Xuyên Không Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt

Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 60: Chọc thủng trời.



Không đợi cho lão Trương Đăng Quế hồi phục sau khi bị chọc giận thì Dêu thiếu lại nghiêm túc mà tiếp lời.

- Xin hỏi, Trương các lão trong sự nghiệp của mình đã dẫn quân hải chiến hay thủy chiến bao giờ chưa?

Câu hỏi này rất là thâm hiểm, đạo không phân trước sau. Nếu Trương Đăng quế cạy già lên mặt nói nhăng có khi Diêu thiếu sẽ lãnh đòn oan. Nhưng nếu Diêu thiếu đã mở miệng thì hắn sẽ cố chiếm lợi thế trong lần ra quân và khuếch chương nó ra. Lần này lên Thái Hòa điện Diêu thiếu đã không có ý định dấu tài. Hắn quyết khẩu chiến quần hùng một phen. Đại Nam có rất nhiều lý niệm đã quá cổ hủ, không phải người Đại Nam không thông minh, không cầu tiến mà lúc này đây vò đóng cửa quá lâu mà họ hoàn toàn mất đi phương hướng. Một hai người đi du học thì lại lạc trong rừng kiến thức của Tây Phương. Diêu thiếu biết rõ đạo lý mưa dầm thấm đất. Nhưng không có người khai mở thì có mưa vào niềm tin, Diêu thiếu ngày hôm nay quyết làm người khai mở, quyết chọc thủng trời một phen.

- Ta ta… ta đánh trận từ khi cha ngươi còn nằm tã lót.

Hết cách Lão Trương lại lôi chiêu bài người già ra để hù dọa người. Quả thật trong quá khứ Trương Đăng Quế có dẫn binh đánh giặc một lần và may mắn chiến thắng. Lúc ấy là vào thời Minh Mạng. Đầu năm 1836, Quách Tất Công và Quách Tất Tại, sau khi bị đánh thua trong cuộc nổi dậy của Lê Duy Lương ở vùng Hòa Bình, lại tôn phò Lê Duy Hiển khởi binh chống Nguyễn ở Thanh Hóa. Quan quân đánh dẹp mãi không xong. Thấy vậy, Trương Đăng Quế bèn xin đi, được vua sung chức Kinh lược sứ tỉnh Thanh Hóa (cuối năm 1836). Thắng trận trở về, ông được gia thưởng Kỷ lục quân công. Đây là trận đánh duy nhất trong lịch sử làm quan của họ Trương.

Vết nhơ của ông trong quân sự lại không phải là ít, điểm đáng nói nhất chính là vào Tháng 7 (âm lịch) năm 1858, có 12 chiếc tàu Pháp đến bắn phá các bảo đài ở cửa Hàn (Đà Nẵng, lúc bấy giờ thuộc tỉnh Quảng Nam). Trương Đăng Quế cùng Phan Thanh Giản đều tâu là "chiến không bằng hòa". Chính sự nhùn nhằng chiến – hòa này khiến cho quân Pháp được nước lấn tới mà đánh vào Gia Định.

Còn nếu xét về thủy chiến hay hải chiến thực sự thì Trương Đăng Quế chưa từng thử qua một lần. Câu hỏi của Diêu thiếu đặt ra làm vị các lão bối rồi không ngừng. Còn về Diêu thiếu thì hắn dám vỗ ngực xưng đánh trăm trận thủy chiến tại điện Thái Hòa đấy. Ba ngàn quân Vạn Ninh đánh nhau liên tục cùng hơn hai vạn hải tặc tại Cát Bà, trận lớn trận nhỏ đều thắng cả. Ba ngàn người đánh cho hai vạn người phải co dúc trong đảo không dám ló mặt ra. Bốn mươi chiến hạm đấu 300 hải tặc thuyền mà như đi vào chỗ không người. Thế này thì ai dám cãi nhau về hải chiến với diêu thiếu.

- Các lão nói chí phải, chắc cái trận chiến của Trương các lão là mấy chục năm về trước rồi, mà còn không phải là hải chiến. Lúc này đây chúng ta đang bàn về hải chiến, mà là hải chiến hiện đại với vũ khí hiện đại mà không phải đao, thương, kiếm, kích.

Diêu thiếu không nhanh không chậm mà nói ra suy nghĩ của mình.

- Khởi bẩm thánh thượng. Hoàng Diệu tướng quân gửi chiến hạm về Huế xác thực là rất am hiểu việc binh. Quân ta thu được bốn chiến hạm nhưng quân Pháp cộng Tây Ban Nha có cả chục cả trăm chiến hạm như vậy. Chúng ta dung bốn chiến hạm kiểu mới này đánh nhau với họ thì là muối bỏ biển. Mà kể cả chúng ta có cùng số lượng chiến hạm cùng quân Pháp thì cũng đánh không có lại họ.

- Khanh nói vậy không khỏi quá đề cao uy phong đối phương mà giảm nhuệ khí quân ta ư?

Tự Đức cũng có vẻ không hài lòng câu trả lời này của Diêu thiếu. Một đám võ quan văn thần cũng nhao nhao định nhảy ra nhưng Diêu thiếu nhanh mồm hơn.

- Thưa thánh thượng, đây là thần chỉ xét riêng việc lấy chiến hạm tân tiến của người Pháp đánh với quân Pháp thôi. Người Pháp có cả trăm năm phát triển thủy quân theo hướng hiện đại mới cho ra được mẫu chiến hạm của họ. Chúng phù hợp với lý niệm chiến tranh của họ, lại phù hợp với sụ huấn luyện của họ. Tại Pháp còn có một học viện Hải Quân Hoàng Gia chuyên đào đạo sĩ quan cho hàng hải. Tất cả đều thành một hệ thống. Vậy ra họ chính là chủ nhân đích thực của các chiến hạm trên và có thể vận dụng đến mười hai thành sức mạnh của chúng. Nhưng chúng ta thì khác, chúng ta mới chỉ là các học viên của loại chiến hạm này, chúng mặc dù hiện đại nhưng chúng ta sẽ vận dụng không quá được sáu bảy phần sức mạnh.

- Không phải người Đại Nam chúng ta không thông minh, không giỏi dang, nhưng chúng ta thiếu một hệ thống đào tạo hàng hải chính thống, hệ thống. Trong khi đó quốc gia chúng là lại là một mảng dài bờ biển cần một lượng lớn thủy quân hùng mạnh bảo vệ quốc gia. Nói cho cùng Đại Nam rất cần một lứa chiến hạm kiểu mới hiện đại, nhưng phải phù hợp với lý niệm chiến tranh, chiến thuật của người Việt. Chúng ta chỉ có hai con đường một là đóng mới tàu chiến hiện đại, hai là thuê nước ngoài đóng theo những yêu cầu riêng của chúng ta. Nhưng cả hai đều thiên khó vạn khó vì chúng tốn kém và cần đầu tư mua sắp rất nhiều công nghệ mới. Nhưng đó là chuyện cần làm trong tương lai.

- Chuyện trước mắt chúng ta cần là đánh lui quân Pháp khỏi Nam Kỳ, cách đánh của Hoàng tướng quân vẫn hiệu quả. Thần tin chắc giờ này chắc ông ta đã lập thêm nhiều chiến công khác. Tất nhiên cách đánh của Hoàng tướng quân sẽ bị phá giải nhưng thần đã có phương án khác. Lần này thần được triêu vào Thái Hòa điện cũng tranh thủ cơ hội mà muốn bàn bạc với các vị tướng quân kinh nghiệm tại Binh bộ về cách đánh mới để hoàn thiện hơn.


Diêu thiếu vừa nói một tràng khiến cho Thái Hòa điện phải lặng đi một chút, các vị lão thần trong triều đang nghiền ngẫm kĩ những gì Diêu thiếu muốn trình bày.

- Tân Nguyên tiểu tướng quân nói rất có lý. Đại Nam ta một mảng dài đường biển, Thủy binh là hết sức quan trọng. Cần phải chú trọng nhiều hơn, về lâu về dài chúng ta cần phải tự mình đóng được chiến hạm kiểu mới thì mới có thể giữ nguyên bờ cõi trước các thế lực ngoại bang.
Người lên tiếng là Bạch Tự Cường. Tả Binh Bộ thị lang. Ông ta trách nhiệm là quản lý chính về mặt thủy sư nên ý kiến của Diêu thiếu quan tâm Thủy sư thì ông ấy cảm thấy không tồi mà bênh vực ngay.

- Thưa thành thượng, nói như vậy nhưng cuối cùng quyết chiến chính thức vẫn là bộ binh kết luận. Đầu tư cho đóng thuyền kiểu mới quá tốn kém, số tiền này đầu từ cho bộ binh sẽ nhanh và hiệu quả hơn nhiều. Mọi người cứ nhìn về tân Kinh quân sẽ rõ ngay.

Lúc này lại là Nguyễn Duy Cần, Phó Thượng Thư Binh Bộ lên tiếng, ông này nổi tiếng ủng hộ cách tân bộ binh nên muốn dành khoản đầu tư của triều đình cho bộ binh.
Cả hai người Nguyễn Duy Cần và Bạch Tự Cường đều là phe cách tân, nhưng đứng trong binh bộ họ lại là đối thủ vì một là ủng hộ thuyêt bộ binh chủ đạo, một ủng hộ thuyết hải quân cường quốc. Cả hai không ai nhường ai và kéo theo cả đám ủng hộ phía dưới tranh dành.

- Hai vị chớ tranh cãi nữa, tiền đâu ra mà lắm thế cho hai vi đóng tàu, mua sắm trang bị, làn này đầu tư tâ Kinh quân quốc khố rỗng cả rồi. Năm tới không kiếm ra đâu.
Người lên tiếng là Ngụy Khắc Tuần Hộ Bộ thượng thư, cuối cùng quanh đi quẩn lại vẫn là không có tiền. Việc này đúng là bó tay bó chân làm cho Tự Đức ngột ngạt không thôi. Mấy năm nay thiên tai lũ lụt không thôi, vỡ đê liên tiếp. Dân chúng mất mùa, lại thêm vào Pháp đánh Nam Kỳ khiến vựa lúa của cả nước bị ảnh hưởng, Lê Duy Phung quấy tung cả Bắc Kỳ khiến chó gà không yên, quốc khố chỉ thất ra không thấy vào. Nay tình hình có hơi hòa hoãn một chút vì Bắc có họ Trần, Nam có họ Hoàng trấn thủ. Nhưng quốc khố còn lâu mới đầy lại được.


- Việc Tân Nguyên khanh dưa ra quá lớn, liên quan cả lục bộ và nội các, cái này cần bạn bạc thật kĩ lưỡng hơn. Nhưng việc có trước có sau, có cấp có thư. Trước mắt có hai việc cần lo gấp đó là Tặc Khấu Bắc Kỳ Lê Duy Phụng chưa bị diệt hoàn toàn. Phía Nam có Pháp quốc tặc ngoại xâm cần đánh đuổi. Bàn về vấn đề này không biết Tân Nguyên khanh nghĩ sao?

Tự Đức hỏi trực tiếp Diêu Thiếu. Vì hai cha con nhà Trần gia là đối thượng chủ yếu đánh phỉ phương Bắc, Tự Đức cần một câu trả lời chính xác.

- Bẩm thánh thượng. Thật ra hai chuyện này cùng lúc có thể tiến hành xử lý, rất may Hoàng Diệu tướng quân lập công lớn chiếm được bốn chiến hạm địch, bốn chiến hạm này nều đem đánh Pháp thì hiệu quả không cao nhưng vận dụng tại Bắc và Trung kỳ lại rất tốt. Thần cả gan xin hai chiếc về cho thủy doanh Vạn Ninh. Có hai chiếc chiến hạm này thì lão tía … à không.. khụ khụ phụ thân của thần là Trần Quang Cán hoàn toàn có thể đè ép phỉ quân tại Cát Bà. Thần có thể dẫn một ngàn tay súng tại Vạn Ninh vòng lên Thái Nguyên đánh Lê Duy Phụng, chỉ có thể triệt để giết tên này thì Bắc Kỳ mới yên ổn được. Đến lúc đó chúng ta có thể bắt tay vào kiến thiết lại Bắc Bộ tình hình quốc khố sẽ khả quan hơn. Còn về Nam Kỳ thì thần đã nghĩ ra phương án mới để đánh cùng Pháp quốc, thần xin ở lại vài ngày cùng các vị Binh Bộ lão đại nhân để bàn bạc.

Diêu thiếu nói rất hùng hồn và khẳng khái, thêm đó là thái độ cực nghiêm túc và trách nhiệm. Bên cạnh đó ý trí chiến đấu sục sôi không gì chối cãi của nó đã lây nhiễm toàn bộ Thái Hòa điện khiến cho hào khí Đại Nam bừng bừng rực cháy. Còn gì hơn một vị thiếu niên tướng quân tự mình xin dẫn một ngàn quân viễn chinh giết giặc. Cha con Trần gia vốn đang yên ổn ở Vạn Ninh, không ai ngờ tới Diêu thiếu kiên quyết thái độ đến vậy, mới mười bốn tuổi muốn dẫn quân đi đánh tặc phỉ nơi rừng thiêng nước độc.

Tự Đức hết sức xúc động, nếu cả triều văn võ bá quan đều như cha chon nhà này thì hoàng đế như hắn không phải có thể nghỉ ngơi vài ngày sao. Nhìn một đám bàn binh trên giấy như rồng như phượng nhưng nói đến dẫn quân thì hết cáo ốm lại bệnh tật phía dưới mà đem so sánh cùng vị thiếu niên anh khí bừng bưng kia quả thật là… Tự Đức cũng hiểu cái khó của quân Vạn Ninh. Họ chỉ có một ngàn cây súng hiện đại, đánh Cát Bà thì không lo được Thái Nguyên, đánh Thái Nguyên thì Cát Bà bỏ trống. Nay có thêm hai chiến chiến hạm thì Trần tiểu tướng có thể đi Thái Nguyên rồi, nếu quả thực như vậy thì Tự Đức có thể yên tâm mà ngủ ngon hơn một chút.

- Trẫm chuẩn tấu, cấp cho Vạn Ninh hai chiếc chiến hạm tốt nhất, còn về cách đánh Pháp thì Tân Nguyên khanh nói luôn trên điện đi để chúng thần cùng bàn bạc. Không phải ngại ngùng gì cả, Khanh nói sai trẫm không bắt tội.

Tự Đức khẳng khái mà đáp ứng thỉnh cầu của Diêu thiếu, vì đây là một yêu cầu hợp lý, mà chẳng ai có thể phản đối cho được..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 61: Dùng cơm trong thượng uyển



Diêu thiếu nghe vậy cũng không thừa nước đục thả câu mà chắp tay thưa:

- Thưa Thánh Thượng, đã vậy thần xin biêu xấu. Thật ra thần đã moi được của tên thương nhân Mỹ quốc kia một mặt hàng cực mới mà chỉ có công ty của hắn mới sản xuất được. Đây là một chất nổ cực kỳ mạnh, mạnh hơn rất nhiều thuốc súng đen của chúng ta. Thần đã mua đến số lượng không ít và thử nghiệm, kết quả tấm thép dày cỡ thiết giáp của thuyền Pháp cũng có thể dễ dàng nổ tan tành. Vậy nên thần nghĩ đến có thể dùng loại thuốc nổ này đê gắn vào thuyền địch rồi đánh đắm thì rất nhanh và hiệu quả. Không những có thể đánh đắm tiểu hạm mà đến đại hạm của chúng cũng có thể đánh chìm được. Nhưng vấn đề là thần cần các thủy binh tinh nhuệ luyện tập cách tiếp cận thuyền địch cũng như sử dụng thuốc nổ trên. Chính vì lý do này thần cần bàn bạc với các vị lão tướng kinh nghiệm ở Binh Bộ.

Nói cho vui là bàn bạc để không làm mất mặt mũi mấy vị lão đại Trong binh bộ mà thôi. Con mẹ nó các phương án đánh bằng thuốc nổ Dynamite thì Diêu thiếu đã vạch sách lược rất kỹ rồi. Hắn rất hi vọng hỗ trợ được Hoàng Diệu đánh Pháp tốt hơn nên phổ biến loại thuốc nổ này cho Đại Nam.

- Lại có được chất nổ mạnh đến như vậy, Tân Nguyên tướng quân lần này mang đến được bao nhiêu? Chúng ta có thể thực hiện đánh thử nghiệm sao?

Người lên tiếng đầu tiên không ngờ là Nguyễn Duy Cần, Phó Thượng Thư Binh Bộ nổi tiếng ủng hộ cách tân bộ binh. Quân nhân luôn là những người hứng thú và tò mò với các loại vũ khí mới đầu tiên. Bên cạnh đó loại thuốc nổ này dường như dành cho bộ binh nên ông rất quan tâm.

- Thưa vị đại nhân này, có thể, tôi mang đến đây 600 cân (300kg) thuốc nổ mới, chúng ta hoàn toàn có thể lấy ra một ít để luyện tập và thử nghiệm sức công phá.


- Khụ Khụ Tân Nguyên khanh, cái khanh nói tân thuốc nổ này cả thiên hạ chỉ có công ty K&R có, vậy chúng không rẻ a?

Tự Đức không ngờ lại là người tỉnh táo nhất, ông đang thiếu tiền phát điên lên rồi, bất kì một khoản nào phát sinh đều làm cho vị hoàng đế này khốn đốn.

- Bẩm thánh thượng, thần bỏ ra gần vạn lượng mua về 600 cân thuốc nổ này. Nếu tận dụng tốt thì chúng hoàn toàn có thể đánh đắm cả trăm chiến hạm Pháp đó.

Thật ra con mẹ nó thuốc nổ Dynamite chế rẻ bèo, chỗ này nếu tính tiền nguyên liệu thì không đến hai trăm quan tiền ( 200 lạng bạc). Nhưng có một số hóa chất cơ bản phải nhập khẩu châu Âu nên tính cả vận chuyển vào thì nguyên liệu rơi vào nămtrăm lượng bạc mà thôi. Diêu thiếu hét cái giá lên đến một vạn lạng quả là kinh người. Nhưng vấn đề Dynamite là hàng độc quyền Diêu thiếu nói bao nhiêu thì là bấy nhiêu. Thôi thi sau khi đánh Pháp sẽ giảm giá cho Đại Nam, dùng Dynamite tiến hành khai thách mỏ kiến thiết đất nước. Nhưng lúc này Diêu thiếu đang thiếu tiền đến phát điên, hắn phải chém một mẻ đã. Quang trọng nhất đó là tư tưởng của rẻ là của ôi. Nếu “thần khí” đánh Pháp quá rẻ có khi triều đình Đại Nam lại không tin tưởng. Nhiều khi nghịch lý nó là vậy muốn thay đổi cũng khó.


- Được rồi, rất hay lô thuốc nổ này vừa vặn một vạn, coi như Trần gia đóng tiền thuế diêm điền năm sau. Tân Nguyên khanh cùng binh bộ bàn bạc ra sức diễn tập. Ba hôm sau trẫm muốn đích thân duyệt binh. Hôm nay đến đây bãi triều.

Tự Đức rất hiếm khi chơi xỏ lá đến vậy, nhưng vì thất Diêu thiếu rất thuận mắt nên hắn cũng vui vẻ mà đùa tên này một chút. Chiếm lợi của Trần gia vạn lạng nhưng nếu thân là hoàng đế thì Tự Đức cũng có một ngàn cách để bù đắp cho nhà này.

Chúng thần lục đục rời đi, Diêu thiếu thì ngay lập tức bị phe ủng hộ bộ binh cải cách túm lấy rồi lôi kéo ra ngoài. Họ đang rất nóng lòng muốn thử nghiệm thứ vũ khí mới đây.

Nhưng đáng thất vọng cho đám người quân nhân Binh Bộ, nội quan lúc này bỗng xuất hiện mà truyền ý chỉ cho Diêu thiếu ở lại trong tử cấm thành để gặp riêng Tự Đức. Lần này là gặp riêng hoàn toàn mà không có mặt Phạm Phú Thứ lão đại.


Vườn Thượng Uyển của Tử Cấm thành , Kinh đo Huế, không ngờ Tự Đức lại không tiếp Diêu thiếu trong Ngự Thư Phòng mà chuyển nơi gặp mặt qua vườn Thượng Uyển. Lúc này Diêu thiếu đang ngồi trong đình viện bằng đá cẩm thạch mà ngắm đông nhìn tây. Thật ra Thượng Uyển chỉ là một cái tên chung để nói đến các kiến trúc mô phỏng tự nhiên trong Tử Cấm thành mà thôi. Thượng Uyển gồm gần 30 khu vườn với đầy đủ loại hình: cung viên, biệt cung, ly cung, hành cung… với tổng diện tích hàng trăm héc ta đã thực sự làm nên vẻ lộng lẫy. Lúc đầu tiên được dẫn vào nơi này thì Diêu thiếu cũng thấy choáng váng không thôi. Kiếp trước của Diêu thiếu chủ yếu là lăn lộn ngoại quốc để thực hiện nhiệm vụ, thời gian tại VN chỉ là học hành và luyện tập nên chưa có dịp đi thăm cố đô Huế. Chưa đi nhưng tranh ảnh sách báo kiếp trước hắn cũng có xem qua, nhưng đó chỉ là Vườn Thượng Uyển được phục chế lại mà thôi. Lúc này được chứng kiến nguyên bản vườn thượng Uyển Hế thì Diêu thiếu cảm thấy bất ngờ vô cùng. Bởi vì nó quá đẹp đi.

Nơi mà Diêu thiếu được sắp xếp để chờ Tự Đức là vườn Hạ Cơ, Nơi này từng là nơi học tập của Minh Mạng khi còn là thái tử, sau đó nó được nâng cấp lên rất nhiều sau các triều vua Nguyễn. Diêu thiếu chỉ thấy được rằng sự sắp xếp, bố trí nơi này hết sức hợp lý, tinh tế và luôn tuân theo các nguyên tắc nhất định: cây cổ thụ lớn, cây bóng mát thường được trồng ở xa vườn, ở các góc vườn, tường thành, bên ngoài các ngọn núi; các cây trung bình thì được trồng ở ven bờ nước, các đảo, đồi; các loài cây nhỏ, thấp, bụi, các loài hoa thì trồng sát công trình. Các đình đài thủy tạ thì tươi mới vô cùng và hết sức tinh tế. Diêu thiếu cũng có đi qua các công trình tương tự tai Trung Hoa. Về to lớn và đại khí thì nơi này không bằng được nhưng về tinh tế tỉ mỉ cùng ý cảnh thì Diêu thiếu tự cảm nhận thấy cao hơn nhiều.

Diêu thiến ngồi nơi thủy tạ mà thấy tĩnh tâm hơn rất nhiều, dù sao cũng phải chờ đợi Tự Đức hắn quyết định thư giãn một chút với khung cản xung quanh. Lôi gói bánh bèo bọc lá sen ra chén, sau đó là hạt dưa, lại còn nước hoa quả, rồi thư giãn quá độ hắn lăn ra ngủ lúc nào chả hay.

Phải thừa nhận một câu, cơ thể thể chất rất có ảnh hưởng đến trí não, cơ thể của diêu thiếu là thiếu niên mười bốn, tuổi ăn tuổi ngủ, tuổi bồng bột. Tuy rằng nhiều lúc hắn lấy tinh thần trưởng thành 29 tuổi mà khống chế, nhưng nhiều lúc hắn lại bị chính cơ thể sinh lý bản năng thúc dục. Chính vì vậy Diêu thiếu hành động lúc già lúc trẻ rất quái thai.

Lũ thái giám và cung nữ đứng xa xa đình viện chỉ biết nín bụng mà cười khi nhing Diêu thiếu đang vặt vẹo ngủ. Bọn họ đã được lệnh mặc kệ Diêu thiếu muốn làm gì thì làm, miễn không đi lăng quăng khỏi vườn Hạ Cơ là được. Vật ra Diêu thiếu ăn vặt cùng ngủ gật cũng không ai ra nhắc nhở.

Đang ngủ ngon lành thì Diêu thiếu cảm thấy cái mũi ngứa quá nên đem tay gãi một chút. Gãi được một lát lại ngứa nên hắn quyết lật người xem sao. Lật xong thì mũi hết ngứa rồi nhưng lại đến tai ngứa, ông mày điên rồi đầy vậy là Diêu thiếu làm một động tác vơ chắn quấn một vòng. Khốn nạn là vắt vẻo lan can ngủ thì làm gì có chăn. Vậy là bịch một tiếng hắn lăn quay ra sàn đình viện ven hồ. Cũng may là không có lăn theo hướng ngược lại, nếu không thì giờ này rõ ràng là uống no cả bụng nước rồi.

Mở trừng mắt ra, đập vào mặt diêu thiếu là một thằng nhóc tám, chín tuổi đang cười nhăn nhở. Tay của tên tiểu tặc này đang còn cầm hung khí là một chiếc lá liễu đã tước nhỏ. A dcm mày đac phạm tội lại còn nhởn nhơ khoe hung khí. Vậy là Diêu thiếu đùng đùng nổi giận vì bị đánh thức mộng đẹp mà túm ngay cổ áo tên này nhấc lên.

- Ngươi muốn chết phỏng?

Diêu thiếu hung ác quát to dọa nạt, không ngờ tên nhóc này quá nhát gan mà ngoác cái miệng ra rồi nhắm tịt hai mắt vào khóc lớn.

- Khụ Khụ… Tân Nguyên tướng quân của trẫm có vẻ rất bá khí đây, hoàng tử Đại Nam cũng dám dọa giết.

Con mẹ nó rau muống đậu xanh, Diêu thiếu nghe thấy giọng nói quen quen thì quay lại. Hóa ra Tự Đức hoàng đế đã ngồi đó từ bao giờ. Diêu thiếu vội vã ba chân bốn cẳng mà bỏ tên nhóc kia xuống, đồng thời lấy lai tay vuốt vuốt cổ áo đã nhăn nhúm của nó. Quần áo của tên nhóc bị xốc lên đến lệch lẹo xộc xệch cả rồi, càng chỉnh càng thêm loạn.

- Ha ha .. đù vui đùa vui. Điện hạ đừng khóc a. Thánh Thượng vạn an …. Ha ha. Vi thần không biết không có tội.

Ai đâu có kiểu như hắn, đã dọa hoàng tử đến sắp ngất ra rồi, như người ta thì lạy lục này nọ xin tha. Hắn tinh queu một câu không biết không có tội rồi đứng cười ha ha giả nai tơ. Phải nói bá khí nhất Đại Nam lúc này có lẽ là Diêu tướng quân.

- Thôi thôi bỏ đi, Ưng Chân lại đây, đừng khóc nữa, nam nhi hơi chút là nước mắt ngắn dài, làm sao sau này làm đại sự được.
Thì ra đây là Nguyễn Ưng Chân con nuôi của Tự Đức hoàng đế, vì ông hồi nhỏ có bệnh nên dù đã cố bao nhiêu năm qua nhưng vẫn không có con. Vì cần con thừa tự nên Tự Đức nhận Nguyễn Phúc Ái là con nuôi, sau đó đổi tên của đứa bé này thành Nguyễn Ưng Chân. Ưng Chân là con ruột thưa hai của Thoại Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Y (con trai thứ 4 của vua Thiệu Trị).

Vốn dĩ để cho Ưng Chân gặp gỡ Diêu thiếu một chút để hai người làm quen, nhưng sự việc thành ra thế này nên Tự Đức cũng nản mà cho Ưng Chân về bên Thiên anh Quý Phi. Để Ưng Chân ngồi lại đây thì nghe tên này khóc lóc lại thấy nhức đầu mà phiền, Tự Đức còn đang có nhiều việc để bàn với Diêu tiểu tướng quân đâý.

- Tân Nguyên ngồi đi không cần đa lễ. Hôm nay trẫm cho phép khanh dùng bữa cùng trẫm. Nhưng hôm nay không đi Ngự Thiện Phòng, chúng ta chỉ ăn nhẹ và uống trà ở vườn Hạ Cơ thôi.

Không ngờ Tự Đức lại có nhã hứng như vậy, hôm nay cũng không phải ngày hội triều chính thức vậy nên triều sớm đến trưa là nghỉ. Các quan viên thì tranh thủ về các Phòng ban để làm việc, họ được phục vụ thức ăn trưa tại đây. Tự Đức là người rất chăm chỉ, vậy nên ông dường như làm việc không biết mệt mỏi, ba ngày một bữa triều chính, ngày nào cũng có phó triều chỉ trừ lúc ốm đau. Phải nói một điểm chính xác là Tự Đức làm vua khá là mệt mỏi, không hề thảnh thơi và xung sướng gì.

Thức ăn thì được cung nữ và thái giám lần lượt bày lên bàn ăn tại đình các. Hoàng Đế Tự Đức ngồi chính vị hơi cao một chút. Diêu thiếu thì ngồi phía bên phải, vị trí là hơi thấp hơn. Tên thiếu gia này quả thật rất tự nhiên không câu nệ. Tự Đức hoàng đế vừa buôn lời cho phép dùng bữa là hắn gắp lấy gắp để thức ăn mà cho vào miệng.

- Ở phủ Phạm gia ái khanh ăn không no ư?
Thấy lạ thì Tự Đức liền hỏi.

- Dạ, ăn tại nhà Phạm sư công không cẩn thận là trúng độc.

Chuyện Diêu thiếu hành hạ một đám quý tử quan quý đã truyền đến kinh sư. Lần này Diêu thiếu vào cung có rất nhiều quý phụ tuyên bố sẽ ra tay, đến cả Tự Đức cũng biết chuyện. Vật nên nghe Diêu thiếu trả lời thì ông cười ngất không thôi..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 62: Cải cách bản chất.



Tự Đức nhìn Quan Diêu mà rất hân hưởng, cái cách vô tư, cái lối sống thoáng đạt bừng bừng sức trẻ của hắn cũng lây nhiễm ông. Tuy Tự Đức mới 32 tuổi nhưng 13 năm làm vua vất vả đã bào mòn của ông rất nhiều tinh lực. Lo lắng việc nước việc nhà khiến vị hoàng đế trẻ tuổi này đến ăn uống cũng không thấy thuận miệng là bao. Nhưng hôm nay có được sức sống mãnh liệt của Quang Diêu cảm nhiễm khiến ông dường như ăn ngon hơn nhiều.

Tự Đức gọi Quang Diêu ở lại ăn một bữa cơm cũng chẳng có phải vì chính sự gì, ông chẳng qua là hứng trí mà làm vậy thôi. Nếu là bàn chính sự thì đã gọi thêm Phạm Phú Thứ hay một vài đại thần khác cùng ở lại rồi.

- Ôi giá như có một người con trai hoạt bát như khanh thì…
Nói đến đây Tự Đức im bặt, không thể có con là nỗi đau trong lòng ông. Chính vi thế khi nhìn thấy Quang Diêu không ngờ ông lại thất thố mà thốt lên câu này.

- Thánh thượng còn trẻ chuyện đó không phải lo gì.

Quang Diêu không tim không phổi mà đáp một câu rồi tiếp tục đánh chén… Hắn quên béng mất là vị này không có con, đến lúc chết đi rồi mà phải tự mình dựng trước văn bia. Quả thật là rất bi ai.

- Hài… khi xưa còn bé, trẫm bị thủy đậu bệnh nên … ôi….. số trời đã định… Trẫm cũng đành chịu thôi.

Không hiểu vì trời mưa rả ríc làm Tự Đức thổn thức tức cảnh sinh tình, hay vì Quang Diêu quá nhỏ tuổi khiến vị hoàng đế này không đề phòng mà tự nhiên tâm sự như vậy.

- Thần chỉ nghe thấy thủy đậu để lại sẹo, gây hại thần kinh, hại gan hại thận. Chưa thấy đậu gây khó sinh bao giờ. Thôi Thánh thượng chờ, khi nào Đại Nam có hạm đội mạnh mẽ, thần dẫn quân qua Tây Dương hốt một mẻ mấy trăm tên đại phu Tây Dương về thăm lại bệnh cho người. Nghe nói cách chữa bệnh của chúng rất có môn đạo.

Diêu thiếu nghe vậy thì nửa đùa nửa thật mà nói.

- Không biết khi trẫm còn sống có được trông thấy hạm đội Đại Nam hùng mạnh đó không nữa. Ôi đất nước thù trong giặc ngoài, đã thế quan viên chỉ biết tư lợi là nhiều, người làm được việc ngày càng ít. Cải cách hay không cũng cãi nhau loạn lên rồi, làm sao mà chế tạo nổi một hạm đội Đại Nam hùng mạnh đây.

Quả thật Tự Đức đã mất cảnh giác hoàn toàn với Diêu thiếu rồi, ông ta trở nên kể lể như lão già, mà lại còn kể rất trân thành và thương cảm.

- Ôi dào, họ cãi nhau vì họ căn bản không hiểu cải cách là cái gì. Phe cải cách thì không hiểu nên cải cách từ đâu, bắt đầu ra sao, và họ cũng chẳng thể có nổi một bản dự án mang tính chất hệ thống nào về cải cách thì ai tin nổi họ. Phe bảo thủ thì lại cảm thấy bộ máy và chế độ lúc này là tốt, thay đổi rồi biết đâu còn dở hơn. Nói chung cả hai đều là yêu nước cả, đều muốn tốt cho Đại Nam cả. Nhưng họ chẳng hiểu gì nên dậm chân tại chỗ… ai ui…

Thì ra Tự Đức chả biết lúc nào đã giơ tay gõ cho Quang Diêu vừa đang lúi húi ăn vừa đang chém gió.

- Ngươi bằng tí tuổi đầu mà dám ngồi đây chê cả triều văn võ. Ngươi mà lộ ra ngoài thì ngày mai Trần gia nhà ngươi chìm trong nước bọt a. Mà ngươi thì hiểu gì về cải cách, ranh con.
Tự Đức cười mà trách mắng, ông nói rất bình đạm như một vị đại thúc nhà bên mà thôi, không có dáng vẻ gì là hoàng đế cả.

- Thần là biết phải làm cải cách ra sao. Và làm như thế nào để chắc chắn thành công. Có cái Thánh thượng gõ đầu thần quên rồi….

Mẹ nó dám gõ đầu thiếu gia. Diêu thiếu quyết chơi bài lưu manh cho Tự Đức biết.

- Ha ha… Khanh mà biết cái gì. Nói ra trẫm nghe xem. Nếu có lý trẫm cho khanh vào nội các làm các lão.

- Thôi thôi thần không dám, Thần chỉ mong ở bên ngoài đánh giặc là được, đánh hết giặc thần mang quân đánh cho bệ hạ một cái giang sơn rộng hơn. Đây là tâm nguyện của cha con nhà Trần gia thần. Ở trong triều cả ngày cãi nhau với các vị lão gia râu tóc bạc phơ thần không làm nổi.


Tự Đức lại giơ tay lên nhưng Diêu thiếu lủi quá nhanh khiến hắn không xuống được mà thở dài.

- Nhóc con, ngươi làm như trẫm cho ngươi làm nội các luôn vậy. Nhưng tấm lòng của khanh Trẫm nhận.

Lúc này Diêu thiếu ăn uống đã no nê, hắn tự mình trâm trà rồi ực một miếng lớn.

- Thưa bệ hạ, thật ra cải cách không cần phải hô to lên mà vẫn có thể làm, vẫn khiến quốc khố đầy tràn, vẫn khiến đất nước phát triển, quân đội hùng mạnh mà không ai cãi nhau cho được.

Diêu thiếu lúc này là nghiêm túc mà không cợt nhả, khiến cho Tự Đức phải nhìn bằng ánh mắt khác. Tự Đức không nói gì mà chỉ im lặng với ánh mắt khích lệ để Diêu thiếu tiếp tục.

- Cải cách hay không là do bệ hạ làm, bệ hạ quyết mà không phải bọn họ.

- Trẫm một mình thì làm sao được, phải có chúng quan đồng lòng, một tay giúp trẫm thì trẫm mới có thể hoàn thành. Trẫm đâu phải là thần mà một mình làm được tất cả.

Diêu thiếu đứng lên cung kính. Cử chỉ nghiêm túc này làm Tự Đức cũng phải thẳng người chỉnh lại tư thế.

- Thánh thượng, cải cách là một từ rất chung chung, mọi người đều kêu gào cải cách nhưng cải cái gì cách cái gì thì không ai nắm rõ. Phe cải cách thì đao to búa lớn, họ bày ra một kế hoạch cải cách gần như toàn diện cả Đại Nam. Nhưng họ lại không có tham chiếu để chứng minh là cải cách có thành công hay không. Vậy nên phe bảo thủ sẽ không bao giờ chấp nhận điều này. Vì đơn giản nó quá nguy hiểm, cả quốc gia có thể sụp đổ theo phương pháp làm này. Nên nhớ rằng cả hệ thống Đại Nam vẫn đang hoạt động, mặc dù có hơi lạc hậu sơ với phương tây, mặc dù có những trục trặc và bất ổn nhỏ, nhưng tựu chung lại nó vẫn đang hoạt động. Nhưng nếu đột nhiên thay đổi hoàn toàn thì chưa biết tương lai chuyện gì sẽ sảy ra.

Tự Đức gật đầu tán thành ý kiến của Diêu thiếu, đây cũng chính là lý do khiến ông lưỡng lự giữa cải cách và không. Tự Đức không ngờ Diêu thiếu có thể hiểu sâu sắc vấn đề đến vậy. Ông biết là Diêu thiếu theo dòng chính của Phạm Phú Thứ tức là phe cải cách. Nhưng theo cách nói của Quang Diêu thì hình như hắn cũng không đồng ý cách làm của Phạm lão.

- Cải cách chia làm. Cải cách hành chính, cải cách ruộng đất, cải cách tiền lương, cải cách quân đội, cải cách giáo dục. Cải cách công thương nghiệp. ( Tất nhiên có cả cải cách thể chế nhưng bố Diêu thiếu cũng không nói ra). Cái mà phe cải cách muốn làm là một hơi làm hết những thứ này, và tập chung đầu tàu lại là cải cách ruộng đất và cải cách hành chính. Một hơi mà cải cách đủ mấy thứ này thì đảm bảo không làm nổi. Cái quan trọng là họ cứ lăm le vào mặt hành chính và ruộng đất. Mà hành chính và ruộng đất là hai mặt dễ gây thị phi và có lực cản mạnh nhất.

Diêu thiếu uống thêm một ngụm nước trà. Hắn muốn để Tự Đức tiêu hóa một lát rồi lại nói tiếp:

- Cải cách hành chính đảm bảo sẽ dụng đến quan lại khắp nơi, việc này thời cơ chưa đến đã làm là rất nguy hiểm. Cải cách ruộng đất thì lại quá buồn cười. Bọn họ muốn thanh tra ban bố lại luật đất đai ruộng vườn. Cái này đụng chạm quá nhiều quyền quý quan lại. Chẳng ai đồng ý cho họ làm như vậy, lực cản sẽ khắp nơi, đôi khi còn nguy hiểm đến sự thống trị của triều đình. Thời này quan lại ai chẳng vơ vét ruộng đất cho mình, địa chủ lại cũng thò một chân vào đó. Bọn họ cấu kết nhau thành khối chặt chẽ để kiếm lợi. Tổ chức này rất khó đối phó.

Nói đến đây thì long nhan Tự Đức hơi giận dữ, đây cũng chính là chỗ khó của ông. Ông rất muốn ra tay vào điểm này. Nhưng chẳng nhẽ ông xuống tay chặt đầu hết cả triều đình văn võ ư. Đừng tưởng ông là vua nên muốn làm gì cũng được, nếu ông có ý này thi ngay đêm nay sẽ có binh biến liền lập tức. Làm vua mà bị uất ức đến vậy thì Tự Đức sao không giận cho được. Có điều chuyện này là cấm kỵ không ai dám nhắc trước mặt ông. Chỉ có Diêu thiếu dám nói mà thôi. Tự Đức bực mình mà chán nản giơ tay muốn nói Quang Diêu dừng lại. Vậy nhưng tên này lại nhanh hơn mà cướp lời nói tiếp.

- Nhưng thật ra phe cải cách sai rồi, họ tập chung vào hai mặt đó là sai lầm. Thần lại có cách để thánh thượng cải cách chắc chắn thành cong cũng như đập tan cái nhóm lợi ích chiếm hữu ruộng đất kia.

- Hả, khanh thực sự có cách?


Tự Đức chỉ nghĩ là Diêu thiếu đùa vui, không ngờ hắn có cách thực sự. Vị Hoàng đế Đại Nam cũng bán tín bán nghi nhưng vì trước đó Diêu thiếu phân tích tình hình Đại nam quá mức sắc sảo khiến ông cũng rất mong nghe được cái gì đó có hiệu quả.

- Ý của thần là tập chung vào cải cách công thương nghiệp. Mặc dù lúc này vì chiến tranh với Pháp, chúng ta có một chút tiếp xúc cùng thương gia Mỹ nhưng thật sự các vị đại quan trong triều vẫn chưa hề chú ý đến công thương nghiệp. Trước đó thì trong suy nghĩ của họ cũng không hề có công thương nghiệp trong đầu. Có tiền họ sẽ về nhà mua ruộng, đất, ấp ủ thành của thừa tự. Nhưng thưa bệ hạ, số tiền một nhà máy dệt nộp thuế bằng cả tỉnh Quảng Yên thuế ruộng. Vậy thì nếu nhà máy dệt là của riêng thánh thượng thì số tiền thu lại là bao nhiêu? Đây chỉ là một ví dụ nhỏ mà thôi. Ý thần là Thánh thượng tư mình làm cải cách trước tiên, và làm cải cách về công thương nghiệp, sau đó tiền đầy nội khố thì có thể đầu tư thêm về công thương hay quân đội. Đến lúc này thì đám cày ruộng kia sẽ hiểu mấy mảnh ruộng của họ cày cấy chả kiếm được bao tiền. Lũ này lại ào ào chuyển qua muốn làm công thương, nhưng lúc này Hoàng thượng là nắm đằng chuôi rồi, Muốn có công nghệ, muốn có nhà xưởng, muốn có thị phần thì ra tiền, không có tiền thì ra ruộng. Cuối cùng ruộng, tiền, nhà máy đều quay lại tay Thánh thượng. Lúc đó ngài hô một câu cải cách ruộng đất, thực ra là cải hay không cải cũng đã rồi. Sau khi kinh tế rực rỡ, quân sự mạnh mẽ thì cải các đến giáo dục, có những nhân tài trẻ tuổi hiểu được tân pháp thì Thánh thượng mới có thể làm được cải cách hành chính. Đến đây thì Đại Nam đã vô địch thiên hạ rồi.

Diêu thiếu là ném ra cái bánh vẽ to đùng, nhing thì ngon và dễ, cũng rất có lý. Nhưng làm thì khó vô cùng vì cuối cùng đây chỉ là lý thuyết mà thôi. Nhưng có một điểm hắn chắc chắn đúng đó là nên cải cách từ công thương mà không nên bắt đầu với mảnh xương cứng là cải cách ruộng đất.

Tự Đức như ngấm nuốt từng chữ mà ngồi yên bất động. Một chiếc lá vàng rơi theo gió lượn vào mà đậu trên quan mão cũng không bị ông phát hiện ra. Cặp lông mày của Tự Đức lúc cau lại lúc giãn ra mà trở nên đăm chiêu suy nghĩ vô cùng. Lời nói của Diêu thiếu khiến cho Tự Đức hoang mang vô cùng, mà cũng như một tiếng chuông cảnh tỉnh. Hóa ra vấn đề có thể lật lên theo nhiều mặt để xem xét. Từ trước đến này văn võ bá quan và chính cả ông nữa vẫn luôn có tư tưởng về Nông nghiệp là chính, với lới dăn dạy của tổ tiên “ vạn sự nông chuyện làm đầu”. Nhưng sự thật đập vào mắt ông tại Vạn Ninh lại cho thấy nếu đơn thuần chỉ là rót đầy kho bạc quốc khố thì nông nghiệp lại xem ra yếu thế. Nhưng vấn đề an ninh lương thực quốc gia cũng cần quan tâm. Chỉ khi nào đủ lương đến mức an toàn thi Tự Đức mới dám mạnh bạo mà làm cải cách..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 63: Về Vạn Ninh.



Ngày 20 tháng 9 năm 1861, Hai chiếc chiến hạm đời mới nhất của Pháp đang tung bay phía trên là lá cờ Đại Nam mà đạp sóng tiến về Phía bắc. Diêu thiếu đang đứng trên tiểu chiến hạm Espérance còn phía trước chạy dẫn đường là chiến hạm Lumière. Đây là hai chiến hạm lành lặn nhất trong bốn chiếc nên Diêu thiếu nhân đức không ngại phần mình mà đem về Vạn Ninh.

Về công suất, quy cách và mọi thông số thì cả bốn chiếc chiến hạm bị Hoàng Diệu bắt được đều giống nhau như đúc. Cả hai đều là chiến hạm động cơ hơi nước, trọng tải cả hai đều là 6 76 tấn hàng theo thông tin kĩ thuật đi kèm. Nói là tiểu hạm nhưng nó còn to lớn hơn trung hạm của quân Đại Nam nhiều. Chiều dài của chiếc tiểu hạm này là 39m rộng 9 m và cao 4,3 m , nó được trang bị động cơ Steam engine, 340 mã lực (254 kW). Đây gần như là động cơ mạnh mẽ nhất ở kích cỡ cùng loại vào thời điểm này. Vì cả bốn chiếc điều rất mới. Vậy nên với động cơ khá ấn tượng này những chiếc tiểu hạm đời mới này có thể đạt đến vận tốc 14,5 knots ( 28km/giờ). Có thể nói đây là những con ngựa ô thực sự trên đường đua xanh vào lúc này, cho dù chúng nhỏ bé nhưng nếu so sánh về tốc độ là rất tốt. Còn nếu nói về trọng tải thì Diêu thiếu không thể đòi hỏi hơn. Đây chính là những tàu chiến mà không phải tàu trở hàng.

Có được hai chiếc tàu chiến này quả thật là quá may mắn cho Vạn Ninh, từ nay họ có thể dùng chúng để vận chuyển vải cùng Heroin đi Hongkong, Quảng Châu, thậm chí là Thượng Hải nếu cần. Vô hình chung thuyền buôn K&R có thể rảnh chân tay mà đi Ấn Độ hay Châu Âu. Tất nhiên muốn đi Đại Thanh và Hongkong an toàn lúc này thì bắt buộc Diêu thiếu phải có một số cải tạo lại chiến hạm để quân Pháp khó nhận ra đây là thuyền của họ. Nếu không kể cả treo cờ Mỹ cũng rất phiền hà. Tốt nhất là Diêu thiếu sau khi cải tại lại bề ngoài của thuyền thì phải đi HongKong một chuyến sau đó dung thân phận công dan Hongkong mà đăng ký hai cái tàu này một phen. Nói chung là về Đại Nam treo cờ Đại Nam, qua HongKong treo cờ anh. Chỉ có như vậy mới có thể thuận lợi làm ăn buôn bán.


Đứng trên boong thuyền đang ầm ầm lướt sóng mà Diêu thiếu cảm khái nhớ lại những ngày qua ở Kinh đô. Nói chung lần này hắn vừa làm chuyện tốt, lại cũng làm chuyện xấu.

Kế hoạch của Diêu thiếu bày cho Tự Đức đó là chính ông tự thành lập công ty Hoàng gia, tự ông lấy tiền nội khố đầu tư các công ty này. Quốc khố thì không thèm đụng vào cứ để cho quan viên tiếp tục cãi nhau. Diêu thiếu còn đảm bảo rằng có thể vay nợ một phần công ty k&R để thành lập nhà xưởng hoàng gia. Còn việc lập loại nhà xưởng nào thì Diêu thiếu đề nghị lúc này nên đầu tư xưởng dệt. Vì thứ nhất vốn đầu tư không cao lợi nhuận quay vòng nhanh. Thứ hai đó là nước xuất khẩu vải lớn nhất là Mỹ đang nội chiến, sản lượng của họ sẽ giảm không phanh. Trong thời gian ngắn thì Mỹ khó mà khôi phục toàn thịnh năng lực. Còn về thị trường thì khỏi phải lo lắng, Đại Thanh rộng như thế ăn sao hết, còn cả Xiêm La, Ai Lao, Miến điện. Chỉ sợ không có sức mà sản xuất thôi. Về quản lý thì lại còn dễ hơn, Diêu thiếu đề nghị cử người thân tín quản lý với cố vấn là người Mỹ. Hàng năm sẽ thuê một đơn vị kiểm toán thứ ba đến để coi sổ sách. Đố thằng nào tham nhũng được. Đơn vị thứ ba thì thương nhân các nước tại Hongkong đầy, bỏ tiền mời về, mà không nghe thì dí dao mời về. Diêu thiếu đang tính thành lập một băng xã hội đen Hongkong dưới quyền kiểm soát của hắn đấy. Đã buôn bán heroin mà không có một bang xã hội đen thì có lẽ hơi bèo. Nhưng tâm tư sâu xa của Diêu thiếu thì đây là lực lượng mật vụ nước ngoài đầu tiên của Đại Nam. Mà nói về đào tạo mật vụ, tổ chức mật vụ thì đúng ngành nghề cũ của hắn rồi.


Sau khi cố vấn hết hơi thì Tự Đức quyết mở hai nhà máy dệt cộng thêm một nhà máy luyện thép. Không thể coi thường trí tuệ của vị Hoàng đế Đại Nam cho được. Nhà máy luyện thép là do chính ông đề xuất, việc phải nhập khẩu thép chất lượng tốt của K&R cho nhà máy vũ khí Đại Nam khiến vị hoàng đế này không vui tẹo nào. Tổng hợp đồng lên tới 30 vạn cho ba nhà máy, trong đó Tự Đức bỏ tiền túi hai mươi vạn. Xem ra năm nay Nội cung sẽ phải thắt lưng buộc bụng rồi. Mười vạn là K&R cho Tự Đức vay với điều kiện K&R có thể được quyền khai thác một mỏ sắt ở Đại Nam. Thực ra vấn đề xin khai thác quặng sắt ở Đại Nam thì K&R đã trình lên từ lâu nhưng Tự Đức vẫn lưỡng lự. Lần này Diêu thiếu chỉ cần nói nếu bọn Mỹ không có lợi thì chúng cũng chẳng giúp đâu, chi bằng chúng ta lừa đảo chúng một phen. Vậy là Tự Đức tin ngay.

Cái gọi là lừa đảo thương nhân Mỹ, thật ra là Diêu thiếu lập lờ đánh lận con đen mà lừa đảo Tự Đức. K&R là ai? Nó chính là Diêu thiếu, chả nhẽ hắn điên đến mức bày kế cho Tự Đức đi lừa chính bản thân mình. Tất nhiên là không rồi, vậy là Diêu Thiếu bày kế cho Tự Đứa như sau. Nghe nói sản lượng mỏ sắt Thái Nguyên chả ra sao, lại khó quản lý. Chúng ta cho K&R thuê mỏ đó mấy chục năm. Điều kiện là mỗi năm họ phải luyện cho ta số thép bằng với hai lần sản lượng mỏ Thái Nguyên lúc này. Vậy là chúng ta vừa không phải khai thách vẫn có thép. Còn về K&R họ đâu biết sản lượng Thái Nguyên mỏ là bao nhiêu, chỉ cần nói quá lên là họ tin thôi. Tự Đức gật đầu khen hay, tuy làm như vậy không chính nhân quân tử nhưng gặp chuyện tòng quyền, với lại lừa được thương nhân Mỹ khiến ông cũng khoái. Ông nào biết được nếu mỏ Thái Nguyên rơi vào tay Diêu thiếu thì hắn sẽ khai thác sản lượng gấp mấy chục lần lúc này đó.

Đầu tiên thuốc nổ của Diêu thiếu không phải bỏ đim thứ hai hắn sẽ áp dụng công nghệ vào khai thác, thứ ba hắn sẽ không ăn bớt của chính bản thân. Cái mỏ thép khổng lồ Thái Nguyên tỉnh đã vào tay hắn thì không khác nào chuột chui hũ mỡ.

Tự Đức lại thắc mắc chuyện an ninh lương thực, vì hắn vẫn đắn đo, chỉ khi nào lương thực không sợ thiếu thì hắn mới dám bung sức mà cải cách. Lúc này đây phương pháp cải tạo Thủy lợi của Quang Cán đã được triều đình bàn đi tính lại nhiều lần. Ai cũng đồng ý là nên làm thủy lợi một cách đồng bộ và lập ban riêng, nhưng khốn nạn là phương pháp cải tạo lại gây ra cãi nhau , các ý kiến lại một lần nữa chia thành 2 phái: giữ đê và bỏ đê. Nhóm chủ trương cứ đắp đê các sông lớn, bỏ đê sông con và sông nhỏ có Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Soạn, Nguyễn Văn Tĩnh, Nguyễn Cẩm, Bạch Tự Cường..., nhóm chủ trương giữ đê có Đặng Văn Hòa, Trương Văn Uyển, Ngụy Khắc Tuần, Nguyễn Khắc Hoan, Nguyễn Văn Siêu, Bùi Quỹ. Cả triều cãi nhau liên miên không dứt đến nỗi Tự Đức muốn dẹp luôn việc làm đê điều thủy lợi.

Diêu thiếu cho một sách lược đơn giản. Cãi nhau làm gì cho mệt, tìm một nơi đất trống trong quân doanh Huế, sai binh lính đắp các đị hình mô phỏng tầm một mẫu. Đổ nước từ trên cao xuống theo các mức độ, ít, vừa phải, nhiều để mô phỏng lũ. Thế là tim ra tương đối chỗ nào cần đắp đê, chỗ nào cần nạo vét, chỗ nào cần đào thêm sông xả lũ. Mỗi ý kiến cho làm một xa bàn khác nhau, cùng ngồi lại bàn xem cái nào tốt, hay là kết hợp cái nào tốt. Việc làm xa bàn coi như luyện thể lực cho binh lính, cũng chả tốn kém là bao.

Tự Đức vỗ bàn khen hay, ngày hôm sau các quan viên đang tranh cãi thủy lợi cũng đập bàn đập ghế kêu tuyệt. Cả một đám quan văn xắn ống tay áo vén quần đi nghịch bùn đắp đất, để chứng minh giả thuyết của minhg không sai thì ai cũng cố gắng vạn phần. Khung cảnh rất là hoành tráng.


Diêu thiếu vứt lại hết những lùm xùm ở kinh đô mà cáo biệt Tự Đức, cáo biệt Phạm lão về Vạn Ninh. Thuốc nổ đã nổ rất tốt rồi, Diêu thiếu ở lại Huế cũng là thừa thãi mà thôi. Hắn phải về Vạn Ninh luyện binh. Mùa khô đến rồi, đây là mùa thuận lợi cho các xạ thủ của Vạn Ninh xuất trận.

Trên đường về Vạn Ninh thì hai chiếc tiểu Chiến Hạm của Diêu Thiếu rẽ qua đảo Cát Bà bắn bừa hai phát đại bác 8 pound về phía các trạm gác trên đảo của quân Hải tặc, sau đó hắn ngênh ngang phủi mông đi. Diêu thiếu rất là bá.


Robert lúc này đang trong “văn phòng” công ty K&R ở Vạn Ninh, hắn đang thấp thỏm mà đi đi lại lại không thôi. Lần này hắn đi chào hàng quá thuận lợi rồi, không ngờ chả tốn một chút thời gian nào thì 500kg Heroin đã bán sạch veo. Charles Straubenzee lúc này là toàn quyền Anh tại Hongkong đã tiếp nhận lô hàng của Robert một cách trót lọt sau khi lão già này trực tiếp dùng một số con nghiện thuốc phiện để thử thốc. Nhưng vì bán một cách trực tiếp qua đại lý số một nên tất nhiên giá cả không thể quá cao như kì vọng. Nhưng vấn đề nếu đã móc nối cùng Charles Straubenzee thì con đường bán Heroin sẽ rất rộng mở và dễ dàng hơn. Quan trọng là nếu có lực lượng Anh bảo hộ tại vùng biển Hoa Đông thì công ty K&R sẽ an toàn hơn rất nhiều.

Phải thực tế mà công nhận một chuyện, trong việc buôn bán Á Phiện Robert đã có sẵn kinh nghiệm và mối quan hệ , vậy nên lần này chuyến hàng Heroin rất thuận lợi. Robert cũng không muốn chơi bài ăn mảnh, tham ô tiền hàng. Vì quả thật số tiền thu lại bởi Heroin buôn bán là quá lớn. Chỉ vì một chút tiền ăn đen mà hủy đi cái liên minh bạc tỷ này thì không đáng giá một chút nào. Cuối cùng lô hàng đã được bán với giá 3 triệu bảng Anh, tương đương 40 vạn lạng lúc này. Tất nhiên 3 Triệu Bảng này không thể là tiền mặt toàn bộ mà trong đó chỉ có 500 ngàn tiền mặt và hai triệu rưỡi là séc của ngân hàng hoàng gia Anh quốc.

Robert rất vội vã và sốt ruột đi lại trong phòng bởi lẽ hắn đã kí hợp đồng cùng với Charles Straubenzee về việc cung cấp hàng cho lão với giá kể trên. Tất nhiên hợp đồng rất nhiều điều khoản liên quan. Ví như Robert không thể cấp hàng Quảng Châu, và Hongkong. Vì ba nơi này sẽ là địa bàn tiêu thụ của Charles Straubenzee hắn. Hai bên cũng quy định rõ giá bản lẻ cũng như giá bán buôn cho các hộ nhỏ hơn Charles Straubenzee để tránh làm ảnh hưởng đến thị trường của nhau. Dĩ nhiên Robert cũng cân nhắc chuyện này sẽ làm K&R khó bước chân vào Hương cảng và Quảng Châu. Nhưng bên cạnh đó hắn nhận được sự bảo hộ tuyệt đối từ quân Anh tại Hongkong. Đây cũng là một điều khoản hết sức đáng chú ý. Tuy Diêu thiếu đã có Ủy quyền cho Robert trong lần này đi Hongkong với quyền hạn có thể kí kết hợp đồng cùng đối tác. Nhưng Robert vẫn rất muốn hội ý cùng Diêu thiếu, chính vì lý do này nên khi quay về không thấy được Diêu thiếu thì hắn vội vã không thôi..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 64: Lại đến Hương Cảng.



- Xin chào ngài, Robert. Công việc của chúng ta tốt đẹo cả chứ.

Ngự không dừng vó Sau khi cập quân cảng thì Diêu thiếu đã đi ngay một mạch đến văn phòng công ty K&R được xây khan trang theo phong cách hiện đại của phương Tây tại bến thương cảng Vạn Ninh. Giờ đây thương cảng Vạn Ninh không còn lụp xụp như thủa sơ khai vào thời kì 5 tháng trước đây nữa. Có đá tảng được khai thác rất thuận lợi từ thuốc nổ, Diêu thiếu đã tận dụng nhân công mà nâng cấp cả hai bến cảng tại Vạn Ninh. Tất nhiên vật liệu kết dính của Đại Nam không quá tốt và sản xuất khó khăn. Nhưng ximang phương đông cũng có thể xây dựng những công trình khá chất lượng. Chẳng qua sẽ tốn nhiều hơn công sức và tiền bạc mà thôi.


- Ôi lạy chúa tôi, cuối cùng Ngài cũng quay về, tôi đã chờ ngài rất lâu rồi . Kennny thân mến.

Robert đứng bật dậy từ cái bàn làm việc của mình mà tiến lên ôm trầm lấy Diêu thiếu. Đừng tưởng hắn là lady boy gì đó mà nhầm lẫn. Chẳng qua là Robert muốn thể hiện sự thân mật hơn nữa giữa hai người. Phải nói rằng một cái ôm của bằng hữu huynh đệ cũng là một điều không quá tệ. Lúc này đây thực sự Robert muốn tiến thêm một bước hảo hữu với Diêu thiếu. Nên biết luc này đây nếu Diêu thiếu muốn loại bỏ tên Robert ra khỏi mối hợp tác làm ăn này quá dễ dàng. Đây là phương đông mà không phải Mỹ quốc. Quân đội Mỹ lại không có nơi trú đóng xung quanh đây. Mà trong tay Diêu thiếu lại nắm quân đội vũ trang đông đảo, lực lượng hộ vệ của Robert không đủ nhét kẽ răng Diêu thiếu rồi.

Diêu thiếu là ai, hắn chính là một mật thám chính cống. Cái hắn am hiểu nhất chính là sống lá mặt lá trái và là chuyên gia trong lĩnh vực giao lưu xã hội. Nếu không có các năng lực này thì cơ bản không thể đi làm mật vụ cho được. Hành động hồ hởi của Robert làm cho Diêu thiếu nhận ra vấn đề ngay lập tức.

- Robert thân mến, ngài không cần phải lo lắng về mối quan hệ của chúng ta. Tuy chúng là chỉ là bèo nước gặp nhau sau đó kết hợp lại vì lợi ích. Nhưng Kenny tôi không phải là người mù. Sự trân thành của ngài trong việc giúp đỡ tôi trong chuyến đi Châu Âu thì tôi đã thấy rõ ràng. Lúc ấy còn chưa có thể chế tạo thành công Heroin với năng suất công nghiệp. Khả năng thất bại vẫn là cao nhưng ngài vẫn không nề hà mà giúp đỡ Kenny tôi. Sự trân thành của ngài thắng được tinh hữu nghị thực sự của tôi. Vậy nên chúng ta có thể trân chính thắt chặt mối quan hệ tốt đẹp này. Hi vọng cung nhau phát tài thực sự.

- Ôi Kenny, ngài quá thông minh, thông minh đến đáng sợ.


Diêu thiếu cười ha ha không nói gì mà đi về phía bàn làm việc của mình và ngồi xuống.

- Không biết công việc của ngài tại Hương Cảng có thuận lợi không?

Nghe Diêu thiếu hỏi thì Robert liền cẩn thận mở cặp sách và rút ra một tập quyển.

- Rất thuận lợi, tôi đã tìm được đối tác giao dịch có tiềm năng trong thời gian cực sớm. Tôi đã giao dịch toàn bộ lô hàng cho duy nhất một đối tác. Giá cả sau thỏa thuận là 2021 bảng một bao ( 340g) tổng số 1470 gói chúng ta nhận được 2.970.000 bảng Anh. Tôi có lĩnh 500 ngàn bảng tiền mặt số còn lại là séc. Đây là biên lai cộng thêm một bản hợp đồng cung cấp cho đối tác. Đối tác của chúng ta là Charles Straubenzee toàn Quyền Anh tại Hongkong. Kenny các hạ, ngài có thể nghiên cứu hợp đồng, có một số điều khoản tôi không thể quyết định nên cần thương thảo cùng ngài.

Quả thật Diêu thiếu rất không muốn bỏ thị trường Hongkong, hay Quảng Châu vì đó là nơi mà Vạn Ninh gần nhất có thể tiếp cận Đại Thanh. Nhưng sự lo lắng của Robert về sự an toàn và cần một thế lực tốt để bảo hộ tại khu vực này cũng không phải không có lý. Dù sao với giá 40 vạn lạng bạc nếu quy đổi thì cũng lãi tới 23 vạn lạng rồi, vì lý do đó Diêu thiếu cũng chấp nhận hợp đồng trên. Cùng lắm thì Diêu thiếu hắn sẽ mò đi Phúc Kiến, Triết Giang, Thượng Hải… mà có khi hứng lên thì hắn hoàn toàn có thể mò đến Thiên tân bán thuốc cho Bắc Kinh. Cái món này chắc Từ Hi cũng khoái lắm a. Nhưng lúc này thì chắc là Từ Hi chưa có được quyền lực khuynh dã triều chính đâu Diêu thiếu thôi suy nghĩ vẩn vơ mà bàn chuyện cùng Robert.

Biết được Diêu thiếu có được hai chiếc tiểu chiến hạm hiện đại của người Pháp thì Robert thẳng thắng cho ý kiến:

- Kennny các hạ ( ta có ý chuyển về ngài nhưng quả thật rất khó viết các bác thông cảm), Tôi phải nói thẳng, hai chiếc tiểu hạm này không có ý nghĩa quá lớn trong các chuyến giao thương của chúng ta. Thứ nhất ở Hongkong có rất nhiều người Pháp, dĩ nhiên chúng ta không sợ này nọ nhưng bản chất của K&R cuối cùng là công ty thương nghiệp. Phương Đông các ngài có câu “ Hòa khí sinh tài” tránh được phiền phức là tốt nhất để yên ổn làm ăn. Bên cạnh đó, lúc này chúng ta cần nhất lại không phải là tuyến đường Vạn Ninh – Hong Kong. Vì tuyến đường này hoàn toàn có thể dùng thuyền buồm bình thường đi lại. Tuyến đường chúng ta cần đầu tư là Vạn Ninh- Ấn Độ. Vạn Ninh – Châu Âu. Mà thương hạm K&R không thể phân thân cả hai nơi này cho được. Mặc dù Ấn Độ nằm trên lộ tuyến Châu Âu nhưng nếu chờ thời gian cả đi lẫn về một lần là 3 tháng thì nhà máy dệt và xưởng Heroin không có nguyên liệu hoạt động. Chính vì thế ta cũng đang muốn bàn bạc với Ngài về chuyện mua hoặc thuê một thương hạm thứ hai để chuyên chạy tuyến Vạn Ninh- Ấn Độ.

- Ngài suy tính rất chu đáo, không biết Robert các hạ đã có thông tin gì về cho thuê hay mua bán thương hạm hay không.


Diêu thiếu ngẫm lại thì thấy Robert nói quá có lý, lúc này phải tách rời K&R khỏi sự va chạm của Pháp và Đại Nam mới là thượng sách.

- Nói về chuyện này thì tôi đã timg hiểu qua, với số vốn của chúng ta hiện nay vừa muốn duy trì ổn định hoạt động công ty và mua một chiếc thương hạm mới là rất khó. Nhưng nếu chỉ là thuê một chiếc thương hạm tốt hoặc mua một chiếc thương hạm cũ thì không có vấn đề.

Tiếp theo Robert đưa cho Diêu thiếu một bản danh sách thông tin. Hóa ra cái ngành buôn bán xuyên đại tây dương, xuyên lục địa cũng không phải ai cũng may mắn cả. Có người gặp bão, có người gặp cướp, còn có những người từ Châu Âu, Châu Mỹ không có tìm hiểu thông tin rõ ràng về phương Đông thần bí mà đã nếm mùi thất bại khi tham gia thị trường này. Không phải anh cứ mang hàng hóa lên tàu rồi tiến thẳng về các nước Đông Á là có thể chiếm được núi vàng rồi về nhà. Nhiều người ôm tư tưởng dẽ dãi này mà không chuẩn bị kĩ càng nên rước họ vào thân, đến nỗi đói rớt mồng tơi.

Chuyện này không quá khó hiểu, ví như một số thương nhân không có được mối quan hệ tốt với quân đội các nước ở Tô giới nên thị phần là không có. Cái thứ hai là những thương nhân cũ luôn tìm cách đẩy các chú nghé con không sợ cọp khỏi vòng lợi ích của họ. Thương trường như chiến trường quả thật không có gì sai. Còn có những tên thương nhan xui xẻo hơn thì chạm mặt quân Thái Bình Thiên Quốc mà tiền mất tật mang. Vậy nên HongKong cũng không thiếu những tên thương nhân xiu xẻo thất bại tụ tập lại.

Thuyền tốt cho thuê giá chỉ tầm 7 ngàn đến 10 ngàn bảng Anh một năm (1 vạn đến 1 vạn rưỡi lương j bạc) thuyền cũ bán đứt thì rơi vào tầm sáu mươi ngàn đến bảy mươi ngàn Bảng Anh, tốt một chút là 80 -90 ngàn bảng. Nói chung giá cả cũng thiên kì bách quái. Nhưng có một đặc điểm chung đó là thuê thuyền thì phải có thế chấp bằng giá hoặc có bảo lãnh đáng tin tưởng. Cái này thì K&R đều không có ván đề, kể cả thế chấp hay bảo lãnh thì họ đều có được mức độ tin tưởng cao nhất, dù sao nói khó một chút thì Charles Straubenzee toàn Quyền Anh tại Hongkong không thể không đứng ra mà làm một chút bảo lãnh đâu.

Nhưng điều Diêu thiếu quan tâm hơn là các thương thuyền mua đứt bán gọn. Tất cả lũ thuyền cũ đồng nát sắt vụn này có chung một đặc điểm đó là hạ thủy trước năm 1850. Tức là lũ này tuy là thuyền động cơ Steam engine ( hơi nước) nhưng ở vào thế hệ gần như đầu tiên của dạng động cơ này. Công suất không khỏi hơi quá nhỏ. Một đặc điểm tiếp theo của nhóm này đó là Steam engine nồi hơi đã có vấn đề sau hơn chục năm hoạt động. Vậy nên việc chúng chạy một chuyến xuyên lục địa từ Đông Á đi Châu Âu là rất gắng sức và có nhiều nguy cơ tiềm tàng. Nhưng chạy những chuyến ngắn như Đại Thanh- Ấn Độ lại là một chuyện không khó khăn. Đặc điểm cuối cùng và có lẽ là ưu điểm duy nhất của đám thuyền này đó là thân vỏ cùng buồm được bảo dưỡng và duy trì rất tốt, thêm vào đó trọng tải là tiểu chiến hạm không thể so bì cho được.

- Robert các hạ, mua thì chúng ta vẫn phải mua, mà thuê thì chúng la cũng cần thuê a.

Ngày 27 tháng 9, thương hạm K&R lại một lần nữa trong tháng này mà cập bến Hương Cảng. Binh sĩ hải quan của Hương Cảng đã nhận được lệnh của toàn quyền Charles Straubenzee mà thực hiện thủ tục rất nhanh chóng và gọn ngàng. Đoàn người Robert và Diêu quốc nhanh chóng di chuyển về khu nhà ở của bản thân là biệt thự Trần gia nằm trên con đường Tân Sa. Phải nói lúc này Hương Cảng sau nhiều năm kinh doanh của người Anh đã rất gọn gàng va sầm uất. Vậy nhưng nơi này cũng chưa thể nào đông đúc và chật chội như Hongkong ở thế kỷ 21 cho được. Và tất nhiên nếu không quá chật trội thì những mảnh đất nơi đồi cao như khu vựa Tân Sa không quá đắt đỏ. Diêu thiếu là đã từ lâu bỏ tiền mua một mảnh đất khá rộng lớn nơi này và có xây một biệt thự kiểu cách Châu Âu. Tất nhiên tất cả mọi thứ mới chỉ là thành hình và khá thô giáp vì công trình phải giảm chi phí rất nhiều ở giai đoạn Trần gia thiếu tiền. Diêu thiếu quyết định sẽ nâng cấp khu biệt thự này khi có thể. Đường từ Tân Sa khu đi tới Trung tâm Hương Cảng lúc này cũng không quá tốt. Chính phủ Anh thành lập tại Hongkong đường như vẫn chưa quan tâm nhiều lắm tới khu vực đồi núi này. Nhưng Diêu thiếu chỉ cần là một nơi yên tĩnh, rộng rãi có thể trú ngụ nên hoàn toàn ưng ý với khu Tân Sa.


Tất nhiên K&R công ty có một văn phòng đại diện tại khu phố sầm uất nhất Hongkong, đó chính là đường Victoria. Đây là con đường mà dường như tụa tập tất cả những gì gọi là tinh hoa nhất của Tây Dương ở Phương Đông. Các công ty, văn phòng khắp nơi, nhà bank san sát, khách sạn sang trọng. Những nhà khàng lịch sự… những tiệp may đồ tây giá cả đắt đỏ kinh người. Nhưng đó là chuyện của khu vực Sa thủy không hề liên quan gì đến Tân Sa đồi núi biệt tự Trần gia.

Lúc này đây tập trung tại Trần gia biệt thự là 50 người á Đông mặc âu phục đúng quy cách, đi dày da đen bóng lột đầu tóc cắt ngắn gọn gàn. Những người đàn ông này đang đứng xếp hàng ngay ngắn tại khuôn viên khu vườn trọc lóc chỉ toàn cỏ xanh của biệt thự.

- Các binh sĩ Đại Nam, các ngươi từ nay chính là tai mắt của chúng ta tại nơi này. Thân phận của các ngươi chính là người trong Bang phái giang hồ. Từ nay mọi hành động của các ngươi sẽ do Lý Tân lão đại và Lý Thanh Hoa tiểu thư quản lý. Các ngươi phải nhớ rõ một chuyện, người phản bội Đại Nam, phản bội Diêu thiếu ta thì có chạy đến chân trời cũng bị Diêu thiếu ta phanh thây xẻ thịt. Nhưng người trung thành tận tâm thì tương lai của các ngươi là nằm trên núi vàng để hưởng thụ, con cái, gia đình các ngươi sẽ mãi mãi giàu sang. Tất cả nghe có hiểu rõ không?

Tất cả năm mươi người thanh niên Đại Nam dạ vang một tiếng đầy quyết tâm..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 65: Thuận lợi bán buôn



Thì ra đây chính là năm mươi người thanh niên Đại Nam mà Diêu thiếu đã dày công chọn lựa từ 3500 quân binh chính quy cũng như 7000 dự bị quân khắp nơi trong Vạn Ninh huyện. Đây chính là những vị xuất sắc nhất trong lĩnh vực mật vụ mà Diêu thiếu với con mắt nhà nghề đích thân chọn lựa và đào tạo. Việc đào tạo họ kéo dài gần 6 tháng trời với rất nhiều kiến thức mật vụ cơ sở cũng như các kỹ năng cần thiết trong thời điểm này.

Năm mươi người này là những người cực ký suất sắc theo đúng nghĩa của nó. Họ đã được đào tạo một cách bài bản cũng như hết sức khắc nghiệt. Những chương trình và cũng như những thử thách mà họ đã trải qua có thể nói là không đanh cho con người. Những vị mật vụ lứa đầu tiên này được dạy tiếng hán và biết một số lượng chữ hán cơ sở. Được dạy tiếng Anh rất bài bản. Nhưng đây chỉ là một trong những mục tiêu nhỏ được đào tạo mà thôi. Các mật vụ được đào tạo nhiều nhất là các khả năng thăm dò, nghe lén, ám sát, khả năng thông thạo các loại vũ khí… ngay cả khả năng chụi đòn để đối phó tra tấn nếu bị bắt cũng là môn học không bỏ qua.

Thật ra nhóm mật vụ mà Diêu thiếu bí mật đào tạo lên đến 150 người, đã trải qua hàng trăm bài kiểm tra về mức độ trung thành cũng như các tố chất cần thiết. Vốn dĩ Diêu thiếu muốn đào tạo họ trong thời gian dài hơn nữa, nhưng vì tình thế cấp bách nên hắn không thể không tung ra một số học viên trước thời hạn. Diêu thiếu một vạn lần mong chờ những người này sẽ trưởng thành hơn trong thực tế lăn lộn. Một trăm người còn lại vẫn tiếp tục được đào tạo thêm và Diêu thiếu vẫn không ngừng mở rộng số lượng đào tạo mật vụ. Hắn có rất nhiều nơi để phải sử dụng đến lực lượng cá nhân này. Mật vụ Vạn Ninh không thuộc hệ thống chính quyền Đại Nam, đây là lực lượng hoàn toàn trung thành và chỉ trung thành với Trần gia mà thôi. Tuy là ít ỏi nhưng đây mới chính là vốn liếng giữ thân của Diêu Thiếu.

Lúc này đây Vạn Ninh chỉ còn lại 50 mật vụ còn đang tiến hành rèn luyện, năm mươi người khác thì chia thành hai đường, một nhóm thâm nhập Thái Nguyên tỉnh, nhóm còn lại thì tiến về Kinh Đô Huế. Nhưng nhiệm vụ cụ thể của họ chỉ có Diêu thiếu là người biết mà thôi.

Lý Tân chính là tiểu Cẩu người hầu của Diêu thiếu. Tên này lòng trung thành thì khỏi phải bàn, chẳng qua Diêu thiếu vì xuyên qua nên không nhớ chuyện cũ mà có một đoạn thời gian lạnh nhạt cùng hắn . Nhưng sau khi Cán ca khuyên bảo Diêu thiếu tìm một người quản tài chính thì Tiểu Cẩu đã được chuyển về bên cạnh Diêu thiếu. Trong quá trình đào tạo thì Diêu thiếu lại phát hiện ra tên này có năng khiếu làm mật vụ chứ không phải là quản tài chính. Vì lý do này Tiểu Cẩu được chuyển hẳn qua đi theo Diêu thiếu để học hành. Quả thật Tiểu Cẩu không phụ sự mong đợi của Diêu thiếu mà tiến bộ đến thần tốc. Hắn lại là người luôn theo bên Quang Diêu nên được học hành thời gian rất dài. Tên này vậy mà tự mình dựa theo phương án đào tạo của Quang Diêu mà dạy dỗ em gái hắn là Lý Hoa thành một nữ mật vụ khá hợp cách.

Chính vì biểu hiện suất sắc này mà Quang Diêu đã cho Tiểu cẩu tham gia huấn luyện nhóm tân mật vụ khi họ được tuyển chọn. Tiểu cẩu họ Lý tên Tuất, sinh năm con chó nên có tên tiểu cẩu. Nhưng nay đã được lên làm thống lãnh mật vụ lại có được học chữ nghĩa nên xin Diêu thiếu cho hắn đổi tên thành Lý Tân. Em gái hắn thì đổi tên thành Lý thanh Hoa.

Lần này nhiệm vụ nhóm mật vụ tại Hongkong quá nặng nề nên Diêu thiếu không thể không để anh em nhà họ Lý đảm nhiệm lãnh binh cho được.

Ngày 27 tháng 9 năm 1861, Tòa nhà hành chính Đặc khu Hongkong, văn phòng toàn quyền Charles Straubenzee. Vào hồi 14 giờ 30 phút, văn phòng của vị toàn quyền này đón tiếp ba vị khách rất đặc biệt, vì cuộc gặp gỡ này mà vị Charles Straubenzee toàn quyền Hongkong đành phải hủy một số lịch hẹn trước đó.

- Xin chào ngài Charles.

- Ồ, xin chào Robert thân ái các hạ.

- Như đã hẹn, hôm nay tôi cùng đến với chủ tịch hội đồng quản trị của công ty K&R. Tôi xin giới thiệu cùng ngài , Đây là Ngài Kennny Trần.

- Rất hân hạnh được làm quen với Ngài, Kenny các hạ. Tôi tên là Charles Straubenzee chức vụ của tôi tại Hongkong thì chắc ngài đã rõ ràng.

Charles nói chuyện với Diêu thiếu không ngờ lại dùng tiếng Hoa lơ lớ. Có lé ông ta nghĩ Diêu thiếu không thể nói được ngoại ngữ, và ông ta cũng tưởng nhầm Diêu thiếu là người Hoa.

- Tôi cũng rất vui khi được lam quen với ngài thưa Charles các hạ. Tôi tên là Kenny Trần. Ngài có thể dùng tiếng Anh để đối thoại cùng với tôi. Bởi vì tôi cũng là công dân gương mẫu của HongKong.
Diêu thiếu dùng một giọng tiếng Anh còn chuẩn Anh- Anh hơn cả Robert mà đối thoại cùng Charles Straubenzee.

- Ôi chúa ơi, Kenny các hạ từng sống ở London? Thật quá bất ngờ khi Chủ tịch của K&R lại là một vị thương nhân Á Đông quá trẻ tuổi.

Thật cũng không thể không khiến cho Charles Straubenzee bất ngời cho được. Giọng tiếng Anh của Diêu thiếu là đặc sệt London người sinh sống.

- Vâng tôi cũng có một khoảng thời gian ở đó. Người Đông Á chúng thôi trưởng thành hơi sớm do đó phải lo công việc của gia tộc khi tuổi như tôi cũng không quá hiếm lại.

Diêu thiếu trợn mắt nói dối Charles Straubenzee về việc hắn đã từng sống ở London hay không. Tiếp theo là một mang xã giao hỏi han các kiểu và giới thiệu Lý Tân là giám đốc phân phối gì đó khiến Charles Straubenzee cũng không mấy coi trọng vị mật vụ này.

Charles Straubenzee tự tay rón cho mấy người mỗi người một ly rượu mạnh sau đó cùng ngồi xuống nhâm nhi.

- Kenny các hạ, chúng ta cũng là người vô cùng bận rộn, vậy chúng ta có thể đi vào thẳng vấn đề. Bản hợp đồng đã thương thảo trước đó của hai bên theo ý kiến của ngài thì như thế nào.
Chính thức ra Robert vừa là phó chủ tịch hội đồng quản trị vừa là giám đốc điều hành, cộng thêm ủy quyền của Diêu thiếu thì hoàn toàn có thể thay mặt mà kí bản hợp đồng này. Nhưng Robert nhạy cảm khi biết rằng Diêu thiếu có khi còn có nhiều kế hoạch khác nên hắn đành phải quay về Vạn Ninh mà lấy ý kiến. Và quyết định của Robert là chính xác.

- Bản hợp đồng này, các điều khoản đều rất tốt, bản thân tôi thì sẵn sàng chấp thuận. Nhưng….

Nói đến đây Diêu thiếu bỏ lửng mà nhấp một ngụm nhỏ rượu mạnh.

- Tôi còn có đề nghị hợp tác tốt hơn chúng nhiều.

Buổi thương thảo tiếp theo của Charles Straubenzee và Diêu thiếu cùng sự góp mặt cửa Robert cùng Patrick Lý ( tên ngoại quốc đăng ký hộ tịch Hongkong của Lý Tân tiểu cẩu). Nội dung của hợp đồng ký kết cũng như các thỏa thuận ngầm này thì không ai biết được ngoài bốn người bọn họ. Nhưng thái độ của Charles Straubenzee đối với Patrick Lý thì thay đổi hoàn toàn mà trở nên nhiệt tình vô cùng. Tiếp theo đó Robert cùng Diêu thiếu rời đi, kế vào chính là Lý Tân ở lại. Tên này còn có cộc gặp mặt tiếp xúc cùng Cục trưởng ty cảnh sát Hoàng Gia Anh tại Hongkong với sự giới thiệu của Charles Straubenzee.


- Robert, lần này anh đi Châu Âu rất vất vả, nhiều chuyện thực sự là làm giúp tôi mà không hề liên quan đến việc của công ty. Tôi quả thật rất cảm ơn anh.

- Kenny, không cần nói nhiều. Tôi biết trong làm ăn thương nghiệp rất khó có được tình bằng hữu thực sự. Sự thật thì tôi rất lo sợ có ngày vì lợi ích quá lớn mà anh hất cẳng tôi khỏi K&R. Vì lý do này tôi muốn có được tình hữu nghị từ anh. Nói thật nếu tôi ở vào địa vị của anh cũng có thể phát sinh các loại suy nghĩ này.


- Tình hữu nghị có được không khó. Giữ được mới là khó khăn, mà thời gian lại là minh chứng và cũng là thử thách cho thứ này. Tôi có thể đảm bảo với anh một chuyện, chỉ cần anh trân thành đối đãi cùng tôi thì Trần Quang Diêu tôi tuyệt không bao giờ làm tổn hại mối tình cảm này.
-
- Cám ơn.

Đôi lúc không cần phải nói nhiều, bất kể Robert xuất phát từ mục đích nào mà cần đến tình hữu nghị đôi bên thì Diêu thiếu không quan tâm. Hắn chỉ cần biết nếu Robert không có những hành động phương hại đến K&R và Đại Nam thì Diêu thiếu sẽ không có ý nghĩ khác.

Chuyện tiếp theo của Robert và Diêu thiếu rất nhiều. Họ phải tiến hành tiếp xúc và tìm kiếm để thuê thương thuyền cũng như dự trù kinh phí cho chuyến đi Châu Âu lần này của Robert. Thương thuyền thì họ thuê được một chiếc rất tốt của thương nhân Bồ Đào Nha với trọng tải 3500 tấn, vượt xa thương Hạm K&R. Lần này Robert mang theo gần 3 triệu bảng Anh đi Châu Âu mua bán nên một chiếc thương Hạm K&R là không đủ. Vậy nên chiếc thuyền mang tên São João Baptista sẽ được thuê trong bốn tháng với giá 6 ngàn bảng để đồng hành cùng thương hạm K&R. Tất nhiên đây chỉ là tiền cứng thuê thuyền mà thôi, lương thủ thủ đoàn, nguyên liệu cùng với tiền bảo trì của São João Baptista sẽ do công ty K&R bỏ ra. Dù có hơi đắt đỏ nhưng chất lượng của São João Baptista viễn siêu thương hạm K&R, thêm vào đó lần này Diêu thiếu cần mua rất nhiều máy móc với trọng lượng cũng như kích cỡ lớn. Vậy nên dù tốn kém thì Diêu thiếu vẫn phải đầu tư. Hắn không muốn thuê các thương hạm rác, chẳng may không chịu nổi gió bão thì mất cả chì lẫn chài.

Ngoài São João Baptista thuê mướn ra thì Diêu thiếu có mua một thương hạm cũ của thương nhân anh với giá 80 ngàn bảng Anh. Đây là một số tiền rất lớn cho một thương hạm cũ, nhưng Diêu thiếu rất hài lòng. Chiếc thương hạm này có tên Marlborough được hạ thủy năm 1847 nên còn rất mới. Thương hạm dài 60m rộng 13m với sức chứa hàng lên tới 3792 tấn. Động cơ 450 mã lực có hai buồng hơi chính phụ. Nhưng đây là thiết kế đời đầu của động cơ hơi nước nên cho dù máy móc cồng kềnh nhưng công suất không quá cao. Nếu so sánh cùng Steam engine của tiểu hạm Espérance thì không lại được. Steam engine của Espérance chỉ nhỏ bằng phân nửa với chỉ một lò hơi nhưng có công suất cực đại lên đến 340 mã lực. Chỉ cần một so sánh đơn giản này đã thấy được sự vượt trội vè mặt công nghệ của Espérance.

Thương hạm Marlborough, vì cồng kềnh to lớn lại có động cơ không quá khỏe nên tốc độ di chuyển không quá tốt nếu không có gió hỗ trợ. Vận tốc tối đa của nó chỉ vào khoảng 20 km/ giờ. Ấy là vì buồng hơi của Marlborough đã có vấn đề sau một thời gian dài phục vụ. Nhưng nếu Marlborough chỉ phục vụ tuyến đường Vạn Ninh Ấn Độ hay Vạn Ninh- Hongkong thì hết sức hợp lý.

Ngày 4 tháng 10 âm lịch năm 1861. Diêu thiếu dắt theo đoàn thủy thủ cùng Marlborough về tới Vạn Ninh. Robert đã dẫn theo hai thương hạm mà đi thẳng về phía Malaca rồi. Lúc này Malaca đang thuộc quyền kiểm soát của Anh và đây chính là điểm tiếp tế đầu tiên trên chặng đường biển Á – Âu mà bất khì một đội thuyền nào cũng đều cần đến. Lần này đến Malaca Robert dễ thở hơn nhiều vì có được thư tay giới thiệu và đảm bảo của Charles Straubenzee..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 66: Nam Kỳ chiến sự



Quang Diêu quay về tới Vạn Ninh thì có một vị khách đặc biệt đang chờ đờik hắn. Nhưng đó là chuyện tại Vạn Ninh huyện, mặc dù nơi này cũng ngày ngày xuất binh đánh trận nhưng dù sao cũng không hề khốc liệt như tình hình tại Nam Kỳ.


Từ tháng 8 sau khi Hoàng Diệu đánh thắng trận vang dội trên sông Đồng Nại thu được bốn chiến hạm của quân Pháp thì Nguyễn Tri Phương khâm sai cũng xin dưỡng thương mà về kinh thành. Nói là dưỡng thương để cứu vãn mặt mũi mà thôi, thật ra là ông ta nhìn thấy chiến công của Hoàng Diệu mà xấu hổ nên không muốn làm thống binh Nam kỳ nữa. Ông muốn về nội các mà làm việc thôi. Lý niệm chiến đấu của Hoàng Diệu và Nguyễn Tri Phương là đối lập hoàng toàn. Ai hơn ai dở thì nhìn qua cũng biết. Nếu Tri Phương lão đại còn ở lại Nam kỳ thì ông có lẽ phải ủng hộ lối đánh trận mới như trên. Nhưng nếu làm như vậy thì Các lão Nguyễn Tri Phương tự vả vào mặt mình mà thừa nhận Đại đồn Chí Hòa là một sai lầm quân sự to lớn. Ông không bỏ được cái mặt mo này mà làm như vậy nên lão thống binh Nguyễn Tri Phương tức tốc dâng tấu về triều xin nghỉ dưỡng thương.

Thật ra Nguyễn Tri Phương lãnh binh rất có cách và không tồi chút nào. Nhưng vấn đề là cách đánh của Nguyễn Tri Phương chỉ phù hợp với tác chiến của vũ khí lạnh mà thôi. Với chiến tranh hơi chút hiện đại thì lão tướng quân này có vẻ bó tay rồi. Thật ra trong Trận Đà Nẵng những năm 1858, Nguyễn Tri Phương đã thành công với lối đánh phòng thủ chặt chẽ khiến quân Pháp không thể tiến lên được mà rút lui. Xong ông lại lập lại nguyên chiêu cũ khi lãnh binh tại Nam Kỳ nên thu lại thất bại cay đắng. Nam Kỳ và Đà Nẵng địa thế khác nhau và tình thế khác nhau, ông lại ap dụng y nguyên một cách đánh nên không thành công là bình thường.

Nhưng Nguyễn Tri Phương cũng là người có tài thực sự, việc này chứng minh trong các cuộc chiến bình định giặc phỉ ở Bắc Kỳ mà sau đó ông đảm nhận. Năm 1863 đánh tan Lê Duy Phụng. Những năm 1870 ông cũng lãnh binh tại các tỉnh tây bắc và cũng đạt được những thành công nhất định trong việc phòng thủ quân Hắc Kỳ, Bạch kỳ, và Hoàng Kỳ.

Nhưng đấy chỉ là chuyện sẽ sảy ra trong thực tế lịch sử mà thôi, vào thời điểm lúc này thì Nguyễn Tri Phương đã trên đường về lại Huế. Hoàng Diệu được phong làm thống binh Nam kỳ, nhưng đây chỉ là chức quan thời chiến mà thôi. Hết chiến tranh ông sẽ bị thu lại binh quyền và dẫn quân tân Kinh hồi cung.

Tình hình chiến sự tại Nam Kỳ quả thực hết sức phức tạp và ác liệt, nó còn ác liệt hơn nhiều so với suy nghĩ có phần hơi lạc quan của Quang Diêu.

Sau khi tin tức bốn chiếc chiến hạm mất tích thì quân Pháp hiện đang tập trung tại quân cảng sông Sài Gòn lập tức tiến hành ồ ạt xuất binh rà soát lại mặt sông Đồng Nại. Chúng xuất động đến 7 tiểu chiến hạm có cùng quy cách của Espérance mà tuẫn tiễu khắp nơi. Quân pháp rất nhanh điều tra ra được sự kiện ngày hôm đó. Tuy rằng không thể biết rõ từng chi tiết nhưng đại khái thì quân Pháp hoàn toàn có thể nắm được tình hình. Trận đánh ngày hôm đó hao bên bờ Đồng Nại có không ít dân chúng đã chứng kiến, nhất là người dân vùng Cù Lao Phố lại càng gần hơn ở trận đánh cuối cùng thu phục Espérance.

Thật ra không hè khó khi thu thập những thông tin này, vì dù sao Pháp cũng đã chiếm đóng Mỹ Tho, Chợ Lớn gần ba năm, còn Sài Gòn Gia Định thì chúng cũng chiếm đến một năm thời gian rồi. Thời gian này không đủ dài để chinh phục toàn bộ số đông người Đại Nam tại đây làm việc hoặc hỗ trợ cho người Pháp. Nhưng thời gian đó cũng đủ để một số thành phần Việt gian đầu nhập vào đội quân thực dân này. Thành phần những kẻ Việt gian rất hỗn tạp, trong đó chủ yếu là các thổ phỉ vốn bịuan binh triều đình tróc nã, tiếp theo là đám người Hoa ngã theo chiều gió, cuối cùng là một số ít thnhf phần địa chủ có được cái tâm tư phản cách từ trong xương ra nhập vào.

Đã tìm ra nguyên nhân thì giặc Pháp bắt đầu cho ra biện pháp ứng đối. Thiếu tướng Louis-Adolphe Bonard của quân Pháp lập tức điều động rất nhiều trung hạm và đại hạm tập trung vào vùng Bà Rịa để bịt lối ra biển của Sông Đồng Nại. Chúng chủ yếu cho các chiến hạm này buông neo tại vịnh Gành Rái, nơi này dường như là hội tụ của các cửa sông đổ ra biển của tỉnh Biên Hòa. Tiếp theo thì quân Pháp cử một loạt tiểu chiến hạm tiến vào sông Đồng Nại để thực hiện tìm kiếm những chiến hạm đã mất tích. Nhưng chúng đã vô công rồi, bốn chiếc tiểu Hạm đã bị Hoàng Diệu ngay trong đêm đưa về kinh thành Huế.

Những chiếc chiến hạm của Pháp liên tục tuần tiễu tìm kiếm mà không thấy mục tiêu khiến họ dần mất đi kiên nhẫn. Đã có lúc chiến hạm Pháp đã ngược dòng sông Đồng Nại mà đi tới cả gần Hồ Trị An nhưng vẫn không có tung tích của chiến hạm mất tích. Chúng đã ngược dòng mà đi quá Cù lao Thạch hội gần 5 km thì không thể tiến thêm vì lúc này con lạch quá nhỏ rồi. Từ chỗ này vào đến Hồ Trị An còn tới gần 30km đường thủy nên chúng đành chịu mà rút ra.

Việc không tìm thấy được các chiến hạm đã mất tích chính là một cái bạt tai vang dội vào mặt vi thiếu tướng mới nhận chức. 9 giờ sáng ngày 24 tháng 8 năm 1861, Louis ra lệnh cho quân Pháp bất ngờ đổ bộ lên Cù Lao Phố và tàn sát dân làng nơi đây. Gần 600 người cả phu nữ và trẻ nhỏ bị bọn giặc khát máu tàn sát không thương tiếc ( trong lịch sử thiệt cũng có sự kiện tương tự khi quân pháp bị đốt chiến hạm trên sông Nhật Tảo). Vì cách quá xa để chuẩn bị kế hoạch đối phó với việc quân Pháp sẽ ồ ạt tấn công thành Biên Hòa nên Hoàng Diệu hoàn toàn không phản ứng kịp. Khi ông dẫn hơn 1 ngàn lính băng sông qua cù lao cứu viện thì chỉ nhận được những đống đổ nát, và những đám cháy còn dang dở. Xác người tràn ngập cả đường đi ngõ lại, mùi thịt người cháy khét tỏa ra khắp nơi khắp trông. Hoàng Diệu cắn chặt hai hàm răng đến tứa máu nhưng không thể làm gì ngoài chôn cất tạm thời cho người dân Cù Lao phố sau đó là rút về Trấn Biên Hòa.


Hoàng Diệu từ lâu đã dự tính trước tình hình sau khi quân Pháp phát hiện 4 chiến hạm bị đánh chiếm sẽ tăng cao đề phòng và quân bị. Chính vì thế việc tập kích bằng thuyền nhỏ vào các chiến hạm bọc thép hay đồng của quân Pháp là bất khả thi. Đơn giản vì lúc này rút ra bài học kinh nghiệm các tiểu chiến hạm Pháp thường đi 2 chiếc gần nhau để tuần tra, trên thuyền bố trí dày đặc hơn các tay súng. Và đặc biệt chúng không hề tiếp xúc với bất kì ghe thuyền nào trên sông. Nếu có ý định lại gần thì lũ này sẽ nổ súng ngay. Trong tình hình thế này nếu vẫn khư khư cố chấp tiến hành tấn công theo kiểu bày sói trên sông thì thiệt hại là quá lớn và tỉ lệ thành công chưa chắc đã cao.

Từ Sài Gòn Gia Định tấn công qua Trấn Biên Hòa thì có rất nhiều tuyến đường, tuyến đường thứ nhất là đổ bộ quân lên bãi Bứu, thuộc xã Bứu Long rồi theo lộ lớn di chuyển tầm 10km sẽ tới được Trấn Biên. Cong đường thứ hai là đổ bộ bãi Bình tiến đánh Huyện Tam Hòa sau đó cũng có thể thông tới được Trấn Biên nhưng con đường từ thành huyện Tam Hòa đi trấn biên không thuận lợi cho lắm. Còn các bãi đổ bộ như bãi Tân hay bãi Lày phía đông của Cù lao phố thì rất khó để có thể vận quân lên Trấn biên cho được, vì hai nơi này chỉ thông đến các xã cạnh đó mà thôi, người dân nơi đây khôn có lộ lên Trấn Biên mà chỉ dùng ghe thuyền ngược dòng Đồng Nại để có thể lên thành trấn nếu cần.

Nhận định tình hình như vậy và biết chắc chắn âm mưu tấn công qua Trấn Biên của quân địch thì Hoàng Diệu không tiến hành cố thủ Trấn Biên. Ông cho tổ chức xây công sự chặn lại hai con đường có thể thuận lợi đến Trấn. Nhưng nếu là chiến tranh du kích thì việc xây công sự không phải quá là mâu thuẫn sao. Xin thưa hoàn toàn không phải như vậy. Nếu liên tục bám vào chiến tranh du kích một cách tiêu cực đôi khi sẽ rơi vào tình thế đánh mất vị trí chiến lược quân sự, cho nên đôi khi nếu cần thì vẫn phải tiến hành bố trí phòng thủ điểm kết hợp du kích chiến. Đây là câu dặn dò của Diêu thiếu và Hoàng Diệu vận dụng còn tốt hơn tất cả những gì Diêu thiếu có thể tưởng tượng ra.

Hoàng Diệu cho xây công sự tại hai điểm cao trên các con đường dẫn đến Trấn biên. Một điểm cách bãi Bứu 5 km và một đồn quân sự cách bãi Bình 6km. Cả hai nơi này đều là các đồi đất nhỏ không quá cao.


8 giờ sáng ngày 27 tháng 8 năm 1861, Louis đã hạ lệnh cho quân Pháp chính thức vượt sông đổ bộ xuống cả hai bãi Bứu và Bình. Hắn muốn hai nhánh quân này cùng tiến để có thể bóp chặt Trấn Biên. Các tiểu chiến hạm lăm le chĩa pháo vào đất liền, bất kì lúc nào cũng có thể bắn yểm trợ. Các tàu đổ bộ thì liên tục ra vào thả quân xuống các bãi cát bằng phẳng rộng lớn ven sông này. Đến hơn 10 giờ sáng thì cả hai nhánh quân của Pháp đã an toàn đổ bộ và tập hợp đầy đủ. Phía bãi Bứu là hơn một ngàn năm trăm lính Pháp cùng lính đánh thuê Philippines cùng với năm khẩu pháo bộ binh kích cỡ nòng 120mm. Bên bãi Bình thì só lượng quân của Pháp có ít hơn một chút nên vào khoảng 1000 người với năm khẩu bộ binh đại bác tương tự.

Hai nhánh tiến công của Pháp không hề gặp bất kì một cản trở nào trên đường mà dễ dàng tiến quân thêm vài km trên đườn. Thì ra dân chúng xung quanh đây đã bị Hoàng Diệu sơ tán hết cả rồi. Nhưng bước tiến quân của Pháp phải ngưng lại, vì chúng đã gặp được đối thủ. Quân đại Nam vậy mà đã bố trí các đồn lính từ cách xa Trấn Biên cả mấy km để chờ đợi nhóm quân Pháp này..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 67: Đại Nam bại trận.



Quân Pháp hành quân đi tới, đến khi còn cách ngọn đồi đất trọc nơi quân Đại Nam xây công sự hơn 1km thì họ dừng lại và chính đốn đội hình. Pháo của người Đại Nam tầm xa không quá 400m thế nên khoảng cách này là quá an toàn. Vậy nhưng quân Pháp vẫn không dám vọng động bởi lẽ quân Đại Nam đã chiếm được 4 chiến hạm của Pháp. Biết đâu họ gỡ đại bác xuống để biến thành đại bác bộ binh thì quá nguy hiểm. Xuất phát từ tâm lý này nên tên tên đại úy chỉ huy nhánh quân Pháp này rất cẩn thận mà cho bày trận địa Pháo binh cách mục tiêu là quân Đại Nam chừng 1 km.

Năm khẩu đại bác bọn thực dân mang đến là những mẫu đại bác bộ binh thông dụng nhất của Pháp quốc lúc này. Đây chính là đại bác M1857 12-Pound Napoleon, hay gọi một cách ngắn gọn là Napoleon III. Chúng là những khẩu đại bác nòng trơn và nạp đạn cửa nòng với trọng lượng mỗi viên đạn là 12 pound trong đó đầu đạn là 2,5 pound thuốc nổ (1,1 kg bột thuốc súng đen). Thật ra lúc này cũng đã xuất hiện các mẫu đại bác nạp đạn cửa sau cộng thêm nòng rãnh xoáy. Nhưng vì công nghệ hạn chế cũng như giá thành chi phí quá cao nên chưa mấy phổ biến. Vật nhưng những khẩu Đại Bác này là model mới nhất trong các mẫu vũ khí bây giờ rồi. Cộng cả trọng lượng nòng và giá pháo thì M1857 12-Pound Napoleon có trọng lượng 1 tấn mà thôi. Đây cũng chính là ưu điểm khiến nó rất cơ động trên chiến trường.

Tất nhiên lúc này trong biên chế của quân Pháp còn có những khẩu đại bác The French canon-obusier là những mẫu thiết kế năm 1853 nhưng hẳn là chúng sẽ sớm bị đào thải và nấu lại. The French canon-obusier chính là những khẩu đại bác trứ danh đã tấn công Đà Nẵng cũng như đánh chiếm Mỹ Tho, Chợ lớn vào những năm 1858. Nhưng trong trận chiến liên quân Anh Pháp tấn công Bắc Kinh thì Napoleon đã tăng viện một loạt các mẫu đại bác đời mới cũng như các chiến hạm hiện đại hơn. Và lúc này phần lớn trong số đó lại quay về tham chiến tại Nam kỳ của Đại Nam quốc.

Đại tá Daniel quân đội hoàng gia Pháp đang chăm chú quan sát trận địa đối phương thông qua kính viễn vọng. Ông rất bất ngờ trước cách bố trí phòng thủ của quân Đại Nam trước mặt này. Nó khác hoàn toàn với những gì ông đã chứng kiến trước đây. Cách chiến đấu của nhánh quân trước mặt hoàn toàn không giống với quân đội Đông Á chút nào. Đây dường như là kiểu đánh của người Châu Âu thì đúng hơn.

Trước mắt quân Pháp lúc này là một điểm cao đồi đất đã được đào chiến hào, và quân Đai Nam đã nấp kĩ trong các công sự phía dưới đó. Các chiến hào khá sâu và rộng. Mặt trước của chúng có đào các hầm cá nhân và được gia cố bằng các thanh gỗ. Đây là kiểu chiến hào chống pháo binh chủ yếu. Chỉ khi nào pháo bắn chính xác vào hầm cá nhân mới có thể gây tổn thương cho minh sĩ. Cứ điểm này có 500 quân Đại Nam. Họ đã được mệnh lệnh tử thủ cầm chân quân Pháp trong 4 canh giờ.

Không hề quan sát thấy có pháo binh của quân Đại Nam nên Đại tá Daniel yên tâm hơn hẳn. Hắn lập tức ra lệnh cho pháo binh bắt đầu xạ kích. Yêu cầu của Đại tá Daniel là dùng đạn Shrapnel đây là loại đạn chống chống bộ binh hình cầu thép, khoang bên trong chứa đầy những quả bóng tròn bằng chì hoặc sắt lượng thuốc nổ đen đủ lực viên đạn sắt có thành mỏng. Dây dẫn nổ được bọc trong ống sắt mỏng dẫn đến cầu chì thời gian và được lắp vào giá đỡ ở rìa ngoài hoặc đạn. Cầu chì được thiết kế để đánh lửa bằng ngọn lửa từ điện tích của thuốc súng khi phóng đầu đạn đẩy. Lý tưởng nhất là cầu chì bắn trường hợp sẽ kích nổ điện tích trung tâm khi đạn cao hơn sáu đến mười feet so với đầu của bộ binh địch, do đó những quả bóng sắt và mảnh vỡ của vỏ đạn sẽ gây sát thương trên diện rộng. Loại đạn này được phát triển năm 1784 bởi Trung úy Henry Shrapnel, Pháo binh hoàng gia Anh quốc.

Cái loại đạn này đúng là chuyên dành để chống lại binh sĩ trốn trong công sự hoặc hầm hào như thế này. Quyết định của Daniel trên lý thuyết là không hề sai lầm chút nào. Pháo binh quân Pháp vào vị trí sẵn sàng chiến đấu và nạp đạn thì cũng là lúc binh sĩ Đại Nam theo lệnh của chỉ huy mà trốn vào trong hầm cá nhân.

Pháo trận quân Pháp nổ vang, đạn pháo rời nòng rít gào ma bay vèo vèo trong không trung. Sau đó lại càng kinh khủng với hàng loạt tiếng đầu đạn nổ chói tai. Mảnh đạn, bi thép đỏ rực bay tứ tán trong không gian đẹp mê hồn vũ điệu chết chóc đêm pháo hoa. Quân đồng Đại Nam vang lên từng tiếng rên rỉ bất tận.

Daniel không hài lòng lắm mà yêu cầu các pháo binh chỉnh lại góc độ để tấn công lượt tiếp theo. Lượt bắn vừa qua thì cũng có một vài viên đạn vượt qua khỏi trận địa bên Đại Nam nên không gây được sát thương mong muốn.

Thật ra cũng làm khó cho Pháo binh Pháp, mặc dù nói tầm xa của M1857 12-Pound Napoleon lên tới 1,6 km nhưng đấy là khoảng cách tối đa, độ chính xác gần như không có. Mặc dù đã có được đạn Hazz có với kiểu lót đầu đạn để tạo nên độ chính xác và tầm bắn xa hơn, nhưng tựu chung lại M1857 12-Pound Napoleon vẫn là đại bác nòng trơn nên vẫn có hạn chế nhiều. Tầm chính xác nhất của Pháo là rơi vào khoảng 300m, còn lại thường là phải bắn dò đường, căn và điều chỉnh thước ngắm.


Lĩnh trọn năm quả đại bác vào doanh địa thì không thể không nói quân Đại Nam không có tổn thất, nhưng tổn thất đó hoàn toàn không quá lý tưởng như quân Pháp tưởng tượng. Hầm cá nhân trong chiến hào là một loại hầm đào lõm vào một bên thành của chiến hào được gia cố bàng gỗ phía trong để tránh xập hầm. Thường thì các hầm cá nhân sẽ được đào vào mặt tấn công của quân định để tránh sát thương từ đạn pháo. Đây là chiến thuật phòng thủ chiến phát triển vào WWI nhưng lúc này khi đạn đại bác nổ mới thịnh hành không lâu nên chiến thuật này Châu Âu vẫn chưa dùng đến. Có lẽ sau nội chiến Hoa Kỳ với sự tham gia của hàng loạt các siêu pháo cũng như sự phát triển của pháo trận sẽ khiến cho phương pháp này lan rộng. Nhưng rõ ràng là Quân Pháp chưa biết đến điều này, và cũng không ngờ tới, vậy nên họ vẫn đang vui vẻ hứng thú tưởng tượng ra cảnh quân Đại Nam đang khốn đốn trong chiến hào với mảnh đạn và bị thép bay tứ tung.

Lượt bắn đầu tiên chỉ có 3 binh sĩ Đại Nam xui xẻo bị đạn rơi ngay trước cửa hầm mà thương vong, nhưng theo lệnh chỉ huy đã ban bố nên các binh sĩ ai cũng oai oái kêu lên một vài tiếng khiến cho quân Pháp hiểu nhầm.

Từng loạt Đạn đại bác vẫn ầm ầm nổ vang, Pháp quân đã pháo kích hơn nửa giờ đồng hồ. Tính ra thì họ đã bắn đến 15 quả đạn mỗi pháo. Quân Đại Nam chỉ co rút trong chiến hào mà không có bất kì hành động nào cho thấy họ có thể phản công.

Daniel cau mày mà chắm chú quan sát đối phương qua kính viễn vọng. Không ngờ quân A Nam lạc hậu này vẫn chưa có hiện tượng rút lui, Daniel thầm nghĩ trong lòng. Daniel là một người cầm binh khá thận trọng nên hắn không hề có suy nghĩ muốn nhào lên tấn công.

- Thay đạn Carcass bắn vào trận địa địch.

Danie đại úy quân Pháp ra lệnh, Carcass là một loại đạn cháy, nó được thiết kế để cháy dữ dội, bên trong viên đạn này chứa đầy amoni, lưu huỳnh, muối tiêu, mỡ động vật và nhựa thông venetian. Nó bị đốt cháy bởi điện tích của súng đại bác, nổ tung khi va chạm với mục tiêu và giải phóng khói độc hại trong khi đốt lửa xung quanh nó. Nó thực sự là một vũ khí hóa học ban đầu cũng như vũ khí gây cháy nổ khu vực. Tất nhiên trên thế giới lúc này có rất nhiều phiên bản Carcass với tỷ lệ thành phần bên trong của các chất là khác nhau để tạo nên sự đa dạng về chiến thuật. Quân Pháp sửa dụng đạn Carcass với thành phần Lưu huỳnh khá lớp gây cháy mạnh và mùi độc hại rất khó chịu.

Chỉ huy của quân Đại Nam nơi này là Nguyễn Duy Liêu, là một ái tướng dưới tay Hoàng Diệu đã từng chỉ huy thành công một trận tập kích chiếm được chiến hạm Pháp trước đó. Mệnh lệnh cũng như cách đánh đã được ban chỉ huy họp bàn kĩ càng mà đưa ra sách lược. Duy Liêu cùng Trương Định sẽ là hai người làm mồi nhử cố thủ tại các quả đồi điểm cao chặn đứng các con đường tiến công của quân Pháp vào trấn biên. Hai vị tướng này được mệnh lệnh bắt buộc phải tử thủ trong 2 canh giờ để Hoàng Diệu cũng như các cánh quân khác bố trí hậu chiêu.

Nhưng lúc này đây hoàn cảnh của quân Đại nam rất thảm hại, lửa cháy tràn ngập trận địa, khói độc bốc lên khắp nơi, quân Đại nam hoàn toàn không có kế hoạch cho trường hợp này nên lúng túng vô cùng. Miệng mũi của các binh sĩ đã khô rát lắm rồi, hit thở cũng khó khăm muôn phần. Thêm vào đó mắt họ cay xè, nước mắt dang dụa, không thể nhìn rõ đường mà tấn công hay phòng thủ. Không còn cách nào khác Duy Liêu phải cho hạ lệnh rút quân khỏi trận địa ngay lập tức, nếu còn chần trừ mà ở lại thì quân Đại nam có nguy cơ bị tận diệt hoàn toàn nếu Pháp tiến hành tiến công bộ binh.

Quân Đại nam lần lượt ủ rũ cuốn cờ kéo súng mà theo các thông đạo chiến hào đã đào sẵn và rút lui. Nhiệm vụ hai canh giờ cố thủ của họ đã hoàn toàn thất bại, cuối cùng thì quân của Duy Liêu cũng chỉ có thể nằm im trong chiến hào ăn pháo kích trong nửa canh giờ và rút. Họ hoàn toàn không thể gây nên bất kì thương tổn nào cho quân Pháp được cả, bên cạnh đó Đại Nam còn có thới hơn năm mươi người thương vong vì đạn pháo. Thật là một trận chiền khuất nhục và không cân sức về mặt khí tài quân sự. Công nghệ đạn pháo của người Pháp quả là quá cao đi.

Hoàng Diệu nhận được tin báo từ tiền tuyến thì ngay lập tức ông cho hủy đi kế hoạch bao vây quân địch, đánh bằng du kích. Vì lúc này quân Pháp chắc hẳn đã vượt qua trận địa của Đại Nam mà tiến về Trấn Biên. Địa thế lúc đó lại quá trống trải để thực hiện đánh du kích rồi.

Vốn gĩ kế hoạnh của Hoàng Diệu là lập căn cứ làm mồi nhử cầm chân quân pháp tại vị trí thuận lợi đánh du kích, sau đó sẽ tiến hành bủa vây và tấn công chớp nhoáng nhiều đợt tiêu hao sinh lực địch. Nhưng quân Hoàng Diệu chưa kịp hành động thì quân Pháp đã đục thủng phòng tuyến tai Bưu Tân và công thẳng về Trấn Biên, điều này khiến cho Hoàng Diệu không thể không rút về mà thực hiện kế hoạch dự phòng.

Lại có một câu hỏi đặt ra đó là tại sao Hoàng Diệu không đặ mai phục trên dường đi và đánh du kích dọc đường đi. Đơn giản vì ông muốn bố trí để cắt đường lui của nhánh quân Pháp này rồi tiến hành tiêu diệt bằng du kích chiến. Còn lí do tại sao ông không lấy Trấn Biên làm mồi nhử thay cho các đồn chiến hào trên điểm cao. Đây là Hoàng Diệu muốn dùng Trấn Biên làm kế dự phòng, và cũng muốn thử nghiệm tác chiến chính diện với quân Pháp. Nói trắng ra là ông muốn luyện binh và thử nghiệm mọi phương án có thể. Lần này là ông muốn thử nghiệm sức phòng thủ theo cách đào hào, hầm cá nhân, kết hợp bao cát. Đây là một chiến thuật hoàn toàn mới với quân Đại Nam nên cần thực chiến kiểm chứng. Cách làm này quả thật sẽ gây lên tổn thất về mặt sinh mạng. Nhưng thân là tướng quân nghĩ đến đại cục của tổ quốc Hoàng Diệu buộc phải chấp nhận hi sinh này nếu ông muốn có được một đội quân tinh nhuệ thiện chiến thực sự.




Chú thích:
.
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 68: Đối đầu sòng phẳng



Tình hình chiến sự tại Bưu Tân là quân Đại Nam tan tác bỏ chạy khỏi chiến hào nhưng tình hình tại Bình Tân lại khác hoàn toàn. Nơi này người chỉ huy của quân Đại Nam là Trương Định tướng, một trong những người đã quần nhau với quân Pháp mấy năm vừa qua và đã có kinh nghiệm nhất định trong việc đánh cung Pháp quân.

Trương Định đã có những trận đánh chiếm ưu thế với quân Pháp, Tháng 2 năm 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định. Sau đó, Trương Định đem quân đồn điền của mình lên đóng ở Thuận Kiều (Gia Định), và từng đánh thắng đối phương ở Cây Mai, Thị Nghè. Đây là trận đánh mà quân Đại Nam chỉ có đao thương và cung tên chống lại giặc Pháp mà thôi.

Cũng phải nói rằng họ Trương có kinh nghiệm nhất định với việc va chạm bộ binh của quân Pháp. Ông đã trình bày những hiểu biết và kinh nghiệm của mình cho các đồng nghiệp đến từ Tân Kinh quân trong các buổi họp sĩ quan. Ý kiến của ông rất được Hoàng Diệu hoan nghênh và tán thưởng, Hoàng Diệu đã ra lệnh cho các tướng dưới chướng của mình tìm hiểu kĩ càng và tìm cách áp dụng.

Nhưng có câu chủ tướng tính là một chuyện, hạ cấp nghe hay không lại là chuyện khác. Các tướng sĩ Tân Kinh quân quả thật hơi quá kiêu ngạo sau trận thắng trên sông Đồng Nại mà quên đi ý kiến của Trương Định. Trong mắt họ thì Tân Kinh quân là cường quân, và là đội quân duy nhất của Đại Nam có thể làm nên chiến thắng lịch sử trước quân Pháp. Vậy thì họ cần gì phải nghe những ý kiến của bại tướng như Trương Định làm gì. Đây chính là một bài học khốc liệt phải trả giá bằng xương máu khi có sự tự kiêu tự mãn trong quân sự chuyện.

Khác với quân Đại Nam tại Bưu Tân, chiến hào trận địa của Đại Nam tại Bình Tân trở nên nhốn nháo hoảng loạn vô cùng sau vài đợt Pháo kích ngắn ngủ của quân Pháp. Vậy là có đến hơn 200 binh sĩ đại nam gióng chống , dương cờ mà ầm ầm chạy ra khỏi chiến hào lui binh, mặc kệ cho các sĩ quan Đại Nam “bất lực” kêu gào thúc chiến. Tình thế quân Đại Nam tại Bình tân loạn như cào cào và đứng trước nguy cơ “vỡ trận” trong giây lát.

Trung tá Botros của quân Pháp thông qua kính viễn vọng thì đã thấy rõ tất cả, anh ta vội vàng nắm lấy “ thời cơ” khó có được mà lệnh cho Pháo binh bắn thêm một lươt đạn rồi quân bộ binh xung phong chiếm trận địa. Tư tưởng của Botros là tận diệt cánh quân này của Đại Nam.

Quân Pháp cùng lính đánh thuê Philippines ầm ầm xung phong về phía trận địa của quân Đại nam, tất nhiên lũ xuông lên phía trước là lính Philippines rồi, vì quân Đại Nam rất hau chơi bài bẫy chông phía dưới đất sau đó ngụy trang nên lính Pháp cực kì đề phòng chuyện này. Nói là xung phong nhưng khi đến gần trận địa quân Việt thì lính philippines giảm hẳn tốc độ, họ đang chọc phía dưới chân để thăm dò hầm chông bí mật. Tất nhiên bên cạnh đó sẽ có các binh sĩ phụ trợ dương súng về phía trận địa quân Đại Nam. Nếu có lính Việt cầm đao kiếm xông ra thì họ sẽ tiến hành bắn giết ngay lập tức.


Thật ra quân Đại Nam cũng có bố trí bẫy chông nhưng không nhiều, điểm quan trọng là nếu như thực sự có thời gian cũng như có sự chú ý thì bẫy chông thực sự không gây nên quá nhiều tác dụng. Quân philippines lần lượt loại bỏ được các bẫy chông mà tiến lên. Philippines binh sĩ cũng thừa am hiểu cái kiểu đánh trận bẫy dập này, vì họ cũng đã làm không ít tại đất nước của mình. Quân Pháp tiến vào đến phạm vi 200 m thì đột biến bỗng nhiên diễn ra.


Chẳng hiểu quân Đại Nam đã từ lúc nào mà chui ra khỏi chiến hào và sẵn sàng súng ống để chuẩn bị. Tất nhiên người thò mặt lên mà quan sát cũng chỉ có các sĩ quan lấp ló sau các bao cát xếp thành lỗ châu mai kín đáo mà thôi. Tất cả chiến sĩ Đại Nam vẫn nồi yên mà ôm chặt bọc súng trong tay.

Quân Pháp và lính đánh thuê đanh tiến dần về phía trước bỗng nghe một tiếng thét vang vọng trận địa phía Đại Nam.

- Vào vị trí, nhắm chuẩn, bắn tự do..
- Vào vị trí.
- Nhanh vào vị trí.

Sau tiếng hét lớn của Trương Định là hàng loạt các tiếng hét nối tiếp của các sĩ quan đang ra lệnh cho binh sĩ dưới quyền, yêu cầu họ vào vị trí chiến đấu. Trước mắt quân Pháp bỗng xuất hiện hàng loạt các “gáo dừa” tròn tròn lấp ló sau công sự. Pháp quân chưa định thần lại sau bất ngờ này thì hàng lọt tiếng nổ vang lên. Thì ra quân Đại Nam còn lại trong chiến hào đã xuất thủ.

Các binh sĩ Đại nam chưa dính thương vong đều tăm tắp theo hiệu lệnh mà lao lên các bờ chiến hào. Ngay cả các binh sĩ bị thương nhẹ cũng cố nhịn đau mà thực hiện mệnh lệnh tác chiến. Súng của họ đã tăm tắp mà kê lên thành chiến hào rồi cùng nhau xạ kích.

Tiếng nổ ào ào vang lên khắp các nơi trong chiến tuyến của người Việt, tiếng đạn bay vèo vèo reo rắt trong không gian. Rồi hoa lửa tràn ngập, hoa máu cũng nở tươi.

Quân Pháp đang còn chờ đợi sau tiếng hô xung phong của quân Đại Nam là một loạt người A nam da vàng nhỏ bé mặc áo vải tay cầm gươm đao xông lên từ chiến hào. Công việc của họ là phắn từng loạt đạn và hạ sát những người ngu ngốc cầm dao kiếm đọ súng đạn. Những tên các mồm người Pháp còn mỉa mai mà cho rằng có lẽ đây là cuộc thi bắn gà tây. Nhưng lần này không đúng rồi, không hề có người A nam bé nhỏ xông lên chỉ có những “gáo dừa” lấp ló cùng những họng súng lạnh lùng chĩa vào quân Pháp mà xạ kích.

Ba trăm họng súng, ba trăm phát đạn, ba trăm đường kẻ vạch không khí, và hàng trăm tia máu đỏ tươi nở rộ. Chỉ trong một phút giây ngắn ngủi như vậy mà đã có gần 150 người nằm xuống dãy dụa. Có lẽ trong số này có người chết, người bị thương, nhưng đảm bảo rất khó có người trong đám nằm xuống này có thể tái chiến.

Phản ứng của quân Pháp lúc này không phải là bỏ chạy tứ tán, hay quay đầu rút lui. Người Pháp không phải là động vật thiếu não trong các tiểu thuyết tự cường của Trung Hoa. Người Tây dương không phải ngu ngốc như sự tưởng tượng của đa phần có chủ nghĩa đại dân tộc. Trái lại với đó, người Pháp mạnh, nhất là vào lúc này, họ văn minh hơn, tân tiến hơn, quân đội kỷ luật hơn, thiện chiến hơn. Ít nhất nếu so sánh thì người Pháp thiện chiến gấp nhiều lần người Đại Nam lúc này, và tầm hiểu biết cá nhân của họ cũng là vượt trội chúng ta.

Quân philippines còn đang lớ ngớ tại tuyến đầu thì quân Pháp hoặc quỳ hoặc nằm , hoặc tìm vật che che chắn đã hạ hết trọng tâm cả rồi. Họ chưa được lệnh rút rui, vả lại những người Pháp thiện chiến này hiểu rõ, những vũ khí của quân Đại Nam không thể nào là súng hỏa mai cho được, đây là vũ khí hiện đại tương đương với họ. Nếu quay lưng mà chạy thì thương vong sẽ càng lớn hơn nhiều.

Sĩ quan người Pháp lại càng hiểu rõ hơn về chiến thuật. Họ đa phần được đào tạo tại các học viện quân sự chuyên nghiệp tại Pháp Quốc, cũng có thể là du học tại các quốc gia Châu Âu khác. Vậy nên trình độ sĩ quan Pháp đồng đều, và rất am hiểu quân sự nhất là quân sự hiện đại.

Việc quay lung chạy trốn đồng nghĩa việc quân Đại Nam có thể lao lên và đuổi theo. Đến lúc đó thì tình hình của quân Pháp sẽ cực kì tệ hại vì Pháo binh không thể có trợ giúp nào đắc lực. Mệnh lệnh giữ nguyên vị trí phản công và bắn yểu trợ rút lui sau đó được ban bố. Quân Pháp bò trên mặt đất cùng lấy chính thân thể của đồng đội làm vật cản để tiến hành phản công.

Một màn đọ súng giữa hao bên Đại Nam và Pháp quốc lần đầu tiên một cách sòng phẳng đã diễn ra tại Bình Tân trên một ngọn đồi đất vô danh.

Hai trăm quân Đại Nam giả vờ bỏ chạy cũng lục đục theo thông đạo hào mà trở lại chiến trường. Đến lúc này mọi mệnh lệnh như bắn theo lượt hay bắn đội hình đều là vô dụng. Hai bên binh sĩ đều dùng kĩ năng xạ kích của mình mà bắn giết đối phương. Và hai bên đang ở thế dằng co, tỉ lệ thương vong của Pháp quân có cao hơn một ít vì họ bị tập kích bất ngờ ban đầu mà bị thương vong đến gần 150 nhân mạng.

Khoảng cách 200-300 m thì súng Kammerlader của Đại nam hoàn toàn có thể đảm nhận nhiệm vụ công phòng. Thêm vào đó trong tay Trương định tướng còn có một đội quân gần hai trăm người với súng Minire Rifle thu được của người Pháp. Đội quân này mới thành lập được gần hai tháng, huấn luyện về chiến thuật chưa quá thành thục, nhưng về bắn đạn thì họ không hề yếu kém. Bốn chiếc chiến hạm thu được có rất nhiều đạn dược và thuốc súng để họ luyện tập trong thời gian qua.

Thật ra trong chiến trường nếu xét riêng về bộ binh thì quân Đại Nam chiếm ưu thế. Họ đang từ trên cao bắn xuống, họ đang nấp trong chiến hào mà bắn ra, trang bị của họ lại tốt hơn bộ binh Pháp. Tốt hơn là vì trong khoảng cách này ưu thế tàm xa của Minire Rifle hoàn toàn vô dụng. Thêm vào đó Kammerlader nạp đạn dễ hơn nhiều, Đại nam binh sĩ có thể nạp đạn với đủ mọi tư thế. Trong khi đó quân Pháp khi nằm rất khó nạp đạn cho súng Minire Rifle, họ luôn bị vướng víu do cây thông nòng và nhồi đạn của súng quá dài, không thích hợp cho tư thế nằm. Muốn nhồi đạn thì họ phải nhổm người lên một chút và rất dễ trúng đạn từ phe đối diện.

Quân Đại nam thì xung sướng hơn nhiều, họ có chiến hào để bảo vệ. Đến cả Tây Uyên binh dòng chính của Trương Định cũng có thể nửa quỳ mà nạp đạn cho những cây súng Minire Rifle của họ. Bên cạnh đó mũ bảo hiểm sắt của quân Đại Nam rất hiệu quả. Vì cấu tạo hình bán cầu đặc chưng nên viên đạn nếu không bắn vào chính giữ thì rất dễ bị vuốt lệch qua hai bên. Chính những chiếc mũ sắt này đã cứu không biết bao nhiêu tính mệnh của binh sĩ Đại Nam trong vài phút đọ súng vừa qua.



Vốn dĩ bộ binh Pháp quốc dường như nằm trong tư thế bất lợi hoàn toàn và sẽ bị tiêu diệt trong thời gian không lâu. Nhưng sự thật thì không hoàn toàn như vậy. Ngoài lợi thế ban đầu là tiêu diệt 150 người đối phương thì lúc này quân Đại Nam đang phải gồng mình mạng đổi mạng cùng quân thù. Lý do đơn giản , quân Pháp không chỉ có mỗi bộ binh mà thôi, pháo binh của quân Pháp đã hỗ trợ kịp thời. Lúc này đây khoảng cách hai bên là gần 200m, vậy nên những phao thủ kinh nghiệm của Pháp quân vẫn có thể căn chỉnh mà bắn vượt đội ngũ tấn công quân Đại Nam. Tất nhiên lúc này pháo binh của chúng không dám dùng đạn Carcass. Vì nếu dùng đạn nổ chùm này thì quân Pháp cũng khó mà tránh được tổn thương. Tất nhiên tổn thương sẽ không lớn như quân Đại Nam. Xong lúc này những bộ binh pháp đã rơi vào tình thế kẹt giữa hai đường đạn. Tâm lý của họ đã chạm đến bờ vực sụp đổ, nếu còn có tổn thương từ chính pháo binh của đồng đội thì những bộ binh Pháp sẽ vỡ trận ngay.

Không còn cách nào khác Pháo binh chỉ có thể thay đạn chạm nổ, loại đạn chuyên công phá công sự cũng như mạn thuyền chiến. Và đồng thời tầm bắn của đại bác cũng phải chỉnh lại để hơi vượt xa một chút nhằm đảm bảo cho bộ binh.

Mặc dù đạn đại bác Shell không chuyên dùng cho chống bộ binh, nhưng lúc này quân Đại Nam đã bò ra khỏi hầm cá nhân mà tác chiến nên tổn thất của họ là không nhỏ. Tuy là vậy, nhưng dưới là mưa đại bác đạn thì nhóm quân Đại Nam này vẫn kiên trì dùng mạng đổi mạng quyết tiêu diệt quân thù. Đây là trận chiến sẽ khiến họ tự hào, sẽ khiến họ đi vào lịch sử. Vì đây là một trận chiến mặt đối mạt sòng phẳng mà không phải là một trận lén lút phản công..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 69: Gió đổi chiều



Hao bên đấu súng lúc này chính là khảo nghiệm sự gan dạ cũng như lòng kiên trì của mỗi bên. Từng giây từng phút cả hai phía đều có người ngã xuống, liên tục có sĩ quan gào thét ra lệnh cũng như động viên chiến sĩ ở hai bờ chiến tuyến.

Lúc này chiến đấu lại trở thành màn tra thấn thần kinh cũng như đọ nhau sự lỳ lợ cũng như gan dạ. Bộ binh Pháp bị kẹt giữa hai hàng súng đạn và không có cồn sụ che chắn, họ lại ở địa thế thấp hơn phe đối diện, lúc này bộ binh Pháp giống như những tấm bia sống vậy. Nhưng phe Đại Nam cũng không khá khẩm gì, họ vừa phải đối súng cùng quân giặc vừa phải đội làn mưa đại bác đạn mà chiến đấu.

- Bẩm tướng quân, binh đồn ở Bưu Tân bị công chiếm, quân Pháp tiến thẳng Trấn biên…. Đại soái phải lãnh quân trở về phòng thủ, chỉ có 500 quân tăng viện cho chúng ta. Đại soái có lệnh Tướng quân hoàn toàn quyền quyết định chiến sự nơi này.

Lúc này một tên lính thám báo bỗng nhiên từ hậu quân hớt hải mà bò tới vị trí của Trương Định tướng bẩm báo. Thì ra theo kết hoạch thì Hoàng Diệu sẽ để lại một ngàn binh thủ Trấn Biên thành, một ngàn binh tăng viện Bưu Tân tiến hành bao vây đánh du kích quân địch, một ngàn binh tiến hành tương tự đối với Bình Tân. Nhưng lúc này vì thình thế thay đổi đột ngột mà Hoàng Diệu soái bắt buộc phải cắt đi phân nửa binh lực hỗ trợ Bình Tân nơi Trương Định đang chiến đấu.

- Ta hiểu rồi, ngươi nhanh về bẩm báo với đại soái, Bình Tân vô sự, Trương Định ta sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để giữ Bình tân, quyết không để đại soái rơi vào cảnh hai mặt thụ địch.
Chiến đấu tại bình tân đã vượt quá hai canh giờ, lúc này hai bên đã tổn thất nặng nề lắm rồi, nhưng quân Đại Nam có viện binh thì chả nhẽ quân Pháp không có. Chỉ biết rằng lúc này Pháp quân cũng có viện binh tăng thêm từ chiến hạm đổ bộ xuống.

Sự việc phải nói đến cách đây một canh giờ thì trung tá Botros cũng đã cầu viện từ các chiến hạm khi quân Pháp mắc kẹt và có su thế tổn thất nặng nề. Sự thật quân Pháp tại Đại nam ít ỏi chỉ với tầm 5000 quân cùng 3000 lính đánh thuê, trong khi đó phải cắt cử một số lượng không nhỏ để trấn giữ các vùng đất mới được chiếm đóng. Vậy nên số lượng quân Pháp dành cho lượt đổ bộ Trấn Biên này không quá nhiều cho được. Nhận được cầu viện, chỉ huy thủy hạm Pháp quân tại bến Bình đành gom góp số quân đang bảo vệ trên bong chiến hạm tiến hành chi viện. Tất cả có tầm 300 lính Pháp tiến hành đổ bộ lần hai và đang nhanh chóng tiên về phía chiến trường Bình Tân.
- Bẩm tướng quân, Võ tướng quân đã dẫn năm trăm binh tới tri viện. Ông ấy còn cách chúng ta 2 dặm.
Một trinh sát của quân Trương Định đã báo cáo lại tình hình cho Trương Định, thì ra Võ Văn Quang đã dẫn quân tới rất gần với trận địa hào của quân Đại nam rồi.


- Tại sao giờ này ông ta mới tới nơi, yêu cầu ông ta tăng viện cho chiến hào hai trăm tay súng, còn lại thì để ông a dẫ quân đi vòng cánh rừng bên phải tấn du kích vào cánh trái của quân địch. Ngươi tìm lời hay nói giúp ông ta nếu đột phá được trận địa Pháo của quân Pháp là tốt nhất.

Năm trăm quân của Trương Định lúc này chịu tổn thương vô số, số xạ thủ còn lại của ông ta cũng chỉ còn hơn ba trăm người mà thôi. Tất nhiên số quân của giặc Pháp cũng không khá khẩm là bao nếu chỉ nhìn vào lượng người thưa thớt hiện tại họ còn lại trên chiến trường. Trận chiến này đúng thật là tổn thương người một vạn thì mình cũng thiệt tám ngàn.

- Thưa tướng quân, Võ trưởng quan tới chậm vì ông ta phải vận chuyển mấy khẩu pháo nhỏ 4 phau gì đó, tăng viện cho chúng ta, nghe đâu đây là lệnh của Hoàng soái.

Thì ra vì tình hình trận chiến tại Bưu Tân khiến cho Hoàng Diệu thay đổi sách lược mà quyết định điều các khẩu pháo nhỏ 4 pound Gribeauval đã thu được từ các tiểu chiến hạm trước đó cho Trương Định. Điều này cũng là một quyết sách mang tính tình thế khi mà Hoàng Diệu nhận được tin báo từ khoái mã về tình hình chiến trận tại Bình Tân. Đáng lẽ ra những khẩu pháo này sẽ được bố trí tại thành Trấn Biên, nhưng Hoàng Diệu thực sự mong muốn Trương Định có thể cố gắng cầm chân hoặc đánh bại quân Pháp bên mé cánh trái của Trấn Biên thành.

Những khẩu pháo 4 pound Gribeauval này chỉ nặng tầm 200 kg với đường kính nong khá bé chỉ có 3 in ( 80 mm). Chúng là những đại bác chỉ có thể bắn đạn chảm nổ thông thường, sức công phá và sát thương cho bộ binh hết sức có hạn. Nhưng tầm xa của những khẩu pháo này hết sức đáng nể lên đến 1200. Quan trọng là nòng pháo bé và ngắn chỉ có 160cm nên tốc độ bắn khá cao. Với các pháo binh khá chuyên nghiệp thì có thể bắn 2-3 lượt/ phút. Gribeauval được phục vụ trong quân đội Pháp từ thời Napoleon đệ I cho tới nay. Nhưng những thanh đại bác Gribeauval lúc này đã được cải tiến rất nhiều so với những năm cuối thế kỉ 18.

- Quá tốt rồi, mau cho pháo binh lập tức bắn vượt trận địa áp chế pháo binh đối phương.

Cái mà Trương Định cần lúc này là quấy phá trận địa pháo binh của đối phương mà không phải là đánh tan hay tiêu diệt gì đó. Trình độ pháo thủ của Đại Nam vẫn chưa đủ trình độ để làm điều đó. Phải nói những Pháo thủ Đại Nam là những người mới tò te luyện tập bắn pháo Gribeauval trong gần một tháng trời mà thôi. Tất nhiên huấn luyện viên của họ chính là các pháo thủ tù binh người Pháp bị ép làm chuyện này. Số đạn nổ của các pháo này là rất hữu hạn thế nên các pháo thủ Đại nam không có cơ hội bắn đạn nổ thật. Họ chỉ có quyền luyện tập với đạ bi sắt rỗng rột được chế tạo cùng cân nặng với đạn 4 pund mà thôi. Nhưng kể cả như vậy thì nhóm pháo thủ cũng tiêu tốn một lượng rất lớn thuốc súng trong luyện tập. Điều này khiến cho Hoàng Diệu không thể không giảm số lượng bắn luyện của họ xuống.


Xe pháo Gribeauval 4 pound thực tế là không có. Đây chính là những cỗ giá pháo với bánh xe do Đại nam thợ rèn cộng thợi gỗ chế tạo theo bản vẽ của Pháo binh Pháp khai ra. Tất nhiên vì là các bản vẽ này theo trí nhớ của đám pháo thủ Pháp nên không thể được như nguyên bản. Nhưng các thiết kế cơ bản như giá cố định tại pháo. Trục xoay điều khiển nòng, bánh xe, càng chống giật thì đều có. Độ chính xác của các món đồ Đại Nam chế tạo không thể tuyệt đối cho được nên chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến độ chính xác của Đại bác. Vậy nhưng kể cả như vậy thì chúng vẫn tốt hơn quá nhiều so với thần công súng của Đại Nam lúc này.

Trong khi Đại Nam đang điều động binh lực thì thật trùng hợp, quân Pháp cũng điều động binh lực. 300 lính tiếp viện thực tế không có quá nhiều tác dụng nếu lại xông lên vào điểm kẹt của đám bộ binh phía trước. Nếu làm như vậy họ chỉ tăng thêm số lượng quân bị kẹt tại đó mà thôi. Botros ra lệnh cho nhóm quân cứu viện này tiến vào cánh rừng bên tay phải họ mà đi vòng về phía trận địa quân Đại Nam. Hắn hi vọng sẽ bất ngờ đánh thọc vào cánh phải của địch nhân khiến cho Đại Nam bối rối. Lúc đó thì hắn sẽ tùy tình huống và rút lui hay tấn công tiêu diệt cứ điểm này của Đại nam.

Gribeauval 4 pound thực tế khá nhỏ và gọn gàng, với cả trọng lượng của giá đỡ xe kéo và nong pháo thì trọng lượng cũng rơi vào tầm 350kg mà thôi. Với trọng lượng này thực tế chúng được chất lên xe ngựa mà trở đến Bình Tân theo quan lộ không quá rộng lớn và bằng phẳng. Nếu là đại bác nặng nề mà không quá hiệu quả của Đại Nam thì chưa chắc Hoàng Diệu có thể vận chuyển kịp từ Trấn Biên hỗ trợ cho Bình Tân. Với trọng lượng 350 kg thì cũng cần tới 6 người đàn ông lực lưỡng mà to khỏe mới vận chuyển được vào vị trí thuận lợi bên cánh trái của trận địa quân Việt. Những công binh vội vã dùng xẻng cá nhân mà đào các hào nông làm nơi đặt trận địa pháo. Tất nhiên họ bố trí cả bảo tải cát, cành cây nguỵ trang v.v theo bào học ngụy trang Du kích của Việt quân. Triết lý trận địa pháo binh giả và ngụy trang pháo binh đội có lẽ từ đây mà được diễn sinh. Thực tế Diêu thiếu không hề ngờ đến nhanh như vậy đồng chí Hoàng Diệu đã sở hữu Pháo hiện đại nên hắn hoàn toàn không có chỉ bảo món này. Điều này là Hoàng Diệu học một hiểu mười mà thôi.

Trận địa pháo binh Đại nam đã bố trí xong xuôi, đây là giờ phút lịch sử vì một đội pháo binh hiện đại đầu tiên của người Đại Nam chiến đấu cùng pháo binh thiện chiến của quân Pháp. Trong chiến hào các binh sĩ Đại nam sục sôi chiến đấu, vì họ đã được tiếp viện thêm 200 quân. Mà tình hình cách không xa thì dường như quân Pháp không có tiếp viện trức tiếp mà đang đau khổ chống đỡ. Đây chính là điểm mạnh của đội quân có được hệ thống giao thông hào. Họ có thể chủ động phòng ngự, chủ động lui binh, chủ động tăng viện.

2 giờ chiều ngày 27 tháng 8 năm 1861, tiếng pháo đầu tiên của đội pháo binh hiện đại người Việt đã cất tiếng. Đấy là tiếng đạn gầm rú, cũng là tiếng đạn oanh vang như tiếng khó trào đời của một lực lượng hết sức quan trọng trong thời kì này.

Tiếng đại bác của quân Đại Nam cũng là dấu chấm hết cho quân Pháp lúc này. Trung ta Botros biết rõ điều này. Sau khi nhưng viên đạn dại bác của đối phương xé gió mà vượt qua đầu hắn rồi nôt tung phía sau trận địa pháo quân Pháp thì Botros cũng trát đắng trong lòng mà thầm than. Trận chiến này hắn đã thua triệt để. Không có ai hiểu rõ đại bác Gribeauval hơn người Pháp, chỉ cần nghe tiếng nổ thôi mà không cần dùng viễn vọng kính quan sát thì hắn cũng đoán ra có đến gần chục thanh đại bác Gribeauval 4 pound đang tìm cách oanh tạc trận địa pháo của hắn. Năm thanh đại bác M1845 12 pound của hắn có tầm bắn lên đến 1 700 m nhưng lúc này hắn đã sai lầm bố trí quá gần doanh địa quân Đại Nam, do đó chúng nằm trong phạm vi tấn công của quân đối diện. Lúc này mới tìm cánh di chuyển trận địa pháo là vô ích. Những thanh pháo M1845 12 pound nặng hơn một tấn , cần ít nhất là 4 con ngựa để di chuyển, hay 12 người đàn ông để làm công việc này.

Nhưng lúc này di chuyển trận địa phỏng có ích gì? Di chuyển trận địa đồng dạng không thể bắn áp chế bộ binh trong hào của quân Đại Nam. Điều này đông nghĩa quân Pháp sẽ bị tàn sát trong khi Đại Nam đã có tăng viện rất nhiều trong chiến hào. Nếu hắn thay đổi mục tiêu đấu pháo cùng quân Đại Nam thì tình hình tương tự cũng diễn ra. Bên cạnh đó sau vài tiếng đồng hồ chiến đấu thì các khẩu đại bác M1845 12 pound đã quá nóng và cần nghỉ ngơi, việc trườm khăn ướt liên tục cũng không thể nào thay đổi được thực tế này.

Botros đang hối hận. Hối hận vì đã điều 300 quân vào cánh rừng những mong có thể đánh chọc cánh quân địch. Nếu như còn 300 quân này thì hắn hoàn toàn có thể bố trí một trận địa phòng ngự phía xa sau đó hạ lệnh rút lui. Kể cả mệnh lệnh này sẽ làm 400 quân pháp bộ binh đang mắc kẹt có thể bị tổn hại không tả nổi. Nhưng ít ra hắn vẫn có thể bảo toàn một số lượng nhất định sức chiến đấu. Nhưng lúc này Botros hắn đã rơi vào tình thế tiến thối lưỡng nan.

Chiến trận là vậy đó, đôi khi không phải do tướng quân tính toán không bỏ sót mà chiến thắng. Có khi chiến thắng đến chỉ vì may mắn cộng thêm những sự việc ngẫu nhiên khách quan như vậy. Trương Đinh lúc này là người được vị thần may mắn vươn cành ô liu. Diễn biến trận chiến lúc này hoàn toàn có lợi cho quân Đại Nam rồi..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 70: Truy đuổi



Nói Botros trung tá quan Pháp còn hi vọng hay không. Hắn còn, chưa đến phút cuối thì hắn vẫn còn hi vọng. Nhưng cái hi vọng này là hắn bị ép chứ không phải tự nguyện hi vọng. Hắn bị ép để hi vọng rằng 300 quân Pháp tiến vào cánh rừng bên phải sẽ có đủ thời gian kịp thời đánh đến cánh trái của đối phương. Mà nơi cánh trái này cũng chính là nơi đóng quân của các pháo Binh Đại Nam. Tuy rằng quân Việt đã ngụy trang kĩ càng cho trận địa pháo binh. Nhưng mà với những người có kinh nghiệm như Botros thì nghe và xem hướng đạn pháo đã có thể suy đoán phần nào vị trí bố trí đại bác trận của đối phương.

Botros vẫn ra lệnh bắn áp chế quân Đại Nam trong chiến hào mà không tấn công đại bác trận quân Việt. Đơn giản lúc này Botros không quá nhìn rõ vị trí đại bác trận của đối phương, thay đổi hướng pháo trận, căn chỉnh lại tọa độ một lần nữa là công việc tốn thời gian. Hăn chỉ có thể kiên trì đánh bộ binh Đại Nam và hi vọng 300 quân Pháp trong rừng sẽ lập nên kì tích.

Kì tích đúng là xảy ra, nhưng là sảy ra ben quân Đại Nam mà không phải từ phía quân Pháp.Ở ngay lượt bắn thứ hai thì một nhóm phá o thủ đại bác Gribeauval 4 pound đã quá may mắn mà bắn chính xác vào một kíp pháo M1845 12 pound Nepoleon ( Napoleon III) của quân địch. Tất nhiên vì sức nổ của đạn có hạn nên chúng không gây nên quá nhiều thương vong. Nhưng đầu đạn nổ này đã bắn tan một bên bánh xe của giá đại bác Napoleon III. Điều này có nghĩa là khẩu pháo này bị loại khỏi vòng chiến đấu.

Pháo binh Pháp lúc này hoảng loạn vô cùng, pháo thủ thường là những người tố chất tâm lý khá tốt trong thời điểm này của quân Đội Pháp. Điều này nghe có vẻ khá nghịch lý vì tại sao bộ đội tuyến hai, thậm chí là tuyến 3 như pháo binh lại cần phải có tố chất tâm lý cao. Điều này đơn giản vì Napoleon dựng nghiệp cùng pháo binh. Và lúc này tại châu âu càng ngày các trận chiến càng phụ thuộc nhiều vào pháo binh để quyết đinh trận đấu. Hải chiến thì không phải nói rồi, đại bác trong hải chiến chính là vũ khí công kích mang tính chủ yếu. Bộ chiến cũng dần dần khẳng định sự lên ngôi của pháo trận, và tất nhiên pháo trận lại biến thành nơi cả hai bên đối đầu tìm cách tiêu tiệt. Vậy nên tố chất của các pháo binh phải cần rất cao để có thể hoạt động trơn tru dưới làn mưa bom lửa đạn. Mà Pháp là một trong những quốc gia hùng mạnh về pháo binh tại Châu Âu lúc này. Vậy nên dù một tôt pháo trúng đạn nhưng họ vẫn kiên trì quân lệnh mà đánh mạnh về phía Đại Nam chiến hào trận.

Trên điểm cao đang quan sát trận địa quân địch qua ống nhòm thì sĩ quan trinh sát của quân Đại Nam hét vang:

- Bắn trúng rồi, bắn trúng rồi, đại bác của chúng ta đã băn tan đại bác địch… ta nhìn thất pháo địch bị thổi bay mấy chục trượng.

Trương Định lắc lắc đầu cười thoải mái. Tên sĩ quan Đại nam này đang bốc phét, hay nói đúng hơn là hắn nói quá lên một chút. Làm gì có thấy được đại bác địch bị thổi tung lên mấy chục trượng. Ống nhòm thì ông cũng có mà quan sát đây thôi, thật ra chỉ nghe thấy tiếng pháo nổ vang phía Đại nam, rồi một nhóm đại bác tổ của quân Pháp bỗng nhiên khói bụi mờ mịt. Tiếp sau đó là người chạy tán loạn cùng người tìm cách cấp cứu, cứu viện tại khu vực đó. Nghi rằng tổ đại bác này của quân Pháp bị phá hủy cũng là có lý, với lại quân Đại Nam cũng cần được khích lệ tinh thần nên Trương tướng cũng mặc kệ cho tên kia nói dối.

Quân Đại Nam hò reo vang trời cang thêm hăng hài giết địch, lúc này tinh thần quân Đại nam lên rất cao dù họ vẫn chịu những đợt pháo kích từ quân địch. Lúc khi trước còn chưa có pháo binh “quân ta” hỗ trợi họ còn có thể bán trụ mấy tiếng đồng hồ, huống chi nay có cả thần binh pháo ngay bên cánh tat của quân đang nổ pháo ầm ầm. Chẳng cần biết pháo binh hiệu quả thật hay giả, nhưng chỉ cần nghe thấy tiếng nôt liên hồi của pháo trận bên mình thì quân Đại Nam đang khổ sở chiến đấu nơi chiến hào lòng tin sẽ tăng lên rất nhiều. Rất nhiều binh sĩ Đại Nam bộ binh đang thầm cảm ơn các đồng chí phao binh và hứa tron lòng sẽ không trêu đùa độc ác mấy tên “ ôm ống khói” ( biệt danh của pháo binh trong quân Đại Nam) nữa.

Chỉ huy pháo binh đội trên điểm cao cũng dùng kính viễn vọng mà quan sát được tình hình trên mà báo lại cho các binh sĩ của mình. Các pháo thủ là tự hào đến vạn phần, hưng phấn thẳng tắp bay cao. Họ không hề bị tấn công bởi quân địch nên tha hồ mà tự do căn chỉnh hay nạp đạn thao tác. Có được hưng phấn hỗ trợ, các pháo thủ Đại Nam như cắn thuốc lắc mà tấn công doanh địa quân thù. Vốn dĩ trong thời gian ngắn nên tốc độ lắp đạn pháo của họ không quá nhanh cho được. Nhưng không ngờ lúc này chúng pháo binh có thể phatshuy 200% khả năng của mình. Trung bình mỗi phút pháo binh đại nam có thể bắn đến 3 quả đạn mỗi khẩu đại bác. 8 thanh Gribeauval 4 pound đua nhau gáy vang trên chiến trường.

Khoảng cách 1200m có lẽ là cực hạn của đại bác Gribeauval 4 pound, và tất nhiên độ chính xac không thể nào tốt cho được. Nhưng vì số lượng pháo nhiều cộng thêm luotj bắn nhanh. Trong mỗi phút có đến hơn hai mươi quả đạn tìm vận may. Vậy nên sau khi bắn gần như hết cả số đạn dự trữ trong vòng 20p thì doanh địa pháo quân Pháp không còn tiếng động.

Lúc này đây trung tá Botros Pháp quân đã không còn một chút hi vọng mong manh nào nữa rồi, trận địa pháo tan tác đồng nghĩa pháo binh quân đại nam có thể chuyển hướng qua bộ binh Pháp. Thêm vào đó Việt quân có thể từ trong chiến hào mà tiến hành dần dần đồ sát quân Pháp không công sự che chắn phía bên ngoài. Botros trung tá không thể không ra lệnh rút lui, ít nhất còn có thể bảo tồn một số thực lực nhất định. Nếu để pháo Đại Nam tham chiến thì kể cả một chút thế lực còn lại cũng không còn.


Lúc này trong khu rừng thưa tại mé bên của quả đồi vô danh khu vực Bình Tân đang diễn ra một trận đọ súng khốc hiệt giữa hai ben quân đôi. 300 lính Pháp và 300 lính Đại Nam tình cờ gặp gỡ trong khu rừng thưa bé nhỏ này. Chiến đấu bùng phát trong chớp mắt.

Phải nói 300 lính này thuấn túy toàn là người Pháp chính cống, vì quân đánh thuê philippines đã dùng hết trong lúc xung phong ở đồi Bình Tân, đây là lực lượng tăng viện của quân Pháp được gom góp từ các chiến hạm đang neo đậu ngoài bờ sông Đồng Nại. Do đó họ thuần túy là quân Châu Âu to lớn.

Tao ngộ chiến giữa hai bên diễn ra trong chớp nhoáng, cả hai nhanh chóng tản ra núp sau các thân cây, tảng đá tiến hành đáp trả nhau bằng súng đạn. Vì địa hình rừng thưa rất phức tạp bởi cây cối nên khi cả hai bên phát hiện ra đối phương thì đã đến rất gần nhau rồi. Chiến đấu trong rừng thưa quân Đại Nam có lợi, lại một lần nữa không phải vì tướng quân điều khiển có cách, mà bởi vì những yếu tố khách quan may mắn làm cho quân Đại Nam chiếm ưu thế.

Bộ binh đại nam chiến đấu trong rừng thì có lợi thế đến mười phần. Thứ nhất người Đại Nam nhỏ bé nhưng linh hoạt, di chuyển trong những đám cây bụi cùng các cây lớn trong rừng hết sức nhanh nhẹn. Thứ đến Hoàng Diệu vì tằng hiệu suất của quân Tân Kinh nên đã trộng khá nhiều quân bẳn địa vốn là quân Tây Uyên của Trương Định vào để đảm nhiệm dẫn đạo. Do đó thông thuộc địa hình thì quân Đại Nam chiếm ưu thế hoàn toàn. Cuối cùng đó là Đại nam súng nạp dạn cửa sau nên tốc độ nạp đạn mau hơn nhiều, cộng thêm sự linh hoạt của Kammerlader khiến họ chiếm hoàn toàn ưu thế.

Tất nhiên Minire Rifle có được ưu thế hỏa lực tầm xa. Nhưng sự thật là chiến đấu trong rừng không thể dẽ dàng duy trì khoảng cách, do đó ưu thế này của quân Pháp dường như không mấy phát huy hiệu quả.

Nhưng kể cả nắm được những thuận lợi đến vậy nhưng Đại Nam bộ binh trong rừng cũng chỉ là chiếm ưu thế mà đánh lui quân địch từng bước mà thôi. Họ không thể tạo được thế bao vây hay tiêu diệt triệt để đối phương. Cuối cùng thì cuộc tao ngộ chiến này đã khiến sĩ quan chỉ huy cánh quân này của Pháp hạ lệnh rút lui. Kế hoạch của họ là tập kích bất ngờ tả quân của địch. Nhưng yếu tố bất ngờ đã không còn, bên cạnh đó lại bị áp chế. Không còn cách nào khác vị Đại úy Vincent buộc phải lui ra khỏi cánh rừng.


Nhưng “tái ông mất ngựa” không phải là chuyện hoàn toàn bất hạnh. Vincent ra lệnh rút lui lại ngay lúc mà trùng hợp gặp được trung tá Botros dẫn tàn quân hướng về phía bến Bình bên sông Đồng Nại. Có được sự giúp đỡ từ nhánh quân 250 người của đại úy Vincent thì hơn một trăm tàn binh của Botros có thể thở phào một hơi. Cuối cùng quân Pháp cũng có chút thực lực để tổ chức rút lui.


Thời kì này vẫn là súng bắn từng viên và nạp đạn hết sức mất công. Vậy nên không thể vừa di chuyển tốc độ cao vừa nạp đạn. Vì lý do này quân Pháp chấp nhận một con số hi sinh khổng lồ để đổi lại việc thoát thân của hơn 150 bộ binh rồi bỏ chạy. Quân Đại Nam do Trương Định cũng lao ra từ chiến hào, nhưng lúc này các bố trí của họ trước đó lại cản bước chân của chính người Đại Nam. Chính điều này đã khiến khoảng cách hai bên được kéo dãn đến hơn 700m. Sau đó quân Pháp bỏ lại hết các xác đại bác 12 pound mà chạy nên tốc độ của họ không kém mà vọt về phía bến sông.

Trương Định sau khi vượt qua được chính bãi chông do quân Đại Nam bố trí thì cũng đã muộn. Ông đã bỏ qua thời cơ tốt nhất để bắt gọn quân Pháp. Cuộc truy đuổi sau đó că hai bên đều giữ khoảng cách nhất định. Vì đôi bên lúc này đều có súng Minire Rifle vơi tầm bắn xa. Với địa hình truy đuổi trống trải như lúc này thì Kammerlader của Đại Nam hoàn toàn bất lợi.

Đến khi hai nhánh quân Pháp hội họp sau đó thì họ đã tới cách bến sông chỉ tầm 2km mà thôi. Lúc này tuy số lượng hai quân là chênh lệch khá lớn. Pháp với tàn quân chỉ có tầm 400 người, Đại Nam cộng cả viện quân và quân còn lại của Trương Định là hơn bảy trăm năm mươi người. Nhưng với địa hình lúc này thì quân Đại Nam không thể tấn công quân Pháp được.

Cuộc truy đuổi với khoảng cách hơn 500m vẫn được hai bên duy trì cho tới khi đến được bờ sông bến Bình Tân..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 71: Trấn Biên thành chiến kết.



Quân Đại Nam dù đông nhưng không hoàn toàn chiếm ưu thế nếu dàn trận tấn công trực diện trên đất trống, không có công sụ hỗ trợ. Đánh du kích lúc này cũng quá muộn vì quân Pháp đang tìm cách rút lui lên chiến thuyền, họ không có thời gian cù nhây với quân Đại Nam chô nên du kích chiến là không có không gian để thực hiện.


Các chiến hạm Pháp vẫn đang lăm le ngoài bến sông để có thể nổ súng yển trợ bất kỳ lúc nào, quân Trương Định hoàn toàn không dám tiến lại gần hơn bãi Bình. Tất nhiên Trương Định cũng cho cấp tốc điều pháo binh Gribeauval 4 pound đến vị trí này những mong có thể tiến hành tiến công vào điểm phòng ngự của quân Pháp từ khoảng cách an toàn. Nhưng cái thời này pháo kéo di chuyển là rất chậm. Con đường tiến về bãi bình còn bị pháo của Đại Nam cày lên một lượt nữa rồi nên đến khi vận chuyển được các thớt đại bác Gribeauval 4 pound đến bờ sông thì đã muộn. Quân Đại Nam đành phải chơ mắt mà nhìn 400 quân Pháp thoát đi bằng tàu vận binh. Mặc dù chiến thắng lần này có hơi không trọn vẹn nhưng Đại Nam quân cũng rất hồ hởi vui mừng. Đây gần như là một trận đánh công phòng chiến tay đôi, và phần thắng là quân Đại Nam.

Tình hình lúc này đây tại Trấn Biên Thành lại trầm mặc không thôi, nơi này xem ra lại không giống như đang có chiến tranh chút nào.


16h 30, Quân Pháp sau khi vượt qua Bưu Tân thì đã theo đường lớn trống trái chạy thẳng một mạch tới Trấn Biên thành. Cái con đường từ Bưu Tân đến Trấn biên quả thật to lớn bằng phẳng, hai bên lại là ruộng lúa bát ngát, rất có ít cây cối. Chính vì lý do chán nản này mà quân Đại Nam chẳng thể tôt chức đánh Du kích cho được. Không có cách nào khác Hoàng Diệu đành lùa phan nửa dân ra khỏi thành, còn phân nửa còn lại là những thành niên và những người có chút tự vệ được thì ông cho dồn hết vào Khu thành Tây.

Hoàng Diệu dọn trống trơn ba khu Đông, Nam, Bắc chuẩn bị cho một trận chiến tranh du kích đô thị chiến. Các tay súng được bố trí ngụy trang trong các nhà dân, công sự tạm thời khá dày đặc bên trong thành. Lúc này đây số quân trong tay của Hoàng Diệu cực nhiều. Tổng số quân bản địa Nam kỳ có đến bốn vạn. Ông lại mang đến một vạn năm ngàn tân kinh quân. Nhưng số quân thực tế Hoàng Diệu sử dụng thủ thành Trấn Biên chỉ có bốn ngàn người mà thôi. Đây chính là bốn ngàn tay súng và hơn hai trăm pháo thủ của 32 thanh đại bác Gribeauval 4 pound.


Nhưng cho dù là bố trí đánh du kích trong thành nhưng Hoàng Diệu không hề bỏ qua việc thủ thành. Không đến bước đường cùng thì Hoàng Diệu cũng không muốn chiến trường là khu nội đô. Nếu điều này sảy đến thì thiệt hại cho bà con trong Trấn Biên thành là rất lớn.

Một nhóm 500 binh sĩ Đại Nam được Hoàng Diệu bố trí bên trong những rừng cây thưa phía ngoài cửa Đông. Đây là hướng đến của nhóm quân từ Bình Đa huyện nơi Trương Định cố thủ. Phía thành Nam là nơi quân Pháp đang tụ tập và xây đắp công sự tạm thời lúc này. Cổng Nam thành Trấn Biên quả thật quá trống trải, không hề có được những vị trí thuận lợi cho việc đánh tập kính, hay du kích. Tại đây Hoàng Diệu đã cho vận mười khẩu pháo Gribeauval 4 pound lên đầu thành để cố thủ. Ngoài đại bác kiểu mới của Pháp thì ông cho bố trí hoàn toàn là các lô cốt đơn giản trên đầu thành rộng 3m này.

Nói đến lô cốt thì có lẽ thời này đã có khái niệm , nó là phiên âm của chữ Blockhouse. Lô cốt được xây dựng kiên cố bằng gạch, đá, bê tông... và có lỗ châu mai để bắn ra nhiều phía, có nắp và có nơi nghỉ ngơi cho quân sĩ. Lô cốt có thể được xây dựng nổi, nửa nổi nửa chìm hoặc lợi dụng sườn núi làm chìm hẳn. Nhưng đấy chỉ là những khái niệm chung mà thôi. Thời này lô cốt cược xây dựng tại các nước Châu Âu quả thật là những công trình to lớn , chắc chắn, bền vững và dĩ nhiên là tốn kém. Nhưng Hoàng Diệu lại tự nghĩ ra được lo cốt dã chiến của ông theo suy nghĩ của riêng ông. Hoàng Diệu cho bố trí nhiều các lô cốt cỡ siêu nhỏ trên mặt tường thành. Cấu tạo gồm các thanh gỗ chắc dựng thành hộm vuông sau đó chất bao tải cát lên mái cũng như phía trước để can đạn , pháo. Các lỗ châu mai thực tế là các khe hẹp của bao cát trên. Chiếc lô cốt đơn sơ này thực tế là biến thể của hầm cá nhân trong chiến hào. Chúng tuy rằng không mấy chắc chắn trước Đại bác cỡ lớn như M185 12 pound. Nhưng để phòng thủ đại bác nhỏ cũng như súng đạn thì quá tốt. Thêm vào đó những chiếc lô cốt này giá thành xây dựng quá rẻ, thời gian cực nhanh. Quan trọng là chúng có tính dã chiến cao, hoàn toàn có tính tháo rỡ và di dời.

Nhân viên và binh sĩ được ngồi trong lo cốt dĩ nhiên là tinh thần tốt hơn rất nhiều, tuy rằng hiệu quả của chúng vẫn còn xem xét.

Quân Pháp đến tới chân thành Nam của Trấn Biên thành thì không hề vội vã tấn công. Chúng tập trung bố trí doanh dịa và phòng thủ khá nghiêm ngặt. Sở dĩ theo như theo thói quen công kích thì Quân Pháp sẽ pháo kích dồn dập vào thành Trấn Biên tạo hiệu quả trấn nhiếp. Nhưng lúc này đây Đại tá Daniel một tên theo trường phái thận trọng không đi làm việc vô ích này. Dưới anh chiều chạng vạng hắn vẫn có thể quan sát được trên đầu tường có các khẩu pháo Gribeauval 4 pound, nói đùa gì chứ tầm xa của Gribeauval chỉ vào khoảng 1200m nhưng nếu đặt tại thành cao 4m như trên thì rất có thể tầm xa sẽ đạt được 1500m. Đến lúc đó thì đại bác Napoleon III hoàn toàn không có ưu thế là bao về mặt khoảng cách tấn công. Thêm vào đó nếu dùng Đại bác Napoleon III trong khoảng cách trên thì sự thật là dộ chính xác quá kém, chỉ có thể lấy số lượng đạn thật nhiều để đổi thành cơ hội trúng mục tiêu. Nhưng trong trận chiến trước đó tại đồi đất Bưu Long thì đạn dược của pháo binh đã không còn nhiều. Chính vì lý do trên Daniel cho quân đội được nghỉ ngơi và bố trí doanh địa. Đồng thời hắn cử binh đi liên lạc nhóm quân thứ 2 tiến đánh Trấn Biên cũng như cử quân về bến Bưu xin tăng viện trọng pháo 24 pound và đạn dược.

Ngay trong đêm Daniel nhận được tin báo cánh quân bên cánh phải của mình đã bại trận hoàn toàn và buộc phải rút lui chiến hạm. Thiếu tướng Louis yêu cầu Daniel lập tức rút lui khỏi Trấn Biên thành. Vị đại trá trẻ tuổi Danien chỉ biết vỗ bàn chửi một tiếng “ Merd” rồi ba chân bốn cẳng cho tất cả quân lính bất ngờ chạy trốn trong đêm. Hắn để lại tất cả các trang thiết bị nặng như Đại Bác, đạn đại bác cùng nhiều vật tư chiến lược khác.

Daniel quyết đoán quả là không sai lầm một chút nào, vì lúc này Hoàng Diệu cũng nhận được tin thắng trận của Trượng Định. Ông ra lệnh cho Trương Định không cần phải về cứu viện Trấn Biên mà ngay lập tức vượt rừng tiến về bến Bưu và phong tỏa đường lui của bến sông này. Nhưng kế hoạch của Hoàng Diệu chung quy hơi chậm một chút, quân Pháp đã an toàn thoát đi hơn một ngàn quân, quả thật là đáng tiếc.

Cuối cùng trận va chạm Trấn Biên cũng qua đi với kết quả phần có lợi hơi nghiêng về quân Đại Nam. Về thương vong thì Đại Nam cũng không nhỏ con số, có tới 273 chiến sĩ thiệt mạng cùng cả trăm chiến sĩ bị thương, dĩ nhiên quân Pháp thiệt hại nhiều hơn về sinh mạng, họ có tói hơn bốn trăm người chết và số người bị thương là nhiều vô cùng. Một số người bị thương mà không chạy được tại Bình Tân đã bị bắt làm từ binh. Nhưng nếu so sánh về mặt chiến lợi phẩm thì quân Đại Nam hoàn toàn chiếm ưu thế. Họ thu được 5 nòng pháo nguyên vẹn từ Bình Tân cộng thêm 120 quả đạn 12 pound các loại từ khu vực này. Bên ngoài thành Trấn Biên quân Pháp bỏ chạy triệt để trong bí mật nên họ không thể phá hủy đại bác bằng thuốc nổ. Chỉ có thể phá hủy bằng dụng cụ tay chân, nên 5 khẩu đại bác Napoleon II nơi này vẫn có khả năng phục hồi nhất định. Nhưng đạn pháo nơi này đã bị phá hủy toàn bộ, quân Đại Nam không thu dược đạn đại bác 12 pound nơi đây.

Kể từ lúc này quân Pháp cũng đã thể nghiệm được sự lợi hại của Quân Đại Nam nên chúng dè chừng hơn rất nhiều trong việc tấn công Trấn Biên cũng như Bà Rịa. Nhưng đấy chỉ là trên bộ tình hình mà thôi. Với chiến hạm hiện đại và đại bác tân tiến thì đường thủy và hải phận vẫn bị quân Pháp phong tỏa hoàn toàn. Chiến trận Nam kỳ rơi vào thời kỳ dằng co, lúc này đây chiến tranh du kích của Đại Nam phát huy hiệu quả vô cùng.

Những toán binh nhỏ với ngụy trang tuyệt vời luôn lúc ẩn lúc hiện bên bờ sông. Quân pháp trên thuyền đi tuần tra hoàn toàn không dám lơ là bên mạn tàu vì rất có thẻ họ sẽ bị bắn tung não bất kỳ lúc nào. Sau trận chiến người Đại Nam đã thu được rất nhiều súng trường của quân Pháp với tầm xa 400m. Vậy ra các tiểu chiến hạm tuần tiễu trên sông Đồng Nại nếu chạy gần bờ bắc thì rất dễ bị tấn công bởi các nhóm di kích Đại Nam. Nói là tuần tiễu bằng chiến hạm nhưng lúc này quân Pháp không dám nghênh ngang đứng trên mạn thuyền, họ đành phải co rúc trong các công sựu che chắn trên Boong.

Mà uy hiếp không chỉ ở trên bờ không thôi như vậy, những chiếc ghe nhỏ chạy lững lờ trên sông cũng rất không an tàn với quân Pháp. Nhìn chúng dường như thực sự vô hại, nhưng nếu như không đề phòng thì bất kì lúc nào cũng có thể xuất hiện các tay bắn tỉa nấp trong các đám vải bạt, rơm lúa, thậm trí la hoa quả trên ghe tiến hành hạ sát quân pháp rồi nhảy xuống sông chạy trốn.

Tình hình còn phức tạp gấp một vạn lần khi các nhóm nhỏ quân Đại Nam tih nhuệ với trang bị hiện đại xâm nhập bí mật qua sông Đồng Nại và tiếp nhập vùng ngoại ô Gia Định, Chợ Lớn. Tại đây họ tiến hành ẩn ấp trong dân, trong rừng trong kênh rạch và bất ngời hiện ra tấn công quân Pháp. Vì có súng nên chiến binh Đại Nam không cần phải tiếp cận chém giết. Họ hoàn toàn có thể hạ sát quân Pháp từ rất xa. Ngày qua ngày, giờ qua giờ Louis thiếu tướng luôn bị hành hạ bởi tin tức nơi này nơi kia binh sĩ Pháp bị ám sát. Nói chung tình thế trở nên vô cùng bị động cho đội quân thực dân viễn trinh này. Đơn giản với binh lực của Pháp không thể càn quét trên diện rộng. Thêm vào đó họ không tìm thấy quân chủ lực của Đại nam tại ngoại ô Gia Định cũng như chợ lớn.

Chỉ sau một tháng tiến hành du kích chiến thì quân Pháp đã phải co rút lại trong các đồn bốt lớn, cũng như chui rúc trong thành Gia Định. Họ đã mất hoàn toàn kiểm soát vùng ngoại ô. Chỉ trong một tháng mà quân pháp báo cáo về tổng tham mưu con số binh sĩ bị tấn công và hạ sát lên đến 400 người. Đây còn nhiều ngang ngửa trận thua tại Trấn Biên thành. Trong khi đó báo cáo về sự tiêu diệt các “ Anamit fantômes “ ( Bóng ma A nam) thì lại thưa thớt vô cùng.

Đầu tháng 9 năm 1861, Tin vui thắng trận đã về kinh thành Huế, vua tôi một mảng vui vẻ không thôi. Việc khống chế lại ngoại ô Gia Định cũng như Chợ Lớn lại càng làm cho Tự Đức vui vẻ, vị vua này có bệnh tâm lý khá nặng là trầm kha và hơi khép mình, hay nói cách khác là bị bệnh tự kỉ. Tuy bệnh không nặng nhưng nếu rơi bào tình thế khó khăn thì dễ sinh ra suy nghĩ tiêu cực. Chính vì thế tin thắng trận ở Nam Kỳ chính là thuốc tiên cho Tự Đức.

Không những triều đình vui mừng, vì quân dân Nam kỳ cũng đang hanh phúc không kém. Hoàng Diệu cười tươi như hoa, vị tướng trẻ đầy nghiêm túc không ngờ có thể nở nụ cười sảng khoái như vậy. Thì ra quân dân Nam Kỳ đã nhận được lô vũ khí mới của Huế gửi đến. 500 khẩu súng trường madein Đại Nam. 600 thanh thuốc nổ Dynamite cùng các chuyên gia sử dụng. Cùng một lượng lớn thuốc súng đen. Đây chính là những gì mà quân dân Nam Kỳ cần nhất trong lúc này. Hoàng Diệu không thể không cười lớn mà vỗ bàn trong hội nghị các tướng sĩ Nam Kỳ:

- Bữa ni, bon bây sẽ chết dưới tay tau…

Đây là câu nói vui của Hoàng Diệu soái tướng..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 72: Đại nam cải tiến sư.



Tại sao Hoàng Diệu Soái tướng lại vui mừng đến thất thố như vậy trước mặt các sĩ quan tại hội nghị quân sự? Tại sai các chúng sĩ quan Đại Nam có mặt nơi này không hề có ý kiến gì về sự thất thố đó, bên cạnh đấy họ lại cũng vui mừng không dứt mà hò reo sau khi sứ tín của Huế kinh thành truyền tin. Đó là bởi vì quân Đại Nam đang rơi vào tình thế cực kì khó khăn, gian khổ.

Tại sao lại nói quân Đại Nam tại Nam Kỳ khó khăn, không phải họ dùng du kích chiến chiếm được quyền khống chế ngoại ô Gia Định, Chợ lớn sao. Nếu nói họ khó khăn chẳng phải qua vô lý ư,? Thật ra chỉ sống trong chăn mới biết chăn có rận. Phải tham chiến thực sự thì mới biết được quân Đại Nam cũng chẳng khá khẩm hơn quân Pháp là bao. Nói quân Pháp co rúc trong công sự cũng như thành Gia Định hay Đại đồn Chí Hòa mà chúng chiếm đóng là không sai. Nhưng quân Đại Nam cũng có khốn khó không thôi. Cộng tất cả binh sĩ có trang bị hiện đại của Đại Nam lại thì cũng chỉ có 6 ngàn người ( có thêm gần 1000 súng trường Minire thu được sau trận Trấn Biên). Nhưng số lượng này so với quân Pháp chỉ là ngang ngửa mà thôi. Những binh sĩ còn lại mang đao kiếm thực tế không có nhiều tác dụng trong kiểu chiến đấu này. Cho cù có dũng cảm bao nhiêu con người cũng là máu xương, họ phải có sự sợ hãi. Cầm đao kiếm mà chiến đấu với súng ống là khảo nghiệm quá sức chịu đựng của thần kinh của những người bình thường.

Chỉ có sáu ngàn binh để phân bố ra cản trở quân Pháp được hỗ trợ bởi chiến hạm hiện đại luôn lăm le đổ bộ tại Trấn Biên cũng như Bà Rịa là một khảo nghiệm quá nặng nề. Thêm vào đó Hoàng Diệu phải phân một số lượng binh sĩ nhất định thâm nhập ngoại ô Gia Định diu trì du kích chiến. Quân đội Pháp tuy không có đủ binh lực để càn quét diện rộng, nhưng chúng không phải là những kẻ ngồi không.


Trên thực tế thì thiếu tướng Louis tổng tư lệnh Pháp tại Nam Kỳ đã tìm các phương án để đáp trả quân Đại Nam. Ông ta cho các Trung hạm cũng như đại Hạm phong tỏa hoàn toàn vịnh Gành Rái. Những tiểu chiến hạm thì tuần tiễu liên tục bên bờ sông Đồng Nại và không tiếc pháo để nã đạn vào các mục tiêu nghi ngờ, kể cả là dân thường cơ sở cũng thành mục tiêu. Tiếp theo là kế hoạch tấn công mạnh Bà Rịa kiến Đại Nam không thể không phân binh chống đỡ. Trong khi đó với sự cơ động vì đã khống chế đường thủy thì quân Pháp luôn luôn có khả năng nhanh chóng thay đổi mục tiêu từ Bà Rịa thành Trấn Biên. Quân Đại Nam không thể di chuyển theo kịp bước tiến của quan Pháp do đó nguy cơ rõ ràng là rất lớn. Các biện pháp trả thù du kích chiến của quân Pháp cũng được vạch rõ, mỗi lính Pháp bị thương vong do lính bắn tỉa thì họ sẽ giết mười hoặc nhiều hơn số dân thường. Nếu vài người lính Pháp chết thì họ có thể xua quân mà giết cả làng tình nghi ở các vùng ngoại ô Gia Định. Hành động điên cuồng này khiến Hoàng Diệu buộc phải ban bố lệnh sơ tán cho dân chúng ngoại ô Gia Định. Vô hình chung gánh nặng lương thực lại đè nặng lên vai người thống soái quân Đại Nam này.


Kế hoạch đặt ra là phải tiến hành đánh các chiến hạm của Pháp khiến chúng dè chừng mà không dám hung hăng qua lại tự do trê sông. Nhưng tất cả kế hoạch đánh của quân Đại Nam đều thất bại, khi quân Pháp đã đề phòng thì sự tập kích của quân Đại Nam chuốc lấy thất bại thảm hại. Những chiến hạm bọc thép, đồng của quân Pháp không thể phá hủy nổi. Đây chính là điểm khó khăn của quân Việt. Cũng may mắn lúc này chất nổ cực mạnh Dynamite cùng các “chuyên gia” sử dụng được cử đến quá đúng lúc khiến cho quân sĩ Nam Kỳ thấy được ánh sáng hi vọng.

Thêm vào đó là việc cải tiến súng Kammerlader 1842 thành phiên bản súng trường Đại Nam 13 ( Tự Đức năm 13) là một niềm vui cũng như bất ngờ lớn lao của quân sĩ Nam Kỳ. Nói đến con mẹ nó cải tiến thực ra cũng không có bất kì một bước đột phá nào về mặt cấu trúc của súng đạn cả. Nhưng người Việt quả là ngàn năm học một hiểu mười là không thể không phủ nhận. Không ngờ người cải tiến súng Kammerlader lại là một người người quan làm trong công bộ Đại Nam và được tuyển làm người đại diện của Đại Nam triều trong việc quản lý công ty vũ khí Đại Nam đóng tại Kinh đô Huế. Ông ta có tên Trương Vĩnh Sử. Không ngờ sau khi tham quan bốn tiểu chiến hạm được thu về bởi Hoàng Diệu thì vị Thị Lang Công bộ này lại có linh cảm sau khi tìm hiểu kĩ càng về pháo cũng như đạn của những thanh đại bác 12 pound Napoleon III. Đạn đại bác là những quả đạn có thuốc nổ chế liền cùng đầu đạn, chúng được nhét cùng lúc vào nòng pháo từ phía trước. Khai hỏa của pháo thông qua một lỗ nhỏ thông vào buồng đốt có tên là Vent. Trước khi khai hỏa thì pháo thu cần dùng que nhọn mà chọc thủng vỏ bọc thuốc nổ, sau đó cắm hạt nổ vào trong và tiến hành bắn.

Từ điểm linh cảm trên mà Thị Lang Trương Vĩnh Sử đắn đo suy nghĩ hồi lâu. Ông ta đưa ra một sáng kiến hoàn toàn rất khoa học. Tại sao đạn của súng Kammerlader lại không dùng phương pháp này để chế tạo. Như vậy quá trình nạp đạn chỉ có một bước duy nhất đó là nhét toàn bộ một khối đạn dấy liên hợp cả đầu dạn và thuốc súng vào buống đốt. Sau đó thì cũng dùng kim nhỏ chọc thủng vỏ giấy thông qua lỗ điểm hỏa. Nhưng vấn đề lúc này hạt nôt lại bố trí ở bên ngoài nên không thể gây nôt cho thuốc súng bên trong buồng đốt. Vậy là đại ca Trương Vĩnh Sử đưa ra khái niệm hạt nổ dạng que ngắn có thể xuyên thẳng vào buồng đốt. Tất nhiên ông chỉ đưa ra khái niệm và các chuyên gia phương tây người Thụy Điển đang làm việc cho công ty Đại Nam thực hiện chi tiết. Và con mẹ nó họ đã thành công, từ lúc này súng Kammerlader có tốc độ bắn tăng lên gần ngang ngửa khẩu súng Both action . Tất nhiên mọi sự so sánh đều là khập khiễng, nhưng tốc độ bắn quả là nhanh gấp nhiều lần so với trước kia. Tất nhiên dụng cụ của các xạ thủ Đại Nam 13 gun có thêm một thanh móc dài 15 cm được đeo ở cổ tay phải, thanh móc này dùng để móc giấy sót lại trong buồng đốt của súng Đại Nam 13.

Thật là hơi xấu hổ một chút khi đổi toàn bộ súng Kammerlader thành súng trường Đại Nam 13 vì thật ra sụ thay đổi chỉ là về đạn và hạt nổ mà cấu trúc súng vẫn như nguyên. Nhưng Tự Đức thích vậy đấy đứa nào dám ý kiến. Tiến bộ này mới khiến quân Đại Nam như vỡ òa trong sung sướng, vì với sáng khiến này không những tốc độ bắn của họ tăng gấp 3 lần, thời gian thành thục với súng cho học viên mới cũng giảm vô thời hạn. Thêm vào đó đạn được bọc nguyên vẹn trong giấy dầu chống thấm nên có khả năng tác chiến trong thời tiết mưa không quá lớn. Tiến bộ này tại Đại Nam được coi là đột phá và rất đáng được hoan nghênh. Nghe nói đâu vị Thị Lang Trương Vĩnh Sử đang thừa thắng xông lên mà nghiên cứu xem súng Kammerlader cso thể bắn đươc đạn nhìn trụ có đai như súng Minire của Pháp hay không. Nếu thằng cha này có thể nghiên cứu được thì…. Có lẽ người việt sẽ có súng trường phiên bản Đại Nam 14 hay 15 gì đó. Thật là hết biết.


Diêu thiếu lúc này cũng đang nằm nghỉ ngơi sau chuyến bôn ba Hương cảng dai ngày với sự thành công tốt đẹp. Trong tay hắn là một loạt các tin tình báo khắp nơi được hệ thống mật vụ non trẻ của mình gửi về. Tất nhiên công ty súng Đại Nam có phân nửa cổ phần vốn của K&R thế nên việc Trương Văn Vĩnh sáng kiến ra kiểu bắn mới không thể che dấu được Diêu gia.

Diêu thiếu vỗ trán đánh đụp một cái, con mợ nó phương pháp đơn giản vậy mà hắn lại không thể nghĩ ra, Quả thật không thể coi thường anh hùng thiên hạ. Nói chung với sáng kiến này phải chế ra hạt nổ đặc biệt dành riêng, nhưng chế loại hạt nổ này với công ty Đại Nam vũ khí với công nghệ rác từ Thụy Điển không phải là chuyện khó gì. Quan trọng là phát kiến này cực kì ổn, tốc độ bắn phải nói là vô cùng khủng khiếp vào lúc này, và nó đã đuổi kịp tốc độ bắn của súng Dreyse M1841 của quân Phổ.

Tất nhiên quân Nam Kỳ nhận được viện trợ 500 khẩu súng mới tinh thì quân Vạn Ninh cũng được nhận 300 cây. Tự Đức mặc dù luôn hướng mắt theo dõi chiến sự Nam Kỳ nhưng ông cũng không quên tên Lê Duy Phụng tại Bắc Kỳ. Tự Đức đã hạ tử lệnh cho quân Vạn Ninh phân binh tiến về Thái Nguyên tiêu diệt đám giặc cỏ này rồi.

Nhìn đám súng mới tinh trong doanh trại, lại nhìn báo cáo trên tay nói về việc Trương Văn Vĩnh đang muốn cải tạo Kammerlader có thể bắn đạn hình trụ thì Diêu thiếu không thể không viết một bức thư tay gửi cho vị sáng kiến sư người Việt này. Trong thư có đoạn.

“…. Từ đạn hình cầu biến thành đạn hình trụ dĩ nhiên trọng lượng thay đổi mà tăng mạnh, thêm vào đó thể tích sẽ tăng lên nên chiếm diện tích buồng đốt. Nếu lượng thuốc nổ vẫn giữ nguyên thì chắc chắn sẽ không đủ động lực khiến đạn bay xa. Tất nhiên phương án giaie quyết có hai cách , thứ nhất : nếu có thể thay đổi kích thước nòng súng nhỏ xuống, đạn nhỏ xuống thì có thể giải quyết tình trạng trên. Nhưng nghiên cứu công nghệ thay đổi kích thước nong rất khó khăn và cần thời gian. Cách thứ hai nếu thay đổi kích thước buồng đốt dài ra thì lượng thuốc nổ sẽ tăng lên hoàn toàn đủ động lực đẩy đầu đạn nặng. Nhưng làm như vậy thì buồng đốt có khả năng bị vỡ do lượng thuốc súng nhiều. Cánh giải quyết có thể là tăng độ dày, hoặc tăng chất lượng thép của buồng đốt……”


Đây không phải gợi ý mà là phương án thiết kế chính xác để cho ra phiên bản bắn đạn hình trụ của súng Kammerlader. Tất nhiên chi tiết buồng đốt tăng lên bao nhiêu, độ dày tăng bao nhiêu, đầu đạn dài bao nhiêu cần vô số thử nghiệm. Diêu thiếu không có nhà máy sản suất súng nên hắn chỉ có thể đưa ra gợi ý để Trương Vĩnh Sử đi làm mà thôi.

Tuy nói vạn chuyện thuận lợi nhưng chuyện mở công ty Hoàng gia, và chuyện cải cách mang tính chất cá nhân của Tự Đức lại gặp trở ngại vô cùng lớn. Việc Tự Đức bỏ tiền túi trong nội khố 20 vạn lượng bạc thành lập ba nhà xưởng gồm hai nhà máy dệt cộng thêm một nhà máy luyện gang thép vốn dĩ chả liên quan đến ai, và chẳng có lực cản gì. Không ngờ sau khi Tự Đức đưa ra kế hoạch lại bị phản đối vô cùng kịch liệt. Hàng loạt những luồng ý kiến trái chiều vui dập vị hoàng đế Đại Nam này.

Số là ban đầu cũng chẳng có nhiều ý kiến cho lắm, hoàng đế thích thắt lưng buộc bụng nội cung mà thành lập nội xưởng thì ai đi ý kiến. Đây cuối cùng cũng là việc của Thành thượng nhà riêng. Nhưng khốn nạn là ngành dệt thủ công của Đại Nam đã bị hai nhà máy của Diêu thiếu chèn ép đến thở không được, nay lại còn thêm hai nhà xưởng hoàng gia nhảy vào thì họ đành có nước đi ăn mày à. Vậy là ban đầu một loạt quan viên có chân trong chân ngoài với ngành dệt lên tiếng phản đối nhưng dù sao số người này lực mỏng thế yếu cũng chưa gây ra nhiều sóng gió.

Nhưng khi Tự Đức đưa đề nghị để K&R tiếp nhận một mỏ sắt quyền khai thác với điều kiện sẽ đóng thuế hàng năm là 150% sản lượng thép hiện tại của mỏ thép về triều đình thì tất cả như vỡ tung. Tất nhiên người hữu tâm nhìn vào thì thấy Đại nam có lợi, chả cần tốn công tổ chức thợ thuyền vẫn thu vào được gấp rưỡi sản lượng hàng năm. Nhưng những tên quan liên quan đến mỏ thép thì sao. Đấy là đập bát cơm của họ, mỗi năm mỏ thép đóng gop cho ngân sách một phần thì gấp ba lần chỗ ấy là đem đút lót cho quan viên. Sau khi đút lót quan viên, đóng ngân sách thì số dôi ra cho lũ quản cơ mỏ cũng vẫn rất lớn. Nay cả một món lợi lớn như vậy Tự Đức lại đem cho K&R khai thác và chỉ trả cho triều đình 150% những gì trước đây triều đình đã nhận. Vậy thì 300% còn lại sẽ rơi vào tay K&R và các quan viên liên quan tới mỏ kia sẽ chết đói. Quan trọng là có được sự mở màn này thì Tự Đức có thể làm với các mỏ khác, ví như kẽm, đồng. Đến lúc đó thì quan viên cạp đất mà ăn à.

Chính vì thế một cuộc phản đối quy mô lớn do các quan viên có liên quan đến mỏ khai thác được tập hợp, Nhóm này có cả tiềm lực cộng thực lực lớn hơn nhiều nhóm dệt vải, vì lý do đó Tựu Đức nhận được áp lực chưa từng có. Họ vin vào lý do, Nho học từ trước đến này là “sĩ . Nông, công , thương” Thương nhân là thấp kém nhất cớ sai Hoàng gia tham gia vào. Vậy không làm quá mất thân phận ư, quốc thể còn đâu. Tiếng khóc than vang ngập triều đường Huế. Tự Đức ôm đầu lâm bệnh nằn liệt không dậy nổi..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 73: Diêu thiếu lãnh binh.



Tại sao Tự Đức lại đột nhiên ngã bệnh mà nằm giường như vậy. Thật ra thân thể của ông ta không hề khỏe mạnh một chút nào. Kể từ khi còn nhỏ thì ông đã hay bị ốm vặt và yêu đuối rồi. Tinh tình của ông thì khá hướng nội và khó chịu đựng được đả kích mạnh. Tự Đức là người văn hay chữ tốt và có người nói ông ta là người rất bị ảnh hưởng bởi nho học. Con mẹ nó nói lời xàm, có vị đến vương nào mà không dùng nho học du nhập từ Phương Bắc để thực hiện chính sách mị dân củng cố địa vị hoàng quyền của bản thân đâu. Nhưng nho giáo đi vào đến đát Việt phía Nam thì đã bị biến thiên rất nhiều thành thứ nho giáo đặc biệt mang bản sắc địa phương này.

Để lý giải một cách Nho giáo bản Việt hóa thì có lẽ cần rất nhiều học giả nhảy vào cùng tham khảo. Nhưng nếu chỉ để chứng minh tầm ảnh hưởng không đến mức tiêu cực, méo mó bệnh hoạn như trung Hoa thì quá dễ dàng. Địa vại của người phụ nữ tại đất Nam Việt không hề thấp như phụ nữ trung Hoa trong cùng hoàn cảnh và địa vị. Thứ đến không thiếu các đấng nữ anh hùng hào kiệt người Việ có thể dẫn quân, làm quan một cách hiên ngang trong triều đình. Tất nhiên cũng không quá nhiều nhưng không quá hiếm trong các thời đại quân chủ khác nhau của người Việt. Đấy chỉ là một vài ví dụ mà thôi. Còn nói về nhiều người đổ tội cho Nho giáo đã kìm hãm sự phát triển khiến cho Đại Nam lạc hậu so với Phương Tây càng phiến diện, Xiêm La, Cao Miên, Ai Lao đâu có bị ảnh hưởng nhiều của nho giáo mà vẫn bị lạc hậu đó thôi. Đến cả Ấn Độ dường như hoàn toàn có được con đường triết lý riêng của mình cũng lạc hậu đến độ bị thực dân từ rât sớm. Tất nhiên mọi sự so sánh đều khập khiễng nhưng nếu chỉ vin vào một hay một vài luận điểm mà đánh giá một thời kỳ là quá khó khăn. Vậy nên Đại Nam cứng đầu không chịu mở cửa, không chịu cải cách là một câu hỏi cần nhiều nghiên cứu sâu rộng hơn. Và tất nhiên vì lý do này không thể đổ tội cho một vài vị Vua người Việt này nọ. Nên nhớ hoàng đế tuy đứng đầu một đấ nước và có quyền hành rất lớn, nhưng không phải như trong truyền thuyết muốn làm gì thì làm.


Nói đến đây để chứng minh một điểm Tự Đức muốn cải cách như vậy cũng không có gì là khó hiểu. Và ông bị nhóm đầu cơ trục lợi quan viên ngăn cản cũng không quá khó hiểu.

Và Tự Đức không phải người ngu, ông hiểu nguyên nhân chính thức từ đâu mà ông bị cản trở cũng như phản đối. Chính vì vậy Tự Đức tức giận đến độ lâm bệnh mà nằm giường. Tự Đức nằm trên giường bệnh mà nghĩ đến chính sự, càng nghĩ ông càng uất ức. Dốt cục lại các mỏ khoáng sản kia là thuộc về triều đình hay là thuộc về mấy tên tham quan kia, thuộc về bè lũ đầu cơ lợi ích kia. Vốn dĩ Tự Đức có tư tưởng nước quá trong không có cá, mèo nào là không ăn vụng nên ông chấp nhận để quan viên có chút chân trong chân ngoài. Miễn là có thể giải quyết tốt chuyện triều chính. Nhưng tất cả đều phải có sự giới hạn của nó.

Đến lúc giờ đây khu triều đinh bấp bênh thù trong giặc ngoài, là lúc cần đoàn kết và hi sinh lợi ích cá nhân để đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu. Nhưng lũ người kia vẫn vì tư lợi mà bất chấp tất cả khiến cho Tự Đức tức nhue muốn thổ huyết mà lâm bệnh. Vốn dĩ Tự Đức nghĩ đây là chuyện cá nhân hoàng gia nên đồng ý Để mấy vị thân vương thay mặt mình đứng ra kí hợp đồng cùng công ty Mỹ quốc, tiền đặt cọc cũng giao cả rồi. Các thỏa thuận cũng gần như hoàn tất, thế nhưng bè lũ lợi ích nhóm kia lại bí mật tụ tập mà cho Tự Đức một phát thống kích khiến ông trở tay không kịp.


Cũng may đại diện Công ty K&R rất “ am hiểu” mà đưa ra kiến nghị khiến Tự Đức gỡ thế khó. Công ty K&R sẽ không tiếp quản các mỏ cũ của Đại Nam. Họ sẽ tự mình tìm kiếm mỏ khoáng sảng. Sau khi tiến hành khai thác sẽ do triều đình quan viên đến đánh giá để định ra mức thuế áp dụng. Mà cách đơn giản nhất đó chính là dựa vào năng suất các mỏ lân cận của triều đình sau đó nhân lên 150% là được.

Sách lược gỡ rối này là của Diêu thiếu, hắn tự tin với thuốc nổ Dynamite trong tay thì việc san núi làm đường, khai thác mỏ v.v.. đối với hắn chỉ là giơ tay nhấc chân. Sức người không thể lại được với kiểu khai thác này. Tiếp đó hắn sẽ nhập khẩu các dây truyền khai thác để tăng năng suất. Nếu chỉ dựa vào năng suất của các mỏ khoáng Đại Nam để làm quy chuẩn rồi nâng lên 150% thì hắn vẫn có thể khai thác mười phần lãi.

Biện pháp này của K&R khiến cho việc làm ăn của công ty Hoàng Gia chẳng ảnh hưởng tới ai. Các ý kiến phản đối dần tán đi, nhưng Tự Đưc bệnh lại thêm nặng. Qua lần lôn xộn này khiến vi Hoàng Đế Đại Nam càng hiểu rõ hơn quân thần của mình, lúc này ông mới thấy đau lòng làm sao, khổ sở làm sao mà sinh bệnh.

Chuyện triều đình Huế lộn xộn thì Diêu thiếu đành chịu vì hắn lúc này đã nhận được lệnh trực tiếp của Binh bộ. Hay nói một cách chính xác là hắn nhận được sự gửi gắm từ Tự Đức đang nằm trên giường bệnh. Diêu thiếu bỗng nhiên thăng 2 cấp lên thành Tòng tứ phẩm võ quan chúc Tuyên Úy Sứ lãnh binh tại Phủ Bắc Kan nhiệm vụ truy quét quân Lê Duy Phụng.

Đây không phải điều lệnh quân Vạn Ninh đi đánh Lê Duy Phụng tại Thái Nguyên, mà chính thức điều Quang Diêu đi Bắc Kan và làm võ quan trấn thủ nơi này. Nói cách khác từ này Vạn Ninh không còn có liên quan cùng Diêu thiếu, nơi này chỉ có Quang Cán vẫn đang chỉ huy, kể từ lúc này Diêu thiếu đã độc lập.

Giờ đây hai cha con nhà họ Trần có chức quan là ngang nhau, không bên nào hơn bên nào thấp đều là Tòng Tứ phẩm. Nhưng nếu xét trên mặt chức năng thì Quang Diêu thiên về bộ binh đội ngũ mà Vạn Ninh quân dưới quyền Quang Cán lại là thủy binh đội ngũ.


Ngày 1 tháng 10 năm 1861, Quang Diêu dẫn 3000 binh tiến lên hướng Tây Bắc tiến về Thái Nguyên tỉnh. Phải nói rõ ba ngàn binh này có một ngàn ba là lão binh thực sự, còn lại toàn bộ là dân binh của Vạn Ninh được Diêu thiếu trưng dụng. Quân Vạn Ninh thiếu đi hơn ngàn người cũng đành chưng dụng tiếp một nhóm dân binh rồi gấp rút đào tạo. Diêu thiếu đi khỏi Vạn Ninh nhưng không quá lo lắng. Quang Cán là một nhân vật tinh minh cáo già, ông ta dư sức quản lý được các nhà xưởng ở Vạn Ninh. Nhưng điều này có nghĩa là tầng xuất phát binh đánh nhau cùng hải tặc của vị Cán lão gia này sẽ giảm xuống nhiều lần. Cao quản gia lúc này đã chuyển hẳn tới Vạn Ninh mà giúp Diêu thiếu quản lý việc làm ăn của nhà xưởng. Cả Trần gia cũng di rời hết đến Vạn Ninh rồi, chỉ còn Lý thi cùng cô em gái nhỏ của Diêu thiếu là chưa thể đi xa nên ở lại Trần gia Trang ở Hà tĩnh. Con trai cả của Cao quản gia là Cao Văn Chương đã tiếp nhận vị trí quản lý thương muối của Trần Gia. Nói chung trước khi đi Diêu thiếu đã bố trí mọi chuyện thật kĩ càng.

Lần này Quang Diêu xuất quân đi Thái Nguyên có một số điểm đặc biệt. Trong đoàn quân xuất chinh vậy mà có đến mười mấy tú tài đi theo. Những tú tài này thuộc quân doanh đặc biệt của Vạn Ninh. Sau một thời gian quá dài bị cải tạo đạo đức , nhân cách thì lũ con em cháu cha này đã khá lên quá nhiều. Có không ít kẻ không ham hố gì lắm với khoa học mà có hứng thú cùng quân sự xin mò theo Diêu thiếu lần này để tích lũy kinh nghiệm. Diêu thiếu hoàn toàn đồng ý, có một lũ tri thức rởm trong quân không phải là không ý nghĩa.


Lần này xuất quân đi Thái Nguyên thì Diêu thiếu quyết định hành quân theo lối bộ binh, tức là đi đường bộ, chỉ có những lúc nào cần băng sông thì mới dùng thuyền. Cách đi này mà xuyên từ Vạn Ninh của Quảng Yên tới Bắc Kan của Thái Nguyên thì con đường phải đi lên tới hơn 400km. Tuy khoảng cách theo đường chim bay từ Bắc kan đến Vạn Ninh chỉ gần 200 km mà thôi. Nhưng với đường xá đến lạc hậu hiện nay thì con đường thường phai vòng núi, băng rừng mà kéo dài thành như vậy.

Diêu thiếu không muốn đi theo đường thủy mà muốn đi một chuyến dài đường bộ để luyện quân. Mà cũng chính là muốn rèn luyện bản thân. Nếu đi theo đường thủy thì quá dễ, quân Vạn Ninh cái gì thiếu không thếu nhất là thuyền. Nếu đường thủy thì chỉ cần đi về Cửa nam Triệu, theo sông Cẩm ngược lên sông Kinh Thầy sau đó là theo sông Cầu mà đi thẳng vào địa phận Thái Nguyên.

Nhưng lần này những quân nhân mà Diêu thiếu dẫn đi sau này sẽ biến thành bộ binh chuyên nghiệp, chuyên tác chiến đồng bằng và đồi núi. Việc hành quân đường trường với họ là bắt buộc, chính vì thế cuộc hành quân gần ngàn dặm này chính là để luyện quân, cũng chính là một lần để Diêu thiếu tích lũy kinh nghiệm hành quân trên bộ và bố trí lều trại các thứ trên đường đi.

Hành quân thời này là một môn học vấn uyên thâm vô cùng, không phải chỉ cần vác mông là có thể chạy long tong cho được. Đầu tiên là phải lên được một lộ trình sơ bộ. Mỗi ngày vận tốc bao nhiêu là vừa đủ để bảo trì sức chiến đấu của quân. Đóng doanh trại ở vị trí ra sao. Trù bị lương thực như thế nào. Nói chung là rất nhiều việc cần quan tâm cho một lần xuất binh như vậy. Mà thứ này chính là điểm yếu mà Diêu thiếu hoàn toàn không có một chút am hiểu nào cả.


Để chuẩn bị cho lần suất binh này Diêu thiếu đã đọc rất nhiều sách vở liên quan đến chuyện bố trí cũng như hành quân, nhưng khốn nạn ở chỗ cổ thư đọc rất khó hiêu. Diêu thiếu dù thông minh nhưng cũng như rơi vào mê võng. Cũng may hắn có một đôi cố vấn quân sự rởm là mấy tên tú tài cộng con ông cháu cha quan lại. Tuy lũ này cũng là bao cỏ nhưng vẫn còn hơn Diêu thiếu, với lại ba người cộng lại hơn cả Khổng Minh nên cuối cùng “ủy ban” tư vấn quân sự rởm đời cũng cho ra một phương án hành quân và dự trù tài chính siêu hào hoa. Ba ngàn quân hành trình chỉ có 400 km mà dự toán kinh phí lên đến 2 vạn lượng bạc. Con số này mà báo cáo cho bất kì một tổ chức quân sự chuyên nghiệp nào cũng khiến họ sặc nước trà mà chết.

Số là lần đầu tiên đi xa nên Diêu thiếu sợ thiếu này thiếu nọ nên hắn ra lệnh thẳng tay dự toán. Diêu thiếu có tiền, có người nên hao vạn chả là cái đếch gì. Cơm gạo, thịt khô, dầu muối cái gì hắn cũng chuẩn bị đầy đủ không thiếu. Thêm vèo đó còn có gần ngàn thớt ngựa đi theo, một số dùng để cưỡi một số để thồ hàng.

Mỗi binh sĩ trang bị cứng 10kg trọng lượng. 4kg súng, 20 viên đạn vỏ giấy, một ba lô bao gồm lương khô cho 1 tuần, 1 bộ chăn, một bộ quần áo. Chai nước v.v… Tuy có ngựa thồ lương thực nhưng Diêu thiếu vẫn yêu cầu các Binh sĩ thực hiện mang lương trong bảy ngày của bản thân. Đây chính là tiêu chuẩn quy định của binh sĩ chuyên nghiệp hiện đại.

Vì để thích nghi với sự hành quân gian khổ, ngày đầu tiên Diêu tướng quân chỉ yêu cầu di chuyển sơ sơ đoạn đường 50km. Chuyến đi xém chút nữa xảy ta tai nạn chết người. 50 km là con số khủng bố ra sao với bộ binh thời này? Diêu thiếu không biết, hắn thiếu chút nữa đã khiến quân mệt chết cả đám..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 74: Bắc Kỳ mưa gió nổi.



Thật ra việc Diêu thiếu mười bốn tuổi thi khắp cao tầng tại Huế đô không được coi là bí mật nữa rồi. Việc Tự Đức nhảy mặt quan viên tự ý truyền lệnh cho Binh Bộ điều phối tướng lãnh cát cứ một phương mà không thông qua nội các, Xu Mật Viện thực ra là không hợp pháp. Nhưng Tự Đức tự tay đòi dấu từ Nội Các mà đóng cái rụp, điều này khiến cho các lão trợ mắt há mồm. Ngoại trừ lão nhân Lâm Duy Tiếp.

Mặc dù Tự Đức làm việc điên loạn như vậy nhưng lạ thay lần này quan viên chẳng ý kiến gì. Lớn tiếng nhất trong vụ cho thuê mỏ khai khoáng như Trương Đăng Quế, Nguyễn Tri Phương, Võ Văn Giải… đều tắt hơi mà không lên tiếng. Lúc này các đại thần đều đã biết rằng vụ khoáng sản họ làm hơi quá, vậy nên Tự Đức sắc phong cho Quang Diêu chính là một sự tỏ thái độ bất mãn. Lúc này chính là lúc mà quân thần cần hàn gắn vết rách quan hệ , khiến cho họ thôi không phản đối chuyện của Diêu thiếu. Vả lại Diêu thiếu mang tiếng là được cầm binh quản một phương nhưng đó là Bắc Kan châu. Đây con mẹ nó nói thẳng ra là vùng dân tộc tiểu số, rừng rú núi non chưa khai phá. Lúc này dân tộc Việt-Kinh lại chính dân tộc thiểu số tại các vùng núi non như Bắc Kan, Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang..v.v…. Tại nơi này chính thức mà nói dân số người Việt_Kinh lại chiểm tỉ lệ rất thấp. Chính vì lý do này thật ra làm quan trấn thủ tại Bắc Kan không khác mấy với làm thổ ty quan tại đây. Nó không hề ảnh hưởng tới lợi ích của nhóm nào trong triều đình Huế nên họ cũng mắt nhắm mắt mở. Không ai muốn vì một vị trí chả quan trọng gì mà làm căng cùng Tự Đức lúc này.

Tự Đức thăng bậc cho Diêu thiếu và cất nhắc hắn thành trấn thủ mọt phương có dụng ý của ông. Thứ nhất ông muốn dằn mặt đám người cơ hội kia. Ý nói nhân tài trẻ tuổi có thể làm việc tại Đại Nam không thiếu, các ngươi đừng được thể mà làm quá tiến lên ép Trẫm.. nếu không thì. Thứ hai, Tự Đức muốn làm trái quy định mà ban bố bổ nhiệm để chứng minh , con mẹ nó Đại Nam vẫn là họ Nguyễn nói tính mà không phải các ngươi. Cuối cùng có lẽ là một nguyên nhân quan trọng nhất, lần này quần thần đã làm Tự Đức lạnh lòng, ông thấy mình quá cô đơn mà sinh bệnh, lúc này ông lại nghĩ tới thời gian gặp mặt cậu bé lúc hiếu động, lúc tinh minh, lại như rất gần gũi kia. Khiến ông như cảm giác có được đồng minh trong cái triều đường lạnh lẽo này. Vậy nên Tự Đức vô lý mà chiếu cố Diêu thiếu. Cũng có lẽ vì Diêu thiếu quá trẻ tuổi khiến Tự Đức không đề phòng mà nảy sinh tình cảm trên, hay có lẽ vì Diêu thiếu đã khơi dậy một tình cảm gì đó đặc biệt trong Tự Đức. Tất cả đều không biết điều gì trừ chính bản thân vị hoàng đế này. Đế tâm khó dò không phải là câu nói ngoa.

Ngày 1 tháng 10 đoàn người ngựa đồ sộ của Diêu thiếu lên đường. Con đường nội tỉnh từ Vạn Ninh đi lên tây bắc hướng không quá xấu, nếu xét mặt bằng chung lúc này thì con đường đất nện này khá đẹp. Chính vì lý do này Diêu thiếu quyết định hành quân 50km trong ngày. Trong đầu của Diêu thiếu thì 50 km quả thật rất gần, trong kiếp trước của hắn thì phóng ô tô đi 50km chỉ mất gần một tiếng đồng hồ mà thôi. Mà trong hanh quân binh pháp sách vở thì 50km tức 100 dặm cũng được nhắc lại nhiều lần. Từ đó hắn suy tính ra đội quân đã được rèn luyện cẩn thận như Vạn Ninh quân hoàn toàn có thể di chuyển 50km/ ngày.

Khốn nạn là những thứ viết trên giấy là chết, là giáo điều, còn con người là sống, là thực tế. Binh sĩ đi 50 km/ ngày trong sách giáo khoa là quân trang bị nhẹ, hành quân cấp tốc trong lúc có nguy cơ cao của đất nước. Việc di chuyển như vậy của các đội binh sĩ thường là trang bị rất nhẹ, không mang theo lương thực. Lương thực của họ một là được cấp dưỡng ở nơi đến, hoặc giả có đại đội binh mã đi theo sau cung cấp lương.

Diêu thiếu nào biết được điểm này, cắm đầu cắm cổ mà đi. Hắn cưỡi ngựa mà đi thì nào có mệt mỏi gì cho cam. Nhưng binh sĩ đi theo hắn từ Vạn Ninh thì mệt thối thây, nhưng quân luật Vạn Ninh quả là rất ghê gớm, tất cả mọi người đều cắn răng chịu đựng mà di chuyển. 10kg đồ trên vai hiện giờ biến thành 10 tấn đè nặng lên thân thể nhỏ bé của họ.

Cuối ngày quân của Quang Diêu cũng đến được địa giới giữa tỉnh Quảng Yên và Tỉnh Bắc Ninh ( Bao gồm Bắc Ninh và Bắc Giang, một phần đất Hà Nội và Vĩnh Phúc ngày nay). Lúc này thì Diêu thiếu mới phái hiện trong quân có nhiều binh sĩ thoát lực một cách nghiê trọng, nếu không sớm có biện pháp sẽ gây nên hậu quả rất xấu.

Vậy là không còn cách nào khác Diêu tướng quân gà mờ đành tìm một con sông nhỏ vô danh làm nơi đóng quân gần đó. Hắn làm đúng theo sách giáo khoa, lưng tựa đồi cao mé tả áp sông bố trí phòng thủ mé hữu và tiền phong. Thật ra Diêu thiếu chẳng cần phải quá trinh trọng như vậy trong bố trí, nhưng hắn muốn quân đội của mình là chính quy vạn phần, luôn không lơ là trước mọi tính huống nên sẽ làm như vậy. Các binh sĩ không mấy mệt mỏi hoặc các binh sĩ ban sáng cưỡi ngựa còn nguyên sức lực sẽ tham gia xây dựng doanh trại. Các binh sĩ mệt mỏi thoát lực sẽ được các đại phu cấp cứu. Nói trung trong quân của Diêu đại thiếu gia thì đại phu cũng là có không ít. Căn bản là thiếu gia ta có tiền, chính vì thế hắn mướn khá nhiều đai phu giỏi có tiếng đi vào trong quân.

Nói thật thì Diêu thiếu không mấy tin tưởng các đại Phu Đông y là bao, không phải họ không giỏi, không tốt. Mà là họ không đáng tin cậy, Đại phu Đông y người giỏi thì giỏi như thần, người dở thì lại như cẩu. Có sự nghịch lý đến phát điên này vì Đông Y không có một hệ thống đào tạo một cách bài bản và khoa học vào lúc này. Nói chính xác thì Đông Y giờ đây chưa có một giáo trình cụ thể nào mang tính giáo khoa cho ngành nghề này. Điều đó dẫn tới hệ thống đào tạo của Đông Y thường đi theo kiểu bái sư học nghệ nhỏ lẻ, hoặc cha truyền con nối trong gia tộc. Vì lý do trên nên trình độ đông y của các bác sĩ phương đông chênh lệch rất lớn. Chính điểm này khiến Diêu thiếu kém tin tưởng các vị Đông Y đại phu. Nhưng Đông Y có một điểm mạnh, đó chính là những bào thuốc bồi dưỡng thể lực của họ hiệu quả cực cao, nhưng về ngoại khoa thì Đông Y quả thật khá yếu. Mà quân y chính là cần nhất về ngoại khoa. Cũng may là thời gian Diêu thiếu phải chờ đợi sẽ không lâu. Y học cũng là một môn mà Diêu thiếu nhắm tới trong chuyến đi này của Robert đến Châu Âu. Hi vọng tình hình thiếu quân y ngoại khoa sẽ sớm được cải thiện tại Đại Nam.

Quân Vạn Ninh..à không lúc này nhánh quân này đã thuộc biên chế quân Bắc Kan phải dừng lại 2 ngày tại vùng giáp ranh Quảng Yên và Bắc Ninh. Vậy nhưng lúc này mọt chuyện động trời diễn ra.


Cũng trong ngày Diêu thiếu đột ngột xuất binh đi Bắc Kan nhậm chức thì cũng là ngày mà tên đầu sỏ phản loạn Lê Duy Phụng phát động tấn công trên toàn mặt trận. Số là việc Diêu thiếu xuất binh rất bất ngờ vì mệnh lệnh của Tự Đức. Thêm vào đó Quang Cán vẫn đánh mạnh Cát Bà đảo nên Lê Duy Phụng không hề nghĩ đến việc Quang Diêu sẽ suất quân Tây tiến. Vì vậy lão ca có tư tưởng rảnh rỗi ăn no dửng mỡ muốn đổi chỗ ngồi với Tự Đức này tiến hành phát động một đợt tấn công trên toàn tuyến Thái Nguyên, Hải Dương, Bắc Ninh, Lạng Giang.

Số là trong lịch sử cuộc tổn tiến công đường bộ này của giặc cỏ Lê Duy Phụng phải được tiến hành vào năm 1862. Nhưng biến cố trận chiến tại Huyện Phùng Nhiên và Huyên Tiên Lãng khiến cho Lê Duy Phụng đã sớm hơn so với lịch sử mà về Thái Nguyên. Ở đây hắn đã móc nối được rất nhiều lộ “anh hùng” mà tiến hành được một cuộc tổng phản công quy mô lớn vô cùng.

Người đầu tiên mà Lê Duy Phụng thu nạp được là Nguyễn Văn Thịnh có tục danh là Vàng vì có thời làm cai tổng nên được gọi là Cai Vàng hay Cai Tổng Vàng. Cai Vàng sinh trưởng tại xã Vân Sơn, huyện Phượng Nhãn, Bắc Ninh (nay thuộc xóm Kẻn, thôn Vân Sơn, xã Phương Sơn, huyện Lục Nam, Bắc Giang), trong nhà một hào mục giàu có. Bên cạnh đó hắn lại có tư tưởng chống đối chính sách của nhà Nguyễn nên âm thầm tụ tập dân tráng tiến hành huấn luyện. Nay có được Lê Duy Phụng lên hệ nên dã tâm ngày càng banh chướng mà theo Phụng phất cờ..”tạo phản”. Sau khi đầu nhập quân của Lê Duy Phụng thì Cai Vàng tự xưng nguyên soái , lập tên Lê Duy Uẩn và tự xưng mình là hâu duệ nhà Lê. Chiêu bài phò Lê diệt Nguyễn được những tên phản tặc này tận dụng rất ác.

Người thứ hai mà Lê Duy Phụng thu nhận là Tuần Nhỡn, Tuần Nhỡn hay tên thật là Vũ Văn Nhỡn là học sinh của cụ Cao Bá Quát và cũng là mọt trong những thống binh của cuộc khởi nghĩa Mý Lương. Lực lượng của Vũ Văn Nhỡn là tàn dư của quân khởi nghĩa Mỹ Lương sau đó được Nhỡn tụ tập lại và bí mật gây dựng , luyện tập. Đây là một nhánh quân có lực chiến đấu không tầm thường vì họ đã có linh nghiệm giao phong nhiều lần cùng quân triều đình trong những năm khởi nghĩa ( 1854-1855).


Đến giữa thế kỷ 19, nền kinh tế Đại Nam hết sức suy đốn trì trệ. Thêm vào đó, các nạn chiếm đoạt và tập trung ruộng đất của giới địa chủ, sự tham nhũng của nhiều quan lại, chế độ tô thuế và lao dịch khắc nghiệt; nạn bão lụt, hạn hán, ôn dịch và vỡ đê xảy ra liên miên. Tất cả đã đẩy người dân lao động xuống tận đáy khốn cùng. Một bài vè lưu hành ở thời vua Tự Đức có đoạn mô tả cảnh đói khổ, lưu vong của dân chúng như sau:

Cơm thì chẳng có
Rau cháo cũng không
Đất trắng ngoài đồng
Nhà giàu niêm kín cổng
Còn một bộ xương sống
Vơ vất đi ăn mày
Ngồi xó chợ lùm cây
Quạ kêu vang bốn phía Xác đầy nghĩa địa
Thây thối bên cầu
Trời ảm đạm u sầu
Cảnh hoang tàn đói rét
Dân nghèo cùng kiệt
Kẻ lưu lạc tha phương
Người chết chợ chết đường...
...Là cái thời Tự Đức.


Tất nhiên chiêu bài này là của nhừng người có tư tưởng bất mãn với triều đình làm ra để làm chiêu bài thu hút “nghĩa quân”. Khoan hãy nói bài vè này đúng hay sai, nói quá hay không. Nhưng không có lửa dĩ nhiên không thể có khói. Sự thối nát của hệ thống chính quyền lúc này là có, nhưng đổ hêt lỗi chi Tự Đức lại con mẹ nó là sai. Cái tình thế bết bát rối ren này là hệ quả từ thời Minh Mệnh tiêu hao quốc khố với những trận chinh phạt các quốc gia láng diềng nhưng toàn thua lỗ về mặt lợi ích kinh tế. Cái tình thế bết bát này là Từ thời Thiệu trị với kinh phí hoa cho Thủy lợn quá nhiều nhưng lại chẳng hiệu quả vào đâu. Cái tình thế đau răng này là do thời đại vận mệnh lịch sử mang lại. Như thiên tai địch họa liên miên không ngớt, như quan lại thối nát đã là ung nhọt tồn tại góp nhặt từ thời Thiệu Trị kế thừa cho Tự Đức. Cớ sao tất cả những tội lỗi trên lại trút lên đầu một cá nhân. Nếu Tự Đức ăn chơi vô độ, tàn sát trung lương, không do triều chính thì còn có thể nói thông luận điệu kia. Nhưng Tự Đức lại là người con hiếu thảo, không hề ăn chơi, lại chăm lo việc nước với hoài bão trấn hưng Đại Nam. Đổ tất cả tội lỗi cho ông ta là không nên chút nào.

Vào tháng 6, tháng 7 năm 1854 tại Bắc Kỳ, xảy ra nạn dịch châu chấu, mùa màng bị phá sạch, nạn đói hoành hành, mọi người đều ca thán. Cao Bá Quát đã đứng lên tập hợp các tầng lớp sĩ phu, các thổ hào thổ mục và nhân dân (hoặc tham gia lãnh đạo) bí mật chuẩn bị một cuộc nổi dậy chống triều Nguyễn tại Hà Nội. Thực ra, cũng như bao sĩ phu khác, Cao Bá Quát vào đời bằng con đường khoa cử và muốn giúp đời bằng con đường làm quan, nhưng càng ngày ông càng cảm thấy bế tắc. Hàng ngày, ông nhìn thấy bao cảnh đói khổ của nông dân và bất công của xã hội. Tuy có lúc ông tỏ ra bi quan chán nản, nhưng vốn tính kiên cường, ông không thể tìm lối thoát nào khác ngoài con đường vùng dậy đấu tranh. Và cuộc khởi nghĩa do chính ông vận động và tổ chức là một hệ quả tất yếu.
Công cuộc còn đang trong giai đoạn chuẩn bị, thì bị người tố giác. Vua Tự Đức liền lệnh cho Tổng đốc Hà Ninh Lâm Duy Hiệp, Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên Nguyễn Bá Nghi, hiệp cùng Tổng đốc Bắc Ninh là Nguyễn Quốc Hoan đi truy bắt "đảng nghịch"

Trước cục diện này, Cao Bá Quát đang ở Bắc Ninh vội trở về Sơn Tây bàn ngày khởi sự. Do lực lượng ở các tỉnh chưa được chuẩn bị chu đáo, nên khi lệnh khởi nghĩa được phát ra thì chỉ có nghĩa quân ở Mỹ Lương (huyện Mỹ Lương tỉnh Sơn Tây, nay là phần đất phía Tây huyện Chương Mỹ Hà Nội và đất huyện Kim Bôi Hòa Bình) do Cao Bá Quát và Đinh Công Mỹ trực tiếp chỉ huy là kịp nổi lên.

Trong buổi đầu khởi nghĩa thì nghĩa quân của Cao Bá Quát dành rất nhiều thắng lợi như: đánh chiếm huyên Ứng Hòa, Thanh Oai… Nhưng vì đây cuối cùng cũng chỉ là một cuộc nổi dậy mang đậm tính địa phương riêng rẽ, tổ chức chưa được chu đáo, chiêu bài phò Lê đã mất tính chất hấp dẫn, thiếu một phương thức chiến đấu, thế lực hào mục yếu ớt, vũ khí hãy còn thô sơ. Vậy nên cuối cùng Cao Bá Quát vẫn thất bại….

Vào tháng Chạp năm Giáp Dần (1855]), Cao Bá Quát đem quân tấn công huyện lỵ Yên Sơn lần thứ hai. Phó lãnh binh Sơn Tây Lê Thuận Đại đem quân nghênh chiến. Cuộc đối đầu đang hồi quyết liệt tại vùng núi Yên Sơn, thì Cao Bá Quát bị Suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận. Đến đây nghĩa quân gàn như tan rã. Mặc dù mất “Quốc sư” Cao Bá Quát và nhiều thủ lĩnh, nhưng nghĩa quân vẫn cố gắng hoạt động. Tháng 2 âm lịch năm Ất Mão (1856), Vũ Văn Ức, Vũ Văn Nhỡn và Vũ Văn Đổng (đều là học trò Cao Bá Quát) dẫn quân đi đánh phá huyện Phù Cừ. Bị trấn áp, hai ông đều bị bắt giết. Vũ Văn Nhỡn trốn thoát và cố gắng gây dựng lại nghĩa quân.

Đến lúc này thì Lê Duy Phụng gần như chưng dụng được hết các thế lực phản quân mạnh nhất tại Bắc Kỳ, do đó ông ta quyết định tổng tiến công trên toàn mặt trận. Với sách lược “ đánh cho nhà Nguyễn trở tay không kịp, tách Bắc Kỳ khỏi Đại Nam và thực hiện tự lập”..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 75: Tình thế bết bát



Khi quân Bắc Kan của Quang Diêu vẫn đang nghỉ ngơi hồi phục sức lực tại biên giới Quảng Yên và Bắc Ninh thì toàn bộ Bắc Kỳ bỗng nhiên rung chuyển.

Ba đạo cánh quân cùng nổi lên một lúc, Cai Vàng tại Bắc Ninh dẫn đầu mười lăm ngàn quân tấn công các nơi phủ Lạng Giang, huyện Yên Lũng, và thành Bắc Ninh. Lê Văn Phụng lao xướng từ Bắc Cạn mà công đánh Thái Nguyên thành cùng các huyện lân cận, quân số lên đến 2 vạn người. Vũ Văn Nhỡn tuy chỉ có 5 ngàn binh nhưng lại là tinh binh thực sự người này không ngờ lao ra công chiếm phủ Vĩnh Tường ( Vĩnh Phúc ngày nay). Chỉ trong vài ngày mà chiến hỏa bùng cháy dữ dội tại Bắc Kỳ.

Điều khốn nạn nhất đó là so với trong lịch sử thì quân Lê Duy Phụng mạnh hơn rất nhiều. Không ngờ trong tay quân Lê Duy Phụng lúc này lại lác đác thấy được bóng dáng các khẩu súng Minire rifle của Pháp quốc, tuy số lượng thật lẻ tẻ không nhiều nhưng nếu cộng cả ba cánh quân của Lê Duy Phụng lúc này thì số súng ống trên không thể dưới ngàn thanh. Tiếp theo đó là một số kíp pháo hiện đại cũng suất hiện trong quân của họ Tạ ( Lê Duy Phụng tên thật là Tạ Văn Phụng). Điên đầu hơn nữa đó là bóng dáng đâu đó thấp thoáng của lũ tây tóc vàng mắt xanh trong đám phản quân này.

Thật ra để lý giải tình hình trên thì cũng phải nói đến thân thế và sự xuất hiện của Lê Duy Phụng. Tạ Văn Phụng là một người Việt nhưng không rõ nguồn gốc các thông tin như cha mẹ là ai hoàn toàn không có, nhưng đã được rửa tội và nuôi dưỡng trong trụ sở Giáo hội tại Pinang ( Miến điện, Malaysia). Năm 1854, Tạ Văn Phụng tự xưng là hậu duệ nhà Lê lấy xưng Lê Duy Phụng , hô hào một cuộc nổi dậy ở Quảng Yên. Nhưng sau đó, nghe lời khuyên của giám mục Retord, hắn ngưng hoạt động và ẩn trốn ở Hương Cảng.

Sau khi tàu liên quân Pháp-Tây Ban Nha nã đại bác vào Đà Nẵng (1 tháng 9 năm 1858), giám mục Retord liền nảy ra ý định tạo ra một ông vua theo đạo Thiên Chúa dưới sự bảo trợ của Pháp, và ông đã nghĩ ngay đến Tạ Văn Phụng. Tạ Văn Phụng nhận lời trở lại Bắc Kỳ vào giữa năm 1860, Chỉ trong vài tuần lễ, Tạ Văn Phụng chiêu mộ được một đạo quân có hơn hai vạn.

Trong lịch sử thì Lê Duy Phụng cứ thế mà phát triển phản quân không chút nào trắc trở. Nhưng lúc đó hắn lại bị đánh tan bởi cha con nhà họ Trần nên đã chạy lên Thái Nguyên. Lịch sử đến đây đổi thay hoàn toàn.

Vốn trong lịch sử thì Lê Duy Phụng có yêu cầu Pháp quốc trợ giúp để lập nên một nhà nước thân Pháp ở Bắc Kỳ. Nhưng Nhà Nguyễn đứng trước nguy cơ này nên đã đồng ý ký hòa ước với Pháp tại Nam Kỳ. Tất nhiên vì tạo thuận lợi cho việc ký hòa ước thì quân Pháp cắt đi sự viện trợ đối với Lê Duy Phụng tại Bắc Kỳ. Chính vì lý do ấy nên trong lịch sử Lê Duy Phụng cuối cùng bị triều đình Huế đánh tan.

Nhưng lúc này đây tình thế khác hoàn toàn, quân Pháp gặp quá nhiều khó khăn trong Nam Kỳ, và triều đình Huế không có bất kỳ ý định ký kết hòa ước nào. Động thái quyết tâm đánh bật Pháp khỏi Nam kỳ của triều Đình Huế là rõ ràng. Phe chủ hòa trong triều đình Huế lúc này im hơi tắt tiếng không hé răng nửa lời.

Chính vì lý do này mà khác với trong lịch sử, quân Pháp quyết định viện trợ cho Lê Duy Phụng tại Bắc Ký để tạo áp lực cho triều Nguyễn. Chính vì lý do này rung sĩ Charles Duval bí mật đến Bắc Kỳ vào những ngày đầu tháng 9 , tiếp xúc với Tạ Văn Phụng với mục đích đẩy mạnh cuộc nội chiến. Đồng thời quân Pháp cũng viện trọ cho Lê Duy Phụng súng ống, đạn dược và một số kíp pháo hiện đại. Đến này thì lịch sử đã hoàn toàn thay đổi khỏi lối mòn của nó.

Việc tại sao quân Pháp có thể vận chuyển được khí tài và pháo binh vào Bắc Kỳ vẫn là một mê đề vào lúc này. Họ đi đường thủy đổ hàng vào một nơi bí mật tại Quảng Yên, hay theo đường bộ từ Trung Hoa viện trợ cho Lê Duy Phụng thì vẫn chưa có câu trả lời chính xác. Nhưng sự xuất hiện của đám khí tài này là không thể nghi ngờ rất chân thực.

Có được đám khí tài hiện đại, lại cộng thêm có một vài tuần được luyện tập nhờ các cố vấn quân sự của Pháp thì sức mạnh của phản quân bay rất cao, và bay rất xa.

Khi Diêu thiếu nhận được báo cáo từ các mật vụ thì Phủ Lạng Giang, Huyện thành Yên Lũng lại Bắc Ninh tỉnh đã bị đánh hạ. Thành Bắc Ninh bị bao vậy tứ bề. Thái Nguyên thì phần lớn đã nằm dười quyền khống chế của phản quân, và quân Lê Duy Phụng đang có xu thế tấn công Hải Dương tỉnh. Phía bên kia sông Hồng thì thành Vĩnh Tường cũng bị quân Vũ Văn Nhỡn hạ rồi. Những tin tức đáng sợ về tình hình Bắc kỳ như hoa tuyết tung bay khắp nơi.

Diêu thiếu nhận được tin báo mà trôn chân chết điếng tại chỗ, báo cáo từ các mật vụ gửi về cho Diêu thiếu hết sức chi tiết. Vì từ mấy tháng trước Quang Diêu đã thả ra một số mật vụ giả làm nạn dân để đầu nhập vào phản quân làm nội gián. Đám người Lê Duy Phụng vì đang cần mở rộng binh lực nên thu gom không ít nạn dân, mật vụ của Quang Diêu rất dễ trà trộn vào. Dĩ nhiên họ không thể dảm nhiệm các vị trí tốt trong phản quân mà chỉ có thể làm các binh sĩ bình thường nhất. Nhưng với nghiệp vụ khá chuyên nghiệp đã được đào tạo thì việc thu thập thông tin không quá khó. Nhất là một tên mật vụ còn được tuyển vào đội bắn súng trường Minire rifle.

- Con mẹ nó, ôi con mẹ nó … phải làm thế nào đây.

Diêu thiếu đau đầu không thôi mà đi đi lại lại trong trướng bồng. Không ngờ tình hình quá phức tạp, bóng dáng quân Pháp nhúng tay vào miền Bắc quá rõ ràng. Thế giặc cỏ quá lớn và đánh mạnh khắp nơi, Diêu thiêu thật cảm thấy thế cô lực mỏng mà không biết nên bắt đầu từ nơi đâu để giải quyết tình thế bết bát này.


Tất nhiên mật vụ Quang Diêu có thể thâm nhập Phản Quân thì mật vụ triều Đình cũng có thể thâm nhập y như vậy. Tuy rằng nghiệp vụ họ không cao nhưng cũng có thể điều tra ra một vài àm cấp báo về triều. Lúc này trên bàn của Tự Đức là mộ bản báo cáo như vậy. Lúc này Tự Đức không để ý nhiều cá nội dung khác, hắn chỉ chằm chằm nhìn vào sáu chữ trong bản báo cáo này: “ Pháp tặc can thiệp Bắc Kỳ”.

Tự Đức bỗng nhiên thấy sau chữ kia thật chói mắt ra sao? Thật con me nó đáng sợ thế nào. Sáu chữ như ngàn vạn cái kim mà đâm vào tâm can của Tự Đưc. Đâm đến tan tán tâm can của hắn. Báo cáo còn có ghi rõ. Pháp tặc hỗ trợ Tạ phỉ “nhiều” súng ống hiện đại và một số lượng nhỏ các thanh đại bác bắn xa của Tây Âu. Chi tiết vẫn cần được điều tra thêm. Tự Đức đọc đến đây thì ôm ngực hôn mê ngay lập tức.

Đấy là về Tự Đức trên giường bệnh, còn về triều thần quan lại triều Huế thì loạn lên cào cào. Tin giặc cỏ có hơn mười vạn với nhiều vũ khí hiện đại đã lan truyền khắp nơi. Lúc này phe chủ hòa lại được thể lên ngôi. Chúng già mồm gào to muốn ký hiệp ước hòa hão với quân Pháp sai đó điều Hoàng Diệu ra Bắc trấn áp phản quân Lê Duy Phụng. Chuyện giặc pháp để sau khi bình định Lê Duy Phụng hãy tính. Lý do nhóm chủ hòa đưa ra đó là Giặc Pháp vượt vạn dặm đại dương mà đến Đại Nam, do đó chúng không có sức đánh hạ Đại Nam. Có thể coi chúng chỉ là mun ghẻ mà thôi, muốn loại lúc nào cũng được, sớm muộn không quan trọng. Còn Lê Duy Phụng mới là tâm phúc đại họa cần nhanh chóng diệt trừ ngay, vì đây là nhánh quân nôi Đại Nam. Nếu để chúng phát triển sẽ có thể gây nên những tổn hại không thể tưởng tượng được cho sự thống trị của triều đình.


Phe chủ chiến thì mở miệng chửi bới không ngớt. Con mẹ lũ thất phu, chiến trường Nam Kỳ khó khăn lắm mới chiếm được thượng phong, nay rút quân đi thì sau này còn lâu mới có thể có được cơ hội trên. Các ngươi nghĩ điều binh từ Nam ra Bắc là ngồi uống một cốc nước trà sao. Nam kỳ cần đánh mà Bắc Kỳ cũng cần đánh. Không phải Bắc kỳ vẫn còn Vạn Ninh quân sao, nay còn có thêm Bắc Kan quân. Cha con là họ Trần không phải củi mục. Lúc này chúng ta cần là điều quân trung ương hỗ trợ Bắc Kỳ.

Nhóm chủ hòa lại chửi bới. Trung ương quân là để bảo vệ hoàng thượng, bảo vệ các trọng thần tạ Huế, là trọng khí quốc gia. Nay ngươi điều đi ra Bắc nếu ngộ nhỡ Pháp quân theo hải thủy đường tấn công Huế thì sao? Các ngươi có mưu đồ gì mà không quan tâm an nguy của thành thượng. Nói đến cah con Trần gia cộng lại cũng chỉ có 6 ngàn quân, lấy gì mà đấu với mười vạn quân phỉ tặc. Thêm vào đó phỉ tặc cũng có trang bị hiện đại khong kém. Đến nước này chỉ có hòa mà thôi.

Đấy, giặc thì đến trước ngõ, vua thì lăn ra bệnh. Bá quan không đoàn kết nghĩ kế thì thôi, lúc này lại tốn hết thời gian vào cãi nhau cho được. Điều này khiến cho việc cứu viện cho Bắc Kỳ càng thêm chậm chễ. Hải Dương báo nguy, Bắc Ninh thành gồng mình chống đỡ trong tuyệt vọng. Quân Vũ Văn Nhỡn đã qua Sông Hồng và áp sát huyện Phúc Thọ thuộc Quảng Oai phủ. Tình thế nguy cấp một vạn phần.


Diêu thiếu vẫn án binh bất động tại Biên giới Quảng Yên và Bắc Ninh, trước khi tình thế chưa sáng tỏ hắn quyết không đem quân nướng vào trận chiến này một cách mù quáng. Nhưng đứng yên không phải là không làm gì. Diêu thiếu quyết định cầu viên Anh quốc. Hay nói đúng hơn là cầu viện Hong Kong. Hay nói trực tiếp hơn là cầu viện toang quyền Hongkong Charles Straubenzee. Bên ngoài Pháp cùng Anh có quan hệ hợp tác trong việc sử lý các vấn đề Đông Dương cũng như Trung Hoa. Nhưng thực chất hai nước này là đối thủ canh tranh sống chết. Ai cũng muốn chứng minh mình là bá chủ hải dương, ai cũng muốn mình thực dân nhiều hơn địa bàn. Chính vì lý do này dù đã vui vẻ ngồi xuống cùng bàn bạc chia cắt tuộc địa tại Phương Đông. Nhưng Pháp và Anh sẽ không hoàn toàn vui vẻ với nhau, đây chính là điểm mà Diêu thiếu biết được nên hắn muốn lợi dụng khe hở này mà vào.

Nếu bảo rằng muốn quân Anh trực tiếp nhảy vào đánh quân Pháp là không thể. Trong hiệp ước của hai nước đã kí kết thì Mã Lay ( Miến Điện) sẽ do Anh tiếp quản. Các nước như Cao Miên, Ai Lao, A Nam sẽ là của Pháp. Còn Xiêm La sẽ là cả hai cùng nhau chia cắt. Chính vì lý do này người Anh sẽ không bao giờ nhảy vào Đại Nam giúp người Việt. Nhưng điều Diêu thiếu cần là vũ khí của người Anh mà không phải là quân Anh hỗ trợ.

Thật ra đơi thêm 3 tháng nữa thì hai dây truyền sản xuất súng cộng thêm 10 ngàn thanh súng trường Thụy Điển sẽ về đến Đại Nam. Nhưng lúc đó thì tình thế be bét đến đâu Diêu thiếu dự đoán không nổi. Nước xa không cứu được lửa gần. Diêu thiếu chỉ còn cách là ra lệnh cho Patrick Lý ( Lý Tân) tiếp xúc và mua vũ khí thật sự hiện đại của quân Anh, giá cao ra sao cũng chịu được, nhưng nhất thiết phải là vũ khí tốt nhất mà không phải hàng phế thải..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 76: Hòa đàm.



Hoàng Đế Tự Đức thánh thể bất an nằm liệt trên giường, lúc này truyện triều chính lại thông qua Nội Các để tiến hành một cách tạm thời. Nôi các chia ra hai phe tranh chấp kịch liệt, Trương Đăng Quế, Nguyễn Tri Phương thuộc phe chủ hòa. Lâm Duy Tiếp, Võ Văn Giải phe chủ chiến. Hai bên tranh cãi không thôi mà không thể đưa ra ý kiên nào thống nhất. Cuối cùng hai bên đều nhược bộ một bước mà tiến hành điều giải. Nói cho cùng Trương Đăng Quế và Nguyễn Tri Phương với tư tưởng chủ hòa không phải vì các ông có mưu đồ bán nước hại dan gì. Các ông này cũng là lo lắng việc nước nhưng nhãn quan của những vị này đặt ở lăng kính khác hoàn toàn so vơi phe chủ chiến.

Các vị chủ hòa thì coi Pháp là ghẻ ngoài da, là bệnh nhẹ. Lê Duy Phụng là nội thương, là bệnh cần trữa trị ngay lập tức. Chính vì tư tưởng này họ mới bất chấp mà tìm mọi cách hòa ước cùng quân Pháp tại Nam Kỳ mà tập trung đánh họ Tạ tại Bắc Kỳ. Phe chủ chiến thì nghĩ rằng cả hai đầu Pháp cùng Lê Duy Phụng đều là ác tật cần phải dao sắc mà chặt đứt nên quyết tâm dốc hết vốn liếng cá một trận. Các làm này khá mạo hiểm khiến cho phe chủ hòa phản đối liên miên.

Cuối cùng phương án triết chung của hai phe được thống nhất và truyền lên Tự Đức. Triều đình Hạ lệnh cho Hoàng Diệu thôi tấn công mạnh quân Pháp, đồng thời cử Phan Thanh Giản đại thần tiếp xúc quân Pháp đề xuất điều kiện chuộc lại hai tỉnh Nam Kỳ là Sài Gòn Gia Định và Mỹ Tho. Kế tiếp nếu cuộc đàm phán thành công thì sẽ kéo Một phần quân bị của Hoàng Diệu ra Bắc, kết hợp với một phần quân Trung Ương tại Huế tạo nên một đạo quân hùng mạnh tiến đánh Lê Duy Phụng. Quân của Diêu thiếu và Quang Cán bị coi nhẹ trong tình huống này mà yêu cầu án binh bất động giữ vững Quảng Yên không để mất.

Tự Đức vốn dĩ bệnh rất trầm kha mà không thể suy nghĩ nhiều. Ông chỉ có thể lờ mờ mà gật đầu đồng ý phương án trên. Thật ra ông cungc chẳng nghe rõ lăm nội các nói cái gì, Tự Đực quá sức mệt mỏi vì bệnh tật rồi.


Nhận được mệnh lệnh từ triều đình thông qua Phan Thanh Giản truyền đạt nghe nói Hoàng Diệu đã tức đến ói máu mà hôn mê. Nhưng lệnh vua khó cãi ông đành rút quân đang đánh du kích tại Sài Gòn Gia định về Trấn Biên. Trong cuộc họp hội nghị bí mật các tướng lãnh thì Trương Định nói thẳng kế sách đó là Uy tính của Hoàng soái tại Nam Kỳ cao ngất, thiếu ông thì quân tại Nam Kỳ không có bất kỳ hi vọng chiến thắng nào. Vậy nên Hoàng Diệu giả bệnh mà không về kinh, vẫn ở lại Nam Kỳ lãnh đạo quân dân chống Pháp. Trương Định nguyện thay Hoàng Diệu dẫn một ngàn tay xạ thủ cộng thêm năm ngàn tân kinh quân không trang bị súng ra Bắc chiến đấu. Hoàng Diệu nghĩ phải mà nhận lời. Dù ồn biết rằng nếu làm như vậy sẽ bị nghi ngờ là ủng binh tự trọng, tay nắm trọng binh mà không muốn buông quyền, có ý đồ riêng. Nhưng lúc này Hoàng Diệu vì nghĩa mà không từ nan, quyết tâm đi trên con đường tử lộ. Ông thà đánh tan quân Pháp rồi đeo gồn vào cổ đi về Kinh chịu tội còn hơn là thấy lũ ngoại xâm nhởn nhơ dày xéo bờ cõi.


Nhưng đấy là chuyện của Nam Kỳ và triều đình chuyện, lúc này Diêu thiếu đang rơi vào thế tiến thối lưỡng nan. Cả Bắc Ninh và Hải Dương thành đều gửi thư cầu viện hắn. Lúc này Diêu thiếu thực sự rất khó quyết. Hắn không phải khó khăn vì cứu ai bỏ ai, mà thực sự hắn bỏ không được Vạn Ninh cơ nghiệp. Lúc này Vạn Ninh không còn một khẩu súng hiện đại nào. Muốn chia quân ra một nửa xạ thủ bảo vệ Vạn Ninh, một nửa đi giải cứu quân bạn thì lại càng mạo hiểm. Vì với năm trăm súng thủ không chắc sẽ thủ nổi Vạn Ninh nếu quân giặc quyết định công phá nơi này. Nên nhớ lúc này Vạn Ninh giàu nhất Bắc Kỳ ai ai cũng biết cả. Xưởng dệt, xưởng luyện thép, xưởng thuốc nổ, xưởng ma túy chế tạo đều nơi đây. Chỉ cần hơi bất trắc thì mọi công sức của Diêu thiếu đều là dã tràng xe cát cả mà thôi.

Diêu thiếu án binh bất động quyết không xuất kích mà đóng quân áng ngữ cửa ngõ Quảng Yên.

Ngày 15 tháng 10, Bắc Ninh thành bị đánh hạ, các huyện thành xung quanh quan Binh hoặc chạy trốn hoặc chủ động đầu hàng phản nghich quân. Ngày 20 tháng 10, Vũ Van Nhỡn đã công phá Huyện Phúc thọ mũi súng chỉ thẳng Quốc Oai. Nếu Quốc Oai bị thất thủ thì Hà Nội Thăng Long sẽ bại lộ trước mũi tấn công của quân thù.

25 tháng 10, Hải Dương thành nguy cấp vạn phần, Tổng đốc Hải Dương Nguyễn Đình Tân dâng tấu về triều nếu không có được viện binh thì hắn sẽ tự vẫn để đền tội non sông. Hắn không thể giữ được Hải Dương Thành rồi. Nếu Hải Dương mất thì Thăng Long sẽ rơi vào thế bị bao vây tứ bề mất thôi ( đây la câu nói ẩn dụ, hải dương mất thì Hà Nội sẽ bị bao vây ba mặt).

Ngày 26 tháng 10, Tổng Đốc Hải Dương nhận được mật thư từ một người quen cũ.

“ Tổng đốc đại nhân cố cầm cự thêm hai ngày, Diêu tôi sẽ đem quân cứu viện kịp thời”

Cầm lấy lá thư đọc đi đọc lại xem có trá hay không , sau đó Tổng đốc Nguyễn Đình Tân quỳ hai gối xuống đất mà bái lạy thiên địa.

“ Trời cứu ta rồi”


Ngày 28 tháng 10 năm 1861, Hai vạn quân do Lê Duy Phụng chỉ huy đang bao vây thành Hải Dương và đánh mạnh bỗng nhiên ngưng lại. Thám báo của phản quân đã thông báo lại có một đội quân của triều đình đang tiến về phía Hải Dương thành từ phía Đông Bắc.

Nghe tin báo của thám tử thì Lê Duy Phụng bỗng cười lớn ha ha:

“ Cuối cùng con hồ ly cũng rời hang cáo, Bản Vương đã chờ ngươi rất là lâu rồi… Khoái mã thông báo cho Đông Hải Vương cùng Trấn Nam Vương cùng nhau hành động. Cha con họ Trần lần này bản Vương sẽ cho các ngươi có đi mà không có về”.


Lúc này quân của Lê Duy Phụng như một Thái Bình Thiên quốc phiên bản Đại Nam mà bố trí. Chỉ trong vòng một tháng khởi sự mà chúng đã chiếm được một phần rộng lớn của Bắc Kỳ bao gồm. Thái Nguyên Tỉnh. Cao Bằng tỉnh, một phần không nhỏ của Hưng Hóa tỉnh. Phủ Tuyên Quang của Tỉnh Tuyên Quang cũng rơi vào tay phản quân. Đấy là chưa kể đến các vùng lẻ nhỏ như một số huyện thuộc Sơn Tây như Yên Sơn, Đồng Dương hay Thạch Bích. Bắc Kỳ có 10 phần diện tích thì Phản quân chiếm đến hơn ba phần rồi. Lúc này Lê Duy Phụng nhanh chóng tuyên bố lập Tân quốc Đại Việt, đóng đô tại Thái Nguyên thành phủ Tỉnh Thái Nguyên. Hắn tự xung mình là Thiên Vương, phong cho Trường Đạo sĩ đang dẫn đám hải tặc tại Cát Bà là Hải Đông Vương. Vũ Văn Nhỡn là Tây Bình Vương. Cai Vàng Nguyễn Văn Thịnh thì được phong làm Trấn Nam Vương. Con mẹ nó đúng là một tuồng chèo thực sự. Nhà Nguyễn phục nhà Thanh mà coppy y nguyên nhiều thứ vể quân, chính… coppy giỏi đến độ sao chép ra luôn một đám tặc giống hệt như Thái Bình Thiên Quốc bên nhà Thanh.


Chuyện các “Vương Gia” của Tân Đại Nam quốc lên mưu mô kết hoạch gì khoan vội hãy nói. Trở lại thòi gian cách đấy một tháng lúc mà Quang Diêu mới xuất quân từ Vạn Ninh đi Bắc Kan và nghỉ chân tại Biên giới Quảng Yên cùng Bắc Ninh. Tin dữ bỗng nhiên dồn dập kéo đến khiến cho Diêu thiếu rối trí không thôi. Một người nghĩ ngắn, hai người nghĩ dài, Diêu thiếu quyết định một cuộc họp quân sự mở rộng với thành phần là cả sĩ quan lẫn các “trí thức trẻ mới được cải tạo xong nhân cách. Trong cuộc họp này Diêu thiếu trình bày tất cả những thông tin, nguy cơ mà mật vụ thu thập được để cho mọi người cùng bàn bạc.

Các sĩ quan xuất thân từ tầng lớp binh sĩ Vạn Ninh quả thật không thể đưa ra được nhiều ý kiến gì. Họ thuần túy là sĩ quan cấp trung và thấp, thừa hành mệnh lệnh chiến đấu thì được. Nhưng bắt họ bàn vè kế sách dạn vĩ mô này thì hơi khó. Còn về đám con ông cháu cha cộng sĩ tử nghèo thì lại trái ngược hoàn toàn. Họ hưng phấn loạn cào cào mà phát biểu, nói chung là ý kiến thiên kì bách quái. Có những ý kiến vĩ mô tầm xây cung điện trên mặt trăng, có những ý kiến tầm chết tạo phi thuyền thám hiểm sao hỏa. Lũ này ý kiến rất là thiếu tính thực tiễn.

Nhưng không phải hoàn toàn các ý kiến đều vô nghĩa, có một ý kiến khiến Diêu thiếu rất là lưu tâm.

- Diêu thiếu, thật ra ý kiến nơi này chung quy lại cũng là tiến lên cứu viện các nơi hay lui về thủ vững Vạn Ninh. Nếu tiến công cứu viện khắp nơi thì ba ngàn quân của chúng ta cứu chỗ này hổng chỗ khác, hiệu quả thực tế không cao. Còn nếu lui về cố thủ thì Vạn Ninh quy cánh nhỏ bé. Khi tặc quân phát triển đến một trình độ nhất định mà cô lập Vạn Ninh thì chúng ta lại thành cá nằm trên thớt. Nhưng có một điểm học sinh đang đắn đo, chính là toàn bộ Đông Bắc các tỉnh đều bị tấn công, riêng Quảng Yên lại không có một bóng phỉ tặc. Điều này rất là đáng suy nghĩ, chỉ cần nghĩ ra điểm này chúng ta sẽ có thể tháo gỡ.

Tên thư sinh này là Hoàng Bật Đạt vì công danh không mấy như ý mà hắn đầu nhập vào Vạn Ninh quân theo như lời kêu gọi của Phạm Phú Thứ đại nhân. Thật ra trong lịch sử thì Hoàng Bật Đạt cố gắng thi cử thêm hai lần nữa và đỗ Cử nhân vào năm Tự Đức thứ 21 rồi ra làm quan. Hắn là người làng Bộ Đầu, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Khi thi đỗ Cử nhân, tên này được bổ làm Giáo thụ huyện Phong Doanh (nay là huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Sau, ông được cử làm Tri huyện Lang Tài (nay là huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh).
Tháng 4 năm 1882, quân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai, Hoàng Bật Đạt đề nghị Tổng đốc Bắc Ninh tổ chức kháng chiến nhưng bị khước từ. Bất mãn, ông tự chiêu binh ngăn quân xâm lược. Bị quan trên ra lệnh giải tán, ông bèn bỏ nhiệm sở trở về quê.
Hoàng Bật Đạt là người can đảm, chịu khó và có ý trí, điều đó được thể hiện trong lịch sử . Trong thời điểm này vì thi cử không thông mà có hơi bất đắc trí ra nhập Vạn Ninh. Nhưng câu phát biểu mang tính tổng kết khá có giá trị của hắn được Diêu Thiếu tán thưởng. Mặc dù ý kiến này của Hoàng Bật Đạt không có nhiều ý nghĩa vè giải quyết tình hình. Nhưng nó lại là linh cảm cho Diêu thiếu có sách lược hòa hảo hơn.

Vậy là cuối buổi hội nghị Diêu thiếu tuyên bố án binh bất động, đồng thời cử người liên hệ Patrick Lý tại Hongkong tim mua vũ khí. Nhưng đêm đó Diêu thiếu có gọi Hoàng Bật Đạt vào trướng lều của mình và tiến hành mật đàm kế sách rất lâu..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 77: Armstrong Gun 1855.



Nội dung thương thảo bí mật giữa Quang Diêu và Hoàng Bật Đạt không ai biết. Nhưng lúc này thì khí thế xông đến Hải Dương thành của quân Vạn Ninh quả thật là rất hung hãn. Theo thám báo thông tin lại thì không ngờ 3 ngàn quân Vạn Ninh tất cả đêu được tranh bị súng tây. Đây quả là một con số còn mẹ nó khủng khiếp.

Đây là quân Vạn Ninh hay nói đúng hơn là đội quân nguồn gốc từ Vạn Ninh nhưng bến đỗ bơ vơ do Bắc Kan đã bị chiếm đóng mất rồi. Nhóm quân này thôi thì vẫn có thể gọi là quân Bắc Kan lưu vong, hay quân Bắc Kan tương lại, họ tuy khí đến hung hung nhưng không hề tấn công quân thổ phỉ cách đó 5 dặm mà đủng đỉnh dừng lại, dựng lều đắp trại, đàm chiến hào phòng thủ.

Phỉ quân mang danh Tân Đại Việt cũng ngưng lại tấn công thành Hảo Dương mà cẩn thận dè chừng quân Vạn Ninh. Ba mặt khác đang vây đánh thành Hải Dương cũng có động thái. Họ rút bớt quân đội tăng viện cho mặt thành Đông của phỉ quân. Lúc này đây mặt thành đông tập trung đến hơn một vạn quân Tân Đại Việt, số còn lài chia đều cho ba mặt thành còn lại.

Lê Duy Phụng và quân Bắc Kan lưu vong cứ thế cách mặt nhìn nhau lờm nguýt như hai gã đang bà chanh chua chuẩn bị lao vào nhau đánh ghen nhưng thời cơ chưa đến nên vẫn còn phân vân. Không biết tình hình bên quân Phản nghịch thì ra sao, nhưng tình hình bên quân Bắc Kan triều đình thì náo nhiệt vô cùng. Nhóm này đóng quân doanh có vẻ hơi lớn một chút, ngày ngày binh sĩ nơi này dù là đang đánh trận ngoài tiền tuyến nhưng không hề quên luyện tập bắn đạn thật. Người khác nhìn vào thì thấy binh lính "chăm chỉ” quá , binh sĩ tinh nhuệ quá v.v…

Sự thật thì chỉ những người bên trong mới có thể hiểu hoàn toàn. Người cầm quân lúc này của Bắc Kan lại không phải là Diêu thiếu mà là một nhân vật lạ hoắc có tên Trần Văn Vân. Nói đến Trần Văn Vân thật ra cũng không phải lạ hoàn toàn. Hắn chính là gia nô Trần gia, được ban họ Trần . Tên này là một thân vệ quân của Diêu thiếu phấn đấu từ từ cả trong luyện tâp và điều binh ngoi lên thành Suất đội. Hắn cũng là quan chánh thất phẩm của triều đình đó. Nhưng từ chỗ có thể cai quản nhiều nhất 100 quân lúc này đâu Diêu thiếu giao hẳn cho hắn 3 ngàn quân vào tay tương đương với võ quan Tứ phẩm. Tất nhiên chức quan này là do Diêu thiếu tự điều phối trong quân nên không tính là triều đình sắc phong. Đánh xong trận thì tự động mà phun ra trả lại thiếu gia. Vốn dĩ tên “tướng quân” tò te bỗng nhiên trong một đêm lãnh binh gấp 30 lần số lượng tối đa mà bản thân hắn có thể quản thì hoang mang vô cùng. Nhưng bên cạnh hắn có một cây định hải thần châm là Tham tướng Hoàng Bật Đạt cũng là một chức danh lâm thời trợ giúp. Vậy nên hai tên tò te tướng quân này cả gan dẫn 3 ngàn quân toàn là tân binh đo khiêu chiến lũ phỉ tặc hung ác. Thế nhưng vì có hai người nương tựa vào nhau nên lũ này tự nhiên là yên tâm không dứt mà đùm bọc.


Trần Văn Vân tin tưởng Hoàng Bật Đạt vi Diêu thiếu nói rằng tên thu sinh này mưu kế rất giỏi có thể yên tâm tin tưởng. Hoàng Bật Đạt tin tưởng Trần Văn Vân vì Diêu thiếu rỉ tai nói : Đây là ái tướng của bản thiếu, kiêu dũng thiện chiến, kinh nghiệm có thừa, người cứ yên tâm. Nói chung là cả hai tên này bị Diêu thiếu bán đi không văn tự. Quang trọng là trong tình cảnh khó khăn này hai người tự giác mà yêu thương đùm bọc tin tưởng lẫn nhau, tin tưởng vào “thế mạnh” của đối phương. CHính vì lý do này hai con nghé không sợ cọp dám đi vuốt râu hùm mà chạy đến trước mặt 2 vạn phỉ quân nhảy nhót.

Còn việc tập bắn súng bùm bùm hàng ngày thì không thể không thực hiện rồi. Lý do đơn giản, con mẹ nó toàn bộ 3 ngàn người này là tân binh, hay nói cách khác họ là các dân quân đã được huấn luyện quân sự nhưng thực tế là chưa cầm súng bao giờ. Cũng may các sĩ quan còn lại là lão binh cũ của Vạn Ninh quân, nếu không thì phen này đến luyện tập ra sao cũng méo biết.

Súng tây từ đâu ra. Dĩ nhiên con bà nó là mua rác thải thừ quân Anh quốc rồi, cũng may đây là rác thải hàng loại A++ chứ không phải hàng rách thải loại C—mà quân Thanh mua từ Anh quốc. Số súng gắn mác “Tây” này là súng Brunswick rifle hàng sản xuất những năm 1836. Nói chung đây là hàng phế thải của nước Anh,bởi lúc này họ đã nghiên cứu ra những chủng loại súng mới như Pattern 1851, Pattern 1853, Pattern 1860 và mới nhất là Pattern 1861 Enfield Musketoon.

Khẩu Pattern 1851 là súng được trang bị nhiều nhất cho quân đội Anh quốc lúc này cũng giống như Minié rifle 1847 của Pháp. Nói chung là hai quốc gia này “giao lưu” quá sâu nên ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau. Minié rifle 1847 và Pattern 1851 thực tế chẳng có gì khác nhau về nguyên lý cũng như thông số kĩ thuật. Điểm khác chăng có lẽ là trang trí bên ngoài mà thôi.

Lô súng rác mà Diêu thiếu thông qua Lý Tân đàm phán mà mua được từ tay người Anh cũng có cấu trúc tương tự như Pattern 1851 hay Minié rifle 1847 nhưng ngắn hơn một chút do chất thép làm nòng không tốt, tầm xa rơi vào khoảng 300 m. Lũ này là súng nạp đạn cửa nòng và điểm hỏa bằng hạt nổ, cộng thêm nòng có hai rãnh xoáy nên cũng gọi là rác loại A++. Nhưng rác A cũng là rác, vậy mà Diêu thiếu lại bị tân toàn quyền HongKong Charles Straubenzee chặt đẹp một phen. Hình dung đơn giản một phen, vào những năm Brunswick rifle ra đời, lúc ấy chúng mới tinh và hiện đại nhất thì có giá xuất xưởng vào tầm 17 bảng Anh. Lúc này những khẩu súng rác này bán bên nước Anh với giá 5 bảng mà thôi. Giá thị trường tại Anh quốc những khẩu Pattern 1851, Pattern 1853 là hàng cũ rơi vào tầm 10 bảng. Pattern 1860 và mới nhất là Pattern 1861 Enfield Musketoon là những thanh súng hiệ đại nhất thì mới có cái giá 20 bảng ( bằng 180 bảng thời hiện đại). Nhưng con mẹ nó những thanh rác 5 £ của nước Anh đến đây Charles Straubenzee bán cho Diêu thiếu với giá 100 £. Đấy lại còn là giá “hữu nghị” vì tình đồng chí cùng buôn bán Heroin. Diêu thiếu nghe được thì tức nổ phổi nhưng vẫn căn răng mua bốn ngàn khẩu súng trị giá hợp đồng lên tới 400 000 £. Ruột đau như cắt nước mắt đầm đìa nhưng lúc này Diêu thiếu không có lựa chọn. Vật là ¼ số lãi trong cuộc buôn bán heroin lần thứ hai đã bị chặt bay, đổi lại là một đống rác thải công nghệ.


Vì súng trường của Anh, Pháp lúc này vẫn là lên đạn đầu nòng nên động tác nạo đạn khó đến vãi cả mồ hôi cộng một thứ khác. Các tân binh dĩ nhiên ngày đêm phải luyện tập chăm chỉ rồi. Cũng may mà tên Charles Straubenzee không đến nỗi “quá” táng tận lương tâm. Sau khi chặt chém 2000% giá trị lô hàng súng ống thì hắn rất “hào phóng” mà tặng cho Diêu thiếu một số đạn dược không hề nhỏ. Cộng thêm Diêu thiếu lại hoa thêm 20.000 £ để mua thuốc súng đen nên số lượng thuốc súng đấy đủ cho tân quân luyện tập thoải con gà mái.

Nhưng động tác bắn súng ầm ầm cả ngày của quân Vạn Ninh lại khiến cho phản quân thám tử kinh hồn táng đảm. Tràng diện quân triều đình số lượng đến 3 ngàn lăm le súng “Tây” bắn ầm ầm quả là rất kinh hồn.

Tin tức này báo đến doanh trại của Lê Duy Phụng làm hăn cũng lo lắng không thôi:

- Quốc sư, ngài nhìn xem. Lúc này quân Vạn Ninh lấy đâu ra nhiều súng Tây như vậy, ngộ nhỡ Tại Vạn Ninh chúng vẫn còn súng Tây thì sao?

Kẻ lên tiếng là đại ca Lê Duy Phụng tự dày mặt phong Thiên Vương. Hắn đang hỏi thăm quân sư của mình, lại là một cị cử nhân tên Trần Thận Văn đã đầu nhập vào tặc khấu mà mò mẫm lên đến chức tể tướng của “Thiên Vương”.

- Cái này Thiên Vương yên tâm, Chỗ Đông Vương đã báo lại, mấy lần va chạm gần đây thì quân Vạn Ninh chỉ bắn đại bác từ xa mà thôi, căn bản quan sát không thấy quân Vạn Ninh không có súng trên tay. Có lẽ bọn này bị triều đình ép quá mà tung hết lực lượng mạnh đi cứu Hải Dương, hang ổ chúng có nhưng cũng làm gì còn nhiều súng Tây. Quan trọng là Vạn Ninh trên thực tế không có bị uy hiếp từ bất kì nơi nào. Làm sao chúng có thể nghĩ đến chúng ta có thể…. Ha ha ha.

- Ha ha… tướng quốc nói có lý. Bản vương là nóng vội, mặc kệ quân Vạn ninh đang đóng ngoài doanh đi. Thông báo các an hem mở to mắt ra mà nhìn. Vạn Ninh xuất quân thì chúng ta phải nhanh nhất bỏ chạy.



Đây là tình hình bên doanh của Lê Duy Phụng, còn bên Doanh của Vạn Ninh quân thì sao.

- Chúng quân sĩ, mở to mắt ra mà canh gác, các anh em trinh sát cố gắng theo rõi địch. Địch nhân có di động thì nhanh chóng nhổ trại rút lui. Binh sĩ đi ngủ không cởi dày, súng không rời vai có nghe rõ chưa.
Đây là mệnh lệnh mà Trần Văn Vân đang la hét trong quân doanh của mình. Tham tướng Hoàng Bật Đạt càng là sắn tay áo lên mà bố trí tỉ mỉ chi tiết từng chút, từng chút một các hạng mục cho… chạy trống.

Con mẹ nó chuyện hài, hóa ra cả hai đạo quân nhìn có vẻ hùng hổ này lại là đầu voi đuôi chuột, cả hai mụ đàn bà đang vén váy chuẩn bị chạy trốn mà thôi.

Vậy Diêu thiếu lúc này ở nơi đâu thì không ai biết. Chỉ biết lúc này Doanh trại Vạn Ninh tuy nhộn nhịp các chiến sĩ nhưng nếu nhìn kĩ thì thấy họ lạ mặt vô cùng. Lạ mặt đó là vì họ rõ ràng không phải quân chính quy của Vạn Ninh, vậy mà 2 ngàn quân trong doanh trại ngày đêm luyệ tập ở quân cảng đều là tân binh.

Còn một điểm khó hiểu đó là hai tiểu hạm hiện đại made in Pháp cùng 4 đại hạm made in Đại Nam trong quân cảng cũng biến mất không thất tung tích. Nhưng mấy ngày này quân cảng bị giới nghiêm. Người hữu tâm muốn quan sát thật là khó vô cùng.



Vịnh Hạ Long. Hay nói đúng hơn lúc này chưa có tên là Hạ Long mà chỉ là gọi chung là Vịnh Quảng Yên để kêu cả vùng rộng lớn. Bái tử Long vịnh cùng Hạ Long vịnh sau này. Lúc này đây tại một Đảo đá vôi khá ẩn nấp trong Vịnh có 6 chiến hạm “khủng bố” đang đậu nơi đó. Hóa ra đây là hai chiến hạm made in Pháp được đặt lại tên là Ánh Sáng Hào và Hi Vọng Hào, chúng giữ nguyên ý nghĩa tiến Pháp chẳng qua Diêu thiếu phiên dịch thành tiếng Việt mà thôi. Bốn chiếc đại hạm made in Đại nam tuy là thuyền gỗ không có động cơ nhưng cũng to lớn và có ý nghĩa chiến lược nên Diêu thiếu cũng có đặt tên tử tế cho chúng mà không phải kí hiệu là Vạn Ninh 001, 002 gì đó. Chúng lần lượt là Chiến thắng Hào, Quảng Yên Hào, Thần Hải Hào, và cuối cùng là Thần Phong Hào.

Điều đáng nói lúc này không phải là cái tên của những chiến Hào này, mà chính là các khẩu đại Bác trên các chiến hào này. Chúng hoàn toàn là các khẩu đại bác xa lạ đến vô cùng so với hiểu biết của người Đại Nam. Chúng là những khẩu đại bác breech-loading ( nạp đạn cửa sau) có tên Armstrong Gun 1855..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 78: Bí mật ra đảo Ti Tốt



Có thể nới lô đại bác Amstrong này chính là món quà lớn nhất mà toàn quyền HongKong Charles Straubenzee “tặng” cho Diêu thiếu. Thật ra con mẹ nó những khẩu đại bác Armstrong Gun 1855 cũng sắp tính vào hàng phế thải của của quân Anh rồi, nhưng đối vơi Diêu thiếu thì đó lại là thứ hắn yêu thích nên coi đó là món quà hào phóng cũng không sai.

Giá trị của một vật không quyết định bằng việc vật đó có thành phẩm từ thứ gì. Giá trị của một vật được quyết định bởi nhận định của người đang sở hữu nó, hoặc muốn sở hữu nó. Armstrong Gun 1855 trong mắt người Anh là hàng sắp phế thải, nhưng trong mắt Diêu thiếu lại là mỹ nữ không xương mềm mại ngọt ngào. Đây cũng chính là lý do có câu nói “ vợ nhà là bát cơm thiu, nhưng lại là bào ngư dia cá đối với thằng hàng xóm”. Giá trị của một vật đôi khi buồn cười đến vậy đó.

Armstrong Gun 1855 được phát triển bởi Sir William Armstrong người Anh. Năm 1854, Armstrong đã tiếp cận Bộ trưởng Bộ Chiến tranh, đề nghị ông chế tạo một khẩu đại bác 3 pound nạp đạn cửa sau với nòng rãnh xoáy để thử nghiệm. Sau đó tăng lên đến 5 pounder, thiết kế đã thực hiện thành công về cả phạm vi và độ chính xác. Trong ba năm tiếp theo, ông đã phát triển hệ thống xây dựng của mình và điều chỉnh nó thành những khẩu súng có cỡ nòng nặng hơn. Hệ thống của Armstrong được áp dụng vào năm 1856, ban đầu là "dịch vụ đặc biệt trên chiến trường" đặc biệt , ông chỉ sản xuất các khẩu pháo nhỏ, Đại bác 6 pund (2,5 in / 64 mm), đại bác 9 pound (3 in / 76 mm và nhiều nhất là 12 pound (3 inch / 76 mm).

Nhưng đại bác của Amstrong có một nhược điểm, Những khẩu đại bác Amstrong có tên biệt danh là Amstrong vít vặn. Đạn của đại bác Amstrong là đạn rời, có nghĩa là đầu đạn và thuốc phóng phân biệt với nhau. Đầu đạn sẽ được nhồi vào trước tiên từ phía sau của đại bác, sai đó mới đến khối thuốc nổ được đựng trong bao tải hình trụ. Khối thuốc nổ được cố định vào vị trí buồng đốt bằng “ngóa nòng “ theo hiệu lực vít trượt dọc. Chính vì cấu tạo này khiến cho việc bịt kín của buồng đốt là không quá hoàn hảo. Từ đó đại bác Amstrong so với các đại bác nhồi đạn cửa trước có các hạn chế như sau. Vận tốc đạn đầu nòng không cao, dẫn dến tỉ lệ xuyên giáp các chiến hạm lúc này là không đáng tin cậy. Quá trình nạp điện tích trong buồng đốt cũng không được giải quyết dẫn đến cầu trì trong đầu đạn đôi khi không được kích hoạt, điều này chính là hai yếu tố khiến Amstrong gun đang dần dần trở nên không được tin tưởng trong quân Anh.

Trong lịch sử thì đúng là đến năm 1863 Amstrong buộc phải quay lại với nghiên cứu và phát triển đại bác nạp đạn cửa trước. Và lúc đó những mẫu Armstrong Gun 1855 trở thành rác thực sự. Nhưng lúc này thì các khẩu Armstrong Gun 1855 vẫn chỉ là gần nhất với rác mà chưa phải là rác hoàn toàn. Nên giá của chúng cao vô cùng.

Diêu thiếu cậy tiền mà làm tới hắn sắm tới 30 khẩu pháo Armstrong Gun 1855 9 pound. Không phải hắn không muốn mua pháo 12 pound hoặc đại bác hạng nặng hơn nhưng mà Charles Straubenzee nhất quyết không bán những thứ này du giá cả có cao đi chăng nữa. Xem ra mặc dù Charles Straubenzee hám lợi nhưng hắn vẫn có điểm mấu chốt cuối cùng. Rất là đáng được hoan nghênh.

Armstrong Gun 1855 9 pound mới tinh xuất xưởng Elswick Ordnance Company với giá chỉ có 257 £ ( 20.000 £ hiện đại) nhưng con mẹ nó Charles Straubenzee bán cho Diêu thiếu với giá 4200 £ một thanh đại bác kể trên. Tổng cộng cả đạn pháo lẫn lô đại bác kể trên thì Diêu thiếu lại bị thịt đến 150.000 £. Lần này đúng thật là Diêu thiếu chảy máu thật sự, nhưng hắn chảy máu mà vui mừng. Vì bởi lẽ đối với Diêu thiếu thì Armstrong Gun 1855 9 pound quan trọng hơn tất cả. Người Anh coi chúng là rác thải nhưng Diêu thiếu coi chúng là bảo bối, mà đã là bảo bối thì vô giá.

Nên nhớ quân Nhật bản vẫn phát triển loại đại bác Armstrong Gun 1855 trong cuộc chiến Boshin war (1868–69). Và quân Nhật vẫn tiếp tục sản suất mẫu pháo trên trong nhiều năm tiếp theo, và hiệu quả của chúng chẳng tồi tí nào. Diêu thiếu sẽ quyết tâm mua lại công nghệ này của Amstrong vào năm 1863 khi ông ta chuyển hướng nghiên cứu về đại bác nạp đạn cửa trước. Tuy là công nhân mò rác nhưng nếu Diêu thiếu biết mò thì hắn sẽ mò được vàng. Không thấy người Nhật buổi đầu cũng đi mò rác công nghệ sao cuối cùng xém chút nữa họ thành bá chủ Đông Á đó thôi. Có tấm gương này nên Diêu thiếu càng ngẩng cao đầu tiếp tục sự nghiệp mò rác của mình.

Nếu nói lô súng rởm Brunswick rifle là tình thế bắt buộc phải mua sắm, thì lô đại bác Armstrong 9 pound, lại là niềm vui bất ngờ của Quang Diêu. Armstrong gun 9 pound tổng trọng lượng cả xe pháo là 400 kg, có thể bắn hai loại đạn common shell 9.1 pound (4,1 kg) đây là đạn nổ thông thường để tấn công các công sự hay chiến hạm. Loại đạn thứ hai chúng có thể sử dụng là shrapnel 9.8pound - 4,4 kg ( đây là loại đạn chứa bi sắt để tấn công bộ binh. Cả hai loại đạn này đều là đạn nổ khích hoạt bằng cầu trì do điện tích của chất nổ trong buồng đốt đại bác làm nhân tố kích hoạt.

Nòng súng có thể đi qua 6 độ trái hoặc phải mà không cần di chuyển cỗ súng. Các bánh xe được làm bằng gỗ với một dải thép rộng 75 mm. Đường kính bánh xe là 1,7 m, Đây cũng là một thiết kế rất phù hợp cho bộ binh của Armstrong 9 pound. Tầm xa cực đại của đại bác này là 2300 m, độ chính xác rất cao trong khoảng cách 1200 m trở xuống. Nhưng điểm yếu rõ ràng là xuyên giáp yếu, cộng thêm kích nổ không ổn định, tức là sẽ có nguy cơ đạn bắn ra nhưng không nổ, hoặc đạn xuyên giáp bị nổ ngay khi chạm bề mặt.

Người Anh coi loại đại bác napn đạn cửa sau với nhiều tính năng ưu việt như Armstrong gun 1855 như hàng phế thải mà chuẩn bị loại bỏ rồi quay lại với pháo nạp dạn cửa trước. Còn Diêu thiếu lại coi nó như bảo bối tâm can mà nâng niu chiều chuộng. Sự khác biệt này từ đâu mà có? Điều này thật ra cũng không quá khỏ hiểu, sự khác biệt là vì lý niệm chiến tranh của Anh quốc cùng Đại Nam khác nhau. Hay nói chính xác hơn thì lý niêm chiến tranh của Anh quốc và của Diêu thiếu trong thời điểm hiện tại là khác nhau hoàn toàn.

Đôi thủ thực sự của người Anh thực tế lại là người Pháp, Tây Ban Nha tại chiến trường Châu Âu. Tất nhiên thời điểm này họ không có đánh nhau nhưng đối thủ giả định để họ xây dựng hệ thống quân sự để đối phó chính là các quốc gia này. Sở dĩ các quôc gia này làm như vậy vì họ đang cố tranh chấp ngôi bá chủ đại dương hải quân đội. Tất nhiên trong cuộc chạy đua này Tây Ban Nha đã thụt hậu, lúc này là cuộc đua song mã Anh- Pháp. Anh lấy Pháp hải quân làm đối thủ giả định để xây dựng quân đội. Chính vì lý do này mà lý niệm đại bác phải to lớn, phải xuyên giáp, phải có được độ nổ ổn định được đưa lên hàng đầu. Và dĩ nhiên Armstrong gun 1855 sẽ bị loại bỏ theo các tiêu chí trên. Bởi lẽ đối thủ giả định của Anh quốc là những chiến hạm bọc thép khổng lồ của quân Pháp.

Nhưng đối với quân Đại Nam thì sao? Tất nhiên chiến tranh trên bộ là chủ yếu. Người Đại Nam chưa điên đến độ chất Pháo hiện đại lên thuyền gỗ không động cơ đi bắn nhau bùm bùm với Thiết giáp hạm của quân Pháp. Đấy là nói về Đại Nam nói chung, nói cụ thể về Quang Diêu thì trong thời gian ngắn hạn mục tiêu của hắn là Lê Duy Phụng. Thằng này rõ là bộ binh tiêu chuẩn đánh nhau rồi, mà thủy binh Cát Bà cũng toàn tàu nhỏ, bằng gỗ. Đại bác Armstrong 9 pound thừa đủ dùng. Tầm bắn xa đến tận 2300m, tuy rằng dạn viên nổ viên xịt nhưng tốc độ bắn cao, cộng thêm độ chính xác khỏi chê thì có thể bổ xung khuyết điểm trên. Chỉ cần đạn nổ trên 70% là ok rồi. Nếu băn 10 viên 9 xịt thì mới là đáng lo ngại.

Lúc này đây trên hòn đảo đá vôi bé nhỏ tại vịnh ngoài khơi Vạn Ninh đang là tiếng pháo ầm ầm. Quân Đại Nam đang luyện tập bắn đạn thật không nổ. Đây là đạn dành cho huấn luyện, không có thuốc nổ và cầu trì nhưng có chứa bột than để sao cho trọng lượng bằng với đạn thật. Chỉ huy huấn luyện không ngờ lại là mấy tên sĩ quan người Anh.

Vốn dĩ Anh không có quyền và không được quyền can thiệp vào A Nam thwo hiệp nghị Anh – Pháp. Nhưng đây không phải là can thiệp trực tiếp hay hỗ trợ quân sự mà là làm ăn buôn bán. Tuy rằng nói như vậy vẫn có vẻ đuối lý, vậy nên Diêu thiếu chỉ có thể điều quân ra bãi biển có tên là Ti Tốt ( tương lai mới có tên này, lúc này là vô danh) để luyện quân. Bãi biển này hẹp nhỏ chỉ tầm 1 km nhưng rất bằng phẳng và … đẹp tuyệt vời. Nhưng lúc này chúng đang bị dày xéo bởi đanh đại bác liên hồi. Diêu thiếu đặt tên đây là bãi Súng Gầm, chẳng ai dám ý kiến cho được.


10 giờ tối ngày 29 tháng 10 năm 1861. Ngoại vi doanh trại “Bắc Kan” quân đang đóng gần thành Hải Dương. Những ngày mùa đông lại là cuối tháng, trăng sao chẳng thấy quả thật trời con mẹ nó tối đen như mực, xòe bàn tay trước mặt còn khó có thể nhìn rõ. Vậy nhưng trong lùm cỏ có hai bóng đen đang lén lén lút lút tiếp cận doanh trại quân triều đình.

- Hợi huynh thật quá tài, không ngờ có thể tìm ra đường tiếp cận gần doanh trại cẩu quan như vậy.

- Xuỵt, im lặng quan sát doanh cẩu quan còn về báo cáo. Nhưng trước khi đi cũng phải cho bon cẩu quan này nếm mùi lợi hại.

Tên thám báo của phản quân tháo ra đoản cung bên vai mà chuẩn bị, trong bóng tối bàn tay hắn rút ra một mũi tên mà mân mê hồi lâu.

- Hợi ca hay là thôi đi, đánh động tụi nó chay ra thiến cả hai anh em chúng ta giờ.

- Yên tâm đi, ca đã dẫn người đến đây thì có thể dẫn về. Giết một cẩu quan được thưởng ăn thị, anh em ta chia nhau. Vả lại phải gây nên bạo động thì mới quan sát được chúng bố trí canh phòng ra sao.

- Hợi ca, người thông minh như thể đại tướng vậy.

- Bố mày sẽ có ngày thành đại tướng, thằng ngu. Cẩn thận quan sát doanh trại địch.


Lợi dụng tên đồng bọn đi cùng quan sát doanh trại địch. Tên thám báo có tên Hợi ca lắp mũi tên lên dây cung và nhắm kĩ tên lính gác trên đầu tháp canh của quan binh doanh.

“Phật” “véo” “véo” “phụp”. Trong bóng đêm yên tĩnh dường như tiếng dây cung thả sức bật gây nên tiếng chói tai. Mũi tên vậy mà quá chính xác, ngoài 50m vẫn có thể thẳng tắp xuyên thẳng vào vai tên lính canh trên chòi quan sát. Tên này gào lên một tiếng thê lương rồi ngã xuống.

Tên thám báo phỉ quân tên Hợi mặt mày trắng bệch, nhưng bóng đen đã che đi sự thất thố trên gương mặt hắn. Nhưng tiếng kêu khe khẽ từ miệng hắn thì không che nổi.

- Đệch mợ, quả này xong thật rồi.

- Chưa chết mà, tiếc qua, xém chút bắn trúng cổ rồi. Hợi ca vô địch.

- Vô con mẹ mày chạy mau.

Hơi ca vừa chạy vừa lẩm bẩm trong mồn : “ quả này bố mày chết thật rồi”..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 79: Sợ cũng đánh.



Quân doanh của Vạn Ninh quân bỗng nhiên trong phút chốc đèn đuốc nổi lên khắm nơi, tiếng quát, tiếng hò hét vang dội. Tiếp theo đó là hàng loạt tiếng còi, tiếng chiêng vang lên theo nhịp điệu nhất định. Bằng vào nhanh nhất thời gian các binh sĩ đã ra khỏi lều quân và tiến hành xếp hàng cẩn thận, chuẩn bị té. Đây là môn huấn luyện đặc biệt mấy ngày hôm nay của bọn họ rồi.

Quân Vạn Ninh tại đây có thể nói là tân binh về đánh nhau, nhưng lại là lão binh về xếp hàng, đội ngũ cộng thêm chấp hành kỉ luật. Những điều này kể từ khi là dân binh thì họ đã được huấn luyện liên tục và thuộc như cháo chảy rồi. Những người lưu dân đủ thành phần trong xã hội này trước cơn nguy nan sống chết thì được Vạn NInh thu nhận. Được Trần gia đưa vào đồn điền, vào nhà xưởng mà lao động. Không những bản thân họ mà con em, họ hàng, hàng xóm của họ cũng được Trần gia cứu giúp như vậy. Do đó những người này luyện tập rất tích cực theo sự kêu gọi của Trần gia. Nói một câu khá phản nghịch, tại Vạn Ninh thì Trần gia nói tính mà không phải triều đình. Đơn giản mà suy nghĩ thôi, trong lúc quan viên triều đình vơ vét bóc lột họ đến mức họ nhà tan cử nát thì Trần gia giúp đỡ mà không phải triều đình cứu trợ. Trong lúc nông dân gặp thiên tai bão lũ mất nhà mất cửa, không có cơm ăn áo mặc thì Trần gia cho họ nơi trốn, cho họ ăn, cho họ mặc.

Vậy nên Diêu thiếu kêu gọi các chai tráng ngoài giờ lao động thì luyện tập dân binh ai lại không hưởng ứng. Còn một lý do nữa đó là làm dân binh cũng có tiền lệ hàng tháng, tuy rằng ít nhưng chă phải đánh giặc, chỉ cần luyện tập mà thôi. Nhưng khối kẻ dân binh trai tráng nhiệt huyết muốn chính thức thành các “ông” binh sĩ chính quy được vác súng oai vệ, được đội mũ sắt, được mặc đồ oai phong. Được trả lương hậu hĩnh, và được bà con cô bác xung quanh Vạn Ninh kính trọng.

Trong cái thời thế loạn như cào cào giặc cướp tứ bề thì Vạn Ninh được xếp vào nơi thái bình tịnh thế. Lượng nhà giàu ở Vạn Ninh có thể tính là mọc lên từng ngày. Ở Vạn Ninh chỉ cần có tay nghề, chắc chắn ngươi sẽ khá giả. Không thấy mấy tên thợ rèn dao vớ vẩn đầu làng kia à, vậy mà được vào xưởng thép làm, lương cao ngất ngưởng. Không thấy mấy thằng thợ nề bữa đói bữa no cuối thôn à, nay làm công nhân xửa đóng tàu, cưới được cả vợ bé rồi. Nơi giàu có như Vạn Ninh vậy mà không một bóng phỉ tặc, điều đó nhờ ai? Chẳng phải nhờ hùng binh Vạn Ninh doanh sao? Thêm vào đó binh sĩ Vạn Ninh quân kỷ tốt vô cùng , không bao giờ quấy nhiễu dân chúng, thêm vào đó họ còn giúp dân địa phương là khác. Ví như Tiểu Hổ nhà Hòa què bị lạc trong rừng, báo lên các vị quân gia làm nhiệm vụ canh phòng. Chả bấy lâu sau tiểu Hổ được lôi xềnh xệc về… rồi hàng trăm hàng ngàn chuyện khác. Thêm vào đó lương của binh sĩ Vạn Ninh thuộc một trong những nghề cao nhất ở Vạn Ninh. Chính vì lý do này địa vị binh sĩ ở Vạn Ninh rất cao, rất nhiều nhà tử tế luôn nhắm con rể là trong Vạn Ninh doanh mà kiếm tìm.

Những lý do này cộng lại để chứng minh một điều, các dân binh luyện tâp rất là cật lực để kiếm một suất trong quân chính quy. Vậy nên lúc này khi có quân lệnh xếp hàng chuẩn bị rút lui thì họ nhanh như điện mà nghiêm trang chỉnh tè quần áo, ba lô, súng ống … chuẩn bị ù té quyền.


- Tướng quân không vội, không vội. Trên mũi tên có phong thư.

- Cái gì. Đưa ta xem.


Vị “tướng quân” Trần Văn Vân vội cầm lấy tờ giấy có nhiễm máu từ tay một tên lính bình thường. Trong ánh đuốc lờ mờ tên sĩ quan này thấy một loạt hàng kí tự vừa thân quen vừa xa lạ. Thân quen vì đây là chữ số latin. Mà xa lạ thì đó là một đám kí hiệu mà tổ chức “kia” mới có thể hiểu. Vốn vị Trần “tướng” quân này đã nai nịt gọn gàng chuẩn bị hạ lệnh rút lui thì bỗng nhiên đánh mắt cho một tên “thân binh” gần đó rồi đi vào lều.

- Vị huynh đệ này dịch nghĩa cho ta coi.

Trần tướng quân không ngờ lại rất khách khí với tên thân binh không phẩm hàm này.

- Tướng quân khá khách khí rồi, xin để cho tôi nhìn xem.

Tên thân binh miệng khách khí nhưng tay lại không khách khí mà cầm lấy mảu giấy. Thì ra tên thân binh này chính là “mật vụ” của Diêu thiếu. Mật vụ là một tổ chức nằm ngoài quân binh. Nhưng lại có liên hệ mật thiết cùng quân binh. Họ có thể là bất kì ai trong quân binh cũng như bất kì vị trí nào. Nhưng có một điểm đó là các sĩ quan Vạn Ninh biết được sự tồn tại của tổ chức này, cũng như biết một số nhân vật hoạt động ngoài sáng của tổ chức này. Mật vụ không những đối ngoại mà cũng có cả nhiệm vụ đối nội. Họ không có quyền can thiệp vào quân chính nhưng họ có quyền giám sát và báo cáo lại cho Diêu thiếu. Đôi khi nếu sĩ quan có hành động phản bội với đầy đủ chứng cứ thì họ hoàn toàn có quyền khống chế các sĩ quan này trước khi báo cáo cho cấp cao hơn của Mật vụ tổ chức.

Nói chung Mật vụ Vạn Ninh có chút hơi hớm của Cẩm Y vệ thời Minh triều, nhưng không có quyền sinh sát mà thôi. Tất cả những gì họ làm trong nhiệm vụ đối nội thường là quan sát và điều tra là chính. Mà tổ chức Mật Vụ lò ra ngoài ánh sáng lại có chức năng gần như quân cảnh của thời hiện đại. Nói chung vì thời gian chưa đủ nên Diêu thiếu vẫn chưa thể tách biệt hai tổ chức này với nhau.


- Quân súng tây đã rút khỏi Hải Dương, hướng đi chưa rõ.

Vị mật vụ đọc dòng tin gi bằng mật mã, cách giải hay viết mật mã thì chỉ có mật vụ mới có thể đọc được. Nói về đọc viết thì Vạn Ninh đã phổ cập chữ “bình dân”. Dường như tất cả quân dân Vạn Ninh đều đã được xóa mù chữ bằng loại chữ mà Diêu thiếu gọi là chữ “bình dân” để phân biệt cùng chữ “Nôm” lúc này. Chữ “bình dân” chính là chữ quốc ngữ của VN thời hiện đại. Nhưng Diêu thiếu đã kiên trì phổ cập loại chữ này trong mấy tháng trời tại Vạn Ninh. Nó là môn học bắt buộc của dân binh và quân sĩ chính quy. Là môn học bắt buộc của trẻ nhỏ dưới 15 tuổi. Còn dân chúng còn lại thì không bắt buộc. Thật ra Diêu thiếu không đủ tinh lực để bắt buộc họ học chữ “bình dân”.

Nhưng theo đà phát triển của Vạn Ninh, bất kể thứ gì như mua bán, chứng từ, hợp đồng lao động đều viết bằng “bình dân” chữ thì toàn dân sẽ phải tự giác mà học thôi. Không bị học sẽ bị lừa, sẽ bị mất quyên lợi, đơn giản chỉ có vậy. Làm ăn cùng tư bản Diêu thiếu không có chút học thức thì chờ bị bóc lột đi.

Diêu thiếu đặt tên đay là chữ “bình dân” để cho các ông to bàn lơn trong triều khỏi ý kến là hắn đang truyền bá Tây Phương văn hóa. Tôi đã gọi nó là “bình dân” cho tầng lớp xã hôi thấp, liên quan chó gì đến “ quý tộc “ các người mà xen vào. Các người mà xen vào thì tự coi mình là bình dân lớp cho xong. Chiêu này có hiệu quả, vẫn chưa thấy tên quái nào có ý kiến cả.

- Vậy là Diêu tướng quân đoán chuẩn rồi, phỉ quân là “ Hạng Trang múa kiếm ý ở Bái Công”.

Hoàng Bật Đạt tỏ vẻ phong đạm kinh vân , cao thủ tịch mịch mà chắp tay sau lưng nhìn lên trời… mặc dù tối đen mờ mịt không sao không trăng.

- Lão Đạt, nói con mẹ nó tiếng người, cái gì mà Trang…. cái gì mà Công…

Hoàng Bật Đạt đang làm gia vẻ thì ho khù khụ sau câu nói thô lỗ của Trần Văn Vân. Đúng là đàn gảy tai trâu, không học thức thật đáng sợ.

- Khụ khụ… ý tôi nói là phỉ tặc không có ý đánh với chúng ta. Bọn chúng đã bí mật điều động quân súng trường đi tấn công Vạn Ninh rồi, điều này đúng như Diêu thiếu dự đoán. Vấn đề lúc này là chúng ta đánh hay rút. Cái này thì Diêu thiếu bảo tôi và ông cùng quyết.

- Không phải Diêu thiếu dặn là có động thì phải chạy nhanh nhất sao?


Trần Văn Vân không phục, hắn là binh sĩ chuyên nghiệp sĩ quan cấp thấp, nghe mệnh lệnh chấp hành thì còn được, tự chủ rất khó.

- Cái này còn tùy tình huống, nếu kẻ địch thực muốn đánh rồi tiêu diệt chúng ta thì chúng ta phải chạy, 3 ngàn người này toàn là tân binh, cứng đối cứng là không được. Nhưng theo tình hình mất hôm nay, cũng như thông tin này, thì phỉ quân căn bản là không muốn đánh, mà chắc là cũng không dám đánh với chúng ta. Chúng chỉ tỏ vẻ để cầm chân chúng ta tại nơi này để thuận lợi đánh Vạn Ninh thôi.

- Vậy chúng ta rút về bảo vệ Vạn Ninh.

- Không được nếu chúng ta làm vậy sẽ rút dây động rừng.


Trần Văn Vân lại gãi đầu, gãi tai

- Rút cái gì? Động cái gì? Lão Đạt a, ông nói dễ hiểu hơn được không.

- Con mẹ nói, ý nói là rút quân sẽ làm lỡ kế hoạch của Diêu thiếu.

- Ờ, thế chúng ta làm gì bây giờ?


- Thăm dò quân địch.

- Thăm thế nào?

- Tôi đánh ông được không?

- Lão Đạt tự nhiên sao đòi đánh người, mà ông đánh không lai đâu, tôi phản kích ông lại nằm giường.


Cái này gọi là tú tài gặp binh đầu to. Hoàng Bật Đạt chịu thẳng một trận mà bất lực.

- Ngày mai cử 500 binh, khỏe mạnh nhất, chạy nhanh nhất tấn công doanh trại giặc, nếu chúng phản công, chúng ta chạy. Nếu chúng chạy thì toàn quân xuất thủ đuổi theo.

- Không sợ mai phục à.

- Sợ

- Sao dám đi.

- Cược mệnh, phú quý nơi này, Diêu thiếu dặn là chúng ta bảo tồn 3 ngàn binh. Nhưng nếu ta đoán đúng thì chúng ta gặp đại công lao. 3 ngàn binh vừa có thể tham chiến một trận nhẹ nhàng mà trở thành lão binh. Ông và tôi lại có công đánh đuổi 2 vạn phỉ tặc. Chỉ cần hành trang nhẹ, hành quân cẩn trọng, cùng lắm thì chạy. Quân Vạn Ninh chúng ta chạy là vô địch.

- Nói có lý, chơi khô máu đi.

- Ông không sợ.

- Sợ.

- Sao còn chơi.

- Diêu thiếu dặn là tôi tin ông.

- Diêu thiếu cũng nói nguyên câu này với tôi.


Cả hai trầm mặc..
 
Back
Top Dưới