lặng thinh không trả lời.

Sau hồi lâu, hắn mới hỏi, “Tại sao phải nhiều lời với ta như vậy?”

Vân Hãi sững sờ, bản thân hắn có lẽ cũng không tường tận được ngay lý do, chỉ biết trả lời theo phản ứng tự nhiên, “Ta không biết.”

Song liền sau đó, nét mặt hắn đã trở lại như cũ. Hắn cất giọng thờ ơ, “Xưa nay ta đều hành động theo cảm tính, hễ thấy tò mò sẽ hỏi thêm mấy câu, bằng không sẽ bứt rứt khó chịu trong lòng lắm. Nói chứ… cũng có lẽ vì khi nãy ngươi thu sát chiêu về. Lễ thượng vãng lai, có qua có lại, nghiễm nhiên ta cũng không nên đánh liền tay mà nên tâm sự với ngươi đôi lời.”

Những lời này khiến Hoa Tín lặng bặt một lúc lâu.

Đây không phải lần đầu tiên hắn nghe những lời như thế. Rất lâu về trước hắn từng nghe Vân Hãi nói thế rồi, chẳng qua khi ấy hắn không hiểu được và cũng không thể đồng tình qua loa. Cảm nhận của hắn khi đó là đối phương sống quá cảm tính, dễ rước hoạ vào thân. Vậy mà hôm nay, hắn chỉ cảm thấy thế sự đổi dời, lâu rồi chưa được nghe thấy.

Vân Hãi nhìn vào hố sâu và nói, “Tà trận này được lập bằng linh, thịt và cả máu, xương chỉ để nuôi dưỡng đám dây leo ấy, ngươi làm vậy để đổi mệnh hay để hại người?”

Lúc này, Hoa Tín mới lần đầu nhận ra, khi thốt những câu chữ ấy, giọng điệu người kia còn lộ vẻ hung dữ đe doạ, khiến người ta nghẹn lời không đáp được.

Hắn không trả lời, Vân Hãi lại tiếp tục nói, “Vào những lúc như thế này, đa phần những người ta từng gặp sẽ trả lời cả hai đều không phải, đáp án là họ muốn cứu người. Còn ngươi thì sao? Cũng như vậy sao?”

Hoa Tín đặt tầm mắt trên người hắn và im lặng không nói.

Vân Hãi thấy hắn không trả lời thì lắc đầu. “Có rất nhiều cách để cứu người, sao phải chọn con đường tà đạo như vậy.”

Trong câu nói, dường như sự tò mò “lễ thượng vãng lai” đã đi đến hồi kết. Cờ phiến trong tay hắn run lên nhè nhẹ.

Hắn vừa định tung chiêu thì Hoa Tín đột nhiên nói, “Phương pháp bình thường không có tác dụng.”

Vân Hãi ngước mắt nhìn sang. “Tại sao?”

Hồi lâu sau, Hoa Tín mới thả nhẹ giọng, “Vì ta muốn cứu người đã chết.”

Khoảnh khắc đó, toàn bộ thung lũng Đại Bi chìm vào tĩnh lặng.

Vân Hãi không hiểu tại sao, song vẫn dịu giọng hẳn đi dù không hề cố ý. Hắn hỏi, “Người đó là ai?”

“Là…” đối phương nói ra một tiếng rồi mơ màng nét mặt, im lặng như không biết nên miêu tả ra sao. Chẳng rõ mất bao lâu, Vân Hãi mới nghe một câu, “Ái đồ của ta.”

“Ái đồ…” Vân Hãi lặp lại theo, rồi hỏi tiếp, “Vì sao hắn chết?”

Câu hỏi này dường như còn khó trả lời hơn, vì hắn thấy người kia rủ mắt, trầm mặc một lúc lâu hơn khi nãy rồi mới thốt, “Bị một kiếm đâm xuyên.”

Trái tim Vân Hãi gõ nhịp dồn dập, tưởng chừng có thể cảm giác được như thế nào là một kiếm xuyên tim.

Hắn lại cụp mắt nhìn hố sâu, quan sát đám dây leo trong mê man. Đến khi hoàn hồn, hắn mới nhận ra mình đã vô tình hỏi một câu. Hắn hỏi, “Ngươi có đau lòng không?”

Đối phương đáp, “Đau lòng.”

Vân Hãi gật đầu.

“Cũng phải, ta hỏi thừa mất rồi.” Vân Hãi nhìn vào hố sâu kia và nói, “Nếu không đau lòng thì làm gì đến mức phải dùng mệnh nuôi mệnh đâu.”

Hắn dường như sực nhớ ra điều gì đó, bèn tiếp tục, “Nói đến, ta cũng có một sư phụ. Có những lúc nhàn rỗi ta cũng suy nghĩ không biết nếu nhỡ sau này ta xảy ra chuyện gì, liệu người có đau lòng hay không?”

Rồi không chờ đối phương trả lời, hắn đã nói tới, “Nhưng bây giờ ta lại mong người không nên đau lòng quá.”

“Vì sao?”

“Vì ta sợ người sẽ trở thành giống ngươi.”

Khi những lời này vang lên, không gian lặng yên không một tiếng động.

“Có điều người sẽ không…” Vân Hãi nhủ thầm trong bụng.

<i>Vì người chính là Tiên thủ Minh Vô cơ mà.</i>

Vừa dứt lời, cờ phiến trên tay hắn dịch chuyển. Hàng mấy chục thớ vải vun vút lao thẳng ra, tấn công bóng hình đang lặng im không hé nửa lời ở đối diện.

Đối phương rút sát chiêu một lần, hắn đáp lễ một khắc, lễ thượng vãng lai, có qua có lại vậy là huề.

Dù thứ tà trận này được bài bố ở thung lũng Đại Bi để cứu người, nhưng nó cũng sẽ hại người và để lại mối hiểm hoạ khôn lường. Dẫu hắn cảm thông, nhưng không vì thế mà xiêu lòng. Đây chính là sự công bằng mà hắn nhìn nhận.

Thế nhưng, khi cờ phiến dẫn theo áp lực đủ khả năng siết chết tà ma sắp cuốn chặt lấy người bày trận, Vân Hãi kinh ngạc trong giây lát.

Vì hắn nhận thấy người bên kia hãy còn đang thẫn thờ, không hề có ý định đánh trả.

Hắn trông thấy ngọn đèn dầu lửng lơ bên cạnh bóng người cao cao ấy mà lòng chợt thảng thốt.

Ánh huỳnh quang đó dấy lên trong lòng hắn hình ảnh ngọn đèn chiếu thế của Hoa Tín. Khi băng qua rừng hoang đất vắng về đêm, lẩn sau màn sương mù che phủ, ánh đèn ấy cũng lập loè thứ ánh sáng mờ ảo như kia.

Vân Hãi trợn to mắt!

Hết thảy tựa như vận mệnh an bài…

Khi cờ phiến chạm đến cổ người nọ, Vân Hãi loáng thoáng nghe tiếng một danh hào hô lên trong gió lùa qua thung lũng khoáng đãng —

Có ai đó đã chui xuống lòng đất thung lũng Đại Bi, gọi người xa lạ lập nên tà trận này một tiếng, “Tiên thủ Minh Vô.”
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 103: Thẩm vấn


Người theo xuống lòng đất thung lũng Đại Bi là Tiếu Hồ.

Ban đầu Gã định ở lại phủ trạch “Lễ” ở hiện thế để chăm nom cơ thể thiếu gia Phong Tiết Lễ. Thậm chí gã còn nghĩ một khi linh thức Hoa Tín rời khỏi thân thể thì Phong Tiết Lễ chân chính có thể nhân cơ hội xuất hiện trở lại lần nữa.

Song phần tàn hồn kia chưa kịp xuất hiện thì gã đã thấy máu trào ra từ bên khoé miệng Phong Tiết Lễ.

Gã giật mình hoảng sợ, hấp tấp đưa ra kiểm tra thử — có lẽ linh thức Hoa Tín gặp chuyện chấn động cả linh lẫn thân, cơn đau tấn công thẳng vào tim nên ép máu trào ra bên ngoài.

Gã vừa sốt ruột vừa lo thân thể này bị tổn thương nên cắn răng tách linh thức khỏi thể xác và đi theo sang kia.

Các ma đầu trong Chiếu Dạ thành đều đặt dấu ấn lên người bọn thuộc hạ để tiện triệu hồi vào những lúc nguy cấp. Thực ra ban đầu Phong Tiết Lễ không định làm vậy nhưng bản thân Tiếu Hồ kiên quyết phải đặt.

Đã hơn hai mươi năm rồi, thật không ngờ đến bây giờ lại có thể dùng tới.

Vì vậy, linh thức Tiếu Hồ vừa đến nơi đã đặt chân xuống thung lũng Đại Bi, xuất hiện ngay bên cạnh Hoa Tín.

Gã vừa xuất hiện đã thấy hình ảnh hàng chục lá cờ phiến siết cổ Hoa Tín hiện ra trước mắt. Gã hoảng hốt hô to, “Tiên thủ Minh Vô!”

Ngay tiếp đó, gã cảm tháy dấu ấn sau cổ mình nóng hực lên, có một người truyền âm vào tai gã.

Đó là giọng Hoa Tín, giọng nói yếu ớt cùng cực nhưng nghe vào như đang quát, “Đừng gọi.”

Tiếu Hồ sượng người. “Hả?”

Rồi gã nghe được một đợt truyền âm nữa nối theo ngay sau, “Đừng gọi danh hào này trước mặt hắn.”

Bấy giờ, Tiếu Hồ mới nhận ra còn có một tiên quan ở trên tầng cờ phiến đang cúi nhìn xuống đây.

Khi đó quá chóng vánh nên gã không thấy rõ mặt người kia, vậy mà gã lại thấy thân hình và tư thế xuất chiêu có điểm gì đó rất quen thuộc.

Ngay sau, Tiếu Hồ lập tức vỡ lẽ, đúng là gã chưa từng thấy tiên quan này. Nguyên do gã thấy có điểm gì đó rất quen là vì những thiếu niên không mặt trong đệ tử đường ở “Lễ” trạch có nét hao hao với vị này.

Tiên quan đó vừa nghe bốn chữ “Tiên thủ Minh Vô” thì rung động cả người, cánh tay đang tấn công Hoa Tín cũng đánh run. Hắn ngước phắt mặt lên nhìn sang, trong đôi mắt chứa kinh ngạc xen lẫn chút mông lung.

Tiếu Hồ thấy hắn mấp máy môi, giọng thốt ra khẽ đến mức khó mà nghe được, “Ngươi gọi… ai?”

Tiếu Hồ muốn trả lời, song sực nhớ đến truyền âm Hoa Tín vừa gửi nên nuốt ngược giọng trở lại.

Thành thử, trong mắt Vân Hãi, gã giống như chỉ thoáng dừng đã tiếp tục sấn tới, vung song đao chém đánh cờ phiên, chẳng khác gì viện binh hối hả đến trợ giúp.

Còn Tiếu Hồ vẫn luôn nở một nụ cười trời đánh không phai, nhìn qua rất giống đang ủ mưu gian tà, thậm chí đến tiếng gọi “Tiên thủ Minh Vô” vừa nãy dường như cũng chỉ là một trò giảo quyệt hòng khiến người khác mất tập trung mà thôi.

Chỉ là…

Vẻ khiếp sợ trong mắt Vân Hãi còn chưa vơi, tâm trạng bỗng chốc rối bời rồi chuyển sang nhịp tim đánh loạn không thôi. Đó là loại cảm giác vô cùng bứt rứt khó chịu cứ như thể hắn thật sự hoảng loạn.

Nhưng tại sao hoảng loạn?

Lúc này đây, hẳn là Tiên thủ Minh Vô đang nghiêm mình yên vị trên đỉnh ngọn núi cao nhất của mười hai ngọn Linh đài, bao quanh giữa các tiên sứ, tiên đồng quy củ và cứng nhắc như cụ non.

Mặc dù người sắp bị cờ phiên siết cổ đang ở trước mặt hắn đây cũng rất mực thước đ ĩnh đạc và toát ra phong thái tiên môn, nhưng tràn quanh người hắn là hơi thở của tà ma, một bên mặt hắn còn có đường thêu hình cành hoa chạy dài xuống tận vai, người không ra người ngợm không ra ngợm, đã vậy còn phà quỷ khí dày đặc.

Hai con người khác nhau một trời một vực như vậy, làm gì tìm ra điểm nào tương tự.

Khoảnh khắc Vân Hãi mất tập trung dường như tạo cơ hội người bị cờ phiến quấn chặt siết cổ tìm được sơ hở, lật tay đánh trả một chiêu.

Tích tắc, hàng loạt lá cờ phiến đồng loạt vang lên tiếng rách!

Vân Hãi đanh nét mặt, lòng nhủ quả nhiên…

Chỉ bằng một chiêu đánh trả này đã chứng minh tất cả — tiếng “Tiên thủ Minh Vô” chỉ là một trò gian trá nhằm mục đích làm hắn phân tâm và để lộ sơ hở mà thôi.

Bên dưới lá cờ bị xé rách hiện ra gương mặt người suýt bị siết cổ giữa tầng lớp vải cờ. Trông hắn vô cùng yếu ớt nhưng vẫn nở một nụ cười.

Giờ khắc này, nụ cười ấy đậm nét châm biếm như đang muốn nói “Uy lực của danh hào của Tiên thủ vẫn không suy giảm, có thể dễ dàng lừa ngươi”.

Cũng chính nụ cười đó giúp Vân Hãi xác nhận mình đã hoàn toàn bị lừa.

Vì Tiên thủ Minh Vô chưa bao giờ có biểu cảm như vậy.

Bao khúc mắc trong lòng Vân Hãi thoáng chốc đã biến mất tăm hơi.

Hắn nghiêm mặt lại, quơ một tay gom hết toàn bộ cờ phiến bị rách, tay còn lại ác liệt tung chiêu.

Thân hình bén nhọn như tia chớp ngang trời phóng thẳng tới từ giữa màn cờ trắng.

***

Có lẽ như, hết thảy mọi chuyện đã vẽ nên một vòng tròn luân hồi qua sinh tử…

Hoa Tín đập lưng xuống mặt đất, dõi mắt nhìn bóng áo xanh cao cao hạ sát chiêu thẳng xuống. Hắn nhủ, khung cảnh này có nét giống với những gì xảy ra mấy trăm năm trước ở thung lũng Đại Bi.

Thì ra tầm nhìn của Vân Hãi năm xưa chính là thế này đây—

Là trông thấy người lao xuống cùng thanh kiếm, xuyên qua sương đen bao phủ khắp cơ thể tà ma, tay nắm chặt chuôi kiếm và lạnh lùng đâm thẳng qua.

Khác rằng năm xưa Vân Hãi mỉm cười khi bị kiếm đâm xuyên người. Còn giờ đây, hắn không tài nào cười nổi.

Hắn vẫn luôn nghe người ái đồ ấy càu nhàu “Muốn Tiên thủ cười mới khó làm sao, thật khổ ta quá đi mà”. Xưa giờ hắn vẫn không hiểu nổi, đến tận lúc này hắn mới vỡ lẽ đúng là khó quá.

Làm khổ con rồi…

Hắn trân mắt ngước nhìn Vân Hãi giáng xuống, từ trên cao đến gần ngay trước mắt.

Vào khoảnh khắc bị sát chiêu đánh tan linh thức, Hoa Tín khẽ nhấc tay.

Ngay lúc cánh tay chạm đến lưng Vân hãi, linh thức Hoa Tín tản mác như bụi trần lất phất.

***

Vân Hãi mê man tầm mắt trong màn bụi.

Hắn khép mắt rồi mở ra, bên dưới lớp đất đá đã rỗng không và người lập trận chẳng còn tung tích.

Là đã chết hay trốn mất rồi?



Vân Hãi cảm thấy hơi ngỡ ngàng, chìm trong bàng hoàng hồi lâu mới thẳng người đứng dậy.

Mấy chục lá cờ phiến hoá thành dải lụa, chúng vung lên rất cao sau đợt sát chiêu giáng vào đáy sâu vừa nãy, rồi mới là đà buông xuống trở lại.

Vân Hãi đứng giữa khung cảnh ấy.

Rõ ràng hắn nhận được truyền thư nên hoàn thành chức trách đến trừ hoạ ở thung lũng Đại Bi. Rõ ràng hắn đương đầu với tà ma, thế mà sao đột nhiên lại cảm thấy thẫn thờ cô tịch quá.

Hắn kiểm tra một lượt tất cả mọi nơi, bất chợt không còn hứng thú tìm hiểu gì nữa nên thẳng tay huỷ sạch dây leo, phá tan tà trận.

Khoảnh khắc tự tay nhổ sạch gốc dây leo, không rõ vì sao mà tim hắn lại loạn nhịp, cảm giác khó chịu cùng cực ùa tới một lần nữa.

Hắn nắm chặt dây leo, quan sát đoá hoa rộ sắc trên cành héo đi trong chớp mắt. Nó khô úa, rũ thân rồi rụng xuống, nhuốm chung màu sắc của đất bùn. Nó làm hắn cảm thấy như chính tiên lực của mình cũng vừa bị rút đi mất.

Hắn cau mày một lúc lâu rồi mới rút một tấm bùa viết thư, biến ra cây bút từ giữa thinh không và viết, “Ta gặp phải một ít chuyện lạ thường ở thung lũng Đại Bi, muốn hỏi ý đôi điều, dạm hỏi Tiên thủ đang ở Linh đài hay cung phủ?”

Vừa gửi thư đi chẳng mấy chốc, hắn đã nhạn được hồi âm.

Hắn mở bùa thư ra, bên trên là nét chữ thân thuộc của Hoa Tín, thư viết, “Linh đài, đang lúc rỗi rãi không có việc gì, có chuyện gì vậy?”

Nét mặt Vân Hãi nhẹ nhõm hẳn đi.

Hắn đề bút hồi đáp một lời, “Ta chạm trán một tà ma cực kỳ quái dị, nói ra thì dông dài, để ta quay về kể cho người nghe.”

Hắn rải bức bùa thư đi, không muốn ở lại dưới lòng thung lũng Đại Bi thêm một khắc nào nữa nên lập tức xoay người đi mất.

***

Khi Tiêu Phục Huyên và Ô Hành Tuyết chạy vội đến thung lũng Đại Bi và nhảy xuống ngôi mộ tiên dưới đất thì trong lòng dấy lên cảm giác bất an.

Ô Hành Tuyết vừa phóng nhanh vào sâu trong đường hầm dưới thung lũng vừa nhỏ giọng thì thầm, “Ta đoán chừng chúng ta lại chậm một bước rồi.”

Cho dù đã dự đoán được, song khi đi đến thâm cùng dưới đáy thung lũng và nhìn thấy mớ ngổn ngang trên mặt đất, hai người vẫn không khỏi sa sầm nét mặt.

Ô Hành Tuyết ngoảnh nhìn khắp nơi rồi nói, “Đến nhà họ Phong đã như vậy, giờ đến thung lũng Đại Bi cũng như vậy, kẻ trên kia tính toán thật chuẩn xác, thời gian sít sao vừa khéo, không sai một li không muộn một tí, khiến chúng ta luôn luôn chậm mất một bước.”

Cái cảm giác mãi mãi chậm một bước này có lẽ giống một lời trách phạt hơn chỉ đơn giản trêu ngươi. Giống như thể Thiên đạo Linh đài muốn dùng những thứ xảy ra hết lần này đến lần khác đó để chứng minh cho họ thấy có những kiểu đấu tranh không xứng gọi là “đấu tranh”, mà chỉ là “hoài công”.

Và rằng nó đang trả lời câu chất vấn của Ô Hành Tuyết lúc trước —

Hễ nó muốn thế gian có thiện có ác thì phải có thiện có ác. Hễ nó muốn thế gian sinh tử vô thường thì phải vô thường. Hễ nó muốn đổi sang một nhân gian khác thì không bất kỳ ai có thể ngăn cản.

Ý định của họ là dẫn Linh Vương của dòng rối loạn đến đây để đối phương tận mắt chứng kiến những manh mối này. Vậy mà Linh đài luôn đi trước họ một bước.

Cứ đà này, có thể dễ dàng thấy mọi thứ đang đi vào lối cụt.

Từ bên rìa tầm mắt mình, Ô Hành Tuyết thấy Tiêu Phục Huyên vung thanh trường kiếm, phất lên một tấm màn trắng.

Ô Hành Tuyết ngoảnh đầu sang nhìn. “Đó là gì thế?”

Tiêu Phục Huyên bắt lấy thứ đó trong tay và dùng đầu ngón tay sờ qua, đáp, “Cờ phiến.”

Ô Hành Tuyết kinh ngạc một lúc mới sực nhớ ra chỉ có một người thường dùng cờ trong chúng tiên. “… Vân Hãi sao?”

“Lúc trước ta để yên cho trận cục này là vì ngại đánh động đến người lập trận. Mà nhìn tình hình trận cục hiện tại…” Tiêu Phục Huyên trầm giọng. “Chắc chắn Hoa Tín đã tới.”

Quả thật, đại trận đã bị huỷ, nếu Hoa Tín còn tỉnh thì đảm bảo sẽ cảm nhận được và tuyệt đối không ngồi yên. Chắc chắn hắn sẽ tìm cách đến đây. Phàm là bất kỳ ai khác đến phá trận, Hoa Tín sẽ ngăn chặn bằng mọi cách. Thế nhưng người đến phá trận lại chính là Vân Hãi…

Ô Hành Tuyết nói, “Thảo nào Vân Hãi được chọn đến đây.”

Đối đầu với Hoa Tín trên cương vị một tà ma, chỉ duy mỗi Vân Hãi mới có khả năng giành thế thượng phong trong giao chiến, dẫn đến việc trận cục bị tàn phá đến nhường này.

“Vậy Hoa Tín đâu rồi?” Ô Hành Tuyết thắc mắc hỏi.

Nhìn mớ ngổn ngang trên mặt đất thì áng chừng người dưới thế hạ phong sẽ khó lòng có được kết cục tốt đẹp, chỉ là không biết tình hình thực tế tồi tệ đến mức độ nào mà thôi.

“Dù sao đây cũng là dòng rối loạn, hắn đến gấp rút cỡ nào cũng chỉ có thể dùng linh thức,” Tiêu Phục Huyên rút trường kiếm khỏi vỏ, lia mắt nhìn bao quát khắp nơi rồi đanh giọng lại. “Nếu hắn bị thương trong lúc giao chiến đến mức tan nát linh thức thì sẽ không quay trở về thể xác được nữa mà chỉ có thể lượn lờ quanh đây, vĩnh viễn… không nhìn thấy ánh mặt trời.”

Y nói đoạn, dường như đã tìm ra linh thức bị đập tan bèn lập tức xoay người chém ngang thanh trường kiếm. Ánh kiếm lao ra khắp bốn phía.

Bao mảnh vụn linh thức tản mác như bụi trần tụ về một chỗ theo luồng gió lộng.

Ngay kế đó, bóng kiếm ánh vàng đâm xuyên qua màn bụi lất phất, cắm thẳng vào nền đất.

***

Vân Hãi đã thu cờ phiến về và đi một mạch đến núi Thái Nhân, định lên Linh đài ngay lập tức. Hắn muốn nhìn thấy Tiên thủ trên Linh đài, muốn thấy người kia vẫn an lành yên vị trên ngai cao, cùng bạch lộc được hoá nên từ tiên khí và ngọn đèn chiếu thế bên người.

Vậy mà hắn đang đi thì chợt trải chậm nhịp chân.

Không hiểu sao hắn lại nhớ về cụm “ái đồ” đó, nhớ đến ánh mắt người kia ngóng về phía hắn vào thời điểm sát chiêu đánh thẳng xuống thân thể. Rồi còn có cái người hối hả chạy đến hỗ trợ hô to “Tiên thủ Minh Vô”, giọng gã khi đó nghe vào thảng thốt chứ không giống đang ủ mưu.

Hơn nữa…

Làm sao một tà ma có thể biết chỉ cần gọi “Tiên thủ Minh Vô” sẽ khiến hắn bất an trong lòng?

Vân Hãi đột ngột ngừng bước.

Hồi sau, hắn xoay phắt người lại lao về phía thung lũng Đại Bi với tốc độ xé gió như sấm chớp.

Đời này, chưa bao giờ hắn phải phóng nhanh đến thế, nhanh đến mức khiến hắn nghẹt thở. Để rồi khi chạy đến thung lũng Đại Bi thì đôi mắt đã hừng hừng ngấn đỏ.

Hắn ngoặt qua vách núi quanh co rồi rẽ lối qua mỏm đá sau chót, vừa kịp trông thấy bóng kiếm ánh vàng của Thiên Túc rầm rầm giáng xuống.

Tiếng kiếm lanh lảnh đánh vang, chấn động toàn bộ thung lũng Đại Bi rộng lớn.

Vân Hãi đứng ngây người giữa ảo ảnh mịt mờ, mãi một lúc lâu sau mới vỡ lẽ…

Đấy chính là âm thanh vang vọng từ màn thẩm vấn của Thiên Túc thượng tiên.
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 104: Nửa đời


Từ rất lâu về trước, khi trên thế giới mới chỉ có thần mộc chứ chưa tồn tại Tiên Đô, nhân gian đã có rất nhiều tu sĩ. Tuy nhiên, những tu sĩ thời kỳ đó tự tu theo cách riêng chứ không lập thành hệ thống.

Khu vực Tây Nam chủ yếu tu bằng dị thuật, đa phần tu sĩ nơi đây nghiên cứu thuật con rối, cổ dược và các loại kỳ môn pháp trận. Ở phương Bắc, khí hậu lạnh giá chạy dài từ núi Thái Nhân đến biển Vô Đoan ở Miện Châu, nên các tu sĩ thường học dùng lửa luyện đan, bàn tu và các thuật pháp phù chú. Còn ở phía Đông Nam chiến tranh liên miên, về sau các tu sĩ có xu hướng nhập đạo bằng đao kiếm hay các loại vũ khí.

Đã có đao kiếm vũ khí ắt khó tránh khỏi giao chiến đối đầu, đã vậy ở Đông Nam còn có nhiều thành trấn, dễ dàng tạo điều kiện cho các tu sĩ qua lại với nhau, những môn phái đầu tiên được ra đời tại đây.

Trong những môn phái đó, có hai gia tộc tồn tại đến hàng trăm năm. Họ trở thành tên tuổi nổi trội trong giới tiên môn. Hai gia tộc đó là nhà họ Phong ở Mộng Đô và nhà họ Hoa ở Xuân Phiên thành.

Người đời sau chỉ biết hai gia tộc này cách nhau không xa, họ có mối quan hệ thân thiết và có thể được xem là bạn thâm giao lâu năm. Nhưng hiếm ai biết rằng vào thuở đầu, hai gia tộc này vốn cùng một môn phái.

Tổ tiên nhà họ Phong và nhà họ Hoa cùng bái một vị tu sĩ làm thầy và được người ấy truyền dạy kiếm pháp. Kể ra cũng xem như là sư huynh đệ.

Tuy là đồng môn cùng gốc gác nhưng tính tình hai bên trái nhau như trời với đất, cũng bởi vậy mà kiếm pháp họ tiếp thu rẽ hoàn toàn sang hai ngả tách biệt — một bên sắc bén như đao, một bên nhẹ nhàng như nước.

Nhà họ Hoa rơi vào trường hợp sau.

Và cũng do họ đồng môn cùng gốc gác nên sau khi các sư huynh đệ lần lượt thành gia lập thất và xây dựng môn phái riêng, khó tránh được việc họ bị đem ra bàn luận so sánh — danh tiếng nhà nào vang xa hơn, tu vi nhà nào cao hơn, đệ tử nhà nào phi phàm ưu việt hơn.

Ngặt nỗi vào thời điểm đó, nhà họ Hoa không hề nổi bật, cho dù có so với nhà nào cũng chỉ có thể nhận thế yếu về mình.

Khi nhắc đến nhà họ Hoa, giới tu hành chỉ thường bảo “tài năng xoàng xĩnh”.

Cứ thế bao thế kỷ trôi qua, cuối cùng nhà họ Hoa xoàng xĩnh tầm thường cũng đã xuất hiện một nhân tố ngoại lệ.

Đó là con trai trưởng của gia chủ nhà họ Hoa, tên chỉ đúng một từ “Tín”. Từ lúc còn bé, hắn đã phô bày tài năng xuất chúng. Thời điểm những đệ tử khác còn nỗ lực cầm kiếm cho vững, hắn đã có thể dùng cành cây dài đánh tay đôi với trưởng lão vài chiêu.

Khi ấy hắn còn chưa tròn bảy tuổi.

Thời điểm đó, người ta hay đồn rằng những người thông minh và đạt nhiều tiên duyên từ tấm bé thì đến khi lớn lên cũng chỉ xoàng thôi.

Nhà họ Hoa đã bị nhận định là “xoàng xĩnh tầm thường” suốt hàng trăm năm mới xuất hiện một kỳ tài ở đẳng cấp này, thì hẳn nhiên không thể lơi là dù chỉ giây lát, để tránh cho kỳ tài ấy trở thành “cũng chỉ xoàng thôi” trong miệng người đời.

Thành thử, khởi đầu của cuộc thẩm vấn Tiên thủ Minh Vô Hoa Tín là một chuỗi dài ký ức đơn điệu lặp đi lặp lại…

Các đệ tử nhà họ Hoa đều tu luyện trong đệ tử đường, những con trai con gái khác của gia chủ cũng không được đối xử đặc biệt hơn đệ tử bình thường. Họ vẫn thường vui đùa bên trong phủ, chỉ riêng một mình hắn bị đưa vào căn gác cao bên cạnh sân luyện kiếm.

Căn gác ấy cao mấy tầng, có một tầng để tĩnh tu, một tầng làm phòng sách, phía dưới nữa có dược đường và ghế nằm. Trước tuổi trưởng thành, việc duy nhất hắn làm là tu luyện và tiếp tục tu luyện. Ngoại trừ lễ đón giao thừa hằng năm, hắn gần như không rời khỏi căn gác cao ấy.

Gia chủ cũng cấm những người khác không được đến gần nơi này, tránh gây động tĩnh ồn ào.

Trong quãng thời gian đó, người hắn trông thấy nhiều nhất là một vị tiên sinh dạy pháp trận và luyện đan. Nghe đâu vị tiên sinh này vô vùng hà khắc, mặt mũi bặm trợn, bởi vậy nên hai bên khoé mũi ông hằn hai nếp nhăn sâu hoắm, vừa nhìn đã thấy không dễ gần.

Nghe đâu nhận được một câu khen ngợi từ miệng ông còn khó hơn lên trời, ông nói câu nào là răn đe câu đó. Vậy mà trong căn gác cao ở nhà họ Hoa, mọi thứ lại đảo ngược. Ông không hề thốt ra một câu răn đe nào.

Ban đầu ông còn kiềm lòng không đặng nên ca ngợi hết lời, bảo rằng Hoa Tín là mầm non tuyệt vời “trăm năm hiếm gặp”, năng lực nhạy bén vô cùng. Sau đó mấy câu khen ngợi quanh đi quẩn lại cũng bấy nhiêu, nên lâu ngày ông không nói nữa.

Về sau nữa, có đôi khi vị tiên sinh kia sẽ tỏ nét buồn rầu và thở dài vu vơ.

Hoa Tín hiếm khi tọc mạch vào chuyện của người khác nên dù có nghe tiếng thở dài của ông, hắn vẫn không giảm tốc độ chép bài và luyện đan.

Cho đến một lần nọ, bị tiên sinh nhìn bằng ánh mắt thật sự lộ liễu, hắn mới ngừng bút và ngẩng đầu hỏi, “Thầy thở dài vì con à?”

Mãi lâu sau, người kia mới đáp, “Ta thấy tất cả các đệ tử của nhà họ Hoa đều tu luyện trong đệ tử đường, có lúc dụng công chăm chỉ nhưng cũng có lúc vui chơi rộn rã. Chỉ có một mình đại công tử con ở đây một mình từ nhỏ, tu luyện ngày này qua ngày khác mà chưa từng ngơi nghỉ, con không cảm thấy bất bình tức giận sao?”

Hoa Tín trả lời thản nhiên, “Lúc còn nhỏ có đôi khi con cũng muốn lười biếng, nhưng sau này không như thế nữa.”

Tiên sinh lại nói, “Nhiều lần ta phải trách đệ tử mình không chịu khó chăm chỉ, mà đến lượt con cứ muốn khuyên nghỉ ngơi một chút, thỉnh thoảng cũng cần giải lao cho khuây khoả.”

Hoa Tín: “Để thầy phải lo lắng rồi.”

Hắn nói rồi lại dời tầm mắt về, tay tiếp tục nhấc bút.

Hành động đó khiến vị tiên sinh sững sờ, ông không nén trong lòng nữa mà hỏi, “Đại công tử khổ luyện tu hành là để thay mặt nhà họ Hoa đứng ra phủ định những lời bình luận bên ngoài kia hay sao?”

Hoa Tín hơi ngạc nhiên.

Song hắn chưa trả lời thì tiên sinh ngộ ra. “Xem chừng không phải thế. Vậy là vì điều gì? Tu sĩ nào cũng có ước vọng, nhưng dường như trước giờ ta vẫn chưa nhìn ra được ước vọng của con.”

Hoa Tín: “Các tu sĩ đó mong ước điều gì?”

Tiên sinh trả lời, “Đa phần họ cầu trường sinh. Con có vậy không?”

Hoa Tín: “Con chưa từng nghĩ tới.”

Hắn chỉ vừa qua tuổi thành niên, đâu hề e dè chuyện sinh tử.

Tiên sinh nói, “Ta cũng nghĩ vậy, thông thường người ta có điều gì đó luyến tiếc thì mới cầu trường sinh bất tử.”

Ông tiếp tục nói, “Cũng có một số người tu hành để bảo vệ một hoặc một vài người nào đó. Không biết công tử có đặc biệt mong muốn bảo vệ một ai không?”

Hoa Tín đáp, “Không ạ.”

Từ thuở bé, hắn đã sống xa cách mọi người, đến cả quan hệ thân thuộc cũng chẳng mấy mặn nồng. Hắn đã sớm quen với việc có một giới hạn giữa mình và những người khác.

Nếu gặp phải tà ma âm v@t, hắn sẽ không ngại ngần ra tay tương trợ, bất kể đó là người nhà họ Hoa hay chỉ là một người ngồi xe cưỡi ngựa qua đường nào đó. Nhưng để nói đây chính là mục đích tu hành của hắn thì chưa thật sự chính xác.

Nói chi đến “đặc biệt mong muốn bảo vệ một người” gì chứ.

Trông thấy nét mặt âu lo của tiên sinh, hắn cất giọng nhỏ nhẹ, “Mục đích bảo vệ một người hoặc một vài người quá ngắn ngủi.”

Đây là lần đầu tiên sinh nghe Hoa Tín bàn về “Đạo”, ông bớt vẻ âu lo trên mặt và thốt, “Ồ?”

Hoa Tín nói, “Nếu người mình rất muốn bảo vệ không còn nữa thì họ phải làm thế nào bây giờ? Họ sẽ bỏ dở mọi thứ hay sẽ tìm gì đó để tiếp tục gắng sức ư?”

Tiên sinh gật gù. “Đúng vậy đấy.”

Sau giây lát do dự, tiên sinh mới hỏi, “Thế… đại công tử nghĩ sao?”

Hoa Tín tư lự rồi nói, “Chỉ cần không có người mình muốn dốc lòng bảo vệ, chỉ cần không có việc mình muốn dốc lòng hoàn tất, vậy thì người nào cũng ổn và việc nào cũng suôn, rồi sẽ không có một ngày bị suy sụp đến mức không đường chống đỡ.”

Tiên sinh nhìn hắn, trong giây lát ông chưa biết nên tỏ quan điểm ra sao.

Mãi lâu sau, tiên sinh mới nói, “Cũng hợp lý. Ta mong rằng sau này con vẫn giữ được như vậy, đây là việc tốt có thể giúp còn đạt thành đại đạo.”

Ông ngừng lời, không tiếp tục nói nữa.

Hoa Tín hiểu rõ lời tiên sinh vẫn còn một nửa vế sau, nếu đã có “Nếu vẫn giữ được như vậy thì thật tốt” thì ắt hẳn phải có “Nhỡ có một ngày chợt thay đổi”. Song thời điểm đó hắn cũng không bận tâm cho lắm. Đối với hắn, chỉ cần có nửa vế đầu là được, nửa vế sau không liên quan gì đến hắn cả.

***

Nửa vế đầu lời vị tiên sinh kia vô cùng chính xác.

Hoa Tín đạt nhiều thành tựu tu hành từ lúc còn rất trẻ. Sau khi trưởng thành, hắn không còn ở lì trên gian gác cao kia suốt ngày nữa. Khi đó, địa vị hắn ở nhà họ Hoa đã lên rất cao, thậm chí còn chớm vượt qua gia chủ. Dù vậy, hắn hiếm khi can thiệp vào các sự vụ trong môn phái.

Hắn thường du hành bên ngoài và hay ra tay giúp đỡ đó đây, nhưng hắn luôn luôn giữ một mối quan hệ “có điểm dừng” với tất cả những người mình giao thiệp cùng.

Từ đại công tử nhà họ Hoa, sau mấy mươi năm, hắn dần trở thành “cao nhân”, “tiền bối”. Tuy vậy, nếu có ai đó hỏi về hai chữ “cố hữu”, người đầu tiên hắn nghĩ đến chỉ có mỗi vị tiên sinh từng dạy hắn trận pháp và luyện đan năm nào.

Có lẽ vì vị tiên sinh nọ đã từng trao đổi những lời ấy cùng hắn một cách nghiêm túc.

Hắn vẫn giữ liên hệ với vị tiên sinh ấy dù không mấy thường xuyên, chỉ thi thoảng họ mới trao đổi thư truyền âm với nhau.

Nhờ có hắn mà trong những năm đó, nhà họ Hoa bắt đầu có tiếng tăm.

Song hắn không mấy để tâm.

Có một số người đề cập đến tình hình nhà họ Phong trước mặt hắn. Họ kể nhà họ Phong có một hậu bối cực kỳ giỏi giang với tài năng thiên bẩm, tiếc thay vừa trưởng thành đã kết hôn và hạ sinh một đôi nam nữ, từ đó bỏ dở tu hành. Mà đáng tiếc hơn cả chính là nghe đâu hai bé vừa mất hai ngày trước.

Hôm ấy là hôm Hoa Tín tình cờ đi ngang qua thành Mộng Đô, hắn giương mắt nhìn về phía nhà họ Phong từ xa.

Cả một toà phủ trạch rộng lớn nhường ấy treo đầy những chiếc đèn lồ ng bợt bạt. Còn người hậu bối được đồn là “có tài năng thiên bẩm” đang đưa tiễn khách khứa trong tướng mạo gần như không ra hình người.

Đấy là lần đầu tiên hắn trông thấy một nhà tu hành vì chuyện sinh tử mà bị suy sụp đến mức độ này.

***

Không phải Hoa Tín không hiểu sinh tử. Trái lại, trong những năm tháng ngao du bên ngoài, hắn đã chứng kiến vô vàn những cuộc sinh tử, những buổi gặp gỡ và biệt ly. Hắn có thể hiểu tường tận điều gì khiến những người đó cảm thấy đau thương, thi thoảng hắn còn cảm thấy xúc động trước những chuyện ấy.

Thế nhưng bẩm sinh tính cách hắn đã như vậy, xúc động ấy rồi cũng “có điểm dừng” chứ chưa từng vượt quá tầm kiểm soát.

Hắn đã giữ tính cách như vậy một thời gian rất lâu.

Sau đó thần mộc biến mất khỏi nhân gian và phía bên chín tầng mây xuất hiện một Tiên Đô. Hắn may mắn được trở thành một trong những vị tiên phi thăng sớm nhất, thậm chí còn được ngồi trên vị trí Tiên thủ Linh đài, cũng từ đó mà cảm giác xúc động “có điểm dừng” ấy lại càng lúc càng nhạt phai.

Bởi từ đấy, nhân gian mà hắn nhìn thấy đã trở thành tổ hợp vô số những gương mặt mơ hồ chứ chẳng còn là một cá thể đang khóc than đau đớn nào nữa.

Có lúc, hắn tưởng rằng mình sẽ không bao giờ dấy lên niềm xúc động vì “sự đau khổ của một người nào đó” nữa. Thế mà vào ngày kia, hắn bất ngờ nhận được một phong thư gửi đến từ dưới nhân gian.

Bức thư ấy thấm hương thuốc thoang thoảng trên giấy bùa, một mùi hương Hoa Tín vô cùng quen thuộc. Ấy là vị tiên sinh đã từng dạy hắn trận pháp và luyện đan, người giờ đây được hắn xưng là “cố hữu”. Tiên sinh luôn sử dụng loại giấy bùa có mùi hương này mỗi khi truyền thư tín đến cho hắn.

Sau đó, vị tiên sinh ấy lìa trần, trước phút lâm chung, ông có gửi đến hắn một phong thư cuối cùng. Thư nói rằng ông chỉ có một cô con gái độc nhất còn sống trên đời mà không rõ tương lai sau này con bé sống ra sao, nên nhờ hắn thi thoảng xuống nhân gian hãy ghé mắt ngó chừng giúp một chút.

Cô con gái độc nhất của tiên sinh được gả vào làm vợ liêu sứ Vấn Thiên liêu và hiện đang sống ở Vương đô. vào thời điểm đó, Vấn Thiêu liêu mang nhiệm vụ bói thiên cơ, người được họ thờ phụng chính là Linh đài thập nhị tiên.

Hoa Tín nhận lời phó thác của tiên sinh nên những hồi thi thoảng xuống nhân gian, hắn thường xuyên ghé sang nơi đó, sau được liêu sứ kính xưng “tiên hữu”.

Bức thư mà hắn nhận được ngày nọ là do hai vợ chồng liêu sứ gửi lên.

Khổ thay bức thư ấy đi qua nhiều biến cố quanh co, để khi đến được tay hắn đã chỉ là cảnh còn người mất…

Cặp vợ chồng liêu sứ bỏ mạng vì bị người âm mưu hãm hại, để lại mỗi cậu con trai độc nhất. Mà cậu bé kia giờ đang sống lang bạt cùng lưu dân ở miền sơn dã chứ không còn trong Vương đô nữa rồi.

Mấy năm đó Tiên Đô vô cùng hưng thịnh, song nhân gian chẳng hề bình an.

Ngoài sơn dã, đám tà ma âm v@t hoành hành hung hãn, để một đứa trẻ chẳng tinh thông thuật pháp lưu lạc nơi ấy thì không biết liệu có còn giữ được xương cốt hay không nữa là.

Dù đã dự trù như vậy, Hoa Tín vẫn xuống nhân gian một phen.

Dưới sơn dã, hắn gặp được cậu con trai độc nhất của hai vợ chồng liêu sứ. Cậu bé mù một mắt, gãy một chân, và đang giương mắt nhìn hắn với thân thể bê bết máu.

Hắn tưởng rằng cậu thiếu niên kia sẽ bật khóc, khóc vì đau, khóc vì sợ, hoặc khóc vì ấm ức.

Những người hắn từng gặp đều phản ứng đại loại kiểu bật khóc nức nở, gào thét không thôi. Nhưng đối phương không như thế.

Thiếu niên nhìn hắn đăm đăm với đôi mắt hoen đỏ, sau đó cắn vào tay hắn một cách mãnh liệt.

Đã bao nhiêu năm trôi qua rồi, cuối cùng hắn đã lần nữa trông rõ gương mặt “một người” dưới nhân gian.

Con mắt đỏ au cùng nhát cắn thinh lặng thế mà dậy lên trong hắn niềm xúc động còn nhiều hơn cơn khóc ròng.

Rốt cuộc chẳng rõ là do bắt nguồn từ “cố hữu” hay vì vết cắn và máu trên tay đã khiến hắn cảm nhận được nỗi đau đớn và cơn thịnh nộ của người kia.

Bởi thế, lần đầu tiên trong đời hắn đã cất giọng giải thích, “Linh đài có thiên quy, ta không thể nhúng tay vào sự vụ dưới nhân gian.”

Hắn gần như không bao giờ thấy xúc động, nên đâu giỏi an ủi.

Tuy vậy, vào ngày hôm đó, khi trông thấy người thiếu niên từ từ nhả miệng ra với đôi chân run rẩy mà vẫn ương bướng không rên một tiếng nào, hắn vẫn ngỏ vài lời an ủi.

Nhưng hắn thật sự không giỏi chuyện này nên chỉ còn cách nói linh tinh ngoài lề. Thậm chí, hắn còn đặt cho người nọ cái tên, tên gọi Vân Hãi.

***

Trước đây khi vẫn còn dưới nhân gian, Hoa Tín từng nghe người ta nói rằng nếu muốn mối quan hệ giữa mình và điều gì đó thêm đậm sâu thì hãy đặt cho nó cái tên.

Song hắn vốn sẵn tính thờ ơ nên không hề cảm thấy thêm một cái tên có thể thay đổi được gì.

Mà đúng thật, không có thay đổi nào hiện ra ngoài — hắn dẫn đứa nhỏ tên Vân Hãi đến nhà họ Hoa.

Những năm ấy, nhà họ Hoa hay thu nhận một số trẻ nhỏ phiêu dạt từ khắp nơi vào. Bên trong đệ tử đường có sẵn thầy dạy học nên mọi thứ sẽ được sắp xếp thoả đáng. Vân Hãi đến đây cũng sẽ được chăm sóc dạy dỗ, từ nay về sau cứ để số phận hắn thuận theo lẽ tự nhiên, không cần Hoa Tín phải chăm nom nhiều nữa.

Cùng lắm, lâu lâu hắn xuống nhân gian sẽ ghé mắt ngó chừng một chút theo lời gửi gắm của tiên sinh dạy luyện đan.

Lẽ ra hết thảy chỉ có thế mà thôi.

Vậy mà, vào thời điểm rời khỏi nhà họ Hoa, hắn chợt trông thấy nét mặt Vân Hãi — cậu thiếu niên ấy đang nhìn mấy đệ tử nhà họ Hoa đang luyện kiếm với ánh mắt đầy khao khát cháy bỏng.

Bất giác, hắn nhớ lại lời vị tiên sinh nói năm nào, “Tu sĩ nào cũng có ước vọng.”

Hắn biết rõ thứ mà cậu thiếu niên kia khao khát hiện tại không phải trường sinh và cũng không phải vì muốn bảo vệ một ai đó, dầu sao giờ cậu ta đã tan cửa nát nhà, đâu còn ai để bảo vệ. Bao khát khao tuôn trào trong mắt cậu chỉ thuần là oán hận và báo thù.

Rồi oán hận có thể kéo dài bao lâu? Rồi báo thù xong thì thế nào?

Nếu báo thù xong rồi ngưng lại thì đành thôi, còn nếu không ngưng lại được thì phải làm sao đây? Mà đời hắn từng gặp phải biết bao nhiêu là người không ngưng tay được sau khi nhúng máu.

Hắn không muốn cậu thiếu niên kia trở thành một trong số đó.

Vì vậy trước khi ròi khỏi, hắn đã dặn dò người nhà họ Hoa khoan hãy cho Vân Hãi cầm kiếm, và cũng đừng dạy cậu thuật pháp.

Gia chủ nhà họ Hoa nghe vậy thì không khỏi ngỡ ngàng, phải nhìn hắn với gương mặt đầy kinh ngạc. Song cuối cùng, gia chủ cũng không dám nhiều lời can thiệp mà chỉ hỏi một câu, “Đã không được luyện kiếm còn không rèn thuật pháp, vậy nên cho cậu ta làm gì bây giờ?”

Hoa Tín nói, “Cứ dưỡng thương trước đã.”

Mãi đến lúc trở về cung phủ trên Tiên Đô rồi, Hoa Tín mới sực nhận ra lý do khiến gia chủ nhà họ Hoa sững sờ ngạc nhiên là vì hắn đã vô tình phá vỡ một nguyên tắc nữa: Không nhúng tay vào chuyện người khác.

Xưa kia, thầy dạy học than một ngày ba bận mà hắn còn không hé lời nửa câu. Thế mà bây giờ hắn lại chỉ dẫn cho nhà họ Hoa nên đối đãi cậu thiếu niên kia như thế nào.

Đây hẳn là hậu quả của việc “đặt tên”.

Có lẽ để đưa mọi chuyện trở lại như cũ, suốt gần hai năm sau đó, hắn không xuống nhân gian nữa. Dần dà, người thiếu niên kia cũng trở thành một sự hiện hữu “không khác gì muôn vàn người khác trên thế gian”.

Mãi đến hai năm sau, hắn có việc ghé nhà họ Hoa một chuyến.

Cậu thiếu niên nhảy phốc xuống từ trên đầu tường, phóng vọt vào hành lang, níu chặt áo hắn và gọi một tiếng “Thưa sư phụ”, tiếp đó lại bày đặt tỏ vẻ rộng lượng và nói, “Nếu người hối hận vì đã dẫn ta về đây thì đừng ngại cho ta hay, để ta tự giác rời khỏi đây là được.”

Thời điểm đó, vết thương của Vân Hãi đã lành lặn từ lâu, đỉnh đầu hắn dỏng hẳn lên, tôn dáng vẻ sắc sảo của thiếu niên dậy thì. Vẻ ngoài đã thay đổi nhưng xương cốt vẫn để lộ sự ương bướng dù gãy một chân run lẩy bẩy mà sống chết vẫn cắn răng không rên một tiếng.

Thế là, cũng tương tự năm xưa, Hoa Tín đã cho hắn một lời giải thích nữa.

***

Rất lâu về sau, khi nhớ lại những chuyện xưa năm ấy, Hoa Tín mới vỡ lẽ hoá ra những ngoại lệ vô cớ đã hiện hữu đầy rẫy giữa hai người bọn họ ngay từ lúc ban đầu.

Mỗi một đợt “hiếm khi”, “hi hữu” hay “phá lệ” của hắn đều rơi trên cái người mang tên Vân Hãi, dẫu đó là vui cười hay tức giận.

Có lẽ vì suốt thiên hạ này, chỉ duy mỗi người đó xem hắn là “sư phụ” chứ không phải một “Tiên thủ Minh Vô” ngự trên ngai cao.

Hắn luôn cảm thấy tất cả mọi chuyện Vân Hãi làm đều mang đến cảm giác “nghiễm nhiên” như thế —

Xem như hắn là sư phụ và Vân Hãi là đệ tử, nghiễm nhiên mối quan hệ giữa hai người họ phải gần gũi hơn những người khác trên Tiên Đô.

Nghiễm nhiên, Vân Hãi có thể ra vào nơi ở của hắn, có thể bày biện đủ loại đồ chơi trong cung phủ thuần một sắc trắng của hắn. Và nghiễm nhiên, Vân Hãi cũng có thể ghé sang Linh đài những khi nhàn rỗi để tìm hắn xin thỉnh giáo vài vấn đề linh tinh, mà mỗi lần ghé sang đều ở trong đấy cả buổi.

Khi hoàn thành tốt công việc, nghiễm nhiên Vân Hãi sẽ đến tìm hắn để tìm lời khen ngợi. Khi gặp phải chuyện không hay, nghiễm nhiên Vân Hãi cũng sẽ chạy đến đòi được vài câu quở trách.

Theo thời gian, Hoa Tín đã lấy đó làm quen.

Thậm chí không phải là “theo thời gian”, mà dường như hắn đã quen với việc đó ngay từ ban đầu.

***

Thực chất, thói quen chính là thứ êm đềm như nước, như dòng chảy ngầm bên dưới mặt hồ phẳng lặng, trên mặt hồ không gợn sóng khiến người ta chẳng bao giờ phát hiện ra.

Với tính cách của Hoa Tín càng đúng như thế.

Nhưng cũng không phải lòng hắn không hề gợn sóng.

Có một ngày nọ, hắn đang ngồi chép kinh trên một toà lầu các trong cung phủ. Các tiên sứ và tiên đồng sợ làm phiền đến hắn nên ngồi hết ở gian phòng phụ một cách nghiêm túc. Gian phụ này ở cách toà lầu các rất xa.

Giữa bốn bề trắng thuần đơn sắc, yên lặng như tờ, trong không khí thoang thoảng mùi hương đan dược đang luyện trong lò từ tầng dưới. Đang chép dở một quyển kinh mà ngửi được mùi thuốc ấy chợt khiến hắn ngẩn ngơ.

Có một giây lát nào đấy, hắn gần như tưởng rằng mình hãy còn trong tuổi thiếu thời chưa tròn đôi mươi, khi đó hắn ở trên gian gác bên cạnh sân luyện kiếm nhà họ Hoa, sống mười mấy năm ngày ngày như một, trở thành chuẩn mực và ngoại lệ trong cả lứa đệ tử nhà họ Hoa. Nơi ấy, không ai làm phiền, không ai đến gần.

Vào thời điểm hắn chấm đầu bút vào lọ mực, đổi sang một quyển lụa tiên khác đặng tiếp tục chép kinh trong bình lặng như mặt hồ không gợn sóng, chợt có một bóng người khoác áo xanh xuất hiện bên rìa tầm mắt.

Bóng dáng ấy đang cầm một chậu cây biết nói với khả năng nhại theo tiếng người trên tay, vừa đấu võ mồm với chậu cây ấy vừa phóng qua lan can phía trên căn gác nhảy vào trong, cuối cùng đáp xuống chính xác ngay trước bàn viết kinh.

“Ngoan chút đi nào, chịu khó học giỏi biết nghe lời, bớt làm phiền người khác,” Vân Hãi cảnh cáo chỉ tay vào cành cây biết nói kia, đoạn đặt chậu cây mang cùng sắc màu với trang phục mình trên mặt bàn, phát ra một tiếng cạch nhè nhẹ.

Hắn chống tay lên bàn chép kinh, cười nói, “Sư phụ chép kinh có buồn không? Để ta ngồi chung với người nhé.”

Hoa Tín ngưng bút, ngước mắt lên.

Ngòi bút thấm mực chấm một vệt trên mặt lụa tiên, loang ra thành mảng lớn chẳng biết tự khi nào.

***

Thực tế, đó chính là một viên đá ném xuống mặt hồ phẳng lặng…

Tiếc thay thời cơ chẳng chín muồi, mà đã hơi trễ rồi.

Vì chẳng mấy lâu sau,Vân Hãi bị giáng hết lần này đến lần khác. Hương hoả ở thung lũng Đại Bi dần suy tàn, suốt một trăm năm không người thờ cúng. Bởi vậy mà vào một hôm nào đó, ánh sao tỏ trên trời rơi xuống, và Tiên Đô vắng bóng một vị tiên được gọi “Lang quan”.

Thể theo quy tắc Linh đài, tiên bị giáng trần đều sẽ biến mất khỏi ký ức của tất cả các vị tiên còn lại trên Tiên đô. Không một ai còn nhớ đến người này, dẫu cho nhìn thấy những món đồ có liên quan.

Hết thảy quá khứ và ký ức có liên quan đến hắn đều bị phủ bên trong một tảng sương mù dày đặc, mịt mờ nhìn sao cũng không thấy rõ.

Nhưng Hoa Tín không giống những người khác vì nơi nơi trong cung phủ hắn đều vương dấu người kia — những món đồ có linh giúp khuấy động bầu không khí, và đám cây cỏ biết nói ngày ngày hí ha hí hửng hô, “Hôm nay Tiên thủ chưa có cười nha”.

Dưới tác động của Thiên đạo, ký ức hắn cũng dần bị xoá mất. Mà đồng thời, khi nhìn thấy những cây cỏ biết nói và đồ vật có linh kia, hắn lại nhớ về bóng người vận y bào xanh phóng mình qua lan can, nhảy vào trong gian gác cao.

Cảm giác đó vô cùng mâu thuẫn. Tưởng chừng như có một ai đó không ngừng ném hòn đá vào mặt hồ, rồi lại cưỡng ép đè mặt hồ gợn sóng kia phẳng lặng trở lại.

Hắn bắt đầu giam mình trên gian cao của toà lầu các để chép kinh liền tù tì mấy hôm, dùng cùng một loại lụa trắng, cùng một loại bút lông, và có những khi còn cùng một vệt đỏ thắm như in ngày ấy.

Nhưng dầu hắn có chép bao nhiêu quyển kinh, có ngừng bút ngẩng đầu bao bận, cũng chẳng còn một ai nghiễm nhiên nhoẻn miệng cười tíu tít trước mặt hắn nữa.

***

Bởi thế, hắn lại phá lệ thêm một lần nữa.

Thể theo thiên quy Linh đài, hắn không được hỏi han về các tiên đã bị giáng trần. Thế mà nhân một lần đi công tác hắn lại ghé sang nhà họ Hoa, để lại một tấm bùa thư nhờ thăm dò tung tích người kia.

Theo thư hồi âm trong những năm đó, cuộc sống của Vân Hãi sau khi hạ phàm tương đối ổn thoả. Hắn đã quên mất mọi thứ trên Tiên Đô và hiện đang sống những tháng ngày bình thường hệt như muôn vàn bá tánh. Hắn sống trong một góc nhỏ tại Xuân Phiên thành, trong phạm vi có thể đến nhà họ Hoa mỗi ngày để học một số thuật pháp đơn giản. Thế nhưng mãi mà hắn vẫn không gia nhập vào tiên môn lần nữa.

Những người trên Tiên Đô không để ý năm tháng, nhưng Tiên thủ Minh Vô là một ngoại lệ. Nếu có một ai bất chợt hỏi, hắn thậm chí còn không cần phải nghĩ cũng có thể trả lời năm nay là năm nào ở nhân gian. Dù rằng, làm một Tiên thủ, rõ ràng hắn phải túc trực bên cạnh Linh đài chứ làm gì có thời gian rỗi rãi xuống nhân gian.

***

Đã từng, Hoa Tín những tưởng những tháng ngày đó sẽ trôi qua rất rất nhiều năm, trôi qua bình lặng cho đến khi Vân Hãi bước dần đến cuối cuộc đời phàm nhân của mình.

Song thực tế lại hoàn toàn khác biệt.

Cái gọi là “bình lặng” ngắn hơn hắn tưởng rất nhiều.

Vào một hôm nào đó, hắn nhận được một tấm bùa thư hồi âm của nhà họ Hoa, thư nói Vân Hãi đi theo đoàn xe ngựa băng qua thung lũng Đại Bi, vừa lúc chạm trán tà ma đang tác hoạ. Nhà họ Hoa đang cho người đến đấy nhưng chỉ e lành ít dữ nhiều.

Rất lâu về trước, vào thời điểm hắn vẫn còn trẻ chưa đến đôi mươi, thầy dạy học từng đàm luận với hắn về sinh tử. Khi đó, hắn trả lời ông rằng, “Ấy đều là duyên, đoản mệnh hay trường thọ đều do tạo hoá định đoạt, việc này ta không bận tâm đ ến”.

Và chẳng mấy lâu về trước, hắn hãy còn nghĩ, phàm nhân đều có sinh lão bệnh tử, Vân Hãi khó thoát khỏi quy luật này.

Vậy mà đến khi đọc được bốn chữ “lành ít dữ nhiều” trên bức bùa thư, hắn mới vỡ lẽ những lời mình nói ra trước đây đều chỉ là những lời nói suông. Trước khi hắn kịp ý thức được thì hắn đã mang kiếm tức tốc xuống thẳng nhân gian.

Hắn nhủ bụng: Hễ Vân Hãi còn một hơi thở, hắn nhất định phải cứu cho được người về bằng mọi giá.

Còn nếu Vân Hãi đã ngừng thở…

Khoảnh khắc ấy, hắn đang lướt xuyên mây mù bọc quanh thung lũng Đại Bi. Trời không rét mà hắn thấy lạnh đến rợn kinh người.

Hắn chợt nhận ra, mình không tài nào dám nghĩ đến điều gì sẽ tiếp nối sau chữ “nếu” ấy.
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 105: Phần tiếp


Điều khó lòng tưởng tượng nhất với một Hoa Tín cầm kiếm hạ phàm chính là việc “Vân Hãi đã mất mạng”.

Nhưng sau này hắn mới hiểu hoá ra “mất mạng” còn chưa phải kết quả tồi tệ nhất.

Tồi tệ nhất là việc hắn đã tự tay gi3t chết người kia.

Hôm đó, Tiên thủ Minh Vô quỳ trên đường núi thung lũng Đại Bi, mắt đăm đăm vào gương mặt tà ma Vân Hãi bị ghim dưới kiếm mình. Trước lúc vĩnh viễn khép lại đôi mắt, đối phương đã thốt lên một câu không thành tiếng.

Hắn nói, “Người sẽ nhớ rõ ta chứ…”

Khoảnh khắc ấy, Tiên thủ Minh Vô bỗng thấu tỏ rất nhiều điều trước đây hắn không thể tuỳ tiện đồng thuận.

Trong lòng hắn ngập tràn một suy nghĩ: Miễn có thể làm người bị ghim dưới kiếm sống lại thì đánh đổi giá nào cũng được.

Hắn giam linh phách Vân Hãi trở vào thể xác, ngay lập tức chôn người xuống đáy thung lũng Đại Bi, trói bằng dây leo thần rồi trấn hết lại dưới trận pháp.

Thoạt nhìn, dường như trận pháp kia được dùng để áp chế tà ma vĩnh viễn không thể siêu sinh, nhưng thực tế nó có tác dụng níu giữ linh phách Vân Hãi không phân tán ra bên ngoài.

Hắn giam giữ người kia hòng chờ một cơ hội.

Sau khi hoàn tất hết mọi việc, Hoa Tín thu kiếm về, đặt thêm một tầng phong ấn trước miếu thờ ở thung lũng Đại Bi rồi mới trở về Tiên Đô.

Sau này, mỗi khi tình cờ nhắc đến sự việc ngày hôm ấy, các tiên trên Tiên Đô đều nói, “Tiên thủ Minh Vô ra tay trả thù cho đệ tử mình, nhưng sát phạt tà ma vốn là trách nhiệm của Thiên Túc, hành động của Tiên thủ đã vi phạm tiên quy nên sau khi trở lại Tiên Đô, hắn phải tự đi đến Linh đài nhận phạt, tiếp đó bế quan tĩnh tu một thời gian trong cung phủ mình, sau nữa mọi thứ mới trở về như thường lệ.”

Gần như tất cả mọi người đều cảm thấy đó là sự thật. Và Hoa Tín cũng hy vọng mọi người nghĩ vậy.

Nhưng cứ phải tồn tại một số ngoại lệ.

Ví như Lễ các.

Lễ các trông nom công việc linh tinh trên Tiên Đô, đó đều là mấy chuyện vặt vãnh không tên, không đáng chú ý và cũng chẳng ảnh hưởng đến ai.

Trên Tiên Đô ai cũng đinh ninh như vậy.

Trước đây Hoa Tín cũng nghĩ như thế, tuy nhiên sau khi trở về từ thung lũng Đại Bi, hắn đã đổi cách nghĩ. Nguyên do là vào thời điểm nhận phạt nên phải bế quan tĩnh tu, hắn bất chợt nhận ra một điều, trên Tiên Đô có một số người dẫu dùng cách nào cũng không tránh được…

Đó là các tiên sứ và tiên đồng Tiên Đô đâu đâu cũng thấy.

Linh đài có, cung phủ có, gần như tại mỗi ngóc ngách Tiên Đô đều có.

Khi đó, trên cơ thể Hoa Tín có bám khí tà ma, trong khí tà ma còn vương dấu tích Vân Hãi, mà hắn không muốn bất kỳ một ai phát hiện ra sự bất thường nào.

Hắn càng không muốn thì càng cảm thấy hết thảy những người xung quanh mình đều là chướng ngại. Chướng ngại lớn nhất chính là các tiên sứ và tiên đồng. Mà tất cả các tiên sứ, tiên đồng đều xuất thân từ Lễ các.

Bởi vậy, Tiên thủ Minh Vô khá đề phòng Lễ các vào thời điểm đó. Có một đợt, trong lúc đề cập đến chuyện nhỏ nhặt gì đó với người khác, hắn cất giọng hờ hững, “Nếu có điều khó hiểu thì có thể đến thỉnh giáo hai vị tiên quan ở Lễ các hay hơn tìm ta đấy.”

Người kia mới thắc mắc, “Sao ngài nói thế?”

Hắn đáp, “Lễ các rất cần cù, có mối quan hệ với tất cả các tiên trên Tiên Đô nên biết được rất nhiều chuyện, có khi còn nhiều hơn cả Linh đài chúng ta nữa.”

Người kia bấy giờ mới ngộ ra, bèn đồng tình, “Quả thật là vậy, Lễ các còn có giao tình với cả hai vị Linh Vương và Thiên Túc cơ mà.”

Lúc đó, Hoa Tín nghĩ bụng, ai mà không có bí mật? Chỉ e đến cả hai vị tách biệt với Linh đài ngoài kia cũng có, mà ngay cả thân phận của hai người cũng đã là một bí mật rồi.

Nói không chừng, đến cả Thiên đạo vô hình vô dạng kia còn có bí mật.

Mà còn Lễ các thì những bí mật trên Tiên Đô còn có thể giữ kín được bao lâu? Hễ muốn biết chuyện gì, chỉ cần tới tán gẫu với Tang Phụng, Mộng Cô mấy câu là có khi lộ ra chút đỉnh manh mối ngay.

Không bao lâu sau cuộc trò chuyện đó, Tang Phụng của Lễ các can thiệp vào vài việc dưới nhân gian, vi phạm tiên quy nên phải nhận xử phạt, bị điều ra khỏi Lễ các và trở thành sơn thần núi Bất Động.

Tang Phụng làm sơn thần trông coi núi Bất Động được mười mấy năm. Trong một lần đến nhân gian xử lý chút việc linh tinh, anh ta gặp trục trặc nên được Mộng Cô ra tay giúp một phen. Khi đó, Mộng Cô cũng vi phạm đến tiên quy và nhận kết cuộc tương tự là bị điều khỏi Lễ các, đến cai quản Kinh Quan.

Đối với chúng tiên, bị phạt hay bị điều đi đều phải thông qua Tiên thủ Linh đài.

Hoa Tín đã xem qua tất cả lệnh chuyển công tác và lệnh xử phạt nhưng không nhận thấy có vấn đề gì. Quả thực đều do bọn họ vi phạm tiên quy trước nên không còn gì để biện minh.

Tuy vậy, lòng hắn không thanh bạch nên nhìn thấy gì cũng suy nghĩ thâm sâu hơn một chút. Trong mắt hắn, dường như việc hai người kia bị điều đi khỏi Lễ các là chủ ý của Thiên đạo.

Nhưng Thiên đạo vô hình vô tướng sẽ không ra tay thao túng bất kỳ ai, nên dần dà Hoa Tín cũng không còn cảm giác nghi ngờ đó nữa.

Từ đó về sau cứ thi thoảng lại có tiên nhân vi phạm tiên quy, lần lượt nhận hình phạt, lần lượt bị điều đi. Hắn đọc kỹ những lệnh thuyên chuyển đó mà tuyệt nhiên không thắc mắc nhiều.

Cho đến một ngày, lần đầu tiên có một lệnh phạt có phần đặc biệt được đưa đến tay hắn.

Lệnh phạt này không áp dụng cho chúng tiên dưới quyền kiểm soát của Linh đài mà dành cho tiên môn dưới nhân gian. Tiên môn này không phải một cái tên xa lạ gì, trái lại ít nhiều còn có mối tương liên không mấy sâu sắc với hắn.

Tiên môn đó chính là nhà họ Phong.

Nhờ một lệnh phạt bình thường như vậy mà Hoa Tín đã nhìn thấy một “bí mật”. Hắn phát hiện ra tung tích thần mộc “chỉ trẻ sơ sinh và người sắp qua đời mới có thể nhìn thấy” đã tồn tại trong truyền thuyết từ mấy trăm năm trước. Thần mộc bị Linh Vương phong ấn trong Lạc Hoa Đài, và nhà họ Phong phụng theo thiên chiếu trở thành những người canh giữ cấm địa.

Nguyên do có lệnh phạt này là vì nhà họ Phong canh giữ không nghiêm, khiến có người suýt nữa đã thâm nhập vào cấm địa.

Tuy kết cuộc chuyện đó bất thành, chỉ khiến mọi người hoảng loạn một phen nhưng nếu nó thành thật chắc chắn sẽ là một mối hoạ kinh khủng. Một mối hoạ kinh khủng như vậy mà án phạt nhận được lại quá chi bình thường.

Bởi án phạt này mà lần đó Hoa Tín âm thầm xuống nhân gian một phen, có điều hắn không dùng chân thân. Hắn tàng hình đến thành Mộng Đô, đi ngang qua cổng lớn nhà họ Phong.

Ngày hôm đó, Hoa Tín dấy lên trong lòng cảm giác vật đổi sao dời. Người hậu bối bị mất đi đôi nam nữ năm nào giờ đã là gia chủ nhà họ Phong, ngồi trên ngai cao rất nhiều năm, mà trông cũng đã phảng phất bóng dáng tuổi xế chiều.

Khi người ta đã luống tuổi, được công thành danh toại rồi lại càng ước mong những điều trước đây mình chưa đạt được. Và vị gia chủ kia cũng không ngoại lệ.

Hoa Tín nghe nói trong mấy năm vừa qua, vị gia chủ kia không ngừng nhắc đến hai người con chết non của mình, nghe đâu ông ta đã thử rất nhiều phương thức, nghĩ đủ mọi cách hòng giúp hai đứa nhỏ sống lại để nhìn ông ta lần nữa, ông nghĩ nhiều đến mức ám ảnh.

Hoa Tín chợt nhớ lại mấy trăm năm về trước khi đi ngang qua Mộng Đô, hắn từng nhìn thấy đèn trắng giăng kín trước cửa nhà họ Phong và người đàn ông mang tang hai đứa con trẻ với gương mặt hốc hác tiều tuỵ chỉ sau một đêm.

Ấy thế mà hắn lại cảm thấy mình có ít duyên phận với người gia chủ nhà họ Phong này.

Khoảnh khắc ấy, Tiên thủ Minh Vô thầm nghĩ: Đây chính là cơ hội hắn đã chờ rất nhiều năm.

Và thậm chí hắn còn cảm thấy cơ hội này được Thiên đạo ngầm chấp thuận cho. Bằng không, vì cớ gì hắn có thể tìm ra bí mật của thần mộc và Linh Vương chỉ với một tấm giấy xử phạt tầm thường như thế này?

Song đây dầu sau cũng chỉ là suy đoán và cảm nhận của hắn chứ không có bằng chứng gì cả. Thế nên hắn đã thử xem sao. Hắn nghĩ cách xâm nhập vào giấc chiêm bao của gia chủ nhà họ Phong rồi thông qua giấc mơ đó để chỉ cho đối phương hai con đường.

Một con đường ngay thẳng, đường còn lại thì không.

Hắn đã nghĩ, hết thảy để trời cao định đoạt.

Sau nhiều năm chờ đợi, Hoa Tín đã thấy được đáp án.

Ban đầu, gia chủ nhà họ Phong chọn con đường ngay thẳng nhưng đi hoài chẳng đạt được kết quả, sau cùng ông ta cạn kiệt sức nhẫn nại, chấp niệm nặng nề hoá thành nỗi ám ảnh. Bởi vậy, ông ta đã chọn đi con đường còn lại…

Ông ta lợi dụng việc nhà họ Phong mình được giao nhiệm vụ canh giữ cấm địa để tự trộm đồ mình trông coi, mượn sức mạnh của thần mộc hòng đưa mọi việc trở lại điểm ban đầu.

Thành thử, Tiên thủ Minh Vô đã tự thân chứng kiến thế gian xuất hiện thêm một dòng rối loạn mới.

Hắn tận mắt thấy gia chủ nhà họ Phong trở thành khởi nguồn của nhân quả rồi sống mất hồn như điên như dại ở hiện thế, sau đó chìm sâu vào mê man.

Người nhà họ Phong không rõ nguyên do nên chỉ đành nói gia chủ bế quan tu hành, không tiếp người ngoài. Mỗi mình Hoa Tín biết thực ra gia chủ nhà họ Phong đã dấn mình trong dòng rối loạn.

Việc này chệch hẳn khỏi suy tính ban đầu của Hoa Tín, rõ ràng trong hoàn cảnh này, gia chủ nhà họ Phong biết dòng rối loạn không phải hiện thế, tất cả mọi thứ bên trong dòng rối loạn đều chỉ là ảo ảnh như trăng trong gương, hoa trong nước mà thôi.

Người đã khơi mào dòng rối loạn đấy chỉ còn đường đón nhận một cái kết thảm hại cùng cực. Và thậm chí, những thứ trong dòng rối loạn còn có thể quấy nhiễu đến hiện thế.

Hoa Tín hiểu tường tận hết cả một cách tỉnh táo…

Thế nhưng “trăng trong gương” sao mà mê hoặc quá đỗi.

Hắn vẫn sử dụng cơ duyên của gia chủ nhà họ Phong để đi vào dòng rối loạn, bài bố lại tà trận vốn không tìm được chỗ ẩn náu năm xưa xuống dưới đáy thung lũng Đại Bi trong dòng rối loạn, cộng sinh với dây leo thần để hấp thụ máu thịt xương linh của người sống, đồng thời chạy ngược về nuôi nấng linh phách Vân Hãi ở hiện thế. Hết thảy để đánh đổi một cơ hội sống vô vọng.

Hắn liên tục nhắc nhở bản thân rằng tất cả mọi thứ thuộc về dòng rối loạn đều không phải sự thật, tuyệt đối không được chìm đắm bên trong.

Ấy vậy mà đến khi nghe nói có một vị tiên quan tên Vân Hãi ở trên Tiên Đô của dòng rối loạn nhận được lệnh điều sang làm sơn thần thung lũng Đại Bi, hắn vẫn không cách nào kiềm lòng nổi, cuối cùng lại nhúng tay can thiệp.

Bởi vậy, thung lũng Đại Bi nơi Vân Hãi cai quản chẳng còn là một vùng đất hoang vu. Ở nơi ấy, ngựa xe nối đuôi nhau không ngớt, hương hoả dồi dào nghi ngút. Và vị sơn thần được thờ phụng cũng chẳng cần phải lo việc hương hoả phai nhạt rồi bị giáng xuống nhân gian.

Dầu vậy, hắn vẫn một mực tránh đi chứ không gặp vị sơn thần thung lũng Đại Bi ở dòng rối loạn một lần nào. Hắn sợ rằng một khi chạm mặt rồi hắn sẽ ngỡ ảo ảnh chính là sự thật mất.

Bởi thế, hắn để một phần linh phách mình lại ở dòng rối loạn để trông chừng, còn bản thân quay về hiện thế.

Một quãng thời gian rất dài trôi qua, hắn vẫn không ngừng kiếm tìm một biện pháp khác.

Nếu có thể biết nơi phong ấn thần mộc, biết được nơi nhà họ Phong đang trông coi, hắn chắc chắn sẽ tìm được một biện pháp để thật sự hồi sinh người dưới đáy thung lũng Đại Bi.

Những năm tiếp sau đó, Hoa Tín đã mượn tay rất nhiều người, dòng rối loạn của gia chủ nhà họ Phong không phải là nhánh rẽ duy nhất. Song hắn chưa bao giờ bước vào những dòng rối loạn khác. Về sau hắn bắt đầu nhận ra những dòng rối loạn kia đang lần lượt biến mất, và những nhánh rẽ ấy lần lượt bị kéo ngược trở về.

Đến tận lúc ấy hắn mới hiểu cái danh hào Linh Vương rốt cuộc dùng để đảm nhiệm việc gì trên thế gian.

Và thậm chí, đến một lời xin lỗi “có điểm dừng” hắn cũng chẳng có.

Năm xưa, người thầy dạy luyện đan từng nói “Nếu vẫn sẽ giữ được như vậy thì thật tốt”, nhưng ông ấy vẫn để dở nửa câu sau: Với tính cách của con, nhỡ đâu bỗng có một ngày con muốn bảo vệ một ai đó hoặc có chấp niệm với một việc gì đó, chỉ e dễ lầm đường lạc lối.

Mà trái ngang hơn cả chính là việc hắn biết rõ đây là lạc lối.

Hoa Tín thử hết lần này đến lần khác, càng về sau hắn càng có thể khẳng định Thiên đạo Linh đài ngầm chấp thuận cho sự lạc lối này.

Từng có lúc hắn thắc mắc không biết vì sao Thiên đạo lại ngầm chấp thuận việc này, hẳn là không đến mức muốn che chở cho hắn hay Vân Hãi. Sau đó nữa, hắn mới dần dò la ra manh mối.

Hắn cảm thấy, không biết vô tình hay hữu ý mà có vẻ như Linh Vương đang chống đối Thiên đạo Linh đài, vì vậy mà Thiên đạo ngầm chấp thuận việc này hòng châm củi nổi lửa đàn áp sự chống đối kia xuống.

Hắn tình cờ chứng kiến chuyện ấy, tình cờ tận dụng cơ hội ấy, mà những hành động của hắn lại vô hình trung trở thành “cơn sóng” mà Thiên đạo muốn nổi lên.

Đây có lẽ là vai trò đầy châm biếm nhất của Tiên thủ Linh đài.

Nhưng hắn không quan tâm.

Hoa Tín đã hiểu ra chuyện đó từ lâu, và những diễn biến về sau gần như đều chứng minh suy đoán của hắn là chính xác. Cho đến hai lăm năm trước khi Tiên Đô sụp đổ và gần như toàn bộ chúng tiên đều ra đi, hắn mới bỗng nhận ra suy đoán này không thật sự đúng lắm.

❄︎

Cá:

Ôi cứ thấy Hoa Tín và Vân Hãi đậm vibe Romeo và Juliet ấy nhỉ (ᓀ ω ᓀ), cái kiểu ngược này nó hợp gout toi vãi các chị em ạ
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 106: Sau cùng


Thật ra, vào ngày hôm đó của hai lăm năm về trước, người đầu tiên xông vào Linh đài không phải Ô Hành Tuyết mà là Linh Vương của dòng rối loạn.

Hoa Tín vẫn còn nhớ như in, ngày ấy tiên sứ hối hả chạy đến báo tin, “Có người tự ý xâm nhập Tiên Đô!”

Hoa Tín sửng sốt. “Là ai?”

Tiên Đô nào có phải chốn để người bình thường chạy vào làm loạn, tháp thông thiên dẫn lên Tiên Đô ở núi Thái Nhân cũng đâu phải nơi thường nhân có thể bước lên. Loại chuyện như “Tự ý xâm nhập Tiên Đô” chưa từng xảy ra trước đây.

Thành thử, chỉ với một câu đơn giản như vậy đã chấn động hết toàn bộ Linh đài.

Tiên sứ đáp, “Thưa không rõ. Người đó mang mặt nạ suốt chứ không hề để lộ bóng dáng.”

Hoa Tín: “Mặt nạ?”

“Mặt nạ bạc chạm hoa văn!”

Hoa Tín giật thót trong lòng, nhỏ giọng lầm bầm, “Sao lại là y…”

Những người khác chưa hết hoang mang bèn hỏi, “Ai? Là kẻ nào? Tiên thủ biết sao?!”

Sau khi Ô Hành Tuyết trở thành tà ma, sự tồn tại của Linh Vương đã bị Thiên đạo Linh đài xoá sạch. Đúng lý mà nói, không bất kỳ một người nào trên đời này nhớ được nơi đây từng có một vị thần tiên thường cầm kiếm và đeo mặt nạ như thế.

Nhưng Hoa Tín là trường hợp đặc biệt…

Để chăm nom cho tà trận, hắn phải tách một phần linh phách mình canh giữ bên trong dòng rối loạn của nhà họ Phong, phần linh phách đó không bị tác động từ sự tận diệt trong dòng thời gian hiện thế. Vì vậy, tất cả những tận diệt mà hắn phải gánh chịu đều không hoàn chỉnh.

Hắn vẫn luôn còn giữ một ít ấn tượng đối với Linh Vương.

Những người khác trên Tiên Đô không nhận ra người tự ý xâm nhập là ai, song Hoa Tín thì biết. Chỉ vừa nghe đến việc người kia đeo mặt nạ là hắn biết ngay đó chính là Linh Vương, không chỉ thế mà còn là Linh Vương của dòng rối loạn.

Bởi vị ở hiện thế giờ đã là tên ma đầu người người đều biết.

Nhưng tại sao Linh Vương của dòng rối loạn lại xuất hiện ở hiện thế?

Hoa Tín: “Người đó có nói gì không?”

Tiên sứ đáp, “Thưa có!”

Tiên sứ trả lời tiếp trong giọng vừa rối bời vừa hoang mang cực độ, “Y vừa tới Tiên Đô đã thở dài, bảo <i>đắc tội</i>.”

“Đắc tội?” Hoa Tín nhíu mày. “Nói với ai?”

Tiên sứ đáp, “… Với mọi người.”

Hoa Tín đứng bật dậy.

Hắn không phải hạng ngu đần, chỉ cần nhìn một là hiểu được hết, và lần này cũng không ngoại lệ.

Dù cố ý hay vô tình, trước đây Thiên đạo từng ngầm chấp thuận và thêm củi thổi lửa, nhờ đó mà hắn biết được bí mật của Linh Vương, biết được những việc Linh Vương sẽ làm mỗi lần tiếp nhận thiên chiếu.

Chỉ cần xâu chuỗi lại với nhau, hắn hiểu ngay Linh Vương đến đây vì lý do gì…

Vị Linh Vương kia xem hiện thế như dòng rối loạn và đang có ý định dọn sạch chỉ trong một lần ra mặt.

Hoa Tín ngay lập tức rút kiếm ra, từ trên đỉnh Linh đài chém xuống một nhát!

Tiên nhân trấn thủ mười hai đỉnh Linh đài lập tức nối gót theo sau.

Năm xưa khi mượn sức mạnh của thần mộc, Tiên thủ Minh Vô từng lường trước rằng sớm muộn gì cũng có một ngày hắn phải giao chiến với Linh Vương.

Vốn dĩ hắn tưởng thần mộc sẽ là nguyên do, nhưng không ngờ lại lâm vào tình huống như hôm nay.

Và hắn càng không ngờ được vị Linh Vương ngày thường cười đùa vui vẻ như gió xuân lại khốc liệt đến như vậy vào những lúc phải ra tay chém đứt dòng thời gian. Từng chiêu tung ra đều là sát chiêu, từng chiêu đều cuồn cuộn sức mạnh có thể san bằng non cao biển rộng.

Có lẽ vì càng yếu lòng do dự khi chém đứt dòng thời gian sẽ càng mang đến nhiều khổ đau cho người bị dọn dẹp.

Song sự khốc liệt đó giờ đây lại đáng sợ hơn bao giờ hết.

Vì nó sâu thẳm không đáy.

Đấu với một người, y mang sức mạnh của một người. Đấu với mười người, y gánh sức mạnh của mười người.

Các tiên Linh đài tuyệt nhiên không chiếm được một chút thượng phong nào khi đương đầu với Linh Vương. Thoắt cái, nỗi khiếp sợ và kinh hoàng lan tràn nơi nơi, có người hô to, “Tại sao không truyền thư triệu hồi những người bên ngoài gấp?!”

Khoảnh khắc đó, Hoa Tín chợt thảng thốt!

Hiếm khi hắn cảm thấy cơn ớn lạnh như băng trượt xuống từ đỉnh đầu…

<i>Đúng vậy, Tiên Đô đã hỗn loạn đến mức này mà Thiên đạo Linh đài hoàn toàn không có bất kỳ một phản ứng gì.</i>

Cứ như thể…

Lại là ngầm chấp thuận.

Nếu xét kỹ hơn một bước nữa sẽ thấy, Linh Vương chém dòng thời gian cũng vì nhận được thiên chiếu.

Bấy giờ, Hoa Tín cuối cùng đã tỏ tường tất cả những lần chấp thuận trong âm thầm của Thiên đạo trước giờ để nhằm mục đích gì…

Hắn mượn tay người khác để dùng sức mạnh của thần mộc, lẽ nào Thiên đạo không thể mượn tay hắn để vạch ra dòng rối loạn?! Hiện tại, Thiên đạo lại tiếp tục thúc đẩy Linh Vương của dòng rối loạn đến chém đứt hiện thế, cho thấy rõ ràng nó đang muốn diệt trừ sạch sẽ hiện thế này.

Nó không muốn hiện thế này, nó muốn biến dòng rối loạn kia thành hiện thực.

<i>Nhưng tại sao… tại sao Thiên đạo Linh đài không muốn hiện thế này?!</i>

Hoa Tín trầm ngâm.

Tuy nhiên, hắn không có nhiều thời gian để suy nghĩ kỹ lưỡng, vì đã có một người nữa xông tới.

Đó là một ma đầu tên gọi Ô Hành Tuyết.

Đây là khung cảnh Tiên Đô nhiễu nhương và hỗn loạn bậc nhất mà chúng tiên chưa bao giờ chứng kiến…

Linh Vương dòng rối loạn muốn chém đứt hiện thế, Ô Hành Tuyết hiện thế công khai đến ngăn cản, đồng thời tấn công thẳng vào Thiên đạo Linh đài.

Hoa Tín toan xuất chiêu chặn lại, hắn thét to một câu giữa lúc khẩn cấp, “Linh Vương không thể —”

Ô Hành Tuyết đanh mặt ngước mắt lên. “Ngươi vừa gọi ta là gì?”

Hễ Thiên đạo đã tận diệt một người thì tuyệt nhiên không một ai còn nhớ ra kẻ đó. Ngoại trừ trường hợp tận diệt chưa sạch bởi một nguyên cớ nào đó.

Người kia nhạy bén khôn cùng, gần như đoán ra được ngay lập tức. “Thần mộc…”

Phản ứng của Hoa Tín đã khẳng định hết thảy.

Hắn nghe Linh Vương cất giọng lạnh lùng, “Ngay từ lúc phát hiện ra dấu tích còn sót lại của một Linh Vương khác ta đã luôn tự hỏi rốt cuộc tại sao lại như vậy. Rốt cuộc dính líu đến vị thần tiên nào khiến cho dòng rối loạn xuất hiện cả Tiên Đô và có cả Linh Vương. Ấy thế mà là ngươi!”

Hắn còn nghe Linh Vương nói, “Ta từng chứng kiến biết bao người đời bị ám ảnh bởi thần mộc đến mức hại người hại mình. Thật không ngờ rằng ngươi cũng là một người trong số họ.”

Hoa Tín không có ý định thanh minh, chỉ đáp trả bằng cách tung chiêu.

Hai chiêu đâm vào nhau nổi cuồng phong sắc bén như như lưỡi đao xuyên trời xé đất, chúng chém thẳng một mạch đến mười hai đỉnh Linh đài. Vách núi treo cao bị bổ ra vết nứt khổng lồ, đá vụn bắn tứ tung!

Hắn nhận ra Ô Hành Tuyết định làm gì.

Cả hai đều hiểu rõ ý đồ của Thiên đạo, nhưng hắn ở đây để ngăn cản Linh Vương đến chém đứt dòng thời gian, còn Ô Hành Tuyết muốn thẳng tay huỷ diệt Thiên đạo Linh đài.

Nhưng sao có thể được!

Chiêu thức của đối phương khiến linh thần Hoa Tín chấn động dữ dội, nhưng hắn vẫn ghìm nét mặt bình tĩnh không lay chuyển và cất giọng khàn khàn, “Ngươi… chắc chắn sẽ thua.”

“Tại sao.”

“Đó là Thiên đạo,” Hoa Tín nói.

Hắn hiểu quá rõ.

Hắn là Tiên thủ Linh đài, thay mặt chúng tiên đón nhận thiên chiếu suốt mấy trăm năm. Hắn từng chứng kiến quá nhiều.

Thiên đạo vô hình vô trạng, nhưng nó luôn có cách đưa người ta bước đi trên con đường mà nó mong muốn. Nó luôn luôn có thể khiến người ta bỏ lỡ trong suýt soát, luôn luôn có cách để người ta chậm chân một bước, để người ta cảm thấy khổ sở và bất lực. Cuối cùng, người ta chỉ đành than thở “Ý trời trêu ngươi”.

Hắn từng trải chuyện đó nên hiểu rõ hơn bất kỳ ai khác. Cũng vì thế mà suốt ngần ấy năm, hắn chưa từng vi phạm mà chỉ nương theo sự chấp thuận ngầm của Thiên đạo để tiến hành chuyện mình muốn làm.

Ngay cả thời điểm này, khi Thiên đạo muốn diệt trừ hiện thế, khiến cho tất cả những gì hắn làm trong những năm qua đều tan thành bọt nước, thì hắn cũng sẽ không đụng đến Thiên đạo Linh đài.

Vì hắn biết đó là điều không thể, biết cầm chắc thất bại.

Hắn chắn trước đỉnh Linh đài, nói với Ô Hành Tuyết giữa gió quật mãnh liệt, “Không ai có thể cản chuyện Thiên đạo muốn làm…”

“Nó có thể sắp đặt hết thảy mọi thứ một cách chuẩn xác để ngươi chạm trán đối thủ mạnh nhất ngay thời điểm bản thân tồi tệ nhất, và hoàn toàn cô độc.”

“Nó có cách để ngươi không thể cứu người ngươi muốn cứu, cũng có cách để ngăn cản những người muốn đến giúp đỡ ngươi.”



Lúc đấy, Hoa Tín không biết mình đang cảnh báo đối phương hay chỉ mượn những lời này để tự nhắn nhủ bản thân.

Hắn ngừng đoạn, rồi tiếp tục nói với Ô Hành Tuyết, “Linh Vương còn chưa nhận ra sao? Tại sao Tiên Đô rộng lớn bực này, mà khéo sao người duy nhất có khả năng đối đầu Thiên đạo chung với ngươi lại không có mặt.”

Hắn thấy Ô Hành Tuyết thốt nhiên ngước mắt lên.

“Linh Vương từ tiên nhập ma, đã hứng chịu rất nhiều việc, hẳn là hiểu rõ hơn ta chứ.”

“Thiên đạo chính là như vậy đấy.”

“Nó có thể khiến Thiên Túc quay về không kịp một lần, thì chắc chắn luôn có biện pháp để y quay về không kịp lần thứ hai.”

Ngay tích tắc câu nói này vang lên, dường như để khẳng định tất cả những lời Hoa Tín nói đều hoàn toàn chính xác —

Đúng lúc đó, sát chiêu của Linh Vương thình lình sấn tới, mang theo bên mình tiếng thở than. Gần như toàn bộ chúng tiên đều xoay mũi giáo, chuyển pháp khí hướng sang người đang toan huỷ diệt Linh đài. Còn Hoa Tín vuốt qua chiếc đèn trong tay, lửa dậy ngút trời trùm kín thanh trường kiếm.

Vận mệnh đã định, chỉ trong nháy mắt mà tất cả hỗn loạn và chấn động phân thành hai phe rạch ròi — mọi người và Ô Hành Tuyết.

Đó chính là mong muốn của Thiên đạo.

Dù cho mục đích của từng bên khác nhau, nhưng vào thời điểm nào đó vẫn thể theo những đòi hỏi của Thiên đạo.

Ngay khoảnh khắc tia sáng lạnh lẽo phóng đến —

Một luồng ánh vàng chém vụt qua!

Ánh vàng đâm xuyên ba vạn nấc thang bạch ngọc Tiên Đô và mười hai vách núi Linh đài, xé toạc gió lộng cuồn cuộn, đáp thẳng xuống trước mặt Ô Hành Tuyết.

Đó là một thanh kiếm lạnh lẽo. Khi nó cắm xuống đất, muôn vàn bóng kiếm đồng loạt trải ra và bao bọc quanh cơ thể Ô Hành Tuyết, che chắn chàng bên trong luồng kiếm ý.

Bởi vậy, khi vô số chiêu thức phóng đến đập vào màn kiếm ý, ánh kiếm sáng ngời loé rực gần như toàn bộ Tiên Đô.

Dưới ánh sáng trắng xoá không thể nhìn thấy gì, Hoa Tín nghe chất giọng lạnh lùng của Thiên Túc xé gió truyền sang, “Ai nói ta chắc chắn sẽ không quay trở lại kịp.”

Tích tắc đó, nhận thức đã bén rễ sâu sắc hằng mấy trăm năm đã bị lung lay.

Hoa Tín suýt ngỡ rằng đến cả Thiên đạo cũng có những lúc không ngáng đường được, cũng sẽ tính sót thời cơ.

Nhưng nó cũng chỉ tồn tại một tích tắc mà thôi.

Vì dù phen hỗn chiến chấn động Tiên Đô kia có chệch hướng đi chăng nữa rồi kết quả cũng hoàn là mong muốn của Thiên đạo.

Đấy là tình huống thê thảm nhất từ thuở khai sinh của Tiên Đô — Tiên Đô sụp đổ, chúng tiên gần như biến mất toàn bộ chỉ trong chớp mắt.

Hoa Tín chứng kiến khung cảnh chót cùng ấy — khung cảnh sen vua ánh vàng thuộc về chiêu mệnh của Thiên Túc trổ sắc vào thời điểm Tiên Đô sụp đổ. Chẳng qua không biết dưới bóng vàng sen vua ấy, ai còn sống và ai đã ra đi.

Đến tận mấy tháng sau khi hắn nhập xác Phong Tiết Lễ và tỉnh lại mới biết, hiện thế chưa bị diệt trừ toàn diện, có điều trên đời đã không còn Tiên Đô.

Người ta đồn rằng Thiên Túc Tiêu Phục Huyên đã bỏ mạng, còn ma đầu Ô Hành Tuyết bị đóng đinh trong Thương Lang Bắc Vực. Ngoài ra có vô số những tin đồn khác.

Nhưng Hoa Tín hoàn toàn không mờ mắt trước những tin đồn đó, hắn còn một phần linh phách đang trông coi bên dòng rối loạn. Nhờ nhìn được cả hai bên nên hắn biết được nhiều việc hơn những người khác.

Hắn biết Thiên đạo Linh đài đã dời sang dòng rối loạn, mà cứ như vậy rồi chắc chắn có một ngày, nó sẽ xuống tay diệt trừ tận gốc hiện thế này.

Nhưng không thể như thế…

Vì hắn biết mọi thứ ở loạn tuyến chỉ là ảo ảnh, cả hắn lẫn người mà hắn muốn cứu đều còn ở hiện thế. Nếu hiện thế bị chém đứt, tất cả mọi việc hắn làm đều chẳng còn ý nghĩa gì nữa.

Hắn cần nghĩ cách để Thiên đạo xem hiện thế là dòng chính một lần nữa.

Thành thử, Hoa Tín quay trở về vấn đề cốt lõi trước đây chưa kịp suy xét: Tại sao Thiên đạo Linh đài không muốn hiện thế này?

Lúc đó, Hoa Tín chỉ có thể nghĩ đến một lý do duy nhất…

Ở hiện thế, sau khi Ô Hành Tuyết đoạ ma, không một ai còn tìm thấy thần mộc được nữa. Thế nhưng trong dòng rối loạn, thần mộc vẫn có thể bị người ta sử dụng dưới sự chấp thuận ngầm của Thiên đạo.

Hắn vẫn cảm thấy Thiên đạo là bất khả kháng cự, nhưng có lẽ còn có phương thức khác để khiến Thiên đạo “đổi ý định”.

Nếu lý do nó chối bỏ hiện thế là vì không có thần mộc, vậy chỉ cần làm cho thần mộc “sống” lại một lần nữa, để người ta có thể sử dụng một lần nữa.

Bởi vậy kể từ lúc đó, Hoa Tín mượn nhờ thân thể của Phong Tiết Lễ để tiến hành một chuyện — làm cho thần mộc tái hiện hậu thế.

Hắn bị cuốn sâu vào guồng ấy, chẳng mấy đã qua hai lăm năm.

Cho đến giờ phút này, bên dưới thung lũng Đại Bi, linh thức tản mác như bụi trần của Minh Vô Hoa Tín bị lãnh nhận thẩm vấn của Thiên Túc. Len qua kẽ hở bóng kiếm giữa cuộc thẩm vấn, chút ý thức cuối cùng của hắn nhìn về Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên mà bất giác cảm thấy… có lẽ hắn đã đoán sai một chuyện.

Lý do Thiên đạo chối bỏ hiện thế không phải bởi vì một gốc thần mộc, mà bởi vì ở hiện thế có người mà nó không thể khiển.

Có lẽ hắn đã hiểu ngược vấn đề…

Từ trước đến nay, không phải Linh Vương hay Thiên Túc chống đối Thiên đạo, mà Thiên đạo muốn chống đối người mà nó không thể khiển bằng cách luôn luôn ra tay trước.

Đó không phải là sự áp đảo toàn diện, mà đúng hơn phải là nỗi sợ hãi tiềm ẩn.

❄︎

Lời tác giả:

Tui phải sửa lại hai lần, đợi lâu ~

❄︎

Cá:

Chuẩn bị đi oánh boss ròy
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 107: Bất ngờ


Bóng kiếm ánh vàng dần dà phai nhạt, tiếng kiếm vang và rung chấn cũng từ từ dịu lại. Dấu hiệu cho thấy thẩm vấn đã đi đến hồi cuối.

Mảnh linh thức tản mác như bụi trần hội tụ lại thành bóng người bên dưới tầng sáng vàng nhạt, trông mờ ảo và lợt lạt.

Đó là Hoa Tín.

Hắn dùng thể xác của Phong Tiết Lễ suốt hai lăm năm, sống trong hình thù của Phong Tiết Lễ. Dù hắn dùng linh thức hoá hình trong dòng rối loạn này thì vẫn không thay đổi diện mạo.

Cho đến tận giờ khắc này, hắn mới xuất hiện với dáng vẻ nguyên bản của mình.

Ô Hành Tuyết nhìn người một thời là Tiên thủ Linh đài mà trong lòng dấy lên ngổn ngang khôn tả.

Chàng, Tiêu Phục Huyên, và vị Tiên thủ đây quả thực khó thể gọi nhau một tiếng “tiên hữu”, những điều ít ỏi họ biết về nhau đều thông qua Vân Hãi. Không thể ngờ mấy trăm năm sau, vào lúc này, giữa bọn họ còn hiện hữu những liên luỵ công khai hay mờ ám như vậy.

Vào thời điểm tàn ảnh cuối cùng của Hoa Tín xuất hiện trong hình hài nguyên bản, Ô Hành Tuyết chợt thấy như có âm thanh rất nhỏ vang lên không xa lắm ở phía sau. Thoạt nghe giống như tiếng cát đá trượt.

Là gió thôi hay còn có người?

Chàng đang định xem thử thế nào thì tàn ảnh Hoa Tín bỗng dưng cất giọng một cách mông lung, “Từng có người hàn huyên với ta, bảo rằng hắn rất tò mò không biết vì sao Thiên Túc lại giáng một đợt thẩm vấn vào thời khắc cuối cùng của tà ma…”

Ô Hành Tuyết ngẩn người quay đầu lại.

“Ngươi muốn tà ma thật tâm hối cải hay sao?” Đến tận lúc này rồi mà giọng Hoa Tín vẫn điềm nhiên như cũ. “Hắn nói khi còn là người đã từng gặp tà ma, và hắn không cảm thấy vào thời khắc cuối đời, những tà ma đó sẽ thật lòng cho rằng bản thân mình đã sai chỉ vì một đợt thẩm vấn.”

Ô Hành Tuyết nhìn sang Tiêu Phục Huyên, chàng trông thấy ngón tay đang giữ chuôi kiếm ngưng đoạn, y nhướn mắt lên.

“Trên thế gian không một ai cảm thấy mình sai chỉ vì phải nhận phạt, cho dù có thừa nhận mình sai cũng chỉ vì không muốn bị trừng phạt mà thôi. Trước đây ta nghĩ như vậy, hiện tại vẫn không thay đổi nhìn nhận,” ảo ảnh Hoa Tín rủ mắt, có vẻ như không phải hắn đang hỏi, mà chỉ thông qua câu hỏi ấy để tưởng nhớ về chuyện cũ.

Hắn tiếp tục nói giọng nhẹ nhàng và từ tốn, “Thật ta chưa từng thắc mắc việc này, nhưng năm xưa không thể cho hắn một câu trả lời nên có đôi phần vương vấn. Hiện giờ… ta cũng nhận phải một đợt thẩm vấn của Thiên Túc, bèn thay hắn hỏi một câu để có được đáp án.”

Dẫu cho không còn người chờ mong đáp án này nữa.

“Tại sao lại thẩm vấn, thật sự là để tà ma cảm thấy hối hận vào thời điểm cuối đời ư?” Hoa Tín nói.

Tiêu Phục Huyên nhấc kiếm, nhướn mắt nhìn hắn.

Một lúc sau, y cất giọng lạnh băng, “Ai quan tâm tà ma có hối hận không?”

Hoa Tín tỏ vẻ ngạc nhiên.

“Hối hận đều là giả, ‘sợ hãi’ mới là thật,” Tiêu Phục Huyên thờ ơ nói. “Chỉ cần sợ là được.”

Y từng sát phạt, giáng hình hàng ngàn hàng vạn tà ma, mà số thật lòng hối cải chỉ ít càng thêm ít. Nhưng thế thì có sao? Đâu ai quan tâm tà ma có hối hận hay không. Những nạn nhân dưới tay chúng đã mất mạng từ lâu, dù chúng có hối hận cũng đâu để ai nhìn.

Trừ Tiêu Phục Huyên ra thì còn có ai thấy được đâu.

Bởi vậy, y vốn không để ý những chuyện đó mà chỉ muốn khiến cho lũ tà ma sợ hãi.

Khi gánh chịu thẩm vấn, dòng đời ngắn dài và đủ các thể loại hình ảnh sẽ làm tà ma nảy sinh nỗi sợ cái chết. Khi nhìn thấy cách bản thân đã dấn từng bước đến cuối con đường này, chúng luôn cảm thấy không cam lòng, luôn sẽ vật vã vùng vẫy.

Nhưng chúng biết mình có làm sao cũng không thoát được, chính bởi vậy mà chúng cảm thấy sợ hãi, hoảng loạn, điên cuồng, và tuyệt vọng.

Phàm nhân bị chúng hãm hại phải trải qua những gì trước lúc lìa đời thì chúng cũng sẽ hứng chịu những điều tương tự.

Mà “hối hận” chỉ là một hạt cát không đáng kể và cũng không ai bận tâm đ ến trong tất cả những điều đó mà thôi.

Tiêu Phục Huyên chưa bao giờ để ý xem tà ma có thật lòng hối hận hay không mà chỉ muốn chúng bị “gậy ông đập lưng ông”.

Đây là thứ công bằng y mưu cầu.

“Bình sinh ta chưa từng gặp tiên nào không giống tiên như ngươi,” Hoa Tín nói.

Ngay đến biện pháp an ủi vong linh phàm nhân cũng thấm đậm sát khí sát phạt. Nào có bóng dáng những dịu dàng và từ bi thường thấy ở tiên nhân.

Giữa chúng tiên, đây quả thực là độc nhất xưa nay.

“Khó trách,” Hoa Tín hạ tầm mắt, nói, “khó trách các ngươi là hai người duy nhất mà Thiên đạo không thể thao túng…”

“Sai rồi,” Tiêu Phục Huyên nói.

Hoa Tín: “Sai ở đâu?”

Tiêu Phục Huyên nói, “Không phải chỉ hai người.”

Hoa Tín: “Còn ai nữa?”

“Còn rất nhiều.”

Tiêu Phục Huyên: “Trong túi gấm của ta cũng có có một vị, ta giúp hắn an táng thi cốt.”

“Là ai?”

“Y Ngô Sinh, hậu nhân nhà họ Hoa các ngươi.”

E rằng đến Thiên đạo Linh đài cũng không lường trước được khi đứng trước cơ hội “làm lại từ đâu” và “khởi tử hoàn sinh”, còn có người trên thế gian dám chắp tay xin miễn, phất tay áo mà ra đi.

Có lẽ chẳng có mấy người như vậy, nhưng tuyệt đối không thể tóm gọn chỉ trong vỏn vẹn “hai người”.

Hoa Tín lặng thinh không nói.

Đã lâu lắm rồi hắn không để ý đến nhà họ Hoa, về sau này gia tộc đầy danh vọng kia lại sản sinh ra hậu bối “sáng trong như vầng nguyệt” ư? Và những hậu bối ấy bây giờ ra sao?

Những tin đồn chốn nhân gian thoảng theo tiếng gió lọt vào tai hắn, nhưng chẳng đọng trong lòng. Hắn chôn sâu những lời ấy vào gạch đá bờ tường và không bao giờ ngoảnh nhìn lại.

Cho đến tận thời khắc này, Hoa Tín vẫn như vậy.

Bóng dáng hắn mỗi lúc một mờ nhạt, linh thức càng lúc càng yếu ớt, thế mà hắn hoàn toàn không mang nỗi sợ hãi, không cam tâm, sự oán hận hay vùng vẫy như những tà ma khác.

Cho đến phút chót cùng, Hoa Tín mới quay sang Ô Hành Tuyết, cất giọng nhạt nhoà đến độ không nghe rõ.

Hắn nói, “Ta còn một chuyện sau cuối… muốn hỏi Linh Vương.”

Ô Hành Tuyết không ngờ hắn lại hỏi đột ngột như vậy, chàng không khỏi ngạc nhiên. “Chuyện gì?”

Nét mặt Hoa Tín lúc này thoạt nhìn không khác gì muôn thuở, vẫn phẳng lặng như mặt hồ không dậy sóng, song thấp thoáng có nét căng thẳng. Dường như tất cả những chuyện lúc trước đều chỉ là màn dạo đầu, còn đây mới là chuyện hắn thật sự muốn hỏi.

Mà dường như điều này không phù hợp với tính của hắn nên hắn vốn không định hỏi, mà cuối cùng vẫn không kiềm lòng cho đặng.

Hoa Tín nhìn Ô Hành Tuyết chăm chú, nhấn giọng từng chữ, “Năm xưa khi Vân Hãi quay lại nhân gian lẽ ra không nên nhớ những chuyện đã xảy ra trên Tiên Đô. Thế mà khi ta mang kiếm chạy đến thung lũng Đại Bi thì thấy hắn nhớ hết tất cả mọi thứ.”

Ô Hành Tuyết khẽ nheo mày, nhận ra được ý hắn.

Thật vậy, ngay sau đó Hoa Tín liếc nhìn chuông mộng đeo bên thắt lưng Ô Hành Tuyết và hạ thấp giọng, “Chỉ e Linh Vương ít nhiều có liên quan đến việc tiên bị giáng xuống trần không còn nhớ về Tiên Đô. Một khi Linh Vương đã xuống tay thì không thể dễ dàng giải trừ được. Hắn không phải người đầu tiên và cũng không phải người cuối cùng. Trước và sau hắn còn rất nhiều tiên quên đi hết thảy và quay về nhân gian, nhưng theo ta được biết, không có một ai trở thành người phàm rồi lại chợt nhớ ra những chuyện xảy ra trên Tiên Đô…”

“Chỉ có Vân Hãi là ngoại lệ.” Hoa Tín ngưng đoạn, hỏi Ô Hành Tuyết, “Linh Vương có làm gì không?”

Ô Hành Tuyết lập tức nói, “Không.”

Hoa Tín lặng thinh, thoạt trông có vẻ không tin.

Ô Hành Tuyết: “Ta và Vân Hãi có giao tình, năm xưa ta tự tay rung chuông tiễn hắn xuống nhân gian. Hơn ai hết, ta mong hắn có thể quên đi tất cả, không cần phải nhớ kỹ việc gì.”

Hoa Tín: “Nếu Linh Vương đã đích thân rung chuông thì việc khôi phục lại ký ức vất vả đến bực nào có lẽ không cần ta lắm lời, tự Linh Vương có kinh nghiệm hơn cả.”

Ô Hành Tuyết cau mày thật chặt.

Hoa Tín lại bảo, “Việc mà bản thân Linh Vương không thể làm trong tích tắc thì sao Vân Hãi có thể?”

Lúc trước, sau khi dùng kiếm đóng chặt Vân Hãi xuống thung lũng Đại Bi, hắn vẫn thường nhớ về ánh mắt Vân Hãi nhìn mình khi đó, và cũng thường nghĩ tới những lời Vân Hãi nói không thôi. Ánh mắt và lời nói khi đó chứng tỏ người kia không quên những chuyện xảy ra trên Tiên Đô.

Đã từng, khi không còn một người để chuốc lỗi, Hoa Tín dấy lên lòng căm phẫn đối với Ô Hành Tuyết.

Hắn nghĩ, chuông mộng đã xoá sạch ký ức rồi sao có thể khôi phục dễ dàng như thế? Nhìn ma đầu Ô Hành Tuyết hiện tại là thấy ngay muốn khôi phục ký ức phải vất vả đến bực nào.

Bản thân Ô Hành Tuyết còn phải vất vả đến vậy thì nói gì đến những người khác?

Nếu không có sự trợ lực từ chuông mộng, làm sao Vân Hãi có thể nhớ lại hết tất cả mọi việc?!

Với tính cách của Vân Hãi, việc nhớ lại một thuở Tiên Đô là điều khổ đau đến nhường nào. Và rồi Vân Hãi đã phải sống qua mấy chục năm đó ra sao?

Hoa Tín hoàn toàn không dám tưởng tượng đến.

Có đôi lúc hắn tự hỏi giả như Vân Hãi thật sự không nhớ những chuyện xa xôi dĩ vãng ấy thì sẽ thế nào. Giả như không nhớ thời niên thiếu được ai cứu bên ngoài sơn dã, không nhớ từng tu luyện thuật pháp ở nhà họ Hoa, không nhớ mình từng phi thăng lên Tiên Đô, không nhớ hết thảy mọi chuyện từng xảy ra trên Tiên Đô ấy thì liệu Vân Hãi sẽ thế nào?

Liệu có dẫn đến những chuyện xảy ra về sau đó hay không?

Liệu còn có nhát kiếm ở thung lũng Đại Bi hay không?

Có lẽ là không đâu.

Mỗi lần nghĩ về điều ấy, Hoa Tín lại càng lún sâu hơn vào vũng bùn, lại càng không cách nào quay đầu được nữa.

Mấy trăm năm trôi qua, Hoa Tín không bao giờ nhắc đến và cũng chưa từng để lộ một chút cỏn con nào ra ngoài. Cho đến thời khắc này khi linh thức sắp tan biến, hắn mới thốt ra khúc mắc trong nỗi oán hận.

Hắn muốn có một đáp án, bằng không không tài nào nhắm mắt.

Hắn nhìn Ô Hành Tuyết, nói, “Ngoại trừ ngươi, ta không còn nghĩ ra một ai khác có thể cố ý hoặc vô tình hoá giải ký ức bị phong ấn của Vân Hãi.”

Hoa Tín dừng lời chốc lát, đè nặng giọng, “Chỉ có mình ngươi.”

Ô Hành Tuyết hơi lặng người.

Không phải vì chàng bị hắn hỏi cho cứng họng trả lời không được, mà vì lời Hoa Tín nói thực tình rất hợp lý…

Chàng đích thân rung chuông mộng cho Vân Hãi, vậy không thể nào hắn ta có thể khôi phục như cũ chỉ trong một sớm một chiều, trừ phi hắn vô tình nghe được tiếng chuông giải mộng.

Trong trường hợp đó, đúng là không một ai khác có thể làm được chuyện này.

Chỉ có một mình chàng.

Tiêu Phục Huyên đứng cạnh chàng lạnh tanh nét mặt, y toan mở miệng thì chợt nghe một giọng nói ấm êm như tiếng gió cất lên, “Không chỉ có một người, còn có ta đây.”

Giọng nói đó giống hệt giọng Ô Hành Tuyết, nhưng phát ra từ phía sau lưng!

Ô Hành Tuyết ngây người, lập tức quay sang trao đổi ánh mắt với Tiêu Phục Huyên. Ngay cả tàn ảnh của Hoa Tín cũng sững sờ rồi đột ngột ngước mắt.

Tất cả ngoái đầu lại nhìn —

Có hai bóng người lướt gió tiến đến, đáp xuống gần chỗ họ! Đôi ủng chạm vào nền đất thanh thoát như hạt nước, sỏi đá im lìm trong tích tắc. Đoạn, sức ép vạn trượng bủa ngang tứ phía khiến toàn bộ vách đá rung động kịch liệt.

Dường như thanh kiếm với danh tự “Miễn” dưới tay Tiêu Phục Huyên có cảm ứng. Lưỡi kiếm ngâm khẽ, một luồng ánh sáng mờ loé qua.

Ô Hành Tuyết lập tức nhìn sang thanh kiếm.

Chàng nghe Tiêu Phục Huyên trầm giọng, “Không có gì đâu.”

Ngón tay thon dài của y gõ trên chuôi kiếm, tiếng ngâm khẽ kia tức thì im bặt. Thoắt cái, thanh linh kiếm đã dịu hẳn xuống.

Bấy giờ, y mới điềm nhiên ngước mắt lên nhìn người đang bước tới.

Một trong hai người đó vận trang phục đen mạ vàng, thân hình dỏng cao và gương mặt lạnh lùng sắc sảo. Phía bên cổ có dấu ấn vàng chữ “Miễn” vừa thoáng loé lên đã lại nhoà xuống. Đến cả gió lộng qua thân cũng nặng nề kiếm ý bén lạnh.

Người còn lại khoác y phục trắng ủng bạc, trên đầu gắn phát quan bằng bạch ngọc. Người ấy đeo một chiếc mặt nạ nạm vân bạc, trên tay cầm linh kiếm cũng nạm vân bạc. Vỏ kiếm khỏ nhẹ vào trang phục đánh lên những tiếng leng keng.

Hiển nhiên họ không ai khác hơn ngoài Thiên Túc và Linh Vương của dòng rối loạn.

Và câu trả lời “Không chỉ có một người, còn có ta đây” cho Hoa Tín vừa nãy do chính miệng Linh Vương thốt ra.
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 108: Quy tiên


Có lẽ đó chính là cảnh tượng quái dị nhất dưới lòng thung lũng Đại Bi.

Khi bọn họ đối mắt nhau, gió cũng lặng đi trong thoáng chốc.

Khoảnh khắc ấy thực sự diệu kỳ, và dường như kéo dài vô tận.

Khí kình lặng lẽ luân chuyển quanh cơ thể tất cả mọi người, trong bầu không khí ẩn chứa sự căng thẳng đối địch xen lẫn mối tương quan ràng buộc sâu đậm.

Cho đến khi có một giọng nói đánh tan sự yên tĩnh.

Đó là Hoa Tín. Hắn nhìn đăm đăm vào Linh Vương vừa xuất hiện đột ngột, khàn giọng hỏi khẽ, “Lời ngươi vừa nói có ý gì? Ngươi nói việc Vân Hãi khôi phục ký ức có liên quan đến ai?”

Linh Vương thoáng nghiên mặt sang phía Hoa Tín. “Ắt là ta.”

Hoa Tín nhíu chặt mày như thể không hiểu ý y là sao. Trên mặt hắn mang vẻ thẫn thờ kèm ngỡ ngàng hiếm khi hiển lộ. “Ắt là? Tại sao lại ‘ắt là’?”

Hoa Tín đanh giọng, “Các ngươi không liên quan gì đến nhau, làm sao có thể gặp nhau được.”

Một phía là Linh Vương của dòng rối loạn, một bên là người trong hiện thế. Cho dù Linh Vương này từng đi đến hiện thế, thậm chí từng nghĩ hiện thế là dòng rối loạn và có ý định chặt đứt nó đi chăng nữa, thì thời kỳ cũng khác nhau hoàn toàn, ở đâu ra có sự liên quan?!

Linh Vương tư lự giây lát rồi trả lời, “Mỗi lần tìm ra dòng rối loạn, ta đều sẽ trở về thời điểm trước đó tầm mười hay trăm năm để truy tìm xem ngọn nguồn nhân quả dòng rối loạn này xuất hiện từ đâu…”

Linh Vương ngừng lời chưa tiếp tục nói, Ô Hành Tuyết đã hiểu rõ.

Còn có ai hiểu rõ hơn chàng.

Linh Vương có trách nhiệm diệt dòng rối loạn, nếu trước đây Linh Vương này cho rằng hiện thế chính là dòng rối loạn thì hẳn nhiên sẽ ra tay điều tra để tìm ra nơi bắt nguồn của cái y tưởng là “dòng rối loạn” đó.

“Ta ngược dòng về trước mấy trăm năm,” Linh Vương nói.

Hoa Tín biến sắc, cỏ vẻ hắn đã đoán ra điều Linh Vương tính nói.

Đúng như dự đoán, Linh Vương nói, “Trong quá khứ, ta gặp Vân Hãi mà ngươi nhắc đến.”

Khoảnh khắc ấy, ảo ảnh của Hoa Tín mờ nhạt gần như không còn thấy gì. Hắn cứng đờ người, khàn giọng hỏi, “Khi nào?”

Linh Vương trầm tư một hồi mới đáp, “Mấy trăm năm trước, lúc đó hắn không phải là tiên mà chỉ là người phàm. Hắn biết một số chiêu thức đơn giản song chỉ là vỏ rỗng bên ngoài chứ không có tiên khí.”

Bóng hình Hoa Tín khẽ run lên, hắn nhỏ giọng tự nhủ, “Tiên đã bị giáng xuống trần sẽ tiêu tán tiên nguyên, không thể tụ lại được nữa…”

Nên vào năm đó, Vân Hãi chỉ có thể học hình thức bên ngoài của các chiêu thức chứ không bao giờ ngưng tụ được thành tiên nguyên.

“Người phàm…” Hoa Tín lẩm bẩm lại lần nữa rối tiếp tục nói, “Khi ngươi thấy hắn, hắn đang làm gì?”

Linh Vương nói, “Bị tà ma bao vây.”

Hoa Tín khép mắt lại.

Ô Hành Tuyết nghe đến đây thì chợt nhớ lại cảnh tượng khi thẩm vấn Vân Hãi…

Năm đó khi đã là người phàm, Vân Hãi đụng độ tà ma. Trước lúc lìa đời, hắn lờ mờ nhớ ra mình đã từng cố kháng cự một hồi chuông. Ngay từ khoảnh khắc ấy, Vân Hãi đã nhớ lại hết mọi chuyện quá khứ.

Giờ ngẫm lại mới thấy việc đó đúng là hơi lạ thường.

Người ta làm sao nhớ ra được âm thanh mà mình hoàn toàn không thể nhớ, trừ khi vào thời điểm đó hắn nghe được âm thanh tương tự. Sở dĩ hắn bất giác nghĩ đến tiếng chuông mộng là vì hắn thật sự nghe được tiếng chuông.

Chẳng qua ý thức lúc lâm chung không còn sáng suốt nên hắn nhầm lẫn “nghe được” và “nhớ ra” mà thôi.

Quả thật, Hoa Tín liền trầm giọng thắc mắc, “Rồi sau đó…”

Linh Vương đáp, “Lúc đó ta vẫn còn chuông mộng đeo bên thắt lưng. Khi ngược dòng về quá khứ có thoáng dừng chân giây lát. Chắc là chuông mộng vang lên đã truyền âm vào tai hắn.”

Chuông mộng ngân tiếng giữa kẽ hở thời gian đã vô tình tháo gỡ tầng bụi đóng kín trên ký ức Vân Hãi. Âu tất cả đều tại trời xui đất khiến, để rồi từ đấy Vân Hãi đã bước sang một con đường khác.

Hoa Tín im lặng không nói gì.

Ảo ảnh hắn lung lay trong gió, thoạt trông như đang khẽ khàng run.

Chẳng biết hết bao lâu, hắn mới chầm chậm cúi đầu nhìn đôi bàn tay mình.

Lần đầu tiên trong đời, hắn cảm thấy hoang đường quá đỗi.

Suốt mấy trăm năm qua, hắn hằng tự thắc mắc giả như trước đây Vân Hãi không khôi phục lại ký ức, không nhớ đến bất kỳ chuyện xưa cũ gì trên Tiên Đô, thì liệu chăng sẽ không phát sinh hết thảy những chuyện về sau này.

Hắn sẽ không trở thành tà ma, không trốn tránh rồi tạo ra một con rối để lừa gạt người khác, và cũng không giấu nhẹm gương mặt mình bên dưới thung lũng Đại Bi, không bị kiếm đóng thẳng xuống đáy thung lũng.

Càng nghĩ hắn càng cảm thấy căm hận.

Giờ đây hắn mới vỡ lẽ…

Tất cả những chuyện xảy đến với Vân Hãi về sau đều khởi nguồn từ cái đêm khôi phục ký ức ấy, mà nguyên do ký ức khôi phục là bởi hắn bất chợt nghe được tiếng chuông ngân, tiếng chuông ấy xuất phát từ Linh Vương dòng rối loạn. Mà dòng rối loạn của Linh Vương đó…

Là do hắn dụ nhà họ Phong mở ra.

Mệnh số nhân quả xoay quần thành một vòng tròn to lớn.

Hoá ra, người mà hắn muốn cứu đã bị đích thân hắn gi3t chết từ tận trước đó.

***

Ảo ảnh của Hoa Tín run rẩy nặng nề đến độ không tụ nổi thành hình. Hắn bất giác cảm thấy bản thân như đã đâm sâu vào con đường tăm tối suốt mấy trăm năm qua. Hết thảy ván cược mang tên <i>Được ăn cả ngã về không</i> đều hoá thành một tấn kịch trớ trêu.

Dầu không ai châm chọc, hắn vẫn muốn bật cười.

“Rốt cuộc ta đã làm gì trong suốt mấy trăm năm qua…” Đôi môi hắn mấp máy một lời tự hỏi.

Không ai trông rõ nét mặt hắn, chỉ nhìn thấy Tiên thủ Minh Vô một thời oai nghi giờ đang cúi gằm đầu, toàn bộ ảo ảnh run lên bần bật.

Chẳng biết là suy sụp hay đã chạm giới hạn quẫn trí.

“Hắn vì ta mà chết…” Hoa Tín sẽ giọng thì thào. “Hắn vì ta mà chết, tất cả mọi chuyện đều do ta gây ra, thế mà ta còn làm bộ bày vẽ màn tương tư này đây.”

Một mình hắn qua lại giữa hai dòng thời gian, vừa trốn tránh sơn thần thung lũng Đại Bi ở dòng rối loạn, vừa cung phụng tà trận không đoán được hồi kết. Rồi đến khi Vân Hãi dòng rối loạn tìm đến, hắn rút sát chiêu về và trao ra tính mạng.

<i>Làm nhiều trò như thế để cho ai xem?</i>

Thực chất, không một ai đang xem cả, vì người có lòng đã sớm không nhìn thấy được nữa.

Bất quá, hắn chỉ tự thêu dệt để lừa dối bản thân mà thôi.

Hoa Tín thẫn thờ ngẩng đầu.

Nguyên Tiên thủ Minh Vô dường như choàng tỉnh khỏi giấc mộng hư vô. Đôi mắt hắn lướt nhìn bóng hình bốn người còn lại, sau chót dừng tầm mắt trên người Tiêu Phục Huyên.

Hắn khàn giọng, nhắc đến địa điểm đó lần đầu, “Các ngươi từng đến thung lũng Đại Bi ở hiện thế?”

Tiêu Phục Huyên đáp, “Từng đến.”

“Gặp được hắn à?”

“Đã gặp.”

“Cũng thẩm vấn ư?”

“Phải.”

“Hắn… về sau hắn thế nào?”

Tiêu Phục Huyên thoạt dừng rồi mới nói, “Hắn tưởng rằng ngươi đã chết.”

Hoa Tín đứng lặng, mãi lâu vẫn không mở miệng.

Vì vế sau chẳng cần nói ra hắn cũng hiểu — người kia tưởng hắn đã chết nên không lưu luyến ở lại thế gian chi nữa.

Chót cùng giờ đây, hắn bật cười giòn giã, tưởng chừng toàn bộ tiếng cười trong cuộc đời dài dẵng qua đều tích tụ nơi này.

Một lúc lâu sau, Tiên thủ Minh Vô ngưng cười. Gật gù chẳng màng ngước mắt, hắn cất nhẹ giọng, “Thôi cứ vậy đi.”

Giọng hắn nhạt nhoà, Ô Hành Tuyết và những người còn lại ngỡ ngàng chưa kịp phản ứng. Cho đến khi cuồng phong nổi lên quét qua khiến ảo ảnh ngưng tụ từ mảnh vụn linh thức Hoa Tín tan vỡ, mọi người mới tỏ tường ý nghĩa câu nói ấy…

<i>Thôi cứ vậy đi.</i>

<i>Thôi cứ để… hắn ra đi.</i>

Chỉ thoáng chốc, những mảnh vỡ linh thức kia lập loè bung toả như hằng hà ánh đom đóm. Chúng nhanh chóng tản rộng ra và tan trong gió lộng vạn dặm quét qua thung lũng Đại Bi.

***

Khi làn gió kia phát tán theo bề sâu thung lũng, nó chợt thoáng dừng chớp nhoáng sau một khúc quanh vách núi như phút nghẹn thở sau cuối của vong hồn.

Vì có một người phía sau khúc quanh ấy…

Sơn thần thung lũng Đại Bi đang đứng tựa lưng vào vách núi.

Hắn đã đứng đây rất lâu, đứng từ khi thẩm vấn mới bắt đầu cho đến khi kết thúc, đi từ bàng hoàng đến đỏ hoen tròng mắt.

Có lúc, hắn muốn bước một bước ra khỏi khúc rẽ để đến gần hơn, để nhìn gương mặt người đang lãnh chịu thẩm vấn, nhìn xem gương mặt nguyên bản của người đó có thật sự giống hệt Tiên thủ Minh Vô hay không.

Nhưng một bước đấy sao khốn khó hơn hết thảy mọi sự trên đời.

Cuối cùng, Vân Hãi chỉ mở to đôi mắt đỏ hửng và nhìn vô định xuống nền đất trong lặng lẽ.

Làn gió ấy cuộn nhẹ quanh người hắn, song hắn chẳng hề hay biết.

Khi cơn gió hoàn toàn biến mất cũng là lúc hắn phất ống tay áo xanh, phóng ra khỏi đáy thung lũng Đại Bi…

Tựa như hắn vốn chưa từng xuất hiện ở đây.

***

Vân Hãi dấn bước lên tháp Thái Nhân, tiến vào Tiên Đô trong mây sương bao phủ. Theo bản năng, hắn trước hướng về phía Linh đài như mọi hôm, song chợt dừng bước ở bậc thang trên cùng.

Chẳng biết mất bao lâu, một bức truyền thư hiện ra trước mặt.

Vân Hãi đặt truyền thư vào tay mình rồi từ từ mở ra. Trên truyền thư là nét chữ của Tiên thủ Linh đài: “Tiên sứ nói con ngẩn ngơ trước cửa Linh đài?”

Vân Hãi nhìn chòng chọc chữ viết trên bức truyền thư, đứng trơ người thật lâu rồi mới cất bước đi lên Linh đài.

Trên đỉnh núi Linh đài, Tiên thủ dòng rối loạn đang ngồi đ ĩnh đạc trên ngai cao. Khi hắn trông thấy Vân Hãi thì có phần ngạc nhiên. “Sao sắc mặt con tệ quá, gặp phải chuyện gì rồi?”

Vân Hãi thơ thẩn giây lát, không biết nên trả lời sao.

Lại qua một lúc lâu nữa, hắn mới thì thầm ngỏ lời với Tiên thủ Linh đài, “Ta gặp phải một vài chuyện lạ kỳ…”

Tiên thủ chờ hắn kể đoạn tiếp theo, nhưng mãi không thấy hắn nói gì bèn nhắc chuyện, “Con có truyền thư đến nói xảy ra chuyện bất thường xảy ra ở thung lũng Đại Bi, thế đã giải quyết xong chưa?”

Sắc đỏ còn chưa vơi trong mắt Vân Hãi, hắn không muốn bị phát hiện ra bèn xoay mặt đi. “Ừm…”

Tiên thủ hỏi, “Thế thì tốt, chuyện lạ kỳ như thế nào?”

“Ta gặp một người rất giống người.”

“Giống đến mức nào?”

“Giống đến mức đến ta cũng không phân biệt được,” Vân Hãi nói rồi im lặng rất lâu mới tiếp tục, “suýt chút nữa ta bị lừa rồi.”

“Vậy sau cùng có bị lừa không?”

“Không.”

Vân Hãi sẽ giọng lặp lại lần nữa, “Không bị, sao ta có thể bị lừa dễ vậy được. Hắn ta không giống người… người sẽ không như hắn.”

Tiên thủ định hỏi tiếp nhưng Vân Hãi đã nói trước, “Thôi thôi, xin đừng nhắc đến việc này nữa.”

Chẳng là sau một lát nữa, khi cuộc trò chuyện đã đổi thay đề tài đến bao bận, Vân Hãi bất thình lình hỏi Tiên thủ một câu chẳng rõ đầu đuôi, “Giả sử một ngày kia ta mất đi…”

Tiên thủ còn đang giao phó công việc cho tiên sứ, nghe đến đây thì đột ngột ngừng lại và ngoảnh mặt nhìn hắn.

Vân Hãi: “Ta nói đùa thôi.”

Nhìn Tiên thủ không thấy muốn cười một chút nào.

Vân Hãi tính tình khoáng đạt, tưởng chừng như chỉ đang thuận miệng tán gẫu vài lời, “Giả sử ta mất rồi, sư phụ có muốn giữ ta lại không?”

Hắn chẳng chờ Tiên thủ trả lời đã vội nói tiếp, “Thật ra chỉ cần người nhớ đến ta là tốt rồi, không cần cưỡng cầu giữ lại làm chi.”

Tiên thủ khẽ cau mày nhìn hắn, lát sau mới nói, “Tại sao con nhắc đến chuyện này?”

Vân Hãi bảo, “Ta bất chợt nghĩ đến mà thôi.”

“Chẳng là ta chợt thấy trải qua sinh lão bệnh tử, luân hồi chuyển kiếp như phàm nhân cũng không đến nỗi tệ. Vậy nên giả rằng có một ngày mệnh số chấm dứt…”

Chi bằng hãy cứ thuận gió quy tiên.

***

Thời khắc làn gió cuốn theo vong hồn tan biến cũng là lúc bốn người dưới đáy thung lũng Đại Bi đối mặt với nhau một lần nữa.

Cảm giác lặng lẽ kỳ diệu ấy lại bao trùm.

Linh Vương xốc nhẹ mặt nạ lên, để lộ ra một nửa nét mày rạng ngời. Y lia mắt nhìn từ Ô Hành Tuyết sang Tiêu Phục Huyên, sau cùng chỉ tay vào thắt lưng Ô Hành Tuyết và cất giọng điềm nhiên, “Nếu ta không nhầm thì chuông mộng chỗ ngươi hẳn thuộc về ta.”
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 109: Bản thể


Ô Hành Tuyết móc chuông mộng vào ngón tay lật qua lật lại xem rồi nói, “Món đồ nhỏ này chiếc nào chiếc nấy giống nhau như đúc, làm sao xác định được chiếc này là của ngươi chứ không phải của ta?”

Linh Vương nhẹ nhàng xoay thanh kiếm trong tay rồi nghiêng đầu nói, “Không cần xác định. Có phải món đồ mình đeo bên người mấy trăm năm hay không thì bản thân ngươi phải hiểu rõ nhất chứ?”

Ô Hành Tuyết: “Ấy thì chưa chắc.”

Linh Vương: “Tại sao?”

Ô Hành Tuyết thản nhiên nói, “Ta thiếu một phần ký ức nên quên rồi.”

Linh Vương: “Vậy ngươi hỏi người không quên kìa.”

Khoảnh khắc đó, Ô Hành Tuyết và Linh Vương dòng rối loạn đồng loạt ngoái đầu sang nhìn hai người còn lại, từ nét mặt đến động tác đều giống nhau như tạc.

Tiêu Phục Huyên: “…”

Hiện tại, Linh Vương và Thiên Túc dòng rối loạn đứng cách nhau một bước chân một trước một sau. Nhưng Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên cực kỳ kề cận.

Vì vậy, Ô Hành Tuyết mượn nhờ ống tay áo rộng che phủ đi mất đặng chọt một ngón tay vào eo Tiêu Phục Huyên và truyền âm, “Ngươi nói xem ta có phải là một người rộng lượng không?”

Tiêu Phục Huyên: “?”

Y không biết Ô Hành Tuyết tính làm gì, chỉ im lặng liếc cái ngón tay kia một phát.

Thật ra cả hai người họ đang tách khỏi thể xác, dùng linh thức bước vào dòng rối loạn, nên dù không cần chọt vẫn có thể truyền âm trong im lặng. Song Tiêu Phục Huyên vẫn rất tận hưởng cử chỉ nho nhỏ này nên không nhắc nhở Ô Hành Tuyết mà để chàng chọt thoải mái.

“Cũng có,” Tiêu Phục Huyên trả lời.

Ô Hành Tuyết dồn lực một chút lên đầu ngón tay. “Sao ngươi trả lời khiên cưỡng quá vậy.”

Tiêu Phục Huyên: “Sao ngươi đột ngột hỏi vậy.”

Ô Hành Tuyết: “Nếu ta phát hiện chuông mộng của mình bị người khác đập nát thì ngươi nghĩ có khi nào ta sẽ đâm người đó một kiếm không?”

Tiêu Phục Huyên: “…”

Ô Hành Tuyết: “Ngươi nói xem chừng nào cái vị trước mặt này sẽ phát hiện ra chuông mộng sắp nở thành tám cánh rồi.”

Tiêu Phục Huyên: “…”

Ô Hành Tuyết: “Rủi đâu mà lát nữa phải động thủ, liệu chúng ta chỉ dùng linh thức thì có hơi yếu thế không?”

Tuy đại ma đầu nói chuyện với giọng điệu hơi cợt nhã nhưng thật sự có suy tính kỹ càng trong đầu — tình huống trước mắt thoạt nhìn là hai chọi hai, thậm chí là hai người giống hệt nhau nên theo lý mà nói thì thực lực ngang bằng.

Nhưng hai người họ vừa đánh nhau một trận với Hoa Tín ở Tước Bất Lạc cách đây chưa lâu, bị tổn hao linh thần. Hơn thế nữa, hiện tại chàng đang không ở phong độ đỉnh cao, còn Tiêu Phục Huyên không có bản thể.

Nghĩ theo chiều hướng này mới thấy quả thực bọn họ đang bị đẩy vào thế hạ phong.

Ngờ đâu Tiêu Phục Huyên trả lời, “Chưa chắc.”

Ô Hành Tuyết: “Hửm?”

Song trước khi Tiêu Phục Huyên kịp nói gì thêm, Linh Vương phía đối diện đã mở miệng, “Nếu là món đồ nhỏ khác thì ta cũng không chấp nhặt làm gì. Nhưng chuông mộng không được.”

Phản ứng này không sai vào đâu so với dự đoán của Ô Hành Tuyết — những chuyện khác còn dễ nói, riêng chuông mộng là ngoại lệ, dù thế nào cũng nhất định phải đòi lại cho bằng được.

Ô Hành Tuyết cong ngón tay thon dài, móc dải lụa treo chuông mộng trên tay nhưng không có ý định tháo nó ra ngay.

Chàng men ngón tay dọc dải lụa trắng muốt và nói, “Ngươi nói đây là chuông mộng, tất nhiên ta càng phải thận trọng hơn, đâu có chuyện ngươi nói cái gì thì là cái nấy được.”

Linh Vương nhướn nhẹ hàng mày lộ ra bên ngoài. “Ngươi định thận trọng thế nào?”

“Ví như ngươi cần phải giải thích…” Ô Hành Tuyết chỉ vào thắt lưng trống không của đối phương. “Nếu ngươi nói đây là chuông mộng của ngươi, vậy lẽ ra nó nên được treo bên người ngươi chứ, sao còn cần phải đòi từ chỗ ta.”

Linh Vương nói, “Ta đánh mất.”

Ô Hành Tuyết tiếp tục nói, “Chuông mộng bị mất kiểu gì?”

Dĩ nhiên chàng biết Linh Vương dòng rối loạn đã đánh mất chuông mộng, nó bị mất ở hiện thế. Lúc trước Phương Trữ đã kể chuyện này cho chàng và Tiêu Phục Huyên nghe.

Nhưng chuông mộng bị mất như thế nào, cố ý hay vô tình chính là mấu chốt vô cùng quan trọng. Nếu cố ý thì cần có nguyên nhân. Còn nếu vô tình…

Thế thì thâm thuý hơn nhiều.

Ngờ đâu Linh Vương thoáng dừng rồi nói, “Bất cẩn giây lát rồi không tìm thấy nữa.”

“Thật sự là vô tình à…” Ô Hành Tuyết mấp máy lẩm bẩm.

Chàng cũng nhướn hàng mày đẹp đẽ và khẽ nghiêng đầu, hỏi vị Linh Vương kia, “Ngươi nói ‘bất cẩn giây lát’ mà không thấy bất thường à, món đồ như chuông mộng sao có thể ‘bất cẩn giây lát’ được cơ chứ?”

Linh Vương nói, “Tất nhiên là bất thường. Thế nên ta mới muốn lấy lại chuông mộng để soi xét kỹ lưỡng hơn. Vậy…”

Y xoè tay về phía Ô Hành Tuyết, nói, “Trả cho ta.”

***

Giọng nói vừa vang lên, bóng Linh Vương đã biến mất.

Thoạt nhìn giống như y chẳng làm gì cả, nhưng loáng mắt đã thấy y dịch chuyển đến ngay trước mặt Ô Hành Tuyết. Sau đó y trở bàn tay, năm ngón tay luồn tới…

Ô Hành Tuyết cảm thấy chuông mộng treo bên thắt lưng chợt run lên như thể sắp bị một nguồn lực kéo đi. Chàng lập tức móc ngón tay đang quấn dải lụa treo chuông mộng. Tay còn lại “quét” qua, tung một chiêu mang nặng sức ép ra ngoài…

Vừa thấy chiêu của Ô Hành Tuyết sắp chạm đến bàn tay lần mò của Linh Vương, toàn bộ núi đá thung lũng thình lình rung chuyển.

Cả Ô Hành Tuyết lẫn Linh Vương đều sững sờ.

Trong mắt họ, bóng dáng đối phương bất giác nhoè đi, tưởng như sắp sửa biến mất khỏi tầm nhìn bất cứ lúc nào.

<i>Sao lại như vậy?</i>

Ô Hành Tuyết nhíu mày.

Chàng liền nghe thấy giọng trầm trầm của Tiêu Phục Huyên truyền sang nói, “Lùi ra sau một chút.”

Ngay sau đó, chàng bị người kia nắm lấy tay kéo ra sau nửa bước.

Đồng thời, chàng thấy vị Thiên Túc của dòng rối loạn cũng nhấc tay kéo Linh Vương về sau một chút từ đằng xa.

“Ta không thể chạm vào y?” Ô Hành Tuyết chợt vỡ lẽ.

“Ừm,” Tiêu Phục Huyên đáp lời và nói thêm, “Trước mắt xem chừng chính là như vậy.”

“Tại sao?”

“Gặp nhau là cấm kỵ.”

Ô Hành Tuyết hiểu ra ngay lập tức.

Trước đây, hai người họ thường xuyên lỡ mất Linh Vương. Họ lỡ chậm một bước khi muốn Linh Vương đến nhà họ Phong nhìn rõ ngọn nguồn dòng rối loạn. Đến lúc muốn Linh Vương nhìn thấy trận cục dưới lòng thung lũng Đại Bi lại tiếp tục lỡ làng lần nữa.

Dường như ý trời đã quyết cho bọn họ mãi mãi chệch nhau một bước, quả thật đúng là “cấm kỵ gặp mặt”.

Hiện trường bóng dáng nhoè đi vừa nãy cũng tương tự. Nó giống như có một bức tường vô hình chặn ngang ngay giữa, tách hai phe sang hai bên. Nếu không lùi ra sau một bước thì e là chàng và Tiêu Phục Huyên sẽ ngay lập tức bị cưỡng chế đẩy ra khỏi dòng rối loạn này mất.

Thế nhưng…

Ô Hành Tuyết nói, “Nói vậy thì hơi lạ.”

Tiêu Phục Huyên: “Sao?”

“Nếu không muốn hai bên chạm trán nhau, không muốn để Linh Vương trông thấy bất kể thứ gì liên quan đến nguồn gốc dòng rối loạn, không muốn chúng ta đụng độ nói chuyện, vậy lẽ ra ngay khoảnh khắc vị Linh Vương kia xuất hiện thì nó nên thẳng tay đẩy chúng ta khỏi dòng rối loạn này mới phải. Hoặc nó nên làm giống những lần trước, cứ để chúng ta liên tục bỏ lỡ nhau, liên tục trễ hết một bước thì chẳng tốt hơn hay sao?”

Ô Hành Tuyết cau mày suy tư, càng nghĩ chàng càng cảm thấy kỳ lạ.

Thể theo những việc Thiên đạo làm trước đây, lẽ ra họ phải tiếp tục lỡ làng mới phải. Vậy mà thực tế lại không như dự đoán — bọn họ chạm trán nhau dưới đáy thung lũng Đại Bi, và vị Linh Vương đó còn chứng kiến thẩm vấn Hoa Tín.



Nghĩ đến đây, Ô Hành Tuyết giữ vững thân thể mình trên mặt đất và núi đá đang rung chuyển. Chàng hỏi Linh Vương và Thiên Túc đang đứng cách đó mấy bước, “Các ngươi đến thung lũng từ lúc nào, đã xem được thẩm vấn Tiên thủ Minh Vô đến đâu?”

Câu hỏi này rất thẳng thừng, núi đá rung chuyển càng kịch liệt hơn, bóng dáng bọn họ cũng mỗi lúc một nhạt đi.

Linh Vương ngẩng đầu liếc nhìn chóp của vách đá rồi dời tầm mắt về nhìn sang Ô Hành Tuyết. Y im lặng giây lát rồi nói, “Dù ta và Tiên thủ Minh Vô không quen nhau nhưng ta vẫn biết hiện tại hắn hãy đang yên vị trên đỉnh Linh đài chứ không tự dưng xuống thung lũng Đại Bi này.”

Ô Hành Tuyết đối mặt với ánh mắt y.

Linh Vương nói, “Người vừa tan biến linh hồn khi nãy đến từ dòng rối loạn của các vị, lời ta nói lúc sau cùng cũng là nói về chuyện bên chỗ các vị. Chẳng là ta thấy thẩm vấn sắp kết thúc nên ra mặt trả lời một câu để chấm dứt những niệm tưởng sau chót của hắn mà thôi. Còn về thẩm vấn…”

Y dừng đoạn, nói, “Tiếc quá, ta chỉ thấy được phút cuối.”

Ô Hành Tuyết nhẹ nhàng “À” một tiếng.

Thẩm vấn Hoa Tín có nhiều sự việc liên quan đến dòng rối loạn, dù chỉ trông thấy phần cuối, nếu Linh Vương suy xét lại một lần cũng đủ nảy sinh nghi ngờ trong lòng rồi.

Linh Vương này hiển nhiên không phải người ngây ngô, Ô Hành Tuyết tin chắc rằng y đã thấy cuộc thẩm vấn và có phát sinh mối nghi ngờ trong lòng. Bằng không giờ đây bọn họ đã không đứng đối đáp nhau nơi đây, trong bầu không khí khó tả này. Thật hệt như cả hai bên đang thăm dò lẫn nhau vậy.

Nhưng chuyện này quá chi mâu thuẫn…

Làm sao Thiên đạo Linh đài lại để lọt một kẽ hở như vậy giữa vô vàn tầng lớp ngăn trở?

Có suy ngẫm cỡ nào cũng thấy rất lạ.

Ô Hành Tuyết lia mắt nhìn Linh Vương và Thiên Túc của dòng rối loạn, mắt chạm mắt với hai người họ. Có tích tắc, chàng thấy như mình vừa ngộ ra điều gì, song chàng còn chưa kịp nghĩ kỹ thì Linh Vương kia đã cất giọng trước.

“Nói vậy các vị gửi ta hai bức thư để ta đến xem cuộc thẩm vấn này hay sao?” Linh Vương nói, giữa hai ngón tay y hiện ra hai bức phù thư.

Trên hai bức phù thư đó lần lượt viết “Đến nhà họ Phong” và “Thung lũng Đại Bi”, nét chữ rõ ràng thuộc về Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên.

Có điều khi gửi thư đi, bọn họ cũng không đặt kỳ vọng quá nhiều rằng chắc chắn Linh Vương có thể đến kịp lúc như họ mong muốn. Thật ra họ có một ý định khác —

Trường hợp tốt nhất là Linh Vương đến kịp thời, nhưng nếu không kịp cũng không sao. Nếu đi đến hai chỗ liền mà chỗ nào cũng chỉ thấy khung cảnh bị dọn dẹp sạch tinh không còn gì thì có là ai cũng sẽ thấy nghi ngờ trong lòng.

Với những người nhạy bén, chỉ cần trong lòng sinh nghi thì mọi việc sau đó đều dễ dàng.

Ô Hành Tuyết nói, “Coi như là thế đi.”

“Xem được đoạn cuối cũng coi như là xem rồi,” Linh Vương nói, đoạn vung ngón tay. Dưới khí kình uy dũng đầy áp bức của Linh Vương, bức phù thư lao thẳng tới.

Tiêu Phục Huyên giương vỏ kiếm chắn lại, chỉ nghe hai tiếng <i>keng</i> vang lên, tấm phù thư chuẩn xác rơi xuống tay Ô Hành Tuyết.

Họ nghe giọng Linh Vương vọng tới, “Con người và sự vật trong dòng rối loạn khó lòng tồn tại lâu dài ở hiện thế. Với đất núi rung chuyển như vầy, nếu hai vị đến từ dòng rối loạn chỉ e rằng sẽ sớm bị đẩy ngược trở về…”

Dường như để xác nhận lời y, bóng dáng Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên chợt lập loè trong chớp mắt, tưởng như sẽ tan biến bất cứ lúc nào.

“Nhân phút cuối cùng này, ta trả phù thư cho ngươi, ngươi trả chuông mộng cho ta.” Linh Vương nói xong liền đeo chiếc mặt nạ vân bạc lên, vung thanh trường kiếm trong tay giữa núi đồi rung chuyển.

Âm thanh lanh lảnh trong vắt vang lên đánh <i>keng</i>, thân hình Linh Vương phóng vun vút qua cát bùn lún sụp như một áng mây trôi, chớp mắt đã đến gần.

Còn Ô Hành Tuyết thoáng mỉm cười, chớp mắt đã tản ra như sương khói, rồi tụ lại thành hình phía sau lưng y.

Ý đồ dùng một chiêu đoạt lấy chuông mộng thất bại, Tiêu Phục Huyên dùng bao kiếm đẩy kiếm của Linh Vương ra. Linh Vương lập tức xoay người lui về phía sau, y phục trắng bạc khắc nên một vòm cung gọn ghẽ trong gió, y sấn tới Ô Hành Tuyết một lần nữa.

Qua mấy lượt dịch chuyển, Ô Hành Tuyết rơi vào vị trí hơi phiền hà — phía trước mặt chàng là Linh Vương tấn công trực diện, phía sau lưng chàng là Thiên Túc của dòng rối loạn.

Vừa khéo bị bao vây cả hai mặt.

Ô Hành Tuyết không còn chỗ trốn bèn nhướn mày, khí kình trên đầu ngón tay xoay tròn một vòng trong chớp mắt. Chàng đang định tiếp chiêu kế tới thì chợt bị vỗ nhẹ một cái từ đằng sau.

Ô Hành Tuyết giật mình quay phắt đầu lại, chàng trông thấy Thiên Túc dòng rối loạn hơi nghiêng người, chữ “Miễn” trên cổ toả ra ánh vàng thật nhạt.

Cũng vì chàng ngoảnh đầu xoay người nên không nghênh đón trực diện chiêu thức của Linh Vương mà hai người đều bị chệch đi một cách sít sao. Hệ quả là bốn bề vách núi hứng trọn tai ương.

Khi lướt ngang thân nhau, Ô Hành Tuyết chợt nói với Linh Vương, “Thật ra ta không hiểu.”

Linh Vương: “Chuyện gì?”

Ô Hành Tuyết nói, “Ngươi đánh mất món đồ quan trọng như chuông mộng mà vẫn thản nhiên không đi tìm, để nó trôi dạt ngần ấy năm?”

Linh Vương đặt mũi kiếm xuống đất, bóng hình đang lướt qua thoắt dừng khẽ. Y đảo mắt nói, “Ngươi nói muốn tìm là tìm sao?”

Nét mặt y gần như hiện rõ ý “Ngươi còn hỏi được một câu đần tới vậy”, song y nhanh chóng nhớ ra và thả nhẹ tiếng “À” rồi nói, “Phải rồi, ký ức ngươi không đầy đủ.”

Ô Hành Tuyết không cáu giận mà chỉ nói, “Vậy thì ngươi nói cụ thể hơn xem.”

Linh Vương nói, “Ta không đi tìm được.”

Ô Hành Tuyết: “Ý ngươi là sao?”

Linh Vương cho hay, “Đi đến dòng rối loạn một lần thì dễ, đi lần thứ hai không dễ vậy đâu.”

Nhân gian thôi đã rộng lớn đến vậy, nói gì đến việc đi tìm một nhân gian khác bị chệch ra bên ngoài, nếu muốn vào thì phải vào lúc nào? Vào từ đâu? Sau khi vào được rồi làm sao để xác định đó chính là dòng rối loạn mà mình muốn tìm chứ không phải một dòng nào khác?

Có đủ thứ vấn đề quanh chuyện này.

Linh Vương cho hay, theo lẽ thường, nếu bước vào dòng rối loạn một lần mà không thể diệt trừ tận gốc thì có khi không thể tìm ra nó được lần nữa. Bằng không y cũng đâu để lạc một món đồ quan trọng như chuông mộng trong dòng thời gian khác một quãng thời gian dài đến vậy.

Ô Hành Tuyết nghe thế thì sững sờ.

Ngay khoảnh khắc bước chân chàng chững nhịp, khung cảnh thung lũng Đại Bi bắt đầu nhạt nhoà đi trong cơn địa chấn. Không gian giống hệt như hình ảnh phản chiếu bên dưới mặt hồ bị khuấy động bởi một thanh côn dài.

Vách núi và tường đá dần xen lẫn vào nhau trong hỗn loạn, cả một vùng thung lũng thăm thẳm sụp đổ ngay trước mắt họ.

Cả Linh Vương và Thiên Túc cũng vậy.

Việc này đồng nghĩa chàng và Tiêu Phục Huyên đang bị đẩy ra khỏi dòng rối loạn này một lần nữa…

Và điều khiến Ô Hành Tuyết ngỡ ngàng nãy giờ chính là điểm này.

Linh Vương nói đến dòng rối loạn một lần thì dễ, nhưng rất khó để vào lần thứ hai. Mà sự thật là chàng đã vào dòng rối loạn do Hoa Tín và nhà họ Phong tạo ra này hết lần này đến lần khác, hễ muốn là vào được.

Nếu bảo mấy trăm năm trước khi còn là Linh Vương, chàng vô tình vào nhầm dòng rối loạn này thì còn dễ hiểu. Còn hiện tại vẫn ra vào liên tục mấy lần như vầy là vì sao?

Ý nghĩ mơ hồ bất giác loé qua khi trước đã bắt đầu thành hình, tựa như suối lách khỏi khe, mỗi lúc một rõ ràng hơn…

Việc Linh Vương dòng rối loạn tiếp nhận truyền thư của họ rồi đi đến nhà họ Phong và thung lũng Đại Bi chứ không thẳng thừng xem nó như giấy bỏ cũng nhờ trước đó y gặp được Phương Trữ. Trên người Phương Trữ có dấu ấn giống hệt trên tiểu đồng tử nên Linh Vương mới cảm thấy ngờ vực.

Mà nguyên do Phương Trữ được Linh Vương mang về Tiên Đô là vì Thiên Túc phát hiện ra hắn ở khu vực nông thôn vùng núi ngoại ô Miện Châu rồi truyền thư nhắn cho Linh Vương.

Nếu tiếp tục lần về trước đó…

Nguyên do Phương Trữ lưu lạc trong dòng rối loạn là vì bọn họ trót bất cẩn trong lúc bước vào Lạc Hoa Đài nên mới sẩy chân vào vòng rối loạn này.

Mà nguyên do bọn họ đến Lạc Hoa Đài…

Là vì Tiêu Phục Huyên nói, “Ở Lạc Hoa Đài có tinh chất bạch ngọc giúp sửa được chuông mộng.”

***

Ô Hành Tuyết bất giác nhớ lại rất nhiều tình tiết lúc trước.

Vào ngày tỉnh lại tại Thương Lang Bắc Vực, chàng bắt gặp pho tượng bạch ngọc trong quan tài Tiêu Phục Huyên và nghe pho tượng cất giọng nói, “Ngươi muốn trở về? Hãy đến Xuân Phiên thành tìm Y Ngô Sinh.”

Khi đó chàng không nhớ bản thân mình là ai mà tưởng mình nhập hồn đoạt xá thân thể người khác, nên nghe thấy hai chữ “trở về” bèn lập tức liên tưởng đến “trở về Thước Đô”. Song lúc này ngẫm lại…

Nếu câu nói trở về đó không phải chỉ trở về Thước Đô mà ý là “lại đến dòng rối loạn” thì sao?

Huống chi trước đây Ninh Hoài Sam cứ tươm tướp cái mồm là phải về Chiếu Dạ thành. Mà đến lúc bọn họ ngủ xong một giấc tỉnh dẩy thì chiếc thuyền nọ đang đi đến Xuân Phiên thành.

Lý do là Tiêu Phục Huyên chuyển hướng thuyền.

Rồi khi bọn họ đi về phía Lạc Hoa Đài, cũng chính Tiêu Phục Huyên dẫn đầu đi trước, Ô Hành Tuyết nối bước theo sau. Ninh Hoài Sam, Y Ngô Sinh, Phương Trữ lần lượt đi đằng sau Ô Hành Tuyết.

Tiêu Phục Huyên dắt bọn họ nên ngay từ giây phút bước lên Lạc Hoa Đài, bọn họ đã bước vào dòng rối loạn đó.



Đều do Tiêu Phục Huyên dẫn dắt nên mới đi đến nước này.

Ô Hành Tuyết đứng sững người, ngơ ngác suy tư:

<i>Làm sao y làm thế được?</i>

Đến dòng rối loạn lần đầu dễ nhưng lần hai khó hơn lên trời. Vậy Tiêu Phục Huyên làm cách nào để đưa người khác vào dòng rối loạn này hết lần này đến lần khác?

Mãi một lúc sau, Ô Hành Tuyết mới choàng nhận ra mình vừa hỏi thành lời nghi vấn trong lòng.

Bởi thế, vào thời điểm khung cảnh thung lũng Đại Bi đang dần biến mất, chàng nghe được câu nói sau cùng của Linh Vương truyền đến trong mơ hồ, “Chỉ khi để lại thân thể trong dòng rối loạn mới có thể dẫn ngươi sang một cách chính xác. Nói vậy, ta cũng có hơi hối hận…”

Đoạn sau thế nào Ô Hành Tuyết đã không còn nghe thấy, chưa kể chàng cũng chẳng màng bận tâm để nghe.

Thời điểm dòng rối loạn cưỡng ép đẩy ra ngoài, không gian và thời gian chập chồng xen lẫn, xương cốt đau nhức nhen nhói khắp toàn thân. Nhưng chàng chẳng màng bận tâm hết thảy.

Vì ngay tích tắc khung cảnh dòng rối loạn hoàn toàn biến mất, chàng thoáng nhìn thấy bên cổ Thiên Túc của dòng rối loạn thấp thoáng ánh vàng theo danh tự “Miễn”.

Thiên Túc đó đưa mắt nhìn chàng từ phía bên kia khung cảnh đang vỡ thành mảnh vụn, rồi thoắt đã tan biến trong hư không cùng dòng rối loạn.

Thế nhân nói rằng trên Tiên Đô từng có hai vị thần tiên đặc biệt nhất, một trong số đó chính là Thiên Túc thượng tiên. Vị này không tu luyện phi thăng thành tiên mà được triệu hoán lên, chưởng quản <i>hình</i> và <i>xá</i> trong thiên hạ, được trời ban danh tự “Miễn”.

Trên cổ của bản thể y có một ấn vàng ghi chữ “Miễn”, lúc tỏ lúc mờ.

Sau khi Tiên Đô sụp đổ hai lăm năm trước, thế nhân lại nói Thiên Túc thượng tiên đã ra đi cùng Tiên Đô.

Quan tài y được phong ấn dưới ba mươi ba tầng đất bên dưới Thương Lang Bắc Vực, bên cạnh tên ma đầu bị khoá giam nơi đó. Y ở bên cạnh ma đầu trong giấc ngủ say, và bị ma đầu đánh thức.

Nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng dáng bản thể y.

Đến tận thời khắc này, cuối cùng manh mối mới lộ diện.

Vì Linh Vương nói, một khi không diệt trừ tận gốc dòng rối loạn trong một lần thì về sau muốn quay lại dòng rối loạn đó còn khó hơn lên trời. Trừ phi để lại thân thể và linh phách trong dòng rối loạn để canh giữ nơi đó.

Cuối cùng, khung cảnh thung lũng Đại Bi cũng hoàn toàn biến mất, không gian trước mắt trở về Tước Bất Lạc. Linh phách bọn họ bị đẩy ngược vào thân thể.

Ô Hành Tuyết choàng mở mắt, ngoảnh đầu sang bóng người cao cao bên kia.

Dường như, chẳng rõ tự khi nào mà dẫu có ở nơi đâu, dù trong hiện thế hay dòng rối loạn, dù trong ngục giam xích khoá hay thoả ý tự do, người bên cạnh đây đều chưa một lần vắng bóng.

“Tiêu Phục Huyên,” Ô Hành Tuyết gọi y.

Tiêu Phục Huyên dời mắt nhìn chàng.

Ô Hành Tuyết ngỡ ngàng bật thốt, “Thiên Túc dòng rối loạn… là bản thể của ngươi đấy ư?”

Chưa đợi Tiêu Phục Huyên đáp lời, chàng đã nói tiếp, “Ta thấy ấn vàng chữ Miễn của ngươi.”

Vì vậy, Tiêu Phục Huyên im lặng giây lát rồi nói, “Là ta.”

“Ngươi giữ bản thể mình ở bên đó là để dẫn ta vào?”

“Ừm.”

“Tại sao phải là bản thể?”

“Vì thể xác con rối không có ấn vàng chữ Miễn, bên dòng rối loạn còn có Tiên Đô nên rất dễ phát hiện ra con rối, nếu không dùng bản thể sẽ không duy trì được lâu.”

Thoắt cái, một hình ảnh chợt loé lên trong đầu Ô Hành Tuyết.

Ấy có lẽ là khung cảnh hai lăm năm về trước mà chàng hãy còn chưa nhớ ra, vào thời điểm sau cuối của trận hỗn chiến Tiên Đô. Dưới bóng phủ ánh vàng của Bổn mệnh vương liên từ Thiên Túc thượng tiên, chàng thấy như có người hôn lên đuôi mắt và khoé môi mình, rồi cất giọng gọi chàng trong mùi máu thoang thoảng, “Ô Hành Tuyết.”

“Nó sẽ chấm dứt, chờ ta một chút.”

“Ngươi sẽ quay lại được nơi đó.”

“Ta dẫn ngươi qua.”

<i>Ngươi có thể đi đến bất cứ nơi nào ngươi muốn, có thể chấm dứt bất cứ việc gì cần được chấm dứt, thoả ý tự do.</i>

<i>Ta hứa.</i>
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 110: Khởi đầu


“Nhưng Tiêu Phục Huyên, sao ngươi có thể giữ bản thể mình trong dòng rối loạn?” Ô Hành Tuyết nắm ngược lại tay Tiêu Phục Huyên. “Không phải còn có một Thiên Túc ở dòng rối loạn hay sao?”

“Vậy ngươi của dòng rối loạn đâu rồi?” Ô Hành Tuyết soi vào mắt Tiêu Phục Huyên, chàng khan giọng nghẹn ngào.

Tiêu Phục Huyên không trả lời ngay lập tức, chỉ lẳng lặng ngắm nhìn đôi mắt Ô Hành Tuyết, rồi chạm tay vân vê khoé môi Ô Hành Tuyết. Đoạn, y khẽ cúi đầu ôn tồn trao hôn.

Y mang dáng vẻ lạnh lùng bẩm sinh, vậy mà hơi thở vô cùng nóng bỏng. Hơi thở y luôn nán giữa đôi môi Ô Hành Tuyết trong những nụ hôn hoặc những lần tỉ tê.

Trao hôn chốc lát, y mới thì thầm nhỏ giọng, “Không còn nữa.”

***

Trong giai đoạn đầu của cuộc hỗn chiến Tiên Đô hai lăm năm trước, họ không bị đẩy xuống thế hạ phong.

Tất cả bước ngoặt đều xảy ra ở phút cuối cuộc hỗn chiến. Vào thời điểm bọn họ muốn công phá Linh đài Thiên đạo, Tiêu Phục Huyên mới phát giác ra điều bất thường.

Y phát hiện khi Linh đài Thiên đạo bị thương, tình trạng của Ô Hành Tuyết cũng sa sút hẳn đi. Rõ ràng Thiên đạo đang trên bờ vực sụp đổ nhưng máu tươi lại tuôn trào từ cơ thể Ô Hành Tuyết.

Tiêu Phục Huyên không biết Thiên đạo Linh đài bắt đầu từ đâu, nên tất nhiên cũng không biết Thiên đạo và Ô Hành Tuyết có cùng nguồn cùng cội. Nhưng vào thời khắc cuối cùng của cuộc hỗn chiến, y mới nhận ra mối liên kết này.

Chỉ cần liên kết này còn tồn tại, y không thể xuống tay không chút lưu tình.

Ngay tích tắc đợt tấn công đình trệ thoáng chốc, Thiên đạo Linh đài đã lợi dụng sơ hở để rút sang dòng rối loạn. Tiếp đó, gần hết những chuyện được đồn đãi ở nhân thế sau này đều xảy ra chỉ trong chớp mắt mấu chốt ấy —

Ngay khi Thiên đạo rút sang dòng rối loạn, có một khoảnh khắc hiện thế và dòng rối loạn chồng chập vào nhau. Lúc Thiên đạo dời qua dòng rối loạn cũng là thời điểm Tiên Đô hiện thế bị nó truất bỏ và huỷ diệt.

Bởi vậy, tất cả các vị tiên đặt dưới sự cai quản của Linh đài trong hiện thế đều mất mạng ngay thời khắc đó. Tiên đô đè nặng bên trên chín tầng mây cũng theo đó đổ sụp, vách núi gãy nứt mang theo sức nặng kinh hoàng đánh thẳng xuống nhân gian.

Chuyển biến đó đã đẩy lòng căm ghét của Tiêu Phục Huyên với Thiên đạo Linh đài l3n đỉnh điểm — vì trong “quan điểm” của nó, chỉ cần nói bỏ là bỏ, dẫu có là chúng tiên Tiên Đô hay con người trên thế gian.

Nó nói cái bóng là thật tức là thật. Nó nói người sống là giả tức là giả. Đó không phải là bình đẳng cho chúng sinh thế gian, đó chỉ là thứ “công bằng” mà nó muốn.

Đã thế nó còn vô hình vô trạng, để nỗi ô nhục trút xuống đầu những người tận tình tận tâm.

Chính vì lẽ đó mà trong mắt những người không nắm rõ tình hình thực tế, mọi việc bị chuyển thành “Ma đầu công phá Tiên Đô, giết hại Linh đài Thập nhị tiên, dẫn đến việc Tiên Đô bị sụp đổ”.

Thông thường, Tiên Đô đặt dưới sự trấn giữ của Tiêu Phục Huyên, nên thời điểm Thiên đạo rời đi và huỷ diệt, cơn lốc sát khí phát tán khắp nơi khiến bản thân y cũng bị trọng thương.

Nhưng Ô Hành Tuyết bị thương còn nặng nề hơn. Vì lúc chuyển sang dòng rối loạn, Thiên đạo Linh đài đã dời hết toàn bộ những thứ nó phải gánh nhận lên người Ô Hành Tuyết có cùng nguồn cũng cội với nó.

Tiêu Phục Huyên vĩnh viễn nhớ mãi giây phút ấy —

Khi Thiên đạo chuyển đi, hiện thế và dòng rối loạn chập chồng lên nhau.

Một bên là hiện thế đang sụp đổ, những vách núi linh thiêng khổng lồ bọc trong lửa dữ đổ ập xuống núi Thái Nhân dưới nhân gian.

Bên kia là Tiên Đô dòng rối loạn sắp sửa khuất dạng. Và tấm áo của người y thương yêu thấm đẫm máu tươi, lay lắt sẽ sàng tựa mây khói trên đà tan biến.

Y không thể để cho dòng rối loạn kia ẩn mình để rồi mất tăm mất tích. Y cũng không sao đứng nhìn Ô Hành Tuyết gánh chịu nỗi đau xé toạc, tiêu tán linh thần.

Bởi vậy, ngay khoảnh khắc đó, Bổn mệnh vương liên của Thiên Túc thượng tiên bỗng nở tràn trên chín tầng mây phía cao đỉnh núi Thái Nhân. Sắc vàng sáng tỏ phủ rợp đất trời, gần như xuyên thấu mây mù trĩu nặng đặng sà xuống ngọn núi dưới nhân gian.

Người đời ai cũng nói Thiên Túc thượng tiên có hai chiêu đại mệnh. Một chiêu mang mọi vong hồn, một chiêu trao vạn sinh linh. Chiêu thứ nhất diệt trừ, chiêu thứ hai cứu vớt. Người ta đồn rằng ánh sáng chiếu rọi khắp Tiên Đô hai lăm năm trước chính là chiêu thứ nhất, được tung ra để trấn áp ma đầu.

Nhưng họ đều sai cả.

Thật ra, ngày hôm đó Tiêu Phục Huyên đồng thời tung cả hai chiêu.

Bên dưới ánh sen vàng rực toả, chiêu trao vạn sinh linh bao bọc lấy Ô Hành Tuyết đang ngã gục, còn chiêu mang vong hồn đặt vào Tiên Đô trên dòng rối loạn đang sắp biến mất, đặt trên người Thiên Túc của dòng rối loạn.

Ngay thời điểm trọng yếu nhất, y đã xuống tay giết bản thân trong dòng rối loạn và thay thế bằng chính bản thể mình.

Còn phần linh phách tách lìa thể xác tụ lại thành ảo ảnh, ôm lấy Ô Hành Tuyết cả người đẫm máu và suy nhược toàn bộ năm giác quan. Y hôn lên đuôi mắt đối phương và nói, “Chờ một chút, Ô Hành Tuyết.”

<i>Chờ thêm chút nữa.</i>

<i>Nếu lần này không thành công thì còn lần sau, sẽ đến lúc mọi chuyện chấm dứt.</i>

<i>Ta đi cùng ngươi.</i>

Y biết Thiên đạo Linh đài chỉ dời sang dòng rối loạn chứ không biến mất. Còn thời điểm hiện tại, cả y lẫn Ô Hành Tuyết đều cần tĩnh dưỡng nghỉ ngơi. Nơi tĩnh dưỡng nên là nơi Thiên đạo không dễ dàng truy đuổi, cũng không tà ma nào dám đến gần.

Trên thế gian này chỉ có một nơi duy nhất như vậy — nơi y cai quản. Nơi ấy không tiên ma lọt vào, và còn có một thân thể rối trước đây y để lại để trấn thủ hang trời.

Vì lẽ đó, vào ngày hôm ấy, đương lúc sắc vàng sen vua rọi xuống nhân gian, linh phách Tiêu Phục Huyên ôm trọn Ô Hành Tuyết hướng thẳng đến biển Vô Đoan, đi vào Thương Lang Bắc Vực.

Tất cả tà ma trên thế gian bước vào Thương Lang Bắc Vực đều mang lên mình khoá trời để nhận tra khảo ngày đêm.

Nhưng thật ra thứ trên người Ô Hành Tuyết thì không.

Những chiếc khoá tinh tế trên cơ thể Ô Hành Tuyết chưa từng tra khảo, cũng chưa từng khiến chàng đau đớn. Nguyên do là vì khoá trời thực sự đã bị người chắn lại và thay đổi khi đóng lên người chàng.

Thoạt nhìn, khoá trên cơ thể chàng trông không khác gì khoá trời, song thực chất chúng đang giữ lấy những huyệt quan trọng của sinh mệnh, ngăn ngừa linh hồn tan vỡ và biến mất.

Tác dụng tương tự như đinh tang trên xương tai Thiên Túc.

Khổ nỗi linh phách của chính Tiêu Phục Huyên đã tách lìa thân thể, không còn nhận được hỗ trợ từ đinh tang. Vốn dĩ linh phách y đã vỡ vụn, gắng gượng tụ thành hình đến Thương Lang Bắc Vực đã vượt quá giới hạn chịu đựng.

Sau khi chắn lại khoá trời, linh phách y hoàn toàn tan rã. Linh phách tan trong Thương Lang Bắc Vực quanh năm lãng đãng mù sương, chìm sâu vào cơn mê lặng lẽ suốt hai lăm năm. Không tồn tại, cũng chẳng tử vong, mà chỉ giống như khoảnh khắc khởi đầu cuộc đời này của y.

Vì vậy mà y không biết được rằng, sau khi linh phách mình tan ra, người “bị giam khoá” từng mở mắt một lần.

***

Giữa khi suy nhược toàn bộ năm giác quan, Ô Hành Tuyết vất vả gắng mở mắt ra một lần. Ấy nhưng đập vào mắt chàng là khung cảnh sương mù mênh mang khắp chốn. Mà phần ký ức sau chót của chàng là bên dưới bóng vàng sen vua thuộc về chiêu mệnh của Thiên Túc… và hình ảnh linh phách Tiêu Phục Huyên tiêu tán vào khói mây.

Không một ai có thể tưởng tượng nổi cảm giác của Ô Hành Tuyết vào thời điểm ấy, chỉ mỗi vách đá đen cheo leo trong Thương Lang Bắc Vực ghi khắc…

Từng tấc đá ba mươi ba tầng hang trời Thương Lang Bắc Vực đều bị linh huyết tìm người của chàng xuyên phá.

Sau này có nhiều người không rõ rằng bùa tìm người có thể xác định chính xác hơn nếu được bổ sung một chút linh huyết. Vào thời điểm đó, trên người Ô Hành Tuyết không có lấy một mảnh giấy bùa linh, mà chàng cũng không còn sức vung nét vẽ bùa.

Chàng trực tiếp dùng linh huyết để tìm người.

Mỗi một giọt máu được b ắn ra ngoài đều khắc tên “Tiêu Phục Huyên”, thế mà ròng rã đến cuối vẫn không tìm ra bóng người mang ấn danh tự “Miễn”, tay cầm trường kiếm ấy.

Bốn vạn ba ngàn giọt linh huyết men theo gió tuyết tàn đặng trải khắp nơi suốt cõi nhân gian.

Nương theo làn gió, chàng nghe người đời nói, “Thiên Túc thượng tiên đã qua đời cùng Tiên Đô.” Không khác gì hình ảnh linh phách tiêu tán trong ký ức chàng.

Thời điểm đó, Ô Hành Tuyết đang ngồi xếp bằng dưới vực thẳm. Toàn bộ huyệt đạo trên người chàng chấn động, đẩy máu nóng tuôn trào.

Hệt như đang bị người mổ sống quả tim.

Cũng từ đó, chút sức sống sau cùng chàng gắng gượng vực dậy đã hoàn toàn kiệt quệ. Cảnh tượng trước mắt mỗi lúc một u tối, âm thanh bên tai mỗi lúc một mơ hồ, hết thảy mọi thứ bao quanh như được bọc trong màn sương mù. Có lẽ chàng sắp vùi vào đợt tĩnh toạ lâu dài như năm xưa.

Nhưng vào lúc này, chàng cố chống cự lại bóng đêm vô biên thinh lặng đó.

Chàng chán chường không gian tịch mịch. Chàng ngán ngẩm màn đêm vô biên.

Chàng không muốn nghe câu “Thiên Túc thượng tiên qua đời”, chàng muốn nhìn thấy Tiêu Phục Huyên.

Thành thử, chàng dịch ngón tay, lần mò bên thắt lưng mình và bắt lấy chuông mộng bạch ngọc trong màn đêm.

Ô Hành Tuyết không còn nhìn thấy gì nữa nên không biết, bắt nguồn từ việc có một chuông mộng khác đồng tồn tại trong cùng một thế gian nên thân chuông bạch ngọc đã tràn đầy vết rạn, nếu dùng tạo mộng sẽ xuất hiện dị trạng.

Chàng siết chặt chuông mộng trong tay, nhớ về Thước Đô mình từng nói vui cùng Tiêu Phục Huyên, ấy là nơi hai người họ đều mong được nhìn thấy một lần…

Nơi đó không có Tiên Đô cũng không có Động Ma. Khói lửa nhân gian rực rỡ bốn bề, phố phường giàn trải, ngựa xe nô nức, khung cảnh thật nhộn nhịp rộn ràng. Không có sự cân bằng giữa thiện và ác mà chỉ có những lẽ thường sinh lão bệnh tử, người ta dấn bước nhờ mình không nhờ trời.

Chàng muốn sánh vai cùng Tiêu Phục Huyên dạo bước trên những con phố ấy, dưới ánh nắng soi toả ấm áp, lắng nghe tiếng chim ca dài lâu…

Đó là lần đầu tiên cũng là lần duy nhất trong đời, chàng muốn lách mình trốn biệt vào mộng.

Thương thay, chuông mộng vỡ nát trong khoảnh khắc chót cùng, tan thành vụn bột trong tay chàng rồi tản mác phủ đầy lòng hồ băng giá khắp Thương Lang Bắc Vực.

Thế là lần trốn tránh độc nhất cuộc đời lại khiến chàng sa vào một giấc mộng không tròn vẹn. Trong mộng có tất cả những điều chàng miêu tả, duy chỉ không có Tiêu Phục Huyên.

Bởi vậy, dù đang sống trong mộng được gầy dựng, chàng mãi chẳng yên giấc hằng đêm dẫu bản thân không biết mình đánh mất điều gì.

Ròng rã hai lăm năm trời, cho đến ngày chàng khôi phục linh và thân, cho đến ngày Thương Lang Bắc Vực đang đà đổ sụp, chàng mới mơ màng mở mắt khỏi giấc mộng lệch lạc.

Từ đó, mọi sự khởi đầu.
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 111: Tương ngộ


Khi nhắc đến chuyện quá khứ, Tiêu Phục Huyên luôn giản lược qua những tình tiết khiến Ô Hành Tuyết đau lòng. Bởi thế mà qua miệng y, hai lăm năm ròng trong tình trạng không sống không chết đã được gói gọn trong bốn chữ giản đơn — tu dưỡng sinh khí.

Nhưng khi nghe được câu ấy, trong đầu Ô Hành Tuyết loáng thoáng nhớ lại khung cảnh linh phách Tiêu Phục Huyên tan rã.

Chàng thẫn thờ hồi lâu mới nói, “Tiêu Phục Huyên, linh phách tan rã có đau lắm không?”

Tiêu Phục Huyên: “Không.”

Giọng y thản nhiên như thể quả thật không có cảm giác gì.

Y thấy Ô Hành Tuyết sắp cau mày tới nơi, bèn cúi đầu xuống, mân ngón tay qua rồi trầm giọng, “Ta khác, Ô Hành Tuyết à, linh phách ta bẩm sinh đã thế rồi.”

Linh phách y đã tan rã từ thuở ban sơ, có lâm vào tình huống đó cũng chỉ xem như trở về như cũ mà thôi.

“Vậy ngươi không sợ tĩnh dưỡng cũng không hồi phục được hay sao?” Ô Hành Tuyết hỏi tiếp.

“Không sợ,” Tiêu Phục Huyên nói. Giọng điệu vẫn chắc nịch.

Dường như y luôn cầm chắc hết cả, lời ra khỏi miệng y thường là “Không cần”, “Không có”, “Khỏi”, “Nhất định”. Đôi khi những lời ấy tỏ phần ngạo mạn, nhưng lại khiến người ta cảm thấy an tâm.

“Thương Lang Bắc Vực có linh lực tích trữ nên có thể hỗ trợ quá trình tĩnh dưỡng,” Tiêu Phục Huyên nói.

Thương Lang Bắc Vực được duy trì bằng linh lực y nên mới có thể hoạt động mấy trăm năm không ngừng nghỉ. Lúc trước hàng năm y phải đến Thương Lang Bắc Vực một thời gian chính là để làm việc này.

Nhờ vậy, hai lăm năm trước y mới đem Ô Hành Tuyết đến đấy. Dù đối phương đã mất đi tri giác thì vẫn sẽ được linh lực âm thầm hỗ trợ nuôi dưỡng.

Ô Hành Tuyết “À” nhẹ một tiếng rồi nói, “Thảo nào…”

Tiêu Phục Huyên: “Hửm?”

Ô Hành Tuyết: “Thảo nào đến lúc ta sắp tỉnh, Thương Lang Bắc Vực lại sụp đổ.”

Vì linh lực đã chuyển sang hai người bọn họ.

Tiêu Phục Huyên mấp máy hàng môi mỏng như đang do dự muốn nói gì đó.

Ô Hành Tuyết: “Sao thế?”

Thiên Túc thượng tiên cau mày nhưng không hé môi một tiếng.

Ô Hành Tuyết khỏ nhẹ ủng bạc vào chân y. “Nói chuyện nào.”

Thiên Túc bị khỏ vậy không kiềm lòng được, thốt, “Sụp đổ không nằm trong dự kiến.”

Ô Hành Tuyết hỏi, “Vậy ngươi dự kiến thế nào?”

“…”

Tiêu Phục Huyên vươn tay vuốt khoé môi chàng, nghiêng đầu sang hôn rồi cất giọng trầm nặng, “Thương Lang Bắc Vực còn nguyên vẹn.”

Y hôn tiếp lần nữa, nói, “Ta tỉnh lại trước.”

Thương Lang Bắc Vực còn nguyên vẹn sẽ không đưa tới động tĩnh kinh hoàng đến vậy. Khi Ô Hành Tuyết ra ngoài cũng không phải nghe những lời đồn đãi “Tên ma đầu kia thoát ra” bay tứ tán.

Với cả, nếu y tỉnh lại trước cũng có thể xử lý trước một số việc để tránh phải cập rập.

Ô Hành Tuyết bị hôn tận hai lần nên thấy hơi khó hiểu. Chàng ngẫm nghĩ một hồi mới chợt nhận ra, có lẽ Thiên Túc cảm thấy chuyện “nằm ngoài dự kiến” này khá là mất mặt, thành thử phải hôn để qua loa cho xong.

Việc này đã gợi lên tâm tính thích trêu đùa của Ô Hành Tuyết, dĩ nhiên chàng không thể buông tha được, bèn hỏi tới, “Ồ, vậy ngươi tỉnh lúc nào thế?”

Tiêu Phục Huyên: “…”

Ô Hành Tuyết nhấc mũi giày vỗ vỗ y ra chiều hối thúc trả lời.

Thế là sau đó chàng bị hôn đến ngả người ra sau, đoạn nghe giọng Tiêu Phục Huyên rì rầm, “Bị ngươi đánh thức.”

Tiêu Phục Huyên bị thương còn nghiêm trọng hơn chàng một chút, phải phiêu đãng lênh đênh trong Thương Lang Bắc ngục suốt hai lăm năm mới dưỡng xong linh phách bị tan rã.

Khi Ô Hành Tuyết rời khỏi nơi tĩnh dưỡng, sen vua ánh vàng bao bọc quanh Thương Lang Bắc Vực đổ vỡ rền trời. Chính trong khoảnh khắc ấy, linh phách tán loạn khắp nơi của Tiêu Phục Huyên mới dịch chuyển, tụ lại vào thể xác con rối bên dưới lòng đất. Để rồi vào thời điểm Ô Hành Tuyết mở quan tài ra, y mở mắt.

Câu “bị ngươi đánh thức” rót vào tai khiến Ô Hành Tuyết cảm thấy râm ran trong lòng. Nhưng trêu mới tí vẫn chưa đã thèm, chàng bèn mở miệng nói tiếp, “Vậy tại sao ngươi vừa mở mắt ra đã rút kiếm? Thức sớm nên quạu à?”

Tiêu Phục Huyên: “…”

“Không phải.”

“Không có.”

Thiên Túc <i>không</i> liền tù tì hết hai câu, thậm chí còn hôn sâu hơn khi nãy.

“Thế thì…” đại ma đầu bị y ép người đến ngạt, thế mà vẫn ráng nói cho hết câu, “tại sao?”

Tiêu Phục Huyên lặng thinh một hồi mới trầm giọng trả lời, “Mới vừa tỉnh lại chưa kịp nhớ rõ hôm nay là hôm nào.”

Linh phách tan rã tụ lại một thể mang đến cảm giác tương tự thời điểm khởi đầu cuộc đời này của y nhiều trăm năm về trước. Vì một người mà rã rời linh phách, rồi cũng vì người ấy mà tụ lại linh phách.

Vì người mà chết, vì người mà sinh.

Nên tích tắc bỗng giật mình tỉnh giấc, ký ức Tiêu Phục Huyên đảo điên lẫn lộn, y không nhớ rõ đấy là năm nào, và bản thân mình là ai.

Y nhớ về những chuỗi ngày sống rồi chết rồi sống rồi chết ở Kinh Quan, nhớ về mái hiên trên Nam Song Hạ, và nhớ cả về vô vàn lần tương ngộ dưới nhân gian trong thân phận tiên và ma.

Theo bản năng từ bao lần trước đó, y đè người kia dưới thân mình, một kiếp trăm năm, muôn vạn cảm xúc, chỉ để đánh đổi một lời gọi tên, “Ô Hành Tuyết.”

Nếu khi ấy đối phương cong mắt ngắm nhìn, nhất định y sẽ cúi người trao hôn.

***

Ô Hành Tuyết lặng im giây lát, bấy giờ chợt ngẫm lại những gì đã xảy ra ở Thương Lang Bắc Vực ngày ấy mà bất giác nôn nao như bị châm nhuyễn cắm qua tim.

Khi đó Tiêu Phục Huyên gọi tên chàng, hẳn tin rằng sẽ nhận được lời hồi đáp. Thế mà chàng thậm chí còn quên mất bản thân mình là ai…

Chàng ngừng trêu vui, khẽ hôn lần lượt lên mũi, khoé môi, xuống cằm Tiêu Phục Huyên và cất giọng khàn nghẹn, “Lúc ấy ta đã nói gì cơ chứ…”

Càng nghĩ càng thấy xốn xang.

Nhưng chàng nghe thấy Tiêu Phục Huyên điềm nhiên đáp, “Ngươi nói danh hào Thiên Túc thượng tiên nghe thật oai nghi.”

Ô Hành Tuyết kinh ngạc.

Chàng lại nghe Tiêu Phục Huyên trĩu giọng, “Khi đó ta hơi mất vui, nhưng giờ không còn nhớ chuyện đó nữa. Vả lại…”

Tiêu Phục Huyên nắm nhẹ cằm chàng và nói, “Ô Hành Tuyết, hé miệng.”

Nụ hôn ấm áp gieo xuống, ấy chẳng phải những chiếc hôn phớt bỡn đùa mà thật nồng nàn sâu đậm.

Ô Hành Tuyết thấy cõi lòng như tan chảy.

Ai cũng bảo Tiêu Phục Huyên kiệm lời, hơi có vẻ gì ngạo mạn và không giỏi giao tiếp. Thế mà sao một người như vậy lại dễ dàng khiến người ta ấm lòng hẳn lên.



Còn biết cách đổi đề tài.

Giữa những nụ hôn, Thiên Túc cất giọng trầm trầm, “Ngươi tỉnh trước ta, mở quan tài ta, còn đụng chạm vào ngọc thạch của ta.”

Ô Hành Tuyết tránh đi một chút, li3m viền môi mình. “Ưm?”

“Không phải khối ngọc ấy nói cho ta nghe hay sao?” Ô Hành Tuyết nói.

“Không phải.”

“?”

Ô Hành Tuyết hiểu rõ Tiêu Phục Huyên đang an ủi mình, nhưng nói thêm mấy câu như vậy càng khiến chàng tò mò hơn. “Thế để lại cho ai?”

Tiêu Phục Huyên: “Cho ta.”

Ô Hành Tuyết: “Tại sao phải để lại?”

Tiêu Phục Huyên: “Đề phòng bất trắc.”

Trải qua một lần tận diệt, y quả tình không muốn dây dưa với một thể loại bất trắc ngoài dự kiến nào. Bởi thế mà y đã thả một chút linh khí vào khối ngọc chạm. Đến khi tỉnh lại nếu quên mất chuyện cần làm thì còn có ngọc chạm nhắc nhở mình.

“Vậy câu nói mà ta nghe được vốn là dành cho ngươi?” Ô Hành Tuyết nói. “Thế sao ban đầu lại đến tìm Y Ngô Sinh ở nhà họ Hoa Xuân Phiên thành?”

Tiêu Phục Huyên nói, “Vì còn có một số chuyện mà ta của thời điểm đó vẫn chưa nắm tường tận.”

Trước khi Ô Hành Tuyết tàn sát Tiên Đô, trên thế gian có tin đồn rằng chàng đến nhà họ Hoa một chuyến, kết cục giết sạch cha anh vợ con Y Ngô Sinh. Tội danh chàng lan truyền khắp nhân gian. Thời điểm đó Tiêu Phục Huyên chưa kịp tìm hiểu rõ ngọn nguồn.

Nhỡ đâu khi tỉnh lại mà quên hết mọi việc, y sẽ bắt đầu điều tra từ Y Ngô Sinh nhà họ Hoa. Cho dù tra không ra những chuyện khác thì chí ít cũng có thể rửa sạch tội danh của Ô Hành Tuyết.

Ô Hành Tuyết liếc mắt nhìn túi gấm treo bên thắt lưng y rồi banh miệng túi ra để nhìn vào trong, đoạn thắc mắc, “Nếu đã là linh vật thì sao lại giấu trong túi gấm mà không bao giờ thấy ngươi lấy ra vậy?”

Tiêu Phục Huyên: “…”

Mãi vẫn không nghe thấy câu trả lời, Ô Hành Tuyết ngước mắt nhìn y. Thế là chàng thấy Thiên Túc không hé miệng vàng ngọc nhưng trên mặt chói loà hàng chữ: Vì ngu người.

Nếu không phải tại quên mất thì thắc mắc này có hơi ngu người.

Ô Hành Tuyết nhìn nét mặt khôn tả thành lời của y mà không kiềm được lòng bật cười rộ lên.

Chàng vừa cười vừa nói, “Ta phải điều tra một phen xem rốt cuộc tại sao ngươi phải dùng giọng của ta mà không dùng giọng chính mình nha.”

Tiêu Phục Huyên để mặc chàng cười ngất, nói, “Khỏi.”

Ô Hành Tuyết láu lỉnh hỏi tới, “Tại sao?”

Tiêu Phục Huyên bật một câu, “Chắc chắn sẽ không nghe.”

Nếu đã không nhớ gì thật mà trong tay còn có một pho tượng nói bằng giọng chính mình bảo đi đến nơi nào đó, thì với tính tình của y hẳn sẽ cho rằng có người cả gan mạo danh mình rồi.

Ô Hành Tuyết mường tượng ra cảnh ấy rồi lại cười nắc nẻ một hồi lâu.

Sau một lúc, chàng chợt nhớ ra gì đó bèn ngưng lại. Sau hồi suy tư, chàng bỗng vòng qua tay Tiêu Phục Huyên kéo người lại gần mình một chút. “Gượm đã…”

Tiêu Phục Huyên: “?”

Ô Hành Tuyết nói, “Lần trước ta hỏi ngươi nếu năm xưa chuyện ta ở trên Tiên Đô bị tận diệt xoá sạch vậy làm sao ngươi nhớ ra được. Ngươi bảo rằng Tiên Đô sụp đổ, Thiên đạo không còn ở nhân gian này nữa nên tác dụng của tận diệt cũng không còn.”

“… Ừm.”

“Còn dám ừm, theo lời ngươi vừa nói thì ngươi đã nhớ ra từ trước khi Tiên Đô sụp đổ rồi.”

Ô Hành Tuyết nheo mắt, quay mặt sang cắn y một phát.

Chàng hiểu tính Tiêu Phục Huyên quá mà, giấu nhẹm chuyện quá khứ như vậy chỉ có thể là không muốn để chàng biết sự thật vì sợ chàng đau lòng hoặc lo lắng.

Nên dù chàng cắn Tiêu Phục Huyên nhưng vẫn không đành lòng dùng sức.

Hồi lâu sau, chàng lùi lại và hỏi, “Vậy nên… ngươi nhớ ra được bằng cách nào?”

Chàng lia mắt nhìn hết các huyệt trọng yếu của Tiêu Phục Huyên, khí kình nương theo đôi tay khăng khít của hai người đặng chảy qua người Tiêu Phục Huyên, dường như chàng muốn kiểm tra xem trên cơ thể y có giấu vết thương hay đại loại thế không.

Tiêu Phục Huyên mở rộng mệnh môn, để chàng tuỳ ý kiểm tra không một chút ngăn trở hay đề phòng. Đồng thời, y đưa tay lên vuốt hàng mi chàng, cất giọng trầm ấm, “Không tệ đến vậy đâu.”

Ô Hành Tuyết xác nhận trên người y không có vết thương cụ thể và cũng không có tổn hại nào không thể phục hồi xong xuôi. Bấy giờ mới thở phào nhẹ nhõm, vơi bớt phần nào âu lo và nói, “Làm cách nào thế?”

Tiêu Phục Huyên im lặng một chút, nói, “Thẩm vấn.”

Ô Hành Tuyết nghẹn thở.

Lát sau, chàng mới thì thào, “Thẩm vấn?”

Tiêu Phục Huyên đáp, “Ừm.”

Năm xưa sau khi nhận ra Ô Hành Tuyết dịch dung, có một khoảng thời gian rất dài y bị chìm trong mối tơ vò cảm xúc.

Y không biết lai lịch tên ma đầu kia, vì sao trở thành thành chủ Chiếu Dạ thành, vì sao lại mang tà ma khí dày đặc hơn bất kỳ một kẻ nào trên thế gian. Y không biết trên tay đối phương nhuốm nhiều ít máu, đã từng giết qua bao nhiêu người.

Y cũng không hiểu vì sao mỗi lần trông thấy tên ma đầu đó, bản thân mình lại phá lệ rất nhiều lần, lại đau lòng rất nhiều lần.

Cảm giác mâu thuẫn ấy có lẽ là vì… ma đầu Ô Hành Tuyết mà y được nghe với Ô Hành Tuyết mà y tận mắt nhìn thấy giống như không phải cùng một người.

May thay, y chưa từng mù quáng với những lời đồn. Đến thông tin từ thiên chiếu mà y vẫn không tin tưởng hoàn toàn, nói gì đến mấy lời đồn đãi dưới nhân gian.

Y chỉ tin những gì chính mắt mình nhìn thấy.

Vì vậy mà có mấy chục năm sau đó, vì tên ma đầu kia, y đã vi phạm rất nhiều việc cấm kỵ giữa tiên và ma.

Y gặp gỡ Ô Hành Tuyết khắp nơi dưới nhân gian. Y từng cùng đối phương chia chung bầu rượu, dõi bóng vầng trăng, sải bước trên cùng góc phố, ngắm nhìn cây lá đơm hoa.

Y từng vào Chiếu Dạ thành, từng vào Tước Bất Lạc, từng trao hôn và cũng từng cùng trải kiếp kỳ…

Không chỉ một lần.

Càng về sau, y càng cảm thấy chắc chắn mình đã bỏ lỡ hoặc quên mất một chuyện gì đó.

Dưới nhân gian những năm tháng ấy, hoạ loạn tà ma đột ngột tuôn trào tứ phía còn thiên chiếu lại đầy mâu thuẫn, thành thử mối hiềm nghi với Thiên đạo Linh đài càng nghiêm trọng hơn.

Thêm cả, chẳng có mấy ai có khả năng can thiệp vào trí nhớ và quá khứ y đến mức độ này, suy đi nghĩ lại thì chỉ có thể là Thiên đạo Linh đài.

Nhưng nếu Thiên đạo cố tình can thiệp thì không dễ gì có thể hoá giải được.

Tiêu Phục Huyên đã từng thử rất nhiều biện pháp.

Ai cũng nói vào thời điểm giã từ cõi đời, người ta sẽ nhớ về rất nhiều chuyện. Tiêu Phục Huyên từng thử tháo đinh tang, thả những mảnh linh phách vốn tụ về hòng mượn khoảnh khắc đến gần một vong hồn nhất để nhớ lại chuyên cũ, thế mà vẫn không có kết quả.

Sau đó, y mới nghĩ đến thẩm vấn.

Ngẫm lại vẫn thấy “ý trời trêu người”, ngày hôm đó không sớm cũng chẳng muộn, mà vừa khéo lại rơi ngay vào năm Thanh Hà cuối cùng.

Những ngày sau chót của năm Thanh Hà cuối cùng, Thiên Túc thượng tiên đến Thương Lang Bắc Vực, tận dụng các loại tà khí hỗn tạp mà vô số tà ma để lại tại Thương Lang Bắc Vực đặng dùng thanh trường kiếm đâm xuyên cơ thể, thẩm vấn chính mình.

Trong thẩm vấn, y nhìn thấy hết thảy những gì xảy đến trong đời, cũng nhờ đó mà nhớ ra được mọi việc. Ngay khoảnh khắc y nhớ ra người thương mình từng một thời là Linh Vương thì nhận được tin cuộc hỗn chiến nổ ra ở Tiên Đô.

Y giấu nhẹm mọi vết tích, rút kiếm lập tức lao đi.

Trên một góc độ nào đó, đối với y, ngày hôm ấy chính là một buổi tương ngộ trọng thể với Ô Hành Tuyết.

Chẳng là, tương ngộ tức biệt ly.

❄︎

Lời tác giả:

Đợi lâu ~

Hơi ngoài dự kiến một chút nên chương sau mới nói đến Thiên Túc ở dòng rối loạn _🙂з” ∠)_

Cá:

Thực sự là khi gõ những chương này mình sụt sùi trong nước mắt không dừng được luôn ấy, ban đầu khi Mộc lập dàn ý cho truyện này là “ở thế gian có chân tình” mình đã nghĩ chân tình thì có thể sâu sắc đến mức độ nào cơ chứ? Lúc đấy mình thực sự không thể ngờ nó có thể sâu sắc đến mức “vì người mà sinh, vì người mà tử” đâu, tình yêu của Huyên và Tuyết dành cho nhau vượt qua hết tất cả những gì mình từng tưởng tượng. Có một người có thể vì người mình yêu mà tự phân linh phách, tự đâm kiếm xuyên thân, có thể vượt lên trên cái gọi là “ý trời” để sống đúng với con tim. Dù tình tiết truyện thực sự rất ngược nhưng cũng giống như Tuyết nói ấy, khi mình đọc vào lại không khỏi cảm thấy ấm lòng vì tình yêu cao cả và đẹp đẽ của hai bạn (ಡ﹏ಡ)
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 112: Duy nhất


“Tiêu Phục Huyên…” Ô Hành Tuyết cất tiếng khàn đặc. Chàng nghẹn giọng giây lát mới nói, “Thế này bảo là không tệ đến vậy đâu?”

“Thẩm vấn là dành cho tà ma, thế mà ngươi tự áp lên bản thân mình?” Vành môi chàng tái mét, nét mặt sầm hẳn đi.

Xưa kia, đám tà ma lớn nhỏ trong Chiếu Dạ thành đều nói ngay cả lúc tức giận thành chủ vẫn luôn giữ nụ cười, một khi trên mặt chàng vơi đi nét cười thì chẳng còn một ai dám đến gần.

Nhưng Tiêu Phục Huyên không lùi dù chỉ một bước.

Y nhấn ngón tay vào giữa mày Ô Hành Tuyết và nói, “Đừng cau mày.”

Ô Hành Tuyết còn tính nói tiếp.

Tiêu Phục Huyên đã trầm giọng, “Năm xưa ta đến Chiếu Dạ thành tìm ngươi cứ thấy ngươi cau mày hoài.”

Ô Hành Tuyết: “…”

Đó là những năm hai người họ tiên ma khác biệt. Chàng không muốn để lộ bản tính tà ma trước mặt Tiêu Phục Huyên, bởi vậy nên chàng thường trưng nét mặt ghét bỏ và cất giọng móc mỉa hòng khích cho đối phương rời đi.

Mà giờ đây nhắc lại, chàng không khỏi nghĩ về hình ảnh Tiêu Phục Huyên cô độc đứng bên ngoài cổng vào Chiếu Dạ thành.

Xót xa và yếu lòng nhanh chóng lấn át tâm trạng, khiến chàng không sao tức giận nổi nữa.

Nhưng ma đầu vẫn không cam lòng.

Chàng mím môi nhìn Tiêu Phục Huyên, dự định phải nghiêm mặt hỏi thêm mấy câu. Kết quả chẳng gì đã bị nụ hôn gieo trên đuôi mắt và giữa mày xoa dịu cho nghiêm không nổi nữa.

“Đừng mỗi lần không biết đường trả lời thì chặn người khác như vậy,” Ô Hành Tuyết nói. “Không có tác dụng đâu.”

Tiêu Phục Huyên trầm giọng đáp “Ừm”, kế đó lùi lại một chút, buông mắt nhìn qua rồi nhỏ giọng thầm thì, “Nhưng ngươi lại cau mày rồi, Ô Hành Tuyết.”

Ô Hành Tuyết: “…”

“Vì ta bị ngứa!” Giọng chàng vẫn đanh như thép, nhưng không nói tiếp được nổi. Chàng đành phải mặc kệ hết thảy, nhắm mắt lại rồi duỗi tay kiểm tra các huyệt đạo quan trọng của Tiêu Phục Huyên một lần nữa.

Vừa nãy mới biết người kia từng thẩm vấn chính bản thân, giờ đầu ngón tay chàng chỉ dám chạm vào thật khẽ khàng cẩn thận khi di chuyển đến ngực và cổ Tiêu Phục Huyên.

Khí kình chàng lạnh cùng cực, ngay cả ngón tay cũng lạnh như băng. Dùng ngón tay ấy xoa nhẹ trên người thật sự hơi nhột, thế là chưa bao lâu chàng đã bị Tiêu Phục Huyên giữ cánh tay lại.

Thiên Túc nói, “Vừa nãy đã kiểm tra rồi mà?”

“Ban nãy kiểm vội quá, ta không yên tâm,” Ô Hành Tuyết nói. “Chính ngươi cũng từng nói, thẩm vấn nhằm mục đích khiến người bị thẩm vấn sợ hãi, tuyệt vọng, mang đến cảm giác đau đớn muốn chết. Bị một thanh trường kiếm sắc bén mãnh liệt nhường ấy đâm vào người thì sao có thể không thương tổn, không để lại dấu vết.”

Chàng chuyển sang tay còn lại, tiếp tục nhấn từng chỗ một, vừa nhấn vừa lầm bầm, “Có phải ngươi giở thủ thuật che mắt nào đó để giấu đi vết thương cũ hay không?”

Tiêu Phục Huyên: “Không có.”

Ô Hành Tuyết còn nghi ngờ. “Thật không?”

Tiêu Phục Huyên: “Thật.”

Ô Hành Tuyết: “Ta không tin.”

Tiêu Phục Huyên: “…”

Ô Hành Tuyết: “Ngươi đừng nói gì cả, giờ lời ngươi nói không còn đáng tin nữa.”

Chàng vừa nói vừa tiếp tục kiểm tra. Lần này chàng kiểm tra cực kỳ thận trọng nhưng cuối cùng vẫn không tìm được dấu vết nào rõ ràng. Trong lòng còn buồn bực, chàng đã nghe Tiêu Phục Huyên nói, “Không phải ngươi đã xem thẩm vấn Minh Vô Hoa Tín rồi à?”

Ô Hành Tuyết kinh ngạc.

Thẩm vấn Hoa Tín có nhắc đến những sự việc xảy ra hai lăm năm trước. Theo những gì Hoa Tín nhìn thấy, thời điểm lao đến Tiên Đô đúng là Tiêu Phục Huyên không giống với một người chịu thương, hay đang cố gắng gượng gì cả.

Nhưng những hình ảnh trong thẩm vấn luôn lướt qua chóng vánh chứ không mấy rõ ràng nên khó lòng kết luận được.

Những thay đổi trong nét mặt Ô Hành Tuyết đều không thoát khỏi mắt Tiêu Phục Huyên. Tiêu Phục Huyên im lặng giây lát rồi đành tỏ giọng ấm áp mang chút bất đắc dĩ, “Để ta kể cho ngươi nghe.”

Ô Hành Tuyết: “Tuyệt đối không thiếu sót?”

“Tuyệt đối không thiếu sót.”

“Thề?”

“Ừm.”

Đúng ra ban đầu Tiêu Phục Huyên không định kể mấy chuyện nhỏ nhặt không đáng này, ít nhất là chưa kể vào thời điểm này.

Tính tình y xưa nay luôn vậy, nhắc đến chuyện gì cũng chỉ qua loa đôi ba câu, thường sẽ gồm khởi đầu và kết quả, còn quá trình hay diễn biến liên quan đến thương tích hoặc chịu đựng ở đoạn giữa đều bị lược mất vì y sợ sẽ mang đến sợ hãi và âu lo.

Nhưng y phát giác ra cách này không có tác dụng đối với Ô Hành Tuyết. Tất cả những chuyện y lược bỏ đi đến lúc nào đó sẽ bị đối phương cảm giác được, xong hỏi tới tới cho đến khi biết được tất cả.

Dường như tất cả mọi việc liên quan đến y đều đã định phải phơi bày dưới nắng mai, tuyệt không thiếu sót, một chút cũng không thể bỏ qua.

“Đúng là sau đợt thẩm vấn ấy ta bị thương,” Tiêu Phục Huyên ôn tồn nói. “Nhưng vết thương đó đã nghịch chuyển trở lại.”

Ô Hành Tuyết sửng sốt. “Nghịch chuyển?”

Tiêu Phục Huyên gật đầu. “Ừm.”

Ô Hành Tuyết thắc mắc vô cùng. “Tại sao?”

***

Trên thực tế, ngày hôm đó đến chính Tiêu Phục Huyên cũng cảm thấy hoài nghi.

Y là người rõ ràng hơn ai hết thẩm vấn có tác động nghiêm trọng lên linh phách đến mức nào, thân linh bị tổn thương nặng nề đến mức nào. Cho tới thời điểm y đến Tiên Đô, vung một kiếm phóng qua mười hai đỉnh vách đá treo cao đặng che chắn trước người Ô Hành Tuyết, thân linh y vẫn đang bị thương. Chỉ không để lộ chút nào trên mặt mà thôi.

Nhưng chưa qua ít lâu, thân thể gánh chịu thẩm vấn của y dần dà có dấu hiệu khôi phục trở lại.

Tình huống vô cùng quái dị. Thời điểm đó y không hề tĩnh toạ an dưỡng, cũng không dùng bất kỳ một loại tiên đan linh dược gì, mà thậm chí còn giao chiến với người khác.

Về lý mà nói, vết thương của y phải trở nặng hơn mới phải.

Khi ấy, Tiêu Phục Huyên vừa mới nhớ ra những chuyện quá khứ thông qua đợt thẩm vấn nên ký ức có hơi mù mờ hỗn loạn. Bên trong lớp ký ức mơ hồ từng bị tận diệt, y chợt nắm bắt được một chút gì đó…

Trước cả thời điểm Ô Hành Tuyết làm Linh Vương, đã có một mối liên kết vô hình kết nối y và Ô Hành Tuyết, một mối liên kết nở và tàn, được và mất.

Mỗi lần Ô Hành Tuyết rơi vào tình trạng thân linh suy nhược sau khi chém đứt dòng rối loạn và trở về Tiên Đô, linh khí trên người Tiêu Phục Huyên cũng sẽ chuyển dời sang người Ô Hành Tuyết trong vô thức để hỗ trợ chàng hồi phục.

Nhớ đến chuyện ấy, Tiêu Phục Huyên hốt hoảng trong lòng. Y tưởng rằng mối liên hệ hỗ trợ cung cấp này vẫn còn tồn tại, và tồn tại hai chiều. Y tưởng rằng nguyên do cơ thể mình dần trở nên tốt đẹp hơn là nhờ hút linh từ Ô Hành Tuyết.

Thành thử trong suốt cuộc hỗn chiến Tiên Đô, y phải không ngừng kiểm tra để đảm bảo Ô Hành Tuyết vẫn bình an.

Sau mấy lần kiểm tra, Tiêu Phục Huyên mới yên tâm lại — bởi y có thể cam đoan việc cơ thể mình dần hồi phục không xuất phát từ Ô Hành Tuyết.

Sau đó, y mới nhớ ra vào ngày Linh Vương bị tận diệt, y đã chuyển liên kết ràng buộc giữa hai người sang bức tượng ngọc do chính tay mình tạc nên.

Đó không phải liên kết hai chiều, mà chỉ là một chiều…

Nếu Ô Hành Tuyết mắc bệnh hoặc bị thương nặng, y có thể giúp đỡ đối phương.

Còn ngược lại, tuyệt không có phản ứng.

Từ lúc đó, rốt cuộc cơn cớ vì sao những thương tổn y phải nhận từ thẩm vấn lại dần chuyển biến tốt đẹp vẫn mãi là một khúc mắc.

Đến thời điểm cuối cùng cuộc hỗn chiến Tiên Đô, khúc mắc đó mới có lời giải đáp.

Khi ấy, Tiên Đô hiện thế và Tiên Đô dòng rối loạn chồng chập vào nhau trong tích tắc. Một chiêu mệnh của Tiêu Phục Huyên đang che chở thân thể Ô Hành Tuyết, chiêu mệnh còn lại đặt trên người Thiên Túc của dòng rối loạn.

Tích tắc ấy là lúc Tiêu Phục Huyên hiểu rõ nguyên do.

Khi chiêu mệnh Tiêu Phục Huyên đụng vào Thiên Túc dòng rối loạn, y mới phát hiện linh phách đối phương cũng bị tổn hại, và tổn hại đó cũng đi kèm kiếm ý thanh kiếm mang tự “Miễn”.



Ô Hành Tuyết nghe thấy bèn cau mày. “Kiếm ý? Ngươi khẳng định đó là kiếm ý của thanh linh kiếm ngươi mang bên mình?”

Tiêu Phục Huyên nói, “Kiếm của ta, tất nhiên ta không nhận lầm.”

“Linh phách tổn hại và còn đi kèm kiếm ý…” Ô Hành Tuyết lẩm bẩm, chàng vốn rất nhạy bén nên lập tức hiểu điều đó có ý gì. “Chỉ có thẩm vấn mới để lại dấu vết như vậy?”

Tiêu Phục Huyên gật đầu. “Chỉ có thẩm vấn.”

Ô Hành Tuyết: “Vậy tại sao trên cơ thể hắn cũng có dấu vết của thẩm vấn? Đâu đến mức hắn cũng trải qua những việc giống hệt như ngươi được.”

Chỉ cần nhìn Vân Hãi và Hoa Tín là thấy ngay, dù dòng rối loạn là ảo ảnh nhưng không đồng nghĩa sẽ giống hệt hiện thế.

Tiêu Phục Huyên thẩm vấn bản thân mình ở Thương Lang Bắc Vực hòng nhớ lại chuyện tận diệt lúc trước. Vậy còn Thiên Túc dòng rối loạn thì sao? Hắn vốn không có lý do để thẩm vấn bản thân mình.

“Nói cho cùng, dù hắn có lý do gì đó để thẩm vấn bản thân thì cũng không thể trùng hợp thời điểm với ngươi đến như vậy,” Ô Hành Tuyết đăm chiêu. “Vậy chỉ có một khả năng duy nhất.”

Chàng ngước mắt nhìn Tiêu Phục Huyên. “Vết thương giống ngươi y hệt bắt nguồn từ chính bản thân ngươi.”

***

Thời điểm đó, Tiêu Phục Huyên đã đoán như vậy, để rồi chỉ qua chớp nhoáng, đoán định đó đã được xác nhận…

Khi y đốt linh phách mình để làm xúc tác hòng tung chiêu mệnh vào thân thể Thiên Túc dòng rối loạn, trên linh phách đối phương cũng xuất hiện dấu “vết thương bị đốt” hừng hực.

Hai dấu vết gần như giống hệt nhau, trạng thái hai bên cũng tương đương từ đầu đến cuối như hai mặt phản chiếu của một tấm gương.

Và trong suốt quá trình “tương đương” đó, có một dấu ấn hơi lập loè sáng lên trên cả hai người bọn họ.

Đó là dấu ấn vàng chữ “Miễn” được trời ban.

Dấn ấn ấy vô hình phần lớn thời gian, chỉ trong một số tình huống đặc biệt mới lộ ra ngoài —

Một là khi vừa diệt trừ hoạ loạn tà ma, trên người y nhiễm tà ma khí và bị tổn hại linh phách. Hai là trong lúc ý thức mơ màng mê ly.

Trước đây, cả Tiêu Phục Huyên lẫn Ô Hành Tuyết đều cho rằng dấu ấn này chỉ đơn giản là điểm đặc trưng của Thiên Túc và Linh Vương, giống như những vết bớt dùng để nhận dạng trên thân thể phàm nhân chứ ngoài ra không có tác dụng gì khác.

Cho đến tận thời điểm đó, giữa khi Tiêu Phục Huyên và Thiên Túc dòng rối loạn đối đầu khiến hai dấu ấn vàng sáng lên cùng lúc, y mới vỡ lẽ dấu ấn đó không hề vô dụng.

Cách lưu chuyển của hai dấu ấn này giống hệt với một loại ấn chú.

Ấn chú đó được gọi là ấn thờ.

Những nam đồng nữ đồng bên dưới thung lũng Đại Bi cũng mang cùng loại ấn này. Dấu ấn sau cổ Y Ngô Sinh và Hoa Chiếu Đình trước đây cũng là loại này.

Nó từng là loại ấn chú thông dụng và quen thuộc nhất với chúng tiên trên Tiên Đô…

Bọn họ đặt ấn thờ của bản thân trên người những pho tượng thần trong chỗ thờ cúng mình dưới nhân gian. Qua đó, số hương hoả tượng thần nhận được sẽ chuyển hoá thành linh lực, tất cả số linh lực đó được đưa hết về bản tôn.

Nhờ vậy, chúng tiên có thể đảm bảo bản thân không cạn linh lực, không mất tiên nguyên.

***

Vừa nghe đến ấn thờ, Ô Hành Tuyết giật thót tim.

Theo bản năng, chàng vươn tay sờ bên cổ Tiêu Phục Huyên, ngón tay dừng nơi lẽ ra nên có dấu ấn vàng chữ “Miễn”, chàng nói, “Thế nên… dấu ấn được trời ban tặng này thật ra là ấn thờ?”

Tiêu Phục Huyên gật đầu. “Ừm.”

Thực tế, hai lăm năm trước, trận đối đầu giữa y và Thiên Túc dòng rối loạn diễn ra chỉ trong chớp mắt. Y còn chưa kịp ngẫm kỹ thì mọi thứ đều đã đi đến hồi kết.

Ngay sau đó, Tiên Đô sụp đổ, Ô Hành Tuyết được an vị ở Thương Lang Bắc Vực, còn bản thân y chóng bị phiêu tán linh phách vào màn sương băng giá, hoàn toàn không có cơ hội suy xét rốt cuộc “ấn thờ” có ý nghĩa gì.

Mãi đến khi bị đánh thức trong cỗ quan tài, nhìn thấy hiện tượng “triệu hoán người phàm” ở thung lũng Đại Bi với Ô Hành Tuyết, đồng thời có một mảnh vỡ linh phách đang quan sát sự việc của dòng rối loạn trong âm thầm, Tiêu Phục Huyên mới dần dà hiểu ra mọi việc.

Y nói với Ô Hành Tuyết, “Ngươi và ta của dòng rối loạn khác với Vân Hãi và Hoa Tín, chúng ta không sinh ra từ nhân quả của dòng rối loạn và cũng không phải chỉ đơn thuần là ảo ảnh phản chiếu.”

“Có lẽ việc này có can hệ đến mối liên quan giữa ngươi và Thiên đạo Linh đài.”

Tiêu Phục Huyên ngừng đoạn, mới thung dung nói tiếp, “Nếu thế gian chỉ có một Thiên đạo Linh đài thì làm sao có Linh Vương thứ hai.”

Ô Hành Tuyết nghe thế thì sững sờ.

Đến đây, chàng đã đâu đó hiểu rõ ngọn nguồn…

Chàng và Thiên đạo Linh đài cùng nguồn cùng cội. Nếu chỉ có một Thiên đạo Linh đài thì bản thân chàng cũng nên như thế. Cho dù xuất hiện dòng rối loạn cũng không nên tồn tại một Linh Vương giống chàng như đúc.

Và Thiên Túc cũng vậy.

Ở đâu ra thêm một Tiêu Phục Huyên thứ hai ngăn cản lôi kiếp cho thần mộc rồi chống thân kiếm qua đời dưới tàn cây?

Thành thử, dù trên dòng rối loạn có người nào đi chăng nữa cũng không nên xuất hiện Thiên Túc Tiêu Phục Huyên và Linh Vương Ô Hành Tuyết. Thế nhưng trên thực tế nó đã “xuất hiện”. Vậy thì “Thiên Túc” và “Linh Vương” của dòng rối loạn từ đâu đến là một vấn đề rất đáng suy ngẫm.

Tiêu Phục Huyên nói, “Ta đã tìm thấy một vài manh mối nhưng chỉ có thể xác nhận Thiên đạo Linh đài đã mượn linh vật gì đó để đắp thành thân thể, rồi từ đó hai thân thể mới hấp thu linh lực thông qua ấn thờ trên cổ ngươi và ta để nuôi dưỡng thành kẻ gọi là Thiên Túc và Linh Vương.”

Nếu nói những người khác là ảo ảnh phản chiếu từ hiện thế nên có thể xem như một phiên bản khác của chính mình, thì “Thiên Túc” và “Linh Vương” dòng rối loạn chính là ngoại lệ.

Thể xác hai người được tạo thành từ linh vật và hoàn toàn không liên quan gì đến Tiêu Phục Huyên và Ô Hành Tuyết nguyên bản. Nhưng thể xác chỉ là bình rỗng, còn tất cả những thứ được bổ sung cho đầy đủ đều bắt nguồn từ chính Tiêu Phục Huyên và Ô Hành Tuyết.

Linh khí và tiên nguyên vốn là một phần của Tiêu Phục Huyên và Ô Hành Tuyết, vì vậy mà “Thiên Túc” và “Linh Vương” gần như không khác biệt gì bản tôn về thói quen, hành động, thần thái cũng như giọng điệu, thậm chí còn giống hơn cả những ảo ảnh phản chiếu kia.

Bên cạnh đó, còn có mối ràng buộc “ấn thờ”.

Ô Hành Tuyết lặng thinh hồi lâu, nét mặt nhuốm vẻ đăm chiêu.

Chàng nhớ đến khung cảnh hỗn chiến Tiên Đô hai lăm năm trước theo lời Tiêu Phục Huyên và nói, “Thảo nào khi ngươi bị tổn thương từ thẩm vấn thì vị của dòng rối loạn cũng bị thương theo, tất cả đều vì ấn thờ kia. Nói như vậy… rồi hai bên sẽ rơi vào trạng thái cân bằng?”

Tiêu Phục Huyên nói, “Hẳn là vậy.”

Đây có lẽ chính là trạng thái mà Thiên đạo mong muốn lúc đầu — Thiên Túc và Linh Vương dòng rối loạn không bao giờ rơi xuống hạ phong khi đối đầu với nguyên bản hiện thế.

Nhưng đó chính là con dao hai lưỡi.

Lúc trước, Tiêu Phục Huyên bị thương nên không ở phong độ đỉnh cao. Vì mối ràng buột ấn thờ nên Thiên Túc dòng rối loạn cũng rơi vào tình huống tương tự. Đã vậy thì vấn đề không còn khó giải quyết nữa.

Huống hồ, có một sự khác biệt rất lớn giữa hai bên — khởi đầu của kiếp này.

Linh phách Tiêu Phục Huyên bẩm sinh đã tan rã, còn Thiên Túc dòng rối loạn chỉ có hư linh tròn vẹn được ấn thờ nuôi dưỡng mà thành.

Vì thế, vào thời khắc cuối cùng của hai lăm năm trước khi cả hai đều bị tiêu tán linh phách, một bên sinh, một bên tử.

Ngay thời điểm Thiên Túc dòng rối loạn mất mạng, hết thảy linh lực và tiên nguyên được hấp thu lúc trước đều hoàn trở về Tiêu Phục Huyên. Cũng nhờ đó mà Tiêu Phục Huyên có thể ngưng tụ thành ảo ảnh đặng ôm lấy Ô Hành Tuyết tiến vào Thương Lang Bắc Vực.

***

Ô Hành Tuyết tần ngần nói, “Nói vậy, thực lực Linh Vương hiện giờ chắc không thua kém ta…”

Nói giữa chừng, chàng ngưng lại giây lát rồi bật cười.

“À, nào phải,” chàng phủ nhận luôn nửa câu đầu, thản nhiên nói tiếp, “Sao tương đương được, phải chênh lệch rất nhiều mới đúng. Giờ ta đâu còn dấu ấn kia nữa.”

Dấu ấn vàng bên cổ mang tự “Chiêu” đại diện cho Linh Vương đã không còn từ thời điểm chàng trở thành tà ma ba trăm năm về trước.

Ấn thờ kết nối hai phía cũng đứt đoạn từ đấy.

Thành thử, chàng từ tiên đoạ ma, trở thành thành chủ Chiếu Dạ thành Ô Hành Tuyết, gánh chịu thương tích từ kiếp kỳ. Trong lúc đó, vị kia vẫn mãi dừng lại tại thời điểm ba trăm năm về trước, là “Linh Vương” trong phong độ đỉnh cao.

***

Ô Hành Tuyết suy tư rồi nói, “Không ổn rồi.”

Tiêu Phục Huyên tưởng có chuyện lạ gì, bèn hỏi, “Sao thế?”

Ô Hành Tuyết: “Ta trong thời đỉnh cao phong độ ba trăm năm trước… sợ rằng ngươi đánh không lại đâu.”

Tiêu Phục Huyên: “?”

Ô Hành Tuyết liếc nhìn y. “Ngươi trưng bản mặt gì thế?”

Tiêu Phục Huyên: “Không có gì.”

Ô Hành Tuyết giở giọng phô trương. “Ngươi đánh không lại.”

Tiêu Phục Huyên liếc chàng như tính nói gì đó. Bỗng y nhớ về bóng hình phóng thoăn thoắt qua sương mù giá lạnh ở Kinh Quan năm xưa, bèn tỏ giọng đồng lòng, “Xem như là vậy đi.”

“Ngươi có từng giao đấu với y ở trong dòng rối loạn chưa?” Ô Hành Tuyết hỏi tiếp.

Tiêu Phục Huyên: “…”

Y không nhịn nữa mà cất giọng nhắc nhở ai đó, “Ta chỉ để lại thân thể kèm mảnh vụn linh phách. Cớ gì phải đi mời đòn.”

Bộ thích bị lộ lắm hả?

Nét mặt y quá chi là hài hước, khiến cho Ô Hành Tuyết không khỏi bật cười. Nhưng sau một lúc cười giỡn, chàng nghiêm mặt lại. “Không biết tình hình vị ở dòng rối loạn thế nào rồi, liệu y có nhận ra bản thân đang ở trong dòng rối loạn hay không?”

Chàng ngẫm nghĩ rồi nói, “Thật ra ta không biết nên đối xử thế nào với vị… ‘Linh Vương’ đó.”

Cũng có thể xem đó như một phần của chàng, vì y đã hấp thụ linh lực và tiên nguyên, dùng nó như chất dinh dưỡng để nuôi thành trong lúc chàng không mảy may để ý.

Tức nghĩa về bản chất, nó giống với cách bọn họ tách một thể xác ra và tạo thành con rối. Nhưng thể xác và con rối do chính họ toàn quyền định đoạt, mang cùng tư cùng tưởng.

Còn “Linh Vương” kia không giống như vậy.

Chàng không biết những nội tâm tư tưởng hiện tại của “Linh Vương” còn giữ và chịu ảnh hưởng bao nhiêu từ chàng.

Nếu còn tròn vẹn thì tốt không gì bằng. Còn nếu không tròn vẹn, thì phần còn lại do “Linh Vương” tự sinh ra, hay… chịu ảnh hưởng từ Thiên đạo Linh đài?

Nếu rơi vào khả năng sau…

Sẽ là phiền phức to.

Ô Hành Tuyết bày tỏ nghi vấn này.

Tiêu Phục Huyên suy tư chốc lát rồi trả lời, “Khó mà biết.”

Ô Hành Tuyết cảm thấy căng thẳng. “Nói vậy là sao?”

Không phải Tiêu Phục Huyên suốt ngày chăm chăm quan sát dòng rối loạn, đa phần y chỉ để lại thân thể để hỗ trợ mảnh vỡ linh phách trong những việc thường ngày. Sau một hồi ngẫm nghĩ, y nói, “Tính ra ta cũng chưa tiếp xúc nhiều, nhưng theo ta thấy thì có những lúc hành vi của Linh Vương rất quái lạ.”

Có lẽ “Thiên Túc” và “Linh Vương” dòng rối loạn vốn dĩ đã không tồn tại mà chỉ được đắp nặn thành hình từ linh lực và tiên nguyên của Tiêu Phục Huyên và Ô Hành Tuyết. Vì vậy, họ có nhiều điểm khác biệt với “người” thực thụ.

Thoạt nhìn, giọng điệu, thói quen, và tính tình họ gần như không khác gì bản tôn, nhưng về bản chất lại hơi hời hợt nông cạn hơn.

Giống như họ chỉ học được lớp vỏ bọc bên ngoài.

“Y cũng gọi mấy người Tang Phụng Lễ các là “tiên hữu” giống ngươi vậy,” Tiêu Phục Huyên nói. “Nhưng năm xưa ngươi thường qua lại với nhóm Tang Phụng còn y thì rất hiếm khi.”

“Vân Hãi cũng thế.”

Nhưng Vân Hãi thường hay tự chủ động mang rượu ghé thăm nên số lần qua lại cũng nhiều hơn.

“Còn với ‘Thiên Túc’ dòng rối loạn thì sao?” Ô Hành Tuyết hỏi.

“Cũng vậy, bằng không ta đã bị lộ từ lâu.”

Tương tự với bản tôn trong hiện thế, mỗi khi nhắc đến họ, người trên Tiên Đô thường dùng những cụm “đi cùng nhau”, “có qua lại”, “thư từ thường xuyên”. Người ta nói sao thì họ chính là như vậy. Không hơn không kém.

Vẫn chỉ là một tầng vỏ bọc.

Cứ như thể tất cả mọi thứ đều bị che phủ phía sau màn sương mù.

Ô Hành Tuyết lắng nghe rồi rầm rì nói, “Nếu thế thì kỳ lạ thật sự. Đây không chỉ là hời hợt nông cạn mà nghe giống như vị “Linh Vương” đó đang trở thành hình mẫu mà những người trên Tiên Đô nhìn nhận.”

“Nói cách khác…” chàng dừng đoạn mới tiếp tục, “ấy chẳng phải chính là nhìn nhận của Thiên đạo đấy à?”

Thảo nào Tiêu Phục Huyên bảo rằng “Khó mà biết”.

Nếu đã vậy, chuyện quái lạ chưa dừng lại tại đây.

Nếu “Linh Vương” đó đã từng đến hiện thế, thậm chí còn từng ngược dòng quá khứ để tìm ra ngọn nguồn khởi đầu của hiện thế, đồng thời gây ra cuộc hỗn chiến Tiên Đô hai lăm năm trước.

Lẽ ra sau tất cả những chuyện đó, ít nhiều gì y cũng phải nảy sinh nghi ngờ trong lòng mới đúng.

Nhưng mối hoài nghi của y vẫn chỉ dừng ở mức hời hợt, để rồi vẫn sống như thường qua suốt nhiều năm.

Hồi ở dưới đáy thung lũng Đại Bi dòng rối loạn, rõ ràng “Linh Vương” đã chứng kiến thẩm vấn Hoa Tín. Khi y bất ngờ xuất hiện và nhắc đến chuông mộng với Hoa Tín thì nghe giọng điệu đã thấy rõ y cảm nhận được thế gian nơi mình ở không đúng lắm.

Vậy mà khi trong thế đối đầu với Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên, thái độ và cách nói chuyện của y hoàn toàn thay đổi.

Giống như là mối hiềm nghi của y chỉ dấy lên chút ít rồi ngừng lại và phai nhạt, thậm chí còn biến mất.

Ô Hành Tuyết vừa nhớ lại vừa thả chậm giọng, “Phong thái vị ‘Linh Vương’ kia đúng thật không giống người thường, làm gì có người bình thường nào đổi ý giữa chừng như vậy. Có vẻ như là…”

Chàng ngưng lại chút, Tiêu Phục Huyên tiếp lời, “Bị tác động giữa chừng.”

Ô Hành Tuyết: “Đúng vậy.”

Giống như thể mỗi một lần “Linh Vương” nọ tiếp cận đến điểm mấu chốt để khai thông vấn đề thì sẽ nhận tác động từ đâu đó, dẫn đến việc tất cả mọi thứ bị nén ngược trở lại, và cuộc sống cứ tiếp diễn qua ngày chẳng chút đổi thay.

Tác động này từ đâu ra thì không cần phải bàn.

Trên thực tế, trước đây Ô Hành Tuyết từng tự thắc mắc…

Thiên đạo cảm thấy không thể khống chế được hiện thế nên chuyển sang dòng rối loạn. Vậy làm sao nó đảm bảo có thể khống chế được dòng rối loạn? Làm sao đảm bảo được ‘Linh Vương’ sẽ không tạo phản?

Nếu Linh Vương tạo phản lần nữa, không lẽ nó lại tính tạo ra thêm dòng rối loạn mới?

Bây giờ xem ra đã rõ ràng hơn rồi.

“Linh Vương” dòng rối loạn ra đời từ linh lực và tiên nguyên Ô Hành Tuyết nên cũng xem như một phần của Ô Hành Tuyết. Song, chỉ e rằng còn có sự can thiệp và tác động của Thiên đạo Linh đài bên trong.

Vì vậy, Thiên đạo tin rằng y sẽ không tạo phản.

Ô Hành Tuyết hỏi Tiêu Phục Huyên, “Ngươi nhận ra y có điểm lạ và có khả năng chịu ảnh hưởng từ Thiên đạo từ lúc nào?”

Tiêu Phục Huyên đáp, “Từ trước rồi.”

“Vậy tại sao còn muốn dẫn y đến nhìn những con người và sự việc đó làm gì?” Ô Hành Tuyết thắc mắc hỏi. “Không sợ phí công vô ích sao?”

Tiêu Phục Huyên nói, “Không phải lúc nào y cũng chịu ảnh hưởng của Thiên đạo.”

Im lặng giây lát, y mới nói tiếp, “Chưa kể, có những việc trên đời này mà Thiên đạo không thể định đoạt, cũng có những người mà Thiên đạo không thể điều khiển.”

Ô Hành Tuyết trầm ngâm, “Nghe có vẻ như một canh bạc, có điều thật ra vị ‘Linh Vương’ kia…”

Chàng còn chưa dứt lời, Tiêu Phục Huyên đã nhìn chàng và nói, “Ô Hành Tuyết, ta đang nói ngươi.”

Ô Hành Tuyết sững người trong giây lát.

“Ta?”

“Ừm.”

Tiêu Phục Huyên nói, “Y ra đời vì ngươi, hoá hình thành người bằng linh lực và tiên nguyên của ngươi. Từng cử chỉ lời nói đều bắt nguồn từ ngươi, dù có hời hợt, nông cạn đi chăng nữa thì đó vẫn là ngươi.”

Nên làm gì có “vị Linh Vương đó” nào, trên đời này từ trước đến nay chỉ có duy nhất một vị Linh Vương, là độc nhất vô nhị, dù ba trăm năm trước hay ba trăm năm sau cũng thế.

Chàng dám tự khoét máu thịt cả người để chống lại Thiên đạo, thành tiên, thành ma, thành quỷ, thành người. Sẽ không vì có phần hời hợt, có chút nông cạn, hay vì phải hứng chịu ảnh hưởng từ Thiên đạo mà chàng xuôi lòng chấp nhận thiện ác cưỡng cầu hay cân bằng sinh tử dối gian.

Đây không phải là một canh bạc.

“Vì đấy là ngươi, nên ta muốn thử xem,” Tiêu Phục Huyên nói.
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 113: Cầu người


Trên Tiên Đô dòng rối loạn.

Phương Trữ tựa vào thành cầu ngọc ở trước Toạ Xuân Phong, rướn người ra nhìn xung quanh bên dưới cầu.

Hai tiểu đồng tử lượn qua lượn lại dưới chân hắn, vác theo cây phất trần phải to bằng cả người chúng rồi trổ giọng, “Ngươi đang nhìn cái gì đấy?”

“Đừng nhoài người xa như vậy, cẩn thận té xuống đó.”

“Đúng! Té xuống dễ mất mạng lắm đó.”

“Ngươi mà mất mạng là khổ cho tụi ta lắm đó, trước khi xuống phàm đại nhân nhà ta đã dặn kỹ chúng ta phải coi… sóc ngươi cho tốt.”

Tiểu đồng tử khựng lại giữa câu, nhưng bấy giờ toàn bộ chú ý của Phương Trữ đều đặt dưới chân cầu rồi nên vốn dĩ không để tâm nghe cho lắm, thành thử cũng không phát hiện ra.

Hắn nghe tiểu đồng tử lải nhải nhức cả đầu, bèn đáp bừa, “Không té được đâu, ta đang ngắm nhân gian.”

Bên dưới những cây cầu ngọc trên Tiên Đô không có nước chảy mà toàn mây mù cuộn trôi. Qua màn mây mù có thể thấp thoáng trông thấy những hình ảnh của nhân gian.

Nhưng Phương Trữ không tò mò thưởng ngoạn cảnh sắc. Thực chất đã nửa ngày rồi không nhận được tin tức gì từ thành chủ nhà hắn, hắn sợ xảy ra chuyện không hay nên không làm sao ngồi yên một chỗ được.

Thực lòng, hắn rất muốn xuống nhân gian xem tình hình ra sao rồi nhưng không dám hành động hấp tấp, đành phải dựa người vào thành cầu ngọc mà vò đầu bứt tai.

<i>Cái bộ dạng đần thối này sắp đạt đến trình của Ninh Hoài Sam luôn rồi.</i>

Phương Trữ tự giễu với lòng.

“Dưới nhân gian có gì để xem?” Tiểu đồng tử còn đang thắc mắc. “Không phải ngươi từ nhân gian tới hả? Nhìn ngắm mỗi ngày rồi còn có gì mới nữa?”

Phương Trữ trả lời một cách khô khan, “Khác chứ, ta chưa từng đứng nhìn nhân gian từ một nơi cao như thế này. Một đời thường nhân có mấy dịp được lên Tiên Đô, khó khăn lắm ta mới có cơ hội này nên tất nhiên phải tranh thủ nhìn một chút.”

“Vậy ngươi có thấy chuyện gì mới lạ không?” Tiểu đồng tử hỏi.

“À…” Phương Trữ đang tính trả lời đại thì chợt nhận thấy đám mây mù dưới chân cầu thình lình chuyển động, loáng cái đã dày lên như canh súp trắng.

Vì vậy, nhân gian khuất dáng bên dưới mây nồng, chẳng còn nhìn thấy được nữa.

“Này, đám mây mù này là sao thế?” Phương Trữ chỉ xuống dưới cầu và hỏi hai nhóc tiểu đồng tử. “Tại sao tự dưng lại dày lên như vậy?”

Tiểu đồng tử tỏ vẻ vui mừng, nói, “Đây là việc tốt đấy.”

Phương Trữ hỏi, “Cái gì tốt?”

Tiểu đồng tử cho hay, “Nó có nghĩa là người ta cúng kiếng rất nhiều dưới nhân gian nên hương hoả Tiên Đô được phồn thịnh hơn!”

<i>Đột ngột như vậy?</i>

Phương Trữ tự nhủ trong bụng.

Trong mấy chục năm làm tà ma ở hiện thế, hắn từng nghe qua đủ loại tin đồn, có rất nhiều trong số đó kể về Tiên Đô — điều mà nhiều người biết tới nhất chính là “Hương hoả càng dồi dào, Tiên Đô càng hùng mạnh”.

Nhưng hương hoả không nhiều lên một cách vô cớ.

Hắn hiểu quá rõ điều này.

Con người cầu phúc ngày này qua năm nọ thì số lượng cũng chỉ tầm bấy nhiêu, chắc chắn không tăng đột ngột trong nháy mắt thế được. Những đợt tăng nhanh thường không bắt nguồn từ cầu phúc mà từ cầu khấn.

Là lời khấn cầu khi nguy nan, khấn cầu khi hoảng sợ, khấn cầu lúc lâm chung.

Năm xưa, Phương Trữ từng thấy, và từng tự mình trải nghiệm khi bị trọng thương đến độ không hơn gì tấm giẻ rách. Nhờ vậy, hắn đã hiểu quá tường tận…

Dưới nhân gian, nơi hung hiểm nhất là nơi xây nhiều tượng thần nhất, lúc loạn lạc nhất là lúc người ta dày công cúng kiếng nhất. Chỉ những khi không biết nên làm sao, bá tánh mới tìm đến việc khấn cầu điều may mắn như một cứu cánh sau cùng.

“Nhưng mà nhân gian chỗ các ngươi có loạn lạc lắm không?” Phương Trữ hỏi trong ngờ vực.

Hai tiểu đồng tử đưa mắt nhìn nhau, không biết phải trả lời câu hỏi này thế nào. “Sao cơ?”

“Ta từng lang thang ở bên dưới một chuyến trước khi bị đưa lên Tiên Đô,” Phương Trữ lầm bầm, “ta nhớ là vẫn ổn mà.”

Trừ khi bỗng dưng gặp phải một thảm hoạ khổng lồ, bằng không ở đâu ra có nhiều người cầu khẩn thần tiên phù hộ cùng một lúc như vậy?

Nhưng nhân gian ở đây đâu có giống đang phải gánh chịu thảm hoạ gì…

Phương Trữ còn đang thắc mắc thì đã nghe tiểu đồng tử hô lên, “Thưa đại nhân! Đại nhân đã trở lại rồi ạ!”

Hắn nghe bọn nhóc gọi thì ngẩng đầu lên, trông thấy “Linh Vương” mang mặt nạ xuống nhân gian vừa quay trở lại. Thoắt một cái, người kia đã thình lình ngừng bước trên cây cầu ngọc.

Phương Trữ vừa nhìn thấy y thì suýt nữa buột miệng, “Thành chủ nhà ta đâu? Các ngươi có gặp ngài ấy không?”

May mà tính hắn không lỗ m ãng như Ninh Hoài Sam nên kịp ngừng lại trước khi thốt ra thành lời. Bởi lẽ hắn cảm giác được vị “Linh Vương” này có gì khang khác thời điểm trước khi xuống nhân gian.

“Thưa đại nhân, có việc gì mà người đi lâu thế ạ?” Tiểu đồng tử ngước cao mặt lên và ra rả không thôi.

Linh Vương không trả lời.

Dường y không nghe thấy lời hỏi han của tiểu đồng tử mà chỉ lẳng lặng đứng bên hông cầu, trầm tư mân mê thành cầu bằng ngọc.

Có lẽ y không cởi mặt nạ vân bạc khiến người ta không nhìn rõ cảm xúc trên mặt nên Phương Trữ cảm thấy rờn rợn vô cớ. May mà hình thể y trông vẫn như vậy chứ không ắt đã khiến hắn sinh nghi rằng có một người khác đang đứng sau tấm mặt nạ.

Linh Vương không mở miệng, hai tiểu đồng tử cũng im lặng theo. Khi hai đứa nâng phất trần mà không nói tiếng nào nhìn không khác gì một loạt các tiên sứ, tiên đồng khác trên Tiên Đô, bỗng chốc mất đi hẳn sức sống.

<i>Đây thật sự là Ninh Hoài Sam và mình năm xưa ư?</i>

Phương Trữ săm soi mấy bận, nhủ thầm trong bụng.

Trong sự yên tĩnh, bầu không khí trên cây cầu ngọc trở nên căng thẳng đến lạ thường. Cho đến khi một bóng người khác bước đến sau “Linh Vương” mấy bước.

“Thiên Túc đại nhân.” Phương Trữ gọi to.

Thật sự hắn không thể ngờ có một ngày phải nhờ đến Thiên Túc đại nhân để phá vỡ sự căng thẳng. Chính như Thiên Túc trước sau như một, không bao giờ thay đổi, nhờ vậy mà giúp người ta an lòng hơn một chút.

Thiên Túc nghe thấy tiếng gọi, liếc mắt nhìn sang hắn. Đến cả cái liếc mắt này cũng quá mức quen thuộc, đến nỗi cho Phương Trữ cảm thấy người này không khác gì Tiêu Phục Huyên của hiện thế.

Trong lòng cảm giác như vậy nên hắn đã chủ động hỏi chuyện Thiên Túc, “Thưa đại nhân, hai người có… có gặp phải chuyện gì dưới nhân gian không?”

Ví dụ như chạm mặt người y hệt như hai người?

Có trò chuyện với nhau chứ? Có xuống tay với nhau không? Bên nào chiếm ưu thế hơn?

Phương Trữ thử dò la nhưng không dám nói quá cụ thể.

Thế mà hắn vừa dứt lời, Linh Vương đã ngoảnh phắt đầu sang nhìn hắn.

Phương Trữ giật thót tim, liền đổi sang chuyện khác, “Dưới nhân gian đang có chuyện loạn lạc gì à? Ta vừa thấy mây dưới chân cầu đột nhiên dày hẳn lên.”

Thiên Túc vừa đặt chân xuống cạnh thành cầu, nghe thế thì ngừng bước và ngoái nhìn bên dưới. Trông thấy mây mù dày đặc như canh trắng, hàng mày y nheo lại cực khẽ.

***

Hiện thế, Tước Bất Lạc.

Tiêu Phục Huyên khựng người, trên mặt hiện ra cùng một nét biểu cảm.

Ô Hành Tuyết thấy vậy bèn hỏi, “Có chuyện gì vậy?”

Tiêu Phục Huyên: “Tiên Đô dòng rối loạn nhận được rất nhiều hương hoả phụng thờ.”

Ô Hành Tuyết: “Bất chợt à?”

Tiêu Phục Huyên gật đầu.

Ô Hành Tuyết không lấy làm ngạc nhiên, song vẫn sa sầm mặt.

Càng nhận được nhiều hương hoả phụng thờ, Tiên Đô càng cường thịnh dài lâu. Nói cách khác, nếu Thiên đạo Linh đài vốn đã cố tình can thiệp và tác động lên một số chuyện thì trong trường hợp này, sự can thiệp và ảnh hưởng của nó sẽ càng mạnh mẽ hơn, đến độ không kháng cự được.

“Nó làm như vậy để có thể khống chế hoàn toàn ‘Linh Vương’ kia hay đang muốn đẩy ‘Linh Vương’ đi xa hơn nữa?” Ô Hành Tuyết nhỏ giọng rầm rì. “Quan trọng nhất là… tại sao số hương hoả đó lại đột nhiên tăng mạnh như vậy?”

Chàng hỏi Tiêu Phục Huyên, “Có tai hoạ xảy ra ở nhân gian bên đó ư?”

Tiêu Phục Huyên im lặng một hồi như đang dùng thể xác bên dòng rối loạn để điều tra nhân gian đó.

Lát sau, y cất giọng nặng nề, “Không thấy thảm hoạ nào.”

“Bên đó không có thiên tai, cũng đâu thể đương không nổ ra hoạn nạn do tà ma tác loạn được. Chưa kể vị kia vốn đã hơi dao động, nếu bây giờ bỗng dưng xuất hiện thêm tai hoạ nữa thì lại càng thêm bất thường, càng dễ sinh nghi hơn.”

“Đúng là như vậy.” Ô Hành Tuyết gật gù. “Quả thực không thể gây hoạ vào thời điểm ‘Linh Vương’ đang dao động, nó quá đột ngột và dễ thấy —”

Nói được nửa chừng, chàng chợt ngừng bặt, trao đổi ánh mắt với Tiêu Phục Huyên.

Tác hoạ ở nơi “Linh Vương” nhìn thấy được thì quá đột ngột và dễ thấy. Nhưng nếu nổ ra ở nơi “Linh Vương” không nhìn thấy được thì sao?

Tỉ như…

Hiện thế!

Ngay lập tức, ống tay áo dài rộng của Ô Hành Tuyết phất ngang.

Cửa phòng đang đóng kín thốt nhiên mở rộng, cánh cửa đập mạnh sang hai bên hông.

Đánh một tiếng <i>rầm</i> inh ỏi!

Ninh Hoài Sam bên ngoài cửa sợ nhảy dựng. “Cái đ —”

Cậu nuốt ngược câu chửi thề tục tĩu lại, thốt lên, “Thưa thành chủ! Hai người… linh thức hai người quay về thân thể rồi ạ?!”

Trước đây, Tiêu Phục Huyên dắt linh thức Ô Hành Tuyết rời thân thể để đi sang dòng rối loạn, Ninh Hoài Sam đem thể xác họ đặt trong phòng an toàn, sau đó ra ngoài cửa ngồi canh gác.

Thật ra cậu tò mò thiếu điều vò tai bứt tóc, cậu muốn biết Phương Trữ giờ ra sao rồi, và cũng muốn biết rốt cuộc chuyện gì đang xảy ra ở bên kia dòng rối loạn.

Nhưng nhớ tới thời điểm chạy tọt vào phòng lúc trước đã chứng kiến một số chuyện không nên thấy, giờ cậu ngoan hiền hẳn ra, đánh chết cũng không xộc bừa mà ngồi yên chờ thành chủ và Thiên Túc tự mở cửa.

Thế mà có làm sao cũng không dám ngờ lúc mở cửa lại mạnh bạo tới như vậy!

“Có chuyện gì xảy ra vậy?” Ninh Hoài Sam nhận thấy tình hình không ổn bèn vội vã hỏi.

Cậu thấy thành chủ thoáng dừng bước trong lúc lướt ra khỏi phòng, hỏi cậu, “Nãy giờ có ai ra khỏi thành không?”

“Ngài nói Chiếu Dạ thành ấy ạ?” Ninh Hoài Sam bỡ ngỡ.

Trước đây, Ô Hành Tuyết chưa bao giờ hỏi họ chuyện này, tất cả đèn thanh minh trấn thủ Chiếu Dạ thành đều do Ô Hành Tuyết tự tay làm ra, chỉ cần có tà ma bước ra hay vào cổng thành, chàng đều có thể cảm nhận được chứ không cần hỏi.

Có điều hiện tại, Hoa Tín giả dạng Phong Tiết Lễ đã đặt pháp trận dày đặt bên trong Chiếu Dạ thành khiến đèn thanh minh bị nhiễu, không còn hoạt động chuẩn xác được nữa.

Ninh Hoài Sam bị hỏi bất ngờ ngớ người chưa kịp trả lời, cậu còn đang ấp úng thì đã thấy gió lạnh chợt quét qua trước mũi…

Thành chủ và Thiên Túc đã hoàn toàn mất dạng.

Chỉ còn để lại một câu vương trong tiếng gió len vào tai cậu.

Thành chủ nói, “Đừng chạy loạn, ở lại giữ nhà.”

Ninh Hoài Sam còn vừa mới tính tất tả chạy theo cho kịp đã nghe thế, bèn ngừng chân tức thì. Cậu rảo hai vòng quanh sân rồi hùng hổ ngồi xếp bằng dưới gốc đại thụ trong Tước Bất Lạc.

***

Chiếu Dạ thành trải rộng hơn trăm dặm.

Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên lao đi như vũ bão, chỉ trong giây lát đã tới điểm đầu. Cả hai đồng loạt biến sắc!

Vì một Chiếu Dạ thành rộng lớn nhường này mà giờ đây hoàn toàn rỗng tuếch!

Muôn vàn tà ma đều đã rời khỏi thành.

Quá bất hợp lý.

Lúc trước, trận giao tranh giữa bọn họ và “Phong Tiết Lễ” đã kích hoạt trận cục dày nặng trong thành, sau đó trận cục bị nổ toang, đáng lẽ ra những tà ma này đều phải thụ thương. Một khi bị thương tổn, phần lớn tà ma đều không hấp tấp rời khỏi thành để tránh xui xẻo đụng trúng tiên môn khó nhằng, khiến bản thân phải chịu thiệt.

Thế mà phải ngay đúng giờ phút này, tất cả bọn chúng đều hành xử khác thường.

Phải mà từng ấy tà ma chỉ đi rồi về cô lẻ như thường ngày thì còn đỡ, nếu chúng bỏ đi bản tính mình, không toan tính lẫn nhau mà tụ lại thành bầy…

Chỉ e chúng đi đến đâu sẽ dấy lên đại loạn đến đó.

Thoạt nghĩ đến khung cảnh ấy thôi cũng khiến người ta tê tái da đầu. Và bên trong những thành trấn bị mắc tai ương, bá tánh lâm vào đường cùng lại chẳng khấn cầu sự phù hộ của thần tiên đấy thôi!

Ngẫm kỹ lại, chỉ e hương hoả phồn thịnh Tiên Đô dòng rối loạn nhận được đều bắt nguồn từ đây.

Sắc mặt Ô Hành Tuyết đanh lại như băng.

Chàng hít vào tà khí trong gió lạnh, đuổi theo ngọn nguồn âm tà cùng Tiêu Phục Huyên.

“Tiên môn nhân gian kể ra cũng có đến trăm nhà, chắc không đến mức không ngăn chặn bọn chúng trong thời gian ngắn,” Ô Hành Tuyết cất lời trong gió quật. “Tại sao hương hoả lại bùng lên nhanh như vậy được.”

“Nhưng số người thực sự có thể gánh vác trọng trách chỉ đếm được trên đầu ngón tay,” Tiêu Phục Huyên nói.

Trong hai lăm năm qua, Tiên Đô dòng rối loạn mỗi ngày một hưng thịnh. Dưới sự cân bằng thiện ác mà Thiên đạo Linh đài mong muốn, tà ma trong hiện thế càng lúc càng hoành hành ngang ngược, khiến cho tiên môn lụn bại hơn nữa.

Dù luôn miệng bảo là trăm họ tiên môn, nhưng nhìn khung cảnh đêm Thương Lang Bắc Vực sụp đổ là biết, những người thật sự có thể gánh vác trọng trách quả chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Gia chủ và trưởng lão nhà họ Hoa đều gặp nạn, khó tránh việc nhà họ còn không tự lo nổi cho bản thân. Bởi vậy nên uy danh lẫy lừng nhất vẫn thuộc về nhà họ Phong.

Nhà họ Phong có mấy ngàn đệ tử nên chí ít cũng ngăn cản được một đợt, nhưng khó mà nói họ có thể gồng được trong bao lâu.

Vả chăng, dù hôm nay tai ương bị ngăn chặn thì sang mai hoạ hoạn mới lại mọc lên. Chỉ cần Thiên đạo Linh đài còn cách can thiệp vào hiện thế thì những thứ này không bao giờ có hồi kết.

“Thay vì truy vết tai hoạ khắp nơi như vầy thì chẳng thà diệt sạch ngọn nguồn cho xong.” Ô Hành Tuyết ngẫm nghĩ rồi nói, “Để Thiên đạo Linh đài không nhúng tay vào hiện thế được nữa.”

Như vậy, hiện thế sẽ không còn gánh hệ quả tai ương hoành hành, sinh linh đồ thán.

Đồng thời, Thiên đạo Linh đài cũng bị giới hạn phạm vi hoạt động, tự khoá bản thân mình trong dòng rối loạn.

Khi đó, chỉ cần huỷ sạch Linh đài của dòng rối loạn là nó không cách nào chạy thoát được nữa.

“Ngọn nguồn là gì?” Tiêu Phục Huyên hỏi.

Ô Hành Tuyết tư lự, nói, “Vấn đề này ta đã suy ngẫm rất nhiều rồi, về sau mới vỡ lẽ, Thiên đạo tồn tại bên trên Linh đài hiện thế vào thời điểm dòng rối loạn sinh sôi tràn lan lúc trước. Sở dĩ nó chi phối được mọi việc trong dòng rối loạn là vì có kết nối tương quan giữa đôi bên.”

“Mỗi dòng rối loạn đều do một người nào đó ở hiện thế mở ra,” Ô Hành Tuyết giải thích. “Người mở dòng rối loạn là người của hiện thế nhưng họ dẫn nhân quả vào trong dòng rối loạn. Hành động này có thể hiểu giống như việc xây một cây cầu kết nối từ hiện thế đến dòng rối loạn. Từ đó, Thiên đạo Linh đài có thể nương theo cây cầu này để nhúng tay vào việc trong dòng rối loạn.”

“Đúng vậy,” Tiêu Phục Huyên nói. “Thuận lý thành chương.”

“Giả sử cây ‘cầu nối’ kia bị cắt đứt thì hiển nhiên cái tay kia không nhúng qua được nữa,” Ô Hành Tuyết nói đoạn ngưng lại rồi mới tiếp tục, “có điều hiện tại khác với suy đoán lúc trước của ta một chút.”

“Hửm?”

Ô Hành Tuyết nói, “Trên lý thuyết, cây ‘cầu nối’ của dòng rối loạn này được gia chủ nhà họ Phong dựng nên, cộng thêm một Hoa Tín nữa. Mà hiện tại linh phách cả hai người đều đã tiêu tán, thế nhưng Thiên đạo Linh đài vẫn còn khả năng tác động vào.”

Chưa kể, sau khi diệt sạch cả hai người này, Thiên đạo Linh đài vẫn không chùng chân nửa bước. Nó vẫn liên tục đi trước Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên một bước.

Dù nói Thiên đạo vô hình vô trạng, vô tâm vô tình, sinh tử của một cá nhân chỉ là hạt cát trong mắt nó. Song nếu điều kiện cho sự can thiệp của nó phụ thuộc vào điểm này thì chắc hẳn nó sẽ không chủ động thao túng người khác chặt đứt như vậy.

Nó hành động dứt khoát đến vậy chứng tỏ cái được gọi là “cầu nối” không chỉ giới hạn trong hai người này.

Nhưng trừ họ ra thì còn ai nữa?

Ô Hành Tuyết suy đi ngẫm lại về thẩm vấn gia chủ nhà họ Phong và Hoa Tín hòng lưu ý xem ngoại trừ hai người này thì còn có thể có ai dính líu đến vòng nhân quả trong đây và trở thành cây “cầu nối” kia.

Trong lúc chàng đang chìm trong suy tư thì chợt nghe Tiêu Phục Huyên cất lời, “Có khi nào là ngược lại không.”

Ô Hành Tuyết kinh ngạc. “Gì cơ?”

Tiêu Phục Huyên nói, “Thiên đạo ở trên Linh đài trong hiện thế, muốn nhúng tay vào dòng rối loạn cần nương nhờ cầu nối từ hiện thế sang dòng rối loạn, nói vậy —”

Chưa chờ y dứt lời, Ô Hành Tuyết đã hiểu ra.

Khoảnh khắc ấy, chàng nhoẻn cười tự giễu.

Chàng đã chứng kiến quá nhiều dòng rối loạn, quá nhiều “cầu nối”, cũng vì vậy mà chàng bị hạn hẹp cách nghĩ trong vô thức. Quả thực đúng như lời Tiêu Phục Huyên, có lẽ phải ngược lại mới đúng.

Hiện tại Thiên đạo Linh đài đang ở trong dòng rối loạn, nếu nó muốn can thiệp vào hiện thế thì không nên nương nhờ những người như gia chủ nhà họ Phong hay Hoa Tín mà phải dựng cầu từ dòng rối loạn nối đến hiện thế.

“Ta đoán sai rồi,” Ô Hành Tuyết nói. “Hai chúng ta nên tìm người thuộc về dòng rối loạn, song vì hệ luỵ nhân quả nào đó mà đã di chuyển sang hiện thể.”

Một khi luận ra mấu chốt này, Ô Hành Tuyết cảm thấy hơi hốt hoảng mà chẳng rõ nguyên cớ.

Rốt cuộc là người nào đi từ dòng rối loạn vào hiện thế mà chưa bao giờ gây ra chút hiềm nghi nào? Sao người này có thể ắng yên bình an qua hàng chục hàng trăm năm mà không dấy động dù chỉ một gợn sóng?

Có một thoáng suy nghĩ mơ hồ nhen lên trong đầu Ô Hành Tuyết, chàng vừa định mở lời đã nghe Tiêu Phục Huyên nói, “Ngươi còn nhớ cặp quan tài nhà họ Phong chôn bên dưới căn tháp cao không?”

Ô Hành Tuyết nhíu mắt, những suy nghĩ mơ hồ kia hiện lên rõ ràng hơn. “Vẫn nhớ rõ, đó là đôi nam nữ con của gia chủ nhà họ Phong!”

Dù trong dòng rối loạn, gia chủ nhà họ Phong vẫn không tránh khỏi số kiếp đoản mệnh của đôi trẻ nhà mình. Vì vậy, gã cảm thấy không cam tâm, bèn liệm hài cốt con trai con gái mình, niêm phong trong quan tài và đặt vào giữa trận cục nối mệnh dưới đáy toà tháp cao.

Gã chờ đợi khoảnh khắc thời cơ đến, dùng sinh mệnh Phong Huy Minh mình nhận nuôi để tìm lại mạng sống cho hai trẻ nhà mình.

Thế nhưng…

Đến tận lúc gã và Phong Huy Minh đều mất mạng, trận cục nối mệnh kia vẫn tuyệt nhiên không thành công.

Tiêu Phục Huyên nói, “Thân thể ta để lại dòng rối loạn từng tiếp nhận thiên chiếu đến nhà họ Phong dọn dẹp tàn cục, khi đó ta phát hiện trong hai cỗ quan tài đó không có linh phách hai trẻ nam nữ nhà họ Phong còn sót lại nữa.”

“Không một chút nào?” Ô Hành Tuyết hỏi.

“Không.”

Nếu không còn sót một chút linh phách nào thì dĩ nhiên trận cục không thể nối mệnh hoặc đổi mệnh được nữa. Đến căn cơ cũng đã mất thì nối kiểu gì? Đổi bằng cách nào?

Gia chủ nhà họ Phong không thể không biết nguyên lý này.

Nếu ông ta đã lập trận cục chứng tỏ ít nhất vào thời điểm lập trận, thi thể hai đứa trẻ không rỗng hoàn toàn mà nên có chút linh phách sót lại, chắc chắn không tan đi hết.

“Lúc đó ta không nghĩ nhiều về chuyện đó, chỉ cho rằng qua lâu ngày nên tiêu tán đi hết mà thôi,” Tiêu Phục Huyên nói. “Mà giờ ngẫm lại, có lẽ còn có nguyên do khác.”

Nếu linh phách đôi nam nữ kia không tiêu tán theo lẽ tự nhiên mà vì “cơ duyên trời định” nào đấy nên đã rời khỏi thể xác và đi tới chỗ khác rồi thì sao?

Ví như… đến hiện thế.

Ô Hành Tuyết đột ngột dừng bước chân trong cơn gió lộng, chàng níu tay Tiêu Phục Huyên và nói, “Ngươi có phá huỷ hoàn toàn quan tài không? Làm ơn nói là không đi, hãy nói ngươi để lại đặng dự trù cho sau này.”

Tiêu Phục Huyên nhìn chàng rồi nói, “Có để lại.”

“Nếu không phải hoàn cảnh không thích hợp…” Ô Hành Tuyết nói nửa chừng thì tự nhủ thôi kệ, quan tâm hoàn cảnh làm gì. Thế là, chàng kéo người Thiên Túc lại và trao một nụ hôn.

Tiêu Phục Huyên nhướn mày.

Ô Hành Tuyết nói, “Ta đã tưởng rằng bản thể ngươi phải đi dọn sạch nhà họ Phong quá nhanh, khiến cho ngươi bị chậm một bước rồi chứ!”

Tiêu Phục Huyên, “Thế thì chỉ cần chờ đến khi bị đẩy khỏi dòng rối loạn là được.”

Đã nhận thiên chiếu, y tất nhiên không thể trái lệnh, bằng không sẽ bị lộ thân phận ngay lập tức. Vì vậy dù đã biết bản thân sẽ bị chậm một bước, nhưng y vẫn thể theo thiên chiếu đến nhà họ Phong thu dọn tàn cuộc.

Nhưng y vẫn chừa lại một đường lui chứ không thẳng tay huỷ diệt sạch sẽ tất cả mọi thứ, y đưa chúng vào Thương Lang Bắc Vực.

Làm như thế vừa không vi phạm chiếu, đồng thời cũng để lại manh mối.

“Dấu vết đó có thể dùng để tìm người và thăm dò vật không?” Ô Hành Tuyết hỏi.

“Tàm tạm.”

***

Chẳng bao lâu sau, một tấm phù tìm linh phách xuất hiện trong dòng rối loạn, ngang nhiên găm vào hiện thế bằng phong thái giống hệt kiếm ý của Thiên Túc thượng tiên.

Tiêu Phục Huyên dắt Ô Hành Tuyết men theo phù tìm linh băng qua nhân gian.

Thực chất họ đã có một vài dự đoán sẵn trong lòng.

Song khi bước qua ngoại ô thành Mộng Đô, nhìn thấy toàn bộ Mộng Đô cùng những toà thành nhỏ và thôn làng xung quanh đều chìm ngợp trong mùi tà ma nồng nặc kèm sương đen tràn lan bít kín ánh mặt trời, họ vẫn không khỏi sững sờ đôi chút.

Toà thành chính rộng lớn này từng có một thời huy hoàng, vào những dịp lễ lạc, phố phường thắp đèn sáng đêm, ánh đèn rực rỡ nối tiếp nhau như một chú rồng dài.

Ở phía nam có một ngọn núi trứ danh nằm ven bờ sông, cứ vào tháng ba xuân sang hằng năm dưới nhân gian, hạnh mai lại trổ rộ khắp nơi.

Vào những dịp nhộn nhịp nhất, dù có ra khỏi thành vài dặm vẫn có thể nghe được tiếng người rôm rả sôi động từ trong thành vọng ra.

Nhưng rồi, dưới sự “cân bằng” thiện ác từ năm này qua năm khác, hết thảy đều đã sớm đổi thay, nơi đây chẳng có một ngày thanh bình, chẳng có một ngày an cư.

Dưới sự tàn sát vô độ của tà ma với sự đồng thuận của ý trời, cõi nhân gian này thậm chí còn không nghe được tiếng khóc than, phàm nhân chưa rên thành tiếng đã bị tà ma siết gãy cổ, bị nhai nuốt chẳng chừa từ da đến xương.

Điều sót lại duy nhất mà họ kịp làm trước khi chết chính là nấp mình sau lưng bức tượng thần trong hoảng loạn và niệm cầu “Thần tiên phù hộ”.

Đây ắt là một điều mỉa mai khủng khiếp —

Toà thành này là nơi có nhiều tượng thần nhất, và cũng là nơi giống với luyện ngục nhất.

Nét mặt Tiêu Phục Huyên lạnh căm, tiếng kim loại lanh lảnh kéo dài vang vọng đất trời…

Thanh trường kiếm dẫn theo sức ép mãnh liệt, chém xuyên sương đen tà ma nồng nặc, cắm thẳng xuống toà thành giờ đã như một lò luyện ngục.

Khi thanh kiếm đâm thẳng xuống mặt đất, chấn động sâu bên trong đẩy bật mọi thứ ra ngoài, một thoắt đã đánh bay linh phách tất cả tà ma ra khỏi thân thể và đập chúng vỡ vụn.

Tích tắc, khoảng không quanh trường kiếm trống trải thênh thang.

Đám tà ma bị đánh bay đi đang định dùng tà thuật ráp đống tay chân gãy lìa xiêu vẹo lại với nhau thì thấy một cơn cuồng phong lạnh căm căm thình lình quét ngang.

Chỉ trong chớp mắt, sương tuyết đọng đầy trên thân thể, khiến chúng hoàn toàn không cử động nổi một chút nào. Không chỉ thế, cảm giác lạnh băng ấy còn xâm nhập len lỏi vào trong lục phủ ngũ tạng chúng.

Thành thử, chúng chỉ có thể trân trối nhìn cơ thể mình đông lại thành băng, rồi lại trân trối chứng kiến bản thân thình lình vỡ tan thành bột dưới sức mạnh của khí kình dồn nén trong người.

Phút chốc, luyện ngục giữa nhân gian bất giác thinh lặng.

Ngay đến các đệ tử đang miệt mài chiến đấu bên trong cũng ngỡ ngàng.

Các đệ tử tiên môn khoác trang phục đồng nhất, bên trên dải lụa đeo dưới phát quan cài tóc có thêu một chữ “Phong”, hẳn nhiên là xuất thân từ gia tộc họ Phong toạ trấn Mộng Đô.

Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên từng qua lại đôi lần với nhà họ Phong, nhưng đây là lần đầu tiên gặp gỡ trong hiện thế như vầy.

Họ không quên mình đến đây vì điều gì.

Ngay khoảnh khắc các đệ tử tiên môn sững sờ cứng người, họ đứa mắt nhìn vào giữa nhóm người. Lập tức, họ trông thấy tấm phù tìm linh Thiên Túc thả ra từ dòng rối loạn đang hướng thẳng vào vị trí sâu cùng nhất.

Ở nơi đó có hai người đang đứng cách nhau, một nữ một nam với dáng vẻ tương đối giống nhau. Trông hai người họ anh tuấn xuất chúng, có thể xứng danh long phượng của cõi người.

Vị nữ tử mang đôi mắt phượng và nét mày dài với dáng người dong dỏng đầy sắc sảo. Người nam tử có phần bợt bạt hơn, trông thiếu sắc như đang có bệnh.

Những người có qua lại với tiên môn không một ai không biết đến họ. Đó chính là gia chủ đương nhiệm nhà họ Phong — Phong Cư Yến, và huynh trưởng của nàng — Phong Phi Thị.

Mà hai tấm phù mang theo hơi thở còn sót lại trên cỗ quan tài đáp đích xác lên thân hai người bọn họ.

Việc này nằm trong dự kiến, nhưng cũng có điểm bất ngờ.

Trong thẩm vấn gia chủ nhà họ Phong, Ô Hành Tuyết từng nhìn thấy đôi con trẻ chết non của ông ta. Lần thẩm vấn và lời kể của Hoa Tín cũng có nhắc đến tung tích của hai người họ.

Như người đời đều biết, gia chủ tiền nhiệm của nhà họ Phong Phong Thù Lan có ba người con, nam trưởng Phong Phi Thị, nữ trưởng Phong Cư Yến và con út Phong Tiết Lễ.

Ai cũng bảo có gì đó đặc biệt trong sự ra đời của Phong Phi Thị và Phong Cư Yến, hai người họ dường như là một phiên bản của hai đứa trẻ chết non trước kia. Có lẽ chính định mệnh đã an bài cho họ chuyển kiếp về lại theo chấp niệm của người xưa. Hẳn chính là kết cục viên mãn.

Khi ấy, Ô Hành Tuyết cảm thấy sao mà trùng hợp quá.

Giờ đây chàng mới hiểu ra.

Đấy vốn chẳng phải là chuyển kiếp gì cho cam, mà thực tế là cặp linh phách ở dòng rối loạn đã đi sang hiện thế, chiếm lấy thân xác của hai đứa trẻ ngay khi mới chào đời.

Từ đấy, họ đã trở thành cây “cầu” được Thiên đạo Linh đài dựng lên nơi đây.
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 114: Đao cứng


Nếu muốn không hệ luỵ đến hiện thế, không còn khiến sinh linh đồ thán, cần chặt đứt “cầu nối” này. Nhưng “cầu nối” không dựng nên từ đất đá hay gỗ cây, nó hình thành từ hai người.

Vì vậy mà đã có một khoảng tạm dừng trước khi chiêu của Ô Hành Tuyết chạm đến hai người kia. Trong phút tạm dừng ấy, chàng khẽ buông một tiếng thở dài.

Tiếng thở dài khiến Phong Cư Yến bừng tỉnh!

Đôi đồng tử co rút lại, nàng lách người sang, vung ngang kiếm chắn trước mặt huynh trưởng Phong Phi Thị và dàn đệ tử trẻ tuổi. Nàng nheo cặp mắt xinh đẹp của mình, cất giọng lạnh lùng, “Ma đầu…”

Ô Hành Tuyết hơi ngỡ ngàng.

Đã rất lâu rồi không có người gọi chàng thẳng mặt như vậy. Đâu đó ắt là ảo giác đã hình thành vì trước đây từng có một Y Ngô Sinh luôn miệng hô “công tử” ơi “công tử” à.

Phong Cư Yến chẳng hề ngoảnh đầu đã thét giọng ra lệnh cho các đệ tử nhà họ Phong đứng sau, “Lập kiếm trận!”

Các đệ tử đều được rèn luyện bài bản, nghe vậy lập tức tản ra theo đội hình cánh ưng!

Bọn họ đặt kiếm trước mặt rồi chắp ngón tay tạo thành thủ thế!

Phút chốc, hàng luồng ánh sáng trắng rỡ vùn vụt phóng lên, vô số bóng kiếm vờn qua đảo lại bên trong trận. Từng đường kiếm đều kéo theo tiếng gió rền rĩ.

Vừa mới nãy, bọn họ còn dấn mình trong trận chiến ác liệt, trên người mang đầy thương tích máu me. Kiếm trận lung lay chực đổ vỡ.

Còn Phong Cư Yến đứng trước mặt tất cả, ngay vị trí đầu của đội hình cánh ưng!

Gương mặt nàng nhợt nhạt, trên búi tóc còn thoáng nhuốm máu. Nàng lướt nhanh mắt nhìn đám tà ma bị ép thành bột cát, rồi đăm đăm tầm mắt vào Ô Hành Tuyết và nói, “… Ngươi dắt quần ma đến đây tàn sát vô độ rồi lại giết sạch bọn chúng, rốt cuộc ngươi đang bày trò gì?!”

Vì phản ứng của nàng có phần bất ngờ, Ô Hành Tuyết bèn rút chiêu về, lướt thân mình vòng qua mái hiên dỏng cao không khác gì áng mây trôi, đoạn đáp xuống mặt đất.

Vừa chạm đất, sương giá mang nặng sức ép đã hoá thành khói mù lạnh băng, bủa ào ạt khắp nơi chỉ trong tích tắc.

Các đệ tử trong trận bị đẩy <i>ầm ầm</i>, đồng loạt lùi về sau nửa bước.

Dung mạo Ô Hành Tuyết quả thật khiến người ta khó mà quên được. Tiểu đệ tử có chưa nhận ra tức khắc thì chỉ cần nhìn thấy băng sương cuồn cuộn tuôn tới và nghe Phong Cư Yến hô hai tiếng “Ma đầu” là họ biết ngay người vừa xuất hiện là ai.

Thoáng chốc, trăm ngàn khuôn mặt trắng bệt không còn giọt máu.

Và khi thanh trường kiếm cắm sâu vào mặt đất đang chầm chậm lặng yên trở lại sau cơn dư chấn, mọi người mới nhìn rõ chữ “Miễn” trên thân kiếm. Sắc mặt ai nấy chuyển từ trắng bệch không giọt máu sang bàng hoàng không thôi.

Đến cả Phong Cư Yến cũng không ngoại lệ.

“Đó là…”

Thiên Túc Tiêu Phục Huyên.

Đôi môi nàng mấp máy, không nói nổi thành lời nửa vế sau.

Ngay lập tức, nàng trông thấy Tiêu Phục Huyên quét qua khí tà ma đen ngòm mà phóng tới, băng xuyên sương mù trắng xoá. Bóng hình y dứt khoát như mũi kiếm, dừng lại bên cạnh Ô Hành Tuyết.

Y vươn tay ra, thanh kiếm mang danh tự “Miễn” xé gió vung lên và rơi vào tay y một cách gọn ghẽ.

Tức thì, bầu không khí lặng ngắt như tờ.

Ngay lúc này, Ô Hành Tuyết mới cất lời với giọng điệu rất đỗi khẽ khàng, song ai cũng có thể nghe được rành mạch, “Ta không dẫn tà ma tới, có giết hết đợt này cũng vô dụng, chúng chết ở đây thì vẫn còn chỗ khác. Chết hôm nay còn có ngày mai.”

Hàng mày sắc sảo của Phong Cư Yến càng cau chặt. “Ngươi có ý gì?”

“Ý giết mãi không hết,” Tiêu Phục Huyên nói.

Mọi người chưa hiểu rõ cơ sự nhưng ai nấy đều thất kinh hồn vía.

Nếu chỉ có một mình ma đầu đứng ở đây thì hẳn không thể có đoạn hội thoại này, ngặt nỗi lại xuất hiện thêm một Thiên Túc thượng tiên.

Vì vậy, dù đang cảnh giác cao độ, Phong Cư Yến vẫn nói, “Giết mãi không hết là sao, tại sao lại giết mãi không hết.”

“Kể ra thì dông dài, không thừa thời gian.”

“Ngươi!”

Phong Cư Yến sa sầm sắc mặt, đang tính nói gì đó thì đã nghe Ô Hành Tuyết bảo, “Cách duy nhất là chém đứt ngọn nguồn, vì vậy…”

“Vì vậy thế nào?”

“Chúng ta tìm đến đây.”

“Đến đây?” Phong Cư Yến vẫn giữ nguyên tư thế sẵn sàng tung kiếm ý đang bao bọc quanh người, ánh mắt nàng rảo một vòng bốn phía. “Ngọn nguồn ở đâu.”

“Ở người.”

Ô Hành Tuyết vừa dứt lời, không gian xung quanh gầm lên một tiếng.

Khoảnh khắc, gần như toàn bộ các đệ tử tiên môn đang đứng đấy đều rùng mình sởn gai óc. Cả nhóm đồng loạt quay sang nhìn những người xung quanh theo bản năng, tay siết kiếm càng chặt hơn.

Phong Cư Yến thấy kiếm trận rung động bèn nghiêng đầu, tính hô thật to ra mệnh lệnh, song đã nghe Ô Hành Tuyết nói tiếp, “Có hai linh phách vốn không thuộc về chốn này nhưng đã tìm đến đây theo phương thức trái lẽ thường, bằng cách chiếm đoạt cơ thể không thuộc về chính mình. Đây chính là ngọn nguồn dẫn đến hoạ loạn tà ma bốn phương, ta và Thiên Túc lần theo dấu vết tìm được đến đây.”

“Chiếm đoạt cơ thể? Đó là tà thuật đoạt xá còn gì!” Phong Cư Yến đanh giọng, đôi mắt phượng tuyệt đẹp long lên nhìn một loạt các đệ tử môn hạ mình.

Ô Hành Tuyết luôn chú ý đến biểu cảm của nàng, đến hiện tại thì chàng hơi nhíu mày, khẽ nghiêng đầu và thì thầm với Tiêu Phục Huyên bằng âm điệu chỉ hai người nghe được, “Cô nương nhà họ Phong này… hơi lạ.”

“Đúng vậy,” Tiêu Phục Huyên thì thầm trả lời.

Phong Cư Yến kia nhìn một loạt phía sau như thể đang quan sát các đệ tử nhà mình xem có tà ma yêu đạo nào trà trộn bên trong hay không.

Mà chất giọng đanh thép kia giống một cách thử, hòng để kẻ đoạt xá trà trộn bên trong lộ ra dấu tích dưới lời đe doạ đầy lạnh lùng đó.

Từ đầu đến cuối, nàng không mảy may tỏ vẻ chột dạ.

Hoặc là che dấu quá kín kẽ, hoặc là… thật sự không biết?

“Nhìn người còn lại,” Tiêu Phục Huyên bất chợt nói.

Ô Hành Tuyết lập tức dời mắt, chuyển sang Phong Phi Thị đang đứng sau lưng Phong Cư Yến.

Người này là anh trai của Phong Cư Yến và là trưởng lão nhà họ Phong. Nghe bảo đây là người có tính cách nho nhã, dẫu tư chất khá tốt nhưng cơ thể tương đối yếu, sức khoẻ có giới hạn. Thành thử thay vì tiếp nhận kiếm thuật gia truyền, hắn có nhiều đam mê với thuật phù chú và đan dược hơn. Đồng thời, hắn cũng có quan hệ thân thiết với Y Ngô Sinh.

Người này không tham vọng cương vị gia chủ mà chỉ dành toàn tâm bảo bọc cho em gái ruột, vì vậy mà tình cảm hai anh em vô cùng khắng khít.

Hiện tại, nhìn vị trí của Phong Phi Thị cũng có thể thấy rõ điều này.

Dù Phong Cư Yến đang dẫn đầu đội hình kiếm trận còn Phong Phi Thị chắn sau lưng nàng, nhưng đồng thời hắn cũng đảm nhiệm vai trò che chở vị trí trọng yếu của em gái mình, dính như hình với bóng không tách rời.

Ngay thời điểm Phong Cư Yến lia mắt liếc nhìn toàn bộ chúng đệ tử, Phong Phi Thị cũng nhúc nhích ngón tay một cách lặng lẽ khó mà phát hiện.

“Đó là…” Ô Hành Tuyết nhấp môi thật khẽ.

“Chú ấn xoá sổ,” Tiêu Phục Huyên truyền âm sang nói.

Đó chính là tấm phù chú mà Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên dùng để tìm linh. Nó vừa đáp xuống trên người hai bọn họ ban nãy mà cả Phong Cư Yến lẫn những đệ tử còn lại đều không chú ý đến.

Chỉ có người nhạy cảm với các loại thuật phù chú như Phong Phi Thị mới nhận ra, không chỉ thế hắn còn có ý đồ xuống tay xoá sổ nó trong âm thầm.

Ngay khoảnh khắc dấu tích phù chú sắp sửa biến mất…

Âm thanh kim loại vang tỏ!

Một luồng kiếm khí phóng thẳng đến đặng chắn thẳng xuống, đánh một tiếng <i>rầm</i>.

Thuật pháp xoá sổ do Phong Phi Thị âm thầm tung ra đâm thẳng vào kiếm khí, xẹt ra tia lửa bắn tứ tung khắp nơi. Âm thanh vang rền khiến mọi người giật mình, đồng loạt quay sang hướng phát ra âm thanh.

Phong Cư Yến cũng đột ngột quay phắt sang…

Phong Phi Thị nhíu mày, thình lình cong ngón tay lại.

Nhưng đã muộn, nhờ hành động của hắn mà hai tấm phù tìm linh kia sáng rõ lên trước mắt bao người, toả ra một vầng hào quang màu máu.

Không ít người trong nhóm đệ tử hiểu biết sâu rộng. Tấm phù loé sáng lên đã giúp họ dễ dàng nhận ra hơn hẳn.

Vì vậy, có người hoảng hốt hô lên, “Đây… đây là phù… tìm linh?”

Đệ tử kia nói giữa chừng rồi mới sực nhận ra hai tấm “phù tìm linh” đó đang ngừng trên thân thể gia chủ và trưởng lão nhà họ. Song lời đã thốt ra rồi muốn rút trở lại cũng không được nữa.

Ai cũng biết ở trên đời nếu đã dùng phù chú tìm linh thì chắc chắn thuộc về một trong hai trường hợp:

Một là linh phách bị thương hoặc mắc bệnh nên rời khỏi thể xác và lang thang bên ngoài.

Hai là linh phách đó không thuộc về thể xác, hay theo cách người đời tục gọi… là tà thuật đoạt xá.

Nếu trường hợp đầu thì còn đỡ.

Nếu là trường hợp sau, người bị chiếm đoạt thể xác mang nặng hận thù khiến cho chú ấn bị nhiễm sắc đỏ của máu mà chỉ tà thuật mới có.

Và thứ trên thân thể Phong Cư Yến và Phong Phi Thị chính là loại này.

Mắt thấy tai nghe là chân thực nhất, nó hữu hiệu hơn hết thảy ngàn lời thuyết phục hay tranh luận. Ngay cả khi không có cuộc đối thoại trước đó giữa Ô Hành Tuyết và Phong Cư Yến thì các đệ tử tại đây vẫn sẽ chìm vào thinh lặng — chưa cần biết có phải ngọn nguồn hoạ loạn tà ma hay không thì vẫn biết đây đích thị là thuật đoạt xá.

Không thể chối cãi.

Thời khắc ấy, Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên quan sát nét mặt Phong Cư Yến rồi đi đến kết luận… cô gái này dường như không biết thật.

Vị gia chủ thường được người xưng “tuyệt sắc như hoạ, ương ngạnh như đao” của nhà họ Phong trợn to đôi mắt phượng nhìn chòng chọc vào chú ấn tìm linh trên người mình.

Tóc mai phất tán loạn, dây buột tóc thêu danh tự “Phong” búi sau đầu, quấn trên mái tóc dài tung bay trong gió. Nàng cúi đầu, song bờ vai vẫn hiên ngang đứng thẳng như lưỡi đao.

Mà giờ đây, lưỡi đao ấy đang run khẽ.

Cứng quá thì dễ gãy.

Phong Phi Thị nhìn bờ vai nàng mà bất chợt nhớ đến một lời đánh giá từ thời điểm nào đó về trước người ta dành cho em gái mình — là anh tài ngút trời, tuyệt vời xuất chúng, bản tính như đao, thế nhưng… cứng quá thì dễ gãy đấy.

Thật tình hắn đã sắp quên hết những lời ấy rồi, dầu gì cũng là những câu từ trăm năm về trước, giờ có tình cờ nhớ lại mẩu chuyện thuở thiếu thời thì cũng chỉ còn là những hình bóng thoáng qua…

Chứ nói gì đến những chuyện từ trước đó nữa.

“A Yến…” Phong Phi Thị khẽ giọng.

Phong Cư Yến đột ngột ngước mắt.

Thuở nhỏ, đôi mắt phuợng ấy luôn tỏ nét khôn ngoan ương bướng, mà sau này khi thành gia chủ rồi thì đa phần chỉ còn sự vững vàng và sắc sảo. Chỉ những khi hai anh em thân thiết trò chuyện cười đùa, nét dịu dàng nền nã mới được thể hiện ra lần nữa.

Mà lúc này đây, trong đôi mắt ấy đã không còn hết thảy những gì được nhắc đến bên trên, mà chỉ vương nỗi khiếp sợ và bàng hoàng tột độ.

Cô em gái ruột của hắn không phải hạng dễ bị dắt mũi, vốn dĩ từ nhỏ đã thế.

Nên khi Phong Cư Yến mở miệng, hắn không làm sao chối bỏ.

Phong Cư Yến nói, “Vì sao trên người em và anh lại xuất hiện dấu ấn bị đoạt xá?”

Nàng quan sát ngón tay bị kiếm khí ngăn cản của Phong Phi Thị và nói, “Nếu không có lớp kiếm khí này, nếu khi nãy em không ngoảnh đầu lại, thì anh đang tính làm gì?”

“Anh…”

“Anh muốn xoá sạch nó sao?”

Phong Phi Thị nuốt nước bọt, nghẹn lời một hồi lâu mới nhắm mắt lại, nói, “Đúng, anh sẽ xoá sạch nó.”

Phong Cư Yến nói, “Tức là anh đã biết…”

Ngón tay cầm kiếm của nàng siết quá mạnh khiến hổ khẩu nứt toạc một vệt, máu tuôn ra chảy dọc xuống chuôi kiếm. Ngón tay nàng run rẩy, thanh kiếm cũng rung lên theo, phát ra tiếng lao xao khe khẽ.

Trong cơn chấn động lao xao, nàng nhìn anh trai mình đăm đăm và hỏi, “Thế có nghĩa những lời vừa nãy đều là sự thật, có hai cô hồn dã quỷ vốn không thuộc về nơi này đã đến và chiếm đoạt hai thân thể vốn không thuộc về chúng…”

“Em những tưởng có tà ma yêu đạo nào đã trà trộn vào hàng trăm ngàn người nơi đây,” Phong Cư Yến thốt ra từng chữ, lời nào cũng như rỉ máu. “Em đã lục tìm kỹ lưỡng đến thế, hoá ra lại chính là em và anh à…”

“Anh biết hết tất cả chuyện này ư?”

Phong Phi Thị gật đầu thật khẽ rồi nói, “Biết.”

Dĩ nhiên hắn biết.

Bởi vào thời điểm khởi đầu hết cả, chính hắn là người đã bần thần quẩn quanh trận nối mệnh dưới căn tháp cao nhà họ Phong. Dưới ảnh hưởng của trận cục ngày này qua tháng nọ, sự không cam tâm và nỗi nuối tiếc mỗi lúc một đè nặng lên hắn.

Đến một ngày nọ, hắn được ai đó đưa đường dẫn lối, bèn dắt theo linh phách đứa em gái đã không phản ứng từ lâu để đến một cõi thế gian khác, và trở thành “cầu nối”.
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 115: Dễ gãy


“Nói vậy, cơn ác mộng lúc nhỏ em hay kể với anh,” Phong Cư Yến khàn giọng nghẹn ngào, dừng một hồi mới nói tiếp, “rốt cuộc nó chỉ là chiêm bao hay là sự thật?”

Lúc còn nhỏ, nàng thường mơ về một cơn ác mộng.

Trong mơ, nàng thấy mình nằm giữa vùng không gian tối tăm giống như một gian phòng trống hoặc một chiếc giường bít bùng bốn phía. Luôn có một ai đó không nhìn rõ mặt với máu me khắp người liên tục kéo nàng, muốn đẩy nàng ra, đuổi nàng đi.

Đôi tay đó tưởng chừng muốn xé toạc thịt da nàng, khiến nàng đau đến mức khóc thét không ngừng trong giấc mơ. Thế mà cái người đầy máu me kia khóc còn thảm thiết hơn, tiếng khóc ấy nghe vào làm người ta khổ đau và sợ hãi, vừa lôi kéo nàng còn vừa tự đấm ngực giẫm chân.

Đối với một đứa trẻ như nàng năm đó, nó không khác gì một thứ ma quỷ điên cuồng, là cơn ác mộng chạy hoài không thoát thuở còn bé thơ.

Nàng thường giật mình bừng tỉnh giữa đêm, dù không chấp nhận nỗi sợ nhưng cũng không dám ngủ tiếp, thành thử nàng chạy tới trước cửa sân ngồi để có thể nhìn các đệ tử mang đèn đi tuần tra đêm.

Mấy nhóm đệ tử đó hỏi nàng vì sao không ngủ. Nàng chỉ bẻ một cành cây nhỏ làm bộ huơ huơ linh tinh rồi nói, “Ta đang luyện kiếm, ngày mai thầy định kiểm tra.”

Gần như tất cả mọi người đều bị nàng đánh lừa. Đến mười năm, trăm năm sau này, trong nhà họ Phong vẫn còn lưu truyền tin đồn nàng không chỉ là một anh tài ngút trời mà còn cực kỳ chăm chỉ.

Chỉ riêng Phong Phi Thị…

Chỉ riêng người huynh trưởng này mới bước đến bên cạnh mỗi lần nàng chống cằm ngồi trên ngạch cửa khoa tay múa chân giả bộ luyện kiếm, để hỏi nàng, “A Yến, có phải em không ngủ được không?”

Lúc ban đầu nàng cũng không chịu thừa nhận.

Về sau, có một lần nàng muốn chối cách nào cũng không được vì vừa ngồi trên ngạch cửa vừa khóc sướt mướt, thế là chỉ còn cách kể thật với Phong Phi Thị về cảnh tượng trong mơ.

Đó là những giọt nước mắt hiếm hoi có thể đếm trên đầu ngón tay trong suốt quãng đời trăm năm của nàng.

Đôi mắt nàng trân trân trong màu hoen đỏ, nàng kể với người anh trai ruột mình bằng chất giọng đầy nghẹn ngào về giấc chiêm bao, rằng nàng đã bị người máu me đầm đìa kia đẩy, kéo ra sao, đã nhuốm máu khắp giường còn bám nàng như hình với bóng ra sao, mới đây còn dập đầu quỳ cầu nàng, rồi sau đó đã lập tức mắng chửi nàng. Dù nàng cố gắng co ro vào trong góc nào đi chăng nữa, có đổi sang hướng nào đi chăng nữa cũng không làm sao trốn thoát nổi.

Phong Phi Thị nghe xong bèn nhẹ nhàng vỗ đầu nàng, ngồi xuống cùng nàng bên ngạch cửa và ngắm nhìn ánh trăng sáng thâu đêm ở Mộng Đô.

Sau chót, nàng nắm chặt cành cây trong tay và tựa mình vào cạnh cửa ngủ thiếp đi khi hừng đông sắp đến. Trước lúc khép mắt lại, nàng còn lầm bầm một cách uất ức, “Tại sao người đó cứ muốn đuổi em đi vậy…”

Giờ đây ngẫm lại mới hiểu, ấy nào phải ác quỷ muốn đuổi nàng. Rõ ràng chính bản thân nàng mới là thứ ác quỷ đang chiếm đoạt tổ ấm người khác.

Nàng nhìn sang Phong Phi Thị, nhớ về cơn ác mộng đã gần trăm năm qua chưa nghĩ đến và thốt lên từng câu từng chữ sắc bén như đao, “Khi hai thân thể này của em và anh bị chiếm đoạt cũng bị xé xác như vậy ư?”

“Hai linh phách đáng lẽ nên được sống cũng từng khóc lóc, thét gào, mắng nhiếc như vậy ư?”

“Họ cũng sẽ đấm ngực giẫm chân, khẩn thiết cầu xin đến độ dập đầu quỳ lạy dưới đất ư?”

Những tưởng những tiểu tiết trong giấc mơ xưa đã sớm phôi phai, mà không ngờ giờ đây khi nàng gằn hỏi từng lời từng chữ, nó lại hiển hiện rõ ràng trước mắt như thế.

Vì vậy, nàng đã không còn phân biệt được liệu đó rốt cuộc chỉ là một giấc mơ hay nàng đã thực sự trải qua những chuyện ấy.

“A Yến…” Phong Phi Thị gọi nàng, chẳng rõ đang muốn ngắt lời hay định an ủi nàng.

Thế nhưng Phong Cư Yến không hề chiều theo mà vẫn tiếp tục. Tính tình nàng xưa giờ luôn vậy, nàng không thể chấp nhận sự mập mờ không rõ ràng mà luôn phải tra ra cho bằng hết mới được.

“Em chỉ hỏi anh là có hay không?”

“Có đau khổ như trong những giấc mơ đó hay không?”

Phong Phi Thị hoàn toàn thinh lặng.

Thật ra hắn cũng có thể phủ nhận hoặc bịa ra một lời dối trá và nói mình không nhớ rõ, hoặc có thể nói hai thể xác này từ lúc ra đời đã vô chủ.

Song hắn hiểu tính cách em gái mình, một khi nàng đã hỏi thẳng ra miệng tức là sự việc đã không còn đường cứu vãn.

Sau cùng, hắn chỉ có thể nhìn nàng và nhỏ giọng, “A Yến, em đã làm rất nhiều việc thiện.”

“Em đã làm rất rất nhiều việc thiện, đã từng cứu rất nhiều người, diệt trừ rất nhiều tà ma, thu nhận rất nhiều đệ tử, từng trao đi rất nhiều thanh kiếm, em —” hắn ngừng giây lát, giọng điệu trầm lắng u buồn hẳn đi, “… căm ghét cái ác như kẻ thù.”

Phong Cư Yến lắng nghe, mãi một hồi sau mới nhếch cười.

Đúng là nàng căm ghét cái ác như kẻ thù, nàng chưa từng lùi bước trước mỗi một việc đại sự trên thế gian, dẫu đó có là tà ma hoành hành hay Thương Lang Bắc Vực sụp đổ. Dẫu sức mình có ngăn cản được nổi hay không, nàng vẫn sẽ nâng cao chuôi kiếm và đứng nơi tiền tuyến.

Nàng từng cảm thấy “căm ghét cái ác như kẻ thù” là lời đánh giá tốt đẹp nhất trên đời, nó bùi tai hơn hết thảy những câu anh tài ngút trời hay thiên phú dị bẩm gì đó.

Bởi những thứ ấy là trời ban, còn “căm ghét cái ác như kẻ thù” là do chính nàng dấn lối từng bước, là con đường đích thân nàng chọn lựa.

Mọi người đều biết nàng không phải mẫu người hiền lành nhu mì, tính nàng ương ngạnh bướng bỉnh, một khi đã xác định một con đường sẽ đi đến cùng, tuyệt không ngoảnh đầu.



Nàng căm ghét cái ác như kẻ thù, tuyệt không ngoảnh đầu.

Trong nháy mắt ấy, Phong Cư Yến thả lỏng hàng mày nhíu chặt.

Nàng rảo mắt nhìn quanh một vòng, ánh mắt nàng lướt qua hàng trăm ngàn đệ tử đầy thương tích máu me, lướt qua toà thành ngổn ngang khắp chốn sau trận ác chiến và làn sương đen khí tà ma dù tạm thời bị ngăn chặn nhưng vẫn mịt mù đất trời.

Sau cùng, nàng nhìn sang Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên, đôi môi nàng mấp máy.

Nàng nói, “Làm sao để cắt đứt ngọn nguồn dẫn tà ma tới?”

“Có phải tuẫn thân là được không.”

Giọng nàng nhẹ và khẽ khàng quá đỗi nên gần như không nghe được. Đến lúc Ô Hành Tuyết ngợ ra câu “tuẫn thân” thì vị cô nương bản tính như đao đã vung lên kết giới gió lốc trắng rỡ ngay lập tức.

Thình lình, nàng phóng đến bên cạnh anh mình, trong hai tay là kiếm khí mang đầy sát ý lồ ng lộng.

Ngay lúc ấy, nàng định sẽ giết Phong Phi Thị trước rồi tự kết liễu bản thân. Ấy nhưng khi kiếm khí hạ xuống lại đảo hướng.

Thế là trong tích tắc, Phong Phi Thị cảm thấy đôi mắt mình bị che kín bưng.

Hắn nghe thấy cô gái đã lớn lên cùng mình gọi hai tiếng “ca ca” đã lâu chưa được nghe, đoạn nói, “Cảm ơn anh đã cùng em ngắm trăng sáng Mộng Đô thành mười mấy năm.”

“Thế nhưng…”

“Anh biết đấy, trong mắt em không được tồn tại dù chỉ một nửa hạt cát.”

Nàng căm ghét cái ác như kẻ thù, mà đã chiếm đoạt cuộc đời người ta hơn một trăm năm, giờ không cần phải tiếp tục nữa.

***

Phong Phi Thị nghe thấy tiếng linh phách mình bị kiếm khí oanh tạc, cơn chấn động rung đồng bộ với nhịp tim và đập mạnh một phát.

Đầu óc hắn trở nên trống rỗng, toàn thân run lên bần bật không kiểm soát được.

“A Yến…”

“A Yến?!”

Hắn gọi thảng thốt, song không nhận được một câu trả lời nào.

Khi tấm chắn che kín mắt được gỡ bỏ, Phong Phi Thị gần như quên mất thân phận con nhà tiên môn, phải tu luyện thuật pháp tiên gia của mình. Theo bản năng, hắn muốn vươn tay hòng gắng đỡ lấy người trước mặt.

Khổ nỗi, hắn chỉ còn trông thấy cô gái lẫm liệt trời sinh kia nhắm nghiền đôi mắt, ngã gục trong vô hồn chẳng khác nào một đoá hoa tàn lụi vừa lìa cành. Hắn đỡ nàng không nổi mà chỉ có thể loạng choạng khuỵu người xuống cùng nàng.

Ai cũng nói trưởng lão nhà họ Phong lịch lãm nhã nhặn, dù mang bệnh nhẹ trong người nên nhìn qua nét mặt xanh xao, song chưa bao giờ thất thố trước mặt người khác. Thế mà giờ đây, hắn đang khốn đốn quỳ trên mặt đất, đâu còn chút nào dáng vẻ thanh tao.

Hắn nỗ lực vớt vát linh phách tiêu tán trong cơn rối bời, song chỉ hoài công. Vào khoảnh khắc chót cùng nhất, hắn mới loáng thoáng nghe thấy di âm của Phong Cư Yến. “Còn anh thì sao?”

<i>Em căm ghét cái ác như kẻ thù, trong mắt em không được tồn tại dù chỉ một nửa hạt cát…</i>

<i>Còn anh thì sao?</i>

Phong Phi Thị sững lại trong chớp mắt.

Anh ư?

Dường như anh đã không còn tư cách nói những lời như “căm ghét cái ác như kẻ thù” từ sớm mất rồi.

Kể từ thời điểm hắn mang linh phách em ruột mình đến và chiếm đoạt hai thân thể này đây, hắn đã chẳng còn tư cách nói “căm ghét cái ác như kẻ thù” trong quãng đời còn lại của mình nữa.

Vì hắn hãy còn rõ như in vào ngày hôm đó, hai linh phách vốn nên tồn tại trong thân thể này đã rên la nhược nào. Nó giống cơn ác mộng mà Phong Cư Yến miêu tả, hai linh phách nhỏ bé xa lạ đáng thương ấy đã bị xé xác, đã khóc da diết, đã gắng vẫy vùng.

Song khi đó, hắn không màng hết thảy chỉ cầu được sống.

Hắn muốn sống, muốn được trưởng thành, muốn hoàn thành những hoài bão chưa kịp thực hiện — những điều mà hắn thường nhắc đến với em gái mình khi còn bé, là diệt yêu trừ ma, trả lại một nhân gian trong sạch.

Hắn còn muốn nhìn thấy em gái mình thành tài, em ấy có thiên phú và căn cơ xuất chúng hiếm gặp mà phải lìa đời như vậy thật nuối tiếc quá, ấy là một cô bé đã lớn lên cùng hắn, hắn lưu luyến nàng.

Hắn không cam lòng, không muốn dứt bỏ, vì vậy hắn dẫn em gái mình đến thế giới này để sống sót, và hắn đã thực hiện điều đó bằng sự khốc liệt hơn bao giờ hết.

Còn hai sinh linh kém may mắn kia đã vì hắn mà chết, mà biến mất không còn lại gì.

Hắn những tưởng rằng chỉ cần có thể sống sót là có thể thoả chí vận động và làm những điều mình hằng mong muốn. Nhờ đó hắn sẽ cảm thấy hạnh phúc.

Vậy mà trên thực tế, hắn chưa một lần cảm thấy hạnh phúc tự đáy lòng.

Phong Cư Yến thường nằm mơ thấy ác mộng, bản thân Phong Phi Thị cũng không thoát khỏi nó mỗi ngày. Về sau Phong Cư Yến không nằm mơ và cũng không phiền lòng nữa, nhưng hắn thì vẫn vậy.

Những lời hắn nói với Phong Cư Yến ban nãy đúng ra cũng chính là lời dành cho bản thân hắn…

Suốt trăm năm nơi đây, hắn đã làm rất nhiều việc thiện, đã nhận vào vô số trẻ em cơ nhỡ và người vô gia cư vào môn hạ mình. Hắn không quan tâm đ ến kiếm thuật mà đổ toàn bộ tâm huyết vào phù chú đan dược, giao thiệp cùng Y Ngô Sinh nhà họ Hoa đặng bào chế những bài thuốc cứu giữ sinh mạng rất nhiều người.

Hơn phân nửa thời gian cuộc đời này của hắn dành đúng cho một việc: Chuộc tội.

Song sống càng lâu cũng đồng nghĩa tội trạng hắn càng dài, bởi cuộc sống mà hắn có là do hắn chiếm đoạt mà được. Chót cùng, hắn cũng chẳng rõ rốt cuộc mình là thiện hay ác.

Đến tận thời khắc này…

***

Thời khắc đó là lúc đám tà ma nhơ nhuốc bị Tiêu Phục Huyên và Ô Hành Tuyết tạm thời quét ngang đã lóc ngóc nhỏm dậy.

Có lẽ việc Phong Cư Yến tự phế bỏ linh phách đã khiến “cầu nối” kia bị đứt đoạn một nửa, giờ đang lung lay chực đổ sập. Và nửa còn lại đang có xu hướng buông xuôi.

Thế nên tất cả trở nên điên loạn.

“Nhìn bên đó —” Có một người hô to trong kinh hãi.

Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên ngoảnh đầu sang hướng nọ, nơi đó hơi thở tà ma cuồn cuộn ngợp trời như mây đen đổ sang, đè nặng lên toà thành. Khung cảnh ấy như thể tất cả đám tà ma bò ra khỏi nơi bùn lầy dơ bẩn trên thế gian đều đang tụ tập về đây ngay lúc này.

Nhưng lòng họ hiểu rõ thực ra đây còn chưa phải tất cả.

Thế gian này có ngần ấy thành trấn thôn làng, không kể Mộng Đô thì còn tới hàng trăm nơi lớn nhỏ khác nhau. Đúng như Ô Hành Tuyết nói lúc trước, họ giết hết đợt này sẽ xuất hiện làn sóng kế tiếp. Cản được ở nơi này thì còn chỗ khác, bảo vệ được hôm nay thì còn ngày mai.

Giữa khi mây đen ùn ùn kéo đến gần như nuốt chửng bầu trời, Tiêu Phục Huyên rút thanh trường kiếm và oanh liệt chắn ngang, vạch ra vầng kiếm khí như cầu vồng bay vút lên trời cao.

Dưới sức va chạm từ hai phía, toàn bộ thành Mộng Đô lẫn sông núi quanh nó đều rung chấn như sóng nước.

Gió lạnh bọc quanh ngón tay Ô Hành Tuyết cuộn tròn, sương giá lấp loé như ánh sao.

Khí kình vô tận không ngừng tuôn ra ngoài dễ chừng không thấy đáy.

Chàng vừa nhích người đã biến mất tại chỗ chẳng khác nào sương tuyết. Nhưng chàng không đến chặn tà ma cùng Tiêu Phục Huyên mà nhân lúc Tiêu Phục Huyên không để ý để đổi sang hướng khác…

Dùng sát chiêu hung tàn nhất với khí kình dâng trào khủng khiếp nhất, bọc quanh sương giá lạnh căm nhất. Ngón tay thon gầy trắng nhợt chạm đến thăm dò mệnh môn Phong Phi Thị.

Ấy chính là khung cảnh chàng đã chứng kiến vô vàn lần khi còn là Linh Vương — dọn sạch những dòng rối loạn, và nhìn con người, có thiện, có ác, chết dần trong tay mình.

Chàng đã tránh được ba trăm năm nay, song hiện tại không trốn được phen này.

Chàng vẫn cần phải giết người, vẫn cần phải chứng kiến sống chết của một người trong lòng bàn tay mình.

Phong Phi Thị trời sinh ốm yếu, sức khoẻ hữu hạn. Mà Ô Hành Tuyết tung chiêu tàn bạo nhanh nhất, vốn dĩ hắn không cách nào tránh được.

Nhưng ngay thời khắc chạm đến mệnh môn Phong Phi Thị, Ô Hành Tuyết vẫn hơi chững lại.

Chàng chần chờ và nuối tiếc trong tích tắc.

Cũng tích tắc ấy, Phong Phi Thị ngước mặt lên, song hắn không vùng vẫy cũng không xuất chiêu kháng cự. Hắn chỉ hỏi một câu. Câu hỏi là ngục tù giam cầm hắn hàng trăm năm.

Hắn hỏi, “Ngươi chần chờ có phải có nghĩa rằng… ta cũng có thể được tính là người lương thiện?”

Ô Hành Tuyết nói, “Trong mắt người bị ngươi hại ngươi chính là kẻ ác, trong mắt người được ngươi cứu ngươi chính là người lương thiện.”

“Ta là người giết ngươi, ta không thuộc cả hai nhóm trên nên không có quyền phán định. Còn ngươi… ngươi có thể hận ta.”

Vừa dứt lời, gió tuyết đều lâm vào tĩnh mịch.

Đã từ sớm, chàng không còn là Linh Vương, không mang mặt nạ vân bạc, không che nổi vui buồn trên nét mặt. Dáng vẻ chàng sẽ phản chiếu vào đôi mắt người bị giết, và chàng sẽ nhìn bóng hình tiếp theo chầm chậm đánh mất sức sống trong ánh mắt.

Chàng đã trải qua quá nhiều lần, song vẫn cảm thấy ấy là thời khắc cô tịch nhất cõi đời.

Mà lần này, ngay khi khoảnh khắc đến, có một bóng người khác cùng bước vào. Giọng Tiêu Phục Huyên thâm thấp len qua theo bụi tuyết.

“Đừng chỉ hận một mình y,” Tiêu Phục Huyên nói.

❄︎

Lời tác giả:

Ngủ ngon ~

Cá:

Nói sao nhỉ, chia sẻ chút cảm nhận cá nhân của mình nhen. Mình nhìn thấy những câu chuyện về các nhân vật phụ trong bộ này có một điểm chung, xoay quanh việc con người sống ở đời có nhiều <i>tham</i> và <i>vọng</i>, người ta muốn níu kéo một điều gì đó trân quý, hoặc muốn cứu vớt một sai lầm cuộc đời, như là cách Y Ngô Sinh muốn cứu lấy cuộc sống mình, người tán tu ở Kinh Quan muốn chuộc lại lỗi lầm mình, gia chủ nhà họ Phong muốn cứu sống huyết nhục mình, Hoa Tín muốn giữ mạng người thương, và bây giờ là Phong Phi Thị muốn tìm một cuộc sống mới cho hai anh em. Ở đây có tình cha con, tình yêu, tình anh em, tình bạn, tình người, là đầy đủ những mối dây tình cảm trong cuộc sống.

Nhưng mà những tham và vọng này lại là những điều rất ư vị kỷ, cầu chi phối và thay đổi nhân quả, đánh đổi lấy sự tổn thương cho mình và cho người khác. Nhưng vì những điều này là trái lẽ, là sai chồng thêm sai, mà gieo <i>nhân</i> thì phải gặt <i>quả</i>, khiến cho mọi việc trở nên tồi tệ hơn.

Thế nên ở cuối mỗi câu chuyện đều là mọi sự quy về hư không, trả lại một thế giới thuận theo lẽ tự nhiên, thiện ác hay sống chết không thể cưỡng cầu. Cái gì vốn đã không thuộc về mình cuối cũng sẽ không thuộc về mình mà thôi.
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 116: Thiên chiếu


Năm xưa, trưởng lão giảng dạy trong đệ tử đường nhà họ Phong từng nói rằng con người ta ghim hận thù sâu đậm nhất lúc lìa đời.

“Dầu có là người tốt hay người xấu, dầu thiện hay ác, dầu là vô tội bị hãm hại hay đúng tội lãnh hình phạt, chỉ cần người ta có đôi chút không cam tâm thì đều mang lòng oán hận người đã xuống tay giết mình.”

“Nỗi oán hận sâu đậm này sẽ quấn quanh đôi tay đã giết họ, quấn quanh thanh kiếm đã giết họ, quấn quanh linh phách kẻ đã giết họ đặng chất vấn mỗi ngày.” Trưởng lão đã nói như vậy.

Thời điểm đó, Phong Phi Thị cảm thấy vừa hổ thẹn vừa chột dạ, bèn hỏi trưởng lão, “Có cách nào giải trừ không ạ?”

Trưởng lão nhìn hắn.

Phong Phi Thị sợ bị phát hiện manh mối nên nói thêm một câu, “Suy cho cùng đã là đệ tử tiên môn thì khó tránh bị vương máu trên tay.”

Kết quả là trưởng lão còn chưa kịp trả lời mà A Yến đã phản bác, “Chúng ta giết tà ma chứ đâu phải người sống.”

Đã chính miệng nàng nói thế thì Phong Phi Thị cũng không tranh luận nhiều lời mà chỉ nhỏ nhẹ diễn giải, “Không thể khẳng định chắc chắn vậy được, nhỡ đâu gặp trường hợp tiến thoái lưỡng nan không thể không xuống tay thì sao.”

Lần này, trưởng lão lên tiếng, “Thì chấp nhận thôi.”

Phong Phi Thị nghe vậy thì sượng người.

Trưởng lão nói, “Nếu gặp phải tình thế lưỡng nan không thể không ra tay thì hẳn phần lớn người nguyện lòng làm ‘kẻ ác’ là người dũng cảm quả quyết, ắt đã chuẩn bị tinh thần từ trước.”

“Có điều…” Trưởng lão nói, “Một khi đã bị oán hận quấn quanh rồi thì không cách nào xoá bỏ được. Cho dù có là tiên gia đi nữa cũng phải chấp nhận. Con hãy nhìn những bị thần tiên trên chín tầng mây kia xem có ai chỉ trao phước đức mà không dính máu tanh.”

“Cái hận của người sắp lìa đời là thứ cả thần tiên cũng ngán sợ…”

Lúc này đây, Phong Phi Thị quả thực rơi vào hoàn cảnh “không thể không làm”. Khốn thay, hắn không phải người dũng cảm quả quyết ấy mà chính là người sắp lìa đời kia.

Vào khoảnh khắc sau chót nhất, việc duy nhất hắn có thể làm có lẽ chỉ là “không oán hận”.

Phong Phi Thị loáng thoáng nghe thấy câu “đừng chỉ hận một mình y”. Hắn muốn nói “ta làm gì có tư cách” song đã chẳng thốt nổi thành tiếng. Mệnh môn hắn bị đánh nặng nề, thần lẫn linh đều tan tác. Kiếp này của hắn đã chấm dứt, hắn sẽ không có cơ hội lên tiếng một lần nào nữa trong đời.

Đôi ngươi phản chiếu bóng người đang mờ đi nhanh chóng như bấc nến đã cạn. Thân thể rỗng không gục ngã xuống mặt đất cùng em gái mình.

Vậy nên, hình ảnh cuối cùng hắn trông thấy trong kiếp này chính là bầu trời Mộng Đô.

Đáng ra trên bầu trời ấy nên là vầng trăng ngời ngợi, giống buổi thiếu thời khi hắn và A Yến cùng dõi mắt lên cao.

Song lúc này khí tà ma còn chưa vơi đang che kín nền trời, dưới nhân gian chẳng nhìn tới ánh trăng. Vì vậy, hắn chẳng nhìn thấy gì ngoài đêm xám âm u.



“Còn có thể có kiếp sau không, A Yến.

“Mong rằng em sẽ có.

“Mong rằng có một ngày khi em mở mắt, nhân gian sẽ chẳng còn những điều em căm ghét, và chỉ cần ngước mắt em sẽ trông thấy vầng trăng sáng Mộng Đô.”

Thân thể đập mạnh xuống nền đất, dấy lên cát đá rung trời. “Cầu nối” bắc từ dòng rối loạn sang hiện thế đã hoàn toàn sụp đổ.

***

Bên trên thành Mộng Đô, khí tà ma đen kịt phủ kín đất trời thình lình đông lại ngay thời điểm va chạm với kiếm khí Tiêu Phục Huyên. Bầu không khí dường như lặng bặt.

Đoạn, tiếng tà ma rít gào tê tái nổ ra…

Các đệ tử tiên môn vốn bị thương nên không chịu nổi lực tác động kịch liệt của tràng rít gào này, họ bèn lập tức cắm thẳng kiếm xuống lòng đất hòng giữ vững thân thể. Song nhiều người vẫn phải nấc lên r3n rỉ, máu ứa ra từ khoé môi.

Kế đó, họ trông thấy đám khí tà ma đen kịt đột ngột tan biến.

Và từ phía xa, đám khí đen đang cuồn cuộn bổ ùa tới không ngừng cũng bất chợt sững lại rồi rút lui trong nháy mắt.

Toàn bộ nhóm đệ tử đứng ngây người.

Không biết ai trong họ hô to thất thanh “Gia chủ”, cả đám mới hoàn hồn trở lại.

“Gia chủ!”

“Trưởng, trưởng lão?”

“Gia chủ!!!”

Khi nhìn thấy hai người đã ngã trên mặt đất, ai nấy đều mặc kệ hết thảy những điều vừa nghe lẫn những thứ kinh khủng hãi hùng như “tà thuật đoạt xá” mà vội vàng chạy tới.

Tuy vậy, vẫn có một số người rầm rì bàn tán. Họ nhìn đám tà ma đột ngột biến mất và người nằm trên mặt đất, lầm bầm, “Vậy mấy chuyện như chém đứt ngọn nguồn đó không phải bịa đặt mà là sự thật sao?”

“Có vẻ đúng là như vậy.”

“Nhưng đó là lời của tên ma đầu kia đó! Nếu đó là sự thật thì… tên ma đầu đó là thế nào? Không lẽ hắn đang giúp người?”

“Hắn…”

Nhóm đệ tử ngoái người nhìn quanh nhưng chợt thấy cả ma đầu lẫn thượng tiên đều đã biến mất không còn tăm tích.

***

Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên đang tàng hình đứng trên mái hiên một toà lầu các cao cao giữa thành Mộng Đô. Từ nơi đó, họ có thể quan sát chiến trường ban nãy, đồng thời có thể bao quát hết khu vực thành Mộng Đô.

Tuy “cầu nối” đã bị chặt đứt, tà ma không còn hoành hành vô độ dưới sự chi phối của Thiên đạo Linh đài nữa, song chuyện gì đã xảy ra cũng xảy ra rồi, người đã chết cũng đã ra đi.

Những con đường con hẻm tấp nập một thời ở thành Mộng Đô giờ đây tang hoang, cửa nhà mở toang đong đưa trong gió, vẳng lên âm thanh cót két khẽ khàng.

Âm thanh đó chất chồng, nối tiếp nhau, bao trùm hết toàn bộ Mộng Đô.

Bên cạnh cánh cửa rộng mở ấy nằm la liệt những xác người trống rỗng đã bị tà ma cắn nuốt đến không còn gì. Ấy đều là những người đã từng vui cười sinh sống, mà giờ đây góp phần vun đắp sự “ngổn ngang” khắp toàn thành.

Còn những người nhờ được bảo vệ nên sống sót đều đang co ro cuộn mình vào góc tường trong những căn nhà và sợ hãi run rẩy không thôi.

Cảnh tượng ấy không chỉ hiện hữu bên trong thành Mộng Đô.

Từ chỗ đứng, họ có thể phóng mắt nhìn khắp vùng sơn dã, đền thờ bên ngoài thành, thậm chí cả những nơi xa hơn thế nữa. Trong tầm mắt họ, đâu đâu cũng là khói mù và khổ đau. Có thể đoán được, bên dưới chân núi Bất Động, trước lối vào thung lũng Đại Bi, bên bờ biển Vô Đoan, và rất nhiều nơi khác đều lưu dấu tích trận càn quét của tà ma.

Đây chính là nhân gian vì chịu tác động mà gánh nhận khổ đau.

Ô Hành Tuyết lặng lẽ lia mắt nhìn qua hết thảy.

Chàng đã từng đêm ngày bầu bạn với náo nhiệt xôn xao, từng lắng nghe vô vàn nguyện cầu về bao điều sinh lão bệnh tử, về niềm vui nỗi buồn, về gặp gỡ chia ly, sau cùng đã hoá hình thành người nhờ một dịp được chở che không cầu báo đáp thuần khiết nhất.

Nhân gian chàng gặp thuở ban sơ không phải như vầy, và không nên trở thành như thế này.

Chàng chỉ tay vào những bi thương và hỗn độn khắp toàn thành, cất giọng nhỏ nhẹ với Tiêu Phục Huyên, “Nó tính trả giá như thế nào.”

“Tiên hay ma khi xuống tay giết người đều bám đầy oán hận, bị quấn rịt cả đời không cách nào xoá sạch được, mà nó vì lẽ gì có thể không bị?!”

Tiêu Phục Huyên nói, “Ta dẫn ngươi sang đó.”

Ô Hành Tuyết ngoái đầu, trông thấy đôi mắt Tiêu Phục Huyên tựa như vì tinh tú lạnh lẽo nhất vòm trời. Y nói, “Đi sang dòng rối loạn, bắt nó về trả giá.”

***

Bên trên dòng rối loạn.

Vào thời điểm “cầu nối” do Phong Cư Yến và Phong Phi Thị tạo thành bị chặt gãy, một sự cố nổ ra bên trên Tiên Đô…

Hương hoả khấn cầu từ hiện thế dồn dập tràn về nơi này bị đứt đoạn, tầng mây mù bên dưới hàng trăm ngàn chiếc cầu ngọc trên Tiên Đô không còn phồn thịnh, cơn lốc xoáy sát khí bị trấn áp bên dưới Nam Song Hạ đột ngột biến động.

Lúc bấy giờ, Linh Vương hãy còn đang đứng bên thành cầu ở Toạ Xuân Phong, chiếc mặt nạ vân bạc vẫn che khuất gương mặt. Thanh trường kiếm trên tay y lắc lư khỏ nhịp nhẹ nhàng vào bên hông đôi chân dài thẳng thóm.

Không ai nhìn ra y đang nghĩ gì trong lòng.

Cơn lốc xoáy rung động kéo theo dư chấn khắp cả Tiên Đô. Phương Trữ chưa kịp phòng ngừa nên loạng choạng cả người, phải chộp lấy thành cầu bằng ngọc mới thăng bằng được thân thể. Hắn hốt hoảng thốt hỏi, “Chuyện gì xảy ra vậy?”

Linh Vương không đáp lời.

Thế nhưng hai tiểu đồng tử kia trả lời cho hắn, “Chắc là có biến ở Nam Song Hạ của Thiên Túc đại nhân rồi.”

Thoáng một tích tắc, Phương Trữ nhác thấy thanh kiếm đang khỏ nhẹ bên chân Linh Vương ngừng lại, thân thể y nghiêng về một hướng nào đó. Phản ứng ấy cứ như một dạng bản năng bẩm sinh.

Vậy mà y vẫn không dời bước mà chỉ đứng yên chốc lát rồi xoay người lại.

Tiểu đồng tử ôm phất trần trong tay, cất giọng lanh lảnh mà hỏi, “Đại nhân không đến Nam Song Hạ xem thử sao ạ?”

Bấy giờ Linh Vương mới nhỏ nhẹ đáp lời với chất giọng mềm dịu giống hệt Ô Hành Tuyết, “Không, Thiên Túc có cách giải quyết của riêng mình.”

Phương Trữ đứng nhìn bên cạnh, cảm thấy có gì rất kỳ lạ mà rất không đúng như thế nào đó. Tưởng chừng Linh Vương mà hắn nhìn thấy sau khi mở mắt tỉnh lại đó chỉ là một tầng ảo ảnh. Hắn càng nhìn càng cảm thấy trên người Linh Vương mang đậm hơi thở của thành chủ nhà hắn, thế nhưng thoáng có một chút gì đó lệch lạc. Giống như có hai luồng đối lập va chạm vào nhau trong cơ thể này, chi phối hành động và phản ứng của Linh Vương. Dẫn đến việc vị Linh Vương này thường rơi vào trạng thái xuất thần.

Trong lúc Phương Trữ còn đang thắc mắc, một tia sáng chợt xuất hiện bên cạnh Linh Vương khiến Phương Trữ kinh ngạc. Hắn thấy Linh Vương dứt khoát giương ngón tay kẹp lại một phát. Tia sáng kia đã nằm gọn giữa hai ngón tay y.

Bấy giờ, Phương Trữ mới trông rõ tia sáng kia biến thành một bức phù thư. Chẳng là bức phù thư đó khác hẳn loại phù thư hắn gặp thường ngày, ở mặt trên của bức phù thư này lấp loé dấu ấn mang danh tự “Chiêu” ánh vàng.

“Đấy là gì vậy?” Phương Trữ ngạc nhiên hỏi.

Tiểu đồng từ thầm thì trả lời cho hắn, “Đây là thiên chiếu đại nhân nhà ta vừa nhận được.”

Phương Trữ sửng sốt.

Thật tình hắn cũng không hiểu Linh Vương nhận thiên chiếu là có ý gì. Có điều không hiểu sao tự có một loại linh cảm khiến cho hắn bất chợt giật mí mắt, trong lòng nhen lên cảm giác bất an.

“Thiên chiếu…” Phương Trữ lầm bầm. “Nhận thiên chiếu vào lúc này là cần đại nhân làm gì?”

Giọng hắn mơ hồ nên không một ai nghe rõ.

Vả chăng lần này tiểu đồng tử cũng mắt nhìn mũi, mũi ngó miệng, không tiếp tục trả lời hắn nữa.

Còn Linh Vương sau khi mở tấm phù thư kia đọc lướt qua liền vuốt ngón tay. Một ngọn lửa bùng lên xung quanh và đốt trụi tấm phù thư giữa hai ngón tay y.

Ngay sau đó, y ngoái đầu nhìn Phương Trữ, thanh trường kiếm nạm bạc trong cánh tay còn lại lướt một vòng cung đầy nhã nhặn rồi đánh keng một tiếng mới dừng lại.

Y nghiêng đầu, giọng nói vang lên từ phía sau chiếc mặt nạ để hỏi Phương Trữ, “Ngươi đến từ nơi khác, giờ có muốn trở về không?”

Phương Trữ: “Ta…”

Không đợi Phương Trữ trả lời dứt, y đã nói tiếp, “Ngươi phải về đi thôi. Ta đang định đến đó một chuyến, tiện đường đưa ngươi đi luôn.”

Lời vừa thốt ra, Linh Vương thình lình xuất hiện ngay trước mắt Phương Trữ. Phương Trữ hốt hoảng, giật mình tính né sang chỗ khác theo bản năng, song hắn cảm thấy có một cánh tay vô hình đang kiềm chặt trên y phục mình.

Ngay tiếp đó, thế giới quay cuồng xung quanh…

Hắn bị kéo xuống khỏi Tiên Đô.

Khi thoát ra khỏi tầng mây mù, hắn còn loáng thoáng nghe được tiếng tiểu đồng tử, “Đại nhân đi công việc ạ? Có cần báo cho Thiên Túc đại nhân một tiếng không ạ?”

Phương Trữ không tài nào mở mắt ra nổi vì sắp bị gió xé xác tới nơi rồi. Hắn chỉ nghe giọng Linh Vương vang lên bên cạnh mình. Y cất giọng điềm đạm trả lời tiểu đồng tử, “Không cần.”

Y vừa nhận một thiên chiếu mới, cần đến xử lý một “dòng rối loạn” nhiều năm trước đây chưa giải quyết gọn ghẽ. Trước đây, y đều gửi lời đến Thiên Túc mỗi lần xuống nhân gian xử lý công việc.

Song lần này thì không.

Dường như có một thứ vô hình nào đó đang thôi thúc y phải chém đứt “dòng rối loạn” kia càng nhanh càng tốt. Y có thể thoáng cảm nhận được sự khẩn cấp của thiên chiếu này, vì lần này thiên chiếu thậm chí còn không chỉ dẫn rõ ràng nên tiếp cận theo phương thức nào.

Những chuyện khác càng ít người biết càng tốt.

Đặc biệt là Thiên Túc.

Lúc này đây, nếu có ai đó có khả năng qua lại giữa hai bên sẽ lập tức thấy rõ…

Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên hiện thế đang trên đường tiến vào dòng rối loạn. Còn Linh Vương dòng rối loạn cũng đang băng xuyên chín tầng trời để bước vào hiện thế.

Ngay khi Linh Vương nâng vỏ kiếm, toan rút thanh trường kiếm chém thẳng vào nơi giao nhau.

Một tiếng <i>keng</i> đánh vang.

Có người bọc mình trong kiếm khí đã phóng tới ngay khoảnh khắc ngàn cân treo sợi tóc, vung kiếm chặn đứng Linh Vương.

Hai dòng kiếm khí đâm vào nhau, kéo theo hai luồng sức mạnh khổng lồ va đập vang rền.

Kiếm khí của người vừa đến ngập tràn cái lạnh thấu của mùa đông và băng thiết, tương tự gió buốt từ cánh đồng Gia Minh…

Đó là Thiên Túc.
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 117: Ấn mới


Thời điểm hai mũi kiếm va vào nhau, Linh Vương thất thần trong thoáng chốc.

Cánh tay cầm kiếm của y hơi cong lên như thể đang có dấu hiệu buông lỏng. Trong khoảnh khắc buông lỏng ấy, phần thuộc về Ô Hành Tuyết trên người Linh Vương trỗi dậy.

Y nhìn đăm đăm vào tia lửa tung toé từ mũi kiếm rồi mấp máy miệng, nhỏ giọng thốt, “Tiêu…”

Thiên Túc sững người.

Bên trong dòng rối loạn, từ trước đến giờ Linh Vương đều xưng với y là “Thiên Túc”, “Thiên Túc đại nhân”, chỉ những khi phần thuộc về Ô Hành Tuyết trỗi dậy và nảy sinh nghi ngờ với dòng rối loạn này thì mới nhắc đến tên y. Song lần nào cũng chỉ gọi vỏn vẹn một chữ “Tiêu”, đoạn ngẩn người chút đỉnh rồi điều chỉnh lại lời mình.

Đến lúc đó có thể biết ngay, phần bị chịu ảnh hưởng của Thiên đạo Linh đài đã đoạt lại thế thượng phong.

Còn hiện tại thì sao?

Kiếm khí sắc bén bao quanh người Thiên Túc hơi dịu lại trong giây lát, đôi mắt y quan sát tấm mặt nạ vân bạc kia và chờ câu tiếp theo.

Thế nhưng Linh Vương im lặng một hồi, đôi mắt phía sau tấm mặt nạ khép lại rồi mở ra. Cả cơ thể y rung lên nhè nhẹ.

Rung động đó truyền tới đầu mũi kiếm.

Thiên Túc nhíu mày, trong lòng dấy lên linh cảm không lành.

Quả vậy, tiếp đó Linh Vương đã cất giọng, “Không phải lốc xoáy sát khí đang chấn động liên hồi đấy à, sao ngươi không đến trấn thủ tại Nam Song Hạ mà ở đây làm gì?”

Cái tên chỉ thốt lên được một chữ đầu chứ không tiếp tục. Điều này chứng tỏ lúc này đây, Linh Vương vẫn đang chịu ảnh hưởng chặt chẽ từ Thiên đạo Linh đài, kín kẽ gần như không một khe hở.

Thiên Túc trầm giọng trả lời, “Việc có ưu tiên khác nhau.”

“Ưu tiên khác nhau,” Linh Vương lặp lại lời này rồi nói tiếp, “nhưng chẳng phải lốc xoáy sát khí chấn động chính là ưu tiên hàng đầu hay sao? Nếu không có người trấn thủ, toàn bộ Tiên Đô sẽ chẳng được an toàn. Mà một khi Tiên Đô bất ổn, lâm vào cảnh đổ sụp không ai hỗ trợ, thì chính những bá tánh trong nhân gian bên dưới chín tầng mây là người phải gánh chịu tai hoạ, chẳng phải từ trước đến giờ đây là điều ngươi bận tâm đ ến nhất hay sao?”

Ánh mắt Thiên Túc loé lên.

Đó là thời khắc khiến cho người ta cảm thấy rối bời khôn kể. Ấy chính vì những lời kia đích thực đều là những lời Ô Hành Tuyết từng nói qua khi còn là Linh Vương.

Giờ đây ở bên trên dòng rối loạn, dưới ảnh hưởng của Thiên đạo Linh đài, trong khung cảnh đổi thay và giọng điệu khác biệt, cùng một lời nói ấy đã mang hàm ý hoàn toàn sai lệch.

Lời kia như bị bọc trong một lớp màng mờ, do vô tình hay hữu ý.

Nếu kết quả sau cùng thất bại, hiện thế phải bị diệt vong và để lại sự tồn tại của dòng rối loạn này, thế thì hết thảy những lời tỉ tê vui cười của ngày xưa cũng sẽ theo đó mà biến mất, chỉ còn những câu nói đã bị che lấp và thay đổi ý nghĩa như trên mà thôi.

Thiên Túc ngước nhìn thoáng qua Linh đài bên trên chín tầng mây bằng ánh mắt thấm đẫm sự căm ghét. Rồi y dời mắt nhìn qua mặt nạ của Linh Vương và nói, “Ngươi đã từng suy xét xem vì sao hiện tại lốc xoáy sát khí chấn động liên hồi, mà cùng thời điểm ngươi lại nhận được thiên chiếu hay chưa?”

Linh Vương lặng thinh không trả lời.

Ngón tay đặt trên kiếm của y cử động. Ngay lập tức, cả thanh kiếm chấn động lên theo giống như có một phần thân thể y đang vùng vẫy kháng cự.

Thiên Túc hạ tầm mắt mình trên tay y.

“Ta biết ngươi tính nói gì, ngươi tính nói với ta —” Linh Vương thoáng dừng giây lát mới nhỏ giọng, “Nơi đây là giả.”

Thiên Túc ngước mắt lên tức thì.

Khoảng sửng sốt đó chỉ trôi qua trong một chớp mắt ngắn ngủi, nhưng đã đủ để tạo thành khoảng trống dưới sự hiện diện của một người với năng lực quá mạnh mẽ và uy lực khủng khiếp.

Chỉ kịp thấy Linh Vương nhấc cánh tay, thanh trường kiếm đột ngột biến mất ngay lập tức rồi loáng cái đã đảo chiều. Nó hướng thẳng lên đẩy ngược kiếm khí của Thiên Túc, đoạn cắm thẳng qua không gian với sức mạnh đủ để chẻ núi tách biển.

Bóng kiếm bọc trong ánh sáng rực rỡ lao xuống từ trên không, xé gió gầm vang như tiếng ưng thần tru thét.

“Thiên Túc cẩn thận bên trên!!!”

Phương Trữ hét lên thất thanh!

Ban nãy hắn bị sức ép từ đợt va chạm giữa Linh Vương và Thiên Túc đánh mạnh vào khiến linh phách chấn động, có thể nói lâm vào khốn đốn. Dù vậy, hắn không cách nào trốn thoát khỏi sức ép vô hình đang trói chặt mình từ Linh Vương. Nhất thời không hỗ trợ được gì, hắn chỉ có thể hò hét bằng miệng ở bên cạnh.

Hắn giương mắt nhìn bóng kiếm mang linh quang đang chém thẳng xuống mà Thiên Túc chẳng hề xuất chiêu đối kháng. Trông cứ như thể không nhìn thấy bóng kiếm kia, y quay người ra sau…

Phương Trữ gần như tắt thở.

Song hắn đã nhận ra chỉ ngay trong tích tắc sau đó. Khi bóng kiếm sáng rực kia chạm vào Thiên Túc thì lập tức bị ép hiện nguyên hình — đó chỉ là một chiêu ảo.

Ngay lúc bóng kiếm hạ xuống, thân thể Linh Vương tức khắc tan biến rồi ngưng tụ thành hình sau lưng Thiên Túc. Khí kình tràn trề quanh ngón tay cầm kiếm.

Nếu vừa nãy Thiên Túc nghe theo lời cảnh báo của Phương Trữ mà vươn tay cản lại chiêu kiếm đó, thì đã hoàn toàn để lộ điểm yếu sau lưng và tuyệt nhiên không có cơ hội chống trả.

May thay, y đã không làm vậy.

Thiên Túc xoay người lại vừa kịp lúc!

May quá…

Phương Trữ nhìn sang đó, tim đập mạnh đến mức muốn vọt ra ngoài. Hắn thở phào nhẹ nhõm một hơi. Vậy mà một hơi này còn chưa thở ra hết, đồng tử hắn đã đột ngột co rút lại!

Bả vai hắn vừa bị chộp một phát, giọng nói nhàn nhạt của Linh Vương vang lên bên tai, “Đừng hóng hớt nữa, đến lúc phải đi rồi.”

Linh phách Phương Trữ thiếu điều bay khỏi người!

Bấy giờ hắn mới bất ngờ nhận ra, Linh Vương phóng đến sau lưng Thiên Túc cũng chỉ là một chiêu giả, còn Linh Vương thật đang ở bên cạnh hắn đây.

Những chiêu thức ảo kèm với thân thể và bóng kiếm không cách nào phân biệt thật hay giả nối tiếp nhau này chỉ diễn ra trong một tích tắc. Nó nhanh đến mức không cho người ta có cơ hội phản ứng.

Thế nhưng khí kình và sức mạnh từ những chiêu thức giả đó đều là hàng thật giá thật, bằng không chắc chắn không thể đánh lừa được Thiên Túc.

Việc tách mình ra thành ba phần chỉ trong tích tắc như vậy sẽ gây ra hao tổn linh thần cực kỳ nặng nề với bất kỳ một tà ma hay gia chủ tiên môn ở nhân gian nào.

Thế mà với Linh Vương, nó nhẹ nhàng như cát bụi.

Song Phương Trữ chẳng có thời gian ngẫm kỹ chuyện này.

Hắn chỉ kịp nhìn thấy từ vị trí xuất hiện ảo ảnh của Linh Vương, một chiêu kiếm đi kèm với sấm sét đánh rền vang vọng khắp nơi. Cả một miền sơn dã xung quanh hắn rung lắc dữ dội, vách đá nổ tung rồi đổ sụp.

Và bóng dáng Thiên Túc đã chìm trong đất bụi.

Hết rồi.

Có thể nhìn thấu chiêu giả đầu tiên đã khó, đến chiêu thứ hai e rằng Thiên Túc không thể tránh khỏi.

Phương Trữ đang bị Linh Vương kéo sang “hiện thế” mà trên người toát hết mồ hôi hột.

Tuy nhiên, ngay lúc họ xoay người rời đi, tia sáng lạnh lẽo loé lên. Thiên Túc vốn dĩ nên bị giam giữ bên trong ánh điện sấm sét đang hiên ngang chắn kiếm ngang người, đứng cản ngay trước mặt bọn họ.

Linh Vương sượng người.

Thiên Túc cất giọng trầm thấp, “Chiêu thức giả không thể lừa được ta.”

Nhịp tim một đời của Phương Trữ dồn hết cả vào thời điểm này, trước những chuyển biến nhanh tới chóng mặt.

Hắn nghe thấy Linh Vương thở dài, rồi cất giọng nhỏ nhẹ đến mức gần như không ai nghe, “Ngươi… nếu chiêu giả không thể lừa được ngươi, thì phải ra tay thật vậy.”

Lời vừa thốt, bên cạnh Phương Trữ đã không bóng người.

Cuồng phong thình lình nổi lên, quật mạnh đến mức Phương Trữ không đứng vững nổi mà phải lăn lộn một vòng, gồng mình dựng kết giới ngăn cản, song vẫn nứt ra vô vàn những vết thương chi chít.

Hắn đau đớn rên lên thành tiếng, khuỵu một chân quỳ sụm trên mặt đất.

Đến khi ngẩng đầu lên, hắn chỉ còn thấy ánh sáng chói loá như tuyết trắng che kín tầm mắt, bên tai vẳng lên hai tiếng kiếm đang giao đấu. Lúc ánh sáng trắng dần dần dịu xuống, hắn vừa kịp trông thấy hai luồng ánh kiếm mãnh liệt phóng tới.

Rốt cuộc đời này, hắn đã được chứng kiến như thế nào gọi là chiêu kiếm chẻ núi tách biển.

***

Nói cho cùng, Thiên Túc dòng rối loạn chỉ là bản thể gốc của Tiêu Phục Huyên đính cùng một mảnh linh. Chỉ bằng một mảnh linh mà đọ cùng chiêu kiếm chân chính của Linh Vương thì tuyệt nhiên bất khả thi.

Vì vậy, khi cản lại mũi kiếm đó, y đã bị sức ép từ kiếm đẩy người băng về phía sau mấy trăm dặm.

Vừa phút trước, họ đang ở một nơi nào đó khu ngoại thành, mà tích tắc liền sau đã bị đẩy đến miệt núi thênh thang.

Phía sau lưng là sơn cước ngút ngàn và non cao vời vợi, vốn dĩ Thiên Túc định vòng qua vách núi đá cheo leo nhô ra ngoài hòng dùng nó cản lại chiêu kiếm kia. Song đến lúc sắp vòng qua rồi, y loáng thoáng nghe được tiếng người bên sườn núi.

Thiên Túc giật mình, liếc mắt nhìn sang.

Đấy là ánh đèn soi sáng mười hai dặm núi uốn quanh theo hình rồng từ sâu trong lòng núi hướng lên xa tít tận chân trời. Bên trong đấy có thể thấp thoáng trông thấy rượu trà cờ phướn quyện vào tiếng người nhộn nhịp, hết thảy đang hoà mình trong gió.

Bọn họ lùi bước ra mấy trăm dặm, ấy thế mà dừng chân tại phố núi Lạc Hoa.

Nếu muốn dùng dãy núi này để chặn chiêu kiếm kia, chắc chắn phần đất đá do núi lở sẽ rơi thẳng xuống phố núi, dẫn đến một thảm hoạ không duyên cớ khác.

Thiên Túc lập tức chững người, thay đổi kế hoạch ngay giữa không trung. Y dùng một mảnh linh phách mình nghênh đón trực diện chiêu kiếm của Linh Vương.

Kiếm khí lao tới chẳng vướng một chướng ngại. Ngay khoảnh khắc va chạm, sấm rền vang dội tại chín tầng mây từ phía chân trời. Mây mù trong bán kính mấy trăm dặm bị hút vào kịch liệt, xoáy mạnh quanh khu vực ấy và hình thành một cơn lốc mây khổng lồ phủ kín đất trời.

Ngay đến Linh Vương cũng không ngờ rằng người kia dám đón thẳng một kiếm như vậy.

“Không phải ngươi nói toàn bộ thế gian này là giả ư?” Linh Vương hỏi. “Ngươi cho rằng nơi đây mới là dòng rối loạn, mọi thứ trong này đều là ảo cảnh. Nếu đây đã là ảo cảnh thì cớ gì ngươi còn e dè, sợ liên luỵ đến phố núi Lạc Hoa đến mức phải trực tiếp đón nhận chiêu kiếm này?!”

Lốc mây cuồn cuộn một màu trắng xoá, tất cả đều là sương mù ẩm ướt lạnh lẽo.

Giọng Thiên Túc len lỏi trong khói sương, y nói, “Vì có người sinh ra tại đây rồi sau đó phải tận mắt chứng kiến nơi này bị cháy trụi thành đất cặn tro tàn.”

Y không muốn đến khi người ấy tìm đến đây sẽ phải một lần nữa chứng kiến khung cảnh ánh đèn phố núi tàn lụi, dẫu ấy chỉ là dòng rối loạn đi nữa.

Đất cặn…

Tro tàn…

Một thứ gì đó nảy nhịp mạnh mẽ trong thân thể Linh Vương.

Có một phút chốc, y dường như thấy mình chao đảo, tưởng chừng như đang kết nối huyết mạch với một người nào đó. Cảm giác ấy cực kỳ quái dị, giống như y vốn bị vùi trong một cái lồ ng rộng lớn, rồi đột ngột cái lồ ng nứt ra một đường, để lọt cơn gió rét buốt luồng vào bên trong.

Một ít hình ảnh mờ nhạt hiện lên trước mắt y.

Ấy là vùng núi mịt mù lửa lớn ngút trời, lửa nhấn chìm hết thảy mọi thứ xa gần chân trời trong một màu đỏ thẫm. Còn y, y đứng giữa biển lửa, chứng kiến tất cả những nhộn nhịp tàn lụi thành đất hoang cằn cỗi.

Sau đó, y rút kiếm tách linh…

***

Ngay lúc đó, Tiêu Phục Huyên và Ô Hành Tuyết xông vào dòng rối loạn và bị kéo vào giữa một cơn lốc mây mù trắng xoá.

Chỉ một tích tắc mà dường như bị kéo dài không điểm kết…

Cũng ngay thời điểm đó, mảnh linh của Thiên Túc chấn động kịch liệt rồi vỡ nát dưới sức mạnh của kiếm khí, thân xác bản thể rỗng không rơi thẳng xuống dưới.

Tiêu Phục Huyên trong cơn lốc mây mù nhướn mắt.

Thân xác bản thể và thân rối cùng chìm vào kiếm khí sáng rực tỏ vàng, khi hai thân xác chạm vào nhau, thân rối tan biến hoàn toàn trong màn sương.

Nếu tính theo thời gian của hiện thế, sau tròn hai lăm năm, Thiên Túc Tiêu Phục Huyên mới quay về bản thể của mình.

Linh Vương cũng rơi thẳng xuống từ không trung.

Người y trông như cánh diều hâu trắng tuyết, y cắm thẳng trường kiếm tiếp đất.

Thế nhưng lúc y đến cùng vị trí với Ô Hành Tuyết, nhịp đập trong thân thể y càng trở nên mãnh liệt hơn, gần như đến mức nện rõ từng cơn.

Khung cảnh lửa rực mênh mông khắp phố núi Lạc Hoa lại trỗi lên trong đầu y một lần nữa, đồng thời cũng kéo theo khoảnh khắc vung kiếm xẻ đôi linh phách. Ngọn lửa lớn cháy hừng hực quanh thân và cảm giác đau đớn khi tách linh phách cùng dâng trào cuồn cuộn như đỉnh sóng cao nhất trên biển Vô Đoan, rồi đổ ụp xuống nhấn chìm y vào trong.

Khoảnh khắc đó, dường như Linh Vương và Ô Hành Tuyết dung hoà vào nhau. Tưởng chừng họ đang cùng nhớ về một sự việc, đang san sẻ cùng một nhịp thở khẽ khàng nhưng gấp gáp, cơ thể họ đều gồng chặt như cánh cung, và gương mặt trắng bệch không một cắt máu.

Khi nỗi đau đớn cùng cực lúc phân tách linh phách ồ ạt đổ tới, thân thể Ô Hành Tuyết hơi lung lay nhè nhẹ. Chàng khuỵu một gối chống quỳ trên mặt đất giống trong biển lửa ở Lạc Hoa Đài năm xưa.

Tiêu Phục Huyên nghe thấy âm thanh đè nén ấy liền bất chợt chém xuyên màn sương mù dày đặc. Vừa thoáng trông thấy tình trạng của Ô Hành Tuyết, y đã sa sầm sắc mặt, vươn tay ôm lấy người vừa ngã khuỵu và nhỏ giọng, “Sao lại thế này…”

Vừa dứt lời, y sững cả người.

Vì lúc đó, y phát hiện ở bên cổ Ô Hành Tuyết xuất hiện một vết thương mới, đây ắt là vết thương vừa mới bị, máu từ miệng vết thương còn đang chảy dọc theo xương cổ thấm ướt cổ áo, nhuộm thành một màu đỏ tươi.

Vết thương mới không chỉ là một vết thương đơn thuần mà do cố ý tạo thành, nó còn mang hình dạng một loại ấn chú. Tiêu Phục Huyên chỉ nhìn sơ qua đã nhận ra ngay lập tức…

Đó là ấn thờ.

Trước đây khi vẫn còn là tiên, Ô Hành Tuyết có dấu ấn mang danh tự “Chiêu” trời ban trên cổ. Trong lúc chàng chẳng hề hay biết, ấn thờ đó đã nối với Linh Vương của dòng rối loạn nhằm cung cấp nguồn linh lực dồi dào không ngừng nghỉ cho y.

Sau đó chàng đoạ thành tà ma, ấn danh tự “Chiêu” tan biến, sự liên kết giữa hai bên cũng theo đó mà chấm dứt.

Thế mà hiện tại trên cổ chàng lại trực tiếp xuất hiện một ấn thờ mới.

Ấn thờ được hình thành từ máu có tác dụng vô cùng nặng nề. Với ấn thờ mới này, chàng đã nối liền liên kết giữa bản thân mình với Linh Vương của dòng rối loạn một lần nữa.



Thảo nào Linh Vương vẫn luôn chịu ảnh hưởng vô cùng chặt chẽ của Thiên đạo lại bất ngờ có dấu hiệu lơi lỏng.

Thảo nào Ô Hành Tuyết và Linh Vương lại cùng nhớ về những chuyện trong quá khứ, đón nhận nỗi đau đớn đã từng gánh chịu trước đây…

“Ô Hành Tuyết! Ngươi…” Tiêu Phục Huyên cất giọng nghẹn ngào, đang định chữa trị cho vết thương lành lại, song bị người đang khuỵu gối nắm lấy cánh tay.

Ô Hành Tuyết siết tay thật chặt đến mức khớp xương cũng trắng bệch cả ra. Vậy mà chàng gắng mấp máy đôi môi bợt bạt tái mét của mình để thốt một câu khẽ khàng đến mức gần như không thành tiếng, “Tiêu Phục Huyên, hãy tin ta.”

❄︎

Lời tác giả:

Viết tới hai lần chậm quá, để mọi người đợi lâu
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 118: Nguồn gốc


Mối liên kết ấn thờ sẽ dần dà cân bằng trạng thái giữa hai người. Một khi ấn thờ phát triển đủ mạnh, mối liên kết đủ sâu, thì Ô Hành Tuyết thậm chí còn có thể thử tác động lên vị Linh Vương kia.

Nếu thành công, chàng có thể áp chế phần chịu ảnh hưởng của Thiên đạo trên người Linh Vương, để Linh Vương hoàn toàn thức tỉnh.

Còn nếu thất bại…

Nếu thất bại, hệ quả là hiện thế sẽ bị chém đứt.

Nhân gian mà chàng từng tựa lưng vào tán cây để ngắm nhìn sẽ bị huỷ hoại, ngàn vạn linh hồn tiêu tán, hết thảy huy hoàng tan biến.

Tất cả những con người và nơi chốn chàng từng dõi theo dịp tháng ba xuân tới lẫn tuyết trắng đông sang, từng lắng nghe tiếng khóc tiếng cười, từng sở hữu ái hận bi hoan, sinh ly tử biệt, từng xôn xao, từng tịch mịch, đều sẽ ra đi không còn dấu tích.

Chàng không thể thua.

Ô Hành Tuyết níu chặt Tiêu Phục Huyên và khẽ giọng nhắc lại, “Ngươi hãy tin ta…”

Hiệu ứng của ấn thờ lưu chuyển và lan toả nhanh chóng ngay thời điểm ấy.

Linh Vương chống cự theo bản năng, khiến sức ép và tiên lực khủng khiếp bùng nổ khắp người…

Cuồng phong dâng trào mãnh liệt!

Kết giới đột ngột bao vây khắp một vòng. Đó là cấm chế nhô lên từ dưới mặt đất, không khác gì vô số bức tường mọc lên đến chọc trời, ngăn cách tất cả mọi người.

“Thành chủ!”

“Thiên Túc!”

Phương Trữ nhảy bắn lên, toan phá huỷ cấm chế để đến bên cạnh Ô Hành Tuyết.

Song, hắn vừa tiến qua bên trái một bước, một luồng sáng cấm chế ánh bạc ngay lập tức đập thẳng vào trước chóp mũi hắn.

Hắn xoay người sang bên phải, luồng cấm chế thứ hai cũng dộng thẳng xuống.

Hắn bèn lùi về sau một bước. Sau lưng xuất hiện ngay một cấm chế nữa.



Chỉ trong tích tắc mà mọi hướng đều kín bưng. Hắn đã bị giam trong không gian một tấc vuông, không nhích được một bước nào!

Chiêu thức, khí kình, sức mạnh của tà ma, và tiếng thét thất thanh giữa hoảng loạn đều bị nhốt bên trong không cách nào truyền ra ngoài.

Ở một bên khác.

Kiếm khí của Tiêu Phục Huyên băng nhanh hơn tất cả mọi thứ.

Ngay khoảnh khắc những cấm chế đó trồi lên từ mặt đất, hàng ngàn lưỡi kiếm ngông cuồng thuộc về Thiên Túc cũng đã vượt lên trên lớp tường cao ngất bằng ánh sáng đang lưu chuyển.

Song vào thời điểm kiếm khí mang sức nặng ngàn quân ào ạt xông tới, chuẩn bị chém xuyên qua bức tường chọc trời đó, máu tuôn liên hồi từ những vị trí bị kiếm đâm vào không ngừng kia. Trong nháy mắt, sắc đỏ đã chảy tràn từ trên cao, tuôn trào không dứt.

Lúc máu đổ ra từ trên cấm chế, Tiêu Phục Huyên nhìn thấy cơ thể cả Linh Vương lẫn Ô Hành Tuyết đều run khẽ một chút.

Tiêu Phục Huyên tái mặt, ngay lập tức thu lại kiếm khí.

Vô vàn kiếm khí vừa rút, sương gió mịt mờ phủ kín trở về. Màn sương mù bị cuốn theo gió mạnh, chỉ trong nháy mắt đã lập thành cấm chế che kín bốn phương tám hướng quanh người y.

Thành thử, y không thể trông thấy Ô Hành Tuyết được nữa.

***

Hàng ngàn hàng vạn cấm chế mãnh liệt chắn xuống nhân gian, ngăn sông cách bể, chia núi tách thành, trời rung đất lở cũng không kết nối lại được với nhau.

Chỉ duy nhất một nơi hiện diện hai bóng hình.

Đó chính là Ô Hành Tuyết và Linh Vương.

Ô Hành Tuyết siết chặt bàn tay trống không và ngước mắt nhìn sang.

Hào quang chói loà bao phủ quanh cơ thể Linh Vương. Hết thảy tiên nguyên cường thịnh nhất, linh lực thuần khiết nhất tuôn tràn từ người y đều bắt nguồn từ chính bản thân Ô Hành Tuyết vào thời kỳ đỉnh cao.

Nhưng từ khi có liên kết ấn thờ, trên cơ thể Linh Vương bắt đầu thoáng xuất hiện khí tà ma. Từng ngụm từng ngụm sương đen nhàn nhạt đang lượn lờ quanh vạt bào Linh Vương.

Khung cảnh ấy có chút gì đó rùng rợn, giống như đang chứng kiến máu thẫm xâm lấn tuyết trắng không vướng bụi trần.

Ô Hành Tuyết ngỡ ngàng chốc lát rồi lặng người.

Vì khung cảnh ấy đâu đó tương tự với thời điểm chàng đoạ ma năm xưa.

Chỉ khác ở chỗ vào năm xưa, sương đen quấn quanh người chàng không loáng thoáng từng ngụm như vậy mà cuồn cuộn miên man như thể có khả năng nhấn chìm vạn vật.

Hiện tại đây, dường như chàng đang tự quan sát bản thân mình qua ba trăm năm dài.

Chàng nhìn bản thân nhuốm dần khí tà ma, nhìn máu tuôn trào từ huyệt đạo nào đó rồi thấm dần vào trang phục. Chàng nhìn mình từ một tiên nhân “hào quang ngời sáng” đang dần dà phai sắc lốm đốm, toát ra quỷ khí nồng nặc…

“Có hối hận không?”

Dường như Ô Hành Tuyết nghe thấy có tiếng hỏi.

<i>Là ai đang nói chuyện?</i>

Ô Hành Tuyết nheo mày.

Giọng nói kia chìm vào tiếng gió lốc rít gào nên vô cùng nhạt nhoà. Nhất thời, chàng khó lòng phân biệt nổi rốt cuộc đó là âm thanh tự hỏi vọng lên trong đầu chàng hay là Thiên đạo Linh đài đang muốn mượn miệng Linh Vương kia để hỏi chàng.

Ngay khoảnh khắc chàng chựng người, Linh Vương chống trường kiếm trên mặt đất thình lình ngước đầu lên.

Tiên lực ngay lập tức bùng nổ, va đập kịch liệt tạo ra cơn chấn động khiến núi sông bên trong cấm chế vang rền ầm ĩ. Liên kết ấn thờ cũng chịu ảnh hưởng từ cơn chấn động ấy và bị đứt đoạn trong giây lát.

Chính trong giây lát đó, Linh Vương nhấc linh kiếm và lao đến cùng vũ bão!

Bóng dáng lao đến quá nhanh, thoắt như sấm chớp. Vừa mới đây người còn cách xa hàng trăm trượng, mà nháy mắt kế tiếp, mũi kiếm đã cận kề yết hầu Ô Hành Tuyết.

Ô Hành Tuyết nhướn mắt lên ngay tích tắc đó.

Chàng nghiêng đầu nhìn Linh Vương đôi chút, rồi đẩy mũi kiếm sang một bên vào thời điểm chót cùng nhất.

Đồng thời, hai ngón tay chàng điểm vào chữ “Chiêu” bên cổ Linh Vương.

Thành thử…

Sức ép mãnh liệt phát ra từ mũi kiếm oanh tạc vào một bên sườn núi. Vách đá cao hàng trăm trượng đổ sập thành cát vụn, sương giá căm căm trộn lẫn với máu rót vào danh tự “Chiêu”, chỉ trong phút chốc đã lan ra hết nửa người.

Linh phách cả Linh Vương lẫn Ô Hành Tuyết đều nảy nhịp mạnh mẽ cùng một lúc.

Ấn thờ đã được kết nối một lần nữa.

Trong âm thanh đất đá đổ sụp vang dội, Ô Hành Tuyết lại nghe thấy giọng nói kia một lần nữa.

Giọng nói hỏi chàng, “Có hối hận không?”

“Ngươi đang hỏi?” Ô Hành Tuyết mấp máy môi.

Linh Vương vẫn còn đang bảo vệ tấm mặt nạ vân bạc trước đây Ô Hành Tuyết từng nâng niu không rời. Dưới tác động mỗi lúc một nặng nề của ấn thờ, thân thể y run lên khe khẽ như đang kháng cự.

“Cái gì?” Giọng Linh Vương ẩn sau tấm mặt nạ. “Không phải.”

Thực ra, không cần y trả lời Ô Hành Tuyết cũng biết.

Giọng nói kia không phát ra bên cạnh chàng mà vang vọng khắp tứ phía, dội vào tầng kết giới và cấm chế chọc trời thấu đất. Âm thanh ồn ào khủng khiếp đến vậy mà Linh Vương lại chẳng hề nhận ra.

Giống như suốt từ đầu đến cuối chỉ có một mình Ô Hành Tuyết có thể nghe được.

Ngay lúc đó, ấn thờ vừa kết nối lại đứt thêm lần nữa.

Khí chất toả quanh Linh Vương nhạt đi trong nháy mắt, cơn run khe khẽ hòng kháng cự cũng ngừng lại.

Ô Hành Tuyết thoáng nheo mắt.

Chàng cảm thấy rợn người sau gáy.

Chẳng cần ngoảnh đầu lại, chàng cũng biết chuyện gì đang diễn ra, dầu gì tất cả các chiêu thức Linh Vương sử dụng đều là những chiêu thức chàng từng quen thuộc hơn cả.

Chỉ e rằng vào lúc này đây, có hàng ngàn hàng vạn thanh kiếm tràn đầy linh lực đang phóng lên những áng mây rồi đột ngột lao thẳng về phía chàng!

Ô Hành Tuyết không quay đầu lại mà chỉ dùng mu bàn tay để chắn lại.

Lập tức, bọt tuyết khắp vòm trời tụ về và đông lại thành một tấm chắn ngay trước muôn vàn mũi kiếm.

Băng giá bủa tràn khắp nơi theo hướng dàn kiếm, đánh lên tiếng nổ vang rền. Dường như đang có trận tuyết lớn nhất thế gian đổ bên trong không gian cấm chế.

Linh Vương bị đẩy văng ra xa, đồng thời Ô Hành Tuyết cũng đập lưng vào vách núi cheo leo hiểm trở một phát nặng nề. Máu trào ra từ những vết thương trên huyệt đạo trọng yếu, loáng cái đã nhuộm đỏ áo bào.

Giọng nói kia lại cất lên lần nữa, “Ngươi có hối hận không?”

Ô Hành Tuyết ho khan một tiếng, lấy mu bàn tay lau đi vết máu trên mặt. Lần này, chàng đã chịu nhỏ giọng đáp một câu lạnh tanh, “Hối hận cái gì?”

Một chiêu thức khác đánh tới!

Ô Hành Tuyết vất vả tránh thoát, đoạn lật tay tung một chiêu.

Bên trong cấm chế đổ trận tuyết lớn nhất trần gian, tuyết che mịt mờ đất trời. Cả chàng lẫn Linh Vương đều không thể nhìn thấy nhau, song từng chiêu thức đều đánh xuống một cách chuẩn xác.

Hai người họ có thói quen tấn công giống hệt nhau, và cách thức phòng ngự lẫn trả đòn cũng giống nhau như đúc.

Song Linh Vương đang ở đỉnh cao, và đang dùng kiếm.

Còn thanh kiếm của Ô Hành Tuyết đã bị phong ấn cùng với phố núi Lạc Hoa mà chàng từng mến yêu nhất ba trăm năm về trước, vào thời điểm chàng trở thành tà ma. Từ đó, chàng không bao giờ dùng kiếm nữa.

Vì vậy mà chẳng qua mấy lâu, y phục Ô Hành Tuyết đã đẫm máu.

Chàng đón nhận những chiêu tấn công mà mình quen thuộc nhất, chống cự kiếm ý mà mình quen thuộc nhất. Một lần nữa đập người vào vách núi, chàng nghe thấy âm thanh kia cất giọng hỏi mình một câu.

“Ngươi tách linh thần mộc, tự huỷ hoại linh phách, từ tiên thành ma.”

“Ngươi sa ngã từ chín tầng mây, đoạ xuống hố sâu Ma Quật. Từ Linh Vương trở thành một ma đầu mỗi khi nhắc đến người ta đều tái mặt trốn tránh chẳng khác nào rắn rết.”

“Bị tận diệt, bị quên lãng, bị nhục mạ, bị người sợ hãi.”

“Và giờ đây còn bị thay thế.”

Giọng nói đó vang vọng khắp tám hướng, chồng muôn tầng lớp, phủ rợp đất trời, hoà cùng cuồng phong hung hãn và tuyết dữ ngút ngàn. Âm thanh đó mơ hồ nhưng dường như lại mang theo sức ép nặng khủng khiếp nhất, đủ mạnh để san bằng sông núi.

“Tiên nguyên tiêu tán, mất đi thân thể thân tiên, thậm chí một thứ đơn giản như ấn thờ cũng bị đứt đoạn, không phát huy được tác dụng.”

“Ngươi có hối hận không?”

Một cơn gió thổi qua.

Ô Hành Tuyết ngước mắt lên, chàng cất giọng nhẹ nhàng mà kiên định, “Không.”

Tiếp đó, chàng nhấc tay mình giữa gió vần vũ bão và tu bổ thêm một tầng ấn thờ trên cổ mình.

Thoáng chốc, gió tuyết chợt thinh lặng như thể bị đông lại giữa không trung.

Dòng máu nóng hổi chảy xuống từ vết ấn thờ tu bổ lần hai.

Lúc xưa, có một nguyên lý tất cả mọi người trên Tiên Đô đều biết — trên tượng thần dưới nhân gian chỉ được đặt một tầng ấn thờ, không thể bổ sung thêm. Lý do là tượng thần được làm từ đồng đất nên không chịu được quá nhiều.

Hễ thêm một ấn thôi là tượng thần sẽ nổ thành cát.

Rồi sau đó có người nói rằng, thay vì vậy nếu đặt trên thể xác con rối thì sức chịu đựng bền bỉ hơn chút. Cố lắm cũng có thể đặt hai tầng ấn thờ. Song đây đã là giới hạn chót cùng rồi, cho dù có là bản thể gốc của thần tiên đi nữa cũng tuyệt đối không được vượt quá ba ấn.

Vậy mà hiện tại, bên trong cấm chế tuyết lấp kín trời xanh, ngón tay trắng bệch nhợt nhạt của Ô Hành Tuyết đang không ngừng bổ sung dấu ấn, dùng máu tươi để nuôi dưỡng.

Mỗi lần chàng đặt thêm một ấn, thân thể Linh Vương sẽ cứng đờ đi một chút.

Mỗi lần đặt thêm một ấn, Linh Vương càng giống với chàng hơn.

Mỗi lần đặt thêm một ấn… mối liên kết kết giữa chàng và một phiên bản khác càng chặt chẽ hơn.

Chàng thẳng tay chồng năm tầng ấn thờ liên tiếp.

Sau cùng, các ngón tay chàng run rẩy, trên thân thể ngập tràn văn tự bằng máu. Vậy mà chàng chỉ hạ mắt xuống, nhếch khoé miệng mấp máy đôi môi trong lặng lẽ, nói với cơn gió thiên địa vô hình kia, “Nhìn đi, ngươi sẽ ngăn cản từng này ấn thờ thế nào.”

Giọng chàng vừa thốt.

Gió tuyết rít gào dài dẵng, chàng và một phiên bản khác đã đồng tri đồng cảm.

Bọn họ thẳng mình đứng giữa gió tuyết, cùng một hình thể, cùng một phong thái, cùng một dáng dấp máu đẫm thân mình mà chẳng vương hạt bụi.

Khoảnh khắc ấy, Ô Hành Tuyết cảm giác như mình đang tồn tại trong hai thân thể.

Chàng là ma đầu, và cũng là Linh Vương.

“Rốt cuộc ngươi từ đâu ra…”

Chàng khẽ hỏi thầm một câu trong lòng, rồi đẩy mạnh linh khí và khí kình dào dạt nhất.

Ngay sau đó, chàng nhìn rõ lai lịch “Linh Vương” nhờ trạng thái đồng tri đồng cảm.

Thực ra trước đây Ô Hành Tuyết đã từng nghi ngờ.

Rốt cuộc thân thể này được hoá hình từ loại linh vật nào để có thể đón nhận linh lực và tiên khí chàng trong thời kỳ đỉnh cao nhất mà không chỉ không nổ tan tành cả người thành mảnh vụn, lại còn có thể qua lại các “dòng rối loạn” giống hệt như Linh Vương.

Không chỉ vậy, những khung cảnh trong quá khứ mà Linh Vương này từng chứng kiến cũng giống hệt như chàng, không chệch một chút nào.

Linh vật nào trên thế gian có thể thực hiện điều đó dễ dàng như vậy? Và thân thể nào có khả năng hoá thành Linh Vương như vậy?

Đến tận thời khắc này, Ô Hành Tuyết mới vỡ lẽ…

Chàng cảm nhận được thứ thân quen quá đỗi với mình trong thân thể Linh Vương — đó là kiếm ý.

Không phải bắt chước mà thành, không phải nhào nặn từ thinh không, mà đấy là kiếm ý duy độc thuộc về Linh Vương.

Trên thế gian này từ xưa đến nay chỉ có một linh vật duy nhất sở hữu điều này…

Kiếm của Ô Hành Tuyết.

❄︎

Lời tác giả:

Mọi người chờ lâu, khúc sau còn một chương nữa nha ~

Cá:

Ngẫm lại mới thấy, rốt cuộc ai chính là người đã biến Linh Vương hào hoa phong nhã, rạng rỡ chiêu quang ra nông nỗi này nếu không phải là chị tác giả đáng mến của chúng ta??? Chị ta còn cả gan tổng kết lại tất cả những nỗi khốn quẫn Linh Vương phải chịu đựng nữa chứ, thật là một bà mẹ ghẻ đáng sợ…
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 119: Quay về


Thảo nào mà ký ức của “Linh Vương” cũng giống hệt với chàng.

Trong đấy có Toạ Xuân Phong một thuở với khung cửa sổ đọng cánh hoa, có mười hai nhóc đồng tử lòng vòng quanh Nam Song Hạ cùng sát khí vang vọng, có từng cung đường chàng từng đặt chân đến, từng con phố nhộn nhịp từng băng ngang, có từng con người, từng hồi sinh tử chàng từng chứng kiến.

Thảo nào mỗi một chiêu thức vị “Linh Vương” này tung ra đều không mang một mảy may ô uế, thậm chí đến kiếm ý cũng y nguyên như tạc.

Làm sao mà không giống cho được…

Đấy chính là kiếm của chàng cơ mà.

Sau khi tách linh phách thần mộc, chàng đã phong ấn thanh linh kiếm này tại Lạc Hoa Đài. Suốt ba trăm năm sau đó, chàng chưa từng dùng đến. Chẳng thể nào ngờ được, Thiên đạo Linh đài dám dùng thanh kiếm này làm linh vật để biến ra một thân thể, rồi mượn linh lực được hấp thụ qua ấn thờ nhằm tạo ra Linh Vương của dòng rối loạn.

***

Bất thình lình, Linh Vương dòng rối loạn trợn to mắt.

Phần linh lực thuộc về Ô Hành Tuyết trong thân thể y rung lên kịch liệt, khiến bóng người y trở nên mờ ảo trong cơn chấn động. Nhìn từ đằng xa, trông y giống như một bóng kiếm dài thẳng tắp đang ghim vào mặt đất.

Bóng kiếm ấy run lên khe khẽ, dạng như cảm ứng của một thanh kiếm có linh.

Kiếm ý vô biên phóng ra từ thân thể y!

Mỗi một luồng kiếm ý đều nhuốm sương giá lạnh như băng, mà bên trong sự sắc bén đó lại để lộ lòng bi mẫn thường thấy ở Ô Hành Tuyết.

Những luồng kiếm ý kia đâm từ trong ra ngoài, cắt lớp phong ấn mà Thiên đạo Linh đài khoá trên người y thành từng mảnh. Dường như tầng mây dày đặc che phủ ánh nắng chói chang đang bị cuốn đi đôi chút.

Ô Hành Tuyết hiểu rõ hơn hết cảm giác nới lỏng đó. Chàng có thể cảm nhận được Linh Vương đang chầm chậm nhường một “con đường” cho chàng đoạt quyền khống chế thân thể y.

Dường như sau tận ba trăm năm, chàng mới lại cầm thanh kiếm của mình trong tay.

Chợt, vào lúc “Linh Vương” hoàn toàn buông lỏng để chàng cầm lên thanh kiếm, hết thảy tiếng thét gào khóc lóc dồn dập đổ ào về phía Ô Hành Tuyết.

Cái lạnh thấu và cơn đau buốt lùa tới khắp người chàng chỉ trong nháy mắt mà chẳng kịp phòng bị.

Cơn đau ấy đến quá đột ngột, Ô Hành Tuyết không cách nào chịu đựng nổi. Chàng còng lưng xuống, đồng thời đỡ một tay vào mép nhọn bên vách đá. Mép đá sắc như lưỡi đao, mà Ô Hành Tuyết siết tay quá chặt, ngón tay chàng bị đá cứa vào, chỉ trong nháy mắt đã thẫm đỏ. Vậy mà chàng chẳng cảm thấy chút gì. Bởi cơn đau buốt và cái lạnh thấu đã bao trùm làm lu mờ hết mọi thứ.

Ban đầu, Ô Hành Tuyết còn chưa kịp nhận ra cơn đau và cái lạnh này đến từ đâu. Mãi đến khi thứ cảm giác đó trở đau như có hàng vạn con kiến đang xâu xé tâm can. Bấy giờ, chàng mới vỡ lẽ.

Đây chính là cơn đau tương tự kiếp kỳ. Cơn đau buốt thấu không đến vô cớ mà bắt nguồn từ những người đã bị sát hại.

Tất cả các đệ tử tiên môn trên thế gian đều từng được dạy qua một bài học rằng: Người ta ghim hận sâu nặng nhất vào thời điểm họ qua đời. Cho dù có là người tốt hay người xấu, là người vô tội bị hãm hại hay người có tội nhận trừng phạt đi nữa, chỉ cần trong lòng có nhen nhóm một chút không cam tâm thôi là họ sẽ căm hận người đã xuống tay giết mình.

Cảm giác không cam tâm sâu sắc ấy sẽ quấn rịt trên cánh tay đã sát hại họ, quấn rịt quanh thân kiếm đã gi3t chết họ, đeo bám trên linh phách kẻ sát nhân đặng tra khảo ngày đêm.

Chỉ cần có cơ hội, họ sẽ trỗi dậy như có hàng vạn con kiến xâu xé tâm can.

Ấy chính là nỗi oán hận đến thần tiên cũng kinh sợ.

Đó là nơi khởi đầu cho kiếp kỳ của tà ma…

Và là ngọn nguồn nỗi thống khổ của Linh Vương.

Khi Ô Hành Tuyết siết lấy thanh kiếm mình lần nữa, cơn oán hận khiến thần tiên cũng kinh sợ đó đổ ập xuống người chàng như sương đen nghiêng ngả.

Bên trong màn sương đen bịt bùng không tia sáng ấy, chàng trông thấy vô số gương mặt nhợt nhạt. Gương mặt của những người chàng giết theo mệnh lệnh từ thiên chiếu.

Chàng có một thói quen xấu tệ, là thoạt trông phóng khoáng tuỳ nghi, nhưng trong những việc như này lại nhớ kỹ không thôi. Chàng nhớ như in từng dòng rối loạn, và mỗi một người mình đã tự tay gi3t chết. Chàng nhớ như in những người ấy đã từng đi trên con phố ngõ hẻm, từng trò chuyện vui đùa với người xung quanh. Thậm chí, một số người trong họ còn nhìn thấy chàng thời điểm mới đầu, dù không biết chàng đang làm gì nhưng vẫn nở nụ cười với chàng.

Mà chót cùng, họ đều than khóc, hoặc bàng hoàng chết dưới tay chàng.

Cũng chính vì luôn nhớ như in từng người, lắng nghe mỗi một lời mắng nhiếc và oán hận, lặng lẽ gánh nhận mỗi một lần đau buốt và giá lạnh khi bị vong hồn cắn xé linh phách, nên chàng mới không sao chấp nhận được việc Thiên đạo Linh đài hết lần này đến lần khác mở đường cho người dựng lên dòng rối loạn, hết lần này đến lần khác định đoạt sinh tử của phàm nhân trong sự cân bằng cưỡng ép của nó.

Vì vậy chàng không hối hận.

Chưa từng hối hận.

Ngã từ trời cao chín tầng mây thì có sao? Từ Linh Vương trở thành ma đầu thì có sao?

Nếu phải lâm vào tình thế giống với ba trăm năm về trước, chàng vẫn sẽ chọn phân tách linh phách, nạo sạch thần lực trên cơ thể, tự mình xoá bỏ tiên nguyên, để thần mộc không bao giờ xuất hiện nơi hậu thế nữa.

Chàng vẫn sẽ đứng thẳng lưng, gánh trên mình oán hận ngùn ngụt và dõi mắt nhìn về Thiên đạo Linh đài phía trên mây xanh để hỏi, “Ngươi thấy không, đây chính là sinh tử của phàm nhân.”

Sinh tử của vạn linh nặng nề như ngàn quân, khi bị quấn rịt quanh người quả thực khiến người ta khó lòng nhấc nổi một bước. Ngươi lại chưa từng mang trên vai gánh nặng, chưa từng trải nghiệm lấy một phân, ngươi dựa vào đâu để định đoạt?!

***

Những nỗi oán hận che kín đất trời và từng người từng người đã bị sát hại bất ngờ đổ ập vào ngay lúc đó như một lời cảnh cáo.

Cảnh cáo Ô Hành Tuyết, và cảnh cáo Linh Vương.

Thân thể của Linh Vương được tạo thành từ thanh linh kiếm này, y cũng từng gánh chịu những nỗi oán hận mà Ô Hành Tuyết phải gánh chịu. Thế nhưng trước đó y chưa từng có thân thể, nên đây chính là lần đầu tiên.

Mà y cũng không hay biết, thì ra một khi vong hồn tụ hội lại một chỗ có thể đông và dày đặc đến mức linh lực tiên kiếm gì đó cũng không sao chém xuyên được. Hoá ra, nỗi oán hận sinh tử lại có thể sâu nặng đến nhường này, nặng nề đến độ y gần như bị ép còng cả lưng.

Hoá ra, cảm giác linh phách bị cắn xé khó chịu đến như vậy, cái lạnh từ vong hồn buốt rát đến mức người ta run rẩy không kiểm soát nổi.

Nhưng tất cả những thứ đó đều không sánh nổi cơn nhói đau khi y nhìn thấy những gương mặt tái nhợt ấy.

Thanh trường kiếm trong tay y run lên phát ra âm thanh rầm rì, tiếp đó, vô số vết nứt tét ra từ chuôi kiếm rồi tràn dần xuống dưới cho đến tận mũi kiếm.

Dường như có một thứ âm thanh lởn vởn quanh y, nó cất giọng tràn đầy thống khổ trong âm thanh rầm rì, nói với y, “Đó là đôi tay sát nhân, trên tay hắn bám đầy oán hận, hắn không có quyền cầm kiếm…”

“Vốn dĩ hắn không nên xuất hiện nơi này, hắn nên về đi.”

“Đưa hắn về đi.”



Linh Vương sớm đã buông lỏng toàn bộ, thế mà trong cơn thống khổ cùng cực này lại bắt đầu khép kín vào, để cho mây mù chầm chậm bao trùm trở lại. Ấn thờ kết nối giữa y và Ô Hành Tuyết lại sắp hỏng một lần nữa.

Trong tiềm thức, y gắng gượng chống cự nỗi thống khổ và đang có chiều hướng cắt đứt ấn thờ.

Và khi hiệu lực của ấn thờ giảm dần đi, cái cảm giác đau đớn như có vạn kiến xâu xé tâm can này cũng đỡ hơn một chút. Những cơn oán hận ấy dần trở nên mờ mịt hơn với y.

Giống như từ đầu đến đuôi chúng chỉ quấn quanh người một mình Ô Hành Tuyết.

Còn y chỉ bị liên luỵ theo mà thôi.

Chỉ cần y cắt đứt được mối liên kết thì không còn phải gánh chịu bất kỳ đau khổ nào nữa.



Tất cả mọi chuyển biến xảy ra ngay vào khoảnh khắc đó…

Toàn bộ đất trời đột ngột chấn động kịch liệt, tương tự như hồi ở dưới lòng đáy thung lũng Đại Bi.

Ô Hành Tuyết bị bao vây giữa hàng ngàn vong hồn, chàng thậm chí còn không cảm nhận được cơn chấn động đó. Để rồi sau khi chàng chớp mắt rũ đi vết máu trên mi và ngước mắt lên lại thì chỉ còn cảm giác trời đất quay cuồng…

Mất một nhịp sau, chàng mới nhận ra ý nghĩa của cơn chấn động và đứt gãy này…

Chàng và Tiêu Phục Huyên, và cả Phương Trữ, lại một lần nữa bị ép đẩy ra khỏi dòng rối loạn.

Trong cơn hỗn loạn, chàng mơ hồ cảm giác được bức tường cao dựng từ cấm chế đã biến mất, giúp chàng lần nữa nghe được giọng Tiêu Phục Huyên, và cả tiếng hô “thành chủ” từ Phương Trữ.

Ngay sau đó, chàng được người ôm vào lòng.

Chàng muốn nói, thực tình đã suýt thành công rồi, rủi thay…

Lần này họ không chuẩn bị hậu chiêu.

Tiêu Phục Huyên đã quay trở về bản thể mình, đến Phương Trữ cũng bị đẩy ra ngoài. Như vậy không còn gì trong dòng rối loạn có thể kéo họ quay lại được nữa.

Và như vậy, cả họ lẫn toàn bộ hiện thế đều trở thành phe bị động, chỉ còn cách ngồi chờ vị Linh Vương kia mang kiếm bước sang.

Sông núi dòng rối loạn chìm vào trong bóng đêm, chỉ để lại tiếng thét gào vang vọng từ gió tuyết đang gầm rít bên tai.

Thế nhưng, ngay khoảnh khắc tất cả mọi thứ biến mất, gió tuyết thét gào bất chợt ngưng bặt.

Khoảnh khắc đó bị kéo dài như vô tận.

Sau này, có bao nhiêu năm trôi qua đi nữa, bọn họ đều mãi nhớ như in thời điểm ấy.

Khi đó, gió tuyết trong màn đêm lặng yên về tĩnh mịch, dường như hết thảy thế giới ngưng lại, không tiếp tục tiến về phía trước nữa.

Ô Hành Tuyết hít thở nhẹ hẫng. Để rồi nghe thấy tiếng gió đã rời xa đột ngột vang dội kịch liệt, tuyết dữ mịt trời lại ùa tới trước mặt một lần nữa. Sông núi dòng rối loạn chìm vào bóng đêm bất chợt hiện rõ trở lại, chỉ trong tích tắc đã đến gần trong gang tấc.

Ngay đến bức tường cấm chế sáng loà cao vạn trượng cũng hiện lên sừng sững.

Ấn thờ vốn bị cắt đứt thình lình chuyển động trở lại, Ô Hành Tuyết giơ tay sờ bên cổ rồi ngước mắt lên nhìn.

Chàng trông thấy Linh Vương chống trường kiếm trên mặt đất, quấn rịt xung quanh là nỗi oán hận của vong hồn giống như chàng. Y đứng thẳng lưng giữa cảnh trời tràn ngập sương đen và cuồng phong lồ ng lộng.

Đó là khoảnh khắc họ nhận ra, đã có người kéo ngược họ trở về dòng rối loạn ngay thời điểm ngặt nghèo nhất.

Người kéo họ trở về chính là Linh Vương.
 
Back
Top Bottom