Cập nhật mới

Khác Việt Nam - Một lịch sử

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,495
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
112121574-256-k11628.jpg

Việt Nam - Một Lịch Sử
Tác giả: Canarydongduong
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Những câu chuyện lịch sử dưới đây được kể lại dưới góc nhìn và bằng ngôn ngữ có phần tào lao của mình.

Mục đích là khơi gợi hứng thú cho những bạn muốn hứng thú với lịch sử dân tộc mà không tự hứng thú nổi.

Vậy xin chớ dùng khuôn vàng, thước ngọc của chính sử mà đánh giá.

P/s1: Mấy chế có thể đọc bài mới nhất và tham gia chém gió tẹt bô tại fanpage SĂN MỘ


P/s2: Đây tất nhiên không phải tiểu thuyết gì sất.

Chỉ tại wattpad yêu cầu phân loại mà mình không tìm thấy mục nào là "Tào lao truyện" nên mới gắn tạm cái mác Tiểu thuyết lịch sử.

P/s 3: List tài liệu tham khảo dưới đây không nhằm mục đích khoe khoang cái sự lăng xăng cóp nhặt của tác giả, mà chỉ để hù độc giả chơi.

1.

Đại Việt sử ký toàn thư
2.

Hoàng Lê nhất thống chí
3.

Việt Nam sử lược
4.

Việt sử giai thoại
5.

Lĩnh Nam chích quái



vietnammotlichsu​
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
1. XÍCH QUỶ_Quốc hiệu đầu tiên của Việt Nam


Viêm Đế Thần Nông, cái cụ được anh hàng xóm Trung Quốc tôn thờ là Tam Hoàng ấy, có thằng cháu ba đời là Đế Minh.

Đế Minh lại có hai ông con zai là Đế Nghi và Lộc Tục.

Đế Minh thấy Lộc Tục hiểu biết, hiền lành, tài giỏi, lại đẹp trai lai láng nên tính truyền ngôi cho.

Nhưng Lộc Tục vì hiểu biết và hiền lành quá mức cần và đủ nên đâm ra lo lắng mất hòa khí anh em, một mực chối đây đẩy.

Đế Minh bất lực quá mới bảo:

- Thôi thì thằng Đế Nghi ở đây cai quản phương bắc.

Còn thằng Lộc Tục vì trắng trẻo, đẹp trai nên xuống cai quản phương nam, có tí nắng tí gió trông cho khỏe khoắn hén.

Thế là Lộc Tục nhà ta phấn khởi khăn gói quả mướp lên đường xuống phương nam lập nước Xích Quỷ, lấy hiệu là Kinh Dương Vương.

4000 năm văn hiến của dân tộc cũng bắt đầu từ đây.

Xích Quỷ rộng thì vô cùng luôn.

Nguyên một đám đất phía nam Trung Quốc cộng với một đám đất phía bắc Việt Nam ngày nay.

Sau này đến thời Tần Thủy Hoàng bành trướng thì teo sạch.

Vì lí do này mà cụ Quang Trung từng muốn sang đòi lại ít đất.

Nhưng chưa kịp đòi thì cụ tự nhiên lăn ra chết.

Trên thực tế, Xích Quỷ có khả năng là một liên minh lỏng lẻo giữa các bộ tộc người Việt cổ.

Và việc gán cho Kinh Dương Vương là hậu duệ Thần Nông thì cốt để tuyên bố người Việt cũng con ông cháu cha, cũng sang chảnh chẳng kém gì anh láng giềng Trung Quốc.

P/s1: Ad nghĩ vì Lộc Tục đẹp trai hơn Đế Nghi, nên zai Việt trông mới lồng lộn hơn zai Trung. :v

P/s2: Chẳng ai rõ biên giới Xích Quỷ cụ thể rộng đến đâu.

Nhưng Ad cứ chọn cái bản đồ mà Xích Quỷ to nhất để nhìn cho sướng mắt.
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
2. LẠC LONG QUÂN_Nòi giống rồng tiên


Kinh Dương vương có một cậu quý tử tên là Sùng Lãm, biệt danh Lạc Long Quân.

Cậu ấm này có một sở thích rất bổ ích cho con dân Xích Quỷ, đó là lên rừng xuống biển để săn pokemon.

Đặc biệt là mấy con hay sách nhiễu, bị dân chúng ghét cái mặt.

Một lần cậu ấm Sùng Lãm đang thơ thẩn chơi ngoài biển, hóng nắng hóng gió thì thấy một con Ngư tinh to vật vã, dài lượt thượt, chân còn nhiều hơn cả nếp nhăn não (Ad là Ad thấy y chang con rết bự).

Ngư tinh sống trong một cái hang nằm giữa biển.

Thuyền nào léng phéng qua đó đều bị bắt ăn thịt.

Buồn buồn thì nó thì bắt thuyền nhỏ, vui vui thì nó bắt thuyền lớn.

Cậu ấm nom ngứa con mắt nên bứt đầu, cắt đuôi, ném mỗi nơi một thứ.

Một lần khác, cậu ấm Sùng Lãm nhà ta lại nghe giang hồ đồn đại ở thành Long Biên (tức Hà Nội ngày này), có một con cáo trắng chín đuôi.

Con cáo này thích biến thành người, dụ dỗ trai gái vào trong hang núi làm chuyện gì đó.

Cậu ấm tò mò không biết làm chuyện gì đó là làm cái chuyện gì, bèn đến coi thử.

Hóa ra làm chuyện gì đó là ăn thịt.

Cậu ấm vừa tụt hứng vừa tức giận, mới táng cho con cáo sấp mặt luôn.

Những người bị bắt mà con cáo chưa kịp làm chuyện gì đó thì được cứu ra hết.

Sau đó cậu ấm cho dâng nước đánh sập hang để vùi xác con cáo vĩnh viễn.

Chỗ hang cáo bị ngập nước chính là hồ Tây ngày nay.

Thiếu gia Sùng Lãm nhà Kinh Dương vương phải lòng cô tiểu thư Âu Cơ nhà Đế Lai.

Đế Lai là con của Đế Nghi.

Đế Nghi lại là anh trai Kinh Dương vương.

Túm cái quần lại là Sùng Lãm góp gạo thổi cơm chung với cô cháu gái bên họ nội.

Âu Cơ sinh được một cái bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con, rặt toàn cu tí.

Cuộc vượt cạn của Âu Cơ cũng trở thành ca sinh nở kỉ lục trong lịch sử ngành sản Việt Nam.

Gia đình nhỏ một trăm lẻ hai người cực kì êm ấm, hạnh phúc cho tới khi Lạc Long quân tự nhiên đi biền biệt không về.

Có thể do giống rồng nhớ nước, không chịu lên cạn.

Cũng có thể do mĩ nhân Âu Cơ bỗng nhiên đổi sang hình tượng bà mẹ bỉm sữa nên Long Quân đâm chán.

Mãi tới khi bà mẹ bỉm sữa Âu Cơ nổi cơn tam bành rống gọi thì Long Quân mới chịu mò về.

Long Quân ngó Âu Cơ từ đầu đến chân, từ chân lại lộn lên đầu, rồi thở dài bảo:

- Tôi là giống rồng, sống dưới nước.

Bà giống tiên, sống trên non cao.

Ở lâu với nhau thế qué nào được.

Thế là chúng ta có vụ li hôn đầu tiên trong lịch sử.

Long Quân phân chia tài sản cũng rất nhanh chóng.

- 50 thằng lớn đi theo bả.

Số còn lại, theo tao.

Thế là Long Quân dẫn 50 cậu ấm ra biển.

Âu Cơ dẫn 50 cậu ấm lên núi.

Đại thiếu gia nhà họ Lạc (hay họ Long, họ Kinh gì đó) được tôn lên làm vua, trở thành Hùng vương đời thứ nhất.

Đại thiếu gia tính tình nền nã nên không thích cái tên Xích Quỷ ngầu lòi, bèn đổi thành Văn Lang.

Cha truyền con nối, trải qua 18 đời, đều gọi là Hùng vương.

Trên thực thế, có thể Hùng vương thứ nhất chính là người đã thống nhất được các bộ tộc người Việt cổ vốn đã có mối liên kết lỏng leo từ thời Kinh Dương vương.

P/s: Từ thời Nguyễn bắt đầu tính Kinh Dương Vương là Hùng vương đời thứ nhất.

Lạc Long Quân là Hùng vương đời thứ hai.

Như vậy có tới hai mươi đời vua Hùng.
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
3. AN DƯƠNG VƯƠNG_Khai sinh Âu Lạc


Nguồn gốc của Thục Phán An Dương vương luôn là một đề tài khiến các nhà sử học xưa và nay muốn đập cái ghế, lộn cái bàn.

Giả thuyết được nhiều lượt vote nhất cho tới giờ phút này đó là An Dương Vương quê quán ở Cao Bằng, và là một người anh hùng dân tộc.

Ú... hình như ý Ad là "anh hùng người dân tộc".

Theo một truyền thuyết đọc lên muốn quắn quéo cái mồm là "Cẩu chùa cheng vùa", dịch nôm na là "Chín chúa tranh vua" của dân tộc Tày thì vào cuối thời Hùng vương, ở vùng Cao Bằng có một liên minh các bộ lạc người Tây Âu, gồm 10 xứ.

Trong đó xứ trung tâm là nơi vua ở, chính là Thục Phán.

Còn chín xứ bâu quanh thì do các chúa cai quản.

Chín chúa thấy Thục Phán thanh niên hoi thì tìm cách bắt nạt, học đòi người ta đảo chính.

Thục Phán tuy trẻ trâu nhưng lại không phải dạng vừa đâu.

Thấy các chúa có ý tạo phản, Thục Phán mới phán rằng:

- Các chú quánh nhau coi.

Ai quánh sấp mặt được tám thằng kia thì anh...

à cháu, sẽ nhường ngôi cho.

Kết quả các chúa giỏi võ như nhau, hoặc cùng dốt như nhau, nên không ai thắng.

Thục Phán lại phán:

- Các chú đọ tài nghệ đi, tự thách nhau.

Ai thắng cháu nhường ngôi.

Thế là các chúa lại đâm đầu vào thách nhau toàn chuyện trên trời dưới bể và hết sức nhảm quần.

Như dùng cung bắn trụi lá đa, làm một nghìn bài thơ con cóc, hay mài lưỡi cày thành trăm chiếc kim, bla bla...

Ừ thì các chúa cũng cố gắng bỏ công bỏ việc đi hoàn thành cho xong mấy cái chuyện nhảm quần này.

Nhưng Thục Phán vẫn không phải dạng vừa đâu.

Phán sai chín cô gái v cả xinh đẹp, tài nghệ lại giỏi giang đi mê hoặc chín chúa khiến mấy việc nhảm quần kia đổ bể khi cmn sắp thành công.

Lẽ ra nên cay vãi củ chuối.

Nhưng vấn đề là chín chúa không biết chính Thục Phán thọc gậy bánh xe, mà cứ nghĩ thất bại là do bản thân mình ngu si không tả nổi.

Kết quả chung cuộc, Thục Phán vẫn giữ ngôi, chín chúa đều tin phục.

Nội bộ êm ấm, Tây Âu lên như diều gặp gió.

Trong một diễn biến khác, quốc gia phía nam Tây Âu là Văn Lang bắt đầu suy yếu.

Thục Phán lúc này đã dậy thì thành công, cảm thấy sức trâu để lâu cũng phí, bèn dẫn quân xâm chiếm Văn Lang.

Hùng vương thứ 18, hậu duệ cuối cùng của cậu ấm Lạc Long Quân, bị Thục Phán đánh cho tơi bời.

Một truyền thuyết khác lại kể rằng Hùng Vương tự động nhường ngôi cho Thục Phán vì biết không đủ sức để chống lại quân Tần đang lăm le xâm lược.

Thục Phán hợp nhất hai mảnh đất của người Tây Âu và Lạc Việt thành một.

Nghĩ mãi không biết tên gì hay, bèn chơi trò ghép chữ, gọi luôn nước mới là Âu Lạc.

Tự xưng là An Dương Vương.
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
4. NHỮNG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG NGOẠI XÂM ĐẦU TIÊN


Đường biên giới Việt Nam lồi lõm như hiện tại một phần là do sau mỗi cuộc chiến tranh xâm lược là lại phải xén chỗ nọ, xẻo chỗ kia.

Mấy ngàn năm bền bỉ chống ngoại xâm đã hun đúc nên một tinh thần chầy cối, không chịu thỏa hiệp.

Câu chuyện chống ngoại xâm bắt đầu chỉ một thời gian ngắn sau khi thanh niên ưu tú Kinh Dương Vương khăn gói quả mướp xuống phương nam.

Tình anh em giữa người Bách Việt và Hoa Hạ biến thành tình láng-giềng-đếch-hữu-nghị còn nhanh hơn cả Tôn Quyền bị Tào Tháo đuổi.

Người đầu tiên xâm lược nước ta là Đế Lai, anh em con chú con bác kiêm bố vợ của cậu ấm Lạc Long Quân.

Theo Lĩnh Nam chích quái, Đế Lai đi du lịch phương nam, thấy hoa thơm cỏ lạ, sơn thủy hữu tình, bốn mùa không nóng không lạnh (cái này đảm bảo bốc phét, vì Ad đang nóng chảy cả mỡ).

Thích quá nên Đế Lai vui chơi quên cmn đường về.

Người phương Nam bị người phương Bắc quấy nhiễu, ăn ngủ méo được yên như xưa.

Sang thời con của Lạc Long quân là Hùng Lân vương.

Vua Nghiêu từng sai Hy Thúc đi xin phương nam tí đất.

Kết quả ra sao không rõ.

Đến thời Hùng vương thứ sáu, giặc Ân xâm lược bờ cõi.

Cu Gióng bền bỉ chờ suốt ba năm không chịu lớn, đùng một phát dậy thì thành công chỉ trong vài ngày.

Sau đó là màn xiếc bốc lửa: Vặt tre đánh giặc.

Hùng vương thứ mười một mang chim trĩ trắng sang cống cho Chu Thành vương để chặn nạn ngoại xâm.

Chu Thành vương thấy chim trĩ thì thích lắm, suốt ngày sờ nắn, chăm bẵm.

Đếch thể ngờ rằng thâm ý của Hùng vương là trù cho mình bị trĩ đến chết.

Thời Hùng vương thứ mười bảy, bên nước Việt (nước Việt của Tàu nha), có nàng Tây Thi bán đậu phụ là mĩ nhân mà hễ cá ngó thấy là y rằng sặc nước chết đuối.

Việt vương Câu Tiễn sai nàng Tây Thi đậu phụ đi quyến rũ Phù Sai, diệt được Ngô.

Câu Tiễn muốn tiếp tục bành trướng lãnh thổ về phương nam, bèn sai sứ sang nước ta chiêu dụ, bị vua Hùng cự tuyệt.

Rất có thể thanh niên Câu Tiễn lại đem sang cho vua Hùng một nàng Tây Thi đậu phụ khác.

Cuối thời Hùng vương thứ mười tám, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa.

Thủy Hoàng đế tính đầu gấu, không đi xâm lược thì thấy bứt rứt, khó chịu.

Bèn rục rịch chuẩn bị xâm lược phương Nam.

Mối nguy cơ to vật vã đã run rủi cho hai tộc người vốn chung tí máu thịt là Tây Âu và Lạc Việt càng có cơ hội để xích lại gần nhau hơn.

Vua Hùng thấy mình già yếu, bèn nhường lại quyền lãnh đạo cho thanh niên Thục Phán.

Hai tộc người hợp thành một, lấy tên nước là Âu Lạc.

Thục Phán lên ngôi, hiệu là An Dương Vương.

Thanh niên An Dương Vương vốn sức dài vai rộng, lại thêm tinh thần chầy cối được hun đúc suốt mấy ngàn năm.

Quân Tần do tướng Đồ Thư chỉ đạo bị đánh cho bung giáp, rụng quần.

Tần Thủy Hoàng bực bội, quyết định tạm thời đếch xâm lược nữa.
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
5. LÝ ÔNG TRỌNG_Gã khổng lồ của Âu Lạc


Cuối thời Hùng Vương thứ mười tám, ở làng Chèm, huyện Từ Liêm có một người tên là Lý Thân, may mắn sở hữu một chiều cao hết hồn.

Số là từ ngày mới chớm dậy thì, Lý Thân đã chăm chỉ tập gym, chơi bóng rổ, thi thoảng buồn buồn lại ra mương bơi lội nên thân hình chỗ cần nở thì cực kì nở, chỗ không cần cũng nở cũng nở hết cỡ.

Giang hồ đồn đại Lý Thân cao tới 2 trượng 3 thước.

Theo tính toán sơ bộ của Ad thì là khoảng 10 mét.

Quả là hết cmn hồn.

Soái ca hết hồn làm một chức nho nhỏ trong huyện ấp.

Lần đó khi thấy tên lính lệ quánh dân phu dã man gần chết, vốn bản tính vô cùng cương trực và hết mực trung hậu, Lý Thân bèn quánh chết luôn thằng cha đó cho bõ chướng mắt.

Lẽ ra đã bị khép tội chết, nhưng Hùng Vương xét thấy Lý Thân là người tốt, lại còn là người tốt to vật vã nên không lỡ giết mà chỉ xử phạt hành chính và đuổi việc.

Những ngày tháng thất nghiệp kéo dài lê thê.

Tới tận khi nước Văn Lang đổi tên thành Âu Lạc, An Dương Vương không nghi ngại Lý Thân có tiền án tiền sự mới tuyển vào làm tướng quân.

Âu Lạc còn non trẻ, miệt mài chống Tần ngót mười năm.

Cứ mỗi khi có được tí hòa bình thì lại phải vắt óc ra tìm cách giữ.

Thời ấy, đối với người Việt mình thì mĩ nhân kế vẫn còn là cái gì đó hơi diệu vợi và kì cục.

Nên trong khi Câu Tiễn tặng Tây Thi đậu phụ cho Phù Sai, Hán Nguyên đế tặng Vương Chiêu Quân cho Hô Hàn Tà, Vương Doãn tặng Điêu Thuyền cho Đổng Trác, thì An Dương Vương lại chơi một mình một kiểu, tặng hẳn nàng Lý Thân cho Tần Thủy Hoàng.

Lý Thân thế mà lại được Tần Thủy Hoàng hết mực yêu chiều.

Số là ngày đó bên Tần có nạn Hung Nô.

Tần Thủy Hoàng đã xây hẳn Vạn Lý trường thành mà vẫn ăn không ngon, ị không yên.

Tần Thủy Hoàng thấy Lý Thân tướng tá bự tồ, dung mạo đen hôi thì phong luôn làm Vạn Tín Hầu, cho cầm quân ra giữ đất Lâm Thao.

Hung Nô kéo quân tới, Lý Thân chỉ cần búng tay một cái là tan tác hết.

Chầy cối bao nhiêu trận vẫn không thể vượt ải, lần nào cũng bị quánh cho sấp mặt.

Hung Nô kể từ đó khiếp sợ, bố bảo cũng không dám chọc ngoáy nước Tần.

Tần Thủy Hoàng càng yêu chiều hết mực, gả hẳn con gái cho Lý Thân.

Không hiểu hai vợ chồng giải quyết thế nào cái vụ chênh lệch kích cỡ. 🙂

Thời gian trôi nhanh như chó chạy ngoài đồng, chẳng mấy Lý Thân đã tới tuổi về hưu.

Lý Thân bèn xin Tần Thủy Hoàng cho về nước vui hưởng tuổi già.

Tần Thủy Hoàng tiếc đứt ruột, nhưng không đồng ý thì lại mang tiếng ki bo nên đành kí duyệt cho Lý Thân về nước.

Vừa đánh hơi được tin vị tướng quân bự tồ đã về nước, Hung Nô lập tức kéo sang.

Tần Thủy Hoàng buồn bực lắm, sai người sang Âu Lạc gọi Lý Thân về nhanh, về gấp, nhà có đại sự.

Nhưng Lý Thân tuổi cao dở chứng, méo thích đánh nhau nữa.

An Dương Vương buộc phải bốc phét là Lý Thân chết cmn rồ.

Tần Thủy Hoàng thắc mắc tđn tự yên ngỏm tỏi?

An Dương Vương bí quá nói láo không kịp suy nghĩ, bảo đi tả chết.

Tần Thủy Hoàng cạn cmn lời, định không hỏi nữa.

Nhưng cuối cùng nghĩ sao lại hỏi xác đâu.

Lần này tới lượt An Dương Vương câm nín.

Lý Thân bèn tự vẫn để giải vây.

An Dương Vương chuyển phát nhanh xác Lý Thân cho Tần Thủy Hoàng.

Tần Thủy Hoàng lúc này chỉ biết than số mình sao quá nhọ, mà không biết là Lý Thân còn nhọ hơn mình.

Giây phút tang thương chưa qua mà giặc Hung Nô thì vẫn còn đó, Tần Thủy Hoàng bèn cho đúc pho tượng Lý Thân to như thật, trong có người điều khiển, đặt chình ình ở cửa Kim Mã, gọi là tượng Ông Trọng.

Hung Nô thấy Lý Thân lù lù một đống thì khiếp hãi kéo quân về.
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
6. TRIỆU ĐÀ_Âu Lạc diệt vong


Âu Lạc được thành lập vô cùng hoành tráng, nhưng cũng xịt ngóm nhanh đến hốt hoảng.

Nguồn cơn đến từ bố con ông Triệu Đà.

Triệu Đà vốn là tướng của nhà Tần, được Tần Thủy Hoàng giao cho một đội quân be bé, xinh xinh để chinh phạt phương nam.

Tới khi Tần Thủy Hoàng ngỏm tỏi, nhà Tần diệt vong thì Triệu Đà quyết định tự ý thôi việc để đi khởi nghiệp.

Với câu châm ngôn kẹp nách: "Mình thích thì mình làm thôi", Triệu Đà xưng Đế mà đếch cần bố con thằng nào đồng ý, rồi đặt tên nước là Nam Việt mà cũng đếch cần hỏi ý kiến bố con thằng nào.

Thi thoảng buồn buồn Triệu Đà lại xuất binh chọc ngoáy Âu Lạc chơi.

Âu Lạc có anh tướng quân tên là Cao Lỗ.

Lỗ-không-thấp nghịch ngợm kiểu gì đó mà tự dưng lại chế tạo ra cái nỏ Liên Châu, bắn một phát được bao nhiêu là mũi tên.

An Dương Vương thích quá bèn cho xây dựng ngay thương hiệu Nỏ Thần, quảng cáo là lẫy nỏ được làm từ móng của Rùa Thần chính hiệu.

Mặt khác, An Dương Vương cho xây thành bằng gạch hiệu cái loa.

Gọi là Loa thành.

Loa thành có ba vòng, giữa các vòng thành có sông lớn, thuyền chiến bơi lội tung tăng.

Đội quân xâm lược của Triệu Đà chỉ cần nghe phong phanh An Dương Vương đem Nỏ Thần hiệu con rùa ra bắn thì đã hồn vía lên mây.

Lại thêm cả tòa thành hiệu cái loa, cắm đầu vào thì không biết đường đâu mà lần.

Triệu Đà ức cái nỏ hiệu con rùa và tòa thành hiệu cái loa lắm mà không làm gì được, buộc phải cắn răng tạm hòa.

Triệu Đà có một thằng con chắc-cũng-đẹp-trai tên là Trọng Thủy.

Vì Âu Lạc không biết mĩ nhân kế là cái quần gì nên Triệu Đà buộc phải gả Trọng Thủy đi.

Đắn đo mãi cuối cùng mới quyết định gả cho Mị Châu thay vì An Dương Vương.

An Dương Vương tính nông dân chất phác nên thấy Đà cầu hôn thì hớn hở đồng ý.

Trọng Thủy về làm dâu suốt ngày chỉ thích rong chơi trong thành để do thám địa hình.

Mị Châu thì mê tít Trọng Thủy.

Thủy nói gì cũng nghe, bốc phét gì cũng tin.

Thủy bảo:

- Cái nỏ hiệu con rùa xịn hén mậy.

Cho coi tí.

Châu liền hớn hở dẫn Thủy đi coi.

Thủy xem xong thì chế ra cái lẫy giả rồi đánh tráo.

Xong Thủy bảo:

- Anh nhớ ba, nhớ má, buồn đến hao gầy.

Châu bèn để Thủy về nước thăm ba, má.

Trước khi đi Thủy còn đưa Châu cái áo hiệu con ngỗng, bảo sau này lỡ lạc thì rắc lông để anh tìm.

Thủy về nước đem theo bí mật bố phòng của Loa thành cùng với cái lẫy nỏ xịn, Triệu Đà lập tức hớn hở dẫn quân sang đánh.

An Dương Vương thấy Đà tấn công tuy có bất ngờ một tẹo nhưng vẫn hết sức bình tĩnh mặc cái áo, xỏ cái quần.

Xong xuôi mới lấy Nỏ Thần ra biểu diễn.

Nhưng rất tiếc đó là hàng nhái, nhãn hiệu là con DÙA chứ không phải con RÙA, nên An Dương Vương bắn hoài không được.

Tòa thành hiệu cái loa cũng không còn ngăn được quân địch.

An Dương Vương lúc này mới hết hồn dẫn Mị Châu đi trốn.

Mị Châu ngồi sau lưng ngựa dù bị xóc tung ass vẫn cứ cố gắng rắc lông ngỗng đều đều.

Lúc cái áo hiệu con ngỗng trụi lông cũng là lúc ngựa phi tới bờ biển.

Con rùa thần ngày xưa bị bứt móng làm nỏ ngoi lên bảo: "Giặc ngồi sau kìa mậy."

An Dương Vương ngoái đi ngoái lại cũng chỉ thấy mỗi Mị Châu đang ngơ ngác ngó mình.

Chợt hiểu ra, bèn rút kiếm chém bay đầu con gái rồi theo rùa thần xuống biển.

Trọng Thủy đuổi tới nơi bở cả hơi tai, lại thấy Mị Châu chết cmn rồi thì buồn thương vô hạn.

Về nhà mắc chứng trầm cảm.

Gia đình đã thuốc men chạy chữa các kiểu nhưng vẫn không thể giúp anh hòa nhập lại với xã hội.

Có lần Trọng Thủy hoang tưởng thấy Mị Châu dưới giếng, bèn cắm đầu nhảy xuống, tàn một đời hoa.
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
7. TRIỆU ĐÀ_Bang giao với Hán triều


Sau khi dùng mĩ nam kế chiếm được Âu Lạc, Triệu Đà hí hửng tự xưng là Triệu Vũ Vương và đổi tên nước thành Nam Việt.

Khởi nghiệp thành công, tương lai xán lạn.

Nhọ thay, Triệu Đà vừa mới vỗ ngực rung đùi được một năm thì ở phương bắc đã xuất hiện thằng cha nào đó tên là Lưu Bang.

Thằng chả đánh hạ Tần, dẹp phứt Sở, thống nhất cmn thiên hạ, lại còn lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Hán Cao Tổ.

Năm thứ 11 sau khi lên ngôi, Lưu Bang ngó xuống phương nam phát hiện bố con ông Triệu Đà xưng bá một phương thì cảm thấy méo hài lòng.

Lưu Bang bèn sai sứ giả xuống Nam Việt phong vương cho Triệu Đà.

Triệu Đà vốn chảnh cún, lại thấy thâm niên công tác của mình còn nhiều hơn Lưu Bang một năm, nên sứ giả tới thì ngồi khoanh chân rung đùi chứ không dậy tiếp chỉ.

Sứ giả bực bội dọa:

- Mồ mả tám đời nhà ông vẫn còn bên Tàu á.

Tui kêu bệ hạ quật mả nhà ông rồi kéo quân sang quánh cho ông sấp mặt luôn.

Triệu Đà nghe thế thì sợ v~, vội nói:

- Úi, chế bị tê chân.

Giờ chế dậy nhận phong liền.

Mười ba năm sau, thằng cha Lưu Bang cuối cùng cũng chịu về chầu ông bà.

Nhưng vợ ổng là Lữ Trĩ, một người phụ nữ có tính cách vô cùng lồi lõm, lại vẫn sống nhăn răng.

Lữ hậu tác quái, lấn át con trai, thâu tóm triều chính.

Đánh ghen kiểu Lữ Trĩ đã trở thành một thương hiệu khủng bố của Trung Quốc.

Chồng vừa chết liền đem tình địch là Thích phu nhân đi cắt sạch chân tay, chọc mù mắt, đổ chì vào tai, rồi tống vào chuồng heo.

Sử gọi là "người lợn", Ad thì gọi là Mĩ nhân heo.

Lữ Trĩ nghe thằng nào đó bơm đểu, cấm người Hán buôn bán đồ vàng, đồ sắt với Nam Việt, lại ra chỉ thị bán ngựa thì không được bán ngựa cái, chỉ được bán ngựa đực, hay bét nhất cũng phải là ngựa bê đê.

Nói chung là không cho chúng nó đẻ trứng.

Triệu Đà thấy thế thì ức lắm.

Ngó mặt ông Tràng Sa vương trông gian gian thì lập tức nghĩ ổng bơm đểu.

Trong cơn uất ức đã tự xưng là Nam Việt Hoàng đế và đem quân đánh quận Tràng Sa (Hồ Nam ngày nay).

Lữ Trĩ gặp ca khó, không chịu suy nghĩ mà giải quyết luôn bằng nắm đấm.

Nhọ thay quân Hán xuống phương nam do méo hợp khí hậu nên tiêu chảy, cảm cúm, nổi ghẻ...

Chả mấy đã bất lực mà tháo chạy.

Từ đó tiếng tăm Triệu Đà nổi như cồn.

Đi vệ sinh cũng có xe đón rước, lễ nghi ngang Hoàng đế nhà Hán, oai như cóc cụ.

Tới khi Lữ Trĩ mất, Hán Văn đế Lưu Hằng lên ngôi.

Lưu Hằng cũng không ưa chuyện Triệu Đà xưng Đế.

Nhưng Lưu Hằng khôn hơn Lữ Trĩ, không tỏ thái độ lồi lõm mà cư xử hết sức mềm mỏng.

Lưu Hằng mail cho Triệu Đà một bức tâm thư dài lượt thượt, lời lẽ thủ thỉ thân tình.

Đại ý khuyên Triệu Đà thần phục, cứ giằng co thế này thì dân tôi cũng khổ, mà dân ông lại càng nhọ.

Triệu Đà lúc này đã tới tuổi xế chiều, tâm tình nhạy cảm, dễ xúc động.

Lại gặp ngay Lưu Hằng là thanh niên nghiêm túc, tử tế nên cảm thấy lời nào Lưu Hằng nói cũng vãi cả hợp lí.

Triệu Đà nước mắt nước mũi hai hàng, sụt sùi rep mail, hứa cải hiệu và hàng năm sẽ chuyển phát quà cho Lưu Hằng.

Sử chép, Triệu Đà làm vua tròn 70 năm, sống bền bỉ tới tận 121 tuổi, ăn hết sạch lộc của con cháu.

Mãi tới năm 137 trước công nguyên mới ngậm ngùi xuống lỗ.
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
8. NAM VIỆT_5 đời diệt vong


Triệu Đà truyền ngôi cho thằng cháu đít nhôm là Triệu Văn Vương.

ĐVSKTT ghi Triệu Văn Vương là cậu quý tử của thanh niên si tình kì cục, Trọng Thủy.

Vì Triệu Đà sống quá dai, Triệu Văn Vương chờ đợi kế vị trong mòn mỏi nên đâm ra bị ngu đi, tính khí nhu nhược, tầm thường.

Mân Việt tấn công biên thùy, chọc ngoáy đến tận mông mà cũng đếch dám đưa quân ra đánh, phải sang cầu cứu Hán triều.

Sau vụ này, thái tử Anh Tề phải sang Hán du học, tới khi Văn Vương chết mới được thả về nối ngôi.

Thái tử Anh Tề lên ngôi lấy hiệu là Triệu Minh Vương.

Những ngày tháng du học bên Tàu, thái tử đã kịp hốt được một mĩ nhân tên là Cù thị, mặc cho ở quê nhà vợ con đang chờ dài cổ.

Cù thị cũng là người có công đưa mĩ nhân kế du nhập vào nước ta.

Anh Tề làm vua, Thọc Lét mĩ nhân được làm quàng hậu, còn con trai thị là Hưng được làm thái tử.

Anh Tề mất, thái tử Hưng lên làm vua, lấy hiệu là Triệu Ai vương.

Một năm sau, Hán Triều sai An Quốc Thiếu Quý đi sứ.

Ông này vô tình, hoặc cố tình, lại là người yêu cũ của Thọc Lét thái hậu.

Không cần dùng não cũng đoán được hai người này sẽ tư thông với nhau.

Thiếu Quý thủ thỉ bên gối, dụ Thọc Lét thái hậu dâng Nam Việt cho Hán triều.

Thọc Lét thái hậu thấy cũng hợp lí, bèn đi tỉ tê với con zai.

Triệu Ai Vương là con zai ngoan của má, nên má vừa nói là ok con dâng liền.

Hai má con sắp vali, túi tắm đầy đủ, chỉ còn chờ visa, hộ chiếu nữa là xuất ngoại.

Nhưng đột nhiên lại mọc đâu ra ông tể tướng tên là Lữ Gia vãi cả nhiều chuyện.

Phát hiện ra vụ thông dâm bán nước thì không biết đường giơ hai tay ủng hộ lại còn can ngăn tụt cả hứng.

Lữ Gia can không được mới bắc loa hô hoán cho cả thiên hạ biết là Ai Vương và Thọc Lét thái hậu sắp dâng nước cho nhà Hán.

Rồi Lữ Gia cầm đầu một đàn quan chức cao cấp, cùng nhau dẫn cấm binh vào giết chết má con bà Thọc Lét và thằng cha gian phu Thiếu Quý.

Lữ Gia tôn Kiến Đức, là con trưởng của Minh Vương lên làm vua, lấy hiệu Triệu Dương Vương.

Đây là thanh niên nhọ nhất họ.

Làm vua mới được một năm thì Hán đế đã sai Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức dẫn 5 đạo quân sang quánh cho sấp mặt.

Lữ Gia chống không nổi, vua quan bỏ triều đình chạy trốn kết cục đều bị tỉa sạch.

Họ Triệu không đẻ ra được người tài, nỗ lực lết qua được 5 đời: Vũ, Văn, Minh, Ai, tới Triệu Dương Vương thì tuyệt cmn giống.

Năm 111 trước Công Nguyên, nước Việt rơi vào tay người Tàu.

Một ngàn năm Bắc thuộc khốn khổ, khốn nạn bắt đầu từ đây.

P/s: Lãnh thổ Nam Việt bao gồm một góc phía nam Trung Quốc, một thẻo phía bắc Việt Nam và tí ti Lào.
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
9. GIAO CHỈ và Những ông quan Thái thú


Thạch Đái là người mở màn cho bản danh sách dài dằng dặc những quan Thái thú và Thứ sử được nhà Hán cử sang cai quản nước Việt (lúc bấy giờ bị gọi là Giao Chỉ).

Những thông tin về Giao Chỉ hoàn toàn bị lơ đẹp trong suốt một thời gian dài bởi không có bất kì scandal nào đáng giá để các sử gia phóng bút.

Năm thứ 8 theo Công lịch, quyền thần Vương Mãng đã bứng Hán đế khỏi ngai báu và lên ngôi, lập nên nhà Tân, triều đại hiếm hoi chỉ có duy nhất một đời vua.

Lúc bấy giờ Giao Chỉ do bộ 3 Đặng Nhượng, Tích Quang và Đỗ Mục cai quản.

Bộ 3 quyết định làm một cú hit chấm dứt cuộc đời mờ nhạt; không thèm triều cống, coi Vương Mãng như cái đinh và tỏ thái độ trung quân dữ dội.

Trong một diễn biến khác, Vương Mãng đang dần tỏ ra là một trong những ông vua số nhọ nhất trong lịch sử.

Vừa lên ngôi đã xảy ra mất mùa, hạn hán, nạn châu chấu, vỡ đê và đổi dòng chảy sông Hoàng Hà.

Nhân dân quẫn bách, quốc khố cạn cmn kiệt.

Câu lạc bộ antifan được lập ra khắp mọi nơi và ngày càng lớn mạnh.

Nhà Tân chỉ mới chiếm sóng được 21 năm đã uất ức hạ đài.

Khi vua Quang Vũ nhà Đông Hán lên ngôi, bọn Đặng Nhượng mới bắt đầu triều cống trở lại.

TÍCH QUANG VÀ NHÂM DIÊN

Sau những năm tháng bị đè đầu cưỡi cổ bởi hàng loạt chính sách cai trị phi đạo đức, vận hên cuối cùng cũng rớt trúng đầu nhân dân Giao Chỉ khi hai vị Thái thú hết mực nhân đức được cử sang, đó là Tích Quang và Nhâm Diên.

Tích Quang là Thái thú trước Đặng Nhượng, tới Giao Chỉ vào năm thứ 3 Công lịch.

Tương truyền ông hết lòng khai hóa, dạy dân lễ nghĩa.

Nhân dân Giao Chỉ vì vậy hết mực kính phục.

Khi Nhâm Diên sang làm Thái thú, thấy dân Giao Chỉ toàn đánh cá, săn bắn.

Với tâm lý thương dân, hoặc lý tưởng bảo vệ môi trường trỗi dậy, Nhâm Diên mở hàng loạt khóa học Khai khẩn đất hoang và trồng trọt.

Dân Giao Chỉ trước chỉ ăn toàn thịt, nay được bổ sung đầy đủ chất xơ thì không còn mắc chứng khó ị, cuộc sống cũng sung túc, no đủ hơn.

Dân nghèo không có tiền cưới vợ, Nhâm Diên bèn lệnh cho các trưởng lạc tự nguyện trên tinh thần bắt buộc cắt ra một phần bổng lộc để giúp dân duy trì nòi giống.

Tương truyền khi ấy người người lấy vợ, nhà nhà lấy vợ, cùng một lúc có tới hơn 2000 cặp nam nữ thanh niên được thỏa giấc mộng xuân, dân số bùng nổ một cách chóng mặt.

Đáng tiếc, Nhâm Diên chỉ đi công tác ngắn hạn, mới 4 năm đã bị gọi về.

Nhân dân Giao Chỉ lập cả đền thờ.

Việc đặt tên con Nhâm cũng trở thành trào lưu rầm rộ suốt một thời gian dài sau đó.
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
10. HAI BÀ TRƯNG_Huyền thoại Mê Linh


Sau khi vận hên rớt xuống đầu nhân dân Giao Chỉ 2 lần dưới hình dạng của Thái thú Tích Quang và Nhâm Diên, thì không thèm rớt thêm lần nào nữa, thay vào đó là ngôi sao quả tạ Tô Định.

Anh thái thú Tô Định đẹp trai lồng lộn, hỏng mỗi cái tội mặt người dạ thú, tham lam hiểm độc, lấy vơ vét của cải làm lý tưởng sống.

Đất Mê Linh bấy giờ có cô Trưng Trắc, là chị gái cô Trưng Nhị, kiêm vợ yêu anh Thi Sách.

Anh Thi Sách bị vợ át vía, bản tính nhu mì, ngứa mắt anh Tô Định vãi cả luôn mà cũng không nỡ thượng cẳng tay, hạ cẳng chân, chỉ nhẹ nhàng vắt óc chế ra một bài văn tố cáo anh Tô Định tham lam ra sao, láo toét thế nào.

Năm 40 Công lịch, anh Tô Định thẹn quá hóa giận, chửi anh Thi Sách là đồ vu khống rồi tiện thể xin anh cái đầu.

Vốn tính khí nóng nảy, sau khi anh Thi Sách không dưng bị xin mất cái đầu thì cô Trưng Trắc nổi cơn tam bành, quyết tâm phải uýnh lộn với anh Tô Định cho bằng được.

Hai chị em cô Trưng Trắc, Trưng Nhị đưa quân về giữ bờ sông Hát.

Sau 2 tháng chuẩn bị, mà không ai biết cụ thể là chuẩn bị cái vẹo gì, hai cô chính thức phát động khởi nghĩa.

Anh Tô Định bị hai cô uýnh cho xây xẩm mặt mũi, lết dài về Nam Hải.

Cô Trưng Trắc lên làm vua, hiệu Trưng Vương.

Dân gian hết mực sùng kính, tôn thờ nên 2 cô tuy tuổi đời còn rất trẻ mà vẫn cứ bị kêu bằng Bà, sử gọi là Hai Bà Trưng.

Hai bà xưng vương được 3 năm thì nhà Đông Hán ngứa mắt cử anh Mã Viện sang dẹp chợ.

Trong một diễn biến khác, có mấy ông cố nội hãm tài không thèm nghe lệnh Hai Bà Trưng chỉ vì hai bà là bà chứ không phải là ông.

Mấy ông cố nội ăn hại đó tự động ly khai khiến lực lượng tan rã, lỏng lẻo.

Năm 43, thế hoặc ồ ạt, hai Bà tự thấy không đủ sức uýnh lộn với anh Mã Viện nên rút quân về Cấm Khê, cuối cùng tử trận tại đây.

Lực lượng của hai Bà còn sót lại mỗi anh tướng quân Đô Dương, chày cối cầm cự được tới cuối năm thì bị dẹp.

Anh Mã Viện trong cơn hân hoan chiến thắng đã sai người đi gom tất cả đồ đồng lại, bao gồm: trống đồng, khiên đồng, mũi tên đồng, dao đồng, mâm đồng, nồi đồng, bô đồng,... gọi chung là đồ đồng nát.

Anh cho nung chảy tất rồi tái chế thành một cây cột đồng to chà bá, đem dựng ở chỗ mà hiện-không-ai-biết-là-chỗ-nào để đánh dấu ranh giới cuối cùng của nhà Đông Hán.

Trên cây cột đồng nát mang tên anh Mã Viện có khắc 6 chữ:

"Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt"

Dịch nôm na là:

"Cột đồng gãy, Giao Chỉ cũng không còn"

Tương truyền kể từ ấy, dân Giao Chỉ trời không sợ, đất không sợ, chỉ sợ gãy cột.

Cứ mỗi lần đi qua lại ném đất, ném đá vào chân cột cho vững thêm.

#việt_nam_một_lịch_sử

#kỉ_bắc_thuộc
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
11. CỘT ĐỒNG MÃ VIỆN_Những giả thuyết tào lao


Như bài trước đã trình bày éo thể rõ ràng hơn, anh giai Mã Viện sau khi dẹp chợ hai Bà Trưng thì đã cho dựng một cây cột đồng nát to vật vã.

Xung quanh cây cột tai tiếng này có cả đống giả thuyết vẫn ngày ngày nỗ lực chổng mông vào mặt nhau.

Trong ĐVSKTT, ông Ngô Sĩ Liên không rõ nghe ai đồn mà ghi lù lù là cột đồng dựng ở châu Khâm thuộc Trung Quốc.

Ông Lê Quý Đôn thì lại gân cổ cãi là dựng ở Lâm Ấp, nay là vùng Quảng Bình.

Mấy ông sử gia triều Nguyễn cũng hùa vào khen ông Đôn nói chí phải.

Mới đây nhất, ông Đào Duy Anh lại bác bỏ tất.

Ổng bảo: "Éo nhé, nó dựng ở núi Thành, Nghệ An."

Nói chung, về chuyện anh giai Mã Viện đem dựng cây cột đồng nát ở cái xó xỉnh nào thì các bố còn cãi nhau dài dài. 👎👎👎

Vậy, anh giai Mã Viện tại sao tự yên lại rảnh hơi mà đi dựng nên cái cây cột đồng nát ấy?

Một giả thuyết thường xuyên đập mặt tất cả chúng ta, đó là anh giai Mã Viện muốn đánh dấu ranh giới cuối cùng của nhà Đông Hán.

Giống kiểu bọn sửu nhi ngày nay sau khi tị nhau cái chỗ ngồi, oánh nhau sấp cái mặt, thì bắt đầu kẻ vạch chia cái bàn. 👋👋👋

Một giả thuyết khác lại có tính khoa học vãi cả luôn.

Đó là anh giai dựng cây cột để nghiên cứu thiên văn, đo thời gian bằng bóng mặt trời, quan sát sự xoay vần của vũ trụ, thậm tiên tri ngày tận cmn thế.

Tóm lại, anh giai Mã Viện té ra lại là một nhà khoa học éo thể lỗi lạc hơn. 👍👍👍

Một giả thuyết nữa lại mang hơi hướng phồn thực, đó là cây cột được dựng ở Loa thành.

Người ta rỉ tai nhau, vòng trong cùng của Loa Thành là do anh giai Mã Viện xây dựng, ban đầu gọi là Kiến thành.

Kiến thành xây hình kén nhộng, là phần âm, tượng trưng cho cái-mà-ai-cũng-biết-là-cái-gì-đó.

Cây cột đồng là phần dương, tượng trưng cho cái-mà-ai-cũng-biết-là-cái-gì-đấy.

Nói chung, cái đấy cắm vào giữa cái đó, tạo thành một bùa âm dương mạnh vô cùng luôn.

Nguyên nhân sâu xa của ý tưởng éo hay ho này là do anh giai Mã Viện bị hai Bà Trưng làm cho hoảng hốt.

Anh giai trộm nghĩ: "Đàn bà thế này thì méo ổn."

Thế là anh giai bèn nghĩ ra cái bùa biến thái, hèn hạ vãi cả ra để triệt hạ khí tượng đế vương của đàn bà đất Nam. 👎👎👎

Tập đoàn thanh niên ngồi lê đôi mách bắt đầu phân tích, có thể đây chính là nguyên nhân khiến cho Lý Chiêu Hoàng, nữ đế duy nhất trong lịch sử Việt Nam, mới lên ngôi 1 năm đã hẻo.

Quá nhọ cho anh giai Mã Viện, từ nhà khoa học lỗi lạc thoắt cái đã biến thành một thằng thầy bà biến thái với lối tư duy vặn vẹo éo thể chấp nhận.

Vậy cây cột đồng Mã Viện giờ còn không?

Xin thưa, đồng nát cũng có cái giá của đồng nát, lại còn để tơ hơ giữa chợ.

Ở cái đất nước mà một mét vuông có tới tám thằng ăn cắp thế này thì làm gì mà còn. 😂😂😂

P/s: Câu đố cho mem:

Trong hình, đâu là cái-mà-ai-cũng-biết-là-cái-gì-đó? 😎😎😎

#việt_nam_một_lịch_sử

#kỉ_bắc_thuộc
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
12. GIAO CHỈ_Con đường quan lộ


👉 Anh giai Mã Viện sau khi dẹp phứt hai chị Trưng Trắc và Trưng Nhị thì ngay lập tức bắt tay vào công cuộc xây dựng và kiến thiết Giao Chỉ.

Anh tích cực xây thành đắp lũy, ngăn người ta nổi dậy, đồng thời cải tổ bộ máy chính trị theo cách của riêng anh.

Dân Giao Chỉ éo đứa nào thích điều này.

Anh cũng cho dựng một cây cột đồng nát, đã được nhắc đến nát bét trong bài trước.

Quý vị nào cảm thấy cây cột này lạ hoắc thì vui lòng lội lại page.

👉 Nhà Hán đã sáng mắt ra sau vụ Hai bà Trưng, nên những ông quan ngon lành như Tích Quang và Nhâm Diên không đời nào còn có cơ hội được sang tu nghiệp tại Giao Chỉ.

Thay vào đó là những ông quan Thái thú dạng cầm thú; tàn ác, tham nhũng, bắt dân lên rừng xuống biển tìm lâm sản, châu báu.

Một lần nữa, dân Giao Chỉ éo đứa nào thích điều này.

👉 Không những hỏng cái lọ mà còn mất mọe cái chai.

Thái thú đã tàn ác, triều đình lại bạc đãi người dân.

Anh giai nào chỉ cần mang quốc tịch Giao Chỉ thì dù chẳng may học hành tấn tới cũng đếch bao giờ có cơ hội được tham gia vào việc chính trị.

👉 Đường quan lộ của dân Giao Chỉ cứ mù mịt như thế cho tới tận cuối thời Đông Hán.

Có anh Lý Tiến không hiểu vì cái quần gì mà được bổ nhiệm làm Thứ sử.

Có thể do tài giỏi, do con cha cháu ông hoặc phức tạp hơn là do đẹp trai vãi xoài.

👉 Anh giai Lý Tiến tưởng mình ngon lắm, chắc mẩm quả này cmn sẽ làm bá chủ thế giới.

Anh hùng dũng gửi mail cho Hán đế, bảo chú sắp xếp cho mấy thằng bên anh được xuất ngoại làm quan nhé.

Hán đế đọc mail cười hô hố, nhưng thôi được, chú thích thì anh chiều.

Thế là có thêm vài anh giai Giao Chỉ nữa được làm quan, nhưng chỉ là mấy chức lèo tèo trong nước.

Dân Giao Chỉ đa số thằng vẫn éo thích điều này.

👉 Về sau, có anh Lý Cầm làm lính túc vệ bên cạnh Hán đế.

Anh cầm đầu một đám người bản xứ ra quỳ giữa sân rồng mà kêu gào thảm thiết.

Hán đế, trong cơn nhức đầu éo thể chịu nổi, đã hạ lệnh lung tung cho người Giao Chỉ được đi làm quan châu khác.

Vậy mới biết khổ nhục kế nó ăn đứt mĩ nam kế ra sao.

Dân Giao Chỉ vô số thằng thích điều này.

Anh giai Lý Cầm sau này còn leo lên tận chức Tư lệ hiệu úy.

👉 Đường quan lộ của dân Giao Chỉ nhờ có Lý Tiến, Lý Cầm mới bắt đầu phất lên.

Dòng giống họ Lý quả là toàn nhân cmn tài.

👍👍👍 Thằng nào họ Lý bơi hết vào đây Ad coi mặt cái nào.

#việt_nam_một_lịch_sử

#kỉ_bắc_thuộc
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
13. LÝ NAM ĐẾ


Ở Thái Bình có một thanh niên tên gọi đậm chất rau củ quả, là Lý Bí.

Cụ tổ bảy đời của Bí cưa vốn là một thanh niên đéo yêu nước, quốc tịch Tây Hán.

Đất nước mắc loạn binh đao, cụ Lý thây kệ đưa cả gia tộc khăn gói quả mướp xuống Giao Chỉ tránh nạn, sinh sản ra một lô xích xông Lý A, Lý B, Lý C...

Đến đời Bí cưa thì đã hoàn toàn quên cmn gốc gác, nhìn thấy người Tàu thì ghét vãi cả luôn.

Số cũng tại mấy thằng Tàu chỉ số EQ thấp, cả ngày chỉ ăn rồi hiếp…

ý là ăn hiếp nhân dân.

Bí cưa từ nhỏ đã được nuôi trong chùa.

Mà sư chùa thời xưa ngầu vãi cả luôn chứ éo giống thời nay, cái giống gì cũng biết, cân cả văn lẫn võ.

Bí cưa lớn lên trở thành một thanh niên đẹp trai, thông tuệ, văn hay, võ giỏi.

Thậm chí được cả Thứ sử Tiêu Tư mời ra làm quan.

Thế nhưng Bí cưa thấy thằng Tiêu Tư chỉ chuyên ăn rồi hiếp nhân dân, ngó éo vừa mắt tí nào.

Đáp lại lời mời, Bí cưa dõng dạc đáp: “Bố éo”, rồi khăn gói về quê chuẩn bị khởi nghiệp.

Bí cưa khởi nghiệp gì, xin thưa là nghiệp binh đao.

Ý tưởng của Bí cưa đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của đông đảo quần chúng nhân dân nên được hưởng ứng vô cùng mạnh mẽ.

Cuối năm 541, Bí cưa khởi chạy dự án đầu tiên có tên là “Đuổi Tiêu Tư chạy sấp mặt lợn”.

Dự án thành công ngoài mong đợi, Tiêu Tư phải sai người đút lót mới được Bí cưa thả cho chạy thoát về Quảng Châu.

Căn nguyên của nạn tham nhũng ngày nay cũng từ Bí cưa mà ra.

Bí cưa làm loạn Giao Châu, Lương Vũ Đế ráng nhịn được đến tháng 4 năm 542 thì éo nhịn nổi nữa, bèn sai một lô xích xông Thứ sử các châu hợp sức lại quánh.

Vốn chẳng ngán ai bao giờ, quân Vũ Đế cử đi đều bị Bí cưa giải quyết sạch.

Trong một diễn biến khác, vua Lâm Ấp nhân lúc Bí cưa bận đối phó nhà Lương ở phía bắc, éo để ý xuể phía nam, mới đem quân định chấm mút một ít.

Ai ngờ Bí cưa rất tỉnh và đẹp trai, lập tức sai tướng Phạm Tu đi dẹp loạn.

Kết quả vua Lâm Ấp chẳng những không chấm mút được gì mà còn bị đánh cho chạy dài.

Tháng 1 năm 544, Bí cưa lên ngôi, tự xưng là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Tô Lịch, tự thấy tương lai tươi sáng vãi cả luôn.

Thế nhưng tới tháng 5 năm 545, Bí cưa cuối cùng cũng gặp phải định mệnh của đời mình, chính là Trần Bá Tiên.

Bá Tiên cưa được Lương Vũ đế cử sang Giao Châu làm Tư mã.

Lương Vũ Đế sau vài năm nhẫn nhục cuối cùng cũng tìm được một người cầm quân cho ra hồn.

Bí cưa trước giờ vốn không ngán ai bao giờ, nay vừa gặp định mệnh của đời mình thì đã xịt khói, bị đánh cho tơi tả, phải chạy lên tận Phú Thọ, trốn vào động Khuất Lão.

Bí cưa sinh hoạt trong hang hốc một vài năm, đến năm 548 thì bị nhiễm bệnh nặng.

Trong giây phút cận kề cái chết, Bí cưa nhớ đến Bá Tiên cưa, uất ức thốt lên được ba từ: “Cái định mệnh!”, rồi tắt cmn thở.

#việt_nam_một_lịch_sử
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
14. CAO BIỀN_Tiết độ sứ An Nam


Cao Biền được vua Đường Ý Tông cử sang làm Tiết độ sứ nước ta từ năm 864 đến năm 868.

Ông này, rất tiếc phải thừa nhận rằng, là một freelancer đa tài đa nghệ.

Nghề gì cũng mó, và cứ hễ mó vào là giỏi.

Từ tướng quân, cho tới phù thủy, rồi đạo sĩ, thầy phong thủy, lại còn thêm cả năng lực quản lí thần sầu...

Max nhọ cho các cụ nhà mình.

Trước khi gả Cao Biền đi, vua Đường Ý Tông còn tỉ tê căn dặn: "Long mạch đất Nam vãi cả lắm con ạ.

Mày xem có cái nào thì yểm đi cho chúng nó hết đẻ trứng.

Rồi vẽ lại cái bản đồ mang về cho má coi với.

Ahihi!"

Vậy là Cao Biền bắt đầu có cái thú vui vãi cả tao nhã, đó cosplay thành phù thủy và cưỡi diều giấy origami bay đi khắp nơi coi địa thế.

Cứ hễ nước Nam thò ra cái huyệt đế vương nào là lại nhanh chân nhanh tay trấn sạch.

Ý là trấn yểm sạch.

Công cuộc diệt trứng nước Nam của Cao Biền thành công cũng lắm mà thất bại thì càng nhiều.

Minh chứng là nước mình vẫn đẻ ra được rất nhiều nhân tài vừa tỉnh vừa đẹp trai.

1.

CAO BIỀN TRẤN YỂM SÔNG TÔ LỊCH - ĐẮP THÀNH ĐẠI LA

"Thánh vật sông Tô Lịch" từng là một cái tựa đề làm mưa làm gió và được nhai lại đến nát bét trên khắp các mặt báo lá cải.

Vậy sông Tô Lịch, nơi hiện là cái rãnh thoát nước thải của Hà Nội, có cái quần què gì hot?

Năm 2001, đội thi công nạo vét sông Tô Lịch đã phát hiện những di vật cổ: 7 cây gỗ chôn đứng dưới lòng sông tạo thành hình thất giác đều, 7 bộ hài cốt bị đóng đinh bả vai và táng giữa các cọc gỗ, đồ gốm, xương voi, ngựa, dao, tiền đồng...

Và nếu như những tai nạn trời ơi đất hỡi không liên tục xảy đến với thành viên đội thi công, thì câu chuyện này hẳn sẽ chỉ dừng lại ở việc vớt được vài món cổ vật hay ho và hơi kinh dị.

Các thầy bùa, thầy pháp từ rởm đến "giỏi" được dịp vung nước miếng tán tàn, rằng đây là cái trận đồ bát quái cực kì cao thâm, âm khí nặng nề.

Cũng chả hiểu từ 7 cái cọc chôn hình thất giác đều thì suy luận kiểu quần què gì ra trận đồ bát quái.

Nhưng thôi, mình người trần mắt thịt, các thầy nói thì nên dỏng tai nghe.

Rồi người ta liên hệ đến chuyện xảy ra từ tận năm 866.

Đồng chí Cao Biền, đã nhắc ở bài trước, ngày đêm ước ao đắp được một cái thành Đại La to vật vã.

Khi thi công đến đoạn dọc bờ sông Tô Lịch thì cứ xây được một đoạn lại sụt lở hết sạch.

Dù đồng chí có chơi lầy đến mấy, đắp đi đắp lại bao nhiêu lần thì cũng đếch ăn thua.

Sau một hồi làm ăn cẩn thận hơn, khảo sát thực địa kĩ lưỡng thì đồng chí phát hiện đoạn này là giao của ba con sông lớn, nền đất bất ổn là chuyện v cả bình thường.

Vậy là đồng chí bèn chôn thử cái trận đồ dưới lòng sông để trấn yểm, mong đất sẽ ổn định hơn.

Vụ này thành công mĩ mãn, thành Đại La xây đắp ngon lành.

Cơ chế cụ thể mình cũng không rõ.

Ai có bà con với đồng chí Cao Biền thì đi hỏi dùm nha. 🙂

2.TRẬN ĐẤU PHÉP GIỮA CAO BIỀN VÀ THẦN SÔNG TÔ LỊCH

Mối duyên nợ giữa thần Long Đỗ và đồng chí Cao Biền bắt đầu vào một ngày tháng 6, trời trong xanh, mây bay bay.

Hôm ấy, Cao Biền nổi hứng cưỡi du thuyền đi ngắm cảnh.

Đột nhiên ngó thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, dung mạo kì dị đang tắm ở giữa sông.

Chính là thần Long Đỗ đang cosplay.

Đồng chí Cao Biền bèn lân la làm quen:

- Đằng ấy tên gì?

- Tô Lịch á.

- Nhà đằng ấy ở đâu?

- Ở sông này luôn á.

Dứt lời, cụ già bèn đập tay làm nước bắn tóe lung tung rồi biến mất.

Một ngày khác, đồng chí Cao Biền đang tha thẩn chơi bên bờ sông thì thấy trời tự nhiên mù mịt, gió thổi ầm ầm, nước sông cuồn cuộn.

Rồi một dị nhân xuất hiện giữa sông, cao hơn hai trượng, áo vàng mũ tím... nói chung là phục sức oai phong lồng lộn.

Đồng chí Cao Biền sợ v tè, nghĩ phen này nhất định phải yểm.

Tối ấy đồng chí nằm mơ thấy thần đến bảo: "Ế, đừng yểm mất công.

Tui là thần Long Đỗ, cai quản vùng này.

Nghe đồn đằng ấy xây thành thì đến xem chơi.

Chứ tui sợ quái gì bùa phép."

Đã nhắc vậy rồi mà sáng hôm sau vừa tỉnh dậy đồng chí Cao Biền vẫn cứ chầy cối đi niệm thần chú, lấy kim đồng thiết phù để yểm.

Quá bực bội và lộn ruột, thần Long Đỗ bèn làm sấm đùng đùng, mưa rào rào, khuấy cho kinh thiên động địa.

Kim đồng thiết phù thoắt cái bị thổi bay mất dạng.

Đồng chí Cao Biền câm nín hoàn toàn, cực kì kinh hãi, cun cút đi dựng một cái đền để thờ thần Long Đỗ ở trong La thành.

3.

CAO BIỀN TRẤN YỂM LONG MẠCH TẢN VIÊN

Đồng chí Cao Biền là một thiên tài hiếm có trong lĩnh vực kết thù chuốc oán với thánh thần, điển hình của dạng thanh niên điếc không sợ súng.

Pha nghịch ngu nổi tiếng nhất của đồng chí Cao Biền chính là đi gây hấn với đức thánh Tản Viên, hay còn gọi là soái ca Sơn Tinh.

Đồng chí Cao Biền có một ngón đòn lừa dùng đi dùng lại khi đối phó với các thánh thần đất Nam.

Đó là mổ bụng trinh nữ, moi sạch ruột ra, nhồi cỏ bấc vào.

Sau đó xác trinh nữ được đặt ngồi lên ngai.

Đồng chí Cao Biền sẽ giả lập đàn cúng tế, lừa thánh thần nhập xác coi trò vui rồi dùng kiếm báu chém đầu.

Chém xong, đồng chí Cao Biền mới đào giếng, chôn kim khí để triệt long mạch.

Một lần khi đồng chí Cao Biền cưỡi diều origami bay qua núi Tản Viên (tức Ba Vì), thấy long mạch cuồn cuộn, định bụng lại dùng mánh nhảm quần kia để giết thần núi và trấn yểm.

Nhưng soái ca Sơn Tinh rất tỉnh và đẹp trai, vừa ngó đã biết tỏng âm mưu của đồng chí Cao Biền.

Soái ca cũng chẳng thèm hô mưa gọi gió, khuấy đảo đất trời như thần Long Đỗ ở sông Tô Lịch.

Soái ca cứ thế hiện lên, nhổ toẹt một bãi nước bọt vào đầu Cao Biền rồi biến mất.

Cách này tuy có hơi kém vệ sinh và thô tục nhưng lại khiến đồng chí Cao Biền "đẹp mặt" vô cùng luôn. :v

Một phiên bản khác có cái kết vệ sinh hơn, đó là soái ca Sơn Tinh mắng đồng chí Cao Biền một trận té tát rồi bỏ đi.

4.GIẤC MỘNG ĐẾ VƯƠNG CỦA CAO BIỀN

Đồng chí Cao Biền trông bề ngoài thì có vẻ tận tụy với vua Đường, nhưng thực ra bản thân đồng chí cũng có một cái giấc mộng đế vương nho nhỏ.

Khi được gả sang đất Việt, đồng chí lén lút mang theo cả xương cốt của đồng chí cha.

Chuyện này mà bị vua Đường phát hiện chắc quánh phù mỏ cả chín họ, tức tru di cửu tộc. :v

Một lần khi cưỡi diều origami bay qua núi Hàm Rồng ở Thanh Hóa, đồng chí Cao Biền thấy huyệt hàm rồng "xương long vô túc" (rồng không chân).

Nhưng đồng chí liếc mắt phát vẫn biết ngay là huyệt quý.

Khổ nỗi lúc đó lại đi cùng mấy thằng đệ, nên phải nói láo: "Úi con rồng què, chả quý gì.

Thôi khỏi yểm."

Ngay đêm ấy, đồng chí Cao Biền lén lút mang xương cốt cha đến táng vào huyệt Hàm Rồng.

Nhưng năm lần bảy lượt cụ rồng đều chê dở nhè ra.

Huyệt không kết phát nổi.

Biết là huyệt cực quý, đồng chí Cao Biền lại càng ham thích.

Máu nhây, máu lầy nổi lên, đồng chí tán nhỏ xương cốt đồng chí cha để rải vào.

Nhưng vừa hí hửng tung lên thì một đàn chim vãi cả vô duyên không biết từ đâu ra, vỗ cánh vù vù làm xương bám trên vách đá bay hết sạch.

Chẳng được bộ tích sự gì còn mất luôn cả xương cốt đồng chí cha.

Không lẽ tốn công về Đại Đường đào nốt xương cốt đồng chí má.

Nhưng đồng chí Cao Biền lại đột ngột sáng suốt mà nhận ra: "Linh khí nước Nam mạnh vãi chưởng, cố nữa chắc chết."

Ước mơ nho nhỏ thế là tiêu tan.

5.CAO BIỀN LUYỆN ÂM BINH

Đồng chí Cao Biền không chỉ thích chọc ngoáy thánh thần mà còn khoái đánh bạn với cả bọn âm binh.

Hãy tưởng tượng tới lũ zombie trong Train to Busan. :v

Khi được vua Đường gả sang nước Nam với mục đích là trấn áp và triệt hạ long mạch, đồng chí đã nuôi ý định tạo ra một trăm âm binh làm phụ tá.

Và để có được một trăm âm binh trông có vẻ có ích thì mỗi ngày đồng chí sẽ phải thắp một nén nhang để gọi lên một âm binh.

Sau trăm ngày, một trăm âm binh sẽ sống dậy.

Nhưng đồng chí Cao Biền do quá lười nên đã giao công việc vãi cả quan trọng này cho một bà hàng nước đất Nam.

Bà hàng nước này không may lại có IQ cao hơn ước lượng của đồng chí rất nhiều.

Bà nghi ngờ đồng chí có âm mưu gì đó, bèn một phát đốt sạch cả trăm nén nhang.

Như vậy, chỉ trong một ngày, một trăm âm binh đã sống dậy tất.

Nhưng do dậy non, cũng có thể hiểu là đẻ non, nên đám âm binh này tâm sinh lí yếu xìu, chẳng được bộ tích sự gì.

Từ đó dân gian mới có câu: "Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non".

Ý chỉ những thanh niên hấp tấp vội vàng đâm ra hỏng việc.

6.CAO BIỀN VÀ NHỮNG NỖ LỰC TRẤN YỂM LÀNG CỔ PHÁP

Đồng chí Cao Biền trong quá trình đi lần mò trấn yểm đã phát hiện ra Cổ Pháp, một ngôi làng chỉ nhỏ bằng cái lỗ mũi nhưng lại có long mạch rất thịnh.

Đồng chí bèn cho đào sông Giang và đầm Phù Chẩn rồi chôn bùa trấn yểm.

Tất cả là mười chín chỗ.

Xong xuôi, đồng chí hí hửng nghĩ long mạch Cổ Pháp từ đây đã hoàn toàn đứt đoạn.

Nhưng đồng chí đếch thể ngờ núi này cao còn có núi khác cao hơn.

Mấy chục năm sau, một người tên Đinh La Quý, hay còn gọi là trưởng lão La Quý An, đã cho đào những lá bùa này lên và trồng thay vào đó mười chín cây lê.

Một công đôi việc, vừa nối lại long mạch, vừa xây dựng được thương hiệu lê biền Cổ Pháp.

Cùng với nhãn lồng Hưng Yên và vải thiều Thanh Hà tạo thành thế chân vạc vững chắc. :v

7.CAO BIỀN CÓ THỰC SỰ TRẤN YỂM LONG MẠCH ĐẤT NAM?

Có một điểm chung rất dễ nhận thấy trong những vụ trấn yểm của đồng chí Cao Biền, đó là dù đồng chí có hùng hổ đến đâu, lầy lội thế nào thì cuối cùng vẫn bị thánh thần đất Nam quật cho lên bờ xuống ruộng.

Từ soái ca Sơn Tinh, rồi thánh cosplay Long Đỗ, cho đến cái huyệt Cá Heo ở xứ Thanh...

Và điểm hài hước nhất, đó là chỉ vài chục năm sau khi bị đồng chí Cao Biền trấn yểm hàng loạt, đất Nam đã sản sinh luôn ra một người anh hùng là Ngô Quyền, chấm dứt một ngàn năm Bắc thuộc.

Nguyên một ngàn năm đếch yểm gì thì không sao.

Vậy lí do là cái quần què gì?

Đồng chí Cao Biền không thực sự thần thông như giang hồ đồn đại, hay thánh thần nước ta toàn là chân nhân khoái lộ tướng?

Theo như ngu kiến của mình thì thực ra chẳng có vụ trấn yểm nào hết.

Đồng chí Cao Biền đáng thương chỉ muốn yên phận làm một quan chức chính phủ, không tham ô, không phạm pháp, ước mơ cuối đời hạ cánh an toàn.

Vậy mà không dưng lại bị đem ra thêu dệt nhằm nâng bi thánh thần đất Nam.

Có điều nâng bi hay vô cùng luôn. :v

Nhân dân tin sái cổ rằng mình được thánh thần bảo kê.

Cao Biền thần thông như vậy mà còn bị táng cho sấp mặt luôn.

Vậy là máu liều lên cao, cảm thấy dù có cái quần què gì xảy ra cũng đã có thánh thần đỡ hộ.

Kết quả là kháng chiến thắng lợi đếch phải bàn cãi.

Thêm một ngu kiến khác về vấn đề đồng chí Cao Biền và con rồng bự của đất Nam.

Giả sử đồng chí Cao Biền không hẳn là một quan chức đáng thương biết an phận.

Mà đồng chí đã thực sự tổ chức những lễ tế rầm rộ gọi là lễ trấn yểm.

Theo như sử sách Đại Đường, tức tổ quốc của đồng chí Cao Biền ghi lại, thì đồng chí chỉ là một tướng quân tài giỏi, hoàn toàn không hề có số má gì trong lĩnh vực phong thủy.

Vậy tại sao đồng chí lại rày công tổ chức những buổi tế tốn kém và hết sức vô tích sự như vậy?

Hãy nhớ, đồng chí được gả sang đất Nam trong bối cảnh những cuộc nổi loạn lẻ tẻ đang diễn ra ngày càng dày đặc.

Từ đây, chúng ta có thể suy đoán những buổi tế lễ hết sức nhảm quần kia thực chất là một ngón đòn tâm lí.

Đồng chí muốn người dân tin là khí tượng đế vương đã bị diệt sạch, từ đó dập tắt ý nghĩ đấu tranh đang manh nha.

Có điều chả hiểu sao tin đồn lại bị tam sao thất bản thành đồng chí bị thánh thần táng cho sấp mặt luôn.

Kết quả, chính kế hoạch do đồng chí Cao Biền dày công dựng lên lại quay ra đạp vào mặt đồng chí. :v

P/s: Rất xin lỗi quý vị vì hai ngu kiến của mình đang nỗ lực chổng ass vào mặt nhau.

Nhưng chúng ta đang lao đầu vào lĩnh vực ước đoán, vì vậy điều này là hoàn toàn bình thường.
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
15. NGÔ QUYỀN_Nhấn chìm quân Nam Hán


Nhà họ Ngô ở đất Đường Lâm có truyền thống làm quý's tộc.

Năm 897, ông quý's tộc Ngô Mân sinh được một cậu ấm tướng mạo éo được bình thường, lại có 3 nốt rồi ở lưng.

Thầy tướng số ngó thấy mới phán:"Thằng này mai sau kiểu gì cũng thành bảo kê có số má, xưng bá một phương."

Ông quý's tộc Mân bèn hớn hở đặt tên cậu quý tử là Quyền.

Cậu quý tử Ngô Quyền dậy thì thành công vãi chuối, càng lớn càng đẹp trai lồng lộn.

Mắt sáng, dáng ngon, có trí, có dũng, khoẻ thì như trâu như bò.

Thời mới lập nghiệp, cậu ấm Ngô Quyền đầu quân cho ông Dương Đình Nghệ.

Ít lâu sau, nhờ con cha cháu ông cùng với đẹp trai lai láng mà hốt được luôn cô con gái ông Nghệ.

Năm 931, ông bố vợ, tức ông Dương Đình Nghệ, đem quân ra bắc đánh đuổi giặc Nam Hán.

Nghĩ mãi không biết chức gì hay hay nên lại dùng tạm chức Tiết độ sứ, trở thành bảo kê khủng của dân Giao Chỉ.

Năm 937, anh Kiều Công Tiễn uất ức chuyện không được làm rể ông Dương Đình Nghệ nên quyết định thủ tiêu luôn ông Nghệ và lên thay thế ông.

Sau đó, anh Tiễn cảm thấy sự nghiệp làm bảo kê Giao Chỉ éo có tí tương lai nào nên quyết định quy phục Nam Hán.

Thời buổi ấy điện thoại chưa được phát minh, thông tin chậm chạp, mãi tới năm 938, anh giai Ngô Quyền mới biết tin ông bố vợ bị thủ tiêu.

Anh giai lập tức dẫn binh từ Ái Châu ra rửa hận.

Anh Kiều Công Tiễn vừa hay tin đầu gấu Ái Châu dẫn quân đi hỏi tội thì sợ vãi tè, vội vàng kêu cứu nhà Nam Hán.

Quá nhọ cho anh Tiễn khi quân Nam Hán tính tình thong dong, ẻo lả, còn chưa kịp thò mặt sang thì anh đã bị đầu gấu Ái Châu xử đẹp.

Tướng Nam Hán là anh giai Hoằng Tháo nghĩ kiểu: "Mất công sang đây, éo làm được cái gì mà mò về thì nhục vãi tè".

Thế là anh quyết định tiếp tục tiến công.

Anh giai Ngô Quyền nghe phong thanh có thằng Hoằng Tháo nào đó mò sang thì bình tĩnh nói với tướng sĩ: "Cái thằng trẻ trâu, từ xa đến, quân sĩ đang mệt mỏi vãi chuối, lại bị tao thủ tiêu thằng nội ứng nên đảm bảo mất cmn vía rồi."

Nói thế thôi chứ anh giai Ngô Quyền cũng éo dám khinh địch.

Anh thao thức cả đêm, lăn lộn tới sáng thì nghĩ ra được kế sách-mà-ai-cũng-biết-là-kế-gì-đấy.

Anh sai người đem cọc nhọn bịt đầu sắt đóng ngay cửa sông Bạch Đằng.

Sau đó anh chém gió câu giờ với anh Hoằng Tháo chờ thủy triều lên.

Anh Hoằng Tháo thấy anh Ngô Quyền chém gió hay hay thì cũng hớn hở tiếp lời quên cmn giờ giấc.

Tới khi thủy triều lên che khuất bãi cọc, anh Ngô Quyền mới giả đò tong tẩy cong đuôi bỏ đi.

Anh Hoằng Tháo trót si mê anh Ngô Quyền nên giong buồm đuổi theo, thuận lợi lọt vào giữa trận địa.

Thủy triều rút, đội thuyền của anh Hoằng Tháo mắc kẹt giữa bãi cọc, thủng tan tành, vỡ trận trong chưa đầy một nốt nhạc.

Anh Ngô Quyền cho thuyền nhỏ lạng lách, đánh võng, bơi vào vào úp sọt đội thuyền đã bét nhè của anh Hoằng Tháo.

Anh Hoằng Tháo cảm thấy bản thân bị lừa gạt, đau lòng bỏ đi.

Nhưng anh Ngô Quyền thừa thắng xông lên, bắt giết anh Hoằng Tháo không thương tiếc.

Mùa xuân năm 939, mưa phùn bay bay, Anh Ngô Quyền xưng vương, lập ra nhà Ngô.

Địa chỉ kinh đô mới là Số 00/Cổ Loa/Phong Châu.

Năm 944, anh giai Ngô Quyền về chầu ông bà, thọ 47 tuổi, để lại 2 bà vợ và 4 thằng con nheo nhóc.

Vợ con anh nghĩ mãi không ra Miếu hiệu với Thụy hiệu nào hay hay, nên cuối cùng thôi khỏi đặt.

Sử sách sau này mỗi khi nhắc tới anh thì gọi một cách ngắn gọn là Tiền Ngô Vương.

Bài viết được cập nhật sớm nhất tại:

 
Việt Nam - Một Lịch Sử
16.DƯƠNG TAM KHA


Năm 944, trước lúc lâm chung, anh giai Ngô Quyền ngỏng đầu ngó quanh giường thì thấy mỗi ông anh vợ Dương Tam Kha là có vẻ có tích sự.

Anh Quyền bèn trăn trối, nhờ cậy anh Dương Tam Kha chăm nom, dìu dắt thằng con Ngô Xương Ngập.

Anh Dương Tam Kha gật đầu cái rụp, bảo: “Chú cứ việc yên tâm mà ngỏm tỏi, cả thế giới cứ để anh lo.”

Anh Ngô Quyền kiểu còn chút hơi tàn, máu không chạy kịp tới não nên nghe thế mà cũng yên tâm ngỏm tỏi thật.

Việc đầu tiên anh Dương Tam Kha làm sau khi chôn anh Ngô Quyền xuống đất là dẹp cmn thằng cháu Ngô Xương Ngập qua một bên để lên làm vua, xưng là Dương Bình Vương.

Vậy việc anh Dương Tam Kha “cướp ngôi” chỉ là để sướng cái thân anh hay còn có nguyên nhân sâu xa nào khác?

Anh Dương Tam Kha vốn là cậu ấm của Tiết Độ sứ Dương Đình Nghệ, cái lò đào tạo ra cả đống thanh niên đẹp trai, tài giỏi, trong đó có anh Ngô Quyền tiếng tăm lừng lẫy.

Danh tiếng của ông bố anh chính là bảo chứng hùng hồn cho việc giống nhà anh tốt, anh ắt có tài.

Chính anh Dương Tam Kha cùng với thằng cháu Ngô Xương Ngập đã chỉ huy đội quân tiên phong tiến vào Đại La dẹp phứt Kiều Công Tiễn, cái anh ngày trước nghịch ngu đi giết ông bố anh Kha.

Rồi khi thấy anh Ngô Quyền chuẩn bị gọi hội ra đánh thì lại ngu thêm phát nữa là chạy đi cầu cứu nhà Nam Hán.

Anh Dương Tam Kha cũng là người cuối cùng mà anh Hoằng Tháo ngó thấy trên đời khi chính tay anh đã chém bay đầu anh Tháo trong trận Bạch Đằng.

Anh Dương Tam Kha chắc phải yêu quý ông em rể Ngô Quyền một cách lồng lộn nên mới chịu để yên cho anh Ngô Quyền lên ngôi.

Nhưng yêu quý ông em rể không có nghĩa là yêu quý luôn cả thằng cháu, nhất là khi thằng cháu đó lại tỏ ra ít có tích sự và xấu tính vãi xoài.

Xấu tính như nào bài sau sẽ rõ.

Trong một diễn biến khác, hào thổ địa phương liên tiếp nổi dậy cát cứ ở nhiều nơi, chính quyền non trẻ rơi vào tình trạng vãi cả loạn.

Tóm lại, anh Dương Tam Kha cảm thấy giang sơn có biến, cảm thấy thằng cháu bất tài, lại càng cảm thấy anh lên ngôi là điều đúng đắn.

Kết quả tất yếu là sau khi chôn kĩ anh Ngô Quyền xuống 3 tấc đất, anh Dương Tam Kha đã thẳng chân đạp thằng cháu Ngô Xương Ngập khỏi ngai vàng.

Ngô Xương Ngập “đáng thương” sau khi bị đạp khỏi ngai vàng thì chạy đi trốn biệt trong nhà hào trưởng Phạm Lệnh Công (ở Hải Dương ngày nay).

Ông này 3 lần đưa Ngô Xương Ngập vào rừng núi Hun Sơn trú ẩn để tránh sự truy bắt của anh Dương Tam Kha.

Quá tam ba bận, anh Kha đâm ra chán không thèm bắt nữa.

Ngô Xương Ngập bấy giờ mới có thời gian rảnh để duy trì nòi giống, lấy vợ rồi sinh ra thằng cu Ngô Xương Xí, một trong những thanh niên tiêu biểu góp công làm loạn đất nước sau này.

Dương Tam Kha méo ưa gì thằng cháu trưởng, nhưng lại tỏ ra yêu thích thằng cháu thứ là Ngô Xương Văn, nhận hẳn làm con nuôi, hết sức trọng dụng.

Chẳng rõ Dương Tam Kha có lỡ đập đầu vào gối mà quên béng mất việc mình vừa mới cướp ngôi nhà nó, đuổi ông anh nó chạy bán sống bán chết hay không.

Năm 950, Dương Tam Kha còn hồn nhiên sai thằng con nuôi Ngô Xương Văn đi dẹp loạn ở Thái Bình.

Ngô Xương Văn cảm thấy đường đi Thái Bình xa xôi, hiểm trở, không bằng lộn lại đánh úp ông bố nuôi cho khỏe.

Nghĩ là làm, Ngô Xương Văn dẫn quân về lật đổ Dương Tam Kha.

Trong cơn bàng hoàng, Dương Tam Kha ú ớ không thốt nên lời.

Được cái Ngô Xương Văn cũng ghi nhận ơn nuôi dưỡng mà không giết Dương Tam Kha, thay vào đó giáng xuống làm Chương Dương sứ.

Dương Tam Kha trong lòng buồn bã và thất vọng vãi loằn, ngậm ngùi chuyển nhà về Chương Dương, khai khẩn đất hoang, dạy dân trồng trọt, cày cấy.

Cũng từ đây Dương Tam Kha mới phát hiện ra niềm đam mê đích thực của đời mình không phải làm vua mà là làm nông.

Năm 953, khi Chương Dương đã no đủ, Dương Tam Kha tiếp tục đi về phía nam khai hoang vùng đất Giao Thủy.

Sau gần 30 năm sống hết mình với niềm đam mê đích thực, Dương Tam Kha quay về quê cũ ở Thanh Hóa và lìa đời tại đây.
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
17.NGÔ XƯƠNG NGẬP_NGÔ XƯƠNG VĂN


Anh Ngô Quyền trước khi lấy chị Dương Như Ngọc và thụ phấn ra một đàn quý tử là Xương Văn, Nam Hưng, Càn Hưng thì từng qua lại với một chị mà chẳng ai thấu là chị nào, rồi đẻ ra cậu cả Ngô Xương Ngập.

Như vậy, bà Dương hậu và ông Dương Tam Kha chỉ là má ghẻ và cậu ghẻ của anh Ngô Xương Ngập.

Bảo sao ông Dương Tam Kha cưng chiều thằng Xương Văn nhưng lại thẳng chân đạp thằng Xương Ngập khỏi ngai vàng rồi đuổi nó chạy tóe khói.

Hai cậu cháu ghẻ Dương Tam Kha và Ngô Xương Ngập thực ra cũng từng có một thời mặn nồng sánh vai nhau lãnh đạo đội quân tiên phong đi đánh anh giai Hoằng Tháo.

Ngô Quyền chắc nghĩ kiểu hai cậu cháu ghẻ nhà này thân nhau vãi loằn nên mới yên tâm giao phó thằng con giai cho ông Dương Tam Kha.

Việc Ngô Xương Ngập lớn đầu rồi mà còn bị Ngô Quyền kiếm bảo mẫu cho cũng chứng tỏ phần nào chuyện năng lực của anh ta thuộc dạng éo có ổn.

Ông Dương Tam Kha trước khi phát hiện ra sở thích làm "lông" thì tính tình khá là máu lửa.

Ông là ông ứ có thích làm bảo mẫu.

Thế là thằng cháu ghẻ éo-có-tài-cho-lắm nghiễm nhiên bị đạp khỏi ngai vàng.

Ngô Xương Ngập bị ông cậu ghẻ, lúc này đã làm vua, đuổi cho chạy vòng vòng, ra vào rừng rú như đi chợ.

Rồi ông cậu ghẻ về nhận thằng cháu ruột Ngô Xương Văn làm con nuôi.

Giang hồ đồn thổi là ông định truyền ngôi cho anh này.

Kết quả ông là bị thằng cháu ruột kiêm con nuôi đá khỏi ngai vàng.

Năm 950, Ngô Xương Văn lên ngôi, lấy hiệu Nam Tấn Vương, đóng ở Cổ Loa.

Ngô Xương Ngập lúc bấy giờ đang ở Hải Dương xây dựng tổ ấm thì tự yên được Ngô Xương Văn rước về.

Xương Ngập kiểu nghĩ cho tương lai con em, mà cụ thể ở đây là bé Ngô Xương Xí, nên anh bèn đánh liều dâng tấu xin má ghẻ cho làm vua.

Bà Dương hậu kiểu phấn đấu trở thành bà má ghẻ mẫu mực của năm, thương con chồng như con ruột, bèn hào phóng gật đầu cái rụp.

Năm 951, Xương Ngập lại lên làm vua, lấy hiệu là Thiên Sách Vương.

Nhà hai đứa làm vua, cả họ vui mừng.

Cũng trong năm ấy, hai anh em nhà họ Ngô rủ nhau đi Hoa Lư nghỉ mát, tiện thể tẩm quất anh Đinh Bộ Lĩnh.

Phải nỗi anh Đinh Bộ Lĩnh cứng vãi loằn, hai anh em nhà họ Ngô lại đành lủi thủi dắt tay nhau đi về.

Nhà bà Dương hậu vui mừng chưa được mấy ngày thì anh Ngô Xương Ngập bắt đầu cảm thấy có tới hai đứa làm vua thì nhiều quá.

Anh bèn cậy lớn hiếp bé, cấm anh Ngô Xương Văn tham gia chính sự.

Anh Ngô Xương Văn tính tình yếu đuổi, ủy mị nên cũng phấn khởi để ông anh giai đè đầu cưỡi cổ.

Giang hồ đồn đại Ngô Xương Ngập còn định thủ tiêu Ngô Xương Văn để một mình làm vua.

Xui nỗi chưa kịp giở trò thì đã gặp tai nạn thương tâm trong khi đang nỗ lực duy trì nòi giống, hay nói ngắn gọn là thượng mã phong, mà qua đời, ở ngôi vẻn vẹn 4 năm.

Bấy giờ tình hình trong nước vãi cả loạn, nhiều nơi không thần phục triều đình.

Ngô Xương Văn đem quân đi dẹp giặc Chu Thái, thành công mĩ mãn.

Số anh Ngô Xương Văn kể cũng lắm cái hên.

Nhà bị cướp,trong khi thằng anh bị đuổi cho chạy tóe khói thì mình lại được "giặc" nhận làm con nuôi, yêu chiều hết mực.

Đem quân về lật đổ ông cậu thì ông cậu lại cưng cháu nên éo thèm ý kiến gì, an phận đi làm "lông".

Bị thằng anh giai lật lọng đè đầu cưỡi cổ, tưởng đâu có tí sóng gió cho đời nó đa dạng, ai dè mới được vài năm thì thằng anh đã tự lăn đùng ra chết.

Nhưng thói đời vốn ghen ăn tức ở, lắm cái hên rồi thì kiểu gì cũng tới cái xui.

Anh Ngô Xương Văn rất ít khi xui nhưng một khi đã xui thì xui thấy mẹ luôn.

Năm 965, anh đem quân đi dẹp loạn ở Sơn Tây, vừa lơ ngơ thò đầu ra khỏi thuyền thì bị phục binh bắn chết, thăng thiên đột ngột đếch kịp hiểu tại sao.

Bé Ngô Xương Xí lúc này vừa mới dậy thì xong, cha chú lại chết hết ráo, thế lực yếu vãi loằn.

Trong triều thì một loạt đại thần bỗng dưng nổi hứng làm vua, tranh nhau loạn xà ngầu.

Giữa hoàn cảnh ấy, Ngô Xương Xí bé bỏng đành chạy về giữ lấy đất Bình Kiều, trở thành Ngô sứ quân trong vụ Loạn 12 sứ quân, cuối cùng đầu hàng Đinh Bộ Lĩnh.

Nhà Ngô chấm dứt tại đây.

việt_nam_một_lịch_sử
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
18. ĐINH BỘ LĨNH_Tuổi thơ dữ dội


Giang hồ đồn đại ông Đinh Công Trứ, quan thứ sử Châu Hoan, đẹp trai thì lai láng mà lại mắc chứng khó đẻ.

Ông ăn ở với bà Đàm thị cả chục năm mà không thấy sản xuất ra được cái gì hay ho.

Một hôm mát giời, bà Đàm thị nổi hứng đi tắm tiên ở khúc suối gần nhà.

Vừa lột xong cái quần thì tự yên ở đâu xuất hiện một con rái cá đã thành tinh.

Đại khái là cũng đẹp trai lai láng, và quan trọng nhất là không mắc chứng khó đẻ.

Tiếp theo thì xảy ra cái chuyện mà ai cũng biết là chuyện gì đấy.

Chín tháng sau, bé Đinh Bộ Lĩnh ra đời.

Ông Đinh Công Trứ hồn nhiên đổ vỏ mà vẫn cứ tưởng đâu mình trúng số độc đắc.

Ít lâu sau, ông Đinh Công Trứ về chầu ông bà, vì quá già yếu, hoặc vì đột quỵ khi phát hiện ra sự thật đắng lòng.

Anh rái cá phấn khởi đi dự đám ma tình địch, bị nhân dân ngó thấy, nghĩ ngon ngon nên bắt về nấu lẩu, vứt xương vào một xó.

Bà Đàm thị nghe tin dữ, hớt hải chạy tới.

Đến nơi thì tàn tiệc cmnr.

Thế là bà đành gói xương đem về treo gác bếp.

Bé Đinh Bộ Lĩnh lớn lên thông minh, kháu khỉnh, lại được ông bố rái cá di truyền cho cái tài bơi lặn, có thể ở dưới nước hàng canh giờ.

Thời gian ấy, có ông thầy địa lí người Tàu nghe giang hồ đồn đại ở đất Nam long cứ đi ba bước là dẫm phải một cái long mạch, mới mò sang xem thử.

Tới Hoa Lư thì thấy có tia sáng chiếu thẳng từ đáy đầm lên sao Thiên Mã.

Ông thầy dốt đặc khoản bơi lội nên phải tìm người xuống coi thử.

Bé Đinh Bộ Lĩnh vốn bơi lội có số má nên đương nhiên được mướn.

Dưới đầm, chỗ sâu nhất, có một tảng đá hình con ngựa, hay con ngựa hình tảng đá gì đấy.

Thầy địa lí bảo Đinh Bộ Lĩnh lấy cỏ cho nó ăn.

Con ngựa kiểu bị bỏ đói lâu ngày thấy cỏ thì mừng rớt nước mắt, ngậm chặt không chịu nhả.

Thầy địa lí nghe kể lại cũng mừng rớt nước mũi, la toáng lên: "Trúng long mạch cmnr".

Rồi thầy đưa Đinh Bộ Lĩnh ít cỏ bọc nắm xương ông bố thầy, bảo cho ngựa ăn tiếp.

Rủi cái Đinh Bộ Lĩnh lại khôn vãi xoài, khi lặn xuống thì nhét cmn vào kẽ đá.

Ông thầy tưởng xong xuôi, hí hửng cho Đinh Bộ Lĩnh ít tiền rồi yên chí về gói ghém hành lí chuẩn bị đi làm vua.

Đinh Bộ Lĩnh thì tong tẩy chạy về kể chuyện cho bà má nghe, rồi hỏi bà má hài cốt ông cha ở đâu.

Bà Đàm thị lúc này mới bẽn lẽn hé răng về cái chuyện mắc cỡ bên bờ suối năm ấy.

Rồi bà đưa cho con đống xương rái cá.

Đinh Bộ Lĩnh hớn hở đem đi tọng cho ngựa ăn không chừa lại miếng nào.

Kể từ đó, Đinh Bộ Lĩnh trở nên can đảm khác người, cầm đầu đám sửu nhi chăn bò trong xóm, lấy cỏ lau làm cờ, tập trận giả các kiểu.

Tập chán chê thì kéo đi uýnh lộn với cả bọn sửu nhi làng trên xóm dưới.

Một hôm nổi hứng quá đà còn thịt luôn con trâu ông chú giao cho đi chăn để mở tiệc "khao quân".

Ông chú ở nhà nghe tin như sét đánh ngang tai, lồng lộn vác gậy đi hỏi tội.

Phải thằng cháu tinh quái vãi loằn, chôn nửa cái đuôi xuống đất rồi bảo là trâu chui cmn xuống đất rồi.

Ông chú ngẩn ra một hồi rồi nổi điên đuổi đánh.

Đinh Bộ Lĩnh vắt chân lên cổ bỏ chạy.

Gặp khúc sông sâu, bí đường phải nhảy xuống, nhưng chưa kịp ướt đũng quần thì đã có con rồng vàng rảnh lờ hiện ra cõng qua.

Kể từ ấy Đinh Bộ Lĩnh bỏ nhà đi bụi, quãng đời sửu nhi đầy sóng gió khép lại tại đây.

#việt_nam_một_lịch_sử
 
Việt Nam - Một Lịch Sử
19. ĐINH BỘ LĨNH_Hoàng đế đầu tiên của Việt Nam


Ông bố nuôi của thanh niên Đinh Bộ Lĩnh, tức ông Đinh Công Trứ, vốn mắc chứng khó đẻ, thành ra thanh niên Đinh Bộ Lĩnh rất có cảm tình với những người không may bị tịt mất cái đường sinh sản.

Nghe giang hồ đồn đại ở Thái Bình có ông Trần Minh Công, đức độ đầy nhà mà lại bị vô sinh, thanh niên Đinh Bộ Lĩnh liền khăn gói quả mướp rồi bế theo con trai là thằng cu Đinh Liễn đến xin được nương tựa, dựa dẫm.

Ông Trần Minh Công thấy thanh niên Đinh Bộ Lĩnh nom khôi ngô, sáng sủa, lại đẻ được thằng cu kháu khỉnh thì quý lắm.

Thanh niên Đinh Bộ Lĩnh được nhận làm con nuôi, được yêu chiều hết mực, lại được giao cho cả quân để quánh trận.

Người ta quánh trận thì hùng hục như trâu bò, thanh niên đây thì dễ như ăn cháo, quánh đâu thắng đấy, được suy tôn làm Vạn Thắng Vương.

Vào một ngày đẹp trời nọ, ông Trần Minh Công về chầu ba má, thanh niên Đinh Bộ Lĩnh lên thay quyền, đưa quân về Hoa Lư, bành trướng thêm thế lực để chống Ngô và các sứ quân khác.

Dưới trướng của thanh niên này tập hợp đầy đủ các thành phần máu mặt đất Giao Châu như: Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp, Phạm Cự Lạng,...

Đặc biệt còn có cả thanh niên Lê Hoàn, sau này trở thành người sáng lập ra tập đoàn Tiền Lê.

Năm 951, Ngô Xương Văn giành lại quyền lực từ tay ông cậu Dương Tam Kha, rồi rước ông anh giai Ngô Xương Ngập về làm vua chung cho vui cửa vui nhà.

Nhà cửa yên ổn rồi thì bắt đầu đi dẹp loạn bên ngoài.

Thanh niên Đinh Bộ Lĩnh cậy nhà xây trong khe núi hiểm trở nên mặc sức lộng, không thèm quy phục.

Anh em họ Bắp lấy làm ngứa mắt lắm, tính cất quân đi quýnh.

Thanh niên Đinh Bộ Lĩnh cảm thấy mình quýnh chưa lại, bèn cử con giai yêu là Đinh Liễn vào triều hòng làm cho anh em họ Bắp hạ hỏa.

Khốn nỗi đã ghét thì làm cái gì cũng ngứa mắt.

Anh em họ Bắp vừa ngó thấy Đinh Liễn thì lập tức nổi cơn tam bành, trách thanh niên Đinh Bộ Lĩnh sao éo thèm vác cái mặt tới.

Kết quả là Đinh Liễn đáng thương bị bắt lại, đem theo đi đánh Hoa Lư.

Hai bên quýnh nhau ròng rã cả tháng trời, binh lính mệt mỏi vãi loằn mà vẫn không phân nổi thắng bại.

Đang bí não thì đột nhiên nhớ ra có đem thằng Đinh Liễn, thế là anh em họ Bắp liền giở trò mèo, treo Đinh Liễn lên cái sào rồi tuyên bố: "Không hàng thì tao giết thằng này".

Thanh niên Đinh Bộ Lĩnh đại khái cảm thấy sự nghiệp mới là quan trọng hàng đầu, thêm nữa lại vô cùng tự tin vào khả năng sinh sản.

Mất đứa này thì đẻ bù đứa khác, chứ giờ đầu hàng thì có khi hết đẻ.

Thế là thanh niên bèn dõng dạc tuyên bố: "Đại trượng phu chỉ mong lập công danh, há lại bắt chước thói đàn bà xót con hay sao."

Nói đoạn thanh niên Đinh Bộ Lĩnh lệnh cho đội nỏ cứ nhắm thẳng thằng con mà bắn.

Anh em họ Ngô thấy thanh niên này cứng vãi loằn thế thì hoảng hết cả hồn, vội vàng gỡ Đinh Liễn xuống kẻo ông bố nó bắn nó chết thật.

Rồi anh em họ Ngô chán chẳng muốn quýnh nữa, kéo quân ra về.

Tới năm 965, khi anh Ngô Xương Văn số rách bị trúng nỏ chết, các hùng trưởng địa phương thi nhau bùng cháy 🔥.

Loạn 12 sứ quân chính thức bắt đầu từ đây.

Nhờ dẻo mỏ mà thanh niên Đinh Bộ Lĩnh thu phục được Ngô Nhật Khánh và Ngô Xương Xí.

Sau đó lần lượt đánh hạ: Lữ Xử Bình, Kiều Công Hãn, Đỗ Cảnh Thạc, Nguyễn Siêu, Nguyễn Thủ Tiệp, Nguyễn Khoan, Kiều Thuận, Lý Khuê, Lã Đường.

Chỉ trong vòng vài năm, thanh niên Đinh Bộ Lĩnh đã làm cỏ sạch sẽ 11 sứ quân khác.

Mem nào muốn biết chi tiết quá trình thì tải ngay game Loạn 12 sứ quân về chơi sẽ rõ.

Năm 968, thanh niên Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, tự xưng là Đại Thắng Minh Hoàng đế, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa Lư.

#việt_nam_một_lịch_sử
 
Back
Top Bottom