Xuyên Không Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt

Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 160: Đánh trận mặc dù đọc rất vui, nhưng cuộc sống không chỉ có chiến tranh.



Trong căn phòng trống trải và lạnh lẽo Diêu thiếu vẫn đang đị lại, trời đã quá nửa đêm, không gian càng thêm vắng lặng. Trong tay hắn là bức thư đã bị túm cho nhăn nhó, những hàng chữ nắn nót vẫn còn vương những vết nhòe của dòng lệ. Là hối hận, là ăn năn, hay là không can tâm? “ Cô ta muốn làm cái gì? Cô ta định làm gì?Tại sao? Tại sai phải làm vậy” . Đây là câu hỏi mà diêu thiếu lẩm bẩm không biết bao nhiêu lần trong ngày hôm nay.

Diêu thiếu vẫn không cảm thấy một nét giả tạo nào trong tình cảm của Tú Ninh khi hai người ở bên nhau. Nếu là diễn kịch mà diễn đạt đến vật thì Diêu thiếu cũng đành nhận mệnh. Nhưng mà con người không phải là máy, ở cùng nhau bao ngày như vậy không có tình cảm nảy sinh là giả. Huống hồ giờ đây nàng còn mang theo cốt nhục của Diêu thiếu mà xông vào biển lửa. Có chuyện gì mà không thể nói với nhau? Muốn đánh nhau cùng Thái Bình Thiên quốc? muốn đánh Đại Thanh, cứ đẻ con xong thì đi đâu cũng tùy. Hắn hận nhất là người đâm sau lưng mình, mà còn hận nhất là mang theo cốt nhục của mình vào nơi nước sôi lửa bỏng. Bao nhiêu tình cảm bỗng nhiên thành chán ghét, thành khó có thể tha thứ. Nhưng Diêu thiếu vẫn cho Tú Ninh một cơ hội. Bức thư hắn gửi đi chỉ có ba chữ “Về nhà thôi”.

Nếu “về” thì Vạn Ninh vẫn là “nhà” và Diêu thiếu sẽ bỏ qua mọi việc, nhưng nếu sau khi đọc xong bức thư này mà vẫn không về nhà thì đó chính là người dưng. Ý tứ là quá rõ ràng , không cần phải nói nhiều.

Lúc này tại Huế thành, bên bờ kia của Sông Hương, một căn biệt viện khá cũ kĩ đã được sửa sang lại chút đỉnh, lão già đang cố gắng bình tĩnh mà ngồi đó tiếp tục câu con cá trong tưởng tượng của hắn. Căn biệt viện này là hắn mới mua về, nó nằm bên kia bờ Sông Hương, cách xa một chút cái nơi đang khói, bụi mù mịt kia. Căn biệt viện này đã từng là của một thương nhân người Hoa, nhưng kẻ này đã không còn hứng thú kinh doanh tại Đại Nam, vậy nên tên này bán lại qua tay một số người đến lúc này đã rơi vào tay lão giả câu cá.


Nếu so sánh thì căn biệt viện này chỉ bằng một góc của căn biệt viện cũ mà thôi, nó không đủ thanh nhã, cũng chẳng đủ u tĩnh, thiếu đi vài phần tinh tế nhiều ra vài phần phô trương. Lão giả ngồi đó mà tay cầm cần câu run khe khẽ, lòng của lão không tĩnh được. Tĩnh làm sao nổi khi kế hoạch hết lần này đến lần khác thất bại. Tĩnh là sao nổi khi từ bên kia sông tiếng xây dựng, tiếng nhà máy chạy ầm ầm vọng qua.

- Thái Nguyên bất loạn?

Lão giả hỏi một câu không đầu không đuôi, ngồi phía đối diện là người thanh niên mặt ngọc với bộ dáng thư sinh vẫn tron vẻ thong dong đáp lời.

- Thưa thày, bất loạn… ả đàn bà kia không ngờ… nảy sinh tình cảm với tên họ Trần thật sự. Trước khi đi không có gây loạn, trái lại ả còn hạ được tên Tạ Văn Phụng kia mà lập công cho họ Trần. Đàn bà… đúng là không thể thành việc được.

- Ả đi đâu?

Lông mày lão giả hơi nhướng lên mà hỏi, quả thật gần đây thất bại liên tục làm người bình tĩnh như lão cũng có phần chịu không nổi.

- Thưa thày, ả chạy qua Quảng Tây giờ thì hướng đi vẫn chưa rõ…

- Tức là ả vẫn chưa có tin chúng ta mà muốn tìm sự thật…. lúc này đúng là quân cờ đã dùng gần cạn. Lũ quan viên giờ như bị rắn cắn một lần sợ dây cả đời mà chui rúc vào ổ….


Lão có tâm tư muốn văng bậy nhưng lại nén kịp thời.

- Bằng chứng chúng ta còn cầm trong tay… ép bọn chúng ra mặt. thêm nữa liên hệ họ Bùi đi.

- Dạ.

Người thanh niên như thường lệ nhẹ nhàng thối lui ra ngoài. Hắn cũng mau chóng muốn rời xa chỗ này đấy, quá ồn ào. Không hiểu sao sư phụ hắn vẫn muốn bám chặt lấy nơi đây cơ chứ.

Trường Ninh cung Tử Cấm thành, Huế kinh. Tự Đức đang cầm bản báo cáo từ hệ thống Long ám vệ mới thành lập, ông ta hơi nhíu mày rồi lại giãn ra.

- Tân Trị, lấy đó làm bài học, có đam mê tửu sắc thì cũng tránh nữ tử ngoại bang ra… ôi.. những 6 ngàn cây súng. Trẫm đã nói rồi… không phải tộc ta ắt có dị tâm. Lần này Diêu tiểu tử đúng là ăn quả đắng.
Tự Đức có hơi tỏ vẻ tiếc hận mà dạy dỗ Tân Trị , nhưng không ai thấy ánh mắt của ông đang lóe nên sự vui mừng. Diêu thiếu quá hoàn hảo khiến ông lo lắng, mặc dù nói lòng trung thành của cha con họ Trần ông tin tưởng. Nhưng thần tử quá hoàn hảo chính là sự lo lắng của quân vương. Nhưng vụ việc lần này chứng tỏ Diêu thiếu không hề hoàn hảo, hắn có điểm yếu. Chính vì điểm này nên Tự Đức vẻ trong đáy mắt.

Nói về 6 ngàn thanh súng bị mất thì Tự Đức chẳng thấy lo lắng lắm, K&R vừa bán cho triều đình thêm 3 xưởng chế tạo súng Kammerlader 1842 của Na Uy. Lúc này Tự Đức có tiền trong tay nên sẵn sàng mua về ngay. Cộng thêm lò luyện thép mới thì sản lượng súng rất khả quan, tính đi tính lại thì mỗi tháng cũng có đến 300 thanh súng mới được bổ xung vào quân đội. Mà 300 thanh súng này là súng Kammerlader đã được cải tiến gọi là Đại Nam súng số 01. Những thanh súng cải tiến có thể bắn xa đến 400m không hề thua kém súng của người Pháp chút nào về tầm xa, còn về tốc độ bắn thì lại vượt trội.

Tất nhiêu triều đình Huế rất trung thành với mẫu súng này, bởi họ đã có so sánh giữa Minire Rifle của Pháp Và Đại Nam súng 01. Kết quả các tính năng của súng madein Đại Nam đều vượt trội. Tự Đức cảm thấy thế cục như nằm hết trong lòng bàn tay của mình rồi. Súng có, tiền có, pháo lớn có, hạm đội mạnh có, công nghiệp tiến bộ cũng có. Tự Đức có chút hơi thỏa mãn với bản thân rồi.


Mặc cho Diêu thiếu có chút đau buồn, có nhiều tức giận, có quá nhiều thất lạc thì thời gian vẫn trôi qua, cuộc sống vẫn tiếp tục. Vạn Ninh vẫn hừng hực khí thế phát triển, Thái Nguyên thì đang chạy nhanh trên con đường tái kiến thiết. Diêu thiếu đành phải vứt qua một bên tình cảm riêng tư mà bắt tay vào chỉ đạo kiến thiết Vạn Ninh và Thái Nguyên. Các nhà máy và khu công nghiệp thì đã được định hình, Diêu thiếu không cần đổ nhiều công sức vào chuyện đó. Nhưng có một việc hắn đặc biệt quan tâm đó là tuyến đường sắt dài 140km nối từ khu công nghiệp Tây Vạn Ninh đi thành Đồng Mỗ tại Thái Nguyên.

Con đường sắt này là cần thiết để nối liền hai tỉnh thành, nó không những có giá trị về kinh tế, chính trị, xã hội mà nó còn có ý nghĩa cực lớn về mặt quân sự. Nếu được xây dựng thành công thì hai nơi này sẽ có thể tương hỗ cho nhau chỉ trong vài tiếng đồng hồ, mà quan trọng hơn nữa kèm với tuyến đường sắt này chính là hệ thống dây đồng nối liền hai nơi để có thể tiến hành điện tín liên lạc. Mỏ thép ở Thái Nguyên đã đi vào khai thác trở lại, và tấy cả 20 lò luyện gang thép Bessemer cũng được đặt ở Đồng Mỗ thành, phải nói là giờ đây sắt thép không quá là vấn đề đối với Vạn Ninh và Thái Nguyên. Triều đình cũng không thấy nhắc gì đến việc thu hồi mỏ thép này về quốc doanh. Chắc là họ nhớ đến cái thỏa thuận cho K&R khai thác trước đây, cũng có thể Tự Đức và tập đoàn Huế quá bận với công việc hiện đại hóa, công nghiệp hóa Huế thành.

Nhưng nếu nói về Vạn Ninh thì không thể không nhắc đến đội ngũ khoa học người Đức đã miệt mài làm việc cũng như chuyên tâm hướng dẫn cách trí thức trẻ Đại Nam làm quen cùng khỏa họ. Trên báo cáo thì Joseph Wilband đã nghiên cứu ra TNT rồi. Nhưng hắn đang còn vướng mắc ở hai điểm đó là thiết kế chế tạo TNT theo lượng công nghiệp. Tức là sản xuất với số lượng lớn thì cần cả một dàn máy móc thiết bị hóa học chuyên biệt để phục vụ riêng cho việc này. Nhưng nếu đã tìm được cách điều chế TNT trong phòng thí nghiệm thì việc thiết kế dây truyền sản xuất chỉ là thời gian. Nhưng nói co TNT cũng vui mà cũng buồn. Vui vì đã từng bước tiếp cận được một loại thuốc nổ mới sức công phá mạnh mà không phải phụ thuộc vào thuốc súng đen nhiều như trước. Nhưng buồn vì không làm cách nào có thể kích hoạt nổ một cách hiệu quả TNT.

Nếu như là kiếp trước thì có thể lên mạng đặt mua một loạt kíp nổ về chơi, nhưng thời này thì không được. Các kíp nổ hiện tại cho thuốc súng đen thì vô dụng với TNT. TNT là một chất khó cháy nổ Đốt khó cháy , nhiệt nóng chảy từ 79-81 độ C, nhiệt độ cháy 300 độ C, nhiệt độ nổ 350 độ C, nếu tăng nhiệt đột ngột lên 300 độ C cũng sẽ gây nổ, tốc độ nổ : 4700-7000 m/s. Diêu thiếu là người hiện đại, lại được đào tạo quân sự nên hắn hiểu rõ TNT nổ khi được kích hoạt bằng một vụ nổ khác, mà ở đây chính là Azua Chì. Điều chế azua chì không khó nhưng cái khó là chất này còn nhạy nổ hơn cả Dynamite. Nếu cho chúng làm kíp nổ thỉ đảm bảo đầu đạn chưa rời nòn pháo đã nổ tung rồi. Diêu thiếu muốn chính là nhóm hóa học người Đức nghiên cứu hạnh chế khả năng nhạy nổ của azua chì. Nếu làm được điều này thì kíp nổ bằng azua chì có đủ năng lượng để kích nổ TNT. Điều này đã được chứng minh bằng các vụ nổ TNT kích nổ bằng azua chì tại Vạn Ninh. Và sức công phá của TNT đều làm kinh ngạc tất cả các chuyên gia của Đức. Tất nhiên Phổ quốc cũng quan tâm rất lớn về loại thuốc nổ này và azua chì nên họ quyết định cử một đội ngũ hóa học quân sự thực sự đến Vạn Ninh cùng nghiên cứu . Tất nhiên bí quyết TNT sẽ phải chia đôi, Diêu thiếu đồn ý với phương án này của Phổ.

Máy kích điện cầm tay nối với dây đồng sau đó dùng điện kích nổ Dynamite đã được nghiên cứu dễ dàng với một loạt công nghệ về điện đã được nhập về.

Thủy lôi dậm chân tại chỗ, ý tưởng về ác quy và động cơ điện bị giới hạn bởi công nghệ hiện nay mà phá sản hoàn toàn. Diêu thiếu đành chuyển qua phương án khí nén đẩy hai xi lanh nhằm quay cánh chân vịt của ngư lôi. Nhưng khí nén nào và làm ra sao thì hắn chịu thẳng, để các vị khoa học gia đau đầu. Chưa có ngư lôi thì quân Đại Nam vẫn là con tép trên đại dương, vẫn phải cúi đầu với Anh và Pháp.
Công trình nghiên cứu Nitroglycerin bám dính trên các vật liệu khác nhằm tang sự an toàn cho Dynamite bị phá sản hoàn toàn, các nhà khoa học không có hướng đột phá nào.

Nhưng nghiên cứu của Diêu thiếu không chỉ dừng ở việc chiến tranh và giêt người, đó chỉ là vũ khí tự vệ mà thôi. Phải có vũ khí, quân đội để bảo vệ quốc gia, vì muốn có tiền nhanh, sớm cho mục tiêu trên mà hắn chấp nhận làm một tên đồ tể đi buôn bán ma túy, heroin. Nhưng mục đích cuối cùng của Diêu thiếu không phải là tiêu diệt cả nhân loại để cho người Việt thành độc bá hành tinh. Hắn không có ham muốn ấy, không có đảm lược ấy, và cũng không có khả năng ấy. Mục tiêu cuối cùng của Diêu thiếu đó là để lại cho người Việt một di sản, một cái bệ phóng để trăm năm sau, dù Diêu thiếu chết đim dù Đại Nam biến thành chế độ nào di chăng nữa đều sẽ là cường quốc. Người Việt đi ra thế giới chỉ cần nói tên dân tộc mình sẽ khiến các quốc gia khác nể phục mà không phải sợ hãi người Việt như những con dã thú ăn thịt người. Vậy nên thành tự trong vũ khí chỉ là một phần nhỏ mà thôi, thành tự trong chiến tranh chỉ là một phần nhỏ mà thôi. Diêu thiếu muốn hướng đến một cuộc sống tươi đẹp cho người Việt. Chính vì thế nghiên cứu tiếp theo của hắn là Phân bón, quy trình chăn nuôi gia súc công nghiệp, như nuôi gà , nuôi heo, nuôi bò sữa v,v…

Một thế hệ Việt không đủ dinh dưỡng thì có nói gì cũng vô dụng, đánh thắng trăm trận buôn heroin mua lương thực cho Đại Nam chỉ là chữa phần gốc. Diêu thiếu có nhiều chuyện muốn lo hơn như làm thủy lợi, cải cách giáo dục v,v… không thể chăm chăm vào đánh nhau cho được.

Chính vì thế các hạng mục nghiên cứu phát triển nông nghiệp, ứng dụng công nghiệp vào nông nghiệp lúc này lại được hắn rất quan tâm và đưa lên làm chính sách hàng đầu..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 161: Dương Tú Ninh cái chết



Tháng năm, Hoàng Diệu Vào triều, sau khi chiếm lại được Sài Gòn Gia Định thì siêu chiến tướng Hoàng Diệu vứt lại đại quân cho Trương Định chuẩn tướng chỉ huy mà một mình vào triều gặp Thái thượng hoàng Tự Đức, Tân Trị hoàng đế cùng ban phụ chính thân thần.

Trung tướng Hoang Diệu đích thân dẫn 100 thân vệ hồi cung với mục đích duy nhất là xin đánh Mỹ Tho. Ông ta không hiểu lắm về tình hình triều đình Huế, bản thân là quân nên ông ta chỉ có một mục tiêu duy nhất là tiêu diệt trọn vẹn quân địch mà thôi. Mà với binh lực hiện tại của Hoàng Diệu tai Nam Kỳ thì có thể dư sức đập tan tuyến phòng thủ yếu ớt 4 ngàn quân của Pháp tại Mỹ Tho. Điều Hoàng Diệu không nghĩ đến đó là tại sao triều đình đưa ra một cái lệnh quái gở đó là dừng lại không tiến công.


Đã năm lần bảy lượt Hoàng diệu thỉnh tấu sớ về triều mong được tiến đánh Mỹ Tho nhưng đều bị bác bỏ, vậy nên ông không thể không đích thân về triều mà cầu xin. Hành động này của Hoàng Diệu rất được Tự Đức cùng ban phụ chính coi trọng. Vì bản thân Hoàng Diệu lúc này tay nắm trọng binh, hoàn toàn có thể ủng binh tự lập một phần. Tất nhiên là không đến nỗi phản triều đình nhưng hoàn toàn có thể nắm chặt lấy binh quyền mà đòi hỏi một phần tự do. Nhưng ông ta không làm vậy mà dám một thân một mình vào triều. Điều này chứng tỏ trong lòng Hoàng Diệu không có sạn mà chỉ một lòng vì việc nước mà thôi. Tất nhiên chính vì thế ông được Tự Đức tán thưởng vô cùng.


Tất nhiên các quan phụ chính cùng Tự Đức sẽ hết lòng giải thích về lý do “hòa” không đánh của triều đình và cũng nói rõ đây là phân tích của Diêu thiếu. Hoàng Diệu tuy rằng rất phục Trần gia và coi mình là môn đồ xuất thân Trần gia nhưng ông có cách nghĩ riêng của mình. Lý do Hoàng Diệu đưa ra đó là:

“ Nếu Pháp có ý đồ muốn hòa hay muốn đàm phán thì họ đã cử sứ giả đến từ tháng tư, vì đi đi lại lại giữa Đại Nam và Pháp với thời buổi có thuyền hơi nước thì không thể kéo dài đến hơn bốn tháng như vậy. Vậy tai sao quân Pháp không có động tĩnh, lý do đơn giản là họ đang điều động binh lực mà đánh úp Đại Nam. Nếu đã như vậy tại sao còn để Mỹ Tho cho Pháp làm bàn đạp đổ quân. Tốt nhất hiện nay là đánh chiếm Mỹ Tho bố trí công sự phòng ngự biển quyết chiến cùng quân Pháp”.


Phân tích của Hoàng Diệu không phải không có lý, vì thế số người quay qua ủng hộ “đánh” không phải là ít. Ít nhất trong ban phụ chính cũng chia hai phe, Tôn Thất Cúc, Lâm Duy Hiệp ủng hộ Hoàng Diệu cách nghĩ mà xin đánh. Đoàn Hữu Trưng và Phạm Phú Thứ vẫn giữ ý hòa. Lý do nhóm “hòa” đảng đưa ra đó là:

“ Pháp tập trung quân là để tạo áp lực trên bàn đàm phán, họ sẽ không tấn công diện rộng khi bàn đàm phán chưa kết thúc, chính vì vậy nếu tấn công Mỹ Tho lúc này sẽ gây nên cảnh hất cẳng Pháp khỏi Đại Nam, lúc đó thì sẽ không còn đàm phán mà là chiến tranh trên diện rộng, có thể Bắc, Trung, Nam đều trở thành chiến trường. Đại Nam đang trong giai đoạn quan trọng của công nghiệp hóa và tái kiến thiết nên rất cần một khoảng thời gian hòa bình”.

Hoàng Diệu nghe xong luận điệu này thì suy nghĩ một hồi mà nói thẳng:

“ Các ông chỉ suy nghĩ trên giấy mà thôi, chiến trường không phải nói chiến là chiến nói hòa là hòa. Cứ cho là các ông muốn cắt Mỹ Tho cho Pháp để đổi lấy yên bình phát triển sau đó sẽ thu hồi. Nhưng cắt có nhiều kiểu cắt, nay đánh xuống sau đó cắt nhượng thì giá sẽ cao hơn là Mỹ Tho vẫn trong tay Pháp sau đó nói đình chiến”


Ý này của Hoàng Diệu cũng đúng, vì nếu Hoàng Diệu tái chiếm Mỹ tho sau đó mới bàn việc cắt nhượng thì bao giờ cũng cao giá hơn là để Mỹ Tho vẫn trong tay Pháp mà đàm phán. Nhưng phe chủ hòa vẫn lăn tăn ở chỗ, liệu vấn đề này có gây nên tức giận quá mức cho người Pháp mà khiến họ không ngồi xuống đàm phán, thay vào đó Pháp sẽ ngay lập tức phát động chiến tranh? Đây là một câu hỏi khá hóc búa.

Cuối cùng triều đình khó xử nên phải gửi thư trưng cầu ý kiến của Vạn Ninh, kẻ đưa ra học thuyết “hòa” cùng người Pháp.

Tháng năm, Diêu thiếu tiễn hạm đội Prussian lên đường đi Koh Kong tiếp nhận quân chính. Tất nhiên đúng theo lời hứa Diêu thiếu điều 2 ngàn tân binh Thái Nguyên đi Koh Kong. Cái này là một sự trừng phạt cho họ vì đã quá dễ bị Tú Ninh khống chế mà bị cướp mất khí giới. Phòng thủ Thái Nguyên với Diêu thiếu chỉ cần 6 ngàn quân là đủ rồi.

Thu hỏi ý kiên triều đình vừa đến nơi, Diêu thiếu đọc chiến báo, đọc tình hình cụ thể của Nam Kỳ thì cắn răng mà nói một câu “ Đánh”.

Lý do đơn giản quá, Hoàng Diệu đánh trận quá máu tanh và quyết tuyệt. Một trận Gia Định ông ta giết đến 1500 người Pháp và 2500 người Phillippine. Trong khí đó hãy nhìn lại lịch sử, một trận đồn Chí Hòa đánh cho thiên hôn địa ám mà quân Pháp chỉ có 12 người chết, 213 người bị thương. Đây đã trở thành nhục quốc thể của Pháp, cũng chính là lý do mà tới tận 4 tháng trời quân Pháp không có động tĩnh gì. Có thể chắc chắn một điều họ đang điều động binh lực ở mẫu quốc cũng như Bắc Phi. Chiến tranh diện rộng là không tránh khỏi, đàm phán là sẽ có, nhưng là sau khi Đại Nam có thể vượt qua được cửa ải này.


Tháng năm Diêu thiếu trình bày ý kiến cũng như dư đoán của mình về triều đình, yêu cầu Đại Nam trù bị chiến tranh ở mức cao nhất có thể. Thêm vào đó tập trung vào công nghiệp, vì vẫn có thể vừa chiến vừa phát triển, chỉ cần quân dân, cả nước đồng lòng thì chuyện này không khó. Hãy nhìn Vn trong chiến tranh chống Mỹ thời hiện đại, vẫn tăng cường sản xuất hậu phương, vẫn có thể anh dũng chiến đấu nơi tiền tuyến.

Tháng năm, Vạn Ninh rơi vào tình thái báo động chuẩn bị chiến tranh cao nhất, tất cả sức người sức dân đều được tập trung đến hạn mức cuối cùng để xây dựng các mục tiêu chiến lược cũng như hoàn thành nốt khu công nghiệp.

Ngoài ra Diêu thiếu còn cố gắng nhờ công ty Đông Ấn Anh tìm hiểu tin tức cũng như binh lực lần này Pháp quốc thả đến Đại Nam. Vấn đề này cực kì quan trọng vì nó sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ bố trí phòng thủ của Đại Nam.


Cũng vào trung tuần cuối tháng 5. Khu biệt viện bên bờ sông hương lão giả rung đùi nhấp một ngụm rượu, tâm tình lão hôm nay có vẻ thư thái lại thường.

- Cá đã cắn câu rồi…. Tung thêm một chút tin tức ra ngoài….tọa sơn quan hổ đấu là thứ mà lão thích nhất….

Một bóng đen chấp hành mệnh lệnh rời đi.


Ngày 2 tháng 6, cuối cùng các mật vụ được đặc phái vượt biên qua trung quốc đuổi theo Dương Tú Ninh và thuộc hạ của nàng cũng đã mang tin về tới Vạn Ninh. Nhưng họ mang về lại chính là lá thứ gồm ba chữ “Về nhà thôi” mà Diêu thiếu đã viết. Điều này chứng tỏ các mật vụ đã không thể hoàn thành mệnh lệnh, nhưng quy định của mật vụ rất rõ ràng. Những nhiệm vụ mang tính bắt buộc này thì nếu không hoàn thành thì đừng về Vạn Ninh, hay nói cách khác họ phải cố gắng hết sức trong một khoảng thời gian dài, nếu không có kết quả thì mới nên trở về phụng mệnh.

Nhưng lúc này bọn họ đã về Vạn Ninh, hơn ba phần tư số người đã quay lại, hơn nữa trên tay họ lại còn cầm lá thư mà Diêu thiếu gửi đi, điều này chỉ có thể giải thích rằng các mật vụ này đã chắc chắn nhiệm vụ không thể hoàn thành.

- Khởi bẩm tướng quân, phu nhân đã… tử trận.


Người lính mật vụ rõ ràng là đang hơi run run mà thông báo tin tức này. Hắn quả thật là tên xui xẻo nhất khi thua trong lần oẳn tù tì xem người nào là kẻ thông báo tin dữ trên. Tất nhiên khi thông báo cái loại tin tức này thì không bao giờ có quả ngọt mà ăn cả.

- Ngươi nói cái gì?

Diêu thiếu bật dậy khỏi ghế mà nhào tới tên mật vụ túm cổ áo hắn nhấc lên. Diêu thiếu hỏi như rít qua kẽ răng. Phải biết rằng 3 ngàn quân thủ hạ của Tú Ninh quá tinh nhuệ, cộng thêm được trang bị tốt như vậy, tuy nói là không thể đi qua cái đất nước người đông như kiến ở Trung Hoa, nhưng ít ra tự bảo vệ mình à có thể. Vì sao mới chỉ vảo đất Đại Thanh chỉ hơn một tháng đã tử trận mà thiệt mạng như vậy.

- Bẩm tướng quân, phu nhân và thủ hạ vào Quảng Tây không ngờ một thời gia ngắn có thể tụ binh đến hai vạn. Nhưng theo như các nhân chứng kể lại thì thiếu phu nhân lại dẫn quân công kích Quảng Đông. Nhưng quân của thiếu phu nhân vừa vào đến Triệu Khánh đã gặp tập kích mà tan tác bại trận. Các nhánh quân tan tác mà chạy khắp Quảng Tây, thuộc hạ đã liên hệ cùng rất nhiều nhân chứng tàn quân và xác nhận rằng phu nhân trúng đạn tử vong. Người xạ kích là Đề đốc quảng Đông Lý Chấn.


Tên mật vụ run rẩy nhưng nói năng báo cáo thật hết sức rõ ràng. Đây là điều kiện bắt buộc khi làm mật vụ, dù trước bất kì hoàn cảnh nào đều không được hoảng loạn.

Diêu thiếu thẫn thờ mà ôm trán ngồi xuống ghế, một phát súng hai mạng người. Cả vợ cả con của hắn đều có lẽ lành ít dữ nhiều. Diêu thiếu không hiểu nỏi Lý Chấn là thần thánh phương nào, đánh bại một đạo quân 2 vạn người đâu phải dễ dàng. Hơn nữa bên trong đó còn 3 ngàn tinh binh của tinh binh.

- Lý Chấn là ai? Hắn có bao nhiêu quân? Tình tiết trận chiến các ngươi có điều tra rõ ràng qua chưa? Còn thuộc hạ dòng chính của thiếu phu nhân các ngươi có gặp được ai không?


Diêu thiếu cố trấn tĩnh lại mà hỏi han chi tiết cặn kẽ của tình hình, hắn chưa muốn đưa ra một phán đoán khi chưa đầy đủ thông tin.


- Thưa tướng quân, Lý Chấn là Đề Đốc tỉnh Quảng Đông của Đại Thanh, người này nổi lên từ năm…. Tự Đức thứ 8, xuất thân là một tiểu binh của Đại Thanh sau đó vì bắn chết một tên sĩ quan Thái Bình Thiên quốc mà thăng tiến rất nhanh, lúc này hắn đã là Đề Đốc một tỉnh. Tin tức chi tiết hơn thì chúng thuộc hạ cần thời gian tìm hiểu. Trận phục kích chiến là Lý Chấn đã bố trí sẵn mai phục tại hiểm địa ở phủ Triệu Khánh nơi giáp ranh giữa Quảng Tây và Quảng Đông. Hai vạn tay súng của Lý Chấn bỏ qua quân Hắc Kỳ, Bạch Kỳ mà thiếu phu nhân mới thu dụng mà xông thẳng đến trung doanh cánh quân thủ hạ của thiếu phu nhân…..


Theo như tên mật vụ hồi báo thì các nhân chứng kể lại gần như không có gì khác bệt, sức chiến đấu của quân thủ hạ Dương Tú Ninh rất mạnh, lấy 3 ngàn tay súng cầm cự gần 2 vạn tay súng của Lý Chấn. Lúc này quân Hắc kỳ, Bạch Kỳ quay lại tiếp viện, cộng thêm 3 ngàn quân Hoàn Kỳ từ hậu phương đánh lên thì tình thế cựa hỗn loạn. Nên nhớ 3 ngàn quân Hoàng Kỳ không ngờ lại được Dương Tú Ninh trang bị cho 3 ngàn thanh súng 1835 Neue Korps-Jägerbüchse. Đây chính là súng là Dương Tú Ninh đã chỉ đích danh và yêu cầu trang bị cho tân binh Thái Nguyên Sau đó cô cướp đi. Tình thế chiến đấu trở nên khốc liệt vô cùng vì quả thật thủ hạ của Dương Tú Ninh mạnh đến rối tin rối mù, mà trong tay họ lại có cối Đại Nam M62, súng minire rifle của Pháp.

Nhưng đúng lúc này không ngờ từ khoản cách gần 1000m tên Đề Đốc Quảng Đông Lý Chấn có thể một phát súng chuẩn xác đến kinh hồn mà bắn hạ Dương Tú Ninh. Quân Thái Bình Thiên quốc dư nghiệt thủ hạ của nàng vội vã đem xác của Tú Ninh rút lui. Chính vì thế phòng tuyến quân Tam Kỳ quân trở nê tan hoang mà bị đánh bại..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 162: Con cờ bí mật



Diêu thiếu nghiến răng ngồi trong phòng tối, chuyện nước, chuyện nhà, tất cả đều dồn dập đổ lên đầu hắn một mảng. Con người cũng không phải là máy móc, hắn cũng thấy mệt mỏi chứ. Đề đốc Quảng Đông Lý Chấn đảm bảo phải diệt, mối thù giết vợ sát con là không thể đội trời chung. Nhưng muốn diệt đề đốc một tỉnh của Đại Thanh không phải dễ, thêm vào đó thông tin về đối thủ hắn hoàn toàn mù mờ. Lý Hồng Chương Tăng Quốc Phiên,Tả Tông Đường,Trương Chi Động các danh tướng thời này của Đại Thanh thì Diêu thiếu có nhiều có it nghe qua, nhưng Lý Chấn thì hắn chưa từng biết. Từ lúc nào Đại thanh lại có một đạo quân với 2 vạn tay súng “Tây”. Nếu có nhiều như vậy liệu Thái Bình Thiên quốc vẫn còn nhởn nhơ được không? Mà nghe đâu Thái Bình Thiên quốc tuy có bị áp chế trên nhiều mặt trận nhưng vẫn đang còn rất vững vàng mà không có giống như trong lịch sử là kiệt quệ đến nơi rồi.

Diêu thiếu ngay lập tức cho truyền tin đến HongKong mật lệnh Lý Tuân cử tay chân người Hoa đi điều tra về Lý Chấn, có câu biết người biết ta trăm trận trăm thắng. Diêu thiếu hận thù thì hận thù, hắn không phải não tàn mà như ruồi không đầu lao lên phía trước.

Tất nhiên kèm với đó là một nhóm lính đặc công của Vạn Ninh được cử đi Quảng Tây hoạt động để bắt liên lạc cùng thủ hạ dòng chính của Dương Tú Ninh. Chỉ có gặp được bọn này thì mới hiểu rõ lý do Dương Tú Ninh phản bội, cũng chỉ có thể gặp được đầu não của nhánh hải tặc này thì mới rõ được tại sao bọn họ không đầu không đuôi đi đánh Quảng Đông. Từ đó Diêu thiếu mới cho ra được cách đối phó tình hình một cách chính xác nhất.

Bộ đội đặc công chính là một nhánh tinh nhuệ nhất trong các nhánh quân tinh nhuệ mà Diêu thiếu có. Thật ra nhóm người này được đào tạo một cách khác biệt, và tiền thân của họ chính là lực lượng thân binh đông đảo đến 300 người của Diêu thiếu. Nói một cách chính xác thì Diêu thiếu không cần lượng thân binh đồ xộ như vậy để đi theo bảo vệ. Ba trăm người này đi theo Diêu thiếu chủ yếu là để học tập và huấn luyện về cách tác chiến của đặc công. Các kĩ năng của họ có điểm giống mà cũng có điềm khác biệt rất lớn đối với mật vụ. Những đặc công được tuyển chọn gắt gao trong gần 2 vạn quân của cả Vạn Ninh và Thái Nguyên, bọn họ chủ yếu được đào tạo để họ có được phương pháp tác chiến linh hoạt, táo bạo, bất ngờ, thường dùng để đánh các mục tiêu hiểm yếu nằm sâu trong đội hình chiến đấu, bố trí chiến dịch và hậu phương của địch.


Đặc công có những kĩ năng đặc biệt cao cường như có thể sử dụng nhiều loại vũ khí khác nhau. Võ cận chiến cực tốt, đặc công trên bộ thì có khả năng tồn tại, chiến đấu trong môi trường khắc nghiệt nhất, khả năng ngụy trang siêu cường, đột nhập, leo trèo đều là bắt buộc phải thành thục. Tất nhiên có đặc công đánh bộ thì cũng có đặc công đánh nước. Nhưng địa hình Đại Nam quá phức tạp nên tạo thời hai loại này có xu thế hòa nhập với nhau. Tức là đặc công đánh bộ cũng có thể hoạt động dưới nước và ngược lại. Nhưng Diêu thiếu vẫn dựa vào kĩ năng của từng người mà phân ra hai nhóm, ai thiện tủy tính nhiều hơn thì xắp xếp vào hàng ngũ đặc công nước. Tính ra lứa lính ban đầu với hơn 200 đặc công bộ và gần 100 đặc công nước đã tốt nghiệp và được tung vào chiến trường. Tất nhiên có những người xuất sắc đặc biệt thì được giữ lại làm nhiệm vụ đào tạo lứa đặc công mới. Diêu thiếu đã phân ra hai năm đào tạo một lứa đầu tiên, hắn không còn tinh lực để đào tạo lứa tiếp theo mà để họ tự minh phát triểu rồi.


Nhiệm vụ thâm nhập sâu trong lòng địch thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt như tìm kiếm tung tích thủ hạ của Dương Tú Ninh thì không thể nào các mật vụ làm tốt được như đặc công. Mật vụ bản chất là sống với nhiều gương mặt, thâm nhập thu thập tình báo mà không phải là chiến tranh phá hoại hay hành quân trong các khu vực khắc nghiệt tìm kiếm mục tiêu.

Chuyện nhà cũng chỉ có thể xử lý đến mức độ đó mà thôi, người chết cũng đã chết rồi. Việc nước vẫn đang còn là khó khăn trước mắt. Chính vì lẽ đó diêu thiếu phải gạt đi những ngổn ngang trong lòng mà đối diện với hiện thực tàn khốc, quân Pháp lại một lần nữa sắp đến rồi, và lần này chắc chắn số lượng không chỉ vài ngàn quân it ỏi.


Nhưng liệu Diêu thiếu một siêu mật vụ của QĐNDVN từ thời hiện đại xuyên đến liệu có phải là một người đơn giản. Hắn chỉ có đọc qua chiến báo của Hoàng Diệu thì ngay lập tức đã chuyển ý kiến từ “hòa” thành đánh. Nếu chỉ dựa vào phán đoán tình hình thì Diêu thiếu không bao giờ dám đưa ra một quyết định ảnh hưởng đến vận mệnh của cả dân tộc một cách vội vã như vậy. Trong lúc tình thế khó đoán định và khó khăn vào bậc nhất lúc này thì quân cờ Diêu thiếu cài cắm từ lâu vào nước Pháp đã phát huy tác dụng.

Nhớ lại cuộc chiến Vạn Ninh khi bắt được toàn bộ thủy thủ đoàn của tàu tuần dương Dévastation. Trong này có một nhân vật là Ferid Lefebvre. Tên này chính là tên hạm trưởng xui xẻo khi bị thủ hạ đổ hết trách nhiệm lên đầu và ghi vào biên bản họp cũng như nhật kí hành trình tuần dương hạm Dévastation. Tất nhiên hai người Ferid và Diêu thiếu đã có một buổi làm việc kín để đi đến một thỏa thuận chung đó là Diêu thiếu giúp Ferid rũ bỏ trách nhiệm, và cũng đẩy trách nhiệm lên đầu thên phó hạm Pierre. Tất nhiên các chứng cớ như biên bản họp với chữa kí của mọi người, nhật kí hải trình, nhân chứng như Pierre đều nằm trong tay của Diêu thiếu. Nếu Ferid có một ý nghĩ không tốt thì tất nhiên những bằng chứng này sẽ theo một cách nhanh nhất nằm trên bàn làm việc của Napoleon III.

Tiếp sau sự việc này là một màn chuộc tù binh từ gia tộc Lefebvre tại Pháp quốc với giá 24 ngàn Currencies. Tất nhiên số tiền này sẽ được trả lại ngay sau đó, cái mà diêu thiếu cần là một con cờ cắm vào nước Pháp. Vua Napoleon III và hội đồng chính phủ không biết được cả xứ Champagne-Ardenne đang điên cuồng về một loại bột hút có tên heroin và đang lan ra các vùng lân cận. Và cũng không ai biết gia tộc Lefebvre đang giàu lên từng ngày, từng ngày một với tốc độ gia tốc của tên lửa.

Uy hiếp chỉ là một phần, phải cột thêm lợi ích thì cả hai bên mới có thể bền lâu cho được. Muốn gia tộc Lefebvre làm việc cho Diêu thiếu thì Uy hiếp chỉ là một chuyện nhỏ, lợi ích cộng hưởng bao giờ cũng bền chặt hơn. Những ruộng cây anh túc trồng tại Vạn Ninh, Đông Triều, Uông Bí, Cẩm Phả và nay là cả Móng Cái khi triết xuất ra thành phẩm thì chỉ dùng để cung cấp hàng cho Lefebvre gia tộc mà thôi. Còn hàng cấp cho Hongkong, cho công ty Đông Ấn Anh thì đều là hàng chế biến từ nha phiến nhập khẩu. Từ đó có thể tạo cho người Anh có cảm giác họ đang khống chế được nguồn nguyên liệu của Vạn Ninh.

Tất nhiên nguồn cung cấp chỏ gia tộc Lefebvre là có hạn, vận chuyển khó khăn vì phải làm kín kẽ để người Pháp không nhận ra được sự liên hệ giữa Lefebvre gia tộc và Đại Nam. Và tất nhiên Diêu thiếu cũng cung cấp cho Lefebvre gia tộc mặt hàng chất lượng với giá rất thấp. Tức là bằng với giá mà công ty Đông Ấn Anh đã ép buộc Diêu thiếu. Vào thời điểm đó công ty Đông Ấn Anh chưa nhảy vào nên giá cả như vậy đã là triệt để không còn gì để nói.

Giá bán ra của nhà Lefebvre Diêu thiếu không biết, nhưng những thương vụ ngầm của hai bên thì phía Vạn Ninh luôn nghe được một câu đó là thúc dục Vạn Ninh tăng số lượng hàng cho họ.


Tất nhiên nói như vậy để có thể thấy được con bài mà Diêu thiếu đã cắm sâu vào Pháp. Với số tiền không tưởng kiếm trác được trong gần 2 năm qua thig gia tộc Lefebvre quật khởi đến chóng mặt, có tiền là có tất cả. Với số tiền lo lót mở đường khổng lồ thì Ferid Lefebvre lại trở lại vị trí cũ là trung tá Hải quân hoàng gia Pháp sau một thời gian bị tra vấn về vấn đề thất trận tại Vạn Ninh. Quan trọng là lúc này thiếu tướng Louis-Adolphe Bonard còn thua sấp mặt ở Đại Nam, Sĩ quan cấp cao của Pháp còn bị bắt một mớ. Chiến hạm số lượng bị cầm tù nhiều đến bao nhiêu không kể hết, chính vì lý do đó mà trận thua của Ferid ở Vạn Ninh lại bị lãng quên đi rất nhiều.

Lúc này tình hình tại Đại Nam đã làm cho hội đồng chính phủ Pháp đưa ra giải pháp đàm phán, nhằm chuộc lại những chiến hạm cũng như đạt được thỏa thuận ngừng bắn tại Đại Nam. Tình hình quan hệ Pháp và khối Liên Bang lỏng lẻo Đức đang là một mối nguy cơ khiến họ khó có thể phân tâm. Thêm vào đó Pháp đang cố gắng mỏ rộng tầm ảnh hưởng của minh ở khối Châu lục Đen nên khó có thể điều quá nhiều binh lực đi Đại Nam mặc dù biết nơi này có vị trí cực kì quan trọng. Nhưng nếu không điều động mọt lực lượng hơn 15-20 ngàn người thì không thể nào gây áp lực thực tế cho Đại Nam cho được.

Nhưng sự việc không có đơn giản vậy, Napoleon III là người rất ưa mặt mũi và ông yêu cầu tăng viện với mức kinh phí 5 triệu Franc. Nhưng yêu cầu có phần mang tính thiếu lý trí này bị hội đồng phản đối kịch liệt. Nhưng nói cho cùng thì Pháp cũng có các đảng diều hâu hiếu chiến họ lấy lý do các tỉnh Nam bộ Đại Nam là môt món hời lớn ( Tổng nguồn thu cảu Mỹ Tho và Gia định trong năm 1860 là 1,5 triệu Franc) , nếu chiếm được toàn bộ Nam Kỳ thì con số này có thể bù lại 5 triệu Franc đầu tư cho chiến tranh.

Ở đây phải nói đến thực tế là người Pháp bóc lột, thực dân hết sức hiệu quả tại Nam Kỳ, chỉ với hai tỉnh Mỹ Tho và Sài Gòn Gia Định mà họ có thể thu lợi nhuận gần bằng cả triều Hế thu nhập nước Đại Nam.


Tình hình trở vào thế dằng co tốn thời gian vô cùng, nhưng sự kiện Hoàng Diệu đồ sát 1500 lính Pháp đã tới Paris. Tất nhiên đây là ngòi kích nổ cho quản bom chiến tranh pháp. Hội đồng chính phủ không thể một lần nữa bác bỏ yêu cầu chiến tranh của Napoleon III, họ thông qua ngân sách 5,340.000 franc để thực hiện cuộc đại viễn chinh Đông Nam Á, mục tiêu là Đại Nam quốc.


Hai thiết giáp hạm tân tiến nhất là Invincible và Normandie sẽ được điều đến Đại Nam phối hợp cùng Gloire tại đây. Đi kèm theo còn có 11 tuần dương hạm và 59 khu trục hạm cũng như tàu vận binh. Tổng số quân dự tính đổ vào Đại Nam sẽ lên tới 20 ngàn người trong đó có một nửa là lính gốc phi từ Algieri. Đây quả thật là một cuộc viễn trinh khá quy mô của quân Pháp kể từ năm 1840.

Tất nhiên gia tộc Lefebvre bằng cách nhanh nhất thông báo dự định này của chính phủ Pháp cho Vạn Ninh với hi vọng Diêu thiếu có thể dời đi Đại Nam trước khi quân Pháp đến. Lefebvre gia tộc không muốn cái mỏ vàng của họ bị quân Pháp đập nát mất..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 163: Bị chiến



Với lực lượng quân đội hùng hậu của Pháp như vậy thì Diêu thiếu làm sao có được phương án phòng ngực chiến. Quan trọng nhất đó là không biết quân Pháp sẽ tấn công vào vị trí nào trên cái dải đất Đại Nam toàn bờ biển như thế này. Đất Đại Nam đúng là con rồng thật, nhưng chính vì thế mà thiếu đi tính chiều sâu chiến lược, con mẹ nó cứ đổ bộ bất kì chỗ nào cũng có thể chia cắt con rồng này thành nhiều khúc. Chính vì vậy Đại Nam không có được lực lượng hải quân hùng hậu là khó có thể bảo vệ được đất nước ( nhắc nhở luôn ấy nhá… cần hải quân đấy).


Cũng may quân Pháp muốn trù bị cho một cuộc chiến dài hơi và tốn của như vậy thì cũng không thể ngày một ngày hai nói là có thể xông đến Đại Nam oánh nhau. Chính vì lý do này Diêu thiếu còn ít nhất là hơn hai tháng để chuẩn bị cho cuộc chiến. Hai tháng là nhiều hay là ít không quan trọng, quan trọng là Diêu thiếu quyết định làm liều. Đọ pháo đọ chiến Hạm thì quân Đại Nam chết chắc, dụ lên bờ đánh là đường lối quán triệt, và chiến tranh du kích là chiến lược mục tiêu. Pháo cối Đại Nam M62 là trọng điểm sản xuất. Nhưng Hải chiến là không thể bỏ, nếu như mất đi hoàn toàn quyền kiểm soát bờ biển thì sẽ rất bị động trong chiến cuộc.


Lúc này không phải là lúc so bì hơn, kém với triều đình Huế. Vạn Ninh tăng binh một cách điên cuồng, với 20 ngàn thanh súng Dreyse M1841 được người Prussian chuyển giao lần này thì Diêu thiếu quyết định tổng động viên tăng số quân bị toàn bộ cả Vạn Ninh và Thái Nguyên lên con số 25 ngàn người và tiến hanh huấn luyện gấp rút.


Tất nhiên thông tin tình báo về quân lực của Pháp cũng được Diêu thiếu báo về Huế một cách chi tiết nhất. Với lẽ đó Huế cũng sẽ không ngồi yên được, họ chắc chắn cũng điên cuồng tăng binh. Tất nhiên súng ống với quân Đại Nam lúc này lại không phải vấn đề lớn vì đống rách thải của người Prussian vẫn đang chất đống tại Huế.

Số là các thương nhân Đức mang đến quá nhiều súng 1835 Neue Korps-Jägerbüchse lỗi thời đã bị thải loại từ rất lâu ở Prussian. Súng này khá giống với Minire của Pháp nhưng là nòng trơn bắn đạn bi khoảng cách thực tế hiệu quả tầm dưới 200m, cũng may đây là súng điểm hỏa hằng hạt nôt mà không phải là súng hỏa mai. Lúc đầu thì Huế trung thành với Kammerlader 1842 của Na Uy nên chê ủng chê eo những thanh súng này mà không chịu nhập. Nhưng giờ đây khi nhận được tin tình báo chính xác từ Vạn Ninh thì họ lại cuống lên mà mua toàn bộ đống rác nay. Có bao nhiêu mua bấy nhiêu tầm 12 ngàn thanh 1835 Neue Korps-Jägerbüchse với giá 7 £ được mua toàn bộ để Huế có thể tăng binh nhanh chóng. Vậy là lệnh tổng động viên được ban ra toàn đế quốc Đại Nam. Vạn Ninh tăng binh 2,5 vạn. Huế gần 4 vạn, Nam ky vẫn là một vạn người như trước. Dù sao Tự Đức Vẫn cứ nghĩ đến an nguy của mình là trước tiên.


Việc trưng binh, huấn luyện tân binh ở Vạn Ninh hoàn toàn không cần Diêu thiếu phải bận tâm đến. Hệ thống quân sự ở Vạn ninh đã hoàn chỉnh ở một mức độ nhất định. Và về cơ bản thì Diêu thiếu chỉ cần ban bố lệnh sẽ có người dưới thực hiện.

Các xưởng cơ khí thì lúc này Đại Nam nhiều lắm, mua hàng rác của người Đức, cướp đoạt của người Tây Ban Nha. Chính vì thế việc chế tạo những thanh cối M62 của Đại Nam được thực hiện rầm rộ. Diêu thiếu coi đây là vũ khí chiến lược bộ binh thay cho những thanh pháo kéo nặng nề.

3 xưởng sản xuất đạn pháo cối ở Vạn Ninh cùng một xưởng ở Huế đã đi vào hoạt động ngày đêm để bị chiến. Diêu thiếu cũng không keo kiệt mà chia sẻ một lượng lớn thuốc súng đen với triều đình. Trong lúc này hắn vẫn cố sống cố chết mua thuốc súng của người Anh.

Sách lược quân sự của Huế đó chính là nhường hoàn toàn các vùng biển dụ quân địch vào sâu nội địa và chiến đấu, ngăn chặn sự đổ bộ của các khu trục hạm vào nội địa bằng đường sông với thủy lôi của quân Vạn Ninh cung cấp. Đánh bom liều chết như Hoàng Diệu đã làm ở Nam kỳ, và đặt cối mai phục tấn công khu trục hạm của địch nếu cúng xâm nhập bằng đường sông.

Sách lược này phần chính là do Hoàng Diệu đưa ra, Diêu thiếu không ý kiến, àm có ý kiến cũng chẳng được. Tình hình quân sự ở Nam Kỳ và ở Huế khác hẳn tình hình quân sự tại Vạn Ninh. Huế chỉ cần bố trí pháo phòng thủ bờ biển khu cửa Việt một cách dày đặc là có thể ngăn chặn hiệu quả quân Pháp thâm nhập sâu. Nếu quân Pháp đổ bộ từ nơi khác mà đánh đến Huế thì 4 vạn quân của Huế cũng không ăn chay. Xem ra Huế rất tự tun cứng đối cứng cùng quân Pháp. Hếu dám làm vậy, bỏ đi hải phận mà quyết chiến trên bộ vì khu công nghiệp của họ xa bờ biển đến tận 15 km. Nhưng Vạn Ninh thì không làm như vậy được, Khu công nghiệp Tây Vạn Ninh chỉ cách bờ biển Vạ Cháy 4,5 km mà thôi, nếu để quân Pháp đổ bộ thì có chiến thắng được họ thì khu công nghiệp cũng cháy thành tro. Chính vì cái lý do chết dẫm về mặt địa lý này mà Vạn Ninh bắt buộc phải Hải chiến mà còn bắt buộc phải bố trí phòng thủ kín kẽ không cho quân thù đổ bộ tại Vạ Chay bãi biển.

Nhóm kĩ sư Krupp lần này qua Đại Nam để thực hiện nghiên cứu về lò Martin nhưng cuối cùng lại bị tận dụng hết thảy đi chế tạo Pháo, súng để phục vụ cho chiến tranh. Tất nhiên rất nhiều người lo sợ, rất nhiều người muốn rời đi đến Koh Kong để được quân đội Prussian bảo hộ. Nhưng Diêu thiếu bằng hết khả năng đã thuyết phục được những người này cùng với mức lương thời chiến cao đến chóng mặt. Để ổn định tâm lý của họ thì Diêu thiếu đã chuyển các kĩ sư này về hậu phương Thái Nguyên để sản xuất.

Tất nhiên chuẩn bị bao nhiêu cũng là không đủ vì chỉ có thể va chạm trực tiếp mới có thể xác định được ai mới là kẻ mạnh, chuẩn bị chiến của ai mới là hiệu quả.

Tháng 7 chiến tranh đã tới rất gần nhưng rốt cuộc là Robert sau sáu tháng dòng giã lang thang khắp nơi đã trởi về Vạn Ninh. Tất nhiên nhìn thấy bộ dáng mới của Vạn Ninh thì tên này thiếu chút nữa nghĩ mình đi nhầm tọa độ mà đến một khu công nghiệp Châu Âu nào đó. Nếu không phải có Diêu thiếu ra đón chào thì tên này có lẽ đã quay mũi tàu mà ra khơi tìm chân trời khác rồi.

Robert trở lại Vạn Ninh với 23 thương thuyền các loại, trong đó có năm chiếc là do chính bản thân hắn thuê mướn để chở vật tư, còn lại là thương thuyền của một số bạn bè thương gia người Mỹ phía Nam. Lần này không như dự đoán , Robert không thuyết phục được nhiều bạn bè tham gia vào phi vụ thực dân Cao Miên. Người Mỹ nghĩ đất nước họ quá lớn, còn có quá nhiều không gian phát triển nên không muốn mạo hiểm đi nửa vòng trái đất để đầu tư. Số bạn bè của Robert chấp nhận đến đây với lý tưởng “thuê Cao Miên” chỉ có 6 người mà thôi, trong đó phần lớn là các thương gia đang gặp không ít khó khăn tại Mĩ mà muốn tìm một hướng đi mới. Nhưng cũng có hai thương gia có thực lực nhưng tính tình ưa mạo hiểm nên muốn chơi một vố này.

Lần này Robert và nhóm hồ bằng cẩu hữu không ngờ tụ tập được một đội quân hỗn hợp đen trắng hai màu da với số lượng 1500 người. Tất nhiên những người da đen này vẫn là nô lệ, nhưng là nô lệ cầm súng. Họ xuất thân là nô lệ của các ông chủ miền Nam. Đội quân này có khá nhiều binh sĩ da trắng chính quy người Mỹ, họ có thể là những cựu binh, kẻ lang bạt, đào binh. Nhưng tựu chung lại thì đây là những tay có sức chiến đấu nhất định.

Tình hình Đại Nam không ổn Diêu thiếu không muốn liên lụy đám người này nên nhanh chóng tháo gỡ hàng hóa rồi đuổi chúng đi Koh Kong. Tất nhiên diêu thiếu cho Robert “thuê” lãnh địa bá tước của mình là phủ Tầm Vu bên cạnh Koh Kong. Tất nhiên nếu Robert có thể thay mặt Diêu thiếu quản lý được lãnh địa Khai Biên của Hầu tước Trần Quang Cán thì quá tốt, dù sao trong khoảng thời gian này Diêu thiếu và Quang Cán đều không thể tách ra khỏi Đại Nam cho được.

Vậy là không được bao ngày tại Vạn Ninh nghỉ ngơi thì Robert lại khăn gói quả mướp dẫn đội thuyền chạy tới Koh Kong. Tất nhiên đi theo phải có sắc lệnh tiếp quản Tầm Vu và Khai Biên cùng với một loạt các chuyên gia “Cao Miên học” nhằm giúp đỡ người Mỹ trong những ngày đầu đạt chân nơi này.

Hàng Hóa của Robert mang đến lân này cực lớn, 23 thương hạm trọng tải từ 3000-4000 tấn chạy từ Châu Mỹ đến không phải là chuyện đùa . Đúng như Diêu thiếu mong muốn lần này Robert dã nhập đến 21 ngàn tấm Diêm Tiêu của Chile, chính vì điểm này Vạn Ninh nói riêng và cả Đại Nam nói chúng sẽ không lo lắng quá về viêc thuốc súng đen trong thời gian tới. Tất nhiên ý nghĩ ban đầu của họ Trần là chế phân bón tăng năng suất cây trồng. Nhưng thời thế đã làm hắn phải thay đổi hoàn toàn kế hoạch. Những chiếc thương thuyền còn lại thì chứa đến 17 ngàn tấn hàng hóa các loại từ máy móc nhà xưởng cho đến các thiết bị thông tin liên lạc điện báo của người Mỹ. Tất nhiên lần này điện báo hệ thống cũng được Diêu thiếu thu gom một phần ở Tây Ban Nha, nhưng số lượng đó là khổng đủ với Vạn Ninh.

Nói chung lần này các máy móc thiết bị công nghiệp của nguwoi Mỹ mang đến thì chất lượng tốt hơn nhiều so với người Đức, dù sao họ mang đến cũng là thiết bị tối tân của Mỹ mà không phải hàng rác. Tất nhiên vì miền Nam Mỹ công nghiệp cũng không quá phát triển như miền bắc nhưng họ lại có thế mạnh về công nghệ dệt, may mặc, nhuộm vải v.v… Bên cạnh đó dây truyền ximang của người Mỹ cũng khá tốt, các dây truyền cơ khí của người Mỹ phía nam không quá đặc biệt và xuất sắc nhưng cũng đủ dùng. Diêu thiếu dự định sẽ cho vận chuyển chúng đến Thái Nguyên để thành lập khu công nghiệp thứ hai tại đây. Tất nhiên chiến tranh sẽ sớm xảy ra nhưng nó cũng không thể cản trở được người Việt tại hậu phương tiếp tục xây dựng quê hương của mình.

Những ngày qua à những ngày mà Diêu thiếu vùi đầu trong xưởng chế tạo cơ khí quân sự tại Vạn Ninh, hắn đã liều mạng rồi, cho dù công nghệ có chưa hẳn hoàn thiện với nhiều thiếu sót , nhưng hắn quyết tâm sẽ mang đến cho người Pháp những bài học đáng nhớ nhất trong đời họ.

Trong ba tháng việc xây dựng ở Vạn Ninh rầm rộ hơn bao giờ hết, dường như tất cả xi măng, cát sỏi, thép đều để dành cho việc xây các công sự phòng thủ bãi biển nơi đặt các siêu pháo phòng ngự biển naval 229 mm. Đay mặc dù là pháo đời cũ nhưng nó lại chính là nguyên tác cho các cải tiến mới của pháp naval gun sau này của tập đoàn Krupp. Những khẩu pháo nặng nề tới 2,2 tấn, tầm bắn lên tới 3km. với đầu đạn lên ddense18kg thuốc nổ. Đây là những thanh súng duy nhất có khả năng uy hiếp đến các thiết giáp hạm. Tất nhiên các thanh pháo này rất kém linh hoạt cũng như khó có thể thay đổi góc bắn để truy đuổi các chiến thuyền đang di chuyển. Cách duy nhất để sử dụng các siêu pháo naval này là căn chỉnh chúng bắn bao chùm vào một khu vực. Ví như ở Vạn Ninh hơn 40 thanh naval gun 229mm được xây dựng hoi lùi vào nội địa và phong tỏa toàn bộ khu vực có thể đổ bộ tại bãi Vạ Cháy. Cũng như một số lượng không nhỏ sẽ phong tỏa cửa Vào của vịnh Cửa Lục.

Nên nhớ vịnh Cửa lục là một cảng nước sâu, thiết giáp hạm cùng với sự hộ tống của tuần đương hạm cùng với tru trục hạm đều có thể xông thẳng nơi này. Nếu để thiết giáp hạm xông vào Vịnh Cửa Lục thì nó sẽ gây ra tàn phá không thể tưởng tượng được cho Vạn Ninh..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 164: Phillippino không đơn giản



Tháng 8 cả Đại Nam sôi sục trong khí thế chuẩn bị đối đầu với công kích khủng bố của người Pháp, vì Hoàng Diệu đã đánh bật quân Pháp còn lại từ tháng 7. Nói đúng là là Hoàng Diệu tiến quân, Pháp quân rút chạy khỏi Mỹ Tho. Với 3000 binh còn lại quân Pháp biết mình không có bất kì cơ hội nào đối đầu cùng 1 vạn bốn ngàn quân trang bị có phần hiện đại hơn họ, thiện chiến không kém họ. Số súng và pháo của quân Pháp mà Hoàng Diệu thu được tất nhiên là ông ta bổ xung cho chính Quân Đoàn Nam kỳ.

Quân đoàn Nam kỳ được thành lập với hai sư đoàn, thứ nhất là Sư Đoàn Nam Kỳ 1 với 14 ngàn tay súng. Sư đoàn Nam Kỳ 2 là các phụ binh chỉ được trang bị đao, kiếm với quân số bảy ngàn. Sư đoàn này có chức năng bổ sung khi các tay súng bên sư đoàn Nam Kyd 1 bị hạ sát, hoặc tham gia vận chuyển vật tư, ổn định trị an hậu phương mà thôi.

Tất nhiên trong Sư Đoàn Nam Kỳ 01 còn chia ra làm nhiều lữ, nhiều đội khác nhau trong đó nổi bật nhất chính là tiểu đoàn pháo cối 176 thuộc Lữ đoàn số 4. Cách đánh số này quả thật rất dễ hình dung ra đơn vị tác chiến này dưới sụ chỉ huy của cấp nào. Lúc này đây tiểu đoàn pháo cối vẫn là nỗi deo rắc kinh hòng nhiều nhất cho kẻ địch. Mặc dù pháo cối Đại Nam M62 thi thoảng vẫn nứt nòng hay thậm chí có một hai lần trực tiếp nổ nòng gây thương vong cho chính quân mình. Nhưng hiệu quả cùng tính cơ động của 42 thanh pháo cối là không thể phủ nhận trong các trận chiến tại Nam Kỳ. Chính vì ý thức được Nam Kỳ vẫn rất có thể là điểm nóng của chiến tranh trên bộ nên Diêu thiếu hết sức viện trợ pháo cối vào Nam. Nói cho cùng Nam Kỳ chẳng có lấy một hạm đội hay naval pháo phòng ngự biển nào. Tuy nói là họ chiếm được Mỹ Tho, Gia Định nhưng quân Pháp vẫn khá dễ dàng đổ bộ nơi đây.


Mùng 9 tháng 8 năm 1862, Hạm Đội Pháp hùng hậu lại một lần nữa hiện diện tại vùng biển Đông Nam Á. Bất ngờ là mục tiêu đầu tiên của họ không phải là Đại Nam mà là Phillipine. Không ngờ lần này Tây Ban Nha theo chân Pháp quốc mà đến, nhưng hẳn là mục tiêu của Tây Ban Nha là thu phục lại Phillippine.

Pháp cũng muốn có một chỗ chú binh cho đội quân khổng lồ của mình trước khi lên kế hoạch chính xác tiến quân vào Đại Nam. Người Pháp cũng ý thức được rằng Đại Nam không còn là đất nước Anamit đóng khố đi chân đất uống nước bẩn như họ nghĩ. Người Pháp biết được đây là một quốc gia có sức chiến đấu không hề tồi với bộ binh khá hùng mạnh. Còn về lực lượng hải quân của Đại Nam thì người Pháp vẫn hỉ mũi coi thường, vì Pháp chính là cường quốc hải quân đứng thứ hai trên thế giới, một A nam mới “đánh cắp” được vài chiến hạm hiện đại không khiến họ đánh giá cao cho được.

Tổng chỉ huy của quân Pháp lần này là cái tên quen thuộc Rigault de Genouilly đô đốc hạm đội Pháp. Tên này chính là kẻ tấn công Đàng Nẵn bất thành năm 1857 sau đó đánh chiếm phía nam Đại Nam. Phó tư lệnh của quân đoàn viễn chinh Pháp lại cũng là một cái tên không xa lạ. Trung tướng Léonard Charner kẻ đã chỉ huy xưt lý đồn Kỳ Hòa của Nguyễn Tri Phương đã cong mông xây dựng. Người cuối cùng là Thiếu tướng Louis-Adolphe Bonard kẻ đã thất bai tại Nam kỳ Đại Nam. Nhưng ông ta vẫn được giữ lại quân đoàn viễn trinh với chức danh cố vấn vì ai cũng hiểu Thiếu tướng Louis-Adolphe Bonard là người có “kinh nghiệm” nhất khi giao chiến cùng quân A nam “hiện đại”.


Liên quân Pháp – Tây Ban Nha dễ dàng khống chế được cảng Manila và cảng Batagas sau hai ngày tấn công dông dập với Hạm đội khủng bố của mình. Nhưng nói thật họ cũng gặp phải tổn thất đáng kể vè chiến hạm khi mà phân nửa các đại Pháo của Tây Ban Nha phòng thủ bãi biển trước kia đánh trả tới tấp. kết quả đó là 1 tuần dương hạm và 4 khu trục hạm của Hạm đội Tây Ban Nha bị loại hẳn khỏi đơn vị chiến đấu với những tổn thương không thể khôi phục.

Vì đánh chiếm Manila và Batagas là trách nhiệm của người Tây Ban Nha, do đó lẽ dĩ nhiên là hạm đội Tây Ban Nha sẽ là những người đầu tiên phải xông qua làn lửa đạn để thâm nhập vào vịnh Manila. Nơi này cong có đến 20 thanh pháp naval bắn phong tỏa vùng biển tầm 10 km cửa vào Vịnh. Tất nhiên Vịnh Manila nói là vịnh kín nhưng cửa vào quá lớn nên 20 thanh pháo naval được quân Đại Nam rủ lòng thương để lại đã phát huy hiệu quả không cao. Nếu như cửa vào Vịnh nhỏ như vịnh Cửa Lục (500m) Cửa Thuận An (600m) thì 20 thanh naval thừa sức phong chết không cho địch xâm nhậm.

Chiếm cảng biển là một chuyện, đánh lên đất liền là một chuyện khác hoàn toàn, người Phillippine không yếu. Nói một cách chuẩn xác thì nếu xét về mặt bằng chung thì người Phillippine “ hiện đại”, “tiến bộ” hơn người Đại Nam tầm 20 năm, và tiến bộ hơn toàn bộ các dân tộc khác ở Châu Á lúc này. Đây là một sự thật không thể chối cãi khi họ đã có lịch sử hàng thế kỉ bị thực dân bởi Tây Ban Nha. Người Tây Ban Nha thực dân nơi này, nhưng đồng thời họ cũng mang đến những tiến bộ khoa học kĩ thuật nhất định. Không thiếu người bant địa Phillippine hoặc người hỗn huyết có cơ hội thành kĩ sư, bác sĩ, và lúc này họ đang phụ vụ cho chính quyền Phillippine không phụ thuộc Tây Ban Nha.

Gần 4 tháng qua sau khi chiếm đóng Manila và Batagas thì chính phủ mới của Phillippine không có đứng yên mà họ phát triển nhanh đến chóng mặt. Vốn gĩ họ chẳng cần cải cách , hay công nghiệp hóa gì cả, vì bản thân họ đã có sẵn ngành công nghiệp mà Tây Ban Nha để lại, còn chính phủ của họ lại đi theo nền quân chủ lập hiến nhằm giảm bớt mâu thuẫn xã hội. Nhưng quốc vương của chính phủ này lại có quyền nắm quân đội hoàn toàn trong tay. Song những quyết sách của chính phủ lại phải được thông qua hội đồng chính phủ và có thêm chữ kí của quốc vương thì mới có hiệu lực. Nói sơ qua như vậy về Phillippine để có thể thấy được sức ngưng tụ của chính phủ mới thuộc về người Phillippine không phụ thuộc Tây Ban Nha có sức ngưng tụ ra sao.

Sức ngưng tụ của nó mạnh mé đến nỗi người Tây Ban Nha sinh ra và lớn lên trên đất Phillippine cũng ủng hộ. Họ không muốn Phillippine phải phụ thuộc mẫu quốc gì đó để hàng năm phải đóng một khoản thuế lớn vô ví đến khó tin. Quân đội của Ko Pulaco đã nở ra một cách chóng mặt lên đến con số 25 ngàn người với trang bị súng trường các loại, đây là họ thu được vũ khí trong kho của người Tây Ban Nha để lại.

Bên cạnh đó người Phillippine không đần, họ biết Tây Ban Nha sẽ trở lại và có lẽ sẽ có cả quân Pháp tham dự vào, tuy tình cảm của Phillippine và Đại Nam đã xuống thấp đến cực điểm nhưng Ko Pulaco vẫn kiên trì vô lối mà tìm mọi cách thuê bằng được 10 sĩ quan “cao cấp” của Đại Nam tiến hành công tác tại Phillippine. Tất nhiên giá cả cho thuê cao một cách bất hợp lý nhưng mà Ko Pulaco chấp nhận. Ông ta nhận thấy rằng nếu dùng cách đánh của người Tây Ban Nha mà chống lại họ thì chính là một việc làm ngu xuẩn, ông muốn dùng cách đánh “hiệu quả” của Người Đại Nam để trường kì kháng chiến với quân Tây Ban Nha nếu họ quay lại Phillippine.

Dưới sự tư vấn quân sự của sĩ quan Đại Nam ( Vạn Ninh) cùng với sự tinh minh của mình thì Ko Pulaco không ngồi khoog trong mấy tháng qua. Quân đội của tân Chính Phủ Philliippine đẽ đánh sâu vào trong lục địa của đảo Luzon mà nhanh chóng, dễ dàng chiếm được các vùng trọng điểm chiến lược như: Urdaneta, Tarlac, Cabanatuan, Baguio, Narvacan. Tất nhiên quân đội Tây Ban nha ở những thành phố sâu nội địa, kém phái triển này không hề có sức chiến đấu gì nhiều. Họ chẳng qua là các đồn lính nỏ quản lý các thành phố hạn ba trên. Nhưng đối với Ko Pulaco mà nói thì đây mới là khu chiến lược quân sự quan trọng với ông, nhất là Urdaneta gần như chỉ là một nhóm làng mạc nằm rải rác trong các thung lũng với địa hình đồi núi phức tạo đến ghê người. Chính phủ mới Phillippine không ngu, họ không điên mà lập khu căn cứ chiến đấu ở các hải cảng, nơi mà bất kì lúc nào cũng có thể gặp tập kích của hạm đội Tây Ban Nha- Pháp. Hạm đội của tân chính phủ Phillippine chỉ có 5 tàu khu trục nhỏ chạy bằng hơi nước mà một loạt thuyền buồm gỗ mà thôi. Với lực lượng này thì có thể nói là sức chiến đấu của hải quân tân chính phủ Phillippine là không có.

Các xưởng cơ khí, luyện thép, nhà máy chế tạo súng, nhà máy chế đạn pháo mà quân Đại Nam thương tình không mang đi đã được người Phillippner chuyển hết về Urdaneta, Tarlac, Cabanatuan những nơi có địa hình phức tạp, nằm sâu trong nội địa.

Như đã nói, người Tây Ban Nha nhanh chóng chiếm được cảng Manila trong hai ngày, 11 tháng 8, 4 ngàn bộ binh Tây Ban Nha lũ lượt đổ bộ cảng Manila, họ muốn một trận đán tan thứ quân “ô hợp”, “đáng buồn cười” mà họ coi là các con khỉ “thổ dân” nhảy nhót” kia. Nhưng con đương 10 km từ cảng Manila cho đến pháo đài là một con đường trải đầy máu của người Tây Ban Nha, dân bản địa Phillippino đã dạy cho những tên tự xưng là mẫu quốc một bài học kinh nghiệm xương máu và nhớ đời.

Pháo cối Đại Nam M62 có số lượng 20 thanh được để lại với tình “hữu nghị” cuối cùng, nhưng công nghiệp Phillippine cực kì phát triển ( so với châu á) . Các kĩ sư cơ khí của Phillippine thừa sức bắt trước các mẫu pháo kia để chế tạo. Mặc dù họ không hiểu kĩ thuật tôi nòng của người Đại Nam nhưng họ có thể tôi toàn bộ nòng thành thép cứng, tất nhiên như vậy sẽ thiếu tính đàn hồi của lớp vỏ ngoài. Nhưng trí tuệ Phillippine không kém, họ thêm các đai thép bên ngoài nòng pháo để gia cố. Chính vì thế tuy trọng lượng có tăng cao một chút nhưng hiệu quả thì không giảm nhiều.

Cũng như Đại nam , Phillippnine nhận ra ưu điểm của pháo cối thích hợp với chiến tranh du kích, và trọng điểm phát triển của họ là pháo cối. Chế tạo nhanh, rẻ, hiệu quả, uy lực.


Các thanh pháo cối nếu chọn vị trí thích hợp thì có thể bắn vượt cả tán cây rừng mà tấn công địch. Con đường từ cảng Manila tới pháo đài là thiên đường của phục kích chiến nhóm nhỏ và Pháo cối tấn công. Tổng số 50 thanh pháo cối có made in Đại Nam, có made in Phillippine dồn dập khạc lửa cướp đi sinh mệnh quân Phillippine. Tất nhiên bộ binh đánh du kích của người Phillippine thoát ẩn thoắt hiện cũng anh dũng không kém mà thu gặt sinh mệnh địch.

Nhưng người Tây Ban Nha không phải ăn chay, họ tổ chức các đọ càn quét quy mô vào trong rừng nhằm tiêu diệt đội “pháo binh” của địch. Vì pháo kéo thường nặng lắm, bắn xong mà muốn chạy cũng khó, vì thế mới có danh từ, trận địa pháo. Nhưng mà người Tây Ban Nha xông vào rừng thì chỉ có các bãi đất trống được xan lấp cho phẳng nhằm bố trí pháo binh mà thôi. “Pháo” của người Phillippine không cánh mà bay rồi, lại chẳng bay, vì đúng thật là chúng đang bay trong không khí với bốn cánh tay trợ lực của bốn tên thanh niên khỏe mạnh. Trận địa pháo cối có cái hay nhất là đánh xong chạy, chạy xong lại đánh, thứ này cực kì khó chịu. Tiu rằng xác xuất bắn trúng mục tiêu là không cao, nhưng nếu đã chúng thì đạn 24 pound không phải đùa. Mà mỗi lần tiếng pháo nổ lên đều gây nên sụ hoảng loạn vô cùng cho người Tây Ban Nha vậy. Cuộc chiến tại Manila không hề đơn giản, người Phillippine lại càng không hề đơn giản..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 165: Chiến thắng lịch sử của người Phillippine



Nhận thấy tình hình khó khăn của quân Tây Ban Nha thì thiếu tướng hết thời Louis-Adolphe Bonard phát biểu như chém đinh chặt sắt.

“ Cách đánh của người Phillippino tương tự người A nam, vũ khí cũng không khác là bao. Nhưng chất lượng về binh sĩ cũng như vũ khí thua xa quân A nam. Vậy các ngài muốn tấn công Đại Nam thì không ngại thử lửa một hai tại Phillippine”

Trong kế hoạch thì quân Pháp không hề có ý tưởng đổ bộ giúp quân Tây Ban Nha bộ chiến, họ chỉ có hỗ trợ trong việc chiếm hải cảng mà thôi. Mối quan tâm của người Pháp là Đại Nam đế quốc. Rigault de Genouilly đô đốc không phải là người ngu, thông qua thông tin thì ông cũng hiểu rõ được một điều, đội quân A nam mà ông sắp đối diện tới đây không phải là đội quân chân đất cầm đao kiếm như 5 năm về trước. Để hiểu rõ hơn tình hình và phương thức tác chiến của người A nam thì ông quyết định tung vào Manila 3 ngàn lính Pháp người Phi để thử nghiệp chiến trường.

Thoáng chốc quân số liên quân Pháp_ Tây Ban nha tại Manila tăng lên 7000 người, quân số Phillipine có nhiệm vụ cầm chân quân thù thực dân nơi này chỉ là 3 ngàn mà thôi. Tất nhiên để đánh du kích thì 3 ngàn vẫn có tác dụng to lớn. Liên quân sau khi trầy trật vất vả tiến vào được trung tâm Manila thì cũng đã thiệt mạng hơn hàn người. Mà thông báo về thương vong của đối phương chỉ là lẻ tẻ hơn trăm. Tỉ lệ thương vong là 10:1 khiến cho liên quân kinh khủng hoảng hồn.


Manila lúc này là một thành phố chết, còn đâu khung cảnh sầm uất tráng lệ của một cảng biển quốc tế trung tâm tuyến đường vận chuyển Á Âu. Pháo Đài đã bị phá hủy toàn bộ sau khi quân kháng chiến Phillippine quyết định sách lược đánh du kích lâu dài. Người Phillippine không muốn để lại các căn cứ để cho Tây Ban Nha có thể tận dụng, ít nhất Tây Ban Nha người cần tốn quá nhiều thời gian để xây dựng lại các cơ sở phòng thủ trên. Ghê gớm nhất đó là người Philliipine đã dùng tàu hỏa di dời hết dân của Manila đi các vùng khác sau đó phá hủy đường ray. Kể từ đây Liên quân Pháp- Tây Ban nha muốn tấn công các thành phố trong lục địa chỉ có thể đi bộ qua những con đường vắng vẻ và là thiên đường của chiến tranh du kích.

Muốn xây dựng lại pháo đài Manila mà không có dân thì 4000 quân Tây Ban Nha đừng có mơ. Họ có hai lựa chọn, một là rút khỏi Manila tìm một cảng biển khác tiến hành cơ cấu lại địa bàn sau đó tiến quân nội địa. Hai đó là bắt buộc phải tự mình xây dựng lại nơi đây, một Manila đổ nát. Tất nhiên người Tây Ban Nha có thể xửng dụng chiến hạm đi khắp nơi bắt dân về để giúp họ xây dựng, nhưng số tiền bỏ ra là quá lớn. Cộng thêm phong trào yêu nước chống thực dân của Phillippino đang dâng cao, việc đến các cảng biển nhot bắt người là khó lắm, chỉ cần nhác thấy bóng quân Tây Ban Nha ngoài bờ biển là họ đã khăn gói quả mướp chạy biến mất rồi.

Liên quân 6000 người thiệt hại khá nặng nề mà đành phải trú đóng tại thành phố Manila đổ nát. Nhưng sự việc đâu có đơn giản như vậy, những cuộc tập kích nhỏ liên miên trên đường phố đổ nát Manila liên tiếp diễn ra trong một tuần sau đó khiến cho liên quân mệt mỏi vô cùng. Nhưng có điều liên quân cũng yên tâm lại không ít khi biết được số lượng quân kháng chiến chỉ có “vài” ngàn người. Chỉ cẩn 6 ngàn người tụ tập lại, bố trí phòng thủ cẩn thận thì sẽ yên tâm hơn. Trong lúc 6 ngàn người đóng quân tại Manila đang chờ đợi mệnh lệnh mới từ ban chỉ huy cấp cao nhất tại cảng Manila thì cũng là lúc các bộ não chiến lược quân sự hai nước đang đau đầu bàn bạc về kế hoạch tiếp theo.

Nhưng người Philllippine lúc này có phải là gà tây cho người Châu Âu tập bắn, Họ có đến 25 ngàn quân cơ đấy, nhưng các sĩ quan kinh nghiệm của Đại Nam dã tư vấn rồi. Đánh du kích mà quá nhiều người thì càng khó tổ chức và vướng víu, quân địch dễ tìm ra các nhóm lớn mà tiêu diệt gọn. 3 ngàn người tung vào Manila là thừa đủ. Quang trọng nhất đó là du ngủ đối phương về lực lượng thực chất của tân chính phủ.

Đêm này 20 tháng 8, một cuộc tổng tiến công mang tính bất ngờ và quyết liệt nhất đã diễn ra tại Manila. 15 ngàn quân Phillippino được bí mật vận chuyển theo đường rừng đã tiếp cận thành phố Manila đổ nát. Một cuộc chiến không khoan nhượng của kẻ bị xâm lược và người đi xâm lược đã diễn ra trong thời điểm rạng sáng.

Ban đầu là 70 thanh pháo cối nổ dồn dập khắp nơi, tiếp theo là xung phong một cách chính diện, không du kích, không bắn tỉa mà là bắn một loạt xúng rồi lưỡi lê xung phong. 15 ngàn người tràn ngập thành phố nhỏ đổ nát, 6 ngàn liên quân da vừa trắng vừa đen vật lộn cùng 15 ngàn người da vàng. Đây là trận chiến mang tính tàn sát mà không có tù binh, không có khoan nhượng. Phương pháp gần giống như cách của Hoàng Diệu đã thực hiện tại thành Gia Định. Cả hai đều là những thành phố đổ nát không có công sự vững chắc.

Tất nhiên là thương vong thực sụ quá khủng bố Liên quân Tây Ban Nha- Pháp gần như bị tiêu diệt hoàn toàn chỉ có hơ ngàn người có thể thoát chạy về bến cảng. Nhưng họ lại bị chặn đánh lẻ bàng 3000 quân du kích Phillippino trên con đường dài 10km này. Kết quả về đến cảng biển chỉ có lèo tèo vài trăm người mà thôi.

Quân Phillippine thương vong không kém, thực chất ra họ thương vong nhiều hơn liên quân trong trận tổng phản công. 6 ngàn người Phillippine ngã xuống hoặc thương vong. Tỉ lệ thương vong là Phillippine 6: liên quân 4. Nhưng nếu tính cả trận phục kích trên đường rút lui của liên quân thì tỉ lệ là 1:1.

Nhưng đối với người Phillippine thì họ đã chứng minh được chính phủ tân thời quân đội có thể đả bại được Liên quân hai nước Pháp_ Tây Ban Nha.Trận Manila 20/8/1862 được ghi vào lịch sử của nước này. Đây là trận chiến mà nơi này Ko Pulaco đã chứng minh được tài lãnh đạo của mình ( tất nhiên là có sự trợ giúp rất lớn của sĩ quan Vạn Ninh) và tân chính phủ có thể chứng minh rằng họ có thể đơn độc chiến thắng kẻ thù mà không chỉ dựa vào Đại Nam.

Lần trước vì có Đại Nam trợ giúp nên cho dù Ko Pulaco lên ngôi quốc vương Phillippine nhưng vẫn không thiếu sự nghi ngờ, e ngại. Nhưng sau chiến thắng lịch sử này thì uy tín, sự nổi tiếng của Ko Pulaco đã trấn áp hết thẩy. Sức quy tụ của Ko Pulaco quốc vương lên cao không gì sánh nổi. Về điểm này Ko Pulaco đã đuổi kịp cha con Trần gia chỉ trong một thời gian ngắn. Cái gọi là danh bất chính, ngôn bất thuận là vậy đó. Diêu thiếu mất rất nhiều công sức để gây dựng uy tín của Trần gia trong dân vì Trần gia không phải hoàng tộc, nhưng Ko Pulaco chỉ trong mấy tháng với chức danh quốc vương đã làm tốt hơn cả Trần gia cố gắng trong 3 năm.


Liên quân hai nước Tây Ban Nha- Pháp đóng quân tại cảng Biển Manila thật ra cũng có phát hiện ra sự bất thường của doanh trại mới chiếm đóng tại Trung Tâm Manila. Nhưng họ chưa kịp đưa ra phản ứng mang tính hiêu quả thì quân lính tại thành phố đổ nát đã thảm bại. Số viện quân 5 ngàn người Pháp từ cảng Manila đi vào nội địa bị sự quấy nhiễu của 3 ngàn lính Phillippino mà không thể tiến nhanh cho được. Đến khi nhánh viện quân này gặp được vài trăm bại quân từ trung tâm thành Phố Manila chạy về thì họ đã biết cứu viện là một việc không cần thiết.

Bộ binh của Tây Ban Nha gần như bị tận diệt, 3 ngàn lính Pháp gốc Phi cũng bị nướng mất không thương tiếc. Chie trong gần hai tuần lễ chiến đấu tại Phillippine thì quân Pháp không nhiên lại mất đi 3 ngàn người mà chẳng đạt được mục đích thiết thực nào. Quan trọng là cả liên quân đều sợ hãi với lối chơi mạng đổi mạng của người Phillippine. Họ sẵn sàng hi sinh vài triệu dân để làm chuyện này, vậy quân Tây Ban nha cần cửa bao nhiêu lính để có thể lấp đầy cái cỗ máy xay thịt nạy. Quan trọng nhất đó là, người Phillippnino có thể chơi bài mạng đổi mạng thì người Đại Nam cũng có thể làm như vậy quá đi chứ.

Theo nhận định sơ bộ của thiếu tướng Louis-Adolphe Bonard thì quân Đại Nam đông hơn, trang bị tốt hơn và mạnh hơn quân Phillippine, vậy thì trận này 17 ngàn bộ binh Pháp phải đánh ra sao? . Rigault de Genouilly đô đốc bắt đầu cảm thấy lòng tự tin của ông khi ban đàu nhận trách nhiệm đánh chiếm Đại Nam đã bị giảm tới đáy. Ông ta không thể quyết định được chiến lược tiếp theo của đội quân Viễn chinh khổng lồ của Pháp tại Đông Nam Á lúc này.

Rất nhiều phương án chiến lược được các chuyên gia quân sự trong ban tham mưu đưa ra cho vấn đề Đại Nam nhưng đều bị phủ nhận một cách phũ phàng. Chiến lược đầu tiên là dùng hạm đội mạnh để phong tỏa toàn bộ vùng Biển Đại Nam, tiến hành bắn phá từ bò biển. Nhưng vấn đề đó là Tây Ban Nha đã mất đi quyền kiểm soát Phillippine. Hạm đội Pháp sẽ không có tiếp tế cũng như sự bảo dưỡng duy tu chiến hạm từ các cảng bieense Phillippine. Do đó việc tiến hành các cuộc phong tỏa và bắn phá Đại Nam bờ biển không thể kéo dài và không bao giờ tạo được áp lực cần thiết. Quảng Châu Loan lúc này vẫn chưa thuộc quyền thuộc địa của Pháp. Nơi đó chỉ là một thương cảng mà Đại Thanh kí kết mở cửa thương mại cùng người Pháp mà thôi. Chúng hoàn toàn không thể trở thành một nơi cung cấp tiếp tế cho một Hạm đội khổng lồ như lúc này.

Đổ bộ thẳng lên Đại Nam thì người Pháp lúc này không đủ tự tin, thông tin binh lực hiện đại của Đại Nam lúc này là bọn họ không hề nắm được, chỉ có thông tin từ Louis-Adolphe Bonard thì biết được rằng quân đội Nam kì có tầm 15 ngàn người trang bị hiện đại mà thôi. Tổng số quân của cả Đại Nam là 2 vạn , 4 vạn, hay mười vạn? là con số mà người Pháp không có biết.

Tiến thối lúc này lại thành lưỡng nan với đội quân viễn Chinh khổng lồ này. Rigault de Genouilly đô đốc bỗng nhiên cảm thấy việc mình lĩnh trách nhiệm đi đánh Đại Nam lúc này là một sai lầm vô cùng nghiêm trọng. Thà rắng hắn ở lại Pháp mà ung dung với các thành quả đã đạt được có phải là một ý hay hay không?

Trong lúc liên quân Pháp- Tây Ban Nha nằm chết dí tại cảng biển Manila và không thể tìm ra hướng đi thiết thực thì một nhân vật mới xuất hiện. Thương nhân, nhà thám hiểm, tên thực dân Saint-Just-la-Pendue một trong những nhân vật suất sắc của công ty Đông Ấn Pháp.

Tên thương nhân này mới có 34 tuổi nhưng có một bề dày lí lịch đáng kể trong các cuộc thâm nhập, thực hiện thực dân thuộc địa của công ty Đông Ấn Pháp. Và Saint-Just-la-Pendue cũng được coi là thổ địa ở Đông Á khi hắn đã có 8 năm hoạt động nơi này. Lần nay Saint-Just-la-Pendue đến Manila cùng với một nhân vật đặc biệt, đây là một thanh niên Á Đông có bề ngoài đẹp đẽ đến rối mù. Vẻ đẹp của tên này khiến cho lũ quý tộc quân nhân Pháp cũng như Tây Ban Nha théo nhỏ dãi. Phải nói lúc này phong trào đồng tính quan hệ trong quý tộc phương Tây rất là đỉnh cao, những nhân vật như tên thanh niên Á đông này quả thật rất được ưa chuộng đấy.

Nhưng Saint-Just-la-Pendue và tên thanh niên này đến Manila vì hiến dâng kế sách đánh Đại Nam mà không phải là đến để lên giường cùng mấy vị quý tộc có thói quen quan hệ đồng tính. thiếu tướng Louis-Adolphe Bonard không có xa lạ gì với hai tên này vì chúng chính là những người bày ra kế sách đánh thẳng Kinh Thành Huế khiến cho quân Pháp tại Đại Nam vấp ngã không thể dựng lại được.

Nhưng Louis không có quyền trách cứ Saint-Just-la-Pendue vì những thông tin mà gã này cung cấp đều chính xác, Đại Nam nội loạn, tiến vào Huế là chuyện không khó khăn. Còn quyết định có thực hiện chiến dịch hay không lại là Louis. Do đó không thể nào nói gì về Saint-Just-la-Pendue được rồi..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 166: Âm mưu thâm hiểm



Cuối tháng 8 một lá thư theo một cách bí mật nhất được đặt trên bàn làm việc của Diêu thiếu, lad thư có nguồn gốc từ Đại Tá hải quân Pháp Ferid Lefebvre. Nói thật Ferid Lefebvre cũng phải rất vất vả mới có thể chuyển được lá mật thư này đến được Vạn Ninh. Cũng may mắn đó là trong gần hai năm qua gia tộc Lefebvre và Vạn Ninh làm ăn rất khăng khít và bí mật nên Ferid Lefebvre mới có được khả năng thực hiện được việc này.

Bức thư này được viết theo mật mã quy định của Diêu thiếu và gia tộc Lefebvre vậy nên bức thư này có rơi vào tay người khác cũng khó bị phát hiện ra nội dung bên trong. Tất nhiên hệ thống mật mã này khác với hệ thống mà các mật vụ của Vạn Ninh xử dụng. Diêu thiếu không có điên mà công khai hệ thống mật mã của Vạn Ninh ra ngoài.

Trong bức thư của Ferid Lefebvre có đoạn viết như sau: “…. Đại Nam có người của Pháp, hoặc giả thế lực nào đó muốn Pháp khống chế Đại Nam. Một người Châu Á có tên tiến pháp là Adam đã thỏa thuận với người Pháp về một chính quyền bù nhìn mà quốc vương mới của Đại Nam sẽ do tổ chức của tên Adam chỉ định. Tất cả binh lực, sự bố trí của các vị đã bị người Pháp biết. Chúng tôi sẽ tấn công vào Sông Hồng và chia cắt Đại Nam, cô lập Huế và phần phía Bắc còn lại….”


Đúng thật là tên thư sinh mặt ngọc tự lấy tên tây cho mình là Adam kia đã phân tích rất cặn kẽ. Đại Nam như một con rồng. Tất công phần đuôi của nó thì cả đầu và thân mình của nó sẽ trở ngược mà cắn các vị. Tất công phần đầu cũng không được. Nhưng Đại Nam có chỗ yếu đó là không có chiều sâu về mặt lục địa, vậy nên cách đánh là chia cắt chúng ra. Nhưng người Pháp không biết được bố trí binh lực Đại Nam ra sao mà chia cắt đánh, nhỡ đâu đánh đúng vào hang ổ có cả vạn người cầm súng đang chờ thì tai họa như trận Manila sẽ lập lại ngay lập tức. Nhưng tên thanh niên Người Châu Á này lại mang đến một bản đồ bố trí sơ bộ gần như khá hoàn hảo cho quân sự của Đại Nam. Chính vì vậy một kế hoạch tấn công vào Sông Hồng được định ra.

Tên thanh thanh niên có tên Adam còn có nói, tình hình này khó có thể đánh bại Đại Nam bằng binh lực, chỉ có thể tìm cách để người Đại Nam tự đánh bản thân mới là thượng sách. Vậy nên kế hoạch của người Pháp là đánh vào Sông Hồng chiếm đóng Nam Định. Hà Nội, Ninh Bình. Từ đó sẽ chia cắt hoàn toàn cụm căn cứ Vạn Ninh, Thái Nguyên Cùng triều Đinhg Huế. Sau đó sẽ cho hạm đội phong tỏa biển Quảng Yên.

Theo tên người Châu Á có tên Adam nhận định thì Vạn Ninh mới là đầu tàu quân sự, kinh tế của Đại Nam, chỉ cần khóa chết Vạn Ninh thì Đại Nam như mất đi 70% sức mạnh. Đến lúc đó thì Huế bắt buộc phải thỏa hiệp. Và ý đồ của tên thanh niên Á đông này là phân hóa Huế và Vạn Ninh, khiến cho Vạn Ninh tự lập, đó là chia bé sức mạnh của Đại Nam, đến lúc đó có thể thỏa hiệp để cho cha con họ Trần làm vương Đất Bắc. Chính khi đó thì họ Trần vì quyên lực, vì sự tự lập sẽ không quan tâm đến Huế . Điều này sẽ khiến Huế trở nên cô lập, không có sự hỗ trợ của Vạn Ninh thì Pháp có thể như tằm ăn rỗi mà từ từ lấn xuống phía Nam. Đến khi chiếm được đất đai đủ, có nhân lực, có thực dân địa thì hoàn toàn có thể tập trung mà xử lý cái đầu tàu Vạn Ninh.

Tất nhiên kế sách thâm hiểm của tên Á Đông tên Adam được ban tham mưu của Pháp đánh giá cực kỳ cao và có tính thực tiễn cao. Họ hanh chóng lên kế hoạch tấn công Hà Nội qua Sông Hồng. Con sông này đủ lớn để có thể cho Tuần Dương Hạm tiến vào và bên cạnh đó người Pháp còn được tổ chức của Tên thanh niên cung cấp đủ hoa tiêu dẫn đường cho lần tấn công này.

Tao kế hoạch thì ngày 1 tháng 9 quân Pháp sẽ đổ bộ sông Hồng và tiến hành đánh chiếm Nam định. Tức là kể từ lúc Diêu thiếu nhận thứ của Ferid Lefebvre thì chỉ có 4 ngày cho quân Vạn Ninh có thể làm ra ứng đối. 4 ngày có thể làm được gì? Diêu thiếu không thể không căm hận mà lật tung cả cái bàn trước mặt.


Kế sách quá âm hiểm, quá ác độc. Cả Vạn Ninh , Thái nguyên sẽ bị cô lập bao vây, rồi những diễn biến hòa bình, diễn biến chính trị, diễn biến chiến tranh tiếp theo sẽ khiến tình hình không biết đi đến đâu. Mọi bố trí của người Đại Nam đều là công cốc. Quân lực của Đại Nam phân bố cực kì không đồng đều do sự cải cách quân sự vẫn chưa triệt để. Và Diêu thiếu cuồi cùng cũng chỉ là một siêu mật thám mà không phải là một nhà quân sự có tầm nhìn chiến lược. Nếu thay Diêu thiếu bằng những bộ não như đại tướng Võ Nguyên Giáp, Lê Trọng Tấn, Thượng tướng Trần Văn Trà … chẳng hạn thì họ thừa sức bố trí một chiến trường Đại Nam không một giọt nước lọt vào nổi với binh lực tương quan hai bên như vậy. Nhưng biết thì biết Diêu thiếu không thể làm gì khác hơn. Sai lầm thì đứng lên sửa chữa, chứ không phải sai lầm để nằm xuống rồi kiệt quệ.

Hà Nội, Nam Định khẳng định là giữ không nổi, 4 ngày chỉ đủ để quân Vạn Ninh, Thái Nguyên đế nơi mà không thể có bất kì một bố trí nào. Chỉ có thể giữu được Gia Lâm và thủ chắc Hải Dương không để quân Pháp đổ bộ bờ Đông sông Hồng mà thôi. Diêu thiếu quyết định thật nhanh mà chuyển 4 ngàn quân từ Thái Nguyên vào Từ Sơn rồi thiết lập phòng tuyến Đông sông Hồn đoạn Gia Lâm. Tiếp theo là 5 ngàn quân từ Vạn Ninh lao vội về Hải Dương thiết lập tuyến phòng thủ. Lúc này đã gấp đên tận răng nên Diêu thiếu chẳng ngại chó gì Tuần Tổng đốc hay tuần Phủ Hải Dương nữa. Lúc này mà lũ ấy láo nhào là Dieu thiếu xử lý luôn. Vận nước đã long đong đến độ không còn nguy cơ nào lớn hơn nữa thì thái độ của Huế, ngôn quan gì đó chẳng quan trọng nữa rồi.



Diêu thiếu căm thù hết mức độ mà nhìn chăm chăm và một bức vẽ truyền thần băng bút chì kèm theo bức thư của Ferid Lefebvre . Phải công nhận rằng Ferid Lefebvre không ngờ còn có cái tài năng này, hắn có thể nhớ lại mà vẽ ra được bức họa của tên Adam, đây là một đại ân đối với Diêu thiếu. Lực lượng mật vụ của Diêu thiếu vẫn đang điều tra về tổ chức trong bóng tối tại Đại Nam, tất nhiên họ cũng có nhiều bước tiến nhất định. Nhưng vì lý do không thể quá mở rộng tổ chức tại Huế vì tránh sự nghi ngại của triều đinhg nên tổ chức mật vụ gặp khá nhiều khó khăn. Nhưng nay có hai manh mối là bản họa của tân Adam và tên thương nhân công tu Đông Ấn Pháp có tên Saint-Just-la-Pendue sẽ là bước đột phá lớn lao.


Nhìn bức họa tỉ mỉ và chi tiết về một gương mặt mà nếu không nói là đàn ông thì rất có thể Diêu thiếu ngỡ là mĩ nữ á đông. Thật không biết bức họa này giống đến bao nhiêu phần nhưng Diêu thiếu nghĩ có lẽ sẽ khá chính xác. Bút lực của Ferid Lefebvre rất tốt, tốt đến như vậy thì khả năng có thể truyền thần giống đến 7-8 phần là rất thực tế. Quang trọng là người này đẹp đến mức độ khó tin trong nam giới nhóm vậy nên sẽ rất dễ để nhận biết ra.

- Đưa bức họa này đến nhà máy in, chế tạo âm bản nhanh nhất, tin ra và phát cho tất cả cho tổ chức tại các tỉnh thành, nhiệm vụ tối quan trọng, lần theo manh mối của người này. Truyền tin cho Lý Tấn ở Hongkong yêu cầu hắn tiếp cận Saint-Just-la-Pendue.

Diêu thiếu ngay lập tức ra lệnh cho mật vụ nhóm, cái đinh trong lòng Đại Nam mọt ngày chưa nhổ thì Đại Nam một ngày chưa yên. Hãy nhìn nhưng gì chúng đã làm, tổ chức đảo chính không chỉ một lần, khống chế quan viên Đại Nam, nay là dẫn đường cho quân Pháp phá vỡ bố trí phòng thủ của người Việt. Diêu thiếu có 100% xác định chuyện lần này liên quan đến nhóm chuột cống chết tiệt kia. Không phải chúng thì không ai có cái động cơ này và cũng không ai có cái năng lực này.

Đúng như dự kiến ngày 1 tháng 9 quân Pháp tiến công vào Nam Định thông qua đường sông Hồng. Vào lúc 9 giờ sáng, 4 tuần dương hạm 15 khu trục hạm và nhiều tàu vận binh đã tới một khuỷu sông gần thành Nam Định. Tất nhiên quân Nguyễn đã phát hiện tàu địch và tấn công dồn dập nhưng Quân pháp không bị thiệt hại nào đáng kể. Đồng thời đạn đại pháo từ trong thành bắn ra nhưng hầu hết đều không bắn trúng được chiến hạm của người Pháp, hay là có bắn trúng thì cũng vô hiệu quả. Những thanh súng thần công kiểu cũ của Đại Nam uy lực không cao, nhất là thành Nam Định không có nhiều súng thần công cỡ lớn . Nhiều binh sĩ Pháp leo lên cột buồm tàu bắn trả khiến cho việc tấn công của quân Nguyễn trong thành bị áp chế. Đại bác của quân Pháp cũng nổ vang mà bắn vọ vào trong thành Nam Định. Hơn một ngàn lính Pháp gốc Phi liều chết đổ bộ thành Nam của Nam Định và tổ chức vận chuyển đại pháo lên nơi này. Nhưng đây là nhánh quân đánh nghi binh thu hút hỏa lực của binh sĩ trong thành Nam Định mà thôi. Thực sự thì nhánh quân được gọi là tinh binh với những binh sĩ Pháp đã được vận chuyển lê bờ Đông của Thành Nam định.

Trước cổng thành phía Đông, Trung Úy Florian đã chỉ huy binh lính Pháp dùng đại bác bắn phá cửa thành hơn chục thanh pháo Napoleon III đã phá tan cửa thành Đông của Nam Định sau ba bốn lượt pháo. Quân Pháp như kiến mà bò lổm ngổm vào trong thành Nam Định, quân lính trong thành hoảng sợ rút lui tìm đường chạy trốn về phía cổng thành phía Tây . Thành Nam Định bị thất thủ.

Nói một cách chính thức thì thành Nam Định thất thủ không có gì lạ. Quân Nguyễn thủ thành chỉ có tầm 1 ngàn người, với trang bị thô sơ. Quân Pháp có binh lực lên tới 4 ngàn người với súng trường Đại Bác. Quân dân Nam Định cầm cự được 2 tiếng đồng hồ phải nói là quá giỏi rồi. Đấy cũng là do tinh thâng chiến Đấu của người Đại Nam tăng rất cao sau những chiến thắng liên tiếp của Vạn Ninh, Hoàng Diệu kiến cho người Việt tự tin lên rất nhiều.

Nhớ đến trong lịch sử thành Nam Định bị tấn công vào ngày 10 tháng 12 năm 1873. Chỉ có một khu trục hạm tên Scorpion cùng mấy chục binh sĩ Pháp cũng có thể công phá được thành Nam Định đó. Nhưng nay đứng trước hàng ngàn quân Pháp với chiến hạm đầy mặt sông mà quân dân Nam Định vẫn dám đánh trả thì đây quả là một kỳ tích cho lòng chiến đấu quả cảm của họ rồi. Tuy bại mà không nhục nhã, họ đã dùng pháo bé lạc hậu, súng hỏa mai kém chất lượng, đao, kiếm mà chiến đấu hơn một canh giờ trước khi thất thủ.

Nhưng quân Pháp có thể chiến thắng dễ dàng ở thành Nam Định xong ở khu vực Thái Bình thì không có đơn giản như vậy. Vì quân Vạn Ninh đã quyết không để người pháp thuận lợ tiến vào Hải Dương nên họ đã chủ động đánh chặn từ xa, và Thái Bình chính là chiến trường khốc liệt thử lửa của đôi bên..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 167: Mọi tính toán đều là sai lầm cả.



Nói đến Thái Bình để mọi người dễ hinhg dung về địa lí. Lúc này không hề có cái gì là tỉnh Thái Bình cả, Vùng đất Thái Bình lúc này tới nhà Hậu Lê, thời vua Lê Thánh Tông về sau vùng đất Thái Bình ngày nay thuộc trấn Sơn Nam. Đến cuối thời nhà Lê trung hưng sang đầu nhà Nguyễn, vùng này thuộc trấn Sơn Nam Hạ. Năm 1832, vua Minh Mạng nhà Nguyễn cắt hai phủ Thái Bình, Kiến Xương nhập vào tỉnh Nam Định, nhập phủ Tiên Hưng vào tỉnh Hưng Yên . Nói vậy toàn bộ vùng đất nằm phía đông bắc sông hồng này có một phần nhập vào Hưng Yên tỉnh, một phần là thuộc Nam Định tỉnh. Nơi này căn bản không có thành trì cấp tỉnh nào cả mà chỉ có thành trì cấp châu, huyện, là những thành bé bằng đất không có bọc gạch, hoặc những thành nhỏ với rào gỗ, tre mà thôi. Nhưng chính nơi này mới là vùng đất tranh chấp dữ dội nhất của hai bên Pháp- Vạn Ninh.

Nói đến Vạn Ninh quân có mặt tại Phủ Thái Bình, Kiến Xương thì phỉa nói đến sự việc xảy ra cách đây 2 ngày. Quân Vạn Ninh 4 ngàn người đổ vào Hải Dương. Tất nhiên Tổng đốc Hải Dương là Trương Đăng Quế sẽ không đồng ý việc này. Ông ra lệnh cho quân Hải Dương toàn bộ các thành, trấn ngăn chặn quân Vạn Ninh và nói rằng Vạn Ninh có ý đồ tiến quân về Huế âm mưu bất chính. Và chính Trương Đăng Quế cũng trong ngày thượng tấu vè triều việc Trần Quang Cán ủng binh tự lập tại Quảng Yên làm loạn, tính xua quân xuôi nam tấn công kinh sư.

Con mẹ nó rõ ràng đây là cắn càn. Nói đến Trương Đăng Quế, Nguyễn Tri Phương, Võ Văn Giải đều bị ảnh hưởng bởi vụ nhận thư tín từ tổ chức kia nên bị Tưh Đức đuổi khỏi vòng quyền lực trung tâm ở Huế. Nhưng mà những người này đều là phụ chính của Tự Đức từ khi ông còn nhỏ nên trong lòng có bán tín bán nghi nhưng Tự Đức vẫn có một chút tin tưởng nhất định. Ông không hạ quyết tâm phế các vị này mà đuổi họ ra khỏi trung ương quyền lực Huế mà thôi. Tự Đức định bụng sau khi điều tra kĩ nếu như không có liên quan mật thiết thì sẽ trọng dụng lại những người này, Thế nên Nguyễn Tri Phương được làm Tổng Đốc Hà Nam, quản lý sự vụ hai tỉnh Hà Nội, Nam Định. Còn Trương Đăng Quế thì được cử làm Tổng Đốc Hải Hưng quản lý hai tỉnh Hải Dương- Hưng Yên.

Tất nhiên quân Vạn Ninh có tiến quân thần tốc nhưng họ vẫn cho người thông báo rõ lý do tại sao đại quân quá cảnh. Đó là phòng thủ quân Pháp sẽ tấn công Hà Nội mà đánh lấn lên Hưng Yên, Hải Dương, Thái Nguyên. Nhưng mà Trương Đăng Quế không hiểu vì lý do gì mà quyết định không nghe còn lấy công báo tư thù mà chặn đứng quân Vạn Ninh lại đồng thời đặt điều Vạn Ninh muốn tiến công Huế.

Con mẹ nó đặt điều cũng phỉa sờ tay lên trán, Vạn Ninh có hạm đội như vậy nếu muốn tấn công Huế thì đi mẹ đường biển cho lành, tôi gì lắt léo vác quân xuyên qua 8 tỉnh mà đến Huế. Nếu có ý đồ thực sự thì với lối hành quân như vậy thì chỉ cần đi đến nửa Đường thì Huế đã biết mà đề phòng rồi. Sự việc nháo đến Nguyễn Tri Phương đang làm tổng đốc Hà Nam. Ông ta không tin vào lập luận vớ vẩn của Trương Đăng Quế mà lập tức thỉnh báo triều đình về việc quân Pháp có thể tấn công Nam Định, Hà Nội. Đồng thời ông cho di dân cấp tốc hai thành Hà Nội và Nam Định sau đó bị chiến. Chính vì lý do này mà tuy Nam Định trang bị thô sơ nhưng vẫn đánh trả quyết liệt quân Pháp.

Còn Trương Đăng Quyế thì sao? Ông ta không những cản trở bước tiến quân Vạn Ninh mà còn dâng tấu xớ vạch cả chục tội lớn của Quang Cán , Quang Diêu. Trương Đăng Quế nghĩ Vạn Ninh quân có mười lá gan cũng không dám động đến quân Hải Dương vì nếu đã động đến tức là ngang nhiên chống lại triều đình Huế. Mà Trương Đăng Quế lại rất hi vọng quân Vạn Ninh động đến Hải Dương quân đấy, vi nếu như vậy thì cái danh phản tặc sẽ úp luôn lên đầu hai cha con họ Trần.

Không nói nhiều 14 giờ ngày 28 tháng 8 quân Vạn Ninh nổ súng công phá thành Hải Dương, đây đã là nơi mà họ từng đổ máu bảo vệ, đã từng là nơi mà vạn dân Hải Dương hoan hô họ như anh hùng. Nhưng lúc này đây quân Vạn Ninh đang nổ pháo công phá Hải Dương , đang nổ súng giết hại binh sĩ Hải Dương, vì ai? Vì sao? Tại sao mọi chuyện lại thành ra thế này.

Như đã nói, kẻ thù trước mặt quá hùng mạnh, quân Vạn Ninh tiến lên tuyến đầu máu, lửa. Họ không muốn một Trương Đăng Quế bất ổn sau lưng mình, đấy là một con dao hết sức nguy hiểm có thể lấy mạng quân Vạn Ninh lúc này. Vậy nên công hạ Hải Dương, đả thông tuyến đường từ Vạn Ninh đi phủ Thái Bình, Phủ Kiến Xương là điều chắc chắn phải làm. Đi vòng qua Hải Dương? Có thể, nhưng chiến tranh không phải ngày một ngày hai, theo như mật báo của Ferid Lefebvre cho Diêu thiếu thì chắc chắn quân Pháp sẽ cho thiết giáp hạm và cả tá lớn tuần dương hạm phong tỏa Vạn Ninh. Đến lúc đó tiếp tuyến cho tiền phương chỉ có thể theo đường bộ và Hải Dương thành là điểm quan trọng nhất. Từ đây có thể tiếp tế cho cả Thái Bình, Kiến Xương, Gia Lâm ….

Thái độ của Trương Đăng Quế cố chấp đến mức khả nghi nên Diêu thiếu không thể không lệnh cho quân công thành mà trừ đi mối ẩn họa này. Quân trong thành thì được thông báo là đánh trả phản quân họ Trần chờ đợi viện binh của Triều Đình. Lính tráng, quân nhân thì việc đầu tiên là tuân thủ mệnh lệnh, họ đâu có biết được Trần Gia làm phản hay không, Nhưng Tổng Đốc nói vậy thì rõ ràng là đúng rồi. Vậy nên 5 ngàn quân chính quy là 1,5 vạn dân chúng được huy động để chống lại phản quân Trần gia.

Việc nước việc nhà, việc dân, việc quân, tất cả đều đổ lên đôi vai này. Đôi lúc Diêu thiếu nghĩ hay cứ để lịch sử đi theo con đường vốn có của nó. VN thời hiện đại cũng tốt mà, ít nhất là người dân hạn phúc, không đến nỗi quá nghèo, biết bao quốc gia trên thế giới cùng lúc đang phải chịu đựng chiến tranh, đói khổ kia kìa. Nhưng những lúc ấy Diêu thiếu lại lắc đầu, cảm giác tự mãn là không được, hắn muốn VN của tương lai là cường quốc, là đất nước mà các quốc gia khác phải cử con em đến du học để nhận lấy văn minh. Để cho VN là nơi mà bất kỳ một người dân nào trên thế giới đều muốn nhập cư và sinh sống. Chính vì lý tưởng trên mà hắn mất ăn mất ngủ phấn đấu quên thân như vậy đó. Và cũng vì lý do đó mà hắn ra lệnh không thương sót đánh hạ Hải Dương. Hi sinh 1- 2 ngàn người Hải Dương để có thể bảo vệ 10 vạn 20 vạn người Dân Đại Nam ở bờ Đông sông Hồng. Diêu thiếu hắn cảm thấy đáng. Có lẽ người dân Hải Dương sẽ hận thù hắn, nhưng thời gian sẽ trả lời cho tất cả.


Không ngoài dự đoán sau 1 tiếng đồng hồ chiến đấu thì quân Vạn Ninh đã công phá cửa Đông của thành Hải Dương mà tràn quân vào. Đối diện với súng ống, pháo cối, đại bác thì quân Hải Dương không chống cự nổi mà chạy tan tác. Nhưng kèm theo đó là sự hỗn loạn đến vô cùng của Hải Dương thành. Cuối cùng 4 ngàn quân Vạn Ninh phải dừng lại một ngày để ổn định lại thành trì và đợi hậu quân của Vạn Nin đến tiếp quản. Nhưng khốn nạn nhất đó là Trương Đăng Quế dẫn 3 ngàn binh chạy trốn và quay về thành Hưng Yên để cố thủ.

Diêu thiếu có một mối hận muốn chém chết tên này. Vẫn biết con trai lão Trương Đăng Trụ bị giam lỏng tại gia có đươc phần lớn là do công lao của Cán Ca. Nhưng tư thù và việc nước phải biết phân biệt lớn nhỏ. Lão già này dám lấy sinh mệnh cả ngàn Binh sĩ Đại Nam ra để thỏa mãn cái gọi là tư thù của mình thì Diêu thiếu đã quyết không dung cho lão rồi.

Quân Vạn Ninh đánh phải chia ra một ngàn người hướng Thành Hưng Yên tiến công, Vậy là quân Vạn Ninh đã thưa nay lại thớt, chỉ có ba ngàn người được Diêu thiếu lãnh đạo lao va về Thái Bình, Kiến Xương. Trần Quang cán để lại Trần Văn Vũ tủ Hải Dương sau đó cũng rút về Vạn Ninh chủ trì đại cục.


Quân Vạn Ninh lúc này đã thiếu lại còn chậm mất rất nhiều thời gian tại Hải Dương nên khi thâm nhập đến Thái Bình thì quân Pháp đã đổ bộ hoàn toàn 6 ngàn người lên mảnh đất này. Một trận chiến quy mô khốc liệt dành dật nhau từng tấc đất diễn ra. Quân Vạn Ninh lúc này là giữ đất chứ không phải là đánh cù nhây cùng quân địch, vì vậy chiến tranh du kích chỉ phát huy một phần tác dụng mà thôi. Vì Quân Pháp biết được vị trí của chủ lực quân Vạn Ninh. Chỉ cần là làng mạc thì hai quân sẽ gặp nhau xung đột. Từng ngôi làng tại Thái Bình, Kiến Xương sẽ là từng mặt trận khốc liệt nhất. Tất cả chuyện này chung quy cũng chỉ vì Hải Dương đã cản bước chân khiến cho Vạn Ninh đến muộn và quân Pháp đã dễ dàng đổ bộ lên bờ, thiết lập phòng tuyến vững trãi. Chiến tranh diễn ra tại Thái Bình là đẫm máu vô cùng.


Cũng may quân Thái Nguyên 4 ngàn người không gặp trở ngại mà chỉ mất 2 ngày để đến Gia Lâm. Họ bố trí trận địa quy củ đên hai ngày bên bờ sông hồng vậy nên quân Pháp không có ý định mà cũng không có thực lực đổ bộ nơi này. Ít nhất Quân Pháp phải có 8 ngàn binh và chấp nhận hi sinh thật lớn mới có thể dễ dàng qua sông.

Nhưng con mẹ nó thành Hưng Yên lại là một chuyện khác. Thành Hưng yên nằm bên bờ Sông Hồng, Cũng là một vị trí đổ bộ khá tốt. Đáng lẽ ra cái bãi sông nơi này khá nhỏ. Không có khả năng đổ nhiều quân và cũng rất khó công vào thành Hưng Yên nếu 1 ngàn quân Vạn Ninh thủ ở nơi này. Nhưng sự việc là Trương Đăng Quế dẫn 3 ngàn binh đến nơi đây, sau đó tụ tập với 3 ngàn binh tại Thành Hưng Yên mà chống lại quân…. Vạn Ninh. Vạn Ninh chưa kịp công hạ Hưng Yên thì 500 quân Pháp đổ bộ tại phía Tây Hưng Yên thành đã công phá trước. Trương Đăng quế bị Pháp quân bắn được, 6 ngàn binh mã trong thành Hưng Yên kẻ bị giết người bỏ chạy. Đến đây Giặc Pháp có được nơi đổ bộ lý tưởng vào phía Đông Sông Hồng. 1000 binh Vạn Ninh không thể công phá thành Hưng Yên với 500 quân Pháp tinh nhuệ cố thủ. Phía tây thành Hưng Yên thì quân Pháp ùn ùn đổ bộ, có Hưng yên thành làm bình phong thì quân Pháp có ngại gì mà không tiến đến nơi đây. Bỗng chốc thế cục nguy hiểm vạn phần. Tình thế Diêu thiếu với 3 ngàn quân tại Thái Bình, Kiến Xương rất dễ bị cô lập và bao vây..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 168: Ám sát bên sông



Chiến sự tại Bắc kỳ đang cuống cuồng diễn ra thì tại Huế tình hình vẫn còn chưa đến mức rồi loạn, ít nhất người dân thành Huế vẫn chưa cảm thấy chiến tranh tới gần, chuyện cuốc gia đại sự thôi để cho các đại quan lo liệu đi. Hào chung với không khí bình lặng của dân thường thì biệt viện bên cạnh dòng sông Hương thơ mộng cũng không khác là bao. Vẫn êm đềm lặng lẽ cũng như hết sức thong thả, lão già ngồi câu cá. Một bóng đen bỗng nhiên nhẹ nhàng xuất hiện bên cạnh lão giả khom người mà thưa.

- Thưa chủ nhân, quân Vạn Ninh tấn công Hải Dương, dẫn quân chặn đứng được quân Pháp tại Gia Lâm, Thái Bình, Hưng Yên, tình thế đang dằng co nơi đó. Trương Đăng Quế bị Pháp quân bắt được trong thành Hưng Yên.

Lão giả bỗng giật mình đán rơi cần câu xuông nước.

- Vạn Ninh quân tấn công Hải Dương vào ngày bao nhiêu?

- Dạn, dạng sáng ngày 28 tháng 9


Lão giả không còn chút nào vẻ thông dong và thay vào đó là sự sợ hãi vô cùng.


- Vậy thì Vạn Ninh ít nhất đã xuất binh vào ngày 27. Chúng đã biết trước Pháp tấn công Hà Nội. Lập tức bí mật dọn nhà, thiêu hủy hết các đầu mối liên quan.


Tên mặc hắc y đứng kế bên khẽ dạ một tiếng rồi định bước đi. Nhưng lão giả lại lên tiếng.

- Đổi cho ta bình rựu khác, đi rồi thì ít nhất cũng phải tiễn biệt nơi này chứ…


Cũng không bao lâu thì người thanh niên mặt ngọc mặc áo lựa mỏng xuất hiện. Lần này hắn bước chân thong dong, tự nhiên ,à còn thêm vài phần kiêu ngạo. Chẳng phải là các tướng quân cường cuốc Pháp cũng cúi đầu mà nghe mưu kế của hắn sao, tưởng tượng lại vẻ mặt kinh ngạc của cái gọi là ban tham mưu quân viễn chinh Pháp mà tên thanh niên mặt ngọc lại mỉm cười. Đúng là hàng giá áo túi cơm mà.


- Thưa thày con đã tới ạ.

- Con vừa cập bến sao? Đi đường có vất vả không? Tự dót cho mình một chén đi.


Vẫn là thói quen cũ, người thanh niên mặt ngọc rót cho mình một chén rượu quế hoa tửu như thường lệ. Hắn nhấp một ngum nhỏ rượu thanh rồi nhẹ nhàng trả lời.


- Dạ con vừa xuống thuyền đã bí mật đến nơi đây ạ, được lo việc thiên hạ cùng thày thì con không cảm thấy vất vả chút nào.

- Việc lần này con làm tốt lắm, có lẽ con cũng nên về nhà rồi, chuyện nơi này đã chắc thành công. Ở cái nơi như man hoang chi địa này quả là tội cho con.


Lão già rất từ ái mà nhìn học trò cưng của mình. Hắn chính ra sẽ là đại tài tử ở quê nhà. Chỉ vì phục vụ gia tộc, phục vụ tổ chức mà phải theo cái thân già của lão đến đây, quả là tội nghiệp cho hắn lắm. ÁNh mắt của lão giả đã nói lên điều này, và người thanh niên cũng nhìn ra.

Người thanh niên dập đầu lạy lục:

- Con muốn ở bên chăm sóc thầy, lo lắng chuyện thiên hạ cùng thày.

Lão giả từ ái mà vuốt ve bờ vai của tên thanh niên.

- Con có đại tài, quê nhà còn có chuyện trọng đại chờ con đó. Nơi này chẳng bao lâu chúng ta cũng sẽ rời đi thôi. Con về trước lo lắng chuyện cho thày cũng phải đạo.

Người thanh niên nghe như vậy thì lạy lục không thôi nhưng trong lòng lại vui vẻ vô cùng, hắn nhớ phương bắc thơ mộng với mưa bay lất phât, với bông tuyết trắng ngần. Thật hắn không chịu nổi con người xa lạ cùng hoàn cảnh nơi đây.

Một lát sau người thanh niên cũng rời đi, lão già bỗng nhiên trào ra hai hàng lệ : “ Đường về nhà con đi mạnh giỏi”.


Chiếc kiệu gấm lắc lư đi trong đêm tối. Người thanh niên mặt ngọc khấp khởi trong lòng vì mong ngóng ngày về quê nhà. Khấp khởi vì lại sắp được gặp lại hồng nhan tri kỉ, Tiểu Kiều hãy đợi anh về.

Nhưng bỗng chốc người thanh niên cảm thấy hơi buồn ngủ một chút, có lẽ là do mệt mỏi đường dài ư? Không phải, đừng nhìn hắn là một thân thư sinh văn nhược, từ sáu tuổi hắn đã được gia tộc bồi dưỡng võ kĩ, một thân võ công không nói là xuất thần nhập hóa thì cùng là đăng phong cực hạn rồi. Một chuyến đi Manila thì có gì là khó khăn đâu.

Là mê hồn tán, là thuốc mê trong rượu, chỉ có một cách này mới có thể giải thích mà thôi. Tại sao lão sư muốn đán thuốc mê hắn, đơn giản lúc này hắn mới hiểu được về nhà ý là gì. Khốn nạn, có lẽ thân phận của hắn đã bị lộ tẩy, cần phải bị thanh trừng. Hắn đã từng thanh trừng không biết bao nhiêu người nên quá rõ việc này rồi. Tiếp theo đó chính là sát thủ sẽ xuất hiện ngay thôi. Nên nhớ một thân công phu như hắn muốn thần không hay quỷ không biết mà hạ thủ thì khó vô cùng. Đây là kinh đô Đại Nam nếu động súng nơi này thì cả đám đừng ai yên ổn, chỉ có cách động võ mà thôi.

Nhưng độc có ba phần mùi, ngay cả hạc đỉnh hồng cũng có thể ngửi ra vị. Rượu hoa quế tuy có mùi nồng lắm nhưng với cao thủ như hắn thì chẳng có loại độc nào cho vào rượu có thể qua mắt được đấy, chỉ có bỏ thuốc mê vào khiến cho hắn mất đi sức lực thì mới có thể dễ dàng phái cao thủ ám sát đấy.

Tận dụng lúc vẫn còn chút lực lượng người thanh niên vội kẽ nói với kiệu phu.

“ Tiểu Vũ, hôm nay có người muốn giết ta, lúc này ta lao ra ngoài, các ngươi vẫn cứ như bình thường đúng tốc độ mà di chuyển”

Bốn kiệ phu đều là dòng chính của người thanh niên, họ chỉ trung thành với người thanh niên này mà thôi. Kiệu phu có tên là Tiểu Vũ thì thào đáp lại:

“ Có chúng tiểu nhân đây không ai làm hại được công tử”

Người thanh niên lắc đầu:

“ người đến các ngươi cản không được, chỉ có ta vô kì bất ý thoát đi mới là thượng sách, các ngươi thoát ra không cần tìm ta. Tìm cách trở về nhà, báo với Tiểu Kiền, nếu 1 tháng sau ta không về thì không cần chờ nữa”

“Công tử….”

“ Đây là mệnh lệnh..”


Người thanh niên thân thủ nhẹ như cánh ve lợi dụng một góc tối mà lao ra ngoài kiệu gấm. Hắn vượt tường như một con báo đen mà thoát đi. Kiệu hoa vẫn tiếp tục di chuyển với tốc độ như thường.


Trong bóng tối một tiếng cười khẽ:

“ Khá lắm đường đệ, nhanh như vậy đã làm ra ứng đối, nhưng kiệu không thay đổi mà cước lực, sức bả vai và cả cán kiệu đều không có lực.. há há.. giấu đầu hở đuôi rồi. Đuổi theo giết hết mấy tên kiệu phu đi, để mình ta đi nói chuyện cùng đường đệ than ái được rồi”


Bóng đen hắc y nhân nhẹ nhàng lên tiếng, một tiếng dạ khe khẽ vang lên, mười hắc y nhân lao vù vù vào đêm tối bám theo các kiệu phu.


Thanh niên mặt ngọc vượt tường lợi dụng bóng tối và lao đi trong đêm, bãi bồi bên dòng sông Hương thơ mộng, hắn muốn mượn con sông để thoát đi dấu vết may ra có thể sống sót. Chỉ cần tìm được một căn thuyền của người Ngư dân, cho thêm vài đồng bạc là có thể tự mình trôi theo dòng ra cửa biển. Đến lúc đó hi vọng được lực của thuốc mê sẽ qua đi thì mọi việc đại cát.

Cố lê bước chân nặng như chì với cặp mắt lờ đờ vì buồn ngủ tên thanh niên lết từng bước bên bãi sông.


“ Bốp.. bốp… bốp..”

- Tam đệ rất là khá, trúng mê hồn tán mà còn có thể trèo tường vượt vách đến tận nơi đây. Muốn theo sông mà trôi ra biển không biết đường huynh có thể giúp đệ sao.

Người thanh niên cười thảm.

- Thôi Minh Chương, không ngờ là con chó ngươi đến đây muốn lấy mạng ta sao, một con chó cả ngày chỉ có thể làm “ảnh” của ta mà cũng có cái gan này?

Tên hắc y nhân từ từ cởi ra khăn che mặt:

- Đường đệ, tử nhỏ ngươi là thiên tài, là ngôi sao sáng mà che mờ tất cả, nhưng vậy thì sao, cuối cùng kẻ làm “ảnh” như ta vẫn là người cười cuối cùng. Từ nay gương mặt này sẽ bước ra ngoài ánh sáng mà không còn là ảnh nữa… đường đệ, lên đường mạnh giỏi sao.


Kiếm đã ra khỏi vỏ, ngày 5 tháng 9 lúc này trăng còn chưa có tròn, cả một vùng tối đen như mực bỗng nhiên như bị cắt phá bởi ánh sáng trắng lóe lên kia.

“keng”

Một tiếng vang rền rã , kiếm chiêu bị đánh bay, trên tay người thanh niên mặt ngọc không biết từ lúc nào đã có một thanh thiết phiến.


- Ngươi….

Người hắc y nhân hơi biến sắc… nhưng hắn lại một lần nữa tấn công…. Đêm nay không yên tĩnh. Bên bờ sông có hai kẻ đang chém giết nhau hết sức đặc sắc.

Trên quan lộ hướng bắc lúc này một chiếc xe ngựa trông hết bình thường đang chạy, bên trong xe đang ngồi đó với quần áo khá sang trọng của viên ngoại điển hình lại chính là tên coi cửa của biệt viện. Lúc này tên coi cửa đang run như cấy sấy bời người đánh xe ngựa không ngờ lại là lão giả câu cá lúc này đang hóa thân thành một lão nông phu đánh xe rất bình thường.

“ năng lượng của Vạn Ninh quả thật rất lớn, không ngờ đến nội bộ Pháp quân cũng có nội gian. Minh Thanh đã bị lộ thì chúng ta cung rất nguy hiểm, tốt nhất là rời đi ngay và xóa hết một liên hệ..”

Đây là câu nói của lão giả cho Thôi Minh Chương trước khi lão lên đường. Lão có hơi kinh hãi và bất ngờ về năng lượng của Vạn Ninh rồi. Làm cái việc như lão thì mọi uy hiếp dù là nhỏ nhất phải bóp chết từ trong trứng nước.


Cũng trong đêm này tại một quả đồi đất bên con lộ kéo từ Hưng Yên vào địa phận Hải Dương. Một ngàn quân Vạn Ninh đã đào hào xây công sự và thủ chết nơi này. Quân pháp đã đổ bộ khá nhiều, hơn 3 ngàn người tại Hưng Yên. Cho dù quân Vạn Ninh với cách đánh du kích có thể cầm chân quân địch, kéo lại tốc độ quân địch nhưng chung quy chúng vẫn có thể tiến về Hải Dương. Đến lúc đó Diêu thiếu Diêu tướng quân của họ sẽ hai mặt thọ địch, sẽ bị cô lập như cá trong chậu ở Thái Bình, Kiến Xương. Vậy nên đội quân 1 ngàn người Vạn Ninh quyết định không thể lui hơn được nữa. Họ sẽ cố thủ ở cao điểm này cho đến khi Diêu thiếu có thể rút lui an toàn. Thông tin tình hình họ đã cử người gấp gáp báo cho Diêu thiếu rồi, chính vì vậy mà công việc của họ là liều chết để tranh thủ thời gian cho Diêu thiếu bứt ra khỏi 6 ngàn địch mà chạy về Hải Dương.


1 ngàn người này đã không có ý định hi vọng sống trở về. Phía sau họ là Vạn Ninh, là gia đình, là người thân, mà Diêu thiếu chính là Vạn Ninh, có Diêu Thiếu mới có Vạn Ninh. Cho nên họ thà rằng mình chết đi cũng không để cho Diêu thiếu bị tổn hại.


Trần Văn Vũ vỗ vai một binh sĩ tươi cười hỏi:

- Có sợ hãi sao?

Người thanh niên nhe hàm răng trắng trong đêm mà cười vang.

- Thưa Đại Tá, tôi không sợ, chết là cùng, giết một tên Tây hòa vốn, giết hai tên Tây có lời. Có Diêu Sái, Cán Soái, cẩu tử nhà tôi lại được đi học, lại lớn lên, lại được cầm súng chiến đấu cho Diêu soái, không lo đói, không lo rét.. không lo giặc cướp.

Trần Văn Võ cau mày.

- Anh mới có con sao?

Người chiến sĩ binh nhì quân đội Vạn Ninh cười bẽn lẽn gãi đầu.

- Trước khi xuất quân vợ tôi đau bụng sanh, cũng không biết con trai hay gái, chưa có đặt tên.

- Ngươi lui về tuyến sau.

Trần Văn Võ lên tiếng.

- Không, tôi không bỏ anh em, không bỏ đồng đội. Tôi không muốn con tôi lớn lên mang cái danh có cha hèn nhát trên đầu.

Trần Văn Võ muốn nói gì đó nhưng mở miệng ra mà không thốt được lời nào. Hắn túm chặt vai người thanh niên binh sĩ mà nói như rít trong hàm răng.


- Chúng ta sẽ chiến thắng, chúng ta sẽ trở về. đến lúc đó dắt ta về nhà xem mặt thắng chó con nhà ngươi.

- Rõ thưa Đại Tá..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 169: Có công nghệ , có lợi thế



Đại bản doanh của Quân Vạn Ninh tại Thái Bình tỉnh. Một tên lính thám báo đang quỳ sụp ở đó mà khóc dòng. Quy định của Vạn Ninh đó là quân lễ không có quỳ mà chỉ đưa tay ngang qua trán mà chào như thời hiện đại, tên thám báo này quỳ khóc đó là do xúc động của bản thân mà thôi. Tên này chính là em trai của Trần Văn Võ tên Trần Văn Cải. Anh trai của hắn quyết tâm chết cùng địch nhân mà tạo cơ hội cho Diêu thiếu rút về nên tên này mới bi thương như vậy. Hắn biết anh trai hắn làm vậy để giữ lại hương khói cho nhà họ Trần của họ mà thôi.

- Ngươi tên Văn Cải, em trái của tên đầu đất Văn Võ kia? Yên tâm mà đứng lên, anh trai của ngươi chết không được.

Diêu thiếu nói một câu chắc đe mà bình thản nhìn về hướng sông Hồng. Mấy ngày ngày này quân sĩ hai bên giao chiến quá mức khốc liệt, cả Pháp lẫn Vạn Ninh cũng đều thương vong nặng nề, tính đến nay đã có 213 binh sĩ Vạn ninh thiệt mạng, số người bị thương lên đến hơn 300, may mắn là đội ngũ quân y người Đại Nam đã trưởng thành rất nhanh, cộng cả kháng sinh lẫn thuốc tím đầy đủ thì tính mạng của những binh sĩ bị thương không mấy lo ngại. Trình độ phẫu thuật của các quân y này cũng ngày càng hoàn thiện thêm, nhất là khâu vệ sinh kháng khuẩn thì họ lại càng cẩn thận. Tất nhiên bên phe Pháp tổn thương nặng nề hơn nhiều vì Vạn Ninh có những vũ khí khó chịu vô cùng như Pháo cối, mìn địa lôi v.v… Số thương vong của người Pháp không ít hơn 1500 người điều đó là chắc chắn. Chính vì thương vong này mà một ngày qua quân Pháp đã phải chững lại hoàn toàn bước chân tiến công của họ.

Mìn là một thứ hại người, hại cả mình, đến nay quân Vạn Ninh đã cài quá nhiều mìn trên các khu vực mà quân Pháp có thể đi qua, cài nhiều đến độ chính họ cũng không dám đi qua, chỉ biết đánh dấu chúng trên các khu vực bản đồ để sau này các đội gỡ mìn sẽ tiến hành dò tìm và tháo gỡ.

Nói cho đến cùng thì quân Pháp gần như khống chế được khu vực Kiến Xương nhưng họ không thể nào tiến qua Phủ Thái Bình được, những đợt tiến công của họ phải đối bằng sinh mệnh để mở từng mét đường, đây không phải là điều mà quân pháp với số lượng chỉ có 17 ngàn người có thể chịu được. À không chỉ trong 4 ngày số lượng này chỉ còn 15 ngàn 500 thôi. Những người thương binh bên Pháp coi như đã bị loại khỏi vòng chiến đấu trong khoảng thời gian dài.

Nhưng Diêu thiếu biết rõ một chuyện, mìn công nghệ tất nhiên là không khó bắt trước, rồi đây sau vài tháng khi quân Pháp ăn đủ với mìn Đại Nam thì họ sẽ tự nghiên cứu mìn của bản thân. Đến lúc đó khi mìn từ Pháp quốc chuyển qua thì việc chiếm lại Hà Nội, Nam Định là một chuyện gian nan vô cùng.

Nhưng tại sao khi nghe tin Trần Văn Võ cố thủ ngoại ô Hải Dương thì Diêu thiếu lại không lo lắng an nguy của họ, và cũng không bỏ chạy khỏi Thái Bình. Liệu Diêu thiếu còn chứa con bài nào chưa có lật.


Rạng sáng ngày 6 tháng 9, địa điểm cố thủ của nhánh trung đoàn bộ binh Vạn Ninh số hiệu 243 ( ngày thành lập 24/3) đã chuẩn bị tinh thần cho một cuộc chiến không lối về. Nhưng bất ngờ họ có được một nhánh viện quân… 50 người. 50 người thì có thể mang đến bao nhiêu viện trợ, đừng có đùa, 50 người này tấn nhiên không thể mang đến bao nhiêu ý nghĩa trong trận đấu súng cả ngàn người cả, nhưng cái họ mang đến là 200 con ngựa thồ với vật tư chiến lược cho trận chiến. Đây là những sản phẩm mới nhất của bộ máy chiến tranh Vạn Ninh được sản suất và đưa đến chiến trường. Trước khi Diêu thiếu xuất quân thì nhóm sản phẩm này đang ở giai đoạn cuối cùng để lắp ráp nên không thể đưa ra chiến trường. Nhưng sau bốn ngày thì một số lượng kha khá các sản phẩm tân tiến đốt tiền này đã được đưa ra chiến trường.

3 giờ chiều ngày 6 tháng 9 thì quân Pháp bắt đầu tấn thử tấn công lên điểm cao là ngọn đồi nhỏ trên tuyến đường dẫn đến Hải Dương thành. Đừng nhìn Hưng Yên, Thái Bình ngày này chẳng có lấy một cánh rừng , không có mấy ngọn đồi. Nhưng lúc này không phải như vậy, rừng thưa có nhiều. Giao thông rất không thuận tiện. Thời này muốn đi lại giữa các tỉnh chỉ có cái quan lộ mà triều Nguyễn mất cả trăm năm xây dựng mới là thuận tiện mà thôi. Nếu không thì chỉ có thể len lỏi qua các con đường làng nhỏ hẹp, luồn lách các bui tre, chuối mà đi thôi. Nói đến Quan Lộ Cái thông bắc Nam thì đó quả là một thành tựu đáng ghi nhận của nhà Nguyễn. Ngươi Pháp trong lịch sử sau khi xâm chiếm Đại Nam có lập bản đồ và con đường cái này được vẽ kĩ càng xuyên từ Bắc chí Nam. Chính vì lý do này đánh trận kiểu gì thì kiểu cuối cùng vẫn là hành quân trên cái lộ mới là chuẩn xác. Vì hành quân chia cắt các nhóm nhỏ rất dễ bị mất liên lạc mà thực sự lạc nhau. Đừng nói là quân Pháp không thông thuộc địa hình, đến cả quân Vạn Ninh đến nơi này cũng thành “khách quân cả”. Cũng may mà quân Vạn Ninh được người dân bản địa nhiệt tình giúp đỡ nếu không thì cũng mù dở như người Pháp mà thôi.


Nói như vậy để có thế hiểu Quân Pháp mà muốn đánh Hải Dương thì họ phải vượt quan cứ điểm phòng ngự của quân Vạn Ninh trên quan lộ. Trận chiến là không thể nào tránh khỏi quân Pháp đã dàn pháo trận. Hơn 20 thanh pháo được dàn hàng cách quả đồi mà quân Vạn Ninh đang chiếm giữ tầm hơn 1000 m. Đây là khoảng cách mà súng cối của Đại Nam không với tới được và cũng là vị trí mà pháo Napoleon III phát huy hiệu quả tốt nhất.

Lúc này trong chiến hào của quân Vạn Ninh thì có một số cụm chiến đấu được xây hơi lộ lên trên mặt đất giống như một lô cốt nhỏ, có mái che và được xếp kên phía trên những bao cát để chống đạn. Đây chính là những lô cốt bé chính xác là vậy. Chúng vừa có các lỗ châu mai cho binh sĩ Vạn Ninh xạ kích lại vừa là chỗ để các sĩ quan quan sát quân địch cũng như điều chỉnh cho pháo cối đang lom khom khía dưới.

15 giời 30 pháo kích quân Phá đã ầm ầm khai hỏa, lần này họ lấy cách bắn các đầu đạn cháy cùng đầu đạn khói là chính. Nói là cháy nhưng tác dụng không có lớn là bao vì lúc này Napalm còn chưa có ra đời, nhưng đạn khói sunfua là thứ mà quả thật rất khó chịu. Nếu phòng thủ trong phạm vi bé mà gặp thứ này tấn công thì quân sĩ rất khó có thể trụ vững cho được. Chính vì muốn “đuổi” quân Vạn Ninh khỏi các đường hào kể trên mà quân Pháp dùng đại khói là chính.

Phải nói quân Pháp đã biết được cách đào chiến hào với hầm cá nhân của quân Đại Nam, do đó họ không có bắn đạn bi sát thương bộ binh vì thứ đó có tầm ảnh hưởng không cao đối với hầm cá nhân. Còn đạn nổ công phá quân sự thì càng là không mấy hiệu quả với chiến hào đào dưới đất.

- Quân Pháp pháo khích… đeo mặt nạ vào..

- Đeo mặt nạ…

- Đeo mặt nạ..


Mệnh lệnh của sĩ quan được ban bố, sau đó là các chuỗi dài các thông tin được nối đuôi nhau truyền khắp quân đoanh chiến địa. Mặt nạ nào, mặt nạ là cái gì? Đây là sản phẩm mới nhất của Vạn Ninh, Những nhà máy dệt vải mua từ Pháp với phương pháp dệt Serge de Nîmes đã tạo ra những tấm vải Jean đầu tiên trên thế giới. Tất nhiên Levi Strauss có lẽ sẽ phải lấy nước mắt lau mặt vì ông sẽ mãi là một người thợ mỏ mà thôi, không thể nào trở thành triệu phú với hãng quần Jean Levis nữa rồi. Những tấm vải jaen được may thành mặt nạ chùm đầu và phết lên một lớp cáo su nhập khẩu mà Robert mang về, chi phí thật không có rẻ chút nào. Tất nhiên mặt nạ có kính, có lọc khí với than họa tính qua ống thở ngậm trong miệng. Nói chung là binh sĩ Vạn Ninh lúc này sẽ miễn nhiễm với khói Sunfua cháy rồi. Lúc này họ sợ đạn nổ hơn đạn khói đấy.


Quân Pháp nào biết điều này, họ say mê mà nã pháo ầm ầm, tất nhiên nói cho vui, Pháo Napoleon III cứ bắn 3-4 phát là phải dừng lại làm mát, độ chịu đựng của Amstrong và Krupp tốt hơn đó là 7-8 phát phải làm mát vì nòng pháo được làm bằng thép. Nói vậy thôi chứ nửa tiếng đồng hồ thì lượng đạn của 20 thanh pháp nã xuống trận địa đại nam không ít. Tính ra phải có gần 200 quả pháo khói, mấy chục quả đạn lửa lao xuống doanh địa Vạn Ninh. Tất nhiên không phải quả đạn nào cũng có thể rơi xuống chiến hào nhưng nói chung là quân Vạn Ninh chắc chắn đứng không nổi. Nhìn đám khói mù mịt với mùi hôi thối đến kinh người kia mà đến quân Pháp cũng muốn nôn mửa.


Nếu quân Đại Nam không trụ được nữa thì tổng tiến công thôi. 500 quân Pháp được cử đi tiên phong, tất nhiên đây là năm trăm người gốc phi chứ không phải người Pháp. Nhiệm vụ mang tính chất lấy mạng lấp khoảng trống này thì cho người Phi đi là tốt nhất rồi. Các sĩ quan Pháp nghĩ như vậy , và Hautefeuille chỉ huy cánh quân này của Pháp cũng nghĩ như vậy.


- Đại tá quân Pháp xung phong số lượng tầm 5-6 trăm người.

- Truyền lệnh đại đội 3 , 17 bắn trả, các đại đội khác bất động, dụ quân địch xông lên nhiều hơn.


Trần Văn Võ không mấy tỏ thái độ mà lúng búng qua một lớn mặt nạ hét lớn ra lệnh. Cái khói sunfua này rất nhanh sẽ tan đi, chỉ sợ nhất đó là lúc bị công khíc bằng pháo liên hồi nếu không có mặt nạ thì có lẽ toàn quân lúc này nước mắt dòng dòng, miện khô lưỡi đắng mà nằm lăn ra đất như cá chết rồi. Nhưng đã có mặt nạ thì đừng nói 3000 quân Pháp, có đến 5 ngàn quân cũng không thể vượt qua nổi 1 ngàn tay súng Dreyse M1841. Nên nhớ súng Dreyse tầm xa hơn hẳn súng Minire, tốc độ bắn thì không cần phải so sánh. Đội 1 ngàn người Vạn Ninh nếu thư thái lên đạn bóp cò thì phỉa bằng 5000 người Pháp dùng súng Minire tốc độ.

Nhưng lúc này Trần Văn Võ lại muốn làm sao để tiêu diệt nhiều nhất quân Pháp mà không phải là làm cách nào để thủ vững chiến trường. Hắn vẫn còn quân bài chưa có lật trong tay.

Chính vì cái dự định này của Trần Văn Võ mà hắn chỉ cho quân số hai đại đội bắn trả mà thôi.

Năm trăm lính Pháp gốc Phi ôm súng lao lên chiến trường lưỡi lê sáng loáng, theo họ nghĩ thì quân Đại Nam cũng không có bao nhiêu người còn được sức lực để đánh trận. Nhưng lúc này đây khi đến khoản cách 500m thì tiếng súng bên quân Đại Nam nổ vang, một loạt người Phi ngã xuống ngay lập tức. Nhanh, chuẩn, với 4 mức thước ngắm khác nhau Dreyse mặc dù được phát minh từ năm 1841 nhưng lại là bá đạo nhất lúc này nếu chỉ so sánh về súng trường , tất nhiên là không thể đem so sánh với những thanh Dreyse 1857 mới nhất lúc này.

Lính Pháp Gốc Phi thoáng chốc thiếu đi mấy chục người hàng đầu, họ đã ngã xuống trong vũng máu. Những binh sĩ Algieri cũng không phải là gà con lon ton, nguy hiểm cận kề thì họ vộ lăn qua hai bên né chánh và bò xuống hạ thấp trọng tâm băn trả. Đấu súng hai bên nổ ra quyết liệt, nhưng các binh sĩ Vạn Ninh đã nhận lệnh là bắn từ từ, bắn cầm chân quân địch mà không phải là tiêu diệt chúng.


- Đại tá, quân Đại Nam hình như chỉ còn lại tầm một hai đại đội có thể chiến đấu, cánh bên phải và cánh giữa của họ đã không hề có các tay súng hoạt động.

Mộ tên sĩ quan Pháp thông báo cho Hautefeuille, tên đại tá này cũng buông ống nhòm ra mà đồng ý với cách nhìn kia. Nhưng tên này vẫn khá cẩn thận:

- Tung thêm 1 ngàn lính Phi vào mặt trận..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 170: Liều mạng dùng hàng nóng không đảm bảo.



Quân Pháp nổi lên kèn lệnh , một ngàn quân Algieri lại trùng điệp tiến lên, nhưng tất nhiên họ không nghênh ngang xông lên mà lom khom lao tới mặt trận phía trước sau đó bò lên chiến trường. Tất nhiên bên phía phe Vạn Ninh đang thủ ở ngọn đồi nhỏ vẫn là đáp trả một cách “yếu ớt” nhưng quân Pháp vẫn rất khó tiến quân. Chỉ một góc chiến trường trở nên rộn ràng tiếng súng mà thôi.

Đúng lúc này thì quân Pháp được lệnh của chỉ huy tất cả ào ào tiến tới như muốn giẫm bẹp tất cả chiến hào, bẫy dập của quân Đại Nam vậy. Nói thì nói là tấn công dồn dập nhưng khi càng đến gần doanh địa quân Vạn Ninh thì pháp quân càng dè chừng, những ngày qua họ đã ăn không it đau khổ với địa lôi của quân A nam.

Nói thì đến mệt mỏi, những ngày chiến đấu ngắn ngủi vừa qua như ăn sâu vào quân Pháp kí ức kinh khủng về một thứ mà họ gọ là mine. Thật ra mìn cũng không có xa lạ gì với người Pháp, Tại Augsburg năm 1573, một kỹ sư quân sự người Đức tên là Samuel Zimmermann đã phát minh ra một mỏ cực kỳ hiệu quả được gọi là Fladdermine. Nhưng chúng được làm thủ công và kích hoạt bằng đá lửa, sau đó là hạt nổ. Nhưng những quả mìn này thường ít hiệu quả khi trôn trong đất vì độ ẩm của thuốc nổ đen sẽ tăng cao và bị vô hiệu hóa rất nhanh. Nhưng mìn của Đại Nam được làm từ Dynamite nên đã khắc phục được phần lớn nhược điểm này. Thực chất ra ngay trong thời điểm này tại Mỹ cũng đã có mìn được sản xuất theo dây truyền cơ khí một cách hàng loạt. (Những quả mìn sát thương chống nổ nổ hiện đại đầu tiên được chế tạo bằng máy móc được tạo ra bởi quân đội Liên minh của Chuẩn tướng Gabriel J. Rains trong Trận Yorktown năm 1862). Nhưng đối với quân Pháp thì đây vẫn là những vũ khí mới mẻ khiến cho họ rất kinh hoàng. Cũng may số lượng mìn của người A nam không quá nhiều và những ngày gần nhất dường như không có xuất hiện qua nên quân Pháp mới có thể bức lui quân Đại Nam tầm 20 km về hướng Đông Bắc.


Những người lính gốc Phi được đẩy đi hàng đầu coi như là những chiếc máy dò mìn được cấu tạo bằng máu thịt. Và quả thật quân Pháp đã tiến tới được rất gần chiến hào của Đại Nam. Có lẽ quân Đại Nam đã hết thứ đồ chơi đáng sợ chôn dưới đất rồi.

Tất nhiên là chưa vì đồ chơi đáng sợ hơn đang chờ họ. Trong chiến hào từng mệnh lệnh vang lên , các chiến sĩ công binh lập tức dập mạnh các máy phát điện trong tay mình. Đây chính là những máy kích nổ bộc phá, cũng là phát minh của viện khoa học Vạn Ninh thông qua sự gợi ý của Diêu thiếu. Nói đến kích nổ bằng điện thì có gì lợi hại hơn kích nổ bằng đốt dây cháy chậm mà cường điệu quá như vậy. Nói một câu là kích nổ bằng điện con mẹ nó lợi hai gấp cả trăm lần kích nổ thủ công đốt dây cháy chậm. Thứ nhất thời gian kích nổ có thể được quản lý chính xác, lúc nào thích thì có thể cho nổ ngay lập tức. Thứ hai đó là độ tin cậy, dây cháy chậm quá dài có thể có các sự cố trên đường mà cháy không có nổi. Nhưng mà kích điện thì chỉ cần dây đồng không có đứt thì nhấp một cái là a lê hấp. Lợi ích tiếp theo đó là dây đồng có thể chôn sâu hơn một chút tránh cho pháo gây nên thương hại cho dây. Tổng hợp lại lúc này đó là toàn bộ nhóm đâò tiên của quân Pháp rơi vào trận địa bộc phá cách chiến hào quân Vạn ninh tầm 100m.

Những tiếng nổ như thiên lôi trời giáng mà trôn vùi ngay hàng đầu của quân Pháp. Đây quả thật là một thảm họa giết chóc và diệt vong. Chỉ trong phút giây ngắn ngủi hàng trăm người đã bị cướp đi sinh mệnh. Trên đất Đại Nam xa xôi cuối cùng những người Phi đáng thương khi đã nằm xuống, họ chiến đấu chẳng vì mục đích gì cho dân tộc của họ. Một đội quân không có linh hồn.

Tiếng nổ như báo hiệu lệnh tổng tấn công. Hàng loạt tay súng đại Nam bỏ đi mặt nạ mà đội mũ sắt cầm lên súng trường, kê vào mặt chiến hào mà hướng về kẻ thù nổ súng. Vạn Ninh quân chiến đấu vì bảo vệ gia hương, vì chống bọn thực dân tàn bạo, cho nên họ là một đội quân có lý tưởng, có niềm tin, và có linh hồn.


Một đội quân xâm lược thường rất mạnh mẽ khi họ có được lợi thế, họ được kích thích bởi giết chóc, tiền bạc, hãm hiếp đàn bà và nhiều thú tính dã man khác. Nhưng họ lại đặc biệt trở nên yếu ớt khi gặp phải sự tấn công quyết liệt và rơi vào tình thế khó khăn, vì chúng là một đạo quân không cóc đức tin và không có lý tưởng.


Một ngàn tay súng trường tốc độ cao như Dreyse M1841 thì hiệu quả có khi bằng cả 5 ngàn lính pháp nếu như để cho họ thoải mái thực hiện động tác nạp đạn. Sự xuất hiện bất ngờ của những tên A nam mà người Pháp nghĩ là họ đang ngây ngất trong khói độc đã làm cho tình thế của quân Pháp như tuyết rơi lại có thêm sương lạnh. Tiếng súng nổ liên hồi và không có dấu hiệu giảm bớt tốc độ. Quân Vạn Ninh được lệnh bắn tự do, bắn nhanh nhất mà họ có thể . Khoảng cách hai bên quá gần, chỉ cần quân Pháp có thể định thần lại thì họ hoàn toàn có thể xông lên cận chiến bằng lưỡi lê. Quân số người Pháp vẫn đông hơn Đại Nam gấp đôi, nếu cận chiến thì Vạn Ninh quân có thể sẽ bị tận diệt. Bởi lẽ đứng dưới chiến hào bao giờ cũng gặp bất lợi khi cận chiến lưỡi lê. Chính vì thế thời này chưa có súng liên thanh phòng thủ cứ điểm nên xung phong với lưỡi lê rất được các phe có quân số áp đảo ưa thích sử dụng.


Tất nhiên lúc này người Pháp đang thể hiện ra họ thiện chiến ra sao khi mà họ bị đánh úp đế sây sẩm mặt mày nhưng những hàng sau vẫn có thể tổ chức xung phong lao lên về phía chiến hào. Lính Pháp sợ chết nhưng họ biết quay lưng lại sẽ chết nhanh hơn nên chỉ có thể càng sớm càng tốt lao lên mà cận chiến. Nếu còn chần trừ thì họ sẽ bọ hỏa lực dày đặc của A nam quân bào mòn quân số. Đến lúc đó có lao lên được chiến hào cách họ tầm 100m kia cũng vô ý nghĩa.

Súng Dreyse M1841 cho dù là bolt action vẫn là súng bắn phát một và không thể nào ngăn chặn xung phong hiệu quả như súng máy. Tức là quân Pháp đã đổi đi mạng sống của gần ngàn người để có thể tiếp cận mấy chục mét khoảng cách chiến hào.

Nhưng Vạn Ninh không có quân bài chưa lật mà dám để cả mấy ngàn quân tiếp cận họ sao. Chỉ thấy lúc này một loạt tiếng hò hét vang lên bên bên doanh trại quân Đại Nam. Lập tức quân Pháp thấy được một loạt vật đen được quăng là từ bên trong chiến hào. Người Pháp không lạ gì, đó chính là lựu đạn mà thôi. Lựu đạn đã có từ thế kỉ 16, chúng rất có hiệu quả trong thủ thành, người ta sẽ ném các gói thuốc nổ được châm ngòi từ đầu thành suống quân thù. Nhưng thuốc nổ đên lực nổ yếu chính vì thế muốn có được hiệu quả như ý thì Lựu đạn thường phải nặng và vượt quá sức ném xa của con người. Nhưng lựu đạn của Vạn Ninh thì khác, chúng được chế tạo bằng thuốc nổ Dynamite do đó với trọng lượng bằng 1/3 của thuốc nổ đen chúng cũng có thể cho ra lực nổ tương đương. Lấy một phép tính, phải 2kg thuốc nổ đen thì mới tạo được hiệu quả sát thương trong tầm bán kính 2m-3m. Nhưng con số này nếu là Dynamite thì chỉ cần 700g, còn nếu là TNT chỉ cần 45g mà thôi.

Lựu đạn của Đại Nam được chế theo mẫu 24 Stielhandgranate đây là mẫu dễ chết tạo nhất mà công nghệ của Vạn Ninh có thể làm được. Lựu Đạn này có hình cây gậy đầu là một khối hình trụ có chữa thuốc nổ. Tay cầm dài tầm 25 cm bằng gỗ rỗng ruột. Khi sử dụng thì các chiến sĩ sẽ kéo chốt khóa từ phía đuôi của tay cầm. một hệ thống dây sẽ kich hoạt hạt nổ phía đầu chứa thuốc nổ, đốt cháy thuống cháy chậm trong buồng cho đến khi tiếp xúc Dynamite sẽ gây nổ. Mặc dù Dynamite vẫn không quá an toàn, nhưng như đã nói, Diểu thiếu đã liều mạng rồi cho nên hắn đã cho chế tạo hàng loạt các mặt hàng này từ mấy tháng nay. Tất nhiên thứ này cũng cần luyện tập ném thường xuyên, hơn 1kg cân nặng rất khó ném được xa nếu không có sự luyện tập cẩn thận. Thật ra mẫu 24 Stielhandgranate rất với cán dài và dễ ném, nếu ai có hiểu biết quân sự thì không bao giờ đi chế tạo lựu đạn quả dứa với thuốc súng đen hay kể cả là Dynamite. Lý do trọn lượng của quả lựu đạn phải tăng lên đến 5-6 kg kể cả vỏ. Một quả lựu đạn như vậy liệu dùng sức người có thể ném bao nhiêu m. Tất nhiên có “một số người phương bắc” lúc này đang chế lựu đạn quả dứa với thuốc nổ đen, quả là bá hết cả mức độ để nói…


Dynamite không an toàn là vì sao? Đơn giản vì nitroglycerin dù có thấm vào bọt biển nhưng nếu để một thời gian cũng có thể tái thấm ngược, tức là nitroglycerin thoát ra từ bọt biển. Chính điều này sẽ tạo ra các lớp nitroglycerin nguyên thủy đọng trong mìn, lựu đạn hay thủy lôi. Chúng dễ nổ đến kinh người khi vận chuyển. Chính vì lý do này các vũ khí của quân Vạn Ninh chỉ mang tính tạm thời. Tức là dùng xong một trận chiến ngắn ngày phải lôi ra mà thiêu hủy. Nếu không người có thể bị thổi bay là quân Vạn Ninh mà không phải là kẻ địch.

Chính vì vậy Vạn Ninh lúc này vũ khí mạnh nhưng chỉ có thể đánh gần nhà mà thôi, đúng luôn câu “ch … cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng”.

Nhưng hiệu quả của những quả lựu đạn Vạn Ninh thì bố tổ sư nó khủng, không khác lự đạn TNT hiện đại là bao. 700 gram thuốc nổ Dynamite không phải là chuyện đùa. Sức công phá gần như được 3m chu vi, một mảng trước mặt chỉ toàn bóng người gã xuống dồn dập máu me be bét, ruột gan lộn hết cả ra ngoài. Tất nhiên lựu đạn nổ là bao chùm, nhưng thực sự lại không có giết người ngay lập tức mà chỉ là gây nên trọng thương mà loại khỏi vòng chiến đấu mà thôi. Hơn năm trăm người ngã xuống sau một lượt ném 300 trái lựu. Tốc độ xông lên của quân Pháp trở nên rối loạn lạ lùng, khoảng cách 20m lại thành như xa cả vạn dặm. Cái cảnh 500 quân tiên phông bỗng chốc ngã rụp trong vũng máu sau đó oằn oại kêu la mới thực sự là inh dị hơn cả là người bị bắn chết hẳn mà nằm yên lặng.

Khoảng lặng trên lại đủ để 300 tên ném lựu rút ra trái lựu đạn thứ hai mà giật chốt ném vào quân thù. Cùng lúc đó thì hơn 700 binh sĩ súng trường cũng kịp nạp đạn lần bắn tiếp theo. Lúc này họ cũng chỉ có thể bắn một lượt cuối này mà thôi. Sau đó chính là lưỡi lê xông trận, lựu đạn đã chẳng còn bao nhiêu, chế tạo vội vã nên quân Vạn Ninh được tiếp viện không có nhiều.


Một lượt súng trường nổ ran, lại thêm một lượt lựu đạn như thiên lôi đánh xuống, hơn 1500 quân Pháp còn lại chẳng được bao nhiêu. Lần này tuy lựu đạn vì nhiều quả không quăn tới nơi mà hiệu quả sát thương giảm xuống, nhưng 700 tay súng cùng bắn thì không thể nào là chuyện đùa cho được. Quân Pháp triệt để tan vỡ rồi..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 171: Câu cá cần mồi, thính



Ngày 8 tháng 9, quân pháp tại Thái Bình, Kiến Xương đột ngột rút về bên kia bờ sông Hồng. Quân Vạn Ninh chỉ biết trơ mắt ếch mà nhìn binh sĩ Pháp thoải mái , tự tin lên Chiến hạm mà qua bên kia sông. Quân Vạn Ninh của Diêu thiếu đúng là bó tay mà không thể gây được bất kì khó khăn nào được cho nhánh 5 ngàn quân Pháp đang rút lui này. Sự tình thì quá dễ giải thích, hai tuần dương hạm dựa vào sông Hồng to lớn mà có thể xâm nhập sâu vào nội địa, chúng đang phong tỏa bờ sông bảo vệ cho lính Pháp rút lui. Tiếp theo đó là quân Vạn Ninh đã chôn quá nhiều mìn tại Kiến Xương, họ cũng không dám tự mình đi qua mà phải để đội phá mìn có thể tiến lên dò phá.

Lý do quân Pháp rút lui thì có hai, một là họ đã thua thảm hại tại Hưng Yên và đã chứng kiến sức chiến đấu khủng bố của quân Vạn Ninh. Nhánh quân này không thể không chạy khỏi thành Hưng Yên mà qua sông bên phần đất Nam Định. Đội quân của Pháp 30 ngàn mà nay chỉ còn có hơn ngàn người, trong đó thương binh là có rất nhiều. Quân Pháp chỉ giữ được thành Hưng Yên trong 1 tiếng đồng hồ sau đó cũng chạy biến, lý do quân Đại Nam còn tới hơn 900 người với đầy đủ sức lực và pháo đại bác. Trongkhi 20 thanh pháp Napoleon III vì thua trận bỏ chạy nên quân Pháp đã đánh mất vào tay Vạn Ninh quân. Không có đại bác thủ thành thì hơn ngàn quân Pháp sĩ khí rối loạn, thương binh phân nửa này có thể đánh được bao hồi. Chính vì lý do này mà Hautefeuille dù muốn hay không muốn cũng phải bỏ chạy khỏi thành Hưng Yên.

Nhưng đó cũng là mộ lý do mà thôi., Cũng cùng ngày 6 tháng 9 , Hai ngàn quân Pháp đã tấn công thành Hà Nội. 6 giờ sáng ngày 6 tháng 9, Các pháo thuyền đậu chật kín mặt sông Hồng, dưới sự chỉ huy của Phó tư lệnh quân Viễn chinh Pháp Léonard Charner bắt đầu pháo kích vào hai cửa thành phía Bắc và phía Đông cùng các cơ sở chính quyền trong thành Hà Nội, đặc biệt tập trung pháo kích hương về doanh trại chỉ huy của tổng đốc Hà Nam Nguyễn Tri Phương vừa mới chạy từ Nam Định về Hà Nội , dinh phủ của Tổng đốc Hà Ninh và Kỳ Đài ( cột cờ Hà Nội) là nơi bị bọn Pháp tấn công trọng điểm bằng pháp binh. Hàng chục thanh phá Napoleon III nổ vang khiến cho quân Nguyễn quá choáng váng, họ cũng có đánh trả nhưng hiệu quả của súng thần công tồi tệ vô cùng .

Tới 6 giờ 30, sau nửa tiếng pháo kích khiến cho quân Nguyễn trong thành nhấc đạy không nổi đầu thì quân Pháp cũng cho ngừng pháo kích. Léonard Charner chỉ huy 1000 thủy bộ binh với mười hai khẩu Napoleon III bộ chiến nhanh chóng tận dụng quân Nguyễn đang bối rối mà cũng đang bị hỏa lực của quân Pháp bên phía thành thành phía Bắc và phía Đông mà đổ bộ lên thành Nam. Chúng tấn công dữ dội tại nơi đây khiến cho quân Nguyễn trở tay không kịp. Lầu canh hình bán nguyệt nơi cổng thành phía Nam bị quân Pháp công phá và chiếm đóng nhanh chóng.

Đại tá Dupuis của quân Pháp lợi dụng quân Nguyễn đang bị dắt mũi đổ ứu cứu viện thì nhanh chóng cho 1 ngàn quân lên bờ, chia làm hai đường mà bố trí quân và thủ hạ của mình sát gần cửa thành phía Đông cùng cửa Bắc. Các chiến hạm quân Pháp lại pháo kích ầm ầm vào hai cửa thành Đông và Bắc . ngay sau khi ngưng pháo kích. Ngay sau khi pháo từ Hạm đội Pháp ngưng lại thì Dupuis nhanh chóng ra lệnh cho quân bắn áp chế sau đó liều chết đặt thuốc nổ chôn dưới chân cổng thành. Thành Đông bị công phá. Phán quân lao vào chiếm đóng lầu canh hình bán nguyệt nơi cổng thành phía Đông rồi đóng chốt ở phía Bắc chận giữ đường rút lui tháo chạy của quan binh triều đình Nguyễn.

Ngày 7 tháng 9 năm 1862, từ lúc 5 giờ sáng, lực lượng phối hợp do Léonard Charner và Dupuis chỉ huy chuẩn bị lần cuối trước khi tấn công vào thành Hà Nội. Đúng 6 giờ sáng, Các chiến hạm khu trục cũng như tuần dương trên sông Hồng từ khoảng cách 1.200 mét bắt đầu bắn phá vào thành Hà Nộị, tới 6 giờ 30, cuộc pháo kích ngừng. Toán quân của Dupuis chiếm đóng cổng thành phía Bắc, trong khi đích thân Dupuis chỉ huy một toán quân chiếm đóng lầu canh hình bán nguyệt và mở cổng thành.

Đội quân Léonard Charner chia thành hai cánh: cánh quân thứ 100 binh nhất lấy 5 thanh Napoleon III kéo tới dàn trận trước cổng thành phía Tây-Nam để nghi binh, giả tấn công vào mặt này nhằm đánh lạc hướng quan binh trong thành. Cánh quân thứ hai gồm có 500 thủy bộ binh do chuẩn úy Trentinian chỉ huy 5 khẩu trọng pháo 24 pound thành ở cửa Đông-Nam một cách thực sự.
10 giờ sáng , Léonard Charner dẫn đầu toán quân thứ hai tấn công mặt Đông-Nam. Tháp canh mặt này bị chiếm ngay sau khi cổng thành bị phá vỡ, toán quân của Léonard Charner tràn vào thành. Nhưng 20 ngàn quân Đại Nam chống cự rất mạnh trên đường phố mặc dù họ chỉ có súng hỏa mai nghẻ, đao thuẫn. 3 ngàn quân Pháp gặp không ít khó khăn. Nhưng sự cách biệt quá xa về vũ khí thì quân số cũng như sĩ khí không thể san lấp được Quân nhà Nguyễn bị đồ sát, bi dần dồn về phía tháp canh Kỳ Đài . Đích thân tổng đốc nhị tỉnh Hà Nội – Nam Định Nguyễn Tri Phương đứng trên tháp canh để đốc thúc binh sĩ chống trả dù đã bị bắn trọng thương ở bụng, ông nằm xuống để cho quân sĩ Đại Nam nơi này như rắn mất đầu mà bắt đầu tan rã , thành Hà Nội bị quân Pháp chiếm. Hơn 7 ngàn người con anh dũng của Đất Đại Nam đã bị tàn sát không thương tiếc mà nằm trong vũng máu nhày nhụa. Chỉ còn 1 vạn 3 ngàn người bị bao vây tứ phía không thể làm gì mà đầu hàng thôi.


Ngày 8 tháng 9 thì quân Pháp từ bờ Đông sông Hồng thiệt hại đến gần 3 ngàn người mà quay lại Nam Định. Họ quay lại một phần vì chiến bại mà cũng một phần vì quân triều đình Huế đã nhận được tin tức quân Pháp đổ bộ Hà Nội, 1 vạn quân Huế đã trên đường Bắc tiến, chỉ huy là thiếu tướng Trần Văn Vân. Tin tức này cực kỳ đáng tin cậy vì tổ chức kia với hệ thống tình báo chính xác đã thông báo cho người Pháp. Lúc này đây quân Pháp chỉ còn lại 14 ngàn người mà thôi. Sức chiến đấu của quân Vạn Ninh quá sức ghê gớm thì quân Pháp đã chứng kiến rồi, chính vì vậy mà chúng để lại đến 8 ngàn người để phòng thủ sông Hồng tránh cho quân Vạn Ninh xâm nhập. Chỉ có 6 ngàn người là số quân mà Pháp quốc còn lại để cử đi chiếm đóng Ninh Bình cùng thành lập các cứ điểm phòng thủ quân triều Đình Huế.

Ngày 12 tháng 9, Quân Pháp dễ dàng chiếm đóng Ninh Bình vì nơi này không có nhân vật như Nguyễn Tri Phương đốc chiến nên lính đại phương rời rạc không có tính chiến đấu nào cả. Ngày 15 tháng 9 quân Pháp đặt Chân lên đất Thanh Hóa cũng là lúc Trần Văn Vân đã đến kịp nơi. Thanh Hóa bỗng chốc chia là hai phần do hai phe Đại Nam- Pháp quốc tạm thời chiếm đóng. Trận chiến nơi này diễn ra khốc liệt không kém gì trận chiến bên bờ sông Hồng địa phận Thái Bình phủ.

Trần Văn Vân một tuần chiế đấu vừa đánh du kích lại vừa có thủ trọng địa. Chiến đấu rất có quy củ mà dùng binh lực nhiều hơn, trang bị dồi dào hơn đẩy lui 6 ngàn quân Pháp về Phía Bắc 25 km. Tình hình quân Pháp cực kì không khả quan, họ không dám tăng binh niều ở Thanh Hóa vì bên bờ sông Hồng là Vạn Ninh đang nhìn họ như hổ rình mồi. Nhưng người Pháp dám xông vào giữa hai thế lực quân đội mạnh nhất Đại Nam mà chia cắt ra thì chẳng nhẽ họ không có chuẩn bị gì sao.


Một tuần chiến đấu liên tục, 30km đường quốc lộ cộng thêm thật nhiều làng mạch được quân triều đình Huế thu thồi. Nếu tình hình cứ diễn ra như vậy thì chắc chắn quân Pháp sẽ bị đánh bay khỏi Hà Nội với sự phối hợp của Vạn Ninh và Huế. Viễn cảnh tương lai của Đại Nam lại sáng hơn bao giờ hết. Đánh xong trận chiến này thì quân Pháp có thách thêm kẹo cũng không thể nào dám mò vào Đại Nam. Thay vì đánh Đại Nam thì số quân này họ thừa sức chiếm hẳn Quảng Châu Loan rồi.


Nhưng sung sướng vì tin thắng trận liên tiếp cũng phải dừng lại ở đây rồi. Một trang viên hẻo lánh bên bờ Sông Thạc Hàn thuộc tỉnh Quảng Trị. Lão già câu cá không ngờ lại có thể ung dung tự tại trở lại. Lão đang ngồi buông cần bên sông, lần này theo hầu lão là một đồng tử môi hồng răng trắng hết sức đáng yêu.

- Gia gia, người câu cá mà không mắc mồi câu, không thả thính thì sao được?

Đứa nhỏ vô tri mà hỏi thật thà. Lão giả bỗng nhiên cười lớn, động tác này của hắn quả thật rất khác thường, trước nay nào thấy lão ta lớn tiếng như vậy.

- Có đạo lý, không ngờ trẻ nhỏ mà thông hiểu được đạo của trời đất. Không mồi không thính làm sao câu nổi cá to đây. ha ha ha…

- Thôi Nhất… cũng đến lúc buông mồi, thả thính rồi.


Ngày 20 tháng 9, Kinh đô Huế náo loạn vì một vụ án kinh thiên, không ngờ tổ chức bí mật thao túng triều đình, tạo nên nhiều sóng gió mấy năm qua lại bị tân quan Chuẩn tướng mật vụ Đại Nam Nguyễn Văn Duy phá giải. Một loạt các nhân vật trong tổ chức bị lôi ra ánh sáng và tống vào đại lao, số quan viên liên lụy lên đến 27 người, tất cả đều đang ăn cơm tù chờ bóc lịch. Vì công tích sáng chói này mà Nam Nguyễn Văn Duy anh rể của Tự Đức được thăng thêm một cấp thành Thiếu Tướng Mật Vụ sở Đại Nam đế quốc.

Cũng trong ngày hai quyển sách dày mang phong cách cổ xưa được đặt ngay ngắn trên bàn làm việc của Tự Đức.

Ngày 27 tháng 9, Trần Văn Vân Thiếu tướng binh đoàn quân Trung Ương Đại Nam đang hung hăng đánh trận với ý định công phá mảnh đất cuối cùng của Quân Pháp còn bám chân tại Thanh Hóa. Kế hoạch tác chiến đã được lên đầy đủ để sáng hôm sau có thể tiến hành. Đánh xong trận này thì đội quân một vạn Người tinh nhuệ sẽ có thể chọc thẳng vào Ninh Bình, từ nơi đây cả Hà Nội và Nam Định sẽ nằm dưới mũi súng của quân Đại Nam.

Nhưng tối ngày 27 tháng 9, Trần Văn Vân bỗng nhiên đón tiếp một phái đoàn đặc biệt từ kinh thành mà dẫn đầu là Nam Nguyễn Văn Duy và Chuẩn tướng Tôn Thất Giác của quân đoàn trung ương Đại Nam.

Không ai biết chuyện gì nhưng ngày hôm sau thì Trần Văn Vân bị áp giải đưa về khi đô Huế. Chuẩn tướng Tôn Thất Giác lên thay Trần Văn Vân chỉ huy đội quân vạn người đang tiến công quân Pháp này. Các sĩ quan, thân binh của Trần Văn Vân đều được thay mới toàn bộ và họ vô cớ cũng được giải về Kinh đô.

Ngày 30 tháng 9, bỗng nhiên Chiếc tàu chở Trương Đăng Quế của quân Pháp gặp nạn, tòa bộ thủy thủ đoán trôi dạt trên vùng biển Hà Tĩnh. Trương Đăng Quế “may mắn” được ngư dân cứu thoát mà một đường chạy về kinh đô bẩm báo chuyện hệ trọng.

3 tháng 10 quân Sư đoàn 283 thuộc Quân đoàn trung ương Đại Nam bị đánh bại tại Phủ Thiên Quan -Thanh Hóa ( Tam Điệp vùng) , toàn quân đành phải rút lui về Phủ Trường Yên ( Bỉm Sơn)cố thủ.

Cúng lúc đó triều đình Huế dấy lên tin đồn, Trần gia Tại Phương Bắc muôn tự lập làm vương. Cả nước bàng hoàng, quân thần kinh sợ. Huế đô lại một lần nữa loạt tùng phèo..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 172: Hai cuốn gia phả



Vạn Ninh bị co lập hoàn toàn, it nhất là trong thời gian ngắn không ai biết được thông tin từ Vạn Ninh. Mà Vạn Ninh cũng không thể thông quan để tìm hiểu tin tức bên ngoài cũng như không biết triều đình Huế đang nghiêng ngả.

Quân Vạn Ninh chưa từng muốn qua sông Hồng, đương nhiên là họ muốn và họ đã thử mọi cách để kiểm soát dòng sông nhưng bất lực. Không có chiến hạm khủng để hỗ trợ thì mọi cố gắng kiểm soát sông hồng đều là vô dụng. Khi sông Hồng không kiểm soát được thì có cho Vạn Ninh Vạn cái lá gan cũng không dám đưa quân qua sông. Chính vì lý do này nên Pháp quân có e ngại sức chiến đấu của bộ binh Vạn Ninh nhưng họ vẫn yên tâm thoải mái mà xây các công sự phòng thủ bên bờ Tây sông Hồng.

Lấy 2,5 vạn quân lúc này của Vạn Ninh liều chết đập nồi, dìm thuyền đi qua sông chiến đấu, kiểu gì cũng có thể lấy máu lấp đầy con sông này mà đánh lui quân thù? Tư tưởng ấu trĩ này đừng có nghĩ đến cho xong. Bất kì một đội quân nào dù là tinh thần thép khi thương vong vượt quá 20% sẽ bắt đầu xao động, 30% là ý trí giảm mạnh, 40% là có nguy cơ và khả năng tan rã rất cao. Tấn công khác với phòng thủ, phòng thủ là bị động, là bị ép phải chiến tới cùng. Người tấn công luôn có tư tưởng ờ thì đánh không nổi có thể lui lại. Đây là tâm lý chung do cơ chế sinh lý học của cơ thể sinh ra, nó không liên quan đến lý tưởng hay mục đích gì khác. Vậy nên dù đập nồi dìm thuyền đem 25 ngàn quân qua sông thì tỉ lệ bại trận cũng cực lớn , đến lúc đó Vạn Ninh coi như xong.

Tổng số miền Bắc nơi Diêu Thiếu có thể chưng quân lúc này là bao nhiêu người Việt sinh sống. Bờ tây sông Hồng có các tỉnh. Hưng Yên, Hải Dương, Thái Nguyên, Quảng Yên, Tuyên Quang (nay là đất các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang), Hưng Hóa( Phú Thọ, Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái ngày nay) Lạng Sơn, Cao Bằng và một phần Sơn Tây. Nói nghe thì nhiều vãi ra nhưng thực ra số người Việt nơi nay chỉ chưa đầy 2,5 triệu dân. Các tỉnh như Hưng Hóa, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, phần Bắc Cạn thuộc Thái Nguyên, phần Móng cái thuộc Quảng Yên đều là người dân tộc thiểu số sinh sống và gần như là khu vực tự trị của bọn họ. Ở những khu vực này thì người Việt mới chính là người thiểu số đấy. 2,5 vạn quân là con số mà Diêu thiếu không thể tăng thêm lúc này, thứ nhất hắn không đủ trang bị. thứ hai tăng thêm binh thì sức sản xuất của cả vùng này giảm mạnh vẫn biết thời chiến cả dân làm lính, nhưng chưa đến bước đường cùng Diêu thiếu sẽ không làm như vậy. Nên nhớ chiến sĩ Vạn Ninh kẻ mới nhất cũng đã được đào tạo chính quy đên 4 tháng trời. Những người như vậy Diêu thiếu còn chưa dám tung họ ngay vào mặt trận đấy. Chiến đấu tại Hưng Yên, Thái Bình đều là các lão binh đã có kinh nghiệm trên 2 năm chiến đấu cả. Vạn Ninh không có đủ người để nướng trong cỗ máy xay thịt chiến tranh. Diêu thiếu cần tính một bước dài hơi hơn nữa, vì trong tình hình hiện tại chiến tranh với Pháp quốc có lẽ lại chuyển thành dai dẳng và trường kỳ.

Sông Hồng khác với Sông Đồng Nại, nơi này rất khó áp dụng lại chiến thuật của Hoàng Diệu đã thực hiện tại Nam Kỳ. Khó có thể lạp lại chiến thuật bày sói hay liều chết đánh bom thì có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. Chủ quan thi chính là Pháp quốc đã có kinh nghiệm với kiểu chiến thuật này của người Anam nên họ đề phòng rất kĩ. Thường thì các chiến Hạm tuần tra của Pháp sẽ đi theo nhóm, họ không cho bất kì thứ gì tiếp cận chiến hạm của mình. Gặp thuyền bên bờ Đông là chúng nã pháo dồn dập bắn hạ, không cần biết là thuyền dân hay thuyền lính. Thuyền bờ Tây thì bị kiểm tra gắt gao bởi các thuyền nhỏ từ xa. Nếu có ý đồ tiếp cận cũng bị đại bác chào đón. Số lượng chiến hạm của quân Pháp đổ vào là lớn, cộng thêm có cả tuần Dương hạm nơi này nên việc tổ chức đánh bày sói hay đánh bom liều chết là rất rất không hiệu quả. Lý do thứ đến chính lý do khách quan, Sông Hồng rộng rãi, bờ sông lại trống trải việc che dấu một lượng lớn thuyền nhỏ để tập kích là vô vọng, thường thường thuyền sẽ bị phát hiện từ rất xa mà bị bắn hạ bàng đại bác. Nói chung kiềm kiểm soát sông Hồng hoàn toàn thuộc về người Pháp. Tất nhiên niếu liều mạng đổ nhiều quân đánh đắm thuyền Pháp cũng có thể, nhưng cuối cùng cũng chỉ là khống chế tạm thời Sông Hồng mà thôi. Quân Pháp đã lập được phòng tuyến dày đặc bên bờ bên kia, phải đổ bao nhiêu quân qua đó mới có thể lấp đầy được các họng súng, họng đại bác và lỗ châu mai đó.

Có người nói sao không đặt thủy lôi, thủy lôi Vạn Ninh lợi hại vậy cơ mà. Nói thẳng một câu thủy lôi không phải vạn năng. Dòng sông Hồng là cuồn cuộn sóng gầm mà không như sông Hương “lững lờ” thơ mộng nước lặng lẽ trôi. Việc các thuyền nhỏ giữa dòng đặt có thể dừng lại đôi chút để đặt thủy lôi hay không đã là khó khăn. Thủy lôi lại bị dòng nước mạnh mẽ quăng quật mà rất dễ tự nổ. Đây là bi ai của thủy lôi. Thường thường chúng chỉ có hiệu quả ở những nơi nước tĩnh như các vịnh hoặc những nôi có dòng chảy chậm mà thôi. Đến nay dù là thủy lôi hiện đại thì cũng không khác là bao.

Tất nhiên các đội đặc nhiệm nhóm nhỏ của Vạn Ninh vẫn vượt sông mà tiến hành quấy phá quân Pháp, nhưng số lượng đặc nhiệm của Vạn Ninh không nhiều, thêm vào đó họ khó có thể tác chiến lâu dài vì tiếp tế hậu phương rất khó khăn. Quân Pháp đã cho xây công sự, đồn bốt hết sức chặt chẽ, rút kinh nghiệm lần này quân Pháp không cho phá thành Trì mà lại lấy đó làm công sự chính để phòng ngự Vạn Ninh.

Ngoài biển khơi Vạn Ninh thì chịu hẳn rồi. Thiết giáp hạm Gloire cùng các tuần Dương Hạm, khu trục Hạm của Pháp đã khóa chết cửa Vịnh Cửa Lục. Một số chiến hạm khác lại tuần tiễu xung quanh các khu vực cửa Nam triệu, Cát Bà đảo. Nói chung đường biển của Vạn Ninh coi như bị phế hoàn toàn. Nhưng quân Pháo có cho 1000 lá gan cũng không dám tiếp cận gần cũng như đổ bộ. Nhưng đồng thời cũng cho thủy tuân Vạn Ninh 100 lá gan cũng không dám ra hải chiến cùng quân Pháp. Đánh họ cũng có thể thắng nhưng ít nhất là hạm đội Vạn Ninh coi như liệt luôn, trong khi đó Pháp vẫn còn Hạm đội đang phong tỏa cửa Việt biển Thuận An Huế.

Nói như vậy để thấy Vạn Ninh đang bế tắc vô cùng, nhưng quân dân bảy tỉnh nơi Diêu thiếu có thể quản lý không hề sợ hãi mà vững vàng tiếp chiến. Quân Địch có hung hăng thì cũng không dám bước chân một phần lên đất của họ. Đường xá khó khăn nhưng có đông đảo nhân dâ hỗ trợ thì việc gì cũng có thể thành công. Lô cốt khổng lồ được xây dựng bên bờ sông Hồng, một là pháo đài, lô cốt thuộc phủ Kiến Xương, hai là thành Hưng Yên được quy hoạch lại thành pháo đài vững chắc, ba đó là pháo đài lô cốt Gia Lâm. Tất cả đều được cả vạn dân cùng vận chuyển cát, đá, ximang, thép xây dựng và từng bước hoàn thiện nhanh chóng. Trong khi bên bờ Đông với cả vài vạn dân đang tự nguyện lao động thì bờ Tây quân Pháp cũng ép buộc hàng Vạn dân Việt với họng súng dí đầu làm việc quần quật. Công việc của các dân phu bờ Tây cũng là đào hào, xây công sự nhưng thất nhiên chỉ có thể làm bằng tre nứa và đắp đất mà thôi.


Vạn Ninh có hai khu công nghiệp khổng lồ hỗ trợ hậu phương. Chính vì thế Diêu thiếu không vội chơi bài nướng quân. Hắn từ từ đánh chắc, tiến chắc giảm thiệt hại cho Vạn Ninh. Còn quân Pháp lấy đâu ra được tiếp tế như Vạn Ninh. Tính đi tính lại quân Pháp sẽ là phe chịu yếu thế.

Trong khi Diêu thiếu đang “ nhởn nhơ” với kế hoạch đánh chắc tiến chắc của mình thì vô hình chung hành động này của hắn lại phù hợp với yêu cầu của người Pháp.

Trong lúc này tại Huế Chuẩn tướng mật vụ Đại Nam Nguyễn Văn Duy đã điều tra thành công và phá giải tổ chức bàn tay đen đứng sau những hành động đảo chính, phá hoại triều đình Huế cũng như khống chế một phần không nhỏ các quan Viên nhà Nguyễn. Trong một đêm không ngờ những tội phạm trong cuộc đảo chính vào tháng 2 năm 1862 đồng loạt khai nhận sau một thời gian gan lý cầm cự tra tấn.

Nguyễn Hùng, Lê Binh, Lê Sĩ, Phan Tĩnh, Đào Trí Phú đều “không chịu nổi” cực hình mà “khai” ra tổ chức của mình. Trong một đêm kinh đô rực lửa, tiếng la hét bắt bớ tiếng súng nổ dòn dã, tiếng đao kiếm leng keng vang lên không ngừng. Tất nhiên hiện tượng này cũng diễn ra đồng thời ở khá nhiều quận, huyện, tỉnh thành. Hơn 2 ngàn người bị bắt hoặc bị giết, một tổ chức “khổng lồ” bẩn thỉu bị lôi ra ánh sáng. Không ngờ đây là một tổ chức có bắt nguồn từ triều Tây Sơn với một số lượng lớn các gia tộc, tướng lãnh cũ của nhà Tây Sơn núp bóng dưới danh nghĩa thương nhan buôn bán, các đội tiêu cục áp tiêu, các bang phái giang hồ hoạt động. Đứng đầu trong số này không ngờ là dư nghiệt Bùi gia của nhà danh tướng Bùi Thị Xuân thời Tây Sơn.

Trong một căn mật thất đầy bí mật của tổ chức này không ngờ tìm thấy được hai quyển gia phả. Nguyễn Văn Duy lậy ra đọc một lượt thì run rẩy như ma ám mà niêm phong chúng lại. Không để một người thứ hai được biết sau đó đem dâng lên cho Tự Đức.

Hai quyển gia phả cũ kĩ và cổ lão này không ngờ là gia phả họ Bùi và họ Trần. Quang Trọng là quyển Gia Phả họ Trần không ngờ lại có một dòng rất bắt mắt.

“ Trần Quang Diệu phối ngẫu Bùi Thị Xuân, trưởng tử Trần Quang Khiển ( tử trận) , thứ tử Trần Quang Khai ( bị xử tử) , Trần Quang Vinh, nữ tử Trần Bích Xuân…… Trâ Quang Vinh ngẫu phối Bùi Thị Thảo… con cái Trần Quang Kỳ, Trần Quang…… đến đời thứ tư không ngờ lại là Trần Quang Phái là cha đẻ của Trần Quang Cán. Trần Quang Cán ngẫu phối Bùi Thị Xuyến, con cái Trần Quang Diêu…”

Lúc này thì tất cả đã rõ ràng, không ngờ Quang Cán, Quang Diêu là con cháu nhà siêu tướng thời Tây Sơn Trần Quang Diệu, thêm vào đó mẫu thân của Quang Diêu lại là nhà họ Bùi, cũng là danh tướng đô đố Bùi Thị Xuân nhà Tây Sơn. Muốn xác thực điều này không có gì rõ hơn đó chính là mở cuốn gia phả nhà họ Bùi, đúng là bà Bùi Thị Xuyến có xuất thân Bùi gia Tây Sơn.

Đến lúc này thì chữ Diêu và chữ Diệu có thể lý giải rồi. Tự Đức tái mặt ho một tràng dài máu thấm cả khăn lau miệng mà lịm đi. Trước khi ngã xuống ông ta còn kịp ra lệnh cho Nguyễn Văn Duy:

“ Tra tiếp cho trẫm.. phải tra kĩ…”.
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 173: Vạn Ninh hướng đi



Điều tra sâu, đào kĩ có khó không khi mà đối phương đã quyết định thả mồi và thính. Nguyễn Văn Duy rất nhanh điều tra được nhà họ Trần tại Hà Tĩnh đã viện trợ cho nhà họ Bùi không biết bao nhiêu lần trong quá khứ. Nhiều đến độ có thể lập được một quyển lịch vạn niên. Số lượng mỗi lần thì cũng không bao nhiêu nhưng cộng tổng số lại thì là một con số khổng lồ khiến Tự Đức nhìn mà kinh hãi vạn phần. Quan trọng nhất đó là lần gần đây nhất hai nhà liên hệ lại cách chính biến tại kinh đô Huế vào tháng hai có vài tuần mà thôi.

Kể đến đó là cậu của Diêu thiếu là Bùi Khang, vấn đề là lần này Cán ca cũng dúi cho em vợ năm ngàn lạng bạc , lão già này vẫn có tình nghĩa khá lớn với nhà ngoại. Tất nhiên số tiền ủng hộ “ tổ chức” này được ghi chép cẩn thận trong sổ sách của nhà họ Bùi. Diêu thiếu trong chuyện này quả thật hơi quá chủ quan. Hắn không hề có liên hệ gì về tổ chức dư đảng “tây sơn” chạy ăn từng bữa và tổ chức “bàn tay lớn” kia cả. Hai tổ chức này về mục đích, cấu trúc, và tính chất là hoàn toàn khác nhau. Không ai có thể liên hệ họ vào làm một cho được.

Bằng chứng như thép,nhất là lần ủng hộ cuối cùng lại rất gần với cuộc đảo chính của đội ngũ bí mật kia. Còn việc tại sao nhà họ Trần không tận dụng cơ hộ đó mà hốt gọn cả hoàng tộc thì vẫn là câu hỏi lớn. Nhưng trong ban phụ chính có nhiều ý kiến cho rằng họ Trần nhận thấy “thời cơ” không đủ , khó nhận được “ủng hộ” của toàn bộ Đại Nam nên chưa có ra tay đến cùng. Lý do này khá miễn cưỡng nhưng lúc này thì ai có thể quan tâm. Bằng chứng, nhân chứng, lý lịch, cả lý do đều có cả rồi.

Phạm Phú Thứ ra sức bảo vệ cha con họ Trần nhưng một người lực mỏng ông đành từ quan về quê. Tát nhiên là Tự Đức rất “sẵng lòng” phê chuẩn. Nếu không sợ thế lực họ Trần tại miền bắc quá mạnh thì có lẽ Phạm Phú Thứ không chỉ bị cách chức bình thường như vậy mà lên đoạn đầu đài rồi.

Đúng lúc này thì Trương Đăng Quế tổng Đốc nhị tỉnh Hải- Hưng ( Hải Dương- Hưng Yên) “may mắn” trốn được về kinh đô Huế và tin tức mà hắn báo lên chính là : “ Trần gia muốn xưng Vương, họ tự động tấn công Hải Dương, Hưng yên khiến cho Trương Đăng Quế không thể tổ chức chống Pháp cho được nên mới bị bắt”

Và Trương Đăng Quế cũng nêu ra một suy đoán có thể Trần gia đã thỏa thuận cùng người Pháp và không tiến đánh qua Sông Hồng để cho người Pháp rảnh tay xuôi Nam tiêu diệt Huế.

Tinh tức này chính là một quả đạn tạc ném vào thẳng bàn hội nghị. Tinh tức cũng chẳng dấu được bao lâu, kinh đô Huế hòng người bàng hoàng rối loạn. Tiếp theo đó là tin Tôn Thất Giác bại trận truyền về. Nhưng quần thần Huế lại không lo lắng mà thở phào một cái. Nếu Tần Văn Vân liên hợp Trần gia phụ tử đánh bại quân Pháp thêm một lần nữa nối liền bảy tỉnh phía bắc cùng Thanh Hóa, Nam Định, Ninh Bình và Hà Nội thì toàng bộ miền bắc là của họ Trần rồi. Thêm vào đó uy vọng của họ là sẽ lớn vô cùng trong dân chúng Bắc Kỳ. Chính vì vậy thu lại binh quyền của Trần Văn Vân là đúng, co thua một trận nhỏ cũng không sao.

Tự Đức nghe thấy tin báo tổng hợp lại thì tức giận bừng bừng, đang bệnh nặng mà cũng bật dậy viết một bức chiếu thư gửi ra bắc, kèm theo đó là hai quyển gia phả họ Trần và họ Bùi. Tất nhiên đường biển bị phong tỏa nên tin tức chỉ có thể vòng theo đường Ai Lao vào Hưng Hóa sau đó là Tuyên Quang rồi đến Thái Nguyên. Một đội quân biệt kích gần 300 người của Huế được trang bị tận răng để thực hiện nhiệm vụ này. Con đường này là con đường không thông, cần phải vừa đi vừa đánh đả nên cần một đội quân lớn như vậy để đưa thư. Ai Lao tuy nói là Đại Nam thuộc địa, nhưng nơi này rất loạn, phỉ tặc khắp nơi, đường đi khó khăn khắp nơi là rừng núi chưa khai phá. Hưng Hóa lúc này lại càng là man hoang chi địa, đồi núi chập trùng. Các làng Bản của người Dân tộc Mèo, H’mong, Tày, Thái đều có vua riêng của mình và gần như là tự trị. Tuyên Quang lúc này cũng không khác là bao cả.

Bức thư cùng hai quyển gia phả sau một đường vòng lặn lội xa đến 1500 km cũng đến được Vạn Ninh. Lúc này Diêu thiếu đã giao lại chiến trường xây dựng phòng thủ bờ sông hồng cho ba tên sĩ quan là đại tá Trần Văn Võ, đại tá Trần Chiến, Trung Tá Trần Văn Biện. Ba người nay chỉ đạo ba cánh quân tại Khiến Xương, Hưng Yên, Gia Lâm vừa tiến hành phòng thủ vừa xây dựng cơ sở.

Cuối tháng 10, Vạn Ninh đang ăn mừng tưng bừng sau năm tháng vất vả vô cùng thì họ cũng đã hoàn thành đoạn đường ray 140 km nối liền Vạn Ninh và Thái Nguyên. Trong khi cả Vạn Ninh tưng bừng tổ chức ăn mừng và chạy thử nghiệm chuyến tàu hàng đầu tiên trở 90 tấn hàng hóa vào Thái Nguyên thì Diêu thiếu lại mặt mày tím tái mà ném mạnh bức thư của tự Đức cùng hai bản gia phả kia xuống đất. Quang Cán bên cạnh đó thì mặt mày đỏ bừng râu tóc dựng ngược. Cái này con mẹ nó quả là quá thể, Vạn Ninh đã làm gì cho đất nước này thì cả người mù cũng có thể nhìn thấy.

Nếu Vạn Ninh có ý tự lập thì có cần thiết phải năm lần bảy lượt đưa quân cứu viện Huế. Mà xương máu con em Vạn Ninh chảy xuống xong thì họ cũng yên lặng mà rút về Phương Bắc không có tơ hào gì về trung ương. Súng ống, đạn dược, công nghiệp ở Huế là ai phát triển? Nếu Vạn Ninh muốn làm phản thì cần con mẹ nó phí công bơm cho triều đình như bơm gà công nghiệp vậy không? Nên nhớ triều đình đang còn nợ K&R gần 15 vạn lượng bạc chưa có thanh toán đấy. Mà nói đến thuốc nổ viện trợ miễn phí cho triều đình từ Vạn Ninh là con số không tính nổi. Liệu có thằng điên nào muốn tạo phản mà bơm vũ khí, đạn dược, thuốc nổ cùng huấn luyện quân cho triều đình?

Bằng chứng, nhân chứng có thể giả hết, đến cả ngọc tỉ của triều đình muốn làm giả cũng được chứ đừng nói là mấy thứ quỷ này. Quan trọng là trong bức thư này Tự Đức mặc dù không nói gì về chuyện nghi ngờ Trần gia nhưng lại “kể lể” những “ điều tra tại Huế, kết một câu là Tự Đức vẫn rất tin tưởng Trần gia Phụ tử. Nhưng con mẹ nó nếu thực sự tin thì đốt mẹ nó hai cái quyển gai phả bố láo này đi, sau đó là trấn áp dư luận xuống, cần chó gì phải gửi thư, gửi gia phả về Vạn Ninh, bày trò mèo khóc chuột.

Chuyện này quá lớn, hai cha con Trần gia tính không ra được nên cho triệu tập tất cả đầu não của Vạn Ninh, Thái Nguyên, Hải Dương, Hưng Yên lại. Những người này có sĩ quan, có các học thức trẻ đã tốt nghiệp đại học Vạn Ninh mà ra làm quan địa phương các nơi trong Thái Nguyên, Quảng Yên và nay là Hưng Yên và Hải Dương.

Diêu thiếu không ngại tình hình mà nói rõ mọi chuyện tại Huế. Hắn rất mong mỏi nghe ý kiến của mọi người. Nếu tình hình quá bết bát thì Diêu thiếu nguyện đánh xong quân thù là giặc Pháp sẽ vác cả nhà ra Hải Ngoại lập nghiệp. Prussian, Australia, Mỹ nơi nào Diêu thiếu chẳng có thể tỏa sáng. Một hạm đội hùng mạnh như Vạn Ninh muốn đầu nhập vào nước nào thì đó chính là vận khí bốc khói của quốc gia đó. Nhất là bộ não của Diêu thiếu đã được toàn thể các chuyên gia khoa học Prussia công nhận. Không nói đâu xa nếu Diêu thiếu chỉ cần ngỏ lời thì Vua Phổ khả năng sẽ cho hắn một cái chức công tước coong coong ngay lập tức.

Diêu thiếu cũng nói thẳng điều này với các quan viên, sĩ quan Vạn Ninh. Hắn dù có bất mãn với triều đình Huế nhưng vẫn yêu nước nồng nàn. Có muốn bỏ đi cũng phải đánh cho xong giặc Pháp. Các trí thức Vạn Ninh nghe xong thì hai hàng nước mắt chảy dòng, bọn họ biết Diêu thiếu là không muốn loạn quốc gia mà bỏ đi tha hương, thà rằng mình chịu ủy khuất cũng không mốn gà cùng một mẹ đá nhau tương tàn. Nhưng đáng ngưỡng mộ nhất đó là trước khi đi thì Diêu soái vẫn quyết tâm đánh đuổi ngoại bang. Không ai bảo ai lúc này trong lòng mọi người thì soái tướng của Diêu thiếu đã tăng thành mức Lãnh Tụ được rồi. Họ quyết định sẽ nghe theo Diêu thiếu, cống hiến 200% sức lực đánh đuổi quân thù sau đó sẽ rời xa quê nhà mà lưu lạc cùng Diêu thiếu, nhân cách của Diêu thiếu đã được mọi người khẳng định.

Quang Diêu, Quang Cán cũng đều xúc động trước tình cảm trân thành của những người đã và đang theo Trần gia bọn họ. Đây là tình cảm thực không có vụ lợi gì, ai cũng biết tha hương lập nghiệp là khó khăn đến nhường nào, nguy hiểm ra sao. Nhưng không mấy ai quan tâm đến vấn đề kia cả. Diêu thiếu đứng đó nước mắt chảy dài, hắn không ủy mị nhưng thứ xúc động từ trong tâm can này làm sao có thể khống chế được đây. Hắn đứng đó gập mình cảm ơn những con người được gọi là “ đồng chí” kia. Quang Diêu cảm thấy được 3 năm qua hắn cố gắng không có uổng công. Ít nhất Đại nam đã có được đà phát triển nhất định, mà những người theo hắn cũng có sựu đánh giá công bằng và cao nhất về Trần gai Phụ tử.


Vậy là Diêu thiếu cũng viết thư đáp trả lại Triều đình, ý tứ đơn giản là t triều đình hãy tin tưởng Trần gia, bọn hắn không có ý tạo phản, những cáo buộc trên chỉ là giả dối, Trần gia sẽ có câu trả lời cho toàn thiên hạ được rõ.

Con đường đã được đả thông do một lần vất vả của 300 tinh nhuệ Huế nên họ mang thư trở về nhanh hơn nhiều. 15 tháng 10 thư phúc đáp của Diêu thiếu đã về đến Huế. Nhưng liệu bức thư trân thành này có làm thay đổi được tình hình không?

Lẽ dĩ nhiên là không rồi, đúng như nhận xét của Diêu thiếu, nếu Tự Đức tin phụ tử Trần gia thì đã cho thiêu hủy hai cái quyển gia phả vớ vẩn, chém đầu hoặc cầm tù Trương Đăng Quế, cộng thêm vào là trấn áp dư luận. Nhưng ông ta đâu có làm như vậy, vì lẽ đó bức thư đầy trân thành của Trần gia thành ra chỉ là một cái rắm không hơn không kém.

Chạy đi chạy lại thư từ hai nơi quá vất vả, tình hình chiến trường thì biến đổi trong chớp mắt. Trong thời gian hơn 6 tuần thì quân Pháp đã đánh cho quân triều đình Huế tơi tả khiến họ phải lui về Phủ Tĩnh gia cố thủ.

Triều định nói là nở quân đến 4 vạn người nhưng thực tế được trang bị súng tốt và lão binh chỉ có hơn 10 ngàn người đang chiến đấu tại Thanh Hóa mà thôi. Số còn lại chính là các tân binh với súng ghẻ mua rẻ từ thương nhân Đức. Số này tất nhiên là có sức chiến đấu nhất định nhưng làm sao có thể như vạn lão binh đang ào ào đổ gục ở Thanh Hóa đây.

Vẫn biết vạn lão binh tại tỉnh Thanh có lực chiến đấu khá mạnh, nhưng chủ tướng của họ giờ đây là Tôn Thất Giác,sĩ quan là thân binh của vị Chuẩn Tướng này. Tôn Thất Giác không tồi, nhưng anh ta lão sao có thể so sánh cùng Trần Văn Vân kinh khiệm tác chiến hiện đại phong phú, thấm nhuần lối đánh du kích chiến, phục kích chiến. Tôn Thất Giác cũng đánh theo lối đánh trên nhưng chỉ là vẽ hôt vẽ da mà khó họa cốt mà thôi. Để đạt được trình độ của Trần Văn Vân thì Tôn Thất Giác còn phải cố gắng nhiều. Chuyện anh ta thất bại liên tiếp tại Thanh Hóa cũng không quá khó hiểu..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 174: Tất cả cùng điên nào



Tình thế biến chuyển không ngừng đến vậy khiến cho Huế cuống cuồng. Thật sự là Huế không lo bị Pháp đánh đến kinh thành. Họ còn những 3 vạn quân “tinh binh” cơ mà. Nhưng chuyện bị Pháp phong tỏa biển Thuận An cũng như từng bước chiếm mất đất đai Đại Nam thì họ lại đứng ngồi không yên.

Phúc đáp của Diêu thiếu về Huế không nhận được mấy sự tin tưởng, ngược lại lòng nghi ngờ của Huế ngày lại càng mạnh khi các quá khứ của quang Cán như từng muốn trở thành Võ Lâm minh chủ Lục tỉnh giang hồ được khơi ra. Đến chuyện cái chết của bà Bùi Thị Xuyến mẹ đẻ của Diêu thiếu là do quân Triều Đình Huế thực hiện cũng được lật lên. Nói chung mà mọi bằng chứng đều dẫn đến một chuyện đó là Trần gia không thể tin tưởng được.

Đến lúc này thì phe chủ hòa của Huế triều lại ầm ầm nhảy ra, lý do quá đơn giản. Huế cần “ thời gian” để “củng cố” hậu phương và sử lý triệt để sự kiện phương Bắc. Thêm vào đó hòa hoãn rồi thì thương nhân Đức mới có thể vào cảng Thuận An tiến hành buôn bán. Quan trọng là có muốn đánh cũng không thể đánh lâu nữa vì thuốc súng đã gần cạn rồi. Đến lúc này thì phe chủ chiến cũng hết sức e ngại, vì quả thật người Đức cũng chắc gì có nhiều thuốc súng, nghe nói đâu ra chỉ có người Anh mới có nhiều thứ này dự trữ. Nhưng Thuận An và biển miền trung bị phong tỏa gắt gao, bổ xung thuốc súng rất là khó khăn.

Cứ nói là Nam kỳ có thể liên hệ cùng Anh- Đức mua thuốc súng, nhưng chuyển từ Nam kỳ theo đường bộ vào Thanh Hóa là công việc không dễ dàng. Thiếu thuốc súng thì đánh trận sao nổi, cuối cùng phe chủ chiến cũng đành thỏa hiệp, vì họ cũng muốn có thời gian điều chỉnh lại quân sự cùng trù bị thuốc súng cho chiến tranh thực sự. Phe chủ chiến nghĩ chỉ cần cho họ thời gian mở cửa hải cảng nhập khẩu thuốc súng, huấn luyện binh sĩ thì sẽ dễ dàng đàn áp được quân Pháp với số lượng bộ binh không quá đông. Bên cạnh đó Trung Tướng Hoàng Diệu đang cấp tốc từ Nam Kỳ ra miền trung để chủ trì đánh Pháp. Cần thời gian để Đại Nam có thể trù bị lại sách lược là điều cần thiết. Tất nhiên mũi súng của quân Huế không chỉ chĩa vào quân Pháp, diệt xong Pháp thì đối tượng của họ là ai thì ai ai cũng hiểu cả.

Ngày 28 tháng 10 phái đoàn hòa giải do Đoàn Hữu Trưng làm chánh sứ, Trương Đăng Quế làm pho sứ đã nhanh chóng tiếp cận cùng người Pháp để tiến hành đàm phán một cái gọi là Hòa ước. Vậy là tránh đi tránh lại, né tới né lui thì “Hòa ước Nhâm Tuất” năm 1862 vẫn xảy ra. Có điểm khác là Hòa ước nhâm tuất trong Lịch sử ký kết để Chủ quyền trọn ba tỉnh là Biên Hòa, tỉnh Gia Định và tỉnh Định Tường, cũng như đảo Côn Lôn, do hiệp ước này, được hoàn toàn nhượng cho hoàng đế nước Pháp. Nhưng lúc này người Pháp rất dễ dãi khi ký hòa ước với việc thuê nhượng 100 năm Hà Nội , Nam Định, Ninh Bình và một phần Than Hóa, tất nhiên tiền thuê không nhắc đến.

Hòa ước được nhanh chóng thông qua đến mức chóng mặt với chỉ trong 2 tuần đàm phán. Người Pháp cũng không đòi hỏi quá nhiều như trong Hòa ước Nhâm tuất của lịch sử thật. Trong Hòa ước Nhâm tuất có 18 điều khoản nhưng tựu chung lại có 5 điều khoản chính đó là:

Điều 01: Từ nay về sau, hòa bình sẽ mãi mãi được thiết lập giữa một bên là Hoàng đế Pháp và Nữ hoàng Tây Ban Nha và một bên là Vua Đại Nam. Tình hữu nghị toàn diện và lâu bền cũng sẽ được thiết lập giữa thần dân ba nước dù họ ở bất cứ nơi đâu.

Điều 02 : Thần dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha được hành đạo Gia Tô ở vùng đất mà họ được thuê tại Đại Nam, và bất luận người nước Đại Nam ai muốn theo đạo Gia Tô, đều sẽ được tự do theo, nhưng những người không muốn theo đạo Gia Tô thì không được ép họ theo.

Điều 03: Chủ quyền trọn ba tỉnh là Hà Nội , tỉnh Nam Định và tỉnh Ninh Bình, và một phần Tỉnh Thanh Hóa, ranh giới được tính là Sông Mã phía Nam và sông Hồng phía Bắc, do hiệp ước này, được hoàn toàn nhượng cho hoàng đế nước Pháp trong 100 năm .

Điều 04: Người các nước Pháp và Tây Ban Nha được tự do buôn bán tại ba hải cảng là Tourane (Đà Nẵng), Người nước Đại Nam cũng được tự do buôn bán tại các hải cảng của nước Pháp và Tây Ban Nha như vậy, nhưng cả hai phải theo thể thức luật định...


Tất nhiên dù không quá khắt khe như Hòa Ước Nhâm Tuất trong lịch sử nhưng đây vẫn là mối nhục quốc gia ghê gớm và trọng đại. Nhưng tình thế của Đại Nam lúc này là đánh không được do vấn đề Vạn Ninh chưa được làm rõ. Mà thuốc súng dự chữ của quân Đại Nam cũng cạn đến nơi rồi.

Nhưng sự thật thì Huế triều không có biết, quân Pháp cũng ngoài mạnh trong yếu. Họ sợ Vạn Ninh dồn quân qua sông Hồng đến té đái ra quần. Dự trữ đạn dược của họ cũng chẳng còn bao nhiêu, khi quần nhau liên tục cùng quân Vạn Ninh tại Thái Bình, Hưng Yên, sau đó là với quân Huế triều tại Thanh Hóa. Thêm vào đó chiến hạm của người Pháp sau một thời gian dài không được bảo dưỡng bởi các bến tàu chất lượng cũng đã xuống cấp nghiêm trọng.


Người Pháp là hit thở không thông rồi. Nhưng trên chiến trường Thanh Hóa họ vẫn vãi đạn như tát nước vậy để tạo nên giả tượng cho quân Huế. Và hiế triều đã mắc mưu rồi.

Chính vì lý do này mà người Pháp rất dễ tính ký hòa ước, họ cũng cần thở lắm chứ. Theo như tính toán thì hòa ước này có lợi hoàn toàn cho Người Pháp đó.

Hai bên cùng muốn hòa để thở, hai bên cùng cần thời gian để lá mặt lá trái nên họ dễ đi đến thỏa thuận. Tất nhiên quân Pháp không có lợi thế nhiều, họ sợ làm căng sẽ sinh biến nên không hề có các điều khoản khốn nạn như: Bồi thướng 4 triệu Franc, truyền giáo toàn Đại Nam, Cắt hòa toàn chủ quyền vô thời hạn chuyển thành thuê mướn, v.v….

Ai cũng đạt được mục đích của mình nên vỗ tay vui vẻ mà giải tán.

Quân Pháp có được hòa ước thì lập tức “ngoan ngoãn” rút về bên kia sông Mã mà lập phòng tuyến phòng thủ quân Huế. Nhưng họ chỉ để lại có 2 ngàn quân nơi này mà điều 4 ngàn quân về phòng thủ sông Hồng. Từ điểm này có thể thấy người Pháp e ngại quân Vạn Ninh ra sao.

Tháng 11 cả Đại Nam bùng cháy với tin tức triều đình “cho thuê” ba tỉnh Bắc Bộ. Lòng dân căm phẫn sục sôi, các chiến sĩ ngoài xa trường thì khóc dòng quỳ xuống đấn mà nhìn lên trời cao. Họ chiến đấu vì cái gì, là vì toàn vẹn lãnh thổ, anh em họ , đồng đội của họ từng người ngã gục tức tưởi mà chết trong vũng máu hồng để làm gì, lẽ dĩ nhiên không phải để cắt đất. Vì sao máu tươi người lính phải thấm đẫm từng thước đất Xứ Thanh, dành dật từng thôn xóm, làng mạc. Không phải vì quyết tâm đánh kẻ thù sao… 3 vạn quân tinh nhuệ, hiện đại của kinh sư đâu… Họ không hiểu được chiến tranh, trò chơi chính trị, lòng tham quyền lực, không phải là thứ họ có thể hiểu thấu.

Chuẩn Tướng Tôn Thất Giác khi nghe tin dữ thì rút kiếm tự tử tại đương trường, anht a cho rằng bởi vì bản thân vô năng nên triều đình mới phải khuất phục. Nhưng ấm ức nhất đó là lúc này Tôn Thất Cúc đã bắt kịp nhịp độ chiến tranh, anh ta đã hoàn thiện hơn nhiều trong hai tháng cầm quân thực tế. Quân Đại Nam lui thật, nhưng một phần cũng là chiến lược của anh ta. Một phần Tôn Tất Cúc muốn kéo giãn cự ly của đối phương với hậu quân Pháp mà tiến hành đánh du kích cho hiệu quả. Nhưng trong mắt triều đình đó chính là Tôn Tất Giác đang bị lui. Dù anh có 10 cái miệng cũng thanh minh không nổi. Đại ca của Tôn Thất Giác là Tôn Thất Cúc trong triều cũng nói không có lại cho em trai mình.

Cũng may thân binh của Tôn Thất Giác nhanh chóng phản ứng kịp, nhưng kiếp sắc cũng cứa một đường thật sâu trên cổ vị tướng trẻ này. Tuy không tới động mạch nhưng vết thương này cũng là máu me chảy dài. Máu chảy như nước mắt, nước mắt lại màu máu. Vế thương da thịt có thể lành nhưng vết thương lòng thì muôn đời khó phai. Tôn Thất Giác nản lòng thoái trí cởi quân hàm, bỏ mũ từ quan.

Không chỉ Tôn Thất Giác,binh sĩ Đại Nam tại Thanh Hóa mà cả binh sĩ Vạn Ninh khi nghe tin đình chiến này cũng như sét đánh ngang tai mà sững sờ. Diêu tiếu trước mặt sĩ quan, chức sắc mà tức giận rút kiếm chém tung cả xa đồ bố trí chuẩn bị tấn công qua sông Hồng. Con mẹ nó lúc này đã hòa đàm, tức là quân Pháp chắc chắn rảnh tay tăng quân sông Hồng, đánh cái rắm nữa. Diêu thiếu định lấy tính mệnh binh sĩ quyết tâm qua sông để chứng minh lòng trung thành với tổ quốc, với dân tộc sau đó bỏ đi, liệu lúc này đánh phỏng chừng có thể thành công? Phỏng chừng có ý nghĩa.

Diêu thiếu ảo não gục đầu ôm trán ngồi xuống ghế:

- Xin lỗi các vị tôi đã thất thố rồi.

Sau đó hắn lại ngẩng mặt lên ý trí kiên quyết hơn bao giờ hết:

- Kệ mẹ cái hòa ước chết tiệt ấy. Một Ngày quân Pháp không rời khỏi Đại Nam một ngày Diêu tôi ngủ không ngon giấc. Phải đánh… điều thêm quân từ Thái Nguyên xuống, chuyển binh từ Cẩm Phả qua. Phải qua sông phải diệt sạch quân thù.

Diêu thiếu điên cuồng rồi. Các sĩ quan Vạn Ninh cũng điên cuồng theo, quân nhân như họ không sợ chết, chỉ sợ chết nhục nhã, chết không xứng đáng mà thôi. Nhưng lúc này một người thanh niên mặc quan phục bước ra hét lớn:

- Đại soái không thể đánh………


Người nói chuyện là con trai của Phạm Phú Thứ tên là Phạm Phú Thái. Anh đã đến đây du học từ những khóa đầu tiên, khoảng thời gian Phạm Phú Thái sinh hoạt, học tập cùng lao động bên cha con Trần gia đã có được 3 năm rồi. Giờ đây anh là một trong những quan hành chính thuộc hàng cao nhất tại Quảng Yên. Anh ta chính là Bố Tránh ty lo về công tác dân chính của Quảng Yên. Hay nói một cách khác thằng cha này chính là chủ tịch tỉnh Quảng Yên chuyên lo mặt hành chính.

Tất cả mọi người đang sục rôi ý trí chiến đấu thì bị dội một gáo nước lạnh từ đầu đến chân. Diêu thiếu mày kiếm dựng ngược mà quát

- Phú Thái, anh nói cái gì? Có tin là tôi chém anh ngay tại trận vì tội làm rối loạn lòng quân không.

Nhưng Phạm Phú Thái không sợ, anh ta quỳ luôn xuống đất mà hành đại lễ không hề có dạng ở Vạn Ninh.

- Xin Đại Soái nghĩ lại… Không nên đánh…

Anh ta nói từng chữ tứng chứ rõ ràng, thanh âm như gào lên bạt hết tiếng các sĩ quan đang rì rầm. Không chỉ có thể, một loạt quan hành chính của Quảng Yên, Thái Nguyên, Hải Dương, Hưng yên đều quỳ xuống mà gào lớn:

- Xin Đại Soái nghĩ lại… Không nên đánh…..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 175: Bắc Bình Vương Trần Quang Cán



Diêu thiếu tức giận đến tím tái mặt mày, cái lũ này lo cho người nhà trong kinh đô Huế mà không cần quan tâm gì cả cùng nhau xin đình chiến ngay lúc này đây. Nghe những lời xin đình chiến này Diêu thiếu cũng không quá lo đến quân tâm nhưng mà nói không có ảnh hưởng gì thì quả thật không đúng. Diêu thiếu cũng thấu hiểu cho nỗi lo lắng trong lòng họ, nếu vào địa vị mình thì có gì khác biệt đâu.

Diêu thiếu chán nản mà khoát tay:

- Thôi được rồi, các ngươi là lo lắng cho người nhà, ta tự tay phá bỏ hòa ước mà triều đình kí kết đó chính là tạo phản. Các ngươi theo thuyền mà rời đi Huế, lúc này hòa ước đã kí khả năng quân Pháp làm khó dễ không cao. Người Việt có thể thành cường nhân trên thế giới hay không dựa cả vào các ngươi. Phục vụ tốt cho triều đình Huế, phục vụ tốt cho Đại Nam, hãy lấy những cái gì minh hịc được mà tạo phước cho dân tộc…. đi đi…

Diêu thiếu nói hai chữ đi đi mà cõi lòng nặng trĩu, những người thanh niên này là tương lai của Đại Nam, của Việt tộc, khó khắn lắm mới đào tạo được họ, thay đổi được tư tưởng của họ thì nay lại đẩy họ trở về với lề thói cũ. Chẳng biết những người này có thể vận dụng được bao nhiêu kiến thức, hay “lăn lôn” quan trường Huế một thời gian rồi cũng bị đồng hóa cả thôi..

Phạm Phú Thái nghe xong thì ngẩng lên gương mặt cương quyết mà nói:

- Không.. chúng tôi không đi đâu cả… Chúng tôi không muốn đánh vào lúc này là có nguyên nhân … xin Đại Soái cùng các vị tướng lãnh sĩ quan cùng nghe chúng tôi giải thích một lần.

Gương mặt của mọi người tỏ ra hết sức nghiêm túc và quyêt liệt không hề giống như những vẻ lo lắng của người lâm trận thoái lui. Diêu thiếu biết đây có thể là chuyện hệ trọng nên gật đầu đồng ý.

- Tất cả đứng lên hãy nói, ở Vạn Ninh không có cái lễ quỳ này tôi đã nói rồi mà.


Phạm Phú Thái vẫn là người đầu tàu trong chuyện này. Hắn không đứng lên mà vẫn quỳ ở đó, tât cả quan viên hành chính quỳ ở đó không nhúc nhích.


- Chúng tôi sẽ không đứng lên… vì chuyện chúng tôi sắp trình bày sẽ khiến Đại Soái khó xử … chúng tôi sẽ quỳ ở đây cho đến lúc Đại Soái nghĩ thông….


Nghĩ ngợi xong Phạm Phú Thái lại tiếp lời.

- Chúng ta đánh Pháp, cứu bờ cõi, Đại Soái đích thân dẫn tướng sĩ qua sông quyết chiến cùng kẻ thù…. Chúng tôi là quan văn không giỏi cầm đao kiếm xông trận cũng nguyện đi theo. Chúng tôi kính trọng đạo đức của ngài, kính trọng sự anh dũng của các sĩ quan, binh sĩ. Nhưng Đại Soái đã nghĩ quá chưa, đánh xong Giặc Pháp thì quân Vạn Ninh còn lại được bao nhiêu người. Tôi dám chắc triều đình sẽ toàn lực tiến công Vạn Ninh sau đó. Tất cả chúng ta không ai thoát được….

Đây là sự thật, triều đình Huế không có nói ra, nhưng mối quan hệ hai bên đã khó điều giải nổi . Sự nghi ngờ của Huế dành chó Vạn Ninh là không thể nào xóa bỏ. Khả năng Huế tấn công Vạn Ninh là rất cao nếu quân Vạn Ninh gặp phải tổn thất lớn khi va chạm cùng quân Pháp. Điều này nói ra khiến toàn bộ các sĩ quan đều phải động lòng suy nghĩ, họ tham chiến nhưng không ngu ngốc. Phạm Phú Thái đợi cho quần tình trong phòng họp trở nên lắng một chút thì lại tiếp tục nói.


- Đại soái nói ngài bỏ đi lập nghiệp ở Phổ quốc, Mỹ quốc, Australia quốc… nhưng có nơi nào là hơn quê nhà. Ngài đi rồi thì con em Quảng Yên, Thái Nguyên, nay còn có cả Bắc Ninh, Hải Dương , Hưng Yên phải làm sao. Họ lại phải quay lại với cảnh sống lầm than, ăn một bữa nay lo bữa ngày mai. Lại quay về cảnh chạy lũ hàng năm, lấy vỏ cây làm thức ăn. Hay lại quay về cảnh bán vợ, đợ con…. Không không ai muốn như vậy cả. Các ngài cả ngài trong quân doanh lo chuyện đánh giặc… hãy thử ra ngoài kia mà nghe lòng dân sao…. Lòng dân bảy tỉnh là muốn ngài lên làm Vương đất bắc… Trần gia lên làm Vương Đất bắc đó..

Diêu thiếu biến sắc định mở lời thì Phạm Phu thứ lại cướp lời mà nói.

- Các sĩ quan ở đây, có vị nào không biết tại sao gia đình của mình, vợ con của mình , mẹ già tại sao có thể sung sướng mà sống thư thái ở Vạn Ninh, Thái Nguyên. Đó là vì có Diêu Soái, các vị thấy chỉ mới 3 năm qua Diêu Soái đã biến Quảng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên thành thiên đường tịnh thổ của Đại Nam… làm người cả quốc gia này có ai là không muốn đến đây sinh sống. Trong các vị chắc cũng có người xuất thân là lưu dân , đói dân đi. Các vị muốn quay lại những ngày trước kia sao?

Toàn trường vắng lặng không một tiếng động, một số sĩ quan Vạn Ninh cũng lặng lẽ quỳ xuống ra nhập hàng ngũ của các quan Văn.

- Đại Soái, ngoài kia tin đồn đã rộ lên khắp nơi, mọi người dân đều đang bàn tán về chuyện triều Huế nghi kị công thần mà ép Trần gia phải lưu vòn . Nhưng họ không có kinh hãi hay hoảng loạn, họ là đang vui mừng và hạnh phúc họ muốn cái nghi ngờ kia thành sự thật, muốn Trần gia thượng vị mà lãnh đạo Bắc kỳ. Ngài hãy nghe xem… hãy làm theo tiếng lòng của dân chúng…. Xin đừng bỏ họ đi… Xin Vương gia….

Câu cuối cùng là tên Phạm Phú Thái đổi luôn thành xưng hô là Vương gia để gọi Diêu thiếu.

Tin đồn là có, đã loan khắp nơi rồi. Diêu thiếu là không muốn Đại Nam nước sôi lửa bỏng nên quyết đinh đánh xong trận dứt áo ra đi. Tin này cũng không hiểu làm sao lộ ra khiến cho quân dân mấy tỉnh bất bình không thôi. Họ không muốn cha con Trần gia rời đi, đây là sự thật. Đồng thời họ cũng bất bình về cách đối xử của Triều Huế với Trần gia người đã mang đến bình yên và cuộc sống ấm no cho họ. Trăm người như một đều muốn Trần gai thượng vị tại Bắc kỳ.


Cái này chắc chắn là dự mưu của đám quan văn, những ngày này Trần gia phụ tử và quân sĩ, sĩ quan cắm đầu vào làm chuẩn bị kế hoạch qua sông nên không thể phân tâm chú ý mọi mặt. Mật vụ cũng có nghe qua chuyện này, nhưng khốn nạn là họ cũng đồng tình với dư luận của dân chúng mà mắt nhắm mắt mở. Tất nhiên họ có báo cáo lại cho Diêu thiếu nhưng tất nhiên nói tình hình đơn giản hơn một chút. Quan viên hành chính lũ này âm thầm làm bậy, vậy mà quấy đến dân chúng mấy tỉnh Bắc kỳ chuẩn bị tổ chức biểu tình ép Trần gia thượng vị.

Lúc này thì sĩ quan cũng quỳ hết rồi. Trong phòng họp ầm ầm cùng nhau đồng thanh.

- Xin Vương gia ở lại với Bắc kỳ…

Diêu thiếu ngẫm nghĩ thật kĩ sau đó thốt lên:

- Ta không thể làm Vương đất Bắc được.

Chúng quan lại, sĩ quan, tướng sĩ thất vọng não nề nhưng không thể không tiếp tục kiên trì:

- Xin ngài lên làm Vương đất bắc… ngài không đồng ý chúng tôi quỳ không đứng dậy.

- Phải chúng tôi quỳ đến lúc nào ngài đồng ý thì thôi.


- Xin Vương gia suy xét.

Diêu thiếu vẫn lắc đầu, hắn ôn tồn nói.


- Các vị nếu có cái sở thích quái đản là quỳ lạy thì cứ quỳ, tôi không can dự… nhưng tôi quyết không thể lên làm Vương Gia cho được.

Diêu thiếu quay đầu bỏ đi trước ánh mắt thất lạc của mọi người. Nhưng trước khi đi hắn vẫn còn kịp ném lại một câu:

- Các vị chớ quên phụ tân tôi hắn còng chưa có tử, lên làm Vương gia chưa đến lượt Diêu tôi…

Cái này con mẹ nó ý tứ rõ ràng. Trần gia tao lên làm Vương đất bắc đấy, nhưng mà Cán ca lên làm Vương gia mới là thích hợp nhất lúc này đấy.

Nói đùa Diêu thiếu là người hiện đại, ngu trung là không có trong tư tưởng của hắn. Nếu lòng dân đã quyết mà hắn cứ chối lên từ xuống thì không ra cái thể thống gì. Cùng lắm nếu không muôn gà cùng một mẹ thì làm cái tiểu Vương gia coong coong sau đó cày kéo để Vạn Ninh mạnh đến độ Huế không dám dây. Mà Vạn Ninh cũng không đánh Huế là được. Còn việc lý tưởng về một Đại Nam thống nhất hùng mạnh vẫn còn đó. Hắn sẽ tìm mọi cách điều hòa mâu thuẫn sau, cùng lắm không được thì hắn để lại cơ ngơi hùng mạnh của Vạn Ninh rồi té, lúc ấy cũng không có chiến tranh, kiểu như Đông Đức- Tây Đức hào hợp sau này thôi. Lúc ấy thì với cơ nghiệp Vạn Ninh thì với con lợn lên làm Vua thì Đại Nam vẫn cứ cường.


Khi đã vạch rõ lối đi thì Diêu thiếu mỉm cười mà không cãi láo, nhận cái chức Vương gia này về cho bản thân. Tiếp theo đó chính là một lũ quan văn khua môi múa mép viết tấu chương thay cho Cán Ca gửi vè triều. Chữ nghĩa cha con họ Trần quá xấu đi. Nôi dung tấu chương chỉ có là kính xin Thái thượng hoàng, thánh thượng gia phong cho Trần gia thành Vương. Đất phong 7 tỉnh miền Bắc, lấy con sông Hồng làm ranh rới.


Tháng 12 chuẩn bị ăn tết đến nơi nhưng Huế Kinh loạn thật. Lần này là Vạn Ninh cho ra thái độ chắc chắn. Họ muốn Trần gia lên làm Vương, đất phong bảy tỉnh. Nhưng Trần gia vẫn nói dõ ràng họ vẫn thuộc Hoàng triều Đại Nam vẫn là phần tử của Đại Nam, vẫn đóng thuế đàng hoàng và tuân theo luật lệ Đại Nam. Nhưng mà hành chính, quân sự của Bảy tỉnh miền Bắc là do Phủ Vương gia quản, họ sẽ tự lập nha môn bổ nhiệm quan lại cai quản 7 tỉnh. Cái tin này có ghê gớm hay không? Quả thật còn đáng sợ hơn cả liên quân Pháp – Tây Ban Nha tấn công.

Lập tức Trần Gia nơi phương Bắc bị quan lạ trong triều Huế sỉ vả liên hồi, dư luận người dân ở Trung Kỳ, Nam Kỳ cũng bắt đầu nghiêng về Triều đình mà chửi cha con Trần gia là nghịch thần tặc tử. Nhưng người dân bảy tỉnh miền Bắc khi nghe tin chính xác Trần Quang Cán lên làm Vương thì con mẹ nó ăn tết sớm hẳn 15 ngày. Có gà mổ gà, có lợn mổ lợn, nói chung là hạnh phúc đến tột cùng.

Tự Đức không có tức giận, không có đau đớn thất vọng gì, trên gương mặt của ông không có biểu cảm gì khi phê chuẩn tấu chương xin xưng Vương của Cán Ca. Không mội ai biết trong lòng ông ta nghĩ gì cả.

Quần thần có tức tối, căm phẫn, có gan tị có thèm muốn thì cũng chẳng thể làm gì. Họ hiểu được Hế triều có nói không cũng chẳng được. Nói không thì Trần Quang Cán vẫn tự lập bình thường, thà phong cho họ Trần cái chức Vương gia để sau này tìm cách đối phó còn hơn lúc này xé rách da mặt mà phủ định. Làm như vậy nếu Vạn Ninh nổi điên mà bắt tay cùng người Pháp đánh Huế thì sao?

Đúng là lấy lòng tiểu nhân đo dạ quân tử, dù cho Huế có quá đáng gấp trăm lần thì Vạn Ninh cũng không bao giờ bắt tay kẻ xâm lăng để tàn sát tộc mình.

Quan viên tại Huế có một lượng lớn nột đơn xin từ quan, đơn giản con cái họ đang ở Vạn Ninh tự lập nha môn. Một gia không thể thờ hai chúa, con cai họ đã lớn đã tự đi được, họ cản không nổi rồi. Cản không nổi thì đành cáo lão về quê thôi, vì có ở lại thì Huế triều cũng nghi ngờ họ mà sống trong ngày tháng ghẻ lạnh mà thôi.

1 tết năm 1863, chiếu chỉ của Huế triều đã tới Vạn Ninh. Tấn phong Trần Quang Cán làm Bắc Bình Vương đất phong 8 tỉnh phương bắc Quảng Yên, Thái Nguyên, Hải Dương, Hưng Yên, Hưng Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang. Tự lập nha môn, tự quản quân chính. Đóng thuế hàng năm sẽ có quan thuế vụ Huế triều đến kiểm tra số lượng và mang về. Mọi chuyện chấm dứt. Một Nhâm Tuất ngập tràn biến động qua đi một Quý Hợi tràn đầy tương lai giá đáo.
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 176: Tự Đức bổ cứu- Hoàng Diệu nghĩ suy



Diêu thiếu à không giờ nay có thể gọi là “Tiểu Vương Gia” được rồi, giờ đây đang cầm trong tay tấm chiêu thư của Tự Đức. Hắn cười khổ không thôi, Tự Đức xem ra lúc bị các thông tin “này nọ” bủa vây làm nóng đầu mà làm ra những quyết định có thể nói là nhất thời hỗn tướng. Nhưng không thể không phủ nhận một điều vị cựu hoàng này khá anh minh. Cũng có thể Tự Đức có cao nhân phía sau chỉ đạo mà bổ cứu sai lầm. Cách bổ cứu sai lầm của Tự Đức cũng khá khác người, không ngờ lại phong một cái chức “Bắc Bình Vương” nhạy cảm đến không thể nhạy cảm hơn thế này. Chính vì cái chiêu độc này của Tự Đức khiến cho Diêu thiếu có muốn đánh Huế hay làm gì đó xem ra cũng khó đối diện cùng lương tâm. Người ta đã thẳng thắng “tâm ý” đến vậy mà Trần gia còn làm ra chuyện gà cùng một mẹ đá nhau thì quá khó coi rồi.

Nói về Tự Đức đúng là có “cao nhân” chỉ điểm bến mê thật. Nói là cao nhân thì quả thật không phải cho lắm, nhưng ít ra đây có lẽ là người cảnh tỉnh được Tự Đức. Người này không ai khác đó chính là Hoàng Diệu. Hoàng Diệu được gọi từ Nam ra Bắc để thay cho Tôn Thất Giác tiến hành cuộc chiến chống Pháp tại Thanh Hóa. Lúc này đây khi Hoàng Diệu vào tới kinh đô thì cũng là lúc mà tấu chương xinh phong Vương của Trần Quang Cán vào triều. Tự Đức bỗng nhiên lại có cảm giác như chính mình một tay thúc ép họ Trần tự lập. Hắn tự lật lại từng sự kiện mà xem xét một cách cẩn thận. Thứ nhất vụ án nhóm bàn tay hắc ám sau lưng thúc đẩy triều đình Huế rối loạn, việc này đã điều tra mấy tháng trời không có kết quả. Bỗng nhiên trong một thời gian ngắn tất cả đều dồn dập sánh tỏ một cách kì diệu. Điều này có thể là bất thường cũng có thể là không bất thường. Thế nhưng vẫn đáng để đặt lên mặt bàn cùng suy nghĩ. Chuyện thứ hai đó là Cha con họ Trần tấn công Hải Dương “ý đồ tự lập”. Điều này do Trương Đăng Quế nói lại, những tưởng rất hợp tình hợp lý nhưng cũng có đoạn khó có thể thông nổi. Tại sao họ Trần lại đánh Hải Dương ngay tại thời điểm Pháp đánh vào Sông Hồng. Và còn cả ngàn vạn những điều khó nói thông khi Trần gia không giữ làm của riêng mà cố gắng “chia sẻ” cùng triều đình về, công nghệ, cải cách, vũ khí, đạn dược…

Không thể không nói Vạn Ninh thực sự quá cường đại khiến cho tâm lý Hoàng Tộc trong người Tự Đức bị đè nặng mà đưa ra những phán quyết vội vã, sai lầm. Nhưng cũng không vì thế mà ông ta không cố gắng bổ cứu.

Tự Đức từng hỏi Hoàng Diệu một câu: “ Nếu trẫm sai khanh Bắc tiến đánh Trần gia thì chắc bao nhiêu phần”.

Hoàng Diệu quỳ sụp mà trả lời : “ Thưa Thái thượng Hoàng, một phần thần cũng nắm không chắc, nếu Trần gia không tạo phản, thái thượng điều thần đi đánh Trần gia thì Diệu xin tự vẫn để tỏ lòng trung. Thần xuất thân môn hạ Trần gia, là nghĩa thầy trò, giữa hai chữ ‘trung””nghĩa” lưỡng nan, thần chỉ có thể xin được chết. Nhưng nếu Trần gia không có lệnh vua mà bước 1 chân vượt qua địa giới thì Hoàng Diệu thần dù có thịt nát xương tan cũng sẽ đánh tới cùng”

Đây là ý trí của Hoàng Diệu đã được thể hiện ra, hắn tự coi mình là môn đệ Trần gia, nếu Trần gia không có ý đồ tạo phản mà triều đình vô cớ ép hắn tiến công Trần gia thì Hoàng Diệu nguyện lấy cái chết để tại thiên hạ. Nhưng chỉ cần Trần gia mưu đồ bất chính thì Hoàng Diệu hắn chính là kẻ thứ nhất đứng lên chiến cùng cha con nhà Quang Cán. Lời nói của Hoàng Diệu đủ trân thành và thẳng thắn, Tự Đức liền quyết tuyệt mà cử Hoàng Diệu làm đề đốc Xứ Thanh Hà ( Từ Thanh Hóa vào Hà Tĩnh). Tại đây cho lập nên một quân khu mới hoàn toàn được gọi là quân khu Thanh Hà nòng cốt là 5000 quân thiện chiến của quân trung ương và trưng binh thêm 5000. Tựa Đức rất tin tưởng vào khả năng đánh Pháp của Hoàng Diệu.

Hoàn Diệu thì cầu xin cho Tôn Thất Giác, vì sau khi đọc chiến báo thì Diệu tướng quân với sự nhậy bén của một lão soái trinh chiến xa trường đã thấy rõ ý đồ “dụ địch xâm nhập”, “làm quen chiến thuật” của Tôn Thất Giác và cũng rất tán thưởng cách làm này. Tất nhiêu Hoàng Diệu cũng trình bày cho Tự Đức suy nghĩ của mình.

Tự Đức nghe xong thì tím tái mặt mày: “ Không ngờ trẫm đã hồ đồ nay còn hồ đồ hơn. Giác tướng quân đại tài như vậy mà lại chịu ủy khuất, Trẫm cùng lũ đàm binh trên giấy làm lỡ việt lớn rồi. Diệu ái khanh, lúc này liệu chúng ta có bổ cứu được hay không?”

Tự Đức rất tiếc nuối, vì chiếu theo cách đánh của Tôn Thất Giác có thể hoàn toàn kéo số quân không đông của quân Pháp rải rác kéo về phía Nam sau đó dùng chiến tranh du kích tiêu diệt sinh lực địch. Chiến tranh tiêu hai kiểu đó thì Pháp mới là người có hại. Cũng chỉ vì sức ép của tình hình bất ổn tại Vạn Ninh khiến cho triều Huế cuống cuồng vội vã đưa ra rất nhiều sai lầm không đáng có.

Hoàng Diệu lắc đầu: “ thưa thái thượng Hoàng, chiến cơ đã qua, quân Pháp đã rút qua bờ bên kia sông Mã mà lập phòng tuyến, lúc này quân ta lại sĩ khí không cao, thuốc nổ không có, chiến hạm hỗ trợ cũng không đánh qua sông Mã khó khăn vô cùng. Quan trọng Nhất là quân Pháp đã rất nhanh chóng tìm ra cảng Lễ Môn để xây dựng bến cảng nước sâu cho chiến hạm. Thần nghi ngờ bọn họ phải có người rất thông thạo địa hình Đại Nam để chỉ điểm”

Dừng lại một chút Hoàng Diệu quyết tâm nói lên suy nghĩ mang tính trọng điểm của bản thân về thế cục Đại Nam lúc này: “Theo cách nhìn của nhà binh như thần thì lần này người Pháp đánh vào đất Bắc là sai lầm về chiến lược quân sự, vì mảnh đất họ đang chiếm đóng Hà Nội, Thái Bình. Nam Định, và một phần Thanh Hóa toàn toàn là khu vực kẹp giữa hai quân đoàn mạnh nhất của Đại Nam. Đây là tự đưa mình vào giọ, điều này tối kỵ với binh gia, một kẻ non tay cũng có thể nhìn thấy. Người Pháp là cường quốc không thiếu cường nhân, tại sao họ không nhìn ra điều này? Họ tấn công vào khe hẹp giữa hai quân đoàn thì phải có niềm tin là hai quân đoàn này không cùng lúc dồn ép họ. Từ đâu mà người pháp có được cái tự tin này? Sau đó thình lình “tình cờ’ mà quan hệ giữa Huế và Vạn Ninh xấu đi trong thời gian thích hợp. Những sự trùng hợp này quá đáng để suy nghĩ…”


“…. Bên cạnh đó, tại sao quân Pháp biết rõ bố trí các quân đoàn mà cố ý đánh vào Hà Nội, đây cũng là một điểm đáng nghi ngờ… theo lẽ thường họ phải đánh vào Nam kỳ nơi người Pháp đã ở nơi này đến 4 năm và biết được rất rõ địa hình. Như vậy họ cũng phải “biết rõ” địa hình Hà Nội, Nam Định, Thanh Hóa không kém Nam Kỳ thì mới đưa ra sách lược này…”


Những nghi ngờ của Hoàng Diệu thuần túy mang tính chất suy luận logic của nhà binh, một baach thày chiến lược quân sự. Nhưng chính nó lại cảnh tỉnh Tự Đức, vì sao mọi thứ ngẫu nhiên lại trùng hợp xảy ra cùng lúc. Đánh chết thì Tự Đức cũng không tin đấy là ngẫu nhiên, ông ta vỗ tay lên trán não nề mà cho Hoàng Diệu lui ra. Sau một hồi lâu suy nghĩ thì Tựu Đức cũng dần mông lung mà nắm được một chút tình hình. Chính vì lý do này mà Tự Đức bình thản phong cho Trần Quang Cán một cái tước Vương gia đầy sóng gió và nhiều hàm nghĩa: “ Bắc Bình Vương”. Thâm ý trong đó thì ít ai hiểu nổi, có lẽ người rõ nhất là Tự Đức, người hiểu một phần là Diêu thiếu.


Ngày 15 tháng 1 cũng là ngày mà Vạn Ninh toàn dân vui vẻ nhất, sau một khoảng thời dan dài được ăn mừng bởi các lễ hội cuối năm cũng như tến Nguyên Tiêu Quý Hợi tất cả đều bắt tay trở lại công việc. Nói đến vì sao Vạn Ninh lại ăn tết dài đến 15 ngày như vậy bởi lẽ toàn bộ 8 tỉnh miền Bắc dưới sự quản lý của Trần Vương gia đều đang nằm trong thời kì báo động chiến tranh. Các binh sĩ nơi tiền tuyến sông Hồng không được về nhà nghỉ phép, các phu dân lao động cũng vẫn xây dựng mà không được nghỉ ngơi. Vấn đề là các dân phu này dần dần trưởng thành trong quá trình xây dựng các công trình bằng xi măng nên được giữ lại một phần tạo thành đội công nhân chuyên xây dựng. Các thương nhân đầu óc nhanh nhạy của Vạn Ninh ngay lập tức nghĩ ra một cách làm ăn mới đó là tụ tập các công nhân này thành các đội nhỏ và thành lập công ty xây dựng chuyên nghiệp. Sau đó họ nhận thầu các công trình xây dựng của Vạn Ninh. Nói chung thương nhân nơi nào cũng vậy, họ luôn là những người nắm bắt cơ hộ một cách suất sắc và cũng là thành phần tiên tiến chạy trước cùng xu thế thời đại.


Các thương nhân này một số còn bỏ tiền lớn thuê các “chuyên gia” người Đức làm cố vấn xây dựng. Diêu thiếu cũng cảm thấy mô hình này khá hợp lý, vì một mình K&R muốn tổ chức một đội thợ xây khổng lồ là không được. Thứ nhất là quản lý không có nổi, thứ hai là lãng phí nhân lực, vât lực. Hắn chỉ cho tổ chức một Công ty xây dựng Trần gia quy mô lớn một chút với rất nhiều chuyên gia để có thể xây dựng các công trình trọng điểm. Còn lại các công trình kém quan trọng hơn thì sẽ biến thành các gói thầu cho các công ty xây dựng mới mọc kia xâu xé nhau.

Nói một cách chính xác đó là cả Quảng Yên và Thái Nguyên lúc này không thiếu người có tiền. Hai khu công nghiệp vẫn đang xây dựng và mở lớn, đường sắt vẫn phải làm, thêm vào đó Bắc Ninh cũng đang trên đà phát triển khi có đường sắt chạy qua. Nói chung là công việc xây dựng tại 8 tỉnh Bắc Kỳ Trần gia là không có thiếu, chỉ sợ thiếu người xây dựng mà thôi. Trong phút chốc các công ti xây dựng nhỏ và trung mọc lên như nấm sau mưa. Tất nhiên họ đều là các công ty xây dựng theo công nghệ mới, ví như nhà gạch, xi măng một phần trộn vôi và cát. Vói chung là nhà gạch xây lên bằng cách này thì chống gió, bão mộ cách hiệu quả vô cùng.

Tất nhiên xi măng đã trở thành thần khí của 8 tỉnh miền bắc, người giàu có bắt đầu xây đình viện kiểu cổ bằng xi măng chắc chắn, Một số nhân vật có tư tưởng hiện đại hơn như các thương nhân thì quyết định xây biệt thự kiểu tây mà dùng.


15 tháng giêng cũng là ngày quan trọng đặc biệt với 8 tỉnh Bắc Kỳ đất phong của Trần Vương Gia, vì lúc này thủ phủ của 8 tỉnh đã được xác định đó là Nha môn phủ hay nói cách khác là tóa nhà hành chính trung tâm của 8 tỉnh đã được xác định là đặt tại Đồng Hỷ -Thái Nguyên.

Tất nhiên nếu so sánh về vị trí thuận lợ về kinh tế thì Thái Nguyên không so bì được cùng Vạn Ninh. Nhưng nếu so sánh là vị trí trung Tâm của 8 tỉnh thì Thái Nguyên vẫn là tốt nhất để đặt làm trung tâm quyền lực.

Thái nguyên thông lên phía bắc là Cao Bằng, lạng Sơn. Phía Nam là xuôi về Hải Dương, Gia Lâm, Hà Nội. Phía Đông là Bắc Ninh, Quảng Yên, phía Tât lại thông lên Tuyên Quang, Hưng Hóa. Với vị trí trung tâm mang tính chất chiều sâu quân sự như vậy thì Thái Nguyên biến thành thủ phủ 8 tỉnh không có một ý kiến khác lạ nào. Nhất là đường sắt từ Thái Nguyên đang nhanh chóng như những con rắn bò loằng ngoằng ra tứ phía..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 177: Quy hoạch chính phủ Thái Nguyên



Trung tâm hành chính tòa nhà tại Đồng Hỷ- Thái Nguyên có ý nghĩa thế nào thì không cần nói ai cũng biết. Nếu coi Đại Nam là đế quốc thì 8 tỉnh phía Bắc đã là Vương quốc và thủ đô của Vương quốc này chính là Thái Nguyên. Tất nhiên trên danh nghĩa Vương quốc kia vẫn thuộc quyền quản hạt của Đại Nam đế quốc, tất nhiên ai cũng hiểu rõ sự phụ thuộc này rất mong manh, nó còn tùy vào thái độ của cha con nhà họ Trần. Tất nhiên mối quan hệ Vương quốc, đế quốc này vẫn là phải dựa vào quan điểm của cả Huế và Thái Nguyên chứ không thể dựa vào một phía cho được. Nhưng sự thật thì Huế không có điên mà đi ép Thái Nguyên trong hoàn cảnh này để họ xe rách da mặt. Nói chung quan hệ giữa hai bên lúc này cực kỳ vi diệu, nhưng khả năng mâu thuẫn hai bên tăng lên theo thời gian là rất rõ ràng. Nhưng có câu nhân định thắng thiên, do đó chuyện tương lai vẫn là một câu hỏi chưa có câu trả lời .

Chuyện tương lai để tương lai tính. Nhưng chuyện trước mắt thì vẫn phải giải quyết. Trần Quang Cán là Vương gia khác họ đầu tiên của triều Nguyễn, lại là Vương gia thế tập, có đất phong và quyền tự quản. Cái này khác hẳn các nhàn vương hoàng gia nơi kinh thành. Chính vì lý do này thủ phủ chính trị của Trần Gia là nơi mà các thành phần tri thức trẻ theo học ở Vạn Ninh cũng như các sĩ quan dòng chính của Vạn Ninh mong chờ nhất. Việc thành lập một cơ cấu hành chính riêng cũng nói lên được con đường tương lai của những người đã đẩy Quang Cán lên làm Vương.

Ngày hôm nay đường như tất cả các quan viên quan trọng của 8 tỉnh đều tập trung tại Thái Nguyên Phủ Nha Trần Vương phủ để tập thể nghe phong chức tước một cách chính thức. Và đây cũng được xem như là cuộc họp hội đồng vương quốc lần thứ nhất. Nhưng vấn đề là cha con Trần gia mặc dù đã bước đến quá nửa bước chân tự lập, xưng Vương thì cũng đã xưng rồi nhưng họ không có lập quốc. Mà nếu không có lập quốc thì không thể có quốc hội cho được.

Nói một cách chính xác thì lúc này hệ thống chính trị tại 8 tỉnh Bắc Kỳ dưới sự chỉ đạo của Diêu thiếu và Cán Ca cuối cùng lại dùng mô hình phong kiến của nhà Nguyễn để quản lý. Nghịch lý nghe có vẻ đau đầu nhỉ, Diêu thiếu hô hào cải tổ, cuối cùng trong tay hắn có đầy đủ quyền lực , địa bàn, nhân lực vật lực thì bản thân lại quay về cái máng lợn như cũ.

Nhưng trách là sao được Diêu thiếu, hắn có phải là siêu nhân chăng. Cái gì là quốc hội, nghị Viện, hội đồng nhân dân thì hắn có biết. Nhưng nói thoáng một cái một tay xây dựng những thứ này thì bố Diêu thiếu cũng chả làm được. Nghe thì có vẻ cứ đạp đổ chính quyền phong kiến rồi thiết lập hội đồng chính phủ gì đó, nghị viện gì đó, dân biểu gì đó là dễ như ăn cơm à. Nói thật đấy là chém gió, đừng nói là phân

cấp lằng nhằng, quân hệ đanh xem như mạng nhện. Nói thì ai cũng có thể kể vanh vách các bộ các ngành nhưng đến các Sở, Cục, Viện thì có mà khóc hết trừ mấy ông chuyên môn nghiên cứu.

Cũng may Diêu thiếu kiếp trước là mật vụ, nghề chính của hắn là xâp nhập bộ máy chính quyền của các quốc gia mà VN cho là cần thiết. Chính vì lý do này trình độ hiểu biết của hắn về cấu trúc chính quyền hiện đại là có không ít. Nhưn mà giữa biết và tổ chức là hai chuyện khác nhau, giữa tổ chức và vận hành lại là hai khái niệm xa nhau đến vặn dặm. Chính vì lí do này Diêu thiếu trong khoảng thời gian ngắn chỉ có thể thay đổi từng chút một, dành thời gian nhớ ra và ghi chép lại cẩn thận bộ máy hành chính hiệu quả của kiếp trước. Sau đó mới tìm cách phổ biến, đào tạo cho các thành phần quan chức hiện tại dưới quyền Trần gia.

Công việc này cần rất nhiều thời gian và cẩn thận. Nhưng mà thời thế không thể để cho Diêu thiếu lần mò nhiều thời gian như vậy. 8 tỉnh cần vận hành, dân chúng cần lao động, thương nhân cần buôn bán, binh sĩ cần luyện tập. Chính vì cái tình thế éo le này mà một dân xuyên như Diêu thiếu lại dùng chính kết cấu của phong kiến để tổ chức đơn vị hành chính trong khu vực mình quản hạt.

Chuyện nực cười là hệ thống dựa theo triều đình Nguyễn cộng thêm một chút biến đổi nho nhỏ lại khiến cho hệ thống chính trị nửa nạc nửa mỡ của Thái Nguyên hoạt động khá hiệu quả. Chính quyền Thái Nguyên chia ra làm 18 Bộ phân biệt chức năng một cách rõ ràng với nhau. Từ Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An…. Cho đến Bộ Y tế, Bộ Nội Vụ v.v…. đều được thành lập.

Điểm đặc biệt là Diêu thiếu cho xây dựng 4 cơ quang ngang bộ đó là Ủy ban Dân tộc, Thanh tra Chính phủ Thái Nguyên, Ngân hàng Thái Nguyên , Văn phòng Chính phủ Thái Nguyên. Đây là những cơ quân mà thời này dường như chưa có. Ủy ban Dân tộc là rất cần thiết họ chuyên môn thực hiện chính sách dân tộc nhằm tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc. Tất nhiên là điều này rất cần khi phía Bắc, Tây Bắc của 8 tỉnh do Trần gia quản lý toàn là các khu tự trị của người thiểu số như Thái, Mèo, H’mong…. Tình hình trính trị nơi này quá phức tạm nên cần lập ra một cơ quan riêng biệt để giải quyết.

Ngân Hàng Thái Nguyên thì không phải nói rồi, điều này quá cần thiết nếu muốn phát triển kinh tế của 8 tỉnh Bắc kỳ. Nhưng trước đây do sự hạn chế của Huế cũng như danh vọng Trần gia chỉ là tướng trấn thủ một phuong nên khó thành lập nổi. Nhưng giờ đây với tài lực hùng hậu từ buôn Heroin cùng với danh nghĩa Vương gia thì việc thành lập Ngân hàng, tự đúc tiền cùng với thiết chế tiền tệ không còn là chuyện xa vời.

Văn phòng Chính phủ Thái Nguyên, hay nói cachs khác là hội đồng bộ trưởng chuyên phu trợ thủ tướng giải quyết các vấn đề trọng điểm của 8 tỉnh Bắc Kỳ. Tất nhiên thủ tướng ở đây chính là Diêu thiếu rồi. Cán Ca vẫn là Vương Gia nhưng tên này không thích cả ngày ở Thái Nguyên mà thích làm một cái Vương Gia Cầm binh coong coong nên ở trường Kỳ tại Vạn Ninh. Tính đi tính lại thì Phủ thủ tướng cộng Văn phòng chính phủ Thái Nguyên mới là nơi giải quyết mọi sự vụ của 8 tỉnh.


Ngoài ra còn có các cơ quan trực thuộc tực tiếp chính phủ trung ương Thái Nguyên như Thông tấn Xã Thái Nguyên, Viên Khoa Học Công Nghệ Thái Nguyên, Việm Khoa Học Xã hội…..v.v…

Tuy nói là cơ cấu cực kì hiện đại nhưng cách bổ nhiệm lại không có thông qua bầu cửa. Hội đồng Nhân Dân vẫ đang trên kế hoạch thành lập mà thôi. Nói chung là Diêu thiếu đang xây dựng một cơ cấu hành chính khá hiện đại dựa trên nền tảng Quân chủ tập quyền. 8 tỉnh Bắc kỳ chưa chuẩn bị đầy đủ để có thể thực hiện một cuộc cải cách triệt để. Ít nhất Trung ương tập quyền còn có một ưu điểm đó là ngăn cản rất tốt sự xâm nhập của các thế lực bên ngoài cộng thêm lục ngưng tụ của sức người sức của cực mạnh. Trong hoàn cảnh hiện tại thì Thái Nguyên đang cần ổn định phát triển mà chưa thể bung sức làm cải cách triệt để cho được.

Tất nhiên chính quyền địa phương cũng được xây dựng cơ bản trên: Tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương: các sở, ban, cục. Tại huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh: các phòng, chi cục. Tại các xã, phường, thị trấn: các đội.

Nói chung hệ thống Thái Nguyên cũng chỉ là làm rõ hơn nhiệm vụ các tổ chức, bộ , ban, ngành mà thôi. Về nền tảng vẫn là trung ương tập quyền. Chính vì lý do này quan viên Thái Nguyên có thể nhanh chóng tiếp cận với cơ cấu trên mà điều hành 8 tỉnh Bắc Kỳ.

Đầu tháng 2 hải quân Pháp bắt buộc phải rút đi phong tỏa Vạn Ninh bởi nhiều lý do. Đầu tiên cả Anh, Phổ, Mỹ ( những thương nhân Mỹ mà không phải đại diện chính quyền Hoa Kỳ) đều gây áp lực khiến Pháp không thể phong tỏa Vạn Ninh. Trong quá trình này người Anh gây sức ép rất quyết liệt vì họ có buôn bán trực tiếp với K&R tổng trụ sở đặt tại Vạn Ninh. Mấy tháng đánh nhau giữa Vạn Ninh và Pháp người Anh muốn muốn đứng xem để tìm cơ hội đục nước béo cò nhưng không thành công.

Hàng hóa heroin không có, các con nghiện lên cơn sắp phá quán của mấy tên ăn mảnh Đông Ấn Anh đến nơi rồi. Bởi vì món lợi kếch xù của buôn Heroin và cả việc muốn chen chân và Đại Nam mà người Anh dựa cớ gây áp lực rất căng cho người Pháp.

Người Pháp không có bến cảng nên chỉ có thể nhờ cảng Anh ỏ Miến Điện, cảng Lễ Môn của Pháp xây tại Thanh Hóa vẫn chỉ mới là thành hình, các nhà máy bảo trì chiến hạm là chưa được lắp đặt đó. Vậy nên người Anh cắn chặt điểm này mà gây sức ép.

So vơi Anh thì Phổ và thương nhân Mỹ gây sức ép không mạnh mẽ bằng, vì Pháp không sợ hạm đội Phổ cũng như chẳng ngán thương nhân Mỹ. Nhưng cộng tổng lại thì sức ép từ ba phía lên liên quân Pháp, Tây Ban Nha là không hề nhỏ. Cuối cùng 2 tháng 2 năm 1863 bắt buộc quân Pháp phải gỡ lệnh phong tỏa Vạn Ninh sau khi đã gỡ phong tỏa biển miền trung .

Thuyền bè các nước Anh, Phổ, Mỹ lại tràn ngập thương cảng Vạn Ninh. Lúc này đây Vịnh Cửa Lục chỉ có dành cho Quân sự mà thôi. Tất cả thương thuyền lại được tập trung qua một thanh cảng mới có tên cảng Cẩm Phả. Thật ra Diêu thiếu là muốn xây dựng cảng tại Hải Dương ( vùng Hải phòng Sông Cẩm) nhưng lúc ấy cha con họ Trần Đâu có được quyền quản lý 8 tỉnh, do đó Diêu thiếu cho xây dựng thương cảng tạm thời tại vùng biển nước sâu Cẩm Phả. Nay cho dù được quản lý 8 tỉnh nhưng việc đầu tư thêm một thương cảng tại Hải Phòng là quá sức đối vưới Thái Nguyên. Vì những tháng qua bị phong tỏa biển tuy rằng người dân 8 tỉnh Bắc ký vẫn nhơn nhơn sống tốt nhưng mà thu nhập của Diêu thiếu bị giảm đến 80%. Chính vì điểm này Thái Nguyên chỉ có thể phê chuẩn tiếp tục mở rộng cảng Cẩm Phả cộng thêm làm đường sắt 50km nối liền Cẩm Phả với Vạn Ninh.


Cũng chính vì bài học cấm biển của Người Pháp dành cho Vạn Ninh khiến cho Diêu thiếu gần như chết đói mà hắn quyết định phải sống chết nâng sức chiến đấu của Hải Quân lên. Các nghiên cứu của Viện khoa học Thái Nguyên vẫn được tiến hành, nhưng xét cho cùng các “ chuyên gia” Krupp và các “chuyên gia” khoa học trẻ người Đức khả năng vẫn là rất hạn chế. Mặc dù dưới sự gợi ý của Diêu thiếu rất nhiều các dự án đã thành công tốt đẹp, nhưng bao nhiêu đó vẫn là chưa đủ để Thái Nguyên có thể đứng vững trước các đợt hải chiến thực sự.

Nhu cầu cấp bách khiến Diêu thiếu không thể không đi thêm một bước đột phá, nếu không thì chờ đợi hắn chính là phiền phức vô tận khi bị đối phương cấm biển. Diêu thiếu cần là một hệ thống đội ngũ khoa học trình độ cực cao cùng với các thiết bị đồng bộ nhất để nghiên cứu ra những thứ mà Diêu thiếu nắm được nhất định về quy trình. Vậy là một kế hoạch bí mật đến Châu Âu hay nói một cách chuẩn xác là kế hoạc đến Phổ quốc được Diêu thiếu vạch ra. Lần này chỉ có thể ngả bài thực sự với người Phổ để đạt được đột phá thực sự về công nghệ. Tất nhiên đi theo Diêu thiếu còn là những sản phẩm công nghệ mới nhất của Thái Nguyên để chào hàng và gây nên sự tin tưởng cho đối tác..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 178: Phát hiện ra Lý Chấn là kẻ xuyên



Nói đến tình hình Thái Nguyên ( chỉ dung 8 tỉnh miền bắc với thủ phủ là Thái Nguyên) có bất ổn hay không thì có thể diễn tả một câu đó là ổn định vô cùng. Sau Hòa ước Nhâm Tuất thì người Pháp cũng khá tuân thủ chặt chẽ các quy định đã kí trong bản hòa ước 18 điều đã nêu trên. Người Pháp bắt đầu thiết lập một chính quyền bù nhìn họ Lê tại Thành Hà Nội. Nhưng khốn nạn ở chỗ đó là ở đất Thăng Long nếu giơ cao ngọn cờ cựu tộc Lê triều lại có sức hiệu triệu rất lớn, chẳng quá bao lâu mà chính quyền nhà Lê bù nhìn kia lại có thể xây đựng bộ máy hành chính đầy đủ cho 3 tỉnh Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, và phân nửa Thanh Hóa.

Nói thật ra ai cũng có thể hiểu được chính quyền bù nhìn kia không hề có một chút quyền lực thực tế nào. Nhưng sức hiêu triệu lại khiến cho tình hình dân phong trào quần chúng đứng lên chống Pháp tại ba tỉnh Bắc bộ kia không hề có chút khởi sắc nào. Ngược lại với đó quân Pháp không biêt từ đâu đào ra được một kẻ tên Lê Duy Doãn tự xưng là hậu duệ hoàng tộc Lê triều. Sau đó các quan viên cũ tại Ba tỉnh nếu có tư tưởng không chống đối Pháp hoặc những người có tình cảm với nhà Lê tại Thăng Long, Nam Định, Thái Bình lại hô hào người dân không nên chống lại Tân chính Phủ.

Chiêu này của người Pháp độc gấp trăm lần cách họ thiết lập chính quyền đô hộ tại Nam Kỳ vào những năm 1857-1862. Điều này có được không đơn giản bởi người Pháp nghĩ ra mà họ được tư vấn rất chi tiết với tình hình Bắc Bộ. Cuộc xâm lăng mang tính thực dân thuộc địa của người Pháp sau đó lại được Hà Nội chính quyền bù nhìn tung hô thành cuộc cách mạng thần thánh giúp giải phóng Ba tỉnh Bắc bộ và khôi phục được triều Lê đầy “lòng nhân từ”.

Nói cũng lạ, chính sách chia dân 8 cấp của triều Nguyễn sau đó áp dụng chế độ hà khắc bất bình đẳng cho Bắc Bộ cùng các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi v.v… lúc này lại có tác dụng bắn ngược. Chính sách của Nhà Nguyễn cũng là suy nghĩ chung của các đời Vua Nguyễn đó là áp chế cái nôi Tây Sơn triều cũng như áp chế cái nôi Lê triều. Nhưng chính cái chính sách đối xử bất binhg đẳng này lại gây cho lòng người những nơi này cực oán giận Nguyễn Triều. Nhiều năm tích tụ, nay lại bị Lê triều bù nhìn tại Hà Nội kích động thì người dân vốn dĩ nhẹ dạ cả tin của 4 tỉnh lại như ăn bùa mê mà quay lại ngưng tụ cùng Hà nội.

Thực sự đây là cái vả cực kỳ đau vào mặt Thái Nguyên cũng như Huế. Vốn dĩ Diêu thiếu muốn chơi theo kiểu rút dân. Có nghĩa là tìm cách đón dân từ bên kia sông Hồng chạy về địa bàn của hắn. Nhưng tình hình này chỉ khá được trong thời gian đầu mà thôi. Đến lúc này không ngờ lại có dân vượt biên từ bên bờ Nam sông Mã tiến về phần Hà Nội quản hạt để sinh sống.

Người Pháp đúng là đủ mưu mô, hay nói đúng hơn là kể giúp người pháp đúng là đủ mưu mô. Cái chế độ phân dân 8 cấp của triều Nguyễn được Hà Nội sử dụng thành thục đến vô cùng. Tất cả dân chúng 4 tỉnh do Hà Nội quản lý đều được nâng bậc đối xử như dân chúng Lục Tỉnh Nam Kỳ. Cuối cùng lại người Pháp vẫn có thể bóc lột 2,5 triệu dân của 4 tỉnh Bắc Kỳ như thường, nhưng chính quyền Hà Nội vẫn được nhân dân ca tụng là vĩ đại. Nếu không phải Thái Nguyên tân chính đối xử dân cực tốt thì có lẽ cũng có dân chạy từ bờ Đông sông Hồng qua bờ Tây Sông Hồng mất.

Chính co sự tư vấn mang tính đột phá của nhóm người chết dẫm kia mà người Pháp chẳng tốn công mấy cũng đứng vững tại Bắc Kỳ. Họ chẳng cần đi đàn áp dân chúng hay ra mặ làm điều tà ác gì mà chỉ cần Lê triều bù nhìn thay mặt chịu tiếng xấu là đủ.

Nhưng người Pháp thực dân Bắc kỳ và quá khứ là khác nhau hoàn tào, sau những trận dọ sức cùng người Anam tại Thanh Hóa cũng như Thái Bình thì những người Tây Âu này cũng hiểu được một chuyện. Dùng sức mạnh quân sự rất khó có thể hoàn toàn đánh bại người Đại Nam. Chính vì thế người Pháp vốn giỏi lấy nắm đấm nói chuyện lại quay qua chơi trò diễn biến hòa bình cùng diễn biến chính trị.

Cái mà người Pháp lúc này làm lại là vực dậy nông nghiệp cùng công nghiệp cùng kinh tế của bốn tỉnh Bắc Bộ. Nói là bóc lột nhưng họ không ra tay nặng nề mà liên tục thực hiện các công trình trị thủy, làm đường giúp đỡ dân chúng trồng trọt chăn nuôi cũng như phát triển công nghệ, nhà máy v.v… Tất nhiên những việc làm này chẳng mang ý nghĩa tốt đẹp thực sự nào. Nhưng chúng thể hiện ra người Pháp là “thân thiện” trong mắt người dân 4 tỉnh. Việc này còn nguy hiểm gấp 1 vạn lần việc người Pháp ra sức vơ vét tại Nam Kỳ.

Ví như lúc này tiền thuế thu được người Pháp không lấy tất cả mà đập một nửa vào vấn đề nhân sinh, phụ hồi cuộc sống cho nhân dân 4 tỉnh. Cái chiêu lấy tiền của người để ban ân người này hiệu quả quá tốt. Người dân vốn vo tri, ai tốt với họ một họ tốt lại 10, đau buồn thay rất nhiều thanh niên Bắc Bộ 4 tỉnh quên đi ai là người nổ súng các thành trì Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình mà đầu quân cho triều Lê bù nhìn tại Hà Nội. Họ ra trận để bảo vệ cuộc sống mà họ cho rằng đó là tịnh thổ mà người Pháp và Hà Nội mang lại.

Trong phút chốc quân số của người Pháp tại bốn tỉnh lại không còn là điều đáng quan tâm nữa rồi. Hơn nữa tinh thần bảo vệ “gia hương” của thanh niên 4 tỉnh Bắc bộ là cực kì mạnh mẽ. Họ bị tẩy não bởi các nhà truyền giáo phương Tây cũng như bị làm mờ mắt bởi các chính sách có phần “ưu ái” của người Pháp + Hà Nội. Tình hình diễn biến khiến cho Diêu thiếu run sợ, hắn không ngờ người Pháp lại cao thủ đến vậy hay nói cách khác thế lực hắc ám bắt tay cùng người Pháp lại cao thủ đến vậy. Diêu thiếu rất muốn cảnh báo cho Huế cái nguy cơ lớn bằng trời này. Nhưng cảnh báo thì sao, nếu Huế không cải cách, không thay đổi thái độ đối xử với các vùng khác nhau một cách triệt để thì dù có nhìn thấy âm mưu của Pháp cũng đành bó tay.

Tất nhiên Diêu thiếu không phải không có cách nào, hắn cũng đã lên kế hoạch cho một cuộc chiến toàn diện, lâu dài. Từ kinh tế, quân sự, chính trị, tôn giáo từ đây Thái Nguyên và Hà Nội sẽ triển khai một cách mạnh mẽ. Tất nhiên hòa ươc mới kí kết chưa thể xóa bỏ ngay nếu Thái Nguyên chưa có sự chuẩn bị tốt nhất. Diêu thiếu sau khi bàn giao lại công việc và các mục tiêu ngắn hạn một cách cụ thể cho Văn Phòng Chính Phủ thì cũng bắt tay vào chuẩn bị cho chuyến Tây Du dài đằng đẵng của mình.

Tất nhiên vấn đề của Thái Nguyên không chỉ có miền Nam là người Pháp, vấn đề thù giết vợ sát con của miền Bắc cũng được Diêu thiếu tự mình lên kế hoạch.

Nói về vấn đề miền bắc thì không thể không nói đến công lao của Lý Tân. Tên này không ngờ làm ăn rất tốt tại Hongkong với vở bọc là trùm xã hội đên khu Xa Thủy khét tiếng. Đàn em người Hoa dưới tay hắn cỏ cả ngàn người. Không ngờ nhiệm vụ Diêu thiếu đề ra cho Lý Tân là điều tra Lý Chấn lại chẳng hề tốn công một chút nào. Mèo chưa săn chuột thì chuột tự phết nước mắm lên người rồi dâng lên tận miệng cho Mèo ăn.

Số là Quảng Đông tỉnh nơi Lý Chấn quản lý lại có thành phố hải cảng Quảng Châu với Quảng Châu Loan là đặc khu buôn bán của người ngoại quốc như Anh, Pháp. HongKong Macau đều trong cái khu vực cảng biển Quảng Châu này. Chính vì lý do đó có thể nói Quảng Châu chính là đầu mối buôn bán heroin lớn nhất trong lục địa Thanh triều. Tất nhiên những vùng khác như Phúc Kiến, Thượng Hải đều có phân bộ của công Ty Đông Ấn Anh canh tác. Nói chung là Đại Thanh đã tràn ngập heroin khắp nơi rồi.

Tất nhiên Lý Chấn biết rõ thứ đồ chơi này, làm sao hắn để cho thứ này có thể lọt vào địa bàn của hắn nói riêng và Trung Hoa nói chung. Vậy là một cuộc va chạm này lửa giữa Lý Chấn cùng các thương nhân Anh nổ ra, vấn đề mâu thuẫn đó là heroin. Tất nhiên Lý Chấn cấm được mặt sáng nhưng các thế lực ngầm người Hoa bản địa lại hoạt động trong tối. Mà Heroin không đi theo con đường Macau, Hongkong vào Quảng Đông thì cũng có thể theo đường bộ từ Phúc Kiến đưa xuống. Nói chung là nhúm quân vài vạn người của Lý Chấn có trang bị súng Italy có thể đánh nhau được đấy nhưng để quản lý cho không lọt một tỉnh to lớn, với các thành phần phức tạp như Quảng Đông là không thể.

Lý Chấn lập tức điều động mật vụ của bản thân bí mật điều tra nguồn gốc của số dangg Heroin vượt thời đại trên. Tất nhiên nhiều đầu mối tập chung đến HongKong. Vậy nên trong lúc Lý Tân chưa kịp điều người vào nội địa Quảng Đông điều tra Lý Chấn thì một loạt thám tử của Lý Chấn đã xâm nhập HongKong.

Diêu thiếu là ai? Hắn có thể không có tài thiện xạ như một xạ thủ như Lý Chấn nhưng nói về đào tạo Mật vụ thì Lý Chân có chạy 10 vạn tám ngàn dặm cũng không thấy được bóng lưng của Diêu thiếu. Tổ mật vụ 50 người tại HongKong là nhóm học sinh đầu tiên với thâm niên công tác lâu năm lại tổ chức được một mạng lưới kinh khủng tại HongKong dưới danh xã hội đen. Chính vì lỹ do này mấy con gà mờ của Lý Chấn cử đến điều tra thì lớ nga lớ ngớ bị tóm gọn.

Dưới các chiêu bài tra tấn tinh thần, thể xác đặc biệt mà Diêu thiếu đã truyền thụ thì chẳng mấy chốc mấy thám tử của Lý Chấn đã khai hết cả tám đời tổ tông của họ ra. Tất nhiên các thôn tin này lại được các mật vụ của Diêu thiếu Tại HongKong một lần nữa xác minh lại. Chiêu bài dùng heroi khống chế mật vụ của Lý Chấn không hiệu của vì lúc này Heroin đã tràn ngập Quảng Châu, rất dễ để mua bán. Chính vì lý do này các mật vụ của Lý Chấn sau khi hoàn thành chức năng của họ thì đều đi gặp Diêm Vương cả rồi.


Một bản báo cáo dài dằng dặc của Lý Chấn từ thân thế, sự nghiệp đến cả phát ngôn thường ngày được đặt trên mặt bàn của Diêu thiếu. Diêu thiếu lúc nhận được bản báo cáo thì đã sững sờ đến không khép được miệng, một kẻ xuyên như Diêu thiếu thì sao có thể không nhận ra những điểm khác biệt mang tính cơ bản của bản báo cáo này.

“… tiểu binh… bắn chết sĩ quan Thái Bình Thiên Quốc…. Thăng tiến như tên bắn… Đạo Đài Thượng Hải… đánh vài trận cùng người Pháp…. Đầu tư sản xuất súng công nghệ Italy… thành lập tân quân chính quy kiểu hiện đại… đã từng phát ngôn. – Cái thứ này là heroin không thể xuất hiện vào lúc này, các ngươi phải tra bằng được kẻ chế tạo ra heroin. Bằng mọi cách diệt trừ hắn- Đây là phát ngôn của Lý Chấn khi ra lệnh cho mật vụ…”

Chỉ bằng chừng ấy thôi thì Diêu thiếu cũng đã cố thể đưa ra một nhận xét chính xác 100% đây là một thằng xuyên y chang như Diêu thiếu. Có điều tên này xuyên về Trung Hoa mà lại là kẻ thu giết vợ sát con của Diêu thiếu.

Nếu Trung Hoa có một kẻ xuyên thì đất nước mất trăm triệu người này sẽ đáng sợ ra sao? Đại Nam liệu có thể sống nổi không. Thù nhà nợ nước, cộng thêm tiến trình lịch sử TQ_VN cuối cùng Diêu thiếu đưa ra một quyết định. Lý Chấn bắt buộc phải chết, may mắn là trong hai kẻ xuyên thì Diêu thiếu mới là người phát hiện ra Lý Chấn trước tiên. Trong khi đó Lý Chấn chắc chắn đang còn loay hoay tìm kiếm đối thủ xuyên trong bóng tối của mình. Chính vì lý do này Diêu thiếu lại càng cần có đột phá mới mang tinh quyết định về công nghệ để có thể lấy công nghệ bù đắp số lượng. Tháng 3 Diêu thiếu bí mật lên chiến hạm Phổ tây du đến Châu Âu. Một chuyến đi đầy mong chờ cũng như đầy chông gai. Năm Quý Hợi mở ra như thế đó..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 179: Hành trình Châu Âu.



Lênh đênh trên biển, xa đi quê nhà, xa đi căn cơ nơi Thái Nguyên, Vạn Ninh nhưng lần đầu tiên Diêu thiếu cảm thấy cuộc sống trở nên thoải mái đến vậy. Số là Hòa Ước Nhâm Tuất thì đối với cả ba bên là Thái Nguyên, Pháp, Huế đều chẳng coi vào đâu. Nhưng mà cả ba bên đều muốn có thời gian thở dốc để yên ổn lại hậu phương trước khi đưa ra phương án quyết định cuối cùng. Tất nhiên Diêu thiếu cũng không hoàn toàn tin tưởng vào đối phương cho nên vì chuyến đi xa nhà lần này mà hắn đã chuẩn bị rất nhiều. Tất nhiên có được một bộ máy hành chính cũng như quân chính khá hoàn chỉnh thì Diêu thiếu mới dám dứt áo ra đi một thời gian dài như vậy.

Các việc quan trọng như xây phòng tuyến Sông Hồng, Phòng tuyến biển Hải Dương đã và đang được tiến hành. Quan trọng nhất là tuyến đường sắt nối từ Ga Bắc Ninh đi Hải Dương với 40 km gần như đã được thành hình. Từ đây Thái Nguyên, Hải Dương, Vạn Ninh, Cẩm Phả nối liền thành một mảnh. Tất nhiên sau đó sẽ là tuyến Thái Nguyên- Gia Lâm, Hải Dương – Hưng Yên sẽ được quy hoạch và xây dựng. Với tuyến đường sắt nối thông các tỉnh thì kẻ cả kinh tế lẫn quân sự của 8 tỉnh Bắc Kỳ sẽ được nâng lên một tầng cao mới. Từ lúc này thì Thái nguyên dù có bị phong tỏa biển vẫn có thể kịp thời điều quân ứng phó các nơi trong lục địa nếu có chiến tranh bất chợt xảy ra.

Sông Hồng lúc này cũng không phải là địa bàn mà người Pháp có thể huênh hoang khoác lác nữa rồi. Những công sự, lô cốt lũ lượt được xây dựng lên dọc Phòng tuyến Sông Hồng. Trong các lô cốt này đều bố trí trọng pháo. Tuy rằng chỉ là pháp Krupp C61 12 pound cùng Cối Đại Nam M62 24 pound nhưng số lượng là không ít. Thành thử ra lúc này dù cho hải quân Vạn Ninh vẫn co do vùng biển nông luẩn quẩn gần bờ nhưng Sông Hồng quân Pháp cũng không dám nghênh ngang cho chiến hạm qua lại vô tư nữa.

Trước kia nếu chưa có các công sự lô cốt xi măng cốt thép thì Pháo của Thái Nguyên rất dễ bị các tuần dương hạm to lơn của Pháp phá hủy trận địa. Nhưng lúc này đây thì khác rồi, nhìn thấy các lô cốt kia các chiến hạm Pháp chỉ biết co đầu chạy thẳng để tránh phạm vi của làn đạn mà thôi. Pháp đâu biết lúc nào Thái Nguyên xẽ xé bỏ Hòa ước để lao qua bờ bên kia sông Hồng, chính vi vậy tránh voi chẳng xấu mặt nào thì hơn. Các chiến Hạm của Pháp không dám vô tư lượn lờ ở Sông Hồng nữa. Lúc này tuần tra sông hồng lại chia làm hai phe thuyền gỗ made in Đại Nam. Phía Hà Nội là một số thuyền chiến gỗ mà quân Pháp thu được sau lần đánh phá Nam Định, Hà Nội cũng như Thanh Hóa. Còn bên kia dĩ nhiên là quân sĩ Vạn Ninh dùng số thuyền gỗ gần 40 chiếc của mình để tiến hành tuần tra một nửa địa bàn sông Hồng của mình.

Số chiến hạm gỗ của quân Hà Nội cũng không nhiều, chỉ vào khoảng 30 chiếc mà thôi, tất nhiên quân sĩ trên các chiến hạm gỗ này một phần là lính thủy quân Hà Nội đã đầu hàng Pháp, một phần là tân binh mới ra nhập chính quyền bù nhìn Lê triều tại Hà Nội. Cả Pháp và Thái Nguyên đều rất ăn ý mà không cử chiến hạm hơi nước vào vùng nước sông Hồng. Nói đùa à, lúc này hai bên sông Hồng đều là dày đặc công sự pháo binh của hai bên, đem chiến hạm đắt tiền vào đây mà nướng thì chẳng có khác nào cầm đốt tiền mua ánh sáng đâu.

Đã bố trí đến độ vạn vô thất nhất, mà nguy cơ chiến tranh khó có thể diễn ra trong thời gian ngắn sắp tới thế nên Diêu thiếu không hề sợ hãi chút nào khi đi xa. Nói là Đông Tây xa cách, Âu Á khác biệt nhưng thực sự ra nếu liên tục chạy chiến hạm mà không tiến hành buôn bán trao đổi, chỉ tiến hành nghỉ ngơi cấp đưỡng cùng bảo trì động cơ thì cũng chỉ 20-25 ngày là có thể từ Á qua Âu trong điều kiện thời tiết thuận lợi.

Vận may ông trời ban cho Diêu thiếu cũng không quá bạc, chuyến đi này trừ gặp một cơn bão ở ấn độ khiến cho hạm đội phải chuyển hướng cập bờ trú ẩn thì cũng không có quá nhiều đặc biệt nào khác.


Ngày 28 tháng 3 cuối cùng thì hạm đội Phổ cũng về đến Biển Bắc (North Sea). Cuối ngày 28 tháng 3 thì hạm đội an toàn tiến vào vùng biển Wadden. Tất nhiên để đi đến Berlin thủ đô của Prussian thì cũng có thể vòng qua eo biển của người Đan Mạch để vào Biển Baltic sau đó cập bến Szczecin. Nhưng nếu đi heo lộ trình đó thì sẽ lâu hơn rất nhiều ngày. Herbert von Bismarck quyết định sẽ đi theo tuyến đường từ biển Wadden nhập vào sông Elbe để thâm nhập nội địa nước Phổ, điểm cuối của Hạm đội chính là Cảng Humburg lừng danh của CHLB Đức sau này.

Lúc này thì Humburg cũng không có quá nhộn nhịp cho lắm, cũng không phải vì nơi này không có phát triển thương nghiệp. Lý do chính để Humburg không quá nhộn nhịp lúc này là do Năm 1842, khoảng một phần tư nội thành đã bị phá hủy trong "Đại hỏa". Đám cháy bắt đầu vào đêm ngày 4 tháng 5 và không được dập tắt cho đến ngày 8 tháng Năm. Nó đã phá hủy ba nhà thờ, tòa thị chính và nhiều tòa nhà khác, giết chết 51 người và khiến khoảng 20.000 người mất nhà cửa. Humburg đã phải tái kiến thiết rất lâu và trong khoảng thời gian này nó vẫn đang gồng mình để thực hiện chuyên đề trên.

Nói một cách chuẩn xác thì Humburg không thuộc vào Liên Bang Đức nhị nguyên Áo- Phổ lúc này. Sau khi giải thể Đế chế La Mã thần thánh vào năm 1806, Thành phố Tự do Hamburg không được sáp nhập vào một khu vực hành chính lớn hơn trong khi vẫn giữ được các đặc quyền đặc biệt, nhưng đã trở thành một quốc gia có chủ quyền với thủ phủ là Hamburg.

Nhưng Humburg lại có được quan hệ rất gần gũi cùng Prussia nên chuyện Đoàn người Diêu thiếu mượn con đường này để đi đến Berlin cũng khá thuận tiện. Tất nhiên cho dù có thân thiết đến cỡ nào thì Humburg cũng không cho phép toàn bộ Hạm đội Phổ có thể cập cảng, chỉ có một chiến hạm nhỏ chở Diêu thiếu cùng các nhân vật quan trọng được phép nhập cảnh mà thôi.

Sự việc Phổ quốc mượn đường cũng không quá hiếm lạ cho nên Quốc vương Humburg lúc này cũng không quá quan tâm lắm. Thêm vào đó người Phổ cũng không muốn hồng nhân như Diêu thiếu lại tiếp cận nhiều với các thế lực khác do lo sợ bị “lệch hướng” đầu tư. Chính vì lý do này Diêu thiếu cũng chẳng được nghỉ ngơi một phút nào ở thành phố cảng biển xinh đẹp này, thay vào đó hắn bị lôi một đội thuyền buôn nhẹ mà theo sông Elbe chạy thẳng về Havelberg.

Havelberg là một ngôi làng nhỏ thuộc về tỉnh Brandenburg của Phổ quốc. Nói về lịch sử của Brandenburg cùng Havelberg thì dài dòng vô cùng, chỉ biết được đây là vùng đất quan trọng nhất của Phổ quốc vì Brandenburg chính là tiền thân của Berlin và Potsdam. Nói như vậy lúc này Berlin vẫn chưa là một thành phố được tách ra khỏi Brandenburg. Chính vì lý do đó có thể nói Brandenburg chính là thủ đô của Phổ quốc. Nhưng cái thủ đô này “hơi rộng” một chút nên từ ngôi làng Havelberg đi đến địa danh có tên Berlin cũng phải mất gần 100km. Tất nhiên lúc này đã là nội địa của Phổ quốc nên chuyện di chuyển sẽ thong dong và bớt lo lắng hơn nhiều.

Một đội kỵ binh hoàng gia phổ đã chờ sẵn Diêu thiếu tại nơi này, thông tin Diêu thiếu đi sứ đến Phổ đã được chuyển trước cho Berlin cả tháng trời rồi, tất nhiên đội kỵ binh nghi lễ hoàng gia này cũng phải ăn chực nằm chờ ở nơi này ít nhất cả tuần lễ là ít.

Không ngờ Người Phổ lại dành cho Diêu thiếu nghi thức đón tiếp hoàng gia long trọng nhất. Cũng phải thôi, Diêu thiếu không những là nhà đầu tư chiến lược quan trọng nhất của Phổ. Hắn còn là đồng minh cả về kinh tế và quân sự của quốc gia này. Một điểm quan trọng lúc này vị thế của Diêu thiếu là thái tử của Vương gia Trần Quang Cán, lãnh thổ của họ Trần không hề bé hơn Brandenburg một chút nào. Chính vì lẽ đó nếu xét trên một khái niệm nào đó thì Quang Cán có địa vị chính trị phải ngang cơ Wilhelm I. Đơn giản vì tuy Phổ hùng mạnh nhưng Wilhelm I cũng chỉ phong hào quốc Vương mà thôi.

Lần này trong phái đoàn đi đón Diêu thiếu không ngờ lại có cả hoàng gia phổ, không phải một mà là khá nhiều. Dẫn đầu phái đoàn đón tiếp là Thái tử Friedrich Wilhelm, Friedrich năm nay mới chỉ 32 tuổi, anh ta có được những đặc điểm tuấn tú đặc sắc của dân tộc đức với mái tóc bạch kim chải chuốt gọn gàng, đôi mắt màu xanh lơ với chiếc mũi cão thẳng. Hốc mắt sâu, gò má phẳng cộng thêm một đôi ria mép khá ấn tượng khiến cho gương mặt tên thái tử Phổ này thật cuốn hút. Friedrich cao đến tầm 1m85 với cơ thể cân đối, gọn gàng chứng tỏ người này khá đam mê việc luyện tập.

Đi theo Friedrich còn có Luise Wilhelm là con gái út của Wilhelm I năm nay chỉ mới 18 tuổi. Nàng cũng có được vẻ đẹp đặc chưng của con gái đức, không quá mượt mà nhìn thì hơi thô kệc một chút về dáng vẻ nhưng gương mặt trứng ngỗng cộng thêm đôi mắt màu rất lạ đó là màu xanh lá. Đôi mắt thật lớn với lông mi dài cộng thêm màu xanh lá của đồng tử tạo nên một vẻ thần bí sâu thẳm. Luise không có mái tóc màu bạch kim như anh trai nhưng lại có được mái tóc vàng với những đường xoắn uốn lượn tự nhiên như sóng biển. Chiếc mũi thon dài thêm vào đôi môi thật đỏ tự nhiên khiến cho vẻ đẹp “Tây” của Luise được lột tả trân thành nhất. Cô gái này rất cao tầm 1m75. Cũng may lúc này Diêu thiếu cũng đã 17 tuổi, ăn được cái gen tốt của Cán ca nên cũng cao đến 1m80 nếu không lần này quả là hơi xấu hổ rồi.

Diêu thiếu vẫn là bộ quân phục sĩ quan hiện đại mặc trên người, đối với Diêu thiếu thì lễ phục, quân phục, thường phục chỉ có một mà thôi. Hắn vốn là quân nhân nên có muốn làm dáng làm đỏm gì đó cũng không tránh được hai chữ quân phục. Tất nhiên quân phục nếu dành cho những buổi lễ long trọng thì nhất thiết cũng phải được may bằng chất liệu tốt hơn với trang trí cúc bạc và các đây đeo cầu vai là bạc. Diêu thiếu ghét nhất là đeo vàng lên người, càng ghét hơn là các loại nhẫn, kim cương hay đá quý gì đó. Vậy nên lúc này Diêu thiếu nhìn tuy giản dị nhưng lại không kém phần quý phái.

Tất nhiên Diêu thiếu cùng những người hoàng gia Prussian kia sẽ làm một lễ chào nhau theo phương thức quý tộc của mỗi bên. Nếu là trên đất Đại Nam thì có lẽ Diêu thiếu sẽ dùng một số lễ tiết phương tây để tạo sụ thoải mái cho đối phương. Nhưng nếu đã bước chân lên đất Châu Âu thì Diêu thiếu lại cực kì khắc chế chuyện đó mà giữ nguyên bản sắc của người Việt trong cách giao tiếp. Đây chính là bản sắc văn hóa của người Việt, cái đáng tự hào của người Việt, không chỉ vì vài câu chê bai nhà quên gì đó mà có thể phủ nhận toàn bộ văn hóa của ông cha.

Tất nhiên người Đức sẽ không chê văn hóa của quốc gia khác, lúc này người Đức không phải Nazi họ vẫn là những người Đức thân thiện với tinh thần tôn trọng các nền văn hoác khác ngoài Germany..
 
Back
Top Dưới