Cập nhật mới

Khác Việt Nam - Một lịch sử

Việt Nam - Một Lịch Sử
40. TRẦN QUANG KHẢI_Đại thần ba triều


Bố Trần Cảnh với mẹ Thuận Thiên khởi nghiệp thành công ra bé Trần Hoảng thì phấn khởi lắm.

Thừa thắng xông lên, chỉ một năm sau, tức năm 1241, bố Cảnh và mẹ Thiên đã hấp tấp cho ra lò thêm bé Quang Khải.

Hồi bé Khải còn quấn tã bị bà vú cho tắm hơi lâu nên sốt cao co giật, mắt mũi trợn ngược.

Bố Cảnh bèn lấy cái áo cũ ông nội Thừa hay mặc hồi còn sống và thanh ngự kiếm ra đặt trên giường, bảo:

- Nếu sống được thì tau cho cầm chơi.

Bố Cảnh nghĩ bé Khải chuyến này toi chắc rồi nên mới nói thế để an ủi vong linh thôi, ai ngờ bé Khải chưa tới số.

Bố Cảnh thấy bé Khải khỏe lại thì ngẩn tò te bảo:

- Kiếm ngự không tặng bừa bãi được.

Cuối cùng bé Khải chỉ được cái áo cũ của ông nội Thừa.

Bé Khải tí tuổi đầu đã được bố Cảnh phong làm Chiêu Minh vương và gửi gắm cho Bảng nhãn Lê Văn Hưu dạy dỗ.

Không phụ lòng thầy Hưu và bố Cảnh, bé Khải học một biết mười, giỏi thi từ ca phú, còn biết cả tiếng của một vài dân tộc thiểu số.

Năm 1258, cậu ba Khải tròn 17 tuổi, dậy thì thành công rực rỡ, được bố Cảnh đem gả cho công chúa Phụng Dương là con gái của ông chú ruột Trần Nhật Hiệu.

Sau này công chúa Phụng Dương sinh liên tục 7 đứa, chiếm trọn sóng, không chừa lại đứa nào cho mấy cô vợ lẽ của cậu ba Khải. 😎😎😎 Sau khi cậu ba Khải lấy vợ, bố Cảnh cũng cho thêm ít tiền để đi xây nhà riêng ở phủ Thiên Trường, tức thái ấp Độc Lập.

Cùng năm đó, bố Cảnh nhường ngôi cho cậu hai Hoảng, sử gọi là Trần Thánh Tông.

Cậu ba Khải cũng được Thánh Tông phong lên thành Chiêu Minh Đại vương.

Hai anh em lên chức, cả nhà cùng vui.

Thầy bói nói cậu ba Khải đường công danh vô cùng xán lạn.

Trong khi cậu hai Hoảng từ hồi làm vua cố gắng phấn đấu đến bục mặt cũng không thăng nổi chức thì cậu ba Khải lại thăng chức vèo vèo.

Năm 1261, cậu ba Khải được phong làm Thái úy, chính thức tập tành buôn chuyện quốc gia đại sự khi mới vừa tròn 20 tuổi.

Năm 1265, Thánh Tông lại phong cậu ba Khải làm thượng tướng, trấn thủ Nghệ An.

Năm 1271, cậu ba Khải tiếp tục được phong lên hẳn Tướng quốc thái úy, trở thành đại thần đầu triều.

Năm 1277, Thánh Tông ngự giá thân chinh đi dằn mặt mấy bộ tộc thiểu số thái độ lồi lõm ở tận Quảng Bình, có gọi cậu ba Khải đi chung cho vui.

Không may lại đúng dịp sứ thần phương bắc sang du lịch.

Vua và Tướng quốc kéo nhau đi hết sạch, không có ai ở nhà tiếp sứ.

Bố Cảnh bèn gọi cháu ruột là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn tới, bảo phong làm Tư đồ rồi cho ra tiếp khách.

Quốc Tuấn tài giỏi mưu lược cái gì cũng biết, bao gồm cả biết điều.

Tuấn bảo cháu vẫn tiếp khách, nhưng phong làm Tư đồ thì để Thánh Tông và cậu Ba Khải về rồi hãy tính.

Sau đó, không có sau đó nữa, bố Cảnh cũng không nhắc lại chuyện phong tước vì cậu ba Khải và Quốc Tuấn vốn đếch ưng cái mặt nhau. 😂😂😂

Năm 1278, Thánh Tông truyền ngôi cho Trần Khâm, sử gọi Trần Nhân Tông.

Năm 1281, nhà Nguyên cử Sài Thung sang Đại Việt ăn dầm uống dề ít hôm.

Thung cậy có bảo kê máu mặt nên thái độ lồi lõm.

Nhân Tông cử chú Khải qua tiếp khách Thung đóng cửa không thèm gặp.

Thung cứng lắm, chẳng thích gì chỉ thích sư.

Mãi tới khi Quốc Tuấn cạo đầu, mặc áo cà sa đóng giả nhà sư phương bắc Thung mới thèm ló cái mặt ra tiếp.

Năm 1282, cậu ba Khải lại tiếp tục được phong lên Thượng tướng thái sư, cả quân sự lẫn hành chính đều nắm trọn.

Thanh niên Quốc Tuấn vì có hiềm khích với cậu ba Khải, là đại thần đầu triều kiêm em trai rồi lại tới chú của hoàng đế, nên dù lập nhiều công tích nhiều lao thì đường công danh vẫn cứ long đông lận đận.

Tuy vậy tới năm 1283, trước tình hình nhà Nguyên ngày càng gây áp lực, chiến tranh đã bò đến sát mông, thì Nhân Tông buộc phải phong thanh niên Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội toàn quốc.

Như vậy xét riêng về mặt quân sự thì thanh niên Quốc Tuấn còn chỉ đạo được cả cậu ba Khải.

Mối bất hòa giữa hai thanh niên máu mặt nhất triều đình càng trở nên sâu sắc.

Một hôm Quốc Tuấn xuống nhà cậu ba Khải chơi để gia tăng tình hữu nghị.

Từ ngày tắm lâu bị sốt cao co giật, cậu Ba Khải trở nên vô cùng lười tắm.

Thanh niên Quốc Tuấn lại quen tắm dầu thơm, xức nước hoa nồng nặc nên ngồi gần cậu ba Khải bốc mùi như vậy thì thấy nhức mũi lắm.

Thanh niên Quốc Tuấn bèn bảo:

- Mình mẩy cáu bẩn, để tui tắm cho nhóe.

Rồi chưa kịp để cậu ba Khải hoàn hồn, thanh niên Quốc Tuấn đã xông vào lột quần áo rồi nhúng cậu ba vào thùng nước thơm, vừa kì cọ vừa hớn hở nói:

- Ây da, hôm nay được tắm cho Thượng tướng.

Cậu ba Khải cũng mùi mẫn đáp lại:

- Ây da, hôm nay được Quốc công tắm cho sướng hầy, nhưng đừng tắm lâu quá nhóe.

Từ đó trở đi, tình cảm giữa hai người bắt đầu trở nên nồng đượm.

Năm 1285, giặc Nguyên Mông rảnh rỗi không có việc gì làm lại kéo sang xâm lược.

Quan quân nhà Trần trên dưới đồng lòng, cho quân Nguyên ăn hành tập hai.

Khi cả nhà Nhân Tông khăn gói dọn về Thăng Long, cậu ba Khải ngẫu hứng sáng tác bài thơ Phò giá về kinh, hiện vẫn đang được in chình ình trong cuốn sách ngữ văn lớp 7.

Khi quân Nguyên sang ăn hành tập ba, cậu ba Khải cùng thanh niên Quốc Tuấn lại ghi được công đầu.

Năm 1294, tức năm thứ hai vua Trần Anh Tông lên ngôi, cậu ba Khải qua đời, thọ 54 tuổi.

Trần Quang Khải phụng sự ba đời vua, cả đời lao lực vì dân vì nước, được Thánh Tông khen ngợi là bề tôi trung hiếu hiếm có.

P/s: Theo dõi bài viết mới nhất tại fanpage SĂN MỘ
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
NGUYỄN TRÃI_Thảm án Lệ Chi Viên


NGUYỄN TRÃI – Thảm án Lệ Chi Viên

Lệ Chi Viên là vụ án oan gây rúng động dư luận Đại Việt những ngày cuối thu năm 1442, là vụ bê bối bậc nhất trong lịch sử ngành Tư pháp, cột chặt mấy trăm mạng người vô tội vào một bản án tru di tam tộc.

Trong vụ Lệ Chi Viên, danh sách những người số nhọ phải xếp hàng dài tận mấy km.

Người số nhọ đầu tiên phải kể tới nạn nhân là vua Lê Thái Tông, mới hai mươi tuổi đầu xuân xanh mơn mởn, không dưng lại bị rước lên bàn thờ ngồi.

Kế đến là người bị coi như hung thủ ra tay trực tiếp Nguyễn Thị Lộ và đồng chủ mưu Nguyễn Trãi.

Sau này Nguyễn Trãi được chính con trai nạn nhân, tức vua Lê Thánh Tông, xuống chiếu trả lại sự trong sạch.

Người số nhọ tiếp theo là những bà vợ và đàn con nheo nhóc của nạn nhân Lê Thái Tông.

Chỉ trong một đêm, cả dàn phi tần mới mười mấy tuổi đầu thoắt cái trở thành góa phụ và bị đội lên thành nào là thái hậu, thái phi, thái tiệp dư, thái chiêu nghi,... nói chung là trở thành một dàn thái thái, nghe đã thấy già không thể tả.

Bốn hoàng tử, từ lớn nhất là Nghi Dân bập bõm học vỡ lòng cho đến Tư Thành còn đang quấn tã, phút chốc trở thành trẻ mồ côi.

Nhưng nhọ nhất trong vụ Lệ Chi Viên phải kể đến họ hàng ba đời nhà Nguyễn Trãi, những người bị giải ra pháp trường với khuôn mặt ngơ ngác không lẫn đi đâu được.

Và rất có khả năng nhiều người cho đến lúc chết mới phấn khởi biết rằng mình hóa ra có rây mơ rễ má với quan lớn trong triều.

Vậy nguồn cơn nào đưa đến vụ thảm án Lệ Chi Viên?

Thử quay trở lại thời điểm hơn một năm trước, khi bầu trời vẫn sạch bóng mây và máu người vô tội chưa nhuộm hồng cái vườn vải vài hecta nhà Nguyễn Trãi, để coi chúng ta có gì.

Năm 1441, Thần Phi Nguyễn Thị Anh sinh hạ hoàng tử Bang Cơ khi mới vào cung được 6 tháng.

Sinh non 6 tháng trong cái thời kì y học thô lậu lúc đó thì họa có thánh mới sống được.

Tất nhiên giả thuyết Bang Cơ là thánh nghe rất ngu, nên có thể tạm kết luận thằng nhỏ thực ra sinh đủ tháng.

Có lời đồn đại rằng trước khi vào cung Thần phi đã có thai với một người tên Lê Nguyên Sơn.

Vậy tại sao một minh quân điển hình như Lê Thái Tông lại không thể nhận ra mình đang đổ vỏ mặc cho sự thật gần như chọi thẳng vào mặt?

Thậm chí Thái Tông còn yêu thích Bang Cơ tới nỗi lập thằng nhỏ làm thái tử.

Trong chiếu thư ban xuống, Thái Tông không chút ngần ngại phô bày niềm tự hào và hí hửng tột độ về quyết định này.

Sau khi gạt đi những giả thuyết hoang tưởng thì còn lại một giả thuyết nghe-tưởng-ngu-ai-dè-ngu-không-tưởng, đó là nhan sắc Nguyễn Thị Anh thuộc loại khủng khiếp vạn người có một.

Điều có thể khiến thanh niên Nguyên Long trở thành một người đàn ông cao thượng, không những vui vẻ đổ Vỏ mà còn dốc sức tô vẽ Vỏ cho thật đẹp, phải chăng là vì tình yêu vô vờ bến với nữ chủ nhân chân chính của Vỏ, Thần phi Nguyễn thị.

Thái Tông mặc dù đắm chìm trong tình yêu với Nguyễn Thần phi (theo giả thuyết ngu-không-tưởng ở trên), nhưng vẫn luôn canh cánh trong lòng trách nhiệm duy trì nòi giống.

Hệ quả tất yếu là tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao mang thai.

Một ngày mưa rào lụt lội, Nguyễn Thần phi hết hồn nhận ra thanh niên "chung tình" Nguyên Long mấy bữa trước còn vui vẻ hốt Vỏ của mình, bữa sau đã say đắm bên người đàn bà khác.

Lý trí mách bảo Thần phi, cái ngày mà Thái Tông không còn quấn lấy mình cũng là ngày ảnh hết hứng đổ vỏ.

Đến lúc ấy kết cục của bà hẳn còn thê thảm hơn Dương thị, mẹ của phế thái tử Lê Nghi Dân (bị giáng làm thứ nhân).

Tranh thủ lúc lời thủ thỉ của mình còn vài cân sức nặng, Nguyễn Thần phi đã buông lời gièm pha Ngô tiệp dư với Thái Tông.

Về phần bà nói xấu chuyện gì thì sử sách không ghi lại (có thể là chuyện Ngô tiệp dư tháng tắm một lần, hoặc đi... không rửa tay).

Nói chung Thái Tông đâm ra chán ghét cùng cực đến nỗi muốn giết quách Ngô tiệp dư, mặc cho bà này đang mang thai đứa con mà Thái Tông được đứng tên chính chủ một cách danh chính ngôn thuận.

Trước sự can ngăn quyết liệt của vợ chồng Nguyễn Trãi - Nguyễn Thị Lộ và một vài đại thần trong triều, Thái Tông cuối cùng cũng đồng ý để cho Ngô Thị Ngọc Dao sinh xong rồi tính, nhưng không cho phép ở lại trong cung mà phải ra sống ở chùa Huy Văn.

Sau này cũng chính Nguyễn Thị Lộ và Đinh Liệt đã tìm cách đưa bà Ngọc Dao rời khỏi kinh thành khi sắp tới kì sinh nở để tránh tai mắt của Thần phi.

Tháng 8 năm 1442, bà Ngô Thị Ngọc Dao sinh hạ hoàng tử thứ tư Lê Tư Thành.

Thần phi không làm sao tóm được mẹ con bà Ngọc Dao, càng đâm ra ghét cay ghét đắng vợ chồng Nguyễn Trãi, ghét ứ để đâu cho hết.

Ngày 1 tháng 9 năm 1442, vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền đông, duyệt quân ở Chí Linh, Hải Dương.

Ngày 7 tháng 9, trên đường trở về Thái Tông ghé Lệ Chi Viên - vườn vải rộng mấy hecta nhà Nguyễn Trãi.

Nguyễn Trãi hào phóng đón tiếp, vườn bao nhiêu vải ngon vặt mời vua ăn hết.

Giả như khi ấy Nguyễn Trãi biết đây là bữa vải cuối cùng của Thái Tông, thì có lẽ chỉ cần vừa nghe phong phanh vua bén mảng đến lãnh phận nhà mình là Nguyễn Trãi đã khăn gói đưa cả gia đình đi nghỉ mát để tránh tai bay vạ gió.

Nhưng khổ nỗi Nguyễn Trãi không biết, nên ông còn phấn khởi bảo người vợ thứ ba là Nguyễn Thị Lộ vào hầu chuyện vua cho vui.

Nguyễn Thị Lộ năm ấy 40 tuổi, vừa xinh đẹp vừa có tài văn chương, được Thái Tông rất mực yêu quý phong làm Lễ nghi học sĩ, hay được vào hầu bên cạnh.

Sử sách ghi: "Vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi mất."

Các quan giấu kín chuyện này, đêm ngày 9 tháng 9 về đến Đông Kinh mới phát tang.

Trong tình cảnh mọi chứng cứ ngó qua có vẻ rõ rành rành, lại thêm Thần phi, lúc này đã trở thành thái hậu, ngấm ngầm đứng sau đẩy kèo, Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ bị bắt và khép vào tội phản nghịch, kết án tru di tam tộc.

Ngày 19 tháng 9 năm 1442, hàng chục mét khối đất vất vả đào lên lại được lấp xuống, vùi thây mấy trăm mạng người trong gia tộc Nguyễn Trãi, tiếng khóc than dậy đất.

Vị khai quốc công thần của triều Hậu Lê, ngôi sao khuê lấp lánh giữa bầu trời Đại Việt đã kết thúc cuộc đời ở tuổi 63 bằng nỗi oan khuất thấu tận trời xanh.

Thảm án Lệ Chi Viên năm ấy chỉ có một người sống sót, đó là con trai Nguyễn Trãi tên là Nguyễn Anh Vũ, không biết nên gọi là số quá may hay quá nhọ.

Anh Vũ mai danh ẩn tích trốn tránh sự truy sát quyết liệt của triều đình, bắt đầu những năm tháng lúc nào cũng như đặt mông trên chảo lửa.

Năm 1464, Lê Thánh Tông, tức Lê Tư Thành, cuối cùng đã xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi và truy tặng ông tước hiệu Tán Trù bá.

Lệnh truy nã gia quyến của Nguyễn Trãi cũng được gỡ bỏ.

Nguyễn Anh Vũ lần đầu tiên sau 22 năm trốn chui trốn lủi, cuối cùng cũng có thể tận hưởng cảm giác sung sướng khi được bước đi đường hoàng giữa chợ.

***

Vậy tóm lại ai đã giết Lê Thái Tông?

Nếu hung thủ là Nguyễn Thị Lộ thì mục đích của bà ta là gì?

Theo một truyền thuyết thật-là-tào-lao-nhưng-bấy-giờ-ai-cũng-tin-sái-cổ là "Rắn báo oán", thì Thị Lộ là do một con rắn có thâm thù đại hận với bố Nguyễn Trãi đầu thai thành.

Con rắn, tức Thị Lộ, đã trả thù cả gia tộc Nguyễn Trãi bằng cách gây ra cái chết của vua Lê Thái Tông, dẫn đến họa tru di tam tộc.

Nhưng trong thời đại ngày nay, khi vị trí của yếu tố tâm linh tụt xuống hàng thứ yếu, thì truyền thuyết này lại thể hiện một sự ngô nghê rất đúng điệu.

Một giả thuyết khác được nhiều người gật gù ủng hộ hơn, đó là chính Thần phi Nguyễn Thị Anh đứng sau vụ ám sát trong vườn vải.

Thần phi, theo những gì diễn ra ở trên, thì là người có động cơ rõ ràng và thu lợi nhiều nhất trong vụ này.

Nhưng cá nhân tôi lại cho rằng cái chết của Thái Tông chỉ đơn thuần là do vận đen của chính ông, và việc ông chết ở Lệ Chi Viên thì chỉ chứng tỏ một điều đó là Nguyễn Trãi cũng đen không kém.

Bởi cứ nhìn lại những năm tháng trị vì của Thái Tông, 11 tuổi lên ngôi, thẳng tay dẹp gian thần lộng thần, sát phạt quyết đoán, ta sẽ thấy việc một người đàn bà mới vào cung gần 2 năm, không con ông cháu cha, không thế lực chống lưng có thể vươn tay đến tận vườn vải ở mãi đâu đâu để bóp chết Thái Tông là điều thật phi lý.

Còn vai trò của Thần phi Nguyễn Thị Anh trong vụ Lệ Chi Viên có chăng cũng chỉ là tham gia đẩy thuyền ở khâu cuối cùng.

Có lẽ bà đã nảy ra ý định đổ vạ khi biết tin chồng mình vừa hay chết ngay tại vườn vải nhà Nguyễn Trãi.

Nhưng tất nhiên, đó cũng chỉ là một quan điểm cá nhân đến không thể cá nhân hơn.

Và Lệ Chi Viên chắc chắn sẽ còn đứng đầu danh sách những thảm án không lời giải đáp trong lịch sử Việt Nam một thời gian dài nữa.

#việt_nam_một_lịch_sử
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
QUANG TRUNG_Ngày tàn của Lê, Trịnh


HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG _ Ngày tàn của Lê-Trịnh

Hoàng đế Quang Trung khi còn lẹt đẹt ở chức Long Nhương tướng quân vẫn ngày ngày bị cái "chí lớn" to bằng hạt vừng của vua anh Nguyễn Nhạc kìm hãm.

Số là Nguyễn Nhạc sau khi làm chủ Nam hà, lập ra nhà Tây Sơn thì đã rung đùi hài lòng, cảm thấy cái thành Hoàng Đế (kinh đô của Tây Sơn ở Quy Nhơn) khang trang rộng rãi hơn cái nhà lá thần thánh 3 anh em từng chui ra chui vào gấp tỉ lần.

Nhưng Nguyễn Huệ lại không thấy thế.

Chí làm trai tung tăng từ bắc vào nam, sớm biết thế nào là giang sơn gấm vóc rộng lớn, cò bay xệ cánh, sùi bọt mép.

Lại nhìn cái đống hẩu lốn Lê - Trịnh ở Bắc hà thấy cực kỳ lộn mắt, quân không ra quân, thần chẳng ra thần.

Năm 1786, Nguyễn Huệ phụng mệnh vua anh dẫn quân đi đánh chiếm Phú Xuân.

Nguyễn Nhạc dự định vét nốt cái thành Phú Xuân thôi, "chí lớn" đến đây là đã phình to hết sức có thể.

Trước khi em giai đi còn dặn tới dặn lui, dặn phát lộn ruột: "Mày rỉa Phú Xuân xong về ngay với anh nghen, chớ có bén mảng ra Bắc hà nghe hơm."

Nguyễn Huệ đang nổi máu bừng bừng, nghe tai trái để trôi cái tuột qua tai phải.

Sau khi chiếm được Phú Xuân dễ hơn húp cháo, Nguyễn Huệ ngồi trong thành lại cứ thấy ngưa ngứa mà không biết do đâu.

Nguyễn Hữu Chỉnh bèn tỉ tê xui Nguyễn Huệ nhân đà đánh thẳng ra Bắc hà, vét nốt Đông Kinh cho đủ bộ.

Nguyễn Hữu Chỉnh gãi trúng phóc chỗ ngứa của chủ tướng.

Nguyễn Huệ phấn khởi thở phào nhẹ nhõm, té ra không phải mình ở bẩn mà là đang canh cánh trong lòng chuyện bắc tiến.

Cuối tháng 6 năm 1786, Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ đã thây kệ cái viễn cảnh giận hờn vô cớ của vua anh Nguyễn Nhạc mà kéo cả tập đoàn chiến hữu rồng rắn ra Bắc hà.

Cái khẩu hiệu "Phù Lê, diệt Trịnh" treo cả ngày trên mồm tướng, sĩ.

Đến nỗi dân thủ đô ban đầu còn tưởng Tây Sơn bị thiểu năng ngôn ngữ, chẳng nói được gì khác ngoài 4 cái từ thần thánh ấy.

Quân Trịnh vừa bị Tây Sơn cướp trắng Phú Xuân, nay nghe phong phanh Tây Sơn kéo đến tận nhà đòi diệt mình thì sợ xanh lè mắt mũi, tim đập chân run, bỏ chạy không kịp gửi vợ con cho thằng hàng xóm.

Chúa Trịnh Khải ráng phát huy tinh thần thượng võ mấy trăm năm của họ Trịnh, cưỡi nguyên con voi ra đón đầu Tây Sơn.

Nhưng vừa ra đến cổng thì hóa đá đến tận chân tơ kẽ tóc.

Thớt voi Tây Sơn cả mấy chục con, con nào con nấy hùng hổ như sư tử chiến, Nguyễn Huệ cũng cưỡi một con oai phong lẫm liệt.

Bùi ngùi nhìn lại voi nhà mình, không hiểu nuôi kiểu gì mà béo núc ních như lợn, lại còn thong thả cuộn cỏ ăn.

Quay đầu nhìn đám binh lính còn rơi vãi lại thì chả thấy sĩ khí đâu, ông nào ông nấy trợn mắt ngó quân Tây Sơn, khiếp vía hỏi thế quái nào mà nó đông như kiến cỏ vậy.

Sau mấy lời hô hào trong tuyệt vọng những mong xốc lên được chút tinh thần cho quân mình, Trịnh Khải kinh hoàng nhận ra sĩ khí càng kéo càng tụt một cách thảm hại.

Thế là thây kệ tinh thần thượng võ cái khỉ gì đó, Trịnh Khải thúc quân đánh cùn rồi nhân cơ hội chạy một mạch lên Sơn Tây.

Quân Tây Sơn phấn khởi tiến vào Đông Kinh, gần như chỉ đứng làm duyên làm dáng mà đuổi được Trịnh Khải chạy vắt giò lên cổ.

Trịnh Khải sau gần tháng ròng phiêu bạt thì bị tên phản bội Lê Trang bắt đem nộp cho Tây Sơn.

Anh giai này lại một lần nữa dốc sức cứu vãn mặt mũi nam nhi, thà chết chứ không chịu để bị Nguyễn Huệ làm nhục.

Khi đoàn áp giải dừng chân tại một quán nước ven đường, Trịnh Khải đã vơ lấy con dao gọt hoa quả mà cắt cổ tự sát.

Lê Trang vội vã ngăn lại.

Nhưng máu liều của anh Khải đã chảy tràn lan, không còn dao, anh liền thọc hai ngón tay vào kéo rộng vết thương.

Cuối cùng Trịnh Khải cũng toại nguyện, có được một cái chết hoành tráng đúng kiểu thanh niên của năm.

Về phần nhà Lê, suốt hơn 200 năm nay đã quen run lập cập trước uy quyền chúa Trịnh.

Nay Trịnh bị đuổi đi nhưng lại lập tức có một ông Tây Sơn thế chỗ, mà nghe thiên hạ đồn thổi ông này còn hổ báo gấp vạn lần.

Nguyễn Huệ tất nhiên muốn dẹp phứt nhà Lê, sung Bắc hà vào khối tài sản đồ sộ của Tây Sơn.

Nhưng lúc kéo quân ra lỡ mạnh miệng hô hào "phù Lê, diệt Trịnh", giờ lập tức trở mặt thì còn ra thể thống gì nữa, dân thủ đô họ sẽ bĩu môi không phục.

Đằng nào thì nhà Lê cũng đã dặt dẹo cả cơ bắp lẫn não bộ, ông đây chống mắt lên coi nó còn thoi thóp được bao lâu.

Đến lúc nó ngáp ngáp ông đi hốt về cũng chưa muộn.

Nguyễn Huệ vào yết kiến vua Lê Hiển Tông, được phong làm Nguyên súy dực chính phù vận Uy quốc công, đóng quân ở phủ chúa Trịnh cũ.

Tuy bề nổi là trao trả quyền bính cho vua Lê, nhưng mặt chìm lại là nắm trong tay gần như toàn bộ uy quyền, trở thành bản sao hổ báo của chúa Trịnh.

Nguyễn Hữu Chỉnh vốn là quan cũ của triều Lê, nay đầu quân cho Tây Sơn.

Một hôm tung tẩy vào gặp vua Lê Hiển Tông, nói Uy quốc công Nguyễn Huệ tự dưng nổi hứng thích lấy vợ, bảo vua có đồng ý gả con gái cho Nguyễn Huệ thì tui làm mai dùm.

Vua Hiển Tông mấy ngày nay như đặt mông trên chảo lửa, nơm nớp lo sợ Tây Sơn có thể lật mặt bất cứ lúc nào.

Nay thấy có cơ hội kết thông gia thì mừng rớt nước mắt, ít ra thì con rể chắc cũng không lỡ lòng nào đi gõ đầu ba vợ.

Nguyễn Hữu Chỉnh lại nửa đêm về tỉ tê với Nguyễn Huệ, rằng vua Lê có cô con gái tên là Ngọc Hân, xinh thấy má luôn, muốn gả cho ông, ông ưng không.

Nguyễn Huệ đang chán ốm người, nghe thấy thế cũng bùi bùi tai, cười bảo: "Vì dẹp loạn mà ra, để rồi lấy vợ mà về, bọn trẻ nó cười cho thì sao.

Tuy nhiên, ta mới chỉ quen gái Nam Hà, chưa biết con gái Bắc Hà, nay cũng nên thử một chuyến xem có tốt không?” (không hiểu "thử một chuyến" và "xem có tốt không" là ý gì :v)

Nguyễn Huệ năm ấy 33 tuổi, đã qua lâu rồi cái thời thanh niên choai choai dở ông dở thằng, đạt đỉnh cao phong độ, lại cực kỳ thành đạt.

Đem bảng chiến tích trăm trận trăm thắng ra phất phơ chơi cũng đủ làm người ta lác mắt.

Nhưng khổ nỗi công chúa Ngọc Hân thì mới vừa tròn 16, độ tuổi mà ngó đâu cũng thấy toàn màu hồng.

Còn chưa kịp sắm mảnh tình vắt vai thì đùng một cái đã bị gả cho cái ông mà tuổi chia đôi có lẻ ra tuổi mình, bảo sao không hốt hoảng.

Nghe danh chiến thần bất bại thì lại chỉ mường tượng ra một đồng chí võ biền cục mịch, quanh năm tay đấm chân đá, cưới về khéo lại thành bịch cát cho chàng luyện võ.

Rồi còn bao nhiêu tin tức lề trái lề phải tới tấp bay đến không thương tiếc như mưa bom bão đạn.

Nào là Nguyễn Huệ thân hình vạm vỡ, da ngăm đen.

Nào là tóc quăn như mì vằn thắn, mặt vuông tựa bánh chưng xanh, trứng cá chen chúc không còn chỗ đứng.

Nào là giọng nói sang sảng như chuông, mắt lóe chớp nhìn được trong đêm tối.

Nói chung là nhan sắc Nguyễn Huệ theo lời đồn thổi thì tương đối không hợp gu với tâm hồn mơ mộng của đại đa số thiếu nữ.

Chưa kể thiếu nữ này còn là công chúa lá ngọc cành vàng, đẹp đến chim bay cá lội.

Nhưng cái lệ cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy nào cho phép Ngọc Hân nhõng nhẽo phản đối.

Hôn lễ được chuẩn bị gấp rút trong vòng 3 ngày nhưng lại cực kì hoành tráng.

Những ông già râu tóc bạc phơ đang hấp hối cũng phải bật dậy kêu: "Từ hồi tao ở truồng chạy nhong nhong đến giờ cũng chưa từng có đám cưới nào phô trương thấy khiếp như vậy."

Nguyễn Huệ lấy vợ được vài ngày thì ba vợ lăn ra chết vì hết date (thọ 70 tuổi).

Sau khoảnh khắc ngậm ngùi thương xót, đám quần thần ít ỏi còn rơi vãi lại của triều Lê bỗng giật mình thảng thốt nhận ra ngai vàng đang trống huếch trống hoác, mà Uy quốc công Nguyễn Huệ thì lại đang "vô tư" sống ngay bên cạnh.

Công chúa Ngọc Hân đầu gối tay ấp tỉ tê với chồng, rằng Hoàng thái tôn Lê Duy Kỳ là người bất tài não ngắn, đồng thời khen nức khen nở anh trai là Sùng Nhượng công Lê Duy Cận.

Nguyễn Huệ nghe thế bèn vào triều chỉ trỏ bảo chúng mày rước ngay Duy Cận lên ngôi cho tau.

Quần thần nhìn nhau nghi ngại, ông to liếc trộm ông nhỏ, đánh hơi thấy có mùi nguy hiểm gì ở đây.

Não trái liền chỉ huy não phải nhảy lên đong đỏng, kêu gào không được nghe lời Nguyễn Huệ, bảo gì cũng nhất định phải làm ngược lại. (Bảo đi nhà cầu thì thế nào cũng phải cắn răng nhịn cho bằng được T.T)

Quần thần cũng biết khôn không đụng thẳng vào Nguyễn Huệ mà lái hướng tấn công sang bà vợ.

Một buổi sáng đẹp trời, hai vợ chồng Nguyễn Huệ còn đang ngáp sái quai hàm thì một tờ biểu vèo cái bay đến, trên đó có chữ ký của tất cả quan viên, yêu cầu gạch tên công chúa Ngọc Hân ra khỏi hoàng thất vì cái tội phát ngôn bừa bãi.

Chiến thuật bầy đàn không thằng nào chết lẻ có tác dụng tức thì.

Công chúa Ngọc Hân chịu không nổi nhục nhã, khóc nức nở bảo đức lang quân thôi thì nhượng bộ cũng được.

Nguyễn Huệ ngoài mặt chảy dài đồng ý thì chẳng còn biết làm gì khác với cô vợ trẻ.

Tháng 8 năm 1786, Hoàng thái tôn Lê Duy Kỳ lên ngôi, lấy hiệu Lê Chiêu Thống, bắt đầu chập chững những bước đầu tiên trên con đường trở thành vị vua bán nước buôn chè, dẫn hơn 20 vạn quân Thanh sang giày xéo mồ mả tổ tiên.

Lại nói về ông vua anh "chí lớn" Nguyễn Nhạc, khi hay tin Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc hà thì lập tức bốc hỏa.

Lửa chưa kịp dập lại nghe tin thằng em rách giời rơi xuống tự ý lấy nguyên một cô công chúa triều Lê mà không thèm ngó qua mặt anh nó một cái.

Giữa tháng 8 năm 1786, vua Thái Đức Nguyễn Nhạc thây kệ thể thống hoàng thất, mặt mũi nhét hết xuống đệm ngồi, tự mình thân hành ra Bắc hà kêu em giai ông ta về.

Nguyễn Huệ tuy thích ở Đông Kinh chết đi được, nhưng cũng không thể không nể mặt Nguyễn Nhạc, đành nuốt ấm ức mà nhổ neo.

Toàn bộ quân Tây Sơn rút khỏi Bắc hà, chỉ để một mình Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại với tẹo quân để trấn giữ Nghệ An.

Mà thực ra là vì Nguyễn Huệ ngứa mắt Hữu Chỉnh gian manh hai lòng nên cố tình để ổng bơ vơ trên đất bắc cho quan quân triều Lê xử lý (ông này xưa phản Lê theo Tây Sơn).

Lần tiến quân ra bắc năm 1786 của vua Quang Trung đã lật đổ chính quyền họ Trịnh hơn 200 năm làm mưa làm gió, thao túng triều chính.

Nhưng sau khi Tây Sơn rút về nam, tàn dư họ Trịnh cùng Nguyễn Hữu Chỉnh lại được dịp quậy tưng bừng, khiến Lê Chiêu Thống tối tăm mặt mũi.

Sau này Nguyễn Huệ phải mất công đi lại vài ba lần thì cục diện mới tạm ổn định.

Và mọi rắc rối chỉ hoàn toàn chấm dứt vào tết Kỷ Dậu 1789, khi vua Quang Trung đánh lui hơn 20 vạn quân Thanh do Lê Chiêu Thống vất vả thỉnh về.

Lê Chiêu Thống trở thành kẻ lưu vong, cuối cùng chết trên đất người.

Hậu Lê - triều đại có thời gian trị vì lâu nhất trong lịch sử Việt Nam (362 năm) đã tự đeo cho mình cái kết không thể "đẹp mặt" hơn.

#việt_nam_một_lịch_sử
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
NAM CHINH


Dầu sắp cạn, đốm lửa trên đĩa đèn chỉ đủ sức hắt lên một dải sáng mỏng manh, quá yếu ớt để xua đi bóng tối đang bao bọc lấy hình dáng mệt mỏi, cô độc của Thượng hoàng.

An Tư thấp giọng, nàng cảm giác chỉ một tiếng động nhỏ thôi cũng sẽ khiến người ngồi kia tan biến:

- Anh gọi em ạ?

Thượng hoàng khẽ thở ra một hơi lạnh buốt:

- Đỗ Khắc Chung đàm phán bên trại Nguyên vừa báo tin về.

Thoát Hoan không đồng ý tạm hòa, nhưng hắn sẽ thư quân ba ngày nếu chúng ta giao một người.

Trái tim An Tư bỗng đập loạn.

Bàn tay dưới gấu áo hốt nhiên nắm chặt mảnh ngọc nửa vầng trăng.

Âm thanh thốt ra nghèn nghẹn nơi cuống họng:

- Là ai ạ?

Thượng hoàng cúi đầu, giọng ngài khàn đặc:

- Là em.

1.

Gió nước mây trời

Mưa phùn tháng ba trải xuống bãi bồi sông Vị Hoàng một tầng cát ẩm.

Mái chèo nhẹ khua con nước đục ngầu, đỏ nặng phù sa.

Quân Nguyên còn chưa vươn bàn tay tanh máu đến phủ Thiên Trường(1), nhưng mùi chiến tranh đã quyện đầy không gian, trì nặng lòng người trong nỗi bất an, sợ hãi.

An Tư đứng chơi vơi bên mạn thuyền, mảnh ngọc lạnh ngắt chực vuột khỏi những ngón tay trắng bệch đang run rẩy vươn ra ngoài mép nước.

Âm thanh nhẹ thoát khỏi cánh môi, nương theo tiếng gió dạt về miền quá khứ xa xăm.

- Nguyên...

Nếu năm ấy An Tư ở lại phủ Thiên Trường chờ cho qua cơn giông bão, nếu năm ấy thuyền nhỏ không lật nhào giữa con nước xiết của Vị Hoàng, và nếu năm ấy nàng không gặp Nguyên, thì có lẽ hôm nay kẻ đem thân đi đền nợ nước đã chẳng vương tơ lòng.

Nguyên đã giành lại mạng sống của An Tư từ tay hà bá.

Một ngày đêm tránh bão, bốn ngày đường về Thăng Long.

Nhân duyên như gió nước, mây trời, khẽ vờn trong khoảnh khắc mà in sâu vào tâm khảm.

Bão tan.

Mây trời mênh mang, gió nước nhẹ đưa tình.

Vị Hoàng năm ấy đã se một mối nhân duyên như thế.

*

"...

Tà dương lười biếng buông mình trên con đê xanh mướt, thả rơi giọt nắng cuối ngày lên ngọn tóc dài cứng cáp của Nguyên.

An Tư trầm ngâm:

- Đàn ông Đại Việt chẳng mấy ai nuôi tóc quá vai.

Một thoáng im lặng.

An Tư ngước nhìn Nguyên, đôi mắt chàng đang thả trôi đâu đó trên cánh đồng bất tận.

- Nàng có ghét người Tống không?

Bốn năm trước, vó ngựa Mông Nguyên đã san bằng mảnh đất Nam Tống.

Đại Việt bỗng trở thành chốn cưu mang cho hàng vạn kẻ lưu vong từ phương bắc.

Cừu hận trải suốt mấy trăm năm giữa hai dân tộc cũng tan dần theo họa nước.

An Tư ngập ngừng:

- Tại sao chàng lại lấy tên Nguyên?

Đôi mắt Nguyên thẫm lại.

An Tư chợt cảm thấy mình như chơi vơi giữa lòng hồ lạnh buốt.

- Khắc sâu nợ nước, thù nhà.

An Tư đưa mắt theo cánh cò dập dìu đầu ngọn gió, mặc cho hương lúa non nhẹ vỗ về trái tim hỗn loạn.

Kẻ mất nước luôn là kẻ đáng thương.

Hơn hai mươi năm trước, đế quốc Mông Cổ lần đầu tiên trút dã tâm lên mảnh đất phương nam.

Quân Thát(2) mượn đường Nam Tống tấn công vào Đại Việt.

Hào khí Đông A khi ấy đã quét sạch bóng quân thù.

Nay Nam Tống đã nát vụn dưới vó ngựa Mông Nguyên, con sói dữ đang gần miếng mồi ngon hơn bao giờ hết.

Lịch sử một lần nữa tái diễn, Nguyên triều lần này mượn đường Đại Việt tấn công Chiêm Thành.

Quan gia(3) đã cương quyết từ chối, nhưng liệu Hốt Tất Liệt còn lại bao nhiêu lòng kiên nhẫn trước khi rửa mối nhục thù?

Lòng bàn tay khẽ động, An Tư giật mình nhìn xuống.

Nguyên vừa đặt vào tay nàng một miếng ngọc nửa vầng trăng.

Nước ngọc trong ngần màu ngà, men lạnh buốt như lưỡi dao sắc lẻm.

Giọng Nguyên thì thầm vương vấn sợi tóc mai:

- Ta sẽ tìm nàng.

Dù chiến loạn, ta cũng sẽ tìm nàng..."

*

Ta sẽ tìm nàng...

Sẽ tìm nàng...

An Tư buông tay.

Mảnh ngọc rơi xuống dòng nước đỏ ngầu phù sa, vệt sóng loang nhanh chóng lặn tăm giữa nhịp mái chèo.

Lòng Vị Hoàng sẽ mãi ôm trọn bóng hình Nguyên, ôm trọn trái tim nàng.

Vị Hoàng đổ vào sông lớn.

Thuyền xuôi Nhị Hà(4) ròng rã suốt hai ngày, cuối cùng bầu trời Thăng Long cũng mở ra trong tầm mắt.

Ráng chiều đỏ quạch nhuộm sắc tàn lên mảnh đất Kinh Kì.

Bầu trời thét gào, rạn vỡ giữa những cột khói cuộn lên cao ngất.

An Tư cười thầm trước sự phẫn nộ, điên cuồng của Thoát Hoan.

Kinh đô phồn hoa giờ chỉ còn là cái xác hoang phế, trống rỗng.

Không một nắm gạo, không một miếng lương khô.

Thăng Long hiện tại hẳn khác xa những gì Thoát Hoan từng mong đợi.

Phù sa sông Nhị Hà ngàn đời bồi đắp, nay in đầy dấu chân quân xâm lược.

An Tư ngẩng cao đầu nghênh đón những ánh mắt khinh miệt của bọn người Thát dành cho một cống vật hèn mọn.

Vài kẻ khó chịu ngoảnh mặt đi.

Sự can trường, gai góc khuất sau lớp vỏ bọc mỏng manh khiến chúng thoáng rùng mình.

Khi chỉ còn một mình trong căn lều nhỏ với ánh sáng lắt lay hắt lên từ đống lửa tàn, An Tư chợt thấy lòng lắng lại.

Không còn Thoát Hoan, không còn vó ngựa Mông Nguyên, càng không còn nợ nước, thù nhà.

Chỉ còn nàng và Nguyên dưới trời đêm trong vắt.

"...

Ta sẽ tìm nàng.

Dù chiến loạn, ta cũng sẽ tìm nàng..."

Nhưng Nguyên ơi, ta và chàng đã cách quá xa rồi...

Màn trướng vén lên, gió đêm thốc vào mang theo hơi mát từ bến sông, đổi chỗ cho bầu không khí bức bối nén chặt trong không gian chật hẹp.

Đôi giày da rên lên những âm thanh trầm đục nặng nề khi Thoát Hoan bước tới.

An Tư cúi đầu, lòng căm hận sục sôi dồn lên những ngón tay siết chặt đến trắng bệch.

Thoát Hoan, kẻ giày xéo mảnh đất quê hương, kẻ giẫm đạp lên máu xương dân tộc đang ở trước mặt nàng.

Lòng An Tư run lên khi bàn tay thô ráp chầm chậm đưa lên, dịu dàng mơn man gò má.

Cái chạm rất nhẹ, mơ màng như cánh bướm thoáng qua, nhưng cũng đủ làm mặt hồ dậy sóng.

Kí ức năm nào chợt vỡ tung như con đê yếu trước cơn bão dữ.

*

"...

Bão tan.

Trời đêm sạch bóng mây, ánh trăng bạc nghiêng nghiêng phủ bóng xuống bờ sông Vị Hoàng.

An Tư miết dọc vết sẹo dài trên tay Nguyên, vết sẹo trơn bóng, nổi bật trên nước da thô ráp.

- Nguyên, vết thương rất sâu phải không?

Nguyên gối đầu trên thảm cỏ mướt sương đêm, ánh mắt mơn man đôi mày khẽ chau lại của An Tư.

- Bàn tay này suýt mất đấy.

Gió đêm cuốn lấy giọng cười của Nguyên, ngân vang lên như tiếng chuông đồng..."

*

Tiếng cười xoáy tít trong tâm tưởng, xé toạc hiện tại bằng lưỡi dao bén ngọt.

Một giọt lệ trào khỏi khóe mi, rơi xuống bàn tay Thoát Hoan và lăn dọc theo vết sẹo dài.

An Tư đã giấu trái tim trong lòng Vị Hoàng, tại sao giờ vẫn đau như vậy?

- Sẽ tìm ta... lời hứa của chàng là thế này ư?

Thoát Hoan sững người.

Bàn tay khựng lại giữa không trung, gượng gạo như sợ vô tình kéo đứt sợi tơ lòng.

An Tư ngẩng đầu, màu tuyệt vọng phủ một lớp sương mù lên đôi mắt.

Giọng nàng nghẹn ngào trong những tiếng hỏi dồn:

- Nguyên sao?

Nực cười thay nợ nước, thù nhà.

Từ khi nào Trấn Nam vương(5) biết ta là công chúa Đại Việt?

Ngài còn dối gạt ta bao nhiêu nữa?

Thoát Hoan cắn chặt răng, gương mặt khuất sau một tầng xám tro u ám:

- Năm đó, sau khi chia tay ở bến Thanh Trì ta cho người dò la mới biết.

Ngưng một lát, hắn nói tiếp, giọng khẩn khoản:

- An Tư, năm đó gặp nàng trên sông Vị Hoàng chỉ là sự tình cờ.

Ta chưa bao giờ muốn lợi dụng nàng, cũng sẽ không hỏi nàng nơi ẩn náu của cha con Nhật Huyên(6).

Ta đã đặt nàng ra bên rìa cuộc chiến.

Ở đây nàng sẽ an toàn.

Khóe miệng An Tư kéo lên một nét cười cay đắng:

- Trấn Nam vương, ngài bảo vệ thân xác ta nhưng lại giày xéo trái tim ta ư?

Một thoáng im lặng, Thoát Hoan phẩy tay:

- Nàng mệt rồi.

Nghỉ ngơi đi.

Rồi hắn xoay gót bỏ đi.

Màn trướng quẩn theo gót giày vội vã như trốn chạy, xới lên không trung một lớp bụi mỏng manh.

Nhân duyên như gió nước, mây trời.

Gió đùa mặt hồ, mây tan nhòa trong đáy nước.

2.

Gió thảo nguyên

Chiếc bàn vỡ nát dưới cơn thịnh nộ của Thoát Hoan.

Tin cấp báo vừa tới, trút thêm dầu vào chảo lửa.

Phòng tuyến Chương Dương - Hàm Tử vỡ vụn.

Quân Trần như con mãnh long ẩn nhẫn náu mình, khi vùng vẫy thì trời nghiêng đất lệch.

Đại quân của Thoát Hoan liệu có thể chống đỡ được bao lâu, khi mà tình trạng thiếu lương thực còn đang là lưỡi gươm sắc lạnh treo trên đầu tướng sĩ?

Thanh danh Thành Cát Tư Hãn lừng lẫy mấy mươi năm chẳng lẽ lại bị chôn vùi trong mảnh đất man di nhỏ bé?

- Cấp báo!

Hai vạn quân Trần đang áp sát mạn nam sông Nhị Hà!

Thoát Hoan giật trường đao, xông ra khỏi trướng chỉ huy.

Đôi mắt hắn vằn lên tia máu.

- Lưu Thế Anh!

Dẫn quân nghênh chiến!

Tiếng quát đanh thép đè xuống sự hỗn loạn đang nhen lên khắp doanh trại.

Tay An Tư siết chặt màn trướng, đau đáu nhìn con sói dữ thảo nguyên đang lồng lộn vì con mồi cắn ngược.

Tiếng trống trận dồn vang, lớp da trâu rừng rung lên mạnh mẽ, dội từng tràng âm thanh ớn lạnh vào thành đồng.

An Tư bắt đầu ngửi thấy mùi máu tanh nơi sa trường, thúc giục, khơi dậy cơn cuồng sát.

Sinh ra giữa thảo nguyên, trưởng thành trên lưng ngựa, vị trí của người đó là ở đây, dốc cạn máu cho vinh quang của Thành Cát Tư Hãn.

Vậy mà có đôi khi An Tư lại bẵng quên.

Vó ngựa khoét vào không gian từng tầng bụi cát nham nhở cùng những âm thanh dồn dập.

An Tư gục xuống, giọt nước mắt vui mừng trào khỏi khóe mi, nở rộ trên lớp phù sa.

Nàng đã chuyển thư chiêu hàng của Quan gia cho Trương Hiển, một viên tướng người Tống.

Nàng khơi lên trong lòng hắn nợ nước, thù nhà, khoét sâu khối căm hờn dành cho quân cướp nước.

Trương Hiển đã khởi hành tới phủ Thiên Trường hơn nửa tháng, mang theo những thông tin bố phòng quý giá từ trại Nguyên.

Quân Trần cuối cùng cũng bắt đầu phản công mạnh mẽ.

Mảnh đất Đại Việt đã bào mòn sĩ khí quân xâm lược.

Không có lương thực, lại chẳng thể thích nghi với cái nóng oi nồng tháng sáu, lũ giặc Nguyên đã đi đến giới hạn chịu đựng cuối cùng.

Chẳng bao lâu nữa, mảnh đất này sẽ lại sạch bóng quân thù.

Nhưng, nếu người đó một đi không trở lại... liệu nàng có đau lòng?

*

Tà dương gục dần sau thảm rừng xanh thẫm.

Sắc đỏ chảy tràn theo những bức tường thành cao ngất nơi ải Nam Quan, nhuộm màu buồn lên đôi mắt trong veo của thiếu nữ.

Thoát Hoan đã lệnh cho Ngạc Đa đưa An Tư tới đất Nguyên.

Giọng nói đều đều, vô cảm của Ngạc Đa ngay khi tới quan ải như bóng ma ám ảnh tâm trí nàng.

"Tôi đã thề với Vương, nếu ngài tử trận sẽ lập tức đưa công chúa về Đại Việt an toàn."

Đằng xa, một bầy chim dáo dác bay lên khỏi tầng rừng, xé toạc hoàng hôn màu máu.

Mười ngày nơi ải Nam Quan, mười ngày chôn chân trên tường thành, lặng lẽ dõi mắt trông về Đại Việt.

Nhiều khi An Tư chẳng biết mình đang mong tin thắng trận, hay chờ ai đó quay về.

Khi bóng tối bắt đầu bò dài tới tận chân trời, mảnh rừng u tĩnh bỗng vỡ vụn trong những tiếng bước chân hỗn loạn.

Lý Hằng dẫn đầu đám tàn quân.

Thân thể vị tướng già ngả nghiêng theo những bước chân chệnh choạng của con chiến mã.

Ngạc Đa lao khỏi cổng thành, đỡ lấy thân thể đổ sụp xuống của Lý Hằng.

Mặc cho mũi tên độc găm sâu trước ngực, vị tướng già vẫn ra sức chỉ về hướng trống đồng, miệng hớp lấy hai ngụm hơi tàn:

- ...

V...

Vương...ng...

Ngạc Đa vội vã đặt thi thể mềm rũ của Lý Hằng xuống đất rồi nhào tới chiếc trống trận.

Máu khô đọng từng mảng trên lớp đồng ám đầy bụi khói.

Niềm tự hào của kị binh Mông Cổ giờ đây cũng rạn vỡ chẳng khác nào đám tàn quân.

Ngạc Đa giật phăng lớp da trâu đã rách toạc, miệng gào lên điên dại:

- Quân y!

Truyền quân y!

An Tư không biết mình chạy xuống chân thành bằng cách nào.

Nàng ngã quỵ khi thấy Thoát Hoan được đưa ra khỏi trống.

Đôi mắt hoảng loạn bấu víu lấy thân hình bất động, cố gắng kiếm tìm một tia sự sống mỏng manh, nhưng những gì nàng thấy được chỉ toàn là máu.

Máu tươi nhuộm đỏ mảnh chiến bào, chảy dọc theo bàn tay buông thõng ngoài mép cáng.

Con sói thảo nguyên dũng mãnh cuối cùng đã gục ngã trên mảnh đất thiêng Đại Việt.

...

An Tư sắp chết...

...

Nước sông Vị Hoàng, hơi thở của phù sa đất mẹ đang bủa vây lấy nàng...

...

Sự sống dần vuột khỏi tầm tay như con diều bị gió néo đứt dây...

...

Cơn giận dữ của Vị Hoàng sẽ sớm nuốt trọn sự sống khỏi thân xác rã rời này...

Ai đó chợt nắm lấy tay An Tư, kéo nàng thoát khỏi lòng sông cuộn sóng.

- Nguyên!

An Tư thảng thốt vùng khỏi cơn mộng mị.

Thoát Hoan vừa tỉnh, lồng ngực vẫn phập phồng yếu ớt dưới lớp vải băng dày.

Vết cắt trên mu bàn tay hơi rớm máu khi hắn cố gắng nắm lấy tay nàng.

- An Tư... nàng có bằng lòng cùng ta cưỡi gió thảo nguyên không?

Lòng An Tư run lên.

Trái tim Nguyên và nàng đã lạc nhau giữa cơn phong ba của Đại Việt.

Đại Việt đã bước qua biển máu, có hay chăng giờ là lúc nàng nên theo đuổi giấc mộng của riêng mình?

An Tư khẽ mỉm cười đáp lại ánh mắt trũng sâu đong đầy nỗi chờ mong:

- Chàng sẽ tấu cho ta nghe một khúc mã đầu cầm chứ?

Trời đêm ngàn năm vẫn vậy, đen huyền và lấp lánh những vì sao, dù nhìn ngắm bên dòng Vị Hoàng hay tại nơi quan ải.

Nếu có mịt mùng thì cũng bởi vương mây khói nhân gian trong một thoáng mà thôi.

3.

Cuồng phong

Tháng Chạp quét qua Đại Đô(7) từng đợt tuyết lạnh thấu xương.

Từ trên lầu cao phóng tầm mắt ra bốn hướng, đâu đâu cũng chỉ thấy một màu trắng xác đến rùng mình.

An Tư cảm nhận được, ngày càng rõ rệt, có gì đó đang âm thầm chuyển mình dưới lớp tuyết dày.

Không lẽ điều nàng lo sợ, điều hằng ám ảnh trong những giấc mơ tăm tối nhất, đã cách nàng chẳng còn mấy bước chân?

Một vòng tay quen thuộc bỗng siết lấy An Tư từ phía sau.

Thoát Hoan gục đầu vào vai nàng, phả vào cổ nàng từng làn hơi lạnh buốt.

Thoát Hoan hẳn vừa trải qua một chặng đường dài.

An Tư nắm lấy bàn tay gần như đã giá băng, kéo sâu hơn vào lòng mình.

Nàng khép mi, cố xua đuổi thứ màu trắng trống rỗng khỏi tâm trí để tìm về miền kí ức chớm nhạt nhòa.

Đã bao lâu nàng không gặp Thoát Hoan?

Đã bao lâu kể từ lần cuối cùng hắn tấu cho nàng nghe một khúc mã đầu cầm?

An Tư thoáng giật mình.

Cũng chẳng phải quá lâu.

Mới từ đầu mùa đông, từ khi bông tuyết đầu tiên nhẹ nhàng đáp xuống tầng ngói rêu phong.

Vậy mà nàng lại cảm giác như đã qua cả một đời.

Thoát Hoan chậm mở miệng, khó khăn như lần tìm thứ âm thanh đã đánh rơi:

- An Tư, qua năm sau ta lại sẽ dẫn quân nam chinh.

An Tư thõng tay.

Vậy là dã tâm của Hốt Tất Liệt lại một lần nữa bùng cháy.

Con sói bạo tàn cuối cùng vẫn ngậm dai dẳng miếng mồi chẳng chịu buông.

- Kế hoạch nam chinh không phải một sớm một chiều.

Hơn một năm nay, lời hứa cưỡi gió thảo nguyên vẫn bỏ ngỏ cũng là vì lý do này, phải không?

Thoát Hoan vội xoay An Tư lại, giọng khẩn khoản:

- Nàng đừng lo, ta hứa sẽ dốc sức bảo vệ tính mạng của cha con Nhật Huyên.

An Tư nhìn xoáy Thoát Hoan, khóe môi nhếch lên một nét cười châm chọc:

- Trấn Nam vương, giữa cái chết và mất nước, lưu vong, ngài cho rằng điều gì đáng sợ hơn?

Khuôn mặt Thoát Hoan thoắt trắng bệch.

Hắn vội vã quay gót bỏ đi.

Vạt áo bị cơn gió níu lại cũng nhanh chóng khuất dạng sau cánh cửa.

Lời cuối cùng của An Tư chìm sâu trong tiếng gió rít gào.

An Tư cứ ngỡ mùa đông năm ấy đã rất dài, thế nhưng chín tháng sau đó còn bòn rút nàng kiệt quệ.

Cho đến tận ngày đại quân nam chinh xuất phát, nàng cũng không gặp Thoát Hoan lấy một lần.

Nỗi nhớ nhung giằng xé trong nợ nước, kí ức vụn vỡ trong thù nhà.

Ba tháng sau khi đại quân khởi hành, Trần Ích Tắc bí mật chuyển cho An Tư một thông tin quý giá về kế hoạch tiến công.

Trần Ích Tắc là tông thất nhà Trần, là anh trai ruột của An Tư.

Nhưng kể từ ngày hắn dẫn vợ con sang đầu hàng giặc Nguyên, bo bo mạng sống, la liếm chút vinh hoa thì tình cảm An Tư dành cho hắn đã chẳng còn hơn gì một tên người Thát.

An Tư không hiểu vì đâu một kẻ bán nước bỗng nhiên lại ngoảnh đầu trông về đất mẹ.

Phải chăng khi được bảo bọc trong gấm lụa, tính mạng không phải đem treo đầu mũi giáo thì con người ấy mới nổi được chút máu anh hùng?

An Tư nhìn xoáy hai chữ trên mảnh giấy.

"Thuyền lương"

Mồ hôi lăn dọc theo gò má.

Hai lần quân Trần đốn ngã vó ngựa Mông Nguyên đều là nhờ chiến lược vườn không nhà trống, cắt đứt nguồn cấp lương tại chỗ khiến sĩ khí suy yếu chờ cơ hội phản công.

Nếu như chuyến hải trình thuận lợi, nếu như lương thực đến được tay Thoát Hoan...

Cơn run rẩy lan tận chân tơ, kẽ tóc, An Tư bật ra một tiếng cười khinh miệt.

Máu anh hùng của Ích Tắc cũng chỉ đến vậy.

Trao tin tức vào tay một đứa đàn bà mà tiềm lực còn thua kém hắn.

Thân gái bơ vơ nơi đất khách, chỗ dựa duy nhất cuả An Tư chỉ có mình Thoát Hoan.

Nàng chẳng có cách nào báo tin về Đại Việt.

Mà cho dù nàng có tìm được cách thì Quan gia cũng không kịp trở tay.

Giờ chỉ còn trông vào sự sáng suốt của Quan gia, vào khả năng tình báo của Khu mật viện.

Nhưng nếu như đoàn thuyền lương thực sự tới đích an toàn, vậy thì muốn nắm vững được thế cờ chỉ còn nước đánh gục con sói đầu đàn, diệt đi ý chí của Thoát Hoan.

Chuông điểm canh ba, cú đêm rúc lên từng tràng ớn lạnh.

An Tư lẻn vào thư phòng của Thoát Hoan, lật tung mọi ngăn tủ.

Không ngoài dự tính của nàng, hành động vụng về ấy chẳng thể thoát khỏi cặp mắt diều hâu của đám lính tuần.

*

An Tư nhìn trân trân cái bóng méo mó của mình phản chiếu dưới nền gạch láng bóng của điện Thiên Phù.

Hốt Tất Liệt chễm chệ trên ngai cao.

Cái nhìn khinh miệt, cuồng ngạo đã pha vài phần tức giận.

Giọng nói trầm uy tản khắp đại điện:

- Ta hỏi lại lần nữa, ngươi làm gì trong thư phòng của Trấn Nam vương?

An Tư cắn chặt răng.

Ngay cả khi ngồi trên ngai vàng nơi Đại Đô hoa lệ chứ không phải giữa chiến trường mưa máu, gió tanh, Hốt Tất Liệt vẫn luôn mang dáng dấp của một con sói thảo nguyên dũng mãnh và tàn nhẫn.

An Tư bỗng hoảng hốt nhận ra Nguyên đang bước trên chính con đường Hốt Tất Liệt từng đi.

Có hay chăng một ngày chàng cũng sẽ ngồi trên ngai cao, lạnh lùng trút dã tâm lên những dân tộc khác?

Có hay chăng một ngày chút tình cuối cùng trong tim chàng cũng bị máu cuốn trôi?

Cơn cuồng nộ của Trấn Nam vương năm xưa vẫn ám ảnh nàng trong những giấc mộng kinh hoàng nhất.

Hốt Tất Liệt đứng lên khỏi ngai vàng, bước chân chậm rãi đè nén cơn nóng giận.

Ông ta tới giật phăng lớp vải gấm phủ trên giá cao, để lộ ra một tấm bản đồ lớn.

An Tư nghiêng mắt nhìn.

Là lãnh thổ Đại Việt.

Là lược đồ tiến quân.

- Đây là những gì ngươi muốn tìm phải không?

Nhưng ta lại muốn cho ngươi thấy lũ man di các ngươi sẽ thuần phục Nguyên triều thế nào.

Chà, đầu cha con Nhật Huyên chắc sẽ sớm về Đại Đô thôi.

An Tư ngẩng phắt đầu, nhìn trừng trừng Hốt Tất Liệt.

Mối hờn căm dâng lên như sóng thủy triều.

Nàng từng lo sẽ không đủ dũng khí để đi trọn vẹn nước cờ, nhưng hóa ra lời nói dối lại có thể thốt ra quá dễ dàng:

- Bệ hạ, tiếc rằng mật thư về đoàn thuyền lương đã được gửi đi cách đây một tháng.

Giờ này có lẽ đã tới tay Quan gia rồi.

- Ngươi nói láo!

Hốt Tất Liệt gầm lên, giải phóng cơn thịnh nộ.

Phải.

An Tư nói láo.

Làm sao nàng có thể gửi mật thư về Đại Việt.

Nhưng trước khi Hốt Tất Liệt kịp bình tĩnh mà nhận ra điều này, nàng phải đẩy bằng được ông ta vào thế cờ chết.

An Tư mỉm cười, nhấn nhá từng chữ:

- Hai năm trước ta có thể chuyển thư chiêu hàng cho Trương Hiển, thì sao hôm nay lại không thể truyền tin một lần nữa.

Bệ hạ, biết đâu thứ ngài nhận được lại là cái đầu của Thoát Hoan.

Tấm bản đồ hứng trọn cú đạp của Hốt Tất Liệt, vỡ đôi trên nền điện.

Âm thanh chát chúa vang vọng khắp không gian hoa lệ.

An Tư ngẩng cao đầu.

Từng lời, từng lời rít lên qua kẽ răng nghiến chặt:

- Hốt Tất Liệt, Đại Việt là mảnh đất thiêng!

Cho tới khi chết ngươi cũng đừng hòng chạm tay vào!

Hốt Tất Liệt rùng mình trước giọng cười man dại của An Tư.

Vinh quang nửa đời người trên lưng ngựa, khát vọng về mảnh đất phương nam, tất cả sắp bị chôn vùi bởi tay một ả đàn bà.

Con sói hung tàn rít lên trong cơn điên dại:

- Người đâu!

Đem đầu con đàn bà khốn kiếp này tới cho Nhật Huyên!

An Tư để mặc cho bọn lính kéo lê trên nền điện.

Mục đích cuối cùng đã đạt được.

Nhưng liệu cái chết của nàng có thể khơi lên mối bất hòa giữa chàng và Hốt Tất Liệt?

Xin lỗi Nguyên!

Nước cờ này, An Tư đặt cược tất cả vào trái tim chàng.

Khoảnh khắc lưỡi đao chém xuống cắt lìa sự sống, lòng An Tư bình lặng đến lạ.

Bên tai nàng chợt vẳng lên giai điệu vút cao của mã đầu cầm.

"An Tư, nàng có bằng lòng cùng ta cưỡi gió thảo nguyên không?"

*

Nhị Hà đã nổi sóng mấy ngày trời.

Thoát Hoan lặng nhìn những con nước đỏ ngầu đu theo lưng gió tới tấp xô bờ.

Hình bóng An Tư luôn theo hắn từng giờ, từng khắc.

Câu nói sau cùng của nàng trong ngày đông hôm ấy hắn nghe rất rõ ràng.

“Nguyên, ta không mong chàng ca khúc khải hoàn, nhưng sẽ chờ chàng quay về.”

Bỗng phía xa bụi đất tung mù, con ngựa ô đang nhắm thẳng hướng bờ sông.

Vó ngựa dừng lại sau một cái giật cương gấp gáp.

Tên lính vội vã nhảy xuống, chắp tay quỳ gối trước Thoát Hoan:

- Bẩm Vương!

Có tin cấp báo từ Đại Đô, đoàn thuyền lương đã bại lộ.

Thoát Hoan gật đầu.

Ba ngày trước, hắn đã lệnh cho Ô Mã Nhi khởi hành tới Vân Đồn.

Thuyền lương đến chậm khiến lòng hắn dấy lên nỗi bất an.

Hy vọng mọi chuyện đều ổn.

Tên lính vẫn quỳ gối trên nền cát.

Gã ném về phía chiếc hộp gỗ treo bên hông ngựa một cái nhìn ghê sợ:

- Vương, Bệ hạ còn một món quà kêu ngài gửi tặng cho Trần vương.

Thoát Hoan khẽ cau mày:

- Tặng cho Nhật Huyên?

Đem lại đây!

Tên lính dâng chiếc hộp cho Thoát Hoan.

Lòng hắn chợt run lên khi chạm tay vào lớp gỗ.

Suốt đêm ấy, tiếng đàn thê lương vút cao theo lưng sóng Nhị Hà.

"Nguyên, ta không mong chàng ca khúc khải hoàn, nhưng sẽ chờ chàng quay về."

...

An Tư... ta hỏi nàng lần nữa... nàng còn bằng lòng cùng ta cưỡi gió thảo nguyên không?

Rồi chàng sẽ tấu cho ta nghe một khúc mã đầu cầm chứ?

4.

Vị Hoàng năm ấy

"An Tư bước dọc hành lang dẫn tới điện Trùng Quang.

Nàng muốn pha cho Thượng hoàng ấm trà cuối cùng trước khi rời hành cung Thiên Trường về Thăng Long.

Hàng mày khít chặt của Thượng hoàng lập tức giãn ra khi vừa thấy cô em gái nhỏ:

- À, An Tư.

Vài ngày tới sẽ có bão lớn đó.

Sông Vị Hoàng nước lại xiết.

Chờ bão tan hãy đi.

An Tư khẽ gật đầu.

Thượng hoàng lại chú mục vào mảnh giấy.

Nàng ngập ngừng hỏi:

- Có gì khiến anh phiền lòng sao?

An Tư nhìn anh trai vò nát mảnh giấy trong lòng bàn tay.

Khi nàng nghĩ Thượng hoàng sẽ không nói thì ngài khẽ mở miệng, giọng nhuốm đầy mệt mỏi:

- Khu mật viện báo vừa phát hiện một tên gián điệp Nguyên triều.

Hắn đang ở phía bắc sông Vị Hoàng.

An Tư khẽ cau mày:

- Không giết được ạ?

Thượng hoàng ngả đầu ra lưng ghế, mắt khép hờ:

- Lần này khác, An Tư à.

Hắn là Thoát Hoan, con trai thứ chín của Hốt Tất Liệt."

* Lịch sử:

Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên lần thứ ba, đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ bị Trần Khánh Dư đánh đắm.

Chiếm được Thăng Long nhưng không có lương thực, binh lính lại nhiễm dịch bệnh, Thoát Hoan buộc phải rút quân chỉ ba tháng sau khi tiến vào lãnh thổ Đại Việt.

Sau hai lần thất nại nặng nề của Thoát Hoan, Hốt Tất Liệt nổi giận, lệnh cho ông tới trấn thủ Dương Châu, tới khi chết cũng không được về chầu Thiên tử.

Chú thích:

(1) Phủ Thiên Trường: kinh đô thứ hai của triều Trần, nơi ở của Thượng hoàng sau khi thoái vị

(2) Quân Thát: cách nhà Trần gọi giặc Mông Nguyên

(3) Quan gia: vua Trần Nhân Tông

(4) Nhị Hà: tên gọi cũ của đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội

(5) Trấn Nam vương: phong hiệu của Thoát Hoan

(6) Nhật Huyên: cách quân Nguyên gọi vua Trần Nhân Tông

(7) Đại Đô: kinh đô của Nguyên triều
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
GIÓ ĐÔNG


Lời tác giả: Trong những năm tháng mộng mơ ngu si của tuổi trẻ, tôi thường ship cặp Cảnh-Kim.

Khi đã bớt ngu si hơn, tôi bắt đầu ship cặp Kim-Tần

GIÓ ĐÔNG

(Trích "Trăng tan đáy nước")

Tựa khung cửa miên man hồi ức

Gió cùng hoa lạc khúc trầm mê

Ngỡ đâu sẽ nguyện ước thề

Bóng mưa chợt đổ, tái tê cõi lòng

***

Câu ly biệt những mong chẳng nói

Ngẩng đầu trông mây khói, trời sao

Chờ người quân tử phương nao?

Gió đông man mác, sắc đào tàn phai

1.Hồi ức

Ánh trăng bạc lạnh lẽo chiếu xiên qua khung cửa, ôm trọn lấy hình dáng bất động của Lê Tần.

Chàng đã đứng đây hơn một canh giờ, chỉ để trông theo từng cử động nhỏ của người con gái trong căn phòng kế bên.

Người con gái ấy, cách chàng chỉ một mái hiên mà như cả bức tường thành.

Nàng từng làm vợ hoàng đế, thậm chí từng có cả thiên hạ trong tay.

Vậy thì lấy một tướng quân như chàng có gì vinh quang, hạnh phúc đâu.

Còn nhớ tầm này ba năm trước, khi nàng mới về phủ, và Lê Tần thì vẫn còn ôm một trái tim bừng bừng nhiệt huyết.

Chàng từng ngồi bên nàng hàng giờ, chỉ để nhìn những ngón tay thoăn thoắt theo từng đường kim, mũi chỉ.

– Chiêu Thánh, nàng biết không, ta chưa bao giờ thích mùa đông.

Ta rất sợ lạnh!

Chiêu Thánh ngưng tay, mắt treo vào khoảng không vô định.

Giọng nàng xa xăm:

– Trần Cảnh… cũng sợ lạnh lắm!

Lê Tần nghe chua xót, nhưng chàng không để tâm lâu.

Chàng biết Chiêu Thánh còn yêu Thượng hoàng, yêu nhiều lắm.

Nhưng chàng có thời gian, có cả một đời, chàng không tin nàng chẳng ngã lòng.

Vài ngày sau, Lê Tần lại trông thấy chiếc bông ấy, nhưng lần này là trên tay Lý Anh, gã thái giám hầu cận bên cạnh Thượng hoàng.

– Lý Anh, ông đem áo này đi đâu vậy?

Lý Anh nhìn Lê Tần e ngại:

– Tôi… tướng quân đừng giận…

áo này, Chiêu Thánh công chúa nhờ tôi dâng lên Thượng hoàng.

Người không nhận, kêu tôi đem trả.

Lê Tần bỗng thấy lạnh buốt.

Cái lạnh chẳng liên quan gì tới cơn gió chớm đông vừa thổi qua, cũng không phải vì chiếc áo này hoá ra chẳng may cho chàng.

Lê Tần cầm lấy chiếc áo bông:



Sau này phiền ông hãy đưa lại áo cho ta.

Cứ nói với công chúa là Thượng hoàng đã nhận rồi.

Trong hốc tủ của Lê Tần hiện đã có hai chiếc áo bông màu mận chín.

Hẳn Thượng hoàng thích màu này lắm.

Chiêu Thánh đâu cần biết tấm chân tình của nàng đã bị quăng trả phũ phàng thế nào.

Nàng không cần biết, không nên biết.

Trái tim bừng bừng nhiệt huyết của Lê Tần rồi cũng nguội dần theo thời gian cùng với sự hững hờ của Chiêu Thánh.

Chàng bắt đầu chấp nhận một sự thật, rằng chàng sẽ chẳng bao giờ có được trái tim Chiêu Thánh đâu.

Nàng còn không mang theo nó khi bước chân qua ngưỡng cửa nhà chàng.

Trái tim nàng, đã mãi mãi để lại trong cung cùng Thượng hoàng rồi.

– Lê Tần, trái tim ta nhỏ bé lắm!

Chẳng chứa nổi hai người đâu.

Đó là đêm giao thừa hai năm trước, Lê Tần tới tìm Chiêu Thánh khi cơn say chỉ lối, chàng mong mỏi xiết bao cái cảm giác ấm áp của một đôi chim liền cánh.

Nhưng tất cả những gì chàng nhớ sau khi tỉnh rượu, chỉ có câu nói kia.

Mơ hồ… nhưng khảm tận tâm can.

Vết thương trên cánh tay đã liền sẹo, giờ lại hơi nhức nhối.

Một tháng trước, phòng Chiêu Thánh bốc cháy.

Lê Tần như phát điên khi biết nàng vẫn còn kẹt bên trong, chàng điên cuồng lao vào biển lửa.

Chiêu Thánh gục bên giường, trái tim Lê Tần quặn thắt.

Xin nàng!

Xin nàng đừng xảy ra chuyện gì!

Lê Tần bồng Chiêu Thánh ra ngoài, nàng dần hồi tỉnh.

Nhưng khi vừa mở mắt, Chiêu Thánh liền khóc ngất trong lòng chàng, thảm thiết kêu tên Trần Trịnh.

Nàng yêu Thượng hoàng, cũng yêu cả thái tử Trịnh, đứa con yểu mệnh của hai người.

Trái tim Lê Tần luôn bị bóp nghẹt mỗi khi thấy Chiêu Thánh ôm đôi hài nhỏ của thái tử rồi âm thầm rơi lệ mỗi ngày rằm tháng chín.

Lê Tần lại một lần nữa lao vào biển lửa.

Chiêu Thánh luôn để đôi hài trong ngăn tủ đầu giường.

Ngăn tủ ấy đang bốc cháy dữ dội.

Lê Tần cuống cuồng mở tung ngăn tủ.

Lửa liếm bỏng rát.

Đau đấy, nhưng chẳng sánh bằng một phần vạn nỗi đau của Chiêu Thánh khi mất đi thái tử Trịnh một lần nữa.

Lê Tần vội vàng cầm lấy đôi hài.

May quá!

Vẫn còn nguyên vẹn.

Khi Lê Tần quay trở ra thì một thanh giầm gãy sập, giáng thẳng xuống đầu chàng.

Điều cuối cùng chàng làm được trước khi mất đi hoàn toàn ý thức, đó là ôm đôi hài vào lòng.

Cho dù Lê Tần có chết đi, chàng vẫn phải bảo vệ cho bằng được thái tử Trịnh, cũng là bảo vệ chút an ủi cuối cùng của Chiêu Thánh.

May mắn diêm vương vẫn chưa thèm đoái hoài tới Lê Tần.

Hơn một ngày sau, chàng tỉnh lại trên giường của mình, đầu đau nhức chỉ chực vỡ tung, và cánh tay bỏng nặng thì không tài nào nhúc nhích nổi.

– Cánh tay này vốn cầm đao kiếm bảo vệ giang sơn Đại Việt.

Tôi… tôi có tội nhiều lắm!

Chiêu Thánh đã nói vậy đấy.

Nàng có biết hay không, cánh tay này chỉ mong một lần được lau nước mắt cho nàng, được ôm nàng vào lòng, được nắm tay nàng suốt quãng đời còn lại.

Lê Tần nhanh chóng sai người tu sửa lại phòng cho Chiêu Thánh.

Chàng biết nàng không thích ở cùng mình.

Hai mươi chín đêm nằm cạnh nhau, hai mươi chín đêm đồng sàng dị mộng.

Nàng luôn giữ khoảng cách, vì sợ động vào vết thương của chàng, hay nàng vốn chẳng thể nào gần gũi?

Nhưng khi nàng đi rồi, Lê Tần bỗng nhận ra, cứ như vậy dẫu sao cũng vẫn có tư vị hạnh phúc riêng.

2.

Trầm mê

Đêm nay, Chiêu Thánh lại bắt đầu chong đèn may áo.

Lê Tần mong chờ gì kia chứ, nàng sẽ vì chút hi sinh của chàng mà mủi lòng ư?

Chàng khẽ cười giễu, bản thân quá ngu ngốc rồi!

Chuyện đó làm sao có thể.

Qua vài ngày nữa thôi, chàng sẽ lại có thêm một chiếc áo bông, từng đường kim mũi chỉ chất chứa yêu thương.

Nên vui hay buồn đây...

Hai ngày sau, Thượng hoàng triệu Lê Tần vào cung.

Người muốn chàng cưới con gái Tư ông, một hào phú bậc nhất thành Thăng Long.

– Thượng hoàng thứ tội, thần không thể vâng lệnh!

Thượng hoàng Thái Tông thở dài:

– Người cũng biết giặc Nguyên Mông lúc nào cũng lăm le bờ cõi ta.

Một cuộc kháng chiến lâu dài thì không thể thiếu đi nguồn vật lực.

Tư ông có thể san sẻ cho triều đình rất nhiều.

Ông ta đã điểm mặt chỉ tên ngươi, ngươi đừng làm khó trẫm.

Hơn nữa Chiêu Thánh… cũng không thể sinh cho ngươi con nối dõi.

Lê Tần trân trối nhìn Thượng hoàng:

– Người đã ruồng bỏ công chúa, giờ lại nhẫn tâm đẩy nàng vào kiếp chồng chung ư?

Nghiên bút bị hất tung.

Mực văng đầy áo Lê Tần.

Thượng hoàng Thánh Tông quát lớn:

– Hỗn xược!

Đừng tưởng cứu ta một lần, lập công lớn thì có thể ăn nói bậy bạ.

Lê Tần vội quỳ rạp, sống lưng lạnh toát.

Không khí trong điện yên lặng đến đáng sợ.

Nhưng ngoài dự liệu của chàng, Thượng hoàng bỗng cười nhạt:

– Ngươi biết không Lê Tần, năm nào Chiêu Thánh cũng may cho ta một chiếc áo bông.

Trái tim nàng ấy không ở chỗ ngươi.

Cho nên, nàng ấy chẳng để ý ngươi có ba vợ bốn nàng hầu đâu.

Lời nói như mũi dao đâm thấu tim Lê Tần, chàng siết chặt nắm tay dưới vạt áo, tưởng như không thể thở nổi.

Thượng hoàng chậm rãi nói tiếp:

– Người chỉ cần cho con gái Tư ông một chỗ trong phủ.

Đâu có khó khăn như vậy.

Còn nếu người ngại Chiêu Thánh để ý, thì ngày mai ta sẽ lập tức đưa nàng trở về cung.

Lê Tần ngẩng phắt đầu.

Đưa Chiêu Thánh trở lại cung ư?

Để nàng một mình gặm nhấm nỗi bi thương khi ngày ngày chứng kiến người mình yêu hạnh phúc bên kẻ khác ư?

Không.

Không thể được.

Hai mươi năm làm một bóng ma trong cái chốn này đã là quá đủ rồi.

Lê Tần cắn chặt răng, đau đớn thốt từng chữ:

– Thần… vâng lệnh!

Chiêu Thánh về làm dâu đã ba năm mà không sinh nổi một mụn con.

Nay Lê Tần cưới thêm vợ, mẹ chàng là người vui mừng nhất.

Khắp nơi trong phủ trang hoàng lộng lẫy, không khí tưng bừng náo nhiệt.

Khắp nơi, chỉ trừ một nơi, đó là hai căn phòng cách nhau một mái hiên.

Lê Tần đã chuyển phòng tân hôn qua một nơi khác, cô dâu mới sau này sẽ ở đó, chàng không muốn bất kì điều gì làm phiền tới nàng.

Chiêu Thánh vẫn bình thản ngồi may áo hàng đêm.

Có lẽ Thượng hoàng nói đúng, Chiêu Thánh chẳng đời nào để ý chuyện chàng có ba vợ bốn nàng hầu.

Sáng ngày diễn ra hôn lễ, bước chân Lê Tần tự đưa chàng tới phòng Chiêu Thánh.

Nàng đang ngồi chải tóc.

Mái tóc dài như thác đổ, đen nhánh huyền hoặc.

Lê Tần cầm lấy chiếc lược ngà, bắt đầu giúp nàng gỡ từng ngọn tóc rối.

Chàng thầm biết ơn Chiêu Thánh đã không phản đối, hoặc… nàng vẫn đang hờ hững đấy thôi.

– Chiêu Thánh… ta xin lỗi!

Chiêu Thánh nhìn lại chàng qua gương:

– Ngài có lỗi gì đâu?

Ánh nhìn nhàn nhạt của nàng bỗng đánh thức một thứ cảm xúc mãnh liệt trong lòng Lê Tần.

Âm thanh cứ tự nó thoát ra ngoài tầm kiểm soát:

– Chiêu Thánh!

Nàng không buồn ư?

Không giận ta ư?

Nàng hỏi lại bằng chất giọng đều đều:

– Sao ta phải buồn, phải giận ngài?

Lê Tần cười chua chát:

– Phải…

Sao nàng phải buồn, phải giận ta kia chứ?

Lê Tần quay lưng bước đi.

Nhưng khi chàng vừa đặt một chân qua ngưỡng cửa thì Chiêu Thánh bỗng lên tiếng, không còn là giọng nói đều đều nữa:

– Tại sao?

Tại sao hả Lê Tần?

Tại sao Trần Cảnh lại nhẫn tâm với ta như vậy?

Lê Tần quay lại.

Qua gương, chàng thấy khuôn mặt Chiêu Thánh đong đầy nước mắt.

Trời ơi!

Chàng vừa làm gì vậy?

Chàng lại đi khơi ra nỗi đau trong lòng Chiêu Thánh.

Không phải trước giờ chàng sợ nhất là thấy nàng rơi lệ hay sao?

Lê Tần tiến lên một bước.

Chàng tha thiết muốn lau đi nước mắt trên gương mặt nàng, lau đi nước mắt trong lòng nàng.

Nhưng chàng còn đủ tư cách không đây?

Màu áo đỏ trên người mới chối mắt làm sao.

Lê Tần rời khỏi phòng Chiêu Thánh với cõi lòng nặng trĩu.

Chàng hoàn thành lễ cưới như một con rối không hơn.

Đây cũng không phải đêm tân hôn đầu tiên Lê Tần không ở cùng vợ mới cưới.

Ba năm trước, Chiêu Thánh đã thẳng thừng yêu cầu chàng qua phòng khác.

Còn hôm nay, chàng chẳng có lòng dạ nào bước chân vào.

Lê Tần quay về phòng mình với một bình rượu đầy.

Chàng thẫn thờ ngồi bên cửa sổ.

Cách đó một mái hiên, Chiêu Thánh đã tắt đèn từ bao giờ.

Lê Tần cứ ngồi mãi như thế, cho tới khi cửa phòng khẽ mở.

Chàng uể oải quay đầu lại.

Và có lẽ hơi men khiến chàng hoa mắt rồi chăng?

Chàng thấy Chiêu Thánh đang đứng ngay ngưỡng cửa.

Lê Tần cười chua xót, hình dáng nàng trong tưởng tượng của chàng lúc nào cũng cô tịch vậy sao?

Cô tịch đến đau lòng!

– Lê Tần…

Giọng nói nhẹ như gió thoảng, có chút nghèn nghẹn.

Lê Tần bật dậy, cả người hơi chao đảo.

Là Chiêu Thánh thật sao?

– Lê Tần… cho ta một đứa con được không?

Ta cầu xin ngài đó…

Cầu xin?

Chiêu Thánh cầu xin chàng một đứa con ư?

Lê Tần lảo đảo tiến lại gần Chiêu Thánh, khẽ gục đầu vào hõm vai đang run rẩy của nàng.

Hương lan thoang thoảng khiến chàng mê say biết mấy.

Có trời mới tỏ, một đứa con với Chiêu Thánh là điều chàng mong chờ lâu lắm rồi.

Trong cơn mê, chàng thấy mình hôn lên khắp khuôn mặt phảng phất nét buồn man mác của Chiêu Thánh.

Đôi môi vụng về chặn lại những giọt nước mắt chực trào khoé mi.

Bỗng chàng bàng hoàng nhận ra…

Chiêu Thánh hẳn đang tủi nhục lắm.

Nàng chấp nhận bán mình cho chàng để đổi lấy một đứa con, hay để trả thù người chồng cũ bội bạc?

Đau đớn làm sao!

Chàng và Chiêu Thánh… từ nay đã chẳng thể cứu vãn nữa rồi.

3.

Ly biệt

Tròn một tháng sau đám cưới, Thượng hoàng lại cho vời Lê Tần tới điện Vạn Thọ.

– Lê Tần, hôm qua Tư ông tới gọi ngõ ta, nói con gái ông ta sống ở phủ ngươi hơi thiệt thòi.

Lê Tần quỳ thẳng lưng, đáp:

– Tâu Thượng hoàng, thần lại thấy cuộc sống của tiểu thư Tư Anh rất đầy đủ.

Cơm trắng ăn ba bữa, quần áo không phải tơ lụa thì cũng là vải thượng hạng, việc nhà không cần động tay động chân.

Thần đã cố gắng hết sức.

Thượng hoàng gõ nhè nhẹ tay ghế:

– Ngươi thật sự đã cố gắng hết sức?

Lê Tần cúi rạp:

– Thần thật sự đã cố gắng hết sức.

Thượng hoàng minh xét.

– Được…

được lắm…

Không nói chuyện này nữa.

Đây… ngươi giúp ta chuyển lá thư này cho Chiêu Thánh.

Lê Tần hoang mang cầm lấy lá thư từ tay Thượng hoàng.

Trên thư đề năm chữ:

“Trần Cảnh gửi Phật Kim”

– Thư này ta cám ơn Chiêu Thánh về chiếc áo.

Ngươi cũng biết điều gì mới khiến Chiêu Thánh vui vẻ mà, đúng không?

Lê Tần nhìn xoáy hai chữ “Phật Kim” mềm mại, uyển chuyển.

Đẹp đấy.

Nhưng tiếc thay, lại chẳng gửi gắm chút yêu thương.

– Giờ Người đã coi nàng là Chiêu Thánh công chúa, nhưng vẫn nhắc lại cái tên Phật Kim.

Có cần thiết không, thưa Thượng hoàng?

– Ta hỏi ngươi, ngươi không yêu Tư Anh, vậy có nên lấy lòng nàng ta không?

Câu trả lời là có, điều đó cần thiết, Lê Tần à.

Coi như ta dùng niềm vui của Chiêu Thánh đổi lấy sự hài lòng của Tư Anh.

Với ngươi, Chiêu Thánh là tất cả, nhưng với ta, đó là con dân Đại Việt.

Lê Tần cất phong thư vào ngực áo, rồi cúi rạp người lần nữa:

– Thần chỉ mong Thượng hoàng hàng năm đừng vì bận rộn chính sự mà quên đi chút việc cỏn con này.

Thượng hoàng Thái Tông khoát tay:

– Ta sẽ không quên.

Ngươi lui đi!

– Tạ ơn Thượng hoàng.

Mưa bắt đầu rơi.

Cả người Lê Tần đã ướt đẫm.

Mưa mùa đông lạnh tê tái, cắt da cắt thịt.

Vậy mà Lê Tần lại chẳng cảm thấy gì, lá thư trong ngực áo đang thiêu đốt trái tim chàng.

Nhưng chính lá thư giả dối ấy, lại có thể sưởi ấm trái tim lạnh lẽo, cô quạnh của Chiêu Thánh.

Đáng lắm, Lê Tần à…

đáng lắm…!

Chiêu Thánh run run nhận lá thư nhoè nước mưa từ tay Lê Tần.

Trong một thoáng, chàng đã mong nhìn thấy nét cười trên gương mặt Chiêu Thánh.

Nhưng dường như trái tim nàng đã giá băng quá rồi.

Chiêu Thánh khẽ gật đầu.

Ánh mắt nàng rớt xuống bộ quần áo ướt đẫm trên người Lê Tần.

– Ngài thay đồ đi kẻo nhiễm lạnh, lại đổ bệnh.

- Nàng nói, rồi nhẹ nhàng khép cửa lại.

Lê Tần thẫn thờ đứng đó lâu thật lâu.

Lẫn trong tiếng mưa, chàng nghe được cả tiếng nấc nghẹn ngào của Chiêu Thánh.

Nàng đang hạnh phúc.

Nàng rơi nước mắt vì hạnh phúc.

Còn chàng, trái tim như vỡ vụn thành triệu mảnh.

Chàng lê bước trở về phòng.

Cái khoảnh trời nhỏ giữa mái hiên sao mà ảm đạm, thê lương.

Sau hôm ấy, Lê Tần ốm liệt giường suốt bảy ngày.

Trong bảy ngày này, Tư Anh luôn kề cận chăm sóc chàng.

Cô gái ấy cũng dịu dàng, chu đáo đấy.

Có thể sẽ là một nàng dâu khiến mẹ chàng vừa lòng.

Khỏi bệnh, Lê Tần vào cung gặp Bệ hạ.

Chàng xin Bệ hạ xuống chiếu cho chàng đi trấn giữ quan ải.

Bệ hạ sau một hồi đắn đo cuối cùng cũng đồng ý.

Qua tết chàng sẽ lên đường, đưa cả Tư Anh cùng đi theo.

Chàng không thể nào ép mình gần gũi Tư Anh, nhưng cũng không thể khiến cha nàng ta phiền lòng.

Có lẽ đưa nàng ta tới nơi xa xôi như quan ải là lựa chọn tốt nhất.

Mà Chiêu Thánh, nàng cũng đâu để tâm tới sự hiện diện của chàng.

Lê Tần đứng trước cửa phòng Chiêu Thánh hồi lâu.

Dưới mái hiên nhỏ, cánh hoa đào hồng thắm đã rải đầy sân.

Thi thoảng, vài ngọn gió khẽ trêu đùa khiến những cánh hoa xoáy tròn trên mặt đất.

Lòng Chiêu Thánh có từng vì chàng mà lay động vậy không?

– Chiêu Thánh!

Ta phải đi rồi.

Không có tiếng hồi đáp.

Lê Tần quay lưng dợm bước.

Cạch!

Cửa phòng khẽ mở.

– Lê Tần!

Chàng mừng rỡ quay đầu lại.

Chiêu Thánh đứng bên ngưỡng cửa.

Khuôn mặt nàng xanh xao quá.

– Ta chỉ muốn bao cho ngài biết… ta mang thai rồi.

Lê Tần ngây người.

Hồi lâu chàng khẽ nói:

– Chúc mừng nàng!

Trong khoảnh khắc, Lê Tần tưởng như đã thấy một gợn sóng trong mắt Chiêu Thánh, nhưng rất nhanh, đôi mất ấy đã lại phẳng lặng như nước hồ thu.

Đẹp lắm!

Nhưng cũng vô hồn.

Cánh cửa khép lại, chỉ còn một mình Lê Tần đứng giữa mái hiên.

Chàng cắn chặt răng ngăn một tiếng nghẹn ngào.

Cuối cùng thì nàng cũng có một đứa con.

Cuối cùng thì thái tử Trịnh cũng quay về bên nàng.

Đứa con này Chiêu Thánh phải hy sinh lòng tự tôn để trao đổi cùng Lê Tần.

Cho nên, nó chẳng phải con của chàng đâu.

Đêm thu nơi quan ải lạnh lẽo vô cùng.

Nhưng lá thư của Chiêu Thánh đang sưởi ấm cho Lê Tần.

Lá thư đầu tiên chàng nhận được từ nàng, chỉ vẻn vẹn mười một chữ:

“Ta sinh đôi.

Một trai, một gái.

Chờ ngài đặt tên.”

Có trời biết Lê Tần sung sướng thế nào.

Chàng chỉ muốn lập tức giục ngựa suốt đêm ngày để về Thăng Long.

Nhưng chàng cũng hiểu rõ, Chiêu Thánh chịu thừa nhận hai đứa con này là của chàng, đó đã là một ân huệ lớn lao rồi.

Chàng còn đòi hỏi gì nữa đây?

Lê Tần chấm mực, run run đề bốn chữ lên trang giấy trắng:

“Lê Tông, Ngọc Khuê”

4.

Gió đông man mác

Thấm thoắt đã mười sáu mùa hoa đào nở.

Lê Tần vừa nhận được tin Thượng hoàng Thái Tông băng hà.

Lần này trở về Thăng Long chịu quốc tang chỉ có mình Lê Tần.

Tư Anh đã qua đời bảy năm trước.

Tư Anh buồn tủi, héo hon mà chết.

Lê Tần đã chôn vùi cuộc đời một người con gái nơi quan ải.

Nói cho cùng thì chàng cũng có hơn gì Thượng hoàng?

Sắc đào Thăng Long vẫn vậy, thắm hơn sắc đào phai Tây Bắc.

Tình người Thăng Long cũng ấm áp hơn.

Lê Tông giục ngựa ra ngoài cổng bắc tận mười dặm để đón chàng.

Thằng bé giờ đã trưởng thành, cái dáng phi ngựa của nó nom còn dũng mãnh hơn chàng năm xưa.

Nhưng Ngọc Khuê thì không tới.

Con bé cũng chẳng ở nhà.

– Ngọc Khuê theo mẹ về quê ngoại rồi cha, vừa đi hôm kia.

Con với em đã nài mẹ cố chờ cha về, nhưng mẹ lo cho bà cố, bà cố bệnh nặng quá.

Lê Tần thẫn thờ bước ra khoảnh sân nhỏ dưới mái hiên.

Gốc đào đã già cỗi, thân xù xì xanh rêu, nhưng vẫn cứ trổ đầy hoa, sắc hoa càng thắm.

Chàng khẽ đẩy cửa phòng Chiêu Thánh.

Căn phòng vẫn còn vấn vít hơi ấm của nàng, thoang thoảng hương lan nhè nhẹ.

Lê Tần ngồi xuống giường, cầm lên chiếc áo bông màu xám tro.

Lòng bỗng cuộn lên nỗi xót xa vô hạn.

Cho đến tận bây giờ, nàng vẫn giữ thói quen này ư, Chiêu Thánh?

Thượng hoàng băng hà rồi, nàng gửi áo cho ai đây?

Lê Tần khoác áo lên người.

Ấm lắm, nhưng cũng tê tái lắm!

Đêm ấy, chàng nằm trên giường Chiêu Thánh, chìm đắm trong muôn vàn giấc mộng.

Chàng thấy Chiêu Thánh đứng giữa vườn đào hồng thắm, nàng cười rạng rỡ: “Lê Tần, ta sinh đôi, một trai một gái.

Chờ ngài đặt tên.”

Chàng mừng rỡ vươn tay ra muốn ôm Chiêu Thánh vào lòng.

Nhưng cơn gió dệt nên từ cả triệu cánh hoa đào đã cuốn nàng đi mất.

Cơn gió cũng mang Lê Tần trở lại căn phòng với ánh đèn dầu leo lét.

Chiêu Thánh nhìn chàng hờ hững: “Lê Tần, trái tim ta nhỏ bé lắm.

Chẳng chứa nổi hai người đâu.”



“Trần Cảnh… cũng sợ lạnh lắm!”



“Lê Tần, cho ta một đứa con được không?”



Lê Tần choàng tỉnh giấc, mồ hôi đẫm trán.

Có lẽ cả đời này, chàng cũng không thể nào được giải thoát.

Sau một tháng chịu quốc tang, Lê Tần trở về quan ải.

Cuối cùng vẫn không gặp Chiêu Thánh.

Vậy cũng tốt, gặp nhau rồi biết nói gì với nhau đây?

Chàng mang theo chiếc áo bông màu xám tro.

Chiêu Thánh đã chẳng thể gửi nó cho Thượng hoàng được nữa, thế thì chàng giữ lại bên mình vậy, cũng khỏi hoài công nàng.

5.

Sắc đào tàn phai

Cuối hạ, Lê Tần nhận được thư nhà.

Lá thư tới chậm một tháng.

Buông rơi lá thư đẫm nước mắt của Ngọc Khuê, Lê Tần điên cuồng giục ngựa chạy suốt đêm giữa núi rừng tây bắc.

“Chắc mẹ không qua khỏi rồi cha ơi!”

Gai rừng xé toạc áo Lê Tần, máu rướm ra đã đọng khô, nhưng chàng chẳng quan tâm.

“Mẹ ngã bệnh nửa năm nay rồi.

Mẹ không cho con nói với cha.”

Trong đầu chàng hiện giờ chỉ còn lại duy nhất bóng hình của Chiêu Thánh.

“Cha ơi, cha về nhanh đi!”

Con chiến mã sát cánh cùng Lê Tần bao năm qua gục ngã ngay ngoài cổng Bắc.

Nó buông từng hơi thở yếu ớt dưới cái nắng hè chói chang.

Nhưng chàng chỉ có thể để lại một cái nhìn xót thương rồi tiếp tục lao nhanh về phủ.

Cánh cổng mở rộng, bên trong vẳng ra tiếng tụng kinh đều đều.

Ngọc Khuê bỗng từ đâu nhào ra ôm chặt lấy Lê Tần.

Giọng con bé lạc đi trong tiếng nức nở nghẹn ngào:

– Sao… sao bây giờ cha mới về?

Mẹ mất rồi… cha ơi!

Cả bầu trời phút chốc sụp xuống.

Xung quanh Lê Tần chỉ còn lại bóng đêm vô tận.

Chàng nhẹ nhàng gỡ Ngọc Khuê ra.

Đôi chân vô thức đưa bước tới phòng của Chiêu Thánh.

Căn phòng nồng mùi thuốc nam, chẳng còn hương lan thoang thoảng giúp lòng chàng dịu lại.

Chàng gục xuống bên giường, úp mặt vào đôi bàn tay chai sạn.

Cuối cùng thì Chiêu Thánh cũng lựa chọn đi theo Thượng hoàng.

Đau đớn làm sao!

Cho tới tận lúc chết, nàng vẫn quyết tâm gạt chàng ra bên lề của cuộc đời.

Tiếng tụng kinh vẫn đều đều vẳng lại từ xa.

Sao mà thê lương!

Không biết qua bao lâu, một bàn tay khẽ đặt lên vai Lê Tần.

Chàng chầm chậm ngẩng đầu.

Ngọc khuê đang quỳ phục bên cạnh chàng.

Con bé giống Chiêu Thánh quá, giống đến kinh ngạc.

Nhưng gương mặt nó lại chẳng phảng phất nét buồn man mác như Chiêu Thánh.

Bây giờ không, hy vọng mãi mãi sau này cũng sẽ không.

– Cha ơi!

Ăn chút gì đi cha.

Lê Tần vô thức nuốt xuống một miếng bánh.

Chẳng có vị gì.

Ngọc Khuê ngập ngừng:

– Cha ơi!

Sao bao năm qua cha không về?

Mẹ nhớ cha nhiều lắm!

Lê Tần nhìn sững Ngọc Khuê.

Con bé đang nói gì vậy?

– Lúc từ quê ngoại trở về thì cha đã đi rồi.

Mẹ buồn đến sinh bệnh từ ngày ấy.

Sao chàng vẫn chẳng thể hiểu nổi những gì con bé nói?

– Mẹ luôn rơi nước mắt khi may áo cho cha.

Mẹ bảo cha thích nhất màu xám tro.

Phải rồi, chàng thích nhất màu xám tro…

Đột nhiên như người tỉnh cơn mê, Lê Tần bật dậy mở tung cánh tủ.

Những chiếc áo bông màu xám tro nằm im lìm, lạnh lẽo.

Từ khi nào Chiêu Thánh không còn may áo bông màu mận chín… từ khi nào vậy?

Đầu Lê Tần như muốn vỡ tung.

Từng mảnh kí ức vụn vỡ tràn về.

Phải rồi, vụ cháy nhà năm ấy, Chiêu Thánh bắt đầu may áo bông màu xám tro kể từ sau vụ cháy nhà năm ấy.

Tại sao vậy Chiêu Thánh?

Tại sao?

Lê Tần như lạc lối giữa mê cung.

Hóa ra chàng vẫn chẳng hiểu nổi tâm tư nàng.

Chàng rút ra một cái áo, vô tình làm rớt chiếc hộp gỗ nhỏ.

Nắp hộp bật mở.

Những lá thư tung tóe khắp sàn nhà.

Lê Tần nhặt lên một lá thư đề năm chữ: “Trần Cảnh gửi Phật Kim”.

Thư chưa mở, dấu niêm phong vẫn còn nguyên.

Chàng vội vàng xé phong thư.

Kinh ngạc thay, trong đó chỉ là một tờ giấy trắng.

Mấy lá thư khác cũng vậy.

Rồi Lê Tần nhìn thấy lá thư Thượng hoàng chính miệng kêu chàng đưa giùm cho Chiêu Thánh.

Lá thư nhòe nước mưa.

Sau bao nhiêu năm, vẫn thiêu cháy tay chàng.

Lá thư này nàng đã mở.

“Chiêu Thánh, ta biết Lê Tần đã khiến nàng xao lòng.

Ta cũng biết điều ta sắp nói đây là tàn nhẫn, nhưng nàng và Lê Tần không thể ở bên nhau được.

Chiêu Thánh, có điều này nàng phải hiểu, đối với triều đình, đối với muôn dân, Tư ông vô cùng quan trọng.

Mà ông ta thì chỉ mong con gái mình không phải chịu thiệt thòi.

Ta, lấy danh nghĩa người nắm trong tay toàn bộ vận mệnh của con dân Đại Việt, cầu xin nàng từ bỏ chút tình riêng mà suy nghĩ cho đại cuộc.

Trần Cảnh thủ bút.”

Lê Tần buông rơi lá thư.

Những con chữ như xuyên thủng đầu chàng.

Tiếng nghẹn ngào năm ấy của Chiêu Thánh trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.

Vậy mà chàng lại nghĩ nàng rơi lệ vì quá đỗi vui mừng.

Ánh mắt Lê Tần rớt trên một phong thư khác.

Phong thư trống trơn, không đề tên người nhận, cũng chẳng có dấu niêm phong.

Chàng rút ra hai lá thư.

Một được viết vào đêm cuối thu nơi quan ải.

“Lê Tông, Ngọc Khuê.”

Lá thư nhau nhúm, bốn con chữ nhòe mực.

Trái tim Lê Tần như vỡ vụn.

Khi đọc lá thư, Chiêu Thánh của chàng hẳn đã khóc rất nhiều.

Lá thư còn lại, do chính tay Chiêu Thánh viết.

“Lê Tần, ta những tưởng trái tim ta đã chết, nhưng hóa ra không phải, nó vì chàng mà đập trở lại.

Lê Tần, đêm ấy ta hạnh phúc biết bao!

Nhưng cũng chính đêm ấy, trái tim ta tan nát.

Lê Tần, ta yêu chàng.

Chàng hỏi tại sao ư?

Chính ta còn chẳng rõ.

Có lẽ mưa dầm lâu cũng thấm đất chăng?

Lê Tần, trái tim ta nhỏ bé lắm, chẳng chứa nổi hai người đâu.

Cho nên từ nay trở đi nó sẽ chỉ có mình chàng.

Lê Tần, có thể Trần Cảnh là tuổi thanh xuân của ta, nhưng chàng… chàng là cả cuộc đời ta đó!”

[Đông Dương]
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
THƯỢNG DƯƠNG


"Thăng Long năm ấy có một mỹ nhân

nhưng lại chẳng muốn khuynh thành"

Quan nội thị nhẹ nhàng khép lại cánh cửa gỗ, chặn đứng từng hồi gió bấc.

Thái hậu hít sâu một hơi, gồng mình để rũ đi cái lạnh ngấm sâu vào từng lớp vải.

Cung Thượng Dương so với tiết trời cay nghiệt bên ngoài còn lạnh lẽo gấp bội.

Vậy mà người thiếu phụ đang nghiêng mình trên kỷ kia lại chỉ thản nhiên dõi ra một cái nhìn chẳng mặn mà.

Quả nhiên mệnh hết, thì tâm cũng nhạt.

Thái hậu quét mắt một vòng quanh điện, cuối cùng vẫn lựa chọn không đặt lưng xuống ghế.

Nửa cuộc đời đều ở dưới mà nhìn lên người đó.

Hôm nay đã nắm cả thiên hạ trong tay, chẳng lẽ thói xưa còn giữ?

- Họ Dương mưu phản, ngươi cũng khó tránh khỏi liên quan.

Thế nhưng... chàng lại muốn ta tha cho ngươi

Hả hê khi thấy được một thoáng xao động trong đôi mắt kia, Thái hậu tiếp:

- Ta đã thắng được giang sơn Đại Việt, vậy nên cũng chẳng so đo với ngươi làm gì.

Lời nói như thể thoảng qua tai người thiếu phụ rồi trượt xuống chân kỷ mà không mảy may đọng lại.

Thái hậu khẽ nhăn mày:

- Đêm mai sẽ có người tới đưa ngươi đi.

Đoạn Thái hậu rời bước.

Thị uy với một kẻ bại trận hóa ra chẳng khiến Thái hậu sung sướng như hằng tưởng.

- Ỷ Lan!

Thanh âm nhẹ, mà vang.

Thái hậu khựng chân trước bậc cửa, ngạc nhiên quay đầu lại.

Người thiếu phụ đã ngồi thẳng dậy trên kỷ, gương mặt nhợt nhạt cũng trở nên sống động khác thường.

Thái hậu thoáng ngây ngẩn.

Con gái nhà họ Dương xưa nay đều là mỹ nhân khuynh thành.

- Muốn biết cô giống ta điểm nào mà lại khiến chàng si mê không?

Bàn tay Thái hậu đặt trên khung cửa thoáng siết chặt tới nổi gân xanh.

Người thiếu phụ cười khẽ:

- Là chân mày.

mỹ nhân khuynh thành

Nhìn mạn thuyền mỗi lúc một xa bờ, Hồng Hạc quay lại người thanh niên đeo mặt nạ hoàng lân, sẵng giọng.

- Ta là Dương Hồng Hạc.

Cha của ta là Thượng thư Dương Đức Uy.

Ông nội của ta là Tể tướng đương triều Dương Đức Thành.

Cô ruột của ta là Thiên Cảm Hoàng hậu.

Dám động vào ta thì ngươi sẽ không được yên thân đâu.

Người thanh niên tà tà khua mái chèo, thong dong đáp:

- Ta là Ngô Thường Kiệt.

Cha đẻ của ta là Sùng tiết tướng quân Ngô An Ngữ.

Cha nuôi của ta là Khai Quốc vương Lý Long Bồ.

Người anh em thân nhất của ta là đương kim Thái tử Lý Nhật Tôn.

Dù ta có động vào nàng thật thì cũng chẳng ai dám làm gì ta đâu.

Hồng Hạc liếc nhìn đám con gái đang ríu rít nhóng cổ bên bờ hồ, nói mát:

- Ra là đệ nhất mỹ nam của Đại Việt.

- Cũng bất đắc dĩ ta mới phải nhảy xuống thuyền.

- Chàng thanh niên bối rối lùa tay vào mái tóc.

Nàng mỉm cười, khua nước đẩy vài ngọn đèn hoa đăng dạt mạn:

- Ban nãy có xem anh múa Độc Chiếm Ngao Đầu ở tháp Báo Thiên.

Giai nhân rung động bởi khí khái anh hùng cũng là lẽ thường tình.

- Lên thuyền mà không xin phép là Thường Kiệt có lỗi!

Chờ lát tan hội sẽ đưa nàng vào bờ.

Trăng rằm rọi chiếu khắp nhân gian, mặt hồ trong vắt như mặt gương đồng.

Giai nhân in bóng hình dưới nước tựa như bức tranh thủy mặc khiến quân tử đắm nhìn tới say lòng.

- Ai dạy nàng vẽ chân mày vậy?

- Có đẹp không?

- Đẹp.

Vẽ trên gương mặt mỹ nhân lại càng đẹp.

- Con gái nhà họ Dương xưa nay đều là mỹ nhân khuynh thành.

- Hồng Hạc nhẹ hỉnh cằm.

- Khuynh thành hay không ta chẳng biết, nhưng hiện giờ thì đã lạc cả tay chèo rồi.

Hôm ấy từ biệt, nàng trao hắn mảnh ngọc nửa vầng trăng.

Bước qua nhịp cầu Đông còn quay lại nói lớn một câu, dệt nên giai thoại đẹp nhất chốn Kinh Kỳ.

- Ngô Thường Kiệt, con gái lớn nhà Thượng thư Dương Đức Uy vừa tới tuổi cập kê.

Nếu thích nàng ấy thì sớm mang sính lễ qua mà hỏi cưới.

Ba tháng sau nàng lên kiệu hoa, nhưng không phải gả vào nhà họ Ngô, mà là gả cho Đông cung Thái tử.

"...- Thế lực của nội ở trên triều như mặt trời ban trưa.

Giờ còn đem gả con cho Thái tử.

Cô không sợ bệ hạ nghi ngờ nhà họ Dương có dã tâm ư?

- Con chỉ cần sinh cho nhà họ Dương một hoàng tử.

Những chuyện khác không cần quan tâm.

- Nhưng cô ơi...

- Đừng tưởng ta không biết vì sao con nằng nặc không chịu.

Chuyện giữa con và Ngô Thường Kiệt ta sẽ tìm cách dẹp yên.

Con chuẩn bị sẵn sàng để gả vào Đông cung đi..."

Tháng Chạp xé vụn Thăng Long bằng từng luồng gió bấc.

Tấm áo tân nương vốn đỏ thắm cũng bị nhuộm xám bởi sắc trời ảm đạm.

Bước chân qua cửa cung Long Đức, cũng có nghĩa nàng phải bỏ lại sau lưng chàng thanh niên đeo mặt nạ hoàng lân, bỏ lại sau lưng mơ mộng tương tư thời thiếu nữ.

"...- Trước khi gả vào cung cô có từng yêu ai không?

- Quá lâu rồi, Hồng Hạc à.

Ta cũng không nhớ nữa..."

Những cái hôn vụng về đưa nàng trở lại với thực tại.

Hồng Hạc hốt hoảng chống tay lên ngực áo thêu chỉ vàng.

- Thái tử, chẳng hay ngài đã từng nghe giai thoại về đôi tiên đồng ngọc nữ chốn Kinh Kỳ chưa?

Bàn tay đặt trên eo nàng thoáng siết nhẹ.

- Thái tử phi đang muốn nhắc tới câu chuyện giữa nàng và Thường Kiệt sao?

- Thái tử anh minh!

Nhật Tôn đặt mình nằm nghiêng xuống nệm, ngón tay hờ hững vuốt dọc sống mũi nàng:

- Nếu đã gả vào Đông cung thì những chuyện hoang đường ngày trước nàng nên quên đi mới phải.

- Chuyện hoang đường trong mắt Thái tử cả đời này Hồng Hạc cũng không quên được.

- Dương hậu gả nàng vào Đông cung không phải vì muốn nàng sinh ra một Hoàng thái tôn sao?

- Hắn cúi xuống, nhẹ hôn lên vành tai nàng - Ta giúp các người sớm ngày toại nguyện.

- Thái tử chấp nhận chung đụng với một người con gái trong lòng luôn hướng về kẻ khác ư?

Rầm!

Hồng Hạc sợ đến lạc cả hồn nhưng vẫn ngoan cố nhìn lại đôi mắt đang bừng bừng lửa giận.

Cả khắc trôi qua mà nắm đấm gân guốc vẫn ghì chặt xuống tấm nệm bên hông nàng.

Tới khi Nhật Tôn bỏ đi một lúc lâu, nàng vẫn không tin được là hắn chưa nổi điên mà siết chết mình.

Suốt một tháng sau đó Nhật Tôn không hề đặt chân tới phòng nàng nửa bước.

Lần đầu tiên gặp nhau sau đêm tân hôn lại là nàng chủ động đi tìm hắn.

Chiều hôm ấy nàng nghe đám nô tỳ rỉ tai nhau, rằng đệ nhất mỹ nam của Đại Việt đã trở thành quan nội thị.

- Tại sao ngài làm vậy?

Nhật Tôn bình thản đọc hết trang sách rồi mới tà tà buông một câu:

- Gần đây ta làm rất nhiều chuyện, Thái tử phi muốn hỏi chuyện nào?

- Tại sao ngài khiến Thường Kiệt trở thành nội thị?

Hắn ngẩng đầu nhìn thẳng vào nàng, đáy mắt vẫn phẳng lặng nhưng cuốn sách trên tay thì đã hơi nhau nhúm.

- Nội thị thì có sao?

Nếu làm tốt thì tiền đồ cũng rất xán lạn.

- Thái tử, Thường Kiệt là người anh em thân nhất của ngài.

- Thái tử phi ngày nhớ đêm mong người anh em thân nhất của ta, vậy nên ta mới đưa hắn vào Đông cung bầu bạn cùng nàng.

Nàng còn không vừa lòng?

Thế nhưng đêm ấy hắn lại tới phòng nàng, cả người nồng nặc hơi men.

- Thường Kiệt là người anh em thân nhất của ta... là nam tử hán đầu đội trời, chân đạp đất... là kẻ thân mang chí khí anh hùng... giờ lại thành ra như vậy.

Hồng Hạc ơi... cả đời này ta cũng không đền hết tội... cả đời này cũng không đền hết tội...

Nhật Tôn cứ thế quỳ dưới nền đất, gục đầu vào vai nàng mà khóc nấc lên.

Nàng cũng không buồn đẩy hắn ra.

- Kẻ có tội đâu chỉ mình Thái tử.

- Nàng nói khẽ, nước mắt không biết đã trào ra từ bao giờ.

chuyện cũ nhạt phai

Đông qua, xuân tới, hạ sang, rồi lại thu...

Nàng dần dần không nhớ nổi đã ở bên Nhật Tôn bao nhiêu lâu.

Mấy năm trước hắn lên ngôi Hoàng đế, nàng cũng trở thành Hoàng hậu.

Còn Thường Kiệt, rốt cuộc chút khiếm khuyết ấy cũng chẳng ngăn được chí khí anh hùng.

Hắn đánh đông dẹp tây, trấn yên biên giới, phủ dụ chúng dân, người người đều quy phục.

Cũng có rất nhiều chuyện nàng đã không còn nhớ rõ.

Ví như năm ấy chàng trai đeo mặt nạ hoàng lân vì sao lại bước xuống thuyền.

Ví như năm ấy khi thả đèn hoa đăng nàng cầu nguyện điều gì, còn hắn lại cầu nguyện điều gì.

Lại ví như năm ấy tại sao nàng trao cho hắn mảnh ngọc nửa vầng trăng, còn đứng giữa nhịp cầu Đông mà gọi lớn.

Nàng thường xuyên ngẫm lại lời cô nói: "Quá lâu rồi, Hồng Hạc à.

Ta cũng không nhớ nữa."

Tình cảm thanh xuân, hóa ra cũng có thể nhạt phai dần theo năm tháng.

Những năm này Nhật Tôn thường xuyên đem con gái của hắn đến cho nàng nuôi dưỡng.

Cuộc sống nơi cấm cung bởi vậy cũng bớt đi vài phần cô quạnh.

Nhiều khi nàng tự hỏi không hiểu sao hắn lại có thể kiên nhẫn hàng canh giờ chỉ để ngồi nhìn nàng chơi đùa cùng với mấy đứa nhỏ, rồi có đôi khi còn trầm ngâm nói không biết con của nàng và hắn trông sẽ đáng yêu tới mức nào.

Nhật Tôn đã bước sang tuổi tứ tuần mà vẫn chưa có con trai nối dõi.

Hắn không vội, nhưng quần thần lại chẳng thể bình chân.

Cứ hễ thấy tâm trạng hắn vui vẻ thì liền dâng sớ xin hắn lên chùa cầu tự.

Hơn một năm trước, khi đi lễ chùa Dâu, hắn đưa về một người con gái, phong làm Ỷ Lan Phu nhân.

Cuối cùng thì Ỷ Lan cũng sinh hạ cho hắn một hoàng tử.

Càn Đức vừa tròn một ngày tuổi đã được sách phong làm Thái tử, Ỷ Lan cũng trở thành Thần phi.

Những tưởng thời gian này Nhật Tôn sẽ không rời các Du Thiền nửa bước.

Vậy mà ngay buổi tối ngày Càn Đức được sách phong hắn đã tới cung Nghi Hòa.

Đây là lần thứ hai hắn tới tìm nàng mà say mèm vì rượu, chẳng nói chẳng rằng, chỉ lặng lẽ ôm nàng lâu thật lâu.

Tới nửa đêm, không rõ hơi men đã tan hay chưa, hắn nhỏ giọng hỏi:

- Hồng Hạc ơi... giả như không gặp Thường Kiệt trước thì liệu nàng có thích ta không?

- Trên đời này mà có chữ "giả như" thì thần thiếp chỉ nguyện hai ta không quen không biết.

Hắn thở dài, siết chặt vòng tay hơn nữa.

- Nàng thực sự không muốn có một đứa con cho riêng mình hay sao?

Đêm ấy, lần đầu tiên nàng ở bên hắn trọn vẹn.

Hóa ra đàn bà dù cứng rắn đến mấy thì có đôi khi cũng chẳng vượt qua nổi sự ích kỷ trong lòng.

*

Cuối xuân, tiết trời nồm ẩm, bệnh tình của Hoàng thái hậu ngày càng đổ nặng.

Cung nữ bẩm lại mấy hôm nay người hay mê sảng, còn gọi hoài một cái tên, mà cứ hễ tỉnh thì nước mắt lại lưng tròng.

Hồng Hạc túc trực bên giường bệnh đã nửa ngày trời.

Thái y nói người khả năng không qua nổi canh ba.

Quá nửa đêm, Thái hậu chợt tỉnh.

Không mê sảng, cũng không khóc lóc.

Trái tim nàng thắt lại, người ta nói kẻ sắp ra đi luôn thanh tỉnh khác thường.

- Hồng Hạc à, gần đây cứ hễ nhắm mắt là ta lại trông thấy người ấy.

- Cô trông thấy ai ạ?

- Con từng hỏi trước khi gả vào cung ta có yêu ai không, ta nói không nhớ... nhưng Hồng Hạc à, ta chưa từng quên người đó... chưa bao giờ ta quên được người đó.

Hồng Hạc lặng lẽ nhìn người đàn bà tóc sương đã điểm trắng cả mái đầu.

Rồi chợt có gì đó nhen lên giống như là hy vọng, nàng nắm lấy tay người, khẩn khoản hỏi:

- Cô ơi, liệu đến bây giờ nhà họ Dương đã xem con là một quân cờ bỏ đi chưa?

Thái hậu thở dài nhìn nàng.

Trong đôi mắt toàn là thương hại.

Lát sau người ngoảnh đi, nhìn chong chong lên nóc điện:

- Ta từng nghĩ... chỉ cần ngoan ngoãn gả vào Đông cung thì cha sẽ tha cho chàng... nhưng ta sai rồi... sai rồi... hoàn toàn sai rồi...

Nàng tuyệt vọng buông tay.

Thái hậu cũng bắt đầu chìm vào cõi vô thần.

*

Chưa bao giờ nàng thấy Nhật Tôn tức giận tới như vậy.

Ngay cả trong cái đêm tân hôn nàng nhắc tới Thường Kiệt, hắn cũng gắng sức mà kiềm chế.

Nhưng hôm nay hắn đã điên cuồng đập nát một nửa cung Nghi Hòa, hai nữ quan hầu nàng thuốc thang cũng bị đem ra trượng hình cho tới chết.

Máu tươi loang thẫm, ngấm sâu vào từng kẽ gạch trên sân điện.

Trời đổ mưa.

Nhưng nước dù xối xả trút xuống bao nhiêu cũng không làm sao gột sạch được máu và tội lỗi.

Hắn siết nghẹt lấy bả vai nàng, đôi mắt đỏ ngầu.

- Một tháng trước không phải chúng ta còn rất tốt à?

Tại sao khi vừa hay tin ta và nàng có con thì cũng là lúc ta mất đi nó vĩnh viễn?

Tại sao hả Hồng Hạc?

Nàng lảng tránh ánh mắt hắn, đôi môi tái nhợt mấp máy không thành tiếng:

- Bệ hạ...

Thái tử vẫn đang chờ ngài...

ở các Du Thiền.

Hắn sững sờ buông tay.

Nàng ngã nhoài xuống nệm.

Hắn cũng kiệt sức mà đổ gục xuống bên giường.

Trong từng lời thốt ra, nàng nghe thấy tiếng trái tim hắn vụn vỡ:

- Là thủy ngân đấy, Hồng Hạc ơi!

Giờ thì nàng sẽ không bao giờ mang thai được nữa.

Nàng vừa lòng chưa!

Ngày hôm ấy nhìn hắn thất thểu bỏ đi dưới cơn mưa rào đầu hạ, nàng thực tò mò muốn biết giới hạn của bậc quân vương dành cho một người đàn bà càn quấy như nàng có thể sâu rộng tới mức nào.

*

- Hoàng hậu!

Cầu xin người trả Càn Đức lại cho thần thiếp.

Thần thiếp cắn rơm cắn cỏ lạy người!

Người muốn gì thần thiếp cũng sẽ làm!

Chỉ xin trả Càn Đức lại cho thần thiếp!

Hoàng hậu!...

Tiếng khóc thống thiết của Ỷ Lan váng cả một góc trời, khiến cho người chưa từng mang nặng đẻ đau như nàng cũng quặn cả ruột gan.

Sự bao dung của bậc quân vương dành cho một người đàn bà càn quấy như nàng hóa ra lại có thể vô bờ vô bến.

Chỉ hơn hai tháng sau khi nàng uống thuốc trụy thai, hắn đã bế Càn Đức tới, nói nhờ nàng nuôi dưỡng.

- Bệ hạ đem Thái tử trả về cho Thần phi đi.

Hắn thong thả nhấp ngụm trà, rồi lật trang sách, rồi mới thủng thẳng nói:

- Hoàng hậu đã không chịu sinh con cho trẫm, giờ còn không muốn nuôi con của trẫm nữa sao?

- Thần thiếp đã nuôi dưỡng công chúa Ngọc Kiều, Thiên Thành và Động Thiên, chỉ sợ không chăm sóc được Thái tử chu toàn.

Hắn đặt cuốn sách xuống, nghiêm túc nói:

- Động Thiên còn nhỏ mà đã thông hiểu lễ nghĩa, Thiên Thành và Ngọc Kiều thì càng lớn càng tài sắc vẹn toàn.

Chỉ có giao Càn Đức cho Hoàng hậu nuôi dưỡng thì trẫm mới an tâm.

Nàng một mực thoái thác:

- Thần phi thông minh đức độ, là người thích hợp nhất nuôi dưỡng Thái tử.

- Nàng ấy xuất thân tầm thường.

- Trước giờ bệ hạ từng coi trọng xuất thân sao?

- Nàng ấy tài sơ học thiển, trong đầu chẳng có bao nhiêu chữ nghĩa.

- Vậy mà thần thiếp lại nghe nói bệ hạ cùng Thần phi từng say sưa đối thơ tới quên cả bữa cơm chiều.

- Thì tại...

Hắn toan phản đối nhưng đột nhiên lại nhận ra điều gì đó, bèn cười như có như không, nheo mắt nhìn nàng dò hỏi:

- Hoàng hậu có vẻ rất quan tâm chuyện của trẫm và Thần phi?

- Chuyện của bệ hạ và Thần phi đã thành giai thoại trong cung cấm, có ai mà không biết.

Hắn chăm chú nhìn nàng, khóe miệng cười càng sâu.

- Bệ hạ vẫn nên đưa Thái tử về chỗ Thần phi thì hơn.

Nụ cười của hắn héo đi một chút, con mắt chớp động vài lần như cố tìm lý do, chừng như đuối lý rồi mới phất tay, chắt lưỡi nói:

- Nàng thích trẻ con.

Cứ để Càn Đức ở lại đây đi.

Đúng là nàng thích trẻ con.

Thích đến mê mẩn.

Nàng có thể ngồi cả ngày để dạy mấy đứa con gái cầm, kỳ, thi, họa.

Giờ lại có thể ngồi cả ngày chỉ để đưa nôi cho hoàng tử nhỏ.

Thần phi cũng không còn tới cung Nghi Hòa khóc lóc, không biết hắn dỗ dành bằng cách nào.

Rồi chưa qua hai năm, nàng ta lại sinh hạ thêm một hoàng tử, được tấn phong làm Nguyên phi, địa vị chỉ sau Hoàng hậu.

Nhờ chuyện này mà mỗi khi nghĩ đến Càn Đức, nàng cũng vơi đi nỗi áy náy trong lòng.

Mấy năm nay còn bắt đầu xuất hiện vài tin đồn ác ý về Nguyên phi Ỷ Lan và Thái úy Ngô Thường Kiệt.

Nhưng dẫu sao hiện giờ Thường Kiệt cũng không còn là một người đàn ông đúng nghĩa, nên tin đồn này chẳng thể gây nên sóng gió như giai thoại về kim đồng ngọc nữ năm nào.

Mùa đông năm Thần Vũ thứ ba, Nhật Tôn bị cảm nặng.

Sang xuân thì hắn đã không thể rời khỏi điện Hội Tiên nửa bước.

Mấy tháng nay cha nàng dường như cũng không thể tiếp tục ngồi yên.

Càn Đức còn thơ dại, nếu lúc này hắn ra đi thì đối với nhà họ Dương đúng là cơ hội trời ban.

Ấy thế mà hắn qua đời chưa được một năm mọi chuyện đã dẹp yên.

Tội mưu phản, thông địch bán nước đủ để nhà họ Dương cả trăm năm nữa cũng không ngóc đầu lên nổi.

Người ta nói Thái hậu Linh Nhân cậy nhờ vào thế lực của Thái úy Ngô Thường Kiệt mới lật đổ được họ Dương.

Nhưng nàng hiểu rõ, trước lúc ra đi hắn đã sắp xếp ổn thỏa cả rồi.

trọn đời bình an

Ai cũng than cung Thượng Dương lạnh lẽo.

Hôm qua Linh Nhân Thái hậu bước vào còn vô thức siết lấy vạt áo hồ cừu.

Vậy mà nàng chỉ khoác một tấm áo mỏng manh lại chẳng hề thấy lạnh.

Có lẽ người sắp bước vào cõi hư vô thì cảm nhận cũng khác thường.

Nàng ngồi trước gương đồng vấn tóc, thoa son, rồi tỉ mỉ họa từng nét từng nét lên chân mày.

Chợt phía sau xuất hiện bóng người.

Nàng chau mày hồi lâu mới nhận ra là Thường Kiệt.

Từ sau khi gả vào Đông cung nàng cũng ít gặp hắn, nói chuyện lại càng không.

Hiếm hoi lắm mới nhìn thấy hắn trong những ngày lễ lớn.

Mà một dạo cứ hễ có chút hơi men là nàng lại tưởng tượng ra hắn đeo mặt nạ hoàng lân.

Vài lần như vậy khiến cuối cùng nàng còn chẳng dám nhìn.

- Sáng nay Thái hậu đã hạ lệnh bắt người phải tuẫn táng cùng Tiên đế.

Sao đột nhiên lại như vậy?

Hôm qua Thái hậu vẫn còn đồng ý để thần đưa người đi.

Nàng không trả lời, chỉ hạ mắt xuống nói câu xin lỗi:

- Năm xưa là ta có lỗi với Thái úy!

Nếu không có lời đồn kim đồng ngọc nữ thì ngài đã không phải trở thành nội thị.

Thường Kiệt cắn chặt răng trong một thoáng, rồi chậm rãi nói:

- Năm đó thần trở thành nội thị không phải do Tiên đế.

- Ta biết chứ.

Là do cô làm.

Cô muốn nhắc nhở ta tránh xa ngài.

- Thần không hề trách Thiên Cảm Hoàng thái hậu.

Nếu năm đó Hoàng thái hậu không làm vậy thì Dương Tể tướng đã giết chết thần rồi.

Nhưng có điều thần không hiểu... nếu đã rõ ngọn ngành thì sao năm đó người còn vì chuyện này mà bất hòa với Tiên đế?

Nàng hoàn thành những nét vẽ cuối cùng nơi chân mày, gác bút xuống rồi nhìn Thường Kiệt qua gương.

- Có đẹp không?

Thường Kiệt thoáng ngẩn ra, tỏ vẻ không hiểu.

Nàng cười giải thích:

- Thái úy chắc không biết, năm ấy tiên đồng phải lòng ngọc nữ cũng chỉ bởi một nhành lan vẽ lên đuôi mày.

Thường Kiệt nhìn nàng kinh ngạc, rồi khẽ lắc đầu cười khổ:

- Linh Nhân Thái hậu cũng thích vẽ hoa lan lên chân mày.

Phải chăng vì vậy mà Thái hậu mới có cái tên Ỷ Lan, mới có được sủng ái của Tiên đế.

Rồi hắn hào hứng kể, khuôn mặt sương gió bỗng chốc như trẻ lại thành chàng trai mười bảy tuổi:

- Năm đó Tiên đế đeo mặt nạ hoàng lân, thay thần múa Độc Chiếm Ngao Đầu ở tháp Báo Thiên.

Người nói muốn biết cảm giác của đệ nhất mỹ nam Đại Việt khi khiến cho bao thiếu nữ cuồng si là như thế nào.

Sau hôm ấy Tiên đế tới tìm thần an ủi, bảo sống như Thường Kiệt sao mà khổ quá.

Nàng bật cười:

- Hôm ấy chàng nói tên mình là Thường Kiệt, mà lại không biết ta và Thái úy đã quen nhau từ trước.

Cả cuộc đời này có lẽ đó là lần duy nhất ta được dùng trái tim vô tư mà đối diện cùng chàng.

Thường Kiệt ngập ngừng chốc lát, cuối cùng vẫn nói ra khúc mắc trong lòng:

- Ba mươi năm nay hai người cớ sao lại thành ra như vậy?

- Nếu năm xưa người đeo mặt nạ hoàng lân thực sự là Thái úy thì tốt biết mấy.

Vậy thì ta đã có thể làm tròn bổn phận với nhà họ Dương mà không phải bận lòng.

Khi nghe tin sắp được gả vào Đông cung, sắp được gả cho chàng, ta vui mừng khôn xiết.

Nhưng sau đó lại vô tình nghe được cha và nội bàn bạc chuyện dìu dắt ấu đế.

Nếu ta thực sự sinh được hoàng tử, thì chỉ e chuyện giết vua hai người cũng dám làm.

Gả vào Đông cung rồi ta chẳng dám gần chàng.

Lại chỉ mong nhà họ Dương thấy chàng bỏ bê ta mà buông tay.

Thường Kiệt ngập ngừng:

- Người đã từng muốn sinh con cho Tiên đế?

Nàng khẽ cúi đầu, lòng quặn lại.

- Năm đó Càn Đức được sách phong làm Thái tử, có một thoáng ta đã hi vọng nhà họ Dương từ bỏ rồi.

Nhưng sau khi phát hiện ta mang thai thì cha liền đưa ta độc thủy ngân, bảo ta tìm cách bỏ vào thức ăn của vú nuôi cung Du Thiền.

Uống bầu sữa ấy thì chẳng mấy mà Càn Đức sẽ vong mạng.

Ta không ngăn nổi dã tâm của cha, vậy nên lấy độc ấy tự tay giết chết đứa con trong bụng mình.

Năm đó ta khiến cho lòng chàng tan nát, vậy mà chàng vẫn chẳng chịu ghét bỏ ta.

Nghe nàng giãi bày xong, Thường Kiệt lặng đi.

Lúc sau mới cương quyết nói:

- Thần sẽ đi cầu xin Thái hậu thu hồi thánh lệnh.

Nàng cảm kích lắc đầu:

- Hôm qua Ỷ Lan có tới đây, cũng nói sẽ thả ta đi.

Lại bị ta cố tình chọc giận nên mới nuốt lời.

Thái úy đừng tốn công làm gì.

Thường Kiệt quỳ phịch xuống, giọng khẩn khoản:

- Sau khi Tiên đế sắp xếp ổn thỏa chuyện nhà họ Dương thì chỉ còn lo lắng một mình người.

Tiên đế đã buộc Thái hậu phải thề độc là để người đi, lại bắt thần hứa sẽ bảo vệ người bình an.

- Nếu vậy thì Thái úy càng không cần phải nhọc lòng.

Bình an của ta chính là được ở cạnh chàng.

Thường Kiệt quỳ trước cung Thượng Dương cả một ngày trời, kiên quyết chờ nàng đổi ý.

Nàng biết hắn không phải vì giữ trọn đạo quân thần, mà là vì lời gửi gắm của người anh em thân thiết nhất.

Hơn mười hai canh giờ trầm mình trong gió bấc, cuối cùng lại chỉ chờ được một đạo thánh chỉ của Thái hậu Linh Nhân, hạ lệnh giam nàng và bảy mươi hai cung nữ trong cung Thượng Dương, bỏ đói cho tới chết.

Những ngày cuối cùng nàng suy nghĩ rất nhiều.

Nghĩ mãi, nghĩ mãi cũng không nhớ nổi nàng đã ở bên Nhật Tôn bao nhiêu năm.

Có khi bởi cuộc sống này vốn bình yên quá.

Hắn biết nàng thích trẻ con, nên hầu như con cái của hắn đều mang đến cung Nghi Hòa, nói cậy nhờ nàng nuôi dưỡng.

Hắn biết nàng nặng gánh gia tộc, nên bao năm nay vẫn không quyết liệt với họ Dương.

Hắn biết một khi mình ngã xuống thì quyền lực sẽ phải trao vào tay Ỷ Lan, vậy nên hắn để nàng chăm lo cho Càn Đức từ tấm bé, những mong ơn dưỡng dục sẽ cho nàng những ngày tháng an yên.

Nhưng có một điều cho đến hôm nay hắn vẫn chẳng hề hay biết, đó là kể từ đêm trung thu năm ấy nàng đã nguyện sẽ theo hắn tới cuối đất cùng trời.

Cứ nghĩ rồi lại nghĩ.

Hóa ra còn có rất nhiều chuyện nàng không hề quên.

Ví như năm ấy chàng trai đeo mặt nạ hoàng lân vì tránh đám con gái theo đuôi nên mới phải nhảy xuống thuyền.

Ví như năm ấy nàng đã bước qua nhịp cầu Đông, nhưng muốn trêu chọc hắn nên mới quay lại gọi lớn tên Ngô Thường Kiệt.

Lại ví như năm ấy khi thả đèn hoa đăng nàng cầu nguyện điều gì, còn hắn lại cầu nguyện điều gì...

Này, nàng vừa cầu gì vậy?

Ta cầu mong được cùng người mình yêu bên nhau trọn một đời.

Còn ta lại chỉ mong nàng ấy trọn đời bình an!

Đọc SĂN MỘ_Thông Thiên La Thành tại: http//www.wattpad.com/myworks/201401042-săn-mộ-_-thông-thiên-la-thành

Nội thị: thái giám

Độc Chiếm Ngao Đầu: một con lân biểu diễn, tượng trưng cho cái uy cái dũng của một mãnh tướng, một vị anh hùng

Cung Long Đức: nơi ở của Thái tử thời Lý

Năm Thần Vũ thứ ba: năm 1071

Tuẫn táng: chôn người sống theo người chết
 
Back
Top Bottom