Cập nhật mới

Tiên Hiệp Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên

Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 60: Hồn vỡ


Đa phần ai trong tiên môn cũng từng nghe kể rằng, mỗi khi Thiên Túc Tiêu Miễn giáng hình xuống tà ma đều dẫn theo một đợt thẩm vấn.

Trong lúc chứng kiến linh phách bị bao trùm bên dưới vầng sáng vàng của thanh kiếm mang chữ “Miễn”, gia chủ nhà họ Phong nghe giọng trầm lạnh của Tiêu Phục Huyên vang rền trong não chẳng khác nào gió cuộn đất trời, “Tại sao đến nước này.”

Gia chủ nhà họ Phong chỉ còn sót lại chút linh thức cuối cùng khi nghe thấy năm chữ trong huyền thoại đó.

Ông đã nghĩ: Thế mà có một ngày, thẩm vấn dùng trên người tà ma lại đổ lên đầu ta. Hoá ra… ta cũng tương tự như tà ma ư.

Rõ ràng ở điểm khởi đầu, ông hãy còn là một đệ tử tiên môn mang đầy khát vọng muốn trảm yêu trừ ma.

Dưới kiếm của Thiên Túc, những hình ảnh cuộc đời ông hối hả trôi qua trong đợt thẩm vấn —

Ông là một trong số hiếm người được nhìn thấy thần mộc và vẫn giữ được mạng sống.

Năm mười hai tuổi, ông gặp cảnh cận kề cái chết và nhìn thấy tàn đại thụ cao ngất rợp trời trên đỉnh núi, cho dù có hơi mù mờ nhưng ông vẫn nhớ rõ tán hoa có chút gì tương tự hạnh mai chốn nhân gian.

Năm đó, ông nào có ngờ rằng sau này mình sẽ nhốt một toà tháp ở nhà họ Phong, và trong tháp có giấu những cành vụn từ gốc đại thụ kia.

Năm mười bảy tuổi, khi đi tới Kinh Quan ở giai đoạn đầu và nhìn những nấm mồ khổng lồ, ông cũng từng cảm thán tiếc thương, “Thương thay bao nhiêu xương cốt anh hùng, hết thảy đều là những người bỏ mạng nơi sa trường…”

Lúc ấy, ông cũng chẳng ngờ rằng sau này mình sẽ chôn xương những người nọ xuống mật địa nhà mình và mượn nhờ sức chúng để mở một con đường.

Năm hai mươi tuổi, ông vung kiếm xuất thế, từ đó nổi tiếng một thời, làm rạng danh dòng họ. Ông từng nghe kể ở Kinh Quan có nhiều thứ hung tà gây rối, có một nhà tu hành giấu tên đã ra tay giúp đỡ bá tánh ở vùng lân cận. Khi nghe được câu chuyện đó, ông còn thốt một câu “Ngày sau có cơ hội, tôi nhất định sẽ đến bái kiến một chuyến.”

Lúc đó, ông đâu có hay người tu hành giấu tên nọ chính là tán tu đã đến sống và xây toà tháp cao ở Kinh Quan. Mà ông cũng chẳng hề biết rằng sau này mình không những không đến gặp người bái kiến, mà còn trở thành thủ phạm gây ra cơ sự khiến tán tu bị tẩu hoả nhập ma.

Thành tiên thành ma, là thiện là ác, âu cũng chỉ từ một thoáng nghĩ suy.

Khác với những người khác trong tiên môn, ông vừa tròn hai mươi đã thành hôn, phối ngẫu của ông là bạn thanh mai trúc mã. Người ta nói rằng phu thê quen nhau từ thuở thiếu thời là tình yêu sâu sắc, vì vậy mà họ đã sớm hạ sinh đứa trẻ đầu tiên.

Nhưng đáng buồn thay, đứa con ấy còn chưa ra đời đã mất trong bụng mẹ. Ông phải an ủi phối ngẫu mình một thời gian dài với lý do có lẽ bị khí tà ma quấy nhiễu, và về sau sẽ ổn thoả thôi.

Không lâu sau, họ lại sinh hạ một đứa trẻ, đứa trẻ này suýt chút đã bị sẩy trong bụng mẹ nhưng nhờ may mắn và sau nhiều nỗ lực bảo vệ, cậu con trai đã ra đời. Thế nhưng vì gặp nhiều vất vả trong lúc mang thai nên cậu khá yếu ớt.

Nhưng thế cũng có sao? Dù gì ông cũng đã giữ được tính mạng đứa nhỏ.

Một năm khác, họ lại sinh được một đứa con gái, so với cậu trai đầu lòng thì đứa bé này ra đời rất thuận lời, nhờ vậy mà cô bé có tư chất thông minh, kỳ tài hiếm gặp.

Người đời đều khen người có đủ đôi nam nữ là có điềm đại cát.

Không ai thấu hiểu hết tâm trạng ông trong những năm tháng đó, cũng giống như không ai hiểu được ông nâng niu hai đứa con bảo bối của mình đến bậc nào, chỉ thiếu không chiều chuộng chúng lên tận mây xanh.

Ông nhìn cặp nam nữ lớn lên theo năm tháng, dạy chúng học ăn học nói, dạy chúng viết chữ, dạy chúng luyện kiếm… truyền cho chúng tất cả những gì ông học được trên đời.

Trong những năm đó, ông gần như không màng đến tiến bộ tu vi cho bản thân mà chỉ toàn tâm toàn ý đóng vai trò một người cha hiền. Những người quanh ông vẫn thường đem chuyện đó ra trêu đùa, mà lần nào ông cũng chỉ cười và trả lời, “Xem như tôi là đồ ngốc đi.”

Thế mà khốn sao, hai đứa trẻ nọ đến cùng cũng chẳng sống đến trưởng thành, cả hai đều chết trong thời niên thiếu, năm mười hai tuổi. Bằng với độ tuổi mà ông suýt mất mạng khi xưa.

Người vợ ông không ngừng lẩm bẩm, “Tại sao lại như vậy, em không hiểu…”

Mà lòng ông thì tỏ tường hơn cả — chung quy tất cả chỉ là một vòng quay, thiên mệnh đã phán cho ông một đợt báo ứng. Lúc trước, ông không chết, bởi thế bây giờ ông phải trải nghiệm cảm giác tương tự.

Ông tự thân ôm hai đứa con mình đặt vào quan tài, từ đấy trở về sau không khi nào nở nụ cười nữa.

Cha hiền đã mất, giờ chỉ còn một người chuyên tu.

Thực chất, lúc đó ông đã bước lên lối mòn mà không hay biết — ông vùi đầu vào tu luyện trong độ tuổi thanh xuân nhất, tu vi chẳng mấy mà đạt đến cảnh giới đỉnh cao, không chỉ đứng đầu trong dòng họ mà còn trở thành một trong những nhân vật xuất chúng trong các tu sĩ ở nhân gian.

Sau khi thần mộc bị phong ấn, ông và môn phái đã trảm vô số yêu tà, giúp đỡ muôn vàn bá tánh, kết nối bao mối thiện duyên, đồng thời cũng nhờ việc đã từng nhìn thấy thần mộc nên cũng xem như có tiên duyên, được chọn làm người trấn thủ nơi phong ấn và nhận lấy họ “Phong”.

Gia tộc của họ có thể nói là một gia tộc hiếm hoi dưới nhân gian được nhận thiên chiếu, nhưng không thể tiết lộ chỗ phong ấn cho người ngoài hay biết, bởi vậy sự việc hào nhoáng vinh quang này đã trở thành một bí mật chỉ có gia chủ và những người sẽ được kế thừa vị trí gia chủ biết được.

Và ông chính là người biết bí mật nhưng không thể nói ra.

Đó là lần đâu tiên trong lòng ông nhen lên một cảm giác vừa mâu thuẫn vừa phức tạp quá đỗi, chẳng khác nào cẩm y dạ hành <i>(1)</i>.

<i>(1) Cẩm</i>y dạ hành: mặc trang phục lộng lẫy đi ra ngoài vào ban đêm – thể hiện sự giàu có xa hoa mà không ai hay biết. Xuất phát từ giai thoại của Hạng Vũ sau khi đánh chiếm Hàm Dương thì không định đô ở đó mà nóng lòng về quê nhà, đã nói “Phú quý không quy cố hương, như cẩm y dạ hành, nào có ai hay”

Và đó cũng là lần đầu tiên ông ý thức được rằng bản thân cũng không phải người tốt chân chính, bởi ông còn mang trên người quá nhiều d*c vọng thế tục, vẫn luôn ngóng trông được ngợi ca báo đáp.

Trong một giây phút nào đó, ông còn nhóm lên lửa giận: Ông biết mình từng chết đi để sống lại, sinh mệnh ông do chính ông giành lấy và tất nhiên sẽ phải trả cái giá thích đáng. Nhưng ông đã làm biết bao chuyện như vậy rồi mà sao còn chưa thể quân bình cái giá phải trả kia để ông có cuộc đời trọn vẹn đôi chút?

Thiên mệnh thật bất công.

Khi suy nghĩ này mới chớm khỏi đầu, ông đã ép ngược nó trở vào bên trong.

Qua một thời gian dài, có lẽ đứng trên địa vị cao lâu ngày và tu vi cũng đạt trình độ đỉnh cấp ở nhân gian, ông đã gần như buông lơi khi suy nghĩa đó nảy lên lần nữa.

Ông buông lơi cho bản thân hoài niệm về những điều mình đã trải qua trong đời, nhớ đến từng chuyện từng chuyện một, hết thảy những điều đáng giá và không đáng giá. Để rồi ông bắt đầu cảm thấy những gì mình có được sao mà ít ỏi quá, mình hoàn toàn có cơ sở để oán hận, có cơ sở để không cam lòng.

Bởi vậy… bắt đầu từ một hôm nào đó, ông bất ngờ muốn giúp hai đứa con mình sống lại.

Một khi ý nghĩ này nhóm lên thì chẳng còn cách nào vãn hồi được nữa.

Câu “xem như tôi là đồ ngốc đi” xưa kia đã thật sự trở thành lời tiên tri sau rất nhiều năm. Ông bước lên một con đường khác mà chẳng màng ngoảnh lại — đào quan tài của con trai con gái mình vào nửa đêm rồi đặt trận bao quanh chúng, tiếp đó ông tìm tất cả các phương pháp khả dĩ hòng giúp hai đứa bé kia sống lại.

***

Về sau, có khi ông chợt nghĩ rằng chắc có điên mới đi tin giấc mơ ấy.

Đó cũng là khoảng thời gian điên nhất đời ông. Một đêm nọ, ông có một giấc chiêm bao kỳ lạ khi đang ngồi ở trước đường, trong mơ có người nói với ông rằng, “Thực chất… cũng chưa hẳn là hoàn toàn vô vọng.”

Ông nghĩ trong lòng <i>ban ngày nghĩ gì thì đêm mơ thấy đó thật à</i>, song ngoài miệng vẫn hỏi, “Thế có cách gì?”

Người xuất hiện trong mộng rất mờ ảo nên nhìn không rõ bộ dáng. Ông không biết đó là ai, vậy mà vẫn gọi người nọ hai tiếng “Tiên quân” tự nhiên vô cùng. Có lẽ cũng vì ông đã đến rất nhiều nơi để cầu khẩn nên buột miệng thành quen.

Ông thậm chí không nhớ được hình dạng và giọng nói của người trong chiêm bao, nhưng còn nhớ rõ người kia đã chỉ mình hai hướng.

Một là bảo ông đi tìm một vị quý nhân, quý nhân này là một cô nương nhỏ tuổi. Cô nương đời trước chịu cái chết bi thảm nên khi sinh ra ở đời này vẫn còn mang theo oán hận, tuổi đời còn bé đã trở thành cô nhi. Nếu ông chịu nhận cô bé mồ côi kia làm con gái và bồi đắp cho những oán than trong sinh mệnh cô để tích phúc thì tương lai có thể nương nhờ phúc báo của cô bé này mà tìm được cơ hội gặp lại hai đứa con của mình.

Con đường thứ hai không được “Tiên quân” nói kỹ mà chỉ vô cùng ngắn gọn rằng, “Nếu chịu không nổi thì tự đánh đổi tính mạng mình để đưa chúng trở về.”

***

Gia chủ nhà họ Phong không xem trọng giấc mơ kia cho lắm. Mãi đến một ngày nọ, ông gặp được một cô bé nhỏ, ốm gầy và trông rất nhơ nhuốc, đứng trước một ngôi miếu cũ đổ nát.

Ngôi miếu hoang đó trước đây thờ Hỉ Tang thần, và cô bé kia hệt như một chú chim nhỏ hoảng hốt, là một cô bé mồ côi không chốn dung thân.

Khi đó, ông thoáng sững sờ, chẳng hiểu cớ gì mà kiểm tra linh phách cô bé kia. Ông phát hiện trong linh phách cô thật sự có vương oán khí. Sau đó, ông lại thi pháp để rà thử đời trước của cô bé này và loáng thoáng trông thấy cuộc đời ngắn ngủi kiếp trước của cô — tan cửa nát nhà, không ai bảo vệ. Cha mẹ cô bị kẻ thù sát hại, để lại đứa con côi chông chênh giữa đường đời rồi bị người ta bắt gả minh hôn, không chỉ thế còn khoét cả hai mắt, cuối cùng rơi vào cái chết thảm thương.

Và ông còn nhìn thấy cảnh cô bé đó quỳ gối cầu nguyện trong miếu Hỉ Tang thần sau khi đã chết, cô cầu báo ứng.

Kiếp trước chết thảm nên mệnh mang theo oán. Một bé gái mồ côi.

Quá trùng hợp với những điều ông gặp được trong mơ.

Khoảnh khắc ấy, ông đã chọn tin vào lời vị tiên quân kia như nắm lấy sợi rơm cứu mạng, giữ chặt không buông.

Ông đưa cô bé về nhà họ Phong, nhận làm con nuôi và đặt tên là Phong Thù Lan.

Sau khi hai người con của mình qua đời, ông đã chẳng còn cười bao giờ nữa, giờ đây cũng không rõ làm một người cha hiền như thế nào. Vậy nên ông cũng không nuông chiều Phong Thù Lan, thậm chí ông còn không thân thiết gì với Phong Thù Lan để tránh nhung nhớ về đứa con gái đã khuất của mình.

Ngoại trừ sự thân thiết gia đình, ông lo cho Phong Thù Lan tất cả mọi thứ, từ bữa ăn cái mặc, đến nuôi dưỡng dạy dỗ đều rất chăm chút. Tất cả mọi người đều nói ông đã có một viên “minh châu trong tay” khác.

Ông chờ, chờ xem…

Ông nhìn Phong Thù Lan trưởng thành và một thân đảm nhiệm công việc, nhìn nàng dần dà khoác lên mình phong thái của một gia chủ đời kế tiếp, nhìn nàng trở thành một kỳ tài kiệt xuất của thế hệ đồng lứa.

Thế mà ông chờ, chờ mãi vẫn không chờ gặp được cái gọi là “cơ duyên” kia, và mãi vẫn chẳng có dịp nhìn được hai đứa con trai con gái mà ông ngày đêm thương nhớ.

Mỗi ngày trôi qua, lòng ông càng nôn nóng hơn, càng âu lo hơn. Thế là đến một ngày kia, ông hối hận.

Lúc trước vị tiên quân kia chỉ ông hai con đường. Ông đã thử con đường đầu tiên, chờ đến mất hết kiên nhẫn, chờ đến vô vọng. Ông bèn bắt đầu suy xét đến con đường thứ hai.

Tiếc rằng, tiên quân kia không nói gì nhiều nên ông chỉ có thể bấu víu vào câu nói ngắn gọn nọ. Ông suy xét thật kỹ lưỡng và nắm được hai từ mấu chốt — <i>đổi mệnh</i> và <i>trở về</i>.

Người đời đều biết, đổi mệnh là một hành vi nghịch thiên, rất khó thực hiện. Muốn trở về lại càng khó hơn. Tuy nhiên, nhà họ Phong bọn họ hơn được người đời ở chỗ, họ nắm giữ một bí mật — thần mộc.

Mượn sức mạnh của thần mộc có thể mở ra một con đường để trở về, và ông chính là người bảo hộ nơi phong ấn thần mộc.

Thời điểm đó, ông đã gần như mất trí, đến độ cho rằng đây là một may mắn được ông trời ưu ái ban cho.

Nghĩ vậy, ông đã “tự trông tự trộm” và âm thầm tự mình đi vào cấm địa.

Ông vốn không quan tâm việc mình bước vào sẽ gây hậu quả thế nào lên cấm địa, có gây nhiễu động gì hay không, có kích hoạt lần phong cấm thứ hai hay chuyện gì tệ hơn nữa hay không.

Ông không quan tâm tất thảy, chỉ ngóng trông hai chữ <i>trở về</i>.

Và ông đã thành công.

Pháp thuật đổi mệnh đòi hỏi chuẩn bị hàng mấy vạn vong hồn để mở đường, thế nên ông đã quay về thời điểm rất rất lâu về trước, sớm hơn cả thời điểm thần mộc bị phong ấn.

Ông trở về Kinh Quan nơi chất chứa nhiều vong hồn nhất, nhưng phát giác ở Kinh Quan có một người tán tu canh mộ với dáng vẻ tuấn tú đầy áp bức, nhìn trẻ trung vô cùng nhưng tu vi không hề thua kém ông.

Nên ông cũng không dám lấy đá chọi đá, quyết định ra tay lén lút. Ông bày trận trong âm thầm.

Ở Kinh Quan ngập tràn cát đá, đặt đá trận giữa nơi đó khó lòng phát hiện ra, huống hồ trận pháp này không phải loại cường trận, nó rất nhỏ nên càng khó phát hiện nhưng có khả năng tích tụ dần theo năm tháng để tạo ra tác động đáng kể lên Kinh Quan.

Ở dân gian, người ta nói rằng đứng bên trong thì khó thấy được toàn cảnh.

Tán tu nọ chính là người đứng bên trong.

***

Từ đó về sau, mọi chuyện đều biến chuyển vô cùng thuận lợi theo đúng những gì ông dự tính.

Ông đã có trong tay mấy vạn vong hồn, đưa cả toà tháp cao kia vào mật địa nhà họ Phong mà không một ai hay biết, rồi đặt cỗ quan tài của hai đứa con mình bên dưới.

Ban đầu, hai đứa trẻ này vì ông nên mới gặp báo ứng, vì ông nên mới mất mạng. Nếu theo tính toán ban đầu, ông chỉ cần hy sinh tính mạng của chính bản thân mình là được.

Thế nhưng vào thời điểm mấu chốt, ông lại đổi ý.

Ở nhà họ Phong có đến từng ấy người, mà ông lại là gia chủ, nếu gia chủ mất mạng chắn chắn sẽ dẫn đến đại loạn, lợi bất cập hại.

Ông viện cho bản thân rất nhiều lý do, song cuối cùng vẫn phong ấn cỗ quan tài vào chung với vong hồn. Tiếp đó, ông quyết định đi tìm một người thay thế mình. Sau thời gian dài lựa chọn, cuối cùng đã tìm được một đứa trẻ có mệnh cách tương tự mình và nhận làm con nuôi.

Khi dắt cậu bé kia bước vào cửa chính nhà họ Phong, ông đã nghĩ: Đứa bé này cũng đang đà phải chết rồi, nếu không gặp được mình thì chắc chắn không sống thêm được mấy ngày. Giờ đây mình nuôi nấng nó, nó trả ơn cho mình, mọi sự chu toàn.

Ban đầu ông chỉ tính nuôi một đứa nhỏ rồi dùng mạng đổi mạng mà thôi.

Nhưng đến một ngày nọ, ông gặp Phong Thù Lan ở một vùng hoang dã…

Thời điểm đó, ông không cần cô bé này nữa. Và ông đã thật sự tránh sang một đường khác, nhưng lát sau vẫn vòng trở lại.

Ông đưa tay kiểm tra linh phách cô bé đó để rồi phát hiện kiếp trước của cô có sự thay đổi — cô không vấn vương không rời ở miếu Hỉ Tang thần nữa mà đã bước vào luân hồi từ sớm, giờ đây ông gặp cô cũng sớm hơn trước mấy năm.

Sau hồi lâu đắn đo, cuối cùng ông vẫn đem cô gái nhỏ này trở về, nhận cô làm con nuôi và vẫn đặt tên cho cô là Phong Thù Lan.

Và ông vẫn không thân thiết với cô con nuôi này như trước, thậm chí còn hiếm khi nhìn mặt. Đến bản thân ông cũng không biết tại sao mình phải không đâu nuôi một đứa trẻ như vậy. Suýt nữa ông đã tưởng rằng bản thân vẫn còn chút gì đó của sự lương thiện.

Có một đoạn thời gian, ông đã tĩnh tâm đóng cửa tự vấn bản thân điều này, khi đó ông đã ngẫm nghĩ rất lâu và cho mình câu trả lời rằng: Nhờ có đứa bé này mà mình xem như vẫn còn là một nửa người tốt.

***

Mình vẫn là một nửa người tốt.

Sau này, ông vẫn thường tự nhủ với bản thân như vậy, cứ như thể nếu nói những lời ấy nhiều lần sẽ khiến nó thành sự thật.

Cho đến tận giờ phút này, khi bị con nuôi Phong Huy Minh đâm xuyên cơ thể bằng chiêu mệnh, khi lãnh chịu thẩm vấn của Thiên Túc, khi linh phách chợt rung động, ông mới choàng tỉnh…

Ngay giây phút ông tự nói câu đó với bản thân, một nửa phần người tốt kia đã không còn tồn tại.

Khoảnh khắc ý thức trở nên nhạt nhoà, bất giác ông nhớ về rất nhiều người mình gặp qua trong đời. Những tưởng trong đó sẽ có hai đứa trẻ mà ông đã chọn từ bỏ sinh mạng vì chúng, thế nhưng không…

Điều ông nhớ đến là đôi mắt hoen đỏ của Phong Huy Minh khi hét to “Ta thật sung sướng”, nhớ đến Phong Thù Lan không gọi mình một tiếng “phụ thân” mà chỉ là “sư phụ”, nhớ đến lần đầu bước vào Kinh Quan và nhìn thấy đại dương đất mồ, nhớ cả linh phách vỡ tan không còn mảnh vụn của người tán tu vào khoảnh khắc y lìa đời.

Ông không rõ liệu đây có phải là một dạng báo ứng, để đến chết mà ký ức ông vẫn chỉ tràn ngập những hình ảnh ấy.

***

Ô Hành Tuyết theo dõi những hình ảnh lần lượt hiện lên trong đợt thẩm vấn, đến khi nhìn thấy những nấm mồ khổng lồ kia, chàng không cầm nổi lòng nhớ về những dòng thời gian mình đã chặt đứt…

Tưởng như vẫn còn có thể ngửi thấy sương mù lạnh băng mãi mãi không tan giữa Kinh Quan, có thể trông thấy người tán tu cầm đèn đi chầm chậm trong đêm thâu, và có thể nghe tiếng chuyện trò thâm thấp của mấy đệ tử trẻ dập dìu trong tiếng rít như gió hú của những vong nhân dưới mồ.

Chàng lặng yên đứng lì một chỗ, chốc lát bỗng nhíu mày.

Khi nhận thiên chiếu, chàng thường phải quay về thời gian nào đó trong quá khứ để chém đứt dòng thời gian. Thời điểm chàng xuống tay với những dòng ở Kinh Quan tương đối sớm, khi đó thần mộc hãy còn chưa bị phong ấn, trời cao còn chưa có Tiên Đô, Thiên Túc vẫn chưa được triệu hoán thành tiên…

Vậy Tiêu Phục Huyên ở đâu?

Ô Hành Tuyết nắm tay người đứng bên cạnh, ngón tay siết thật chặt và giương mắt nhìn thẳng vào mắt người nọ, giọng chàng khẽ đến nghẹn ngào, “Tiêu Phục Huyên, ngươi nói ngươi từng gặp ta ở Kinh Quan… ngươi là ai?”

Ngươi là ai trong những người kia?

***

Trước đây, tướng quân trẻ tuổi hy sinh bản thân để che chở cho thần mộc, dưới sức mạnh của thiên kiếp, linh phách người đã bị đánh tan thành nhiều mảnh nhỏ, đâu thể nào vẹn nguyên bước vào luân hồi.

Nơi máu y chảy qua sinh sôi tinh chất bạch ngọc, xác th1t ba đời chôn vùi dưới Kinh Quan, còn biết bao những mẩu vụn linh phách nhỏ đến độ thần mộc cũng khó lòng nhận ra đã bị vung vẩy vào khắp đủ loại thân thể khác nhau.

Những thân thể mang hồn vỡ trên người lại chịu níu kéo của số mệnh mà cùng tụ về Kinh Quan.

Nhưng bản thân Tiêu Phục Huyên cũng không biết những nguyên cớ xa xưa này. Y chỉ biết đời mình bắt đầu từ vô vàn mảnh hồn vỡ, và bản thân phải chứng kiến không biết là bao vui buồn không hoàn thiện từ những thân thể khác nhau. Không căn không nguyên, không chốn quy lai.

Người tán tu chong đèn tuần đêm là y, những đệ tử mang mệnh cách cực sát được nuôi nơi ấy là y, và người chết chất chồng dưới những nấm mồ khổng lồ kia cũng là y.

Y đã quẩn quanh Kinh Quan mịt mù sương khói lạnh lẽo thật lâu, cho đến khi Linh Vương đeo mặt nạ phá màn sương bước vào…

Vô số lần sống chết, vô số dòng rối loạn.

Từng lần từng lần, y đều nhớ rõ, từng lần từng lần y đều chứng kiến. Đến chót cùng, chỉ thoáng bóng lưng thôi y cũng có thể nhận ra người nọ.

Mà giờ đây, khi đối phương hỏi rằng “Ngươi là ai trong số họ”, y vẫn chẳng biết nên trả lời ra sao.

Tiêu Phục Huyên buông mắt nhìn Ô Hành Tuyết, y đưa tay mân nhẹ trên khoé môi chàng một lúc lâu.

<i>Ta là ai…</i>

<i>Ta là rất nhiều người trong số họ.</i>

<i>Ngươi đã bước qua màn sương mù Kinh Quan muôn vàn lần.</i>

<i>Từng giết ta, từng cứu ta, ngóng nhìn ta, và bỏ lỡ ta.</i>

❄︎

Cá:

Mọi người đọc nhảy <i>quá khứ – hiện tại</i> có thấy bị loạn thời gian xảy ra sự kiện không? Dưới đây tui có tổng hợp lại một số sự kiện chính xảy ra từ đầu tới giờ cho dễ theo dõi nhe.

Chú thích sơ sơ:

Từ sau khi đi vào ảo cảnh Lạc Hoa Đài (ch34), Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên đã bước sang một dòng thời gian khác. Tạm gọi dòng ảo cảnh là dòng B, còn dòng hiện thế là dòng A.

(1) Trong dòng hiện thế A: Vân Hãi gi3t chết kẻ thù của mình, đứa con gái của kẻ thù bị ép gả minh hôn (ch26), sau đầu thai thành Phong Thù Lan (ch59). Sau đó, gia chủ mới quay về quá khứ, về đến thời điểm Linh đài chưa xuất hiện, gài bẫy tán tu và chiếm lấy toà tháp => từ đó dẫn đến sự ra đời của dòng thời gian B. <i>Như vậy, ai là vị “tiên nhân cho lời khuyên” trong lời kể của gia chủ nhà họ Phong? Người đó cho ông ta biết nên cứu vớt đứa trẻ kia, từ đó Phong Thù Lan được gia chủ nhà họ Phong nhận nuôi, nhằm mục đích gì?</i>

(2) Trong dòng ảo cảnh B: Phong Huy Minh được gia chủ nhận nuôi một trăm năm, mà những <i>trói</i> trong cấm địa thần mộc cũng bị nhốt một trăm năm, như vậy đoán chừng việc dùng linh phách phong ấn cấm địa là hệ quả hành động của gia chủ. <i>Nhưng làm sao ông ta tìm được những người có liên quan đến kiếp trước của Tiêu Phục Huyên?</i> Đồng thời, con gái của kẻ thù giết cha của Vân Hãi không đến miếu Hỉ Tang thần mà đi thẳng vào luân hồi => kiếp sau xuất hiện với vai Phong Thù Lan sớm hơn; dẫn đến việc Y Ngô Sinh và Ninh Hoài Sam thắc mắc về chênh lệch độ tuổi của Phong Thù Lan ở đây và Phong Thù Lan mà họ biết. <i>Vậy Vân Hãi nơi đây thế nào? Những người bị chôn dưới đáy tháp là ai?</i>

Tóm tắt vài sự kiện chính theo đúng mốc thời gian sẽ như sau:

huyentuyet1-1.png


Chuyên mục đoán plot: ai muốn đoán plot chung với tui có thể bấm đọc đoạn dưới. Tui não bổ chút thôi, chỉ dùng những dữ kiện đã có từ đầu truyện tới giờ và đưa ra vài suy đoán nên chắc ko tính là spoil (?). Nhưng lỡ đoán trúng thì có khi mất đi sự bất ngờ á nên mí bạn cân nhắc rồi hãy đọc nha🙂), không thích thì cứ bỏ qua.
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 61: Dối lừa


Đời sau có rất nhiều lời đồn rằng lai lịch Thiên Túc thượng tiên bí ẩn khôn cùng, người như ra đời từ cõi thinh không trên thế gian, không cha không mẹ, cũng không môn không phái, không tình không dục.

Lời đồn này thực chất không sai.

Bởi linh phách y đã bị chia lìa sang quá nhiều thể xác.

Hết thảy đều là y, và hết thảy đều không phải y.

Cùng một thời điểm, y chứng kiến biết bao vui buồn ái hận của đời người vô thường, y chính là đương cục, mà cũng chính là người đứng nhìn. Tất cả những xúc cảm cháy bỏng của một người đọng lại nơi y chỉ còn là hờ hững nhạt nhoà, như sóng gió nhất thời dâng trào giữa biển Vô Đoan miên man bất tận, dẫu thế nào cũng chẳng thể khiến mặt biển dao động mảy may.

Quả là không tình không dục.

Mãi đến một ngày kia, những thể xác khác nhau đã cùng gặp một người, hết thảy tâm tình ly tán phút chốc tụ hội thành một khối vẹn toàn.

Chừng như vong linh tịch mịch thốt nhiên mở mắt.

Mỗi lần một dòng rối loạn ở Kinh Quan bị cắt đứt, là mỗi lần những thể xác kia bị huỷ diệt, và linh phách vụn vỡ lại một lần rời đi.

Khi dòng rối loạn bị diệt trừ toàn bộ cũng là lúc trên thế gian có một Tiêu Phục Huyên.

Vào lúc mảnh hồn cuối cùng tách lìa thể xác, y ngoảnh nhìn hàng mấy vạn vong hồn giữa Kinh Quan loạn lạc, hướng ánh mắt về người kia và hỏi “người là ai”. Ấy nhưng âm thanh chìm lẩn trong quá nhiều tiếng vong linh, nên người kia cũng chẳng hề nghe thấy.

Mãi sau này, đến khi được triệu hoán thành tiên, rồi ở ba năm trên Tiên Đô, cuối cùng y mới được nghe kể từ lời người khác rằng, trên Tiên Đô có một vị luôn mang mặt nạ vân bạc mỗi khi tiếp nhận thiên chiếu xuống nhân gian hành sự.

Thời điểm đó, y đang nhấc kiếm toan rời đi thì nghe thế bèn ngừng bước, khiến nhóm tiên sứ còn bàng hoàng ngỡ rằng họ đã nói sai ở đâu rồi.

Y nhớ kỹ danh hào của người ấy — Linh Vương, được trời ban danh tự “Chiêu”.

Người trên Tiên Đô ai cũng lấy làm tò mò không biết mỗi lần Linh Vương nhận thiên chiếu xuống nhân gian làm việc là làm gì. Riêng mỗi y dù chưa hề trông thấy Linh Vương mà đã thành người duy nhất biết được câu trả lời, đơn giản vì y từng tận mắt chứng kiến…

Thiên chiếu của Linh Vương là quay về quá khứ để cắt đứt những dòng thời gian, bởi vậy mới sinh chuyện diệu kỳ là Tiêu Phục Huyên của trước đây đã gặp Ô Hành Tuyết của sau này.

Về sau nữa, y vẫn luôn nghe thấy danh hào kia ở khắp nơi, Linh Vương, Linh Vương, Linh Vương. Linh đài cũng nhắc, tiên sứ cũng nhắc, Lễ các cũng nhắc, và những vị tiên tình cờ gặp phải cũng nhắc.

Y chỉ hững hờ bước qua với thanh kiếm trên tay, nét mặt thờ ơ và chân không trễ nhịp, song luôn thu những lời ấy vào tai.

Bọn họ nói Linh Vương không thường ở Tiên Đô mà hay xuống nhân gian hơn.

Bấy giờ, y mới chợt vỡ lẽ, người mang mặt nạ bước vào Kinh Quan trong lòng y là một mối thắt sâu đậm. Thế nhưng trong lòng người nọ, y chẳng qua chỉ là một vết nhạt giữa vô số dòng thời gian rối loạn đã bị chém bỏ, không khác gì bất kỳ kẻ nào khác, không để lại bất kỳ một ấn tượng nào.

Vào khoảnh khắc vỡ lẽ điều ấy, lòng y chợt nhói lên một xúc cảm thật khôn tả.

Từ đấy về sau, thứ cảm xúc khôn tả ấy vẫn thường hiển hiện trong y, và luôn bắt nguồn từ cùng một người. Nhưng phần nhiều thời điểm, nó được giấu nhẹm cẩn trọng và không thể hiện ra ngoài. Có đôi khi bị người nọ nhận ra, thế rồi đối phương lại bật cười sảng khoái, trong nụ cười tươi rói có nét gì ranh mãnh tự như đang khều vào đâu đó, và hỏi y rằng, “Thiên Túc đại nhân đang có chuyện không vui đấy ư?”

Nụ cười mang nét ranh mãnh thật hiếm khi lộ ra trước mặt người khác, nhờ vậy mà tâm trạng y cũng vơi đi và vui vẻ lên đôi chút. Để rồi vì muốn đối phương hả hê thêm tí nữa, y bèn giữ nét mặt “không vui” đấy lâu hơn chút đỉnh.

Có một quãng thời gian rất dài trước đây, y đã từng trông mong người kia chợt nhớ về mối thắt thuở đầu mà mình vô tình quên lãng, nhớ ra rằng trước kia hai người họ vốn đã từng gặp gỡ.

Trong những mường tượng đó, khung cảnh hẳn luôn ở trên mái hiên hoặc thềm cửa sổ Toạ Xuân Phong hoặc Nam Song Hạ, cùng bầu rượu và tán hoa lả tả, trong bầu không khí bình yên hoặc vui sướng.

Và nét mặt người kia có lẽ sẽ thật ngạc nhiên, ngây ngốc, đính kèm chút rầu rĩ, tiếp đó sẽ hứa hẹn đôi điều với cái danh “tạ tội”…

Tiếc rằng, y chưa từng ngờ đó sẽ là khung cảnh như hiện tại.

Mắt nhìn một lượt qua những ngón tay tái nhờ của Ô Hành Tuyết, qua đôi mắt nọ, và nhớ về bóng dáng Linh Vương cầm kiếm thinh lặng đứng giữa Kinh Quan năm nào… bỗng dưng từ đáy lòng y không muốn đối phương biết nữa.

Tiêu Phục Huyên vê ngón cái trên viền môi mím chặt của người kia, truyền âm sang bằng khí kình, “Ngươi còn nhớ được ai?”

Thật may là lúc này y cảm nhận được suy nghĩ của Ô Hành Tuyết, nhưng người kia chỉ có thể nghe thấy những lời y truyền âm sang.

Y nghe được Ô Hành Tuyết nói, “Rất nhiều người… những người ta từng giết, những người chết dưới mắt ta, ta đều nhớ cả…”

<i>Thì ra đều nhớ cả.</i>

Tiêu Phục Huyên trộm nghĩ trong lòng, đoạn nghe bản thân nói, “Những người đó đều không phải là ta.”

“Thật ư?”

“Ừm, thật.”

Thiên Túc không nói sai sự thật, nhưng đã không biết bao lần phá lệ với chính một người này.

***

Ô Hành Tuyết vẫn chăm chú nhìn đôi mắt Tiêu Phục Huyên, dần dà cảm nhận cơn đau nhói tên từ những khớp ngón tay. Bấy giờ, chàng mới phát giác mình vừa dùng sức mạnh đến nhường nào.

May thay.

May thay Tiêu Phục Huyên không phải một trong số họ…

Ngón tay Ô Hành Tuyết bắt đầu hồng hào hơn, chàng thở ra thật khẽ khàng như vơi bớt ưu tư, nhưng trong lòng vẫn chưa nén nổi bất an, bèn hỏi, “Vậy khi đó ngươi ở đâu?”

Chàng nhớ lại một lần kỹ càng, mới nói tiếp, “Ta nhớ lúc đó không có người sống nào khác ở Kinh Quan…”

Tiêu Phục Huyên: “Không phải người sống.”

Ô Hành Tuyết kinh ngạc. “Thế thì là gì?”

Tiêu Phục Huyên nói, “Ở Kinh Quan có những gì, thì đều là ta.”

Trong vô thức, Ô Hành Tuyết nhớ đến những người đã mất mạng nơi đó. Đúng vậy, Kinh Quan là nấm mồ chôn những người đã tử trận chốn sa trường, ấy nhưng…

Không để chàng ngẫm thêm, Tiêu Phục Huyên đã nói tiếp, “Không biết tại sao linh hồn ta lại phiêu dạt về đấy, nhưng việc ngươi làm khi đó đã giúp vài vong hồn siêu thoát.”

Ô Hành Tuyết hơi bỡ ngỡ. “Siêu thoát?”

“Ừm.”

Có một khoảng thời gian rất dài trước đây, mỗi lần nhớ đến Kinh Quan đều đẩy chàng rơi vào trầm mặc thật lâu. Đó là phản ứng mà sự sôi động của tiếng người tiếng vật ở phố núi Lạc Hoa cũng không cách nào xoa dịu được, mãi đến tận giây phút này mới bắt đầu đổi thay…

Con tim chàng nằm trong chở che của khí kình Tiêu Phục Huyên, nghe được giọng nói ấm trầm của người ấy, “Ngươi đã cứu được rất nhiều người.”

Chàng chớp nhẹ mắt.

<i>Mình đã cứu rất nhiều người…</i>

“Ngươi đã giải thoát cho rất nhiều người, trong đó có cả ta,” Tiêu Phục Huyên nói. “Ta còn nói với ngươi một câu.”

Ô Hành Tuyết ngẩn ngơ. “Nói gì thế?”

Tiêu Phục Huyên tiếp tục, “Chắc ngươi đã không nhớ rõ nữa, trước khi rời khỏi ta có hỏi rằng ‘người là ai’.”

Ô Hành Tuyết sửng sốt giây lát, đoạn nhỏ nhẹ nói, “Ta còn nhớ rõ.”

Chàng thật sự nhớ rõ, dầu cho giọng nói kia thật mơ hồ và chôn vùi trong tiếng khóc rên thê thiết của những người đã khuất, nhưng chàng vẫn nhớ rõ lúc đó có người đã hỏi mình một câu “người là ai”.

Câu hỏi này khẽ khàng hơn hết thảy, mà giờ đây trở thành lời khẳng định đích xác hơn mọi điều.

Vừa khi nghe được lời ấy, lòng Ô Hành Tuyết đã hoá bình lặng.

Những tĩnh lặng, trầm mặc mỗi khi nhớ về Kinh Quan một thuở, sau mấy trăm năm, vào giờ phút này, chỉ bởi đôi vài lời của một người mà bất giác đã chẳng còn khốn khổ đến mức ấy nữa…

“Tiêu Phục Huyên.”

Chàng chợt mong muốn gọi tên người kia, và đã gọi lên một tiếng.

Thế nhưng chưa kịp nói gì tiếp, cả toà tháp ở nhà họ Phong bỗng dưng rung động, tạo nên dư chấn kinh hoàng đến mức người khó lòng đứng vững.

Ninh Hoài Sam không kịp phản ứng, chao đảo chúc về phía trước hai bước, nhác thấy sắp tông phải thành chủ nhà mình.

“Trời ụ —” cậu ta sợ điếng người nhưng không kìm lại được, chỉ đành đóng mắt tự nhẩm <i>lỡ chết thì thôi</i>. Không ngờ chỉ kịp nghe thấy một cơn gió thổi qua trước mặt, dựng thành khối tường đập thẳng trước mũi cậu.

Mặt cậu dộng <i>rầm</i> vào bức tường bằng gió, hé một con mắt ra thì thấy thành chủ đang đứng trước mặt cách mình chưa tới một bước chân, nhưng cậu không xê tới được một li nào.

Thiên Túc đang nhìn cậu bằng ánh mắt vô cảm.

Ninh Hoài Sam: “?”

Tay Thiên Túc đang đặt bên má thành chủ.

Ninh Hoài Sam: “???”

Cậu còn chưa kịp thốt “cái tháp này bị gì vậy” thì đã nghẹn ngược trong cổ họng, một lúc lâu sau cậu chỉ đành nuốt nó vô. Tiếp sau, cậu tựa tay vào bức tường gió và lẳng lặng lùi ra sau hai bước.

Không ngờ căn tháp này tiếp tục chấn động kịch liệt mấy lần, Ninh Hoài Sam lảo đảo đập cái <i>rầm</i> vô tường gió lần nữa.

“Ta…”

Cậu nuốt cục nghẹn xuống, sau cùng vẫn không cam lòng, bèn hô to một câu giữa luồng gió, “Căn tháp này sắp sụp rồi hay sao mà đảo điên vậy?!”

Ban đầu, Ô Hành Tuyết cũng nghĩ toà tháp này sắp sụp, mật địa nhà họ Phong sắp bị phá huỷ.

Thế nhưng giữa khi cảnh tượng trước mắt đang lung lay chao đảo, chàng bất chợt nhận ra mình đã nhầm! Vấn đề không nằm ở toà tháp cao và mật địa này.

“Là toàn bộ quá khứ,” Tiêu Phục Huyên chau mày, nói.

Nghe vậy, Ô Hành Tuyết cũng hiểu rõ: dòng thời gian rối loạn mà gia chủ nhà họ Phong tạo ra đang biến mất, dẫn đến khung cảnh cũng hỗn loạn.

Chàng không rõ với thân thể tà ma hiện tại, mình còn có khả năng kéo những mối rối trở về như cũ của Linh Vương hay không, mà dù có đi nữa cũng không thể xảy ra chuyện này, vì chàng nào đã động thủ đâu.

Dòng rối loạn sẽ tự sụp đổ sao?

Ô Hành Tuyết nghĩ trong lòng, <i>không thể được, phải cần Linh Vương ra tay mới được.</i>

Nếu vậy, đáp án chỉ có một —

Bản thân dòng rối loạn này không tự sụp đổ, những dị tượng đang diễn ra là do sự lệch lạc khung cảnh giữa những thời điểm khác nhau. Dòng thời gian gian này “muốn” đuổi họ đi, “muốn” đẩy họ ra khỏi nơi này và trở về dòng thời gian thực trước khi nó bị đứt đoạn.

Nhưng bản thân dòng thời gian không có “muốn”, chỉ có con người mới có.

Có ai đó không muốn dòng thời gian này bị diệt trừ nên đã ra tay sắp xếp một số thứ để khi có người toan đụng đến dòng này, nó sẽ cuốn tất cả những kẻ xâm nhập ra ngoài, sau đó tự giấu mình đi một lần nữa.

Ban nãy Ô Hành Tuyết còn hơi nghi ngờ: rõ ràng mấy trăm năm trước, mình đã bước vào dòng thời gian này, đã đến phố núi Lạc Hoa và nhà họ Phong, vậy sao lại không cắt đứt nó ngay lập tức.

Bây giờ, chàng đã hiểu rõ…

Chỉ e năm đó mình cũng gặp phải tình huống tương tự.

Như thể muốn xác nhận suy đoán của chàng…

Thẩm vấn vừa chấm dứt, tiếng kiếm tên “Miễn” của Tiêu Phục Huyên hãy còn vang vọng không trung, linh phách gia chủ nhà họ Phong chưa dứt run rẩy. Tia sáng trong mắt Phong Huy Minh đã dần dà vụt tắt, muôn vàn vong hồn chôn dưới lòng đất đã lâu đang rít gào bật mình khỏi cấm chế, hai cỗ quan tài đen cũng rung lên cành cạch.

Mọi thứ còn đang tiếp diễn, mà Ô Hành Tuyết chợt thấy loá nhoè trước mắt.

Khoảnh khắc đó, một cơn đau khó lòng kiềm nén đột ngột dâng trào, giống như thể có hai nguồn lực tách biệt đang cấu lấy chàng từ hai phía đặng xé mạnh người ra.

Ngay khi cảm giác đó trỗi dậy, chàng lập tức ngỡ ra nó sao thật quen thuộc. Tiếp liền đó, chàng đã nhận ra đây chính là cơn đau xác th1t phải nhẫn chịu mỗi khi quá khứ và hiện tại đan xen chồng chéo.

Thuở còn là Linh Vương, chàng vẫn thường phải chịu cảm giác đó, song khi đó chàng đã quen tới tui giữa dòng rối loạn và dòng hiện thế nên dù có khó chịu thì cũng chỉ trong thoáng chốc nên chẳng cần bận tâm gì lắm.

Mà lần này lại khác, cảm giác lần này kéo dài không ngừng và còn lặp đi lặp lại, nó khiến chàng có đôi phần chật vật.

Chàng mỉm cười châm biếm, nghĩ trong lòng <i>chẳng thà bị suy giảm năm giác quan còn hơn</i>, những khi đó mọi thứ đều như dao cùn cắt thịt, dù có khó chịu một chút thì vẫn tương đối tỉnh táo. Còn như bây giờ thì khá lắm, chàng dường như không nhẫn nhịn nổi cơn đau.

Dù gì cũng là ma đầu…

Cơn đau xuyên trời thấu đất kéo tới đột ngột khiến chàng hoàn toàn mất đi ý thức. Ngay trước khi chìm mình vào bóng đêm, chàng thấy mình ngả vào một bờ ngực thật ấm áp.

❄︎

Lời tác giả:

Đợi lâu rồi QAQ ngủ ngon ~

Mọi người yên tâm ha, sắp sửa bập nhau rồi
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 62: V. CHIẾU DẠ THÀNH - Trở lại


Đời này của Ninh Hoài Sam hiếm có lúc phải chịu cơn đau đến bực này.

Cơn đau bủa tới quá đột ngột khiến cậu chẳng kịp đề phòng, chỉ cảm thấy choáng váng hết cả đầu. Đến khi hoàn hồn tỉnh táo lại mới nhận ra cơ thể mình đang quỳ trên mặt đất, miệng ói ra một bụng máu to tướng.

Cậu thấy người mình như bị xé toạc thành nhiều mảnh nhỏ, rồi cơn đau lại bất chợt tan biến, chừa lại cho cậu một cái mạng.

Mất một thời gian dài th ở dốc, cậu mới gắng gượng nhấc được tay lau máu bên miệng, tiếp đến khi ngước mắt lên nhìn thì thấy nhà họ Phong đã biến mất. Toà tháp, gia chủ nhà họ Phong, Phong Huy Minh, cỗ quan tài, lẫn những thứ khác đều biệt tăm biệt tích như thể chúng chưa từng tồn tại.

Trước mắt chỉ có một con đường mòn trên núi.

Ninh Hoài Sam lảo đảo đứng dậy, nổi một đốm lửa trên đầu ngón tay và đưa mắt nhìn đất đá bao quanh. Cậu xác nhận nơi đây không đâu khác hơn ngoài Lạc Hoa Đài.

Là Lạc Hoa Đài nối liền vào Chiếu Dạ thành.

“… Về rồi sao?” Ninh Hoài Sam lầm bầm, giọng cậu hãy còn yếu ớt và hơi nghèn nghẹn vì vừa ói quá nhiều máu. “Thành chủ ơi, hình như chúng ta quay về Chiếu Dạ thành rồi.”

“Thưa thành chủ?”

Ninh Hoài Sam gọi hai lần nhưng không nghe thấy một tiếng trả lời nào. Cậu đột ngột quay ngoắt ra sau, trước mắt chỉ thấy một màn sương mù dày đặc không cách nào xua tan.

Ngay khi cậu tưởng rằng mình lại bị tách lẻ lần nữa, một bóng người cao cao hiện ra bên trong sương mù.

Cậu bèn giơ ngọn lửa trên đầu ngón tay lên để soi, thấy được dung mạo người đang bước tới…

Đó là Thiên Túc thượng tiên khoác mình trong khói lạnh, ôm ngang một người vào lòng.

Người kia chính là Ô Hành Tuyết với gương mặt thuần trắng. Thoạt nhìn như đang ngủ, và không mảy may tỏ ra dấu hiệu đang phải hứng chịu cơn đau không cách nào kiềm nén, thậm chí hàng mày cũng chẳng nhíu một chút nào.

Tựa như, chỉ cần bất kỳ ai vô tình đến gần, người đó vẫn sẽ ngay lập tức vén mi để lộ đôi mắt trong trẻo.

Bằng vào lúc trước, chắc chắn Ninh Hoài Sam sẽ cam đoan thành chủ chỉ đang nghỉ ngơi. Thế nhưng hiện tại thì không…

Vì còn chưa bước đến gần mà cậu đã cảm nhận được khí lạnh thoát ra từ cơ thể Ô Hành Tuyết, nó lạnh băng tới mức khiến cậu thót mình. Cậu đưa mắt nhìn sang đầu ngón tay tái xanh và đôi môi lấm máu của Ô Hành Tuyết.

“Sao lại thế này?!” Ninh Hoài Sam kinh hoàng bật thốt, vấp chân chạy đến. “Cảm thấy khó chịu trong lúc thoát ra khỏi nhà họ Phong à?”

“… Không thể nào,” Ninh Hoài Sam ngờ vực, liếc nhìn bản thân mình một cái rồi mới khàn giọng tiếp tục, “tới ta còn đứng dậy nổi thì thành chủ không thể —”

Thiên Túc trầm giọng ngắt lời cậu, “Vì tất cả đều đổ lên người y.”

Ninh Hoài Sam nín thinh.

Khó trách…

Khó trách cơn đau của cậu đột ngột biến mất, hoá ra chúng đổ hết lên cơ thể một người.

“Nhanh chóng vào thành đi thôi! Có thể —” cậu tính nói <i>có thể giấu người chỗ ta và Phương Trữ, tạm thời dừng chân nơi đó sẽ không vấn đề gì</i>. Thế mà chỉ vừa há miệng đã thấy một trận gió mạnh quét ngang trước mắt!

Thiên Túc mang gương mặt nặng căm, không nói một tiếng nào đã ôm thành chủ bước liền xuống núi.

Ninh Hoài Sam suýt bị trận gió quật ngã, sững sờ tại chỗ một hồi mới lóc cóc chống người dậy đuổi theo!

Cậu còn chưa nói chỗ nào mà, sao Thiên Túc có thể biết cậu ở đâu cơ chứ? Không thể nào. Bước thẳng vào thành như vậy chắc chắn là đến Tước Bất Lạc!

Nhưng mà gần đây Tước Bất Lạc tự niêm phong, hơn nữa lân cận nơi đó đông nghịt người, nếu chúng thấy mặt thành chủ… Chiếu Dạ thành không đảo điên đấy chứ?!

***

Đúng như đoán định của Ninh Hoài Sam, lân cận Tước Bất Lạc có rất nhiều người.

Cả một Chiếu Dạ thành rộng lớn đến vậy, dù gọi là Động Ma nhưng địa bàn có đôi phần tương tự thành thị ở nhân gian, nếu chỉ nhìn sơ qua có lẽ còn sôi động hơn một chút. Nào biển rượu rừng thịt nào hang vàng, tất cả những điều nên có và không nên có đều hiện diện nơi đây.

Tại Chiếu Dạ thành này thời trước, ở đâu có người cũng không lạ, trừ mỗi Tước Bất Lạc. Lý do là vì Tước Bất Lạc nằm ở chốn thâm cùng nhất của Chiếu Dạ thành, mình nó chiếm lĩnh một khu vực riêng. Trước đây, Ô Hành Tuyết đã chọn nơi ấy, sau đó không một tà ma nào dám bén mảng sống gần nữa.

Năm đó, vùng lân cận Tước Bất Lạc hoang vu không nhà không mái. Bất kỳ sự hiện diện của người nào cũng vô cùng nổi trội, chẳng khác nào đường đường chính chính tự tìm cái chết.

Nhưng giờ đây đã khác.

Từ khi Ô Hành Tuyết rơi vào Thương Lang Bắc Vực, tất cả mọi người đều cho rằng chàng chắc chắn phải chết, không thể sống sót thoát ra khỏi đó được. Bởi vậy mà người ta cũng dần dà chuyển đến sinh sống ở khu vực xung quanh Tước Bất Lạc.

Đám tà ma vẫn chưa hết kiêng dè nên chẳng dám đặt phủ trạch ở chỗ đó, bèn xây nên những thứ khác — đủ loại quán rượu, sòng bạc, tiệm bán “hoa”, muốn rộn ràng đến đâu xây rộn ràng đến đấy.

Ai cũng biết tân thành chủ thèm thuồng Tước Bất Lạc, chúng tà ma đều tò mò đâm ra muốn lân la đến càng gần chỗ đấy càng tốt, hóng hớt càng nhiều chuyện càng tốt.

Kết quả là, khu vực xung quanh Tước Bất Lạc đã trở thành nơi tụ tập tấp nập nhất Chiếu Dạ thành.

Duy mỗi toà phủ trạch kia vẫn bị bỏ trống suốt hai mươi lăm năm, trông thật đìu hiu cô quạnh.

Vị trí đặc biệt nhất thuộc về sòng bạc, hướng bắc nó nằm kế quán rượu, hướng nam nhìn về Tước Bất Lạc. Đám đầm hồ trong quán rượu ngâm toàn tà vật độc vật kèm theo những âm thanh quái gở và đầy rẫy những tụ đánh nhau náo loạn sau cơn say. Chim còn không dám bay qua Tước Bất Lạc.

Đám ma đầu lớn bé si mê sòng bạc hàng năm đã quen thói gây loạn ở mặt phía bắc và để yên mặt phía nam trong cô tịch. Mà đêm hôm nay, chúng bất chợt nghe thấy tiếng gió quét qua mặt hướng nam…

Mấy kẻ ngồi cạnh cửa sổ lầu hai thấy ớn lạnh cả người, lẩm bẩm nói, “Đang yên đang lành sao tự dưng lạnh quéo vậy?”

Chúng rợn cả da gà trên cổ, vừa vuốt tay lên để thả lỏng gân cốt rồi tính nói tiếp thì nghe có kẻ thốt, “Nhìn ngoài cửa sổ kìa!”

Chúng quay sang nhìn thì thấy cơn gió lạnh chợt quét qua đã đọng lại một lớp sương muối trắng xoá.

Tất cả đều kinh hồn.

Một cơn gió có thể đọng sương muối trên khung cửa sổ thì chắc chắn không tầm thường. Lần gần đây nhất chúng mục kích khung cảnh “lướt qua đâu kết sương băng nơi đấy” này đã tận hai lăm năm về trước…

Khoảnh khắc đó, sòng bạc đang náo nhiệt ầm trời đột ngột im lìm xuống. Cả đám ngó chòng chọc vào lớp sương giá trắng nhạt trên khung cửa sổ như thể tất thảy bọn chúng đều đóng thành băng.

Sau đó, giữa bầu không khí lặng yên đầy chết chóc, kẻ ngồi sát cửa sổ nhất khẽ khàng nói, “Có người ở ngoài cửa.”

“… Ngoài cửa hướng nào?” Người hỏi câu này còn thả nhẹ giọng hơn nữa.

Kẻ ngồi sát cửa sổ nuốt khan vào họng, mắt vẫn chăm chú nhìn ra phía ngoài cửa sổ, hắn nói, “Tước Bất Lạc.”

“Cái gì?!”

Nghe thấy ba chữ kia, tất cả mọi người nháo nhào ùa lại cửa sổ.

Tước Bất Lạc đã niêm phong hai lăm năm. Cho dù bọn chúng có xây sòng bạc hay quán rượu cao tới mức nào đi nữa, thì khi đứng từ trên cửa sổ nhìn xuống vẫn không thấy rõ một ti hin nào bên trong phủ, tất cả những gì chúng thấy là sương mù muôn đời lãng đãng và tàng cây loáng thoáng bên dưới.

Chỉ ngay trước cửa vào thì màn sương mới mỏng hơn một tí.

Mà giờ đây, chỗ ấy xuất hiện một cái bóng dài.

Cả đám trợn to hai mắt, thiếu điều muốn càn quét toàn bộ lớp sương mịt mờ kia. Song chỉ vô ích, dù chúng căng mắt đến độ nào đi nữa cũng không thấy được người bước đến là ai.

Tà ma đã quen với sự bốc đồng, nhác thấy có mấy kẻ đã manh nha nắm lấy thành cửa sổ toan nhảy xuống, nhưng nhanh chóng bị những người khác kéo ngược lại.

“Còn nhớ lời đồn lần trước nghe được không?”

“… Mày nói là Thương Lang Bắc Vực hả?”

Thương Lang Bắc Vực sụp đổ, người bị nhốt bên trong dường như chưa chết.

Lời đồn này phát tán khắp bốn bể hẳn ai cũng tin, nhưng Chiếu Dạ thành thì không. Không một ai thấm thía sức mạnh của Thương Lang Bắc Vực hơn chúng tà ma, cả đám chúng đều đinh ninh rằng không kẻ nào có thể sống sót mà bước ra khỏi nơi đó.

Huống hồ mấy hôm nay cũng chỉ có mỗi tin đồn thất thiệt nọ, chứ chúng đâu thấy động tĩnh gì khác.

Thật ra còn có người nói Thiên Túc thượng tiên Tiêu Phục Huyên dường như còn sống và đã xuất hiện ở nhà họ Hoa và thung lũng Đại Bi.

Tên tà ma toan nhảy xuống nhìn chòng chọc lớp sương đọng trên khung cửa sổ, nét mặt gã biến chuyển mấy lần, rồi cuối cùng khịt mũi giễu cợt, “Không có khả năng, đừng có tự vẽ chuyện hù doạ bản thân nữa. Giờ mày bảo tao cái người đứng trước cửa là Thiên Túc thì còn đáng tin hơn đó!”

“Thế càng không thể, làm gì có tiên nào xâm nhập được vào Chiếu Dạ thành mà không bị phát giác?”

“Cũng đúng…”

Chúng nói rồi, bất chợt nhận ra nãy giờ cả đám căng thẳng đến nực cười.

“Thần hồn nát thần tính, tự huyễn hoặc bản thân!” Chúng nhìn một lượt lớp băng đọng trên cửa sổ, rồi vọng về sương mù bao bọc toàn bộ Tước Bất Lạc và trấn an nhau, “Trong thành chúng ta có rất nhiều người lăm le bước vào trong đó, nói không chừng lại là hai đứa thiếu hiểu biết nào đó.”

Ngay đến tân thành chủ Tiết Lễ cũng từng phá cửa bất thành, cuối cùng phải hy sinh một cánh tay đấy thôi, còn những người khác ấy à? Đếm cái số nát thây bên ngoài sân chắc cũng không dưới mấy chục tên.

Ở đây chưa bao giờ thiếu những kẻ chán sống, chẳng qua vài năm nay vơi bớt một ít mà thôi.

“Chẳng bao lâu là có thể ra đó lượm xác rồi đấy, gần đây tao luyện dược đang bị thiếu người đây,” một kẻ trang điểm như quỷ nhả một câu.

Mấy kẻ khác sững lại giây lát rồi lập tức biến sắc. “Ồ? Thế thì chúng ta cần bàn xem ai tới trước có trước nhá.”

“Tao cũng đang cần người sống đây, có ai không cần đâu? Để xem ai có bản lĩnh.”

Bọn chúng móc ra đủ loại bao, chẳng khác gì lũ kền kền sài lang săn đêm đang ẩn nấp trong bóng tối để chờ cái bóng người kia tru lên thảm thiết, chờ hắn bị cấm chế xé toang thành mảnh vụn, rồi sẽ được phân năm xẻ bảy giữa bọn chúng…

Nhưng thứ mà chúng chờ thấy đến, là hình ảnh những đợt sấm chớp trắng dã chăng dày đặc như lưới cắt ngang màn sương mù muôn đời không tan quanh Tước Bất Lạc, chúng xuyên phóng từ giữa mây mù, giáng thẳng xuống dưới với tốc độ kinh hoàng, băng qua tất cả những mái hiên bên trong phủ trạch rộng lớn và đánh thẳng vào trước cửa —

Ba mươi ba tia chớp, ba mươi ba đợt sấm rền.

Căn phủ bỏ hoang lâu năm tựa chừng trái tim của Chiếu Dạ thành, nó bất ngờ rung động dữ dội ngay khoảnh khắc phong cấm được giải!

Hàng tầng hàng lớp sương mây thoắt đã tản ra, rồi thoắt đã gom lại. Trừ kẻ ngồi sát bên cửa sổ, gần như không một ai trông thấy chuyển biến đột ngột đó.

Chỉ vào giây phút mây mù tụ lại lần nữa, chúng mới nghe được tiếng cánh cổng phủ mở ra.

Cái bóng dài kia bước qua cánh cổng và tức thì mất dạng.

Ngay kế đó, một người khác hớt hả chạy tới và nối gót vào trong.

Rất nhiều người trong Chiếu Dạ thành quen thuộc với bộ dáng của người hớt hả chạy phía sau này, chúng nhận ra đó là Ninh Hoài Sam thông qua hình thể và động tác của cậu.

Trước khi bước vào cửa, cậu ta còn mở miệng nói một câu, câu ấy thật ngắn và cũng rất loáng thoáng. Thế mà xuyên qua sương mây, nó đánh vang bên tai tất cả bọn chúng như sét gầm giữa đồng bằng!

Cậu ta gọi… Thành chủ.

Chẳng một ai hay biết, sòng bạc đã tĩnh lặng độ nào trong khoảnh khắc ấy.

Thậm chí đến toàn bộ Chiếu Dạ thành đều lặng bặt vào thời điểm đó, vì dư chấn từ rung động dữ dội ở Tước Bất Lạc đã lan ra hết thảy lầu các trong khu vực, khiến từng người trong chúng sững lại ngỡ ngàng và ngoái mặt nhìn về cùng một hướng, trên mặt ai nấy đều lộ rõ vẻ bàng hoàng không thể tin nổi.

Để rồi trong sự tĩnh lặng đáng sợ đó, cánh cổng khổng lồ của Tước Bất Lạc đóng sầm trở lại, tung lên cát bụi mịt mù. Bấy giờ, kẻ nào đó ở tầng hai của sòng bạc mới chuyển tầm mắt và cất lời, “… Thành chủ?”

Âm thanh đó như đổ dầu sôi vào nước.

Ngay lập tức, cả sòng bạc bùng nổ.

Chỉ qua một đêm, gần như toàn bộ tà ma đều nhận được tin: Thành chủ Chiếu Dạ thành Ô Hành Tuyết đã trở lại.

***

Khi Chiếu Dạ thành nổ tung trong tin chấn động này, bản thân thành chủ lại chẳng hề hay biết.

Chàng đã rơi vào cơn hôn mê sâu, sử dụng thân thể tà ma để chuyển hoá những chấn thương mà Linh Vương từng chịu đựng. Chàng đau đớn, và lạnh lẽo, nhưng vốn đã quen với chúng rồi, thế nên gương mặt chàng vẫn hoàn toàn tĩnh lặng, trông chỉ như đang tựa đầu chợp mắt bên ô cửa sổ rộng thoáng ở Toạ Xuân Phong.

Chàng chẳng hay biết mình được người ôm vào Tước Bất Lạc, đi suốt mười hai dặm đường núi, lĩnh hơn ba mươi đợt sấm rền, mà vẫn chưa một lần buông tay.

Chàng cũng chẳng hay biết, có người đã rút cạn linh thức, rót tràn khí kình khắp cơ thể mình và chảy xuôi dòng theo huyết mạch.

Chàng chỉ chìm trong hơi thở đang nghiêng mình bao bọc lấy cơ thể, để mơ về đôi chuyện xưa cũ trong giấc hôn mê.

Lời tác giả:

Đợi lâu rồi QAQ tối hôm qua tui đang viết dở thì ngủ mất, hôm nay mới viết tiếp.

Trước, chúc mọi người một ngày Lễ Tình Nhân vui vẻ ~ mai sẽ gửi lì xì cho mọi người trước giờ cập nhật nhé ~
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 63: Tri kỷ


Những năm đó trên Tiên Đô, tin đồn về Thiên Túc và Linh Vương vừa phong phú vừa đa dạng.

Có một nhóm người nói rằng họ có mối quan hệ thân thiết, là tri kỷ hiếm gặp. Nguyên do đa phần vì vị khách được đón tiếp nhiều nhất ở Toạ Xuân Phong là Thiên Túc, còn người ra vào Nam Song Hạ thường xuyên nhất không tính chính bản thân Thiên Túc, lại chính là Linh Vương.

Một số những người khác lại bảo tính tình họ trái ngược nên thường nảy sinh tranh cãi. Nguyên nhân đại khái của vấn đề này là việc bọn họ thường viện ra đôi ba câu làm cớ mỗi lần tới tới lui lui, mà cái cớ lần nào cũng là “tạ tội”.

Linh Vương không thường ở Tiên Đô, Thiên Túc lại chẳng hay hàn huyên cùng người khác. Những tin đồn lọt đến tai hai người chỉ có từ ít tới ỏi, năm khi mười hoạ mới nghe được thì họ cũng chỉ cười xoà bỏ qua.

Còn những vấn đề tế nhị và tiểu tiết của việc họ thường tới lui thì chỉ hai người mới rõ.

Có lẽ rằng kiếp kỳ lạnh lẽo quá, nên Ô Hành Tuyết đã mơ về một đêm đông giá rét…

Khi chàng dắt hai đồng tử trở về từ nhân gian thì thấy bên mái hiên và thềm cửa sổ ở Toạ Xuân Phong đã đóng những cành băng thật dài.

Thực chất, trên Tiên Đô không tách biệt bốn mùa, cảnh sắc trong viện phủ những toà dao cung ngọc đều hình thành theo sở thích của chủ nhân dao cung. Toạ Xuân Phong là một địa điểm hiếm hoi trên Tiên Đô với trọn vẹn sắc thái bốn mùa nhân gian. Nơi đây đó gió sương mưa tuyết, có cả những buổi nắng trời chói chang.

Trùng hợp vào thời điểm ấy là mùa đông lạnh đến bậc nhất dưới nhân gian, bởi vậy mà Toạ Xuân Phong vốn là một toà dao cung ngọc cũng đã hoá thành một cung điện băng.

Hai tiểu đồng tử hô “Ồ” lên một tiếng rồi hớn hở chạy ào vào, chúng vừa giẫm chân vừa không ngừng xoa bàn tay, mà vẫn táy máy đi vọc từ cành ngọc này tới cành ngọc khác. Sau đó lại ôm vào trong tay mà xuýt xoa th ở dốc thành khói, thảy qua thảy lại giữa hai tay mà không chịu buông. Ô Hành Tuyết nhìn thấy cảnh đó thì dở khóc dở cười, bèn hỏi, “Hai đứa có sở thích quái lạ gì thế?”

Hai tiểu đồng tử giải thích, “Thưa đại nhân, cái này lạnh tay, nhưng mà đẹp.”

Cái rét ở đây quả thật làm người ta lạnh tê tái, thế nhưng cảnh sắc nơi đây thật xứng danh dao cung mây vờn chốn Tiên Đô, nó khiến người ta mãn nhãn toại lòng.

Đứa nhỏ hơn trong hai đứa thầm thì, “Không biết hôm nay chừng nào Thiên Túc đại nhân tới, mấy nhánh băng này bẻ hai ba lần là hỏng hết, nếu muộn quá nhỡ đâu không thấy được nữa.”

Ô Hành Tuyết nói, “Ai nói với ngươi hôm nay y sẽ tới.”

Tiểu đồng tử ngẩn người. “Không phải trước giờ đều vậy sao ạ?”

Ô Hành Tuyết liếc nhìn đỉnh đầu nhóc ta, không nói tiếng nào.

Chẳng rõ tự khi nào, mỗi khi Ô Hành Tuyết quay về Tiên Đô đều gặp Tiêu Phục Huyên trước tiên.

Dường như việc ấy đã nghiễm nhiên trở thành một thói quen chẳng cần nói ra lời, song con nít hồn nhiên cứ lâu lâu phải nhắc đến vài lần thế đó.

Tiểu đồng tử còn lại giũ cổ áo che tay, nghiêm túc ngẫm nghĩ rồi nói, “Huống hồ lần trước đại nhân còn nói đợi đến lúc Toạ Xuân Phong giăng kín cành băng sẽ bày rượu ngon đợi Thiên Túc đến thưởng thức mà.”

Ô Hành Tuyết tất nhiên nhớ rõ, nhưng vẫn lay lay búi tóc đồng tử, nói: “Hồi nào.”

Tiểu đồng tử “Ai da” lên rồi lầu bầu, “Mới lần trước chứ đâu.”

“Việc chính không nhớ, mà mấy chuyện này thì mở miệng toang toác,” Ô Hành Tuyết biếng lười đánh giá.

Tiểu đồng tử ấm ức vô cùng, nhỏ giọng rù rì, nhưng lòng vẫn mong ngóng sợ Thiên Túc không chiêm ngưỡng được cành băng.

Cậu đồng tử lớn hơn trả lời, “Đừng líu ríu nữa, nhìn đi. Vừa nãy tiên sứ Linh đài có nói đấy thôi, Thiên Túc đại nhân đang ở Tiên Đô nhiều ngày rồi. Giờ đại nhân nhà mình quay về thì chốc nữa ngài ấy sẽ đến thôi.”

Ô Hành Tuyết ủ áo choàng, dạn dĩ khoan thai cất bước vào trong nhà, để lại lời cho hai nhóc, “Hai chú bé, chớ lo lắng nhiều như vậy.”

Tiểu đồng tử nhao nhao không ngơi miệng, chân cũng nhanh chóng nối gót. Có lẽ vì đã lâu chưa được về Tiên Đô nên chúng hăng hái cả người. Đại nhân nhà chúng còn chưa dặn dò tiếng nào mà hai cậu nhóc đã ôm sẵn vò rượu và chuẩn bị dọn chung ra.

Kết quả là sắp xếp tươm tất hết thì bị ngán đường bởi những vị khách bất ngờ.

Giờ đây Ô Hành Tuyết đã chẳng còn nhớ nổi một tí ti rốt cuộc là vì lý do gì, chỉ biết lần ấy có Tang Phụng, Mộng Cô, và cả Hoặc Ca còn đương nhiệm Tuyết Trì ghé sang Toạ Xuân Phong.

Vốn đang nói chuyện linh tinh thôi, mà cuộc trò chuyện ấy lại cứ kéo dài mãi không dứt, nhất là với cái miệng huyên thuyên của Tang Phụng, nói nhiều đến mức chẳng có lấy một khắc để nghỉ ngơi.

Linh Vương hiếm khi lơ là khách khứa, đã có sẵn rượu thì khó lòng chỉ cho họ nhìn mà không được nâng ly.

Phong cảnh sẵn có mà được bồi thêm rượu, các vị tiên hữu đều hứng khởi trong lòng nên ngồi một mạch từ ban trưa cho đến khi trời đã tối mịt.

Đêm hôm ấy, Toạ Xuân Phong cũng theo nhịp nhân gian, khi đến đêm có gió tuyết bay lất phất. Dẫu là thần tiên từng chiêm ngưỡng cảnh sắc thế gian cũng khó thể không nao lòng. Mộng Cô và Hoặc Ca nhân lúc men vui đã vói người ra ngoài tuyết và ngắt mấy cành băng.

Tang Phụng còn cầm theo một vại rượu, cảm thán thành lời, “Vân Hãi nói quả không sai, mỹ tửu xứng đãi giai nhân.”

Khi ông nói câu đấy, Linh Vương chẳng để ý lắng nghe cho lắm.

Bởi khi tuyết rơi ban nãy, chàng thoáng nghe thấy đôi chút âm thanh. Âm thanh như từ một người dừng bước trên mái hiên cao cao, ôm kiếm tựa mình bên một góc ngói cong và âm thầm nhìn về phía họ chốc lát, để rồi khi Tang Phụng dứt câu ấy đã xoay người rời đi.

Trong Toạ Xuân Phong hôm đó, trừ Ô Hành Tuyết ra dường như chẳng một ai cảm nhận được. Giây lát, ngay chính bản thân chàng cũng không biết liệu đó có phải chỉ là ảo giác trong men say hay không.

Tuy thế, dù phải dù không, chung rượu ấy đã cào nhẹ vào lòng, khiến Linh Vương ngỡ ngàng hồi lâu.

Rốt cuộc, chàng đã không nhớ nhóm Tang Phụng rời đi khi nào, chỉ nhớ rằng khi các vị khách đã đi để Toạ Xuân Phong trong bầu không khí tĩnh lặng quá đỗi nặng nề. Tiểu đồng tử đang dùng pháp thuật dọn dẹp vang lên tiếng ly chén leng keng.

Ô Hành Tuyết ngồi nghe giây lát, lòng chẳng cách nào an tĩnh, bất chợt đứng dậy bước ra ngoài qua thềm cửa sổ.

“Thưa đại nhân đi đâu vậy ạ?” Tiểu đồng tử còn đứng trong phòng, hô hỏi một câu.

“Đi hóng gió giải rượu, các ngươi không cần đi cùng,” chàng thản nhiên đáp lời rồi biến mất trong màn đêm.

Ngoài miệng thì nói rằng mình đi hóng gió giải rượu, nhưng vấp chân hai ba lần thế nào lại hóng sang chỗ của Tiêu Phục Huyên.

Chàng trông thấy ánh đèn bên trong Nam Song Hạ, các tiểu đồng tử người đứng kẻ ngồi vô cùng thiếu kỷ luật, tụm năm tụm ba mà ngáp dài hoặc ríu rít nói chuyện, thi thoảng lại có đứa đi vào đi ra, ấy nhưng chẳng thấy bóng dáng chủ nhân bọn chúng đâu.

Ô Hành Tuyết không thấy người trong nhà, liền ngước mắt lên mái hiên cao tối om om trong vô thức.

Và quả thật ở nơi ấy, chàng thấy một bóng người đang ngồi trên hàng mái, co một chân với khuỷu tay gác trên gối, còn thanh kiếm vẫn đang hững hờ trong tay.

Nam Song Hạ là nơi sát khí hưng vượng nhất Tiên Đô, và vị trí trên mái hiên là một trận điểm. Đôi khi Thiên Túc sẽ tĩnh toạ trên điểm ấy để tập trung ngưng thần, trấn áp sát khí.

Nhìn chung, không nên quấy rầy trong những thời điểm như thế, bởi rất dễ khơi dậy bản năng cảnh giác.

Chẳng qua bấy giờ Linh Vương không yên lòng nên quên mất chuyện này.

Chàng đạp chân nhảy lên, nhẹ nhàng đáp trên mái hiên nghiêng nghiêng, tiếp đó toan vươn tay vỗ vai Thiên Túc.

Ngay lập tức bỗng thấy đất trời chao đảo!

Cánh tay vươn ra bị Tiêu Phục Huyên bắt lấy rồi xoay người lại đ è xuống —

Đến khi chàng hoàn hồn lại thì thấy mình đang nằm trên mái hiên, thanh kiếm của Thiên Túc rời vỏ trong nháy mắt, và mũi kiếm suýt xuyên qua người chàng cắm xuống mái ngói ngọc.

Tiêu Phục Huyên đang cầm kiếm với tư thế chống một gối trên đất, cúi đầu nhìn chàng. Đôi mắt hẹp dài khép mở giây lát trước khi y định thần lại.

Viền môi mỏng của y mấp máy, muốn nói chi đó nhưng rồi không nói gì. Hồi lâu sau, y mới nhỏ giọng, “Sao ngươi lại tới đây?”

Thanh kiếm còn cắm một bên, Tiêu Phục Huyên vẫn đang chống một chân không nhúc nhích. Thậm chí kiếm khí còn vởn quanh, thế nhưng chẳng có xu thế tiếp cận Ô Hành Tuyết nữa.

Mà Ô Hành Tuyết cũng hoàn toàn không tránh né, một lúc lâu sau chàng mới nói, “Ta đến xem Thiên Túc đại nhân đang làm gì, xem ban nãy ngươi đi đến nơi nào.”

Tiêu Phục Huyên buông hờ mi mắt nhìn chàng. “Ví như.”

Ô Hành Tuyết: “… Ví như Toạ Xuân Phong.”

Tiêu Phục Huyên không trả lời, trong đôi ngươi lấp lánh bụi sao.

Tựa hồ một lời thừa nhận.

Thừa nhận rằng y đã đến Toạ Xuân Phong, thừa nhận rằng y đã nghe Tang Phụng nói “mỹ tửu xứng đãi giai nhân”, thừa nhận rằng y đã rời đi…

Mái hiên cao cao ở Nam Song Hạ bỗng chốc chìm vào sự yên ắng mờ ám, như đang có một cuộc tranh đấu thầm lặng.

Mãi hồi lâu sau, Tiêu Phục Huyên mới nặng giọng đáp “Ừm” một tiếng rồi thừa nhận, “Ta đến Toạ Xuân Phong, mất vui nên quay trở về.”

Ô Hành Tuyết như bị khẽ khều nhẹ trong tim.

Chàng nhìn người kia, chợt thốt lên vô cớ, “Tiêu Phục Huyên, tri kỷ sẽ không vì những việc thế này mà mất vui.”

Tiêu Phục Huyên lướt nhìn gương mặt của Ô Hành Tuyết, một hồi sau mới trầm giọng, “Đúng thật tri kỷ sẽ không.”

Y nói đoạn, lại nhìn vào mắt Ô Hành Tuyết, thì thầm thật khẽ, “Thế sao Linh Vương đến đây làm gì?”

Ô Hành Tuyết khẽ rê ngón tay bị người giữ chặt, gần như đang vuốt v e ngón tay đối phương. Đôi mắt nhẹ nhàng chớp, chàng nói, “Đến dỗ người.”

Lời tác giả:

Chương này hơi ngắn nhưng toàn đường!! Ôm mạng bỏ chạy ~

❄︎

“Thế sao Linh Vương đến đây làm gì?”

“Đến dỗ người.”

(´♡‿♡`)
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 64: Giấc mơ


Hai từ “dỗ người” sao nhẹ nhàng quá đỗi, như thể chỉ là nhấp khẽ môi.

Tiêu Phục Huyên không nghe rõ, cúi đầu xuống gần hơn nữa. “Cái gì?”

Gương mặt y nghiêng nghiêng, rèm mi rủ hờ như thể chỉ thuận thế kề tai lại gần.

Mái hiên nơi đây bỗng chốc chìm vào bầu không khí riêng tư, đến cả gió cũng né mình thổi bên ngoài mà thôi.

Trong nháy mắt ấy, một tiểu đồng tử đứng dưới sân hỏi thăm, “Thưa đại nhân, sao trên mái nhà có tiếng kiếm vậy ạ, có chuyện gì xảy ra thế ạ?”

Giọng nói ấy xa xăm mà mơ hồ, nhưng vẫn khiến Ô Hành Tuyết cảm thấy phút riêng tư bị người nhòm ngó. Trái tim chàng chợt nhảy <i>thịch</i>, tiếp đến vỗ nhịp mỗi lúc một nhanh. Khổ nỗi tất cả đều nhuốm trong men say ngà ngà, nên chàng cũng không cử động mà để mặc cho cảm giác ngưa ngứa vô hình ấy sinh sôi.

Chàng nghe Tiêu Phục Huyên trả lời tiểu đồng tử, “Không có gì, ta đang… đãi khách.” Giọng y quá chi trầm khẽ nên tiểu đồng tử hẳn nhiên không nghe rõ, nhưng lời ấy khuấy cồn cào trong hốc tai Ô Hành Tuyết.

Khi nói đến hai chữ cuối, y đã dời tầm mắt nhìn thẳng vào Ô Hành Tuyết.

Giữa nhịp tim đánh dồn mạnh mẽ, Ô Hành Tuyết cất giọng biếng nhác, “Không ai để khách trên mái nhà…”

Ánh mắt Tiêu Phục Huyên soi sâu vào mắt chàng. “Ừm.”

Ô Hành Tuyết nói tiếp, “Huống chi đãi khách cần rượu, mà ngươi không mang rượu lên.”

Bấy giờ, Tiêu Phục Huyên mới chịu nhích môi, nói, “Ngươi uống rượu với người khác rồi.”

Ô Hành Tuyết: “Ta có thể uống tiếp với ngươi.”

Tiêu Phục Huyên: “Không cần.”

Y nói không cần, nhưng giọng điệu không hề lạnh lẽo, mà trái lại gần gũi thân mật đến độ hơi thở họ đan xen.

Ánh mắt Ô Hành Tuyết thoáng chừng mờ mịt. “Vậy phải làm sao để Thiên Túc vui lên đây?”

Tiêu Phục Huyên: “Tại sao muốn ta vui lên.”

Dường như men say đã ngấm, Ô Hành Tuyết li3m nhẹ môi, nói, “Bởi vì…”

Thật ra chàng cũng chưa nghĩ ra nên trả lời thế nào, nhưng rồi chàng cũng không cần phải suy nghĩ nữa.

Vì đương khi híp khẽ bờ mi, chàng bỗng thấy ngón tay mình bị nắm chặt lại, và Tiêu Phục Huyên nghiêng mặt cúi đầu xuống…

Chóp mũi họ chạm nhẹ vào nhau, Tiêu Phục Huyên đỡ cằm và hé mở môi chàng.

***

Rồi chàng mơ về Tước Bất Lạc.

Mới khắc trước, chàng hãy đang được Tiêu Phục Huyên trao hôn trên mái hiên Nam Song Hạ, mà ngay liền đó đã đến bên cửa sổ Tước Bất Lạc. Bởi thế nên Ô Hành Tuyết trong mơ thấy khá mông lung.

Chàng nhìn tuyết đọng bên ngoài cửa sổ, khó lòng không nhớ đến những cành băng trổ đầy trên mái hiên Toạ Xuân Phong. Khác mỗi giờ đây không có tiểu đồng tử hầu chung, và cũng không một người bất chấp màn đêm đến thưởng ngoạn cảnh sắc.

Tuyết đóng dày dưới mặt sân, nhìn một chốc khiến lòng cũng lạnh lẽo phát hoảng. Mà chàng cũng lạnh thật. Đó là khí lạnh bủa ra từ tận trong xương cốt, cái lạnh mà ôm lò sưởi, đun ấm nước nóng hay đốt chậu than đỏ lửa cũng không cách nào xoa dịu.

Chàng đang khoác một lớp thường phục mỏng manh, tựa lưng ngồi bên cửa sổ, có vẻ chỉ vừa rời giường. Chàng thấy Phương Trữ vội vã chạy vào từ phòng bên cạnh, trên tay còn cầm một tấm áo choàng lông chồn, dường như chiếc áo được ủ trong thứ gì đấy nên chưa khoác lên người mà đã thấy ấm áp mơn man.

“Thưa thành chủ, hay là phủ thêm lớp áo này ạ?” Phương Trữ giũ áo choàng ra.

Ô Hành Tuyết xua tay, trả lời, “Ta không cần, đem nó cất đi.”

Phương Trữ lí nhí, “Nhưng kiếp kỳ lạnh lắm ạ.”

Ô Hành Tuyết nói, “Thế à, ta thấy cũng bình thường.”

Phương Trữ: “…”

Phương Trữ vẫn khuyên, “Hiện tại ngài vừa vào kiếp kỳ chưa tới hai ngày, mấy hôm sau sẽ càng lạnh hơn nữa đấy ạ.”

Ô Hành Tuyết liếc chiếc áo choàng kia, nói, “Lần nào thì ta cần dùng thứ này?”

Phương Trữ run run khoé môi. “Quả thật xưa nay thành chủ không thích mặc dày, thế nhưng…”

Ô Hành Tuyết: “Nhưng cái gì?”

Phương Trữ muốn nói rồi lại do dự, hắn lia mắt lén lút nhìn đầu ngón tay Ô Hành Tuyết.

Chàng thấy thế hạ mắt nhìn theo, thấy ngón tay mình đang xanh nhợt thiếu sắc. Khi chàng nhấc mắt lên lại thì Phương Trữ đã né mắt sang chỗ khác, không dám nhìn lâu hơn.

Ô Hành Tuyết vân vê đầu ngón tay, vận chuyển khí kình trong cơ thể.

Khi bước vào kiếp kỳ, việc vận chuyển khí kình cực kỳ không dễ chịu, từng tấc từng li đều trắc trở ngưng đọng giống một dòng sông đóng băng. Ép buộc lưu thông tạo cảm giác như có cây kim không ngừng đâm thọc vào những huyệt đạo chủ chốt trong kinh mạch.

Đó là cảm giác đau đớn dày đặc…

Nhưng Ô Hành Tuyết không mảy may thể hiện ra ngoài mặt, sau khi vận khí kình xong xuôi một vòng, sắc xanh trên ngón tay thoái lui, thay vào đó là ngón tay trắng ngần tinh tươm, không còn chút dị thường nào.

Chàng xoè tay ra để Phương Trữ nhìn rõ. “Lại nhìn thử xem.”

Phương Trữ ôm áo choàng, không còn gì để nói.

Ô Hành Tuyết nói tiếp, “Mới nãy chẳng qua vừa ngủ dậy mới thế thôi.”

Phương Trữ miễn cưỡng “Ồ” đáp lời, rõ ràng là muốn phản đối nhưng không được.

Khi gặp phải kiếp kỳ, tà ma không muốn để lộ bất kỳ sự yếu ớt nào. Dù sao Chiếu Dạ thành cũng là chốn quần ma tụ hội, nào có phải địa điểm an toàn gì.

Nhưng hiện tại họ đang ở trong phủ trạch, xung quanh Tước Bất Lạc cũng không một bóng người lân la, có thể khoác thêm một lớp áo nữa để giữ ấm mà không ai thấy thì tại sao lại không làm?

Phương Trữ không hiểu.

Nhưng Ô Hành Tuyết quyết tâm không mặc.

Thay vào đó, chàng hỏi Phương Trữ một câu, “Còn rượu không?”

Phương Trữ nghe được thì thấy dù không mặc áo khoác thì uống chút rượu ấm cũng được, bèn gật đầu lia lịa và nói, “Có ạ! Thành chủ xin chờ một chút, ta đi lấy rượu!”

Trên đường rời đi, hắn tính mắc áo choàng lông chồn lên giá gỗ trong phòng nhưng bị Ô Hành Tuyết cản lại. “Đừng treo ở đó, lấy ra từ đâu thì trả lại nơi ấy đi.”

Phương Trữ cau có ra mặt nhưng cũng không dám nhiều lời thêm.

Kiếp kỳ hành rất vật vã, đến người hiền hoà không bao giờ bực dọc cũng trở nên u ám khó lường. Phương Trữ đâu dám đánh liều với cơn giận của thành chủ. Thế là hắn đành cun cút đem áo choàng lông chồn về gian phụ rồi ngoan ngoãn cất vào tủ.

Vậy nên nhìn sơ qua, dường như chưa một ai cảm thấy rét lạnh đến khốn quẫn ở Tước Bất Lạc, cũng chưa một ai lấy chiếc áo choàng lông chồn ra khỏi tủ.

Phương Trữ nhanh chóng chuẩn bị hai bầu rượu và chung tới. Trên đường hắn còn châm lửa trong bàn tay để đun ấm rượu lên một chút.

Nên khi Ô Hành Tuyết vừa chạm vào rượu đã thấy vô cùng ấm áp.

Chàng ngước mắt, Phương Trữ lập tức phóng vọt ra sau và lùi tới sát vách, ngập ngừng nói, “Thưa thành chủ, ta… ta nghe nói rượu này uống ấm ngon hơn.”

Ô Hành Tuyết cũng không trách cứ hắn mà chỉ nói, “Thế ngươi có từng nghe rượu này uống ấm dễ say không?”

Phương Trữ hé khẽ miệng, vội vã lắc đầu. “Dạ không biết.”

“Ta sai rồi, thưa thành chủ,” Phương Trữ cúi đầu nhận lỗi.

Ô Hành Tuyết trả chén rượu cho hắn, nói, “Ta không cần thứ này.”

Đây không phải ngọc tử trên Tiên Đô, uống vào đặc sệt chứ không có vị ngọt thanh như ngọc tử. Và ở nơi đây cũng không người chung vui thưởng rượu với chàng bên cửa sổ, nên không cần chung nhỏ nhâm nhi chầm chậm làm chi.

Chẳng qua khi giương mắt nhìn những cành băng ngoài sân và góc mái hiên đằng sau làn sương xanh, chàng bất giác muốn uống rượu mà thôi.

Rượu ở Chiếu Dạ thành đúng là có khác, trước đây chàng nhấm rượu ngọc tử cả buổi sáng cũng chỉ thấy hơi lâng lâng, mà hiện tại mới hai vò đã trở nên lười nhác.

Chàng híp mắt một chút rồi mở ra lại, đôi ngươi chan chứa ánh trăng trong vắt, ánh mắt không hỗn loạn mà đơn giản được bọc dưới một tầng sương nhàn nhạt.

Chàng tựa người bên thềm cửa sổ, chợt mở miệng hỏi Phương Trữ, “Cửa sổ ở Tước Bất Lạc nhìn về phía bắc à.”

Phương Trữ hơi ngạc nhiên, ngẩn người trước câu hỏi không đâu vô đâu này. Một lát sau, hắn mới trả lời, “Thưa phải… hướng phía bắc ạ.”

Những hộ gia đình thường dân ở nhân gian thường yêu chuộng xây nhà “toạ bắc hướng nam” để đón được ánh sáng, nên cửa sổ cũng thường xây về phía nam. Thế nhưng Chiếu Dạ thành dầu gì cũng là Động Ma, cái gì ở đây cũng trái ngược với thế giới loài người.

Chúng tà ma không quan tâm đón sáng được hay không mà chỉ để ý bản thân có thoải mái hay không. Tất cả kết cấu của Chiếu Dạ thành đều trái ngược thông lệ, nên các toà phủ trạch ở đây cũng thường toạ nam hướng bắc.

Ở cực nam nhất chính là Tước Bất Lạc.

Ô Hành Tuyết tất nhiên phải biết chuyện này, vì vậy câu hỏi thốt lên bất ngờ khiến người nghe thấy thật kỳ lạ.

Phương Trữ ngờ ngợ hỏi, “Sao thành chủ tự dưng nhắc đến chuyện này? Có gì kỳ quái à?”

Ánh mắt Ô Hành Tuyết vẫn hướng ra ngoài cửa sổ, chàng đáp, “Không có gì kỳ quái cả, ta sực nhớ vài chuyện nên tiện nhắc tới thôi.”

Trước đây, chàng rất hiếm khi chủ động đề cập đến những vấn đề này với người khác, mà hiện tại chắc hẳn là… do men say. Chàng lặng người một chốc, dời ánh mắt từ ngoài sân đến dưới thềm cửa sổ, bất chợt thả nhẹ giọng, “Phương Trữ, dưới cửa sổ ngươi có thứ gì đặc biệt không?”

Phương Trữ lắc đầu. “Thưa không có, dưới cửa sổ ta chỉ có đất bùn, cây hoa thân thấp, đá sỏi, ngoài ra không có gì đặc biệt.”

Ô Hành Tuyết uống thêm một ngụm rượu, nuốt vào rồi mới rủ mắt nhìn đám cỏ thâm thấp bên dưới và nói, “Thế tại sao lại có người thương nhớ bên dưới cửa sổ vậy.”

Phương Trữ nghẹn cả họng trước câu hỏi này, không phải tại vấn đề khó đến độ nào, mà việc thành chủ nhà hắn hỏi ra một câu hỏi như vậy mới kỳ dị và hiếm gặp cực kỳ.

Hắn suy tư một lúc lâu mới trả lời, “Chuyện này… chắc là vì ở trên cao nhỉ.”

Ô Hành Tuyết bật cười thành tiếng mà không buồn ngoái đầu, cảm thấy câu trả lời của hắn quá thừa thãi và vô nghĩa.

Phương Trữ cắn răng nói tiếp, “Nếu ở trên cao sẽ có những thứ khác bên dưới cửa sổ, bởi lia mắt nhìn từ cửa sổ có thể thấy nhiều và xa hơn. Biết đâu những thứ ấy có thể tạo thành khung cảnh nào đó, khi ấy việc thương nhớ cũng không phải chuyện lạ gì.”

Ô Hành Tuyết lắng nghe, bất giác nghĩ đến chút tâm tư mơ hồ.

Tâm tư ấy chỉ nhen lên chớp nhoáng, nhanh đến mức chàng cũng chưa kịp nhận ra, thế nhưng nét cười trên mặt đã dần phai. Chàng cầm miệng bầu rượu bằng bạch ngọc và thẩn thơ đứng bên khung cửa sổ.

“Ở trên cao…”

Chàng mấp máy môi.

Vào thời khắc đó, chàng tưởng như lại nhìn thấy màn sương mù mịt mờ không tan biến, giữa sương mù là là một nấm mồ khổng lồ và một toà tháp cao cao.

Ở nơi ấy, có người phóng mình l3n đỉnh tháp, tay cầm đèn đứng bên khung cửa sổ nhìn về phía này. Chàng không rõ người người nọ đang nhìn mình hay đang nhìn về thành trấn yên bình ở nơi xa…

Rồi sau đó, ánh đèn dầu tản ra trong màn sương, và bóng người kia nâng tay đánh vang chuông cổ.

<i>Đinhhh —</i>

Tiếng chuông nọ như vang vọng trong đầu chàng.

Khoảnh khắc ấy, Ô Hành Tuyết thấy bản thân nhắm mắt lại, cơn đau và rét buốt trên cơ thể trở nặng nhanh chóng, tưởng như kiếp kỳ đột ngột bước vào giai đoạn khốn khổ nhất.

Năm đó kiếp kỳ nặng nề cùng cực, khiến chàng đau đớn hơn bất kỳ năm nào, cái lạnh trên cơ thể cũng tồi tệ hơn bất kỳ năm nào. Bởi vậy có một đoạn thời gian, Ô Hành Tuyết gần như mất hoàn toàn tri giác, không còn cảm thấy gì nữa.

Chàng không biết mình đã bỏ bầu rượu thế nào, cũng không nhớ mình đã nói gì để Phương Trữ rời khỏi, rồi sau đó đóng cửa sổ và thiết lập cấm chế lên căn phủ ra sao. Cấm chế được thiết lập theo hai phía, người ngoài không vào được, và bản thân chàng cũng không ra ngoài được để tránh gây ra cơ sự khó cứu vãn trong lúc mất đi ý thức.

Nhưng chàng nhớ rõ ngay khoảnh khắc cấm chế vừa hoàn thành, bỗng dưng có một hơi thở xuất hiện từ đằng sau. Có một ai đó âm thầm bước vào sân, thậm chí bước cả vào nhà mà không gây bất kỳ một sự chú ý nào.

Theo bản năng của tà ma, chàng lập tức vươn tay chộp vũ khí. Ngặt nỗi hiện tại trong phòng không có đao cũng chẳng có kiếm. Thứ duy nhất chàng nắm được vào tay chỉ còn mỗi chuông mộng.

Ngày xưa, sau khi chặt đứt quá nhiều dòng rối loạn ở Kinh Quan, cành thần mộc trong những dòng nọ đều rơi vào tay chàng, ban đầu chàng định sẽ phá bỏ toàn bộ, không giữ lại một mẩu. Nhưng đến cuối cùng, chàng nấn ná trong giây lát, cuối cùng quyết định lột lớp bạch ngọc phủ bên ngoài những cành gãy nọ xuống để tạo món “chuông mộng” be bé này.

Chiếc chuông với hình dạng thể theo chuông trên toà tháp cao ấy.

Từ sau lúc ấy, mỗi lần chặt đứt dòng rối loạn nào, chàng vẫn luôn rung chuông bạch ngọc vào thời điểm chót cùng hết cả và tạo một giấc mơ đẹp cho những người bị chôn vùi bởi những dòng rối loạn ấy.

Cả những người không nên xuất hiện trên đời, và những người đã định phải lìa đời.

Chàng đã tạo giấc mơ cho rất nhiều người, khiến họ quên đi một số chuyện hoặc trao niềm tin vào một số chuyện.

Giống như tiếng chuông ngân trên đỉnh tháp thuở nào, một khi vang lên sẽ giúp người không còn đau đớn, vạn sự bình yên… ít nhất là trong mơ.

Còn vào thời điểm hiện tại, chuông mộng bạch ngọc nằm trong tay Ô Hành Tuyết với những gờ nhọn đâm vào da khi chàng siết lại, mang đến cái lạnh và cơn đau âm ỉ giúp chàng tỉnh táo một chút khỏi mê man trong kiếp kỳ.

Chàng cảm nhận tinh chất ngọc và hít vào hơi thở của người đến phía sau. Chàng thân thuộc với hơi thở ấy hơn bất kỳ ai, dù có nhắm mắt quay lưng cũng có thể nhận ra.

“Tiêu Phục Huyên…”

Chàng giữ chuông mộng và xoay người lại.

Tiêu Phục Huyên đang đứng bên cạnh cửa, đôi ngươi đen thẳm nhìn chàng đăm đăm.

“Đây là Chiếu Dạ thành,” Ô Hành Tuyết nói.

Đây là Động Ma Chiếu Dạ thành, không phải mái sân bên ngoài cổng Toạ Xuân Phong để người muốn đến lúc nào thì đến.

Chàng còn muốn nói tại sao ngươi lại chọn đến vào lúc này. Nhưng nói ra như vậy lại có cảm giác yếu ớt sao đó nên chàng không thích. Bởi vậy chàng quyết định mím chặt môi không nói gì.

Tiêu Phục Huyên vẫn nhìn chàng đăm đăm, nói, “Ta biết đây là Chiếu Dạ thành, ta cũng biết ngươi đặt cấm chế, nhưng ta vẫn vào được.”

Không chỉ vào được mà còn không bị thương tổn chút nào. Dường như tất cả cấm chế đều né tránh chứ không tấn công y. Còn Ô Hành Tuyết lập cấm chế giữa lúc ý thức mơ màng nên hoàn toàn thực hiện theo bản năng…

Lời này của y đã trắng trợn mở ra những thứ mịt mờ trong tiềm thức, có muốn giấu cũng không được mà muốn chối cũng không xong. Bởi vậy Ô Hành Tuyết không nói gì nữa. Chàng siết chặt thứ đang cầm trong tay và đấu tranh âm thầm với người đứng ở cửa.

Nháy mắt ấy như kéo dài vô tận, cả hai người đều đứng lặng thinh trong những rối ren ám muội, phảng phất khiến người ta nhớ về khung cảnh trên mái hiên ở Nam Song Hạ năm nào…

Nhưng nay đã khác xưa.

Năm xưa chàng là Linh Vương, hiện giờ là một ma đầu.

Chàng phải vượt qua kiếp kỳ mà bất kỳ tà ma nào cũng phải gánh chịu, nhưng chàng không muốn trải qua trước mặt Tiêu Phục Huyên.

Làm sao cũng được, nhưng không thể là Tiêu Phục Huyên.

Vậy nên chàng lập tức muốn nhả ra những lời thật hung hăng để khích người kia tức giận bỏ đi. Chàng bóp chặt chuông mộng bằng bạch ngọc phía sau lưng, nở nụ cười và nghiêng đầu nhìn người kia. “Ngươi có biết tà ma có kiếp kỳ không? Ngươi có biết ma đầu trong kiếp kỳ sẽ như thế nào không?”

“Ngươi từng nghe qua tà ma coi trọng d*c vọng chưa?”



Chàng hiểu rõ, Tiêu Phục Huyên tiếp xúc với tà ma nhiều nhất, giết tà ma nhiều nhất và cũng giáng hình với tà ma nhiều nhất.

Nhắm mắt cũng biết Thiên Túc thượng tiên ghét bỏ thứ gì nhất — đó chính là những đặc điểm cố hữu của tà ma, sự hoành hành không kiêng dè, thói hoang dâm vô độ…

Chàng nói nói nói câu nào cũng xoay quanh những chuyện đó để chờ Tiêu Phục Huyên đanh nét mặt và bỏ đi.

Muốn chọc Thiên Túc không vui dễ dàng lắm, chàng đã từng nửa đùa nửa thật trêu chọc người này không biết bao nhiêu lần trước đây rồi.

Mà khốn ngay lần này…

Tất cả những lời chàng nói ra đều là những thứ đến chàng cũng căm ghét, vậy mà Tiêu Phục Huyên không nhúc nhích một bước, chỉ giữ nguyên ánh mắt trầm nặng đăm đăm nhìn chàng. Một lúc lâu sau, y mới nói, “Nghe qua hết rồi.”

Ô Hành Tuyết bỗng chốc lặng thinh.

Chàng chỉ im một thoáng, lại nói tiếp, “Nếu ngươi đã nghe qua hết rồi tức là biết rõ cả rồi, mà còn cố tình chọn ngày hôm nay để tới —”

Ánh đèn dầu trong phòng hắt vào trong mắt Tiêu Phục Huyên chợt lay động, đôi đồng tử vỡ oà thành một quầng sáng.

Ô Hành Tuyết thoáng ngừng, né mắt sang một bên, đoạn hất cằm chỉ về phía giường và nói tiếp, “— là muốn làm khách ghé loan phòng của ma đầu ta đây ư?”

Gian phòng hoàn toàn yên ắng.

Một lát sau, Tiêu Phục Huyên cất giọng trầm thấp.

Y nói, “Đúng vậy.”

<i>Ta tới làm khách ghé loan phòng.</i>

Con tim Ô Hành Tuyết đánh <i>thịch</i>.

Thật khó lòng tả rõ cảm nhận trong giây phút ấy, chàng giật thót mình một lúc lâu mới thình lình quay đầu lại nhìn. Vừa thấy một làn gió nhẹ thổi qua, Tiêu Phục Huyên đã đứng ngay trước mắt.

Ô Hành Tuyết mấp máy môi nhưng không nói tiếng nào. Chàng xuất chiêu gần như đồng thời với hành động của Tiêu Phục Huyên, khí tà ma phóng ra ngùn ngụt, hung hãn như cơn thét gầm của biển Vô Đoan rộng lớn. Cuồng phong bọc trong sương lạnh mang theo sát khí lồ ng lộng quét qua, dẫn đến rung chấn khiếp người. Nhưng hết thảy đều bị dồn ép trong không gian căn phòng vì bị ngăn trở bởi cấm chế.

Đây là một góc cấm chế do chính tay thành chủ Chiếu Dạ thành thiết lập, là nơi hung hiểm nhất thế gian, và cũng là nơi riêng tư nhất. Ấy vậy mà, những luồng sát khí đủ sức chém lìa thân xác kia đều ngừng bặt trong nháy mắt ngay khi chạm đến Tiêu Phục Huyên. Và nháy mắt ngừng bặt đó đã đưa đến cái kết —

Trời đất vẫn quay cuồng, kiếm khí vẫn lướt qua những nơi trí mạng trên cơ thể, và chàng vẫn cận kề bên chúng mà không chịu một chút thương tổn.

Dường như bọn họ vẫn luôn như vậy.

Khác mỗi khi xưa Linh Vương bị đè trên mái nhà, còn hiện tại ma đầu bị đè trên trường kỷ.

Kiếm khí vẫn gần kề bên cổ Ô Hành Tuyết, tràn đầy hơi thở thuộc về riêng Thiên Túc, thật sắc bén nhưng không nguy hiểm. Tiêu Phục Huyên cũng trong tư thế chống một gối như năm xưa, cúi đầu nhìn Ô Hành Tuyết và đan ngón tay mình vào những ngón tay chàng.

Ánh mắt Tiêu Phục Huyên đổ dọc theo cánh mũi, giọng phát ra thật trầm thấp, “Ngươi muốn khích ta bỏ đi.”

Khí kình trên tay Ô Hành Tuyết còn chưa rút về, hơi thở lạnh cùng cực men theo đầu ngón tay tuôn ra ngoài, một lớp sương mỏng trắng nhợt vờn quanh đầu ngón tay Tiêu Phục Huyên.

Thật rõ là sát khí mà cảm giác như khắng khít thân mật khôn tả.

Ô Hành Tuyết mấp máy môi, nói, “Ta đang chờ ngươi đi đây.”

Tiêu Phục Huyên nhìn chàng, lát sau mới trầm giọng nói, “Chờ ta đi rồi, ngươi muốn tìm ai để trải qua kiếp kỳ?”

Con tim Ô Hành Tuyết giật thót khe khẽ. Giống như có ai vừa đâm nhè nhẹ bên trong, chỉ nháy mắt đã dấy lên cảm giác khó tả rõ và bao trọn con tim. Thốt nhiên, chàng chẳng nói nên lời.

Mãi lâu sau, chàng mới khép mắt lại và nói, “Không một ai.”

“Không có ai khác cả,” chàng nhỏ giọng thì thầm câu nữa.

Ngay khi câu này vừa thốt ra, sương lạnh trên ngón tay cũng dần dà tan biến, khí kình Tiêu Phục Huyên len vào đầu ngón tay và mạnh mẽ tràn vào bên trong.

Ô Hành Tuyết cảm giác như có ai vừa bắt một lò lửa đỏ, ánh lửa thiêu đốt bừng bừng nhưng ấm áp biết bao. Luồng khí kình ấm áp ấy dịu êm chảy xuôi trong huyết mạch, những nơi nó chạm đến đều không còn lạnh lẽo tái tê nữa mà dần ửng hồng sắc máu.

Chàng đang nhắm mắt nên càng mẫn cảm hơn bao giờ hết.

Chàng nghe giọng Tiêu Phục Huyên nói, “Ngươi uống rượu.”

Không biết vì cớ gì mà chỉ ba chữ giản đơn bỗng xui chàng ngây ngất, bất giác không còn nhớ rõ hôm nay là ngày nào. Sao cứ như lúc chàng còn ở Tiên Đô, nếu uống rượu đã chuẩn bị từ sớm với người khác sẽ khiến Thiên Túc không vui.

Rồi chàng đến tận nơi tạ tội dỗ xuôi người ta, và bị đè trên mái hiên ngói ngọc ở Nam Song Hạ và hôn đến nghẹn ngào.

Khí kình của Thiên Túc men theo mạch máu chảy vào tim.

Bên dưới lớp áo mỏng tang, làn da Ô Hành Tuyết cũng bắt đầu hồng hào sắc máu, có thể thấy rõ nó lan dần lên phía trên, qua cánh cổ rồi chạm đến tận bờ môi.

Chàng nhớ về khi trước, li3m viền môi và hé mở đôi mắt.

Chàng gọi, “Tiêu Phục Huyên.”

“Ừm.”

Đối phương vừa khéo chạm vào môi dưới chàng, khép hờ mắt và cúi đầu hôn xuống.

Giữa hơi thở vấn vít đan xen, Ô Hành Tuyết hé môi, chợt nghe giọng Tiêu Phục Huyên vang lên từ giữa viền môi mình.

Người ấy thủ thỉ với chàng, “Ô Hành Tuyết, đêm qua ta mơ thấy ngươi…”

***

Rất lâu về trước, dân tình trên Tiên Đô đều nói họ không nằm mơ.

Vì những người như họ luôn bước vào giấc mộng của người phàm, luôn hồi đáp những ước nguyện của thường nhân, họ hiểu rõ những cảnh trong mơ đều chỉ là giả dối, và bản thân họ phải đề phòng những giả dối hơn bất kỳ một ai.

Về sau, họ lại thường nói nếu ban ngày nghĩ gì thì ban đêm sẽ mơ thấy c@i ấy, đại khái là vì công đức họ đã đủ đầy nên tâm tư không đủ sâu, không đủ nhiều, không đủ nặng.

Lại về sau nữa, cuối cùng bọn họ cũng thừa nhận, có lẽ một khi đã thành tiên sẽ không còn mơ thấy gì nữa. Dẫu cho tâm tư có vô vàn đến đâu, sâu sắc đến đâu, nặng nề đến đâu đi nữa thì cũng bằng thừa mà thôi.

Đối với họ, có lẽ chỉ duy mỗi khi chiếc chuông bạch ngọc kia lên tiếng mới có thể đưa họ vào một giấc mộng đẹp.

Ô Hành Tuyết hiểu rõ chuyện này hơn bất kỳ người nào.

Thần tiên trên thế gian không có giấc mơ, mà Tiêu Phục Huyên vừa nói: Ta mơ thấy ngươi.

❄︎

Lời tác giả:

Độ dài chương này còn ngắn hơn gộp hai chương một chút, nhưng tới chỗ phải ngắt chương rồi, ngày mai tui lại cố gắng nhiều hơn nha nha QAQ

Cá: Tui giải thích chút xíu:

Trước đây Ô Hành Tuyết từng thắc mắc không biết Tiêu Phục Huyên đặt tên cung phủ của mình tên “Nam Song Hạ” (<i>bên dưới khung cửa sổ ở hướng nam</i>) là có ý nghĩa gì.

Sau đến chương 61, Ô Hành Tuyết mới biết Tiêu Phục Huyên đã từng sống ở Kinh Quan, nơi có ngọn tháp cao đặt giữa mộ địa.

Đến chương này, Ô Hành Tuyết hỏi Phương Trữ “<i>Thế tại sao lại có người thương nhớ bên dưới cửa sổ vậy.</i>”, Phương Trữ trả lời “<i>Nếu ở trên cao sẽ có những thứ khác bên dưới cửa sổ, bởi lia mắt nhìn từ cửa sổ có thể thấy nhiều và xa hơn. Biết đâu những thứ ấy có thể tạo thành khung cảnh nào đó, khi ấy việc thương nhớ cũng không phải chuyện lạ gì</i>.”. Khi này, Ô Hành Tuyết mới nhớ về căn tháp cao ở Kinh Quan và người tán tu luôn đứng trên đỉnh tháp nhìn về phía chàng. Là lúc Ô Hành Tuyết nhận ra có lẽ Tiêu Phục Huyên chính là người tán tu và người mà Tiêu Phục Huyên thương nhớ là Linh Vương.
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 65: Tỉnh giấc


Rất lâu về trước, Ninh Hoài Sam từng nói với Phương Trữ rằng, nếu trên đời có một địa điểm cam đoan không bao giờ có thần tiên xuất hiện, thì đó chắc chắn là Tước Bất Lạc.

Chuyện khó tưởng nhất đời này của cậu chính là nhìn thấy thần tiên ở Tước Bất Lạc.

Sau này, Ninh Hoài Sam còn lẳng lặng nói với Phương Trữ chuyện khó tưởng nhất đời này của cậu chính là vắng đi thành chủ mà phải sống cùng một nhà với Thiên Túc thượng tiên.

Mà bây giờ, cậu gặp trúng cả hai chuyện…

Ninh Hoài Sam đứng trong phòng ngủ, tự nhủ với lòng: Mình có phúc dữ vậy à?

Người như cậu thì có phúc phần gì để mà hưởng trọn cả hai việc cùng một lúc như vậy, nói không chừng đã tạo đại nghiệt gì rồi.

Từ hồi cậu chạy theo tới đây rồi chính mắt nhìn thấy cổng lớn Tước Bất Lạc tự niêm phong đã lâu bị Thiên Túc quật mở, chưa một thời khắc nào cậu thoát khỏi trạng thái ngỡ ngàng…

Một là cậu nằm mơ, hai là cậu điên rồi.

Hai lăm năm.

Có đánh chết cậu cũng không dám ngờ, sau hai lăm năm, cậu muốn vào Tước Bất Lạc mà phải nhờ đến Thiên Túc thượng tiên. Lúc bước qua bậu cửa, cậu hãy còn trơ trơ cặp mắt.

Khuôn viên Tước Bất Lạc rất lớn, hành lang chằng chịt dọc ngang, nhiều gian nhà chen chúc, bản thân bố cục phòng ốc đã là một trận pháp. Phàm là người lạ bước vào đây chắc chắn rất dễ bị lạc giữa những hành lang này vì không phân biệt được các gian nhà bên trong, chứ đừng nói gì đến việc tìm được gian thành chủ ở.

Ninh Hoài Sam sợ hãi quá độ đến mức suýt quên chỉ đường. Vào đến hành lang rồi cậu mới sực nhớ ra, ngờ đâu chưa kịp há miệng nói gì đã thấy Thiên Túc bước thẳng tới trước, tiến về phía phòng ngủ thành chủ mà chẳng hề lỡ một nhịp chân nào.

Quả thật là… quen đường quen lối.

Ninh Hoài Sam sải bước mà đầu óc lâng lâng.

Khi còn đang lâng lâng, cậu nhủ thầm trong lòng “Phương Trữ ơi, mày về đây lẹ lẹ mà xem nè Phương Trữ ơi”, tiếc là Phương Trữ đã đâu mất rồi.

Cậu lẽo đẽo theo Thiên Túc vào phòng, còn ngỡ rằng mình không cách nào chen chân vào được. Chờ đến khi thấy Thiên Túc ôm thành chủ nhà mình đặt trên giường, cậu mới tìm được cơ hội xen vào, bèn hít một hơi thật sâu và gọi, “Thiên Túc…”

Cậu định nói dù rơi vào tình huống thế nào, thành chủ cũng sẽ giữ lại một phần thần thức bên ngoài, kể cả khi ngủ hay khi bất tỉnh cũng không ngoại lệ, còn nhỡ bị chết… thật ra cậu và Phương Trữ đã từng có ý nghĩ ngu ngốc rằng cho dù có chết thì thành chủ nhà mình cũng sẽ giữ lại một chút thần thức.

Mà chút thần thức này còn đáng ngại hơn khi thành chủ tỉnh táo, chỉ cần chạm đến chắc chắn sẽ tung ra sát chiêu, chạm vào bừa bãi thì tuyệt đối phải chết.

Lúc trước, khi nhóm bọn họ thừa cơ hội Thương Lang Bắc Vực đang đà sụp đổ mà lẻn vào trong, cậy đã thấy tận mắt cảnh tượng đó. Vừa khắc trước thôi, rõ ràng gần như không cảm nhận được hơi thở trên cơ thể thành chủ, mà ngay lập tức sau đó đã xé nát tên hung vật vồ về phía mình, rồi nhẹ nhàng đáp lên cành cây khô.

Khi đó, Ninh Hoài Sam còn có cảm giác rằng thành chủ đứng trên cành cây rồi mới mơ màng mở mắt ra.

Nên dù cho đám bọn họ bình thường vẫn dám cười dám nói với thành chủ, mà vào đêm hôm đó ai nấy đều run bắn người vì sợ thành chủ còn chưa tỉnh táo.

Trạng thái đó càng trở nặng hơn khi bước vào kiếp kỳ.

Cậu tính nói vào những lần kiếp kỳ trước đây, thành chủ cực kỳ, cực kỳ không muốn có người bên cạnh, đến giai đoạn mấu chốt thì phong ấn cả cửa phòng, không cho bất kỳ một ai nghe thấy mảy may động tĩnh nào bên trong.

Thế mà cậu vừa mở miệng nói đến chữ “cực kỳ” đã thấy Thiên Túc cúi người chạm nhẹ lên trán thành chủ.

Ninh Hoài Sam: “…”

Ninh Hoài Sam: “?”

Trong nhất thời, cậu còn chưa dám xác định hành động này là đang thăm linh hay là kiểm tra nhiệt độ.

Nếu thăm linh thì dùng ngón tay là được.

Còn kiểm tra nhiệt độ…

Kiểm tra cục cứt, cơ thể trong kiếp kỳ lạnh khác gì băng, đứng gần thôi cũng cảm nhận rõ rệt chứ cần gì kiểm tra?

Sau đó, cậu thấy Thiên Túc buông mắt, ngón tay cong lại chạm lên mặt thành chủ và khẽ lau qua bên má. Nơi ngón tay lướt qua thoáng hồng hào đôi chút, rồi chẳng được bao lâu đã trả về tái nhợt.

Ninh Hoài Sam đăm chiêu, không dám nhúc nhích.

Bấy giờ, Thiên Túc mới quay mặt sang nhìn cậu với hàng mày còn nhíu chặt chưa thả lỏng, y nói, “Vừa rồi ngươi tính nói gì?”

Ninh Hoài Sam lùi ra sau một bước, đáp, “Ta không nói gì hết.”

Khoảnh khắc vừa nãy, cậu nhớ lại rất nhiều những đoạn ngắn — nhớ tới những gì mình thấy ở nhà họ Phong; rồi lại nhớ tới thời điểm lúc vừa bước vào Chiếu Dạ thành, khi thành chủ thiết lập đèn thanh minh tảng lờ Thiên Túc để y vào trong; và nhớ cả những phản ứng và hành động làm cậu thắc mắc đầy đầu từ trước đó nữa…

Cậu nhanh chóng đúc kết được một vấn đề — có lẽ Thiên Túc thượng tiên muốn giúp thành chủ nhà cậu vượt qua kiếp kỳ.

Còn giúp cách nào, không biết.

Chỉ cần cậu phắn lẹ là được.

“Thiên Túc, ta đi…” Ninh Hoài Sam nói mà không ý thức được mình nói gì, chỉ vội vàng vung bừa cái cớ, “Phương Trữ mãi không thấy đâu, để ta đi tìm xem.”

Nói đoạn, cậu lập tức phóng vèo ra khỏi phòng ngủ, vừa bước ra khỏi thềm cửa đã nghe một tiếng <i>rầm</i> to tướng!

Cửa phòng dập kín ngay sau gáy cậu.

Ninh Hoài Sam: “…”

Cậu còn tưởng đi chậm một bước thôi là bị kẹp chết tại chỗ rồi.

Vừa bước xuống tới bậc thang, cậu đã chợt nghe thấy tiếng người thấp thoáng bên ngoài sân từ xa đến gần. Trong những âm thanh thấp thoáng đó có những tiếng gọi “Thành chủ” và “Thành chủ đời trước” xen kẽ lộn xộn.

Ninh Hoài Sam ngỡ ra một chốc, lòng nhủ <i>không ổn rồi!</i>

Tước Bất Lạc giải trừ phong ấn dẫn đến chấn động khủng khiếp, ba mươi ba đợt sấm sét nện xuống mặt đất, tất cả những người ở Chiếu Dạ thành phàm là không bị điếc thì chắc chắn đã biết cả rồi. Có thể đoán được có bao nhiêu trong số chúng sẽ nghe tiếng mò đến, và có bao nhiêu trong số mò đến mang ý đồ thâm độc.

Thế nhưng niêm phong tự lập của Tước Bất Lạc đã giải trừ, dưới áp lực của những kẻ tề tựu chung quanh thì chẳng khác nào mở toang cổng chính…

Đầu Ninh Hoài Sam sắp nổ tung tới nơi!

Trong Chiếu Dạ thành, cậu cũng được liệt vào hàng có danh tiếng, nhưng hiện tại Phương Trữ không có mặt, bộ đôi Tước Bất Lạc giờ còn mỗi mình cậu. Một người khó chống lại cả đội quân, làm sao cậu gánh cho nổi???

Cậu vừa tự nhủ trong lòng <i>thôi nát rồi</i>, vừa vung hai tay giữa không trung. Chỉ trong nháy mắt, khí độc tuôn ra khắp bốn phía —

Cậu cúi gằm mặt tính phóng ra bên ngoài thì chợt nghe tiếng kim loại leng keng như có như không.

Ninh Hoài Sam sững chân, ngẩng đầu nhìn lên theo tiếng vang. Cậu thấy bầu trời Tước Bất Lạc chợt hiện ánh vàng, lấp loé như ánh nắng phản chiếu trên làn nước mặt hồ rồi rọi thẳng xuống từ đỉnh đầu.

Dòng ánh sáng ấy phủ kín bốn bề đông tây nam bắc, che lấp toàn bộ hết thảy những gian nhà trùng điệp, hành lang nối tiếp và khoảnh sân thênh thang của Tước Bất Lạc vào trong.

Ninh Hoài Sam chưa từng thấy thứ này bao giờ, cậu ngỡ ngàng há hốc mồm một lúc lâu. Đến tận khi ngửi thấy hơi thở rét buốt của sương giá và sắt lạnh, cậu mới nhận ra đó là kết giới mà Thiên Túc lập nên nhằm bao phủ toàn bộ Tước Bất Lạc và phong ấn mọi thứ bên trong.

Trước khi kết giới phong ấn hạ xuống, còn nghe thấy tiếng người rầm rì từ xa đến gần bên ngoài sân.

Còn khi kết giới đã rơi xuống hoàn chỉnh, tất cả âm thanh đều bị cản lại bên ngoài.

Kết giới đó vững chắc như kim cương, cứng cáp như tường đồng vách sắt, bao bọc không chỉ gian nhà nơi Ô Hành Tuyết đang hôn mê mà cả Ninh Hoài Sam đang ở bên ngoài.

Ninh Hoài Sam thấy lòng tràn ngập muôn vàn bối rối, cảm xúc ngổn ngang.

Một Thượng tiên lại ra tay che chở căn phủ bỏ hoang người người thèm khát trong Động Ma Chiếu Dạ thành.

Mà nơi đây còn từng là chỗ ở của vị ma đầu khét tiếng nhất Chiếu Dạ thành.



Kỳ diệu làm sao, khi ngẩng đầu lên, trong một loáng mắt cậu chợt thấy hình ảnh này sao mà quen thuộc quá.

Giống như trước đây, cậu và Phương Trữ từng ngửi thấy hơi thở Thiên Túc trong khu nhà này.

Và dường như rất lâu về trước, cậu cũng từng ngước mặt lên như thế đặng nhìn thành chủ nhà mình trên một mái hiên cao cao, tay mang vò rượu và cười niềm nở mời một người khác ghé sang.

Ninh Hoài Sam ngờ rằng mình bị ám mất rồi. Hiện tại, cậu rất cần có Phương Trữ kề bên, mà cái thằng Phương Trữ trời đánh kia mãi không thấy mặt mũi đâu.

Ninh Hoài Sam bước ra rìa sân, tay vung thủ quyết để thăm dò một lượt hơi người bên ngoài nhà. Cậu phát hiện ra nhiều gương mặt xa lạ lẫn quen thuộc, thậm chí trong đó còn có tay thuộc hạ th@n tín với bản mặt ưa cười hay kè kè bên cạnh Tiết Lễ.

Nhưng không thấy Phương Trữ.

Cậu vừa thắc mắc vừa thấy thật lạ, bèn lấy một tấm bùa, rạch ngón tay vẽ mấy nét rồi tung bùa ra ngoài. Cậu dùng độc sành sõi nhất, bùa thì học mãi chẳng xong nhưng lạ chỗ trời sinh ra đã có thể sử dụng như vậy rồi.

Cậu là một tiểu ma đầu, mà chẳng hiểu sao thiên phú đó không nằm ở sát chiêu mà lại rơi vào những thứ kém thú vị không cần học cũng biết như tìm người, truyền tin, và những chiêu lặt vặt mà chỉ bọn con nít mới chơi, kỳ quặc hơn cả là kỹ năng đốt đèn bắn pháo hoa.

Cậu còn từng nghi ngờ rằng kiếp trước mình sống những tháng ngày quá rỗi rãi, người đã dạy dỗ cậu thích trêu đùa cậu hoặc cậu chỉ là một thằng ngốc không hơn không kém.

Cậu nặn phù tìm người cực kỳ thuần thục, đoạn giấu hơi thở đi và ném ra ngoài.

Nhưng thật ngạc nhiên, tấm bùa kia không bay về phía Lạc Hoa Đài hay bất kỳ hướng nào mà chỉ lững thững trong vô định tại chỗ một hồi rồi tự cháy trụi.

Tấm bùa toé lên ánh lửa rồi rơi thẳng xuống đất, Ninh Hoài Sam nhìn mà nghệch cả người.

Phù thuật kiểu này đã được lưu truyền qua hàng trăm năm, dù tiên ma đi nữa thì cách thực hiện cơ bản vẫn là như nhau, có truyền lại cho đời sau cũng không tạo thêm khác biệt gì.

Nói cách khác, một khi nó đột ngột rơi xuống đất chỉ có một ý nghĩa duy nhất, đó là người đã không còn.

Ít nhất là không còn ở hiện thế.

“Không phải là bị kẹt ở quá khứ đó chứ?”

Ninh Hoài Sam lầm bầm, đoạn lại tung thêm hai tấm phù tìm người để tìm Phương Trữ nữa nhưng vẫn hoàn không.

Vậy cái tên lấm lét Y Ngô Sinh kia còn sống không?

Ninh Hoài Sam đổi đối tượng tìm, tung ra thêm mấy tấm phù tìm người nữa nhưng kết quả thu được với Y Ngô Sinh cũng tương tự Phương Trữ.

Hoá ra họ thật sự chưa bị đẩy ra ngoài mà vẫn còn ở lại trong quá khứ.

Là do gặp trục trặc hay do họ đã gặp phải chuyện gì đó?

Ninh Hoài Sam giật thót trong lòng, tình huống tạm thời không phù hợp để rời khỏi Tước Bất Lạc, cậu đành phủi vạt áo ngồi xuống thềm đá trắng, vừa tính bảo vệ cho thành chủ vừa nghĩ cách truyền tin cho Phương Trữ và Y Ngô Sinh.

***

Bậc đá nơi Ninh Hoài Sam đang ngồi cũng là bậc đá Phương Trữ đã ngồi năm xưa.

Khi đó, Ô Hành Tuyết hạ cấm chế trong phòng ngủ nên hết thảy động tĩnh trong phòng đều không truyền ra ngoài, người bên trong cũng không rời khỏi phòng. Phương Trữ biết rõ rằng thành chủ làm vậy cũng là một cách để giữ an toàn cho hắn, dù sao thành chủ lúc không tỉnh táo đáng sợ hơn nhiều.

Cũng bởi vì biết vậy, nên hắn càng không thể không bận tâm.

Tuyết đóng bên ngoài sân Tước Bất Lạc rất dày, lạnh lẽo đến kinh hoàng, theo thói quen từ trước, Phương Trữ ở trong phòng mình suốt một đêm hòng lánh nạn, định chờ đến lúc sát khí bên ngoài cấm chế vơi bớt thì sẽ tiến lại gần phòng ngủ để canh cửa cho thành chủ.

Trong lúc vận khí kình chống lạnh, hắn cũng chăm chú để ý từng động tĩnh bên ngoài sân.

Ngay lúc đó, hắn nhận thấy sự xâm nhập của một người sống.

“Không biết sống chết…” Phương Trữ thấp giọng mỉa mai, phóng mình lên nóc nhà.

Hắn học được một chiêu nhỏ từ thành chủ là phân tách thần thức của mình tấn công từ một phía, nhưng đồng thời lại giấu hơi thở của mình sang một hướng khác. Nhờ vậy mà không tốn bao nhiêu sức lực, hắn đã có thể vừa ẩn mình trong một góc mà vẫn bắt được hai trò đùa muốn tọc mạch kia.

Bên dưới tàng cây có một đầm máu, sau khi trói chặt hai tên xâm nhập lại và phong ấn mũi miệng chúng nó, hắn suy sét một chút rồi quyết định đến bên cạnh cửa sổ phòng ngủ.

Khung cửa sổ đặt gần vị trí giường nhất, bấy giờ song cửa đóng kín kẽ, giữa những khung chạm hoa văn chỉ còn một màu đen kịt, không thể nhìn thấy và cũng không thể nghe thấy một chút âm thanh nào từ bên trong, hết thảy chỉ còn một khoảng im ắng.

Nhưng Phương Trữ biết, Ô Hành Tuyết có thể nghe tiếng hắn. Bởi vậy, hắn hít vào một hơi thật sâu rồi đưa tay gõ nhẹ vào khung cửa sổ và nói, “Thưa thành chủ, có kẻ chán sống dám bén mảng vào Tước Bất Lạc, nhưng ta đã trói chúng lại rồi nên sẽ không có phiền hà gì nữa, giờ ta vứt chúng bên cạnh đầm máu, khi nào thành chủ xuất quan cứ tuỳ ý xử lý.”

Có một chuyện Phương Trữ không biết, đó là…

Ngay khi hắn thưa một tiếng “thành chủ”, trong căn phòng phía bên kia song cửa sổ, có một cánh tay mảnh khảnh trắng ngần duỗi ra khỏi bức rèm, nắm vào đường viền chạm trổ trên khung cửa rồi trượt dần xuống dưới.

Cánh tay men đến chiếc chuông bạch ngọc đang nằm tĩnh lặng trong một góc, mặt chuông nơi những nơi ngón tay lướt qua đều trở nên ẩm ướt.

Cánh tay kia muốn ôm chuông bạch ngọc vào lòng bàn tay, nhưng đã bị một bàn tay với những đốt ngón thẳng thóm và thon rõ đan vào giữa các ngón tay, nắm lấy kéo trở về.

Giữa lúc hỗn loạn, mùi máu nhàn nhạt xen lẫn trong hơi thở sắt lạnh bủa tràn, lấp kín toàn bộ mảnh đất bí mật.

Có tiếng một ai đó thốt lên sau bao âm thanh rối ren, giọng nói ấy khàn nghẹn gọi, “Tiêu Phục Huyên…”

“… Có phải ta từng giết ngươi không?”

Có phải ta từng giết ngươi trong toà tháp cao kia…

Đã không nhớ rõ rốt cuộc bao nhiêu lần.

Trong khoảnh khắc đó, hết thảy giác quan đều thật rõ rệt và cháy bỏng.

Kh0ái cảm và khốn đốn đan xen lẫn lộn. Bất giác, sương mù mê ám dâng trào trong mắt Ô Hành Tuyết, phủ trên sắc đỏ nhuốm tràn trong đáy mắt.

Dường như nó cháy bỏng đến mức đã khảm sâu vào xương tuỷ.

Khoảnh khắc ấy là lúc Ô Hành Tuyết choàng tỉnh…

***

Vừa choàng tỉnh khỏi giấc mơ, cái lạnh buốt thấu xương của kiếp kỳ trỗi lên dồn dập, không khác nào sương mù chẳng thể phủi tan.

Và một thứ khác cũng trở nên rõ ràng hơn hết là hơi thở thuộc về một người khác. Khí kình người kia đang không ngừng tuôn vào vào kinh mạch chàng, hoà vào dòng máu đồng hành cuồn cuộn hướng về trái tim, lan tràn khắp cơ thể.

Những nơi khí kình kia lướt ngang, cái rét thấu xương cũng dịu nhẹ thoáng chốc. Tựa như ngâm bàn tay bị đông cứng xuống suối hồ ấm áp…

Nhưng cũng chỉ một giây lát mà thôi.

Cái cảm giác ấm lạnh đan xen rối ren này trùng khớp hoàn toàn với khung cảnh trong mơ.

Vô số những mẫu ký ức nhỏ vụn trong mơ lùa về, kéo theo biết bao cảm xúc đong kín lồ ng ngực chàng. Giữa lúc nhất thời, chàng còn chưa rõ mình đang muốn nói gì, đang muốn làm gì.

Chàng mở mắt ra không nổi, mà cũng không hé được miệng.

Chót cùng, chàng nhẩm một cái tên trong lòng, “Tiêu Phục Huyên…”

Chàng tưởng người nọ sẽ không thể nghe thấy, rằng không một ai có thể nghe thấy.

Nhưng chàng sai rồi.

Hai người họ đang quấn quýt khí kình cùng nhau.

Giọng Tiêu Phục Huyên vẫn vang lên kề cận con tim, sâu trong cơ thể chàng, “Tỉnh rồi?”

“Tiêu Phục Huyên,” Ô Hành Tuyết khẽ gọi lần nữa.

“Ta đây,” người kia lại trầm giọng đáp lời.

Câu nói sau cùng trong giấc mơ len lỏi trong hình ảnh ô cửa sổ luôn mở rộng hướng phía nam toà tháp cao trỗi dậy trong lòng, Ô Hành Tuyết nghẹn ngào hỏi, “Tiêu Phục Huyên… vì sao nơi ngươi ở có tên là Nam Song Hạ?”

Tiêu Phục Huyên im lặng.

“Vì trước đây ngươi ở trên toà tháp Kinh Quan à.”

“Tiêu Phục Huyên, có phải ta từng giết ngươi hay không?”

“Có phải ta từng… giết ngươi không chỉ một lần hay không.”

Vào khoảnh khắc đó, đến dòng máu đang cuộn trào trong cơ thể chàng cũng rơi vào tĩnh lặng, chỉ để lại khí kình rung động ấm áp đang bao bọc quanh con tim —

Tiêu Phục Huyên nói, “Ta quên rồi.”

Im lặng một lúc, y lại tiếp tục, “Ta chỉ quan tâm hiện tại thôi.”

Giọng y nghe vào như đang dỗ dành, cất lên sâu nặng, “Ô Hành Tuyết, ngươi mơ thấy ta.”

Linh Vương có một pháp khí mang tên “chuông mộng”, là phương pháp duy nhất mang đến giấc mộng cho tiên nhân. Và người khó nằm mộng nhất thế gian cũng chính là bản thân Linh Vương. Trừ phi chịu ảnh hưởng của chuông mộng trong tay, bằng không dẫu sinh tử hay ái hận cũng khó lòng đặt chân vào giấc mộng. Chỉ e khi thành ma đầu rồi cũng chẳng khác chi đâu.

Thế mà giờ đây, trên tay chàng không cầm chuông mộng, nó thậm chí còn không treo bên hông.

Chiếc chuông bạch ngọc be bé kia đang nằm trên góc tủ cạnh đầu giường, không tác động nổi đến chàng.

Nhưng không ngăn được chàng chìm vào giấc mộng.

Tiêu Phục Huyên nói, “Ngươi cũng mơ thấy ta.”

<i>Ngươi từng giết ta, từng cứu ta.</i>

<i>Giờ lại mơ thấy ta…</i>

<i>Lòng ngươi nhớ về ta.</i>

Nghe được câu nói ấy, Ô Hành Tuyết hẫng nhịp hô hấp.

Huyết mạch trong cơ thể tức thì chuyển động, khí kình kia đang chạm trên hết thảy các huyệt trọng yếu trong cơ thể và bao bọc lấy con tim, từng nơi nó chảy qua đều chan hoà hơi thở ấp áp cháy bỏng của Thiên Túc.

Ngay khoảnh khắc ấy, cơn rét và nỗi đau giày vò thoáng thuyên giảm, cuối cùng Ô Hành Tuyết cũng mở mắt ra.

Chàng nhìn vào gương mặt thuần khiết như ngọc lạnh của Tiêu Phục Huyên, giống hệt như lần đầu gặp gỡ trên tiên đô nhiều trăm năm về trước. Đôi mắt dài chan chứa tia sáng phản chiếu ánh đèn, rủ bóng dọc theo sống mũi.

Ngón cái Tiêu Phục Huyên giữ nhẹ trên cằm chàng, y nghiêng người hướng tới.

Cũng như thế trên mái hiên Tiên Đô mấy trăm năm trước.

Cũng như thế trên giường Tước Bất Lạc mấy chục năm trước.

Cũng như thế vào lúc này…

Khác ở lần này ngay khi họ chạm chóp mũi, Tiêu Phục Huyên thoáng ngừng mà không hôn xuống. Đôi mắt đang khép hờ của y khẽ lay động, rơi trên cánh môi Ô Hành Tuyết.

Y thấp giọng bảo, “Há miệng.”

Lời tác giả:

Bị bắt đi ăn đám cưới, mọi người chờ lâu rồi QAQ

Cá:

Huyên Bảo bá đạo quá, nghĩ tới giọng thôi cũng ngạt thở rụng tym (⁄ ⁄>⁄ ▽ ⁄
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 66: Đáp lễ


Chắc hẳn đêm nay, không một ai trong Chiếu Dạ thành có thể ngủ.

Sau khi niêm phong tự dựng của Tước Bất Lạc bị giải trừ bởi ba mươi ba đợt thiên lôi kinh thiên động địa, phàm là tà ma yêu đạo trong thành còn có hai chân để chạy thì hầu như đều có mặt ở đấy. Còn nếu không thể phân thân thì cũng thả bùa giấy, con rối, và đủ thứ loại vật phẩm để giúp chúng dò la.

Bởi vậy, mỗi toà lầu các bao quanh Tước Bất Lạc đều ngập người, có một số kẻ không thích bon chen còn bu cả l3n đỉnh mái nhà. Nhìn thoáng qua sẽ thấy rất nhiều bóng đen di chuyển qua lại, có gần có xa, vây quanh thành vòng.

Rất có cảm giác quần ma tề tựu.

Giữa tiếng ồn ã, có người bật hỏi, “Lúc trước chúng mày thấy thành chủ ở đây hả?”

“Chưa thấy rõ mặt.”

Có người chỉnh lại, “Thành chủ đời trước.”

“Trước hay không còn chưa biết.”

“Đúng, này còn phải chờ xem.”

“Vậy tức là thành chủ trở lại thật hả?”

“Mày hỏi cái câu ai cũng biết, Ninh Hoài Sam với Phương Trữ đi theo thành chủ lâu nhất nên cũng được xếp làm tâm phúc đúng không? Mà trước đây hai người họ còn không mở được cổng chính Tước Bất Lạc, vậy thì còn ai khác mở được nữa?”

Có kẻ cất giọng giễu cợt, “Nhắc tới chuyện này mới nhớ, tao cũng phải thở dài một câu thật đáng thương.”

“Ai đáng thương?”

“Họ Ninh với họ Phương chứ ai.”

“Hửm… tại sao thế?”

“Tao nghe đâu trước khi Thương Lang Bắc Vực sụp đổ thì Ninh Hoài Sam và Phương Trữ rời khỏi thành đúng không?”

“Ừ đúng. Hôm đó ngay lúc tao vừa về thành thì gặp bọn họ đi ra, lúc đi dắt theo một ít người à, làm tao còn tưởng chỉ ra ngoài thường thường để tìm người sống. Giờ nghĩ lại mới thấy không chừng là đi tới Thương Lang Bắc Vực thật.”

Kẻ chế giễu kia lại tiếp tục, “Nên tao mới nói chúng nó vừa ngu ngốc vừa đáng thương, cũng là yêu ma tu tà đạo với nhau cần gì phải trung thành như vậy. Mà trung rồi có được nhận lại gì đâu, tư cách vào cửa còn không có kia kìa. Trong mắt thành chủ, chúng chỉ là hai con chó không hơn.”

Ninh Hoài Sam đang vung bùa để theo dõi động tĩnh bên ngoài sân thì nghe lọt tai mấy câu vừa rồi. Cậu ngừng tay một chốc, hồi lâu mới bĩu môi rồi đảo mắt một vòng.

Thật ra, lúc thành chủ vừa xảy ra chuyện hồi năm đó, cậu cũng từng có suy nghĩ như vậy. Bỗng dưng về đến nhà để đối diện với một cánh cổng kín kẽ không vào được sau khi vừa quay lại từ chốn binh hoang mã loạn, thì dù có là ai cũng khó tránh nhói lên sự chán nản và sầu muộn.

Đó cũng là lúc cậu nhận ra lý do mình vẫn luôn ở lại Tước Bất Lạc không hẳn là do sợ hãi, mà lòng cậu cũng đã có phần xem đây như một mái nhà.

Cũng bởi thế mà cậu tức giận thật sự.

Tính tình cậu vốn đã nóng nảy, đợt đó cậu càng bùng nổ chẳng khác nào chó dữ đụng đâu cắn đó. Rốt cuộc cắn trúng đầu Phương Trữ, rồi bị Phương Trữ đè ngược đấm nhau một trận.

Lần đó cậu đánh tới mức… máu me tung toé.

Dĩ nhiên là cái kết của Phương Trữ cũng không khá khẩm gì hơn, sau khi quần nhau một trận xong thì cả hai đều phải bế quan để tĩnh dưỡng một khoảng thời gian dài mới hồi phục.

Có điều trong lúc bế quan, Phương Trữ đã nói với cậu rằng, “Sau khi xuất quan, mày cút ra mà nhìn thử rồi sẽ biết, niêm phong bên ngoài Tước Bất Lạc mà cả tụi mình cũng không vô được không phải do thành chủ hạ, mà cam đoan là Tước Bất Lạc tự mình phong ấn.”

Sau đó Ninh Hoài Sam đến xem thử thật, kết quả suýt chút đã đi tong nửa cái mạng. Thế là cậu đến tìm Phương Trữ đấm nhau thêm một trận nữa, và tiếp tục bế quan hai tháng. Nhưng cậu phải thừa nhận rằng Phương Trữ đã nói đúng.

Những kẻ khác trong Chiếu Dạ thành có thể khó tách biệt và cũng không chú tâm để tách biệt, còn cậu và Phương Trữ đã quá quen thuộc với hơi thở của cấm chế do thành chủ đặt ra nên có thể dễ dàng khẳng định đó không phải do thành chủ thiết lập.

Biết được như vậy giúp cậu thoải mái trong lòng ít nhiều.

Từ hôm đó, cả cậu lẫn Phương Trữ đều đau đáu rằng cái nơi “Tước Bất Lạc” này có điểm khác thường, dường như bản thân nó có linh.

Phương Trữ còn nói, “Không biết chừng sau này sẽ có kẻ lăm le Tước Bất Lạc, nên giờ niêm phong lại cũng là chuyện tốt.”

Nói một lời mà thành sấm thật — tân thành chủ Phong Tiết Lễ vừa tới đã lăm le nơi này.

Hiếm có ai trong Chiếu Dạ thành biết được việc thực chất Ninh Hoài Sam và Phong Tiết Lễ từng đối đầu trực tiếp vào cái hôm Phong Tiết Lễ muốn xông vào Tước Bất Lạc.

Phương Trữ vẫn hay nói tính Ninh Hoài Sam “như chó”, mà Ninh Hoài Sam cũng tự thấy thế thật, vì phải tu độc nên đầu óc và vóc người cậu vẫn trì trệ trong hình dáng thiếu niên, đâm ra tính nết cậu cũng ngưng phát triển ở độ tuổi đó luôn rồi và cực kỳ nóng nảy thiếu kiên nhẫn.

Sau khi nghe Phương Trữ nói, cậu cũng cảm thấy “có kẻ lăm le Tước Bất Lạc”, nên lúc rỗi rãi không có gì làm liền đến “tuần tra” vòng vòng quanh nơi ấy, vừa dịp đụng độ Phong Tiết Lễ.

Đó là lần đầu tiên cậu thấy rõ dáng vẻ Phong Tiết Lễ.

Khí chất toát ra từ trên người hắn cực kỳ thiếu hài hoà. Xuất thân từ tiên môn cho hắn một gương mặt duyên dáng vào hàng “đoan trang mẫu mực”, vậy mà bên cổ hắn lại trổ một hoa văn lớn theo hình đoá hoa kéo dài đến nửa dưới gương mặt. Một nét trổ vừa khéo chạm ngay mép miệng tạo cảm giác khoé miệng bên đó luôn vểnh lên, trong khi bên còn lại vẫn nằm thẳng.

Ninh Hoài Sam chỉ nhìn lướt qua thôi cũng thấy chướng mắt khó chịu. Chưa kể, hắn ta còn muốn bén mảng vào Tước Bất Lạc, chuyện này càng khiến cậu khó chịu cực kỳ.

Vốn là Ninh Hoài Sam có thể đứng ngoài chờ xem Phong Tiết Lễ bị cấm chế đánh ngược lại. Nhưng cậu đã không nén được lửa giận nên hung hãn nhảy bổ vào ngay lập tức.

May mà cậu hung hãn còn có mức độ, biết tận dụng phong ấn tự dựng của Tước Bất Lạc.

Ở Chiếu Dạ thành, ai cũng biết Phong Tiết Lễ bị Tước Bất Lạc cắt lìa một bàn tay, và phải nuôi rất lâu mới trở lại như cũ. Song có một việc không ai biết, kết quả đó là nhờ hành vi khích tướng của Ninh Hoài Sam.

Có điều, hôm đó Ninh Hoài Sam bị thương còn nặng nề hơn, suýt chút đã đi tong một mạng. Sỡ dĩ nói “suýt chút” là bởi vì ngay thời điểm hứng chịu sát chiêu của đối chương, có một tấm chắn đột ngột phóng ra từ trong thân thể và bảo vệ linh phách cậu.

Ban đầu, Ninh Hoài Sam không biết tấm chắn này từ đâu ra, có đến mấy hôm sau cả người cậu đều rét run lạnh cóng như rơi vào hầm băng, bấy giờ cậu mới dần dà hiểu cơ sự diễn ra ngày hôm đó —

Vào một năm nào đó sau khi bước chân vào Tước Bất Lạc mà cậu chẳng còn nhớ rõ, chỉ nhớ lần đó cậu gặp trúc trắc trong quá trình tu luyện, dẫn đến đổ bệnh hết mấy ngày. Lúc ấy, đầu óc cậu bộn bề hỗn loạn nên mắc không ít sai lầm, rồi bị thành chủ gọi tới.

Khi này cậu còn sợ Ô Hành Tuyết mất mật, vừa thấy người nọ nhấc tay lên đã nghĩ mạng mình sắp ngoẻo tới nơi nên thảng thốt nhắm mắt lại. Thế mà chỉ thấy bị úp một chưởng lên đầu.

Cái úp tay kia cũng không nặng, nhưng lúc nó chạm vào da đầu gây tê liệt không khác gì bị dội nước đá từ trên xuống, lạnh đến mức máu cũng đông cứng lại.

Ninh Hoài Sam nhất thời giật run mình, sau một hồi mới mở mắt ra với nét mặt xanh lè và hỏi thành chủ, “Đây là gì thế ạ?”

Thành chủ liếc cậu, trả lời, “Còn gì nữa? Trừng phạt.”

Sau này nhớ lại thì thấy giọng điệu thành chủ giống như nói quá để doạ cậu thôi. Có điều Ninh Hoài Sam lúc xưa sợ muốn phát điên, cứ tưởng thành chủ hạ thuật pháp gì trên người mình. Bởi vậy mà có một khoảng mấy năm sau đó, cậu cứ canh cánh lo sợ mình sẽ tự dưng bị nổ chết bất đắc kỳ tử lúc nào không hay.

Rồi lâu sau không thấy động tĩnh gì, cậu cũng quên bẵng nó đi. Đến khi hứng chịu sát chiêu của Phong Tiết Lễ mới sực ngẫm lại — tấm chắn bảo mệnh ngay thời khắc mấu chốt kia có lẽ chính là thuật pháp thành chủ hạ lên người cậu năm nào.

Tính tình thành chủ thâm trầm khó đoán, không chừng hành động ngày đó chỉ bộc phát từ một phút vui vẻ nhất thời chứ không chứng tỏ được nhiều nhặn gì.

Nhưng mà…

Nhìn đi, làm gì có ai coi cậu với Phương Trữ là chó đâu.

Không một tà ma nào trong Chiếu Dạ thành đàm luận tình cảm, thế nhưng đôi lúc cũng có người đáng để trao tấm lòng trung.

Nên cậu nguyện lòng đi đến Thương Lang Bắc Vực, và giờ đây nguyện lòng ngồi bên bậc thềm canh gác, đảo mắt khi nghe thấy tiếng giễu cợt của những kẻ thèm thuồng bên ngoài sân.

Cậu lấy ra hai tấm phù nữa, dùng một tấm để tìm tung tích của Phương Trữ, tấm còn lại kiểm tra tình hình ngoài sân. Cậu thấy đám tà ma yêu đạo kia tụ tập xung quanh đây nhưng chỉ bàn tán chứ không động thủ, hình như chúng đang rơi vào sự bế tắc âm ỉ nào đó — ai cũng muốn biết thành chủ đời trước quay lại còn giữ được bao nhiêu phần sức lực, muốn biết hiện tại có thể bước vào Tước Bất Lạc đã giải trừ phong ấn hay không.

Nhưng không ai dám tiên phong thử vấn đề đầu tiên cả, tất cả đều đang chờ đợi…

“Nhát cáy,” Ninh Hoài Sam thản nhiên dựa lưng vào bức tường phía sau, đầu tựa vào cánh tay, chống tay trên gối và bỡn cợt mấy kẻ ngoài kia như đang xem trò vui.

Không bao lâu sau, đã có kẻ mất đi kiên nhẫn và xuất chiêu —

Kẻ động thủ đó không ai khác hơn ngoài tên thuộc hạ mặt cười của Phong Tiết Lễ. Tên thuộc hạ đó có một đôi mắt và đôi môi cong lên cả ngày, trông không khác gì ba vòng cung hẹp dài. Cái biểu cảm đó dường như đính chặt trên mặt gã toàn thời gian và không bao giờ thay đổi. Từ đó mà gã có cái tên “Tiếu Hồ” (1).

<i>(1) Tiếu Hồ: Hồ ly cười.</i>

Tiếu Hồ vung tay lên, một lưỡi đao ánh bạc cong vút như trăng lưỡi liềm phóng vọt ra ngoài và đâm thẳng vào Tước Bất Lạc.

Chỉ nghe một tiếng va chạm <i>keng</i> kinh hoàng!

Lưỡi đao đập vào tầng kết giới giữa thinh không, toé lửa ánh kim khắp mọi hướng, áp lực nặng tựa Thái Sơn dội mạnh ra ngoài.

Ánh bạc loé lên trong chớp nhoáng, lưỡi đao văng ngược trở lại.

Dưới áp lực quá khủng khiếp, lưỡi đao bị đẩy ngược tăng tốc còn mang sức công phá mạnh mẽ hơn với tốc độ loáng như một tia sét.

Tiếng gió thét gào xé toạc không trung trong nháy mắt, hai kẻ đứng gần nhất không kịp né đã bị gió đao quét tới, cả người sững sờ.

Trên mặt chúng vẫn giữ nguyên nét cười giễu cợt, ngay khắc tiếp theo đã lìa đầu khỏi cổ, lăn lộc cộc trên mặt đất.

Tiếu Hồ hạ tay xuống muốn bắt lấy thanh loan đao thì chứng kiến cảnh tượng đó, gã khựng cả người nhưng không còn rút tay về kịp nữa. Vừa thấy lòng bàn tay thoắt lạnh, toan với lấy chuôi đao thì đã không cảm giác được ngón tay mình đâu.

Gã trân trối thừ người, thấy một nửa lòng bàn tay mình rơi <i>đạch</i> xuống đất bên cạnh chân.

Người người bao vây đủ bốn bề Tước Bất Lạc, mà hết thảy đều chìm vào sự im lặng chết chóc, rất lâu sau, âm thanh lại lần nữa bất chợt sôi trào.

Ninh Hoài Sam dừng cái chân đang rung rung bắt chéo, đứng thẳng người dậy. Vừa kịp thấy tên Tiếu Hồ kia ôm chặt cánh tay mình, ném một ánh mắt thăm thẳm về phía Tước Bất Lạc rồi ngoảnh đầu len thẳng vào màn đêm, có thể dễ dàng đoán ra là đi báo cáo cho Phong Tiết Lễ.

Ninh Hoài Sam thoáng nhìn qua cửa sổ phòng ngủ, lòng rối bời không rõ có nên đánh tiếng với Thiên Túc trong phòng hay không.

Dù đối với cậu, thằng chó Phong Tiết Lễ không có cửa địch lại một cái móng tay của thành chủ nhà mình nên đếch cần phải sợ. Nhưng cậu vẫn thấy cái tên đó rất ư quỷ dị, khó lường vô cùng.

Cậu đi đến cạnh khung cửa, tay cũng đã vươn lên thì bất chợt nhớ tới lời khuyên mà Phương Trữ bảo mình năm nào.

Phương Trữ nói, “Tuyệt đối không được gõ cửa sổ phòng thành chủ trong thời gian kiếp kỳ, cho dù chỉ bẩm báo đôi ba câu cũng không được.”

Khi đó Ninh Hoài Sam còn rất chi tò mò. “Ủa tại sao? Mày thử chưa?”

“Thử rồi.”

Phương Trữ giơ hai ngón tay lên, nói, “Thứ nhất là sẽ không ai trả lời mày, thậm chí tới một chút động tĩnh cũng không, cơ bản là thành chủ không hề đáp lại. Thứ hai, sau khi thành chủ bỏ phong ấn rồi cũng không nhắc tới chuyện đó nữa, tao còn tưởng ngài không nghe được nên bẩm báo lại một lần, vậy mà nét mặt ngài ấy lúc đó rất là…”

Ninh Hoài Sam: “Rất là thế nào?”

Phương Trữ cũng không biết nên diễn tả thế nào, ngắc ngứ hồi lâu mới nói, “Nói chung rất là phức tạp, mày cứ nhớ đừng chơi dại như vậy là được.”

Hiện tại Phương Trữ không có ở đây, nhưng Ninh Hoài Sam vẫn quyết định tin theo lời khuyên hắn lần này và nhẫn nhịn không gõ cửa.

***

Ninh Hoài Sam trằn trọc không nghỉ. Cậu cẩn thận canh giữ cả một đêm, vừa lo lắng sợ thành chủ trải qua kiếp kỳ gặp vấn đề, vừa lo lắng Phong Tiết Lễ sẽ nhân lúc này mà tìm tới.

May mà đến tận trưa ngày hôm sau, Phong Tiết Lễ cũng chưa tìm đến nhiễu sự…

Tuy vậy, đến gần chính ngọ cậu vẫn gõ cửa sổ, vì sau khi thả ra không biết bao nhiêu phù tìm kiếm thì cậu đã nhận được tin tức, và còn là tin khá tốt —

Cho hay Phương Trữ đã trở lại và đang trên đường đến Tước Bất Lạc.

Tiểu tử kia không biết đã kinh qua cái gì trong dòng quá khứ mà bây giờ nhuốm vẻ mệt nhoài, mặt mũi tái mét, có điều cánh tay bị chặt đứt đã mọc lại như cũ.

Khốn chỗ phù tìm kiếm không hiệu quả bằng mắt thường mà chỉ cảm nhận được sơ bộ, còn tình hình thực tế phải chờ hắn vào trong rồi mới xem xét kỹ hơn được.

Ngặt nỗi…

Thiên Túc đã bọc kín kết giới quanh Tước Bất Lạc, không để lọt một kẽ hở, Ninh Hoài Sam cũng không biết làm sao cho Phương Trữ vào được, mà cậu càng không thể để Phương Trữ lang thang bên ngoài.

Bởi vậy, cậu chỉ còn cách thò đầu đến bên cửa sổ phòng ngủ, chần chờ một chốc rồi cuối cùng hạ quyết tâm gõ cửa sổ, gọi lên theo bản năng, “Thưa thành chủ?”

***

Khi đó, người được Ninh Hoài Sam thưa tên đang tựa mình vào vai Tiêu Phục Huyên, đôi ngươi dài híp lại giữa khi hơi thở hãy còn run rẩy.

Ngón tay chàng vịn trên cánh tay Tiêu Phục Huyên, sắc xanh tái nhợt trước đây đã sớm phai trên đầu ngón, để lại màu trắng nõn nà tưởng chừng trong suốt, thoáng ửng đỏ nhàn nhạt trên khớp xương.

Đây là hệ quả của việc máu dồn về do siết chặt ngón tay quá độ rồi mới dần thả lỏng ra lại.

Sắc đỏ ửng nhàn nhạt tương tự cũng lan khắp cổ, bờ vai, đến sống lưng chàng.

Vì cớ nào mà đến nông nỗi như vậy, Ô Hành Tuyết cũng chẳng thể nhớ rõ. Chàng chỉ còn nhớ ban đầu rõ ràng mình định lừa người kia “dùng khí kình là được rồi”, mà khổ nỗi sau đó khí kình trở thành một thứ nhiễu sự cực kỳ. Kiểu gì mà Tiêu Phục Huyên luôn có thể cảm giác được nỗi lòng chàng…

Thế là mọi thứ hoàn toàn mất kiểm soát.

Rồi tiếp đến một khoảnh khắc nào đó, trong cơn quấy nhiễu của bản năng tà ma, chàng cắn khẽ vào cổ Tiêu Phục Huyên với h@m muốn rạch ra một chút máu. Song ý nghĩ đó vừa nhóm lên đã bị chàng ép ngược trở lại.

Kiếp kỳ đòi hỏi máu là thật, nếu không dùng máu mà dùng những thứ khác thì chẳng qua cũng chỉ là uống rượu độc cho đỡ khát thôi. Thoạt đầu, chàng còn định chỉ giới hạn trong hôn môi và dùng khí kình vì e sợ càng vào sâu sẽ càng nôn nao, càng khó lòng ức chế h@m muốn kia.

Chàng đã từng thấy bọn tà ma bày ra căn phòng toàn máu là máu với khung cảnh hỗn loạn, rồi sau đó thẳng tay vứt bỏ những cái xác đã bị hút rỗng. Chàng căm ghét tột độ cảnh tượng ấy…

Chàng không cách nào dám mường tượng đến việc một ngày nào đó, bản thân mình trở thành cái người ngồi giữa vũng máu, còn bên cạnh là thân thể trống rỗng vô hồn của Tiêu Phục Huyên.

Nhưng sự nhẫn nhịn dồn nén đó mang đến cơ man khổ sở và khốn quẫn…

Cơn rét run không cách nào diệt trừ tận gốc dâng trào phản công như vũ bão, chỉ loáng cái mà rèm mi chàng đã tụ sương.

Và cũng ngay khoảnh khắc đó, Tiêu Phục Huyên đỡ cằm và nâng đầu chàng ngẩng lên.

“Làm gì thế?” Ô Hành Tuyết nghẹn giọng hỏi.

Câu hỏi còn chưa dứt, chàng đã thấy bên cổ mình ngưa ngứa như vừa rách một chút. Từ nơi đấy có máu rỉ ra, chỉ một giọt nhưng có thể cảm nhận rõ rệt nó trượt thẳng một đường xuống trên da…

Tiêu Phục Huyên cúi đầu hôn vào nơi ấy.

Trái cổ Ô Hành Tuyết run run, chàng nhắm mắt lại. Trong não đã mịt mờ trống rỗng, chàng cảm giác máu trong cơ thể mình đổ dồn về chỗ đang được hôn, tiếp đó nghe tiếng Tiêu Phục Huyên hơi né mặt ra, thay bằng hơi thở ấm áp phả vào nơi ấy. Người thấp giọng thầm thì, “Ta chờ ngươi đáp lễ.”

Dường như chính từ câu nói đó…

Con tim chàng đánh nhịp rộn ràng.

Và sau đó là một tràng hỗn loạn khó nhẫn thâu đêm, cho đến tận lúc này.

Vốn khi nhiệt độ thấp cùng cực, cơ thể chàng lạnh đến mức đọng cả sương trên mi. Còn hiện tại đến hơi thở cũng ấm nóng, hàng mi ướt thấm đẫm làn da trên cổ và vai Tiêu Phục Huyên.

Mồ hôi trượt dài một đường xuống dưới, chàng ưỡn cong eo, hơi thở dồn dập run rẩy và đôi mắt híp lại.

Cảm giác mất ý thức và thất thần dần dà nguôi dịu, chàng loáng thoáng nghe có người gọi mình một tiếng “Thành chủ”.

Chàng ngước mặt sang bên cạnh, màn sương mù mờ ướt át bọc trên đôi ngươi còn chưa phai.

Bóng người bên ngoài hắt lên khung cửa, Ninh Hoài Sam không giống Phương Trữ năm xưa, thưa thành chủ xong rồi không tự giác nói tiếp mà lẳng lặng đứng chờ người trả lời.

Trước giờ tà ma hành sự vốn không kiêng dè, năm xưa Tang Dục cũng chẳng mảy may khép nép thu vén trước mặt người khác.

Thế nhưng ma đầu Ô Hành Tuyết lại khác.

Kêu chàng trả lời Ninh Hoài Sam lúc này thì có mà nằm mơ, giọng chàng đã khan cực độ, hoàn toàn không muốn thốt ra một chữ nào. Bởi vậy, chàng thu tầm mắt về, biếng nhác chạm khẽ vào Thiên Túc nhằm ra hiệu cho đối phương trả lời giúp.

***

Ninh Hoài Sam thưa thêm một tiếng “Thành chủ” nữa.

Cấm chế trong phòng ngủ còn y nguyên, bên trong thuần một màu đen ngòm và sự tĩnh lặng tuyệt đối.

Duy chỉ xuất hiện một sợi kiếm khí ánh vàng len ra từ khe cửa sổ, xếp thành một chữ cao cao trên đầu Ninh Hoài Sam: Nói.

Ninh Hoài Sam: “?”

Lời tác giả:

Để mọi người chờ lâu, mọi người hối cập nhật hay đánh giá nhận xét gì cũng được nha, dù sao mình cũng phải gửi lời xin lỗi mọi người ~ tốc độ đánh máy của mình nhìn chung khá chậm, chương này mình đánh từ hôm qua tới giờ luôn mới xong, chứ không phải mình cố ý không xin nghỉ đâu, bản thân mình cũng không ngờ viết mất thời gian đến vậy QAQ

Còn mấy chương kế tiếp đoán chừng cũng toàn đăng giờ âm phủ không cố định, xin đừng thức đêm chờ ~
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 67: Hai hướng


Ninh Hoài Sam bối rối cực kỳ, nhưng đã nhận ra đây là kiếm khí của Thiên Túc bèn hỏi thẳng thắc mắc trong lòng, “Này Thiên Túc… sao ngươi không nói thẳng ra đi? Nói thẳng ra có phải tiện hơn không?”

Thiên Túc: “…”

Ô Hành Tuyết rất rõ hai tên thuộc hạ của mình sống như hai khúc gỗ rồi, nhưng đến giờ mới biết là thì ra còn có thể trơ tới mức này.

Thoạt đầu, chàng tức đến gằn giọng, nhưng khi quay mặt sang và chứng kiến biểu cảm Tiêu Phục Huyên, liền tức thì cười rộ lên.

Đôi ngươi đen thẳm của chàng mang đậm ý cười sau màng bọc ướt át, khi ấy tia sáng trong mắt tán xạ theo rèm mi dày thành những đốm sao lay láy, nét cười ánh lên tươi rói, dẫn theo một thấp thoáng ranh mãnh.

Chút ranh mãnh này thường hiển hiện trên Tiên Đô, nhưng về sau hiếm ai còn thấy được. Mãi đến khi tỉnh dậy từ giấc mộng Thước Đô hai lăm năm và quên sạch chuyện xưa, giờ mới lần nữa lộ ra ngoài.

Chàng lười nhúc nhích, bèn cọ gối vào người Tiêu Phục Huyên một chút, thấp giọng hùa theo người bên ngoài cửa sổ, “Hỏi ngươi kìa, sao không chịu nói thẳng gì vậy?”

Tiêu Phục Huyên nhìn chàng, rồi lại hôn lên.

Ánh mặt trời len qua khe gỗ chạm hoa văn bên cửa sổ, thả sắc vào phòng thành những luồng sáng nghiêng nghiêng, phân tách không gian vạch ra những đường sáng tối xen kẽ, và hai người họ lặng lẽ trao hôn giữa khoảnh phòng lấp loáng.

Biết là có mối tương liên bằng khí kình, dù không cần mở miệng vẫn có thể truyền âm. Nhưng Tiêu Phục Huyên không thích, y cứ phải nhấp môi mỗi khi Ô Hành Tuyết hé miệng đáp hôn, rồi y sẽ cất giọng nói chuyện giữa lúc môi kề môi. Giọng Tiêu Phục Huyên cũng vương chút khàn nghẹn, y hỏi, “Còn lạnh không?”

Ô Hành Tuyết mím môi, chút động đậy be bé của y đã đủ để chạm vào người khác, nó khiến chàng nhồn nhột mà râm ran. Ô Hành Tuyết mở to đôi mắt dài, gọi, “Tiêu Phục Huyên…”

“Ừm.”

“Ngươi cố ý?”

“Không có.”

<i>Có.</i>

Cố ý mở miệng nói chuyện, cố ý hỏi còn lạnh không, rõ ràng khí kình đang vùi kín huyết mạch thì sao có thể không biết. Đừng nói lạnh hay không lạnh, nóng hay không nóng, thậm chí đến…

Đại ma đầu lại nhắm mắt, gắng tìm cách phân tâm để lòng bình tĩnh lại.

Thế là chàng chọn bừa một người và nghĩ: Ninh Hoài Sam —

Kết quả là lúc này Thiên Túc lại nghe được tiếng lòng của chàng và tỉ tê giữa những nụ hôn, “Ngươi ôm ta, mà nghĩ đến Ninh Hoài Sam.”

Đại ma đầu: “…”

Đại ma đầu: “Ta không có.”

Ninh Hoài Sam bên ngoài cửa sổ cũng chớ hề hay biết mình bị oan khuất ra nông nỗi.

Thế rồi, khí kình Thiên Túc vùi trong huyết mạch lại ôn tồn lần mò từng chút một.

Chẳng bao lâu sau, nhịp thở vừa dịu lại của Ô Hành Tuyết lại lần nữa đánh dồn mạnh mẽ, ngón tay đang giữ trên người Tiêu Phục Huyên chợt siết, đầu gối cạ nhẹ xuống giường, chàng r3n rỉ, “Ngươi đừng…”

Khí kình kiểm tra một loạt xong xuôi, Tiêu Phục Huyên nhíu mày. “Ô Hành Tuyết.”

“… Ưm.”

“Tại sao vẫn còn lạnh?”

Ô Hành Tuyết giữ chặt y hồi lâu mới ngước mắt lên. “Lạnh gì cơ?”

Thật ra chàng cũng không cảm thấy lạnh.

Có lẽ dư âm của hơi ấm nóng bỏng ban nãy còn chưa phai nên thắt lưng chàng vẫn rướm mồ hôi mỏng. Hoặc cũng có lẽ chàng đã phải nhẫn nhịn chịu đựng những cơn đau và cái rét rạch ròi đến mức không còn nhạy bén trước cái lạnh âm ỉ, nên giờ đây không hề cảm nhận được cơn lạnh.

Trái lại, khí kình của Thiên Túc thăm dò cẩn trọng hơn nhiều, có thể nói còn nhạy cảm hơn bản thân chàng.

Ô Hành Tuyết thử tự mình cảm nhận đôi chút —

Để rồi nhận ra cảm nhận lung tung trong tình huống này không ổn tí nào.

“Không lạnh thật đấy.” Chàng hôn lên khoé môi Thiên Túc, nói, “Ít nhất hiện tại không lạnh, có lẽ đó chỉ là chút gì sót lại thôi. Ngươi hãy —”

Cổ chàng vẫn hửng đỏ, hơi thở trên môi hãy còn hừng hực, đôi mắt chưa nguôi ướt át, thấy rõ d*c vọng chưa tan, nhưng chàng vẫn nói với Tiêu Phục Huyên, “— hãy rút khí kình ra trước đi.”

Trước đây còn đắm trong mê say nên không màng hết thảy thì cũng khó trách, nhưng bây giờ đã rõ có người đứng bên ngoài cửa sổ và đang nói chuyện với họ thì không thể như trước nữa.

<i>Mình không lồ lộ như Tang Dục được.</i>

Ô Hành Tuyết tự ngẫm với lòng.

“Tang Dục là ai?” Tiêu Phục Huyên hỏi.

Ô Hành Tuyết: “…”

Chàng mổ hôn chầm chậm từ khoé môi, tiến từng chút một xuống cằm, rồi nói, “Không ai cả, người dưng thôi. Ngươi hãy rút… khí kình ra trước đi.”

Ma đầu đúng là đang dỗ dành người ta, nhưng giọng điệu mơ màng, mang chút biếng lười lại còn đượm giọng mũi, lọt vào tai người khác đã hoàn toàn chuyển sang cảm giác khác.

Ai có thể chịu được Linh Vương nũng nịu.

Ai có thể chịu được thành chủ Chiếu Dạ thành nũng nịu.

Đôi mày Tiêu Phục Huyên vẫn cau lại, dường như còn chưa chấp nhận lời giải thích “khí lạnh còn sót lại” như thế này. Nhưng y bị ma đầu nhìn đau đáu không thôi, sau phút im lặng, cũng đành rút dần khí kình về.

Thiên Túc thượng tiên của khoảnh khắc ấy thoáng như thật ngoan ngoãn nghe lời.

Ô Hành Tuyết ngồi thẳng dậy, rồi cúi đầu nhay nhẹ trên trái cổ Tiêu Phục Huyên một chút. Sau đó mới cong đôi mắt đứng lên, hơi nhếch cằm về phía cửa sổ và nói bằng khẩu hình, “Đi giải thích cho người ta đi nào.”

Tiêu Phục Huyên: “…”

***

Bởi vậy, Ninh Hoài Sam đứng ngoài cửa lại thấy một luồng kiếm khí bay ra: Nói đi.

Ninh Hoài Sam: “…”

<i>Được</i>.

Ninh Hoài Sam cũng không hỏi lại mắc gì cứ một hai phải vẽ chữ mà không nói tiếng nào, thôi thích vẽ thì vẽ đi, dù sao cũng không phải kiếm khí của cậu.

Cậu nói, “Chuyện là thế này, ta vừa phát hiện ra Phương Trữ đã quay lại và đang tiến về phía Tước Bất Lạc. Nhưng Thiên Túc, ngươi đã đặt kết giới bao trùm toàn bộ Tước Bất Lạc rồi nên ta không biết làm sao mở cửa cho hắn vào, nói chung cũng không nên để hắn lang thang ở ngoài mãi.”

Nói xong, không biết vì sao mà chờ mãi cũng không thấy ai trả lời.

Ninh Hoài Sam: “?”

Với cái tính tình của cậu, nếu trong ngày thường chắc đã muốn nắm song cửa ngó vào trong để xem coi tại sao lúc trả lời lúc im như vậy? Có phải chuyện này có vấn đề gì không? Không, có vấn đề gì đâu.

Ninh Hoài Sam vắt óc nghĩ ngợi một hồi.

Cuối cùng cũng có tiếng trả lời từ trong phòng.

Lần này thế mà không phải là kiếm khí vẽ thành chữ mà là giọng thành chủ nhà cậu truyền qua từ bên kia khung cửa sổ, nghe có hơi mông lung, “Phương Trữ?”

Ninh Hoài Sam mừng rỡ, “Thành chủ tỉnh lại rồi ạ?!”

“Kiếp kỳ của thành chủ ổn thoả chứ ạ?”

Hỏi rồi còn chưa bõ thèm, cậu có chút đắn đo khi nghe thấy hai tiếng thành chủ vừa gọi, bèn cất giọng lo lắng, “Thưa thành chủ, sao giọng ngài khàn như vậy ạ?”

Ba câu hỏi liên tục, thành chủ nhà cậu không đáp một tiếng.

Một hồi sau, một tấm bùa bay ra.

Ninh Hoài Sam hấp tấp chộp lấy, thấy trên bùa ánh sắc vàng nhàn nhạt, bên trên ghi một chữ “Dẫn”.

Lần này, không có kiếm khí xếp thành chữ, không có giọng trả lời của thành chủ, mà là tiếng Thiên Túc vọng ra từ trong phòng qua khung cửa sổ. Giọng y vẫn lạnh lẽo trầm thấp như vốn dĩ, nhưng cũng có chút khàn khàn như thành chủ, “Dẫn hắn vào.”

Cũng may mà khúc gỗ Ninh Hoài Sam này này không hỏi tiếp “Sao giọng Thiên Túc cũng khàn vậy”, nhờ đó giữ cho cái miệng thân thương của cậu nguyên vẹn.

Cậu chớp mắt, lật xem tấm phù của Thiên Túc, vừa lầm bầm vừa đi ra ngoài cổng. Mới vừa bước hai bước, cậu đã lùi về đặng nhắc nhở, “À phải rồi đại nhân…”

Nói đoạn, cậu sượng giọng, lòng thắc mắc không hiểu <i>kiểu quái gì phải xưng là đại nhân?</i>

Tuy vậy, cậu cũng lười sửa lại xưng hô nên nói tiếp, “Xung quanh Tước Bất Lạc chỗ chúng ta rất náo nhiệt, từ hôm qua tới giờ không lúc nào không ngập người trong sòng bạc với tiệm bán hoa bên kia, ai nấy đều ngó chòng chọc vào Tước Bất Lạc chúng ta suốt cả đêm.”

Cậu còn đang tính đề xuất rằng không biết có nên cẩn trọng và chuẩn bị tinh thần một chút hay không, đã nghe Thiên Túc nói, “À.”

Cậu tiếp tục chờ xem, nhưng chờ hoài không thấy đoạn tiếp theo của “À”, tự nhủ trong lòng <i>thôi được</i>.

Ninh Hoài Sam cũng không đến mức ngu hết thuốc chữa, tình hình trong phòng phẳng lặng như vậy có thể thấy kiếp kỳ của thành chủ vẫn đang trôi qua suôn sẻ, ít nhất là không đến mức phải e dè đám người săm soi bên ngoài Tước Bất Lạc.

Nghĩ vậy, Ninh Hoài Sam cũng an tâm hơn nhiều, bèn cầm bùa đi ra ngoài cửa. Trước đây cậu chưa từng dùng phù đón dẫn này, nhưng quanh đi quẩn lại thì thuật dùng phù cũng chỉ bấy nhiêu phương thức đó thôi.

Vì vậy, cậu cầm bùa nhảy lên bức tường cao cao ngoài sân Tước Bất Lạc và ngồi xổm xuống chờ người.

Phương Trữ đang tới gần, Ninh Hoài Sam lầu bầu, “Năm đó mày lừa tao tới Tước Bất Lạc phong ấn làm tao chịu đủ điều cay đắng, nằm lì trên giường từng ấy thời gian, cuối cùng cũng tới lúc tao chờ đến được cơ hội trả thù rồi. Mày chờ đó, phải mày không bị phong cấm đè cho chết dí thì tao không giúp mày vô.”

Cậu với Phương Trữ chí choé nhau từ năm này qua năm khác, cãi nhau có thừa đánh nhau thường xuyên, rõ ràng không hợp rơ nhưng lúc nào cũng kè kè bên cạnh, chắc là đời trước nghiệt duyên ghê lắm.

Đến khi Phương Trữ tới trước cổng rồi, Ninh Hoài Sam lại đảo mắt một phát, nhắm lá bùa ngay vào người, rồi cong ngón đánh “ầm” tung bùa ra.

Phương Trữ cúi đầu xoa ngón tay, dường như đang định tạo thủ quyết để truyền âm vào bên trong, thì bất chợt một lá bùa đáp phẳng phiu không xiêu vẹo ngay trên trán hắn.

Dường như Phương Trữ tưởng bị trúng mai phục hoặc tà chiêu gì đấy nên đanh mặt lại, tay toan rút bùa ra.

Ninh Hoài Sam vội nói, “Ê đừng gỡ! Mày ngu hay gì? Tao chỉ có một tấm thôi đó, gỡ mà hỏng là mày hết cửa vào trong.”

Với phù đón dẫn trên mặt, Phương Trữ không còn bị ngăn trở bởi kết giới nữa, tiếng Ninh Hoài Sam theo đó mà vang rành rọt vào tai hắn.

Phương Trữ hơi bất ngờ, ngước mắt nhìn lên đầu tường, “Là mày à?”

Ninh Hoài Sam trợn trừng mắt, “Ớ trời ơi, không phải tao chứ không lẽ mày nghĩ là thành chủ hay Thiên Túc ngồi móc chân ở đây chờ mày tới dán phù hả? Bớt mơ mộng đi.”

Phương Trữ thoáng nheo mắt dưới ánh nắng, bấy giờ mới nói với Ninh Hoài Sam, “Tất nhiên là không, tao đâu có điên. Tao chỉ không ngờ mày sẽ thật sự chịu ngồi trên đầu tường mở cửa cho tao vào thôi.”

Ninh Hoài Sam “À” lên rồi nói, “Tao rộng lượng xưa giờ rồi, bộ mày mới biết hả? Nhờ là tao đấy nhá, chứ nếu là ai khác thì có phải đã đập bản mặt mày vô cửa trả thù cho bõ rồi không? Đây chính là đại kết giới của Thiên Túc chứ đùa.”

Khoe mẽ xong xuôi, cậu lại hối thúc, “Mày có vào không? Đừng có đứng lì ngoài cửa nữa, không thôi lại kéo theo lũ khác đến bây giờ.”

Phương Trữ vẫn đứng yên nhìn cổng lớn, tỏ vẻ còn nấn ná. Có lẽ cụm “Đại kết giới của Thiên Túc” khiến lòng hắn bất an, hoặc cũng có thể hắn sợ Ninh Hoài Sam bỡn cợt hắn và dùng một tấm phù giả.

Ninh Hoài Sam lại chẳng hiểu quá tiếng lòng của hắn, cậu lạnh mặt giương mắt nhìn khu vực quán rượu và sòng bạc một vòng mới nói, “Xung quanh toàn người là người, hôm qua cái tay gì… Tiếu Hồ cũng đến, tao cũng đâu tới mức đi đùa giỡn với mày trong thời điểm này làm gì, nhanh nhanh vào đi.”

Bấy giờ Phương Trữ mới chớm bước chân tới trước.

Ánh sáng vàng loé ngang qua kết giới, đúng thật không cản hắn.

Vừa vào bên trong, tấm phù đón dẫn trên trán hắn tức thì tự bốc cháy. Phương Trữ phủi tro giấy đi và nhìn Ninh Hoài Sam nhảy xuống từ đầu tường, phóng một phát đáp ngay trước mặt hắn.

“Tay mày mọc lại hoàn chỉnh rồi hả?” Ninh Hoài Sam vươn thẳng tay ra sờ bóp.

Phương Trữ ngớ người, khẽ nghiêng mình tránh tay cậu.

Ninh Hoài Sam: “Mày khá lắm Phương Trữ, tao quan tâm mày mà mày né tao hả?”

Phương Trữ nói, “Mày bóp có nhẹ nhàng gì đâu.”

Ninh Hoài Sam bĩu môi, nhưng cũng không phủ nhận. Đúng là cậu ra tay khá mạnh, trước từng có một lần cậu giật hẳn cánh tay vừa mọc của người ta ra ngoài. Thế nhưng chuyện này không cản được cậu trề bản mặt lừa của mình và nói, “Không cho đụng thì thôi, tao biết cái tay mày mọc lại cũng không dễ dàng gì.”

Ngoài miệng thì nói vậy, nhưng cậu vẫn săm soi một lượt từ trên xuống dưới cánh tay Phương Trữ, “Mọc ra cũng được ghê đó, còn không thấy được phần thịt non bị đứt nữa, quay ra sau hù đám ngoài kia một phát là ngon luôn.”

“Đúng là…” cậu thầm thì.

“Đúng là cái gì?” Phương Trữ hỏi.

“Đúng là phải cách xa Thiên Túc một chút thì mới mọc lại được,” Ninh Hoài Sam nói. “Có tiên ở bên cạnh bị áp chế thì khó mà mọc được.”

Cậu ta còn tính hỏi Phương Trữ đụng trúng cái gì ở phố núi Lạc Hoa mà mãi không thấy thoát ra. Thế nhưng nhác nhìn sang phòng ngủ thì thấy cấm chế đã được giải.

Cậu lập tức không còn tâm tư thăm hỏi nữa mà vội vã bước lại phòng ngủ và hô, “Thưa thành chủ!”

Phương Trữ cũng bước theo sau lưng cậu tiến về phía phòng ngủ, nhỏ giọng hỏi Ninh Hoài Sam, “Thành chủ thế nào?”

Ninh Hoài Sam đáp, “Tao cũng không biết, tao gọi mà thành chủ không trả lời. Nhưng chắc kiếp kỳ cũng suôn sẻ không vấn đề gì.”

Phương Trữ chỉ đáp “Ồ”.

Khi ngước mắt lên lần nữa, hai người đã thấy Ô Hành Tuyết khoanh tay đứng tựa bên cạnh cửa.

Chàng đang vận một chiếc áo mỏng, đồng thời khoác thêm một lớp áo choàng như sương khói, trông điệu bộ vẫn biếng nhác như xưa và nét mặt cũng có phần hồng hào chứ không trắng nhợt như trước.

Phương Trữ cũng gọi theo Ninh Hoài Sam, “Thưa thành chủ.”

Trông Ô Hành Tuyết như bị nắng chiếu chói mắt nên phải vươn tay lên che mắt, tiếp đó mới híp mắt lại nói với Phương Trữ, “Ngươi về một mình à? Có gặp Y Ngô Sinh không?”

Phương Trữ hơi ngạc nhiên, “Y Ngô Sinh?”

Ninh Hoài Sam ho một tiếng, giơ tay xoa mũi và quay sang giải thích với Phương Trữ, “Ông ta vốn đi với chúng ta nhưng bị tao… ờm… khuyên nhủ mấy câu nên đánh lẻ rồi. Không biết sau đó mày có gặp ông ta không.”

Phương Trữ lắc đầu. “Không gặp.”

Ô Hành Tuyết ngoái đầu ra sau.

Tiêu Phục Huyên mang theo một tấm áo choàng giữ ấm đi tới, nói, “Linh thức ta vẫn đi theo ông ấy, ông ấy nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của nhà họ Phong nên không bị đẩy ra ngoài, hiện tại…”

Y dừng đoạn, như đang muốn xác nhận lại.

Lát sau, y mới nhíu khẽ mày, nói, “Vừa mới đến thung lũng Đại Bi.”
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 68: Hàng giả


“Thung lũng Đại Bi?” Ô Hành Tuyết tỏ vẻ ngạc nhiên.

“Ừm.” Tiêu Phục Huyên xác nhận.

Ô Hành Tuyết thả nhẹ giọng, “Ông ấy thật sự đi đến đấy.”

Dẫu không nhìn rõ biểu cảm trên mặt chàng thì vẫn có thể thấp thoáng nghe được đôi chút ngậm ngùi.

Ninh Hoài Sam lén nhìn thành chủ nhà mình, nét mặt hơi xấu hổ, “Ta biết sai rồi, thưa thành chủ. Ta không nên nói như vậy với Y Ngô Sinh, ông ta vốn không định đi, là tại ta ngu ngốc xúi bẩy người ta.”

Tình cảm cậu dành cho Y Ngô Sinh mang nhiều ít bấp bênh, bên trong vừa có phẫn hận lại vừa có thương cảm, tự lúc bắt đầu đã vô cùng phức tạp. Hiện tại nhóm họ đều đã rời khỏi quá khứ, chỉ còn mỗi mình Y Ngô Sinh chơi vơi cô lẻ trong dòng thời gian kia.

Nghĩ đến chuyện ấy làm cậu thấy áy náy thật lòng, bèn xuôi tay thành thật nhận lỗi.

Tính nết cậu vừa lì lợm vừa hung hăng, xưa giờ không thiếu làm những chuyện bừa bãi. Sau khi làm xong lại hối hận, thế là phải vừa đe doạ Phương Trữ không được cáo trạng lên, vừa im ỉm đi thu dọn hậu hoạ. Đến chừng nào dọn dẹp xong xuôi cậu mới dám xuất hiện trở lại trước mặt thành chủ.

Còn nếu không thu dọn chỉn chu, cậu sẽ run lẩy bẩy đi nhận tội. Mà lần nào cậu nhận tội, thành chủ cũng đều dựa vào cửa mà rằng, “Ngươi sai ở đâu? Ngươi không sai, hay để ta vái ngươi một vái để chứng minh nhé.”

Giọng điệu như thế rất chi là…

<i>Ầy…</i>

Chỉ cần nghĩ đến thôi là Ninh Hoài Sam tê tái cả da đầu.

Cậu đã sẵn sàng bị nghe đâm chọc một tràng rồi, ngờ đâu thành chủ nhà cậu lại nói, “Ngươi nói đúng.”

Ninh Hoài Sam: “?”

Cậu há mõm ngước mặt lên, nghe được thành chủ điềm nhiên tiếp tục, “Đúng thật là tội của ngươi.”

Ninh Hoài Sam: “Dạ?”

Ô Hành Tuyết: “Dạ cái gì, nếu ngươi không lắm mồm như vậy thì bây giờ Y Ngô Sinh đang trên đường sang kiếp sau rồi.”

Ninh Hoài Sam: “???”

Ninh Hoài Sam còn đang lùng bùng đầu óc, gương mặt cũng dần lộ rõ vẻ hoang mang…

Sao phản ứng của thành chủ nhà cậu quái đản quá vậy!

Nếu bất thường chắc chắn có vấn đề.

Không biết vì lẽ gì, Ninh Hoài Sam bất giác ngước lên thoáng nhìn Thiên Túc. Xong lại sực nhận ra, ánh nhìn cậu mang chút ý cầu xin trợ giúp. Chẳng rõ bắt đầu từ khi nào, cậu đã cảm thấy Thiên Túc có thể kiềm thành chủ nhà mình vào những thời điểm trọng yếu.

Thế nhưng cũng hoài công, Thiên Túc còn không thèm liếc cậu nửa mắt.

Ninh Hoài Sam ngập ngừng nhìn trở lại, Ô Hành Tuyết hất cằm sang bên cạnh, cất giọng nhẹ bẫng, “Đi.”

Ninh Hoài Sam nhìn theo hướng chỉ của chàng, thấy phía bên đó có tầm khoảng sáu gian nhà, bốn hành lang nối liền nhau, một gian đình, một gian lầu cao, và một cái đầm lạnh lẽo bao bọc xung quanh.

Vậy muốn cậu đi đâu?

Ninh Hoài Sam lẳng lặng chìa tay ra, giấu bên trong ống tay áo đặng nhéo Phương Trữ một phát thật mạnh.

Phương Trữ: “…”

Phương Trữ bị đau hay sao mà giật ngược ngón tay lại, quay sang hỏi, “Chuyện gì?”

Ninh Hoài Sam trợn tròn mắt trong lòng, dùng ngón tay đang nhéo người để truyền âm sang, “Cứu mạng chứ gì trời? Mày mau giải thích giúp tao coi thành chủ đang kêu tao đi đâu vậy?”

Một lúc lâu sau, Phương Trữ mới truyền âm đáp lại, “Mày hỏi tao thì tao hỏi ai?”

Ninh Hoài Sam tuyệt vọng.

Thế gian vật đổi sao dời, giờ đến Phương Trữ cũng thấy chết mà không cứu.

Lòng cậu dấy lên chút chua xót.

Khi Ninh Hoài Sam ngẩng đầu lên, ánh mắt Ô Hành Tuyết đang lướt qua mặt cậu và nhẹ nhàng dừng trên người Phương Trữ, xem chừng đã thấy hành vi của bọn họ nên đoán ra bọn họ đang truyền âm trong im lặng.

Vậy thì Phương Trữ sẽ càng không ra tay giúp đỡ.

Cũng may, thành chủ vẫn chừa cho cậu một đường sống, chàng mở miệng chỉ rõ ràng, “Đến căn nhà kia, tự đóng cửa hối cải trong đó.”

Ninh Hoài Sam gục đầu, rầm rì “Ờm” một tiếng. Mà trong lòng cậu âm thầm vò đầu bứt tai, sao thành chủ quên hết chuyện cũ mà đánh một phát không lệch một li khỏi tử huyệt của cậu vậy — với cái tính nết này của cậu, mắng chửi hay đánh đấm đều không vấn đề, có thể nhẫn nhịn đau đớn thể xác nhưng chịu không nổi tịch mịch.

Bắt cậu tự nhốt để hối cải, chẳng bằng đâm hai nhát kiếm đổ máu cho xong.

Mà lúc trước thành chủ cũng đâu có đam mê này đâu ta…

Ninh Hoài Sam run run khoé môi, lặng lẽ nhận lệnh mà không nói tiếng nào. Song cậu vừa nhấc đầu lên đã thấy nét mặt thành chủ bỗng dưng tái đi dưới ánh nắng, chút hồng hào loáng thoáng trước đây bất chợt phai nhạt hoàn toàn.

Cậu ngẩn cả người, thốt, “Thưa thành chủ, ngón tay ngài…”

Thấy rõ ngón tay Ô Hành Tuyết để lộ bên ngoài đang ngả xanh, dù mới một khắc trước hãy còn bình thường.

Phương Trữ cũng nhìn chằm chằm vào nơi đó, một lát sau hắn chủ động truyền âm cho Ninh Hoài Sam, “Không phải mày nói kiếp kỳ thành chủ trôi qua suôn sẻ à?”

Ninh Hoài Sam: “Tao đoán thế, không phải có Thiên Túc hỗ trợ còn gì, tao nghĩ là suôn sẻ lắm. Không ngờ…”

Phương Trữ lại truyền âm, “Với cả, Thiên Túc…”

Hắn dừng đoạn, chừng như còn quá ngỡ ngàng nên không biết nên hỏi từ đâu.

Ninh Hoài Sam tự nhủ trong lòng <i>tao hiểu sự bỡ ngỡ của mày mà! Lúc mày còn chưa thèm về, một mình tao ở đây lãnh đủ hết đó!</i>

Tuy thế, cậu vẫn tỏ vẻ bình tĩnh, nói, “Mày tính hỏi tại sao Thiên Túc giúp thành chủ vượt kiếp kỳ hả?”

Phương Trữ lặng lẽ đáp, “Ừ.”

Ninh Hoài Sam chốt kèo, “Nói ra thì dài lắm, từ từ tao kể mày nghe sau.”

Phương Trữ: “…”

Hiện tại cậu không có tâm trạng giải thích cho Phương Trữ cho lắm, mà đang lo lắng tình huống của Ô Hành Tuyết hơn. Cậu nhìn chòng chọc ngón tay Ô Hành Tuyết và hỏi, “Thành chủ ơi, sao lại lạnh xuống nhanh vậy ạ?”

Khi hỏi câu này, cậu thậm chí còn cảm nhận được một luồng không khí lạnh căm căm đang lan dần ra trong không khí quanh sân, nhiệt độ thấp đến mức làm cậu giật mình đánh thót.

Đã đến mức này rồi, vậy chẳng lẽ không những không nguôi dịu mà còn nghiêm trọng hơn?!!!

Ninh Hoài Sam chớm nghĩ vậy thì mặt mũi cũng tái mét hẳn.

Ô Hành Tuyết chỉ buông mắt thoáng nhìn, đoạn đút ngón tay vào trong ống tay áo và nói, “Không sao, không có ảnh hưởng gì.”

Giọng điệu này không khác gì đám ma đầu lúc nào cũng cố giấu giếm, tỏ ra mình mạnh khoẻ vào kiếp kỳ ở trong Chiếu Dạ thành, thế nhưng khi chàng buông mắt, trong nét mặt lại lộ ra sự mệt mỏi, dường như không cách nào che giấu được những chật vật của kiếp kỳ.

Ninh Hoài Sam lại quay sang nhìn Tiêu Phục Huyên. “Thiên Túc…”

Thiên Túc một mực kiệm lời nhấc mi mắt, hàng mày nhíu nhẹ, không ngờ chịu trả lời cậu, “Khả năng là thể xác này của ta có vấn đề.”

Thể xác?

Ninh Hoài Sam sững sờ đôi chút, sau đó đã nghe Phương Trữ truyền âm tới, “Tình hình của Thiên Túc hình như cũng không ổn.”

Bấy giờ, Ninh Hoài Sam mới kịp phản ứng lại, trả lời, “Ờm, chắc là không phải bản thể nên cũng có ảnh hưởng ít nhiều. Huống gì thể chất của tiên và ma khi chạm vào nhau…”

Cậu càng nghĩ càng thấy xong đời!

Độ kiếp kỳ kiểu gì mà thành lưỡng bại câu thương vậy! Thế chẳng phải đương không cho thằng chó Phong Tiết Lễ được hưởng lợi trên trời rớt xuống hả?!

Ninh Hoài Sam nghĩ vậy liền nói ngay với Ô Hành Tuyết, “Thưa thành chủ, ta không tự hối cải nữa! Chuyện Y Ngô Sinh ta làm sai ta nhận, nhưng chờ đến khi thành chủ hết kiếp kỳ rồi hãy bàn tiếp, chứ không ta đây không an tâm!”

Ô Hành Tuyết lại nói, “Ngươi cứ yên tâm tự hối, ta còn Phương Trữ.”

Ninh Hoài Sam: “…”

Cũng phải.

Xưa giờ Phương Trữ luôn bình tĩnh cẩn trọng hơn, những lần kiếp kỳ trước đây hắn đảm đương hết mọi kham khổ, một vai gánh hết việc hai người.

Ninh Hoài Sam bĩu môi, không làm sao phản bác lại được.

Dù gì cũng đã phạm sai lầm, muốn trốn cũng trốn không được. Ninh Hoài Sam đành cúi gằm đầu, nấn ná từng bước đi tới gian phòng phụ, miệng không ngừng làu bàu, “Phương Trữ, đều trông nhờ mày hết đó Phương Trữ, nếu có chuyện gì xảy ra tao không để yên cho mày đâu.”

Kết quả, khi cậu ngoái đầu lại nhìn thì thấy nét mặt Phương Trữ không được hay ho cho lắm.

Ninh Hoài Sam: “?”

Bộ nhớ tao dữ vậy hả?

***

Không ngờ Ninh Hoài Sam rất thành thật, bảo cậu tự bế hối lỗi thì cậu liền ngoan ngoãn chui vào phòng và phong ấn lại.

Chỉ nghe thấy mấy tiếng rầm rầm vang vọng, Ninh Hoài Sam đã phủ cấm chế toàn bộ gian nhà, không gian xung quanh tức thì trở nên im lìm, chìm vào một khoảnh đen như mực, không còn nghe thấy tiếng động gì nữa. Thế là một Tước Bất Lạc rộng lớn nhường đó dường như chỉ còn lại ba người.

Ô Hành Tuyết thu tầm mắt từ hướng bên kia và nhìn sang Phương Trữ.

Phương Trữ cũng vừa khéo nhìn qua.

Hắn lia mắt sang hai người rồi tức thì cụp xuống, không muốn nhìn thẳng, trông không khác gì một thuộc hạ th@n cận biết nghe lời và không có gì đáng phải lo ngại.

Ô Hành Tuyết không để ý đến hắn nhiều, chỉ nói, “Ngươi còn đứng đây làm gì?”

Bấy giờ, Phương Trữ mới ngẩng đầu, cất giọng có chút lo lắng, “Thân thể thành chủ…”

Ô Hành Tuyết: “Ta vừa nói rồi còn gì, không ảnh hưởng gì cả, cần làm gì thì cứ làm thôi.”

Phương Trữ gật đầu, nói, “Thành chủ có gì cần dặn dò xin cứ nói.”

Ô Hành Tuyết khoát tay. “Không cần.”

Thân là thành chủ, chàng luôn làm mọi sự theo ý mình chứ không cần giải thích ngọn nguồn từng chuyện. Chàng nói đoạn, xoay người bước vào trong phòng, song vừa ngoảnh đầu đi thì như sực nhớ đến gì đó bèn nói, “À phải, ngươi đến phòng phơi sách giúp ta —”

Phương Trữ ngẩng cao đầu, chờ chàng nói tiếp.

Đương khi Ô Hành Tuyết còn đang bần thần do dự, hắn còn nhỏ giọng nhắc nhẹ, “Thưa thành chủ?”

Ô Hành Tuyết nói tiếp trong nét mệt rũ rượi, “— thôi, giữ hay không cũng thế.”

Phương Trữ mấp máy môi, xem chừng đang tính khuyên nhủ chàng. Nhưng rồi sau cùng vẫn chọn hướng mắt trở xuống và không nhiều lời nữa.

“Ta còn cần bế quan thêm một ngày, ngươi canh giữ bên ngoài. Nếu có việc thì gửi truyền phù vào trong, đừng chỉ gõ cửa sổ mấy cái ta không nghe được đâu.” Ô Hành Tuyết thì thào như đang lẩm bẩm, nói xong đi thẳng vào trong phòng. Tiếp đó, một tiếng <i>rầm</i> đánh lên, cửa phòng đã đóng chặt, lớp cấm chế bọc trong sương lạnh đăm đăm cắm thẳng xuống.

Ở bên trong Chiếu Dạ thành, ai cũng biết một điều, khi sức mạnh Ô Hành Tuyết đạt đến đỉnh điểm, những nơi khí kình lan đến đều trở lạnh đến đóng băng, chỉ trong chớp mắt đã có thể đóng một lớp sương giá trắng xoá.

Vậy mà hiện tại, khi cấm chế áp xuống lại chỉ xuất hiện chút sương trăng trắng bên góc khung cửa sổ.

Phương Trữ thoáng nhìn qua, nét lo toan trên mặt còn chưa phai.

Hắn đứng yên trước cửa một chốc, sau đó không về phòng mình mà đi đến một băng ghế trên hành lang ngoài sân để ngồi xuống, dường như đang muốn canh giữ cho thành chủ nhà mình.

Cửa phòng vừa đóng lại, Ô Hành Tuyết đã nghiêng người nhìn ra bên ngoài qua khung cửa sổ chạm trổ hoa văn.

Khi ngón tay chàng đặt lên bệ cửa, những vết xanh tím ban nãy đã biệt tích, bộ dáng mệt nhoài cũng không thấy tăm hơi.

Nếu khúc cây Ninh Hoài Sam chuyên phá bĩnh mà trông thấy thì chắc chắn sẽ há hốc mồm tròn xoe mắt mà trầm trồ, “Diễn xuất đỉnh của chóp!”

Có thể dễ dàng liên tưởng ra mười hai đồng tử ở Nam Song Hạ năm xưa được nhận chân truyền từ ai.

Ánh mắt chưa thu về, Ô Hành Tuyết vẫn đang săm soi Phương Trữ ngoài sân, đồng thời cất giọng nói với người bên cạnh, “Nét mặt thế mà bình tĩnh thật đấy, thình lình bị ta hỏi chuyện mà vẫn không lộ vẻ sốt sắng…”

Tất cả đều biết lầu các trong Tước Bất Lạc trùng trùng điệp điệp, có rất nhiều gian nhà được sắp xếp thành một trận cục. Nếu người lạ xông vào mà không được chỉ đường thì không dễ dàng gì tìm được nơi muốn đến, trong tình huống đó mà bất chợt nhận được mệnh lệnh dễ khiến người ta nôn nao trong lòng.

Vậy mà nét mặt Phương Trữ chẳng mảy may biến chuyển, thậm chí còn không lộ vẽ sững sờ hay bất an một tẹo nào.

“Ừm.” Tiêu Phục Huyên liếc nhìn chàng, tựa hồ đã đoán được nên mớm lời giúp, “thế nhưng.”

Ô Hành Tuyết nhướng mày nhoẻn cười, trong mắt loé lên tia sáng. “Nhưng không qua mắt nổi lời dối trá của ta.”

Chàng gõ nhẹ tay lên cánh cửa, nói, “Ta thuận miệng bịa ra cái tên phòng phơi sách thôi.”

Chàng kêu Phương Trữ đến phòng phơi sách tìm thứ gì đấy, mà Phương Trữ đứng dưới chờ lệnh một cách bình tĩnh không hề biến sắc, không thắc mắc một chút nào.

Khổ nỗi… trong Tước Bất Lạc hoàn toàn không có cái địa danh “phòng phơi sách” này.

Lời tác giả:

Sợ để mọi người chờ, mình cập nhật trước một chương ~ nhưng mà mọi người đừng thức khuya để chờ chương kế tiếp nha, mình cũng không biết phải viết mất bao lâu nữa. Ngủ sớm chút nhé, ngủ ngon ~
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 69: Tái phát


Thực chất, ngay từ khi Ninh Hoài Sam nói “Phương Trữ đã trở lại”, hai người bên trong phòng đã bắt đầu cảnh giác.

Đây ắt là thói quen được trui rèn qua thời gian dài đương đầu với tà ma, nó là loại cảnh giác giống như rút kiếm đề phòng khi bỗng dưng bừng tỉnh hoặc bị quấy rầy.

Có một số nhân vật xuất hiện quá mức tình cờ, hoặc có một số sự vụ nảy sinh quá mức trùng hợp, đều khiến bọn họ chú ý kỹ càng hơn.

Tiêu Phục Huyên có thể bỏ kèm chút gì đó khi đưa phù đón dẫn cho Ninh Hoài Sam — ví như khả năng thăm linh ngay khi bùa chạm vào cơ thể, nếu xác định đó không phải là Phương Trữ sẽ lập tức chặn lại bên ngoài.

Đó là biện pháp vô cùng trực diện, và rồi cũng chỉ ngừng ở trực diện mà thôi.

Đối với họ, cản người có ý đồ không rõ ở bên ngoài cửa còn không hiệu quả bằng cho đối phương vào và đặt người dưới sự theo dõi của mình trong âm thầm hòng moi ra thêm nhiều thông tin khác nữa.

Thế nên Tiêu Phục Huyên mới đưa cho Ninh Hoài Sam một tấm phù đón dẫn đơn thuần, không có tác dụng thăm dò, không có tác dụng công kích, tuyệt đối không động chạm đến đối phương.

Nếu người này đã mạo hiểm đóng giả Phương Trữ để vào Tước Bất Lạc, chắc chắn hắn ta có việc gì đó cần làm.

Ô Hành Tuyết nhìn ra ngoài cửa sổ một chút, thấy “Phương Trữ” ngồi bên rìa hành lang xong hơi nghiêng đầu nhìn về phía họ, nhưng chỉ chóng vánh thôi rồi lại xoay đầu trở về.

Hành động này không xem là sơ hở, có thể giải thích thành đang nghe ngóng động tĩnh, hoặc cũng có thể nói chỉ đơn thuần là sự quan tâm lo lắng của thuộc hạ.

Sau đó, hắn ngồi yên hướng lưng về phía phòng ngủ mà không dáo dác nhìn xung quanh liền. Bởi vậy không để lộ nhiều điểm đặc trưng để có thể lập tức đoán ra người này là ai.

“Khá là bình tĩnh đấy,” Ô Hành Tuyết nói.

Tiêu Phục Huyên: “Đang chờ cơ hội.”

Ô Hành Tuyết lại thầm thì, “Ừm, ai có trí óc đều phải biết chờ đợi. Vừa phong ấn mà đã vội gấp gáp chạy lung tung thì chỉ có thể là dạng của Ninh Hoài Sam.”

Trong gian phụ, Ninh Hoài Sam hách xì một phát rõ to.

“Ai chán sống dám mắng ông vậy.” Cậu đang ngồi khoanh chân trên giường, dụi dụi tay lên mũi rồi thoáng duỗi mắt ra ngoài sân, nói nhỏ, “Phương Trữ trời đánh, thật sự ngồi im một chỗ vậy luôn, trước đây ít nhiều còn biết nhìn sang tao.”

Cậu hoàn toàn không hay biết “Phương Trữ” còn chả phải chính chủ, nên hãy còn xem xét có nên âm thầm truyền tin để lôi Phương Trữ sang đây bầu bạn hay chửi nhau gì đó hay không, dù sao cũng sẽ không chán như bây giờ.

Ninh Hoài Sam đắn đo chút, đoạn cong tay làm thủ quyết, b ắn ra bên ngoài theo khe cửa sổ.

Đây là chiêu quen thuộc cậu thường dùng trước đây để khiêu khích Phương Trữ — trong luồng khí này có chứa một câu truyền âm, sau khi nã hai lần là Phương Trữ sẽ vác bản mặt lừa tới đây hỏi cậu có mắc cái chứng gì hay không.

Thế là luồng khí mang âm thanh của cậu truyền trong gió, đánh <i>bộp</i> vào bên hông Phương Trữ, truyền âm nói, “Mày không phải Phương Trữ.”

“Phương Trữ”: “…”

Một cú này khiến hắn chấn động, nhưng vẫn kiên quyết ngồi yên một chỗ, nhưng rồi chợt căng thẳng bèn quay mặt sang hướng bên này.

Ninh Hoài Sam nhìn thấy hành động này, cười khẩy nhủ thầm <i>quả nhiên</i>. Phương Trữ bị nhột ngay chỗ đó, hễ chọt vào hai phát chắc chắn sẽ nhảy cẫng lên. Cậu tự hiểu hành động căng thẳng của đối phương là bị nhột.

Bởi vậy, cậu lại gửi một luồng khí bay sang và thúc hông Phương Trữ một phát nữa, truyền âm nói, “Mày đổi rồi, tao bị thành chủ hạ lệnh bắt bế quan hối cải mà mày còn không thèm tới chế nhạo, mày không phải là Phương Trữ trước đây nữa.”

“Phương Trữ”: “…”

Giờ đây, hắn đã phòng bị trước nên bị thúc một phát cũng không nhúc nhích tí ti, chỉ ngồi im tiếp tục bắn tầm mắt về phía này. Có điều sau khi nghe Ninh Hoài Sam truyền âm, hắn chầm chậm ngoái đầu đi và thu lại tầm mắt. Dường như đã hạ quyết tâm không phản ứng.

Mà phản ứng này lọt vào mắt Ninh Hoài Sam lại thành làm bộ không bị ngứa. Ninh Hoài Sam li3m răng nanh, bỗng dưng hết thấy chán chường mà bắt đầu có cảm giác sung sướng từ sự nghiêm túc của hắn. Thế là cậu tung thêm mấy luồng khí nữa.

Sau một chuỗi liên hoàn thúc, “Phương Trữ” đứng dậy.

Ninh Hoài Sam tức thì hồ hởi, chờ đối thương nhào tới đánh. Ngờ đâu lại thấy “Phương Trữ” bước mấy bước như thể chỉ đang đổi sang vị trí khác, vừa khéo ngay góc khuất mắt cậu với không tới. Bây giờ cậu mà muốn truyền âm thì phải bắn xuyên qua cửa sổ phòng ngủ thành chủ mới được.

Cho Ninh Hoài Sam thêm một trăm lá gan cậu cũng không dám nã tiếp, nên chỉ đành miễn cưỡng ngồi xuống trở lại, quay về khung cảnh tĩnh lặng lẻ loi.

***

Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên theo dõi trọn vẹn diễn biến của tiết mục đơn phương chọc phá này.

Ban đầu, Ô Hành Tuyết cho rằng Ninh Hoài Sam đích thị là một thằng ngốc biết đi, may mà nhốt lại rồi chứ để cậu ta kè kè bên cạnh “Phương Trữ” một hồi thì có ma mà biết chuyện gì sẽ xảy ra.

Dù vậy vẫn lợi ở chỗ, nhờ Ninh Hoài Sam tích cực như vậy nên giúp họ tra ra một số manh mối để lại.

Tiêu Phục Huyên nhìn “Phương Trữ” đổi chỗ ngồi trên hành lang, đoạn nói, “Ngồi quá thẳng.”

Đây cũng là điều Ô Hành Tuyết muốn chỉ ra.

Lúc trước chưa có dấu hiệu rõ ràng, bởi dù gì Phương Trữ cũng khác với Ninh Hoài Sam, tư thế đứng ngồi xem như đường hoàng chứ không ngả ngớn xiêu vẹo nằm đâu dựa đó.

Nhưng giờ bị Ninh Hoài Sam “thúc” bừa bãi mấy cú thì điểm này càng trở nên nổi bật hơn.

Tư thế đứng ngồi của người này thực sự nghiêm chỉnh.

Ô Hành Tuyết nói, “Điệu bộ này không mấy người ở Chiếu Dạ thành có được.”

Ngay đến Ô Hành Tuyết cũng không can hệ gì đến cụm từ này, dáng vẻ chàng mảnh khảnh đ ĩnh đạc, nhưng hoàn toàn không dây dưa gì đến hai chữ “nghiêm chỉnh”. Nếu dùng để chỉ Tiêu Phục Huyên thì tạm tương đối phù hợp, còn Y Ngô Sinh có vẻ hơi nhu mì thư sinh hơn một chút.

Nói tóm lại, những người có thần thái như vậy ít nhiều đều có liên quan đến tiên, ví dụ như… xuất thân từ tiên môn.

“Chẳng lẽ là tân thành chủ Phong Tiết Lễ đó à?” Ô Hành Tuyết nói nhỏ.

Nhìn thì cũng có khả năng, Phong Tiết Lễ đúng thật xuất thân từ tiên môn, sau khi Ô Hành Tuyết bị khoá lại bên trong Thương Lang Bắc Vực thì hắn mới phản bội gia tộc, rời khỏi nhà và gia nhập Chiếu Dạ thành. Nếu thế, dù có giữ lại phong thái hành xử giống tiên môn thì cũng không lạ.

Hơn nữa, gió thổi hay cỏ lay trong Chiếu Dạ thành cũng không qua mắt được tân thành chủ, phong ấn Tước Bất Lạc bị giải trừ lúc nào, bên cạnh Ô Hành Tuyết có những người nào, Ninh Hoài Sam vào cổng chưa, Phương Trữ vào cổng chưa đều là những chuyện hắn có thể dễ dàng biết được.

Thế nhưng…

Tiêu Phục Huyên, “Dưới trướng hắn không có ai à?”

Ô Hành Tuyết: “Sao có thể? Tất nhiên phải có chứ.”

Tiêu Phục Huyên: “Thế hà tất phải tự mình liều mạng.”

Đây đúng là một điểm kỳ lạ, với hắn mà nói, Tước Bất Lạc hiển nhiên là một địa điểm hung hiểm, hắn không cần phải tự mình thâm nhập bởi nhỡ đâu có vấn đề gì trục trặc thì chắc chắn lợi bất cập hại.

Trừ phi người này có địa vị quá cao nên hung hiểm đối với hắn cũng chẳng phải hung hiểm gì. Hoặc cũng có thể có nguyên do gì đó mà hắn không thể không tự mình ra tay.

Bởi thế, Ô Hành Tuyết càng không muốn đánh động đối phương mà tò mò xem thử rốt cuộc người kia đến đây với mục đích gì.

Nhưng tên “Phương Trữ” kia lại quá mức bình tĩnh, chỉ đơn giản tìm một chỗ yên ắng hơn để ngồi xuống và không có hành động bất thường nào mới. Không biết hắn đang chờ trời tối hay thời cơ nào khác.

***

Nếu bàn về kiên nhẫn, Ô Hành Tuyết không có cửa rơi xuống thế hạ phong.

Năm đó, Linh Vương mất đi năm giác quan mà còn có thể tĩnh toạ ba năm, hiện giờ chỉ phải chờ tạm nửa khắc, một hai ngày cũng thường thôi.

Có điều, nếu cứ giữ tư thế nhòm ngó chằm chằm như vậy cũng hơi ngu. Ma đầu không muốn tốn thời gian vô bổ, bèn quay sang hỏi Tiêu Phục Huyên, “Y Ngô Sinh bên kia thế nào rồi?”

Tiêu Phục Huyên vừa định tĩnh tâm để dò xem thế nào, đã nghe ma đầu nói tiếp, “Linh thức ngươi đi xem thế nào vậy, hoá thành bóng đi theo hay bám vào một ai đó?”

Dường như từ lúc vừa ra đời, những người tu hành đã hiểu loại chuyện này — linh thức thuộc <i>thần</i>, linh phách thuộc <i>hồn</i>, khi đã tu luyện đến trình độ nhất định là có thể vận dụng một cách tự nhiên. Hiếm có ai hỏi: Linh thức ngươi dùng như thế nào.

Một người đã thành tiên lại từng thành ma, giờ đây hỏi một điều mà hiếm một phàm nhân nào sẽ hỏi.

Tiêu Phục Huyên nhíu nhẹ hàng mày, ngoảnh mặt đi.

Một chớp mắt sau, y quay trở lại, cúi đầu hôn lên khoé môi Ô Hành Tuyết.

Ô Hành Tuyết chưa kịp phản ứng đã bị hôn đến nghệt người. Nụ hôn này ấm áp êm dịu, khác hẳn kiếm khí và áp lực ngông cuồng muôn thuở của Thiên Túc.

Ô Hành Tuyết bị hôn đến mức râm ran trong lòng, giọng cất lên còn đượm ý cười, “Khi linh thức dò xem có cách nào dắt ta theo với không?”

Trong thâm tâm chàng vẫn lo lắng cho Y Ngô Sinh.

Tiêu Phục Huyên lùi lại một chút. “Có.”

Ô Hành Tuyết: “Thật ư?”

Tiêu Phục Huyên: “Ừm.”

“Vậy thử đi.” Ma đầu còn nhân dịp đề xuất thêm, “Đồng tri đồng cảm luôn nhé.”

Thiên Túc đáp “Ừm”, tiếp đó bất ngờ thả khí kình tuôn ra ồ ạt —

Ma đầu: “…”

“Từ từ đợi đã.” Ma đầu dựa lưng lên cửa, tay nắm lấy giữ cánh tay Thiên Túc lại. “Không được, đừng vào.”

Một ngày rưỡi rồi…

Chàng sợ chiêu này lắm.

Trái lại, Thiên Túc tỏ vẻ ngạc nhiên trước phản ứng của chàng. Nhướn mí mắt mong mỏng lên một tẹo, y nói, “Chỉ là khí kình.”

Ma đầu: “…”

Câu này nói ra rất đứng đắn, khổ nỗi chàng không biết nên tiếp nhận ra làm sao. Tay vẫn giữ chặt trên cánh tay Tiêu Phục Huyên, chàng làm ngơ trước nhiệt độ dâng trào bất chợt bên vành tai. Một lúc lâu sau, chàng mới chớp hàng mi rồi nói, “Không đúng, là ngươi đang dối ta đấy sao Tiêu Phục Huyên?”

Tiêu Phục Huyên: “Không có.”

Ô Hành Tuyết: “Vậy thì không đúng.”

Tiêu Phục Huyên: “Không đúng ở đâu?”

“Ngươi muốn dò la cảm giác của ta nên chuyển khí kình sang thì chớ,” Ô Hành Tuyết nói. “Hiện tại ta muốn thăm dò ngươi thì không phải cần ngược lại à? Sao lại vẫn là ngươi chuyển khí kình sang?”

Tiêu Phục Huyên thế mà không phản đối.

Y gật đầu, xoay nhẹ cánh tay đang bị giữ chặt để hướng bàn tay lên trên. Với dáng vẻ tỏ rõ mời ma đầu chơi đùa tuỳ ý, y cất giọng trầm nặng, “Vậy ngươi sang đi.”

“…”

Ma đầu không sang được, vì có biết làm sao đâu.

Thế là bây giờ quay trọn một vòng, nếu muốn đồng tri đồng cảm thì vẫn phải để Tiêu Phục Huyên đưa khí kình vào trong…

Hiện tại ma đầu chắc là không làm được rồi.

Ô Hành Tuyết đè hơi ấm trên vành tai xuống, vỗ về người trước mặt và thả nhẹ giọng, “Thu hồi khí kình lại đi, ta không xem nữa.”

Tiêu Phục Huyên: “Mặc kệ Y Ngô Sinh à.”

Ma đầu nói: “Mặc kệ, giao Y Ngô Sinh cho ngươi đó, ta đi canh cái người ngoài sân.”

***

Tiêu Phục Huyên khép mắt ngồi yên tĩnh, dường như đang nương theo linh thức đến dò xem thung lũng Đại Bi.

Ô Hành Tuyết vẫn khoanh tay dựa lên cửa, lúc thì nhìn Tiêu Phục Huyên, lúc thì nhìn ra ngoài sân.

Ngón tay đặt trên khuỷu tay chàng trông trắng bợt bạt vô cùng bên dưới tấm áo voan xám mỏng như màn sương, dễ khiến người ta liên tưởng đến tuyết đọng sau sân.

Một lúc sau, trên đầu ngón tay chàng lại có dấu hiệu ngả sang xanh. Ô Hành Tuyết trước liếc nhìn Tiêu Phục Huyên rồi mới nhìn xuống ngón tay mình. Chàng buông mắt, xoa nhẹ mấy cái cho mảng màu xanh lá kia chầm chậm phai đi và trả về sắc trắng noãn.

Đây là nguyên cớ mà chàng không muốn để Tiêu Phục Huyên thả khí kình vào cơ thể mình, vì chàng đã thật sự bắt đầu cảm thấy lạnh trở lại và sợ bị Tiêu Phục Huyên phát giác ra.

Chàng nhớ về giấc mơ đó và những chuyện xưa đã xảy đến trong mơ, năm đó Tiêu Phục Huyên đến Tước Bất Lạc giúp chàng vượt qua kiếp kỳ, theo lý thuyết nó sẽ không tái phát. Vậy nhưng đến lúc chàng đến giết băng đảng tà ma của Tang Dục thì cơ thể vẫn lạnh đến kinh hoàng.

Chàng không nhớ nguyên do bị trở lạnh là gì.

Vì khác biệt tiên ma? Hay vì lý do gì khác.

Thời điểm đó, chàng đã tìm biện pháp nào đó giấu được Tiêu Phục Huyên, khiến người kia đinh ninh rằng tất cả mọi chuyện đều ổn thoả.

Mà lúc này trong tay không có nhiều biện pháp, phải làm thế nào để che giấu đây…

Lời tác giả:

Bổ sung cho hôm qua, sáng nay đọc lại thấy viết nửa đêm hôm qua vật vờ quá, viết vội viết vàng viết ra xàm xàm không…… nên tui viết lại hết một lần chương này.
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 70: Tiếc nuối


Trong lúc Ô Hành Tuyết đang theo dõi “Phương Trữ” sát sao ở Tước Bất Lạc, trong dòng thời gian mấy trăm năm trước, một bóng người âm thầm xuất hiện phía trước thung lũng Đại Bi.

Đó là một người vô cùng cao với bờ vai rộng và vong eo thon chắc. Thân thể khoác trong áo quần thuần đen cùng ủng đen, bên cổ tay bọc giáp bạc, trông cực kỳ gọn ghẽ mà hiên ngang. Trên đầu y đội đấu lạp che khuất hơn một nửa gương mặt, khi nhìn từ xa chỉ có thể thấy được viền môi mỏng và nét cằm thon gọn tinh tươm.

Đây không ai ngoài Tiêu Phục Huyên đến thăm dò tình hình.

Khi nãy, Ô Hành Tuyết hỏi y dùng linh thức để truy vết là hoá thành bóng hay bám vào ai khác. Nếu là người bình thường thì hẳn sẽ theo vế trước, linh thức không hình không trạng, tuỳ gió mà di chuyển. Riêng Tiêu Phục Huyên đặc biệt hơn, vì y có thể hoá hình.

Ví dụ như hình ảnh người đang mặc đồ đen hiện tại này.

Lần theo dấu vết Y Ngô Sinh, y đã đến trước lối vào thung lũng Đại Bi, khi ngước mắt thì không khỏi có phần ngạc nhiên.

Đây là lần đầu y bước vào thung lũng Đại Bi trong dòng thời gian này, mới nhìn thật sự khó nhận ra —

Thung lũng Đại Bi nơi đây không hoang vu cũng không điêu tàn, dù gió cát vẫn thổi lộng ngang trời nhưng không gian không hề bám màu khói bụi vàng xám mịt mù quanh năm.

Mà trước lối vào thung lũng Đại Bi còn có hơi nhộn nhịp.

Tiêu Phục Huyên lướt nhìn sơ qua và thấy có khách đi3m, quán rượu, cửa hàng trà với cọc cột ngựa. Chuồng ngựa được dựng khắp nơi với những máng cỏ dài dành cho các đội ngựa xe dừng chân nghỉ bước.

Và trong khung cảnh trước mắt, có hơn một nửa số chuồng ngựa đang được sử dụng, những lán lều bên ngoài quán trà quán rượu tấp nập lữ khách trong trang phục đa dạng, cho thấy hằng ngày có biết bao nhiêu khách vãng lai ghé ngang thung lũng này.

Quả là một thung lũng Đại Bi khác biệt hoàn toàn.

Tiêu Phục Huyên thấy Y Ngô Sinh trong túp lều của quán trà trước thung lũng.

Đã đi đến trước thung lũng Đại Bi rồi, chỉ cần bước qua cây cầu treo kia là đến nơi cần đến, mà Y Ngô Sinh chớ hề vội vã lên đường. Hắn đang ngồi trên một chiếc bàn cổ vuông, đối diện một cặp vợ chồng.

Đôi vợ chồng ấy thoạt trông đau buồn khôn xiết, người nữ ôm một đứa bé trong lòng, đứa bé được quấn trong một tấm áo khoác dày che khuất cả gương mặt, có vẻ như để tránh phong hàn.

Còn người nam cẩn trọng rút ra một món gì đó từ trong ngực áo mình.

Đây là một tấm bùa bình an vẫn thường gặp trong các đền miếu tiên, được gấp lại thành một mảnh nhỏ. Anh ta mở tấm bùa ra, bên trong là một dúm bột mịn giống như tro nhang.

Người nam đổ bột kia vào chung trà trước mặt, ra hiệu về phía đứa nhỏ trong lòng người nữ.

Tiêu Phục Huyên từng thấy phương thức dân gian này, có một số người mắc phải bệnh nan y, không biết phải làm thế nào bèn đi tìm một ngôi miếu đền linh nghiệm và cầu chút tro nhang để làm nước bùa.

Đôi vợ chồng này cũng đang làm như vậy.

Người nữ hơi nấn ná, cắn nhẹ môi rồi cầm chung trà lên thì bị một cánh tay chặn lại trên miệng chung.

Người ra tay không ai khác mà chính là Y Ngô Sinh.

Hắn vẫn trùm khăn kín mít, che cao qua mũi, làm người ta nhìn vào có cảm giác là một vị thư sinh ngại lạnh.

Hắn bất chợt cản tay lại khiến người nữ ngạc nhiên, còn người nam nheo mày thật chặt và cất giọng trách cứ, “Anh đang làm gì vậy?”

Y Ngô Sinh giương mắt nhìn họ, trong mắt đầy sự ôn tồn dịu dàng. “Tại hạ bất tài, trước đây từng gặp một số trường hợp thất hồn như vầy, một khi trẻ nhỏ mắc phải căn bệnh này nhìn không khác gì thai chết, sắc mặt chuyển sang xanh tím, bắt mạch không thấy, kiểm tra hơi thở cũng không có.”

Lời hắn nói vô cùng đột ngột không đầu không đuôi, mà hai vợ chồng kia nghe vào tức thì biến sắc.

Y Ngô Sinh nói tiếp, “Thật ra, chỉ cần chưa bị giảm nhiệt độ cơ thể, trên ngực vẫn còn hơi ấm tức là vẫn còn sức sống. Có thể uống đan được vào để đẩy luồng sinh khí kia trỗi lên trở lại là có thể cứu được.”

Hắn dừng đoạn, lại nói, “Nếu để quá muộn đến mức mất đi hơi ấm trên ngực thì khi đó quả thật đến thần tiên cũng khó cứu, không còn cách nào xoay chuyển được nữa.”

Những câu từ này phàm là nghe được từ miệng bất kỳ một người xa lạ nào đều khá giống hạng lang băm. Vậy mà khi Y Ngô Sinh nói ra lại khiến người ta thấy có thể thật sự tin tưởng được.

Đặc biệt là trên áo quần y còn đượm hương thuốc đắng, tựa như một vị y sĩ lãng du miền sơn dã.

Hai vợ chồng nọ trao đổi ánh mắt, rồi bỗng dưng quay sang nhìn hắn. Khoé mắt người nữ nhuốm đỏ, vươn tay siết chặt tay áo Y Ngô Sinh mà nói, “Tiên sinh tinh thông y thuật ư? Tiên sinh có thể ra tay cứu con tôi với được không, nó… nó gặp tình huống hệt như thầy nói.”

Cô vừa nói vừa lật tấm khăn ra, để lộ gương mặt đứa trẻ trong ngực mình.

Tiêu Phục Huyên liếc mắt nhìn sang, công nhận đứa trẻ kia trông không khác gì thai chết với đốm xanh đốm tím trên mặt, hai mắt em nhắm nghiền lại, chẳng tìm được chút dấu hiệu của người sống.

Nhưng y vẫn phát hiện được chút sinh khí còn sót lại trong cơ thể đứa nhỏ.

Người nữ níu lấy tay áo Y Ngô Sinh, cất giọng nức nở, “Trước đó mấy hôm nó gặp ác mộng, sau đó không tỉnh lại nữa mà cơ thể lại thành ra thế này. Tôi hỏi ai cũng đều bảo đã vô phương cứu chữa, bắt mạch không thấy nữa tức là ra đi rồi. Nhưng tôi biết nó còn sống mà! Cơ thể nó không lạnh đi, thậm chí hôm qua còn run ngón tay —”

“Chúng tôi vốn định đến Mộng Đô khẩn cầu những tiên môn nơi ấy, ở Mộng Đô có nhà họ Phong,” người nữ nói. “Khổ nỗi đêm qua nghe được nhà họ Phong vừa xảy ra chuyện nên đang để tang. Giờ chúng tôi cũng không còn cách nào khác, chỉ đành theo bước đội dẫn đường đến nơi này.”

Tiêu Phục Huyên nghe đến cụm “nhà họ Phong xảy ra chuyện” thì thoáng giật mình.

Nếu dòng thời gian này chưa bị chặt bỏ mà vẫn đang tiếp diễn, vậy “xảy ra chuyện” được nhắc đến ở đây chính là kết quả của việc mà y và Ô Hành Tuyết chứng kiến ở nhà họ Phong đêm hôm đó.

“Nhà họ Phong?” Y Ngô Sinh cũng chợt sững sờ. “Nhà họ Phong xảy ra chuyện sao?”

Người nữ gật đầu rồi kể, “Nghe nói có toà tháp gì gì đó bị sụp, tiên sinh biết nhà họ Phong ạ?”

Y Ngô Sinh bấy giờ mới hoàn hồn, nói, “À, không… tôi chỉ được nghe kể qua thôi.”

Hắn cụp mắt, không nói thêm gì nữa, đoạn đưa tay cầm chung trà đựng tro nhang kéo lại trước mặt và hỏi, “Từ đâu cô có được tro phù này thế?”

Người nữ quay đầu chỉ hướng thung lũng Đại Bi. “Tôi cầu được trong sơn miếu, họ bảo rằng nơi đây linh nghiệm lắm.”

Y Ngô Sinh: “Sơn miếu?”

Người nữ: “Đúng thế, là ngôi miếu ở ngay lối vào đằng kia.”

Tiêu Phục Huyên nghe vậy, hướng mắt nhìn sang phía cô gái chỉ thì thấy một căn miếu thờ ngay trước đường vào thung lũng Đại Bi, có vẻ giống hệt căn miếu đã từng thờ phụng Vân Hãi mà sau đó tượng thần đã không còn.

Y Ngô Sinh cũng nhìn về hướng ấy, hồi sau mới choàng mình bừng tỉnh.

Khi hắn thu tầm mắt về từ phía thung lũng Đại Bi thì thấy Tiêu Phục Huyên.

Tiêu Phục Huyên đã thay đổi một dung mạo khác khi hoá hình, lại còn che đấu lạp nên Y Ngô Sinh không nhận ra người, ánh mắt hắn chỉ đọng một thoáng chốc như tình cờ chạm mắt với một người xa lạ, rồi lịch sự gật đầu chào một cái.

Hắn lấy túi thuốc trong người, đổ ra hai viên thuốc hoàn nho nhỏ, xin tiểu nhị một chén nước rồi khuấy tan hai viên thuốc bên trong.

Tiếp đó, hắn ngắt một cành cỏ ven đường và nói với đôi vợ chồng kia, “Cứ chầm chậm đút cho em bé, đừng ngồi trong quán trà hứng gió bốn bề này mà tìm một nơi nào kín gió, tìm món đồ âm ấm giữ trên ngực cho em bé, đồng thời vỗ nhẹ lên lưng em đều đặn một đêm. Sang sáng mai, em nó ói ra khí độc là có thể tỉnh lại.”

Hai vợ chồng kia thiếu chút giàn giụa nước mắt ngay tại chỗ, họ níu giữ tay áo và khom người vái cảm tạ.

Y Ngô Sinh vội vã can ngăn, ngỏ lời khuyên, “Xin đừng vì tôi mà chậm trễ, hai người nhanh đi đi.”

Nói rồi, hắn cũng không chần chờ ngồi trong quán trà nữa mà lập tức đứng dậy, vừa khéo đi sóng vai với Tiêu Phục Huyên. Hắn chắp tay chào Tiêu Phục Huyên một tiếng, bảo, “Thật xin lỗi.”

Hắn còn ngỡ Tiêu Phục Huyên đang chờ bàn trống trong lều quán trà, bèn chỉ chiếc ghế trống mình vừa ngồi và nói, “Tôi cũng phải đi rồi, xin mời công tử cứ ngồi.”

Tiêu Phục Huyên trầm giọng, “Không cần.”

Y Ngô Sinh hơi sửng sốt hỏi, “Không phải công tử muốn nghỉ chân uống trà sao?”

Tiêu Phục Huyên: “Không phải.”

Y Ngô Sinh: “Vậy công tử cũng muốn đi qua thung lũng à?”

Tiêu Phục Huyên ngẫm nghĩ rồi chỉ tay về miếu thờ ở trước thung lũng Đại Bi và nói, “Ta đến đó.”

Y Ngô Sinh tỏ vẻ ngạc nhiên, sau một lúc mới cười niềm nở, “Tình cờ thế, cùng đường với tôi rồi.”

Tiêu Phục Huyên nghe vậy, chợt nhớ đến đôi mắt buông hờ thoáng tỏ niềm nuối tiếc của Ô Hành Tuyết.

Im lặng chốc lát, y hỏi Y Ngô Sinh, “Ông đến miếu thờ là có nguyện ước gì sao?”

Y Ngô Sinh sực đáp “À”, rồi lúc lâu sau mới nói, “Xem như là thế đi.”

“Ước nguyện gì vậy?”

Y Ngô Sinh chỉ cười mà không trả lời lập tức.

Cho đến khi họ bước qua cây cầu treo và trông thấy miếu thờ gần ngay trước mắt, Y Ngô Sinh mới nói, “Tôi cũng không biết ước nguyện mình là gì…”

Lúc ở ngã rẽ giữa đường núi, hắn nghe Ninh Hoài Sam nói mấy câu đã lung lay trong lòng.

Họ đang ở vào thời gian mấy trăm năm trước, và hắn nắm trong tay cơ hội sửa đổi quá khứ, có lẽ hắn sẽ không phải chết, có lẽ hắn sẽ sống được một đời thật dài.

Quả là một lời mời gọi đầy cám dỗ.

Mà chỉ qua một thoáng nghĩ suy, hắn đã chọn đi một mình.

Sau khi tách nhóm Ô Hành Tuyết, hắn cũng không đến thung lũng Đại Bi ngay lập tức. Sau khi lấy lý do “để quên đồ ở phố núi Lạc Hoa, cần quay lại tìm” thì hắn thật sự quay về phố núi Lạc Hoa, chọn một cửa hàng trà nhộn nhịp nhất và bần thần bên khung cửa sổ cả ngày, vì đâu đó đã khiến hắn thẫn thờ.

Lòng hắn khi đó thật lạ kỳ, lạ kỳ đến mức chính bản thân hắn cũng không biết mình thẫn thờ vì chuyện gì.

Hắn chần chờ suốt một ngày trời, sau đó mới chậm rãi cất bước đi đến thung lũng Đại Bi.

Con đường mấy trăm năm về trước không bị đặt cấm chế của các môn phái, nếu đi nhanh có thể sớm đến nơi rồi, nhưng thật tâm hắn chẳng mang một chút vội vàng nào.

Dọc đường đi, hễ gặp phải người mắc bệnh là hắn dừng chân giúp đỡ và trao thuốc cho họ.

Trước khi bắt đầu hành trình ở nhà họ Hoa, hắn cầm theo một túi đầy thuốc, mà sau khi đi qua một chặng đường, đan dược bên trong chẳng còn thừa được bao viên. Hai viên thuốc đưa cặp vợ chồng ban nãy đã là số thuốc cuối cùng, hiện tại túi thuốc của hắn hoàn toàn rỗng không.

Trước khi vào thung lũng Đại Bi, hắn hãy còn tự châm biếm với lòng và nhủ thầm: Y Ngô Sinh ơi là Y Ngô Sinh, mày trao thuốc cứu người cả một đường là muốn giảm bớt mặc cảm trong lòng hay sao? Vì mày muốn làm điều trái lẽ nên mới sống thiện để tạo phúc hay sao?

Hẳn là đến khi bước qua cây cầu treo, hắn vẫn còn nghĩ như thế.

Nhưng khi đứng trước gian miếu thờ, chỉ cách một bước chân nữa thôi, lòng hắn đã yên tịnh trở lại.

Y Ngô Sinh nhìn cổng lớn ngôi miếu, bất chợt mở miệng, “Không biết công tử đã bao giờ có điều tiếc nuối cả đời chẳng thể nguôi ngoai?”

Với một người hoàn toàn xa lạ, câu hỏi này thốt lên quá chi đường đột, đặc biệt trong hoàn cảnh người kia còn là một người rất trẻ tuổi, sao không đâu lại nhắc đến hai chữ “cả đời”, ở dân gian chắc chắn sẽ bị đánh giá là một lời thiếu may mắn.

Thay vì hỏi ai khác, câu ấy dường như dành để hỏi chính bản thân hắn.

Giọng hắn cất lên rì rầm, hẳn nhiên không trông mong nhận được câu trả lời từ người khác.

Thực chất, Tiêu Phục Huyên cũng không ngờ chính y sẽ trả lời câu hỏi đến quá đột ngột này, nhưng khi nhận ra, y đã nghe thấy bản thân trầm giọng trả lời, “Có.”

❄︎

Lời tác giả:

Bổ sung được chương này rồi, mọi người ngủ ngon QAQ

Cá:

Mỗi lần tác giả cắm flag là con tim em run rẩy
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 71: Kỳ quái


Y Ngô Sinh ngỡ ngàng, “Vâng…”

Tự bản năng, hắn thiếu chút hỏi thành lời <i>đó là tiếc nuối gì vậy</i>, nhưng kịp mau mắn phản ứng lại, phàm có liên hệ đến “cả đời” thì nào có thể gói gọn trong một hai câu mà nói rõ, dù có nói ra người nghe cũng không cách nào thấu triệt được.

Có khác nào bóc một vết sẹo để đánh đổi tiếng thở dài thổn thức, Y Ngô Sinh không thể hỏi ra lời, hắn không phải dạng người như vậy.

Hắn bèn vội xua tay, nói, “Tôi đường đột quá, hôm nay…”

Dừng đôi chút, hắn mỉm cười có phần cay đắng, “Hôm nay cảm xúc tôi trào dâng nên có chút mơ màng, dẫn đến không kiểm soát lời ăn tiếng nói, mong công tử lượng thứ cho.”

Người bên cạnh lặng im không rõ đang nghĩ gì, sau khi hắn nói xong xuôi người kia mới hoàn hồn, trầm giọng đáp, “Không sao.”

Khi họ đang nói chuyện, có người bước tới thi lễ với Y Ngô Sinh và nói, “Quý khách đến dâng hương ạ?”

Đây là người đứng giá dâng hương trong miếu thờ, người nọ khoác áo tu hành, tóc búi cao giống các đệ tử tiên môn thông thường, có nhiệm vụ phát nhang cho lữ khách đến dâng hương.

Thung lũng Đại Bi trong hiện thế đã tang hoang quạnh vắng nên không có người dâng hương. Thật không ngờ trong dòng thời gian mấy trăm năm trước, nơi đây lại nhộn nhịp đến nhường này.

Người hỗ trợ dâng hương rút nhang dài thành nhóm ba cây rồi đưa sang.

Y Ngô Sinh tất nhiên không đến đây để thắp hương bái thần, hắn với thung lũng Đại Bi này chỉ toàn nghiệt duyên. Thế nhưng trông thấy gương mặt cười niềm nở của người hỗ trợ dâng hương, hắn cũng không từ chối.

Nhận ba nén nhang dài kia rồi, hắn đưa mắt nhìn trong nỗi phức tạp, bất chợt gọi, “Tiểu sư phụ.”

“Quý khách có điều chi?” người hỗ trợ dâng hương còn đang chần chừ không biết có nên chuyển nhang cho Tiêu Phục Huyên hay không, vị hiệp khách trong trang phục thuần đen với dáng vẻ lạnh lùng này không giống như đến đây để cầu nguyện tiên nhân.

Y Ngô Sinh vuốt nén nhang, ôn tồn hỏi, “Xin hỏi tiểu sư phụ năm này là năm nào rồi?”

Nếu xét về độ tuổi, người hỗ trợ dâng hương cũng chỉ trạc tuổi những đệ tử trẻ vừa gia nhập tiên môn, có lẽ cũng hiếm gặp những lữ khách giống Y Ngô Sinh và Tiêu Phục Huyên. Nghe Y Ngô Sinh hỏi thế, cậu không khỏi bỡ ngỡ, chớp mắt trong thắc mắc và thốt lên, “Ơ?”

Y Ngô Sinh mỉm cười, vỗ trán nói, “Thật không dám giấu giếm, tôi từng mắc bệnh hiểm nghèo, từ đó người cứ lơ ngơ không nhớ rõ ngày tháng được nữa, đã khiến sư phụ chê cười.”

Người đến dâng hương ở miếu thờ thường có những nỗi niềm trong lòng, bệnh tật là chuyện thường tình nhất. Người hỗ trợ dâng hương gật đầu đồng cảm.

Cậu lễ phép đáp lời, “Đây là năm Tuế Ninh thứ hai mươi chín.”

Y Ngô Sinh “Ồ” lên lặp lại, “Tuế Ninh…”

Niên hiệu Tuế Ninh này mới xa vời làm sao, hắn nghe vào cảm thấy thực lạ lẫm.

Theo sách vở để lại, niên hiệu này cũng không kéo dài.

Vào năm phố núi Lạc Hoa bị thiêu trụi, niên hiệu ở nhân gian đã đổi từ “Tuế Ninh” sang “Thanh Hà” <i>(1)</i>, họ mong muốn dùng niên hiệu này như <i>thuỷ</i> để xoa nguôi thiên hoả.

<i>(1) Thanh Hà (清河): dòng sông phẳng lặng / dòng sông trong trẻo, cả hai chữ thanh (清) và hà (河) đều có bộ thuỷ (氵)</i>

Sau đó, niên hiệu Thanh Hà dùng trong suốt hai trăm bảy lăm năm, Y Ngô Sinh ra đời trong khoảng thời gian đó.

Cho đến khi Ô Hành Tuyết bị giam cầm vào Thương Lang Bắc Vực, nhân gian mới lần nữa đổi niên hiệu thành Thiên Thù.

Y Ngô Sinh chắp tay tỏ lời cảm ơn với người hỗ trợ dâng hương, “Đa tạ tiểu sư phụ cho hay, tôi đã nhớ kỹ, năm Tuế Ninh thứ hai chín.”

Người hỗ trợ dâng hương khoát tay, nói, “Ồ không, chuyện này có gì cần phải tạ đâu.”

Cậu chuyển sang lấy nhang cho những vị khách khác, bước vài bước rồi lại khó nén lòng mà quay sang nhìn Y Ngô Sinh, nhỏ giọng rầm rì, “Thật là một vị khách hành hương lạ kỳ…”

Chỉ là danh hiệu một năm thôi mà khi nghe vào, gương mặt người ấy lại tỏ rõ sự nghiêm túc chăm chú đến lạ, dường như ngày này với hắn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, cực kỳ đặc biệt vậy.

Trong lúc tiểu sư phụ hỗ trợ dâng hương đang thắc mắc thầm, Y Ngô Sinh đã cầm nhang bước vào trong miếu.

Còn Tiêu Phục Huyên dừng bước chân trước cửa miếu thờ.

Khi còn ở Tiên Đô, y rất hiếm khi để ý những thay đổi trong niên hiệu dưới nhân gian. Y đã từng chứng kiến mùa màng đổi thay, và cũng ghi nhớ một số ngày đặc biệt như ngày mùng ba tháng ba hằng năm là ngày phố núi Lạc Hoa mở chợ phiên.

Nhưng nếu bất chợt hỏi y năm này là năm nào, có lẽ sẽ thật sự khiến y lúng túng.

Có điều ấn tượng sơ lược thì vẫn có. Nếu y tính toán không nhầm, vào năm Tuế Ninh thứ hai chín… hẳn là Vân Hãi đã chết rồi.

Dòng thời gian rối loạn này do gia chủ nhà họ Phong tạo ra trong nỗ lực cứu vớt con trai và con gái mình, những người bị tác động đến đa phần là những người có liên quan trực tiếp đến ông ta, mà những người đó gần như không dính líu gì đến chúng tiên cả.

Nếu không có người nào khác nhúng tay vào thì khả năng cao là Vân Hãi cũng không còn trong dòng thời gian này, và bên dưới lòng đất nơi đây ắt nên hiện hữu ngôi mộ thần đang trấn giữ thể xác Vân Hãi.

Tuy vậy, không khí nhộn nhịp ở căn miếu thờ này đã hiển lộ sự bất thường nơi đây.

Tiêu Phục Huyên suy tư giây lát, duỗi tay vỗ vai người hỗ trợ dâng hương. “Xin lỗi.”

Người hỗ trợ dâng hương giật bắn mình, ngoảnh đầu lại hô, “Dạ… quý khách muốn hỏi điều gì ạ?”

Tiêu Phục Huyên nhấc chuôi kiếm lên một chút, hướng vào trong miếu thờ và hỏi, “Ngôi miếu này thờ ai vậy?”

Người hỗ trợ dâng hương chớp chớp mắt, lòng cảm thấy người khách hành hương này còn quái dị hơn người hồi nãy, dù vậy cậu vẫn trả lời lễ phép, “Là sơn thần của thung lũng Đại Bi ạ.”

“Sơn thần của thung lũng Đại Bi?”

“Vâng.”

Tiêu Phục Huyên: “Sơn thần này có danh xưng chứ?”

Người hỗ trợ dâng hương trả lời, “Tất nhiên rồi ạ.”

Tiêu Phục Huyên: “Là ai?”

Người hỗ trợ dâng hương nhìn Tiêu Phục Huyên bằng ánh mắt càng dị thường hơn, cậu thật sự không hiểu làm gì có khách hành hương nào lại hỏi vấn đề này — người tới miếu dâng hương mà không biết tên thần tiên ở đây hay sao?

Người hỗ trợ dâng hương chắp tay hướng lên trời hành lễ, cất giọng vô vàn kính cẩn mà rằng, “Tiên quan có danh hào Vân Hãi.”

Tiêu Phục Huyên sửng sốt đôi chút. “Ai?”

Người hỗ trợ dâng hương: “…”

Cậu kiên nhẫn nhắc lại lần nữa, “Vân Hãi ạ.”

Hai chữ này thốt lên rành mạch, không thể nghe nhầm được.

Quả thật không sai, đó chính là Vân Hãi.

Vân Hãi thế mà còn tại vị trong dòng thời gian rối loạn này.

Vân Hãi chưởng quản thung lũng Đại Bi chứ không phải việc tang hỉ ở nhân gian như thuở đầu phi thăng. Điều này cho thấy hắn vẫn có hành động vi phạm thiên quy, đến quỳ nhận phạt ở Linh đài và đã từng tiếp nhận lệnh điều động của thiên chiếu.

Nhưng không bị phế trở về nhân gian.

Từ đấy có thể thấy, dù mệnh số hắn không biến động nhiều, nhưng quả thật có sự biến động.

Tiêu Phục Huyên đăm chiêu một lát, cảm thấy thật kỳ quái — những hành động của nhà họ Phong có thể ảnh hưởng đến tận Tiên Đô, cụ thể là ảnh hưởng đến mệnh số của Vân Hãi được sao?

Mà kỳ quái hơn nữa chính là…

Bên trong ngôi miếu này không có tượng thần.

Trước mắt y, bên trên bệ thờ trong ngôi miếu này hoàn toàn trống rỗng, không dựng bất kỳ một tượng thần nào. Nơi đây chỉ đặt một chiếc bàn thờ dài, trên bàn thờ toàn lư hương.

Trông không khác gì miếu thờ ở thung lũng Đại Bi của hiện thế.

Nhưng lý do mà miếu thờ ở hiện thế không có tượng thần là vì Vân Hãi đã chết, không một ai còn nhớ đến hắn, tượng thần thuở trước bị chôn bên dưới mộ tiên trong lòng đất.

Và khi đến cúng vái ở miếu thờ đó, cũng không bá tánh nào nói “Tôi đến bái sơn thần” mà chỉ nói “Tôi đến bái thung lũng Đại Bi”.

Còn ở trong dòng thời gian rối loạn nà, người hỗ trợ dâng hương vừa nói vô cùng rành mạch rằng “Sơn thần thung lũng Đại Bi có danh hào Vân Hãi”, chứng tỏ Vân Hãi vẫn còn tồn tại, không bị thế gian quên lãng, vậy tại sao trên bệ thờ không có tượng thần?

Tiêu Phục Huyên hỏi, “Tượng thần đâu rồi?”

Người hỗ trợ dâng hương ngơ ngác như thể mới nghe câu hỏi này lần đầu, bối rối hỏi lại, “Tượng thần gì ạ?”

“Tượng thần trên bệ thờ.”

Người hỗ trợ dâng hương tỏ vẻ kinh ngạc, một lúc sau mới nói, “Tôi cũng không rõ nữa, lúc tôi đến đây thì bệ thờ này đã để trống rồi.”

Tiêu Phục Huyên nhíu mày.

Người hỗ trợ dâng hương nói tiếp, “Nghe nói trước đây từng có tượng thần, nhưng sau một đêm đã biến mất toàn bộ.”

“Không một ai tra xét sao?”

“Có tra xét chứ, nhưng không thu được kết quả gì cả, tượng thần đều như biến mất khỏi thế gian. Lữ khách tới nơi đây chủ yếu là bá tánh, mà bá tánh thì trộm tượng thần làm chi đâu, chưa kể họ cũng không có đủ năng lực phá huỷ tượng thần mà không ai hay biết được.”

Những khi gặp phải chuyện như vậy, dân gian đều quy nguyên cớ tại ông trời. Nếu đã không thể tìm ra, tra xét cũng không có kết quả, cũng đồng nghĩa ý trời như thế.

Người hỗ trợ dâng hương nói, “Sau đó tôi nghe kể họ có thử thay một bức tượng khác, nhưng cũng vô ích. Hễ bệ thờ được lập hôm nay thì sang mai sẽ trống không, tượng thần cũng biến mất trong đêm hệt như vậy. Dầu có tìm khắp mọi nơi đi nữa cũng không có kết quả.”

Người hỗ trợ dâng hương nói, “Nên sau này mọi người truyền miệng nhau là có lẽ trời định phải thế rồi, bèn không cưỡng cầu chi nữa, thế là về sau bệ thờ vẫn luôn để trống, khách hành hương ghé sang lâu ngày cũng thành quen.”

“Thật không dám giấu giếm…” Người hỗ trợ dâng hương gãi đầu, nói, “Nếu công tử không hỏi bất chợt như vậy thì tôi còn tưởng không có tượng thần mới là điều bình thường, thậm chí đã quên mất trong những đền miếu khác đều có tượng thần.”

Giống như thể mọi việc nên như vậy, là trời sinh vốn dĩ.

Hai người còn đang nói chuyện, chợt trong miếu vang lên những tiếng người hốt hoảng, không rõ đã xảy ra chuyện gì.

Có thể loáng thoáng nghe tiếng bàn tán xôn xao của những nhóm khách hành hương —

“Người đâu rồi? Sao bỗng dưng không thấy nữa vậy!”

“Mới rồi vẫn còn ở đây mà!”

“Hình như rớt xuống từ phiến gạch này phải không?”



Người hỗ trợ dâng hương còn bàng hoàng chưa rõ cơ sự thì chợt thấy một cơn gió mạnh cuốn ào qua trước mắt.

Cậu chớp mắt, thấy vị công tử hỏi chuyện kỳ lạ kia đã biến mất tăm như thể lướt qua người cậu để phi thân vào trong miếu.

Bản thân cậu cũng là người tu hành, ngay khi cơn gió mạnh kia lộng qua, cậu thoáng chừng cảm nhận được tiên khí đi kèm với áp lực đã được đè nén lại.

Người hỗ trợ dâng hương thất kinh, mất một lúc lâu mới hoàn hồn.

Cậu nhanh chân chạy vào trong miếu, hỏi, “Có chuyện gì xảy ra thế?”

Mấy vị bá tánh đến thắp nhang chỉ vào một phiến đá vuông khổng lồ, nói, “Vừa nãy có vị khách hành hương ở đấy, cái vị thư sinh nho nhã trùm khăn che kín qua mũi ấy, anh ta bước đến chỗ này thì thình lình biến mất.”

“Tôi thấy hình như phiến đá trắng này có lung lay một chút, nhưng nó chóng vánh quá nên tôi cũng không rõ có phải mình bị hoa mắt rồi không.”

“Hình như tôi cũng nhìn thấy.”

“Phiến đá đang yên đang lành sao lại lung lay?”

“Giống… giống như một cái cửa ngầm xoay mở ra vậy.”

“Nền nhà không phải rỗng bên dưới chứ hả?”

Ai nấy đều thất kinh hồn vía, hoảng sợ mà tập trung lại gõ thử lên phiến đá vuông kia nhưng không tìm được một chút dấu vết nào cho thấy nó từng dịch chuyển.

***

Trong khi những vị khách hành hương trong miếu ngơ ngác nhìn nhau, Tiêu Phục Huyên đã theo gót Y Ngô Sinh, đáp trên nền đất bên dưới căn miếu.

Khi chân y chạm đến mặt đất, cảm giác kỳ quái trong lòng lại dợn lên mạnh mẽ hơn.

Và khi y vững chân và ngước mắt trông lên một pho tượng thần khổng lồ, nét mặt y dần sa sầm lạnh lẽo.

Bức tượng thần này đẽo một nhân vật anh tuấn với dung mạo điển trai, dáng người thon cao, một tay cầm cờ một tay nâng nhánh cây xanh tốt, trên ngọn nhánh cây ấy trổ một đoá hoa mỹ lệ, vừa khéo che đi một bên mắt tượng thần.

Đây tất nhiên là Vân Hãi.

Căn phòng tròn bên dưới nền đất nơi này giống hệt khu mộ địa ở thung lũng Đại Bi họ từng ghé qua, từ lối vào cho đến khung cảnh bên trong đều giống thế.

Bởi vậy mà có một giây lát, Tiêu Phục Huyên ngợ rằng nếu tiếp tục men theo con đường dài uốn lượn phía trước mặt và đi đến cùng tận, không biết chừng còn có thể thấy Vân Hãi đang bị trấn áp nơi ấy.

Nhưng ban nãy chính người hỗ trợ dâng hương đã nói rõ Vân Hãi vẫn đang sống trong dòng thời gian rối loạn này, không chỉ thế, hắn còn phụ trách trông coi thung lũng Đại Bi.

Hắn không bị đoạ xuống nhân gian, không trở thành tà ma, không bị người quên lãng, lẽ đương nhiên cũng không cần một ai xây dựng một khu mộ thần dưới lòng đất thay mình.

Vậy tại sao những thứ này lại tồn tại bên dưới sàn toà miếu kia?

Lời tác giả:

Ngủ ngon ~

Cá:

Vào năm Lạc Hoa Đài nổi lửa, nhân gian đổi niên hiệu Thanh Hà, niên hiệu này kéo dài 275 năm. Sau đó Ô Hành Tuyết rơi vào Thương Lang Bắc Vực, nhân gian lại đổi niên hiệu Thiên Thù, từ đó đến nay là 25 năm.

Tức là từ năm Lạc Hoa Đài cháy đến hiện tại là tròn 300 năm rồi đó.

Tui nghĩ là tui đoán ra một số chuyện rồi (ಥ﹏ಥ)
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 72: Hoạt trận


Tiêu Phục Huyên càng cảm thấy kỳ quái hơn.

Y quét mắt một vòng căn phòng tròn mà không thấy bóng dáng Y Ngô Sinh đâu, song trên mặt đất vẫn còn lưu dấu vết —

Y Ngô Sinh rơi từ nắp cửa bẫy bằng đá trên mặt đất xuống, sau đó dường như bị thứ gì lôi vào sâu trong hầm mộ.

Tiêu Phục Huyên không nấn ná bên ngoài nữa mà nhanh chóng dấn sâu vào trong.

Con đường này y từng đi qua một lần nên giờ rất quen lối. Thậm chí y hãy còn nhớ rõ từng nơi đặt tượng đồng nam đồng nữ, mỗi lần bước đến vị trí một pho tượng, y đều dừng bước, vung kiếm phá tường để kiểm tra bên trong.

Càng nhìn, nét mặt y càng trầm hẳn đi, vì bên trong mỗi nơi ấy, y đều tìm thấy một pho tượng đồng nam hoặc đồng nữ. Điểm khác biệt duy nhất là thung lũng Đại Bi này không có những bá tánh vô tội bị “triệu hoán”, bởi thế bên trong những pho tượng đồng nam đồng nữ này đều sạch tươm, không có những thi thể méo mó, không có vết cào loạn, và cũng không có những vệt máu khô.

Suốt dọc đường vào trong có vừa đủ ba mươi ba bức tượng đồng nam đồng nữ, không hơn không kém.

Hết thảy nơi đây hệt như một khung cảnh được phục dựng, nhưng có điểm gì đó cực kỳ bất nhất khó diễn tả.

Càng vào sâu bên trong đường hầm mộ, cảm giác bất nhất này càng trở nên nặng nề hơn.

Tiêu Phục Huyên phi thân đến cuối lăng mộ, bước vào gian phòng vòm tròn khổng lồ.

Không ngoài dự kiến, gian phòng vòm tròn này chất đầy những tượng thần to lớn, không khác gì cánh rừng đá tảng cheo leo hiểm trở.

Người bình thường muốn thấy rõ gương mặt những thần tượng nơi đây đều phải ngưỡng đầu thật cao. Nó dấy lên trong lòng người sự bức bách nặng nề, khiến người ta e sợ không dám cất cao giọng.

Dưới chân những pho tượng thần khổng lồ bằng đá đặt san sát nhau này cũng có bệ thờ, trên mặt sau của bệ thờ vẫn khắc chữ, ắt hẳn là danh hào của vị thần đó.

Trên mặt bệ thờ phủ đầy tro bụi.

Tiêu Phục Huyên ngồi xổm nửa thân, duỗi tay lau lớp tro bụi che kín bệ thờ, để lộ những dòng chữ khắc rõ —

Mộng Cô, chưởng quản Kinh Quan.

Hoặc Ca, chưởng quản Huyết Trì.

Tang Phụng, chưởng quản núi Bất Động.



Đến cả những tượng thần nơi đây cũng giống như đúc.

Tiêu Phục Huyên gần như còn cảm nhận được trận cục lưu động âm ỉ bên dưới chân mình.

Ở hiện thế, những tượng thần bên dưới thung lũng Đại Bi này được sắp xếp thành một trận cục khổng lồ, trận cục ấy được dùng để trấn áp Vân Hãi, khiến hắn vĩnh viễn không thể nhìn thấy ánh sáng mặt trời.

Mà tại đâytrong dòng thời gian rối loạn của mấy trăm năm về trước, Vân Hãi hãy còn đang sống, không ai cần bị trấn áp cả, vậy trận cục này được thiết lập ra để làm gì?!

Tiêu Phục Huyên trầm mặc không lên tiếng, chỉ lẳng lặng rảo một vòng xem kỹ một lần những pho tượng đá khổng lồ kia, bỗng phát hiện một vấn đề.

Cuối cùng, y đã hiểu rõ nguyên cớ cho cảm giác bất nhất nơi đây —

Bởi vì lăng mộ thần dưới đáy thung lũng Đại Bi này không phải được phục dựng từ hiện thế, mà được xây nghịch lại hoàn toàn!

Thứ tự những pho tượng họ nhìn thấy dưới thung lũng Đại Bi ở hiện thế lúc trước lần lượt là Tang Phụng đứng đầu tiên, Mộng Cô đứng cuối cùng, và Hoặc Ca đứng ở giữa phía bên tay trái. Vì vậy trên đường đi, người đầu tiên họ nhìn thấy là Tang Phụng, tiếp nữa là Hoặc Ca, và cuối cùng mới là Mộng Cô.

Còn ở nơi này, Mộng Cô đứng ở vị trí đầu tiên, Tang Phụng ở vị trí cuối cùng, Hoặc Ca vẫn đứng vị trí giữa, thế nhưng lại nghiêng bên tay phải! Dẫn đến việc y đi qua thấy bức tượng Mộng Cô trước, tiếp đến là Hoặc Ca và tượng cuối cùng mới là Tang Phụng.

Vừa nhận ra điểm này, Tiêu Phục Huyên tức thì ngẫm lại bức tượng Vân Hãi mình trông thấy ở bên ngoài hầm mộ thì phát giác nó cũng không đúng…

Đúng là Vân Hãi vẫn một tay phất cờ trắng, một tay cầm nhánh hoa, thế nhưng tay phía nào đã bị đổi ngược.

Toàn bộ ngôi mộ này không được phục dựng nguyên mẫu mà là hình ảnh phản chiếu.

Ngay trong các thuật pháp ở dân gian, gương là vật phẩm thường được sử dụng nhất, nó đại diện cho việc phản chiếu, tráo giả thành thật…

Và lật ngược.

Tiêu Phục Huyên nhíu chặt mày.

Nếu theo hướng tráo giả thành thật — nơi đây chính là giả, hiện thế là thật. Nơi này được bài trí hoàn toàn giống với hiện thế, quả thật có thể đánh tráo thật giả.

Còn nếu theo hướng phản chiếu — những bài trí ở nơi đây cho thấy có người mang ý đồ chiếu thứ gì đó ở nơi này đến hiện thế.

Cuối cùng, nếu theo hướng lật ngược — cự trận bằng tượng thần ở hiện thế kiến hiệu trấn áp, khiến người bị trấn không bao giờ nhìn thấy được ánh mặt trời. Vậy nếu lật ngược lại chẳng phải thành…

Một trận cục có tác dụng sinh sôi sự sống không ngừng nghỉ, là <i>khô mộc phản xuân</i>?!

Tiêu Phục Huyên lập tức biến sắc!

Y đặt bàn tay mình trên chuôi kiếm, phần bao kiếm phía dưới mũi kiếm đập mạnh xuống nền đất, dắt theo khí kình ngùn ngụt tuôn trào.

Ánh vàng dội tung khắp không trung, nổ vang một tiếng ầm trời! Trận cục âm ỉ dưới chân đột nhiên hiện rõ, những đường dài loá lên ánh huỳnh quang như dòng nước đang lưu chuyển dọc ngang, dệt nên tấm lưới khổng lồ lan rộng đến những pho tượng khổng lồ cuối cùng.

Nhìn hướng lưu chuyển của ánh huỳnh quang, có thể xác nhận nó đang vận động theo chiều đảo nghịch!

Ngay thời khắc trận cục bị cưỡng chế khởi động, cuồng phong thình lình nổi lên giữa phòng vòm tròn, cơn gió kia lùa ào ạt qua những pho tượng thần, chẳng mấy chốc đã cuộn thành một cơn lốc xoáy hình rồng.

Cơn lốc xoáy hung mãnh đổ dồn về một phía theo hướng vận hành của cự trận.

Nếu ở hiện thế, điểm cuối của nó chính là huyệt mộ chôn cất Vân Hãi.

Tiêu Phục Huyên không chần chờ một khắc nào, ngay lập tức đạp gió đuổi theo, chỉ một bước đã phóng trăm trượng. Trong nháy mắt, y đã vững vàng đáp xuống điểm đó chẳng khác gì thanh kiếm sắc bén cắm phập trên nền đất.

Ngay khi đáp xuống mặt đất, y nghe được tiếng r3n rỉ vọng lên từ giữa cơn lốc gió, đồng thời thấp thoáng trông thấy một bóng người ôm ốm gầy gò.

Y đâm kiếm xuống đất một lần nữa, ngăn cản triệt để cơn lốc xoáy cuồn cuộn như rồng.

Ngay khi vùng trời tạnh gió, bóng người kia cũng hiện ra. Đây chính là Y Ngô Sinh bị rơi xuống ban nãy.

***

Từ khi bước chân vào miếu thờ trong thung lũng Đại Bi này, Y Ngô Sinh đã cảm thấy không ổn.

Hắn tự biết bản thân chỉ là nỏ mạnh đã hết đà, phần tàn hồn trong cơ thể mong manh hơn bao giờ hết, tựa như ánh đèn dầu cạn kiệt đang đà tắt ngúm, giờ chỉ còn một tia lửa lập loè.

Tuy vậy, nhờ ơn Thiên Túc mà cảm giác kiệt quệ đến lụi tàn ấy diễn ra rất êm đềm, êm đềm đến mức hắn còn ngờ rằng mình sẽ không mảy may cảm nhận được đau đớn tại thời điểm tàn hồn hoàn toàn tiêu tan.

Thế mà sau khi đặt chân vào miếu thờ, phần tàn hồn sót lại mong manh bất chợt nôn nao không ngơi nghỉ. Khoảnh khắc đó, hắn đã tin chắc rằng có vấn đề kỳ lại bên trong ngôi miếu này.

Thành thử, hắn không dâng hương mà men dọc theo bàn thờ bước ra phía sau, để rồi quả nhiên hắn trượt vào phiến đá dùng làm cánh cửa ngầm và rơi vào lòng đất.

Vừa xuống bên dưới lòng đất, phần tàn hồn kia bất chợt run lên bần bật. Có thể thấy rõ thứ kỳ quái kia quả thật bắt nguồn từ dưới lòng đất này.

Cảm giác tàn hồn run rẩy khó chịu khôn cùng, bức bối đến độ hắn không mở nổi mắt mình. Trong trạng thái mơ hồ đến gần mất đi ý thức, Y Ngô Sinh đã loạng choạng bước tiếp theo trực giác để đến điểm cuối cùng của hầm mộ.

Nơi hắn dừng chân chính là địa điểm sâu thẳm nhất của sự kỳ quái đó.

Hễ đứng ở nơi đây, hắn có thể ngay lập tức cảm giác được tàn hồn trong cơ thể run đến độ tưởng như tan biến hoàn toàn.

Cảm giác ấy mâu thuẫn tột độ — bởi sự nôn nao run rẩy không ngừng của tàn hồn, hắn cảm thấy mình không cách nào trụ nổi và sẽ ngã ngay xuống đất, rồi không làm sao vực dậy được nữa. Song ngược lại, hắn cũng cảm nhận được một sức sống lạ thường.

Giống như… giống như khi ánh nến vụt tắt thì bỗng dưng ai đó cạnh bên nổi gió, ép ngọn lửa bập bùng mà không mất.

Hắn còn không thể nhìn thấy gương mặt của mình. Phải mà trông thấy, có lẽ hắn sẽ nhận ra vào thời điểm ấy, vì lý do nào đó mà gương mặt ngả xám tro của mình hửng chút hồng hào.

Thế rồi, cơn run rẩy của tàn hồn thốt nhiên bị phá tan bởi một luồng kiếm khí mang theo cuồng phong dạt tới. Theo tiềm thức, Y Ngô Sinh nhấc tay áo che mặt lại, chống mạnh hai chân xuống đất hòng giữ vững thăng bằng cho cơ thể.

Đến khi cơn lốc kia bất chợt lặng hẳn xuống, hắn thả ống tay áo ra, choàng tỉnh hồn ngước mắt lên thì thấy một bóng người thân khoác áo đen, đầu đeo đấu lạp.

Giữa cơn mụ mị, Y Ngô Sinh chợt giật mình thảng thốt, trong mắt lộ chút kinh ngạc.

Mãi lâu sau, nét kinh ngạc kia mới biến mất, nhường chỗ cho ý cười, hắn lắc đầu nói, “Chẳng trách…”

Y Ngô Sinh dõi mắt về chiếc đấu lạp đội thấp che khuất mặt cùng vóc người đã hoàn toàn thay đổi của người kia, đoạn thở dài khe khẽ. “Tôi cứ tưởng là ai, thì ra là thế…”

Ở trước lối vào thung lũng Đại Bi, lần đầu tiên chạm mắt với người này, hắn đã có linh cảm rằng đối phương chắc chắn không phải người thường. Chẳng qua thế gian có quá nhiều người tu hành, còn bản thân hắn mang tâm sự nặng trĩu nên cũng chẳng để tâm nhiều đến chuyện ấy.

Giờ ngẫm lại mới thấy, quả thật chẳng trách.

Chẳng trách người nọ không giống khách hành hương mà sao lại muốn đến ngôi miếu này, ắt là theo dấu hắn đến đây.

Y Ngô Sinh nho nhã chắp tay hành lễ, thưa, “Thiên Túc.”

Thực chất, hắn muốn nói “đã làm phiền Thiên Túc nhọc lòng chuyến này rồi”. Nhưng cả chuyến đi này đều khởi nguồn từ chính hắn mà ra, giờ nói câu “nhọc lòng” sao chừng vô tâm quá.

Thực chất, hắn còn muốn thốt lên lời “thật hổ thẹn”, ấy thế nhưng giờ đây hắn đang ở trong thung lũng Đại Bi, đã thế còn bước vào nơi sâu thẳm nhất hầm mộ, ngay bên cạnh nơi chôn cất Vân Hãi. Đã lâm vào tình huống này thì hai chữ “hổ thẹn” kia cũng không cách nào ra khỏi miệng được.

Huống hồ, giờ hắn cũng không lo xa được đến vậy, vì phần tàn hồn mới vừa yên ổn chưa được bao lâu đã nôn nao lần nữa.

Loáng cái, Y Ngô Sinh đứng còn không muốn vững.

Nhưng dù gì hắn cũng từng là người dùng kiếm, và cũng không muốn tỏ ra quá yếu ớt. Thế nên hắn nhéo ngón tay để giúp bản thân tỉnh táo lại, đoạn nói, “Thưa Thiên Túc, nơi này thực sự kỳ quái, ắt hẳn là có trận. Nó ở…”

Vừa nói, hắn vừa mượn lời để quỳ nửa người trên mặt đất, vươn tay chỉ xuống đất đá bên dưới và nói, “Nó ở… ngay đây.”

Nói xong, hắn không rút tay về mà chống thẳng xuống đất.

Vì nếu rút tay lại, hắn sẽ lập tức ngã ngửa ra phía sau.

Hắn cười khổ trong lòng, thầm nghĩ: Sao mà khốn đốn đến nhược này, thật mất mặt nhà họ Hoa.

Không ngờ ngay khi chạm tay vào nền đất, phần tàn hồn hắn bất chợt dâng trào nhịp sống. Dường như có một sự sống mỏng manh đang mạnh mẽ tràn qua bàn tay đặng cuộn vào trong cơ thể hắn.

Giữa lúc mê man, Y Ngô Sinh chớp nhẹ mắt, ngón tay cong lại bám chặt vào nền đất.

Hắn nhíu chặt mày, nghe thấy giọng Thiên Túc trả lời.

Thiên Túc nói, “Đúng là có trận.”

Một linh cảm nhen lên trong lòng Y Ngô Sinh. “Trận này… để làm gì thế?”

Phải, trận này dùng để làm gì?

Thật ra họ đã tìm được đáp án cụ thể trong lòng, giờ chỉ đang thiếu một ít chứng cứ sau cùng mà thôi.

Bấy giờ, trong mắt Y Ngô Sinh đã mù mờ đen kịt, ngón tay hắn run rẩy nhưng vẫn gắng gượng để giữ vững cơ thể. Hắn dồn hết sức lực đấm thẳng nắm tay vào nền đất.

Cú đấm này khiến Tiêu Phục Huyên cũng bất ngờ.

Sau một chớp mắt ngỡ ngàng, y thấy nền đất bất chợt trồi lên và tràn sang hai bên, để lộ một huyệt mộ sâu hút.

Trong dòng thời gian rối loạn này, Vân Hãi vẫn còn sống, dĩ nhiên việc bên trong không có người là điều có thể dự kiến. Có điều huyệt mộ này cũng không rỗng mà đang vun trồng rất nhiều cành dây leo xanh tốt.

Những cành dây leo kia mọc chằng chịt dọc ngang, nhưng dưới sự nuôi dưỡng của trận cục mà căng tràn sức sống, trổ nụ đơm hoa.

Song bên dưới rễ những cành dây leo đó bốc lên mùi máu tanh và một mùi hương gì đó tản ra thoang thoảng. Ngay khi lọt vào khứu giác, Tiêu Phục Huyên tức thì hiểu rõ đây là thứ gì…

Có người đã dùng chính linh, xương, máu, thịt bản thân để làm cục, dùng sinh mệnh dài lâu của mình để nuôi dưỡng trận này.

Nếu đơn giản nhìn vào trận, chỉ thấy cành và hoa thì có lẽ không thể nhận ra mục đích của nó. Trông chỉ như người bày trận đã dành biết bao nỗ lực và công sức để nuôi trồng mấy nhánh cây dây leo mà thôi.

Tuy vậy, nhóm Tiêu Phục Huyên thì khác, bởi họ đã từng bước vào thung lũng Đại Bi ở hiện thế, từng nhìn thấy Vân Hãi bị chôn dưới huyệt mộ, và cũng từng trông rõ những sợi dây leo mọc ra từ lồ ng ngực rỗng không của Vân Hãi.

Khi đó, Tiêu Phục Huyên và những người kia đã đoán chừng rằng dây leo cộng sinh cùng Vân Hãi. Hễ dây leo chưa chết thì Vân Hãi vẫn sống. Ngặt nỗi họ không tìm được nguồn gốc xuất xứ của dây leo nên không cách nào tìm hiểu xem thứ gì mới thật sự cộng sinh với Vân Hãi.

Cho đến tận ngày hôm nay, đến tận giờ phút này, cuối cùng họ cũng tỏ tường —

Hoá ra, nơi mà số dây leo này bén rễ không phải lồ ng ngực Vân Hãi, mà là nơi đây. Trận cục này cung cấp dinh dưỡng nuôi sống rễ cây kia.

Thế thì, khu hầm mộ bên trong lòng đất như tấm gương phản chiếu này có tác dụng gì, chẳng quá rõ ràng rồi sao.

Trước đây, họ mãi không rõ rốt cuộc Hoa Tín đã làm cách nào để giúp Vân Hãi tiếp tục sống cuộc đời dài lâu trên nhân thế.

Mà giờ đây, mọi thứ minh bạch trước mắt.

Đó là dùng mệnh nuôi mệnh.

❄︎

Lời tác giả:

Đợi lâu rồi ~ ngủ ngon

Cá:

Tui nhịn hết nổi rồi… tới đây mà còn chưa ship Hoa Vân nữa thì tui có lỗi với bản thân quá. Dù tui đã lẩm nhẩm ngay từ đầu là không được ship cp phụ, cp phụ là sai lầm, cp phụ đầy redflag, đừng bước vô con đường này. Nhưng mà… lấy mệnh nuôi mệnh… ai chịu nổi sự hy sinh như vậy…🙁((((((((((((((((((
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 73: Hồn tan


Bất kỳ một ai từng tiếp xúc với Hoa Tín mà nhìn thấy trận cục dùng mệnh nuôi mệnh dưới mặt đất này, đều sẽ muôn phần ngạc nhiên, vì đây là hành động không phù hợp với Hoa Tín mà họ biết.

Hoa Tín, Tiên thủ đứng đầu Linh đài Thập nhị tiên, là sự tồn tại điển hình bậc nhất Tiên Đô…

Nhẹ nhàng mà không dịu dàng, trắc ẩn nhưng chẳng bi thương. Người hệt như pho tượng thần trên bàn thờ với dáng vẻ điềm đạm và thân hình đoan chính, dẫu mấy trăm năm cũng như một ngày, chẳng chút đổi thay.

Đã từng, hắn nhuốm một thoáng tính người trong một khoảng thời gian ngắn ngủi có bên mình một đồ đệ ham vui cười, để rồi cái một thoáng tính người mơ hồ kia sau đã tan biến không còn gì…

Thậm chí còn chẳng phải quay vòng về khởi điểm, mà gần như còn nghiêm trọng hơn xưa.

Từng có người đã lén buông lời đánh giá rằng Hoa Tín ấy giống hệt một bức tượng thần di động, không hề mảy may hiển hiện tính người.

Nên nào có ai ngờ một người như vậy có thể bỏ ngần ấy công sức chỉ để níu kéo một người đã chết trở về. Đây không nên là việc mà Tiên thủ Linh đài có thể làm ra, nói cho trót thì nó còn có hơi hướm quỷ tà.

Bởi hắn biết rõ bản thân không nên làm vậy, nên đã lén lút tiến hành trong âm thầm, giấu trận cục dùng mệnh nuôi mệnh này bên ngoài nhân gian, đặt trong dòng thời gian rối loạn này.

Hắn đã dùng linh, xương, máu, thịt để vun bồi những cành dây leo nơi này, rồi dùng mối quan hệ cộng sinh tương hỗ để gián tiếp nuôi ngược lại Vân Hãi đã mất mạng dưới kiếm hắn trong hiện thế.

Thoạt nhìn, đây là hành động cực kỳ cẩn trọng, khó lòng bị phát hiện mà cũng không dễ dàng bị người ngăn trở. Nhưng một khi xét kỹ sẽ thấy có rất nhiều sơ hở —

Thứ nhất, làm cách nào để hắn đảm bảo không ai có thể xâm nhập vào khu mộ dưới lòng đất? Rồi làm sao để đảm bảo Vân Hãi sẽ không gặp những sự cố ngoài ý muốn?

Thứ hai, nơi đây là một dòng thời gian rối loạn vốn không nên hiện hữu, tất cả những bố trí của hắn đều đặt trên mây mỏng, hễ dòng thời gian này bị chặt đứt thì trận cục cũng không tồn tại nữa, những cành dây leo cộng sinh kia không còn nguồn dinh dưỡng thì không cách nào sống nổi, kéo theo Vân Hãi ở hiện thế cũng héo mòn mà chết.

Chỉ cần một trong hai điều trên xảy ra sẽ khiến mọi nỗ lực của Hoa Tín trở thành dã tràng xe cát.

Xét ra những bất cập này rất dễ thấy, làm sao hắn có thể để những sơ hở này tồn tại mà không chuẩn bị chiêu dự phòng gì?

Chắc chắn là không…

Tiêu Phục Huyên nhìn những cành hoa trong hố, nét mặt dần sa sầm xuống.

Lúc đầu, y và Ô Hành Tuyết còn đinh ninh rằng nhà họ Phong đã tạo nên dòng thời gian rối loạn này, nguyên do là gia chủ nhà họ Phong muốn tìm cách cho con trai con gái mình sống lại, nhờ một lời chỉ dẫn trong chiêm bao mà tìm đến sức mạnh thần mộc để lập ra dòng rẽ này. Tất cả nhân quả đều khởi nguồn từ nhà họ Phong.

Mà xét tình hình trước mắt, e rằng sự thật không phải như thế…

Bằng không, giữa muôn vàn những dòng rối loạn trên thế gian, cớ gì Hoa Tín chọn trúng dòng thời gian của nhà họ Phong này để giấu trận cục bên trong. Rồi lại vì cớ gì mà dòng thời gian này bị bỏ sót suốt hàng mấy trăm năm không gián đoạn.

Từ góc độ này, có thể thấy rõ người đã chỉ dẫn cho gia chủ nhà họ Phong trong chiêm bao là vị nào.

Nhà họ Phong chỉ là lớp vỏ bọc nguỵ trang để dẫn đi sự chú ý, còn Hoa Tín mới đích thị là người muốn lập ra dòng rẽ này.

Nếu Hoa Tín đã chỉ nhà họ Phong cách tạo nên dòng thời gian này, đồng thời không muốn nó bị phát hiện bởi những người có khả năng cản trở nó như Thiên Túc hoặc Linh Vương không thuộc về Linh đài, thì chắc chắn hắn sẽ đặt ở đây một số thứ để xuất chiêu khi dòng thời gian này bị xâm nhập.

Ví như, khi Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên muốn truy tra manh mối từ nhà họ Phong thì nó cuốn họ ra ngoài ngay lập tức.

Thậm chí… có thể sắp xếp thứ gì đó theo bọn họ ra ngoài.

Tiêu Phục Huyên nhớ đến Tước Bất Lạc của Ô Hành Tuyết.

Ngay lúc này, trong sân Tước Bất Lạc có một “Phương Trữ” đã nối bước họ trở về.

***

Hết thảy những suy đoán rối ren đều lướt qua đầu y chỉ trong chớp mắt.

Trong chớp mắt Tiêu Phục Huyên lâm vào trầm tư đó, những cành dây leo dưới huyệt mộ chợt chấn động — tựa như sâu rắn ngủ đông bỗng nghe tiếng sấm báo hiệu xuân về, thời điểm huyệt mộ bị quật lên là lúc chúng sinh sôi nảy nở, những búp hoa khép kín bất ngờ bung nở sắc đỏ thẫm, màu đỏ như máu thật diễm lệ mà cũng thật quái yêu.

Dân gian tương truyền rằng, không được cho vật nuôi trong gia đình nếm máu, bởi một khi chúng nếm qua rồi sẽ theo thói quen ăn hoang uống dã, không thể trở lại như cũ được nữa.

Những cành dây leo nơi đây cũng tương tự thế, chúng nó được nuôi dưỡng từ linh, thịt, máu, xương, giờ đã đậm tính “hoang dã”, hễ chúng phát hiện người sống bên trong trận, ngửi được mùi linh, thịt, máu, xương tươi sống thì càng muốn hấp thu nhiều hơn.

Khi những cành dây leo kia bung nở, toàn bộ trận cục cũng theo đó mà chấn động liên hồi.

Lực hút khổng lồ đột ngột trồi lên từ dưới nền đất, mạnh đến mức ngay cả Tiêu Phục Huyên cũng cảm thấy linh phách mình rung động dữ dội, huống hồ bên cạnh là một Y Ngô Sinh chỉ còn chút tàn hồn thoi thóp?!

Y Ngô Sinh đang quỳ nửa người trên mặt đất cũng run rẩy không thôi, hắn không kháng nổi lực hút của trận cục, đến quỳ cũng không vững.

Chỉ nghe một tiếng <i>xoạc</i> nhỏ vang lên.

Tiêu Phục Huyên thình lình ngước mắt!

Thì thấy một vết rách trên tấm vải đen phong ấn mũi miệng Y Ngô Sinh, chỉ thêm một khắc nữa thôi là phong ấn ấy sẽ bị xé toạc hoàn toàn. Một khi phong ấn vỡ rồi, phần tàn hồn sẽ lập tức bị hút vào trận cục hoặc sẽ tan biến ngay giữa thinh không, tóm lại… không cách nào cứu vãn được nữa.

Tiêu Phục Huyên ra tay ngay lập tức, vạch thủ quyết đẩy sang hướng hắn hòng ổn định lại phong ấn đen kia.

Ngờ đâu, ngay trước khoảnh khắc ánh vàng nhàn nhạt chạm đến tấm vải phong ấn, Y Ngô Sinh khẽ khàng nghiêng đầu né sang bên.

Tiêu Phục Huyên tính lập một thủ quyết mới, nhưng đã không còn kịp nữa.

Tấm vải đen phong ấn vỡ tan thành mảnh vụn dưới sức mạnh khổng lồ của cuồng phong bên trong trận cục, để lộ gương mặt bị che kín đã lâu của Y Ngô Sinh, nét mặt hắn thật ôn hoà điềm tĩnh. Cũng chứng tỏ rằng hành động nghiêng đầu sang bên vừa nãy là chủ ý của chính hắn.

Hành động này quá đỗi bất ngờ, đến Tiêu Phục Huyên cũng sững cả người. “Ông…”

“Tiên sinh, không phải ông đến thung lũng Đại Bi vì có ước nguyện sao?”

Tàn hồn Y Ngô Sinh rung động không thôi, hai bên tai lùng bùng liên hồi những hắn vẫn loáng thoáng nghe được câu hỏi ấy.

Đúng vậy…

Khi đến thung lũng Đại Bi, hắn quả thật có ước nguyện. Khốn rằng, hắn vẫn chưa từng suy xét kỹ lưỡng xem thật ra điều mà mình hằng ước nguyện là chi.

Liệu có phải là quyến luyến nhân gian, còn mang nuối tiếc chưa nguôi nên muốn tìm về căn nguyên mối hoạ để làm điều gì đó giúp bản thân kéo dài sự sống?

Rồi khi dấn bước vào miếu thờ, khi trượt chân rơi vào lòng đất, khi vô ý thức bước sâu vào huyệt mộ, Y Ngô Sinh vẫn ngỡ rằng ước nguyện mình chính là như vậy.

Tu vi hắn khá cao nhưng chưa đến bậc thành tiên mà vẫn chỉ trong giới hạn người phàm. Sợ cái chết âu cũng là lẽ thường ở đời.

Hắn những tưởng mình sẽ muốn làm gì đó dưới tác động của sự quyến luyến và nỗi sợ hãi ấy.

Song khi hắn xới tung mặt đất, mơ hồ trông thấy những cành dây leo bén nhọn bên dưới huyệt mộ và ngửi được mùi máu nồng nặc trong hương vị cát bụi của những nhánh dây kia, lòng hắn chợt tĩnh lặng.

Khoảnh khắc, một màu đen thẳm nhấn chìm tầm mắt, tàn hồn trong miệng lay lắt run run như nến phơi trước gió, hắn đã không còn sức lực ngẫm tính gì nữa. Nhưng dầu sao, hắn cũng xuất thân từ tiên môn, cũng đã kinh qua nhiều loại trận cục, nói cho cùng cũng có thể đoán được đôi điều.

Cự trận được thiết lập bởi trăm phương ngàn kế dưới chân hắn nhằm để cứu sống một ai đó.

Một chữ “sống” sao quá mê hoặc nhân tâm.

Vốn tưởng mình sẽ vì thế mà phấn khởi hoặc được an ủi cõi lòng — <i>nhìn mà xem, nói cho cùng chuyện tôi làm cũng có đáng trách lắm đâu, dù gì tự cổ chí kim, tôi không phải người đầu tiên, cũng chẳng phải người cuối cùng khát vọng điều đó.</i>

Song thật diệu kỳ, khoảnh khắc ấy, hắn cảm thấy rất bình tĩnh.

Mang một thân tử khí ngùn ngụt, quỳ nửa người trong những cành dây leo sinh sôi tươi tốt, ngập tràn năng lượng —

Mà hắn chẳng muốn làm gì.

Tựa như… hắn vẫn chưa từng muốn làm gì.

Điều hắn ước nguyện không phải thay đổi mệnh trời, không phải để mình được sống lâu hơn chút đỉnh, dẫu hắn quả thật lưu luyến thế gian này lắm lắm.

Chẳng qua, ước nguyện của hắn chính là thời khắc này, muốn đến nơi đây, muốn bước vào thung lũng Đại Bi, đi sâu vào miếu thần nơi đáng lẽ mai táng Vân Hãi, đứng ở ngay yếu điểm có thể chuyển đổi mệnh trời và mang về cho mình một đáp án.

Hắn nói với bản thân: Đến đây là đủ rồi, Y Ngô Sinh.

Cha mẹ đã sớm quy tiên từng kể lại rằng, hắn ra đời chưa đến nửa tháng đã biết cầm nắm đồ vật, món đồ hắn cầm đầu tiên là một thanh kiếm gỗ. Khi đó, ai cũng tưởng rằng sau này hắn sẽ nhập đạo bằng kiếm, dụng kiếm thành danh, oai phong lẫm liệt.

Năm lên bốn, hắn theo cha mẹ mình về một miền quê, chứng kiến lưu dân lầm than trong những đền miếu trên núi, tiếng rên họ ai oán khôn nguôi. Một người mặt thường phục đi ngang qua nghe thấy, bèn gõ nhẹ giữa trán những lưu dân nọ, đoạn vo thuốc đan cho họ uống. Sau đó, những tiếng thê thiết kia đã lặng xuống.

Hắn hỏi cha mẹ mình người ấy là ai, cha mẹ đáp rằng, “Có lẽ là một y sĩ lãng du ở Mộng Đô.”

Từ lúc ấy, hắn đã một lòng khao khát trở thành người có thể giúp người khác nguôi đi nước mắt.

Mười bốn tuổi, hắn gia nhập môn phái nhà họ Hoa, ngày ấy hắn đeo bên mình túi thuốc, trong túi có đủ các loại đan dược để phòng ngừa tất cả mọi tình huống. Từ ngày bước chân vào nhà họ Hoa đến ngày trở thành trưởng lão tứ đường cũng đã hơn một trăm năm, mà túi thuốc ấy chưa từng rời khỏi người, và cũng chưa một ngày nào sạch trơn.

Hắn đã đi rất nhiều nơi, nghe được rất nhiều lời bi ai thống thiết. Hắn đã cứu rất nhiều người.

Vào lúc này, hai viên thuốc cuối cùng đã được trao cho bá tánh trước lối vào thung lũng Đại Bi.

Túi thuốc đã cạn sạch, hắn đã nỗ lực hết sức, giờ chỉ vỏn vẹn một mình.

Thuở thiếu niên, hắn vẫn thường ngao du phố phường với Hoa Chiếu Đình và Hoa Chiếu Đài, nghe rất nhiều giai thoại về “khởi tử hồi sinh”, “làm lại từ đầu”, và họ luôn ngầm kết luận nghiêm túc rằng: Trái ngược với luân lý đất trời và con người nên không được làm.

Năm đó, Hoa Chiếu Đình thở dài trách vui rằng trông hắn như một ông cụ non vậy, Hoa Chiếu Đình còn muốn trêu chọc hắn mà bảo, “Tiểu cổ hủ à đừng nên khẳng định chắc nịch như vậy, giờ huynh còn sống vui sống khoẻ nên dĩ nhiên sẽ nói là không được làm rồi, còn khi rơi vào hoàn cảnh ấy thì khó nói nha.”

Đùa trêu rồi, nàng tự thấy hơi xui xẻo, bèn bổ sung, “Úi, trộm vía.”

Mãi đến phút giây này, hắn mới có thể đáp lời cô nương trẻ lúc xưa, muộn màng trăm năm.

<i>Chiếu Đài vợ ơi…</i>

<i>Anh gặp phải điều mà đôi mình thường đàm đạo, vẫn vững sơ tâm.</i>

***

Tàn hồn còn sót lại chẳng nhiều nhặn, dưới cơn chấn động ấy đã vỡ vụn hoàn toàn. Ngay thời khắc vải phong ấn đen rách toạc, Y Ngô Sinh cũng không cần nín thở nữa mà thở dài một hơi đượm ý cười, tiếp đó cố gắng ngưng tụ phần khí kình sau chót để tự ép tàn hồn của mình tan thành mây khói.

Lửa phừng lên giây lát rồi tức thời vụt tắt.

Ngay phút tan biến, hắn siết chặt mảnh giấy trắng Tiêu Phục Huyên đưa cho đặng gửi lời trăng trối.

Hắn nói, “Tôi nợ Thiên Túc ngài một lời tạ ơn, mong ngài gửi giúp tôi lời chào đến người kia nữa.”

“Tương lai nếu có duyên được gặp lại, ắt sẽ là một chuyến trăm năm…”

Dù có gặp được, hắn cũng chẳng cách nào nhận ra, có lẽ chỉ hô to về phía họ, “Thần tiên kìa.”

Thế cũng tốt rồi.

Rất lâu về trước, Hoa Chiếu Đài từng làm bộ làm tịch xem số mệnh cho hắn và nói rằng hai người họ có duyên phận đậm sâu, chỉ một đời chưa đủ mà có khi son sắt hơn ba đời. Nàng bảo rằng kiếp sau của họ sẽ thật dài lâu, có lẽ phải hàng trăm năm, và rằng hắn sẽ bước chân vào quân ngũ, sống đời binh nghiệp.

Nghe được lời ấy, hắn ngây ngô chẳng hiểu phong tình, trả lời rằng, “Người nhà binh lắm khi đoản mệnh.”

Chiếu Đài vỗ vai hắn, nói, “Em cũng đành chịu thôi, thế chúc mình gặp được quý nhân nhé.”

Hắn ngẫm nghĩ rồi tiếp lời, “Ừm, thế mình tính xem kiếp sau nữa thế nào.”

Chiếu Đài nói, “Kiếp sau nữa… Ồ, nhờ phước cao nhân, trên tay mình có ấn ký.”

Nhờ phước cao nhân, nghe đâu họ trở thành thanh mai trúc mã, quen thân từ bé. Hai người sẽ bên nhau một đời, bao bọc chở che lẫn nhau, yêu làm việc thiện, hành y cứu người.

Hắn nghe vậy đáp lời, “Quyết định vậy nhé, không được nuốt lời đâu đấy.”

Từ sớm, họ đã quyết tốt mọi việc.

Giờ là lúc để tiếp bước rồi.

Hắn ra đời năm Thanh Hà thứ một trăm bảy mươi bảy, nhưng từ trần trong quá khứ, vào năm Tuế Ninh thứ hai chín. Thật là chuyện hiếm gặp trên thế gian.

Trăm năm đời người nói ra quá dài nhưng cũng thật ngắn, hắn còn bao nuối tiếc chưa hoàn thành, còn nhiều tâm nguyện chưa thực hiện, ấy nhưng đời phàm nhân ai ai cũng thế, nào có ngoại lệ. Vì vậy, linh hồn hắn tan biến với nụ cười trên môi.

<i>Trong đình có ngô đồng sinh cạnh giếng, trăng sáng chiếu đài hoa chiếu bóng người.</i>

Hắn tiếp bước đến ước hẹn cùng cố nhân.

❄︎

Lời tác giả:

Đợi lâu, ngủ ngon ~

Cá:

Câu chuyện của Y Ngô Sinh đã dừng lại ở đây, nhưng nếu bạn muốn tìm một cái kết HE thì có thể đọc thêm về kiếp sau của Y Ngô Sinh bằng cách rẽ sang bộ Đồng Tiền Kham Thế và tìm đọc câu chuyện của hai vợ chồng y sĩ Phương Thừa và Giang Thế Tĩnh, còn “cao nhân” được Hoa Chiếu Đài nhắc đến chính là Tiết Nhàn. Trích đoạn của hai vợ chồng từ khoảng chương 43 đến hết chương 73 đó o(^﹏^)o Mình chỉ ghi đoạn lời kết dưới đây, còn chi tiết nhớ di giá sang Kham Thế nha.

<i>Thế gian này có những mối liên hệ khó có thể nói ra nguyên cớ, có lúc thậm chí ngay cả khởi đầu cũng chẳng tìm được, lại có thể thấm vào ruột gan, thấu tận xương tủy, từ thiếu niên bẻ hoa tới bạch đầu giai lão, trăm năm mà không dứt, ba kiếp mà chẳng đổi.</i>

–– Đồng Tiền Kham Thế, chương 73 (bản edit nhà Thiếu Lâm Tự)

Như vậy đoán chừng là Thượng Tiên diễn ra trong cùng thế giới với Đồng Tiền Kham Thế (và có lẽ là cả Phán Quan) nhưng xảy ra trước rất lâu.
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 74: Tiết lễ


Ở phía tây Chiếu Dạ thành, có một căn phủ không ăn nhập gì với khung cảnh xung quanh.

Thứ nhất, căn phủ này không quá rộng, nếu so với thói khoe mẽ của chúng tà ma yêu đạo thì nó giống nơi một kẻ mới vào Chiếu Dạ thành dựng lên hơn, bởi những kẻ đó thường cho rằng đây chỉ là chốn tạm bợ chứ không phải điểm dừng chân lâu dài.

Thêm nữa, phủ trạch của tà ma thường đi kèm với hố sâu hoặc đầm hồ, chuyên dùng để nuôi dưỡng một số thứ không cho người ngoài biết. Còn không thì cũng có một hoa viên cỡ lớn để chôn mấy thứ đồ thừa. Mà căn phủ trạch này không có gì cả, nó chỉ gồm một sân vườn nho nhỏ nằm giữa mấy gian nhà.

Thứ hai, những kẻ trong Chiếu Dạ thành thích gam màu nặng, đưa mắt nhìn tứ phương đâu đâu cũng là nâu đen nâu đỏ, mục đích ban đầu là để che vết máu, nhưng sau dần trở thành thói quen và sở thích của phần lớn tà ma. Trái lại, màu chủ đạo của căn phủ trạch này là xanh và trắng, sắc xanh màu ngọc bích, trắng cũng ngà ngà sang hồng phù dung.

Khi căn phủ trạch này xuất hiện lần đầu, những tà ma ghé ngang không hiểu nguyên cớ, còn lên tiếng móc mỉa, “Gì thế này, một gã thư sinh nào tìm đến đây dựng phòng sách đấy sao? Ngay trước cửa còn treo hẳn chữ “Lễ” cơ à.”

“Chưa chắc, có khi là một tiểu thư khuê các nào đấy ngán ngẩm cuộc sống tẻ nhạt đầy rẫy những lời sáo rỗng câu nệ, nên quyết sa chân vào Chiếu Dạ thành không chừng.”

“Tao thấy không phải đâu. Nhìn lầu các này với đám thú gác cổng chạm ngọc mà xem, còn chấm nốt chu sa ở giữa trán nữa kìa, êu vừa tởm vừa loè loẹt tỏ vẻ!”

Tà ma đó nuốt ngược xuống họng, nói, “Sao mà trông giống sự bày vẽ của lũ tiên môn thế không biết.”

“Lo xa rồi, tiên môn nào bị điên à mà tới sống ở Chiếu Dạ thành này!”

“Nhắc đến tiên môn…”

“À, không lẽ là… Phong, tân thành chủ?”

Chẳng bao lâu sau, bọn chúng phát hiện ra căn phủ trạch này quả thật là nơi ở của tân thành chủ Phong Tiết Lễ của chúng.

Tận một quãng thời gian rất dài sau đó, đám tà ma nọ cũng chẳng dám bén mảng đến mặt chính của căn phủ này vì sợ bị lôi vào tính sổ.

Những tà ma trong Chiếu Dạ thành luôn mang nỗi khiếp sợ nhất định với thành chủ, nhưng cách chúng sợ không đồng nhất. Khi xưa lúc Ô Hành Tuyết còn tại vị, phạm vi mấy dặm xung quanh Tước Bất Lạc đều vắng tanh không một bóng người. Còn khi Phong Tiết Lễ làm thành chủ, chúng nó chỉ tránh nhẹ mà thôi.

Đơn giản là, trong mắt của phần đông bọn chúng, vị trí thành chủ của Phong Tiết Lễ cũng không thật sự thuyết phục, có ngồi cũng chưa chắc được yên vị.

***

Vào năm Phong Tiết Lễ đến Chiếu Dạ thành lần đầu tiên, khung cảnh ở Chiếu Dạ thành rối loạn cực kỳ — lúc ấy Tiên Đô sụp đổ chưa tròn một tháng, kéo theo tiên khí dày đặc từ trời cao dội thẳng xuống nhân gian. Chẳng rõ xui rủi kiểu gì mà Chiếu Dạ thành nơi tà ma tụ tập lại trở thành một cái bia sống để toà bộ tiên khí ồ ạt tràn thẳng về phía này.

Những tà ma nọ thừa sức đương đầu với nhóm tiên môn, thậm chí một số kẻ lợi hại còn không ngán vài tiểu tiên đơn độc, khi giao đấu chúng sẽ không rơi xuống thế hạ phong. Nhưng một khi toàn bộ tiên khí đều lùa tới như vũ bão thì chúng cũng không cách nào gánh chịu nổi.

Bởi thế, đám tà ma trong Chiếu Dạ thành đã chịu khốn quẫn một thời gian khá dài, thiếu chút cho rằng mình sẽ hồn phi phách tán, chết sạch không chừa một ai. May mà sau đó có một bước ngoặt đã cứu vớt sinh mạng chúng.

Thế nên khi đó, tà ma trong Chiếu Dạ thành hoặc phải bế quan lù lù dưới lòng đất không ra ngoài, hoặc đã bị tổn hao nguyên khí nghiêm trọng nên không tác quái được.

Phong Tiết Lễ xuất hiện ngay vừa khít khi ấy, không sớm mà cũng chẳng muộn.

Nghe đâu, hắn đến Chiếu Dạ thành với hai bàn tay trắng, chỉ dắt theo một tên tuỳ tùng. Ban đầu, hắn còn không định xây phủ trạch mà chỉ tìm bừa một căn nhà trọ trong Chiếu Dạ thành để ở suốt một thời gian dài.

Mà quán trọ trong Chiếu Dạ thành thì có thể tốt đẹp gì? Nếu không đủ khả năng thì có khi tới xác còn không giữ được, tuyệt tích trong âm thầm.

Trước đây, khi Phong Tiết Lễ mới vào sống trong quán trọ, những tin tức về hắn nhanh chóng lan truyền khắp toàn bộ Chiếu Dạ thành…

Ai nấy đều đồn rằng kẻ đến là một tên quái dị, dáng vẻ… có bảo là tiểu thư khuê các cũng chả sai, tên đó ăn mặc theo phong cách tiên môn, dáng đi tướng bộ lẫn phong thái nói chuyện đều đứng đắn hệt như người tiên môn. Với cách hắn bước trên đường, có bảo là thư sinh du xuân phố phường cũng có người tin. Điểm tà khí duy nhất trên cơ thể hắn chính là hình xăm bên trái cổ kéo dài lên tận trên má.

Thức ăn, nơi ở, cờ bạc và những trò tiêu khiển ở Chiếu Dạ thành không trao đổi bằng ngân lượng như nhân gian. Đối với bọn chúng, vàng bạc châu báu cũng chỉ là thứ bỏ đi, kém cỏi không sao sánh bằng những vật dụng bổ trợ tu hành. Lúc Phong Tiết Lễ sống ở quán trọ, hắn đã thanh toán chi phí bằng các loại đá và vũ khí mang linh, mấy món đồ này đều là sở thích của những người trong tiên môn.

Nghe đâu tên tuỳ tùng của hắn móc linh thạch ra không ngừng nghỉ, cứ như thể cái túi gấm kia là túi không đáy. Thứ này lại không phải loại đồ mà tiên môn thường có.

Về sau, những tà ma trong Chiếu Dạ thành thăm dò trong âm thầm xong mới biết kẻ này là người nhà họ Phong. Gia chủ đương nhiệm nhà họ Phong — Phong Cư Yến, cũng là chị ruột của hắn, trưởng lão Phong Phi Thị là anh trai hắn. Hắn chính là con út trong gia đình. Mà đứa con út này rất hiếm khi xuất hiện ở ngoài, đến mức gần như không cảm nhận được sự tồn tại, thế nên hầu hết mọi người đều không biết đến hắn.

Tà ma trong Chiếu Dạ thành vẫn thường giao đấu với tiên môn, mà những gia tộc càng lớn mạnh thì thù hận với chúng càng đậm sâu, ví như nhà họ Hoa hay nhà họ Phong đều là những kẻ thù truyền kiếp.

Chỉ với một việc đó thôi, chúng đã không cách nào vừa mắt Phong Tiết Lễ. Cũng bởi vậy mà trong thời gian sống trong quán trọ, gần như không đêm nào Phong Tiết Lễ không gặp phải công kích.

Đám tà ma trong Chiếu Dạ thành phàm là có thể cử động, đều đến “thăm hỏi” hắn một phen, định ngó qua nhan sắc của hắn rồi tiện thể dày vò chút đỉnh. Không ngờ người nào đến cũng không toàn mạng trở về.

Vì vậy, Phong Tiết Lễ ở một năm ròng trong quán trọ mà không bị tổn thương sứt mẻ gì, nhưng mặt mũi những kẻ trong Chiếu Dạ thành lại thêm màu biến sắc.

Ở nơi tà ma đông đảo chỉ có một đạo lý duy nhất — lời của kẻ mạnh có trọng lượng, kẻ nào lợi hại kẻ đó chính là thành chủ.

Song, dù mọi người đều bại trận dưới tay Phong Tiết Lễ nhưng ai cũng có mấy phần không phục hắn. Dù sao trong mắt tà ma, đó là thời điểm chúng phải gánh chịu luồng tiên khí từ việc Tiên Đô sụp đổ nên năng lực không đang trong thời kỳ đỉnh cao, chẳng qua vừa khéo Phong Tiết Lễ lại đến ngay vào lúc ấy, chớp lấy thời cơ và đạt được một ưu thế rất lớn.

Để chứng minh là Phong Tiết Lễ chỉ có được ưu thế lớn về phía mình, thỉnh thoảng có mấy tà ma đã dành thời gian đi quấy rối.

Bọn chúng không ham chiến, vừa nhác thấy mình không chiếm được thế thượng phong thì lập tức ngoảnh đầu cắp đít bỏ chạy. Cứ thế rề rà dây dưa gần nửa năm mà vẫn không cách nào đả thương Phong Tiết Lễ.

Sau đó nửa tháng, chúng phát hiện Phong Tiết Lễ cuối cùng cũng đã chịu thương!

Nhưng thứ gây thương tích cho hắn không phải một người, mà là phong ấn của Tước Bất Lạc.

Bắt đầu từ lúc đó, tất cả mọi người trong Chiếu Dạ thành mới biết lý do Phong Tiết Lễ luôn muốn ở lại trong quán trọ mà không xây phủ trạch riêng là vì hắn muốn chiếm cứ Tước Bất Lạc.

Từ sự kiện này, các tà ma chuyển dời sự chú ý sang “Tước Bất Lạc”, hằng ngày chúng đều dành tâm sức suy xét tính toán xem rốt cuộc Tước Bất Lạc có gì đặc biệt mà khiến Phong Tiết Lễ thèm thuồng đến vậy. Thế là ít có người bận tâm đi chọc khoáy Phong Tiết Lễ nữa.

Mà sau sự kiện đó, Phong Tiết Lễ ở yên bế quan trong quán trọ để nuôi lại cánh tay bị Tước Bất Lạc chặt đứt.

Thời điểm mọi người nghe thấy tên hắn lần tiếp theo chính là lúc toà phủ trạch tạm bợ “lầu son tường ngọc” được xây dựng.

Căn phủ trạch đó rất nhỏ, diện tích không nhét được mấy người. Nhưng với một tay quái dị như Phong Tiết Lễ thì bấy nhiêu đã đủ sống.

Sau đó, có không ít người của Chiếu Dạ thành đầu quân theo hắn, nhưng không một ai nán lại được lâu dài bên trong căn phủ trạch đó. Suốt thời gian dài, chỉ có một người duy nhất vẫn luôn ở bên cạnh hắn, đó là tên tuỳ tùng đã theo hắn rời khỏi nhà họ Phong.

Tên tuỳ tùng đặt tên theo gương mặt dán nụ cười mà sấm sét cũng không biến chuyển, là tên “Tiếu Hồ” của hiện tại.

***

Hiện giờ, đôi chủ tớ từ nhà họ Phong đang ở trong căn phòng không gian mở của phủ trạch tên “Lễ”.

Người nào đến căn trạch tên “Lễ” này đều biết nơi này thật sự chỉ có một gian phòng, không cửa ra vào và cửa sổ mà chỉ được che chắn bởi bức bình phong. Phía bên trong có sắp xếp vài chiếc bàn và đệm hương bồ, nhìn sơ qua không khác nào một căn học viện ở nhân gian.

Có điều, nếu người trong tiên môn mà nhìn thấy thì sẽ nhận ra cách bài trí này rất giống với những đệ tử đường thường thấy trong tiên môn.

Lúc bấy giờ, những chiếc bàn trong “đệ tử đường” này cũng không để trống, mà trên đệm hương bồ đằng sau mỗi chiếc bàn đều có một thiếu niên đang ngồi.

Những thiếu niên này độ chừng mười mấy tuổi, mang dáng vẻ của người thiếu niên đương thì trổ mã, tất cả đều vấn cao tóc, tay cầm một cây viết và trước mặt đặt những tấm thẻ tre dài.

Tướng ngồi của mấy cậu chàng cũng không lấy gì làm nghiêm chỉnh, có người còn gác chân, trông khá loạn. Một số người khác dù để chân nghiêm túc nhưng người lại lắc lư không ngừng, thậm chí cái tay cầm bút cũng không chỉn chu mà cứ đung đưa lặng lẽ như đang múa kiếm.

Nhìn qua có thể đoán được đây là dạng thiếu niên thiếu kiên trì với sách vở nhưng cực kỳ si mê kiếm thuật.

Tiếu Hồ đứng ở bên cạnh, liếc mắt nhìn những người thiếu niên nọ một cái rồi lập tức dời mắt về.

Cứ hễ đến những lúc như vầy là gã không dám nhìn lâu, lý do là vì những người thiếu niên này đều không có mặt…

Đó là một khung cảnh quái dị tột độ, có đến bảy tám thiếu niên ngồi trên những chiếc bàn trong “đệ tử đường”, mà mỗi hành vi động tác của họ đều sống động cực kỳ, chẳng khác gì người sống thực thụ. Thế nhưng rõ ràng họ không phải là người sống, vì không một ai có mặt cả.

Khi thấy cảnh tượng đó lần đầu, Tiếu Hồ kinh hãi không thôi.

Gã hỏi ngay Phong Tiết Lễ, “Thưa thiếu gia, những này là?”

Phong Tiết Lễ liếc nhìn những thiếu niên kia rồi trả lời, “Trang trí cho đệ tử đường.”

Tiếu Hồ nghe vậy rợn hết cả gáy. Thà bảo bình hoa, giá bút, hay bình phong này nọ là bài trí trang trí thì còn hiểu được, nhưng bảo mấy người thiếu niên kia là bài trí trang trí thì kỳ dị không sao tả xiết.

Bấy giờ Tiếu Hồ lại hỏi, “Sao những người này đều không có mặt vậy ạ?”

Phong Tiết Lễ nói, “Cứ như hiện tại là được.”

Rồi sau đó, Phong Tiết Lễ chuyển đề tài sang những chuyện khác, Tiếu Hồ cũng không hỏi thêm nữa.

Bẵng đến một ngày nọ, Tiếu Hồ đi lướt ngang qua và nhìn xuống soi kỹ những thiếu niên kia hơn chút, mới chợt phát hiện dù những động tác của họ rất đa dạng như cúi đầu đọc sách, cầm bút quẹt quẹt vẽ vẽ, hoặc vo lá bùa thành cuộn, nhưng dường như tất cả đều… giống y hệt nhau.

Dù những thiếu niên này không mặt, nhưng nhìn tay, tóc, và vóc dáng cơ thể vẫn có thể thấy được có vẻ như bọn họ là cùng một người.

Nghĩ vậy, khung cảnh trong “đệ tử đường” này càng dị thường hơn.

Thành thử trong quãng thời gian đó, mỗi lần nhìn Phong Tiết Lễ, Tiếu Hồ khó lòng không cảm thấy người nọ có chút điên ngầm rất khó miêu tả.

Nhưng vì sao ra cơ sự?

Tiếu Hồ không nghĩ ra.

Gã gần như lớn lên cùng Phong Tiết Lễ, biết rõ trước đây Phong Tiết Lễ không phải người như vậy.

Hồi mười mấy tuổi, gã làm ăn mày ngoài đường, tình cờ được nhà họ Phong dẫn về, nghe đâu nhà họ Phong thường nhận một số trẻ nhỏ cơ nhỡ, ngay cả gia chủ Phong Thù Lan cũng không phải con gái ruột của lão gia chủ trước đây mà là con được nhận nuôi sau này.

Khi Tiếu Hồ bước vào nhà họ Phong, Phong Thù Lan đã đảm nhiệm chức vụ gia chủ được nhiều năm.

Lúc đó, Tiếu Hồ nghe được nhiều lời đồn không rõ nguyên cớ, đồn rằng không biết nhà họ Phong có vấn đề về thể chất hay nhận phải lời nguyền của yêu tà gì không, mà đời nào cũng khó có con ruột nối dõi. Thế nhưng Phong Thù Lan đã phá vỡ lời đồn đãi này, bởi ai ai cũng biết nàng có ba người con.

Con trai trưởng tên Phong Phi Thị, có lẽ từ lúc ra đời hắn hãy còn gánh chịu “lời nguyền” trong đồn đãi nên bẩm sinh thể chất đã kém, linh phách bất ổn, có muốn tu đường nào cũng phải chịu một giới hạn nhất định. Bù lại, từ lúc còn bé hắn đã nhạy bén hơn người, thông tỏ nhân tình, đọc rất nhiều sách khác nhau, đâm ra các đệ tử trên dưới nhà họ Phong đều rất thích hắn.

Con thứ nhà họ là một cô gái, cô nương này nhỏ hơn Phong Phi Thị một tuổi, có tên Phong Cư Yến, nghe đâu từ lúc còn bé đã có khả năng điều khiển linh kiếm, căn cốt ưu tú, đó là một mầm non tuyệt vời cho việc tu hành. Ngặt nỗi tính cách nàng vừa bướng vừa cương, trái ngược hoàn toàn với huynh trưởng.

Cuối cùng là con út Phong Tiết Lễ, ra đời muộn hơn hai người kia rất lâu, năm Phong Phi Thị mười tám tuổi, Phong Tiết Lễ mới sinh ra.

Nghe đồn Phong Tiết Lễ ra đời kỳ lạ hơn người thường, trẻ con mới sinh rất thường khóc, đói bụng cũng khóc mà mệt mỏi cũng khóc, khó chịu khóc mà vắng người cũng khóc. Trái lại, Phong Tiết Lễ vô cùng im lặng, phần lớn thời gian chỉ dành để ngủ, hắn cứ việc cuộn tròn người lại và nhắm nghiền hai mắt chứ chẳng hề cử động, thậm chí hơi thở hắn cũng khẽ khàng như không có, nếu nhìn thoáng qua khó đoán được là còn sống hay không.

Bộ dáng như thế khiến nhiều người sợ mất mật.

Nhà họ Phong tưởng rằng sau này lớn lên, hắn sẽ đỡ hơn một tí, vậy mà kết quả vẫn như cũ.

Đến ba bốn tuổi, hắn vẫn im lặng như tờ, hiếm khi nói chuyện, dù ai có nói gì hay hỏi gì thì hắn cũng chỉ gật đầu hoặc lắc đầu. Đôi lúc, hắn còn thừ người thẩn thơ không khác một thân xác không hồn.

Hắn thường ngồi xổm một mình bên dưới gốc cây trong sân, nhìn chòng chọc vào bùn đất bên dưới tán cây, mỗi lần như thế đều chăm chú nhìn đến xuyên trưa. Không ai biết hắn đang ngắm nghía đàn kiến xếp hàng bò ngang qua hay tư lự gì khác.

Hắn không thích lửa, không thích mùi khói từ những món nướng hoặc đốt, thậm chí hắn cũng không thích tiếng kiếm va chạm vào nhau. Đôi lần nhìn thấy mấy đệ tử cầm kiếm bước ngang qua, hắn cũng lập tức đứng thẳng người bên dưới tán cây rồi vọt thẳng vào trong nhà, rồi sau đó cũng lại ngó mặt ra để dõi theo bóng dáng của những đệ tử kia.

Tính tình và thói quen như này đúng ra không nên được sinh trong tiên môn.

May mắn là Phong Thù Lan cũng không ruồng bỏ con út mình vì điều này, mà nàng còn rất chiều chuộng hắn. Nếu không thích lửa thì nàng không để lửa đến gần hắn. Nếu không thích kiếm thì không cần phải luyện kiếm. Chẳng lẽ một môn phái to lớn nhường này mà không nuôi dưỡng được một người không am hiểu thuật pháp hay sao.

Dù vậy, Phong Tiết Lễ xem chừng rất thích ca ca tỷ tỷ mình. Lúc còn bé hắn vẫn thường ngồi trên nấc thang trong đệ tử đường, ngóng nhìn Phong Phi Thị và Phong Cư Yến không rời mắt để xem bọn họ tập luyện các môn thể lực.

Khi họ luyện đến kiếm, hắn sẽ lẳng lặng chạy mất.

Phong Phi Thị và Phong Cư Yến vẫn thường cảm thấy rợn người dưới ánh mắt chòng chọc của bé con kia đến mức tê cả da đầu, nhưng liền sau đó đã bị bộ dáng chạy cắp đít của hắn chọc cười.

Tuy nói thế nhưng vẫn có sự chênh lệch tuổi tác, Phong Phi Thị và Phong Cư Yến phải nỗ lực rèn luyện nên không thể dành nhiều thời gian vui chơi với đứa em út nhà mình. Lâu ngày, quan hệ của họ cũng dần trở nên xa cách.

Sau tám tuổi, Phong Tiết Lễ không đến đệ tử đường ngắm anh chị mình tập luyện nữa. Hắn bỏ cả ngày vòng vòng trong căn viện của mình, không ra cổng chính không sờ cổng phụ, Phong Thù Lan sợ hắn cảm thấy buồn chán nên luôn đau đáu muốn tìm người đến làm bạn cùng.

Đó là thời điểm Tiếu Hồ vào nhà họ Phong, nhiệm vụ duy nhất của gã là hầu cận Phong Tiết Lễ.

Lúc còn bé, Tiếu Hồ thường bị người đánh giá là quá ngay thẳng, vì vậy nên không được nhiều người yêu mến. Thế nhưng đó lại là một đức tính tốt trong mắt Phong Tiết Lễ.

Vì tính cách quá ngay thẳng, nên một khi gã đã chấp nhận “hầu cận Phong Tiết Lễ” thì chắc chắn sẽ không bao giờ rời khỏi, đến mức kè kè bên người hắn cả ngày lẫn đêm.

Không cần biết Phong Tiết Lễ muốn đi đâu, không cần biết hắn muốn làm gì, Tiếu Hồ luôn luôn ở bên cạnh.

Cứ như vậy qua bao năm tháng, chỉ e cho dù người có buồn chán hay mang tâm sự đến bực nào cũng sẽ thay đổi.

Từ đó, số lần Phong Tiết Lễ vui cười nói chuyện với Tiếu Hồ mỗi lúc một nhiều, ban đầu chỉ là những cái gật đầu lắc đầu, tiếp dần chuyển sang trả lời, rồi sau đó nữa sẽ thỉnh thoảng tiếp chuyện vài câu, thậm chí hắn còn chủ động tán gẫu và cười đùa với Tiếu Hồ.

Theo nhận xét của Tiếu Hồ, Phong Tiết Lễ luôn là một người mang phong thái thiếu gia văn nhã, trong một khoảng thời gian rất dài đều như thế.

Bởi vậy, gã chẳng bao giờ có thể ngờ, đến một ngày kia mình lại nối gót Phong Tiết Lễ phản bội nhà họ Phong, đi đến cái nơi Chiếu Dạ thành bị gọi là “Động Ma”, và sau đó người kia còn trở thành tân thành chủ của Chiếu Dạ thành.

Gã đã chẳng thể xác định chuyển biến của Phong Tiết Lễ bắt đầu từ khi nào. Chỉ biết rằng từ lúc còn bé, Phong Tiết Lễ đã rất thường thơ thẩn, ánh mắt dừng vẩn vơ ở một nơi nào đó cả buổi mà chẳng hề dịch chuyển, ánh mắt ấy trông mê man mà người còn chẳng màng chớp mắt.

Những lúc như vậy, Tiếu Hồ sẽ không làm phiền hắn mà chỉ đứng bảo vệ ở bên cạnh. Nhưng có một lần ngoại lệ…

Lần đó, có người đến bên ngoài sân, Tiếu Hồ duỗi tay vỗ Phong Tiết Lễ một chút để hắn hoàn hồn lại. Mà giây phút ấy, cơ thể Phong Tiết Lễ đột ngột cứng đờ, khi hắn chớp mắt và ngoái đầu nhìn Tiếu Hồ, trong mắt hắn lộ vẻ gì rất quái dị…

Đó là ánh nhìn phẳng lặng không một gợn sóng, dường như có một người lạ nào đó đang nhìn gã thông qua đôi mắt ấy.

Giây phút đó, một suy nghĩ lạ kỳ nhen lên trong lòng Tiếu Hồ — người này dường như không phải Phong Tiết Lễ.

Thế nhưng, gã đã nhanh chóng gạt phăng suy nghĩ đó ra khỏi đầu, bởi vì ngay khoảnh khắc kế tiếp, Phong Tiết Lễ đã quay trở về dáng vẻ mà gã vô cùng quen thuộc, cứ như thể sự lạ lẫm ban nãy chỉ là một phút ảo giác.

Rồi về sau, tình huống đó tiếp tục xảy ra rất nhiều lần. Có một lần, Tiếu Hồ không nén nổi trong lòng phải hỏi ra, “Thưa thiếu gia, cậu… là thiếu gia phải không?”

Phong Tiết Lễ tỏ vẻ ngạc nhiên, nói, “Sao lại hỏi câu lạ kỳ như vậy.”

Tiếu Hồ tiếp tục, “Vì sao khi nãy cậu nhìn tôi như vậy?”

Phong Tiết Lễ ngẫm chốc rồi đáp, “Ta chỉ đang suy nghĩ mông lung một chút, lúc bị gọi hoàn hồn bất giác không kịp phản ứng. Vừa nãy ta nhìn cậu thế nào? Khiến cậu cảm thấy không thoải mái à?”

Tiếu Hồ thưa, “Không đâu ạ. Thiếu gia cứ nhìn tuỳ ý.”



Sau đó, Tiếu Hồ không hỏi lại lần nào nữa.

Tính cách của người này thật sự thẳng đuột, năm xưa khi được nhận vào nhà họ Phong, gã đã đồng ý sẽ ở bên cạnh Phong Tiết Lễ, thế nên gã sẽ ở bên cạnh hắn, còn những vấn đề khác không quan trọng.

Mà dường như cũng bắt đầu từ khi đó, tính cách Phong Tiết Lễ mỗi lúc càng trở nên kỳ quái hơn. Có đôi khi hắn toát ra phong thái hào hoa phong nhã đi kèm đôi chút e thẹn, gặp chút việc be bé thôi cũng sẽ cười rộ lên, mà có khi lại lẳng lặng như tờ không một gợn sóng, thâm trầm khó đoán.

Nó khiến hắn có vẻ gì lập dị và cũng kha khá quái dị.

Dù mối quan hệ giữa hắn và những người khác cũng không quá khăng khít, nhưng qua lâu ngày rồi người ta cũng nhận ra sự quái dị này. Tính hắn từ bé đã lập dị sẵn, mọi người cho rằng càng lớn lên càng trở nên lập dị chứ không nghĩ gì sâu xa, rồi dần dà mọi người bắt đầu e sợ và cố tình tránh né hắn.

Lúc còn nhỏ, Phong Tiết Lễ không hề chạm tay vào đao kiếm, nhưng về sau đột nhiên cả kiếm pháp lẫn thuật pháp đều khá lên nhiều, thi thoảng còn hiển hiện linh quang, toát ra khí khái của những bậc đại thành tựu.

Nhờ vậy, sau khi trở thành gia chủ, Phong Cư Yến còn muốn để đứa em trai này đồng quản lý đệ tử đường. Nhưng cả nàng lẫn Phong Phi Thị đều biết rõ tính cách lạ thường của Phong Tiết Lễ, có lẽ vì thế mà băn khoăn trong lòng, hoặc cũng có lẽ chỉ đơn giản là không thích, nên sau đó họ đã thay đổi ý định.

Thời gian dần trôi, bất kỳ một ai có mắt trong nhà họ Phong đều có thể nhìn thấy Phong Cư Yến và Phong Phi Thị đồng lòng đồng chí, thả riêng mỗi Phong Tiết Lễ một mình một cõi.

Tiếu Hồ vốn cho rằng việc Phong Tiết Lễ chia ly đôi ngả với hai người anh chị của mình là việc ý trời đã định, song gã thật sự không ngờ phải đến bước đường ai nấy đi, mà còn đi trên hai con đường đối nghịch. Song khi ngẫm lại, gã còn không biết rốt cuộc thời điểm mâu thuẫn bùng nổ là lúc nào.

Hai lăm năm trước, Tiên Đô sụp đổ kéo theo bao phen rối loạn ở tiên môn dưới nhân gian, dĩ nhiên nhà họ Phong cũng không tránh khỏi tai vạ. Dù vậy, những rối loạn đó hoàn toàn không hề lan đến sân viện của Phong Tiết Lễ, hắn chỉ chìm vào giấc ngủ như thường lệ, rồi đột ngột choàng mở mắt giữa đêm.

Thời điểm đó, cái cảm giác thâm trầm khó lường kia nồng đậm đến dị thường.

Tiếu Hồ vẫn còn nhớ nhìn thấy hắn đứng bên cửa sổ, lắng nghe tiếng các đệ tử nhà họ Phong tới lui bên ngoài sân, rồi hắn bất chợt cất giọng, “Ta muốn đến một chỗ, cậu không cần đi cùng.”

Nghe thế, Tiếu Hồ cảm thấy có chút khó chịu.

Gã không trả lời, chỉ xách theo thanh loan đao thường dùng và bước đến trước mặt Phong Tiết Lễ, cất giọng nặng nề, “Thiếu gia đi đến đâu, tôi theo đến đấy.”

Cho đến khi họ quét sạch một nhóm đệ tử nhà họ Phong, phá vỡ kết giới gia tộc rồi cưỡi gió đi xuyên qua không biết bao nhiêu địa phương, đánh động cơ man các tiên môn, bấy giờ Tiếu Hồ mới phát giác tình huống không đúng.

Nhưng gã đã nói cho dù Phong Tiết Lễ có hoá thành cái gì đi chăng nữa, cho dù hắn muốn đi đến nơi nào đi chăng nữa, thì gã vẫn sẽ một lòng đi theo, nhất định không thất hứa.

Thế rồi, vào một hôm sau đó.

Nhà họ Phong mất đi một người con út, Chiếu Dạ thành nhiều thêm một kẻ tà ma.

Và từ ngày đó, vị thiếu gia hào hoa phong nhã đã không còn xuất hiện nữa, dù ngày đến đêm qua, Tiếu Hồ cũng chỉ còn trông thấy Phong Tiết Lễ phẳng lặng như tờ, thâm trầm khó lường kia.

Từ khi đến Chiếu Dạ thành, Phong Tiết Lễ càng lúc càng khác chính mình ngày xưa, giữa sự xa lạ ấy còn ẩn giấu chút điên cuồng thờ ơ.

Giống như gian “đệ tử đường” trước mắt đây.

Trong ký ức của Tiếu Hồ, Phong Tiết Lễ tự tu luyện cả kiếm đạo lẫn thuật pháp bên trong gian viện của bản thân chứ gần không hề đi đến đệ tử đường. Nếu đã vậy tại sao khi tới Chiếu Dạ thành, hắn lại muốn xây một gian đệ tử đường bên trong phủ trạch của mình cơ chứ?

Thêm cả, “đệ tử đường” này còn có những thiếu niên giống nhau như tạc…

Thoạt nhìn, dường như hắn đang hoài niệm một điều gì đó.

Thoáng chốc, Tiếu Hồ dấy lên một suy nghĩ đã dìm xuống bấy lâu — gã cảm thấy Phong Tiết Lễ trước mặt mình hiện giờ không phải là người mà hắn đã luôn ở bên cạnh mấy chục năm trước đây. Dường như có một người xa lạ nào đó đang theo dõi thể xác của Phong Tiết Lễ, và nhìn gã với đôi mắt vô cảm tĩnh lặng.

***

“Sao lại nhìn ta chằm chằm như vậy?” Phong Tiết Lễ bất chợt hỏi bằng âm điệu bình tĩnh, ngước mắt nhìn sang.

Tiếu Hồ bỗng hoàn hồn. Gã xua đi suy nghĩ quái gở trong đầu, hỏi Phong Tiết Lễ, “Lúc trước thiếu gia bảo tôi đến theo dõi kỹ càng động tĩnh trong Tước Bất Lạc, hiện tại Ô Hành Tuyết đã trở lại mà sao thiếu gia vẫn chưa ra tay? Hay là để tôi đến đó tiếp tục theo dõi?”

Phong Tiết Lễ bước đến bên cạnh một người thiếu niên trong bọn, nắm giữ cánh tay thiếu niên, đoạn nói, “Một khi tung kiếm thì không được hạ xuống, nâng lên.”

Giọng điệu hắn nghe vào hệt như đang nói chuyện với một người sống thực thụ.

Khoảnh khắc đó khắc hoạ sự điên rồ của hắn rõ rệt nhất.

Tiếu Hồ biến sắc, nhưng ráng kiềm nén lại, cụp mắt xuống chờ nhận câu trả lời.

Phong Tiết Lễ sửa động tác cho thiếu niên kia xong xuôi mới ngồi dậy, nói với Tiếu Hồ, “Không cần đi.”

Tiếu Hồ kinh ngạc. “Sao thế ạ? Nếu không chú ý thì chúng ta sẽ chậm cập nhật tin tức từ Tước Bất Lạc mất thôi?”

Phong Tiết Lễ đáp, “Không đâu.”

Hắn lại im lặng, nhìn thấy người thiếu niên kia lại hành động bất cẩn, bèn duỗi tay giữ đối phương lần nữa. Hắn vừa kiên nhẫn nắn nót lại động tác cho người thiếu niên, vừa trả lời cho Tiếu Hồ, “Có người theo dõi bên kia rồi.”

Nét mặt Tiếu Hộ hiện rõ vẻ thắc mắc…

Ai sẽ giúp Phong Tiết Lễ theo dõi bên kia?

***

Cùng lúc đó, trời đã về khuya ở Tước Bất Lạc.

“Phương Trữ” ngồi yên canh giữ bên ngoài phòng ngủ bất chợt giật mình, liếc mắt nhìn về phía phòng ngủ.

Có lẽ vì ánh sáng hắt ngược lại nên nét mặt hắn có đôi phần mê man, dường như hơi nhíu mày nhưng nhanh chóng thả lỏng trở lại.

Động tác hắn nhanh tới mức khó lòng phát giác ra, nhưng Ô Hành Tuyết có thể thấy rõ. Chàng xoa nhè nhẹ ngón tay ngả xanh và chầm chậm ém khí lạnh vào trong cơ thể.

Chàng dành hết sự tập trung lên phản ứng của “Phương Trữ” trong thoáng chốc đó nên không chú ý người đang nhập định phía sau bỗng giật mình, có vẻ linh thức đã quay về thân thể.

Lớp sương giá trên đầu ngón tay chàng vừa sắp tan đi thì bị ai đó nắm lấy, giọng nói trầm nặng của Tiêu Phục Huyên vang lên, “Quả nhiên vẫn còn lạnh.”

Lời tác giả:

Mọi người chờ lâu rồi, chương này gom hai chương làm một, ngày mai lại bổ sung thêm một chương nữa nha ~ ngủ ngon ~
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 75: Phỏng đoán


Ô Hành Tuyết sửng sốt, nhủ thầm trong lòng <i>toi rồi, sơ ý quá</i>. Chàng còn chưa bắt đầu giấu nữa mà người chàng muốn giấu đã trở lại trong âm thầm và bắt chàng tại trận mất rồi.

Có trách phải trách cái tên “Phương Trữ” bên ngoài sân. Sớm không nhúc, muộn không nhích, ngồi đực ra đó cả ngày mà chứng gì phải cựa quậy ngay đúng lúc này để khiến chàng phân tâm.

Thật biết cách sinh sự cho ta mà.

Ô Hành Tuyết liếc mắt nhìn “Phương Trữ” bên ngoài sân, đánh dấu cục nợ này trong lòng, đoạn quay người trở lại.

Đại ma đầu đã muốn giấu nhẹm rồi thì dễ gì thừa nhận, bèn chối đây đẩy, “Lạnh ở đâu, ta không lạnh.”

Đoạn, toan rút tay về theo bản năng.

Nhưng chàng có rút về được đâu, vì Tiêu Phục Huyên đã kẹp đầu ngón tay chàng mất rồi.

Một động tác chẳng gì lớn lao mà mang cảm giác thân mật đến khó tả.

Ô Hành Tuyết chững tay không rút về nữa. Không thể phủ nhận rằng dù có trở thành ma đầu, chàng cũng không thoát khỏi loại phản ứng theo bản năng này và tương đối hưởng thụ cảm giác thân mật mập mờ như thế.

Tiêu Phục Huyên rủ mắt, xoa nhẹ đầu ngón tay chàng, đoạn ngước mắt lên nhìn và trầm giọng vạch trần, “Ngón tay ngươi ướt rồi.”

Đó là hệ quả sau khi sương đọng, nhưng tất nhiên ma đầu không nhận.

Chàng trả lời, “Đó là mồ hôi.”

Tiêu Phục Huyên: “…”

Chắc Tiêu Phục Huyên cũng không ngờ Ô Hành Tuyết có thể nói dối trắng trợn như vậy, sau một lát lặng im y lại bắt bẻ, “Mồ hôi ở đâu ra.”

Ma đầu: “… Không biết nữa, ban nãy ra mồ hôi cả người còn gì.”

Tiêu Phục Huyên: “…”

Sự thật đã chứng minh, một khi rời giường rồi, hễ muốn giấu giếm chuyện gì hay đe doạ ai đó, chuyện quái quỷ gì ma đầu cũng dám nói, gồm cả giả yếu đuối dỗ người cãi càn.

Tiêu Phục Huyên liếc nhìn chàng, im lặng hồi lâu, không rõ là tức giận hay bị thuyết phục rồi.

Sau một lúc giằng co, y gật đầu rồi trầm giọng, “Được.”

Ô Hành Tuyết thấy thái độ này thì nhen lên linh cảm bất an.

Thật vậy, ngay chớp mắt kế tiếp, khí kình của Thiên Túc tuôn cuồn cuộn vào đầu ngón tay mà chẳng hề báo trước, tiếp đến toả khắp trong cơ thể chàng.

Thà là khí lạnh trên ngón tay thì chàng còn lý sự rằng đây là tàn dư sót lại, nhưng nếu bị khí kình phát hiện ra thì khó mà giải thích cho xuôi.

Ô Hành Tuyết thật lòng muốn cản lại đôi chút.

Trong khoản một canh giờ Tiêu Phục Huyên đến thung lũng Đại Bi, chàng vừa theo dõi “Phương Trữ” ở ngoài sân, vừa vận chuyển khí kình trong cơ thể và mở ra được một lối mới. Nên bây giờ nếu chàng muốn ngăn cản khí kình đang ùa vào trong của Tiêu Phục Huyên thì vẫn có cách làm được.

Nhưng có hai vấn đề, thứ nhất là làm như thế sẽ gây tác dụng ngược.

Thứ hai, khi thấy Tiêu Phục Huyên nhìn xuống mình với đôi mắt cau chặt, chàng bỗng cảm giác như bị người người véo nhẹ trong lòng.

Thẫn thờ thoáng chốc, chàng thu lại toàn bộ những thứ đã chuẩn bị hòng cản người.

Khí kình Tiêu Phục Huyên cũng lạnh lẽo và sắc bén hệt như kiếm khí y. Chỉ thông qua chúng, chàng cũng có thể cảm nhận được sự mất vui đến từ nỗi lo lắng trong lòng người nọ.

Vậy mà khi lướt qua những huyệt trọng yếu, luồng khí kình kia vẫn sẽ mơn qua thật nhẹ nhàng.

Y kiểm tra từng chỗ từng chỗ một vô cùng cẩn thận.

Khi đến một vị trí nào đó, Ô Hành Tuyết có thể nghe giọng y vang lên trong cơ thể thông qua khí kình, nói thật trầm thấp rằng, “Ở đây còn lạnh.”

“Và ở đây.”



Thoạt đầu, sự mất vui nọ nằm ngay trên mặt, thấy rất rõ ràng. Rồi càng về sau, y càng phát hiện ra nhiều vị trí, hàng mày càng cau chặt hơn, dần dà xua tan sự mất vui đó để chỉ đọng lại nỗi lo lắng.

“Ô Hành Tuyết, tại sao có nhiều chỗ bị lạnh như vậy?” Tiêu Phục Huyên hỏi.

Đúng vậy, trên người chàng có hơn mấy chục vị trí quan khiếu đã bắt đầu trở lạnh lại. Điểm may mắn duy nhất chính là dù có đến mấy chục vị trí bị trở lạnh nhưng sẽ không thấy quá tệ ở từng vị trí nếu chỉ kiểm tra qua một lần.

Ô Hành Tuyết ngẫm nghĩ chút rồi nói, “Phương Trữ từng nói với ta là vào giai đoạn cuối kiếp kỳ có khả năng bị tái phát một chút.”

Người ta nói bản chất kiếp kỳ của tà ma là nhằm trấn an hoặc trấn áp những linh hồn bỏ mạng dưới tay chúng. Mà dưới tay những đại ma đầu đã nhuộm đẫm máu tươi là người chết hằng hà sa số, nên việc trấn áp cũng vất vả hơn, dù có bị tái phát cũng là chuyện bình thường.

“Chắc thế nên thời gian bị kéo ra hơi dài hơn tí, nhưng chuyện này cũng không nghiêm trọng gì, ta cũng không thấy khó chịu,” Ô Hành Tuyết nói.

Chàng tự đánh giá mình đã trả lời rất hợp tình hợp lý, chỉ cần giải thích thế sẽ giúp Tiêu Phục Huyên thả lỏng hàng mày nhíu chặt kia. Ngờ đâu đối phương cất giọng nặng nề, “Năm đó ngươi không nói như vậy.”

Ô Hành Tuyết: “…”

Thôi toang.

Quên bà nó vụ này.

Chàng im re một nháy mắt, lập tức thả nhẹ giọng, “Ta không nhớ rõ nữa.”

Khi chàng rủ mi, mí mắt sẽ vẽ thành đường cong dài, khiến ánh sáng trong đôi ngươi bị khuất phía sau rèm bóng đổ, để người nhìn không thấy được rõ ràng.

Bên cạnh đó, với đuôi mắt hơi hướng xuống của mình, mỗi khi chàng lên tiếng đều phảng phất chút cô liêu không rõ nguyên do, khiến cho người ta thương tâm để rồi không nỡ dồn dập hỏi tiếp tới nữa.

Ô Hành Tuyết ngước nhìn Tiêu Phục Huyên rồi lại buông mắt cụp xuống, cất giọng nuối tiếc, “Ta không nhớ ra.”

Tiêu Phục Huyên: “…”

Thấy Tiêu Phục Huyên không nói gì, Ô Hành Tuyết thở dài.

Chàng tính nói thêm gì đó tiếp thì nghe giọng Tiêu Phục Huyên vang lên, “Ngươi nói kiếp kỳ của tà ma khác có kéo dài hay khốn khổ thế nào thì cũng không can hệ đến ngươi, rằng ngươi sẽ không như thế.”

Ô Hành Tuyết: “?”

“Nói kiếp kỳ của ngươi không tái phát.”

“…”

“Nói một khi đã trấn xuống rồi thì có là mệnh hồn hay kiếp số gì cũng không thể gợn sóng nổi lên được nữa.”

“…”

Khi nói những lời này, ánh mắt Tiêu Phục Huyên đã dần thả lỏng, trả về một nét mặt vô cảm. “Lúc trước ngươi để ta kiểm tra bằng khí kình cũng không phát hiện ra một chút lạnh lẽo nào.”

Nếu không phải ký ức chàng đã biến mất sạch nên không còn nhớ nhiều cách che trời giấu biển, thì đến giờ Tiêu Phục Huyên vẫn không biết được chuyện đó.

“Vậy nên, Ô Hành Tuyết.” Y nhìn người trước mặt với vẻ vô cùng trầm nặng, nói, “Ngươi lại lừa ta lần nữa.”

Ô Hành Tuyết chẳng thể ngờ rằng Thiên Túc lại lôi nợ cũ rất nhiều năm về trước ra đòi thanh toán. Chàng hoàn toàn đuối lý, chẳng bịa ra nổi nguyên cớ gì.

Thấy chừng Tiêu Phục Huyên lại muốn mở miệng nói tiếp, Ô Hành Tuyết bất ngờ nghiêng mặt, hôn lên yết hầu nhô lên trước cổ y.

Loáng cái, Thiên Túc trở về trạng thái kiệm lời.

Trong khoé mắt khép hờ của Ô Hành Tuyết loé lên ý cười ranh mãnh.

Chàng vốn chỉ định chơi xấu tí thôi, nhưng liền sau đó đã thấy hơi hối hận, bởi khí kình Thiên Túc phản quân chàng ngay tắp lự. Chưa được bao lâu mà miệng chàng đã hé mở th ở dốc, hơi thở chàng phà lên yết hầu đối phương.

Chàng híp mắt, thoáng thấy bên cổ Tiêu Phục Huyên có một vết thương không quá sâu cũng không quá nông. Đây là vết thương mà chàng vùi đầu vào cắn hồi giữa kiếp kỳ, khi đó chàng vừa uống máu vừa nhẫn nhịn hết sức để nén lại âm thanh.

Thật ra, chàng vẫn luôn cảm thấy cách tà ma trải qua kiếp kỳ vừa hỗn loạn lại vừa trái lẽ, bản thân chàng cũng không làm sao chấp nhận được việc miệng mình đẫm máu. Hơn cả, chàng cực kỳ kháng cự cảm giác thoả mãn tuôn trào theo bản năng mỗi khi uống máu.

Cảm giác đó như lời nhắc nhở chàng rất nhiều điều…

Nhưng Tiêu Phục Huyên đã khuấy đục cảm giác ấy.

Bọn họ quấn quýt giữa khi nóng bỏng nhất, trao hôn với đôi môi lấm máu.

Nó khiến chàng ngỡ rằng phản ứng như kia không bắt nguồn bởi bản chất tà ma, mà chính vì người trước mắt, chính bởi điều nhân gian vẫn thường gọi tên là ái tình.

Ánh mắt Ô Hành Tuyết mê man giây lát, tiếp đến hôn lên vết thương kia.



Tiêu Phục Huyên cảm thấy máu nóng trong huyết quản đều đổ dồn về nơi ấy, chỉ thoáng chốc mà đôi mắt đang buông hờ của y tối sầm xuống.

Một lúc lâu sau, Ô Hành Tuyết mới ngẩng đầu lên, lòng môi nhuộm tràn máu thẫm. Chàng li3m môi, nuốt máu xuống, nhiệt độ dưới da chầm chậm tăng lên khiến làn da cũng ửng chút hồng hào tựa như ngọc thạch đang hắt ánh đèn le lói.

Giọng chàng giờ đây mềm mại ấm dịu pha chút khàn khàn, “Này, đã ấm lên rồi đây.”

Đến lúc này, Tiêu Phục Huyên mới thả lỏng tâm trạng hơn đôi phần.

Điều khiến y lo lắng nhất không phải việc kiếp kỳ có thể kéo dài đến bao lâu hay có thể bị trở lại hay không. Mà y sợ rằng bởi lý do nào đó khiến máu không còn hữu hiệu nữa, uống vào cũng chỉ như dùng rượu độc giải khát thôi.

Nhưng ngó chừng dáng vẻ hiện tại của Ô Hành Tuyết thì nó vẫn còn hiệu dụng, ít nhất sau khi uống máu vẫn có chuyển biến tốt.

“Vậy nên kiếp kỳ chỉ tái phát chứ không có gì nghiêm trọng cả, ta chỉ tiếc thương cổ ngươi mà thôi,” Ô Hành Tuyết cất giọng đượm nét trêu đùa.

Chẳng qua, chàng vẫn không ưng cảm giác dính máu cho lắm, khi nói xong bèn lập tức mím môi, hai hàng mày cau chặt theo bản năng.

Động tác đó chỉ thoắt hiện mà còn cực kỳ nhỏ, có lẽ chính bản thân chàng cũng không cảm nhận được, thế nhưng tất cả đều lọt vào mắt Tiêu Phục Huyên.

Chàng nói tiếp, “Ngươi rút khí kình ra rồi bổ sung lại huyết khí cho bản thân trước đã, ta sợ lại nhịn không được mà hôn cổ ngươi mất.”

Tiêu Phục Huyên nhìn chàng chốc lát, đoạn nghiêng đầu cúi hôn.

Vị máu nồng phai theo nụ hôn, chỉ đọng lại cảm xúc nơi môi kề môi. Ô Hành Tuyết tựa lưng vào cửa và lặng lẽ hồi đáp.

Dù chàng mới vừa tự thân thấm thía cái gọi là tà ma coi trọng d*c vọng, nhưng…

Nói chung, sau một hồi, chàng vẫn nhẫn nhịn lại, cất giọng thỏ thẻ, “Trong sân còn có người.”

Nhắc đến người trong sân, Tiêu Phục Huyên bèn cau mày đứng thẳng dậy.

Ô Hành Tuyết ngoái nhìn ra bên ngoài cửa sổ…

“Phương Trữ” ngoài kia dường như cũng nhận ra việc mình đứng dậy bất chợt sẽ đánh động sự chú ý của người khác, nên sau khi đứng dậy rồi hắn không tiến về phía phòng ngủ mà chỉ đứng yên chốc lát và làm động tác duỗi tay chân để giãn gân cốt.

Đó là những động tác mà Ninh Hoài Sam và Phương Trữ vẫn thường làm, thế nhưng “Phương Trữ” này tương đối lóng ngóng. Vì dù sao, những người chỉnh tề quanh năm rất hiếm khi thả lỏng gân cốt như vậy. Ngó bộ dáng của hắn giống với việc bỗng dưng nhớ tới động tác của người khác và chỉ đang bắt chước lại mà thôi.

“Phương Trữ” đó lại thoáng đưa mắt về phía phòng ngủ lần nữa, đoạn xoay người đi chỗ khác.

Nhìn theo hướng hắn có thể thấy có lẽ cuối cùng hắn đã nhớ ra, để đóng vai “Phương Trữ” thì ắt hẳn hắn nên đến gặp Ninh Hoài Sam bị ép buộc phải giam mình tĩnh tâm.

Ô Hành Tuyết sợ thằng ngốc Ninh Hoài Sam kia bị lừa nên đã giữ một phần chú ý của mình bên đấy, sau đó quay sang hỏi Tiêu Phục Huyên, “Phải rồi, ngươi có gặp được Y Ngô Sinh không?”

Chàng tưởng rằng Tiêu Phục Huyên sẽ trả lời “Có gặp” hoặc “Không gặp”, nhưng Tiêu Phục Huyên không trả lời ngay mà im lặng một thoáng.

Khoảnh khắc im lặng đó đã khiến Ô Hành Tuyết lập tức nhận ra vấn đề.

Chàng hỏi, “Y Ngô Sinh gặp chuyện gì rồi ư?”

Tiêu Phục Huyên: “Ừm.”

Y dừng đoạn, tiếp tục cất giọng trầm lắng, “Hồn ông ta tan rồi.”

Ô Hành Tuyết ngỡ ngàng.

Một lúc lâu sau, chàng mới thốt, “Sao lại có thể, không phải ông ta đến thung lũng Đại Bi sao? Ông ta chưa kịp vào trong à?”

Chàng bất giác nhận ra con người ta sao mà kỳ lạ. Trước đây, khi nghe Ninh Hoài Sam nói có lẽ Y Ngô Sinh muốn đến thung lũng Đại Bi, lòng chàng còn trỗi lên tiếc nuối khôn tả. Mà lúc này, khi nghe Tiêu Phục Huyên nói hồn Y Ngô Sinh đã tan biến rồi, chàng vẫn cảm thấy muôn phần tiếc nuối.

Đây là thứ cảm giác mà chàng chưa từng trải nghiệm khi đứng dưới bóng cây thần dõi nhìn nhân gian, mãi sau khi thành tiên mới lần đầu biết đến, sau khi thành ma mới thấu hiểu lần hai.

Rồi cứ thế đến lúc này, cuối cùng chàng mới tường tận đôi chút về “lẽ thường ở đời”vô vàn phức tạp mà người ta vẫn nói.

Tiêu Phục Huyên trả lời, “Đã vào.”

Y ngẫm nghĩ về những lời Y Ngô Sinh đã nói trước đó, rồi xác nhận, “Ông ta nói nguyện vọng bản thân là vào thung lũng Đại Bi.”

Ô Hành Tuyết gật đầu đồng tình.

Câu trả lời này nằm ngoài dự đoán nhưng cũng trong dự đoán. Dù chàng từng lo rằng Y Ngô Sinh sẽ xuống tay làm gì đó, cho dù chỉ trong phạm vi một dòng thời gian phái sinh rối loạn chứ không phải quá khứ thực. Không ngờ chàng đã lo xa rồi.

Nhưng có lo thì cũng chỉ đơn thuần là lo mà thôi, dù gì chàng cũng cảm thấy Y Ngô Sinh rồi sẽ không làm gì cả.

Âu có lẽ là một “lẽ thường ở đời”.

Mà kết quả cho thấy sự thật đúng là như vậy.

Ông đã không làm gì cả mà chỉ bình tĩnh bước đến cuối con đường.

Ô Hành Tuyết hỏi tiếp, “Trước khi linh hồn tan biến, ông ấy có nói gì không?”

Tiêu Phục Huyên đáp, “Nhờ ta gửi lời chào đến ngươi.”

Ô Hành Tuyết khẽ khàng “À” thành tiếng.

Người ta nói thần tiên chỉ mang lòng trắc ẩn, chứ không thấu bi thương. Người ta nói tà ma chẳng màng sinh tử chốn nhân gian.

Thế mà khi nghe được việc Y Ngô Sinh gửi lại cho chàng lời từ biệt như những người bạn cũ trước lúc linh hồn tan biến khỏi thế gian và phải rời đi, lòng chàng đã nhen nhói cảm xúc khổ đau.

Ô Hành Tuyết im lìm một lúc lâu rồi bất chợt lên tiếng, “Phải mà vẫn còn thần mộc thì tốt rồi.”

Tiêu Phục Huyên ngây người. “Sao lại nói thế?”

Ô Hành Tuyết đáp, “Nếu vẫn còn thần mộc thì có thể an táng Y Ngô Sinh bên dưới gốc thần mộc, những chuyện khác không biết thế nào nhưng ít nhất sẽ giúp ông ấy sống lâu trăm tuổi ở kiếp sau.”

Tiếc thay.

Tiêu Phục Huyên hỏi, “Thật không?”

Ô Hành Tuyết mỉm cười. “Nhân gian lưu truyền thế đấy, cũng không biết đã truyền qua bao đời rồi. Có điều nói cho cùng, thần mộc vốn là đại diện của luân hồi sinh tử nên chôn dưới gốc cây cũng đạt được chút ít cơ duyên.”

Tiêu Phục Huyên nói, “Nói thế hẳn là đã có hằng hà người được chôn dưới gốc thần mộc mất rồi.”

Ô Hành Tuyết khẽ lắc đầu.

Chỉ có trẻ sơ sinh hoặc người sắp chết mới có thể nhìn thấy thần mộc. Mà trẻ sơ sinh thì đâu có trí nhớ thuở ban đầu, nên dù có gặp rồi cũng chẳng để lại ấn tượng gì. Còn người sắp tạ thế thì ý thức cũng nhạt nhoà đi nhiều, không một ai để tâm đ ến những vấn đề khác.

Trong suốt dòng thời gian từ xưa đến nay, cũng chỉ có độc nhất một Tiêu Phục Huyên của kiếp trước, dù bản thân đã sắp mất mạng nhưng vẫn cõng đứa trẻ nhặt từ chiến trường trên lưng, rồi khi nhìn thấy thần mộc liền chân thành chôn đứa bé xuống dưới gốc cây.

Thậm chí năm xưa, xương cốt Bạch Tướng tr@n trụi dưới tán cây rồi sau khi được tìm thấy, người ta cũng đưa sang Kinh Quan.

Thành thử người duy nhất được chôn dưới gốc thần mộc, chôn ở vị trí chính đáng nhất, chỉ có mỗi đứa trẻ vô danh đã oan uổng bỏ mạng kia mà thôi.

Có lẽ đây chính là cơ duyên có một không hai ở đời, chẳng rõ đứa nhỏ kia sau này chuyển thế đã sống thế nào, đã lớn thành người ra sao giữa thế thời loạn lạc.

Ô Hành Tuyết ngẩn ngơ một lúc mới hoàn hồn, hỏi, “Vậy… có cách nào đem Y Ngô Sinh quay về không?”

Chàng vẫn còn nhớ trước đây lúc họ vào thung lũng Đại Bi, các đệ tử tiên môn dùng túi càn khôn để đem thân xác đứt lìa của những bá tánh bị nhét trong tượng đồng tử về.

Chàng vừa nói vừa lia mắt sang túi gấm treo bên hông Tiêu Phục Huyên chút đỉnh. Không biết linh thức rời khỏi thân thể rồi thì Tiêu Phục Huyên có dùng được túi gấm đeo bên thể xác hay không.

Tiêu Phục Huyên nói, “Có cách, nhưng hiện tại không mang về được.”

Ô Hành Tuyết thắc mắc, “Vì sao thế?”

Tiêu Phục Huyên đáp, “Có chuyện bất thường bên dưới đáy thung lũng Đại Bi.”

Nói đoạn, y kể lại một lượt về cự trận “dùng mệnh nuôi mệnh” bên dưới lòng thung lũng cho Ô Hành Tuyết.

Sau khi nghe xong, Ô Hành Tuyết hơi cau mày. “Ngươi vừa nói là Hoa Tín dùng trận pháp ở dòng thời gian kia để nuôi giữ sinh mệnh Vân Hãi ở hiện thế ư? Và đã nuôi liên tục?”

Tiêu Phục Huyên: “Xem tình hình trận cục thì đúng là như vậy.”

Ô Hành Tuyết nói, “Nói vậy trong lúc nhà họ Phong bị chấn động kịch liệt, lý do mà chúng ta bị đẩy ra ngoài là vì sự cố nhà họ Phong đã đánh động Hoa Tín ư?”

Phỏng đoán này không mấy khác biệt với suy luận của Tiêu Phục Huyên.

Vậy nên có thể thấy, trong dòng thời gian đó một là có chính bản thân Hoa Tín, hai là có gì đó được Hoa Tín gài sẵn bên trong để đẩy họ ra ngoài một khi cảm nhận được sự xâm nhập.

Ô Hành Tuyết tiếp tục suy đoán theo hướng này thì bất chợt ngoái đầu nhìn ra ngoài sân, chăm chú không dời mắt khỏi gian nhà nơi Ninh Hoài Sam đang bế quan tự hối cải rồi nói, “Nghĩ theo hướng này, vậy cái tay ‘Phương Trữ’ thoát ra khỏi Lạc Hoa Đài chẳng phải chính là —”

Ô Hành Tuyết quay sang nhìn Tiêu Phục Huyên, mấp máy môi nhưng không phát ra tiếng, “Hoa Tín biến thành, hoặc người được Hoa Tín gài vào biến thành?”

Tiêu Phục Huyên đăm chiêu một chốc, nói, “Không loại trừ khả năng là Phương Trữ thật bị người khác chiếm giữ thân thể.”

Ô Hành Tuyết nghe vậy thì sa sầm nét mặt.

Nhưng chàng phải thừa nhận rằng điều Tiêu Phục Huyên nói khả năng cao nhất.

Trong những ký ức rời rạc chàng đã nhớ lại tới bây giờ gần như không có bóng dáng Hoa Tín xuất hiện. Chàng không còn nhớ rõ đến cùng thì Hoa Tín là nhân vật ra sao. Ngoại trừ những gì Tiêu Phục Huyên kể cho chàng thì ấn tượng duy nhất của chàng với Hoa Tín đều đến từ lời thẩm vấn Vân Hãi.

Trong ấn tượng hữu hạn đó, Hoa Tín xuất hiện như một vị “tiên” điển hình, trong hành sự tất luôn mang theo nét bình tĩnh đi kèm với một chút nghiêm cẩn.

Nếu hắn đã có thể chôn giấu cự trận giữ mệnh cho Vân Hãi ở nơi như vậy thì ắt hẳn không phải một người nông nổi đến mức đi dịch dung cải trang thành người khác.

Trái lại, hắn ắt sẽ tính toán kỹ các tình huống, ví dụ như nếu không may dịch dung bị giải trừ, hoặc ví dụ như thể xác bị người kiểm tra. Bởi vậy, giải pháp an toàn nhất chính là chiếm giữ thân thể của nguyên chủ.

Ô Hành Tuyết nói với vẻ mặt u ám, “Nếu hắn chiếm giữ thân thể Phương Trữ, vậy linh phách Phương Trữ… vẫn còn lang thang ở dòng thời gian kia sao?”

Tiêu Phục Huyên nói, “Thế nên ta vẫn chưa rút phần linh thức kia về.”

Y đã tính đến trường hợp này, nên sau khi linh hồn Y Ngô Sinh tan biến, y đã thu gom thân thể quỳ trên đất của Y Ngô Sinh cất vào túi gấm và mang ra khỏi thung lũng Đại Bi.

Đồng thời giữ cự trận và những cành dây leo bên dưới đáy thung lũng chứ không chặt đứt.

Trước hết, y cũng lo nếu xuống tay với cự trận này sẽ phá hỏng hoặc làm rối loạn một số manh mối chủ chốt.

Kế nữa, “Phương Trữ” giả ở trong Tước Bất Lạc ngay kế bên ngoài cửa phòng Ô Hành Tuyết. Nếu đây chỉ là người được Hoa Tín gài vào trước thì không sao, còn nếu đó chính là bản thân Hoa Tín thì rắc rối cực kỳ. Y cũng không muốn mình gây chuyện ở đây mà để Ô Hành Tuyết phải một mình hứng chịu hiểm nguy.

Bởi vậy, y đã để hầm mộ tiên nguyên vẹn dưới lòng đất, có điều lúc rời khỏi đã thiết lập một số thứ ở bên cạnh căn miếu ngoài lối vào thung lũng Đại Bi, nếu có động tĩnh gì xảy đến bên này thì y sẽ nắm được ngay lập tức.

Sau khi thiết lập xong xuôi, y mới rời khỏi thung lũng Đại Bi và dò tìm tung tích linh phách Phương Trữ trong dòng quá khứ này.

Nghe Tiêu Phục Huyên nói có để lại linh thức để tìm Phương Trữ, Ô Hành Tuyết cảm thấy nhẹ nhõm hơn một chút. Dù vậy, nét mặt chàng cũng chẳng nguôi dịu là bao, vì chàng nghĩ đến một vấn đề khác.

Chàng hỏi Tiêu Phục Huyên, “Về sau này Hoa Tín có thường xuống hạ giới không?”

Tiêu Phục Huyên lắc đầu. “Sau khi Vân Hãi không còn, chân thân hắn gần như không xuống nhân gian nữa.”

Ô Hành Tuyết: “Vậy chắc là cũng không đến Tước Bất Lạc phải không?”

Tiêu Phục Huyên: “…”

Tiêu Phục Huyên: “Tại sao hắn phải đến Tước Bất Lạc.”

Ô Hành Tuyết vừa định tiếp lời, song vừa ngước mắt lên đã đối diện với gương mặt vô cảm của Thiên Túc.

Ô Hành Tuyết: “?”

Đôi chân chàng được bọc trong đôi ủng vân bạc, bó khít khao thẳng thóm và cao ráo. Chàng biếng nhác nhấc chân cọ nhẹ vào bên hông giày Thiên Túc rồi nói, “Thế này đi.”

Tiêu Phục Huyên liếc cái cẳng chân của chàng, nhướng mi chờ xem người này tính nói thế này là thế nào.

Ô Hành Tuyết nói, “Lát nữa bắt ‘Phương Trữ’ ra cửa dán một tờ.”

Tiêu Phục Huyên: “… Tờ bùa?”

Ô Hành Tuyết: “Không, tờ giấy.”

Tiêu Phục Huyên: “Làm gì?”

“Viết chữ.” Ô Hành Tuyết nói, “Viết là… từ nay về sau, nếu có bất kỳ ai đến Tước Bất Lạc mà không phải Thiên Túc thì đuổi hết ra ngoài.”

“…”

Tiêu Phục Huyên nheo mắt, thả cho nét cười hiện lên trong đáy mắt.

Sau một lúc, y mới tiếp lời để chàng tiếp tục cuộc trò chuyện ban nãy, “Hắn không tới Tước Bất Lạc, rồi sao nữa.”

Ô Hành Tuyết nghiêm mặt, nói, “Sau này hắn không thường xuống nhân gian, cũng tức là không đến Chiếu Dạ thành, và dĩ nhiên không đến Tước Bất Lạc. Việc chính của hắn là cầu phúc và cai quản chúng tiên trên Linh đài, nên ắt hẳn hiếm khi tiếp xúc với Ninh Hoài Sam và Phương Trữ.”

Nói hiếm khi chỉ là một cách nói giảm, chính xác hơn thì có khi còn chưa gặp mặt lấy một lần.

Tiêu Phục Huyên đáp, “Ừm.”

Ô Hành Tuyết nói, “Vậy thì kỳ lạ quá, nếu ‘Phương Trữ’ trong sân chính là hắn thì làm sao hắn biết ta có một tay thuộc hạ như vậy, ắt hẳn có không ít phủ trạch trong Chiếu Dạ thành không cho phép thuộc hạ vào nhà, đâu thể nào thuộc hạ nào cũng là tâm phúc được. Vậy làm sao hắn biết nên giả dạng thành ‘Phương Trữ’ mới có thể vào được Tước Bất Lạc? Hơn nữa… nếu hắn chưa từng tới Chiếu Dạ thành, và chưa từng tới Tước Bất Lạc, vậy hắn tìm đường đến đây bằng cách nào?”

Kỳ lạ nhất chính là, mặc dù biểu hiện bên ngoài của hắn có hơi khác Phương Trữ, nhưng không phải khác biệt một trời một vực, có thể nói là hắn biết cách đóng giả một số hành vi dáng vẻ của Phương Trữ.

“Khi phân tích như vậy, cho thấy hắn không giống một người hoàn toàn xa lạ với Chiếu Dạ thành và Tước Bất Lạc,” Ô Hành Tuyết nói. “Mà ngược lại, dường như hắn có biết một số chuyện, thậm chí những chuyện này không phải được nghe kể lại mà đã từng đến đây và nhìn thấy tận mắt vậy.”

Không chỉ biết về Chiếu Dạ thành và Tước Bất Lạc, mà còn biết về chính bản thân Phương Trữ.

Áng chừng, hắn không phải là người lạ lẫm hoàn toàn rồi tình cờ bắt được Phương Trữ trong tay để chiếm đoạt thể xác. Mà giống như hắn đã từng biết, thậm chí từng gặp qua Phương Trữ từ trước nên có kiến thức nhất định về Phương Trữ rồi, chẳng qua những kiến thức này vẫn còn ở mức độ nông cạn chứ chưa tính là hiểu sâu.

Tiêu Phục Huyên xác nhận, “Thật vậy.”

Bản thân y cũng không biết nhiều về Chiếu Dạ thành nhưng nắm rõ vị trí của Tước Bất Lạc trong lòng bàn tay. Y không quen Phương Trữ nhưng dù sao đó cũng là thuộc hạ của Ô Hành Tuyết, sau vài lần tiếp xúc, ý cũng biết một cách tương đối về tác phong ăn nói và hành xử của Phương Trữ trông như thế nào.

Còn nếu bắt phải học…

Không, nếu y nặn ra một người đến đây để học thì chỉ có thể tham khảo được tầm sáu mươi bảy mươi phần trăm, chắc chắn không thể nắm rõ một trăm phần trăm được.

Cách biểu hiện bề ngoài của tay “Phương Trữ” này chính là như vậy.

Ô Hành Tuyết nói, “Nếu hắn ta chính là Hoa Tín giả mạo, thế thì Hoa Tín biết những thông tin này bằng cách nào?”

Chàng suy đoán, “Một là khi chiếm đoạt thể xác Phương Trữ, Hoa Tín đã tra xét thông tin và hỏi qua…”

Tiêu Phục Huyên lại lắc đầu, trầm giọng, “Nếu chỉ dựa vào tra xét thì rất dễ lỡ mất tin quan trọng.”

Bởi có một số chuyện mà bình thường rất khó nghĩ đến để hỏi, chứ nói gì đến những tiểu tiết nhỏ nhặt.

Ô Hành Tuyết nói, “Hai là Hoa Tín có một biện pháp nào đấy để theo dõi hoặc biết rõ thông tin về người và việc bên trong Chiếu Dạ thành.”

Hiển nhiên, phỏng đoán này có độ chính xác cao hơn.

Thế nhưng trong trường hợp đó, thì biện pháp kia là gì?

❄︎

Lời tác giả:

Tui viết chậm quá, để mọi người chờ lâu ~

Cá:

Tụi mình phổ cập kiến thức khoa học đi mọi người, đề tài hôm nay là yết hầu nha:

– Yết hầu là một vị trí tương đối “nhạy cảm” của phái mạnh.

– Việc sờ vào yết hầu cũng giống như chạm vào “cậu bé” của họ.

– Hành động này sẽ làm cơ thể lập tức sinh ra hormone testosterone làm k1ch thích sự h@m muốn.

– Làm lượng testosterone tiết ra nhiều sẽ làm đàn ông sẽ có cảm giác hưng phấn như khi đang quan hệ.

Vì vậy, trừ khi đang “mây mưa”, bạn nên hạn chế chạm vào bộ phận này để tránh gây khó xử cho cả hai.

Ai nha… hoàn toàn là kiến thức khoa học thôi chứ mình hông có ý gì khác đâu. Còn tại sao Tuyết Nhi cứ thích hôn hôn yết hầu người ta thì… ╮( ̄ω ̄😉
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 76: Đất cũ


Biện pháp nào có thể giúp một người vừa theo dõi những sự việc xảy ra bên trong dòng thời gian rối loạn trong quá khứ, mà vừa có thể biết được những sự việc xảy ra ở hiện thế?

Ô Hành Tuyết nghĩ đến con rối trước tiên.

Nhưng Tiêu Phục Huyên lắc đầu, nói, “Rất khó để tạo ra một con rối đến trình độ đấy.”

Ô Hành Tuyết hỏi, “Tại sao?”

Tiêu Phục Huyên đáp, “Rất khó có thể nặn ra một con rối để chia sẻ tri giác, chưa kể đến việc đặt nó ở hai dòng khác nhau.”

Ô Hành Tuyết xét lại thì thấy thế quả thật hợp lý. Dù sao thuật tạo rối là một thuật pháp đòi hỏi sự điều khiển, mà muốn điều khiển chắc chắn phải tổn hao tinh thần. Một là đặt sự chú ý lên bản thân, hoặc đặt sự chú ý lên con rối mà mình điều khiển. Nếu phân tán sự chú ý trong thời gian dài rất dễ lơi là một phía, khó thể đảm bảo bản thân sẽ không bỏ lỡ bất kỳ thông tin nào.

Sau khi Vân Hãi bị đoạ phàm và trở thành tà ma thì cũng nặn ra một con rối giả dạng bản thân mình đóng vai một bá tánh bình thường đó thôi. Thời gian qua đi, hắn cũng không còn quan tâm xem con rối đang ra sao rồi.

Đây là điều hiển nhiên.

Nói vậy, biện pháp này xem chừng cũng không hiệu dụng lắm, xét đến tính cách của Hoa Tín thì ắt sẽ không dùng.

Nếu thế…

Ô Hành Tuyết như nhớ đến chuyện gì, lần nữa khỏ ủng bạc mình vào chân Tiêu Phục Huyên. “Có phải người trên Tiên Đô thường thích quăng một thân thể xuống nhân gian để hành tẩu không?”

Trước đây vào thời điểm bọn họ nhìn thấy quan tài của Tiêu Phục Huyên ở Thương Lang Bắc Vực, mấy người Ninh Hoài Sam đã nói như vậy. Chúng còn bảo thần tiên rất thích làm chuyện này, có phân ra bao nhiêu thân thể cũng không thành vấn đề.

Giống như Tiêu Phục Huyên trước mắt đây.

Thế mà Tiêu Phục Huyên lại lắc đầu, lên tiếng phủ nhận, “Không phải vậy.”

Ô Hành Tuyết kinh ngạc, hỏi, “Ơ tại sao thế?”

Tiêu Phục Huyên nói, “Còn chẳng bằng con rối.”

Ô Hành Tuyết: “?”

Tiêu Phục Huyên tiếp tục, “Cho dù có bao nhiêu thân thể thì cũng là xác rỗng, linh phách chỉ có một và phải di dời từ thân thể này sang thân thể khác mà thôi, làm cách này càng khó bảo trì thể xác hơn.”

Người ta bảo người đã thành tiên không mấy chú trọng đến thân thể, đa phần linh phách ở nơi nào thì xem như nơi ấy chính là thân thể, lấy thân thể đó làm thân thể chính.

Áp lời này lên toàn bộ Tiên Đô đều phù hợp, chẳng khập khiễng ở đâu cả.

Ô Hành Tuyết nghe y đề cập đến linh phách thì hỏi một câu theo bản năng, “Vậy linh phách có thể phân tách được không?”

Hỏi xong lập tức cảm thấy mình vừa thốt ra một câu đần hết biết.

Đều nói người dùng linh phách bước vào luân hồi sinh tử, điều này cho thấy linh phách đóng vai trò trọng yếu đến nhường nào, nói không ngoa thì linh phách chính là “căn cơ” của một người, làm sao bảo phân tách là phân tách ra được.

Tiêu Phục Huyên ngừng giây lát.

Dường như y cũng không ngờ Ô Hành Tuyết sẽ bất chợt hỏi “linh phách có phân tách được không” nên trên mặt thoáng hiện vẻ ngạc nhiên lẫn sững sờ.

Nhưng rồi y cũng không nhấn mạnh việc linh phách là toàn bộ căn cơ của người và tiên, hay việc nó có vai trò trọng yếu đến mức độ nào này nọ nữa. Y đưa thẳng kết luận, “Theo ta biết chỉ có một số hiếm hoi người làm điều này, thế nhưng không phải không làm được.”

“Linh phách mà cũng có thể phân tách được à?” Ô Hành Tuyết nhỏ nhẹ tiếp lời, đồng thời cúi đầu nhìn bản thân.

Tiêu Phục Huyên: “…”

“Tự nhìn mình làm gì?” Thiên Túc đại nhân thật sự không kiềm lòng nổi phải dằn một câu.

Thật ra, chàng chỉ nhìn xuống theo bản năng thế thôi, nhưng hành động này trong mắt Tiêu Phục Huyên đã mang một ý nghĩa khác. Suy cho cùng, khi biết việc linh thức có thể phân tách được, chính Ô Hành Tuyết từng nói “giúp ta tách một ít ra với”.

Có lẽ Tiêu Phục Huyên sợ chàng lia mắt một lượt rồi lại nói “thế ngươi giúp ta tách linh phách ra thử xem”, bèn trầm giọng nhấn thêm, “Cơn đau đó tuyệt đối vượt quá sức chịu đựng của bất kỳ một ai.”

Ô Hành Tuyết ngước mắt lên định mở miệng.

Tiêu Phục Huyên đã nói tiếp, “Tiên hay ma thì cũng thế thôi.”

Ô Hành Tuyết bèn nín thinh khép miệng lại, nhướn mày.

Một Thiên Túc kiệm lời xưa giờ bỗng nói liên hồi câu này tiếp câu khác như vậy, làm sao chàng không hiểu được ẩn ý sâu xa bên trong những lời ấy.

Chàng bèn nói, “Ta cũng không tới mức cái gì cũng muốn thử đâu mà.”

Tiêu Phục Huyên nhạt giọng ném một câu, “Khó nói.”

Ô Hành Tuyết nghẹn cả lời, thoạt thắc mắc không biết có phải trước đây Thiên Túc đã từng trải qua rất nhiều phen tương tự rồi nên giờ mới nói những lời như thế.

Chàng tự chất vấn lương tâm mình một phen nhưng không nhớ ra được sự vụ gì, chỉ đành bối rối bỏ qua và tiếp tục câu chuyện, “Vậy tức là khả năng cao Hoa Tín cũng không làm vậy… phải không?”

Tiêu Phục Huyên không đáp lời ngay lập tức.

Y nhíu chặt hàng mày rồi đăm chiêu rất lâu, đoán chừng đây có lẽ là phương án gần chính xác nhất.

Dòng rối loạn trong quá khứ và hiện thế tồn tại như hai nhân gian, phân tách bởi một khe vực chót vót, và chắc chắn không thể dùng một số phương pháp đơn giản như thuật con rối để kết nối.

Nếu Hoa Tín đồng thời muốn trông nom dòng quá khứ và dòng hiện tại thì phương án vững vàng và bền bỉ nhất có lẽ chỉ có thể tách linh phách ra làm hai, một nửa để tại quá khứ, một nửa giữ ở hiện tại.

Thoạt đầu, y tưởng rằng Hoa Tín sẽ không xuống tay làm những chuyện như vậy. Nhưng sau khi nhìn thấy đại trận “dùng mệnh nuôi mệnh” kia, y bắt đầu cảm thấy chưa chắc hắn sẽ không làm.

Tiêu Phục Huyên nói ra chuyện này.

Ô Hành Tuyết lâm vào yên lặng suốt một lúc.

Chàng cảm thấy Hoa Tín thật kỳ lạ, đã có thể thiết lập trận cục “dùng mệnh nuôi mệnh”, có thể mượn tay nhà họ Phong để mở ra một dòng rối loạn, thậm chí còn có thể nhẫn chịu khổ đau mà người thường không cách nào chịu nổi để tách linh phách mình ra làm hai đặng theo dõi cả hai dòng “quá khứ” và “hiện tại”…

Thấy rõ, chuyện gì không nên làm hắn cũng dám làm rồi. Nhưng tuyệt nhiên không đến gần thung lũng Đại Bi.

“Hắn biết Vân Hãi đã chết chứ?” Ô Hành Tuyết thốt nhiên nhẹ giọng hỏi.

Tiêu Phục Huyên nhướn mắt, dường như cảm thấy đây là một câu khó trả lời.

“Là hắn đã biết nhưng không chịu thừa nhận nên giả vờ không biết, rồi vẫn ngoan cố tiếp tục hành động của mình à? Hay là —” Ô Hành Tuyết ngừng đoạn, nói tiếp, “hay là hắn có một phương pháp nào đó, dù cho Vân Hãi đã không còn trên đời thì hắn vẫn có cách kéo ngược trở về?”

Nếu là hướng đầu, thì chỉ đành kết luận rằng hắn đã hoàn toàn hoá điên.

Còn nếu là hướng sau…

Ô Hành Tuyết chầm chậm cau mày: Nếu là hướng sau, thì có hơi phiền hà rồi đấy.

Nhưng chàng cảm thấy nếu đích thị là Hoa Tín thì hướng sau khả thi hơn hướng trước rất nhiều. Nói cách khác, bên cạnh trận cục “dùng mệnh nuôi mệnh”, Hoa Tín vẫn còn một kế hoạch khác…

Hơn nữa, kế hoạch này không xuất phát từ phút bồng bột tham lam, mà chắc chắn đã được sắp đặt từ trước.

Ô Hành Tuyết tính toán kỹ càng trong lòng…

Trận cục “dùng mệnh nuôi mệnh” nằm trong dòng quá khứ, Hoa Tín đã để lại một nửa linh phách mình theo dõi nó. Sau khi cảm nhận được những biến cố bất thường xảy ra trong dòng rối loạn, nửa linh phách đó đã chiếm thân thể Phương Trữ và rời đi, theo bọn họ đến hiện thế rồi vào Tước Bất Lạc.

Còn một nửa linh phách còn lại vẫn luôn ở trong dòng hiện thế, có lẽ vẫn luôn theo dõi Chiếu Dạ thành sát sao.

Một suy đoán nảy ra trong đầu Ô Hành Tuyết. “Khả năng cao là, người biết rõ quy hoạch trong Chiếu Dạ thành chính là người của Chiếu Dạ thành, dù sao đây cũng là nơi ngay cả Tiên Đô cũng không dễ gì xâm nhập. Nhưng trong Chiếu Dạ thành chỉ toàn tà ma, ngoại trừ một người…”

Hiện tại chàng chưa lấy lại trọn vẹn ký ức nên chỉ biết một số ít tà ma bên trong Chiếu Dạ thành mà thôi. Những gì chàng biết đều nhờ đám Ninh Hoài Sam kể lại cho nghe. Tuy thế, vẫn có một người có điểm khác biệt so với chúng tà ma trong thành.

Tiêu Phục Huyên tiếp lời chàng, “Phong Tiết Lễ…”

Ô Hành Tuyết: “Đúng vậy.”

Phong Tiết Lễ.

Người này đến Chiếu Dạ thành vừa khéo hơn hai mươi lăm năm trước, khi Tiên Đô tận diệt và trên thế gian không còn một tiên thủ Linh đài Minh Vô Hoa Tín nữa. Đây là một kẻ xuất thân từ tiên môn, nên dù sau này trở thành chủ Chiếu Dạ thành rồi mà vẫn giữ một số thói quen từ các gia tộc tiên môn, cũng sẽ không khiến chúng tà ma cảm thấy bất thường hay đột ngột.

Quan trọng hơn cả… Phong Tiết Lễ xuất thân từ nhà họ Phong, chính là nhà họ Phong có dính líu với Hoa Tín trong dòng quá khứ rối loạn kia.

Một khi đã khớp được một vấn đề, tất cả các vấn đề liên quan đều có thể khớp được.

Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên gần như chắc chắn với đáp án này.

Nhưng nếu là Phong Tiết Lễ thì tại sao “Phương Trữ” giả phải nấn ná trước khi bước vào Tước Bất Lạc. Thoạt đầu, họ còn tưởng rằng mình đã tạo ra động tĩnh quá lớn nên Hoa Tín trong dòng rối loạn bị quấy nhiễu, sau khi đẩy họ trở về hiện thế rồi vẫn không an lòng nên mới đi theo đến để theo dõi tình hình.

Còn với Phong Tiết Lễ, Ninh Hoài Sam từng nói Phong Tiết Lễ đã thèm thuồng Tước Bất Lạc từ lâu.

Theo chiều hướng này, việc “Phương Trữ” giả vào được bên trong Tước Bất Lạc xem như đã hoàn thành phân nửa tâm nguyện. Nửa còn lại phải chờ xem rốt cuộc lý do hắn thèm muốn Tước Bất Lạc là gì…

Ô Hành Tuyết lia mắt một vòng bao quát khu nhà rộng lớn — khu nhà này toạ lạc trên vị trí sát khí nặng nhất Chiếu Dạ thành nên có điểm đặc biệt gì ư? Hay là bên trong đây có món gì đặc biệt khiến Hoa Tín lưu ý đến?

***

Cùng lúc đó, trong dòng thời gian quá khứ rối loạn, bùa tìm kiếm do Tiêu Phục Huyên thả ra vẫn đang truy tìm dấu vết linh phách Phương Trữ ở khắp mọi nơi.

Lá bùa tìm kiếm lục soát rất kỹ lưỡng, hễ Phương Trữ để lại bất kỳ dấu vết hơi thở nào ở mỗi nơi từng đi qua thì lá bùa đều có thể phát giác và đánh dấu lại. Những dấu vết được ghi lại cho thấy, Phương Trữ vô tình bị tách khỏi nhóm khi bước vào phố núi Lạc Hoa, về sau hắn vẫn luôn chậm một bước so với nhóm Ô Hành Tuyết. Có lẽ hắn đã không chú ý đến dấu hiệu Ninh Hoài Sam để lại trước khi nhóm người rời khỏi phố núi Lạc Hoa đi đến nhà họ Phong.

Phương Trữ chưa kịp chú ý đến dấu hiệu ấy thì Hoa Tín ở dòng rối loạn kia đã phát hiện ra.

Nói tóm lại, sau khi Phương Trữ rời khỏi phố núi Lạc Hoa và xuống núi thì không đi về hướng nhà họ Phong mà rẽ sang lối khác.

Trong dòng rối loạn ở thời kỳ đó, nơi Phương Trữ đến vẫn còn là vùng sa mạc với cảnh trí hoang vu, đầy rẫy bãi tha ma và một vài toà thành bé nhỏ.

Bấy giờ nơi đây còn chưa có tên, cũng không một ai ngờ rằng sau này nó sẽ trở thành Động Ma Chiếu Dạ thành.

Đi theo chỉ dẫn của bùa tìm kiếm, khi Tiêu Phục Huyên phát hiện ra địa điểm này thì thấy trùng hợp sao, nơi lá bùa ngừng lại chính là điểm cực nam khu vực. Nếu quy về địa thế hiện tại, nơi đây đích thực là vị trí phủ trạch Tước Bất Lạc của Ô Hành Tuyết.

Mấy trăm năm về trước, nơi này vẫn còn là một dải đất hoang tiêu điều với đống đá tàn tích chẳng biết để lại từ bao nhiêu đời trước, song nếu nhìn kỹ sẽ thấy có một số điểm tương đồng với Tước Bất Lạc hiện tại.

Đống đá ấy bao quanh một đầm nước lạnh, đó cũng chính là hồ nước được bao quanh bởi những hành lang trong Tước Bất Lạc.

Phía sau hồ nước có một ngọn đồi thâm thấp dựng lên bởi những tảng đá nhọn, đến bây giờ ngọn đồi nọ vẫn còn, chẳng qua những khối đá kia đã được tu sửa lại và xây dựng rất nhiều gian nhà nhỏ có mái hiên phất cao. Đấy chính là gian nhà mà Ninh Hoài Sam bế quan tĩnh toạ.

Giữa dải đất hoang có một cái giếng sâu đã từ lâu không dùng đến, nhìn chẳng còn thấy vòm đá xây cao bao quanh mà giống hệt một cái hố sâu hoắm giữ đồng vắng. Ở hiện tại, cái hố đấy trở thành một đầm sâu được bao bọc bởi những đụn tuyết trắng. Đó chính là đầm máu bên trong viện, nơi đã nuốt chửng vô vàn những tiểu tà ma.

Hết thảy bài trí trong Tước Bất Lạc đều được giữ gần nguyên vẹn, những thứ tồn tại từ trước vẫn còn đến tận bây giờ, cho thấy năm xưa khi tính định cư nơi này, Ô Hành Tuyết chẳng hề có ý tu sửa chỉn chu để xây dựng phủ trạch, nguyên mẫu thế nào thì giữ y thế ấy.

Chỉ có một điểm khác biệt duy nhất…

Mấy trăm năm trước, nơi này không có gốc đại thụ chót vót với tán cây rợp trời trong sân.

Lời tác giả:

Mọi người chờ lâu, hai hôm trước mình thức khuya quá nên tim không ổn lắm, tái phát bệnh cũ, thêm nữa còn bị đau bao tử và tới tháng, cảm ơn mọi người thông cảm QAQ

Nếu muốn hai gộp một có khi phải mất thêm mấy ngày, thôi mình cập nhật như bình thường trước đã.
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 77: Khách đến


Trên thế gian có hàng ngàn loại thực vật cây cỏ, số lượng nhiều đếm không xuể. Cho dù không phải ở đâu cũng có những cây cổ thụ khổng lồ cao ngất, nhưng khi ra đến khu vực hoang dã hoặc những địa điểm như Chiếu Dạ thành thì hoàn toàn chẳng hiếm thấy.

Vì vậy, suốt ba trăm năm, không một ai cảm thấy thấy gốc đại thụ bên trong sân Tước Bất Lạc này có điểm kỳ lạ hay đặc biệt gì.

Chưa bàn đến đâu khác, ngay cả người đã sống ở Tước Bất Lạc mấy chục năm còn không thấy thân cây này bất thường ở đâu.

Giống như Ninh Hoài Sam vậy.

Hiện tại Ninh Hoài Sam đang đóng cửa tự hối lỗi bên trong gian nhà nhỏ, phủ áo qua tay và bắn một cú liếc xéo vào người đứng bên ngoài cửa. Cậu bắn một phát truyền âm, rồi chốc chốc lại bắn thêm một phát truyền âm, liên hồi như vậy hết cả ngày đến tận khi trời sẩm tối, bắt đầu bước vào buổi đêm. Bấy giờ, “Phương Trữ” mới chịu nhấc cái chân thong dong bước tới chỗ cậu.

Ninh Hoài Sam nghĩ thầm rằng, dù gì giờ cũng có thêm một cái miệng tán gẫu cho đỡ buồn rồi, cậu không cần phải tự lẩm bẩm với bản thân mình cho qua giờ qua ngày nữa. Xét đến chuyện này, cậu cũng có thể miễn cưỡng tha thứ cho sự thờ ơ thiếu nhiệt tình của “Phương Trữ” trước đây.

Nhưng cậu mừng rỡ chưa được bao lâu đã bị thọt một gậy trả về nguyên hình.

Bởi vì dù “Phương Trữ” đến gặp cậu thật, nhưng cũng chả nói năng gì. Cậu nã cả buổi trời mà “Phương Trữ” chỉ đáp lại một câu rưỡi, có mắt là thấy rõ hắn chỉ đang trả lời qua loa cho có!

Ninh Hoài Sam xụ bản mặt lừa, nói, “Nè, không phải mày tới thăm tao hả? Mày làm quái gì cứ chìa cái gáy cổ vô mặt tao vậy? Mày tính ngó cái gì ở bên đó, bên đó thì có gì mà ngó?”

Phương Trữ không tỏ vẻ gì là sợ hãi, chỉ bình tĩnh trả lời, “Bên đó có thành chủ, mày đóng cửa tự hối cải thì tao đâu thể thả lỏng được, cũng nên để ý một chút chứ.”

Ninh Hoài Sam há mõm đốp chát, “Cứt! Mày xạo ông hả? Mày tưởng tao bị ngu hay bị mù?”

Phương Trữ ngớ người, lát sau mới dời tầm mắt trở lại, liếc sang trước cửa phòng.

Cho dù đang đứng cách một lớp cửa nhưng hắn dường như có thể thấy được Ninh Hoài Sam, ánh mắt hắn hướng thẳng vào vị trí Ninh Hoài Sam bên trong căn phòng.

Ninh Hoài Sam chỉ tay vào trong sân rồi nói, “Đưa gáy vô mặt tao thì tao không nhận ra à? Nãy giờ mày nghệt mặt nhìn hướng đó mãi, hoàn toàn có nhìn cửa phòng thành chủ đâu, đã thế còn gồng người không thả lỏng một khắc nào…”

Phương Trữ nhìn chòng chọc cậu qua phiến cửa một lúc lâu mới quay mặt đi, nói, “Cũng không tệ lắm, biết chú ý mọi động tĩnh.”

Ninh Hoài Sam nheo mày. “Sao hôm nay mày ăn nói kiểu quái đản gì vậy.”

Phương Trữ: “Quái đản chỗ nào?”

Ninh Hoài Sam: “Chỗ nào cũng quái đản…”

Xuyên qua khe cửa, Ninh Hoài Sam híp lại tròng mắt đen, nhìn Phương Trữ không chớp mắt một lúc lâu rồi bất chợt mở miệng nói, “Mày nói thật đi —”

Phương Trữ nhìn cậu.

Ninh Hoài Sam nói, “Có phải mày gặp chuyện gì ở phố núi Lạc Hoa rồi không? Lần nào mày mang nặng tâm sự cũng trưng cái bản mặt sống dở chết dở này.”

Phương Trữ nghe câu “sống dở chết dở” của cậu thì hơi lay tròng mắt. Tuy vậy, hắn vẫn không trả lời cậu mà ngoảnh đầu đi.

Ninh Hoài Sam nhìn theo tầm mắt hắn, thấy gốc đại thụ cao lớn che trời trong sân, bèn bực bội càu nhàu, “Gốc cây đó có quái gì mà nhìn, tự dưng đần não hay sao?”

Mãi một lúc lâu sau, cậu mới nghe Phương Trữ chậm giọng nói, “Trước đây ta chưa có cơ hội… nhìn kỹ.”

Ninh Hoài Sam cười khẩy khinh bỉ, nói, “Mày làm quái gì tỏ vẻ bông tuyết nhạy cảm vậy hả. Đừng nói với tao là hai lăm năm không về đây được thì giờ mày nhìn cái quần gì trong sân cũng thấy thương tâm đấy nhé.”

Phương Trữ liếc cậu cái nữa, thản nhiên đáp, “Cũng gần gần thế.”

Ninh Hoài Sam đảo mắt nhưng thôi không phỉ nhổ nữa.

So với tính cách của Ninh Hoài Sam, Phương Trữ đúng thật nặng lòng hơn nhiều. Sau nhiều năm chưa quay lại, giờ có nhìn trân trối một gốc cây một đoá hoa trong sân đặng than thân cũng không lạ. Ninh Hoài Sam gắng nhịn cơn giận cồn cào trong lòng mà hùa theo, “Thôi đúng là cũng có thương tâm, mày nhìn xem ở bên ngoài Tước Bất Lạc có bao nhiêu người đang bao vây, làm gì có ai không theo dõi từng chút động tĩnh một bên trong này, mà có thấy được cái cây nào đâu.”

Không biết Phương Trữ nghĩ đến chuyện gì mà bật cười. “Câu này của mày…”

Ninh Hoài Sam: “Câu này của tao sao? Có vấn đề gì?”

Phương Trữ nói, “Không.”

Hắn dừng đoạn, nói tiếp, “Không sai một chữ, rất nhiều người muốn được nhìn thấy cái cây này mà cả đời cũng không có cơ hội.”

Ninh Hoài Sam: “Chứ sao!”

Mọi người đều biết nếu đứng bên ngoài Tước Bất Lạc sẽ không thấy rõ những thứ trong sân nữa, đến cả gốc đại thụ cao ngất rợp trời cũng bị sương mây mịt mù vờn quanh kín kẽ, xưa giờ không một ai thấy rõ.

Bất giác, Ninh Hoài Sam cũng bị nhiễm bầu không khí buồn thương, dần thấy cây cỏ trong sân cũng thật đáng quý. Rồi cậu thẫn thờ nhìn gốc đại thụ trong sân, miệng lẩm bẩm, “Lại nói, cái cây này hình như xưa giờ chưa từng thay đổi…”

Phương Trữ không quay đầu lại, chỉ lặng lẽ một chốc rồi đáp,”Đúng thế.”

“Nó có từng đơm hoa kết quả bao giờ không?” Ninh Hoài Sam bất chợt ngỡ ra hình như trong suốt mấy chục năm mình sinh sống trong những gian nhà nơi đây, bất kỳ lúc nào cậu ngước nhìn cũng đều thấy cái cây này, nhưng sao giống như chưa từng nhìn kỹ nó vậy.

Cho nên giờ đây khi cố nhớ lại, cậu thậm chí chẳng rõ cây này đã từng bao giờ đơm hoa chưa, đã từng bao giờ rụng lá chưa.

Cậu còn tưởng do mình bất cẩn quá nên không để ý. Ngờ đâu cậu hỏi mà một lúc lâu sau cũng chẳng nghe tiếng Phương Trữ trả lời.

Tính Ninh Hoài Sam thẳng đuột xưa giờ, cậu lập tức hô, “Trước đây mày cũng hay thường rảnh rỗi ngồi ngẩn ngơ nhìn sân như vậy mà. Đừng có nói mày cũng không trả lời được đó nhá?”

Phương Trữ: “…”

Ninh Hoài Sam cười khinh khỉnh. “Hừ, hoá ra là thế thật à, thì ra mày cũng tám lạng nửa cân với tao hả? Vậy mà lần nào thành chủ cũng bảo tao thần kinh thô, oan ức cho tao quá đi mà!”

Trong ấn tượng của Ninh Hoài Sam, cái cây này qua là chục năm như một, chưa từng thay đổi.

“Chắc là chưa từng đơm hoa, cây to như vậy mà trổ hoa thì chắc chắn bắt mắt cực kỳ,” Ninh Hoài Sam lẩm bẩm, rồi bất chợt giật mình.

Nếu là trước đây, cậu sẽ chẳng liên tưởng sâu xa gì đâu, nói cho cùng cũng chỉ là một gốc cây thôi mà…

Một gốc cây như vậy mà mọc ở nơi khác ắt còn khơi gợi sự tò mò cho đôi ba người đến ngắm, còn bằng nằm trong Chiếu Dạ thành thì chẳng ma nào quan tâm. Chiếu Dạ thành này là nơi tà ma tề tựu, nhà cửa, động phủ của chúng tà ma chỉ có từ không tuân thủ cho tới phá nát quy tắc thành trấn.

Đừng nói chi là một gốc đại thụ trong sân, có một số tà ma còn dùng thân cây làm động phủ cho mình — chúng bảo không chịu nổi không khí mặt đất, dựng nhà không sống được, bèn xây ngay một gốc cây rồi lập cái tổ khổng lồ ngay trên cành, cả ngày ru rú trong tổ không bao giờ chạm chân xuống đất nữa.

Trong Chiếu Dạ thành, bao nhiêu chuyện quái lạ đều trở thành lẽ thường, không ai nghĩ rằng một cái cây có gì đáng để lưu tâm đ ến.

Mà Ninh Hoài Sam bây giờ không nghĩ vậy nữa.

Bên trong ngôi tháp cao ở nhà họ Phong, cậu đã nhìn thấy ảo ảnh của thần mộc xuất hiện trước mặt thành chủ nhà cậu. Thấy ảo ảnh thần mộc rồi, giờ cậu đã nhìn gốc cây trong sân bằng một cặp mắt khác, cậu không khỏi thắc mắc liệu gốc cây này có liên quan gì đến cây thần kia hay không?

Theo bản năng, cậu nhấc khuỷu tay tính bàn luận tình hình với Phương Trữ, song sơ suất dọng thẳng khuỷu tay vào cánh cửa. “Auuu —”

Phương Trữ quay sang nhìn cậu.

Ninh Hoài Sam vội nói, “Không có gì không có gì, tao mất tập trung tí. Tao chỉ đang nghĩ, mày xem xem cái có khi nào cái cây này…”

Phương Trữ yên lặng lắng nghe, như thể đã dành kiên nhẫn vô hạn cho cái cây này.

Nhưng Ninh Hoài Sam còn chưa nói hết thì đã lắc đầu nguầy nguậy. “Chắc không phải, tao nghĩ nhiều rồi.”

Thần mộc xuất hiện trong tháp cao ở nhà họ Phong chỉ là ảo ảnh thôi mà đã rực rỡ sắc hoa, lộng lẫy đến mức không ai có thể dời mắt, thần tính và tiên khí khôn tả toả ngợp không gian như lẽ đương nhiên. Còn cái cây trong sân này… ờm.

Cậu trầm ngâm kỹ lưỡng, xác nhận trước giờ cái cây này chưa từng đơm hoa, cũng chưa từng kết trái, thậm chí nó còn không bao giờ héo úa thay lá. Chừng như vào bất kỳ thời điểm nào, chỉ cần ngước mắt lên nhìn là có thể thấy dáng vẻ um tùm tươi tốt giống như những gốc thường xanh trong rừng trên núi, có qua mấy chục năm hay mấy trăm năm cũng không thay đổi dáng vẻ, bất quá đôi khi sẽ đọng tuyết vào đông.

Chính vì lần nào nhìn nó cũng chỉ một dáng vẻ nên mới không khiến ai cảm thấy bất ngờ.

Ấn tượng duy nhất của cậu đối với thân cây này nằm ở tán cây, rậm rạp như mái đình nhưng tràn trề tử khí, thậm chí chim tước chưa từng đáp xuống cành. Cũng bởi thế mà nơi đây mới được đặt tên là “Tước Bất Lạc”.

Hình ảnh này quá xa vời, khác biệt đến một trời một vực với thần mộc.

Ninh Hoài Sam còn suy đoán lan man trong đầu rồi tự dựng tự đập, thì bất chợt nghe Phương Trữ nói, “Mày lảm nhảm vô bổ gì đâu không, nếu mày có thắc mắc thì cứ đi hỏi thành chủ đi là được chứ gì.”

Ninh Hoài Sam trả lời theo bản năng, “Hỏi thành chủ thì có ích lợi gì, ngài ấy vô Thương Lang Bắc Vực một chuyến xong quên hết còn gì. Giờ còn không nắm rõ Tước Bất Lạc bằng hai đứa tụi mình, đi hỏi ngài ấy nói không chừng tụi mình còn bị hỏi —”

Chưa kịp thốt ra hai tiếng “ngược lại”, cậu đã sượng giọng, siết căng ngón tay đang phủ dưới ống tay áo!

Không đúng!

Sét nã ầm ầm trong đầu Ninh Hoài Sam — Ô Hành Tuyết không còn nhớ gì cả, đây là chuyện cả cậu lẫn Phương Trữ đều biết quá rõ. Tại sao Phương Trữ lại nói “đi hỏi thành chủ” được cơ chứ?!

Cậu chợt ngước mắt, nhìn xuyên qua khe cửa, dừng ở người đứng bên ngoài.

***

Khoảnh khắc đó, “Phương Trữ” bên ngoài cửa có vẻ cũng đang suy ngẫm gì đó. Khi nghe Ninh Hoài Sam nói “Thành chủ quên hết mọi chuyện, không nắm rõ Tước Bất Lạc bằng hai đứa tụi mình” thì nheo khẽ đôi mắt.

Trong lúc hắn còn đang tư lự, chủ nhân phủ trạch tên “Lễ” trong Chiếu Dạ thành đã bất thình lình hành động.

Phong Tiết Lễ vừa hãy còn thong thả thắp đèn bên trong “đệ tử đường”, hơn ba mươi chiếc đèn lồ ng tinh xảo soi toả rực rỡ toàn bộ khung cảnh bên trong đệ tử đường này. Ngay khi thắp lồ ng đèn sau cùng, động tác hắn thoáng chững lại.

Tiếp đến, hắn đứng thẳng dậy và liếc mắt về một hướng nào đó, đoạn cầm đèn lồ ng trên tay và bước ra khỏi cửa.

Tiếu Hồ kinh ngạc, vội vã nối gót đuổi theo và hỏi, “Thưa thiếu gia, cậu đây là?”

Phong Tiết Lễ nói, “Ra ngoài.”

Tiếu Hồ: “Đi đâu thế ạ?”

Phong Tiết Lễ: “Tước Bất Lạc.”

Tiếu Hồ ngạc nhiên, thắc mắc thành lời, “Không phải trước đây thiếu gia nói là không cần đến Tước Bất Lạc vì đã có người theo dõi bên ấy rồi sao ạ?”

Phong Tiết Lễ: “Đúng vậy.”

Tiếu Hồ: “Vậy bây giờ…”

Cửa lớn phủ trạch “Lễ” lẳng lặng mở rộng, hắn bước qua bậu cửa với đèn lồ ng trong tay, chỉ loáng mắt đã dấn mình vào màn sương mù bọc quanh Chiếu Dạ thành và tiến về phía Tước Bất Lạc. Chỉ còn âm thanh bình tĩnh đọng lại trong tai Tiếu Hồ: “Đúng là có người theo dõi nên mới biết lúc nào là lúc phải đến đấy.”

Tiêu Phục Huyên bị tổn hại thân thể, Ô Hành Tuyết còn chưa vượt qua kiếp kỳ. Không chỉ vậy, chủ nhân của Tước Bất Lạc đã quên hết mọi chuyện xưa tích cũ.

Bàn về chờ đợi thời cơ, thì còn thời cơ nào thích hợp hơn thế…

Gần như chỉ trong nháy mắt mà trước cửa Tước Bất Lạc ở cực nam Chiếu Dạ thành đã xuất hiện hai bóng dáng mới đến, đây chính là Phong Tiết Lễ và Tiếu Hồ nối gót đi theo.

Phong Tiết Lễ khẽ nhấc tay, một thứ gì đó chạm vào kết giới của Thiên Túc quanh Tước Bất Lạc, đánh vang âm thanh lanh lảnh như tiếng chuông ngân giữa sắc vàng lay động.

Âm thanh kia đánh vang ba lần, tựa như tiếng gõ cửa nho nhã và lịch thiệp.

Nhưng ai có hiểu biết đều biết, nếu đây không phải là kết giới do Thiên Túc thiết lập thì sau ba nhát “gõ” nho nhã và lịch thiệp kia, kết giới ắt hẳn đã vỡ nát thành tro, và người lập kết giới sẽ gánh trọng thương.

Có điều, người trong Tước Bất Lạc còn chưa phản ứng mà những kẻ bên trong các sòng bạc và quán rượu quanh Tước Bất Lạc đã lãnh nhận tai hoạ.

Sau ba tiếng gõ cửa, linh phách những kẻ kia đột ngột gánh chịu một đợt oanh tạc nặng nề, gần như tất cả bọn chúng đều hộc máu tại chỗ. Chỉ loáng cái mà những sòng bạc, quán rượu nọ đã vơi hơn phân nửa bởi chúng phải nhanh chân tháo chạy.

Còn Phong Tiết Lễ vẫn đứng trước cửa vào Tước Bất Lạc với gương mặt trầm tĩnh, tảng lờ hết thảy. Thậm chí, hắn còn nền nã vẽ nên một bức phù rồi gửi vào gió đưa vào trong kết giới, không khác nào một chàng thư sinh nho nhã ghé thăm phủ đệ ai đó bèn truyền gửi thiệp báo danh.

Trên thiệp đã lượt bớt dòng họ, ghi: Nghe rằng thành chủ trở về, Tiết Lễ xin đến bái kiến.

❄︎

Lời tác giả:

Ngủ ngon ~ mình gửi lì xì cho tất cả bình luận trước khi cập nhật chương mới rồi, có khi hệ thống cập nhật chậm chút, chúc mọi người vui vẻ nhá ~

Cá:

Tui kể lại chút xíu về tên chỗ ở của Tuyết Nhi là <i>Tước Bất Lạc</i> (chim không đậu) đọc tiếng Trung là <i>Quèbuluo</i>, còn nơi Tuyết Nhi sống trong mơ – chỗ có chim đáp mình trên chuông hộ hoa hồi chương 1 í – là <i>Thước Đô</i> (thủ đô của các loài chim) đọc là <i>Quèdu</i>. Hai chữ <i>Tước</i> và <i>Thước</i> trong tiếng Trung đồng âm á.

Tức là giấc mơ của Tuyết Nhi là được sống ở một nơi chim muôn yêu mến, còn sự thật nơi Tuyết Nhi sống là không một bóng chim dám đến (。ಥ﹏ಥ。)
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 78: Mục đích


Ô Hành Tuyết hỏi, “Ai lại đến vào lúc này?”

Tiêu Phục Huyên mở tấm bùa cho chàng xem. “Phong Tiết Lễ.”

Ô Hành Tuyết tỏ vẻ ngạc nhiên. “Vừa nhắc đến hắn thì hắn đã tới ngay tận cửa cơ à.”

Sực nhớ tới tiếng gõ “nho nhã lịch thiệp” vừa nãy, chàng hỏi Tiêu Phục Huyên, “Trí nhớ ta còn chưa đầy đủ, nhưng đoán chừng ở Chiếu Dạ thành không có nhiều ma đầu gõ cửa khi đến thăm hỏi. Đây có phải là thói quen của Hoa Tín không?”

Tiêu Phục Huyên: “Gõ cửa thì không.”

Nói đoạn, y phe phẩy tấm bùa danh thiếp trên tay và nhẹ giọng, “Cái này thì phải.”

Nét ngạc nhiên trên mặt Ô Hành Tuyết càng lộ rõ hơn, chàng thốt lên theo bản năng, “Biết rõ đến vậy chẳng lẽ hắn vẫn thường đến Nam Song Hạ?”

Tiêu Phục Huyên: “?”

Hiếm khi trên mặt Thiên Túc lại đượm cảm giác hoang mang đi kèm với khó diễn tả thành lời đến vậy, khiến Ô Hành Tuyết thấy có hơi buồn cười. Tuy vậy, thời điểm hiện tại không thích hợp để trêu đùa, chàng bèn vội dỗ, “Ta chỉ thuận miệng hỏi thế thôi.”

Này hơi bị thuận quá rồi đấy.

Thiên Túc im lặng chút rồi nói, “Trong các tiên chỉ có một người tự do ra vào cổng Nam Song Hạ như chốn không người mà thôi.”

Quả thật, trong các tiên chỉ có mỗi mình Linh Vương thoải mái tới lui ở Nam Song Hạ, còn những người kia cả trăm năm chẳng biết có dám đến trước cổng một lần hay không.

Năm xưa, Hoa Tín là Tiên thủ Linh đài, chỉ giao thiệp với Thiên Túc và Linh Vương không trực thuộc Linh đài khi có việc hệ trọng, nên hiển nhiên cũng không hay ghé qua Nam Song Hạ. Tuy vậy, hắn vẫn có qua lại với những người khác trên Tiên Đô, có điều những lần qua lại đó đa phần đều rập khuôn và giữ quan hệ trong giới hạn xử lý công việc, chứ hiếm khi xuất phát từ những mối quan hệ cá nhân.

Tiêu Phục Huyên biết được thói quen này của Hoa Tín cũng nhờ những lời tâm sự của Vân Hãi.

***

Trước đây Vân Hãi từng than vãn rằng, “Tiên thủ Minh Vô quy củ quá đi, đến cả ghé nhà cũng chẳng ngoại lệ. Mỗi lần đến phủ ta đều tuyệt nhiên không vào trong dù cổng sân mở toang chẳng gì ngăn trở. Người cứ toàn khoanh tay đứng ngoài cửa và sai mấy đồng tử như ông cụ non kia truyền thiệp báo danh vào trong.”

Vân Hãi xem như đang tán gẫu nên vừa huơ tay như nửa đùa nửa thật vừa nói, “Cái kiểu thiệp báo danh dưới nhân gian ấy, không biết hai vị đại nhân có từng thấy chưa, nó làm bằng giấy ép hoa khô hoặc tơ lụa, được gấp làm đôi, và có ghi tên ghi chức, thậm chí còn ghi cả lý do đến thăm. Thực sự… thực sự quá…”

Hắn không bao giờ nói ra nổi nhận xét của nhìn, cứ ngắc ngứ rồi lắc đầu bật cười sang sảng, sau chót gom vén nét cười mà chỉ đành thở dài một hơi. “Tốt xấu gì ta cũng xem như là đệ tử môn hạ của người, mà người mãi đối xử khách sáo với ta như thế đấy.”

Khi ấy, Linh Vương đáp, “Ta có từng nghe nói nhưng chưa gặp qua lần nào. Mà dường như Tiên thủ Minh Vô cũng hiếm khi ghé thăm ai bao giờ.”

Vân Hãi nghe thế thì vui vẻ hẳn ra, hắn nâng chung rượu tỏ ý kính mời Linh Vương, đoạn uống một hơi cạn chung. “Thế xem ra ta vẫn còn vương ít hào quang một người đệ tử.”

Về sau, nghe đồn Vân Hãi dày không ít công sức và thời gian để thay đổi được một vài thói quen vốn cực kỳ quy củ nền nếp của Minh Vô Hoa Tín. Ít nhất, hắn đã không còn đệ thiệp khi đến cung phủ của Vân Hãi nữa, nhưng vẫn giữ nguyên thói quen như trước với cung phủ những vị tiên khác.”

Thật không ngờ từng ấy năm đã trôi qua mà thói quen với người khác này vẫn chẳng mảy may biến đổi.

Ô Hành Tuyết nhìn tấm danh thiếp trong tay Tiêu Phục Huyên và nói, “Tuy dưới nhân gian cũng có nhiều người sẽ gửi thiệp báo danh, nhưng không đến mức trùng hợp nhiều đến như vậy chứ. Xem ra phán đoán lúc trước của chúng ta đã chính xác, khả năng cao Phong Tiết Lễ này bị Hoa Tín chiếm giữ thể xác.”

Chàng suy tư một chút rồi nói tiếp, “Quả thực hắn không hề có ý định che giấu.”

Nhìn chung, nếu không muốn người ngoài phát giác linh phách bên trong cơ thể là người nào thì ít nhiều đều sẽ cố tình thay đổi vài thói quen hành vi của bản thân. Trong trường hợp này, hành vi của Hoa Tín vừa lạ thường lại vừa mâu thuẫn — hắn bày bố trận cục rườm rà phức tạp, cài cắm mọi thứ cẩn trọng tỉ mẩn, vậy mà trong thói quen thường ngày lại dường như chẳng mấy chú tâm.

Có phải vì hắn đinh ninh Tiêu Phục Huyên và Ô Hành Tuyết không hiểu rõ về mình nên sẽ không nhận ra?

Hay là đối với hắn, dù hai người có nhận ra hay không cũng thế?

Ô Hành Tuyết cân nhắc tình huống, đoạn quay sang hỏi Tiêu Phục Huyên, “Nếu phán đoán của chúng ta là đúng, vậy trong thân thể Phương Trữ có một nửa linh phách hắn, trong thân thể Phong Tiết Lễ có một nửa còn lại. Sau khi cho hắn vào cửa rồi cũng đồng nghĩa hắn đã có nguyên vẹn linh phách. Nếu cần phải động thủ thì khả năng thắng của chúng ta thế nào?”

Tiêu Phục Huyên nói, “Hắn chỉ có một người.”

Ô Hành Tuyết tiếp lời, “Đúng vậy, trên lý thuyết đây là hai chọi một, vậy nên mới không bình thường.”

Trên thế gian đồn rằng chàng xuống tay giết Linh đài Thập nhị tiên. Chưa biết tin đồn này đúng hay sai, ít nhất cũng cho thấy vào thời kỳ đỉnh cao phong độ, chàng chắc chắn không rơi xuống thế hạ phong khi phải đối đầu với Hoa Tín.

Hiện tại, kiếp kỳ trong người chàng bất ổn, cái lạnh thấu xương tuỷ chưa rõ vì sao không diệt trừ tận gốc được, cũng không biết lúc nào sẽ bộc phát trở lại. Còn Tiêu Phục Huyên cũng không dùng bản thể, hơn nữa còn phải tách linh thức sang dòng thời gian quá khứ để đi tìm linh phách gốc của Phương Trữ.

Cả hai đều bị tổn hại ít nhiều, e rằng cách thời kỳ đỉnh cao phong độ rất xa.

Nhưng Hoa Tín cũng có khá hơn là bao.

Sau khi Tiên Đô bị diệt vong, dù hắn không chết thật thì cũng phải chịu thương, hơn nữa còn tách bản thân ra làm hai, rồi lập trận cục “dùng mệnh nuôi mệnh” cho Vân Hãi. Theo lý mà nói thì hắn cũng phải chịu tổn hại nghiêm trọng.

Có tính thế nào đi chăng nữa vẫn quy thành hai chọi một, và Hoa Tín nằm ở hạ phong.

Một người nằm dưới thế hạ phong sao lại thẳng thừng đến gõ cửa như vậy được?

Dù vậy, hiện tại cũng không phải lúc để đắn đo, hai người trao đổi ánh mắt rồi quyết định mở cửa đón khách.

Tuy nhiên, khi Tiêu Phục Huyên mở kết giới ra, Ô Hành Tuyết nắm lấy y và nán người ngoài cửa lại một hồi.

***

Nói là nán lại một hồi nhưng tương đối ngắn ngủi, chẳng qua nếu là người đa nghi sẽ hiểu theo nghĩa khác.

Tiếu Hồ thấy gửi thiệp vào một lúc rồi vẫn chưa nhận được hồi âm, bèn thấp giọng nói với Phong Tiết Lễ, “Thưa thiếu gia, có khi nào bọn họ giả mù không thấy, quyết tâm đóng chặt kết giới không?”

Phong Tiết Lễ: “Không.”

Tiếu Hồ: “Sao thế ạ?”

Phong Tiết Lễ điềm nhiên đáp, “Đã mang danh thành chủ Chiếu Dạ thành, cậu nghĩ xem phải gặp tình huống nào thì mới giam mình bên trong kết giới và kiên quyết không gặp người ngoài.”

Tiếu Hồ tức thì vỡ lẽ. “Khi không thể gặp người khác.”

Bởi một khi lâm vào tình huống tồi tệ, nếu mở kết giới sẽ mang đến hiểm hoạ nghiêm trọng.

Tà ma bên trong Chiếu Dạ thành không phải lũ ngu, nếu kết giới tuyệt không mở ra thì lòng chúng sẽ tỏ tường ngay lập tức. Đến khi đó, liệu chúng có để yên cho người giấu mình bên trong kết giới hay không?

Tiếu Hồ nói tiếp, “Có khi nào chúng đã bắt đầu lập bẫy để chờ chúng ta vào phủ liền trở thành cá trên thớt hay không.”

Phong Tiết Lễ nói, “Vậy cũng không tệ.”

Tiếu Hồ: “Sao lại thế?”

Phong Tiết Lễ: “Người cần bố trí phòng vệ tạm thời trong những thời điểm thế này là người không đang trong trạng thái tốt.”

Tiếu Hồ gật gù tỏ ý đã ngộ ra vấn đề.

Từ khi thiếu gia nhà gã bước chân vào Chiếu Dạ thành đã luôn mang thần thái như vậy. Hắn được bao bọc trong vẻ điên rồ âm ỉ, nhưng tâm tình phẳng lì trước vạn sự. Giống như thể hắn đã chứng kiến hết thảy trên thế gian, dẫu tiên hay ma cũng chẳng cách nào khiến hắn hoảng sợ.

Nhưng luận về tuổi tác, thiếu gia nhà gã chỉ thuộc vào hàng non trẻ trong các con cháu tiên môn, chẳng rõ khí chất này bắt nguồn từ đâu nữa.

Tuy nói thế, nhưng sau một chút suy tư, gã chợt thấy không đúng. “Nhưng thưa thiếu gia… cho dù người bên trong không ở vào trạng thái tốt nhất, những bố trí phòng vệ kia cũng tương đối nguy hiểm cho chúng ta.”

Phong Tiết Lễ trả lời, “Nếu đặt cậu vào tình huống có thương tổn linh hồn và thân thể, nếu muốn đặt bố trí phòng ngự cậu sẽ đặt lên sân hay lên bản thân?”

Tiếu Hồ: “Dĩ nhiên là bản thân rồi.”

Phong Tiết Lễ: “Thế thì tốt rồi.”

Tiếu Hồ vẫn tỏ ý nghi ngờ, Phong Tiết Lễ nói tiếp, “Ta không đến để giết người.”

Hắn vốn không đến để giết người, hắn chỉ đang muốn mượn sức của gốc cây trong sân mà thôi.

Năm xưa, sau khi Linh Vương phát hiện ra có người táy máy vào nơi phong ấn thần mộc thì cấm địa thần mộc đã biệt vô âm tín một lần nữa.

Mới đầu, hắn còn tưởng rằng Linh Vương đã tiêu huỷ hoàn toàn thần mộc để tránh hậu hoạn. Về sau, hắn tìm đủ mọi cách mới có một lần tình cờ biết được bởi vì Linh Vương sinh ra từ thần mộc nên chịu ảnh hưởng hệ luỵ của nhân quả, không thể huỷ diệt thần mộc được.

Bởi vậy, thần mộc vẫn còn tồn tại, nhưng đã bị Linh Vương giấu kín.

Bản thân hắn cho rằng thần mộc vẫn đang ở trong cấm địa, chẳng qua Linh Vương đã che giấu bằng một cách nào đó nên người ta không còn thấy được nữa.

Rồi rất lâu sau đó, nhờ rất nhiều manh mối khác nhau, hắn mới lần đến được gốc đại thụ trong sân vườn Tước Bất Lạc.

Gốc đại thụ kia thoạt nhìn cực kỳ bình thường, điểm đặc biệt duy nhất của nó là sinh trưởng trong Tước Bất Lạc, còn lại không một dấu vết kỳ lạ nào khác, và cũng chẳng một ai liên hệ cái cây này với thần mộc cả.

Nhưng nó là hàng thật.

Không biết năm xưa Linh Vương đã dùng cách nào để thần mộc chìm vào tĩnh lặng suốt ba trăm năm ròng, trổ cành tuốt lá như một tán cổ thụ chót vót rợp trời nhìn cực kỳ tầm thường, đứng giữa mây khói và sương mù bên trong kết giới của Tước Bất Lạc.

Một thuở thần mộc chỉ người sắp chết mới có thể diện kiến, giờ đây bất kỳ ai cất bước vào sân vườn Tước Bất Lạc, ngước mắt lên đã thấy hiển hiện trước mắt.

Dẫu thế, thân cây này đã chẳng còn đọng một chút tiên khí hay thần tính nào, bao quanh nó chỉ có tử khí nặng nề đến độ chim tước cũng chẳng dám đáp chân.

Và điều hắn mong muốn chính là thức tỉnh gốc đại thụ này.

Lận đận ngần ấy năm, tổn hao mọi tâm tư, thử bao nhiêu cách để sắp xếp chu toàn hết thảy, giờ đây chỉ còn bước cuối cùng. Chỉ cần có thể thức tỉnh cây đại thụ này, chỉ cần thần mộc tái xuất nhân gian thì những điều còn lại đều dễ dàng thôi.

Bởi vậy, hắn không đến để giết người, hắn chỉ muốn kích cái cây kia một chút.

Chỉ một chút mà thôi.

Mà trở ngại lớn nhất trong việc kích cái cây đó chính là bản thân Linh Vương, diệu kỳ sao mà hiện tại Ô Hành Tuyết đã mất sạch ký ức, không còn nhớ một chút nào về những chuyện trước đây nữa. Theo lời của Ninh Hoài Sam thì y thậm chí còn không nhớ lai lịch của gốc cây này.

Đúng là ông trời giúp hắn một tay.

Ngay khi ý nghĩ đó nhen nhóm, ánh sáng vàng phủ trọn bốn bề Tước Bất Lạc thình lình chuyển dịch, âm thanh leng keng vang dội dẫn theo cánh cổng đóng kín trước viện đánh <i>cót két</i> mở rộng sang hai bên.

Phong Tiết Lễ nâng cao ngọn đèn trong tay, giương mắt nhìn con đường trước mắt, tiếp đó nhấc chân bước qua ngưỡng cửa cao cao.

Người trong sân đã giải trừ kết giới một cách chóng vánh, không cản trở hắn một tẹo nào. Đến nỗi Tiếu Hồ nối bước hắn vào trong sân mà không khỏi thấp thỏm trong lòng. Gã thầm nhủ “nếu nói bên trong phải đắn đo cả buổi không mở cửa thì có thể hiểu trạng thái không tốt lắm, vậy giờ không thiết lập cơ chế phòng vệ nào mà mở rộng cửa đón khách thì nên giải thích ra làm sao???”

Gã thấp giọng gọi “Thiếu gia”.

Nhưng thiếu gia gã không trả lời một tiếng.

Không phải vì Phong Tiết Lễ không nghe thấy, mà vì khoảnh khắc đó, hắn hoàn toàn chẳng buồn để tâm đ ến.

Ngay khi hắn vừa bước qua cổng Tước Bất Lạc, màn sương mù mịt mùng che kín khoảnh sân này quanh năm suốt tháng dần tan, khung cảnh trong sân cũng hiện ra trước mắt. Hắn nhận ra những dải hành lang xếp thành mê hồn trận trong truyền thuyết cũng đã được giải trừ hoàn toàn. Thế là hắn bước thẳng vào trong, vừa vòng qua một tấm bình phong bằng đá, còn chưa kịp bước thêm bước nào thì đã trông thấy khu vực trung tâm khoảnh sân.

Đó là nơi gốc đại thụ rợp trời đang sừng sững dựng thẳng mình.

Còn hai người vốn nên ở trong phòng ngủ đã đứng ngoài sân không biết từ lúc nào. Ô Hành Tuyết ôm ấm sưởi trong tay đứng bên cạnh thân cây, Tiêu Phục Huyên còn tuyệt hơn, thẳng thừng ôm thanh kiếm chữ “Miễn” tựa lưng vào thân cây, nhìn sang hắn bằng ánh mắt không một xúc cảm.

Dưới vòng vây của hai người, gốc cây đại thụ đến chim cũng không đậu đã bị che chắn không một kẽ hở.

Phong Tiết Lễ: “…”

Lời tác giả:

Ngủ ngon ~
 
Ba Trăm Năm Không Gặp Thượng Tiên
Chương 79: Khô héo


Khoảnh khắc, Phong Tiết Lễ ngờ rằng mình bị lừa.

Nếu là bất kỳ một ai khác, hẳn đã chỉ tay vào khung cảnh trong sân đặng chất vấn Ninh Hoài Sam — đây là cái mà ngươi gọi là hoàn toàn quên mất chuyện xưa tích cũ, không còn nhớ gì hết đấy à???

Nhưng Phong Tiết Lễ không làm vậy.

Trong Chiếu Dạ thành này, bất kỳ ai từng đối mặt với Ninh Hoài Sam đều biết rõ tính tình kẻ này thẳng đuồn đuột, kêu Ninh Hoài Sam nói dối không chớp mắt để lừa người khác thì làm khó cho cậu quá.

Nên lập tức, Phong Tiết Lễ hiểu ngay chuyện mất trí nhớ hẳn là sự thật.

Tuy vậy, vấn đề quên mất bao nhiêu và đã nhớ ra bao nhiêu thì còn cần bàn lại.

Song trước mắt, Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên đang che chắn thân cây này, dù chưa rõ là đã nhớ ra cơ sự hay chỉ đang suy luận kèm đoán mò.

Bởi thế, Phong Tiết Lễ sững người thoáng chốc rồi lập tức bình tĩnh trở lại.

Phong thái hắn vẫn nho nhã lịch thiệp, dường như còn đang tuân thủ những nề nếp sót lại từ tiên môn. Hắn gật đầu với Ô Hành Tuyết đứng trong sân xem như một lời chào giản đơn, đoạn nói, “Thật không ngờ rằng đang đông khắc nghiệt mà thành chủ lại đón khách ngoài sân.”

“Cảnh sân tươi đẹp khiến lòng người nô nức, hai hôm nay cả Chiếu Dạ thành bao vây quanh Tước Bất Lạc của ta rộn rã quá đấy thôi.” Ô Hành Tuyết chỉ khoác thường phục đơn giản, toát lên dáng vẻ thanh tú thon cao như hoà vào cảnh sắc. Chàng thoáng lia mắt qua đỉnh cổ thụ cao cao, rồi dời sang đánh giá Phong Tiết Lễ, nói, “Không phải ngươi đến ngắm phong cảnh à?”

Câu nói này quá thẳng thắn, thẳng đến mức khiến người ta câm nín, Tiếu Hồ đứng bên cạnh nghe thấy mà không khỏi bồn chồn bất an.

Vừa vào cửa đã nói chuyện như vậy thì tiếp tới sẽ thế nào đây?

E rằng không phải muốn trực tiếp đánh nhau đấy chứ.

Cánh tay thả bên hông của Tiếu Hồ siết chặt cán loan đao.

Nhưng Ô Hành Tuyết nói dứt câu liền thoáng cười cong mắt như thể chỉ vừa đùa vui một câu chứ chẳng hề có ý động thủ. Điều này khiến Tiếu Hồ sượng trân người.

Gã mấp mé nhìn thiếu gia nhà mình qua khoé mắt nhưng thấy ánh lửa đèn lồ ng trong tay Phong Tiết Lễ chẳng mảy may lay động mà vẫn phẳng lặng yên ắng.

Phong Tiết Lễ cất lời như chỉ đang hàn huyên trong một buổi nhàn đàm, nói với Ô Hành Tuyết, “Thật vậy.”

Tiếu Hồ: “…”

Gã quay sang nhìn, thấy Phong Tiết Lễ không chút do dự nói tiếp, “Một căn phủ không có chủ nhân mà có khả năng tự phong ấn bản thân hơn hai mươi năm, hơn thế phong ấn này cực kỳ kiên cố không cách nào phá dỡ, thì có là ai cũng sẽ nổi lòng tò mò muốn khám phá thử xem ấy thôi. Có khiến người ta muốn đến ngắm cảnh cũng không phải chuyện lạ.”

Phong Tiết Lễ nói với giọng điệu bình bình thản nhiên, tưởng chừng hắn cũng giống như tất cả đám ma đầu lớn nhỏ bên trong Chiếu Dạ thành, chẳng biết gì về bí mật hay thần mộc nào cả mà chỉ nổi hứng tò mò, thừa cơ hội thành chủ không có mặt bèn toan tính chiếm đoạt cả toà dinh thự.

Trong Chiếu Dạ thành thì đây là việc hoàn toàn bình thường.

Giọng nói hắn mang đến cảm giác yên ả một cách tự nhiên, cho dù lời phi lý mà qua miệng hắn cũng mang sức thuyết phục cao.

Tiếu Hồ nghe đến đây cũng cảm thấy “Chúng ta đến là hợp lý”.

Phong Tiết Lễ nói tiếp, “Đến lúc chủ nhà không có mặt thì gọi là xâm phạm. Còn đến lúc chủ nhà có mặt phải gọi là thăm hỏi. Ta đến đây để thăm hỏi thành chủ, còn ngắm cảnh chỉ xem như tiện đà.”

Ô Hành Tuyết gật gù, đáp lời với đôi mắt vẫn giữ nét cong cong, “Người ta thăm hỏi khi có quen biết từ trước, mà dường như ta… chưa từng gặp ngươi bao giờ? Tuy vậy xem ra ngươi nhận biết nhanh lắm đấy, mới vào cửa đã quay sang gọi ta là ‘thành chủ’.”

Tiếu Hồ lại cảm thấy căng thẳng. Gã biết ắt hẳn thiếu gia nhà mình đã gài “tai mắt” vào Tước Bất Lạc, nhưng giờ Ô Hành Tuyết nói thế có vẻ như một là đã bị phát hiện, hai là đang bắt lấy điểm này để thăm dò.

Gã đưa mắt sang nhìn thiếu gia mình, thấy ánh mắt Phong Tiết Lễ đang dõi xa qua hành lang dài trải bóng cây và ngừng trên thân hai người đang đứng trong sân, bầu không khí lặng yên một thoáng.

Trong thoáng chốc đó, Tiếu Hồ thoạt dấy lên cảm giác cảnh còn người mất. Tưởng như ba người tách lìa hai nơi trong khoảnh sân này đã từng một thời gặp gỡ, quen biết, và biết đâu chừng còn từng giao thiệp. Mà giờ đây họ đã trở thành những người xa lạ và nói những lời như “bình sinh chưa từng gặp mặt”.

Dẫu thế, ảo giác này thoắt cái đã tan biến.

Bởi vì Phong Tiết Lễ đáp lời bằng một câu kín kẽ vô vàn, “E rằng bất kỳ ai trong ngoài Chiếu Dạ thành đều từng nghe nói rằng thành chủ không mang kiếm bên mình. Tuy ta chưa từng diện kiến nhưng vẫn có thể dễ dàng nhận ra.”

Vừa nói, hắn vừa quét mắt nhìn sang Tiêu Phục Huyên đang ôm kiếm.

Trên lý thuyết, việc Phong Tiết Lễ nhận dạng Ô Hành Tuyết bằng yếu tố “có đeo kiếm hay không” là hoàn toàn chính đáng, nhưng hắn khó lòng có thể nhận ra Tiêu Phục Huyên ngay lập tức. Dù sao, hắn cũng chỉ là đứa con út suốt ngày ở lì trong nhà của nhà họ Phong, cùng lắm là từng đọc trên tiên phổ, mà những bức tranh vẽ trên tiên phổ lại khác xa người thật nên hiển nhiên hắn khó thể nhận ra.

Thế nên, Phong Tiết Lễ có chút chần chờ mới nói, “Không biết vị này là…”

Trông hắn như chỉ tiện đà hỏi thăm một câu nhằm hợp lý hoá vai trò “Phong Tiết Lễ” của mình hơn chút.

Từ xa xưa, mối quan hệ giữa tiên và ma luôn đối nghịch, sẽ chẳng một vị tiên nào chịu thừa nhận rằng mình đang dây dưa với Chiếu Dạ thành. Hắn đã đoán chắc rằng Tiêu Phục Huyên sẽ bịa ra một cái tên giả, rồi từ đó chấm dứt cuộc đàm thoại này.

Ngờ đâu, người ôm kiếm giương mí mắt, cất giọng lạnh lùng nhả ra ba chữ, “Tiêu Phục Huyên.”

Phong Tiết Lễ: “…”

Tiếu Hồ: “…”

Tuyệt vời, cũng là một kiểu chấm dứt đấy.

Nét cười mấy chục năm chẳng phai nhạt trên gương mặt Tiếu Hồ suýt chút thì đông cứng.

“Thiên Túc thượng tiên Tiêu Phục Huyên?” Gã không cách nào nén giọng, phải thốt nhỏ, “Ngươi, hắn đã chết… đã qua đời rồi cơ mà.”

Thiên Túc nhìn sang, trầm giọng cất lời, “Người nghe đồn đã chết rất nhiều, trong đó có bao nhiêu là thật.”

Tiếu Hồ: “?”

Câu này có ý gì?

Gã vừa muốn nói gì đó thì chợt thấy lồ ng đèn trong tay thiếu gia nhà gã khẽ lung lay.

Gã quay sang nhìn, thấy Phong Tiết Lễ cụp mi trông về ánh lửa, ánh mắt giấu sau bóng đổ nên không thấy rõ cảm xúc.

Tim Tiếu Hồ chợt thót lên vô cớ, gã có cảm giác câu nói của Thiên Túc đã động chạm gì đó đến thiếu gia nhà gã. Từ sau câu nói ấy, mí mắt gã giật liên hồi, rõ ràng không phải báo hiệu một điềm lành.

Thật tình mà nói thì trước khi đến Tước Bất Lạc, dù gã thấy chuyến này thiếu gia đến Tước Bất Lạc hơi đột ngột, nhưng tin rằng thiếu gia đã tính toán kỹ càng hết thảy — rằng người thật sự đáng lo ngại bên trong Tước Bất Lạc chỉ duy có Ô Hành Tuyết, gã đã từng giao đấu với Ninh Hoài Sam hay Phương Trữ nên biết thực lực đến trình độ nào. Hơn nữa, nếu tính cả “tai mắt” mà thiếu gia đã gài vào Tước Bất Lạc thì có khi bọn họ còn có cơ hội nẫng tay trên.

Song bây giờ lại có thêm một Tiêu Phục Huyên…

Vậy phải xuống tay kiểu gì???

May mà Tiếu Hồ là kẻ trước giờ luôn nghe lời và chú ý thể diện, bằng không gã đã nắm lấy tay Phong Tiết Lễ phắn một đường ra khỏi cửa luôn rồi.

Nhưng tình huống như hiện tại không cho phép lui binh…

Vì qua khoé mắt, Tiếu Hồ thoáng thấy thiếu gia nhà gã cựa mình, dường như hắn đang rủ mắt và thở dài thật khẽ trong phút yên tĩnh. Đến khi hắn giương mắt lên bèn bước tới trước, cầm đèn trên tay và tiến vào sân.

“Thiếu gia?” Tiếu Hồ nhỏ giọng gọi hắn.

Phong Tiết Lễ thả lại một câu xem như trả lời gã, “Cậu có thể quay về phủ trước.”

Nghe vậy, Tiếu Hồ cảm thấy thật sự hoảng sợ. Nhưng tất nhiên gã sẽ không quay về phủ mà vẫn nối bước theo sau người kia.

Gã muốn hỏi Phong Tiết Lễ rốt cuộc tính làm gì, nhưng rất khó để hỏi trong tình cảnh hiện tại, vì vậy gã chỉ còn cách siết chặt thanh loan đao trong tay nhằm có thể nhanh chóng xuất đao vào thời điểm cần thiết.

Tà ma không bao giờ tuân thủ các quy tắc thường tình, nói không chừng nếu kẻ đến đây là bất kỳ một ai khác thì hẳn đã xem như hành lang không tồn tại. Kẻ đó sẽ nhảy thẳng qua lan can gỗ sơn đỏ và phóng ra ngoài sân.

Nhưng Phong Tiết Lễ không như thế.

Nhìn qua có thể thấy hắn cất bước thong dong giống như quả thật chỉ đến thăm hỏi một người bạn cũ, tay hắn cầm đèn bước lên từng bậc thang, rồi rẽ qua hai khúc cua dọc theo hành lang dài dẵng.

Khi tiến vào trong sân, Phong Tiết Lễ lên tiếng, “Trong lòng ta có chút thắc mắc, không biết có nên hỏi hay không?”

Ô Hành Tuyết nhướn mày, nhìn sang hắn.

Phong Tiết Lễ nói, “Bất kỳ ai trong Chiếu Dạ thành cũng tò mò khôn nguôi với căn phủ trạch này, ai ai đều muốn biết nơi này có điều bí ẩn gì nên đã không ngừng vây quanh lui tới, mà mấy chục năm qua không ai giải được phong ấn. Giờ đây…”

Hắn lia mắt từ Ô Hành Tuyết sang Tiêu Phục Huyên, hững hờ tiếp tục, “Thành chủ và Thiên Túc thượng tiên đứng trong sân như thế chẳng nhẽ không sợ ta phát hiện ra món đồ được giữ kín kẽ nhất trong căn phủ này hay sao?”

Ô Hành Tuyết nghe thế thì bật cười.

Đoạn, chàng mới điềm nhiên đáp, “Không phải ngươi đến đây vì thứ này à.”

Im lặng thoáng chốc, chàng tiếp tục, “Ta không nói sai chứ, Tiên thủ Minh Vô?”

Khi bốn chữ “Tiên thủ Minh Vô” vang lên, cả Tước Bất Lạc rộng thoáng im lặng như tờ, đến độ có thể nghe được kim rơi.

Tiếu Hồ quay phắt đầu sang mạnh đến mức áng chừng có thể gãy cổ ngay tại chỗ. Gã trợn to đôi mắt nhìn cái người mình hầu cận gần trăm năm, sấm sét nã inh ỏi trong đầu chẳng biết nhiều ít. Đến khi gã bình tĩnh hoàn hồn trở lại, chợt nghe giọng bản thân thảng thốt hỏi, “Ai cơ???”

Không chỉ mình gã.

Trên gian lầu các bên góc Tước Bất Lạc, sau khi phát hiện sự bất thường của Phương Trữ, Ninh Hoài Sam sợ cái tên “Phương Trữ” này có ý đồ giở trò gì đó với Ô Hành Tuyết và Tiêu Phục Huyên, nên định nghĩ cách làm sao có thể chế ngự được “Phương Trữ” giả mà không để đối phương phát giác.

Thế mà cậu vừa tính ra tay đã nghe âm thanh gõ vang trên kết giới bao quanh Tước Bất Lạc, mà kẻ tới lại không ai khác hơn thằng chó chết Phong Tiết Lễ!

Phong Tiết Lễ đã tới Tước Bất Lạc rồi, làm sao cậu có thể ngồi yên mà ngó?!

Ninh Hoài Sam không rảnh đi đóng cửa tự hối cải gì nữa mà lập tức giải trừ cấm chế rồi chạy ra ngoài sân, ngờ đâu khi đến thì vừa khéo nghe đến cụm “Tiên thủ Minh Vô”, thế là chân trái bước hụt ngáng chân phải, cả người chao đảo chúc người ra phía trước.

Khổ cái cậu té gấp quá, không khéo sao lại rơi đúng ngay về phía người Phong Tiết Lễ.

Ninh Hoài Sam nhắm tiệt mắt động não ngay lập tức, tự nói với mình thôi thay vì để bị té nhục mặt, chẳng thà giả bộ đánh lén đi!

Khí đen nhanh chóng tụ lại quanh các ngón tay cậu, chuẩn bị tung sát chiêu trả lễ Phong Tiết Lễ năm xưa. Thế mà cậu vẫn chậm một bước —

Trước khi cậu kịp xuất chiêu, trước mắt đã loé qua một tầng trắng xoá.

Đó ắt hẳn là bàn tay Phong Tiết Lễ đang duỗi ra, hướng về phía đầu cậu.

Khoảnh khắc đó bỗng như bị kéo dài vô cùng tận, Ninh Hoài Sam có thể cảm nhận một cách rõ ràng bàn tay người kia đã sờ đến trán. Cậu gồng cứng cơ thể như phản ứng bản năng, vận sức chuẩn bị đón nhận một cú công kích vào đầu.

Mà chẳng thể ngờ rằng, cái tay nọ chỉ đặt trên trán cậu rồi đẩy nhẹ ra trước mà thôi.

Ninh Hoài Sam ngẩn ngơ toàn tập.

Bằng là mấy trăm năm về trước, khi những người hầu trong Vấn Thiên Liêu ở Vương Đô còn sống mà gặp tình cảnh này thì chắc hẳn sẽ cảm thấy quen mắt lắm. Năm ấy, Vân Hãi gặp Minh Vô Hoa Tín lần đầu cũng trong hoàn cảnh tương tự — đó là khi hắn đuổi theo một chú chồn thông và rẽ vội qua khúc cua hành lang, suýt nữa đã đâm sầm vào vị khách vãng lai, Hoa Tín đưa tay đỡ trán hắn, giúp hắn không bị ngã sấp trên mặt đất.

Cũng cạnh những cột gỗ đỏ son, cũng qua góc hành lang gấp khúc, và cũng là những bậc thang đá nối liền xuống sân.

Chớp mắt đã qua mấy trăm năm, cố nhân đã khuất, còn diện mạo người hoàn toàn đổi thay.

Ngay thời điểm đỡ lấy Ninh Hoài Sam, Phong Tiết Lễ cũng thoáng dừng giây lát.

Chẳng rõ có phải vì khung cảnh hiện tại gợi lại cho hắn đôi chuyện xưa cũ, hay đó chỉ là phản ứng bất ngờ với bản thân mà thôi.

Phong Tiết Lễ cụp mắt, nói, “Nghe đồn Tiên Đô đã sụp đổ, chúng tiên vắng bóng, thế gian này làm gì còn Tiên thủ Minh Vô, không phải hắn… đã chết rồi ư.”

Nói đoạn, hắn lật cổ tay.

Ninh Hoài Sam cảm nhận được sức mạnh từ bàn tay đặt giữa trán, đồng tử cậu thít chặt.

Thoắt cái, một cơn gió giật mãnh liệt cuộn lấy cậu từ phía sau, kéo cậu ra khỏi Phong Tiết Lễ.

Đến khi cậu hoàn hồn, liền thấy mình đang đứng bên cạnh thành chủ nhà mình và Thiên Túc thượng tiên.

“Ngươi cũng khá lắm, đã bắt đóng cửa tự hối cải trong phòng rồi mà nhất quyết phải đi ra ngoài cho được à. Ta có cho phép ngươi ra không?” Ô Hành Tuyết còn chẳng liếc mắt đến cậu, chỉ cất giọng nhẹ bẫng.

Ninh Hoài Sam không hiểu chuyện chi. “Thưa thành chủ tại sao lại thế này?!! Tại sao Phong Tiết Lễ lại thành Tiên thủ Minh Vô?!”

Chuyện mà cậu mịt mờ nhất chính là, cho dù đối phương thật sự chính là Minh Vô Hoa Tín đi nữa thì vì lẽ gì phải vạch trần vào thời điểm này? Thậm chí lúc cậu phát hiện “Phương Trữ” bất thường cũng hiểu không nên đánh động ngay lúc đó, mà tốt hơn là nên chờ một cơ hội thích hợp để giết gọn đối phương, không để hắn có cơ hội trở tay.

Làm gì có chuyện thành chủ nhà cậu và Thiên Túc lại không nghĩ tới điều cơ bản như vậy.

***

Ô Hành Tuyết tất nhiên đã tính đến chuyện đó rồi, nhưng chàng không chọn hành động như vậy. Trái lại, từng câu từng lời của chàng và Tiêu Phục Huyên đều nhằm kích động Phong Tiết Lễ.

Chàng muốn khích cho Phong Tiết Lễ ra tay.

Nếu đối phương là Hoa Tín, vậy ắt hẳn đã dành rất nhiều năm để truy cứu nhiều việc, và cũng sắp đặt kế hoạch đâu ra đó. Xong xuôi mới mượn cơ thể Phong Tiết Lễ để ngủ đông bên trong Chiếu Dạ thành, nhằm mục đích chờ đợi tấn công thân cây trong Tước Bất Lạc này.

Muốn tấn công vào Tước Bất Lạc không phải chuyện đơn giản, thể theo lẽ thông thường, hắn ắt sẽ bài trí việc này ở điểm chót cùng trong kế hoạch.

Nên Ô Hành Tuyết muốn kích động đối phương.

Khi huỵch toẹt danh hào “Tiên thủ Minh Vô”, họ đang muốn cảnh cáo “Phong Tiết Lễ” rằng: Giờ hắn có muốn che giấu cũng chẳng còn ý nghĩa gì nữa, một khi đã xác nhận danh tính Tiên thủ Minh Vô thì toàn bộ Tước Bất Lạc sẽ được đặt trong phòng ngự nghiêm ngặt, không để cho hắn có cơ hội tấn công lần thứ hai.

Nếu hắn đã muốn động thủ thì hiện tại chính là cơ hội tốt nhất.

Nên vào ngày hôm nay, Hoa Tín dù muốn dù không cũng bị bắt buộc phải ra tay.

Và chỉ cần Hoa Tín ra tay, chắc chắn sẽ để lộ ra một ít manh mối. Từ đó, chàng có thể lợi dụng những manh mối này để tìm những điều mà chàng chưa biết, một là chưa nghĩ ra hoặc hai là đã bị che giấu.

Phương pháp này có hơi nguy hiểm, nhưng với người đã từ Linh Vương biến thành ma đầu Chiếu Dạ thành thì trong quá khứ có lẽ cũng từng làm không ít những chuyện hiểm nguy.

***

Lấy đà từ động tác kéo Ninh Hoài Sam đến bên cạnh mình, Ô Hành Tuyết nghiêng người, vừa khéo để lộ một khoảng không phía sau lưng.

Chỉ một chớp mắt thôi, nhưng một chớp mắt ấy đã đủ để người dụng tâm nắm bắt.

Ninh Hoài Sam hô thất thanh, “Đúng rồi thành chủ ơi! Phương Trữ nó —”

Cậu còn chưa dứt lời, “Phương Trữ” đã rút kiếm xông tới, hướng thẳng vào khoảng trống phía sau lưng Ô Hành Tuyết.

Đây không phải là Phương Trữ thật nên sức lực và tốc độ ra kiếm cũng vượt xa Phương Trữ. Một chiêu kia tung ra nhanh như cắt, nếu không đề phòng từ trước thì bất kỳ ai cũng không cách nào đối phó kịp thời.

Mà ngay chớp nhoáng đó, Ô Hành Tuyết vẫn đưa lưng về phía lưỡi kiếm, song nháy mắt với Tiêu Phục Huyên một cái.

Chàng nghiêng khẽ đầu, thốt bằng khẩu hình, “Thiên Túc đại nhân ơi, cứu ta.”

Viền môi mỏng chỉ vừa mấp máy, Tiêu Phục Huyên đã phóng đi như chớp.

Hơi thở lạnh buốt chỉ thuộc về riêng mình Thiên Túc đổ ập đến, lướt qua người chàng và ngừng bước sau lưng.

Một tiếng <i>Kenggg</i> vang dội, chấn kinh trời đất.

Đó là âm thanh hai lưỡi kiếm chém thẳng vào nhau. Âm thanh đó rền chín tầng mây, quét ngang Tước Bất Lạc như một cơn bão lốc hung mãnh. Đến tầng tuyết đọng trên thân đại thụ cao ngất cũng bị thốc khỏi cành cây, loáng cái đã tung bay mịt trời.

Ngay tiếp đó, lớp tuyết kia đổ ngược xuống rầm rập, che kín toàn bộ Tước Bất Lạc.

Vào khoảnh khắc Tiêu Phục Huyên đến chắn chiêu giúp Ô Hành Tuyết, gốc đại thụ lập tức vắng người trông coi, “Phong Tiết Lễ” cầm đèn phóng tới trong chớp nhoáng—

Hắn duỗi tay vào tuyết bụi mịt mù, giống hệt như sương giăng miệt núi đương hoà trong gió bão. Lòng bàn tay nhấn mạnh xuống đất đá dưới gốc đại thụ.

Tay còn lại đang cầm đèn của hắn đột nhiên rung lên, ngọn lửa bên trong bất ngờ bừng cháy, lan rộng ra mấy chục trượng, bao bọc thành một bức tường hơi nóng xung quanh hắn và cản tất cả mọi người ở bên ngoài.

Lưỡi lửa phất cao, nhuộm hơn nửa vòm trời trong sắc đỏ chói loà.

Hắn chờ đợi hai lăm năm trong Chiếu Dạ thành, cẩn trọng thiết lập một trận pháp bao quanh toàn bộ Tước Bất Lạc. Hắn không rõ Ô Hành Tuyết đã làm gì với thần mộc để khiến thần mộc mất hoàn toàn tiên khí và thần tính.

Song, hắn cũng chẳng cần phải tìm hiểu cặn kẽ làm gì, nếu đánh mất tiên khí và thần tính thì hắn chỉ cần cho nó có lại lần nữa là được.

Về bản chất, để một thân cây có tiên khí cũng tương tự như để một người có tiên khí.

Tức là cùng một quy tắc với “triệu hoán”.

Dù hắn không phải Thiên đạo nên không thể thực hiện “triệu hoán” chính danh, nhưng hắn có thể làm “tương tự”. Vả chăng, thần mộc vẫn là thân cây ấy, thần tính hãy còn khắc trong cốt xương, nên cũng không cần thực hiện “triệu hoán” chính danh mà chỉ cần “tương tự” là đủ.

Chỉ cần một ngày, hoặc thậm chí chỉ cần một khoảnh khắc, chỉ cần thần mộc tồn tại trong một khoảnh khắc là hắn có thể mượn sức thần mộc để hoàn thành tâm nguyện.

Tất cả những yếu tố cần thiết cho trận “triệu hoán” đã được chuẩn bị xong xuôi quanh đây, tất cả những toà sòng bạc, quán rượu, tiệm bán hoa… xung quanh Tước Bất Lạc đều chôn giấu đá trận từ lâu.

Giờ đây, việc chót cùng hắn cần phải làm là viết chú văn trên mặt đất dưới gốc cây và trộn nó với máu là hoàn thành trọn vẹn.

Hắn đặt ngón tay trên mặt đất, máu nhỏ từng giọt dọc đường cong ngón tay thon dài và thấm vào đất cát. Khi chữ được rạch xuống, trận cục bao bọc quanh Tước Bất Lạc rung lên, báo hiệu bắt đầu khởi động, rồi chầm chậm dịch chuyển…

***

Thật ra, Tiêu Phục Huyên và Ô Hành Tuyết muốn mượn cơ hội này để nắm được những thứ hắn đã cài cắm từ trước chứ sẽ không để yên cho hắn hoàn thành mọi việc.

Vì vậy, ban nãy họ cố tình để lộ sơ hở, sau khi lơi tay liền tức khắc xoay người sang.

Bên dưới ánh sáng vàng rực rỡ, chiêu kiếm mang khí kình xao động đang cuồng bạo quét tới, sớm sẽ chém đôi bức tường lửa nóng chọc trời —

Thế rồi trong chớp nhoáng, biến cố phát sinh.

Trước bọn họ từng thắc mắc, không biết vì sao trong cục diện “hai chọi một” này mà “Phong Tiết Lễ” dám tự tìm đến cửa. Mãi đến tận giờ phút này manh mối mới hé lộ.

Khi “Phong Tiết Lễ” đến Tước Bất Lạc có gõ cửa ba lần, ba tiếng đó đã đánh động gần hết những kẻ bên trong Chiếu Dạ thành, ai ai cũng đều nghe rõ.

Bởi vậy, những kẻ trong thành đã bắt đầu âm thầm dịch chuyển.

Tất nhiên bọn tà ma lớn bé khác không trực tiếp can dự chiến trận giữa thành chủ mới và thành chủ cũ, chúng chỉ thiếu né ra xa mấy thước. Thế nhưng chúng nó cũng không thật sự rời khỏi mà vẫn liên tục hóng hớt từng diễn biến bên trong Tước Bất Lạc.

Bởi chúng biết rõ rằng vô luận Phong Tiết Lễ hay Ô Hành Tuyết mạnh hơn, thì cả hai đều sẽ chịu tổn thất sau một hồi giao chiến.

Việc ai mạnh hơn ai có quan trọng à?

Không quan trọng.

Thứ chúng nó trông chờ nhất là tình huống lưỡng bại câu thương. Nếu chuyện đó xảy ra, chúng có thể đứng giữa làm ngư ông đắc lợi.

Chỉ cần một tà ma có năng lực hơi cao một tí mất mạng là những phần linh hồn, da thịt, xương cốt béo bở nhất sẽ bị những kẻ khác xâu xé không còn một mẩu, bởi đó chính là thành phần cực kỳ bổ dưỡng, dùng để hỗ trợ tu hành thì đơn giản hơn phải vất vả đêm ngày rất nhiều.

Làm gì có ai không thèm thuồng?

Huống hồ, hai phe giao chiến hiện giờ là thành chủ cũ và mới, cũng tức là có đên hai ma đầu, chỉ cần được hưởng một chút đã là phúc phần trời ban rồi.

Với chúng, dù gió ngả chiều nào cũng được hưởng lợi, sao có thể bỏ lỡ cuộc vui này?

Thế nên bên trong các sòng bạc và quán rượu, dù người ngồi chưa kín một nửa mà cái thứ tà ma khí nồng nặc u ám của những đêm giá rét chẳng mấy chốc đã tụ đầy trong thành. Thậm chí, đến những kẻ đang gieo hoạ ngoài nhân gian cũng nhận được tin mà nhanh chóng quay trở về Chiếu Dạ thành.

Khung cảnh này khác hẳn bầu không khí đơn thuần hóng hớt trò vui lúc trước, cả đám tà ma từ lớn đến nhỏ đều đang ngầm mưu đồ cho bản thân, hòng trở thành “chim sẻ” đứng rình sau bọ ngựa bắt ve sầu.

Bởi thế, toàn bộ Chiếu Dạ thành đã rơi vào tình trạng căng thẳng cùng cực.

Có lẽ bọn chúng còn chưa nhận ra, nhưng trong vô thức, chúng đã dịch chuyển theo những thiết lập được định sẵn và trở thành trợ thủ thầm lặng cho Phong Tiết Lễ.

Bất kỳ một tên nào trong đám tà ma lớn bé này bước ra một mình thì cũng chỉ vào hàng ăn hại nếu phải đối đầu với Ô Hành Tuyết hoặc Tiêu Phục Huyên, một số tên có lẽ sẽ nhiễu sự hơn chút, một số chỉ hiện diện cho đủ mặt.

Song, trong lúc những bố trí thiết lập được chất chồng chất lớp mỗi lúc một nhiều xung quanh Tước Bất Lạc, thì tà ma khí đến hàng ngàn hàng vạn tề tụ về một chỗ như mây đen đã dẫn đến một vấn đề khác —

Xưa giờ tiên ma tương khắc, tà ma khí phát ra từ hằng hà người tề tụ sẽ tác động đến tiên khí của Thiên Túc.

Tác động này lặng im và vô hình, chỉ bản thân Thiên Túc mới cảm thụ được mạnh mẽ nhất.

Nên khi Tiêu Phục Huyên chém một nhát kiếm xuống bức tường lửa nóng kia, kiếm khí y đã ngưng trệ trong tích tắc.

Y nheo chặt hàng mày, nét mặt bất chợt lạnh căm.

Và cũng trong tích tắc đó, “Phong Tiết Lễ” dường như đã vội vã chốt nét chú văn sau cùng trên nền đất.

Đại trận “triệu hoán” gốc đại thụ rợp trời hình thành, sắc vàng loé lên rồi tràn ra từ bàn tay “Phong Tiết Lễ” tựa như dòng nước, chảy dọc theo rễ cây và gờ đất để men dần lên trên.

Sắc vàng chảy trên thân cây như đang vẽ thành chữ, song khi các nét vẽ vừa nối liền với nhau thì bất chợt tách ra.

Cứ như thể vì một lý do nào đấy mà “triệu hoán” hoàn toàn vô hiệu đối với nó.

“Phong Tiết Lễ” khẽ giọng thốt, “Sao lại có thể…”

Không thể như vậy.

Chỉ cần đây là cái cây đó thì trận này chắc chắn hình thành. Vậy tại sao lại không thể hình thành?

Hắn vẽ thêm một đường nữa.

Cây đại thụ rung rinh tán lá, nét chữ vẫn không kết nối với nhau mà phân tán rồi biến mất.

“Triệu hoán” lại không hình thành được.

Phía sau lưng nơi hắn không nhìn thấy, ở bên ngoài bức tường lửa nóng, một bàn tay buông thõng bên người Ô Hành Tuyết chợt cuộn lại.

Chàng cúi xuống nhìn thì thấy trên hai cổ tay mình hiện lên chú văn nhàn nhạt đang chuyển động. Một bên theo chiều thuận, bên còn lại theo chiều nghịch.

Và bàn tay có chú văn chuyển động thuận chiều đang phát sinh phản ứng giống hệt trên thân đại thụ.

Tiêu Phục Huyên phát giác ra điều này.

Dường như y vẫn luôn có thể cảm nhận những điều nhỏ bé ấy…

Y ngoảnh sang, ngay khi nhìn thấy chú văn trên hai tay Ô Hành Tuyết, ánh mắt y tối sầm xuống và đôi môi trở nên trắng bợt.

“Đây là…” Tiêu Phục Huyên thấp giọng nghẹn ngào, “Tách linh?”

Hai chữ “tách linh” vừa rơi vào tai, tâm trí Ô Hành Tuyết phút chốc rơi vào thinh lặng.

Như thể hết thảy mọi thứ quanh chàng đều không tồn tại, đưa chàng trở về khoảnh khắc tự tay khắc chú văn lên thân thể mình.

“Phong Tiết Lễ” chẳng cách nào có thể ngờ được đến cùng thì Ô Hành Tuyết đã làm gì để thần mộc đánh mất hoàn toàn thần tính và tiên khí, rồi giấu mình suốt ba trăm năm.

Hắn đã từng đoán không biết đây có phải một phương pháp phong ấn khác không? Hay rằng đã đặt thêm một tầng bảo vệ cho thần mộc?

Cả hai hướng đều sai.

Đáp án là tách linh.

Ô Hành Tuyết đã tách linh thần mộc, tách sống từ một thành hai.

Thần mộc trong truyền thuyết luôn mang dáng vẻ nửa phồn vinh nửa héo tàn, nửa chết nửa sống. Khi chàng chia linh thành hai phần, một nửa phồn vinh sinh trưởng um tùm xanh tốt, tán lá rợp trời mà chim chẳng đậu, còn nửa héo tàn…

Đâm xuyên qua ba mươi ba tầng hang trời ở Thương Lang Bắc Vực.

Đó chính là thân cây xám trắng khô héo mà chàng đứng trên khi tỉnh lại lúc đầu.

Ngày mở mắt tỉnh dậy, Ô Hành Tuyết tựa mình trên cành cao như hôm hoá người từ thần mộc năm nào. Ấy nhưng chẳng còn hoa rơi quanh năm che phủ đỉnh đầu, chẳng còn khu chợ rộn ràng náo nhiệt dưới chân. Đón chào chỉ có đầm hồ lạnh giá miên man khắp Thương Lang Bắc Vực.

❄︎

Lời tác giả:

Đợi lâu, ngủ ngon QAQ~
 
Back
Top Bottom