Cập nhật mới

Khác Việt Nam - Một lịch sử

Việt Nam - Một Lịch Sử
20. ĐINH TIÊN HOÀNG_Cái chết đầy uẩn khúc


Đinh Tiên Hoàng thống nhất giang sơn nhanh vãi loằn, nhưng thiên hạ nhà họ Đinh cũng sụp đổ lẹ một cách hốt hoảng.

Chuyện thâm cung bí sử xoay quanh cái chết bất thình lình của Đinh Tiên Hoàng được giang hồ mặc sức thêu dệt nên khối chuyện hay ho.

Một số thanh niên hoang tưởng cho rằng cái sự nhà họ Đinh tàn lụi có liên quan đến con ngựa đá há mỏ và ông thầy địa lí số rách năm nào.

Chuyện là sau khi đưa thằng nhỏ Đinh Bộ Lĩnh nắm xương bỏ vô mồm ngựa, ông thầy về quê bán sạch ruộng vườn, trâu bò, chuẩn bị sẵn sàng tinh thần đi làm vua bất cứ lúc nào.

Nhưng đợi mãi, đợi hoài mà vẫn không thấy ai kêu đi làm vua, mới khăn gói sang đất Nam hóng hớt tình hình.

Sang tới nơi thì thấy thằng nhãi ở truồng lội sông năm nào nay đã chễm chệ ngồi trên ngai vàng.

Rồi lúc ngó thấy mình thì cha tiên sư nó còn vẫy vào cảm ơn các kiểu.

Thầy là thầy điên tiết lắm rồi nhưng thầy vẫn cứ giả bộ thảo mai bảo: "Ây da, ngộ chúc mừng nị đã hốt được ngôi đất quý.

Nhưng mà ngựa éo có gươm là éo được tốt nghe hơm.

Ngộ cho nị thanh gươm báu nè.

Nị đem treo vô cổ ngựa nha.

Rồi nị sẽ bá nhất cái vũ trụ này luôn."

Thanh niên Đinh Bộ Lĩnh nghe thế thì thích cái tai lắm.

Tức tốc phi ngựa quên cả vệ sinh, ngủ nghỉ để về cái quê, lặn xuống cái đầm, rồi treo gươm vô cái cổ.

Thời gian trôi đi, nước sông chảy xiết, thanh gươm cứa vào cổ con ngựa, đứt cái phịch.

Thế là giang sơn nhà họ Đinh tiêu tùng.

Đấy là chuyện giang hồ đồn đại cho vui cái tai, sướng cái mồm.

Còn thuyết âm mưu được giang hồ nghĩ xoắn cả não dựa theo chính sử nó như thế này.

Trong cung bấy giờ có anh thái giám Đỗ Thích, chuyên lo việc ăn ngủ và vệ sinh cá nhân cho Đinh Tiên Hoàng.

Một đêm trăng thanh, gió thổi mát đũng quần, anh Đỗ Thích nằm ngủ ngoài bờ hiên, mơ màng thấy sao rơi trúng miệng.

Ảnh liền hoang tưởng chuyện sắp được làm vua.

Hồi còn sống, Đinh Tiên Hoàng rất khoái ăn lòng lợn.

Thế là một ngày nọ, Đỗ Thích dâng lên một đĩa lòng lợn tẩm formon.

Đinh Tiên Hoàng vừa thấy lòng lợn thì hục mặt vào ăn quên trời đất.

Tới khi phát hiện có gì đó sai sai thì cũng là lúc lăn đùng ra chết.

Đúng lúc ấy, anh con giai Đinh Liễn ghé chơi, ngó thấy ông bố anh lăn đùng ra đất thì nghi ngờ trong lòng lợn có tẩm độc, bèn bốc một miếng ăn thử.

Đỗ Thích bị bắt sau 3 ngày đào tẩu, khép vào tội giết vua, giết thái tử.

Bị tuyên án thọc lét cho đế chết.

Đấy là những chuyện ghi trong sử sách, nhưng sự thật có vẻ còn quắn quéo hơn nhiều.

Giang hồ đồn đại, hung thủ thật sự không phải anh thái giám hoang tưởng mà là bà Hoàng hậu Dương Vân Nga và người tình của bả, anh Lê Hoàn.

Hung khí thì không có gì thay đổi, vẫn là cái đĩa lòng lợn tẩm formon kia.

Anh thái giám Đỗ Thích vô tình chườn cái mẹt vào đúng cái lúc bố con anh hoàng đế lăn đùng ra đất nên bị đôi kia đổ vạ.

Trong cuộc thi "Ai chết tức tưởi hơn" thì giữa bố con anh hoàng đế và anh Đỗ Thích, thật không biết nên để anh nào giành quán quân.

Nguyên nhân của cái vụ có vẻ như giết chồng này thì cũng chỉ quanh quẩn ba cái chuyện tranh đoạt quyền lực tào lao của bọn con vua cháu chúa.

Chuyện là ban đầu thằng cả Đinh Liễn được lập làm thái tử.

Chuyện con trưởng kế vị nó là chuyện hiển nhiên vãi loằn, không ai ý kiến gì.

Nhưng khi thằng út Hạng Lang ra đời thì Đinh Tiên Hoàng lại nổi hứng truyền ngôi cho Hạng Lang.

Rồi thì thằng cả Đinh Liễn uất ức thủ tiêu thằng út Hạng Lang cho bõ tức.

Rồi thì Đinh Tiên Hoàng éo trách tội gì mà vẫn để thằng cả Đinh Liễn làm thái tử.

Bà Dương Vân Nga, má của thằng hai Đinh Toàn trộm nghĩ: "Ô hay, ông chồng nhà này vui tính vãi loằn.

Ô hay, tội lớn vầy mà vẫn yên ổn vãi chưởng.

Ô hay, cái nhà này loạn vãi shit."

Thế là bà cho loạn hẳn, thế là bà kết bè kết phái với ông Lê Hoàn, thế là bà giết quách ông chồng với thằng con trưởng cho bõ tức.

Năm 979, nhóc Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi Hoàng đế, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn làm nhiếp chính.

Giang Sơn Đại Cồ Việt tuột dần khỏi tay họ Đinh.

#việt_nam_một_lịch_sử
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
21. LÊ HOÀN_Ngai vàng trên lưng ngựa


Nhóc Lê Hoàn mới tí tuổi đầu đã mồ côi một phát cả cha lẫn mẹ.

May thay được một viên quan thấy yêu thương vãi chưởng nên nhận về làm con nuôi.

Tương truyền mùa đông năm ấy rét đậm rét hại, nhóc Lê Hoàn nằm co cụm giữa nhà, đắp cói ngủ.

Tự nhiên có con rồng vàng rảnh lờ sà xuống ôm ấp, sưởi ấm.

Ông bố nuôi thấy thế thì càng nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa.

Lê Hoàn dậy thì thành công, trở thành một thanh niên có trí, có dũng, khiến anh em ngưỡng mộ, chị em thèm khát.

Nghe giang hồ đồn đại team Đinh Bộ Lĩnh ngầu lắm, mới khăn gói theo cụ Đinh đi thống nhất thiên hạ.

Năm 979, khi cha con Đinh Bộ Lĩnh chết tức tưởi vì đĩa lòng lợn tẩm formon, Lê Hoàn cùng với Đinh Điền và Nguyễn Bặc hợp tác rước Vệ vương Đinh Toàn mới 6 tuổi lên làm vua, tôn mẹ Đinh Toàn là Dương Vân Nga lên làm Hoàng thái hậu.

Được ít ngày thì Đinh Điền và Nguyễn Bặc bắt đầu cảm thấy có gì đó sai sai.

Vua mới bước vào tuổi thay răng, mà nhiếp chính vương Lê Hoàn thì như hùm như beo bên cạnh.

Thế là hai anh quyết định thủ tiêu anh Lê Hoàn cho êm cửa ấm nhà.

Nhưng động được vào người anh Lê Hoàn đâu có dễ như vại.

Kết quả chung cuộc sau một hồi làm loạn là hai anh kia bị xin mất cmn cái đầu.

Ngày ấy, bên Tung Của có thằng Hầu Nhân Bảo chuyên thò cổ qua hàng rào hóng hớt chuyện nhà hàng xóm.

Thấy bên Đại Cồ Việt mẹ góa con côi, loạn từ trong nhà ra ngoài ngõ thì hớn hở đi hớt lẻo với Tống Nhân Tông, rằng thì đây là thời cơ vãi cả thích hợp để lấn đất, cướp nhà.

Nghe tin nhà Tống chuẩn bị xuất binh, Lê Hoàn bèn cử Phạm Cự Lạng làm đại tướng quân, chuẩn bị nghênh chiến.

Hôm ấy, anh Cự Lạng đùng đùng dẫn nha tướng vào triều, thái độ hổ báo cáo chồn.

Anh Lê Hoàn hoảng hết cả hồn, hỏi: "Sao éo lượn nhanh cho sớm chợ?"

Đột nhiên anh Lạng cùng nha tướng quỳ cái rụp xuống, bảo tha thiết mong anh Lê Hoàn lên làm vua cmnl đi cho được việc.

Chị thái hậu Dương Vân Nga kiểu thấy anh Lê Hoàn được đồng bào ủng hộ thì ngửa mặt than: “Ok, tao vẫn ổn!”, rồi lấy cái áo thêu hình con Pikalong đắp lên người cho anh.

Chị Dương Vân Nga là người đàn bà thức thời, hay thuộc tuýp người gió chiều nào xoay chiều ấy, hay tất cả mọi chuyện đều nằm trong tính toán của hai anh chị cả thì chỉ có chị và anh mới hiểu rõ.

Đầu năm 980, Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế.

Giang sơn Đại Việt chuyển sang họ Lê đứng tên chính chủ.

Tháng 8 năm 980, Tống Nhân Tông chính thức phát lệnh xâm lược Đại Việt.

Anh Lê Hoàn chưa thu xếp mọi việc xong xuôi, bèn sai người sang đàm phán hòng câu giờ được phút nào hay phút ấy.

Vua Tống đang khó ở nên không có hứng đàm phán lắm, bảo để Đinh Toàn với bà má Dương Vân Nga sang Tống du lịch ít năm, tiện thể làm con tin luôn, Lê Hoàn ở nhà sẽ được trao cờ Tiết.

Anh Lê Hoàn bên này vừa hay cũng khó ở nên hất mặt kiểu: “Đùa anh à?”.

Anh Tống Nhân Tông cáu tiết: “Đùa cái beep”.

Thế là chiến tranh dậm dờ chuẩn bị nửa nắm trời cuối cùng cũng chịu xì ra.

Tháng 12 năm 980, quân Tống đánh tan 1 vạn quân Đại Cồ Việt.

Nhùng nhằng tới đầu năm 981, quân Tống lại hạ thêm được hơn 1000 người và bắt được mấy trăm thuyền chiến.

Anh Lê Hoàn nghĩ kiểu thôi thì đã thua rồi, có mất mặt thêm nữa cũng chẳng khác là bao, thế là anh quyết định giả hàng để dụ Hầu Nhân Bảo.

Anh Bảo thì kiểu ngây thơ, tin người, thấy anh Lê Hoàn ra hàng thì hồn nhiên ôm ấp cảm thông, kết cục là trúng bẫy, bị bắt rồi chém chết.

Quả là trận chiến theo mô tuýp phim hành động điển hình, thằng te tua hơn kiểu gì cũng là thằng lật kèo vào phút chót.

Quánh nhau sứt đầu mẻ trán rồi thì đến màn tạ lỗi, giảng hòa.

Nhận thấy Đại Cồ Việt dù sao cũng không hổ báo được bằng Tống.

Tống Nhân Tông mà điên lên, hô hào cả bản ra đánh thì có mà đánh lại bằng niềm tin, thế là anh Lê Hoàn bèn cho người đi sứ nhà Tống, dâng quà và thư xin lỗi.

Vua Tống thấy anh Lê Hoàn cũng khá chân thành nên thôi bỏ qua hiềm khích, trở lại làm “hàng xóm tốt”.

Giảng hòa với Tống rồi, không có ai gây lộn thì anh Lê Hoàn thấy chân tay bứt rứt khó chịu lắm.

Vừa hay đợt ấy có vua Chiêm Thành là anh Bê Mi Thuế không biết điều cứ thích trêu ngươi.

Thế là anh Lê Hoàn lại thân chinh đi quánh lộn.

Chiêm Thành thua bét nhè, anh Bê Mi Thuế bị chém.

Vụ này anh Lê Hoàn bội thu, hốt được bao nhiêu ngọc ngà châu báu với gái đẹp.

Anh còn sai dâng hơn 90 tù binh Chiêm Thành cho vua Tống để dằn mặt.

Anh Lê Hoàn cũng là vị vua chịu khó đi quánh lộn nhất trong lịch sử Việt Nam.

Anh tự mình đánh dẹp trong nước.

Thậm chí có khi hứng lên anh còn đem quân đi đánh sang cả châu Khâm, Ung Châu (thuộc đất Tống).

Anh Lê Tắc viết trong cuốn An Nam chí lược của anh ý, rằng thì hồi ấy khi sang Tống anh Lê Hoàn chỉ đánh phá nhân dân, cướp bóc lương thực rồi phủi đít bỏ đi.

Anh Lê Hoàn cứ chạy loanh quanh như thế tới tận năm 1003, già yếu đuối sức rồi mới chịu ngồi yên một chỗ.

Năm 1005, Lê Hoàn mất ở điện Trường Xuân.

Bốn thằng con trời đánh tranh giành ngôi báu loạn xà ngầu, khiến Đại Cồ Việt hơn nửa năm trời không ai đứng tên.

#việt_nam_một_lịch_sử
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
22. DƯƠNG VÂN NGA_Lưỡng triều hoàng hậu


Về Dương hậu, Đại Việt sử kí toàn thư ghi chép theo kiểu cạn mẹ cả lời.

Không cha mẹ, không quê quán, không luôn cả tên tuổi.

Tất cả những gì chúng ta biết là bà một tay hốt trọn hai hotboy bá nhất Đại Cồ Việt.

Theo một nguồn tin éo biết từ đâu ra mà người người nhà nhà đều tin sái cổ thì bà Dương hậu tên Dương Vân Nga, là con gái ông Dương Thế Hiển.

Ông Dương Thế Hiển là ai thì cũng không cần quan tâm vì ông này có hay không cũng chẳng ảnh hưởng gì đến an ninh vũ trụ.

Theo một nguồn tin vỉa hè khác thì bà Dương hậu tên Dương Ngọc Vân, là con gái cưng của ông Dương Tam Kha.

Ông Dương Tam Kha mặc dù từ bỏ chính trường để theo đuổi niềm đam mê “làm lông”, nhưng vẫn ý thức được rằng con gái mình không thể theo cha “làm lông” suốt đời.

Vừa hay thấy thanh niên Đinh Bộ Lĩnh đẹp trai rạng ngời, tương lai rộng mở, ông bèn gả phứt cô Ngọc Vân cho anh Bộ Lĩnh.

Một nguồn tin nhảm quần hơn nữa là bà Dương hậu trước khi hốt được anh Bộ Lĩnh thì đã kịp làm má anh Ngô Nhật Khánh, làm vợ anh Ngô Xương Văn và làm con dâu anh Ngô Quyền.

Nhưng nói chung dù có chui từ đâu ra thì bà cũng vẫn sở hữu một nhan sắc lồng lộn bền vững.

Và trong bài này bà Dương hậu sẽ được gọi bằng cái tên phổ thông nhất là Dương Vân Nga.

Giang hồ đồn đại khi mới sinh ra nhỏ Nga khóc lóc ầm ĩ suốt ba tháng trời.

Có một vị cao tăng đi qua làng, nghe khóc lóc nhức cả đầu mới ghé vào xoa lưng rồi bảo: “Nín đi thôi, nín đi thôi/hai vai gánh vác cả đôi sơn hà”.

Con nhỏ nghe xong câm nín cmnl.

Cô tiểu thư nhà họ Dương càng lớn càng xinh đẹp éo thể chịu nổi.

Giang hồ đồn đại cô có gương mặt mâm điển hình, bầu bĩnh và phúc hậu.

Rồi thì mắt phượng mày ngài, rồi thì nước da trắng toát.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi cô hốt gọn được thanh niên ưu tú nhất Đại Cồ Việt lúc bấy giờ, tức anh Đinh Bộ Lĩnh.

Sự nghiệp làm hoàng hậu của cô Dương Vân Nga bắt đầu từ năm 968, khi anh Đinh Bộ Lĩnh dẹp chợ được 12 sứ quân, xưng là Đại Thắng Minh hoàng đế.

Tuy nhiên bà Dương hậu lại éo phải dưới một người, trên vạn người.

Thời ấy hoàng hậu là nghề nghiệp tương đối phổ biến.

Anh Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, tuyển hoàng hậu tới tấp, có đến 5 bà trúng tuyển, mà bà nào cũng nhan sắc nghiêng nước nghiêng thùng.

Bà Dương Vân Nga cảm thấy vai trò của mình éo được quan trọng lắm.

Bà ngày đêm trăn trở, suy nghĩ làm sao mới tạo được một cú hit để đời.

Trong một diễn biến khác, anh Đinh Bộ Lĩnh vì một phút bồng bột tuôti trung niên đã phế truất Đinh Liễn, lập con trai út Hạng Lang làm thái tử.

Sau đó cu Đinh Liễn uất ức trào dâng giết chết cmn cu Hạng Lang.

Anh Đinh Bộ Lĩnh không biết đợt ấy ăn phải cái gì mà dễ tính vãi xoài.

Không thèm xử tội Đinh Liễn, lại còn tiếp tục cho Đinh Liễn làm thái tử.

Bà Dương hậu thấy thế thì tức lắm.

Thằng Hạng Lang là con út, lại mới sinh, còn chưa biết có bị thiểu năng hay không mà đã được làm thái tử, rồi lại tới cái thằng Đinh Liễn tội ác tày trời.

Trong khi thằng Đinh Toàn con trai bà thông minh sáng sủa thì lại không hề được nghĩ đến, bộ nó là cún cảnh à.

Trong tình thế ấy, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn xuất hiện như một vị thần.

Nhiều nguồn tin vỉa hè cho hay anh Lê Hoàn và chị Dương Vân Nga đã hợp tác thủ tiêu anh Đinh Bộ Lĩnh và cu Đinh Liễn bằng một đĩa lòng lợn tẩm formon.

Ông thái giám Đỗ Thích thì coi như bị sao quả tạ rới trúng đầu, bị đem ra làm bia đỡ đạn.

Đinh Bộ Lĩnh, Đinh Liễn và Hạng Lang rủ nhau chết hết ráo, Đinh Toàn trở thành đứa con duy nhất còn sót lại.

Nó không làm hoàng đế thì ai làm.

Nhưng vì Đinh Toàn mới 6 tuổi, còn nhỏ xíu, nên bà Dương thái hậu lại mướn Lê Hoàn làm nhiếp chính.

Năm 980, nhà Tống rảnh lờ kéo quân sang xâm lược.

Cả triều đình nhất trí ủng hộ Lê Hoàn lên làm hoàng đế.

Bà Dương thái hậu cảm thấy ừ cũng hợp lí nên lấy cái áo cũ anh Đinh Bộ Lĩnh hay mặc lúc còn sống, giặt giũ cẩn thận rồi choàng lên người anh Lê Hoàn.

Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế, lập ra nhà Tiền Lê.

Sau khi dẹp xong quân Tống, Lê Hoàn trong cơn hứng khởi đã lập luôn bà Dương Vân Nga làm hoàng hậu.

Bà Dương Vân Nga đang hớn hở thì chợt bần thần nhận ra đù má quanh bà rốt cuộc vẫn có tới bốn bà hoàng hậu khác.

Bà Dương hậu lấy anh Lê Hoàn thì chỉ sản xuất ra được thêm một cô công chúa là Lê Thị Phất Ngân, thành ra bà bị đánh rớt khỏi cuộc chạy đua quyền lực.

Cuối đời, bà tu hành tại chùa Am Tiên.

Năm 1000, Dương thái hậu qua đời, thọ 48 tuổi.

Dù chưa bao giờ được một mình làm hoàng hậu nhưng bà cũng đã hoàn thành được một tâm nguyện là tạo ra cú hit để đời.

#việt_nam_một_lịch_sử
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
23. LÊ LONG ĐĨNH_Ngọa Triều hoàng đế


Lê Hoàn lần đầu tiên được làm hoàng đế nên còn nhiều bỡ ngỡ.

Thấy Đinh Bộ Lĩnh có tới năm bà hoàng hậu thì cứ tưởng đấy là quy định, bèn tuyển hoàng hậu tới tấp, tuyển như thể chưa bao giờ được tuyển.

Chẳng mấy mà đủ năm bà.

Trong đó có một bà gọi là Chi Hậu Diệu Nữ.

Bà này sinh được 2 hoàng tử, là thằng ba Long Việt và thằng năm Long Đĩnh.

Năm 1004, thái tử, tức thằng cả Long Thâu đột nhiên lăn đùng ra chết.

Cu Long Đĩnh năm ấy 18 trăng tròn, cảm thấy mình giỏi giang hơn người, lại đẹp trai vô đối, rất phù hợp với hình tượng thái tử.

Nhân một ngày đẹp trời, cu cậu bả phấn, chuốt keo, lên đồ lồng lộn rồi đánh bạo đến xin bố cho được làm thái tử.

Lê Hoàn ngắm ngía một hồi, đại khái thấy ừ cũng hợp lí.

Nhưng khi đem ra bàn luận với quần thần thì lại bị mấy cha nội cổ hủ, lạc hậu can ngăn tới tấp, rằng thì lập thứ không lập trưởng là chẳng còn tôn tin trật tự gì ráo.

Lê Hoàn nghe léo nhéo nhức cả đầu, long nhan đại nộ.

Ừ thì ông không lập Long Đĩnh nữa, nhưng ông cũng éo lập thằng hai Long Tích đấy.

Ông đi ông lập thằng ba Long Việt cho chúng mày tức chơi.

Thằng nào còn thích phản đối nữa thì bơi hết vào đây.

Năm 1005, Lê Hoàn về chầu ông bà.

Bố vừa chôn xong, xác còn chưa kịp thối thì bốn thằng con mất nết đã tụ tập binh mã, tranh nhau cái ngai vàng, khiến Đại Cồ Việt suốt 8 tháng trời không có ai cầm đầu.

Bản danh sách "vàng" ấy gồm có thằng hai Long Tích, thằng ba Long Việt, thằng năm Long Đĩnh và thằng chín Long Kính.

Kết quả, thằng chín Long Kính vẫn trẻ trâu nên dễ dàng bị Long Đĩnh cho rớt đài.

Long Việt thì hạ đo ván thằng anh thứ hai Long Tích.

Giống nhà bà Chi Hậu Diệu Nữ đúng là ăn đứt các bà khác.

Tháng 10, Long Việt lên ngôi.

Thấy Long Đĩnh vẫn còn máu lửa lắm nhưng nghĩ đến tình cảm anh em cùng mẹ sinh ra nên không nỡ giết.

Long Việt mới ngồi trên ngai vàng được ba ngày, còn chưa ấm mông thì đã bị thằng em ruột Long Đĩnh thủ tiêu.

Huynh đệ tương tàn, gia môn bất hạnh.

Bốn thằng tranh nhau, chết mất ba thằng.

Vụ này so ra còn thảm khốc hơn vụ tranh giành của bốn thằng quý tử nhà anh Lê Thái Tông.

Quần thần thấy vua bị sát hại bị sợ bĩnh cả ra quần, ông nào ông nấy vắt giò lên cổ chạy chối chết, đặc biệt là mấy cha nội hồi trước lỡ to mồm phản đối Long Đĩnh.

Chỉ riêng có Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn là ở lại ôm xác Long Việt, khóc lóc kêu gào thảm thiết.

Tình cảm ấy khiến cho trái tim sắt đá như Long Đĩnh cũng phải tan chảy.

Long Đĩnh không những không phạt tội Công Uẩn, ngược lại còn vô cùng trọng dụng.

Cuộc đời thật lắm chuyện éo le, và đẹp trai thì lúc nào cũng có lợi.

Long Đĩnh làm vua được bốn năm thì lăn ra chết không rõ nguyên do.

Bên pháp y cũng bất lực.

Con trai anh mới mười tuổi không giữ nổi ngai vàng, bị Lý Công Uẩn soán ngôi.

Giang sơn lại một lần nữa đổi chủ.

Tương truyền, Long Đĩnh là ông vua hoang dâm vô độ, bạo ngược bậc nhất trong lịch sử Việt Nam.

Giang hồ đồn đại Long Đĩnh mê mẩn chân dài, cày bừa quá độ, hùng hục như trâu húc mả, tới nỗi bị trĩ không ngồi thiết triều được mà phải nằm.

Vì vậy mới có cái tên gọi Lê Ngọa Triều.

Nhưng Ad lại chỉ thấy Long Đĩnh hùng hục trên lưng ngựa.

Thậm chí trước khi chết 2 tháng vẫn còn tự mình xách quân đi dẹp loạn.

Thử hỏi một ông bị trĩ nặng tới mức không ngồi nổi thì cưỡi ngựa kiểu mé gì.

Gần đây người ta đồn rằng cái tên Ngọa Triều là do Công Uẩn đặt để bôi nhọ Long Đĩnh.

Chắc anh Công Uẩn vẫn để bụng chuyện anh Long Đĩnh giết anh Long Việt.

Giang hồ còn đồn Long Đĩnh róc mía trên đầu nhà sư rồi giả vờ trượt tay bổ xuống đầu.

Máu chảy tóe loe thì sung sướng cười hô hố.

Ad không biết thực hư ra sao, nhưng Ad chỉ biết Long Đĩnh từng sai người sang nhà Tống thỉnh kinh Đại Tạng về cho dân chúng đọc chơi, giết thời gian.

Nao rảnh chắc Ad sẽ viết một bộ Tống du kí, cạnh tranh với Tây du kí, Hoa du kí.

500 anh em nhớ mua ủng hộ.

Giang hồ còn đồn đại nhiều tiếng xấu nữa.

Tin cũng được, không tin cũng được.

Anh Long Đĩnh thì chẳng quan tâm đâu vì ảnh chết từ đời má nào rồi.

#Việt_nam_một_lịch_sử
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
24. LÝ THÁI TỔ_Đế đô muôn đời


Ở châu Cổ Pháp có một ngôi chùa.

Trong chùa có nuôi một con chó tới tuổi cập kê.

Sau Valentine mấy tháng, nó sinh ra con chó con trắng toát, trên lưng có đốm lông đen xếp thành chữ "thiên tử".

Mấy bà tám bèn kháo nhau là sang năm, tức năm con cún có hoàng đế ra đời.

Thế là người người nhà nhà thi nhau đẻ.

Vừa đẻ xong lại ráng đẻ tiếp, vừa dậy thì xong cũng vội vàng đẻ, chưa chồng cũng lén đẻ.

Kết quả năm Giáp Tuất (974) được mùa con nít, bội thu con nít.

Lần đầu tiên trong lịch sử ghi nhận có nhiều con nít được làm giấy khai sinh đến như thế.

Trong một diễn biến khác, ở ngôi chùa nào đó có cô Phạm thị chuyên lo chuyện nấu nước thổi cơm, đã 20 tuổi mà vẫn ế chỏng ế trơ.

Hôm ấy tắt lửa tối đèn, cô vô tư nằm ngủ, không biết thần thánh phương nào đi qua vô tình "chạm" phải làm cô có thai, năm Giáp Tuất thì sinh nở.

Cuộc đời nó vi diệu lắm.

Thế nên mấy mẹ có lỡ chửa hoang thì cũng chớ vội lo lắng, mấy cha hốt phải vỏ của mấy mẹ cũng chớ nên bực dọc.

Biết đâu hên lại sinh được thằng con trời, còn lỡ như xui rủi sinh phải thằng con trời đánh thì lúc ấy hãy lo, hãy bực.

Quay lại chuyện chính, khi thằng cu tròn ba tuổi, cô Phạm thị thấy nuôi hết nổi mới ẵm đến chùa Cổ Pháp.

Trụ trì là sư cụ Lý Khánh Vân thấy thằng nhỏ kháu khỉnh thì nhận làm con nuôi, đặt tên là Lý Công Uẩn.

Giang hồ đồn rằng sư cụ Khánh Vân chính là cái lão "thần thánh" năm xưa.

Sư cụ bỏ ngoài tai mọi lời rèm pha, mặc kệ thói đời ác khẩu, hoặc năm xưa sư cụ có trót lỡ thật.

Nhưng nói chung là sư cụ nuôi dạy thằng nhóc Công Uẩn rất cẩn thận.

Tới năm 7 tuổi thì cho du học bên chùa Lục Tổ, nhận sư cụ Vạn Hạnh làm thầy.

Tới lúc này giang hồ lại đồn thằng nhóc là con sư cụ Vạn Hạnh.

Đậu xanh rau má, đúng là hết chuyện để tám.

Được sư cụ Vạn Hạnh dốc sức dạy dỗ, nhóc Công Uẩn lớn lên thông minh lai láng, đẹp trai rạng ngời hết cả phần người khác.

Sư cụ Vạn Hạnh từng là cố vấn cấp cao của vua Đinh Tiên Hoàng, giờ lại tiếp tục làm cố vấn cấp cao của vua Lê Đại Hành.

Sư cụ nói cái éo gì vua cũng tin sái cổ, há mồm ra ngáp ruồi vua cũng tưởng là đạo lý.

Sư cụ vừa tiến cử thì Công Uẩn lập tức được nhét vào làm thân cận bên cạnh thái tử Long Việt, được gả cho công chúa Phất Ngân (con gái bà Dương Vân Nga), sau này sinh ra Lý Phật Mã (tức vua Lý Thái Tông).

Tới năm 1005, vua Lê Đại Hành mất, bốn thằng con rách giời đánh nhau loạn xà ngầu.

8 tháng sau, thái tử Long Việt giành được ngôi báu.

Ôm nhau mừng mừng tủi tủi chưa được 3 ngày thì Long Việt bị Long Đĩnh giết chết.

Quan lại sợ vãi đái, hè nhau vắt giò lên cổ chạy chối chết.

Chỉ riêng Công Uẩn là vẫn ở lại ôm xác Long Việt, khóc lóc thảm thiết.

Cũng có thể do không kịp chạy.

Nhưng nói chung quan trọng nhất vẫn là cái thần thái.

Chạy thì phải hào khí ngút trời, mà khóc lóc thì lại càng phải đẹp trai lồng lộn.

Mùa xuân năm ấy, Long Đĩnh thấy Công Uẩn ngồi trước sân rồng, ôm xác Long Việt khóc rống như thủy điện Hòa Bình xả lũ thì trái tim sắt đá tan chảy.

Không đem giết, cũng không đem thiến, mà đem về trọng dụng.

Long Đĩnh ngày ấy ăn ở sao đó mà mất lòng 90% dân số Đại Cồ Việt.

Công Uẩn trong lòng thì ghét cái bản mặt từ hồi giết Long Việt lận, nhưng bề ngoài vẫn hết mực tận trung, lễ nghĩa.

Long Đĩnh ngày càng tin yêu, cho làm tới Điện tiền chỉ huy sứ, là người bảo vệ thân cận nhất.

Trong một diễn biến khác, ở làng Diên Uẩn có cây gạo to vật vã.

Vì quá cao to nên đêm ấy bị sét đánh tơi tả.

Sáng hôm sau dân làng thấy trên cây có bài thơ dài ngoẵng.

Theo phân tích của sư cụ Vạn Hạnh thì đại ý là họ Lý soán ngôi họ Lê.

Sư cụ Vạn Hạnh hớn hở khoe với Công Uẩn thì bị Công Uẩn cho đi Tiêu Sơn nghỉ mát, cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài.

Nhưng bưng bít thế nào thì bài sấm ấy cuối cùng vẫn lọt vào tai Long Đĩnh.

Hên cái Long Đĩnh đang kì sung mãn, nghe bài sấm thì nghĩ tào lao không thèm để ý.

Công Uẩn ở trong triều cũng nhờ vậy yên ổn kết bè kéo cánh.

Một ngày nọ, Long Đĩnh đang say sưa gặm khế thì thấy trong mồm kêu cái cậc, đi tong quả răng cửa.

Lè ra thì hóa cắn phải hột mận (cây lý là cây mận).

Tới lúc này Long Đĩnh mới tin vào lời sấm tào lao kia, bèn hạ lệnh giết hết người họ Lý trong thiên hạ.

Kì quặc là có ông Lý Công Uẩn lù lù một đống ngay bên cạnh thì Long Đĩnh không hề nghĩ đến.

Cuộc đời vẫn thật là vi diệu.

Phàm là giai đẹp thì cứ yên tâm là sẽ không bao giờ có tội.

Năm 1009, thanh niên Long Đĩnh đột ngột qua đời khi mới 24 tuổi.

Đào Cam Mộc tỉ tê với Công Uẩn, bảo lên ngôi cmn đi cho thiên hạ thái bình.

Công Uẩn nghe thấy thích lắm nhưng vẫn nghi ngờ nên nghiêm mặt dọa đem Đào Cam Mộc đi thiến.

Đào Cam Mộc khảng khái vỗ ngực bảo: "Cứ thiến, đây không sợ".

Công Uẩn thấy thế thì hòa hoãn bảo: "Ấy, đẹp giai như này.

Ai lại thiến".

Sau này Đào Cam Mộc trở thành phò mã.

Quả nhiên Công Uẩn đã ngắm sẵn để hốt về cho con gái.

Đào Cam Mộc sau đó còn gạ đi gạ lại nhiều lần, cộng thêm quần thần nhiệt liệt ủng hộ, Công Uẩn cuối cũng cũng gật đầu.

Tháng 11 năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Thuận Thiên.

Lý Công Uẩn ở Hoa Lư được một năm thì bắt đầu thấy nhà cửa chật hẹp, toàn núi với đèo.

Vua bèn xuống chiếu dời đô rồi khăn gói quả mướp chuyển nhà sang Đại La cho phong thủy thông thoáng.

Thuyền rồng bơi gần đến cửa thành Đại La thì thấy xa xa có con rồng vàng hớt ha hớt hải bay lên trời.

Công Uẩn mấy ngày nay day trán nghĩ mãi không ra tên gì hay để đặt cho kinh đô mới, thấy thế thì phấn khởi đặt luôn là Thăng Long.

Quần thần ai cũng tấm tắc khen ngầu vãi chưởng.

Lý Công Uẩn mất năm 1028, ở ngôi 19 năm, thọ 54 tuổi.

Ngày ấy cũng xảy ra ít chuyện binh biến nho nhỏ gọi là loạn tam Vương.

Nhưng thái tử Lý Phật Mã là dòng dõi Dương hậu Dương Vân Nga, cho nên anh rất có thần thái, xử đẹp vụ này chỉ trong chưa đầy một nốt nhạc.

Chung quy lại bà Dương Vân Nga mới là trùm cuối, dù ông nào làm vua thì bà vẫn có phần.

#việt_nam_một_lịch_sử
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
25. LÝ PHẬT MÃ_Từ loạn tam vương đến hội thề Đồng Cổ


Trước khi hết trứng, bà Dương Vân Nga chỉ kịp sinh được cho ông Lê Hoàn một cô công chúa là Lê Thị Phất Ngân.

Thành ra chẳng có cửa nào để cạnh tranh ngai vàng.

Nghĩ cũng buồn buồn, nhưng thôi dù sao cũng đã có cú hit để đời, thế nên về sau bà yên phận đi tu.

Công chúa Phất Ngân dậy thì xong đẹp lồng lộn không kém gì má.

Vua Lê Hoàn ngó khắp triều đình, thấy chỉ có mỗi Công Uẩn là sở hữu ngoại hình xứng đôi vừa lứa, không thể bị đè bẹp.

Thế là anh chàng mồ côi năm nào nay hốt gọn được cô công chúa sắc nước hương trời.

Quan trọng vẫn là phải đẹp trai.

Tháng 6 năm 1000, Công Uẩn khăn gói đưa vợ đi đẻ ở chùa Duyên Ninh.

Trước đây có bà má Lý Nam Đế vào chùa trú bão tiện thể đẻ luôn, sau này lại có vua Lê Thánh Tông được sinh ra ở chùa Dục Khánh.

Riết rồi người ta tưởng đâu chùa là cái bệnh viện phụ sản.

Quay lại chuyện chính, công chúa Phất Ngân sinh được một thằng cu kháu khỉnh, bụ bẫm, đặt tên là Phật Mã.

Sau gáy cu Mã có 7 nốt ruồi xếp thành chòm sao Bắc Đẩu.

Bố Công Uẩn thấy thế thì thở phào nhẹ nhõm, bảo hên sao mấy cái nốt ruồi nó không mọc giữa mặt, chứ không là nhan sắc thằng nhỏ thụt lùi.

Năm Mã 9 tuổi, bố Công Uẩn đảo chính thành công.

Mã được thăng chức từ đại công tử lên đại hoàng tử.

Tới năm 13 tuổi thì Mã được bố cho làm thái tử, rồi đá ra ở riêng.

Mấy năm này Mã rất năng nổ đánh đông dẹp tây, khiến bố Uẩn vô cùng hài lòng.

Đợt ấy Chiêm Thành mất dạy làm cho bố Uẩn điên tiết.

Mã liền được phong làm nguyên soái, dẫn quân đi hạch tội Chiêm Thành.

Đại quân đi tới núi Long Tỵ, có con rồng vàng rảnh lờ không biết từ đâu hiện ra đậu chình ình giữa thuyền.

Mã tính chạy qua bế nựng thì con rồng tan cmn biến.

Năm 1023, Mã lại được cử đi đánh Phong Châu.

Năm 1025, quánh Diễn Châu.

Năm 1027, quần tiếp Thất Nguyên.

Mã đánh đâu thắng đó, lập bao nhiêu là chiến công hiển hách.

Bố Uẩn cũng nhờ đó mà nở mày nở mặt với triều đình.

Hồi đi đánh Thất Nguyên, Mã quen một đạo sĩ tên Trần Tuệ Long.

Mã quý Long vãi xoài nên cởi áo tặng Long.

Đêm đến, có ánh sáng vàng rọi khắp đạo quán.

Long chói mắt ngủ không được, dậy hóng hớt tình hình thì thấy có con rồng vàng rảnh lờ đang cuốn quanh, hít hửi cái áo Mã tặng.

Giang hồ bắt đầu kháo nhau rằng con trai bố Uẩn đi tới đâu rơi vãi rồng vàng tới đó, đích thực là thiên tử.

Mã không chỉ giỏi võ, giỏi đánh trận, mà khi buồn buồn còn biết làm thơ, lúc cần gặp gái thì có thể ca hát, gảy đàn.

Thi thoảng nổi hứng còn biểu diễn bắn cung bách phát bách trúng cho bố Uẩn coi.

Nói chung vào cái thời ấy, Mã chính là bạn trai quốc dân mà mọi cô gái ở Thăng Long đều mơ ước, được đàn bà cả nước gọi là "chồng".

Quả nhiên sau này làm vua, Mã lập được tới tám bà hoàng hậu, chỉ chịu thua kém bố Uẩn đúng một bà.

Năm 1028, bố Uẩn bệnh nặng.

Chạy chữa không ăn thua, thái y bảo bố Uẩn chỉ còn hít thở được vài cái.

Quần thần động viên Mã cố gắng nén đau thương để lên nối ngôi.

Trong khi Mã vẫn đang cố nén đau thương thì mấy thằng em Mã đã nén xong.

Chúng nó nghĩ Mã là cái quái gì mà được làm vua.

Khi bố Uẩn hết thở, Mã quắn mông lo ma chay.

Trong lúc tang gia bối rối, ba thằng em Mã là Vũ Đức vương, Dực Thánh vương và Đông Chinh vương cùng kéo quân tới vây thành, giành ngôi báu của Mã.

Vũ Đức chực ở trong, Đông Chinh và Dực Thánh chầu bên ngoài, chỉ chờ Mã thò cổ ra là chém.

Mã ngó thấy Vũ Đức đi đám ma bố mà lên đồ lồng lộn như đi hội thì hiểu ngay, lập tức hạ lệnh chốt hết cửa nẻo.

Lúc ấy Mã bực lắm, nhưng Mã sắp làm vua rồi, phải giữ hình tượng.

Lê Phụng Hiểu biết vậy nên quát tháo Vũ Đức vương hộ Mã rồi phi ngựa lên chém chết toi Vũ Đức.

Đông Chinh với Dực Thánh rình bên ngoài nghe thấy Vũ Đức kêu "Á" một cái rồi tịt họng thì sợ quắn tờ rim, vội vàng vắt giò lên cổ chạy.

Tháng 4 năm 1028, tức 1 tháng sau ngày bố Uẩn mất, Mã lên ngôi, lấy hiệu Thiên Thành.

Hồi ấy, Khai Quốc vương, tức một thằng em khác của Mã, đóng ở Trường Yên xa xôi.

Không rõ đầu cua tai nheo ra sao, chỉ nghe giang hồ đồn Mã giết Vũ Đức thì điên tiết dẫn quân đi hỏi tội.

Mã lại thân chinh đi dẹp loạn.

Khai Quốc vương tưởng cứng thế nào, vừa nghe Mã kể lể bọn kia nó hư thì lập tức giơ tay đầu hàng.

Mã thích giữ hình tượng lắm, nên đầu hàng là Mã tha, lại làm Khai Quốc vương tiếp.

Đông Chinh với Dực Thánh núp trong rừng rú mấy tháng nay, khổ không thể tả, giờ nghe tin thế thì hớn hở dắt tay nhau về đầu hàng, nhận tội.

Mã cũng tha luôn.

Bố Uẩn ở dưới suối vàng thấy thế cũng cười toe toét.

Sau vụ này, Mã liền lập ra cái hội thề Đồng Cổ.

Hàng năm, các vương hầu, quan lại phải tới đền Đồng Cổ ở làng Yên Thái, thề thốt rằng:

"Làm tôi bất trung

Làm con bất hiếu

Thần minh tru diệt"

Đứa nào không đi thề mà trốn ở nhà ngủ, Mã cho đánh đít 50 cái.

Tháng 9 năm 1054, sức khỏe của Mã yếu đi nhiều.

Mùa đông năm ấy rét quá nên Mã không qua khỏi.

Mã băng hà ở điện Trường Xuân, thọ 54 tuổi.

Trong 27 năm ở ngôi, Mã lấy đức trị quốc, dẹp loạn họ Nùng, sát phạt Chiêm Thành, rất xứng đáng là một trong những hoàng đế quốc dân.

#việt_nam_một_lịch_sử
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
26. LÝ NHẬT TÔN_Đại Việt trường tồn


Nhà họ Lý ở Đại Cồ Việt có truyền thống đẹp trai lâu đời.

Anh người yêu quốc dân, tức thái tử Lý Phật Mã, lấy vợ vào thì cũng sản xuất được một thằng cu rất "ra gì", cầm tinh con lợn (1023), đặt tên là Lý Nhật Tôn.

Năm 1028, ông nội Công Uẩn mất, bố Phật Mã bắt đầu trở thành hoàng đế quốc dân, Nhật Tôn cũng được phong làm thái tử.

Lúc ấy Nhật Tôn mới lên 6, vừa hay tới tuổi thay răng, chẫng nguyên 4 cái.

Trước khi lên nhận ấn thái tử thì bố Phật Mã dặn đi dặn lại là chỉ được nhoẻn miệng cười, vui thôi đừng vui quá.

Nhật Tôn tí tuổi đầu đã tinh thông thơ ca, nhạc họa, võ nghệ cao cường, nhìn phát nhận ra ngay con trai bố Phật Mã, không lẫn đi đâu được.

Nhật Tôn được bố Mã nuôi không đến năm 10 tuổi thì bị đá ra ngoài lập nghiệp, phong tước Khai Hoàng vương.

Nghề thái tử suy cho cùng cũng vô cùng vất vả.

Dạo ấy dân Lai Châu rảnh rỗi sinh nông nổi, tỏ thái độ lồi lõm với triều đình.

Năm 1037, bố Mã tức giận thân chinh đi dẹp loạn.

Nhật Tôn năm ấy vừa tròn 15 tuổi, được phong hẳn chức Đại Tướng quân, oai như cóc cụ.

Năm 1039, bố Mã lại đi tẩm quất anh Nùng Tồn Phúc ở tận vùng Tây Bắc.

Nhật Tôn năm ấy đã 17 tuổi, lớn đầu rồi nên không được bố Mã dắt theo nữa mà bị bỏ lại trông nhà, làm giám quốc và chăm lo triều chính.

Dần già, bố Phật Mã bắt đầu cảm thấy làm vua mà cứ tót lên ngựa chạy qua chạy lại thì không ra thể thống gì, hỏng hết cả hình tượng.

Thế là từ đó công việc dẹp loạn được sang tên hẳn cho Nhật Tôn.

Năm 1042, Nhật Tôn dẹp Lạng Sơn, năm 1043 dẹp Thanh Hóa.

Hồi ấy làm phản là trào lưu rất được giới trẻ ưa chuộng.

Chỉ khổ thân Nhật Tôn, cứ vừa tụt xuống khỏi lưng ngựa là đã lại phải tất tả leo ngược trở lên.

Cuối năm 1043, bố Mã nổi hứng giở sổ sách ra coi thì phát hiện Chiêm Thành 16 năm nay không thèm cống nạp.

Trời lạnh sun tờ tim đã khiến bố Mã khó ở sẵn, lại gặp ngay bọn Chiêm Thành lầy lội.

Thế là vừa ăn dứt mồm cái tết năm 1044, bố Mã đã thây kệ thể thống, dẹp phứt hình tượng, lập tức thân chinh đi dằn mặt.

Nhật Tôn lại được dịp rảnh rỗi ngồi trông nhà, coi cá kiểng.

Mùa hè năm 1054, thời tiết nóng bức khó chịu như đấm vào mặt, khiến bố Mã đã già lại càng thêm yếu.

Nhật Tôn liền được cho ra ngồi chầu, cùng bá quan văn võ tám chuyện quốc gia đại sự.

Mùa thu năm ấy, bố Mã dứt áo đi theo ông nội Uẩn.

Nhật Tôn lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu Long Thụy Thái Bình.

Sử gọi là Lý Thánh Tông.

Từ hồi còn làm thái tử, Nhật Tôn đã cảm thấy cái tên nước là Đại Cồ Việt nghe quê quê.

Vừa lên ngôi, việc đầu tiên Nhật Tôn làm là dẹp phứt chữ "Cồ", đổi tên nước thành Đại Việt.

Bá quan văn võ đều tấm tắc khen Đại Việt đọc thấy sang mồm hơn hẳn, khiến Nhật Tôn hí hửng mất mấy ngày.

Nhật Tôn là vị hoàng đế nổi tiếng thương dân như con.

Mới lên ngôi 1 năm, Nhật Tôn đã cho cắt tô thuế còn một nửa, giảm nhẹ các hình phạt.

Thậm chí còn cho phép những người bị phạt đánh đít được nộp tiền để giảm tội.

Nhật Tôn không chỉ thương dân, mà còn thương luôn cả những đứa bị tước quyền công dân.

Mùa đông năm 1055 lại là một mùa đông lạnh cắt da cắt thịt.

Nhật Tôn ngồi trong cung, sưởi than 24/24, mặc áo hồ cừu mà hai hàm răng vẫn đánh vào nhau lập cập.

Tự yên Nhật Tôn nghĩ tới những tù nhân bị trói, bị đói, ăn mặc rách nát thì thấy thương không thể tả.

Nhưng thôi cứ tả:

"Trẫm ở trong cung, sưởi than, mặc áo hồ cừu mà còn rét thế này.

Huống chi những tù nhân giam trong ngục, bị trói, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc.

Lại có những người tra hỏi chưa xong, gian ngày chưa rõ.

Lỡ rét quá mà chết thì thật là thương lắm thay."

Tả xong, Nhật Tôn bèn hạ lệnh lấy chăn chiếu cho tù nhân nằm và ngày cho ăn 2 bữa đầy đủ.

Vốn là vị vua yêu thích những sáng tạo đột phá, năm 1059 Nhật Tôn áp dụng quy chế triều phục cho bá quan.

Thay vì tự do khoe cá tính như trước, thì nay quan lại vào chầu phải đội mũ cánh chuồn và đi hia.

Triều đình từ đó trông cũng chuyên nghiệp hơn hẳn.

Nhật Tôn thương dân như con, nhưng vẫn biết phân biệt con mình và con thằng hàng xóm.

Vì vậy Nhật Tôn rất tích cực cho quân sang chọc ngoáy Đại Tống và sát phạt Chiêm Thành.

Diễn biến thì đã được tường thuật cụ thể trong bài Lý Thường Kiệt_Đánh Tống, bình Chiêm.

Kết quả, Đại Tống phải thừa nhận Chiêm Thành là chư hầu của Đại Việt, đồng thời cấm tiệt mấy thằng canh biên giới tỏ thái độ lồi lõm với Đại Việt.

Chiêm Thành và Chân Lạp từ đó cũng tích cực cho người sang cống nạp, quà cáp hơn trước.

Năm 1072, Nhật Tôn qua không nổi cái nạn 49 tuổi, băng hà ở điện Hội Tiên.

Thái tử Càn Đức mới 7 tuổi lên ngôi.

Mẹ cả là Thượng Dương thái hậu, mẹ đẻ là Ỷ Lan nguyên phi và thái sư Lý Đạo Thành cùng trông coi chính sự, khởi nguồn cho một phen sóng gió ngập đầu.

#việt_nam_một_lịch_sử

#triều_lý

#lý_thánh_tông

#ỷ_lan_nguyên_phi
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
27. LÝ THƯỜNG KIỆT_Đánh Tống, bình Chiêm


Hẳn mọi người đều biết, ai không biết thì bây giờ biết, Lý Thường Kiệt vốn là một hoạn quan.

Thế quái nào mà người anh hùng đánh Tống bình Chiêm, tác giả (theo giả thuyết) của bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên trong lịch sử lại...

Nhưng nghĩ tới cũng phải nghĩ lui, đời làm gì có ai hoàn hảo.

Và cái sự Ngài khiếm khuyết chút đỉnh cuối cùng cũng chẳng ảnh hưởng tới đầu óc hay thể lực Ngài là bao.

Điều này mang tới niềm hy vọng lớn lao cho một số những anh chàng không may khuyết chỗ nọ, lẹm chỗ kia.

Con đường trở thành vĩ nhân vẫn phơi phới, lồng lộng.

Lý Thường Kiệt mở mắt nhìn đời năm 1019 giữa đất Thăng Long.

Tên cúng cơm của ngài là Ngô Tuấn.

Có cha làm Sùng tiết tướng quân, là chắt kêu sứ quân Ngô Xương Xí bằng cụ nội.

Tra thêm một thôi một hồi, té ra còn là cháu sáu đời của Ngô Vương Ngô Quyền.

Gia đình cơ cấu, gốc gác đọc lên như đại bác nổ bên tai.

Ấy vậy mà lại vào cung làm thái giám, âu cũng do cái mặt tiền đẹp đẽ quá mức cần và đủ.

Năm 1041, chàng mĩ nam Ngô Tuấn (khi ấy mới được 23 cái mùa khoai sọ, xuân xanh phơi phới) vào cung tự yêm, ngày ngày hầu cận vua Lý Thái Tông.

Mười hai năm làm nội thị, Ngô Tuấn từ một Hoàng môn chi hậu nho nhỏ, đã leo tận lên chức Nội thị sảnh đô tri.

Nói chung cũng chả hiểu cái chức ấy lớn cỡ nào, to bao nhiêu.

Đại khái chỉ biết Ngô Tuấn mới 35 tuổi đã trở thành một nhân vật máu mặt trong triều đình, há mồm là hô mưa gọi gió.

Năm 1054, sau mười ba năm kề cận, Lý Thái Tông băng hà.

Thái tử Nhật Tôn lên ngôi, sử gọi là Lý Thánh Tông.

Con đường công danh của Ngô Tuấn lại càng rộng mở.

Ông được phong lên tận Kiểm hiệu thái bảo, thường can gián vua.

Đại khái là có thể bảo vua làm thế này rất dở, hay thế kia thì không được khôn.

CUỘC PHẠT CHIÊM CỦA NHÀ LÝ (1069)

Từ thế kỉ X, các vua Lý cứ lâu lâu lại rục rịch nam chinh một lần, mỗi khi Chiêm Thành nổi hứng bỏ cống hoặc ăn nhầm gan hùm mật gấu đi quấy nhiễu vùng biên giới.

Đến thời Lý Thánh Tông, một ngày giông bão, vua mở bản đồ ra coi cho đỡ buồn, tự nhiên lại cảm thấy lãnh thổ Đại Việt hơi nhỏ (chắc do ảnh hưởng thời tiết).

Thế là cuộc nam chinh thường lệ lại đèo thêm một ý nghĩa khác, đó là mở rộng biên giới.

Vừa hay đúng lúc ấy, vua Chiêm là Chế Củ lại một lần nữa bỏ cống Đại Việt, lén lút thần phục nhà Tống.

Mọi động thái của Chế Củ, lọt vào mắt vua Lý Thánh Tông đều trở thành hành động khiêu khích không thể khoan thứ.

Năm 1069, vua Lý Thánh Tông tự mình thân chinh, việc trong triều giao lại cho Nguyên Phi Ỷ Lan và thái sư Lý Đạo Thành.

Thủy quân nhà Lý gồm 200 chiến thuyền, do Lý Thường Kiệt làm Đại tướng.

Mất tổng cộng 26 ngày vừa đi vừa đánh, cuối cùng cũng tới được kinh đô Phật Thệ.

Vua Chiêm Chế Củ phát hoảng, đèo bồng cả gia đình chạy trốn.

Thế mà trốn rất kĩ, vua quan nhà Lý tìm mòn mắt cũng không ra.

Cái trò giong buồm tiến đánh thì cực kì phấn khích, vì ngày nào cũng nghe: quân ta tiến, tiến và tiến... quân ta thắng chỗ nọ, vượt chỗ kia.

Nhưng đến giai đoạn lùng bắt Chế Củ, ngày nào cũng nghe: quân ta chưa, chưa và chưa... thì vua lại chán không thể tả.

Đến lúc chán hết chịu nổi bèn đem quân trở về.

Dọc đường về, nghe nhân dân khen nức nở bà Nguyên Phi ở nhà giám quốc, trong nước được yên trị.

Vua thầm nghĩ: "Người đàn bà trị nước còn được như thế, mình đàn ông đi oánh lộn mà cũng không xong."

Tự ái nam nhi trỗi dậy, vua đùng đùng dẫn quân quay lại.

Chỉ tội Chế Củ, vừa mới thở phào đã lại phải thở hắt ra.

Ròng rã hơn một tháng trời, quân Lý dồn được Chế Củ tới sát biên giới Chân Lạp.

Chế Củ không may lại từng gây thù với Chân Lạp, thế là hết đường chạy.

Cuối cùng, Chế Củ phải ngậm ngùi dâng ba châu Địa Lý, Bố Chính, Ma Linh (vùng từ dãy Hoành Sơn đến dãy Bạch Mã), mới được tha về nước.

Nam chinh thắng lợi.

Một ngày đẹp trời, vua Lý Thánh Tông lại mở bản đồ ra coi, phấn khởi thấy biên giới Đại Việt đã rộng ra đáng kể.

MỐI QUAN HỆ MỜ ÁM GIỮA LÝ THƯỜNG KIỆT VÀ NGUYÊN PHI Ỷ LAN

(Tất nhiên chỉ trên trường chính trị, anh Kiệt là thái giám mà)

Năm 1072, thái tử Càn Đức mới 7 tuổi lên ngôi, lấy hiệu Lý Nhân Tông.

Thái sư Lý Đạo Thành tôn hoàng hậu Dương thị lên làm Hoàng thái hậu.

Nhưng chỉ 4 tháng sau, dưới sự tác động của mẹ đẻ là Nguyên Phi Ỷ Lan cùng với đại thần nắm giữ binh quyền Lý Thường Kiệt, vua Nhân Tông xuống chiếu phế truất Thái hậu, đem bà và bảy mươi hai cung nữ chôn sống theo vua Lý Thánh Tông cho có bầu có bạn.

Dương thị trở thành một trong hai bà thái hậu số nhọ nhất trong lịch sử, bị chính con cháu mình giết chết.

CHIẾN DỊCH ĐÁNH TỐNG (1075-1076)

Năm 1070, Vương An Thạch bắt đầu chú ý đến phương nam và sốt ruột muốn lập công, bèn tâu bậy lên vua Tống rằng:

- Đại Việt vừa đánh Chiêm Thành thất bại thảm hại, quân đội què quặt, lấy quân Ung Châu sang chiếm Đại Việt còn dễ hơn húp cháo.

Vua Tống nghe vậy mừng húm, nghĩ chuyến này ngon ăn, lập tức tuyển quân, tập thủy chiến, biến Ung Châu thành một căn cứ quân sự, chuẩn bị tấn công Đại Việt.

Sau này mới biết chẳng cái dại nào bằng cái dại này.

Nhà Lý tính ra không phí cơm gạo nuôi tình báo, âm mưu của quân Tống bại lộ còn nhanh hơn cả Tôn Quyền bị Tào Tháo đuổi.

Trước tình hình đó, thái uý Lý Thường Kiệt phát biểu hùng hồn:

- Ngồi yên đợi giặc sao bằng sang phủ đầu, dằn mặt nó.

Quần thần sau phút xanh lè mắt mũi thì lại thấy phấn khích tột độ.

Từ thưở cha sinh mẹ đẻ tới giờ có khi nào được vinh quang như vậy.

Một cuộc tấn công quy mô sang đất Tống được lên kế hoạch chớp nhoáng.

Trong 5 tháng ngắn ngủi, giữa mùa đông mưa dầm gió bấc, đạo quân của Đại Việt thọc sâu vào đất Tống trước sự ngỡ ngàng của đối phương.

Thế quái nào mình còn đang chuẩn bị đánh nó mà nó đã sang ủ lò mình.

Triều đình nhà Tống phút chốc lộn tùng phèo.

Tống Nhân Tông đổ lỗi cho thằng tâu bậy Vương An Thạch:

- Mày bảo nó què quặt mà giờ nó sang làm cỏ mình là thế quái nào?

Hai ông tướng số nhọ là Thẩm Khởi và Lưu Di, chống quân Lý đến hộc cả lương khô, may không chết trận thì nay lại bị Vương An Thạch lôi ra làm bia đỡ đạn.

Nào là trách nhiệm, nào là tội trạng, tự nhiên như rác trút lên đầu.

Lý Thường Kiệt sau khi diệt được ba căn cứ quân sự lớn phía nam bèn dẫn quân về nước phòng thủ, đề phòng quân Tống nổi máu cùn.

Quân Tống nổi máu cùn thật, cơn giận lấp hết cả trí khôn, bán cầu não trái, phải teo lại còn bằng hạt đậu.

Bản thân bét nhè mà vẫn hăng máu đem quân sang rửa hận.

Lý Thường Kiệt thừa lệnh đón đánh, lập phòng tuyến trên sông Như Nguyệt.

Cũng chính tại đây, bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, bài thơ Nam Quốc Sơn Hà chính thức đi vào sử sách.

Quân Tống bị chặn tại phòng tuyến Như Nguyệt, tiến không được.

Mà rút về thì vừa ê mặt, lại còn bị Vua gõ đầu.

Ở yên một chỗ thì cạn kiệt lương thực, hao mòn vì khí hậu, thi thoảng còn bị quân Lý nổi hứng bơi sang chọc cho một phát.

Trước tình hình đó, Lý Thường Kiệt cảm thấy chiến tranh liên miên vừa hại người, lại cũng nhọ mình, bèn sai sứ sang xin nghị hoà để quân Tống rút về.

Quách Quỳ mừng như bắt được vàng, gật đầu cái rụp rồi phấn khởi kéo quân về nước.

Năm 1105, Lý Thường Kiệt qua đời, thọ 87 tuổi.

Ông trải sóng gió qua ba đời vua, được ban quốc tính.

Và cũng là vị thái giám đầu tiên được ghi danh vào sử sách như một người anh hùng dân tộc.

"Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư"

#việt_nam_một_lịch_sử

P/s: Đã cố gắng hết sức, nhưng không tài nào tìm được một cái hình mà Ngài nhẵn thín râu ria.

Thôi dùng tạm. :3
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
28. Ỷ LAN NGUYÊN PHI_Hậu cung sóng gió


Lý Nhật Tôn lên ngôi ngót chục năm mà vẫn không chịu duy trì nòi giống.

Giang hồ đồn đại, Thánh Tông ngại chuyện ngoại thích chuyên quyền nên bao năm nay vẫn né tránh "khởi nghiệp" với hoàng hậu Dương Hồng Hạc.

Riết rồi người ta bắt đầu nghĩ vua đẹp trai mà lại mắc chứng khó đẻ.

Trong một diễn biến khác, nhà họ Lê ở hương Thổ Lỗi, tức Gia Lâm ngày nay, sản xuất được một cô con gái khá hay ho tên là Lê Khiết.

Cô Khiết xinh thì vừa phải thôi nhưng lại được cái thần thái ngầu lòi và đầu óc thông minh bù lại.

Dạo ấy Thánh Tông cũng bắt đầu sốt ruột về đường con cái nên cứ hôm nào triều chính rảnh rang là lại vác mặt lên chùa cầu tự.

Mùa xuân năm 1064, Thánh Tông đi cầu tự trên chùa Dâu.

Xa giá đi tới đâu là gây ách tác giao thông tới đó.

Hàng ngàn, hàng vạn trai thanh gái lịch đổ cả ra đường coi xem vua mặt ngang mũi dọc ra sao.

Cô Khiết cũng đi coi.

Nhưng cô có đầu óc, nên cô cảm thấy với nhan sắc tầm trung của mình mà chen vào kia thì chỉ tổ làm nền cho thằng khác.

Thành ra cô không chen, mà tìm một góc xa xa văng vắng cô đứng.

Cô chọn đứng ngay cạnh khóm lan xấu nhất nên nhan sắc tầm trung của cô được tôn lên khá nhiều, lại cộng thêm thần thái ngầu lòi nên cũng thành ra một bức tranh sơn thủy hữu tình.

Nhật Tôn bệ hạ nhìn xa xa thấy cái gì giống như là mĩ nhân tựa khóm hoa lan thì cảm thấy vô cùng hứng thú.

Tiếng sét ái tình đánh cái roẹt.

Thế là cô Khiết được đưa vào cung, lại được Nhật Tôn tặng cho cái tên Ỷ Lan để kỉ niệm lần đầu gặp gỡ.

Nhật Tôn sống qua hơn 40 cái mùa khoai sọ mới gặp được mối tình đầu nên tỏ ra yêu chiều hết mực, "khởi nghiệp" vô cùng tích cực.

Năm 1066, Ỷ Lan phu nhân cuối cùng cũng giúp Nhật Tôn bệ hạ duy trì nòi giống thành công.

Lý Càn Đức mới mở mắt 1 ngày đã được phong luôn làm thái tử.

Ỷ Lan cũng được thăng chức thành Thần phi.

Chỉ 2 năm sau, tức năm 1068, Thần phi Ỷ Lan lại tiếp tục chửa đẻ không biết mệt mỏi, sinh ra thêm một thằng cu.

Ỷ Lan lập tức được phong thành Nguyên phi, cầm đầu đám phi tần.

Là một người có cái đầu đầy sỏi, Nguyên phi Ỷ Lan không bao giờ thèm tập trung vào nhan sắc của mình, vì nó cũng chẳng được bắt mắt cho lắm, chưa kể hiện tại còn là gái 2 con, thân hình phì lũ.

Thay vào đó, Nguyên phi rất chịu khó phô trương trí tuệ siêu việt.

Thi thoảng phát ngôn được mấy câu về đạo trị quốc khiến Nhật Tôn há mồm tròn mắt thán phục.

Năm 1069, Nhật Tôn thân chinh đi dằn mặt Chiêm Thành, giao cho Nguyên phi Ỷ Lan và thái sư Lý Đạo Thành ở nhà trông coi việc nước.

Nhật Tôn đánh được Chiêm Thành nhưng bắt mãi không được vua Chiêm là Chế Củ nên bực bội dẫn quân về.

Về được nửa đường, nghe giang hồ đồn đại bà Nguyên phi trị quốc giỏi vô cùng luôn, thì tự ái nam nhi nổi lên đùng đùng, chả lẽ đàn bà trị nước được mà mình đàn ông đi đánh trận lại tay không trở về.

Thế là Nhật Tôn hùng hổ dẫn quân quay lại, quyết bắt cho bằng được Chế Củ.

Tội nghiệp Chế Củ.

Năm 1072, Nhật Tôn bệnh nặng qua đời.

Thái tử Lý Càn Đức lên ngôi, tức Lý Nhân Tông.

Bà Dương Hồng Hạc ngần này tuổi đầu rồi mà chưa được một lần khởi nghiệp, khó chịu vô cùng.

Nhưng bà vẫn chịu khó sống im hơi lặng tiếng trong cung mấy chục năm qua cũng chỉ để chờ tới giây phút này.

Dương Hồng Hạc được phong làm Thượng Dương hoàng thái hậu.

Và vì Càn Đức mới 7 tuổi, vẫn còn sửu nhi nên Thượng Dương thái hậu và Thái sư Lý Đạo Thành cùng nhau quản lý chuyện triều chính.

Nguyên phi Ỷ Lan chỉ được phong làm Hoàng thái phi và không được tham gia triều chính.

Thượng Dương thái hậu lần đầu nhiếp chính nên còn nhiều bỡ ngỡ, xử lí mọi việc hơi lộn xộn.

Bà Ỷ Lan thấy thế thì bĩu môi: "Chả chuyên nghiệp gì."

Xong bà càng nghĩ càng tức vì mình đường đường là mẹ đẻ ra vua mà lại bị cho ra rìa.

Thế là bà tìm tới một người thừa khả năng lộng hành trong triều, và quan trọng nhất là có mối thù sâu sắc với Thượng Dương thái hậu, chính là Thái úy Lý Thường Kiệt.

Ông này ngày xưa yêu bà Hồng Hạc, sau bị bà đem thiến (giang hồ đồn đại thế).

Bài học rút ra cho chị em là chán chơi hoa rồi thì cũng chớ dại ngắt cành, kẻo sau này rước họa vào thân.

Được sự giúp đỡ của Lý Thường Kiệt, bà Ỷ Lan đã làm cho Càn Đức xuống chiếu phế truất Thượng Dương thái hậu.

Thái sư Lý Đạo Thành cũng bị đày đi xa.

Bà Ỷ Lan được tôn làm Linh Nhân hoàng thái hậu, được buông rèm nhiếp chính lần thứ 2 trong đời.

Dương Hồng Hạc cùng 72 cung nữ bị giam trong cung Thượng Dương.

Lý Thường Kiệt từng yêu Hồng Hạc thắm thiết nên thấy cũng tội, nhưng chợt nhớ ra chim không hót thì thôi cũng kệ.

Kết cục, Dương Hồng Hạc và 72 cung nữ bị bức chết, nói là cho đi theo Nhật Tôn cho có vợ có chồng.

Vụ này bà Ỷ Lan làm trong lúc đang ba máu sáu cơn.

Sau này càng nghĩ càng thấy tội nghiệt nặng nề.

Nhưng người thì đã lỡ tay bức chết cmnr nên chỉ còn cách tích cực xây chùa chiền, làm từ thiện để chuộc tội.

Bà Ỷ Lan sống khá thọ, tới năm 1117 mới chịu lên bàn thời ngồi bóc chuối, tổng cộng qua được 73 cái mùa khoai.

Mấy chục năm làm thái hậu, bà Ỷ Lan xây được vô số chùa chiền, tích được vô số công đức.

Nhân dân tôn bà là Quan Âm bồ tát, và còn ví như cô Tấm trong truyền thuyết dân gian.

Fanpage: SĂN MỘ

#việt_nam_một_lịch_sử

#ỷ_lan_nguyên_phi

#thượng_dương_thái_hậu
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
29. LÝ CÀN ĐỨC_Thái bình thịnh trị


Tháng 2 năm 1066, toàn thể nhân dân Đại Việt mừng rớt nước mắt vì sau hơn 40 cái mùa chuối héo, Nhật Tôn bệ hạ cuối cùng cũng khởi nghiệp thành công ra một thằng con trai là Lý Càn Đức.

Bố Nhật Tôn yêu chiều Càn Đức lắm, nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa.

Chỉ một ngày sau khi sinh, bố Nhật Tôn đã phong Càn Đức làm thái tử, phong mẹ Ỷ Lan làm Thần phi.

Thậm chí bố Nhật Tôn còn phấn khởi đến nỗi đổi phứt niên hiệu thành Long Chương Thiên Tự, đồng thời đại xá cmn thiên hạ.

Thế nhưng truyền thống đẹp trai của nhà họ Lý đến đời thứ tư này thì bắt đầu thui chột đi ít nhiều.

Nguyên do cũng bởi bố Nhật Tôn có cái gu khác người, tuyển vợ không nhìn vào nhan sắc mà lại coi trọng cái đầu đầy sỏi.

Mẹ Ỷ Lan "xinh đẹp" không được xuất sắc nên đẻ ra nhóc Càn Đức tướng tá trông cũng khác thường.

Giang hồ đồn đại thái tử Càn Đức tay vượn, trán dô.

Nguyên văn là: "Xương trán nổi lên như mắt trời, là dáng mặt của bậc thiên tử, và tay thì buông dài quá gối."

Giang hồ khen an ủi Càn Đức đấy thôi, chứ không lẽ nhan sắc chuẩn soái ca như cụ Công Uẩn, ông nội Phật Mã với bố Nhật Tôn thì không xứng đáng là thiên tử?

Năm 1070, Càn Đức được 5 tuổi, bố Nhật Tôn bèn cho xây dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công, vẽ tranh Thập nhị hiền, bốn mùa tưng bừng hương khói.

Kể từ đó, thay vì chỉ kèm gia sư ở nhà thì đám con trời nay đã được hân hoan cắp sách tới trường.

Bố Nhật Tôn tuổi chưa cao nhưng sức đã yếu, chỉ ăn cố được cái tết năm 1072 thì lăn đùng ra chết.

Thái tử Càn Đức đứng trước quan tài bố Nhật Tôn, vừa khóc lóc vừa lên ngôi, lấy hiệu Thái Ninh, sử gọi là Lý Nhân Tông.

Được dạy dỗ cẩn thận nên ban đầu Càn Đức sắc phong cho các mẹ rất bài bản.

Mẹ cả Hồng Hạc được phong là Thượng Dương thái hậu, mẹ đẻ Ỷ Lan thì chỉ ngậm ngùi nhận chức Linh Nhân thái phi.

Chuyện bà Thượng Dương thái hậu được nhiếp chính cùng thái sư Lý Đạo Thành khiến bà Ỷ Lan bức xúc lắm.

Một hôm bà giả bộ mắc bệnh, khi Càn Đức hớt hải tới thăm thì bà nước mắt nước mũi ngắn dài than thở: "Con ơi mẹ già khó nhọc mới có ngày hôm nay, mà giờ phú quý thì người khác được hưởng, vậy con để mẹ già vào đâu?"

Càn Đức hồi ấy còn ngây thơ vô số tội, thấy mẹ già buồn bực thì cũng buồn hết cả người, vậy nên mới hồn nhiên hạ chỉ phế Thượng Dương thái hậu cho mẹ vui.

Bà Ỷ Lan từ đó được làm Linh Nhân thái hậu và nhiếp chính đúng như nguyện vọng ban đầu.

Thái sư Lý Đạo Thành vì là cộng sự cũ của Thượng Dương thái hậu nên cũng bị điều đi Nghệ An, cho ra đảo một thời gian rồi mới được quay về.

Càn Đức rất coi trọng việc học hành, con ngoan trò giỏi đúng kiểu con nhà người ta.

Năm 1075, con nhà người ta mở khoa thi Minh kinh bác học, cũng là khoa thi đầu tiên của nước Việt, hốt được trạng nguyên Lê Văn Thịnh về dạy dỗ cho mình.

Năm 1076, con nhà người ta lại cho xây Quốc Tử Giám ngay cạnh Văn Miếu, đây cũng là khuôn mẫu trường đại học đầu tiên của Việt Nam.

Nhưng thời ấy Quốc Tử Giám chỉ cho đám con trời và con ông cháu cha vào học.

Mãi tới đời Trần Thái Tông mới bắt đầu mở rộng cửa đón những thành phần tạp nham khác.

Xưa nay, nhân dân Thăng Long cứ mỗi độ mưa lũ là lại xắn quần câu cá giữa ngã tư đường phố.

Hồi còn sửu nhi, Càn Đức thấy cảnh này thì vui lắm, cũng cởi truồng tập bơi các kiểu.

Khi lớn hơn một tí thì mới biết lũ lên mốc hết lương thực, thối sạch đồ ăn nên mới phải đi câu cá.

Thế là năm 1077, Càn Đức cho đắp đê trên sông như Nguyệt.

Tới năm 1103, đắp đê ở cả nội đô lẫn ngoại ô Thăng Long.

Năm 1108, lại tiếp tục đắp đê Cơ Xá, ở khu vực cầu Long Biên ngày nay.

Khi Càn Đức lớn một tí, má Ỷ Lan không phải nhiếp chính nữa nên cả ngày rảnh rỗi chỉ ngồi tính xem chỗ nào xây chùa thì hợp lý.

Cho nên thời ấy chùa chiền mọc lên như nấm.

Chùa Diên Hựu xây từ thời ông nội Phật Mã, nay Càn Đức ngó thấy cái kiến trúc lỗi thời vãi ra nên cho mông má lại, rồi dựng thêm 2 ngọn tháp phủ sứ trắng, lại đào thêm hồ Linh Chiểu thả vịt bơi lội tung tăng coi cho vui con mắt.

Càn Đức nghe lời má Ỷ Lan, xuống lệnh "một thằng giết trâu, cả xóm ăn hành".

Cụ thể là thằng nào giết trộm trâu, quánh 80 trượng, rồi cho sung quân làm osin.

Vợ nó thì cũng quánh 80 trượng, rồi cho đi nuôi tằm.

Thằng hàng xóm biết mà không báo thì cũng quánh 80 trượng, rồi... thế thôi, éo phải đi đâu cả.

Năm 1089, sau khi Lý Thường Kiệt quậy tưng bừng mấy châu Khâm, Ung, Liêm, Càn Đức sai Lê Văn Thịnh sang giảng hòa, tay bắt mặt mừng như thể hai thằng quánh nhau là chuyện con nít hiếu động.

Nhà Tống cũng hơn hở trả lại ít đất cướp được để đổi lấy tù binh.

Nhà họ Chế ở Chiêm Thành nổi tiếng tay nhanh hơn não, cái đầu chỉ để trồng cây.

Năm xưa có Chế Củ thái độ lồi lõm bị Lý Thường Kiệt cho ăn hành, phải cắt 3 châu mới giữ được cái mạng.

Nay lại có Chế Ma Na nổi máu anh hùng, thấy Đại Việt đánh Tống giành lại được mấy lô đất dễ như bỡn thì cũng nhanh tay học hỏi, đem quân đi đánh Đại Việt.

Kết quả lại bị anh Kiệt cho ăn tỏi, đành ngậm ngùi yên phận cống nạp như cũ.

Năm 1123, thằng láng giềng Chân Lạp thấy Chiêm Thành hàng năm đi du lịch Đại Việt vui hết sức thì cũng mò sang xin quy phục và cống nạp.

Trong lòng Chân Lạp thầm nghĩ mình khôn vãi chưởng, không dưng được du lịch Đại Việt free.

Càn Đức từ hồi dậy thì, biết thế nào nữ sắc, thì cũng phấn khởi sắm cho mình một bộ sưu tập hậu cung đầy đủ gồm có hoàng hậu, hoàng phi, cung tần mĩ nữ.

Thế nhưng cái đám ấy chỉ sản xuất được vịt giời, không làm sao tòi ra nổi một thằng cu.

Năm 1117, má Ỷ Lan mất.

Không còn ai động viên, Càn Đức bắt đầu cảm thấy tuyệt vọng về cái đường sinh sản.

Bấy giờ Sùng Hiền hầu, tức em ruột của Càn Đức, đẻ được một thằng cu là Lý Dương Hoán.

Thằng nhỏ mới 2 tuổi nhưng vô cùng thông minh, hiếu động.

Càn Đức ngó thấy thì cưng lắm, bèn lập Dương Hoán làm thái tử.

Tháng 12 năm 1128, Càn Đức bệnh nặng bẹp giường.

Nằm ngửi hết cái tết năm 1128 thì theo má Ỷ Lan đi bóc chuối.

Càn Đức là ông vua ở ngôi lâu nhất trong lịch sử Việt Nam.

56 năm Càn Đức trị vì là 56 năm Đại Việt cực thịnh.

Đầu gấu phương nam, ngang hàng phương bắc, nhân dân no ấm, hạnh phúc ngập đầu.

P/s: Ảnh chỉ mang tính chất minh họa, Ad mượn đỡ của bác Tần

Fanpage: SĂN MỘ

#việt_nam_một_lịch_sử

#lý_càn_đức

#lý_nhân_tông
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
30. TỪ ĐẠO HẠNH_Thác sinh thiên tử


Cậu ấm Từ Lộ nhà quan đô sát Từ Vinh cả ngày chỉ ăn chơi lêu lổng, đánh bạc, đá cầu.

Ông Từ Vinh lấy làm sầu não lắm, nghĩ cái thằng này hỏng, lớn lên cũng chả ra cơm cháo gì.

Ông Từ Vinh có cái thói cơm tối xong là lên giường đi ngủ.

Một đêm mùa hè đã nóng bức lại còn cắt điện, ông ngủ không được mới dậy đi loanh quanh cho mát mẻ.

Đi qua phòng Từ Lộ thì thấy đèn nến sáng trưng.

Cậu con trai thì lăn ra ngủ mà mặt vẫn cắm vào quyển sách.

Từ đấy ông mới biết thằng con ông không hỏng, mà chỉ là do nó có cái nết sinh hoạt éo giống ai.

Ông Từ Vinh đợt ấy có xích mích với ông Diên Thành hầu chuyện cân đường hộp sữa.

Chuyện bé xé ra to, ông Diên Thành hầu điên tiết lên mới thuê thầy Đại Điên dùng phép thuật đánh chết ông Từ Vinh rồi ném xác xuống sông.

Không dưng vì tranh chấp tào lao mà cha thiệt mạng, Từ Lộ đâm ra bực bội hết cả người.

Trăn trở ngày đêm cuối cùng quyết định đi Thiên Trúc du học, rèn luyện pháp thuật để quyết một trận sống mái với Đại Điên.

Từ Lộ miệt mài đi, tới Miến Điện thì bắt đầu thấy đường xá hiểm trở, mỏi cái chân, mệt cái người.

Thù cha phải trả nhưng sức khỏe vẫn là trên hết, vậy nên Từ Lộ quyết định không tây du kí nữa mà quay về chùa Thiên Phúc ở núi Sài Sơn tu hành cho nhàn hạ.

Ở chùa Thiên Phúc, Từ Lộ chuyên tâm đọc hết cuốn kinh Đại bi đà la dày như cục gạch.

Chùa không còn sách nào khác hay hơn nên đọc xong lại phải đọc lại.

Cứ nhai đi nhai lại như vậy chẳng mấy chốc đã được mười vạn tám ngàn lần.

Giang hồ đồn đại ngày ấy ở cửa chùa Thiên Phúc có 2 cây cổ thụ to vật vã, thường được gọi là cây rồng.

Từ Lộ ngày nào cũng ngồi dưới 2 gốc cây bô bô đọc chú niệm kinh.

Hai cái cây nghe nhiều quá đến nỗi tẩu hỏa nhập ma, rụng sạch lá rồi chết rũ.

Một ngày như bao ngày, Từ Lộ đang ngồi đọc kinh say sưa thì có ông thần thình lình xuất hiện, tự xưng là Trấn Thiên Vương.

Ổng bảo nghe Từ Lộ đọc kinh hay quá, truyền cảm quá, nên xin được theo làm đệ tử.

Từ Lộ thấy thế thì hí hửng lắm, nghĩ cuối cùng cũng đắc đạo, quả này đi quánh nhau với Đại Điên đảm bảo ngon ăn.

Đại Điên thấy Từ Lộ lại vác xác tới thì mặt khinh khỉnh kiểu lần trước chưa ngấm đòn hả.

Từ Lộ mặt cũng khinh khỉnh không thèm đáp, chỉ âm thầm làm phép hóa ra cái gậy đánh Đại Điên sấp mặt lợn.

Đại Điên quá bất ngờ và bàng hoàng, ú ớ được vài câu thì bị đánh chết cmnl.

Đại Điên sau khi chết thì đầu thai thành một đứa trẻ biết tuốt.

Mới 3 tuổi mà chuyện trên trời dưới bể gì cũng vanh vách, tự xưng là Giác Hoàng.

Dạo ấy vua Lý Nhân Tông, tức Lý Càn Đức, khởi nghiệp liên tục thất bại, không làm sao sinh được con nối dòng.

Nghe giang hồ đồn đại về Giác Hoàng thì đầu lập tức nảy số thành nhân tài trăm năm có một.

Nhân Tông hớn hở đón thằng nhỏ về, cho ở trong tháp Báo Thiên, thậm chí còn định lập làm hoàng thái tử.

Bực nỗi quần thần phản đối dữ quá, nên vua đành lập đàn suốt 7 ngày để thằng nhỏ đầu thai làm con mình.

Từ Lộ hồi ấy đang đi du lịch bụi, nghe phong phanh giang hồ đồn đại chuyện Giác Hoàng thì cũng vui tay bấm độn.

Phát hiện ra Giác Hoàng chính là Đại Điên thì hoảng hết cả hồn, nghĩ quả này sơn hà xã tắc loạn đến mông rồi.

Vắt óc nghĩ mãi mới ra một cách, đó là nhờ người dán lá bùa vào cửa rèm Giác Hoàng.

Đến ngày thứ 3 của pháp hội, Giác Hoàng lăn đùng ra ốm, bảo khắp nơi trong kinh thành đều có lưới sắt bủa vây, thác sinh thế éo nào được.

Dứt lời, Giác Hoàng lăn ra chết.

Đang hớn hở chuẩn bị khởi nghiệp thì thằng nhỏ lại chết mất toi, vua Lý Nhân Tông bực bội ghê lắm.

Điều tra tới lui, cuối cùng cũng lần ra Từ Đạo Hạnh.

Trong một diễn biến khác, có ông Sùng Hiền Hầu cũng lớn đầu rồi mà vẫn chưa có con trai.

Từ Đạo Hạnh bèn gạ gẫm bảo ông cứu tui đi tui đầu thai làm con ông chịu hơm.

Sùng Hiền Hầu thấy thế thì mừng lắm, gật đầu cái rụp.

Sau khi được cứu ra, Từ Đạo Hạnh dặn Sùng Hiền Hầu bao giờ vợ ông sắp sinh thì qua báo tui một tiếng.

Ngày 7 tháng 3 năm 1116, Từ Đạo Hạnh đang thong thả ngồi chơi, ăn miếng bánh, uống miếng nước thì có người tới báo bà Đỗ thị sắp sinh.

Từ Đạo Hạnh vừa nghe tin liền hớt hơ hớt hải đi tắm rửa, thay quần áo, rồi vào hang núi thoát xác đầu thai.

Đâu đó xong xuôi, người đưa tin mới bảo ấy còn những 3 tháng nữa, Sùng Hiền hầu báo trước để ông chuẩn bị thôi, ông nhanh nhảu quá tui cản không kịp.

Từ Đạo Hạnh nghe thế thì bực hết cả người nhưng lỡ thoát xác rồi nên không làm sao được, đành đợi không 3 tháng.

Tháng 6 năm 1116, cậu ấm duy nhất nhà Sùng Hiền Hầu ra đời, đặt tên là Lý Dương Hoán.

Thằng nhỏ sau này được Lý Nhân Tông truyền ngôi, sử gọi là Lý Thần Tông.

Fanpage: SĂN MỘ

#việt_nam_một_lịch_sử

#từ_đạo_hạnh

#lý_thần_tông
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
31. LÝ DƯƠNG HOÁN_Ông vua hóa cọp


Dạo ấy sư thầy Từ Đạo Hạnh phạm tội tày đình, phải vào tù ngồi bóc lịch.

Mạng sống như chỉ mành treo chuông, chỉ chờ vua Lý Nhân Tông quyết định coi nên tùng xẻo hay đem chém phứt cho gọn nhẹ.

Sùng Hiền hầu nghe giang hồ đồn trong đại lao có tù nhân vip thì tò mò đến coi thử.

Từ Đạo Hạnh thấy Sùng Hiền hầu có bộ mặt khó khởi nghiệp điển hình, bèn gạ Sùng Hiền hầu cứu mình ra, đổi lại Từ Đạo Hạnh sẽ đầu thai làm con trai Sùng Hiền hầu.

Sùng Hiền hầu nghe thế thì mừng như bắt được vàng, xưa nay khởi nghiệp lận đận, có khi nào được chắc cú như lần này.

Thế là Sùng Hiền hầu hớn hở đi hạ hỏa cho vua Lý Nhân Tông, rồi năn nỉ vua cấp lại quyền công dân cho Từ Đạo Hạnh.

Vua Lý Nhân Tông bực thì vẫn bực nhưng đại khái cũng nể mặt Sùng Hiền hầu nên Từ Đạo Hạnh được tha bổng.

Trước khi chia tay, Từ Đạo Hạnh căn dặn Sùng Hiền hầu khi nào vợ đẻ thì chạy qua báo một tiếng để còn thoát xác đầu thai.

Tháng 6 năm 1116, bà Đỗ thị cuối cùng cũng sinh nở.

Ông Sùng Hiền hầu nín thở chờ đợi, hú hồn ra thằng cu thật.

Thằng nhỏ được đặt tên là Lý Dương Hoán.

Năm 1117, Lý Nhân Tông đã hoàn toàn tuyệt vọng về cái đường sinh sản.

Thấy Dương Hoán kháu khỉnh, lanh lợi thì yêu thích lắm, bèn nhận làm con nuôi và lập làm thái tử.

Năm 1128, Lý Nhân Tông qua đời.

Dương Hoán 13 tuổi lên ngôi, trở thành vị vua thứ 5 của triều Lý, sử gọi Lý Thần Tông.

Năm 1130, Hoán 15 tuổi, bắt đầu dậy thì nên hào hứng tuyển vợ.

Chiếu chỉ ban xuống, chỉ cần là con gái quan lại không cần biết xinh như tiên hay xấu như quỷ, đều phải ở không đợi Hoán lựa.

Đứa nào Hoán hổng thèm thì mới được đi lấy chồng.

Ơ hay, vui tính vãi. 🙂 🙂 🙂

Hồi ở cái tuổi dở ông dở thằng, Hoán còn có thú vui sưu tầm của hiếm lạ.

Đứa nào đem cho Hoán hươu trắng, hươu đen, chim sẻ trắng, rùa trắng,... là Hoán thích mê tơi lên được.

Một hôm có anh Đỗ Khánh dâng lên con cá hầu, cá chiết.

Hoán xưa này ở trong đất liền, nào có thấy cá biển bao giờ.

Trông 2 con cá là lạ, ngồ ngộ thì phấn khởi nghĩ là điềm lành, xuống chiếu cho toàn thể quần thần chúc mừng.

Cáp môn sứ Lý Phụng n bực mình chép miệng: “Mới có con cá đã thế, sau này nhỡ có lân phượng thì biết làm sao.”

Lần khác lại có anh Vương Cửu dâng lên con rùa trên mai có mấy nét nguệch ngoạc, bảo chữ đấy đọc đi.

Hoán ngó mãi không ra chữ gì mới bảo mấy ông học sĩ vào ngó thử.

Mấy ông cũng chả ngó ra chữ gì đâu nhưng cứ chém thành 8 chữ: “Thiên thư hạ thị, thánh nhân vạn tuế”.

Gì chứ nịnh bợ là nghề ruột của mấy ổng.

Chiêm Thành với Chân Lạp xưa nay vẫn thần phục Đại Việt theo phong cách phập phù.

Vui vui thì cống nạp đầy đủ, mà buồn buồn thì lại lùa quân sang đất Nghệ chọc ngoáy chơi.

Mấy soái ca đời trước vẫn hay ngự giá thân chinh cho giãn gân giãn cốt.

Nhưng Hoán thì không thích thế, Hoán cảm thấy ở nhà vẫn đẹp giai hơn nhiều.

Nhờ vậy mà trong 3 lần Chiêm Thành và Chân Lạp sang cướp phá, hai tướng quân Lý Công Bình và Dương Anh Nhị đều có cơ hội solo lập công.

Tuy chỉ ngồi nhà cho đẹp giai nhưng Hoán cũng làm được vài việc hay ho giúp ích cho công cuộc kiến thiết đất nước.

Đại khái là Hoán cho đại xá tù nhân hàng loạt, trả lại ruộng đất tịch thu của quân dân, thực hiện chính sách ngụ binh ư nông.

Tức cứ 6 tháng đi bộ đội, 6 tháng lại về cày, thúc đẩy nền nông nghiệp và dân số của Đại Việt phát triển.

Năm Hoán 21 tuổi, không dưng lại mắc bệnh lạ, mọc lông mất kiểm soát.

Chỗ nào chưa có lông thì bắt đầu mọc, chỗ nào có sẵn rồi thì mọc rậm thêm.

Cả ngày gầm gừ, cuồng loạn như cọp, chỉ thiếu điều xong vào cắn xé người ta.

Bệnh của Hoán trầm trọng tới nỗi triều đình phải làm cái cũi vàng nhốt Hoán vào.

Hoán cứ làm cọp kiểng như thế cho tới một ngày thiền sư Nguyễn Minh Không xuất hiện như một vị thần.

Nguyễn Minh Không cho đun một vạc dầu, bỏ vào đó 100 cây kim.

Tiếp theo thì biểu diễn ảo thuật tay không vớt kim trong chảo dầu sôi, rồi lấy 100 cây kim đó châm cứu cho Hoán.

Cuối cùng thì lấy chảo dầu dội cái tuột từ đầu tới chân, dội tới đâu rụng sạch lông tới đó.

Quần thần lần đầu được coi ảo thuật hay như thế, đồng loạt há hốc mồm vỗ tay nhiệt liệt.

Trên góc độ khoa học thì cái màn hóa cọp của Hoán khả năng là một chứng bệnh ngoài da khiến lông mọc tùm lum.

Còn màn ảo thuật chữa bệnh thần sầu thì là sát trùng kim, châm cứu, rồi tắm lá thuốc.

Tuy được thiền sư Nguyễn Minh Không chữa khỏi nhưng vì bệnh tật lâu ngày nên sức khỏe Hoán yếu đi nhiều.

Mới qua được 23 cái mùa khoai sọ đã vội vàng hẻo.

Ấy là năm 1138.

Fanpage: SĂN MỘ

#việt_nam_một_lịch_sử

#lý_dương_hoán

#lý_thần_tông
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
32. LÝ THIÊN TỘ_Hào quang cuối cùng


Năm con Rồng vàng rảnh lờ 1136, hoàng tử thứ 2 của vua Lý Thần Tông ra đời, tên cúng cơm là Lý Thiên Tộ.

Khi Tộ lên 3 tuổi, bố Hoán sau vài năm dặt dẹo cuối cùng cũng chịu hấp hối.

Thái tử Thiên Lộc tuy là trưởng nhưng lại do nô tỳ sinh ra.

Bà má Tộ là Cảm Thánh phu nhân bèn dựa vào việc này để mè nheo bố Hoán truyền ngôi cho Tộ.

Bố Hoán sắp thăng nên cũng mát tính, đồng ý liền.

Nhưng bố Hoán đồng ý không có nghĩa là quần thần cũng Ok.

Quần thần trông thấy Tộ lùn một mẩu, tung tăng chạy nhảy, thi thoảng còn rỏ dớt lòng thòng thì chán hết cả người.

Thế là quần thần bèn đồng lòng tôn Lý Dương Côn, một người con nuôi khác của ông nội Càn Đức, lên làm hoàng đế.

Cảm Thánh phu nhân lúc bấy giờ đã cắm sừng lên đầu Thần Tông.

Sừng của hoàng đế đương nhiên cũng phải ăn đứt sừng của bách tính.

Đỗ Anh Vũ vừa đẹp trai lồng lộn, lại tài văn võ toàn tài, trong tay còn nắm giữ binh quyền.

Đỗ Anh Vũ giúp Cảm Thánh phu nhân hạ bệ Lý Dương Côn, dẹp sạch chướng ngại.

Lý Dương Côn khi bị lưu đày chỉ có thể ấm ức rủa chẳng qua đen thôi, chứ đỏ quên đi.

Tháng 9 năm 1138, Tộ lên ngôi hoàng đế, sử gọi là Lý Anh Tông.

Má Tộ được tôn, hoặc tự mình tôn, là Hoàng Thái hậu, buông rèm nhiếp chính.

Năm 1138, Đỗ Anh Vũ được phong là Phụ quốc thái úy và được ban quốc tính, tức họ Lý.

Xưa có thái úy Lý Thường Kiệt, nay có Anh Vũ.

2 ông Lý Thái úy đều như hoa như ngọc, tài giỏi đúng chuẩn con nhà người ta.

Thiếu đế còn nhỏ dại, Thái hậu và Thái úy nắm hết quyền hành, thành ra không phải kiêng nể bố con thằng nào, công khai khởi nghiệp.

Đỗ Anh Vũ cũng ỷ quyền mà lộng từ hậu cung ra tới tiền triều.

Quần thần bất bình nhưng cũng không dám ho he.

Năm 1150, Tộ 15 tuổi, đã sớm không còn chạy lông nhông và rỏ dớt.

Thế nhưng Đỗ Anh Vũ vẫn ỷ vào Thái hậu mà lộng hành.

Tướng quân Vũ Đái thấy chướng mắt vãi xoài nên hợp tác với Dương Tự Minh và Trí Minh Vương, dẫn cấm quân vào cung, ép Tộ lấy chiếu chỉ, bắt giam Đỗ Anh Vũ.

Phen này Đỗ Anh Vũ tưởng đâu ngỏm chắc rồi.

Nhưng xưa nay anh hùng khó qua ải mĩ kim.

Khi Thái hậu đem mấy cân vàng sang đút lót thì Vũ Đái bèn hớn hở tha chết cho Đỗ Anh Vũ.

Theo nghị luận của quần thần, Tộ xuống chiếu giáng Anh Vũ làm Cảo điền nhi, chuyên cày ruộng cho vua.

Anh Vũ đi làm “lông rân” khiến thái hậu mất đi đối tác khởi nghiệp, buồn bực vô cùng.

Thái hậu bèn nhiều lần cho mở hội lớn để đại xá phạm nhân.

Cuối cùng người “lông rân” Anh Vũ cũng được vào danh sách xá tội, thậm chí còn được khôi phục chức Thái úy một cách thần kì.

Phục chức không lâu, Anh Vũ bèn tâu với Tộ là bọn Vũ Đái lúc trước tự ý dẫn cấm quân vào cung, tội éo thể tha được.

Tộ cũng không ưa gì Anh Vũ, cảm thấy mình đang bị ăn hiếp.

Nhưng bấy giờ Vũ Đái vẫn đang bận phát tài nên chả để ý gì, thành ra Tộ thế cô, buộc phải nghe lời Anh Vũ, xuống chiếu bắt giam Vũ Đái và đồng bọn.

Lúc Vũ Đái tỉnh ra, ngẩng mặt khỏi đống vàng thì đã hết hồn thấy mình đang ở trong nhà lao.

Đợt ấy Anh Vũ trả thù vô cùng tàn khốc.

Vũ Đái và hơn 20 người bị chém bêu đầu, bọn thái giám tiếp ứng trong cung thì bị đem bị tùng xẻo, Dương Tự Minh thì bị lưu đày.

Ngoài ra còn một loạt thành phần liên quan bị giáng tước, tiết kiệm được bao nhiêu là bổng lộc.

Năm 1158, quyền thần Đỗ Anh Vũ cuối cùng cũng chịu lên bàn thờ ngồi.

Thái hậu lộng nửa cuộc đời, tới lúc này cũng đã cảm thấy buông rèm nhiếp chính chả còn gì thú vị, nên trao lại quyền hành cho Tộ.

Tộ 23 tuổi, làm vua ngót 20 năm, vậy mà lần đầu tiên được tận tay sờ vào việc triều chính.

Trong triều có đại thần vừa ngỏm tỏi, mẫu hậu thì buồn rầu, Tộ cũng biết không nên mừng nhưng vẫn kìm lòng không đậu mà thấy mừng bỏ mẹ lên được.

Tộ tha hồ bung lụa, trọng dụng một đống nhân tài như Tô Hiến Thành, Lý Công Tín, Hoàng Nghĩa Hiền,…

Tô Hiến Thành hầu như cân hết việc đánh dẹp, thao luyện binh sĩ, kén chọn hiền tài,…

Năm 1170, Tộ cho lập Xạ Đình để tập cưỡi ngựa, bắn cung.

Dĩ nhiên là tên, cung đầy đủ chứ không phải tập chay như xạ thủ bây giờ.

Năm 1171, 1172, Tộ còn làm một tour du lịch lên các vùng núi cao, tham thú cuộc sống thiếu thốn, lạc hậu của nhân dân.

Nhờ những nỗ lực bung lụa của Tộ mà Đại Việt hơi cắm đầu xuống đất vào thời vua Thần Tông cuối cùng cũng có thể hiên ngang ngóc đầu lên.

Hồi ấy Tộ mê mẩn cô Từ Nguyên phi khiến hoàng hậu ghen lồng ghen lộn.

Hoàng hậu bèn nghĩ ra một sáng kiến đó là xui con trai là thái tử Long Xưởng đi quyến rũ cô Từ hòng đổ cho cô tội mất dạy, cắm sừng hoàng đế.

Long Xưởng tự tin mù quáng vào nhan sắc nên mạnh dạn đi quyến rũ cô Từ.

Ngờ đâu cô Từ không mê nổi, lại còn đi mách lẻo với Tộ.

Tộ nổi trận lôi đình, phế truất Long Xưởng xuống làm Bảo Quốc vương, cam cái tội biến bố mày thành con tê giác.

Tộ kể cũng đáng thương, nguyên cái cuộc đời hầu như xoay quanh việc cắm sừng.

Đầu năm 1175, Tộ lập con trai thứ 6 Lý Long Cán làm thái tử, giao cho Tô Hiến Thành dạy dỗ kiêm vú em, vì Long Cán lúc này mới lên 3.

Ít lâu sau Tộ ốm nặng, hoàng hậu hi vọng Tộ sắp chết thì cũng mát tính như lúc bố Hoán sắp chết, nên nhiều lần xin xỏ cho Long Xưởng làm thái tử.

Nhưng hễ Tộ cứ nghĩ tới con tê giác thì lại không thể nào mát tính nổi, mắng: “Làm con mà không biết kính trọng đấng song thần thì sao làm ông vua yêu dân được.”

Tháng 7 năm 1175, Tộ thở nốt hơi cuối cùng tại điện Thụy Quang, thọ được 40 mùa khoai.

Thái tử Long Cán lên ngôi, sử gọi Lý Cao Tông.

Triều Lí từ đây bắt đầu trượt dài trên con đường dẫn tới họa diệt vong.

Fanpage: SĂN MỘ

#việt_nam_một_lịch_sử

#lý_anh_tông

#lý_thiên_tộ
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
33. LÝ LONG CÁN_Thiên hạ đại loạn


Lý Long Cán, tức vua Lý Cao Tông, được biết đến như là dân chơi khét tiếng chốn kinh kì.

Long Cán là cậu quý tử thứ 6 của vua Lý Anh Tông.

Năm 1175, noi gương bố Tộ, Cán rỏ dớt lòng thòng lên ngôi từ khi mới 3 tuổi.

Hồi ấy vợ cả của bố Tộ muốn đưa con trai mình là Long Xưởng lên ngôi, nhưng đại thần Tô Hiến Thành cứng rắn vãi chuối lên Cán dù chưa biết gì vẫn hiên ngang bò lên được ngai báu.

Tô Hiến Thành mới dạy dỗ Cán được 4 năm thì đã vội vàng thăng.

Trước khi thăng, Tô hiến Thành dặn đi dặn lại Đỗ thái hậu để Trần Trung Tá phò trợ Cán.

Đỗ thái hậu gật gù khen hay, nhưng Tô Hiến Thành vừa thăng thì thái hậu đã nuốt cmnl, để em trai mình là Đỗ An Di lo việc chính sự.

Có xuất phát điểm gần giống với bố Tộ, nhưng trong khi bố Tộ biết vượt sướng vươn lên trở thành một minh quân thì Cán lại nỗ lực phấn đấu trở thành “rân trơi” bắc hà.

Kiểu tu mấy kiếp mới ăn may trúng giải độc đắc lúc đầu thai, được làm thiên tử, cho nên phải tranh thủ ăn chơi, hưởng lạc.

Cán ham mê tửu sắc, thích nhạc họa, săn bắn, xây dựng cung điện, đền đài vô tội vạ.

Nói chung đất kinh kì có bao nhiêu thú vui Cán đều nỗ lực tận hưởng cho bằng sạch.

Năm 1189, Cán làm một tour du lịch vòng quanh đất nước.

Trong khi những ông vua khác vi hành cốt để thấu hiểu dân tình, thì Cán lại vi hành đúng chất rong chơi, giải trí.

Hễ nơi nào Cán đi qua, nghe phong phanh có thần linh, không cần biết thần linh xịn hay tào lao, Cán đều hào phóng cho xây dựng đền miếu.

Giang hồ đồn đại, ngày ấy đói kém, kỉ cương lộn xộn, trộm cướp công khai giữa ban ngày ban mặt.

Có lần Cán đang đi chơi, bỗng nghe tiếng kêu cứu.

Cán giật mình ngỡ ngàng một tẹo rồi lại cười nói vui vẻ.

Con dân kêu cứu như đấm vào mặt mà Cán vẫn coi như bị điếc.

Năm 1197, Cán cho xây dựng cung Nghênh Thiềm.

Năm 1203, lại tiếp tục xây hàng loạt cung điện, mà cái nào cũng lộng lẫy, xa hoa tột đỉnh.

Đợt đang xây dựng dở tháp Kinh Thiên thì không dưng có con chim khách đến làm tổ.

Cao Đường Long cho là điềm báo sắp có vương triều mới thay thế nhà Lý, nên liều mạng tâu với Cán: “Trước cốt sửa đức, sau mới khởi công mới phải.”

Cán băn khoăn đem chuyện này hỏi Phạm Bỉnh Di.

Phạm Bỉnh Di lấy việc nịnh bợ, chiều ý vua làm tôn chỉ sống.

Bỉnh Di phán tào lao: “Chim khách tới làm tổ, rồi lại sinh ra chim non, ấy là trời cho bệ hạ cái điềm tốt giữ được trăm đời.”

Cán nghe hợp lý, càng thúc dân phu thi công gấp rút, khiến trăm họ lầm than mà không biết há mồm kêu ai.

Trăm họ lầm than, triều cương nát bét.

Mua quan bán tước còn dễ hơn đi chợ đong bát mắm, bán củ dưa hành.

Quan lại hà hiếp dân chúng, trộm cướp tung hoành ngang dọc.

Vậy mà khi các quan tâu lên, Cán lại lờ đi kiểu bố éo liên quan.

Loạn thần tặc tử hoành hành, trung thần không có nổi nửa mét đất dụng võ.

Hào trưởng khắp nơi nổi dậy, Chiêm Thành và Đại Tống lại còn tranh thủ chấm mút, làm loạn biên giới.

Đại Việt bấy giờ bị Cán vo thành một đống bầy hầy.

Bao công sức bung lụa của bố Tộ bị Cán thẳng chân đạp xuống tận đáy.

Đằng sau một hôn quân luôn thấp thoáng bóng dáng của gian thần.

Gian thần nổi bật nhất triều đình lúc bấy giờ chính là Phạm Du.

Năm 1207, hào trưởng Đoàn Thượng nổi dậy, Cán cử nhiều cánh quân đi đánh dẹp.

Đoàn Thượng cảm thấy cân không nổi nên mang mấy cân vàng sang biếu Phạm Du.

Phạm Du hớn hở nhận rồi đi mè nheo Cán tha cho Đoàn Thượng.

Cán đồng ý một cách thần kì. 🙂

Đầu năm 1209, Cán cử Phạm Du đi trấn giữ Nghệ An.

Lúc bấy giờ Nghệ An vô cùng đói kém, khốn khổ.

Phạm Du bèn tranh thủ tập hợp những thành phần thiếu ăn, thiếu mặc để chống lại triều đình.

Lần này Phạm Bỉnh Di được cử đi dẹp loạn.

Loằng ngoằng gần 2 tháng, cuối cùng Bỉnh Di cũng đánh cho Phạm Du chạy tóe khói, trốn biệt tăm biệt tích.

Mấy tháng sau, Phạm Du sai người về kinh đút lót cho quan lại, bảo tâu với Cán rằng Bỉnh Di tàn ác, giết người như ngóe.

Cán đại khái cũng phân vân dữ dội lắm, nghĩ mãi không thông bèn triệu cả Phạm Du và Bỉnh Di về triều để hỏi han cho ra lẽ.

Phạm Du đã khăn gói sẵn sàng, chỉ cần Cán ới một tiếng là lập tức phi về.

Về tới nơi bèn múa mép gièm pha, hớt lẻo các kiểu.

Bỉnh Di không biết gì nên cứ thong thả mãi mới chịu mò về.

Cha con Bỉnh Di vừa về tới nơi là lập tức bị tống vào tù ngồi bóc lịch.

Đàn em của Bỉnh Di là Quách Bốc nghe tin đại ca bị bắt oan thì điên tiết lắm, hùng hổ xông vào cung để cứu.

Phạm Du thấy thế bèn giết phứt cha con Bỉnh Di rồi đưa Cán cao chạy xa bay, lánh nạn ở Phú Thọ.

Thái tử Sảm cùng má Đàm thị và 2 em gái đến nương nhờ nhà họ Trần ở Thái Bình.

Con trai khác của Cán là Lý Thẩm chạy không kịp, lơ ngơ tưởng chết đến mông rồi, nhưng cuối cùng lại được Quách Bốc tôn lên làm vua.

Cả nhà Cán tan đàn xẻ nghé.

Thái tử Sảm muốn dựa vào nhà họ Trần để đánh Quách Bốc.

Sảm tự xưng vương, phong chức tước tá lả cho người họ Trần.

Bố Cán nghe giang hồ đồn đại thằng con trai lập triều đình riêng, trong đầu liền nảy số thành tạo phản.

Thế là Cán lập tức quẳng Quách Bốc sang một bên, sai Phạm Du liên lạc với Đoàn Thượng để đem quân đi trị tội thằng con mất dạy.

Phạm Du lúc ấy cố xếp hình cho xong với công chúa Thiên Cực nên bị trễ hẹn với Đoàn Thượng.

Cuối cùng bị bắt đem về nộp cho thái tử Sảm, bị Sảm giết chết.

Không lâu sau thì dẹp xong loạn Quách Bốc.

Họ Trần đón Cán về kinh để tránh lời gièm pha.

Phạm Du chết rồi, Cán không nơi nương tựa nên không có cửa làm mình làm mẩy, buộc phải dựa vào họ Trần.

Chỉ độ 1 năm sau, tức tháng 11 năm 1210, Cán qua đời, thọ 38 mùa khoai.

Thái tử Sảm kế vị, sử gọi Lý Huệ Tông.

Triều Lý bấy giờ chỉ còn cách ngày diệt vong một bước chân ngắn ngủi.

Fanpage: SĂN MỘ

#việt_nam_một_lịch_sử

#lý_cao_tông

#lý_long_cán

#lý_sảm
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
34. LÝ HẠO SẢM_Dùng cả thanh xuân để chạy loạn


Lý Hạo Sảm may mắn được đầu thai vào gia đình đế vương.

Nhưng trong cái hên lại lòi ra cái xui, Sảm làm con ai không làm lại đi làm con bố Cán, người đã hồn nhiên khiến cho cơ nghiệp nhà Lý trở nên nát bét.

Năm 1208, Sảm tròn 15 tuổi, được bố Cán lập làm thái tử.

Vui mừng hớn hở chưa được một năm thì sóng gió bắt đầu ập tới như vã vào mặt.

Năm 1209, bố Cán nghe gian thần Phạm Du bơm đểu, giết phứt trung thần Nguyễn Bỉnh Di.

Đàn em Quách Bốc thấy ông Bỉnh Di chết tức chết tưởi thì quyết chí tạo phản.

Cả nhà Sảm hoảng hết cả hồn, mỗi người chạy một ngả, thoắt cái tan đàn xẻ nghé.

Bố Cán chạy lên Quy Hóa.

Sảm cùng má Đàm và hai em gái chạy về Hải Ấp.

Riêng cu em Sảm là Lý Thầm thì không chạy kịp nên bị Quách Bốc lập làm vua, nghĩ mãi vẫn không biết nên vui hay nên buồn.

Ở Hải Ấp bấy giờ có nhà ông Trần Lý, chuyên nghề đánh bắt thủy hải sản.

Gia cảnh không được cái gì chỉ được mỗi cái giàu.

Quyền thì không có nhưng tiền thì ngập mặt.

Đợt ấy nghe giang hồ đồn đại thái tử Sảm chạy loạn gần nhà mình, ông Trần Lý cùng em vợ là ông Tô Trung Từ bèn họp gia đình khẩn cấp, ra quyết định đón Sảm về và lập làm Thắng vương.

Ông Trần Lý vừa hay có cô con gái xinh lồng lộn tên là Trần Thị Dung.

Sảm vừa gặp Dung thì liền bị sét ái tình đánh cho đen thui mặt mũi, lập tức lấy Dung làm vợ.

Sảm lấy được vợ xinh thì phấn khởi lắm, nghĩ trong cái rủi cũng có cái hên.

Trong cơn hứng chí bừng bừng bèn phong một loạt quan tước cho họ hàng hang hốc nhà vợ.

Bố Cán đang núp ở Quy Hóa, nghe phong phanh giang hồ đồn đại Sảm tự ý xưng vương, còn phong quan chức bừa phứa thì bực bội hết cả người.

Trong phút chốc cảm thấy Quách Bốc tạo phản chỉ là chuyện nhỏ, Sảm vượt quyền mới là chuyện lớn, bèn sai Phạm Du đi dạy dỗ Sảm một phen.

Phạm Du mải xếp hình với công chúa Thiên Cực nên trễ hẹn với đồng minh, cuối cùng bị loạn quân giết chết.

Trong một diễn biến khác, Trần Lý và Tô Trung Từ mang quân đi đánh lộn với Quách Bốc.

Tới cuối năm 1209 thì Quách Bốc bị dẹp gọn.

Đen mỗi cái là Trần Lý tử trận, chỉ còn lại một mình Tô Trung Từ hô mưa gọi gió.

Họ Trần là minh chứng hùng hồn cho chân lí có tiền tài sỏi đá cũng thành cơm.

Sống ở đời chẳng sợ không có quyền, chỉ sợ không có tiền.

Dẹp xong loạn Quách Bốc, Tô Trung Từ bèn đón bố Cán về làm vua tiếp.

Bố Cán dù trong lòng không thích lắm nhưng phải tội Tô Trung Từ cây cao bóng cả quá nên đành phải dựa vào.

Đầu năm 1210, bố Cán thấy long thể bất an nên cho gọi Sảm về kinh, không truy cứu tội tự ý xưng vương nữa.

Bố Cán ráng được tới cuối năm thì về chầu ông bà.

Sảm lên ngôi, sử gọi là Lý Huệ Tông.

Việc đầu tiên Sảm làm sau khi lên ngôi là đón cô Dung về kinh, lập là Nguyên phi.

Tô Trung Từ đươc phong thái úy, trở thành quyền thần.

Sảm bấy giờ cũng cảm thấy họ Trần có gì đó sai sai, nên âm thầm nghĩ cách dẹp họ Trần.

Quyền thần Tô Trung Từ vì thế mà trở thành nhân vật bị ám sát nhiều nhất thành Thăng Long, là cái bia cho bao nhiêu người tập bắn.

Tô Trung Từ bị ám sát bao lần vẫn sống nhăn răng.

Nhưng đi xếp hình với vợ người ta, tức công chúa Thiên Cực, thì lại bị chồng người ta nổi điên giết chết.

Wtf, lại là công chúa Thiên Cực.

Trần Tự Khánh, tức anh trai Trần Thị Dung, thấy ông cậu Tô Trung Từ chết thì dẫn cả đại đội về kinh thành dự đám ma.

Sảm bèn nhân cơ hội nói Tự Khánh tạo phản, lệnh cho Đoàn Thượng xử lí, đồng thời giáng cô Dung xuống thành ngự nữ.

Thế nhưng Tự Khánh dễ dàng dẹp phứt Đoàn Thượng.

Sảm thấy Tự Khánh mạnh quá thì lại im re, ngoài mặt bảo quần thần nghe theo Tự Khánh, nhưng bên trong thì vẫn ngấm ngầm cùng má Đàm thị bàn kế dẹp họ Trần.

Tới năm 1213, Sảm bày trận tập hai.

Nhưng lần này còn thê thảm hơn.

Người của Sảm bị đánh cho tan tác, Sảm cũng phải bỏ chạy lên Lạng Châu.

Tự Khánh chiếm được kinh đô, bèn hào phóng sai người lên Lạng Châu rước Sảm về làm vua tiếp.

Nhưng Sảm ứ chịu, ở lì Lạng Châu.

Tự Khánh bèn lập Huệ Văn vương lên làm vua, hiệu là Càn Ninh.

Bộ tướng của Tự Khánh là Nguyễn Nộn lúc bấy giờ cũng đua đòi theo trào lưu phản bội, nên đem quân về kinh đánh Tự Khánh.

Tự Khánh bèn gói ghém hết của cải, đốt sạch kinh đô rồi dắt vua Càn Ninh về hành cung Lý Nhân ở Hà Nam.

Sảm và má Đàm thị thấy Nguyễn Nộn đánh Tự Khánh thì mừng rớt nước mắt, phấn khởi khăn gói đi dựa dẫm Nguyễn Nộn.

Năm 1216, Sảm vì quá si mê cô Dung nên lại lập cô Dung làm Thuận Trinh phu nhân.

Vì cô Dung là em gái Tự Khánh nên quan hệ má chồng nàng dâu giữa bà Đàm và cô Dung không được hòa thuận cho lắm.

Bà Đàm thường xuyên bảo Sảm đuổi cô Dung, rồi lại bảo cô Dung hay là tự sát quách đi cho êm cửa ấm nhà.

Bị Sảm phản đối, bà Đàm lại tìm cách cho cô Dung ăn bả.

Sảm yêu vợ mù cmn quáng nên bữa nào cũng chia cho cô Dung nửa suất cơm, lại còn luôn túc trực bên cạnh.

Một hôm bà Đàm đem bả đến bắt cô Dung uống, Sảm lại ngăn được rồi dắt cô Dung về chỗ Tự Khánh.

Tự Khánh đón được Sảm thì lập tức dẹp phứt vua Càn Ninh.

Sảm mất bao công sức mới tạm thoát được Tự Khánh thì cuối cùng lại tự đút đầu vào rọ vì một cái lí do tào lao hết sức.

Cuối năm 1216, cô Dung được phong làm hoàng hậu.

Anh em họ Trần cũng giữ hết các chức quan trọng yếu trong triều.

Đợt ấy Sảm trúng gió, long thể luôn trong trạng thái bất an.

Tới tháng 3 năm 1217 thì phát điên, không biết điên thật hay điên đùa.

Việc triều chính giao hết lại cho Tự Khánh.

Năm 1223, Tự Khánh chết.

Em họ Tự Khánh là Trần Thủ Độ lên nắm quyền.

Sảm không đẻ được con trai, chỉ có hai cô con gái.

Năm 1224, Thủ Độ ép Sảm nhường ngôi cho con gái út mới tám tuổi, tức Lý Chiêu Hoàng.

Sảm thì làm thái thượng hoàng, đi tu ở chùa Bút Tháp.

Năm 1225, Thủ Độ dụ kẹo để Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh.

Cơ nghiệp họ Lý từ đây chính thức tiêu tan.

Một hôm, Thủ Độ đến chùa chơi, thấy Sảm hì hục nhổ cỏ ngoài vườn mới bảo: “Nhổ cỏ phải nhổ cả rễ sâu”.

Sảm bèn đáp: “Ờ, bố đã hiểu”.

Đêm ấy Sảm tự tử, thọ 33 tuổi.

Trước khi chết còn tranh thủ khấn vái: “Thiên hạ nhà ta đã rơi vào tay ngươi, ngươi lại còn giết ta, hôm nay ta chết, sau này con cháu ngươi cũng bị như thế”.

Quả nhiên, sau này cơ nghiệp họ Trần cũng tiêu tan trong tay ngoại thích.

Fanpage: SĂN MỘ

#việt_nam_một_lịch_sử

#lý_huệ_tông

#lý_hạo_sảm
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
35. LÝ CHIÊU HOÀNG_Đoạn kết của một vương triều


LÝ CHIÊU HOÀNG - Đoạn kết của một vương triều

Lý Chiêu Hoàng là vị nữ hoàng đầu tiên, và nhân tiện cũng là cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

Cha bà là vua Lý Huệ Tông, cả đời chỉ loanh quanh bên một người đàn bà là Trần Thị Dung.

Đế vương chung tình kể cũng là của hiếm lạ, nếu không kể tới việc dẫn đến họa ngoại thích chuyên quyền và cuối đời cũng chỉ sinh được có hai cô công chúa.

Trước sức ép của quyền thần Trần Thủ Độ (có bà con và luôn tiện có tư tình với hoàng hậu Trần thị), vua Lý Huệ Tông buộc phải lập đứa nhỏ hơn là công chúa Chiêu Thánh mới lên 6 làm hoàng thái nữ và truyền ngôi cho.

Năm 1224, công chúa Chiêu Thánh lên ngôi, tôn hiệu là Chiêu Hoàng.

Bước đầu tiên trong âm mưu lật đổ nhà Lí thành công mĩ mãn.

Thừa thắng xông lên, Thủ Độ liền đưa cháu trai mình là Trần Cảnh vào cung hầu hạ, nói sang miệng là bầu bạn cùng nữ đế.

Rồi biên kịch vàng Trần Thủ Độ từ từ dựng nên màn kịch về mối tình trẻ trâu giữa thằng cháu vắt mũi chưa sạch và vị nữ đế còn đang chẫng bốn răng cửa.

Sử sách ghi vài dòng như sau:

"...Một hôm, Cảnh lúc ấy mới lên 8 tuổi, phải giữ việc bưng nước rửa, nhân thế vào hầu bên trong.

Chiêu Hoàng trông thấy làm ưa, mỗi khi chơi đêm cho gọi Cảnh đến cùng chơi, thấy Cảnh ở chỗ tối thì thân đến trêu chọc, hoặc nắm lấy tóc, hoặc đứng lên bóng.

Có một hôm, Cảnh bưng chậu nước hầu, Chiêu Hoàng rửa mặt lấy tay vốc nước té ướt cả mặt Cảnh rồi cười trêu, đến khi Cảnh bưng khăn trầu thì lấy khăn ném cho Cảnh..."

Sau đó, làm như thể mối tình trẻ trâu cuối cùng cũng đơm hoa kết trái, biên kịch vàng Trần Thủ Độ sắp xếp cho Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh làm chồng.

Chắc khi ấy nữ đế còn chẳng biết chồng là cái gì, có ăn được hay không.

Sau đó, Trần Thủ Độ tiếp tục thuyết phục Chiêu Hoàng tự nguyện trên tinh thần bắt buộc xuống chiếu nhường ngôi cho chồng.

Lần này, biên kịch vàng bị diễn sâu thái quá.

Lấy danh Lý Chiêu Hoàng mà lại đi phóng bút hẳn một chiếu thư lời lẽ bay bổng, Hán Việt tùm lum, điển tích loạn xạ, vượt xa khả năng biết đọc biết viết thông thường của một nhóc tì 7 tuổi.

Nhà Lý lúc bấy giờ, suy tàn đến cùng cực, vẫn may mắn rơi vãi lại vài nhân tài kiệt xuất, hết mực trung chinh như Lý Quang Bật, Lý Long Tường.

Nhưng tất nhiên team Lý lực mỏng, cân không được team Trần.

Những quần thần phe trung lập chưa biết theo team nào, trước uy quyền đến lộng quyền của Trần Thủ Độ cũng chỉ biết cúi đầu gật gù khen phải.

Năm 1225, Trần Cảnh lên ngôi, sử gọi là Trần Thái Tông.

Giang sơn Đại Việt chính thức sang tên đổi chủ.

Triều Lý chấm dứt sau 216 năm cai trị.

Từ đây mở ra triều đại nhà Trần, triều đại tai tiếng bậc nhất, nhưng đồng thời cũng có chiến công vang dội mà khó có triều đại nào sánh kịp khi 3 lần đẩy lùi vó ngựa Nguyên Mông, đế quốc đã làm cỏ cả một dải đất rộng lớn trải dài từ Á sang Âu.

Trần Thủ Độ một tay che trời, tài năng khỏi bàn cãi.

Nhưng dù là trùm sò trong âm mưu lật đổ nhà Lý, Trần Thủ Độ cũng không ham hố đặt mông nình lên bệ rồng, mà trước sau đều một lòng phò tá vua, an phận làm một quyền thần hô mưa gọi gió.

Sau khi Trần Cảnh lên ngôi, liền phong cho Chiêu Hoàng làm Chiêu Thánh hoàng hậu.

Vị thế của bà tụt xuống một bậc, nhưng nhìn chung vẫn cao quý chán.

Ngày tháng chầm chậm trôi qua, mối tình trẻ trâu năm nào đã phát triển thành tình yêu nam nữ.

Đế hậu hết mực yêu thương trân trọng lẫn nhau.

Năm 1233, Chiêu Thánh hoàng hậu hạ sinh thái tử Trần Trịnh khi mới 15 tuổi.

Mọi việc tưởng chừng có vẻ viên mãn thì đùng một cái, thái tử Trịnh qua đời khi vẫn còn quấn tã.

Chuyện này kể ra cũng không có gì lạ, ở cái thời kì y học thô lậu, ở cái tuổi còn mài đũng trên ghế nhà trường, trẻ con sinh ra 10 thì đến 8 đứa dặt dẹo.

Hậu quả của lần sinh nở khi sinh lí chưa hoàn thiện kéo dài cho tới tận vài năm sau, Chiêu Thánh hoàng hậu đau ốm liên miên.

Trần Thủ Độ bắt đầu sốt ruột khi hoàng hậu đã 4 năm mà vẫn không thể sinh hạ thêm đứa nào chứ đừng mơ tới thái tử.

Trong cơn quẫn trí, hoặc quá lí trí, Trần Thủ Độ liền cùng bà Linh Từ quốc mẫu Trần Thị Dung (mẹ đẻ Chiêu Thánh, lúc này đã xách váy đi theo làm vợ Trần Thủ Độ), hai ông bà hùa nhau ép Trần Cảnh bỏ Chiêu Thánh, lập công chúa Thuận Thiên (vừa là chị dâu, vừa là chị vợ của Trần Cảnh) lên làm hoàng hậu.

Bà Trần Thị Dung thiết nghĩ phải có trái tim làm bằng sợi carbon tổng hợp, hay bét nhất cũng phải ti tan nguyên chất.

Hổ dữ còn không ăn thịt con, riêng bà này nhai con không thèm cả nhả bã.

Thuận Thiên lúc ấy còn mang thai 3 tháng với chồng là Trần Liễu (anh ruột của Trần Cảnh).

Đó là scandal loạn luân, đổ vỏ đầu tiên của nhà Trần.

Sau này nhà Trần còn nảy nở thêm vài đấng anh tài noi gương đế vương, có tư tưởng rộng rãi khoáng đạt, loạn luân trong vinh quang và đổ vỏ trong niềm hân hoan phấn khởi.

Họ Trần có khuynh hướng bị ám ảnh đến hoang tưởng bởi vấn đề ngoại thích chuyên quyền, vì họ từng dùng chính phương thức này để cướp ngôi từ tay họ Lý.

Một lô xích xông những bà hoàng hậu sau đó đều là người nội tộc.

Kết hôn cận huyết, giống nòi suy thoái nhanh đến thảm hại.

Dấu vết của những trường hợp quái thai, dị tật vương vãi tung toé khắp các trang sử vẻ vang của nhà Trần.

Nhưng đề phòng tới lui, kết cục nhà Trần vẫn mất vào tay ngoại thích, ngay sau khi người phụ nữ ngoại tộc đầu tiên (em họ Hồ Quý Ly) rờ được tay vào ngôi vị hoàng hậu.

Quay lại với Trần Cảnh và Chiêu Thánh, Trần Cảnh ban đầu vì tình yêu tuổi mới lớn với Chiêu Thánh còn làm mình làm mẩy bỏ lên Yên Tử tu hành để phản đối.

Trần Thủ Độ bèn dẫn cả đoàn bá quan văn võ lên Yên Tử xẻ gỗ đóng cọc chuẩn bị xây nhà lầu cung điện, dõng dạc tuyên bố: "Vua ở đâu, triều đình ở đó".

Trần Cảnh từ bé đến giờ chưa gặp phải ai lầy lội như ông này, tự biết nhây nữa cũng vô ích, đành nuốt ấm ức quay về.

Vụ tai tiếng này châm ngòi cho cơn phẫn uất tột độ của Hoài vương Trần Liễu.

Bị cướp vợ, cướp con một cách trắng trợn, Trần Liễu dấy binh làm loạn ở sông Cái.

Nhưng trước sự chèn ép quyết liệt của Trần Thủ Độ, cuối cùng lại phải dẹp tự ái nam nhi đến chỗ Trần Cảnh xin tha thứ.

Tự an ủi bản thân quân tử trả thù vài chục năm chưa muộn, Trần Liễu về nhà ẩn nhẫn bồi dưỡng nhân tài trăm năm hiếm có Trần Quốc Tuấn, những mong sau này ông con có thể thay ông cha cướp ngôi rửa hận.

Kết quả lại đào tạo ra một danh tướng lừng lẫy, tận trung với các vua Trần đến hơi thở cuối cùng.

Năm 1237, Chiêu Thánh bị giáng xuống thành công chúa.

Địa vị tiếp tục tụt thêm một bậc, coi như trở lại vạch xuất phát.

Chiêu Thánh công chúa sống cô độc trong cung ngót nghét 20 năm, thẳng một lèo đến 40 tuổi, hết xừ nó tuổi xuân.

Đỉnh điểm bi kịch cuộc đời của vị nữ đế là vào năm 42 tuổi (1259), khi bà bị chồng cũ gả bán.

Vua Thái Tông trong cơn hứng trí đã đem vợ cũ, tức Chiêu Thánh công chúa, ban cho công thần góa vợ Lê Tần để cảm kích ơn cứu mạng trong trận chiến với Mông Nguyên năm 1258.

Trở thành phu nhân của bầy tôi, địa vị của Chiêu Thánh lần này trượt dài mấy bậc.

Việc làm này của Trần Thái Tông tô đen sì thêm vào vết nhơ "nho nhỏ" trong cuộc đời anh minh, sáng suốt, đầy công trạng với đất nước của ông.

Dân gian còn lưu truyền mãi câu ca dao thác lời Chiêu Thánh oán trách Trần Cảnh:

"Trách người quân tử bạc tình,

Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao."

Tuy nhiên, lần bán rao này lại vô tình mang lại 20 năm hạnh phúc cuối đời cho Chiêu Thánh.

Cặp vợ chồng ngoại tứ tuần sống với nhau tròn 20 năm.

Trần Thủ Độ lúc này mới ngẩn tò te, trợn mắt nhìn vị hoàng hậu không biết đẻ năm nào sinh liền tù tì một đôi kim đồng ngọc nữ, là Thượng Vị hầu Lê Tông và Ứng Thụy công chúa Lê Ngọc Khuê.

Không biết Trần Thái Tông khi ban Chiêu Thánh cho Lê Tần có ý thức được mình đang cứu vớt cuộc đời bà không.

Hay chỉ đơn giản là: "Ông thích thế.

Ông làm vua, ông có quyền."

Chiêu Thánh công chúa mất năm 1278, khi ấy bà 61 tuổi.

Sử sách chép, khi qua đời tóc bà vẫn đen nhánh, môi vẫn đỏ như son, da vẫn tươi như hoa đào.

Vụ này hoặc là xạo một cách trắng trợn, hoặc là để lại manh mối quý giá về kỹ thuật cải lão hoàn đồng, tiền thân của phẫu thuật thẩm mỹ.

Lý Chiêu Hoàng là vị vua duy nhất trong chín đời vua Lý không được an táng tại đền Đô.

Lăng mộ của bà, đền Rồng, nằm cô quạnh bên rìa rừng Báng.

Căn nguyên bà bị kì thị cho ra đảo là vì đã đánh mất ngai vàng, trở thành tội nhân muôn đời của nhà Lý.

Nhưng dưới cái nhìn công bằng hơn cho nữ đế, nói tới tội lỗi đánh mất giang sơn vào tay đấng trượng phu, nếu Mị Châu thực sự có chút lỗi lầm thì Chiêu Hoàng lại hoàn toàn vô tội.

Thử hỏi khi 7 tuổi chúng ta đang làm gì?

Và nếu có ai đáng bị ra đảo, thì đó hẳn phải là ông nội của Chiêu Hoàng, vua Lý Cao Tông, người đã vô tư dẫn dắt triều Lý bước đi hùng dũng trên con đường dẫn tới họa diệt vong.

#việt_nam_một_lịch_sử
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
36. TRẦN CẢNH_Khởi đầu cơ nghiệp


Năm 1218, Nhị thiếu nhà quan Nội thị phán thủ Trần Thừa oe oe cất tiếng khóc chào đời, tên cúng cơm là Trần Bồ.

Sau một cơ số lần đổi tên đi lựa tên lại thì Nhị thiếu đã làm cho các nhà sử học loạn cmn cái đầu.

Đa số đều tin rằng Nhị thiếu tên Trần Cảnh.

Một số lại khăng khăng chèn thêm chữ Nhật, tức Trần Nhật Cảnh.

Một số khác lại sống chết thề rằng Nhị thiếu tên là Trần Quang Bính.

Năm 1224, Nhị thiếu tròn 7 tuổi, nhan sắc rất có triển vọng nên được ông chú Trần Thủ Độ nhét vào cung hầu hạ Nữ đế Chiêu Hoàng.

Hai con người có đường tình duyên nát bét đụng nhau, dĩ nhiên sẽ viết nên một thiên tình sử bi cmn đát.

Nhị thiếu vào cung ít lâu thì được Chiêu Hoàng hết mực yêu mến, quấn quýt như sam.

Trần Thủ Độ nhanh như một cơn gió, tuyên bố với bá quan Nữ đế có chồng rồi.

Bá quan đại khái chỉ cảm thấy Trần Thủ Độ muốn nhét con cháu vào hậu cung để thêm tiện cho việc thao túng tiền triều chứ không có nghĩ sâu rộng gì.

Một năm sau, Trần Thủ Độ dụ Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Nhị thiếu.

Bảo nhường ngôi rồi thì không cần ngày ngày dậy sớm, ăn vận rườm rà ngồi nghe mấy ông “Bá quan văn võ” tám chuyện nhàm lỗ tai nữa.

Mà lại vẫn được ở trong cung điện nguy nga, ăn ngon mặc đẹp, ngủ nướng tới tận khi mặt trời đứng bóng.

Chiêu Hoàng mới tí tuổi đầu, nghe thế thì thấy bùi bùi tai nên sang nhượng luôn không cần suy nghĩ.

Năm 1225, Nhị thiếu nhà họ Trần lên ngôi, sử gọi là Trần Thái Tông.

Nhị thiếu được thăng chức từ Hoàng hậu lên Hoàng Thượng, vợ thì từ Hoàng thượng xuống thành Hoàng hậu Thiên Hinh.

Hai đứa nghĩ có hai cái chức, không vợ thì chồng, đi đâu mà thiệt.

Sau đó Hoàng hậu thấy giang sơn đổi từ họ Lý thành họ Trần thì cảm thấy sai sai, nhưng vẫn còn sửu nhi nông cạn nên thấy cũng không sai quá.

Bi kịch tình yêu của Nhị thiếu bắt đầu vào năm 1233, khi đứa con đầu lòng là Thái tử Trịnh sinh ra ốm yếu dặt dẹo, không lâu sau thì nghẻo.

Bốn năm sau đó, dù Nhị thiếu có cố gắng cách mấy thì cũng vẫn không thể làm cái bụng của vợ trương lên được.

Năm 1237, Trần Thủ Độ đại khái đã hoàn toàn mất lòng tin vào năng lực sinh sản của Nhị thiếu, nên nóng lòng ép Nhị thiếu lập vợ của Đại thiếu Trần Liễu, lúc này đang mang thai 3 tháng, làm hoàng hậu.

Trần Thủ Độ mất ăn mất ngủ mấy đêm mới nảy ra được kế sách vẹn toàn, tưởng đâu sắp được tuyên dương.

Ai ngờ cả Đại thiếu và Nhị thiếu đều nổi cơn tam bành vì không dưng mất vợ.

Nửa đêm nửa hôm, Nhị thiếu đùng đùng bỏ kinh thành, một mình trèo đèo lội suối lên Yên Tử đòi đi tu.

Trần Thủ Độ nghe tin thì thở phào nhẹ nhõm, hên sao thằng nhỏ chỉ đòi cạo đầu chứ không đòi tự hoạn.

Hôm sau Trần Thủ Độ dẫn mấy ông “bá quan văn võ” khăn gói lên Yên Tử, dựng gỗ làm nhà, bảo vua ở đâu triều đình ở đó.

Hai bên so độ lì được vài hôm thì Nhị thiếu chịu thua, buộc phải theo Trần Thủ Độ về kinh.

Nhị thiếu 20 tuổi đầu, bị buộc thôi vợ, rồi phải giương mắt ếch nhìn vợ bị giáng làm công chúa, bị giam lỏng trong cung.

Bản thân thì trở thành nam chính bất lực nhất trong lịch sử.

Nhị thiếu lần đầu tiên từ trong cuộc đời toàn màu hồng tỉnh ngộ, rằng làm hoàng đế thực ra cực bỏ mẹ lên được.

Về phần Đại thiếu Trần Liễu, sau khi không dưng mất vợ mất con, bèn ngửa mặt lên trời khóc rống: “Ai cho tôi lương thiện”.

Sau đó tập hợp binh lực nổi dậy trên sông Cái.

Chí khí anh hùng bùng cháy được cơ nửa tháng thì xịt ngóm vì đột ngột nhận ra binh lực quá yếu kém.

Nhân một lần Nhị thiếu du lịch sông nước, Đại thiếu bèn giả dạng làm một người đánh cá trốn lên thuyền gặp Nhị thiếu xin tha tội.

Trần Thủ Độ biết được, định thẳng tay chém chết Đại thiếu.

Nhưng Nhị thiếu đã hào phóng lấy thân mình đỡ kiếm.

Trần Thủ Độ hận nỗi không thể xiên chết cả hai đứa, cuối cùng vẫn phải bằng lòng tha cho Đại thiếu.

Nhị thiếu cấp cho Đại thiếu ít đất ở vùng Yên Phụ, phong làm An Sinh Vương để đền bù thiệt hại vợ con.

Năm 1251, Đại thiếu Trần Liễu trước khi qua đời dặn đi dặn lại con trai là Trần Quốc Tuấn phải cướp ngôi, báo thù cho cha.

Quốc Tuấn nghe dặn thì chỉ ậm ừ đồng ý cho qua chuyện chứ không thèm làm.

Năm 1257, Mông Cổ xâm lược Đại Việt, Nhị thiếu ngự giá thân chinh.

Thế giặc hùng mạnh, đánh cho quân Nhị thiếu chạy tan tác.

Hên sao có tướng quân Lê Tần cứu giá nên Nhị thiếu mới chạy thoát.

Sau đó nhờ kế hoạch vườn không nhà trống khiến quân Mông Cổ bị đói ăn, binh lực suy giảm trầm trọng.

Đầu năm 1258, Nhị thiếu dẫn quân phản công, đánh cho quân Mông Cổ chạy tóe khói.

Trong những ngày tháng kề vai sát cánh trên chiến trường, Nhị thiếu nhận thấy Lê Tần anh dũng quả cảm, sinh lực dồi dào, mặt mũi nhìn cũng được.

Đắn đo lên xuống thấy không ai thích hợp hơn, Nhị thiếu bèn ban người vợ cũ, công chúa Chiêu Thánh, cho Lê Tần.

20 năm cuối đời, công chúa Chiêu Thánh sống hạnh phúc bên Lê Tần (ít nhất là sử chép vậy), còn sinh được một đôi kim đồng, ngọc nữ là Lê Tông, Ngọc Khuê.

So với đàn con hơn chục đứa của Nhị thiếu thì không đáng là bao, nhưng cũng coi như an ủi phần nào.

Tháng 3 năm 1258, Nhị thiếu nhường ngôi cho Thái tử Trần Hoảng, lui về làm Thái thượng hoàng.

Làm bố Hoàng thượng thì rảnh rỗi hơn Hoàng thượng nhiều nên Nhị thiếu bắt đầu nghiên cứu phật pháp, hoàn thành tâm nguyện cạo đầu đi tu hồi còn trẻ.

Tháng 4 năm 1277, Nhị thiếu qua đời, thọ 60 tuổi, an táng tại Chiêu Lăng.

Gần 1 năm sau, tức tháng 3 năm 1278, công chúa Chiêu Thánh cũng nối gót.

P/s: Theo dõi bài viết mới nhất tại fanpage SĂN MỘ
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
37. TRẦN LIỄU_Một đời ôm hận


Cậu cả Trần Liễu sinh năm 1211, trong hoàn cảnh nhà họ Trần bắt đầu rục rịch bỏ nghề đánh bắt thủy hải sản, bán sạch tàu cá để chuyển sang đầu tư trang bị vũ khí hạng nặng, tham gia chính trường.

Năm 1224, Chiêu Hoàng lên ngôi, ông chú Trần Thủ Độ muốn đưa cháu trai vào cung làm bạn với nữ đế.

Cậu cả Liễu khi ấy đã 14, hơn Chiêu Hoàng những 7 tuổi, quá lứa lỡ thì nặng nên người phải vào cung làm con sen là cậu hai Cảnh, trạc bằng tuổi Chiêu Hoàng.

Một năm sau, cậu hai Cảnh được Chiêu Hoàng nhường ngôi, trở thành hoàng đế.

Trong khi đó, tuổi thơ của cậu cả Liễu vẫn cứ lững lờ trôi qua trong sung sướng và bình lặng.

Tới tuổi cập kê, cậu cả Liễu cũng hớn hở lập gia đình như ai, lấy về một cô vợ tên là Trần Thị Nguyệt, sinh ra thằng cu đầu lòng là Trần Quốc Tuấn.

Sau đó, cậu cả Liễu lại được ban hôn với công chúa Thuận Thiên, chị ruột của Lý Chiêu Hoàng.

Năm 1228, cậu cả Liễu mới 17 tuổi đã được phong tận Thái úy, chức quan cao ngất ngưởng, làm như sợ không ai biết cậu đây là anh ruột của hoàng đế.

Tới năm 1234, cậu cả Liễu lại được phong làm Hiển Hoàng, chính thức ra tám chuyện chính sự cùng với cậu hai Cảnh và ông chú Độ.

Được cậu hai Cảnh vô cùng trọng dụng, cậu cả Liễu đâm ra cảm thấy mình hình như có thể cầm đầu thiên hạ, nên sinh ra hơi đổ đốn.

Một đêm trăng thanh gió mát năm 1236, cậu cả Liễu sinh lực dồi dào đi gạ gẫm một cung nữ triều Lý cũ cùng nhau xoạc xã giao.

Chưa thỏa thuận xong xuôi mà cậu cả Liễu đã sốt ruột làm tới, nên thành ra cung nữ này một mực quay ra tố cáo cậu cưỡng bức.

Cậu cả Liễu bị giáng xuống thành Hoài Vương.

Cuộc đời trải toàn hoa hồng của cậu cả Liễu lần đầu tiên xuất hiện một cái ổ gà to chà bá khiến cậu té sấp mặt lợn.

Ông chú Độ bao năm nay dốc lòng viết kịch bản cho cuộc đời của cậu hai Cảnh, giờ đột nhiên lại nhớ ra đã quên béng mất cậu cả Liễu, khiến cuộc đời cậu thiếu tí sóng gió, nhàm chán không thể tả.

Khi ấy, vợ chồng cậu hai Cảnh thực hiện kế hoạch sinh sản đã được vài năm, lại bị ông chú Độ hiểu lầm thành tịt đường sinh sản.

Trong một diễn biến khác, công chúa Thuận Thiên vợ cậu cả Liễu lại mang thai đứa con thứ hai, đã được ba tháng.

Cảm thấy đường sinh sản của công chúa Thuận Thiên rất có triển vọng, ông chú Độ lập liền ép cậu hai Cảnh phế Chiêu Thánh xuống thành công chúa và lập Thuận Thiên làm hoàng hậu.

Sau khi bình tĩnh ngồi xuống uống miếng nước ăn miếng bánh, cặn kẽ phân tích tình hình, cậu cả Liễu bàng hoàng nhận ra mình vừa mất cả vợ lẫn con.

Cậu cả Liễu sung sướng từ nhỏ tới lớn, thiếu kinh nghiệm đối mặt với sóng gió cuộc đời.

Nay vập phải cơn sóng gió như tát vào mặt thì chịu không nổi, manh động đi chiêu tập binh mã làm phản trên sông Cái.

Về phần cậu hai Cảnh, sau một hồi làm mình làm mẩy bỏ lên Yên Tử để phản đối thì cũng phải theo ông chú Độ trở về.

Sau vài tháng tung hoành trên sông Cái, cậu cả Liễu lại bình tĩnh ngồi xuống uống miếng nước ăn miếng bánh.

Lần phân tích tình hình này khiến cậu cả Liễu nhận thấy binh lực của mình thực ra yếu đuối vô cùng.

Thế là cậu bèn nuốt hận vào lòng, tự nhủ quân tử báo thù chục năm, à không, vài chục năm cũng chưa muộn.

Nhân một lần cậu hai Cảnh đi du lịch sông nước, cậu cả Liễu bèn đóng giả một người đánh cá, đột nhập lên thuyền gặp cậu hai Cảnh xin tha thứ.

Trong lúc anh em ôm nhua mừng mừng tủi tủi thì thằng mất dạy nào đó đã chạy đi ton hót với ông chú Độ.

Ông chú Độ rất tỉnh và đẹp trai, biết cậu cả Liễu không dễ dàng nuốt hận nên quyết tâm xách đao đi xin cậu cả Liễu cái đầu.

Cậu hai Cảnh không tỉnh bằng ông chú Độ, nhưng vẫn rất đẹp trai nhảy ra che chắn cho cậu cả Liễu.

Ông chú Độ đành tha cho cậu cả Liễu, nhưng những người theo cậu cả tung hoành trên sông Cái thì đều bị giết sạch.

Để an ủi tâm trái tim tổn thương sâu sắc của cậu cả Liễu, cậu hai Cảnh phong cho cậu cả Liễu làm Yên Sinh Vương và ban cho khu công nghiệp mới ở vùng Quảng Ninh ngày nay làm đất dưỡng già.

Năm 1251, cậu cả Liễu ốm thập tử nhất sinh.

Sống bình yên suốt mười lăm năm, tới lúc sắp xuống lỗ cậu cả Liễu mới sực nhớ ra còn mối thù chưa báo.

Cậu bèn gọi đứa con trai nom có triển vọng nhất là Trần Quốc Tuấn đến giường nghe trăng trối.

Cậu cả Liễu dốc sạch hơi tàn dặn đi dặn lại con trai phải cướp ngôi nhà Trần, báo thù thay cha.

Thấy hơi tàn đã dốc cạn rồi mà cha vẫn chưa chịu chết, thanh niên Quốc Tuấn cũng thấy buồn bực thay.

Ngó lên tờ lịch, thấy hôm nay là ngày 1/4 , thanh niên Quốc Tuấn bèn tự nhủ đây cũng có thể coi như là ngày quốc tế bốc phét, liền gật đầu hứa bừa cho cha yên lòng nhắm mắt xuôi tay.

Năm 1251, Yên Sinh vương Trần Liễu qua đời, thọ 41 tuổi.

P/s: Theo dõi bàu viết mới nhất tại fanpage SĂN MỘ
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
38. TRẦN QUỐC KHANG_Con trưởng trên danh nghĩa


Năm 1237, bé Quốc Khang chào đời trong hoàn cảnh mối quan hệ giữa ba, má, chú, dì bị chồng chéo nhau loạn xạ.

Chú và dì bé Khang là vua Trần Thái Tông - Trần Cảnh và hoàng hậu Chiêu Thánh.

Chú dì khởi nghiệp đã 12 năm mà vẫn thất bại.

Trong một diễn biến khác, má Thuận Thiên lại sòn sòn sinh cho ba Trần Liễu một đứa, rồi tiếp tục chuẩn bị sản xuất đứa thứ hai.

Sự nghiệp sinh sản rộng mở, tiền đồ xán lạn.

Họ nhà bé Khang có một ông tên là Trần Thủ Độ, vốn là ông nội thiên hạ, quyền hành còn át cả ông con trời là chú Cảnh.

Ông Độ cảm thấy dì Chiêu Thánh và chú Trần Cảnh đều có nguy cơ bí đẻ thì vô cùng lo lắng cho an nguy nòi giống của họ Trần.

Vậy là kệ m* thiên hạ chửi bới, ông Độ ép bằng được chú Cảnh li hôn dì Chiêu Thánh rồi lập má Thuận Thiên làm hoàng hậu.

Khi ấy má Thuận Thiên mang thai bé Khang được ba tháng.

Ba Liễu kiểu: "Ơ...

Ủa... vợ cháu, con cháu mà", thậm chí còn khởi binh làm loạn vài tháng nhưng vô dụng.

Ba Liễu mất nguyên combo vợ con chỉ trong vòng một nốt nhạc, ghi hận trong lòng, quyết tâm quân tử trả thù vài chục năm cũng chưa muộn.

Bé Quốc Khang trào đời bụ bẫm khỏe mạnh, nghiễm nhiên trở thành con trai lớn của chú Cảnh, rất có tiềm năng trở thành người kế vị tương lai.

Nhưng đến năm bé Khang lên ba, chú Cảnh và má Thuận Thiên lại khởi nghiệp thành công ra bé Trần Hoảng.

Bé Hoảng trở thành người kế vị chính thống của chú Cảnh.

Một năm sau, má Thuận Thiên lại hấp tấp sản xuất thêm bé Quang Khải.

So với bé Hoảng và bé Khải, bé Khang có vẻ chậm chạp hơn về khoản đầu óc, nên cầm chắc không còn cửa nào.

Năm 1258, thấy cái ghế Thái thượng hoàng êm mông hơn ngai vàng nhiều nên chú Cảnh nhường ngôi cho cậu hai Hoảng, sử gọi là Trần Thánh Tông.

Giang hồ đồn đại hồi còn sống chú Cảnh có cái áo bông trắng đẹp lắm.

Lần ấy Khang múa điệu người Hồ cho chú Cảnh coi.

Chú Cảnh khen nức nở, rồi nhân tiện thấy cái áo bông trắng mặc nóng thấy má nên chú Cảnh tính thưởng luôn cho Khang.

Hoảng ngó cái áo cũng thấy thích nên đua đòi múa điệu người Hồ để được ba Cảnh thưởng áo bông.

Khang thấy thế bèn phụng phịu:

"Quý nhất là ngôi vua tôi đã không tranh với chú rồi, nay đức chí tôn ban cho tôi thứ nhỏ mọn này mà chú cũng muốn giành sao."

Chú Cảnh nghe thế thì cười tít mắt, bảo:

"Vậy ra con coi ngôi vua cũng chỉ như cái áo choàng này thôi à."

Chú Cảnh khen tới tấp khiến Khang không kịp vuốt mặt rồi cởi phứt cái bông áo ban cho Khang.

Năm 1267, Khang được phong làm Vọng Giang phiêu kị đô thượng tướng quân, đưa cả nhà khăn gói quả mướp đi Diễn Châu làm đại ca.

Năm 1268, Khang đập lợn lấy tiền tiết kiệm ra xây nhà.

Không may vung tay quá trán khiến phủ đệ trông vô cùng cao sang lộng lẫy.

Da mặt Khang không được dày như ông Độ, vẫn sợ miệng lưỡi thiên hạ.

Dỡ bớt đi thì tiếc mà để nguyên thì không ổn nên về sau Khang lấy phủ làm nơi thờ Phật, gọi là chùa Thông.

Khang đi công tác Diễn Châu còn may mắn tậu thêm được một mĩ nhân nghiêng nước nghiêng thùng làm vợ lẽ.

So với anh em thì đầu óc Khang nảy số có hơi chậm nhưng được cái hiểu chuyện bù lại, không tranh không giành, giữ trọn đạo quân thần, giữ gìn tình cảm anh em khăng khít hòa thuận.

Vậy mà không may trong số con cái lại để lọt ra một thằng bán nước cầu vinh là Trần Kiện.

Năm 1285, quân Nguyên hùng hục tràn qua biên giới.

Trần Kiện khi ấy trấn thủ Ái Châu, thấy quân Nguyên khí thế mạnh mẽ thì vội vàng xin hàng.

Khi rút chạy theo Thoát Hoan thì bị giết chết, để tiếng nhơ muôn đời.

Năm 1300, Khang qua đời, thọ 64 tuổi.

Cuộc đời cũng coi như viên mãn, sự nghiệp ổn định, có nhà có xe, vợ con đề huề.

P/s: Theo dõi bài viết mới nhất tại fanpage SĂN MỘ
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
39. TRẦN HOẢNG_Ba lần chống giặc Nguyên Mông


(Trần Thánh Tông)

Thanh niên Trần Hoảng có lá số tử vi đại phú đại quý, ông bố làm vua, bà mẹ làm hoàng hậu, nhà bốn mặt tiền đặt chình ình giữa đất kinh kì.

Năm 1240, thanh niên Hoảng vừa chào đời còn chưa kịp mở mắt cắt rốn, bố Cảnh mới ngó thấy quả ớt nho nhỏ xinh xinh thì đã mừng rớt nước mắt, không cần suy nghĩ sách phong luôn làm Đông cung Thái tử.

Cung nữ thái giám truyền tai nhau Đông cung Thái tử mặt đẹp dáng ngon, body tám múi.

Nguyên văn An Nam chí lược miêu tả: thái tử dáng người hòa nhã, khôi ngô, có nhã lượng.

Không chỉ được cái tốt mã, thanh niên Hoảng còn làu thông kinh sử, hiểu sâu Phật pháp.

Dù có nhiều ông em trai tài giỏi khác như Quang Khải, Nhật Duật, Ích Tắc, nhưng thanh niên Hoảng vẫn vô cùng chói chang.

Đầu tháng 1 năm 1258, Đại Việt bị Mông Cổ nhòm ngó.

Cả nhà Hoảng ăn chưa xong bữa tết đã phải khăn gói quả mướp sơ tán về quê ở vùng sông Thiên Mạc.

Trước khi đi còn không quên vét sạch thức ăn để thực hiện sáng kiến vĩ đại "vườn không nhà trống".

Quân Mông Cổ đói ăn, chân tay rụng rời, sĩ khí nhanh chóng rệu rã.

Cuối tháng 1 năm 1258, Đại Việt phản công, bố Cảnh ngự giá thân chinh.

Thanh niên Hoảng khi ấy tròn 18 tuổi, được bố Cảnh dẫn theo chơi cho biết.

Bố con Hoảng nhanh chóng giành lại được nhà ở Thăng Long.

Quân Mông Cổ bị hành cho sấp mặt lợn, cuống cuồng rút chạy.

Kháng chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ nhất thành công rực rỡ.

Sau chiến tranh, bố Cảnh cảm thấy thanh niên Hoảng đã dậy thì bứt phá, có thể tập tành đảm đương việc nước, đồng thời cũng muốn tránh nguy cơ anh chị em tranh giành rồi quánh nhau sứt đầu mẻ trán.

Vậy nên bố Cảnh quyết định nhường phứt cái ngai vàng cho Hoảng ngồi, còn mình thì leo lên ngồi ghế Thái Thượng hoàng, vừa nhàn vừa êm mông mà quyền hành chủ yếu vẫn nắm trọn.

Tháng 8 năm 1258, thanh niên Hoảng phải lòng cô con gái thứ 5 của ông bác ruột Trần Liễu, bèn hốt về lập làm hoàng hậu.

Lên ngôi ít lâu, thanh niên Hoảng sai sứ sang cống nạp tiện thể báo với vua Tống là tao làm vua rồi nhóe.

Sau đó tiếp tục giao hảo bình thường với Tống dù dạo ấy Tống bị Mông Cổ hành cho sấp mặt, chỉ chờ ngày mất nước.

Mãi tới khi Tống bị Mông Cổ đánh bại phải trốn biệt thì Đại Việt mới nghỉ chơi.

Hồi ấy đám người Tống không chịu theo Mông Cổ rộ lên trào lưu xuất ngoại sang Đại Việt.

Thanh niên Hoảng cảm thấy Đại Việt đất rộng người thưa, lại thấy đám người Tống lưu vong mang theo rất nhiều của cải thì vui vẻ chào đón, đồng thời đơn giản hóa thủ tục nhập cảnh, nhập quốc tịch.

Thậm chí còn dành cho hẳn một khu trong kinh thành là phường Nhai Tuân để thương gia người Tống khởi nghiệp.

Quan hệ láng giềng phía nam cũng rất vui vẻ.

Trong 20 năm thanh niên Hoảng trị vì, Chiêm Thành 6 lần sai sứ sang cống nạp.

Nói chung dưới thời của thanh niên Hoảng, Đại Việt trở thành anh hàng xóm quốc dân, ai gặp cũng yêu cũng quý.

Có mỗi thằng Mông Cổ là bị thanh niên Hoảng cạch mặt vì cái tội hồi xưa qua xâm lược khiến bố đây đường đường là Đông cung Thái tử mà phải chạy sấp mặt lợn về quê.

Mặt khác thanh niên Hoảng cũng thừa biết Mông Cổ vẫn thòm thèm Đại Việt nên vừa giả bộ tươi cười, vừa dốc sức huấn luyện binh sĩ tích cóp tiền bạc để sẵn sàng nghênh chiến.

Năm 1262, Mông Cổ cử Đạt lỗ hoa xích sang giám sát Đại Việt, vừa can thiệp chính trị, vừa do thám tình hình chuẩn bị xâm lược.

Ngoài ra Mông Cổ còn đòi cống nạp ba năm một lần.

Mỗi lần đều phải cống nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói, thợ thuyền, mỗi loại ba người.

Cộng thêm các sản vật như đồi mồi, ngà voi, sừng tê,...

Thanh niên Hoảng ghét cái mặt nên không cống người còn sản vật thì chỉ cống cho có lệ, tuân thủ tuyệt đối theo nguyên tắc đồ tốt bố đây để dùng còn đồ đểu bố xuất khẩu.

Hàng biếu rởm tới nỗi năm 1275, Hốt Tất Liệt bực quá phải viết tâm thư, bảo đồ mày biếu bố éo dùng được cái gì.

Có lần Hốt Tất Liệt đòi Đại Việt chi viện quân cho tỉnh Vân Nam.

Thanh niên Hoảng nói dóc là phía nam bị Chiêm Thành quấy phá, nhà bố đây mà bố còn lo không xong, chi viện cái quần gì mà chi viện.

Khổ thân mỗi thanh niên Chiêm Thành, dạo ấy ngoan như cún kiểng mà lại bị mang tiếng.

Năm 1271, Hốt Tất Liệt lập ra nhà Nguyên.

Hôm khai trương có mời thanh niên Hoảng sang chầu, uống miếng nước ăn miếng bánh chung vui.

Thanh niên Hoảng bảo bố đang ốm yếu không đi được, chỉ đặt tặng cái vòng hoa phúng điếu.

Năm 1277, bố Cảnh về chầu ông bà.

Thanh niên Hoảng muốn biết cảm giác làm bố vua có thích hay không nên nhường ngôi cho Thái tử Trần Khâm để lên làm Thái Thượng hoàng.

Hốt Tất Liệt thấy Đại Việt thái độ lồi lõm thì bực mình lắm rồi.

Tới năm 1285 khi tình hình trong nước đã tạm ổn định thì quyết định đem quân qua lần hai.

Lần này bố con Hoảng lại khăn gói chạy biến về quê ở phủ Thiên Trường, thực hiện "vườn không nhà trống".

Quân Nguyên có lớn mà không có khôn, lại rơi vào tình trạng thiếu lương thực, ăn hành tập hai.

Hốt Tất Liệt lúc này điên tiết lắm rồi, chỉ ba năm sau, tức năm 1288 đã lại nóng lòng cử đại quân sang Đại Việt ăn hành tập ba.

Lần này Hốt Tất Liệt khôn hơn tí, cử nguyên đoàn thuyền lương lò dò bơi sang.

Bố con Hoảng cũng không vừa, cử Trần Khánh Dư đi tập kích thuyền lương.

Kết cục cuối cũng vẫn y xì hai lần trước.

Lúc quân Nguyên tháo chạy có vô tình hoặc cố ý đánh rơi nguyên cái danh sách vương hầu quan lại nhà Trần tư thông hoặc có ý tư thông với giặc.

Quần thần muốn trị tội nhưng thanh niên Hoảng không đồng ý mà cho đốt hết đi.

Chỉ những thằng nào tư thông thành công mới nghiêm trị.

Thanh niên Hoảng về sau rút ra một kết luận xương máu đó là chỉ có làm vua mới sướng, chứ làm Thái tử hay làm Thái Thượng hoàng thì đều phải chạy sấp mặt lợn.

Làm Thái thượng hoàng thậm có còn sấp mặt lợn tới hai lần.

Cuối đời, thanh niên Hoảng đi tu tại chùa Tư Phúc.

Cả ngày chỉ viết sách gửi nhà xuất bản và đàm đạo với các chuyên gia Thiền học.

Thanh niên Hoảng trải qua trọn vẹn 50 cái mùa khoai.

Năm 1290 thì qua đời tại cung Nhân Thọ, an táng ở Dụ Lăng.

Tranh: Y Xuy Ngũ Nguyệt

P/s: Theo dõi bài viết mới nhất tại fanpage SĂN MỘ
 
Back
Top Bottom