Xuyên Không Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt

Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 40: Tự Đức chơi lớn



Tự Đức sau khi cảm động về tinh tần chiến đấu của quân Vạn Ninh thì ngay lập tức bình tĩnh lại.

- Tại sao cả doanh thủy binh to lớn đến 3 ngàn người mà chỉ có được hơn mười tiểu hạm nhỏ bé như vậy? Không phải khanh là Tham Tri trong Binh Bộ sao. Chẳng nhẽ khanh không hiểu việc binh, mọi người trong Binh Bộ không hiểu việc binh?

Lời nói của Tự Đức rất có ý tru tâm, ông hẳn là đang tức giận vì tự nhiên một cơ hội bình định phần lớn bất ổn của Bắc Kỳ lại trôi qua một cách lãng xẹt như vậy. Lúc này đây Tự Đức không có một chút nào lòng tin ở quân vệ thối nát tại Bắc Kỳ, lòng tin của ông đặt cả vào đội quân “hổ báo kỵ” do Trần Quang Cán chỉ huy. Nhưng khốn nạn ở chỗ đội quân hùng mạnh đến vậy tự nhiên làm lỡ chiến cơ trời ban chỉ vì thiều chiến hạm. Một lý do quá sức buồn cười, một quân doanh đại điện cho một phủ mà chỉ có mười tiểu hạm và hai trung hạm. Chả nhẽ Đại Nam chỉ là một làng chài đánh cá thôi?

- Bẩm thánh thượng. Binh Bộ Thượng Thư Biện Vĩnh, Tả Bộ Thị Lang Binh Bộ Trần Gia Huệ đều nói rằng Trần Quang Cán là một thân thương nhân thì biết gì đánh trận, nên họ chỉ cấp cho Quang Cán mười tiểu chiến hạm. Mặc dù hạ thần cố gắng bênh vực cho Quang Cán thì cũng chỉ có thể tranh thủ thêm hai chiếc trung hạm mà thôi. Nói gì thì nói hạ thần cũng là có quan hệ thày trò cùng Cán tướng quân lại thêm chức quan của hạ thần là thấp bé trong Binh bộ, nói vào nói ra sẽ bị người ta vin vào cớ bênh vực người nhà lấy công làm tư. Hạ thần cũng bất lực, Thêm vào đó số chiến hạm này đều bị cắt giảm một nửa pháo thần công… công văn vẫn còn lưu tại binh bộ, thánh thượng lúc nào cũng có thể xem xét. Hạ Thần không dám nói ngoa…

- Hồ đồ, Biện Vĩnh hồ đồ, Gia Huệ hồ đồ… khanh cũng hồ đồ theo họ sao. Đánh trận là trò đùa để các khanh tiêu khiển tranh chấp quyền lực trong binh bộ sao? Đáng thương thay thần binh của trẫm… lỡ mất chiến cơ rồi…. ôi… Trẫm còn đang tính toán điều Vạn Ninh doanh vào đánh cùng Pháp quốc phía Nam. Nay thì… các khanh quá hồ đồ rồi.


Phan Phú Thứ chơi hoa chiêu nhưng lúc này đang toát mồ hôi lạnh, lão không ngờ rằng Tự Đức lại tinh minh đế vậy, chỉ nhìn thoáng qua đã rõ vấn đề tại đâu rồi. Quả thật vấn đề ở chỗ các quan viên tại Binh Bộ đấu đá nhau gây nên sự việc đáng tiếc ngày hôm nay. Nếu không phải Quang Cán có thân phận môn đệ của Phan Phú Thứ thì cũng không bị chèn ép từ phía Biện Vĩnh và Gia Huệ. Điều đáng giận là trong lúc thù trong giặc ngoài mà binh bộ vẫn lủng củng như thường khiến long nhan Tự Đức làm sao vui vẻ nổi.

- Vi thần đáng chết vi thần có tôi… xin thánh thượng trách phạt.

Tự Đức quá thông minh trong hoàn cảnh này, Phan Phú Thứ thấy mình không nên lươn lẹo bao biện gì cả. Biện pháp duy nhất chính là nhận tội cho xong, ít ra thái đột thành khẩn còn có lẽ nhận được thông cảm.

- Được rồi, khanh đứng dậy đi. Trẫm thôi không tính cái tội này của khanh. Công lao của khanh tiến cử , bồi dưỡng nhân tài thì Trẫm ghi nhận. Lần này Quang Cán lập công lớn, khanh cũng không tránh khỏi liên quan. Ngày mai thượng triều Trẫm sẽ ban chiếu phong khanh làm Hữ Bộ Thị Lang Binh Bộ, tiếp tục phát huy tìm kiếm nhân tài, vạch sách lược trong Binh Bộ cho trẫm, chớ có phụ lòng tin của Trẫm dành cho khanh.

Niềm vui đến quá bất chợt làm cho Phan Phú Thứ chết lặng trong giây lát. Từ chánh tam phẩm Tham Tri lão ca này được thăng một bước thành tòng nhị phẩm. Quyền hạn trong Binh Bộ thoáng chốc tăng lên theo câp số nhân. Với chức quan này thì Phan Phú Thứ chỉ kém Binh Bộ Thượng Thư Biện Vĩnh mà thôi, so với Tả Bộ Thị Lang Binh Bộ Trần Gia Huệ thì Phan Phú Thứ còn nhỉnh hơn một chút.

- Thần tạ chủ long ân. Thần thề không phụ lòng tin của Thánh Thượng.

Tỉnh lại sau cơn mê muội thì Phan Phú Thứ vội vã tạ ân Tự Đức rồi rít.

- Được rồi, được rồi… Quả thật quá đáng tiếc. Chính ra có thể yên tâm về Phương Bắc mà điều Trần Quang Cán vào Nam thế nhưng giờ đây có lẽ phải chờ Bình định hoàn toàn quân phản loạn phía Bắc thì hắn mới có thể rảnh tay mà giúp Trẫm… Thiên nan vạn nan a.

- Khởi bẩm bệ hạ, thật ra không phải là không có phương pháp.

Tự Đức ghe được câu này như tiên âm, hắn vôi vàng tiếp lời.

- Ái khanh mau nói.

- Khởi bẩm thánh thượng, Quang Cán vừa đánh cho quân giặc cỏ Lê Duy Phụng bại liệt. Hung uy của hắn ở phương Bắc sẽ khiến cho phỉ quân kinh hồn táng đảm, vậy nên nếu để Quang Cán tiếp tục càn quét thổ phỉ thì làm it công to, chỉ cần hỗ trợ tên này một chút chiến hạm là tốt rồi. Còn về Nam kỳ thì cũng có cách giải quyết. Theo như tân binh do Trần Quang Cán huấn luyện ra thì chúng ta thấy rõ một chuyện đó là quân sĩ nếu được trang bị tốt với súng Tây Dương thì không cần số lượng quá nhiều cũng có thể chiến đấu hiệu quả. Thần cho rằng nên dành ra vài ngàn kinh quân tiến hành đào tạo theo phương pháp mới của Quang Cán, sau đó lại tiến hành mua vũ khí của đám Tây Dương mà trang bị cho tân quân này. Chỉ cần có thêm một người lãnh binh tốt là có thể chiến đấu tại Nam Kỳ.


Lời nói của Phan Phú Thứ rất trân tình và thể hiện sự trung tâm vô cùng. Kinh quân hay nói trắng ra là thân quân của Tự Đức, nhánh quân đội này lòng trung thành với Tự Đức thì không phải bàn cãi. Vậy nên huấn luyện cho một nhánh Kinh quân trở thành dũng mãnh ngang ngửa hoặc vượt qua Vạn Ninh quân đó chính là chuyện cực tốt đối với Tự Đức. Ý kiến này đúng là không có gì trung thành hơn được nữa.

- Ý kiến rất tốt. Vậy đi Kinh quân có mười hai vạn, nay tách ra hai vại để luyện tập theo sách lược mới của Quang Cán. Nhưng việc mua vũ khí cũng là một vấn đề, việc ai dẫn binh cũng không phải dễ dàng. Theo ý kiến ái khanh thì sao?

Phan Phú Thứ một bên cung kính nghiêm túc mà trả lời.


- Việc mua vũ khí không quá khó khăn, có kinh nghiệm của Quang Cán trước đó thì việc chúng ta trang bị súng đạ cho một nhánh quân không quá đông thì quốc khố hoàn toàn có thể chịu được. Sở dĩ Đại Thanh cũng như chúng ta từ trước đến nay thất bại trong việc mua vũ khí của Tây Dương vì nguyên nhân khách quan và chủ quan. Khách quan vì các quan viên chúng ta hoàn toàn không hiểu gì nhiều về vũ khí tây phương, chúng muôn hình vạn trạng nên không biết loại nào tốt xấu, ưu khuyết ra sao. Chủ quan vì quan lại tham quan ăn hối lộ quen rồi, mua súng kém chất lượng lại khai giá lên gấp vài lần chiếm phần chênh lệch. Chỉ cần xử lý hai vấn đề này thì mọi chuyện dễ bàn. Nay có giá cả mà Quang Cán đã mua làm tham chiếu, việc mua súng ống không quá lo lắng. Còn về việc chủ tướng của nhánh thân quân này thì vi thần tiến cử một người đó chính là Tri Phủ Tuy Viễn ( Bình Định ngày nay) Hoàng Diệu.

Tự Đức vừa nghe Phan Phú Thứ vừa gật đầu tán thưởng, nhưng khi nghe nhắc đến Hoàng Diệu thì hai mắt lóe sáng mà nhìn thẳng vào họ Phan để xem xét tên này có mưu đồ gì không. Phải biết Phan Huy Kiệm, Trần Gia Huệ, Biện Vĩnh và Hoàng Diệu là bạn đồng niên khóa, cùng thi đỗ tiến sĩ, quê Quảng Nam có thâm tình rất sâu. Nay Trần Gia Huệ cùng Biện Vĩnh vừa mới xử ép học trò của Phan Phú Thứ là Quang Diệu, vậy mà Phan Phú Thứ lại tiến cử Hoàng Diệu. Điều này khiến cho Tự Đức quan sát rất kĩ họ Phan. Nhưng chỉ thấy lúc này Phan Phú Thứ gương mặt rất trân thành tiến cử với biểu hiện bề ngoài thì không cảm thấy như có mánh khóe nào.

- Phan ái khanh. Hoàng Diệu như là huynh đệ kết nghĩa của Tả Bộ Thị Lang Trần Gia Huệ… Trẫm nghe nói khanh còn có một cậu học trò Nguyễn Chi Long võ quan chức Chánh Hiệu Úy nghe nói cũng rất khá.

- Khởi bẩm thánh thượng, thần tiến cử là người tài, không có nề hà quan hệ bên trong. Hoàng Diệu có thật tài so sánh thì Chi Long vẫn còn kém xa. Thần là thật tâm tiến cử Hoàng Diệu, người này trung tâm cảnh cảnh, làm việc kín kẽ cẩn thận, tân quân là chuyện trọng đại không thể có sai sót nào. Chi Long mặc dù võ dũng hơn người nhưng tính tình vẫn còn nóng nảy, cần phải mài rũa nhiều hơn nữa.

Nghe đến đây Tự Đức không đắn đo nữa, Phan Phú Thứ hết lòng khen ngợi một người thuộc doanh đối diện trong chính trường khiến cho Tự Đức càng ngày càng thưởng thức vị “trung thần” hiếm có này.

- Lòng trung của ái khanh trẫm hiểu. Chuyện này để buổi triều sớm mai sẽ bàn luận tiếp. Trời không còn sơm ái khanh có thể lui về nghỉ ngơi.
Tự Đức hết sức vừa lòng mà hiền hòa nói chuyện cùng Phan Phú Thứ. Lão hồ ly này ngày hôm nay đã thu được lợi tức qua sức mong đợi rồi, lão vôi vã cáo lui đi ra ngoài. Trong thư phòng chỉ còn lại Tự Đức ngồi đó. Ông ta đang lẩm bẩm trong miệng.

- Hai vạn kinh quân kiểu mới..trang bị. Giá như cả mười hai vạn có thể trang bị như vậy.. ôi…

Buổi triều sớm ngày hôm sau không có gì bất ngờ mà diễn ra hết sức suôn xẻ. Đảng bảo thủ lần này hiếm khi có một lần thực sự yếu thế không nói thành lời nơi triều hội. Phan Phú Thứ thăng chức Hữu Bộ Thi Lang Binh Bộ. Hoàng Diệu được bổ nhiệm Thần Sách Vệ Úy hai vạn Kinh quân. Trần Quang Cán được thăng chức phòng ngự sứ Vạn Ninh từ tòng ngũ phẩm lên đến chánh ngũ phẩm. Trần Quang Diêu được thăng chức lên Tĩnh hải Phó úy chánh lục phẩm và được điều về Kinh để tạm thời huấn luyện hai vạn Kinh quân theo phương pháp mới. Ngoài ra triều đình còn thông qua ngân sách năm mươi vạn lượng bạc mua khí tài Tây Dương, con số này chính là dựa theo số vũ khí mà Quang Diêu đã thông báo mua sắm vũ khí từ người Mỹ trước đó mà lên dự toán. Lần này có vẻ Tự Đức muốn chơi lớn một phen mà đầu tư không tiếc tiền.

Thật ra nếu nói đến quốc khố của triều Nguyễn thì không ít một chút nào. Sử sách cứ chỉ trích triều đình nhà Nguyễn tham công mà liên tục gây chiến tranh mở rộng bờ cõi gây nên quốc khố trống rỗng. Điều này có đúng cũng có sai. Nếu không đánh các nước lân bang thì liệu Việt Nam có được hình chữ S đầy đủ với tài nguyên biển gần như bất tận như thời hiện đại. Nếu không đánh thì liệu có thu được các mối lợi từ các khoản thuế của phụ quốc cũng như các mỏ, khoáng sản từ đất nước họ.

Quân đội Đại Nam trở nên sa sút vì nguyên nhân đầu tư không đồng bộ, quan lại tham nhũng quá nhiều tiền quân khố, cộng thêm chính sách bế quan tỏa cảng khiến cho công nghệ lạc hậu. Trang bị cho binh sĩ trở nên kém cỏi là do đây. Nhưng ngược lại quốc khố Đại Nam không quá nghèo túng. Sự kiện đánh sập quốc khố của Đại Nam có các mốc quan trọng sau. Thứ nhất đó là khoản đền bù 4 triệu piastre ( tương đương 30 vạn lạng bạc) trong Hòa ước Nhâm Tuất. Tiếp đó lục tỉnh Nam Kỳ bị mất khiến cho Huế mất đi vựa lúa của quốc gia nên quốc khố thâm hụt mạnh. Vậy nhưng kinh thành Huế vẫn có lượng dự trữ rất mạnh điều đó chứng minh ở sự kiện khi Pháp đánh vào Kinh đô Huế vẫn có thể thu được 2,6 tấn vàng và 30 tấn bạc. Ngoài ra, trong quá trình quân Pháp truy đuổi Tôn Thất Thuyết từ tháng 7/1885, đã thu giữ ở tỉnh Quảng Trị 34 hòm bạc chứa 36.557 tiền bạc và 6 hòm bạc chứa 196 thỏi bạc, mỗi thỏi 10 lạng và 18.696 tiền bạc. Thế mới nói quốc khố của Đại Nam lúc này không phải là hỏng bét như nhiều người từng nghĩ..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 41: Mùa xuân muộn trên đất Vạn Ninh



Tất nhiên lần này thăng chức trong quân Vạn Ninh không chỉ có hai cha con nhà họ Trần. Trong tấu chương Quang Cán có nhắc đến tên của một số sĩ quan thuộc dòng chính của gia tộc, mưu cầu chức tước chính thức cho họ.

Trong quân đội Đại Nam võ quan được phân cửu cấp, trong đó tòng cửu phẩm và chánh cửu phẩm lại không có liên quan gì đến quân đội mà dành cho lại bộ ( giống như cảnh sát thời nay). Chức quan bé nhất trong quân đội không ngờ lại bắt đầu từ bát phẩm. Đó là Chánh bát phẩm Suất thập( gọi tắt là tòng suất thập) , và chánh bát phẩm Suất thập ( chánh suất thập). Thời Nguyễn, đơn vị binh bị nhỏ nhất gọi là ngũ gồm năm người có ngũ trưởng đứng đầu. Ngũ trưởng là chức của Đội trưởng suất thập. Hai ngũ là một thập, tức 10 người, do Suất thập, tức Chánh đội trưởng suất thập chỉ huy. Theo cách phiên chế này, trong một thập, chức Suất thập đứng đầu với 2 chức Đội trưởng suất thập phụ tá, mỗi Đội trưởng suất thập chỉ huy 5 binh. Nhưng trong thực tế Chánh đội trưởng suất thập thường chỉ huy số lượng lớn hơn hai “ ngũ” . Ví như trong quân của Vạn Ninh thì Diêu thiếu quy định Chánh đội trưởng suất thập chỉ huy 4 “ngũ” tức 20 người.

Cao hơn Suất thập là Tòng lục phẩm: Chánh đội trưởng Suất đội tại các thuộc binh, các thành, trấn, đạo, tỉnh. Suất đội thường cai quản hai hay nhiều Chánh đội trưởng suất thập vậy nên số quan của họ quản có thể giao động từ 50 cho đến hơn một trăm người.
Về phẩm tước, thời Nguyễn, Suất đội trật Chánh lục phẩm.[1] Chức Chánh suất đội tương tự chức Trung úy (tiếng Anh: Lieutenant) và chức Phó suất đội tương tự chức Thiếu úy (tiếng Anh: Second Lieutenant) tại Tây phương ngày nay.

Cao hơn Suất đội là Cai đội Chức Cai đội tương tự chức Đại úy (tiếng Anh: Captain). Tất nhiên lần này xin chức tước mưu lợi cho người nhà thì hai cha con Diêu Thiếu, Cán ca chỉ có thể đề cử Diêu thiếu lên hàm Đại úy mà thôi. Nhưng một đám người dưới được thăng hàm Suất thập hay Suất đội là không thể tránh cho được. Nói gì thì nói thơi này con người vẫn hướng về triều đình, họ trung thành thì trung thành thật sự với Trần Gia thế nhưng lòng mưu cầu một chức danh hợp pháp của triều đình thì ai ai cũng mong ngóng.

Giừa tháng tư sau khi triều đình lục đục ban bố lệnh thưởng phạt về Hải Dương, Quảng Yên thì diện mạo của Vạn Ninh thưa thớt dân chúng, làng mạc đã thay đổi hoàn toàn. Thời kỳ này Bắc Kỳ loạn lạc chiến loạn liên miên, lưu dân khắp nơi nhiều không kể hết. Lưu dân thời này ngoài chạy đến các thành trấn xin chút cứu viện cháo loãng từ triều đình thì chỉ có hai con đường khác để đi. Một là bán mình làm con sen người ở cho các đại hộ, hai là lên núi làm phỉ tặc. Vậy ra từ khi danh tiếng quân Vạn Ninh đánh tan phỉ tặc lan tràn khắp các hang cùng ngõ hẻm Hải Dương, Quảng Yên và lân cận thì lưu dân vù vù kéo đến Vạn Ninh xin cứu trợ.

Mọi người nghĩ đánh thắng trận và cứu trợ cũng không mấy liên quan đến nhau. Nhưng sự thật chứng minh sự liên quan cực kỳ mật thiết. Bởi vì cùng với tin thắng trận của Vạn Ninh quân thì sự nhân nghĩa của Vạn Ninh quân cũng vô tình hay cố ý mà được lan truyền rộng rãi. Bằng chứng là cách cư sử của Vạn Ninh quân đối với làng Phù Nhiên đã được thổi phồng một cách quá đáng và truyền khắp nơi. Trong đó người dân Phù Nhiên “tai nghe, mắt thấy” là những nhân vật tích cực nhất trong việc truyền bá trên. Thành thử ra những người lưu dân không còn ánh sáng hi vọng của tương lai bỗng nhiên nhìn thấy thiên đàng trước mặt. Họ lũ lượt tìm mọi cách tiến về Vạn Ninh nhỏ bé.

Cũng phải nói rằng tình hình Bắc Kỳ giờ này bết bát vô cùng. Mặc dầu ở miền Trung cũng có nhiều lần nước lũ dâng tràn, cuốn trôi nhà cửa, nhưng có lẽ năm 1803, lần đầu tiên Gia Long được chứng kiến một nạn lụt lớn do vỡ đê Bắc Thành gây ra. Thấy rõ mối quan hệ giữa công tác thủy lợi và nông nghiệp, Gia Long lập tức ban dụ hỏi về vấn đề đê:
“Bọn người, người thì sinh ở nơi đó, người thì làm việc ở nơi đó, vậy, đắp đê và bỏ đê, cách nào lợi, cách nào hại, cho được bày tỏ ý kiến, lời nói mà có thể thực hành sẽ được nêu thưởng”.
Cuộc thảo luận về đê ở Bắc Thành được phát động mặc đầu nhà nước vấn tiếp tục sửa đê, đắp đê mới. Riêng trong thời Gia Long, nhà nước đã 11 lần cấp kinh phí cho địa phương làm việc này, mỗi lần từ 7-9 vạn quan tiền. Hơn 47 km đê được tu sửa, nhưng nạn vỡ đê, lụt lội vẫn diễn ra.
Năm 1833, Minh Mạng lại hiếu dụ các quan lại kiến nghị về phương pháp trị thủy, thế nào cho nước lớn thuận dòng chảy xuôi, đê sông được bền vững mãi mãi. Trong thời gian trị vì, Minh Mạng cũng đã 14 lần cấp kinh phí (tiền, gạo) cho việc sửa đắp đê điều, đào kênh, sông.
Năm 1809, Gia Long cho đặt các chức Tống lí và Tham lí đê chính lo việc đê điều ở Bắc Thành; năm 1828 theo đề nghị của các quan, Minh Mạng cho thành lập Nha đê chính gồm nhiều quan chức và thơ lại, phụ trách công tác thủy lợi. Năm 1833, Minh Mạng bỏ Nha Dê chính, giao mọi việc cho tỉnh với bản Điều lệ chống lụt 4 điếm. Cùng với sự hình thành của các cơ quan, viên chức phụ trách thủy lợi, nhà nước chia đê làm hai loại: đê công ở các sông lớn do nhà nước quản lí, đê tư ở các sông nhánh do địa phương quản lí. Làng xã cũng góp phần vào việc sửa đắp đê điều, phòng lụt lội. Nhiều đoạn sông được nạo vét, khơi thông, nhiều cống đập được xây dựng…
Công cuộc trị thủy và thủy lợi được tiếp tục trong những năm sau, dưới thời Tự Đức, nhưng nói chung kết quả không có gì khả quan. Nhà Nguyễn đã tỏ ra bất lực.

Thế nhưng do thiếu phối hợp và quy hoạch chung, do tác động của môi trường, sinh thái, lụt lội, đê vỡ vẫn liên tiếp xảy ra. Từ 1802 - 1858 cả nước phải chịu 88 lần mưa bão lụt lội lớn, trong đó có 16 lần vỡ đê. Các năm 1803, 1804, 1806. 1819, 1828, 1833, 1840, 1842, 1844, 1847, 1866, 1857 hầu như cả vùng đồng bằng Bắc Kì bị ngập lụt, theo đó là mất mùa, đói kém.

Tình hình càng trở nên bết bát khi kinh phí trẩn tai cứu đói được triều đình phát xuống bị các quan lại ăn chặn phần lớn, dân chúng đói ăn lần lượt bị dụ tạo phản bởi những kẻ mượn danh là Hậu Lê. Tình thế càng trở nên khốn đốn.

Những năm từ 1857 đến thời điểm 1861 lúc này thì tình hình lũ lụt và nạn dân ở Bắc Kỳ chẳng những không giảm mà còn tăng lên. Những trận lũ như đại hồng thủy năm 1875 cho đến những trận vỡ đê năm 1860 đã làm cho Bắc Kỳ loạn như nồi cháo. Thêm vào đó Quân Pháp đã đánh chiếm Nam Kỳ vựa lúa quốc gia vào chính những năm này khiến triều đình Huế có muốn lo lắng cho Bắc Kỳ cũng rất khó khăn. Sự chậm chễ trong việc cứu trợ dẫn đến việc Lê Duy Phụng và hàng chục tên khác lục đục khởi nghĩa có được sự ủng hộ cực kì lớn từ một lượng lưu dân khổng lồ. Bộ máy hành chính, quân sự Bắc Kỳ gần như tê liệt trong những năm này. Quan binh chiếm giữ thành trì đô thị, ngắm nhìn phỉ binh nhởn nhơ qua lại các khu làng mạc ngoại ô đó là cảnh không hiếm thấy.

Trong hoàn cảnh đó Vạn Ninh bỗng nhiên nổi dậy như chốn bồng lai tiên cảnh trong địa ngục nhan gian. Không cần biết con mẹ các ngươi là ai, chỉ cần đến Vạn Ninh, chăm chỉ lao động sẽ có miếng ăn. Không những thế nếu lao động tốt còn có thưởng. Nhà cửa, quần áo, thức ăn chính là ông trời đối với các lưu dân. Tiếng lành đồng xa, một đồn mười, mười đồn trăm đồn ngàn. Do vậy nên chỉ mới giữa tháng tư Vạn Ninh đã nhung nhúc người tìm đến để kiếm miếng ăn.

Nhiều người thì hỗn tạp, không thể loại trừ một số thành phần tặc phỉ nhân cơ hội thâm nhập Vạn Ninh. Lý do thì quá đơn giản, cha con họ Trần vừa tẩn cho Lê Duy Phụng xém chết, tên đầu đảng phỉ tặc này không mang thù Vạn Ninh mới là chuyện lạ. Phỉ nhân trà trộn vào Vạn Ninh hẳn là có, nhưng đối với một tên mật thám nằm vùng chuyên gia như Diêu thiếu thì mấy tên nhãi nhép này hẳn không thành vấn đề gì lớn.
Quân doanh và ruộng muối thuộc về cấm khu, chỉ có người dân bản địa Vạn Ninh cùng quân hộ mới có thể được công tác nơi đây. Diêu thiếu cho năm vạn lưu dân ra nhập chia ra làm năm khu khác biệt để quản lý. Việc lập sách rất nhanh chóng được tiến hành, để làm được điều này hắn thuê rất nhiều nhân vật biết chữ từ các đội buôn đến Vạn Ninh để công tác. Các đội buôn này sao dám không nể mặt siêu cấp thần tài do đó quyên người quyên tiền là việc không tránh khỏi.

Diêu thiếu ưu tiên các nhóm lưu dân lớn, có quan hệ máu mủ với nhau để co họ vào chung một khu gọi là khu 1 và khu 2. Những nhóm người nhỏ hơn có quan hệ thân quen và có thể chứng minh thân phận thì cho vào khu 3 và 4. Nhóm còn lại thường là các lưu dân đi lẻ hoặc đã lạc gia đình, hoặc các nhóm hai ba người thân phận thì được xếp vào khu năm.

Nhưng đó chỉ mới là sắp xếp sơ bộ mà thôi. Tiếp theo đó là chính sách bảo chứng. Các nạn dân này phải có được ít nhất ba người bản chứng cho mình. Và bản thân mỗi lưu dân chỉ có thể bảo chứng cho hai người. Những người đã bảo chứng cho nhau sẽ được lập sách, do đó một người phạm tội theo phỉ tặc người bảo chứng sẽ bị trách nhiệm liên đới. Ngoài ra chính sách bảo chứng dựa phần nhiều vào các trưởng lão, tộc trưởng trong các gia đình lớn, có quan hệ họ hàng huyết thống. Vậy ra những tên Phỉ tặc thông qua lần chỉnh lý này đã bị phát hiện một đám lớn. Tất nhiên phương án trên không thể dò xét toàn bộ.

Nhưng hơn ba trăn tên phỉ tặc bị bắt sau đó bị các món nghề tra tấn của mật vụ Diêu thiếu hành hạ mà khai ra hơn một trăm đồng đảng đang dấu mặt. Hơn trăm tên này không ngờ lại có được người bảo chứng cho họ. Vậy là một cuộc đại thanh trừng diễn ra, Bốn trăm phỉ tặc bị sử bắn trong một ngày. Hai trăm người liên quan đến việc bảo chứng bừa bãi bị phạt roi và đuổi ra khỏi Vạn Ninh, không bao giờ thu dụng lại, kèm theo hai trăm người này là năm trăm người thuộc gia đình họ cũng bị trục suất Vạn Ninh.

Việc sử lý đầy máu tanh, bạo lực, không thương sót này đã trấn nhiêp toàn bộ lưu dân. Nhưng những người lưu dân còn lại thầm hô may mắn vì đã được ở lại và không có liên quan gì đến đám phỉ tặc kia.

Tiếp theo Diêu thiếu ban ra hai sắc lệnh cực kỳ đơn giản. Thứ nhất đó là, phát hiện phỉ tặc tố giác, bắt giữ, nếu điều tra ra là đúng người đúng tội sẽ được thưởng lớn. Nhưng nếu tố giác sai cố tình hại người nếu tra ra sẽ bị phạt nặng. Thứ hai nếu chứa châp phỉ tặc sẽ bị chém đầu, cả họ bị liên đới đuổi cổ ra khỏi Vạn Ninh.

Tất nhiên những sách lược này rất hiệu quả trong lúc lâm thời, nhưng Diêu Thiếu không thể không gấp rút đào tạo một nhánh quân chuyên trách giám thị khắp nơi. Cơ cấu của tổ chức này gần như mật vụ thời hiện đại mà hắn rất quen thuộc. Nhưng tất cả chuyện này đều phải cần có thời gian, trước mắt Diêu thiếu giờ đây là một loạt các công việc cần giải quyết.

Ngày hôm nay đúng là song hỉ lâm môn, Sắc lệnh ban thưởng của triều đình đã đến nơi, đồng thời cùng lúc thì con thuyền K&R do tên Robert chỉ huy tiến đến Châu Âu mua bán cũng đã quay trở về. Cả quân doanh Vạn Ninh vui như chảy hội vì có tới hơn ba mươi người được chính thức nhận sắc phong quan viên võ tướng, tuy cấp bậc nhỏ nhưng từ những nông nô biến thành quan viên thì dù có nhỏ như hạt vừng quan chức thì cũng là mồ tổ bốc khói xanh.

Niềm vui của Diêu thiếu còn tăng lên gấp bội khi nhìn thấy hàng hóa trên con tàu trọng tải hai ngàn tấn K&R. Robert không những không phụ sự mong đợi của Diêu Thiếu mà hắn còn mang đến sự bất ngờ hết sức to lớn..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 42: Hành trình của Robert



Robert không thể nghi ngờ là một thương gia hạng nhất, khả năng đánh hơi mùi tiền của hắn còn mạnh hơn chó bẹc dê. Ngoài ra Robert còn là một kẻ quyết đoán đến lạnh lùng, việc hắn bỏ mặc chuyện quê nhà đang chiến tranh mà lao vào phiêu lưu đầu tư cùng Diêu thiếu là một minh chứng quan trọng. Lần này Robert đi một chuyến Châu Âu mua hàng với lịch trình hoàn toàn do Diêu thiếu vạch sẵn. Lúc ban đầu hắn còn rất nghi ngại về vấn đề này, bởi lẽ dù sao Diêu Thiếu quá nhỏ tuổi, và vẫn chưa từng tới Châu Âu. Không biết ma xui quỷ khiến thế nào một kẻ lọc lõi như Robert lại có thể tin tưởng Diêu thiếu đến vậy. Nhưng lúc lênh đênh trên biển với những khoảng lặng kéo dài khiến Robert tỉnh táo lại, hắn thầm cảm thấy hối hận vì quá vội vã tin tưởng vị Thiếu Úy trẻ tuổi người Đại Nam kia.

Hối hận thì hối hận nhưng Robert không thể không đâm lao thì phải theo lao. Chặng dừng chân thứ nhất của Robert là ở Ấn Độ, đây là thuộc địa của Anh. Người Mỹ và người Anh có một cuộc đụng độ vào đầu những năm 18xx. Chiến tranh Hoa Kỳ - Anh Quốc, hay thường được biết đến với cái tên Chiến tranh năm 1812, là một cuộc chiến giữa các lực lượng quân đội Hoa Kỳ và quân đội Đế quốc Anh. Hoa Kỳ tuyên chiến vào năm 1812 vì nhiều nguyên nhân, trong đó có mong muốn được mở rộng vùng lãnh thổ Tây Bắc, những hạn chế về thương mại do cuộc chiến tranh mà nước Anh đang tiến hành chống lại Pháp gây ra, việc cưỡng bức các thủy thủ thương gia người Hoa Kỳ đi lính cho Hải quân Hoàng gia Anh, việc Anh hỗ trợ các bộ lạc da đỏ nhằm chống lại sự bành trướng của Hoa Kỳ, và sự phẫn nộ trước những hành động sỉ nhục danh dự quốc gia Hoa Kỳ của Anh trên hải phận quốc tế.

Nhưng đến những năm giữa thế kỉ 19 lúc này thì quan hệ Anh Mỹ lại đã trở lại tốt đẹp hơn rất nhiều. Robert không có quá nhiều khó khăn trong việc đặt chân lên một hải cảng thuộc địa Anh và tiến hành buôn bán nơi đây. Nói trắng phớ ra là Robert đến Ấn độ theo kế hoạch của Diêu thiếu mà thu mua hạt giống cây thuốc phiện và cấy thuốc lá. Thêm vào đó là mua một số nô lệ có kinh nghiệm trồng chọt hai thứ này. Thuốc phiện thì dễ hiểu nhưng Robert rất khó hiểu khi Diêu thiếu quyết tâm trồng thuốc lá, giờ đây thuốc lá vẫn chưa là mặt hàng lợi nhuận cao trong các mặt hàng buôn bán xuyên lục địa.

Mua giống thuốc phiện cùng thuốc lá chỉ là một bước trong cả một hải trình kéo dài đến Châu Âu của Robert. Cuối cùng vị thương nhân Hoa Kỳ này mới thực sự biết được cái gì gọi là phương Đông kỳ bí khi hắn gặp được Henry Bessemer tại Sheffield, Anh Quốc. Thật sự ra lúc này Henry Bessemer là là một kĩ sư,nhà phát minh không hề nổi danh chút nào.

Henry Bessemer đã tạo ra một nhà xưởng sắt ở St Pancras và tiến hành một loạt các thí nghiệm. Ông đã tiến hành các thực nghiệm này trong 2 năm cho đến khi rút ra ý tưởng chủ đạo của phương pháp của ông là khử cacbon trong gang bằng cách thổi luồng không khí vào khối sắt trong khi nó ở dạng nóng chảy. Ấn phẩm đầu tiên về phương pháp này được công bố trong cuộc họp của Hội đồng Anh ở Cheltenham năm 1856. Sau khi phát minh được công nhận, có 5 nhà đầu tư xin cấp giấy phép để sản xuất theo phương pháp của ông; nhưng sau khi nhiều nhà luyện kim áp dụng sản xuất thực tế thì không thành công. Chính vì lý do này Henry Bessemer không được đánh giá cao lắm vào thời điểm này. Ông đành chính mình mở công ty sản xuất thép tại Sheffield. Thời gian đầu công ty của ông cực kỳ khó khăn vì thiếu vốn đâu tư cũng như mặt hàng của ông vẫn bị nghi ngại trê thị trường.

Vậy nhưng Robert không thể hiểu nổi tại sao một người Á Đông như Diêu thiếu lại có thể biết tường tận Henry Bessemer đến vậy, ngay cả sự việc Henry Bessemer đang khó khăn tài chính cũng bị Diêu thiếu cách xa vạn dặm đoán ra. Lúc này thì Robert bắt đầu tin tưởng người Phương Đông ỳ bí có được ma thuật, hay theo cách gọi của người Mỹ lúc này là siêu năng lực.

Chẳng gặp bất kì khó khăn nào Robert đã mua đứt 5 lò nung thép Bessemer và đặt hàng thêm 15 lò tiếp theo. Đây là nhiệm vụ ngoài lề không thuộc phạm vi kinh doanh của công ty thương mại viễn dương K&R. Nhưng vì nể phục sự thần kì của Diêu thiếu nên Robert làm rất nhiệt tình.

Điểm đến tiếp theo là nước Pháp với mục đích mua một dây chuyền sản suất acid hữu cơ. Đây là công việc quan trọng của thương mại viễn dương K&R nên Robert làm một cách nhiệt tình và cẩn thận tối đa. Đông thời hắn vơ vét rất nhiều giáo trình hóa học , vật lý theo yêu cầu của Diêu thiếu, chiêu mộ được mười tên sinh viên nghèo vừa tốt nghiệp môn hóa học và vật lý. Tất nhiên những tên này không thuộc dạng suất sắc gì cho cam nhưng để vận hành dây truyền sản xuất acid hữu cơ là có thừa năng lực.

Dây truyền sản suất á phiện từ nhự ma túy thì quá đơn giản rồi. Thời gian này cái dây truyền này đâu đâu cũng có vậy nên Robert không hề có khó khăn nào trong việc mua bán loại dây truyền này.

Điểm đến tiếp theo của Robert là Thụy Điển, đây cũng là yêu cầu bắt buộc của Diêu thiếu dành cho Robert. Tại đây một lần nữa sự thần kỳ phương Đông lại làm Robert hoa cả mắt. Không hiểu thế quái nào vị Kenny Trần có thể biết được công ty thuốc nổ của ba anh em nhà Alfred Nobel. Lúc này Alfred Nobel chưa phát minh ra thuốc nổ an toàn Dynamite (Alfred Nobel phát minh ra Dynamite năm 1867 tức là 6 năm sau) vậy nên thuốc nổ dạng lỏng Nitroglycerin không quá được phổ biến. Nitroglycerin rất nhạy nổ, việc vận chuyển xa xóc nảy gây tai nạn nổ không kiểm soát là rất dễ sảy đến. Vậy nên lúc này Alfred Nobel không quá dư giả như thời kì sau khi ông phát minh ra Dynamite. Nhưng kể cả như vậy thì việc mua bản quyền cùng dây truyền sản xuất của anh em nhà Alfred Nobel không phải chuyện đơn giản.

Robert phải tốn công chín trâu mười hổ vận dụng mọi kĩ năng thương nhân của mình mới có thể nhận được giấy phép sản suất cũng như mua được dây truyền sản suất Nitroglycerin. Tất nhiên trong điều khoản hợp đồng có ghi rõ ràng các sản phẩm Nitroglycerin của công ty K&R không được có mặt tại Châu Âu và Châu Mỹ. Robert cóc cần biết mà kí luôn cái hiêp định này, Diêu thiếu mở công ty ở tít Á Đông chả liên quan mẹ gì đến Thụy Điển bé tí này. Trong suy nghĩ của Robert thì hắn đang mỉa mai Alfred Nobel lo bò trắng răng. Cái thứ thuốc nổ Nitroglycerin không an toàn này các ông có vận chuyển ra khỏi Thụy Điển đươc hay không là một vấn đề lớn, ngồi đây mà nghĩ đến chuyện Châu Âu, Châu Mỹ không khỏi quá nực cười.

Đạt được dây truyền sản suất Nitroglycerin thì Robert tiếp tục mua dây truyền nhỏ sản suất Đất tảo cát (kieselguhr, tên một vùng có nhiều khoáng này) có tên nữa là "bọt biển", lúc này được dùng như hộp xốp ngày nay, để đệm hòm hàng. Thật ra dây truyền này rất đơn giản nên cũng chẳng tốn kém là bao.

Thụy Điển cũng là nơi cuối cùng trong hành trình Châu âu lần này của Robert. Thụy Điển lúc này là Vương quốc trung lập đặc biệt trên thế giới ( đến hiện nay vẫn là nước trung lập hoàn toàn mà không ra nhập bất kì một tổ chức quân sự nào). Quốc vương hiện thời là Karl XIV Johan đã áp dụng một chính sách hòa bình nhất quán, là cơ sở cho nền trung lập của Thuỵ Điển. Thời gian 200 năm hòa bình của Thuỵ Điển tính từ thời điểm này cho đến nay là độc nhất trên toàn thế giới ngày nay.

Nói là quốc gia trung lập nhưng Thụy Điển lúc này lại là một quốc gia có nền công nghiệp cực kỳ phát triển. Trong thế kỷ 18, cuộc cách mạng khoa học của Thụy Điển đã diễn ra. Năm 1739, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển được thành lập, với những cá nhân kiệt xuất như Carl Linnaeus và Anders Celsius (người phát minh ra Nhiệt kế Celsius) là thành viên ban đầu. Nhiều công ty được thành lập bởi những người tiên phong đầu tiên cho đến nay vẫn là những thương hiệu quốc tế lớn. Cũng chính vì lý do này mà công nghiệp vũ khí của quốc gia này cũng không hề thua kém các quốc gia Châu Âu hiện nay. Nếu xét riêng về súng trường thì khẩu Kammerlader 1842 vượt trên súng Minire Rifle của Pháp, nhưng lại kém xa Dreyse M1841 của quân Áo- Phổ.

Tình hình hiện tại mặc dù có cuộc cách mạng công nghiệp hóa thế kỷ mười tám nhưng các quốc gia Châu Âu luôn có định hướng phát triển riêng cho bản thân và họ dường như hơi cố chấp và trung thành với các định hướng này. Chính vì lý do đó mà súng ống tại Châu Âu lúc này muôn hình muôn vẻ, thiên kì bách quái. Các quôc gia Châu Âu lúc này luôn tôn thờ các “sáng kiến” vũ kí của bản thân và miệt thị đối phương. Nhưng quả thật chỉ có thực chiến mới có thể so sánh chất lượng đôi bên. Diêu thiếu là người xuyên nên hắn cũng chả cần thiết phải trải qua thực chiến đôi bên để biết chất lượng súng đạn. Và vũ khí Diêu Thiếu quyết định trang bị cho Đại Nam là Kammerlader 1842.

Sở dĩ hắn không chọn Dreyse M1841 của quân Phổ bởi vì Diêu thiếu không thể nào mua được súng của Phổ lúc này. Giờ đây người Phổ đang chuẩn binh chiến tranh. Súng ống họ còn không đủ nên chả bao giờ họ bán ra. Còn mua công nghệ dây truyền sản xuất của người Phổ thì thôi nghỉ đi cho nước nó lành. Người Phổ cực kỳ bảo mật công nghệ sản suất của họ.

Nhưng Diêu thiếu đặt mục tiêu lên một quốc gia trung lập, đang hưởng hòa bình như Thụy Điển lại là một nước cờ hay. Điểm quan trọng là Thụy Điển đang thay đổi một loạt súng Kammerlader 1842 để thay bằng Kammerlader 1855 tiên tiến hơn, có thể bắn được đạn hình trụ với đai lõm của viên đạn. Với Kammerlader 1855 thì tầm bắn không hề thua kém Minire Rifle, nhưng nạp đạn nhanh hơn nhiều lần.

Tất nhiên Diêu thiếu không mơ rằng mình có thể mua được số lượng lớn Kammerlader 1855 cùng công nghệ sản suất . Đó là điều phi thực tế với tình hình kinh tế của Trần gia lúc này. Nhưng hàng “phế thải” Kammerlader 1842 lại là một miếng mồi béo bở. Bởi lẽ đã là hàng phế thải thì giá cả cực kỳ bèo bọt, Thụy Điển lại không có được thuộc địa để bán vũ khí rởm, đâm ra Robert rất được chào đón kho đặt vấn đề mua Kammerlader 1842 cùng dây truyền phế thải trên. Một hợp đồng thanh lý 15 ngàn cây súng Kammerlader 1842 được đặt ra cùng bốn nhà máy sản suất Kammerlader 1842 thanh lý với giá tổng cộng 3 triệu piastre tương đương 27 vạn lượng bạc Đại Nam đã được ký kết. Tất nhiên lúc này đây vì tiền bạc mang theo không đủ nên Robert chỉ có thể mang về 5 ngàn cây Kammerlader 1842. Cùng với đó là một dây truyền sản suất Kammerlader 1842.

Phải nói cái hợp đồng của Robert kí được béo bở một cách kinh người. Theo như định giá của Diêu thiếu từng báo lên triều đình là một ngàn cây súng giá 3,5 vạn lượng, thì riêng chỗ vũ khí 15 ngàn cây Kammerlader 1842 có thể bán được 40 vạn 5 ngàn lượng bạc cho Đại Nam. Tất nhiên Đại Nam triều đình định giá súng Colt côn xoay 1852 tốt hơn một chút ( một ngàn cây giá 5 vạn lượng). Nhưng Diêu thiếu không có Colt bán cho triều đình, mà kể cả có hắn cũng không bán, thứ này vô dụng chỉ có thể bán cho kẻ thù mà thôi. Nói gì thì nói Diêu thiếu muốn Đại Nam trở nên hùng mạnh thực sự tại Đông Á.

Chỉ riêng phi vụ Kammerlader thì công ty K&R it nhất lãi dòng hơn hai mươi vạn lạng ngoài ra họ còn có được bốn dây truyền miễn phí. Quả thật là buôn bán đồng nát cho các nước chậm phát triển luôn đem lại mối hời lớn..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 43: Phái đoàn đồ sộ dọa nạt Vạn Ninh



Ngày 18 tháng 4, Phiêu kỵ án Sứ lãnh hải Úy Trần Quang Cán tướng quân gửi tấu về triều nội dung là đã bắt được liên lạc cùng đội tàu của người Hoa Kỳ. Kính mong triều đình nhanh chóng phái đặc phái viên tiến hành tiếp xúc trao đổi buôn bán vũ khí.

Triều đình văn võ bá quan vui như chảy hội, họ sợ nhất là không tìm được thương nhân Mỹ quốc mà phải tiến hành mua bán cùng các thương nhân Châu Âu. Sự việc các nước Châu Âu tiến hành thực dân Đông Á khiến triều đình Đại Nam rất e ngại tiếp xúc cùng thương nhân đến từ Châu Âu. Ngược lại thì Hoa Kỳ lại rất có độ tín nhiệm trong Triều đình Huế. Lý do thì hết sức lòng lợn tiết canh, đầu tiên thương nhân Hoa Kỳ đã có một cuộc làm ăn sòng phẳng với Trần Quang Cán và hiệu quả của số vũ khí này quá rõ ràng. Tiếp đến Hoa Kỳ không hề nằm trong số các quốc gia tiến hành thực dân Đông Á trong thời điểm này nên điểm số tín nhiệm của họ cao một bậc. Cuối cùng đó là Diêu Thiếu đã trình lên triều đình một bức bản đồ thế giới lúc này mà chỉ rõ vị trí của Hoa Kỳ quá xa Đại Nam và tách biệt hoàn toàn với Châu Âu, vì thế Đại Nam triều thần tách biệt Hoa Kỳ và Châu Âu thành hai thế lực khác nhau hoàn toàn mà đối đãi.

Thật ra vì để đạt được mục tiêu của mình mà Diêu thiếu lập lờ đánh lận con đen. Mẹ nó Hoa Kỳ cũng chả tốt đẹp gì, chẳng qua tên này chậm chân trong cuộc đua thực dân nên không có cơ hội tiến hành những hành vi man dợ tại Đông Á vào lúc này mà thôi. Thử nhìn về tương lai thì biết, khi có cơ hội thì quốc gia này lại bành chướng chủ nghĩa Đế Quốc ngay lập tức. Vậy nhưng đó là chuyện của tương lai, lúc này đây Diêu thiếu rất cần một đối tác ngoại quốc nên hắn bắt buộc phải hướng triều đình tin tưởng vào thương nhân Hoa Kỳ.

Người vui vẻ nhất có lẽ là Tự Đức, vị hoàng đế đang khốn đốn vì thù trong giặc ngoài như thấy được ánh dạng đông nơi chân trời. Vậy nên hắn hoàn toàn đắm chìm trong mộng tưởng vào tương lai với một quân đoàn hiện đại đánh nam dẹp bắc. Chân đạp Pháp tặc tay đấm Đại Thanh, 34 tuổi hùng tâm tráng trí của vị Hoàng đế Đại Nam vẫn chưa có bị bào mòn.

Càng nghĩ Tự Đức càng thấy được Quang Cán như là thẻ bào may mắn của mình, Từ khi Quang Cán bước chân vào quan trường thì may mắn liên tục đến với Đại Nam. Chính vì lý do này Tự Đức càng nhìn càng thấy Phan Phú Thứ thuận mắt. Vậy là giữa triều đình Tự Đức muốn chỉ định Phan Phú Thứ ra bắc làm khâm sai đại thần tiến hành trao đổi buôn bán cùng thương nhân Hoa Kỳ.

Nhưng Phan Phú Thứ cáo già thành tinh liên mồm từ chối, lý do hắn đưa ra là Thương nhân Hoa Kỳ do Quang Cán liên hệ, hắn là lão sư lại đứng ra làm trọng tài mua bán thì có kẻ dị nghị lời ra tiếng vào. Tự Đức mặt rồng có không vui nhưng Phan Phú Thứ nói hoàn toàn chính xác. Công việc mua bán số lượng tính bằng chục vạn lượng như vậy thì kẻ cẩm đầu béo bở không thôi. Tự Đức thấy Phan Phú Thứ từ chối cả món lợi như vậy nên càng tin tưởng tên hồ ly này hơn cả. Nhưng Tự Đức cũng bực tức vì cái tệ nạn tham nhũng này nếu cử người không tin cẩn đi làm thì có khi triều đình bỏ cả đống tiền ra để mua về toàn thứ phế thải. Bài học không đâu xa lạ, Đại Thanh giàu nứt đố đổ vách bao năm qua vẫn cấp tiền mua trang bị phương tây, nhưng sau đó đánh với Anh quốc trận nào thua trận đó, đánh với Pháp cũng thua te tua. Tự Đức không muốn dẫm chân vết xe đổ.

- Phan ái khanh, khanh ngại hiềm nghi mà trốn tránh thì Trẫm hiểu, nhưng khanh không đi thì Trẫm lấy ai yên tâm mà giao phó bây giờ?
Cuối buổi triều sớm Tự Đức giữ Phan Phú Thứ lại than thở. Quả thật lòng tin của Tự Đức càng ngày dành cho họ Phan càng lớn, long ân có thể nói là cuồn cuộn không thôi. Việc bàn riêng chính sự như vậy chỉ có Nội các bốn vị các lão mơi có được vinh dự này. Không ngờ Phan Phú Thứ một hữu bộ thị lang mà trở thành danh phùng ky thực một vị các lão thứ 5.

- Khởi bẩm thánh thượng, Được thánh thượng ưu ái tin tưởng, vi thần hạnh phúc không thôi. Nhưng quả thật nếu để vi thần đi lần này thì hỉ sự lại thành bi sự. Nhiều người sẽ nói ra nói vào kể cả vi thần không có tơ hào một đồng một cắc nào cùng khó mà tránh khỏi nước bẩn hắt bừa. Nhưng vi thân tránh né không phải vì sợ chuyện đó, vì triều đình, tiếng xấu ra sao thần cũng chịu được. Nhưng vấn đề giao dịch lần này rất quan trọng, nó liên quan đến tân binh cải cách. Không nên để bất kì điều tiếng nào ảnh hưởng tân binh doanh này. Vi thần có một cách đảm bảo việc mua bán thành công không chướng ngại.

- Ái khanh mau nói.

Tự Đức vui vẻ ra mặt, ông rất thưởng thức họ Phan này. Trung nghĩa có thừa lại là một năng quan, luôn luôn nghĩ ra rất nhiều chủ ý có hiệu quả.

- Khởi bẩm thánh thượng. Lần này giao dịch một lượng hàng quá lớn, quá quan trọng với khí vận quốc gia nên bất kì một cá nhân nào đều không thể một mình chủ chương ngoại trừ thánh thượng. Nhưng thánh thượng thân thể cao quý không tiện tiếp xúc với thương nhân vậy nên lần này giao dịch chúng ta nên cử một phái đoàn gồm nhiều thành phần cùng tiến hành. Thứ nhất họ có thể giám sát lẫn nhau tránh cho việc tham nhũng làm càn, thứ đến các bộ các ngành đều có người tham gia, lúc đó họ có muốn nói càn nói xiên cũng khó có thể bôi nhọ tân quân cải cách. Còn việc ý kiến không thống nhất thì dùng phương pháp bỏ phiếu và phân việc cụ thể trong nhóm người cử đi lần này để giải quyết.

Tự Đức lắng nghe rất chăm chú từng câu từng chữ của Pha Phú Thứ, ông rất coi trọng ý kiến lần này của vị Binh Bộ Hữ Thị Lang họ Phan.


- Bỏ phiếu cũng là một cách hay, tuy tốn thời gian nhưng an toàn, vậy còn cách phân việc cụ thể cùng nhân tuyển lần này Khanh có ý kiến gì không?

- Khởi bẩm thánh thượng. Nhân tuyển thì nên gồm cả đại diện của Lục bộ. Bộ lễ đi theo để học tập cách tiếp xúc thương nhân Tây Âu trong thời kì mới này từ đó định ra hình thức thích hợp cho những lần tiếp xúc sau này. Bộ Lại chuyên để xét tuyển quan viên tuy không quá liên quan lần này nhưng đi để mở mang cũng được, quan trọng là ngũ bộ còn lại đều được đi cả, lại bộ không được đi thì khó coi. Bộ hộ quản về thuế má, lần này liên quan số tiền lớn như vậy suất ra cũng để cho họ đi, thấy được sự lợi hại thì họ mới bớt kêu ca làm phiền thánh thượng. Bộ Binh đi thì là chắc như đinh đóng cột, số vũ khí này nói cho cùng vẫn về binh bộ quản lý. Bộ Hình thì tương tự bộ lễ, cuôc giao dịch lần này mong họ có thể rút ra được bài học nhằm chế định tài khóa cho những cuộc gặp về sau. Ngoài ra vi thần nghĩ nên có Người Cơ mật viện tham dự, đây là tai mắt của Thánh thượng, không thể không có mặt. Về tiến cử người đi thì Thần không dám ý kiến nhiều nhưng Hoàng Diệu không thể không tham dự. Cuối cùng ông ta là người lãnh đạo tân quân vào Nam chiến đấu, ông ta mới là người khao khát có được vũ khí chất lượng nhất, có ông ta nhìn chằm chằm không kẻ nào dám nhập vũ khí kém chất lượng cả.

Phan Phú Thứ nói một hơi dài đến khát khô cả cuống họng, Tự Đức thì nghe đến nhập thần. Lần này Phan Phú Thứ tự gạt bản thân qua một bên mà bày mưu tính kế, vậy nên nghe kĩ ra thì ông đang đứng trên lập trường của Tự Đức mà nghĩ cho quốc gia. Họ Phan tự gạt mình ra khỏi vòng lợi ích mà chỉ bàn chuyện một cách công minh khiến cho Tự Đức thấy đồng cảm vô cùng. Thường thường quan lại nêu ý kiến không ít thì nhiều đều giữ một phần lợi cho bản thân, do đó họ không hề hoàn toàn đứng cùng phe với Tự Đức. Họ Phan chính là người đầu tiên khiến cho Tự Đức cảm thấy tên này là cùng phe với mình.

- Phan ái khanh có tài các lão… để khanh làm Hữ bộ thị lang thật khuất tài… Người đâu ban trà cho Phan ái khanh.

Phan Phú Thứ vội vàng khom mình cảm ơn , miệng luôn mồm khiêm tốn. Thế nhưng câu nhận xét ngày hôm nay của Tự Đức đã vượt quá tất cả các lợi lộc mà cuộc mua bán sắp tới tại Vạn Ninh. Các lão a, một trong bốn nhân vật trong nội các. Dưới một người trên vạn người, là tể tướng các hạ đó nha.


Ngày 29 tháng tư một đoàng chiến Hạm ba mươi chiếc trùng điệp tiến vào vùng biển Quảng Yên sau đó cập quân cảng Vạn Ninh. Lúc này đây quân cảng Vạn Ninh đúng thực là quân cảng mà không có bất kì một thương thuyền nhốn nháo nào. Đơn giản với năm vạn lưu dân mới ra nhập Vạn Ninh thì Diêu thiếu đã tụ tập nhân công dựng lên một thương cảng cách quân cảng tầm năm dặm. Khoảng cách này vừa đảm bảo an toàng vì quân Vạn Ninh có thể xuất binh thương cảng bất kì lúc nào nếu có biến. Và thương cảng cũng đủ xa để không ảnh hưởng hoạt động quân sự của quân Cảng.

Ba mươi chiến hạm mới tinh này là Binh Bộ cấp bổ xung cho Vạn Ninh thủy quân. Trong này có đến 10 đại hạm dài 40m , tám trung hạm và 9 tiểu hạm. Quang trọng nhất đó là hai chiếc chiến hạm thuyền chạy bằng động cơ hơi nước. Rất tiếc hai chiếc chiến hạm động cơ hơi nước này là đồ cổ chính cống từ thời Minh Mạng. Hai chiếc chiến hạm này từ lâu đã không còn hoạt động và bỏ xó, do công nghệ Đại Nam không đủ sức bảo trì. Mà hai chiếc chiến hạm này cũng chẳng mạnh bao nhiêu vì chúng là hàng cổ từ lâu rồi, công suất động cơ thấp kém, không có vỏ bọc thép. Nói cho cùng thì hai chiếc chiến hạm này thời toàn thịnh cũng chả mạnh hơn thuyền buồm mái chèo là bao.

Hai chiệc chiến hạm vứt đi này là do yêu cầu mãnh liệt của Diêu thiếu khiến Phan Phú thứ tranh thủ cho Vạn Ninh quân. Vì hai chiếc chiến hạm cồng kềnh dài đến 55m này lò hơi không hề hoạt động mà chỉ di chuyển bằng mái buồm nên Phan Phú thứ cũng không quá vất vả để lấy được từ tay binh bộ.

Ngoài những chiến hạm nhung nhúc quân lính kể trên thì có một chiếc chiến hạm xa hoa đặc biệt cờ xí ngập trời. Đây là chiếc quan thuyền chở phái đoàn Đại Nam đến Vạn Ninh thương thảo việc mua bán. Phái đoàn tổng cộng đến mười một nhân vật tai to mặt lớn tại Kinh thành khiến cho dân chúng Vạn Ninh được mở rộng tầm mắt.

Nhìn đám người đặc phái viên này mà Diêu thiếu ác hàn một mảng. Hắn đang không biết Tự Đức làm cái trò mèo gì, mua mấy khẩu súng rách thôi mà vác cả phái đoàn đông nghèn ngẹt đến đây. Con mẹ nó tiếp đãi mấy tên đại quan này là cả một công việc khổ sai mà Diêu thiếu không muốn một chú nào. Cũng may đình viện nhà họ Trần mới xây tại Vạn Ninh không hề kém. Thân là đại tài chủ nên Cán lão gia không ngại ngùng mà cho xây một cái đình viện xa hoa không thôi. Diêu thiếu cũng lười bàn vấn đề này với lão tía tiện nghi. Có tiền mà không hưởng thụ là vương bát đản ( trứng rùa). Đáng lẽ ra Vạn Ninh là cơ cấu huyện, thế nhưng lại không có phủ nha lập nơi đây, do đó Vân Đồn Phủ nha quản lý chung dân chính cả Vân Đồn lẫn Vạn Ninh. Chính thức ra thì nhóm quan khâm sai này phải đi ở phủ nha Vân Đồn, nhưng Diêu thiếu lại không muốn có bất kì liên quan gì đến phía bên kia nên chấp nhận chịu khổ mà đón luôn mười một tên đặc phái viên về phủ đệ họ Trần.

Nói là phái đoàn gồm rất nhiều bộ ngành và thông qua bỏ phiếu để quyết định sách lược, nhưng thực ra người dẫn đầu thì vẫn có, vị này chính là Cơ Mật viện thượng thư Lâm Duy Hiệp. Vị lão ca này năm nay đã 55 tuổi rồi, râu tóc đã bạc phơ hết cả, vậy nhưng Hiệp đại ca vẫn rất sinh long hoạt hổ khỏe mạnh tinh nhanh. Lâm Duy Hiệp tính ra là lão quan hai đời Thiệu Trị và Tự Đức. Cuộc đời làm quan của ông chìm nổi nhiều lần nhưng cái tính cach tận tâm công việc, tận trung với thánh thượng thì ai cũng nhìn ra. Chính vì lý do này nhiều lần Hiệp đồng chí bị ám hại mất chức nhưng cuối cùng ông vẫn ngoi lên vị trí cực cao này. Lẽ đơn giản đó là con người chính trực cộng thêm cái hư danh đàn chủ thanh liêm phái của ông khiến cho Tự Đức hết sức tin tưởng.

Lâm Duy Hiệp là đàn chủ thanh liêm phái nhưng ông ta lại thuộc về phe tân chính cải cách một cách rõ rệt. Năm 1847 ông chủ chương mở cửa hải cảng buôn bán cùng ngoại quốc muốn hưng thịnh công nghiệp Đại Nam, lần này ông bị bảo thủ phái đánh cho tan tành, Việc tâu lên, nhà vua chỉ cho giáng chức, bãi việc quản lĩnh, chỉ chuyên làm việc ở bộ Lễ.
Năm 1853, ông xin về thăm quê, khi trở lại được đổi làm tổng đốc Hà Ninh, kiêm trông coi mỏ kẽm ở ba tỉnh là: Hải Dương, Thái Nguyên và Bắc Ninh.
Năm 1854, Cao Bá Quát khởi binh chống Nguyễn ở Mỹ Lương (nay thuộc Hà Nội), có sự tham gia của Đinh Công Mỹ, một thổ mục ở Ninh Bình. Nhà vua Tự Đức liền lệnh cho ông, hiệp cùng tổng đốc Sơn Hưng Tuyên Nguyễn Bá Nghi và tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn Quốc Hoan đi truy bắt "đảng nghịch".
Vì muốn mau xong việc, Lê Duy Hiệp xin cho Lê Đạt Ký là người nhà Thanh ở bang Hưng Nghĩa đang cai quản phu mõ, để cùng lo đánh dẹp, bị nhà vua khiển trách là "hà tất phải mượn người ngoài lại sinh ra trở ngại khác", giáng ông làm tuần phủ, nhưng vẫn cho lưu chức.

Nhưng thông qua việc trông coi mỏ kẽm tại ba tỉnh thì cũng đủ thấy Tự Đức tín nhiệm sự thanh liêm của Hiệp đại ca ra sao. Kẽm lúc này chính là nguyên liệu đúc tiền kẽm đấy.

Tính ra thì Phan Phú Thứ cũng chỉ là hậu sinh của vị Lê Duy Hiệp này mà thôi. Vốn dĩ cả hai người cùng phe cách tân phái nhưng lạ thay hai người này lại không ưa nhau chút nào. Chuyện cũng dễ hiểu, dù cùng chung mục đích cách tân nhưng Lê Duy Hiệp là đàn chủ thanh liêm phái, trong mắt thống hận lũ người tham nhũng nhận tiền lót tay. Còn Thứ đại ca thuộc dạng nhận tiền làm việc nên hai người không hợp mắt nhau là phải.

Chính vì lý do này dù hai cha con họ Trần tại Vạn ninh tiếp đãi chu đáo nhưng thái độ của vị Kiếm Hiệp đại ca không mặn không nhạt mà tỏ vẻ. Diêu thiếu ghét nhất là kiểu người cứng nhắc này nên cũng lười quản..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 44: Hoàng Diệu ca



Việc đàm phán thương thuyết cả hai cha con nhà họ Trần đều lảng tránh để không bị ảnh hưởng này nọ vì dù sao “thương nhân” Hoa Kỳ này cũng là do họ kiếm về. Nhưng sau các buổi thương thảo chém giết thảm thiết trên bàn đàm phán thì Quang Cán đại ca rất vui vẻ hạnh phúc làm chân đón tiếp tiệc rượu gái gú cho các vị tai to mặt lớn trong kinh thành. Diêu thiếu thì không mặt mà gì với cái kiểu lấy mặt nóng mà úp mông lạnh này nên hắn cả ngày lăn lộn ngoài quân doanh đánh đập tân binh mới ra nhập Vạn Ninh trấn. Quân của Vạn Ninh trấn thực chất chỉ có 2500 người trong đó 1500 người từ Hà Tĩnh theo chac con nhà họ trần ra Bắc lập nghiệp. Hơn một ngàn binh còn lại là trưng dụng tại bảy làng nơi Vạn Ninh này.

Thật ra nhân số của Vạn Ninh lúc trước cũng đủ để Diêu thiếu chiêu mộ năm ngàn binh là ít vậy nhưng vì lo lắng sức sane xuất của khu vực này nên Diêu Thiếu chỉ tiến hành đào tạo họ theo kiểu đân quân bán chuyên nghiệp mà thôi. Tức là họ vừa tham gia sản xuất tại đồng muối lúc vừa tham gia huấn luyện nhẹ hàng ngày. Bây giờ đây khi số lượng lưu dân tràn ngập Vạn Ninh, sức lao động không còn là vấn đề thì các nông dân Vạn Ninh khi xưa chính thức ra nhập quân đoàn Vạn Ninh. Tất nhiên Diêu thiếu không dại gì mà tăng quân số ồ ạt tăng quân chính quy quá nhiều trong hoàn cảnh này chẳng có lợi lộc gì cho bản thân cả, chỉ tổ phải trả nhiều tiền lương mà thôi. Vậy nên hơn năm ngàn thanh niên nông nô phần lớn biến thành dự bị quân. Còn quân chính quy chính thức dừng lại ở con số ba ngàn năm trăm người. Với một ngàn là tân binh được tuyển chọn khắt khe từ năm ngàn dự bị quân.

Những đại quan triều đình đang chóng mặt ù tai mà dùng “học thức” ngũ xa của mình chiến đấu cùng tên thương nhân dáng ghé tên Râm Bụt ( Robert) đến từ Mỹ Quốc, không một ai chú ý đến hành động trẻ con nghịc bùn của Diêu Thiếu. Trong mắt họ sự thành công của quân Vạn Ninh được bao chùm bởi ánh sàng huy hoàng có tên Quang Cán. Nhưng có một người trong đám đại quan đến từ Kinh đô lại không cho là vậy. Hoàng Diệu nho tướng trước khi lên đường ra bắc đã có một đêm cầu kiến nhân vật phong vân Phạm Phú Thứ nói chuyện thẳng thắng. Hoàng Diệu tuy có mối quan hệ mật thiết cùng Trần Gia Huệ, Biện Vĩnh nhưng ông lại là người công tư phân minh. Do đó khi Hoàng Diệu được Phạm Phú Thứ tiến cử trước mặt Tự Đức thì ông cũng không ngại đàm tiếu sau lưng mà thẳng thắn cám ơn Phan Phú Thứ. Hoàng Diệu lúc này chỉ mới 32 tuổi, rất là trẻ, ông luôn sục sô tinh thần dân tộc muốn trả nợ nước báo thù nhà đánh đuổi quân thù khỏi bờ cõi Đại Nam. Nay được Phạm Phú Thứ tiến cử mà có cơ hội thực hiện lý tưởng của mình nên ông không ngại bạn bè phật ý mà cảm ơn họ Phạm một cách trân thành. Tất nhiên sự thành tâm của ông đã được đáp trả một cách nhiệt tình, cụ Phạm trước khi tiễn khách có nói một câu thâm ý: “Nếu Quang Viễn đại nhân muốn luyện được tân binh có thể đánh trận thì không ngại tuổi tác mà thỉnh giáo vị đồ tôn của tôi là Quang Diêu một phen”.

Câu nói trên nếu là người có tấm lòng hẹp hòi thì coi như đấy là sỉ nhục, nhưng vào tai một người có tấm lòng khẳng khái như Hoàng Diệu thì lại là tiên âm. Họ Hoàng không nói hai lời liền chắp tay cung kính “ Cám ơn Giáo Chi đại nhân” sau đó đi về. Nhưng trong lòng vị họ Hoàng đã quyết tâm tìm hiểu đến tận cùng binh lược của cha con họ Trần vậy nên ông ta cũng không nề ha tuổi tác mà đi thỉnh giáo hậu bối.

Thỉnh giáo Trần cha thì quá dễ dàng, tên này nhiệt tình không hề dấu diếm chỉ điểm một cách tường tận về phương pháp luyện binh của Vạn Ninh quân, nhưng khi hỏi về sách lược cụ thể trong việc tấn công người Pháp thì câu trả lời của Quang Cán hơi ấu trĩ, điều này khiến Hoàng Diệu không thể không thất vọng mà tìm đến bến đỗ mới.

Mấy ngày nay hôm nào Hoàng Diệu cũng tới quân doanh để chứng kiến các hạng mục luyện tập của quân Vạn Ninh. Diêu thiếu cũng chả dấu diếm gì, hắn còn đang mong ước phổ biến rộng rãi phương pháp huấn luyện tiên tiến của mình cho cả Đại Nam đấy.

- Diêu tiểu tướng quân. Ngài nửa đêm hoặc tảng sáng khua chiêng đánh thức quân sĩ chạy bộ không sợ quân sĩ bị “doanh khiếu” sao?

- Hoàng Diệu tướng quân, ngại cái gì, luyện tập nhiều thành quen, không phải sao?

……………………….


- Diêu tướng tiểu tướng quân, ngài không thấy việc tập chạy bộ trong quân là hơi nhiều sao.

- Tướng quân, chạy theo đội hình rất quan trọng, thể lực tăng, chấp hành quân lệnh tăng, đội ngũ tăng, quan trọng nhất là chúng ta có được một đội quân cơ động. Chiến tranh kiểu mới cơ động là trên hết.


Những câu hỏi dạng như vậy được Hoàng Diệu hỏi không thôi, mà Diêu thiếu cũng tỉ mỉ trả lời không dấu diếm. Quả thật những lý giải về phương pháp luyện tập mới là tinh túy của phương pháp trên. Nếu chỉ dập khuôn mà luyện tập thì chưa chắc đã hiểu rõ chỗ tốt của nó. Nếu chỉ là bắt trước luyện quân thì cuối cùng cũng chỉ hoc được cái vỏ mà thôi.

Hoàng Diệu nhận được lợi ích quá lớn khi tiếp xúc cùng Diêu thiếu nên chẳng nề hà thân phận trưởng bối hậu bối mà chắp tay một lễ:

- Tân Nguyên xin nhận của ta một lễ. ( Tân Nguyên tên tự của Diêu Thiếu)

Quang Diêu cũng không hàm hồ mà vội vã đỡ lấy Hoàng Diệu.

- Ấy chết sao Hoàng tướng quân làm vậy, người thân trưởng bối việc này không nên.

Nói thật Quang Diêu rất kính phục Hoàng Diệu, không phải chỉ riêng việc ông là danh nhân lịch sử, chỉ nói đến việc ông thân đã ba chục tuổi hơn mà khiêm cung, nhã nhặn, học hỏi một hậu bối mới hơn mười tuổi, thì chuyện này thật là hiếm có.

- Tân Nguyên, tôi thực sự có một việc muốn nhờ cậu.

- Xin tướng quân cứ nói.


- Lần này ra bắc tôi có mang theo 3 ngàn Kinh quân , vốn dĩ cũng chỉ muốn họ dự khán việc luyện tập của Vạn Ninh quân. Nhưng giờ đây tôi lại muốn làm phiền cậu huấn luyện qua có được chăng. Tuy rằng thánh thượng có lệnh cho cậu về Kinh đô một thời gian để luyện binh. Nhưng tôi thấy chạy đi chạy lại cũng tốn công, mà cậu lại còn bận việc tại Vạn Ninh chẳng biết lúc nào mới có thể luyện tân quân cho được. ..

Diêu thiếu nghe ra ý tứ của Hoàng Diệu nên cũng khẳng khái mà đáp lời.

- Chuyện này quả thật không hề khó. Tân quân thì vẫn nên do Hoàng tướng quân trực tiếp luyện. Tôi để cho một ngàn lão binh đã tham chiến của Vạn Ninh trộn đều cùng năm ngàn quân của Hoàng Tướng quân. Sau đó lại cấp cho ngài hai phụ tá để giúp ngài huấn luyện. Nhưng nói thật với ngài một câu. Binh luyện ra cùng phương pháp nhưng với địch nhân khác nhau thì cách đánh lại khác nhau.

Nghe được câu này thì Hoàng Diệu mắt sáng như sao, rốt cuộc cũng đã đến. Cái gốc dễ của tinh túy Trần quân chắc chắn nằm ở điểm này. Hoàng Diệu vẫn cho là Quang Cán muốn dấu nghề không chỉ bảo nên hắn ngại ngùng không dám đề cập với Quang Diêu. Nói gì thì nói những thứ tinh túy cốt lõi binh pháp này chỉ có truyền trong gia tộc, bất truyền ngoại. Hoàng Diệu cũng không quá hi vọn vào điều này nhưng không ngờ hạnh phúc đến quá đột nhiên. Xong ông vẫn là chính nhân quân tử đội trời đạp đất.

- Tân Nguyện nguyện chỉ bảo thì Diệu tôi hạnh phúc biết nhường nào, thế nhưng chuyện này có nên chăng phải bẩm báo trước với phụ thân cậu một chuyến.

Hoàng Diệu lo lắng Quang Diêu tuổi nhỏ, không hiểu chuyện mà lôi bí mật Trần gia ra ngoài nói. Vậy thì chuyện này lại biến thành Hoàng Diệu ông là người lợi dụng. Tuy rằng rất muốn học phương pháp luyện binh tinh túy nhưng ông cũng không muốn thừa cơ làm bậy.

- Ồ Hoàng đại nhân khỏi lo. Lão tía nhà tôi không biết mấy cái này… Khụ khụ.. là phụ thân của tôi không ngại chuyện chia sẻ đâu, tất cả vì Đại Nam hùng mạnh.

Quang Diêu thấy Hoàng Diệu trợn tròn mắt thì biết mình lỡ lời nên vội chuyển hướng. Đáng lẽ ra hắn muốn nói lão tía nhà tôi biết cái chó gì về đánh trận đâu, nhưng cũng may Diêu thiếu nhanh trí mà thay đổi. Chỉ thấy lúc này Hoàng Diệu như bị trúng định thân phù mà đứng như trời trồng.

- Tất cả vì Đại Nam hùng mạnh… tất cả vì Đại Nam hùng mạnh… câu nói này đã thể hiện ý trí của Tân Nguyên, Tân Nguyên hơn ta vạn lần xin nhận của Diệu tôi một lễ.
Hoàng Diệu tính vén quần làm đại lễ sư đồ, Diêu thiếu phát hoảng mà nhảy dựng lên túm lấy Hoàng Diệu.

- Hoàng đại nhân ngươi định làm cái gì đó.

- Tân Nguyên nguyện chia sẻ bí mật Trần gia vì trí lớn, Diệu tôi há có thể hẹp hòi. Có câu đạo không phân trước sau, cậu xứng đáng làm thầy tôi.


Diêu Thiếu đầu vo vo một mớ ruồi bay qua lại, con mẹ nó nếu để Hoàng Diệu chơi hoa chiêu này thật thì sau này các em học sinh đọc sách sử có thể lôi đầu hắn ra làm bô không biết chừng.

- Hoàng tướng quân nếu còn cổ hủ như vậy, tôi quyết không nói thêm một câu về chuyện binh. Chúng ta coi như là cùng tham khảo thì tôi mới có thể giao lưu cùng ngài. Tất cả vì Đại Nam hùng mạnh.

Kể từ ngày hôm đó trở đi mặc dù Hoàng Diệu không nói rõ mọi chuyện, nhưng đi đâu hắn cũng nhận mình là môn đệ Trần gia, câu slogan “Tất cả vì Đại Nam hùng mạnh” cũng là câu cửa miệng của vị nho tướng này. Và hắn cũng cống hiến tất cả cho câu nói trên. Nhưng chuyện đó khoan hãy nói đến, lúc này phái đoàn đã có hai tuần lễ làm việc tại Vạn Ninh. Rất nhiều điều khoản buôn bán được hai bên bàn đi bàn lại, quả thật vì chế độ lâm thời bỏ phiếu khiến cho công việc giao dịch trở nên chậm chạp vô cùng. Nhưng chậm thì cũng có ưu điểm đó là chắc chắn, Râm Bụt ( Robert) lão thành tinh thương nhân cũng bị quay cho đến học máu mũi rồi. Các đại quan của Đại Nam quốc thì sắp phát bệnh đến nơi cả loạt, các buổi tiệc rượu buổi tối ngày càng thưa dần, các quan viên chỉ muốn nghỉ ngơi mà thôi. Lần này đúng là họ đã quá lao lực rồi, không it người chửi thầm quỷ mắt xanh tóc vàng quá khó đối phó.

Nhưng trong đám quan viên có một nhân vật rất sung sướng, Hoàng Diệu nghiệm thu rất nhanh năm ngàn khẩu súng và tuyên bố một câu xanh rờn: “ Súng đã kiểm tra, chất lượng cực tốt, tôi đã xong phần việc của mình, các đại nhân cứ tiếp tục công việc “ Nói xong câu này Hoàng Diệu phủi mông chạy ra quân doanh luyện tập cùng Diêu thiếu.


- Diêu đệ, ngày hôm qua đệ có giảng về chiến tranh du kích, chiến tranh phá hoại, chiến tranh khủng bố. Nhưng thứ cho ngu huynh mu mội cả đêm qua ta dò binh thư mà không thấy các phương pháp trên.

Hai tuần này Quang Diêu cùng Hoàng Diệu hỗn chung một chỗ đến vui. Cả hai đều là tính cánh hào sảng, cùng mến tài nhau nên kết làm huynh đệ, tuy hơi chênh lệch tuổi nhưng cũng không làm Hoàng Diệu khó xử. Có một chuyện bi hài đó là Hoàng Diệu kết nghĩa cùng Quang Diêu nên gọi Quang Cán là thúc phụ. Quang Cán nghe thấy thì nhảy dựng lên không chấp nhận kêu gào tẩn cho Quang Diêu một trận. Ồn ào đến cùng Hoàng Diệu cũng đành xưng huynh gọi đệ với Quang Cán. Thật là bối phận loạn tùng phèo, thế nhưng cha con họ Trần thấy bình thường, trước đây họ cũng xưng huynh gọi đệ với nhau có sao đâu.

- Diệu ca, đấy là ba chữ cẩm nang để giúp huynh quần nhau với Pháp. Cách dàn binh bố trận thì huynh đã học hết rồi, nhưng nói thật nếu đem cách này đánh quân Xiêm, quân Ai Lao, Đại Thanh hay phỉ tặc thì cực hiệu quả. Nhưng đem đánh quân Pháp thì là chịu chết.

- Ngu huynh kính nhờ đệ lượng giải.

Diêu thiếu mấy ngày nay lòng hư vinh cực cao, vốn dĩ nhiều vấn đề có thể nói thẳng nhưng hắn toàn chơi bài thừa nước đục thả câu. Làm như vậy càng khiên cho Diêu thiếu sướng tê người, các người không thấy danh nhân lịch sử đang ngoan ngoãn học hỏi ta sao. Diêu Thiếu muốn hô to lên cho mọi người cùng nghe câu này.

- Diệu huynh, chúng ta là tân quân, mới huấn luyện được vài tháng. Còn Pháp quốc đã đi trước chúng ta cả mấy chục năm về cách đánh này. Bên cạnh đó chúng toàn là lão binh đã từng chinh chiến nhiều chiến trường. Nếu dùng đúng cách đánh này đánh nhau với họ thì kết quả rất dễ thất bại. Thêm vào đó chúng ta không có pháo binh hỗ trợ, bày trận chiến đấu là tự sát. Nhưng chiến tranh du kích, chiến tranh phá hoại, chiến tranh khủng bố thì lại khác hẳn. Chiến tranh du kích theo đúng tên gọi của nó tức là di chuyển liên tục, đánh nhanh, đánh mãnh liệt một kích rồi rút lui không dấu vết. Nay chúng ta có súng tốt, chúng ta lại thông thuộc địa hình, trong luyện tập đề cao chạy bộ chạy vượt chướng ngại vật, rồi cả ngụy trang môn học, đây tất cả đều trở thành ưu thế của đánh du kích. Huynh chỉ cần biên chế các nhóm nhỏ gồm một vài tiểu đội thay nhau tập kích liên tục quân giặc sẽ đạt hiệu quả bất ngờ. Phương pháp này không thể khiến huynh có được trận thắng lớn, huy hoàng nhưng nó có tác dụng bào mòn sinh lực địch, khến chúng hoang mang lo sợ, ta dã chỉ là chuyện sớm muộn. Chiến tranh phá hoại tức là tập chung phá hoại tất cả những gì thuộc về quân giặc, ví như lơn thì tầu thuyền, các chòi canh, đồn các, nhỏ thì đến cả nhà vệ sinh của chúng ta cũng phá hủy. Cái loại chiến tranh này sức tàn phá sinh lực địch không kém du kích chút nào. Chiến tranh khủng bố là ám sát, liên tục tổ chức ám sát mọi lúc mọi nơi có thể. Dùng súng ngắn trà trộn vào thành ám sát, dùng súng dài phục kích ám sát. Không chỉ khủng bố quân Pháp mà những người Việt đầu hàng Pháp cũng phải giết, sau khi giết thì cho phát tờ rơi kể tội phản quốc của chúng. Cách đánh này khiến quân thù rơi vào khủng hoảng toàn diện, khiến chúng nghĩ đâu đâu cũng là kẻ thù và không an toàn. Nên nhơ lũ mọi kia vượt biển đến Đại Nam tác chiến, chúng tứ cố vô thân nên khủng hoảng là kẻ thù lớn nhất của chúng.

- Nào nào.. huynh đệ dùng trà đã.


Hoàng Diệu thấy Diêu thiếu nói một chàng đến khô cả cuống họng nên vội vã rót trà cho hắn. Hoàng Diệu trí nhớ cực tốt, hắn nghe một lần là nhớ hết sau đó tức tốc ghi mọi điều mà Diêu thiếu nói vào một quyển sổ, quyển sổ này có tên Trần gia binh thư yếu lược..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 45: Xây dựng nhà xưởng.



Ngày 21 tháng năm,năm 1861. Cuối cùng sau gần một tháng vất vả thì đàm phán mậu dịch giữa Đại Nam quốc và công ty thương mại Viễn Dương K&R cũng hoàn thành. Đôi bên cùng thở phào nhẹ nhõm mà vui vẻ ra về.

Hợp đồng mua bán mười lăm ngàn khẩu súng Kammerlader với chất lượng lấy lô súng ở Vạn Ninh làm chuẩn đã được kí kết với giá cả không quá bất nờ là 33 lượng một khẩu súng. Giá này quả thật là giá trên trời đối với một khẩu súng hàng phế thải. Robert cười sằng sặc đến suýt ngất nhưng vẫn tỏ ra vẻ mặt như ăn trái khổ qua, làm ra điệu bộ ủy khuất như thiếu nữ bị cưỡng dâm vậy. Các đại quan triều đình thì vui như chảy hội vì đã chặt của tên thương nhân quỷ Tây này hai giá, tức là rẻ hơn lô súng cha con họ Trần đã từng mua với giá 35 lượng một khẩu súng. Các vị quan cao cao tại thượng này cảm thất mình thật anh minh thần võ vì đã chiếm được tiện nghi của người ngoại quốc.

Đi theo bản hợp đồng trị giá triệu kim này là một số điều ước thương mại gây tranh cãi. Công ty K&R muốn Đại Nam mở cảng khẩu Vạn Ninh để họ có thể tiến hành buôn bán tai nơi đây. Tất nhiên K&R cũng ký kết chấp nhận trả tiền thuế thương nghiệp theo đúng luật Đại Nam mà không cần bất kì mọt ưu đãi nào. Điều này cũng khiến các vị đại nhân tai to mặt lớn thuộc phái đoàn cãi nhau tưng bừng một phen. Nhưng cuối cùng họ cũng thông qua điều ước này, trước đây các cuộc đàm phán mậu dịch với các quốc gia Châu Âu thường bế tắc vì các quốc gia này là con quỷ hút máu không nhả xương, họ luôn đòi hỏi những chính sách ưu đãi vô lý. Nhưng Công ty K&R rất thẳng thắn chấp nhận nộp thuế và không buôn bán hàng quốc cấm, nếu bị phát hiện thì K&R chấp nhận chịu chế tài của Đại Nam. Đây là một chuyện tốt, có được tiền thuế cho quốc khố cùng một thương nhân “trung thực” đâm ra các đại thần trong chuyến công du này lại đang cảm giác mình ghi được điểm trong cuộc đàm phán.

Cuối cùng là một mục gây tranh cãi rất lớn tại cuộc đàm phán lần này. K&R muốn được thuê đất công của Đại Nam hoăc đất tư nhân để mở nhà máy tại Vạn Ninh. Điều này đáng ra cũng không có quá nhiều tranh cãi vì K&R sẽ tuân thủ luật Đại Minh mà đóng thuế đầy đủ. Nhưng sự việc đó là K&R ngoài mở nhà máy dệt vải cùng nhà máy hóa chất gì đó thì họ còn muốn mở nhà máy chế tạo vũ khí. Mà cụ thể ở đây K&R muốn chế tạo súng Kammerlader.

Đây là một chuyện không thể nào, vì từ trước đến nay vũ khí thường nằm trong tay triều đình. Tất nhiên các lò rèn chui vẫn luyện đao kiếm bình thường nhưng số lượng hạn chế không thể so cùng Công Bộ. Nhưng nếu quỷ tây này có nhà máy vũ khí thì cực kỳ nguy hiểm. Thế nên việc này đã gây nên tranh cãi gay gắt. Cuối cùng Robert phải nói một câu.

- Các ngài không cho tôi mở nhà máy vũ khí tại Đại Nam tôi có thể mở tại Xiêm, Ai Lao, Luzong, Đại Thanh. Đến lúc đó vũ khí tôi làm ra sẽ ưu tiên bán cho bản địa mà tất nhiên không phải các ngài. Lợi hại trong này các ngài tự hiểu, tôi cũng chẳng đòi hỏi ưu đãi thuế gì cả, vũ khí làm ra tôi có thể lấy giá thị trường bán cho các ngài cái này không phải đôi bên cùng có lợi sao?
Lâm Duy Hiệp cùng chúng đại quan nghe nói vậy thì cũng gật gù coi là có lý. Nhưng lão này còn có tầm nhìn xa hơn một chút. Lão yêu cầu Robert có thể bán cho Đại Nam một nhà máy sản suất Kammerlader không.

Robert mỉm cười, bán thì có thể, các ngài đủ tiềng mua chăng, mua vài quả trứng và mua một con gà có thể đẻ vô vang trứng là hai khái niệm. Cuối cùng Robert hét một cái giá trên trời là 20 vạn lạng bạc cho dây truyền sản xuất. Cái giá này đã tăng gấp 20 lần giá trị hắn mua cỗ máy đồng nát kia từ Thụy Điển. Các vị đại quan mặt cắt không còn giọt máu nhưng họ quả thật không biết rõ giá trị của dây truyền kia, chỉ cảm thấy một cỗ máy khổng lồ có thể chế tạo ra vũ khí tinh mĩ như Kammerlader chắc chắn không thể rẻ. Vậy nên cuối cùng Lâm Duy Hiệp đứng ra đàm phán thành lập một công ty Bán Công. Một nửa là của K&R một nửa của Đại Nam triều đình. Cả hai phe đều cử người của mính quản lý công ty trên. Vậy thì triều đình chỉ cần bỏ ra 7 vạn lượng để có một nhà máy sản suất súng Kammerlader tại Huế. Còn nhà máy sản suất vũ khí còn lại đặt tại Vạn Ninh thì vốn 100% của K&R nhưng yêu cầu công ty này đóng thuế đầy đủ. Sản lượng vũ khí ưu tiên bán cho Đại Nam, thêm vào đó cố điều ước ràng buộc là K&R cấm bán vũ khí cho các phe đối lập của Đại Nam quốc. Robert khẳng khái kí ngay lâp tức điều khoản này.

Đúng là để cho Đại Nam có cơ hội phát triển mà Diêu thiếu cũng tốn sức chín trâu mười hổ để dăng lên cả một ván cờ này. Chỉ cần triều đình Huế hưởng được sự ngon ngọt của công nghiệp hiện đại thì Diêu thiếu không nghi ngại về một cuộc cách mạng công nghiệp nơi đây. Robert cũng biết thừa Diêu thiếu đang dùng tay K&R để giúp tổ quốc Đại Nam nhưng tên này cũng lười quản. Dù sao hắn cũng không có hại. Thêm vào đó còn kiếm được một mánh lớn của cải, sự ổn định của Đại Nam cũng chính là mục tiêu mà K&R hướng tới, có như vậy thì Công ty mới rảnh tay mà kiếm tiền.

Thêm một lý do khiến Robert thêm nhiệt tâm giúp Diêu thiếu vì hắn cảm thấy vị đồng chí này rất thần kỳ. Cách xa cả vạn dặm mà tình hình Châu Âu, hay nói đúng hơn là tình hình từng cá nhân con người đều nằm trong lòng bàn tay tên nhãi con đáng sợ này. Ngoài siêu năng lực thì Robert không còn lý giải nào khác cho vị đối tác làm ăn chiến lược này. Năng lực Diêu thiếu càng lớn Robert càng yên tâm cộng tác hơn.

Hiệp nghi đạt được thì cả hai bên đều ký vào bản cam kết, có được kêt quả này K&R thương thuyền cập bến Vạn Ninh và tiến hành bốc rỡ hàng hóa, từng cụm từng cụm các cỗ máy kim loại to lớn kì dị được hàng ngàn dân phu như kiến bò lổm ngổm và vận chuyển vào đất liền. Thương thuyền K&R trọng tải hai ngàn tấn quả thật lần này đi Châu Âu đã chất kín cả hàng hóa, trọng tải đã không còn mộ t chút khoảng trống nào. Cũng may khi xây dựng Vạn Ninh quân cảng thì Diêu thiếu cho làm rất quy mô do đó quân cảng này cũng miễn cưỡng có thể để cho thương thuyền khổng lồ K&R cập bến. Nhưng nếu xét về tương lai thì Vạn Ninh Cảng không thể đáp ứng nhu cầu phát triển, Diêu thiếu lại đang nung nấu về một bến cảng hiện đại tại Vạn Ninh, có khả năng sửa chữa và bổ túc cho các chiến hạm cũng như thương hạm động cơ hơi nước.

Lần này quân Vạn Ninh ngại trừ được bổ xung thuốc súng từ Thương Thuyền K&R thì không hề có bổ xung thêm vè súng ống. Diêu thiếu cũng là người đại nghĩa nên 5 ngàn khẩu Kammerlader hắn nhường cả cho triều đình quân chuẩn bị vào Nam chiến đấu.

Ngày 25 tháng 5, Thương thuyền hơi nước trọng tải hai ngàn tấn chở dây truyền chế tạo súng Kammerlader xuôi Nam tiến về kinh đô Huế thực hiện hiệp ước xây dựng công ty vũ khí Bán Công Đại Nam quốc. Đi kèm theo có hai mươi chiến hạm Vạn Ninh cùng một ngàn thủy binh Vạn Ninh doanh. Đội hình này dùng để trở năm ngàn Kinh quân sau hơn một tháng huấn luyện tại Vạn Ninh về tới Kinh đô Huế. Tất nhiên vì có thương thuyền K&R để đi ké nên số chiến hạm truyền thống đại việt dùng để tải quân giảm đi nhiều. Lần này theo quân về kinh đô còn có minh tinh võ tướng mới nổi trên chính trường Đại Nam Án phóng sứ Trần Quang Cán. Hắn về Kinh đô để tạ ơn thánh thượng, tiếp theo là tranh thủ về nhà thăm gia đình, quan trọng là thăm thành viên mới của gia đình một bé gái kháu khỉnh. Thì ra Lý thị đã trở dạ mà hạ sinh một bé gái, vậy là Quang Diêu có được người muội muội thứ hai, thế nhưng vị muội muội này hơi đặc biệt vì có dòng máu hỗn huyết Việt-Hoa.

Kể từ ngày Quang Diêu xuyên về nơi này thì cái nết trọng nam khinh nữ tại Trần gia đã bị thủ tiêu hoàn toàn. Nếu là trước kia nếu nghe tin thiếp thất sinh ra nữ nhi thì Quang Cán nhìn cũng chẳng thèm nhìn, nhưng không hiểu sao lúc này hắn rất hăm hở về nhà thăm 2 ái thiếp cộng thêm hai nữ nhi bảo bối của mình. Hai cha con phải có một người trấn thủ Vạn Ninh nên Diêu thiếu phải ở lại. Mà không phải Diêu thiếu thì không ai khác có thể thay thế lúc này, vì công việc xây dựng nhà máy đang lửa xém lông mày rồi.

Robert cũng ở lại Vạn Ninh mà mặc kệ mẹ cái đống đồng nát dây truyền sản xuất Kammerlader được chuyển vào Huế, hắn chỉ cử theo một vài thân tín để quản lý và một vài chuyên viên giúp Đại Nam vận hành nhà máy mà thôi.

Tất cả sự tập trung của Robert đều dành cho hai nhà máy hóa chất lúc này, hắn biết rõ hai nhà máy này là mấu chốt tạo nên thứ có tên là Heroin kia nhưng cụ thể ra sao thì tên này chịu cứng. Tương lai ngậm vàng hay húp cháo đều là hai nhà máy này nên Robert hận không thể mở trừng hai mắt 24/24 để quan sát.

Nói đi thì cung nói lại lần này Robert đi Châu Âu dắt theo túi 13 vạn lượng bạc trong đó có bảy vạn lượng là tiền riêng của Diêu thiếu, có rất nhiều thiết bị mua bán tại Châu Âu không thuộc quyền sở hữu của công ty mà thuộc riêng Diêu thiếu. Nhưng để tránh sự sách nhiễu của triều đình nên Diêu Thiếu chỉ là mượn danh K&R để lập nhà xưởng. Chính vì thế trong các công ty nhỏ tưởng như thuộc sự điều khiển của K&R thực tế cổ phần đều thuộc họ Trần cả. Tất nhiên làm người không quá tuyệt tình, Diêu thiếu cũng để cho Robert một số cổ phần nhỏ trong đó để mang tính đại diện.

Đương cử như nhà máy luyện Thép Vạn Ninh với năm chiếc lò Bessemer có đén 95% cổ phiếu là của Diêu thiếu. Nhà máy hóa học sản suất Nitroglycerin cũng là 90% cổ phần họ Trần. Bốn nhà máy sản suất súng đạn cũng là 9,5 phần cổ phần thuộc về Quang Diêu. Robert cũng lười quản mấy thứ nhà máy khó kiếm ra tiền này. Hắn chỉ quan tâm Heroin nhà máy mà thôi.

Lô vũ khí Kammerlader thì thuộc về kinh doanh của công ty K&R. Lần này nếu tính tổng giá trị hợp đồng 15 ngàn khẩu súng thì công ty lãi dòng đến 22 vạn lượng bạc. Đây là một con số không hề nhỏ chút nào. Tất nhiên lần giao dịch 5 ngàn khẩu súng này thì lãi dòng mang về chỉ là 7 vạn lượng hơn, nhưng như vậy cũng đủ cho K&R quay vòng vôn và chạy đi Châu Âu thêm một lần nữa.

Nhà máy vải là một chủ chương của Diêu thiếu. Hắn cần một mặt hàng để có thể che đậy Heroin đem xuất khẩu đi đầu độc các nước lân bang như Đại Thạn, Xiêm La, Miến Điện. Tất nhiên có cơ hội thì Châu Âu, Châu Mỹ, không thể thoát được ma chưởng của hắn. Dệt vải là ngành ruột của Robert nên không quá khó xây dựng tại nơi đây. Nói một cách cơ bản thì miến Nam nước Mỹ nổi tiếng với công nghiệp dệt may ( năm 1860 sản lượng của miền Nam nước Mỹ là 4.500.000 cuộn còn miền bắc là không đáng kể). Tên Robert là xuất thân Miền Nam điển hình nên hắn chả lạ gì vơi các nhà máy dệt này.

Nhưng nói đi cũng nói lại đừng khinh thường nhà máy dệt, thời quân phiệt chủ nghĩa tại Trung Hoa các ông chủ nhà máy dệt của Trung Quốc toàn là các đại gia đình đám cả đấy. Cái ngành này nếu biết tận dụng thì không phải là không sinh ra lợi nhuận cao. Nhưng quả thật nếu đem so sánh với ngánh sản suất ma túy trằng siêu lợi nhuận thì ngành dệt chỉ là… tôm tép mà thôi..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 46: Tất cả vì một Đại Nam hùng mạnh



Vạn Ninh đang tưng bưng xây dựng thì Huế cũng đang tưng bừng đón chào thương thuyền ngoại quốc với tiêu chí hìa bình hữu nghị. Vốn dĩ triều đình Huế rất phản cảm với ngoại quốc thương nhân thì lúc này đang có một luồng gió mới thổi vào chính trường Đại Nam. Tin tức sơ bộ về các điều khoản trong cuộc đàm phán mậu dịch giữa Đại Nam và công ty Thương Mại Viễn Dương K&R đã được khoái thuyền truyền về Huế từ trước. Thông tin Đại Nam thu được dây truyền sản xuất vũ khí hiện đại tân tiến đã làm trấn động cả Kinh Đô. Từ trước đến nay các quốc gia đông á chỉ toàn mua được các thành phẩm mà thôi, lại nói các thành phẩm này toàn là hàng phế thải. Chưa một quốc gia nào, kể cả Đại Thanh có thể nắm giữ được công nghệ trong tay, vậy mà Đại Nam giờ đây lại có được miếng bánh từ trên trời rơi xuống này. Mặc dù công ty này chỉ có một nửa cổ phần thuộc về Đại Nam nhưng như vậy còn là quá tốt rồi.

Triều đường Đại Nam hôm nay có vẻ nhộn nhịp như chảy hội. Đám người phe cách tân thì đang mài đao soàn soạt, đám người bảo thủ nhóm thì cũng âm trầm bố trí võ công chiêu thức chuẩn bị tung ra. Có lẽ vui vẻ nhất là nhóm đặc phái viên lần này đi Vạn Ninh trấn thực hiện giap dịch. Ai nấy đều hất cao đầu như con công đực đang đế kì động dục. Lẫn trong đám người đặc phái viên này là một võ tướng cao to uy mãnh đang vừa đi vừa ráo diết liếc ngang ngó dọc tử cấm thành hai bên. Tên võ tướng cao to bất hợp lẽ thường đang có biểu hiện của kẻ nhà quê lên tỉnh này không ai khác chính là minh tinh Trần Quang Cán. Vị võ tướng với chức quan chánh Ngũ phẩm bé tí này có được đặc ân diện kiến thánh thượng, quả thật là trước nay khó gặp trường hợp này.


Tự Đức hôm nay hưng phấn lạ thường mà ngồi hơi nhấp nhổm trên ngai vàng. Ai cũng thấy được vẻ mặt hơi kích động của vị Thánh thượng mặc dù hắn đã cố đè nén và dấu diếm sự hưng phấn kia. Bốn năm qua đối diện thù trong giặc ngoài đã bào mòn không it sinh lực của vị hoàng đế còn đương trẻ tuổi này, thế nhưng hôm nay chúng thần văn võ như thấy lại được hình ảnh bừng bừng khí thế như lúc mới lên ngôi của vị hoàng đế kia.


Tự Đức dù đã biết trước đa phần nội dung báo cáo của hiệp nghị thương nghiệp hòa binh hữu nghị mang nhiều lợi ích này, nhưng ông vẫn muốn nghe lại từ chính miệng các vị đặc phái Viên trình tấu. Không những Tự Đức mà dường như toàn bộ quan viên đang có mặt nơi đây cũng đang nhấm nuốt từng chữ thốt ra từ miệng các vị đặc phái viên kia. Vẫn theo trình tự, nhưng người không quan trọng nói trước, những người quan trọng báo cáo sau cùng.

- Khởi bẩm thánh thượng, theo vi thần tiếp xúc cùng thương nhân Mỹ Quốc thì có thể rút ra một điểm, chính là họ trân thành muốn hợp tác làm ăn tại Đại Nam, lý do nhân công Đại Nam rẻ, các nguyên liệu đầu vào của Đại Nam rồi rào. Nếu chúng ta năm vững các thế mạnh này của đất nước thì hoàn toàn có thể thu hút được các thương nhân trân thành đến làm ăn. Nhưng chúng ta cũng cần phải hết sức canh giác và chọn lọc các thương nhân này cũng như không thể nới lỏng quan sát bọn họ. Theo vi thần phương pháp làm công thương kết hợp có lẽ là thích hợp để kiềm chế các thương nhân này. Tiền lệ như công ty vũ khí Đại Nam lần này, nhưng để đạt thành hiệm nghi công thương cực khó khăn vì các thương nhân này tỏ ra không quá tin tưởng triều đình Đại Nam. Lần này mười ột người chúng thần phải hết sức gây áp lực thì họ mới đồng ý hình thức công tư thương nghiệp kết hợp.
Người lên tiếng là Hộ bộ thượng thư Đinh Văn Lễ, nhân xét của ông hết sức chính xác và xúc tích đồng thời cũng tinh tế mà đề cao công lao của nhóm đặc phái viên lần này. Đúng là quan viên đã làm đến chức thượng thư thì không ai không phải cáo già.

- Tốt, rất tốt… việc thành công mở ra một công ty vũ khí hiện đại quả là đại hỉ cho Đại Nam ta. Công lao của các ái khanh đáng ghi nhận, ý kiến của Đinh ái khanh cho ghi vào nghĩ phiếu chúng ta sẽ bàn bạc thật kĩ trong các buổi trầu tiếp theo.

Tự Đức rất vui vẻ mà đưa ra nhận xét hết sức hào phóng.

- Khởi bẩm thánh thượng, lần này chúng ta cả thảy mua được mười lăm ngàn cây súng chất lượng cực tốt hợp đồng đã kí kết, giao dịch chia làm ba lần. Lần này chúng ta có được năm ngàn khẩu súng đã được trang bị hoàn hảo cho nhóm tân Kinh quân. Thần rất hi vọng đây là lực lượng chủ chốt đánh bại quân Pháp tại Nam Kỳ. Điểm quan trọng là lần này với sức ép của chúng ta thì thương nhân Hoa Kỳ bắt buộc phải giảm giá thành, chúng ta tiết kiệm được hơn ba vạn lượng bạc so với dự chi.

Nghe đến báo cáo này Tự Đức cũng long nhan hớn hở. Nhà máy vũ khí Đại Nam là chuyện của tương lai, lúc này quân Pháp đã quay lại Nam Kỳ và đánh rất rát đội quân của Nguyễn Tri Phương cùng Trương Định. Nước xa không cứu được lửa gần, năm ngàn cây súng chất lượng này đúng là than ấm ngày tuyết rời, khiến cho trái tim thấp thỏm lo âu của Tự Đức như an tĩnh. Giờ đây miền bắc có cha con họ Trần trấn thủ, miền Nam chuẩn bị có Hoàng Diệu tăng viện. Mọi chuyện dường như đang đi vào quỹ đạo an toàn cho triều đình Huế, nói như vậy bảo sao Tự Đức không mừng rỡ.


- Ôi năm ngàn a, giá như có mười ngàn, mười lăm ngàn khẩu súng thì tốt biết bao. Quân địch tại Nam Kỳ cũng tăng binh đến gần một vạn rồi. Hoàng ái khanh, khanh là người trong một tháng này tiếp xúc cùng Vạn Ninh quân cũng như huấn luyện tân Kinh quân. Theo ý của ái khanh thì lúc nào Tân kinh quân có thể Nam tiến và ước lượng chiến quả ra sao?

Nói thật Tự Đức rất anh minh, ông không phải vị vua bị hào nhoáng làm váng đầu. Tân kinh quân mới thành lập số lượng chỉ có năm ngàn. Quân giặc tại Nam Kỳ lại có tới gần một vạn, vũ khí thì toang là trang bị tân tiến, lại có pháo mạnh yểm trợ. Tự Đức dù mù quáng cũng không ngu ngốc mà tin vào điều vô lý để ép quân thần võ tướng làm điều không thể. Ý của ông là nếu Hoàng Diệu không chắc chắn thì Đại Nam có thể đợi đợt giao dịch lần sau để có thêm vũ khí, hay đợi nhà máy vũ khí Đại Nam đi vào sản xuất .

- Khởi Bẩm thánh thượng, Thần Hoàng Diệu có lòng tin mười phần đánh bại quân giặc, thần xin lấy đầu mình ra bảo đảm. Chỉ mong thánh thượng ân chuẩn, cách đánh giặc của thần là tân cách, không thể nào có được các chiến thắng dòn giã cũng nhưng không thể nào trong thời gian ngắn quét sạch quân thù. Chỉ xin thánh thượng hoàn toàn tin tưởng mà cho vi thần thời gian, chỉ cần có thời gian Thần xin đánh cho lũ giặc mọi Tây không còn manh giáp.

Tuyên bố quá tự tin, quá hùng hồn của Hoàng Diệu đạp choáng váng Tự Đức, đập choáng váng luôn tất cả bá quan văn võ. Chuyện binh gia đao kiếm ai dám nói trước, không ngờ tên này có được năm ngàn khẩu súng kiểu mới trong tay đã dám huênh hoang khoác lác. Các đại thần nhóm bảo thủ nắm được cơ hội rồi, họ liền lập tức đứng ra chỉ chích.

- Chuyện binh không phải chuyện chơi đùa, Hoàng tướng quân xin cẩn trọng đó, Kiêu binh tất bại.

- Hừ, không biết trời cao đất dày. Hoàng tướng quân nghĩ mình là Võ Thần. Nên nhớ quân giặc có Thuyền lớn, pháo lớn, còn có một vạn quân trang bị vũ khí hiện đại.


- Hoàng tướng quân không khỏi quá tự phụ.

Tự Đức cũng yên lặng một hồi mà quan sát thật kĩ Hoàng Diệu, ông nhìn chằm chằm vào đôi mắt của vị tướng quân đang đứng phía dưới kia . Chỉ thấy Hoàng Diệu thân thẳng như thương, vững vang như tùng bách trước sóng gió tràn ngập đang bủa vây. Đôi mắt sáng của Hoàng Diệu như ánh lên niềm tin bất tận, đây là sự tin tưởng vào thực lực mà không hề liên quan đến tự kiêu tự mãn. Vị tướng quân này đang đứng đó cô đơn nhưng đầy vững trãi mà bỏ qua mọi lời đàm tiếu vo ve bên tai.

- Hoàng ái khanh như thế nào giảng. Chuyện quân không thể nói đùa.

Giọng Tự Đức vang lên trong cung điện, ba phần tán thưởng, ba phần kích lệ, ba phần nghiêm khắc, và có một phần chờ mong vô hạn.

- Khởi bẩm thánh thượng, vốn dĩ trước khi đến Vạn Ninh thần cũng không có được sự tự tin này, nhưng giờ đây trong tay thần có cẩm nang phá địch. Thần tin tưởng một vạn lần có thể đánh tan quân thù.

Tự Đức ngạc nhiên.

- Cẩm nang?

Hoàng Diệu không kiêu không nản, từ từ lôi ra từ ngực áo một quyển sách bìa xanh hoa văn cầu kì.

- Khởi Bẩm thánh thượng, đây chính là cẩm nang phá địch của hạ thần.

- Mau dâng lên để trẫm ngự lãm.

Tự Đức có hơi vội vã hơn bình thường một chút, vị nội quan bên cạnh vội vã lật đật đi xuống bệ rồng mà tiếp lấy cuốn sách mỏng của Hoàng Diệu kính dâng lên cho Tự Đức.

Tự Đức cũng không ngại đang giờ thượng triều mà lật từng trang sách nghiền ngẫm. Cả triều điện các quan im phăng phắc, không ai dại gì mà làm ồn trong thời khắc này. Nói chung các quan viên ai đó tỏng lòng đều như có một con mèo tò mò đang cào cấu nhưng không ai dám có dị động lúc này. Cả một cung điện to lớn im lặng đến tiếng thở của các đại thần cũng có thể nghe dõ, tiếng lật trang sách của Tự Đức càng rõ ràng hơn. Các đại quan kín đáo, vụn trộm quan sát sắc mặt của vị hoàng đế nhân huynh. Chỉ thấy vị này đọc cuốn sách mỏng kia mà lông mày dãn ra, hai mắt càng ngày càng sáng, vẻ tự tin cũng bộc lộ không khác gì Hoàng Diệu lúc trước. Ai cũng có thể đoán ra nội dung cuốn sách quá quan trọng, biết vậy chúng quan lại càng tò mò hơn.


- Trần gia binh thư yếu lược. … Trần gia binh thư yếu lược… lại có kỳ thư như vậy… thật là trời giúp Đại Nam ta.

Đây là những lời lẩm bẩm như cho chính bản thân nghe của Tự Đức, nhưng vì cung điện quá yên lặng nên đâm ra rất nhiều trọng thần ở hàng đầu đều có thể nghe rõ.


- Hoàng Diệu ái khanh, sách lược này là từ đâu khanh tìm được.

- Khởi bẩm thánh thượng, vi thần không dám dấu diếm, đây chính là binh thư Trần gia mà thần đã học được từ phụ tử nhà Trần Quang Cán tướng quân. Họ không hề có một chút nào giữ làm của riêng mà muốn chia sẻ yếu lược binh thư cho tất cả những người muốn học. Vi thần chỉ là theo cảm nhận mà chép lại, quả thật xấu hổ không thôi, thật phụ danh môn đẹ binh pháp Trần gia.


Nói thật nếu để phụ tử Trần gia mà viết binh thư thì hiệu quả chỉ bằng ba phần Hoàng Diệu viết là cùng. Hoàng Diệu thân là nho tướng mới 20 tưởi đỗ cử nhân , 21 tuổi đỗ bảng nhãn. Lời văn mà Hoàng Diệu chép lại binh thư tuyệt không thể tả, nó súc tích mà hàm ý, chi tiết mà ngắn gọn lột tả hoàn toàn tinh túy của phương pháp luyện binh cũng như cách đánh chiến tranh du kích hiện đại. Chính điểm này khiến cho Tự Đức chỉ là đàm binh trên giấy cũng thấy kinh hoàng không thôi.

- Thần thư như vậy vào tay ai cũng có thể phát huy đến năm bảy phần, vào tay tướng tài có thể phát huy chín mười phần. Không ngờ phụ tử Trần ái khanh có thể cống hiến gia bảo một cách vô tư như vậy. Quả thật hiếm có.

- Khởi bẩm thánh thượng, đúng là lúc đó thần cũng bất ngờ mà hỏi tại sao phụ tử nhà họ Trần làm vậy. Họ chỉ nói một câu thôi…

Tự Đức tò mò hỏi.

- Họ nói câu gì?

- Thưa thánh thượng. Họ nói rằng “ Tất cả vì một Đại Nam hùng mạnh”.

Cả triều đường lặng ngắt như tờ, câu nói này văng vẳng bên tai của từng người như có ma lực vô hạn. “ Tất cả vì một Đại Nam hùng mạnh”. “ Tất cả vì một Đại Nam hùng mạnh”. “ Tất cả vì một Đại Nam hùng mạnh”.

Một tinh thần cống hiến không cần quả báo, một tấm lòng vì dân tộc sắc son. Ai cũng nghĩ đến vậy, những người chung trí hướng thì bừng bừng đồng cảm, những người có tư tâm thì xấu hổ không thôi. Tự Đức thì không thể khác rồi, ông đang xúc động mà hai mắt hồng lệ rơi..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 47: Cải cách mầm mống



Tự Đức hơi ngẫm nghĩ mà tuyên bố.

- Nếu họ Trần đã khẳng khái mà quyên hiến cho quốc gia thì yêu cầu Đô Sát Viện in ra thành sách phát cho các tướng quân, sĩ quan. Mặc dù đây là yếu lược dành riêng cho tân quân nhưng các quân doanh theo cơ chế truyền thống vẫn có thể tham khảo. Hoang Diệu ái khanh, sách lược đã định hình thì năm ngàn tân Kinh quân khi nào có thể xuất chiến Nam Kỳ.

- Khởi bẩm thánh thượng, vi thần xin dùng thêm một tháng để huấn luyện hai vạn tân Kinh quân theo tân sách. Trong đó năm ngàn quân đã huấn luyện gần ba tháng sẽ là nòng cốt chiến đấu. Một vạn rưỡi là quan dự bị bổ xung, không có sân huấn luyện nào tốt hơn chiến trường cả. Chỉ mong triều đình bất kỳ lúc nào có được vũ khí mới xin chuyển cho tân quân tại Nam Kỳ. Thần xin lấy sách lược chiến tranh du kích, chiến tranh phá hoại, chiến tranh khủng bố để đánh tan ý trí kẻ địch. Chiến dịch này chỉ cần năm ngàn quân là đủ, khi có đủ vũ khí cho một vạn quân thì cũng là lúc vi thần tổn tiến công đạp nát quân thù.


Hoàng Diệu tuy tự tin nhưng không mù quáng, ông ta quyết đại chiến sau khi có đủ vũ khí. Đây cũng là một sách lược hết sức toàn vẹn và cẩn thận. Còn chuyện ông chơi bào luyện binh trong chiến trường, chơi đùa tính mạng binh sĩ thì tại đây cả mấy ai quan tâm. Họ coi đó là bình thường mà thôi. Chỉ có Diêu thiếu với tư tưởng hiện đại quý trọng tính mạng binh sĩ mới có kiểu liều mạng luyện tấp thời gian dài để giảm thiểu thương vong không mong muốn.

Sau một phen kích động thì triều đình lại tiếp tục công việc. Người báo cáo cuối cùng là Lâm Duy Hiệp đại ca. Lão thần này là người báo cáo mang tính tổng kết tất cả các hạng mục của lần hợp tác này.

Nghe báo cáo rất tỉ mỉ của Lâm Duy Hiệp thì Tự Đức rất hài lòng, nhưng trong lòng ông cũng có thắc mắc nên đặt ra câu hỏi với vị lão thần Cơ Mật Viện này.


- Theo ái khanh báo cáo thì cái công ty gì mà Cây en A rờ ( K and R) ấy mở mấy nhà xưởng sản xuất vải, cùng hóa học gì đó. Những thứ này kiếm ra tiền sao, trẫm cảm thấy có gì đó không chân thực.


Tự Đức nghi ngờ là có lý do, nuôi tằm dệt lụa còn có chút lãi lời. Nhưng dệt vải bông thì hai nhà máy bé tẹo kiếm được bao nhiêu. Nên nhớ sản lượng cả Bắc Kỳ một năm cũng là 20.000 cuộn mà thôi, hai cái nhà xưởng bé xíu thì một năm sản xuất mấy trăm cuộn hay cùng lắm một ngàn cuộn thì kiếm đâu ra tiền mà khiên thương nhân như Robert vượt cả đại dương qua Đại Nam đầu tư.

- Khởi bẩm Thánh thượng. Chuyện này là thiên chân vạn xác. Nếu hai cái nhà xưởng kia theo cái gọi là dây truyền sản xuất thì một năm họ sản xuất ra đến cả trăn ngàn cuộn vải, sản lượng gấp năm sáu lần cả Bắc Kỳ sản xuất. Tính ra nếu họ bán tại Đại Nam nay xuất khẩu các nước xung quanh thì một năm cũng kiếm về đến hai mươi vạn lượng. Cái này không hề ít thưa thánh thượng

Nghe đến con số hai mươi vạn lượng thì Tự Đức bật lên khỏi ngai vàng, con mẹ nó hai mươi vạn lạng mà là it sau. Con số này bằng một phần năm quốc khố thu vào một năm đấy. Nói là quộc khố hằng năm thu đến một trăm vạn lạng nhưng mà chi ngược chi xuôi, véo chỗ này đập chỗ kia rốt cuộc còn lại dự chữ chả là bao. Đến lúc cần đến tiền cũng là lo cuống cả lên đấy. Hai mươi vạn lạng mà ít à.

- Cớ sao khanh không đàm phán mua luôn công nghệ dệt của họ.

- Thánh thương… quốc khố…

Lâm Duy Hiệp lão ca không dám nói thẳng làm Tự Đức xấu hổ, nên đành nhắc khéo mà thôi.

- Khụ khụ khụ… - Tự Đức cũng biết mình thất thố mà ho lên hồi dài.

- Nhưng theo Hộ Bộ báo lại thì trong quốc khố vẫn còn đến hơn hai trăm vạn quan lưu quốc khố. Chúng ta cần phải có nhiều hơn công nghệ của họ.

Nghĩ đến hai nhà máy có thể sản xuât gấp năm lần cả Bắc Kỳ sản lượng thì Tự Đức rất muốn có được các công nghệ kể trên. Có lẽ lúc này tư tưởng cách tân, công nghiệp hóa đã vô hình mà len lỏi vào tâm trí vị hoàng đế này.

- Khởi bẩm thánh thượng, những người tây dương kia không chấp nhận tiền kẽm và tiền đồng của chúng ta. Họ chỉ chấp nhận bạc hoặc vàng quy đổi theo tỉ giá. Nhưng thánh thượng yên tâm, nếu họ thành lập công ty trên đát của chúng ta thì bắt buộc phải dùng tiền đồng hoặc kẽm mua nguyên vật liệu, kể từ đó họ sẽ dễ dàng chấp nhận tiền của chúng ta để trao đổi. Bên cạnh đó nếu chúng ta mua được công nghệ tiên tiến cũng có thể bắt chước họ mà xuất khẩu hàng hóa qua các nước lân bang. Từ đấy tiền của chúng ta sẽ được tiêu thụ rộng rãi trong phạm vi lớn hơn, điều này đồng nghĩa với việc tiền của chúng ta được chấp nhận nhiều hơn. Nhưng muốn có được tất cả điều này thì ưu tiên hàng đầu của chúng ta là phải suất siêu tốt hơn nhập siêu, kèm theo đó là khống chế được thị trường các nước lân bang.

Thật không hổ danh là đại ca trong giới cải cách, xoay đi quẩn lại một hồi Lâm Duy Hiệp đưa vấn đề trở lại với cải cách, tuy ông không nói rõ nhưng ám chỉ cũng khá chi tiết.

Thế nhưng động đến cải cách tức là động đến một tổ ong vò vẽ với hàng loạt các con ong to tổ bố đang nhe nanh múa vuốt. Trương Đăng Quế đầu não của phe bảo thủ là người đầu tiên đứng ra.


- Lời nói của Lâm đại nhân không thỏa đáng, xưa nay trăm việc lấy nhà nông làm đầu, Lương thực hết sức quan trọng. Nếu cổ vũ thương nghiệp hay nhà mày gì đó, nông dân bỏ đi hết làm thương nhân, hay làm thuê trong các nhà máy thì lấy ai ra cày cấy. Không có lương thực thì quốc gia sụp đổ là sớm hay muộn. Còn nói đến thông thương thì càng nực cười, Các thế lực ngoại bang như sói như beo đang ngồi sẵn mà chầu chực, chúng ta lại mở cửa mà đón chúng vào nhà. Khác nào cõng rắn cắn gà. Khởi bẩm thánh thượng, Lâm Thượng thư thân ngụy nhưng lòng Thục là có dị tâm. Vẫn còn nhớ đến trước đây ông ta còn có ý mượn tướng quân Thanh diệt trừ Cao Bá Quát, chuyện này vẫn còn như mới ngày hôm qua.

Phải nói rằng vị Trương Đăng Quế Đô sát viện Tả phó Đô ngự sử này có cái miệng quả thật rắn rết tru tâm. Hắn không ngại lôi ra vết bẩn từ lâu của Lâm Duy Hiệp để công kích giữa triều đường.

- Thần tán thành Trương đai nhân.

- Thần thấy Trương Tả phó đại nhân nói có lý.

- Thánh thượng, vạn việc nhà nông làm đầu a.

- Thánh thượng….

Lâm Duy Hiệp lão ca tức giận đến hộc máu nhưng không thể làm gì chỉ có thể chỉ mặt Trương Đăng Quế run run căm giận

- Ngươi… ngươi….

Một đám quần thần đông đảo phe bảo thủ ào nào nhảy ra dội một gáo nước lạnh vào mặt Tự Đức khiến cho vị hoàng đế này tái xanh một mảng. Thấy sắc mặt không được tốt của Tự Đức thì cụ Phạm Phú Thứ không thể không đứng ra.

- Trương Tả phó đại nhân nói quá võng đoán rồi. Kính thưa bệ hạ, trăm việc việc nhà nông làm đầu thần không phản bác. Nhưng cải cách công nghiệp, thương nghiêp nhưng lại đang là giúp nông nghiệp.

Phạm Phú Thứ lão hồ ly chỉ nói đến đây rồi dừng lại.

- Phạm đại nhân hồ đồ.

- Phạm Hữu Bộ Thị Lang đổi trắng thay đen.

- Lời nói của Phạm đại nhân vô căn cứ.


Đứn trước trăm ngàn câu sỉa sói phản bác như ong như ruồi vo ve bên tai nhưng vị năng thần Phạm Phú Thứ vẫn phong đạm kinh vân và mỉm cười đứng đó. So sánh ra thì mặc dù nhỏ tuổi hơn nhưng phong phạm của Phạm Phú Thứ lại cao hơn Lâm Duy Hiệp một bậc. Phạm Phú Thứ và Lâm Duy Hiệp tuy là cùng chiến tuyến cải cách tân chính nhưng hai lão này lại thuộc hai thái cực khác nhau hoàn toàn. Lâm Duy Hiệp là đại diện thanh liêm nhóm vậy nên ông rất thanh cao, không bao giờ ăn hối lộ, trong mắt không một hạt cát. Lâm Duy Hiệp cực kỳ khinh bỉ những người ăn hối lộ đi đêm kiểu như Phạm Phú Thứ, vậy nên tuy cả hai cùng muốn cải cách nhưng không hề qua lại với nhau.

Nhưng Lâm Duy Hiệp có một điểm yếu, đó chính là do ông quá thanh liêm, thanh liêm đến độ không biết mùi tiền. Người không biết củi lửa dầu gạo thì nấu cơm sao được. Vậy ra Lâm Duy Hiệp hiểu được cải cách là tốt, cải cách là phải làm nhưng ông lại như đang cưỡi ngựa xem hoa trên con đường cải cách, về bản chất của tiền bạc, trao đổi, về quân hệ công nông thương ông lại không có một cái nhìn sâu sắc trực quan.

Còn về Phạm Phú Thứ thì ông là một người ngậm tiền làm việc, họ Phạm nổi danh với một loạt các môn đệ, khắp nơi kiếm tiền hiếu kính cho lão. Nhưng tính tham tiền của Phạm Phú Thứ cộng với năng lực thực tế và thêm tinh thần dân tộc khá rõ ràng lại biến ông thành một người cực hiểu rõ về sức mạnh của đồng tiền. Ông tìm hiểu rất kĩ càng về công, nông thương. Nhất là trong một năm vừa qua ông qua lại thư từ cùng Trần Quang Cán không dán đoạn. Những bức thứ ấy giúp cho Phạm Phú thứ có một cái nhìn rất rõ ràng và toàn cảnh về công cuộc cải cách nếu nó diễn ra. Chính vì lý do này nên Phạm Phú Thứ không nóng vội. Những hành động của ông đều có kế hoạch rõ ràng để hướng dư luận về một mục đích có lơi cho mưu tính của bản thân. Nhưng không ai biết được rằng những lá thư kia từ Trần Quang Cán thực chất là Diêu thiếu thay mặt lão tía tiện nghi mà giải bày cùng vị tham quan năng thần Phạm Phú Thứ lão đại ca.


- Phạm ái khanh nói vậy sao giảng?

Tự Đức vốn đã tin tưởng Phạm Phú Thứ rất nhiều vậy nên lúc này thấy ông đứng ra tranh luận thì vội hỏi.

- Khởi bẩm thánh thượng. Trương đại nhân nói hoàn toàn sai lầm, Lâm đại nhân nói lại không kín kẽ vậy nên mới gây tranh cãi như vậy. Thực tế ta công nghiệp là giúp cho nông nghiệp. Thần xin lấy ví dụ. Hai nhà máy dệt có thêt làm ra sản phẩm gấp năm lần toàn bộ công nhân Bắc Kỳ trong một năm. Vậy thì nếu chúng ta mở xưởng dệt kiểu mới thì có thật nhiều lao động tự nhiên dôi ra đẻ trồng chọt cày cấy. Như vậy tiền kiếm được từ xưởng dệt chúng ta có nhiều gấp bội , nông nghiệp không giảm mà tăng. Vậy nếu các ngành nghề khác chúng ta cũng tiến hành cải cách theo kiểu công nghệ mới từ phương Tây thì tiền kiếm được là bao nhiêu. Người dôi ra để trồng chọt là bao nhiêu ? nói thật một câu nếu Trương đại nhân không hiểu tính toán cũng có thể tính một hai a. Khi đã có được công nghiệp hàng hóa thật nhiều thì có thể xuất khẩu khắp nơi thu về tiền, bạc, hay cả lương thực cũng được. Thành thử ra mối lo lương thực của Trương đại nhân thật là… khụ khụ. Còn nói về thương nghiệp là mở cửa dước sói vào nhà thì càng nực cười. Chúng ta không mở cửa vẫn có ngoại Bang đánh đến tận nơi đó thôi. Ngài không mở mắt mà nhìn Pháp quân đánh đến tận nơi rồi à. Tất nhiên mở cửa toàn diện hiện nay là không được, chúng ta phải từ từ từng bước. Đầu tiên là chọn những đối tác làm ăn có thể tin tưởng và chúng ta có thể áp chế họ. Ví như Mỹ Quốc đang nội chiến và không có tư tưởng bành trướng ở phương Đông. Khi chúng ta mạnh lên rồi có thể ngang hàng đối thoai cùng các quốc gia phát triển kia thì hoàn toàn có thể mở cửa thông thương. Lúc bấy giờ với quân đội hùng mạnh bảo hộ thì chúng ta mới yên tâm giao thương cùng những loại sài lang hổ báo kia….

Phạm Phú Thứ thật ra là đang già mồm lươn lẹo đổi trắng thay đen, nhưng cái chính là các vị đại quan ngồi đây tư tưởng bị trì trệ bởi vòng xoáy nông nghiệp nên không thể tìm ra kẽ hở phản bác. Lúc này đây phe tân cách nhìn Phạm Phú Thứ đầy thán phục, đến cả Lâm Duy Hiệp cũng phải chắp tay mà nói.


- Tuy rằng nhân cách Phạm đại nhân không quá ưu điểm, nhưng quả thật Phạm đại nhân là đại tài, lời người nói như vén màn sương mù trong lòng ta. Tại đây lão phu xin cám ơn Phạm đại nhân.

Lòng lợn tiết canh, trán của Phạm Phú thứ nổi đầy gân xanh, mặt thì như một đám mây đên đang vần vò. Đây là Lâm Duy Hiệp đang khen hay chửi lão, cái gì mà Nhân cách không quá ưu điểm. Con mẹ nó đứng ra nói giúp còn bị chửi, Phạm Phú Thứ chỉ kém chút nữa mà xông lên đánh Lâm Duy Hiệp rồi. Tự Đức cũng bấm bụng mà cười với câu nói bộc trực của Lâm Duy Hiệp, việc họ Phạm ăn đêm thì Tự Đức cũng biết đó, nhưng họ Phạm ăn được làm được mà còn làm tốt gấp trăm lần người bình thường, vậy nên chỉ cần Phạm Phú Thứ không quá đáng thì Tự Đức cũng cho qua. Tất nhiên Phạm lão tham tiền nhưng rất chừng mực nên không có chạm vào nghịch lân của Tự Đức..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 48: Cán ca khoe trí- Phạm lão nhập các



Bi thảm nhất và có lẽ cũng may mắn nhất có lẽ là tên võ tướng Trần Quang Cán. Hắn được thánh ân cho triệu kiến vào triều ngày hôm nay nhưng do bên trong cái nhau ác quá, cãi từ sáng cho đến qua trưa, ăn cơm xong lại lôi nhau lên cãi tiếp. Cái tới cãi lui nên ai cũng quên mất một tên võ quan bé tẻo teo đang đói mốc mồm ngoài cửa cung. Không phải thên thị vệ thấy hắn tội nghiệp mà dúi cho hắn mấy cái bánh giò cộng thêm túi nước thì có lẽ tên này tẻo thật rồi.

Nhưng may mắn thay đến khi tan triều muộn thì Tự Đức nhớ ra tên này, vậy là Tự Đức cho gọi Phạm Phú Thứ đích thân dẫn tên võ tướng này vào thượng thư phòng gặp mặt. Chiều cũng đã muộn lại thấy áy náy khi bỏ đói ái tướng một buổi nên Tự Đức hoàng đế thánh ân cuồn cuộn mà cho phép Phạm Phú Thứ cùng tên Trần Quang Cán ở lại cùng dùng Ngự thiện. Đây quả thật là ân đức sâu dày đến rồi tinh rối mù, Trần Quang Cán đến khi ra khỏi tử cấm thành vẫn như người mất hồn mất vía mà bay trên mây. Thật ra trong lúc gặp mặt thì Tự Đức ngoài mấy câu khen ngợi về lòng quả cảm, trung thành của cha con họ Trần ra thì cũng không quá nói nhiều chính sự. Vị hoàng đế này rất quan tâm đến chiến sự đã diễn ra mà hỏi cặn kẽ Trần Quang Cán về chi tiết các trận đánh tại Hải Dương. Nghe đến đoạn Lê Duy Phụng ban đêm hèn nhát bỏ quân chạy biến về Thái Nguyên thì Tự Đức vỗ đùi vặn tay thổn thức tiếc nuối không thôi.

Tất nhiên Tự Đức cũng hỏi Quang Cán cách nhìn về tình hình Bắc Kỳ, tất nhiên là Quang Cán biết gì nói ấy, thực ra Quang cán còn giỏi hơn đa số quan viên ăn không ngồi rồi ở Kinh thành. Những ngày qua hai cha con nhà họ Trần cũng thường xuyên trao đổi về tình hình của quốc gia. Diêu thiếu cũng không dấu diếm mà phân tích tình hình cho Quang Cán. Cán ca lại không phải kẻ ngu dốt gì, hắn chỉ mắc bệnh ảo tưởng mà thôi, vậy nên nghe Diêu thiếu phân tích thì Cán ca cũng ngộ ra đến bảy tám phần. Nói một cách công bằng nếu chỉ bàn riêng về chính sự thì khối kẻ lão làng không lại được Cán ca. Hắn là một thương nhân nhanh nhạy nên rất rõ chuyện cơm cháo gạo tiền, hắn lại có cả năm trời bị nhồi nhét các mớ phân tích thời thế một cách hỗn độn của đứa con quái thai. Vậy nên nếu nói về chém gió thời cuộc thì vị Cán ca này không hề kém ai.

- Trần ái khanh, tình hình phỉ tặc Lê Duy Phụng tại Bắc kỳ ra sao. Khanh có ý kiến gì không?

Đây chính là câu hỏi mà Tự Đức đưa ra và muốn có một câu trả lời chính xác từ Quang Cán.

- Thưa thành thượng. hạ quan xin lấy mệnh ra đảm bảo sẽ tiêu diệt quân phỉ tặc. Lúc này đây quân Vạn Ninh chỉ có một ngàn khẩu súng hiện đại nên chỉ có thể đánh đảo Cát bà. Chỉ cần mấy tháng tới được bổ xung thêm một ngàn khẩu súng thì thần sẽ binh chia hai đường mà tiến lên Thái Nguyên diệt gọn tên phỉ tặc họ Lê. Nhưng để dẹp hết phỉ tặc Bắc kỳ thì thật hạ quan làm không nổi, hạ quan chỉ dám đảm bảo Bắc kỳ yên ổn không có họa lớn mà thôi.

Câu trả lời của Quang Cán khiến Tự Đức rất hài lòng, câu trả lời này là một câu trả lời thành thật vì Tự Đức dư thừa thông minh để hiểu rằng phỉ tặc từ đâu mà có. Vậy nên nói tiêu diệt hết phỉ là nói dối, còn Quang Cán dám đảm bảo giết chết Duy Phụng thì đã làm Tự Đức vui vẻ lắm rồi. Kẻ này chính là tâm phúc đại họa khiến cho cả Bắc Kỳ gà bay chó chạy lúc này đây. Vốn dĩ chuyện dân chính không liên quan gì đến võ quan nhưng không hiểu sao Tự Đức lại ngứa miệng mà hỏi Quang Cán.

- Theo khanh, làm như thế nào mới có thể diệt hết phỉ tặc?

Quang Cán vẫn bộc trực mà nói giống y đúc những lần đối thoại cùng Diêu thiếu.

- Thưa thánh thượng, Phỉ tặc phần lớn là lưu dân không có cơm ăn mà thành, vậy chỉ cần không có lưu dân thì phỉ tặc không cần diệt cũng hết.

- Vậy làm sao để hết lưu dân.


- Thưa thánh thượng, chỉ cần tìm cho họ công ăn việc làm, rồi cấp đủ áo cơm là không lo ạ.

Tự Đức từ bấy đến nay chỉ nghe những lời văn hoa đao to búa lớn từ các quan văn bàn về dân chính. Đúng là từ trước đến nay ông chưa từng nghe lời võ tướng bộc bạch về truyện này, vậy nên nghe Quang Cán trả lời thì Tự Đức như bắt được món ăn lạ mà cố ý trêu đùa dồn hỏi.
Phạm Phú Thứ cũng một bên mỉm cười. Thông qua thư từ ông cũng biết tên môn đệ này vốn không phải kẻ bình phàm, vậy nên ông cũng mặc kệ Quang Cán trả lời mà không ngăn cản. Nều ông biết thư từ gửi cho minh hoàn toàn là Quang Diêu viêt thì có lẽ giờ đây ông đã lao lên bịt miệng tên môn đệ này rồi.

- Vậy làm sao để cấp đủ công việc, cơm ăn áo mặc cho nạn dân đây?


- Cái này… cái kia.. thua thánh thượng, muốn làm điều này thì phải thực hiện được ba việc. Thứ nhất chính là trị thủy một cách triệt để. Thứ hai đó là thực hiện công nghiệp hóa xây dựng thật nhiều nhà máy để người dân có việc làm. Thứ ba là phải nghiêm khắc trừng trị các quan lại không biết làm việc.

- Ồ thú vị… vậy khanh nói xem trị thủy ra sao?


Đây là một vấn đề cực kỳ lớn mà các quan viên trong triều đình bàn đi tính lại vẫn không có cách làm cụ thể. Tự Đức lôi ra hỏi cũng là trêu đùa Quang Cán mà thôi. Nhìn tên võ quan to lớn thô kệch lại bàn chuyện dân chính khiến Tự Đức rất thú vị. Đã lâu ông không có cảm giác chơi đùa vui vẻ như vậy.

- Cái này… thưa thánh thượng. hạ quan cũng là nghe lại người khác nói mà thôi, vậy nên hạ quan chỉ tường thuật lại. Việc trị thủy quan trọng nhất một chữ đồng bộ, nhưng từ trước đến nay việc trị thủy đều là các nơi tự mình làm đến, các quan địa phương tự mình nghĩ cách trị thủy nên chắp vá lung tung cả lên. Không nói đến một số quan viên tham nhũng tiền quỹ của thủy lợi khiến cho hệ thống thủy lợ trăm ngàn lỗ hổng. Vậy nên cần phải lập ra một ban ngành riêng chỉ chuyên lo chuyện trị thủy. Các quan địa phương chỉ có trách nhiệm hỗ trợ người, sức, mà không được tham gia chỉ chỏ ý kiến lung tung. Tất nhiên cái ban trị thủy kia phải là tập hợp tất cả những người giỏi nhất về trị thủy. Tiếp theo đó phải lên được kế hoạch trị thủy một cách đồng bộ, sau đó đồng thời thực hiện từ thượng nguồn đến hạ lưu. Chỉ có cách này mới đảm bảo thủy lợi là một hệ thống toàn vẹn.

Vốn tâm lý đùa vui nhưng giờ đây Tự Đức choáng rồi, không ngờ tên võ phu này lại có phương pháp mà là phương pháp nghe ra có vẻ không tồi chút nào.

- Vậy khanh có biết lập kế hoạch trị thủy ra sao không?

- Thưa Thánh thượng, hạ quan có nghe qua một chút như sau. Thường thì các vụ vỡ đê là do dòng chảy không có thông, mưa to nước lớn không thoát được mà gây đại họa. Chính vì vậy việc trị thủy không phải cứ đắp đê là xong. Bản chất vấn đề ở đây là nước thượng nguồn chảy xuống chứa đầy phù sa. Phù sa sẽ lắng đọng tại hạ lưu sông sau đó lòng sông hạ lưu dần nâng cao, đến một lúc nào đó độ nghiêng từ tây qua đông không còn nhiều. Đến lúc này dù có đắp bờ đê cao đến bao nhiêu thì nước cũng không thoát được từ đây vỡ đê là tất yếu. Chính vì lý do này cần đo được lưu lượng nước chảy qua từng khu vực sau đó tính toán sao cho dòng hạ lưu đầy đủ sức thoát nước, cần đo được độ dốc thủy lực để tính nạo vét lòng sông. Lúc này đây nơi cần đắp đê thì phải đắp, nơi cần nạo vét lòng sông thì phải nạo, có những nơi lại cần đào thêm dòng chảy phụ để xả lũ nếu có.

Câu trả lời của Cán Ca phải nói là rất vượt thời đại, trong này có nhiều danh từ mà cả Tự Đức và Phạm Phú thứ mới nghe lần đầu nên không hiểu được. Tự Đức không thể quay qua nhìn PHạm Phú Thứ dò hỏi, vì trong lòng Tự Đức luôn đinh ninh những lời này của Cán ca là học được tử họ Phạm. Nhưng Tự Đức lần này cũng bị dọa, ông quay qua nhìn họ Phạm thì cũng gặp nguyên ánh mắt ngỡ ngàng của họ Phạm đang nhìn mình.

- Thánh thượng, cái này… cũng không phải vi thần dạy hắn.

- Được rồi, phương pháp của Cán ái khanh rất tốt, chỗ cần vét thì phải vét, chỗ cần đắp phì phải đắp, cần lên kế hoạch đồng bộ. Do một ngành cụ thể chỉ huy thi công và chịu trách nhiệm. Những điểm này mới cần chú ý nhất. Phạm ái khanh phải nhớ rõ trong đầu, ngày mai trẫm có phen làm việc cùng nội các, khanh tham gia dự thính. Còn về Cán ái khanh, đã trả lời rất tốt rồi, nhưng có vài điểm cần làm rõ hơn đó là về cách đo lưu lượng nước… và cái gì độ dốc thủy lực, để xem chúng co thực sự cần thiết cho việc trị thủy hay không, sau đó lập báo cáo chi tiết. Phạm ái khanh đã rõ nhiệm vụ chưa.

Phạm Phú Thứ không rõ nhiệm vụ mới làm lạ, Tự Đức là đang ngại mặt mũi. Tên võ quan chết tiệt này nhìn như một con gấu nhỏ, thô bỉ to lớn đến rối tinh rối mù. Thế quái nào trong đầu lại chứa toàn kinh luân. Đến Tự Đức cũng thấy mặc cảm xấu hổ, nếu cứ ngồi vừa hỏi vừa đáp thế này thì thân làm hoàng thượng như ông cảm thấy xấu hổ chết. Vậy thì dứt khoát vứt sự xấu hổ này qua cho Phạm Phú Thứ chịu, sau đó họ Phạm sẽ lập sách mà dâng lên. Như vậy mọi chuyện đại cát. Cái này Tự Đức không phải dấu dốt hay lòng dạ hẹp hòi, ông ta cũng ham học hỏi. Nhưng phải có chừng mực, nếu tỏ ra quá không hiểu biết trước mặt thần tử sẽ mất uy nghiêm.

- Thần tuân chỉ.

- Uhm, hôm nay trẫm cũng mệt rồi, các khanh có thể lui. Vậy nhưng tam sách mà Cán ái khanh đưa ra cho Bắc Kỳ là trị thủy, trị nhân, hưng công, Trẫm muốn được thấy nó trên ngự án trước phen làm việc ngày mai của nội các. Phạm ái khanh hiểu ý trẫm chứ.


- Xin thánh thượng bảo trọng thân thể. Thần xin đảm bảo không có sai sót.

Lúc này đi ra khỏi tử cấm thành thì không chỉ có mình Cán ca lâng lâng như trên mây. Phạm Phú Thứ cũng đang run bần bận vì kích động. Xin hỏi dụ thính Nội các làm việc là cái gì, chính là nói xanh chín luôn cho nhanh đó là cơ cấu nhân vật dự bị vào nội các. Đây quả thực con mẹ nó là mộ tổ bốc khói xanh, Phạm Phú Thứ không khỏi cảm thấy không chân thực cho lắm.

Lúc này nội các gồm bốn vị các lão là phụ tá của Tự Đức bao gồm bốn người, Trương Đăng Quế, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy Tiếp. Trương Đăng Quế thì không còn xa lại gì, hôm nay Phạm Phú Thứ đã liều mạng cãi nhau vối lão già này một trận. Võ Văn Giải thuộc đảng chung dung, nói trắng ra là gió chiều nào che chiều ấy, nhưng ông ta quả thật có chân tài thực học và cũng đại diện cho một nhóm quan lại không nhỏ có tư tưởng trung hòa giữa cải cách và bảo thủ. Nói một cách ngắn gọn là đợi phe phái nào có ưu thế rõ ràng thì lao vào đầu cơ trục lợi. Nguyễn Tri Phương là năng thần trị quốc nhưng cũng là cô thần. Ông ta khồn kết bè đảng mà chỉ làm hết sức nhiệm vụ phụ tá của mình, đôi khi ông còn tự mính xung phong lao ra tuyến đầu lửa đạn. Lúc này đây Nguyễn Tri Phương vẫn là cánh tay phải đắc lực và tin cẩn của Tự Đức, nhưng ông không có mặt ban triều mà đang quần nhau với Pháp tại Nam Kỳ. Lâm Duy Tiếp là phụ thân của Lâm Duy Hiệp đại ca, lão này theo khuynh hướng cải cánh, cũng là thanh liêm đảng điển hình. Cái đức tính rắm thối của mình ông ta truyền đủ mười phần cho Lâm Duy Hiệp.


( Chú giải: Lâm Duy Tiếp và Lâm Duy Hiệp vẫn đang còn là tranh cãi, có người nói cả hai vốn cũng là một người, vì Lâm Duy Hiệp còn có một cái tên khác là Lâm Duy Thiếp. Hai từ Thiếp và Tiếp quá gần nhau nên có người đặt ra suy nghĩ trên. Nhưng ta đã tra đi tra lại nhiều tài liệu về Lâm Duy Hiệp, ông ta chưa từng làm việc tại nội các hay nhiếp chính. Vậy ra ta tin vào giả thuyết cha con. Sử sách đôi lúc có những giai đoạn đứt gãy, mong độc giả coi đó cũng là bình thường chớ ném gạch đá, truyện dù sao cũng là hư cấu có lồng ghép lịch sử mà thôi).
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 49: Chuyện bên lề



Vậy là vì tương lai của Phạm lão sư có thể nhập các thuận lợi hay không mà tên nào đó bị ép khô cả đêm để khai báo toàn bộ kiến thức mà hắn đã bị nhồi nhét trước đó. Cán ca ở lại phủ họ Phạm, nhưng sau này anh ta có thú thật lại và thốt lên một câu “ Văn quan quả nhiên đáng sợ”. Đúng vậy văn quan có một đặc điểm chính là cố chấp, khi họ đã nhận định chuyện gì đó thì sự cố chấp của họ vượt qua võ quan nhiều lần. Cho Cán ca múa đao múa kiếm mấy canh giờ hắn không thấy mệt, nhưng để ngồi lỳ một chỗ chơi theo kiểu tra tấn tế bào thần kinh thì hắn sợ đến khóc thét lên rồi. Nhưng sợ thì sợ Cán Ca cũng không dám di động mảy may, vì lão sư họ Phạm giờ chơi thật, lão đang ngồi nghiêm túc trên thư án mà chép lại những gì “tra hỏi” được từ mồm Cán ca. Nhưng bắt mắt nhất trên bàn vậy mà có một thanh thước gỗ lim dài đến hai thước, thô to không thôi. Nhìn qua cũng biết thanh thước gỗ kia có tác dụng gì, quả thật vì tương lai nhập các của mình mà Phạm lão chơi thật đấy, giờ đây lão dám cắn người như chơi. Vậy ra Cán ca chỉ còn cách ngoan ngoãn ngồi nghe hỏi cung rồi vắt óc nho ra trả lời.


Cũng may trong cái hoàn cảnh nhàm chán khủng bố này cũng có ý đẹp tình hay cho Cán ta thưởng thức. Không biết vô tình hay cố ý mà Phạm lão đại lại để cho nhi nữ là Phạm Mỹ Như mài mực. Phạm Mỹ Như năm nay đã hai mươi tuổi rồi, cô là một người con gái đã góa chồng. Phạm Mỹ Như được gả cho con trai của Lại Bộ thượng thư Bùi Văn Dị tên Bùi Văn Viện. Tên quỷ bệnh xấu xố Bùi Văn Viện cưới mĩ nhân về nhà được ba tháng thì lăn đùng ra chết, hóa ra tên này bị bệnh lao từ nhỏ ốm yếu quặt quẹo nhưng Bùi Văn Dị dấu tiệt, chỉ nói với bên ngoài là cơ thể hư nhược chút thôi. Sự việc đến thì cũng đến Phạm Phú Thứ chửi ầm lên là nhà họ Bùi làm lỡ dở đời con gái ông. Tức mình Bùi Văn Dị cũng kêu toáng lên rằng Phạm Mỹ Như số sát phu. Vậy là hai nhà từ chỗ thông gia thành oan gia kẻ thù, vốn dĩ Phạm Phú Thứ cũng rất có tài thơ ca nên kết bạn thơ cùng Tùng Thiện Vương, Phan Thanh Giản, , Bùi Văn Dị…. nhưng giờ thì hay rồi, bạn thơ cái mẹ gì nữa, giờ dùng thơ chấm biếm đả kích nhau.

Nhưng trâu bò đánh nhau ruồi muỗi mang vạ, Phạm Phú Thứ vì quá tức giận mà nghĩ không thông nên làm to chuyện. Tiếng “lành” đồn xa, cái danh sát phu của côn gái ông bốc mùi cả kinh thành rồi lan ra mấy tỉnh lân cận. Vậy là Phạm Mỹ Như góa phụ năm mười sáu tuổi mà ở đến giờ, cuộc đời này có lẽ nàng vô vọng có được một đấng trượng phu.

Phạm Phú Thứ môn đệ đâu phải chỉ có một hai người, nhưng kẻ thì đã thành gia lập thất, kẻ thì quyết không chịu lấy con gái lão. Vừa là góa phụ quá lứa, lại vừa là tiếng sát phu, quả thật mệnh sư khó cãi nhưng nói họ can tâm tình nguyện cưới Mỹ Như là rất khó. Cụ Phạm cũng biết dưa ép không ngọt nên cũng chịu thôi.

Thế nhưng hi vọng còn thì lão vẫn thử, do vậy hôm nay cụ Phạm cho Mỹ Như hầu mài mực. Còn một bên tra hỏi Cán ca như tù nhân. Quả thật Cán ca rất giống hầu tử tinh nghịch bi ép ngồi một chỗ nên ngứa ngáy khó chịu, hết quay ngược quay xuôi lại gãi đầu gãi tai. Có điều gã nhìn Mỹ Như cũng là thưởng thức một chút vì căn phòng nhàm chán chẳng có gì ngoài mỹ nhân. Vậy thì Cán ca thưởng thức thôi, cái danh sát phu của Mỹ Như hắn cũng biết, thân làm đệ tử đến cả năm trời mà Cán ca không biết mới lạ đấy. Nhưng Cán ca cóc sợ, nhìn thôi có cưới về đâu mà lo.

Gan to bằng trời, chỉ cần lúc nào cụ Phạm không để ý là Cán ca “trừng” mắt chiếu tướng mỹ nhân. Sự to gan lớn mật của Cán ca làm Mỹ Như bồn chồn xấu hổ không khôi. Mặt nàng đỏ bừng như nặn ra máu vậy, cũng may cụ Phạm đang chăm chú “hỏi cung” “tội phạm” nên nhìn không có ra.

Cuộc hỏi cung phải đến cuối giờ hợi mới kết thúc.( 12h đêm) Lúc này thì Cán ca cũng mệt đên không còn muốn trêu gẹo mỹ nhân nữa rồi. Lết cái thân ủ rũ theo hạ nhân đi về phòng nghỉ mà Cán ca rên rỉ không thôi. Tất nhiên Cán ca không thể biết được có một cặp mắt đen lay láy đang thẹn thùng nhìn trộm hắn từ phía sau.

Phải công nhận một điều đó là sức làm việc của cụ Phạm Phú Thứ đúng là siêu việt thường nhân. Hỏi cung hai canh giờ Cán ca chỉ là các thông tin rời dạc mà thôi. Lúc này Phạm đai nhân đang chấp bút mà viết lại tam pháp của Cán ca một cách văn phạm và rành mạch hơn.


Trên ngự án của Tự Đức lúc này là sách quyển mới tinh mà Phạm Phú Thứ gần như thức trắng đêm để làm việc. Nhưng kể cả chẳng chợp mắt được chút nào ngày hôm nay lão thần này vẫn tưng bừng sinh khí không thôi. Khi này còn cách phiên làm việc cùng nội các một canh giờ, Tự Đức đang ngồi nghiêm trang mà đọc tam sách do Phạm Phú Thứ viết.


- Ha ha… đọc tam sách của Phạm ái khanh thật dễ hiểu. Nghe cái tên môn đệ của khanh nói chuyện thật quá tốn công sức đi.

Tự Đức không thể không cảm khái một hồi. Mà ông nói cũng không phải vô lý, cái mà Cán ca ngày hôm qua trình tấu là văn nói, lộn xộn đến rồi tinh rối mù. Khi nghe Cán ca, Tự Đức huynh toàn phải căng hết lỗ tai ra để lọc ý chính, phân ý phụ. Nhưng bản trình của Phạm đại nhân đã giúp Tự Đức làm được việc này nên dễ hiểu hơn nhiều.


- Cách tính lưu lượng nước không ngờ đơn giản đến vậy… tốt a… có được phương pháp này thì có thể tính chính xác nhân lực vậy lực không gây lãng phí. Còn về độ nghiêng thủy lực thì cần đo đạt và tính toán rất công phu, Trẫm e rằng trong triều khó có người làm được.

- Khởi bẩm thánh thượng, cởi nút thì giao người thắt nút, cha con họ Trần hẳn là hiểu rõ phương pháp này. Thế nhưng cha con họ trọng trách trấn thủ phỉ tặc cũng không thể bỏ, vậy nên cần cử nhân tài đến Vạn Ninh học hỏi kĩ càng. Vi thần bất tài có một đứa con lêu lổng năm nay mười lăm tuổi. Tên này có thông minh vặt nhưng ham chơi bời, Thần xin phép thành thượng cho hắn nhập ngũ tại Vạn Ninh, vừa rèn mình trong quân đội, vừa học các phương pháp tính toán kia. Vi thần nguyện ý để tên lêu lổng này làm từ bộ tốt mà học hỏi lên.


- Điều này đại thiện. – Tự Đức cũng rất tán thành phương pháp dạy con này của Phạm lão. Nói đến con cái thì Tự Đức lại chạnh lòng, hắn còn không có nổi con hư để mà dạy đây.

Sự kiện Tam sách của Cán ca sẽ gây nên một trận sóng gió long trời lở đất tại Kinh thành nhưng lúc này Cán ca chẳng quan tâm được. Hắn đang tung tăng rời đi Phạm Phủ để về quê thăm vợ con. Cán ca quá sợ Phạm phủ rồi.

Trong khi Kinh đô đang nhốn nháo kẻ đi người ở thì Vạn Ninh lại tất bật kẻ vác người khiêng. Vạn Ninh đang trong giai đoạn bách phế đãi hưng nên cái gì cũng thiếu thốn nhưng có một thứ Vạn Ninh thừa mà không thiếu đó chính là nhân công lao động. Hơn năm vạn lưu dân tập chung tại Vạn Ninh khiên cho nơi đây trở nên chật chội vô cùng. Không còn cách nào khác Diêu thiếu phải tổ chức nhân công khai hoang ruộng đất. Cũng may trong vòng năm tháng vừa qua thì Vạn Ninh buôn muối lậu chưa bao giờ ngưng cả, chính vì lý do này Diêu thiếu cũng có đế hơn bảy vạn lạng bạc để có thể duy trì sự tồn tại của số lượng lưu dân khổng lồ.

Mua bán lương thực từ nơi khác để nuôi sống đám nhân công khổng lồ này là điều không tránh khỏi. Nhưng Bắc Kỳ thiên tai liên miên, lương thực dự trữ cũng không có là bao. Trung Kỳ một mảnh dài hẹp đất đai cằn cỗi tự lo được cho bản thân đã là khó rồi. Tính đi tính lại kế hoạch trước mắt Diêu thiếu chỉ có thể mua lương từ các thương nhân người Hoa.

Làm ăn với lũ thương nhân người Hoa thì Diêu thiếu cực kì căm ghét nhưng quả thật không còn cách nào khác cả, tình thế lă bắt buộc đấy. Cái lũ thương nhân nhà Thanh này có một đặc chưng đó là làm ăn dối trá, tìm mọi cách để hãm hại lường gạt đối phương. Và căm tức hơn là lũ này luôn có mục tiêu làm đủ mọi cách để đánh sập nền kinh tế của các nước lân bang. Cách làm của tụi này khá đơn giản nhưng hiệu quả. Lợi dụng nền kinh tế phát triển hơn của Đại Thanh so với các quốc gia trong khu vực, chúng sẽ tìm mọi cách xuất khẩu hàng hóa để đổi về tiền đồng, tiền kẽm hoặc vàng bạc. Vàng bạc thì chúng giữ lại, tiền đồng kẽm thì chúng cho nấu chảy đúc làm tiền giả kém chất lượng. Sau đấy lũ này sẽ mua chuộc quan viên của các nước lân bang sau đó tuồn tiền giả vào các quốc gia ấy nhằm làm rối loạn nền kinh tế của họ.

Trong lịch sử thì Đại Nam đã chịu tổn thất nặng nề không chỉ dưới một lần bởi các chiêu trò này. Sau khi quân Pháp đánh Nam Kỳ, tình hình càng hỗn loạn, thương nhân người Thanh lợi dụng làm tiền kém phẩm chất. Tự Đức ra lệnh khám xét các tàu buôn nhà Thanh, chặn các đồn ải để kiểm soát và cấm thương nhân di chuyển với số tiền quá lớn. Nhưng tình thế quá khó khăn nên cuối cùng triều đình Huế cũng phải châp nhận một số loại tiền dị dạng này, với điều kiện đồng tiền đó khá giống đồng tiền Việt về phẩm lượng.

Thời Kiến Phúc, phụ chính Nguyễn Văn Tường nhận hối lộ của người Hoa, cho thương nhân nhà Thanh mang "tiền sềnh" niên hiệu Tự Đức của họ đúc sang, bắt nhân dân phải tiêu, ai không tiêu thì bắt tội. Tiền này rất xấu, quá mỏng và nhẹ (chỉ trên dưới 1 gram), có thể nổi trên mặt nước. Tất nhiên lúc này là thời Tự Đức nên chuyện đáng tiếc kia vẫn chưa diễn ra. Nhưng Diêu thiếu là người biết rõ chuyện này nên ấn tượng của Diêu thiếu về Nguyễn Văn Tường rất là không tốt.

Lúc này Diêu thiếu cầm tiền đi mua lương thực là tiền đồng thật kẽm thật. Lũ thương nhân người Thanh sẽ không nhận tiền kém chất lượng mặc dù phần lớn những đồng tiền đó là do chúng chú tạo ra. Diêu thiếu tất nhiên ác hàn không thôi, nhưng hắn thề rằng sẽ mau thôi khiến cho cả Đại Thanh phải trả cả gốc lẫn lãi cho hắn.

Cuối tháng 6 năm 1861 cuối cùng thì các nhà máy dưới sự lao động hăng say không mệt mỏi của hơn vạn nhân công khỏe mạnh đã được dựng lên hoàn tất. Tất nhiên công lao không thể không nhắc đến các đốc công, các chuyên gia người ngoại quốc được Robert thuê về. Những người này mới là đầu não để có thể lắp giáp hoàn chỉnh các dây truyền sản xuất.

Lần này Diêu thiếu đúng là phải cầu cạnh vị Phạm Phú Thứ kia một phen rồi, số là những mối quan hệ của Diêu thiếu hầu hết đều là thương nhân, địa chủ cả. Số người đọc sách thì nhà họ Trần không có quen biết nhiều lắm. Lần này Diêu thiếu quả thật cần một số lượng không nhỏ thành phần trí thức của Đại Nam cũng như các công tượng lành nghề các ngành khác nhau. Những đối tượng này mới thực sự có khả năng học hỏi và tiếp cận công nghệ mới nhanh nhất. Các lưu dân tại Vạn Ninh chỉ có thể đảm nhiệm vai trò lao động phổ thông và cần rất nhiều thời gian để làm quen cùng công việc mới..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 50: Vạn Ninh chuyển mình (1)



Nhân vật đang phong vân một cõi như Phạm Phú Thứ mà muốn tuyển người vao lúc này thi chỉ cần hô một tiếng thôi, cả con đường trước phủ của lão sẽ tràn ngập người. Số là Diêu thiếu đã yêu cầu rất rõ là tìm người trẻ tuổi có đọc sách qua, gia cảnh không được khá giả biết chịu thương chịu khó. Mục tiêu thì Diêu thiếu cũng nói rõ muốn đào tạo họ thành giới khoa học tri thức trẻ của đất nước. Những người này sẽ được tiếp cận những công nghệ khoa học thực dụng nhất trong thời gian ngắn.

Nhưng sự thật thì Phạm lão đại lại kéo cho Diêu thiếu một đống phiền phức lớn. Người mà Phạm lão ca điều đến cho Diêu thiếu quả thật có rất nhiều trí thức trẻ, vận may không quá tốt với khoa bảng, gia cảnh thì không mấy khá giả gì. Những người này cực kì chịu khó học hỏi và tiến bộ rất mau. Nhưng Phạm lão đại bên cạnh đó cũng gửi một loạt các quý tử con nhà quyền quý tại kinh đô vốn có mối quan hệ thân cận với họ Phạm tới Vạn Ninh học tập. Cái con mẹ nó lũ này đi học cái gì, kẻ thì dắt chó, kẻ thì treo lồng chim, có kẻ còn mang theo cả ca kỹ đến doanh trại. Hạ nhân thì ít nhất mỗi cậu ấm này cũng mang đến chục đứa.

Đám công tử ca đến doanh Vạn Ninh mà cứ nghĩ như ở nhà mặt mày vểnh ngược, hất hàm sai khiến quân binh túi bụi, đã thế còn bá nam hiếp nữ. Diêu thiếu nghe đến thì tức điên, vậy là trong một buổi sách cả đám công tử ca bị bắt trói cả lượt, đám ca kỹ, hạ nhân thì bị đuổi thẳng cổ về Kinh đô. Các công tử ca chưa kịp bàng hoàng kêu la đòi quyền lợi thì chuyện tiếp theo khiến họ chết lặng. Chỉ thấy nhòe trong hai hàng lệ nước mắt ngắn dài thì chó đã bị làm thịt, chim đã bị nấu canh. Các quân sĩ đang ha ha mà tiễn những người bạn thân của đám công tử ca vào bụng.

Nhưng đó chỉ là khởi đầu trong những ngày vạn ác của đám công tử ca ở Vạn Ninh. Chỉ thấy họ bị cấm túc trong doanh, tịch thu hết quần áo và vật dụng cá nhân. Tiếp theo là được phát quân phục của binh tốt cấp bậc thấp nhất. Đây không phải là làm màu mè cho có vì chỉ ngày hôm sao những vị công tử ca này đã được đăng sách quân binh Vạn Ninh sau đó phát thẻ bài. Nhiều vị con nhà đại quan không sợ mà phản kháng vứt thẻ bài xuống đất, nhưng sau đó họ ngay lập tức hối hận không thôi. Đám quân sĩ bị họ bắt nạt trong mấy ngày ầm ầm lao lên mà đòn roi túi bụi. Đám quân sĩ là đòn thù nên đánh không hề nương tay một chút nào. Sau bài học đau đớn bằng máu và nước mắt của ngày đầu tiên thì đám này khôn hẳn ra mà biết thu liễm lại chờ cơ hội phản kháng.

Tiếp sau đó là chuỗi ngày dài luyện tập không khác gì binh sĩ thông thường là bao khiến các công tử ca mệt như chó chết. Diêu thiếu cũng không nhất bên trọng nhất bên kinh mà nhồi luôn đám trí thức con ngà nghèo vào trại cải tạo. Hàng đám thành phần trí thức trẻ Đại Nam này luyện tập chán chê sau đó là theo các chuyên gia nước ngoài học tri thức mới. Các công tử ca thi nhau viết thư báo cáo về gia đình kể khổ, Diêu thiếu cũng chả cả. Ai không chịu được thì có thể đi, hắn không quan tâm.

Nhưng thất vọng cho các vị công tử đó là thư từ gia đình ở Kinh đô gửi đến chỉ là an ủi động viên: “ Con cố cải tạo cho tốt, phụ thân ở nhà chuẩn bị tiệc rượu chờ con về”, hay “ Thằng con bất hiếu cải tạo cho tốt làm lại cuộc đời, làm không tốt lão phu xé ngươi”…. Thất vọng tràn chề các vị công tử ca cố gắng cải tạo sớm ngày hoàn lương. Công tử ca nhà giàu con quan còn phải chịu khổ như vậy nên đám trí thức nhà nghèo chả có lý do gì mà ý khiến.

Vậy là quân doanh Vạn Ninh có thêm một trung đội gần bảy mươi người toàn bộ là dân trí thức, cả ngày luyện tạp vất vả sau đó lại lăn lưng ra làm bài vở. Làm không xong dĩ nhiên cho chăn kiến dưới nắng hay gánh nước chẻ củi. Nói chung cuộc sống của các vị trí thức này không khá hơn nông nô là bao trong khoảng thời gian này.

Nhưng con người rất lạ, nếu một mình chịu khổ thì rất khó khăn, nhưng cả đám cùng nhau chịu khổ thì lại thích nghi nhanh vô cùng. Nhóm binh sĩ đặc biệt này còn phân ra làm hai phe rõ ràng và tiến hành cạnh tranh khốc liệt. Đơn giản thức ăn ngon có hạn, lều bạt tốt không nhiều, muốn dành được thứ tốt đẹp thì chỉ có thể dựa vào thành tích tốt trong luyện tập và học hành đến đổi mà thôi.

Lúc này đây nhóm trí thức con nhà nghèo lại tỏ ra vượt trội, họ chịu khổ quen, chăm chỉ quen rồi nên tiếp thu kiến thức nhanh hơn, thành tích luyện tập tốt hơn. Nên nhớ trước đây họ vì gia cảnh nên có chăm chỉ cũng khó lại với con nhà quan có điều kiện. Nhưng kiến thức toán học mới, vật lý, hóa học, kiến thức về vận hành lắp đặt dây truyền thì cả hai bên đều xuất phát từ con số không. Do đó ai chăm chỉ hơn thì người đó chiến thắng. Tất nhiên cũng có những nhân vật thông minh đặc biệt nên nếu chỉ dựa và chăm chỉ rất khó thắng lũ này. Phạm Phú Trọng là con người như vậy. Tên này chính là con trai của Hữu bộ thi lang Phạm Phú Thứ. Lần này người bất kham nhất là hắn, nhưng sau một thời gian chấp nhận số phận thì người tiến bộ nhanh nhất lại là hắn.

Mục tiêu đào tạo của Diêu thiếu không phải là đào tạo ra các nhà khoa học, các nhà phát minh. Nói đùa à, đến tận thế kỉ 21 thì giới khoa học VN cũng không ra được người kiệt suất. Vậy nên Diêu thiếu không điên mà đi theo con đường này. Hắn chỉ muốn đào tạo ra một thế hệ biết vận dụng công nghệ tiên tiến hiện nay, biết được bản chất của các công tác khoa học trong nhà xưởng. Điểm quan trọng nhất đó là biết ứng dụng và cải tiến những dây truyền đang có trong tay. Đã là người Việt thì không ai lại gì với từ cải tiến, lịch sử đã chứng minh, trong quá trình tiếp xúc công nghệ hiện đại, dưới điều kiện khó khăn thì người Việt giỏi nhất là cải tiến. Vậy nên tại sao Diêu thiếu đi vào con đường thực dụng này thì cũng dễ hiểu.

Nói đến các cụ du học đông tây kim cổ, nhưng người học thành tài có là bao. Đơn giản những vị theo xu thế cải cách mà du học. Nhưng các vị này lại chẳng thể biết mình nên học gì trong mớ tri thức hỗn động, rộng lớn như biển ở trời tây. Đâm ra các vị học về chỉ là một mớ hỗn độn lý thuyết xuông, nhưng Diêu thiếu lợi dụng sự hiểu biết của người hiện đại mà ép những thành phần trí thức trẻ Đại Nam này đi theo con đường thực dụng. Học xong là có thể ứng dụng được ngay.


Xưởng hóa học thì có hai xưởng, một là xưởng chế tạo acid hữu cơ thì đặt trong quân doanh rộng lớn. Xưởng chế tạo thuốc nổ Nitroglycerin thì được xây dựng ở một vùng hẻo lánh rất xa dân cư và có trọng binh canh gác. Mẹ cái thứ thuốc nổ Nitroglycerin này rất là không an toàn vậy nên Diêu thiếu cần hết sức cẩn thận. Xưởng điều chế nha phiến và Heroin thì hắn cho xây dựng tại làng Trúc Võng, nơi này cách quân doanh không xa. Xưởng luyện thép với năm chiếc lò nung Bessemer thì Diêu thiếu cho xây dựng gần sông Trới thuộc làng Trúc Võng. Hai xưởng dệt cũng cách không quá xa xưởng luyện thép. Diêu thiếu đang muốn biến Sông Trới thành một cảng khẩu nước ngọt dễ dàng vận chuyển nguyên liệu đầu vào đến, cũng như dễ vận chuyển thành phẩm đi bằng đường thủy. Tất cả nhà máy dường như đã hoàn tất lắp dặt không sai sót, các chuyên gia người Anh, Người thụy điển cũng đã thử vận hành một cách trơn chu các nhà máy này.

Đến lúc này thì việc tuyên hạt công nhân ồ ạt cho các nhà máy được thực hiện. Tất nhiên mấu chốt vẫn là các thợ thủ công trong những người lưu dân được ưu tiên tuyển chọn. Để người nông dân thuần túy đi làm công việc nhà máy thì tốn thời gian đào tạo nhiều hơn. Diêu thiếu đã có kế hoạch sắp xếp cho bọn họ.

Thợ rèn được tuyển vào nhà máy luyện thép, thợ dệt, thợ may được tuyển vào nhà máy dệt, Thợ nề thợ gỗ tạm thời không có xưởng đóng tàu nên tạm sắp xếp thành một nhóm tiến hành tu bổ bốn mươi chiến hạm của Vạn Ninh. Công việc tuyển thợ cho hai nhà máy hóa chất mới là trọng tâm được đặc biệt chăm sóc. Những công nhân làm ở đây cần nhất là sự cẩn thân, vậy nên Diêu thiếu phải đích thân phỏng vấn và tìm ra được hơn bă trăm người phù hợp điều kiện. Trong đó đến hai phần ba không ngờ lại là nữ giới.

Tiếp theo đó là chuỗi ngày dài tiến hành đào tạo các vị “tân công nhân” vừa chât ướt chân ráo ngày nào lao động thủ công tiến lên một bước tiếp xúc lao động cùng máy móc công nghiệp. Cũng may mắn tất cả đều là dây truyền sản xuất nên mỗi người chỉ phải thuần thục công việc của riêng bản thân mà thôi nên tiến bộ rất khả quan. Khó khăn nhất vẫn là nhà xưởng hóa chất vì bên trong có rất nhiều cảnh báo, kí hiệu chữ latin cần ghi nhớ.

Nhà máy dệt được đưa vào hoạt động trước tiên, vì lao động dệt với máy móc khá đơn giản so với các nhà xưởng còn lại nên công nhân thành thục sớm. Nguyên liệu bông thì Đại Nam cũng có, tuy rằng đã được du nhập từ Ấn độ vào Đại Nam từ thời Gia Long nhưng công nghiệp trồng bông tại Đại Nam vẫn là manh nha tự phát nên sả lượng không nhiều. Mấy ngày qua thương đoàn muối ngoài buôn muối thì mở rộng các hạng mục như buôn bông, quặng sắt, và rất nhiều vật tư khác phục vụ cho các nhà máy tại Vạn Ninh. Nguyên liệu bông gom góp hết cả Bắc Kỳ cũng không đủ cho hai xưởng dệt vận hành tối đa công suất trong hai tháng vậy nên việc nhập khẩu nguyên liệu lại là một bài toán đối với Vạn Ninh. Cũng may lúc này Vạn ninh có nhiều lao động nên họ cũng quy hoạch một số địa phương để trồng bông nhưng không nhiều. Diện tích đất Diêu thiếu còn để dành để trồng thuốc phiện và thuốc lá.

Nhưng các Đoàn thương muối Vạn Ninh toàn những con buôn máu mặt và tinh minh nên họ đã đánh hơi tấy mùi tiền nơi đây. Đoàn thương nhân này tuyên truyền khắp nơi cho bà con Bắc Kỳ trồng bông kiếm sống. Trồng bông không cần cung cấp quá nhiều nước nên có thể trồng nơi ruộng xấu, đất cao, đôi khi đất đồi cũng có thể. Vậy nên cac thương nhân này kí hợp đồng với các hộ trồng bông hứa hẹn sẽ thu mua theo giá “thị trường” mà nếu không muốn tiền thì họ sẵn sàng lấy lương thực mà đổi. Thành thử ra có rất nhiều hộ tại Bắc Kỳ bắt đầu chuyển qua trồng bông ở những thửa đất cao ráo không sợ lũ. Uy tín của đoàn thương nhân này cực lớn, họ lại sẵn sàng ứng một phần tiền giúp bà con duy trì cuộc sống đến mùa thu hoạch nên như một cơn bão càn quét, số lượng trồng bông hộ tăng chóng mặt. Điểm quan trọng là rất nhiều lưu dân chấp nhận ký hợp đồng với thương nhân giao kèo bán bông với giá “hữu nghị” để đổi lấy gói cứu trợ tạm thời qua cơn hiểm nghèo. Vậy nên lũ thương nhân khốn kiếp này đã đặt hàng được một cơ số khổng lồ bông trong vụ sắp tới với giá cả bèo bọt. Nhưng nói đi cũng nói lại, hành động này của thương nhân Vạn Ninh đã góp phần bình ổn rất rất nhiều tình hình lưu dân của Bắc Kỳ.

Xưởng luyện thép là công xưởng tiếp theo đi vào vận hành trơn chu. Các lò luyện thép Bessemer không phải nói cho có, năng xuất của chúng phải nói là đứng đầu toàn thế giới vào lúc này. Nói thật Henry Besseme cha đẻ của cái lò luyện thép này đang điêu đứng với chính sáng chế của ông khi sản lượng thép của lò Bessemer cực tốt nhưng chất lượng thì vẫn chưa đạt tiêu chuẩn thép công nghiệp. Diêu thiếu lại biết chỉ cần cho thêm một lượng đáng kể gang kính (gang chứa mangan) thì vấn đề của lò Bessemer được giải quyết. Sở dĩ Diêu thiếu biết điểm này vì Henry Bessemer suýt chút nữa mất quyền sở hữu trí tuệ vào tay Robert Mushet trong sự kiện trên. Nhưng đó là những việc của năm 1865, giờ đây Diêu thiếu mặc kệ Henry Bessemer đang lăn lộn với đám máy móc mà thử nghiệm, Diêu đại nhân đang ở Đại Nam đúc ra một loạt sản phẩm thép chất lượng và chờ tên nào đó đến lạy lục mua hàng. Tất nhiên để đúc ra những thỏi thép tấm thép chất lượng kia thì không thể thiếu rời các chuyên gia tây phương được thuê với giá cao đến Đại Nam công tác. Nhưng các công nhân của Đại Nam cũng đang tích cực học tập và chẳng bao lâu họ sẽ làm chủ công nghệ này..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 51: Vạn Ninh chuyển mình (2)



Nói quanh đi quẩn lại hai nhà xưởng hóa chất vẫn là khó khăn nhất. Công tác trong nhà máy hóa chất không phải chuyện đùa, vậy nên Diêu thiếu cực kì cẩn trọng, lúc này đã tháng 8 tức là đã hai tháng từ khi các xưởng đã lắp đặt xong nhưng Xưởng sản xuất thuốc nổ vẫn đắp chiếu chưa đi vào hoạt động. Quang Diêu muốn các công nhân phải hết sức thành thục khi công tác tại xưởng hóa chất acid hữu cơ thì mới được phép chuyển qua Xưởng thuốc nổ. Tât nhiên những người được chuyển qua là những người ưu tú nhất trong số các công nhân.

Sau một tháng vận hành, và đào tạo công nhân, tức là trung tuần tháng bảy thì nhà máy hóa chất acid hữu cơ đã lần lượt cho ra các sản phẩm acid hữu cơ khách nhau cùng các dẫn suất anhydride. Thật ra Diêu thiếu chỉ cần loại anhydride đơn giản nhất đó là Acetic anhydride để sản suất Heroin nhưng hắn cần công nhân luyện tập tay nghề nên theo quy trình mà chế tạo đủ loại. Đây cũng là giáo cụ trực quan để các học viên trí thức trẻ Đại Nam học tập. Do đó Diêu thiếu cũng không quá keo kiệt để các vị này có thể tự tay thực hiện các thí nghiệm hóa học.

Nơi nấu Heroin được đặt tại quân doanh bắc với sự bảo mật tuyệt đối không có ai được vào cả. Chỉ có những công nhân dòng chính được chuyển Từ dồn điền Trần gia ở Hà Tĩnh mới được công tác nơi đây với mức lương và đãi ngộ cao chóng mặt. Tất nhiên kèm với đó là sự hạn chế tự do của đám công nhân này. Các chuyên gia ngoại quốc là nhân vật đặc biệt nơi đây vì bất kì nơi nào họ cũng có thể tham gia. Cả Robert và Diêu thiếu đều có một nhận định chung đó là 137 chuyên gia các ngành nghề tới từ châu Âu đừng bao giờ mong được trở về tổ quốc. Họ đã hám tiền mà lên thuyền giặc thì đừng mong trở về.

Cây thuốc phiện mới được gieo trồng hai tháng nên Vạn Ninh chưa có được nguồng nguyên liệu của bản thân. Không cách nào khác Thương thuyền K&R đành phải đi Ấn độ một chuyến để mua Á Phiện. Lúc này đây sau ba tuần nấu, điều chế, lọc tinh vi với các chuyên gia hóa học thực sự thì mười tấn Á Phiện đã biến thành 500kg Heroin bạch phiến. Nhìn những hạt Heroin trắng hơn quá nhiều so với hàng mẫu khi Diêu Thiếu đưa cho tại HongKong mà hai hàng nước mắt Robert rưng rưng. Nếu không phải Diêu thiếu cố sống cố chết khuyên can thì tên quỷ hám tiền này có lẽ đã xông lên mà hít thử rồi.

Tuy phải nhập Á Phiện với giá không rẻ vì chưa có nguyên liệu đầu vào thế nhưng Heroin là mặt hàng độc quyền. Giá cả ra sao thì do công ty đinh đoạt, đâm ra kể cả là phải mua nguyên liệu thì vói 500kg Heroin này không lãi 20 vạn lạng là không có thiên lý ( 500 kg heroin vào khoản 15 triệu USD thời hiện đại, bằng khoảng 4 triệu USD lúc này tương đương tầm 45 vạn lạng ). Nên nhớ Á Phiện có mùi ngái ngái đặc chưng rất khó chịu, hút cũng rườm ra phức tạp và tốn thời gian không thôi. Còn nói về hiệu quả thì một liều heroin có thể kéo dài hơn bốn tiếng. Bên cạnh đó cảm giác mãnh liệt do hít heroin thì á phiện không thể nào so sánh được. Chỉ cần con nghiện hít được heroin một lần thì cảm giác của họ với Á Phiện sẽ thành nhạt như nước ốc.

- Kenny các hạ, chúng ta không còn vốn quay vòng rồi, bắt buộc phải đem 500 kg heroin đi chào hàng tại HongKong, Quảng Châu để kiếm lại. Từ đó chúng ta mới có thể mở rộng sản suất.

Trong văn phòng làm việc mới xây đầy phong cách hiện đại thì Diêu Thiếu và Robert đang tiến hành bàn bạc.

- Cái này thì tôi chấp nhận. Nhưng nếu chỉ đem mớ bột này đi chào hàng thì không thể nào gây được tiếng vang và hiệu quả tốt. Chúng ta phải tiến hành một chương trình quảng cáo rầm rộ. Tiếp theo đó là nhãn mác, bao bì phải có và đặc biệt. Thêm vào nữa là bán kèm dụng cụ hút Heroin. Robert các hạ ngài không tính cầm một nắm bột như bột gạo trong tay đi chào hàng chứ?

- Kenny các hạ đi theo ngành binh nghiệp thật phí tài.


- Tôi vẫn làm thương nghiệp thôi.

- Ha ha cũng đúng, chúng ta cạn ly.


- Robert các hạ, chúng ta đang uống café.

- Khụ khụ.


………………….

Ngày 12 tháng 9, Robert lên thương thuyền mang theo 500 cân Heroin đầu tiên trên thế giới tiến về Hongkong. Tất cả heroin đều được chia ra và đóng gói cẩn thận thành các đơn vị nhỏ nhất là bốn lượng tư (340g). Nhóm heroin này được bọc hai lớp giấy, phía trong là dấy dầu, phía ngoài là dấy cứng được in bao bì nhãn mác công ty K&R. Lần này Diêu thiếu thất sách khi không nhập khẩu dây truyền sản suât giấy và dây truyền in ấn. Hắn quyết định làm vài phi vụ ma túy có lãi sẽ đầu tư thêm một loạt các dây truyền sản xuất khác nhau. Kèm theo lô mà túy kể trên thì Diêu thiếu cho thợ thủ công đúc một loạt các dụng cụng dùng để hơ ma túy. Có bằng thép, đồng, và tất nhiên có cả bằng bạc cho các đại gia nếu họ muốn mua. Tất nhiên các sản phẩm này chỉ là phụ chả kiếm được bao tiền cả, nhưng đây là phương thức quảng bá cách dùng sản phẩm mới nên hắn không thể không chú ý. Tất cả sản phẩm đều có logo công ty K&R chói mắt.


Lần này tiền vốn của công ty bán lô súng cho triều đình đã kệt quệ. Bản thân tiền riêng của Trần gia cũng không còn chút nào, tất cả đều chỉ có thể dựa vào lô ma túy này để kiếm tiền về mà thôi. Xưởng dệt thật ra cũng kiếm khá trong hai tháng qua với lượng vải bán trong nước đã đạt doanh số 5 vạn quan. Xưởng thép thì chưa có nơi nào đặt hàng mua nhưng Diêu thiếu nhìn về hướng kinh thành Huế mà không hề lo lắng. Xưởng vũ khí nơi đó đã lắp đặt xong, họ không cong đuôi đi mua thép của Diêu thiếu mới lạ. Tiền của nhà họ Trần trống rỗng đa phần bởi mua lương thực ứng trước cho nạn dân đã đến Vạn Ninh. Nhưng chỉ cần duy trì được đến mùa thu hoạch thuốc phiện thì tình hình trên sẽ chấm dứt hoàn toàn.

Thành thử ra lúc này tại Vạn Ninh chỉ có nhà máy dệt thuộc dạng ăn nên làm ra nhất khiến ai cũng đỏ mắt không thôi. Nhu cầu vải vóc sử dụng trong dân chúng là cực kì lớn, đặc biệt vải thô của Vạn Ninh chất lượng cực tốt, giá thành lại rẻ do sản suất công nghiệp nên được chào đón mãnh liệt. Chỉ là vải vẫn nhuộm thủ công nên màu sắc không đa dạng mà thôi.


Về tình hình quân sự của Vạn Ninh cũng dẫm chân tại chỗ, vì không có tiền, không có tàu ( thuyền K&R bận bựu chạy loăng quăng quanh Đông Á) nên Diêu thiếu không thể bổ sung vũ khí trong quân. Chính vì lý do này hắn không thể mạo hiểm đem hạm đội tấn công trực tiếp lên Cát Bà cho được. Vậy nhưng cho dù Diêu thiếu bận rộn với xây dựng nhà xưởng tại Vạn ninh nhưng hắn không bỏ bê chuyện luyện quân. Mấy tháng nay 3 ngàn năm trăm quân Vạn Ninh thay nhau xuất kích tiễu phỉ ngoài khơi. Có chuyên gia thủy chiến ngườ Mỹ nên Vạn Ninh thủy quân cũng tự tin chiến đấu, Vì thuyền mới trang bị nhiều pháo cộng thêm các pháo thủ rất lành nghề nên Vạn Ninh dễ dàng đàn áp các nhóm nhỏ hải tặc. Cát Bà đảo hiện nay dăng tai mắt khắp xung quanh Vạn Ninh thủy doanh. Chỉ cần Vạn Ninh xuất quân là họ ba chân bốn cẳng chạy về hang ổ ngay lập tức.

Những trận thắng nhỏ vẫn đều đặn được báo về triều đình. Cán tướng quân càng thủy chiên càng lành nghề, giờ đây chuyên gia người Mỹ chỉ đảm nhiệm khả năng tham mưu mà thôi. Phần lớn là Cán ca chỉ đạo thủy chiến. Giấc mơ cưỡi ngựa xung trận của Cán ca lại biến thành cưỡi chiến hạm mất rồi.

Do danh tiếng quân Vạn Ninh quá lớn, cũng do thương nhân giúp đỡ nạn dân chuyển nghề trồng bông và cứu tai kịp thời nên trong mấy tháng qua tình hình Bắc Kỳ yên ổn một cách bất ngờ. Nhưng trái với Bắc Kỳ đang tạm thời thái bình thì Nam Kỳ đang chiến hỏa hừng hực.

Trung tuần tháng bảy năm 1861, Hoàng Diệu dẫn một vạn năm ngàn Tân kinh quân vào nam tiếp viện cho lính của Nguyễn Tri Phương và Trương Định. Ba vị danh nhân lịch sử Đại Nam cuối cùng cũng được cùng nhau bắt tay tác chiến.

Tháng 4 năm 1861, quân Pháp chiếm Đại đồn Chí Hòa, Mỹ Tho. Trong lịch sử thì khi Đại Đồng Kỳ hòa mất triều đình lập tức cho Nguyễn Bá Nghi làm Khâm sai Đại thần thay Nguyễn Tri Phương. Nhưng sự giao sự suất hiện của Quang Diêu làm lịch sử vặn vẹo hết cả. Lúc này Tự Đức vẫn kiên trì để các lão Nguyễn Tri Phương làm Khâm sai Đại thần. Lại cũng trong thời gian này Thiếu tướng Louis-Adolphe Bonard thay thế Charner, nếu trong lịch sử thì tên thiếu tướng này dễ cho quân Pháp chiếm thêm Biên Hòa và Bà Rịa tháng 12 năm 1861. Nhưng lúc này đây mọi chuyện không còn dễ dàng với quân Pháp nữa rồi. Đội quân tinh nhuệ vào bậc nhất , hiện đại vào bậc nhất của Đại Nam đã có mặt. Hoàng Diệu thề rằng có chiến đấu đến hơi thở cuối cùng cũng không thể để cho Quân Pháp tiến thêm một bước. Một cuộc chiến hiện đại cực kỳ khốc liệt chuẩn bị diễn ra.


Thật ra Hoàng Diệu đã thấm nhuần cách đánh du kích của Diêu thiếu đã bày cho khi tham gia huần luyện cho tân Kinh quân . Chính vì lý do này ông rất phản cảm với triết lý đánh trận của Nguyễn Tri Phương. Cách đánh trận của Phương các lão đã lỗi thời vì nó chỉ có thể hiệu quả trong thời chiến tranh thời trung cổ với vũ khí thô sơ mà thôi.

Nguyễn Tri Phương sử dụng sức mấy vạn dân, quân trong gần một năm để xây dựng nên Đồn Chí Hòa. Đại đồn dài 3.000m, rộng 1.000m, được chia làm năm khu bằng nhau, ngăn cách bằng một bờ rào gỗ có cửa. Tường đồn được xây bằng đất sét và đá ong, cao 3,5m, dày 2m, có rất nhiều lỗ châu mai. Trên mặt tường đồn, bố trí 150 đại bác các cỡ bắn bằng đạn gang. Bên ngoài đồn có nhiều lớp rào tre, nhiều mô đất, nhiều ao nước và vô số hố chông. Quả thật đây có lẽ được coi là một đại đồn kiên cố nếu vẫn là chiến tranh của trăm năm trước đây.

Ý đồ của Nguyễn Tri Phương rất rõ ràng đó xem Đại đồn giống như cái thân hình đồ sộ của một lực sĩ giang hai cánh tay (hai chiến lũy tả hữu) ôm lấy Sài Gòn - Chợ Lớn, Chặn địch không thể từ sông tiến lên bờ . Nguyễn Tri Phương tưởng đâu quân Pháp không thể bước qua Đại đồn nổi, cam chịu co rút trong Sài Gòn cho đến ngày phải rút đi như chúng nó đã rút đi khỏi Đà Nẵng . Nhưng sự thật chứng minh đây là một quyết sách quá sai lầm.

Đại đồn là một cái đồn rộng quá, chiều dài 3.000 mét, chiều ngang 1.000 mét. Nó thiếu cao thừa rộng, mặt thì yếu (hai bên hông), mặt thì mạnh (mặt tiền ngó ra sông Sài Gòn), nên quân của đối phương dễ leo vào, đánh xuyên hông, đánh bọc hậu.

Về vũ khí, trên mặt tường đồn, có 150 đại bác đủ loại, nhưng phần nhiều là đại bác bắn đạn gang, sức sát thương hết sức có hạn. Nếu là chiến tranh thời trung cổ với vũ khí thô sơ, thì đại đồn có thể xem như khá kiên cố...nhưng ở đây nó phải đối chọi với những vũ khí hiện đại, hùng hậu, có sức công phá mãnh liệt thì Chí Hòa Đại đồn lại yếu đuối vô cùng.

Tuy có chủ trương "vừa công vừa thủ", Thống tướng Nguyễn Tri Phương vẫn án binh bất động , ông tập trung sức lực quân dân (khoảng 50.000 người) không phải vào việc đánh mà vào việc xây dựng Đại đồn Chí Hòa nhằm bao vây địch chặt chẽ hơn, tính không cho địch bung ra rộng hơn nữa...(Để rồi) Đại đồn xây dựng gần một năm với công sức của mấy vạn quân và dân, chỉ bảo vệ được hơn một ngày thì mất!. Đại đồn Chí Hòa, biểu hiện chiến lược phòng thủ tai hại của tướng Nguyễn Tri Phương..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 52: Chiến hạm Lumière



Dù có bất mãn như thế nào về chiến thuật của Nguyễn Tri Phương thì Hoàng Diệu cũng không dám nói qua ngoài. Nên nhớ Nguyễn Tri Phương vẫn là thống quân chống Pháp tại Nam Kỳ. Thật ra Hoàng Diệu cũng không có tư cách trách cứ Nguyễn Tri Phương, nếu để cho Hoàng Diệu chưa học hỏi qua binh pháp hiện đại của Diêu thiếu thì chắc gì hắn có thể đánh tốt hơn Nguyễn Tri Phương thống binh đây.

6 giờ sáng ngày 27 tháng bảy năm 1861. Sông Phước Long ( sông Đồng Nai) đoạn Cù Lao phố nối đến bến cảng bờ sông dẫn đến Trấn Biên thành một đoàn thương thuyền gồm năm chiếc ghe nhỏ đang bí mật chạy chèo trên sông. Hành vi của năm chiếc ghe này quả thật rất lén lút. Trên những chiếc ghe nhỏ nặng nề này chứa đầy gạo trắng được phủ vải dầu chống thấm, nếu nhìn qua thì đây có lẽ là một đám buôn lương thực. Trên các ghe thuyền thì các tay chèo thuyền đang ra sức hết mình khiến cho các ghe này bơi thật nhanh về phía Trấn Biên.

Nhưng thật không may cho các thương gạo này vì họ đâu biết rằng phía trước mình là một chiến hạm của quân Pháp đang tuần tiễu trên đoạn sông này. Tiểu hạm Lumière là một tàu gỗ có chỗ được bọc đồng chạy bằng hơi nước, có thể ra vào những luồng lạch cạn, được trang bị một đại bác cùng nhiều vũ khí đa năng. Đây là một trong những tàu thuộc hàng bậc nhất của hải quân Pháp lúc bấy giờ. Chỉ huy tàu là Nicolas , một trung úy hải quân trẻ tuổi, cùng 50 lính thủy người Pháp cùng 27 tên việt gian làm việc cho giặc.

Thời gian này Thiếu tướng Louis-Adolphe Bonard thay thế Charner lên làm thống binh quân viễn chinh Pháp tại Đại Nam, tên thiếu tướng này có ý định mở rộng việc chiếm đóng lên Trấn Biên ( Biên Hòa) cùng Bà Rịa. Chính vì lý do này nên để chuẩn bị cho cuộc đổ bộ thì hắn đã cho bốn tiểu hạm tuần tiễu trên sông Phước Long nhằm nắm rõ địa hình cũng như tiêu diệt các cơ sở phòng thủ nhỏ bên bờ bắc sông Phước Long nơi dẫn đến Trấn Biên cũng như Bà Rịa. Sông Phước Long mực nước rất sâu nên kể cả trung hạm hay thuyền đổ bộ của quân Pháp vẫn có thể dễ dàng qua lại. Nhưng nếu để cơ động tuần tiễu cũng như khóa chặt tuyến đường sông thì các tiểu Hạm như Lumière lại có ưu thế hơn.

Bốn tiểu hạm được bố trí trên sông Phước Long của quân Pháp bao gồm Lumière( ánh sáng), Espérance (hy vọng, tiểu hạm này trong lịch sử sẽ bị Quyền Quản binh đạo Nguyễn Trung Trực đánh chìm trên sông Nhật Tảo), Gagner và Expédition ( tác ko biết nghĩa).

Lúc này đây trên boong chiến Hạm Lumière một tên lính hoa tiêu người Pháp la lớn báo động cho toàn bộ thủy thủ đoàn. Hóa ra thông qua kính viễn vọng thì tên này đã nhìn thấy năm chiếc thuyền buôn bé nhỏ. Quân Pháp vội vã chuyển hướng chiến hạm Lumière chắn đầu năm chiếc ghe trên sông.


- Bọn bay là ai, qua đoạn sông này làm gì? Mau vứt vũ khí nếu không chúng ta bắn.

Trên chiến hạm Lumière chiếc đại bác duy nhất đã chĩa cái họng súng đen đòm về phía năm chiếc ghe. Bên cạnh đó các binh lính người Pháp cũng lố nhố lên cò súng và vào vị trí. Tất cả hơn năm mươi họng súng chỉ về phía các lái buôn gạo kia.

Chỉ thấy trên ghe thuyền các thương lái cùng chèo thuyền loạn lên một đoàn, có người sợ hãi quá còn nhảy cả xuống sông bất chấp đang ở giữa dòng mà bơi vào bờ. Hành động này khiến cho quân Pháp cùng lũ cộng sự người Việt cười hô hố, vui vẻ.

Cac lái thương vẻ mặt rất bất đắc dĩ ra lệnh vứt hết đao kiếm là vũ khí tự về của đoàn buôn xuống sông.

- Các đại quan, chúng thôi là thương nhân buôn gạo thôi, xin cho chúng tôi nạp tiền qua đường được không?

Một vị thương nhân có vẻ như là người đứng đầu của đám người đứng lên hô to về phía chiến hạm Lumière.

Tên thông dịch viên vội vã nói lại với vị thiếu úy Nicolas. Thật ra quân Pháp đánh trận tại Đại Nam cũng có lúc khó khăn, cũng có lúc thuận lợi nhưng trên sông và trên biển thì quân Pháp là bá chủ ở Đại Nam lúc này. Trên bộ thì quân Pháp còn phải công thành chiếm đất, vậy nên thương vong là rất lớn. Nhưng trên biển cùng sông thì quan Pháp lại chưa từng gặp đối thủ. Thuyền Chiến của Đại Nam trang bị quá tồi tàn, pháo của Đại nam là bắn đạn gang tầm bắn chưa đầy 400m trong khi đó đại bác bé nhất của quân Pháp tầm bắn cũng là 1km cộng thêm có thể bắn đạn nổ. Thuyền của Đại Nam không động cơ, không bọ thép. Nói đến như vậy để hiểu rõ chênh lệch thủy binh của hai bên . Vậy nên trên sông trên biển quân Pháp lấy tư thế nghiền ép mà đánh quân Đại Nam. Nicolas đồng ý gật đầu, vì thật ra việc thu tiền mãi lộ này không có gì nguy hiểm, nửa tháng nay Nicolas thu tiền mãi lộ của thương nhân trên sông Phước Long đến nhuyễn cả tay rồi.

Một chiếc thuyền nhỏ được thả xuống từ tiểu chiến hạm Lumière. Sau đó năm tên lính người Việt cộng thêm một tên Lính pháp tiếp cận năm chiếc ghe nhỏ để tiến hành thu thuế và kiểm tra.

Mấy tên công tác người việt rất thành thạo lật từng lớp vải dầu lên kiểm tra cẩn thận hàng hóa. Bỗng nhiên một tên việt gian bỗng nhiên hô lớn.

- Á phiện, là á phiện.

Thì ra tên lính việt đầu quân cho Pháp đã “vô tình” phát hiện được á phiện dấu dưới lớp gạo kia.

Lúc này thừa dịp không để ý các tay chèo thuyền nhảy cả xuống sông chạy trốn chỉ còn lại một mình vị thương nhaanh đang đứng đó run rẩy mặt xám như tro tàn.

- Là á phiện thưa thiếu úy đại nhân.
Tên phiên dịch người Việt vội vã xum xoe bên cạnh Nicolas.

- Vậy thì thu hết đi.

Nicolas cảm thấy hôm nay khí trời thật đẹp, tư nhiên đi tuần như thường lệ lại thu được một đám nha phiến như vậy. Nha phiến đó, trị giá như thế nào thì ai cũng biết, cả hai tuần qua thu tiền thuế của mấy cái ghe gạo, ghe muối chả đáng là bao nếu đem so với món hời hôm nay. Nicolas trong lòng thật vui vẻ. Nhưng lúc này tên thiếu úy bỗng thấy tên binh sĩ người việt đang xì xồ to nhỏ gì đó với tên phiên dịch.

- Thưa thiếu úy, Tên binh sĩ kia nói những tên buôn lậu Á Phiện này thường có hang ổ, nơi đó thường dấu nhiều hơn á phiện cùng vàng bạc. Chúng ta có nên tra tấn tên thương nhân kia một lượt rồi ép hắn khai ra….?

- Vậy thì làm nhanh đi còn chờ gì nữa?

Nicolas vội và ra lệnh.

Bốn tên lình việt lôi gã thương nhân buôn á phiện lên thuyền Lumière mà đánh đập tàn nhẫn. Cuối cùng vì không chịu nổi đòn roi mà tên thương nhân cuối cùng phải khai ra tên tuổi cộng thêm vị trí kho cất dấu bí mật Á Phiện cùng vàng bạc.

Vào thời gian này thì hai bên bờ sông Phước Long vẫn là bãi lau sậy hoặc cây sú mà thôi. Chỉ có một vài bãi sông thoáng đãng có các con lộ dẫn đến thành trấn là dược dọn sạch sẽ. Cái thời này các bãi lau sậy tại miền nam rất nguy hiểm, bạn sẽ không biết được lúc nào sẽ có một anh Sấu lao ra và nhét bạn vào bụng làm một bữa tráng miệng.

Hang ổ của tên thương nhân á phiện có tên Hồ Quang Chiêu này không ngờ lại là một bãi sông khá thoáng đãng rất bí mật nằm bên phải Cù lao phố 2km. Lúc này đây Lumière tiểu hạm từ từ đi sát vào bờ, tất nhiên vì lo sợ mắc cạn nên Lumière không thể tiếp cận quá gần. Quân pháp đành phải thả thuyền nhỏ để vào bờ tìm kho tàng của tên thương nhân.

Phải mấy lượt vào ra thì quân Pháp mới đưa được 27 lính Anam và 5 lính Pháp cập bờ và sắp xếp đội ngũ. Sở dĩ phải đưa nhiều người như vậy lên bờ vi tên thương nhanh bị đánh cho té đái mà khai rất chi tiết. Hóa ra kho hàng của tên thương nhân này là một kho hàng khá lớn vì vậy lực lượng bảo vệ khá đông đảo. Có đến gần 30 tên vũ trang đao kiếm cộng thêm một số súng hỏa mai. Tất nhiên những tay buôn lậu Á Phiện luôn là những tay trùm cự phách, trang bị vũ trang như vậy chỉ là chuyện binh thường mà thôi.

Chẳng bao lâu trên chiến hạm Lumière đã nghe thấy tiếng súng nổ đùng đoàng cùng tiếng la hét chứi bới,tiếng đao thương chạm nhau leng keng từ rất gần phía trong rừng truyền đến.

Một tên lính pháp hớt hải lao ra từ phía rừng mà chạy về phía bờ sông rồi hét lớn về phía thuyền.

- Thiếu úy tăng viện. Kho hàng rất lớn, mấy thằng lính da vàng Anam không địch lại đối phương, cần thêm hỏa lực.

Tên Lính pháp này hô rất to và rõ ràng, đây chính là muốn quân Pháp với súng trường hiện đại nhanh chóng chấm dứt lần đột kích này. Kho hàng mà tên lính pháp nhìn thấy quá đồ sộ, với số lượng hàng hóa kể trên chỉ cần được chia một phần đã giàu to, vậy nên tên lính pháp này sốt ruột mọt vạn lần.

- Mẹ lũ Anam da vàng vô dụng, tăng viện 20 người tến vào đạp bằng khu lều trại đó cho ta, cẩn thận đừng gây lửa cháy.
Tên thiếu Úy Nicolas lầm bầm chửi thề bằng tiếng Pháp sau đó ra lệnh tăng viện cho nhánh quân trê bờ. Chiếc thuyền nhỏ dùng để đổ bộ lai ra ra vào vào hai lượt để tiến hành đưa lính Pháp vào bờ.


Trong một bụi cỏ nằm cách khu “kho tàng” bí mật của tên thương nhân á phiện có một đám cây bụi đang hơi nhúc nhích.

- Nằm yên ngươi muốn chết à.

Một tiếng thì thầm bé như muỗi kêu vang lên.

- Em buồn tè.

- Tè tại chỗ đi.

- Vâng. Vậy nhưng khi nào nổ súng.

- Nói ít thôi kẻo bị phát hiện.


Hai giọng nói thì thầm cứ như vậy kêu vo vo trong bụi cỏ, nhưng quả thật nếu đứng cách xa tầm 20m thì không thể nào phát hiện được nơi này có người.

- Con mẹ mày tè cả vào chân tao.

- Xin lỗi xin lỗi, của em hơi vênh, vừa nằm vừa tè rất khó.

- Tập trung vào, quân Tây mà tiến vào là nổ súng.

- Anh không cần hạ giọng đâu, chúng nó đang đánh nhau ầm ầm với cảm tử quân trong trại, không nghe thấy gì đâu.

- Đây là quân lệnh của Hoàng tướng quân hiểu không, bớt mồm, ngụy trang là quan trọng nhất.

- Hiểu.


Cách đó không xa là vị tướng quân họ Hoàn của chúng ta. Phải nói rằng vị tướng quân này đã chấp hành triệt để nhất tất cả các phương thức trong yếu lược chiến tranh du kích của Diêu thiếu. Lão đang đội một chiếc nón thép mỏng đúng kiểu nón bảo hộ của lính Mỹ hay lính ngụy những năn thế kỷ 20. Chiếc mũ này là do hai lá thép mỏng gò thành hình bán nguyệt mà gép lại vói nhau bang một loạt đai. Đây cũng là vì công nghệ luyện thép của Đại Nam còn yếu nên không thể chế một chiếc mũ thép nguyên tấm. Nhưng kể cả như vậy thì đây vẫn là chiếc mũ bảo hộ tân tiến nhất lúc này cho bộ binh rồi. Nên nhớ lúc này là thời đại bắn nhau bằng súng ống. Các binh sĩ toàn lấp ló sau công sự mà bắn nhau, trừ xung phong ra thì có lẽ cái gáo dừa là hay bị lộ nhất, chính vì thế mũ bảo hộ rất được Diêu thiếu quan tâm. Đây là chiếc nón bảo hiểm bắt buộc tại Vạn Ninh. Vì nể tình đồng chí với Hoàng Diệu mà Diêu thiếu quyết định lấy ra một ngàn cái từ quân Vạn Ninh tặng cho tân Kinh quân. Về đến triều đình thì Hoàng Diệu lập tức cho chế tạo thêm mười ngàn chiếc mũ loại này. Phải nói là Tự Đức cực kì hi vọng vào tân kinh quân nên rất chịu chơi, Hoàng Diệu xin xỏ Tự Đức duyệt ngay.

Nếu so sánh số công tượng thì Vạn Ninh chỉ là con tép trên mép con mèo so với Huế. Vậy nên Diêu thiếu lúc chưa có các nhà máy thì phải cong đít mất mấy tháng mới chế được hai ngàn năm trăm cái nón bảo hiểm. Nhưng Hoàng Diệu chỉ mất một tháng là chế được 10 ngàn cái với chất lượng tốt hơn hàng gốc tại Vạn Ninh.

Nón bảo hiểm của Hoàng Diệu cũng như các tân Kinh quân đều được bọc vải thô màu xanh lá cây. Trang phục của tân Kinh quân cũng là trang phục cài cúc khá hiện đại gần giống như trang phục Tây Âu. Đây cũng là trang phục quân của Vạn Ninh. Vốn Diêu thiếu muốn cách tân hoàn toàn cho giống nguyên quân phục châu Âu nhưng hắn khong dám. Hắn sợ triều đình mấy tên ngôn quan nói ra nói vào. Vậy nên Diêu Thiếu vẽ bừa một mẫu quần áo lai giữa âu và á. Quan trọng là quần có túi, có đai lưng, có khuy quần. Áo cũng có khuy tiện cởi ra mặc vào. Hoàng Diệu đã học thì học bằng hết nên tân Kinh quân không khác là bao với Vạn Ninh quân mở rộng.

Quan trọng vì chiến thuật du kích thì sắc phục của tân Kinh quân tuyền một màu xanh lá cây. Vì thời này thuốc nhuộm xanh lá cây hiếm có, vậy nên đây cũng là một khoản đầu tư lớn. Nhưng vì khẩu hiệu “Tất cả vì Đại Nam hùng mạnh” Tự Đức cắn răng. Tất nhiên tân kinh quân là đội quân sắc phục xanh lá duy nhất tại Đại Nam. Diêu thiếu ở miền bắc chẳng phải đánh du kích với ai nên hắn cũng lười đầu tư. Sắc phục quân Vạn Ninh là một loạt màu nâu của áo bà ba. Rất rẻ, rất dễ nhuộm, tiết kiệm vô cùng.

Quay trở lại với Hoàng Diệu lúc này, mặt hắn chát đầy bùn đất, giờ đã khô rồi, nón bảo hiểm gắn đầy cành lá cây bụi, Trên lưng cõng ba lô cũng là gắn cây cỏ xum xuê. Trong tay lăm lăm một khẩu súng trường cũng bọc vải xanh lá cây che che lấp lấp.

- Hoàng tướng quân. Vẫn chưa tấn công sao, cảm tử quân trong doanh chịu không nổi.

- Trương Định tướng quân, tính túy nhất trong du kích chiến là nhẫn nại, ngài luôn phải nhớ lấy.

- Hạ quan thọ giáo.


Một tên lính nằm bên cạnh Hoàng Diệu với trang phục không khác gì cả chỉ có điều trong tay hắn là đao mà không phải súng. Vị này là Trương Định tướng quân đại danh đỉnh đỉnh. Nhưng lúc này đây Trương tướng như học trò đi theo sau Hoàng tướng để thụ giáo về binh pháp..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 53: Đại thắng.



Cũng không chờ quá lâu sau hai mươi lính pháp tăng viện vội vã tiến về “hang ổ” của thương nhân buôn nha phiến.

- Tấn công.

Hoàng Diệu hô to một tiếng sau đó nhắm kĩ một tên Pháp đi đầu mà nã đạn. Đừng có đùa với Kammerlader. Súng này tầm chính sách trên dưới 200m tức là nếu hai bên Pháp, Đại Nam lập chiến tuyến xa hơn 200m mà bắn nhau đi đoàng thì Đại Nam bất lợi hoàn toàn vì Minire Rifle tầm chính xác lên đến 350-400m. Nhưng đây là quân Đại Nam đang phục kích quân Pháp vào phạm vi nổ súng hiệu quả của Kammerlader vậy nên ưu thế của Pháp quân là không có gì.

Sau tiếng súng nổ của Hoàng Diệu là tiếng súng nổ đình đùng khắp nơi xung quanh cái “hang ổ” nha phiến vang lên. Hơn hai mươi tên lính pháp cùng một số tên việt gian ngã xuống trong vũng máu, không một tên lính pháp nào chạy thoát. Họ chính là đối tượng hạ sát được tân kinh quân quan tâm trọng điểm.

Từng bụi cỏ lay động, từn khóm cây lay động rồi đứng lên di chuyển. Rau má đậu xanh, vậy mà xung quanh có phai phục đến 300 người, thế này mà cũng gọi là đánh du kích sao? Dĩ nhiên là đánh du kích phiên bản Hoàng Diệu rồi, binh thư là chết người là sống, cùng một quyển sách nhưng một trăm người đọc thì ít nhất cũng có năm mươi cách lĩnh ngộ khác nhau.

Một trăm năm mươi phát đạt trọng lượt nổ súng đầu tiên thế nên chia đều cho hơn năm mươi vị tặc nhân nơi này thì ít nhất mỗi vị cũng hưởng đến ba phát vào người. Tân Kinh quân là quân đội hiện đại chính quy do Tự Đức không tiếc tiền mà xây dựng thế nên đám này bắn tập hàng ngày như vãi đạn. Không giống thư thần cớ doanh súng hỏa mai một năm bắn sáu viên đạn thật. Để cho đám tân Kinh quân hung hãn với vũ khí mới có thười gian căn chỉnh ngắm nghía thì đừng mong may mắn thoát thân.

Mười mấy tên hán gian sợ té đái ra quần mà vứt vũ khí hai tay ôm đầu quỳ xuống xin hàng.


- Trói đám này lại, chúng ta ra bờ sông xem sao.

Hoàng Diệu soái ca ra lệnh, sau đó đám cam tử quân làm mồi nhử trong danh trại nha phiến giả như hùm như beo lao ra mà trói gô đám hán gian còn sống lại. Đoàn quân áo xanh lục trên người gắn đầy cây cối lục đục tiến về phía bờ sông.


Trên chiến hạm Lumière thiếu úy Nicolas đang rất ngạc nhiên khi tiếng súng vang lên quá nhiều. Hắn chỉ cử thêm có hai mươi lính mà thôi, nhưng tiếng súng vang lên từ khu rừng gần đó lại như có cả trăm vậy. Vẫn đang ngỡ ngàng về sự bất ngờ này thì Nicolas nghe thấy tiếng la thất thanh của quân Pháp trên chiến hạm.

- Bao vây, chúng ta bị bao vây…

Thì ra lúc này từ khắp nơi trên mặt sông thình lính xuất hiện các thuyền nhỏ của người Việt đang lao đến tiếp cận chiến hạm Lumière. Những chiếc thuyền tấn công chiến hạm Lumière của người Đại Nam Rất là nhỏ tất cả chỉ dài cỡ năm sáu mét mà thôi. Mỗi thuyền này có bốn mái chèo, có mái che phía trên để chăn đạn. Hai bên sườn cũng có tấm ván bọc đồng chắn đạn và có lỗ châu mai. Đây là đại sát khí đánh du kích trên sông mà Hoàng Diệu tự mình nghĩ ra. Các con thiền này nếu nhìn kĩ thì vẫn còn lác đác cành lá, cây cỏ chung quanh. Có lẽ họ đã ngụy trang rất kĩ hai bên bờ sông này , giờ đây thời cơ đã tới nên họ lao ra ngoài, nhưng có lẽ vì vội mà chưa thanh lý hết ngụy trang.


- Đại bác khai hỏa…
- Các binh sĩ thủ sẵn hai bên mạn tàu, bắn tự do không cho chúng tiếp cận.
- Tăng tốc thuyền hướng về Đông nam

Một loạt mệnh lệnh từ Nicolas được ban ra, tên thiếu úy này cũng không phải tay mơ.

Đại bác Pháp uy lực rất lớn, nó là bắn đạn nổ nên sức công phá vô cùng mạnh. Nhưng các tiểu thuyền của Đại Nam lại như một bày sói đang phân tán mà tấn công con mồi. Quan trọng là tiểu hạm Lumière như một con voi già ngu ngốc mà tiến lại quá gần bày sói ngụy trang. Vậy ra khi bị phát hiện thì đã có những thuyền nhỏ của quân Đại Nam chỉ cách tiểu hạm Lumière 300 m mà thôi. Mà tốc độ của những thuyền nhỏ này cực nhanh, chẳng mấy chốc chúng sẽ tiếp cận được mà thôi.

Oành một tiếng thì ra đại bác 8 pound của chiến hạm Lumière đã khai hỏa, một chiếc tiểu thuyền Đại Nam ngoài 400m vỡ tan thành từng mảnh, gỗ vụn, mảnh thi thể văng khắp nơi trên mặt sông, nhưng hiệu của của phát đại bác này cũng chỉ dừng ở đó, vì khoảng cánh đội hình các tiểu thuyền Đại Nam rất quy củ.

Tiếp theo là tiếng súng đùng đoàng cùng tiếng đại bác 2 pound bên mạn phải của tiểu Hạm Lumière vang lên không ngớt. Đại bác 2 pound được gọi là đại bác nhưng cũng chỉ lớn hơn súng trường mà thôi, nhưng chúng cũng bắn đạn nổ nên uy lực không thể xem thường. Mỗi bên mạn thuyền của chiến hạm Lumière có bố trí năm khẩu đại bác 2 pound như vậy.

Súng trương của quân Pháp vô dụng với thuyền nhỏ của Đại Nam, vì mái che của thuyền nhỏ được đóng bằng gỗ chắc chắn cộng thêm một lớp bao cát bằng vải bố dày tầm 10 cm phía trên. Đây cũng là một phát kiến của Hoàng Diệu. Vốn dĩ bao cát là môn học bày trận địa của Diêu thiếu tại Vạn Ninh, nhưng Hoàng Diệu cho may bao cát mỏng dẹt và chất lên mái che để cản đạn cho thuyền. Hiệu quả tốt vô cùng, việc cải tạo các ghe thuyền thành mái che đồng , thép vừa tốn tiền lại chậm chạp cùng hiệu quả chưa chắc đã cao. Nhưng mái che bằng bao cát của Hoàng Diệu thì rẻ, nhanh, và hiệu quả cực tốt. Đạn súng trường của quân Pháp xuyên không được. Các thuyền nhỏ Đại Nam vẫn tiến lên.


Uy hiếp duy nhất của các thuyền nhỏ là đại bác 2 pound. Đạn nổ của chúng có thể bắn tung bao cát hoặc thậm chí là bắn sập cả mái che. Nhưng dù sao đạn 2 pound uy lực cũng có hạn nên không thể phá hủy các thuyền nhỏ được trang bị kĩ càng trong một hai loạt bắn.

Đại bác lên đạn thời gian cooldown khá lâu nên sau loạt đạn đầu đã có đến sáu bảy chiếc thuyền nhỏ bao vây chiến hạm Lumière. Lúc này đây các tay xạ thủ của Đại nam với súng trường tân tiến không kém quân Pháp bắt đầu đáp trả. Bảy thuyền nhỏ mỗi thuyền bốn thay chèo cộng năm tên xạ thủ dồn dập nã súng về phía lan can chiến hạm Lumière. Quân Pháp vì không thể ngờ tới vũ khí của Đại Nam tân tiến như vậy nên bị đánh cho tơi bời. 30 xạ thủ còn lại của quân Pháp trên bong đến phân nửa không đề phòng mà bị trúng đạn. Quân pháo binh của Pháp thì bị bắn cho không ngóc đầu dậy được.

Quân Pháp gặp đả kích nặng nề mà bối rối chưa tìm được phương pháp hiệu quả phản công. Họ chỉ cố dùng ưu thế động cơ hơi nước của chiến Hạm tính dùng thuyền chiến đè ép thuyền nhỏ của Đại Nam.

Nhưng quân Đại Nam thuyền nhỏ rất linh hoạt, họ nhanh chóng tiếp cận hai bên mạn thuyền của chiến hạm Lumière rồi tung móc câu cố định lại.

Chỉ trong một chốc lát bối rối thì có đến cả chục thuyền nhỏ Đại Nam đã bu lại quanh tiểu hạm Lumière. Lúc này Đại bác 8 pound là vô dụng. Đại bác 2 pound muốn thò đầu ra bắn chúc xuống thì bị xạ thủ của Đại Nam với số lương vượt trội bắn cho không thò ra được.

Chỉ trong chốc lát thì tiểu Hạm Lumière đã bị số lượng rất nhiều tiểu thuyền Đại Nam bu đầy. Cac thuyền ở xa một chút thì các xạ thủ bắn yểm trợ, các thuyền đã bám lấy hai bên mạn chiến hạm Lumière thì quan sĩ hò reo quăng móc sắt chuẩn bị leo lên cận chiến.

Việc leo lên cận chiến là không thoát khỏi thương vong nhưng quân Đại Nam như ăn thuốc lắc, chiến đấu cực kì dũng mãnh nên chỉ sau 30 phút thì quân Pháp chỉ còn lại hơn 20 người phải buộc bị đầu hàng.

10 giờ sáng ngày 27 tháng bảy năm 1861. Chiến hạm Lumière đã đầu hàng, đây là chiến hạm Pháp đầu tiên trong lịch sử toàn vẹn rơi vào tay quân Đại Nam.

Hoàng Diệu một thân quân phục xanh lá cây mặt đầy bùn đất được binh sĩ Đại Nam hò reo tung hô đỡ lên chiến hạm Lumière. Lúc này đây cành lá ngụy trang của lão soái ca đã được lột bỏ. Ngoài trang bị một sợi dây mạ vàng vắt chéo qua vai thì quân phục của vị đại tướng quân này không khác binh sĩ là bao. Trên mặt hắn đầy bùn đất bẩn thỉu chưa kịp vệ sinh. Nhưng tất cả đều không thể che mờ được sự vĩ đại của vị tướng quân này trong lòng binh sĩ Đại Nam. Nhìn hắn đứng trên bục cao của Lumière như hắn đang là biểu chưng của Đại Nam đạp bẹp Pháp quốc dưới chân vậy. Một ngàn quân sĩ Đại nam hoan hô vang trời, một số thương binh cũng gắng gượng mà kêu lên khe khẽ. Ngày hôm nay họ là anh hùng Đại Nam, sẽ được ghi danh vào sử sách, ai cũng biết điều đó.

- Các huynh đệ chiến sĩ mãnh quân tân Kinh làm rất tốt… kiểm tra thương vong. Cứu trị người bị thương khẩn cấp, những người hi sinh thì cố gắng tìm được xác về. Các thuyền nhỏ tỏa ra vớt súng.

Hoàng Diệu thực ra là người hưng phấn nhất, nhưng ông ta lại bình tĩnh cực nhanh mà ban bố mệnh lệnh. Các binh sĩ lúc này xúc động không thôi. Trưởng quan rất quan tâm đến tính mệnh binh sĩ đó.

Thật ra Hoàng Diệu đang mua chuộc lòng quân thôi, cách đánh của Hoàng Diệu rất không để ý đến tính mạng binh sĩ. Trận chiến này Đại Việt quân thương vong 57 người, đa số là do trúng đạn pháo cùng bị thương khi leo thuyền cận chiến. Cơ mà Hoàng Diệu có đến 15 ngàn quân bổ xung nên ông không quan tâm lắm. Chỉ cần kết quả thắng lợi là được rồi. Điểm tai hại cũng coi là ưu điểm, đánh trận hi sinh là chuyện phải có, nếu cứ suy tính không tốn mạng nào mà chiến thắng thì không bao giờ được việc. Nếu để Diêu thiếu chỉ huy trận này thì đảm bảo không thắng oanh liệt như Hoàng Diệu được.

Súng Kammerlader của các binh sĩ đánh trên thuyền nhỏ được dây buộc vào vật nhẹ dễ nổi, vì vậy các thuyền nhỏ bị đại bác bắn hạ vẫn có thể dễ dàng tìm lại súng như thường. Hoàng Diệu lần này vào Nam chỉ có năm ngàn khẩu Kammerlader nên hăn quý súng hơn cả mạng. Slogan của vị này là “ người có thể chết, nhưng súng không thể mất”. Vậy ra trừ hai khẩu Kammerlader bị tàn phá hoàn toàn do đạn pháo thì vũ khí quân Đại Nam không tổn thất. Quân sĩ Đại Nam chết 42 người, bị thương 15 người. Quân Pháp chết và bị thương 47 người, bị bắt làm tù binh 27 người trong đó phần lớn là thợ máy ở khoang máy của thuyền cộng pháo binh. Quân Đại Nam chiến lợi phẩm to lớn nhất là Chiến hạm Lumière với một đại bác 8 pound và mười đại bác 2 pound cùng vô số thuốc súng và một số lượng không nhỏ đầu đạn nổ.

Quân Đại nam leo tàu Lumière tiến hành cận chiến là lực lượng đặc biệt có tên gọi biệt kích đội. Đây cũng là điểm đặc biệt mà Diêu thiếu đã truyền đạt cho Hoàng Diệu và nhóm quân này đã không phụ sự mong đợi trong lần chiếm đóng chiến hạm Lumière lần này. Biệt kích đội là những tinh nhuệ trong tinh nhuệ của quân tân Kinh. Họ nhanh nhẹn, thân thủ rất tốt cộng thêm biết sử dụng nhiều loại vũ khí. Ngoài khả năng bắn súng trường tốt họ còn được trang bị Colt côn xoay đã cưa nòng. Chính khẩu súng là Diêu thiếu coi là vô dụng trong chiến trường lớn này lại vô cùng hiệu quả khi cận chiến trên boong chiến hạm Lumière và đã dành thắng lợi huy hoàng. Dễ xoay trở trong khong gian hẹp do đã cưa nòng. Bắn được nhiều phát đạn, đây chính là ưu điểm không chối cãi của Colt côn xoay..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 54: Cá lọt lưới



12 giờ trưa ngày 27 tháng bảy năm 1861, Bên bờ một bãi sông khá bí mật tại Phước Long hà chiến hạm Lumière đang neo đậu nơi này. Nhưng trên chiến hạm không phải là quân pháp hùng hổ nữa mà tất cả là quân Đại Nam đang lăm lăm súng trong tay. Một loạt mười người tù binh Pháp được theo thuyền nhỏ mà áp giải vào bờ. Họ sẽ theo đường nhỏ mà bị áp giải vào quân doanh tân kinh quân trong rừng. Các khẩu pháo 2 pound cũng bị tháo gỡ hết và vận chuyển lên bờ, kèm theo đó là phần lớn thuốc súng cộng đạn pháo 2 pound.

Tren thuyền lúc này chỉ còn lại tên phiên dịch việt gian cùng tổ thợ máy điều khiển tiểu hạm Lumière. Tât nhiên còn có một tên lái tàu, Tất cả đều bị các chiến sĩ Đại Nam nhìn chăm chăm theo dõi.


Một giờ chiều ngày 27. Một chiệc thuyền nhỏ từ thượng du sông Phước Long lao vù vù về phía bến sông bí mật của tân Kinh quân. Khi đến gần thì chiếc tiểu thuyền này vôi vã phát lên lá cờ vàng với chấp đỏ đặc chưng của quân Đại Nam.

- Bẩm nhị vị tướng quân. Quân ta tại cách Trấn Biên ngoài 40 dặm phía Đông Nam trên sông Phước Long đã dụ địch thành công và chiếm được chiến hạm Gà tơ của chúng. Quân địch bị giết bốn mươi mốt người bắt tù binh 35 người. Quân ta tử trận năm bảy người bị thương ba táp người. Toàn bộ chiến hạm Gà Tơ hoàn hảo đang xuôi dòng tiến về nơi đây.

Hoàng Diệu mặt mày tươi như hoa nở, ông vuốt chòm râu ngắn tũn mà cười khà khà.

- Tốt tốt tốt… Có thêm một chiếc chiến hạm hiện đại rồi. Cơ mà lũ mọi tây này đặt tên chiến Hạm quá sức hại người đi. Gà Tơ gì chứ, ít ra cũng phải đặt là Thiên Kê mới uy mãnh.

- Khụ Khụ tướng quân, chiến hạm này tên Gagner, có nghĩa là chiến thắng ạ.

Tên hán gian phiên dịch được tha chết đang đứng ở một bên xum xoe. Quân Đại Nam không biết điều khiển chiến hạm kiểu mới này thế nên Hoàng Diệu phải sử dụng đội thợ máy mười lăm người của Pháp, do vậy ông cần tên phiên dịch này.

- Khục.. khục.. khục…
Nghe tên phiên dịch giải thích cả hai người Hoàng Diệu cùng Trương Định cùng sặc nước trà. Hai vị này sau khi đánh trận không ngờ lại hứng thú bày bàn trà giữ boong thuyền mà đam đạo. Mặc dù trời nắng chang chang như vậy nhưng hai vị vẫn vui. Cơ mà có hẳn cả khoang thuyền mái che đẹp đẽ không ngồi lại ra giữa trời nắng ngồi, sở thích của vị Nho tướng rất là nặng mùi.

- Được rồi ngươi lui xuống…

Hoàng Diệu ra lệnh cho tên binh sĩ truyền tin kia lui xuống, còn mình thì vẫn nhâm nhi chén nước trà.

- Chúc mừng tướng quân. Trương mỗ bội phục rồi…

- Ha ha cùng mừng cùng mừng…. Hoàng Diệu râu cũng vểnh ngược lên rồi, lúc này mà tỏ ra khiêm tốn thì hơi quá giả tạo.


Hóa ra khẩu vị của vị nho tướng Hoàng Diệu không nhỏ, những ngày qua ông ta cho theo dõi quy tắc hoạt động của cả bốn chiến hạm Pháp trên sông Phước Long mà tiến hành buông một lưới bắt hết. Năm ngàn binh sĩ có súng trường ông chia ra làm năm đội. Mỗi đội bố trí không khác gì nhau, cũng là cái mánh buôn lậu Á Phiện àm thôi, cũng “ hang ổ” á phiện giả, cũng bố trí mai phục, nói chung là giống nhau hoàn toàn năm vị trí, và cùng ra tay một lúc vào ngày 27. Vốn dĩ phải bố trí năm đội vì chiếc chiến hạm tuần tiễu khu vực Bà Rịa chạy với phạm vi quá rộng nên khó nắm bắt hành tung và cần bố trí hai đội. Còn lại ba đội dành cho ba chiếc tại thượng du vùng Cù Lao Phố, Trấn Biên Hòa và Thủ Dầu châu.


Lúc này đây đã có hai đội thành công rực rỡ và bắt được hai chiếc chiến hạm Pháp. Công lao có thể nói là rực rỡ muôn phần, từ những nhăm 1857 đến này quân Đại Nam toàn là tin thua trận trước quân Pháp là nhiều, thắng trận cũng chỉ là đẩy lui các cuộc tấn công chủ động của quân Pháp mà thôi. Trong các cuộc đẩy lui này thì quân Đại Nam là lấy mạng người lấp vào đấy, thương vong tỉ lệ toàn là 10/1. Nhưng lần này thì khác hẳn, tính cho đến giờ phút này thì quân Đại Nam có thể hoàn toàn thắng trong chiến dịch “Bày Sói”. Thương vong hai bên gần như 1/1 nhưng quân Đại Nam chiến lợi phẩm thu được vô số. Bắt được cả sĩ quan Pháp hàng tươi thóc thật, đến nay đã gọi là đại chiến thắng không thể chối cãi.

Hai giờ chiều ngày 27. Từ thượng nguồn không ngờ lại là hai chiếc chiến hạm hoi nước của Pháp cùng dong duổi mà đi về hướng quân doanh bí mật của tân Kinh quân.

- Khơi bẩm tướng quân, mạt tướng vô năng không thể chiếm chiến hạm một cách toàn vẹn. Quân địch đánh trả quá khốc liệt vì tránh thương vong mạt tướng đành cho ném bộc phá lên boong thuyền khiến cho một cột buồm của Chiến hạm gãy mất. Xin tướng quân thứ tội.

Tên tướng quân hàng ngũ phẩm này tên là Nguyễn Hiệp. Cách đánh của hắn lại là ném bộc phá lên boong thuyền Pháp ép bọn này phải đầu hàng, cuối cùng ra thì một cột buồm của chiến hạm Expédition bị nổ gãy, quân Pháp sợ hãi mà đầu hàng. Quân Đại Nam toàn thắng, trận này Nguyễn Hiệp chỉ huy quân Đại Nam chỉ tổn thất 25 người, là it tổn thất nhất trong các đạo quân.

Hoàng Diệu trầm ngâm một lát rồi nói:

- Người không có tội mà là có công, đợi lát nữa ba quân tề tự mở ra cuộc họp sĩ quan thì ngươi phổ biến cách đánh này.

Hoàng Diệu rất sảng khoái rộng lượng. Hắn không vì thuộc hạ chỉ huy có cánh mà ghen ghét. Cách làm họp sĩ quan sai đó cùng nhau bàn bạc rút ra ưu khuyết điểm cũng là Hoàng Diệu học ra từ Vạn Ninh quân đó.

- Mạt tướng tuân lệnh, mạt tướng cảm ơn tướng quân không phạt.

Nguyễn Khoa không kiêu không nịnh mà tạ ơn Hoàng Diệu sau đó đứng qua một bên.

Trương Định cười cười gật đầu tán thưởng, ông quá hâm mộ Hoàng Diệu có tinh binh, có hãn tướng rồi. Vậy là ba chiếc chiến Hạm gần như không tiêu hao đã vào tay. Tuy rằng một chiếc gãy cột buồm, nhưng đầu máy hơi nước vẫn hoạt động tốt, cộng thêm còn một cột buồm sau không tổn hại nên tất cả vẫn rất tốt sử dụng.

- Hoàng tướng quân, tôi cũng muốn huấn luyện binh sĩ của mình theo cách của tân Kinh quân không biết có được chăng. Tôi biết nếu mình đưa ra đề nghị này quả thật rất không hợp lý nhưng lần này tân Kinh quân thu được gần hai trăm khẩu súng Pháp quốc không biết ngài có thể bán lại cho tôi không?


Nghe thấy đề nghị này của Trương Định các sĩ quan có mặt trên chiến hạm Lumière trợn trừng mắt hổ, đây là chiến lợi phẩm quân tân Kinh lấy máu ra mà đổi về làm sao vị họ Trương này không biết xấu hổ mà đòi hỏi.

Chỉ thấy Hoàng Diệu cười lớn sảng khoái mà đáp.

- Mua bán cái gì? Không khỏi quá thiếu tình nghĩa đi. Tân Kinh quân vào nam chiến đấu nếu không có Tây Uyên nghĩa quân giúp đỡ như tai mắt, lại không có lương thực hỗ trợ từ Tây Uyên đồn điền thì đánh thế nào. Chúng ta tuy hai mà một, số súng , đạn này tôi cấp hết cho các vị. Nhưng cách dùng ra sao thì vẫn phải tra hỏi lũ tù binh của Pháp. Nói cho cùng Tây Kinh quân là quân chuyên nghiệp chỉ nên sử dụng thống nhất một loại súng Bẻ Càng mà thôi. Về mặt huấn luyện thì tôi sẽ cho tướng quân mượn hai tên sĩ quan lành nghề….

Hoàng Diệu trả lời rất gọn gàng. Đồng thời hắn cũng giải thích luôn để đám kiêu binh hãn tướng tân Kinh hiểu. Không có quân dân Nam lỳ giúp thì bọn họ chỉ là cái rắm mà thôi, tuy cái rắm có to một chút nhưng cũng chỉ là rắm không hơn không kém. Thêm vào đó Tây Kinh quân được huấn luyện chuyên nghiệp với súng Bẻ càng ( Kammerlader). Việc trang bị lộn xộn trong một cánh quân chuyên nghiệp là tối kị, thêm vào đó xưởng chế tạo súng Đại Nam tại Huế đã đi vào sản xuất, lại có đơn đặt hàng còn hơn 10 ngàn khẩu súng Bẻ Càng nên Hoàng Diệu không hứng thú với số súng Pháp.

- Cảm ơn tướng quân, cảm ơn các vị sĩ quan , binh sĩ tây Kinh quân thấu hiểu…

Trương Định vội vã chắp tay cảm ơn một vòng. Các sĩ quan tây Kinh cũng ào ào đáp lễ, họ cũng không phải ngu dốt mà không hiểu ý của chủ quan nhà mình.

- Không khách khí, không khách khí.. Tất cả vì một Đại Nam hùng mạnh.

Hoàng Diệu cười ha ha.

Chúng tướng vội vã hô to.

- Tất cả vì một Đại Nam hùng mạnh.

- Vì Đại Nam Hùng mạnh cạn ly… Trương Định cũng sảng khoái hô to


- Trương tướng quân, đây là trà nóng, trà rất nóng đó.

- Khụ Khụ khụ….


Mười lăm giờ ngày 27. Khoái mã hầm hập chạy từ phía đông lao về phía quân doanh tân Kinh quân. Tên thám báo mệt đứ đừ nhưng vẫn bay từ ngựa xuống đất mà ba chân bốn cẳng chạy về phía bến sông rồi lên thuyền nhỏ mà lao lên chiến hạm Lumière.

- Khởi bẩm tướng quân, không tốt rồi chiếc chiến hạm ở Bà Rịa đã chạy thoát mai phục, quân ta tử thương hơn một trăm người trên sông. Lúc này vẫn đang đuổi theo nhưng Thuyền giặc có động cơ hơi nước sợ quân ta không đuổi kịp.

Thật là người tính không bằng trời tính, kế hoạch có kín kẽ đến đâu thì cũng phải do con người đi thực hiện. Hai nhánh quân với hai ngàn người ở hạ lưu sông Phước Long không ngờ thất thủ. Khiến cho chiếc chiến hạm Espérance chạy thoát.

- Chúng chạy ra về hướng Sông Sài Gòn?

Lúc này Quân Pháp đã lập được một căn cứa hải quân tren sông sài gòn với thành phần chính là tiểu hạm và trung hạm cùng một số thuyền đổ bộ cỡ nhỏ. Còn các Đại Hạm của quân Pháp không thể tiến vào sông thì vẫn chỉ neo đâu ngoài khơi vùng biển Gò Công mà thôi. Theo lý ra khi bị tấn công thì việc đầu tiên các chiến hạm của Pháp Phải hướng về phía phía quân cảng trên sông Sài gòn mà quân Pháp vừa thiết lập.

- Không thưa tướng quân, thuyền nhỏ của hai vị tướng quân Liêu , Trấn đã bịt kín hướng ra sông Soài Rạp nên chiếc chiến hạm này bứt về phía Cù Lao Phố.

- Thưa tướng quân đây rõ ràng là chúng muốn tìm cứu viện từ mấy chiếc chiến hạm phía thượng du. Nhưng chúng không biết chúng ta đã chiếm mất. Đây là cơ hội tốt của chúng ta. Chúng ta có tới ba chiến hạm, hoàn toàn có thể dùng để đánh chìm chúng.


Một vị sĩ quan tân kinh quân đứng lên hùng hồn phát biểu, lời nói của hắn không phải không có lý. Hoàng Diệu dứng dậy đi di lại lại suy nghĩ. Nhưng lúc này một vị sĩ quan khác lại đi ra.

- Không nên thưa tướng quân, sách lược của chúng ta là đánh du kích. Thuyền mới thu được từ Pháp quốc có tân tiến nhưng chúng ta chưa thiện dùng. Ngộ lỡ tao ngộ chiến sẽ có thể dẫn đến thiệt hại không tưởng, theo ý của mạt tướng vẫn là nên dùng chiến thuật bày sói, cho thuyền nhỏ từ thượng du lao xuống bao vây.

Lời nói của vị sĩ quan này cũng rất hợp lý. Ba chiến chiến hạm có Đại Bác 8 pound đạn nổ nhưng quân Đại Nam không biết dùng, ép quân pháp bắn thì không tin tưởng. Lớ ngớ mà ăn một quả đại bác từ thuyền địch là chuyện rất không hay. Xem ra kế hoạch bày sói vẫn là lựa chọn tốt hơn.


- Tướng quân, chiến thuật bày sói vẫn hiệu quả hơn….

- Mạt tướng tán đồng dùng bày sói kế hoạch.


Hoàng Diệu vẫn đi đi lại lại trên boong thuyền Lumière mà do dự không quyết khiến cho các sĩ quan sốt ruột không thôi..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 55: Mưu đánh Espérance



Mười bảy giờ ngày 27, trời đã nhá nhem tối rồi. Lúc này chiến hạm Espérance cuối cùng cũng bưt khỏi một đám thuyền nhỏ Đại Nam đang truy đuổi mà chạy lên tới Cù Lao Phố. Từ xa xa trên mặt sông thoáng đãng thì Parfait thiếu úy sĩ quan chỉ huy Espérance cũng đã nhìn thấy chiếc chiến hạm Lumière. Đang neo đậu trên sông. Đối với Parfait thì lúc này Lumière đúng quả là ánh sáng của hi vọng như đúng cái tên của nó. Trên khoang thuyền vẫn thấp thoáng bóng quan sĩ Pháp cũng như lính đánh thuê Tagal (tức lính đánh thuê Philippines, cũng còn gọi là lính Ma Ní).

Lumière vẫn rất ổn thông qua kính viễn vọng thì Parfait thấy điều đó, lính Tagal tóc đen da vàng trong trang phục thiên thanh của quân pháp vẫn đang làm nhiệm vụ tuần tra hết sức cẩn thận, Lính Pháp thì lười nhác ngồi “nghỉ ngơi” trên bong tàu. Tất cả cảnh tượng trên đều làm cho Parfait thở phào nhẹ nhõm. Vì tham kho tàng “tưởng tượng” của thương nhân á phiện mà Parfait đã rơi vào ổ phục kích . 30 lính Tagal cùng hơn hai mươi lính Pháp thiệt mạng. Cũng may mắn là Parfait nhanh trí, sau khi nghe tiếng nổ súng không đúng thì lập tức cho chiến hạm Espérance tăng tốc mà chạy. Hắn không chạy về phía sông Soài Rại vì hướng này chằng chịt thuyền chiến nhỏ của quân Đại Nam. Espérance một mạch chạy thẳng về phía Cù lao phố, thậm chí Parfait vì tiết kiệm thời gian mà không cả cho bắn đại bác gì cả. hắn chỉ lện súng trường bắn yểm hộ mà thôi. Và quả thật Parfait đã chạy thoát được sự truy đuổi của các thuyền nhỏ mái chèo Đại Nam.

Parfait dự định sẽ hội quân cùng ba chiến hạm còn lại rồi quay về đập tan lũ khồn kiếp đã dọa hắn sợ gần chết kia. Và giờ đây Parfait đã gặp được chiếc đầu tiên, đó là Lumière.

Cách 400m, Parfait đã cho người bắc loa gào lên.

- Nicolas thiếu úy các hạ có đó không, chúng tôi gặp tập kích phía Ba Ria, yêu cầu được hỗ trợ, quân địch sẽ rất mau đến đây.

Phía bên kia cũng có người bắc loa đáp lại trôi chảy.

- Kẻ địch có bao nhiêu, Parfait thiếu úy cho chiến hạm tiến tới chúng ta chạy song song tạo thế gọng kìm.

Tên bắc loa kêu gọi đúng thật là một người Pháp chính cống, nhưng tên này đang bị dí sau lưng một khẩu súng. Không nói thì không thể được, Trêm thuyền có phiên dịch biết tiếng Pháp, chỉ cần hắn dở trò sẽ ăn đạn ngay.

Espérance không nghi ngờ mà từ từ tiếp cận Lumière, Lumière cũng nhổ neo và dần khởi động máy di chuyển ngược dòng nhưng chạy rất chậm để chờ Espérance.

Hai chiến hạm còn cách nhau 200m, 100m,… rồi cả hai chạy gần như song song với nhau chỉ cách nhau tầm 100 m mà thôi. Lúc này đây Parfait đã có thể nhìn rõ binh sĩ Pháp trên thuyền, nào phải họ ngồi chơi gì mà đang bị trói gô dưới sàn thuyền tạo dáng tư thế nghỉ ngơi. Mỗi tên lính Pháp đều có một tên lính châu Á mặc quân phục Pháp đang dí súng vào người, khả năng là đang ép họ không được mở miệng. Suy nghĩ đầu tiên của Parfait là lính Tagal làm phản. Nhưng điều này quá vô lý đi… nhưng không để cho Parfait tìm đáp án thì một loạt tiếng nổ kinh khủng đã nổi lên, chỉ thấy lúc này trên boong thuyền Lumière lúc nhúc là lính da vàng tóc đen với trang phục kì dị đang nấp sau bao cát mà nổ súng về phía họ. Các binh sĩ mà lính Pháp nghĩ là quân Tagal cũng không nhanh không chậm mà nhae đạn.

Lúc này đây trên thuyền Espérance chỉ có hai mươi xạ thủ súng trường cùng hai mươi pháo thủ. Nhưng tất cả bọn họ không ngờ đến biến cố kinh người như vậy nên bị tấn công cho không kịp trở tay. Các chiến binh Đại Nam nấp dưới các tấm vải bạt giờ đây dã hiện thân và nổ súng. Binh sĩ Pháp quốc vì không đề phòng nên đã đứng rất hớ hênh để hứng đạn.

Bị đánh đến choáng váng chưa kịp định thần thì thuyền Lumière bẻ lái về bên trái mà tiến hành nhanh chóng tiếp cận Espérance. Tiếp theo đó là hai bên sông túa ra cả đám thuyền nhỏ bốn mái chèo đang phăng phăng lao đến. Parfait chết đứng như trời chồng mà nửa ngày không thể mở mồm để ra một mệnh lệnh cụ thể nào. Bính sĩ Đại Nam bên thuyền Lumière số lượng ưu thế tuyệt đối gồm 60 tay xạ thủ hàng đầu. Trong lượt bắn đầu tiên họ đã hạ sát hơn mười binh sĩ Pháp, sau đó là những lượt bắn liên tục khiến cho quân sĩ Pháp không thể ngóc đầu dậy. Với mười tay súng còn lại thì người Pháp bất lực toàn phần. Còn các pháo binh trên thuyền Espérance chỉ biết co ro tìm nơi tránh đạn mà thôi. Họ mà thò đầu ra điều kiển pháo là nát gáo ngay. Khoảng cách quá gần súng trường là vô địch.


Binh sĩ Đại Nam bắt đầu quăng móc sắt leo thuyền, chiến cục đã định, chỉ sau 15 phút thì Espérance đầu hàng. Hi Vọng của người Pháp đã đầu hàng thì không còn là hy vọng nữa ( Espérance nghĩa là hi vọng). Lịch sử đã thay đổi quá nhiều rồi, nếu Espérance bị bắt trên sông Phước Long thì lấy đâu ra Espérance trên sông Nhật Tảo để Nguyễn Trung Trực đốt nữa, ôi thật đau lòng cho một danh nhân có lẽ bị mai một vì một vị danh nhân khác lòng tham không đáy. Hoàng lão đại đã chiếm cả bốn chiếc chiến hạm mà không tha cho đồng nghiệp cái nào. Nhưng nói đi thì cũng nói lại Nguyễn Trung Trực năm nay mới 26 tuổi chỉ là một Quản đội dưới trướng Trương Định mà thôi. Lần này Nguyễn Trung Trực cũng được đi theo quân tân Kinh để học hỏi, lúc này ông đang hết sức ngưỡng mộ vị tướng quân trí dũng song toàn đang hiên ngang đững trên mũi chiến hạm kia. Thật ra Hoàn Diệu cũng rất trẻ, ông chỉ nhiều hơn Nguyễn Trung Trực năm tuổi mà thôi, vào tuổi 31 thì vị tướng quân này vẫn đang rất sung sức và xông sáo. Trương Định tuy đã 41 tuổi nhưng ông cũng không thể cạy già lên mặt với Hoàng Diệu được , vì cái tài của Hoàng Diệu sau trậ đánh cuối cùng thu phục Espérance một cách nhẹ nhõm như vậy không ai là không phục cả.


Màn đêm buông xuống, nhưng lúc này trên chiến hạm Espérance không khí cực kì hồ hởi, cả một ngày dài chiến đấu nhưng không ai tỏ ra mệt mỏi. Hai vị Cai Đội Tuyên úy sứ Liêu, Trấn từ Bà Rịa cũng quay về. Nói thật ra hai vị này xấu hổ mãi không thôi, năm nhánh quân mỗi nhánh đều lập công lớn, chỉ có hai vị này để xổng con mồi. Cũng may mà Hoàng Diệu an ủi một hồi thì hai vị này mới thôi xấu hổ mà ngồi vào cùng bàn chuyện quân cơ.

- Hoàng tướng quân, giờ đây chúng ta có bốn chiến hạm kiểu mới, thế đã mạnh hơn rất nhiều, đã là lúc chúng ta phản công Gò Công, Chợ Lớn, Gia Định.


- Tôi cho là không nên, chúng ta vẫn chưa thiện dùng Chiến hạm của quân Pháp, cần phải tăng luyện tập.

- Tôi cũng có chủ ý này.


Hoàng Diệu nghe thấy chúng tướng hưng phấn bừng bừng thì cau mày không vui.

- Các vị tướng sĩ. Tôi nghe ra các vị đang hưng phấn vì thắng trận nên cũng không muốn làm các vị mất hứng. Nhưng sự thật các vị đã và đang kiêu ngạo quá rồi, kiêu binh tất bại. Các vị đọc lại binh thư của chúng ta xem, lúc này chúng ta cần phải làm gì.

Trúng tứng trầm ngâm, không ai dám ho he gi cả. Hoàng Diệu lại tiếp tục.

- Hôm này các vị làm rất tốt, quá tốt là khác. Nhưng Chúng ta lấy một ngàn đánh với mấy chục mà còn bị thương tổn gần như. Nếu một ngàn đấu một ngàn thì sao? Vậy nên vẫn chưa thể cứng chọi cứng cùng quân thù. Binh pháp du kích chiến, phá hoại chiến, khủng bố chiến vẫn phải chấp hành. Bốn chiếc chiến hạm này chúng ta phải mau nhất trong đêm nay theo sông ra biển và chuyển về Huế.

- Thưa tướng quân, vì sao lại vậy? vất vả lắm chúng ta mới bắt được chiến hạm này.

- Đúng vậy tướng quân


Hoàng Diệu ngẩng đầu liếc mắt nhìn trân thành vào từng gương mặt đỏ bừng vì kích động của các sĩ quan.

- Chiến Hạm cố nhiên là tốt, nhưng chúng ta dùng không được thì cố giữ làm gì. Thứ nhất yếu lược du kích là cần cơ động, bí mật, đánh nhanh, đánh mạnh, rút gọn. Nhưng Chiến hạm to lớn không thể làm được điều này, mục tiêu của nó quá lớn, chạy không được. Quân cản Sài Gòn quân Pháp còn mấy chục chiếc chiến hạm như vậy. Nếu chúng ta còn giữ lại trên sông Phước Long thì chẳng mấy chốc sẽ bị phát hiện và tiêu diệt. Lúc ấy chúng ta chẳng những thuyền không giữ được mà còn thiệt người. Ngoài ra số chiến hạm này tại Đại Nam chỉ có một người có năng lực phát huy tốt nhât mà không phải là tôi.

Lúc này thì chúng tướng cũng hiểu ra cốt lõi của vấn đề. Mọi người liền chấp nhận ngay ý đồ của vị chủ soái.

- Người này là thần thánh nơi nào thưa chủ tướng.


- Là Trần Quang Diêu, Trần tiểu tướng quân tại Vạn Ninh.

Tất cả chúng tướng tân Kinh quân lại ồ lên một chàng làm bộ hiểu rồi. Quả thật chúng quân nơi này rất phục nhị Trần tướng quân Vạn Ninh quân. Nhất là 5 ngàn binh đã đi du học tại Vạn Ninh trở về thì họ càng sâu sắc sự hùng mạnh của quân Vạn Ninh đó.


Ngày trong đêm tối ngày 27 tháng 7 năm 1861. Bốn chiếc chiến hạm trọng tải 300 tấn tân tiến nhất của Pháp đã lên đường đi về Huế. Kèm theo chiến hạm là một trăm quân sĩ chia đều cho cả năm chiến hạm trên, tất nhiên lũ thợ máy lái thuyền người Pháp cũng được điều đi không thương tiếc. Để tránh Quân cảng Pháp tại Gò Công thì bốn chiến Hạm này phải ngay trong đêm di chuyển từ sông Phước Long qua sông Lòng Tào sau đó tiến vào vịnh Gành Rái, ra biển rồi ngược bắc đi về Huế.

………………………………..



Đầu tháng 9, Diêu thiếu đang mốc mõm nằm dài chờ Robert mang tiền từ Hongkong về. Dạo này Diêu thiếu nghèo lắm rồi, bụng đói đến sắp dính vào lưng cả. Tiền bạc đầu tư hết cả rồi, thị trường muối cũng đi vào bão hòa, một tháng lãi hai vạn là kinh lắm rồi đấy, bình thường chỉ có vạn hơn vạn kém. Nhà máy dệt sau hai tháng kiếm lời đến năm vạn nhưng giờ đắp chiếu vì không có nguyên liệu chạy tiếp, tiền nhân công thì vẫn phải trả. Diêu thiếu đang cả ngày lấy nước mắt lau mặt. Nhà máy thép thì chỉ thấy vào không thấy ra. Năm vạn lãi từ nhà máy dệt đập ba vạn vào nhà máy thép mà méo ra được đồng nào. Tin vui duy nhất là nhà máy hóa chất thuốc nổ đã đi vào hoạt động…an toàn. Một lô thuốc nổ hình trụ thần thánh đã ra đời.

Nitrôglyxêrin ở nhiệt độ trong phòng là chất lỏng rất nhạy nổ, nguy hiểm. Nhưng Diêu thiếu vì biết nên đã mua cả dây truyền sản xuất Đất tảo cát có tên nữa là "bọt biển", lúc này được dùng như hộp xốp ngày nay, để đệm hòm hàng. Sau đó chỉ cần cho Nitrôglyxêrin bám thấm vào đất tảo cát thì chất nổ sẽ an toàn hơn nhiều. Nế đem so sánh thì sức công phá của thuốc súng lúc này chỉ là đàn cháu của Nitrôglyxêrin mà thôi. Chất nổ được định hình theo hình dạng của đất tảo cát nên Diêu thiếu cho chế tạo dưới dạng gậy dài 20 cm, đường kính 2,5 cm và một số kích cỡ khác.( ai xem Luckyluck hay các phim miền tây cao bồi mĩ thì sẽ biết thứ này rất phổ biến).

Lúc này Diêu thiếu xưởng đã sản xuất được hơn 400 thanh thuốc nổ loại này, và Diêu thiếu dùng nhiều nhất để… khai thác đá và khai thác than đá. Lại nói lúc này than đá là lộ thiên, thế là ông tướng này mới dạy nhân công khoét một lỗ, trôn thuốc nổ, lắp dây cháy chậm thật dài, châm ngòi rồi té. Vậy là cả đá và than đá tại Vạn Ninh quân cảng chất đống như núi nhưng lại chẳng biết để làm gì. Chả nhẽ dùng đá xây thành trì, Diêu thiếu chưa điên, chiến tranh kiểu mới thành trì là vô dụng. Mà tàu hơi nước thì công ty K&R chỉ có một cái, dùng sao hết được bãi than khổng lồ kia.

Diêu thiếu chán nản nằm bò trên chiếc ghế lắc lư đặc chế trong sân nhà mà đếm kiến. Lão Cha tiện nghi cũng dẫn quân đi rồi, lão này phát điên phát khùng cứ hai ba hôm lại vác quân đi tiễu phỉ. Trang viên họ Trần Xây Tai trung tâm Vạn Ninh to đùng đoàng, nhưng lại chẳng có ai. Diêu thiếu ở nhà đúng là chỉ biết đếm kiến mà thôi..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 56: Cho gọi vào triều



Đang nằm vểnh râu mèo buồn chán không thôi thì thân binh sầm xập chạy vào báo cáo.

- Đại thiếu, đại thiếu… Triều đình có sứ giả truyền chỉ đến quân doanh rồi mà tìm ngài không thấy.

Quang Diêu thân đã làm đến võ tướng cấp ngũ phẩm nhưng hắn vẫn thích thân binh gọi mình là Diêu thiếu, hoặc Đại thiếu hơn. Hắn thấy gọi thư thế mới thật là soái, còn Lão gia thì hắn nhường cho Cán ca. Diêu thiếu còn chưa già đến mức đó.

- Ồ … chuyện tốt , chúng ta đi quân doanh thôi.

Diêu thiếu đoán được mớ thép luyện của mình sắp có thị trường rồi nên rất ưng ý mà lên ngựa lao nhanh ra quân doanh. Diêu thiếu thân là tướng quân nên không được rời doanh, nhưng tên này ở Vạn Ninh gần như là vua nhỏ nên nào có sợ ai. Hắn thích thì trốn ở nhà chơi mấy hôm cho đã. Chả nhẽ quan quân còn có người mật báo triều đình.

- Khụ khụ, công công đi đường vất vả, bản quan đi tuần bờ biển nên không biết thánh thượng ý chỉ đến, thật là áy náy quá. Bây đâu mang cho công công ít quà quê xem nào.

Diêu thiếu thể hiện đủ cái bản mặt của dân võ biền, an nói rất thô hào mà thẳng thắn. Hối lộ hoạn quan cũng chơi ngay mặt mà không thèm dấu diếm.

- Há há… tướng quân, khách khí quá… tướng quân là trọng khi quốc gia quân vụ trong người. Tạp gia thuộc kiểu vô công rảnh nghề, chờ tướng quân vài canh giờ không thành vấn đề.
Có tiền vào thì cái bản mặt khác hẳn luôn, hoạn quan là đám người thấy tiền như thấy bố mẹ. Vậy nên thấy tiền là công công trợn ngược mắt nói láo ngay. Vốn dĩ hắn phải ngồi uống nước trà khan gần 2 canh giờ nên điên lắm rồi. Nhưng vừa nghe thấy có quà là quay ngoắt thái độ ngay lập tức.

- Công Công hay là ngài tuyên chỉ đi, có cần tôi tắm rửa dâng hương gì đó không.
Đây là trong phim Quang Diêu toàn thấy có cai vụ này nên hỏi cho chắc. Nhỡ may làm gì không đúng thì lại có ngôn quan chửi đổng lên thì rất phiền hà.

Chỉ thấy tên công công trợn trừng mắt mà nhìn Diêu Thiếu như nhìn quái vật ngoài hành tinh.

- Tướng quân đừng trêu tạp gia nữa, chỉ cần tướng quân thành khẩn quỳ hướng kinh đô là được.

À thì ra là vậy, Diêu thiếu nhập gia tùy tục không ngại quỳ một cái hướng về kinh thành Huế. Mà tên hoạn quan cũng đứng né một bên chứ không đừng hướng Diêu thiếu quỳ:

- Phụng thiên thừa vận.. hoàng đế chiếu viết….

Con mẹ nó đọc một tràng dang đại hải cuối cùng ý chỉ là triệu Quang Diêu vào cung. Triệu vào cung thì có thể là chuyện tốt mà cũng có thể là chuyện xấu. Diêu thiếu tạ thánh chỉ rồi đứng lên nhìn chằm vị công công này để dò xét.
- Công công, tôi có cái này rất thú vị công công xem thử nhé.
Diêu thiếu rút ra một lá vàng mỏng nhét vào tay tên công công chết tiệt này chỉ nhận tiền không nhận người này. Muốn biết được lý do tại sao truyền mình vào Kinh thành thì chỉ có thể nhờ vào tên công công này. Tất nhiên Diêu thiếu có thể liên lạc cùng lão Phạm Phú Thứ thì hoàn toàn có thể hiểu rõ, nhưng nếu làm như vậy thì quá tốn thời gian, vì trong chiếu chỉ có ghi rõ là Diêu thiếu mau cùng lão công công này tiến cung. Thôi thì bỏ ra một chút tiền để biết thông tin mà liệu đường ứng đối cũng là chuyện tốt.

Nghĩ đến đây Diêu thiếu đang muốn thành lập một thế lực thường trực tại Kinh thành để tìm hiểu tin tức và có chuyện gì hoàn toàn có thể thông báo một cách nhanh nhất về Vạn Ninh cho hắn.

- Cái này thì kinh thành đã xảy ra chuyện động trời rồi. Hoàng Diệu tướng quân vậy mà bắt được bốn chiếc chiến hạm hiện đại của quân Pháp, trên đó chứa đầy tù binh pháp. Ông ấy còn giết chết vô số quân pháp trên sông Đồng Nại……

Dò hỏi cặn kẻ tên công công nói nhăng này hết nửa canh giờ thì Diêu thiếu cuối cùng cũng hiểu rõ mọi chuyện. Lần này Diêu thiếu vào cung vì hai việc lớn, một việc nhỏ. Việc lớn nhất là cuối tháng bảy Hoàng Diệu đã chiến thắng giòn dã trên sông Phước Long ( Đồng Nại- hoặc là Đồng Nai ngày nay). Vốn dĩ Hoàng Diệu chiếm được 4 chiến hạm và ngay trong đêm cử họ về Huế thế nhưng chuyện không may lại sảy ra. Bốn chiếc chiến hạm này chạy đến Phan Thiết thì hết than đá. Vì các thuyền này là thuyền chiến này chỉ làm nhiệm vụ tuần hải sông Phước Long nên lượng than đá mang theo là không nhiều lắm.

Hết than đá thì các thuyền này phải cập bến Phan thiết tìm kiếm than mà thôi. Nhưng khốn nạn đây là thuyền của Pháp, thủy quân Phan Thiết lúc đầu tưởng là quân Pháp tấn công nên chạy tán loạn. Đến khi các chiến binh tân Kinh quân xuống thuyền phân bua thì… họ lại bị bắt. Lý do là thủy quân Phan Thiết nghĩ rằng đây là quân Phám dùng kế nghi binh mà trà trộn. Thanh minh kiểu gì cũng không được, cuối cùng nhóm quân sĩ đi theo bốn chiếc chiến Hạm bị bắt giữ đến hai tuần tại Phan Thiết để cho quân sĩ Phan Thiết theo đường thủy tìm về Trấn Biên Hòa xác nhận.

Chuyện cũng đã rồi, các binh sĩ tân Kinh dù tức giận nhưng cũng phải chịu thôi. Được thả ra thì quân tân Kinh vội vã tìm than đá để tiến hành tiếp tục chuyến đi. Nhưng khổ nỗi cái thời này than đá rất không phổ biến, Miền bắc là Đông Triều có sản xuất một chút than đánh nhưng lúc này Bắc Kỳ cũng loạn quá nên than đá ít chuyển vào Nam. Quân Phan Thiết biết mình có lỗi nên cố tìm than đá cho bốn chiếc chiến hạm nhưng cũng chẳng được là bao.

Vậy là không biết một thằng bỏ mẹ nào nghĩ ra trò lấy gỗ thay than đá khiến cho lò hơi trục trặc. Trưởng quan tân Kinh quân lần này có nhiệm vụ đưa bốn chiếc chiến Hạm về Kinh quả thật lên cơn điên mẹ luôn. Gió thì không thuận nên thuyền không thể dùng buồm mà đi ra bắc. Chiến hạm thì không có mái chèo nen không thể di chuyển được.

Cái khó ló cái khôn, thủy binh Phan thiết cột bốn chiếc chiến hạm này vào bốn đại hạm Đại Nam sau đó chèo về phía Bắc. Thuyền chạy chậm còn hơn con rùa, chạy đến Tuy Hòa thì các binh sĩ Phan Thiết xin chào thua. Không còn cách nào khác Tuy Hòa thủy binh lại phải làm khổ sai thay Phan Thiết Binh. Cứ thế vừa đi vừa đổi đến được Huế thì đã đầu tháng 9.

Nhận được tin báo thắng trận tưng bừng trên sông Đông Nại thì cả triều Huế như vỡ òa vì sung sướng. Không ngờ được thành quả của tân Kinh quân lại ghê gớm đến vậy, không ngờ hiệu quả của tân quân lại nhanh tróng được hiện thực hóa thư thế.

Người vui nhất không ai khác chính là Hoàng Đế Tự Đức, chiến thắng vĩ đại trên sông Đồng Nại như bàn tay của thân phật xua đi đám mây mù ảm đạm đang bay lởn vở che lấp vận khí của Đại Nam. Người vui thứ hai là Phạm Phú Thứ, ngời tiến cử Hoàng Diệu là ông ta, người cổ võ tân quân cải cách hiện đại cũng là ông ta, người có công lớn để huấn luyện nên tân quân là môn đệ của họ Phạm, người có công móc nối cùng người Mỹ để mua vũ khí cho tân quân cũng là gã môn đệ kia. Chỉ bực mình một chỗ là gã môn đệ này rời đi mà không nói một câu nào về Mỹ Như ái nữ của lão già họ Phạm. Chỉ riêng việc này là ồn hơi ức chế tên đẹ tử cưng này.

Tự Đức hưng phấn đến độ dẫn văn võ bá quan ra tận doanh thủy sư Huế để chiêm ngưỡng mấy chiếc chiến hạm hiện đại trong truyền thuyết này.

Chứng kiến bốn chiến hạm cùng từng chiếc đại bác khổng lồ đang lừng lững tiến vào quân cảng Tự Đức không khỏi cảm khái một câu “ Trẫm bỏ ra năm mươi vạn quan để thực hiện cải cách tân quân là quá xứng đáng”. Ông vua này nói không phải không có lý, bốn chiếc chiến hạm nay có vừa bán vừa cho cũng được giá bốn mươi vạn quan rồi. Quan trọng là chả ma nào điên dại mà đem bán thứ này cho Đại Nam. Đơn giản đây là chiến hạm loại mới nhất của Pháp quốc, bọn họ mà bán cho Đại Nam hay Đại Thanh thì chỉ bán đồ phế thải mà thôi. Kể cả yêu cầu đóng mới thì máy móc bên trong cũng là đồ second hand, với kĩ thuật của Đông á lúc này không có khả năng nghiệm thu ra vấn đề.

Vốn bốn chiếc chiến hạm này đã được các thợ máy khôi phục lại trục trặc nhưng không đủ than để chạy nên vẫn cần kéo về Huế. Nhưng đến Huế rồi thì phải tỏ vẻ một chút nên trưởng quan tân quân liền cho khởi động máy mà chạy mấy km vào quân cảng. Nói chung biểu hiện của bốn chiếc chiến hạm có thể chinh phục bất kì kẻ nào dù là khó tính nhất. Thậm chí Tự Đức và văn võ bá quan còn leo lên một chiếc để tham quan, nếu có đủ than đá có khi vị Hoàng Đế này yêu cầu phóng một vòng không chừng.

Tiếp theo đó là việc nhận tấu chương của Hoàng Diệu tướng quân rồi. Tất nhiên Hoàng Diệu vội vàng viết tấu nên chỉ kể rõ là giết bao nhiêu bắt sống bao nhiêu, đoạt được những gì. Đây toàn la các con số khô khan thiếu sức hấp dẫn. Vậy là Tự Đức đành triệu tên tướng quân chỉ huy nhánh tân Kinh quân có nhiệm vụ dẫn chiến hạm vào triều để kể chuyện. Tên võ tướng này ít văn vẻ, kể chuyện toàn theo lối văn nói, thấy gì tả nấy, nhưng văn nói lại có cái hay của văn nói, tức là kể rất thật và rất máu tanh. Chúng thần văn võ lặng ngắt như tờ mà nghe nuốt từng câu từng chữ. Cả điện Thái Hòa im phăng phắc không ai dám thở mạnh, chỉ có giọng tên võ quan lanh lảnh vang lên. Đến những đoạn cao trào hoặc máu lửa chỉ thấy tiến ồ, à vang lên thán phục của văn võ bá quan cũng như Tự Đức.

Truyện kể xong rồi nhưng dư âm cú như vang vọng, ai cũng hận là không thể nghe thêm một lần nữa tiên âm này. Tự Đức dường như nén thở mà nghe kể nên đến khi tên võ quan thô kệch kể xong thì ông ta thở hắt ra một hơi.

- Quả thật quá là diệu, dụng binh như thần. Không ngờ còn có cách dụng binh như vậy.

- Bẩm tấu thánh thượng, đây là Trần gia binh thư yếu lược đã gi rất dõ.


Tên võ quan kia không ngờ lại dám bẩm tấu trước triều, một tên võ quan ngũ phẩm nho nhỏ sao dám. Nhưng ai dám chỉ chích hắn đây. Mà tên này là nói thật, Cái Trần gia binh thư yếu lược này là câu treo cửa miệng của Hoàng Diệu rồi, và sĩ quan trong quân thì ai cũng phải đọc thuộc làu làu, nếu không thì đòn roi của Hoàng tướng quân hầu hạ ngay lập tức.

- Phải , Phải…. khanh nói đúng. Vậy vũ khí thu được từ quân Pháp Hoàng Tướng quân lại ban hết cho quân Tây Uyên?

- Dạ thưa thánh thượng. Hoàng Diệu tướng quân có nói, tuy thắng trận đầu nhưng là do địch bất ngờ, sau này đánh trận se gian nan lắm, chúng thần không dám kiêu căng mà lỡ việc nước. Quân tân Kinh là cánh tay phải của thánh thượng, quân Tây Uyên cũng là cánh tay trái vậy, hai tay cùng mạnh mới có thể bóp chết quân địch.


- Ha ha… Diệu thay, diệu thay. Không hổ danh là Hoàng Diệu, thắng không kiêu bại không nản, lại biết vô tư giúp đỡ bạn quân. Có chiến tướng như vậy Trẫm còn há sợ lũ mọi Tây. Các khanh lấy đó làm bài học, phải đoàn kết một lòng thì mới mong thắng địch.

Tấm gương Trương Định cùng Hoàng Diệu cũng làm cho chúng quan văn đang lục đục trong triều xấu hổ. mọi người dạ vang một tiếng coi như là biết rồi.

- Lần này Hoàng tướng quân gửi ra Huế bốn chiếc chiến Hạm có dâng rõ ý kiến là Trần tiểu tướng Trần Quang Diêu mới có thể tận dụng tốt nhất khả năng của chúng. Các ái khanh nơi này nghĩ sao?
Đúng là Hoàng Diệu trong tấu chương có nói rõ mục đích tại sao gửi bốn chiếc chiến Hạm ra Huế mà không lưu lại tác chiến. Trong đó trọng tâm nói rõ là Quang Diêu mới có năng lực tận dụng bốn chiến hạm này tốt nhất. Lời nói này khiến khá nhiều bá quan cả văn lẫn võ trong triều không phục. Đơi giản tư lịch của Quang Diêu mỏng, thứ đó Quang Diêu xuất thân con nhà thương hộ. Mặc dù công quân nhà họ Trần bày ra đó nhưng vẫn khôn có it người ghen ghét và nghi ngờ..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 57: Vừa tức vừa cười.



Chuyện nhân đức không nhường ai, lão Phạm Phú Thứ lao ra ngay lập tức để bảo vệ dòng chính nhà mình, cũng là để bịt miệng mọi người.

- Khởi bẩm thánh thượng. Hoàng Diệu tướng quân thân là người đi học cách luyện tân quân, ông ta hiểu rõ nhất ai mới là người thích hợp. Thử hỏi các vị nếu ai đứng đây vỗ ngực làm tốt hơn Hoàng Tướng quân thì có thể phản đối. Kế vào đó, những gì Hoàng tướng quân học được từ quân Vạn Ninh toàn những thứ mới mẻ và kì lạ, trước đó nhiều người không tin, nghi ngại. Chỉ có Thánh thượng là anh minh mà nhìn ra cái hay trong đó. Các vị thử nhìn là biết, thánh thượng nhìn xa trông rộng, Hoàng tướng vừa vào đã lập chiến công anh vĩ. Đúng là chỉ có thánh thượng mới có thể quyết định được chuyện này. Vi thần kính mong thánh thượng xem xét.

Con bà nó, tên họ Phạm này tung chiêu làm đám quan chết đứng. Phản đối lão lúc này ngang với phủ nhận thánh thượng anh minh. Thử hỏi ngươi dám không? Phạm Phú Thứ bịt hết mọi lối rẽ khiến cho các quan viên muốn chỉ chích cũng chẳn có đường mà lọt ke thừa cơ vào được.

Tự Đức mặc dù không phải loại người ưa nịnh, nhưng lần này ông ta thấy sướng vì Phạm Phú Thứ nói quá đúng. Nếu không phải Tự Đức có lòng tin vào tân quân thì làm gì có Hoàng Diệu này hôm nay.

- Phạm ái khanh nói cũng không vô lý, vậy thì chuyện ngày hôm nay…


- Khởi bẩm thánh thượng, hãy khoan đã, thần có chuyện muốn tấu.

Lại là cụ Trương Đăng Quế trưởng ban phản cách mạng, phó ban bảo thủ đảng mở miệng cắt ngang lời Tự Đức, lão sợ Tự Đức đã trút lời kim ngọc thì rút không lại được.

- Khởi bẩm thánh thượng, Cha con nhà họ Trần tại Vạn Ninh coi thường luật pháp tự mở diêm điền kinh doanh muối lậu. Cái này cần phải nghiêm trị. Người đức hạnh như vậy không thể nào trọng dụng quá được.

- Thần đồng ý với Trương các lão.

- Thần thấy có lý.

Tự Đức vừa tức giận vừa buồn cười khi nghe Trương Đăng Quế buộc tội ch con nhà Trần Quang Cán. Tự Đức hắn không biết cha con này buôn lậu muối ư. Năm ngàn kinh quân đến Vạn Ninh luyện tập cũng là ý của Tự Đức, trong đó có cả đống tai mắt của Vua đấy. Mà đám con cháu quan lại đang bị cải tạo lao động ở Vạn Ninh không thư về nhà sao, trong ngăn bàn của Tự Đức còn có cả xấp giấy báo cáo tình hình vạn Ninh đó. Nước trong tất không có cá, miễn không nuôi ra ác ngư cắn người là được.

Thừa nhận một câu là cha con nhà họ Trần làm muối lậu. Nhưng làm xong là lấy tiền đi đánh giặc tại Cát Bà, có lúc nào là bọn họ ngưng đâu, quân Vạn Ninh cộng đi cộng lại cũng chỉ có 3 ngàn quân, vậy mà ba ngày một trận nhỏ, bảy ngày một trận to, không ngưng nghỉ đánh giặc. Tiền quân lương phát cho Vạn Ninh thì bớt trên cắt dưới, mỗi lần suất binh là cả núi tiền đập vào. Quân Vạn Ninh chả nhẽ ăn cát sỏi, lấy nước nhét vào pháo mà bắn, lấy lá khoai nhét súng mà chiến đấu. Mà làm mấy cái ruộng muối thì kiếm được bao nhiêu? ( ở chỗ này Tự Đức không rõ vì triều đình mấy ruộng muối cồn thu vào quá ít bạc do tham nhũng + buôn lậu quá nhiều). Người ta vất vả đánh trận bảo vệ giang sơn của Trẫm, tranh thủ ít tiền thì có sao. Quan trọng nhất là người có lòng tham mới dễ khống chế, cái loại hi sinh vô tư rất dễ có dị tâm. Ấy là đạo dùng người của đế vương, người quá hoàn hảo, không tì vết mới là người không thể khống chế được.

Càng nghĩ Tự Đức càng giận, chả nhẽ phải nói thẳng ra là Ti bạc, mỏ kẽm, mỏ đồng hối lộ họ Trương nhà ngươi bao nhiêu. Con mẹ nó nể mặt ngươi là các lão nên ta không vạch mặt, vậy mà dám lôi trung thần của Trẫm ra sỉ vả. Nói xem cả cái Bắc Kỳ có tên nào không tham nhũng, có doanh nào không buôn lậu, tiền tài đến béo múp cả nhưng có tên nào giúp trẫm đánh giặc. Hay cứ ăn chán chê rồi đến lúc phỉ tặc lai tới lại cầu cứu Kinh sư. Tiên sư cha nhà nó, Tự Đức tức lắm nhưng thôi nhịn vì nếu vạch mặt ra thì có khi triều chính Đại Nam tan vỡ ngay lập tức. Nếu thanh tra quan lại thì đến 80% số quan sẽ bay đầu, đến lúc đó ai giúp ông ta điều hành đất nước.

Nhưng Tự Đức cũng đến buồn cười, cười là cười cha con nhà họ Trần, con mẹ nó đã xuất thân thương muối không thấy xấu hổ. Làm quan lớn một phương rồi mà vẫn ngựa quen đường cũ làm muối lậu như thường. Dân gian có câu gì nhỉ? À phải rồi “ chó không quên thối ăn phân”. Nghĩ đến đấy Tự Đức phải bấu ngón tay vào hai cái ngai để nhịn cười làm cho mặt đỏ bừng bừng. Chúng qua nhìn thấy lại tưởng là Tự Đức tức giận lắm. Càng nghĩ Tự Đức càng dở khóc dở cười, làm muối lậu cũng thôi đi, cái cha con nhà kì khôi này lai huênh hoang như muốn khoe cho cả thiên hạ rõ. Ông đây là làm muối lậu đấy, đi thưa kiện ta đi. Con mẹ nó lần này tranh thủ nắn gân hai cha con nhà này một cái. Tự Đức hung hăng nghĩ rồi thở hắt ra một cái. Nén cười lâu có khi sinh bệnh a.

- Trương Các lão có bằng chứng không?

Người lên tiếng là Phạm Phú Thứ, tên này hiểu thừa suy nghĩ của Tự Đức nên gà chết không sợ nước sôi mà xông ra cãi.

- Hừ , cho thanh tra là ra hết.
Trương Đăng Quế xì mũi coi khinh Phạm Phú Thứ.

- Ồ, đã vậy cho thanh tra toàn bộ diêm đồn luôn một thể, xem cái nào là lậu cái nào là không, cái nào lậu thuộc nhà nào, thanh tra luôn công diêm điền đóng thuế có đủ không. Nói chung là đã làm thì làm cho trọn vẹn tránh bên được vên chăng. Mà nghe đâu mỏ Kẽm ở thanh hóa cùng mỏ đồng ở Hà Tĩnh… hay là tiện thể thanh tra một tí nhỉ, ý các lão ra sao?

Phạm Phú Thứ mỉm cười mà nói một câu tru tâm.

- Cái này cái kia… Thanh tra như vậy quá tốn tiền tài, đang lúc quốc khố trống không.

Trương Đăng Quế bị tung một đòn thẳng vào trán mà ù cả tai, mấy mỏ đồng, kẽm ở Hà Tĩnh và Thanh Hóa hiếu kính lão quá nhiều. Không ngờ làm bí mật vậy mà vẫn bị lão thất phu họ Phạm dò ra.

- Thánh thượng, hạ thần cho rằng tin đồn là không căn cứ, không cần bé xé ra to… chắc cha con nhà Trần tướng cũng… ngứa nghề cũ mà làm chút cho vui thôi, quy mô be bé, không ảnh hưởng.


- Thần tán thành, chắc cũng làm vài mẫu cho đỡ ngừa nghề cũ thôi .. khụ khụ

Một đám quan viên vốn dĩ theo phe Trương Đăng Quế vội vã quay lại nói giúp Trần gia. Đơn giản họ cũng làm muối lậu bỏ mẹ ra ấy, cùng thanh tra có mà bóc lịch cả đám. Không bênh Trần gia thì bênh ai.

- Hừm. Thôi được rồi, lần này nên triệu tên tiểu Tử Trần Quang Diêu kia vào Thái Hòa điện xem hắn đối chất ra sao. Cho người lên đường luôn truyền hắn vào cung.

Quan viên Đại Nam được cái giỏi nhất là nghe nhạc hiệu đoán trương chình, đuổi hình bắt chữ. Muốn trừng phạt Trần gia thì Tự Đức mở miệng một câu là xong, muốn điều tra thì cho Cơ mật Viên Bắc ty bắt mẹ vaod dại lao rồi điều tra. Cớ gì phải tốn công mà vời tên nhóc con chưa đầy 15 tuổi vào triều đối chất, nói là đối chất nhưng thẳng mẹ nó ra cho bớt cong là mến tài mà gọi vào Thái Hòa điện xem mặt cái. Nếu đã ngứa mắt nhau thì tham nhũng là tội lớn, còn đã quý nhau thì tham nhũng lại biến thành tham tài khả ái đáng yêu.

Quan viên Thái Hòa lặng ngắt như tờ, nhưng có kẻ chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Trương Đăng Quế vẫn nhảy ra lột lần nữa.

- Khởi bẩm thánh thượng, thần buộc tội cha con Trần gia tại Vạn Ninh cấu kết thương nhân Mỹ lừa gạt triều đình. Nhà máy vũ khí Đại Nam đã đi vào hoạt động hai tháng nhưng chế không có được bao nhiêu súng cả. Thật là lãng phí tiến bạc của quốc gia, thần tin tưởng cha con nhà họ Trần đã ăn hối lộ của thương nhân Mỹ quốc.

Ô hay rồi, vì bực mình với thái độ giơ cao đánh khẽ của Tự Đức trong chuyện hai cha con họ Trần, lại ức chế Phạm Phú Thứ mỉa mai lão giữa triều đường làm lão mất mặt mũi. Lại căm giận một số tên quan buôn muối lâm trận trở giáo mà Trương Đăng Quế trong chốc lát đã bốc đồng kể tội họ Trần. Cái kiểu kể tội này là bới bèo ra bọ, và cũng là chọc vào một tổ ông vò vẽ, mà tổ ông này rất là khổng lồ.

Phạm Phú Thứ đang nghiêng tai nghe cao kiến của vị Trương các lão, nghe đến cùng thì xuýt lăn ra đất mà cười, lão Phạm chỉ biết nín cười run run mà chỉ Trương các lão sau đó lầm bầm: “ Lần này là tự ngươi muốn chết, thứ cho lão phu không bồi”. Lầm bầm xong thì Phạm lão nhanh như cắt nhảy về một góc khuất của đại điện khoanh tay xem kinh vui.

Phải nói khinh công của Phạm lão quá cao, bởi nếu lão chậm sẽ bị vô vàn người dẫm bẹp. Chỉ thất trong chớp mắt có đến gần hai chục người xông ra.

- Lão thất phu, lão nói ai là người ngậm tiền thương nhân lừa thánh thượng, chúng ta làm việc ngay thẳng không then với trời không phụ thánh thượng. Ngươi không thấy 5 ngàn khẩu súng chúng ta đàm phán mua về lập đại công. Đánh vè bốn chiến hạm còn đáng giá hơn cả năm ngàn khẩu súng kia. Ngươi lão thất phu chỉ nói càn nói xiên, ngồi không vô dụng tìm cách càn quấy chiều cương.
Người nhảy ra là Lâm Duy Hiệp, nếu so tuổi thì lão cũng 60 rồi chả hơn kém gì Trương Đăng Quế. Nói về quan chức thì lão cũng là Thượng thư Cơ Mật Viện cánh tay phải của Tự Đức, phụ thân của lão lại là Lâm Duy Tiếp cũng đồng nghiệp các lão trong nội các. Chả ai kém ai nên lão chửi thẳng luôn.

- Trương các lão, ngài là trọng thần triều đình, thân lại coi nhu trưởng bối của tại hạ. Nhưng quan trường chỉ nói lý. Ngài đã không hiểu chuyện công nghệ, khoa học thì đừng đưa ra kết luận kiểu thúng úp voi, kiểu vơ đũa cả nắm. Nhà máy không có sản lượng cao vì trình độ luyện thép tinh của Đại Nam chúng ta vừa chậm vừa kém chất lượng. Tôi đã có đè xuất nhập thép tốt từ phương Tây hoặc trực tiếp nhập thép từ xưởng thép của Công Ty Cây và Cá ( K and R). Tấu chương tôi đã gửi lên nội các quá nhiều, chẳng nhẽ ngài chưa đọcm chưa duyệt qua. Thật không hiểu trả lương cho ngài để ngài làm gì.
Thật ra tấu chương đã gửi qua nội các và thông qua phiếu nghĩ để trình Tự Đức, chỉ vì Trương Đăng Quế giận quá mất không mà quên chuyện này.

- Đúng vậy, các lão không hiểu khoa học không nên nói bừa, chúng tôi trong sạnh.

- Thánh thượng, oan khuất chúng thần, chúng thần không chịu được cái nhục này.

- Thánh thượng ơi… hu hu hu.

Trương Đăng Quế nhìn đám người như muốn ăn tươi nuốt sống mình mà sợ tái mặt, run run nói:

- Ta… ta … là nói cha con nha họ Trần, nói gì các ngươi đâu.

Đáp lại hắn chỉ là những tiếng hừ lạnh và căm phẫn của đám đông, phe bảo thủ thấy tìn thế không ổn thì cũng im hơi. Thật là vụ mua bán này chính là niềm kiêu hãnh của lục bộ và Cơ mật viện, số người liên quan không chỉ mười mấy người mà thôi. Quan trọng nhất nếu nói cha con nhà họ Trần ngậm miệng ăn tiền mà tuồn hàng kém vào Đại Nam thì mười mấy người trong phái đoàn đi giao dịch chả nhẽ mắt mù. Mà nếu không mù thì là ăn hối lộ. Vậy nên Trương Đăng Quế dính nguyên phát đạn của chính hắn bắn ra.

Tự Đức tức giận vung tay bãi triều… quá là loạn..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 58: Diêu thiếu bá con đạo



Ngày 16 tháng 9, Phải nói mùa thu ở Kinh Đô Huế cũng có vẻ đẹp rất riêng, Nằm giữa dải đất Trung Kỳ nhỏ hẹp với hai mùa nắng gió nhưng Kinh đô Huế vẫn mang một vẻ đẹp mượt mà, Kinh thành dường như trở nên mát mẻ hơn nhờ Hương Giang vắt ngang qua tạo nên một vẻ đẹp tươi mát. Nhưng cho dù Huế giờ đây là kinh đô của Đại Nam, là trung tâm văn hóa, chinh trị, xã hội của cả đất nước nhưng con người nơi đây lại không vồn vã tấp nập đến nghẹn người. Nhân sĩ nơi này có chút gì đó hơi thong thả một chút, hay nói theo con mắt của Diêu thiếu đang nhìn đó là chậm chạp thấy mồ. Cũng phải thôi vì tên này là võ nhân mà không phải văn nhân, nên để cho hắn thưởng thức cảnh thơ mộng của Huế thì sẽ biến thành gảy đàn tai trâu.

Người ta vẫn hay bảo nhau rằng ở Huế chỉ có hai mùa mưa nắng, nắng đến cháy đầu và mưa dài lê thê, mưa âm ỉ, rả rích đến nỗi người ta còn nói vui rằng mưa Huế là một thứ đặc sản đặc biệt mà ông trời chỉ dành riêng cho sứ Kinh kì. Nhiều thi sĩ coi đó là lãng mạn, là mộng mơ. Còn Diêu thiếu coi đó là phiền phức thấy ông nội bà ngoại. Mưa như thế này nếu không có được đạn nguyên khối vỏ đồng chống thấm thì bắn nhau vào mắt. Chắc chỉ có thể trốn trong công sự có mái che mà bắn nhau thôi. Nói chung quân nhân nhìn thấy thời tiết là nghĩ đến làm sao để tác chiến. Còn thi nhân thì nhìn thấy thời tiết nghĩ sao để làm thơ. Mẹ nó quả là hai thái cực không bao giờ chung hòa cho được. Diêu thiếu cũng đang nghĩ sao mà trên đời có những kẻ quái thai, tay trái có thể làm thơ, tay phải cầm kiếm đi đánh giặc. Diêu thiếu riêng khoản thơ văn thì chịu một mảng.

Diêu thiếu đã đến kinh đô được hai ngày rồi, hắn không có nhà, lười ở khách sạn, lại chê dịch trạm của triều đình, thế là tên này làm khách ăn chùa nhà họ Phạm mà không thấy bất kì xấu hổ gì. Không những thế tên mặt dày này mới vào nhà nhưng không hề có suy nghĩ thế nào là chủ thế nào là khách. Người ngoài nhìn vào không biết lại tưởng hắn là thiếu gia nhà họ Phạm đấy. Phạm phu nhân rất là ghét Diêu thiếu, lý do đơn giản Diêu thiếu chính là đầu lãnh hành hạ quý tử nhà bà sống dở chết dở. Nhớ tới những ngày đầu tiên con trai viết thư về kể lể mà lòng Phạm Thị như đứt từng khúc ruột. Cũng may là gần đây không thấy con trai kể lể gì nhưng trong lòng bà vẫn mang thù. Nói chung phụ nữ thù rất dai. Nhưng tức thì tức bà cũng chả làm gì được Diêu thiếu, dọa hắn á, cử người đi dọa Diêu thiếu thì bị dọa ngược quay về xanh mặt tay chân lẩy bẩy. Đánh hắn á, lấy cáng trở người về, cãi nhau á, chấp cả họ nhà Phạm thị. Đầu độc à.. thôi cái này hơi quá không dám làm. Nếu làm thật thì Phạm lão không từ mụ mới lạ. Diêu thiếu không hề phật ý với những trò đùa quái của phu nhân Phạm gia, hắn vẫn nhơn nhơn ra đấy xem chừng là đùa vui thích trí lắm.


Cuối cùng chuyện gì đến cũng phải đến, ngày hôm nay hắn được triệu kiến vào cung Thái hòa “đối chất”. Diêu thiếu một năm qua cao thêm năm phân nên giờ đã là mét bảy, hắn cao hơn hầu hết đàn ông trưởng thành Đại Nam lúc này. Vậy nên khi khoác lên người bộ quan phục cho võ quan thì anh khí bừng bừng, đẹp trai vô đối. Cái bộ quan phục này từ ngày được phát hắn đã mặc bao giờ đâu, vì lần này vào chầu hắn phải mặc lên không ngờ hơi chật một chút, nhưng như thế lại càng khoe được cái bo đì hơi không hợp lứa của mình. Tất nhiên nói đến sự trấn nhiếp về vẻ bề ngoài thì Diêu thiếu vẫn thua xa Cán ca. Thôi thì Diêu thiếu nhẫn nhục không so với con “gấu ngựa” này, đợi và năm nữa thiếu gia phát triển hơn thì so không muộn.

Đêm qua Diêu thiếu đã có một buổi mật đàm cung Phạm Lão.

- Tân Nguyên à, cái tự này là ai đặt cho con.

- Cháu tự nghĩ.

- Thế nghĩa là gì?

- Tân là cách tân, nguyên là khởi nguyên, nghĩa là khởi nguyên của cách tân.

- Tân Nguyên..

- Dạ.

- Có chết cũng không bao giờ được nói cái chữ này có liên quan tới ta nhé.

Trầm mặc.

- Tân Nguyên.

- Dạ.

- Ngày mai gặp thánh thượng quyết không được nói dối bất kể chuyện gì, người là biết tất cả, người ghét nhất là ai nói dối lừa gạt người. Cái gì khó nói thì không nói, nói ra không được dối gạt.

- Dạ.

- Nhưng mà cũng có cái này… Khụ Khụ… Số lượng có thể thành thật, chất lượng có thể biến báo.

- À thì ra là nói thật, những gì thánh thượng có thể biết.

- Thông minh… khụ khụ

- Cụ quá khen.


Điện Thái Hòa, Diêu thiếu không được vào trầu ngay, hắn phải đứng ở cửa điện để chờ, lúc nào được triệu mới có thể vào. Cũng là vị trí này Cán ca đã chờ cả buổi đến đói sắp chết. Tất nhiên kinh nghiệm này được ghi vào gia phả họ tộc. Diêu thiếu là người rất thích đọc gia phả, thế nên trong người hắn bọc lớn bọc nhỏ rất nhiều.

Trong điện cãi nhau ầm ầm cứ cãi, Diêu thiếu đứng ngoài cửa điện nhóp nhép ăn vặt. Mấy tên Cấm vệ quân canh gác xung quanh mắt tròn mắt dẹt nhìn vị tiểu tướng dẹp phỉ đại danh đỉnh đỉnh như đang làm ảo thuật mà lôi từng đám thức ăn ra. Hạt dưa, cắn chán vứt vỏ tứ tung dưới chân, mứt, kẹo hồ lô, nước hoa quả giải khát, bánh, táo, nho, ăn xong vứt hạt dưới chân. Đến lúc Diêu thiếu móc ra một con chim bồ câu quay béo múp thì các thị vệ chịu không nổi nữa rồi mà xông lên can thiệp. Cũng may đúng lúc này thì giọng lanh lảnh the thé đặc chưng của Thái giám vang lên kêu tên Diêu thiếu vào trầu. Vậy là con chim bồ câu quay bị chuyển dời vị trí từ tay tiểu tướng qua tay gã thị vệ gần nhất. Gã này thì ngơ ngác hết nhìn Chim bồ câu trong tay lại nhìn tiểu tướng quân đang phủi đít đi vào điện Thái Hòa.

- Thần nhân… Tên thị vệ thoảng thốt kêu lên một câu.
- Chia thôi… Đấy là tiếng bên cạnh hắn thì thào.

Diêu thiếu oai phong lầm lẫm uy phong bát diện đi vào điện Thái Hòa. Hắn bước trân trầm ổn uy phong bát diện mà tiến lên khiến ai nấy cũng trầm trồ. Quả là thiếu niên lang anh vũ bất phàm. Bỗng nhiên Diêu thiếu quỳ sụp xuống lạy:

- Ngô hoàng vạn tuế vạn tuế vạn vạn tuế.

Diêu thiếu rất phản cảm với nghi thức quỳ lạy, nhưng nhập gia thì phải tùy tục. Hắn có khó chịu cũng phải làm, chẳng qua cũng là cái nghi thức xa giao như bắt tay sau này thôi. Cứ coi như đó là bắt tay cho đỡ buồn nôn vậy. Nhưng hắn quỳ và hô khiến cho quan viên trơn mắt há mồm, đến Tự Đức cũng phải thảng thốt và kinh ngạc. Thật ra quân thần thường ngày làm lễ chỉ cần khom lưng cúi đầu chắp tay kính cẩn mà thôi. Chỉ khi nào có những dịp trọng đại thì mới hành đại lễ như vậy.Mà cái kiểu hô của Diêu thiếu là từ thời Tần quốc của Trung Hoa du nhập, đã ngàn năm rồi không ai hô như vậy cả. Người biết thì cười Diêu thiếu nhà quê, người không biết thì đang rủa Diêu thiếu nịnh hót.

- Tân Nguyên ái khanh, ngươi bình thân đi, lần sau không phải quỳ lạy như vậy, đợi về nhà để Phạm lão giáo ngươi.

Phạm lão bị Tự Đức cạnh khóe thì khu khù khụ không ngừng, đúng là mất hết mặt mũi.

- Ơ, không phải quỳ a. Thần thấy các đoàn diễn kịch toàn quỳ lạy như vậy.

Đúng thật là Diêu thiếu bắt chước người ta mà làm. Nhưng toàn là bắt trước phim ảnh cổ trang Trung Hoa ở kiếp trước. Cái đám làm bậy đáng chém ngàn đao, Diêu thiếu thầm nghĩ. Nhưng mà hắn cũng trách không có nổi, cả cuộc đời hắn kiếp trước chẳng xem được một bộ phim cổ trang lịch sử VN nào ra hồn. Không phải hắn lười xem mà căn bản chính phủ lười làm, có lẽ họ không quá quan tâm lắm về việc tuyên truyền lịch sử hào hùng của dân tộc qua điện ảnh, thôi thì đánh máy rồi in sách giáo khoa đỡ tiền hơn. Thế là giới trẻ Đại Năm những năm 20xx thuộc làu sử Trung do xem phim nhiều. Còn sử việt thì Nguyễn Du là em Nguyễn Huệ, cháu Nguyễn Trãi v.v… May mà bọn này còn phân biệt được hai ông Nguyễn Ánh và Nguyễn Huệ không xếp chung vào danh sách họ hàng, quả là đại may mắn.

Câu trả lời cũng như tự nhủ đầy chất ngây thơi của Diêu thiếu làm cả điện Tháo Hòa cười nghiêng ngả, Tự Đức cũng muốn nhịn cười để giữ uy nghiêm nhưng không được mà giơ tay chỉ Diêu thiếu rồi run run mà đấm ngực. Nhịn cười là công việc cực khó khăn. Diêu thiếu thì thấy quá bất ngờ, hắn ít gì kiếp trước cũng 29 cái xuân xanh và có 10 năm làm mật vụ, phải nói là già già lắm rồi. Nhưng chính thức ngày hôm nay hắn mới thấy rõ được bản thân thật rất trẻ, câu trả lời cùng điệu bộ này của hắn là tự nhiên phát ra mà không phải là diễn. Thối kẹ mẹ nó đi, Diêu thiếu đổ thừa cho đây là hoocmon của cái cơ thể này quái ác.

- Khụ khụ….Tân Nguyên, khanh biết tại sao hôm nay trẫm gọi khanh vào trầu không? Mà đừng có xưng vi thần, khanh mới là quan ngũ phẩm, thần cái gì mà thần, xưng là hạ quan rõ chưa.

Nói xong Tự Đức lại đấm ngực hai cái để bớt buồn cười, mẹ nó quan ngũ phẩm bé teo mà dám xưng thần quả là xưa nay hiếm.

- Cái này.. cái kia.. hạ quan không biết ạ.

- Phạm Thị lang không nói cho Tân Nguyên sao? Nghe nói khanh làm mưa làm gió trong Phủ Phạm gia mà.

Tự Đức nói câu này có hai tầng ý nghĩa, Phạm lão có mớm cung ngươi cũng phải thành thật nói ra, tai mắt của bản hoàng là trải dài khắp thiên hạ. Diêu thiếu cũng ngạc nhiên về sự linh thông tin tức của Tự Đức, hắn hơi nể thằng cha này rồi đấy. Nói thật Diêu thiếu hơi quá đề cao Tự Đức, hệ thống mật thám của Tự Đức chỉ dày đặc và hiệu quả ở Huế mà thôi. Cang đi xa hiệu quả càng bị ảnh hưởng. Nói chung có câu trời cao hoàng đế xa là đúng. Ở dưới chân thiên tử rất khó làm càn.

- Dạ có ạ. Phạm sư công có dặn, lên điện thì hoàng thượng dặn gì trả lời đó, chỉ được nói thật cấm nói dối, thánh thượng ghét nhất nói dối, cái gì khó trả lời quá thì cố giữ im lặng.
Diêu thiếu vừa trả lời vừa nhại lại đúng giọng điệu của Phạm lão.

Lần này thì bố của Tự Đức cũng phải cười lớn, hắn không thể nhịn được cười rồi, hắn cười ra cả nước mắt. Thằng nhóc con này trả lời rất thành thật mà lại còn quá đầy đủ, “ cái gì khó trả lời quá thì cố giữ im lặng” vậy mà hắn cũng dám nói ra.

Phạm lão hôm nay bị Diêu thiếu dọa cho tim gan phèo phổi lộn một đường, hắn vội vã lao ra chắp tay lễ:

- Thánh thương a… hạ thần dạy trò vô năng xin thánh thượng trừng phạt… hu hu hu… thánh thượng ôiiiii.

- Thôi được rồi trẫm không trách khanh…. Để ta hỏi tiếp tiểu tử này. Tân Nguyên có người cáo ngươi tội tự làm diêm điền, sau đó buôn lậu muối khắp bắc nam. Có chuyện này không.

Tự Đức khiêm giọng giả vờ dọa nạt Diêm thiếu. Còn Diêm thiếu thì dương dương tự đắc trả lời như đây là chuyện của ai đó mà không phải của mình.

- Dạ thưa đúng ạ..
 
Xuyên Về Thời Nguyễn Hỗn Quân Phiệt
Chương 59: Nhà thần sắp phá sản rồi.



Câu trả lời quá mức thẳng thắn thường làm cho đối phương hết sức bất ngờ và bị động, điển hình lúc này phe bảo thủ đang lăm lăm vác đao ra trận bỗng nhiên cảm thấy chiêu thức mình đã chuẩn bị như đánh vào không khí vậy.

- Khụ khụ.. Vậy Trần gia nhà các ngươi dám tự làm diêm điền diện tích bao nhiêu? Kiếm lợi như thế nào?

Tự Đức cũng không khỏi phát sặc với câu trả lời của Diêu thiếu, nên đành phải khụ khụ che lấp rồi tiếp tục diễn vở kịch dọa nạt một phen.

- Dạ thư thánh thượng, thần có làm một chút chỉ có tầm trên ba ngàn mẫu gì đó (đơn vị mẫu lúc này thời Nguyễn là lấy Trung kỳ làm quy chuẩn 1 mẫu = 4.970 m²). Thu hoạch cũng khá một chút nhưng mà nhà thần tiêu pha hết rồi, giờ đây thần nghèo một nghèo hai trắng rất là đáng thương.

- Hả khanh nói cái gì, hơn ba ngàn mẫu diêm điền? Mà khanh không được xưng là… mà thôi… chuẩn cho Tân Nguyên được đặc cách xưng thần. Tân Nguyên nói xem nhà khanh làm muối đến ba ngàn mẫu thì thu hoạch ít nhất cũng là năm đến bảy ngàn quan một tháng. Làm sao nhà khanh có thể tiêu hết số tiền như vậy.


Không hổ là Tự Đức chăm chỉ việc dân, không ngờ ông ta có thể “nắm rõ” thu nhập của các ngành nghề đến như vậy. Nhưng sự thật thì Tự Đức chỉ nắm được thu nhập các ngành thông qua các con số báo cáo hàng năm mà thôi. Mà những con số này đã bị Hộ Bộ, Quan địa Phương , thậm chí các lão Nội các biến báo không ít để ném túi riêng. Ba ngàn mẫu diêm điền của Diêu thiếu một tháng bán buôn, xuất lẻ cũng lãi dòng đến hai vạn cơ đấy. Gần như dọc hết các bãi lầy tại chu vi xung quanh Vạn Ninh đã bị khai khẩn thành Diêm Điền hết cả rồi. Nếu nói đến quy mô khai thác thì Vạn Ninh đang đứng hàng thứ nhất trong tất cả các cơ sở làm muối tại Đại Nam.

Tự Đức ngạc nhiên hỏi vì ông tò mò mà thôi. Con số mà các thám tử trình báo lên cho Tự Đức là Trần gia làm muối lậu diện tích gần ngàn mẫu. Thời này không có vệ tinh quan sát nên mấy thám báo này nếu không tổ chức đo đạt một cách quy mô thì chỉ có thể ước lượng. Mà những thám tử này hoàn toàn dựa theo thưởng thức bình thường mà bẩm báo. Nào ai có thể ngờ rằng Trần gia vậy mà biến cả chu vi bờ biển của Vạn Ninh thành Diêm điền.

Quả thật lúc ban đầu Diêu thiếu cũng chỉ cho khai khẩn gần ngàn mẫu diêm điền mà thôi. Nhưng khốn nạn là nạn dân chui vào Vạn Ninh quá nhiều. Tổ chức cho họ đi khai hoang, phục hóa cũng không hết người, cho trồng thuốc phiện, thuốc lá, trồng bông cũng vẫn còn dư. Số còn lại không thể ngồi không mà hưởng trợ cấp được. Vậy nên Diêu thiếu bất kể đụng chạm lợi ích nhóm mà cho khai khẩn diêm điền một cách quy mô. Việc này dẫn đến các hộ có kinh doanh diêm điền bất mãn mà vận dụng thế lực sau lưng mình để tống cho Diêu thiếu một khích.

Nhưng Diêu thiếu vịt chết không ngại nước sôi, hắn đãn thành công sản suất heroin. Làm Diêm một năm chẳng bằng nửa tháng làm thuốc. Nếu làm quá thì Diêu thiếu sẵn sàng hi sinh Diêm Điền cho cái lũ diêm phú một kích hồi mã thương.

- Khởi bẩm thánh thượng. Diêm điền tuy lớn nhưng còn phải tiêu thụ, người sản xuất diêm như thần tràn ngập cả Đại Nam, thần làm ra biết bán cho ai. Bên cạnh đó không thể không mở thêm ruông muối cho được, không hiểu sao nạn dan kéo về Vạn Ninh quá đông, không có việc cho họ làm thì Vạn Ninh loạn mất. Tính đến lúc này nhân khẩu Vạn Ninh tăng thêm gần bảy vạn người. Họ không có ăn không có mặc nên thần phải cứu trợ, rồi cho họ giống cây, dụng cụ khai khẩn, trồng chọt. Số tiền mà Diêm điền thu được còn chẳng đủ bù vào. Thêm vào đó lão tía của thần ba ngày đem quân đi đánh Cát Bà mọt trận nhỏ, Bảy ngày một trận lớn. Nhà lão lại nuôi cả đám ca kỹ… ôi thánh thượng ơi nhà thần sắp phá sản rồi…


Tự Đức ngẫm nghĩ, Diêu thiếu nói không sai chút nào, tình hình Vạn Ninh ông cũng nắm một hai, nếu mà cứu viện đến bảy vạn nạn dân thì số tiền kiếm được từ ba ngàn mẫu diêm sợ là không đủ. Lại còn đánh trận, lại còn ca kỹ…. á khoan… ca kỹ, hay a Quang Cán nhà ngươi đã có tiền chơi ca kỹ chắc là nhà vẫn còn dư dả… Con tiểu hồ ly dấu đầu hở đuôi rồi. Tự Đức mỉm cười thân thiện.


- Trần Quang Cán ai khanh thú vui tao nhã a. Đánh trận giúp trẫm nhưng không quên phong lưu ca kỹ… Có tốn nhiều tiền không?

Tự Đức giả vời bâng quơ mà hỏi một câu, quả thật biểu hiện của Diêu thiếu lúc này làm rất nhiều người hiểu nhầm là ngây thơ thiếu niên và rất thành thật.

- Dạ, ông ta cũng chỉ có hai thú vui này nên thần cũng lười quản, thần tuổi nhỏ nên món thứ hai chưa đụng vào nổi, giờ chỉ biết luyện binh đánh giặc thôi…. Đợi thêm vài tuổi nữa…

Nói đến đây Diêu thiếu im bặt. Phạm Phú Thứ mặt đen một mảng biểu hiện ra là tức giận không thôi. Nhưng trong tay áo chùm kín của lão đang giơ ngón tay cái lên bội phục. Con mẹ nó diễn quá tốt, tên đồ tôn này phải làm quan văn mới hợp lẽ. Không ai trong triều là hiểu được sự tinh minh của Diêu thiếu như lão Phạm, lão đang cười cả triều bị Diêu thiếu lừa đảo bởi vẻ ngoài ngây ngô thật thà. Thực ra cả triều đang bị hắn dắt mũi đi vòng vòng. Vấn đề ruộng muối dần dần bị chuyển qua vấn đề lưu dân và cả vấn đề cá nhân phong lưu gì đó.

Nhưng cả triều thì lại có suy nghĩ đúng là cha nào con nấy. Vừa ham đánh trận lại thêm háo sắc, cái tên thiếu niên này lớn thêm mấy tuổi nữa không biết sẽ gây ra bao nhiêu sắc họa. Nhà nào quan viên có con gái cùng lứa Diêu thiếu đều nghĩ đến việc đóng cửa thả chó quyết không để gã này bước vào nhà một bước. Tự Đức thì rất vui vẻ, Diêu thiếu trong mắt hắn được đánh giá là rất thật thà, thêm vào đó cha con nhà họ Trần vừa ham đánh trận lại mê nữ sắc, không hẳn là chuyện không hay. Ít nhất bậc đế vương không muốn thấn tử quá suất sắc không tì vết, hám tiền mê gái là biểu hiện bình thường của đàn ông. Nếu đến cả sắc dục cùng tiền tài đều có thể khắc chế thì đó mới là phần tử đáng sợ, phần tử này thường mang trí lớn mà khó khống chế.

Diêu thiếu cũng là người hiện đại vạn phần, hắn hiểu biết còn quá rộng. Những pha tự làm xấu mình của các thần tử trong lịch sử để tránh nghi kị cảu bậc đế vương quá nhiều, Diêu thiếu chỉ là diễn một chút. Nói chung là hắn cũng chẳng nề hà lắm Tự Đức, cùng lắm không được thì hắn dẫn binh bỏ ra nước ngoài sinh tồn. Có công ty K&R trong tay thì hắn đói không có được. Nhưng nếu có thể ở lại Đại Nam để giúp nước mẹ phát triển thì vẫn là tốt nhất. Vậy ra Diêu thiếu cũng cất công suy nghĩ để thân cận Tự Đức hơn.


- Khụ Khụ… tuổi trẻ trí lớn, Trẫm rất hân thưởng Trần gia các ngươi. Đánh giặc cho tốt… Tân Nguyên. Hoàng Diệu tướng quân đã đánh thắng trận dòn dã tại Nam Kỳ, ông ta thu được 4 chiếc chiến Hạm tân tiến của Pháp quốc và đã chuyển về Huế. Hoàng Diệu có tiến của khanh quản bốn chiến hạm này. Theo ý kiến của Khanh thì có thể dùng bốn chiến Hạm này đánh quân Pháp chăng?

Tự Đức lòng tò mò về Vạn Ninh đã giảm, ông ta chủ động chuyển qua chính sự vấn đề. Nhưng có một người vẫn không muốn bỏ qua cho cha con họ Trần dễ dàng như vậy. Trương Đăng Quế các lão nôi các đứng ra.

- Khởi bẩm thánh thượng, chuyện nhà họ Trần làm tư diêm vẫn chưa có câu trả lời ổn thỏa. Mong thánh thượng suy xét.

Vất vả lắm mới xoay được dư luận đi nơi khác, lại có kẻ kéo về chủ đề cũ khiến Diêu thiếu căm tức không thôi. Thật ra thì Trương Đăng Quế không hề có mâu thuẫn cá nhân gì với cha con họ Trần cả. Nhưng khốn nỗi hai bên đứng hai trận doanh khác nhau. Trương Đăng Quế là đan chủ bảo thủ đảng mà họ Trần lại là quân tiên phong của cải cách đảng. Không đánh nhau mới là chuyện lạ đời.

- Ừm, việc này Trương ái khanh nói có lý. Vậy đi, năm nay Diêm điền Vạn Ninh vì phải cứu tai nên miễn thuế. Năm sau Tân Nguyên khanh nhớ phải đóng thuế đầy đủ cho triều đình. Không đóng thuế đủ thì khanh tự mang roi mây vào điện Thái Hòa. Trẫm đích thân dạy cho khanh bài học thích đáng. Chuyện Diêm Điền Vạn Ninh dừng ở đây. Chúng ta quay lại chuyện quân hạm người Pháp.

Chúng thần trong điện Thái Hòa ồ lên kinh ngạc, con mẹ nó đây là kiểu gì trừng phạt. Mang roi mây vào triều để Tự Đức quất. Đây là gia pháp chứ quốc pháp cái nỗi gì, triều đình hướng gió có vẻ hơi lay lay. Các quan viên vội vã chuẩn bị hướng đi cho mình.

- Thánh thượng anh minh, vi thần không dám, năm sau vi thần nộp thuế đầy đủ, hì hì.
Diêu thiếu giả bộ nai tơ mà gãi đầu cười khì khì. Xem ra nột thuế cũng chẳng là gì. Cùng lắm một năm nộp cho hộ bộ một vạn là cùng. Cái này Tự Đức lập lờ đánh lận con đen, diêm điền của Trần gia là bất hợp pháp, đáng ra là bị thu xung công. Nhưng Tự Đức lại chuyển thành nộp thuế, các quan biết rõ điều này, nhưng hình phạt kiểu gia pháp của Tự Đức sau đó đã nói rõ. “ Trẫm coi hắn là tâm phúc, là người nhà mà bảo hộ, làm một chút ưu đãi thôi, thằng nào muốn chọc ngoáy thì xông vào, Trẫm tiếp hết”. Đã nói đến thế thì bố tổ sư đứa nào ngứa đòn mà nhảy vô chịu vạ đây.

- Còn chuyện về bốn chiến hạm Pháp Quốc thì thần cho rằng không có tác dụng nhiều trong cuộc chiến Nam Kỳ.

Nói đến chiến tranh thì khí chất của Diêu thiếu trở nên thay đổi 180 độ. Hắn trở nên trầm tĩnh, lạnh lùng, cộng thêm nghiêm túc vô cùng mà không còn bộ dạng hi hi ha ha trước đó. Biểu hiện của Diêu thiếu khi nói đến việc quân cũng làm chi Tự Đức tán thưởng không thôi.

- Không ngờ Hoàng tướng quân anh dũng chiến đấu lại đi tin nhầm một tên sĩ quan ngũ phẩm như vậy. Đúng là đáng buồn cười, bốn chiếc chiến hạm tân tiến đến vậy mà nói là vô tác dụng. Nếu tiểu tướng ngũ phẩm như ngươi không đủ trình độ thì nên nhường cho người khác có năng lực đi.

Trương Đăng Quế vẫn cắn chặt Diêu thiếu không thôi.


- Xin hỏi vị đại nhân này là….

Diêu thiếu không kiêu không nịnh mà chắp tay hỏi cái tên râu bạc năm lần bảy lượt chọc ngoáy hắn trên triều.

- Lão phu Trương Đăng Quế…

- Ồ thì ra là Trương các lão, thất kính thất khính. Cơ mà trên triều chỉ bàn quan vị mà thôi nên cái danh từ lão phu này các lão sau này nên ít dùng thì hơn.


Diêu thiếu việc nhân đức không nhường ai, con mẹ lão trâm chọc hắn thì Diêu thiếu há là bùn nhão mà không đâm lại một phát. Ý câu nói của Diêu thiếu là, giờ đây trên Thái Hòa điện ông lấy quan to ra đè tôi thì ok, đừng chơi kiểu cạy già lên mặt không hay tí nào. Nhưng trong câu nói của Diêu thiếu có ý răn dạy, điều này khiến cho Trương Đăng Quế không tức đến ứa máu mồm mới là lạ..
 
Back
Top Dưới