Xuyên Không Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt

Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 200: Cán Ca không phải dạng vừa đâu.



Quảng Đông làm mẹ gì có giáp ranh cùng Thái Nguyên ( ở đây là chỉ 7 tỉnh miền bắc do họ Trần quản lý mà không phải tỉnh Thái Nguyên). Vậy nên quân của Lý Chấn bắt buộc phải đổ bộ vào Quảng Tây sau đó theo đường bộ tiếp tục men đến ba huyện Bắc Sách, Sùng Tả và Cảng Khẩu để tấn công vào Lạng Sơn và Móng Cái ( thuộc Quảng Yên).

Lý do vì sao Lý Chấn xuất động tận 2 vạn quân tấn công Thái Nguyên thì có trời mới biết được, thằng này cậy mình là dân xuyên nên cũng bá lắm. Hắn giờ này là cánh tay không thể thiếu được của Đồng Trị hoàng đế đại thanh. Nói một cách chính xác thì ngoài Lý Chấn đề đốc tỉnh Quảng Đông thì chẳng có ai đánh đấm gì được với quân Thái Bình Thiên Quốc cả. Lý Hồng Chương, Tăng Quốc Phiên, Tả Tông Đường, Trương Chi Động dường như tắt ngòi trước quân Thái Bình Thiên quốc.

Thật ra có hiện tượng này vì thằng khốn Lý Chấn tự bơm vũ khí cho quân Thái Bình Thiên quốc với giá cao, sau đó là quân Thái Bình Thiên quốc mới đè Lý Hồng Chương, Tăng Quốc Phiên ra mà đánh. Lúc này tên mặt người dạ thú Lý Chấn lại nhảy ra thu thập tàn quộc. Đây là điển hình của ủng binh tự tự trọng. Đại Thanh đã đến độ không thể không có Lý Chấn. Mà khốn nạn nhất đó là tên Lý Chấn này nắm cả tỉnh Quảng Đông trong tay, giàu có vô cùng, hắn lúc này binh lực đã hiện đại hóa một phần dường như là có thể đè đánh cả Trung Hoa, chính vì vậy trong triều Bắc Kinh kể cả Đồng Trị cũng không dám này nọ với Lý Chấn, nhỡ may kích động tên này thì một Thái Bình Thiên Quốc thứ hai ra đời không chừng.

Chính vì cái lý do khốn nạn này mà khi Lý Chấn biết phong phanh chuyện Trần Quang Cán làm Vương gia bắc Việt, lại nghe được tin heroin có nguồn gốc từ Thái Nguyên thì tên người xuyên không tự lượng sức này ngay lập tức đề xuất lên triều đình Đại Thanh là đánh Miền Bắc Đại Nam. Tất nhiên là Bắc Kinh chẳng có được ý kiến gì, mà họ có ý kiến cũng không xong. Lúc này Thái Bình Thiên Quốc vẫn đang được chú Chấn bơm đều súng đểu Italy nên vẫn cứng lắm, không như trong lịch sử là sắp tàn đến nơi rồi.

Tại sao Lý Chấn lại vội vã tấn công Thái Nguyên như vậy thì thật ra cũng có thể hiểu được. Bất kể từ trước đến nay hay kể cả thời hiện đại thì người Trung Hoa vẫn coi thường người Việt. Họ coi người Việt chỉ là man nhân ( cái này là tác nói thật, vì tác có quen mấy thằng Tàu bọn nó gọi chúng ta là “mán rấn”, tí đánh nhau ngay tại chỗ). Chính vì cái tư tưởng coi thường này mà Lý Chấn nghe phong thanh và đoán ra kẻ xuyên đang ở Đại Nam phương bắc. Lúc này Trần Quang Cán lại ngang trời lên làm Vương gia nên Lý Chấn chắc mẩm đến 8 phần thì Cán Ca là dân xuyên. Thế là không cần nghĩ ngợi thì Lý Chấn liền con mẹ nó điều hai vạn quân súng trường tính lấy thịt đè người tiêu diệt Cán ca.

Nói một câu cho đúng là cái lũ khựa này không vắt tay lên trán mà nghĩ đến chuyện ông cha chúng đã bao lần phải ngậm đắng ở đất Việt mà vẫn vênh váo như vậy. Đến cả Lý Chấn dù biết Đại Nam có dân xuyên vẫn hỉ mũi coi thường. Chẳng cần điều tra nhiều đã xua quân đánh úp, thật không hiểu nổi tự tin của hắn từ đâu ra. Có lẽ người khựa là đánh chết cái tình không chừa coi thường người Việt, cho dù trong bao năm qua sau các cuộc chinh chiến thì kết quả sau cùng vẫn là ông cha chúng như chó cúp đuôi chạy về nước.

Cán ca có phải dạng vừa không? Xin lỗi con mẹ nó cái, một người đã có đam mê chuyện nào đó nếu được làm đúng sở nguyện thì có ngu như heo cũng có thể vì sự cố gắng mà thành công. Lại nói đến Cán Ca méo phải thằng ngu, điển hình là trong 5 năm qua hắn đánh nam dẹp bắc số lượng có khi còn nhiều hơn Diêu thiếu bận bù đầu vào Kinh tế. Chỉ cần nói đến việc lúc này tiếng Đức bồi, tiếng Anh cơ sở của Cán Ca là làu làu như cháo chảy. Một người có thể vì học hỏi quân sự của nước bạn mà cố gắng trau dồi cả ngoại ngữ đến như vậy mà là người kém sao. Không bao giờ nhá, nếu giờ cho Diêu thiếu một đạo quân cùng chất lượng cùng số lượng oánh nhau với Cán ca thì cũng chẳng biết mèo nào ăn mỉu nào. Ấy là nói về bộ chiến, Diêu thiếu mà dám lấy chiến hạm bày trận oánh nhau với Cán Ca thì đảm bảo răng rơi đầy đất. Nói lên điều này để chứng minh một chuyện, xuyên cũng là người mà thôi. Họ chỉ biết trước các dữ kiện tương lai mà nắm được đón đầu công nghệ, nắm được chỗ sai chiến thuật quân sự mà thôi. Nhưng nếu đưa họ vào một tình huống ngẫu nhiên không có trong lịch sử thì cùng lắm dân xuyên cũng chỉ khá hơn người thường chút đỉnh thôi. Nếu không luyện tập, không cố gắng thì dân xuyên cũng là phế vật mà thôi.

Lý Chấn sau khi được Diêu thiếu biết là người xuyên thì được trọng điểm chiếu cố của mật vụ Thái Nguyên, nhất là nhóm mật vụ đang hoạt động ở hải ngoại là HongKong và Quảng Châu. Lý Chấn động, Cán ca biết ngay lập tức. Phải công nhận một chuyện đó là thằng Chấn nó đông quân thật. Mới huy động một nửa mà tổng số quân Nam hạ của Lý Chấn gần bằng luôn tổng số quân chính quy của Thái Nguyên.

Nhưng Cán ca sợ? không hề, Lão Vương gia lâu lắm rồi không được đánh trận ra hồn. Trận chiến với Pháp thì hạm đội Vạn Ninh bị đè ra đánh, bị dọa cho không dám xuất cảng Vạn Ninh. Cán ca đã nghẹn một mảng tưởng chết đến nơi rồi. Tự nhiên Bắc Bình Vương Trần Quang Cán đang than vắn thở dài thì có thằng lao vào chịu đánh. Thế là xong rồi.

Thái Nguyên mạnh nhất là gì vào thời điểm này? Quân đội, kinh tế, nhân khẩu, công nghiệp? à không… những cái đó có mạnh nhưng nói là đứng đầu thì chưa được. Nhưng Thái Nguyên có một thứ đứng đầu đó là mạng lưới giao thông đường sắt cộng thêm hệ thống điện báo đã gần như hoàn chỉnh trừ một số vùng tự trị của người dân tộc thiểu số như Hưng Hóa, Tuyên Quang.

Tin Lý Chấn động binh Nam hạ được mật vụ HongKong truyền về Móng Cái, đến buổi chiều thì điện báo đã tới thủ phủ Thái Nguyên. Buổi tối thì hội đồng các bộ trưởng họp gấp, cùng với bộ tham mưu quân sự Thái Nguyên. Nói chung là hiệu suất làm việc của Thái Nguyên có thể nói là bá nhất lúc này. Đơn giản vì Thái Nguyên 7 tỉnh nhỏ vô cùng, lại được chăm chút đầu tư hệ thống điện báo cùng đường sắt. Chính vì thế nhỏ có cái lợi của nhỏ đó là hiệu suất tập trung cực cao.

Hội đồng chính phủ thông qua đường lối chiến tranh với người Hoa rất là nhanh. Chỉ trong một buổi tối họ đã cho ra được phương án chiến tranh tổng quát, còn về chi tiết tưng hạng mục, từng khu vực thì lại do Bộ tổng tham mưu quân sự tiến hành chi tiết xây dựng nhanh chóng nhất.

Từng Sư đoàn, Lữ đoàn theo số chỉ định mà lên tàu hỏa hơi nước tiến về chiến trường sắp tới. Nói chung là binh sĩ Thái Nguyên toàn là lão binh, lũ này được đào tạo chính quy, ăn ngon, bồi dưỡng tốt, sức khỏe dồi dào, tinh lực tràn trề. Vẫn biết có chiến tranh là phải hi sinh, nhưng ở Thái Nguyên binh sĩ hi sinh vì tổ quốc là vinh dự cao nhất. Cả làng cả xã còn được thơm lây chứ đừng nói là gia đình. Các thương binh không thể chiến đấu phải về nhà còn dễ kiếm vợ hơn cả thương nhân. Có thể nói binh nghiệp mới là ngành nghề được hướng tới nhất ở Thái Nguyên. Chẳng qua Thái Nguyên nuôi quân quá bá, giá trị đắt đỏ, lại thêm tiền tuất, tiền thương tật cực cao nên số lượng vẫn lẹt đẹt ở 2,5 vạn mà mở rộng không nổi. Đấy cũng chỉ là một lý do mà thôi. Lý do cao nhất đó là nếu thả cửa chưng binh thì lấy ai ra mà lao động sản xuất nuôi quân. Nói cho cùng thì heroin buôn bán cũng có thời. Đến lúc bị phá giải cách điều chế thì sản lượng sẽ bị giảm xuông nghiêm trọng. Chính vì vậy để tránh cú sốc kinh tế thì dần dần ngành kinh tế Thái Nguyên phải tự mình trang trải cho các hoạt động chính trị, quân sự cũng như nhân sinh của vùng đất này.

Chiến tranh đến là nói đến tiền và người. Sách lược đầu tiên của Chính phủ Thái Nguyên đó là chưng binh 1 vạn. Một vạn tân binh này là lấy ra từ dân quân đã trải qua huấn luyện cơ bản. Nói đến chế độ dân quân của Thái Nguyên thì rất hợp lý, lúc này cho dù có được hòa ước Nhâm Tuất nhưng mà toàn Thái Nguyên vẫn giữ nguyên trạn thái thời chiến. Tức là tất cả các nam tử trên 18 tuổi đều phải tiến hành luyện tập quân sự một ngày 2 tiếng đồng hồ không kể lao động. Mỗi người phải làm quen bắn 10 viên đạn thật của súng trường Dreyse M41. Lúc này đay M41 vẫn là súng chính thức của quân Thái Nguyên được trang bị cho 2,5 vạn lục quân và có đến 1,5 vạn thanh đang nằm kho coi như vật tư chiến lược. Tức là lúc này giới hạn tăng binh lớn nhất của Thái Nguyên là 15 ngàn bộ binh chứ không chỉ có 10 ngàn không thôi.

Tất nhiên 10 ngàn tân binh dân quân này sẽ không ra chiến trường mà ở lại hậu phương tiến hành rèn luyện thêm, cộng với bảo vệ các thành phố. Trong trường hợp chiến trường cần tăng viện thì rõ ràng họ sẽ bị điều ra trận rồi.

Nói đến tại sao Thái Nguyên có nhiều súng Dreyse M41 như vậy vì đây là súng thải của Phổ, họ muốn đổi mới quân đội nên thay bằng Dreyse M48 hết. Số lượng M41 thải ra nhiều đến 3 vạn thanh, thêm vào đó gần như tất cả các dây truyền M41 của Phổ đều bị hốt về Thái Nguyên nên bãi rác Thái Nguyên có năng lực sản xuất M41 cực kì kinh khủng. Tất nhiên các dàn máy này đang được thay thế các bộ phận để có thể chế tạo M48 thế hệ mới. Trình độ công nghiệp của Thái Nguyên lúc này đủ để làm như vậy rồi. Tất nhiên nếu có hẳn các dây truyền sản xuất Dreyse M48 một cách đồng bộ thì vẫn hơn. Nhưng điều kiện không cho phép, mới lại bỏ các dây truyền cũ thì hơi lãng phí nên tiến hành cải tạo là chuyện dĩ nhiên.

Lại nói các tân binh dữ dìn hậu phương vững chắc thì các lão binh lũ lượt lên tàu bắc tiến. Tiến về Lạng Sơn là Lữ đoàn 235 thuộc Sư đoàn Thái Nguyên, bọn họ có tới 5000 người và là những người tinh nhuệ gần như đứng đầu của Thái Nguyên. ( những quân tinh nhuệ nhất vẫn đóng ở Hưng Yên, Gia Lâm, Thái Bình nhìn chằm chằm quân Pháp). Lữ đoàn 275 cũng thược Sư đoàn Thái Nguyên lên tàu tiến nhanh về biên giới móng cái Sông Kalong để viện trợ cho 2 ngàn biên quân nơi đây. Nói đến cuối cùng thì Cán Ca vẫn khá coi trọng Lý Chấn vì có sự nhắc nhở dặn dò của Diêu thiếu. Vậy nên về bộ binh thì Cán ca động đến 8 ngàn quân chủ lực lao về Lạng Sơn và Móng Cái. Tại đây mỗi nơi lại có hai ngàn biên quân. Tính ra thì có đến 1 vạn 2 ngàn lục quân đổ vào biên giới phía bắc nhằm ngăn chặn quân Quảng Đông tiến vào đất Việt.

Nhưng sự việc không dừng ở đó. Bị người ta đè ra đánh mà mình chỉ phòng ngự thì không phải kiểu của Cán Ca. Nói thật một câu Cán Ca lúc này không còn là Trần Quang Cán thương nhân buôn lậu muối ở Hà tĩnh, mà cũng không phải là Trấn Hải Úy nho nhỏ thủy tướng quân Vạn Ninh. Hắn chính là Vương gia của 7 tỉnh miền Bắc, con người đôi khi rất lạ, cái mông đôi khi lại quyết định suy nghĩ của bộ não. Tức là vị trí đặt của cái mông ảnh hưởng đến tầm suy nghĩ của Cán Ca rất nhiều. Có lẽ mọi người không quá coi trọng Cán Ca nhưng sau thời gian gần nửa năm ngồi cái ghế Vương Gia này thì suy nghĩ của Cán Ca thay đổi nhiều lắm. Có lẽ Diêu thiếu cũng không thể nào tưởng tượng ra được cái dã tâm mầm mống đang sinh sôi trong tâm thức của vị phụ thân tiện nghi này.

Cán ca quyết định điều một nửa hạm đội Vạn Ninh đi đánh úp Quảng Châu. Không chiếm được thì cũng phải phá tan cảng biển ở Quảng Châu khiến cho cả Quảng Đông chết đói. Nhất là lần này Cán ca quyết cấm vận thương nhân Italy cùng Mỹ đi vào Quảng Đông. Đây là thực lực là hải quân hùng mạnh của Vạn Ninh có thể làm được. Nếu không tính các quốc gia Châu Âu có mặt tại vùng biển Châu Á thì lực lượng hải quân của Vạn Ninh là đứng nhất Châu Á lúc này. Còn nếu tính cả lực lượng các quốc gia Châu Âu thì Vạn Ninh đứng thứ 3 sau Pháp, Anh, và xếp ngang hàng Hà Lan. Còn về mấy nước lèo tèo như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Mỹ, Italy thì không có cơ hội gọi nhịp cùng Vạn Ninh.

Nhưng Cán Ca không có nông cạn như vậy, hắn ra lệnh gửi hai bức thư cho hai thế lực, một là Pháp đang ở Ba tỉnh Đông Bắc Bắc Bộ, hai là Huế. Cán ca yêu cầu Pháp thực hiện đúng theo hòa ước đã ký đó là vấn đề ai đánh Pháp thì Đại Nam ra quân, ai đánh Đại Nam thì Pháp bảo hộ. Tính cho cùng thì Thái Nguyên vẫn thuộc Đại Nam nên Cán ca yêu cầu Pháp điều quân đánh Quảng Châu cũng hợp lý.

Còn về phần Huế thì Cán Ca thông báo với mục đích truyền thông tin như sau: Giời tôi là tiểu đệ của anh, tôi bị đánh nếu anh không can thiệp thì cũng coi như không coi như có thằng tiểu đệ này. Mà nếu đã cạn tàu ráo máng thì…. Cán Ca không như Diêu thiếu, từ lúc ngồi lên ghế Vương Gia là hắn đã nảy sinh tư tưởng ngồi lên vị trí cao hơn đó..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 201: Huế cũng không phải dạng vừa đâu



Việc kéo thêm Huế vào cuộc tấn công Quảng Châu thì có thể hiểu được, nhưng việc Cán Ca kéo thêm Pháp vào trận chiến này thì rất là khó hiểu.

Nếu đứng trên lập trường bất đội trời chung của Diêu thiếu với giặc Pháp thì sẽ không có chuyện hợp tác quân sự trên. Vì từ trước tới giờ Thái Nguyên chưa từng tỏ thái độ đồng ý cới hòa ước Nhâm Tuất. Chính vì lý do này nếu Cán Ca yêu cầu Pháp phối hợp trong cuộc chiến tại Quảng Châu thì gần như là thừa nhận sự hợp pháp của giặc ngoại xâm trên 3 tỉnh Bắc kỳ.

Vậy điều này có gây mâu thuẫn với chính sách nhất quán của Diêu thiếu về thái độ với người Pháp hay không thì vẫn còn phải bàn bạc thêm. Nhưng từ sự việc lần này có thể thấy rõ được Cán Ca sau khi lên làm Vương gia một thời gian cũng đã có được cách suy nghĩ riêng của bản thân. Điều này có thể là tốt vì Diêu thiếu bày ra cách cục rất lớn, bản thân hắn không thể ru rú tại Thái Nguyên ba mảnh đất bé tẻo teo được. Vậy nên nếu Cán Ca có thể đứng lên độc lập tự chủ một phương thì không có gì tốt bằng. Nhưng điều này cũng có tệ đoan đó là có thể Cán Ca có cách suy nghĩ riêng của bản thân mà gây nên những mâu thuẫn trong đường lối lãnh đạo của hai cha con. Nhưng vấn đề này để sau này mới có thể hạ hồi phân giải.

Cái thời buổi này khi mà giao thông không thuận tiện, thông tin nhanh nhất trên bộ là dùng khoái mã truyền đạt. Chính vì lý do này nên Thái Nguyên 3 thước đất với chằng chịt mạng lưới dây đồng điện báo cùng các tuyến đường sắt chính đã được hoàn thành đã trở thành một nơi quá đặc biệt tại Châu Á.

Trong khi quân Quảng Đông tụ tập rồi chuẩn bị lương thảo đạn dược cũng như huy động một đội ngũ khổng lồ hậu cần binh cho 2 vạn quân sau đó di chuyển theo đường bộ xuôi nam thì cỗ máy chiến tranh Thái Nguyên đã ầm ầm vận chuyển lâu rồi.

Thành thử ra kẻ đi tấn công chưa chuẩn bị xong thì kẻ bị tấn công đã nhởn nhơ tại các chiến trường định sẵn mà bố trí trận địa. Từ khi nhận được tin báo thì các mật vụ HongKong chỉ mất 2 ngày để truyền tin về nội địa Thái Nguyên. Thông qua điện báo thì một giờ sau đó thông tin này đã nằm trên mặt bàn làm việc của Cán Ca và hội đồng chính phủ tại Thái Nguyên. Và chỉ sau hai ngày tiếp theo thì từng Trung đoàn, tiểu đoàn bộ binh Thái Nguyên ầm ầm lên xe lửa mà tiến về biên giới. Cho đến khi quân Thái Nguyên tập trung hết tại biên giới, xây dựng cũng như củng cố các cứ điểm chiến tranh tại vùng đất này thì quân Quảng Đông vẫn đang “chuẩn bị” chiến tranh và nhốn nháo tại Nam Ninh.


Chuyện thật mà cứ ngỡ như đùa vui vậy. Phe đi đánh người thì chẳng biết mấy về đối phương, lên kế hoạch đánh úp người ta cuối cùng mình còn chậm hơn đối phương đến vài nhịp chân. Phe “bị đánh” thì lại nắm rõ kẽ gây sự trong lòng bàn tay, không những tổ chức phòng ngự trước vài ngày mà lại còn hô hào yêu cầu đồng minh khắp nơi tấn công lại kẻ gây chiến. Buồn cười thì buồn cười thật nhưng từ đây mới có thể thấy được giao thông đường sắt , hệ thống điện báo liên lạc, cùng với cơ cấy mật vụ hiệu quả trong thời điểm này quan trọng đến nhường nào. Về điểm này thì Thái Nguyên nhỏ bé đang là vô địch tại Châu Á. Các cường quốc phương Tây có đến nơi này cũng chẳng thể làm được như Thái Nguyên lúc này.

Câu trả lời của Pháp cho yêu cầu của Thái Nguyên đó là đồng ý cả bốn chân. Nói đùa Á có nằm mơ thì Pháp cũng muốn nhúng chàm Quảng Châu Loan. Người Pháp có muốn một thuộc địa, hay nói cách khác là một khu tô giới như HongKong của người Anh không? Nói thật thì Napoleon III có nằm ngủ cũng mơ tới điều này. Pháp cong mông đánh Đại Nam cuối cùng cũng là muốn có một bàn đạp vững chắc mà tấn công vào khu vực Đông Á với Đại Thanh quốc đông dân màu mỡ mà thôi. Nói ra thì thật bi ai, mục đích ban đầu của quân Pháp khi đánh Đà Nẵng hay 3 tỉnh Nam Kỳ cuối cùng tịu lại đó là muốn có một chỗ trú chân để có thể làm hậu phương cho cuộc đổ bộ quy mô vào Đông Á từ vùng biển Đông Nam Á mà thôi.

Tất nhiên trong lịch sử thật sự thì Pháp cũng là thực hiện theo ý tưởng trên, thành lập một căn cứ địa vững chắc tại Đông Nam Á sau đó tạo tiền đề vững chắc hơn để canh tranh cùng Anh quốc tại thị trường lớn là Đại Thanh. Và thực sự người Pháp đã thành công trong lịch sử khi đặt được tô giới Pháp tại Quảng Châu Loan sau khi đã thôn tính Đại Nam. Nhưng lúc này lịch sử đã không còn đi theo lối mòn vốn có của nó. Người Pháp đã xa lầy tại cuộc chiến tranh tại Đại Nam. Ở một góc độ nào đó giới chỉ huy quân Pháp tại Đông Á đã nhận ra rằng Đại Nam không phải nơi họ dễ dàng có thể thôn tính. Và những bước tiếp theo trong công quộc xâm nhập phương Đông của người Pháp cần phải tính toán lại cẩn thận.

Ngay lúc này đây Trần Vương gia , vương của phương Bắc Đại Nam lại đưa ra một lời mời hợp quân tấn công Quảng Châu Loan hết sức quyến rũ. Người Pháp có ngu, có tự phụ đến nhường nào cũng không đến mức kinh thường người Việt sau những trận chiến vừa qua. Chính vì thế một lời mời hợp quân cùng người Việt tấn công Quảng Châu là một lời mời mang tính thiết thực và hiệu quả nếu đặt trên suy nghĩ của người Pháp lúc này.

Tất nhiên người Pháp có thể lựa chọn đem quân tấn công miền bắc Đại Nam tức là Thái Nguyên khi mà Quảng Đông quân tiến hành đánh chiếm phương Bắc Đại Nam. Nhưng lựa chọn như vậy có phải là tốt nhất chăng. Bộ tổng tham mưu quân viễn chinh Pháp đã ngồi lại với nhau và nhất trí đấy không phải là lựa chọn tốt nhất. Vì sau khi chiến đấu cùng quân Đại Nam cả phương bắc lẫn triều đình Huế đã dạy cho người Pháp biết một chuyện. Họ chiếm cứ được 3 tỉnh bắc bộ Đại Nam phần lớn là nhờ may mắn mà thôi. Nay có cơ hội tấn công Quảng Châu Loan với cường lực liên quân là người Việt thì Pháp quân lại đặt ra một câu hỏi. Liệu đây có phải là cơ hội mở ra cho hướng đi của quân viễn chinh, người Đại Nam có thể tin tưởng đ ược hay không?

Tin tưởng người Đại Nam tất nhiên là không được rồi, vì dù nói gì thì nói người Pháp vẫn đang là kẻ xâm lược Đại Nam. Nhưng sự việc Quảng Đông động binh đánh Thái Nguyên là sự thật, chuyện này không có dối gạt. Chính vì thế một lời mời hợp binh của Thái Nguyên là không có sự nghi ngờ về mặt động cơ. Người Pháp biết được đây chính là cơ hội, vì Thái Nguyên đã tỏ rõ thái độ chưa muốn đá Pháp bay khỏi Đại Nam. Còn vì lý do tại sao thì người ngu cũng có thể hiểu được người đứng đầu Thái Nguyên cần có vùng đệm để tránh tiếp xúc trực tiếp cùng Huế.

Chính vì lý do này mà Rigault de Genouilly đô đốc hạm đội Pháp nhanh chóng thực hiện đúng “nghĩa vụ” với Đại Nam trọng hòa ước Nhâm Tuất. Người Pháp sẵn sàng điều 1/3 hạm độ cùng quân Thái Nguyên tấn công Quảng Châu. Nhưng Rigault de Genouilly không đơn giản, ông ta cử phái đoàn tiếp xúc trực tiếp cùng Thái Nguyên nằm phân định rõ nhiệm vụ cùng lợi ích sau trận chiến này. Nói trắng ra là không ai ngu đi làm pháo hôi cả, muốn thì cả ba bên cùng ra sức, nếu Huế không tham gia thì ít nhất Thái Nguyên cùng Pháp phải cùng ra sức mà không có chuyện lợi dụng nhau làm pháo hôi. Điểm tiếp theo đó là chia cắt lợi ích ra sao khi tấn công được Quảng Châu Loan hoặc là có thể đánh vào đại lục Đại Thanh thì chia chác là ra sao.

Suy nghĩ của Huế lại càng khó đoán khi Tự Đức chấp nhận ngay lập tức “lời thỉnh cầu” của Bắc Bình Vương về chuyện xuất binh. Huế Kinh không ngờ xuất động toàn bộ Hạm đội Huế cùng 5 ngàn lính bộ binh tham chiến. Đây là con số không hề nhỏ một chút nào trong tình cảnh mà Huế mới thở dốc lại sau một cuộc chiến đẫm máu cùng người Pháp. Hướng đi của Huế và mục đích trong chuyện này có hơi bất ngờ và rất quyết đoán nhưng tất cả đều tỏ rõ một chuyện, Huế vẫn xứng đáng là “anh cả” khi ra tay bảo vệ Phương Bắc mặc dù phải đối mặt là Đại Thanh rộng lớn.

Sự thật là như thế nào thì chỉ có thể thông qua cuộc mật bàn của Tự Đức thái thượng hoàng, nhóm phụ chính thân thần, cùng hai chiến tướng là Nguyễn Chi Long và Hoàng Diệu.

Thắng lợi cùng lơi ích của cuộc Viễn chinh tại Phillippine cùng các trận chiến cùng người Pháp đã khiến cho Huế triều có lòng tin cực lớn vào bản thân. Mặc dù vẫn là bị chiếm đóng mất 3 tỉnh miền bắc, và gần như 8 tỉnh khác ly khai, nhưng Huế triều lại có một cái đánh giá hết sức thực tế về trình độ quân sự của bản thân.

Đối với việc Pháp chọc vào khe hẹp giữa hai nhánh quân hiện đại là Huế và Thái Nguyên gây ra tình cảnh hiện tại thì Huế không cho đó là yếu kém quân sự của bản thân. Họ cho đó là sai lầm chiến thuật bố trí binh lực. Hay nói cách khác là Huế chưa phổ cập hiện đại hóa quân đội toàn bộ các vùng trên cả nước. Giả dụ như Pháp dám dẫn quân đánh vào kinh đô Huế hay đánh Nam Kỳ thì đảm bảo người Pháp sẽ lãnh đủ. Thêm vào đó cuộc viễn chinh Phillippine, đánh tan quân Tây Ban Nha và thu được quá nhiều tiền bạc, công nghệ… khiến cho tư tưởng tiểu bá của Huế bành chướng vô cùng. Họ không hề có nỗi sợ hãi một chút nào đối với Trung Hoa lúc này. Tình hình Đại Thanh luôn được người Đại Nam chú ý và đánh giá với một con mắt thận trọng và tôn trọng đối phương. Chính vì lý do này Huế đã cho rằng Đại Nam chẳng có gì phải e ngại Đại Thanh. Và Đại thanh chỉ là một con Hổ bệnh mà thôi, mà Đại Nam lúc này là một con báo tráng niên khỏe mạnh nên có thể từ từ xử lý con Hổ bệnh kia.

Những tháng này Huế rất tích cực làm ăn cùng các thương nhân Đức, Mỹ… cá biệt là họ làm ăn cả với thương nhân Anh nhưng khá dè chừng. Chính sách với thương nhân anh còn lâu với mở cửa như với người Đức., tất nhiên người Mỹ cũng là đối tượng làm ăn của Huế nhưng không được trọng dụng như thương nhân Đức. Nói chung Huế triều vẫn cứ tin người Đức Hơn.

Hàng suất khẩu của Huế lúc này đa dạng lắm, không chỉ có các mặt hàng thổ sản như trước kia nữa, vải vóc từ các xưởng dệt. Lụa với công nghệ dệt máy, gốm sứ vơi lò nung hiện đại hơn, các mặt hàng mĩ nghệ đồi mồi, chân châu v.v… đều là mặt hàng suất khẩu. Tất nhiên thu về sẽ là tiền, công nghệ cũng như thuốc súng. Huế đã từng bước xây dựng con đường đi riêng của bản thân khi họ có đủ lượng lớn công nghệ rác từ Đức thải vào.

Tất nhiên tiền là không bao giờ đủ. Huế triều muốn có một lượng tiền lớn để tái đầu tư công nghệ tốt hơn cũng như mua nhiều hơn thuốc súng từ người Anh. Họ mua thuốc súng cùng đầu tư công nghệ tốt hơn thì có trời mới biết họ muốn làm gì. Có lẽ đánh Pháp, có lẽ thu hồi 8 tỉnh Bắc Bộ. Tất nhiên điều này hạ hồi phân giải, nhưng điều đáng nói lúc này đó là của Tự Đức thái thượng hoàng, nhóm phụ chính thân thần, cùng hai chiến tướng là Nguyễn Chi Long và Hoàng Diệu đều nhất trí cao là nên đánh Quảng Châu Loan. Đánh để chứng minh khả năng quân sự của Huế sau vài tháng thởi dốc và phát triển công nghiệp tự thân thành quả. Đánh để kiếm lợi ích kì vọng như cuộc viễn chinh Phillippne. Nói tựu lại cuối cùng vẫn là tư tưởng tiểu Bá của Huế đã manh nha xuất hiện.

Nhưng Huế không đơn giản chút nào, họ đồng ý xuất quân với số lượng lớn nhưng lại yêu cầu họp các bên và bàn điều kiện tại Huế. Đồng thời Tự Đức còn gửi thư yêu cầu quân Phổ tại Khai Biên tham chiến, đồng thời hạ lệnh cho quân Mỹ tại Kha Lâm tham chiến.

Yêu cầu Phổ quân tham chiến vì nói cho cùng là Phổ quốc kí hiệp ước quân sự với cả Thái Nguyên lẫn Huế. Mà trên danh nghĩa là Khai Biên là do Huế cho Phổ thuê mà không phải là Thái Nguyên ký hợp đồng. Còn đối với quân Mỹ đóng quân tại Kha Lâm thì Huế trực tiếp ra lệnh cho họ xuất quân mà không phải thương lượng. Chỗ này có một chút lằng nhằng, Kha Lâm, Tầm Vu đều là Huế triều phong đất cho cha con họ Trần. Do đó trên danh nghĩa hai vùng đất này đều thuộc quyền điều phối của Huế. Mặc dù cha con họ Trần đã cho người Mỹ thuê lại nhưng Huế mắt nhắm mắt mở không quan tâm. Họ chỉ quan tâm quân trên đất Kha Lâm, Tầm Vu phải nghe theo điều phối của chính quyền trung ương. Đây là một suy nghĩ tỏ rõ sự tiểu bá trong suy nghĩ của Huế, nhưng nói một cách nào đó thì họ không hề làm sai luật định.

Sự rắc rối lằng nhằng giữa các bên dẫn tới một cuộc gặp gỡ 4 bên có thể là liên minh tạm thời được tổ chức tại Huế. Lần này mặt mũi của Huế đủ lớn rồi, đủ để có thể phần nào đó thể hiện uy vọng của anh cả xã hội thâm..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 202: Hội đồng cố vấn siêu cấp



Phải nói rằng Cán Vương gia cùng bộ sậu Thái Nguyên lần này đi một nước cờ tiên phong nhưng lại kém bộ sậu cùng đầu óc của Tự Đức một khoảng. Chuyện này cũng không trách được Thái Nguyên, dù sao họ cũng chỉ là những nhân vật trẻ tuổi trong môi trường chính trị. Ngay cả Diêu thiếu có mặt nơi này chắc gì đã làm tốt hơn. Nên nhớ Thái Nguyên tính ra tuổi thật cũng chỉ có gần một năm chính thức cùng 4 năm thai nghén mà thôi. Còn Huế triều dù thối nt nhưng có đến cả hơn trăm năm kinh nghiệm lừng lẫy về mặt chính trị.

Cái hay của Thái Nguyên là đội hình trẻ,sức bật lớn, khả năng thích nghi cùng tư tưởng hiện đại. Nhưng cái dở của họ là thiếu chiều sâu về mặt kinh nghiệm chính trị. Vốn dĩ một hành động mà Thái Nguyên có đủ năng lực để đứng ở vị trí chủ đạo nhưng họ lại đi một nước cờ khiến Huế trở thành trung tâm.

Nói thì nói vậy nhưng dù sao mục đích cuối cùng của Cán Vương gia cũng đã thành công theo một phương diện nào đó. Đừng tưởng Cán Vương hung hăng hiếu chiến mà nhầm, đặt hắn ở vị trí tướng quân thì rõ là tên này thuộc thành phần hiếu chiến rồi. Nhưng đặt hắn ở vị trí Vương gia phải lo nghĩ cho cả một vùng đất lớn hơn bao gồm cả kinh tế, quân sự, giáo dục, công nghiệp, nông nghiệp thì có bố Cán Ca cũng phải thận trọng. Nói một cách công bằng thì Cán Ca ngồi vị trí Vương gia khá là hợp với khả năng của tên này. Mặc dù cứ nói trước khi đi Diêu thiếu đã bố trí kĩ càng, nhưng mọi bố trí đều là sáo rỗng vì tình thế luôn là biến đổi trong chớp mắt. Đương cử như việc Lý Chấn cho 2 vạn quân nam hạ, ai mà tính ra nổi. Nhưng cũng qua lần thử lửa này mới thấy được bộ máy hành chính cũng như quân sự của Thái Nguyên vận hành quá trơn tru. Và Cán Vương cũng khá anh minh và quyết đoán trong tình hình trên. Cái đáng tiếc là họ hơi thiếu kinh nghiệm mà thôi.

Vương cung Thái Nguyên, hay nói đúng hơn là cung điện Thái Nguyên, một trong những công trình mang tính chất tầm cỡ nhất của cha con họ Trần đã hoàn công sau 4 tháng vất vả và hao tốn tiền của. Diêu thiếu là một người tiết kiệm chi tiêu cho bản thân, việc này cũng ảnh hưởng nhất định đến Cán Ca. Mặc dù cán Ca trước kia đã từng xây một tòa Pháo đài Hầu tước Phủ tại Vạn Ninh bằng đất nện bọc gạch, nhưng tòa hầu tước phủ kia mang tính chất quân sự hóa nhiều hơn, và cũng rất tiết kiệm.

Nhưng từ khi tiếp nhận chức Vương gia 8 tỉnh phía Bắc thì cha con họ Trần biết mình không thể nào tiết kiệm được nữa. Vương cung bắt buộc phải hoành tráng, vì nó chính là nơi có lực quy tụ đối với toàn bộ nhân dân 8 tỉnh. Nó còn thể hiện năng lực cũng như sự thịnh vượng của Vương Triều họ Trần tại Phương Bắc. Một công trình cung điện quy mô đã được thiết kế và duyệt vốn lên đến 7 triệu £ được thông qua trong 3 năm để tiến hành xây dựng. Đây là một cụm lâu đài, cung điện xây dựng theo lối kết hợp của cả Đông và Tây. Cách bố trí các tòa lâu đài, vườn cây , con đường, hồ nước, hoàn toàn dựa vào lối kiến trúc ngoại cảnh Phương Tây. Nhưng bản thân các tòa lâu đài với mái cong nhiều tầng lại là lối kiến trúc phương Đông điển hình. Tất nhiên sự thi công có cả thợ người Việt và một số lượng không nhỏ các chuyên gia Đức tiến hành.

Đây là một mối làm ăn béo bở khiến cho các công ty xây dựng vừa và nhỏ của Thái Nguyên có thể tham gia các gói công trình đã được chia nhỏ trong đó. Thương nhân Đức cũng không ngu ngốc gì, bản thân họ cũng có đủ các chuyên gia các ngành nghề nên cũng tham gia vào đó mà đấu thầu.

Tất nhiên phương pháp xây dựng của Thái Nguyên bây giờ khác lắm rồi so với tình hình của cả thế giới. Cách họ xây dựng các công trình không khác lắm so với hiện đại đó là đổ khung bê tông cốt thép sau đó mới xây dựng các chi tiết công trình. Chính vì cách làm này khiến cho cung điện Thái Nguyên được xây dựng với tốc độ nhanh đến chóng mặt. Cách xây dựng cung điện cổ đển của Phương đông với các cây gỗ khổng lồ làm cột trụ rồi các mối nối gỗ phức tạp bị loại bỏ. Chính điều này vừa làm tăng tốc độ xây dựng vừa làm giảm giá thành xây dựng của cung Điện Thái Nguyên.

Cách xây dựng mới của Thái Nguyên có một tệ đoan đó là thiếu đi tính trầm cổ do không có các vật liệu gỗ làm chủ đạo. Nhưng nó lại ăn thua ở chỗ đó là độ lớn của cung điện phải nói là hoành tráng mà ngay cả Huế cũng khó có thể so sánh. Việc đổ bê tông cốt thép với các dầm chịu lực dường như không có giới hạn trong việc mở rộng diện tích không gian. Còn cách xây cất theo lối cũ của phương đông thường bị ảnh hưởng bởi chất lượng vật liệu trong việc không gian bố trí.

Chính vì lý do này, cung điện Thái Nguyên được cái là to lớn, hùng vĩ nhưng về chi tiết lại hơi kiếm khuyết về vẻ tinh tế của phương Đông. Nhưng điều này không cản trở được sự háo hức của các quan viên Thái Nguyên trong ngày đầu tiên khai trương Cung điện Thái Bắc.

Cung điện Thái Bắc là cung điện đầu tiên được hoàn thành trong tổng số 8 cung điện trong quần thể cung điện Thái Nguyên dự kiến sẽ xây dựng trong 3 năm với tổng giá trị lên đến 7 triệu £.

Cung điện Thái Bắc chính là cung điện với chức năng là nơi làm việc chính của toàn bộ các quan viên trung ương cũng như Vương gia chính vì thế nó được ưu tiên nhân lực và vật lực cao nhất để hoàn thành trong 4 tháng.

Quần thể cung điện Thái Nguyên được chỉ định là thành Phủ Thái Nguyên mà không phải là Thành Tỉnh Đồng Hỷ. Nói đến cái tỉnh Thái Nguyên thì rất lạ , rõ ràng tên tỉnh là Thái Nguyên nhưng Thành Tỉnh lại đặt tại Đồng Hỷ. Còn Thái Nguyên Huyện chỉ là thành Huyện mà thôi, nhưng Đồng Hỷ đã bị quy hoạch thành biệt khu công nghiệp chiến lược, nơi này có cả 2 nhà máy điều chế heroin. Vậy nên Vương Cung Thái Nguyên được chỉ định về huyện Thái nguyên và toàn bộ dân cư thành đất Thái Nguyên bị di chuyển về Đồng Hỷ. Một khu vực đến 500 hec được giải phóng để dự trù cho công trình thập kỷ Thái Nguyên Vương Cung với 9 cung điện chính và gần trăm công trình nhỏ các loại. Bàn về quy mô thì đến Huế thành cũng khó có thể sánh lại được.

Nhưng Tổng thể Vương Cung là chuyện của vài năm sau, chuyện nói đến là tòa Cung Điện Thái Bắc với diện tích tầm 6 ngàn mét vuông với một đại khán phòng dành cho các cuộc hội họp lớn của quan viên Thái Nguyên và vương gia. Phòng làm việc của Thủ tướng và Vương gia cũng như các bộ trưởng cũng được bố trí hết sức công phu tráng lệ. Bên cạnh đó còn có một dãy các phòng cho các cơ quan bộ, ngành Thái nguyên công tác.

Tất nhiên tất cả chen chúc trong một cung điện có vẻ hơi chật chội, nhưng cách bố trí khoa họ của người Đức lại khiến cho việc làm việc chung trong một khu cung điện 6000 m2 không có vẻ miễn cưỡng gì. Tất nhiên đây là tình thế tạm thời vì đến khi khu làm việc của viên chức chính phủ được hoàn thành thì chuyện chen chúc sẽ giảm di trông thấy, chỉ có các nhân vật quan trọng được ở lại trong cung điện Thái Bắc làm việc mà thôi.

Bàn về cung điện Thái Bắc thì có một điểm khác lạ. Đó là cung điện to lớn 6000 m2 này vậy mà được xây cao đến 3 tầng với tổng chiều cao là gần 37m. Chính vì thế không gian cực kì thoáng đãng và có đầy đủ phòng làm việc cho một Thái Nguyên nhân viên chính phủ. Phòng họp chung cũng được bố trí khác lạ với các dãy bàn ghế theo kiểu phòng họp quốc hội hiện đại. Chính vì bố trí này nên Thái Nguyên đã hoàn toàn loại bỏ các lễ nghi phiền phức thời Phong kiến. Các quan viên bước vào phòng họp là không phải đứng cả buổi đến tê chân, họ có chỗ ngồi, có bàn làm việc có thể ghi chép tài liệu vân vân. Trong những cuộc họp dài đôi khi còn có phục vụ thức ăn nhẹ, nước uống hoạc giả có thể xin phép ra ngoài đi vệ sinh. Chỉ riêng cách bố trí này sẽ làm cho hiệu quả của các cuộc họp tại Thái Nguyên tăng mạnh với sự thoải mái và tiện nghi trong công tác.

Ngày hôm nay từ sáng sớm các quan viên Thái Nguyên người thì đi bộ, kẻ thì đi xe ngựa kéo, người thì cưỡi ngựa tất cả đều tụ tập rất sớm tại Cung Thái Bắc. Giờ mở cửa làm việc tại Thái Bắc là rất sớm, tầm 7 giờ 30 phút là các phòng làm việc của các nhân viên sẽ mở cửa. Nhưng cuộc họp hội nghị lớn nhất tại đại khán phòng dự kiến là bắt đầu vào lúc 10 giờ sáng. Nhưng chẳng ai bảo ai tất cả quan viên Thái Nguyên đều dòng rắn mà kéo nhau đến từ lúc 7 giờ kém rồi cùng nhau tụ năm tụ ba bàn tán chờ lính canh mở cung điện.

Các quan Viên Thái Nguyên lúc này nếu không mặc quan phục thì có lẽ mọi người lại tưởng nhầm là sĩ tử đi thi vậy. Trên người các vị quan này không ngờ bọc lớn bọc nhỏ giấy tờ, tài liệu. Cũng phải thôi, hôm nay là ngày đầu tiên họ nhận tân phòng làm việc, chính vì vậy việc chuyển tài liệu gần giống như là chuyển nhà vậy kiến cho hiện tượng dở khó dở cười này xuất hiện.


- Này ngài được phân ở khu nào vậy?

- Tôi thuộc Bộ quốc phòng phân ở Đông khu phòng số D 210.. vậy còn ngài ở khu nào.

- Đông khu à, thật là may mắn nhé, mùa hè tới Đông khu là mát nhất, tôi thuộc Bộ tài chính phân Tây khu phòng T 101.


- Vậy là tầng 1 rồi, ngài chẳng phải lo, không phải chính phủ đã đầu tư cái tên là “ quạt điện” sao? Tôi bên quốc phòng nên có thử qua rồi thứ này tạo ra gió liên tục rất mát, kể cả khu Tây chỉ cần che nắng tốt vẫn rất mát mẻ.

- Ồ vậy sao? Tôi cũng có nghe qua về dự án quạt điện, nhưng ban của tôi không trực tiếp xử lý vấn đề đầu tư dự án này nên không biết rõ ràng lắm. Có thể tạo gió liên tục thì quá tốt rồi.

…………………………..

Các quan viên đang rì rầm bàn tán thì tiếng chuông reng reng vang lên, lính cận vệ Cung Thái Bắc ầm ầm mở cửa chính, các quan viên trật tự lũ lượt tiến vào trong. Tất nhiên các cận vệ hôm nay phá lệ làm việc vất vả hơn vì họ cần phải hướng dẫn những quan viên này để họ có thể nhanh nhất tìm được phòng làm việc của mình. Cũng may Thái Nguyên là mới thành lập nên số lượng quan vẫn là đang thiếu, với 143 người chia ra làm nhiều bộ thì dĩ nhiên không thể làm khó được các cận vệ đã rất quen với kết cấu của tòa cung điện.

Nhưng ngày hôm nay không chỉ có nhóm quan viên trẻ xuất thân từ lò đào tại Vạn Ninh, Thái Nguyên mà còn có một nhóm người mặc thường phục già cả rất khác biệt. Nhưng nếu ai mà là người hiểu biết nhìn vào team già cả này chắc phải giật mình thảng thốt. Vì nhánh già cả mặc thường phục này không ngờ lại là những nhân vật cực kì phong vân một thời.

Dẫn đầu nóm già cả thường phục là Phạm Phú Thứ lão gia tử, tiếp theo là Nguyễn Đăng Hành, Võ Văn Giải, Võ Trọng Bình, Tôn Thất Đính, Hoàng Kế Viêm… và rất nhiều lão thần khác của Huế triều.

Tại sao lại có một đám quan viên Huế mặc thường phục như vậy xuất hiện tại cung Thái Bắc thì phải nói đến sự việc Cán Ca xưng vương. Cán ca xưng vương khiến cho lột loạt các học sinh du học tại Thái Nguyên được phong chức, trong đó có đến 1/3 số quan viên mới phong tại Thái Nguyên không phải là hàn môm mà là con em cháu cha. Chính vì lý do này mà phụ thân của bọn họ buộc lòng phải từ chức tại Huế triều, vì tương lai của con cái mà những người này chấp nhận hi sinh lợi ích của bản thân mà vun đắp cho thế hệ tương lai.

Nhưng sự việc là Cán Vương cùng bộ sậu ăn quả đắng với Tự Đức trong lần đấu chính trị đầu tiên này nên chính quyền Thái Nguyên nhận ra chỗ mình thiếu sót chính là kinh nghiệm Chính trường. Điều này không làm khó được vị Vương gia dã tâm đang bừng bừng trỗi dậy là Trần Quang Cán, ngã ở đâu hắn quyết đứng dạy ở đấy. Cán ca thông qua lần này đi sứ kinh đô Huế cũng cử người liên hệ các phụ huynh bị buộc từ chức ngồi nhà ngậm kẹo đường kia. Tất nhiên hầu như đa sỗ bọn họ chấp nhận cống hiến cho Thái Nguyên mà có mặt trong ngày hôm nay. Những bộ não lừng lẫy như Phạm Phú Thứ, Võ Văn Giải chính là vật liệu quý báu nhất để bổ xung khuyết điểm cho sự thiếu kinh nghiệm của bộ máy chính trị Thái Nguyên.

Tất nhiên lý niệm phát triển xã hội của các cựu thần này không phù hợp lắm với Thái Nguyên nên tất cả nhóm này đều được nhét vào một tổ chức gọi là cố vấn chính phủ cấp cao. Đây là một nhóm cố vấn riêng dành cho Vương gia, thủ tướng cùng hội đồng bộ trưởng. Tất nhiêu nếu thời gian dài tiếp xúc cùng cơ cấu Thái Nguyên mà các vị Cố vấn này có thể thay đổi được tư duy phát triển xã hội thì họ có thể hoàn toàn tham gia các hoạt động mang tính chất thực quyền. Nhưng nói gì thì nói lúc này với kinh nghiệm chính trường dạn dày của mình thì nhóm cố vấn chính phủ cao cấp này rõ ràng sẽ không để Thái Nguyên dính vào những sai lầm tương tự như việc bị Huế nắm quyền chủ động vừa rồi..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 203: Tranh luận.



Các cố vấn chính phủ cấp cao được đưa về phòng làm việc của họ, tại đây cơ sở vật chất là có đầy đủ cả rồi không cần thiết phải bày bố thê, tài liệu. Nhưng các hủ nho đi đâu cũng là sách sách vở vở nên các giá sách lúc này đã được bày biện đầy tràn hết cả. Lúc này các vị cố vấn cấp cao mới có dịp ngồi lại mà thưởng thức phòng làm việc mới toe còn vương mùi gỗ mới cũng như mùi sơn tường.

- Phạm đại nhân, theo ngài thì nơi này như thế nào, tôi thấy nơi này to lớn đại khí nhưng lại hơi thiếu vẻ tinh tế nhỉ?

Người lên tiếng là Võ Văn Giải, một trong những cự thần 3 triều nhà Nguyễn, nếu nói về kinh nghiệm chính trường thì ông ta còn già đời hơn cả Phạm Phú Thứ, nhưng nếu nói về địa vị thì mọi người nơi này đều lấy Phú Thứ làm đầu, vì cùng là cố vấn cấp cao nhưng Phú Thứ lại có một địa vị rất siêu nhiên vì trên danh nghĩa lão là sư phụ dẫn đường của Trần Vương Gia.

- Võ đại nhân nói phải, tuy về chi tiết không có quá tinh tế chau chuốt, nhưng đại thể lại quá tốt. Ví như bố trí trong phòng làm việc của chúng ta vừa có cảm giác riên tư lại có cảm giác tất cả cùng kết nối. Vả lại đãi ngộ cực kì cao và thuận tiện, tôi đã xem qua rồi, các phòng đều có những chiếc quạt có thể tự động chạy rất thần kỳ, gió mát luôn có và thoáng đãng. Ánh sáng thì đầy đủ, nhưng quan trọng nhất lại là những công trình phục vụ cho cá nhân các quan viên quá tốt. Ở Huế quả thật là không bì lại được.

Võ Văn Giải gật gù đồng ý. Không nói đâu xa, chỉ cần nói đến phòng vệ sinh được thiết kế trong cung điện kiến các quan viên có thể sử dụng quả thật là chưa từng nghe qua ở Phương Đông. Bên cạnh đó các phòng tắm rửa có vòi “hoa sen” cũng được bố trí trong gần các khu làm việc của quan viên. Thật nếu làm việc nơi này sẽ không bao giờ có cảnh đi cả trăm mét chỉ để vệ sinh cá nhân. Bên cạnh đó nếu quá nóng bức hay ra nhiều mồ hôi đều có thể tắm rửa ngay tại nơi này. Thành thử ra cả một ngày làm việc đối với các quan viên chính phủ không hề vất vả như công tác tại Huế kinh.

- Theo ngài thì tình hình Thái Nguyên lúc này cách cuộc sẽ ra sao? Riêng chuyện liên quân 4 phe phái hội họp tại Huế sau đó phân ra chia cắt Quảng Châu Loan thì tôi thấy Thái Nguyên lần này sử lý quá không gọn gàng. Con trai tôi là Võ Trọng Tiến làm phó sứ đi Huế lần này có thể thấy được chính quyền Huế đã kéo được danh vọng khá lớn trong lần liên minh quân tạm thời này.

Người lên tiếng là Võ Trọng Bình, ông ta đỗ cử nhân từ thời vua Minh Mạng và làm quan từ đấy, ông ta nổi tiếng là nổi tiếng là người có tính cương trực, thanh liêm và biết quý trọng dân. Võ Trọng Bình cũng như Lâm Duy Hiệp là người của phe thanh đảng với chủ nghĩa hơi cách tân một chút. Con trai út của ông ta là Võ Trọng Tiến đã là những người đầu tiên du học tại Vạn Ninh và giờ hắn đang làm đến Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Thái Nguyen rồi.

Phạm Phú Thứ nghe xong Võ Trọng Bình ý kiến thừ vừa gật đầu đồng ý nhưng sau đó cũng lại hơi lắc đầu.

- Nhận định của ngài đúng nhưng hẳn là không đủ. Lần này quyết định của Vương Gia lôi cả Pháp và Huế vào cuộc chiến Quảng Châu đúng thật có hơi vội vã về mặt chính trị do thiếu kinh nghiệm nhưng lại đạt được thành công hoàn toàn về mặt quân sự. Tôi hiểu cách nghĩ của Vương Gia. Thứ nhất việc viễn chinh một nơi xa xôi như Quảng Châu luôn ẩn chứa rủi do, việc tìm kiếm liên minh như một sự bảo đảm là cần thiết. Thêm vào đó không thể không lường trước việc Huế hay Pháp có thể đâm một kiếm vào lưng Thái Nguyên, do đó việc kéo hai thế lực này vào cuộc chiến Quảng Châu là cần thiết. Ít nhất cũng khiến họ tỏ thái độ chắc chắn để Thái Nguyên có thể phân bố binh lực một cách hoàn hảo hơn. Về quân sự thì cách làm của Thái Nguyên cực kì chuẩn xác, điều này cũng dễ hiểu vì Vương Gia xuất thân là chiến tướng, cái mà ngài ấy giỏi nhất vẫn là quân sự… nhưng về mặt chính trị thì hơi đáng tiếc.

Võ Văn Giải nghe vậy gật đầu nhấp một ngụm trà nhìn xa xa.

- Tôi hoàn toàn đồng ý với Phạm nhân, quân số của Thái Nguyên lúc này đã lên tới 2,5 vạn tinh binh cùng 1,2 vạn tân quân tất cả đều được trang bị hiện đại như nhau. Với quân số này để bảo vệ 8 tỉnh phía Bắc thì kể cả đánh hai đầu Nam, Bắc không thành vấn đề. Cộng thêm hạm đội khổng lồ ở Vạn Ninh thì…. Ôi… chỉ cần kéo giài chút thời gian sau đó mới tiến hành câu thông cùng các phe thế lực thì Thái Nguyên có thể dễ dàng thành chủ đạo rồi.

Xin đừng khinh thường Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương. Họ là những chiến tướng lừng danh của người Việt. Sở dĩ họ tác chiến bất lợi với quân Pháp trong lịch sử vì lý niệm chiến tranh của họ lạc hậu với thời đại cộng thêm sự thối nát của quân sự nhà Nguyễn khiến những người này ngậm đắng mà thua trận. Nhưng nếu nói về cách nhìn toàn cục một trận chiến tầm tổng lực thì Cán ca và các sĩ quan Thái Nguyên vẫn chưa có thể gọi kèo được.

Cái này cần hết sức cẩn thận suy xét. Ví như cho Võ Văn giải cầm 5000 quân cùng Trần Văn Vân tương tự số lượng mà lao vào đấm nhau thì đảm bảo Võ Văn Giải răng rơi đầy đất. Nhưng nếu để phân tích tình hình chiến đấu của 3 -4 -5 thế lực quân sự một lúc thì Trần Văn Vân chỉ có thể im lặng mà nghe lão tướng phân tích mà thôi. Nhưng sau khi phân tích thì Võ Văn Giải lại cần những chiến tướng kinh nghiệm đánh trận hiện đại như Trần Văn Vân, Trần Văn Võ, Lý

Chiến,v.v… đi thực hiện. Đây là sự khác nhau cơ bản của hai thế hệ, tất nhiên nếu để cả hai bên học hỏi lẫn nhau thì một thế hệ siêu tướng của Thái Nguyên không phải không có cơ hội ra đời.


- Chuyện đã rồi chúng ta có mặt nơi này cũng chính là để cho Vương Gia và Thái Nguyên không vướng phải những sự việc tương tự như vậy. Vấn đề lúc này là quân của chúng ta và quân Quảng Đông đã va chạm trực tiếp tại Lạng Sơn và Móng Cái. Tin tức truyền về thì Trần Văn Võ tướng quân dễ dàng chặn đứng quân Quảng Đông tại sông KaLong-Móng Cái mà dường như anh ta còn có ý định thọc sâu đánh thẳng vào lục địa Quảng Tây. Nhưng quân của Đại Tá Tôn Thất Liệt với 7 ngàn quân đang gặp rất nhiều khó khăn với hơn 2 vận quân Quảng Đông tấn công theo đường bộ…

Nói đến đây Hoàng Kế Viêm hơi liếc mắt nhìn về Tôn Thất Đính một chút. Phải nói dòng họ Tôn Thất không phải dòng họ bình thường với nhiều nhân tài xuất hiện lớp lớp. Tôn Thất Liệt sinh năm 1837 tuy lớn hơn Tôn Thất Thuyết 2 tuổi nhưng anh ta lại là con của vợ lẽ Tôn Thất Gia chính vì lý do này Tôn Thất Liệt tìm con đường đi của mình là đầu nhập Vạn Ninh du học. Anh ta là lứa du học thứ hai tức là vào những năm 1860. Tôn Thất Liệt tuy dụ học Vạn Ninh nhưng cũng như một số ít các trí thức trẻ sự quan tâm của anh ta lại nằm ở mặt quân sự. Nhưng Vạn Ninh lúc đó mở cửa mạnh mẽ đào tạo quân sự sĩ quan nhưng sự trọng dụng cho chính quân đội Vạn Ninh hay Thái Nguyên chỉ nằm trong các sĩ quan xuất thân Trần gia mà thôi. Lúc bấy giờ tư tưởng của Diêu thiếu vẫn là đào tạo nhóm sĩ quan có xuất thân tri thức này cho Đại Nam hoàng triều. Nhưng tình thế bất ngờ khi Pháp đánh chiếm Hà Nội cộng thêm sự việc Trần gia xưng vương khiến cho các sĩ quan không phải dòng chính Trần Gia đột ngột lại được trọng dụng và bước lên vũ đài quân sự của Thái Nguyên. Các cái tên như Tôn Thất Liệt, Võ Văn Chiêu, Hoàng Kế Võ nhanh chóng được thể hiện tài năng quân sự trong các trận đánh khốc liệt cùng quân Pháp.


Trong lần điều quân lần này lên biên giới phía bắc để đấm nhau cùng Lý Chấn thì vị trí lãnh đạo Lữ đoàn 235 là sự cạnh tranh cực kì mạnh mẽ của Tôn Thất Liệt và đại tá Hoàng Kế Võ. Cuối cùng thì chiến thắng thuộc về Tôn Thất Liệt anh ta lúc này đang đóng quân tại Ải Chi Lăng thành lập cứ điểm ngăn chặn quân Tàu Khựa. Còn về Hoàng Kế Võ thì ở lại Thái Nguyên làm nhiệm vụ huấn luyện tân quân.


Nói đến chiến tướng của Thái Nguyên thì nhiều lắm, với 6 năm liên tục chiến đấu không nhiều thì ít không lớn thì nhỏ nên thứ gì Thái Nguyên thiếu nhưng chiến tướng là thứ họ nhiều nhất. Những chiến tướng dòng chính họ Trần như Trần Văn Vân, Lý Chiến đã đi Châu Âu rồi. Trần Văn Thiện, Trần Duy, Trần Khoái thì là những chiến tướng thành danh từ lâu nên phải ở lại Hưng Yên, Thái Bình, Gia Lâm để phòng thủ sông Hồng. Vậy nên lúc này chiến đấu ở chiến trường Phương Bắc lại là các chiến tướng có vẻ là dòng ngoại như Tôn Thất Liệt, Võ Văn Chiêu, Hoàng Kế Võ. Việc quân Quảng Đông tấn công Thái Nguyên dĩ nhiên là điều không ai muốn cả nhưng đó lại là cơ hội thể hiện cho các chiến tướng ngoại dòng như các vị trên. Cơ hội được thể hiện là không nhiều nên các chiến tướng ngoại dòng lúc này cạch tranh rất khốc liệt. Lời nói của Hoàng Kế Viêm có chút đang cạnh khóe Tôn Thất Liệt cũng như là phụ thân của hắn là Tôn Thất Đính đang có mặt nơi đây.


- Hoàng đại nhân nói như vậy cũng không đúng, Thái Nguyên quân sự có nét đặc biệt của nó, các chiến tướng nơi tiền tuyến luôn có sự chủ động nhất định. Chắc Hoàng đại nhân không muốn lập lại sai lầm của Huế nơi chiến trường Thanh Hóa.

Tôn thất Đính nhắc lại sai lầm quân sự của Huế triều khi họ can thiệp quá sâu vào việc quân ở tiền tuyến khiến cho Tôn Tất Giác thiếu chút nữa rút kiếm tự tử đương trường. Ý tứ của Tôn Thất Đính chính là Hoàng Kế Viêm đừng thấy quân của Tôn Thất Liệt có chút khó khăn mà ngồi đây thêm mắm thêm muối. Chiến trường là đao thật súng thật và các chiến dịch lớn nhỏ khác nhau cùng tiến hành mà không phải là cứ ngồi bàn giấy mà nói bậy.

Sự tranh luận của hai vị lão thành trong nhóm tham mưu cố vấn cấp cao của chính phủ cuối cùng lại cũng là vì sự tranh dành sự thể hiện của con trai họ mà thôi. Cả hai đều không có bất kì sự một lòng hai ý nào đối với Thái Nguyên cả. Nói cho cùng thì tương lai của họ đã hoàn toàn trói chặt cùng Thái Nguyên trên cùng sợi dây rồi.


- Hai vị bớt tranh luận tôi nghĩ sự việc Ải Chi Lăng rất không đơn giản, vì lữ đoàn 235 không hề đơn giản, họ chính là lực lượng tinh nhuệ nhất của Thái Nguyên không dễ gì mà họ bị ép buộc rút lui như vậy. Theo tôi đây là chiến thuật tất cả sẽ rõ ràng hơn khi chúng ta tham dự cuộc họp vào 10 giờ sáng nay. Nói thật chúng ta cũng mới tới Thái Nguyên nên tích cực nghe nhiều hơn là đưa ra nhận định ý kiến. Chúng ta cần tích cực hòa nhập nhanh chóng vào thể chế Thái Nguyên lúc đó mới có thể phát huy được kinh nghiệm của bản thân.

Võ Văn Giải cũng có con Trai làm đến chức Trun Tá tại quân đội Thái nguyên nhưng anh ta là sĩ quan Hải Quân nên chẳng có liên quan gì tới bộ chiến tại Lạng Sơn cả. Nhưng lời của vị lão thành này lại quá hợp lý rồi. Xem ra hao vị Tôn Thất Đính và Hoàng Kế Viêm hơi quá sốt ruột rồi.


-.
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 204: Quốc hội Thái Nguyên phiên đầu tiên



Cuộc họp lúc 10 giờ sáng tại cung điện Thái Bắc cũng được coi như hội nghị mở màn khánh thành cho cung điện kiểu mới tại Thái Nguyên này. Chủ trì cuộc họp này dĩ nhiên chính là Trần Quang Cán cùng hội đồng các bộ trưởng, thêm vào đó là hội đồng cố vấn cao cấp của chính phủ.

Các trương trình làm việc trong cuộc họp đã được lên kế hoạch từ trước và đưa ra trương trình làm việc cụ thể. Tất nhiên cuộc họp này không chỉ có đề cập về tình hình chiến sự biên giới phía bắc mà còn có rất nhiều công việc trọng đại của 8 tỉnh miền bắc được đưa ra để cùng thảo luận.


Hội nghị lần này khá căng thẳng vì quả thật đây là lần đầu tiên mà Thái Nguyên phải đối mặt với cực lớn các nguy cơ. Việc phát triển quá nhanh của Thái Nguyên dẫn đến sự mất cân bằng nghiêm trọng trong cơ cấu xã hội và rất nhiều bất cập hệ lụy dẫn đến tiếp theo.

Người đầu tiên phát biểu không ngờ lại thuộc về Bộ Nông Nghiệp, những tưởng Nông nghiệp không phải là vấn đề với người Việt nhưng giờ đây nó lại là vấn đề lớn đối với Thái Nguyên 8 tỉnh miền Bắc. Sự việc từ đâu mà có. Đó chính là vì Thái Nguyên công nghiệp hóa quá nhanh, quá mạnh. Trồng các cây công nghiệp đưa như bông, tiêu, điều, và các cây hương vị khiến cho thu nhập của người Nông dân tăng lên chóng mặt. Nhưng cũng chính vì ham mối lợi đó mà diện tích trồng cây lương thực lại giảm mạnh. Cộng thêm dù có hệ thống đê điều được làm tốt hơn nhưng phân bón cùng thuốc trừ sâu không có nên sản lượng lương thực cây không có cao như hiện đại. Chính điều này dẫn đến sự thiếu lương thực của Thái Nguyên là viễn cảnh có thể nảy sinh.

Trước đây Thái nguyên có thể lấy tiền để đi nhập khẩu lương thực từ Miền Nam Đại Nam, hay từ thương nhân Trung Hoa. Nhưng chiến tranh phong tỏa của người Pháp, cộng với lần này chiến tranh cùng Quảng Đông khiến nguồn cung lương thực cho Thái Nguyên giảm mạnh. Nếu tình thế cứ tiếp diễn như vậy thì viễn cảnh thiếu lương của Thái Nguyên là không tránh khỏi. Trước đây mọi người cứ cắm đầu vào công nghiệp hóa này nọ, rồi lại cắm đầy vào chiến tranh đánh đông dẹp bắc. Nhưng nên nhớ quan trọng nhất vẫn là an ninh lương thực, không có lương thực thì đảm bảo chẳng cần bao lâu toàn Thái Nguyên sẽ tự loạn mà chết. Vậy ra Huế chẳng cần thu phục Thái Nguyên cho mệt, họ chỉ cần không bán lương thực cho Thái Nguyên thì đã khiến cho Vương Quốc công nghiệp này tàn lụi luôn.

Lúc này thì mọi người mới thấy được sự thật khá hãi hùng trước mắt. Cũng may mà Thái Nguyên có được một bộ máy hành chính hiện đại và hiệu quả. Những nguy cơ từ trong manh nha này rất nhanh được phát hiện và tìm cách sử lý. Tất nhiên bộ nông nghiệp cũng đã đưa ra phương án của bản thân nhằm khắc phục tình hình và trình bày cùng quốc hội.

Bộ nông nghiệp trọng tâm vào hai điểm đó là cân bằng lại lượng đất trồng cây công nghiệp và nông nghiệp để ít nhất đó là nông nghiệp tự thân của Thái Nguyên có thể tự lo cho bản thân. Thái Nguyên không hề có tham vọng xuất khẩu nông sản một chút nào. Lúc này tự lo được cung cấp lương thực cho bản thân đã là quá tốt rồi. Vấn đề thứ hai đó là việc khai hoang cùng tái cải tạo ruộng đất được đưa lên làm chính sách chủ yến trong vài năm sắp tới.

Nhưng vấn đề này lại liên quan đến Bộ Tài Nguyên và Môi trường nên trở thành đề tài để cả hai bên hợp tác cùng làm việc. Song sự việc không dừng lại ở đó, vùng đồng bằng bắc bộ gần như đã khai phá hoàn toàn nên việc khai hoang không nằm ở vùng này mà trọng điểm khai hoang lại nằm ở Hưng Hóa và Tuyên Quang rộng lớn. Nhưng chuyện này lại liên quan đến Ủy Ban Dân Tộc khi mà các vùng này phần lớn lại là các dân tộc thiểu số, số lượng người Việt ở đây tỉ lệ thấp vô cùng. Cuối cùng thì nếu để Ủy Ban Dân Tộc tiến hành diễn biến chính trị cũng như phân hóa các “tiểu quốc” dân tộc bản địa kia thì quá mất thời gian., vậy nên quay trở lại Bộ Quốc Phòng lại phải có phương án động binh hướng về Tây Bắc Thái Nguyên.

Mà động binh, khai khẩn, cần tiền để cung cấp cho dân , cho quân, vấn đề lại nhảy đến Bộ Tài chính lên kế hoạch dự trù tiền bạc.

Nói như vậy để có thể hiểu được điều kiển một vương quốc chỉ có 8 tỉnh thôi mà bao nhiêu chuyện đau đầu. Những tên hô đánh hô giết cứ nghĩ dân xuyên thì có thể làm hoàng đế thì đều là não tàn cả. Làm hôn quân thì dễ rồi, làm hoàng đế anh minh là một công việc siêu khổ sai đó.

Cuối cùng sau một hồi bàn luận với sự nhất trí của Cán Vương cùng hội đồng các bộ trưởng thì vấn đề nông nghiệp cũng có thể được thông qua với phương án xử lý là trước mắt tập trung tái cải tạo Hưng Yên, Thái Bình, Kiến Xương là những nơi đồng ruộng bị tàn phá nặng nề sau cuộc chiến với Pháp. Chính sách tiếp theo đó là diện tích đồng bằng thích hợp cây nông nghiệp thì tuyệt đối không cho chuyển đổi trồng cây công nghiệp. Các vùng cây công Nghiệp sẽ bị chuyển dời đi Tây Bắc hoặc các vùng miền núi như Cao Bằn, Bắc Kan và một số vùng của Lạng Sơn v.v..Tất nhiên nếu nhanh chóng ổn định được Hưng Hóa và Tuyên Quang là tốt nhất vì theo con đường này hoàn toàn có thể mở rộng địa bàn Thái Nguyên qua Ai Lao. Vậy thì Thái Nguyên sẽ có được không gian phát triển hơn.

Bộ Khoa học và Công Nghệ thì lại yêu cầu một số vốn khổng lồ cho dự án phát triển phân bón vô cơ mà Diêu thiếu bỏ lại dở dang khi ra đi. Sở dĩ dự án phân bón gồm ba thành phần Nito Phopho và Kali là do Diêu thiếu nghĩ ra, thời này phân bón cho nông nghiệp vẫn chỉ là phân bón hữu cơ mà thôi. Các nông dân châu Á từ lâu đã biết sử dụng loại phân bón này. Nhưng phân bón hữu cơ không thể bổ xung đầy đủ các thành phần vi chất cho đất đai chính vì vậy mới có hiện tượng luân canh để đất đai hồi phục sự màu mỡ. Nhưng kiến thức vượt thời đại của Diêu thiếu đã mở ra con đường mới cho Nông Nghiệp. Nhưng dự án này của Diêu thiếu bị bỏ dở giữa chừng do Đại Nam không có mỏ muối Kali, thêm vào đó số lượng muối Diêm nhập từ Chile lại bị sử dụng hết cho sản xuất thuốc súng trong chiến tranh cùng Pháp. Chính vì lý do này phân NPK của Thái Nguyên chỉ dừng lại ở trồng thí điểm một số khu vực nhỏ. Nhưng Bộ Khoa Học Công Nghệ không muốn dừng lại ở đó, họ muốn tái khởi động dự án này, vì theo bộ này thì đây mới là phương án triệt để giải quyết vấn đề lương thực của Thái Nguyên khi mà những thửa ruộng có sử dụng phân NPK có sản lượng tăng từ 150-180% sản lượng cây nông nghiệp. Và Bộ này cũng đã và đang tiến hành điều chỉnh thành phần của loại phân kia để cho ra tỉ lệ tốt nhất.

Mỏ muối Kali thì Đại Nam không có, nhưng Ai Lao có đấy, chính vì thế vấn đề Hưng Hóa, Tuyên Quang lại bị đặt lên mặt bàn. Việc thống nhất các nơi này một lần nữa lại trở thành vấn đề bức xúc nhất. Còn về Diêm tiêu thì bắt buộc vẫn phải sử dụng đội tàu buôn hùng mạnh của người Mỹ để mua từ Chile rồi.

Có thể thấy một điều Thái Nguyên dường như đã có được con đường đi của mình, ý nói là cho dù Diêu thiếu lưu lạc đấm nhau túi bụi ở Châu Âu, hay Diêu thiếu có rúc váy nữ nhân Đức mà chết dục xương ở Prussian thì Thái Nguyên vẫn “I m fine”. Có điều có Diêu thiếu với các phát kiến của tương lai thì Thái Nguyên sẽ đạt được đột phá nhanh hơn mà thôi.

Cuối cùng Bộ Khoa Học và công nghệ cũng nhận được khoản kinh phí 500 ngàn Thái Nguyên đồng tương đương 400 ngàn £ để thực hiện tiếp dự án trên. Người Thái Nguyên lúc này lại quay về coi trọng Nông nghiệp một cách kì lạ.

Nói đến đồng Thái Nguyên thì đây là tiền tệ do Thái Nguyên đúc mới với tỉ suất hối đoái là một đồng bạc Thái Nguyên ăn một đồng bạc Currencies Pháp, và hơi thấp hơn đồng £ của Anh. Đây chính là một thành công của Thái Nguyên non trẻ khi mà giá trị tiền tệ của họ có tỉ suất hối đoái rất cao trên thị trường. Điều này chính là vì năng lục xuất khẩu của Thái Nguyên không hề thua kém các nước Châu Âu lúc này, bên cạnh đó Thái Nguyên có được công nghệ heroin độc quyền có thể đảm bảo đến 50% giá trị tiền tệ của họ. Hệ thống ngân hàng Thái Nguyên đã đi vào hoạt động càng góp phần ổn định tỉ giá tiền tệ đồng Thái Nguyên.

Cuối cùng sau hàng loạt các vấn đề về dân chính, giáo dục cũng như công nghiệp nông nghiệp thương nghiệp tại Thái Nguyên thì quốc hội cũng đi đến phiên làm việc thứ hai vào buổi chiều với một chủ đề rất nóng bỏng. Chiến tranh biên giới cùng Trung Hoa và kế hoạch tấn công Quảng Châu Loan.


Tất nhiên kế hoạch tấn công Quảng Châu loan với một nửa hạm đội Vạn Ninh được thông qua với ý đồng thuận cao. Nhưng kế hoạch đổ bộ lục quân lên đất liền quảng Châu thì nhận được không ít ý kiến trái chiều và phản đối từ các quan viên. Hạm đội Vạn Ninh mạnh nhất Châu Á nếu không kể các cường quốc Phương Tây thì điều này ai cũng biết, chính vì thế tấn công bằng hải quân Quảng Châu nhận được sự đồng tình tuyệt đối từ các quan viên nhưng việc đổ bộ vài ngàn quân lên bộ đánh nhau trực tiếp với người Trung Hoa lại nhận được nhiều sự nghi ngại nhất.

Sự nghi ngại của quan viên Thái Nguyên là có lý do,chiến đấu trên bộ rất dễ dẫn đến một cuộc xa lầy không có hồi kết tại Trung Hoa và chính điều này rất dễ kéo sập nền kinh tế đang bị bấp bênh bởi nguy cơ lương thực của Thái Nguyên. Vẫn biết một cuộc chiến trên bộ nếu dành thắng lợi thì tiền bồi thường từ phía Đại Thanh sẽ phải nhiều hơn rất nhiều. Nhưng chuyện trong nhà thì người trong nhà là rõ nhất, Thái Nguyên có thể duy trì phòng thủ người Pháp ở sông Hồng, đồng thời chiến tranh ở Biên Giới phía Bắc đã là quá sức đối với bộ binh rồi, thêm vào viễn trinh bộ binh thì đó là không hề thực tế chút nào.

Trần Quang Cán đưa ra mục tiêu bộ chiến cũng là thăm dò ý kiến quan viên mà thôi. Bản thân hắn cũng không có ý định tham dự bộ chiến cùng người Hoa. Nhưng ý kiến đổ bộ này là của liên minh 4 phe đề ra mà Huế là người tiên phong đề cập vấn đề này khiến cho Quang Cán không thể không lôi ra bàn luận cho được.

Thủ tướng đi vắng, Bộ trưởng bộ Quốc Phòng Phạm Phú Trọng đang ngao du trên giường vị quả phụ nào đó ở Prussian nên người có tiếng nói trong Bộ quốc phòng là Tạ Quang Hiện chức thứ trưởng bộ quốc Phòng đành đứng ra mà lên tiếng:

- Thưa Vương gia cùng các vị đồng liêu. Sự việc dẫn quân lên bộ là bắt buộc vì liên minh tạm thời bốn phe gồn Thái Nguyên- Huế, Pháp, Mỹ và Đức đã nhất trí tấn công lên lục địa Quảng Đông trong đó Huế với lực lượng đông đảo lục quân đã dự kiến tung 8000 quân vào chiến trường, Pháp là 3 ngàn, Phổ quốc và Mỹ đều là 1000 người. Chúng ta nếu quyết định không tham dự sâu vào chiến tranh lục địa thì có thể cũng chỉ tung vào 1000 quân, tôi nghĩ với 1000 quân không hề làm ảnh hưởng đến tình hình Thái Nguyên lúc này. Thêm vào đó chúng ta hoàn toàn có thể đảm nhận vai trò hậu cần binh để tránh tổn thất, quang trọng nhất đó chính là chuyện này liên quan đến chia chiến lợi phẩm nếu liên quân dành chiến thắng….

Chuyện đã hai năm rõ mười, chính Huế mới là người ham hố đánh lục địa Trung Hoa nhất, Huế mới là người cần tiền nhất lúc này. Quan trọng là lục quân của Huế cực kì nhiều, chưa nói về chất lượng vì họ trang bị súng ống đủ các kiểu linh tinh nhưng số lượng thì Huế triều và cả Nam Kỳ cộng lại có đến gần 5 vạn quân chính quy. Số lượng này đủ để họ có thể tung ra một vạn quân viễn chinh mà không ảnh hưởng đến kế hoạch phòng thủ. Quan trọng là nếu Trung Hoa có trả thù thì cũng là đánh Thái Nguyên, cùng lắm là với tới Pháp mà thôi. Hạm đội của Trung Hoa thì ngay cả đến Huế cũng khinh thường đấy..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 205: Chuột ra khỏi hang



Chuyện ở Thái Nguyên ở Hà Nội, hay Huế… xa hơn một chút là Khai Biên hay Kha Lâm đều chẳng còn liên quan khỉ gió gì đến lão già câu cá nơi biệt viện gần thành Quảng Trị rồi. Lúc này đây lão già “tiên phong đạo cốt”với vẻ mặt bình tĩnh dù núi sập thiên hàng trước mặt cung không đổi sắc đã không còn nữa. Thay vào đó là vẻ mặt tức giận cũng như lo lắng đến tận cùng. Đối diện với lão là một người trung niên nhân tuổi tầm năm mươi. Gương mặt hai người nếu căng hết các nếp nhăn như quả táo khô thì có lẽ giống nhau đến bảy tám phần.

- Phụ thân, con đã trình bày hết rồi, đi hay ở là tùy ở ngài, nhưng theo con thì cái thế cục nát bét này đã không còn trong sự khống chế của chúng ta nữa rồi. Gã Lý Chấn kia đã biết về gia tộc cũng như các mối liên hệ của chúng ta. Lần này đúng là chúng ta đánh giá quá thấp sức mạnh của Cha con nhà họ Trần, lại đánh giá quá cao trình độ của Lý Chấn mà gây nên cục diện hiện tại. Hiện nay Lý Chấn đã tuyên bố nếu Quảng Châu có mệnh hệ gì thì hắn sẽ đem quân rút lui về lục địa mà công thẳng vào tứ đại gia của chúng ta…. Tên này là người điên, hắn nói rất có thể hắn sẽ thực hiện.

Thì ra người lặn lội từ phương xa đến nơi này không ngờ lại là con trai của lão già câu cá, lão câu cả chục năm không thấy được con cá thiên hạ nào mà chỉ câu được một mớ rắc rối cho gia tộc lúc này. Chỉ thấy lão giả tức giận đến ria mép phì phì rung động.

- Hắn dám, tứ đại gia tộc chúng ta từ thời xuân thu đến giờ vẫn là buôn vua bán chúa khắp thiên hạ. Một cái đề đốc nho nhỏ như hắn mà dám động đến chúng ta sao? Tất cả cũng chỉ vì tên phản đồ đáng chết kia mà gây nên cố sự này.

Nói thì nói vậy nhưng vẻ mặt bất lực của lão giả đã bán đứng lão rồi. Thì ra câu chuyện là mấy tên chuột này làm nội gián bán tin cho Lý Chấn thúc đẩy Lý Chấn đánh bất ngờ Thái Nguyên. Tiếp theo đó tổ chức này muốn Pháp thừa cơ đánh úp Thái Nguyên tạo thành thế gọng kìm. Nhưng khốn nỗi Thái Nguyên tin tức quá nhanh mà tiến hành phòng thủ bổ xung biên giới. Thêm vào đó 8 tỉnh Bắc kì của họ Trần trưng binh tốc độ quá khủng khiếp, chỉ trong một thời gian ngắn mà họ có thể kêu gào đến 1 vạn binh để tiến hành bổ xung cho tình thế. Chính điểm này khiến cho Pháp có muốn đánh úp Thái Nguyên là chuyện bất khả thi. Điểm quan trọng hơn đó là tên Thôi Minh Thanh không ngờ lại có thể bật ngược lại ám sát mà giết chết Thôi Minh Chương, lúc này theo một số nguồn thông tin đáng tin thì Thôi Minh Thanh lại đang ở Hà Nội mà trực tiếp phụ vụ cho người Pháp. Đây chính là một trong những biến cố khiến người Pháp có lẽ thêm phần kiên định hội quân cùng người Việt tiến đánh Quảng Châu Loan.


Đôi khi sự đời là vậy, chỉ cần một biến cố nhỏ nằm ngoài dự liện có thể hủy hoại cả một kế hoạch thật lớn tưởng như là thiên y vô phùng.

- Phụ thân, thời thế đã thay đổi nhiều rồi, lúc này việc ẩn ẩn núp núp khống chế các lực lượng tiến hành đầu cơ buôn vua bán chúa đã khó trở thành hiện thực. Tứ đại Gia đã ngồi lại cùng bàn bạc với nhau rồi. Thời buổi này chỉ có trực tiếp nắm trong tay võ trang mới là chính đạo. Lúc này không còn là thời kì cầm đao kiếm chém giết nữa rồi, hỏa khí có thể hủy diệt tất cả, đứng trước sức mạnh tuyệt đối thì các mưu mô lại thành ra vô dụng nhất.

Người trung niên vẫn cố thuyết phụ lão giả cố chấp kia, hắn cố dùng tư tưởng có phần cấp tiến của mình để ảnh hưởng người cha già này.

Nhưng đáp trả lại hắn là một cái bạt tai không thương sót từ phía lão giả câu cá.

- Hồ đồ, người chừng này tuổi vẫn còn ngu ngốc như vậy. Nếu muốn làm vương, hoàng thì cả ngàn năm qua tứ Đại gia chúng ta muốn làm lúc nào chẳng được. Nhưng các ngươi thấy có triều đại nào là trường tồn chưa? Kết cục của các gia tộc lên làm hoàng, làm đến cuối cùng là diệt tộc toàn gia. Chỉ có tứ đại gia vẫn là trường tồn đến lúc này, vì sao? Đạo lý đơn giản vì chúng ta đầu cơ vào các thế lực mà tìm ra người đăng vị, cuối cùng sẽ tìm cách thỏa hiệp hoặc thao túng chúng từ trong bóng tối. Tứ Đại gia có lúc thăng lúc trầm nhưng tuyệt đối chưa bao giờ có nguy cơ diệt tộc. Một này ngươi cầm đồ đao lên tay thì ngày đó chính là ngày diệt tộc sắp đến rồi.

Thì ra lũ chuột nhắt tại Đại Nam không phải là chuột nhắt mà là một con bạch tuộc khổng lồ, Chuyện chúng làm là âm thầm buôn vua bán chúa cả vùng đất Đông Á này, có lẽ Đại Nam, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật bản xưa nay không hiếm đời hoàng đế bị chúng khống chế như vậy đó.


- Nhưng thưa phụ thân, lúc này nguy cơ diệt tộc của chúng ta đã đến rồi. Lý Chấn gã điên này nói là làm. Chúng ta thà coi lời cảnh báo của hắn là thật mà không thể lơ là.

- Vậy thì đừng để hắn thua trận tại Quảng Châu, ít nhất là đừng để hắn thua quá thảm, liên hệ với Lý Chấn chấp nhận hỗ trợ hắn như nhân vật hạng nhất trong danh sách. Để xem liên quân mạnh mẽ hay tứ đại gia của chúng ta cường. Đông Á vẫn là sân nhà của chúng ta, lũ Man Việt hay mọi Tây đều không có cơ hội gọi nhịp. Nhưng không thể không đề phòng tên điên này. Liên hệ trong triều làm ra chuẩn bị với Lý Chấn, nếu tình hình không thể nắm được tên này trong tay thì thừa dịp hắn bệnh lấy mệnh hắn đi.


Lão giả có vẻ tỏ ra khá điên cuồng khi đưa ra quyết định như vậy. Nhưng đây cũng là dễ hiểu cho một gia tộc chỉ đứng trong bóng tối muốn điều khiển thiên hạ. Đối với họ những người cầm võ lực trong tay chỉ là các con cờ được định giá khác nhau mà thôi. Lúc này đây Lý Chấn bỗng nhiên được định giá cao hơn một chút rồi đó. Nhưng năng lượng của tổ chức này không thể coi thường được, những kẻ buôn vua bán chúa này coi các quân phiệt tứ phương là món hàng đầu tư, nên theo một cách nào đó nếu họ quyết tâm tiêu diệt ai đó thì có thể dùng mối liên hệ thiên ti vạn lũ của mình mà tiến hành.

Nhưng Lý Chấn liệu dễ đối phó như vậy sao? Nói thật ra là Tứ Đại gia đang không hề biết là họ lại mắc sai lầm. Nếu chỉ dựa vào quá khứ lịch sử mà nói thì cách làm của họ không sai. Nhưng Lý Chấn là một kẻ xuyên, mà kẻ xuyên tức là đã nhảy ra ngoài Tam Giới. Ai có thể tính toán nổi một kẻ xuyên khi đã để cho những tên quái thai này thành lập được thế lực riêng? Câu trả lời là kẻ đó chưa sinh ra.

Điều này nói ra để chứng minh một chuyện, những kẻ xuyên có thể có nhiều nhưng một là tinh tướng mà chết sớm, hai là quá vô dụng mà tẻo. Nhưng những kẻ xuyên lại có vận may cùng kĩ năng sau khi thành lập được thế lực thì cực kì khó đối phó.


Quay lại với Thái Nguyên lúc này đã là sau khi buổi họp quốc hội thông qua, lúc này làm việc lại là nhóm kín bao gồm hội đồng các bộ trưởng, Các sĩ quan cao cấp Thái Nguyên cùng hội đồng cố vấn cấp cao Thái Nguyên và tất nhiên nhân vật không thể thiếu đó chính là Trần Quang Cán vương gia.

Cuộc họp kín này chính là bàn về chiến tranh biên giới phía Bắc, những thông tin công khai bàn bạc tại hội nghị chỉ là đường hướng chung về chiến tranh mà thôi. Các bước tiến hành chi tiết không bao giờ được bàn bạc công khai như vậy mà chỉ nằm ở các Bộ có liên quan mà thôi. Và Bộ quốc phòng với các tướng lãnh chính là cơ quan chủ yếu của việc vạch đường lối tác chiến cụ thể.

Lúc này đây Tạ quang Hiện thứ trưởng Bộ chiến tranh( bộ quốc phòng) đang trình bày một cách chi tiết nhất về tình hình biên giới.

- Thưa Vương gia và các vị đồng liêu. Theo như thông tin từ mặt trận gửi về gần nhất thì Chuẩn tướng Trần Văn Võ dễ dàng chặn đứng giặc Bắc tại Sông Kalong với sự hỗ trợ của các tàu khu trục hạm của chúng ta. Vốn dĩ Trần Văn Võ tướng quân muốn thực hiện kế sách là tấn công vào nội địa Trung Hoa chặt đứt đường lui về của 15 ngàn quân chủ lực của Quảng Đông đang tấn công Ải Chi Lăng. Chính vì lý do này mà Đại Tá Tôn Thất Liệt chủ động nhường thế trận chủ động lui về sau để kéo quân địch vào sâu nội địa của chúng ta. Nhưng tình thế lại có biến không ngờ quân Quảng Đông số lượng không chỉ có 2 vạn tấn công chúng ta. Chúng còn ém thêm một lượt quân xuất kích chậm hơi với 10 ngàn người nhằm vào nhánh quân của Trần Văn Võ tướng quân nếu ông ta qua sông. Điều này chứng tỏ phe giặc bắc rất không tầm thường. Nếu tính toán ra thì số lượng quân chính quy của họ phải là 50 ngàn người hoặc nhiều hơn nữa. Con số 40 ngàn quân chính là con số ảo mà thôi.

- Chính vì lý do này bộ tổng chỉ huy trung ương đã cho dừng lại kế hoạch qua sông của Chuẩn tướng Trần Văn Võ. Nhưng lúc này nguy cơ của Ải Chi Lăng sẽ tăng mạnh nếu 10 ngàn quân kia của Quảng Đông tập trung vào Chi Lăng.


Thì ra Võ Văn Giải đúng là không hổ là chiến tướng lão thành, ông ta đoán ra được phần nào việc quân Tôn Thất Liệt tại ải Chi Lăng lui lại là có dự mưu đó. Nhưng đáng tiếc là Trần Văn Võ đánh giá thấp lực lượng của Quảng Đông. Không ngờ số lượng quân của Lý Chấn là nhiều hơn rất nhiều so với những gì mà mật vụ Thái Nguyên tìm hiểu được. Thông qua chuyện này có thể thấy rõ được Lý Chân rõ ràng không phải là người đơn giản chút nào. Hắn cố ý chia đến 1 vạn 5 ngàn quân đánh Chi Lăng làm mồi nhử cánh quân tại Móng Cái qua sông sau đó sẽ dùng kỳ binh 10 ngàn người phối hợp chặn hai mặt giáp công cánh quân của Trần Văn Võ. Nghĩ đến thật hãi hùng, số lượng quân của người Hoa quả là quá đông đảo, cũng may hệ thống mật thám cũng như các nhánh đặc nhiệm quân của Thái Nguyên hoạt động quá tốt mà phát hiện được tình hình trên. Nếu rơi vào cái bẫy trên của Lý Chấn thì đảm bảo quân Thái Nguyên sẽ nhận được sự thiệt hại cực kì nặng nề.

Lúc này thì toàn bộ những nhân vật có mặt trong căn phòng này không ai ngu cả, chỉ cần nghe báo cáo trên của Tạ Quang Hiện thì họ đã hiểu rõ Thái Nguyên vừa trải qua những chuyện nguy hiểm bực nào. Sự thận trọng của những nhân vật tại đây được nâng lên mức cao nhất, đánh giá về sự nguy hiểm của Lý Chấn cũng được đẩy lên mức độ lv đỉnh max ngang bằng với sự nguy hiểm của quân Pháp.

Lúc này tất cả các bộ não quân sự, chiến tranh hàng đầu của Thái Nguyên đang tập trung xung quanh bản địa đồ rộng lớn trong phòng họp mà bắt đầu suy nghĩ tình toán tình thế. Cũng như vạch sách lược của mình.

- Thưa vương gia cùng các vị đồng liêu. Theo tôi thì lực lượng bộ binh của Quảng Đông quá đông nhưng theo như bản đánh giá tình tình về vũ khí trang bị cũng như chất lượng binh sĩ của chúng không cao. Căn bản là chúng thiếu hoàn toàn các hỏa khí hạng nặng, vậy nên chúng ta nếu cứ cố thủ tại Chi Lăng tức là đánh tiêu hao quân lực cùng bọn họ, nơi đây sẽ thành cái máy xay thịt thực sự. Nếu cứ đánh như vậy thì số lượng người của Thái Nguyên có lấp cả vào đó cũng không đủ. Theo tôi vẫn là phải tấn công mạnh mẽ chấp nhận sự hi sinh nhất định mà tiến hành một trận chiến tiêu diệt. Phải tiêu diệt lượng lớn quân Quảng Đông, chúng ta không thể để Quảng Đông trở thành uy hiếp nơi phương Bắc được. Vì phía Nam chúng ta vẫn cần đề phòng giặc Pháp ở Sông Hồng.

Đây là ý kiến của Tôn Thất Đính, ông ta tuy mới đến Thái Nguyên với chức cố vấn cao cấp của Chính phủ, không quá hiểu rõ tình hình Thái Nguyên. Nhưng ý kiến của ông ta mang tính chất vĩ mô, một trận chiến tiêu diệt mà không phải đánh tan, hay đánh lui gì đó. Tuy nếu thực hiện một cuộc chiến như vậy sẽ gây nên những thiệt hại không nhỏ cho quân Thái Nguyên nhưng đứng trên mức độ quân sự thì đây là điều cần thiết.

- Theo tôi thì không tiến hành một trận chiến tiêu diệt ngay lúc này, chúng ta có lực lượng hỏa pháo đông đảo cộng thêm súng trường hiện đại hơn. Sự tiếp tế từ hậu phương với xe lửa liên miên không dứt, thuốc súng thì đầy đủ. Trong khi đó quân Quảng Đông phải vận chuyển hậu cần bằng cách thủ công từ Quảng Đông qua Quảng Tây rồi đến biên giới phía Bắc. Chỉ cần điểm này thôi thì người có lợi thế khi kéo dài là chúng ta mà không phải giặc Bắc.

Người lên tiếng lại là Đại tá lục quân Trần Văn Thiên, cũng là một người theo dòng chính của Trần gia với kinh nghiệm 6 năm tham chiến khắp các chiến trường nam bắc.

Hai luồng ý kiến này được bổ xung tích cực và những người ở nơi này đều chia ra hai phe để ủng hộ hai luồng ý kiến trên..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 206: Trần Quang Cán cách nhìn



Trần Quang Cán ngồi ở vị trí chủ vị mà đăm chiêu suy nghĩ. Ở tuổi 35 hắn đang là lúc ở độ tuổi chín nhất, sung sức nhất của một người đàn ông trưởng thành. Tuy Cán ca không xuất thân hoàng thất hay được đào tạo thực tế để trở thành mội nhà lãnh đạo phong kiến tập quyền, nhưng có lẽ là bản năng, cũng có lẽ là khinh nghiệp tích góp thực tế trong nhiều năm cầm quyền các vùng đất tại Vạn Ninh, Quảng Yên khiến hắn không quá phản ứng với vị trí Vươn gia này. Phải nói một câu chân thành, Diêu thiếu bỏ đi Châu Âu mấy tháng trời khiến cho năng lực độc lập làm Vương gia của Cán Ca trở nên tiến bộ cực lớn. Trần Quang Cán dường như sinh ra để cho vị trí này vậy, có lẽ làm Vương gia cũng cần có năng khiếu, về mặt này năng khiếu của Cán ca không kém gì năng lực làm hải tướng quân của hắn.

- Lời các vị nghe tôi hiểu rõ, Chiến tranh với người khác có lẽ là thiệt hại là đau khổ, nhưng chiến tranh với Thái Nguyên chung ta ngoài hai thứ trên thì chúng ta cần nghĩ đến lợi ích. Đây mới là điểm quan trọng. Các vị sĩ quan, tướng quân chỉ nghĩ đến đánh trận, tiêu diệt địch, các vị cố vấn , chính quan lại nghĩ đến lợi ích tiết kiệm kinh tế. Nhưng tôi nhắc lại cho các vị một chuyện, Thái Nguyên chúng ta không phải là tiểu quốc ăn sâu trong tư tưởng của các vị. Vẫn biết rằng chúng ta nhỏ, thiếu nhân khẩu nhưng tư tưởng tiểu quốc, thiên quốc đối với Đại Thanh cần loại bỏ, chỉ có khi đó chúng ta mới có cái nhìn đích thực về tình hình.

- Chúng ta không đụng Đại Thanh thì thôi đi, chúng đã dám đụng vào chúng ta thì ắt phải trả giá gấp vạn lần. Một binh sĩ Thái Nguyên nằm xuống thì phải mười, phải trăm tên giặc Bắc phải bồi mạng. Tôi đồng ý một cuộc chiến tiêu diệt với quy mô lớn nhất. Vì sao tôi quyết kéo Pháp vào cuộc chiến này và chấp nhận chia nhiều lợi ích cho chúng là vì sao? Đó là vì kéo mỏng lực lượng của chúng tại Hà Nội. Chỉ cần Pháp động quân thì mối lo Sông Hồng phòng tuyến sẽ giảm tới mức thấp nhất. Lúc này chúng ta dùng đến hệ thống xe lửa để đổi quân, tức là 13 ngàn tân quân sẽ thay thể một phần tinh nhuệ quân tại phòng tuyến Sông Hồng. Tinh nhuệ Sông Hồng sẽ tiến về phía bắc với trang bị tốt nhất để tiến hành một cuộc chiến hủy diệt trong chớp mắt. Phải đánh nhanh, đánh mạnh trước khi quân Pháp kịp nhận ra sự đổi quân này….


- Thêm vào đó tiếp tực trưng binh năm ngàn tân binh để ổn định nội địa, số vũ khí dự trữ của chúng ta vẫn có đủ cho việc tăng 5 ngàn binh. Nhưng nếu làm như vậy thì gánh nặng từ chiến tranh lên nền kinh tế của Thái Nguyên là quá lớn… nhưng ánh mắt của tôi lại không ở nơi đây… các vị hãy nhìn vào vị trí này… chúng ta sẽ làm như sau…..

Quang Cán Vương gia mới nói ra dự định của hắn… không phát ngôn thì thôi. Phát ngôn là trời long đất lở, câu nói này đúng như để miêu tả Cán Vương gia lúc này. Thì ra tên khốn này mời các phe tham chiến rồi chấp nhận chia gần như hết lợi ích, cũng như chấp nhận Huế thành chủ đạo trong liên minh là có mục đích. Người ngoài nhìn vào thì thấy tên tân Vương gia này trẻ tuổi này vừa thượng vị không lâu nên có chút vội vàng hấp tấp. Nhưng lúc này nếu ai còn nghĩ vậy thì đập đầu vào tường mà chết đi. Tên này đã có dự mưu kéo đi các mối nguy hiểm tiềm tàng sau lương để kiếm một miếng lớn trong trận chiến này.

Nói chung lần này Cán Ca phát ngôn về kế hoạch đã khiến cho cả hội trường cảm thán và càng nhiều hơn là cảm phục. Không ngờ tất cả các bộ não khủng bố nơi này tập trung lại mà không có được cái tầm nhìn của Vương Gia. Cái này là tầm nhìn chiến lược mà không liên quan đến thông minh hay kém thông minh. Tầm nhìn của Cán Ca quá sâu và quá rộng ngay từ những bước đi đầu tiên hắn đã dự trù cho ngày hôm nay rồi.

Lúc này thì tất cả các bộ não nơi này xoay 180 độ mà quay qua bổ xung kế hoạch của Vương gia cho hoàn hảo hơn. Không phải họ nịnh nọt Trần Quang Cán, ở Thái Nguyên không có cái thói quen nịnh nọt ý kiến thủ trưởng như vậy, mọi người đều có thói quen phát biểu ý kiến riêng của bản thân và bảo vệ ý kiến của mình. Tất nhiên họ cũng biết lắng nghe và xây dựng, đây chính là điều Diêu thiếu đã cố gắng xây dựng trong những năm qua. Diêu thiếu không muốn một đám thuộc hạ nói gì nghe ấy mà hắn muốn một đám người có thể làm việc cho Thái Nguyên với sự độc lập nhất định.


Dự định của Cán Ca ra sao? Tầm nhìn của Cán ca khủng bố thế nào mà khiến cả gần 30 bộ não lão luyện phải gật gù lắng nghe thì tạm thời chưa nói đến, hạ hồi phân giải mà thôi. Nhưng lúc này quay lại với Châu Âu tình hình nơi mà Diêu thiếu đã đòi được 1 triệu £ tiền hàng heroin từ gia tộc dòng họ Lefebvre tại Pháp Quốc. Tiếp đó thì 2,5 triệu £ tiền lợi tức của công ty TNT cũng được chuyển cho Diêu thiếu tại chiến trường Hambühren . Lúc này thì túi tiền đang viêm nặng của Diêu thiếu lại nở đến cứng nghẹt.

Chiến tranh là đốt tiền, có tiền là có hết với một nền công nghiệp tân tiến như Prussian. Tất nhiên 15 ngàn quân xa xôi chạy đến chiến trường Hambühren nói cuối cùng vẫn là quân của hoàn gia Prussian mà không phải tư quân của Diêu thiếu nên còn lâu hắn mới sảng khoái mà nuôi họ cùng chất lượng với 4 ngàn quân ruột của bản thân. Tuy đối xử với 15 ngàn quân này vẫn tốt hơn nhiều bọn họ có thể nhận được khi ở Berlin nhưng nếu so ra vẫn không là được một góc của quân xứ Wietze . Chính điều này lại khiến các chàng trai Đức đang phục vụ trong quân đoàn Wietze nhận thấy được sự đặc biệt của bản thân mà thêm gắn bó và cố gắng.

Trong trận chiến kéo dài một tháng tại chiến trường Hambühren rất nhiều các binh sĩ nông dân đã dần trưởng thành và được thăng tiến sao cho đúng năng lực của họ nhất. Những người nông dân này tuy chỉ mới thăng cấp lên hạ sĩ trung sĩ, hay nhiều nhất là thượng sĩ. Nhưng tương lai của họ sẽ là trường quân bị và sẽ trởi thành sĩ quan cấp cao tại Wietze. Tất nhiên Diêu thiếu sẽ trả lại các sĩ quan vay mượn cho Berlin. Wietze là Wietze mà không phải Berlin, Wietze chính là Diêu thiếu mà Berlin chính là Otto và Wilhelm I.

Người lãnh đạo 15 ngàn quân đến “ tiếp viện” quân nam tước Wietze không ngờ lại là vương tử Friedrich III . Như đã nói tên vương tử Prussia này cũng không phải đạng vừa đâu, hắn tuy chưa từng thực sự cầm quân độc lập tác chiến bao giờ nhưng sự am hiểu quân sự của tên này là nổi tiếng toàn Châu Âu. Nếu đem so sánh các gã vương tử tại Châu Âu lúc này như vương tử Napoleon Eugène của Pháp, Edward của Anh quốc, vương tử Frederick VIII của Đan Mạch thì Friedrich III thuộc dạng nổi bật nhất và nghiêm túc nhất. Nói nghiêm túc vì tên này dùng như gần hết cả thời gian để học tập tri thức cả về chính trị và quân sự. Các cuộc đàn đúm vui chơi với hắn là một sự xa xỉ mang tính chất lãng phí.

Bên cạnh đó Friedrich III có một người thầy, một người bạn về mặt quân sự cực kì bá đạo đó là tổng tham mưu trưởng quân đội Prussia, Helmuth Karl Bernhard Graf von Moltke. Với sự tận tình của Moltke thì khả năng quân sự của Friedrich III rất là khả quan. Nhưng có một sự thật là Friedrich III chưa từng độc lập dẫn quân tác chiến bao giờ. Kể cả lần này, hắn là vương tử Prussia dẫn 15 ngàn quân đến Hambühren nhưng lại bị đặt dưới quyền chỉ huy của Diêu thiếu một Nam tước mà thôi.

Nhưng lần này Diêu thiếu lại hành động rất khác người, Diêu thiếu vẫn giữ quyền lãnh đạo chung của cả hai cánh quân, nhưng ông mãnh này lại kéo đi 5 ngàn quân của Friedrich III mà lao thẳng về vung Saxony. Chiến trường Hambühren gần như đã đánh xong với chiến công to như cái nồi thì Diêu thiếu vứt lại cho Friedrich III với 1 vạn quân tự xử lý. Đây rõ ràng là tặng công lao cũng là tạo điều kiện để Friedrich III có thể độc lập tác chiến. Friedrich III nghe được tin này mà mừng rơi nước mắt, anh ta muốn chân chính dẫn quân độc lập lâu rồi, nhưng tư thế là một vương tử nên phải rất cẩn thận. Một trận chiến bại có thể hủy hoại hết thanh danh của anh ta. Nhưng nếu chọn đối thủ quá yếu sẽ trở thành trò cười cho thiên hạ. Liên Quân Saxony đúng là đối thủ đúng lúc nhất lúc này để Friedrich III tỏa sáng. Họ đã bị quân Nam tước đánh cho tụt sĩ khí, vây cho không còn đường lui, chính vì vậy công việc của Friedrich III phải nói là béo bở vô cùng.

Mặc kệ cha Friedrich III đang nước mắt dòng dòng cảm động Diêu thiếu dắt theo Lý Chiến, Trần Văn Vân, 4000 quân Wietze và 5000 quân Berlin lao thẳng về Wolfsburg sau đó mượn đường mà tiến vào Brunswick. Xứ Brunswick thực ra là nơi chịu ảnh hưởng của Saxony và cũng là đồng minh thân cận của Saxony nhóm quý tộc. Tất nhiên lúc này chiều gió thay đổi quaan Wolfsburg nhận 200 ngàn £ của Diêu thiếu mà xông về Brunswick ép cho nơi này phải trung lập mà không chấp nhận để viện quân cũng như hậu cần của Saxony đi qua. Nhưng đây không phải là điều Diêu thiếu muốn, hắn đã quyết quẩy tung Châu Âu để kiếm lợi ích nên trung lập là thứ mà Diêu thiếu không cần. Có tiền có binh trong tay Diêu thiếu chẳng sợ bố con thằng nào ở Châu Âu, đánh nhau là người Châu Âu đổ máu, cùng lắm đánh không thắng hắn bỏ về Thái Nguyên là được thôi.

Quân Diêu thiếu không có chấp nhận trung lập, không chấp nhận thỏa hiệp, không chấp nhận thương lượng. Sau hai tháng bị Berlin đưa ra tối hậu thư, lại sau 1 tháng bị Wolfsburg dồn ép mà Brunswick vẫn lưỡng lự ở thế trung lập đó là điều mà đội quân máu chiến với danh tướng Trần Quang Diêu chỉ huy không chấp nhận được. Ngày 20 tháng 7, chín ngàn quân gồm Wietze và Berlin không nói hai lời nổ súng tấn công pháo đài Brunswick.

Trận chiến mở màn vào lúc 6 giời sáng mà không hề báo trước, các đồn bốt hay các căn cứ dọc đường tiến quân của Brunswick đều bị quét dọn từ lâu. Chính bản thân Brunswick với chỉ 2,5 ngàn quân cũng không có dải quân ra bên ngoài pháo đài để phòng thủ từ xa. Bá tước Brunswick muốn cố thủ trong pháo đài với hi vọng kéo dài một thời gian, sau đó là mong chờ sự phản ứng của giới quý tộc Miền Nam trước hành động hung hăng hiếu chiến của Nam tước xứ Wietze.

Kế hoạch thì là như vậy nhưng thực tế rất phũ phàng, ngay trong đêm tối thì lực lượng bắn tỉa đặc nhiệm đã bí mật tiếp cận các vị trí thuận lợi xung quanh pháo đài. Phải nói đến nhánh quân bắn tỉa lúc này đã lên tới quân số là 200 người đã là một tiểu đoàn với biên chế của 4 đại đội. Sau 2 tháng nhận định súng bắn tỉa rất hiệu quả trong thời điểm hiện tại nên Diêu thiếu đã chấp nhận chịu nợ nần mà đặt hàng chế tạo 800 thanh súng bắn tỉa. Lúc này có tiền trong tay nên hắn dễ dàng nhận súng về sau đó tăng binh bắn tỉa cho quân đội.

Tất nhiên công thành chiến ban đầu vẫn là màn đấu pháo giữa hai bên, đây là truyền thống bất di bất dịch rồi. Nhưng lần này Diêu thiếu đưa vào một lực lượng mới để tham chiến trong các cuộc đấu pháo này. Thật ra dưa súng bắn tỉa vào một cuộc đấu Pháo hiện đại là không thể vì tầm xa của pháo hiện đại có tầm quá xa mà súng bắn tỉa không thể với tới. Nhưng súng bắn tỉa vào thời kì này hoàn toàn có thể tham chiến trong các cuộc đấu pháo khi đại bác tầm xa lúc này chỉ là 1,6 km đến 2,5 km mà thôi..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 207: Điều binh bí ẩn



Chuyện Diêu thiếu quậy tung Châu Âu, hay hủy diệt châu âu cuối cùng cũng chỉ là chuyện ngoài lề mà thôi. Chuyện quan trọng đối với Thái Nguyên lúc này vẫn là hành động của Cán Vương gia cùng đối thủ là một tên xuyên không Lý Chấn đề đốc một tỉnh của Trung Hoa.

Nói đến diện tích và dân số và tiềm lực thì cả Đại Nam mới có thể nhỉnh hơn một chút so với Quảng Đông. Nhưng đấy là so sánh của khi không có các thế lực xuyên vào mà thôi. Lúc này cả Diêu thiếu và Lý Chấn cùng xuyên không nên diện mạo của Đại Nam và Quảng Đông thay đổi lắm rồi. Nói đến thời gian phát triển của Quảng Đông thì cũng chỉ lâu hơn Thái Nguyên một hai năm mà thôi. Lý Chấn lúc đầu xuất thân cũng là linh quèn, hắn không có được điều kiện tiền bạc rủng rỉnh bao đầu như Diêu Thiếu để có thể mua quan bán tước. Tên Lý Chấn này nếu kể ra thì khá đáng nể khi trong vài năm có thể leo từ lính quèn không thế không tiền mà từng bước đi lên đến chức đề đốc của một tỉnh Trung Hoa.


Lý Chấn và Diêu thiếu nói chung đều có sự may mắn của bản thân khi phát triển thế lực. Về phần Diêu thiếu đó là hắn ta có, nếu chỉ nói riêng về suất thân thì Diêu thiếu có lợ thế tuyệt đối khi mà gia đình nhà họ Trần Quang là có truyền thống thương nhân buôn muối lậu với gia tài bạc vạn, ruộng đồng thẳng cánh cò bay. Thêm vào đó Diêu thiếu xuất phát điểm là một thiếu gia công tử với lực lượng nông nô tới cả ngàn người. Đây là một lực lượng có thể trở thành dòng chính với năng lượng không thể khinh thường cho một kẻ khởi nghiệp.

Về phần Lý Chấn thì hắn cũng gặp vận may không kém. Tuy xuất thân của Lý Chấn là một tên binh sĩ quèn nhưng vận may kiểu như vô lý cứ vồ vập mà bay tới bên tên này. Chẳng vậy mà một tên binh sĩ hạng bét không tiền, không chỗ dựa, cũng chẳng có xuất thân hiển hách gì có thể bò một mạch từ linh quèn lên đạo đài Thượng Hải, Đô đốc Quảng Châu rồi Đề Đốc Tỉnh Quảng Đông. Nói thật không thể hiểu tên này bò bằng cách nào, hay ngòi bút của Tác Tàu Khựa mạnh ra sao mà Lý Chấn sau vài năm đã vừa có tiền , vừa có quyền, vừa có mối quan hệ mạnh mẽ với trung ương Bắc Kinh, lại còn có cả đống gái trong tay. Nói đến Diện tích đất đai mà Lý Chấn quản thì có lẽ chỉ kém diện tích của cả Đại Nam một chút thôi. Nói vậy mới thấy Diêu thiếu nhà ta có vẻ hơi thất bài một chút khi lăn đi lộn lại chỉ có ba mảnh đất cắm dùi be bé tại Miền Bắc Đại Nam.

Nói đến vận may thì cả Lý Chấn và Diêu thiếu đều gặp được những quý nhân phù trợ rất đáng nói đến. Về phần Diêu thiếu vì sự phức tạp lằng nhằng khi tiếp xúc cùng Dương Tú Ninh và đội quân phản tặc Thái Bình Thiên cuốc của nàng khiến cho Diêu thiếu có được cơ hội bắt tay làm ăn cùng Robert. Nói đến Robert thì không thể không nhận định chắc chắn một điều đó là có đến 80% thành công ngày hôm nay của Thái Nguyên là vì tên thương nhân Mỹ quốc này.

Tại sao ư? Nói không ngoa thì với hương đi mà Diêu thiếu đã định sẵn trong đầu thì rõ ràng cách làm của hắn không sớm thì muộn cũng thành công. Nếu không có được sự giúp đỡ cũng như hợp tác của Robert thì tất nhiên với mối lợi của heroin thì Diêu thiếu hoàn toàn có thể tìm được người hợp tác khác. Nhưng vấn đề là ở chỗ cho dù có tìm được người hợp tác khác thì liệu có tốt được như Robert và thành công như Robert hay không.

Robert tốt không phải vì hắn là người tốt mà tên này có được sự trân thành hợp tác thực sự cùng Diêu thiếu. Robert có dã tâm đối với quyền lực chính vì điểm này mọi chuyện hắn làm, đương cử như 6 năm trời chạy đi chạy lại liên tục Châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ mà không hề kêu ca. Tất nhiên Robert quá thông minh, hắn nhìn thấy tiềm lực không thể hạn định của Diêu thiếu mà đặt hết phần cược của mình vào đó. Và nói theo một cách nào đó thì tên Robert này đã thành công khi mà hắn có được một mảnh đất riêng ở Cao Miên để làm cái công tước coong coong của mình.

Nói đến thành công của Robert là nói đến sự kịp thời trong những phi vụ buôn bán đông tây của tên này giúp cho Thái Nguyên phát triển một cách vượt bậc. Nói thẳng đe một câu nếu Robert không cố gắng móc nối, buôn bán, cũng như chịu khó chạy khắp nơi thì Thái Nguyên phải tốn ít nhất 5- 10 năm nữa mới đạt được độ cao như ngày hôm nay.


Còn về Lý Chấn thì tên này thành công đến một cách rất khó có thể tưởng tượng nổi trong quá trình phát triển của bản thân. Tên này mặc dù là dân xuyên nhưng xuất phát điểm thấp vô cùng, chỉ là một tiểu binh người Hán trong quân đội nhà Thanh. Nói thật là người Hán đến lúc này tại Đại Thanh Quốc vẫn khó có được sự thăng tiến dễ dàng trong quân đội của Đại Thanh nếu không có chỗ dựa vững chắc. Lý Chấn chẳng qua là dùng tài thiện xạ mà hạ được một tướng quân trong một trận đánh giữa Đại Thanh với Thái Bình thiên quốc. Nói thật là công lao này không bị ăn chặn đã là một sự may mắn đến tột cùng rồi, không ngờ từ công lao này mà may mắn liên tục đến với Lý Chấn một cách vô lý đến vô cùng, khiến hắn từ từ trở thành Đạo Đài Thượng Hải rồi Đô Đốc Quảng Châu, sau đó là mò được cả chức Đề Đốc Quảng Đông. Nên nhớ diện tích cùng dân số Quảng Đông chỉ nhỏ hơn Đại Nam một chút mà thôi.

Nói đến điều này để thấy được nhiều điểm khó có thể tin nổi trên con đường phát triển của tên Lý Chấn. Quan trọng nhất là tên Lý Chấn này không hề có một nguồn tài lực mang tính cốt lõi nào nhưng hắn vẫn có thể liên tục tăng binh, liên tục trang bị vũ khí, nói chung là khó có thể hình dung về mặt logic. Nhưng cây bút trung quốc nói vậy thì đành chấp nhận thôi.

Lý Chấn cũng có một quý nhân phù trợ về mặt công nghệ đó là tay buôn súng người Italy, Nói đến tên buôn súng này không ngờ gia tộc hắn lại sở hữu những dây truyền sản xuất súng tại Italy. Chính vì vậy với số tiền phi logic mà Lý Chấn có được thì hắn “dễ dàng” sở hữu công nghệ trên và tự tiến hành sản xuất trang bị cho 4 vạn quân đội của bản thân. Vấn dề là không thể hiểu nổi tại sao Lý Chấn có thể sản xuất nổi số lượng súng khổng lồ như vậy trong thời gian ngắn như vậy. Nên nhớ sức sản suất nếu tính như Quảng Đông đã thực hiện trong 4 năm qua thì gần bằng với sức sản xuất súng trường của Anh Quốc rồi. Cứ cho cả gia tộc của tên thương nhân Italy kia đóng gói bốc xếp về Quảng Đông thì liệu chúng có thể sản xuất được nhiều súng như vậy không?

Ngoài ra lượng thuốc súng mà Lý Chấn có được để thực hiện luyện tập và chiến đấu lại là một câu hỏi, số thuốc súng này như trên trời rơi xuống mà chẳng biết từ đâu ra vậy. Vấn đề tiếp theo đó là Lý Chấn ngoài trang bị súng trường cho bản thân lại còn ngang nhiên có thể bán một số lượng không nhỏ súng cho Thái Bình thiên quốc để tạo thành thế “ủng binh tự trọng”. Nói chung là câu chuyện của Lý Chấn thực sự quá khó để lý giải nổi mà chỉ có thể chấp nhận hiện thực mà thôi.

Nhưng tất cả chuyện này đều là ngoài lề mà thôi, không lý giải nổi thì vẫn phải đánh. Sách lược của Trần Quang Cán rất rõ ràng, đánh trực diện đánh tiêu diệt và dùng toàn lực đánh trong thời gian nhanh nhất để cho quân Pháp cũng không kịp phản ứng.

Thái Nguyên có một lợi thế khổng lồ đó là những tuyến đường sắt chính dường như đã được hoàn thành một cách triệt để. Vậy ra giao thông 6 trên 8 tỉnh Thái Nguyên thuận lợi vô cùng, Tất nhiên vì đầu máy xe lửa cũng có hạn nên lúc này tuyến giao thông chủ yếu được nhường cho quân đội với các tỉnh Lạng Sơn. Móng Cái thuộc Quảng Yên và Thái Nguyên. Từ đây hàng ngày luôn có các chuyến tàu chở binh sĩ cũng như trang bị , hậu cần tiến tới chiến trường biên giới.

Chưa hết, với mạng lưới điện báo đã hoàn chỉnh thì thông tin liên lạc giữa chiến trường và trung ương Thái Nguyên chưa từng gián đọa. Thông tin bàn bạc từ Thái Nguyên chỉ mất chua đầy 1 giờ đồng hồ thì tướng quân cũng như sĩ quan chỉ huy tại tiền tuyến đã nhận được. Trong khi đó nếu dùng phương pháp truyền thống mà truyền tin thì không có 5- 7 ngày là không có được rồi.

Nói về hệ thống truyền tin cũng như hệ thống xe lửa đã tạo ra lợi thế quá lớ cho quân Thái Nguyên trong việc điều phối quân sự cũng như như nguồn lực trong lãnh thổ. Đây là một lợi thế không thể hình dung trong chiến tran vào thời đại này. Mà kể cả trong thế chiến thứ 1 với hệ thống vận binh bằng đường sắt vẫn là chiếm chủ đạo đấy. Chính vì lý do này mà khi liên minh hạm đôi từ Huế xuất phát đến Vạn Ninh để hội quân cùng hải quân Thái Nguyên thì cũng là lúc hoạt động đổi quân rầm rộ của Trần Quang Cán được diễn ra.

Thật ra khi Pháp rút đi 3000 quân khỏi Bắc Kỳ thì đáng lý ra theo lẽ thông thường thì Thái Nguyên hoàn toàn có thể đánh úp Hà Nội. Nhưng đấy chỉ là lẽ thông thường mà thôi. Nhưng sự thật đó là triều đình bù nhìn họ Lê mới lập tại Hà Nội giờ lại trở thành cánh tay đắc lực của Thực Dân Pháp khi mà chúng đã chiêu mộ đến cả vạn lính người Việt. Những binh lính người Việt này lại chính là lực lượng dùng cho cuộc viễn chinh quảng Châu Loan lúc này. Chính vì lý do đó mà lực lượng 6 ngàn lính Pháp chỉ có điều đi 1 ngàn lính làm nòng cốt mà thôi, còn lại hơn 2 ngàn lính Việt mới là chủ yếu binh để tiến hành xâm lược lục địa Quảng Đông. Cũng chính vì sự điều động này mà khiến cho sức phòng thủ Hà Nội của Pháp và triều đình họ Lê không hề giảm mạnh, việc qua sông của Thái Nguyên vẫn là chưa thực tế nếu họ không có được lực lượng áp đảo. Việc Thái Nguyên đang đối phó với Lý Chấn tại Lạng Sơn khiến cho họ dù muốn cũng không thể tổng lực tấn công qua Sông Hồng cho được. Cuối cùng Thái Nguyên chỉ là một Vương quốc diện tích nhỏ hẹp, việc duy trì mộ cuộc chiến tổng lực với hai mặt thụ cường địch sẽ mang đến rủi ro quá lớn khiến cho không một kẻ thông minh nào nghĩ tới chuyện này.

Theo như dự tính của Trần Quang Cán thì có đến 7000 quân Thái Nguyên sẽ theo chiến hạm liên minh mà tấn công Quảng Châu Loan. Trong đó chỉ có 1 ngàn quân là tinh binh thực sự lính thủy đánh bộ, còn lại 6000 quân là tân binh miệng còn hơi sữa mới chưng dụng từ hệ thống dân binh và huấn luyện chính quy được 2 tháng mà thôi.

Thêm vào đó lượng binh 1 vạn 5 ngàn tân quân đóng tại Thái Nguyên lại tiếp tục sẻ quân 8 ngàn bí mật lên tàu hỏa đổi quân cùng gần 1 vạn tinh binh đang đồn trú tại Sông Hồng. Đây chính là một nước cờ cực hiểm, vì hàng tuyến Sông Hồng bỗng chốc từ 1 vạn 5 ngàn tinh binh thoáng chốc chỉ còn lại hơn năm ngàn tinh binh mà thôi. Sức chiến đấu của quân Thái Nguyên tại mặt Nam trở nên yếu đi trông thấy trong một khoảng thời gian nhất định. Nhưng bộ sậu Thái Nguyên rất tự tin thực hiện kế hoạch đổi binh một cách âm thầm trên vì những chuyến tàu chạy đêm rất bí mật, cộng thêm hệ thống thám báo, mật vụ của Thái Nguyên là cực mạnh, cả Thái Nguyên giống như một chiếc thùng sắt không thể hé lộ thông tin vậy. Những kế hoạch thâm nhập từ hệ thống non trẻ Hà Nội vẫn chưa thể trong thời gian ngắn có thể thành công tiếp cận được Thái Nguyên.

Vốn dĩ quốc hộ đã nhất trí không sa lầy vào một cuộc tấn công bộ binh tại Quảng Châu và chỉ quyết định điều 2 ngàn quân THái Nguyên tiến hành hậu cần binh cho liên minh tạm thời. Nhưng bỗng chốc tại sao Trần Quang Cán lại tăng binh đến hơn gấp 3 lần bộ binh. Mà điều này lại được sự đồng thuận cao của chính phủ Thái Nguyên, chẳng nhẽ Trần Quang Cán quyết tâm muốn ăn thua sống mái cùng Lý Chấn, câu trả lời này có lẽ sẽ được trả lời vào diễn biến tiếp theo..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 208: Đánh qua biên giới



Sáng sớm ngày 24 tháng 10, đúng theo kế hoạch dự định hơn 1 vạn 5 ngàn tinh binh bao gồm năm lữ đoàn chính quy tinh nhuệ nhất Thái Nguyên với trang bị tối tân nhất đã mở chiến dịch phản công quy mô lớn chưa từng có tại biên giới phía Bắc thuộc Tỉnh Lạng Sơn đánh vào đất Trung Hoa thuộc tỉnh Quảng Tây.

Năm lữ đoàn này chính là những tinh binh đã trải qua rất nhiều cuộc chiến từ những trận nhỏ như đánh với Lê Duy Phụng, cho đến những trận đánh lới với quân Pháp Thực Dân. Đây chính là lực lượng nòng cốt nhất của Thái Nguyên lúc này.

Trang bị của năm lữ đoàn bộ binh này thuộc vào hạng hiện đại nhất của thế giới lúc này chứ không chỉ nói riêng khu vực mà thôi. Tất cả vũ khí trang bị cho họ đều là súng trường Dreyse M1841 với số lượng đạn vỏ giấy là dường như không giới hạn. Về mặt trang bị cá nhân thì 100% đều có mũ sắt bảo vệ đầu, một số Trung đoàn nhất định cò có trang bị mặt nạ phòng độc hiện đại nhằm đối phó với vũ khí hóa học nếu quân địch có được loại vũ khí trên. Quan trọng hơn cả đó là lúc này với nền kinh tế phát triển của mình thì quân Thái Nguyên đã bắt đầu chú ý hơn tới hệ thống phòng hộ cho binh sĩ. Tất cả binh sĩ đều có được một tấm giáp phòng ngự nơi ngực nhằm che đi vị trí chí mệnh là tim, phổi.

Nói đến tấm giáp này thì cũng cực kì đơn giản, nó chỉ là một tấm thép 255x300 mm dày 3mm nặng 1,1 kg. Nói thật đây chỉ là một tấm thép rất bình thường được tôi với công nghệ tốt hơn mà thôi. Tất nhiên tấm thép này vừa nặng vừa có khả năng chống đạn kém hơn quá nhiều so với giáp chống đạn hiện đại. Nhưng vấn đề ở chỗ lúc này đây sức công phá của súng trường cũng không được như thời hiện đại chính vì thế tấm thép giản dị này có thể giảm bớt sức sát thương rất nhiều cho binh sĩ bị trúng đạn. Ít nhất đó là nếu trúng đạn trực tiếp của súng Minire với khoảng cách 300 m thì tấm giáp này hoàn toàn có khả năng hạ thấp lực sát thương của súng đạn tới 80%. Tất nhiên trong khoảng cách 50m trở lại thì tấm chống đạn này hoàn toàn vô dụng với súng Minire.

Điểm đặc biệt của tấm giáp chống đạn của quân Thái Nguyên đó chính là chúng cơ động và dễ chế tạo vô cùng. Bản chất của chúng chỉ là những tấm thép bình thường kích cỡ hình chữ nhật được bo cạnh thành những đường cong nhằm không gây hạn chế cử động của binh sĩ. Tấm giáp thép này có thể tháo ra hay lắp vào với hệ thống áo giáp may theo lối áo giáp hiện đại bằng vải jean.

Chính vì lý do này chiếc áo giáp chống đạn hiện đại của quân Thái Nguyên cực kì cơ động và thoáng mát. Binh sĩ có thể chọn lựa mặc áo hay tháo ra cất vào ba lô hành quân tùy biến theo điều kiện thích hợp. Diêu thiếu không đi theo hướng bọc giáp toàn thân cho quân sĩ như kiểu kị sĩ thời trung cổ. Hắn chỉ thiết kế chiếc áo giáp theo cấu trúc ba lỗ hiện đại và một tấm thép thay cho tấm cường lực mà thôi.

Chưa cần biết tấm áo giáp này có chức năng mạnh mẽ hay không nhưng ít nhất có được chúng thì tinh thần binh sĩ Thái Nguyên lên cao lắm. Ít nhất họ có thêm một trang bị dựa vào để bảo mệnh, thêm vào đó tấm áo giáp này không hề quá nặng, quâ đội Thái Nguyên với sự luyện tập chuyên cần và vất vả nên thích nghi khá nhanh với sức nặng 1,1 kg của giáp. Từ đây trang bị của quân Thái Nguyên lại có một điểm cực kì khác biệt với binh sĩ của thế giới thời hiện tại.

Đấy chỉ là nói riêng về những trang bị đáng chú ý của quân Thái Nguyên mà thôi. Những đặc điểm khác như dày vải đế cao su, hay thắt lưng, bình nước, lương khô, lựu đạn Dyamite đều là những thứa mà hiếm có đội quân nào hiện tại tại Châu Á có thể theo kịp được họ.

Lần tấn công vào đất Quảng Tây vào rạng sáng ngày 24 tháng 10 quả thật là một lần tổng tiến công vô cùng mạnh mẽ của quân Thái Nguyên với lượng quân tiên phong lên đến 5000 người với 36 thanh pháp Krupp C61 và đến hơn 70 thanh pháo cối M63 của Đại Nam. Đây là một số lượng khổng lồ hỏa khí hặng nặng nếu như để so sánh trong điều kiện hiện tại. Nên nhớ cuộc chiến Schleswig lần thứ hai cả Phổ và Đan Mạc hùn nhau vào cũng chỉ có 250 hỏa pháo mà thôi.

Lúc này trình độ khoa học kĩ thuật của Thái Nguyên đã có đủ sức chế tạo pháo Krupp C61 với kiểu bắn nạp đạn phía sau kiểu breech loader. Đây là một trong những tiến bộ vượt bậc của công nghệ Thái Nguyên sau hàng năm trời chấp nhận hợp tác với “giá cao” và trao đổi nhiều công nghệ phức tạp với người Phổ. Nên nhớ rằng công nghệ đúc nòng pháo bằng thép nguyên lúc này Krupp vẫn là đi đầu trên thế giới.

Vào năm 1847, Krupp đã chế tạo khẩu súng thần công bằng thép đúc đầu tiên của mình. Tại Triển lãm lớn (London) năm 1851, Alfred Krupp đã trưng bày một thanh đại bác 6 pound được làm hoàn toàn từ thép đúc và một thỏi thép hoàn hảo có trọng lượng 4.300 pound (2.000 kg), nhiều hơn gấp đôi so với bất kỳ lần đúc nào trước đây. Ông đã vượt qua lần đúc cũ với một thỏi 100.000 pound (45.000 kg) cho Triển lãm Paris năm 1855, đó cũng là tiền thân của đại bác Krupp C61. Và giờ đây với công nghệ của lò nung thép Bessemer trong tay thì công nghệ đúc pháo của Krupp lại được nâng lên một tầm cao mới. Tất nhiên Thái Nguyên cũng có được công nghệ này sau một loạt các hạng mục trao đổi kĩ thuật cũng như các khoản tiền khổng lồ nhằm mua lại công nghệ tân tiến trên.

Nói là Thái Nguyên có được công nghệ mơ ước trong tay nhưng việc tự sản xuất pháo C61 tốc độ vẫn chậm vô cùng, chính vì lý do vậy nên Thái Nguyên quân sự vẫn tập chung chính vào phát triển súng cối M63 với độ thuận tiện cao cũng như dễ chế tạo. Chính vì lý do này nên cối M63 đã liên tục được cải tiến và tăng số lượng một cách chóng mặt. Và lần này cũng chính là lúc mà các tiểu đoàn pháo binh Thái Nguyên được đánh thả sức và chứng tỏ sức mạnh vượt trội của bản thân.

Quân Lý Chấn mạnh nhất là gì? Chỉ một câu thôi đó là đông, bọ họ đông vô cùng. Chỉ tính riêng mặt Lạng Sơn thôi thì ở đây đã tập chung lên đến 35 ngàn người rồi. Nếu tính về quân số đang dằng co tại Ải Chi Lăng thì Thái Nguyên còn chưa bằng một nửa số lượng quân Quảng Đông. Đấy là còn chưa kể đến 10 ngàn lính Quảng Đông đang đóng bên bờ sông Kalong biên giới tự nhiên của Móng Cái và Phòng Thành, lại thêm 20 ngàn quân vẫn còn đang trong nội địa Quảng Đông làm nhiệm vụ phòng thủ căn cứ địa. Nếu nói đi nói lại cả quân chính quy và địa phương của Quảng Đông vớ vẩn cũng phải lên đến con số gần 8 vạn đến 9 vạn người. Đây là con số khủng bố đến mức độ nào nếu đem so sánh với thời điểm hiện tại của các đơn vị quân đội?

Nhưng không phải quân Lý Chấn không có điểm yếu. Số lượng của chúng tuy đông nhưng trang bị hiện đại, đầy đủ thực sự thì không có nhiều. Lính Quảng Đông có được súng trường hiện đại chỉ là cùng lắm 5 vạn mà thôi. Thêm vào đó sộ lượng hỏa pháo của Quảng Đông quân là thiếu thốn vô cùng. Trình độ của gia tộc tên thương nhân người Italy chỉ là chế tạo được súng trường mà thôi, để đúc được pháo thép chất lượng cao như Krupp thì cả Châu Âu ngoài Amstrong công ty ra không có bất kì ai có thể làm được. Tất nhiên Lý Chấn cũng có mua được một số pháo vẩn vơ từ người Mỹ, thế nhưng nên nhớ người Mỹ lúc này còn chưa đủ Pháo chất lượng cao để dành cho nội chiến đấy. Chính vì thế số lượng pháo của quân Quảng Đông là giới hạn vô cùng, thêm vào đó là chủng loại không hề đồng nhất mà loạn xạ không đều. Đây chính là điểm yếu nhất của nhánh quân đông đúc này.

Cùng lúc các trận địa Pháo Thái Nguyên dồn dập nhả lửa về phía chiến hào quân Quảng Đông tại bên kia Ải Chi Lăng thì cũng là lúc chuẩn tướng Trần Văn Võ hạ lệnh cho 5000 tinh nhuệ quân tại Móng Cái vượt sông Kalong tiến vào địa phận Phòng Thành thuộc tỉnh Quảng Tây.

Nói một cách chính xác thì Quảng Tây không thuộc vào Đại Thanh lúc này, và có về sau thì Quảng Tây vẫn là mảnh đất tự trị của người Choang trong thời kì Trung Quốc hiện đại. Lúc này Quảng Tây là một mớ lộn tùng phèo với các vùng đan xen nhau giữa ba bên là các thế lực Thái Bình Thiên quốc, thế lực người Choang bản địa và thế lực các thổ ty thuộc quyền khống chế của Đại Thanh. Chính vì thế dù cho quân Thái Nguyên lúc này có đánh vào Quảng Tây cũng không tính là gây chiến cùng Đại Thanh hay Trung Hoa quốc.

6 giờ sáng ngày 24 tháng 10. Tầm 10 khu trục hạm với bố trí 2 tháp pháo Krupp 12pound mỗi chiếc đồng loạt áp sát và nổ súng tới tấp về các khu căn cứ phòng thủ của quân Quảng Đông phía bờ Bắc sông Kalong. Lúc này đây sức mạnh thực sự của quân Thái Nguyên mới được thể hiện một cách hiện thực nhất. Thái Nguyên mạnh nhất không ngờ lại là lực lượng hải quân bá đạo, nói một cách hiện thực thì toàn bộ Châu Á không có thế lực nào có thể dùng Hải quân mà đối diện chính thức cùng Thái Nguyên cho được. Tất nhiên nói điều này phải loại bỏ các thế lực phương Tây ngoại lai tại Châu Á. Quân Thái Nguyên hoàn toàn chiếm lĩnh toàn bộ mặt sông Kalong vào thời điểm này. Từng đoàn bộ binh Thái Nguyên lần lượt xếp hàng tiếp bước tiến lên các tàu đổ bộ chuẩn bị vượt sông.

Nhưng đấy chỉ là chuyện nhỏ nhặt mà thôi, vì con bài của Thái Nguyên hay nói đúng hơn là con bài của Trần Quang Cán Vương gia không đơn giản như vậy. Nên nhớ Diêu thiếu trước kia đã từng điều 300 lính đặc nhiệm tiềm nhập vào nội địa Quảng Tây tiến hành điều tra tung tích của Dương Tú Ninh. Nhiệm vụ chính của nhánh quân này thất bại vì quân của Dương Tú Ninh vậy mà chạy một mạch xuyên qua cả Vân Nam, Quý Châu mà tiến vào Tứ Xuyên Ba Thục. Nhánh biệt kích mày mất dấu đoàn quân của Dương Tú Ninh nhưng họ lại móc nối được với một thế lực bản địa của Quảng Tây.

Nói đến thế lực của Quảng Tây thì lúc này vẫn chưa phân rõ làm Tam kỳ quân bao gồm “ Hoàng kỳ quân” , “Hắc Kỳ quân”, “Bạch Kỳ quân” như trong lịch sử. Cách phân chia của các thế lực trong Quảng Tây cực kỳ lộn xộn, chúng lại càng thêm lộn xộn hơn nữa khi mà 5000 quân trang bị vũ khí hiện đại của Dương Tú Ninh xông vào và thu phục một số lượng lớn các thế lực nơi này cùng nhau công đánh Quảng Đông.

Nói đến thế lực của Quảng Tây thì phải phân rõ làm 3 thế lực chính. Thứ nhất đó là thế lực người Tráng do cha con Hoàng Kỳ Sĩ, Hoang Kỳ Anh lãnh đạo, nhóm này sau đó sẽ là tiền quân của giặc cờ vàng gây nên bao tội ác khát máu trên đất Việt. Cũng chính là nhóm này sau đó hỗ trợ đại úy Pháp Francis Garnier bất ngờ tấn công thành Hà Nội, mở đầu cho Biến cố Bắc Kỳ (1873). Nhóm thế lực này không tự coi mình là người Thái Bình Thiên quốc mà cũng không coi mình là thần dân Đại Thanh, họ tự lập thành một thế lực riêng lấy cướp bóc đốt phá làm nhiệm vụ cơ bản. Thật ra bản chất của chúng có lẽ là một lực lượng kháng chiến đòi tự do của người Tráng nhưng lại thiếu đi triết lý hành động cũng như lý tưởng mục tiêu nên có phần giống như phỉ tặc. Sau này nhóm thế lực này đi theo Dương Tú Ninh tấn công Quảng Đông rồi bị Lý Chấn đánh tan và thu phục, hiện nay 3 vạn 5 ngàn quân Lý Chấn đang tấn công Ải Chi Lăng thì có đến 7 ngàn người là quân của Hoàng Kỳ Sĩ.

Nhóm thế lực thứ hai cũng là nhóm lực lượng người Tráng với sự lãnh đạo của cha con nhà Ngô Lăng Vân, Ngô Á Chung với chân tay thân tín là Lưu Vĩnh Phúc. Phải nói đến Ngô Lăng Vân thực ra là người Tráng nhưng hắn là thành viên trong một gia đình khá giả, có chút học thức cũng như am hiểu nhất định về thời cuộc.

Nói về Ngô Lăng Vân thì tháng 6 năm 1854, quân nổi dậy của Triệu Ứng Phương, Lục Thành Thái tấn công phủ Thái Bình thất bại, tàn binh gia nhập với quân Ngô Lăng Vân. Sau đó, lực lượng của các địa chủ châu Tân Ninh hợp binh công phá căn cứ Lũng Phác, Ngô phải lui về huyện Sùng Thiện để gầy dựng lại lực lượng. Đến tháng 7 năm 1856, thấy binh lực đã có vẻ hồi phục, Ngô Lăng Vân một lần nữa mang quân đánh chiếm Tân Ninh, tuy nhiên đến tháng 10, quân Thanh và các quân địa chủ địa phương phối hợp đánh Tân Ninh, Ngô thua phải rút quân về thôn Lũng La.
Tháng 7 năm 1860, Ngô lại mang quân tiến đánh phủ Tân Ninh lần thứ 3, chiếm phủ Thái Bình và kiểm soát khu vực sát biên giới Đại Nam. Tháng 1 năm 1861, Ngô xưng Vương, kiến lập Đình Lăng quốc, khắc ấn "Đình Lăng ngọc tỷ", sử dụng nghi chế Hán quan, phong quan bái tước.
Tháng 6 năm đó, quân Thanh phản công và đến tháng 2 năm 1862, tấn công phủ Thái Bình. Phía Đình Lăng, quân sư Lương Quốc Trinh, nguyên soái La Phẩm Quang tử trận, Ngô phải rút về căn cứ địa Lũng La.

Trong lịch sử thì Ngô Lăng Vân sẽ bị phục kích và bị quân Thanh giết vào tháng 1 năm 1863. Nhưng lịch sử thay đổi vì sự xuất hiện của Dương Tú Ninh. Chính Dương Tú Ninh đã thu phục được lực lượng của Ngô Vân Lăng đầu tiên khi nàng đặt chân qua đất Quảng Tây, sự việc đơn giản vì Ngô Lăng Vân tuy tự lập làm Vương nhưng trong cốt tủy hắn vẫn coi mình là người Thái Bình Thiên quốc. Cộng thêm 5 ngàn quân của Dương Tú Ninh quá thiện chiến và hiện đại nên Ngô Lăng Vân dễ dàng ra nhập vào đó. Chính vì lý do này Ngô Lăng Vân không cần đi cầu viện khi bị quân Thanh bao vây và cũng chính vì thế hắn thoát chết một phen.

Tất nhiên sau khi Lý Chấn đánh bại Dương Tú Ninh thì quân của Ngô Lăng Vân cũng bị đánh tan, nhưng hắn chỉ là bỏ chạy về Quảng Tây mà không đầu hàng Lý Chấn. Đây chính là lực lượng mà nhánh quân biệt động của Thái Nguyên bắt được liên lạc và tiến hành giao lưu chiều sâu..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 209: Quan hệ ngầm với Bách Sách



Nhóm thế lực thứ 3 thuộc quảng Tây là nhóm người Tráng dưới sự lãnh đạo của Bàn Văn Nhị và
Lương Văn Lợi . Đây cũng thuộc về bản chất là quân Thái Bình Thiên quốc, nhưng nhóm này có điểm khác biệt rất lớn với quân của Hoàng Kỳ Anh hay Ngô Lăng Vân. Nói một cách chính xác thì nhóm người Tráng này sau đó sẽ là tiền thân của quân cờ Trắng, nhưng bản chất của họ chính là phỉ cướp một cách toàn diện. Nhóm người này không có một chút tư tưởng nào gọi là giải phóng hay làm cách mạng này nọ. Tất nhiên quân của Bàn Văn Nhị cũng được Dương Tú Ninh chiêu mộ trong cuộc tấn công Quảng Đông. Nhưng sau khi bị Lý Chấn đánh tan thì Bàn Văn Nhị dẫn hơn phân nửa quân chạy về huyện Hà Trì thuộc Quảng Tây tị nạn. Lương Văn Lợi thì dẫn tầm 4000 quân đầu hàng và làm chó săn cho Lý Chấn. Lúc này thế lực quân Cờ Trắng tương lai bị chia làm hai nửa.

Quay về với tình hình chiến đấu tại chiến trường biên giới phía bắc Thái Nguyên. Trong lúc quân Thái Nguyên đang mở ra một trận chiến khốc liệt mang tính chất đánh tiêu diệt chủ lực quân Quảng Đông thì cũng là lúc tại một vùng biên giới Quảng Tây và Vân Nam một nhánh quân đội đang hành động. Đây chính là nhánh quân thuộc quyền quản lý của Ngô Lăng Vân. Vì Ngô Lăng vân có được sự giúp đỡ từ Dương Tú Ninh trước đây mà thu được nhiều nhất súng ống từ 5 ngàn thanh súng lởm Neue Korps-Jägerbüchse. Nói một cách chính xác thì Ngô Lăng Vân trung thành với Thái Bình Thiên quốc điều này không thể chối cãi, và hắn lại là người đầu tiên đi theo Dương Tú Ninh nên được ban nhiều nhất những thanh súng Neue Korps-Jägerbüchse với số lượng lên đến 3 ngàn thanh. Tất nhiên súng Neue Korps-Jägerbüchse là súng hỏa mai của thời cổ rồi nên hiệu quả chiến đấu không có cao lắm. Tầm bắn hiệu của quả thanh súng này chỉ tầm trên 120m mà thôi, vả lại việc lên đạn cực kì tốn thời gian và phức tạp. Nhưng kể cả như vậy thì 3000 thanh súng này còn tốt gấp chán vạn các thanh súng hỏa mai made in Đại Nam trước đây, hay made in Đại Thanh lúc này. ( Không tính súng của Lý Chấn).

Trong cuộc chiến với Lý Chấn mặc dù bị đánh bại và phải chạy về Bắc Sách- Quảng Tây. Nhưng ý thức được sự quan trọng của vũ khí trong tay là Neue Korps-Jägerbüchse súng trường nên quân của Ngô Lăng Vân hoàn toàn không để mất mát quá nhiều vũ khí quý báu này. Vậy ra trong tay của Ngô Lăng Vân còn có đến tầm 2000 tay súng Neue Korps-Jägerbüchse.

Tất nhiên thông qua điều tra thì nhánh quân 300 đặc nhiệm Thái Nguyên đã tìm đến Ngô Lăng Vân để điều tra manh mối của Dương Tú Ninh. Tất nhiên Ngô Lăng Vân sau khi biết được nguồn gốc số binh sĩ tuy số lượng ít ỏi mà cường đại này của người Việt thì nể phục vô cùng. Nói cho cùng thì Ngô Lăng Vân đã có thời gian thờ Dương Tú Ninh là chúa, mà nay quân đội của Trượng Phu Dương Tú Ninh tới nơi thì cớ gì mà Ngô Lăng Vân lên mặt đây. Mặc dù Ngô Lăng Vân là người Tráng mang tiếng là man di, nhưng chữ man di này là do người Hán, người Mãn khinh miệt mà gọi hắn thôi. Sự thật Ngô Lăng Vân lăn lộn bao năm đánh đấm cùng quân triều đình Đại Thanh mà vẫn nhơn nhơn sống tốt thì hắn có ngu hay không mọi người tự đánh giá.

Ngô Lăng Vân nể phục Dương Tú Ninh và quân đội của nàng, nhưng sau khi tiếp xúc với lính đặc công của Thái Nguyên thì Ngô Lăng Vân mới vỡ lẽ ra được sức mạnh của Dương Tú Ninh từ đâu mà có. Tất nhiên người thông minh như Ngô Lăng Vân sẽ biết được mình phải làm gì trong trường hợp này. Sau khi đánh trận với Lý Chấn thì hắn chỉ có hai con đường để đi, thứ nhất đầu hàng quân Lý Chấn và trở thành chó săn của tên này. Thứ hai là chui dúc ở biên giới Vân Nam – Quảng Tây sau đó chờ Lý Chấn đến tiêu diệt. Nếu bàn về sức mạnh quân sự thì có mười Ngô Lăng Vân cũng chịu không nổi một đòn của Lý Chấn đấy. Nhưng lúc này đây chồng của Dương Tú Ninh tìm đến, mà người Chồng này lại có được quân đội cực kì hùng mạnh, chính vì thế Ngô Lăng Vân lại tìm cách ngả theo Thái Nguyên.

Điều này có lẽ vô lý, tại sai Ngô Lăng Vân không chọn đầu hàng quân Lý Chấn mà lại chọn dựa vào Thái Nguyên để sống. Một lẽ đơn giản Ngô Lăng Vân là người Tráng, quân đội của hắn thì đến 90% là người Tráng, ước mơ của Ngô Lăng Vân là giải phóng dân tộc Tráng khỏi sự đô hộ của người Hán- Mãn. Chính vì thế đầu hàng Lý Chấn là đi ngược lại lý tưởng của hắn. Chuyện này Ngô Lăng Vân quyết không đồng ý. Nhưng nếu Ngô Lăng Vân dựa vào Thái Nguyên mà xưng thần thì lại có được sự độc lập nhất định. Kèm vào đó chính là sự hỗ trợ khí giới, lương thực từ Thái Nguyên sẽ khiên cho dân tộc Tráng có hơ hội trở mình. Chính vì lý do này mà Ngô Lăng Thiên mới bày tỏ nguyện vọng xưng thần với Thái Nguyên. Tất nhiên để tăng thêm sự ủng hộ của Thái Nguyên thì tên này một hai thề sống thề chết là Dương Tú Ninh bị bắn thủng ngực, khả năng sống là không có đấy. Chính vì sự thề thốt mà xác thực của Ngô Lăng Thiên, Ngô Á Chung, Lưu Vĩnh Phúc cùng rất nhiều nhân chứng tại hiện trường mà nhánh quân đặc nhiệm Thái Nguyên đành báo về cho Diêu thiếu với tin tức là Dương Tú Ninh tử vong. Tất nhiên sau đó quân đặc nhiệm có cố tình xâm nhập vào sâu nội địa Trung Hoa nhưng Dương Tú Ninh đã chạy đến tận Tứ Xuyên- Ba Thục. Đặc nhiệm của Thái Nguyên cũng là người chứ không phải siêu nhân mà có thể lao vào sâu lục địa Trung Hoa đến vậy.

Nhiệm vụ tìm kiếm Dương Tú Ninh thất bại nhưng nhiệm vụ móc nối lực lượng Ngô Lăng Vân lại vẫn tiếp tục. Diêu thiếu quả thật rất hận Lý Chấn, mối thù giết vợ sát con là không thể đội trời chung. Tuy nói không phải tộc ta ắt có dị tâm. Nhưng vấn đề ở chỗ lực lượng của Ngô Lăng Vân là người Tráng mà không phải người Hán- Mãn. Bên cạnh đó Diêu thiếu lại muốn bố trí một nhánh kì binh để tiến đánh Quảng Đông khi thời thế có thể. Vậy nên trong bóng tối thì Trần Quang Cán cùng Trần Quang Diêu đã đồng ý để Ngô Lăng Vân xưng thần với Thái Nguyên.

Kể từ đó thì Thái Nguyên đã đưa một ngàn quân chính quy nhập đất Bách Sách của Ngô Lăng Vân. Một là giám sát hành động của Tráng Quân hai là tiến hành huấn luyện quân sự chính quy cho người Tráng tại nơi này. Tất nhiên hành động này cực kì bí mật và âm thầm. Một ngàn người Việt mà tung vào Quảng Tây thì cũng như giọt nước rơi xuống biển mà thôi, nếu không thực sự chú tâm điều tra thì rất khó có thể phát giác.

Tất nhiên Ngô Lăng Vân cũng biết một ngàn quân Việt đến đây để giám sát người Tráng nhưng ông ta chấp nhận điều này và vui vẻ coi nhánh quân Việt này như thượng khách vậy. Cũng từ đó mà tuyến đường Thái Nguyên- Tuyên Quang được đả thông và tiến hành xây dựng với mục đích viện trợ cho người Tráng tại Bách Sách.

Hành động này của Diêu thiếu có phải là nuôi hổ gây họa hay không, liệu có ngày nào đó người Tráng sẽ cầm súng chĩa vào người Việt. Thật ra tương lai thì không ai có thể nói được, nhưng việc đầu tư cho người Tráng có phải nuôi hổ gây họa hay không thì không phải. Thứ nhất nếu so sánh thì Ngô Lăng Vân trong mắt Diêu thiếu chỉ là chó săn mà thôi, chưa đủ sức để nâng tầm lên thành hổ. Nếu người Tráng có dị động thì Diêu thiếu hoàn toàn có thể đàn áp họ bất kì lúc nào. Chỉ cần Thái Nguyên hùng mạnh thì chó săn mãi mãi không dám phản chủ. Tất cả các vật tư như thuốc súng, vũ khí đều trong tay Thái Nguyên cả, chỉ cần Thái Nguyên ngưng cung cấp thì người Tráng lấy đâu ra thuốc súng mà nhảy nhót đây? Việc người Tráng muốn tự phát triển vũ khí là không có cửa vì Diêu thiếu không bao giờ đưa dây truyền sản xuất vũ khí của mình ra ngoài.

Chỉ trong vài tháng sau khi tiếp nhận sự xưng thần của Ngô Lăng Vân thì Thái Nguyên đã ồ ạt hỗ trợ Bách Sác gần 7 ngàn thanh súng Vereinsgewehr và rất nhiều đạn dược cũng như lương thực, vật tư quần áo. Đối với Thái Nguyên thì đây cũng chỉ là hạt nươc bỏ bể mà thôi. Súng Vereinsgewehr là vũ khí của người Đức tai các vùng Württemberg, Baden, and Hessen thải loại ra. Cấu tạo của thanh súng này tương tự với Minire của Pháp với tầm xa đạt tới hơn 300 m. Đây có thể coi là loại súng bán hiện đại nếu so với thời đại này. Súng là nạp đạn loại đầu nòng ( Muzzleloading ) với cấu tạo điểm hỏa bằng hạt nổ hiện đại. Diêu thiếu dĩ nhiên không thể viện trợ người Tráng những thanh súng Dreyse Needle Gun 1841 chứ danh làm nên thương hiệu của người Prussian và nay là Thái Nguyên được rồi. Nhưng kể cả như vậy thì người Tráng cũng mừng rơi nước mắt hạnh phúc vô bờ. Diêu thiếu dùng giá rẻ mạt mua sắt vụn của thương nhân Đức mà ném vào dân tộc Tráng, nhưng dân tộc này lại nghĩ là chủ công mới của họ đang thưởng vàng cho thuộc hạ. Không nói nhiều Ngô Lăng Vân cử luôn con trai mình là Ngô Á Chung tiến về Thái Nguyên để du học. Nói là du học nhưng mục đích chính là để làm con tin thể hiện sự trung thành. Kèm theo đó Ngô Lăng Vân còn cử con gái út của mình là Ngô Lăng Nhu mới vừa 14 tuổi đến Thái Nguyên làm tì thiếp hầu hạ cho Diêu thiếu.

Vấn đề là Diêu thiếu chẳng cần mấy thứ con tin hay nàng hầu này. Nếu hắn mạnh thì bố Ngô Lăng Vân cũng không dám phản. Còn nếu Diêu thiếu hắn hỏng thì dù có con tin trong tay cũng chẳng có ý nghĩa gì. Vậy nên Diêu thiếu gọi thẳng Ngô Á Chung vào mà nói “ Muốn học gì thì học, học xong thì biến về Bách Sánh mà giúp cha người làm đại sự”. Ngô Á Chung nghe được thì há ngoác miệng kinh dị. Vốn tên này khá hậm hực về việc bị trở thành yếu nhân ( con tin) từ nay sẽ mất tự do mà sống như chó trên đất Thái Nguyên. Nhưng nghe sau câu nói của Diêu thiếu thì hắn hiểu được nơi mà hắn đặt chân đến quá cường đại, vốn dĩ nơi này không để tộc Tráng của hắn vào mắt, họ muố tiêu diệt Bác Sách, muốn tiêu diệt cha con hắn lúc nào cũng được, chính vì thế mà con tin là chuyện nực cười không cần thiết. Ý thức được điều này nên Ngô Á Chung cong đít lên mà cố gắng học tập chăm chỉ tại Thái Nguyên. Hắn biết rằng chỉ có thể cố gắng mới có thể học tập thành tài tại nơi này.

Số phận của Ngô Lăng Nhu thì hoàn toàn ngược lại, cô nàng này vốn dĩ bị đuổi về Bách Sách nhưng cuối cùng số phạn run rủi thế nào mà Ngô Lăng Nhu lại hợp lại với Trần Gia Hân thành một cặp. Có lẽ hai người sàn tuổi như nhau, cũng có lẽ Dương Tú Ninh bỏ đi làm cho Gia Hân bơ vơ, đau buồn mà dễ tiếp nhận Ngô Lăng Nhu. Chính vì chiều lòng em gái mà Diêu thiếu giữ lại Ngô Lăng Nhu với danh nghĩa em kết nghĩa và để cô bé học tập tại Thái Nguyên với thỏa thuận lúc nào Ngô Lăng Nhu muốn về nhà thì tùy không ai cấm cản.

Chiến sự biên giới nổ ra, việc cần dùng đến người Tráng ở Bách Sách như là một nhánh kỳ quân được đặt ra. Ngô Á Chung xếp lại khiên đèn tại học viện quân sự Thái Nguyên mà xin nghỉ học về nhà giúp cha già một tay. Tất nhiên là Cán Vương gia đồng ý, đồng thời còn cho hắn mang về Bách Sách 20 thanh pháo cối M63 cùng vô số đạn pháo.

Mấy tháng học trong trường quân sự, lại thông qua nhánh quân Dương Tú Ninh đã từng dùng pháo cối thì tên Ngô Á Chung này hiểu rõ món quà này lớn như thế nào. Ngay tại Cung điện Thái Bắc thì tên người Tráng cắt tóc ngắn mặc quân phục Thái Nguyên mặc kệ là không có lễ quỳ tại nơi này mà quỳ xuống dập đầu boong boong cung Cán Vương gia. Hắn là dập thật, dập đến trán dướm cả máu. Giữa cung điện Thái Bắc tên này thề nguyền trung thành với Thái Nguyên và cũng thề sẽ thực hiện thật tốt nhiệm vụ mà Thái Nguyên giao cho Bách Sách..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 210: Tuyên Quang – Bách Sách



Lúc này tại vùng biên giới giữa Bách Sách và Sùng Tả là một nhánh quân đội tầm hơn 5 ngàn người đang lén lút hành quân tiếp nhập địa phận Sùng Tả. Nói đến nhánh quân này thì có thể hình dung họ chính là quân Thái Nguyên chính gốc nếu chỉ nhìn sơ qua trang bị quân trang. Nói thật Thái Nguyên không nhất thiết phải cung cấp đến cả quân trang cho đám người Tráng kia. Nhưng thành ý của người Tráng là rất rõ ràng, nhất là sau khi Ngô Á Chung đến được Thái Nguyên thì độ trung thành của người Tráng đối với Thái Nguyên tăng theo cấp số nhân, ít ra là trong thời điểm hiện tại đang thể hiện ra là như vậy.

Tất nhiên chứng kiến sự hiện đại của quân đội Thái Nguyên thì đến nằm mơ cha con họ Ngô cũng muốn người Tráng có được một đội quân hùng mạnh như vậy để giải phóng dân tộc. Yêu cầu Thái Nguyên giúp đỡ Tráng tộc thành lập quân đội với vũ khí hiện đại ngang ngửa quân Thái Nguyên là chuyện không thể. Cái này là vấn đề cốt lõi mang tính chất nguyên tắc, họ Ngô có ngu cũng không dám vượt qua nguyên tắc trên.

Bảy ngàn thanh súng rác Vereinsgewehr viện trợ thẳng tay từ Thái Nguyên đã là quá ưu ái với tộc Tráng rồi, Ngô Á Chung không phải kẻ ngu mà không biết điều. Ngô Á Chung không yêu cầu về vũ khí, vì sau một thời gian ngắn học tập tại Thái Nguyên tên này đã ngộ ra một điều. Trước sau gì những vũ khí hiện đại của Thái Nguyên quân lúc này đang sử dụng cũng sẽ thuộc về tay người Tráng, với điều kiện tiên quyết là người Tráng phải trung thành và hữu dụng đối với Thái Nguyên. Ngô Á Chung lấy đâu ra cái gan to như vậy? lấy đâu ra cái dã tâm như vậy mà đánh chủ ý vào vũ khí của Thái Nguyên? Câu trả lời đơn giản một điều đó là Ngô Á Chung cũng như cha hắn là Ngô Lăng Vân là người cực kì thông minh. Việc đầu tiên Ngô Á Chung học tập tại Thái Nguyên không phải là khoa học kĩ thuật hay kiến thức quân sự mà việc đầu tiên Ngô Á Chung học tập ở Thái Nguyên đó chính là lịch sử phát triển của nơi thần kỳ này cộng thêm văn hóa của con người nơi này.

Du học không phải chỉ đi học kiến thức khoa học ở nơi đó mà còn phải học cả văn hóa, lịch sử tại nơi chúng ta tới du học. Về điểm này thì Ngô Á Chung rất sáng suốt. Nếu không học văn hóa, lịch sử của vùng đất đó thì chẳng cần phải đến tận nơi du học, ở nhà mua sách vở tự học cũng chẳng khác là bao. Điểm khác biệt của du học trực tiếp đó chính là có thể đắm chìm trải nghiệm bản thân trong nền văn hóa mới, có thể học tập cách sống cách làm việc hiện đại hơn và tự chắt lọc tinh hoa cho bản thân. Những điều này không thể học được trên sách vở mà phải tự trải nghiệm. Ngô Á Chung có lẽ giết hắn thì hắn vẫn hô to một câu” Bố là người Tráng”. Nhưng trong thời gian du học tại Thái Nguyên thì thằng ôn này chỉ trong vài ngày đã cắt tóc ngắn mặc quần áo Thái Nguyên người, ăn uống sinh hoạt lần lượt dựa theo khuôn mẫu Thái Nguyên mà hành động. Sức thích nghi của tên này rất kinh người, tiếp theo đó Ngô Á Chung nghiên cứu lịch sử của Thái Nguyên và ngã ngửa người ra, vậy mà lịch sử Thái Nguyên nếu tính từ nguyên thủy thời Vạn Ninh cũng chỉ có 6-7 năm mà thôi.

Chỉ trong thời gian nháy mắt thoi đưa mà có thể dựng lên một đế chế cường đại đến rối tinh rối mù như vậy thì đúng là thần kỳ mà chỉ có thần nhân mới làm được. Nhưng thán phục, hâm mộ chỉ là thán phục mà thôi. Nhìn vào tốc độ phát triển của Thái Nguyên thì Ngô Á Chung thấy được một bài học rõ ràng. Bởi tốc độ phát triển của Thái Nguyên quá nhanh và đang trong thời gian thêm tăng tốc mà không có dấu hiệu chững lại, chính vì đó những thứ tưởng như “tân tiến” lúc này tại Thái Nguyên rất nhanh sẽ biến thành rác thải sắt vụn. Hãy nhìn vào lịch sử Thái Nguyên, chỉ vài năm trước súng trường Kammerlader 1842 của Na Uy vẫn đang là vũ khí hiện đại của quân Vạn Ninh thì nay đã bị thải đến nơi nào không biết nữa rồi. Có lẽ đang lưu lạc tại Huế hoặc Cao Miên. Tiếp theo là đến Minire của Pháp đang sử dụng như vũ khí chính lúc này cũng bị Thái Nguyên ném đi đâu rồi. Vereinsgewehr mà Thái Nguyên viện trợ cho người Tráng là vì họ hết “rác” nên đành đi mua rác mà vứt cho người Tráng. Ngay cả đến pháp Napoleon 3 và hàng chục khẩu Pháo Amstrong 12 pound mà bất kì thế lực nào cũng coi như bảo bối nay cũng đang nằn trong kho chẳng biết sẽ xử lý ra sao. Đôi lúc Ngô Á Chung nghĩ nếu mở miệng xin thì có lẽ Thái Nguyên cũng vứt số đại bác này cho người Tráng như chơi ấy chứ.

Tất nhiên Ngô Á Chung chưa điên mà đi đòi hỏi kiểu ấy, lúc này Thái Nguyên cho gì thì người Tráng thiên ân vạn tạ mà nhận ai điên mà đi đòi hỏi. Nhưng chỉ cần xét sơ qua như vậy thì đủ hiểu, lúc này Thái Nguyên chưa có tiểu đệ. Mà cha con họ Ngô may mắn nhất quả đất khi trở thành tiểu đệ đầu tiên của Thái Nguyên, vậy thì khi “anh cả” thừa rác thì sẽ vứt cho ai? Dĩ nhiên đầu tiên là vứt cho tiểu đên nếu tên này biết nghe lời và hữu dụng. Chính vì thế Ngô Á Chung đã nhanh chóng cấp tốc báo ngay tình hình về Bách Sách để thống nhất suy nghĩ cũng như thái độ của người Tráng.

Nỗi lo về vũ khí tương lai của Tráng tộc trôi qua thì nỗi lo trang bị quân trang của Tráng quân lại ập đến khi Ngô Á Chung tiếp nhận đào tạo quân sự chính quy. Sức chiến đấu của hai binh sĩ một bên là cởi trần đóng khố đi chân đất và một bên là quân trang đầy đủ là khác nhau hoàn toàn cho dù cả hai bên cầm trong tay là cùng loại vũ khí.

Vậy là Ngô Á Chung đề nghị mua các trang bị của Thái Nguyên như quân phục, mũ sắt, áo giáp, giày dép ba lô v.v… Ngô Á Chung đề nghị điều này thì bị Trần Quang Cán chửi cho một trận tơi tả. Nói đùa cho vui, ba cắc bạc lẻ của người Tráng tại Bách Sách thì mua được cái chó gì mà lôi ra cho mệt. Đến lương thực ăn hàng hàng của quân đội người Tráng nơi này còn phải nhờ Thái Nguyên viện trợ thêm đấy. Nói đến đó thì Ngô Á Chung đúng là mặt đỏ phừng phừng xấu hổ. Quân người Tráng ở Bách Sách đúng là một nghèo hai trắng, có được một ít hàng thổ phiên như da thú, một ít cây thuốc, gỗ quý ngà voi v.v…. nhưng những cái này đem ra mà đổi thì chắc cũng chẳng bỏ dính răng của Thái Nguyên đấy.

Cuối cùng thì Trần Quang Cán sau khi chửi cho Ngô Á Chung một trận vì tội đã nghèo còn bày đặt thì cũng chấp nhận viện trợ quân nhu trang bị cho người Tráng. Tất nhiên đổi lại thì người Tráng sẽ làm nhiệm vụ vận chuyển heroin vào nội địa Đại Thanh thông qua đường bộ. Tất nhiên sự nguy hiểm của heroin thì Trần Quang Cán cũng dặn kĩ lưỡng Ngô Á Chung, vận chuyển buôn bán thì được, người Tráng chớ có dại mà đụng vào.

Nói thì nói như vậy, có bố Ngô Á Chung cũng chẳng điên mà đi chơi heroin, thứ này đắt đỏ vô cùng, người Tráng đến ăn còn không đủ lấy đâu ra của mà hút sách. Cái niềm vui chết người này hay là nhường lại cho người Hán và người Mãn thôi.

Con đường kiếm tiền đã có, chỉ trong 3 tháng thì tuyến đường sắt Thái Nguyên Tuyên Quang đã phát huy tác dụng triệt để, hàng hóa cuồn cuộn từ Thái Nguyên đi vào Tuyên Quang rồi thông qua biến giới mà tuồn vào Bách Sách.

Tỉnh Tuyên Quang lúc này không giống như Tuyên Quang thời hiện đại. Tuyên Quang lúc này là gồm hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang ở thế kỉ 21. Chính vì vậy nói là đường sắt thông qua đến Tuyên Quang nhưng thật ra chỉ đúng là đến địa phân tỉnh Tuyên Quang ngày nay mà thôi. Muốn vận hàng hóa qua Bắc Sách thì con đường phải đi là lặn lội đường rừng xuyên qua Hà Giang để đến Bách Sách. Vấn đề Tuyên Quang thì dễ bàn vì dù sao đường sắt đã đến nơi này, dân Việt ồ ạt nhập cư vào Tuyên Quang chiếm địa bàn của người Thái tại bản địa và tạo thành sự bảo đảm cho an ninh chính trị một nửa tỉnh Tuyên Quang. Nhưng một nửa còn lại là vùng đất thuộc Hà Giang ngày nay vẫn là vấn đề bất ổn nặng nề khi mà địa hình Hà Giang quá phức tạp. Đường sắt mở tiếp đến Hà Giang quá khó khăn và tiến độ chậm kinh người cộng thêm cần đầu tư nhiều công sức tiền bạc. Chính vì thế tầm ảnh hưởng của Thái Nguyên đến Hà Giang vẫn không quá lớn lao.

Nhưng từ khi quyến định móc nối cùng người Tráng tại Bách Sách thì thái độ của Thái Nguyên đối với Hà Giang các vua Thái, vua Mèo, thủ lãnh Hrmong trở nên ác liệt vô cùng. Trước đây ủy ban dân tộc thuộc chính phủ Thái Nguyên chủ yếu muốn dựa vào phân hóa, mua chuộc, chia rẽ hay cấm vận gì gì đó để thu phục những đám người trên. Đó là vì Thái Nguyên không thể duy trì được một đội quân đủ số lượng để đảm bảo an ninh nơi này. Nhưng từ lúc người Tráng quy thuận Thái Nguyên thì việc đàn áp các nhóm tự xưng vương xưng tướng ở khu vực Tuyên Quang, Hà Giang trở nên thường xuyên hơn rất nhiều.

Vẫn biết được lấy đức phục nhân gì gì đó đạo nghĩa, nhưng thực sự lấy đức phục nhân có hiệu quả hay không thì lịch sử đã chứng minh là chẳng có ý nghĩa gì. Chính quyền chỉ có thể xây dựng lên từ máu và thép, về mặt này thì Bismark tư tưởng quả là không sai, Minh Mệnh cũng có cùng tư tưởng khi thực hiện thôn tính hóa đất Chăm Pa. Và lúc này Thái Nguyên cũng thực hiện đồng dạng chính sách trên, vốn dĩ vùng Hưng Hóa quân Thái Nguyên chưa động đến mà chỉ sử dụng chính sách mềm dẻo vì nơi này vẫn quá xa Thái Nguyên và chưa có được giao thông thuận tiện, bên cạnh đó thù trong giặc ngoài khiến Thái Nguyên chưa thể phân tâm cho được.

Nhưng tình hình Tuyên Quang thì khác hoàn toàn. Đường sắt đã xây dựng vươn đến vùng Tuyên Quang thuộc Tỉnh Tuyên Quang, một nửa còn lại phía bắc Tỉnh Tuyên Quang mà ngày nay thuộc địa phận Hà Giang tuy có điều kiện địa hình phức tạp khó trú đóng quân lâu dài. Nhưng chính việc quan hệ cùng Bách Sách lại khiến cho vấn đề Hà Giang dễ dàng giải quyết hơn.

Tổng số quân đội duy trì tại Tuyên Quang- Hà Giang của Thái Nguyên chỉ có 2 ngàn người mà thôi. Trong đó 1 ngàn tinh binh thực sự thì thực chất lại đóng bên kia biên giới nằm tại địa phận Bách Sách, nhưng từ đây lại dễ dàng tiến vào Hà Giang hơn cả. Một ngàn lính còn lại thì lại là tân binh chia ra trú đóng tại nửa Đông Nam của tỉnh Tuyên Quang với trọng tâm là bảo vệ ga tàu hỏa tại thành tỉnh Tuyên Quang gại huyện Phúc Yên mà nay chính là Thành phố Tuyên Quang.

Chính sách của người Kinh tại Tuyên Quang rất đơn giản, đó chính là dùng vũ lực tuyệt đối trấn áp người bản địa như Thái, Mèo, Dao…. Nói một cách thực tế thì số lượng các dân tộc người tại Tuyên Quang phức tạp vô cùng, để thống kê một cách chính xác thì khá khó trong thời điểm này. Vậy nhưng nổi lên trên hết thì chỉ có các thế thực của Người Thái, Mèo, Dao là mạnh nhất mà thôi. Trong đó các tù trưởng Thái là những kẻ có thực lực mạnh nhất nơi này.

Thái độ nhất quán của triều Nguyễn với vùng Việt Bắc chính là mua chuộc là chính, sau đó cho đóng các quan lưu thủ tại nơi này nhằm theo rõi tình hình các nhánh thế lực địa phương. Tựu chung lại thì Nhà Nguyễn cũng bất lực thu phục hoàn toàn các khu vực này mà muốn tạo chúng thành một vùng đệm đối với thế lực phương Bắc. Trải qua bao năm nhà Nguyễn cùng Nhà Thanh cũng không có mấy can qua nên vấn đề Việt Bắc thôn tính có phần không được trú trọng cho lắm. Nhưng thái độ của Thái Nguyên thì khác hoàn toàn, nói Thái Nguyên khống chế 8 tỉnh miền Bắc Đại Nam nhưng thực tế họ chỉ khống chế hoàn toàn 4-5 tỉnh đồng bằng Bắc bộ mà thôi như Hải Dương, Quảng Yên, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hưng Yên Thái Nguyên. Trong đó một phần Lạng Sơn vẫn chưa có hoàn toàn khống chế hết, cũng như phần Bắc Kan thuộc Thái Nguyên cũng đang khó khăn khống chế vì địa hình phức tạp. Số lượng người Kinh theo thống kê gần nhất thì cả lãnh thổ Thái Nguyên chỉ có gần 2 triệu năm trăm ngàn người, muốn dùng số dân này mà lấn lướt đổ vào các vùng đất như Hưng Hóa, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Lạng Sơn là mộ vấn đề không tưởng. Chính vì lý do đó để mở rộng địa bàn thì ủy Ban dân tộc chính phủ Thái Nguyên chỉ có thể tiến hành theo từng bước xác định. Ví dụ như trong thời gian này vì có được mối quan hệ phụ thuộc của Bách Sách nên họ có thể tự tin đổ gần 100 ngàn người dân vào Tuyên Quang tiến hành khai hoang cũng như pha loãng người bản địa..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 211: Đinh Lăng công quốc



Ngô Lăng Vân lúc này không còn là Vương vương gia của Đinh Lăng quốc nữa rồi. Chức quốc vương Đinh Lăng quốc là do hắn tự lập ra, nhưng từ khi quyết đầu nhập làm chư hầu của Thái Nguyên thì bố bảo Ngô Lăng Vân cũng không dám xưng mình là quốc Vương. Chẳng nhẽ hắn dám ngồi ngang hàng cùng Trần Quang Cán vương gia sao. Vậy nên Ngô Lăng Vân lúc này lui xuống làm một cái Công tước coong coong theo sắc phong của Thái nguyên. Tất nhiên chế độ Công tước của Thái Nguyên là dựa theo chế độ cát cứ phân quyền của Châu Âu mà áp vào lãnh thổ Châu Á. Kiểu này đúng là râu ông nọ cắm cằm bà kia nhưng cũng chính chế độ này khiến cả Thái Nguyên và Bách Sách hài lòng vô cùng.

Châu Âu hay châu Á chế độ đều có Công tước tước vị nhưng về bản chất là khác nhau hoàn toàn. Ví như các vị Công gia của Châu Á chỉ là tước vị thể hiện đẳng cấp của gia tộc cũng như các đặc quyền trong xã hội nhưng tước Vị phương Tây được cụ thể hóa hơn với đất phong và quyền tự chủ của họ tại lãnh địa đó. Chính vì vậy nhìn thì có vẻ tước vị của Ngô Lăng Vân bị hạ một bậc từ Vương gia xuống Công tước nhưng thực tế thì Đinh Lăng Vương quốc biến thành Đinh Lăng công quốc lại không có thay đổi gì cả. Bản thân Đinh Lăng công quốc vẫn có hệ thông riêng của mình là khắc ấn "Đình Lăng ngọc tỷ" thanh thành “Đinh Lăng công quốc con dấu” , sử dụng nghi chế Hán quan trước đó thì thay đổi phần nhiều theo phong cách quốc hội của Tháu Nguyên, phong quan bái tước cũng được tiến hành độc lập với Thái Nguyên. Chính điều này khiến cho sự tự chủ của Đinh Lăng công quốc là cực mạnh, và cũng khiến quan lại người Tráng cũng như chính Ngô Lăng Vân yên tâm hơn rất nhiều với Thái Nguyên.

Mà quan trọng nhất đó là nghĩa vụ của Đinh Lăng Công quốc đối với Thái Nguyên Vương quốc là chư hầu, tức là Thái Nguyên không can thiệp sự vụ nội bộ Đinh Lăng Công quốc nhưng công quốc này vẫn phải có nghĩa vụ về mặt quân sự đối với mẫu quốc. Tất nhiên Thái Nguyên cũng phải có trách nhiệm bảo hộ và hỗ trợ cho Đinh Lăng công quốc. Cũng như lần này đây Thái Nguyên đã nói rõ, sau chiến dịch thì Đinh Lăng quốc muốn mở rộng như thế nào tùy, muốn chiếm đóng bao nhiêu đất Quảng Tây tùy, cảm thấy sức mình quản lý được bao nhiêu thì Đinh Lăng công quốc cứ thực hiện, Thái Nguyên sẽ hết lòng ủng hộ. Điều này không phải Thái Nguyên không thèm thuồng Quảng Tây. Nói thật thì có nằm mơ một vị quân chủ cũng muốn mở rộng bờ cõi của bản thân, Trần Quang Cán không ngoại lệ. Nhưng Thái Nguyên là vô lực., tổng dân số người Kinh của họ có được chỉ là gần 2 triệu rưỡi, mở rộng quản lý qua Hưng Hóa, Tuyên Quang, Bắc Kan, Lạng Sơn đã làm cho Thái Nguyên chật vật rồi, nay lại bảo họ tiến vào Quảng Tây chiếm đất của người Tráng rồi gây nên mâu thuẫn dân tộc bất tận thì họ chẳng điên như vậy làm gì. Nếu đã không có lực tiến qua Quảng Tây thì cắt một miếng bánh vẽ thể hiện sự “khẳng khái” của bản thân cho tiểu đệ là tốt nhất rồi còn gì.

Có được câu trả lời của Thái Nguyên thì người Tráng tại Bách Sách xúc động vô cùng, theo họ thiên triều phải có “phong độ” như Thái Nguyên mới là đáng giá để đi theo đấy. Vậy là phong trào đánh đuổi Hán tộc giải phóng Tráng tộc tại Quảng Tây sục sôi tại Bách Sách, nói đến lúc này thì chính quyền Đinh Lăng công quốc còn mong đánh nhau với quân Lý Chấn hơn cả.


- Trần Cảm tướng quân, theo ngài thì để một mình tên tiểu nhi bất tài Ngô Á Chung dẫn quân đánh Nam Ninh liệu có hơi coi trọng tên tiểu tử này quá hay không?

Lúc này đây trong cánh rừng thưa thuộc địa phận Sùng Tả nhánh quân đội gồm 3 ngàn lính dân tộc Tráng với quân phục dập khuôn của Thái Nguyên đang lấp ló. Tất nhiên màu sắc bộ quân phục này là màu xám nhạt để phân biệt cùng quân chính thức của Thái Nguyên đó. Kèm theo 3 ngàn quân người Tráng thì cũng có 1 ngàn tinh binh Thái Nguyên làm nhiệm vụ chủ lực trong trận đánh sắp diễn ra này. Nói cho cùng thì người Tráng cũng mới chỉ huấn luyện quân sự theo lối chính quy được vài tháng mà thôi. Để cho bọn họ trực tiếp đối đầu cùng quân đội khá thiện chiến của Lý Chấn là sách lược không chính xác. Số quân người Tráng này nếu chỉ nói riêng về tác chiến vũ khí nóng thì trình độ cũng chỉ ngang ngửa dân quân dự bị của Thái Nguyên mà thôi.

- Ngô Công gia, ngài đừng gọi tôi là tướng quân, Trần Cảm tôi chỉ là một trung tá bé bé của Thái Nguyên mà thôi, ngài cứ gọi tôi là tướng quân thì quá xấu hổ rồi. Đến tai đồng nghiệp tại Thái Nguyên thì tôi còn đất nào mà sống cho được. Còn chuyện Thế tử Á Chung dẫn 5000 người đánh Nam Ninh thì cũng không có gì là khó lường cả. Thứ nhất trình độ quân sự của thế tử đã được Trung ương đánh giá rất cao, tiếp theo đó đã có đội lính biệt kích Thái Nguyên hỗ trợ. Việc tấn công Nam Ninh là đánh bất ngờ, tiêu diệt kho lương của địch nhân mà không phải là đánh chiếm Nam Ninh nên sự vệc là vạn vô thất nhất.

Người đáp trả Ngô Lăng Vân là một sĩ quan cũng khá trẻ tuổi của Thái Nguyên, người này có tên là Trần Cảm. Hắn ta chính là huấn luyện viên của toàn bộ quân đội người Tráng và cũng là người lãnh đạo hơn một ngàn quân Thái Nguyên đồn trú trên đất Bách Sách. Đừng nhìn Trần Cảm trẻ tuổi và chức vụ chỉ là Trung tá, tại mảnh đất Bách Sách này Trần Cảm không khác gì thượng sứ thiên triều từ Thái Nguyên. Toàn bộ người Tráng từ trên xuống dưới ai mà không cung kính vài phần đối với hắn. Đến cả cha con nhà họ Ngô cũng đều khách khí mà gọi Trần Cảm là tướng quân đấy. Đặc biệt Trần Cảm có được mối quan hệ khá tốt cùng dân bản địa Tráng tộc nơi này. Được một điều là các sĩ quan dòng chính nhà họ Trần xuất thân đều là Nông nô sau đó lại được giáo dục quân kỉ rất cẩn thận nên hiếm có trường hợp kiêu ngạo tự tung tự tác. Trần Cảm chính là một người như vậy, chính sự tận tụy dạy dỗ của Trần Cảm đã giúp cho trình độ quân sự của người Tráng tiến bộ cực nhan. Tiếp theo đó quân lính Thái Nguyên đóng trên đất Bách Sách đã được quán triệt triệt để hành vi cũng như đạo đức quân nhân rồi. Những ai sách nhiễu, gây hại cho người Tráng sẽ bị trừng phạt cực kì nặng nề. Chính vì lý do này lính Việt thắng được sự tin tưởng và kính trọng của người Tráng trong vùng.

Thật ra việc quân hệ giữa khách quân và người dân bản địa không chỉ nói một hai câu là có thể giải quyết cho xong. Lúc ban đầu khi quân Việt đóng trên đất Bách Sách cũng có những sự việc đáng tiếc diễn ra. Lính Việt đóng trên đất Bách Sách sướng như ông hoàng, họ được quân đội người Tráng kinh ngưỡng thần tượng, lại được dân chúng Tráng tộc từ trước tới giờ chưa biết nhiều mặt của xã hội coi như thiên binh thiên tướng. Chính vì lý do này có một số quân nhân không giữ được bản thân mà trở nên kiêu ngạo. Trong những lần nghỉ phép đã xay ra những hành động đáng tiếc với dân bản địa. Điển hình là một anh lính trẻ có quan hệ xác thịt cùng một cô gái người Tráng. Sự việc dùm beng lên tạo thành sự phẫn nộ của người dân Tráng tộc khi một số tin đồn dộ lên là anh chàng quân nhân người Việt này hiếp dâm cô gái trẻ tộc Tráng nói trên. Không nói hai lời Trần Cảm tước quân tịch của tên lính Việt nói trên và tính lôi ra xử bắn.

Nhưng sự việc không dừng lại ở đó, bất ngờ Ngô Lăng Vân người cầm quyền tối cao của Đinh Lăng công quốc ra mặt cầu xin cho cậu lính Việt kia. Nhưng giữa pháp trường Trần Cảm nhất quyết không nghe, tên trung tá này có nói:

- Quân có quân pháp, giờ Công gia can thiệp bảo tôi bỏ qua quân pháp là không được. Nếu tôi không xử bắn tên này thì quân uy không còn. Chẳng phải như vậy vài ngày tới nay một vụ mai một vụ hãm hiếp vậy thì uy danh quân Thái Nguyên còn ở đâu. Tên này tôi chắc chắn xử bắn rồi.

Ngô Lăng Vân cũng đàng thu chiêng gác trống mà rút lui, đồng thời ông ta cùng quan lại cũng như nhân dân Đinh Lăng quốc hết sức kính phục quân kỉ của người Việt. Xong biến cố lại diễn ra một lần nữa khi mà gia đình cũng như cô gái người Tráng kia đứng ra xin cho cậu lính người Việt với ý nói là hai bên tình nguyện làm “chuyện đó”. Nhưng Trần Cảm biết thừa là gia đình này chắc đã nhận được chỉ thị của Ngô Lăng Vân mà làm chuyện này. Nếu thực sự xử bắn cậu lính Việt này sẽ làm cho những quân sĩ còn lại của Thái Nguyên trở nên có khoảng cách cùng dân bản địa. Đứng trên địa vị của Ngô Lăng Vân thì hắn nghĩ xa hơn nhiều nên không muốn chuyện này xảy ra. Trần Cảm cũng đành dựa nước mà dong thuyền tha cho tên lính Việt một mạng nhưng tên này bị phạt 30 roi giữa bàn dân thiên hạ sau đó bị tước đi quân tịch đuổi cổ về Thái Nguyên. Tiếp theo đó là tên lính này bị bắt phải chịu trách nhiệm với cô gái người Tráng mà cưới cô này làm chính thê.

Xong Ngô Lăng Vân lão cáo già này lại biến một cố sự thành hỉ sự sau khi đơm đặt một tình yêu đôi trẻ của hai người Việt- Tráng nói trên và tuyên truyền trong dân. Sau đó chính hắn lấy danh nghĩa công vương mà ban hôn cho hai người rồi tổ chức long trọng tại Bách Sách. Chính sự tuyên truyền này làm cho xu hướng dư luận tại Tráng tộc trở nên đổi chiều nhanh chóng. Số người đồng tình với đôi trai gái này tăng vọt một cách chóng mặt và cho rằng Trần Cảm tướng quân mặc dù là tướng quân tốt với quân kỉ nghiêm minh nhưng quá không hiểu tình cảm trai gái đi.

Ngày cưới thì tên lính Việt mặt méo như cha chết, đối với người Thái Nguyên thì quân tịch chính là một thứ linh thiêng trí cao vô thượng, bị tước quân tịch chẳng khác nào giết hắn cho rồi. Thực sự tên lính Việt chỉ vì một phút nông nổi mà phá nát cả tiền đồ bản thân, bên cạnh đó thiếu chút nữa thì đưa bản thân lên đoạn đầu đài luôn rồi. Nhưng thật ra tên lính xui xẻo người Việt này cũng có được bù đắp một chút khi Ngô Lăng Vân ngỏ lời mời hắn phục vụ trong quân đội người Tráng với chức danh Đại tá. Nói mộc cách công bằng thì tên lính Việt này từ một Chuẩn Úy tăng lên đến Đại Tá chính là một đại nhảy vọt. Nhưng Đại Tá của quân đội Tráng làm sao có thể so sánh cùng quân tịch Thái Nguyên chính vì thế tên lính Việt này mới có bản mặt như cha chết trong ngày cưới. Tất nhiên dù có là bị đuổi khỏi quân tịch Thái Nguyên nhưng tên lính Việt này vẫn là người của Thái Nguyên, việc hắn có nên hay không nên phục vụ cho Đinh Lăng công quốc hay không thì vẫn phải thông qua Trần Cảm. Hay nói cách khác cho dù tên lính Việt này có được tự do muốn phục vụ ai cũng được, nhưng xét trên khía cạnh là công dân Việt tộc thì hắn vẫn vác cái mặt như quả mướp đắng đến gặp Trần Cảm mà xin chỉ thị. Tất nhiên Trần Cảm nhận thực được đây là một vấn đề nhạy cảm hết sức. Vì nếu đồng ý sẽ gây nên hiện tượng chảy máu chất xám của Thái Nguyên. Ngô Lăng Vân hoàn toàn có thể dùng mĩ nữ Tráng tộc mà câu lính của Thái Nguyên đi phụ vụ cho Đinh Lăng quốc. Tất nhiên số lượng này sẽ không có nhiều vì dù sao chẳng tên lính Việt nào muốn sinh sống và phục vụ trong quân đội Đinh Lăng quốc, vì nói cho cùng thì làm đuôi phượng vẫn hơn làm đầu gà. Quân nhân Thái Nguyên là chí co vô thượng, còn quân nhân Đinh Lăng chỉ là chư hầu thuộc quốc mà thôi.

Đường xá quá xa sôi, hệ thống điện báo lại chỉ mới mở rộng đến Phúc Yên ( Ngày nay là thành Phố Tuyên Quang) mà thôi. Vậy nên tin tức truyền đi phải đến cả tuần trời mới nhận được chỉ thị. Đến lúc này hệ thống vận hành quân sự một cách tự chủ của Thái Nguyên lại phát huy tác dụng. Các sĩ quan thể hiện được năng lực độc lập xử lý quân chính vụ một cách nhuần nhuyễn. Trần Cảm cho họp các sĩ quan cao cấp trong quân tại Bách Sách và thông báo tình hình cũng như muốn tìm đối sách.

Cuối cùng đối sách của nhóm sĩ quan này đưa ra đó là đồng ý cho tên lính Việt phục vụ Đinh Lăng quốc và cũng mở cơ hội cho các binh sĩ người Việt khác. Tất nhiên cưới vợ người Tráng thì không ngăn cản nhưng việc giải ngũ và chuyển phục vụ qua Đinh Lăng quốc lại là vấn đề khác. Nếu như đúng hạn giải ngũ sau đó tự nguyện muốn phục vụ Đinh Lăng quốc thì đó là tự do của ngươi. Nhưng trong thời gian đang tại ngũ ở Thái Nguyên mà muốn thuyên chuyển qua Đinh Lăng quốc thì còn phải đợi quân Bộ xem xét đề xuất.

Nhìn qua thì có lẽ Thái Nguyên có thể sẽ mất đi nhân tài, nhưng sự thực như thế nào thì khó nói lắm. Vì mọi việc đều có hai mặt của nó cả. Thứ nhất nếu như Ngô Lăng vân chiêu mộ lính quèn của Thái Nguyên rồi cho họ chức tước trong quân đội Đinh Lăng quốc thì mới giữ chân được đám lính này. Vì Thái Nguyên và Đinh Lăng quốc là không cùng đẳng cấp, chỉ có thể dùng cách đó mới có thể chiêu mộ người Việt. Mà nếu chuyện này xảy ra thì lại có lợ cho người Việt vì dù sao nếu số lượng người Việt làm quan tại triều đình Đinh Lăng quốc nhiều thì sự khống chế của Thái nguyên đối với Đinh Lăng sẽ mạnh mẽ hơn. Bên cạch đó chính là người Việt cũng không mất quá nhiều nhân tài vì tin chắc rằng Đinh Lăng quốc chỉ có thể chiêu mộ được tầm thượng sĩ trở xuống mà thôi. Sĩ quan Thái Nguyên không bao giờ muốn rời đi quân đội Thái Nguyên quang Vinh cả. Mà kể cả chiêu mộ thượng sĩ quan đối với Đinh Lăng quốc cũng quá khó đấy. Tên Chuẩn Úy bị ép cưới kia là trường hợp đặc biệt. Không có bị đuổi khỏi quân tịch Thái Nguyên thì còn lâu hắn mới phục vụ Đinh Lăng quốc đấy..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 212: Ải Chi Lăng



Quân đội của Lý Chấn có mạnh mẽ hay không? Nói trắng một câu đó là cực mạnh trong bối cảnh Châu Á lúc này. Nếu để hình dung về sức mạnh quân đội của Lý Chấn thì có thể nói với số lượng gần 6 vạn quân của minh thì Lý Chấn có thể một mạch đánh từ Quảng Tây quét luôn Thái Bình Thiên quốc ở Nam Kinh rồi đánh luôn cả Bắc Kinh mà kéo luôn Đồng Trị Đế xuống để Lý Chấn co thể ngồi lên ngôi báu. Sự thật là lúc này toàn thể Đại Thanh cũng như Thái Bình Thiên Quốc chưa nhìn được sức mạnh khủng khiếp của nhánh quân đội lên đến 40 ngàn tay súng chính quy và hơn 25 ngàn tay súng dự bị của Lý Chấn.

Lý Chấn dựa vào may mắn và kiến thức của người xuyên việt mà có lợi thế rất nhiều trong việc phát triển thế lực của bản thân. Về kinh tế thì hắn có cả một Quảng Đông giàu có với Quảng Châu loan trù phú do buôn bán cùng Anh và Pháp. Những thương nhân trung hoa là những kẻ biết cách làm ăn và cũng là nguồn hỗ trợ tài chính cực kì mạnh mẽ cho Lý Chấn. Ngoài ra chính Quang Diêu cũng là người tiếp tay cho Lý Chấn trở nên giàu có hơn và có thêm tiền bạc để sắm xửa vũ khí. Nói ra thì điều này quả thực quá sức nghịch lý nhưng lại là có lý.

Lý Chấn phát hiện heroin của Quang Diêu, tất nhiên hắn vẫn chưa biết được nguồn gốc của số hàng này cho đến khi Thôi thị Hà Đông mật báo. Lý Chân dù biết heroin là hại nước hại dân, và hắn cũng biết thứ này sẽ làm kiệt quệ tinh thần, kinh tế cũng như sức chiến đấu của người Hoa. Nhưng hắn ta là cản không được vì lực thẩm thấu của heroin quá mạnh. Hắn có cản thì ngàn ngàn vạn vạn thương nhân người Hoa vẫn tìm cách tuồn hàng vào nội địa Trung Hoa kiếm lời. Chính vì lý do này Lý Chân đành phải “âm thầm”thu thuế heroin, ngoài mặt thì hô hào cấm cản thứ “hại nước hại dân” để nhận được đồng tình của giới trí thức Quảng Đông.

Diễn vở kịch hai mặt này Lý Chấn vừa có được số tiền kếch sù vì thu thuế heroin vừa đạt được sự ủng hộ của những người Hoa yêu nước. Chính số tiền thu được từ heroin thì Lý Chấn quay lại tái đầu tư cho quân đội. Lý Chấn có được tư tưởng là với 440 triệu người Trung Hoa còn nhiều hơn toàn bộ Châu Âu cộng lại. Vậy nên số lượng heroin có vào Trung Hoa cũng chưa có thể nào đầu độc toàn bộ dân tộc này được. Bên cạnh đó Lý Chấn cũng cần số tiền này để đầu tư quâ đội trong thời điểm hiện tại. Vậy là thay vì cấm cản thực sự thì Lý Chân trong tối thu tiền thuế heroin rồi biến Quảng Đông thành chung chuyển mà đưa heroin đi các vùng khác. Đặc biệt hắn cấm cản rất mạnh heroin bán lẻ trên địa bàn Quảng Đông của bản thân cai trị mà vận chuyển số heroin này qua Nam Kinh, hay Nội Mông để kiếm tiền chênh lệch. Nói chung là Lý Chấn vì biết mình cản không nổi, và cũng muốn tiền nên bản thân hắn trở thành một mắc xích tiêu thụ heroin đầu cuối rất quan trọng.

Nếu tính toán như vậy thù cuối cùng Heroin tuy giúp Thái Nguyên giàu có nhưng đồng thời nó cũng tạo nên mối lợi không hề nhỏ cho các đối thủ trực tiếp cũng như tiềm tàng của Diêu thiếu đó chính là Lý Chấn và công ty Đông Ấn Anh quốc.

Chính vì mối quan hệ làm ăn trực tiếp trong bóng tối của Lý Chân và Công Ty Đông Ấn Anh mà quan hệ giữa hai thằng này trở nên khăng khít hơn rất nhiều. Nói cho cùng thì người Anh chỉ cần nhìn thấy được lợi ích thì đâu đâu cũng là bạn bè, đâu đâu cũng là hảo hữu cả rồi. Chính vì mối qua hệ tốt đẹp trăng mật này mà Lý Chấn mua được không ít hỏa pháo chất lượng của người Anh với giá cắt cổ. Nếu không phải người Anh chặt quá đẹp Lý Chấn thì giờ này số lượng Pháo của Lý Chấn cũng không thiếu quá nhiều so với người Việt đâu.

Còn lý do tại sao Lý Chấn điên cuồng tấn công Thái Nguyên khi chưa có được thông tin chính xác về vùng đất này thì có nhiều lắm. Dẫn đầu lý do cho hành vi ngu ngốc này đó là vì sự khinh thường người Việt đã ăn vào tiềm thức của người Hoa. Điều này không trách Lý Chấn được, dù sao hắn cũng chỉ là một tay súng bắn tỉa mà thôi, việc va chạm xã hội làm sao có thể so bì với một mật vụ sống bằng đủ kiểu mặt nạ như Diêu thiếu cho được. Chính vì thế trình độ văn hóa của Lý Chấn nói chung là có hạn chế nhất định, mà quan trọng nhất đó chính là sự tẩy não cũng như tuyên truyền thông tin sai lệch của chính phủ TQ hiện đại khiến cho Lý Chấn có cái nhìn rất thiển cận về người Việt. Đây là lý do chính dẫn đến hành động ồ ạt tấn công Thái Nguyên của Lý Chấn. Lý do thứ hai khiến Lý Chấn tự tin thái quá mà đánh Thái Nguyên vì sự đảm bảo của lũ chuột Thôi thị đại diện tứ Đại gia tộc người Hán tại Hoa Hạ đó là người Phap sẽ phối hợp cùng tiến đánh Thái Nguyên. Lý do tiếp theo đó là nếu so sánh Diện tích cùng dấn số thì Thái Nguyên chỉ tầm 1/8 Quảng Đông mà thôi. Và dĩ nhiên Lý Chấn cũng tự mình đưa một cái nhận định tương quan lực lượng đó là quân đội Thái Nguyên có lật trời cũng chỉ là một góc nêu so sánh cùng quân Quảng Đông mà thôi. Điểm còn lại và cũng là điểm cực kì quan trọng khiến lý Chấn điên cuồng đó là vì heroin, Lý Chấn cần thiết chiếm được heroin vì chỉ có thể chiếm được Heroin phương pháp thì hắn mới có thế kiếm được lợi nhuận kếch sù cộng với việc hướng sự nguy hiểm của heroin ra ngoài lãnh địa của người Hoa. Cộng hợp tất cả các nguyên nhân trên khiến cho hậu quả lúc này đó là hơn ba vạn quân Quảng Đông bị mắc kẹt ở biên giới Thái Nguyên và Quảng Tây. Hậu quả kinh khủng hơn đối với đạo quân người Hoa này đó chính là họ đang đau khổ chống đỡ sức tấn công như vũ bão của người Việt.


Đến lúc này Lý Chấn mới ý thức được hắn ngu ngốc đến nhường nào, ngay từ buổi rạng sáng này 24 tháng 10 thì Lý Chấn đã trực tiếp thể nghiệm được sự khủng bố của pháo binh Thái Nguyên. Lúc này hắn mới hiểu được sự dằng co trước đây giữa đôi bên tại Ải Chi Lăng chỉ là giả dối hiên tượng mà thôi. 36 thanh đại bác tầm xa Krupp C61 và hơn 70 thanh pháo cối M63 cùng nhau đồng loạt khai hỏa tạo nên hiện tượng khủng bố ra sao thì có thể hiểu được phần nào từ các vị trí quan sát trận địa bên phe Thái Nguyên.

Nói Đến Ải Chi Lăng thì hẳn ai ai người Việt hiện đại cũng biết và có lẽ cũng từng thăm quan một lần cho biết. Nhưng con mẹ nó không đi thì trong tưởng tượng nghĩ là Ải Chi Lăng hùng vĩ lắm như câu nói của người xưa tả lại: “Hàng nghìn ngọn núi la liệt, hàng nghìn khe suối quanh vòng, khí núi độc, đường đất hiểm trở, đi lại khó khăn...”. Đi rồi mới thấy Ải Chi Lăng hóa ra là một cái lũy ải quan lộ xưa bị xẻ ra để cho quốc lộ hiện đại đi qua, nhìn qua thất vọng vô cùng. Nhìn qua thì cái lũy ải đắp bằng đất này cao có tầm 5m hình thang mà thôi. Đáy hình thang rộng tầm 20m mặt trên rộng tầm 5m cộng với hai cạnh thoai thoải mà thôi. Cái hệ thống này này gọi là Ải Chi Lăng cái con mẹ gì. Nếu Ải Chi Lăng hùng quan Đại Việt mà chỉ có như vậy thì lũ Giặc Bắc không bao giời kiếp sợ khi qua đây rồi.

Tìm hiểu đi tìm hiểu lại thì hóa ra con mẹ nó thằng cắm biển di tích bố láo ăn cắp. Tên này lấy nguyên một đoạn lũy ải be bé trong cả hệ thống Chi Lăng Lũy Ải hùng quan để đại diện luôn cho cả hệ thống trên. Hiện tượng này không khác là bao với mấy tên thầy bói mù xem voi sau đó lấy một bộ phận của con voi coi đó chính là voi chính thức. Cái này thực khiến du khách không có nhiều kiến thức lịch sử hiểu nhầm một đoạn lũy ải be bé trên chính là Ải Chi Lăng chứ danh lịch sử. Đáng lẽ tấm biển này chỉ có thể ghi là “Di tích lũy ải thuộc quần thể Ải Chi Lăng” mà thôi.

Ải Chi Lăng thực ra là một hệ thống quần thể gồm ải quan, thành lũy, những hiểm địa do thiên nhiên tạo thành… Nó kéo dài đến 20 km từ cầu Quan Âm (thị trấn Chi Lăng) đến đền Hổ Lai (xã Mai Sao) giữa hai dãy núi, một bên là dãy núi đá vôi Kai Kinh hay còn gọi Bảo Đài và một bên dãy núi đất Thái Họa.

Cái nơi mà ngày nay đặt biển Ải Chi Lăng chỉ là một trong những lũy ải (chiến lũy hình thang đắp bằng đất trước thế khỉ XV) nhằm án ngữ các khu vực, ngày nay bị chia cắt một phần để mở quốc lộ mà thôi.

Trong thung lũng còn nổi lên nhiều ngọn núi đá vôi nằm rải rác, đặc biệt nằm sừng sững về phía bắc là dãy núi Quỷ gồm bảy ngọn đối mặt núi Mặt Quỷ trong dãy Kai Kinh đã khép chặt vào trong con đường độc đạo và dòng sông Thương chảy ngoằn ngoèo nên gọi là Quỷ Môn Quan.

Ngày xưa, khi quân giặc tiến vào ải Chi Lăng, đến đâu cũng là rừng rậm, bãi lầy, sông sâu nên buộc phải qua Quỷ Môn Quan và bị quân ta mai phục hai bên núi dùng đạn đá, cung tên, mũi giáo tiêu diệt rất nhiều, đến nỗi có câu: Quỷ Môn Quan, Quỷ Môn Quan.
Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn (tạm dịch: Ải cửa quỷ, ải cửa quỷ. Mười người đi, một người trở về).

Xa xa về phía nam, cách 4km là thành lũy núi Ngõ Thề đã cùng Quỷ Môn Quan tạo nên một vùng hiểm địa với địa thế hình bầu dục, khép chặt ở hai đầu và phình ra ở giữa.

Nói qua như vậy để có thể hiểu được địa hình Ải Chi Lăng phức tạp đến nhường nào. Tuy Ải Chi Lăng là hiểm địa như vậy nhưng nó lại là nơi mà trong suốt lịch sử xâm lăng của kẻ thù phương Bắc, từ nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh đến nhà Thanh, Lạng Sơn luôn được coi là vị trí chiến lược chủ yếu và là hướng tấn công chính, lý do là vì ở đó là đồng bằng và chiếm được Lạng Sơn là chiếm được cửa ngõ châu thổ sông Hồng và chỉ còn 150 km dọc đường cái quan (nay là quốc lộ 1A) là có thể tiến chiếm kinh đô Đại Việt.

Nói đến tình hình lúc này thì do quân Thái Nguyên muốn dụ giặc Bắc vào sâu hơn để tiến hành đánh chặn hậu không cho chúng rút về Quảng Tây. Chính vì lý do này mà Tôn Thất Liệt đại tá chủ động lui lại lũy pha phía nội địa thung lũng tạo bởi Quỷ Môn quan và Ngõ Thề Quan. Tại đây hai bên dằng co quyết liệt không tiến không lui đã một thời gian rồi. Tất nhiên việc nhường ra Quỷ Môn quan đã khiến cho quân đội của Quảng Đông cũng chiếm được lợi thế nhất định do họ đã bố trí được hơn mười thanh pháo trên dãy Kai Kinh đoạn Quỷ Môn Quan. Chính vì thế việc đánh chiếm lại Quỷ Môn quan của quân Thái Nguyên cũng gặp không ít khó khăn khi họ phải đối diện với một số lượng pháo của quân Quảng Đông từ trên cao bắn xuống với tầm bắn rất xa. Đại Bác của Thái Nguyên tuy chiếm số lượng vượt trội đến hơn 6 lần quân Quảng Đông nhưng lại không có một thanh pháo nào có sức vươn tớn được trận địa pháo trên dãy Kai Kinh của quân giặc Bắc.

Trận địa chỉ cách 1km của quân “Thanh” bị cày xới tơi bời bởi hơn trăm khẩu đại bác Thái Nguyên nhưng chính quân Thái Nguyên cũng khó lòng có thể tiến thêm một bước nữa. Vì nếu tiến thêm họ sẽ nằm trong phạm vi pháo kích từ trên cao của đối phương.

Lúc này sau cơn hoảng loạn vô cùng sau khi bị đánh bất ngờ , dồn dập và phủ đầu của quân Thái Nguyên thì Lý Chấn đã ra lệnh cho quân sĩ lui lại 1km tức là đóng quân ngay tại Quỷ Môn Quan. Chính nhờ pháo binh bố trí từ trên cao yểm hộ mà giặc Bắc lại một lần nữa có thể ổn định lại đội ngũ và tiến hành phản công nếu bộ binh Thái Nguyên tràn qua được.

Nhiệm vụ đặt ra đó là không đánh chiếm được điểm cao pháo binh bố trí của quân Quảng Đông thì Thái Nguyên phải chịu một lượng tổn thất vô cùng lớn để có thể tái chiếm Quỷ Môn Quan vào lúc này..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 213: Lộ ra nanh vuốt



Chiến cuộc tại Quỷ Môn Quan không hề đơn giản , nhưng đôi khi kết quả của một trận chiến lại không nằm tại vị trí tiền phương với lực lượng mạnh nhất của hai bên đối đầu. Tôn Thất Liệt dù không thể công đánh nổi Quỷ Môn Quan do lo sợ thương vong lớn cho quân đội Thái Nguyên nhưng vị Đại Tá lực lượng lục quân Thái Nguyên này không hề tỏ ra sốt sắng vì hắn đang chờ đợi tin tức đến từ các mặt trận khác. Đồng thời Tôn Thất Liệt còn nắm trong tay một lực lượng đặc biệt với sức chiến đấu cực kì khủng bố, lực lượng này chính là lính đặc công Lục quân Thái Nguyên. Những chiến binh ngàn chọn một này đang được bố trí một cách bí mật để thực hiện một đòn đánh quyết định khi thời cơ thuận lợi cho phép.

Rạng sáng ngày 26 tháng 10. Ngoại vi thành Nam Ninh những người nông dân trung hoa vốn dĩ dạy sớm để chuẩn bị cho một ngày công tác mới trên các cánh đồng bỗng trở nên nhốn nháo vô cùng. Một đội quân “lạ lùng” đông đảo như từ trong hư vô mà hiện ra trước mắt họ. Đội quân này không ai khác chính là 5 ngàn quân Tráng tộc dưới sự chỉ huy của Ngô Á Chung thế tử của Đinh Lăng Công quốc chỉ huy. Nhiệm vụ của hắn không phải đánh chiếm Nam Ninh mà là phá hủy toàn bộ Nam Ninh từ thành trì, tuyến đường vận chuyển của quân Quảng Đông, đồng thời chiếm cứ các cao điểm chiến lược nhằm chia cắt chủ lực quân Quảng Đông đang trú đóng tại Ải Chi Lăng.

Nhiệm vụ của Ngô Á Chung nói là phức tạp thì cũng có thể coi là vậy, nhưng nếu nói nhiệm vụ trên là đơn giản thì cũng không sai. Nói là phức tạp vì khối lượng công việc mà Ngô Á Chung phải hoàn thanh trong thời gian ngắn là không ít, và đòi hỏi sự cơ động cao của đoàn quân này. Bên cạnh đó nhánh quân Tráng tộc này rấy dễ nhận phải đả kích trầm trọng từ gần một vạn quân đang có mặt tại bờ bắc sông KaLong. Lý do thì đơn giản, trên đường bộ thì nhánh quân gần 3 vạn người của quân Lý Chấn tại Ải Chi Lăng đã bị quân Thái Nguyên quấn chân một cách hoàn toàn. Thêm vào đó một nhánh quân 7 ngàn người do Ngô Lăng Vân và Trần Cảm chỉ huy với mục đích đánh chặn quân Quảng Đông tại Chi Lăng, vậy ra đối tượng duy nhất có thể uy hiếp 5 ngàn quân Ngô Á Chung chỉ huy chỉ có thể là nhánh quân đang đóng tại Phòng Thành cảng của người Hoa.

Nhưng nói đến nhiệm vụ của Ngô Á Chung đơn giản thì cũng không sai chút nào. Vì xét trên một khía cạnh nào đó thì một đội quân được trang bị đến tận răng và được huấn luyện chuyên nghiệp đế 4 tháng trời sau đó dùng cho nhiệm vụ tấn công vào hậu phương của Lý Chấn. Nam Ninh đã được thám tử Thái Nguyên điều tra kĩ càng với lực lượng phòng hộ không phải quân chính quy. Thêm vào đó việc tấn công này của Ngô Á Chung là mang tính chất bất ngờ. Vậy ra cho dù nghe khối lượng công việc có khó khăn và nhiều nhưng thực tế độ khó của nhiệm vụ này không quá cao.

Sự thật rất là buồn cười khi mà lúc này lực lượng mật thám mà người Việt cài cắm vào Quảng Đông và Quảng Tây các khu vực thuộc quyền quản hạt của Lý Chấn lại phần lớn là xuất thân người Hoa. Thật ra nhóm mật thám Thái Nguyên gốc Hoa này phần lớn là xuất thân từ tổ chức hắc bang HongKong do Lý Tuân làm thủ lãnh. Lúc này đây với 5 năm phát triển cộng thêm việc bắn tiền không ngưng nghỉ cộng thêm là thế lực xã hội đen buôn bán heroin lẻ số một tại HongKong thì hắc bang do Lý Tuân khống chế đã có tầm ảnh hưởng lớn nhất HongKong thế giới ngầm lúc này. Nói một cách khác tại HongKong “ban ngày” là của người Anh nhưng “ban đêm” lại thuộc về người Việt. Chính vì lý do này mà Lý Tuân chẳng hề thiếu nhân thủ mật vụ người gốc Hoa để thâm nhập vào vùng Lưỡng Quảng. Nam Trực Lệ, hay cả Thượng Hải, Nam Kinh, Bắc Kinh cũng không thiếu bóng dáng của mật vụ HongKong.

Tất nhiên các chân rết của Hắc Bang HongKong không biết họ đang phục vụ cho Thái Nguyên, đây là chuyện tuyệt mật mà chỉ có những mật vụ gốc Việt mới có quyền lợi được tham gia vào đó. Vậy ra con bài tổ chức mật vụ HongKong mà Diêu thiếu sớm đã tính toán và cài cắm lúc này mới tỏ rõ được chức năng khủng bố của mình. Có lẽ trong quân sự, kinh tế hay giáo dục, chính trị thì Diêu thiếu vẫn là gà non vừa học vừa làm vừa tận dụng một chút ưu thế của người xuyên việt nên hắn có đạt được thành tựu nhưng vẫn phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt và đôi lúc cũng mắc phải sai lầm mà đi đường vòng. Nhưng quả thật trong việc bố trí, phát triển hệ thống mật vụ theo chiều sâu, thì Diêu thiếu không hề hàm hồ. Những tư duy về mật vụ hải ngoại chưa mấy phát triển lúc này, nhưng Diêu thiếu dường như đẫ đi trước thời đại khá xa trong công việc trên.

Lại nói về đội quân 5 ngàn người của Ngô Á Chung là lặn lội theo đường nhỏ từ Bách Sách tiến về Nam Ninh. Thật ra Bách Sách, Sùng Tả, Nam Ninh là ba huyện tiếp giáp nhau của Quảng Tây. Trong lúc Lý Chấn tiến quân “thần tốc”từ Quảng Đông vào Quảng Tây để thực hiện tấn công chớp nhoáng Móng Cái cũng như Lạng Sơn của Đại Nam thì hắn cũng chú ý rất nhiều việc ổn định hậu phương. Nói gì thì nói Lý Chấn dù sao cũng là một kẻ xuyên việt không tầm thường chút nào cả. Bằng chứng là trong thời gian tiến vào Quảng Tây thì Lý Chấn nhanh chóng thu phục được quân Hoàng Kỳ và Bạch Kỳ, cộng them hắn đã khuất phục được quân Thanh thuộc triều đình tại Quảng Tây. Nói một cách chính xác thì Lý Chấn khống chế được 9 phần Quảng Tây lúc này rồi. Chính vì lý do này mà hắn ta mới có thể yên tâm về “hậu phương” mà cắm đầu cắm cổ đánh Đại Nam.

Nhưng Lý Chấn lại mắc một sai lầm quá nghiêm trọng vì đã đánh giá thấp một phần mười cò lại của Quảng Tây. Hay nói cách khác là hắn đánh giá quá thấp quân Hắc Kỳ còn lại ở Bách Sách, hay cụ thể hơn một chút đó là Thái Nguyên cùng Bách sách vì bí mật ém quân cờ lam kỳ chiêu mà dấu diếm quá khổ rồi. Việc Thái Nguyen Bách Sách lén lút qua lại, lén lút luyện binh đều được bảo mật một cách tuyệt đối. Tất nhiên không có việc gì trên đời là tuyệt đối cả nhưng hệ thống thám báo của Lý Chấn không mạnh và cũng coi thường Hắc Kỳ quân của cha con Ngô Lăng Vân nên mới có được cố sự như lúc này.

Mất trạm gác dựng trên đường lộ từ Bách Sách dẫn đến Nam Ninh của quân Thanh triều dựng lên chưa kịp ho một tiếng thì đã bị lực lượng “ đặc công” chim non của dân tộc Tráng xử lý gọn gành. Ngô Á Chung thậm chí tự tin đến độ không dẫn quân theo lộ nhỏ để đảm bảo bí mật. Hắn ung dung dẫn quân đi dọc theo quan lộ từ Bách Sách dẫn đến Nam Ninh đó. Có cái đi phía trước của trung quân đông đảo là lực lượng đặc công của Đinh Lăng Quốc đã được đào tạo hơn bốn tháng bởi những siêu đặc công Thái Nguyên. Và lúc này lực lượng đặc công này đang ôn bài mà thảm sát các trạm gác của quân Thanh một cách không thương tiếc. Nói chung chất lượng quân triều đình Đại Thanh còn không bằng quân Thái Bình Thiên Quốc, mà quân Thái Bình Thiên quốc lại chẳng bằng một góc của đôi quân tinh nhuệ của Lý Chấn. mà trong những lần va chạm trực tiếp tại Ải Chi Lăng thì với một so sánh chủ quan thì chất lượng quân Quảng Đông chắc cũng chỉ ngang ngửa cùng lính Đại Nam Huế Triều mà thôi. Nếu đem ra so sánh cùng Thái Nguyên quân thì vẫn còn có khoảng cách nhất định.

Các trạm gác bị xử lý triệt để, nhanh chóng, gọn gàng thành thử ra Ngô Á Chung dẫn 5 ngàn quân tiến sát đến Phủ Nam Ninh mà quân thủ thành vẫn chưa phát hiện ra. Chỉ có các nông dân tỉnh dậy sớm là có thể trông thấy đội quân khủng bố như quỷ quân âm u tiến ra từ địa ngục này. Đinh Lăng quốc quân trang hiện đại với màu xám nhạt. Đầu đội mũ sắt, chân đi dép cao su. Ai đấy đều đeo balo gọn gàng súng gác vai lưỡi lê sáng loáng. Họ mặc dù hành quân có đôi chút mệt mỏi nhưng đội hình hoàn toàn chỉnh tề nghiêm trang. Điều đáng chú ý nhất về đội quân Tráng tộc này nếu đem so sánh cùng những đội quân Tráng tộc khác đó là quân kỷ nghiêm túc vô cùng. Mặc dù đi qua các làng, trấn tại Nam Ninh có đầy dãy nhà cửa của người Hán nhưng đội quân này không hề có hành động nhốn nháo cướp bóc hay hãm hiếp giết người gì đó. Binh sĩ Đinh Lăng quốc đã được rèn luyện rất quy củ trong vài tháng vừa qua. Họ vẫn chưa quên đi những bài học trả giá bằng đòn roi thấu xương tróc thịt ấy. Tất cả 5 ngàn người âm u lầm lũi tiến lên theo một mục tiêu duy nhất. Tàn phá Thành Nam Ninh.


Trong lúc lục quân hai bên đang nhốn nháo tại Quảng Tây, Lạng Sơn, Móng Cái thì ngày 24 cũng diễn ra một sự việc kinh hoàng khác tại Quảng Châu. Không có báo trước, không có tuyên chiến liên quân 5 phe với lực lượng hải quân hùng mạnh nổ súng tấn công Cảng Quảng Châu. Tất nhiên họ tấn công là tấn công vào khu vực quân cảng của người Hoa. Những phần cảng thuộc người Pháp, Anh tất nhiên sẽ nằm ngoài vùng tấn công lúc này. Cuộc tấn công chớp nhoáng mang tính hủy diệt đối với hạm đội quá non trẻ và bạc nhược này của Liên Quân nhằm vào Đại Thanh khiến người Anh cũng choáng váng vô cùng. Phải nói là người Anh với tư thế bá chủ đại dương lúc này nên họ hơi quá khinh thường các lực lượng khác trong khu vực. Người Anh luôn nghĩ rằng nếu muốn tổ chức tấn công Đại Thanh khổng lồ thì các quốc gia còn lại chỉ có thể dựa vào sức mạnh của người Anh. Và họ tự tin rằng nếu có một cuộc xẻ thịt Đại Thanh thì chắc chắn các quốc gia còn lại phải mời Anh tham gia với tư các anh cả.

Nhưng lần này người Anh đã sai hoàn toàn rồi, không ngờ người Pháp dấu biến người Anh về một liên minh quân sự tạm thời đánh chiếm Quảng Châu. Mà vị trí anh cả trong liên minh tạm thời này không ngờ lại có chút hơi hớm nghiêng về Hế triều. Đức, Mỹ dù tham gia nhiệt tình nhưng họ không có nhiều lực lượng đầu tư vào. Thái Nguyên thì Trần Quang Cán có ý đồ khác nên không hề có tư tưởng tranh chấp vị trí anh cả trong khối liên minh tạm thời. Thành thử ra khối liên minh này gần như là hệ nhị nguyên gồm Huế và Pháp. Pháp mạnh hơn về hải quân nhưng Huế lại cực đông đảo và hùng mạnh về lục quân. Mà theo kế hoạch của liên minh thì quyết định thắng lợi của chiến dịch cuối cùng là lục chiến nên phần nào đó Huế Triều Đại Nam có phần lấn lướt Pháp quốc.


Chỉ trong một buổi sáng thì số lượng khổng lồ chiến hạm với 1 thiết giáp hạm của Pháp, 27 Tuần Dương Hạm và đến hơn 50 Khu Trục Hạm các loại của liên quân đã tràn ngập bờ biển Quảng Châu. Số lượng này khủng bố đến nỗi hải quân Anh quốc cũng không dám ho một tiếng. Họ chỉ sợ một hành động hiểu nhầm nào đấy sẽ gây nên hiểu lầm mang tính hủy diệt. Vẫn biết Anh quốc là bá chủ đại dương, nhưng lúc này tình hình rất nhạy cảm, đôi lúc những cái đầu nóng mất bình tĩnh sẽ gây nên những thảm họa khôn lường. Chờ mẫu quốc Anh can thiệp thì lúc đó hạm đội Anh ở Quảng Châu cũng mồ xanh cỏ rồi còn đâu. Chính vì thế chỉ huy quân hạm đội Anh đóng tại Quảng Châu ra lệnh án binh bất động, chờ xem tình hình diễn biến cụ thể mới đưa ra đối sách. Đồng thời họ cho sứ giả gặp gỡ các phe thuộc liên quân để tìm hiểu tình hình cụ thể.

Liên quân lỏng lẻo nhưng số lượng chiến hạm quá khổng lồ. Chẳng theo chương pháp gì mạnh ai nấy đánh nhưng cũng chẳng tốn bao lâu chỉ mất 3 tiếng đồng hồ họ cũng nhấn chìm toàn bộ hạm đội nhãi nhép của Lý Chấn tại Quảng Châu Cảng. Bộ binh 5 phe lần lượt đổ bộ lên bờ chiếm đóng các vị chí chiến lược trên lục địa vùng cảnh biển. Quân Quảng Đông quá bất ngờ mà thất thủ nhanh chóng, đòn tấn công của liên quân quả thực quá sức kịch liệt và mạnh mẽ khiến cho Quân Quảng Đông chỉ có thể trơ mắt mà nhìn bến cảng chìm trong biển lửa mà thôi.

Tât nhiên tấn công cảng Quảng Châu chỉ là một phần mà thôi. Sau khi đổ bộ lục quân lên bờ biển Quảng Châu thì các chiến hạm của liên quân không ngưng nghỉ mà tiếp tục men theo bờ biên tấn công các quân cảng loại nhỏ khác như Cảng Ngọc Lâm, Cảng Bắc Hải, Cảng Ngô Châu. Nhưng có một hạm đội không hề làm theo dự tính mà chúng tách đoàn ngược theo biển Bắc Hải mà lao lên phía Bắc, đây chính là hạm Đội Thái Nguyên, và đây cũng chính là cái mưu kế nham hiểm của vị Cán Vương Gia của chúng ta..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 214: Cán Vương cay độc



Lực lượng hải quân của Thái Nguyên tham chiến phương bắc có mạnh hay không sẽ là một câu hỏi mà ai cũng quan tâm. Câu trả lời đó là nếu chỉ nhìn vào bề ngoài và số lượng thì không ai cho rằng đây là một lực lượng hải quân đứng đầu khu vực. Nhưng thực chất các thủy thủ Thái Nguyên tự biết bản thân mình đang đứng ở vị trí nào. Với số lượng 9 tuần dương hạm và 18 khu trục hạm có thể nói là không quá nhiều nếu so sánh với Pháp quốc Anh quốc hay Huế triều. Nhưng họ có được một loại vũ khí mang tính hủy diệt đó là ngư lôi thế hệ mới nhất của Thái Nguyên đã nghiên cứu và thử nghiệm thành công.

Tất nhiên những quả ngư lôi nặng đến 200kg mang đầu đạn với 45 kg thuốc nổ Dynamite không thể nói là quá hoàn thiện, nhưng chúng lại là vũ khí mang tính đột phá thời đại này. Trong khi “ngư lôi” hiện tại lúc này là những khối thuốc nổ được gắn lên mũi những chiến thuyền loại nhỏ tiến hành xung phong liều chết vào hạm đội quân thù thì những thanh ngư lôi T63 của Thái Nguyên có thể độc lập di chuyển với tốc độ khá cao lên tới 50 km/giờ khi đạt được vận tốc tối đa.

Tất nhiên ngư lôi T63 có tầm hoạt động ngắn độ chính xác không cao. Nhưng nếu đem so sánh với vũ khí tiến công hiện tại trên biển thì chúng được xếp vào hàng vũ khí chiến lược. Nói cho cùng trên thế giới này nếu có thể chế tạo ra ngư lôi với kiểu cách hiện đại thì có lẽ chỉ có 2 người có được ý tưởng hoàn chỉnh là Diêu Thiếu và Lý Chấn. Nhưng nếu để hiện thực hóa ý tưởng thì chỉ có Diêu thiếu mới có được khả năng trên vì ngay từ đầu Diêu thiếu đã chú trọng phát triển đồng đều cả lực lượng hải quân và lục quân. Thêm vào đó chỉ những kẻ buôn hàng trắng như Diêu thiếu mới có đủ tài lực để đầu tư cả một khu công nghiệp quốc phòng phục vụ cho chiến tranh mục đích.

Thông số kĩ thuật của ngư lôi T63 đó là ngư lôi chạ bằng khí nén với 2 bình khí nén được nối song song với nhau cung cấp lực đẩy qua 2 piton đối chiều đồng trục tạo nên lực đẩy khá mạnh mẽ cho cánh quạt chân vịt phía cuối của ngư lôi. Thực chất hệ thống ngư lôi này còn xa mới đạt được yêu cầu của một ngư lôi hiện đại. Những quả ngư lôi khổng lồ thời hiện đại có kích thướng trung bình từ 8- 9m trọng lượng tầm 2 tấn đến 3 tấn. Lượng thuốc nổ mang theo thường là trên dưới 400kg tầm bắn xa tầm vài chục km . Nếu so sánh thì ngư lôi T63 chỉ là những kẻ tí hon với chiều dài 3m trọng lượng 215 kg, lượng thuốc nổ 45- 65 kg tùy theo từng loại và mục đích. Quan trọng nhất là tầm hoạt động của ngư lôi T63 chỉ tầm 1,5- 2km. Tầm hiệu quả là dưới 700m.

Sở dĩ tầm hoạt động của T63 quá thấp như vậy không phải vì đội ngũ khoa học Thái Nguyên không thể nâng cao công suất của bình khí nén mà do hạn chế về độ chính xác. Vì theo lý thuyết chỉ cần nâng thể tích bình khí nén thì phạm vi hoạt động của T63 sẽ là không giới hạn. Nhưng quan trọng Ngư Lôi lúc này không có hệ thống rada dẫn đường, không có hệ thống điều chỉnh hướng bằng vây lái. Chính vì lý do này nên nguyên lý phóng ngư lôi và tấn công quân địch là theo quỹ tích thẳng và cách ngắm bắn thủ công. Vậy ra độ chuẩn xác của ngư lôi T63 chỉ nằm khoảng trên dưới 500m với mục tiêu nhỏ là các chiến hạm khu trục, 700m vơi tuần dương hạm, và tất nhiên các siêu chiến hạm thiết giáp nặng nề to lớn lại là mục tiêu dễ tìm đến nhất đối với T63, do đó khoảng cách trên dưới 1000m T63 vẫn có xác xuất nhất định đánh trúng được mục tiêu khổng lồ trên.

Nếu tầm tấn công hiệu quả là 700m trở xuống thì các nhà khoa học quân sự Thái Nguyên không phí công vào việc tăng khoảng cách di chuyển của T63 làm gì, thay vào đó họ tập trung vào nghiên cứu độ chuẩn xác, ổn định khi di chuyển cộng thêm tăng trọng lượng đầu đạn của T63.

T63 vẫn là vũ khí bí mật của hải quân Thái Nguyên, và đây cũng chính là con át chủ bài để một nửa hạm đội Vạn Ninh dám diễu võ dương oai mà chạy tung tăng ở vùng biển Bắc Hải sau đó lượn lờ lên vùng Biển Hoa Đông. Hạm đội Vạn Ninh quả thật không hề ngán bất kì đối thủ nào lúc này tại khu vực. Vì trong tình cảnh khó khăn thì 21 chiến hạm khu trục trang bị T63 có thể biến thân thành tàu phóng lôi liều chết mà xông lên tiến hành thả ngư lôi. Nếu điều này xảy ra thì ngay cả hạm đôi Anh quốc bá chủ biển Đông Á cũng sẽ bị nhấn chìm. Tất nhiên hậu quả của việc liều chết này cũng sẽ khiến cho hạm đội Thái Nguyên tan vỡ. Nói chung thì do tầm hiệu quả của ngư lôi thấp, cộng thêm chưa có hệ thống chiến hạm phóng lôi chuyên biệt nên việc dùng tàu khu trục mang ngư lôi tiếp cận hạm đội địch nhân là việc cực chẳng đã. Kiểu tấn công đó có thể nói là đả thương địch một ngàn thì mình thiệt tám trăm. Nhưng cho dù như vậy T63 vẫn là vũ khí khiến cho hạm đội Thái Nguyên lúc này dám gọi nhịp cùng hải quân Anh, Pháp trong khu vực.

Sáng ngày 24 tháng 10, ba khu trục hạm Thái Nguyên hùng dũng dẫn đầu liên quân tiến vào cảng Quảng Châu. Và chính ba chiếc khu trục hạm này dưới sự ngỡ ngàng chứng kiến của quân Pháp, Anh, Mỹ, Prussia đã làm gỏi 2 tuần dương hạm duy nhất của hải quân Quảng Đông trong chớp mắt.

Nói là chớp mắt nhưng thực ra cuộc va chạm này diễn ra trong vòng 15 phút đồng hồ. Nhưng đối với hải chiến 15 phút đồng hồ chẳng khác chớp mắt là bao. Trên thực tế một trận hải chiến dù là nhỏ hay quy mô thì việc đáh chìm một chiến hạm vào lúc này rất là khó khăn. Thứ nhất nã pháo trên biển độ chuẩn xác không cao. Thứ hai muốn đánh gãy cột buồm, nổ lò hơi của chiến hạm thì dễ nhưng muốn bắn chìm một chiến hạm thì số lượng pháo bắn ra là con số thiên văn mới đạt được mục đích trên.

Nhưng lúc này đây toàn bộ nhân chứng trong cuộc hải chiến Quảng Châu đang sững sờ chứng kiến giây phut lịch sử của thế giới. 6 quả ngư lôi phóng ra từ các khu trục hạm Thái Nguyên hoàn toàn trúng mục tiêu ở khoảng cách 400m. Phải nói các khu trục hạm made in Prusian tốc độ chậm dãi nhưng năng lực phòng thủ miễn chê. 3 chiếc khu trục hạm đội mình dưới làn pháo của hai chiếc tuần dương hạm made in Italy mà tiến lên tới khoảng cách 400m rồi tiến hành thả ngư lôi từ bệ phóng hai bên sườn. Với khoảng cách 400 thì quá gần để tấn công mục tiêu to lớn như tuần dương hạm. Dù cho sóng biển làm lệch hướng, hay sai số ngắm phong ngư lôi thì chúng vẫn hoàn thành nhiệm vụ một cách hoàn hảo.

Ngư lôi sức phá hoại hoàn toàn khác với đạn pháo, đạn đại bác tấn công chủ yếu là vào mạn thuyền, và sàn thuyền bề mặt. Trong hải chiến pháo thủ bắn trúng được đối phương đã coi là tốt rồi, bắn trúng vào vị trí nào chỉ dựa vào vận khí mà thôi. Mà nếu dựa vào vận khí thì có khi vài chục phát pháo may ra mới có vài phát xuyên vào vùng ăn nước bên mạn thuyền đối phương. Nhưng ngư lôi thì khác hoàn toàn, chúng không chúng đích thì thôi, khi ngư lôi trúng đích thì chúng 100% tấn công vào khu vực mực dãn nước bên mạn chiến hạm. Đây là vị trí khiến cho chiến hạm có thể bị bẻ gãy, hoặc bị vào nước gây chìm. Ngoài ra sức công phá của Ngư lôi là đạn đại bác không thể sánh được. Sức nổ của 45- 60 kg Dynamite hoàn toàn khác với sức nổ của 4-9kg thuốc nổ đen.

Chính vì lý do trên mà hai chiến hạm tuần dương của hải quân Quảng Đông giống như những chiến thuyền đồ chơi bị gã không lồ túm lấy rồi tàn nhẫn bẻ ngang đập vụn. Nên nhớ thiết giáp hạm là bọc thép non toàn bộ mạn thuyền đến nực ăn nước cơ sở. Khu trục hạm và tuần dương hạm thì bọc thép , đồng không quá 2/4 độ cao mạn thuyền. Trong khi đó T63 là chạy dưới bề mặt nước biển 50 cm – 1m vậy ra vị trí tấn công của T63 là phần mạn thuyền gỗ, chính nguyên lý này càng làm cho sức tấn công của T63 càng thêm nguy hiểm. Chỉ sau một loạt phóng ngư lôi thứ nhất thì 2 chiến hạm tuần dương duy nhất của hải quân Quảng Đông đã bị nhấn chìm, theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, 15 phút là khoảng thời gian để nước biển tràn vào khoang thuyền của họ mà thôi. Thực tế sau khi tiếp xúc thì hai chiến hạm cổ lỗ này đã bị loại khỏi vòng chiến rồi.

Thái Nguyên không hề dấu diếm ngư lôi T63, nhìn thì nhìn vậy thôi, nhưng để sản xuất ra một ngư lôi tương tự thì Anh, Pháp còn phải nghiên cứu dài dài. Và lúc ấy Thái Nguyên cũng không đứng yên, khả năng lúc Anh Pháp có được ngư lôi tương tự Torpedo type 63 thì Thái Nguyên đã có Type XXXN rồi, cộng thêm hệ thống tàu phóng lôi thế hệ mới đồng bộ thì anh chàng Anh, Pháp mãi mãi là người đến sau mà thôi. Đây là tự tin của Thái Nguyên khi mà họ đã nắm trong tay một nền công nghiệp chế tạo cơ khí khá hùng mạnh. Việc phóng ngư lôi lần này trong trận hải chiến Quảng Châu mục đích để dằn mặt Anh, Pháp, bên cạnh đó là tạo niềm tin cho đồng minh chiến lược lâu dài là Đức, Mỹ. Mục đích cuối cùng là một tín hiệu thông báo cho Huế triều được rõ họ đang đứng ở vị thế nào và Thái Nguyên đang đứng nơi đâu.

Người Anh, Pháp kiếp sợ, Người Mỹ, Đức vui vẻ, thèm thuồng, đại diện Huế đủ mọi tư vị có thể có.

Chính vì pha dằn mặt đầy hống hách này nên khi hạm đội Thái Nguyên vác theo 2 ngàn lính thủy đánh bộ tinh huệ của Vạn Ninh ngược hướng bắc thì chẳng một thế lực nào ho he ý kiến cả. Tất nhiên trong liên minh vẫn có những phê bình kín đáo đến từ Pháp và Huế nhưng đại diện Thái Nguyên rất bình tĩnh ứng phó.

“ Theo thỏa thuận thì sau khi tấn công Cảng quảng Châu thì Thái Nguyên đóng góp 1 ngàn bộ binh với vị thế hậu cần binh. Việc chia chiến lợi phẩm sau này cũng đã thể hiện rõ về việc Thái Nguyên đóng góp trong trận chiến quảng Châu rồi. Vậy nên giờ đây Hạm đội Vạn Ninh bắc tiến chẳng ảnh hưởng gì đến mục tiêu Quảng Châu cả.”

Tất nhiên mọi bên đều muốn biết hướng đi của quân Thái Nguyên khi họ ngược Bắc. Đại diện của Thái Nguyên là Trần Văn Chiến cũng không thể nào dấu diếm được. Vì chuyện này trước sau gì cũng sẽ lộ ra ngoài, nếu quá mức che dấu sẽ ảnh hưởng đến khối liên minh quân sự tạm thời không bền vững này.

“ Có gì đâu, Quảng Châu chiến lợi phẩm cuối cùng miếng bánh cũng có bấy nhiêu, nhiều phe chia trác thì mỗi người cũng chỉ được phần nhỏ mà thôi. Thái Nguyên cảm thấy minh đủ lực nên muốn tiến đánh Thượng Hải chơi. Từ đây hải quân Vạn Ninh muốn đi dạo Hoàng Hà một chút hỏi thăm sức khỏe mấy vị tại Bắc Kinh.”

Lúc này các phe thế lực mới ngớ người ra, họ không thể ngờ nổi đó là Thái Nguyên điên cuồng đến vậy. Dám môt minh đơn thương độc mã uy hiếp Bắc Kinh. Tất nhiên lời nói của Thái Nguyên cũng không thể khiến các bộ não cáo già quân sự, chính trị tin tưởng hoàn toàn. Chỉ với 2 ngàn quân thì Thái Nguyên không thể nào mò đến Bắc Kinh được, nhưng đánh Thượng Hải thì hẳn là vị Cán Vương gia không nói ngoa. Nhưng kể cả chỉ đánh và phong tỏa Thượng Hải thì cũng tạo sức ép quá lớn cho Bắc Kinh lúc này. Đến đây thì liên minh quân sự lỏng lẻo mới hiểu được họ bị Thái Nguyên lợi dụng, hay nói cách khác là bị tên Cán Vương gia xuất thân thương nhân lợi dụng. Cả tập đoàn quân đánh sống đánh chết tại Quảng Châu chắc gì đã màu mỡ bằng Thái Nguyên đơn thương độc mã tấn công Thượng Hải. Quang trọng là một mình Thái Nguyên không bao giờ có thể thực hiện được mục tiêu vạn dặm tiến quân Thượng Hải đó.

Nhưng các bên có nghĩ nát óc cũng vẫn đoán sai ý đồ của Cán Ca. Vị này không còn là một anh thương nhân cầm quân đánh giặc, cũng không phải là một đại tướng chỉ biến cầm quân hải chiến. Hắn lúc này là vương của một vùng đất rộng lớn, giàu có, phát triển với lực lượng quân sự mạnh mẽ trong tay. Hắn là Vương thì có cái uy nghiêm của vương. Lý Chấn đột nhiên đem quân chọc vào một vị tân vương gia đang cần chứng minh bản thân thì đó chính là một lựa chọn tồi nhất vào lúc này. Cán Ca không mấy thể hiện quyền mưu khi Diêu thiếu còn tại Thái Nguyên, nhưng khi Diêu thiếu vắng mặt thì sự cay độc của Cán Vương đã lộ ra hoàn toàn. Sự cay độc ấy các phe còn đánh giá quá thấp nên không thể nhìn ra được trong lúc này. Và sự cay độc ấy cũng thắng được toàn bộ sự tôn trọng của quan viên Thái Nguyên. Theo đám quan viên này thì chúa của họ thờ phụng phải có lòng dạ thâm sâu như vậy thì Thái Nguyên mới có tiền đồ. Vậy bàn cờ mà Cán Vương đặt ra, sự âm hiểm của nó ra sao và Lý Chấn một nhâ vật xuyên việt có đỡ nổi hay không xin chờ chương tiếp theo..
 
Back
Top Dưới