Cập nhật mới

Tiên Hiệp Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên

Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 80: Ràng buộc


Chú văn xuất hiện đã thoáng xua tan màn sương mù dày đặc che mờ quá khứ.

Khi chú văn lưu chuyển trên hai tay, Ô Hành Tuyết bất giác nhớ đến cảm giác vào thời điểm tách linh. Đúng như lời Tiêu Phục Huyên nói, nó mang cơn đau quằn quại đến chết, vượt xa sức chịu đựng của người thường.

Song với Ô Hành Tuyết, cái loại đau đớn ấy càng đặc thù hơn — vì chàng được hoá sinh từ thần mộc, thân thể và linh phách chàng là <i>hư</i>, linh hồn thần mộc mới là <i>thực</i>. Nên vào thời điểm tách linh, thân đại thụ rợp trời với những cánh hoa rơi quanh năm vẫn yên ả như muôn thuở, còn bao đau đớn đều trút lên thân thể chàng.

Cơn đau này như hình với bóng, chạm không đến mà nhìn cũng không rõ, dù có muốn xoa dịu cũng chẳng biết nên bắt đầu từ đâu, vậy nhưng nó mang đến sự đau đớn chân thực khôn cùng.

Cảm giác đó thuộc về loại cảm giác kỳ lạ độc nhất vô nhị trên thế gian, cơ thể chàng không mảy may thương tổn, nếu có người nào thăm linh cũng chỉ thấy cả linh phách lẫn thể xác chàng đều vẹn nguyên không vết nứt. Mà trên thực tế, linh phách chàng đã tách đôi theo thần mộc, không còn là linh phách hoàn chỉnh nữa.

Và chính hai chú văn giấu trong cơ thể chàng là đại diện của hai nửa thần mộc, một bên tay là <i>tàn</i>, một bên tay là <i>vinh</i>.

Cũng vì vậy mà trước đây, khi đệ tử nhà họ Hoa dán phù thăm hồn nhằm kiểm tra xem chàng có phải là tà ma hay không, chàng đã đổi qua tay còn lại theo bản năng. Bởi kiểm tra hai tay chàng sẽ cho ra hai kết quả khác nhau, một bên xuất hiện tử khí kiệt quệ mà thường nhân không thể có, bên còn lại tràn đầy sinh khí nên không để lộ sự bất thường nào.

Dẫu chàng đã quên hết thảy mọi việc trước đây, không còn nhớ những điều này nữa thì chàng vẫn không đưa nhầm tay.

Mỗi lần chàng vươn tay ra, như những khi níu lấy Tiêu Phục Huyên, như những khi để khí kình Tiêu Phục Huyên lùa vào cơ thể qua đầu ngón tay, chàng đều duỗi cánh tay tràn đầy sinh khí.

Mà những lúc khí kình chảy khắp cơ thể chàng, dù có chạm đến tất cả kinh mạch hay huyệt đạo trọng yếu đi nữa cũng không cách nào phát hiện ra manh mối. Bởi trong thân chàng mang một bộ linh phách hư ảo, có thăm dò bằng nào cũng chỉ dẫn đến kết quả vạn sự bình yên.



***

Tiêu Phục Huyên nhìn chú văn tách linh trên hai cánh tay chàng, nét mặt tệ hơn bao giờ hết.

“Thảo nào…”

Thảo nào có làm gì đi chăng nữa thì “kiếp kỳ” của Ô Hành Tuyết không cách nào có thể được cải thiện. Thảo nào không xua tan được hơi lạnh như ung nhọt trong xương kia, chỉ vừa ép xuống là chúng đã tức thì nhen nhóm trở lại, mà tìm mãi không ra nguyên cớ đến từ đâu.

Hoá ra đều bắt nguồn từ việc này.

Vì linh phách thật sự của Ô Hành Tuyết đã bị xé thành hai nửa, chịu tổn thương nặng nề. Bộ linh phách trong thân thể này chỉ là bộ hư ảnh nhằm che mắt người khác mà thôi.

Nếu căn nguyên không chuyển biến thì hư ảnh có tĩnh dưỡng đến bực nào cũng hoài công vô ích.

“Ngươi —” Tiêu Phục Huyên ngước mắt nhìn Ô Hành Tuyết, đôi môi mỏng mấp máy tính nói gì, song, một tiếng gầm vang dội thình lình vọng đến từ sau lưng.

Tiêu Phục Huyên ngoái đầu, Ô Hành Tuyết cũng bất ngờ nhấc mắt lên.

Thì ra, sau nhiều lần cố gắng bất thành, đại trận “triệu hoán” của Phong Tiết Lễ bắt đầu xuất hiện dấu hiệu bất ổn, linh khí dâng trào mãnh liệt từ bốn phương tám hướng Chiếu Dạ thành ào ạt đổ về đại trận trong sân vườn Tước Bất Lạc như nước đột ngột sôi.

Những nét chữ ánh kim thoắt tỏ thoắt mờ trên thân đại thụ rợp trời chẳng mấy chốc đã phai vào vân gỗ trên thân cây, rút xuống phần rễ nhô ra bên ngoài. Cả khoảnh đất nứt toạc bên dưới lòng bàn tay Hoa Tín.

Bên dưới mỗi vết nứt mang theo gió lộng rít gào hệt như một con rồng khổng lồ đang cựa mình phá đất xông lên từ thâm sâu.

Dông gió bọc lấy bàn tay Phong Tiết Lễ trong chớp mắt, kéo hắn xuống bằng sức lực nặng tựa non cao —

Gặp phải tình huống này, bất kỳ một đệ tử tiên môn bình thường hoặc tà ma bình thường nào đều sẽ bị lực kéo khổng lồ kia lôi thẳng vào lòng đất và nghiền nát thịt xương, hoặc phải hy sinh cánh tay trong cố gắng kháng cự lại nguồn lực hòng trốn thoát.

Nhưng Phong Tiết Lễ lại khác.

Hắn xoay cổ tay đang cầm đèn, ánh đèn dầu rạch một tia sáng chói loà phía đầu gậy. Ánh sáng ấy quét đến đâu phóng ra đến đấy lưỡi đao bén nhọn như chém sắt, đến cả cơn dông kia cũng bị bổ sống.

Ngay khi cơn dông bọc cánh tay vừa đứt lìa, hắn lập tức thu bàn tay lại rồi biến mất giữa thinh không như một làn khói. Ngay tiếp sau, bóng dáng hắn hiện ra tại một góc sân khác.

Một khi không thành hình được, đại sẽ trận đổ sụp và tan biến. Những hiện tượng vừa nãy chính là phản phệ xảy ra khi đại trận tan biến.

Phong Tiết Lễ lướt đi như mây khói, vừa kịp lách mình khỏi hiện trường.

Linh lực bạo phát từ đại trận “triệu hoán” bên dưới tàng cây không còn mục tiêu để tấn công, liền đánh rền ồn ã rồi đổ tràn khắp bốn bề như những cơn thuỷ triều vô hình.

Ngay lúc đó, tiếng nổ gầm trời vang dội.

Ô Hành Tuyết ngước mắt lên, cảm nhận một luồng lực dâng trào úp vào trước mặt. Chàng nhấc tay lên theo bản năng, định xuất chiêu chống cự thì thấy thân thể mình rơi vào cái ôm trọn trong ngực một người khác.

Tiêu Phục Huyên đưa lưng về phía gốc đại thụ cao ngất và đại trận đang sụp đổ, một tay ôm lấy chàng, tay kia xoay thanh trường kiếm chém ra phía sau, dựng nên một tấm chắn nằm xiên —-

<i>Keng!</i>

Tiếng kim loại va chạm đất đá đánh vang giòn giã, ánh lửa toé ra từ mũi kiếm.

Linh lực dâng trào hoàn toàn bị y cản lại bên ngoài tấm chắn tạo nên từ kiếm khí.

Tia lửa b ắn ra chói loà mà hừng hực, Ô Hành Tuyết híp đôi mắt dài, cảm nhận được cái ôm siết của Tiêu Phục Huyên và nghe chất giọng nặng nề của y nghẹn ngào bên tai.

Y nói, “Ô Hành Tuyết, sao ngươi có thể làm như vậy?”

Cơn đau từ tách linh nào có phải thứ người ta có thể nhẫn chịu, có là tiên cũng không tránh khỏi cảm giác như bị xé sống làm đôi, tim gan đứt lìa.

Sao ngươi có thể làm như vậy?

“Ta…” Ô Hành Tuyết hấp háy miệng song chẳng nói nên lời.

Vì chàng có thể nói gì bây giờ, bản thân chàng cũng không biết sao mình lại làm như thế, vì cớ gì mới bị đẩy đến bước đường phải “tách linh” thần mộc vậy chứ.

Nhưng có một tích tắc dường như do tác động của đại trận “triệu hoán” ban nãy, chàng mơ hồ cảm thấy có một số sự kiện chợt nhen lên trong trí óc, chẳng là nó chóng vánh quá nên chàng chưa kịp nắm bắt cụ thể.

Dưới hiệu lực của chuông mộng, những ký ức ấy đã bọc trọn sau lớp màn đen rộng lớn, giờ đây chúng bị khuấy động đôi phần do hệ luỵ của ảnh hưởng mà đại trận “triệu hoán” của Phong Tiết Lễ gây ra cho gốc đại thụ ở Tước Bất Lạc. Từ đó, tấm màn đen kia chừng như sắp sửa được vén lên đôi chút.

Ô Hành Tuyết chợt bần thần.

Giữa lúc thất thần, chàng thình lình ngửi thấy mùi máu thật nồng.

<i>Chuyện gì thế?</i> Ô Hành Tuyết nheo chặt mày, hỏi Tiêu Phục Huyên, “Máu của ai, ngươi sao?”

“Không phải,” Tiêu Phục Huyên trả lời.

Họ quay ngoắt sang hướng toả ra mùi máu, thấy được đấy là máu của Phong Tiết Lễ.

***

Phong Tiết Lễ lùi đến cạnh vách sân, đôi mắt vẫn hướng thẳng về tán đại thụ rậm rạp xanh um.

Hắn nhanh chóng rạch hai đường trên lòng bàn tay, rồi nâng lòng bàn tay đầy máu lên cao, siết chặt lại mà chẳng hề chớp mắt. Máu men theo khớp ngón tay, nhỏ lách tách trên mặt đất và đọng thành vũng.

Trên gương mặt hắn không thể hiện sự bất mãn và cũng không hề tỏ vẻ lúng túng chỉ vì một lần thất bại khiến đại trận đã không thể thành hình. Thậm chí, nét mặt hắn vẫn tĩnh lặng như trước, chỉ hơi tái nhờ vì đã mất quá nhiều máu để tụ thành vũng.

Song, hành động hắn hiện rõ sự ngoan ngạnh âm ỉ.

Tiếu Hồ bị nguồn linh lực dâng trào ban nãy oanh tạc nặng nề, đập cả người vào bức tường trong sân. Cả bụng lẫn lưng đều gánh chịu sức ép khiến gã nôn thốc một búng máu.

Câu “Tiên thủ Minh Vô” ban nãy đã khiến gã kinh hồn táng đảm, bồn chồn bất an, quên cả việc mình phải xuất chiêu. Giờ nhận phải cú công kích mãnh liệt này, gã mới choàng mình tỉnh táo lại.

Rồi gã nhớ về cái suy nghĩ đã canh cánh trong đầu không biết bao lần —

Dường như vị thiếu gia mà gã cận kề từ bé đến lớn đã dần biến mất, hoặc đang lẩn trốn trong một góc nào đó của thân thể này mà không thể lên tiếng. Còn Phong Tiết Lễ với dáng vẻ trầm tĩnh đi kèm áp lực nặng nề thấp thoáng này thật ra là một kẻ khác.

Gã luôn lảng tránh không nghĩ đến vấn đề này. Thứ nhất, gã không dám thừa nhận chuyện đó. Lại nói, gã cảm thấy cả nhà họ Phong to lớn như vậy, dù gì cũng là một tiên môn thanh danh lẫy lừng thiên hạ, mà Phong Tiết Lễ là con trai út nhà họ Phong, trên có một anh một chị. Dù mối quan hệ gia đình có thân thiết hay không thì ắt cũng không ai dám cả gan càn rỡ, chiếm đoạt thân xác con út nhà nhà họ Phong ngay dưới mắt họ.

Gã không đoán được ai có thể gây ra cơ sự này, thế mà hôm nay, chỉ một cụm “Tiên thủ Minh Vô” dường như đã sáng tỏ mọi việc.

Phải rồi, nếu người gây chuyện không thuộc giới phàm nhân mà là một sự tồn tại còn cao hơn các gia tộc tiên môn thì sao? Nếu Tiên thủ Minh Vô muốn làm như vậy thì việc qua mắt nhà họ Phong chẳng quá dễ dàng ư.

Có điều thiên hạ này có biết bao thân thể người sống, đường đường là Tiên thủ mà tại sao lại cố tình chọn đứa con trai út hiếm khi xuất hiện bên ngoài của nhà họ Phong khi cần mượn thân thể người sống để chiếm hồn cơ chứ?

Nhà họ Phong có chỗ nào đặc biệt, hay người con út này có chỗ nào đặc biệt đến mức Minh Vô Hoa Tín cũng phải chú trọng hơn hay sao?

Huống hồ, đó chính là Minh Vô Hoa Tín…

Là vị Tiên thủ Linh đài, một thuở từng là tiên nhân được sùng bái nhất trong các tiên môn, được thờ phụng nhiều nhất ở khắp mọi nơi dưới nhân gian. Chân dung hắn được treo suốt các địa phương, tượng thần hắn trấn giữ bao thành trấn.

Từng có thời, không chỉ riêng bá tánh mà ngay đến con cháu các tiên môn cũng thường ngỏ lòng cầu nguyện hắn. Và mọi bức chân dung lẫn tượng thần đều khắc hoạ hắn là một người buông ánh mắt ôn hoà nhìn hết thảy mọi người, tay cầm tiên bảo “đèn chiếu thế” đi cùng hươu trắng núi tiên.

Tưởng chừng thế sự chẳng can hệ gì đến hắn, dẫu hết thảy thế sự đều vương trong mắt hắn.

Người thế kia sao giờ đây trở thành như vậy?

Tiếu Hồ nhìn bóng dáng Phong Tiết Lễ, nhìn hình xăm chạy từ bên cổ lên cằm càng thêm nổi bật trên làn da trắng bợt, chẳng rõ từ đâu khiến lòng gã dâng trào rung động phức tạp khó thể diễn tả.

Gã không biết liệu đó là sợ hãi, là không thể tin nổi, hay còn là gì khác nữa…

Nhưng dù là gì, rung động ấy đã hoàn toàn bay biến khi gã nhìn cánh tay đẫm máu của Phong Tiết Lễ.

Là “Tiên thủ Minh Vô” hay người thiếu gia gã cận kề đến lớn cũng được, giờ đây Tiếu Hồ không lo xa được đến nhường ấy. Gã gần như phóng vọt đến bên cạnh Phong Tiết Lễ theo bản năng, mở miệng hô to, “Thiếu gia!”

Gã ôm một tay trước ngực, tay kia siết chặt thanh loan đao chắn trước người Phong Tiết Lễ, đồng thời nói, “Thiếu gia ơi, cậu lại định làm gì nữa thế? Sao cậu phải lấy máu nhiều như vậy?!”

“Ngươi lui ra,” Phong Tiết Lễ không trả lời mà chỉ thờ ơ nói một tiếng.

“Thiếu gia!”

“Lui ra.”

Khi giọng nói gằn nặng vang lên lần thứ hai, một sức lực vô hình cũng đánh bật gã ra ngoài, phải lùi về sau mấy trượng.

Ngay khi gã bị đánh bật ra ngoài, Phong Tiết Lễ bước một chân vào vũng máu rỉ ra từ cơ thể mình.

Tức khắc, cành hoa sinh sôi ngay dưới chân hắn.

Những cành dây leo dài dẵng trồi ra từ giữa vũng máu, nhìn giống như đúc những cành dây leo quấn quanh Vân Hãi bên dưới đáy thung lũng Đại Bi, và cũng giống như đúc hình xăm bên cổ hắn.

Những cành dây leo kia phóng về phía trước như vô số thân rắn mỏng tang, chỉ nháy mắt mà chúng đã sắp trườn lên phía trên thân đại thụ rợp trời.

Linh lực bộc phát hiển hiện loại tà khí không phải tiên cũng chẳng phải quỷ, nó lan theo đám dây leo dồn ra phía trước, làm rung chuyển toàn bộ khoảnh sân trong Tước Bất Lạc.

Những cành dây leo lấp kín vào giữa các vết nứt trên mặt đất, thậm chí còn kéo những rìa rãnh khít lại với nhau. Và rồi nguồn linh lực đó đã kết nối đại trận “triệu hoán” đã sụp đổ lại lần nữa.

Chứng kiến cảnh tượng ấy, Ô Hành Tuyết lập tức hiểu ra —

Phong Tiết Lễ quả thật rất ngoan cường, hắn vẫn còn muốn thử lại một lần nữa.

***

Phong Tiết Lễ không nhìn thấy vết chú văn đã hiện lên và bị che giấu trên hai tay Ô Hành Tuyết, và cũng chưa bao giờ đặt chân đến Thương Lang Bắc Vực vì đó là địa bàn nằm dưới sự quản lý của Tiêu Phục Huyên.

Bởi vậy, hắn cũng chưa từng nhìn thấy thân cây khô héo đâm xuyên ba mươi ba tầng hang trời, và càng không cách nào biết được mối liên hệ giữa cây héo đó và thân cây bên trong Tước Bất Lạc này.

Thành thử, hắn không hay biết thần mộc đã bị tách linh.

Trong mắt hắn, cây đại thụ trước mắt chính là thần mộc, bởi hắn đã tra xét rất lâu nên hẳn không sai được.

Mà chỉ cần đây là thần mộc, hắn sẽ có thể thành công.

Lập một trận không xong, vậy hắn sẽ lập một trận khác.

Hắn đã kiên trì đợi chờ từng ấy năm ròng, sao có thể dễ dàng lùi bước, bằng không công sức mấy trăm năm qua sẽ đổ về đâu?

Hắn không thể lùi bước, và cũng không còn gì để lùi bước.

Chẳng rõ vào lúc nào đó trước đây, từng có một người nói với hắn rằng, “Chấp nhất quyết không từ bỏ cũng không phải điều xấu gì, ít nhất với ta thì điều ấy không xấu. Chẳng qua có đôi khi nó thật xuẩn ngốc mà thôi. Nhưng dù vậy thì đã sao? Ta làm việc ta, hắn nói việc hắn, ta chẳng bận lòng đâu.”

Lúc nói lời này, người ấy tức giận vì một vấn đề gì đấy nên cằn nhằn mãi một lúc lâu, sau lại bất chợt đổi chủ đề và hỏi, “Trên đời có chuyện gì làm người phải chấp nhất quyết không từ bỏ không?”

“Hiện tại thì không, nhưng tương lai thế nào thì không rõ. Ta…” người nói lắc đầu cười, thở dài thành tiếng rồi tiếp, “Ta có thể may mắn gặp được không? Ta cũng tò mò lắm đấy.”

Năm xưa, hắn không thể trả lời, bởi những lời người ấy nói quả rất hợp lý nên hắn không cách nào phản bác, cũng không cách nào lường trước được chuyện sau này.

Nhưng đến hôm nay, hắn đã có thể trả lời, <i>“Bây giờ có rồi.”.</i>

Tiếc thay, sớm đã không còn ai chờ đợi câu trả lời ấy nữa.

Nhưng không sao.

Đấy chẳng phải chính là chấp nhất quyết không từ bỏ đấy ư, rằng dẫu không còn người chờ đợi, không người dõi bước, thì hắn vẫn muốn thử lại lần nữa.

Linh lực không đủ thì kéo thêm người tới. Trận không đủ sức thì bổ sung máu vào.

***

Vào thời điểm những cành hoa kia trùng tu lại đại trận, sấm sét đánh rền trên nền trời xám tro bao trùm Chiếu Dạ thành, tất cả tà ma lớn nhỏ đang vây quanh Tước Bất Lạc cảm thấy có một cơn gió quét qua trước mắt, mang theo hương hoa cỏ chẳng biết bắt nguồn từ đâu.

Bọn chúng hãy còn đang đắm chìm trong hương hoa thì đột ngột thấy linh lực dưới chân bùng nổ. Cứ như thể dưới lòng đất chôn một cái máy bơm hơi bằng trúc không cách nào ngăn cản được đang cuộn tròn giữ chặt hai chân chúng, khiến chúng không thể nhúc nhích mà chỉ biết trơ mắt nhìn tà ma khí quanh người mình đổ dồn về lòng bàn chân, như thể có ai đó đang bơm ra ngoài.

Đám tà ma hoảng hồn!

“Chuyện gì thế này?”

“Tao… tao không nhúc nhích được!”

“Tao bị gài hả?!”

“Chắc vậy rồi.”

“Là ai? Là đứa nào cả gan…”

“Còn cần phải hỏi nữa hả? Mày nói xem có thể là ai?”



Thật vậy, có lục tung cả Chiếu Dạ thành lên cũng không tìm ra đáp án thứ ba.

Dĩ nhiên, chúng đã nhanh chóng phát hiện ra, tà ma khí cuồn cuộn trong cơ thể bị hút về phía Tước Bất Lạc đằng kia để tuỳ người khác mượn dùng.

Mà người mượn dùng không ai khác hơn ngoài Phong Tiết Lễ.

Những trận cục Phong Tiết Lễ thiết lập xung quanh Chiếu Dạ thành mấy năm gần đây bắt đầu phát huy tác dụng, và hiện tại chúng đang hỗ trợ hắn. Cả thể xác lẫn linh phách hắn đều nhận thương tổn nên giờ cách rất xa đỉnh cao thực lực, song nhờ mượn dùng những tà ma khí này mà hắn có thể thực hiện thêm lần nữa.

Hắn không phải một người liều lĩnh, chắc chắn có chuẩn bị hậu chiêu.

Nếu đại trận “triệu hoán” không thể hình thành, hắn vẫn có thể mượn số tà ma khí này để chuyển dời trận cục, lập nên một cấm chế cho chính mình lách qua trên thân gốc đại thụ rợp trời này.

Như vậy, sau này khi tìm được thời cơ thích hợp, hắn vẫn có cách tiếp cận thân cây này.

***

Phong Tiết Lễ thực hiện đúng kế hoạch, lập tức phóng vụt đi với gió cuộn quanh thân, dừng lại trước đại thụ.

Song vừa chạm ủng xuống đất, đón chờ hắn là một luồng hơi lạnh như băng sương quét ngang trước mắt. Cái lạnh này khiến người ta không đường nào trốn thoát, chỉ cần thoáng tiếp xúc với hơi lạnh thôi là thân thể như bị đóng băng từ trong ra ngoài.

Hắn gần như cảm giác được sương đang có chiều hướng đọng trên mặt mình, không chỉ vậy, toàn bộ lục phủ ngũ tạng hắn cũng loáng cái đã bọc một lớp sương mỏng.

Khí kình buốt giá này chỉ có thể thuộc về một người duy nhất…

Không ai khác hơn ngoài Ô Hành Tuyết.

Phong Tiết Lễ thình lình ngưng động tác, liền thấy ngón tay mảnh khảnh của người kia vươn tới ngay trước mắt. Băng sương luồn ra từ giữa những ngón tay giấu sau tay áo.

Ngón tay vừa khuất dạng đã thấy Phong Tiết Lễ hoá thành bụi mù, hoàn toàn biến mất khỏi nơi ngón tay chạm đến.

“Lấy ít địch nhiều, Tiên thủ Minh Vô hà tất chi thế.” Ngay đến giọng điệu Ô Hành Tuyết cũng đượm giá băng, phảng phất vang vọng giữa bụi tuyết rào rạt rơi đổ từ thân đại thụ, nghe vào thanh thoát mà mông lung.

Khối bụi mù tức khắc tụ lại sau lưng Ô Hành Tuyết với tốc độ nhanh như cắt, thậm chí chưa kịp chớp mắt.

Phong Tiết Lễ búng ngón tay, ánh lửa ngọn đèn dầu vút tròn một vòng, bao vây Ô Hành Tuyết lại bên trong. Bấy giờ, hắn mới cất giọng trả lời, “Chưa chắc.”

“Cái gì?” Ô Hành Tuyết kinh ngạc.

“Chưa chắc là lấy ít địch nhiều,” Phong Tiết Lễ đáp một câu tròn vẹn.

Câu nói vừa dứt, Ô Hành Tuyết liền nhíu mày, trực giác báo cho chàng có gì đó không ổn.

Quả nhiên, chàng thấy trước mặt mình loé lên ánh sáng, vô số ngọn đèn bùng cháy ngay trước mắt. Chàng đếm thấy có hằng hà sa số ánh đèn đang lung lay giữa không trung, ngọn lửa rung động nối nhau thành tảng lớn nhưng lại mịt mù khôn tả.

Trải nghiệm này quẫn bách cực kỳ, giống như những ngọn đèn dầu kia loá nhoè mắt chàng đến độ không còn xác định được phương hướng đông tây nam bắc gì nữa.

Ô Hành Tuyết có thể cảm nhận được Phong Tiết Lễ tung chiêu này không nhằm tấn công mà để nhốt chàng vào lồ ng giam này. Ngay khoảnh khắc ánh đèn dầu bừng lên, chàng đã thấp thoáng thấy Phong Tiết Lễ chuyển hướng sang Tiêu Phục Huyên.

Ô Hành Tuyết giật thót mình, thấy lòng bất an.

Tại sao Phong Tiết Lễ nhốt chàng để tấn công Tiêu Phục Huyên?

Người đang trong kiếp kỳ là chàng, mà tà ma không thể vận khí kình suôn sẻ trong kiếp kỳ là điều ai cũng biết, thậm chí nói là bị “suy yếu” cũng không sai. Phàm là chọn đối tượng tấn công, người bình thường nào cũng sẽ chọn chàng chứ sao lại chọn Tiêu Phục Huyên?

Vì sao Phong Tiết Lễ lại hành động ngược lại?

Trừ phi…

Trừ phi Phong Tiết Lễ cho rằng vào thời điểm hiện tại, khống chế Tiêu Phục Huyên đơn giản hơn. Hoặc nên nói, Phong Tiết Lễ đã làm gì đó khiến Tiêu Phục Huyên hiện tại bị khống chế dễ dàng hơn.

Nghĩ vậy, thêm với câu “Chưa chắc là lấy ít địch nhiều” ban nãy, nét mặt Ô Hành Tuyết tức thì tối sầm lại, chàng sốt sắng tìm cách thoát khỏi lồ ng giam.

Ngặt nỗi, chàng không còn nhớ bất kỳ chiêu nào dùng để phá trận cả…

Nét cười vẫn thường lay láy trong mắt Ô Hành Tuyết đã hoàn toàn mất dạng, đuôi mắt hơi cụp xuống vẽ nên sự lạnh lùng đến lạ trên gương mặt.

Nếu không thể nhớ chiêu thức phá trận thì dùng bạo lực là được.

Có điều, Phong Tiết Lễ không phải hạng tầm thường, nếu hắn đã bày thế lao tù thì sức bền ắt hẳn không thua kém gì kết giới bao bọc quanh Tước Bất Lạc của Tiêu Phục Huyên.

Mà Ô Hành Tuyết tay không tấc sắt, chẳng có gì làm vũ khí.

Chàng vuốt nhẹ các ngón tay đang thả bên người, sương trắng lập tức tụ lại trên đầu ngón tay rồi lan dần lên phía trên. Khi khí kình lạnh lẽo cùng cực lưu chuyển thì đến hơi thở phà ra cũng có thể đóng thành băng trong giây lát.

Chàng gồng hai tay, tà ma khí nồng đậm tuôn ra cuồn cuộn như thuỷ triều, kéo theo luồng sát khí thậm chí còn dày đặc hơn…

***

Phong Tiết Lễ cắt đôi địa phận Tước Bất Lạc, ngăn cách Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên sang hai bên. Hắn tận dụng việc hơi của vô vàn tà ma trong Chiếu Dạ thành gây ảnh hưởng lên Tiêu Phục Huyên hòng giao đấu với y.

Trong tình huống hiện tại, bên cạnh hắn còn có Tiếu Hồ lẫn “Phương Trữ”, mà phía Tiêu Phục Huyên chỉ duy độc có mỗi Ninh Hoài Sam. Kết quả là hắn “lấy nhiều địch ít”.

Những tưởng có thể nhân cơ hội này để chiếm đoạt tiên cơ, cho dù thời gian trong tay hắn chỉ vừa đủ một chiêu, song miễn có thể khai triển trận cục mới là được.

Nhưng chẳng mấy chốc, hắn đã phát hiện mình tính sai rồi…

Khi nghe tiếng đổ vỡ khủng khiếp của lao tù ở phía bên kia, Phong Tiết Lễ kinh hoàng ngoái đầu nhìn.

Rõ ràng Ô Hành Tuyết đã mất hoàn toàn ký ức và còn đang trong kiếp kỳ, rõ ràng tà ma trong kiếp kỳ chịu rất nhiều hạn chế khi vận khí kình bởi nó gây tổn thương bên trong rất nặng nề, rõ ràng lao tù hắn lập ra phải có khả năng giữ được đối phương khá lâu, rõ ràng…

Hết thảy phán đoán đều phai nhạt, ngay khi tiếng rền đổ nát kia vang lên, hắn đã hiểu rõ hắn chẳng giành được một chút lợi ích nào từ cuộc thương thuyết hôm nay.

***

Thật ra, Phong Tiết Lễ phán đoán không sai, Ô Hành Tuyết gặp vô vàn khốn khó trắc trở trong lúc vận khí kình quanh cơ thể. Không chỉ vậy, mỗi đợt vận chuyển một vòng, chém một sát chiêu lên thành lao, cơ thể chàng lại lạnh đi một chút.

Khi hết thảy xong xuôi, cả người chàng buốt đến đau đớn.

Nhưng giữa chừng, chàng đã chớp được một cơ hội xoay chuyển…

Ngay khi chàng lạnh đến mức gần như không xuất nổi chiêu, khí kình đông cứng trì trệ trong cơ thể lại có chiều hướng chuyển động. Tựa như có dòng nước ấm áp độ xuân sang đang chầm chậm hoá tan băng tuyết. Tưởng chừng một người bệnh bỗng dưng tự lành lặn trở lại.

Ô Hành Tuyết không còn tâm trí nghĩ ngợi nhiều, liền nhanh chóng hấp thu hơi ấm từ hư không, chuyển hoá cùng khí kình quanh thân thể. Chẳng mấy chốc, da chàng đã không còn trắng bợt như trước.

Và ngay khi vừa hồi sức, chàng lập tức tung bốn sát chiêu hung mãnh ở bốn trụ chống lao tù. Mỗi một chiêu đánh ra đều mang sức mạnh của cửu thiên huyền lôi.

Phút chốc, đất đá bắn tung toé, mặt đất như bị tách ra bởi một thanh kiếm vô hình, nứt thành rãnh sâu mấy chục thước!

Lao tù giam giữ chấn động trong chớp mắt, khi chiêu cuối cùng đánh tới, rãnh nứt khổng lồ chạy dài từ trời cao dọc xuống, toàn bộ lao tù vỡ toang thành vô số những mảnh vụn miểng.

Khi lao tù vỡ nát, Ô Hành Tuyết nhìn thấy Tiêu Phục Huyên bên kia khe nứt. Người kia tung một chiêu với thanh kiếm tên Miễn, vẽ ra ánh kim phân tách trời cao và chém thẳng về phía Phong Tiết Lễ. Nét mặt y lạnh căm, và nhìn trên người không thấy có thương thích.

<i>May quá…</i>

Ô Hành Tuyết thở dài khẽ khàng, nhưng rồi chàng lập tức gồng cứng cơ thể.

Sau khi phá vỡ lao tù, chàng muốn giúp Tiêu Phục Huyên một tay, bèn đoạt lấy hơi ấm không rõ nguyên do trong cơ thể mình lần nữa hòng tiếp tục vận một đợt khí kình mới.

Mà ngay thời điểm ấy, chàng thấy rõ kiếm khí Tiêu Phục Huyên thoáng ngừng trong tích tắc, trên gương mặt lạnh căm trắng bệch, hổ khẩu bên cánh tay cầm kiếm đang rỉ máu.

Khoảnh khắc, một ý nghĩ nhói lên trong lòng Ô Hành Tuyết — ban nãy chàng có thể tự lành lặn hoàn toàn không phải vô cớ mà tự vì Tiêu Phục Huyên.

Ý nghĩ này vừa xuất hiện, chàng chợt bàng hoàng thảng thốt.

Ô Hành Tuyết bèn thử mượn hơi ấm kia để vận khí kình lần thứ hai. Lần này, vừa mới bắt đầu đã ngừng ngay tức khắc, vì chàng nhận ra trạng thái Tiêu Phục Huyên thật sự biến chuyển theo hành động của chàng.

Trong lúc cơ thể chàng dần biến chuyển tích cực hơn, sắc mặt Tiêu Phục Huyên lại mỗi lúc một tái nhợt đi.

Tại sao… lại như thế?

Lời tác giả:

Chờ lâu rồi ~ nội dung mấy ngày nay hơi khó ngắt đoạn nên mình cập nhật cách ngày nha, mọi người đừng thức khuya chờ ~

Cá:

Gay cấn quá!!!
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 81: Sâu xa


Đã lâu lắm rồi Ô Hành Tuyết không nhớ về Thước Đô.

Từ thời điểm phát hiện đó chỉ là một giấc mộng rỗng, chàng đã ngừng nghĩ về các chi tiết trong cơn mơ ấy. Song ngay lúc này đây, chàng chợt nhớ về một câu chuyện mình từng đọc trong quyển truyện kể dân gian.

Nhắc đến cũng khéo, đó chính là quyển truyện chàng đọc ngay trước khi tỉnh giấc ở Thương Lang Bắc Vực. Câu chuyện chàng đang nhớ là một trong những mẩu chuyện trong ấy, với nội dung đơn giản vô cùng. Khi đó chàng tựa lưng vào thành giường, một tay chống đầu, một tay vân vê trang sách đặng lẳng lặng nhìn hồi lâu.

Lâu đến mức quản gia cũng không kiềm nổi tò mò, bèn hỏi, “Không biết chuyện gì khiến ngài đọc vào đau lòng đến vậy?”

Khi đó, chàng thoáng ngạc nhiên rồi mới lấy lại tinh thần, hỏi, “Đau lòng ư?”

Quản gia gật đầu và chỉ vào giữa mày mình, nói, “Tôi nhìn vào đây, thấy dù ngài rủ mắt nhưng vẫn hằn rõ vết nhăn.”

Nghe vậy, Ô Hành Tuyết mới bật cười, thả lỏng mày và nói, “À, không đâu. Đây chỉ là một mẩu chuyện mà thôi, sao lại có thể vì đọc mà đau lòng cơ chứ.”

Nét mặt quản gia tỏ vẻ tò mò.

Ô Hành Tuyết bèn giải thích vài câu với ông, “Chuyện kể rằng xưa có một ông lão yêu thích các loài hoa cỏ, nên ông trồng hoa khắp sân. Năm nọ vào đợt xuân sang thì một hiện tượng kỳ lạ chợt xuất hiện, giữa khi gió xuân phơi phới tràn đầy ấm áp, trời bỗng giáng sấm sét, sét đánh thế nào vào ngay khu vườn của ông khiến đất đai tan tành hết cả.”

“Ông lão đau lòng khôn xiết, những tưởng hết thảy hoa cỏ mình vun trồng đều úa tàn trong cát bụi, không cách nào sống nổi, ngờ đâu trong số những cây hoa trồng đầy sân vẫn còn một gốc qua được.”

“Gốc cây hoa còn sống sót ấy vốn định sẽ đơm nụ trổ hoa mỗi tháng ba vào cuối xuân, ấy nhưng không rõ có phải vì đợt sấm sét giữa nắng ấm kia hay không mà về sau, cây ấy trổ hoa rất lạ thường.”

Quản gia hỏi, “Lạ thường thế nào?”

Chàng bèn “À” rồi nhẹ giọng, “Ông đã từng nhìn thấy sen tịnh đế bao giờ chưa? Câu chuyện này có lẽ cũng giống như loài sen tịnh đế đấy, đó là hai đoá sen song sinh nở trên cùng một cuống…”

Quản gia gật gù khen ngợi, “Ấy quả thật là chuyện hiếm gặp trên thế gian, là kỳ duyên trời định, hẳn mang điềm lành.”

Chàng lặng người chốc lát mới nói, “Chưa hẳn.”

Quản gia: “Sao lại chưa hẳn thế ạ?”

“Bởi vì…” chàng vân vê trang sách trong lúc bần thần không rõ nguyên do, lát sau mới nói, “trong truyện viết rằng, cặp hoa sinh đôi này không nở đồng đều, mà khi một bên toả sắc rực rỡ thì bên còn lại sẽ trở nên khô cằn héo rũ. Một đoá tươi thì đoá còn lại sẽ tàn.”

Quản gia ngỏ ý nuối tiếc, nói rằng, “Thế thì thật đáng tiếc quá…”

Chàng chỉ “Ừm” nhẹ bâng quơ để đáp lời quản gia. Tay đặt trên trang sách, chàng nói tiếp, “Không chỉ thế, mà một đoá hoa trong chúng lại tương đối dũng mãnh, nó luôn nở rộ tươi tắn hơn.”

Quản gia đáp, “Có lẽ vì nó hút nhiều chất dinh dưỡng hơn rồi.”

Ô Hành Tuyết chớp nhẹ đôi ngươi buông hờ, ngước mắt nhìn quản gia và nói, “Thế mới nói… sao có thể gọi đây là kỳ duyên trời định. Chỉ e đoá hoa được ưu thế hơn cũng luôn nghĩ vậy đấy, nhưng không biết chừng với đoá hoa còn lại đó chỉ là nghiệt duyên.”

Quản gia không biết nên tiếp lời câu này ra sao, quả thật, đây chỉ là một mẩu chuyện bé con về hai đoá hoa thôi mà, làm gì đến mức có đau lòng hay không. Song, ông đưa mắt nhìn quyển sách kia đôi lần và thắc mắc thốt lên, “Quyển truyện này…”

“Quyển truyện này thế nào?”

“Quyển truyện này không biết xuất xứ từ đâu mà dường như tôi chưa từng nghe qua.”

Ô Hành Tuyết trong chiêm bao thoạt dừng, nói, “Ta tiện tay lấy thôi.”

Quản gia hỏi, “Lấy từ kệ gỗ sao ạ? Hôm qua khi tôi dẫn người đến lau dọn hình như còn chưa thấy.”

Chàng trả lời, “Có lẽ nó được đặt sang một bên. Ông cứ đi đi, ta đọc thêm chút nữa.”



***

Mẩu chuyện này không dài không ngắn, cũng không mấy hấp dẫn trong cả quyển truyện kể dân gian ấy, mà giờ đây bất chợt hiện lên trong đầu Ô Hành Tuyết.

Nếu Thước Đô là một giấc mộng lớn được tạo ra, thì ắt rằng những tình tiết trong mộng không vô duyên vô cớ xuất hiện. Biết đâu chừng quyển truyện kể dân gian và những mẩu chuyện nhỏ bên trong đều là lời nhắc nhở và phản ứng của tiềm thức.

Những mối ràng buộc giữa chàng và Tiêu Phục Huyên hiện tại khiến Ô Hành Tuyết không khỏi liên tưởng đến cặp hoa sinh đôi ấy.

Mà dường như, chàng chính là đoá hoa chiếm hơn phân nửa nguồn dinh dưỡng kia.

Có điều, mối ràng buộc này được hình thành từ đâu? Lẽ nào nó sinh ra bởi vì tinh chất bạch ngọc phủ trùm toàn bộ thân thần mộc đã tạo thành một loại dưỡng chất? Hay vì Tiêu Phục Huyên đã để lại thứ gì trên cơ thể chàng?

Ô Hành Tuyết muốn hỏi cho rõ ràng, nhưng tình hình hiện tại không thích hợp để hỏi những chuyện này.

Chàng liếc một ánh mắt sâu thẳm sang Tiêu Phục Huyên, rồi thoắt cái đã dấn thân vào chiến trận.

Linh phách trong cơ thể hai người họ đều bị tổn thương, giờ lại thêm mối liên kết một bên tăng một bên giảm, nên không thể xem như “lấy hai chọi một” khi đương đầu với “Phong Tiết Lễ” được nữa.

Chưa kể, “Phong Tiết Lễ” kéo gần hết tà ma lớn bé trong Chiếu Dạ thành vào cuộc chiến. Nếu nói chuẩn xác, không chừng tình huống hiện tại đã hoàn toàn đảo nghịch, dù có là “lấy ít địch nhiều” đi nữa thì Phong Tiết Lễ cũng tuyệt đối là phía nhiều.

Song, chiến cuộc không hề bị lâm vào tình trạng bế tắc, hay đúng hơn là chỉ bế tắc trong một khoảng thời gian rất ngắn.

Với thần tiên hay tà ma, một chớp mắt cũng có thể kéo dài đằng đẵng. Mà một giây lát ngắn ngủi cũng đủ để nhiều chuyện xảy ra—

Như khi khí lạnh chết chóc trên tay Ô Hành Tuyết sắp chạm đến cổ họng Phong Tiết Lễ, chàng chợt phát hiện, vào khoảnh khắc bị cứa ngang điểm trí mạng rồi mà mắt hắn còn thoáng dõi về phía thần mộc.

Thoáng lia mắt ấy đã dấy lên ảo giác trong lòng Ô Hành Tuyết rằng, nếu có thể đánh đổi cơ hội thức tỉnh thần mộc, Phong Tiết Lễ sẽ sẵn sàng đón nhận chiêu này.

Ngay tích tắc đó, ngón tay Ô Hành Tuyết ngừng lại.

Thế là, giữa khắc ngưng trệ chóng vánh, dường như Phong Tiết Lễ bất chợt nghe được một câu hỏi. Không phải Ô Hành Tuyết thật sự hỏi ra bằng lời, mà giữa khi chiêu thức thoáng dừng, Phong Tiết Lễ biết rõ Ô Hành Tuyết định nói gì. Còn cái cảm giác bất chợt nghe được chỉ là tàn ảnh lưu lại từ rất nhiều năm về trước mà thôi.

Hắn biết Ô Hành Tuyết muốn nói, “Ta từng chứng kiến biết bao người đời bị ám ảnh bởi thần mộc đến mức hại người hại mình. Ta không ngờ rằng ngươi cũng là một người trong số họ.”

Ở Tiên Đô trước đây, mối quan hệ giữa Tiên thủ Minh Vô với Linh Vương và Thiên Túc không hẳn đạt mức thân tình, bọn họ hiếm khi nói chuyện với nhau. Mối giao hảo ít ỏi giữa ba người ắt đều xoay quanh người tên “Vân Hãi” kia. Ngoài ra, đến hai chữ “tiên hữu” đầy khách sáo cũng đã quá nhiều để diễn tả mối quan hệ của họ.

Vì vậy, Phong Tiết Lễ đáp trả, “Đã không phải là ‘tiên hữu’ thì bằng gì phải nhắc đến ‘ngờ được’ hay ‘không ngờ được’.”

Ô Hành Tuyết nghe giọng điệu vẫn đằm đằm không gợn sóng của Phong Tiết Lễ mà có đôi phần ngạc nhiên. Dù chàng nghĩ vậy trong lòng nhưng không hề thốt câu ấy ra thành lời, sao đối phương vẫn biết mà trả lời.

Ô Hành Tuyết: “Ngươi…”

Bèn nghe Phong Tiết Lễ nói tiếp, “Trước đây Linh Vương —”

Hắn chợt ngừng giọng, có vẻ như tính đổi sang “thành chủ”, nhưng xét thấy nói cũng đã nói rồi nên lại thản nhiên tiếp tục, “Hơn hai mươi năm về trước ngươi đã từng nhắc đến, ta chỉ trả lời lại một lần mà thôi.”

Ô Hành Tuyết nhíu mày.

Phong Tiết Lễ lại nói, “Linh Vương còn nói rằng, cưỡng chế mượn sức mạnh của thần mộc là trái với đạo lý thế gian, từ một chuyện dẫn đến muôn điều, hệ luỵ người khác nhiều không kể xiết.”

Ô Hành Tuyết tất nhiên không nhớ rõ, song những lời này nói đúng chứ chẳng sai. Ngặt nỗi thốt ra từ miệng Phong Tiết Lễ nghe thật quái lạ. Bởi những chuyện người này đang làm thật sự “trái với đạo lý thế gian”, thậm chí ngoan cố đến kinh hoàng.

Phong Tiết Lễ khẳng định, “Nếu bây giờ Linh Vương còn muốn nhắc lại, ta vẫn chỉ có thể trả lời lại một lần: Ta biết cả.”

Rằng “trái với lẽ thường” hay rằng “hệ luỵ người vô tội”, hắn đều biết hết cả.

Sao hắn có thể không biết cơ chứ? Chính bản thân hắn đã từng nói những đạo lý này cơ man là lần, chỉ dạy cho biết bao là người.

Tiên thủ Linh đài Minh Vô là vị thần tiên được bá tánh thờ phụng nhiều nhất thế gian. Hắn đã hưởng ngần ấy hương khói, không cần đếm cũng rõ có hằng hà người cúi quỳ bên dưới những bệ thờ hắn. Tổng các pho tượng thần tạc hắn lên đến ba vạn bức, và tranh vẽ nhiều vô số kể.

Tượng thần hắn đứng trong nhà vô vàn bá tánh và lắng nghe biết bao chuyện đời chuyện người, dĩ nhiên hắn thấu tỏ điều ấy hơn bất kỳ một ai…

Có đôi điều lẽ phải, biết thì biết đấy, nhưng một khi nổi lòng vi phạm thì không một ai ngăn được.

Cũng chính vì thấu tỏ, nên sẽ càng chẳng ngoái đầu.

Hắn đã chứng kiến vô vàn những câu chuyện tương tự, nhiều đến mức giờ đây có ra sao đi nữa cũng không mảy may nhen nhóm rung động trong lòng.

Đã từng, hắn nghiêm chỉnh tuân thủ những đạo lý đếm hoài không hết mà chẳng hề cảm thấy những quy chuẩn ấy có gì trói buộc. Bởi bản thân hắn đồng thuận với những điều nọ.

Hắn chẳng mấy khi can thiệp vào chuyện dưới nhân gian, và sẽ ban phước lành vào những dịp thoả đáng. Không nói một việc quá nhiều lần, không khuyên một người quá nhiều phen, dứt lời đúng lúc, quá tam ba bận.

Những sự tình lắt nhắt nọ khi gộp lại đã vạch ra giới hạn giữa Tiên Đô và nhân gian. Thuở đó, hắn cảm thấy ranh giới rạch ròi này chính là chân lý.

Và hắn truyền đạt những chân lý này cho rất nhiều người, giảng với chất giọng bình thản cùng cực. Nếu người nghe có thể tiếp thu thì thật tốt, nếu nghe không lọt thì sớm hay muộn sẽ nhận răn dạy của đường đời, bản thân hắn không can thiệp quá nhiều.

Rồi sau này hắn mới vỡ lẽ, trên thế gian luôn có ngoại lệ.

“Mọi việc đều có ngoại lệ,” bản thân câu nói này cũng là một chân lý. Mà hắn đã mất một thời gian rất dài mới thấu hiểu chân lý đơn giản nhường ấy.

Rồi sau đó, hắn càng có thêm rất nhiều “ngoại lệ” — chân lý đó đã được lặp đi lặp lại biết bao lần, trên cùng một người, và với giọng điệu chớ hề bình thản.

Hắn từng tức giận đến mức không nói nên lời, từng trách mắng một người, từng đanh giọng hỏi người nọ từng chữ, “Chuyện gì được phép làm, chuyện gì không được phép làm! Ngươi xem thiên chiếu được nhận khi thăng tiên chỉ là một tờ giấy rách ư?!”

Hắn nói với người nọ, “Chuyện bất công trên thế gian vô vàn như biển cả, ngươi quản một việc, tất rằng phải quản việc khác…”

Hắn còn nói, “Tiên và phàm tách biệt. Một khi bước vào Tiên Đô, không thể can thiệp vào chuyện của nhân gian được nữa.”



Và hắn thậm chí từng nói với người kia, “Ngươi cứ hành xử như vậy, rồi sớm hay muộn sẽ có một ngày…”

Dưới nhân gian, những câu như “Sớm hay muộn sẽ có một ngày” là dạng câu dành cho kẻ thù. Bọn họ không phải kẻ thù, hắn thốt lên lời như vậy cũng chỉ hòng để đối phương thấm nhuần những chân lý ấy.

Còn giờ đây, từng câu từng chữ trong cái chân lý hắn vẫn thường nói đó đều bị chính bản thân hắn đập tan. Mấy năm vừa qua, hắn đã làm rất nhiều chuyện, mỗi chuyện trong đó đều đi trái với những chân lý hắn nhắc đến khi xưa.

Hắn gặp rất nhiều người trên thế gian biện giải một câu “tôi ngu ngốc quá” sau tất cả việc làm của họ. Mà hắn chẳng thể nói câu ấy, vì xưa giờ hắn vẫn luôn tỉnh táo.

Hắn tỉnh táo nhìn bản thân làm từng chuyện một, tỉnh táo nhẩm đếm những lẽ trời mà mình vi phạm, tỉnh táo quan sát từng trận cục mà mình bày ra.

Máu chảy xuôi trong trận, mệnh liên luỵ trong trận, tất cả đều rơi vào mắt hắn.

Nên có qua trăm năm cũng không một ai có khả năng khuyên nhủ hắn, cũng không một ai có thể cản trở hắn.

Chẳng qua, vào thời điểm hiện tại khi đối đầu với Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên, lòng hắn chợt dấy lên chút khó hiểu trong sự tỉnh táo dai dẳng hàng trăm năm. Bởi vậy, hắn nhìn Ô Hành Tuyết qua bầu không khí lạnh thấu xương đè nặng trước mắt, hỏi một câu,”Những việc Linh Vương từng thấy ắt không kém gì ta, chẳng lẽ chưa có một ngày nào cảm thấy bất công sao?”

Ô Hành Tuyết nhíu mày, đúng lúc trường kiếm Tiêu Phục Huyên quét mạnh tới!

Phong Tiết Lễ nhảy lùi ra sau với tốc độ kinh hoàng, thốc tung bụi tuyết ngập trời Tước Bất Lạc.

Hắn cản đèn trước trán, tiếp đó nhún người xuống hoá thành làn sương nồng như một chú rồng uốn lượn, chỉ chớp mắt đã hoà mình vào bụi tuyết ngút trời.

Ô Hành Tuyết nghe thấy giọng hắn mơ hồ vang lên, giọng nói vang vọng khắp bốn bề, đến mức gần như không thể xác định một vị trí đơn lẻ nào. Hắn nói, “Đây là sơ suất của ta, dẫu Linh Vương từng chứng kiến bao việc đi nữa thì giờ cũng đã quên hơn nửa mất rồi.”

Ánh mắt Ô Hành Tuyết cực kỳ điềm tĩnh, chàng châu lưng với Tiêu Phục Huyên, thoắt cái đã lia mắt khắp toàn bộ khoảnh sân.

Họ nghe Phong Tiết Lễ tiếp tục nói, “Kể ra thì thế cũng tốt. Bằng không ắt ngươi cũng phải hỏi một câu, <i>tại sao</i> —”

Ngay khi giọng hắn nặng nề rơi xuống, làn khói kia đã tụ lại về phía gốc đại thụ.

Nhưng vào phút chốc nó gom lại, thanh kiếm chữ “Miễn” xé gió chém sang, chuẩn xác cắt xuyên làn khói.

“Thiếu gia!!!” Tiếu Hồ bổ nhào qua, cùng lúc Phong Tiết Lễ hiện hình trở lại.

Bấy giờ, trang phục tươm tất trên người hắn đã có chiều xốc xếch, trên cằm bị rạch một đường dài, kéo theo máu đỏ trượt xuống da.

Tiếu Hồ đứng bên cạnh Phong Tiết Lễ, bao trùm quanh họ là kiếm khí của Thiên Túc, khiến họ tiến không được mà lùi cũng chẳng xong.

Phong Tiết Lễ chùi máu trên cằm, song gương mặt hắn vẫn trơ lì như núi. Đứng giữa bóng kiếm ánh vàng, hắn cất giọng điềm đạm, “Trước đây có người từng hỏi ta một việc, hiện giờ vừa khéo có cơ hội, ta thay hắn hỏi hai vị một chút…”

Lưỡi kiếm trong tay Tiêu Phục Huyên đánh <i>keng</i> trên nền đất, y bước đến trước mặt Ô Hành Tuyết, giương bờ vai hiên ngang che chắn chàng phía sau rồi cất giọng lạnh lùng, “Nói.”

Phong Tiết Lễ nói, “Hắn nói trên đời này, phàm là người tu hành tất có nguyện cầu, có thể cầu trường sinh, có thể cầu khoẻ mạnh, cũng có những bậc đại từ đại bi cầu thái bình thiên hạ. Hắn nói con người ta đánh mất trăm năm thời gian, nỗ lực hết sức mình để phi thăng lên Tiên Đô, dưng bỗng mất đi cái quyền được nguyện cầu.”

“Người ta nói tiên và phàm khác nhau, một khi đã lên Tiên Đô thì không thể vô cớ can thiệp vào sự vụ dưới nhân gian. Nếu đã vậy, tại sao khi trước phải khổ sở tu hành để phi thăng? Chỉ để được ngồi thẳng mình trên bệ thờ, hưởng thụ hương khói phàm trần, rồi dửng dưng bàng quan suốt trăm ngàn năm hay sao? Phàm là thế thì trường sinh trên Tiên Đô có khác gì cái chết không.”

“Nếu nguyên tắc này là sai, vậy có phải những người đã vi phạm nguyên tắc và phải gánh nhận thiên phạt xứng đáng được hỏi một câu <i>tại sao</i> hay không?”

“Vì vi phạm thiên quy nhiều lần mà những người kia bị điều sang cai quản chốn hoang vắng điêu tàn. Là thung lũng Đại Bi nơi ngựa xe phóng nhanh không người dừng bước, là Kinh Quan chốn mộ địa chẳng có lấy một bóng người sống, là núi Bất Động hoang vu đầy ảo ảnh mà bá tánh chỉ cầu chạy còn không kịp, là Huyết Trì sét dội quanh năm đến bóng tiên cũng chẳng thấy… Ở những nơi như vậy thì tìm đâu ra hương khói thờ phụng, bị điều sang đấy có khác gì đang chực chờ bị đoạ về nhân gian.”

“Phế Tiên đài tựa bên cạnh Toạ Xuân Phong, Linh Vương chắc chắn từng thấy nhiều hơn ta. Chẳng lẽ chưa bao giờ ngươi cảm thấy thật bất công quá sao?”

Huống hồ còn có cả thần mộc…

Dù Phong Tiết Lễ có thể điều tra lại quá khứ nhưng không cách nào tìm hiểu hết ngọn nguồn. Tuy thế, dựa vào những gì thu thập được, hắn cũng có thể phỏng đoán vài việc. Linh Vương có liên kết nhân quả với thần mộc, tất cả mầm hoạ tai ương người đời gieo rắc lên thần mộc đã chất chồng thành nhiều tầng nhiều lớp rối ren. Ắt hẳn bởi thế mà Linh Vương cũng phải gánh chịu không ít khổ đau.

Vậy nên, hắn hỏi, “Ngươi phải đón nhận những ân oán sinh tử, những yêu hận tình thù đó một cách vô cớ, chẳng lẽ ngươi không cảm thấy bất công, ngươi không muốn hỏi một câu <i>tại sao</i> ư?”

Tuy hỏi vậy nhưng Phong Tiết Lễ không mong chờ câu trả lời từ Ô Hành Tuyết, nói cho cùng người kia đã quên bẵng quá khứ, không chừng chẳng còn nhớ những sự việc xưa cũ kia nữa nên hẳn nhiên không thể trả lời hắn.

Thế nhưng giữa những câu chất vấn hỏi chuyện, hắn đã tìm được đáp án cho bản thân.

Hắn cam đoan rằng Linh Vương cũng có không cam tâm, cũng cảm thấy thật bất công, thậm chí cũng từng hỏi “<i>tại sao lại như thế</i>”.

Hắn trầm giọng, nói,”Ắt là có… bằng không tại sao ba trăm năm trước Linh Vương lại đoạ từ Tiên Đô xuống nhân gian, triệt tiêu tiên khí, rồi trở thành tà ma kia chứ.”

Khi những lời này thốt ra, ánh mắt Ô Hành Tuyết lung lay.

Ngay khi chữ cuối cùng vang lên, Tiêu Phục Huyên đã phóng đến trước mặt Phong Tiết Lễ. Lưỡi kiếm vung tới, chất giọng lạnh lùng của y xé xuyên màn gió, “Những lời ngươi nói và những chuyện ngươi làm có liên quan gì nhau sao.”

“Không có,” Phong Tiết Lễ chẳng hề giấu diếm, “ta chỉ hỏi thế thôi.”

Năm xưa lúc người nọ hỏi hắn, hắn đã trả lời rất nhiều, đã thao thao bất tuyệt từ trên trời xuống dưới đất. Còn lúc này, những lời hắn từng trả lời cho người nọ còn không thể thuyết phục chính bản thân hắn.

Giờ đây, hắn chỉ đơn thuần đưa ra vấn đề thế thôi.

Còn với bản thân, câu trả lời đã chẳng còn quan trọng nữa, bởi lúc này hắn đã mặc kệ đúng sai.

Nếu bất công luôn tồn tại, thì bàn luận đạo lý còn nghĩa lý chi đâu.

“Gieo hoạ cho một người là sai, gieo hoạ cho trăm người ngàn người hay vạn người cũng là sai. Sai là sai, cần gì phải bàn cao hay thấp.”

Đây là con đường hắn dấn bước năm đó, hiện giờ chỉ còn một lối tiến về phía trước, có lùi cũng không sao lùi về điểm bắt đầu được nữa.

“Cứu trăm người ngàn người hay vạn người cũng là cứu, cứu một người cũng là cứu. Tương tự, cũng không cần luận cao hay thấp.”

Nếu con đường này thành công, hắn sẽ cứu được người mình muốn cứu, xem như đã hoàn thành tâm nguyện. Còn nếu thất bại, hắn cùng gánh chịu nhân quả báo ứng, gieo nhân nào thì gặt quả nấy.

Chuyện gì hắn cũng từng nghĩ đến, chuyện gì hắn cũng hiểu tường tận.

“Cứu một người có thể đánh đổi hai chữ ‘cam lòng’ cho bản thân.” Phong Tiết Lễ chạm tay vào ngọn đèn dầu, đoạn ngước mắt lên và nói, “Cứu trăm vạn người để đổi lại điều gì? Một lần bước qua cửa luân hồi đã chẳng còn ai nhớ lấy, âu chỉ là tự gánh tội vô cớ mà thôi.”

Khi nói ra những chữ cuối cùng, tà ma khí nồng nặc cũng trút khỏi cơ thể hắn.

Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên đồng thời tấn công. Phong Tiết Lễ thình lình chuyển hướng. Hắn không né không đỡ đòn mà xông thẳng người vào nghênh chiến.

Hai người không ngờ hắn sẽ đổi hướng như vậy, mặt tức thì biến sắc, nhanh chóng ép mình thu ngược đòn về ngay trước khi chiêu thức được tung ra.

Bởi dù sao thân thể này cũng là của người con út Phong Tiết Lễ nhà họ Phong, nói một cách chuẩn xác thì cậu chỉ là nạn nhân bị lôi vào cuộc chiến. Nếu họ không thu ngược đòn về, đối phương lại chẳng thèm tránh đi thì thân xác kia chắc chắn sẽ tan nát không đường cứu chữa.

Song, thu lại đòn thời điểm nãy đã có phần muộn màng.

Ngón tay Ô Hành Tuyết đã mấp mé chạm tới đỉnh đầu đối phương, nếu là bình thường, xương sọ đối phương sẽ nát tươm chỉ trong một giây lát, máu giàn giụa toàn bộ quan khiếu trên cơ thể, và thậm chí một phần linh phách cũng sẽ bị lột sống ra bên ngoài.

Mà trong khoảnh khắc ấy, Ô Hành Tuyết chợt thấy một sức mạnh đẩy ngược trở lại. Giống như thể có một đôi bàn tay vô hình đang chở che ngay phía trước sinh mệnh của Phong Tiết Lễ và đối đầu với cánh tay chàng.

Và kỳ lạ ở chỗ, sức mạnh đẩy ngược kia trùng khớp hoàn toàn với khí lực lẫn góc độ chiêu thức chàng, cứ như có một Ô Hành Tuyết khác đang bảo vệ thể xác người kia vậy.

Không chỉ thế, kiếm chiêu của Tiêu Phục Huyên cũng bị sức mạnh vô hình kia chặn lại. Kết quả là thân thể nọ không bị tổn thương một cọng tóc.

Chuyện gì đã xảy ra?!

Ô Hành Tuyết thắc mắc khôn nguôi, song đã hiểu ra ngay khi ngửi thấy hương vị của sức mạnh bảo vệ kia.

Không ai quen thuộc hương vị ấy hơn chàng, đó là chính chàng, hay nói đúng hơn… đó là hương vị của thần mộc. Chỉ có một khả năng duy nhất để được nhận sự bảo hộ này — đó là thân thể này từng được nhận phước lành và phù hộ của thần mộc nên kiếp này hẳn sẽ trường thọ trăm tuổi.

Mà chàng chỉ có thể nghĩ đến một người duy nhất được nhận điều ấy…

Là đứa bé được Tiêu Phục Huyên chôn dưới gốc thần mộc năm xưa.

***

Chuyển biến thường chỉ xảy ra trong chớp mắt.

Ô Hành Tuyết không có thời gian ngẫm nghĩ kỹ càng, bởi “Phong Tiết Lễ” đương đầu không tránh né hòng chờ đúng thời cơ này — vào ngay lúc chàng và Tiêu Phục Huyên thu đòn lại. Hễ “Phong Tiết Lễ” chưa chết, hắn sẽ có cơ hội bắt được lỗ hổng trong chớp mắt ấy.

Và sự thật đã chứng minh “Phong Tiết Lễ” bắt được.

Lý do hắn chọn thân thể này chính là để Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên không thể giết được hắn. Nhờ đó, hắn có thể chớp lấy thời cơ giết ngược.

Vì Ô Hành Tuyết có quan hệ mật thiết với thần mộc, “Phong Tiết Lễ” không định tung sát chiêu. Nhưng hắn cần ra tay để hai người họ buông lỏng mình, thế nên hắn lập tức chuyển sát chiêu sang Tiêu Phục Huyên.

Thoáng chốc, “Phong Tiết Lễ” và “Phương Trữ” cộng hưởng linh phách, tấn công từ hai phía.

Sức ép đổ dồn dập xuống như cả rặng núi sụp lở. Ánh lửa đèn dầu sáng bừng như đuốc, soi sáng trăm dặm.

Tiếu Hồ chạy đến hỗ trợ nhưng không chịu nổi áp lực, té quỳ rạp đánh <i>rầm</i> trên mặt đất. May mà sát chiêu không tấn công về phía gã, bằng không giờ đây gã đã bị ép bẹp cả ruột gan thành cái xác mỏng dẹt trên đất.

Gã vất vả lắm mới ngước mặt lên, đã thấy một khoảng không Tước Bất Lạc trước mắt bị chìm trong “biển lửa”. Gã nghe tiếng rên đau đớn của Ninh Hoài Sam nhưng không nhìn thấy gì cả.

Tất cả mọi thứ đều ngưng đọng trong lửa cháy, một người cũng không thấy.

Có chút đáng tiếc…

Bởi nếu gã tiến về trước chút đỉnh, có lẽ sẽ loáng thoáng thấy được vị thiếu gia gã nhọc lòng bao lâu nay — vị thiếu gia trời sinh không thích khói cũng không ưa lửa mà gã trông nom, hầu cận từ bé đến lớn, đã xuất hiện trong thân thể mình chỉ trong một tích tắc.

Tích tắc mà “Phong Tiết Lễ” tung sát chiêu về phía Tiêu Phục Huyên.

Linh phách yếu ớt đã bị bào mòn từ lâu đến mức gần như biến mất bất chợt vùng thoát, chiếm giữ thân thể trong giây lát ngắn ngủi.

Có lẽ sắc lửa và mùi khói nơi đây đã gợi nên khung cảnh chiến trường trên đồng hoang mấy trăm năm về trước, khiến linh phách bé nhỏ cảm thấy có phần quen thuộc.

Cậu nhìn Tiêu Phục Huyên và Ô Hành Tuyết, thu lại sát chiêu đã tung ra trên tay trước khi bản thân kịp phản ứng.

Một khi người phàm đặt bước vào luân hồi sẽ không nhớ những chuyện của kiếp trước nữa, trừ trường hợp linh phách tách rời thân thể và gặp phải tình huống tương tự cảnh tượng trước lúc lâm chung.

Vì vậy, có lẽ cậu ta không nhớ. Nhưng vì thân thể cậu bị người khác chiếm giữ, còn bản thân cậu chui rúc vào một góc khuất yếu ớt đến mức suýt tan biến, không khác gì thời điểm hấp hối, bởi lẽ đó cậu mới mơ hồ nhớ ra.

Cậu nhớ ra nguyên do khiến mình chán ghét sắc lửa và mùi khói, vì cả một đời trước, cậu chỉ có thể nấp trong một góc chiến trường, đun mình trong khói lửa và vị máu bên cạnh những xác người chất chồng như núi.

Tương tự như vô vàn trẻ em cơ nhỡ đầy khốn khổ của thời đại ấy, cậu giàn giụa nước mắt mà nhấc chân tìm kiếm gia đình, lang thang vô định trên những cánh đồng xác chết, và cuối cùng mất mạng.

Và cứ thế, cậu bỏ mình giữa chiến trường.

Lẽ ra cậu cũng bị chôn dưới mảnh đất hoang hoặc sẽ bị gom chung với những thi thể còn lại để mai táng ở một địa điểm xa lạ chất đầy những cô hồn. Thế nhưng, cậu không như vậy…

Trước khi lìa đời, cậu mơ thấy cha mẹ đến đón mình, trong vô thức, cậu đã vươn tay siết lấy vạt áo của một người nào đó.

Vì vậy, người nọ đã cõng thi thể một đứa trẻ hoàn toàn xa lạ trên lưng, bước qua đồng hoang giữa đêm thâu đằng đẵng, và chôn cậu ở nơi đẹp nhất trần gian. Nơi ấy có một thân cây cao ngất, hoa rơi liên hồi.

Cha mẹ dạy rằng con người sống ở đời phải biết nhớ ơn, vì vậy cậu đã nhớ đến ngày nay.

Tận giờ phút này, cậu đã hoàn thành tâm nguyện.

***

Tiêu Phục Huyên giương mắt trong ánh lửa, thấy tròng mắt Phong Tiết Lễ lúc giãn lúc co, trông như hắn vừa hít vào một hơi.

Đôi mắt nọ chừng như đã lâu chưa được nhìn ngắm thế gian, hiển hiện bên trong là chút ngây ngô của một thiếu niên non trẻ. Thẫn thờ chốc lát, người kia đã rút cánh tay tung sát chiêu về.

Vào lúc đó, Phong Tiết Lễ xa lạ kia nhìn qua từ bên kia ánh lửa, mở miệng với giọng cực kỳ mơ hồ.

Cậu thốt, “Đa tạ.”

Vừa dứt, bóng người đã tức thì biến mất, thoáng như vội vã lùi vào trong.

***

Ngọn lửa bừng bừng trong Tước Bất Lạc cũng đồng thời tắt dần rồi tan biến. Khi sắc đỏ chót cùng phai mất, Tiêu Phục Huyên thấy ánh bạc loé bên khoé mắt.

Y quay sang vệt trắng bạc ấy thì thấy thân đại thụ trong Tước Bất Lạc xuất hiện một vết nứt dài, không biết vì trận cục của “Phong Tiết Lễ” gây ra hay do sát chiêu vừa nãy rạch nên.

Và ánh trắng bạc y thoáng thấy ban nãy đang mon men bên rìa vết nứt.

Đấy là một vệt tinh chất bạch ngọc đang lan dần lên trên theo vân gỗ trên thân cây nhằm che chở vết nứt kia. Mà ngay lúc vệt trắng bạc ấy đang đà phủ lên vết nứt như tự có linh, y loáng thoáng nghe được âm thanh rất khẽ.

Âm thanh ấy nghe vào phảng phất, nhưng Tiêu Phục Huyên vẫn mơ hồ nhận ra được.

Đó là tiếng chuông.



Tiếng ngân của chuông mộng.

Cá:

Ồ thì ra Phong Tiết Lễ là đứa con rơi của Huyên Bảo và Tuyết Nhi /(◔‿‿◔)\

Hôm qua em beta chương này mà ghê quá ghê nên edit lại một hồi, nay mới up chương mới ọ

Chuông mộng lên tiếng thì chắc là sắp hé mở một vài chuyện trong quá khứ rồi he. Em để lại ở đây một số điểm (hố) đã được cài làm em thắc mắc từ đầu truyện tới giờ chưa có lời giải, coi như để f5 nội dung luôn nhá. Các chị em bôi đen để đọc hoặc nà có thể chọn khum đọc và giữ sự bất ngờ nho.Bản thể của Thiên Túc thượng tiên ở đâu.Xuất xứ ba cây đinh tang trên tai Thiên Túc.Thiên Túc có hai chiêu mệnh (đại diện <i>hình</i> và <i>xá</i>), một chiêu là Bổn mệnh vương liên – không rõ là <i>hình</i> hay <i>xá</i>, và chiêu còn lại chưa biết.Trong quan tài Thiên Túc có một bức tượng thần không mặt, đây là ai.Thanh kiếm của Thiên Túc thượng tiên tên là gì.Ai là người dùng chuông mộng lên Ô Hành Tuyết vào 25 năm trước và dựng lên giấc mộng Thước Đô.Trên cơ thể Ô Hành Tuyết có đóng đinh khoá trời ở ngực, xương sườn, cổ tay, và mắt cá chân. Phạm bao nhiêu tội phải đóng bấy nhiêu đầu đinh, vậy những tội đó là gì.Nguyên do Ô Hành Tuyết đoạ ma.Nguyên do Ô Hành Tuyết giết sạch Tiên Đô làm Tiên Đô diệt vong.Chuyện gì đã xảy ra khiến Lạc Hoa Đài bị thiêu trụi 300 năm trước.Khi Lạc Hoa Đài bị thiên hoả đốt, Tiêu Phục Huyên nhận lệnh cấm ở Thương Lang Bắc Vực 100 năm, lý do là gì.Sau khi Lạc Hoa Đài cháy, những năm sau đó vẫn có ánh lửa xuất hiện, là từ đâu.Lý do chuông mộng rơi nào tay nhà họ Hoa.Những vị tiên như Hoặc Ca, Tang Phụng, Mộng Cô bị đoạ tiên vì lý do gì.Ai đã phong ấn thần mộc bằng linh phách những người có nhân quả với Tiêu Phục Huyên.Nhiều nhỉ, nhưng mò tình tiết truyện cũng khá nhanh, không biết sẽ dài đến tầm nào, hy vọng tác giả bắt đầu gỡ mối tơ vò dần dần…
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 82: Bắt đầu


Ô Hành Tuyết cúi đầu nhìn xuống thì thấy chiếc chuông nhỏ đeo bên hông mình đang thật sự đung đưa, như có cảm ứng với dòng chảy của tinh chất bạch ngọc đang lan dần từ rễ cây.

Vết nứt trên chuông mộng vẫn còn đấy chứ chưa lành lặn hoàn toàn, mà bản thân chàng cũng không lắc nó, ấy thế mà chuông mộng vẫn ngân vang. Dẫu chỉ vang một tiếng khẽ khàng và phảng phất, nhưng nó đã thật sự ngân vang.

Ô Hành Tuyết không hiểu nguyên do khiến chuông rung bất ngờ như vậy, song chàng cũng không hơi sức tìm hiểu. Vì ngay thời điểm chuông mộng khẽ đánh vang, bụi mờ phủ đầy ký ức chàng đã vơi đi, để muôn vàn cảnh tượng không đếm xuể ồ ạt đổ về.

Những ký ức thân quen một thời tuôn trào như biển cả, nhấn chìm chàng bên trong. Chàng đứng, nhìn mà thấy lòng lạ lẫm như cách xa hàng kiếp. Giờ chàng như một người nhàn nhã đang tựa lưng vào bệ cửa sổ và đọc chuyện kể về cuộc đời ai khác.

Sau đó rất lâu, chìm trong muôn trùng cảm xúc, chàng mới dần dà ngỡ ra rằng người trong câu chuyện đó chính là mình.

Và khởi nguyên của tất cả bắt đầu từ đâu…

À, phải rồi.

Phố núi Lạc Hoa.

***

Mấy trăm năm trước, Linh Vương Ô Hành Tuyết đã từng lạc bước vào dòng rối loạn của nhà họ Phong.

Hôm đó, chàng chứng kiến hàng ngàn linh phách bị trói trong cấm địa phố núi Lạc Hoa, hiểu được những linh phách bị trói này bị tụ về đây vì Tiêu Phục Huyên. Khiến cho chàng phải sửa ký ức của Tiêu Phục Huyên, rồi rời bước đến nhà họ Phong.

Đấy là lúc chàng nhận ra sự chênh lệch về thời gian.

Nhưng chàng chưa kịp chém đứt dòng thời gian đó, vì sau khi chất vấn Phong Huy Minh, chàng còn chưa kịp ra tay đã bị dòng rối loạn kia quét thẳng ra ngoài cùng với quá nửa ký ức mình về dòng thời gian này.

Chàng hoàn toàn quên mất việc mình từng bước vào dòng rối loạn, cũng như tất cả những việc bên trong cấm địa và những việc có liên quan đến nhà họ Phong. Thậm chí, chàng còn cảm thấy mông lung không biết mình đã về đến Tiên Đô bằng cách nào.

Chỉ nhớ rằng khi chàng tỉnh lại đã thấy mình ngồi bên trong Toạ Xuân Phong.

Toạ Xuân Phong có khí hậu và ngày giờ tương tự nhân gian. Về sau, Ô Hành Tuyết quên đi kha khá, nhưng vẫn luôn nhớ rõ phút bần thần khi mình choàng tỉnh ngày hôm ấy.

Thời điểm đó, bầu trời bên ngoài Toạ Xuân Phong vừa chớm bình minh, sắc xanh trong veo như nước đang nhô dần phía chân trời. Dịp ấy đã vào cuối xuân, mà gió lùa qua ô cửa sổ rộng thoáng trong Toạ Xuân Phong hãy còn se lạnh.

Ô Hành Tuyết chăm chú nhìn màu trời ấy một lúc lâu, sau buông mắt nhìn ngón tay đang đỡ đầu. Chốc lát, chàng mới dời tầm mắt lia mắt nhìn toàn bộ gian nhà một lần.

Tiểu đồng tử lớn hơn bước qua bậu cửa vào phòng, trên tay còn vung phất trần rất đỏm dáng. Đuôi phất trần trắng muốt dài suýt nửa chiều cao cậu, khiến cậu trông tí hon đến lạ.

Vừa vào phòng, đồng tử đã nói, “Thưa đại nhân! Ôi cuối cùng đại nhân cũng dậy rồi, bọn ta còn tưởng người gặp phải chuyện gì mà sau khi trở về đã ngồi lì bên khung cửa mà chẳng nói tiếng nào.”

Cậu đang nói nhưng thấy nét mặt đại nhân nhà mình không ổn, bèn ngờ ngợ hỏi, “Thưa đại nhân… người đang nhìn gì thế ạ? Trong phòng có chuyện gì ạ?”

Cậu nhìn một vòng gian phòng theo tầm mắt Ô Hành Tuyết nhưng không thấy bất ổn ở đâu. Tất cả những gì cậu thấy là vỏ hạt thông hai đồng tử xả ở bên góc tường.

Cậu âm thầm nhích mấy bước be bé để đứng chắn trước vỏ hạt thông, vung phất trần ra sau lưng và lén lút quét sạch vỏ hạt thông đi.

Hành vi này lồ lộ trong mắt Ô Hành Tuyết. Nếu vào một ngày bình thường ắt chàng sẽ thấy rất buồn cười và sẽ mượn cơ hội trêu chọc nhóc con này chút đỉnh. Nhưng hiện tại chàng còn tâm trí đâu nữa, chỉ nhíu khẽ mày và hỏi tiểu đồng tử, “Ta ngồi ở đây bao lâu rồi?”

Tiểu đồng tử thưa, “À… chắc là hai canh giờ ạ, gần hết cả đêm rồi.”

Ô Hành Tuyết khẽ giọng nhắc lại, “Cả đêm?”

Tiểu đồng tử không hiểu gì, liền gật đầu nói, “Phải ạ.”

Ô Hành Tuyết: “Tức là ta quay về tối hôm qua à?”

Tiểu đồng tử chớp mắt. “Đúng ạ.”

Ô Hành Tuyết lặng người, nhưng hàng mày vẫn chưa thả lỏng.

Tiểu đồng tử hiếm khi thấy đại nhân nhà mình như vậy, bèn hỏi, “Thưa đại nhân, có chuyện gì thế ạ?”

Ô Hành Tuyết không trả lời ngay lập tức.

Thật ra chàng cũng không biết chuyện gì đang xảy ra, mà chỉ thấy dường như mình đã bỏ lỡ điều gì đó. Bởi thế nên sau đó chàng mới thoáng bần thần, cảm thấy mọi chuyện mông lung vô thực.

Chàng là người nắm giữ chuông mộng, là người tạo những giấc mộng lớn cho người khác nên cũng vô cùng nhạy cảm với cảm giác thất thần bất chợt như vầy.

Nhưng chàng biết ắt không phải mình nằm mơ. Nói cho cùng, ngoại trừ bản thân, áng chừng rất khó tìm ra người thứ hai trên đời có thể đưa chàng vào chiêm bao.

Cánh hoa đỏ nhàn nhạt rơi trên bệ cửa sổ, chụm thành một đụn trong diện tích hạn hẹp. Ô Hành Tuyết duỗi tay khẩy cánh hoa rồi xe chúng lại đôi chút. Cánh hoa lành lạnh nhưng mang đến cảm giác chân thực tột cùng.

Chàng ngắm nghía cánh hoa, chậm giọng hỏi tiểu đồng tử, “Ngươi có còn nhớ rõ, ta ra ngoài ngày nào, quay về ngày nào, sau khi về thì có chuyện gì xảy ra không?”

Tiểu đồng tử gật đầu. “Nhớ rõ ạ.”

Ô Hành Tuyết: “Vậy kể lại ta nghe xem.”

Tiểu đồng tử chưng hửng.

Hai anh em cậu đi theo Linh Vương đã lâu nên cũng không mấy sợ hãi, chuyện gì cũng có thể bộc bạch. Bởi vậy cậu liền nói thẳng, “Thưa đại nhân, có phải người thấy trong phòng yên ắng qua nên kêu ta tới mua vui không? Hay người sợ ta hoá đần nên lâu lâu phải kiểm tra xem ta còn nhớ hay không?”

Rốt cuộc Ô Hành Tuyết cũng bật cười, hàng mày thoáng buông lỏng, đoạn nói nửa đùa nửa thật, “Đúng vậy, kiểm tra ngươi đấy. Nói đi nào, nếu nói sai là nhận phạt.”

Tiểu đồng tử bật “Ồ” đầy tủi thân, thẳng lưng lên rồi bắt đầu trả bài, “Đại nhân nhận thiên chiếu ra ngoài ngày hôm kia…”

Ô Hành Tuyết nói, “Giờ nào hôm kia?”

Tiểu đồng tử: “…”

Trông nhóc ta như cậu học trò học không thuộc bài, đảo mắt cố nhớ lại một chốc rồi mới rề rà kéo dài câu trả lời, “Chắc là… chắc là giờ Mùi.”

Ô Hành Tuyết gật gù, “Tàm tạm, tiếp tục đi.”

Tiểu đồng nói tiếp, “Đại nhân nhận thiên chiếu ra ngoài vào giờ Mùi ngày hôm kia, người nói nhiệm vụ lần này hơi phiền phức nên không dắt chúng ta theo…”

Nhóc con nói rồi còn bồi thêm cảm xúc, nhấn mạnh giọng, “Nhìn hai đứa ta lăn lộn trên đất mà cũng không chịu dắt theo.”

Đoạn này tính ra cũng phải, Ô Hành Tuyết nghe cậu kể lể mà trong đầu xuất hiện hình ảnh hai nhóc đồng tử ôm cột nhà khóc lóc ỉ ôi.

Hai đứa la lối om sòm thật, và chàng không dắt chúng theo thật.

Bởi thiên chiếu chàng tiếp nhận lần này vừa nhìn đã thấy cực kỳ phức tạp, liên luỵ không ít bá tánh. Mà cứ hễ có thêm một tên người, thêm một địa điểm, thì hẳn nhiên không phải loại nhiệm vụ chỉ cần chém đứt một hai dòng rẽ là giải quyết xong xuôi.

Đặc biệt là trong thiên chiếu còn nhắc đến trẻ con.

Vào những nhiệm vụ thế này, chàng sẽ không dắt hai đứa tiểu đồng tử này bên người.

Thứ nhất, việc lui tới nhiều dòng rối loạn khác nhau liên tục gây thương tổn rất lớn lên cơ thể, thậm chí bản thân Ô Hành Tuyết còn thường lâm vào tình huống suy nhược đến độ phải nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, thì làm sao hai tiểu đồng tử này chịu nổi.

Thứ hai, chàng sợ hai nhóc con nhìn thấy những việc mấy đứa trẻ phải trải qua rồi sẽ nhớ về những tháng ngày lang thang trên đồng hoang của chính mình.

Thêm cả… tất cả các đồng tử và tiên sứ trên Tiên Đô đều không phải người thật, ngoại trừ hai đứa nhóc kè kè bên người chàng. Rất lâu về trước, hai tiểu đồng tử này là người sống thực sự, mà đã là người ắt có tâm có tình. Chàng không muốn tẩy diệt những người không nên tồn tại trong những dòng rối loạn kia ngay trước mắt hai tiểu đồng tử này.

Trẻ con dưới nhân gian nên được ngậm kẹo đậu phộng trong miệng, cầm đèn thượng nguyên trên tay, và tía lia những lời vui cười trong miệng, chứ không phải làm quen với giết chóc sinh tử.

Tiểu đồng tử nào có biết tấm lòng thiện tâm của đại nhân nhà mình, cậu tỏ vẻ tủi thân rồi nói tiếp, “Sau đó đại nhân đi thẳng không thèm ngoái đầu, để hai đứa chúng ta ở lại trông nhà.”

Ô Hành Tuyết: “Sau đó thế nào?”

Tiểu đồng tử đáp, “Sau đó còn chưa hết ghiền, đại nhân cứ phải một hai trêu chọc bọn ta tiếp.”

Ô Hành Tuyết nhướn mày. “Vậy luôn à?”

Tiểu đồng tử hô, “Vậy luôn!”

Ô Hành Tuyết chú ý lắng nghe, tiểu đồng tử cạy cạy móng tay rồi tiếp tục, “Đại nhân đi chưa được bao lâu, tầm đến khi trời vừa ngả sang tây thôi, chắc khoảng giờ Dậu, thì hai đứa chúng ta nhận được một bức thư.”

Cho dù Ô Hành Tuyết mất bao nhiêu thời gian trong những dòng rối loạn đi nữa, thì e rằng cũng chỉ là thoáng chốc trong thế giới bình thường, cùng lắm là vài canh giờ mà thôi.

Đúng như lời tiểu đồng tử nói, chàng giải quyết xong những vấn đề được nhắc đến trong thiên chiếu và đến phố núi Lạc Hoa vào giờ Dậu.

Phố núi rất nhộn nhịp, có nhiều tiện ích thú vị và lạ thường. Mỗi lần đến đây hoặc đến những địa điểm thú vị khác trên nhân gian, Ô Hành Tuyết vẫn thường gửi thư để triệu hai đứa tiểu đồng tử xuống trần.

Chàng đưa lý do là lười về lấy kiếm nên kêu chúng mang đến giúp, xem như sai làm việc vặt. Nhưng thực ra chàng chỉ kiếm cái cớ để đưa chúng đi du ngoạn đó đây một chút mà thôi.

Lần này hai đứa nhỏ rất háo hức chờ nhận được thư, nhận được rồi thấy mừng rỡ ra mặt, ai ngờ lần này không giống những lần trước.

Tiểu đồng tử bảo, “Đại nhân truyền thư nói rằng đã đến phố núi Lạc Hoa, gọi hai đứa chúng ta xuống dưới. Không ngờ!”

Cậu hạ giọng nặng trịch, “Chúng ta vừa chuẩn bị đi thì nhận được một phong thư khác của đại nhân, bảo rằng phố núi hôm nay hơi lộn xộn, cửa tiệm mỹ phẩm của nhà nào đó làm đổ xe chở hàng nên mùi phấn son tràn ngập cả vùng núi, còn nói hai đứa chúng ta sẽ hắt xì chết mất nên thôi đừng đi, hẹn lại lần khác.”

Tiểu đồng tử nói xong còn cau có liếc Ô Hành Tuyết. Ô Hành Tuyết nhìn cái điệu bộ cậu một cách thích thú.

Nhưng đúng là chàng đã viết bức thư lật lọng tráo trở này.

Những lời chàng viết trong thư không sai, có một tiệm mỹ phẩm trong phố núi Lạc Hoa đâm phải xe hàng rong trên đường. Nhắc đến chuyện này, Ô Hành Tuyết hãy còn ngửi được mùi son phấn nồng nặc trong gió làm người nghẹn đến muốn sặc.

Có điều, lý do chàng đổi ý không phải vì chiếc xe mỹ phẩm kia, mà vì chàng vừa đến phố núi Lạc Hoa đã nhìn thấy Tiêu Phục Huyên.

Nhắc lại thấy khéo quá…

Rõ là chàng và Tiêu Phục Huyên vẫn thường cùng nhau trên Tiên Đô, rõ là tự nhiên đến độ không cần gõ cửa khi vào cung phủ của người kia, rõ là từng cựa chóp mũi hôn môi trong những phút ân ái, thân mật và thân thiết biết bao. Ấy mà khi tình cờ bắt gặp đối phương dưới nhân gian, lại vẫn nhen nhóm rung động và ngỡ ngàng.

Phố núi Lạc Hoa lên đèn phút hoàng hôn, đèn lồ ng giăng cao nối dài thành dãy, hoa văn trên giấy bọc xoay mình trong gió, thật lung linh rực rỡ.

Chàng nhìn thấy Tiêu Phục Huyên giữa đám đông người trên phố, phía bên kia ngọn đèn lồ ng.

Chỉ một tích tắc, hết thảy nản lòng và khốn khổ từ việc chém giết, tẩy rửa những dòng thời gian rối loạn bất giác phai nhạt. Chàng nắm thanh kiếm và mỉm cười rạng rỡ với Tiêu Phục Huyên.

Phút giây thoáng chốc, Ô Hành Tuyết dấy lên một suy nghĩ kỳ lạ.

Chàng chợt cảm thấy… đây mới phải là cách mà chàng và Tiêu Phục Huyên nên gặp lần đầu — giữa nhân gian rộn rã, nơi phố núi bên dưới Lạc Hoa Đài, trong sự nhộn nhịp của bóng người và ánh đèn, cho đôi bên tình cờ gặp gỡ.

Chứ không phải trên Tiên Đô mênh mang.

Ô Hành Tuyết bước ngược dòng người, vừa tính lấn tới thì thấy Tiêu Phục Huyên đã đi về phía mình.

Chàng ngước đôi ngươi hắt ánh đèn lồ ng và bật hỏi, “Không phải Thiên Túc đại nhân nhận thiên chiếu đi Côi châu hay sao, vì đâu lén lút đến đây thế này?”

Tiêu Phục Huyên nhìn chàng, nói, “Chờ người.”

Ô Hành Tuyết cong khoé mắt.

Song chàng vẫn vờ vịt lùng tìm trong dòng người và hỏi, “Ồ, chờ vị giai nhân nào thế, có cần ta tạm lánh mặt chút không?”

Tiêu Phục Huyên thoáng vẻ bất đắc dĩ mà nhìn chàng. “… Ô Hành Tuyết.”

Thường ngày, y đều gọi “Linh Vương đại nhân” một cách cố ý. Còn tên “Ô Hành Tuyết” chỉ được dùng ít lần, mà chủ yếu vào những lúc riêng tư, khi môi răng cận kề tiếp xúc.

Vì vậy, Ô Hành Tuyết nghe cái tên này phát ra từ miệng Tiêu Phục Huyên liền vô ý nhớ đến những phút giây đó, thế là… gió đêm mơn man lướt qua cũng nhiễm nồng cháy bỏng của phút triền triền mê đắm.

Ô Hành Tuyết li3m khẽ viền môi, không nhảm nhí “giai nhân” gì nữa mà nói thẳng, “Hoá ra là chờ ta à, ta muốn triệu hồi tiểu đồng tử còn biết phải gửi thư cơ này, còn ngươi thậm chí còn không buồn truyền âm mà chỉ chờ thế thôi ư?”

Tiêu Phục Huyên: “Không phải ngươi cũng nhận thiêu chiếu à? Truyền âm có khi còn chẳng nhận được.”

Thời điểm đó, Ô Hành Tuyết đã bị nhoè mắt trong ánh đèn phố núi nên chẳng nghĩ suy gì. Rất lâu sau này chàng nhớ đến cảnh tượng ấy mới sực nhận ra, hẳn là khi đó Tiêu Phục Huyên đã biết thiên chiếu chàng nhận đi làm việc gì rồi. Bằng không y sẽ không trả lời như vậy.

Nên lúc nghe Tiêu Phục Huyên nói vậy, chàng chỉ trêu chọc rằng, “Ta cũng không sống nơi này, làm việc xong rồi sẽ ghé sang chỗ khác. Ngộ nhỡ lần này ta đến nơi khác hoặc đã quay về Tiên Đô thì chẳng phải ngươi chờ công cốc rồi ấy à?”

Tiêu Phục Huyên nói, “Thế thì gửi giấy truyền âm bắt ngươi lại đây.”

Ô Hành Tuyết: “?”

Ô Hành Tuyết thọt chuôi kiếm bên hông y một chút. “Đường đường là Linh Vương mà ngươi dùng ‘bắt’ à?”

Tiêu Phục Huyên rủ mắt suy tư, đoạn sửa lại, “Tóm.”

Linh Vương sắp sửa tặng y một cú đạp chân tới nơi, đã thấy đôi mắt Tiêu Phục Huyên như híp lại trong ý cười, lúc ủng bạc chàng rơi xuống thì y đã biến mất tại chỗ và xuất hiện cách đó một bước.

Chính đây là lúc Ô Hành Tuyết đổi ý, vân vê hai ngón tay gửi thư lên Tiên Đô bảo hai tiểu đồng tử kia đừng xuống nữa.

Chàng vẫn luôn cảm thấy mối quan hệ giữa mình và Tiêu Phục Huyên rất đỗi lạ kỳ. Họ không giống những cặp tiên lữ tu hành, mà cũng không như vợ chồng dưới nhân gian.

Chàng từng gặp nhiều trang lứa đôi đồng đạo tu hành, đa phần bọn họ tôn trọng đối phương như những vị khách và giữ khoảng cách nhất định trong mối quan hệ.

Mà chàng với Tiêu Phục Huyên thì không như vậy, giữa họ gần như chưa bao giờ hiện hữu cái gọi là “tôn trọng đối phương như khách”.

Còn trong những cặp vợ chồng chốn nhân gian, người ta đều ngày ngày chung đụng, bên nhau từ những việc lớn đến bé, trong mọi vụ cơm ăn áo mặc, họ quen nhau tuy hai mà như một.

Còn hai người cũng không như vậy.

Dù họ thường ở cùng nhau, nhưng không thể gọi là ở bên nhau. Khi nhận thiên chiếu, chàng sẽ đơn độc xuống nhân gian, còn Tiêu Phục Huyên nhận thiên chiếu sẽ một mình đi trừ khử tà ma. Thiên chiếu của họ cũng không can hệ đến nhau, chức trách và nhiệm vụ hai người hoàn toàn tách biệt.

Trong mắt người ngoài không thân thiết, có gọi họ là “tiên hữu” đơn thuần cũng không thành vấn đề. Chỉ là trong những phút riêng tư khi không người nhòm ngó, họ bên nhau thân mật không tả xiết.

Ô Hành Tuyết hoá sinh cùng thần mộc, hết thảy những điều chàng thấy được, biết được, cảm nhận được đều bắt nguồn từ những điều nghe thấy khi còn là thần mộc. Nhờ đó, chàng cảm nhận sâu sắc về những hội ngộ chia ly và sinh tử buồn vui của cõi đời, hiềm thay mãi chưa thấu hiểu ái tình đa đoan chóng đổi dời của trần gian, với chàng điều ấy thật sự khó lòng thông tỏ.

Chàng không nơi tham chiếu, chỉ dựa hết thảy vào bản năng.

Đến tận đêm hôm ấy ở phố núi Lạc Hoa, khi chàng và Tiêu Phục Huyên không hẹn mà gặp giữa phố phường huyên náo tiếng người và ánh lửa, chàng mới vỡ lẽ…

Khác biệt giữa bọn họ và những cặp đôi cùng tu hành tôn trọng nhau hay cặp vợ chồng bình thường, chính là giữa họ luôn có sự rung động và niềm hân hoan.

Có lẽ tương tự đôi phần với tình yêu niên thiếu của nhân gian.

<i>Đường đường là Linh Vương, đường đường là Thiên Túc, mà lạ thường vậy đấy.</i>

Khi gửi bức thư thứ hai cho hai tiểu đồng tử, Ô Hành Tuyết đã thầm châm biếm trong lòng như thế.

Song khi gửi thư rồi ngẩng đầu lên, nhận thấy Tiêu Phục Huyên đang đứng cách một bước ngoái lại chờ mình, chàng lại nghĩ, <i>Ừ lạ thường thì cứ lạ thường thế đi</i>.

Tiêu Phục Huyên thấp giọng hỏi chàng, “Tự dưng cười cái gì?”

Chàng đáp, “Không gì cả, chẳng là chợt thấy… phố núi Lạc Hoa nơi này thật tuyệt đẹp.”

Tiêu Phục Huyên nói, “Ngươi đã nói câu này rất nhiều lần.”

Ô Hành Tuyết nhoẻn cười giữa ánh đèn, “Thế thì nói thêm một lần nữa cũng chẳng sao.”

Họ thong dong tản bộ theo dòng người giữa ánh đèn lồ ng. Ô Hành Tuyết mở lời, “Không biết chợ phiên thế này ở nhân gian có thể giữ trên đời được bao lâu, đời phàm nhân chẳng qua vài chục năm, mà phố núi Lạc Hoa xuất hiện lần đầu đến nay đã hơn trăm năm, quả thực khiến người ta bất ngờ.”

Tiêu Phục Huyên nói,”Sẽ luôn có người mới đến.”

Ô Hành Tuyết gật gù. “Cũng phải, đời người tuy ngắn ngủi, nhưng danh tiếng phố núi này vang xa nên người mới rồi sẽ tới. Biết đâu chừng nó có thể kéo dài hàng trăm năm nữa.”

Tiêu Phục Huyên đáp lại bằng một tiếng “ừm”. Hồi lâu sau, y mới nói, “Thế thì, ngươi thích nơi này vì đã sinh ra ở đây à?”

Ô Hành Tuyết nhây giọng, “Cũng không phải toàn bộ lý do, Thiên Túc đại nhân cũng góp một phần công lao đấy.”

Tiêu Phục Huyên ngừng chân. “Ta?”

Nghĩ không ra nguồn cơn, y hỏi, “Công lao gì?”

Ô Hành Tuyết dõi mắt về dãy đèn lồ ng uốn quanh về nơi xa tít tắp, chân không dừng bước. Chàng tiến đến trước Tiêu Phục Huyên một bước rồi xoay người lại.

Chàng đưa lưng về phía dòng người và ánh đèn, giương thanh kiếm khắc vân bạc một vòng rồi tra vào bên hông. Thân hình đ ĩnh đạc, phong thái hiên ngang, chàng ngước mắt nghiêng đầu sang bên, cười nói, “Công đã đi cùng ta đến đây.”

Chưa chờ Tiêu Phục Huyên nói gì, chàng đã tiếp tục, “Xin hỏi Thiên Túc, nếu ta muốn ghé phố núi Lạc Hoa sau một trăm năm, ba trăm năm, hay lâu hơn thế nữa, thì ngươi còn đi cùng ta chứ?”

Tiêu Phục Huyên nhìn chàng một lát rồi bước tới. Mắt y quét qua dưới mũi Ô Hành Tuyết, nói, “Nhớ kỹ.”

Ô Hành Tuyết nhìn y tiến đến gần và nói, “Ta hỏi ngươi có đi cùng ta hay không, ngươi lại đáp nhớ kỹ là sao, nhớ kỹ chuyện gì?”

Tiêu Phục Huyên giữ lấy chiếc mặt nạ vân bạc chàng đang vân vê trên tay, nói, “Nhớ kỹ yêu cầu của ngươi. Quân tử nhất ngôn, một trăm năm, ba trăm năm, hay lâu hơn nữa cũng không được đổi ý.”

Nói đoạn, y nhấc tấm mặt nạ lên để cản ánh đèn lồ ng, rồi nghiêng đầu hôn Ô Hành Tuyết.

Ngay lúc này, hai c* cậu đồng tử thiếu hiểu biết gửi thư hồi âm.

Thật ra lúc Tiêu Phục Huyên tiến lại cũng đồng thời giăng kết giới bao quanh hai người. Bức thư của tiểu đồng tử đập “bộp” lên kết giới, khiến Tiêu Phục Huyên nhướn khẽ mắt.

“Ai gửi thư?” Nét mặt Thiên Túc khôn tả cực kỳ, Ô Hành Tuyết nhìn thấy mà bật cười khanh khách.

Chàng kéo bức thư vào trong và nói, “Còn ai được nữa? Hai đồng tử ngốc của ta đấy.”

Thiên Túc hỏi, “Việc quan trọng à?”

Tất nhiên không phải việc quan trọng, chẳng qua hai đứa nhóc kia đã chuẩn bị ra ngoài rồi mà bị đại nhân nhà chúng đẩy ngược trở về nên bất mãn, bèn gửi thư khóc lóc bày tỏ sự phẫn nộ chứ đâu.

Nhưng nếu trả lời thành thật thì e là Thiên Túc đại nhân sẽ ghi nợ này lên đầu hai đứa nó mất. Thế nên Ô Hành Tuyết ra tay nói đỡ cho hai đứa ngốc kia một chút, “Ừ, đại khái thế.”

Nói xong chàng đã có phần hối hận, vì Thiên Túc vừa nghe “việc quan trọng” thì không chút chần chờ mà nhấc ngón tay giải trừ kết giới ngay lập tức.

Ô Hành Tuyết: “…”

Thiên Túc có ghi nợ hay không chàng không biết, chứ chàng ghi nợ hai đứa kia rồi đó.

*

Hiện tại, quay trở về Toạ Xuân Phong, tiểu đồng tử còn dám mặt dày nhắc đến chuyện đó một cách bực tức, “Chúng ta gửi thư hồi âm cho đại nhân mà đại nhân còn không thèm để ý.”

Ô Hành Tuyết cười gằng, lòng tự nhủ <i>đào đâu ra tâm trạng trả lời các ngươi, không đập các ngươi một trận là may rồi</i>.

Tiểu đồng tử nói, “Nên sau đó chúng ta không biết đại nhân làm gì ở phố núi Lạc Hoa nữa. Song chắc là ở cùng với Thiên Túc đại nhân một đêm tại phố núi Lạc Hoa nhỉ.”

“…”

Ô Hành Tuyết chớp mắt. “Khoan nào, sao ngươi biết có Thiên Túc nữa?”

Tiểu đồng tử nghiêm túc trả lời, “Dạ, vào nửa đêm Thiên Túc đại nhân có gửi một phong thư.”

Ô Hành Tuyết: “Thư nói gì?”

Tiểu đồng tử có vẻ lo lắng. “Thiên Túc đại nhân nói cơ thể đại nhân trở lạnh, hỏi chúng ta trước đây gặp tình huống này bao giờ chưa.”

Cậu ta nói đoạn, gác cây phất trần bên cổ, thọt tay vào ống tay áo tìm kiếm một lúc rồi lấy ra một bức thư trông như lá bùa và đưa cho Ô Hành Tuyết.

Ô Hành Tuyết nhìn qua thì xác nhận đúng là thư tín của Tiêu Phục Huyên, nội dung trong thư không khác gì lời tiểu đồng tử nói.

Thực chất, phần ký ức ban đêm ở phố núi Lạc Hoa này chính là phần mà Ô Hành Tuyết cảm thấy mờ mịt nhất. Trong trí nhớ hiện tại, đúng là cơ thể chàng trở lạnh sau nửa đêm hôm qua, khiến Tiêu Phục Huyên phải lo lắng hết một phen.

Nhưng cái cảm giác lạnh buốc cả người đến mức đau nhức xương khớp này cũng không mới xuất hiện lần đầu. Nói đúng hơn, sau mỗi lần bước vào những dòng rối loạn để chém đứt những “quá khứ” không nên tồn tại, chàng quay về hiện thế rồi sẽ luôn trải qua cái cảm giác như thế này.

Đây có lẽ là cơn đau mà Linh Vương nghiễm nhiên phải gánh chịu, chàng đã trải nghiệm quá nhiều lần nên cũng sớm quen thuộc rồi.

Cảm giác này thường tràn về giữa đêm thâu, có đôi khi bị nhẹ thì chàng chỉ cần lẳng lặng chịu đựng như chuyện của người khác, không một ai nhận ra sự bất ổn trong cơ thể chàng. Nhưng có những lúc nó trở nặng, chỉ đơn giản nhẫn nhịn không hết được thì chàng vẫn có thể giấu không thể hiện trước mặt người khác, chờ về đến Toạ Xuân Phong rồi điều dưỡng lại sau.

Lần này chắc nhiệm vụ được thiên chiếu giao quá phức tạp, liên quan đến nhiều dòng rối loạn, khiến chàng tổn hao rất nhiều sức lực. Bởi thế mà cơn đau buốt này tràn tới mãnh liệt kinh khủng, thậm chí để Tiêu Phục Huyên phát hiện ra rồi không đâu lại khiến người kia phải lo âu.

Thời điểm đó, Tiêu Phục Huyên nhíu mày thật chặt và hỏi chàng chuyện này là sao.

Ô Hành Tuyết không chắc lắm và cũng không thể thú nhận, đành phải nói, “Có lẽ cơ thể bị tổn thương khi đi làm việc, chỉ cần nghỉ ngơi ổn thoả là có thể hồi phục.”

Xét thấy người thường xuyên lừa gạt, Tiêu Phục Huyên có lẽ không tin tưởng hoàn toàn nên đã gửi thư hỏi hai tiểu đồng tử dễ bị lừa nhà chàng.

May mà lần này Ô Hành Tuyết không nói dối, đồng tử cũng không bán đứng chủ nhân. Chúng nó gửi thư trả lời không khác mấy những gì đại nhân nhà chúng nói, thư rằng, “Những lần trước đại nhân trở về sau khi hoàn thành công tác cũng xảy ra tình huống như vậy, chỉ tầm hai ngày là trở lại bình thường.”

Thế là Tiêu Phục Huyên cũng không phát hiện ra vấn đề, chỉ đành ở bên cạnh trông nom cho Ô Hành Tuyết tĩnh toạ dưỡng thương.

Trong lúc tĩnh toạ, Ô Hành Tuyết gần như phong bế năm giác quan nên không phát giác ra những việc xảy ra xung quanh mình. Vì vậy, bản thân chàng cũng không nhớ rõ chuyện xảy ra trong khoảng thời gian đó mà chỉ thấy cơ thể như chìm trong hỗn loạn.

Cảm giác hỗn loạn này vẫn tiếp tục qua hôm sau, khi chàng rời khỏi phố núi Lạc Hoa và trở về Toạ Xuân Phong trên Tiên Đô.

Có lẽ đó chính là nguyên do khiến chàng cảm thấy mình đã bỏ lỡ chuyện gì đó hoặc đánh mất một phần ký ức nào đó.

Tiểu đồng tử thưa tiếp, “Đại nhân về vào giờ Tuất đêm qua, chỉ về một mình.”

Cậu ta nhấn mạnh câu này.

Ô Hành Tuyết nghe giọng điệu bực cười của cậu, bèn nói, “Một người thì sao?”

Tiểu đồng tử nói, “Chúng ta còn tưởng cơ thể đại nhân bị tổn thương chưa hồi phục thì chắc chắn Thiên Túc sẽ đưa đại nhân về Toạ Xuân Phong rồi mới rời đi chứ.”

Thực chất, dù mù mờ không hiểu nhưng Ô Hành Tuyết vẫn còn nhơ nhớ một chuyện. “Giữa đường y gặp chuyện gì đấy bị sai rời đi, với cả ta chỉ cần an dưỡng một đêm là khoẻ lại rồi.”

“Ta biết, tối qua khi quay trở về đại nhân cũng nói như vậy,” tiểu đồng tử nói. Thật ra việc thiên chiếu gửi đến bắt người đi thi hành lập tức không hề hiếm gặp, đại nhân nhà cậu cũng thường gặp phải. Lại nói, mấy năm gần đây tà ma dưới nhân gian đột ngột ngang tàn hung hãn hẳn lên, Thiên Túc có bận tay cũng là lẽ thường.

Cậu chỉ lo lắng linh tinh mà thôi.

“Nhưng là, dù đêm qua không có Thiên Túc, nhưng trên cơ thể đại nhân vẫn có một ấn bảo hộ, có lẽ là từ Thiên Túc đại nhân,” tiểu đồng tử nói. “Đến khi đại nhân vào Toạ Xuân Phong rồi ấn bảo hộ mới biến mất.”

Nhìn chung, dùng ấn bảo hộ không khác gì có bản thể bên cạnh.

“Nhờ có ấn bảo hộ này nên ta sẽ không trừ bớt rượu Thiên Túc đại nhân để lại chỗ này,” cậu tiểu đồng tử lèm bèm.

“Giờ phút này còn biết bảo vệ chủ nhân cơ đấy,” Ô Hành Tuyết bực dọc. “Ngày thường bán đứng ta rồi có thấy các ngươi giận dữ lên bao giờ.”

Tiểu đồng tử gãi đầu, tỏ vẻ ngượng ngùng.

Ô Hành Tuyết nói tiếp, “Rồi sau đó thế nào?”

“Sau đó? Ờm… sau khi trở về, đại nhân người tĩnh toạ an dưỡng một chút rồi tựa đầu nghỉ ngơi,” tiểu đồng tử nói tiếp, “rồi mới vừa tỉnh lại đây đấy ạ.”

Tiểu đồng tử kể chuyện một lượt vô cùng lưu loát, không sai lệch gì so với ký ức của Ô Hành Tuyết. Thêm cả còn có thư truyền qua lại làm bằng chứng, kết nối mọi việc với nhau ổn thoả, như thể đó là cách mà chàng đã qua đêm ở phố núi Lạc Hoa, chứ không có điểm nào bất thường.

Ô Hành Tuyết ngồi bần thần một lúc lâu mới nói với tiểu đồng tử, “Thôi được, chắc là ta còn buồn ngủ nên hoang mang chút.”

Tiểu đồng tử không hiểu chi lắm, bèn hỏi chàng, “Thế ban đầu đại nhân nghĩ có việc gì ạ?”

Ô Hành Tuyết tư lự rồi nói, “Nghĩ là…”

“Nghĩ là có người đã làm gì đó với ta.”

Tiểu đồng tử thốt, “Làm sao có thể? Đại nhân chính là Linh Vương cơ mà.”

Giọng điệu tiểu ngốc tử hãnh diện cực kỳ, Ô Hành Tuyết nghe thấy mà không khỏi bật cười, chàng vui vẻ gật đầu. “Nói đúng lắm.”

Trên thế gian, người có thể gài chàng có thể đếm hết trên đầu ngón tay, mà người có khả năng xuống tay đến mức kiểm tra không ra thì càng là mò kim đáy bể. Tiêu Phục Huyên thì có cơ hội đấy, nhưng Thiên Túc đại nhân sẽ không làm.

Còn ngoài y ra…

Chắc không đến mức là Thiên đạo Linh đài đâu.

***

Bởi vậy lần đó, sau khi ra khỏi phố núi Lạc Hoa, Ô Hành Tuyết cũng không nhớ việc mình từng đến sân sau quán trọ kia và vào cấm địa giữa đêm khuya.

Chàng cũng không nhớ rõ cơn phẫn nộ bộc phát trong lòng khi nhìn thấy những linh phách trói bị treo ngược bên trong đền thờ.

Chàng chỉ nhớ được những chuyện xảy ra trước đó và sau đó, còn hết thảy những việc xảy ra giữa khi ấy đã bị hoà chung vào cảm giác hỗn loạn lúc tĩnh toạ an dưỡng.

Thành thử sau ngày đó, chàng đã ở yên trên Tiên Đô hơn hai mươi năm.

Chàng thế mà có thể ở yên không làm gì trên Tiên Đô tận hơn hai mươi năm…

Sau này mỗi khi nhớ về khoảng thời gian hơn hai mươi năm ấy, chàng chỉ thấy sao mơ hồ và ngớ ngẩn như khối mù trên lưng, như cục nghẹn trong họng.

Lời tác giả:

Đợi lâu ~ còn một chương nữa nha, đừng bỏ lỡ.
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 83: Trái ngang


Đối với người thường mà nói, hơn hai mươi năm đã gần nửa cuộc đời. Quãng thời gian đủ để trẻ nhỏ trưởng thành, để người thành niên dần sang luống tuổi.

Nhưng đối với Tiên Đô, đấy chẳng qua chỉ là chớp mắt.

Trong hai mươi năm đó, chúng tiên vẫn phụng sự làm việc, như cũ đến đi.

Ô Hành Tuyết vẫn thường nhận thiên chiếu đi chém đứt dòng rối loạn. Chẳng qua có một quãng thời gian rất dài, chàng không còn ghé phố núi Lạc Hoa sau khi xong việc nữa.

Nó tựa như một dạng số mệnh đã định, dù không nhớ rõ những việc xảy ra đêm hôm đó và cũng không nhớ rõ cơn phẫn nộ dâng trào, nhưng trong tiềm thức chàng vẫn muốn tránh né nơi này.

Vả chăng, mỗi đợt chém đứt dòng rối loạn và muốn đến Lạc Hoa Đài thì luôn có việc này việc nọ cản bước khiến chàng phải đổi hướng giữa chừng. Một là trở về Tiên Đô ngay, hai là đi sang nơi khác.

Hai tiểu đồng tử nối gót chàng đến rất nhiều nơi. Và vào những dịp rỗi rãi, chàng với Tiêu Phục Huyên sẽ dịch dung để ngao du cùng nhau.

Bọn họ đến rất nhiều chỗ, rất nhiều địa danh mà… tiên hữu một thuở của họ từng chưởng quản. Đó là những thung lũng Đại Bi, núi Bất Động, Tuyết Trì, Kinh Quan, vân vân.

Đây cũng chẳng phải công việc béo bở gì, những địa danh đó đều hoang vu vắng vẻ hoặc nồng nặc sát khí âm tà. Những nơi này từng trải qua quãng thời gian loạn lạc và từng xuất hiện tà ma hung hiểm cùng cực, kéo theo rất nhiều hoạ loạn.

Nhưng khéo sao, có lẽ vì bạn cũ có linh nên thời điểm họ đặt chân đến, những địa danh này có thể xem như thanh bình yên ổn, chỉ có một số ít hung vật nhơ nhuốc mà chưa cần họ ra tay đã được các gia tộc tiên môn lớn nhỏ ở nhân gian giải quyết ổn thoả.

Tiêu Phục Huyên nói rằng, ấy là những năm tháng yên bình hiếm hoi dưới nhân gian.

Dường như nhân gian luôn như thế đấy. Những năm tháng yên bình vào thời điểm phố núi Lạc Hoa vừa mở cửa đã sớm khuất dạng, tà ma loạn lạc mỗi năm một đông đảo. Cứ cách tầm mười mấy năm hoặc vài thập kỷ, một vấn nạn nghiêm trọng lại xảy ra khiến cả nhân gian lao đao.

Các tiên môn lớn nhỏ đặt san sát nhau, bá tánh thờ nhiều tượng thần hơn, có đến hơn một nửa thần tiên trên Tiên Đô nhận được hương khói đậm nồng hơn xưa.

Tiên môn tiên thuật đông đúc là thế, lẽ ra nhân gian phải được sống trong cảnh phồn hoa. Thế mà sự thật hoàn toàn trái ngược, dân tình ai nấy đều trải qua những tháng ngày điêu linh.

Rõ ràng Tiêu Phục Huyên vẫn thường xuyên nhận thiên chiếu, đáng ra đám ma đầu gây nhiều mối phiền phức đều bị y giết hoặc giáng hình rồi nhốt vào Thương Lang Bắc Vực. Còn những kẻ dễ xử lý hơn thuộc năng lực giải quyết của các tiên môn trong nhân gian, chỉ cần mất chút công sức và thời gian là có thể xử lý ổn thoả.

Trên cơ sở này, sớm muộn gì cũng phải đến thời điểm nhân gian được hưởng thanh bình, không phải ngày ngày lo lắng tà ma tàn sát vô độ.

Có lần, Ô Hành Tuyết bước qua phế tích thành trì của hoàng đô cũ. Khi bước trên những gì còn sót lại của con đường lớn thênh thang, chàng hỏi Tiêu Phục Huyên, “Trước khi được triệu hoán, ngươi có nằm mơ không?”

Tiêu Phục Huyên trả lời, “Không.”

Ô Hành Tuyết có phần ngờ vực. “Không một lần nào sao?”

Tiêu Phục Huyên nói, “Ừm.”

Ô Hành Tuyết thấy lạ. “Người thường ắt phải có nằm mơ chứ, hay là ngươi đã mơ nhưng quên mất rồi.”

Tiêu Phục Huyên nói, “Có lẽ vậy.”

Đoạn, y liếc nhìn Ô Hành Tuyết rồi hỏi, “Sao bỗng dưng lại hỏi chuyện này?”

Ô Hành Tuyết đáp “À” rồi giải thích, “Sáng nay lúc chúng ta đến ngoại thành, ngươi đi vào núi thì ta chợt nghe người ta tán gẫu trong quán trà ven đường, người đó bảo vừa có một giấc mơ đẹp. Mơ rằng tất cả tà ma trên thế gian bị thanh trừ sạch sẽ không còn một mống, và không lại xuất hiện đột ngột từ thinh không nữa.”

Tiêu Phục Huyên lắng nghe, hồi sau thấp giọng tiếp lời, “Thế thì Tiên Đô cũng không cần tồn tại nữa.”

Ô Hành Tuyết nói, “Người đó mơ thấy như thế thật. Cậu ta bảo trên đời không còn ma đầu, cũng không còn tiên, thế gian không có thứ gì lửng lơ trên đầu, sương mù vờn quanh mây núi. Chẳng phải chúng bá tánh vẫn thường lo rằng nhỡ đâu có một ngày Tiên Đô gặp nạn mà sụp đổ thì sẽ đè lên đầu bọn họ đấy sao? Cậu ta cũng bảo không còn tiên nữa thì sẽ không cần phải lo lắng chuyện ấy.”

Tiêu Phục Huyên nhướn mày.

Ô Hành Tuyết nói rồi quay sang hỏi y, “Nghe xong ngươi cảm thấy thế nào?”

Tiêu Phục Huyên ngẫm nghĩ rồi nói, “Thật ra cũng không tệ.”

Ô Hành Tuyết nghe y trả lời thế thì thoáng sững sờ, đoạn bật cười vui vẻ. Nét cười tan vào đuôi mắt cuối mày. Chàng cầm chiếc mặt nạ vân bạc trên tay rồi duỗi ra sau lưng, ngẫu hứng gõ ngón tay lên chiếc mặt nạ khiến nó lắc lư không theo nhịp điệu.

Chàng nói, “Ta cũng thấy không tệ, tốt hơn nhiều so với hiện tại đấy chứ. Thế gian này không còn Tiên Đô cũng không còn Động Ma, rồi toà thành chủ sẽ mở một khu chợ còn tấp nập hơn cả phố núi Lạc Hoa, hoa rộ khắp thành, đường xe rộng thoáng, không cần phải bước ba bước cài một cấm chế, năm bước đặt một kết giới. Và ai cũng có thể yên giấc về đêm.”

Tiêu Phục Huyên lắng nghe chàng nói rồi tiếp lời như đang tán gẫu, “Nếu hoa rộ khắp thành hẳn sẽ có rất nhiều chim tước.”

Ô Hành Tuyết mường tượng đến khung cảnh ấy, cười nói, “Thêm phần rộn rã, thế lại càng hay. Không phải nhân gian cứ luôn yêu thích thay đổi tên các thành trấn và niên hiệu đấy sao. Biết đâu chừng tên của toà thành chủ có nhiều chim tước sẽ đổi theo đấy.”

Tiêu Phục Huyên: “Đổi thành tên gì?”

Dù biết đang nói giỡn thôi, song Ô Hành Tuyết vẫn đưa ra ý kiến nửa thật nửa đùa. Chàng nói, “Dân chúng yêu thích điềm cát lành, ắt rằng nếu có thể nhìn thấy hỉ thước (1) khắp cả thành thì ai cũng vui cười tít mắt, chẳng bằng đặt tên là Thước Đô. Thế có được không?”

(1) Chim hỉ thước còn có tên là chim khách, được coi như loài chim mang lại may mắn, niềm vui cho con người. Tương truyền rằng đêm rằm tháng 7 (thất tịch) có bầy chim hỉ thước bắc cầu cho Chức Nữ qua sông gặp Ngưu Lang.

Tiêu Phục Huyên nói, “Không biết bá tánh nghĩ sao chứ có thể thấy rõ ngươi rất thích tên này đấy.”

Ô Hành Tuyết tặc lưỡi thành tiếng, phóng mình ra trước. Chàng vẫn giữ mặt nạ phía sau lưng, đầu ngón tay khỏ nhẹ từng hồi lên bề mặt để nó loé ra tia sáng cuối xuân.

Tiếc thay, chẳng một dấu hiệu nào cho thấy “Thước Đô” trong câu chuyện vui cười hôm ấy sẽ trở thành sự thật.

Nhân gian vẫn đầy tai ương hỗn loạn, dẫu thi thoảng có vài năm yên ổn không hoạn nạn như đang có chiều ngả về giấc “mộng đẹp” kia, thì đến một năm nào đấy lại xuất hiện tà ma quấy rối chẳng biết từ đâu ra.

Tiêu Phục Huyên quét sạch Côi châu, bình định cánh đồng Gia Minh, vượt qua Xích cốc, bước xuyên biển Vô Đoan thênh thang. Nhưng ở nơi nào cũng chẳng yên ổn được ít lâu, tà ma mới cứ thế lại xuất hiện. Chẳng ai hiểu vì lý do gì mà cứ như vĩnh viễn không thể dọn sạch chúng, vĩnh viễn không thể triệt để trừ khử ngọn nguồn.

Họ không tìm được ngọn nguồn bắt đầu nơi đâu, như thể trời sinh đã thế.

Và câu nói “không còn tiên cũng không còn ma, chỉ còn Thước Đô vạn sự an lành” dường như sẽ mãi mãi chỉ là lời đùa giỡn.

Có đôi khi vào một quãng thời gian nào đó, Ô Hành Tuyết bất chợt nhớ về phố núi Lạc Hoa mà ngờ ngợ mình đã bỏ lỡ điều gì. Thế nhưng chàng mau chóng bị chuyện gì đó khác dời đi sự chú ý…

Rồi ngày qua ngày.

Suốt hơn hai mươi năm, họ vẫn giữ mối quan hệ qua lại với các tiên trên Tiên Đô. Những vị tiên hữu đời trước lần lượt qua đời, và những người còn ở lại thì không mấy thân quen.

Họ vẫn tách biệt nhiệm vụ với Linh đài, đôi bên không làm phiền lẫn nhau.

Nghe đâu Linh đài vẫn không thay đổi gì, họ lắng nghe những nguyện vọng của người trần nhưng không thường can thiệp quá nhiều, chỉ đôi khi sẽ ban phước theo lời dặn dò của thiên chiếu. Từ vết xe đổ của chư tiên đời trước, về sau càng hiếm có ai tái vi phạm thiên quy.

Đã thật lâu Phế Tiên đài không còn hoạt động, dần dà những người trên Tiên Đô gần như quên mất trước đây từng có những vị tiên bị phế, bị đoạ xuống trần gian. Nó tạo nên cảm giác xưa giờ Tiên Đô vẫn luôn như vậy, ngàn xưa muôn thuở, chẳng bao giờ đổi thay.

Thế nhưng thật ra không phải Tiên Đô ổn định trong suốt quãng thời gian đó. Có biến cố phát sinh vào gần cuối của hơn hai mươi năm kia. Chỉ trong một đêm mà toàn thể chúng tiên đều kinh hãi không thôi.

Không biết vì lý do gì, đêm hôm đó vòng xoáy cực hung sát bị áp chế bên dưới Nam Song Hạ bỗng dưng lơi lỏng. Có người đồn rằng Thiên Túc bị thương nặng nên ảnh hưởng đến khả năng trấn áp, không chặn được hoàn toàn sát khí bên dưới kia.

Thế là Tiên Đô chấn động một lúc lâu như vách núi treo cao rung chuyển dữ dội, khiến ai nấy đều thất kinh hồn vía.

Mà tình cờ thay đúng ngày hôm ấy, Ô Hành Tuyết không hay biết gì sự cố này, vì lúc ấy chàng đang phong bế toàn bộ năm giác quan để tĩnh toạ sau khi hoàn thành thiên chiếu trở về.

Thiên chiếu lần này cũng muôn phần rườm rà, dòng rối loạn đan xen phức tạp nên tổn hao nặng nề sức khoẻ chàng. Hơn nữa, số lượng người vô tội bị kéo vào dòng rối loạn ấy nhiều đến kinh hoàng.

Lần này khác với dòng rối loạn của tán tu lúc trước, Ô Hành Tuyết không phải nhìn một người sinh ra rồi chết đi hết lần này đến lần khác. Thế nhưng nó liên luỵ đến rất nhiều người, mà việc phải lần lượt tẩy sạch toàn bộ vẫn không khỏi đẩy Ô Hành Tuyết vào trầm mặc trong một khoảng thời gian rất lâu.

Sau khi ra khỏi dòng rối loạn, chàng không hé miệng nửa lời mà bước thẳng về Toạ Xuân Phong và ngồi lên trường kỷ để nhắm mắt tĩnh toạ.

Hai tiểu đồng tử cũng hốt hoảng, bèn vội vã chạy lại bên chàng, cẩn trọng sờ lên cổ tay chàng mới phát hiện lạnh buốt như băng.

Đây không phải lần đầu chúng thấy chuyện này xảy ra. Hai đứa cũng hiểu đây là thương tổn mà Linh Vương phải nhận sau khi hoàn thành thiên chiếu, khổ rằng có lẽ thương tổn lần này rất nghiêm trọng nên mới ra nông nỗi.

Những lần trước, Ô Hành Tuyết từng giải thích với chúng, bảo đụng phải tình huống này thì không cần hốt hoảng la lối om sòm, cứ đi giải quyết tốt việc của bản thân là được, còn chàng tĩnh toạ an dưỡng rồi sẽ hồi phục trở lại.

Dù chàng đã nhắc lại chuyện này nhiều lần, nhưng khi chúng nhìn thấy sắc mặt đại nhân nhà mình trắng bệch như tờ giấy vẫn sẽ thảng thốt, vẫn sẽ đau lòng.

Mà cậu tiểu đồng tử anh không dám làm phiền đến Ô Hành Tuyết, bèn kéo tay em mình đến bên cạnh cửa. Hai đứa đứng trông bên ngoài cửa nhằm vừa có thể để mắt đến đại nhân nhà mình vừa không ồn ào làm phiền người ấy.

Tính tình cậu em hấp tấp hơn, gặp vấn đề cũng dễ hốt hoảng hơn. Cậu lấm lét nhìn Ô Hành Tuyết mấy lần rồi hạ thấp giọng hỏi anh mình, “Sao đại nhân nhìn như đau đớn hơn tất cả những lần trước vậy.”

Cậu anh nói, “Chắc vì dạo này người thường xuyên nhận thiên chiếu quá.”

Cậu em “Ồ” gật gù, một hồi lâu sau lại hỏi tiếp, “Mà sao mấy năm gần đây nhiều thiên chiếu quá vậy? Em nhớ hồi trước đại nhân có nói là người xử lý vài vấn đề tồn đọng thôi mà. Nếu đã là tồn đọng thì xử lý xong một việc phải bớt một việc đúng không?”

Cậu anh không phản đối, miệng lẩm bẩm theo, “Đúng vậy, nhưng em hỏi anh, anh hỏi ai? Hiện tại đại nhân cũng có quan tâm đ ến ai đâu.”

Cậu em vẫn còn vô cùng lì lợm, bèn nói tiếp, “Vậy… em chờ đại nhân tỉnh dậy sẽ hỏi.”

Cậu anh đâu bịt được miệng em mình, chỉ đành nói, “Tuỳ em, nhưng đừng có chọc giận đại nhân đi đó.”

Mỗi khi Ô Hành Tuyết tĩnh toạ đều sẽ phong bế toàn bộ năm giác quan, thúc đẩy quá trình hồi phục bằng cách giảm thiểu tối đa hao tổn, tránh dẫn đến những mối lo ngại ngoài ý muốn. Thế nên chàng không nghe được đoạn đối thoại của hai tiểu đồng tử. Nhưng những lời chúng đàm luận cũng là điều mà chàng thường trăn trở mấy năm trở lại đây.

Thứ mà chàng chém đứt là những mối rối sinh ra từ tham niệm của người đời năm xưa, lúc họ mượn sức thần mộc để mở ra dòng thời gian rối loạn. Trên lý thuyết, sau khi chàng phong ấn thần mộc rồi thì không phát sinh thêm nữa.

Nếu chàng chém đứt những mối rối tồn đọng, vậy vì sao đã rất nhiều năm rồi mà chúng không hề giảm đi?

Không chỉ không giảm đi mà thiên chiếu mấy năm gần đây còn xuất hiện thường xuyên hơn.

Suy nghĩ dạng này đôi khi lại ngẫu nhiên trỗi dậy, nhưng rất khó nắm bắt và cũng khó lòng kiểm nghiệm. Bởi thế nên dù trong lòng từng có nghi ngờ nhưng Ô Hành Tuyết vẫn hành sự theo chiếu chỉ.

Có điều, mối nghi ngờ này dần tích luỹ từ ngày này qua tháng nọ, năm này qua năm nọ, mỗi lúc một nghiêm trọng hơn. Rồi đến hôm nay đã lên đến đỉnh điểm.

Bởi thiên chiếu lần này xuất hiện quá nhiều dòng rối loạn, liên luỵ đến quá nhiều người.

Chàng không còn lý do để thuyết phục bản thân, đã làm Linh Vương phụng mệnh thiên chiếu hơn trăm năm mà đến giờ dòng rối loạn vẫn còn nhiều như thể những mối rối tồn đọng kia chưa hề biến mất.

Nhưng nếu đó không phải tồn đọng thì là gì?

Còn có thể là… cái gì?

Trong lúc mất hoàn toàn năm giác quan, ngồi tĩnh toạ trên trường kỷ, Ô Hành Tuyết không nghe được thắc mắc của tiểu đồng tử, không hay biết biến cố trên Tiên Đô, cũng chẳng nhận ra gió đêm đang mơn man lướt qua Toạ Xuân Phong luôn san sẻ khí hậu với nhân gian.

Giữa bóng đêm thăm thẳm và sự tĩnh lặng phủ trùm hết thảy, câu hỏi kia nảy nên liên tục —

Nếu không phải tồn đọng thì là gì?

Là gì…

Là ai…

Những câu hỏi này quấn rịt chàng như tâm ma, mỗi khi chàng tự hỏi thêm một câu thì tâm trạng u uất và xót xa càng trĩu nặng. Nó tựa như một vũng lầy vô biên, còn chàng đang lún sâu bên trong, chỉ có thể buông mắt nhìn bản thân bị nhấn chìm từng chút một.

Và khi càng chìm sâu xuống dưới, cái lạnh rét thấu xương và cơn đau âm ỉ lại càng trở nặng, nghiêm trọng đến độ chàng có thể cảm giác rành rành dù đã phong bế năm giác quan.

Cứ như thể cảm xúc ấy không đến từ thân thể hay xương tuỷ mà bắt nguồn từ trái tim, từ linh phách, mà chàng không cách nào tránh né được.

Trước đây, khi mấy đồng tử lo lắng, chàng thường giải thích với chúng là: “Đây là gánh nặng Linh Vương cần phải nhận.”

Người thường không nên đi lại giữa “quá khứ” và hiện tại, chàng lại tới lui tự nhiên đến vậy nên cần phải trả một cái giá đau đớn, thương tổn ở một mức độ nào đấy. Đây âu là lẽ thường tình, giống như Tiêu Phục Huyên giết tà ma sẽ có lúc bị thương hoặc bị tà ma khí ăn mòn vậy.

Mọi người có trọng trách của riêng mình, có gánh nặng của riêng mình.

“Nhưng không cần cau có,” chàng thường an ủi hai đứa nhóc lúc sợ hãi lúc la hét, nói, “vẫn còn có bù đắp cơ mà, này, đại nhân của các ngươi có thể tự lành lặn đấy thôi.”

Chàng luôn phải chịu đựng cái đau đớn lạnh buốt này, nhưng bù lại chàng luôn có thể tự lành lặn. Việc này khác với những tiên nhân khác phải cần lập trận, phải cần uống canh thuốc hoặc đan dược. Tuy vậy, vẫn khó tránh khỏi tổn thương mỗi lúc một nặng nề hơn.

Thường chàng chỉ cần tĩnh toạ qua một hai ngày là cơn đau buốt vì lạnh trên cơ thể sẽ tự động biến mất mà không để lại hệ quả gì. Chàng cũng hay đùa rằng, đây có lẽ là một điều phúc báo chỉ dành riêng cho mình Linh Vương.

Tuy nói những lời này để dỗ dành tiểu đồng tử, nhưng trong lòng chàng đây chớ hề là một niềm an ủi. Sau những lần quay về từ dòng rối loạn, có đôi khi chàng chìm vào mê mang không biết mình rốt cuộc là tiên hay là ma.

Là tiên… thì chẳng phải nên ban phước lành hay sao? Chẳng phải nên diệt trừ tà ma hay sao? Tại sao chàng toàn xuống tay giết người sống vậy?

Là ma… vậy lý do gì chàng lại ở trên Tiên Đô, mang trên mình phong hào “Chiêu” ngời ngời chói loá?

Những khi tĩnh toạ, chàng vẫn thường lâm vào nỗi cô liêu này, mãi cho đến khi sức mạnh tự lành trỗi dậy bao bọc khắp cơ thể như làn nước ấm rót lên mặt nước đã thành băng.

Vào khoảnh khắc ấy, dòng nước ấm phủ kín nỗi cô liêu khiến nó dần hoà tan rồi phai nhạt.

Và chàng sẽ cười tự giễu trong lòng, thầm nghĩ: Nhìn xem, vẫn còn phúc báo.

***

Nhưng hôm nay không như thế.

Có lẽ vì không cách nào tránh thoát khỏi những câu hỏi tự vấn, hoặc vì hôm nay cái lạnh thấu xương trở nặng hơn bao giờ hết, nặng đến độ khả năng tự chữa lành kia cũng dường như không áp chế nổi…

Bởi vậy, cái lạnh rét này rạch xuyên năm giác quan gián đoạn, tràn vào linh phách, xương tuỷ, trái tim… xuyên qua hết thảy mọi nơi đặng đổ ào về phía chàng, khiến chàng lạnh lẽo đến mức cứng đờ cả đầu ngón tay.

Khoảnh khắc nào đó, Ô Hành Tuyết chợt nhớ về vài đoạn thoại nghe được giữa lúc hàn huyên…

Người ta nói những tà ma giết chóc vô độ dưới nhân gian cũng có điều kiêng kỵ chứ không sống cả đời sung sướng. Chúng cũng trải qua những lúc gian nan, và quãng thời gian khốn khổ đó được gọi là “kiếp kỳ”.

Nghe đồn kiếp kỳ của tà ma mang đến cơn đau mà người thường khó lòng mường tượng nổi.

Cơ thể chúng trở lạnh, cái lạnh lẽo không phải như đứng giữa trời đông dài dẵng, đó là cái lạnh do những âm hồn đầy oán hận đã chết dưới tay chúng bám lên thân thể mà thành. Nó giống như thứ ung nhọt ủ không ấm và xua không tan, sinh sôi từ xương tuỷ và không ngừng lan tràn trong cơ thể tà ma.

Chúng cũng sẽ đau đớn. Đó không phải cơn đau xác th1t, mà là sự phản phệ của những oan hồn chết thảm không cam lòng đã gặm nhấm trên linh phách của tà ma suốt đêm ngày, khiến chúng đau đớn.

Nếu tà ma vượt qua được kiếp kỳ, oan hồn sẽ tạm thời ngủ đông không hoạt động cho đến khi oán khí tích tụ đầy đủ mới trỗi dậy lần nữa.

Nếu tà ma không tìm được cách vượt qua an toàn, chúng sẽ cảm thấu một cái chết đau khổ cùng cực — bị sương giá đóng băng xương tuỷ, linh phách bị cắn nát không còn gì.

Khi nhớ đến những lời này, Ô Hành Tuyết bất giác dấy lên một ý nghĩ nực cười —

Chàng nghĩ thầm… <i>không phải mình cũng như thế sao?</i>

Cái gọi là “gánh nặng của Linh Vương” và “kiếp kỳ” của tà ma có khác gì nhau đâu? Đó cũng là buốt giá thấu xương, là cơn đau khi linh phách vỡ tan từ trong sâu thẳm, rồi cả… cũng từng giết qua cơ man người.

Chàng thậm chí còn nghĩ, <i>nếu mình cũng là một tà ma dưới nhân gian thì số người mình từng giết là ít hay nhiều?</i>

<i>Chỉ e trên tay tà ma cũng không bám nhiều máu bằng mình đâu.</i>

Một khi ý nghĩ này nhen lên thì tìm cách xua nó đi còn khó hơn lên trời.

Điều làm chàng khốn đốn nhất là việc chính bản thân chàng cũng không nghĩ ra một lý do nào để xua ý nghĩ này đi.

Vì chàng là Linh Vương? Vì chàng là một vị tiên?

Vì chàng không còn sự lựa chọn nào, bị buộc phải làm vậy?

Chàng không nhớ mình đã từng nói với ai đó rằng, tà ma giết người, một số hiệp khách trong tiên môn cũng từng giết người. Nhưng khác nhau ở chỗ tà ma giết người nhằm mục đích tu hành, chúng làm thế suốt đời, liên tục không ngừng nghỉ. Còn những vị hiệp khách tiên môn phải rơi vào đường cùng mới làm như thế, và cũng chỉ giết vài lần thôi.

Còn chàng thì sao…

Liệu chàng có điểm kết không?

Chàng đã từng đoan chắc rằng chỉ còn một số ít dòng rối loạn còn thừa lại mà thôi, rồi sẽ có một ngày chàng sẽ cắt đứt toàn bộ những dòng rối loạn đó, và sau đấy mọi chuyện đều chấm dứt.

Nhưng hiện tại, chàng không cảm thấy tin chắc được nữa…

Nếu chuyện này không có hồi kết, nếu cuộc đời này, chỉ cần chàng còn làm Linh Vương một ngày thì phải đảm đương công việc này một ngày. Nếu số lượng người chết dưới tay chàng chỉ mỗi ngày thêm chồng chất, vậy chàng và tà ma khác nhau ở đâu?

Ngay bản thân chàng cũng không tách biệt rạch ròi được.

Chàng cần một câu trả lời rõ ràng…

***

Khi đứng run cầm cập ngoài cửa, hai tiểu đồng tử mới nhận ra trong phòng lạnh đến mức độ nào. Khí lạnh trên người Linh Vương không đường che giấu, lan ra đến tận bọn chúng.

Lạnh quá đi mất!

Tiểu đồng tử đưa mắt nhìn nhau rồi hớt hải chạy vào trong phòng, nghiêng đầu xem thử thì thấy trên ngón tay Linh Vương đã bọc một lớp trắng xoá lạnh lẽo.

Đây là… sương giá.

Tình huống này thật sự khiến chúng hoảng hốt, chúng bèn vội vã nắm lấy ngón tay Linh Vương lay lấy lay để. “Thưa đại nhân —”

Tiếp sau đó, Linh Vương đột ngột mở mắt ra.

Tiểu đồng tử mừng húm trong lòng, thốt, “Thưa đại nhân, người tỉnh rồi ạ, doạ bọn ta —”

Chữ “sợ” còn chưa thành tiếng, chúng đã thấy ánh trắng loé lên trước mắt. Chiếc trường kỷ hoàn toàn trống không, chỉ còn sương mù đạm nhạt lạnh lẽo.

Tiểu đồng tử lao ra cửa sổ, hô to, “Thưa đại nhân! Người đi đâu thế ạ?”

Lát sau, chúng mới nghe giọng Ô Hành Tuyết truyền vào trong gió, đượm chút nghẹn ngào vô cớ giữa mênh mang. Chàng nói, “Phố núi Lạc Hoa.”

***

Chàng cần một ít bằng chứng để có thể thuyết phục bản thân rằng thần mộc đã hoàn toàn bị phong ấn, không còn bị người lợi dụng sức mạnh tạo ra những rắc rối mới, thuyết phục bản thân rằng sự giết chóc và nỗi bất lực của bản thân rồi sẽ có hồi kết.

Thuyết phục bản thân rằng những gì chàng đã và đang làm là điều hữu ích.

Chàng muốn đến phố núi Lạc Hoa.

Nơi đó là địa điểm nhộn nhịp và bình yên muôn thuở giữa thế gian loạn lạc, đó là cấm địa phong ấn thần mộc. Chàng muốn đến xem một lần.

Song khi chàng dừng chân giữa phố núi Lạc Hoa, ánh đèn lồ ng trải dài mười hai dặm không khiến chàng cảm thấy chút nhộn nhịp bình yên nào. Đó là vì trên đường đi giữa dòng người trên phố núi, chàng tình cờ gặp phải một chuyện…

Chàng đứng trước cửa một nhà trọ, đưa mắt nhìn đám người đang tụ tập cách đó không xa, lắng nghe tiếng người thảo luận xôn xao, ngửi mùi son phấn nồng nặc đến phát sặc trong gió đêm, mà trái tim như sa vào hầm băng.

Chàng thấy một tiểu nhị ốm tong teo leo lên chiếc xe bị lật, dõng dạc giải thích với những người đang ồn ã, “Xin các chư vị khách quan chớ vội, khoan hãy mắng, mong mọi người tạm thời bình tĩnh chút. Nhà Lý Ký bên cạnh vừa đem phấn mặt ra khỏi quán, không may va phải đá lở lật xe, làm mấy hộp son phấn mỹ phẩm đổ ra trên đất. Hiện tại đã thu dọn xong xuôi hết rồi ạ.”

Thời khắc đó, bột phấn mặt thốc lên vì gió.

Ô Hành Tuyết khép mắt lại.

Chỉ cần người tiểu nhị ốm tong kia nói câu đầu tiên là trong đầu chàng đã có thể nảy ra câu tiếp theo. Bởi hơn hai mươi năm về trước, chàng từng nghe thấy câu thoại y hệt đúng tại nơi này.

Khi đó chàng tình cờ gặp Tiêu Phục Huyên, rồi sau còn gửi thư cho tiểu đồng tử bảo chúng đừng đến với lý do là chiếc xe này bị lật làm đổ son phấn ra ngoài.

Cùng một cảnh tượng, cùng một người, cùng một một câu nói.

Nhân gian không có loại luân hồi này, thứ duy nhất có thể tồn tại truyền đời như vậy, chỉ có <i>trói</i> — xuất hiện khi linh phách con người bị rút sống rồi trói vào một vùng đất nhất định. Khi đó thể xác họ sẽ hoá thành <i>trói</i>, giữ chân họ ở vùng đất này mãi mãi, mỗi hơn hai mươi năm lại luân hồi một lần.

Trẻ nhỏ trưởng thành, người thành niên dần sang luống tuổi. Quá trình này sẽ không ngừng lặp đi lặp lại mỗi một ngày một.

Trước đây chàng đến nơi này khá thường xuyên, chỉ tầm vài tháng là ghé một lần, cách lâu lắm cũng chỉ cỡ một hai năm. Mà mỗi lần ghé đến đều tập trung ngắm dòng người qua lại giữa núi đồi, hoặc… chẳng nhìn cụ thể một ai mà chỉ đơn thuần chiêm ngưỡng khói lửa nhân gian.

Thế mà vào lúc này, vừa khéo lại qua hơn hai mươi năm, vừa khéo để phố núi Lạc Hoa xoay tròn một vòng luân hồi.

Đây ắt cũng là số mệnh định sẵn.

Số mệnh định sẵn rằng Linh Vương cầm trường kiếm trên tay sẽ đến đây và gặp phải cảnh tượng này. Và rồi chàng ta sẽ choàng tỉnh khỏi cơn đại mộng khi trông thấy cảnh tượng đó.

Chàng ta sẽ phát hiện ra nhộn nhịp của miệt núi này là giả, phố núi Lạc Hoa mà chàng ta tấm tắc ngợi ca với bao người đã vắng hơi người sống từ lâu.

Những người nói cười vui vẻ, nhộn nhịp rộn ràng đó đã sớm chỉ là xác rỗng, không khác gì những con hát chàng nặn ra bằng bùa để tạo không khí sôi động.

Sự thật là, chàng đang đứng giữa nơi rộn rã nhất nhân gian, song biết rõ nơi này chỉ là một vùng đất chết.

***

Ô Hành Tuyết chẳng còn nhớ mình tiếp cận nhà trọ kia thế nào và làm sao tìm được cửa vào cấm địa ở sân sau. Chàng chỉ nhớ rõ mồn một khung cảnh hiện ra khi chàng đứng bên trong cấm địa, trước mắt là vô vàn những linh phách treo ngược không đếm xuể bên trong ngôi đền giữa khoảnh đất hoang cằn cỗi trải dài mấy trăm dặm. Cảm giác đau thương và ngang trái hoàn toàn nhấn chìm chàng vào trong.

Nhìn mà xem, những người từng nói chuyện với chàng ở phố núi Lạc Hoa đều đang mắc kẹt thành chùm nơi này. Trong khi thể xác họ tươi cười bên ngoài phố núi Lạc Hoa, linh phách họ đang khóc rền nơi đây.

Đây không phải cấm địa chàng lập nên, đây là cấm địa được thiết lập lại sau này mà chàng không hề hay biết.

Thế nhưng…

Có ai trên đời có khả năng đặt phong ấn vào cấm địa này lần nữa mà không để bất kỳ ai hay biết?

Không có ai.

Bởi dầu gì đi nữa, Thiên đạo Linh đài cũng sẽ biết.

Vậy tại sao lại xuất hiện phong ấn lần hai?

Bởi vì cấm địa thần mộc vẫn bị người lọt vào, vẫn bị người lợi dụng cho mục đích riêng.

Vô luận ai là người đã thực hiện việc này, vô luận người nọ đã tung những loại thuật pháp che mắt nào hay bày ra bao nhiêu rào cản đánh lạc hướng đến độ có thể che mắt tất cả mọi người, tránh được sự chú ý của chàng, thì cũng không thể trốn thoát khỏi Thiên đạo Linh đài.

Chìm giữa cảm giác trái ngang và đau thương xuyên trời thấu đất, Ô Hành Tuyết chợt giật mình nhớ đến một vài sự việc mình đã quên mất lúc trước, ví dụ như dòng rối loạn do nhà họ Phong phát động nên.

Khi đó chàng bị dòng thời gian rối loạn kia đẩy ra ngoài và mất đi ký ức, sau khi trở về Toạ Xuân Phong với lòng đầy hiềm nghi nhưng không xác định được đáp án…

Giờ nghĩ lại mới thấy, có lẽ không phải chàng không xác định được đáp án mà đã tránh né đáp án trong vô thức.

Bởi đáp án đó quá đỗi nặng nề, không một ai có thể chấp nhận nổi.

Ngay cả chàng cũng không thể chấp nhận nổi.

Thế nhưng hiện tại, khi chính chân chàng tìm đến nơi này, có muốn tránh cũng không thể tránh được nữa.

Còn có ai khác có thể xoá sạch ký ức của Linh Vương, khiến Linh Vương quên đi dòng rối loạn này.

Chỉ có thể là Thiên đạo.

Thiên đạo Linh đài có liên kết đặc biệt với chàng, có thể nói là cùng nguồn cùng cội, cùng sinh ra từ thần mộc.

Khi thần mộc bị phong ấn, phần sinh tử luân hồi hoá quy về trời, trở thành Thiên đạo Linh đài của đời sau. Còn phần nhận được phàm nhân cảm mến hoá sinh thành chàng, triệu hoán thành Linh Vương trên Tiên Đô, ban tự là Chiêu.

Dù cả hai cùng nguồn cùng cội, nhưng về bản chất không giống nhau.

Thiên đạo vô hình vô trạng, vô tâm vô dạng, đè nặng bên trên toàn bộ Tiên Đô.

Nó không hỏi về sống chết, mà chỉ bàn về mối quan hệ giữa thiện và ác, giữa phúc và hoạ. Nếu thế gian này có tiên, hiển nhiên cần phải có ma. Đã có người ra đời, ắt phải có người chết đi. Mà tiên càng nhiều thì ma càng đông. Sinh tử càng nhiều thì những người sống không cam lòng lại càng đông.

Nếu nhân gian còn tồn tại những tham lam, sân hận, si mê, và thần mộc hãy còn đấy thì luôn luôn sẽ có người nghĩ ra cách tìm được lỗ hổng. Bởi suy cho cùng, nơi cuối những dòng rối loạn còn có một Linh Vương trấn thủ.

Vì vậy…

Dẫu cho chàng đã chém đứt vô số dòng rối loạn nhưng vẫn không ngừng nhận tiếp thiên chiếu mới.

Vì vậy, chỉ cần thần mộc còn tồn tại một ngày, con đường chàng dấn bước sẽ không có điểm dừng, người chết dưới tay chàng không bao giờ hết.

Ô Hành Tuyết suýt bật cười vào khoảnh khắc đó.

Chàng ngẩng đầu.

Bầu trời cấm địa không xanh trong bao la như trên Tiên Đô, khung trời nơi đây đen thẳm không nhìn thấu, hệt như sương mù dày đặc dai dẳng quanh năm.

Đôi mắt dài nheo lại, tròng mắt đã hoen đỏ. Chàng nhớ về những gương mặt trong dòng rối loạn, những gương mặt lạ lẫm, hoảng sợ, bất lực, và quá đỗi bi thương…

Dẫu là nét mặt nào đi nữa thì khi từ giã cõi đời cũng đều trở nên trống rỗng vô hồn. Qua trăm năm, chàng đã nhìn không biết bao nhiêu ánh mắt đột ngột vô hồn như thế.

Chàng nhìn bầu trời dõi hoài không thấy, đôi môi khẽ mấp máy.

Chàng muốn nói…

<i>Ngươi có biết, họ đều là những người còn đang sống không?</i>

<i>Ngươi biết trăm năm qua, ta đã giết hết thảy bao người như thế không?</i>

Chàng cười thật khẽ.

Linh Vương…

Được trời ban danh tự “Chiêu”. “Chiêu” giả, huy hoàng rạng rỡ (2).

(2) 昭者,光辉灿烂。: chữ “giả” ở đây là giả trong “học giả”, ý chỉ người – giải nghĩa cả câu: người có tên là Chiêu là người sáng ngời rực rỡ.

Chàng có chỗ nào huy hoàng rạng rỡ, chàng có cách nào đảm đương bốn chữ Linh Vương Tiên Đô?

Bằng những vong hồn ấy thôi đã đủ để chàng trở thành ma đầu đáng chết nhất thế gian.

❄︎

Lời tác giả:

Ngủ ngon QAQ, tui quỳ đây

Cá:

Em thấy tác giả quỳ mà em muốn quỳ theo khóc lóc kêu bả đứng lên đi chứ không là em sẽ đọc truyện trong nước mắt đó. Mấy nay em up truyện chậm vì mấy chương này làm em trầm cảm quá, gõ hai câu là bắt đầu sụt sùi…
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 84: Sơn hoả


Những linh phách bị treo ngược trên nóc ngôi đền vừa kêu khóc vừa quơ quào tứ tung, phóng cánh cổ và hai tay dài ngoẵng giống hệt dây leo thẳng về phía Ô Hành Tuyết như muốn siết lấy chàng.

Ô Hành Tuyết không tránh né cũng không cản lại mà đứng yên đón nhận sự tấn công của chúng.

Thoáng chốc, những linh phách kia cũng sững sờ. Chúng mở to đôi mắt giăng kín tơ máu trong mê man, nhìn cái người đơn độc đứng giữa cánh đồng hoang cấm địa.

Lạ kỳ thay, chúng có thể cảm nhận được cơn giận bừng bừng trào dâng lẫn… xót thương khôn xiết từ phía người kia.

Có lẽ cơn giận mãnh liệt đi kèm áp lực nặng nề khiến chúng hơi hoảng sợ. Hoặc cũng có lẽ lòng trắc ẩn kia dạt dào như như biển rộng, nên đã đưa chúng vào một khoảng lặng.

Vẽ nên một bức tranh quái dị tột cùng —

Hàng ngàn hàng vạn linh phách với dáng vẻ đáng sợ đang vươn dài cơ thể, ngón tay quắp thành móng nhọn, nhưng ngừng bặt ngay trước cơ thể Ô Hành Tuyết khi chỉ cách chàng gang tấc.

Một linh phách trong chúng nhìn chàng chằm chặp hồi lâu, thắc mắc, “Lạ quá, hình như ta đã từng gặp ngươi…”

Ô Hành Tuyết nhìn gương mặt dài ngoẵng của người nọ, hồi lâu sau mới khẽ khàng đáp, “Ừm, đã từng gặp.”

Cách cổng vào phố núi Lạc Hoa không xa lắm có một quán trà, trước quán có một vị tiên sinh gõ thước kể những câu chuyện trong rõ thực hư ở trong sách. Trong quán có một cậu tiểu nhị lanh mồm, khách nhân nào ghé tiệm đều được cậu niềm nở chào hỏi một lúc lâu, người ta thường trêu rằng cậu chàng nồng nhiệt quá mức.

Một lần nào đó, Ô Hành Tuyết chém quá nhiều dòng rối loạn, không muốn trở về Tiên đô nên bèn đến phố núi Lạc Hoa. Khi ấy chàng ghé vào bàn cạnh cửa ở ở quán trà ngồi nghỉ ngơi giây lát. Cái cậu tiểu nhị nhanh mồm trong quán vắt khăn trên vai đến châm nước cho chàng, ném sang một cái nhìn thô kệch rồi không khỏi thốt lên, “Nhìn mặt công tử có hơi rầu rĩ, công tử gặp phải chuyện buồn lòng à?”

Nghe vậy, Ô Hành Tuyết thoáng sửng sốt, không câu nệ cái miệng thô kệch của cậu, trả lời, “Ta đang cười đây cơ mà, cậu nhìn sao lại thấy ta có chuyện buồn lòng?”

Tiểu nhị quán trọ không trả lời, cậu vừa lau cái bàn bên cạnh vừa nói, “Sau này nếu gặp phải chuyện buồn lòng, công tử cứ đến quán tôi. Nơi này cái gì thì thiếu chứ rộn rã có thừa, tôi giúp ngài bớt chút muộn phiền.”

Cậu tiểu nhị nâng cao ấm trà, vẽ dòng nước thành một đường cong dài. Cậu ta vừa tự hào ngắm nghía tay nghề của mình, vừa nói, “Đến đây uống một bình trà, nghe đôi ba mẩu chuyện thì chuyện buồn lòng gì cũng không còn nữa. Vừa rồi ông chủ có dặn hôm nay miễn phí tiền trà cho ngài.”

Cậu ta cười hì hì, nói, “Đất trời bao la, khách hàng là thượng đế. Ngài cứ ngồi đây đến khi nào vui lên hãy đi.”

Ô Hành Tuyết hãy còn nhớ rõ gương mặt cười hì hì của cậu, gương mặt đó hiện giờ bị kéo thòng xuống, phải nhìn kỹ lắm mới có thể loáng thoáng nhận ra.

Cái người trước đây đến giúp chàng mua vui lâu thật lâu, giờ đang khóc ròng đến sưng húp hai mắt, trông không giống người cũng không ra quỷ, nỉ non mà rằng, “Chúng ta khó chịu quá…”

“Ngươi biết không? Chúng ta khó chịu quá…”

“Ngươi có hiểu được không…”

“Cảm giác sống không bằng chết.”

“Đúng là sống không bằng chết.”



Ô Hành Tuyết chỉ lẳng lặng mà nghe, từng lời từng chữ rót vào tai chàng.

Thiên đạo vô hình cũng vô tình, chẳng màng sống chết hay khổ nạn của bất kỳ một ai trên đời. Nhưng Linh Vương thì khác…

Nếu phải trách, chỉ trách chàng đã hoá thành người, có đôi tai và một quả tim để có thể nghe thấy những lời khóc than hay mắng mỏ, có thể hiểu hết từng cụm “sống không bằng chết và “ta khó chịu quá” không ngừng lặp đi lặp lại trong miệng những linh phách kia.

Khi cảm giác trái ngang và thương xót dâng trào đến đỉnh, nó đã bùng nổ thành phẫn nộ.

Và khi phẫn nộ đạt đến đỉnh điểm thì chỉ còn lại tiếng cười.

Rốt cuộc thì Linh Vương cũng không phải con người.

Chàng không khóc, và chưa từng khóc. Suốt dòng đời dằng dẵng này, chàng chỉ biết cười.

Sương đen nồng nặc quá, khói mù đậm đặc quá. Chàng không thiết ngước nhìn trời cao, bèn cụp mắt xuống.

Chàng nghe những linh phách nọ hỏi, “Tại sao ngươi lại cười?”

Chàng nhểnh khoé miệng, “… Vì thật nực cười.”

Chàng lại nghe những linh phách nọ hỏi tiếp, “Vậy tại sao ngươi nhìn tay mình làm gì?”

Chàng đang nhìn ngón tay mình kết băng hoá thành màu trắng đầy lạnh lẽo, nói, “Ta đang nhìn… trên tay này dính bao nhiêu máu.”

Linh phách nói, “Có máu à? Tay ngươi rất sạch mà.”

Chàng lại bật cười, đôi ngươi giấu bên dưới bóng đen của hàng mi dày, chẳng lộ nổi một tia sáng. Chàng nói, “Các người không nhìn thấy mà thôi.”

Linh phách hỏi, “Vậy ngươi có thể nhìn thấy à?”

“Ừm.”

“Bao nhiêu máu?”

“… Quá nhiều.”

Quá nhiều, nhiều đến độ khó lòng kể xiết.

Nhưng dầu khó lòng kể xiết, chàng vẫn nhớ hết thảy.

Dù trí nhớ chàng không đặc biệt xuất sắc, có rất nhiều chuyện chàng chỉ liếc mắt rồi thôi chứ chẳng hề bận tâm đ ến. Song, chàng tuyệt đối nhỡ rõ từng người mất mạng dưới lưỡi kiếm mình, từng gương mặt, từng lần khép mắt, từng lần cảm nhận sinh mệnh mong manh đang dần chậm nhịp bên dưới lưỡi kiếm. Họ lặng im, và chót cùng quay về với sự tĩnh lặng vĩnh hằng. Chàng nhớ rõ hết thảy.

Sự yên ắng của cái chết khác hơn hẳn tất cả mọi loại yên ắng trên cõi đời. Nơi đó hết thảy sôi động đều bất giác im bặt, nơi đó con người ta bị nhấn chìm trong mù khơi vô tận, tựa như không còn một ai khác tồn tại trừ chính bản thân.

Bởi thế… vào những thời điểm ắng yên không người, chàng không cách nào ngủ ngon.

Nó khiến chàng nhớ về khoảnh khắc lìa đời của vô số người.

Mà hiện tại, dẫu trên đỉnh đầu văng vẳng tiếng khóc than của ngàn vạn linh phách, chàng vẫn chìm trong sự tĩnh lặng mà chỉ cái chết mới có.

Giữa nỗi cô liêu ngút trời, chàng đứng lặng bật cười.

Chàng nghe các linh phách bàn bạc hùng hồn với mình, “Hình như trên người ngươi có sương đen.”

Ô Hành Tuyết lia mắt một vòng quanh cơ thể, đáp, “Ta thấy.”

Có sương mỏng như khói đen đang lờn vờn quanh ngón tay, cánh tay, vai, và thậm chí khắp cả cơ thể chàng. Sương đen nọ khiến các linh phách hơi sợ chùng mình, nửa vì sợ hãi, nửa vì kinh tởm. Chúng thình lình nhao nhao lên lần nữa, khiến toàn bộ khu cấm địa rung động kông ngừng.

Chúng hô hỏi, “Đó là thứ gì?!”

“Đó là thứ gì?”



Ô Hành Tuyết lặng lẽ nhìn khói đen quấn rịt người mình, mãi một lúc lâu sau mới trả lời, “Tà ma khí.”

Đây là cảnh tượng có một không hai trên thế gian — tiên khí trong trẻo phiêu diêu và tà ma khí lượn lờ thành sợi đồng thời xuất hiện trên cùng một cơ thể… trên cơ thể của Linh Vương. Quả là một điều châm biếm đến nhược nào.

Ấy thế nhưng không sao thích hợp hơn thế nữa.

<i>Thật là không làm sao thích hợp hơn thế nữa…</i>

Chàng nhủ với lòng.

Trên đời còn có tà ma nào giết nhiều người hơn chàng sao… <i>Tại sao</i> cùng nhuộm đầy máu trên tay mà những tà ma kia sẽ bị giết cùng diệt tận, còn chàng lại yên vị trên chín tầng trời cao đặng nhìn xuống nhân gian bằng con mắt bình lặng?

<i>Tại sao</i>…

Chỉ vì Thiên đạo Linh đài cần có thiện có ác, có phúc có hoạ hay sao?

Thật không công bằng.

Đoạn “tại sao” ở trên in nghiêng là vì tác giả dùng một chữ “tại sao” khi Hoa Tín hỏi Ô Hành Tuyết ở chương 81 là “Linh Vương chưa bao giờ cảm thấy bất công hay sao, đã từng hỏi <i>tại sao</i> hay chưa?”

Ô Hành Tuyết bật cười chế nhạo, khép lại đôi mắt đỏ hửng. Đến khi mở mắt ra, chàng ngước lên nhìn hàng chục ngàn linh phách trên đầu và hỏi, “Các người muốn được giải thoát không?”

Dường như những linh phách kia nghe mà không hiểu.

Thật lâu sau, chúng mới chừng như thấu tỏ câu nói này, ngay lập tức đã ngừng khóc than giãy giụa, ngừng thét gào chất vấn.

Khoảnh khắc đó, cả cấm địa chìm trong thinh lặng.

Trong mắt linh phách nổi bừng ánh lửa sáng, chúng mở to đôi mắt nhìn Ô Hành Tuyết trân trối một hồi lâu, rồi rơi vào trạng thái hưng phấn và điên cuồng.

Muốn được giải thoát không?

Tất nhiên là muốn, muốn đến phát điên lên được!

Ô Hành Tuyết nhìn từng người một, ghi dấu từng gương mặt đã bị kéo dài đến biến dạng vào trong mắt, nhìn nét ngỡ ngàng và mững rỡ như điên, nhìn những người nọ chỉ thiếu điều muốn dập đầu hô to “cảm tạ”, gọi “thần minh hạ phàm”, nói “cảm kích tột độ”.

Ô Hành Tuyết cất giọng thật nhẹ nhàng, “Được, vậy ta tiễn đưa các người.”

***

Người đời kể lại rằng, vào đầu tháng ba năm ấy, phố núi Lạc Hoa vừa mở chưa bao lâu thì ngọn núi nổi lửa. Sự vụ xảy đến quá đột ngột khiến không một ai kịp trở tay.

Truyền thuyết nói rằng ngọn lửa ấy mãnh liệt hừng hực, sáng rỡ bừng bừng, cháy suốt mười hai dặm núi.

Truyền thuyết còn nói có người nghe được tiếng khóc và tiếng thét từ trong rừng lửa, mang trong mình sự tức giận, không cam lòng và thù hận chẳng biết hướng về ai.

Bởi vậy, người đời sau đoán rằng việc này do Thiên đạo giáng hình, gọi nó là thiên hoả.

Thật ra không phải như thế.

Ngọn lửa năm ấy do chính tay Linh Vương châm lên.

Chàng sinh ra từ nơi ấy, đem lòng mến yêu nơi ấy, và cuối cùng… tự tay thiêu rụi nơi ấy.

Ô Hành Tuyết vẫn còn nhớ rõ cảnh tượng đó cho đến mãi về sau —

Ánh lửa ngút trời lan từ cấm địa tràn ra ngoài, uốn lượn theo đường núi cùng mười hai dặm đèn lồ ng.

Lạ thay, chàng đã luôn tưởng rằng mười hai dặm dài lắm, đặc biệt là với người phàm. Nếu tản bộ sẽ mất rất nhiều thời gian, có khi tốn cả một đêm còn chưa đến được điểm cuối.

Mà một khi lửa bừng cháy đã phủ trọn chỉ trong loáng mắt.

Chỉ một loáng mắt thôi, mà biết bao sôi động, sáng tươi làm người lưu luyến không đành rời gót đã chìm hết trong biển lửa bất tận.

Chàng nhìn đám lửa bao bọc dòng người nói cười vui vẻ, nhìn da thịt họ co rúm quắt queo. Đến tận giờ phút này mà họ cũng không khóc lóc rên la, thậm chí trước khi da thịt co rúm, họ vẫn giữ nguyên nét cười trên môi.

Những nụ cười ấy nhắc nhở chàng hết lần này đến lần khác: Đây toàn là những bộ xác rỗng, họ đã không còn từ lâu, hết thảy những lời mày tấm tắc ngợi ca đều là giả dối.

Những tiếng khóc than và phẫn hận trong lời đồn của người đời đến từ linh phách bị trói buộc của họ.

Chúng nó đứng rất gần Ô Hành Tuyết, bởi thế mà Ô Hành Tuyết gần như trơ mắt nhìn gương mặt mừng rỡ chuyển sang hoang mang, rồi hoá thành oán hận.

Chúng nó giãy giụa trong đám lửa cao ngất, không ngừng tru thét và chửi rủa rền trời.

Chúng trợn trừng hai mắt, nhìn chòng chọc Ô Hành Tuyết bên kia ánh lửa, gào lên, “Không phải ngươi nói giải thoát chúng ta sao? Không phải ngươi trả lại tự do cho chúng ta sao? Không phải… chúng ta sẽ sống lại sao?”

Linh phách đã trở nên mê man sau thời gian dài bị trói tại nơi này, chúng đã không còn sáng suốt nữa. Chúng tưởng rằng được giải thoát là được trở về thân thể, là được tự do sống tiếp một lần nữa. Nhưng nào có phải, chúng đã tách lìa thân thể mình lâu, lâu lắm rồi. Giờ chúng đã… không còn sống nữa.

Người chết không thể sống lại, đây là chân lý mà người đời đều biết.

Giải thoát cho chúng chỉ mang ý nghĩa giải thoát khỏi trói buộc này, để cát bụi trở về với cát bụi, để chúng đi đến một lần chuyển dịch luân hồi.

Nhưng không một ai ưa thích thời điểm phải rời đi cả. Nên chúng sẽ không cam lòng, sẽ phẫn uất, sẽ oán hận, sẽ đớn đau…

Chúng quay cuồng, gào thét đến chói tai giữa ngọn lửa ngất trời, trút hết tất cả không cam lòng, phẫn uất, oán hận, đớn đau lên cái người đã nói sẽ “giúp bọn họ giải thoát”.

Còn người kia vẫn một mực không hề nhúc nhích, thậm chí không hề chớp mắt mà chỉ đơn giản đứng giữa ngọn lửa do chính mình châm lên, và đưa mắt nhìn chúng trong thinh lặng.

Chúng nó kêu gào không hề câu nệ, “Ngươi lừa bọn ta!”

Ô Hành Tuyết không giải thích.

Người chết dưới tay chàng nhiều vô số, không thể giải thích cho từng cái chết một. Mà những người đã khuất kia cũng sẽ không nguôi oán hận chỉ với một lời giải thích.

Mỗi một người mất mạng dưới tay chàng hẳn đều hận chàng lắm, chẳng một ai ngoại lệ. Thế thì, có thêm một người hay bớt một người cũng thế mà thôi. Thêm vài ngàn hay bớt vài ngàn cũng thế mà thôi.

Chúng nó tiếp tục gào lên, “Ngươi sẽ chết không toàn thây —”

Ô Hành Tuyết cười.

Cười đoạn, chàng khép mắt lại, trả lời, “Được.”

Chàng nghe thấy những linh phách kia rít lên đến chói tai, rồi lại tiếp tục rên gào “Ta khó chịu quá”, gào “Ta sẽ nhớ kỹ ngươi, ta sẽ nhớ kỹ ngươi…”, gào “Ngươi là đồ ma đầu”.

Để có thể giải thoát cho những linh phách này không thể chỉ dùng lửa bình thường, mà buộc Linh Vương phải hoà một phần linh phách mình vào đấy.

Thành thử, những linh phách nọ bị đốt bao lâu thì chính chàng cũng bị đốt bấy lâu. Những linh phách kia phải đau đớn thế nào trong lúc hấp hối thì chính chàng cũng đau đớn từng ấy.

Thế nhưng, chàng vẫn đứng thẳng mình, tựa như một thân cây lẻ loi giữa đồng hoang.

Chàng chịu đựng rét buốt và đau đớn đan xen, ngẩng đầu nhìn ngọn lửa xuyên trời thấu đất như đang nhìn xuyên mây đen mù mịt, hướng về Thiên đạo Linh đài chẳng biết ở nơi đâu.

Chàng mấp máy môi, cất giọng khàn khàn, “Ngươi thấy không, đây chính là cái chết của phàm nhân.”

❄︎

Lời tác giả:

Còn một chương nữa nha.

Cá:

Ùi em vừa edit mà em vừa đay nghiến á mọi người, nỡ nào… nỡ nào làm vậy…
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 85: Xẻ linh


Chàng và Thiên đạo có cùng nguồn cùng cội. Không biết Thiên đạo Linh đài đè nặng bên trên Tiên đô kia có thể cảm nhận được một chút gì thông qua cơ thể này của chàng hay không…

E là không thể.

E là trước giờ đều không thể.

Đây mới chính là điều ngang trái và thương tâm bậc nhất.

Bởi phía đối diện không phải một cá thể hay một sự việc, mà chính là Thiên đạo Linh đài, là thứ không thể nhìn thấy, không thể chạm vào. Hết thảy những nỗi không cam lòng và phẫn uất tràn trề có đến đâu cũng không nhận được một lời hồi đáp, hệt như đâm ra một nhát kiếm nhưng chỉ chạm đến thinh không.

Và nó vẫn duy trì cái mà nó gọi là cân bằng và đạo lý, là phúc hoạ tương y (1), thiện ác cùng tồn tại, tiên và người khác biệt…

(1) Phúc hoạ tương y: trong phúc có hoạ, trong hoạ có phúc, phúc hoạ đi liền với nhau

Vì tiên và người khác biệt nên một đám lửa khủng khiếp có thể thiêu trụi linh phách phàm nhân về cát bụi, còn Ô Hành Tuyết bị bỏng thấu xương nhưng da thịt bên ngoài không chút thương tổn.

Vì chàng có thần tính, mang thân thể của tiên.

Cho dù lúc tinh thần không ổn định ban nãy, tà ma khí đã bao quanh người chàng, cho dù vừa có hàng ngàn linh phách chết dưới tay chàng, nhưng chàng vẫn là một vị tiên.

Thật nực cười, trên người lượn lờ tà ma khí mà vẫn tính là một vị tiên.

Nhưng, trên thế gian này còn có một tiên nào như vậy nữa không?

Không, không còn một ai.

Cả thế gian chỉ có duy nhất một Linh Vương, sát nghiệp đầy tay, không ra người không ra quỷ, chẳng là cái thể thống gì cả.

Chỉ cần thần mộc còn tồn tại một ngày, chỉ cần Linh Vương còn tồn tại một ngày, thì những dòng rối loạn, những mầm mống tai hoạ ra đời từ lòng tham với sự sống và cái chết vẫn còn hiện hữu một ngày.

Ý nghĩ này không ngừng lởn vởn trong đầu Ô Hành Tuyết.

***

Sau khi những linh phách bị trói tan trong ánh lửa, cấm địa đột ngột chấn động, áp lực vô hình bủa trào như sóng dữ.

Trong tiếng lửa thiêu lách tách, có âm thanh sột soạt vang lên thật khẽ.

Một ảo ảnh bất chợt xuất hiện giữa đồng hoang cằn cỗi, ảo ảnh đó mang hình dáng của chiếc lọng đẹp đẽ nhất trần gian, như sương như khói, như ráng như mây.

Đó chính là thần mộc giấu mình trong cấm địa.

Hiện tại thuật che giấu đã bị gỡ bỏ, thần mộc lần nữa hiện ra giữa đồng không mông quạnh, ở phía sau lưng Ô Hành Tuyết.

Gốc đại thụ rợp trời lẳng lặng yên mình đằng sau Ô Hành Tuyết giống như đang trải bóng đỉnh đầu chàng trên nền đất, còn chàng chẳng hề ngoái đầu lại. Thân thể chàng vẫn hiên ngang giữa biển lửa, song phải chịu đau đớn và buốt rét thấu xương nên chỉ đứng thôi cũng phải dốc cạn toàn bộ sức lực.

Rất rất lâu sau đó, chàng mới ngẩng đầu lên đặng chiêm ngưỡng tàng cây như một chiếc lọng nguy nga đang che bóng, cánh hoa vẫn không ngừng lìa cành. Cứ thế tiếp diễn mãi mãi.

Chàng xoa sương đọng trên đầu ngón tay, duỗi tay toan đón lấy cánh hoa đang rơi nhưng rồi chẳng chạm được chút gì.

Sau khi sinh tử luân hồi bị tróc khỏi thần mộc, hết thảy cánh hoa rơi chỉ còn là ảo ảnh, là hư không, hệt như phố núi Lạc Hoa nơi chàng đang đứng.

Đều là ảo ảnh cả thôi.

Chàng nhìn bàn tay trống trơn của mình mà chớp mắt thật khẽ, lát sau mới thì thào, “Ta hơi mệt rồi…”

Tính từ khi hoá thân thành người, được triệu hoán thành tiên đến thời khắc này, chàng đã chém đứt cơ man dòng rối loạn, dọn dẹp không biết bao nhiêu cục diện phức tạp rối ren. Chàng phải chịu đựng những đau xác th1t khủng khiếp chẳng kể xiết. Mà lần nào cũng chỉ đành gượng cường rồi khoát tay bỏ qua.

Chỉ riêng lần này…

Có lẽ không bỏ qua được nữa.

Phía sau tang thương vô bờ là phẫn nộ, phía sau phẫn nộ là trống trải vô biên, và sau trống trải, là kiệt quệ đến gục ngã.

Chàng chưa bao giờ mệt mỏi đến thế.

<i>Ta là ai…</i>

<i>Ta còn nên sống hay sao…</i>

Khoảnh khắc, Linh Vương thầm hỏi chính bản thân mình.

Dĩ nhiên, khi hỏi những điều này, tự chàng đã có câu trả lời. Vào thời điểm chính tay chàng dỡ bỏ thuật che giấu thần mộc, chàng đã biết mình sẽ làm gì.

Nhưng chàng không thực hiện ngay mà đứng lặng người hồi lâu.

Để tự cười nhạo bản thân vì phút lưỡng lự đó.

Lòng bảo <i>ngươi nhìn đi, đã làm tiên rồi, mà vẫn có thể cảm thụ xung động cuối đời của phàm nhân. Quả thật có muôn vàn tiếc nuối, có bao điều vấn vương.</i>

Thậm chí vào một phút nông nỗi, chàng còn muốn quay về Tiên Đô một phen. Muốn đến Nam Song Hạ vì chàng muốn nhìn Tiêu Phục Huyên đôi chút.

Chàng yêu thích sự gần gũi xuất phát từ tình yêu, thích những hân hoan và rung động vì một cá nhân. Bởi chúng không như bao sinh tử chia ly mà chàng nhìn ngắm khi ngồi trên tàng cây, mà chỉ thuộc về riêng hai người họ.

Đây là mối liên kết chàng mới trải qua lần đầu trong đời, không nơi tham chiếu, không biết nên diễn tả ra sao.

Chỉ biết rằng, người phàm vẫn luôn nhớ mái nhà khi bước đến điểm cuối chót của đường đời. Chàng không phải người phàm, dù hoá hình ở Lạc Hoa Đài nhưng suy cho cùng đó cũng chẳng phải một mái nhà.

Chàng không có nhà để nhớ, chỉ có mỗi Tiêu Phục Huyên.

Chàng nhớ về khoảnh khắc gặp nhau lần đầu ở Tiên Đô, khi Tiêu Phục Huyên ngước nhìn từ phía xa bậc thang bạch ngọc dài dẵng; nhớ về mái hiên tại Nam Song Hạ, khi Tiêu Phục Huyên chống một gối cúi nhìn; nhớ về phố núi Lạc Hoa, khi Tiêu Phục Huyên đưa mắt nhìn sang từ bên kia những ngọn đèn lồ ng…

Nhớ đến một lần, sau khi hoàn thành thiên chiếu, chàng vừa quay về Tiên Đô liền nhen tính lười biếng, không muốn nhúc nhích. Khi đó chàng tựa đầu trên chiếc trường kỷ, liệng ra con hát bằng giấy cho chúng xướng tuồng gõ chiêng trên sân khấu được chàng biến ra từ hư không.

Trong tiếng ca à ơ, chàng chìm vào giấc ngủ, rồi chợt loáng thoáng nghe tiếng ai đó vén mành bước vào. Chàng uể oải mở một con mắt, Tiêu Phục Huyên tựa lên bàn và cúi đầu hôn chàng.

Chàng đáp lại một lúc, bỗng nghe giọng trầm thấp của Tiêu Phục Huyên vang lên từ nơi bờ môi tiếp xúc, hỏi rằng, “Ô Hành Tuyết, sao đã ngủ lại còn phải nghe gõ cồng chiêng.”

Chàng không biết nên trả lời làm sao, bèn thẩn thơ đáp vui rằng, “Nếu không ngươi đến gõ cũng được, nếu gõ hay hơn con hát thì ta thưởng hai tiểu đồng cho ngươi.”

Hai tiểu đồng tử đứng bên cạnh cửa trơ người như phỗng. Do ở phía bên ngoài mành nên chúng không biết tình hình trong phòng ra sao, bèn thỏ thẻ hỏi, “Chúng ta phải đi theo Thiên Túc đại nhân à?”

Tiêu Phục Huyên nói, “Miễn.”

Y trả lời tiểu đồng tử xong thì buông mắt ngắm nghía đôi mắt Ô Hành Tuyết, sau lại liếc nhìn đám con hát và thấp giọng hỏi nhỏ, “Ngươi ghét ở một mình à?”

Ô Hành Tuyết ngẩn ngơ thoáng chốc.

Có rất nhiều người nghe đồn việc chàng chuộng gấp giấy làm con hát, cũng có rất nhiều người thử đoán nguyên nhân, thậm chí lúc tò mò họ còn trực tiếp hỏi liều chính chủ. Chàng từng kể ra đủ loại lý do chẳng khác nào nói đùa, người ta nghe không tin thì cũng không hỏi tới nữa. Dù gì cũng chỉ là sở thích nghe ồn ào sôi động thôi mà.

Chỉ mỗi Tiêu Phục Huyên dường như chớm nhìn đã thấu nội tâm chàng, hỏi chàng không thích khung cảnh tĩnh lặng hoàn toàn à, hỏi chàng ghét ở một mình hay sao.

Lòng chàng như bị nắn qua thật khẽ mà bủn rủn cả người. Nhưng rồi chàng vẫn mạnh miệng phủ nhận và đánh trống lảng chuyện khác để cho qua.

Bởi chàng không muốn Tiêu Phục Huyên hỏi tới nguyên do vì sao chàng không thích sự yên tĩnh hoàn toàn.

Chàng không muốn Tiêu Phục Huyên biết mình từng giết đến ngần ấy người…

Đến tận hôm nay vẫn không.

Chàng mong được thấy Tiêu Phục Huyên, song cúi nhìn qua thân thể thì chỉ thấy tà ma khí càng dày đặc hơn sau khi những linh phách tan biến vào đám lửa.

Làn sương đen lượn lờ quanh người chàng từng hồi từng đợt, toát ra thứ mùi chỉ tà ma mới có, nó mang đậm oan ức và oán hận của những người đã khuất.

Sao chàng có thể xuất hiện trước mặt Thiên Túc chuyên trảm tà ma với bộ dáng như thế này…

Làm vậy sẽ khiến người ấy khổ sở và khó xử biết bao.

Chàng không thể đi.

Những người may mắn ở cõi trần có nhà để về lúc lâm chung, còn chàng… e rằng không nhìn thấy người kia được rồi.

Chàng lặng thinh hồi lâu, móc một tấm bùa từ tay áo, gấp hai lần rồi trải ra.

Tấm bùa hoá thành một luồng gió xuân giữa màn sương, men theo mây xanh đặng hướng về Tiên Đô và thay mặt chàng đến Nam Song Hạ.

Song, dù ánh đèn Nam Song Hạ vẫn sáng nhưng không thấy bóng dáng Tiêu Phục Huyên đâu.

Mười mấy cậu tiểu đồng mà chàng ép sang Tiêu Phục Huyên để trêu người năm nào đang tụ tập trước cửa cung phủ để tiếp đón khách đến từ bên ngoài.

Nam Song Hạ trấn áp luồng xoáy sát khí dày nặng nhất Tiên Đô nên xưa giờ đều vắng chân khách ghé. Việc có một vài vị tiên có mặt hiện tại rất khác ngày thường.

Những vị tiên kia dắt tiên sứ theo bái kiến, hỏi thăm tiểu đồng tử mà nét mặt không giấu vẻ lo âu, “Ban nãy Tiên Đô rung chấn dữ dội khiến mọi người vô cùng lo lắng, chúng ta đặc biệt ghé đến bái kiến một chút, không rõ Thiên Túc đại nhân thế nào?”

Tiểu đồng tử trả lời, “Đại nhân nhà ta không ở trong cung phủ.”

Các tiên nhân đều ngạc nhiên. “Không ở trong phủ?”

Tiểu đồng tử chỉ tay vào một góc Nam Song Hạ và nói, “Đại nhân đã trấn áp luồng xoáy kia xuống rồi, mong các vị đại nhân đây không cần lo lắng tai ương nảy mầm, ít nhất vào thời điểm hiện tại sẽ không có vấn đề.”

Các tiên nhân thở dài, song vẫn lịch sự ngỏ lời hỏi thăm, “Thiên Túc đại nhân có…”

Tiểu đồng tử chắp tay hành lễ, nói, “Đại nhân nhà ta chỉ dặn người có việc phải đi gấp rồi lập tức rời khỏi, có lẽ vì hôm nay người bị tổn hao linh thần nặng nề nên cần đi điều dưỡng.”

Khi bị tổn hao linh thần, đa phần chúng tiên trên Tiên Đô sẽ đóng cửa ở trong cung phủ mình để điều dưỡng. Duy nhất chỉ có Thiên Túc là ngoại lệ, lý do là vì y buộc phải trấn áp sát khí bên dưới Nam Song Hạ nên nơi đây tuyệt đối không phải địa điểm thích hợp để điều dưỡng. Một khi cần hồi phục linh thần, y luôn tìm đến những hang trời hoặc vùng đất hoang sơ hiếm dấu chân người lui tới.

Thế mà các tiên nhân vẫn chưa nguôi nét lo âu trên mặt, họ nói, “Sát khí trên Tiên Đô nghiêm trọng đến nỗi khiến Thiên Túc tổn thương nhường này hay sao.”

Không ngờ tiểu đồng trả lời rằng, “Không hẳn chỉ vì sát khí Tiên Đô, mong các vị đại nhân chớ bề lo lắng.”

Các tiên nhân ngạc nhiên. “Sao? Còn có tai ương gì khác ư?”

Tiểu đồng lắc đầu. “Không phải là tai ương ạ, khi trở về Tiên Đô, đại nhân nhà ta có bị thương do vừa đương đầu với tà ma ở Vân Nam. Sau đó…”

Tiểu đồng trầm ngâm một chốc rồi nói, “Sau đó cũng không rõ vì sao mà thương tích chợt trở nặng. Giống như… giống như có thứ gì đó rút lấy tiên nguyên khí của đại nhân từ giữa thinh không vậy. Rồi ngay vào lúc đó, sát khí chợt bùng nổ khó kiểm soát và gây ra một chút rung chấn.”

Ngay khi cậu vừa dứt lời, ngọn gió xuân vờn quanh bức tường bên ngoài sân vườn Nam Song Hạ chợt ngưng đọng như nước lạnh vào đêm.

Song không một ai bên trong hay bên ngoài sân biết được, và cũng không một ai chú ý đến.

Những tiên nhân nọ còn bận hỏi, “Sao lại có thể? Sao lại có thể rút đi từ thinh không được!”

Tiểu đồng tử đáp, “Đúng vậy ạ, chúng ta cũng không hiểu nguyên do. Dù vậy việc này cũng không phải lần một lần hai, trước đây đại nhân vẫn thường rơi vào trạng thái như vậy, có điều lúc trước không nghiêm trọng như hiện tại mà thôi. Nói chung, thật sự đã làm phiền đến các vị đại nhân rồi. Không biết chừng đợi thêm chút nữa đại nhân nhà ta cũng chưa quay trở lại, chẳng bằng các vị đại nhân hãy tạm về nghỉ ngơi trước.”

Những vị tiên nhân kia lại thăm hỏi thêm mấy câu rồi lần lượt chào tạm biệt.

Khi họ ngoảnh lưng rời khỏi, tiểu đồng tử thấy gió đêm ở Nam Song Hạ chợt trở lạnh, cái lạnh vô cớ này khiến chúng run lên cầm cập và lòng không khỏi băn khoăn.

Một tiểu đồng tử trong nhóm xoa xoa gương mặt mình thì chợt nghe có giọng nói hơi khàn hỏi khẽ, “Y… lần trước y gặp phải trường hợp này là hôm nào?”

Tiểu đồng trả lời theo bản năng, “Là vào nửa tháng trước.”

Cậu trả lời rồi mới sực nhận ra rằng các tiên nhân vận áo choàng dài đã khuất bóng đằng xa, nên chắc rằng người hỏi không phải là họ.

Thế thì là ai?

Tiểu đồng sửng sốt, ngoái nhìn một vòng xung quanh song chỉ nhìn thấy màn đêm miên man vô tận và sương lạnh bảng lảng.

Dường như cậu loáng thoáng nhìn thấy một dáng người thon cao bước giữa màn sương, cậu nhanh chân bước qua thì nhận ra trong sương không có bất kỳ ai mà chỉ còn gió lộng qua mặt.

Cơn gió ấy mang cảm giác lạnh lẽo khó tả, khi rót vào khoang mũi khiến cậu lạnh căm từ ngực xuống tận lòng bàn chân.

Ngay tiếp sau, cậu nghe giọng nói mơ hồ kia nhẹ nhàng đáp lại, “Ừm…”

Tiểu đồng tử nghe giọng nói nọ có hơi giống giọng Linh Vương, mà sao khàn hơn giọng Linh Vương rất nhiều.

Chẳng rõ cớ gì, phải chăng vì gió đêm man mát đượm nỗi tịch liêu, mà khi nghe tiếng “Ừm” như thế, lòng cậu lại thấy xốn xang khó tả. Giọng điệu người nọ khiến cậu cay xè cánh mũi, chớm ứa nước mắt.

Có lẽ năm xưa Linh Vương táy máy vào cơ thể mấy đứa bọn chúng nên giờ sinh chút cảm ứng trong lòng. Cậu nhóc bất chợt đỏ hửng mắt, cong chân chạy vào nhà để rút tấm bùa để gửi thư cho Thiên Túc nhà cậu hiện đang ở cực bắc…

Mấy đồng tử khác cũng lo sợ không thôi, hớt hải chạy qua chạy lại rồi toan đến Toạ Xuân Phong xem thử tình hình ra sao.

Vào lúc đó, hai tiểu đồng tử của Toạ Xuân Phong cũng nhói lên sự bức bối vô cớ. Chúng đứng ngồi không yên phải vội vã chạy tới Nam Song Hạ.

Trên đường, cậu em trai hấp tấp quá nên còn vấp bậu cửa bạch ngọc, té huỵch xuống đất.

Cậu không than lấy một tiếng như thể chẳng hề cảm giác được đau đớn, lồm cồm bò dạy chạy theo anh mình đến phía bên kia của Tiên Đô. Lúc đang chạy trên đường, cậu cảm thấy mặt mình lành lạnh, mà khi chạm mu bàn tay lên mặt mới nhận ra đã đẫm ướt mà không biết vì sao.

Cậu vội níu lấy anh trai mình, hỏi nhỏ, “Tại sao em lại khóc vậy anh…”

***

Ô Hành Tuyết không hay biết hết thảy những chuyện ấy.

Làn gió xuân thay chàng ghé tìm Tiêu Phục Huyên đã tan vào bóng đêm trên Tiên Đô sau khi chàng gửi lời “Ừm” với cậu tiểu đồng tử.

Còn bản thể chàng đang đứng giữa ngọn lửa nghi ngút trong cấm địa.

Ngọn lửa cháy hừng hực chẳng biết qua bao lâu mà chàng không mảy may cảm thấy bỏng rát, chỉ có sự lạnh lẽo cùng cực, cả người rét run…

Chàng được phủ trọn dưới cái bóng khổng lồ của thần mộc, ánh mắt thẫn thờ trong một điểm vô định trên nền đất. Ngón tay thả bên hông chàng siết mỗi lúc một chặt, siết mạnh đến đau đớn.

Đôi môi chàng run rẩy mấp máy, khẽ giọng lặp lại câu, “Nửa tháng trước…”

Nửa tháng trước…

Nửa tháng trước cũng là thời điểm chàng nhận một thiên chiếu, sau khi giải quyết xong dòng rối loạn và quay về Tiên Đô cũng rơi vào tình huống lạnh buốt đau đớn không ngừng. Chẳng qua không nghiêm trọng như lần này.

Khi đó, tiểu đồng tử còn hỏi chàng, “Đại nhân đau ạ?”

Chàng khoát tay tảng lờ, chỉ cười nói, “Lát nữa sẽ tự lành thôi.”

Thật vậy, chàng an tĩnh thiền định chưa đến một canh giờ đã hồi phục lại như ban đầu.

Đây là khả năng tự chữa lành của Linh Vương.

Đây là… “phúc lợi của Linh Vương.”

Chàng dùng hai chữ phúc lợi để an ủi hai cậu chàng kia và cũng để an ủi chính bản thân mình. Không biết đã qua bao ngày tháng cảm nhận sự ấm áp dịu dàng lúc thân thể tự lành lặn, chàng nhủ với lòng: Đấy, gọi hai chữ “Linh Vương” vẫn có điều phúc báo chứ nào chỉ có gánh nặng.

Thế mà…

Đến cả “phúc lợi” kia cũng chẳng phải trời ban cho Linh Vương tự có.

Phúc báo chàng có được hoàn toàn không phải vì những việc chàng từng làm, mà chỉ vì trên thế gian có một Tiêu Phục Huyên.

Khả năng “tự lành” này đã hiện hữu ngay từ đầu, khi chàng và Tiêu Phục Huyên thậm chí còn chưa quen biết. Bởi vậy, đây chắc chắn không phải việc Tiêu Phục Huyên cố tình làm, mà là ràng buộc trời sinh…

Ô Hành Tuyết đăm đăm trên bàn tay mình, khép mắt lại, đóng kín năm giác quan và thử vận sức tự chữa lành chốc lát.

Ngay khoảnh khắc cảm nhận dòng nước ấm áp chảy xuôi từ thẳm trong huyết mạch, chàng choàng mở mắt, quay ngoắt người nhìn thần mộc…

Không ngoài dự kiến, chàng trông thấy tinh chất bạch ngọc bao bọc hoàn toàn phần rễ thần mộc và đang men dần lên trên theo vân cây như một nguồn cung cấp dinh dưỡng.

Hẳn rằng, mối ràng buộc cung cấp dinh dưỡng giữa Tiêu Phục Huyên và chàng có nguyên lai từ đây.

Khoảnh khắc đó, bao nhiêu lời đồn bật lên trong trí óc chàng.

Trong truyện kể dân gian, phàm nhân thường kể rằng có một loài hoa sinh đôi với hai đoá hoa trên một cành. Khi một đoá nở rộ, đoá còn lại sẽ héo úa.

Phàm nhân còn kể rằng, sự ràng buộc này hiếm hoi vô vàn, có thể xem như một duyên phận to lớn.

Rất lâu về trước, khi hoá người từ thần mộc lần đầu tiên, khi tự tay khắc khối bạch ngọc thành hình người lần đầu tiên, khi chạm mắt Tiêu Phục Huyên lần đầu tiên, chàng cũng đinh ninh như vậy đấy: Đây ắt là duyên phận hiếm hoi vô vàn trên thế gian.

Số phận sớm định đoạt, chàng sẽ được gặp một người với mối ràng buộc cực kỳ sâu sắc.

Song hôm nay, chàng không cách nào thấy thế được nữa…

Với chàng, điều hiếm hoi vô vàn này ắt là duyên phận, còn với Tiêu Phục Huyên, có lẽ không quá khi gọi hai chữ “nghiệt duyên”.

<i>Tại sao</i> y phải đến nước này?

Y từng cản mình trước thiên lôi ở đời trước, mà đến đời sau thành tiên phải cung cấp dinh dưỡng cho Linh Vương.

<i>Tại sao</i> lại là y?

<i>Tại sao</i> lại là y!

Đôi mắt Ô Hành Tuyết hoen đỏ, chàng khom lưng nhẹ nhàng chạm đầu ngón tay vào tinh chất bạch ngọc đang bao bọc chạc cây, cảm giác thật ấm áp như nhiệt độ cơ thể Tiêu Phục Huyên.

Chàng khẽ giọng, “Ta giúp những linh phách kia được giải thoát, vậy cũng nên giúp ngươi một phen.”

Không chỉ mình ngươi, mà ắt sẽ giúp muôn vàn người trên thế gian được giải thoát.

Một ngày Linh Vương còn trên Tiên Đô, một ngày dòng rối loạn trên thế gian còn chồng chất.

Một ngày thần mộc còn trên cõi đời, lòng tham con người còn chưa đến hồi kết.

Chàng nhấc tay giữa màn lửa lớn, một thanh trường kiếm khắc vân bạc cắt ngang chân trời lao thẳng xuống dưới, xuyên qua cấm địa, vững vàng rơi vào trong tay chàng.

Chàng vuốt lòng bàn tay mình trên mũi kiếm bằng tinh chất bạch ngọc ấy, trên mũi kiếm có hương vị tương tự linh phách Tiêu Phục Huyên.

Chàng hít vào hương vị nhàn nhạt kia, thấp giọng thì thầm, “Một lần cuối cùng thôi.”

Ta mượn sức ngươi một lần cuối cùng thôi.

Bởi vì…

Bởi vì có lẽ sẽ hơi đau.

Ngay tích tắc ý nghĩ này bật lên, thanh trường kiếm của Linh Vương phóng vút như một bóng hình diễm lệ, kiếm khí lạnh căm tột độ giáng xuống từ trời cao, chém thẳng vào tán thần mộc như sương như mây.

Xẻ linh phách đau đớn tê tâm liệt phế đến nhược nào, thời điểm ấy chàng đã thấu triệt cùng cực.

Vào phút giây khốn quẫn đau thương cùng cực, ai trên thế gian cũng sẽ giãy giụa, đó là bản năng, là tiềm thức. Song khi thần mộc chấn động, chàng lại nuốt máu trong miệng, siết chặt chuôi kiếm và tăng lực mạnh hơn.

Chàng khép hai mắt mình, cảm nhận được linh phách và ý thức mình bị tách làm đôi, một bên là thể <i>tàn</i> của thần mộc, một bên là thể <i>vinh</i> của thần mộc.

Vinh tàn phân ly, linh phách xẻ đôi. Ánh bạc chói loà toả khắp thân đại thụ rợp trời dần lụi tàn theo lưỡi kiếm.

Đến khi ánh sáng hoàn toàn biến mất, sắc tiên quang đã tuyệt nhiên khuất dạng.

Biến mất cùng nó là tiên khí trên cơ thể Ô Hành Tuyết.

Khoảnh khắc ấy, tiên nguyên tiêu tan triệt để trong người chàng, nhường chỗ cho tà ma khí vốn đã âm ỉ manh nha. Chỉ trong chớp mắt mà chúng bủa tràn ồ ạt, dày đặc như biển Vô Đoan bao la.

Dù không nhìn thấy Thiên đạo kia nữa, song chàng có thể tự nhủ với lòng mình.

<i>Ngươi muốn thần mộc vĩnh viễn tồn tại trên thế gian, ta sẽ chém đôi thần mộc.</i>

<i>Ngươi muốn có Linh Vương trấn thủ ở cuối dòng rối loạn, ta khiến thế gian này không còn Linh Vương.</i>

<i>Chẳng phải thiện ác phụ thuộc vào nhau đấy sao?</i>

<i>Nhân gian có thêm một ma đầu, ngươi sẽ làm gì để ngăn cản đây?</i>

Trong cơn đau đớn tột độ, chàng không cách nào đứng vững người, quỳ sụp xuống trước tro tàn thần mộc, cơ thể rơi vào giữa tinh chất bạch ngọc, vạt áo tán loạn đầy nền đất. Máu đang trào ra từ các huyệt đạo trọng yếu trên cơ thể, chẳng mấy đã nhuộm đỏ thắm phục trang.

Chàng nuốt máu tanh vào họng giữa cơn mê man. Khi ý thức đang nhanh chóng tan biến, chỉ còn những tiếng ù ù trong não, chàng bất chợt nhói lên ảo giác như nghe được giọng Tiêu Phục Huyên, hoặc cũng có lẽ là dư âm còn lại của tướng quân thiếu niên bên dưới tàng cây năm nào.

Người ấy gọi chàng một tiếng “Ô Hành Tuyết”.

Hai người họ luôn ưa thích trêu vui bằng cách gọi nhau “Thiên Túc đại nhân” này “Linh Vương đại nhân” nọ. Chỉ trong những phút giây thân mật nhất mới gọi nhau bằng tên.

Ô Hành Tuyết chớp mắt, máu nhỏ giọt khỏi hàng mi. Chàng nhếch khoé miệng.

Chàng muốn nói <i>Tiêu Phục Huyên ơi, có lẽ ta… sẽ không được gặp ngươi trong một khoảng thời gian dài.</i>

Ta cũng chẳng rõ có còn cơ hội được nghe ngươi gọi “Ô Hành Tuyết” lần nữa hay không.

❄︎

Lời tác giả:

Còn một chương nữa mà tui phải viết lại rất nhiều nên chắc sẽ cập nhật trễ tí.

Cá:

Bộ này được xếp vào hàng top những bộ truyện ngược tui từng đọc được rồi đấy.
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 86: Tận diệt


Thực ra, Tiêu Phục Huyên đã sớm nhận ra sự bất thường với thân thể mình, thậm chí từ trước khi gặp Ô Hành Tuyết trên thềm bạch ngọc ở Tiên Đô.

Có những thời điểm, y sẽ bất chợt thấy cả người mình chìm trong sát khí như thể có ai đó đang hút tiên nguyên và khí kình y từ xa.

Cảm giác đó dị thường khôn cùng, mà y không biết điểm đến phía bên kia là đâu và cũng không biết khi nào sẽ chấm dứt.

Ban đầu, y còn tưởng mình bị tà ma bỏ lén một loại cấm thuật nào đó trong lúc giao đấu với chúng. Nhưng số tà ma có khả năng hạ cấm thuật lên người y trong âm thầm không ai hay biết hiếm hoi đến mức gần như bằng không.

Y từng thử truy nguồn tìm ngọn, nhưng ràng buộc này tựa như một loại ảo ảnh, hễ tìm đến nửa đường liền mất bóng hoàn toàn mà không hề có dấu vết của phù chú hay bất kỳ một loại cấm thuật nào.

Y trấn thủ Nam Song Hạ, nơi có sát khí nồng đậm nhất Tiên Đô. Đây là việc đã được đề cập trong thiên chiếu y tiếp nhận năm đó. Nếu không thể trấn áp chỗ này sẽ dễ dàng khiến Tiên Đô chấn động. Nhỡ đâu có một ngày nó bị sụp đổ vì lý do nào đó thì người lãnh chịu hậu hoạn chính là bá tánh dưới nhân gian.

Bởi vậy, y nghiễm nhiên không lơi là cảnh giác. Không tìm được nguồn cơn cụ thể nên vào thời gian đó, y thường xuyên ghé qua Linh đài cho việc này.

Về sau, vào những lúc nghe người trên Tiên Đô hoặc dưới nhân gian nói “Thiên đạo Linh đài biết hết mọi việc”, y chỉ lạnh nhạt liếc nhìn rồi quay lưng rời đi.

Lý do chỉ một —

Nếu quả thật Thiên đạo Linh đài biết hết mọi việc thì tại sao không có cách nào nói cho y hay rốt cuộc ai đã hạ ràng buộc này trên thân thể y, để hút đi tiên nguyên và khí kình y mà không hay không biết?

Hoặc là Thiên đạo Linh đài không biết hết mọi việc, hoặc là đã biết đó là ai nhưng không muốn nói y biết, và cũng không định để y cắt đứt mối dây này, ngược lại còn để liên kết cứ tiếp diễn không ngừng.

Nếu rơi vào khả năng sau thì rất đáng để suy xét.

Bởi vậy, Tiêu Phục Huyên đã cực kỳ thờ ơ với Thiên đạo Linh đài từ rất lâu về trước.

Song tính tình y lạnh lùng cố hữu, hầu như không mang cảm xúc gì với rất nhiều chuyện ở đời. Sự thờ ơ lần này không ảnh hưởng gì nhiều, chẳng qua y chỉ không mang lòng tôn kính Thiên đạo, và bản thân việc đó không ảnh hưởng đến nhiệm vụ trấn thủ Nam Song Hạ cũng như không cản trở việc y trừng trị tà ma hoành hành tác loạn trên thế gian.

Chỉ là, có một khoảng thời gian rất dài, y có chút đề phòng Thiên đạo Linh đài.

Có lẽ vì sự đề phòng này, và cũng vì Nam Song Hạ có sát khí nặng nề quá đỗi nên không thích hợp làm nơi tĩnh dưỡng. Thế nên mỗi lần bị hệ luỵ từ sự ràng buộc vô cớ ấy dẫn đến tổn hại linh thần, y đều lấy đó làm lý do để đi tĩnh dưỡng ở một nơi bên ngoài Tiên Đô.

Quá hiếm địa điểm trên thế gian phù hợp dùng làm nơi tĩnh dưỡng cho y, hiếm đến gần như bằng không. Âu cũng vì y mang mệnh cách thật oái oăm.

Không biết kiếp trước, và kiếp trước nữa, y là người nơi đâu và đã từng làm những việc gì, mà chung quy từ lúc chào đời, trên người y đã nhiễm nặng sát khí. Thêm cả, linh phách y từng vỡ nát không thể thành hình vẹn nguyên, sau còn trải qua nhiều phen sinh tử nên sát khí kia mang cả oán khí mà chỉ người chết mới có.

Nếu đơn thuần nhìn vào mệnh cách thì dù có kết luận y là “lệ quỷ nhiều kiếp liền” cũng không cảm thấy phi lý.

Ấy thế mà y lại được triệu hoán thành tiên, từ đó khoác trên mình tiên khí sắc bén bậc nhất.

Chính nhờ có thân thể với sự mâu thuẫn này nên khi lên Tiên Đô, y mới trở thành người có khả năng trấn giữ Nam Song Hạ.

Và cũng chính nhờ có thân thể với sự mâu thuẫn này nên mỗi khi bị thương tổn, y rất khó tìm được một nơi để trị thương hiệu quả — đi đến nơi có tiên khí nồng đậm sẽ áp chế sát khí trời sinh trên người y, còn ngược lại đi đến nơi sát khí quá nặng sẽ ảnh hưởng đến tiên nguyên.

Tiêu Phục Huyên đã đến rất nhiều nơi trên thế gian, cuối cùng cũng tìm được một địa điểm đặc biệt. Y từng tiếp nhận vô số thiên chiếu nhưng tuyệt nhiên không một thiên chiếu nào chỉ về hướng đó.

Bởi nơi đó là một vùng rộng lớn thênh thang, hoàn toàn khoáng đãng, không người không tiên cũng vắng bóng tà ma. Nếu trên đời có một nơi được xem như vô thiện vô ác, vô sinh vô tử, thì ắt chỉ có duy nhất nơi này.

Nơi đó còn xa hơn cực bắc, được người ta gọi là phía ngoài cực bắc.

Sau này, người đời thường nghe rất nhiều lời đồn về nơi “phía ngoài cực bắc” này nhưng không một người nào có thể đặt chân đến, và cũng không một ai tới quấy rầy.

Thế nên sau đó, Tiêu Phục Huyên thường đến đây để điều dưỡng sức khoẻ, vạch ra kết giới và ngồi tĩnh toạ để hồi phục.

Y đã từng muốn cắt đứt mối ràng buộc vô danh kia và cũng đã thực sự tìm ra cách. Thế nhưng cuối cùng y đã không làm gì cả. Vì sau này y tình cờ phát hiện ra, bên kia mối ràng buộc chính là Ô Hành Tuyết.

Lúc phát giác được việc này, ngay đến Thiên Túc cũng không nói nên lời mà chỉ biết tự xoay ngược lời châm biếm về chính bản thân mình. Tới tới lui lui, người bên kia mối ràng buộc thế mà gần trong gang tấc, còn y phải mất ngần ấy thời gian mới nhận ra.

Có lẽ mỗi lần linh thần bị tiêu hao, y đều tránh ra bên ngoài cực bắc đến mấy hôm liền, lấy lý do nhận thiên chiếu để không quay về Tiên Đô, tránh làm người ấy lo lắng vô cớ.

Vì vậy, bọn họ vẫn luôn sít sao lỡ mất.

Mãi đến chuyến đi đến phố núi Lạc Hoa, y đứng dưới ánh đèn lồ ng chờ Linh Vương bước sang đầy khí khái.

Đêm hôm đó, y phát hiện cơ thể người kia lạnh căm như đóng băng, khí kình bị ngưng trệ, rõ ràng cơ thể rất khốn khổ mà gắng không thể hiện ra ngoài. Y phải khuyên nhủ dụ dỗ nhiều lần, người kia mới chịu nghe lời đến tĩnh toạ an dưỡng trên giường.

Y vốn định ở bên cạnh bảo vệ chút thôi, ngờ đâu người bên kia mới tĩnh toạ giây lát thì tiên nguyên và khí kình y đã xuất hiện biến động.

Phải gặp tận mắt trường hợp như vậy, y mới vỡ lẽ, ngọn nguồn mình mãi tìm nhưng không có kết quả lại vẫn luôn gần ngay trước mắt.

Bỗng dưng, ràng buộc thế ấy chẳng khiến y bận lòng mấy nữa.

Thế là về sau, Tiêu Phục Huyên không bao giờ nghĩ đến việc cắt đứt mối liên kết này.

Mà trái lại, y nghĩ đến hai vấn đề khác.

Thứ nhất, y muốn chuyển dạng ràng buộc này sang một cách khác, giấu nó đi kỹ hơn chút nữa.

Vì nếu y có thể phát hiện, đồng nghĩa một ngày nào đó Ô Hành Tuyết cũng sẽ phát hiện. Y hiểu rõ tính tình người kia, và cũng đoan chắc được phản ứng của người ấy một khi biết được chuyện này. Y không muốn nhìn thấy một Linh Vương khí khái dạn dĩ phải đau lòng hay áy náy.

Thế nên, tốt nhất là đừng bao giờ để bị phát hiện.

Hơn nữa… nếu y có thể tính được như vậy, thì không cớ gì Thiên đạo Linh đài lại không cả? Thiên đạo Linh đài biết rõ nhưng không có bất kỳ phản ứng nào mà còn để tai hoạ tiềm ẩn kéo theo rất nhiều hệ luỵ này tiếp diễn, lý do là gì?

Để hai người bọn họ kiềm chế lẫn nhau? Để mỗi người trong họ không bao giờ có thể vượt xa Linh đài?

Bất luận là nguyên do nào thì vẫn mang ý hạn chế trong đó.

Vừa kiềm chế mà vừa hạn chế, liệu rằng sẽ có một ngày bọn họ phải đối đầu lẫn nhau dưới sự thúc đẩy của Linh đài hay không?

Chưa chắc là không thể.

Dù gì trong quá khứ, y đã nhìn thấy Ô Hành Tuyết lần đầu tiên trong hoàn cảnh hai người đao kiếm đương đầu.

Có một quãng thời gian rất dài sau đó, Tiêu Phục Huyên mãi nghĩ đến “xác suất” nhỏ nhoi kia, y cần phải làm gì đó, hoặc phải để lại gì đó để nhỡ đâu có một ngày hai người thật sự ở hai chiến tuyến thì vẫn còn một đường lui để cứu vãn.

Mỗi lần ra bên ngoài cực bắc để an dưỡng, trong không gian tĩnh lặng không gì quấy nhiễu đầu óc, y đều sẽ dành thời gian dài suy ngẫm về vấn đề này.



Tiêu Phục Huyên nỗ lực thử không biết cơ man là cách, cả công khai lẫn bí mật, cuối cùng cũng tìm được một phương pháp tạm xem là thích đáng.

Thật ra, y đã nghĩ ra giải pháp và cũng chuẩn bị trước một ít rồi. Kế hoạch gần như được bắt tay vào thực hiện, chỉ chờ đúng thời điểm là ngày giải quyết xong tà ma ở bên ngoài Vân Nam.

Ấy thế mà… những sự việc kia lại xảy ra vào đúng ngày hôm đó.

Ngày hôm đó, y bị tà khí quấy nhiễu lúc quay trở về Tiên Đô.

Việc này cũng không nghiêm trọng gì cho lắm, ngoại trừ đám tiểu đồng tử mà Ô Hành Tuyết ép y phải nhận cứ quen thói nhao nhao lên thì y không cảm thấy ảnh hưởng gì, chỉ cần nghỉ ngơi một chút sẽ khoẻ lại ngay.

Ngờ đâu, y nghỉ ngơi chưa tới nửa khắc thì tiên nguyên và khí kình chợt bắt đầu chuyển động và ào ạt tràn về một hướng nào đó. Thành thử, sự quấy nhiễu vốn không đáng bận tâm lại bất ngờ trở thành một mối phiền phức.

Vòng xoáy bị trấn áp bên dưới Nam Song Hạ đột ngột xao động, sát khí ngợp trời bủa trào cuồn cuộn đến độ muốn nuốt chửng Nam Song Hạ vào trong.

Khoảnh khắc đó, Tiêu Phục Huyên đang trấn ngay tâm điểm thì dường như xuất hiện ảo giác. Thân thể y như không đang ở Tiên Đô, cũng không đang ở Nam Song Hạ gì đó, mà đã trở về Kinh Quan nơi chôn vùi hằng hà nấm mồ. Nơi ấy cũng là nơi mang sát khí nặng nhất nhân gian. Một vài phần linh phách y từng sống và trấn giữ nơi này, suốt ngày thâu đêm lắng nghe tiếng vạn quỷ khóc gào trong sát khí, để chúng cắn nuốt linh hồn.

Cảm giác ấy tồi tệ khôn cùng, hiếm người nào có thể chịu đựng nổi, và tiên cũng không ngoại lệ. Bằng không thì sao cả một Tiên Đô rộng lớn đến vậy mà chỉ mỗi mình y có thể trấn giữ chỗ này.

Song, khi sát khí Thiên Túc thượng tiên bít bùng trong gió đất, lòng y lại lo lắng rằng “Sao lần này nghiêm trọng đến thế, không biết tình huống ở Toạ Xuân Phong ra sao rồi.”

Cũng chẳng rõ sát khí rung động Nam Song Hạ thế này liệu có ảnh hưởng gì đến người đang tĩnh toạ an dưỡng ở Toạ Xuân Phong hay không.

Nghĩ vậy, y không muốn trì hoãn thêm chút nào nữa.

Ngay lúc đó, hàng mày Tiêu Phục Huyên nhíu chặt lại, y ngưng tụ và trích máu từ đầu tim mình hết lần này đến lần khác để dùng làm sức ép hòng đóng ngược sát khí đang bao trọn Tiên Đô trở lại từng chút từng chút một. Mỗi lần ép nó xuống một tấc, máu trên mặt y lại phai đi một ít, thế nhưng khí thế băng giá căm căm kia chẳng mảy may suy suyển.

Ngày hôm đó, tất cả mọi người trên Tiên Đô đều chứng kiến sát khí ngợp trời tràn ra khỏi Nam Song Hạ cuồn cuộn như biển, hung hãn kinh hoàng, tưởng chừng muốn nuốt chửng toàn bộ Tiên Đô.

Tuyệt cảnh hang trời trên chín tầng mây của họ rung chuyển không ngừng, thậm chí trên thềm ngọc cầu ngọc đã có dấu hiệu nứt gãy, dư chấn lan rộng khiến núi Thái Nhân và tháp tiên nối lên Tiên Đô cũng không yên ổn, e rằng đêm ấy bá tánh nhân gian chẳng thể ngủ được một giấc an lành.

May thay… còn có Thiên Túc thượng tiên.

Gần như bọn họ đều tận mắt chứng kiến luồng sát khí kia bị rút ngược về cung phủ Thiên Túc, rồi đóng lại vào dưới thềm ngọc thạch từng tấc từng tấc một như thế nào.

Sau khi chấn động dần suy giảm, bọn họ hấp tấp chạy tới Nam Song Hạ hòng gửi lời cảm tạ hoặc thăm hỏi tình hình, ngờ đâu nhận được câu trả lời của các tiểu đồng tử rằng: “Đại nhân nhà ta không ở trong cung phủ.”

Đúng là Tiêu Phục Huyên không ở đó.

Ngay sau khi trấn áp hoàn toàn sát khí xuống dưới, y gần như không nấn ná một khắc nào đã lập tức xới ngàn dặm đất để đến bên ngoài cực bắc.

Sự bất thường đêm hôm nay khiến lòng y bồn chồn không nguôi.

Người y đã chịu tổn thương lại còn phải trấn áp sát khí, khó tránh việc tiên nguyên và khí kình bị sát khí bào mòn đôi chút. Khi đó lại trùng hợp thời điểm quá trình tĩnh dưỡng của Ô Hành Tuyết bị gián đoạn, ước chừng người bên kia đã hồi phục vài phần.

Nhân cơ hội có quãng nghỉ này, y muốn tận dụng tiến hành việc mình sớm định làm từ lâu nhằm đánh đổi sự an tâm lâu dài.

Bên ngoài cực bắc quanh năm tuyết trắng, giương mắt về phương xa chẳng thấy nổi ranh giới.

Tiêu Phục Huyên chưa chạm chân xuống đất đã tung ra kết giới bao bọc cơ thể mình bên trong, lướt qua màn tuyết mà chẳng lưu lại dấu vết.

Y cụp mắt ngồi chỉn chu dưới nền trời tuyết đậm, gác thanh trường kiếm sang một bên. Tiếp đó, những hạt tuyết trắng nhờ bất chợt cuộn lên bao bọc thân thể y theo dòng lưu chuyển của khí kình, nhốt người y vào bên trong màn sương tuyết.

Đến khi sương tuyết mịt mùng rơi xuống để lộ người ngồi trong kết giới, mới thấy giữa môi Tiêu Phục Huyên hiện sắc máu đỏ thẫm, trong tay y là ba thanh đinh tang màu đen.

Từ xưa đến nay, không một ai tỏ tường tác dụng của ba cây đinh tang này. Trên thế gian có lời đồn nói rằng, “đinh tang” nghe qua như có liên hệ mật thiết đến sinh tử, không mang điềm lành. Bởi vậy nên khi ba thanh đinh vuông nhọn góc phủ sát khí nặng nề đóng trên xương tai của một vị thượng tiên càng lộ rõ sự mâu thuẫn đến tột độ.

Chỉ một mình Tiêu Phục Huyên mới hiểu rõ, tuyệt đối không được tháo ba thanh đinh tang này ra.

Khi xưa linh phách y vỡ vụn và tan vào những dòng rối loạn đó. Mỗi lần Ô Hành Tuyết chặt đứt một dòng, phần linh phách kia mới thoát được một ít. Mãi đến khi các dòng rối loạn ở Kinh Quan bị chém sạch sẽ, hết thảy linh phách vụn vỡ của y cuối cùng đã quay về chốn cũ. Và từ đấy, trên thế gian mới có một Tiêu Phục Huyên.

Chẳng là, linh phách vỡ vụn rồi nào dễ gì khôi phục nguyên vẹn như lúc ban đầu được nữa. Thêm cả, linh phách Tiêu Phục Huyên trời sinh đã thế thì càng khó cách nào có thể đột ngột dung hoà.

Ba thanh đinh tang kia cũng hơi tương tự như đinh đóng quan tài dưới nhân gian, tác dụng của nó là nối những mảnh vụn linh phách y lại với nhau và đính chặt chúng vào thân thể.

Đinh tang đã đóng hàng mấy trăm năm nay, chưa một lần rời khỏi xương tai y.

Đây là lần đầu y tháo nó xuống. Linh phách y vỡ vụn trong thân thể.

Thật dị thường…

Nguyên trạng linh phách y là mảnh vỡ, chúng chỉ được nối lại với nhau bằng ngoại lực mà thôi. Thế mà sau khi gỡ đinh tang xuống để chúng trở về những mảnh vụn, y vẫn cảm nhận được cơn đau giằng xé khi linh phách bị chẻ nát.

Không chỉ một đường, mà nó gồm vô vàn những vết nứt không sao đếm xuể, rách toạc ra từ những vị trí khác nhau. Không khác gì có hằng hà những miệng vết thương chưa kịp lành lặn hoàn toàn đã bị xé mạnh ra lần nữa.

Dẫu có là trời sinh thành quen thuộc như Thiên Túc thượng tiên thì vẫn không tránh khỏi rướm máu bờ môi.

Y mím môi trong mùi máu tanh nồng, tháo túi gấm bên hông ra. Bên trong túi gấm là tinh chất bạch ngọc đã được chuẩn bị từ trước. Mỗi lần đến phố núi Lạc Hoa, y đều cố tìm chút tinh chất bạch ngọc còn sót lại hoặc rơi vãi đâu đó. Y không biết tinh chất bạch ngọc ra đời từ đâu, nhưng y biết có ai đó rất yêu chuộng nó.

Y cúi đầu, rút sống một phần linh phách mình ra ngoài, dung hoà nó vào bạch ngọc, rồi cẩn trọng đẽo tinh thể bạch ngọc kia thành hình.

Y muốn đẽo tượng thần Linh Vương, khắc ấn thờ vào sau lưng tượng thần và kết nối ấn thờ với linh phách trong tinh chất bạch ngọc ấy. Để từ nay về sau, mỗi khi Ô Hành Tuyết cần điều dưỡng sức khoẻ, thì hết thảy mọi ràng buộc đều nằm trên bức tượng bạch ngọc này, tiêu hao phần linh phách mà y tách ra trước chứ không hiển hiện trực tiếp trên thân thể y.

Nhờ đó, y sẽ không cần tránh đi Toạ Xuân Phong và nhốt mình ở bên ngoài cực bắc này. Mà y có thể hành xử như thường lệ, vén mành bước vào và ngắm nhìn người kia dần dà hồi phục, để thấy người kia lần nữa lộ ra nét mặt hồng hào và nụ cười sáng trong.

Y không bao giờ quên cảnh tượng có một dịp mình bước vào Toạ Xuân Phong và trông thấy Ô Hành Tuyết nghiêng đầu ngồi tựa trên thành trường kỷ mà ngủ một giấc chẳng an lành, bên cạnh người là con hát bằng giấy đang khua chiêng ầm ĩ.

Trong tiếng hát ca í ới, y nhíu mày nhìn người kia mà lòng trỗi lên xót xa vô cớ.

Cho dù Ô Hành Tuyết đã an ủi và lừa gạt bằng rất nhiều lý do thì y vẫn có thể thấy rõ, người ấy không thích không gian yên tĩnh quá mức, và cũng không thích đơn độc một mình.

Y muốn nói… <i>sau này sẽ không phải như thế nữa.</i>

Tiêu Phục Huyên rủ mắt nhìn, tượng thần bằng bạch ngọc đang xoay nhẹ trong luồng kiếm khí từ ngón tay y.

Rõ ràng là một người sinh ra với gương mặt lãnh đạm đến tột cùng, mà hành động luôn đậm dấu tình thâm.

Tượng thần trên tay y đã hòm hòm nên hình, người được chạm có dáng vẻ thon cao đ ĩnh đạc, phong thái tuấn tú oai phong, trên tay cầm một thanh trường kiếm, trông rạng ngời như nắng ấm (1).

(1) Gốc là “<i>húc nhật chiêu quang</i>”, trong đó chữ “chiêu” là cùng chữ “Chiêu” tên tự của Linh Vương.

Y khẽ híp mắt, cong ngón tay khỏ nhẹ lên bức tượng ngọc một chút và cất giọng trầm thấp gọi, “Ô Hành Tuyết…”

Y muốn hỏi: Ngươi đó muốn đeo chiếc mặt nạ ấy không?

Thế nhưng y chỉ kịp gọi tên thì ngón tay chợt khựng, rồi thốt nhiên ngẩn người.

Nháy mắt đó, linh phách chưa lành lặn trong cơ thể y thình lình chấn động, cảm giác hệt như đạp hụt bước từ vách núi cheo leo. Tim y đánh dồn mạnh mẽ rồi bất chợt thít lại như đang bị một bàn tay vô hình siết chặt, sau một lúc lâu mới từ từ được thả ra.

Khi máu chảy xuôi trong huyết mạch, cảm giác hốt hoảng vô cớ bất chợt tuôn trào…

***

Trong thế giới của phàm nhân, người ta gọi đây là linh cảm của con tim.

Có lẽ đó thật chính là linh cảm của con tim đấy, bởi thế nên vào khoảnh khắc Ô Hành Tuyết chẻ đôi thần mộc, trừ khử tiên nguyên và quỳ sụm xuống đất, thì người ở bên ngoài cực bắc xa xôi cũng bất giác cảm thấy đau buồn xâu xé tâm can.

Khoảnh khắc đó thật ngắn ngủi, nhưng cũng quá đỗi dài lâu.

Ngắn ngủi đến độ không một ai kịp nhận biết chuyện gì vừa xảy ra đặng có bất kỳ phản ứng nào. Ngắn ngủi đến độ tiểu đồng tử ở Nam Song Hạ chỉ mới vừa chạy qua một chiếc cầu vòm, ngắn ngủi đến độ hai anh em cậu nhóc ở Toạ Xuân Phong còn chưa kịp lau đi nước mắt tuôn trào chẳng rõ nguyên do.

Đã từng, Tiên Đô cũng có những người bị giáng xuống nhân gian, để từ khoảnh khắc người đó không còn là tiên, tất cả những người khác sẽ dần quên mất họ.

Khi vẫn còn là Linh Vương, Ô Hành Tuyết đã từng tiễn đưa rất nhiều cố hữu. Chàng đã từng rung chuông bạch ngọc cho rất nhiều người, dẫn họ vào một giấc mộng an lành, để khi họ tỉnh khỏi giấc mộng ấy sẽ không còn nhớ rõ gì nữa, và nhờ vậy cũng sẽ không cảm thấy khổ đau nữa.

Chàng đã tiễn đưa nhiều người như thế đấy…

Song đến lượt chàng thì hoàn toàn khác hẳn.

Có lẽ vì được hoá thân từ thần mộc, có cùng căn nguyên với Thiên đạo và tách biệt với chúng tiên của Linh đài nên chàng trở thành một sự tồn tại đặc biệt. Hoặc cũng có lẽ quá trình chàng chẻ linh phách thần mộc và tự trừ khử tiên nguyên đã thật sự đả kích Thiên đạo Linh đài đè nặng bên trên Tiên Đô, nên chàng phải gánh nhận hình phạt nặng nề hơn bất kỳ một ai khác.

Trước đây, hình phạt cho Vân Hãi và những người kia là trôi dần vào quên lãng.

Còn hình phạt cho Linh Vương là tận diệt…

Ngay thời điểm tiên nguyên hoàn toàn biến mất, hết thảy ký ức về chàng đã bị xoá sạch khỏi thế gian.

Tiểu đồng tử ở Nam Song Hạ đang hối hả gửi một phong thư đến đại nhân nhà chúng. Mà khi chấm bút vào mực son thì bỗng quên mất định nói gì.

Cậu nhóc cầm bút trên tay, ngẩn ngơ tựa người vào thành bàn một lúc lâu mới giật mình hoàn hồn khi một đồng tử khác chạy vào trong nhà và hỏi, “Cậu lấy bùa ra làm gì thế?”

Cậu ta đăm chiêu mãi mới thẫn thờ đáp, “Tôi… tôi quên mất rồi.”

Cậu nói tiếp, “Hình như tôi có chuyện gì rất quan trọng cần bẩm báo cho đại nhân, nhưng mà… tôi quên rồi.”

Mấy tiểu đồng tử vừa chạy qua cây cầu vòm ngoái đầu hối thúc nhóm bạn đằng sau, “Nhanh lên, sắp tới…”

Cậu đang nói, bất chợt nét âu lo trên gương mặt bị thay thế bằng sự nghi ngờ, bước chân cậu cũng chậm lại.

Cả đám vừa hấp tấp xô đẩy nhau xuống cầu, rồi giờ ai cũng lần lượt chững người, chúng nhìn nhau một hồi rồi ai cũng thắc mắc, “Khoan đã, tụi mình… tụi mình định đi đâu vậy?”

“Ờm…”

“Lạ quá, đang yên đang lành sao tụi mình phải rời khỏi phủ vậy?”

“Không biết nữa.”

“Kỳ ghê, sao tôi thấy đau lòng quá.”

“Tôi cũng vậy… sao đau lòng quá đi mất.”

Mấy tiểu đồng tử thừ người giây lát mà cảm thấy mệt mỏi cùng cực mà chẳng rõ nguyên do. Trước giờ chúng chưa từng phải đau lòng đến thế.

Cùng lúc đó, hai tiểu đồng tử ở Toạ Xuân Phong đang chạy giữa gió đêm thổi trên Tiên Đô. Chúng băng qua một vùng sương mù lạnh giá, và không bao giờ bước ra ngoài nữa…

Tương tự như cơn gió xuân Linh Vương gửi lên đây, chúng nó đã tan biến trong đêm thâu, không gợn mây khói.

Toạ Xuân Phong ở một góc xa xa trên Tiên Đô giăng những dây đèn dài tít tắp. Ánh đèn dầu sáng ngời nối nhau thành dãy cũng tắt ngúm trong nháy mắt, từ bấy về sau chẳng bao giờ rạng lên lần nữa.

Tuyết lớn phủ ngợp trời bên ngoài cực bắc, cơn đau xé toạc linh phách dai dẳng lặp đi lặp lại trên cơ thể Tiêu Phục Huyên như thể sẽ kéo dài bất tận. Bởi thế, có một khoảnh khắc nào đó, y bất chợt nhen lên ảo giác như thể đó không chỉ là cơn đau của linh phách mình.

Nhưng ngoại trừ chính mình ra thì còn ai nữa?

Còn ai khác sẽ…

Cuối cùng, cơn đau dai dẵng kia cũng dần nguôi ngoai, Tiêu Phục Huyên mở mắt, hai tròng mắt y hoen đỏ. Y cau mày thật chặt, yên lặng cụp mắt nhìn món đồ mình đang cầm trên tay.

Đó là một pho tượng bằng bạch ngọc, dáng vẻ thon cao đ ĩnh đạt, phong thái tuấn tú oai phong, trên tay có cầm một thanh trường kiếm. Thế nhưng bức tượng này không tên không họ, và cũng không có gương mặt.

Có lẽ chính bản thân y đã tự tay chạm nên bức tượng này.

Thế nhưng người được chạm trong tượng là ai, và vì sao y lại gỡ đinh tang rồi ngồi giữa bão tuyết?

Y nhìn khoảng trống nơi gương mặt tượng thần hồi lâu mà mãi vẫn không nhớ nổi.

Chắc rằng y đã quên mất chuyện gì đó, cũng vì thế mà thế giới này khuyết đi một mảnh.

Từ đấy về sau gần ba trăm năm, nó chẳng bao giờ vẹn tròn trở lại.

❄︎

Lời tác giả:

Tui sửa lại mấy lần, mọi người chờ lâu rồi QAQ

Cá:

Ồ mình khá là bất ngờ vì tác giả đã xoá luôn ký ức của Tiêu Phục Huyên ở đây…
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 87: Trăm năm


Ắt rằng không một ai có thể đếm được rốt cuộc ngọn lửa lớn thiêu trụi Lạc Hoa Đài kia đã kéo dài trong bao lâu, kể cả bản thân Ô Hành Tuyết cũng không nhớ nổi.

Lửa bừng cuồng nộ, linh phách xé đôi, tiên nguyên tàn lụi… hết thảy những thứ này đều đổ ập lên cùng một cá thể, dẫu có là ai cũng không cách nào đón nhận mà còn giữ được tỉnh táo. Trong rối bời, chàng ngồi tĩnh lặng trong cấm địa.

Lửa cháy bao lâu, chàng ngồi bấy lâu.

Chàng không còn thân thể bất hoại mang thần tính quanh mình. Dưới sự suy nhược nặng nề thì đám lửa kia cũng sẽ để lại vết thương. Vết thương trên cổ, lưng, cánh tay, mắt cá chân… ở những vị trí càng trọng yếu và những vị trí nhạy cảm với cơn đau thì vết thương càng lộ rõ hơn cả.

Cuối cùng, trang phục trên người chàng thấm đẫm máu.

Sau này nhân gian tương truyền rằng, sau khi Lạc Hoa Đài bị thiêu thành đất hoang cằn cỗi, có quá nhiều người đã chết cháy, quá nhiều máu đã nhuộm sâu, nên tất cả những dòng sông chảy ngang qua đó đều trong xanh ở đầu nguồn nhưng khi thoát ra khỏi núi đã chuyển sang đỏ sẫm và uốn quanh toàn bộ cánh đồng Gia Minh. Từ đó về sau, đến gió thổi qua cánh đồng Gia Minh cũng mang theo mùi máu khô, lạnh lẽo như sắt rỉ.

Song không bất kỳ ai biết rằng, mùi máu tanh nồng được gió lan khắp đồng hoang đều đến từ cơ thể Linh Vương.

***

Nếu có thể xem việc ý thức mê man rối loạn là một giấc ngủ, thì có lẽ Ô Hành Tuyết đã ngủ một giấc rất dài tại Lạc Hoa Đài.

Đến khi chàng choàng mở mắt tỉnh lại, ngọn lửa lớn đã dừng từ lâu, mười hai dặm Lạc Hoa Đài cháy đến tàn lụi, để lại bóng hình chàng đơn côi. Những người trong tiên môn đến để chữa cháy cũng đã rời khỏi, phố núi lẫy lừng một thuở trong lời bá tánh giờ đây chỉ còn là những niềm thổn thức.

Ô Hành Tuyết giấu đi vết máu trên trang phục mình. Khi bước lên đường núi trống trải để rời đi, chàng loáng thoáng nhìn thấy thành trì phía xa. Bên ngoài thành có dăm ba quán trà quán rượu chống thân tre treo đèn lồ ng và cờ hiệu trước cửa. Mặt trên của những lá cờ hiệu kia đã đổi từ “Tuế Ninh” sang “Thanh Hà”.

Cứ như chỉ “ngủ” một giấc mà tưởng chừng nhân gian đã đổi thay.

Ở góc rẽ bên ngoài rìa núi, chàng vô tình gặp phải một nhóm bá tánh có đầy đủ già trẻ trai gái. Họ đang đi theo một chiếc xe bò chất đồ rất nặng, cẩn trọng bước từng bước dưới chân núi, vừa đi vừa dáo dác nhìn khắp mọi nơi như thể e ngại yêu ma quỷ quái sẽ nhảy bổ ra từ ven đường.

Ngồi bên tấm ván xe bò là một cô gái với đôi mắt sắc lẻm, cô là người đầu tiên vừa nhìn đã phát hiện ra chàng qua lớp sương mù miệt núi. Thoạt đầu, cô giật mình, hốt hoảng hô lên, “Bên dưới Lạc Hoa Đài mà có người dám đi một mình à?”

Chiếc xe bò đang đi chầm chậm thắng lại đánh <i>két</i>, cả nhóm người lục đục ngừng bước đặng dời mắt sang nhìn chàng một cách khó tin. Họ nhìn nhau và xôn xao bàn tán, âm thanh xì xào phát ra liên tục. Người đánh xe có thân hình rắn rỏi, bên hông treo một thanh đao.

Người đó nhìn chòng chọc về phía này, tay chạm vào đao bên hông và hỏi, “Vị công tử này đến từ đâu, tại sao lại đi một mình trên đường núi này? Không lẽ huynh đài chưa nghe lời đồn về Lạc Hoa Đài hay sao? Chẳng nhẽ không biết thiên hoả từng xuất hiện ở Lạc Hoa Đài?”

Cô gái có ánh mắt sắt lẻm ở bên cạnh nói thêm một câu, “Công tử là người nơi khác đến đây à? Trước đây trong núi này từng có tà ma quấy phá!”

Những người còn lại xôn xao gật đầu tán đồng, có người chỉ khoảnh trời thênh thang trên đỉnh đầu mà nói, “Chẳng biết tà ma đến từ nơi nào nữa, mà chắc mang nghiệp chướng nặng nề đến mức cực kỳ khó giải quyết, thế nên trên kia không chịu nổi bèn giáng thiên hoả làm hình phạt, lần đó lửa cháy nghi ngút chẳng rõ bao nhiêu ngày.”

“Vào thời điểm bùng lên, lưỡi lửa cao chót vót! Cao đến độ đứng cách xa mấy chục dặm vẫn có thể thấy rõ cả một vùng trời đỏ quạch. Rất nhiều người nghe thấy tiếng khóc than bên trong. Phải gọi đó là… oán khí ngút trời. Mà oán khí dày đặc như vậy khó lòng phai nhạt trong sớm chiều, thế nên đến tận bây giờ, ở đây vẫn thường xảy ra chuyện!”

“Phải phải phải! Có rất nhiều người hay nói thấy lửa đỏ ở đây, không chỉ thế còn xuất hiện nhiều thứ đáng sợ nữa!”

“Đi một mình đến đây cực kỳ nguy hiểm, người ta muốn đến các thành trấn lân cận cũng phải đi đông người, dẫn theo xe ngựa chở hàng hoặc đi chung với người biết thuật pháp, còn công tử đây…”

“Công tử?”

Các bá tánh thay phiên nhau nói một lúc lâu mà mãi không thấy người trả lời, họ không khỏi thấp giọng đoán, “Không lẽ anh ta không nghe được?”

Đúng thật là lúc đó Ô Hành Tuyết không thể nghe rõ.

Cơn đau sót lại khắp cơ thể chàng còn chưa dứt, năm giác quan như tê liệt. Lời mấy vị bá tánh này lọt vào tai chàng như ngăn sông cách biển, mịt mờ mông lung. Thứ mà chàng nghe được rõ nhất là những câu chữ được lặp đi lặp lại rằng, tà ma quấy phá Lạc Hoa Đài và oán khí dày đặc với tiếng than khóc ngút trời.

Trong sương mù lạnh lẽo, chàng lẳng lặng đứng nghe lời đồn đã được truyền xa.

Cũng chính cô gái với đôi mắt sắc lẻm lên tiếng phủ nhận, “Chắc không đâu, trông anh ta không giống…”

“Không giống cái gì?”

“Không giống người không nghe được.”



Trông chàng còn không giống bất kỳ một người nào nơi đây, khác biệt hoàn toàn với đường núi ám bụi xám xịt. Người chàng vận trang phục trắng muốt như tuyết. Đứng giữa vách núi cheo leo và sắc đá thẫm đỏ, trông chàng tái nhờ như sương mù mùa đông nơi triền núi, tưởng như sẽ tan biến ngay khoảnh khắc mặt trời ló dạng.

Cô gái nọ nhảy khỏi tấm ván xe, vô cùng gan dạ bước mấy bước về phía chàng và tỏ vẻ lân la, “Công tử này định đi đâu đấy? Nếu tiện đường thì có thể đi chung với bọn tôi… Công tử?”

Cô nàng cao giọng gọi hai lần mới thấy đối phương giật mình bần thần, mấp máy môi trả lời, “… Đi phía bắc, biển Vô Đoan.”

Giọng nói người này có lẽ êm ái lắm, nhưng lại mang nét khàn khàn như thể đã không nói chuyện từ rất lâu.

Song không che đi được chất giọng êm ái.

Những người khác thấy chàng trả lời, bèn dần dà nguôi đi sự ngờ vực cẩn trọng. Người đánh xe vỗ lên lưng con bò, nâng thanh đao đeo bên hông và bước lại gần, nói, “Biển Vô Đoan? Thế thì cũng tương đối thuận đường đó, đến bến đò cũng phải đi hướng đấy. Nếu công tử đã có khả năng đi một mình thì ắt cũng chuẩn bị vài thuật pháp phòng thân. Thế thì lát nữa công tử có thể đi ở phía rìa. Công tử có dùng đao hay kiếm không?”

Vị công tử này có dáng người thoạt trông còn cao hơn hắn, khi hắn nói chuyện phải hơi ngước mắt lên một tẹo, thế nên hắn không chú ý đến xung quanh. Sau khi hỏi rồi, hắn mới liếc nhìn bên hông người nọ thì thấy nơi đó chỉ treo một món đồ như chiếc chuông làm bằng bạch ngọc. Còn đâu hoàn toàn không có bất kỳ một loại vũ khí bén nào.

Hắn hơi ngỡ ngàng, rồi nghe đối phương trả lời, “Tôi không có kiếm.”

***

Trước đây, Linh Vương khá lười nhác, không ưng cầm đồ trên tay. Còn hai tiểu đồng tử trong cung phủ chàng mồm mép tía lia, lúc nào cũng bấu bấu víu víu hỏi có việc gì cho chúng làm không, cứ như nếu không chứng tỏ được sự hữu dụng của mình thì chúng hết còn lý do để sống trên Tiên Đô vậy.

Bởi thế, mỗi lần hai tiểu đồng tử xuống phàm, chàng đều giao chúng nhiệm vụ cầm kiếm, không chỉ thế mà còn đặt biệt danh cho bọn chúng là “đồng tử ôm kiếm”.

Còn những khi không có tiểu đồng tử bên cạnh, thanh kiếm đó thường được giắt cùng một bên hông với chuông mộng bạch ngọc, mỗi khi chàng hành sự chúng sẽ chạm nhẹ vào nhau vang lên những âm thanh khe khẽ.

Trước đây, mỗi lần đến Nam Song Hạ, chàng còn chưa chạm gót lên mái hiên thì người trong sân đã ngước mắt nhìn lên.

Người ấy nói, “Ta đã nghe được tiếng ngọc thạch từ sớm.”

Chàng hỏi, “Thần kỳ vậy sao. Sớm cỡ nào?”

Người ấy nói, “Vừa ra khỏi Toạ Xuân Phong đã nghe rồi.”



Giờ đây, đã chẳng còn tiểu đồng tử tíu tít theo đuôi, và cũng chẳng còn ai chờ chàng trong sân đặng ngước nhìn mỗi khi nghe thấy tiếng ngọc.

Sau khi chẻ đôi linh phách thần mộc, cũng tương tự như tiên nguyên tiêu tan, thanh kiếm ấy trở về hình hài vốn dĩ trên nền đất đẫm máu — nó trở thành cành gãy được bao phủ trong tinh chất bạch ngọc.

Hai tay chàng trống không, bên hông trơ trọi, không còn một thanh kiếm nào nữa.

***

Người nam đánh xe và cô gái đang đứng rất gần chỗ chàng, rốt cuộc đã nhìn thấy vết bỏng to tướng một bên cổ chàng qua sương mù lờ nhờ trên núi.

Cô gái ấy là người giàu tình cảm, trông thấy thế thì cất giọng thảng thốt, “Ôi công tử bị thương à!”

Cô lần mò trên người mình, tìm được một tấm khăn sạch rồi rắc bột thuốc lên đấy và đưa sang, nói, “Vết thương rộng như vậy sẽ rất đau, tôi có thuốc bột này được người trong tiên môn cho, có thể giúp công tử cầm —”

Nói được nửa câu thì cô im bặt, người nam đánh xe thình lình giữ cô lại. Họ chong chong đôi mắt vào vết thương trên cổ Ô Hành Tuyết, mắt họ mỗi lúc một trợn to.

Vết thương đó đang dần lành lặn với tốc độ mà mắt thường có thể nhìn thấy được. Trong lúc da liền lại, từng đợt từng đợt khói đen nhẹ nhàng lởn vởn quanh miệng vết thương và bao bọc xung quanh cơ thể Ô Hành Tuyết…

Có lẽ những bá tánh này đã từng chịu khổ quá nhiều, nên chỉ loáng mắt họ đã nhận ra. Chân họ chững bước đột ngột, chỉ lặng đi trong một thoáng chốc liền lập tức hô thất thanh, “Tà ma! Ngươi… ngươi là tà ma!”

“Hắn là tà ma!!!”

“Chạy mau! Có tà ma!”

Đường núi yên tĩnh đã trở nên nhốn nháo chỉ trong chớp mắt.

Chỉ trong chớp mắt, trâu ngựa hí vang, cả đám người xôn xao như vỡ đê.

Chỉ trong chớp mắt, ai nấy đều la hét inh ỏi và bỏ chạy tán loạn.

Ô Hành Tuyết lắng nghe họ thét la, nhìn bóng dáng họ biến mất vào cuối đường núi, nhớ rõ ánh mắt họ khi ngoảnh đầu trong kinh hãi, ánh mắt ấy tràn đầy hoảng hốt, bất an, sợ hãi và kinh tởm.

Chàng đứng lặng hồi lâu trên con đường núi đã quay về tịch mịch, đoạn cúi người nhặt tấm khăn vải thấm thuốc bột bị đánh rơi trên đất.

Chàng đặt chiếc khăn vải lên một cành cây khô trên vách đá, sau chót thoáng đưa mắt nhìn Lạc Hoa Đài từng một thời nhộn nhịp đông vui, rồi cất bước một mình đi về phía bắc.

***

Cô gái kia có hỏi rằng chàng định đi nơi nào, khi đó chàng đã im lặng một lúc lâu mới trả lời cô.

Quả thực, chàng có muốn đến một nơi nằm ở tận cùng biển Vô Đoan, nơi ấy được gọi là Thương Lang Bắc Vực.

Linh phách thần mộc bị bổ làm đôi cần phải được an vị ở đâu đó, chàng đã nghĩ đến nhiều chốn trên nhân gian nhưng chỉ có nơi này là phù hợp nhất.

Thế nhưng hiện tại đó lại là nơi mà chàng không muốn đến nhất.

Chàng hãy còn chưa thích ứng được tà ma khí lảng vảng quanh người mình, nên nếu không cẩn trọng thì không thể giấu chúng đi được.

Chàng có thể mường tượng ra phản ứng của bất kỳ một ai khi nhìn thấy tình cảnh mình như thế này. Khả năng cao là họ đều phản ứng giống hệt những người trên đường núi ban nãy, sẽ hét lên thất thanh hoặc vung kiếm xuất chiêu trong nỗi sợ hãi, kinh tởm, hoặc hoảng loạn…

Chàng cũng có thể mường tượng ra khung cảnh đối mặt những người bạn cũ, mường tượng đến khung cảnh gặp những người trên Tiên Đô rồi sẽ ra sao.

Chỉ không cách nào mường tượng đến Tiêu Phục Huyên.

***

Năm đó là năm Thanh Hà thứ nhất.

Ô Hành Tuyết đi đến bờ biển Vô Đoan nhưng không vượt biển.

Chàng tìm một thung lũng băng tuyết ở ven biển Vô Đoan để tĩnh toạ mười tháng ròng, tận đến lúc chàng có thể dễ dàng che giấu tà ma khí dày đặc bên trong cơ thể mình không để lộ một chút nào ra ngoài, tận đến lúc chàng có thể ngưng tụ được một bộ linh phách ảo hoàn chỉnh cho thân thể mình để đánh tráo thật giả. Bấy giờ, chàng mới rời khỏi nơi không người kia.

Chàng thay đổi gương mặt mình, đắp lên một dáng vẻ có kiểm tra cách nào cũng không tìm thấy sơ hở. Không chỉ vậy, chàng còn đảo ngược quá trình vận chuyển khí kình, sửa lại thói quen xuất chiêu đã quen thuộc từ trước…

Chàng đã tính đến không biết là bao nhiêu trường hợp, đã chuẩn bị đủ đường. Thế rồi đến lúc sắp sửa băng qua biển Vô Đoan mới chợt nghe được một chuyện…

Ngày hôm ấy nhân gian đang độ giữa đông, tuyết đổ dày trên bờ biển Vô Đoan. Bên trên nóc những chiếc tàu neo trên bến treo đèn lồ ng cản gió, bóng những chiếc đèn đung đưa hắt sáng cả một vùng mép nước. Giữa vùng sáng ấy, Ô Hành Tuyết nheo mắt, chớp rũ hạt tuyết bên đuôi mắt.

Khi chàng ngước mắt lên lại thì chợt nghe mấy người trong tiên môn ở bên cạnh nói với nhau, “Nghe đâu Thiên Túc thượng tiên Tiêu Phục Huyên đã không ở Tiên đô rất lâu rồi…”

Ô Hành Tuyết ngẩn người, bất chợt quay ngoắt sang.

Chàng đứng giữa gió tuyết, lắng nghe lời họ nói.

Bọn họ nói rằng Tiêu Phục Huyên không ở trên Tiên Đô.

Bọn họ nói rằng thiên chiếu ban y lệnh cấm, bắt y ở bên ngoài cực bắc một trăm năm.

Một trăm năm trời, người đó sẽ không xuất hiện ở nhân gian.

Một trăm năm trời, hai người họ không có cơ hội gặp gỡ, dẫu là số phận định sẵn hay tình cờ vô ý, dẫu có ở Thương Lang Bắc Vực hay bất kỳ nơi đâu…

Chàng còn vỡ lẽ một việc giữa những tin đồn nghe được — hoá ra vào thời điểm chàng chẻ đôi thần mộc, bị tan vỡ tiên nguyên và trở thành tà ma, tất cả mọi người trên thế gian đều đã quên chàng.

Chưa từng có một ai nhảy xuống từ tán cây thần mộc trên cao.

Chưa từng có một Linh Vương trên Tiên Đô.

Chàng không cần phải mường tượng đến khung cảnh đối mặt với Tiêu Phục Huyên ra sao…

Cho dù sau trăm năm nữa, dẫu cho họ bước ngang mặt nhau giữa con đường rộng lớn nhất, dẫu bốn mắt giao nhau, thì cũng chẳng chuyện gì xảy ra cả.

Hai người họ không khác gì những người xa lạ không ngừng lướt qua nhau trên phố.

Mười tháng của chần chừ và do dự sao chẳng khác nào một trò đùa.

❄︎

Lời tác giả:

Ngủ ngon QAQ
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 88: Sấm rền


Đối với người phàm, mười tháng có thể thật ngắn mà cũng có thể rất dài.

Ngắn bởi chỉ đổi lớp y phục mỏng thành áo khoác dày thì đã qua mười tháng. Dài trong từng đêm thâu bởi tà ma yêu vật thường xuyên xuất hiện khiến người ta khốn đốn.

Vào ngày Ô Hành Tuyết rời khỏi biển Vô Đoan rộng lớn sau khi đã giấu kín một nửa thần mộc, bọn tà ma lại xuất hiện quấy rối ở một địa điểm trong nhân gian.

Nhưng thoạt tiên, Ô Hành Tuyết không hay biết chuyện này.

Chàng cố tình né khỏi những thành thị tập trung dân cư sinh sống và chọn một con đường núi hoang vu vắng vẻ. Nơi này là núi Bất Động, trước đây thuộc quyền chưởng quản của Tang Phụng ở Lễ các. Dưới chân núi chỉ còn dấu vết sót lại của một thôn làng đã tang hoang — là những gian nhà sập xệ vắng người từ lâu, những nấm mồ rải rác chất chồng lên nhau và cỏ dại mọc cao hơn cả mái nhà.

Chàng những tưởng mình sẽ không gặp bất kỳ sinh vật sống nào. Ngờ đâu ở cuối bãi cỏ dại đó, chàng đã chạm mặt cố nhân.

Thật ra nói cố nhân cũng không chính xác, ấy chính là một người mà chàng và Tiêu Phục Huyên từng chung tay cứu giúp trước đây, nói ra thì chắc chỉ gặp nhau chừng hai lần là cùng…

Lần đầu gặp mặt, người đó vẫn còn là một cô bé búi chỏm tròn um. Cô bé dùng tay bụm miệng vết thương, đứng bàng hoàng bên cạnh thi thể cha mẹ mình mà suýt chút đã bị tà ma hung vật miền hoang dã cắn đứt cổ.

Lúc đấy chàng và Tiêu Phục Huyên tình cờ đi ngang qua, bèn ra tay chém tà ma hung vật đang lùng đuổi cô và giúp cô mai táng thi thể. Khi họ dắt cô bé trở về thành trấn, cô bé đã níu chặt vạt áo chàng và khóc rất lâu bên trong căn phòng trống.

Khi họ rời khỏi, Tiêu Phục Huyên đặt một chiếc đèn đuổi linh có tác dụng chống lại tà ma hung vật ở trên bàn.

Hơn mười năm sau, họ tình cờ gặp lại cô. Bấy giờ, cô bé kia đã trưởng thành. Cô lên tiếng gọi họ ở gần cổng thành giữa rất nhiều dân cư lui tới. Dáng vẻ cô gái bấy giờ đã thay đổi hoàn toàn, may nhờ có vết bớt bên dưới mắt nên họ mới nhận ra cô.

Cô gái gửi lời cảm tạ hai người đã có ơn cứu mạng, sau thấy dung mạo họ chẳng hề thay đổi tí ti dù đã mười mấy năm trôi qua thì cô hồ hởi mà nói, “Ta biết ngay các huynh chính là thần tiên mà!”

Cô còn nói, “Giá mà sau này ta có cơ hội gặp lại các huynh lần nữa thì thật tốt quá…”

Và đến giờ phút này, đã mấy chục năm trôi qua, họ gặp lại nhau thật. Thế nhưng ở lần gặp gỡ này, cô nương năm nào nay đã luống tuổi và trở thành một bà lão.

Chỉ lơ đãng chốc lát thôi mà đã là cả một đời phàm nhân.

Cô gái năm nào phấn khích nhảy cẫng khi nhìn thấy thần tiên giờ đây đã bạc phơ mái đầu, bờ vai lọm khọm. Chỉ có vết bớt vẫn còn như xưa, có thể lờ mờ nhận ra được.

Bà không thể thoải mái ngồi xuống hay quỳ dậy được nữa. Thậm chí khi cúi lưng muốn đứng lên, bà còn phải chống đỡ thân cây bên cạnh.

Bà rải mấy thỏi vàng mã từ trong một chiếc giỏ xuống trước mấy nấm mồ rồi đốt chúng. Tro tàn bị thổi bay trong gió, cuộn quanh thân thể Ô Hành Tuyết. Bấy giờ, chàng mới choàng ngỡ ra nấm mồ này có lẽ là nơi chôn cất cha mẹ cô, là nơi mà xưa kia chàng và Tiêu Phục Huyên từng giúp đỡ.

Thế ra đây chính là con đường núi mà mấy mươi năm trước họ từng sóng vai, và lúc này đây chỉ còn một mình chàng côi bóng.

Bà lão đang dùng một cành cây cào vàng mã thì loáng thoáng nhận ra có người. Bà lập tức treo một chiếc đèn lên đầu cành cây, nhóm lửa đốt đèn, rồi vươn ánh đèn về phía Ô Hành Tuyết.

Ánh lửa đèn dầu rất ảm đạm và hoàn toàn không hề chói mắt, thế nhưng khi bị chiếu vào, Ô Hành Tuyết phải nheo mắt và né mặt đi — ánh sáng ấy khiến linh hồn ảo trong cơ thể chàng lung lay, tạo cảm giác vô cùng khó chịu.

Theo bản năng, chàng biết ánh đèn kia không phải loại đèn bình thường mà có vấn đề gì trong đấy.

Ngón tay buông bên người cong lên, suýt nữa chàng đã xuất chiêu. Song trước khi giơ tay, chàng thoáng trông thấy nét chữ và ký tự phù chú quen thuộc trên bề mặt của chiếc đèn lồ ng.

Nét chữ ấy thon gọn và rắn rỏi, từng đường cong nét phết đều bén nhọn như lưỡi đao.

Đó chính là chữ viết của… Tiêu Phục Huyên.

Ô Hành Tuyết sững người dưới đèn, thoáng chốc mới vỡ lẽ chiếc đèn ấy hoá ra không có vấn đề gì cả. Đó chỉ là chiếc đèn đuổi linh họ đưa cho cô bé trước đây.

Bên trong bấc đèn có hoà trộn tiên thuật và bột thuốc, dưới chân đèn và trên chao đèn đều viết phù chú. Các tiên môn dưới nhân gian cũng chuộng dùng loại đèn này, một khi thắp lửa lên có thể giúp xua đuổi vài thứ tà ma âm hồn.

Ô Hành Tuyết từng thấy loại đèn này rất nhiều lần, thậm chí bản thân chàng còn từng làm mấy chiếc. Khi đó, chàng vừa phất bút viết phù chú vừa nói với Tiêu Phục Huyên, “Ánh đèn này toả ra thật dịu dàng ấm áp, thậm chí không sáng gì cho lắm, không biết rọi vào người tà ma sẽ khiến chúng cảm thấy thế nào.”

Khi thốt ra những lời này, chàng nào có thể ngờ rằng đến một ngày kia, tự bản thân chàng có thể trả lời cho thắc mắc năm xưa…

Ánh đèn nhìn ấm áp là thế, nhưng bị chiếu lên người khiến tà ma cảm thấy không khác gì đâm dao vào mắt, đốt lửa vào người. Không khỏi làm người ta muốn giơ tay chắn lại, muốn ngoảnh đầu tránh đi.

Song Ô Hành Tuyết không giơ tay mà cũng không ngoảnh đầu. Chàng chỉ khẽ híp mắt, đọc những ký tự bên trên chao đèn trong cái nóng thiêu đốt đến bỏng rát.

Chàng nghe được cô gái đã từng phấn khởi hô tô “các huynh là thần tiên” giờ cất giọng nhẹ nhàng của một người luống tuổi, hỏi, “Cậu… là người hay quỷ? Tại sao lại đến nơi núi rừng hoang vu này?”

Ô Hành Tuyết đã xoá bỏ lớp cải trang để tránh người khác từ lâu. Giờ đây dáng vẻ chàng giống hệt mấy mươi năm về trước, vậy mà bà lão chẳng mảy may phản ứng chút nào.

Người đã từng lia mắt đã nhận ra chàng và Tiêu Phục Huyên giữa dòng người đông đảo, giờ đây hoàn toàn trở thành một người xa lạ.

Đúng thật đã quên hết rồi, đúng thật không còn một ai nhớ đến chàng nữa.

Chàng nhìn tư thế cảnh giác của bà lão, nhìn chiếc đèn họ từng đưa cho bà và im lặng một lúc rất lâu mới nói, “Tôi bị lạc đường trong núi.”

Chàng không trả lời câu hỏi “là người hay quỷ”, vì giờ chàng cũng không biết nên trả lời như thế nào. Dừng đoạn, chàng nói với bà lão, “Tôi còn phải đi tiếp, xin không làm phiền bà nữa.”

Nói rồi, chàng dời mắt khỏi chiếc đèn đuổi linh, nhấc chân toan hướng về phía nam.

Về đêm, tà ma khí trên người chàng càng dày đặc hơn, gió lạnh chỉ cần lộng qua một cơn là chàng còn có thể thấy đói.

Đấy là bản tính của tà ma.

Chàng không muốn trưng thứ bản tính tà ma này ra nơi đây, bởi dù gì nơi đây cũng từng có đôi ba chuyện cũ và bạn cũ, bởi phía sau lưng kia là chiếc đèn đuổi linh mà chính tay Tiêu Phục Huyên làm nên.

Ấy thế mà trời chẳng chiều lòng người.

Ngay khi chàng tính rời khỏi thì sấm chớp ngày đông đột ngột đánh rền trên tầng mây đen nồng nặc cuối chân trời.

Thời điểm đó, Ô Hành Tuyết chưa biết rằng vào những ngày sấm rền như thế — đặc biệt là về đêm — là đám tà ma cấp thấp sẽ trỗi lên một loại bản năng khác được gọi là “hành hương”.

Giữa lúc đầu óc mê man tột độ, chúng chỉ tuân theo bản năng mà lùa đến bên cạnh nơi có tà ma khí nồng nặc nhất ở gần đấy, không khác gì thời khắc hàng trăm loại trùng xao động.

Bởi vậy, chàng đã chẳng cách nào rời khỏi đường núi ấy trong bình yên.

Khi sấm sét giáng xuống, chân trời tối sầm lại giống hệt những buổi đêm thâu thăm thẳm. Những âm thanh soàn soạt bất chợt dấy lên giữa mảnh đất hoang vắng vốn yên tĩnh tột cùng.

Âm thanh như thể có vô số thứ đang ào ạt tràn về phía chàng với tốc độ cực nhanh.

Về sau, Ô Hành Tuyết mới biết hiện tượng này là do những tà ma đang quấy nhiễu ở những thành trì và thị trấn nơi xa thoáng ngửi thấy hương vị thoảng ra lởn vởn trong không khí dưới bầu trời nghịt sấm chớp. Chúng đã không khống chế được bản năng mình nên đều dồn dập đổi hướng và chạy về phía ngọn núi.

Đó là lần đầu tiên Ô Hành Tuyết được trải nghiệm “hành hương” của tà ma, có hàng trăm hàng ngàn những tà ma cấp thấp bủa về từ bốn phương tám hướng, lao đến cùng một tâm điểm…

Tâm điểm của chúng chính là chàng.

Chàng nghe thấy bà lão kia thét toáng trong kinh hãi, ngọn đèn dầu trên tay bà lung lay qua lại. Ánh sáng khiến tà ma cảm thấy khó chịu vẫn chưa thoát khỏi tầm mắt, khiến chàng bị rọi đến nóng bỏng cả mắt.

Đèn đuổi linh rất có hiệu lực khi dùng với hai ba tà ma, thế nhưng khi phải đối mặt với hàng ngàn tà ma thì chẳng sá là bao. Biển tà ma đen nghịt kia chỉ chững lại trong thoáng chốc rồi tiếp tục lao tới ào ạt với tốc độ khủng khiếp như gió như bóng.

Chúng nó thậm chí còn không buồn giấu giếm mùi tà ma trên cơ thể. Khi hàng trăm hàng ngàn lũ tà ma lao tới, thứ mùi đó trộn vào nhau vừa dày vừa đặc như vũng bùn, trùm kín Ô Hành Tuyết vào bên trong.

Chàng duỗi tay bẻ bừa một cành cây.

Khi chiêu kiếm quen thuộc quét ra, lũ tà ma kia không kịp tránh thoát nên đã bị kiếm ý lạnh băng chém ngang cơ thể.

Một chiêu kiếm đó tưởng chừng rạch ngang vách màn đen ngòm, khiến lũ tà ma cấp thấp rú lên trong cuồng loạn, tiếng tru rên vang vọng khắp núi rừng. Những lúc này chúng còn bắt chước tiếng người, cất tiếng khóc lóc bi thương.

Thoạt trông không khác gì những bá tánh vô tội bị kẹt vào trong đấy, đầu lìa khỏi cổ dưới nhát kiếm và rơi lộp độp trên mặt đất.

Một cái đầu lăn đến trước đôi ủng của Ô Hành Tuyết, tà ma khí đen nồng bủa trào tràn lan từ miệng vết thương của nó.

Khoảnh khắc đó, Ô Hành Tuyết giật mình.

Chàng lẳng lặng nhìn gương mặt không khác gì người sống kia, đoạn ngoái sang nhìn về phía bà lão và chiếc đèn trong tay bà theo bản năng.

Đến khi chàng quay đầu trở lại, đã thấy cái đầu gãy lìa kia hiện trở về nguyên hình là thứ dị dạng của bọn tà ma cấp thấp.

Chàng rủ mắt nhìn chốc lát, rồi bất chợt thả cành cây trên tay xuống, từ bỏ chiêu kiếm.

Tiếp tới, khí lạnh băng sương rét buốt mãnh liệt thình lình tuôn trào từ hai tay chàng. Cuồng phong quét đến đâu liền đông cứng đám tà ma trong một lớp sương trắng đến đấy.

Bọn tà ma bị đông lại lạnh lẽo, rú lên một tiếng kinh hoàng rồi vồ vập đổ dồn về phía Ô Hành Tuyết. Lần này không bị kiếm khí chém ngược trở ra nên chúng có thể mon men lại gần.

Khi chúng nó vừa ngoác miệng để lộ hàm răng dính máu, một bàn tay lạnh như băng đã chặn ngang đầu chúng. Những ngón tay tái nhợt vừa quặp vào đã có thể nghe tiếng tru thét thảm thiết thấu tâm can gầm ra từ trong cổ họng bọn tà ma cấp thấp.

Cả người chúng nó run lên bần bật, tròng mắt lồi lồ lộ ra ngoài bắt đầu hiển hiện tử khí. Tiếp sau đó, sương giá tràn từ đỉnh đầu nó xuống dưới, loáng cái đã bao trùm toàn bộ cơ thể chúng.

Ô Hành Tuyết ném một con sang bên và tiếp tục bắt con kế tiếp.

Cứ vậy suốt một thời gian chẳng biết bao lâu, chàng mới ngỡ ngàng nhận ra không còn tà ma nào nhào vào nữa.

Khi đó, chàng đang siết cổ một con tà ma, con tà ma này đã chết tươi song tròng mắt nó vẫn trơ ra nhìn chàng lom lom.

Ô Hành Tuyết chau mày, vừa định buông tay ra thì chợt cảm thấy có thứ gì đó đang lùa qua những ngón tay và tràn vào huyết mạch. Tà ma bị chàng siết chặt trong tay đang khô quắt đi với tốc độ mà mắt thường có thể nhìn thấy, chẳng mấy chốc chỉ còn một lớp da rỗng tuếch.

Cùng lúc đó, cảm giác đói âm ỉ trong người chàng cũng nguôi đi đôi chút…

Chàng nhíu mày, bất giác nhớ về lời đồn đãi chẳng biết nghe được từ nơi đâu.

Lời đồn nói rằng, phần lớn tà ma trên thế gian đều ăn thịt người để sống, mà một khi không tìm thấy người sống thì chúng sẽ chuyển sang tấn công đồng loại, từ linh hồn da thịt đến xương đều không chừa.

Đây cũng là một loại bản năng không thể thay đổi của tà ma…

Ngay lúc chàng nhận ra chuyện này, cơ thể tà ma của chàng đã phản ứng trước, và càng có nhiều sinh vật chết toả ra tà ma khí nghi ngút khắp nơi.

Cảnh tượng ấy có thể khiến một người dũng cảm cũng phải lạnh run —

Giữa miền hoang dã, hàng trăm hàng ngàn tà ma không cách nào đếm xuể đã chết tươi chỉ trong chốc lát ngắn ngủi, quanh cơ thể chúng phủ đầy sương giá trắng xoá, thoáng nhìn tưởng như một trận tuyết rơi đột ngột đã giấu kín lao tù nơi đây.

Và tà ma khí đang tuôn ra khỏi cơ thể chúng như suối, hết thảy đều cuồn cuộn tràn về phía Ô Hành Tuyết.

Ô Hành Tuyết cúi đầu nhìn những ngón tay trắng dã không màu của mình.

Chàng nhìn những thứ chỉ có ở tà ma đang ồ ạt tuôn vào cơ thể, nhìn những ngón tay mình nhờ đó mà dần hồng hào trở lại, nhìn đôi tay mình đổ bóng trước đôi ủng trước mặt.

Chàng biết rõ sau lưng mình có một chiếc đèn đuổi linh do Tiêu Phục Huyên làm, ánh đèn ấy đang rọi thẳng vào người chàng…

Và chàng không thể quay đầu lại.

Khoảnh khắc ấy, chàng chợt thấy bị quên lãng dường như cũng không tệ cho lắm.

Vì đã quên chàng mất rồi, nên sẽ không một ai bất chợt nhìn thấy chàng liền gọi tên, trong đáy mắt hiện nỗi xót xa hay thắc mắc, hỏi chàng rằng: Vì sao lại ra nông nỗi này.

Lời tác giả:

Mọi người chờ QAQ, tui phải sửa mấy lần, tiếp tới còn một chương nữa, đừng bỏ lỡ nha.

Dạo gần đây sẽ cập nhật cách ngày nên mọi người không phải thức đêm chờ đâu ~

Cá:

Ngược, ngược nữa, ngược mãi~
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 89: Gặp lại


Trong một trăm năm sau đó, Ô Hành Tuyết đã gặp phải “hành hương” như vậy rất nhiều lần.

Nhiều đến mức khi phải chứng kiến lần nữa, nét mặt chàng đã chẳng còn để lộ chút ngạc nhiên hay bất ngờ gì, nhiều đến mức chàng có thể vung ra sương giá phủ trọn toàn bộ mỗi một lần đám tà ma cấp thấp kia lùa về như vũ bão.

Nhiều đến mức chàng có thể bóp chặt cái đầu chúng với một gương mặt không mảy may xúc cảm, siết cổ chúng mà chẳng màng chớp mắt.

Đám tà ma thường trợn trừng đôi mắt vào lúc chết, trong mắt chúng sẽ lộ ra từng tầng từng lớp vui buồn lẫn lộn. Vui buồn ấy là những dấu vết mà người sống chúng từng cắn xé lưu lại trên cơ thể chúng.

Chàng luôn lẳng lặng nhìn những dấu vết còn lưu lại đó, nhìn chúng dần dà xuất hiện rồi chầm chậm tan biến.

Trong khoảnh khắc ấy, nếu có người từ bên dưới ngước nhìn lên chàng thì sẽ nhận ra lòng bi mẫn thấp thoáng trong đôi mắt ma đầu danh tiếng lẫy lừng.

Tiếc thay, bên dưới mắt chàng chỉ toàn những tà ma đã chết, và không một ai nhìn thấy ánh mắt ấy cả.

Rồi đến khi chàng dời mắt khỏi những sinh vật chết và ngước lên, hết thảy đã trở về biểu cảm tĩnh lặng thường nhật.

Ô Hành Tuyết đã sớm quen với việc này.

***

Chàng chọn một địa điểm trong toà thành bỏ hoang ở phía nam và gieo nửa linh phách còn lại của thần mộc xuống đây. Một nửa linh phách này nhanh chóng đâm chồi nẩy lộc, sinh trưởng thành gốc đại thụ rợp trời giữa miệt hoang dã, trông có nét hao hao thần mộc thuở nào. Ấy nhưng dẫu tán cây cao lớn ngút trời, nó không bao giờ trổ hoa lần nữa.

Rõ ràng nó mang dáng dấp của một thân cây xanh tốt phồn vinh, thế mà trên thân lại toát ra tử khí dày đặc lan tràn khắp mấy dặm. Cũng vì thế, các loài chim muôn đều không dám sà xuống thân cây này.

Sau đó, chàng dựng một sân vườn quanh gốc đại thụ, xây hành lang và lầu các khác hẳn với những toà cung phủ bằng ngọc thạch thường thấy ở khắp mọi nơi trên Tiên Đô. Dường như chàng chẳng bao giờ dùng đến bạch ngọc trắng ngần láng bóng kia nữa. Thay vào đó, trong sân đặt đủ loại đá tảng xanh sẫm, xám trắng, đen hoặc nâu đỏ như màu máu.

Rồi về sau chàng cũng hiếm khi nặn con hát bằng giấy để tạo không khí sôi động nhằm đi vào giấc ngủ yên.

Căn phủ trạch rộng lớn là thế song luôn tĩnh lặng, dẫu có người cũng không ai dám lớn tiếng, vì họ sợ…

Rất nhiều người e sợ chàng, bá tánh nghe đến tên cũng sợ mà tà ma tề tựu về cũng sợ. Dường như chỉ cần bước chân qua cổng Tước Bất Lạc thì hễ là sinh vật còn sống đều sẽ hạ thấp giọng theo bản năng.

Vì vậy, căn phủ trạch đó lắm lúc im lìm đến tĩnh mịch, và Ô Hành Tuyết sống giữa sự tĩnh mịch ấy.

Về sau có người cả gan hỏi, không biết có phải chàng rất ghét ồn ào náo nhiệt hay không.

Khi ấy chàng đang lúc thẫn thờ, đuôi mắt hơi cụp xuống khiến nét mặt lộ vẻ mệt mỏi. Người hỏi câu ấy chờ mãi không nhận được trả lời thì tưởng rằng mình lỡ lời, vừa định vội vàng nhận lỗi thì chợt nghe chàng mở miệng nói, “Không hẳn.”

Người hỏi câu ấy nhận được đáp án này thì ngạc nhiên vô cùng, vừa định hỏi tiếp đã nghe Ô Hành Tuyết nói, “Nhưng yên tĩnh vẫn tốt hơn.”

Đối với chàng hiện tại, yên tĩnh vẫn tốt hơn.

Trước đây, chàng đã từng nỗ lực hết mình để quên đi tiếng thét gào và than khóc của những người mất mạng dưới lưỡi kiếm mình. Còn hiện tại, chàng bắt buộc bản thân phải nhớ rõ những điều đó…

Chàng bắt buộc phải nhớ rõ từng thứ một, tuyệt đối không được quên. Bằng không, chàng sẽ đâm quen với thói sát sinh không kiêng kỵ của tà ma.

Chàng đã đâm quen với quá nhiều thứ rồi.

Chàng buộc phải nhớ rõ đây không phải lý do mình đi đến bước đường này.

***

Từ khi nhân gian xuất hiện một Ô Hành Tuyết, đám tà ma gây loạn mọc lên từ bốn phương đã dần dà có sự thay đổi.

Lúc trước, tà ma có thể hiện ra từ bất cứ một nơi nào mà chẳng có dấu hiệu báo trước, cũng không cách nào ngừa được. Dù cho Thiên Túc mới bình định thung lũng chưa được mấy năm, tà ma mới đã rục rịch xuất hiện.

Mọi người từng thử nhiều phương thức khác nhau nhưng không làm sao hiểu được lý do bọn tà ma nhung nhúc giết hoài không hết, cứ như thể bọn chúng được trời sinh đất dưỡng, giống rêu xanh và cỏ dại mọc hoài bất tận giữa một vết nứt trên đá, một mảnh đất tàn, một khu nghĩa địa. Bất kỳ địa điểm vô chừng nào mà người thường tình cờ không để ý cũng có thể trở thành nơi tà ma sinh sôi.

Bởi vậy, có một quãng thời gian rất dài, mọi người phải sống trong sự nơm nớp lo sợ rất dị thường — rằng bất kỳ một người nào, từ người thân, hàng xóm, thậm chí đến những người xa lạ gặp gỡ trên phố cũng đều có khả năng bị tà ma khoét rỗng thân thể vào một hôm nào đấy và bị đồng hoá thành tà ma như chúng. Rồi đến một ngày nào đó, những người ấy sẽ xuống tay với họ.

Cảm giác nơi nơi đều là tà ma mà người ta vô phương phát hiện manh mối này tệ lậu vô cùng.

Nhưng đến một ngày kia, ở vùng đất hoang phía nam mọc lên một căn phủ trạch có tên “Tước Bất Lạc”. Sau đó, mỗi đợt sấm chớp đột ngột đánh rền xuống nhân gian khiến trăm loại trùng xao động, đám tà ma yêu vật tán loạn khắp nơi kia lại bò gần về phía “Tước Bất Lạc” đó trong vô thức mà chẳng hay chẳng biết.

Bởi đó là bản năng của tà ma — một khi tiếp cận kẻ mạnh hơn mình thì một là chúng thần phục, hai là g**t ch*t đối phương.

Tà ma không màng tình cảm, không kẻ nào thích bị áp chế dù đó có là bản năng đi chăng nữa. Vì vậy thoạt đầu, phần lớn chúng nó đều từng thử ra tay giết Ô Hành Tuyết.

Bọn chúng kéo nhau đi từ đám này đến đám khác, rồi lần lượt từng đám bọn chúng chết dần dưới tay đối phương.

Sau một thời gian dài, những kẻ tự tìm đường chết đã vơi đi nhiều. Một số trong chúng đã biết điều hẳn ra, một đám khác bắt đầu thắc mắc: Tại sao bỗng dưng một ma đầu như vậy xuất hiện ở nhân gian? Rốt cuộc hắn đã giết bao nhiêu người, dưới tay đã chết bao nhiêu vong hồn để có thể tích tụ lượng tà ma khí nồng nặc đến vậy.

Bọn chúng nghĩ cỡ nào cũng không đoán ra được, bèn cho rằng người kia có biện pháp tu hành đặc biệt nào đó, ví dụ như… nhờ vị trí đặt căn phủ trạch của hắn.

Thế nên dần dà, một phần bắt nguồn từ bản năng và một phần do mang tà tâm, càng ngày càng có nhiều tà ma dời nơi tu hành xuống phía nam, ở vị trí không xa “Tước Bất Lạc” cho lắm.

Về sau nữa, nơi đó trở thành chỗ tà ma tề tựu.

Khi chúng tề tựu về cùng một chỗ thì lượng tà ma khí hiển nhiên sẽ vượt xa giới hạn của một người. Chính vì vậy, càng có nhiều tà ma ở xa hơn ngửi được mùi vị ấy rồi lại ồ ạt đổ về nơi đó vào những dịp sấm sét đánh rền.

Cứ thế năm này qua năm khác, gần như toàn bộ tà ma trên thế gian đều vây quanh nơi này. Còn tay ma đầu trùng tu và xây dựng “Tước Bất Lạc” đã dựng một kết giới bao lấy cả khu vực đó, đặt tên cho nó là “Chiếu Dạ thành”.

Cửa vào của Chiếu Dạ thành là Lạc Hoa Đài, bên ngoài Lạc Hoa Đài còn có cánh đồng Gia Minh. Mười hai dặm núi và cánh đồng hoang vu rộng lớn kia dường như đã tạo thành một tấm chắn tự nhiên.

Chắn lấy động ma ở bên trong, chắn lấy nhân gian ở bên ngoài.

***

Trong một khoảng thời gian rất dài, người ta mang nỗi sợ khôn nguôi với cái nơi “Chiếu Dạ thành” đột ngột xuất hiện như vậy. Họ cho rằng đó là chốn tà ma tề tựu nên chắc còn đáng sợ hơn dưới luyện ngục.

Hễ nhắc đến nơi đó, họ đều gọi nó là động ma. Hễ nhắc đến thành chủ Chiếu Dạ thành, họ đều gọi hắn là ma đầu.

Sự kinh tởm và nỗi sợ hãi vượt lên tất cả.

Bởi thế mà chưa từng có một ai đề cập đến, thậm chí không một ai để ý rằng, gần một trăm năm kể từ khi Chiếu Dạ thành xuất hiện ở nhân gian, dường như bọn họ đã không còn những ngày đêm sợ sệt bất an như xưa nữa.

Tà ma vẫn sẽ hoành hành nhân gian, nhưng chúng không còn xuất hiện từ thinh không ở khắp mọi nơi mà chẳng một dấu hiệu báo trước. Ít ra thì vào thời điểm hiện tại, ai cũng biết hang ổ của bọn chúng ở đâu.

Thêm nữa, các tiên môn cũng không còn lạc lối mò mẫm trong vô định. Bởi giờ đây, đám tà ma kia muốn ra khỏi thành để vào nhân gian bắt buộc phải đi qua một số cung đường nhất định.

Thành thử trong những năm đó, rất nhiều xung đột giữa tiên môn và tà ma đều nổ ra trên khu vực cánh đồng Gia Minh…

Cánh đồng hoang dã ấy thật lạ kỳ.

Năm xưa khi vẫn còn thần mộc, biết bao trận chiến giữa những quốc gia nhỏ vẫn thường xảy ra ở đây, khiến cả vùng hoang dã mịt mù khói bụi, thi thể nơi nơi. Khu vực này là một vùng đất chết, nhưng lại giúp bảo vệ an nguy cho mẫu quốc của rất nhiều người còn sống.

Sau này không còn thần mộc, Lạc Hoa Đài chìm trong biển lửa. Cánh đồng hoang này lại ghi dấu vết máu tràn trề. Nó vẫn là một vùng đất chết, song đã góp phần tiên đoán cho trăm năm kế tiếp không còn hoạ loạn từ lòng tham nối liền với thần mộc.

Và lúc này, cánh đồng hoang ấy vẫn lâm vào cảnh binh qua giữa tiên ma, vẫn là một vùng đất chết, song chưa hẳn không mang điềm may mắn.

Truyền thuyết kể rằng, thành chủ Chiếu Dạ thành Ô Hành Tuyết thường đứng trên Lạc Hoa Đài cằn cỗi, vọng về phía cánh đồng Gia Minh ở phương xa. Có người đoán hắn có mối quan hệ bí ẩn gì đó với khu vực này. Nhưng mỗi khi rời khỏi thành, hắn luôn chọn đi đường vòng chứ không bao giờ băng qua cánh đồng hoang vu ấy.

Rất nhiều người tò mò về nguyên do phía sau, người ta suy già đoán non đủ điều nhưng không một ai dám mở miệng hỏi thẳng.

Thật ra nếu có người dám hỏi, Ô Hành Tuyết cũng sẽ không trả lời.

Chàng không tiết lộ cho bất kỳ kẻ nào một chuyện — ở phía bắc cánh đồng Gia Minh có một bệ thờ được giấu kín, trên bệ thờ ấy đặt tượng thần của một người mà hiếm có bá tánh nhân gian nào thờ phụng. Trên tượng khắc một cái tên, tên gọi Tiêu Phục Huyên.

Sau lưng tượng thần có một dấu ấn, khi xưa đương lúc vui đùa Tiêu Phục Huyên đã tự mình khắc lên thân tượng, bảo rằng để dễ dàng “bắt” được người nào đó cứ hay ngao du khắp nhân gian.

Dấu ấn này khác với ấn thờ thông thường ở chỗ nó có liên hệ mật thiết với bản tôn hơn. Nhờ vậy, nó có thể thay thế đôi mắt Tiêu Phục Huyên. Những gì tượng thần nhìn thấy cũng là những gì Tiêu Phục Huyên nhìn thấy.

Và chàng không muốn bước qua bên dưới đôi mắt ấy, chàng không muốn lúc ngước đầu lên sẽ trông thấy đôi mắt buông hờ của bức tượng thần kia.

Đó là ánh mắt vẫn luôn hiện diện trong mỗi thời điểm thân mật nhất, chứ không phải giữa chốn đồng hoang nhân gian, nhìn tà ma khí quấn rịt thân chàng và đôi tay bám đầy sát nghiệt.

Nhưng đồng thời, chàng cũng hiểu rất rõ rằng… sớm muộn gì cũng có một ngày người kia nhìn thấy.

Thiên Túc thượng tiên chuyên diệt trừ tà ma. Sớm muộn gì cũng có một ngày, Tiêu Phục Huyên sẽ nhận thiên chiếu xuống nhân gian, và họ sẽ gặp nhau giữa khi giao đấu.

Có đôi lúc chàng bất chợt bần thần, khó nén lòng nghĩ về khung cảnh của một ngày như thế.

Đó sẽ rơi vào ngày tháng năm nào? Ở địa điểm nào dưới nhân gian? Liệu đó là Chiếu Dạ thành, hay sẽ là cánh đồng Gia Minh đi sao cũng không tránh khỏi…

Chàng đã nghĩ đến rất nhiều chỗ, khung cảnh trong tất cả những chỗ ấy đều mờ ảo, đi kèm sương mù lạnh lẽo không tan biến và những đêm dài tĩnh mịch.

Chàng thậm chí còn nghĩ đến tiếng trường kiếm xé gió vút sang. Nhưng đến cùng, chàng mới vỡ lẽ, nó không giống như bất cứ khung cảnh nào trong tưởng tượng.

***

Ngày ấy, ở nhân gian ngay độ tháng ba xuân sang, hạnh mai nở rộ kết chùm như hoa đăng ở phía nam Mộng Đô.

Ô Hành Tuyết vẫn một mực né khỏi cánh đồng Gia Minh, chàng chọn đi băng qua toà thành kia. Dù không định ở lại quá lâu, nhưng chàng lại vừa khéo đụng trúng đèn bảo vệ của các con cháu tiên môn.

Chàng không có ý quấy rối ngày lễ hội, bèn chọn lùi bước và phóng mình lên một tầng lầu cao.

Vào những dịp lễ hội hiếm gặp này, các toà thành tiên môn đều dỡ bỏ cấm chế đi lại ban tối để khu chợ hoạt động xuyên đêm. Bởi thế, hai bên vách phố tấp nập những mặt tiền quán xá giăng đầy đèn lồ ng tỏ sắc cam vàng.

Có điều, không phải mặt tiền quán xá nào cũng đông vui sầm uất, như căn nhà Ô Hành Tuyết đang tạm lánh mặt đây chính là một ngoại lệ ít ỏi trong số ấy. Trên lầu hai đã tắt đèn từ sớm, chỉ còn sáng đèn nửa phía trước của tầng một mà thôi.

Chàng đứng ngoài hành lang nhô ra phía ngoài trên lầu hai, trong bóng đêm mịt mờ không ánh sáng, tựa người vào trụ gỗ lan can sơn đỏ đặng buông mắt trông về con phố bên dưới.

Con phố này không hẳn là dài, dây đèn treo từ đầu đường đến chỗ này cũng chỉ tầm một dặm là cùng chứ chớ hề uốn quanh tít tắp đến chân trời. Thế mà khi nhìn vào những ánh đèn dầu, lắng nghe tiếng ồn ã của bá tánh, nhìn dòng người tấp nập xôn xao, chàng vẫn không khỏi ngây ngẩn.

Bất giác, chàng không rõ hôm nay là ngày nào nữa.

Dường như chàng đã chìm vào giấc mộng dưới ánh sáng của ngọn đèn từ xa xưa nào ấy…

Thế mà vẫn có những kẻ không biết lựa thời, cứ phải nhè ngay dịp này để tới quấy rối người khác.

Khi cảm nhận được bùa giấy lung lay, Ô Hành Tuyết cụp mắt xuống, gương mặt tối sầm. Chàng đã quá quen thuộc với thứ động tĩnh này, dù hiện tại rất hiếm có tà ma nào tự mò đến trước mặt chàng tìm chết, nhưng đôi khi vẫn có những kẻ cứ cảm thấy bản thân mình có thể lợi dụng sơ hở đây đó…

Ví như nhân cơ hội Ô Hành Tuyết không có ở Tước Bất Lạc, ví như nhân lúc không có một ai bên cạnh chàng, ví như nghe đồn chàng từng bị các tiên môn dưới nhân gian truy lùng gắt gao mấy phen liền nên cơ thể thụ thương. Mà quan trọng hơn cả là, sau khi lũ tà ma ấy lẻn mò vào thành lại nghe được một cái tên đã lâu chưa thấy từ miệng các đệ tử tiên môn…

Nghe đâu vị kia trên Tiên Đô xuống phàm.

Thiên Túc thượng tiên không hạ phàm mà không có lý do, nếu y đã đến ắt hẳn sẽ có ma đầu dính nạn.

Mà hiện tại, còn có ma đầu nào hùng mạnh hơn thành chủ Chiếu Dạ thành?

Bởi thế, bọn chúng muốn giữ một cự ly không xa không gần để hóng xem có thể nhân cơ hội kiếm chác được chút nào hay không.

Những lúc bình thường, hễ bọn chúng không động thủ trước thì Ô Hành Tuyết cũng rất lười chủ động ra tay bắt chúng mà để bọn chúng tuỳ ý bám đuôi. Ngặt nỗi hôm nay chàng có hơi khác thường.

Có lẽ vì không muốn bị người quấy rầy giữa lúc thưởng ngoạn lễ hội đèn lồ ng đầy hoài cảm này, hoặc có lẽ do số mệnh đã định sẵn sao đấy… mà chàng cảm thấy bồn chồn không yên, bực dọc trong lòng nên muốn đào đám người chướng mắt kia ra.

Sau đó Ô Hành Tuyết đã không còn nhớ rõ rốt cuộc có bao nhiêu tà ma đã trà trộn vào lễ hội đèn lồ ng hôm ấy. Năm đứa? Hay là bảy đứa?

Đã quên rồi.

Ô Hành Tuyết đã quên rất nhiều những sự vụ tủn mủn ngày hôm đó, chỉ khắc ghi thời điểm mình ra tay giết sạch lũ tà ma kia, và khung cảnh sương giá lạnh căm bọc kín những cái xác khô quắc khi chúng ngã xuống nền đất tối om không ánh đèn bên trên tầng lầu toà nhà.

Chàng cúi nhìn chút ánh sáng le lói chót cùng tắt ngúm trong mắt bọn chúng, đoạn đứng dậy, máu vẫn tí tách nhiễu giọt từ đầu ngón tay.

Cứ thế, chàng lẳng lặng đứng trong bóng đêm. Chẳng biết qua bao lâu sau, chàng chợt nghe tiếng chiêng trống vang lên bên ngoài.

Theo tập tục dân gian, tiếng chiêng trống vang lên báo hiệu giờ lành đã điểm, và những người cầm đèn trong tay sẽ đồng loạt thả đèn. Bởi thế khi đó, hàng chuỗi dài ngọn đèn lồ ng sẽ nổi lên cùng một lúc, lững thững bay lên những tầng mây tựa như muôn đốm sao lấp lánh.

Nghe thấy tiếng chiêng trống, chàng mới sực giật mình hoàn hồn, chốc lát sau cất bước ra ngoài lan can.

Khoảnh khắc đó, giữa hàng người ồn ã tấp nập trên phố, có một bóng dáng rất cao quấn gió mạnh quanh người, tay mang trường kiếm, bước đến từ một góc đường.

Người này mang gương mặt lạnh lùng trời sinh và ánh mắt tuyệt nhiên vô tình, hiện đang băng ngang con phố. Đến khi nghe thấy tiếng chiêng trống rùm beng, y chợt bừng tỉnh và dừng bước chân.

Đó chính là khoảnh khắc muôn ánh đèn trải đầy con phố được thả bay cao.

Thế nên, Ô Hành Tuyết đứng cụp mắt trên lầu cao, và người nọ ngước mắt từ bên kia con phố.

Qua đấy, một trăm năm nhân thế chậm rãi trôi theo ánh đèn loá nhoè tầm mắt.

Đám đông trên phố vẫn nối bước theo ánh đèn trong niềm hân hoan. Âm thanh vang ra từ ấy chắc phải rộn rã rình rang, song Ô Hành Tuyết chỉ thấy mịt mùng như bị phủ sau tấm vải nhung dày, khiến chàng chẳng nghe rõ được điều gì.

Ánh đèn rực rỡ sáng ngời, lung linh đến loá mắt. Và giữa vầng sáng ấy, chàng nhìn thấy Tiêu Phục Huyên.

Chàng từng thấy bốn mùa trôi qua chóng vánh, chớp mắt đã từ đông sang xuân, rồi từ xuân sang đông. Ngọn đèn thanh minh trước cửa vào Chiếu Dạ thành chuyển dời sau mỗi mười năm, đến giờ phút này đã xoay chuyển mười lần, bất quá cũng chỉ là bóng câu qua cửa sổ.

Mãi đến khi bước vào bóng đêm mịt mờ sương khói, đối diện với ánh mắt của Tiêu Phục Huyên, chàng mới bất giác cảm thấy, một trăm năm sao dài quá đỗi.

Một trăm năm ấy quá dài, khiến khoảnh khắc đôi mắt chạm nhau giữa hai người họ trở nên thật ngắn ngủi.

Ánh đèn khu chợ vừa khéo choáng ngay trước toà nhà làm người ta nhìn sao cũng không rõ. Đến khi ánh đèn dầu le lói len vào bóng mây, bên kia góc phố đã vắng bóng người.

Cứ như thể… ánh mắt đối phương chỉ tình cờ lướt qua, thoạt nán lại trong giây lát. Xong khi thả đèn kết thúc, bá tánh lại bắt đầu di chuyển, người kia cũng thu tầm mắt về và ngoảnh người hoà mình vào đám đông.

Thật sự không khác gì hai người xa lạ.

Cho dẫu Ô Hành Tuyết đã nghĩ về khoảnh khắc này biết bao bận, đã chuẩn bị tinh thần suốt trăm năm, thật chí đã từng nghĩ việc đến nước này âu cũng tốt chứ chưa hẳn là chuyện xấu. Ấy thế mà khi nó thật sự xảy ra, con tim chàng vẫn nhói đau âm ỉ khó lòng kiềm nén, tựa như bị đâm ngoáy bởi một con dao cùn rỉ sét.

Bên dưới toà lầu, một đệ tử nhà nào đó thổi tiếng còi canh gác du dương, hàng trăm ngọn đèn đuổi linh khiến tà ma e dè được thắp sáng và treo hai bên chợ để bảo vệ bình an cho đêm chợ hôm này.

Bá tánh tự do du ngoạn bên dưới ánh đèn, mỗi mình Ô Hành Tuyết lấy tay che ngang mắt.

Chàng ngửi được mùi máu còn vương trên tay, chân lùi về sau một bước, nép mình vào bóng tối trên toà lầu cao.

Đứng ở vị trí này, đèn đuổi linh không rọi vào người chàng được nữa. Chàng không phải nhìn thấy ánh sáng khiến tà ma khó chịu, song vẫn không buông cánh tay đang chắn ngang mắt mình.

Chàng vẫn khép chặt hai mắt, tròng mắt nóng hổi.

Sau đó, Ô Hành Tuyết chẳng biết mình đã đứng ở nơi tối tăm không người ấy bao lâu…

Có lẽ cũng không bao lâu.

Vì khi cái bỏng rát trong mắt còn chưa tan biến, chàng nghe thấy âm thanh rất khẽ bất chợt vang lên phía sau mình. Âm thanh ấy khiến chàng sững người, cứng đờ tại chỗ.

Đó là tiếng trường kiếm nhẹ nhàng va vào vỏ kiếm, vang lên cách chàng chưa đến nửa bước chân phía sau lưng.

Thoáng chốc, cả căn lầu chìm vào tĩnh lặng.

Một lúc lâu sau, người đứng sau cất giọng trầm thấp, hỏi, “Ngươi là… Ô Hành Tuyết?”

Ô Hành Tuyết hé mở đôi mắt bên dưới mu bàn tay, hai mắt nóng bừng đỏ hửng.

e6a2a8e4b996e985a5-007tyxg2ly1h1g5cg852bj32bc3pqkjq.jpeg


Lời tác giả:

Ngủ ngon QAQ~

Hồi ức sát còn thêm chút nữa, nếu bạn nào không thích xem thì chờ hết rồi đọc một lượt luôn nha.

Cá:

Em cũng muốn qua nhanh đoạn ngược mà nhằm ngay lúc này lại quần quật với công việc ở ngoài đời nên chậm trễ quá +__+
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 90: Nghe nói


Đó là năm Thanh Hà thứ một trăm.

Tiêu Phục Huyên vừa được giải trừ lệnh cấm chưa đến nửa tháng.

Nếu có ai vén ống tay áo y lên sẽ thấy trên cánh tay y vẫn còn sót lại dấu vàng nhạt của chú giam cầm, trông nó tương tự với chữ “Miễn” được Thiên đạo ban tặng bên cổ.

Chẳng qua, chữ nơi cổ được vinh danh là “thưởng”, còn ở trên người lại là phạt.

Suốt một trăm năm, cả Tiên Đô lẫn nhân gian thường lưu truyền một lời kể, rằng Thiên Túc thượng tiên mang lệnh cấm trên người nên phải ở yên ngoài cực bắc một trăm năm. Song đến cùng, y đã làm ra chuyện gì? Vì sao lại phải nhận lệnh cấm? Rồi vì sao phải kéo dài đến tận một trăm năm? Rất nhiều câu hỏi bên trong đấy mà trước giờ không có một ai trả lời rõ ràng được.

Ngay cả các vị tiên thuộc Linh đài trên Tiên Đô, thậm chí có đôi khi Tiên thủ Minh Vô tình cờ nghe nhắc đến vẫn chỉ có thể lắc đầu kết luận, “Chỉ biết sơ sơ.”

Điều duy nhất họ biết chính là, vào ngày hôm đó Thiên Túc thượng tiên đã băng xuyên qua Linh đài một mình.

***

Ngày Lạc Hoa Đài chìm trong hoả hoạn, Tiêu Phục Huyên dùng linh thức mình xông thẳng vào Thiên đạo Linh đài.

Linh đài trên Tiên Đô bao gồm mười hai ngọn núi treo cao giữa trời, mỗi ngọn núi do một vị tiên cai quản và trấn thủ, bên người mỗi tiên đều có tiên sứ nhiều không kể xiết.

Ngày hôm đó, khi phần linh thức bọc trong khí lạnh của gió sương cực bắc lộng thẳng vào Linh đài như một thanh kiếm băng giá thấu xương, các vị tiên nhân lẫn tiên sứ đều thất kinh hồn vía.

Từ khởi thuỷ đến nay, không bất kỳ một ai dám bước vào Linh đài bằng tác phong như vậy. Phàm là bất kỳ người nào, phàm là đến nhận thiên chiếu hay đến quỳ lãnh thiên phạt thì đều phải cất từng bước một lên mỗi tầng mây.

Chưa bao giờ có một người… mang kiếm ý hung hãn đầy ngạo nghễ còn đính kèm sát khí.

Những tiên sứ kia phải giơ tay lên che mặt. Nhưng bọn họ vẫn có thể cảm nhận được cơn cuồng phong quét qua khi linh thức kia lướt sang. Cơn gió ấy đượm tuyết vụn không rõ từ đâu và mang hương vị tiêu điều chỉ thuộc riêng về cực bắc.

Ngay khi ngửi được mùi vị đó, tất cả bọn họ đều kinh hồn tán đảm.

Người trên Tiên Đô có thể nhận sai hương vị của tiên nào chứ chắc chắn không nhầm được Tiêu Phục Huyên. Cả người y phủ trong tiên khí hoà quyện sát khí dày đặc nhất, mang hương vị độc nhất vô nhị.

Mà chính vì độc nhất vô nhị để chỉ thoáng lướt qua là người ta nhận ra ngay, nên bọn họ càng sợ hãi không thôi.

Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì khiến Tiêu Phục Huyên phải gấp rút đến bậc này?!

Chúng tiên sững sờ nhưng hoàn toàn không tìm ra manh mối.

Bấy giờ, họ đã hồi phục sau khoảng trống “Linh Vương bị xoá sổ” ngắn ngủi, hoàn toàn quên bẵng sự tồn tại của Linh Vương mà chỉ ngỡ rằng Tiên Đô vừa trải qua một ngày như mọi ngày như trăm năm qua, là một hôm gió yên sóng lặng, vô sự phát sinh.

Thế nên họ không hiểu và cũng không kịp cản người, chỉ vội hô to, “Thiên Túc! Làm thế là vi phạm thiên quy đấy!”

Bất kỳ một ai cũng biết không thể tuỳ tiện xông vào Linh đài, và làm như vậy là trái với thiên quy. Chắc chắn Tiêu Phục Huyên cũng biết, nhưng linh thức y vẫn không mảy may chậm bước.

Bọn họ chỉ loáng thoáng trông thấy ảo ảnh Thiên Túc giữa gió tuyết lạnh căm, gương mặt y đanh lại như băng rét và đáy mắt nhuốm đỏ.

Trong chóng vánh, những lời hô hào và cảnh báo của họ đã tuột lại phía sau. Họ hỏi, “Chuyện gì xảy ra vậy? Tại sao đột nhiên Thiên Túc lại như thế?!”

Thực chất, bản thân Tiêu Phục Huyên cũng không rõ chuyện gì đang xảy ra.

Cơ thể y vẫn đang ngồi đông cứng giữa trời bão tuyết bên ngoài cực bắc, trên tay y đang cầm pho tượng bằng bạch ngọc còn chưa chạm hoàn chỉnh. Y không biết nên giải thích chuyện đang xảy ra thế nào mà chỉ biết có một nháy mắt nào đó, trong lòng y chợt nhói lên nỗi đau xót vô cớ.

Miền cực bắc rộng lớn thênh thang, y ngửi hương gió tuyết mà cảm thấy lạnh lẽo như vạn kiếm xuyên tâm. Y mím đôi môi mỏng thẳng tắp, cụp mắt nhìn xuống bức tượng ngọc. Trước khi y kịp nhận ra thì linh thức y đã tách rời thể xác, đi thẳng lên Tiên Đô.

Y không thể nói rõ là chuyện gì, nhưng y cần phải làm gì đó.

Y cần phải làm gì đó, nếu không…

Nếu không…

Y thậm chí không biết “nếu không” sẽ như thế nào, nhưng linh thức y đã phóng ra ngoài như một thanh gươm nặng nề, cắm thẳng vào đỉnh núi trên Linh đài.

Khoảnh khắc đó, đỉnh núi lơ lửng giữa màn mây rung lắc dữ dội. Vết nứt dưới chân ảo ảnh Tiêu Phục Huyên dần lan rộng khắp nơi, đá vụn bắn tung toé.

Y siết chặt thanh kiếm trong tay, ngẩng đầu lên hỏi, “Ngươi đã làm gì?”

“Rốt cuộc, ngươi… đã làm gì?”

Thiên đạo đã xoá sổ thì chẳng chừa đường thoát và cũng không lưu lại vết tích. Dẫu cho có là ai trên thế gian cũng thế thôi…

Tất cả bọn họ đều tỉnh lại từ khoảng trống ngắn ngủi, rồi tiếp tục làm công việc như thường lệ. Từ bấy về sau sẽ đưa ngày hôm đó chìm vào quên lãng.

Khoảng trống để lại trong quá khứ được lấp đầy bởi một cơ số lý do cực kỳ hiển nhiên, khiến họ không chút bất ngờ khi nhớ lại và không để họ phát sinh nghi ngờ. Họ sẽ cảm thấy sự tình vốn dĩ nên như vậy, thế gian trước giờ vốn nên là thế chứ chưa hề có một biến cố nào xảy ra.

Tất cả mọi người đều nên phản ứng như thế, không một ai ngoại lệ.

Vậy mà… lại có một Tiêu Phục Huyên.

***

Các tiên trên Linh đài không bao giờ biết rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra trên đỉnh núi cao nhất trước án Linh đài vào ngày hôm ấy.

Thật ra ngày đó, họ đã tận mắt chứng kiến mười hai toà núi cao treo giữa tầng mây rung chuyển kinh hoàng, cơn lốc sát khí bên dưới Nam Song Hạ dậy sóng cuồn cuộn. Có thời điểm, họ còn nhận được chiếu lệnh và dồn dập mang theo pháp khí hướng về đỉnh núi.

Nhưng về sau, họ không còn nhớ rõ chuyện kia nữa, bởi những việc xảy ra trên Linh đài ngày hôm ấy cũng đã bị xoá bỏ hoàn toàn.

Sau chót, điều duy nhất còn đọng lại trong ký ức họ là hình ảnh linh thức Thiên Túc cưỡi gió băng tới, và kết quả mà ai ai đều biết.

Để rồi sau này, người ta thường nói, “Nếu chúng tiên trên Tiên Đô vi phạm thiên quy sẽ đến quỳ nhận thiên phạt trên mười hai đỉnh Linh đài, riêng Thiên Túc là ngoại lệ. Dầu sao, y cũng là thượng tiên duy nhất được triệu hoán thành, tồn tại độc lập không thuộc về chúng tiên. Nếu y vi phạm thiên quy thì hình phạt ắt hẳn phải khác, có lẽ nên gọi đó là lệnh cấm.”

***

Khoảnh khắc linh thức Tiêu Phục Huyên trở về cơ thể, lệnh cấm mang sắc vàng nhàn nhạt hiện lên trên tay y rồi bao bọc quanh cơ thể và tập trung ở giữa ngực. Đây là một lồng giam thầm lặng giữ chặt thân thể, nhốt y vào cánh đồng tuyết vạn dặm bên ngoài cực bắc.

Ký ức được nới lỏng từ nỗi đau như vạn kiếm xuyên tim, lại bị quét đi hết lần này đến lần khác trong vòng lưu chuyển của lệnh cấm, rốt cuộc đã bị xoá sạch.

Y vẫn thường cụp mắt nhìn bức tượng bạch ngọc kia. Rõ rằng đấy là một khối vật chết với không có mặt, mà sao y luôn cảm thấy nó nên có linh, dạn dĩ sáng ngời chêm chút phần ma mãnh.

Gương mặt nó nên đượm ý cười, tỏ nét kiêu ngạo và hơi lười biếng, và cũng sẽ thủ thỉ chuyện trò cùng y tựa chừng đang trêu đùa vui vẻ.

Thế nhưng nó không bao giờ lên tiếng.

Tất cả mọi người trên Tiên Đô đều cho rằng một Thiên Túc thượng tiên có thể trấn áp sát khí vô biên và nhẫn chịu tịch mịch bất tận thì chắc sẽ yêu chuộng sự lặng lẽ. Bản thân y cũng đinh ninh đúng thật là vậy.

Nhưng giữa lúc khép mắt ngồi giữa cánh đồng tuyết vạn dặm, có đôi lần y thình lình choàng mở mắt.

Rồi y chợt ngẩng đầu, không rõ vì sao mà giương mắt về một điểm nào đó trên cao. Cứ tưởng như từ nơi đó sẽ ngân vang tiếng chuông, hoặc sẽ có một ai đó gọi y một tiếng “Tiêu Phục Huyên”.

Thế nhưng không có.

Khung trời ở bên ngoài cực bắc trong xanh vĩnh cữu, lẫn trong tuyết trắng và sương mù miên man, bao la vô tận.

Có những lúc, lòng y chợt trỗi lên một nỗi chấp niệm muốn hoàn tất bức tượng thần kia. Kiếm khí đã tụ thành lưỡi kiếm nhọn mang theo sát ý trên đầu ngón tay, y cố mường tượng rất lâu song không tài nào biết bức tượng này nên có gương mặt ra sao.

Rồi cuối cùng, y sẽ thu kiếm khí về, cong đầu ngón tay mình chạm nhẹ bên má bức tượng thần kia.

Y cất tượng thần kia vào trong túi gấm do mình tiện tay biến hoá ra. Túi gấm màu trắng có thêu chỉ bạc, cực kỳ lạc lõng với sắc thuần đen từ trang phục với giày ủng y.

Y cầm chiếc túi gấm trong tay, ngỡ ngàng một lúc lâu rồi mới buộc nó vào bên hông.

Lệnh cấm vàng nhạt chuyển động ba ngàn ba trăm lần mỗi ngày, chẳng dừng một khắc. Theo bản năng, trái tim y cũng bị kéo theo lệnh cấm kia không ngừng.

Trước đây, cảm giác vạn kiếm xuyên tim hiện hữu mỗi ngày, để rồi mỗi ngày lòng y đều bình lặng trở lại.

Nếu nói thế gian này đã kinh qua sự xoá sổ của Linh Vương một lần, thế thì có vẻ bên ngoài cực bắc đây phải trải nghiệm xoá sổ ấy ngày ngày đêm đêm.

Hết lần này đến lần khác, một ngày không triệt, một ngày không ngưng.

Cứ thế ngày qua ngày, một trăm năm trôi đi.

***

Ngày Tiêu Phục Huyên rời khỏi cực bắc trở về Tiên Đô, dưới nhân gian vừa sang tháng ba.

Nhưng thoạt đầu y không biết.

Vì chốn Tiên Đô thênh thang này tràn đầy khói mây và ngọc bích quanh năm suốt tháng, không có mùa màng cụ thể.

Khi băng qua cổng vào Tiên Đô, bước lên nấc thang bạch ngọc cao vót dẫn lên mười hai đỉnh Linh đài trên tầng mây, chỗ xanh chỗ xám, thoắt ẩn thoắt hiện. Mấy tiên sứ Linh đài lả lướt bước ngang, nhìn thấy y thì cúi người thi lễ rồi thưa, “Thiên Túc đại nhân.”

Họ vẫn e sợ y, không dám tiếp cận và cũng không dám nhiều lời hệt như khi xưa. Thi lễ hoàn tất xong, bọn họ chỉnh tề xoay người tiếp tục tiến về Linh đài.

Khi Tiêu Phục Huyên trở về Nam Song Hạ, mười hai tiểu đồng tử kia cung kính đứng chờ bên hông cửa sân. Lúc nhìn thấy y, chúng nghiêm túc hô to, “Thưa đại nhân đã về!”

Đám tiểu đồng tử này rất vui vẻ, chúng cong đôi mắt để lộ nét cười, nhìn qua không có vấn đề gì.

Nhưng Tiêu Phục Huyên khẽ nhíu mày.

Động tác ấy thoáng vô cùng, thoáng đến mức chính bản thân y cũng không nhận ra. Chỉ vào một tích tắc nào đó, y chợt cảm thấy những tiểu đồng tử này sao mà hiền lành quá.

Các tiểu đồng tử được được Lễ các điều động sang, và Lễ các nổi tiếng cẩn trọng. Một khi họ đưa tiểu đồng tử hay tiên sứ đi đều đảm bảo chúng sẽ tuân thủ quy tắc, giơ tay nhấc chân không một động tác thừa thãi. Mấy đứa trong cung phủ y đã đỡ hơn nhiều so với các tiên sứ Linh đài rồi.

Y đã quen ở một mình, căn bản không cần đồng tử hay tiên sứ gì cả. Lẽ ra lúc trước Lễ các đưa mười hai đứa đồng tử này sang, y nên trả chúng về mới phải. Nói chung chắc y bị ma ám nên mới đổi ý.

Từ lúc y vào nhà, tiểu đồng tử đã tất bật không ngừng, chạy trước chạy sau y hòng chu toàn hết thảy mọi việc cho gọn ghẽ. Thế nhưng bọn chúng không hề tíu ta tíu tít không ngừng, bởi vậy nên dù Nam Song Hạ rộng lớn thoạt trông như có rất nhiều “người”, nhưng chẳng chút gì sôi động mà vẫn tĩnh lặng như xưa.

Chỉ vào một khoảnh khắc nào đó, có một tiểu đồng tử sẽ giọng cảm thán, “Mới đó mà đã một trăm năm rồi, thật là nhanh quá.”

Tiêu Phục Huyên đang thay quần áo thì nghe vậy, ánh mắt thoát lướt sang. Y cất giọng trầm thấp đáp lại, “Nhanh?”

Chắc tiểu đồng tử không ngờ y sẽ tiếp lời nên hoảng sợ. Phất trần đặt trên tay cậu run run, cậu lắc đầu nguầy nguậy theo bản năng. Hồi lâu sau, cậu mới kịp bình tĩnh lại, nói, “Đại nhân không cảm thấy nhanh sao?”

Tiêu Phục Huyên thu tầm mắt về, gác kiếm sang một bên, chốc nữa mới nặng giọng đáp, “Ừm.”

Bất giác, y mới sực ngỡ ra, một trăm năm với tiên nhân mà nói nào có tính là dài, có đôi khi chỉ là một chớp mắt. Còn nguyên do khiến y cảm thấy dài vô tận có lẽ bởi vì… tuyết rơi quá nặng bên ngoài cực bắc.

Y tháo túi gấm bạc bên hông mình xuống toan đặt nó sang một bên. Đến khi tay chạm vào rồi thì bất chợt sững lại.

Tiểu đồng tử đang ôm kiếm y, định chờ nhận luôn cả túi gấm đi cất một lượt thì thấy cảnh này. Cậu chớp mắt bối rối, một lúc lâu sau mới dè dặt hỏi, “Thưa đại nhân?”

Tiêu Phục Huyên hoàn hồn, thấy cánh tay vươn ra chờ mình bèn nhạt giọng đáp, “Không cần cất món này.”

Tiểu đồng tử gật đầu đã nghe, vô cùng tuân thủ kỷ luật, không tò mò thắc mắc gì thêm. Thế nhưng cậu vô tình lướt mắt nhìn vào miệng túi gấm, thấy bên trong thì “Ơ” lên một tiếng.

Tiêu Phục Huyên nhướn mi chờ cậu nói.

Tiểu đồng tử bụm miệng mình tỏ vẻ ngượng ngùng. Trong Lễ các, hành vi nhìn lén và hỏi bừa là không được phép. Bọn chúng cần phải chỉn chu muôn sự, cư xử đúng mực và lễ độ.

Nhưng đại nhân nhà cậu đang nhướn mi chờ, cậu làm sao dám không trả lời, chỉ đành ngập ngừng mà rằng, “Thưa đại nhân, ta vô tình nhìn thấy tượng thần bên trong túi gấm, vì sao tượng không có mặt thế ạ?”

Tiêu Phục Huyên trầm giọng đáp, “Chưa chạm xong.”

Y đổi trang phục sang áo bào tinh tươm không vương hạt bụi, xong xuôi lại buộc chiếc túi gấm lại vào bên hông mình. Tiểu đồng tử nhìn với vẻ tò mò, muốn hỏi vì sao lại giữ một pho tượng thần chưa chạm xong ở bên cạnh mình như vậy. Song cuối cùng, cậu cũng không cả gan hỏi ra.

Nhóm tiểu đồng tử dọn dẹp lau nhà vô cùng phép tắc, những đứa không có việc để làm thì đứng canh bên ngoài cửa, ngoan ngoãn nín thinh chứ không lắm lời tiếng nào.

Rõ ràng đây là lẽ đương nhiên, cả Tiên Đô vốn dĩ nên như thế. Nhưng sao Tiêu Phục Huyên lia mắt nhìn khắp nơi thì bất giác cảm thấy quá vô vị và tẻ nhạt.

Y có thể chấp nhận cánh đồng tuyết tịch mịch mà hiếm khi nảy lên ý nghĩ rằng nó thật “vô vị và tẻ nhạt”. Bởi vậy, suy nghĩ lần này khiến chính y cũng hơi ngạc nhiên.

Có điều, y vẫn liếc nhìn ngoài cửa sổ rồi cất bước ra cửa.

Tiểu đồng tử vội vàng nối gót theo và hỏi, “Đại nhân muốn đi đâu thế ạ?”

Theo lệ thường ở Tiên Đô, bọn chúng sẽ muốn đi theo. Thành thử một hai đứa trong chúng lập tức ngừng đứng yên gật gù, sải bước đuổi theo đại nhân nhà chúng.

May mà đại nhân nhà chúng mang vẻ mặt lạnh lùng xa cách thế thôi chứ cũng không hay làm khó chúng. Dù y không bảo cần chúng đi theo, nhưng khi nhìn thấy chúng toan chạy theo mình thì y vẫn dừng bước chân đôi chút.

“Đại nhân có công việc cần làm sao ạ?” Tiểu đồng tử ngửa mặt lên hỏi.

Một tiểu đồng tử khác lại trả lời, “Tất nhiên là có việc cần làm rồi, cậu có bao giờ thấy đại nhân nhàn nhã đi dạo mà không có việc gì không.”

Một tiểu đồng tử khác lại gật đầu đồng tình, “Đại nhân nhà chúng ta không đi dạo, cũng không thăm hỏi.”

Quả vậy, Thiên Túc thượng tiên chưa bao giờ ghé thăm hay làm khách cung phủ vị tiên nào, và cũng chưa từng có một người nào ghé sang Nam Song Hạ.

Y vẫn luôn đơn độc hành động, ai trên Tiên Đô cũng biết chuyện này.

Thế nhưng chẳng mấy lâu sau, các tiểu đồng tử đã phát giác ra có gì đó không đúng. Lần này trông dáng bộ đại nhân nhà chúng không giống như ra ngoài làm việc, vì y không đi về phía Linh đài và cũng không có ý định xuống nhân gian. Trái lại, y phi thân mấy lần, đi mỗi lúc một sâu hơn vào Tiên Đô.

Qua một lúc lâu sau, tiểu đồng tử mới nhận ra… đại nhân nhà chúng dường như đang đi dạo thật.

Bảo là “đi dạo” cũng không thích hợp lắm, vì dù sao y cũng không có ý định lãng du qua các toà cung. Thế nhưng vẫn là cất bước vô định. Hai cậu đồng tử bị kẹt ở giữa khúc mắc đầy đầu, bối rối không thôi.

Cứ thế, họ sải bước không hề “nhàn nhã” băng qua toàn bộ Tiên Đô, đến một địa điểm rất xa xôi hẻo lánh.

Những chỗ khác trên Tiên Đô đều chằng chịt cung phủ, chỉ mỗi nơi này là không. Phóng tầm mắt quanh mây mù lững lờ nơi đây chỉ thấy một toà cung phủ bỏ hoang giữa vùng trời bao la nhường ấy, ở bên cạnh nó là Phế tiên đài cao cao. Trông qua như thể chưa từng có ai sống ở nơi này.

Người trên Tiên Đô ai cũng kiêng dè “Phế tiên đài” nên xung quanh đây hiu quạnh không bóng người, chỉ có mình Tiêu Phục Huyên đến phá tan sự tĩnh lặng.

Thời khắc ấy, một cơn gió từ nhân gian chợt thoảng qua, mang theo cánh hoa chẳng rõ bắt nguồn từ đâu. Những cánh hoa ấy lượn một vòng trong gió rồi khẽ khàng đáp xuống bệ cửa sổ của toà cung phủ không người kia.

Khoảnh khắc ấy, Tiêu Phục Huyên nhướn mắt.

Y nhìn cánh hoa lướt qua khung cửa sổ rồi ngừng trên thềm cửa sổ bạch ngọc, đọng thành một nhúm nhàn nhạt. Y đứng trong gió nheo mắt, ánh mắt thẫn thờ trên thềm cửa sổ một lúc lâu vẫn chưa hoàn hồn.

Rồi y bất giác nhớ về cánh đồng tuyết miên man bên ngoài cực bắc. Trong tầm mắt phủ đầy sắc màu nhạt nhoà rộng lớn vô bờ, còn cõi lòng y rỗng không lặng lẽ, tưởng chừng đã bị ai đó khoét mất một phần. Giờ đây chỉ còn ánh vàng nhàn nhạt của lệnh cấm đang lưu chuyển không ngừng đến hàng tỉ vòng vẫn chẳng hề dừng lại.

Tiêu Phục Huyên nhìn song cửa sổ, thấp giọng hỏi, “Hiện tại nhân gian đang tháng mấy?”

Tiểu đồng tử ngạc nhiên, trả lời, “Tháng ba, tháng ba mùa xuân ạ.”

Một tiểu đồng tử khác cũng hùa theo tiếp lời, “Vì sao đại nhân lại hỏi chuyện này thế ạ? Có phải người muốn xuống nhân gian không?”

***

Đúng như lời cậu đồng tử nói, chẳng bao lâu sau, Tiêu Phục Huyên đã nhận được một tờ thiên chiếu.

Trước đây, mỗi lần y nhận thiên chiếu đều tương tự nhau, tức là có tà ma đang hoành hành tác loạn ở nhân gian mà những tiên môn bình thường không thể chống cự nổi nên cần đến y ra tay dẹp yên tai hoạ.

Nhưng lần này thì khác, thiên chiếu lần này không bảo y đi chém giết tà ma hay dẹp yên một địa phương nào, mà bảo y đến Thương Lang Bắc Vực.

Thương Lang Bắc Vực nằm dưới sự cai quản của y, chuyên dùng để giam cầm những tà ma bị hành hình. Chỉ trong vòng vài ngày, chúng sẽ gánh nhận hết mọi khốn khổ và rơi vào kết cục hồn phi phách tán.

Tà ma dưới nhân gian nghe đến nơi này đều sợ hãi đến mất mật, song không phải tự nhiên mà Thương Lang Bắc Vực có thể dựng thẳng sừng sững như vậy. Sau mỗi tầm trăm năm, nó cần y đến bổ sung tiên linh của mình để bảo trì. Làm như vậy có thể đảm bảo nơi chúng tà ma hãi hùng vẫn vững chắc kiên cố, bình an vô sự.

Lẽ ra khi xuống nhân gian, Tiêu Phục Huyên nên đi thẳng về phía bắc. Vậy mà khi vừa đến thì y chợt nghe nói ở phía nam đã mọc lên một toà Chiếu Dạ thành…

Nghe kể rằng trong một trăm năm y ở cực bắc, có một ma đầu dựng nhà trên mảnh đất hoang ở phía nam, để rồi sau đó, toàn bộ các tà ma trên thế gian đều dời xuống tề tựu về phía nam. Mười mấy năm trôi qua, nơi đó trở thành động ma dưới nhân gian, là Chiếu Dạ thành của hiện tại. Còn ma đầu đã dựng toà phủ trạch đầu tiên kia trở thành thành chủ Chiếu Dạ thành.

Lẽ ra Tiêu Phục Huyên không nên chuyển lộ trình.

Trong trường hợp không nhận được thiên chiếu, y không thể tự tiện nhúng tay vào sự vụ dưới nhân gian.

Thế mà đêm hôm đó, chẳng biết ma xui quỷ khiến thế nào mà y lại đổi hướng đi về phía nam. Y vốn chỉ định xem thử hiện giờ Chiếu Dạ thành đó đã bành trướng đến độ nào, phạm vi bao xa và trông ra làm sao.

Nếu như nơi đây là động ma như lời đồn đãi thì e rằng sớm hay muộn gì y cũng sẽ nhận thiên chiếu bình định chốn này.

Có tổng cộng hai đường nối chỗ y đến Chiếu Dạ thành. Một con đường băng qua cánh đồng Gia Minh, con đường còn lại đi qua thành trấn của bá tánh.

Y đã chọn con đường sau, bởi ở cánh đồng Gia Minh có một bức tượng thần khắc ấn của y có thể thay y theo dõi cánh đồng hoang vô tận kia. Còn con đường vào các thành trấn về đêm xem chừng nhiều hiểm nguy rình rập hơn, lúc trước vẫn thường có tà ma nhân lúc đêm thâu để lẻn vào thành gây rối.

Khi Tiêu Phục Huyên cầm kiếm trên tay và bước qua cổng thành, những ngọn đèn lồ ng được bá tánh làm nên đang giăng dài trên phố.

Những chiếc đèn lồ ng kia thắp sáng cả con đường, tô sắc lộng lẫy ánh ngời lên những toà lầu cao, phản chiếu nên ánh vàng ấm áp. Thêm vào đó, tiếng người xôn xao vang vọng từ những bức tường con hẻm, hoà quyện vào gió đêm se lạnh dưới ánh trăng xuân.

Y chợt ngừng bước, khi hoàn hồn lại đã giẫm nhẹ lên mái hiên, đáp xuống một góc trên con phố dài như bóng diều hâu.

Người ngựa trên phố tấp nập xôn xao, mấy chục người vận trang phục tiên môn bước ngang người y trong lúc đang bảo vệ những chiếc đèn trên tay.

Quái lạ thay, ngay lúc ấy y bất chợt nhớ về một địa điểm dưới nhân gian được gọi là Lạc Hoa Đài. Đo là một nơi từng sở hữu khu phố núi rộn ràng khôn kể, ánh đèn dầu thắp sáng như thân rồng, uốn lượn qua những khúc quanh đặng trải dài suốt mười hai dặm.

Y từng đến nơi đó vài lần, lần nào cũng đi hết dọc con đường ấy. Y cứ đinh ninh rằng mình chẳng có ấn tượng sâu đậm gì với nơi đó. Thế mà lúc này đây khi bất chợt nhớ lại thì y mới vỡ lẽ, hoá ra mình vẫn còn nhớ rất rõ nhiều điều nơi phố núi kia.

Quán trà ở không xa lối vào luôn nườm nượp khách ghé sang, tiếng thước gõ của ông chú kể chuyện vang đến tận bên đường. Có một số quán trọ kín phòng từ ngày này sang ngày khác, một số quán khác có chim sà đầy trước cửa. Ở nơi đó, ánh đèn được thắp từ thời điểm mở chợ thâu đêm suốt sáng, không bao giờ tắt. Càng về đêm, tiếng người càng thêm náo nhiệt.

Thường có người bán hàng rong quải những gánh trúc mang hàng bán, bên trong gánh trúc chứa đầy đồ ăn hoặc đồ chơi được trẻ em yêu thích như những chú chim đan bằng tre, các loại chuông và mặt nạ đủ kiểu.

Một số vị khách lựa chọn mê say, còn đeo thử mặt nạ lên mặt để xem có vừa hay không. Rồi đôi khi họ nhấc lên một góc mặt nạ, để lộ ra nụ cười…

***

Thời điểm đó, tiếng chiêng trống ngân vang trên đường phố khiến Tiêu Phục Huyên bất chợt hoàn hồn. Y trông thấy những ngọn đèn ngập phố đang được các bá tánh thả vào trời đêm.

Y thoáng ngước nhìn đôi chốc. Giữa lúc đưa mắt bâng quơ giữa ánh đèn đan xen vào nhau, y trông thấy một người đứng bên lan can trên lầu gian hàng đối diện.

Tầng lầu ấy không thắp đèn, góc phòng tối mù không ánh sáng, mà bóng hình người kia cũng lờ mờ không thấy rõ, không biết lúc nào sẽ phiêu tán vào màn sương mỏng theo gió đêm.

Cho đến khoảnh khắc ánh đèn dầu lung lay trước mặt tiền gian hàng.

Khoảnh khắc đó, Tiêu Phục Huyên ngửi được mùi tà ma khí trong gió và nhìn thấy đôi mắt người kia.

Thời điểm ánh đèn dầu loé qua, đôi ngươi ấy đượm sắc sáng ngời, song khi người kia hạ mi mắt thì điểm sáng ngời ấy hoàn toàn tan biến.

Loáng mắt, Tiêu Phục Huyên lại nhớ về cánh đồng tuyết bên ngoài cực bắc lần nữa. Y nhớ về thời điểm lệnh cấm trên cơ thể vừa bắt đầu chuyển động, khi đó chẳng hiểu vì sao y lại có cảm giác như bị vạn kiếm xuyên tim.

Chờ đến khi y kịp tỉnh táo lại thì nhận ra mình đã đến phía sau toà nhà, men qua khung cửa sổ mở hé để lên tầng hai tối mù không ánh sáng.

Y nhìn thấy xác tà ma chất đầy mặt đất, mỗi cái xác đều khô quắt lại. Bản thân y đã từng giao đấu với rất nhiều tà ma nên chỉ nhìn lướt qua cũng biết hiện trạng bọn chúng chính là bị tà ma mạnh hơn hút sạch toàn bộ.

Tiêu Phục Huyên giật mình ngước mắt lên, trông thấy người đứng bên lan can đang nhấc tay che đôi mắt mình, chân lùi ra sau một bước.

Ánh đèn từ phía ngoài toà nhà nán lại trước đôi ủng người kia, ánh sáng ấy mang hương vị phù văn đặc biệt chỉ dành cho đèn đuổi linh. Người kia đang tránh khỏi ánh đèn ấy và đứng vào giữa màn đêm dày đặc.

Người đó quay lưng lại Tiêu Phục Huyên, chỉ cách một bước chân.

Trên cánh tay đang buông thõng của người nọ vẫn đang nhiễu máu. Thân thể trùm kín trong tà ma khí không gì che giấu nổi, dày đặc hơn hết thảy bất kỳ tà ma nào Tiêu Phục Huyên từng chém.

Nếu nói theo lối dân gian thì đây hẳn là một ma đầu trăm năm mới gặp, và cần phải lập tức đâm trường kiếm qua tim.

Tiêu Phục Huyên nhìn người trước mặt, ngón tay thả lỏng bên người khẽ giật. Nhưng đó không phải tay cầm kiếm. Khoảnh khắc ấy, trông y như muốn nhấc tay lên để chạm vào đối phương, hoặc làm gì khác…

Nhưng rồi, y chỉ nghe thấy bản thân mình hỏi, “Ngươi là… Ô Hành Tuyết?”

Người quay lưng về phía y không nhúc nhích, dẫu đèn đuổi linh không hề chiếu vào người nữa nhưng người kia vẫn che kín đôi mắt và không ngoảnh đầu lại.

Tiêu Phục Huyên không nhìn thấy dáng vẻ người đó, không nhìn thấy đôi mắt người đó. Y chỉ nghe giọng nói kia có hơi khàn, mãi lâu sau người nọ mới thả tay xuống, đáp, “Vì sao lại nghĩ ta là Ô Hành Tuyết, ngươi quen hắn sao?”

Căn phòng chợt lặng thinh thoáng chốc, rồi giọng nói trầm ấm của Tiêu Phục Huyên vang lên.

Y nói, “Ta từng nghe nói.”

Lời tác giả:

Ngủ ngon QAQ
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 91: Lảng tránh


Không phải <i>biết</i>, cũng không phải <i>nhớ</i>, mà là <i>nghe nói</i>.



Chỉ là <i>nghe nói</i>.

Ô Hành Tuyết lặng người tại chỗ, vẫn không quay đầu lại.

Đôi mắt hoen đỏ hãy còn chưa phai, tiêu cự đặt vào một điểm nào đó trong hư không, chàng hỏi, “Vậy… Ô Hành Tuyết ngươi từng nghe nói là người thế nào?”

Chàng đợi một lúc lâu nhưng không nhận được câu trả lời.

Tiêu Phục Huyên im lặng chốc lát rồi nói, “Thành chủ Chiếu Dạ thành.”

Qua một lúc lâu, Ô Hành Tuyết mới khẽ khàng cất tiếng, “À.”

Chàng chợt thấy con người ta quá đỗi lạ kỳ. Dầu đã sớm biết rồi sẽ có ngày gặp phải tình cảnh như này, suốt trăm năm ròng từng mường tượng cơ man lần, thế mà khi nghe được câu trả lời vẫn cảm thấy thật khốn khổ.

Thế mà chàng lại cảm thấy khốn khổ.

Cảm giác ấy tựa như có một lưỡi kiếm đang chống trước con tim, còn chàng rủ mắt chăm chăm nhìn nơi lưỡi kiếm ấy đang chậm rãi cắm sâu vào trong.

Chàng nghe thấy bản thân lại tiếp tục nói khẽ, “Nếu đã thế, chắc ngươi cũng từng nghe qua Chiếu Dạ thành là nơi thế nào.”

“Từng nghe,” người phía sau nói. “Quá nửa tà ma trên thế gian sống tại đó.”

“Quá nửa tà ma trên thế gian sống tại đó…” Ô Hành Tuyết lặp lại.

Ánh mắt chàng vẫn ngừng tại điểm nào đó giữa hư không. Mãi đến khi sương mù phủ mờ đôi ngươi phai đi, chàng mới chớp mắt rồi nói, “Chắc hẳn người kể cho ngươi hay những tin đồn nọ đã nói rất nhiều điều lan man và khó tường tận. Chẳng bằng để ta nói cho ngươi biết, Chiếu Dạ thành mà người thường hay nhắc đến chỉ tóm trong hai chữ, động ma. Thành chủ Chiếu Dạ thành mà họ gọi cũng chỉ tóm trong hai chữ…”

Chàng ngừng đoạn, nói, “Ma đầu.”

Quá trình lưỡi kiếm chầm chậm c ắm vào tim thật dài dẵng, thật gian nan. Chàng không làm sao có thể thẳng mình đứng đến sau cùng. Thôi thì chẳng thà tự mình bước tới trước một bước để đóng một nhát cho xong.

Máu nhiễu từ đầu ngón tay xuống đất đọng lại thành vũng cạn, chàng buông mắt nhìn xuống, cất giọng phảng phất như sương mù lởn vởn trong đêm, “Người đã kể cho ngươi hay những tin đồn này cũng chỉ được nghe lại từ kẻ khác chứ chưa từng giao đấu với tên ma đầu kia. Bằng không, người đó hẳn nên cho ngươi biết rằng hễ nhìn thấy ma đầu kia thì tuyệt đối không nên hàn huyên cùng hắn. Nhớ phải xuất kiếm càng nhanh càng tốt, nếu không…”

Chàng ngưng lời, nghe giọng người phía sau nói, “Nếu không thì thế nào.”

“Nếu không sẽ không thể giết được hắn.”

Câu nói vừa cất lên, gió buốt nổi lên khắp cả gian nhà. Cơn gió ấy lộng qua đột ngột, tụ sương toàn bộ tầng hai chỉ trong nháy mắt.

Cơn lạnh ấy mang sức mạnh của hàng dãy núi, có khả năng đóng băng và chấm dứt hô hấp người sống một cách chóng vánh. Cho dù có là thần tiên hay tà ma cũng không tránh khỏi khí kình bị đông cứng, khó lòng lưu chuyển.

Tất cả những ai từng giao chiến với thành chủ Chiếu Dạ thành đều biết thời khắc đó làm người ta kinh hãi đến thế nào. Bởi lẽ chỉ cần chậm một chiêu, đâu chừng chỉ trong tích tắc là bị siết chặt cuống họng ngay tức khắc.

Những ngón tay đó thon dài mảnh khảnh, thoạt trông như chưa từng bám bụi bẩn và cũng chưa bao giờ phải xách vật nặng. Thế mà chúng lại nặng nề như ổ khoá bằng thiết lạnh, bị những ngón tay ấy siết chặt sẽ không cách nào thoát ra được nữa.

Rất nhiều người từng bỏ mạng dưới những ngón tay này theo cách đó…

Nhưng đêm nay đã trở thành ngoại lệ.

Ánh kiếm sắc vàng dẫn theo âm thanh lảnh lót như xé gió hiện lên gần như cùng lúc với sương giá bạc trắng. Ngay khoảnh khắc sương kết thành băng, đỉnh nhọn của ánh kiếm ấy sít sao chống thẳng vào nó.

Tiếng băng vỡ thình lình nổ đùng, vụn băng mảnh tuyết bắn tung toé khắp trời.

Hai luồng khí kình mang sức ép nặng nề va chạm mãnh liệt, một bên là tiên khí thuần khiết mang sát ý cuồng bạo, bên còn lại là tà ma khí nồng và đặc như mực đen.

Dưới cơn chấn động, Tiêu Phục Huyên trông thấy đường nét mơ hồ của ma đầu kia giữa bụi tuyết và sương đen.

Chẳng rõ cớ gì mà y chợt cảm thấy hai đôi bàn tay trống không của đối phương sao có vẻ… cô đơn lẻ loi quá. Đáng nhẽ ra, người kia nên cầm thứ gì đó trên tay, ví như một thanh đao hoặc một thanh kiếm.

Nói chung nên có một loại vũ khí.

Có lẽ vì đối phương thiếu một thanh kiếm trong tay nên hồi sau, y đã tận dụng được lợi thế cách cự ly một thanh trường kiếm và đè ma đầu kia trên mặt đất.

Trong một trăm năm đó, đây là lúc bọn họ gần nhau nhất, gần đến độ có thể nhìn thấy hình ảnh mình phản chiếu trong đôi mắt đối phương.

Tiêu Phục Huyên quỳ một chân trên mặt đất, một tay ấn giữ vai tên ma đầu và tay còn lại cầm kiếm.

Vụn tuyết thổi qua cánh mũi, y nghiêng đầu chớp mắt rũ tuyết đi rồi lại quay mặt sang, đôi mắt y quét một vòng qua gương mặt ma đầu.

Lạ kỳ thay, rõ ràng là một người y chưa từng gặp, rõ ràng là một gương mặt có kiểm tra cũng không tìm ra dấu hiệu bị chỉnh sửa, vậy mà sao y cứ có cảm giác đối phương đã dịch dung.

Đôi mắt đó không hoà hợp với mũi và môi, thế nhưng chính y cũng không rõ rốt cuộc một đôi mắt thế kia nên đi kèm với gương mặt ra sao.

Ánh mắt tên ma đầu giăng đầy băng giá, và trên nền đất đầy sương tuyết nổi lên vết máu lốm đốm. Dường như do tác động của những vết máu kia mà trong mắt ma đầu cũng phảng phất đỏ hửng, sắc đỏ nhạt nhoà khó mà phân rõ.

Y nhìn sắc đỏ nhạt nhoà ấy, nghe giọng ma đầu vang lên.

Ma đầu kia cất giọng nhỏ nhẹ, “Vì sao ngươi không tuốt kiếm khỏi vỏ?”

Thanh kiếm y đang đặt cạnh cổ ma đầu, ngay nơi yếu hại trên cơ thể, nhưng lại không hề rời vỏ. Và hễ không rời vỏ thì xem như không thật sự tung ra sát chiêu.

Tiêu Phục Huyên hơi cau mày nhưng không trả lời.

Y cũng không thể giải thích lý do, thậm chí đến khi ma đầu hỏi ra rồi thì y mới nhận ra mình không tung sát chiêu.

Bàn tay đặt trên chuôi kiếm siết chặt hơn, y rủ mắt nhìn người kia trong bầu không khí tràn ngập hương vị tà ma, sau hồi lâu mới đáp, “Chưa đến lúc.”

Có lẽ chính là vì chưa đến lúc, vì y vẫn chưa nhận được thiên chiếu bắt phải diệt trừ ma đầu nọ nên tự trong tiềm thức y đã chừa lại đường sống cho người kia.

Chứ không phải vì lý do nào khác.

Ma đầu nghe xong câu trả lời của y thì mãi sau mới nói, “Là thế à…”

Những tin đồn lưu truyền trên thế gian đều kể rằng đại ma đầu của Chiếu Dạ thành có dung mạo hoàn toàn không giống tà ma, thậm chí còn mang vẻ mê hoặc lòng người. Lời này cũng có phần chính xác.

Bởi lẽ, mỗi khi đôi mắt nọ thoáng rủ sẽ kéo theo đuôi mắt hơi hướng xuống, tạo ra ảo giác cho người nhìn rằng trong giây lát ấy ma đầu này đang đau buồn.

Một cảm giác khôn tả trỗi lên tự đáy lòng Tiêu Phục Huyên, song chưa kịp xác định rõ y đã cảm thấy bên dưới ngón tay mình trống rỗng.

Người bị đè trên mặt đất bỗng hoá thành cụm bông tuyết rồi tan rã.

Đôi mày Tiêu Phục Huyên nhíu lại, ngay sau đó y mới phát giác ban nãy mình chỉ kiềm một hoá thân của ma đầu kia dưới mặt đất mà thôi. Còn người thực…

Giọng ma đầu vọng ra từ một vị trí cách đó hơn hai bước, “Tiêu Phục Huyên.”

Tiêu Phục Huyên bất chợt ngước mắt.

Người kia chỉ gọi tên y rồi không nói thêm gì nữa. Có lẽ người ấy chỉ muốn xác nhận y có phải chính là Thiên Túc thượng tiên chuyên trảm trừ tà ma ấy hay không.

Đôi mắt nọ ngược hướng ánh sáng nên tối om như mực. Ma đầu ấy nhìn y một lúc lâu mới mở miệng nói, “Lần sau…”

Ma đầu lặng thinh thoáng chốc mới tiếp tục, “Đừng gọi ta là Ô Hành Tuyết.”

Ngay lúc âm thanh cất lên, bóng hình thon cao đó lại lần nữa tan biến như vụn tuyết.

Trông thấy vụn tuyết tứ tán trong gió, Tiêu Phục Huyên cầm kiếm đứng dậy.

Y bất chợt cảm thấy… gian nhà này quá rộng và tịch liêu.

***

Sau hôm đó, Chiếu Dạ thành sa vào tình trạng u ám trong một khoảng thời gian dài.

Bởi tất cả những ai trông thấy Ô Hành Tuyết trở về ngày hôm đó đều thấy rõ trong nét lười biếng của thành chủ có nhiễm chút gì mệt mỏi. Nắng sớm chiếu vào gương mặt vốn tái nhợt khiến nó còn nhạt nhoà hơn mây khói. Bởi thế mà đôi mắt hơi chếch xuống kia càng thêm tăm tối, để người ta nhìn vào càng khó lòng hiểu thấu.

Có một số tà ma ngây ngô còn tưởng linh thần chàng gặp tổn hại hoặc bị thương ở đâu đó, nên cho rằng thời cơ tấn công đã đến. Thành thử mấy hôm liền sau đó ngày nào cũng có người lăm le xâm nhập Tước Bất Lạc.

Chúng đi vào không mấy vất vả, tính ra thì khá suôn sẻ.

Thế nhưng chẳng bao lâu sau, đám tà ma khác trong Chiếu Dạ thành đã phát hiện, những kẻ bước vào Tước Bất Lạc đều không ra ngoài được nữa.

Trong lúc nhất thời, toàn bộ Chiếu Dạ thành thấy nôn nao trong lòng. Không một ai thích bị áp chế bởi kẻ có sức mạnh tuyệt đối và bị đe doạ trong âm thầm. Song chúng cũng không thể thoát khỏi bản năng của mình.

Khoảng thời gian đó, một số thuyết âm mưu cũ lại được đề cập đến…

Có tà ma bảo, “Việc thành chủ đã biến nơi đây thành động ma Chiếu Dạ thành và thu hút tất cả tà ma quần cư nơi này có lẽ còn vì một số mục đích khác.”

Có kẻ còn hùa theo, nói, “Tao đã nói thế từ sớm mà không ai tin.”

Thật ra, không phải là không ai tin, đám tà ma cũng nghi ngờ đủ kiểu thời điểm mới bắt đầu tề tựu lại chỗ này. Nhưng bọn chúng theo dõi động thái Ô Hành Tuyết rất lâu mà không phát hiện ra vấn đề gì.

Mà bản tính xưa giờ của tà ma là thích gì làm đó, cứ tuỳ hứng mà hưởng lạc thú. Sau mấy chục năm, mấy trăm năm mà không phát hiện ra vấn đề gì thì chúng cũng chẳng bận tâm suy nghĩ thêm nữa.

Huống hồ đều là tà ma với nhau, có cùng một giuộc bản tính, thì làm gì có kẻ nào lại đi bài bố trận cục trải đến trăm năm?

Thành thử, những âm mưu nghi ngờ đột ngột dấy lên một thời gian rồi lại lần nữa chìm xuống. Lần này cũng giống hệt như khi trước, chỉ sau vài ngày chúng đã biến mất tăm và không một kẻ nào đề cập đến nữa.

Bọn chúng đủng đỉnh định cư lại Chiếu Dạ thành, cứ như thể hết thảy tà ma trên thế gian này vốn nên quy thuận về chốn này.

***

Sau lễ hội đèn lồ ng mùa hạnh mai nở lần đó, Ô Hành Tuyết không còn đặt chân ra khỏi Chiếu Dạ thành lần nào trong suốt một thời gian dài.

Về sau, hai người họ có tình cờ gặp nhau vài lần, có lẽ do vận mệnh cố tình muốn trêu ngươi lòng người, hoặc cũng có lẽ là một thứ vận mệnh tréo ngoe giữa tiên và ma. Lần nào họ cũng gặp lại nhau trong tình huống éo le nhất, trạng thái éo le nhất, thời điểm không muốn bị bắt gặp nhất… vậy nên, lần nào cũng rối bời khủng khiếp.

Về sau nữa, mỗi lần đến nhân gian, Ô Hành Tuyết đều sẽ cố tình tránh một số địa điểm, tránh khỏi những nơi Tiêu Phục Huyên có khả năng đặt chân đến.

Chàng nghe vô số người gọi mình là “thành chủ Chiếu Dạ thành”, nghe vô số người bảo rằng mình “hoành hành không kiêng dè, tội ác tày trời”. Với những lời này, chàng vẫn có thể bình tĩnh bỏ ngoài tai, ngó lơ hết cả. Song chàng không bao giờ có thể bình tĩnh đối diện với Tiêu Phục Huyên.

Cảm giác khi ấy còn khó chịu hơn xẻ linh phách.

Ô Hành Tuyết đã lánh mặt rất lâu.

Nghe đồn trong thời gian đó, Thiên Túc thượng tiên thường xuyên tiếp nhận thiên chiếu nên tới lui cực bắc rất nhiều lần. Cũng nghe đồn rằng Thiên Túc luôn xử lý công việc ở phía bắc, nhưng có đôi khi lại xuất hiện ở phía nam.

Dường như họ đã quanh đi quẩn lại trong ranh giới được vạch ra bởi chính nhân gian.

Lúc xa, họ cách nhau núi cao biển rộng, nhưng vẫn lắng nghe tin tức của đối phương qua lời kể lại từ những người xung quanh. Lúc gần, cự ly cũng cắt một toà thành.

Có một đợt, Ô Hành Tuyết vừa thoáng thấy bóng dáng Tiêu Phục Huyên từ xa liền ngoảnh lưng rời đi cả ngàn trượng. Ấy thế mà đến khi đặt chân đến một toà thành bỏ hoang ở cách đó ngàn dặm và nhìn thấy những gian nhà đổ nát với con đường lớn, chàng mới sực nhớ ra đây chính là phế tích của hoàng thành.

Lúc trước, chàng và Tiêu Phục Huyên đã từng đứng cùng nhau trên con đường lớn này. Chàng cầm mặt nạ trên tay và khỏ từng nhịp bằng đốt ngón tay, cất lời hỏi Tiêu Phục Huyên, “Nếu một mai, trên đời không còn tiên cũng không còn ma thì sẽ ra sao?”

Họ đã từng cười đùa tán gẫu về những “chuyện sau này”, còn hiện tại đã sắp quen với việc ngoảnh lưng về phía nhau mà rời đi.

Ngày hôm đó, Ô Hành Tuyết đứng lặng người giữa đường lớn không một bóng người thật lâu mà không tài nào cất bước.

***

Luẩn quẩn như thế cả một thời gian, cho đến một ngày, Ô Hành Tuyết gặp Tiêu Phục Huyên ở thung lũng Đại Bi.

❄︎

Lời tác giả:

Phần sau kể về một đoạn cốt truyện cần được viết lại nên hôm nay tui cập nhật trước một chương. Chương sau sẽ dài hơn nhé ~ ngủ ngon QAQ

Cá:

Chương sau dài gấp 3 chương này… nên chắc em sẽ ngâm hơi lâu QAQ

À phải rồi, mọi người đọc xong chương này có thấy đoạn Tiêu Phục Huyên dù mất trí nhớ nhưng vẫn không tung sát chiêu với Ô Hành Tuyết không. Nếu liên tưởng đến trường hợp của Hoa Tín và Vân Hãi thì sẽ thấy điều mà Huyên Tuyết có nhưng Hoa Vân không có… và lý do vì sao câu chuyện Hoa Vân mang nhiều tiếc nuối đến tận lúc này…
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 92: Dịch dung


Ngày hôm ấy, trời vừa vào đêm ở thung lũng Đại Bi, gió lộng không ngừng, khói bụi mịt mù nơi nơi.

Ô Hành Tuyết trông thấy một bóng người rất cao đang lẳng lặng đứng giữa sương mù, dõi mắt về thung lũng rộng thê lương từ phía bên kia chiếc cầu treo.

Dáng hình ấy đã quá chi quen thuộc với chàng, dù không nhìn rõ mặt chàng vẫn biết đó là Tiêu Phục Huyên.

Tương tự vô vàn những lần trước đó, Ô Hành Tuyết xoay gót toan rời đi trước khi đối phương phát hiện ra. Thế mà chàng chỉ vừa bước hai bước đã thoáng ngửi thấy mùi máu.

Mùi máu khoác vẻ cô tịch trên bóng dáng Tiêu Phục Huyên, một dáng vẻ hiếm khi hiển hiện trên người y.

Ô Hành Tuyết ngừng bước.

Mãi lâu sau, chàng thở dài thật khẽ rồi quay người lại.

Chàng đắp lên người mình một lớp dịch dung khó bị phát hiện ra nhất, tiếp đó phủ một tầng trắng nhờ nhàn nhạt trên tròng mắt, và thậm chí còn vẽ một vết sẹo bên cạnh đuôi mắt.



Chàng ém hết tất cả khí kình tà ma lại, nhấc ủng giẫm lên mặt đất ghồ ghề sỏi đá ở thung lũng Đại Bi, vẳng ra tiếng sột soạt khe khẽ. Âm thanh ấy vang rất rõ trong bóng đêm, khiến cho người đang nhìn thung lũng hoang vắng ngoái đầu sang phía chàng.

Ô Hành Tuyết dừng chân chốc lát.

Chàng đứng trước ánh mắt đối phương, phủ lên mình một gương mặt xa lạ và cất lên giọng nói xa lạ, đóng giả thành người qua đường đang chuẩn bị băng qua thung lũng. Chàng nói, “Ta… ngửi thấy mùi máu bên này nên sang đây xem thử.”

Ánh mắt Tiêu Phục Huyên đọng lại thật lâu trên gương mặt chàng, xong mới rủ mắt liếc nhìn cánh tay mình.

Ô Hành Tuyết cũng nhìn qua chỗ đó thì thấy cánh tay cầm kiếm của y đang nhiễu máu tí tách mà không rõ vết thương nằm ở đâu.

Trong trí nhớ của chàng, rất hiếm khi Tiêu Phục Huyên đổ máu liên tục như vậy, trừ trường hợp linh thần y bị tổn thương nghiêm trọng. Ô Hành Tuyết nhìn đăm đăm vào vết máu cực kỳ nổi bật kia mà cảm thấy như bị dao đâm vào lòng.

Chàng cau mày thật khẽ đến độ khó lòng phát hiện ra, gắng giữ giọng mình bình tĩnh như người dưng gặp gỡ và bày tỏ lòng tốt một cách hững hờ. “Tay ngươi chảy máu rồi, bị thương phải không. Ta có mang sẵn một ít thuốc đây, nếu cần dùng…”

Còn chưa dứt lời, cánh tay Tiêu Phục Huyên đã nhích nhẹ. Dường như có một thủ thuật che mắt vừa được thực hiện nên ngay sau đó, máu chảy dọc khắp cánh tay đã hoàn toàn biến mất không còn tung tích.

Y cất giọng thờ ơ, “Không cần.”

<i>Quả nhiên.</i>

Ô Hành Tuyết thầm nghĩ.

Trong quá khứ, những người trên Tiên Đô đều nói Thiên Túc thượng tiên lạnh lùng xa cách, câu trả lời phổ biến nhất của y chính là “miễn” và “không cần”, để người ta không tài nào tìm ra cơ hội tiếp cận hay làm quen được.

Trước đây, Ô Hành Tuyết vẫn luôn thấy người ta chỉ cường điệu quá thể thôi. Tiêu Phục Huyên mà chàng biết chỉ lạnh nhạt bên ngoài, còn một khi bạn làm gì hay nói gì thì y đều sẽ đáp lời.

Đến ngày hôm nay, Ô Hành Tuyết mới ngỡ ra, dường như những lời miêu tả kia vốn dĩ không sai.

Chỉ với một câu “Không cần”, chàng đã không còn gì để nói tiếp.

Ô Hành Tuyết chớp nhẹ mi, lòng nhen nhói đôi phần hối tiếc. Chàng âm thầm cười tự giễu một phen, lúc ngẩng đầu lên thì gương mặt đã trở về bình thản. Thậm chí, chàng còn mỉm cười và hỏi vô cùng tự nhiên, “Thật sự không cần ư?”

“Ừm.”

“Thế ta không làm phiền nữa vậy.”

Tiêu Phục Huyên vẫn giữ nguyên ánh mắt mình trên mặt chàng. Khi nhìn nét cười ấy, không rõ vì sao y lại thoáng cau mày.

Ngay lúc Ô Hành Tuyết xoay người định rời đi, Thiên Túc một mực kiệm lời bất chợt mở miệng, hỏi với giọng trầm trầm, “Ngươi không định qua thung lũng à?”

Ô Hành Tuyết ngẩn người, ngoái đầu lại hỏi, “Sao cơ?”

“Ngươi đến đây chỉ để hỏi một câu có cần thuốc hay không chứ không phải để rời khỏi thung lũng à.” Tiêu Phục Huyên nhìn chàng với đôi mắt đen tuyền, giọng nói y còn kéo theo sương bạc bảng lảng vờn quanh trước mặt.

Bấy giờ Ô Hành Tuyết mới sực nhận ra — ở chốn hoang vu này về đêm thường xuất hiện những thứ xấu xa giả dạng thành người, bởi vậy có khiến người ta hỏi thêm một câu nữa cũng không kỳ lạ.

Chàng giữ nét mặt bình tĩnh, trả lời, “Ta có định đi qua, nhưng cần chờ đến sáng sớm mai đã.”

Chàng nói rồi còn hất cằm về hướng gần đó. “Ngươi nhìn xem, những người định qua thung lũng đều tập trung ở đấy còn gì.”

Ở phía đó chỉ có một túp lều dựng thành quán trà, trước lều điểm xuyết đèn lồ ng lấp lánh như ánh sao. Có những lúc xe ngựa đến đây mà không muốn băng thung lũng vào ban đêm nên ngừng lại ở quán này. Mọi người từ già trẻ lớn bé quây quần quanh những chiếc đèn lồ ng đuổi linh, đồng thời giắt ngựa đang phe phẩy đuôi nghỉ ngơi bên cạnh. Trong nhóm họ thường có một vài người có thể thi triển tiên thuật. Những người này giúp tuần tra khu vực xung quanh để đảm bảo an toàn.

Đây là những hình ảnh phổ biến thường gặp trong khu vực thung lũng Đại Bi này.

Bấy giờ, có một vài xe ngựa đang nghỉ ngơi phía xa xa của túp lều. Ô Hành Tuyết lựa chọn trang phục không khác gì những người tuần tra xung quanh nên vừa khéo có thể giả vờ mà không để bị phát hiện sơ hở gì.

Trả lời xong xuôi câu hỏi này, chàng cầm chắc trong lòng Tiêu Phục Huyên sẽ tin chứ không nghi ngờ nữa. Có điều đến lúc này, họ đã thật sự không còn gì để nói với nhau.

Ngay khi suy nghĩ đó nhen lên, Tiêu Phục Huyên lại tiếp tục nói. Giọng nói trầm thấp mơn theo gió đêm mà truyền sang, “Mắt ngươi bị sao vậy?”

Ô Hành Tuyết kinh ngạc, giơ tay lên sờ trong vô thức. Khi đụng vào vết sẹo gồ ghề bên cạnh đuôi mắt, chàng mới chợt nhớ ra mình đã chỉnh sửa một chút chỗ mắt này.

Tư lự chốc lát, chàng trả lời, “Trước đây ta từng bị thương nên để lại sẹo, tròng mắt cũng bị ảnh hưởng nên đôi khi xuất hiện màng trắng.”

Tiêu Phục Huyên: “Không phải ngươi mang sẵn thuốc bên người sao?”

Ô Hành Tuyết ngừng đoạn, ngẫm lại mới thấy đúng là có nhiều phương thuốc giúp chữa trị màng trắng với hiệu quả ngay tức thì thật. Nếu chính chàng đã nói trên người thường mang sẵn thuốc thì làm gì có chuyện bị bám trắng đến nhoà mắt.

Chàng thốt “Ờm” để che giấu sự lúng túng nhất thời của mình, đoạn lắc đầu và nói, “Phương pháp thông thường không hữu hiệu.”

Nói ra được lời mào đầu rồi thì đoạn sau đơn giản hơn rất nhiều.

Ô Hành Tuyết chỉ về lối vào hẹp và dài của thung lũng Đại Bi rồi nói, “Lần này ta cần qua bên kia thung lũng để tìm thầy xin thuốc chữa bệnh tại một tiên môn lớn hơn.”

Tiêu Phục Huyên lia mắt nhìn theo ngón tay chàng rồi lại dời tầm mắt về.

Ô Hành Tuyết những tưởng với tính cách của y thì chỉ “À” một tiếng rồi kết thúc cuộc trò chuyện. Không ngờ y lại tiếp tục cất giọng nhàn nhạt, “Nhà họ Phong ở Mộng Đô?”

Từ khi xuất hiện Chiếu Dạ thành, trên thế gian có thêm một ma đầu, các tiên môn dưới nhân gian lại đông thêm một chút. Tuy vậy những tên tuổi lẫy lừng nhất vẫn thuộc về các gia tộc cũ. Mà nhắc đến “tiên môn lớn hơn” theo hướng được chỉ thì phần lớn mọi người đều sẽ chọn nhà họ Phong.

Thế mà, Ô Hành Tuyết lại nheo mắt.

Những việc xảy ra trong vòng thời gian rối loạn khiến chàng không có ấn tượng tốt với nhà họ Phong lắm. Chàng phủ nhận, “Không phải.”

Hướng về phía đó nhưng không phải nhà họ Phong, chỉ còn một gia tộc khác cũng được nhiều người tìm đến, nhà họ Hoa. Vậy nên, Ô Hành Tuyết nói, “Ta đến Xuân Phiên thành.”

Tiêu Phục Huyên đáp “À” một tiếng.

Ô Hành Tuyết nhướn mày, thầm nhủ <i>đây mới đích thị là Thiên Túc kiệm lời trong “lời đồn”</i>. Thế rồi chàng nhớ lại dáng vẻ Tiêu Phục Huyên khi dõi mắt về vùng thung lũng thâm sâu ban nãy…

Chỉ cầm kiếm đứng bên vách núi thôi, mà sao vô cớ khiến người ta cảm thấy đau khổ muôn vàn.

Chàng không nén nhịn nổi, bèn hỏi, “Còn ngươi thì sao?”

Tiêu Phục Huyên dời mắt sang nhìn chàng.

Ô Hành Tuyết hỏi, “Ngươi đến thung lũng Đại Bi này để làm gì?”

Thực chất, Tiêu Phục Huyên hiếm khi trả lời những câu hỏi như vậy từ người khác. Những việc y làm cả đời này đều liên quan đến thiên chiếu nên không thể để lộ quá nhiều. Từ đó dẫn thành thói quen trả lời ngắn gọn cho tất cả mọi loại câu hỏi quanh quẩn trong “Có việc” hoặc “Không thể nói.”

Nhưng khi nghe Ô Hành Tuyết hỏi vậy, y lại lặng cả người, trông có vẻ hơi thất thần.

Một lúc lâu sau, y mới đáp, “Tình cờ ghé qua.”

Câu trả lời này quả thật không giống Tiêu Phục Huyên, con người y vẫn luôn nhanh gọn, tuyệt nhiên sẽ không bất chợt dừng chân ở một nơi mình tình cờ ghé ngang để ngắm nhìn quá lâu như vậy.

Ô Hành Tuyết rất muốn hỏi rõ hơn. Song hiện tại chỉ đóng vai người dưng như bèo nước gặp gỡ thì chàng lấy tư cách gì để hỏi bây giờ.

Bởi vậy mãi rất lâu về sau, chàng vẫn không biết rốt cuộc Tiêu Phục Huyên đứng lặng lẽ trước lối vào thung lũng Đại Bi vì lý do gì.

Chỉ mỗi mình Tiêu Phục Huyên mới biết…

Nguyên do y dừng chân phía trước lối vào thung lũng Đại Bi là vì trước đây y từng vô tình nghe kể câu chuyện về việc Vân Hãi mất mạng ở khu vực thung lũng Đại Bi. Lúc đó, Minh Vô Hoa Tín đã mang kiếm hạ phàm và ra tay sát phạt tà ma, sau đấy dựng nên một pho tượng thần cho Vân Hãi để tưởng niệm bên dưới lòng thung lũng Đại Bi này.

Rồi sau đó nữa, nghe đồn tất cả những vị tiên bị giáng xuống phàm đều có một pho tượng thần dưới đây.

Cả khu vực thung lũng Đại Bi tưởng chừng một nghĩa trang tĩnh lặng không ai hay biết, an táng những vị tiên chẳng một phàm nhân nào nhớ tới.

Tiêu Phục Huyên cũng không phải kiểu người đa sầu đa cảm, y không định vào quấy rầy bên trong. Thế nhưng, có đôi khi y bước ngang qua thung lũng thâm sâu và hoang vắng này rồi chợt nhớ đến những lời đồn đãi như “vị tiên bị phế truất xuống nhân gian” hoặc “không ai hay biết”, thì y lại không khỏi thẫn thờ, phải nán chân lại dõi vào thung lũng thâm sâu không thấy điểm cuối.

Chẳng rõ vì cớ gì mà mỗi lần đứng ở nơi này và nhìn về thung lũng Đại Bi mịt mờ sương khói, y luôn cảm thấy mình cũng nên tưởng niệm một ai đó…

Cảm giác ấy lạ thường và tràn đầy mâu thuẫn.

Chỉ cần đứng trước thung lũng Đại Bi, lòng y sẽ dấy lên đôi phần nhung nhớ. Song y hiểu rõ, niềm nhung nhớ ấy không dành cho bất kỳ một ai bên dưới lòng thung lũng cả.

Y không biết mình đang nhung nhớ ai, nhưng lần nào niềm nhung nhớ ấy nhen lên lại tựa như… đời này y sẽ không bao giờ vui vẻ được nữa.

Mà mỗi khi suy nghĩ ấy bất chợt nảy ra thì y lại gặp được ma đầu Ô Hành Tuyết người đời đều biết ở phương nam xa xăm.

Rồi về sau, phải có đến gần sáu mươi năm y bị cuốn vào guồng công việc tại Thương Lang Bắc Vực nên không còn dịp đến nhân gian nữa.

Lần này ghé thung lũng Đại Bi đã gần đến năm Thanh Hà thứ hai trăm.

***

Ban đầu, Ô Hành Tuyết chỉ định giả vờ một lúc, đợi đến khi Tiêu Phục Huyên “tình cờ ghé ngang” rời khỏi, chàng sẽ tháo bỏ lớp dịch dung rồi quay lưng băng qua thung lũng để đi về hướng khác.

Vậy mà thế sự cứ mãi nằm ngoài dự đoán của chàng.

Ngày hôm ấy, thung lũng Đại Bi xảy ra chấn động bất thường. Không biết việc này do lũ vật tính âm gây nhiễu hay sao nhưng nhìn chung tình hình có hơi nguy hiểm. Vì vậy, Thiên Túc thượng tiên đã thay đổi ý định và ở lại bên rìa thung lũng Đại Bi một đêm.

Y không rời đi, Ô Hành Tuyết cũng chỉ còn cách diễn cho trót mấy lời lừa gạt để làm an lòng người khác và phải giữ nguyên dáng vẻ giả mạo kia mà nghỉ ngơi một đêm ở quán trà dựng bằng lều.

Nhờ ơn trời nên quán trà có kha khá xe ngựa, một chiếc trong đó vừa khéo giúp chàng che khuất mấy chiếc đèn đuổi linh bao quanh nhóm người.

Đường đường là thành chủ của Chiếu Dạ thành mà thậm chí còn không có cả một chiếc giường, phải ngồi chống đầu bên cạnh một chiếc bàn vuông, lắng nghe những lời tán gẫu chữ được chữ mất của nhóm người đang hối hả lên đường. Ấy thế mà cảm giác tự tại hơn ở Tước Bất Lạc rất nhiều.

Chàng híp khẽ đôi mắt dài và nhìn những người kia một cách biếng lười, trong lòng hiểu rõ ở phía trên nóc túp lều tranh này có một người đang âm thầm ngồi trấn giữ và bảo vệ cả khu vực này.

Đó là người đã từng ước hẹn… một trăm năm, ba trăm năm, hay lâu hơn thế nữa cũng sẽ đồng hành cùng chàng.

Họ đã từng hôn nhau dưới bầu trời giăng kín những vì sao, tương tự những đôi tình nhân vĩnh viễn chân thành chốn nhân gian.

Ấy mà chớp mắt, hai trăm năm đã trôi qua.

***

Sáng sớm hôm sau, những cỗ xe ngựa nghỉ chân quanh túp lều dựng thành quán trà lần lượt xuất phát, trên xe chở hàng hoá và những bá tánh muốn băng qua thung lũng. Chuỗi xe nối thành một hàng dài dọc theo con đường hẹp dẫn vào thung lũng.

Ô Hành Tuyết thầm than thở, tự nhủ trong lòng một ngày một đêm vừa rồi sao mà vô thực. Dù vậy chàng vẫn cất bước đi theo đội xe ngựa kia, lững thững băng qua thung lũng Đại Bi.

Có đôi khi bóng chim vô tình lướt sang, chàng sẽ vươn tay chắn ánh sáng và ngẩng đầu lên. Dù không thấy bóng người nhưng chàng biết Tiêu Phục Huyên đang ở trên đỉnh vách núi ấy.

Trong đội xe ngựa có cả người già trẻ nhỏ nên họ di chuyển rất chậm, tốn gần hết cả ngày mới đi đến bên kia thung lũng dài dẵng này.

Đa phần mọi người đều muốn đến thành chủ Mộng Đô, ngoài ra có một số ít rẽ sang nhánh nhỏ để đến Xuân Phiên thành.

Ô Hành Tuyết vẫn không tỏ vẻ vội vã. Khi nhóm người bước qua cổng Xuân Phiên thành, những người khác đều nhanh chóng hoà mình vào những ngỏ hẻm dọc ngang rồi mất dạng.

Chỉ mình Ô Hành Tuyết thoáng ngừng bước chân…

Vì từ bên khoé mắt, chàng trông thấy một bóng người cao cao đang ôm kiếm tựa lưng vào bờ tường đá xanh dựng thành hẻm nhỏ. Chàng đã định tỏ vẻ không nhận ra, song đã thoáng ngừng bước chân rồi mà giờ còn giả vờ sẽ lộ sơ hở mất.

Bởi vậy, chàng dừng bước và quay sang nhìn con hẻm hẹp phía bên kia.

Chàng ra chiều không biết, thắc mắc hỏi Tiêu Phục Huyên, “Ngươi cũng đi cùng đội xe ngựa tới đây à, sao suốt dọc đường ta không thấy ngươi.”

Tiêu Phục Huyên không trả lời mà nói, “Ngươi nghỉ chân ở nhà họ Hoa à?”

Ô Hành Tuyết suy nghĩ rồi đáp, “Không phải, hôm nay đi ngoài đường lâu quá nên bụi bặm bám hết mặt mày rồi, thật sự bê bết không chịu được. Hôm nay ta phải nghỉ ngơi chỉnh trang rồi mai mới đến làm phiền họ.”

Tiêu Phục Huyên liếc mắt ra bên ngoài hẻm, thấy có quán trọ cách đó không xa.

Ô Hành Tuyết nhìn y, bất chợt hỏi, “Sao ngươi cũng đến Xuân Phiên thành?”

Tiêu Phục Huyên hơi cau mày rồi lại thả lỏng, nói, “Xem như… để cảm tạ phần thuốc ngươi định đưa ta.”

Ô Hành Tuyết ngẩn người.

Vào một khoảnh khắc nào đó, chàng tưởng chừng mình nhen lên ảo tưởng, nhất là những thời điểm mà Tiêu Phục Huyên tiếp lời tất cả những điều chàng nói. Chàng suýt đã quên rằng hiện tại mình là tên ma đầu khét tiếng của Chiếu Dạ thành.

Tiêu Phục Huyên đưa chàng đến tận đây còn vì mục đích nào khác nữa?

So với việc nghi ngờ thân phận chàng thì câu “cảm tạ cho thuốc” đã là câu trả lời tốt lắm rồi. Với tính cách của Tiêu Phục Huyên thì hành xử như vậy cũng hợp lý.

Ô Hành Tuyết đáp “Ồ” rồi mỉm cười.

Chàng thấy Tiêu Phục Huyên nhìn mình một chốc rồi trầm giọng, “Ta còn có việc, ngươi—”

Không biết vì sao mà Tiêu Phục Huyên dừng đoạn, lại nói, “Thôi, ta đi trước đây.”

Ngay khi câu nói kết thúc, bóng hình y biến mất giữa con hẻm dài.

Ô Hành Tuyết đứng nguyên tại chỗ rất lâu, cảm thấy đối phương đã đi khỏi thật rồi mới thả lỏng cơ thể đang gồng cứng. Luồng hơi thở kia đang di chuyển dần về phía bắc. Còn chàng chờ đến khi hơi thở ấy đã mất tăm mới ngước mắt lên nhìn về phía bắc.

Trời đã hoàng hôn, ráng đỏ phủ ngợp cả bầu trời, những con đường hướng về Xuân Phiên thành đều nhuốm sắc đỏ nhàn nhạt.

Ô Hành Tuyết đứng giữa một trong những con đường ấy, cởi dần dịch dung.

Thực chất, đã lâu lắm rồi chàng không nói chuyện với người ta nhiều đến bực này, và cũng không chỉ qua một khoảnh khắc thôi đã nhướn mày hay lộ nét cười. Tâm trạng chàng đã vui vẻ hẳn lên trong nhất thời ấy. Để rồi hiện tại, khi tháo bỏ lớp dịch dung, nét mặt chàng lại dần hiện vẻ mệt nhoài.

Chàng hàn huyên cùng người đã từng thân mật khắng khít, vậy mà phải đóng giả người dưng.

***

Khi rời khỏi Xuân Phiên thành, chàng nhận được thư từ Chiếu Dạ thành.

Mấy kẻ được xưng là “thuộc hạ” chàng đến Tước Bất Lạc, thấy cả phủ trạch rỗng không bèn truyền thư đến hỏi, “Thành chủ đi đâu vậy ạ?”

Chàng lười không buồn trả lời, chỉ xoa nhẹ đầu ngón tay. Tấm thư tan biến thành tro tàn.

Chàng nhủ trong lòng: Ai mà biết.

Ô Hành Tuyết ra ngoài là có việc cần làm thật, chàng muốn đi tìm người…

Năm xưa, chàng có để lại dấu ấn không ảnh hưởng đến cục diện trên người hai tiểu đồng tử. Dấu ấn này không có tác dụng gì đặc biệt ngoài việc giúp chàng cảm nhận được hai đứa trong trường hợp sau này chúng đầu thai thành người.

Tốt xấu gì cũng đã theo chàng lâu đến thế…

Lần này chàng ra ngoài cũng vì phát hiện được động tĩnh của dấu ấn nọ. Xét trên lý thuyết thì ắt hẳn là hai đứa nhỏ đầu thai thành.

Dấu ấn nọ chia làm hai hướng, một cái đang ở thôn làng nào đó gần biển Vô Đoan, cái còn lại ở ngoại ô phía nam Miện Châu. Nói chung… dấu nào cũng cách Xuân Phiên thành tận mấy ngàn dặm.

Chàng cũng chẳng có dự định gì mà chỉ muốn đến nhìn xem tin tức của chúng là được.

Không ngờ, khi Ô Hành Tuyết tới nơi thì hai dấu vết ấy đã biến mất.

Trong dân gian tương truyền rằng trẻ con sinh ra vào những ngày rét đậm giữa đông rất dễ chết non và khó nuôi. Mà hai cậu nhóc kia đều sinh ra ở phương bắc lạnh giá, vào gia đình không khấm khá lại còn đông con. Thành thử chỉ vừa ra đời chúng đã yểu mệnh.

Khi Ô Hành Tuyết tìm đến nơi thì chỉ còn thấy nấm mồ nho nhỏ giữa ngàn dặm tuyết phủ.

Thậm chí, hai gia đình ấy còn không hề biết rằng, vào cái đêm họ lau nước mắt, ma đầu khét tiếng nọ đã đến phía sau nhà họ và âm thầm đặt kẹo đậu phộng mà trước đây hai tiên đồng rất yêu thích cạnh bên nấm mồ mới dựng.

***

Sau đó, Ô Hành Tuyết vẫn thường thả bùa tìm người ra ngoài. Chàng gấp giấy thành hình người hoặc hình chim, hai con dùng để tìm kiếm dấu vết đầu thai của hai tiểu đồng tử, còn một con… để truy vết Thiên Túc thượng tiên.

Ý định ban đầu của chàng là muốn sớm tìm ra tung tích hòng tiện bề tránh né.

Ấy thế mà bùa tìm người của chàng cứ mãi vô hiệu đối với Tiêu Phục Huyên, để rồi chàng vẫn chạm trán đối phương khắp nhân gian.

Có đôi lúc chàng không kịp né đi, còn có đôi lúc bởi những nguyên nhân khó lòng tả rõ. Âu có lẽ khó tránh khỏi số mệnh. Chẳng biết từ thời điểm nào đó mà mỗi lần gặp được Tiêu Phục Huyên, Ô Hành Tuyết đều khoác lên mình một lớp dịch dung khó lòng nhận ra nhất.

Chàng mang trên người dáng vẻ và ngoại hình khác nhau, giống như lần gặp gỡ ở thung lũng Đại Bi. Qua những năm tháng đó, chàng trở thành một người qua đường với những khuôn mặt khác nhau bên cạnh Tiêu Phục Huyên.

Có những lúc, nhìn thấy dáng bộ cao ngạo mà lẻ loi của đối phương khiến lòng chàng đau xót. Có những lúc, chàng phát hiện đối phương bị thương nên không khỏi lo lắng trong lòng.

Vào những thời điểm như vậy, chàng đều sẽ khoác dáng vẻ một người xa lạ và bước sang bắt chuyện với Tiêu Phục Huyên.

Đứng trước mặt bá tánh, dường như Thiên Túc thượng tiên hoà nhã hơn chút so với khi ở cùng chúng tiên trên Tiên Đô. Thế nên thật lạ kỳ, dù Tiêu Phục Huyên nổi tiếng khó gần nhưng lần nào gặp nhau họ cũng trò chuyện sôi nổi, và lần nào bên nhau cũng tương đối vui vẻ.

Song những lúc ấy vui vẻ biết bao nhiêu, thì sau đấy Ô Hành Tuyết sẽ lặng lẽ đi bấy nhiêu.

Những năm ấy, Thiên Túc bận rộn trong công vụ, số lần bước chân đến nhân gian chẳng tính là nhiều, thường thường chớp mắt đã năm năm, chớp mắt đã mười năm.

Cứ thế, trạng thái ấy đã kéo dài rất lâu…

Lâu đến mức Ô Hành Tuyết tìm ra dấu tích đầu thai của hai tiểu đồng tử kia một lần nữa. Lâu đến mức chàng đã đến hẳn hai địa điểm tách biệt để nhặt hai kẻ khốn khổ và đưa về Tước Bất Lạc.

Hai người họ trở thành hai cư dân thường trú còn lại của Tước Bất Lạc, giống như ở Toạ Xuân Phong năm xưa.

Hai người họ một tên Ninh Hoài Sam, một tên Phương Trữ.

Phương Trữ trước đây là anh trai, tính tình điềm đạm hơn chút đỉnh và thường giữ cho Tước Bất Lạc được trật tự ngăn nắp. Còn Ninh Hoài Sam hiếu động hơn hẳn nên thường theo Ô Hành Tuyết ra ngoài…

Thi thoảng, cậu đi theo lúc chàng gặp gỡ Tiêu Phục Huyên.

Rồi mãi sau, Ninh Hoài Sam vẫn không hiểu được lý do vì sao thành chủ luôn có vẻ buồn bã sau khi nhìn thấy Thiên Túc thượng tiên. Có những lúc còn lặng người đến mấy ngày liền…

Nếu gặp mặt khiến tâm trạng trở nên tệ như vậy thì không phải cứ tránh đi là được rồi sao?

Tiếc rằng, cậu không dám cả gan đi hỏi thẳng Ô Hành Tuyết. Nhưng dù có hỏi cũng sẽ không nhận được câu trả lời.

Vì thành chủ nhà cậu cũng không cách nào giải thích cho cậu hiểu rằng tâm trạng chàng mỗi lần gặp mặt Tiêu Phục Huyên chẳng tệ chút nào, mà chính vì chẳng tệ chút nào nên mới khiến chàng càng sa sầm hơn cả…

Bởi mỗi lần cười đùa cùng Tiêu Phục Huyên, chàng đều mang gương mặt của bất kỳ một người nào trên thế gian này, chỉ trừ của chính bản thân.

Chàng mang dáng vẻ của rất nhiều người xa lạ khác nhau và xưng những cái tên chọn bừa. Sáng hôm nay vui cười mấy câu, sang hôm sau đã chìm vào dòng người, không chạm mặt nhau nữa.

Chàng có thể là bất kỳ một ai bước ngang trên phố, chỉ không thể là thành chủ Chiếu Dạ thành Ô Hành Tuyết.

Chàng thật tỉnh táo, nhưng không tránh khỏi xót xa.

Có một lần, chàng tưởng rằng câu chuyện này sẽ tiếp diễn tương tự những dòng thời gian rối loạn chàng phải chém đứt theo lệnh thiên chiếu năm nào — vô vọng không hồi kết.

Cho đến một lần tương ngộ…

***

Lần đó, Ô Hành Tuyết cảm thấy một nửa linh phách thần mộc có biến động. Tuy biến động không rõ ràng lắm nhưng vẫn khiến chàng không yên tâm muốn đến xem thử. Thế là chàng đến bên bờ biển Vô Đoan.

Bờ biển Vô Đoan hôm ấy chẳng hề yên bình. Không biết sao mà có một nhóm đệ tử tiên môn đang tụ tập. Bọn họ đều bị thương, có một số đang giúp lẫn nhau, một số khác ngồi xếp bằng tại chỗ, ngoài ra còn có một số khác cầm theo túi gấm rảo khắp nơi để phát thuốc cho đệ tử của các môn phái khác nhau.

Bọn họ chiếm cứ toàn bộ khu vực bến thuyền và pháo đài trên mặt nước. Khung cảnh xác xơ đến độ có phần hỗn loạn.

Ô Hành Tuyết loáng thoáng nghe họ nói đủ mọi loại chuyện và bắt được mấy chữ linh tinh như “tà ma quấy phá”. Chàng cũng không lấy làm ngạc nhiên, gần cả trăm đệ tử tiên môn bị thương thì nguyên nhân chắc cũng không đến nỗi là do cả đám bọn họ đánh nhau mà ra.

Điều khiến chàng thắc mắc là danh tính kẻ gây rối này.

Mọi người đều biết bên ngoài cổng Chiếu Dạ thành có treo đèn thanh minh hộ vệ, mỗi chiếc đèn đều do Ô Hành Tuyết đích thân làm nên. Bọn họ cũng biết hiệu dụng của đèn thanh minh là nhằm ngăn chặn những người bên ngoài xâm nhập vào Chiếu Dạ thành. Nhưng không một ai đoán được rằng Ô Hành Tuyết cũng dùng những chiếc đèn ấy để theo dõi động tĩnh của tà ma trong thành.

Chàng biết rõ ngày nào có tà ma nào ra khỏi thành, tà ma nào vào trong thành.

Chàng vẫn còn nhớ hai ngày này, số tà ma rời khỏi thành có thể đếm được trên đầu ngón tay, và chúng không đi về phía biển Vô Đoan. Huống chi, những tà ma rời thành cũng không phải hạng có thể gây phiền hà nghiêm trọng, ít nhất không đến nỗi gây ra cơ sự thế này cho gần cả trăm đệ tử.

Có điều, chẳng mấy chốc chàng đã không còn tâm trí đâu mà suy xét xem đây là do tà ma nào gây ra nữa, bởi toàn bộ bến đò đã rơi vào tình trạng còn hỗn loạn hơn…

Mấy đệ tử đã uống thuốc giảm đau lần lượt rên lên trong đau đớn, thậm chí còn có người bị đau đến mức lăn bò ra đất mà nhe răng trợn mắt.

Những đệ tử còn lại sợ hãi quá độ không dám uống nữa. Đệ tử đang phát thuốc cũng sựng người dừng động tác, trên tay hãy còn cầm bao thuốc đầy còn gương mặt tràn vẻ thảng thốt.

Đệ tử nọ mở túi thuốc ra, mùi thuốc men theo gió thổi sang. Ô Hành Tuyết chứng kiến những cảnh tượng tương tự quá nhiều lần trong mấy năm gần đây nên chỉ thoáng ngửi qua là hiểu rõ nguồn cơn vấn đề.

Chàng vốn có thể ngó lơ hết thảy, song khung cảnh hỗn loạn này ầm ĩ đến mức khiến chàng nhức cả đầu. Chưa kể chàng còn phải băng qua bến thuyền này.

Bởi vậy, chàng khẽ lắc đầu, giấu thân thể mình đi rồi phóng lên một mái nhà cao cao bên trên pháo đài trên nước.

Ô Hành Tuyết đứng ở mái hiên, cởi túi gấm đeo bên hông ra rồi đưa ngón tay thon dài vào trong khều vài lần.

Đúng lúc đó, một tiếng động khe khẽ đột ngột vang lên trên mái hiên.

Ngay khi nghe tiếng vỏ kiếm khẽ khàng đánh vang, Ô Hành Tuyết hơi sượng ngón tay đôi chút. Chẳng cần ngoái đầu nhìn, chàng cũng biết mình chạm trán ai.

Hương vị quá đỗi quen thuộc của Thiên Túc được gió đưa sang, đồng thời còn pha lẫn vị máu nhàn nhạt.

<i>Lại là vị máu.</i>

<i>Vì sao lúc nào bị thương vậy chứ…</i>

Ô Hành Tuyết nhắm mắt lại. Tiếng vỏ kiếm đánh vang dừng lại cạnh người chàng, giọng hững hờ của Tiêu Phục Huyên vang lên, “Ở dưới kia đông người như vậy, tại sao ngươi lại đứng trên mái nhà?”

Ô Hành Tuyết mở mắt ra, thấy như có gì đó đang ngoáy chặt trong tim, nhưng nét mặt chàng vẫn hoàn toàn bình thản.

Hiện tại, chàng đang đắp một lớp cải trang mà thần quỷ cũng khó lòng phân biệt được, đây là một dáng vẻ hoàn toàn xa lạ như bao lần. Dùng giọng một người dưng, chàng nói, “Lên đây giúp một chút việc. Thế còn ngươi, ngươi là ai mà sao lại ở trên mái nhà?”

Nói rồi, chàng mới quay mặt sang nhìn người đang đứng bên cạnh mình.

Bẵng một thời gian không nhìn thấy, dường như Tiêu Phục Huyên đã ốm hơn xưa. Viền mi và cánh mũi càng thêm rõ nét, hốc mắt cũng sâu hơn. Không biết có phải mùi máu ấy đã ảnh hưởng đến y hay không mà trông gương mặt y đượm chút mỏi mệt hiếm gặp. Dầu vậy, sự mệt mỏi đó nhỏ nhoi tới mức gần như không tồn tại, nó chìm hẳn trong khí chất sắc bén bao bọc quanh người y.

Y rủ hàng mi mỏng, lướt nhìn xuống bến đò rồi quay sang Ô Hành Tuyết.

Ánh mắt y dừng lại trên gương mặt Ô Hành Tuyết hồi lâu. Y không trả lời câu hỏi “Ngươi là ai, tại sao lại ở trên mái nhà”, mà liếc nhìn viên đan trong tay Ô Hành Tuyết, trầm giọng hỏi, “Giúp đỡ gì? Đưa thuốc à?”

Ô Hành Tuyết nhìn y một lượt nhưng không thấy vết thương cụ thể, còn mùi máu đã nhạt đi rất nhiều trong gió. Bấy giờ chàng mới trả lời, “Đại loại thế, nói đúng hơn là ta muốn ngầm đổi thuốc. Bọn họ bị tà ma làm bị thương, uống loại thuốc kia phải chịu tác động của thuỷ triều nên dẫn đến tác dụng phụ, thành thử mới r3n rỉ như vậy.”

Tiêu Phục Huyên cất giọng thờ ơ, “Ngươi tính ngầm kiểu gì?”

“…” Ô Hành Tuyết nghẹn lời.

Ban đầu, chàng dự định lướt qua giữa những người kia mà không để bất kỳ một ai phát hiện ra, rồi xuất chiêu nhẹ hơn cả làn gió. Chỉ là đổi thuốc thôi thì có thể gây khó dễ cho ma đầu khét tiếng như chàng hay sao.

Ngặt nỗi, Tiêu Phục Huyên xuất hiện khiến chàng không cách nào làm vậy được nữa. Nói cho cùng, một đệ tử tiên môn tầm tầm hay một tà ma thường thường không thể có năng lực cao như vậy.

Thế nên, Ô Hành Tuyết mới làm bộ nghĩ ngợi, đoạn hỏi Tiêu Phục Huyên, “Sơ xuất quá, đúng là ta không làm được. Ngươi thì sao? Ngươi thuộc môn phái nào? Có cách nào giữ những người dưới kia lại hay không?”

Tiêu Phục Huyên hỏi, “Bao nhiêu?”

Ô Hành Tuyết: “Tất cả.”

Tiêu Phục Huyên hững hờ “À” một tiếng. Ngay thời điểm âm thanh cất lên, tất cả những người trong khu vực bến đò đều cứng đờ lại, không còn động đậy gì nữa.

Ô Hành Tuyết nhướn mày, đoạn tiếp tục lục lạo túi gấm.

Lục hết một vòng rồi, chàng lặng lẽ ngẩng đầu.

Ánh mắt Tiêu Phục Huyên vẫn giữ nguyên trên mặt chàng. Trông thấy dáng vẻ “ối toi rồi” của chàng, y mấp máy môi, “Chuyện gì?”

Ô Hành Tuyết nói, “Không đủ thuốc rồi.”

Tiêu Phục Huyên: “Có bao nhiêu?”

Ô Hành Tuyết: “… Mười viên.”

Tiêu Phục Huyên: “?”

Dưới kia có gần trăm người đang chờ nhận thuốc, mà chàng chỉ mang mười viên. Thiếu kiểu này thiếu hơi bị nhiều đấy. Song, thứ thú vị hơn cả lại là nét mặt của Tiêu Phục Huyên.

Trước khi bản thân kịp nhận ra, Ô Hành Tuyết đã siết túi gấm và bật cười.

Đến khi chàng cười đã rồi ngước mắt lên mới nhận ra Tiêu Phục Huyên đang nhìn mình.

Ô Hành Tuyết dừng bặt.

Thoáng chốc, cả mái hiên rơi vào tĩnh lặng.

Ô Hành Tuyết mấp máy môi, nói, “Có chuyện gì thế?”

Tiêu Phục Huyên thu tầm mắt về rồi trả lời, “Không có gì. Không đủ thuốc vậy ngươi tính thế nào?”

Ô Hành Tuyết cụp mắt nhìn sơ qua túi gấm một chốc, nói, “Thì chỉ còn cách tung chiêu thiệt hại thôi.”

Tiêu Phục Huyên: “Hửm?”

Ô Hành Tuyết chỉ tay vào nhóm đệ tử tiên môn đang cứng đờ bất động mà hỏi, “Có cách nào khiến bọn họ hé miệng một chút không?”

Dĩ nhiên chàng biết Tiêu Phục Huyên có cách.

Thật vậy, ngay khi vừa kết thúc câu nói, gần cả trăm đệ tử tiên môn đồng loạt mở miệng dù vẫn tiếp tục bất động. Khung cảnh ấy vừa cực kỳ ấn tượng lại vừa vô cùng buồn cười.

Đúng là có thiệt hại chút đỉnh.

Ô Hành Tuyết cười giòn chốc lát mới quay sang nói với Tiêu Phục Huyên, “Ta xuống dưới trước đây.”

Nói rồi, chàng nhảy xuống từ trên mái hiên cao, hệt như một áng mây lững lờ ghé ngang. Tiêu Phục Huyên đứng bên rìa mái hiên, rủ mắt nhìn áng mây lững lờ kia yên ả đáp xuống mặt đất. Hồi lâu sau, y mới xoay người nhảy khỏi góc mái.

Ô Hành Tuyết biến mười viên thuốc đan kia thành lá bùa, tiếp đó vo mấy lá bùa ấy rồi đốt thành tro mịn. Xong xuôi, chàng lướt qua gần trăm cậu đệ tử và rải chút tro giấy vào miệng của từng người một.

Đang rải tro giữa chừng, chàng chợt dừng bước, quay đầu lại hỏi Tiêu Phục Huyên, “Mấy người này không thấy ta đấy chứ?”

Tiêu Phục Huyên: “Có việc gì à?”

Ô Hành Tuyết nói, “Cũng không có gì, ta chỉ sợ họ nhớ kỹ dung nhan rồi lại tưởng mình bị đùa bỡn và truy tìm tới cửa.”

Thật ra, dù họ có nhớ kỹ cũng chả hề gì bởi dung mạo chàng dùng là hàng giả, nhớ rồi cũng chẳng có chỗ nào mà tìm. Thế nhưng khi lướt qua các đệ tử đặng nhìn Tiêu Phục Huyên, chàng sực nhớ về nét mỏi mệt thoáng đượm ban nãy của người kia.

Chàng lặng đi trong giây lát, đoạn cất bước đi đến trước mặt Tiêu Phục Huyên. Chàng nói, “Phải cần có đồng phạm, không thể để ta bị nhớ một mình được. Đưa tay đây nào.”

Đôi mắt rủ hờ của Tiêu Phục Huyên nhìn sang chàng, có phút chốc tưởng chừng y muốn nói gì đó. Mà cuối cùng y chỉ mấp máy môi im lặng. Sau một lúc, y xoè bàn tay sang cho Ô Hành Tuyết.

Ô Hành Tuyết nhìn bàn tay đã một thời nắm lấy giữa vô vàn thời điểm thân mật, lòng chàng bỗng thấy rối rắm biết bao.

Lạ kỳ thay, hơn hai trăm năm đã qua, mà chàng vẫn không khỏi ham thích trêu chọc người kia. Chàng muốn nhìn Thiên Túc vẫn một mực “lạnh lùng khó gần” phá lệ hết lần này đến lần khác. Thế rồi khi Tiêu Phục Huyên thật sự phá lệ, chàng lại chẳng thấy hào hứng gì.

Bởi lúc này đây, chàng — người khiến Tiêu Phục Huyên phá lệ — đang khoác một gương mặt xa lạ, mang một cái tên xa lạ. Đó là một ai khác chứ không phải Ô Hành Tuyết.

Ô Hành Tuyết đứng yên một chốc. Chàng nhoẻn miệng, song đôi mắt vẫn mãi cụp xuống. Chàng đưa phần tro bùa còn lại cho Tiêu Phục Huyên, cất giọng nhuốm ý cười, “Phần còn lại nhờ ngươi.”

Cho đến khi Tiêu Phục Huyên đã đi xa xa rồi, Ô Hành Tuyết mới ngước mặt dõi về hướng ấy.

Nét mặt chàng bình thản, nhìn không nhận ra dấu hiệu bất thường nào.

Hễ chàng không muốn thì dường như từ xưa đến nay không một ai sẽ nhận ra manh mối.

Tiêu Phục Huyên rải phần tro bùa cuối cùng lên một đệ tử trẻ, đoạn ngước mắt thoáng nhìn sang bên này. Ô Hành Tuyết lập tức hiểu rõ, bèn mỉm cười né mình ra mặt sau vách pháo đài trên nước.

Tiêu Phục Huyên vừa ra tay, những đệ tử trẻ tiên môn tức khắc thoát khỏi tình trạng bất động và khôi phục trạng thái bình thường. Họ mím môi theo bản năng, chỉ cảm nhận vị đăng đắng khó tả trong miệng. Nhưng họ còn chưa kịp trỗi lên nghi ngờ thì những người r3n rỉ nằm oài trên đất đã kinh ngạc hô lên trong mừng rỡ, “Hình như… đỡ hơn rồi!”

Những người khác cũng nhanh chóng nhận ra trên mặt vết thương do tà ma để lại không còn ra máu như thác đổ với khí đen lởn vởn nữa. Miệng vết thương đã dần dà khép lại.

Ô Hành Tuyết tựa lưng vào tường, lắng nghe nhóm đệ tử tiên môn xôn xao bàn luận rồi í ới gọi nhau chuẩn bị rời khỏi bến thuyền.

Chẳng mấy chốc, khu vực bến thuyền đã thoát khỏi tiếng ồn ã và trở về tĩnh lặng.

Ô Hành Tuyết đứng thẳng dậy, rời khỏi vách tường và chạm mặt Tiêu Phục Huyên đang đi về phía mình.

Chàng ngừng chân và nhìn người kia.

Trong thoáng chốc, nét cười trong đôi mắt khoé môi chàng như đang đà tan vỡ. Song cuối cùng, chàng vẫn chỉ về phía bến thuyền và nói, “Tiện đường giúp đỡ xong rồi, ta phải đi đây.”

Chàng thật lòng có hơi luyến tiếc…

Lần nào cũng thế, khác nào uống rượu độc để nguôi ngoai cơn khát.

Tiêu Phục Huyên đang quay lưng về hướng vầng dương ảm đạm, nét mặt có phần mờ ảo. Ô Hành Tuyết chỉ thấy hàng mi y nheo nhẹ giây lát rồi lại thả lỏng ra, y hỏi, “Ngươi định đi đâu?”

Ô Hành Tuyết định tới Thương Lang Bắc Vực, nhưng việc hiện giờ Tiêu Phục Huyên xuất hiện ở đây cho thấy y cũng đang đi đến Thương Lang Bắc Vực. Vậy thì chàng phải đổi sang hướng khác.

Ô Hành Tuyết ngẫm nghĩ, không nói địa điểm cụ thể mà chỉ nêu chung chung, “Hướng nam.”

Chàng đang mang một dáng vẻ giả, xuất hiện với tư cách một người xa lạ, hiển nhiên cũng không làm gì khác được.

Chẳng qua chỉ là một người dưng xuất hiện một lần trong đời. Lần nào xuất hiện trước mặt Tiêu Phục Huyên, chàng đều như thế.

Thế nên chàng cũng không nói mấy câu đại loại như “hẹn gặp lại” hay gì đó, mà chỉ cong mắt nhoẻn cười, rồi lướt qua vai Tiêu Phục Huyên và tiến về bến đò.

Tương tự bao lần trước đây.

Đèn lồ ng giăng dài trên những cột cao dọc bến đò đang khẽ khàng đung đưa trong gió.

Khi thuyền ô bồng cập bến, nụ cười trên mặt Ô Hành Tuyết đã tắt ngúm, đôi mắt dài trĩu xuống.

Vừa lúc chàng nhấc dây đèn toan cúi người bước lên thuyền, một người bước đến từ đằng sau và nắm lấy tay chàng.

Ô Hành Tuyết ngỡ ngàng một lúc lâu, sau đó bất chợt quay đầu lại. Chàng nghe giọng Tiêu Phục Huyên vang lên trầm ấm.

Y nói, “Ô Hành Tuyết, khi không mang dịch dung, trông ngươi ra sao?”

Y nói: Ô Hành Tuyết, ta muốn nhìn gương mặt ngươi.

***

Ấy là một hôm của hơn hai trăm năm sau. Vào đêm tương tự năm Thanh Hà thứ nhất, bên bến thuyền ra biển Vô Đoan, giữa màn trời mịt mờ tuyết xám.

Linh Vương bị xoá sổ năm nào, giờ vẫn chưa một ai nhớ đến.

Nhưng trên đời vẫn luôn có một người như thế, người chẳng bao giờ nhận nhầm đôi mắt chàng.

❄︎

Lời tác giả:

Mọi người đợi lâu QAQ tui viết mà không ưng lắm nên phải viết đi viết lại mấy lần.

Cá:

Mọi người còn nhớ lúc Huyên Tuyết đến nhà họ Hoa ở Xuân Phiên Thành lần đầu và khi Tuyết hỏi “Ô Hành Tuyết trong ấn tượng của Huyên là người thế nào” thì Huyên đáp là “Là người mà ta không bao giờ nhận nhầm” đó. lãng mạn chết mất thôi~
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 93: Bầu bạn


Cảm giác có quá nhiều ký ức cùng tràn về một lúc thật sự không thoải mái. Chỉ một giấc mộng Thước Đô dài hai lăm năm đã có thể khiến người mơ hồ bối rối, nói chi đến quãng thời gian tận hơn hai trăm năm.

Với gần như tất cả ký ức từ đầu lùa về, Ô Hành Tuyết lại bước qua con đường dài kia một lần nữa. Và điều khó chịu nhất không phải việc con đường ấy miên man không hồi kết, mà là việc nó thật hỗn loạn mông lung, đảo điên không thứ tự.

Trong một khoảnh khắc, chàng hãy còn đứng giữa đám lửa phừng phừng vô tận giữa Lạc Hoa Đài, lắng nghe những linh phách điên cuồng gào thét về phía mình. Rồi ngay tiếp đó, chàng đã dừng chân giữa phố phường nam thành, vươn tay che đèn đuổi linh, và nghe người đứng sau hỏi mình là ai.

Chàng phải gánh chịu cả cơn đau thiêu thân trong lửa dữ lẫn cái lạnh buốt thấu xương. Bao quanh chàng là tiếng vong hồn than khóc xâu xé tâm can, nhưng tuyệt nhiên chẳng một bóng người. Cả bầu không gian tĩnh mịch, trống trải và cô liêu.

Tay chàng mịt sương, tay chàng đầy máu.

Chàng là Linh Vương, chàng là ma đầu.

Bao mối hỗn loạn dồn dập ùa về không mang đến cảm giác khai sáng tỏ tường mà chỉ toàn mù mờ điên đảo. Đến cuối cùng hết thảy hoá thành đớn đau…

Dường như, không bất kỳ thân thể hay con tim người sống nào trên cõi đời này có khả năng đón nhận hết thảy những điều đó. Không một ai chịu nổi ngần ấy thứ đầy mâu thuẫn đến vậy. Thế nên, mọi điều chuyển thành cơn đau thẳng thừng nhất.

Cơn đau đó còn khó mà chịu thấu hơn cả xé toạc linh phách, nó đau đến mức Ô Hành Tuyết đã tự mình phong bế bản thân. Đấy là một phản ứng hoàn toàn thuộc về tiềm thức, là sự kháng cự lại cơn đau lần đầu tiên trong cuộc đời chàng.

Lần tự phong bế này còn kín kẽ hơn việc mất đi năm giác quan. Chàng như nhốt mình vào một cái kén vô hình.

***

Tước Bất Lạc chưa từng trải qua một đêm dài gian nan đến thế.

Khi vào phòng ngủ thành chủ nhà mình, Ninh Hoài Sam không khỏi giật bắn người vì trong phòng quá lạnh.

Cậu chưa bao giờ tưởng tượng nổi một căn phòng có thể trở lạnh đến nhường này…

Từ xà nhà, bàn ghế, bình phong, tranh vẽ, đèn đóm, thậm chí đến cả vách tường lẫn sàn đá trắng đều bọc kín trong sương giá. Nếu nhìn thoáng qua còn tưởng bên trong không phải một căn phòng mà giống hầm băng hơn.

Bá tánh mà bước vào đây trong một khắc thôi là có thể lạnh cóng đến sinh bệnh. Ngay đến Ninh Hoài Sam cũng chịu không nổi, răng đánh lập cập liên hồi, cơ thể run lên bần bật.

Mà hết thảy sương giá rét buốt này đều bắt nguồn từ Ô Hành Tuyết.

Trước đó, Phong Tiết Lễ và Tiếu Hồ xâm nhập vào Tước Bất Lạc. Sau một trận giao chiến, họ đấu không lại nên đành phải rút lui vào trong gió. Thời điểm hai người nọ biến mất, trên rễ cây đại thụ xanh mướt rợp trời giữa Tước Bất Lạc xuất hiện tinh chất bạch ngọc.

Lúc đó, Ninh Hoài Sam nghe đôi ba tiếng chuông vang lên khe khẽ. Khi quay sang hướng phát ra âm thanh, cậu nhận ra chiếc chuông bạch ngọc treo bên thắt lưng thành chủ nhà mình đang lung lay nhè nhẹ

Ninh Hoài Sam kinh ngạc vô cùng.

Vì chuông bạch ngọc đó được treo bên người thành chủ nhà cậu lâu lắm rồi nhưng cậu chưa bao giờ nghe được nó tự rung lên để phát ra âm thanh.

Mà âm thanh ấy quả thực khác thường, làm lòng người hốt hoảng. Ngay đến Ninh Hoài Sam nghe vào cũng ong ong cả đầu óc, linh phách chấn động không yên.

Cậu lắng nghe tiếng chuông văng vẳng, một ít hình ảnh rời rạc bất giác loé lên trong tâm trí…

Ví như hình ảnh cậu và Phương Trữ ôm chiếc áo khoác lông chồn trắng muốt trên tay, chụm đầu vào nhau bên trong gian nhà phụ và bàn tán về kiếp kỳ.

Từ bên rìa tầm mắt, họ bỗng thấy thành chủ đang tựa mình vào cạnh cửa, chẳng biết đã nghe họ rù rì hết bao lâu. Lúc đó, hai người bọn họ sợ đến mức tim nảy lên thình thịch.

Rồi ví như… trong khoảnh khắc đó, tiên khí của Thiên Túc dần dà toả ra từ cơ thể thành chủ.

Ninh Hoài Sam hoàn toàn lạc lối trong mớ hình ảnh rời rạc nọ, nhất thời không cách nào nhớ ra những việc này xảy ra khi nào.

Cậu che cái đầu căng cứng của mình, định hỏi thành chủ xem chuyện gì đang xảy ra. Thế mà chỉ vừa ngước mắt lên, cậu đã thấy thành chủ quỳ sụm xuống như tuyết lở ầm ầm trên vách núi.

Cậu thất kinh hồn vía không kịp phản ứng gì, chỉ vừa lúc trông thấy Thiên Túc hối hả vươn tay ôm người vào lòng rồi đưa về phòng.

Sau đó, chính là tình hình như hiện tại…

Ô Hành Tuyết đang ngồi lặng người trên giường, hai mắt nhắm nghiền và đầu gục xuống. Gương mặt chàng bợt bạt không một chút máu, gần như còn trắng hơn và tuyết. Đôi môi mỏng mím lại thành một đường thẳng. Nếu nhìn từ trên xuống, khoé môi chàng còn như trễ xuống dưới.

Gương mặt ấy không tỏ ra biểu cảm gì, thế nhưng khiến người ta nhìn vào xốn xang, làm người nhìn tựa hồ cũng trở nên khổ sở theo.

Bao bọc quanh toàn bộ cơ thể chàng là một tấm chắn vô hình. Tấm chắn ấy giam chàng vào bên trong, đồng thời ngăn cản toàn bộ thế giới ở bên ngoài, không để bất kỳ thứ gì tiếp cận được.

Ban đầu, Ninh Hoài Sam còn đang bối rối nên không chú ý đến tấm chắn này, cậu vói tay ra toan kiểm tra tình hình thành chủ. Kết quả suýt chút đã mất luôn ngón tay.

Cậu rụt mạnh về, máu tung toé khắp ngón tay. Bấy giờ, cậu mới nhận ra chiếc bàn đặt giữa trường kỷ cũng đã vỡ nát thành gỗ vụn dưới sức ép của tấm chắn kia.

Không chỉ vậy…

Khí kình thành chủ nhà cậu đột ngột tuôn trào, tràn ồ ạt không ngừng từ tấm chắn ra ngoài, dẫn đến sương giá trắng muốt đóng đầy gian phòng, thậm chí lan ra cả bên ngoài phòng và phủ kín toàn bộ toà phủ trạch.

Bởi vậy, bầu không khí ở Tước Bất Lạc hiện tại lạnh căm như một động băng.

Luồng khí kình đó còn mang theo áp lực đ è xuống nặng nề, Ninh Hoài Sam chỉ đứng bên cạnh trường kỷ thôi mà thấy nghẹt thở không thôi. Dường như sương giá kia đã chui vào cơ thể theo hô hấp của cậu, thiếu điều lấp kín toàn bộ nội tạng bên trong.

Bấy giờ, Ninh Hoài Sam hoảng sợ thực sự.

Cậu gọi “thành chủ” mấy lần nhưng chỉ nhận được câu ngắt lời của Thiên Túc, “Y không nghe thấy được.”

Ninh Hoài Sam lại hỏi, “Không nghe thấy được?! Tại sao lại như vậy?”

“Tự phong bế.”

“Tự phong bế?” Ninh Hoài Sam trầm mặc chốc lát mới nói, “Tự phong bế là ý gì?”

Cậu chưa từng trải qua những chuyện như vậy và cũng chưa từng gặp người nào từng thấy những tình huống thế này. Trong giây lát, cậu còn chưa kịp phản ứng và cũng không tài nào hiểu nổi.

“Không nghe, không thấy, không cảm, không biết.” Thiên Túc cất giọng vừa trầm thấp vừa hơi khàn khàn, lời thốt ra từng chữ một.

Chẳng rõ vì sao mà khi nghe những chữ “không” ấy, Ninh Hoài Sam bất giác cảm thấy đau lòng khôn tả, đó là cảm giác chán nản và căm ghét.

Cậu nhìn thành chủ, lẩm bẩm, “Tại sao? Tại sao phải tự phong bế?”

Thiên Túc nhìn thành chủ nhà cậu một lúc lâu mới khàn giọng nói, “… Vì quá đau.”

“Nhưng…” Ninh Hoài Sam hãy còn muốn nói tiếp.

Cậu biết một khi chiếc chuông mộng bạch ngọc bên hông thành chủ nhà cậu rung lên tức giấc mộng được giải trừ. Việc này đồng nghĩa lớp phong ấn ký ức kín bụi được cởi bỏ và người sẽ nhớ lại chuyện cũ thôi mà.

Vì sao nhớ lại quá khứ… lại đau?

Trước giờ, thành chủ nhà cậu không phải kiểu người sợ đau. Rốt cuộc đây là cơn đau đến mức độ nào để khiến người phải tự phong ấn như vậy.

Song đến cùng, Ninh Hoài Sam vẫn không hỏi ra lời vì cậu thấy Thiên Túc cau mày, trong đôi mắt đen thẳm chứa chan ấm áp mà quá sức nặng nề.

Vì sao đang nói về việc thành chủ quá đau đớn mà dường như cơn đau ấy cũng ập lên người Thiên Túc.

Thật ra, nó đúng là ập lên người Thiên Túc…

Bởi sức ép từ thành chủ nặng cực kỳ, sức nặng ấy có thể nghiền nát thịt xương người thường. Còn Thiên Túc đang ngồi ở nơi có sức ép mãnh liệt nhất.

Tấm chắn tự phong bế ấy đủ sức đánh đổ máu trọng thương tất cả mọi thứ đến gần. Và Thiên Túc vươn tay vào trong tấm chắn ấy để nắm lấy bàn tay đóng băng của thành chủ.

Như thể e sợ bàn tay ấy sẽ quá lạnh.

Ninh Hoài Sam tưởng chừng trông thấy máu me tràn khắp cánh tay Thiên Túc, mạch máu lần lượt vỡ ra, trông vào kinh khủng vô cùng. Ấy thế mà ngay sau đó, Thiên Túc vẫn tiếp tục vận khí kình…

Rồi miệng vết thương chầm chậm khép lại từng chút một. Máu tuôn cũng dần rút trở vào, không để một giọt nào rơi trên tay thành chủ.

Cứ như thế, lặp đi lặp lại.

Chỉ nhìn thôi đã cảm thấy đau đớn, mà Thiên Túc không một thời khắc nào biến sắc.

Ninh Hoài Sam không còn gì để nói, chỉ có thể lẳng lặng rời đi.

Cậu cứ ra vào như thế mấy chập thì nhận thấy Thiên Túc chẳng mảy may di chuyển. Khí kình y vẫn không ngừng chậm rãi chảy vào bên trong tấm chắn.

Nó bị cản lại vô số lần, rồi lại vùi vào vô số lần.

Giống một cơn gió ấm miệt mài len lỏi qua mặt nước hoá băng.

Tình trạng ấy tiếp diễn chẳng biết bao lâu…

Một ngày? Hai ngày?

Chót cùng, không chỉ mình Ninh Hoài Sam mà đến Tiêu Phục Huyên cũng quên bẵng thời gian. Y đã ngồi bên cạnh người tự phong bế bản thân, ở bên cạnh cùng người ấy bước qua quãng hồi ức hơn hai trăm năm đằng đẵng.

Như đang hoàn thành một lời ước hẹn.

Vì y đã từng tự hứa với lòng sẽ không bao giờ để cho Ô Hành Tuyết phải lẻ loi đơn chiếc, dẫu cho y còn sống hay đã chết.

❄︎

Lời tác giả:

Chương này hơi ngắn, sáng ngày mai sẽ viết dài hơn chút nha ~

Sau này không cập nhật cách ngày nữa ~

Chúc ngủ ngon QAQ

Cá:

Em vẫn đang cố gắng bơi qua bể ngược các chị ơi (。T ω T。)
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 94: Thức tỉnh


Ô Hành Tuyết chao đảo trong nỗi đau và ký ức ngổn ngang để rồi tự nhốt mình vào trong kén. Có lúc chàng còn tưởng mình đã quay trở về bên trong thần mộc — khi chàng vẫn chưa hoá thành hình người, với biết bao hỗn loạn xoay quanh, còn chàng đứng chân trần giữa sự hỗn loạn đó.

Một khoảnh khắc nào đó, chàng bất chợt cười thầm chẳng rõ nguyên do.

Chàng cảm thấy mình thật kỳ lạ, trước đây luôn mỉm cười khi cảm thấy đau đớn đến tột cùng, khi cảm thấy phẫn uất đến tột cùng. Còn hiện tại, khi đau đớn đến tột cùng, đau đớn đến độ tưởng chừng không tài nào chịu nổi, phản ứng bản năng của chàng vẫn là cười.

Cơ thể chàng rung lên nhè nhẹ theo tiếng cười vô thanh, rồi cuối cùng không thể đứng thẳng được nữa mà quặp người gục xuống.

Giữa lúc đau đớn, con người ta luôn muốn ấn mạnh vào nơi phát ra cơn đau ấy. Vậy nhưng khi chàng nhấc tay lên lại chẳng tìm ra chỗ đặt xuống, cuối cùng chỉ đành buông thõng.

Trong ký ức chàng có vô số người và vô số giọng nói đang gọi chàng với nhiều danh hiệu vào những thời điểm khác nhau.

“Thần tiên?”

“Linh Vương.”

“Đại nhân —”

“Ma đầu!”



Trước đây, chàng sẽ lắng nghe từng lời một, sẽ đáp lời từng tiếng một. Mà hiện tại có lẽ chàng bỗng nhiên mỏi mệt, ngoảnh mặt ngó lơ.

Giờ đây, những mỏi mệt và chán ghét chưa từng bộc lộ qua hàng trăm năm đang tuôn trào mãnh liệt. Chúng khiến chàng chẳng buồn cử động, và cũng chẳng muốn mở mắt ra.

Giữa những chán ghét và đau đớn kinh hoàng đang dâng trào đến đỉnh điểm, chàng bỗng nghe thấy có ai đó thấp giọng gọi tên mình. Người ấy không gọi danh hào, không gọi thần tiên, không gọi Linh Vương, không gọi đại nhân gì đó, và cũng không gọi ma đầu.

Mà chỉ đơn thuần là tên chàng, <i>Ô Hành Tuyết</i>.

Chàng ngẩn người, ngước đầu thoáng chút để nhìn thấy một bóng hình mơ hồ trước mắt. Xuyên qua mớ hỗn độn, bóng hình ấy đang nắm lấy tay chàng.

Không nhằm kéo chàng đi đến nơi khác, không cưỡng ép lôi chàng ra khỏi tổ kén tự phong ấn, mà chỉ níu giữ ngón tay, yên lặng đứng trước mặt chàng.

Bóng hình ấy cúi đầu hỏi chàng, “Ô Hành Tuyết, có muốn ra ngoài hay không.”

Ô Hành Tuyết còn chưa trả lời thì người kia tiếp tục thì thầm, “Không muốn ra ngoài cũng không sao.”

Giọng nói trầm thấp ấy nghe thật dịu dàng giữa sóng trào hỗn loạn.

Y nói, “Ta ở đây.”

<i>Cùng ngươi.</i>

Ký ức đang kinh hoàng trào dâng vẫn dồn dập đổ về Ô Hành Tuyết như gió cuồng sóng dữ, bao trùm và nhấn chìm lấy chàng. Chàng vẫn đau đớn cùng cực, đau đến mức không muốn thoát khỏi tổ kén.

Nhưng dường như… không khốn khổ đến thế nữa.

***

Vào ngày thứ bảy Tước Bất Lạc bị đóng băng giữa sương tuyết, toàn bộ phủ trạch nhuốm một màu trắng xoá.

Tấm chắn trên trường kỷ vẫn ngăn trở toàn bộ thế gian lại phía bên ngoài, khí kình lạnh lẽo đầy tính công kích vẫn không ngừng cuồn cuộn bủa tràn ra ngoài. Sương giá trên trường kỷ đọng rồi lại tan, tan rồi lại đọng. Giống như bàn tay đang vươn vào trong tấm chắn của Tiêu Phục Huyên đổ máu rồi lại ngừng, ngừng rồi lại đổ.

Dẫu đã nhìn đến ngày thứ bảy rồi, mà mỗi lần bước vào phòng ngủ, mỗi lần trông thấy bàn tay đổ máu rồi lành lặn liên hồi của Tiêu Phục Huyên, Ninh Hoài Sam vẫn không khỏi thấy rợn cả người, tê tái cả đầu óc.

Ban đầu, cậu còn định khuyên nhủ đôi ba câu, nhưng sau đó mới nhận ra dường như Thiên Túc cũng rơi vào trạng thái tự phong bế. Cậu có khuyên nhủ cũng vô dụng.

Vì vậy, ngày nào cậu cũng lẳng lặng đến chăm nom bên cạnh trường kỷ với vẻ âu lo, sau chốc lát lại lẳng lặng rời đi.

Cậu vốn đinh ninh rằng ngày hôm nay cũng sẽ là một ngày như vậy. Nào ngờ khi đến bên cạnh trường kỷ, cậu chợt nghe âm thanh rất khẽ.

Ninh Hoài Sam sửng sốt. “Tiếng gì vậy?”

Suýt chút cậu đã tưởng mình lo lắng quá mức nên sinh ảo giác. Nhưng rồi cậu thấy Thiên Túc ngước mắt lên như cũng vừa nghe thấy.

Ninh Hoài Sam nói, “Thiên Túc cũng nghe thấy phải không? Dường như có tiếng thứ gì đó nứt.”

Tiêu Phục Huyên đã không nói chuyện lâu ngày, lại còn bị thương liên tục hết lần này đến lần khác nên giọng cũng khàn đi chút đỉnh. Y dời mắt sang nơi phát ra tiếng động và nói, “Là chuông mộng.”

Ninh Hoài Sam hoảng hồn, tức thì cũng lia mắt nhìn theo thì phát hiện đúng thật là âm thanh phát ra từ chuông mộng treo bên hông thành chủ nhà mình.

Chiếc chuông bạch ngọc kia có phản ứng với tinh chất bạch ngọc nên đã lung lay liên hồi từ trước. Hiện giờ, không biết có phải sức ép toả ra từ Ô Hành Tuyết quá nặng nề khiến nó không chịu nổi hay còn có nguyên do gì khác mà trên thân nó lại xuất hiện thêm những vết rạn nhỏ. Chúng sâu và nhiều hơn hẳn những vết rạn trước đây.

Đó là nguồn gốc của những tiếng nứt khẽ vang lên khi nãy.

Ninh Hoài Sam sợ hãi. “Cái chuông này bị làm sao vậy, không lẽ nó sắp vỡ thật rồi sao?”

Tiêu Phục Huyên mím môi không trả lời.

Hẳn không đến mức vỡ, tuy nhiên…

Chuông mộng ngân vang sẽ hoá giải giấc mơ, trả lại người những chuyện xa xưa thuở trước. Hiện tại chuông mộng không đủ khả năng hoàn thành việc này nên mới nứt nặng hơn, khiến tiếng chuông ngừng bặt. Việc này cũng đồng nghĩa hiệu lực của chuông mộng sắp chấm dứt.

Một khi hiệu lực chuông mộng chấm dứt…

Vậy có lẽ người bị kẹt trong quá khứ đã đến hồi thức tỉnh.

Tiêu Phục Huyên chăm chú nhìn chuông bạch ngọc, thoáng ngẩn người giây lát rồi mới ngỡ ra điều đó, y thình lình ngước mắt lên.

Đã lâu lắm rồi y không cử động, đồng thời luôn ngồi giữa nơi sức ép và khí kình mãnh liệt nhất nên cả gương mặt bám đầy vụn băng. Giờ đây khi y ngước mắt, những hạt băng ấy tan ra và hoà vào tròng mắt.

Băng giá lạnh tê tái, khiến Tiêu Phục Huyên rủ nhẹ đôi ngươi.

Ngay thời khắc y hạ hàng mi rồi ngước nhìn lên trở lại, Ô Hành Tuyết trong tấm chắn choàng mở mắt.

***

Giây phút ấy, sự tĩnh lặng bao trùm toàn bộ Tước Bất Lạc, chỉ tích tắc mà như dài vô tận.

Tiêu Phục Huyên nhìn rèm mi vừa rung động kia mà thẫn thờ không nói nên lời, mãi một hồi lâu sau mới hoàn hồn trở lại.

“Ô… Hành Tuyết?” Y thì thầm thật khẽ.

Người ngồi bên trong tấm chắn vẫn đang gằm đầu chứ chẳng hề thay đổi tư thế. Nếu không nhờ rèm mi rung động thì không ai nhận ra chàng đã tỉnh lại.

Tiêu Phục Huyên cúi đầu nhìn sang và trông thấy đôi mắt đỏ hửng của Ô Hành Tuyết. Y lập tức cảm thấy đau lòng đến xót xa như thể bị rất nhiều kim châm nhỏ tí đâm xuyên khắp người.

Y trông thấy đôi mắt Ô Hành Tuyết ứa đọng một màn sương ẩm. Nó khiến cho sắc đỏ bên trong như ăn sâu vào mắt. Tuy người đã tỉnh nhưng đôi ngươi chẳng chớp lấy một lần, trông đờ đẫn và lặng im buông rủ như đang nhìn điểm hư không nào đó trên trường kỷ.

“Ô Hành Tuyết,” Tiêu Phục Huyên lại thì thầm gọi chàng lần nữa.

Người trong tấm chắn không phản ứng.

Tiêu Phục Huyên không chút bận tâm mà vẫn chậm rãi cất giọng, gọi, “Ô Hành Tuyết.”

Người trong tấm chắn vẫn không phản ứng.

Ninh Hoài Sam ở bên cạnh cũng thưa thành chủ mấy lần rồi quay sang nói với Tiêu Phục Huyên, “Thiên túc! Tại sao thành chủ im lìm như vậy?”

Tiêu Phục Huyên lặng thinh chốc lát mới nhẹ giọng, “… Y không nghe thấy.”

Bởi những ký ức quá nhiều, quá dài đã bao vây người ấy vào bên trong. Dù giờ đây người có mở mắt ra rồi thì vẫn khó lòng thoát khỏi luồng xúc cảm sâu như hố thẳm.

Tấm chắn kia vẫn bị phong ấn kín kẽ, ngăn cản hết mọi thứ ở phía ngoài. Thế nên, vốn người bên trong chẳng hề nghe thấy từng lời từng tiếng “Ô Hành Tuyết” kia.

Ấy thế mà sau khi trả lời xong, y lại tiếp tục gọi tên người kia “Ô Hành Tuyết”.

Ninh Hoài Sam thắc mắc hỏi, “Không phải Thiên Túc vừa nói thành chủ không thể nghe thấy à? Đã không nghe thấy rồi thì có nói gì cũng công cốc cả. Mà đã là công cốc thì sao Thiên Túc vẫn tiếp tục gọi thành chủ làm chi? Nhìn…”

“Nhìn ngài gọi người thật khó chịu quá đi mất,” cậu nh ỏ giọng rù rì.

<i>Khó chịu…</i>

Tiêu Phục Huyên nhẩm lại từ này, thầm nhủ: Đúng là khó chịu.

Nhưng lời này không dành cho y, mà đang nói tới Ô Hành Tuyết năm xưa.

Vì bị Thiên đạo tận diệt nên y đã quên lãng Ô Hành Tuyết những năm tháng nọ. Mối quan hệ giữa hai người họ khi đó có khác gì lúc này đâu?

Không khác gì cả, vẫn là một tấm chắn, hai người.

Chẳng qua lúc trước, bản thân y người đã quên hết mọi việc mới chính là người bên trong tấm chắn, còn Ô Hành Tuyết ở bên ngoài. Chẳng rõ rốt cuộc năm ấy Ô Hành Tuyết “bên ngoài tấm chắn” đã từng nói biết bao điều mà y chẳng hề nghe thấy.

Giờ đây cũng chỉ là tráo đổi vị trí chút thôi.

Sao y có thể dừng lại cơ chứ?

Ninh Hoài Sam không biết những chuyện quá khứ đó mà chỉ biết hiện tại vào thời điểm này, cậu đứng trong phòng ngủ mà xót xa hốc mũi, bứt rứt trong lòng. Thực sự không cách nào chịu đựng nổi nữa.

Thành thử, cậu bèn lấy cớ “nấu bình nước ấm” và “chuẩn bị vài bộ quần áo” để chuồn lẹ sang gian nhà bên cạnh.

Tiêu Phục Huyên hoàn toàn không màng để tâm đ ến Ninh Hoài Sam, thậm chí y còn không nghe những lời cậu nói.

Y vẫn chú tâm gọi đi gọi lại tên Ô Hành Tuyết, chẳng chút nề hà.

***

Không biết đã qua bao lâu, người bên trong tấm màn chắn tự phong bế cựa mình thật khẽ. Đôi mắt đỏ hửng lia nhẹ sang bên cạnh, nhờ đó mà Ô Hành Tuyết trông thấy bàn tay mình được người nắm lấy.

Bàn tay người ấy thẳng thóm thon dài, nom gầy mà vững chắc. Song giờ đây mạch máu không ngừng rách vỡ, máu thẫm ứa trào.

Người ta nói ngón tay kết nối thẳng vào tim, ắt hẳn gây ra cơn đau tột độ. Thế mà những ngón tay kia vẫn đan chặt vào giữa kẽ ngón tay chàng mà chẳng hề co siết.

Ô Hành Tuyết quan sát sắc đỏ chói mắt kia, chợt vươn tay toan lau đi vết máu trên bàn tay ấy.

Khi bị đối phương nắm lấy giữ lại, chàng mới bất chợt sững người, cuối cùng đã thoát ra khỏi những ký ức đang quấn rịt vào mình.

Ô Hành Tuyết ngẩng đầu lên nhìn người trước mặt qua tấm màn chắn. Mãi lâu sau, chàng mới khàn giọng gọi khẽ, “Tiêu Phục Huyên.”

Khi thốt lên cái tên ấy, tấm chắn bao bọc quanh cơ thể chàng dần dà biến mất, song đôi mắt dài bất giác bị nhuốm tràn sắc đỏ.

Đúng lúc ấy, Tiêu Phục Huyên cúi người hôn chàng.

Trái tim y thít lại và đánh dồn mạnh mẽ. Dầu thế, nụ hôn trao đi thật sự dịu dàng, ngay cả hơi thở cũng êm ả khẽ khàng như sợ chạm vào làm tổn thương chi đó.

Những nụ hôn ấy rơi vào đuôi mắt, chóp mũi, và giữa môi Ô Hành Tuyết, từ tốn chạm vào từng chút một.

Y có thể cảm thấy người được hôn cứng đờ cơ thể, rồi dần dà thả lỏng ra, và đến sau cùng, những ngón tay nắm lại chợt run lên thật khẽ.

Con người ta vẫn thường như thế đấy. Một khi đã gồng mình hết sức để đón nhận quá nhiều điều khổ đau, thì đến thời điểm cởi bỏ được những gánh nặng ấy sẽ khiến người ta không khỏi rùng mình run rẩy.

Nhưng Ô Hành Tuyết nào phải người thường, chàng chưa bao giờ phản ứng như thế cả. Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời.

Cơ thể chàng run lên nhè nhẹ. Đôi mắt quan sát Tiêu Phục Huyên đang rủ mi hôn lên từng vị trí đã kiệt lực, trên từng ngón tay chàng.

Và sau đó, chàng được người kéo vào lồ ng ngực.

Chàng được ôm vào lòng.

Thật lạ kỳ, hai người họ từng hiện hữu hết thảy những điều thân mật nhất, dẫu là dịu dàng mỹ lệ hay ái dục triền miên. Thế mà giờ đây, chàng vẫn được xoa dịu bởi một cái ôm đơn giản.

Chàng đặt cằm mình trên vai Tiêu Phục Huyên, lắng nghe đối phương cất giọng hỏi, “Ô Hành Tuyết, còn đau không?”

“Không đau,” Ô Hành Tuyết dịu giọng đáp lời theo bản năng.

Đáp lời rồi chàng lặng thinh chốc lát, sau đột nhiên nói, “Thật ra…”

Chàng ngừng lại giây lát, chớp mắt rồi mới thì thầm, “Thật ra có hơi khó chịu một chút.”

Chàng vẫn thường vờ vịt hô “sợ quá” và “khó chịu quá”. Tuy nhiên, khi những điều đó thật sự xảy đến, chàng chẳng bao giờ than vãn nửa lời. Chỉ vào giây phút này, chàng mới chợt muốn buông lơi và nói “thật sự đau lắm” với Tiêu Phục Huyên.

Chàng nói, “Tiêu Phục Huyên này, ta đã mơ thấy rất nhiều chuyện. Có chuyện Tiên Đô và có cả chuyện nhân gian.”

“Ta cũng nhớ ra ta từng nhắc đến với ngươi về Thước Đô.”

“Vì vậy trước đây khi ta bảo ta đến từ Thước Đô, ngươi đã nhận ra ngay lập tức rồi phải không.”

“Và cả những chuyện sau đó, bao lần dịch dung đều bị ngươi nhận ra cả phải không?”

“Thảo nào mỗi lần dịch dung ngươi đều muốn chỉnh sửa mắt ta.”



Chàng cứ tiếp tục nói từ câu này đến câu khác. Nói xong xuôi, chàng lặng người thật lâu, khép mắt lại và gọi, “Tiêu Phục Huyên.”

“Ừm?”

“Hai trăm ba mươi năm thật dài quá…”

❄︎

Lời tác giả:

Hai người cùng chết thì sao gọi là HE được! Yên tâm đi, không có đâu ~

Cá:

Hông biết ai đồn hai người cùng chết là HE để chị tác giả phải lên đính chính vậy nữa, ác quá đi hà…

Em cá thấy có lỗi với các cô dì chú bác quá, em hứa sẽ cố gắng đẩy nhanh tiến độ…
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 95: Tuyết tan


Ô Hành Tuyết không phải một người lắm lời.

Khi còn trên Tiên Đô, chàng thân thiện dễ gần, ưa thích đùa giỡn, nhưng khó có thể xem như nồng nhiệt. Sau này trở thành ma đầu, ngay cả “thân thiện” cũng không còn thấy đâu.

Nhưng những lúc bên cạnh Tiêu Phục Huyên, chàng vẫn luôn nói rất nhiều.

Sau chàng mới nhận ra, nguyên nhân ở việc Tiêu Phục Huyên sẽ hỏi tới.

Mỗi khi chàng nói xong một chuyện, Tiêu Phục Huyên sẽ hỏi tiếp tới một chuyện, vì thế chàng phải mở lời nói thêm lúc nữa. Chàng vốn không thích nhắc về những chuyện không vui, số chuyện có thể kể đến trong hơn hai trăm ba mươi năm ròng ấy tính ra chẳng bao nhiêu, vậy mà chàng đã kể thật thật lâu…

Nhờ đó, những khung cảnh dĩ vãng đảo điên và hỗn loạn ấy dần dà hiện ra rõ nét hơn.

Vừa kể xong một chuyện, chàng bất chợt ngừng lại rồi lặng người thẫn thờ trong phút chốc mới nói, “Nhưng có vài chuyện ta vẫn chưa nhớ ra. Trên lý thuyết, một khi chuông mộng đã đánh tiếng thì ta nên nhớ ra tất cả mới phải.”

Tiêu Phục Huyên: “Chuông mộng gặp vấn đề.”

“Nó bị sao thế?”

“Vết nứt nghiêm trọng hơn.”

Ô Hành Tuyết cúi đầu, móc chiếc chuông mộng treo bên hông mình lên để nhìn cho kỹ thì phát hiện vết nứt trên bề mặt chuông trông còn rõ hơn trước. Nó không chỉ nứt ở mặt trong mà kéo dài hẳn ra phía ngoài. Thoạt nhìn tưởng chừng chỉ cần chạm nhẹ một phát là nó sẽ vỡ tan tành.

Ô Hành Tuyết mân nhẹ ngón cái dọc miệng chuông, cất giọng thắc mắc, “Sao lại hỏng đến mức này? Không lẽ lúc mất đi ý thức ta đã đụng vào nó sao?”

Tiêu Phục Huyên trả lời, “Không đụng, nó bất thình lình thành ra như vậy.”

Ô Hành Tuyết lầm bầm, “Thật kỳ lạ…”

Lúc trước, chàng đã chắn tấm phong ấn để không ai có thể dễ dàng tiếp cận. Mà chuông mộng được treo ngay bên thắt lưng chàng, vậy quả thật ngoại trừ bản thân thì hiện tại không một ai có thể chạm vào nó cả. Nhưng Tiêu Phục Huyên lại nói chàng không hề đụng vào nó, vậy rốt cuộc chuyện gì xảy ra với chuông mộng?

Chẳng lẽ chàng nhớ lại quá nhiều những chuyện trước đây nên vượt quá sức chịu đựng của chuông mộng? Hay là… còn có nguyên nhân khác?

Khó có thể sáng tỏ vấn đề trong chốc lát. Ô Hành Tuyết trầm ngâm một lúc vẫn không nghĩ ra manh mối, nhưng dòng suy nghĩ chàng lại trôi về khoảnh khắc cuối cùng trước khi tỉnh giấc.

Chàng nhắm nghiền mắt cố nhớ lại, khổ nỗi không tài nào nhớ ra kết cục của khung cảnh hôm ấy. Chàng mở mắt, thẫn thờ hồi lâu mới ngẩng đầu lên thủ thỉ gọi, “Tiêu Phục Huyên.”

“Ừm?” Tiêu Phục Huyên ấm áp đáp lời.

Ô Hành Tuyết nhìn y, hỏi, “… Hôm đó ta có cởi lớp dịch dung không?”

Tiêu Phục Huyên hơi sửng sốt giây lát.

Ô Hành Tuyết nhẹ nhàng nói, “Bên cạnh bến thuyền ra biển Vô Đoan, vào ngày ta đổi thuốc cho nhóm đệ tử tiên môn, ngươi còn nhớ hôm ấy không?”

“Còn nhớ,” Tiêu Phục Huyên trả lời. “Tất nhiên còn nhớ.”

Sao có thể quên được một ngày như thế.

Ô Hành Tuyết nói, “Ta đã trả lời thế nào cho câu ngươi hỏi ta ở bến thuyền? Ta… có đồng ý không?”

Dòng ký ức đột ngột cắt ngang ngay thời khắc ấy. Giờ đây chỉ cần nhắm mắt lại, chàng sẽ nhìn thấy Tiêu Phục Huyên nắm lấy tay mình và khàn giọng hỏi, “Ô Hành Tuyết, khi không mang dịch dung, trông ngươi ra sao? Ta muốn nhìn gương mặt ngươi.”

Khốn thay có nghiền ngẫm đến mức nào, có cố gắng đến đâu, chàng cũng không tài nào nhớ ra chuyện gì xảy ra sau đó.

Chàng có đồng ý với người ấy không? Hay vẫn ngoảnh mặt lên thuyền và rời đi mà chẳng màng ngoái đầu?

Tiêu Phục Huyên hỏi chàng, “Tại sao ngươi muốn biết?”

Ô Hành Tuyết: “Ta sợ mình từ chối.”

Dẫu đây là chuyện trong quá khứ đã qua biết bao năm rồi, dẫu đó là bản thân, và không một ai thấu hiểu bản thân hơn chính chàng. Lẽ ra không cần hỏi chàng cũng đoán được mình đã trả lời ra sao, thế nhưng chàng vẫn cảm thấy lo lắng.

Chàng lo rằng khi đó mình nói “không” với Tiêu Phục Huyên, rồi bỏ mặc bóng hình cao cao cô độc ấy nơi cầu tàu nhô ra ngoài xa.

Tiêu Phục Huyên lại hỏi, “Sao lại sợ mình từ chối?”

Ô Hành Tuyết lặng thinh giây lát rồi nói, “Vì ta sẽ khó chịu.”

Tiêu Phục Huyên nghe câu trả lời này thì đặt tầm mắt đau đáu trên gương mặt Ô Hành Tuyết. Ngay tiếp đó, y giữ lấy cằm chàng và gieo một nụ hôn nồng.

Nụ hôn này có phần mạnh mẽ, giữa khi người kia hé môi, y trầm giọng, “Ngươi không từ chối, và đã cởi bỏ dịch dung.”

Ô Hành Tuyết bị hôn đến mơ màng, giọng cất lên vô cùng mịt mờ, “Thật ư?”

“Thật.”

“Không lừa ta chứ?”

“Không.”

Ô Hành Tuyết đáp lại nụ hôn, hồi sau lẩm bẩm càng mơ hồ hơn, “Lừa cũng vô dụng, sớm muộn gì ta cũng nhớ ra.”

“Ừm,” Tiêu Phục Huyên đáp lời.

Y không nói dối.

Trên bến thuyền ra biển Vô Đoan ngày hôm ấy, Ô Hành Tuyết kề cận ngay trước mắt y, tháo bỏ từng lớp dịch dung một, để lộ gương mặt nguyên bản của chàng.

Thế nhưng điều y không nhắc đến chính là sau ngày hôm đó, người vẫn luôn giả dạng để hàn huyên cùng y đã biến mất, không xuất hiện trước mặt y một lần nào nữa.

Y đã chặn bớt một số bùa tìm kiếm, song dường như đối phương lại có những phương thức lảng tránh mới, bởi vậy nên y không làm sao lần mò ra tung tích đối phương.

Thời điểm đó, y phát sinh một số bất hoà với Thiên đạo Linh đài và đang tra xét vài việc, những chuyện đó cũng không lấy gì làm suôn sẻ. Kết quả là y cũng không có nhiều cơ hội ghé xuống nhân gian. Tuy vậy, mỗi lần xuống nhân gian y đều đi tìm một người, mà lần nào cũng quanh đi quẩn lại một hồi rồi quay về trắng tay.

Cho đến một lần nọ, lần ấy khắp người y mang đầy những vết thương phiền phức và thân thể thấm đẫm vị sắt rỉ của máu, y bước qua nhân gian và dừng chân bên ngoài cổng của nơi được gọi là “Động Ma” Chiếu Dạ thành.

Kết cấu của Chiếu Dạ thành có nhiều điểm tương tự thành trấn ở nhân gian với những toà tháp cao và mảng tường dài bao trọn quanh khu vực đặt cổng thành. Có điều, ngoài cổng thành không hề có các loại khoá cổng tà ma ngoại đạo, cũng chẳng có bóng dáng thuộc hạ của thành chủ, mà chỉ có mấy chục chiếc đèn thanh minh bừng lửa như ma trơi xếp thành hàng phía trước.

Người ta đồn đám lửa ma trơi ấy do chính tay thành chủ chế tạo, chúng có thể dò ra tung tích của bất kỳ thứ gì không thuộc về tà ma trong Chiếu Dạ thành, đặc biệt phát hiện được tiên khí.

Lời đồn kể rằng chỉ cần người từ Tiên Đô đến gần Chiếu Dạ thành, đám đèn thanh minh đó sẽ phản ứng ngay lập tức. Chúng sẽ dìm kẻ xâm nhập vào một biển lửa hoàn toàn tách biệt.

Thành chủ Chiếu Dạ thành không phải hạng tầm thường, từ tiên đến ma đều cực kỳ dè chừng đám lửa kia, ngay cả Tiêu Phục Huyên cũng chưa từng nhận thiên chiếu nào liên quan đến Chiếu Dạ thành và thành chủ của nó.

Việc y đến đây thực sự là danh bất chính và ngôn cũng chẳng thuận.

Vào hôm đó, y lau vết máu trên cổ mình đương khi nhìn vào những ngọn đèn thanh minh, vừa rủa thầm bản thân <i>ngươi điên rồi</i>, vừa bước đến cánh cổng vào thành.

Khi y sắp đụng phải đèn thanh minh, sắc lửa xanh rờn thình lình bập bùng. Ngay thời điểm gần như có thể trông thấy chúng đang đà bừng cháy thành tường lửa nóng rực, một bóng người vận y phục trắng bất ngờ băng xuyên qua biển lửa và dừng trước mặt Tiêu Phục Huyên.

Người vừa đáp xuống, mu bàn tay lướt qua, biển lửa xanh rờn đã bị người nọ kiểm soát trong tay.

Hôm đó, thành chủ Chiếu Dạ thành không cải trang thành dáng dấp người xa lạ, gương mặt cũng không nhuốm nét cười. Chàng lia mắt nhìn vết máu bên cổ Tiêu Phục Huyên, khẽ nhíu mày mà nói, “Ngươi có biết hệ quả của việc một thượng tiên xâm nhập vào Chiếu Dạ thành là gì không?”

Tiêu Phục Huyên: “Có nghe kể sơ.”

Ô Hành Tuyết: “Thế tức là đã biết, nếu đã biết tại sao còn tới đây?”

Tiêu Phục Huyên không trả lời.

Dưới tác động của đèn thanh minh, vết thương bên cổ y càng hở ra mỗi lúc một nghiêm trọng hơn, đến độ sau một hồi lâu vẫn chưa khép miệng, máu không ngừng tràn dài theo đường viền xương cổ. Muốn gỡ chuông cần tìm người cột chuông, ai cũng biết vết thương do đèn thanh minh để lại cần người tạo ra đèn thanh minh đích thân đến giải.

Ô Hành Tuyết quan sát hết cả và đứng lặng một lúc lâu. Bất chợt, chàng khép mắt lại, nắm lấy tay Tiêu Phục Huyên và kéo người đi xuyên qua dàn đèn thanh minh.

Đám đèn ấy áng chừng đã bị chàng ngấm ngầm điều chỉnh nên không nổi bừng lên thành biển lửa vô tận thiêu đốt thần tiên, và dường như từ sau đó, chúng cũng đã nhận dạng Tiêu Phục Huyên.

Bọn họ đi qua khung cửa vòm ngất ngưởng ở bức tường chắn lối vào, băng qua Lạc Hoa Đài sớm đã hoang vu.

Khi họ bước khỏi đường núi, Tiêu Phục Huyên cúi đầu trong sương mù mịt mùng, đột nhiên lên tiếng với người đã dẫn mình vào thành, “Ô Hành Tuyết, đã lâu không gặp.”

Ô Hành Tuyết đang giữ tay y thoáng sượng bước chân giây lát.

Có lẽ vì màn sương mù dày đặc mà cả hai đều không nhìn thấy rõ người kia, thành thử chẳng phân ma đầu chẳng phân thượng tiên. Ô Hành Tuyết chỉ đáp “Ừm” thật khẽ rồi mới tiếp tục cất bước.

Bắt đầu từ ngày hôm ấy, mỗi lần Tiêu Phục Huyên lui tới Chiếu Dạ thành đều không còn kinh động đến dàn “đèn thanh minh” canh giữ bên ngoài cổng thành một lần nào nữa.

***

Những mối rối này kể ra thì thật dài, quãng thời gian “đã lâu không gặp” kia cũng là một nỗi chua xót không tài nào kể xiết. Thế nên Tiêu Phục Huyên không nhắc đến, y lược bỏ hết những năm tháng đó và chỉ nói với Ô Hành Tuyết rằng, “Ngày hôm đó ngươi cởi bỏ dịch dung để ta trông thấy ngươi.”

<i>Nên ngươi không cần phải đau lòng.</i>

Nghe câu trả lời của y, tâm trạng Ô Hành Tuyết mới khá lên nhiều.

Chàng im lặng chốc lát rồi chợt nói với Tiêu Phục Huyên, “Ngươi có còn nhớ những chuyện xảy ra hồi trên Tiên Đô không?”

Tiêu Phục Huyên nói, “Còn nhớ.”

Ô Hành Tuyết hỏi, “Làm sao nhớ ra được thế?”

Tiêu Phục Huyên lặng đi một chốc, nói, “… Tiên Đô đã mất, ta nhớ ra thôi.”

Ô Hành Tuyết ngẫm lại thì thấy thế cũng có lý, dù gì tận diệt cũng chịu tác động của Thiên đạo Linh đài, được dùng để trừng phạt các thần tiên. Mà hiện tại Tiên Đô đã mất, trừng phạt đoán chừng cũng mất hiệu lực, tận diệt ấy cũng theo đó mà được tháo gỡ.

Chàng im lặng một hồi, rồi tiếp tục nói, “Còn một việc nữa.”

Tiêu Phục Huyên: “…”

Y vẫn đang giữ cằm Ô Hành Tuyết, bèn không nén nhịn nữa mà chạm ngón cái nhích bờ môi đang khép mở kia đặng trao hôn.

Lời Ô Hành Tuyết tính nói cứ thế nhạt nhoà trong nụ hôn của y.

Đại ma đầu giờ đây thật thân thiện, ngoan ngoãn hôn lại hết một lúc. Đến khi Tiêu Phục Huyên dời sang bên, chàng mới nói, “Ta hỏi ngươi —”

Vừa thốt ra chữ <i>ngươi</i>, Thiên Túc lại hôn tới lần nữa.

Thế là mọi thứ lại trở nên nhạt nhoà.

Đại ma đầu: “?”

“Tiêu Phục Huyên, ngươi có chuyện gì muốn giấu nên mới tìm cách ngăn cản ta có phải không?” Ma đầu bị hôn tới mơ màng đầu óc nhưng vẫn ráng nói cho hết câu.

“Không.”

“Vậy để ta hỏi cho hết câu.”

Tiêu Phục Huyên rời đi một chút.

Ô Hành Tuyết hỏi. “Nếu ngươi nhớ rõ mọi việc, vậy vì sao lúc trước ta hỏi ngươi ta là người ra sao thì ngươi lại không nói thẳng cho ta hay?”

Chàng vốn không để bụng chuyện này, chẳng qua bất chợt nhớ đến nên tiện hỏi luôn mà thôi.

Nào ngờ Tiêu Phục Huyên lại lặng thinh hẳn, hồi lâu sau mới hỏi, “Nói thế nào đây?”

Ô Hành Tuyết tư lự chút, thấy hình như không biết nên nói thế nào thật, bèn thốt, “Từng thành tiên, từng thành ma các kiểu.”

Ô Hành Tuyết chỉ nói bừa, song nghe được giọng trầm thấp của Tiêu Phục Huyên.

Y nói, “Không được.”

Ô Hành Tuyết ngẩn người, lắng nghe người đã bên cạnh chàng qua cơn đau đớn trong hỗn độn cất giọng, “Đó là những việc do chính ngươi trải nghiệm, không bất kỳ một ai có thể tóm lược bâng quơ trong mấy chữ cho ngươi nghe được.”

“Ngay cả ta cũng không.”

Ô Hành Tuyết nhìn y đăm đăm, đôi ngươi phản chiếu sắc trời bên ngoài cửa sổ.

Một lúc lâu sau, ánh sáng ngời ngời ấm áp dần lan toả tự nơi ấy.

Chàng gọi, “Tiêu Phục Huyên.”

Tiêu Phục Huyên nhấc mắt để rồi bị nét cười đã lâu khuất dạng lung lay tầm mắt.

Một luồng gió len vào qua khung cửa sổ, khoảnh khắc ấy toàn bộ sương tuyết Tước Bất Lạc tan biến.

Giờ khắc này, hơn hai trăm ba mươi năm thuở nào bỗng trôi về nơi xa xăm, thật sự khoác lên mình dáng vẻ “quá khứ”.

Cái gọi là “quá khứ” chính là hết thảy đã đi vào dĩ vãng.

❄︎

Lời tác giả:

Tui phải viết lại hết một lượt, để mọi người chờ lâu QAQ

Cá:

Thiệt sự là ngụp lặn trong cơn ngọt ngược đan xen luôn à QAQ
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 96: Tìm người


Sau đó, Ninh Hoài Sam hối hận không thôi, bởi chẳng biết rốt cuộc mình mắc chứng gì mà phải đi mở cửa phòng thành chủ ngay thời điểm như vậy. Không lẽ bị bứt rứt quá chịu không nổi hay gì?

Tại sao chứng kiến tuyết tan khắp Tước Bất Lạc thôi thúc cậu bật dậy đi báo cho Thiên Túc cơ chứ? Tuyết tan chỉ là tuyết tan thôi mà, cứ để yên cho nó hoá lỏng trong im lặng không được à?

Nhưng trên thực tế, cậu vừa hô to “Thiên Túc ơi! Sương giá tự dưng tan hết rồi, có phải thành chủ sắp tỉnh lại hay — ”, vừa vung tay đẩy mạnh cửa ra để phóng vào phòng ngủ.

Cậu thắng gấp ngay bên cạnh trường kỷ, vừa kịp nhìn thấy thành chủ nhà mình tách khỏi môi Thiên Túc…

Cậu đứng hình không dám cục cựa.

Đại khái chắc là cảm giác bị Cửu thiên huyền lôi giáng thẳng vào đầu đây mà.

Khoảnh khắc đó, trong não Ninh Hoài Sam chỉ có ba thứ —

<i>Ta mù rồi.</i>

<i>Ta toang rồi.</i>

<i>Ta còn đứng gần tới vậy.</i>

Ô Hành Tuyết cũng không ngờ có người dám xông thẳng vào trong, chàng ngẩn ra chút rồi thắc mắc, “Trong phòng không đặt kết giới?”

Vừa hỏi xong, chàng ngước mắt trông thấy gương mặt không lời nào tả xiết của Tiêu Phục Huyên.

Khuôn mặt tuấn tú lạnh lùng ấy nửa điếng lặng mà nửa âu sầu, đôi môi kia bật ra hai chữ, “Có đặt.”

“Có đặt?” Ô Hành Tuyết ngoảnh đầu sang nhìn Ninh Hoài Sam. “Vậy ngươi vào bằng cách nào?”

Ninh Hoài Sam mấp máy môi. “… Ta sợ hai người lâm vào tình trạng kia nhỡ gặp phải chuyện nên xin Thiên Túc dỡ kết giới đi để ta có thể vào thăm mỗi ngày một lần.”

Ô Hành Tuyết: “…”

Chàng hoàn toàn cạn lời, cúi đầu tìm chuông mộng.

Ninh Hoài Sam tưởng chàng tìm vũ khí nên lập tức rụt người lại, giơ tay lên che đầu rồi hô to, “Thành chủ ơi ta sai rồi! Ta không nhìn thấy gì hết, ta…”

Cậu kêu rồi nhận ra chắc có kêu cũng bằng thừa, bèn vắt giò lên cổ chuồn ngay lập tức.

Ô Hành Tuyết vốn tính lắc chuông cho thằng ngốc này, thế mà trên thân chuông mộng chi chít vết nứt, ngó chừng tạm thời không dùng được. Rồi khi chàng ngước mắt lên thì thằng ngốc kia đã biến mất dạng.

Chàng cầm dây chuông, hỏi Tiêu Phục Huyên, “Ngươi cứ để yên cho nó chạy chứ chẳng chịu ra tay bắt lại giúp ta một chút à?”

Tiêu Phục Huyên: “…”

Tiêu Phục Huyên: “Bắt lại để xem tiếp hả?”

Ô Hành Tuyết nghẹn lời, song thấy gương mặt y rất chi buồn cười thì nhớ lại khung cảnh ba người đối mặt nhau. Vừa nhớ lại thì chàng không nhịn được mà móc lấy dây chuông và bật cười.

Chàng cong một chân, đặt khuỷu tay lên gối. Trên ngón tay thon dài có quấn một sợi dây, chàng vừa nghịch chuông vừa cười giòn một lát, trông như thoáng để lộ ra ngoài dáng bộ phóng đạt. Tiêu Phục Huyên nhìn chàng hồi lâu mới thì thầm, “Không ngượng à?”

Ô Hành Tuyết thản nhiên trả lời, “Ngươi nói gì thế, ta thấy ngượng lúc nào.”

Tiêu Phục Huyên gật đầu, chốc nữa mới chỉ vào bên cổ mình và nghiêm giọng, “Từ khi Ninh Hoài Sam xông vào đến giờ, chỗ này của ngươi đỏ hửng.”

Ô Hành Tuyết: “…”

Tiêu Phục Huyên nói xong câu rồi dừng mắt bên cổ chàng. Nhìn một hồi, y lại nghiêm túc nói, “Vẫn còn đỏ.”

Ô Hành Tuyết bật cười thành tiếng, chỉ loáng mắt mà dây chuông lụa bạc đã vòng qua cổ Tiêu Phục Huyên. Chàng móc tay vào sợi dây rồi giật nhẹ một tí, híp đôi mắt dài và cất giọng nửa đùa nửa thật, “Không phải ngươi kiệm lời có tiếng à, đâu ra mà nói nhiều vậy hửm.”

Tiêu Phục Huyên đáp, “Tuỳ người.”

Ô Hành Tuyết nhướn mày rồi lại chìm vào thẫn thờ trong giây lát.

Chàng bất giác nhớ về thời điểm ở trên Tiên Đô, khi ấy chàng cực kỳ thích những ngoại lệ của Tiêu Phục Huyên, chỉ với một câu nói hay một hành động thôi cũng có thể giúp chàng vui vẻ. Chàng những tưởng đấy chính là “tình yêu” mà nhân gian thường đề cập, vỏn vẹn gồm rung động và vui thích. Sau này trở thành ma, trải qua gần ba trăm năm ròng, chàng mới dần hiểu được thì ra không chỉ có thế, thì ra đó còn là chua xót và những nỗi niềm buông bỏ chẳng xong.

Đã từng những cay đắng, khổ đau, buông bỏ chẳng đặng mà dây dưa không rõ. Để rồi vẫn chỉ với một câu nói, một hành động, một chút ngoại lệ đã khiến lòng người vui vẻ hệt như lúc xưa.

Phàm nhân thường bảo, đây chính là ái tình sâu đậm suốt đời chẳng phai.

“Đang nghĩ gì vậy?” Tiêu Phục Huyên hỏi chàng.

“Không có gì,” Ô Hành Tuyết cười đáp. “Chỉ tính toán linh tinh mà thôi.”

Tính toán xem cả đời có thể dài đến nhường nào.

***

Sau khi Ninh Hoài Sam bỏ chạy thoát thân thì không định đến gần phòng ngủ một bước nào nếu không được cho phép nữa. Song chưa kịp nấp bao lâu thì thành chủ nhà cậu đã vung một bức thư bằng bùa gọi cậu vào.

Cậu khẳng định chắc nịch trong lòng: Ai đi làm chó.

Nhưng cậu đâu có dám không đi.

Sau cùng, cậu luồn ống tay áo đủng đà đủng đỉnh đi đến trước cửa phòng ngủ, mắt nhìn mũi và nói, “Thưa thành chủ.”

Thành chủ nhà cậu còn lầm bầm, “Tìm ngươi cả nửa ngày rồi, bây giờ mới tới.”

Ninh Hoài Sam: “…”

Cậu câm nín cả buổi mới rặn ra được một cái cớ, “Ta đang dọn tuyết tan trong sân và phòng.”

Trước đây Tước Bất Lạc bị đông lại không khác gì hầm băng, bây giờ sương đã tan chảy hoàn toàn, đâm ra đâu đâu cũng ướt sũng.

Trên thực tế, không chỉ có gian phụ và sân mới rơi vào tình trạng như vậy, đến phòng ngủ của Ô Hành Tuyết cũng ngang tài ngang sức. Nước đọng ướt đẫm khắp xà và cột nhà, thoạt trông cực kỳ rùng rợn. Chẳng qua ban nãy không ai để ý đến mà thôi.

Ô Hành Tuyết lẳng lặng lia mắt bao quát một vòng, trưng vẻ mặt ngây ngô hỏi Tiêu Phục Huyên, “Ta làm à?”

“…”

“Ta làm.”

Tiêu Phục Huyên bực dọc đáp.

Ô Hành Tuyết ngoan ngoãn thu tầm mắt về. Ngay sau đó, toàn bộ băng tuyết sương mù do chàng tạo nên lúc trước lại được chàng chuyển hoá thành hư không. Bấy giờ, Ninh Hoài Sam mới chịu tém bài quét tước vô dụng của mình lại.

Cậu siết bùa giấy và nói với Ô Hành Tuyết, “Thành chủ muốn hỏi gì ạ?”

Ô Hành Tuyết đáp “À” rồi nói, “Qua nhiều ngày rồi đã có tin tức nào của Phương Trữ chưa?”

Ninh Hoài Sam: “?”

Cậu cảm thấy hơi chần chừ, không hiểu sao thành chủ hỏi kiểu gì mà kỳ lạ quá vậy. Phương Trữ quay về Tước Bất Lạc mấy hôm trước là Phong Tiết Lễ nhập xác, còn Phương Trữ thật vẫn còn kẹt lại trong quá khứ. Đến cậu còn biết được chuyện này thì sao thành chủ có thể chưa nghĩ đến được. Nếu muốn dò la tung tích Phương Trữ ắt hẳn phải quay về quá khứ để tìm, mà chắc chắn thành chủ với Thiên Túc có nhiều biện pháp hơn cậu. Vậy mắc gì phải hỏi cậu?

Có điều cậu lại nghĩ đến việc Phương Trữ thân thiết với cậu hơn. Hơn nữa cậu đã canh giữ căn phủ trạch này mấy ngày rồi.

Ninh Hoài Sam thôi chần chờ thắc mắc, lắc đầu đáp, “Chưa ạ.”

Nói rồi, cậu cũng tỏ vẻ lo lắng và tiếp tục, “Thưa thành chủ, Phương Trữ mãi chưa quay trở lại, chắc không xảy ra việc gì chứ?”

Ô Hành Tuyết cau mày, quay sang hỏi Tiêu Phục Huyên, “Phần linh thức ngươi để lại ở dòng thời gian kia có tìm được gì không?”

Tiêu Phục Huyên lắc đầu. “Có dò ra tung tích nhưng vẫn chưa tìm được linh phách.”

Trước đây, Ô Hành Tuyết mãi không tỉnh lại khiến y không cách nào phân tâm. Giờ đây Ô Hành Tuyết đã hồi phục tương đối nên y có thể rảnh tay một chút. Y ngẫm nghĩ rồi nói, “Để ta sang đó lần nữa kiểm tra một phen.”

Vừa nói dứt, y cụp mắt xuống, trôi theo dòng linh thức quay trở về dòng rối loạn kia.

***

Nhìn qua trông y vẫn không khác gì mọi ngày, người vẫn đang ôm kiếm đứng tựa vào cửa như thường lệ. Chợt thấy chỉ tưởng y vừa nhớ ra một vài việc nên có vẻ thất thần.

“Thưa thành chủ, Thiên Túc đã tách linh thức khỏi thân thể rồi à. Y còn có thể nghe thấy động tĩnh xung quanh không?” Ninh Hoài Sam rướn đầu qua tính xem thử Thiên Túc có phản ứng gì không. Nhưng cậu lại thấy Ô Hành Tuyết ngước mắt, đặt ngón trỏ lên miệng, tỏ ý bảo cậu giữ im lặng đừng nói chuyện.

Tiếp tới, ngón tay Ô Hành Tuyết đặt lên vai cậu.

Ninh Hoài Sam còn đang thắc mắc thì nghe tiếng thành chủ truyền âm sang mà miệng không hề cử động, “Ta hỏi ngươi một chuyện.”

Ninh Hoài Sam hơi hé miệng rồi mới sực nhận ra, bèn truyền âm lại để trả lời, “Có chuyện gì thế thành chủ? Sao phải nói chuyện bằng truyền âm? Bộ không được để Thiên Túc nghe ạ?”

Ô Hành Tuyết đáp “Ừm” rồi bảo, “Cứ coi như vậy đi.”

Ninh Hoài Sam tỏ vẻ không hiểu, hỏi, “Nhưng hai người không phải đã… ừm ừ rồi sao.”

Cái nết cậu trước giờ bộp chộp không hiểu chuyện. Trước đây, cậu thấy kỳ độ kiếp của tà ma xong đều toàn dùng cụm “cắn miệng” mỗi khi kể cho Phương Trữ nghe, đâm ra bị Phương Trữ gieo ánh mắt khinh bỉ như nhìn “thằng ngu” từ lâu rồi. Trực giác mách cậu hay nếu ăn nói như vậy trước mặt thành chủ thì chỉ có chết, bởi vậy đành ậm ừ lướt qua.

Kết quả, ánh mắt thành chủ nhìn cậu vẫn khiến cậu sợ điếng trong lòng.

Ninh Hoài Sam lập tức run rẩy trả lời, “Ta chưa nói gì hết, thành chủ người hỏi đi.”

Ô Hành Tuyết bực mình liếc cậu một phát rồi hỏi, “Ngươi còn nhớ chuyện hai lăm năm trước không?”

Ninh Hoài Sam sửng sốt. “Nhớ ạ, tất nhiên còn nhớ rõ.”

Ô Hành Tuyết lặng người một hồi mới hỏi, “Nhớ rõ là được, vậy lúc ta lên Tiên Đô ngươi và Phương Trữ có ở đây không?”

Nghe chàng nhắc đến Tiên Đô, nét mặt Ninh Hoài Sam âu sầu hẳn xuống.

Ô Hành Tuyết hỏi, “Ta có dặn dò gì với hai ngươi không?”

Chuông mộng bị hỏng khiến chàng chưa thể nhớ ra hết tất cả mọi chuyện, phần ký ức được khôi phục đứt đoạn ngay thời điểm hai trăm ba mươi năm trước. Chàng hoàn toàn không biết chuyện gì đã xảy ra sau đó. Hiện tại, chàng chỉ có thể thử suy đoán dựa trên phần ký ức mình đã lấy lại được.

Nhưng vẫn có một vài điểm mấu chốt mà chàng nghĩ mãi không ra.

Chẳng hạn như… tại sao chàng lại tàn sát Tiên Đô?

Đúng là chàng từng mơ về một thế giới không có thần tiên hay ma quỷ, từng cho rằng nếu trên đời không có Tiên Đô cũng không có Động Ma thì có lẽ đó sẽ là một thế gian thịnh vượng biết bao. Dù vậy, quá nửa chúng tiên trên Tiên Đô không thù không oán với chàng, cũng không có thù oán gì với bá tánh dưới nhân gian. Cho dù Tiên thủ Hoa Tín tác hoạ đi chăng nữa thì xét với tính cách của mình, chàng cũng sẽ không xuống tay giết sạch chín tầng mây để khiến Tiên Đô sụp đổ hoàn toàn như vậy.

Huống hồ, trong các tiên còn có Tiêu Phục Huyên cơ mà.

Những chuyện xưa trước hai trăm ba mươi năm ấy không đưa ra bất kỳ manh mối cụ thể nào cho chàng biết nguyên do dẫn đến hành động sau này của mình.

Trước đây, qua một số tin đồn và góp nhặt từ lời Tiêu Phục Huyên, chàng biết rằng Tiêu Phục Huyên không có mặt ở đó vào thời điểm chàng xuống tay tàn sát Tiên Đô. Khi Tiêu Phục Huyên đến nơi thì Linh đài Thập nhị tiên đã bỏ mạng và toàn độ Tiên Đô đang trên đà sụp đổ, cuối cùng bị huỷ diệt hoàn toàn.

Chàng không biết mình cố tình chọn thời điểm Tiêu Phục Huyên không có mặt ở đó hay đây là Thiên đạo nhúng tay gây rối.

Nếu là khả năng sau thì không có gì, còn nếu là khả năng trước…

Nếu là khả năng trước, chắc chắn sẽ khiến Thiên Túc đại nhân không vui.

Mà tệ hơn cả chính là việc Ô Hành Tuyết đã từng làm làm quá nhiều chuyện tương tự trong quá khứ, đến nỗi bây giờ chính bản thân cũng không đoán được là khả năng nào. Thành thử, chàng chỉ còn cách chờ lúc linh thức Tiêu Phục Huyên không hiện diện để ngấm ngầm hỏi Ninh Hoài Sam hòng đoán chừng xem xác suất thế nào. Nhỡ đâu một hồi nữa cần dỗ dành người ta thì chàng còn biết đường chuẩn bị trước.

Kết quả là chàng hỏi xong xuôi mà Ninh Hoài Sam cứ một mực chớp mắt ấp úng chứ mãi không chịu trả lời.

Ô Hành Tuyết bực lên. “Nói đi chứ ấp úng gì vậy? Nếu ngươi chần chờ tới lúc linh thức Thiên Túc đại nhân đây quay về cơ thể thì coi như ngươi đi đời đấy.”

Ninh Hoài Sam trệ mặt còn dài hơi mặt lừa, cuối cùng cậu mới nấc ra được một tràng dài dằng dặc.

Cậu nói, “Thành chủ thứ lỗi dù ta và Phương Trữ có ở đây trước lúc thành chủ lên Tiên Đô nhưng trước giờ người có việc gì cũng dặn dò Phương Trữ còn ta toàn biết không đầu không đuôi tốt hơn hết là người nên tìm Phương Trữ hỏi trực tiếp đi, với lại…”

Cậu dừng đoạn, thả nhẹ giọng nốt một câu, “Thiên Túc đang nhìn người kìa…”

Ô Hành Tuyết: “…”

Chàng sượng trân người rồi ngoảnh đầu lại, lẳng lặng nhìn Tiêu Phục Huyên và chớp chớp mắt.

Bèn thấy Tiêu Phục Huyên rủ mắt nhìn mình và hỏi, “Lại tính bịp?”

Khắp gương mặt y khắc đầy dòng “không có cửa đâu”, đoạn y thả khí kình vào cơ thể Ô Hành Tuyết rồi bắt đại ma đầu theo mình vào dòng rối loạn quá khứ.

Khi đâm xuyên màn sương mù đáp xuống dòng rối loạn, Ô Hành Tuyết cảm giác được Tiêu Phục Huyên đang giữ lấy mình, giọng nói trầm trầm thâm thấp của y rót vào bên tai, “Đã đoán được ngươi tính làm gì, chúng ta đi tìm Phương Trữ hỏi trực tiếp, đừng mơ chạy thoát.”

❄︎

Lời tác giả:

Ban ngày có việc nên gõ chậm, để mọi người chờ lâu.

Cá:

Có người yêu như Tuyết nhi thì phải Huyên bảo mới trị được
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 97: Tiên đô


Đại ma đầu rất có tinh thần tự giác, nghe Tiêu Phục Huyên nói vậy thì không khỏi nhột thầm. Song bên ngoài chàng vẫn muốn chống chế một chút.

“Thiên Túc đại nhân,” chàng gọi.

Tiêu Phục Huyên không trả lời, đoán chừng nghe thấy cái giọng điệu này là biết ngay có chuyện không lành.

Đại ma đầu lại gọi, “Tiêu Phục Huyên!”

Tiêu Phục Huyên: “…”

Tiêu Phục Huyên đầu hàng số phận, đáp, “Nói.”

Đại ma đầu giơ bàn tay còn tự do lên, duỗi ngón út ra rồi nói, “Thế này nhé, chuyện gì xảy ra rồi thì cứ cho nó trôi qua đi, giờ gặp được Phương Trữ lỡ hỏi ra chuyện gì thì cũng đừng giận nhé.”

Tiêu Phục Huyên ngừng bước, liếc mắt nhìn ngón tay đó.

Đại ma đầu chưa gì đã tung chiêu dỗ trước. Chàng thấy thú vị quá bèn nhanh chóng rèn sắt khi còn nóng, “Chỉ cần không tức giận thì muốn sao cũng được.”

Tiêu Phục Huyên nhướn mắt như thể đang xác nhận xem “muốn sao cũng được” là được cái gì.

Ô Hành Tuyết hé miệng tính nói rồi tự dưng im re.

Tuy ban đầu chàng không định nói câu đó với ý kia, nhưng bây giờ mà hùa tới nữa thì hơi giống lưu manh giữa ban ngày quá.

May mà Tiêu Phục Huyên không chờ chàng nói tiếp gì nữa đã liếc ngón tay nhô lên của chàng và nói, “Còn muốn móc ngoéo?”

Ô Hành Tuyết: “Tất nhiên, chứ không đồng ý rồi trở mặt thì phải làm sao.”

Tiêu Phục Huyên suy ngẫm.

Ô Hành Tuyết cong cong ngón tay hối y.

“Chuyện gì xảy ra rồi thì cứ cho nó trôi qua, muốn sao cũng được?” Tiêu Phục Huyên hững hờ lặp lại.

Ô Hành Tuyết: “…”

Ô Hành Tuyết: “Ngươi cố ý?”

Tiêu Phục Huyên: “Không có.”

“Trọng điểm là không được giận,” Ô Hành Tuyết tức tối nhấn giọng một cách cường điệu, thẳng tay móc lấy ngón tay Tiêu Phục Huyên. Chàng ấn vào hổ khẩu y một chút rồi chìa hổ khẩu mình ra để ngón tay Tiêu Phục Huyên chạm vào.

Tiêu Phục Huyên mặc cho chàng nắm tay mình làm càn, sau ba lần chạm nhau, một kết ấn được lập nên.

Như vậy, cuối cùng ma đầu cũng hài lòng, thấy nhẹ nhõm trở lại.

***

Lần bước vào dòng rối loạn này khác với lần trước. Lần trước Ô Hành Tuyết đến bằng cả thân lẫn linh, còn lần này giống như bị Tiêu Phục Huyên dẫn linh thức tách khỏi thân thể hơn.

Linh thức hai người hoá hình thành hai bóng dáng người thường, đáp xuống một vùng thôn dã.

Chân vừa chạm đất, Ô Hành Tuyết đã nghe thấy tiếng leng keng nho nhỏ phát ra từ cơ thể mình, thoạt nghe rất giống tiếng chuông bạc. Song hiện tại chàng đang tồn tại ở dạng linh thức nên không đeo chuông bên người.

Chàng tò mò cúi đầu nhìn thử thì thấy xung quanh lớp trang phục được biến thành từ hư ảo xuất hiện hình bóng xiềng xích.

Loáng một thoáng, chàng sững sờ.

Ngày thường, chàng đeo tương đối nhiều đồ trên cơ thể. Lúc trước khi mới vào thung lũng Đại Bi, Tiêu Phục Huyên treo lục lạc lên người chàng, đồng thời chàng còn có chuông mộng bạch ngọc. Nhờ có những thứ này mà bản thân chàng cũng đã sớm quên mất cơ thể mình còn bị xích bởi khoá trời từ Thương Lang Bắc Vực.

Khoá trời không hình không dạng, không ai nhìn thấy. Có lẽ hiện tại chàng dùng linh thức bước vào nơi này nên khoá trời không hình không dạng kia mới thấp thoáng để lộ bóng dáng mơ hồ.

Những sợi xích chập chờn đan xen vào nhau giữa lớp y phục và được c ắm vào một vài vị trí yếu hại trên thân thể chàng. Chúng cực kỳ mỏng manh và cũng cực kỳ nhẹ.

Khi mới ra khỏi Thương Lang Bắc Vực, Ô Hành Tuyết từng thấy phiền lòng với tiếng đám xiềng xích này. Còn hiện tại, chàng thấy hơi là lạ…

Nguyên do là vì suốt quãng thời gian vừa qua, dù những sợi xích này luôn hiện diện nhưng không mảy may có bất cứ động tĩnh nào. Bằng không làm gì đến mức khiến chàng quên cả sự tồn tại của chúng.

Ô Hành Tuyết nhìn những cái bóng mỏng manh chập chờn lúc hiện lúc mất, vươn tay ra sờ và gọi, “Tiêu Phục Huyên?”

“Ừm.”

Ô Hành Tuyết còn đang móc ngón tay mình vào một sợi xích, chưa kịp mở miệng thì đã nghe được giọng trầm ấm của Tiêu Phục Huyên vang lên, “Có đau không?”

“Không đau,” Ô Hành Tuyết đáp.

Tiêu Phục Huyên vươn tay ra chạm nhẹ vào sợi xích kia.

Sự thật là không đau, Ô Hành Tuyết không nói dối về việc này. Tuy vậy, chàng vẫn cảm giác được sợi xích lung lay khe khẽ giống như có một con kiến nhỏ đang bò quanh nơi khoá trời đóng vào cơ thể.

Cảm giác đó hơi nhộn nhạo một chút.

Dù nét mặt Ô Hành Tuyết không hề thay đổi, song Tiêu Phục Huyên vẫn tinh ý nhận ra vấn đề và lập tức rút tay về.

Ô Hành Tuyết thấy y cụp mắt xuống và nhíu chặt hàng mày, bèn nói ngay, “Không đau thật đấy, nếu ta không chợt nghe tiếng thì đã quên bẵng mất thứ đồ chơi này rồi.”

Khắp thiên hạ này, nói không chừng đây là lần đầu tiên có người dùng cụm “thứ đồ chơi” để miêu tả thứ này. Tiêu Phục Huyên ngước mắt lên.

Ô Hành Tuyết nói tiếp, “Nhắc đến chuyện này, ta có việc muốn hỏi ngươi. Khoá trời ở Thương Lang Bắc Vực xưa giờ đều biết điều nghe lời như vậy à? Sao có thể…”

Chàng càng miêu tả càng thấy bất thường, nét mặt Tiêu Phục Huyên cũng càng thêm đăm chiêu.

“Nếu nó biết điều nghe lời như vậy thì làm gì khiến lũ tà ma kinh sợ? Mà sao mang trên người mười năm trăm năm cũng không có tác dụng gì vậy,” Ô Hành Tuyết thì thầm. “Hay là chưa đến thời điểm?”

“Những người ta từng thấy đều trở về cát bụi cả rồi,” giọng trầm thấp của Tiêu Phục Huyên vang lên.

Ô Hành Tuyết chợt kinh ngạc rồi mới ngỡ ra…

Phải rồi, tà ma vào Thương Lang Bắc Vực làm gì có kẻ nào còn sống thoát ra ngoài, nói gì đến việc đeo khoá trời mười năm hay trăm năm. Như vậy cũng không cách nào biết được nguyên do vì sao nó một mực im lìm không động tĩnh hay đang chờ đợi thời điểm nào.

Song chỉ vừa nghĩ đến chuyện này, chàng đã cảm thấy ngón tay Tiêu Phục Huyên chạm vào mặt mình.

Chàng ngước mắt, nhìn thấy Tiêu Phục Huyên đang quan sát xiềng xích rồi trầm giọng, “Ô Hành Tuyết, nó sẽ được giải trừ.”

Giọng y thật nghiêm túc và vững vàng, vừa nghe vào đã khiến Ô Hành Tuyết mỉm cười.

Cũng giống như năm nào, chỉ cần y ngồi tĩnh toạ trên mái hiên thôi đã có thể trấn giữ lốc xoáy sát khí trên Tiên Đô, hoặc chỉ cần y đánh vang tiếng chuông thì đã giúp bá tánh an lòng rằng “vạn sự thái bình”…

Ô Hành Tuyết đáp lại, “Được.”

Nói rồi, chàng thấy ánh mắt Tiêu Phục Huyên vẫn hằn vẻ u sầu, bèn nói thêm, “Cho dù không thể xử lý ngay lập tức cũng không sao cả, nó giúp tạo thêm hứng thú mà.”

Tiêu Phục Huyên: “…”

Y im lặng giây lát rồi nhấc mắt. “Tạo thêm cái gì?”

Ô Hành Tuyết đáp “À” rồi nói, “Nếu ngươi từng thấy kiếp kỳ của tà ma thì sẽ biết có một số tà ma còn mang nhiều xiềng xích hơn số khoá trên người ta hiện tại đấy.”

Thật khó mà miêu tả biểu cảm trên gương mặt Thiên Túc thượng tiên vào thời điểm ấy.

Ô Hành Tuyết quay mặt đi bật cười tít mắt.

***

Chàng khoác thêm một lớp áo mỏng màu xám tro như sương mù miệt núi bên ngoài y phục trắng phau của mình để che đi những sợi xích lập lờ ẩn hiện kia.

Suốt dọc đường, hai người thả bùa tìm người để truy tìm tung tích Phương Trữ.

Họ đã đi qua rất nhiều nơi mà chỉ toàn phát hiện dấu vết ít ỏi còn sót lại chứ mãi vẫn không tìm được linh phách Phương Trữ đâu. Hai người đi một dọc từ bắc tới nam tận hai lần.

Tiêu Phục Huyên vươn tay bắt lấy tấm bùa tìm người đang quay trở lại. Tấm bùa kia rơi vào giữa hai ngón tay y rồi tự cháy thành tro.

Y cau mày nói, “Vẫn không phải.”

Ô Hành Tuyết trầm tư. “Chỉ một linh phách mà khó tìm vậy sao?”

Lẽ ra không nên như vậy.

Đâu chỉ đơn giản là không nên mà việc này còn vô cùng kỳ lạ, đặc biệt là khi người truy tìm tung tích là bản thân chàng và Tiêu Phục Huyên.

Tiêu Phục Huyên nói, “Nếu đã vậy mà còn không tìm ra thì chỉ có hai khả năng.”

Hiện giờ Ô Hành Tuyết đã nhớ lại hơn một nửa nên không cần hỏi từng chuyện một như trước đây nữa. Chàng biết ngay đó là hai khả năng nào chứ không cần Tiêu Phục Huyên giải thích…

Một là linh phách Phương Trữ đã tan biến nên không cách nào tìm ra được.

Hai là linh phách hắn đến một nơi mà bùa tìm kiếm không tiếp cận được.

Thông thường thì khả năng trước cao hơn. Bởi dù gì Phương Trữ cũng là người hiện thế, lang thang một thời gian dài trong dòng rối loạn quá khứ đâu phải chuyện hay ho gì, nên vẫn có khả năng linh phách đã tan biến mất rồi. Tuy nhiên, nếu linh phách tan biến thì phần dấu vết sót lại trong thế giới này sẽ không giống như hiện tại.

Suy tính của Ô Hành Tuyết thiên về khả năng sau hơn — tức linh phách hắn đã đến một nơi mà bùa tìm kiếm không thể dò la tới.

Chàng trao đổi ánh mắt với Tiêu Phục Huyên rồi ngước mặt hướng về chín tầng mây.

Tiên Đô vẫn đang tồn tại trên dòng rối loạn này. Mà nếu có một nơi bùa tìm kiếm không dò la tới thì chỉ có thể là Tiên Đô…

***

Phương Trữ choàng mở mắt, phát hiện mình đang ở một nơi lạ lẫm.

Nơi đây là bên trong một căn phòng ngủ, và tràn ngập trong tầm mắt hắn là sắc ngọc. Trường kỷ đặt bên cạnh của sổ, khung cửa sổ rộng thoáng với bức rèm bồng bềnh như mây khói. Xung quanh còn có những cánh hoa từ đâu được gió mang đến, đang nhàn nhã đọng lại bên thành cửa sổ bạch ngọc.

Cách bài trí trong căn phòng này khiến hắn nhớ về Tước Bất Lạc, thế nhưng chắc chắn không phải. Ở nơi đây, hắn có thể loáng thoáng nghe được âm thanh của chim tước, là thứ âm thanh tuyệt nhiên không hiện hữu ở Tước Bất Lạc.

Hắn ôm cái đầu nhức ong ong của mình, gắng gượng đứng dậy nhưng trong lòng lại dấy lên cảm giác rất kỳ lạ cứ như thân thể này không phải của mình.

Đến khi hắn cúi xuống nhìn thân thể và tay chân mới sượng cứng cả người — thân thể này đúng là không phải thân thể hắn. Hắn đã trưởng thành từ sớm và cũng khá cao. Thế mà thân thể hiện tại giống với dáng vẻ thiếu niên hơn, bảo là hắn nhập xác Ninh Hoài Sam hắn còn tin.

Hắn nổi hết cả da gà, vừa tính nhảy dựng lên chạy thì chợt thấy hai bóng người từ bên rìa tầm mắt.

Phương Trữ ngẩng phắt đầu lên thì thấy đó là hai nhóc tiểu đồng tóc buộc cao, vận trang phục thắt băng lụa, tay đang cầm phất trần rất nghiêm chỉnh, cả người toát ra đôi phần tiên khí.

Phương Trữ ngẩn người, mặt hơi thất thần nhưng trong lòng hẫng đi một chút.

Bởi dưới nhân gian, tiên đồng tương tự thế này thường xuất hiện chung trong những pho tượng thần. Hắn đã gặp nhiều rồi, mà lần nào gặp cũng nhìn một phát là ói mửa, phản ứng rất kinh khủng.

Hắn nhủ bụng <i>tiêu rồi, không lẽ bị kéo vào tiên môn nào rồi?</i>

Có những đứa trẻ ăn mặc như thế này thì cầm chắc không phải môn phái bé nhỏ gì, mà khả năng cao còn là những tiên môn nổi tiếng lẫy lừng như nhà họ Hoa hay nhà họ Phong.

Nói gì thì nói, hắn cũng chỉ là một tiểu ma đầu, nếu bị kéo vào tiên môn thật thì nguy hiểm bốn bề, dữ nhiều lành ít mất. Hoặc là hắn phải tàn sát một mạch để phá vòng vây thoát ra ngoài, hoặc là hắn phải nằm đây chờ đám đệ tử tiên môn đến hành xác.

Nghĩ vậy, Phương Trữ vừa thử vận khí kình trong cơ thể vừa hỏi dò hai tiểu đồng tử nọ, “Các ngươi thuộc môn phái nhà nào?”

Hai tiểu đồng tử tụm lại vào nhau, vừa nhìn hắn thao láo vừa rầm rà rầm rì bàn tán. Một hồi sau, đứa lùn hơn mới trả lời, “Chúng ta không thuộc môn phái. Ngươi đã tỉnh táo chưa? Còn muốn ngủ nữa không? Nếu không ngủ nữa thì ta đi gọi người!”

“Không thuộc môn phái?” Phương Trữ chấm hỏi đầy đầu, càng nghe càng thấy khó hiểu. Hắn thấy tiểu đồng tử kia đã có chiều phẩy phất trần chạy tọt ra ngoài, không biết đang tính gọi ai. Hắn hoảng hốt với tay ra túm chúng lại.

Thế mà hắn chưa kịp chạm vào cổ áo tiểu đồng tử thì đã bị một cơn gió chặn ngang qua.

Tấm chắn gió này không nặng, cũng không đi kèm sức công kích mà gần với hiệu ứng gió thổi hoa rơi nhiều hơn. Phương Trữ giơ tay lên che lại thì thấy mình bị thổi ngược trở lại trường kỷ.

Người có khí kình bực này dĩ nhiên là một nhân vật vô cùng lợi hại.

Phương Trữ khiếp đảm trong lòng, ngoài miệng hô, “Ai?!”

Giọng nói vừa thốt lên, hắn chợt nghe thấy một âm thanh đang theo gió truyền đến gần, “Đừng hốt hoảng, thân thể của ngươi do ta dùng bùa nặn tạm nên không thể hứng chịu lực nặng hay cử động quá mạnh. Ngươi từ từ thôi.”

Phương Trữ nghe thấy giọng nói này thì hoàn toàn sững sờ.

Bởi đây là chất giọng hắn đã quá quen thuộc, là âm thanh hắn nghe được mỗi ngày. Đó là giọng thành chủ Ô Hành Tuyết nhà hắn…

Hắn ngẩng phắt đầu lên khi nghe được giọng nói, để rồi nhìn thấy một bóng người đeo mặt nạ vân bạc cùng thanh kiếm trên tay đang cất bước vào phòng.

❄︎

Lời tác giả:

Ngủ ngon ~QAQ
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 98: Chuông mộng


Suýt chút nữa thì Phương Trữ buột miệng gọi “Thành chủ”, song đã nuốt ngược vào trong sau khi trông thấy chiếc mặt nạ vân bạc kia.

Đây là thành chủ nhà hắn, nhưng không hẳn.

Hắn từng nhìn thấy một Ô Hành Tuyết cầm kiếm đeo mặt nạ ở dưới đáy thung lũng Đại Bi, khi Thiên Túc thẩm vấn Vân Hãi. Người bị thẩm vấn đã gọi Ô Hành Tuyết đó là —

“Linh Vương…” Phương Trữ lẩm bẩm.

Người vừa đến nghe vậy thì có vẻ hơi ngạc nhiên, giọng thốt lên trong bất ngờ, “Ngươi gọi ta là gì?”

Bấy giờ, Phương Trữ mới nhận ra mình đã nói thành lời những suy nghĩ trong lòng, bèn lắc đầu tắp lự. “Không có gì, ta chưa nói gì cả.”

Hắn không lỗ m ãng như Ninh Hoài Sam, hiện tại còn chưa biết mình đang trong tình huống thế nào thì không thể trả lời bừa bãi.

Đối phương không bỏ qua chỉ vì một câu chối của hắn. “Tai ta rất thính, vừa nãy ngươi gọi ta là Linh Vương.”

Phương Trữ vẫn không dám trả lời, chỉ trơ mắt ra nhìn y đăm đăm.

“Còn các ngươi có nghe thấy không?” Người nọ khẽ nghiêng đầu ra sau và hỏi.

Hai tiểu đồng tử đang nép bên cạnh cửa, có một đứa thò đầu ra hùa theo, “Có nghe! Hắn gọi đại nhân là Linh Vương.”

“Đấy,” người kia quay đầu lại, giọng điệu nghe chừng không mấy nghiêm túc mà thoảng như gió xuân phớt qua mặt.

Song Phương Trữ vẫn cứng đờ không dám nhúc nhích. Mãi lâu sau hắn mới thốt, “Gọi thế không được à?”

“Dĩ nhiên là được, trên Tiên Đô đều gọi thế đấy thôi,” người nọ nhoẻn cười, xong mới bắt đầu chậm giọng, tỏ nét nghi ngờ. “Nhưng ngươi không phải người trên Tiên Đô. Ta không cai quản hung cát và cũng không bận tâm đ ến phúc hoạ, dưới nhân gian không có tượng thần của ta, nên danh hào ta có được truyền ra ngoài bao giờ.”

“Vậy tại sao ngươi lại gọi ta là Linh Vương, ngươi biết ta sao?” Người nọ nhấc nhẹ mặt nạ lên, để lộ ra đôi mắt tuyệt đẹp với góc đuôi hơi hướng xuống, ánh mắt tối om như mực.

Đây đích thị là Ô Hành Tuyết.

Phương Trữ hoàn toàn nghệch ra…

Hắn đang gặp phải thành chủ lúc còn là thần tiên ư?

Phương Trữ âm thầm cấu ngón tay mình vào thịt để thử thì thấy đau thật, không phải hắn nằm mơ.

“Ta…” hắn hé miệng nhưng không biết nên trả lời làm sao. Dù sao cũng đâu thể nói “Ta là thuộc hạ của người sau này khi người trở thành tà ma” được?

Sau cùng, hắn chỉ có thể nói, “Ta không biết.”

Vừa dứt lời, hắn đã muốn xử đẹp bản thân, thể loại trả lời xàm xí gì vậy.

Ngờ đâu, Linh Vương chỉ nhướn mày rồi nhẹ nhàng nói, “Thế à…”

Người ấy ngẩn ngờ giây lát nhưng không nói thêm gì mà có vẻ đang rơi vào trầm tư.

Phương Trữ nhanh chóng lia mắt nhìn khắp một vòng, bấy giờ mới giật mình nhận ra mà kêu lên, “Khoan đã, thành… Linh Vương đại nhân, ta đang ở Tiên Đô sao?”

Linh Vương hoàn hồn lại, gật đầu. “Đúng vậy, chứ ngươi tưởng mình đang ở đâu?”

Một câu nói thốt ra như sấm chớp giáng thẳng vào đầu, khiến cho Phương Trữ đột ngột nhảy dựng! Hành động này quá nhanh còn đi kèm với gương mặt đầy vẻ đề phòng, dẫn đến việc trong phòng ai nấy đều ngạc nhiên vô cùng.

Hai tiểu đồng tử thắc mắc, “Cây đinh nào trên giường đâm trúng ngươi hả?”

Đâu phải chỉ có cái giường, thiếu điều trên mặt đất mọc đầy đinh cắm thẳng vào lòng bàn chân hắn đấy chứ. Phương Trữ nhấc chân liên tục như thể không tìm được một chỗ nào để đặt chân xuống. Hắn kinh hồn bạt vía, thất thanh hô, “Ta?”

“Tại sao ta lại ở Tiên Đô?”

Dù sao hắn cũng là một tà ma, chỉ cần chạm trán một pho tượng thần dày linh khí một chút cũng phải ói cả buổi, nói gì đến việc ở Tiên Đô nơi có linh khí nồng nhất cơ chứ. Chắc phải mửa cả —

Hở?

Ý nghĩ này vừa lướt qua đầu, Phương Trữ đã đờ người.

Vì bấy giờ hắn mới ngỡ ra mình hoàn toàn không có phản ứng gì. Không chóng mặt choáng váng, không ói đến tối tăm mặt mũi. Vừa nãy mà không nhảy cẫng lên đột ngột thì thậm chí nhịp tim hắn còn chẳng biến động.

Tình huống này khiến hắn cau có cùng cực.

Còn chưa để hắn kịp ngẫm ra cơ sự, hai tiểu đồng tử kia đã rầm rì bày tỏ, “Ngươi cũng lạ ghê á, người thường mà biết mình có may mắn được lên Tiên Đô thì vui mừng không hết, vậy mà ngươi làm gì sợ hãi tới vậy?”

“Đúng vậy.”

“Nếu không nhờ gặp được Thiên Túc và đại nhân chúng ta thì giờ ngươi toang rồi đấy.”

“Chuẩn rồi.”

“Thiên Túc?” Phương Trữ nghe thêm một danh hào quen thuộc khác, bèn tiếp tục thắc mắc.

Hai tiểu đồng tử mồm mép tía lia kia cứ vừa nói vừa hùa không ngơi nghỉ, chẳng mấy lâu mà Phương Trữ đã nhớ ra ngọn nguồn…

Từ lúc bắt đầu vào Lạc Hoa Đài, hắn đã bị tách ra khỏi thành chủ và những người còn lại. Trong lúc đi tìm nhóm, hắn sơ ý nên bị kẻ khác tập kích. Mà kẻ tập kích hắn lại là một cao thủ hiếm gặp trên thế gian, chưa để cho hắn nhìn thấy là ai thì đã lột sống linh phách hắn ra khỏi cơ thể.

Người kia lấy cái xác rỗng của hắn đi mất, không biết tính dùng thân thể hắn để làm gì. Còn linh phách hắn bị tách lìa khỏi cơ thể rồi rơi vào trạng thái mù mờ mông lung.

Ban đầu, hắn vẫn còn nhớ mình đang tìm người.

Là thành chủ, Thiên Túc, Ninh Hoài Sam, hay Y Ngô Sinh đều được.

Sau đó, ý thức hắn bắt đầu nhạt nhoà.

Một linh phách tách rời thân thể lang thang trên thế gian càng lâu thì ý thức càng lu mờ. Từ đó việc “tìm người” đã dần trở thành hành động bản năng.

Hắn quên mất bản thân định làm gì mà chỉ biết cất bước về phương nam, hướng tới vị trí Tước Bất Lạc trong vô thức. Song vào thời điểm đó, Tước Bất Lạc chỉ là một vùng hẻo lánh, không có gốc đại thụ rợp trời và cũng không có toà phủ trạch nào.

Hắn đến đó nhưng không hề nhận ra.

Bởi vậy, hắn rảo bước một vòng trong mơ hồ rồi lại lang thang sang nơi khác.

Người phàm dùng linh phách để qua luân hồi sinh tử, và hắn đã đi đến một vài nơi trong vô thức. Những nơi này có lẽ là những nơi có liên quan đến kiếp này, hoặc thậm chí là kiếp trước hay kiếp trước trước nữa. Hắn đi một mạch từ nam ra bắc, phiêu dạt đến một ngôi làng trên núi ở vùng ngoại ô Miện Châu.

Không có nhiều hộ gia đình sinh sống trong ngôi làng này. Hắn lởn vởn quanh đó cả đêm, doạ rất nhiều dân làng, khiến họ tưởng rằng có tà ma đến gây sự.

Một tiểu đồng tử khoác cây phất trần, cất giọng nghiêm trang, “Nhờ có Thiên Túc đại nhân tình cờ đi ngang qua, nghe nói có tà ma gây hoạ trên núi nên mới đến xem thử. Sau đó đã truyền thư kêu đại nhân chúng ta đến cùng.”

Tiểu đồng tử còn lại lầm bầm, “Không biết sao mà còn đem lên tận Tiên Đô.”

“Chắc là thấy ngươi cô đơn quá.”

“Hay có khi đại nhân chê hai đứa chúng ta không khôn khéo nên muốn rước người khác về làm đồng tử cũng nên.”

“…”

Hai tiểu đồng tử càng nói càng hăng say, chóp chép mồm mép ra dáng tủi thân uất ức cực kỳ.

Linh Vương tức mình túm bọn chúng ném ra ngoài, hất cằm về phía cửa và ra lệnh, “Không có ai chê hai đứa không khôn khéo hết, ra ngoài trông cửa chút đi, ta có chuyện cần hỏi hắn.”

Hai tiểu đồng tử hô “Vâng” nhận lệnh rồi thất thểu từng bước lủi ra ngoài.

Đến khi chúng nó khuất dạng rồi, Linh Vương vừa đung đưa mặt nạ trong tay vừa ngắm nghía Phương Trữ như đang có điều suy xét.

Phương Trữ đành chào thua trước, hỏi, “Thành… Linh Vương đại nhân.”

Linh Vương: “Hửm?”

Phương Trữ ngỏ giọng chần chừ, “Theo ta biết, người thường không thể tuỳ tiện lên Tiên Đô.”

Linh Vương gật đầu. “Đúng vậy, và ngươi cũng không phải người thường, trên linh phách ngươi bám tà ma khí không hề nhẹ.”

Phương Trữ nói, “Vậy tại sao lúc thấy ta Thiên Túc không giáng hình ngay tại chỗ luôn mà còn dẫn ta về Tiên Đô làm gì?”

Linh Vương nghe vậy thì nhoẻn cười rồi mới trả lời, “Ngươi hiểu lầm Tiêu… à, hiểu lầm Thiên Túc rồi, y nào có phải người gặp ai cũng giáng hình ngay đâu.”

Nói đoạn, Linh Vương tiếp tục săm soi Phương Trữ, nói, “Khi y trông thấy ngươi ở ngôi làng trên núi, ngươi có còn nhớ mình đã nói với y một câu không?”

Người phàm dùng linh phách đi qua luân hồi sinh tử, linh phách tách lìa thân thể trong thời gian dài xem như bị mất đi gốc rễ, chỉ còn biết lang thang vô định. Thần thức cũng trở nên rối loạn, ký ức nhiều đời bị trộn lẫn vào nhau. Phương Trữ cố nhớ lại nhưng chỉ nhớ được cảnh đêm thôn làng với sương khói lãng đãng và đôi ba nấm mồ hoang.

Còn lại không nhớ ra một chút nào.

Hắn lắc đầu.

Linh Vương suy tư chốc lát rồi nói, “Y truyền thư cho ta nói rằng khi ngươi nhìn thấy y thì có đề cập đến ‘Nam Song Hạ’, còn nhắc là ‘đại nhân nhà ta đã xảy ra chuyện’.”

Phương Trữ sững sờ.

Nghe vậy, trong đầu hắn bắt đầu xuất hiện một vài hình ảnh lờ mờ…

Trong lúc lởn vởn quanh ngôi làng trên núi, hắn có đi ngang qua một cây cầu vòm. Để rồi khi trông thấy Thiên Túc vận trường bào đen thẫm, hắn chợt thấy lòng mình như thắt lại.

Dường như hắn đã phải chạy một quãng dài rất rất lâu trong cơn hoảng loạn, chạy qua con đường dài bằng ngọc thạch, băng hết cầu vòm này đến cầu vòm khác, gắng hết sức mình chỉ để tìm và báo một chuyện quan trọng với một người. Ấy thế mà có chạy cỡ nào cũng không đến nơi ấy, làm thế nào cũng không nhìn thấy được người kia.

Mãi đến thời điểm Thiên Túc xuất hiện, hắn mới choàng mở to mắt trong cơn mơ hồ, khẽ giọng lẩm bẩm, “Thiên Túc đại nhân, cuối cùng cũng tìm được người rồi, sao Nam Song Hạ lại xa quá vậy, ta phải chạy mãi thật lâu.”

Nét mặt Thiên Túc tỏ vẻ ngạc nhiên, sau một chốc nhíu mày lại. “Sao ngươi biết…”

“Thôi,” y tự ngắt lời rồi hỏi, “tìm ta có việc gì?”

Phương Trữ giờ chỉ còn linh phách nói, “Đại nhân nhà ta gặp chuyện rồi.”

Thiên Túc càng nhíu mày chặt hơn. “Đại nhân nhà ngươi… là ai?”

Phương Trữ không trả lời được nữa.

Khoảnh khắc đó, hắn chỉ còn một cảm giác… tưởng chừng biết bao sức lực gắng gồng mấy trăm năm qua bất chợt cạn kiệt, linh phách hắn như rung lên rồi tiêu tán trong gió. Nước mắt lưng tròng, hắn chìm vào hôn mê. Khi tỉnh lại chính là lúc này, hắn đang ở trên Tiên Đô.

Linh Vương liếc mắt ra ngoài khung cửa sổ rộng thoáng, lẩm bẩm như đang tự nhủ với bản thân, “Nhân lúc y xuống nhân gian có việc, ta hỏi ngươi —”

Y dời mắt sang, nhìn Phương Trữ đăm đăm và nói, “Đại nhân nhà ta mà ngươi nhắc đến khi đó, ý nói… ta?”

Phương Trữ ngỡ ngàng, trong ánh mắt hiện vẻ mông lung.

Thật ra hắn cũng không biết “đại nhân nhà ta” mà mình nhắc đến là ai. Có lẽ đấy là chấp niệm tàn lưu từ kiếp trước, hay thậm chí từ kiếp trước trước nữa. Bây giờ làm sao hắn nhớ rõ được.

“Ta không biết nữa,” Phương Trữ ngẫm lại. “Vì sao đại nhân lại nghĩ vậy? Vì ta gọi ngươi là ‘Linh Vương’ ban nãy hay sao?”

Hắn vốn tính nói rõ sự thật là ta có biết ngươi sau này chứ không liên quan gì đến kiếp trước hết.

Thế mà hắn còn chưa kịp há miệng thì Linh Vương đã nói, “Trên linh phách ngươi có dấu ấn.”

Phương Trữ kinh ngạc. “Dấu ấn? Dấu ấn thế nào?”

Hắn cúi đầu săm soi mình một phen nhưng không thấy có chỗ nào kỳ lạ, mà hắn cũng đâu thể nhìn thấu linh phách mình bên trong lớp thân thể ráp bằng giấy này được.

Linh Vương nói, “Không cần phải tìm, ngươi không thấy được dấu ấn đó đâu, ngoài ta ra không một ai có thể nhìn thấy cả.”

Phương Trữ thầm thắc mắc trong lòng.

Linh Vương nói, “Ngươi có thấy hai tiểu đồng tử ban nãy không. Ta đặt dấu ấn lên linh phách hai đứa chúng nó. Nếu sau này chúng ở Tiên Đô chán chê rồi muốn quay về nhân gian để đi vào luân hồi thì ta còn có dấu hiệu để nhận ra sau khi chúng chuyển thế. Ngoài ra dấu ấn này không có tác dụng gì khác.”

Y im lặng chốc lát rồi nói tiếp, “Dấu ấn trên linh phách ngươi giống hệt tiểu đồng tử của ta.”

Phương Trữ bần thần hồi lâu, xong đột ngột ngẩng phắt đầu lên.

Tích tắc đó, rất nhiều những cảnh tượng tràn về ào ạt chẳng khác nào từng cơn núi thét biển gầm.

Bất giác, hắn nhớ về quãng thời gian rất lâu về trước. Khi ấy, hắn lưu lạc miền hoang dã và bị tà ma âm v@t xâu xé thịt xương. Cả người hắn bê bết máu chẳng khác gì tấm áo sờn rách đẫm máu bị vất bừa giữa những chạc cây. Trong lúc mơ màng giữa cơn đau giằng xé đến chết ngất, hắn thấy một chiếc xe ngựa đen tuyền lặng lẽ ngừng bước bên lề đường.

Hắn loáng thoáng trông thấy một dáng người thon cao đang khom lưng cúi người, đưa hắn vào trong xe ngựa.

Từ đấy, hắn đã có một chốn nương thân mang tên “Tước Bất Lạc”.

Tương tự rất nhiều cư dân của Chiếu Dạ thành, hắn luôn cảm thấy sợ thành chủ. Vậy nhưng hắn vẫn nhớ mang máng đôi mắt người nọ lúc cúi người khom lưng và đặt tay lên trán hắn kiểm tra linh. Trong đôi mắt buông hờ ấy đượm nét ôn hoà và lòng bi mẫn.

Hắn từng tưởng rằng đó chỉ là ảo giác. Có những khi hắn đề cập việc này với thằng ngu Ninh Hoài Sam thì sau một hồi lời qua tiếng lại, hắn lại cảm thấy cực kỳ thắc mắc. Có biết bao nhiêu tà ma ở Chiếu Dạ thành này, tại sao hai người họ lại trở thành khách nhân nán lại lâu nhất bên trong Tước Bất Lạc.

Cho đến hôm nay hữu duyên, tình cờ gặp được Linh Vương trong quá khứ nhiều trăm năm về trước. Bấy giờ hắn mới vỡ lẽ, ánh mắt ôn hoà và bi mẫn kia thực sự tồn tại chứ không phải chỉ là ảo giác.

***

Phương Trữ sững sốt hồi lâu rồi lại nghe Linh Vương nói, “Ta chỉ đặt dấu ấn này lên người hai nhóc tì kia, mà ngươi thấy rồi đấy, hai nhóc đồng tử vẫn còn ở đây, vậy thì… ngươi từ đâu đến?”

Phương Trữ bất chợt muốn trả lời. Hắn muốn cho người này biết hắn đến từ mấy trăm năm sau. Thời điểm đó, thế gian đã không còn Linh Vương nhưng lại có thêm một tên tà ma mang tên Ô Hành Tuyết. Hắn muốn nhắc nhở người trước mặt, mong rằng nhờ đó giúp người tránh khỏi một vài tai hoạ.

Song đến lúc lời ra tới cửa miệng thì Phương Trữ lại do dự.

Hắn không chắc việc nói ra như vậy sẽ dẫn đến hệ quả tốt hay xấu. Chưa kể, hắn cũng không đảm bảo được người này chính là Linh Vương của năm xưa. Hắn cần có bằng chứng nào đó để xác nhận mới có thể an tâm được.

Ví như nhìn thấy Thiên Túc đương thời?

Nếu chỉ có một người thì còn có khả năng là giả mạo, nhưng giả cả hai người thì có hơi khó.

Phương Trữ lần lữ mãi không trả lời, song Linh Vương cũng không lấy làm bực mình. Y chỉ thầm cười và nói, “Lúc nhỏ ngốc nghếch vậy mà giờ cũng biết đề phòng ghê nhỉ.”

Tiểu đồng tử đứng bên ngoài chợt hô lên gọi, “Thưa đại nhân, Thiên Túc gửi thư về ạ.”

Linh Vương cầm mặt nạ, vén rèm bước ra ngoài.

Phương Trữ thả lỏng vai, bỗng dưng nghe giọng ai đó gọi tên hắn trong mơ hồ, “Phương Trữ.”

Hắn sượng cả người, ngoảnh nhìn một lượt căn phòng rồi lại nghe giọng người kia nói tiếp, “Không cần tìm xung quanh.”

Câu này nhiều từ hơn một chút, giọng cũng rõ ràng hơn một chút.

Phương Trữ thắc mắc không thôi, thì thầm ra tiếng, “Thiên Túc?”

“Ừm,” giọng kia đáp lại.

Phương Trữ lặng thinh một chốc mới nhỏ giọng hỏi, “Ngươi là Thiên Túc nào?”

Giọng nói: “…”

Chưa chờ người kia trả lời, Phương Trữ đã phát giác ra. Nếu đây là Thiên Túc thượng tiên của mấy trăm năm trước thì đâu có gọi hắn là “Phương Trữ”.

<i>Mình hỏi cái câu ngu si gì vậy, nhưng không sao, chắc chắn Thiên Túc cũng không trả lời mình đâu.</i>

Phương Trữ tự rủa thầm trong lòng.

Thế rồi hắn lại nghe giọng kia vang lên, “Không.”

Phương Trữ hoảng hồn.

Mãi tới lúc này, hắn mới vỡ lẽ là Thiên Túc liên lạc với mình bằng phương thức truyền âm mà người khác không nhận ra.

Phương Trữ tự hỏi thầm trong lòng, “Thiên Túc đang ở đâu vậy? Thành chủ của bọn ta thì sao? Có đang ở cùng ngươi không?”

Giọng Tiêu Phục Huyên vang lên, “Có.”

Y dừng đoạn, lại trầm giọng, “Hai ta đang ở núi Thái Nhân.”

Phương Trữ: “Núi Thái Nhân?”

Nếu Lạc Hoa Đài là cổng vào Động Ma Chiếu Dạ thành, thì ba mươi ba tầng tháp cao nối trời trên núi Thái Nhân chính là cổng vào Tiên Đô.

Trong dòng thời gian hiện thế, Tiên Đô sụp đổ đã kéo theo sự sụp đổ của núi Thái Nhân và căn tháp kia. Hiện tại bọn họ đang ở trong dòng thời gian mấy trăm năm trước. Khi này Tiên Đô vẫn còn nên hiển nhiên căn tháp cao kia cũng vẫn còn tồn tại.

Phương Trữ hơi ngỡ ngàng rồi mới vỡ lẽ. “Ta đang ở trên Tiên Đô! Còn ngươi và thành chủ đang ở ngay bên dưới Tiên Đô?”

Tiêu Phục Huyên: “Ừm.”

Phương Trữ phóng tầm mắt ra ngoài gian nhà. Hắn cất tiếng hỏi mà nhịp tim đánh dồn thình thịch mỗi lúc một nhanh, “Hai người tính lên đây à?”

***

Ở gần cực bắc, bên cạnh “Hoàng đô” cũ có một ngọn núi cao quanh năm phủ tuyết, nhìn từ xa chỉ thấy thuần một màu trắng xoá. Trên đỉnh núi có một ngôi tháp cao trắng như tuyết. Ngôi tháp có tổng cộng ba mươi ba tầng, tầng trên cùng luôn chìm trong mây mù bảng lảng.

Nếu bước l3n đỉnh tháp và tiến vào đám mây sẽ thấy bên trên nó có một hang trời. Và khi vượt qua tầng mây mù ấy, ta bước tới những nấc thang bạch ngọc cao cao tiến vào Tiên Đô.

Hiện tại, bên dưới ngôi tháp chính là Tiêu Phục Huyên và Ô Hành Tuyết đến dòng rối loạn để tìm Phương Trữ.

Nhưng họ không lên tháp ngay lập tức.

Vì họ thấy sự tồn tại của Tiên Đô này thật sự quá dị thường.

Ô Hành Tuyết đã cắt đứt vô vàn dòng rối loạn, khởi điểm của những dòng rối loạn đó đều xuất bắt nguồn từ nhân gian. Bởi chỉ có nhân gian mới phải khốn đốn vì sinh tử, mới hiện hữu người với lòng tham không đáy, h@m muốn được bắt đầu lại từ đầu. Từ đó đã sinh sôi rất nhiều dòng rối loạn.

Bởi thế, bên trong những dòng rối loạn ấy đều tồn tại một nhân gian cụ thể, nhưng Tiên Đô chỉ là một bóng mờ như hoa chiếu mặt gương, trăng soi đáy nước. Tiên Đô nơi ấy là ảo ảnh được phản chiếu lại từ hiện thế. Phía trên màn sương mù lởn vởn trên đỉnh núi Thái Nhân không nên tồn tại một Thiên đạo Linh đài tương tự hiện thế, và cũng không nên xuất hiện một Linh Vương thực sự với khả năng cắt đứt dòng rối loạn.

Nhưng dòng rối loạn này cá biệt.

Dù nó được nhà họ Phong tạo ra nhưng có lẽ có liên quan đến Hoa Tín nên điểm khởi đầu của dòng rối loạn này không chỉ có nhân gian mà còn kéo cả Tiên Đô vào trong.

Tiêu Phục Huyên đã thử đủ mọi cách mới tìm được phương thức truyền âm hữu hiệu. Vừa xác định được vị trí Phương Trữ, Ô Hành Tuyết đã thì thầm, “Thảo nào…”

Tiêu Phục Huyên: “Sao?”

Ô Hành Tuyết ngẩng đầu nhìn lên trời cao và nói, “Thảo nào dòng rối loạn này lại trở thành một ngoại lệ cá biệt nhất, hoá ra ở dòng rối loạn này còn có cả Tiên Đô.”

Tiêu Phục Huyên cau mày.

Ô Hành Tuyết chọt nhẹ y và nói, “Ngươi hỏi Phương Trữ xem hắn đang ở đâu trên Tiên Đô?”

Thực chất không cần hỏi cũng có thể đoán được. Tự bản thân Phương Trữ làm sao mò lên được tới Tiên Đô, nên chắc chắn là có ai đó đưa lên. Mà hiện tại hắn chỉ là một phần linh phách, vậy thì người đưa hắn lên Tiên Đô còn có thể là ai?

Tiêu Phục Huyên không cần hỏi đã thốt ra, “Gần như chắc chắn là ở Toạ Xuân Phong.”

Song y vẫn truyền âm lên, không ngoài dự đoán, Phương Trữ nói, “Ta ở chỗ thành chủ… à không phải, ở chỗ thành chủ trước kia.”

Nét mặt Ô Hành Tuyết đăm chiêu hẳn đi, chàng lẩm bẩm, “Thật sự có một Linh Vương.”

Chàng suy tư một chút rồi lại chọt Tiêu Phục Huyên. “Ngươi lại hỏi hắn xem Linh Vương kia trông thế nào, mang mặt nạ hay tháo mặt nạ, có để lộ mặt thật không?”

Chàng hỏi nhiều đến vậy cốt chỉ nhằm xác nhận xem Linh Vương ở trên Tiên Đô kia rốt cuộc “thật” đến mức độ nào.

Dĩ nhiên Tiêu Phục Huyên hiểu ý chàng, nên y chỉ nói đúng một câu khi truyền âm cho Phương Trữ, “Linh Vương mà ngươi nhìn thấy khác y như thế nào?”

Phương Trữ nghe vậy còn chưa kịp phản ứng, hỏi ngay lại, “Y? Ai?”

Hồi lâu sau, hắn mới hiểu ra rồi “Ồ” lên và nói, “Ý Thiên Túc là… Linh Vương này khác thành chủ nhiều hay không chứ gì?”

Phương Trữ nhỏ giọng lầm bầm xong mới chợt nhận ra, khi nói chuyện với người khác, Tiêu Phục Huyên rất hiếm khi gọi “Ô Hành Tuyết”, và tất nhiên không bao giờ dùng “thành chủ nhà ngươi” các kiểu này nọ, mà luôn xưng là “y”.

Mỗi lần gọi “Ô Hành Tuyết” đều chỉ dành cho chính bản nhân.

“Để xem nào,” Phương Trữ suy tư một hồi rồi nói, “Ta nhớ có nhìn thấy Linh Vương sơ qua một lần trong lúc thẩm vấn Vân Hãi, Linh Vương này cũng giống, hình như… không thấy khác gì cả.”

“Người cũng đeo mặt nạ, cũng cầm kiếm. Khi cởi mặt nạ ra để cầm trên tay, trông y giống hệt thành chủ không khác chút nào. Ngay cả giọng điệu nói chuyện cũng giống. À… phải, có một chỗ!”

Sau khi miêu tả một hồi, hắn mới tìm ra được điểm khác biệt.

Tiêu Phục Huyên nghiêm nghị hỏi, “Cái gì?”

Phương Trữ nói, “Bên thắt lưng người này không có chuông.”

“Không có chuông mộng?” Ô Hành Tuyết hơi ngạc nhiên, nói, “Chưa bao giờ có, hay là sao?”

Phương Trữ không trả lời, có lẽ đang nghĩ cách dò hỏi xem.

Một lúc lâu sau, Phương Trữ mới truyền âm trở lại, hắn nói, “Linh Vương đã ra ngoài rồi, ta vừa nghĩ cách dụ hai tiểu đồng tử kia khai ra.”

Tiêu Phục Huyên: “Thế nào rồi?”

Phương Trữ nói, “Linh Vương này có chuông mộng nhưng đã đánh mất.”

“Đánh mất?”

“Đúng vậy. Hai tiểu đồng tử kia nói có lần nọ trong lúc xuống nhân gian, Linh Vương bị lạc vào một nơi nào đó rồi sau khi quay về thì chuông mộng đã biến mất, không còn bên thắt lưng nữa. Vì chuyện đó mà Linh Vương mất vui trong suốt một thời gian dài. Theo lý thuyết, chuông mộng bị thất lạc dưới nhân gian ắt phải dễ tìm được thôi, dù gì nó cũng là tiên bảo mà, một khi rơi vào tay người nào cũng sẽ dấy lên tranh đoạt hoặc dẫn đến lòng ngưỡng mộ. Chắc chắn tin tức phải lan truyền khắp mọi nơi, giống như tin đồn “tiên bảo” nhà họ Hoa khi trước vậy đó. Nói chung, cho dù đánh rơi ở đâu dưới nhân gian cũng đều sẽ để lại vết tích. Song Linh Vương lại bảo không cần tìm, vì có tìm cũng không tìm ra.”

“Không tìm ra?”

“Ta cũng hỏi sao lại chắc chắn sẽ không tìm ra. Nghe đâu Linh Vương nói nơi đó không phải nhân gian bình thường, nếu đã đánh mất ở đó thì rất khó lòng tìm lại được.”

Không rõ Tiêu Phục Huyên nhớ ra chuyện gì mà nghiêm giọng lặp lại, “Không phải nhân gian bình thường…”

Nghe vậy, Ô Hành Tuyết cũng ngẩn người chốc lát, rồi đột ngột cúi đầu nhìn chuông mộng treo bên thắt lưng mình.

Những lời miêu tả này khiến chàng chợt nảy ra một ý nghĩ…

Trước đây những tin đồn về nhà họ Hoa kể rằng: Chuông mộng của nhà họ Hoa là “tiên bảo ngẫu nhiên có được nhờ cơ duyên”, và được đặt dưới sự trông nom của gia chủ Hoa Chiếu Đình. Sau đó, ma đầu Ô Hành Tuyết đến nhà họ Hoa, rồi chuông mộng biến mất. Nhưng sau đó không lâu, chuông mộng lại quay trở về nhà họ Hoa. Tiếp tới nữa, Ô Hành Tuyết giết sạch Tiên Đô.

Trước đây Ô Hành Tuyết từng suy ngẫm trong suốt một thời gian dài để đoán xem vì sao mình lấy chuông mộng đi rồi mà còn đem trả trở về. Và nếu chuông mộng đã quay lại nhà họ Hoa rồi thì chàng đi vào giấc chiêm bao ở Thương Lang Bắc Vực bằng cách nào?

Mốc thời gian nghĩ sao cũng không khớp, làm thế nào cũng không xuôi.

Nhưng nếu… có nhiều hơn một chiếc chuông mộng ở hiện thế thì sao?

Nếu Linh Vương này không vào nhầm một dòng rối loạn nào đó và chuông mộng không bị đánh rơi ở dòng rối loạn, mà đang ở hiện thế thì sao?

Nếu trên thế gian có hai chiếc chuông mộng thì những khúc mắc về mốc thời gian hoàn toàn có thể giải thích được.

Mà quan trọng hơn cả, việc này chứng tỏ Linh Vương ở dòng rối loạn này từng tới hiện thế. Mà nếu y đã từng tới hiện thế, vậy hiện thế trong mắt y là gì? Một “dòng rối loạn” hay sao?
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 99: Đan xen


Ô Hành Tuyết cảm thấy mình đã bắt được một điểm gì đó.

Chàng nhìn chuông mộng đeo bên thắt lưng, suy ngẫm chốc lát rồi nói với Tiêu Phục Huyên, “Có lẽ việc ta lên Tiên Đô hai lăm năm trước có liên quan đến vị Linh Vương ở dòng rối loạn này.”

Chàng tiếp tục với giọng từ tốn, “Theo ta thấy, giả mà năm đó ta chưa đánh mất chuông mộng mà lại nghe tin nhà họ Hoa nhặt được một chiếc tiên bảo chuông mộng thì chắn chắn ta sẽ đến nhà họ Hoa xem thử xem sao.”

“Nếu chuông mộng nhà họ Hoa tình cờ thu thập được giống hệt chuông mộng của ta thì…”

Tiêu Phục Huyên: “Ngươi sẽ muốn biết nó bắt nguồn từ đâu.”

Ô Hành Tuyết gật đầu. “Chắc chắn rất muốn biết.”

Thật ra, vào năm đó cũng có rất nhiều người thắc mắc, rõ ràng thành chủ Chiếu Dạ thành hoàn toàn có khả năng cuỗm đi tiên bảo nhà họ Hoa mà thần không biết quỷ không hay. Vậy mà hắn chẳng hề giấu giếm, từ việc đi lấy đến lúc trả lại đều dấy lên tin đồn ầm ĩ đến mức gần như tất cả mọi người đều biết.

Giờ ngẫm lại, có lẽ đều cố ý hết cả…

Chàng làm vậy để tìm ra manh mối hòng xác thực một vài suy đoán, ví như có Linh Vương nào khác từng tới nơi này hay không.

Và nếu suy đoán đó được xác thực…

Thì chắc chắn dẫn đến một cuộc đại loạn.

Nếu vậy, việc Tiên Đô bị huỷ diệt tuyệt đối có liên quan đến vấn đề này.

Ô Hành Tuyết nghĩ vậy bèn chọt Tiêu Phục Huyên, ý bảo y truyền âm cho Phương Trữ.

Tiêu Phục Huyên nhìn chàng rồi mới nói, “Y có nhắn nhủ gì trước khi lên Tiên Đô hai lăm năm trước không?”

Vừa dứt lời, tay Tiêu Phục Huyên bị nắm lấy.

Y lia mắt sang thì thấy ngón tay của ma đầu đang vừa xoa vừa ấn trên vị trí hổ khẩu mình, dấu ấn ước hẹn khi trước bắt đầu thấp thoáng ẩn hiện bên dưới nơi bị sờ vào.

Tiêu Phục Huyên khẽ nhướn mi, nói, “Làm gì vậy?”

Ma đầu đáp, “À, không có gì, ta chỉ nhắc nhẹ một chút là chúng ta đã hứa cho dù có hỏi ra được chuyện gì đi chăng nữa thì còn dấu ấn ở đây, ngươi không được nuốt lời đâu đấy.”

Tiêu Phục Huyên để mặc chàng nhéo mình, nói, “Chột dạ rồi?”

Ma đầu cười gượng, tự nhủ trong lòng <i>ai mà quỡn vậy, chẳng phải cũng vì mãi chưa nhớ ra và còn có tinh thần tự giác đấy ư</i>.

Có điều, trước đây chàng cảm tưởng mình sẽ nhắn nhủ chút gì đó cho Ninh Hoài Sam và Phương Trữ, còn hiện tại chàng không nghĩ thế nữa. Nếu vấn đề này có liên quan đến “dòng rối loạn” hoặc “Linh Vương” thì e là chàng không thể tiết lộ bất kỳ điều gì. Nói cho cùng, chuyện dòng rối loạn và Linh Vương bị dây dưa đến giờ đều có dính líu đến Thiên đạo Linh đài.

Quả nhiên, Phương Trữ trả lời rằng, “Lúc đó thành chủ không nhắn lại gì cả.”

Ô Hành Tuyết đưa mắt nhìn người bên cạnh. Chàng thấy Tiêu Phục Huyên không hề lộ vẻ ngạc nhiên một chút nào mà chỉ cất giọng trầm trầm, “… Biết ngay.”

Phương Trữ tiếp tục truyền âm tới, “Thật ra trước khi rời khỏi Tước Bất Lạc, thành chủ có gọi ta đến chắc muốn nhắn nhủ gì đó. Ta tưởng rằng thành chủ muốn sai ta đi làm việc, vậy mà thành chủ chỉ để lại đúng hai câu.”

Phương Trữ nhớ lại. “Một là dặn ta và Ninh Hoài Sam mấy ngày đó đừng ở trong Chiếu Dạ thành.”

Cả hắn lẫn Ninh Hoài Sam đều rất nghe lời, màn đêm vừa xuống là lập tức rời khỏi Chiếu Dạ thành. Có điều bọn họ không đến thành thị nhân gian mà lại đánh liều đi đến núi Thái Nhân. Hai người không lên Tiên Đô được nên chỉ biết lo lắng luẩn quẩn bên dưới chân núi.

Sau khi Tiên Đô sụp đổ, luồng tiên khí dày đặc nhất thế gian tuôn tràn từ chín tầng mây, đổ thẳng xuống Động Ma Chiếu Dạ thành. Biết bao nhiêu tà ma ở Chiếu Dạ thành suýt nữa đã diệt vong cùng Tiên Đô. Những kẻ không chết thì cũng bị hao tổn nguyên khí nặng nề, phải mất rất nhiều thời gian mới có thể từ từ hồi phục lại.

Nhưng hắn và Ninh Hoài Sam đã tránh khỏi kiếp nạn này.

Phương Trữ nói tiếp, “Hai là… câu thứ hai khá kỳ lạ, trước đây ta nghĩ mãi vẫn không hiểu.”

Tiêu Phục Huyên hỏi, “Y nói gì?”

Phương Trữ đáp, “Thành chủ bảo rằng sau này nếu có nhìn thấy người cũng khoan vội bước lại gần, và cũng khoan vội xác định đó chính là người mà nên cẩn trọng một chút. Còn nhấn mạnh ta cần phải nhắc nhở Ninh Hoài Sam.”

Hắn lúng túng nói tiếp, “Trước đây ta tưởng thành chủ dặn dò phải đề phòng có kẻ dịch dung giả dạng.”

Hắn ghi nhớ những lời này rất lâu, lâu đến tận hai lăm năm. Khi đến Thương Lang Bắc Vực tìm Ô Hành Tuyết, hắn vẫn nhớ rõ câu nói này.

Bởi vậy, hắn nhìn sao cũng thấy Ô Hành Tuyết bị mất trí nhớ cực kỳ bất thường, bèn nghiêm túc nhắc nhở Ninh Hoài Sam “Có thể ai đó cải trang thành thành chủ.”

Khi mới bước vào thung lũng Đại Bi, hắn và Ninh Hoài Sam còn lập mưu để răn dạy cho Ô Hành Tuyết “giả dạng” một bài học.

Mà bây giờ quả thực không dám ngẫm lại những chuyện lúc trước nổi nữa.

Phương Trữ nói, “Bây giờ ta gặp được Linh Vương trên Tiên Đô rồi mới hiểu được ý nghĩa thực sự của câu nói kia. Ngặt nỗi… Linh Vương này nhìn qua không giống một người nguy hiểm, tại sao lúc trước thành chủ phải để lại lời nhắn như vậy? Có phải để chúng ta cảnh giác hơn không?”

Hắn tự biết đây là một câu hỏi rất ngu, nếu là trước đây, chắc chắn hắn sẽ không hỏi thêm gì. Thế nhưng từ lúc biết trên người mình có dấu ấn của tiểu đồng tử thì hắn cũng gan dạ hẳn lên.

Ô Hành Tuyết nghe xong thì nhủ thầm <i>tạo phản rồi</i>, đồng thời chọt Tiêu Phục Huyên bảo trả lời cho hắn, “Nếu để y biết ngươi không đến từ thế gian này thì căng đấy.”

Phương Trữ sửng sốt khi nghe thấy câu này. “Tiêu rồi.”

Ô Hành Tuyết: “?”

Phương Trữ: “Chắc là đã biết rồi…”

Hắn kể lại những việc Linh Vương hỏi mình lúc nãy cho Tiêu Phục Huyên và Ô Hành Tuyết, gồm cả dấu ấn trên người hắn và cả câu “hai tiểu đồng tử vẫn đang ở bên cạnh ta, vậy ngươi từ đâu ra.”

Nghe vậy, Ô Hành Tuyết cau mày.

Chàng suy ngẫm đôi chút, nếu mình khi vẫn còn là Linh Vương năm xưa gặp phải một người như Phương Trữ thì chắc chắn sẽ cho rằng đây là một người từ dòng rối loạn nào đó đi lạc vào hiện thế.

Chàng sẽ nảy lòng xúc động và cảm thấy thân thiết với xuất thân của Phương Trữ, nhưng sẽ không vì vậy mà mềm lòng bỏ qua. Chỉ e cho dù có xúc động đến đâu đi nữa thì chàng cũng sẽ tìm bằng được dòng rối loạn kia và chặt đứt nó một cách triệt để.

Chàng sẽ hành động như vậy, thế thì không chừng Linh Vương Tiên Đô này cũng sẽ như vậy.

Họ hỏi Phương Trữ, “Ngươi vừa nói Linh Vương đi ra ngoài là đi đâu?”

Ô Hành Tuyết thầm mong y đi đến Nam Song Hạ hoặc nơi nào đó trên Tiên Đô. Song Phương Trữ cho hay, “Y cầm kiếm và mặt nạ rời đi, hai tiểu đồng tử nói là xuống nhân gian.”

Ô Hành Tuyết tái mặt.

Đã không dắt đồng tử theo mà còn cầm mặt nạ mang kiếm, vậy cực kỳ không ổn.

Nếu hai Linh Vương chạm trán thẳng mặt, mà người nào cũng cho rằng người kia đến từ dòng hỗn loạn, còn bản thân mình mới thực sự ở hiện thế thì kết quả thực khó lòng tưởng tượng.

Trừ khi…

Tiêu Phục Huyên nói dứt khoát, “Đến nhà họ Phong.”

Ô Hành Tuyết giật mình ngỡ ra.

Hai Linh Vương đột ngột chạm trán tất dẫn đến kết quả bi thảm, thế nhưng nếu một trong hai người nhận ra bản thân đến từ dòng rối loạn thì mọi chuyện sẽ khác.

Dòng rối loạn này khởi nguồn từ nhà họ Phong, người đã vạch ra dòng rối loạn này là gia chủ nhà họ Phong. Vậy ở đó sẽ có bằng chứng rõ rệt nhất.

***

Ngay khi Tiêu Phục Huyên và Ô Hành Tuyết đi về phía nhà họ Phong và dẫn dắt Linh Vương cũng sang đó, thì đã có người xuất hiện ở nhà họ Phong tại Mộng Đô trước —

Các đệ tử nhà họ Phong đang mặc tang phục vải trắng, đến cả chiếc đèn lồ ng trong tay họ còn có chữ “Điện”. Khi nghe thấy tiếng va chạm lên lớp cấm chế ở ngoài cửa, bọn họ còn tưởng có khách ghé phúng điếu.

Thế mà khi mở cửa ra xem ai đến, tất cả họ đồng loạt sững sờ.

Nhóm đệ tử trẻ đứng ngây người một hồi lâu mới có một vài người thốt lên ngỡ ngàng, “Thiên… Thiên Túc?!”

Người đứng bên ngoài cửa có gương mặt như ngọc tạc, cực kỳ điển trai và lạnh lùng. Một bên tai y có đính ba cây đinh tang màu đen toả sát ý rét căm căm.

Đây không ai khác ngoài Thiên Túc thượng tiên ở dòng thời gian này.

Các đệ tử nhà họ Phong vừa nhìn thấy gương mặt ấy đã hốt hoảng sợ hãi. Dù gì đây cũng mới là lần thứ hai họ trông thấy Thiên Túc thượng tiên Tiêu Phục Huyên.

Mà lần đầu gặp gỡ, Tiêu Phục Huyên đã trói gô toàn bộ đệ tử nhà họ vào một quán trọ ở phố núi Lạc Hoa, ép Phong Huy Minh và Phong Thù Lan phải cùng đi đến Lạc Hoa Đài. Rồi tiếp đó Tiêu Phục Huyên theo nhóm Phong Huy Minh quay về nhà họ Phong, tiếp nữa… khu cấm địa với toà tháp cao nhà họ Phong sụp đổ, cả Phong Huy Minh lẫn gia chủ đều mất mạng.

Cũng vì lẽ đó nên họ mới phải mặc hai lớp đồ tang.

Tất nhiên nhóm đệ tử trẻ này không hề hay biết hai Thiên Túc thượng tiên đến nhà họ không phải là một người. Bọn họ vừa thấy người tới đã sợ hãi thất thần mà nghĩ: Sao ngài lại tới đây nữa vậy!

Tuy vậy, họ cũng chẳng dám nói thẳng ra suy nghĩ của mình mà chỉ có thể thi lễ với nét mặt tái mét và hỏi, “Không biết thượng tiên ghé qua có việc chi?”

Người ngoài cửa đáp, “Trừ hoạ.”

Đệ tử nhà họ Phong ngạc nhiên. “Ơ? Trừ… trừ hoạ?”

Song bọn họ chưa kịp nói thêm gì thì một cơn gió quét mạnh qua — Thiên Túc thượng tiên vừa đứng bên ngoài đã lướt qua người họ, xông thẳng vào bên trong. Đây rõ ràng không phải việc họ có thể chặn lại để hỏi.

Mà thực chất, cho dù có hỏi thì Thiên Túc cũng không thể tiếp lời. Vì lần này y đến nhà họ Phong là do nhận được thiên chiếu.

Sau khi sắp xếp cho linh phách gặp tại ngôi làng trên núi đến Toạ Xuân Phong của Linh Vương xong xuôi, y nhận được thiên chiếu bảo y đến nhà họ Phong để tẩy rửa hậu hoạ tà ma gây ra.

Trong quá khứ, phần lớn những thiên chiếu y nhận được chia làm hai loại. Một loại là có tà ma nào đó đang gây rối, càn quấy hung hãn không e dè đến mức độ tiên môn ở nhân gian không phải là đối thủ. Khi đó, y phải hành quyết và giáng hình, triệt để tẩy rửa đám tà ma đó.

Còn một loại khác là những tà ma đã chết nhưng để lại quá nhiều hậu hoạn, cần y đến để thu dọn tàn cuộc.

Chuyến đi đến nhà họ Phong lần này thuộc trường hợp sau.

Thiên Túc thượng tiên đi xuyên qua nhóm đệ tử, bước vào bên trong ngôi tháp cao nhà họ Phong và chứng kiến nền đất đầy ngổn ngang, trong đống ngổn ngang còn phảng phất tà khí âm u. Y men theo làn tà khí ấy để đến linh đường nhà họ Phong và thấy bốn cỗ quan tài.

Hai cỗ trong chúng là quan tài dài, nằm một bên là Phong Huy Minh, bên còn lại là gia chủ nhà họ Phong. Ngoài ra còn có hai cỗ quan tài ngắn hơn, từ linh vị cho thấy đây là cặp nam nữ đã yểu mệnh của gia chủ nhà họ Phong.

Gia chủ của một đại gia tộc tiên môn với ác niệm sâu đậm đến độ trở thành người chẳng khác gì tà ma, thật sự đã để lại vô vàn hậu hoạn.

Âm khí vờn quanh bốn cỗ quan tài và đống phế tích ngổn ngang của toà tháp cao đã phủ trùm bầu không khí ô uế lên toàn bộ nhà họ Phong.

Thiên Túc thượng tiên đứng im, mắt nhìn bao quát một lượt.

Y giở thiên chiếu lướt nhìn, đoạn truyền một phong thư cho Linh Vương trên Tiên Đô, nhắn rằng mình sẽ mất thêm thời gian ở nhà họ Phong. Xong xuôi, y mới tuốt kiếm khỏi vỏ.

***

Thật ra, sau khi nhận được thư từ Thiên Túc, Linh Vương cũng không điều tra “dòng rối loạn” kia ngay lập tức mà đi tới nhà họ Phong trước.

Đồng thời, Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên cũng đang trên đường đến nhà họ Phong.

Đáng lẽ những chuyện xảy ra ở nhà họ Phong chính là bằng chứng rõ ràng nhất cho sự tồn tại của dòng rối loạn, thế mà hết thảy lại xê dịch suýt soát ngay ở thiên chiếu mà Thiên Túc nhận được…

Khi chạy đến gian phủ trạch rộng lớn nhà họ Phong, Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên mới phát hiện tất cả những minh chứng cho sự khởi nguồn của dòng rối loạn này, từ tàn tích toà tháp cao cho tới gia chủ nhà họ Phong lẫn Phong Huy Minh đều đã bị gột rửa sạch sẽ dưới mệnh lệnh từ thiên chiếu.
 
Back
Top Bottom