Cập nhật mới

Ngôn Tình Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục

Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 80: Bạc ấy cũng mang họ Lục


A Vi tự nói xong, mới quay sang hỏi Tằng thị:
“Hầu Phu nhân có gì muốn biện giải chăng?”

Tằng thị im lặng, hồi lâu cũng chỉ khẽ cong khóe môi, cười bất đắc dĩ.

A Vi bèn đứng dậy.

Nàng biết rõ Tằng thị không thể nói thêm điều gì.

Lúc này, càng nói càng sai, chi bằng giữ im lặng.

“Đã không có gì để nói,” A Vi thản nhiên, “vậy ta trở về dùng bữa với mẫu thân.”

Nói đoạn, nàng không dây dưa thêm, nhấc chân bước thẳng ra ngoài, rời khỏi Hàm viện, dáng đi vững vàng, khoan thai nhưng dứt khoát.

Ánh mắt Lục Tuấn dõi theo bóng lưng nàng rời đi, mãi mới hoàn hồn, lẩm bẩm:
“Vậy là xong rồi sao?”

Cũng khó trách hắn ngạc nhiên.

Bởi động tĩnh ở Thu Bích viên ngày hôm qua thực sự quá mức ầm ĩ.

Lục Niệm vốn là kẻ vô lý cũng phải gây chuyện ba phần, hôm qua tự cho là mình có lý, càng làm ầm ĩ đến trời long đất lở.

Đến nỗi nửa đêm Lục Tuấn mộng thấy cảnh cây cối bị bật gốc, cột hành lang bị chém sứt mẻ.

Trong mơ không phân biệt thật giả, chỉ thấy vết sứt ấy ngày càng lớn, cột gỗ lắc lư không vững, cuối cùng “rắc” một tiếng gãy đôi, cả hành lang sập xuống, ngói vụn vỡ nát, bụi đất mịt mù, khiến Lục Tuấn bừng tỉnh, ôm cổ họng thở d.ốc mới nhận ra đó chỉ là mộng.

Thế nên hôm nay nghe tin A Vi đến Hàm viện, Lục Tuấn vội cùng Tang thị đi ngay.

Sợ lại xảy ra chuyện lớn khó giải quyết.

Lục Niệm không đến, nhưng A Vi đâu có bệnh!

A Vi không bệnh mà lại làm căng, chắc chắn sẽ chịu thiệt về quy củ và lý lẽ, nếu Lục Niệm – kẻ luôn bênh vực người nhà – lại xông tới…

Lục Tuấn thậm chí từng nghĩ, liệu đây có phải là kế sách đã được mẹ con họ bàn tính trước?

Hắn đã chuẩn bị sẵn sàng để giải quyết “quân tình” cấp bách, vậy mà A Vi chỉ lạnh lùng mỉa mai mấy câu rồi quay đầu bỏ đi, không chút lưu luyến.

Sờ chóp mũi, Lục Tuấn quay sang hỏi Tang thị:
“Nàng ấy chỉ đến để nói chừng ấy thôi sao?”

“Nếu không thì còn sao nữa?” Tang thị hỏi lại, chẳng buồn chờ câu trả lời của hắn, chỉ dịu dàng nói tiếp:
“Chúng ta cũng về thôi.”

Lục Tuấn chần chừ.

Tang thị khuyên thêm:
“Chuyện giữa phu thê phụ mẫu, con cái không nên xen vào.”

Những lời này, Lục Tuấn nghe lọt tai.

Cũng phải.

Hai người bèn cáo từ, Định Tây Hầu và Tằng thị cũng không giữ lại.

Bước ra sân, Lục Tuấn ngoảnh đầu nhìn vào trong, ánh đèn dầu sáng tỏ, rọi rõ khuôn mặt phụ mẫu, bầu không khí nặng nề, căng thẳng.

Hắn cũng bị ảnh hưởng, để Tang thị nửa kéo nửa đẩy ra ngoài.

“Vội gì chứ?” Lục Tuấn nhíu mày, “Ta chỉ muốn nói với phụ thân, đừng làm khó mẫu thân.”

Tang thị liếc hắn:
“Chính Thế tử đã nói, mẫu thân không thể nào lấy bạc, chỉ là Đại cô hiểu nhầm thôi.

Nếu mẫu thân không làm sai, Hầu gia sao lại không phân rõ đúng sai mà làm khó bà ấy?”

Lục Tuấn nghẹn lời, sững người một lúc rồi lại nói:
“Sao nàng cũng giống đại tỷ vậy?”

Tang thị giả vờ không hiểu:
“Giống thế nào cơ?”

“Thì là…” Lục Tuấn trầm ngâm suy nghĩ, rồi tìm được cách diễn đạt:
“Không phải sai cái này thì cũng sai cái kia, kiểu gì cũng phải có người sai.

Chẳng lẽ không thể không ai sai sao?”

Tang thị mỉm cười, trong lòng thầm lườm, mắng thầm: “Thật ngây thơ.”

Chỉ có trẻ con mới nói đến đúng sai, người lớn chỉ quan tâm đến lợi ích.

Sự ngây thơ này của Lục Tuấn là do Hầu phu nhân dạy.

Nhưng xét cho cùng, Tang thị cũng không thể nói bà ấy dạy sai.

Dạy con biết đúng sai, nào có gì sai?

Chỉ là sau khi dạy đúng sai, lại phân định rõ ràng: sự vô lý của Đại cô là sai, sự nhẫn nhịn của kế mẫu là đúng.

Năm này qua năm khác, kết quả chính là như vậy.

Cách dạy này, so với việc nuông chiều đến hỏng người, quả thật vững vàng và hiệu quả hơn nhiều.

Trong phòng, Định Tây Hầu ngồi thẳng lưng, đầu ngón tay khẽ gõ nhịp trên mặt bàn.

Chén trà vẫn đầy.

Lý ma ma bị tiếng gõ nhịp ấy làm cho căng thẳng, bất giác nhìn sang Tằng thị.

Tằng thị khẽ gật đầu, Lý ma ma vội lui ra ngoài, để lại không gian chỉ còn hai vợ chồng.

Định Tây Hầu lúc này mới lên tiếng:
“Chuyện ở Thu Bích viên…”

“Thê tử của A Tuấn đã nói với thiếp rồi.” Tằng thị đáp đơn giản, rồi ngừng lại một chút.

Tuy không phải bị tra hỏi, nhưng bà không hề thấy nhẹ nhõm, trong lòng vẫn đề phòng Hầu gia trách móc.

Tằng thị nói tiếp:
“Nếu chỉ là hư hỏng đồ đạc, dọn dẹp vài ba ngày là được.

Nhưng cột nhà bị A Niệm chặt đến mức ấy, không thể không đại tu.

Giờ đã cận kề tháng Chạp, tốt nhất là để qua năm mới sửa chữa, thời gian sẽ dư dả, tiện tu bổ toàn diện từ trong ra ngoài.

Nhưng thiếp nghĩ nên tranh thủ làm trước Tết, bởi dịp năm mới khách khứa qua lại nhiều, thấy thiếp đổi chỗ ở tất nhiên sẽ hỏi lý do.

Thiếp cũng không tiện nói là do A Niệm phát bệnh phá hỏng viện cũ nên buộc phải dời đi.”

Định Tây Hầu nhấp một ngụm trà, giọng thản nhiên:
“Chỉ cần nói là chưa kịp sửa xong trước Tết, đành để sang năm.

Nhắc đến A Niệm làm gì?

Lẽ nào họ còn vào Thu Bích viên kiểm tra xem sửa xong chưa sao?”

Tằng thị siết chặt tay quanh chén trà, mí mắt cụp xuống, dù trong lòng nghẹn uất nhưng giọng nói vẫn giữ được sự điềm tĩnh:
“Hầu gia nói đúng, là thiếp suy nghĩ chưa chu toàn.”

Định Tây Hầu lại nói:
“Ta thấy người hầu chỗ nàng cũng không nhiều.”

“Để lại mấy người bên Thu Bích viên dọn dẹp,” Tằng thị đáp, “nơi này cũng không rộng rãi, thiếp không thích bị vây quanh hầu hạ, thế này là đủ rồi.”

“Vậy cũng được,” Định Tây Hầu liếc nhìn bà, “A Niệm đập phá gì thì cứ để đó, thiếu gì nàng tự bổ sung vào.”

Dù Tằng thị từ hôm qua đã nhận ra rõ sự thiên vị, nhưng nghe đến đây, bà thực sự khó mà kìm nén.

Tiểu thiếp giả vờ đoan trang như Liễu nương tử, kẻ muốn làm gì thì làm như Lục Niệm, A Vi sắc sảo lạnh lùng, và cả vị phu quân cao ngạo, ích kỷ này…

“Thiếp sẽ tự bổ sung,” Tằng thị không giấu được cảm xúc trong giọng nói, chua chát đáp, “để lỡ A Niệm muốn đập phá, chỗ thiếp không thiếu đồ cho nàng ấy đập.”

Sắc mặt Định Tây Hầu tối sầm lại.

Đúng là ai nghe câu này cũng không thể vui nổi, nhưng xét cho cùng, nếu những gì A Niệm nói là sự thật, thì Tằng thị bị đập phá cũng không oan.

“Tranh chấp với nó làm gì?” Định Tây Hầu lạnh lùng hỏi, “Nó đập của nàng, ta bỏ tiền bù vào, cùng lắm thì tiền bạc xoay vòng từ tay này sang tay kia, rốt cuộc cũng là bạc mang họ Lục!”

Tim Tằng thị chợt thắt lại, ánh mắt trừng lớn, kinh ngạc nhìn Hầu gia.

Nói đến mức này, ý tứ đã quá rõ ràng.

Tằng thị giằng co trong lòng, cuối cùng không nhịn nổi:
“Hầu gia đang định tội thiếp sao?”

“Ta vẫn nhớ nàng đã quản lý Hầu phủ, nuôi dạy con cái,” Định Tây Hầu hơi nghiêng người, ánh mắt sắc bén như dao, “ta chỉ hỏi nàng, năm ngàn lượng bạc phiếu và ba rương dược liệu đó, nàng có biết chuyện hay không?”

Hơi thở của Tằng thị như ngừng lại.

Bà thấy rõ sự chất vấn trong mắt Hầu gia, đồng thời cũng nhìn thấy cả đáp án.

“Hầu gia đã định sẵn rồi, còn hỏi thiếp làm gì?” Tằng thị hít sâu, giọng nghẹn ngào, “Thiếp nói không biết, A Niệm sẽ tin sao?

Hầu gia sẽ tin sao?”

Định Tây Hầu đứng bật dậy.

Chính ông cũng từng trải qua cảm giác bị hiểu lầm mà không cách nào biện giải, như chuyện với Liễu nương tử, như chuyện với Cửu nương.

Ông từng tức giận, bất lực, chán nản, cũng từng đau đớn.

Ông không có ý ép Tằng thị đến mức không thể lên tiếng, nhưng…

“Những khoản bạc khác không quan trọng,” Định Tây Hầu nuốt khan, giọng trầm hẳn xuống, “nhưng năm ngàn lượng đó thì khác, đó là tiền và thuốc cứu mạng của A Niệm và A Vi khi ở đất Thục!”

Nói đến đây, ông chợt nhớ lại những lời A Vi từng nói ở Thuận Thiên phủ.

Năm ngàn lượng bạc đối với Hầu phủ chẳng đáng kể, nhưng với A Niệm và A Vi khi ấy, đó là mạng sống.

Những lời ấy từng khiến ông đau nhói trong lòng, giờ nghĩ lại vẫn cảm thấy khó chịu và day dứt không thôi.

Tằng thị nhắm nghiền mắt, thở dài ai oán:
“Hầu gia, mời người đi cho.”

Không thể giải thích thì chẳng cần nói thêm nữa.

Định Tây Hầu hất tay áo bỏ đi.

Tằng thị không còn phải nhẫn nhịn kìm nén cơn giận, bà chộp lấy chén trà trên bàn, định ném thẳng ra ngoài, nhưng tay vừa giơ lên lại run rẩy, cuối cùng đành hạ xuống.

Không được!

Không thể như thế!

Bà chỉ có thể nhẫn nhịn, nuốt cục tức vào lòng, tuyệt đối không được đập phá đồ đạc!

Lý ma ma bước vào, thấy Tằng thị đang trong cơn tức giận mà không thể phát tiết, bèn rón rén khuyên nhủ:
“Chén trà không đáng để đập, hay là… hay là phu nhân tìm thứ gì khác để nguôi giận?”

Tằng thị lườm Lý ma ma một cái sắc lẹm, nghiến răng nói:
“Thôi đi!”

Dù lời Hầu gia khó nghe, nhưng có một điều ông nói đúng.

Chuyện bạc tiền thôi, Định Tây Hầu sẽ không làm khó bà đến cùng.

Hòa thuận vợ chồng ư?

Con cháu đã đầy đàn rồi, bà đâu còn để tâm đến thứ gọi là tình cảm ấy?

Cho dù Hầu gia đã nhìn thấu bà không phải người không có toan tính, thì sao chứ?

Lý ma ma lại hỏi:
“Bếp đã đưa cơm tối tới, có cần dọn bàn không ạ?”

Hàm viện không có bếp riêng, món ăn để nguội sẽ khó mà hâm nóng lại.

Tằng thị chẳng buồn ăn uống, nhưng cuối cùng vẫn để dọn bàn, chỉ gắp vài miếng rồi thôi.

Bên kia, Định Tây Hầu đến Xuân Huy viên.

A Vi về từ sớm, đã dọn bàn ăn, bên cạnh để sẵn một bộ bát đũa trống, rõ ràng là phần dành cho ông.

Định Tây Hầu hơi chạnh lòng, nhìn mâm cơm đầy ắp lại thấy nghẹn ngào.

Quá cay, chỉ nhìn màu sắc thôi cũng biết.

“Ngoại tổ phụ,” A Vi “quan tâm” nói, “mẫu thân dạo này tâm trạng không tốt nên ăn đồ cay, nếu người không quen, để con bảo người mang bát nước lọc đến rửa bớt vị đi nhé?”

Lục Niệm không quan tâm bọn họ nói gì, chỉ chăm chú ăn uống.

Nàng chẳng hề thấy cay, trái lại còn ăn rất ngon miệng.

“Không sao,” Định Tây Hầu nhìn cảnh ấy, có lẽ vì áy náy, hoặc cũng muốn tìm chút an ủi, “ta cứ ăn thế này.”

Một bữa cơm khiến Định Tây Hầu mồ hôi đầm đìa.

Rời Xuân Huy viên, vừa gặp cơn gió lạnh thổi qua, ông không kìm được mà rùng mình.

Không quen.

Chỉ thay đổi một bữa ăn thôi mà đã khiến ông – người đã sống bao năm ở kinh thành – có cảm giác lạ lẫm đến vậy trong đêm đông.

Ông chợt nhớ tới quãng thời gian trẻ tuổi khi đóng quân ở Đông Việt, khí hậu nơi đó khác hẳn kinh thành, nhiều binh sĩ không quen thời tiết, bệnh nặng đến suýt mất mạng…

Vậy còn A Niệm thì sao?

Khi nàng đến đất Thục, đã làm thế nào để thích nghi?

Những gì A Vi kể chỉ là một góc nhỏ, nhưng chính cái góc nhỏ ấy lại khiến Định Tây Hầu càng khao khát biết thêm, càng thêm đau lòng vì không thể hiểu hết.

Thở dài một tiếng.

Lời A Vi tuy khó nghe, nhưng không sai.

Ông quả thực chẳng mấy bận tâm đến bạc tiền, yêu cầu đối với Tằng thị cũng chỉ là chăm lo Hầu phủ và nuôi dạy con cái tốt.

Không cầu tụng kinh niệm Phật để trường sinh bất lão, nhưng cũng không thể phá nát tượng Phật rồi đọc bừa mấy câu kinh.

Đêm đã khuya.

Gió Tây Bắc gào thét.

Trong Hàm viện, Tằng thị trằn trọc, khó lòng ngủ yên.

Rõ ràng tinh thần đã mệt mỏi rã rời, mấy ngày nay lại thiếu ngủ, vậy mà vừa nằm xuống, Tằng thị vẫn không thể chợp mắt sâu.

Những hình ảnh hỗn loạn, chắp vá không ngừng xoay vòng trước mắt, bà ngồi bật dậy, vén chăn, phát hiện đệm chăn đã ướt đẫm mồ hôi.

Lý ma ma nghe thấy động tĩnh cũng tỉnh giấc.

Tằng thị muốn uống nước, Lý ma ma vội vàng chuẩn bị.

Đã quen đi lại trong bóng tối ở Thu Bích viên, giờ chuyển sang nơi ở mới chỉ mới đêm thứ hai, mọi thứ đều lạ lẫm.

Bà dò dẫm bước đi theo thói quen cũ, chẳng mấy chốc vấp vào chiếc ghế đẩu, đau đến mức bật thốt:
“Ôi chao!”

Lúng túng mãi mới châm được đèn dầu, ánh sáng lập tức thắp bừng căn phòng.

Lý ma ma nheo mắt thích nghi với ánh sáng, rót trà mang đến cho Tằng thị.

Tằng thị đã đợi đến mức mất kiên nhẫn, gắt lên:
“Già rồi tay chân vụng về, không biết cẩn thận hơn à?”

“Vâng ạ,” Lý ma ma cúi đầu đáp, liếc xuống bắp chân mình, đoán chừng chỗ va vừa rồi chắc chắn sẽ bầm tím.

Tằng thị nhấp ngụm trà, cổ họng dịu lại đôi chút, thở dài một hơi nặng nề, sau đó hít sâu thêm lần nữa.

Trong nhịp thở, bà chợt ngửi thấy một mùi hương nhàn nhạt, lạ lẫm.

“Mùi gì thế?” Tằng thị cau mày hỏi.

Lý ma ma ban đầu không để ý, nhưng khi nghe hỏi mới bắt đầu nghiêm túc hít hà.

Dù sao cũng là nơi ở mới, sợ rằng trong phòng có thứ gì không ổn, bà bèn lom khom, cúi ngửi khắp nơi, cuối cùng dừng lại bên khung cửa sổ.

“Hình như mùi từ ngoài thổi vào,” bà nói, “phu nhân tránh gió, để nô tỳ mở cửa sổ xem thử.”

Vừa mở khung cửa sổ phía bắc, cơn gió lạnh tràn vào mang theo mùi hương nồng nặc.

“Thịt?

Là mùi thịt hầm sao?” Lý ma ma không dám tin vào mũi mình.

Ai lại hầm thịt giữa đêm khuya thế này?

Không, đây là Hầu phủ, mùi thức ăn từ đại trù phòng không thể bay đến tận đây được.

Vậy thì…

“Gió tây bắc thổi tới…” Lý ma ma lẩm bẩm, “Xuân Huy viên?

Cô phu nhân bị gì vậy?

Giữa đêm hầm thịt?”

Tằng thị nghiến răng:
“Điên rồi!”

Điên đến mức nửa đêm còn hầm thịt.

Nhưng mùi hương kia thực sự quá đỗi nồng nàn, xộc thẳng vào mũi, trượt xuống cổ họng, lan đến tận dạ dày, khiến chiếc bụng đang trống rỗng – bởi bữa tối chỉ ăn được vài miếng – không khỏi réo lên một tiếng “ọc” rõ rệt.

Lý ma ma nghe thấy, ngạc nhiên nhìn Tằng thị.

Tằng thị hiếm khi để lộ sự thất thố như vậy, bực bội quát:
“Còn không đóng cửa sổ lại đi!”

Lý ma ma vội vàng đóng sập cửa sổ, sau đó dè dặt hỏi:
“Phu nhân muốn nô tỳ mang chút điểm tâm không ạ?”

Tằng thị không trả lời, coi như ngầm đồng ý.

Nhưng Lý ma ma tìm khắp cũng không thấy chút điểm tâm nào.

Các hộp điểm tâm đều để lại ở Thu Bích viên, đã bị đập phá tan tành.

Lúc chuyển gấp sang đây chỉ mang theo y phục và trang sức, nào có nhớ chuẩn bị thêm chút đồ ăn vặt.

Những món ăn nhẹ mà ban ngày nhà bếp mang đến để thử vị cũng đã bị Biểu cô nương ăn sạch.

Giờ này, Lý ma ma biết đi đâu kiếm điểm tâm cho phu nhân lót dạ?

Tằng thị quay người nằm xuống.

Ban đầu không nhắc thì còn đỡ, nhắc đến rồi lại không có, càng nghĩ càng thấy đói.

Mùi hương kia, ban đầu còn nhạt nhòa, không để tâm thì khó nhận ra.

Nhưng một khi đã ngửi được, ghi nhớ rõ trong đầu thì không thể xua đi nổi.

Tằng thị vốn đã khó ngủ, giờ bụng lại cồn cào vì đói, trằn trọc mãi cho đến khi trời sáng.

Dù đã trải qua bao đêm mất ngủ, nhưng đêm nay thực sự khiến bà nhớ mãi không quên.

Sáng sớm, Lý ma ma vội dọn bàn ăn.

Bữa sáng chủ yếu là món nhạt, nhất là Tằng thị vốn ưa cháo ngọt, lại càng không thích những món đậm vị.

Bà chỉ ăn qua loa nửa bát.

Đói quá giờ, thực ra cũng chẳng còn cảm giác thèm ăn, huống chi đâu phải cái hương vị đậm đà kia.

Lý ma ma nhìn thấy, trong lòng lo lắng, bèn đặc biệt đến đại trù phòng dặn dò, bảo buổi trưa làm thêm vài món đậm đà, nặng vị hơn.

Đại trù phòng vui vẻ đồng ý.

Bởi vì bên Xuân Huy viên cũng vừa có người đến dặn, yêu cầu làm mấy món cay, đặc biệt là món gà cay lần trước, nhất định không được thiếu.

Đến trưa, các món nóng hổi được mang tới Hàm viện.

Tằng thị thử lại món gà cay từng ăn trước đó, rồi nếm thử vài món cay khác.

Hương vị đậm đà, nồng nàn lại đúng lúc hợp với khẩu vị bà hiện tại.

Thấy Hầu phu nhân ăn ngon miệng, Lý ma ma mới thở phào nhẹ nhõm.

Con người mà, ăn không ngon, ngủ không yên thì sao có thể giữ được tâm trạng tốt?

Về giấc ngủ, Lý ma ma nhất thời chưa nghĩ ra cách nào, nhưng ít nhất đồ ăn đã cải thiện thì cũng là một điều đáng mừng rồi.

Tối đến, bàn ăn vẫn bày biện nửa món cay, nửa món nhạt.

Tằng thị còn gọi thêm rượu.

Đúng là rồi!

Đã đến rồi!
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 81: Đặt Trước Mặt Bà Ấy Rồi Sẽ Biết


Đêm khuya.

Gió lạnh gào rít.

Trên giường, Tằng thị nhíu chặt mày, trằn trọc không yên.

Cảnh trong mơ dần hiện lên—vườn đầy hoa hạnh nở rộ, làn gió nhẹ thoảng qua, cánh hoa bay lả tả.

Trong phòng đặt một chiếc ghế bập bênh.

Từ trên ghế, một người nghe thấy tiếng động liền nửa ngồi nửa dựa, quay đầu lại cười dịu dàng—đó là Bạch thị.

Tằng thị ý thức rõ ràng rằng mình đang mơ, là một giấc mơ về rất lâu trước đây.

Thế nhưng bà lại không thể thoát ra khỏi giấc mơ đó.

Bà thấy bản thân khi còn trẻ, bước chân nhẹ nhàng tiến về phía Bạch thị.

Bước vào phòng, ngay sau cánh cửa chỗ tránh gió là một chiếc nôi nhỏ, trong nôi là đứa trẻ mới hơn một tuổi, đôi mắt tròn xoe, miệng líu lo cười đùa.

Trên nôi treo hai dây chuông nhỏ, tua rua buông thõng, chỉ cần kéo nhẹ là tiếng leng keng vang lên.

“Hầu gia cuối cùng cũng làm xong rồi sao?”

“Làm sao được chứ,” Bạch thị mỉm cười, “ông ấy chỉ nói chắc như đinh đóng cột suốt hơn một năm, cuối cùng cũng chịu thừa nhận bản thân không có thời gian làm đồ chơi cho A Niệm, đành phải để người ta mua về.

Ta sớm biết ông ấy chẳng có rảnh rỗi, nhưng ông ấy lại không tin, cứ bắt mẹ con ta phải chờ.

Nếu không vì thế, thì bọn ta đã sớm có chuông chơi rồi, đúng không nào, A Niệm?”

Bé Lục Niệm còn nhỏ dại, không hiểu gì, chỉ cần mẹ trêu chọc là lại cười khanh khách, tay chân múa máy vui vẻ.

“Hầu gia cũng chỉ vì thương A Niệm nên mới muốn tự tay làm thôi.”

Nghe vậy, Bạch thị đôi mắt phượng cong lên, nụ cười ngọt ngào chẳng giấu được, khẽ lẩm bẩm:
“Ông ấy chỉ là quá bận thôi, nhưng chuyện này cũng chẳng trách được.

Ông ấy còn trẻ đã kế thừa tước vị, lại không có trưởng bối nào dìu dắt, không phải càng phải gắng sức sao?”

“Đúng là như vậy.”

“Đừng chỉ lo chuyện trò,” Bạch thị chỉ tay về phía khay đựng bánh kẹo đủ loại trên bàn, “ta thấy mấy viên kẹo bánh ú này ngon lắm, ngươi cũng nếm thử đi.”



Cảnh vật trước mắt tan biến trong làn gió xuân.

Khi rõ ràng trở lại, đã là mùa thu, hoa quế vàng rực rỡ.

Lục Niệm lúc này đã lớn thêm mấy tháng, gương mặt tròn trịa, đôi mắt đen láy.

Một tiểu nha hoàn ngồi xổm không xa phía trước nàng, tay cầm trống bỏi lắc lắc kêu “đông đông”:
“Tiểu thư, nhìn xem đây là gì nào?

Đây là cái trống nhỏ Hầu gia làm riêng cho người đấy!”

Lục Niệm líu lo gọi “ô ô”, đôi chân nhỏ nhắn chập chững bước tới.

Nàng vừa mới học đi không lâu, bước đi còn loạng choạng, có một bà vú cúi người theo sát sau lưng để trông chừng.

Nàng vừa chạy vừa cười, nhào vào lòng nha hoàn, hai tay ôm chặt lấy trống bỏi, cười khanh khách.

Nàng chưa biết nói nhiều, chẳng phát âm được chữ “trống”, chỉ biết gọi “phù phù”.

Bạch thị nhìn con gái, bật cười vui vẻ.

“A Niệm thích chứ?” Tằng thị bước lên, cúi đầu quan sát, “Cái trống này hình như khác với loại bán ngoài chợ.”

“Hầu gia tự tay làm đấy,” Bạch thị nói, “ông ấy bảo làm cái này tiện hơn làm chuông, rảnh rỗi là có thể làm xong, mấy hôm nay A Niệm mê mẩn lắm.”

“Vậy à… A Niệm, cho dì mượn trống chơi với được không?”

Đôi tay nhỏ bé ôm chặt trống bỏi, Lục Niệm quay người trốn sau lưng bà vú, chẳng chịu đưa.

“Đồ keo kiệt.” Bạch thị trêu chọc.

Lục Niệm ló nửa khuôn mặt ra từ sau lưng bà vú, nhe răng cười với mẹ.

Lúc này, một bà tử từ tiểu trù phòng bưng khay đồ ăn ra, vui vẻ đặt lên chiếc bàn nhỏ bên cạnh Bạch thị.

Bạch thị cười tươi:
“Vừa làm xong bánh hoa quế đấy, mới hái hoa quế mấy ngày trước thôi, nếm thử chút đồ mới đi.”



Đã là tháng Giêng.

Tằng thị lại đến Xuân Huy viên.

Khắp nơi dán giấy hoa trang trí, nha hoàn bà tử bận rộn chuẩn bị, tràn đầy không khí rộn ràng của Tết.

Lục Niệm mặc một bộ đồ đỏ rực, cả áo choàng cũng đỏ, đầu búi hai búi tóc nhỏ, buộc dây lụa đỏ thắm.

“Thật là rực rỡ.”

Bạch thị nhìn con gái đang chơi đùa với tuyết trong sân, ánh mắt dịu dàng:
“Con bé thích màu đỏ, nhất định phải mặc đồ đỏ, đổi sang màu khác là không chịu.

Ngày nào cũng đòi chơi tuyết, quần áo thay liên tục, may mà trước Tết đã chuẩn bị sẵn mấy bộ đỏ, nếu không chẳng đủ mà mặc.”

“Màu đỏ nhìn vào đúng là vui mắt.”

“Đúng vậy,” Bạch thị cười rạng rỡ, tiện tay lấy một nắm hạt tùng từ khay bánh kẹo đưa qua, “biết ngươi thích ăn, ăn nhiều một chút.”

Tằng thị đón lấy, đầy một lòng bàn tay.

Nhìn lại khay bánh, vẫn là các loại hạt, kẹo, và mứt đủ màu sắc, hai khay xếp chồng lên nhau.

Không cầu kỳ trang trí đẹp mắt, chỉ chú trọng vào sự đầy đặn, sung túc.



Lại một mùa hè nữa đến.

Phủ Định Tây Hầu lại đón thêm một thành viên mới.

Lục Tuấn vừa đầy tháng ba ngày, trong phủ tấp nập thân bằng cố hữu đến chúc mừng.

Tằng thị cũng cầm thiếp mời, đích thân đến dự lễ.

Xuân Huy viên rộng rãi là thế, vậy mà hôm nay đông đến mức không còn chỗ chen chân.

Bạch thị vừa sinh con được mấy ngày, đang nửa nằm nửa ngồi trên giường, thần sắc trông có vẻ rất tốt, dường như đã hồi phục không ít.

“Đã gặp A Tuấn chưa?” Bạch thị mỉm cười dịu dàng.

“Chưa gặp đâu, bà mụ đang bế nó, xung quanh đông người quá, để lát nữa ta xem sau.”

Lục Niệm ngồi ở phía trong giường, nép bên cạnh mẫu thân, chăm chú nghịch món đồ chơi trong tay.

Tằng thị nhẹ nhàng hỏi nàng:
“A Niệm, đệ đệ có đáng yêu không?”

Lục Niệm ngẩng đầu lên, bĩu môi một cái rồi nép vào lòng Bạch thị, lí nhí thốt ra một chữ:
“Xấu.”

Bạch thị nghe vậy bật cười không dứt, ôm con gái vào lòng, dịu dàng dỗ dành:
“Qua vài ngày nữa sẽ khá hơn thôi.”

“Thật không?” Lục Niệm đếm ngón tay nhỏ xíu của mình, vừa lắc đầu vừa lẩm bẩm:
“Xấu, không cần; ngốc, cũng không cần…”

Những lời ngây ngô ấy khiến các bà vú xung quanh cũng không nhịn được mà cười.

Bạch thị cười đến mức bụng đau, phải kêu “ôi chao” mấy tiếng mới dịu lại, giải thích:
“Hôm ta sinh A Tuấn, Hầu gia vừa lo lắng chờ đợi, vừa phải trông A Niệm.

Con bé nói năng còn chưa rõ ràng, khiến Hầu gia sốt ruột mắng một câu ‘ngốc’, thế là con bé ghi hận luôn.

Giờ thì đệ đệ xấu không cần, đệ đệ ngốc cũng không cần.”

Tằng thị cũng bật cười, trong lòng bỗng thấy nhẹ nhõm hơn đôi chút.

Đến khi làm lễ tắm ba ngày, bà mụ bế Lục Tuấn lên, miệng rào rào chúc những lời tốt đẹp.

Khách khứa vây kín xung quanh, Tằng thị chẳng nhìn rõ được mặt đứa bé.

Đợi đến lượt mình thả quà mừng vào chậu nước, bà thấy chiếc chậu lớn đã đầy ắp thỏi vàng thỏi bạc lấp lánh.

Bà cầm một thỏi bạc nhỏ bỏ vào, thỏi bạc lập tức chìm hẳn vào giữa đống vàng bạc, chẳng còn tìm thấy đâu nữa.

Tằng thị nghe thấy có người cười nói:
“Định Tây Hầu đổ cả nửa chậu vàng vào rồi, nếu không ngại khách sau không còn chỗ mà bỏ, e là Hầu gia sẽ đổ đầy chậu cho xem.”

Nghe xong, bà bất giác ngoái đầu nhìn vào phòng.

Định Tây Hầu với dáng người cao lớn nổi bật giữa đám đông, rất dễ nhận ra.

Ông đang khéo léo bế đứa trẻ, trò chuyện rôm rả với mọi người, thần sắc tươi vui rạng rỡ, ánh mắt tràn đầy niềm tự hào.

Tằng thị bỗng nhớ đến những khay bánh kẹo thường bày ở Xuân Huy viên.

Khay bánh ở Xuân Huy viên lúc nào cũng đầy ắp, bất kể là ngày lễ hay ngày thường.

Mỗi lần bà đến, chưa từng thấy thiếu thốn bao giờ.

Không giống với Tằng gia.

Từ khi bá phụ bà có chút địa vị trước mặt Hoàng thượng, Tằng gia mới khá giả hơn đôi chút, nhưng chi tiêu trong nhà cũng tăng lên không ít.

Chỉ khi đến thăm trưởng phòng của gia tộc, bà mới thấy những khay điểm tâm, các loại hạt và bánh kẹo bày biện chỉnh tề, tinh xảo.

Nhưng Tằng thị rất ít ăn.

Đó là đồ để đãi khách, mà bà chỉ là cháu gái, không phải khách khứa.

Thế nhưng, so với sự tinh tế tỉ mỉ ấy, Tằng thị lại thích cảm giác “đầy ắp” hơn—cái cảm giác thừa thãi, phong phú đến mức tràn cả ra ngoài, khiến bà khắc sâu vào lòng.



Những mảnh ký ức đan xen, quay cuồng như thước phim tua ngược.

Tằng thị không hề muốn mơ về những chuyện cũ thuở thiếu thời ấy, nhưng giấc mơ đâu chịu nghe theo lòng người.

Dù biết rõ mình đang mơ, bà vẫn không thể nào tỉnh lại.

Cảnh vật lại xoay chuyển, lần này là vào đầu thu của một năm khác.

Bạch thị nửa nằm nửa ngồi trên giường, tay che miệng ho liên tục, mãi mới dừng lại được.

Bà trông gầy đi nhiều, gương mặt hóp lại, hai gò má lõm sâu, thế nhưng khi nhìn thấy người khác, nụ cười dịu dàng vẫn thường trực trên môi.

“Bệnh thì đúng là nhàm chán thật, chẳng mấy ai đến chuyện trò, may mà có ngươi thường xuyên ghé thăm ta.”

“Sao ta lại chê ngươi phiền chứ?

Ước gì ngày nào ngươi cũng đến mới tốt.”

“Hầu gia cũng vất vả lắm, ban ngày lên triều, tối về lại phải lo lắng cho ta.

Ông ấy còn mặt dày đến cầu xin thái y chiếu cố, thái y bảo ta chẳng có gì nghiêm trọng, chỉ là cơ thể yếu ớt do giao mùa thôi.”

“Ta hiểu rõ cơ thể mình, chắc cũng chỉ do nhiễm lạnh, tẩm bổ thêm là ổn.

Hầu gia cứ lo sợ quá mức, tự mình dọa mình, còn nói nếu ta có mệnh hệ gì, A Niệm và A Tuấn còn nhỏ thế này thì biết làm sao?”

“Nghe mà vừa buồn cười vừa bất lực!”

“Ta còn bảo ông ấy rằng, nếu ta thực sự có chuyện gì, phủ Hầu không thể không có người quản lý, ông ấy nên tái giá đi.

Ta đi sớm, bọn trẻ chưa kịp ghi nhớ nhiều, sau này sẽ dễ hòa hợp với kế mẫu hơn.

Nếu cứ khóc lóc nhớ mẫu thân ruột, kế mẫu cũng khó xử lắm.”

“Nghe xong, ông ấy lại nổi giận, lải nhải trách móc ta, ta đành phải dỗ rằng ta không sao, chỉ cần dưỡng bệnh tốt sẽ lại khỏe mạnh.”

“Ta còn phải ở bên A Niệm và A Tuấn, nhìn bọn trẻ lớn lên nữa cơ, sao ta nỡ rời xa bọn chúng chứ?”

“Hôm qua, Hầu gia lại lo lắng thái quá, làm cả A Niệm sợ hãi, nửa đêm tỉnh giấc khóc lóc gọi ta, bảo sợ ta sẽ không còn… Đúng là!

Đều tại Hầu gia dọa con bé!”

Bạch thị dù ốm bệnh nhưng vẫn nói rất nhiều, giọng điệu thảnh thơi, tâm trạng dường như chẳng chút u sầu.

Tằng thị lắng nghe bà lải nhải, cũng phụ họa:
“Đúng thế, tự bản thân có lòng tin mới là quan trọng nhất.

Ta thấy vẫn là do sinh A Tuấn vào mùa hè, trời quá nóng, sau sinh lại cực nhọc không nghỉ ngơi đủ, ham mát mà sinh ra chút bệnh, lần này chẳng qua là phát tác thôi.”

Bạch thị chẳng bận lòng, cười khúc khích suốt.

Nhưng chỉ đến ngày hôm sau, Bạch thị đã qua đời.

Tằng thị đến viếng, nghe người trong Hầu phủ kể rằng bệnh tình đột ngột trở nặng, thở gấp, co giật rồi hôn mê sâu, chẳng bao giờ tỉnh lại nữa.

Người nhà họ Bạch khóc lóc thảm thiết trước linh cữu, liên tục lặp lại:
“Sao mà nhanh quá!”
“Từ lúc đổ bệnh đến giờ chỉ vỏn vẹn một tháng!”
“Chính bản thân muội ấy còn không tin là bệnh nặng nữa cơ mà!”

Chỉ có Tằng thị là nghĩ—quá chậm rồi, thật sự quá chậm.

Chậm đến mức bà không thể kiên nhẫn đợi được nữa, đành ra tay thêm một lần mạnh hơn, cuối cùng cũng chờ được kết quả.

Đó là chiến thắng của bà.

Cũng là sự bảo chứng cho phú quý dài lâu của bà.

Ngay khoảnh khắc ấy, cảnh trước mắt bỗng đỏ rực như bị hắt cả thùng máu tươi, từng giọt từng giọt nhỏ xuống, lạnh lẽo đến rợn người.

Những hình ảnh chồng chéo lên nhau—Lục Niệm ở nhiều độ tuổi khác nhau, năm tuổi, mười lăm tuổi, ba mươi lăm tuổi—bao quanh bà, từng đứa một gào lên:
“Chính bà là hung thủ!”
“Mẫu thân ta là do bà hại chết!”
“Ta muốn bà đền mạng!”

Tiếng gào thét hỗn loạn, chói tai như những nhát dao cứa thẳng vào màng nhĩ.

Cho đến khi Tằng thị nhìn thấy Lục Niệm vác theo chiếc cuốc lớn, giơ lên như muốn bổ xuống bà chẳng khác nào bổ những cây cột kia, Tằng thị hét lên kinh hoàng rồi bật dậy, tỉnh giấc.

Bóng đêm dày đặc vẫn bao trùm, ngoài cửa sổ là tiếng gió lạnh rít gào.

Bà chống tay ngồi dậy, lau mạnh mặt để trấn tĩnh.

Lý ma ma đã thắp đèn lên, lần này bà cẩn thận hơn, không va vào ghế hay bàn.

“Phu nhân gặp ác mộng sao?” Lý ma ma hỏi khẽ, “Nô tỳ hình như nghe thấy người nói mớ.”

Tằng thị chẳng kịp để ý đến nhịp tim đang loạn lên vì sợ hãi:
“Ta nói gì?”

“Nô tỳ không nghe rõ…”

Tằng thị sai bà ta rót nước nóng, một hơi uống cạn rồi mới nói:
“Mơ thấy vài chuyện không hay trong quá khứ.”

Lý ma ma mặt tái nhợt:
“Chẳng lẽ lại giống như lần trước…”

“Im miệng!” Tằng thị quát lớn, thở d.ốc vài hơi rồi lặp lại, “Không, không phải chuyện đó.”

Lý ma ma cúi đầu không nói thêm gì nữa.

Bà ta biết chuyện “lần trước”, tức là chuyện xảy ra hơn hai năm trước, còn lần này không phải cùng một nguyên do, bà ta cũng không dám đoán bừa.

Tằng thị thay một bộ trung y sạch sẽ, vừa nằm xuống đã bắt đầu ho.

Không đến mức ho đến lộn cả ruột gan, nhưng cơn ho dai dẳng khiến bà khó chịu không tả xiết.

Trong cơn mê man, bà lại ngửi thấy mùi gì đó thoang thoảng bay vào từ ngoài cửa sổ.

Vẫn là mùi ấy—giống như hôm trước—mùi thịt hầm dày đặc, đậm đà tràn ngập trong không khí.

Lần này, Tằng thị không còn cảm thấy đói nữa, mà chỉ thấy sợ hãi và buồn nôn.

Chẳng lẽ…

Không, không thể nào!

Những thủ đoạn kín đáo ấy, xưa nay vẫn luôn không để lại dấu vết.

Năm xưa không ai phát hiện, giờ đây làm sao có thể…

Nhưng tại sao lại là thịt hầm?

A Vi nấu nướng rất giỏi, liệu có liên quan gì chăng?

Hàng loạt suy nghĩ rối ren lướt qua trong đầu, cổ họng Tằng thị khô rát, cơn ho dữ dội kéo đến, bà đột ngột chống tay ngồi dậy, nghiêng người qua mép giường, nôn thốc nôn tháo.

Tiếng ói ọc ọc vang lên không ngớt.

Lý ma ma vội vã bật dậy, lần này không chỉ thắp một mà thắp hết tất cả đèn dầu trong phòng.

Các nha hoàn trong phòng ngoài cũng bị đánh thức, tất bật chạy vào dọn dẹp.

Tằng thị súc miệng, yếu ớt dựa vào Lý ma ma.

Vì bữa tối bà ăn toàn những món đậm vị lại uống cả rượu, giờ đây mùi nôn nặng nề lan khắp phòng, các nha hoàn đành mở cửa sổ để thông gió.

Vừa mở cửa, mùi hương đậm đà ấy lập tức theo gió ùa vào.

Tằng thị càng ngửi càng thấy khó chịu, suýt nữa lại nôn tiếp.

Bà đành quấn chăn, loạng choạng bước sang phòng bên cạnh.

Nơi này chỉ đặt một chiếc giường nhỏ, cũng không ấm áp như phòng ngủ chính, nhưng bà chẳng còn tâm trí để so đo.

Một đêm trằn trọc vật vã, sáng dậy người càng thêm tiều tụy, tinh thần uể oải tột độ.

Buổi sáng ở Xuân Huy viên, Lục Niệm dùng bữa bằng một bát mì nóng hổi.

Mao bà tử trụng mì sợi mảnh, sau đó chan nước dùng ninh từ thịt, rắc thêm chút hành lá, đặt lên trên một miếng thịt hầm nhừ mềm thơm.

Hôm qua cũng là món này.

Văn ma ma từng nhắc qua, rằng Biểu cô nương mỗi khi tâm trạng không tốt, ban đêm không ngủ được, thì hoặc là mài dao, hoặc là thái đồ, không thì lại hầm thịt.

Mao bà tử không nhận ra Biểu cô nương có tâm trạng gì đặc biệt, nhưng chủ tử muốn hầm thịt thì ai mà cản chứ?

Huống hồ mùi thơm kia nức mũi đến nỗi khiến người ta mơ cũng ch** n**c miếng.

Vậy nên sáng nay, một bát mì thịt hầm đã khiến bao người trong viện thỏa mãn cơn thèm khát suốt cả đêm.

Cô phu nhân ăn xong còn chưa đã, đích thân dặn hôm nay lại nấu tiếp, thế là tối qua lò bếp lại đỏ lửa, nồi thịt tiếp tục sôi.

Đang ăn được một nửa, Liễu nương tử tới, Mao bà tử cùng bưng ra thêm một bát mì nóng hổi dâng lên.

Trong chính phòng, không khí nồng đượm mùi thịt hầm thơm lừng…

Lục Niệm chậm rãi húp từng ngụm canh, vừa ăn vừa để Liễu nương tử kể lại tình hình.

Liễu nương tử nói:
“Hôm nay trông còn tệ hơn hôm qua.

Ta đứng ngoài cửa, vừa hay thấy nha hoàn bế chăn từ phòng phía tây quay lại phòng ngủ chính, có vẻ tối qua Hầu phu nhân đã phải đổi phòng ngủ.

Góc sân có một đống tro than, ta hỏi có phải ai nôn mửa không, nha hoàn không trả lời, nhưng ta đoán chắc là vậy.

Ta liền nhắc đến chuyện này khi chào hỏi Thế tử phu nhân.

Thế tử phu nhân hỏi Hầu phu nhân có cần mời đại phu không, nhưng bà ấy nói không cần, chỉ là bệnh cũ mà thôi.”

Lục Niệm quay sang hỏi A Vi:
“Phùng Chính Bân sau bao năm chỉ vì uống trà trái cây mà nôn ra thì còn hiểu được.

Nhưng Tằng thị thì sao?

Bà ta nôn cái gì?

Thịt hầm à?

Trong phủ đâu phải lần đầu nấu thịt hầm, bà ta cũng không phải chưa từng ăn.”

A Vi gật đầu tán đồng.

Dù nàng chỉ từng ngồi ăn cùng Tằng thị một lần trong tiệc đón gió, nhưng nhớ rất rõ khi đó cũng có món thịt hầm, Tằng thị còn gắp vài đũa.

Tay nghề nấu nướng khác nhau thì hương vị có chút chênh lệch, nhưng A Vi không nghĩ rằng cách nấu của mình khác biệt đến mức khiến Tằng thị vừa ngửi đã buồn nôn.

“Có thể giống như hạt tùng,” A Vi trầm ngâm, “trước kia ăn được, nhưng bỗng dưng không ăn nổi nữa?”

Lục Niệm cúi đầu nhìn bát mì trước mặt.

Thịt nạc mềm tơi, mỡ béo mềm mại.

Phùng Chính Bân sợ trà trái cây vì không dám nhớ lại Kim Chỉ.

Thế còn Tằng thị?

Chẳng lẽ ai đó từng nấu thịt hầm cho bà ta?

A Vi khẽ chốt lại:
“Cứ mang thẳng đến trước mặt bà ta, ăn hay không sẽ rõ ngay.”

Buổi trưa, đại trù phòng làm món thịt hầm theo đúng chỉ thị.

Liễu nương tử lại đến Hàm viện, lấy cớ hầu hạ Tằng thị dùng bữa.

Tằng thị tất nhiên không đồng ý.

Hàm viện đâu được rộng rãi như Thu Bích viên, người hầu ít, phòng ốc cũng chật chội.

Liễu nương tử nhân lúc hỗn loạn, lẻn vào phòng chính.

Tuy không vào được phòng phía tây, nhưng đứng ở gian giữa, không bị bình phong che chắn, bà ta có thể nhìn thấy rõ mọi thứ.

Tằng thị lúc này trông bồn chồn bất an, sắc mặt càng khó coi khi nhìn vào bát thịt hầm.

“Bà ta không chạm nổi một đũa.”

Trở về từ Hàm viện, Liễu nương tử thuật lại tỉ mỉ với Lục Niệm và A Vi.

“Không chỉ vậy, hôm nay bà ta còn kén ăn hơn hôm qua.”

“Bới bới món cá chình kho đỏ, nhìn chằm chằm hồi lâu mà không ăn.”

“Đậu hũ kho cũng không động đến.”

“Chỉ ăn chút trứng hấp và ít rau xanh, rồi thôi.”

“Lý ma ma còn dặn nha hoàn đến đại trù phòng nhắn, bảo muốn ăn món nhạt hơn.”

Lục Niệm nhíu mày:
“Hôm qua còn đòi ăn đậm vị, hôm nay lại muốn ăn nhạt?”

A Vi thì trầm ngâm nhớ lại các món ăn buổi trưa, đặc biệt là món cá chình kho đỏ mà Tằng thị bới lên rồi bỏ xuống…

Cá chình kho đỏ trong phủ được hầm với rượu và nước, sau khi chín sẽ thêm nước sốt ngọt để làm dậy mùi, cuối cùng bỏ thêm đại hồi (hoa hồi) và tiểu hồi hương để tăng hương vị.

Nếu nấu khéo, lớp da cá sẽ căng bóng, thịt không bị vỡ.

Nếu nói có điểm gì giống với món thịt hầm thì chính là các loại gia vị.

Còn món đậu hũ kho thì chỉ dùng mỗi đại hồi, không có tiểu hồi hương.

Nhưng đại hồi là loại gia vị quá quen thuộc…

Bỗng dưng, ánh mắt A Vi lóe lên một tia sáng.

Nàng nắm chặt tay Lục Niệm, hít sâu một hơi, cố giữ giọng bình tĩnh:
“Người kể lại cho con nghe lần nữa, năm xưa ngoại tổ mẫu mắc bệnh gì?”

Lục Niệm ngạc nhiên, nhưng khi nhìn vào mắt A Vi, nàng không vội, đáp chậm rãi:
“Bà bị chóng mặt, buồn nôn, tinh thần sa sút, cơ thể yếu ớt không có sức, tim thỉnh thoảng đập nhanh.

Dưỡng bệnh gần một tháng không khá lên, rồi một ngày đột nhiên hôn mê, không bao giờ tỉnh lại.”

A Vi từ tốn gật đầu.

Lục Niệm lập tức hỏi dồn:
“Con nghĩ ra gì rồi?”

A Vi quay sang nhìn Văn ma ma:
“Ma ma nghe xem, có giống không?”

Văn ma ma thở dài:
“Đúng là có chút giống.

Thứ đó gọi là mãng thảo.”

Lục Niệm chớp mắt liên tục, vừa mơ hồ vừa phấn khích:
“Cái gì?”

Liễu nương tử cũng không hiểu.

A Vi nhẹ nhàng giải thích:
“Đó là một vị thuốc, thường dùng để đắp ngoài da, nhưng có độc, tuyệt đối không được nuốt vào.

Đại hồi (hoa hồi) gọi là ‘bát giác’ vì nó có tám cánh.

Mãng thảo nhìn rất giống đại hồi, nhưng thường có từ mười một đến mười ba cánh.

Người không rành sẽ dễ nhầm lẫn.

Con không rõ Tằng thị năm xưa hạ mãng thảo bằng cách nào.

Nếu trộn lẫn vào món ăn như đại hồi thì chắc chắn không chỉ mình ngoại tổ mẫu bị trúng độc.

Có lẽ bà ta đã nghiền thành bột, bỏ vào thuốc sắc hoặc dùng cách nào khác.

Nhưng chắc chắn bà ta biết rõ sự khác biệt giữa đại hồi và mãng thảo.

Không hiểu vì sao đột nhiên chột dạ, giờ lại không dám ăn những món có đại hồi.”

A Vi ngừng lại một chút.

Lục Niệm, đang run lên vì những suy đoán về cái chết của mẫu thân, nghe đến đó liền bị kéo trở lại thực tại:
“Nhưng sao?

Con dừng lại làm gì?”

A Vi sắp xếp lại suy nghĩ rồi nói:
“Mọi triệu chứng đều rất giống với trúng độc mãng thảo, nhưng có một điểm không trùng khớp—trúng độc mãng thảo nhất định sẽ có thêm triệu chứng co giật và sùi bọt mép.”

Lục Niệm sững người.

Năm xưa, khi kế mẫu nàng ngất đi, nàng còn nhỏ, đã bị bà vú bế đi nên không tận mắt chứng kiến.

Nhưng nếu thực sự sùi bọt mép, tại sao không ai nghi ngờ đó là trúng độc?

A Vi nhìn thấu nỗi băn khoăn trong mắt Lục Niệm, đáp khẽ:
“Bởi vì nó trông giống hệt như bệnh động kinh.

Cụ thể thế nào, e là chỉ có ngoại tổ phụ biết rõ.”

Lục Niệm trông thất thần.

Liễu nương tử thấy vậy, trong lòng cũng nhói đau:
“Dù thật sự như Biểu cô nương nói, Hầu phu nhân cũng sẽ không thừa nhận đâu.

Ngần ấy năm rồi…”

“Chúng ta tạm thời đừng hỏi ngoại tổ phụ, tránh để lộ chuyện khiến Tằng thị cảnh giác,” A Vi nhẹ nhàng vỗ lưng Lục Niệm, “Chỉ cần Hứa Phú Đức tra được chuyện hạt tùng, chắc chắn sẽ lôi được cái đuôi cáo của bà ta ra.

Đừng nóng vội, sắp đến lúc rồi…”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 82: Để Ta Giữ Bí Mật Trước Đã


Vạn Bảo Lâu.

Đây là sòng bạc nổi danh bậc nhất ở kinh thành.

Làm ăn lớn, chẳng có chỗ cho mấy trò cờ bạc vặt vãnh, khách lui tới đều là công tử ăn chơi, vung tiền như rác.

Hứa Phú Đức đã đến đây ba ngày liên tiếp.

Hắn cẩn thận từng li từng tí, chỉ chơi mấy ván nhỏ lẻ, đặt cược chẳng đáng là bao.

Những kẻ mở sòng bạc, từ chủ sòng cho đến bọn tiểu nhị, tay chân, đều là những kẻ tinh tường, mắt sắc như dao, tai thính như mèo.

Chuyện Hầu phủ Định Tây bỗng nhiên có thêm một vị “cô gia” rẻ mạt, bọn họ đã nghe phong thanh từ lâu.

Lại thêm cái vụ Hứa Phú Đức đứng trước cửa tiêu cục An Viễn chửi rủa “con rùa xanh” om sòm, hắn đã trở thành một nhân vật có chút danh tiếng.

Có tiếng tăm, đến chỗ nào làm ăn buôn bán cũng được người ta để ý.

Bởi thế, ngay lần đầu bước chân vào Vạn Bảo Lâu, Hứa Phú Đức đã được đón tiếp nồng hậu.

Hôm nay cũng vậy.

Hắn lại nghênh ngang bước vào, vừa ló mặt đã có tiểu nhị dẫn hắn lên lầu mời vào bàn.

Hứa Phú Đức giả vờ hứng thú lắm, nhưng thực chất chẳng hề quan tâm đến mấy trò cờ bạc này.

Dù hiện giờ hắn không thiếu bạc, nhưng cũng chẳng muốn đổ tiền làm kẻ ngốc ở đây.

Nhưng biết làm sao được?
Làm “dì phu” của Biểu cô nương Hầu phủ đâu phải chuyện dễ dàng gì!

Hứa Phú Đức ngồi vào bàn.

Không xa đó, có mấy tên chủ sòng và tiểu nhị đang thì thầm với nhau.

“Vẫn chơi nhỏ thế à?”

“Gan bé bằng hạt đậu xanh, xoay tới xoay lui cũng chỉ dám đặt chút bạc lẻ.”

“Dù sao cũng là ‘tân quý’, mới phất lên nên còn rụt rè.

Cho hắn chơi chừng mười ngày nửa tháng, rồi xem, kiểu gì cũng quen tay mà đặt lớn thôi.”

“Đúng thế, kiểu người này chúng ta gặp nhiều rồi.”

Hứa Phú Đức chẳng biết bọn họ đang bàn tán gì.

Hắn kiên nhẫn diễn vai một kẻ mới giàu thích phô trương, kết thân với một tiểu nhị tên gọi Tiến Bảo.

“Hứa lão gia, ta biết người ngài hỏi đấy.”

“Đào Vũ Lâm phải không?

Năm xưa từng đến đây chơi, vận đỏ thì không thấy đâu, đen thì thôi rồi.

Chỉ chừng hai, ba tháng đã thua sạch sành sanh, đến cái quần cũng cầm cố luôn.”

Hứa Phú Đức khẽ xoay xoay thỏi bạc nhỏ trong tay, cố tỏ vẻ tò mò:
“Thua đến mức ấy cơ à?

Còn tệ hơn cả ta sao?”

“Ha!” Tiến Bảo gãi đầu, cười hề hề:
“Dù sao thì cuối cùng hắn cũng bị người nhà họ Sử ở Bắc thành truy nợ gắt gao.

Cha hắn khi ấy là quan viên bộ Lại, chẳng to nhưng cũng không nhỏ, có chút thể diện trong kinh.

Nếu không phải thế thì nhà họ Sử đâu dễ gì cho vay bạc.

Đám đòi nợ lùng đến tận cửa, Đào đại nhân lúc đó mới biết con trai mình mắc nợ lớn đến vậy.

Ông ta phải vét cạn gia sản, còn đích thân đến đây năn nỉ chủ sòng, bảo nếu Đào Vũ Lâm còn dám bén mảng thì cứ đuổi thẳng cổ.

Chúng ta làm ăn buôn bán, cũng chẳng muốn gây thù oán với quan lại, nên từ đó về sau không dây dưa gì với hắn nữa.”

Hứa Phú Đức hỏi tiếp:
“Vậy Đào Vũ Lâm sau đó không cờ bạc nữa à?”

“Cái này thì ta không rõ.

Chỉ biết chừng một tháng sau đó, Đào đại nhân bị cách chức, phải quay về quê.” Tiến Bảo đáp.
“Nghe nói ông ta bị tố cáo đấy.”

Kinh thành là chốn long bào chân rồng.

Theo lý mà nói, quan lại, thế gia, thậm chí cả những kẻ quyền quý đều không nên dính vào cờ bạc.

Nhưng luật là một chuyện, thực tế lại là chuyện khác.

Chừng nào chưa bị lộ thì chẳng ai bận tâm.

Nếu không, làm gì có nhiều thiếu gia ăn chơi như vậy?

Nhưng Đào viên ngoại lại bị người ta dâng tấu, tố cáo rằng con trai ông ta cờ bạc, mắc nợ khắp nơi.

Tấu chương dâng lên, bị ngự sử và các quan giám sát nắm được, họ coi đó là cơ hội, dốc sức vạch trần.

Chưa đầy hai mươi ngày, Đào đại nhân đã bị bãi chức, coi như còn may mắn vì không bị truy cứu thêm.

“Chắc kiếp trước nợ thằng con này quá rồi.” Hứa Phú Đức chậc lưỡi, rồi hỏi tiếp:
“Đào đại nhân chỉ có mỗi đứa con đó thôi à?”

Tiến Bảo lắc đầu:
“Không, ông ta còn một cậu con trai nhỏ nữa.

Đúng là năm ấy xui xẻo hết phần thiên hạ.

Đầu năm mất con trai út, cuối năm vì thằng cả mà mất chức.”

Bốp!

Hứa Phú Đức giả vờ lỡ tay, đánh rơi thỏi bạc nhỏ xuống đất.

Tiến Bảo nhanh nhẹn nhặt lên, còn lấy khăn lau sạch rồi cung kính dâng trả.

Hứa Phú Đức không nhận lại, phẩy tay:
“Cho ngươi đấy!”

Tiến Bảo mừng rỡ, liên tục cảm tạ.

Đấy thấy chưa?

Dù keo kiệt cỡ nào, vào Vạn Bảo Lâu rồi kiểu gì cũng “mở tay” thôi.

“Con trai út của ông ta chết thế nào?” Hứa Phú Đức giả vờ hỏi bâng quơ, nhưng tim đập thình thịch.

Không chỉ vì tiếc thỏi bạc kia, mà bởi đây mới là điều hắn thực sự muốn biết.

“Nghe nói uống rượu mà chết.” Tiến Bảo vừa mới nhận được bạc thưởng nên nói năng rành rọt:
“Tên là Đào Vũ Xuyên, so với thằng cả thì khá hơn nhiều, học hành giỏi giang, sớm đã đỗ tú tài và đính hôn rồi.

Ban đầu tính đợi thi đỗ tiến sĩ thì cưới vợ, ai ngờ chưa kịp chờ đến kỳ thi, đã gặp chuyện.

Hôm ấy là sinh thần Đào phu nhân, mời nhà hàng nổi tiếng mang đồ ăn đến.

Vị hôn thê của Đào Vũ Xuyên cũng gửi tặng hai món ăn tự tay làm.”

Nhà họ Đào quây quần bên mâm cơm, vui vẻ ăn uống chúc mừng sinh thần Đào phu nhân.

Nhưng sáng hôm sau tỉnh dậy, Đào Vũ Xuyên đã tắt thở.

Quan sai đến khám nghiệm tử thi, kết luận là do say rượu nôn mửa, thức ăn mắc nghẹn trong cổ họng khiến ngạt thở mà chết.

Đào Vũ Lâm còn thở dài:
“Đúng là số mệnh cả thôi!”

Đào Vũ Xuyên tửu lượng kém, bình thường rất ít khi đụng đến rượu.

Hôm ấy là dịp đặc biệt nên mới uống vài chén, rõ ràng chẳng đến mức say mèm, nhưng rồi vẫn xảy ra chuyện ngoài ý muốn.

Hứa Phú Đức nhíu mày hỏi tiếp:
“Thật là do uống rượu sao?

Chứ không phải ăn nhầm thứ gì đó?”

“Ý ngài là trúng độc à?” Tiến Bảo nhún vai:
“Hôm đó Đào Vũ Xuyên ăn cùng gia đình, mọi người đều ăn những món đó cả, ai nấy vẫn khỏe mạnh bình thường, chỉ có mình hắn ta gặp chuyện.

Làm sao có thể là trúng độc được chứ!”

“Ừ nhỉ, ai cũng ăn mà…” Hứa Phú Đức gật đầu, nhưng vẫn không giấu nổi vẻ nghi hoặc:
“Đào Vũ Lâm có nhắc đến món ăn mà vị hôn thê của hắn ta gửi tới là gì không?”

Ở sòng bạc, khách khứa đủ kiểu người: kẻ đánh bạc đỏ đen không biết trời đất, kẻ lặng lẽ đếm bạc, lại có kẻ thích khoác lác hay tám chuyện phiếm.

Tiến Bảo từng gặp đủ hạng người, nên chẳng mảy may cảnh giác trước sự dò hỏi của Hứa Phú Đức.

“Chuyện đó thì ta không rõ,” hắn đáp, “Đào Vũ Lâm có thể từng nhắc đến, cũng có thể không, dù sao cũng là chuyện ba mươi năm trước rồi, ai mà nhớ được rõ chứ.”

Hứa Phú Đức cười hề hề, rồi đổi đề tài sang chuyện khác, trò chuyện thêm đôi ba câu thấy không moi thêm được gì mới, hắn bèn đứng dậy cáo từ.

Tiến Bảo tiễn ra tận cửa, cười hỏi:
“Sao hôm nay đi sớm thế?”

“Phải mua chút gì ngon cho nữ thần tài nhà ta,” Hứa Phú Đức cười sảng khoái, “hôm khác lại đến.”

Hôm khác á?

Đừng mơ nhé!
Thỏi bạc nhỏ đó đủ để mua một đôi trâm cài hoa men cho Cửu nương rồi, tiếc đứt ruột đây này!

Vừa đi, Hứa Phú Đức vừa lầm bầm chửi thầm:
“Chỉ có kẻ ngốc mới mê cờ bạc!”
“Chẳng phải mấy chỗ cho vay nặng lãi kia toàn cùng phe với sòng bạc hay sao?”
“Kiếm bạc bẩn như vậy, không sợ nghiệp quật chắc?”

Bước vào cửa sau của một tửu lâu ở đầu Tây phố, Hứa Phú Đức tạm gác lại những lời phàn nàn trong đầu.

Đây chính là tửu lâu mà Lục Tuấn đã giao lại cho Lục Niệm.

Lục Niệm tiếp quản nhưng hiện chưa có tâm trí sắp xếp công việc, bèn cho đóng cửa tạm nghỉ.

Phía trước thuê hai bà thím to khỏe canh giữ, còn phía sau là chỗ tá túc cho mẹ con Ông nương tử không nơi nương tựa.

Đã hứa dùng bí mật của tiêu cục để đổi lấy cuộc sống an ổn sau này, A Vi không chỉ đưa cho họ một tờ ngân phiếu rồi đuổi đi, mà sắp xếp cho họ ở lại đây tạm thời, chờ thu xếp ổn thỏa.

Khi Hứa Phú Đức đến nơi, A Vi và Văn ma ma đã có mặt.

Hắn kể lại tỉ mỉ những gì vừa dò la được về nhà họ Đào.

Hắn chỉ phụ trách hỏi han, còn chuyện A Vi quan tâm đến nhà họ Đào để làm gì, hắn không hỏi.

Nghe xong, Văn ma ma nói với A Vi:
“Chỉ chừng đó thôi e là chưa đủ rõ ràng.”

A Vi liền quay sang Hứa Phú Đức:
“Hay là, dì phu thử đến ngõ Thạch Lựu dò hỏi thêm xem?”

Ngõ Thạch Lựu là nơi nhà họ Đào từng sinh sống.

Hứa Phú Đức nhăn nhó, lắc đầu nguầy nguậy:
“Biểu cô nương, cô bảo ta đi sòng bạc thì ta còn cố gắng được, chứ bảo ta sang hỏi han mấy bà cô sống ở ngõ nhỏ thì chịu thôi.

Chuyện nhà hàng xóm thì chỉ mấy bà thím tám, sống ở đó ba mươi năm mới biết rõ.

Mà ta thì không thể tám chuyện nổi với họ đâu!

Chuyện này thật sự là không làm nổi!”

A Vi bật cười thành tiếng.

Quả là mỗi người một sở trường, chuyện này rõ ràng không phù hợp với Hứa Phú Đức.

Nàng cũng không làm khó hắn thêm, bèn hỏi sang tin tức khác.

“Nhà họ Phùng bị khám xét ngay trong ngày hôm đó, sáng sớm ta đã ghé qua, bên ngoài vẫn còn quan binh canh gác.”

“Nhà Châu Như Hải cũng bị tịch biên, cửa lớn dán đầy phong ấn.”

“Tiết đại nhân thì đóng cửa không tiếp khách, nghe nói cáo bệnh, nhưng ta đoán cũng chẳng khá gì đâu!”

“Còn tiêu cục Vạn Thông, nghe nói cũng dính dáng tới chuyện rắc rối, tổng tiêu đầu hình như đã giết người, quản sự lớn cũng bị bắt vào nha môn, mấy hôm rồi chưa được thả ra.”

Những chuyện này đều là tin tức ngoài phố, còn diễn biến trong nha môn thế nào, chỉ có cách đóng vai “người bị hại” để đến Thuận Thiên phủ xem thử liệu Dương đại nhân có chịu tiết lộ thêm chút gì không.

A Vi suy nghĩ một lúc, rồi chỉ vào bình sứ trên bàn:
“Đây là thuốc canh Phượng Tủy mới nấu, vẫn như cũ, dì phu mang về đưa cho cữu cữu, nhờ người chuyển đến Hầu phu nhân.”

Chuyện này thì dễ dàng rồi.

Hứa Phú Đức thở phào nhẹ nhõm, vui vẻ quay về Định Tây Hầu phủ.

Sau khi hắn rời đi, Văn ma ma và A Vi cùng rót thêm chén trà, Văn ma ma hỏi:
“Liệu Đào Vũ Xuyên có phải chết vì hạt tùng không?”

A Vi im lặng.

Cái tên Đào Vũ Xuyên chỉ mới được Lục Niệm nhắc tới gần đây, hoặc đúng hơn là nàng bỗng nhớ ra từng có một người như thế.

Tằng thị từng đính hôn, bà ta từng có một vị hôn phu.

Chỉ tiếc là người ấy chết sớm, nên cuộc hôn nhân dang dở.

Tất nhiên, sau khi Tằng thị gả vào Định Tây Hầu phủ, chẳng ai ngu ngốc nhắc đến chuyện cũ của đương kim Hầu phu nhân, mà khi đó Lục Niệm còn nhỏ, càng không thể biết những chuyện này.

Lúc Lục Niệm khoảng mười hai, mười ba tuổi, từng có một lần các tiểu thư quyền quý trong kinh thành tổ chức dạo chơi trong vườn.

Ban đầu Lục Niệm không muốn tham gia, nhưng vì thân thiết với mẫu thân ruột của A Vi—người bạn thân duy nhất mà nàng có—nên đành đồng ý để được chơi cùng.

Cả hai không thích tham gia những trò ồn ào cùng người khác, nhưng lại không tránh khỏi việc bị những kẻ rỗi hơi tìm tới gây chuyện, cố tình châm chọc Lục Niệm—vốn nổi tiếng là “gai trong mắt” của đám tiểu thư quyền quý.

Chỉ vài câu qua lại, cuộc cãi vã bùng nổ, chủ đề đương nhiên xoay quanh tính cách kỳ quặc của Lục Niệm và thái độ bất kính của nàng đối với kế mẫu.

“Có người kế mẫu hiền hòa như thế mà còn không biết trân trọng, đúng là sinh ra trong phúc mà không biết hưởng.”

“Cũng tội nghiệp bà ấy thật, nếu không phải vị hôn phu mất sớm thì đâu đến nỗi phải làm kế mẫu cho nhà ngươi.”

“Hầu phủ thì quyền thế thật đấy, nhưng bá phụ của bà ấy là Thái Bảo, bà ấy mà gả cho một vị tiểu quan thôi cũng sung sướng hơn là chịu đựng cái thái độ hỗn láo của ngươi!”

Chính trong cuộc cãi vã đó, Lục Niệm mới biết Tằng thị từng đính hôn.

Nàng bỏ công sức tìm hiểu, cuối cùng cũng biết được người đó tên là Đào Vũ Xuyên, chết sớm hơn cả mẫu thân ruột nàng—Bạch thị.

Chưa đầy nửa năm sau khi Đào Vũ Xuyên qua đời, cha hắn cũng mất chức, cả nhà dọn khỏi kinh thành.

Thời điểm đó, Lục Niệm còn nhỏ, khả năng hạn chế, chỉ biết được rằng Đào Vũ Xuyên chết vì uống rượu quá chén, còn đại ca hắn thì liên lụy đến nợ nần khiến cha mất chức.

Những chuyện khác nàng không tra được gì thêm.

Dù vẫn để tâm chuyện này, nhưng Lục Niệm chưa từng nghi ngờ nguyên nhân cái chết của Đào Vũ Xuyên.

Người chết vì uống rượu thì có gì lạ đâu?

Cho đến khi phát hiện ra khả năng liên quan đến mãng thảo, Lục Niệm mới chợt nhớ lại cái tên này.

Sau khi sắp xếp lại đầu mối, A Vi nói với Văn ma ma:
“Ta đồng tình với suy luận của mẫu thân.

Ngoại tổ mẫu—Bạch thị—ăn được hạt tùng, nhưng Tằng thị lại đột nhiên cực kỳ nhạy cảm với hồi hương.

Điều này cho thấy khả năng rất lớn rằng ngoại tổ mẫu đã chết vì trúng độc mãng thảo.

Vậy thì, điều gì khiến Tằng thị kỵ hạt tùng?
Mãng thảo có thể được bỏ vào nồi thuốc mà chẳng ai phát hiện, hạt tùng cũng có thể được thêm vào món ăn mà chẳng để lại dấu vết gì.

Đào Vũ Xuyên ăn cùng đồ ăn với cả nhà, nhưng lại chết vì ngạt sau khi nôn do uống rượu.

Nhưng nếu hắn bị dị ứng hạt tùng mà vẫn ăn phải…”

Nói đến đây, A Vi khựng lại, ánh mắt trầm ngâm:
“Cũng trách khi ấy mẫu thân ta không đủ năng lực để tra rõ.

Nếu sớm phát hiện ra Tằng thị từng gửi hai món ăn tới nhà họ Đào vào đúng ngày đó, thì có lẽ đã nghi ngờ rồi.”

Văn ma ma nhíu mày:
“Rốt cuộc bà ta gửi món gì vậy?”

“Những món không nhìn thấy hạt tùng nhưng lại có hương vị của nó.” A Vi cười nhạt, “Ta biết làm không ít món như thế, bao gồm cả món canh Phượng Tủy mới đổi công thức đấy.”

Phải rồi.

Hôm nay, lọ canh Phượng Tủy mà Hứa Phú Đức mang đi đã được A Vi âm thầm thêm vào một thứ.

Bột mãng thảo.

Liều lượng cực kỳ nhỏ, đủ để tạo ra hiệu quả từ từ.

Ngộ độc mãng thảo có hai dạng: cấp tính và mãn tính.

Triệu chứng bắt đầu từ mất ngủ, chóng mặt, mệt mỏi—hoàn toàn trùng khớp với tình trạng hiện tại của Tằng thị. Dù triệu chứng có nặng hơn, bà ta cũng không dễ phát hiện ra.

Tiếp theo sẽ là lo lắng thái quá, hoang tưởng, nói nhảm…

Tằng thị sợ nhất là nói mớ khi ngủ, đến mức phải dọn ra ở riêng để tránh chồng phát hiện.

Hãy chờ xem, bao giờ bà ta bắt đầu nói năng linh tinh cả khi còn tỉnh táo!

Ở một diễn biến khác, Lục Tuấn cầm lọ canh Phượng Tủy, hí hửng mang đến cho Tằng thị.

“Mẫu thân, lọ canh trước con nhớ hình như bị đại tỷ đập vỡ rồi phải không?” Lục Tuấn ân cần, “Con nghe nói mấy hôm nay mẫu thân lại ho nhiều vào ban đêm nên mang tới đây.”

Tằng thị bảo Lý ma ma cất đi, nở nụ cười dịu dàng:
“Chỉ có A Tuấn là biết quan tâm đến mẹ.”

“Ở đây chật hẹp hơn Thu Bích viên, con thấy mẫu thân phải chịu thiệt rồi.” Lục Tuấn nhìn quanh, tỏ vẻ áy náy.

Hai mẹ con nói chuyện một lúc rồi Lục Tuấn rời đi.

Ngay khi hắn vừa khuất bóng, nụ cười trên mặt Tằng thị lập tức biến mất, để lộ gương mặt u ám và mệt mỏi, nét mặt trở nên cay nghiệt.

“Ra vẻ quan tâm cái nỗi gì!” Tằng thị bực bội, “Nếu thật lòng nhớ đến ta thì đã mang tới từ mấy hôm trước rồi, chứ không phải bây giờ mới đưa.

Toàn là thứ nghĩ một đằng làm một nẻo!”

Lý ma ma vội khuyên:
“Thế tử vốn không phải người tinh tế mà.”

“Cũng đúng.” Tằng thị gật đầu.

Chính vì hắn đơn giản nên càng dễ bị dắt mũi!

Kể từ ngày đó, Xuân Huy viên dường như yên ắng hơn hẳn.

Không còn những đêm khuya khoắt nấu thịt hầm, Lục Niệm cũng không dẫn người đến gây chuyện ở Hàm viện.

Mọi thứ lại trở về trạng thái “nước sông không phạm nước giếng” như trước kia.

Nhưng tình trạng sức khỏe của Tằng thị không hề cải thiện.

Đêm mất ngủ, ban ngày mệt mỏi rã rời, ăn uống cũng chẳng ngon miệng.

Để tránh phải ăn món có hồi hương, bà ta dặn đại trù phòng nấu những món nhạt nhẽo.

Thế nhưng ăn nhạt lại càng khiến bà ta thèm mấy món cay nồng.

Cuối cùng, bà ta đành bảo bếp làm món cay trở lại, nhưng trước khi ăn, Lý ma ma phải cẩn thận nhặt hết hồi hương ra, thậm chí còn đếm kỹ từng cánh xem có đúng là tám cánh hay không mới dám ăn.

Ngày 26 tháng 11.

Hôm nay là sinh thần của Định Tây Hầu.

Vì không phải là dịp trọng đại, cộng thêm không khí trong phủ căng thẳng, nên gia đình chỉ dự định tổ chức bữa cơm đơn giản.

Nhưng chỉ vậy thôi cũng đủ khiến Định Tây Hầu đau đầu.

Ba ngày trước đó, ông đã đến Xuân Huy viên, cân nhắc từng lời để dịu giọng thảo luận với Lục Niệm:
“Chỉ là bữa cơm thôi mà…”

Chưa kịp nói hết câu, Lục Niệm đã lạnh lùng cắt ngang:
“Sao?

Sợ ta lật bàn chắc?”

Định Tây Hầu vừa mở miệng đã bị Lục Niệm chặn họng ngay lập tức.

“Sinh thần sợ ta lật bàn,” Lục Niệm nheo mắt, nửa cười nửa không nhìn ông, “thế Tết Nguyên Đán tháng sau, ngài có sợ không?”

Trong lòng Định Tây Hầu gào lên: “Sợ!”, nhưng miệng lại không dám thừa nhận.

Lục Niệm thong thả nói tiếp:
“Hồi ta mới về phủ, bữa tiệc đón gió cũng ăn xong xuôi đấy thôi, có lật bàn không?

Có chửi mắng ai không?”

Định Tây Hầu gật đầu lia lịa:
“Đúng đúng, hôm ấy là tiệc tẩy trần đón con và A Vi mà.”

Lục Niệm lập tức chớp lấy câu nói ấy:
“Sinh thần hôm nay là của phụ thân, chứ không phải của A Vi đâu.”

Không nói thẳng ra nhưng ý tứ quá rõ ràng, khiến Định Tây Hầu không khỏi xúc động.

Được rồi!

Được rồi!

Con bé này vẫn còn nhớ đến sinh thần của ông!

Lục Niệm nằm lười biếng trên chiếc ghế bập bênh, nhắm mắt lại, nhẹ nhàng đong đưa, vừa đong đưa vừa ra điều kiện:
“Thúc giục Dương đại nhân đi, trả lại tiêu cục cho di nương con càng sớm càng tốt.

Việc đổi họ cho Cửu nương phức tạp lắm à?

Mấy thủ tục lằng nhằng đó sao vẫn chưa xong?

Còn đám Vương Khánh Hổ, Vương Đại Thanh ấy, chém sớm cho rồi, nuôi thêm một ngày lại tốn thêm cơm, thà đem cho lũ lợn ăn còn hơn!”

Định Tây Hầu nghe mà đầu ong ong.

Án xử án, làm gì có chuyện muốn chém là chém ngay được?

Nhưng từ kinh nghiệm “xương máu” trước đây, ông hiểu rõ—càng không nên giảng đạo lý với Lục Niệm.

“Ta nhất định sẽ thúc giục Dương đại nhân nhanh chóng xử lý,” Định Tây Hầu vội vàng đáp, lại không quên chừa đường lui cho mình, “mà Dương đại nhân không xử lý dứt điểm là vì muốn bọn chúng cắn xé lẫn nhau thêm chút nữa, biết đâu lại lôi ra thêm vài tên đồng bọn.

Giờ mà chém hết thì lấy đâu ra ‘chó mới’ để điều tra?”

Thật giả thế nào chưa biết, nhưng Lục Niệm nghe lọt tai là được.

Thế là bữa tối ở Xuân Huy viên hôm ấy diễn ra êm đẹp, Định Tây Hầu ăn uống vui vẻ, mặt mũi hớn hở, lúc ra về khóe miệng còn vương nụ cười mãn nguyện.

A Vi tiễn ông ra ngoài, dịu dàng nói:
“Ngài đừng lo mẫu thân con lật bàn vào hôm ấy.

Hôm đó con sẽ tự tay nấu nướng đãi ngài, bà ấy thương con, chắc chắn sẽ không làm ầm lên đâu.”

Nghe xong, lòng Định Tây Hầu lại dâng trào một đợt cảm động mới, ông không ngừng khen:
“Đúng là đứa trẻ ngoan, ngoan lắm!”

Trong phủ Định Tây Hầu, người không nhiều cũng chẳng ít.

Trừ Lục Khiếu và Lục Mẫn còn nhỏ chưa ngồi ăn cùng bàn, những người còn lại vẫn đủ để quây quanh một chiếc bàn tròn lớn.

Vì là bữa cơm gia đình, không câu nệ tiểu tiết, Cửu nương và Hứa Phú Đức cũng tham dự.

Liễu nương tử không phải đứng hầu, Lục Niệm bảo nàng ngồi xuống cùng ăn, chẳng ai dám dị nghị.

Trong dịp này, dù trong lòng nghĩ gì, thì ngoài mặt ai cũng giữ phép tắc, chẳng ai ngu đến mức gây chuyện vì mấy điều vụn vặt.

A Vi bắt tay vào chuẩn bị từ sáng sớm.

Dù có các bà tử nhà bếp phụ giúp, nhưng với vai trò là đầu bếp chính, nàng bận rộn từ sáng đến tận lúc dọn cơm mới xong.

Các nha hoàn bày biện bàn tiệc: món nguội, món nóng, đủ cả mặn lẫn chay, canh, điểm tâm, bày biện vô cùng đầy đủ và tinh tế.

Lục Tuấn trông rất hài lòng, cười tươi rói:
“A Vi thật khéo tay, hôm nay đúng là có phúc được thưởng thức tay nghề của con.

Mấy món này chắc hẳn đều có ý nghĩa đặc biệt chứ?”

Trong mắt hắn, một bữa tiệc do chính tay cháu gái chuẩn bị chắc chắn phải ẩn chứa những dụng ý sâu xa—nào là chúc thọ sống lâu trăm tuổi, nào là trường thọ an khang, đại loại vậy.

Lúc này chưa ai động đũa, chính là cơ hội tốt để nghe A Vi giải thích.

A Vi mỉm cười, ánh mắt lấp lánh:
“Đúng là có vài điều đặc biệt, nhưng để con giữ bí mật chút nhé.

Đợi rượu qua ba tuần, con sẽ bật mí.”

“Con bé này!” Lục Tuấn bật cười ha hả, rõ ràng rất hào hứng.

A Vi đã nói vậy, Định Tây Hầu làm sao có thể từ chối?

“Đây là bữa tiệc A Vi chuẩn bị để hiếu kính ngoại tổ phụ,” ông vui vẻ nói, “ngoại tổ phụ nhất định phải ăn hết sạch, không để thừa lại một miếng!

Nào, mọi người cùng động đũa thôi!”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 83: Dâng Ngài Một Bữa Yến Tùng Tử


Tằng thị ngồi cạnh Định Tây hầu, nét mặt điểm nụ cười nhã nhặn, ánh mắt lướt qua từng món ăn trên bàn tiệc.

Nói về sự bài trí món ăn trong yến tiệc, bàn này thực ra không mấy xa hoa, chẳng có món gì quá đỗi trân quý hay hiếm lạ.

Nhưng dù sao cũng là gia yến, lại do chính tay A Vi nấu nướng, tấm lòng đã trọn vẹn, vậy là đủ đầy mọi thứ rồi.

Chẳng phải Định Tây hầu đang cười tít cả mắt đấy thôi?

Tằng thị tự nhiên cũng không tiện thốt ra lời nào phá hỏng bầu không khí vui vẻ lúc này.

Món chính là Tùng Thử Quế Ngư, cá chiên vàng ươm, đầu ngẩng cao, đuôi vểnh lên, rưới lên lớp nước sốt chua ngọt óng ánh mà không hề thấy dầu mỡ đọng lại trong lớp xốt sệt.

Tằng thị chỉ cần liếc mắt cũng đoán được bọn trẻ nhất định sẽ thích hương vị này.

Còn về phần bà thì…

Trên mình cá điểm xuyết những miếng măng nhỏ, đậu Hà Lan, hạt bắp vàng óng và cả nhân tùng tử (hạt thông).

Tằng thị vốn không ưa đụng đến tùng tử, nhưng đây là món chính, nếu không ăn một miếng nào thì lại quá lộ liễu.

Bà khéo léo tránh phần có hạt thông, chỉ gắp một miếng thịt cá, bên ngoài giòn rụm, bên trong mềm mại.

“Thật không tệ.”

Tằng thị mỉm cười nói với Định Tây hầu.

Trong tình huống này, lời khen dành cho A Vi chắc chắn sẽ được Định Tây hầu hưởng ứng nồng nhiệt.

Vì kỵ tùng tử, Tằng thị không động đũa vào cá nữa, chuyển sang xem thử các món ăn kèm bên cạnh.

Mỗi người đều có phần cua nhồi cam nhỏ xinh trước mặt.

Đây là món Tằng thị rất sẵn lòng thưởng thức.

Dùng chiếc thìa nhỏ xúc từng miếng, thịt cua tươi ngon quyện cùng hương thơm thanh mát của cam, khiến Tằng thị vốn đang mệt mỏi do mấy ngày mất ngủ liên tục cũng cảm thấy thư thái đôi chút.

Ăn hết phần cua nhồi cam, bà nhấp một ngụm rượu ấm rồi cầm đũa lên.

Có lẽ do thói quen nấu nướng của A Vi, tất cả gia vị nồng đã được gạt bỏ, không để sót lại trong đĩa.

Không giống như những bữa cơm thường ngày ở đại trù phòng, nơi luôn giữ nguyên mọi nguyên liệu, kể cả các loại hương liệu, để chiều ý bà.

Thực ra bà cũng biết rõ, đồ ăn trong nhà làm sao lại chứa thứ gì không thể ăn được, chẳng qua là tâm lý không thoải mái, lúc nào cũng muốn tận mắt nhìn thấy mới yên tâm.

Nhưng hôm nay thì thôi, không thấy sẽ không phiền lòng.

Lục Tuấn tấm tắc khen: “Món thịt kho này da giòn thịt mềm, lửa nấu vừa tới, hương vị đậm đà thơm phức!”

A Vi mỉm cười, gắp cho Lục Niệm một miếng nhỏ, rồi nói với Lục Tuấn: “Cữu cữu, món này gọi là Tùng Quả Nhục (thịt hầm quả thông).”

Lục Tuấn ngạc nhiên: “Sao lại gọi như thế?”

“Cữu cữu nhìn xem, lớp da thịt có đường dao khía ô vuông như bàn cờ, bên cạnh lại trang trí mấy quả tùng, có giống không nào?”

A Vi cười hỏi.

Lục Tuấn chăm chú nhìn, bật cười: “Đúng là giống thật!”

Tằng thị đã nhìn thấy những quả tùng ấy từ sớm, vì vậy dù miếng thịt chẳng dính dáng gì đến tùng tử, bà cũng chẳng muốn nếm thử.

Huống hồ dạo gần đây, Xuân Huy viên cứ nửa đêm lại nấu thịt kho, mùi hương nồng nặc khiến bà buồn nôn không chịu nổi.

Tằng thị chỉ gắp một viên thịt viên chiên.

Nhìn màu sắc có thể đoán là chiên xong rồi đem hấp lại.

Bà vừa thấy Lục Chí ăn liền mấy đũa, chắc hẳn hương vị không tệ.

Cắn thử một miếng, nhai chậm rãi, nhận ra đó là thịt gà xay viên, kèm theo vài lát măng đông hấp cùng, Tằng thị khẽ gật đầu, hương vị thanh nhẹ, trơn mát, rất vừa ý.

Lục Miễn thích thú khen một món đậu phụ: “Tổ phụ, tổ mẫu, món đậu phụ này mềm mịn thơm ngon lắm, người mau nếm thử đi ạ.”

Được đứa cháu cưng giới thiệu, Tằng thị tất nhiên vui vẻ nhận lời.

Đậu phụ được nấu nhuyễn như tơ, bên trong trộn lẫn các loại nguyên liệu cắt nhỏ như nấm hương, tôm nõn, thịt nguội.

Bà múc một thìa nếm thử, mỉm cười nói với Lục Miễn: “A Miễn hiểu khẩu vị của tổ mẫu, món đậu phụ này thật tuyệt.”

Lục Miễn mừng rỡ ra mặt.

Tằng thị không khỏi liếc sang chiếc bàn nhỏ bên cạnh, nơi Lục Mẫn và Lục Khiếu đang ngồi.

Hai đứa còn nhỏ, có nhũ mẫu chăm sóc riêng, món ăn cũng được chuẩn bị riêng biệt.

Nhưng món đậu phụ này thì cả hai đều có thể ăn.

Tằng thị định gọi ma ma phân cho mỗi đứa một ít, nhưng vừa nhìn kỹ đã thấy bên đó cũng có bày sẵn đậu phụ rồi.

Phần của Lục Khiếu giống hệt trên bàn lớn, có cả các loại nguyên liệu cắt nhỏ màu sắc sặc sỡ, còn phần của Lục Mẫn – đứa nhỏ mới một tuổi rưỡi – thì chỉ có đậu phụ mềm mịn.

A Vi thấy Tằng thị nhìn sang, dĩ nhiên hiểu rõ.

Muốn giữ hòa khí tối nay, nàng liền nói với Giản thị: “Nhị cữu mẫu, phần đậu phụ của A Mẫn được làm riêng, chỉ thêm lòng trắng trứng và ít nước luộc gà, không nêm muối hay hồ tiêu.

Con nghĩ dù sao cũng là tiệc mừng thọ của ngoại tổ phụ, bọn trẻ không thể lên bàn lớn, nhưng nếm chút đậu phụ cũng coi như cùng chúc thọ với ngoại tổ phụ rồi.

Còn các món khác, nếu có món nào A Khiếu ăn được, cữu mẫu cứ gắp riêng cho con bé ạ.”

Giản thị vội đáp ứng, không quên cảm ơn và khen nàng “chu đáo, tinh tế.”

Lục Trì vốn ôm đầy bụng oán giận với Lục Niệm, cũng có chút bất mãn với A Vi, nhưng dù sao cũng không thể tức giận với người luôn tươi cười vui vẻ như nàng, huống chi nàng lại dồn hết tâm ý vào việc này.

Nghĩ vậy, Lục Trì chỉ biết thở dài trong lòng.

Đại tỷ đã điên rồ, đến mức kéo cả con gái vào cơn điên ấy.

Một đứa trẻ thông minh khéo léo thế này, lại vướng phải người mẹ như đại tỷ, thật đáng tiếc!

Vừa nghĩ, Lục Trì vừa gắp thức ăn.

Nhìn xem, món nấm hương nhồi tôm này, hương vị núi rừng kết hợp với tinh túy của biển, đúng là mỹ vị thượng hạng!

Rồi đến món bát bảo nhục viên (thịt viên tám báu), tỷ lệ nạc mỡ hoàn hảo, trong viên thịt có thể nếm ra vị của mướp đắng, gừng, nấm, măng non và củ mã thầy, ăn vào giòn giòn sần sật, kết hợp với nước canh thơm ngọt.

Món chính là bánh nướng giòn, hai mặt đều giòn rụm, vị ngọt thanh nhè nhẹ.

Hương vị này khiến A Khiếu thích mê, Lục Trì thấy Giản thị đã lấy một miếng, nhờ ma ma đút cho con gái.

Đã là yến tiệc thì ngoài việc thưởng thức món ngon, dĩ nhiên không thể thiếu những chén rượu mừng, nhưng may mắn không ai ép rượu quá mức.

Mọi người chỉ lần lượt nâng chén chúc thọ Định Tây hầu theo thứ bậc vai vế, khiến lão gia cười ha hả, ăn uống càng thêm ngon miệng.

Một bàn đầy thức ăn, quả đúng như lời hắn đã nói với A Vi trước đó—hắn sẽ không để thừa lại một miếng nào.

Lục Tuấn cùng hắn uống rượu, hứng thú dâng trào, cũng quên bẵng việc bàn về sự cầu kỳ của món ăn.

Chỉ có Tang thị là vẫn nhớ.

Tuy nàng không rõ sự “khéo léo” của A Vi, nhưng A Vi đã vất vả chuẩn bị cả bàn tiệc này, ắt hẳn phải có dụng ý riêng.

Tang thị thấy thời cơ đã chín muồi, mỉm cười lên tiếng:
“Cữu mẫu ăn món nào cũng thấy ngon, chỉ là không hiểu được sự tinh tế trong đó, chẳng khác nào Trư Bát Giới ăn nhân sâm quả.

A Vi, giờ con có thể nói rõ rồi chứ?”

A Vi rất thích sự nhanh nhạy của Tang thị, liền trêu chọc:
“Nhà ai lại có Trư Bát Giới vừa thướt tha, vừa xinh đẹp như người chứ?”

Tang thị nghe vậy vô cùng vui vẻ, lại giục thêm một câu.

A Vi mượn đà đó, bắt đầu giới thiệu các món ăn.

“Món tùng thử quế ngư (cá chép sốt chua ngọt) cầu kỳ ở chữ ‘quý’, đỏ rực như lửa, tượng trưng cho phú quý, thịnh vượng dài lâu.”

Định Tây hầu nghe xong, vô cùng đắc ý, cất tiếng khen:
“Tốt lắm!”

A Vi mỉm cười nói tiếp:
“Con vừa nói với cữu cữu về món thịt quả tùng rồi.

Con dùng hoa tiêu và đại hồi ngâm nước, thêm xì dầu, hoàng tửu, kèm hành, gừng, tỏi.

Từ tối qua, con đã thái thịt ba chỉ, rồi ướp cùng nước sốt đó.

Hôm nay, con cho cả thịt và nước ướp vào nồi, thêm đường phèn, ninh gần một canh giờ, sau đó vớt ra, dùng dầu nóng chiên phần da thịt đến khi giòn và tạo hình thành quả tùng.

Món này bổ huyết, dưỡng ẩm, ích khí, tiêu thũng.”

A Vi kể rất tỉ mỉ.

Tằng thị lặng lẽ lắng nghe, thầm nghĩ: Trẻ con đúng là thế, có chút bản lĩnh liền muốn khoe khoang, hận không thể nói dài cả trăm dòng.

Tuy vậy, bà vẫn kiên nhẫn lắng nghe.

Chỉ cần biết rõ những gì đã được dùng để nấu nướng, bà cảm thấy yên tâm.

Ban nãy thấy món thịt quả tùng, Tằng thị không đụng đến.

Giờ nghe xong, quả là quyết định sáng suốt—món này chắc chắn có dùng đến đại hồi.

Không phải gây hại gì, nhưng bà không muốn ăn, trong lòng sẽ thoải mái hơn.

“Món viên chiên gọi là kê tùng (viên thịt gà), dùng đùi gà, lột nguyên lớp da, rồi băm nhuyễn phần thịt.

Thịt băm được trộn với lòng trắng trứng, bột năng, bột hạt tùng và muối…”

Tằng thị hơi nghẹn thở.

Bà vừa nghe thấy gì?

Bột hạt tùng?

Lục Chí cũng rất ngạc nhiên:
“Bên trong có hạt tùng à?

Sao ta không nhận ra mùi vị ấy nhỉ?”

“A, con đã nghiền thành bột rồi,”

A Vi thản nhiên liếc nhìn Tằng thị, thấy nụ cười trên mặt bà đã nhạt đi vài phần, liền tiếp tục nói,
“Thịt băm sau khi trộn đều được vo thành viên, chiên giòn rồi xếp vào bát.

Con thêm hoàng tửu, xì dầu, bày thêm lát măng đông, nấm hương và sợi hành gừng, đặt xương gà lên, phủ da gà bên ngoài rồi đem hấp.

Trước khi dọn lên bàn sẽ gỡ bỏ xương và da, chỉ còn lại viên thịt và măng nấm.

Món này ôn trung ích khí, cường kiện tỳ vị.”

Lục Chí nghe rất hào hứng, thấy trong đĩa còn mấy viên thịt, liền gắp lên nếm thử:
“Hình như đúng là có chút vị hạt tùng thật.”

Hai chữ “hình như” này khiến sắc mặt Tằng thị lại “hình như” tệ thêm vài phần.

May mà bà vốn không thích đồ chiên, cũng chỉ ăn có hai, ba viên.

Tằng thị âm thầm nuốt nước bọt, cố không nghĩ nhiều.

A Vi lại kể đến món bát bảo đậu phụ.

Món này nàng từng làm cho cô mẫu vào ngày mở quan tài.

Khi nghe thấy trong đó cũng có bột hạt tùng, sắc mặt Tằng thị thoáng hiện vẻ sửng sốt, tuy chỉ trong chớp mắt nhưng Lục Niệm đã kịp bắt gặp, khẽ cười khúc khích.

“Món bát bảo nhục viên cũng tương tự như bát bảo đậu phụ, chỉ là bên trong thêm củ mã thầy, gừng non, và đương nhiên không thiếu hạt tùng.”

“Món nấm nhồi tôm, dùng tôm biển, trộn thêm bột hạt tùng.

Ăn vào bổ gan thận, hóa đàm khai vị.”

“Bánh sư (bánh nướng giòn), dùng đường và mỡ lợn trộn bột, thêm hạt óc chó nghiền, bột hạt tùng, lại thêm sữa đông, nướng bằng chảo hai mặt mới giòn rụm.”

Nghe đến đây, Tang thị đã hiểu rõ mọi chuyện.

Hóa ra A Vi dùng hạt tùng để thử Tằng thị.

Ban đầu, khi nghe đến món cá chép sốt và thịt quả tùng, bà còn tưởng chỉ có hai món đó là dính dáng đến hạt tùng, nào ngờ những món tưởng chừng chẳng liên quan chút nào cũng đều có cả!

Không thấy sắc mặt Tằng thị đã tái nhợt đến cực điểm sao?

Tằng thị để trông bớt mệt mỏi, đã dặm không ít phấn, che đi làn da vàng vọt và quầng thâm dưới mắt.

Lúc mới vào bàn tiệc, sắc mặt bà vẫn còn tự nhiên, nhưng giờ phút này, e rằng vì tâm trạng dao động, trông bà trắng bệch như gặp ma.

Lục Tuấn không nhận ra sự khác lạ của Tằng thị.

Hắn vẫn chăm chú lắng nghe, hứng thú hỏi:
“Sao ta nghe món nào cũng có hạt tùng thế nhỉ? Ấy, món cua nhồi cam kia chẳng lẽ cũng có à?”

Vừa dứt lời, ánh mắt Tằng thị chợt co rút, vô thức nhìn chằm chằm vào vỏ cam rỗng trên bàn.

“Có chứ,”

A Vi đáp, giọng nhẹ nhàng như không,
“Món này rất tốn công.

Con và các ma ma trong đại trù phòng đã bóc biết bao nhiêu cua mới đủ.

May mà bây giờ cua béo chắc, đầy ắp gạch vàng, trộn thêm bột hạt tùng, hấp lên thơm ngào ngạt.

Ăn vào hoạt huyết hóa ứ, lý vị tiêu thực, thông kinh hoạt lạc.”

Định Tây hầu cười ha hả:
“Hôm nay thật làm khó A Vi của chúng ta rồi, vỏ cua cứng như thế, có làm con bị thương tay không?”

“Ngài yên tâm, con giỏi bóc cua lắm mà,”

A Vi tươi cười rạng rỡ, “Mà hạt tùng là thứ tốt đấy ạ, ‘tán các loại phong, lợi cho tỳ vị, dùng lâu cơ thể nhẹ nhàng, kéo dài tuổi thọ không già’.

Thế nên con mới làm cho ngài một bữa yến tiệc hạt tùng, chúc ngài sống lâu trăm tuổi, mãi mãi thanh xuân không già!”

Định Tây hầu nghe xong, lòng vui như hoa nở, mặt mày rạng rỡ hồng hào.

Ôi chao!

Ông vui mừng, đắc ý không để đâu cho hết!

Ngày mai mà có ai ở nha môn hỏi về tiệc mừng thọ của ông, thế nào ông cũng có chuyện để khoe khoang!

Trước đây, vì chuyện “ngoại thất” đột nhiên vào phủ, rồi thêm cả “đứa con gái” xuất hiện bất ngờ, ông đã phiền lòng không ít.

Bạn bè thân thì châm chọc, kẻ không ưa thì bóng gió mỉa mai, thậm chí có kẻ còn định dâng tấu sớ để hạch tội ông, làm ông chẳng biết giấu mặt vào đâu.

Nhưng tối nay khác rồi!

Những kẻ thích xem trò vui hay tìm chuyện gây khó dễ, cho dù nhà họ cũng bày được vài món ăn ngon, nhưng ai có thể so bì được với bàn tiệc này—một bữa tiệc do chính tay hậu bối chuẩn bị, tỉ mỉ dồn hết tâm huyết, lại còn đầy ý nghĩa cát tường như vậy?

Dọc theo Thiên Bộ Lang, ông đây, Định Tây hầu, chắc chắn là người nở mày nở mặt nhất!

“Nghe chưa, nghe chưa!”

Định Tây hầu quay sang trái, rồi lại sang phải, cười hớn hở, “Nghe xem, nói hay biết bao!”

Lục Niệm cố tình đảo mắt, bĩu môi nói:
“Nghe rõ rồi, chúc ngài sống thêm vài chục năm nữa đấy.”

“Chậc!”

Định Tây hầu chỉ tay hờ hững về phía nàng, không chút giận dữ, “Cái miệng này, đúng là chua ngoa!”

“Bữa tiệc này không chỉ cần khéo tay mà còn phải có lòng hiếu thảo,”

Liễu nương tử cũng cười, “Hầu gia, cô phu nhân dạy dỗ biểu cô nương tốt quá.

Nếu không nghĩ đến ngài, làm sao bà ấy nỡ để biểu cô nương vất vả chuẩn bị tiệc mừng thọ thế này?

Nào, thiếp xin kính ngài một chén nữa.”

Định Tây hầu vui vẻ tươi cười, nâng chén cụng với Liễu nương tử rồi uống cạn.

Hứa Phú Đức trước đó cũng đã kính rượu rồi, nhưng dù hắn có ra oai thế nào bên ngoài với danh nghĩa cô gia phủ hầu, thì hôm nay mới là lần đầu tiên hắn được thể hiện sự tôn quý trong chính phủ này.

Nhân lúc Định Tây hầu đang vui, Hứa Phú Đức vội vàng rót đầy rượu:
“Tiểu tế xin kính ngài thêm một chén nữa…”

Chuyện kính rượu ấy mà, có người khởi đầu rồi thì sẽ có người nối tiếp, Định Tây hầu cũng chẳng từ chối, cứ thế uống thêm gần cả bình rượu.

Bên cạnh, không khí tưng bừng náo nhiệt, những lời chúc tụng nối tiếp nhau không dứt.

Tằng thị ngồi ngay ngắn, nhưng đầu óc lại ong ong, chẳng nghe lọt tai những lời sau đó.

Trong tai bà chỉ quanh quẩn mấy từ “hạt tùng”, “hạt tùng” do A Vi nói ra.

Món cua nhồi cam—món mà bà cho là an toàn nhất—vậy mà cũng có bột hạt tùng!

Thật không hiểu nổi, rốt cuộc là dụng ý gì!

Còn món thịt quả tùng, món bà lo sợ nhất, tuy có dùng nước sốt ngâm đại hồi, nhưng lại là món duy nhất không hề có hạt tùng.

Đây đúng là một ván cờ hư hư thực thực, một chiêu không thành kế khiến bà không dám manh động!

Tằng thị hít sâu một hơi.

Từ hôm Tang thị mang hạt tùng đến Thu Bích viên, Tằng thị đã biết mẹ con Lục Niệm để ý việc bà không ăn hạt tùng.

Nhưng dù sao cũng đã qua một thời gian, lại thêm hai món cá chép sốt và thịt quả tùng bày ra rõ ràng như vậy, bà không hề nghĩ A Vi có thể bày ra một bàn tiệc mà món nào cũng cho thêm hạt tùng!

Món cá chép sốt chua ngọt là đòn tấn công lộ liễu, còn những món còn lại đều là ám tiễn giấu kín!

Chỉ là làm một bàn tiệc thôi, mà A Vi lại bày trận bố cục tinh vi đến thế!

Mà bà, đã bị lừa một cách thảm hại!

Càng nghĩ, Tằng thị càng cảm thấy buồn nôn, bụng dạ cuộn trào khó chịu vô cùng.

Đúng là cố ý!

Tằng thị lén liếc A Vi một cái, ánh mắt sắc như dao.

Bữa tiệc hạt tùng gì mà chúc sống lâu không già, chỉ là mấy lời ngon ngọt để lừa gạt Định Tây hầu mà thôi.

Rõ ràng bàn tiệc này là để hành hạ bà!

Lục Niệm dựa vào ghế, thích thú thưởng thức biểu cảm của Tằng thị.

Để tránh bị phát hiện từ sớm, A Vi đã giảm tối đa lượng bột hạt tùng trong các món ăn.

Thế nhưng nhìn Tằng thị chẳng khác gì vừa nuốt phải ruồi giấm—mặt mày tái mét, buồn nôn mà vẫn phải nhẫn nhịn, không dám tỏ thái độ, lại phải cố tươi cười, khiến sắc mặt biến đổi đủ màu.

Lục Niệm nhìn mà chỉ muốn vỗ tay khen ngợi.

“Ta nhớ trong nhà trước kia luôn sẵn hạt tùng nhỉ?”

Lục Niệm nhướng mày, liếc sang Lục Tuấn, “A Tuấn chỉ cần bóc một lúc là đầy cả bát, háo hức dâng lên hiếu kính người mẫu thân hiền của mình, chậc!”

Lục Tuấn nghe vậy, quay đầu nhìn qua.

Hắn nhất thời không hiểu nổi, đang yên đang lành, Lục Niệm lại muốn gây chuyện gì nữa đây.

“Trước đây ta cũng vừa bóc, mẫu thân vẫn luôn thích ăn hạt tùng mà,” hắn hỏi lại, “Tỷ nói vậy là sao?”

“Khen ngươi hiếu thảo đấy,”

Lục Niệm cười nhạt, “Ngay cả con ruột còn không hiếu thuận bằng ngươi.”

Lục Trì không nói gì, nhưng cảm giác rõ ràng có điều gì đó không ổn.

Còn Lục Miễn vẫn còn nhỏ, dù học hành chăm chỉ và có chút thông minh, nhưng chưa đủ kinh nghiệm để hiểu những lời châm chọc, đào bẫy ngầm của người lớn.

Thấy tối nay biểu tỷ làm tổ phụ vui vẻ như vậy, cậu bé cũng muốn thể hiện lòng hiếu thảo:
“Con bóc cho tổ mẫu nhé,”

Lục Miễn hồ hởi nói, “Tổ mẫu, để con bóc cho người ăn.”

Khóe miệng Tằng thị khẽ giật, miễn cưỡng đáp lại lời Lục Miễn, rồi dưới ánh mắt nửa cười nửa không đầy vẻ chế giễu của Lục Niệm, bà thầm chửi một câu trong lòng:
“Cả ngày chỉ giở mấy trò đê tiện thế này!”

Lén lút khiến bà chán ghét.

Chẳng thà như trước kia, đập phá đồ đạc của bà, chém phá sân viện, ít ra còn thẳng thắn có khí phách!

Đúng lúc ấy, hai ma ma lại bưng khay thức ăn tiến vào.

Trên khay là từng chén sứ nhỏ, mỗi người một phần.

A Vi mở nắp, nói:
“Món cuối cùng là thang viên bột nước—ăn đồ ngọt sau khi uống rượu để dễ tiêu hóa hơn.”

Viên thang viên được làm từ bột nếp xay nhuyễn, nhân bên trong là mè đen trộn mỡ heo, viên không lớn, mỗi người hai cái, vừa đủ no.

Cắn một miếng, lớp nhân tan chảy lan ra, bên trong còn trộn thêm ít hạt tùng đã được nghiền nhỏ.

“Quả nhiên là thế!”

Định Tây hầu hài lòng nói, “Đã gọi là tiệc hạt tùng, thì từ đầu đến cuối đều phải có!”

Tằng thị cầm thìa, ngón tay siết chặt đến mức các khớp trắng bệch.

Nếu như trước đây là để bà vô thức ăn vào, thì giờ đây không cần che giấu gì nữa, hết sức quang minh chính đại.

Hạt tùng trộn trong nhân không thể như món cá chép sốt để né tránh, lần này là ép bà ăn, lại còn bắt bà nhìn rõ ràng mà ăn.

Thật ra, bà cũng không phải không ăn được.

Chút hạt tùng đó không thể lấy mạng bà, nhưng bà thấy ghê tởm!

Ghê tởm hạt tùng.

Ghê tởm mưu kế của mẹ con Lục Niệm.

Phải để bà chịu đựng nỗi nhục này, thuận theo ý họ mà ăn vào, còn khó chịu hơn cả việc bà tự nguyện ăn một nắm hạt tùng đầy ắp.

Tằng thị không động đũa, nhìn thấy Lục Miễn ăn xong thang viên vẫn còn thèm thuồng, bà liền nói:
“A Miễn thích thế cơ à, lại đây với tổ mẫu, chén này cho con.”

Lục Miễn vui mừng hớn hở.

A Vi lên tiếng khuyên nhủ:
“Con thấy đệ ấy nãy giờ ăn cũng nhiều rồi.

Thang viên làm từ bột nếp, ăn nhiều vào buổi tối sợ khó tiêu hóa.”

Giản thị nghe vậy thấy có lý, liền lắc đầu với Lục Miễn.

Lục Miễn đành ngoan ngoãn nghe lời.

Trẻ con không được phép ăn nhiều, còn người lớn nào lại đòi lấy thêm phần của Tằng thị?

Chén thang viên của Tằng thị “cho đi không được,” bà đành phải cắn răng, dưới ánh mắt của mọi người mà tự mình ăn hết.

Nhân mè đen béo ngậy, ngọt đến mức khiến người ta phát ngấy, Tằng thị cố nén ghê tởm mới nuốt trôi được.

Nhìn thấy Lục Niệm đang vui vẻ thưởng thức biểu cảm của mình, Tằng thị chỉ cảm thấy mình không phải đang nuốt thang viên, mà là đang nuốt máu của chính mình, cùng với nỗi nhục nhã như bị gãy răng!

Bàn tiệc cũng gần dọn xong.

Định Tây hầu sau khi uống rượu thì tinh thần phấn chấn, nói chuyện không dứt, hết chuyện này đến chuyện khác.

Tằng thị thật sự không chịu nổi nữa, lên tiếng:
“Ta thấy hơi mệt, xin phép về trước.”

Nói xong, bà cũng không bảo bọn trẻ tiễn mình, chỉ để Lý ma ma đỡ rồi cùng nhau rời khỏi hoa sảnh.

Gió lạnh thổi qua hành lang.

Lạnh lẽo, vô tình.

Bước chân Tằng thị vội vàng, Lý ma ma sợ hãi không dám hé răng, sợ chọc phải xui xẻo.

Khi trở về Hàm viện, nha hoàn nhỏ nhanh nhẹn dâng trà rót nước, nhưng thần sắc lại lộ vẻ do dự, như có điều muốn nói mà không dám.

Lý ma ma nhận ra, thừa lúc Tằng thị không chú ý, khẽ hỏi nhỏ:
“Có chuyện gì vậy?”

Nha hoàn nhỏ rụt rè đáp:
“Hồi nãy Văn ma ma từ Xuân Huy viên đến.”

“Bà ta đến làm gì?”

“Bà ấy nói… không biết Hầu phu nhân có từng nghĩ đến, tại sao Thế tử lại đột nhiên nhớ ra gửi canh phượng tủy đến hay không…”

Mắt Lý ma ma trợn to, kinh hãi thốt lên:
“Cái gì?!”

Tiếng kêu này làm Tằng thị giật mình:
“Có chuyện gì mà ầm ĩ thế?”

Lý ma ma lúng túng, không dám giấu, đành cắn răng kể lại một lượt.

Tằng thị nghe xong, lập tức quay đầu nhìn chằm chằm vào hũ sứ đặt trên giá.

Bên tai bà, những lời “hạt tùng”, “hạt tùng” của A Vi lại vang vọng không ngừng.

Bà khó tin nhìn chằm chằm hồi lâu, cuối cùng không nhịn nổi nữa.

Bà đột ngột đứng bật dậy, bước nhanh tới, nhấc hũ sứ lên cao, rồi ném mạnh xuống đất.

Choang!

Tiếng vỡ vang lên trong tiếng hét hoảng hốt của nha hoàn nhỏ.

Lý ma ma cũng bị dọa cho cứng người, không dám nhúc nhích lấy nửa bước.

Tằng thị ôm ngực, thở hồng hộc, ánh mắt hung hãn nhìn chằm chằm vào đống thuốc cao rơi vãi trên mặt đất, sát khí bừng bừng, như thể kẻ thù không đội trời chung.

Đầu bếp A Vi nói là làm, đã bảo là một bàn tiệc thì đúng là một bàn tiệc—có kẻ ăn ngon miệng, có kẻ phát điên.

Đầu bếp không bao giờ làm không công.
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 84: Đừng để mắc bẫy của họ!


Ánh đèn dầu chập chờn lay động.

Lý ma ma mặt không còn chút huyết sắc, đôi môi run rẩy, muốn nói gì đó với Tằng thị nhưng lại không dám mở lời.

Trong lúc còn do dự, bên ngoài vang lên giọng nói đầy quan tâm:
“Hầu phu nhân?”

Lý ma ma giật bắn mình, lúc này mới hoàn hồn thực sự.

Bà cất cao giọng đáp ra ngoài:
“Không cẩn thận làm rơi đồ thôi, không có gì nghiêm trọng.”

Nói xong, giọng bà lập tức hạ thấp xuống, nghiêm giọng gằn từng chữ, dặn dò nha hoàn nhỏ:
“Dọn dẹp cho sạch sẽ, biết cái gì nên nói, cái gì không nên nói, trong lòng phải hiểu rõ!”

Nha hoàn nhỏ vẫn chưa hết sợ hãi, bị ánh mắt sắc lẹm của Lý ma ma dọa cho run rẩy, liên tục gật đầu.

Lý ma ma không để ý thêm nữa, vội vàng quay lại đỡ Tằng thị.

Hầu phu nhân luôn là người đoan trang nhã nhặn, dịu dàng hòa nhã, tuyệt đối không phải kiểu người sẽ ném đồ đạc.

Càng không có lý do gì để làm vậy.

“Người nghỉ một lát đi, để nô tỳ gọi người vào dọn dẹp cẩn thận, kẻo dẫm phải mảnh sứ vỡ thì nguy.” Lý ma ma cố gắng giữ bình tĩnh, ép mình trấn tĩnh lại.

Tằng thị liếc bà một cái, rồi lại quay đầu nhìn chằm chằm đống thuốc cao trên mặt đất, sắc mặt trắng bệch như tờ giấy.

Bà không biết rốt cuộc đó là thứ gì.

Nghĩ lại thì, những lời giới thiệu tỉ mỉ từng chi tiết của A Vi trong bữa tiệc vừa rồi, ngược lại lại khiến bà cảm thấy yên tâm hơn.

Không.

Không đúng.

Bà chợt nhớ ra—lần đầu tiên A Tuấn mang canh phượng tủy tới, hắn đã nói rất rõ ràng về nguyên liệu và cách làm.

Lúc đó, bà chỉ thấy thằng con ngốc này sao lại đột nhiên chu đáo tỉ mỉ đến thế.

Nhưng giờ nghĩ lại—hừ!

A Tuấn thì biết cái quái gì chứ!
Nó chỉ là con vẹt biết nói theo lời người khác mà thôi!

Ai bảo gì thì lặp lại cái đó!

Và chính vì món canh đó do A Tuấn mang đến, bà từ đầu đến cuối không hề sinh nghi, để mặc mẹ con Lục Niệm giỡn cợt mình trong lòng bàn tay.

Lý ma ma thấy Tằng thị không chịu nhúc nhích, đành dịu giọng khuyên nhủ mãi mới khiến bà chịu nghe.

Sau khi hầu hạ Tằng thị rửa mặt chải tóc, sắp xếp cho bà yên vị xong xuôi, Lý ma ma mới thở phào nhẹ nhõm, mồ hôi vã ra đầy trán.

Khi quay lại, sàn nhà đã được dọn sạch sẽ, không còn dấu vết nào của chiếc hũ sứ vỡ lúc nãy.

Nha hoàn nhỏ đứng ngây ra một bên, ngoan ngoãn lạ thường.

Lý ma ma mệt mỏi, chẳng buồn mắng thêm câu nào, chỉ hỏi một câu:
“Ai làm vỡ vậy?”

Nghe vậy, nha hoàn nhỏ giật bắn mình, vội cúi đầu đáp lí nhí:
“Là… là nô tỳ không cẩn thận làm vỡ ạ.”

Lý ma ma khẽ phẩy tay, ra hiệu cho cô ta lui ra.

Đêm đã khuya.

Sau khi thổi tắt đèn, Lý ma ma nằm xuống chiếc giường nhỏ ngoài phòng.

Phải nói rằng, dạo gần đây bà không được ngủ ngon giấc.

Đêm nào Hầu phu nhân cũng chập chờn tỉnh giấc, bà đương nhiên phải thức dậy hầu hạ.

Ban ngày dù Hầu phu nhân có chợp mắt được chút thì bà cũng không thể tự ý nghỉ ngơi.

Trước kia còn ở Thu Bích viên, bà còn có người thay ca, nhưng từ khi chuyển đến Hàm viện, vừa thiếu người, lại thêm Hầu phu nhân tinh thần bất ổn, đêm nào cũng chỉ gọi riêng mình bà trông coi.

Bà thực sự bắt đầu kiệt sức rồi.

Đêm cuối tháng, không thấy chút ánh trăng nào, mây đen dày đặc, trông như sắp có tuyết rơi.

Trong bóng tối, Lý ma ma mơ màng, những suy nghĩ rời rạc lướt qua đầu.

Trước khi chìm vào giấc ngủ, bà vẫn không ngừng tự nhắc nhở mình:

Ngày mai, dù thế nào cũng phải khuyên nhủ Hầu phu nhân một lần nữa.

Xuân Huy viên chẳng qua chỉ dùng hạt tùng để chọc tức, nhưng cũng chỉ đến thế thôi.

Chuyện đằng sau hạt tùng, ai mà biết được?

Mà làm sao chứng minh được?

Đúng vậy, chính là đạo lý đó!

Con người, tuyệt đối không thể tự loạn trận tuyến!

Lý ma ma ngủ thiếp đi, tinh thần căng thẳng bấy lâu nay đột nhiên thả lỏng, khiến bà càng thêm mệt mỏi, ngủ sâu hơn hẳn mọi ngày.

Bình thường chỉ cần Hầu phu nhân có chút động tĩnh, bà lập tức tỉnh dậy.

Nhưng đêm nay, chẳng hiểu sao như bị bịt kín hết thính giác, hoàn toàn không nghe thấy bất cứ tiếng động nào.

Mãi đến khi bị ác mộng làm cho bừng tỉnh, bà mới giật mình mở mắt…

Trong căn phòng tối đen như mực, bên cạnh giá để đồ nơi tường, thấp thoáng một cái bóng—trông như hình người.

Một bóng người đứng bất động, thẳng tắp như cây nến.

“Trời ơi!” Lý ma ma hét toáng lên, cơn buồn ngủ tan biến sạch sẽ, đôi mắt trợn tròn nhìn chằm chằm về phía đó.

Người kia dường như cũng giật mình, mắng lại:
“Hét cái gì mà hét?”

Hóa ra là giọng của Tằng thị.

“Hầu phu nhân?!” Lý ma ma lồm cồm bò dậy, lò dò tìm đến bên bàn châm đèn dầu, ánh sáng bừng lên chiếu rọi khắp phòng.

Ánh sáng đột ngột khiến Tằng thị nhíu chặt mày, nghiến răng nói:
“Tắt đi!”

Lý ma ma lúc này mới nhìn rõ, lập tức làm theo bản năng, thổi tắt đèn.

Trong khoảnh khắc, căn phòng lại chìm vào bóng tối, thậm chí do ánh sáng vừa tắt đi, tầm nhìn còn mờ mịt hơn trước.

“Người làm sao vậy?” Lý ma ma đưa tay lên ngực, cảm nhận nhịp tim đập loạn xạ, cố gắng giữ giọng bình tĩnh, “Có chuyện gì cứ gọi nô tỳ, sao người lại tự mình dậy?

Đi lại trong bóng tối nguy hiểm lắm, cẩn thận vấp ngã…”

“Ta muốn xem lại hũ canh phượng tủy.” Tằng thị đáp.

Lý ma ma sững người, bối rối hỏi:
“Chẳng phải người vừa đập vỡ nó rồi sao?”

“Vỡ rồi thì sao?” Tằng thị truy hỏi, “Mảnh vỡ vẫn còn đó, mang đi hỏi người xem trong đó rốt cuộc là cái gì!

Không làm rõ, ta không yên lòng.”

“Thì có thể là cái gì chứ?” Lý ma ma cười gượng, “Đại khái vẫn là hạt tùng thôi.

Dù có tra ra, người cũng không thể vì chuyện này mà đi chất vấn Thế tử, hay lật tung Xuân Huy viên lên, đúng không?

Hầu phu nhân, xin người nghe nô tỳ nói: bọn họ chẳng qua chỉ dùng hạt tùng để chọc tức người, nhưng cũng chỉ dừng lại ở đó thôi.

Nếu người làm ầm ĩ lên, chẳng phải rơi đúng vào bẫy của họ sao?

Đến lúc đó, cô phu nhân chỉ cần buông một câu châm chọc kiểu ‘bao giờ thì người không ăn nổi hạt tùng nữa vậy?’ thì người trả lời sao đây?”

Lý ma ma vẫn còn giữ chút khách khí khi nói.

Theo hiểu biết của bà về cô phu nhân, mười phần chắc chín là sẽ thốt ra một câu độc địa hơn:
“Làm chuyện gì mờ ám à?

Đến mức ngay cả hạt tùng cũng không dám ăn?”

Tằng thị không đáp lại.

Lý ma ma vẫn chưa kịp thích nghi với bóng tối, cảm giác như mình đang nói chuyện với không khí, lạnh buốt cả người, nổi hết da gà.

Bà xoa xoa cánh tay:
“Bọn họ có thể làm gì được chứ?

Văn thì lấy hạt tùng để trêu chọc, võ thì đập phá sân viện.

Nếu thực sự có chứng cứ trong tay, đâu cần phiền phức bày ra mấy trò nhỏ nhặt này?

Người nhất định đừng mắc bẫy của họ!”

“Xì!” Tằng thị cuối cùng cũng lên tiếng, giọng nói âm trầm lạnh lẽo:
“Ngươi biết cái gì?

Nói nghe dễ lắm!”

Lý ma ma nín thở.

Bà biết gì à?

Bà biết nhiều lắm.

Bà biết rõ Hầu phu nhân họ Bạch năm xưa chết như thế nào, biết chuyện gì đã xảy ra với Đào Vũ Xuyên, thậm chí rõ mồn một chuyện Đào đại nhân bị mất chức, cả nhà bị đuổi khỏi kinh thành ra sao…

Bà là người của nhà họ Tằng, đã hầu hạ Tằng thị suốt hơn ba mươi năm!

Trước khi nhà họ Tằng phát đạt, chẳng cần đến nha hoàn hay người hầu.

Mãi đến khi Tằng Thái Bảo đắc chức, gia đình mới có chút dáng vẻ quyền quý, bắt đầu mua người hầu kẻ hạ.

Lý ma ma chính là một trong số đó.

Khi ấy bà chỉ là một góa phụ trẻ, không thể nương nhờ nhà chồng hay nhà mẹ đẻ, đành tự bán mình làm nô tỳ.

Bà vốn không phải người nhanh nhạy, chẳng được chủ nhân để mắt tới, chỉ làm những việc lặt vặt vơ vẩn, cuối cùng bị phân đi hầu hạ cô cháu gái xa của lão gia nhà họ Tằng.

Thẳng thắn mà nói, không có tương lai gì cả.

Nhưng bà không cam lòng, mà cô cháu gái ấy—Tằng thị—cũng chẳng phải người cam chịu số phận.

Thế là…

Lý ma ma có thể hầu hạ Tằng thị suốt bao nhiêu năm nay, chính vì bà đặc biệt khâm phục sự độc ác đằng sau vẻ ngoài nhu mì của chủ mình.

Có người sau khi gây án giết người thì sợ hãi không yên, ăn không ngon ngủ không yên.

Nhưng Tằng thị thì khác.

Bà ta vẫn ung dung tự tại, ăn ngon ngủ kỹ, chẳng chút bận tâm.

Dù là hung thủ thực sự nhưng chưa từng để lộ sơ hở để ai nắm được nhược điểm.

Người duy nhất luôn miệng chất vấn là cô phu nhân—nhưng chỉ là lời nói vu vơ của một đứa trẻ không có chứng cứ, ai mà tin?

Nhưng không ngờ, nỗi sợ hãi và bất an bị chôn giấu suốt ba mươi năm cuối cùng cũng quay trở lại.

Đêm ấy, Lý ma ma không thể thuyết phục nổi Tằng thị.

May mắn thay, Tằng thị cũng không cố chấp thêm nữa.

Hai người giằng co suốt gần nửa canh giờ, cuối cùng bà ta cũng chịu quay lại giường nằm.

Lý ma ma cũng nằm xuống, mệt rã rời nhưng lại không sao ngủ được.

Đến khi trời tờ mờ sáng, bà mới mơ màng bò dậy trong cơn uể oải.

Vừa làm việc lơ mơ, bà vừa vô thức nghe thấy một câu nói:
“Ngươi quay về nhà họ Tằng hỏi thử bá phụ xem, nhà họ Đào đã chết sạch chưa?”

Lý ma ma giật bắn mình, suýt nhảy dựng lên:
“Người hỏi cái này làm gì?

Liên quan gì đến người đâu?

Chỉ cần người không nhắc, Thái Bảo không nhắc…”

Tằng thị không trả lời, chỉ lặng lẽ nhìn bà chằm chằm bằng đôi mắt u ám, tối tăm như vực sâu không đáy.

Trong phòng không có ai khác.

Lý ma ma cắn răng, liều mình nói:
“Đào Vũ Xuyên là do say rượu, nôn nghẹn mà chết.

Đã có quan khám nghiệm tử thi kiểm tra rõ ràng rồi.

Còn Đào Vũ Lâm thì nghiện cờ bạc, nợ nần chồng chất, khiến cha hắn mất chức, cả nhà tan nát.

Những chuyện này đều rành rành ra đó!”

Bao nhiêu năm trôi qua, nhưng ký ức ấy vẫn khắc sâu trong tâm trí Lý ma ma.

Năm đó, Tằng thị từng đính hôn với Đào Vũ Xuyên.

Ban đầu, Tằng thị không phản đối gì cả.

Cho đến một ngày, bà ta đột nhiên hỏi Lý ma ma:
“Nhà viên ngoại lang liệu có đủ bánh kẹo ngọt để ăn mãi không hết không?”

Lý ma ma khi ấy không hiểu ý, nhưng sau vài lần theo Tằng thị tới thăm phủ Định Tây hầu, bà đã hiểu.

“Một trời một vực!” Tằng thị nói, “Tại sao nàng ta có thể, còn ta thì không?”

Không cam lòng, Tằng thị bảo với Đào Vũ Xuyên rằng mình thích ăn hạt tùng.

Đúng dịp Tết, Đào Vũ Xuyên danh chính ngôn thuận đến thăm, mang theo một túi lớn hạt tùng làm lễ vật.

Hai người, với tư cách là đôi phu thê chưa cưới, được phép ngồi trong sảnh nhỏ trò chuyện.

Đào Vũ Xuyên chăm chú bóc hạt tùng, tự ăn thử vài hạt, sau đó đưa phần còn lại cho Tằng thị.

Cũng chính hôm đó, Tằng thị để ý thấy cổ Đào Vũ Xuyên ửng đỏ, tay gãi liên tục.

Ban đầu, Tằng thị chỉ nghĩ hắn hồi hộp.

Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, bà ta hỏi Lý ma ma:
“Hắn có phải không ăn được hạt tùng không?”

“Có thể đấy,” Lý ma ma đáp, “Nô tỳ từng nghe nói có người dị ứng với đậu phộng.”

Khi ấy, bà chỉ coi đó là chuyện tán gẫu bình thường, không ngờ hai tháng sau, Tằng thị đích thân chuẩn bị một đĩa thịt dê luộc trắng và một phần bánh đậu xanh, mang đến chúc thọ phu nhân nhà họ Đào.

Thịt dê kèm nước chấm, trong đó có muối, tiểu hồi, tiêu được xay nhuyễn, trộn thêm bột hạt tùng, lại rắc thêm một ít lạc vụn dễ nhận biết để át mùi.

Còn bánh đậu xanh thì dùng bách hợp để tăng hương vị, hoàn toàn che lấp mùi dầu của hạt tùng xay nhỏ.

Đào Vũ Xuyên thích ăn thịt dê, cũng mê bánh ngọt, chắc chắn sẽ không từ chối.

Lý ma ma không hề ngăn cản Tằng thị.

Đã từng chứng kiến sự giàu sang trong phủ Định Tây hầu, ai còn thích nhà họ Đào nghèo nàn kia chứ?

Tằng thị không thích, bà cũng chẳng ưa.

Cứ thế, Đào Vũ Xuyên chết—một cái chết sạch sẽ gọn gàng, không để lại chút rắc rối nào cho Tằng thị.

Cùng lắm, trưởng bối nhà họ Tằng chỉ thở dài vài câu:
“Lại phải tìm mối hôn sự mới rồi.”

Nửa năm sau, Bạch thị cũng chết.

Nguyên nhân được xác định là do trúng độc mãng thảo mãn tính.

Sau gần một tháng dưỡng bệnh, cuối cùng chỉ cần một đợt phát tác mạnh, bà ta liền không qua khỏi.

Không ai phát hiện ra sự khuất tất đằng sau cái chết ấy, ngoại trừ một người—Tằng đại nhân.

Khi Tằng thị chủ động đề nghị muốn làm kế thất của Hầu gia và hy vọng Tằng đại nhân đứng ra dàn xếp, ông đã hiểu rõ mọi chuyện—hai mạng người.

“Ta có thể nghĩ thông suốt, thì nhà họ Đào một ngày nào đó cũng sẽ hiểu ra.”

“Ngươi tưởng mình gả cao, nhà họ Đào sẽ không dám chống lại phủ Định Tây hầu sao?

Ngươi đã giết đứa con trai có triển vọng nhất của họ, hắn nhất định sẽ liều mạng với ngươi!”

“Chứng cứ à?

Đào đại nhân là quan của Lại bộ!

Hắn có quan hệ thân thiết với các cấp trên!”

“Chốn quan trường có đủ cách khiến người ta muốn kêu oan cũng chẳng mở miệng được!”

Khi Tằng đại nhân mắng mỏ, Lý ma ma cũng đứng đó, lặng lẽ nghe từng câu từng chữ.

Lúc ấy, bà cảm thấy trống rỗng trong lòng.

Bởi một khi bà được nghe những lời này, nghĩa là bà đã trở thành người chết—ít nhất là chết trong lòng họ.

Không ngờ rằng, Tằng thị chỉ đáp lại một câu:
“Nếu đã như vậy, ngài cũng có cách khiến nhà họ Đào không thể lên tiếng.”

Tằng đại nhân im lặng một lát, rồi gật đầu đồng ý.

Chẳng bao lâu sau, Đào Vũ Lâm—kẻ chưa từng bén mảng tới sòng bạc—bỗng xuất hiện ở Vạn Bảo lâu, vung tiền như rác, nợ nần chồng chất.

Đào đại nhân phải đứng ra trả nợ cho con, nhưng cuối cùng vẫn bị ngự sử dâng tấu hạch tội, Hoàng thượng ban chiếu cách chức, tước bỏ mọi chức vị.

Chỉ trong hơn ba tháng, cái tên họ Đào biến mất hoàn toàn khỏi kinh thành.

Mọi chuyện được xử lý sạch sẽ đến đáng sợ!

Lý ma ma nghĩ mãi không hiểu, tại sao đã bao nhiêu năm trôi qua, mọi chuyện tưởng chừng chôn vùi dưới lớp bụi thời gian, mà Hầu phu nhân bỗng nhiên lại…

Hai năm trước, Tằng thị từng gặp ác mộng, mơ thấy Đào Vũ Xuyên chết không nhắm mắt.

Sợ rằng mình sẽ buột miệng nói mớ khi ngủ, bà lấy cớ bị ho để “đuổi” Hầu gia ra ở thư phòng phía trước, từ đó cũng không đụng đến hạt tùng nữa.

“Người đừng để mắc bẫy của bọn họ!” Lý ma ma khuyên nhủ tha thiết.

Tằng thị ôm đầu, thái dương đau nhức, sắc mặt u ám nặng nề.

Lý ma ma không dám khuyên thêm nữa, vì lúc này, Liễu nương tử đã đến.

Người này chẳng khác nào tai mắt của cô phu nhân!

Liễu nương tử mắt sắc như dao, vừa ra khỏi Hàm viện đã đến ngay Xuân Huy viên, bẩm báo với Lục Niệm và A Vi:
“Hũ canh phượng tủy không còn ở chỗ cũ nữa.”

“Chắc chắn là bà ta đã đập vỡ rồi.” Lục Niệm cười, tâm trạng phơi phới.

A Vi cũng cười, nụ cười nhẹ nhàng nhưng lời nói thì lạnh buốt:
“Đập vỡ cũng tốt.

Mãng thảo có độc tính mạnh, lỡ đâu bà ta thực sự ngã gục vì sùi bọt mép, chết ngay tại chỗ thì lại quá tiện nghi cho bà ta rồi.”

Tằng thị vốn dĩ đã có vấn đề về giấc ngủ, mấy ngày nay lại uống canh phượng tủy được “thêm thắt” đặc biệt, triệu chứng trúng độc mãn tính chắc chắn sẽ dày vò bà ta không ít.

Đặc biệt là sau bữa tiệc “hạt tùng” hôm qua…

Lục Niệm cười nhạt:
“Hôm nay đi mua thêm nhiều hạt tùng về, để Lục Miễn thể hiện lòng hiếu thảo với tổ mẫu.”

Hôm đó, Lý ma ma mệt mỏi rã rời, lòng dạ rối bời.

Trước hết là “cháu trai hiếu thảo” Lục Miễn mang tới một bát lớn hạt tùng đã bóc vỏ sạch sẽ, mặt mày rạng rỡ, tràn đầy hy vọng được tổ mẫu khen ngợi.

Tằng thị rất cưng chiều đứa cháu trai thông minh này, không nỡ phụ ánh mắt sáng rực đầy ngưỡng mộ ấy, đành miễn cưỡng ăn hết một nắm to.

Ngay khi Lục Miễn rời đi, Tằng thị vội vàng uống liền ba chén trà mà vẫn không thể xua tan vị dầu béo ngậy trong miệng.

Bà ta không màng giữ thể diện, ngồi bệt xuống bên cạnh bồn nôn, nôn thốc nôn tháo đến trời đất quay cuồng.

Nôn xong, mặt mày tái mét, bà ta nghiến răng chửi rủa:
“Lục Niệm thật độc ác!

A Miễn còn nhỏ thế mà dám lợi dụng lòng hiếu thảo của trẻ con để giở trò!”

Ngay sau đó, Lục Tuấn—vẫn chẳng hay biết chuyện gì—lại mang tới một bát canh phượng tủy mới:
“Con nghe nói trước đây bất cẩn làm vỡ, nên nấu lại mang đến cho mẫu thân.”

Tằng thị trừng mắt nhìn Lục Tuấn, giọng run rẩy vì kìm nén:
“Ai đưa cho con?”

Bị hỏi đi hỏi lại nhiều lần, Lục Tuấn cuối cùng cũng nói thật:
“Chồng của Cửu nương đưa cho con.

Ban đầu con không thích hắn, nhưng thấy hắn đối xử tốt với Cửu nương, lại hiếu thảo với mẫu thân, nên con cũng thay đổi cái nhìn.

Với lại, con cũng hỏi qua mấy tiệm thuốc rồi, canh phượng tủy rất tốt cho chứng ho lâu ngày của mẫu thân.

Hứa Phú Đức biết là nhờ Cửu nương hay bị ho.

Hắn bảo từ khi uống thứ này, bệnh ho của Cửu nương đã đỡ hẳn.”

Tằng thị nghe xong mà mắt tối sầm, suýt chút nữa bật thốt lên:
“Con có biết người đứng sau sai khiến Hứa Phú Đức chính là Lục Niệm không?!”

Nhưng bà ta không thể nói ra, cũng không thể từ chối nhận bát canh ấy.

Canh phượng tủy nấu từ hạt tùng thôi mà, tặng cho người vốn “rất thích ăn hạt tùng” như bà ta, dù là ai đưa tới thì cũng hợp lý cả.

Bị dồn ép hết lần này đến lần khác, Tằng thị tức đến nỗi bệnh tình càng thêm trầm trọng, tính tình cũng trở nên nóng nảy khó chịu.

Lý ma ma, sau khi bị bóng người bên góc tường dọa sợ vào đêm hôm trước, giờ lại phải thức trắng đêm vì liên tục bị gọi dậy.

“Hình như Xuân Huy viên lại đang hầm thịt đúng không?

Ta ngửi thấy mùi đại hồi rất nồng!”

“Vừa nãy có ai đứng ngoài cửa sổ không?

Ta thấy có cái bóng!”

“Ngươi vừa nói gì đúng không?

Ta nghe thấy tiếng ai thì thầm!”

“Sao bụng ta lại đau thế này?

Chẳng lẽ bữa tối có vấn đề?”

“Ta khát nước, rót nước cho ta—không, không uống nước nữa, ngươi hâm rượu cho ta đi.”



Lý ma ma vừa lo lắng, vừa hoảng sợ, trong ánh sáng mờ nhạt của buổi sáng tinh mơ, bà lẩm bẩm trong cơn mệt mỏi rã rời:
“Xong rồi.”

Tiếp tục thế này, Hầu phu nhân nhất định sẽ gặp chuyện lớn.

Mà có lẽ, trước khi chuyện đó xảy ra, bà ta—Lý ma ma—sẽ là người mắc sai lầm trước.
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 85: Đại hiếu tử, ngươi đến dâng trà bưng thuốc?


Tằng thị đổ bệnh.

Lần này, bệnh tình của bà ta có vẻ nghiêm trọng hơn hẳn.

Lý ma ma khó khăn lắm mới trụ được đến sáng thì phát hiện Tằng thị vẫn chưa dậy nổi.

Khi đưa tay chạm vào trán bà ta, bà không kìm được mà thốt lên kinh hãi.

Bỏng rát như lửa!

Hàm viện không rộng rãi như Thu Bích viên.

Từ khi chuyển đến đây, Tằng thị cũng miễn cho bọn trẻ việc thăm hỏi sáng tối.

Chỉ có Liễu nương tử là ngoại lệ—nói ra thì là “nội quy gia phong”, nhắc đến thì toàn “quy củ phép tắc”, ngày nào cũng ghé qua, ít thì một lần, nhiều thì bốn năm lượt.

Vì Tằng thị luôn giữ dáng vẻ đoan trang nhã nhặn, nên đối với Liễu nương tử, bà ta luôn tỏ thái độ khách khí, tôn trọng bề ngoài.

Điều này khiến Lý ma ma chẳng thể làm ra vẻ “nô tỳ cay nghiệt” được nữa, đành phải để mặc Liễu nương tử quan sát sinh hoạt của Tằng thị.

Những ngày qua, bà ta đã phải nuốt không ít bực tức mà không dám nói ra.

Hôm nay cũng vậy.

Chưa kịp để Lý ma ma sắp xếp mời đại phu, Liễu nương tử đã nhanh chóng mời cả Tang thị đến.

Đại phu tới nơi.

Tằng thị tạm thời đỡ hơn chút, dựa vào đầu giường nhắm mắt dưỡng thần.

Lý ma ma nhân cơ hội ấy bèn đổ hết bầu tâm sự:
“Thế tử phu nhân à, Hầu phu nhân sống ở Thu Bích viên bao năm, giờ đột ngột chuyển chỗ thực sự khó quen.

Mùa đông vốn đã khó chịu, Hầu phu nhân lại mất ngủ, càng làm cho sức khỏe suy yếu.

Không biết phu nhân có để ý không, bên Xuân Huy viên hay ninh thịt nửa đêm, mùi gia vị nồng quá khiến người ta khó chịu lắm.”

Tang thị vẻ mặt đầy lo lắng, tỏ ra rất quan tâm nhưng lại khéo léo lảng tránh trách nhiệm:
“Đúng thế, thay đổi chỗ ở đúng là phiền phức.

Nhưng Thu Bích viên giờ không thể ở lại được nữa.

Nếu lại đổi sang viện khác, thì lại phải làm quen từ đầu, chẳng thà ở Hàm viện này cho quen dần.

Sức khỏe vẫn cần nghe đại phu chẩn đoán rồi tính, ma ma đừng quá lo lắng.

Còn chuyện Xuân Huy viên kia…”

Tang thị thở dài một tiếng, vẻ mặt bất lực:
“Chuyện của cô phu nhân thì cả nhà đều biết rồi.

Chẳng qua chỉ là ninh ít thịt thôi mà…”

Nói đến đây, Tang thị liếc nhìn Lý ma ma đầy ẩn ý:
“Còn đỡ hơn là phát điên, đúng không?”

Lý ma ma tức đến nghẹn ngực.

Hay lắm, hay lắm!
Không cần giả vờ nữa phải không?

Trước khi cô phu nhân trở về kinh, Tang thị đâu dám ngang ngược thế này!

Giờ thì mẹ con nhà điên đó làm chỗ dựa, bộ mặt thật của Tang thị cũng lộ rõ.

Nhìn bề ngoài thì không thân thiết, nhưng thực ra bọn họ đều cùng một giuộc!

Lý ma ma chẳng buồn nghe Tang thị vòng vo nữa, tập trung lắng nghe lời dặn dò của đại phu.

Đại phu kê đơn thuốc.

Tằng thị cất giọng khàn đặc:
“Bình thường ta cũng dùng vài bài thuốc bổ, không biết có xung đột gì không?”

Nghe vậy, Lý ma ma lập tức hiểu ý, vội lấy hũ sứ ra:
“Là canh phượng tủy này ạ.”

Đại phu mở nắp, ngửi thử, rồi xin phép nếm một chút để kiểm tra.

Liễu nương tử đứng ở một góc phòng, im lặng quan sát.

Sau tiệc sinh thần của Hầu gia, hũ canh phượng tủy cũ đã biến mất, ai cũng đoán chắc là đã bị đập vỡ.

Thế là họ lại dùng “chiêu cũ”, đưa đến một hũ khác thông qua tay Thế tử.

Chính là hũ đang đặt trước mặt.

Theo những gì Liễu nương tử biết, hũ canh này sạch sẽ tinh tươm, không có vấn đề gì cả.

Quả nhiên, đại phu cũng không phát hiện điều gì bất thường, gật đầu nói:
“Trong này có hạt tùng, nhân óc chó và mật trắng.

Canh phượng tủy này được nấu rất tinh tế.

Hầu phu nhân bị ho lâu ngày, dùng bài thuốc này rất tốt, không hề xung đột với các loại thuốc khác.”

Nghe đến đây, Lý ma ma cười gượng, liếc nhanh về phía Hầu phu nhân rồi hỏi thêm:
“Canh phượng tủy cũng có thể dùng tủy bò để nấu đúng không?”

“Đúng vậy,” đại phu gật đầu, “Tủy bò kết hợp với mật trắng, thêm hạnh nhân, óc chó, hoài sơn, đều là bài thuốc trị ho hiệu quả.”

Sắc mặt Tằng thị tái nhợt đến mức không còn chút máu.

Đến nước này thì còn gì không hiểu?

Đây mới chính là bài thuốc mà bà ta từng nghe từ miệng A Tuấn!

Xuân Huy viên treo đầu dê bán thịt chó, lừa A Tuấn rồi kéo theo cả bà ta vào tròng!

Ngay cả Tang thị, người không hay biết gì trước đó, giờ cũng nhận ra sự bất thường.

Hầu phu nhân ghét ăn hạt tùng như vậy, thế mà lại bị lừa uống bao nhiêu thuốc…

Đúng là đổi trắng thay đen, A Vi thật giỏi bày trò!

Tằng thị cần phải tĩnh dưỡng.

Trong Hàm viện bày thêm một lò thuốc nhỏ.

Lý ma ma chỉ đạo bọn hạ nhân phục vụ, bản thân thì liên tục bị Hầu phu nhân gọi tới bên cạnh.

Ban ngày, Tằng thị không nghi thần nghi quỷ như ban đêm, nhưng cũng chẳng dễ tính chút nào.

“Ta không chịu nổi tiếng ồn, bảo bọn họ làm việc nhẹ tay một chút.”
“Đơn thuốc của đại phu, ngươi mang đi cho mấy hiệu thuốc lớn trong thành kiểm tra lại, đừng để bị lừa nữa.”
“Thuốc sắc xong, ngươi phải tự tay lấy từng vị thuốc, kiểm tra kỹ càng, kẻo lại bị hãm hại.”
“Về nhà họ Tằng, ngươi phải đích thân gặp bá phụ ta, ta vẫn không yên tâm về nhà họ Đào…”
Lý ma ma chỉ biết dạ dạ vâng vâng, không đáp cũng không được mà đáp cũng chẳng xong.

Trong lòng thầm nghĩ:

Người trong viện này đã cẩn thận đến mức thở cũng không dám mạnh, còn sợ ồn ào cái nỗi gì chứ?!

Đúng là đơn thuốc và dược liệu quan trọng thật, nhưng cũng chẳng đến mức Lý ma ma phải tự mình làm mọi thứ.

Chuyện gì cũng đòi “tự tay” xử lý, ai mà chịu nổi chứ?

Không phải bà ta lười, mà là Hầu phu nhân chẳng thể rời khỏi bà, đặc biệt là không thể thiếu vắng sự có mặt của bà bên cạnh.

Chỉ cần bà vừa rời khỏi viện để lo việc, chưa đến nửa canh giờ sau, Hầu phu nhân đã sai người tìm khắp nơi.

Nói cho cùng, tất cả chỉ là bệnh trong lòng mà thôi.

Nhưng Lý ma ma cũng không dám cãi lời, đành gật đầu cho xong chuyện.

Đến chiều tối, Tằng Lăng đến thăm bệnh.

Ở Xuân Huy viên, Lục Niệm nhàn nhã nhả vỏ hạt dưa, chậm rãi lau tay sạch sẽ rồi cười nhạt:
“Tin tức của nàng ta nhanh nhạy thật.”

A Vi rót trà cho nàng súc miệng, cười đáp:
“Quận vương gia không dễ đối phó.

Nhà họ Tiết chỉ nộp một mình Tiết Ba, e là khó thoát toàn thân.

Tiết đại nhân chắc chắn đang rối như tơ vò, há chẳng phải bám chặt lấy cọng rơm cứu mạng sao?”

Cọng rơm cứu mạng ấy chính là Tằng Thái Bảo, nhưng người trực tiếp kéo Tiết Ba xuống nước lại là Tằng thị—tất cả bắt đầu từ chuyện đoạt tiêu cục.

Lục Niệm uống cạn chén trà, đứng dậy gọi A Vi:
“Đi gặp nàng ta một chuyến.”

Tại Hàm viện, Tằng thị nằm trên giường với vẻ mặt tiều tụy, bệnh tật bủa vây, sắc mặt tái nhợt.

Khi nhìn thấy Tằng Lăng không mời mà đến, bà ta chẳng hề khách khí:
“Ngươi đến đây gây chuyện gì nữa?”

Tằng Lăng bị chồng và cha chồng trách móc, quay về nhà mẹ đẻ lại bị Tằng Thái Bảo mắng mỏ, đúng là kẻ chẳng được lòng ai.

“Sao mà nói nặng thế, thưa cô mẫu,”

Tằng Lăng bực bội đáp, “Nói cho cùng, chẳng phải cô mẫu mới là người gây thêm rắc rối cho cháu sao?

Đều là con gái nhà họ Tằng, cháu tự biết mình không tài cán gì, chẳng như cô mẫu làm Hầu phu nhân, mang lại bao vinh quang cho nhà mẹ đẻ.

Nhưng ít ra cháu cũng chưa bao giờ gây họa cho gia đình!

Còn cô mẫu thì sao?

Đám thê thiếp trong phủ Hầu gia rối ren thế nào, rốt cuộc lại đẩy nhà họ Tiết ra chịu trận.

Giờ Tiết Ba bị bắt vào nha môn, nhà họ Tiết lao đao, còn cô mẫu thì chẳng hề liên quan gì à?”

Tằng thị vốn quen với dáng vẻ dịu dàng bề ngoài, nhưng đối diện với người nhà, đặc biệt là lũ vãn bối dám chĩa mũi dùi vào mình, bà ta chẳng buồn giữ vẻ hiền hòa nữa.

Đang bệnh, tâm trạng lại càng tệ, nghe Tằng Lăng trách móc, Tằng thị lạnh lùng quát:
“Phu quân ngươi bảo ngươi chịu ấm ức, không dám ngẩng đầu trước mặt Tiết thiếu khanh, ta còn tưởng ngươi yếu đuối thế nào, không ngờ đến gặp ta lại giỏi cãi thế đấy!

Hắn—Tiết Văn Viễn—là thứ gì chứ?

Được nhà họ Tằng nhà ta nâng đỡ mới có ngày hôm nay!

Không có nhà họ Tằng chống lưng, hắn làm nổi thiếu khanh chắc?

Ta bảo A Chiêm làm việc, A Chiêm lại giao cho Tiết Ba.

Việc làm hỏng, rước thêm cả đống rắc rối về đây!

Ta còn chưa kịp đòi Tiết gia một lời giải thích, ngươi đã chạy tới đây trách móc ta rồi?

Ngươi lấy chồng thấp kém, không quản nổi nhà chồng thì tự soi lại mình đi, đừng tới đây giở trò đòi hỏi!”

Tằng Lăng tức đến nghiến răng, mặt đỏ bừng:
“Cháu không quản nổi nhà chồng, còn cô mẫu thì liệu có quản nổi đứa con gái riêng của mình không?”

Câu này như một nhát dao đâm thẳng vào Tằng thị.

Đúng lúc hai người đang lời qua tiếng lại, ngoài cửa vang lên tiếng bẩm báo vội vã:
“Bẩm phu nhân, cô phu nhân và biểu cô nương tới thăm.”

Ngọn lửa giận trong lòng Tằng thị như bị dội một gáo nước lạnh, nghẹn đến mức không thở nổi.

Bà ta thấp giọng quát Tằng Lăng:
“Đừng gây rắc rối cho ta!”

Rồi nhanh chóng điều chỉnh sắc mặt, thân thể mềm nhũn, nằm xuống giường giả vờ yếu ớt, mệt mỏi.

Lục Niệm bước vào phòng, thản nhiên kéo ghế ngồi xuống.

Nhìn thấy Tằng Lăng, nàng nhướn mày, hỏi thẳng:
“Ngươi đến đây làm gì?”

Tằng Lăng cứng giọng đáp:
“Cô mẫu bệnh nặng, ta tới thăm.

Còn ngươi, ngươi tới đây làm gì?”

Lục Niệm nheo mắt cười, ánh mắt đầy vẻ hứng thú:
“Ta đến xem ngươi đấy.

Ngươi đi một mình à?

Tiết Thành Thu không đi cùng sao?”

Tằng Lăng sững người, không hiểu sao tự dưng lại nhắc đến chồng mình.

Lục Niệm chống cằm, nụ cười nhàn nhạt:
“Hôm trước hắn vào phủ bàn việc với cha ta, ta có liếc nhìn một cái.

Thân hình vạm vỡ, ta nhìn mà thích lắm.”

Tằng Lăng trừng mắt, mãi mới hiểu ra hàm ý trong lời nói của Lục Niệm.

Mặt nàng ta trắng bệch rồi nhanh chóng đỏ bừng vì phẫn nộ:
“Ngươi điên rồi sao?!”

Lục Niệm cười nhẹ:
“Ngươi nói xem, ta có điên không?”

“Đó là chồng ta mà!”

Tằng Lăng tức đến mức mồ hôi túa ra ở sống mũi.

“Ngươi vội gì thế?”

Lục Niệm lơ đễnh liếc nhìn, chép miệng:
“Ta chỉ có mỗi Cửu nương là muội muội ruột.

Còn Ngươi … miễn cưỡng cũng coi là biểu muội xa của ta, con gái đằng nhà kế mẫu ta thôi.

Tiết Thành Thu đúng là biểu muội phu của ta.

Nhưng ngươi biết đấy, chẳng ai đoán được tương lai.

Biết đâu tháng sau, hoặc tháng sau nữa, ngươi chết bất đắc kỳ tử thì sao?

Lúc đó, Tiết Thành Thu chẳng phải là một gã góa vợ sao?

Góa phụ với góa vợ, ai thiệt hơn ai?

Nói đi cũng phải nói lại, ta cũng đâu phải chưa từng mất em gái.

Lục Tư chết bao năm nay rồi đấy.”

Tằng Lăng run rẩy, chỉ tay vào mặt Lục Niệm, tức giận đến mức không thốt nên lời.

Nàng ta vốn không phải kiểu người giỏi đấu khẩu, gặp phải Lục Niệm—kẻ giỏi “ăn nói xằng bậy” và đe dọa—càng không biết đáp trả thế nào.

Nhưng Lục Niệm chẳng thèm quan tâm đến Tằng Lăng, mục tiêu của nàng từ đầu đến cuối luôn là Tằng thị.

Lục Niệm quay sang nhìn Tằng thị, ánh mắt tối sầm, sắc như dao:
“Bà nghĩ sao?

Không có cơ hội thì tạo cơ hội.

Chuyện này, bà là người có kinh nghiệm nhất mà, đúng không?”

Tằng thị đối diện với ánh mắt của nàng, cảm giác như bị đâm xuyên thấu tận tâm can.

Buổi chiều mùa đông, ánh sáng lờ mờ đến mức trong phòng phải thắp đèn.

Trong bóng tối mờ nhạt, gương mặt Tằng thị ẩn hiện, nửa sáng nửa tối, trông chẳng khác gì loài thú săn mồi độc ác.

Lục Niệm khẽ liế.m răng, nụ cười sắc lạnh:
“Bên ngoài đâu có tốt đẹp bằng phủ Hầu gia, đúng không?

Làm dâu nhà quan quyền, chẳng phải phu nhân, không có chút bản lĩnh thì cũng chỉ là kẻ vô dụng, phải không?”

Tằng thị khàn giọng, như tiếng gỗ khô cọ xát:
“Không cần phải thế này… Cứ đường đường chính chính mà đối đầu, đừng giở mấy trò mờ ám.”

Lục Niệm nhướn mày, cười nhạt:
“Bà đang nói gì?

Sai người đi cướp tiêu cục, chiếm đoạt tài sản cứu mạng của cha ta và nhà mẹ đẻ ta?

Bao năm qua tham ô của hồi môn của mẫu thân ta?

Bà nói không dùng thủ đoạn mờ ám ư?

Thật nực cười.”

Rồi nàng quay sang Tằng Lăng, thẳng thừng:
“Nếu ta là ngươi, ta chẳng dại gì trông cậy vào một người cô mẫu ích kỷ như vậy để cứu mạng.

Một mình Tiết Ba không gánh nổi hết mớ án kia đâu.

Nhà họ Tiết chắc chắn sẽ bị kéo xuống theo, còn ngươi vẫn mơ mộng Tằng gia sẽ ra tay giúp đỡ sao?”

“Về khoản này, ngươi còn kém xa cô mẫu của mình đấy.”

Lục Niệm cười nhạt, ánh mắt sắc lạnh như dao, lướt qua Tằng Lăng.

“Để ta dạy ngươi: hòa ly, đoạn tuyệt, lập tức quay về nhà họ Tằng đi.

Người chết là nhà họ Tiết, đâu phải nhà họ Tằng.

Ngoại tổ phụ ngươi là Thái Bảo đấy, ông ấy dễ dàng bị nhà họ Tiết kéo xuống sao?

Cứu thì không đáng để cứu, nhưng tự bảo vệ mình thì với nhà họ Tằng lại quá đơn giản.”

Tằng Lăng nghe xong, đôi mắt đỏ bừng vì giận dữ bỗng trợn to, giống như vừa bị sét đánh trúng.

Nàng ta nhìn chằm chằm vào Lục Niệm, cứng đờ người không nói nổi câu nào.

“Làm sao vậy?”

Lục Niệm cười tươi như hoa, hỏi đầy vẻ chế nhạo.

“Bị Tiết Thành Thu quyến rũ đến mê mẩn rồi à?

Không nỡ rời xa hắn?

Lúc hoạn nạn, ai lo cho thân nấy.

Nếu ngươi không biết tự bảo vệ mình, thì cứ chờ chết đi.”

Nói xong, Lục Niệm dựa lưng vào ghế, khoanh tay trước ngực, ung dung thưởng thức vẻ mặt biến sắc của Tằng Lăng như xem một vở kịch hay.

Tằng Lăng bị ánh mắt sắc lẹm của Lục Niệm nhìn chằm chằm, mồ hôi lạnh túa ra sau lưng, cuối cùng bật dậy, không nói thêm lời nào mà lao thẳng ra ngoài.

Tằng thị thấy vậy, vội vàng ra hiệu bằng ánh mắt cho Lý ma ma.

Bà ta chẳng sợ gì hết, chỉ sợ Tằng Lăng hồ đồ.

Chỉ cần Tằng Lăng có chút ý định rút lui, nhà họ Tiết còn gì để chống đỡ?

Đúng là Tằng Thái Bảo sẽ không vì Tiết Văn Viễn mà sụp đổ, nhưng bớt một chuyện vẫn hơn thêm một chuyện.

Tằng thị nén giận, siết chặt tấm chăn dưới tay, nói với Lục Niệm:
“Nó đi rồi, ngươi cũng đi đi, đừng có ở đây diễn kịch nữa.”

Lục Niệm đứng dậy, đi thẳng đến bên giường, cúi người sát mặt Tằng thị, ánh mắt đen thẫm như vực sâu:
“Đào Vũ Xuyên, mẫu thân ta, hạt tùng, mãng thảo…

Lần trước ta đã nói rồi, trên đời này mọi chuyện làm ra đều để lại dấu vết.

Trấn phủ ty có thể mở quan tài của Kim phu nhân, bà nói xem, bọn họ có thể mở nốt quan tài nhà họ Đào không?

Đợi tìm được chứng cứ rồi, lại mở tiếp quan tài của mẫu thân ta nhé?”

Bàn tay Tằng thị run rẩy, gân xanh nổi rõ.

Trong khoảnh khắc ấy, nỗi sợ hãi và căm phẫn bùng lên như sóng dữ, ập thẳng vào đầu.

Lục Niệm mỉm cười, để lại ba chữ:
“Thật đao thật thương.” (Ý chỉ đấu đá trực diện)

Rồi thảnh thơi rời đi.

Lý ma ma tiễn Tằng Lăng quay lại, chỉ thấy Tằng thị ngồi trên giường, cả người ướt đẫm mồ hôi như vừa bị vớt từ nước lên, môi tái nhợt tím bầm.

“Hầu phu nhân…”

Một lúc lâu sau, ánh mắt Tằng thị mới chuyển động, khàn giọng hỏi:
“Bọn chúng đi đâu rồi?”

Lý ma ma lập tức hiểu ý, khẽ đáp:
“Cô phu nhân đã về Xuân Huy viên, biểu cô nương đi tìm Thế tử và Thế tử phu nhân.”

Tằng thị thở d.ốc, nắm chặt tấm chăn, đập mạnh xuống giường.

Ngày hôm sau.

Tằng thị vừa mở mắt, đã thấy một đám người vây quanh giường.

Chỉ trong khoảnh khắc ấy, bà ta mới hiểu ra thế nào là “thật đao thật thương.”

Liễu nương tử mặt mày đầy vẻ lo lắng, dịu dàng nói:
“Sáng nay ta qua đây thăm, nghe nói Hầu phu nhân ho nặng hơn.

Bệnh này cần phải dưỡng kỹ, ngày đêm đều phải để tâm chăm sóc.”

Bà ta quay sang nhìn Lý ma ma, chép miệng thở dài:
“Ta thấy ma ma cũng mệt mỏi lắm rồi.

Chỉ một mình hầu hạ sao mà đủ?

Ma ma đừng cố gắng quá sức.

Ai cũng biết bà hết lòng vì Hầu phu nhân, nhưng chuyện liên quan đến sức khỏe thì không thể qua loa được.”

Liễu nương tử cười tươi như hoa, nói thêm:
“Người khác hầu hạ e không cẩn thận bằng ta.

Tối nay ta sẽ ở lại trông đêm cho Hầu phu nhân.”

Đầu óc Lý ma ma ong ong như bị sét đánh.

Đêm qua bà ta lại mất ngủ, giờ đầu óc lơ mơ chậm chạp, đến khi Liễu nương tử nói xong mới chợt bừng tỉnh, vội vàng từ chối:
“Nô tỳ sao có thể phiền đến nương tử được?

Nếu nô tỳ không gắng nổi, vẫn còn mấy người từng hầu Hầu phu nhân trước kia, để họ phụ giúp là được rồi.”

Lục Niệm ngồi cạnh bên, thảnh thơi vừa bóc đậu phộng vừa nghe kịch hay.

Nàng nhếch môi, giọng điệu chua ngoa không giấu nổi vẻ mỉa mai:
“Chỉ một chút bệnh vặt thôi mà phải làm rầm rộ thế này?

Một bà ma ma chăm không nổi, lại cần đến cả nương tử phải thân chinh trông đêm?

Ai không biết còn tưởng Hầu phu nhân đây đã bảy tám chục tuổi, sống chẳng còn được mấy ngày nữa ấy chứ!”

Nghe vậy, Lục Tuấn đang ngồi bên cạnh sắc mặt tối sầm lại, gân xanh trên trán giật giật:
“Nương tử kính trọng mẫu thân, muốn chăm sóc bệnh tình của mẫu thân thì sao trong miệng tỷ lại trở thành trò cười như vậy?”

Lục Niệm nhướn mày, cười nhạt:
“Trò cười ư?

Ngươi thấy khó nghe à?

Vậy thì hay quá—

Đại hiếu tử à, nếu thấy khó nghe thì chính ngươi hãy bưng trà dâng thuốc đi!”

Câu nói vừa dứt, ánh mắt mọi người trong phòng đồng loạt đổ dồn về phía Lục Tuấn.

Không hề do dự, Lục Tuấn đứng bật dậy, nghiêm nghị đáp:
“Ta sẽ làm.

Phụng dưỡng phụ mẫu vốn là trách nhiệm của con cái.”

Lý ma ma hoảng hốt, vội vàng xua tay:
“Sao có thể để Thế tử làm việc này?

Nô tỳ còn ở đây, không dám để người phải bận tâm đến việc nhỏ nhặt như vậy…”

Bà ta còn chưa nói hết câu, Lục Trì đã lên tiếng cắt ngang:
“Đại ca nói đúng.

Chúng ta sẽ thay phiên nhau chăm sóc mẫu thân.

Có thêm mấy bà ma ma phụ giúp thì cũng chẳng vất vả mấy.”

Hai huynh đệ họ phối hợp nhịp nhàng, không hề có chút do dự.

Lục Niệm nhặt một hạt đậu phộng lên, nhét vào miệng cắn “rắc” một tiếng giòn tan.

A Vi ngồi bên cạnh mỉm cười, từ trong túi nhỏ lấy thêm một nắm đậu phộng, nhẹ nhàng đặt vào tay Lục Niệm.
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 86: Thứ âm hồn không tan!


Ngày Lạp Bát.

Khi Lý ma ma mở mắt, ánh sáng ngoài cửa sổ rực rỡ lạ thường.

Bà ngẩn người trong chốc lát, cứ ngỡ mình ngủ quên mất giờ, mãi một lúc sau mới nhận ra—thì ra là tuyết đã rơi.

Mùa đông năm nay thật kỳ quái.

Vừa lạnh lại vừa hanh khô, nhìn sắc trời từ nửa tháng trước đã nên có tuyết rồi, vậy mà trời cứ như trêu ngươi, mãi đến hôm nay mới phủ kín một lớp dày trên mặt đất.

Lý ma ma lồm cồm bò dậy, khi bước xuống giường thì chân hơi lảo đảo, thân người chao đảo nghiêng ngả, may mà kịp bám lấy thành ghế nên không bị ngã.

Liễu nương tử nghe tiếng động, từ trong phòng ngủ bước ra, mỉm cười đưa tay ra hiệu bảo bà giữ im lặng.

Một nụ cười ấy thôi đã khiến Lý ma ma lạnh toát cả sống lưng.

Đêm qua là phiên canh của Liễu nương tử.

Từ ngày quyết định chia phiên đến nay, hai huynh đệ Lục Tuấn và Lục Trì thay nhau trông nom mỗi người hai đêm.

Hai người họ còn trẻ, chỉ cần kê một chiếc giường nhỏ ở phòng ngoài, nửa tỉnh nửa mê cũng không đến nỗi quá mệt.

Nhưng lại không tránh được có người xót xa.

Sau khi bàn bạc kéo co đủ đường, đến lượt Tang thị và Giản thị mỗi người phục vụ một đêm, Liễu nương tử thì nhận hai đêm.

Lục Niệm hứng thú muốn tham gia, vừa mở miệng đã bị mọi người khuyên can ngay lập tức.

Ai chẳng biết, nếu để Lục Niệm vào phòng ngủ, đừng nói là hầu hạ người bệnh, chỉ cần nàng ta bớt nói mấy câu khiến người ta bực bội đã là phúc lớn rồi.

Nàng ta đành ôm tiếc nuối trong lòng.

Còn đề nghị của Tằng thị và Lý ma ma rằng “không cần ai canh đêm” thì cũng bị phủ quyết thêm lần nữa.

Liễu nương tử miệng dẻo như mía lùi, một câu “đạo lý thường tình” là đủ.

Lục Tuấn bị Lục Niệm xúi giục, cứ nhất quyết làm người con hiếu thảo, Lục Trì là con ruột đương nhiên cũng không chịu thua kém.

Tang thị lại nhiệt tình, còn Giản thị dù có lòng hay không cũng khó lòng thoái thác.

Qua mấy ngày như vậy, chưa nói đến việc người được hầu hạ là Tằng thị có thoải mái hay không, riêng Lý ma ma đã gầy rộc đi thấy rõ.

Mệt quá rồi!

Thật sự quá mệt rồi!

Đêm nào cũng nơm nớp lo sợ, chỉ sợ Hầu phu nhân trong cơn mê sảng lại thốt ra những lời không nên nói.

Càng sợ hơn nữa là Hầu phu nhân giống như trước đây, nửa đêm không ngủ mà lại đứng lặng bên góc tường—nếu chỉ dọa mỗi mình bà thì còn đỡ, nhỡ dọa đến người khác thì…

Biết ăn nói sao đây?

May thay, có lẽ vì bệnh tình khiến Hầu phu nhân kiệt sức, nên tạm thời chưa có hành vi gì thất thường.

Nhưng người ta nói, “không sợ trộm cắp, chỉ sợ trộm nhớ,” tên trộm còn chưa ra tay thì bà đã sắp không chịu nổi nữa rồi.

Liễu nương tử nhẹ nhàng bước tới, hạ giọng nói nhỏ:
“Đêm qua Hầu phu nhân ngủ không yên, trằn trọc trở mình suốt.

Tình trạng này sao mà dưỡng bệnh cho tốt được?

Giờ bà ấy vừa mới chợp mắt, chúng ta đừng làm phiền.”

Lý ma ma cố gắng nặn ra một nụ cười, gật đầu đồng tình.

Liễu nương tử nhìn gương mặt mệt mỏi rã rời của bà, lại nói thêm:
“Ta thấy ma ma cũng nên nghỉ ngơi nhiều hơn.

Đêm qua ta dậy rót nước mà bà không hề hay biết, chắc là dạo này mệt mỏi quá rồi.”

Nghe vậy, Lý ma ma khựng lại, nghi hoặc:
“Không nghe thấy?

Không thể nào!”

Từ khi Hầu phu nhân mất ngủ, hai năm nay bà cũng ngủ rất nông, chưa từng có chuyện không nghe thấy động tĩnh.

Thế nhưng vẻ mặt quả quyết của Liễu nương tử khiến Lý ma ma chùn bước.

Biết rõ không nên tin người đàn bà này, nhưng nghĩ đến tình trạng kiệt sức của mình, bà cũng không dám chắc lắm…

Nói xong, Liễu nương tử lấy khăn tay che miệng ngáp một cái duyên dáng:
“Giờ ma ma đã dậy rồi, ta về phòng sửa soạn chút.

Hôm nay là ngày Lạp Bát, trong phủ phải làm lễ tế tổ.”

Lý ma ma quan sát nàng ta thật kỹ.

Không hổ danh là hồ ly tinh, đến cả cái ngáp cũng đầy phong tình.

Bảo sao Hầu gia nhớ mãi không quên suốt bao năm trời.

Bảo sao dù đã từng làm vợ chồng hơn chục năm với gã hán tử tiêu cục kia, Hầu gia vẫn chẳng màng để tâm.

Nếu như trước kia nàng ta vào phủ sớm hơn, dựa vào nhan sắc trẻ trung xinh đẹp ấy…

Đợi đến khi Liễu nương tử rời đi, Lý ma ma mới giật mình tỉnh táo lại.

Hồ đồ thật!

Giờ là lúc nghĩ ngợi về hồ ly tinh ấy sao?

Một con hồ ly không đủ sức lay động được Hầu phu nhân, nhưng nếu bệnh tình không thuyên giảm, đêm nào cũng có người canh chừng, thì mới đúng là tai họa thực sự!

Bởi lẽ, người lo sợ không chỉ có bà, mà còn cả Hầu phu nhân nữa!

Hai khắc sau, Tằng thị lại gọi người.

Lý ma ma vội vã bước vào, cẩn thận quan sát sắc mặt của bà.

Tằng thị cũng đã gầy rộc đi, da thịt chùng xuống, những nếp nhăn hằn sâu kéo cả khuôn mặt trở nên sắc lạnh và độc địa hơn nhiều so với dáng vẻ hiền từ năm nào.

“Liễu thị về rồi à?”

Tằng thị cất giọng khàn khàn hỏi.

“Về rồi,”

Lý ma ma đáp, “hôm nay là ngày Lạp Bát, phu nhân…”

“Đỡ ta dậy rửa mặt chải đầu,”

Tằng thị ngắt lời, “ta muốn xuống từ đường.”

Lý ma ma vội khuyên can:
“Phu nhân vẫn đang bệnh mà…”

“Ta chưa yếu đến mức không xuống nổi giường!”

Tằng thị bực bội, “Nếu đến lễ tế tổ cũng không đi, thì lấy cớ gì đuổi đám người hầu bệnh kia đi được?”

Mấy ngày nay, bà thật sự phát điên lên rồi!

Đã nói bao nhiêu lần là không cần ai canh đêm, vậy mà chẳng ai chịu nghe.

Đặc biệt là tên ngốc Lục Tuấn, hoàn toàn bị Lục Niệm xúi bẩy!

Lôi kéo theo cả A Trì cũng phát rồ lên, hùng hùng hổ hổ muốn làm đứa con hiếu thảo.

Tằng thị vốn đã ngủ không yên giấc, thường thì chỉ chợp mắt được chốc lát rồi lại tỉnh, cứ thế trằn trọc đến sáng.

Gần đây bị ép buộc như vậy, ngay cả mấy khoảnh khắc chợp mắt ngắn ngủi ấy bà cũng không dám ngủ sâu, sợ lỡ miệng nói ra điều không nên…

Nhưng con người đâu thể cứ gồng mình mãi như vậy, nếu có thể ngủ bù thì cũng đỡ, đằng này cả ban ngày cũng chẳng được yên tĩnh!

Hết thầy thuốc vào bắt mạch, lại đến việc sắc thuốc ngoài sân, rồi thì có người tới chuyện trò để giải khuây…

Đủ trò luân phiên, mà cái đáng ghét nhất chính là Liễu thị và Tang thị—hai người này đã bắt tay nhau, bày mưu tính kế đủ kiểu!

Đáng chết hơn nữa, không hiểu Tang thị đã thổi bên gối kiểu gì mà khiến Lục Tuấn trở nên cứng nhắc hơn hẳn!

Tằng thị mấy lần suýt không kiềm chế được muốn nổi cơn thịnh nộ, nhưng lại phải cố nhịn, đóng vai một lão phu nhân bệnh tật yếu ớt, dịu dàng hòa nhã.

“Dù thế nào đi nữa,”

Tằng thị nghiến răng khi ngồi trước bàn trang điểm, “nhiều nhất ba đến năm ngày nữa, nhất định phải đuổi hết bọn họ đi cho bằng được!”

Lý ma ma ngoài miệng thì phụ họa, nhưng trong lòng lạnh toát.

Rõ ràng đây là kế hoạch của Cô phu nhân, sao có thể dễ dàng bỏ cuộc giữa chừng được?

Bà định nói vài câu an ủi, nhưng khi chiếc lược chải qua tóc Tằng thị, từng nắm tóc lớn rụng xuống, bà liền rụt cổ lại, không dám hé miệng thêm lời nào.

Tằng thị không để ý đến chuyện rụng tóc, để mặc Lý ma ma chỉnh trang, rồi phủ một lớp phấn dày lên mặt, che đi vẻ tiều tụy.

Tại từ đường nhỏ.

Định Tây Hầu vừa hồi phủ sau buổi chầu, chủ trì lễ tế tổ.

Dù lễ tế vào ngày Lạp Bát không phải đại lễ, nhưng phủ cũng rất coi trọng, từ sáng sớm đã quét dọn tuyết, tươm tất trong ngoài.

Dưới hành lang, Liễu nương tử đang trò chuyện với Định Tây Hầu:
“Hôm qua là phiên của ta, Hầu phu nhân vẫn ngủ không ngon.

Ta nghĩ hay là mời thầy thuốc khác xem thử?

Để thế này mãi thì không ổn…”

Ở trong phủ một thời gian, Liễu nương tử đã tích lũy không ít kinh nghiệm.

Nói chuyện linh tinh thì Hầu gia chẳng mấy để tâm, nhưng chỉ cần nhắc đến Cô phu nhân, dù tốt hay xấu, ông ta đều lắng nghe cẩn thận.

Gần đây còn thêm cả chuyện của Hầu phu nhân.

Dù sao cũng là vợ đau ốm trên giường, ông ta vẫn thường lui tới thăm nom, cũng chịu nghe ngóng tình hình.

Liễu nương tử chậm rãi kể, khóe mắt liếc thấy Lý ma ma đang đỡ Tằng thị bước tới.

Nàng ta khẽ nâng cổ tay, nhẹ nhàng vỗ lên cánh tay Định Tây Hầu:
“Dính phải nước tuyết rồi, nhìn mà thấy ẩm lạnh.

Lát nữa thay bộ khác, uống bát trà gừng cho ấm.

Ngài cũng nên giữ sức khỏe, kẻo hai vị công tử không chỉ phải thức đêm canh chừng Hầu phu nhân, mà còn phải hầu hạ cả ngài nữa.”

Định Tây Hầu bật cười:
“A Vi rất giỏi nấu trà gừng.”

“Đúng vậy,”

Liễu nương tử cong mắt cười dịu dàng, “trước đây ta từng uống qua mấy lần, hương vị rất dễ chịu.

Lát nữa ta nhắc nàng ấy pha một bát mang tới thư phòng cho ngài.”

Vừa dứt lời, nàng ta mới giả vờ như chợt phát hiện ra Tằng thị, vội vàng bước nhanh tới đỡ lấy:
“Phu nhân, sao ngài lại ra ngoài?

Hôm nay còn tuyết rơi, lỡ bệnh tình nặng hơn thì biết làm sao?”

Tằng thị chẳng thèm liếc nàng ta lấy một cái, chỉ cắn chặt răng, sợ mình không nhịn được mà lườm cho nàng ta một ánh mắt sắc lẹm.

Lục Niệm và A Vi là hai người đến muộn nhất.

Trong từ đường dù đã đốt lò sưởi, nhưng vẫn lạnh hơn trong nhà nhiều.

Lục Tuấn vừa xoa tay vừa càu nhàu:
“Tỷ thật thảnh thơi.”

“Phải tắm rửa, thay đồ, xông hương… chuyện nào chẳng tốn thời gian?”

Lục Niệm cười khẩy, “Mẫu thân thích ta thơm tho sạch sẽ.

Người muốn đợi ta, đệ gấp gì?”

Lục Tuấn nổi da gà khắp người.

Bao nhiêu tuổi rồi mà còn “thơm tho” với chả sạch sẽ?!

“Được rồi, được rồi, muội nói đúng hết,” hắn chẳng buồn đôi co, “nhanh chân lên đi.”

Lễ tế tổ vốn có trình tự rõ ràng, nói phức tạp thì cũng chẳng đến nỗi, nhưng đúng lúc sắp kết thúc, Lục Niệm bỗng dưng đứng dậy, tiến lên vài bước, lấy bài vị của Bạch thị xuống.

Định Tây Hầu ngạc nhiên:
“A Niệm?”

“Con muốn trò chuyện với mẫu thân,”

Lục Niệm nhàn nhã giơ bài vị lên, đưa sát mặt mình, “Mười mấy năm rồi không ăn Tết Lạp Bát ở nhà, cũng chẳng để mẫu thân nhìn kỹ con.

Mẫu thân, người xem đi, giờ con trông thế này đấy, nhìn kỹ ngũ quan của con nhé.

Thực ra con cũng chẳng nhớ rõ dung mạo của người nữa, mà chắc con cũng chẳng giống người là mấy đâu.

Dù sao phụ thân với cữu cữu chưa bao giờ khen con giống mẫu thân cả.

Nào, để con cho người nhìn cả A Tuấn nữa.”

Nói rồi, Lục Niệm xoay người, dí sát bài vị vào mặt Lục Tuấn.

Bề mặt gỗ lạnh buốt khiến Lục Tuấn vô thức muốn né tránh.

Đương nhiên hắn không sợ gì cả, bài vị của mẫu thân thì có gì đáng sợ, chỉ là lạnh thôi.

“Tránh cái gì?”

Lục Niệm khinh bỉ, “Ta nghe nói mắt mũi đệ giống mẫu thân hơn chút đấy.

Nhưng thế thì có ích gì?

Giờ đệ là đại hiếu tử rồi còn gì!

Tằng thị ốm đau, đệ thức đêm trông hai lượt, nếu không bị đệ muội ngăn lại, chắc còn muốn thêm mấy lượt nữa.

Nói trắng ra là do mẫu thân mất sớm quá.

Đứa con trai mười tháng thai nghén sinh ra, chưa từng tận hiếu với người chút nào, giờ thì dốc hết lòng hầu hạ người khác.”

Lục Tuấn nhức đầu không chịu nổi:
“Tỷ bớt nói vài câu được không?

Hiếu thảo chẳng phải là lẽ đương nhiên sao?

Ta kính trọng mẫu thân, không phải ta không muốn hiếu thuận hay chăm sóc người, mà là trời chẳng cho cơ hội, muốn dưỡng mà thân chẳng còn!

Kế mẫu nuôi ta trưởng thành thay mẫu thân, giờ ta báo đáp bà ấy cũng là phải đạo.

Huống chi hai người từng là bạn thân, tỷ cần gì phải nói những lời tổn thương trước linh vị thế này?”

Lục Niệm bật cười khẽ:
“Đệ cũng biết đau lòng à?”

“Hả?”

Lục Tuấn ngơ ngác.

Hắn nói bao nhiêu thế, mà Lục Niệm chỉ chú ý mỗi từ đó thôi sao?

Chỉ thấy nụ cười của nàng bỗng chốc biến mất, đôi mắt đen thẳm sâu như vực, căm hận trào dâng:
“Mẫu thân sẽ không đau lòng, người sẽ căm hận; Tằng thị cũng chẳng đau lòng, bà ta hả hê khi mẫu thân chết.

Chỉ có mình đệ là kẻ hồ đồ, hết đau lòng lại đau lòng!”

Lục Tuấn giận đến nghẹn họng:
“Tỷ—!”

“À, tối nay đến lượt đệ canh đêm nhỉ?

Tiếp tục làm đại hiếu tử đi, nhớ đừng ngủ say quá nhé!”

Lục Niệm nói xong, ôm chặt bài vị, nhìn thẳng về phía Tằng thị, giọng sắc lạnh:
“Lòng hiếu thảo thế này, bà cảm thấy thế nào?”

“Bà đừng có mà đốt hương an thần gì đó nhé,”

Lục Niệm cười lạnh, “để A Tuấn ngủ thẳng đến sáng, thì lòng hiếu thảo ấy cũng chỉ là dâng cho chó mà thôi!

Mà nói đi, bà cũng đâu dám đốt nhỉ?

Nếu dám thì đã đốt từ sớm rồi, đúng không?”

Tằng thị nghe xong, khí huyết dâng lên đến mức đầu óc choáng váng, trước mắt tối sầm.

Lục Niệm lúc này mới thấy hả giận, đặt bài vị về chỗ cũ, mặt mày bình thản quỳ xuống dập đầu, như thể chưa từng xảy ra điều gì.

Nàng ta không định làm ầm lên nữa, mà Định Tây Hầu cũng chẳng muốn nhắc lại, tránh chọc giận A Niệm, kẻo không đập phá từ đường thì cũng gây náo loạn, thậm chí còn kích động đến phát bệnh…

Đa một chuyện không bằng bớt một chuyện.

Lễ tế kết thúc, Định Tây Hầu quay về thư phòng, nhận được một bát trà gừng nóng hổi từ Xuân Huy viên đưa tới.

Chỉ một ngụm thôi, cái lạnh ngấm vào xương cốt lập tức tan biến, toàn thân ấm áp dễ chịu.

Trong khi đó, ở Hàm viện, Tằng thị nhận được một bát cháo Lạp Bát.

Bà thậm chí không thèm liếc qua, bởi chắc chắn trong đó có hạt tùng.

Bà chẳng có chút khẩu vị nào, sai Lý ma ma mang đi.

Buổi chiều, Tằng thị cố chợp mắt một lát, nhưng nửa tỉnh nửa mê lại nghe thấy những tiếng sột soạt khó chịu.

Bực bội, bà vỗ mạnh lên giường, thay cho lời quát tháo.

Tiếng động bên ngoài lập tức dừng lại, rồi không lâu sau, Liễu nương tử nhẹ nhàng bước vào.

“Phu nhân tỉnh rồi à?”

Nàng ta dịu dàng hỏi, “Ta vừa nói với Lý ma ma đấy, ban ngày ngài ngủ ít thôi thì tối sẽ dễ ngủ hơn.”

Tằng thị trừng mắt nhìn nàng ta, ánh mắt lạnh lẽo như dao.

Liễu nương tử lại làm bộ như không để ý, tiếp tục nhỏ nhẹ:
“Ngài vừa rồi có phải đang mơ không?

Ta nghe thấy ngài nói gì đó, nhưng không rõ lắm…”

Tằng thị vô thức hỏi:
“Ta nói gì?”

“Giống như là gì mà… cỏ không cỏ gì đó,”

Liễu nương tử ghé sát hơn, hạ giọng thầm thì, “Hình như bệnh mộng ngôn của ngài cũng nặng lắm rồi.”

Đôi mắt của Tằng thị đột nhiên co rút lại, tay giơ lên tát thẳng vào mặt Liễu nương tử.

Nhưng Liễu nương tử từ nhỏ đã luyện võ, dù giờ thân thủ không còn như trước, nhưng tránh né một cái tát của người bệnh thì chẳng hề khó.

Nàng ta lùi lại, khóe môi cong lên nhạo báng:
“Ngài ngủ mơ rồi à?

Định đánh người?

Ngài mà cũng biết đánh người sao?”

Tằng thị nghiến răng, gằn giọng đầy tức giận:
“Đi nói với Lục Niệm, mẹ ruột của nó đã chết ba mươi năm rồi, không phải ba năm!

Nó muốn khai quật mộ thì cứ làm, để ta xem nó có khai ra được thứ gì!”

Đúng lúc ấy, Lý ma ma vội vã bước vào, thấy không khí căng thẳng thì trong lòng chùng xuống, nặng nề vô cùng.

Liễu nương tử cười khẩy:
“Ta cũng chẳng rõ Cô phu nhân định làm gì, nhưng nếu ngài còn tiếp tục thế này thì e là…”

Nói đoạn, nàng ta khẽ lắc đầu, rồi xoay người rời đi, để lại không khí đặc quánh phía sau.

Lý ma ma nhìn bộ dạng tức tối của Tằng thị, chỉ cảm thấy mệt mỏi tột độ, nhưng vẫn phải nhỏ giọng khuyên nhủ:
“Nàng ta là thám tử, là kẻ tiên phong, phu nhân ngài hiểu rõ điều đó mà.”

Giờ đây, mọi mưu kế đều lộ rõ như ánh sáng ban ngày, nhưng sức ép thì càng lúc càng nặng nề, khiến người ta khó lòng trụ vững.

Đêm xuống.

Lục Tuấn đến sớm để thực hiện phiên canh đêm của mình.

Hai huynh đệ thay phiên canh chừng, nhưng chỉ ngủ ở phòng ngoài, để Lý ma ma trực tiếp chăm sóc trong phòng ngủ.

Tuyết ban ngày rơi nhẹ, nhưng khi trời tối lại bắt đầu dày đặc hơn, gió bắc rít lên từng cơn, thổi vào cánh cửa sổ kêu rầm rập đầy rợn người.

Lục Tuấn không dám ngủ sâu, lo lắng cho bệnh tình của kế mẫu.

Đang mơ màng, hắn chợt nghe thấy những âm thanh mơ hồ, liền bật dậy ngồi thẳng.

Chẳng bao lâu sau, từ trong phòng vang lên một tiếng bốp nặng nề, tiếp theo là tiếng gió lạnh ùa vào như thể xuyên qua tường, khiến không khí trong phòng lạnh buốt, bản thân Lục Tuấn cũng không kìm được mà rùng mình.

“Hầu phu nhân!”

Nghe thấy tiếng kêu hốt hoảng của Lý ma ma, Lục Tuấn vội xỏ giày, lao thẳng vào phòng ngủ:
“Có chuyện gì vậy?

Con vào đây!”

Vừa bước vào, hắn đã thấy cánh cửa sổ mở toang.

Dưới ánh trăng mờ, tuyết trắng sáng rực rỡ.

Tằng thị đứng ngay bên cửa sổ, mặc cho gió lạnh thốc vào, mặt không chút biểu cảm.

Lý ma ma cuống cuồng muốn đóng cửa sổ lại, nhưng bị Tằng thị cản lại, vội vã cầu khẩn:
“Phu nhân, xin ngài tỉnh táo lại!

Thế tử đang ở đây!”

Nhưng Tằng thị chỉ lạnh lùng hỏi:
“Ngươi không ngửi thấy mùi thịt hầm nồng nặc ngoài kia sao?”

Lý ma ma hoàn toàn không ngửi thấy gì cả, mũi bà bị gió lạnh thổi tê cứng.

“Thịt hầm gì cơ?”

Lục Tuấn nhớ lại trước đây Xuân Huy viên thường hầm thịt vào ban đêm, liền khịt khịt mũi:
“Mẫu thân, người nhầm rồi.

Tối nay không có mùi thịt hầm nào cả.

Gió lạnh lắm, con đỡ người vào giường nghỉ nhé, bệnh của người chưa khỏi hẳn đâu, không thể để gió thốc thế này được.”

Tằng thị trừng trừng nhìn Lục Tuấn.

Dưới ánh sáng tuyết mờ ảo, tầm nhìn không rõ ràng, nhưng trong khoảnh khắc đó, bà lại như thấy bóng dáng của Bạch thị.

“Mẫu thân làm mứt táo ngon lắm, ngươi cũng ăn thử đi.”
“Bánh hoa quế mới làm đấy, ngươi ăn thử xem có thơm không.”
“Ta biết người thích ăn, nên ta làm thêm đấy.”
“Ta còn muốn ở bên A Niệm và A Tuấn thật lâu, sao nỡ rời xa họ được?”
“Làm sao mà chán ngươi được chứ?

Ngươi đến càng nhiều càng vui mà.”



“Tại sao ngươi lại đến đây?”
“Tại sao không để ta chăm sóc A Niệm và A Tuấn lớn lên?”
“Tại sao lại hại A Niệm, tại sao lại lừa dối A Tuấn?

Đó là con của ta!

Là con của ta!”

Những âm thanh quen thuộc nhưng xa lạ ấy vang vọng trong đầu, khiến Tằng thị run rẩy không kiểm soát được.

Lục Tuấn nghĩ bà đang lạnh, vội vàng muốn đỡ bà vào giường:
“Mẫu thân, để con đưa người vào trong ấm áp hơn nhé.”

Nhưng Tằng thị không hề động đậy.

Bà nhìn chằm chằm vào đôi môi mấp máy của Lục Tuấn, nhưng trong mắt bà lại là gương mặt trẻ trung xinh đẹp của Bạch thị—dịu dàng, ấm áp, tươi sáng, đáng yêu.

Không giống bà, dù là khi thật lòng hay khi giả tạo.

Bạch thị luôn rạng rỡ, chỉ cần ngồi đó thôi cũng đủ thu hút mọi ánh nhìn.

Đột nhiên, một giọng nói lạnh lùng bật ra từ kẽ răng của Tằng thị:
“Cút đi!

Cút khỏi đây!”

Ban đầu, Lục Tuấn tưởng mình nghe nhầm:
“Mẫu thân?”

Lý ma ma cũng nghe thấy, không kịp đóng cửa sổ nữa, vội lao tới muốn kéo bà về giường.

“Cút ra!”

Tằng thị chẳng biết lấy đâu ra sức mạnh, đẩy Lý ma ma ngã nhào xuống đất, đầu đập mạnh vào cạnh ghế, đau đến choáng váng.

Chưa kịp phản ứng, những lời chửi rủa cay độc nhất cũng tuôn ra:
“Đồ âm hồn không tan!”

“Chết ba mươi năm rồi còn tác quái, thứ xúi quẩy!”

“Hầu gia thích ngươi thì sao chứ?

Rốt cuộc cũng phải lấy vợ khác, chẳng phải đang dan díu với hồ ly tinh đấy à?

Ngoài Lục Niệm ra, ai còn nhớ tới ngươi?”

“Ngươi tưởng Lục Niệm báo thù cho ngươi được à?

Ha!

Ngươi là đồ chết, con gái ngươi là kẻ điên!

Chết rồi thì câm lặng, mà kẻ điên nói chẳng ai tin!”

“Ta hại ả thì sao chứ?

Con tiện nhân ấy từ nhỏ đã chống đối ta, ta không giết nó là may rồi!”

“Con trai ngươi?

Thằng đó dễ lừa lắm!

Nó gọi ta là mẫu thân suốt ba mươi năm, ngươi là cái thá gì?”

“Ta không sợ ngươi!

Ta có thể đầu độc ngươi chết một lần, thì cũng có thể gọi đạo sĩ trừ ngươi thêm lần nữa!”

“Biết điều thì cút đi!

Thương con gái ngươi lắm à?

Thế thì đưa nó xuống dưới đó mà đoàn tụ đi!”

Lý ma ma ôm đầu đau nhức như nổ tung, nỗi sợ hãi và hoảng loạn bủa vây.

Giây phút này, như lưỡi đao treo lơ lửng trên đầu cuối cùng cũng rơi xuống.

Bà run rẩy nhìn về phía Lục Tuấn.

Hắn đứng yên bất động, như bức tượng băng bị dội cả thùng nước lạnh rồi đông cứng lại, không thể cử động.

Đôi mắt hắn mở to, trừng trừng nhìn Tằng thị, không dám tin vào những gì mình vừa nghe.

Từng câu từng chữ rõ ràng rành rọt, nhưng hắn lại không thể hiểu nổi.

Chẳng lẽ mình thật sự ngu ngốc?
Tại sao không hiểu nổi?

Tại sao lại khó hiểu đến vậy?

Một lúc lâu sau, Lục Tuấn nuốt nước bọt, khàn giọng:
“Ngài…”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 87: Ta đợi ngày này suốt ba mươi năm


Lục Tuấn chỉ thốt ra được một chữ.

Những lời tiếp theo, hắn không biết phải nói thế nào nữa.

Cơn gió dữ dội cuốn theo bông tuyết trắng xóa thốc vào phòng, lạnh buốt đến mức hắn theo phản xạ nhắm chặt mắt lại, gió như những lưỡi dao sắc lẹm lướt qua da mặt.

Hắn không nhìn Tằng thị nữa, nhưng những hình ảnh vừa rồi cứ như một cuộn phim tua đi tua lại trong đầu, khắc sâu đến mức không thể xóa nhòa.

So với cơn gió rét căm căm ngoài kia, những lời mẹ kế thốt ra còn sắc bén và tàn nhẫn hơn gấp bội, xé nát lý trí của hắn thành từng mảnh vụn đau đớn.

Lục Tuấn rơi vào trạng thái mơ hồ, hoang mang tột độ.

Hắn thậm chí còn nghi ngờ bản thân—liệu có phải mình đang mơ không?

Hay đây chỉ là một cơn ác mộng quái dị?

Những lời đó… thật sự là mẫu thân nói sao?
Người phụ nữ đã chăm sóc ta suốt ba mươi năm qua, sao có thể như vậy?

Mẫu thân luôn dịu dàng, kiên nhẫn, yêu thương con cái.

Làm sao có thể thốt ra những lời độc ác đến thế?

Làm sao có thể để lộ một vẻ mặt dữ tợn như quỷ dữ?

Làm sao… có thể là kẻ giết người?

Mà nạn nhân lại là…

Lục Tuấn mở mắt ra trong cơn gió buốt giá.

Từng bông tuyết rơi xuống vầng trán, khóe mắt, tan thành những giọt nước lạnh ngắt, thấm đẫm da thịt.

“Thật… sao?”

Hắn hỏi.

Làn hơi lạnh tràn vào miệng, xuyên qua cổ họng như kim châm, khiến hắn ho sặc sụa, suýt chút nữa sặc đến bật cả nước mắt.

Tằng thị thở hổn hển, từng hơi từng hơi như thể sắp không thở nổi.

Cái lạnh tê tái ấy giúp bà dần lấy lại chút tỉnh táo, cũng chậm rãi nhận ra… mình vừa nói gì.

Hít thở đột nhiên trở nên khó khăn như bị bóp nghẹt.

Làm sao có thể?
Sao ta lại nói ra những lời ngu xuẩn như thế?

Nhìn chằm chằm vào Lục Tuấn, trái tim bà đột nhiên đập loạn như một con ngựa bị roi quất mạnh.

Phải làm sao bây giờ?

Dù hoảng loạn trong lòng, nhưng vẻ mặt Tằng thị vẫn cố giữ bình tĩnh.

Bà không nhìn vào mắt Lục Tuấn, mà liếc về phía Lý ma ma.

Chủ tớ mấy chục năm, ánh mắt ấy đủ để Lý ma ma hiểu ngay.

Mặc kệ cơ thể đau nhức vì cú ngã khi nãy, bà ta lập tức bò dậy, vội vàng hành động.

“Thế tử,” bà ta lau mặt, cố gắng lấy lại nhịp thở, đầu óc xoay chuyển nhanh chóng, “gió lớn quá, đừng để bị cảm lạnh.

Người đóng cửa sổ lại đi, để nô tỳ đỡ Hầu phu nhân nằm xuống giường rồi từ từ giải thích rõ ràng với người.”

Lục Tuấn không phản đối.

Đầu hắn như một đống hỗn độn, ai bảo gì thì nghe nấy.

Rầm!—cửa sổ đóng lại, cắt đứt cơn gió và bông tuyết bên ngoài.

Ngọn đèn dầu nhỏ chập chờn, chiếu lên khuôn mặt tái nhợt của Tằng thị.

Bà ta ngồi tựa vào đầu giường, đôi mắt vô hồn, trông chẳng khác gì kẻ vừa đánh mất linh hồn.

Lý ma ma khóc nức nở, nước mắt lăn dài trên má, nhưng ánh mắt lại lóe lên tia sắc lạnh, lợi dụng khoảng thời gian quý báu này để nghĩ nhanh ra một lý do:

“Là thế này, Thế tử không biết đâu… Hầu phu nhân dạo gần đây đầu óc có chút không tỉnh táo.

Có lẽ do cứ nghe mãi những lời đổ tội của Cô phu nhân, lâu ngày thành ám ảnh, khiến bà ấy tin rằng mình thực sự làm điều ác.

Đêm mộng mị, bà ấy cứ nghĩ mình thật sự đã hại chết Bạch thị, tự trách bản thân, dằn vặt vô cùng.

Thế tử, phu nhân thật đáng thương biết bao!”

Lục Tuấn day trán, giọng khàn đặc:
“Ý ngươi là… mẫu thân ta cũng bị bệnh?

Giống như tỷ tỷ sao?”

“Đúng, đúng vậy!”

Ánh mắt Lý ma ma sáng lên, không ngừng gật đầu, nắm chặt lấy cơ hội:
“Người già rất dễ bị kích động, mà lần trước Cô phu nhân đập phá Thu Bích viên, ầm ĩ đến mức khiến Hầu phu nhân sợ hãi, từ đó mới phát bệnh.

Thế tử, người không được tin những lời bà ấy nói khi đầu óc không tỉnh táo.

Người hiểu rõ tính cách của mẫu thân mình mà, đúng không?

Suốt đời chưa từng giết nổi một con gà, sao có thể giết người chứ?

Chỉ là do bệnh tật khiến bà ấy mê sảng thôi.

Người xem Cô phu nhân kìa, mỗi lần phát bệnh thì đến người thân cũng không nhận ra, thậm chí còn làm tổn thương cả Biểu cô nương.

Nhưng đó đâu phải là ý muốn thật sự của nàng ấy, đúng không?

Cô phu nhân yêu thương Biểu cô nương biết bao, chẳng phải người cũng thấy rõ điều đó sao?

Cho nên… xin người đừng để bụng những lời vừa rồi của Hầu phu nhân.

Đợi bà ấy tỉnh táo lại, mọi chuyện sẽ ổn thôi…”

Càng nói, Lý ma ma càng tự tin hơn.

Đúng vậy, chỉ cần mình vững vàng, Thế tử sẽ tin mình!

“Bệnh tật” là cái cớ tốt nhất trên đời!

Cô phu nhân có thể dùng lý do đó, chẳng lẽ Hầu phu nhân không thể?

Cô phu nhân phát bệnh ở Thục, còn Hầu phu nhân là do bị Cô phu nhân ép đến phát bệnh!

Nếu nghĩ kỹ, Hầu phu nhân mới là người đáng thương và vô tội nhất!

Nước mắt tuôn rơi, Lý ma ma tỏ ra đau đớn tận tâm can, vừa khóc vừa đấm ngực.

Lục Tuấn cứng đờ, hai tay nắm chặt rồi lại buông ra, lặp đi lặp lại.

Bên tai là tiếng khóc nức nở của Lý ma ma, trước mắt là ánh mắt trống rỗng của Tằng thị.

Cuối cùng, vai hắn sụp xuống.

“Ha ha…”

Hắn bật cười, khô khốc và chua chát, như có gì đó nghẹn nơi cổ họng:
“Thì ra… là vậy.”

Thì ra là thế!
Bảo sao!

Hắn đã nói rồi mà, mẫu thân hắn không thể là loại người như vậy được!

Không thể nào!

Tuyệt đối không thể!

Trời dần hửng sáng, ánh sáng mờ nhạt chiếu vào căn phòng lạnh lẽo, nhưng lòng người thì vẫn tối tăm như cũ.

Lục Tuấn ngồi bất động, chìm trong im lặng cho đến khi trời sáng rõ.

Liễu nương tử đến rất sớm.

Vừa bước vào phòng, nàng ta đã lập tức nhận ra có điều không ổn.

Vài tờ giấy rơi rải rác trên sàn, trông như bị gió thổi bay.

Ngọn đèn dầu trên bàn vẫn còn cháy, mặc dù trời tuyết sáng rõ, bình thường vào giờ này chẳng ai cần thắp đèn.

Ánh mắt nàng ta chuyển sang nhìn Lục Tuấn, thấy hắn ngồi đó như người mất hồn, sắc mặt xám xịt như tro tàn.

Liễu nương tử bước lên, nhẹ giọng hỏi:
“Thế tử, tối qua… đã xảy ra chuyện gì sao?”

Lục Tuấn giật mình, như thể bị đánh thức khỏi cơn mê:
“Tối qua… sao cơ?”

Ánh mắt của Liễu nương tử đảo một vòng, rồi che miệng khẽ kêu lên đầy vẻ kinh ngạc:
“Chẳng lẽ… Hầu phu nhân lại nói sảng nữa ư?

Ôi chao!

Ta đã nói rồi, để thế này không ổn đâu, phải mời đại phu tới khám kỹ mới được.”

Nghe thấy thế, Tằng thị quay sang lườm nàng ta một cái sắc lẹm.

Nhưng Lục Tuấn lại như tìm được điểm tựa:
“Di nương cũng từng nghe bà ấy nói sảng rồi sao?

Đúng vậy, mẫu thân lại nói sảng.

Bà ấy cũng bệnh rồi, ta thấy chẳng kém gì đại tỷ.

Tối qua…”

Lý ma ma nhìn qua nhìn lại, định ngăn lại nhưng rồi lại thôi.

Bà ta hiểu rõ, mình có thể lừa được Thế tử nhất thời, nhưng không thể lừa được cả đời—đặc biệt là khi Thế tử phu nhân đến, chỉ cần liếc mắt thôi cũng nhận ra hắn có điều bất thường.

Nếu nàng ta khéo léo khơi gợi, Thế tử chắc chắn sẽ kể hết mọi chuyện…

Như vậy chẳng khác nào bị động hoàn toàn!

Nghĩ đi nghĩ lại, bà ta chỉ cảm thấy tuyệt vọng.

Thực ra, ngay khi Hầu phu nhân lỡ lời đêm qua, họ đã rơi vào thế yếu rồi.

Hay là cứ tiếp tục bám vào lý do “bệnh tật” vậy…

Tằng thị hít sâu một hơi, khẽ lắc đầu với Lý ma ma.

Đường đã hẹp, nhưng dù chỉ là chiếc cầu độc mộc, cũng phải cắn răng bước tiếp!

Trong số những người có mặt, chỉ có Liễu nương tử là mừng thầm trong lòng.

Đợi bao lâu nay, cuối cùng cũng có kết quả!

Mà kết quả này còn tuyệt vời hơn ta tưởng—Thế tử đích thân nghe được!

Dù chưa rõ Hầu phu nhân đã nói những gì, nhưng nhìn gương mặt trắng bệch như xác chết của Lục Tuấn, chắc chắn là “chuyện hay ho” rồi!

Không chậm trễ, Liễu nương tử lập tức tìm Tang thị để báo tin:
“Hầu phu nhân bệnh nặng lắm rồi, nói sảng không ngừng!”

Chưa đến hai khắc, tin tức đã lan khắp phủ Định Tây Hầu.

A Vi che ô, cùng Lục Niệm tới thẳng Hàm viện.

Vừa vào phòng, nàng ta vừa cởi áo choàng đỏ thẫm cho Lục Niệm, vừa thì thầm:
“Ngàn vạn lần đừng nóng vội, chúng ta từ từ tính sổ với bà ta.”

“Ta tự biết,”

Lục Niệm đáp, nét mặt hiếm khi nghiêm túc, không có lấy một nụ cười, “Ta đợi ngày này suốt ba mươi năm rồi.”

Hai người cùng bước vào phòng ngủ.

Lục Trì và thê tử đang ở đó, lo lắng hỏi han sức khỏe của Tằng thị.

Lục Niệm bước đến, ngồi xuống cạnh Lục Tuấn, ánh mắt lướt qua hắn đầy giễu cợt:
“Đại hiếu tử chăm sóc cả đêm, sao lại để bệnh tình càng ngày càng nặng thế này?”

“Tỷ còn…”

Lục Tuấn định phản bác theo quán tính, nhưng vừa thốt lên lại ngậm miệng ngay lập tức.

Hắn hoàn toàn có thể lặp lại những lời Lý ma ma đã nói để mắng mỏ Lục Niệm, nhưng khi mở miệng ra, hắn lại không thể tiếp tục.

Chỉ có thể cúi gằm mặt xuống, vẻ mặt u ám đầy thất bại.

Hôm nay là ngày nghỉ của Định Tây Hầu, ông ta cũng tới Hàm viện.

Căn phòng chật chội trở nên đông nghịt người.

“Bệnh tình trở nặng thế này, sao không mời đại phu?” ông ta hỏi, giọng không giấu được sự khó chịu.

Liễu nương tử vội xen vào:
“Hầu phu nhân nói sảng, bệnh tình có chút kỳ quái…”

Nhưng vẻ mặt của Định Tây Hầu lại không hề thể hiện sự quan tâm hay lo lắng, mà là… bực bội.

Điều này khiến A Vi không khỏi bất ngờ.

Sao lại như vậy?

Lẽ ra ông ta phải lo lắng hoặc ít nhất là nghi ngờ chứ?

Nhưng Lục Niệm chẳng thèm bận tâm đến phản ứng của ông ta, chỉ lạnh lùng hỏi:
“Bà ấy nói những lời sảng gì?”

Lý ma ma không dám lên tiếng, còn Lục Tuấn thì không muốn nói.

Lục Niệm cười nhạt, giọng sắc lạnh như băng:
“Không ai muốn nói?

Để ta đoán nhé.

Bà ta thừa nhận mình đã giết người?

Thừa nhận đã hại chết mẫu thân ta?

Hay là…”

“Đại tỷ!”

Lục Trì không kìm nổi, lớn tiếng cắt ngang lời nàng, rồi quay sang nhìn Lục Tuấn.

Điều khiến hắn bất ngờ là, Lục Tuấn, kẻ vốn luôn đối đầu với Lục Niệm, lúc này lại chỉ cúi đầu im lặng, không phản bác một lời.

Điều đó khiến lòng Lục Trì trùng xuống.

Rốt cuộc tối qua đã xảy ra chuyện gì?
Có gì đó không đúng!

Lục Niệm không vòng vo nữa, quay sang hỏi thẳng Lý ma ma, đôi mắt phượng lạnh lẽo như băng:
“Ngươi nói hay để ta ép A Tuấn?

Hoặc là ép chính miệng Tằng thị thừa nhận?”

Lý ma ma rùng mình.

Bà ta hít sâu vài hơi, cố gắng nhớ lại cảm giác bấn loạn của đêm qua, rồi ôm mặt òa lên khóc thảm thiết.

Những lời đã từng nói một lần giờ tuôn ra không chút ngập ngừng, thậm chí còn thêm phần bi ai và đau đớn, như thể thật sự xuất phát từ nỗi lòng chân thành.

Đến mức Lục Trì tức giận trừng mắt nhìn chằm chằm vào Lục Niệm, ánh mắt đầy phẫn nộ.

Khi Lý ma ma dứt lời, trong phòng chỉ còn tiếng khóc sụt sịt của bà ta, còn lại mọi người đều im lặng, mỗi người theo đuổi suy nghĩ riêng.

A Vi là người phá vỡ sự tĩnh lặng đó.

Nàng ta giơ tay chỉ thẳng vào Lý ma ma, cười nhạt mỉa mai:
“Có gan để bịa chuyện thật đấy.”

Rồi chuyển tay chỉ thẳng vào Lục Trì, lạnh lùng nói:
“Còn ngài, có gan để tin thật.”

Lục Niệm nghe vậy bật cười ha hả, ngẩng đầu nhìn A Vi, ánh mắt lóe lên ánh sáng lạnh băng:
“Chắc chỉ có mỗi hắn tin thôi nhỉ?”

A Vi đón lấy câu nói đó, lập tức nhìn thẳng vào Định Tây Hầu, hỏi không chút kiêng nể:
“Ngoại tổ phụ, chẳng lẽ ngài cũng tin thật à?”

Khuôn mặt của Định Tây Hầu tối sầm lại, quai hàm siết chặt, nhưng không đưa ra câu trả lời rõ ràng.

Lục Niệm chống cằm, mắt hơi nheo lại, nhìn chằm chằm vào ông ta một lúc rồi thản nhiên dời ánh mắt đi chỗ khác.

Không có thất vọng, vì vốn dĩ nàng chẳng đặt hy vọng gì.

Tằng thị vẫn im lặng như tượng, để mặc Lý ma ma diễn màn kịch bi ai.

Dù trong lòng Định Tây Hầu nghĩ gì, ông ta cũng sẽ không dễ dàng lộ rõ thái độ.

Bởi vì đối với ông, tình hình trước mắt vẫn còn trong tầm kiểm soát, chưa đủ nghiêm trọng để ông phải hoảng loạn.

Muốn khiến ông ta mất bình tĩnh, phải là những cú đòn như lần đập phá Thu Bích viên—thứ gọi là “đại náo.”

Lục Niệm nghiêng đầu, ánh mắt sắc như dao, cười nhạt hỏi:
“Còn đệ thì sao?”

Nàng nhìn chằm chằm vào Lục Tuấn, giọng nói châm chọc như rót độc vào tai hắn:
“Đệ có tin không?

Chúng ta không ai ở đó, chỉ có mình ngươi tận tai nghe được những lời của Tằng thị.

Nào, đứa con hiếu thảo, kể cho bọn ta nghe thử xem nào?”

Đôi tay buông thõng trên đầu gối của Lục Tuấn siết chặt thành nắm đấm, bờ vai hắn run rẩy dữ dội.

Dù là vậy, hắn vẫn không nói một lời nào.

Lục Niệm chống tay đứng dậy, sải bước đi thẳng đến bên giường.

Lý ma ma vừa khóc vừa vội vàng ngăn lại:
“Cô phu nhân…”

“Gì cơ?”

Lục Niệm dừng chân, dựa vào khung giường, ngón tay mảnh mai vân vê sợi tua của màn che, vừa xoay vòng vừa cười nhạt:
“Ta bị bệnh, bà ta cũng bị bệnh, vừa hay có thể trao đổi kinh nghiệm phát điên với nhau.

Ta phát bệnh lâu hơn bà ta, kinh nghiệm phong phú, cảm ngộ sâu sắc hơn nhiều…”

“Đúng là nói năng vớ vẩn!”

Lục Trì chau mày, sợ nhất là cảnh Lục Niệm nổi cơn thịnh nộ bất chợt.

Hình ảnh nàng cầm cuốc đập nát cột nhà ở Thu Bích viên vẫn còn in đậm trong tâm trí hắn.

“Chuyện này đâu cần gì mà ‘trao đổi kinh nghiệm’ chứ?”

Lục Niệm bĩu môi, nhổ toẹt một câu đầy khinh miệt:
“Ngươi đầu óc bình thường thì biết cái quái gì?

Đến lượt ngươi ở đây làm đại phu chắc?”

Lục Trì bị chặn họng, mặt đỏ bừng, tim đầy nỗi ấm ức không thể nói thành lời.

Nhìn thấy mẫu thân mình ngồi mơ màng trên giường, lòng hắn chua xót đến nghẹn thở.

Sau một hồi suy nghĩ, hắn đành nuốt cơn giận xuống, cố gắng nhẫn nại giảng giải:
“Đại tỷ, là con cái, tỷ nhớ thương mẫu thân ruột mình cũng chẳng có gì sai cả.

Từ nhỏ tỷ đã tin rằng mẫu thân ta hại chết mẫu thân tỷ.

Nay nghe Lý ma ma nói những lời này, coi như là ‘bằng chứng xác thực’ với suy đoán của tỷ.

Tỷ kích động, căm hận thế nào cũng là điều dễ hiểu.

Nhưng mẫu thân ta hiện đang bệnh nặng, lời bà ấy nói không thể tin hoàn toàn được.

Nếu muốn có câu trả lời rõ ràng, chi bằng mời đại phu tới khám bệnh, đợi bà ấy tỉnh táo hơn, tự miệng giải thích rõ ràng.

Tỷ đợi suốt ba mươi năm để tìm kiếm sự thật, chẳng lẽ không thể kiên nhẫn thêm chút nữa sao?

Hay là… tỷ chỉ muốn nghe cái ‘sự thật’ mà bản thân đã định sẵn rồi?”

Lục Trì tự cho rằng mình đã giữ được bình tĩnh, lý lẽ cũng thấu tình đạt lý.

Nhưng không ngờ rằng, vừa dứt lời, Lục Niệm bỗng giơ tay lên.

Một vật gì đó lao thẳng vào mặt hắn.

Lục Trì không kịp né tránh, chỉ cảm thấy có thứ gì đập vào đầu—không đau, nhưng đủ để khiến hắn sững người.

Nhìn kỹ lại thì… là một nắm đậu phộng vừa được ném tới.

Lục Niệm rút trong túi thơm đeo bên người ra một nắm đậu phộng, tiện tay ném thẳng vào mặt hắn.

Ném xong, nàng đột ngột quay người, nắm chặt lấy vai Tằng thị.

Tằng thị đã ngồi thẳng dậy, cả người khom về phía trước, miệng thốt lên đầy lo lắng:
“A Trì…”

Đó là phản ứng bản năng của bà—bản năng của một người mẹ.

Lục Niệm siết chặt vai bà, cười khẩy:
“Ngươi xem, bà ta hoàn toàn tỉnh táo kìa.

Con trai ruột gặp chuyện, bà ta còn phản ứng nhanh hơn cả ngươi.”

Lục Trì vội trấn an mẹ:
“Người đừng sợ, phụ thân sẽ không để họ vu oan cho người đâu.”

Đúng lúc này, A Vi bước đến bên cạnh Lý ma ma, nhẹ nhàng hỏi:
“Câu chuyện bà bịa cũng khá đấy, nhưng chắc bà không định kể tiếp nữa chứ?”

Ánh mắt Lý ma ma đầy cảnh giác.

A Vi nhìn thẳng vào bà ta, giọng nói đều đều, lạnh lẽo hơn cả tuyết ngoài trời:
“Mẫu thân ta từng nói, dù không thể khai quật quan tài của ngoại tổ mẫu, thì vẫn còn có thể mở mộ của Đào Vũ Xuyên.

Báo thù cho mẫu thân không phải điều tra vụ án, không cần chứng cứ chặt chẽ, chỉ cần ta xác định là đủ.

Căn bệnh của mẫu thân ta ấy à, đừng nói là phá nát cả Thu Bích viên, đến phủ Định Tây Hầu này cũng có thể lật tung lên.

Bà nghĩ xem, liệu ngoại tổ phụ có muốn dẹp yên mọi chuyện không?

Tằng thị có gia thế vững chắc, còn có con trai ruột bảo vệ.

Còn bà thì sao, Lý ma ma?

Bà chẳng là gì cả.

Sớm muộn gì cũng cần một kẻ chịu tội thay.

Bà muốn trung thành tận tụy vì Tằng thị, hay muốn giữ lấy con đường sống cho mình?

Bà rõ hơn ai hết, trong mắt Tằng thị, bà chỉ là một quân cờ bỏ đi.

Giống như Tiết Ba đối với Tiết Thiếu Khanh vậy.

Thậm chí, nếu quan phủ điều tra tới cùng, e rằng ngay cả Tiết Thiếu Khanh cũng bị hy sinh.

Bà nghĩ xem, bà có quan trọng hơn Tiết Thiếu Khanh không?

Một khi bị bỏ rơi, bà chỉ có con đường chết.

Không ai tha cho bà cả.

Mẫu thân ta muốn bà chết.

Tằng thị cũng muốn bà chết.

Chỉ có người chết mới không nói được lời nào.

Nhưng bà vẫn còn một con đường sống.

Chỉ cần nói ra sự thật—nói rõ Tằng thị đã hại chết Đào Vũ Xuyên và ngoại tổ mẫu như thế nào.

Nói cả về độc dược—mãng thảo, hạt tùng—nói tất cả ra.

Mẫu thân ta sẽ giữ lại cho bà một con đường sống!”

Toàn thân Tằng thị cứng đờ như đá.

Lục Niệm siết chặt vai bà, cảm nhận được rõ ràng sự căng cứng ấy, liền bật cười lạnh.

“Đại tỷ!”

Lục Trì tức giận đến mức không thể tin nổi, hét lên:
“Đây là gì chứ?

Ép cung?

Ly gián?

Lời khai kiểu này có đáng tin không?!”

Lục Niệm nhướng mày, lạnh lùng đáp trả:
“Tại sao lại không đáng tin?

Ta chỉ cần sự thật thôi.

Dù có phải dùng thủ đoạn bẩn thỉu, cũng chẳng sao.

Vì cho dù có bẩn đến đâu, cũng chẳng bẩn bằng những việc mẹ ngươi đã làm!”

Ánh mắt Tằng thị dừng lại trên người Lý ma ma, thấy bà ta vô thức cúi đầu, né tránh ánh mắt mình.

Lòng bà chùng xuống một nửa.

Xem ra hôm nay khó mà toàn thân rút lui được rồi.

Đồng thời, bà cũng thầm thừa nhận: A Vi đã đánh giá tình hình rất chính xác.

Đây không phải là nha môn, không cần chứng cứ đầy đủ.

Điều quan trọng nhất là cán cân trong lòng mỗi người.

Trên cán cân ấy, không chỉ có niềm tin hay sự nghi ngờ, mà còn có danh phận, thể diện, thế lực, và cái giá phải trả.

Chỉ cần bà còn mang họ Tằng, chỉ cần đại bá của bà vẫn còn quyền lực…

Thì dù có phải cúi đầu nhất thời, bà vẫn có thể ngẩng cao đầu trở lại!

“Vậy… là đã định tội rồi sao?”

Tằng thị hít sâu một hơi, đè nén nhịp tim đang đập như trống trận, nhìn quanh một lượt:
“Chỉ vì vài câu nói mê của ta trong cơn bệnh mà các ngươi đã khẳng định ta là kẻ giết người?

Lục Niệm, ngươi bị bệnh, ai cũng nhường nhịn ngươi, nhưng đó không phải là bùa hộ mệnh để ngươi muốn lộng hành thế nào cũng được!”

Lục Niệm chẳng buồn đáp, quay sang hỏi thẳng Lý ma ma:
“Sống hay chết, bà chỉ có cơ hội này thôi.

Bà ta đã nửa đêm nói năng lộn xộn rồi, từ đó đến việc ra tay sát hại người khác chỉ cách nhau một bước.

Bà còn dám tiếp tục hầu hạ bà ta không?”

Lý ma ma rùng mình, cúi đầu nhìn đôi tay gầy guộc của mình.

Dạo gần đây, bà ta gầy rộc đi, sống trong sợ hãi và lo lắng, đêm chẳng yên giấc, ngày cũng không được thảnh thơi.

Phải chăm sóc một người phụ nữ ngày càng trở nên khó đoán, nặng nề với sự bất ổn của tâm lý…

Khi Hầu phu nhân lỡ lời, bà ta cảm thấy sợ hãi, nhưng đồng thời cũng có một cảm giác nhẹ nhõm kỳ lạ—giống như mọi thứ cuối cùng cũng đã đi đến hồi kết.

Kết thúc rồi…

Kết thúc cũng tốt hơn là cứ kéo dài mãi.

Bởi vì sớm muộn gì cũng không thể trụ nổi.

Kết cục, dù thế nào… cũng đã được định sẵn.

Nhưng giờ đây, con đường tưởng như đã đi đến tận cùng ấy lại như có thể kéo dài thêm.
Thế nhưng, kéo dài để làm gì?
Chẳng phải rồi cũng đi đến cái kết này sao?
Vậy còn cố chấp bám lấy làm gì?
Tiếp tục giày vò bản thân ngày đêm như vậy sao?

“Nô tỳ…” Lý ma ma run rẩy, thân thể run lên bần bật, giọng nói cũng chẳng khá hơn:
“Đào Vũ Xuyên không thể ăn hạt tùng, nên chỉ cần uống chút rượu là đã nôn thốc nôn tháo mà chết nghẹn.

Phu nhân Bạch thị thì bị hạ độc bằng mãng thảo, lúc đầu là trộn bột độc vào thuốc bổ dưỡng của bà ấy.

Mùi thuốc đậm đặc che lấp hoàn toàn mùi của bột độc.

Kẻ đó thường xuyên vào phủ, mỗi lần tìm cơ hội thả thêm một chút, nhưng thuốc ngấm quá chậm, nên lần cuối cùng… Hầu phu nhân đã hạ một liều mạnh hơn, đổ thẳng vào nồi thuốc.

Hôm ấy, phu nhân Bạch thị chết ngay lập tức…”

“Vớ vẩn!

Con tiện nhân!”

Tằng thị giận dữ hét lên, nhiều lần muốn ngắt lời Lý ma ma, nhưng đều bị Lục Niệm giữ chặt lại.

Không biết từ đâu Lục Niệm có sức mạnh lớn đến thế, tay siết chặt vai bà ta không buông, tay còn lại bịt miệng bà ta cho đến khi Lý ma ma nói xong mới thả ra.

Tằng thị thở hổn hển, ánh mắt đầy căm hận nhìn chằm chằm vào Lý ma ma, không thể tin rằng bà ta lại dễ dàng phản bội mình như vậy.

Trái ngược với tiếng khóc giả tạo trước đó, lúc này Lý ma ma gào khóc thảm thiết, như thể trút bỏ được gánh nặng đè nén suốt bao năm qua:
“Nô tỳ cũng không chịu nổi nữa rồi!

Từ khi ngài bắt đầu gặp ác mộng, nói mớ giữa đêm, rồi ép Hầu gia dọn ra thư phòng ngủ, nô tỳ chưa từng có giấc ngủ yên ổn.

Gần đây lại càng tệ hơn, ngài nửa đêm đứng lặng bên góc tường, nô tỳ sợ hãi tột cùng!

Nửa đêm ngài cứ như quỷ ám, nô tỳ sợ đến phát điên!

Vậy thì thà như thế này còn hơn… thà như thế này còn hơn!”

A Vi thở dài một tiếng.

Bọn họ đã có được sự thật, một kết cục không ngoài dự đoán.

Đối với những người khác, những gì xảy ra hôm nay chẳng phải quá bất ngờ.

Chỉ là vì liên quan đến mạng người, nên nhất thời không ai thốt nên lời, chỉ còn lại tiếng khóc nức nở của Lý ma ma vang vọng trong phòng.

Lục Niệm buông tay khỏi vai Tằng thị.

Thân hình Tằng thị lảo đảo, vội vã nhảy xuống giường, định lợi dụng tình thế hỗn loạn để vùng lên lần cuối.

Nhưng không ai ngờ—ngoại trừ A Vi vốn đã đoán trước—rằng ngay khi vừa buông tay, Lục Niệm lập tức rút ra một con dao găm giấu trong vạt áo.

Ánh bạc lóe lên lạnh lẽo.

Phập!

Lưỡi dao đâm thẳng vào đùi trái của Tằng thị, máu tươi phun ra như suối, văng lên mặt Lục Niệm, nhuộm đỏ cả lông mi và đôi mắt, biến mọi thứ trước mặt nàng thành một màu đỏ chói lòa.

Không dừng lại, nàng đâm thêm hai nhát nữa trong tiếng hét thảm thiết của Tằng thị.

Định Tây Hầu gần như lao tới ngay khi thấy ánh dao lóe lên, nhưng vì ngồi xa, căn phòng lại chật kín người, bàn ghế chắn đường, nên đến khi ông ta ôm được Lục Niệm, thì nàng đã kịp đâm xong ba nhát dao.

“Ngươi có biết mình đang làm gì không?!”

Định Tây Hầu gầm lên, giọng đầy tức giận và hoảng loạn.

“Ngươi muốn chết à?!”

Mâu thuẫn giữa các nữ nhân trong phủ ông có thể mắt nhắm mắt mở cho qua, nhưng một khi đã động dao gây án mạng, nếu nhà họ Tằng muốn truy cứu, chuyện đến tai quan phủ, ông không thể bảo vệ Lục Niệm được nữa.

Lục Niệm buông con dao dính đầy máu, để nó rơi xuống sàn với tiếng keng lạnh lẽo.

“Ta vào nha môn thì cả thiên hạ đều sẽ biết chính Tằng thị đã giết mẫu thân ta,” nàng vuốt lại mái tóc rối bời, ngón tay dính máu vẽ lên gương mặt tái nhợt của mình.

“Dù ta có giết bà ta, thì cũng là để báo thù cho mẫu thân.

Ta sống hay chết, chẳng phải phụ thuộc vào xem phụ thân và Tằng Thái Bảo ai dám đánh cược nhiều hơn trên Kim Loan điện hay sao?”

Định Tây Hầu như bị sét đánh ngang tai, đầu óc ong ong.

“Bây giờ là lúc nói những lời này sao?!”

Lục Niệm cười nhạt:
“Ta đâu có đâm vào tim bà ta.

Thả ta ra đi, ta không có con dao thứ hai đâu.”

Sự điên cuồng của nàng khiến Định Tây Hầu sợ hãi.

Ông quay sang nhìn A Vi như cầu cứu.

A Vi khẽ gật đầu:
“Không còn dao nữa.”

Lúc này ông ta mới buông Lục Niệm, kéo nàng ra xa khỏi Tằng thị.

Lục Trì và Giản thị vội vàng quỳ xuống bên cạnh Tằng thị, loay hoay tìm cách cầm máu.

Nhìn chằm chằm vào những vết thương đẫm máu trên chân mẹ, Lục Trì nghiến răng ken két:
“Ngươi nhất định phải làm đến mức này sao?!”

Lục Niệm lạnh lùng đáp lại:
“Mẫu thân ngươi chỉ bị thương ở chân.

Còn mẫu thân ta thì sao?

Bà ấy mất mạng vì mẫu thân ngươi!

Nếu mẫu thân ta còn sống, liệu cái phủ Định Tây Hầu này, hay họ Lục của ngươi, có liên quan gì đến ngươi không?”

Nói xong, nàng chuyển ánh mắt sắc lạnh sang Lục Tuấn:
“So với hắn, ta càng hận ngươi hơn!

Hắn thì còn là con ruột, thương mẹ cũng chẳng sai.

Còn ngươi thì sao?!”

Lục Tuấn há miệng định nói, nhưng chẳng thốt được lời nào, ánh mắt đầy sự giằng xé và thống khổ.

“Ngươi còn đang trông chờ điều gì?”

Lục Niệm xé toang lớp vỏ bọc tự lừa dối bản thân mà hắn dựng lên bấy lâu nay:
“Đối diện với sự thật, chấp nhận thực tế… khó đến vậy sao?

Có khó bằng mất mạng không?

Mẫu thân ta đã mất mạng rồi!

Vậy mà ngươi đến cả việc thừa nhận nguyên nhân thực sự dẫn đến cái chết của bà ấy cũng không dám sao?

Ngươi đã làm một thằng ngốc suốt ba mươi năm, giờ còn định tiếp tục làm con rùa rút đầu thêm ba mươi năm nữa à?!”

Nước mắt Lục Tuấn lăn dài trên khuôn mặt cứng đờ.

Từ khoảnh khắc nghe thấy những lời Tằng thị thốt ra trong đêm, hắn đã chết lặng trong tâm trí.

Hắn muốn trốn tránh, nhưng Lục Niệm không để hắn làm vậy.

Giữa cơn nức nở, hắn lặp đi lặp lại câu hỏi cho chính mình:
“Ta là cái gì đây?”

Kế mẫu xem hắn như kẻ ngốc, lợi dụng hắn để lấy lòng cha, để làm con dao đâm vào tim tỷ tỷ hắn.

Đại tỷ thì coi hắn là kẻ ngu ngốc đáng thương, oán hận hắn tận xương tủy.

Còn mẫu thân ruột của hắn thì sao?

Nếu ở nơi chín suối, bà ấy có thấy hắn như thế này, bà sẽ nghĩ gì?

Nhưng hắn biết làm sao đây?

“Lúc mẫu thân mất, ta mới ba tuổi… ba tuổi thôi!”

Lục Tuấn gào lên.

Khi ấy, hắn chẳng hiểu chuyện gì cả.

Cha hắn bận rộn, đôi khi đi xa cả tháng trời, đến mức hắn còn không nhớ rõ mặt mũi cha mình.

Vậy thì làm sao để nhớ được mẹ ruột?

Ngoài người đại tỷ suốt ngày la hét, thì tất cả mọi người trong phủ đều bảo hắn rằng kế mẫu yêu thương hắn, mẫu thân ruột thì bệnh mà chết, còn đại tỷ chỉ là kẻ vô lý gây sự.

Mọi ký ức đẹp đẽ về mẫu thân ruột của hắn đều do kế mẫu vẽ nên.

Bà ấy dịu dàng, chăm sóc hắn lúc ốm đau, yêu thương hắn như con ruột, dù sau này có thêm con trai ruột cũng chưa từng thay đổi.

Hắn tin tưởng, hiếu thảo với người đã nuôi dưỡng mình… chẳng lẽ lại sai sao?

Hắn đã làm gì sai?

Tại sao… cuối cùng hắn lại trở thành kẻ đáng ghê tởm nhất?

“Thật nực cười…”

Lục Tuấn bật cười lớn, cười đến mức ho sặc sụa.

“Hóa ra bao nhiêu năm qua, tất cả chỉ là một trò hề!”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 88: Chính là khí phách của một người con


Lục Tuấn vừa khóc vừa cười, nước mắt chan hòa, tiếng cười vang vọng đầy đau đớn, như thể hắn đã mất đi toàn bộ sự tự chủ của bản thân.

Tang thị không lên tiếng an ủi.

Vào lúc này, dù có xen ngang khuyên nhủ thế nào cũng chẳng mang lại kết quả như mong đợi.

Thay vì thế, bà ta chọn cách đứng ngoài quan sát.

Vào đêm thu năm đó, khi Đại cô tìm nàng để bàn chuyện hợp tác, sau một hồi cân nhắc, Tang thị đã gật đầu đồng ý.

Nhưng nói thật lòng, nàng ta không ngờ chỉ trong thời gian ngắn ngủi, Đại cô và A Vi đã thực sự l*t tr*n được bộ mặt thật của Hầu phu nhân.

Đại cô từng nói: “A Tuấn là một kẻ ngốc không biết phân biệt tốt xấu.”

Tang thị chưa từng kỳ vọng gì vào chồng mình.

Chỉ cần hắn đừng gây rối, đừng cản trở nàng trong việc dạy dỗ con trai là đủ.

Nàng ta chấp nhận sự bất tài của chồng, chấp nhận cả sự tầm thường của con trai, nhưng không thể chấp nhận việc con mình bị dạy hư, để rồi bị Lục Miễn của phòng Nhị hoàn toàn vượt mặt.

Nhưng giờ đây, chẳng cần so sánh nữa.

Với tội ác giết người để đoạt quyền như Tằng thị, dù Lục Miễn có tài giỏi đến đâu, hắn cũng không thể chiếm được tước vị.

Dù A Chí có ngốc nghếch chẳng kém gì Thế tử, nàng ta vẫn có thể nắm chặt lấy quyền lực, không để tước vị lọt vào tay kẻ khác.

Thương vụ này, nàng ta đã thắng đậm.

Nghĩ đến đây, Tang thị liếc nhìn Lục Niệm một cái thật sâu.

Từ đầu đến cuối, nàng ta chẳng phải tốn nhiều công sức, cùng lắm chỉ là hỗ trợ đôi chút ở hậu trường.

Người thực sự vất vả là Đại cô, người đã đi trên con đường báo thù suốt ba mươi năm dài đằng đẵng.

Đã từng thất bại, từng ngã đau đến mức máu me đầm đìa, nhưng vẫn kiên cường bò dậy, gắng gượng tiến lên.

Cuối cùng, nàng đã tự mình mở ra một con đường thấm đẫm máu và nước mắt.

Tang thị lại liếc sang Lục Tuấn.

Càng nhìn càng chướng mắt.

Ngay lúc ấy, A Vi bước tới trước mặt hắn.

“Cữu à,” giọng nàng nhẹ nhàng, đôi mắt cụp xuống, không có tia lạnh lẽo sắc bén như của Lục Niệm, nhưng lại lạnh lùng tựa bông tuyết rơi trắng xóa, tĩnh lặng và vô cảm, phủ kín cả không gian.

“Trước đây, đúng là Cữu cữu chỉ là một trò cười.”

Như thể bị một đòn chí mạng giáng xuống, tiếng cười của Lục Tuấn lập tức tắt ngúm, chỉ còn lại những giọt nước mắt tiếp tục rơi lăn dài trên má.

Hắn mờ mịt nhìn A Vi, đôi mắt nhòe lệ chẳng rõ ràng hình ảnh trước mặt, cũng như tâm trí hắn lúc này, hoàn toàn rối loạn.

A Vi vẫn giữ nguyên giọng điệu bình thản ấy:
“Vậy còn sau này thì sao?

Cữu cữu vẫn muốn làm một trò cười chứ?”

“Không… ta…”

Lục Tuấn theo bản năng định phản bác.

Nhưng ngay khi hắn nhận ra để không trở thành trò cười nữa, bản thân phải làm gì, hắn lại rơi vào sự bối rối mơ hồ.

“Chẳng lẽ ta cũng phải như mẫu thân của con,”

Lục Tuấn bật dậy, vừa giận dữ vừa kích động, “cầm dao đâm người khác?

Nàng ấy là kẻ điên, ta cũng phải thế à?!”

A Vi khẽ cười, tiếng cười lạnh lùng như cơn gió bấc cuốn theo những bông tuyết, sắc như dao cạo, khiến người ta cảm thấy rát buốt trên da thịt:
“Cữu cữu thậm chí còn không bằng kẻ điên.”

Lục Tuấn cứng họng, không tìm được lời nào để phản bác, cũng chẳng biết phải cãi thế nào.

Ánh mắt A Vi chuyển sang Định Tây Hầu, nhìn thẳng vào ông ta:
“Vậy còn ngài?

Ông cũng muốn tiếp tục làm một trò cười sao?”

Giọng nàng rất nhẹ, nhưng từng chữ như những nhát dao sắc lẹm đâm thẳng vào lòng từng người trong phòng.

Định Tây Hầu siết chặt quai hàm, ánh mắt tối sầm lại, đảo quanh một lượt những người trong phòng.

Tằng thị đang quằn quại trong đau đớn, máu chảy ướt đẫm cả giường; Lục Trì và vợ hắn cuống cuồng tìm cách cầm máu; Lục Tuấn mặt mũi thất thần, nước mắt chưa kịp khô; Lục Niệm nhếch môi đầy châm biếm, còn Liễu nương tử thì đứng bên cạnh nàng, khẽ thì thầm điều gì đó, ánh mắt đầy vẻ khó lường…

Mỗi người một vẻ mặt, một toan tính.

“A Vi…”

Định Tây Hầu khẽ vuốt cổ họng, giọng khàn đặc:
“Dù thế nào đi nữa, cũng không thể để mọi chuyện đến mức đổ máu thế này.”

A Vi nhếch môi cười nhạt:
“Ngài nên thấy may mắn vì mẫu thân ta không đâm thẳng vào tim của Tằng thị.”

Thực tế không phải là Lục Niệm không muốn làm thế.

Trước khi đến Hàm viện hôm nay, nàng thực sự đã có ý định giết người.

Chính A Vi đã phải dốc hết lời lẽ, khuyên nhủ hết sức mới thuyết phục được nàng dừng tay.

“Con biết, với người mà nói, mạng sống chẳng là gì so với việc báo thù cho mẹ.

Giết Tằng thị, người sẵn sàng vào nha môn, để cả thiên hạ biết bà ta là kẻ lòng lang dạ sói, tàn nhẫn vô nhân tính.

Người và bà ta đổi mạng, người không thấy lỗ.

Nhưng đừng quên, Tằng thị có thể sống đến hôm nay là nhờ vào kẻ đứng sau lưng bà ta—Tằng Thái Bảo.”

“Tằng thị ra tay với hồi môn của ngoại tổ mẫu, tất cả số bạc đó đều chảy vào túi của Tằng Thái Bảo.

Hai kẻ đó chẳng khác nào rắn chuột một ổ.

Chỉ giết mỗi Tằng thị mà tha cho Tằng Thái Bảo—người không thấy quá rẻ mạt cho bọn chúng sao?”

“Người từng nói với con rằng mối quan hệ giữa bọn họ chưa chắc đã vững vàng như bề ngoài.

Có khi hôm nay cùng một thuyền, mai đã quay lưng phản bội nhau.

Tằng Thái Bảo chắc chắn biết rõ Tằng thị đã giết người, còn Tằng thị nắm trong tay nhược điểm của ông ta thông qua số bạc bạc khổng lồ đó.

Người chỉ cần đâm bà ta một nhát, không lấy mạng nhưng khiến bà ta bị thương nặng, để bà ta vừa tuyệt vọng vừa nuôi hy vọng.

Trong hoàn cảnh như vậy, bà ta sẽ không ngần ngại kéo người khác xuống cùng bùn lầy.”

“Để bà ta nghĩ rằng mình vẫn còn đường sống, bà ta sẽ cố gắng vùng vẫy, và rồi sẽ lôi cả Tằng Thái Bảo xuống nước.”

“Người đã dạy ta đấy thôi—chó cắn chó!”

Cả một tràng dài phân tích, cuối cùng Lục Niệm mới gật đầu:
“Ta hiểu rồi, ta biết mình phải làm gì.”

Chỉ khi ấy, A Vi mới thở phào nhẹ nhõm.

Không phải nàng không muốn lấy mạng của Tằng thị, mà bởi vì với A Vi, mạng sống của Lục Niệm còn quan trọng hơn.

Con người cần có niềm tin để mà bám víu.

Hơn hai năm trước, Dư Như Vi qua đời, Lục Niệm chìm trong tuyệt vọng.

Thù đã trả, con gái cũng mất, nàng chẳng còn mục tiêu, cũng chẳng còn tâm huyết.

Gần như chỉ sau một đêm, cả thân tâm của Lục Niệm sụp đổ hoàn toàn, héo úa không chút sức sống.

Khi ấy, A Vi nhắc đến Tằng thị, nhắc đến cái chết của thân mẫu, mới kéo được Lục Niệm trở về từ Quỷ Môn Quan.

Lần này cũng vậy.

Nếu Tằng thị chết, Lục Niệm sẽ sa sút, tự cho rằng thế gian này chẳng còn gì đáng để nàng níu giữ, vậy thì…

Không thể để như thế.

Nàng phải giữ mạng cho Lục Niệm.

Nàng muốn Lục Niệm tiếp tục sống.

Nàng muốn Lục Niệm có mục tiêu mới, không sợ khó, chỉ sợ không có gì để mà cố gắng.

Từ tận đáy lòng, A Vi thực sự yêu quý Lục Niệm, không muốn mối duyên ngắn ngủi chỉ vỏn vẹn hai năm.

Nàng đã từng mất mẹ một lần, không muốn mất thêm lần nữa.

Hít sâu một hơi, A Vi mới quay sang nói với Định Tây hầu:
“Giờ ngài nhất định có rất nhiều lời muốn nói nhưng lại chẳng tiện mở miệng, ta cũng có không ít chuyện muốn hỏi ngài.

Ta sẽ đưa mẫu thân về trước, lát nữa lại nói tiếp.”

Định Tây hầu không giống Lục Tuấn.

Muốn ép Lục Tuấn thì phải làm trước mặt người khác, còn với Định Tây hầu, phải ép khi không có ai.

A Vi khẽ thì thầm vài câu với Tang thị.

Tang thị liếc nhìn Tằng thị một cái, nhẹ giọng đáp:
“Ta hiểu rồi.”

A Vi mỉm cười, rồi khoác tay Lục Niệm:
“Chúng ta đi thôi.”

Lục Niệm lặng lẽ nhìn nàng.

Vết máu trên mặt đã khô lại, dính chặt vào da, rất khó chịu.

A Vi đưa tay lên, đầu ngón tay nhẹ nhàng lướt dọc theo vệt máu trên gương mặt Lục Niệm, từ trán men xuống phía sau tai:
“Rất đẹp.

Đây là chiến công của mẫu thân, là sự tán thưởng, là vinh quang, là cột trụ vững chắc của người làm con gái.”

Lông mi Lục Niệm khẽ run rẩy.

Dính đầy máu, lông mi trở nên nặng trĩu, khiến khóe mắt nàng hơi ươn ướt.

“Về thôi,” A Vi đỡ nàng bước ra ngoài, “Ta sẽ làm tiệc mừng công cho mẫu thân.”

Ngoài trời, gió tuyết vẫn chưa ngừng.

A Vi giúp Lục Niệm buộc chặt chiếc áo choàng đỏ thẫm, cùng nàng bước ra ngoài.

Trong sân, tĩnh lặng đến mức có thể nghe thấy tiếng tuyết rơi.

Đám nha hoàn và bà tử biết trong phòng vừa xảy ra chuyện lớn, không ai dám bén mảng đến gần, chỉ dám trốn trong phòng bên.

Nhưng lại sợ chủ nhân gọi, đành hé cửa sổ, vểnh tai nghe ngóng, vì thế vừa thấy Lục Niệm cùng mẫu thân bước ra liền lọt vào tầm mắt họ.

Gương mặt dính máu như đóa mẫu đơn rực rỡ nở rộ giữa mùa đông lạnh lẽo, đẹp đến mức khiến người ta kinh sợ.

A Vi mở chiếc ô, hai mẹ con khoan thai bước vào cơn gió tuyết, từng bước vững vàng, chậm rãi mà kiên định.

Trong phòng, không còn Lục Niệm – người luôn gay gắt không chịu buông tha, nhưng bầu không khí vẫn chẳng thể dịu đi.

Tang thị gọi Diêu ma ma đến dặn dò:
“Giam Lý ma ma lại, đừng để chết rét, cũng đừng để đói khát.”

A Vi đã nói “dùng sự thật để đổi lấy mạng sống”, Tang thị đương nhiên sẽ không để người chết như thế.

Lời nói phải có trọng lượng.

Chỉ khi làm gương như vậy, mới có thể thu phục thêm những kẻ “tâm phục khẩu phục”.

Tang thị lại quay sang Định Tây hầu:
“Xin làm phiền ngài cầm máu cho hầu phu nhân.”

Lục Trì chỉ biết băng bó sơ sài, miễn cưỡng xử lý qua loa cho Tằng thị, rồi định nói sẽ mời đại phu.

Nghe Tang thị nói vậy, hắn liền sốt ruột:
“Không mời đại phu sao?”

Tang thị thản nhiên đáp:
“Đại cô nương hẳn đang mong được mời đại phu nhất, tốt nhất là mời hết đại phu trong kinh thành đến, để ai ai cũng biết đại cô nương vì báo thù cho mẹ mà đâm hầu phu nhân ba nhát dao.”

Lục Trì nghẹn lời.

Định Tây hầu từng nắm binh quyền nhiều năm, việc cầm máu không phải là chuyện khó.

Sắc mặt ông ta lạnh băng, không nói lời nào, bắt tay vào việc xử lý vết thương: rửa sạch, bôi thuốc, băng bó.

Tằng thị đau đến toát mồ hôi lạnh, nghiến răng nghiến lợi mắng:
“Hầu gia không định nói gì sao?

Hay là nói xem định xử trí ta thế nào?”

Thấy Định Tây hầu vẫn thờ ơ, Tằng thị càng thêm tức giận, vừa đau vừa hận:
“Câm lặng à?

Cũng đúng thôi!

Hầu gia còn phải nhìn sắc mặt của bá phụ ta, lại phải dè chừng cái tính điên cuồng của Lục Niệm, chắc hẳn đang đau đầu không biết làm sao để cân bằng cả hai bên đúng không?”

Định Tây hầu chẳng thèm để ý, tay không hề nương nhẹ, giật mạnh băng vải, khiến Tằng thị đau đớn đến suýt ngất đi.

Khi đứng dậy, giọng Định Tây hầu khàn khàn:
“Đúng vậy, ta phải đi một bước, nghĩ ba bước.

Về chuyện sống theo ý mình, ta không bằng A Niệm, cũng không bằng ngươi.”

A Niệm có thể rút dao, còn ông thì không thể; A Niệm có thể xé lòng xé phổi, còn ông thì không làm được…

Tằng thị nghe ra ẩn ý trong lời ông, đau đớn và phẫn nộ đến cực điểm, bỗng bật cười ha hả:
“Ngươi nói mấy lời đó với Lục Niệm đi, xem nó có thèm nghe không!”

Định Tây hầu không tranh luận thêm, chỉ trầm giọng nói với hai người con trai:
“Về hết đi, ngoan ngoãn ở nhà.”

“Phụ thân!” Lục Trì muốn lên tiếng tranh luận.

Định Tây hầu nhìn hắn sâu sắc:
“Con hẳn phải hiểu rõ, điều gì là tốt nhất cho Tằng thị và cho chính con.”

Nắm tay Lục Trì buông lỏng dần.

Hắn đỏ mắt nói với Tằng thị:
“Mẫu thân dưỡng thương cho tốt, con về trước.”

So với việc ở bên cạnh chăm sóc mẫu thân, giờ đây hắn nên bình tĩnh để đánh giá tình hình.

Không nên tiếp tục đối nghịch với phụ thân.

Đợi phụ thân nguôi giận, hắn sẽ tìm cơ hội nói chuyện rõ ràng.

Dù đại tỷ có gây náo loạn đến đâu, người nắm quyền thực sự trong nhà vẫn là phụ thân.

Vợ chồng Lục Trì rời đi.

Lục Tuấn thất thần, cũng bị Tang thị khuyên mà rời khỏi.

Toàn bộ người hầu trong Hàm viện đều bị thay bằng người của Tang thị.

Đợi Định Tây hầu và Liễu nương tử cũng rời đi, Tằng thị nhìn người con dâu lớn trấn tĩnh, chỉ huy mọi việc, căm tức lườm nàng:
“Xem ra cuối cùng ngươi cũng tìm được một con dao sắc bén rồi.”

“Ngài nói đại cô nương?” Tang thị khẽ cười, “Nếu ngài coi chuyện này là con dao, vậy còn ngài thì sao?

Ngài dâng biết bao bạc cho Tằng Thái bảo, chẳng phải ngài cũng là một con dao sắc đấy ư?

Ta và đại cô nương không có xung đột lợi ích, sẽ không có chuyện ‘chim hết cung bỏ’.

Chừng nào ta còn quản lý hầu phủ, ta sẽ cho cô ấy và A Vi sự thuận tiện và ủng hộ lớn nhất.

Còn ngài thì sao?

Đến nước này rồi, ngài có chắc mình – con dao rỉ sét này – đáng để Tằng Thái bảo dốc toàn lực bảo vệ không?”

Gương mặt Tằng thị tái nhợt vì mất máu giờ lại xanh mét vì tức giận.

“Xem ra ta nói trúng tim đen của ngài rồi.” Nụ cười trên mặt Tang thị biến mất, ánh mắt lạnh lùng nhìn chằm chằm Tằng thị:
“Ngài nên cảm ơn ta vì ta không thực sự coi đại cô nương là một con dao.

Nếu ta có ý lợi dụng nàng ấy, liệu cháu nội của ngài có thể bình an lớn lên không cũng chưa chắc đâu.”

Nói là thế, nhưng khi bước ra khỏi Hàm viện, đón gió bắc lạnh lẽo, Tang thị khẽ thở dài một hơi.

Xuất thân và giáo dưỡng của nàng không cho phép, cũng không cho nàng đủ nhẫn tâm để làm hại trẻ nhỏ.

Nàng không giống Tằng thị, một kẻ lòng dạ độc ác, vô nhân tính.

Tang thị liếc nhìn về phía Xuân Huy viên.

Đại cô nương cũng không phải sinh ra đã điên cuồng như vậy, tất cả đều do bị dồn ép mà thành.

Nghĩ đến đây, trong lòng Tang thị nhói lên một cơn đau âm ỉ.

Xuân Huy viên

Văn ma ma đã chuẩn bị sẵn nước ấm.

A Vi để tay Lục Niệm ngâm vào nước, sau đó vắt khăn lau mặt cho nàng.

Khi Định Tây hầu đến, Lục Niệm vừa dọn dẹp xong.

Hai cha con nhìn nhau im lặng không nói gì.

A Vi phá vỡ bầu không khí nặng nề:
“Ngài đã biết chuyện Tằng thị giết người từ trước chưa?”

Định Tây hầu thở dài một hơi, câu hỏi này dễ trả lời nhất.

Ông nhìn Lục Niệm, nghiêm túc và chân thành nói:
“Chưa từng biết.

A Niệm, điều này ta có thể đảm bảo với con, trước hôm nay, ta luôn tin rằng mẫu thân con mất vì bệnh.”

Lục Niệm không bình luận gì về lời giải thích ấy.

A Vi nắm chặt tay Lục Niệm, để ngăn nàng lại vô thức cào móng tay vào da mình, miệng hỏi tiếp:
“Ngoại tổ mẫu chết vì trúng độc mãng thảo, cái chết của bà tuyệt đối không giống như chỉ ngủ quên.

Dù bà khi đó có vẻ như bệnh nặng đã lâu, nhưng cũng không thể không nhận ra sự bất thường.

Vậy tại sao ngài cứ khăng khăng nói là bệnh chết?”

Định Tây hầu ấp úng, như thể muốn nói nhưng lại thôi.

Lục Niệm thấy vậy liền giơ chân đá mạnh vào ghế của ông, sức lực lớn đến mức ngay cả khi ông đang ngồi cũng bị lệch hẳn đi.

“A Niệm!” Định Tây hầu vội vàng gọi.

Lục Niệm lạnh lùng liếc ông.

Ánh mắt ấy khiến Định Tây hầu cảm thấy sợ hãi.

Ông hiểu rằng có những chuyện không thể giấu mãi được, đành nhìn quanh hai bên.

“Ngài yên tâm,” A Vi nói, “trong phòng chỉ có Văn ma ma, ngoài ra không còn ai khác có thể nghe thấy.”

Định Tây hầu xoa tay, như đang do dự không biết nên bắt đầu từ đâu.

Một lúc lâu sau, ông mới nói khẽ:
“Bệnh động kinh…

Chúng ta vẫn luôn cho rằng mẫu thân con mắc bệnh động kinh.”

Đã mở lời rồi, những câu sau cũng không còn quá khó để thốt ra.

“Khi bà ấy bệnh, đôi khi sẽ bị ảo giác, nghe thấy những âm thanh kỳ quái.

Nhưng ta kiểm tra khắp nơi cũng không tìm ra điều gì bất thường.”

“Có vài lần nửa đêm, bà ấy đột nhiên hoảng sợ vô cớ, tay chân co giật khi đang ngủ.”

“Bà ấy tự cho rằng không sao, đại phu cũng không phát hiện điều gì nghiêm trọng, nhưng ta vẫn tìm đến nhà họ Bạch để hỏi.”

“Khi đó ngoại tổ mẫu của con vẫn còn sống, bà ấy cũng hoảng sợ.

Bà nói tổ tiên nhà họ Bạch từng có người mắc bệnh động kinh, mà không chỉ một, tận ba người.”

“Chúng ta đều không dám nói thật với mẫu thân con, sợ bà ấy biết sẽ càng thêm đau khổ.

Nhưng cuối cùng…”

“Khi bà ấy chết, cũng là do co giật, hôn mê, miệng cắn chặt.

Dù đã cố hết sức cứu chữa nhưng… nhưng vẫn không qua khỏi.”

“Không ai nghĩ đó là do trúng độc, tất cả đều cho rằng đó là bệnh di truyền từ nhà họ Bạch.

Người đã mất, nói là chết vì bệnh cũng không sai.

Bệnh động kinh có thể di truyền, nếu tin này lan ra sẽ ảnh hưởng không tốt tới con, tới A Tuấn, và cả bên nhà họ Bạch.”

Xét từ biểu hiện bên ngoài, trúng độc mãng thảo quả thật dễ nhầm lẫn với bệnh động kinh, nhất là khi nhà họ Bạch thực sự có tiền sử mắc bệnh này.

Tâm lý “đã tin từ trước” khiến họ cho rằng Bạch thị cũng mắc bệnh, nghe thì có vẻ hợp lý.

Nhưng hợp lý không đồng nghĩa với không oán hận.

Đôi mắt Lục Niệm đỏ bừng, nghẹn ngào nói:
“Mẫu thân ta không hề mắc bệnh!

Nếu không phải các người tự suy đoán lung tung, sao có thể qua loa bỏ qua như thế…

Danh tiếng?

Khi các người lo giữ danh tiếng, có từng nghĩ đến một ngày nào đó, nếu ta thật sự mắc bệnh thì sao?!”

“Đừng nói bậy!” Định Tây hầu gần như bật dậy, ngực phập phồng dữ dội, “Con chỉ là chứng cuồng loạn thôi, nhiều đại phu đều nói chỉ cần dưỡng bệnh là sẽ khỏi!

Chứng đó khác xa bệnh động kinh!”

“Ha…” Lục Niệm bật cười, nước mắt trào ra nơi khóe mắt, giọng nói sắc lạnh như dao:
“Thảo nào ngài sợ đến thế!

Để mặc ta đập phá đồ đạc, chém cột nhà, thì ra là sợ ta phát bệnh.

Lần trước khi ta phát tác, không làm chủ được bản thân, cắn vào tay A Vi, ngài sợ chết khiếp chứ gì?

Nghe đại phu nói ta chỉ bị chứng cuồng loạn, chắc ngài thở phào nhẹ nhõm lắm nhỉ?

Nhưng bệnh động kinh thì không nói trước được đâu.

Đầu óc ta vốn đã có vấn đề, nếu bệnh tình trở nặng, thành bệnh động kinh lúc nào không biết, đúng không?”

Định Tây hầu cuống lên, bật thốt:
“Đúng cái rắm ấy!”

Mắng xong, ông không ngồi yên được nữa, chắp tay sau lưng đi qua đi lại trong phòng:
“Chuyện của mẫu thân con, giờ sự thật đã rõ ràng, đúng là ta và nhà ngoại con đã phán đoán sai.

Đến hôm nay ta mới biết hung thủ là Tằng thị.

A Niệm, con đã kiên trì suốt ba mươi năm, chịu nhiều khổ sở nơi Thục địa, giờ mây mù tan biến, con nên quý trọng thân thể mình hơn.

Chứng cuồng loạn có thể chữa, có thể khỏi được!

Chỉ cần dưỡng bệnh cho tốt là được!”

Ánh mắt Lục Niệm rực lửa, nhìn chằm chằm Định Tây hầu không chớp:
“Vậy, để ta có thể an tâm dưỡng bệnh, ngài định xử lý Tằng thị thế nào?”

Bước chân Định Tây hầu khựng lại, do dự nói:
“Con không nên đâm bà ta ba nhát dao đó.”

“Nếu ta không đâm,” Lục Niệm nhếch môi cười mỉa mai, “chẳng phải ngài lại tiếp tục dĩ hòa vi quý sao?

Giờ ta đâm rồi, ngài vẫn định tiếp tục làm kẻ nhu nhược à?”

Định Tây hầu mím chặt môi, hỏi:
“Vậy con nói xem, con muốn thế nào?”

Lục Niệm tựa vào gối lưng, liệt kê từng điều kiện một:

“Viết hưu thư, Định Tây hầu phủ không cần một hầu phu nhân giết người.

Bà ta chết rồi thì bài vị cũng không xứng đặt cạnh mẫu thân ta!”

“Khởi kiện lên nha môn, ta muốn để cả thiên hạ biết mẫu thân ta đã bị bà ta hạ độc giết hại thế nào!”

“Đàm phán bồi thường, ngài không để tâm chút bạc ấy, nhưng ta thì để tâm lắm!

Bắt nhà họ Tằng nôn hết tiền ra đây!”

Định Tây hầu im lặng, tâm trạng phức tạp.

Những yêu cầu này đều nằm trong dự liệu của ông, nhưng không phải chuyện dễ dàng thực hiện.

“A Niệm,” Định Tây hầu cố gắng giảng giải, “Bà ta dù độc ác đến đâu cũng là mẫu thân ruột của A Trì.

Nếu làm quá tuyệt tình, A Trì phải làm sao?

Huống chi nhà họ Tằng bên kia cũng—”

“Thế nào?

Bà ta giết người trước, Tằng Thái bảo còn mặt mũi sao?” Lục Niệm cắt ngang lời ông, “Ta biết rõ những điều ta yêu cầu, ngài chẳng làm nổi điều nào cả.

Ta hiểu nên ta mới đâm bà ta ba nhát dao.

Ba nhát đó là món nợ máu của mẫu thân ta, nhưng bà ta vẫn còn nợ rất nhiều!

Ta biết ngài đang tính toán điều gì.

Ngài có thể chửi Tằng thị là độc phụ, miễn sao khiến ta nguôi giận, thậm chí ngài có thể đứng đây mắng chửi bà ta thậm tệ.

Nhưng thì sao?

Ngài nghĩ ngài là thứ tốt đẹp lắm sao?”

Định Tây hầu: …

“Người vợ kết tóc bảy năm và người kế thất sống cùng ba mươi năm, trong mắt ngài có gì khác biệt không?” Lục Niệm chất vấn, “Ta thậm chí không hiểu nổi, mẫu thân ta, Tằng thị, và Liễu di nương, trong lòng ngài có phân biệt gì không?

Định Tây hầu giải thích:
“Ta đối với mẫu thân con…”

“Tình cảm thuở thanh mai trúc mã?

Từng có chân tình sâu đậm?” Lục Niệm vạch trần, “Vậy thì sao?

Cuối cùng vẫn không bằng hai chữ ‘danh tiếng’.

Điều ngài để tâm nhất chẳng qua là thanh danh của chính mình thôi.”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 89: Nhưng vì sao mẫu thân ta phải tha thứ cho ngài?


Gió tuyết bị ngăn cách bên ngoài cánh cửa.

Tấm rèm bông dày nặng buông xuống, ánh sáng chỉ le lói lọt qua hai bên cửa sổ đóng chặt, khiến trong phòng sáng tối phân minh.

Định Tây hầu ngồi trong vùng tối, ngũ quan ẩn dưới lớp bóng mờ sâu thẳm, chỉ có đôi mắt đen láy vẫn ánh lên tia sắc lạnh.

Sau một hồi im lặng, ông trầm giọng nói:
“Còn gì muốn nói, con cứ nói hết đi.

Với tính cách và bệnh tình của con, nói dở chừng sẽ càng khó chịu.”

Lục Niệm khẽ cười lạnh, rút tay ra.

A Vi nắm tay nàng chặt hơn một chút, Lục Niệm ban đầu không rút được, Lục Niệm bèn dịu dàng nói:
“Ta không sao.”

Bàn tay được buông ra.

Lục Niệm đứng dậy, đối diện với Định Tây hầu, vẻ dịu dàng vừa rồi tan biến không còn chút dấu vết, chỉ còn lại sự oán hận và trách móc sâu sắc.

“Điều ngài quan tâm chỉ là danh tiếng của mình, vì thế Tằng thị có thể nói xấu ta khắp nơi, ta trở thành đứa con gái riêng bướng bỉnh khó dạy.

Ta có thể chửi Tằng thị độc ác, bởi bà ta đúng là kẻ giết người.

Còn ngài—ngài trở thành người cha, người chồng bất đắc dĩ, bị kẹt ở giữa, chẳng biết phải làm sao.”

“Đừng nói với ta rằng bà ta chưa từng nói thẳng ra.

Ngồi nhìn lửa cháy bên kia sông, mượn dao giết người, xúi giục chia rẽ—ngài đọc binh thư nhiều đến thế, cần ta giảng giải thêm bà ta đã vận dụng những thủ đoạn đó thành thạo ra sao không?”

“Đừng nói ngài không nhìn thấu.

Triều đình hiểm ác, âm mưu trùng trùng, ngài dày dạn chốn quan trường mấy chục năm, chẳng lẽ không hiểu nổi sao?”

“Ngài hiểu chứ, ngài tinh tường mọi điều trong quan trường, đọc thấu từng ánh mắt của bệ hạ để đoán ý ngài ấy.

Còn Tằng thị?

Ngài bị bà ta lừa xoay như chong chóng, bởi vì ngài căn bản chưa từng bận tâm suy xét!”

“Không suy nghĩ, không để tâm, không quan tâm, ngài hiểu nổi gì chứ?

Đơn giản vì mấy chuyện tranh đấu giữa nữ nhân chẳng đáng để ngài phải lo lắng.”

“So với tiền đồ và danh vọng của ngài, so với ân sủng hoàng gia dành cho Định Tây hầu phủ, thì vợ con chẳng là gì cả.”

Cổ họng Định Tây hầu nghẹn đắng, nhưng ông vẫn giữ lời mình nói, để Lục Niệm trút hết nỗi lòng mà không phản bác hay cắt ngang.

“Ta hận Tằng thị, hận không thể xé xác bà ta, róc xương lột da.

Ta nhẫn nhịn không giết bà ta, cũng chẳng yêu cầu ngài phải ra tay, chỉ đơn giản là—chỉ yêu cầu ngài viết hưu thư và tố cáo bà ta lên quan phủ thôi.”

“Ngài không đồng ý, không phải vì thương xót tình nghĩa vợ chồng hay công lao sinh dưỡng, mà chỉ vì ngài không dám cắt đứt mọi ràng buộc, không đủ dứt khoát!”

“Ta biết ngài sợ gì—sợ trở thành trò cười, sợ mất thể diện, sợ Tằng Thái bảo sẽ ép ngài vào đường cùng!”

“So với quyền thế và ân sủng của Tằng Thái bảo, Định Tây hầu phủ của chúng ta đúng là chẳng đáng gì.

Tằng Thái bảo còn có An Quốc công làm thông gia, còn ngài thì sao?

Ai bảo mẫu thân ta xuất thân từ dòng nho sĩ thanh liêm, chỉ có tiếng mà chẳng có quyền?”

“Vì vậy ngài lúc nào cũng tính toán trước sau, chẳng thấy được chút khí phách nào, chỉ toàn là sự toan tính!”

Nếu lúc đầu Lục Niệm còn cố kìm nén cảm xúc, thì càng nói, ngọn lửa trong lòng nàng càng bùng cháy dữ dội.

Nàng bước đi qua lại, từng bước đầy bất an, cuối cùng dừng lại bên cạnh chiếc bàn, tay phải bám chặt vào mép bàn, các khớp ngón tay nổi rõ gân xanh.

“Việc tốt thì là của ngài, việc xấu thì để ta gánh.”

“Không sao cả!

Ta có thể làm con dao, báo thù rửa hận cho mẫu thân.

Đừng nói là làm dao, dù có thành heo, thành chó, hóa quỷ hay hóa ma, ta cũng cam lòng!”

“Ta không quan tâm ngài nghĩ gì, ngài cũng có thể chỉ biết hưởng lợi mà không chịu làm gì, nhưng đừng giả bộ đạo mạo với ta, chẳng cần thiết đâu!”

“Ngài làm gì được ta?

Ngài là kẻ chỉ biết giữ lấy danh tiếng.

Dù ta có lật tung nóc nhà Định Tây hầu phủ này lên, ngài cũng chẳng dám đuổi ta và A Vi ra ngoài.”

“Ta khuyên ngài, cứ an phận mà nhận lấy lợi ích này, cười mơ giữa đêm cũng được, đừng bày ra cái bộ mặt nghiêm nghị với ta, vô nghĩa lắm, cực kỳ vô nghĩa!”

“Ngài không thấy mệt, nhưng ta thì thấy phiền!”

“Ta còn phải giữ sức để đối phó với nhà họ Tằng.

Ta đâm Tằng thị ba nhát dao, giữa ta và nhà họ Tằng đã kết thâm thù.”

“Ngài kiêng dè Tằng Thái bảo, không dám động đến Tằng thị, nhưng yên tâm đi, ta không sợ.

Ta sẽ tiêu diệt cả nhà họ Tằng.

Hôm nay ta tha mạng cho Tằng thị, nhưng sau này ta nhất định sẽ tính sổ cho đủ!”

“Ngài tự tính toán đi, xem là đứng về phía ta để lật đổ Tằng Thái bảo có lợi cho ngài, hay là cúi đầu quỳ gối trước nhà họ Tằng, bán rẻ ta để cầu xin sự tha thứ của Tằng Thái bảo có lợi hơn!”

Lục Niệm nói đến nỗi thở hổn hển.

A Vi đã rót sẵn chén trà, đưa đến tay nàng:
“Người uống chút nước cho đỡ khô họng rồi mắng tiếp.”

Lục Niệm uống cạn.

Trà táo đỏ và kỷ tử, vị ngọt nhẹ, ấm áp vừa đủ, trôi xuống cổ họng khiến cả người Lục Niệm dễ chịu hơn hẳn, cảm xúc cũng dần dịu lại.

“Ta không phải đang mắng,” Lục Niệm hít sâu một hơi, từ từ thở ra, bình tĩnh nói, “Ta đang nói lý lẽ.”

“Đúng vậy, mẫu thân luôn thích dùng đức phục người,” A Vi cười khẽ, mượn lời Lục Niệm từng nói trước đây, rồi quay đầu nhìn Định Tây hầu, dịu dàng hỏi:
“Ngài thấy có đúng không?”

Gió tuyết vẫn bị ngăn cách bên ngoài cánh cửa.

Định Tây hầu đưa tay lau mặt, trong lòng ngổn ngang trăm mối.

Ông tự nhận mình vừa bị A Niệm quát mắng một trận thê thảm, từng câu từng chữ như dao sắc cắt vào lòng.

Làm cha với con gái, dù có tức giận thế nào cũng chẳng thể giáng sấm sét lên đầu con được.

Nhưng nhìn nụ cười của A Vi, nhìn cảm xúc của A Niệm đang chao đảo giữa bi thương và phẫn nộ, Định Tây hầu chẳng thể thốt ra một lời nặng nề nào.

Thậm chí ông còn không dám nói.

Bất kể A Niệm chỉ trích ông ra sao, Định Tây hầu tận sâu trong lòng chỉ sợ nàng lại phát bệnh cuồng loạn.

Vì thế, ông cố gắng nhếch môi, nặn ra một nụ cười mà ông cho là hòa nhã và thân thiện:
“Đúng, A Niệm đang nói lý lẽ, ta đang lắng nghe đây, đúng là như vậy.”

Lục Niệm bật cười khinh miệt, ánh mắt đầy vẻ coi thường.

Nàng giơ tay rút hết trâm cài trên đầu, chỉ vài động tác đơn giản đã tháo gỡ toàn bộ, mái tóc dài lập tức xõa xuống, phủ kín bờ vai gầy guộc.

Nàng dùng ngón tay day mạnh vùng thái dương và sau tai.

Dù trước đó đã lau qua mặt nhưng vết máu dính trên tóc vẫn chưa được rửa sạch.

Lục Niệm khẽ kéo mấy lọn tóc, chau mày nhận xét:
“Hôi thối không chịu nổi!”

A Vi vén mái tóc nàng lên, nhẹ nhàng v**t v*:
“Để con bảo Văn ma ma chuẩn bị nước, mẫu thân tắm gội cho sạch sẽ.”

Lục Niệm gật đầu, xoay người bước vào nội thất.

Định Tây hầu lặng lẽ nhìn theo bóng dáng hai mẹ con họ, và cũng chính vào khoảnh khắc này, ông mới bàng hoàng nhận ra trên đầu Lục Niệm có rất nhiều sợi tóc bạc.

Những sợi bạc ấy không nằm bên ngoài, thường ngày khi búi tóc lên chỉ thấy màu đen bóng mượt.

Chỉ khi tóc được vén lên, để lộ lớp bên trong mới thấy rõ từng sợi bạc trắng.

Ông, Định Tây hầu, sống đến chừng này tuổi mà tóc vẫn chưa bạc mấy sợi, còn con gái ông thì…

Định Tây hầu không kìm được, hít sâu một hơi.

Những phiền não, bực dọc vì bị Lục Niệm mắng mỏ bỗng chốc tan biến, thay vào đó là sự bối rối và trống rỗng.

Ông cảm thấy hổ thẹn với A Niệm.

Dù có bị chửi mắng nặng nề thế nào cũng là đáng đời.

Tóc bạc, bệnh cuồng loạn, tính cách cố chấp đến mức gần như điên dại—tất cả những điều này như những lưỡi dao sắc bén cứa vào lòng ông, không ngừng nhắc nhở rằng A Niệm đã phải chịu đựng bao nhiêu đau khổ.

Mà kẻ gây ra tất cả, không chỉ là Tằng thị, mà còn là ông—người cha ruột của nàng.

Định Tây hầu há miệng mấy lần, lời nghẹn nơi cổ họng, cuối cùng mới lấy lại được tiếng nói của mình:
“A Vi, mẫu thân con…”

A Vi không đi theo Lục Niệm vào trong.

Nàng rót thêm một chén trà kỷ tử, đẩy nhẹ về phía Định Tây hầu, nhưng khi ông vừa đưa tay định cầm thì nàng đặt mạnh đầu ngón tay lên nắp chén, chặn lại.

“Ngài định xử lý Tằng thị thế nào?” nàng hỏi thẳng.

Định Tây hầu thoáng sững sờ.

A Niệm vừa mắng xong, giờ đến lượt A Vi?

Nhưng nghĩ kỹ lại cũng chẳng có gì lạ, từ trước đến nay, hai mẹ con họ luôn đồng lòng như một.

A Vi dù dịu dàng hơn A Niệm nhưng khi nổi giận cũng chẳng nể nang ai.

Nói cho cùng, hai mẹ con không bùng nổ ngay tại Hàm viện mà đợi đến khi về Xuân Huy viên mới “nói lý lẽ” với ông, vậy cũng đã nể mặt ông lắm rồi.

“Con muốn nói gì thì nói đi,” Định Tây hầu thở dài.

“Được thôi,” A Vi đồng ý ngay, không chút do dự, “Giết—ngài không giết.

Hưu—ngài cũng không chịu hưu.

Vậy ngài định để Tằng thị tiếp tục ở trong phủ, suốt ngày gây sóng gió à?

Sáng mẫu thân ta đến đập phá chút đồ, chiều thì cữu cữu tới giận dữ cắn tay áo, tối đến để Lục Chí cùng mấy đứa em xếp hàng đứng khóc xem ai to hơn chắc?

Nếu ngài thích thế, con khuyên ngài khỏi cần tới nha môn làm gì nữa, ở lại phủ trực tiếp làm trọng tài cho rồi.

Đỡ phải hôm nào ngài đang bận họp với đồng liêu, lại có người quản gia chạy tới nha môn tìm ngài, báo rằng trong phủ sắp có án mạng vì rút đao chém nhau rồi!”

Định Tây hầu nghe mà đầu ong ong, như có tiếng ve kêu inh ỏi trong tai.

Không thể phủ nhận, cách châm chọc của A Vi khác hoàn toàn với kiểu lý lẽ sắc bén của A Niệm, nhưng kết quả thì đều khiến người ta đau đầu không kém.

Đầu óc choáng váng, không kịp suy nghĩ kỹ, Định Tây hầu buột miệng:
“Làm gì đến mức rút đao chém nhau?”

“Thế nào?

Con chưa từng rút đao, hay ba nhát dao sáng nay của mẫu thân con chưa đủ hiểm ác?” A Vi hừ lạnh phản bác, khóe môi nhếch lên đầy châm biếm.

“Thưa ngoại tổ phụ, để con nói thẳng, không phải vì ngài giữ bình tĩnh lắng nghe mà chuyện chúng ta đòi hỏi trở thành vô lý.

Ngài đừng nghĩ rằng vì chúng ta hét lên đòi chém giết mà đó là hành vi quá khích.

Thực ra, tất cả những gì mẫu thân ta nói, ta nói, đều là sự thật không thể chối cãi!”

A Vi lạnh nhạt nói:
“Để Tằng thị tiếp tục sống trong phủ, bên trái là đại cữu cữu, bên phải là nhị cữu cữu, ngài cứ chờ xem kịch vui đi.

Ngài đường đường là Định Tây hầu, thích kết cục bị cô lập, bị người thân ruồng bỏ sao?
Chuyện nên dứt mà không dứt, ắt sẽ rước họa vào thân!”

Định Tây hầu hít sâu một hơi lạnh:
“Để bà ta ra trang viên dưỡng thương, mẫu thân con sẽ thấy dễ chịu hơn chứ?”

A Vi cong môi cười, nhìn có vẻ tươi tắn nhưng không hề mang theo chút vui vẻ nào.

Nàng sải bước tới bên cửa, vén tấm rèm bông dày nặng lên.

Gió lạnh lùa vào, cuốn theo hơi thở của mùa đông buốt giá, bông tuyết bay lả tả dưới ánh sáng.

“Thế nào gọi là thoải mái?” A Vi cất cao giọng, tiếng nói hòa cùng tiếng gió lạnh lẽo vang vọng bên tai Định Tây hầu, từng chữ rõ ràng như dao khắc vào lòng.

“Phải mở rộng cả cánh cửa thế này mới gọi là thoải mái, chứ không phải chỉ hé một khe cửa nhỏ rồi hỏi người ta sao lại không hài lòng!”

Trong làn gió lạnh buốt, Định Tây hầu khẽ rùng mình.

A Vi đứng thẳng người giữa gió tuyết, thái độ rõ ràng—mời khách rời đi.

Định Tây hầu đứng dậy.

Ông không muốn để A Vi đứng trong gió lạnh lâu, sợ nàng bị cảm lạnh.

“Ta sẽ để Tằng thị ra trang viên trước,” Định Tây hầu thở dài, “Chuyện khác chưa tiện nói, kẻo thất hứa.”

A Vi ngước mắt lên:
“Ngài muốn hàn gắn tình cảm cha con sao?”

Định Tây hầu cười khổ:
“Chẳng lẽ lại muốn làm kẻ thù của con gái mình?”

“Nhưng vì sao mẫu thân con phải tha thứ cho ngài?” A Vi chất vấn, ánh mắt lạnh lùng như băng tuyết ngoài kia.

“Đúng là huyết thống không thể cắt đứt tình cha con, nhưng chỉ dựa vào chút huyết mạch ấy, làm sao có thể xây dựng được tình cảm phụ tử sâu đậm?!”

Định Tây hầu nghẹn lời, không thể phản bác nổi.

Ông ngây người nhìn A Vi một lúc, mãi đến khi cơn gió lạnh táp vào mặt mới bừng tỉnh, quay người rời đi.

Chỉ nhìn bóng lưng ông, trông chẳng khác gì kẻ chạy trốn trong bối rối.

A Vi buông tay, để tấm rèm bông nặng trĩu rủ xuống, chặn gió lạnh ngoài kia.

Quay người lại, nàng lặng lẽ nhìn vào chiếc bàn thờ nhỏ, nơi đặt chiếc hũ sứ bé xíu, làn khói nhang mỏng manh bay lên, mờ ảo như cảm xúc trong lòng.

Có những sự tha thứ, cả đời này cũng không cầu xin được.

Nỗi nhớ nhung và áy náy của Lục Niệm dành cho Dư Như Vi, biết bao cảm xúc chồng chất, nhưng giữa âm dương cách biệt, vĩnh viễn chẳng thể có hồi đáp.

Sau vài hơi thở sâu, A Vi điều chỉnh lại tâm trạng rồi đi vào phòng tìm Lục Niệm.

Văn ma ma nhanh chóng mang nước nóng tới, bảo Lục Niệm nằm trên giường để gội đầu.

A Vi kéo một chiếc ghế con ngồi bên cạnh, giúp một tay.

Lục Niệm mở mắt nhìn lên trần nhà, ánh mắt mơ màng như đang lạc vào ký ức xa xăm nào đó.

A Vi bèn khẽ giọng trò chuyện với nàng, giọng nói dịu dàng như một làn gió nhẹ thổi qua mặt hồ tĩnh lặng:

“Ngoại tổ phụ chắc chắn sẽ đưa Tằng thị ra trang viên.

Chỉ còn chưa đầy một tháng nữa là đến Tết, bà ta không về kịp đâu, mà chỉ cần bà ta vắng mặt, các phủ trong kinh thành sẽ đoán được bà ta gặp chuyện không hay.”

“Tin tức lan rộng, nhà họ Tằng cũng mất mặt theo.

Tất nhiên, con không định để họ chỉ mất mặt là xong.”

“Tằng thị và Tằng Thái bảo nhất định sẽ xảy ra mâu thuẫn.

Chúng ta chỉ cần đứng ngoài thêm dầu vào lửa, chắc chắn sẽ nhổ được cả gốc rễ của họ.”

“Mẫu thân đừng nóng vội, người cần nôn nóng lúc này không phải là chúng ta.”

“Con thấy người đánh giá cục diện rất chuẩn.

Ngoại tổ phụ đối với mẫu thân đúng là không dám mạnh tay, cũng không thể mềm mỏng được, lại còn hai cữu cữu mỗi người một ý—cứ để ông ấy tự xoay sở trong mớ bòng bong ấy đi.”

“Nếu những ‘giải pháp hòa bình’ của ông ấy không vừa ý mẫu thân, chúng ta dọn ra tiệm của Ông nương tử ở vài ngày cũng được.

Đừng xem thường, phía sau tiệm đó được dọn dẹp gọn gàng lắm, ở tạm rất thú vị.”

“Lúc ấy, Tằng thị thì ra ngoài thành dưỡng bệnh, còn chúng ta thì ra ngoài phủ thư giãn.

Người ngoài nhìn vào, xem ông ấy chịu đựng được ánh mắt thiên hạ thế nào.”

Dần dần, ánh mắt Lục Niệm lấy lại thần sắc.

Nàng ngẫm nghĩ rồi nói:
“Đúng thế!

Để ông ấy khó chịu đi!

Đáng đời!”

A Vi khẽ cười.

Định Tây hầu có yêu thương con gái không?
Tất nhiên là có.

Nhưng ông ta yêu bản thân và danh tiếng của mình hơn, lúc nào cũng muốn tìm một giải pháp vẹn toàn, không tổn hại gân cốt, không đụng chạm đến lợi ích.

Nhưng đời nào lại có chuyện tốt đẹp như thế?

A Vi và Lục Niệm sinh ra là để lật bàn, phá bỏ mọi lớp vỏ bọc giả tạo, khiến mọi chuyện bày ra tr*n tr**, không còn chỗ để che giấu.

Rửa sạch vết máu bám trong từng sợi tóc, Lục Niệm ngồi trước bàn trang điểm, để A Vi nhẹ nhàng lau khô mái tóc dài.

Qua tấm gương, Lục Niệm thấy vẻ mặt chăm chú của A Vi, trong lòng dần bình lặng trở lại.

“Ta thực sự muốn giết bà ta,” Lục Niệm khẽ nói, ánh mắt sâu thẳm như vực tối, “Nhưng… ta vẫn chưa chuẩn bị xong.”

Nàng mím môi, siết chặt bàn tay, trong lòng dấy lên ngọn lửa báo thù chưa từng nguôi.

Nàng biết rõ bệnh tình của mình.

Nàng không sợ giết người, đôi tay này sớm đã nhuốm đầy máu kẻ thù, nhưng nàng phải trân trọng mạng sống của chính mình.

Bởi vì nàng muốn sống.

Nàng không thể buông bỏ A Vi.

Nàng có thể giết Tằng thị ngay lập tức, nhưng A Vi vẫn chưa báo được thù cho nhà họ Kim.

Nếu nàng ngã xuống, chỉ còn A Vi và Văn ma ma, họ sẽ xoay sở ra sao?

Nàng từng trải qua năm mười lăm tuổi đầy cô lập và tuyệt vọng, biết rõ gió có thể dữ dội nhường nào, tuyết có thể tàn nhẫn ra sao.

Vì thế, nàng muốn nắm chắc chiếc ô trong tay, vững vàng mà che chắn cho A Vi, đỡ lấy mọi phong ba bão táp.

Đó là lý do nàng tạm thời tha cho Tằng thị một mạng.

Nàng cần chắc chắn rằng bản thân có thể bước ra khỏi vực thẳm này, có thể sống tiếp sau khi đã trả xong món nợ máu.

Đến lúc đó, nàng sẽ không do dự mà đâm thẳng lưỡi dao vào tim Tằng thị.

A Vi cúi người, vòng tay ôm lấy cổ Lục Niệm từ phía sau.

Đầu tựa vào đầu, giọng nói nàng vang lên khe khẽ, mang theo nụ cười ấm áp:
“Vậy mẫu thân đã sẵn sàng ăn bữa tiệc mừng công đầu tiên chưa?”

Đôi vai Lục Niệm thả lỏng, nàng khẽ gật đầu:
“Cái gì cũng được, chỉ cần có một đĩa kẹo đường cháy cắt lát.”

Thời gian trôi chậm rãi, những ký ức tuổi thơ chỉ còn là những mảnh vụn lấp lánh.

Mẫu thân từng nói với nàng rằng, kẹo mạch nha thì tháng nào cũng có, nhưng vào tháng Chạp nhất định phải ăn vài miếng kẹo đường cháy cắt lát.

Một năm trôi qua, một mảnh ký ức, một miếng kẹo ngọt.

A Tuấn khi đó còn quá nhỏ, chỉ có thể cầm miếng kẹo cho cậu bé li.ếm một chút, nhìn cậu nhe răng cười ngốc nghếch.

Còn nàng, ôm lấy miếng kẹo mỏng dính, m.út đến mức đầu ngón tay dính đầy đường ngọt ngào.

Họ sẽ cười vang, trêu đùa nàng là “cô bé mặt bẩn”.

Họ, chính là người mẹ mà Lục Niệm yêu thương nhất, và người cha mà nàng từng rất, rất thích…
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 90: Thử mắng mẫu thân và biểu tỷ của ta lần nữa xem!


Tang thị trở về phòng, nét mặt trầm tư.

Lục Tuấn ngồi bệt trên ghế, dáng vẻ chán nản cùng cực.

Tang thị không nói gì, chỉ lặng lẽ chuẩn bị nước ấm để rửa tay, bởi lúc nãy ở chỗ Tằng thị, tay nàng cũng dính chút máu.

Chính Lục Tuấn là người đầu tiên lấy lại tinh thần, chậm rãi hỏi:
“Phu nhân, mẫu thân sẽ thế nào?”

Đầu ngón tay của Tang thị chà nhẹ lên đáy chậu nước, giọng bình thản:
“Thế tử vẫn gọi bà ta là ‘mẫu thân’ sao?”

Lục Tuấn cười khổ:
“Đã gọi suốt ba mươi năm.”

Thói quen trở thành bản năng, tiếng gọi “mẫu thân” này không cần suy nghĩ cũng bật ra một cách tự nhiên.

Tang thị lau khô tay.

Mặc dù đại cô nương từng nói: “Không trông cậy gì vào kẻ ngốc không phân biệt nổi đúng sai,” và bản thân Tang thị cũng không muốn dính dáng vào chuyện rối rắm giữa mẹ kế – con chồng hay huynh đệ tỷ muội ruột thịt.

Nhưng nhớ lại hình ảnh đại cô nương toàn thân đẫm máu, nàng vẫn không kìm được mà nói thêm vài câu.

“Ta biết đây chỉ là thói quen của chàng.

Đột ngột xảy ra biến cố, tâm trí rối bời, nhất thời chưa thể nghĩ thông,” Tang thị kiên nhẫn khuyên nhủ, “Nhưng hầu phu nhân đã hạ độc g**t ch*t mẫu thân ruột của chàng.

Nếu thế tử còn nhận bà ta làm mẹ, chẳng phải quá bất công với người đã sinh ra mình sao?

Một bên là công ơn sinh thành, một bên là nghĩa dưỡng dục.

Chàng thấy khó xử cũng đúng, nhưng ta nghĩ tốt nhất là nên nhớ kỹ cả ơn lẫn hận.”

“Vì sao mọi chuyện lại trở nên phức tạp thế này…” Lục Tuấn thở dài, ánh mắt đầy mệt mỏi.

Tằng thị đáp:
“Không phải do chúng ta làm mọi chuyện phức tạp, mà là do hầu phu nhân.

Vì lòng tham và tư lợi của mình, bà ta đã giết người, ác giả thì ác báo.

Thế tử, chàng thấy ta nói có đúng không?”

Cơ thể Lục Tuấn cứng đờ.

Trong khoảnh khắc ấy, hắn chợt nhận ra rằng vợ mình đang “gợi ý” điều gì đó.

“Ta chỉ buột miệng cảm thán thôi, không có ý gì khác,” Lục Tuấn mím môi, rồi nghiêm túc bổ sung, “Ta không phải đang nói về đại tỷ đâu, thật đấy.”

Đúng lúc này, có ma ma vào báo: Định Tây hầu mời Tang thị tới hoa sảnh để bàn chuyện.

Tang thị biết chắc là về chuyện của hầu phu nhân, không chậm trễ, đứng dậy khoác thêm áo ấm.

Lục Tuấn cũng gọi người mang áo choàng đến.

Thấy hắn kiên quyết đi cùng, Tang thị không ngăn cản.

Có những lời ta không tiện nói với chàng, nhưng hầu gia thì có thể.

Chỉ không biết hầu gia có chịu nói không, hay là bản thân ông ấy cũng chưa thông suốt.

Phu thê bọn họ nhanh chóng đến hoa sảnh.

Định Tây hầu đã ngồi sẵn, nhìn vẻ mặt là biết tâm trạng đang cực kỳ tệ.

Ông đi thẳng vào vấn đề:
“Ta định để Tằng thị ra trang viên dưỡng thương, đi ngay hôm nay.

Con sắp xếp xe ngựa và người hầu, chọn lấy một trang viên thích hợp.”

“Chuyện này sao được!” Lục Tuấn lập tức sốt ruột, “Đúng là ta biết bà ấy là hung thủ, là tội nhân, nhưng giờ bà ấy đang bị thương nặng, chẳng lẽ không nên để bà ấy ở lại phủ dưỡng thương cho lành rồi hãy tính tiếp sao?”

Định Tây hầu vừa bị mắng té tát ở Xuân Huy viên, tâm trạng vẫn còn bực bội, lúc này lửa giận lại bùng lên.

Ông cắt ngang lời Lục Tuấn, nói thẳng không nể nang:
“Dưỡng thương?

Ngươi chắc bà ta ở lại phủ có thể dưỡng thương được à?

Ngươi tin không, A Niệm có thể cách vài ngày lại đến đâm thêm cho một nhát đấy!

Cản nàng?

Ngươi lấy gì để cản?

Lý lẽ?

Ngươi chẳng có lấy một chút lý lẽ nào để nói với nàng.

Tình cảm?

Ngươi còn mặt mũi nào để nói chuyện tình cảm với nàng?

Ngươi định ép A Niệm à?

Để rồi ép đến mức nàng phát bệnh luôn?

Ta xem đến lúc ấy, nàng không chừng sẽ đâm luôn cả ngươi vài nhát cho hả giận!”

Lục Tuấn cứng họng, nhưng vẫn cố vớt vát:
“Chẳng mấy chốc nữa là đến Tết rồi, lúc đó…”

“Ngươi tự hỏi lòng mình xem,” Định Tây hầu hít sâu một hơi, cố ép bản thân bình tĩnh lại, “Ngươi nghĩ có thể cùng ngồi ăn bữa cơm giao thừa à?

Ngươi nghĩ mọi người có thể quây quần bên nhau đón năm mới như chưa có chuyện gì xảy ra sao?

Ngươi có thể ngồi vào bàn mà không thấy khó chịu sao?”

Lục Tuấn á khẩu, không nói thêm được lời nào.

Định Tây hầu khẽ gõ ngón tay vào không khí trước mặt hắn:
“Ngươi xem, ngươi biết rõ câu trả lời mà.

Đại tỷ ngươi nói đúng, vấn đề của ngươi là không muốn đối mặt với sự thật, chỉ muốn trốn tránh thôi.”

Lục Tuấn cúi đầu im lặng.

Tang thị nhanh chóng cùng Định Tây hầu thống nhất xong chuyện đưa Tằng thị ra trang viên, rồi vội vàng sai người chuẩn bị.

Tin tức này nhanh chóng đến tai Lục Trì.

Định Tây hầu vừa về thư phòng ngồi uống được một ngụm trà thì Lục Trì đã đến xin gặp.

Xét về lợi ích, Lục Trì biết không nên cãi lời phụ thân khi ông đang nổi nóng, nhưng thân là con, hắn không thể chỉ tính toán thiệt hơn.

Định Tây hầu biết rõ ý định của hắn.

Không để Lục Trì kịp mở miệng cầu xin, ông hỏi thẳng:
“Trong mắt con, mẫu thân là người như thế nào?”

Lục Trì cúi đầu, vành mắt đỏ hoe.

Bao năm qua, những lời dạy bảo của mẫu thân vẫn vang vọng bên tai hắn:

“A Tuấn là huynh trưởng của con, các con phải hòa thuận, huynh kính đệ nhường.

A Tuấn dễ tính, con đừng lấy cớ mình nhỏ tuổi mà làm càn.”

“A Niệm có hiểu lầm với ta, nhưng đó là chuyện giữa ta và nàng.

Nàng là tỷ tỷ của con, con nên tôn kính, không được thì tránh xa, đừng gây chuyện.”

“Phải khiêm tốn, nghĩ kỹ trước khi nói, cân nhắc trước khi làm, đừng hấp tấp nóng nảy.”

“Con làm không tốt, người ta sẽ nói là ta và hầu gia không biết dạy con, cho nên con phải cố gắng.”



Lục Trì tự nhận mình đã làm được tất cả những điều ấy.

Lục Trì không thể ngờ được rằng, những lời dạy bảo của mẫu thân bao năm qua lại hoàn toàn trái ngược với con người thật của bà ấy.

Người mẹ mà hắn kính trọng suốt ba mươi năm, giờ đây bộc lộ một bộ mặt xa lạ đến mức hắn không thể nhận ra.

“Mẫu thân bà ấy…” Lục Trì ấp úng, lời nói nghẹn lại nơi cổ họng, không biết nên tiếp tục thế nào.

“Ngươi vẫn nghĩ ta không nên đưa bà ta ra trang viên sao?” Định Tây hầu hỏi thẳng.

Lục Trì chỉ còn cách gật đầu, đáp khẽ:
“Để con tiễn bà đi.

Trời đang tuyết lớn, bà ấy lại bị thương, con không yên tâm.”

“Không cần phải lo lắng,” Định Tây hầu từ chối dứt khoát, “Cũng chẳng phải bắt bà ta đi bộ, mọi thứ sẽ an toàn.

Đừng để phát sinh thêm chuyện gì ngoài ý muốn.”

Không thể đi cùng trên suốt chặng đường, nhưng ít ra Lục Trì vẫn có thể tận tay đưa mẫu thân lên xe ngựa.

Hắn cẩn thận kiểm tra trong khoang xe, chắc chắn rằng đã lót đầy chăn đệm dày để giảm xóc, tránh khiến bà ta đau đớn thêm, rồi mới quay sang cảm ơn Tang thị.

Tang thị lạnh nhạt nói:
“Không cần cảm ơn ta.

Ta không phải kẻ cay nghiệt đến mức làm khó trong chuyện này.

Chỉ mong hầu phu nhân biết điều, đừng khiến ta phải khó xử.”

Tằng thị bị khiêng ra xe ngựa.

Nhận thức rõ tình thế, bà ta biết mình không còn khả năng kiểm soát mọi chuyện nữa, nên cũng không phí sức vùng vẫy vô ích.

Những cơn giận dữ và đau đớn ban đầu đã nguôi ngoai, lý trí của bà ta dần trở lại.

So với việc nổi giận vô ích ở Định Tây hầu phủ, Tằng thị hiểu rằng giờ đây bà cần dồn tâm trí để toan tính cho nhà họ Tằng và Tằng Thái bảo.

Khi đã được đưa lên xe, bà ta không thèm để ý đến Tang thị đang đứng xa xa, mà nắm chặt tay Lục Trì—người đang nửa người cúi vào khoang xe.

“Đừng đối đầu trực diện với phụ thân con.

Ông ấy không thích dùng bạo lực, thậm chí còn tỏ ra rất biết lý lẽ, nhưng lòng dạ thì cứng rắn hơn con tưởng nhiều.”

“Đừng dây dưa với Lục Niệm.

Con bé đó là một kẻ điên, đối đầu với kẻ điên thì thế nào cũng thiệt thòi.”

“Phải biết dỗ dành thê tử con cho tốt, chăm sóc con cái cẩn thận.

Đến Tết nhớ về nhà họ Tằng chúc Tết.”

Lục Trì gật đầu:
“Con biết rồi, chỉ là…”

“Chỉ là cái gì?” Tằng thị lạnh giọng hỏi, ánh mắt sắc như dao, “Chẳng lẽ con không ngờ rằng ta từng giết người, hơn thế nữa là không chỉ một mạng?

Không nghĩ rằng suốt ba mươi năm qua, ta nắm chặt Định Tây hầu phủ trong tay, mang lại không ít lợi ích cho nhà họ Tằng?

Lục Tuấn thì ngu ngốc dễ lừa, còn con, tỉnh táo lên một chút!

Nếu ta không liều mạng ngày ấy, liệu con có cơ hội sinh ra làm công tử quý tộc trong phủ hầu gia không?”

Lục Trì sững sờ.

Mãi đến khi xe ngựa rời khỏi Định Tây hầu phủ, hắn vẫn chưa hoàn hồn.

Bánh xe lăn trên đường, để lại hai vệt bùn kéo dài ra tận ngoài hẻm Yến Tử.

Bất chợt, một chiếc xe ngựa từ hướng đối diện đi tới.

Hai phu xe chào nhau theo phép tắc.

Ngồi trong xe là Lục Chí, nghe tiếng động bên ngoài liền vén rèm hỏi:
“Trương bá, xe đó là của ai vậy?

Trời thế này còn đi đâu?”

Trương bá ngập ngừng đáp:
“Ra khỏi thành, đại công tử à.

Tiểu nhân đi trước một bước.”

Lục Chí thấy thái độ lảng tránh của Trương bá thật kỳ lạ.

Đợi về tới phủ, hắn lập tức hỏi thăm tình hình.

Và rồi hắn chết lặng khi nghe Lý ma ma kể lại sự thật tàn khốc về cái chết của tổ mẫu năm xưa.

Đại cô nương đã đâm tổ mẫu ba nhát, nhát nào cũng sâu tới tận xương.

Gia gia quyết định đưa tổ mẫu ra trang viên.

Cảm giác như bị một trận tuyết lớn đè nặng lên đầu, Lục Chí ngơ ngác không hiểu chuyện gì đang diễn ra.

Hắn ngồi thất thần trong thư phòng, ánh mắt dại đi.

Chợt, ánh mắt hắn dừng lại ở chiếc roi lông gà treo trên giá sách.

Lông màu đen nhánh, bóng mượt như thể còn lưu lại hơi ấm của năm tháng.

Đó là “kỷ niệm” mà biểu tỷ để lại cho hắn.

Không phải để làm kỷ vật, mà để nhắc nhở hắn phải khắc cốt ghi tâm.

Một cơn lạnh chạy dọc sống lưng, Lục Chí bật dậy như bị điện giật, cuống cuồng chạy về phía hậu viện.

Hắn lao thẳng vào Xuân Huy viên, miệng định gọi to thì bị Thanh Âm ra hiệu im lặng, kịp thời chặn lại.

Thanh Âm bước tới, hạ giọng nhắc nhở:
“Cô phu nhân đang nghỉ trưa, đại công tử đừng làm phiền người.”

Lục Chí vội hỏi:
“Biểu tỷ đâu?”

A Vi đang ở trong bếp nhỏ.

Vừa mới làm xong món kẹo đường cháy cắt lát, nàng đang dùng dao cắt thành từng miếng nhỏ.

Thấy Lục Chí chạy tới, mặt đỏ bừng vì lạnh, áo khoác lại không mặc, A Vi chỉ tay vào chiếc ghế đẩu cạnh bếp lửa:
“Ngồi xuống mà sưởi cho ấm đi.”

Lục Chí ngoan ngoãn ngồi xuống, khua khua mấy thanh củi nhỏ, lầm bầm:
“Ta nghe hết rồi.”

A Vi khẽ “ồ” một tiếng.

“Tổ mẫu… ta nói là tổ mẫu ruột họ Bạch,” Lục Chí lắp bắp, “Bà ấy là người thế nào?”

A Vi liếc nhìn hắn, nhàn nhạt đáp:
“Ta cũng chỉ nghe mẫu thân kể lại đôi chút, vì khi ấy người còn nhỏ.

Nhưng mà, ngươi đã từng gặp ngoại tổ mẫu của mình chưa?”

Lục Chí đang rối bời trong lòng, chẳng buồn bận tâm tới việc ai hỏi trước, ai đáp sau.

Nghe A Vi hỏi, hắn trả lời thành thật:
“Gặp rồi.

Mấy năm trước ta theo phụ mẫu về Hoài Nam thăm bà ngoại, ở lại chưa đến nửa tháng.

Sau đó ta vào thư viện học hành nên không về thăm lần nào nữa, xa quá mà.

Mấy năm nay chỉ qua lại bằng thư từ.

Thư nào nhắc tới ta, mẫu thân đều đưa cho ta xem.

Đến dịp lễ Tết cũng bắt ta viết mấy lời chúc gửi về.

Cách đây ba năm, cữu cữu vào kinh, mang theo không ít quà cáp, nói rằng bà ngoại rất nhớ tình hình của ta.”

Tiếng dao cắt kẹo xoèn xoẹt, giòn tan như phá vỡ bầu không khí nặng nề.

A Vi lặng lẽ nghe Lục Chí kể về những chuyện của nhà họ Tang, rồi đặt dao xuống, quay sang nhìn hắn.

“Trước khi trở lại kinh thành lần này, ta chưa từng được ai trong nhà mẹ đẻ về thăm.

Cũng chưa từng có cữu cữu nào từ kinh vào tìm ta.”

“Không chỉ vì khoảng cách xa.

Giờ thì chắc ngươi hiểu rồi, mẫu thân ta là lưu đày, còn mẫu thân ngươi là gả xa.”

“Ta chưa từng nhận được thư hỏi thăm nào từ ngoại tổ gia.”

“Lần duy nhất mẫu thân ta gửi thư về kinh cầu cứu, ngoại tổ phụ và cữu cữu chuẩn bị ba rương dược liệu, kèm năm ngàn lượng ngân phiếu.

Nhưng tất cả đều bị Tằng thị tìm cách chiếm đoạt.”

“Mẫu thân ta từng hy vọng rồi tuyệt vọng.

Nếu không phải vì lần này trở lại kinh, có lẽ người vẫn sẽ không biết rằng, ngoại tổ phụ chưa từng bỏ rơi mẫu tử ta.”

Bàn tay của Lục Chí khựng lại một chút, sau đó lại tiếp tục khều khều đống củi, động tác chậm rãi, lơ đãng.

Hắn không nói gì, trong lòng nghẹn lại, chẳng biết bắt đầu từ đâu.

A Vi tiếp tục lên tiếng:
“Ngươi hỏi ta ngoại tổ mẫu là người thế nào, ta chỉ có thể nói rằng—nếu bà biết ngươi chơi chọi gà, bà sẽ không dịu dàng khuyên bảo đâu, mà sẽ trực tiếp lôi ngươi ra đánh cho một trận ra trò.”

Lục Chí bĩu môi, lầm bầm:
“Ta đâu có chơi chọi gà nữa rồi.”

A Vi khẽ cười:
“Vậy thì bà sẽ vui vì ngươi biết sai mà sửa.”

Lục Chí cúi gằm đầu xuống.

Trước mắt hắn bất chợt xuất hiện một bàn tay trắng trẻo, trên tay là một miếng kẹo đường cháy cắt lát.

Hắn ngước lên nhìn theo miếng kẹo, ánh mắt chạm phải đôi mắt dịu dàng nhưng sáng quắc của A Vi.

“Ngươi biết vì sao hôm nay ta làm món này không?” A Vi vừa hỏi xong cũng tự trả lời luôn:
“Bởi vì ngoại tổ mẫu từng nói, tháng Chạp nhất định phải ăn kẹo đường cháy cắt lát—mỗi miếng kẹo là một mảnh ký ức ngọt ngào.”

Lục Chí lặng lẽ nhận lấy miếng kẹo.

Kẹo được cán rất mỏng, hắn cắn một góc nhỏ, mùi thơm của mè rang tỏa ra, vị ngọt đậm đà xen lẫn chút béo ngậy của sữa, tan chảy trong miệng.

Ký ức sao?
Ký ức sâu đậm nhất của hắn trong năm nay, không nghi ngờ gì, chính là cái đêm biểu tỷ cầm dao bắt hắn giết gà.

Khi đó hắn vừa sợ vừa tức, thậm chí còn hận biểu tỷ mà dì mang về—một kẻ điên không hơn không kém.

Người gì mà có thể làm ra loại chuyện như thế chứ!

Sau đó, mẫu thân dẫn hắn đi từng nhà xin lỗi, khiến hắn mất hết mặt mũi.

Nhưng vài tháng trôi qua, khi nhìn lại, hắn ít nhiều cũng hiểu ra điều gì đó.

Nếu người bị ép giết gà không phải là hắn, Lục Chí nghĩ chắc mình còn tấm tắc khen biểu tỷ “rất biết cách dạy dỗ người khác” nữa là đằng khác.

À…
Còn có bát canh gà hôm đó, dư vị vẫn còn mãi.

Ăn xong miếng kẹo, Lục Chí lên tiếng:
“Cho ta gói thêm một ít, mai ta mang đến thư viện ăn.”

A Vi đã làm rất nhiều, cẩn thận bọc đầy một túi giấy dầu cho hắn.

Ngày hôm sau.

Lục Chí trở lại thư viện.

Túi kẹo đường cháy cắt lát được hắn cất gọn trong tủ, món này để lâu cũng không sợ hỏng, thỉnh thoảng rảnh rỗi lấy ra nhâm nhi thì tuyệt.

Hắn nghĩ rất đơn giản, nhưng đến chiều khi quay lại phòng, túi giấy dầu đã bị mở tung, bên trong chỉ còn lại vài mẩu kẹo vụn.

Thấy hắn sa sầm mặt, mấy kẻ trong phòng cười cợt trêu chọc:

“Lục Chí, chẳng lẽ ngươi keo kiệt đến thế sao?”

“Chỉ là mấy miếng kẹo thôi mà, có phải món điểm tâm quý giá gì đâu. Ở nhà còn chẳng thèm bày lên bàn nữa là!”

“Ai bảo ngươi bô bô chuyện chọi gà làm gì, khiến bọn ta bị mắng, bị đánh, thậm chí còn bị cắt cả tiền tiêu vặt.

Ăn mấy miếng kẹo của ngươi thì làm sao?”

“Này, nhớ cái lần ngươi nâng niu mấy chiếc bánh khoai lang không?

Giờ lại coi kẹo như bảo bối à?

Chẳng lẽ đây cũng là do biểu tỷ ngươi làm ra à?”

“Ta thật sự thấy thương hại ngươi đấy.

Xui xẻo thế nào lại dính phải một bà cô mẫu điên và một biểu tỷ cũng điên nốt.

Về nhà chỉ toàn gặp chuyện rắc rối.”

“Đúng rồi đấy.

Nghe nói ngoại tổ mẫu ngươi còn bị đuổi ra trang viên rồi nhỉ?

Nhà ngươi hôm qua chắc loạn hết cả lên chứ gì?”

Lục Chí nghiến chặt răng.

Trong thư viện, ngoài những người chăm chỉ học hành, còn không ít đám con nhà quyền quý chỉ biết ăn chơi lêu lổng.

Trước đây hắn thuộc dạng thứ hai, dù nhỏ tuổi hơn một chút nhưng vẫn được coi là “có máu mặt” trong đám ấy.

Từ sau khi bị biểu tỷ dạy cho một bài học nhớ đời, hắn không hẳn trở thành người học giỏi xuất sắc, nhưng ít ra không còn tụ tập với bọn đó nữa.

Thế nên thỉnh thoảng lại bị chọc ghẹo, khiêu khích.

Thông thường, mấy lời nói xấu sau lưng kiểu này nếu đem mách thầy thì chẳng khác gì chuyện bé xé ra to.

Lục Chí không thích làm kẻ mách lẻo, hơn nữa phụ thân và gia gia cũng đã quyết định sau Tết sẽ chuyển hắn sang một thư viện khác.

Chỉ còn vài ngày nữa thôi, nhẫn nhịn một chút cũng chẳng sao.

Nhưng hôm nay… không thể nhịn nổi.

“Đồ điên lớn, đồ điên nhỏ.

Chúng ta giúp ngươi bớt chút nỗi khổ, kẻo ăn nhiều lại thành điên giống họ!”

Trong tiếng cười nhạo ầm ĩ, Lục Chí bất ngờ siết chặt nắm đấm, đấm thẳng vào bụng kẻ vừa buông lời sỉ nhục.

Cú đấm nặng như trời giáng, khiến đối phương đau đến gập cả người lại, miệng rít lên từng hơi lạnh.

Gương mặt lạnh lùng, ánh mắt hung dữ, Lục Chí gầm lên:
“Thử mắng cô mẫu và biểu tỷ của ta thêm lần nữa xem!”

Hôm qua vừa tiễn Tằng thị ra khỏi phủ, hôm nay Tang thị vẫn chưa kịp ổn định lại tinh thần.

Lục Tuấn trông có vẻ tỉnh táo hơn một chút so với hôm qua, nhưng tinh thần vẫn uể oải, chán chường.

Hai vợ chồng còn chưa kịp sắp xếp lại suy nghĩ sau bao biến cố thì đã nhận được tin khẩn từ thư viện:

Lục Chí đánh nhau với bạn cùng lớp, mà còn là đánh nhau tập thể!
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 91: Con Trai Ngươi Còn Gan Dạ Hơn Ngươi!


Tuyết đã ngừng rơi từ nửa ngày trước.

Tuyết đọng dày chừng hai ngón tay, gặp gió lớn liền bị cuốn lên xoáy tít.

Chớ nói là đứng ngoài trời một lúc, ngay cả khi ở trong phòng, bên cạnh lò than đỏ rực, nghe tiếng gió rít ngoài kia cũng đủ khiến người ta rùng mình.

Bên trong chiếc xe ngựa chật hẹp, tất nhiên lạnh giá càng thêm rõ rệt.

Vừa rồi, hai vợ chồng nghe tin xong liền chẳng kịp nói gì, vội vàng đến thẳng thư viện.

Đi gấp gáp đến nỗi Tang thị còn không kịp đổi lấy một lò sưởi tay ấm áp hơn, đến giờ thì lò đã nguội lạnh cả rồi.

Chẳng ngờ, trận ẩu đả lần này lại “kịch liệt” như vậy, khiến bên ngoài thư viện, xe ngựa các phủ nối đuôi nhau thành một hàng dài.

Vì nhất thời chưa rõ tình hình bên trong ra sao, người thì nghiêm nghị, kẻ lại tỏ vẻ thảnh thơi, thậm chí có người còn nhân cơ hội này để kết giao làm quen.

Các vị sơn trưởng và phu tử cũng không có ý định mở đường đường chính chính để xét xử tại chỗ, chỉ căn dặn: “Ai về nhà nấy,” ngày mai sẽ bàn tiếp cách xử lý, nhất là đối với đám học trò bị cuốn vào trận hỗn chiến, lần lượt đều được thả ra.

Dòng người và xe cộ ùn tắc trước thư viện dần dần tản đi, chỉ còn lại xe ngựa của phủ Định Tây hầu chưa rời.

Lúc này, Lục Tuấn chợt thấy có điều không ổn, hạ giọng nói với Tang thị:
“A Chí sao chưa ra?

Chẳng lẽ nó không phải bị liên lụy mà là kẻ cầm đầu à?”

Tang thị mím chặt môi, sắc mặt u ám:
“Nó mới bao lớn chứ?”

Chẳng người mẹ nào lại muốn con mình dính líu vào chuyện đánh nhau.

Hơn nữa, nếu chỉ là vô tình bị lôi kéo, dính vài cú đấm đá, thì với tính cách lanh lợi của A Chí, nó ắt hẳn biết né tránh.

Nhưng nếu là kẻ cầm đầu gây sự thì trốn vào đâu được?

Một thiếu niên mới mười hai tuổi, thân hình còn chưa cao lớn, mà lại đi đánh nhau với đám thiếu niên cứng cáp trong thư viện, chẳng phải là tự biến mình thành mục tiêu cho người ta đuổi đánh sao?

Lục Tuấn cũng thấy nóng ruột:
“Sớm biết vậy, ta đã dạy nó thêm chút quyền cước rồi.”

Tang thị lơ đãng phụ họa đôi câu, tâm trí vẫn rối bời.

Đúng lúc này, có người tới mời Lục Tuấn vào trong thư viện.

Tang thị định đi cùng nhưng bị Lục Tuấn ngăn lại:
“Tuyết đọng trơn trượt, phu nhân đừng vào làm gì.

Nàng cứ yên tâm, ta không phải kẻ hiền lành nhu nhược, sẽ không để A Chí chịu thiệt đâu.

Ai dám đánh nó, ta đều ghi nhớ cả.”

Nói rồi, hắn lại dịu giọng an ủi:
“Chủ yếu là sợ nàng không chịu nổi.

A Chí còn nhỏ, đánh nhau khó tránh khỏi bị thương.

Nàng mà khóc lóc đau lòng trước mặt phu tử và đồng môn của nó, chỉ tổ làm thằng bé xấu hổ thêm thôi.

Nàng cứ đợi trong xe, ta vào đưa A Chí về.”

Tang thị dù sốt ruột nhưng cũng hiểu rõ tâm lý của đứa trẻ ở tuổi này.

Khi cần cho A Chí một bài học để nhớ đời, nàng không ngần ngại.

Nhưng lúc cần giữ thể diện cho con, nàng nhất định sẽ không để người ngoài chê cười.

Vì thế, nàng gật đầu đồng ý, rồi dặn dò Lục Tuấn:
“Nếu gặp phải kẻ không nói lý, chàng cũng đừng vội tranh cãi hơn thua.

Ta đoán chắc A Chí đã bị thương, trước tiên cứ đưa nó về chữa trị đã, sau đó muốn đòi lại công bằng thì ta tự đến cửa hỏi tội bọn họ.”

Lục Tuấn nghe thấy rất hợp lý.

Dù sao thì, chuyện gì cũng phải đặt vết thương của Lục Chí lên hàng đầu.

Thế nhưng, khi vào thư viện hỏi thăm rõ ràng, Lục Tuấn lập tức chết lặng.

Ôi chao!

Chuyện gì thế này!

Đâu phải Lục Chí bị người ta đuổi đánh, mà là chính thằng nhóc này đuổi đánh người ta!

Nó nhỏ hơn đám kia mấy tuổi, lại đánh nhau một mình, giờ mặt mày bầm tím, chỗ xanh chỗ tím, nhưng ánh mắt vẫn còn ánh lên tia hung hăng.

Nếu không có phu tử đứng đó canh chừng, chỉ e nó còn xông lên đánh tiếp.

Ra tay trước, đánh chẳng chút sợ đau, lại tàn bạo đến mức cả hai bên đều thê thảm.

Chỉ là, vết thương của người khác chia đều ra, còn tất cả thương tích trên người Lục Chí thì nó tự mình “ôm trọn”!

Vậy thì Lục Tuấn biết lý lẽ kiểu gì đây?

Muốn xin lỗi người ta à?

Nhìn mặt mũi Lục Chí sưng vù thế kia, trên người không biết còn bị đánh bao nhiêu cú, Lục Tuấn có muốn xin lỗi cũng chẳng ai tin là con mình không chịu thiệt thòi.

Hắn nén giọng hỏi con:
“Rốt cuộc là chuyện gì?

Sao lại đánh nhau?”

Lục Chí tức tối đáp:
“Bọn họ mắng cô mẫu và biểu tỷ!”

Lục Tuấn nghe xong chỉ thấy đau đầu muốn nổ tung.

Chuyện trong nhà Định Tây hầu phủ mà cũng bị mang ra ngoài làm đề tài đàm tiếu, thật là đáng giận!

Có người chen vào hỏi:
“Lục Thế tử, chuyện này xử lý thế nào đây?”

“Dù sao thì động thủ cũng không phải phép, đúng không?”

“Lệnh lang quả là dũng cảm, nhưng xem ra hơi thiếu suy nghĩ.”

Lục Tuấn mặt mày sa sầm, may mà vẫn nhớ lời Tang thị dặn, bèn nói:
“Ta thấy mấy vị công tử đây vẫn khỏe mạnh, chỉ có con trai ta toàn thân đầy thương tích.

Các vị không vội, nhưng ta thì sốt ruột.

Chúng ta phải mời đại phu xem thương tích trước, chuyện khác để mai bàn tiếp.”

Dứt lời, hắn chắp tay hành lễ với các phu tử, gọi Lục Chí theo mình rời đi ngay lập tức.

Tuy trong lòng đầy bực bội, nhưng Lục Tuấn vẫn nhớ con mình đang bị thương, không nỡ vỗ vai hay chạm vào người nó, chỉ ra hiệu bảo nó đi theo.

Hai cha con một trước một sau bước ra khỏi thư viện.

Lục Chí lúc đi thì không cảm thấy gì, nhưng đến khi trèo lên xe ngựa, nhấc chân hơi mạnh một chút liền đau đến nhe răng trợn mắt.

Tấm rèm xe được vén lên, Tang thị nhìn thấy khuôn mặt bầm tím sưng vù của con trai, nước mắt lập tức trào ra.

Nàng đỡ lấy Lục Chí đang đau đớn vì vết thương, vội vàng hỏi:
“Con bị đánh bao nhiêu cú thế này?

Thù hận sâu nặng gì mà đánh đến mức này?

Là ai đánh con?

Chuyện này không thể bỏ qua được!”

Lục Tuấn chỉ đáp gọn:
“Tự con hỏi mẫu thân đi.”

Lục Chí im lặng không nói gì.

Không khí trong xe trở nên ngột ngạt suốt quãng đường về phủ.

Vừa về đến nơi, hầu hạ sai người đi mời đại phu, Tang thị liền kéo Lục Chí ngồi xuống hoa sảnh, mắt đỏ hoe, cẩn thận nâng mặt con lên xem xét kỹ lưỡng.

Ánh sáng đèn lồng trên xe khi nãy không đủ rõ, giờ trong phòng sáng trưng, nàng mới nhìn thấy rõ khuôn mặt nhỏ nhắn của con trai đã sưng vù lên gần một nửa.

Diêu ma ma mang tới một ít thuốc cao trị chấn thương do va đập.

Tang thị dùng đầu ngón tay quệt một ít, nhẹ nhàng thoa lên mặt Lục Chí, giọng trầm xuống:
“Sao lại đánh nhau với người ta thế?”

Lục Chí đau đến nỗi hít hà không ngừng, bị ánh mắt đầy xót xa của mẫu thân nhìn chằm chằm, trong lòng cũng dâng lên nỗi tủi thân.

“Bọn họ cố tình gây sự, ăn hết món bánh nướng mà biểu tỷ đưa cho con.”

“Chỉ vì con không còn chơi với bọn họ nữa, lại thêm chuyện họ bị phạt do đá gà thua, nên mới rảnh rỗi kiếm chuyện.”

“Ban đầu con cũng chẳng muốn chấp nhặt, nhưng bọn họ dám mắng cô mẫu và biểu tỷ, con mới ra tay.”

“Họ mắng cô mẫu là ‘bà điên lớn’, mắng biểu tỷ là ‘con điên nhỏ’, còn nói hai người là ‘kẻ chuyên gây chuyện’.

Con tức quá chịu không nổi…”

“Con chỉ đánh mấy đứa đó thôi, mấy đứa khác muốn can ngăn nhưng bị kéo vào, thế là liên lụy tới không ít người.”

Lục Chí kể đứt quãng, giọng khàn đặc.

Giờ nhắc lại, cơn giận trong lòng cậu đã nguôi đi nhiều, nhưng chính hắn cũng không hiểu sao lúc đó lại không kìm được, trực tiếp vung nắm đấm đầu tiên.

Dù sao thì, bên kia đông người, còn hắn chỉ có một mình.

Nếu lý trí hơn một chút, chắc chắn hắn đã không liều lĩnh như vậy.

Nhưng hắn không hối hận.

Đánh là đánh rồi, dẫu thân thể đầy thương tích, hắn cũng không phải chỉ biết chịu trận.

Hai tên cầm đầu hỗn xược ấy cũng bị hắn nện cho một trận ra trò.

Chỉ là do vóc dáng thấp hơn đối phương, hắn toàn nhắm vào bụng mà đánh, thành ra vết thương của bọn kia chẳng lộ ra ngoài.

Tang thị nghe xong đầu đuôi sự việc, đôi mắt cũng mờ đi vì nước.

Những kẻ đá gà kia, nàng từng tiếp xúc qua, biết rõ vài gia đình trong số đó chẳng mấy tử tế.

Thượng bất chính, hạ tắc loạn.

Gia phong đã lệch lạc như thế, con cái nhà họ cũng chẳng khác gì.

Đánh nhau thì dĩ nhiên là không đúng, nhưng nếu không bị khiêu khích, Lục Chí đâu có ra tay…

“Chuyện của người lớn, các con nít chen vào làm gì?”

Tang thị đang xót con, bỗng nghe thấy Lục Tuấn lên tiếng, liền quay đầu nhìn hắn chằm chằm.

Lục Tuấn mặt đầy bực bội:
“Con đánh nhau làm gì chứ?

Con không giỏi đánh nhau, còn dám lao vào hỗn chiến với bao nhiêu người, không phải tự rước lấy thua thiệt à?

Thương tích trên người là của con, đau cũng là con chịu, con đúng là…

Người ta nói gì thì kệ họ, mấy lời vớ vẩn của đám nhóc đó đáng để con tức giận sao?”

Bàn tay Tang thị đang ấn thuốc cao chợt siết lại, móng tay vô thức cào một đường nhỏ trên lớp thuốc.

Trong đầu nàng hiện lên hình ảnh của đại cô nương hôm qua, trán và thái dương dính đầy vết máu, bên cạnh là A Vi đứng vững vàng như một tấm cột trụ hỗ trợ.

“Là chỗ dựa của người làm con gái.”

Nàng nhớ rõ lời A Vi đã nói.

Hơi thở của Tang thị khựng lại.

Cơn giận dữ bị dồn nén suốt mấy ngày nay, nỗi xót xa giấu kín trong lòng, cùng sự đau đớn bị đè nén đến cực hạn…

Tất cả bỗng bùng nổ, vỡ òa như đê vỡ.

Giữa những lời lải nhải của Lục Tuấn, Tang thị đột nhiên quét ánh mắt sắc lạnh như dao về phía hắn, nghiến răng quát lớn:
“Con trai chàng còn gan dạ hơn chàng!”

Lục Tuấn sững người, nhìn Tang thị đầy ngỡ ngàng, không tin vào tai mình.

Tang thị tức giận nói tiếp:
“Tằng thị đúng là đã dạy chàng tốt quá nhỉ.

Người ta chỉ thẳng vào mặt mà chửi đại tỷ và A Vi của chàng, vậy mà chàng còn thấy chẳng có gì nghiêm trọng à?

Ta hiểu rồi, thì ra tiếng xấu năm xưa của đại cô nương ở kinh thành là từ đâu mà ra.

Ai ai cũng có thể nói xấu sau lưng, thậm chí chửi bới ngay trước mặt, bởi vì ngay cả đệ ruột của nàng ấy cũng không buồn đứng ra giải thích nửa câu.

Phải rồi, thế tử chàng giải thích làm gì chứ?

Chàng từ đầu đến cuối đều cảm thấy đại tỷ là kẻ vô lý, thích gây chuyện thị phi.

Trước đây chàng không biết sự thật, thì thôi.

Nhưng bây giờ chàng rõ ràng đã biết rồi, đại tỷ không hề oan uổng Tằng thị.

Chính Tằng thị đã hại chết mẫu thân các chàng!

Rõ ràng trắng đen đã rõ rành rành, mà chàng vẫn không thể mở miệng nói đỡ cho đại tỷ được câu nào sao?”

Lục Tuấn há miệng định nói, nhưng rõ ràng không quen với sự phản kháng gay gắt như thế từ Tang thị.

Trước khi cơn giận kịp trào lên, hắn lúng túng lên tiếng:
“Nhưng cũng không cần phải đánh nhau… Biết rõ đánh không lại còn… Với lại, chỉ là đám nhóc con…”

“Người lớn mới tính toán thiệt hơn, trẻ con mới giữ được lòng nhiệt huyết,”

Tang thị lạnh lùng cắt ngang, giọng càng thêm sắc bén.

Nàng ngừng một chút, rồi nói tiếp:
“Ta cũng từng chỉ biết nghĩ tới lợi ích được mất.

Điểm này, ta không bằng đại tỷ.”

Nàng không phải kiểu người sẵn sàng liều cả thân mình để đổi lấy công lý.

Nhưng đại tỷ thì có thể.

Lục Niệm mới là người sống với trái tim chân thành và đầy nhiệt huyết.

Tang thị càng nói, mắt càng đỏ hoe, những giọt nước mắt lặng lẽ lăn dài trên má.

“Chàng nghĩ rằng, vì chàng không cờ bạc, không lêu lổng chơi bời, không có thói hư tật xấu gì nên Tằng thị mới đối xử tốt với chàng sao?

Vì bà ta đã nuôi dưỡng chàng trưởng thành, nên mọi chuyện đều ổn cả?”

“Chàng thật ngây thơ!”

“Tằng thị từng có một đứa con gái chết yểu.

Ta tin rằng việc trẻ nhỏ khó nuôi là lẽ thường, có thể không phải do bà ta cố ý.

Nhưng trên đời này, trẻ nhỏ chết yểu đâu phải hiếm.

Thế sao chàng lại không gặp chuyện gì?”

“Vì trong nhà này có đại tỷ!

Tỷ ấy luôn dõi mắt canh chừng từng hành động của Tằng thị, khiến bà ta không dám ngấm ngầm làm hại chàng, càng không dám lấy mạng chàng.

Chính vì thế, chàng mới sống sót an toàn cho đến tận bây giờ!”

“Nếu không có đại tỷ, Tằng thị vừa mới mất con gái ruột, sau đó thêm đứa con riêng của chồng cũng ‘bất hạnh’ qua đời, dẫu có ai đó nghi ngờ, thì ai dám công khai buộc tội bà ta cố ý gây ra?”

“Tằng thị sợ đại tỷ đến mức nào, chàng có biết không?

Nếu chàng gặp bất trắc, dù có chứng cứ hay không, đại tỷ cũng sẽ không do dự mà cầm dao đâm thẳng vào Lục Trì!”

“Tằng thị không dám ra tay với đại tỷ trước, vì giết mỗi nàng ấy thôi thì chẳng có tác dụng gì.

Giết cả chàng nữa thì sao?

Đến lúc đó, dù Hầu gia có ngu ngốc thế nào cũng phải nhận ra chân tướng!”

“Đại tỷ đã nhẫn nhịn suốt mười sáu năm trong phủ, bảo vệ chàng đến khi chàng không còn dễ chết yểu nữa, tính cách cũng hình thành ổn định, trở thành một kẻ ngây thơ, trung thành với Tằng thị như bây giờ.

Thật nực cười, chính sự ‘hiếu thảo’ của chàng đã cứu mạng chàng đấy!”

“Chàng có biết vì sao ta đồng ý gả cho chàng không?

Vì Tằng thị tin lời mai mối rằng ta là người dịu dàng, nhu thuận, không có chủ kiến.

Nhã nhặn, trầm tĩnh, ôn hòa, nội liễm—những phẩm chất mà bất kỳ bà mẹ chồng nào cũng thích ở con dâu.

Hơn nữa, ta xuất thân từ Hoài Nam, không có gia đình quyền thế chống lưng ở kinh thành, càng không có nhà mẹ đẻ xen vào chuyện của ta.”

“Tằng thị vốn dĩ không bao giờ làm chuyện không chắc chắn.

Thấy Lục Miễn thông minh lanh lợi hơn, vượt trội cả A Chí, bà ta mới bắt đầu áp dụng những thủ đoạn trước đây chưa từng dùng với chàng lên người con trai ta.

Đá gà ư?

Mới mười hai tuổi đã mê mẩn trò đó, vậy đến hai mươi hai tuổi thì sao?”

“Chàng có nghe thấy đại tỷ hỏi chuyện nhà họ Đào không?

Đào Vũ Lâm trước đây đâu có cờ bạc, thế mà sau khi đệ đệ chết, chưa đầy mấy tháng đã sa chân vào đó, nợ nần chồng chất, tấu chương của ngự sử dồn dập đổ về, cuối cùng cha hắn bị cách chức, đuổi khỏi kinh thành!”

“Nếu A Chí đi vào vết xe đổ đó thì sao?

Tương lai, chàng có được kế thừa tước vị hay không ta không dám chắc, nhưng chỉ cần chàng nhắm mắt xuôi tay, tước vị đó chắc chắn sẽ không rơi vào tay A Chí!”

“Giờ thì chàng còn thấy Tằng thị tốt đẹp nữa không?”

“Chàng thật may mắn!”

“Dù đến tận hôm nay vẫn mù mờ không hiểu chuyện, nhưng điều đó cũng chẳng cản trở chàng tận hưởng vinh hoa phú quý trước đây, và cũng chẳng ảnh hưởng gì đến sự giàu sang sau này của chàng cả!”

Lời của Tang thị như búa tạ, nện thẳng vào lòng Lục Tuấn.

Sắc mặt hắn khi xanh khi trắng, trợn mắt nhìn Tang thị, nhất thời không thốt nên lời.

Hắn chưa từng thấy thê tử của mình cứng rắn đến thế.

Không, phải nói là đã từng thấy rồi.

Lần trước, khi A Chí dính vào chuyện đá gà, Tang thị từng nói với hắn một câu nặng lời.

Khi đó Lục Tuấn không để tâm, cho rằng người phụ nữ nào chẳng nổi giận khi liên quan đến con cái.

Nhưng hôm nay… mọi thứ đã vượt xa sự tưởng tượng của hắn.

“Nàng… sao lại…”

Lục Tuấn ấp úng, không tìm được từ nào phù hợp.

Bao năm chung sống, hắn và Tang thị vẫn hòa thuận, dù có bất mãn cũng chẳng bao giờ dùng lời cay nghiệt với nhau.

Nghĩ tới nghĩ lui, cuối cùng chỉ thốt ra một từ:
“Dữ quá.”

Hắn cúi đầu, nhỏ giọng bổ sung:
“Những điều nàng nói… ta chưa từng nghĩ tới.”

Tang thị cười nhạt:
“Vậy thế tử nên nghiêm túc nghĩ lại đi.”

Nàng không buồn nhìn hắn nữa.

Ánh mắt đã nhòe đi vì nước, nhìn không rõ vết thương trên mặt Lục Chí, sợ chạm mạnh sẽ làm con đau thêm.

Nàng đành lau nước mắt, tiện thể điều chỉnh lại cảm xúc.

Khi quay sang con trai, giọng Tang thị dịu đi nhiều:
“Mẫu thân không thích con đánh nhau, nhưng ta hiểu có những trận đánh không thể tránh.”

“Con không hèn nhát.

Con biết đứng lên bảo vệ cô mẫu và biểu tỷ, không để người ngoài nhục mạ họ.

Mẫu thân rất tự hào về con.”

“Ta cũng hối hận, trước đây chỉ chăm chăm bắt con đọc sách.

Hầu gia bảo không cần gấp rút học võ, ta cũng chẳng kiên quyết.

Giờ nghĩ lại, vẫn nên học quyền cước.”

“Không phải để con gây chuyện, mà là để khi gặp bất bình, lời nói không đủ thì nắm đấm lên tiếng.

Người khác muốn ức h**p con cũng phải cân nhắc kỹ càng.”

“Giờ con cứ an tâm dưỡng thương.

Mẫu thân sẽ nhờ hầu gia tìm cho con một sư phụ giỏi.

Sau Tết đổi viện học mới, A Chí phải vừa học giỏi, vừa rèn luyện võ nghệ.”

“Mẫu thân không trông mong con lập công danh gì to tát, nhưng con phải trở thành một thế tôn tốt.

Tương lai phụ thân con còn trông cậy vào con để có ngày nở mày nở mặt.”

Lục Chí ngẩn ngơ gật đầu.

Hắn cũng thấy choáng váng.

Chưa bao giờ hắn thấy mẫu thân nói chuyện với phụ thân bằng thái độ đó.

Cũng chưa từng nghĩ sâu về những lời vừa nghe được.

Theo bản năng, hắnluôn nghĩ khi cha mẹ cãi nhau, con cái nên ngoan ngoãn im lặng để tránh bị vạ lây.

Nhưng hôm nay, mẫu thân không chỉ bênh vực hắn mà còn khen ngợi, động viên hắn.

Điều này khiến trái tim Lục Chí nóng bừng lên.

Đau?

Đúng là đau, tay đau, mặt đau, khắp người đều đau.

Nhưng lòng hắn lại đầy tự hào.

Lúc vung nắm đấm, hắn chỉ là bốc đồng.

Nhưng giờ đây, hắn hiểu rõ thế nào là đúng sai, thế nào là nên hay không nên làm.

Đại phu tới.

Ông ta làm như không nhận thấy bầu không khí căng thẳng trong sảnh, chỉ chú tâm khám cho Lục Chí.

Khi cởi áo ra, những vết bầm tím lớn nhỏ hiện rõ trên lưng và chân tay hắn.

Tang thị không kìm được lại bật khóc, vừa lau nước mắt vừa chăm chú lắng nghe lời đại phu.

Ở đâu đau, cảm giác thế nào…

Sau khi xác nhận chỉ là chấn thương phần mềm, không tổn thương gân cốt, Tang thị mới thở phào nhẹ nhõm.

Lục Chí được dán đầy cao dán, rồi được phụ mẫu đưa về thư phòng nghỉ ngơi.

Đợi con trai yên vị, hai vợ chồng mới rời đi, chuẩn bị bàn bạc chuyện xử lý hậu quả trận đánh nhau.

Họ không muốn tiếp tục tranh cãi trước mặt con.

Lục Chí nằm nghỉ một lúc.

Nhà bếp đưa cơm tới nhưng hắn chẳng thấy ngon miệng, chỉ ăn vài miếng rồi bảo dọn đi.

Đầu óc hắn vẫn quanh quẩn nghĩ về những lời mẫu thân vừa nói, càng nghĩ lòng càng nặng trĩu.

Đột nhiên, bên ngoài vang lên tiếng gia nhân gọi:
“Biểu cô nương đến rồi.”

Tiếp đó là tiếng bước chân nhẹ nhàng tiến vào.

Lục Chí vội vàng kéo chăn trùm kín đầu.

A Vi bước vào, tay xách một hộp thức ăn.

Nhìn hắn nhóc trùm chăn kín mít, nàng mỉm cười nói:
“Đừng trốn nữa.

Ta biết đệ vừa đánh nhau… mà còn đánh thua.”

“Không thua!”

Lục Chí bật dậy như cá chép vượt vũ môn, nhưng vì bụng bị thương, sức không đủ, mới ngồi dậy được nửa chừng đã rơi bịch xuống giường, đau đến nhe răng trợn mắt.

Chăn bị hất tung, lộ ra khuôn mặt bầm tím thê thảm.

“Không có thua,”

Lục Chí lầm bầm, giọng uất ức, “Chỉ là… lép vế thôi.”

A Vi biết lý do hắn đánh nhau, trong lòng cũng thấy xót.

Nhưng nhìn hắn cứng đầu không chịu nhận thua, nàng bật cười khúc khích.

Lục Chí đỏ bừng mặt:
“Tỷ đến để chê cười ta đấy à?”

“Sao ta lại làm thế?”

A Vi mở hộp thức ăn, dọn ra bàn, “Ta mang món này đến, còn nóng hổi đấy.”

Lục Chí hít hít mũi.

Ngoài mùi thuốc cao nồng nặc trong phòng, còn có một hương thơm đậm đà khó tả.

Hơi chua, hơi cay, khiến bụng hắn sôi lên ọc ọc.

Không dây dưa thêm, Lục Chí lết tới bàn, cầm lấy thìa húp một miếng canh.

Nước canh đỏ au trông có vẻ cay xé, nhưng uống vào lại chua thanh, hơi cay nhẹ, hương vị vừa miệng khiến hắn thích mê.

Trong canh có mì, có rau, có thịt, nóng hổi thơm phức.

Hắn không hỏi A Vi nấu thế nào, sợ nàng lại thao thao bất tuyệt như lần kể chuyện nấu canh gà trước đây.

A Vi ngồi cạnh nhìn hắn húp mì sột soạt, thỉnh thoảng cắn vào vết thương ở khóe môi lại đau đến hít hà.

Trông rất sống động.

A Vi nhớ tới lời cô mẫu trước khi nàng đến đây.

“Nhóc gà chọi đó vẫn còn nhảy nhót được, giỏi thật.”

Nghĩ tới đây, A Vi lại phì cười.

“Trời tối rồi, nhà bếp không còn chuẩn bị gì thêm,”

A Vi nói, “Ngày mai đệ muốn ăn gì?

Ta nấu cho.”

Lục Chí chẳng khách sáo:
“Gà xé phay.”

Hắn vẫn nhớ mãi hương vị món ăn từng được nếm trong tiệc sinh nhật của tổ phụ.

“Còn gì nữa?”

A Vi hỏi tiếp.

Lục Chí lắc đầu:
“Tỷ giỏi nấu nướng, tỷ quyết định đi.”

A Vi bật cười:
“Vậy thì hầm chân giò nhé, bồi bổ cho tay chân bị thương của đệ.”

Lục Chí liếc nhìn bàn tay trầy xước của mình, trong lòng vừa buồn cười vừa không biết nói gì.

Sau một hồi cười đùa, A Vi đặt một lọ sứ nhỏ lên bàn:
“Hôm nay cảm ơn đệ đã đứng ra bênh vực cho ta và mẫu thân.”

Mặt Lục Chí đỏ ửng, ngượng nghịu đáp:
“Cái gì đây?”

“Thuốc trị sẹo, rất hiệu quả,”

A Vi giơ tay cho hắn xem, “Vết thương lần trước của ta bây giờ không để lại sẹo chút nào.”

Lục Chí bĩu môi:
“Ta là con trai mà.”

“Con trai thì không cần giữ mặt mũi à?”

A Vi chỉ vào mặt hắn, “Đặc biệt là mặt đó.

Sau này cữu mẫu tìm vợ cho đệ, người ta nhìn thấy đầy sẹo, lại hỏi lý do, biết đệ bị thương vì bênh vực cô mẫu và biểu tỷ, chưa chắc người ta đã vừa lòng đâu.

Lỡ đâu chưa kịp cưới đã bị ‘lườm nguýt’ trước rồi.”

Lục Chí cạn lời.

Đúng là… nói gì thế không biết!

A Vi tự cười một mình, rồi bỗng nghiêm mặt lại:
“Lần sau gặp kẻ gây sự, đừng đơn thương độc mã.

Gặp bọn không biết điều thì đệ sẽ thiệt thòi lớn.

Không đánh lại được thì chạy trốn không có gì phải xấu hổ.

Đệ quay về gọi ta, ta đánh cùng đệ.”

“Tỷ ư?”

Lục Chí nghi ngờ, “Tỷ lấy gì mà đánh?”

Đánh nhau đâu phải giống như làm bếp giết gà.

“Ta cầm dao,”

A Vi nói tỉnh bơ, “Ta đâu có cần giữ thể diện như đệ.”

Lục Chí: …
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 92: Chính họ Tằng đã hủy hoại tất cả của ngài!


Một bát mì nóng hổi, Lục Chí ăn sạch không còn sót giọt nước súp nào.

Món nước luôn khiến người ta ấm lòng, Lục Chí chỉ cảm thấy gân cốt căng thẳng suốt nửa ngày nay dần giãn ra, cả người nhẹ nhõm hơn hẳn.

A Vi dọn dẹp bàn ăn, nói:
“Ngủ ngon một giấc đi, mai ta nấu chân giò hầm.”

Lục Chí rõ ràng không đồng tình với việc ví tay mình như chân giò, bèn đáp lại với vẻ không cam lòng.

Đợi A Vi rời đi, chàng sờ lên bụng căng tròn, nằm trở lại trên giường, bấy giờ mới chậm rãi hồi tưởng lại trận đánh nhau hôm nay.

Khi ra tay, khí huyết dồn lên đầu, nào là chiến thuật, chiến pháp, hắn vốn chưa từng học qua bài bản, đến lúc nguy cấp cũng chẳng kịp nghĩ tới, ra đòn hoàn toàn dựa vào bản năng.

Mà bản năng của hắn, phần lớn lại bắt chước từ mấy trận đá gà đã xem.

Tuy đá gà là một chọi một, gà dẫu bay không cao nhưng cũng biết vỗ cánh.

Lục Chí không có những kỹ năng ấy, chỉ nhớ được một chữ “hung” cùng với thân pháp linh hoạt, nhờ vóc dáng nhỏ nhắn mà lách qua lách lại giữa mấy đối thủ, cố gắng né tránh.

Ăn no rồi lại buồn ngủ, chẳng mấy chốc, mí mắt hắn đã trĩu xuống.

Ở một bên khác, ngoài viện thư phòng, A Vi gặp được Định Tây hầu đang vội vã đi tới.

Định Tây hầu đến gấp, thậm chí không mang theo đèn lồng, chỉ dựa vào ánh trăng lờ mờ phản chiếu trên nền tuyết để soi đường.

Vừa hay gặp ánh đèn lồng chập chờn phía trước, ông nheo mắt nhìn kỹ, thấy người cầm đèn là A Vi, lại chỉ có mình nàng, lông mày ông không khỏi nhíu chặt.

“Sao lại không dẫn theo người hầu?” Giọng Định Tây hầu không lớn nhưng đầy vẻ không hài lòng, “Đêm hôm khuya khoắt thế này, tối om tối mịt, dù có là trong phủ nhà mình cũng không thể tùy tiện như vậy.

Nhìn xung quanh xem, tuyết phủ đầy đất, nhỡ đâu trượt chân ngã, không chắc đã có người nghe thấy mà tới đỡ.

Nếu con bị thương, chẳng phải sẽ khiến mẫu thân con lo lắng sao?”

Những lời này xuất phát từ thiện ý, A Vi hiểu rõ nên không cãi bướng:
“Đúng là con suy nghĩ chưa chu toàn, lần sau nhất định sẽ dẫn người theo.”

Thấy nàng biết lắng nghe, Định Tây hầu cũng không lải nhải thêm, chỉ nói:
“Vậy con đợi ta một lát, ta vào xem A Chí, rồi sẽ đưa con về Xuân Huy viên.”

A Vi giơ chiếc hộp đồ ăn trong tay lên:
“A Chí vừa ăn xong một bát mì, vết thương trên mặt trông có vẻ nặng nhưng tinh thần đệ ấy rất tốt, còn nghe con kể chuyện cười nữa kìa.”

Định Tây hầu vô thức hỏi lại:
“Chuyện cười gì?”

“Con bảo lần sau đệ ấy đừng đơn thương độc mã nữa, gặp đối phương đông người thì cứ chạy,” A Vi đáp, “Chạy về gọi con, con mang đao đi đánh cùng đệ ấy.”

Định Tây hầu há miệng định nói gì đó, nhưng rồi không thốt ra lời, chỉ hít phải một ngụm gió lạnh, khiến cổ họng bị kí.ch th.ích, ho dữ dội.

Vừa ho, ông vừa lẩm bẩm:
“Con với mẫu thân con, một tiểu tổ tông, một đại tổ tông, mở miệng ra là đòi cầm đao!”

“Cầm đao thì sao chứ?” A Vi bĩu môi, “Không ai chọc vào nhà ta, nhà ta cũng chẳng cần rút đao!”

Định Tây hầu ra hiệu cho nàng đi về phía thư phòng, tránh đứng ngoài gió lạnh:
“Ta nghe nói hôm nay là A Chí ra tay trước.”

A Vi hỏi thẳng:
“Ngài định mắng đệ ấy à?”

Định Tây hầu sững lại:
“Không có.”

“Vậy ngài muốn đệ ấy đi xin lỗi mấy kẻ lắm mồm nói năng xằng bậy kia à?” A Vi vừa hỏi xong đã nhanh chóng bước lên trước, giơ đèn lồng sát vào mặt Định Tây hầu, “Đệ ấy sẽ không xin lỗi đâu, ngài cũng đừng dàn hòa làm gì.

Tôn tôn của ngài ở thư viện đứng thẳng lưng, nếu ngài còn muốn hòa thuận, vỗ nhẹ hai bên một cái, thì người cúi lưng chẳng phải chỉ có ngài, mà còn là đệ ấy.”

Định Tây hầu không ngờ nàng lại đưa đèn lồng sát mặt mình như vậy, vẻ mặt vừa kinh ngạc vừa buồn cười dưới ánh đèn mờ ảo.

A Vi trừng mắt nhìn ông:
“Ngài trân trọng thể diện của mình, chẳng lẽ lại muốn dẫm nát mặt mũi nhỏ bé của A Chí sao?”

“Sao có thể chứ?” Định Tây hầu buột miệng đáp.

Ông chỉ nghe tin vội vã chạy tới xem tình hình của A Chí, là lo lắng cho thương thế chứ không có ý gì khác.

Vậy mà đối diện với A Vi, dù chưa từng bày tỏ chút thái độ tiêu cực nào về việc A Chí đánh nhau, lại bị nàng hiểu lầm như thế.

Buồn không?

Bị hiểu lầm, đương nhiên không thể không chạnh lòng.

Nhưng nguyên nhân của sự hiểu lầm này, suy cho cùng là vì A Vi không tin ông.

Hoặc có thể nói, trong lòng A Vi, đã sớm có một sự đánh giá nhất định về cách hành xử của ông.

Nàng cho rằng ông là kiểu người như vậy.

“Haiz.” Định Tây hầu thở dài, nhất thời cũng không biết phải giải thích thế nào, mà giải thích rồi cũng chẳng ích gì.

Trong mấy tháng gần đây, ông đã nếm trải cảm giác “nói không rõ”, “nói ra cũng chẳng ai tin” này không chỉ một lần.

Nghe tiếng gió rít qua khe cửa, Định Tây hầu tạm gác lại ý định phân bua, dặn A Vi đợi thêm một lát, rồi đẩy cửa vào gặp Lục Chí.

A Vi đứng nép bên cửa, tránh gió lạnh.

Vào trong nhà lại phải cởi áo khoác dày, lát nữa ra lại lạnh hơn, nàng lười phiền phức nên quyết định không vào.

Cửa phòng chỉ khép hờ, bên trong còn treo rèm dày, vốn dĩ không thể nghe rõ cuộc trò chuyện, nhưng Định Tây hầu dường như cố ý để nàng nghe thấy, giọng nói vang rõ:

“Đánh thì đánh rồi, đừng nghĩ ngợi nhiều.

Chuyện ngày mai xử lý thế nào, đã có ta và phụ mẫu con lo.”

“Làm sai thì mới cần suy ngẫm, con không sai, nghĩ gì chứ?

À, nghĩ là bản lĩnh đánh nhau của con kém à?”

“Trước tiên cứ tĩnh dưỡng vài hôm, đợi khỏe lại ta dạy con luyện công.”

“Sao lại không dạy được?

Tổ phụ chỉ là lớn tuổi thôi, chứ chưa già đến mức không dạy nổi!”

“Nói trước nhé, luyện công không tránh khỏi va chạm thương tích, có khi còn đau hơn hôm nay bị đánh đấy.”

“Được rồi, biết con có quyết tâm rồi, nghỉ ngơi cho tốt đi, ta ra đưa biểu tỷ con về.”

Dù không nghe thấy lời Lục Chí đáp lại, chỉ nghe mỗi Định Tây hầu nói, A Vi cũng đoán được tám chín phần.

Dứt lời, Định Tây hầu nhanh chóng bước ra, sai người chuẩn bị thêm một chiếc đèn lồng, tự tay cầm dẫn đường:
“Đi thôi.”

A Vi im lặng đi theo sau.

Ban đầu Định Tây hầu sải bước nhanh, đi được một đoạn mới sực nhớ ra, bèn giảm tốc độ.

Hai ông cháu lặng lẽ đi về phía Xuân Huy viên, A Vi ngẩng đầu nhìn ánh đèn còn sáng trong phòng chính.

Dọc theo hành lang dài tới trước cửa, A Vi nói:
“Ngài muốn gặp mẫu thân con.”

Không phải câu hỏi, mà là khẳng định.

Nếu sợ nàng trượt ngã dọc đường, hoàn toàn có thể gọi người khác đưa nàng về, chứ không cần bảo nàng đợi ở chỗ Lục Chí.

“Ngài sợ trực tiếp đến đây sẽ bị mẫu thân con lạnh nhạt, nên lấy cớ đưa con về để lấy lòng bà ấy,” A Vi thẳng thắn vạch trần, “Nói thật nhé, nếu ngài không làm được điều bà ấy mong muốn, dù có khiêng con về Xuân Huy viên bằng kiệu bốn người, bà ấy không muốn để ý đến ngài thì vẫn chẳng thèm để ý.”

Định Tây hầu cười gượng, hạ giọng:
“Ta sợ nàng ấy lại phát bệnh.”

“Con cũng sợ,” A Vi đáp, “Con sợ hơn bất cứ ai.”

Bầu không khí chợt trở nên nặng nề.

Gió thổi làm cành khô lay động, những mảng tuyết đọng rơi xuống, phát ra tiếng “bộp” khẽ khàng, tung lên một làn bụi tuyết mỏng.

Từ trong phòng vang lên giọng của Lục Niệm:
“A Vi?

Về rồi sao còn đứng ngoài gió rét thế?”

A Vi vội vàng cất tiếng đáp lại.

Văn ma ma từ trong vén rèm lên, khẽ chào:
“Hầu gia.”

A Vi thu xếp lại đèn lồng, nghiêng người bước vào trong.

Định Tây hầu nhân cơ hội ấy cũng theo vào, ánh mắt dừng lại trên người Lục Niệm.

Nàng nằm tựa trên chiếc ghế lắc lớn, người đắp tấm chăn lông màu đỏ thẫm như trái lựu, tôn lên làn da tái nhợt càng khiến bà trông yếu ớt, bệnh trạng rõ rệt.

Chính điều này là nỗi lo lắng lớn nhất của Định Tây hầu.

Lục Niệm rõ ràng không hề chào đón ông.

Đôi mắt phượng hẹp dài khẽ liếc sang, giọng nhàn nhạt hỏi:
“Hôm nay trong công đường, ngài có gặp Tằng Thái Bảo không?

Nhà họ Tằng bị đuổi ra trang trại, ngay cả lũ nhóc thối ở thư viện của A Chí cũng biết.

Tin tức nhà họ Tằng nhạy bén thế cơ mà, chẳng lẽ lại không hay?

Ngài có kể rõ đầu đuôi với Tằng Thái Bảo chưa?

Có bảo là ta đâm ba nhát vào nhà họ Tằng mà vẫn chưa hả giận chứ?

Nhà họ Tằng định cho ta một lời giải thích thế nào đây?”

Định Tây hầu ho khan vài tiếng để che đi sự bối rối, đáp:
“Hôm nay ông ấy bận hầu chỉ trước ngự tiền suốt…”

Lời còn chưa dứt đã bị Lục Niệm chặn lại:
“Thế sao ngài không vào cung cáo trạng luôn đi?”

Định Tây hầu: …

Lục Niệm ôm chăn ngồi dậy, nói tiếp:
“Ngài đến cũng tốt, ta nói cho ngài biết để khỏi bảo ta rảnh rỗi sinh nông nổi.

Cái tửu quán mà A Tuấn sang tên cho ta, dạo trước ta cho đóng cửa.

Ta định vài hôm nữa sẽ mở lại.

Ta chưa từng tự tay quản lý chuyện buôn bán bao giờ, nên muốn ra cửa hàng một chuyến, xem xét tình hình để chọn người quản lý cho vừa ý.”

Định Tây hầu khuyên nhủ:
“Trời lạnh thế này, cửa hàng đâu ấm áp như ở nhà, cẩn thận lại đổ bệnh.

Con thử nghĩ mà xem, con đi rồi thì A Vi kiểu gì cũng đi cùng.

Con bé từ nhỏ thể trạng yếu, không khéo lại bị cảm lạnh.

Nếu thật muốn bận rộn với cái tửu quán đó, hay là chờ đến xuân…”

“Chỉ tiện miệng nói với ngài một tiếng, chứ không phải để ngài góp ý.” Lục Niệm đi dép lê, đứng dậy rồi quay lưng bước thẳng vào phòng ngủ.

Định Tây hầu bị bỏ lại lúng túng giữa phòng.

Tính cách của A Niệm là cứng rắn, mềm mỏng đều vô dụng.

Ông đành quay sang khuyên A Vi:
“Còn hai mươi ngày nữa là đến Tết rồi, hay là để qua năm mới hãy tính?”

A Vi rót một chén trà, tự mình uống cạn, sau đó mới chậm rãi nói:
“Con lại thấy rằng, để mẫu thân bận rộn chút còn tốt hơn là để người ở nhà buồn bực.”

Định Tây hầu không hiểu:
“Nhà họ Tằng đâu còn trong phủ nữa, nàng ấy có gì mà phải buồn bực chứ?”

A Vi bật cười, tiếng cười lạnh lùng:
“Nhìn ngài, nhìn cữu cữu, chẳng phải cũng đủ bực rồi sao?

Trong cái phủ này, người mà mẫu thân con muốn thân thiết, nói cho cùng cũng chỉ có di nương và cữu mẫu.

Nhưng trong lòng bà ấy, một người giống như cô mẫu ruột, một người như tỷ muội, chứ chẳng phải thiếp của ngài hay phu nhân của cữu cữu.

Còn ngài với cữu cữu ấy à?

Chỉ khiến mẫu thân thêm phiền lòng thôi.”

Định Tây hầu đưa tay lên xoa trán, thở dài:
“A Vi…”

“Thật mệt mỏi, cũng thật bất đắc dĩ, đúng không?” A Vi dịu giọng đi một chút, rót thêm chén trà cho ông, “Vất vả lắm mới xong việc triều đình để về phủ, đã muộn thế này rồi, chắc còn chưa kịp ăn bữa cơm nóng nào, đã phải ghé thăm đứa cháu trai vừa đánh nhau, rồi lại sang chỗ đứa con gái cáu kỉnh để bị dằn mặt.

Đúng thật, ai mà chẳng thấy phiền.”

Định Tây hầu ngẩn ra.

Thái độ của A Vi đột nhiên thay đổi xoay một vòng lớn thế này khiến ông không kịp thích ứng.

Không dám chắc liệu trong lời nàng có ẩn ý gì không, ông lựa chọn im lặng, chỉ nhận lấy chén trà rồi nhấp một ngụm.

Là trà gừng.

Nhưng không giống với loại trà gừng mà A Vi từng pha trước đây.

Lần này cho không biết bao nhiêu gừng, vừa chạm môi đã cay xè, khiến ông phải hít một hơi thật sâu.

Nuốt xuống, mồ hôi lập tức túa ra trên trán.

Định Tây hầu không khỏi thắc mắc, rõ ràng vừa rồi A Vi cũng uống mà sắc mặt chẳng thay đổi chút nào, không lẽ nàng không cảm thấy cay?

A Vi bước đến bên chiếc ghế lắc, gấp gọn tấm chăn lại, rồi chậm rãi lên tiếng:
“Con biết ngài mong muốn điều gì.

Suy nghĩ của ngài rất đơn giản, cũng rất thực tế.”

“Một người vợ có thể quản lý gia sản của hầu phủ, không cần phải quá nồng nàn thắm thiết, nhưng chí ít phải hòa thuận, cùng nhau chăm sóc con cái, dạy dỗ chúng trưởng thành, làm chỗ dựa để ngài có thể an tâm vững bước nơi triều đình, không phải lo lắng chuyện hậu phương.”

“Dù là làm việc ở Thiên bộ lang hay ra biên cương trấn thủ nhiều năm vất vả, chỉ cần nội trạch yên ổn, không những không kéo chân ngài mà còn khiến đồng liêu nhìn ngài với con mắt khác, bởi chẳng ai muốn thân thiết với kẻ có nhà cửa bất an.”

“Sau những ngày mệt nhọc vì công vụ, trở về nhà, vợ hiền, con ngoan, con gái hiểu chuyện.

Ngài có thể thư giãn, nghe họ kể những chuyện vụn vặt trong cuộc sống thường ngày, trong nhà tràn ngập tiếng cười.

Ngài kể cho họ nghe những chuyện phong thổ nơi đóng quân, cùng bọn trẻ đùa vui một chút, bọn trẻ tôn kính ngài, yêu mến ngài.”

“Những yêu cầu đó có quá đáng không?”

“Công bằng mà nói, thật sự chẳng hề quá đáng.”

“Con nghĩ rằng, trên đời này, rất nhiều nam nhân, bất kể địa vị cao hay thấp, đều khao khát một cuộc sống ổn định và bình yên như vậy.

Đó chỉ là những ngày tháng bình thường giản dị.”

“Ngài đã mang đến cho gia đình một cuộc sống sung túc, địa vị vững chắc của hầu phủ.

Nhưng thời gian ngài dành cho gia đình lại có hạn, nên ngài hy vọng quãng thời gian ít ỏi ấy sẽ được dùng để tận hưởng sự ấm áp và yên bình, chứ không phải vướng vào những cuộc cãi vã không hồi kết hay phải đứng ra dàn xếp mâu thuẫn.”

Định Tây hầu lặng lẽ lắng nghe, ngón tay siết chặt lấy chén trà mà không hay biết.

Những lời của A Vi như đánh trúng vào tận sâu trong lòng ông.

So với những trận cãi vã như “giông tố” hôm qua, sự bình tĩnh của hôm nay lại để lại trong lòng ông một dấu ấn nặng nề chẳng kém.

Cuối cùng, ông không nhịn được, thở dài một hơi thật sâu.

A Vi dừng lại một chút, rồi hỏi:
“Vậy, ngài có từng nghĩ rằng… chính mẫu thân con đã hủy hoại cuộc sống mà ngài mong muốn không?”

“Ngài không cần phủ nhận đâu, phủ nhận cũng vô ích thôi.”

“Mẫu thân khiến hậu viện của ngài không yên ổn, khiến cho cái lý ‘tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ’ của ngài khuyết mất chữ ‘gia’.

Bà ấy khiến ngài mắc kẹt ở giữa, chẳng thể trọn vẹn niềm vui gia đình…”

A Vi hít sâu một hơi, đổi giọng, âm điệu trầm xuống đầy nặng nề:
“Nhưng con buộc phải nhắc nhở ngài, đây cũng chính là cuộc sống trong mộng tưởng của mẫu thân con.

Kẻ đã hủy hoại mọi thứ trong giấc mộng ấy không phải là mẫu thân con, mà là… Tằng thị!”

“Nếu không có Tằng thị hãm hại ngoại tổ mẫu, thì mọi thứ mà ngài khao khát, thậm chí không cần phải nói là dễ dàng có được, bởi vì… nó vốn dĩ đã thuộc về ngài rồi!”

“Ngài từng nói, ngài dành cho ngoại tổ mẫu sự chân thành và tình cảm.

Mẫu thân con kể rằng, ngoại tổ mẫu xuất thân thanh bạch, tính cách vui vẻ, giỏi việc quản gia.

Nếu bà ấy còn sống, tình mẫu tử vốn dĩ đã thân thiết, cữu cữu con dù có mềm yếu cũng chẳng thể kém cỏi hơn hiện giờ.”

“Với tính cách của ngoại tổ mẫu, khi ngài từ Đông Việt trở về, bà ấy sẽ không hiểu lầm chuyện giữa ngài và Liễu nương tử, thậm chí còn có thể tán thưởng sự kiên cường của bà ấy.

Vậy thì làm gì có chuyện ngày nay xuất hiện Liễu di nương hay Lục Cửu nương!”

“Ngài tự nghĩ xem, nếu ngoại tổ mẫu vẫn còn sống, hai người làm bạn với nhau suốt ba mươi năm, cuộc sống ấy sẽ là thế nào?

Sẽ đẹp đẽ ra sao?”

Cổ họng của Định Tây hầu khẽ chuyển động.

Ông chưa từng nghĩ tới điều đó.

Trong suy nghĩ của ông, từ trước tới nay, chuyện vợ cả đã mất, bản thân ông cũng đã tái hôn, nếu còn mải tưởng nhớ về “nếu như vợ cả còn sống” thì chẳng khác nào bất kính với người kế thất.

Cuộc sống mà, luôn phải hướng về phía trước.

Thế nhưng những lời của A Vi vang lên như những nhát dao sắc bén, lạnh lùng rạch toang lồng ng.ực ông, để lộ ra những vết sẹo chưa từng kịp lành.

“Chính Tằng thị đã hủy hoại tất cả của ngài!”

“Bà ta mang đến cho ngài gì chứ?

Một người vợ đầu đoản mệnh, một đứa con gái trái lòng, một đứa con trai trưởng ngu ngốc và yếu đuối, một gia sản bị rút ruột không đáy!”

“Bà ta có từng bồi thường cho ngài không?

Tằng Thái Bảo đã từng giành cho ngài cơ hội gì trước mặt Thánh thượng chưa?”

“Đúng, có thể Tằng Thái Bảo từng nói vài lời tốt cho ngài trước mặt Thánh thượng.

Nhưng thử hỏi xem, tiến cử một người thân bất tài thì có lợi gì cho ông ta?

Chính năng lực của ngài mới xứng đáng để ông ta tiến cử.”

“Nhưng nếu thiếu đi vài lời tâng bốc ấy, ngài có chắc là sẽ không lọt vào mắt Thánh thượng sao?”

“Quan trường đầy rẫy những lão thần và tân quý, muốn thăng tiến đâu phải chuyện dễ dàng.

Nhưng ngài là hầu gia!

Thánh thượng sớm đã để ý tới ngài rồi.

Dù có muộn hơn một chút, ngài vẫn sẽ được trọng dụng.”

“Ngài không phải là kẻ chỉ biết dựa vào thế tập ăn không ngồi rồi.

Sự sủng ái mà ngài có được ngày hôm nay là thành quả của bao năm nỗ lực, chứ chẳng phải nhờ vào mấy mối quan hệ thông gia!”

“Người dốc sức vì Thánh thượng là ngài.

Người đi dẹp loạn là ngài.

Người đóng quân ở Đông Việt hai năm cũng là ngài.

Từng bước từng bước nhận được sự tín nhiệm của Thánh thượng, vẫn là do chính ngài!”

“Không có Tằng Thái Bảo, tệ nhất thì ngài chỉ vất vả thêm hai năm nữa thôi, rồi cũng sẽ thành công!”

“Hay là… ngài không có đủ tự tin vào bản thân mình?”

Định Tây hầu sững sờ.

Ánh đèn trên bàn dầu sáng rực, ông nhìn thấy trong đôi mắt của A Vi lấp lánh ánh lệ.

Không có sự mỉa mai, không có châm chọc, từng câu từng chữ đều chân thành, như tiếng sấm vang dội trong lòng ông.

Sự hỗ trợ từ thông gia, vốn dĩ không nên tính toán lời lỗ.

Một khi đã rơi vào vòng so đo, tranh luận xem ai được lợi hơn, thì chẳng còn ai giữ được sự bình thản nữa.

Ngay cả trên triều đình, chuyện cha vợ-con rể, huynh đệ họ trở mặt thành thù cũng chẳng hiếm gặp.

Nhưng điều khiến Định Tây hầu bối rối nhất lại là hai chữ “tự tin”.

Ông luôn tin tưởng vào bản thân mình.

Ông biết những năm qua, bản thân đã làm rất tốt, không phụ lòng tin của Thánh thượng.

Đó là trách nhiệm của một thần tử, là bổn phận khi ăn lộc vua ban.

Thế nhưng khi nghe những lời của A Vi, mọi thứ bỗng chốc trở nên sai lệch…

“Trời không còn sớm, ngoại tổ phụ về đi thôi.

Con phải hầu hạ mẫu thân nghỉ ngơi.” A Vi nói.

Định Tây hầu đành đứng dậy rời đi.

Trước khi ra khỏi cửa, ông do dự một hồi rồi vẫn dặn thêm một câu:
“Nếu muốn tới tửu quán thì cứ đi đi.

Dù sao cũng không xa, nhớ ngồi xe ngựa ra vào, đừng để lạnh quá.”

Văn ma ma tiễn ông ra ngoài, còn A Vi thì quay lại tìm Lục Niệm.

Lục Niệm đang ngồi trước bàn trang điểm bôi cao dưỡng da.

Nghe thấy tiếng bước chân, nàng quay đầu lại, trong ánh mắt nhìn A Vi tràn đầy ý cười:
“Ta không tin ông ta với Tằng Thái Bảo lại chẳng có chút khúc mắc gì.”

A Vi cầm lấy cây lược, bắt đầu chải tóc cho nàng:
“Ngoại tổ phụ không chủ động tìm Tằng Thái Bảo gây phiền phức, nhưng Tằng Thái Bảo cũng chẳng phải người chỉ biết ngồi tụng kinh niệm Phật đâu.

Thể diện của Định Tây hầu tuy đáng giá, nhưng mặt mũi của một Thái Bảo cũng đâu rẻ hơn chút nào.”

Sáng hôm sau
Sau buổi chầu, trên quảng trường trước điện, các quan lại lục tục rời đi từng nhóm nhỏ.

Định Tây hầu đi một mình, sải bước thật nhanh.

Chuyện của tiểu thiếp và con gái thứ mấy hôm trước đã bị bàn tán không ít.

Nay chuyện tái giá cũng chẳng phải điều hay ho gì, ông chẳng muốn lại trở thành đề tài cho người khác “thăm hỏi” thêm lần nữa.

Tránh được thì tránh.

Không ngờ, vừa đi được nửa đường thì bị Tằng Thái Bảo gọi giật lại.

Tằng Thái Bảo năm xưa từng bị thương khi cứu giá, giờ đã lớn tuổi nên đi lại không được nhanh nhẹn, nhất là vào mùa đông lạnh giá.

Đợi đến khi ông ta dừng hẳn, tay vẫn đút trong tay áo, ánh mắt đầy vẻ quan tâm pha chút trách móc:
“Ta nghe nói, ngươi đã đưa A Nghiên ra trang trại rồi?

Đừng bảo với ta là nàng ấy ra đó dưỡng bệnh nhé.

Ta đoán chắc lại có chuyện gì trong nhà rồi.

Ta biết ngươi khó xử, nhưng dù sao A Nghiên cũng là phu nhân của ngươi, chẳng có lý nào trưởng bối phải nhường chỗ cho vãn bối cả.

Vợ chồng trẻ rồi cũng thành bạn già, đến từng tuổi này rồi, còn cãi nhau làm gì?

Mau đưa người về đi.”

Mạch máu trên trán Định Tây hầu khẽ giật.

Giữa gió lạnh, ông hạ mắt xuống, giọng điệu bình thản nhưng lời nói sắc như dao:
“Nếu Thái Bảo đã nhắc đến, vậy ta cũng muốn cùng ngài bàn bạc một chút.

Tằng thị đúng là không phải đi dưỡng bệnh.

Nàng ta đã hại chết vị hôn phu trước kia của ta, rồi lại hại chết Bạch thị.

Hai mạng người, ta thật sự không thể làm ngơ.

Huống chi, Bạch thị còn để lại hai đứa con, bọn chúng không thể chấp nhận được việc giữ lại người đàn bà đã đầu độc mẫu thân ruột của mình trong phủ.

Liên quan tới mạng người, ngài nói xem, ta nên xử trí thế nào?”

Đôi mắt của Tằng Thái Bảo bỗng chốc tối sầm lại.

Bàn bạc?

Đây mà gọi là bàn bạc sao?!

Rõ ràng là muốn tính toán sòng phẳng!

Tằng Thái Bảo thầm mắng Tằng thị không ra gì.

Bảo bà ta che giấu mọi chuyện cho kỹ, vậy mà vẫn để lộ ra.

Chuyện đơn giản thế mà cũng không làm xong!

Đúng là vô dụng!

Đã thế còn không nhanh chóng báo tin cho ông ta biết, để giờ đây mất thế chủ động một cách vô ích.
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 93: Ngươi đi hỏi thăm Dư cô nương một chút


Trên quảng trường trống trải, gió lớn gào thét khiến người ta đứng không vững.

Thân hình của Tằng Thái Bảo khẽ lảo đảo.

Định Tây hầu mắt nhanh tay lẹ, vội đỡ lấy ông ta:
“Đi phía trước tránh gió rồi hẵng nói.”

Không hẳn là ông ta thực sự quan tâm đến sức khỏe của Tằng Thái Bảo, mà bởi người trẻ sợ người già, kẻ khỏe mạnh sợ kẻ ốm yếu, và tất cả đều sợ những kẻ không cần mạng sống.

Chẳng may Tằng Thái Bảo lảo đảo ngã sấp trước mặt ông ta, vị quyền thần tuổi tác đã cao, chân tay không còn linh hoạt này chỉ cần kêu vài tiếng “ôi chao”, cũng đủ rắc rối rồi.

Tằng Thái Bảo mượn thế, cả hai cùng di chuyển đến dưới cổng thành.

Gió không còn thổi tới, Định Tây hầu buông tay, nói:
“Chuyện vừa nãy vẫn cần ngài định đoạt chủ ý.”

Tằng Thái Bảo khẽ cụp mi mắt nhìn ông ta.

Không khí thoáng chốc trầm lắng, bầu không khí nặng nề đến mức dù cách xa cũng có thể cảm nhận được.

Dưới hành lang phía trước, Tiết Văn Viễn để ý thấy tình hình bên này.

Đoán được tâm tư của Tằng Thái Bảo, Tiết đại nhân vội vàng bước tới, hành lễ rồi nói:
“Thái Bảo đại nhân, hạ quan có việc muốn thỉnh giáo ngài…”

Tằng Thái Bảo thuận thế mà xuống bậc thang, khẽ ho một tiếng, quay sang Định Tây hầu nói:
“Ta muốn gặp A Nghiên.”

Định Tây hầu đáp:
“Nàng đang ở trang viên.”

“Thì cũng phải gặp người một lần,” giọng Tằng Thái Bảo trầm xuống, ngữ khí nặng nề hơn, “Xử án trong nha môn còn phải nghe đủ lời nguyên cáo và bị cáo.

Ngươi mở miệng liền nói nàng phạm hai tội lớn, ta cũng phải nghe nàng phân trần đôi câu chứ?”

Lý lẽ thuyết phục, Định Tây hầu không từ chối, chỉ hỏi:
“Vậy khi nào ngài muốn gặp?”

Tằng Thái Bảo liền tỏ vẻ thận trọng:
“Tiết đại nhân còn chờ nói chuyện, công việc cuối năm cũng không ít, đợi đến khi nha môn đóng ấn đã, không vội trong hai ngày này.”

Định Tây hầu gật đầu đáp ứng, mắt dõi theo Tiết Văn Viễn đỡ Tằng Thái Bảo rời đi.

Sau đó, ông ta chậm rãi thu hồi ánh mắt.

Trì hoãn không nhất thiết là do bận rộn, đôi khi chỉ là vì chưa kịp chuẩn bị.

Chiều tối, Định Tây hầu trở về phủ.

Ông ta vốn định đến Xuân Huy viên, dù có bị mỉa mai hay châm chọc sắc bén thì ít nhất cũng để ý đến tình trạng của A Niệm.

Nhưng gia nhân báo lại, cô phu nhân và biểu cô nương đã ra ngoài từ sớm, vẫn chưa quay về.

Hỏi thêm mới biết, họ đã đến tửu quán ở Tây Nhai.

Định Tây hầu bèn định đi thăm Lục Chí.

Nhưng Lục Chí cũng không có ở nhà, buổi chiều được cha mẹ dẫn đi cùng để giải thích với gia đình các bạn đồng môn đã xảy ra xô xát.

Phu thê Lục Trì cũng không ở trong phủ.

Họ mang theo con cái về thăm nhà mẹ đẻ họ Giản.

Phủ này vừa gặp biến cố, bên nhà họ Giản chắc chắn cũng lo lắng, nên phải về thăm hỏi một chuyến.

Lúc này, trong phủ chỉ còn Liễu nương tử và một số người khác.

Liễu nương tử vào phủ đã lâu, Định Tây hầu chưa từng đặt chân đến Anh viên.

Hôm nay có lẽ vì lòng trống trải, không muốn làm một “lão già cô quạnh”, ông ta chậm rãi bước tới đó.

Liễu nương tử và mọi người đều ngạc nhiên khi thấy ông ta đến.

Khi Định Tây hầu vào phòng, chỉ thấy trên bàn bày mấy quyển sổ sách.

Liễu nương tử nói:
“Ta đang dạy Cửu nương xem sổ sách.

Đợi tiêu cục lấy lại được, dù có thuê người trông coi thì bản thân cũng phải biết cách làm chưởng quầy lớn.”

Định Tây hầu gật đầu tán thành.

Thân thể của Cửu nương yếu ớt, suốt ngày bận tâm đến tiêu cục thì không ổn, nhưng nếu giao phó cho người khác mà bản thân không hiểu gì, chẳng khác nào bị bịt mắt mà bị lừa gạt.

Nghĩ đến chữ “lừa gạt”, Định Tây hầu cảm thấy khó chịu.

Ông ta khẽ ho một tiếng, nhìn sang Hứa Phú Đức:
“Cửu nương học xem sổ sách, sao ngươi cũng ở đây?

Ta nhớ trước kia ngươi rất thích ra phố dạo chơi mà?”

Hứa Phú Đức cười gượng.

Không ngờ nhạc phụ đại nhân còn để ý đến cả hành tung của mình.

Nghĩ lại thì cũng đúng!

Đặt mình vào vị trí của người làm cha, đón con gái trở về bên cạnh, ai lại muốn kèm theo một gã con rể vô dụng chứ?

Nhưng Hứa Phú Đức không muốn bị đuổi ra khỏi cửa, đành ngoan ngoãn đáp:
“Con bưng trà rót nước cho nhạc mẫu và Cửu nương.”

Định Tây hầu liếc nhìn hắn một cái.

Hứa Phú Đức càng thêm chột dạ, nghĩ rằng hành tung của mình đã sớm bị phát hiện, đành thú nhận:
“Thực ra là con sợ bị kéo vào sòng bạc,” hắn ngượng ngùng nói, “Trước đây để điều tra một số việc, con phải giả vờ vào đó, tỏ ra như mắc câu mới moi được tin tức.

Cuối năm ai cũng muốn kiếm tiền, con sợ ra phố lại bị kéo vào, trở thành kẻ ngốc bị lừa.

Cũng sợ nếu từ chối, bọn họ nhận ra trước đó con cố tình, rồi tức giận đánh úp con một trận.”

“Thế nên dứt khoát trốn trong nhà, đợi đến khi bọn họ tìm được kẻ ngốc mới vào dịp cuối năm thì chắc cũng chẳng nhớ đến con nữa.”

Định Tây hầu nghe mà đầu ong ong, nhất thời không biết nên nói gì với Hứa Phú Đức.

Ngược lại, Cửu nương lại thấy thú vị.

Dù nàng đã nghe Hứa Phú Đức kể qua những tâm tư này, nhưng vẫn cảm thấy buồn cười, chống cằm cười khúc khích không ngừng.

Tiếng cười ấy thu hút ánh mắt của Định Tây hầu.

Tiếng cười trong trẻo như chuông bạc, vui tươi, rạng rỡ, dù Cửu nương thân thể yếu ớt, nàng vẫn mang nét hồn nhiên, hạnh phúc.

A Niệm đã bao lâu không cười như vậy rồi?

Đúng là A Niệm cũng cười, nhất là khi ở bên A Vi, nàng thường mỉm cười không ít.

Nhưng kiểu cười vô tư, thoải mái từ tận đáy lòng như thế này, dù Định Tây hầu cố gắng nhớ lại thế nào cũng không thể gắn nó với hình ảnh của A Niệm.

Ông ta nghẹn lại, hơi thở khựng lại nơi lồng ng.ực.

Thật ra, Cửu nương cũng từng trải qua không ít chuyện đau lòng.

Nàng là trẻ sinh non, thể chất yếu ớt, bị tên cha khốn nạn nghi ngờ về thân thế, cùng mẹ bị đuổi khỏi tiêu cục, sống những năm tháng cơ cực.

Vậy mà nàng vẫn có thể cười rạng rỡ như thế.

Ánh mắt Định Tây hầu dừng lại trên Liễu nương tử—một người mẹ trân trọng và che chở cho con gái mình.

Rồi lại nhìn sang Hứa Phú Đức—một người chồng tuy chẳng mấy tài cán hay thể diện nhưng lại biết dỗ dành và yêu thương vợ.

Huống chi, Cửu nương từng hiểu lầm rằng mình thực sự là con thứ của phủ hầu.

Nàng chẳng mấy thân thiết hay gần gũi với người cha đột ngột xuất hiện này, nhưng nàng hiểu rằng từ nay về sau, gia đình sẽ không còn phải lo lắng về cơm áo gạo tiền nữa.

Ngoài cơ thể yếu ớt thi thoảng phải mời thầy thuốc, nàng chẳng có gì phải phiền lòng.

Nàng lấy đâu ra nỗi buồn nữa chứ?

Nhưng A Niệm thì hoàn toàn khác.

Định Tây hầu tự vấn lòng mình, từ sau khi Bạch thị qua đời, A Niệm có từng trải qua niềm vui thực sự nào chưa?

Một kế mẫu đầy toan tính, một người cha dửng dưng, một đệ đệ ngây thơ đến mức khờ khạo, một nhà chồng rối ren không biết tình cảm tốt xấu ra sao, một người chồng mất sớm, để lại nàng đơn côi với đứa con gái yếu đuối mang bệnh từ trong bụng mẹ…

A Niệm có gì để mà vui vẻ chứ?

Phải rồi, cũng có một chuyện.

A Vi đã hồi phục, hiện tại rất khỏe mạnh.

Đó chắc là niềm an ủi duy nhất của A Niệm…

Nhưng đời người, làm sao chỉ trông chờ vào một niềm vui duy nhất để sống tiếp được?

Ánh mắt Định Tây hầu lại dừng trên Cửu nương.

Cửu nương cười tươi rói, nghiêng người thì thầm với Hứa Phú Đức, đôi vợ chồng trẻ ríu rít chuyện trò, ánh mắt nàng lấp lánh như bầu trời đêm rực rỡ ánh sao.

Đứa con gái giả của ông ta lại hạnh phúc đến vậy, còn đứa con gái ruột thịt thì…

Định Tây hầu không dám nghĩ tiếp nữa, sợ bản thân không kìm được cảm xúc.

Ông ta khẽ ho một tiếng, cố tỏ vẻ nghiêm nghị hỏi Liễu nương tử:
“Thuận Thiên phủ có nói khi nào bàn giao lại tiêu cục không?”

Liễu nương tử đáp:
“Bọn họ nói sẽ giải quyết trước Tết, đến lúc đó cần qua đó lăn tay và ký văn thư.

Đợi mọi việc xong xuôi, ta định cho tiêu cục tạm ngừng hoạt động một thời gian.

Nhiều tiêu sư đều là tay chân thân tín của Vương Khánh Hổ, ta không muốn dùng họ nữa.

Theo ý cô phu nhân, Vạn Thông tiêu cục bị quan phủ điều tra, việc làm ăn chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng, có lẽ nhiều tiêu sư sẽ tìm đường khác.

Đến lúc đó có thể lựa chọn những người phù hợp hơn.”

“Chuyện ở nha môn rắc rối lắm, lúc đi thì gọi Phùng Thái…” Định Tây hầu nói đến đây thì ngừng lại, đổi ý:
“Để A Tuấn đi cùng, tiện thể đổi luôn hộ tịch của Cửu nương, làm xong trước Tết để đón một năm mới thật trọn vẹn.”

Liễu nương tử liếc nhìn Định Tây hầu một cái rồi gật đầu đồng ý.

Định Tây hầu không ở lại dùng bữa.

Bầu không khí ấm cúng nơi này nhắc ông ta rằng mình chỉ là một “người cha giả”, không thể và cũng không muốn chen vào.

Hơn nữa, nhìn thấy Cửu nương hoạt bát vui vẻ như vậy lại khiến ông ta nghĩ đến A Niệm, lòng càng thêm nặng trĩu, chẳng còn chút khẩu vị nào.

Ông ta thà ngồi ăn bữa cơm đầy ớt cay xé lưỡi do A Vi nấu cùng A Niệm còn hơn.

Liễu nương tử tiễn ông ta ra ngoài.

Nhận ra sự trầm mặc đầy phức tạp của Định Tây hầu, Liễu nương tử nói nhẹ nhàng:
“Hầu gia, sống ở đời cần có điều để mong chờ.

Ngài muốn cô phu nhân khá hơn, thì phải cho nàng một niềm hy vọng.”

Gió lạnh rít lên, Định Tây hầu chắp tay sau lưng, từng bông tuyết nhỏ rơi lả tả, quét qua mặt, để lại cảm giác rát buốt như dao cứa.

Tối muộn.

A Vi và Lục Niệm trở về phủ.

Nghe nói Lục Chí cũng vừa về, A Vi xách theo hộp đồ ăn đến thư phòng tìm hắn.

“Chân giò hầm cả buổi đấy, ăn lúc còn nóng đi,” A Vi vừa dọn đồ lên bàn vừa nói, “Đây là canh móng giò nấu với đậu, còn có một đĩa gân hầm, thêm một đĩa giò thủ trong suốt, món này để nguội ăn cũng ngon, không cần vội.”

Lục Chí chớp chớp mắt.

Hắn cứ tưởng chỉ có một nồi chân giò hầm, không ngờ lại là cả một bàn đầy các món từ móng giò.

Trước món ngon bày trước mặt, hắn cũng chẳng còn bận tâm việc bị biểu tỷ châm chọc chuyện bị thương nữa, hớp vài ngụm canh rồi cầm lấy móng giò bắt đầu gặm.

Không cần giữ hình tượng.

Dù sao thì mặt hắn cũng chưa hết sưng, bầm tím chỗ nọ chỗ kia, có giữ hình tượng cũng chẳng để làm gì.

“Hôm nay mất mặt thật rồi.”

“Phải xin lỗi mấy người vô tình bị liên lụy, cảm ơn những ai lao vào can ngăn, rồi lại phải tính sổ với mấy thằng nhóc gây chuyện.”

“Biết không, vừa tới tiền sảnh, còn chưa kịp nói câu nào, phụ thân của Phan Chí Hồng đã tát cho hắn một cái trước mặt mọi người.

To mồm, mạnh tay thế thôi, chứ rõ ràng là làm màu cho chúng ta xem!”

“Phan Chí Hồng là tay chân của Hoàng Vũ, mà thằng Hoàng Vũ đó chính là kẻ hôm qua bị ta đấm thẳng vào bụng.”

“Không gặp được Hoàng Vũ, nghe nói hắn đang nằm trên giường dưỡng thương.

Nhưng ta biết thừa, hôm qua ta đuổi theo đánh hắn cả buổi, cũng không đến mức không xuống giường nổi, chắc là lại giả vờ thôi.”

“Lão phu nhân họ Hoàng còn muốn ta phải xin lỗi cơ.

Mẫu thân ta bảo ta xin lỗi trước cho xong chuyện, nhưng vừa xin xong, mẫu thân liền quay sang tính sổ với bọn họ, mắng cho nhà họ Hoàng mặt mày tái mét.”

“Nhận sai?

Tất nhiên là không rồi!

Nhà họ Hoàng gào lên đòi kiện cáo.

Mẫu thân ta liền hỏi mượn bút mực, đích thân viết đơn kiện hộ luôn.

Lão phu nhân nhà họ Hoàng cầm lấy tờ đơn mà tay run lẩy bẩy.”

“Phụ thân ta thì không nói gì, chỉ lạnh mặt đứng đó.

Trông ông ấy đáng sợ lắm.

Ta thì không sợ, nhưng mấy người khác thì sợ chết khiếp.”

Vừa nhai móng giò mềm nhừ, Lục Chí vừa thao thao kể chuyện.

Móng giò hầm vừa mềm vừa thơm, dù mặt hắn chưa lành hẳn, ăn cũng không thấy khó khăn gì.

“Nội tổ phụ…” Lục Chí buột miệng nói ra, nhận ra không ổn, vội liếc nhìn A Vi rồi sửa lại, “Ý ta là… ừm, tỷ biết ta nói ai đấy.

Bà ấy đã giết người, chẳng lẽ cứ để bà ấy sống mãi ở trang viên như thế, không ai quản lý sao?”

A Vi gắp một miếng giò thủ, nhàn nhạt đáp:
“Còn phải xem ngoại tổ phụ xử lý thế nào.”

Ngoại tổ phụ vừa khéo xuất hiện, nghe được câu đó, ông ta khẽ cười gượng hai tiếng.

Lục Chí vội buông móng giò, lau tay rồi đứng dậy hành lễ.

Ngước nhìn Định Tây hầu, ánh mắt hắn đầy nghi hoặc xen lẫn lo lắng:
“Tổ phụ, bà ấy đã giết người, thật sự có thể bỏ qua như không có chuyện gì sao?”

Cùng lúc đó.

Trong nha môn của Trấn phủ ty, ánh đèn rực rỡ soi rõ từng nét mặt.

Mục Trình Khanh đứng sau án thư lớn, ngón tay gõ nhịp lên xấp giấy trước mặt.

“Giết người à?

Không thể bỏ qua được!” Hắn nhếch mép cười khẩy, “Tự mình không xử lý, thì sớm muộn cũng phải trả giá.”

Thẩm Lâm Dục tựa người vào cạnh án thư, giữa chân mày lộ rõ vẻ mệt mỏi.

Nghe vậy, hắn cúi đầu nhìn về phía bà tử đang quỳ dưới đất.

Đó là một bà vú từng phục vụ trong phủ họ Phùng, bị bắt cùng lúc khi phủ Phùng bị tịch thu, đã bị giam giữ một thời gian.

Lúc đầu, bọn họ bận rộn điều tra đống văn thư trong thư phòng của Phùng Chính Bân, bề ngoài thì kiểm tra sổ sách tài chính của nhà họ Phùng, nhưng thực chất, Thẩm Lâm Dục và Mục Trình Khanh âm thầm điều tra vụ án gian lận khoa cử từ sáu năm trước.

Vụ án này được điều tra vô cùng thận trọng, gần như bí mật tuyệt đối.

Ngoài hai người bọn họ, chỉ có Nguyên Kính biết chút ít.

Do thiếu nhân lực nên tiến độ rất chậm.

Dù đã thu thập được một vài manh mối nhưng vẫn chưa đủ để thúc đẩy vụ án tiến xa hơn.

Chính vì vậy, họ vẫn chưa kịp thẩm vấn kỹ những người hầu già nua bên cạnh Phùng lão phu nhân.

Cho đến vài ngày trước, Thẩm Lâm Dục bất chợt nhớ lại vẻ bất thường trên người Phùng Du trong ngày khai quật mộ, liền cho triệu tập tất cả người nhà họ Phùng để thẩm vấn.

Phùng Du khăng khăng nói mình “không biết gì”, lấy lý do còn nhỏ nên mọi chuyện trong nhà đều không hay biết.

Từ Phu nhân cũng một mực khẳng định “không liên quan”, hỏi nhiều thì lại khóc lóc thảm thương.

Nhưng cuối cùng cũng có người mở miệng.

Bà vú kia không chịu nổi sự khắc nghiệt của nhà lao.

Chỉ sau một khắc bị Thẩm Lâm Dục lạnh mặt tra hỏi, bà ta đã khai ra hết: Chính Phùng Du đã hạ độc khiến Phùng lão phu nhân tê liệt, mà Từ phu nhân thì bao che cho con, thậm chí còn đe dọa bà ta không được tiết lộ.

Lời khai được ghi chép lại, đóng dấu tay xác nhận.

Mục Trình Khanh khẽ cười lạnh:
“Bà già đó cấu kết với Phùng đại nhân để sát hại phu nhân họ Kim.

Chà, chín năm trôi qua, Phùng đại nhân chết trong chùa, còn bà già kia thì bị chính cháu ruột ép uống thuốc đến tàn phế.

Đúng là…”

“Chín năm,” Thẩm Lâm Dục chậm rãi lên tiếng, “Quá lâu rồi.”

“Lâu thì lâu,” Mục Trình Khanh ngừng lại, rồi như nhớ ra điều gì, nói tiếp, “Nhưng dù lâu đến đâu, miễn là có câu trả lời thì vẫn tốt hơn là không.”

Thẩm Lâm Dục bật cười khẽ:
“Cũng đúng.”

Bà vú kia bị giải đi.

“Đồ hồi môn của Kim phu nhân gần như đã bị tẩu tán sạch sẽ, tan tác không còn lại bao nhiêu,” Mục Trình Khanh nghiêm mặt nói tiếp, “Phùng Chính Bân gửi phần lớn số bạc vào ngân trang Bảo Nguyên, nhưng chỗ đó thì…”

Thẩm Lâm Dục cắt lời:
“Lại lấy lý do cuối năm bận rộn để kéo dài?”

“Đúng thế,” Mục Trình Khanh nhún vai, “Ngay cả đơn yêu cầu điều tra của Thuận Thiên phủ gửi đến Bảo Nguyên cũng bị trì hoãn.”

“Vậy thì bảo Dương đại nhân bắt luôn Tiết Văn Viễn lại,” Thẩm Lâm Dục lạnh lùng nói, “Giết gà dọa khỉ.”

Khóe miệng Mục Trình Khanh giật giật:
“Ngươi định làm khó Dương đại nhân thật đấy à?”

Thẩm Lâm Dục liếc xéo:
“Có gì thì nói thẳng.”

“Phu nhân Định Tây hầu hiện đang ở trang viên, bên ngoài nói là dưỡng bệnh, nhưng ai mà không biết, có cô phu nhân và Dư cô nương ở đó, thì bệnh gì mới là vấn đề chính.”

Hắn nheo mắt cười đầy ẩn ý:
“Hay là ngươi thử đi hỏi Dư cô nương xem, rốt cuộc họ nắm được nhược điểm gì của phu nhân hầu gia mà ép bà ta ra tận trang viên?”

Thẩm Lâm Dục khoanh tay trước ngực, nhướn mày đầy thách thức:
“Không sợ ta lại bị sai đi làm việc vặt à?”

Mục Trình Khanh thầm rủa một câu “nhớ dai”, ngoài miệng lại cười tươi:
“Không phải chính ngươi nói, điều tra vụ án thì ai giỏi gì dùng nấy sao?

Nếu Dư cô nương nắm được đầu mối gì quan trọng thì sai đi cũng đáng mà.”

Thẩm Lâm Dục bật cười:
“Cảm ơn cái ‘chủ ý hay’ của ngươi nhé.”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 94: Dư Cô nương hài lòng chưa?


Cửa Tây Nhai.

Tửu quán Quảng Khách Lai, sau nhiều ngày đóng cửa, nay đã khai trương trở lại.

Tưởng rằng phải đợi đến sau Tết mới mở cửa, nào ngờ hôm nay tiếng pháo nổ rền vang suốt nửa khắc, âm thanh chát chúa vang vọng khắp phố, khói pháo mịt mù, theo gió bay tản khắp nơi, để lại mùi khói cay nồng phảng phất trên từng con ngõ nhỏ.

Trên tầng lầu của một gian nhã thất nhìn ra phố, Lục Niệm ngồi nhàn nhã, trong khi A Vi đẩy cánh cửa sổ sát phố để quan sát bên dưới.

“Náo nhiệt thật đấy, nhưng trông Ông nương tử có vẻ hơi căng thẳng.”

Khi tửu quán hoạt động trở lại, dĩ nhiên không thể để quản lý cũ tiếp tục điều hành.

Lục Niệm đã hỏi qua ý kiến của Ông nương tử.

Ông nương tử cùng con gái đã sống tạm ở phía sau cửa hàng một thời gian, nên cũng nắm rõ tình hình trên dưới.

Thế nhưng nàng ta vốn chỉ là “nội trợ hiền” của Vương Đại Thanh, quen lo liệu việc gia đình chứ chưa từng đụng đến chuyện kinh doanh, càng không nói đến việc làm chưởng quầy cho một tửu quán.

Tuy vậy, nàng ta vẫn sẵn sàng thử sức.

Theo thỏa thuận trước đó với Lục Niệm, Ông nương tử hoàn toàn có thể cầm lấy một khoản bạc hậu hĩnh rồi rời khỏi kinh thành để sống yên ổn.

Nhưng nàng không muốn sống kiểu “ngồi mát ăn bát vàng”.

Nàng hiểu rằng cuộc sống của mẹ góa con côi, không chỉ khó khăn khi thiếu tiền, mà ngay cả khi có tiền cũng chẳng dễ dàng gì.

Trước kia không có lựa chọn, còn bây giờ khi đã có cơ hội, Ông nương tử muốn tìm một công việc ổn định, và quan trọng hơn là có một chỗ dựa vững chắc.

Hơn nữa, Lục Niệm cũng nói thẳng:

“Nửa năm đầu, bất kể lời lãi thế nào, cũng không quan trọng.”

Đúng vậy.

Sau khi vạch trần bộ mặt giả tạo của Tằng thị, việc tửu quán này có thể kiếm được bao nhiêu bạc ròng không còn là vấn đề lớn nữa.

A Vi khuyên Lục Niệm mở cửa trở lại, cũng là muốn nàng có thêm lý do để rời khỏi phủ hầu, đỡ phải suốt ngày vùi mình trong cái nơi đầy u uất ấy.

Quản lý đã ổn định, chuyện bếp núc và nhân công không gặp khó khăn gì.

Văn ma ma từng có kinh nghiệm điều hành trong Tứ Ti Lục Cục, chỉ cần tuyển vài người là có thể sắp xếp đâu vào đấy.

Dù sao cũng không phải làm ăn một lần rồi thôi, dùng người không phù hợp thì đổi người khác là xong.

“Con người mà, việc gì làm quen tay rồi cũng thành thạo thôi.

Ngày đầu tiên làm chưởng quầy, căng thẳng là chuyện bình thường,” Lục Niệm vừa nhâm nhi đĩa đậu phộng giấm chua vừa nói, vị chua vừa đủ, nàng rất thích, “Cũng giống như lần đầu tiên ta… giết người vậy, cũng khá hồi hộp.”

A Vi bật cười, quay đầu nói với nàng:
“May mà chưa có khách nào lên tầng, chứ nghe được câu này chắc sợ chết khiếp.”

Lục Niệm kẹp một hạt đậu phộng đưa vào miệng, không nói thêm gì nữa.

A Vi lại quay đầu nhìn xuống phố.

Tiếng pháo cuối cùng vừa dứt, làn khói vẫn còn lững lờ bay. Ở góc phố phía xa, ánh mắt A Vi chạm phải một ánh nhìn từ phía bên kia.

Chủ nhân của ánh mắt ấy khoác áo choàng đen, giữa đám đông không quá nổi bật.

Thế nhưng, dung mạo tuấn tú, phong thái tao nhã, chiếc trâm cao cài tóc lấp lánh dưới ánh nắng mùa đông khiến hắn trở nên quý khí khác thường.

Chỉ một cái liếc mắt cũng đủ nhận ra xuất thân không tầm thường.

Người đó hơi ngẩng đầu lên, ánh mắt dừng lại nơi A Vi đang đứng bên cửa sổ.

A Vi khẽ sững lại, rồi nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, nhẹ nhàng gật đầu chào.

Không ai khác, đó chính là Thẩm Lâm Dục.

Hắn vốn định tìm cớ để đến phủ Định Tây hầu điều tra thêm một vài chuyện.

Tình cờ đi ngang qua cửa Tây Nhai, bắt gặp cảnh tửu quán này đang đốt pháo rầm rộ, lại vô cùng phô trương.

Tiếng pháo nổ dữ dội khiến ngay cả tuấn mã dưới chân hắn cũng bồn chồn không yên.

Thẩm Lâm Dục đành xuống ngựa, tự tay giữ cương để tránh va chạm vào người đi đường trong làn khói mờ mịt.

Trong lúc chờ đợi, chỉ vô tình đưa mắt liếc sang một chút, hắn đã nhận ra bóng dáng quen thuộc nơi cửa sổ tầng trên.

Ở hướng gió thổi này, tầm nhìn hơi mờ nhòe, nhưng ánh mắt sắc bén của Thẩm Lâm Dục dễ dàng nhận ra Dư cô nương đang chống tay lên bậu cửa, nghiêng người nhìn xuống đường với vẻ đầy hứng thú, rồi lại quay vào trò chuyện cùng ai đó trong phòng.

Không cần nghe nội dung, chỉ nhìn cây trâm bạc đong đưa nơi mái tóc nàng cũng đoán được tâm trạng nàng đang rất tốt.

Điều này cũng tốt thôi.

Tâm trạng thoải mái thì biết đâu nàng sẽ chịu tiết lộ thêm nhiều chi tiết hơn.

Hắn vẫn nhớ rõ, hôm khai quật mộ, trước khi rời núi, A Vi chẳng hề vui vẻ gì, chỉ lạnh nhạt nhắc tới một câu mơ hồ: “Nhà họ Tiết, có người làm ở Viện Mã Tự.” Một lời để lại như một bí ẩn, chẳng kèm thêm chút manh mối nào.

Không ngờ khi còn đang mải suy nghĩ, A Vi bỗng quay lại, ánh mắt của hai người chạm nhau trong làn khói tan dần.

Dây cương giao cho tiểu nhị của tửu quán, Thẩm Lâm Dục ung dung bước lên lầu.

Tại đầu cầu thang, A Vi cất tiếng chào:
“Vương gia.”

Thẩm Lâm Dục lịch sự đáp:
“Dư cô nương.”

A Vi không dẫn hắn quay lại nhã thất lúc nãy mà đưa vào một phòng khác:
“Mẫu thân ta đang nghỉ ngơi ở phòng bên, sức khỏe không tốt, không tiện gặp khách, mong vương gia thông cảm.”

Thẩm Lâm Dục vừa định đáp “không sao”, thì cánh cửa phòng bất chợt khép lại, vang lên tiếng “cạch” nhẹ nhàng.

Hắn nhướng mày, liếc nhìn A Vi.

Trước đây, từng có lần họ nói chuyện riêng, nhưng khi đó là trong sân rộng hoặc tại đại sảnh mở cửa, chưa từng ở trong không gian kín như thế này.

Nên nói là Dư cô nương tin tưởng, hay là Dư cô nương không để tâm đây?

Thần sắc A Vi thản nhiên, tự nhiên như không, mời Thẩm Lâm Dục ngồi xuống, nói:
“Vương gia muốn ta mở toang cửa, nói cho ngài biết ta căm ghét Tằng thị thế nào, muốn lật đổ Tằng Thái Bảo ra sao, để Tằng thị mất chỗ dựa?”

Thẩm Lâm Dục: …

Tất nhiên là không được rồi.

“Ta chỉ tình cờ đi qua, không ngờ lại gặp cảnh đốt pháo tưng bừng thế này,” Thẩm Lâm Dục ngồi ngay ngắn lại, hỏi:
“Đây là tửu quán cô nương vừa tiếp quản sao?”

Trong phòng có sẵn trà nóng, A Vi vừa pha trà vừa đáp:
“Vốn là sản nghiệp dưới danh nghĩa của cữu cữu ta, gần đây giao cho mẫu thân ta quản lý.

Phủ hầu xảy ra biến cố, tinh thần mẫu thân không tốt, ta bèn đưa bà tới đây trông coi cửa hàng.

Cũng không trông mong kiếm lời, chỉ để bà khuây khỏa đôi chút thôi.”

Đã nhắc đến biến cố trong phủ, Thẩm Lâm Dục thuận thế hỏi thăm tình hình.

A Vi cũng chẳng giấu giếm gì.

Dao muốn sắc thì phải mài.

Mài càng bén, khi dùng để chặt xương, thái thịt mới thuận tay.

Nàng kể lại tóm tắt chuyện Tằng thị làm thế nào lợi dụng đồ cưới của Bạch thị để vơ vét của cải, cũng như cách bà ta đầu độc Bạch thị và Đào Vũ Xuyên.

A Vi chỉ nói kết quả, không đi sâu vào chi tiết thủ đoạn.

Thẩm Lâm Dục lặng lẽ lắng nghe, ánh mắt dần trở nên thâm trầm.

Nói thật lòng, hắn khá bất ngờ.

Không phải hắn nghi ngờ cái chết của Bạch phu nhân.

Từ trước đến nay, người duy nhất nghi ngờ chuyện đó chính là trưởng nữ đích hệ của Định Tây hầu.

Vào thời điểm xảy ra sự việc, cô bé đó mới chỉ năm tuổi.

Sự thù ghét của một đứa trẻ năm tuổi bắt nguồn từ trực giác thật sự, hay chỉ là tưởng tượng vô căn cứ, chẳng ai nói rõ được.

Từ đầu đến cuối, chỉ có sự nghi ngờ mà không có chứng cứ rõ ràng.

Tâm tư trẻ nhỏ vốn không thể phân tích bằng vài câu nói.

Có thể đó là trực giác, cũng có thể là sự tự lừa dối bản thân, hoặc có thể cô bé phát hiện ra điều gì đó nhưng lại không thể diễn đạt rõ ràng…

Với tất cả những khả năng ấy, trước đây Thẩm Lâm Dục từng nghĩ rằng, nếu mẹ con họ muốn báo thù Tằng thị, chắc chắn phải đợi đến khi Tằng Thái Bảo thất thế.

Đợi khi ông ta không còn quyền thế để chống đỡ, nhân lúc hỗn loạn mà giáng cho một đòn chí mạng, tạo ra một kết quả “thỏa mãn”.

Không ngờ, mọi chuyện lại hoàn toàn trái ngược.

Hai mẹ con ấy thực sự đã nắm được chứng cứ xác thực.

Không phải vu khống, không phải ép cung hay bịa đặt, mà là sự thật hiển nhiên.

Thẩm Lâm Dục khẽ cười, nói một câu:
“Chúc mừng.”

Rồi hắn hỏi tiếp:
“Với kết quả này, Dư cô nương đã hài lòng chưa?”

“Chưa.” A Vi trả lời thẳng thắn, không chút do dự:
“Tằng Thái Bảo sẽ không nhả số bạc đã tham ô ra, còn Tằng thị thì vẫn giữ danh phận hầu phu nhân.

Ngoại tổ phụ ta xem ra cũng không có ý định viết hưu thư hay kiện cáo bà ta trước quan phủ.”

Thẩm Lâm Dục chẳng lấy làm ngạc nhiên trước câu trả lời này.

Trước đây, hắn từng đọc thấy trong ánh mắt của Dư cô nương sự thù hận sâu sắc cùng với tham vọng lớn lao, sao có thể dễ dàng buông tay như vậy?

“Nói đến của hồi môn,” Thẩm Lâm Dục tiếp lời một cách tự nhiên, “Trước đây cô nương từng khuyên ta điều tra về hồi môn của Kim phu nhân.

Không giấu gì cô nương, điều tra không dễ chút nào.”

A Vi hỏi:
“Chẳng phải Trấn phủ ty đã tịch thu tài sản nhà họ Phùng rồi sao?”

“Đúng là đã tịch thu,” Thẩm Lâm Dục gật đầu, “Nhưng sổ sách đồ cưới đã biến mất, nên rất khó xác định Kim phu nhân thực sự có bao nhiêu tài sản.”

A Vi gật đầu hiểu ý.

Văn ma ma có thể biết một phần, nhưng chắc chắn không đầy đủ, mà dù có biết đi nữa thì cũng không tiện nói ra một cách danh chính ngôn thuận.

“Những tài sản tìm được,” Thẩm Lâm Dục nói tiếp, “giống như cô nương đã nói trước đây về việc hầu phu nhân sang tên tài sản của Bạch phu nhân vậy, đều đã bị chuyển nhượng lòng vòng.”

Hắn nhấp một ngụm trà, nói tiếp:
“Tuy nhiên, hiện giờ ngôi nhà ở hẻm Tiền Thủy của nhà họ Phùng là do Phùng Chính Bân vay mượn để mua.”

A Vi sững người.

Nhà ở kinh thành cực kỳ đắt đỏ.

Quan lại từ địa phương muốn tậu nhà tại đây thường phải vay mượn từ các ngân hiệu, chuyện này không có gì lạ.

Nhưng Phùng Chính Bân lại không giống người thường.

Sau khi kết hôn, căn nhà đầu tiên của hắn là mượn từ nhà họ Kim, lãi suất gần như bằng không.

Sau này dọn đến hẻm Tiền Thủy, ngoài căn nhà cũ còn có cả của hồi môn của cô mẫu và Kim phu nhân, lẽ nào lại không đủ tiền mua nhà mới?

Với bản tính keo kiệt của Phùng Chính Bân, sao có thể cam tâm trả lãi cho ngân hiệu?

Mà lãi suất cũng chẳng hề rẻ chút nào.

Thẩm Lâm Dục đưa ra đáp án:
“Ngôi nhà cũ khó bán ngay được, bọn họ phải ở thêm hai, ba năm nữa vẫn không tìm được người mua, cuối cùng Phùng Chính Bân mới buộc phải vay tiền để đổi nhà.

Ta đoán, hắn là loại người hẹp hòi và nhát gan, trước đã giết người, nên dám tiêu tiền của Kim phu nhân vào nhiều chỗ khác nhau, nhưng lại không dám dùng nó để mua nhà mới.

Hắn đổi nhà, chẳng phải chỉ vì muốn tránh xa Kim phu nhân hay sao?”

A Vi gật đầu tán đồng.

“Hai năm sau khi Kim phu nhân qua đời mới đến chùa Đại Từ để cúng bái, Phùng Chính Bân làm vậy vì cắn rứt lương tâm sao?

Không đâu, là vì sợ hãi mới đúng.”

Thẩm Lâm Dục khẽ cười, ánh mắt trầm lắng:
“Hắn làm sao dám tiếp tục sống ở nơi cũ?

Làm sao dám để căn nhà mới của mình còn vương vấn chút gì liên quan đến Kim phu nhân?

Thế nên hắn thà vay tiền còn hơn.”

“Vay tiền ở ngân hiệu Bảo Nguyên,” Thẩm Lâm Dục nói tiếp, “Những sản nghiệp mà hắn mua bán sau này cũng đều thông qua Bảo Nguyên.”

Trước đây, A Vi từng nghe nói đến Bảo Nguyên.

Ông nương tử từng nhắc qua rằng người mua tiêu kiện của Vương Khánh Hổ cũng dùng ngân phiếu của Bảo Nguyên.

Bản năng mách bảo, A Vi hỏi ngay:
“Ngân hiệu Bảo Nguyên có liên quan gì đến Tằng Thái Bảo không?”

“Dư cô nương thật thông minh,” Thẩm Lâm Dục bật cười khẽ, “Tiếc là, bọn họ không có liên quan gì cả.

Bảo Nguyên là một hiệu lâu đời, từ những năm đầu triều Tiên Đế đã phát triển mạnh rồi.

Khi đó, Tằng Thái Bảo vẫn chỉ là kẻ vô danh tiểu tốt.

Phải đến năm Vĩnh Khánh thứ chín, tức 26 năm trước, ông ta mới nhậm chức Thái Bảo.

Bảo Nguyên lúc ấy đã là gia tộc lớn mạnh, dù ông ta có ghen tị thì cũng…”

Nói đến đây, Thẩm Lâm Dục bỗng khựng lại.

Hơi nước từ chén trà nóng mờ ảo, lan tỏa nhẹ nhàng khiến khóe mắt hắn dường như cũng đọng lại một làn sương mỏng.

Thần sắc hắn nhạt nhòa, không để lộ cảm xúc gì rõ rệt.

A Vi đoán rằng hắn có lẽ vừa chợt nảy ra một ý nghĩ nào đó.

Nhưng những tia sáng lóe lên như thế thường chỉ vụt qua trong chốc lát.

Nàng không lên tiếng, để mặc hắn tự suy nghĩ, bởi đôi khi một câu hỏi không đúng chỗ có thể khiến linh cảm quý giá ấy tan biến, thật đáng tiếc.

Thẩm Lâm Dục nhẹ nhàng dùng đầu ngón tay vuốt dọc theo vành chén trà, sau một lúc mới bừng tỉnh khỏi mạch suy nghĩ.

Hắn không nói thêm về ngân hiệu Bảo Nguyên nữa, mà chuyển đề tài:
“Dư cô nương từng nhắc, trưởng tử của Đào đại nhân bị người khác dẫn dắt vào con đường sai trái, đi vay tiền của nhà họ Tử Tiền, đúng không?”

“Nghe nói là nhà họ Tử Tiền ở Bắc Thành, họ Sử.” A Vi đáp.

“Cảm ơn.” Thẩm Lâm Dục gật đầu.

Một tiếng “cảm ơn” này xem như báo hiệu cuộc trao đổi tin tức hôm nay đã đến hồi kết.

Chén trà cạn, Thẩm Lâm Dục đứng dậy cáo từ:
“Hôm nay đến vội, không kịp chuẩn bị lễ vật.

Để sau ta sẽ gửi quà mừng khai trương.”

“Vương gia khách sáo quá rồi.” A Vi tiễn hắn ra cửa.

Thẩm Lâm Dục khoác lại chiếc áo choàng đặt bên cạnh, vắt lên cánh tay.

Khi hắn vừa bước đến cửa, A Vi đột ngột quay người, tay đặt lên tay nắm cửa, hỏi:
“Hai mạng người và chiếc mũ quan của Đào đại nhân, liệu có ảnh hưởng gì lớn đến Tằng Thái Bảo không?”

Thẩm Lâm Dục dừng lại, nhìn thẳng vào nàng, trả lời thẳng thắn:
“Sẽ có ảnh hưởng nhất định, nhưng để lật đổ ông ta thì còn xa mới đủ.”

Câu trả lời này không nằm ngoài dự đoán của A Vi, nhưng vào khoảnh khắc đó, nàng bỗng muốn hỏi:

“Vậy tại sao nhà họ Kim lại sụp đổ?”

“Tường đổ thì mọi người cùng đẩy, tại sao lại không thể đẩy đổ Tằng Thái Bảo?”

Nhưng nàng vẫn giữ được sự tỉnh táo.

Nàng không hỏi gì cả.

Không thể nhắc đến nhà họ Kim.

Nàng không thể để vị Quận vương này nhìn thấu mục đích thực sự của mình.

Hơn nữa, vu thuật là một tội lớn.

Đến cả Thái tử còn không tránh khỏi, huống gì là Tam công.

A Vi xoay người, mở cửa ra:
“Vương gia đi thong thả.”

Thẩm Lâm Dục bước xuống lầu.

A Vi đi dọc hành lang, dừng lại trước một căn nhã thất ở cuối hành lang, nhẹ nhàng đẩy cửa bước vào.

Lục Niệm đang nhắm mắt dưỡng thần.

Nghe tiếng động, nàng hé mắt nhìn một chút rồi lại nhắm lại:
“Về rồi à?”

A Vi vừa định đáp, thì thấy Lục Niệm lại mở mắt lần nữa.

Nàng thậm chí còn ngồi dậy, ánh mắt dò xét nhìn A Vi từ trên xuống dưới:
“Hắn nói gì khiến con không vui à?”

A Vi nhướng mày:
“Sao mẫu thân hỏi vậy?”

“Con không vui.” Lục Niệm chỉ thẳng, “Tâm trạng còn tệ hơn lúc nãy.”

“Bản thân câu chuyện vốn không phải chuyện gì khiến người ta vui vẻ.” A Vi ngồi xuống bên cạnh nàng.

“Nói thì nói vậy,” Lục Niệm ghé sát lại quan sát kỹ hơn, “Nhưng ta nhìn ra được, vị Quận vương kia không nói điều gì quá tốt, cũng chẳng nói điều gì quá xấu.”

Nếu là tin tốt thì nàng đã vui mừng.

Nếu là tin xấu thì ít nhất cũng tức giận.

“Ta không thích cảm giác khó chịu mơ hồ này.” Lục Niệm đưa tay chạm vào má A Vi, nhấn nhẹ như muốn xua tan đi sự nặng nề ấy, “Ta thà tức giận còn hơn.

Nếu A Tuấn làm ta tức giận, ta mắng hắn, đánh hắn, còn dễ chịu hơn việc để bụng mãi.”

A Vi không nhịn được bật cười.

Chỉ cần cười lên, cảm xúc nặng nề trong lòng dường như tan biến, như làn khói pháo ngoài phố bị cơn gió cuốn trôi, chẳng còn dấu vết.

“Cũng không phải là không có chuyện tốt.” A Vi nghiêng người, tựa đầu vào vai Lục Niệm, “Trước đây, khi Quận vương điều tra vụ án của Phùng Chính Bân, con từng cố tình hướng mối nghi ngờ về phía Tằng Thái Bảo, nhưng hắn không bày tỏ thái độ gì.

Nhưng hôm nay, khi con nhắc lại, mọi đầu mối và giả thuyết đều xoay quanh việc lật đổ Tằng Thái Bảo, hắn không hề tỏ ra nghi ngờ.

Có lẽ, mục tiêu của hắn cũng là Tằng Thái Bảo.”

Lục Niệm gật đầu:
“Đó đúng là tin tốt.”

“Bất kể hắn có mục đích gì, có thể mượn dao thì cứ mượn.” A Vi nắm lấy tay Lục Niệm, nở nụ cười lạnh lùng:
“Chúng ta làm việc của mình, để Tằng thị tự kéo Tằng Thái Bảo xuống bùn.”

Ánh nắng chiếu qua khung cửa sổ dần đổi hướng, ánh sáng yếu ớt đổ vào thư phòng của Trấn phủ ty, khiến không gian trở nên mờ tối hơn.

Mục Trình Khanh đẩy cửa bước vào, liền thấy Thẩm Lâm Dục đang ngồi sau chiếc bàn lớn, tay cẩn thận lau chùi thanh trường kiếm của mình.

Vừa đi vào, hắn vừa xoay vai hoạt động một chút rồi cất giọng:
“Cái tên họ Sử đó đúng là rắc rối, chuyện cũ ba mươi năm thì lắm rác rưởi.

Hắn nói không nhớ nổi, ta bèn để đám thuộc hạ giúp hắn ‘ôn lại kỷ niệm’.

Quả nhiên, vừa đi một chuyến đã lại có việc mới.”

Thẩm Lâm Dục liếc hắn một cái, nhàn nhạt đáp:
“Dư cô nương không sai khiến ta.”

“Đúng vậy, nàng ấy không sai khiến ngươi, là ngươi tự nguyện làm những việc này.” Mục Trình Khanh bước tới gần hơn, giọng cũng hạ thấp:
“Ngươi thật sự nghĩ rằng Tằng Thái Bảo đang nhắm vào tiền hương hỏa của chùa chiền sao?”

Thẩm Lâm Dục không trả lời thẳng, chỉ hỏi lại:
“Ngươi có biết ngân hiệu Bảo Nguyên là sản nghiệp của ai không?”

Mục Trình Khanh ngẫm nghĩ một lúc, đáp:
“Có tin đồn nói là của phủ An Quốc công.”

Những tin đồn thế này lan truyền như gió thổi mây bay, nếu không nhờ Trấn phủ ty có mạng lưới riêng, e rằng bọn họ cũng không tìm ra được manh mối.

“An Quốc công và Tằng Thái Bảo tuy là thông gia,” Mục Trình Khanh lắc đầu, “Nhưng chỉ là gả một cô con gái thứ làm vợ lẽ cho con trai thứ của Tằng Thái Bảo mà thôi.

Quan hệ thông gia thì cũng chỉ đến mức đó, không thân thiết đến mức chia sẻ lợi ích.

An Quốc công có con trai, nếu có việc làm ăn béo bở, chắc chắn sẽ ưu tiên con trai mình, chứ không đời nào để cho thông gia được lợi.

Dù Tằng Thái Bảo có được thánh thượng sủng ái đến đâu, An Quốc công cũng sẽ không nhường đường làm ăn cho ông ta.

Việc Tằng Thái Bảo có thể moi được tiền bạc từ phủ Định Tây hầu là bởi hầu phu nhân họ Tằng quản lý tài chính trong phủ suốt mấy chục năm, nên mọi chuyện dễ dàng hơn.

Nhưng với phủ An Quốc công, một người phụ nữ gả ra ngoài thì làm sao vươn tay vào được?”

“Không vươn tay vào được, nên càng thèm khát.” Thẩm Lâm Dục vừa cẩn thận lau kiếm vừa chậm rãi nói:
“Một tước Quốc công truyền đời và ba vị Tam công danh vọng khắp triều đình vốn không cùng một con đường.

Tằng Thái Bảo không còn trẻ nữa.

Nếu nhà ông ta không có người kế thừa xứng đáng, thì dù hôm nay ông ta là Tam công, ngày mai cũng chỉ là một gia tộc sa sút trong chốn kinh thành.

Ông ta đã dốc hết sức để leo lên đến vị trí hiện tại, làm sao cam lòng dừng lại ở đây?

Với kiểu người ‘tham vọng’ như vậy, ngay cả phủ Định Tây hầu là nhà thông gia, ông ta cũng tìm cách moi bạc, thì ngươi nghĩ Phùng Chính Bân liệu có dám không cúng nạp?

Tiền bạc có được tất nhiên cần phải tìm nơi an toàn để gửi gắm.

Nếu đổ vào mua đất đai, cửa hàng thì chậm sinh lợi, lại dễ bị lộ dấu vết.

Ba mươi năm trước đã có các nhà cho vay nặng lãi như họ Tử Tiền, nhưng trừ khi cùng đường bí lối hoặc sa cơ thất thế, ai lại muốn vay tiền với lãi suất cắt cổ như vậy?

Thứ thật sự sinh lợi nhanh và an toàn chính là ngân hiệu và tiền hương hỏa của chùa chiền.

Đặc biệt là khi ông ta tận mắt chứng kiến ngân hiệu Bảo Nguyên phát đạt thế nào, làm sao không động lòng?”

“Nói thì nói vậy,” Mục Trình Khanh thở dài, “Nhưng các ngân hiệu ở kinh thành đều có thế lực chống lưng, còn các chùa lớn thì từ lâu đã có mối quan hệ riêng với các quan viên quyền thế.

Tằng Thái Bảo phất lên cũng chưa lâu, làm gì có chỗ để chen chân vào?”

“Keng!”

Ngón tay Thẩm Lâm Dục khẽ búng lên thân kiếm, phát ra âm thanh vang vọng trong không gian yên tĩnh.

Hắn khẽ cười:
“Vì vậy, Nguyên Kính đã đến chùa Đại Từ rồi.”

Trăng tròn treo cao trên bầu trời.

Nguyên Kính vừa vội vàng trở về thành trước khi cửa thành đóng lại.

“Thưa đại nhân, tiểu nhân đã gặp trụ trì.

Theo lời ông ấy, chùa Đại Từ chưa bao giờ tham gia kinh doanh tiền hương hỏa.”

“Trước đây, hương hỏa ở chùa không mấy thịnh vượng.

Người đến cầu duyên, cầu con đều tìm đến các chùa lớn hơn, nơi đây chỉ yên tĩnh vắng vẻ, chủ yếu nhận cúng tế để cầu an cho tổ tiên.”

“Ít người cúng bái thì cũng chẳng có hứng thú làm tiền hương hỏa.

Chỉ là hai năm trước, sau một trận lũ quét phá hủy ngôi chùa, cuộc sống trở nên khó khăn.”

“Khi đó có người tìm đến, nói rằng họ có sẵn một khoản bạc nhưng không biết làm gì, muốn kết duyên với chùa.

Họ đề nghị bỏ vốn để chùa kinh doanh tiền hương hỏa, rồi chia lợi nhuận đôi bên.

Chùa đang lúc cần tái thiết, cũng cần tiền để duy trì việc cúng tế cho các vị tổ tiên đã khuất, nên vị điển tọa khuyên trụ trì chấp nhận.”

“Trụ trì đã suy nghĩ một thời gian, nhưng sau đó nhờ triều đình cứu trợ và nhiều quan lại cũng quyên góp bạc, cộng thêm sự giúp đỡ của tín đồ, chùa nhanh chóng phục hồi.

Vượt qua được khó khăn, họ liền từ chối việc làm tiền hương hỏa.”

Nghe đến đây, Thẩm Lâm Dục và Mục Trình Khanh đều nhớ lại.

Trận lũ đó không chỉ phá hủy chùa, mà còn tàn phá các ngôi làng dưới chân núi, khiến hàng chục người dân thiệt mạng.

Hoàng đế khi đó rất coi trọng sự kiện này.

Ngay cả các quan viên cấp cao ở Thiên Bộ Lang khi ấy cũng đã quyên góp tiền bạc, nhiều hay ít không quan trọng, chủ yếu thể hiện tấm lòng.

“Họ có nói người đề xuất làm tiền hương hỏa là ai không?” Thẩm Lâm Dục hỏi.

“Nói là họ Hoàng.” Nguyên Kính trả lời, “Người chạy tới lui thì mặt tròn, mũi to, bên mép có một nốt ruồi, ánh mắt lờ đờ, lúc nào cũng nheo nheo.”

“Hít!”

Mục Trình Khanh giật mình, hít sâu một hơi, lầm bầm:
“Sao nghe quen quen thế nhỉ?”

Hắn suy nghĩ một chút, rồi bỗng vỗ bàn đánh ‘bốp’ một cái:
“Chẳng phải là tên khốn họ Sử đó sao?!”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 95: Làm phiền gửi một phần cho Vương gia


Ánh đèn dầu rực sáng trong đại đường.

Sử Mông Tử tóc tai bù xù, bị hai sai dịch áp giải từ chiếu ngục trở lại, rồi thô bạo quẳng xuống nền gạch lạnh như băng.

Hắn xuất thân hèn kém, là con thứ ba trong nhà, trước kia chỉ được gọi là Sử Lão Tam.

Về sau nhờ mánh khóe buôn bán nhỏ lẻ mà phất lên, bản thân chẳng có sở thích gì đặc biệt ngoài ham kiếm bạc.

Người ta thường cười nhạo hắn:

“Kẻ mê rượu thì gọi là ‘tửu mê tử’, còn ngươi thì chỉ là ‘tiền mê tử’ mà thôi!”

Lời đùa ấy lan rộng, dần dà cái tên Sử Mông Tử (tiền mê tử) trở thành biệt danh phổ biến.

Hắn cực kỳ hài lòng với biệt danh này, thậm chí còn đi đến nha môn để đổi hẳn tên trong sổ hộ tịch, từ đó chính thức lấy tên là Sử Mông Tử.

Làm nghề cho vay nặng lãi bao năm, Sử Mông Tử nuôi dưỡng không ít tay chân dưới trướng.

Thứ nghề này vốn không thể tránh khỏi tranh chấp, nên hắn đã từng bước chân vào công đường Thuận Thiên phủ vài lần.

Nhưng đây là lần đầu tiên hắn bị giải đến Trấn phủ ty, nơi mà ngay cả tên hắn cũng không dám nhắc to.

Mà điều tra lại là về một chuyện đã xảy ra từ ba mươi năm trước.

Hắn làm sao mà nhớ nổi?

Dù có nhớ đi chăng nữa, cũng không thể nói ra!

Ban đầu hắn nghĩ chỉ cần làm bộ hồ đồ, rồi nhét chút bạc bẽo là mọi chuyện sẽ êm xuôi.

Nhưng không ngờ lần này hoàn toàn khác—người thẩm vấn trực tiếp ném hắn vào ngục, bảo hắn cứ ở đó mà “nghĩ lại cho kỹ”.

Nghĩ lại ư?

Hắn bị bọn sai dịch kia treo ngược lên, dùng đủ loại thủ đoạn “giúp” hắn nhớ lại.

Vốn nghĩ đêm nay sẽ khó qua, nhưng không ngờ lại bị áp giải trở lại công đường sớm như vậy.

Sử Mông Tử nheo mắt, đánh giá những người trong đường công.

Cuối đại đường là một chiếc bàn dài, phía sau bàn là một chiếc ghế bành lớn, trên ghế ngồi một người trẻ tuổi.

Người đó ngồi ngả người dựa lưng, dáng vẻ tùy tiện, mặc áo đỏ, đội mũ đen—màu sắc quan phục của Trấn phủ ty.

Nhưng nếu để ý kỹ sẽ thấy trước ngực có thêu bổ tử, ánh sáng từ đèn dầu phản chiếu lên vải áo, lấp lánh ánh kim nhạt—rõ ràng là người đứng đầu nơi đây.

Quan trọng hơn cả là người đó rất trẻ, dù đã đội mũ trưởng thành nhưng trông chừng chưa đến hai mươi.

Hắn ngồi đó, tay cầm một thanh trường kiếm, cứ như người ta nhấm nháp trà hay chơi hạt bồ đề, hắn lại ung dung chơi đùa với thanh kiếm sắc lạnh ấy.

Phía trước là một người khác đang đứng, chính là kẻ đã thẩm vấn hắn trước đó.

Sử Mông Tử nghe bọn sai dịch gọi hắn là “Phó sứ”.

Đó chính là Mục Trình Khanh.

Mục Trình Khanh liếc nhìn Sử Mông Tử đang quỳ rạp dưới đất, hờ hững hỏi bọn sai dịch:
“Không đánh hắn tàn phế chứ?”

“Sao dám!” Sai dịch đáp ngay, “Chỉ ‘hỏi thăm’ đôi chút thôi.

Chưa có lệnh của ngài, bọn thuộc hạ tuyệt đối không dám dùng hình.”

Sử Mông Tử tái mét mặt.

Hắn đau đến mức r.ên rỉ kêu la suốt đêm, vậy mà còn chưa gọi là ‘dùng hình’?

Nghĩ lại cũng đúng—hắn không bị gãy xương, cũng không chảy máu nhiều, chỉ bị trầy da và một vài vết bầm tím.

Xét về mức độ thì cũng không tính là quá tệ.

Mục Trình Khanh gật đầu:
“Miễn là không đau đến mức không trả lời được là được.”

Nghe vậy, Sử Mông Tử vội vàng kêu r.ên vài tiếng, giọng the thé:
“Đại nhân, những gì ngài hỏi lần trước, tiểu nhân thật sự không nhớ nổi đâu ạ.

Nếu ngài hỏi chuyện sổ sách ba năm trước, tiểu nhân còn có thể về kho tìm lại, chứ tận ba mươi năm trước thì… còn đâu mà lục lại ạ!”

“Ba năm trước còn nhớ được, vậy hai năm trước thì chắc không quên nhỉ?” Mục Trình Khanh hỏi tiếp, ánh mắt sắc bén:
“Ngươi từng bàn bạc với chùa Đại Từ về chuyện làm ăn với tiền hương hỏa, đúng không?”

Sử Mông Tử sững người, không ngờ câu hỏi lại đổi hướng đột ngột như vậy.

Cặp mắt láo liên của hắn vô thức đảo một vòng, tính toán tìm đường chối cãi.

Nhưng khi chạm phải ánh nhìn lạnh như băng của Mục Trình Khanh, hắn đành lí nhí đáp:
“Không… không có chuyện đó đâu ạ…”

“Không có chuyện đó mà lại điều tra ra ngươi?” Mục Trình Khanh cười lạnh, “Ngươi không nhớ thì thôi, nhưng mấy vị sư ở chùa nhớ rất rõ.

Cần ta mời họ đến đây nhận diện ngươi không?”

Sử Mông Tử cứng họng, cuối cùng đành gật đầu thừa nhận:
“Đúng là có chút chuyện như vậy…”

Mục Trình Khanh tiếp tục hỏi:
“Trong thành có không ít chùa lớn cũng làm ăn với tiền hương hỏa, sao ngươi không tìm đến họ?”

Sử Mông Tử cười gượng:
“Các chùa lớn trong thành đều có hậu thuẫn mạnh mẽ, chẳng thiếu gì hương hỏa, lại có nhiều thương gia giàu có gửi gắm bạc vào.

Tiểu nhân bỏ chút vốn vào đó cũng chẳng khác nào đá chìm đáy biển, chẳng tạo nổi chút gợn sóng nào cả.

Thế nên tiểu nhân nghĩ nên tìm một ngôi chùa mới mẻ hơn.

Chùa Đại Từ lúc đó đang thiếu bạc, dễ thương lượng hơn, có thể đàm phán lợi ích rõ ràng.

Làm ăn mà, tất nhiên ai cũng muốn kiếm lời nhiều hơn, đúng không ạ?”

“Ngươi tự mở hiệu cầm đồ, cho vay nặng lãi còn kiếm được nhiều hơn.

Sao lại muốn nhúng tay vào tiền hương hỏa?”

Sử Mông Tử cười nịnh bợ:
“Tiểu nhân tự cho vay thì lãi suất cao hơn thật đấy, nhưng rủi ro cũng lớn lắm ạ.

Thu nợ khó khăn, nhỡ đâu gặp phải kẻ không chịu trả thì cũng đành bó tay.

Đánh chết hắn thì tiểu nhân phải đi tù, mà nợ cũng chẳng lấy lại được, không đáng chút nào.

Huống chi, ngài cũng biết rồi đấy, người đàng hoàng thì ai thèm vay tiền của tiểu nhân chứ?

Còn tiền hương hỏa thì khác.

Đó là tiền ‘công đức’, lãi gọi là ‘phúc báo’, nghe thôi đã thấy linh thiêng rồi.

Có Phật tổ làm chứng, dân chúng lúc cần tiền sẽ tìm đến chùa, toàn là người đàng hoàng cả.

Tiền hương hỏa đều có vật thế chấp rõ ràng, không trả nổi thì lấy đồ cầm cố.

Mà đã là tín đồ thì ai dám giở trò quỵt nợ?

Tiểu nhân hợp tác với chùa thì an toàn, đáng tin cậy, lại nhàn hạ.”

Nói đến đây, hắn liếc sang Mục Trình Khanh, rồi lại liếc sang Thẩm Lâm Dục—người từ nãy đến giờ vẫn không nói một lời, chỉ chăm chú xoay xoay thanh trường kiếm trên tay.

Hắn cười nịnh nọt:
“Tiểu nhân làm vậy cũng chỉ là muốn tích chút công đức thôi mà!”

Mục Trình Khanh bật cười thành tiếng:
“Ngươi còn biết mình thiếu đức cơ à?”

Sử Mông Tử cúi đầu, tỏ vẻ ngoan ngoãn.

Dù sao thì chuyện này cuối cùng cũng không thành, mà hợp tác với chùa để làm ăn với tiền hương hỏa cũng chẳng phạm pháp.

Có lẽ vì thế mà hắn trở nên gan dạ hơn, quyết định khai ra hết mọi chuyện một cách rành rọt, không giấu giếm gì nữa.

Không ngờ, câu hỏi tiếp theo lại là:
“Chủ nhà họ Hoàng của ngươi là ai?”

Sử Mông Tử lập tức sững người:
“Cái gì cơ?”

“Ngươi không quên những gì mình từng nói với chùa Đại Từ chứ?”

Sử Mông Tử nhớ rất rõ, trong lòng thầm rủa bọn hòa thượng trong chùa một trận tơi bời.

Làm ăn không thành, thế mà bọn họ lại rảnh rỗi đến mức nhớ dai như vậy!

Vừa nguyền rủa thầm, hắn vừa vắt óc tìm một lý do để chống chế.

“Tiểu nhân chỉ buột miệng nói bừa thôi ạ.” Hắn vội vàng phân bua, “Tiểu nhân làm ăn cũng không hẳn là đường hoàng gì, sợ chùa chê tiền bẩn, người bẩn nên mới bịa ra một ‘chủ nhà’ để trông có vẻ sạch sẽ hơn…”

Càng nói, Sử Mông Tử càng cảm thấy cái cớ mình nghĩ ra thật là hợp lý, liền thao thao bất tuyệt, nào ngờ “keng——” một tiếng vang lên, chặn đứng lời hắn.

Toàn thân hắn run bắn lên, chột dạ quay đầu nhìn về phía phát ra âm thanh.

Âm thanh sắc lạnh ấy chính là từ thanh trường kiếm.

Thẩm Lâm Dục dùng ngón tay gõ nhẹ lên lưỡi kiếm, tiếng vang thanh thúy ngân dài trong đại sảnh trống trải.

Hắn chậm rãi ngẩng đầu lên, khóe môi cong lên nụ cười như có như không:
“Ta khuyên ngươi nên khai thật thì hơn.”

Sử Mông Tử vô thức co rụt cổ lại.

Hắn không rõ bản thân là bị khí thế sắc bén của người trẻ tuổi trước mặt dọa sợ, hay là bởi tiếng kiếm ngân lạnh lẽo kia.

Nhưng chẳng mấy chốc, hắn đã nhận ra—người này còn đáng sợ hơn cả vị Phó sứ thẩm vấn mình trước đó.

Thẩm Lâm Dục vẫn ngồi đó, trông chẳng hề giống kẻ hung ác, chỉ bình thản nói:
“Ta không khuyên ngươi khai thật vì lòng tốt muốn ngươi bớt chịu hình phạt đâu.”

“Ta chỉ nhắc cho ngươi nhớ—đây là Chiếu ngục.

Bình thường, những kẻ bị tống vào đây đều là quan viên phạm pháp.

Ngươi chỉ là một kẻ cho vay nặng lãi nhỏ nhoi, ngươi không đủ tư cách để ở chỗ này đâu.”

Sử Mông Tử nghe xong, không biết nên vui hay nên sợ.

Nhưng chưa kịp thở phào, câu tiếp theo của Thẩm Lâm Dục đã khiến hắn như rơi xuống hầm băng.

“Ta rất bận, không có thời gian quản mấy chuyện vặt vãnh của ngươi.”

“Nhưng ta lại để ý đến số bạc của ngươi.

Tết sắp đến rồi, ta cũng cần kiếm một món kha khá.”

“Ta sẽ tịch thu hết tiền của ngươi.

Ngươi xem có ai dám kêu oan giúp không?”

Mắt Sử Mông Tử trợn tròn.

Đây là cái gì vậy?!

Còn có vương pháp hay không?!

Nhưng hắn dám nói đến vương pháp với Trấn phủ ty sao?

Thẩm Lâm Dục chẳng buồn quan tâm hắn đang nghĩ gì, tiếp tục nói:
“Ta chỉ cần khẳng định số bạc của ngươi là của ta.

Ngươi có chắc đống bạc của ngươi đều là do ngươi kiếm được không?**

“Khi ngươi bị tịch thu sạch sành sanh, ngươi giải thích thế nào với ‘chủ nhà’ của ngươi?”

“Ngươi muốn ra ngoài tay trắng để bị chủ nhà xử lý, hay muốn để ‘chủ nhà’ của ngươi cũng bị tống vào đây, để ta xử lý hắn luôn?

Khi đó, hắn sẽ không còn cơ hội xử lý ngươi nữa.”

Im lặng một hồi lâu, cái miệng há hốc của Sử Mông Tử cuối cùng cũng khép lại.

Hắn rê.n rỉ, vẻ mặt đầy đau khổ:
“Tiểu nhân không có ‘chủ nhà’ gì hết.

Tiểu nhân chỉ tìm một chỗ dựa để dễ làm ăn hơn thôi.

Cũng có giúp người ta trông nom ít tiền bạc, nhưng thực ra không có thân phận gì lớn lao.”

“Ngài hỏi người họ Hoàng ấy à?

Tiểu nhân chỉ biết hắn họ Hoàng.

Hắn đầu tư cho tiểu nhân, mỗi quý tiểu nhân sẽ chia lợi nhuận cho hắn.

“Nhìn bề ngoài thì hắn chắc chắn không phải người thường… trông như là người có quyền thế vậy.”

Thấy Thẩm Lâm Dục đã mở được miệng của hắn, Mục Trình Khanh hiểu rõ thói quen của đồng liêu mình, liền tiếp lời hỏi:
“Tên đầy đủ là gì? Ở đâu?

Ba mươi năm trước, ngươi cho Đào Vũ Lâm vay tiền có phải là do hắn sai khiến không?”

Sử Mông Tử cúi đầu đáp:
“Chỉ có tay sai của hắn đến tìm tiểu nhân thôi.

Tiểu nhân đâu dám hỏi địa chỉ của hắn chứ.

“Chuyện ba mươi năm trước ấy à?

Là bọn người trong sòng bạc dẫn Đào Vũ Lâm đến vay tiền.

“Tiểu nhân làm nghề này, tất nhiên phải có quan hệ với sòng bạc.

Đôi bên cùng kiếm lời, bọn họ có khách thì sẽ nhớ đến tiểu nhân.

“Đương nhiên, bề ngoài thì sòng bạc không cho vay tiền, nhưng sau lưng thì khác.

“Tiểu nhân từng hỏi thăm, có thể là… có liên quan đến Hoàng lão gia đó.

“Tên của Hoàng lão gia ấy là… Hoàng Quế.”

Nghe đến đây, Mục Trình Khanh quay đầu nhìn Thẩm Lâm Dục.

Ở kinh thành, những gia tộc lớn họ Hoàng thì bọn họ có thể kể ra không ít, nhưng cái tên Hoàng Quế lại chưa từng nghe bao giờ.

Không rõ đây là tên thật, hay chỉ là bí danh, hoặc cũng có thể là tên của một gia nhân nào đó.

Mục Trình Khanh tiếp tục hỏi:
“Hắn trông như thế nào?”

Sử Mông Tử lúng túng, không thể miêu tả rõ ràng.

Mục Trình Khanh dứt khoát gọi một họa sư vào để vẽ chân dung dựa trên lời kể của Sử Mông Tử.

Trong lúc Sử Mông Tử đang cố nhớ lại và mô tả cho họa sư, Thẩm Lâm Dục đứng dậy, rời khỏi công đường, bước ra ngoài hành lang để hít thở không khí lạnh, giúp tỉnh táo đầu óc.

Mục Trình Khanh cũng đi theo, tiện miệng nói:
“Lần trước ta đến Thuận Thiên phủ tìm Dương đại nhân, ông ấy nhắc đến chuyện của Tiết đại nhân.

“Ông ta cũng nhắc đến vị trưởng nữ của Định Tây hầu, nghe nói Lục phu nhân kia đúng là có con mắt sắc sảo—cô ta chỉ thích nhìn cảnh ‘chó cắn chó’ thôi.”

“Cũng đúng.

Ai mà chẳng thích xem chứ?

Ta cũng thích.”

“Nếu mấy kẻ bị bắt vào đây đều biết cắn nhau thì chúng ta đã đỡ phải tốn sức rồi.”

Thẩm Lâm Dục bật cười khe khẽ:
“Ngươi nghĩ Sử Mông Tử có thể ‘cắn’ được à?”

Mục Trình Khanh nhướng mày đánh giá:
“Hàm răng không được sắc lắm.”

Thẩm Lâm Dục hờ hững đáp:
“Đợi hắn đói đến mức hoa mắt, ngay cả hàm răng sứt cũng biết cắn thôi.”

Mục Trình Khanh cười khẩy một lúc, nhưng khi cơn gió lạnh thổi qua, hắn nhanh chóng lấy lại vẻ nghiêm túc:
“Không nói đến việc có thể lôi được kẻ họ Hoàng kia liên quan đến nhân vật cấp trên nào hay không, nhưng chuyện làm ăn với tiền hương hỏa cuối cùng cũng không thành.

Dù cho có thành công đi chăng nữa, với đầu óc của kẻ kia, cũng chẳng biết hắn sẽ treo nó dưới danh nghĩa của ai đâu.”

Triều đình vốn không cho phép quan viên tham gia các hoạt động kinh doanh tài chính, nhưng trên cao có quy tắc của trên cao, dưới thấp lại có cách ứng biến riêng.

Ví dụ như ngân hiệu Bảo Nguyên, bề ngoài chẳng dính dáng gì đến phủ An Quốc công, dù sau lưng thế nào cũng không để lộ.

Nếu Tằng Thái Bảo thật sự muốn nhúng tay vào chuyện làm ăn với tiền hương hỏa, thì chắc chắn cũng sẽ qua nhiều lớp che đậy tinh vi.

Thẩm Lâm Dục chắp tay sau lưng, ánh mắt đen láy phản chiếu ánh đèn lồng lấp ló bên hành lang, thần sắc dần trở nên nghiêm trọng.

Hắn nhớ lại cuộc trò chuyện ban ngày với Dư cô nương.

Hai mạng người, một chiếc mũ quan của Đào đại nhân, tất cả vẫn chưa đủ để lật đổ Tằng Thái Bảo.

Ngay cả khi Sử Mông Tử khai ra được chủ nhân họ Hoàng đứng sau hắn, chưa chắc cũng có thể kéo sập được nhà họ Tằng.

Cũng giống như vụ của Tiết Văn Viễn, dù Tiết Ba có trung thành thế nào cũng muốn gánh hết tội lỗi về mình.

Thậm chí nếu thật sự ép được Tiết Văn Viễn ra công đường, hắn ta biết đâu còn sẵn sàng đứng ra đỡ đòn cho Tằng Thái Bảo.

Không phải con chó nào khi phát điên cũng biết cắn lại chủ.

Thấy vẻ mặt trầm tư của Thẩm Lâm Dục, Mục Trình Khanh liếc quanh rồi hạ thấp giọng hỏi:
“Thánh thượng rốt cuộc nghĩ gì về chuyện này?”

Thẩm Lâm Dục đáp chậm rãi:
“Trừ phi chứng cứ về vụ gian lận khoa cử thật sự được xác thực…”

Thực ra, hắn chưa từng hỏi thẳng thánh thượng về chuyện này, dù vụ án gian lận khoa cử năm đó đã bị chặn lại ở chỗ Phùng Chính Bân, người hiện giờ cũng đã chết.

Nhưng Thẩm Lâm Dục rất hiểu rõ thánh thượng.

Hoàng thượng là người trọng tình nghĩa cũ.

Khi còn là hoàng tử, ngài từng được Tằng Văn Tuyên cứu giá thoát hiểm.

Cứu mạng một lần, thánh thượng có thể lập tức phong cho người khác làm con nuôi.

Với ân tình ấy, ngài sẵn sàng bảo vệ nhà họ Tằng, nhắm mắt làm ngơ trước nhiều chuyện không hay.

Hơn nữa, thánh thượng không muốn lặp lại bi kịch của vụ án vu thuật năm xưa—khi đó máu chảy thành sông trong kinh thành, Kim Thái sư bị xử trảm, khiến lòng người bất ổn, triều đình rúng động.

Để trấn an triều cục, thánh thượng đã buộc phải mời Đế sư Cao Diêu, dù ông ấy tuổi cao sức yếu, quay trở lại triều đình.

Nếu lần này lại gây ra một cơn chấn động lớn, chẳng lẽ lại bắt lão nhân gia ấy ba lần xuất sơn?

Cơ thể của ông ấy không thể chịu nổi nữa đâu.

Vì vậy, trừ phi là một vụ án trọng đại đủ sức lung lay căn cơ của triều đình như vụ gian lận khoa cử, nếu không, thánh thượng sẽ không dễ dàng động đến một trong Tam công.

Trừng phạt ư?

Tất nhiên là có.

Nhưng để lật đổ hoàn toàn thì chưa đủ.

Trước khi có được chứng cứ chắc chắn cho vụ án gian lận, Trấn phủ ty chỉ có thể từng bước thu hẹp vòng vây, bao vây chặt chẽ từ bên ngoài.

Khi thời cơ chín muồi, đồng loạt tung ra toàn bộ chứng cứ phạm pháp đã thu thập được, để một đòn cuối cùng nghiền nát Tằng Thái Bảo.

Những chứng cứ hiện giờ chỉ là mớ hoa lá phụ trợ, còn tấm lụa đẹp nhất vẫn chưa thể giành lấy.

Mục Trình Khanh nhăn mặt, day day thái dương:
“Tên cáo già đó thật biết cách che giấu!

Nhưng nói hắn không liên quan gì đến vụ gian lận khoa cử thì ta không tin nổi.”

Thẩm Lâm Dục liếc hắn một cái, nói:
“Vậy thì để Dương đại nhân tạm thời bắt Tiết Văn Viễn đi.

Dù sao cuối năm rồi, cũng nên có chút động tĩnh.”

Mục Trình Khanh: “…”

Hơi thở phả ra trong không khí lạnh tạo thành từng làn sương mờ.

Lạnh quá!

Hắn thậm chí cảm thấy lạnh thay cho Dương đại nhân!

Vừa định nói thêm vài câu để giảm bớt không khí căng thẳng, hắn thấy Thẩm Lâm Dục đã bước đi, men theo hành lang dài.

“Ngươi đi đâu vậy?” Mục Trình Khanh buột miệng hỏi.

“Về phủ.” Thẩm Lâm Dục trả lời gọn lỏn.

Mục Trình Khanh ngạc nhiên.

Bình thường, dù không coi Trấn phủ ty là nhà, nhưng với thói quen của Thẩm Lâm Dục, khi đã khuya thế này, hắn thường tiện thể ngủ luôn ở thư phòng phía sau.

Hiếm khi hắn lại đặc biệt trở về phủ Trưởng công chúa vào giờ này.

“Hôm nay đúng là lạ đấy.” Mục Trình Khanh nhận xét.

Bước chân của Thẩm Lâm Dục khựng lại, hắn quay đầu liếc xéo:
“Ta vừa uống một ấm trà, chưa trả tiền.

Cũng nên tặng quà mừng khai trương để bù lại.”

Mục Trình Khanh hít vào một hơi khí lạnh, nhanh chóng đuổi theo, nhìn chằm chằm Thẩm Lâm Dục:
“Ngươi không sợ Trưởng công chúa biết chuyện sao?

“Ngươi vừa tặng quà mừng khai trương, bà ấy sẽ lập tức bảo ma ma viết đơn sính lễ cho coi!”

“…” Thẩm Lâm Dục cứng đờ người trong chốc lát, rồi hừ một tiếng:
“Không đến mức đó đâu.

Cùng lắm bà ấy sẽ hỏi han vài câu thôi.”

Mục Trình Khanh ghé sát, thì thầm:
“Đừng nói với ta là ngươi bị sai khiến quen rồi, nên thành thói quen nhé?”

Thẩm Lâm Dục khẽ ngẩng đầu về phía đại đường, nhếch môi:
“Có câu: ‘Có vay có trả, vay nữa cũng không khó’.

“Ngay cả tên Sử Mông Tử kia cũng hiểu đạo lý này.

“Dư Cô nương cung cấp manh mối, ta nên đáp lại một chút.

Sau này có tin tức mới, cũng dễ mở lời hơn.

Đây là phép lịch sự tối thiểu.”

Nói xong, Thẩm Lâm Dục phẩy tay với Mục Trình Khanh, rảo bước rời đi, dáng vẻ ung dung như không có chuyện gì xảy ra.

Mục Trình Khanh không đi theo, chỉ quay lại xem tiến độ của họa sư đang phác họa chân dung theo lời kể của Sử Mông Tử.

Trong lòng hắn nghĩ:
“Chỉ cần lật đổ được Tằng Thái Bảo, Dư cô nương chắc chắn sẽ khai hết mọi điều biết được.”

Sáng hôm sau, Phố Tây Nhai nhộn nhịp người qua lại.

Tửu quán Quảng Khách Lai mở cửa đón khách, đại sảnh đã có hai bàn đầy đủ thực khách.

Trong bếp, đầu bếp đang bận rộn chuẩn bị các món ăn.

A Vi tranh thủ một bếp còn trống để làm món gà xé tơi.

Hôm trước nàng chuẩn bị vài món chân giò và thịt nguội cho Lục Chí, nhưng thiếu mất món gà xé mà hắn yêu thích.

Ăn xong chân giò, hắn vẫn còn thòm thèm, cứ nhắc mãi về món gà ấy.

Hôm nay rảnh rỗi, A Vi định làm nhiều hơn một chút, vừa để Lục Chí thưởng thức, vừa có thêm món cho Lục Niệm.

Ông nương tử bước vào tìm nàng:
“Có một tiểu đồng ở ngoài nói là tùy tùng của vị công tử uống trà với cô nương hôm qua, đến để đưa quà mừng khai trương.”

Nhớ lại hôm trước Thẩm Lâm Dục có nhắc đến chuyện này, A Vi đoán chắc là Nguyên Kính đến, liền nói:
“Ta đang bận tay, bảo hắn ta vào đây.”

Chẳng mấy chốc, Nguyên Kính ló đầu vào cửa bếp, thấy A Vi đang bận rộn bên chảo dầu nóng, hắn vội nói:
“Cô nương cứ làm việc đi, đừng để ý đến tiểu nhân.”

Đợi A Vi chiên xong một mẻ gà, nàng mới lau tay và bước ra:
“Đợi lâu rồi nhỉ?”

“Không sao, tiểu nhân chỉ đến để đưa quà mừng khai trương, không có chuyện gì khác.” Nguyên Kính vừa nói vừa hai tay dâng lên một hộp quà tinh xảo.

“Vương gia chúc Quảng Khách Lai buôn may bán đắt, tài lộc dồi dào.”

A Vi mỉm cười nhận lấy, mở hộp ra xem thử.

Bên trong lót lụa gấm, đặt một bộ bình rượu lưu ly cùng bốn chén dạ quang—một món quà vừa trang nhã vừa rất hợp với việc mừng khai trương tửu quán.

“Vương gia thật có lòng.” Nàng cười dịu dàng.

Nguyên Kính hạ giọng, truyền lời từ Thẩm Lâm Dục:
“Người họ Sử kia khai ra một kẻ họ Hoàng tên là Hoàng Quế, nhưng ngoài cái tên ra thì không nói được gì thêm.”

“Họ Hoàng?” A Vi chợt lóe lên một ý nghĩ:
“Ta biết một kẻ họ Hoàng.

Biểu đệ của ta từng học cùng với hắn, tên là Hoàng Vũ.

Trước đây từng cùng xem đấu gà, thậm chí mới đánh nhau một trận cách đây vài ngày.”

“Tiểu nhân sẽ bẩm báo lại với Vương gia.”

Nguyên Kính định cáo từ, nhưng A Vi nhìn hộp quà mừng rồi nói:
“Nếu không vội, chờ thêm chút đi.

Ta sẽ hấp thêm ít thức ăn, làm phiền ngươi mang về cho Vương gia.”

Nguyên Kính nghe vậy thì mừng rỡ, tất nhiên không từ chối.

Món gà xé sau khi chiên xong cần hấp lại cho mềm, thời gian chờ đợi cũng không lâu.

Khi món ăn vừa được bày vào hộp, bọc kỹ càng, Nguyên Kính lập tức quay về phủ Trưởng công chúa.

Không may thay…

Vừa vào đến hoa sảnh, hắn đã đụng mặt với Thẩm Lâm Dục và Trưởng công chúa.

Còn chưa kịp giấu hộp đồ ăn ra sau lưng thì đã bị Trưởng công chúa chú ý:
“Cầm gì đấy?”

Nguyên Kính liếc nhìn Thẩm Lâm Dục, cầu cứu trong im lặng.

Thẩm Lâm Dục đoán được ngay, cố ý trêu chọc:
“Không bị nguội nhỉ?”

Nguyên Kính cắn răng đáp:
“Vừa hấp xong, chắc còn nóng ạ.”

“Vậy thì mang vào đại sảnh đi, để mẫu thân ta nếm thử luôn.” Thẩm Lâm Dục dặn dò, rồi quay sang cười với Trưởng công chúa:
“Con sai hắn đi mua ít đồ ăn bên phố Tây Nhai.”

Trưởng công chúa nghe vậy thì hứng thú hỏi ngay:
“Mua ở đâu thế?

Phải ngon lắm mới bảo người đi mua tận nơi à?”

“Tửu quán Quảng Khách Lai.” Thẩm Lâm Dục đáp, “Hôm qua tình cờ đi ngang thấy vừa khai trương lại, nên muốn thử xem mùi vị ra sao.”

Trưởng công chúa không nghi ngờ gì thêm, vui vẻ nắm tay con trai bước vào trong:
“Món gì vậy?”

Thẩm Lâm Dục cười nhạt, chẳng biết trả lời sao.

May mà Nguyên Kính nhanh trí tiếp lời, miêu tả tỉ mỉ món gà xé hấp.

May thay, khi hấp lại món ăn, A Vi đã giải thích cặn kẽ cách chế biến, nếu không giờ này chắc hắn chẳng biết nói gì.

Trưởng công chúa ngồi xuống, cầm đũa gắp một miếng, đưa vào miệng.

“Chiên xong rồi hấp lại, thịt gà mềm và thơm hơn hẳn.

Thớ thịt được xé nhuyễn, tẩm gia vị vừa phải, thật là ngon.” Bà mỉm cười hài lòng.

“Tiếc là để lâu một chút, nếu ăn ngay khi vừa hấp xong chắc sẽ còn ngon hơn nữa.”

Thẩm Lâm Dục âm thầm thở phào nhẹ nhõm.

Món quà “đáp lễ” suýt chút nữa trở thành “bằng chứng phạm tội”, may mà thoát nạn kịp thời.

Không kịp để hắn nếm thử, Trưởng công chúa đã vui vẻ nói tiếp:
“Đầu bếp nấu ngon thế này, chắc chắn không chỉ có mỗi món này là nổi bật.

Đợi sau khi phủ nha đóng cửa dịp Tết, con dẫn ta và phụ thân con cùng đến tửu quán đó ăn thử.”

Đôi đũa vừa cầm trên tay rung nhẹ, Thẩm Lâm Dục kịp thời lấy lại thăng bằng để miếng thịt không rơi xuống.

Nhìn thấy ánh mắt háo hức của mẫu thân, hắn chỉ biết gượng cười đáp lại:
“Nghe theo mẫu thân sắp xếp.”

Ở bên cạnh, Nguyên Kính mặt không cảm xúc, đứng thẳng như tượng đá, không dám thở mạnh.

Không thể trách hắn được—hắn đã cố tránh mặt Trưởng công chúa hơn một tháng nay để không bị dò xét.

Ai ngờ hôm nay lại xui xẻo đến mức vừa về đã đụng mặt ngay, lại còn mang theo ‘vật chứng’ rõ ràng thế này.

Nguyên Kính lén lút liếc Thẩm Lâm Dục.

Rốt cuộc là khôn hay dại, hắn không dám đoán.

Nhưng chắc chắn một điều—Thẩm Lâm Dục có “cảm tình” với Dư cô nương rồi.
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 96: Ngươi có mặt mũi gì mà lớn tiếng trước mặt mẫu thân ta?


Phó Thiếu khanh Viện Mã Tự – Tiết Văn Viễn bị mời đến Thuận Thiên phủ.

Khi ấy là giờ nghỉ trưa ở Thiên Bộ Lang, hắn vừa bước ra từ Chính Dương Môn, đã thấy Dương phủ doãn dẫn theo người chờ sẵn.

Dương đại nhân tỏ vẻ lịch sự, chào hỏi niềm nở nhưng thái độ lại rất cương quyết.

Tiết Văn Viễn chỉ đành lặng lẽ ra hiệu cho cấp dưới đi cùng, rồi theo Dương đại nhân quay trở lại Thuận Thiên phủ.

Trên đường đi, cả hai vẫn trò chuyện cười nói như không có chuyện gì, bàn về mấy chuyện công việc cuối năm, những trải nghiệm khi làm quan trong năm qua.

Nhìn bề ngoài, không ai nghĩ rằng một vị đại nhân như vậy đang bị “mời” đi điều tra, trông chẳng khác nào đồng liêu thân thiết rủ nhau đi ăn trưa.

Ở một nơi khác…

Vạn Thông tiêu cục cũng bị người của Thuận Thiên phủ ập đến kiểm tra.

Không giống như cảnh “hòa nhã” ở Chính Dương Môn, Phủ thừa dẫn theo mấy chục sai dịch, hành động rất cứng rắn.

Người bị bắt thì bị bắt, nơi bị niêm phong thì niêm phong—không chút khoan nhượng.

Đám tiêu sư cao to lực lưỡng của tiêu cục đâu dám chống lại quan sai?

Chỉ biết cúi đầu chịu trói, ánh mắt bất an liếc nhìn xung quanh.

Không lâu sau, Đại chưởng quỹ và Tổng tiêu đầu bị áp giải đi, khiến người dân xung quanh tụ tập chỉ trỏ bàn tán, sắc mặt ai cũng lộ vẻ hiếu kỳ và sợ hãi.

Trong khi đó, Tiết Văn Viễn được đưa vào một gian phòng phía sau phủ nha.

Dù sao thì hắn cũng là quan chức triều đình, vụ án lại chưa rõ trắng đen, nên trước mắt vẫn được đối đãi “tử tế”.

Sau khi sắp xếp xong mọi chuyện, Dương phủ doãn lại lên đường đến Thiên Bộ Lang.

Lần này, ông đi vào thẳng Chính Dương Môn, bước chân dừng trước cơ quan làm việc của Tam công.

Hắn cẩn thận chỉnh lại y phục, rồi mới bước vào, nét mặt thể hiện rõ sự lo lắng và kính cẩn khi đến diện kiến Tằng Thái Bảo.

Bên trong thư phòng thanh tĩnh…

Tằng Thái Bảo đã nhận được tin từ lâu.

Dù trong lòng đang bùng cháy cơn giận, nhưng trên mặt vẫn giữ nguyên vẻ hiền hòa, từ tốn, giống như một vị trưởng bối đầy lòng bao dung.

Ông ta mời Dương phủ doãn vào thư phòng, rót trà mời khách.

Dương đại nhân ngồi xuống, vẻ mặt càng thêm căng thẳng, cố gắng dùng lời lẽ khéo léo:
“Hạ quan trưa nay đã mời Tiết đại nhân về Thuận Thiên phủ.

Nghĩ đến việc ngài và ông ấy là thông gia, hạ quan tự thấy cần thiết phải đến bẩm báo trước để ngài nắm rõ tình hình.”

Tằng Thái Bảo khẽ nhấp một ngụm trà, không biểu lộ cảm xúc gì, chỉ lặng lẽ chờ xem Dương đại nhân sẽ nói tiếp thế nào.

“Trước đó, chúng ta đã bắt giữ Tiết Ba.

Tên này khá cứng đầu, chưa khai ra được gì liên quan đến Tiết đại nhân.”

“Hạ quan thực lòng muốn tìm cách xoay xở cho ổn thỏa.

Dù gì thì cấp dưới làm sai, Tiết đại nhân không biết cũng chẳng phải tội. ‘Không biết thì vô tội’—đó là lẽ thường tình.”

“Nhưng thật khó xử thay, phía Định Tây hầu phủ lại không dễ dàng buông tay!”

“Hôm đó, khi Tiết Ba bị khai ra, Định Tây hầu cô phu nhân cũng có mặt tại Thuận Thiên phủ, đích thân nghe rõ từng câu từng chữ.”

“Hạ quan đã cố gắng trì hoãn, nhưng bà ấy ba ngày lại đến thúc giục một lần.”

“Quan trọng hơn, tiêu cục Vạn Thông thực sự có quá nhiều vấn đề không thể nhắm mắt làm ngơ.

Hạ quan thân mang chức vụ, đội trên đầu là chiếc mũ ô sa, không thể vì tư tình mà để mọi chuyện bị che đậy được.”

“Dù muốn hay không, hạ quan cũng phải xử lý cho ra lẽ, bằng không e rằng chính bản thân mình cũng khó giữ được chức vị.”

“Nếu vị ‘tổ tông’ kia còn tiếp tục gây áp lực, hạ quan thật sự không chịu nổi.”

Dương đại nhân vừa nói vừa kín đáo quan sát phản ứng của Tằng Thái Bảo, từng câu từng chữ đều thể hiện rõ sự bất đắc dĩ và khó xử.

Tằng Thái Bảo trầm ngâm, ánh mắt sâu thẳm như nhìn thấu mọi thứ.

Ông ta uống hết chén trà nóng rồi mới chậm rãi mở lời:
“Thuận Thiên phủ làm việc theo pháp luật, lão phu hoàn toàn hiểu rõ.”

“Nói đi cũng phải nói lại, các vị cũng vất vả.

Tết nhất cận kề, công việc chất đống, quả là không dễ dàng.”

“Lão phu cũng không nhiều lời.

Dương đại nhân hãy tranh thủ giải quyết sớm, điều tra rõ ràng rồi kết thúc gọn gàng.

Ai đáng thả thì thả, ai đáng giữ thì giữ, đừng để kéo dài qua năm mới, khiến Tiết đại nhân phải ăn Tết trong nhà giam.”

Dương đại nhân liên tục gật đầu:
“Hạ quan hiểu rồi, hiểu rồi!”

Rời khỏi thư phòng, Dương đại nhân cảm giác như vừa thoát khỏi vực sâu.

Hắnsải bước nhanh, không dám quay đầu lại.

Khi bước ra khỏi Chính Dương Môn, đón lấy làn gió lạnh lẽo thổi đến, hắn mới thở phào nhẹ nhõm, cảm giác gánh nặng trên vai được trút bỏ phần nào.

Dù trời nắng nhạt, mồ hôi trên lưng hắn vẫn đầm đìa, gió lạnh vừa thổi qua đã khiến toàn thân run lên.

Hắn đứng đó, thở dài một hơi thật dài:
“Ôi, rốt cuộc là cái gì đây cơ chứ?”

Hồi tưởng lại cuộc trò chuyện vừa rồi, Dương đại nhân nổi hết da gà.

Bề ngoài thì nịnh nọt lấy lòng, nhưng thực chất lại đang đi ngược lại ý của Tằng Thái Bảo.

Tiết Văn Viễn đã bị bắt rồi, nhưng hắn vẫn phải đến gặp Tằng Thái Bảo để “biểu lộ lòng trung thành”, chẳng khác nào thổi kèn đám ma ngay trong linh đường.

Nếu cho hắn tự lựa chọn, chắc chắn hắn sẽ chọn cách làm lơ, giả vờ như không biết gì.

Tằng Thái Bảo không chủ động nhắc đến chuyện này, hắn cũng chẳng cần đến bẩm báo.

Cứ nhanh chóng xử lý xong vụ án, đóng dấu nộp lên trước Tết, thế là xong.

Nhưng Trấn phủ ty không cho phép hắn làm thế!

Sáng sớm nay, hắn đã phải dậy sớm, lau sạch mũ ô sa, rồi đứng giữa hai lựa chọn:

Đắc tội với Tằng Thái Bảo
Hay đắc tội với Thành Chiêu Quận Vương?
Sau một hồi cân nhắc, hắn cắn răng chọn đắc tội với Tằng Thái Bảo.

Tằng Thái Bảo quyền cao chức trọng, nhưng dù muốn báo thù cũng phải giữ thể diện, không thể ra tay quá lộ liễu.

Còn Thành Chiêu Quận Vương thì khác, nghe đồn ngay cả trong thư phòng của Hoàng thượng cũng ngang tàng không kiêng nể gì.

Nếu để vị Quận vương kia ghét bỏ, Trấn phủ ty muốn xử lý quan viên nào, chỉ cần một câu lệnh là bị lôi vào ngục ngay lập tức.

Mà cái nơi gọi là “Chiếu ngục” ấy, chính là chỗ dễ dàng để “báo thù riêng” nhất.

Dù cuối cùng có được thả ra nguyên vẹn đi chăng nữa, thì cũng phải ăn Tết trong ngục, chẳng khác nào một cơn ác mộng sống dở chết dở.

Không xa lắm, kiệu đã chờ sẵn.

Dương phủ doãn tiến lên, bước vào kiệu, khép mắt trầm tư.

Suy cho cùng, là Tiết Văn Viễn hành sự bất chính trước, Thuận Thiên phủ chỉ làm việc theo quy củ sau.

Hắn điều tra án của mình, kết cục ra sao cũng chẳng thể trách hắn được!

Đêm đông dài dằng dặc, trên Tây Nhai đã lác đác ánh đèn.

Sinh ý của Quảng Khách diễn ra đâu vào đấy, quy củ nề nếp.

Văn ma ma khép cửa nhã gian, khẽ kể mấy tin tức bên ngoài.

Ngoài vạn thông bị niêm phong, Tiết Văn Viễn bị áp giải, còn có tình hình của Tiết gia.

Tiết Thiếu Khanh đang “làm khách” ở Thuận Thiên phủ, Tiết gia tạm thời chưa bị vây kín, chỉ phái mấy người canh cửa “chăm sóc”, người ra vào đều phải báo tin.

Văn ma ma nói: “Tằng Lăng đã về phủ Thái Bảo.”

Hôm nay Lục Niệm muốn ăn đồ ngọt, A Vi liền đổi lạc giấm thành lạc da hổ.

Hạt lạc bọc đường giòn tan, Lục Niệm thỉnh thoảng nhón một hạt, nghe vậy liền cất tiếng: “Nàng ta về đó cầu cứu sao?

Liệu nó có bản lĩnh không?”

“Chỉ là tự tìm đường sống thôi,” A Vi mỉm cười, “Lần trước người dạy nàng ta ‘hòa ly, đoạn tuyệt, quay về Tằng gia’, trước đây còn do dự, hôm nay đại sự chẳng lành, e rằng đã nghĩ thông rồi.”

“Ta dám dạy, nhưng nàng ta dám học không?” Lục Niệm cười khẩy, “Nàng ta đâu dám đơn thương độc mã đàm phán hòa ly với Tiết gia.

Tằng Thái Bảo sẽ chẳng đồng ý đâu.

Nếu nàng ta cứ khăng khăng làm theo ý mình…”

Lục Niệm nói đến đây bỗng khựng lại, quay đầu hỏi A Vi: “Với chút bản lĩnh ấy, giờ nàng ta còn làm được gì chứ?”

A Vi đáp: “Làm ni cô?”

Nói Tào Tháo, Tào Tháo đến ngay.

Tằng Lăng túm váy, cúi đầu lao lên bậc thang, chạy thẳng tới trước phòng bên, nha hoàn của nàng chẳng kịp theo sau.

Cửa khép hờ chưa khóa kỹ, Tằng Lăng đẩy mạnh, lập tức nhìn thấy Lục Niệm đang ung dung ngồi bên bàn.

“Ngươi hài lòng rồi chứ?!” Tằng Lăng thét lên.

Trông thì có vẻ hùng hổ, nhưng giọng nói run rẩy, đủ thấy nỗi sợ trong lòng.

Tằng Lăng rối bời tâm trí.

Sau khi Tiết Ba bị bắt, bầu không khí trong Tiết gia căng thẳng đến nghẹt thở.

Nàng nhìn sắc mặt của cha chồng và trượng phu, những ngày tháng ấy thật chẳng dễ chịu.

Nàng từng cầu cứu tổ phụ và đệ đệ ruột Tằng Chiêm, cũng tìm đến phủ Định Tây hầu nhờ cậy cô mẫu Tằng thị, nhưng chẳng nhận được sự giúp đỡ thực chất nào, chỉ đành tiếp tục căng mình chịu đựng.

Sợi dây ấy, đến hôm nay, khi biết cha chồng bị Thuận Thiên phủ bắt đi, rốt cuộc đã đứt.

Ngoài cửa Tiết phủ cũng có người canh giữ, Tằng Lăng không muốn ngồi chờ chết.

Nhớ tới lời Lục Niệm từng nói về “hòa ly, đoạn tuyệt”, nàng vội vã quay về phủ Thái Bảo.

Bề ngoài là để cầu cứu, nhưng thực chất là lúc hoạn nạn mạnh ai nấy lo, nàng không muốn bị Tiết gia liên lụy.

Tổ phụ vẫn chưa tan triều.

Tằng Lăng chỉ biết khóc lóc với mẫu thân và tổ mẫu.

Khóc mãi chẳng ra kết quả gì, chỉ khóc đến khi tổ phụ trở về phủ, lập tức bị ông mắng cho một trận:

“Thật ngu xuẩn không thể tả!”

“Cây còn chưa đổ mà khỉ đã tán loạn rồi sao?”

“Mau cút về Tiết gia cho ta, chuyện chưa có gì mà bị ngươi khóc thành ra thế này!”

Tằng Lăng hoàn toàn cô lập, chẳng còn chỗ bấu víu.

Nàng không thể bám trụ mãi ở nhà mẹ đẻ, nếu thật sự chọc giận tổ phụ, biết đâu ông sẽ trói nàng lại, nhét vào xe ngựa rồi trả về Tiết gia.

Thế là, Tằng Lăng nhớ tới Tằng thị.

Nhưng nghe nói Tằng thị đã đuổi mẹ con Lục Niệm ra khỏi kinh thành, càng nghĩ, nàng càng thấy vô vọng.

Tính tình bộc phát, nàng bèn tìm tới hầu phủ hỏi thăm tung tích Lục Niệm, rồi vội vàng đuổi theo đến đây.

Lục Niệm nheo mắt phượng, nửa cười nửa không: “Ta hài lòng cái gì?”

Tằng Lăng tức giận trước thái độ khinh khỉnh đó, bước thẳng vào nhã gian.

Nha hoàn thở hổn hển đuổi kịp, thấy tình cảnh này liền vội vã đóng cửa, cảnh giác nhìn Lục Niệm.

“Phu nhân…” nàng ta khẽ khàng khuyên nhủ.

Tằng Lăng phẩy tay đuổi đi.

Trong lòng nàng có một ngọn lửa bùng cháy, muốn bùng nổ, muốn học theo Lục Niệm mà đập phá nhã gian này như từng phá vườn Thu Quỳ.

Nhưng đối diện với ánh mắt lạnh lùng của Lục Niệm, trong lòng nàng không khỏi chột dạ, đến mức không dám ra tay với bất cứ thứ gì mà Lục Niệm có thể chạm tới.

Chén trà, bát đĩa trên bàn, nàng không dám động vào.

Đảo mắt nhìn quanh, nhã gian này lại vô cùng đơn sơ, không tranh treo tường, không đồ trang trí, vách tường trống trơn, giá bày đồ cổ trống rỗng, chẳng có chỗ nào để phát tiết.

Nàng cứ thế đứng ngây ra, tiến thoái lưỡng nan.

Lục Niệm nhìn thấu tâm can nàng, nụ cười càng thêm khinh miệt: “Ngươi xem, ngay cả phát giận cũng chần chừ do dự, ngươi thì có ích gì chứ?

So với Tằng thị, đúng là kém xa.”

Tằng Lăng nghiến chặt răng, trừng mắt nhìn nàng.

“Ngươi đã không biết trút giận cho rõ ràng,” Lục Niệm đứng dậy, bước đến trước mặt Tằng Lăng, “thì chỉ còn cách đối mặt với vấn đề, rồi giải quyết nó.

Ta nói thẳng cho ngươi biết, ta sẽ không tha cho Tiết gia đâu.

Tiết Văn Viễn là tay sai của tổ phụ ngươi, tạm thời ta chưa động được vào tổ phụ ngươi, nhưng ta hoàn toàn có thể lấy Tiết Văn Viễn ra làm con tốt thí mạng!”

“Để ta đoán xem, ngươi về nhà mẹ đẻ là để cầu xin bọn họ cho phép hòa ly đúng không?

Không ai đồng ý, ngươi thất bại rồi.”

“Ngươi cũng chẳng thèm nghĩ xem, nếu để ngươi hòa ly trở về Tằng gia, Tiết Văn Viễn sẽ nghĩ rằng Tằng gia đã đoạn tuyệt với hắn, vậy hắn còn cam tâm tình nguyện gánh tội thay cho tổ phụ ngươi sao?

Muốn Tiết Văn Viễn cảm kích mà gánh tội, hy sinh ngươi, Tằng Lăng, thì có đáng gì chứ?”

Đôi mắt Tằng Lăng khẽ run lên.

Bị Lục Niệm nói trúng tim đen, cảm giác đó thật khó chịu, nhưng nàng không thể phản bác lại được.

Lục Niệm lại nở nụ cười rạng rỡ: “Nói cho cùng, Tằng Thái Bảo không giữ được Tiết gia, chẳng lẽ lại không giữ nổi ngươi sao?

Bảo vệ ngươi đâu nhất thiết phải dựa vào hòa ly.”

Tằng Lăng sững người, theo phản xạ, nàng muốn hỏi “phải làm thế nào”.

Nhưng lời còn chưa kịp thốt ra, chỉ thấy Lục Niệm đột nhiên giơ tay lên, đưa về phía nàng.

Tằng Lăng vô thức muốn lùi lại một bước, nhưng chạm phải ánh mắt sắc như dao ẩn sau nụ cười của Lục Niệm, trong lòng chấn động, đôi chân như bị đóng đinh, chẳng thể nhúc nhích.

Bàn tay kia hạ xuống sau đầu nàng, rút cây trâm dài, tức thì mái tóc dài của Tằng Lăng xõa xuống.

Một động tác như rút củi đáy nồi, cây trâm giữ tóc bị lấy đi, các món trang sức còn lại mất điểm tựa, rơi lả tả xuống đất, vang lên những tiếng leng keng lanh lảnh.

Trâm ngọc vỡ vụn, mảnh nhỏ văng tứ tung.

Nha hoàn mặt tái mét, muốn kêu lên lại không dám, chỉ biết bịt chặt miệng, kinh hãi nhìn Lục Niệm.

Tiếng động ấy khiến Tằng Lăng bừng tỉnh: “Ngươi…”

“Ta đang vui, nên chỉ cho ngươi một con đường.” Lục Niệm nhét cây trâm vào tay nàng, nụ cười đầy mê hoặc, “Cắt tóc đi.

Ngươi làm ni cô ở Tằng gia, tổ phụ ngươi có thể ép ngươi đầu trần trở lại Tiết gia sao?

Cứ dè dặt sợ hãi, chờ người khác đến cứu ngươi à?

Trên đời này làm gì có chuyện tốt đẹp như thế!

Nhân lúc Tiết Văn Viễn còn bị tạm giữ ở Thuận Thiên phủ, chưa bị định tội, ngươi hãy nhanh chóng tự nghĩ cách đi.”

Nói xong, Lục Niệm nghiêng đầu, ra hiệu cho A Vi.

A Vi mỉm cười đáp lại.

Lục Niệm không buồn để ý đến Tằng Lăng nữa, cùng Văn ma ma rời khỏi nhã gian, đi về phía hậu viện.

Trong nhã gian chỉ còn lại A Vi và chủ tớ Tằng Lăng.

A Vi ung dung ngồi nhìn nàng.

Khuôn mặt Tằng Lăng bị mái tóc rối che khuất, không rõ biểu cảm, chỉ thấy đôi tay nàng siết chặt thành nắm đấm.

A Vi liếc nhìn cây trâm trong tay nàng, thầm nghĩ, nếu Tằng Lăng có chút sức lực, e rằng cây trâm ấy đã bị bóp cong từ lâu.

Nhưng rõ ràng, Tằng Lăng không có sức mạnh đó, cũng giống như nàng chẳng có dũng khí liều lĩnh để bất chấp tất cả.

A Vi lạnh nhạt nói với nha hoàn: “Chải tóc cho nàng ta đi.

Nhã gian này lát nữa còn đón khách, đừng để ảnh hưởng đến việc làm ăn của chúng ta.”

Tiểu nha hoàn từng nghe về sự điên cuồng của Lục Niệm.

Hôm nay tận mắt chứng kiến, lòng vẫn chưa hết bàng hoàng, nào dám trái ý A Vi, đành quay sang nhìn Tằng Lăng.

Tóc tai rối bù chẳng ra thể thống gì, nàng ta rụt rè khuyên nhủ: “Nô tỳ chải tóc lại cho phu nhân nhé.”

Tằng Lăng không động đậy.

Nàng như chìm trong cơn mê man, mấy lần há miệng nhưng không thốt ra lời.

A Vi nhìn thấy hết, lạnh lùng hỏi: “Ngươi định nói gì?

Muốn bảo rằng oan có đầu, nợ có chủ, chuyện giữa mẫu thân ta và Tằng thị không liên quan đến ngươi sao?”

Tằng Lăng khẽ kêu một tiếng, lẩm bẩm: “Ta nhỏ hơn bà ta mấy tuổi, năm xưa làm khó bà ấy đâu phải ta…”

“Rồi sao nữa?” A Vi cười nhạt, “Tằng thị ôm bao nhiêu bạc đem về Tằng gia, ngót nghét ba mươi năm!

Bây giờ ngươi bao nhiêu tuổi?

Những thứ ngươi ăn mặc, dùng đến, là tiền của tổ phụ ngươi à?

Không, đó là máu mủ từ phủ Định Tây hầu của chúng ta!

Ngươi chẳng vô tội chút nào.

Những gấm vóc lụa là, vàng bạc châu báu của ngươi, vốn dĩ là đồ ngoại tổ mẫu để lại cho mẫu thân ta và cho ta.

Các ngươi chiếm đoạt hết, giờ còn mặt mũi nào mà to tiếng với mẫu thân ta?”

“Ta… cô mẫu ta …” Tằng Lăng ngẩn ra, mơ hồ: “Bà ấy lấy bạc của hầu phủ, để chu cấp cho Tằng gia sao?”

“Bà ta còn đầu độc ngoại tổ mẫu của ta đấy!

Nếu không phải giết người trước, bà ta liệu có phải lánh mặt về trang viên ăn Tết không?” Giọng A Vi không nhanh, nhưng từng chữ rõ ràng như dao cắt, “Mẫu thân ta chưa từng oan uổng cho các ngươi Tằng gia!

Chỉ có các ngươi nợ bà ấy, chứ bà ấy chẳng nợ các ngươi chút nào!”

Vai Tằng Lăng co rút lại, lòng rối bời: “Ta… ta không biết…”

“Không biết thì vô tội sao?” A Vi cười khẩy, “Vậy giờ thì ngươi biết rồi đấy.”

Tằng Lăng thất thần, được nha hoàn đỡ ngồi xuống ghế.

Bàn tay tiểu nha hoàn run rẩy, vài lần kéo giật mái tóc nàng, nhưng Tằng Lăng chẳng buồn kêu đau.

Mái tóc dài được búi lại, nhưng trông lộn xộn, tiểu nha hoàn đành kéo mũ choàng trùm lên đầu nàng để che đi.

A Vi đưa tay chỉ cửa: “Giờ thì cút đi.

Mẫu thân ta không chấp nhặt với ngươi là bà ấy rộng lượng đấy.”

Thân hình Tằng Lăng lảo đảo.

Lục Niệm rộng lượng?

Đó e là trò cười lớn nhất trong kinh thành này!

Nhưng nếu Lục Niệm là trò cười, thì nàng, Tằng Lăng, là gì?

Nàng không biết.

Chỉ trong nửa ngày ngắn ngủi, thế giới của nàng đã hoàn toàn đảo lộn.

Tằng Lăng được nha hoàn dìu ra ngoài.

A Vi đứng bên cửa sổ, mắt dõi theo cỗ xe ngựa rời đi, rồi mới đóng cửa sổ, xuống lầu ra hậu viện tìm Lục Niệm.

Lục Niệm đang chơi cùng tiểu nương tử của Ông nương tử, tên là Tiểu Nan.

Có lẽ vì khoảng thời gian “đại chiến” ở tiêu cục đã xa, lại đổi nơi sinh sống, nên Tiểu Nan đã bạo dạn hơn so với ngày được Ông nương tử bế đến phủ Định Tây hầu.

Dù vậy, con bé vẫn chẳng thích nói chuyện.

Khi Ông nương tử bận rộn trông coi việc làm ăn ở phía trước, con bé ngoan ngoãn chơi ở hậu viện.

Đứa trẻ này rất dễ trông, thỉnh thoảng bọn đầu bếp hay tiểu nhị liếc nhìn vài cái là yên tâm ngay.

Lục Niệm ngồi xổm, chơi trò dây chun với Tiểu Nan—một trò chơi không cần nói chuyện cũng có thể cùng nhau vui đùa.

Tiểu Nan rất thích, có thể im lặng chơi mãi không chán.

A Vi bước tới, cũng ngồi xổm xuống chơi cùng.

Lục Niệm khẽ hỏi: “Tằng Lăng đi rồi à?”

“Đi rồi.” A Vi nhướng mày, nét mặt thảnh thơi, chẳng còn chút lạnh nhạt châm biếm nào như lúc đối mặt với Tằng Lăng, giọng nói dịu dàng, “Tiết Văn Viễn có phản bội không?”

Hỏi thì hỏi vậy, nhưng thực ra A Vi cũng đã biết câu trả lời.

Vạn Thông tiêu cục bề ngoài làm ăn chính đáng, nhưng sau lưng lại dính dáng đến nhiều chuyện mờ ám.

Thế nhưng Tiết Văn Viễn không phải là chủ lớn của Vạn Thông, dù tính cả phần của Châu Như Hải, Tiết gia cũng chỉ chiếm phần nhỏ.

Mấy chuyện mập mờ ấy, chỉ cần nhờ Quận vương tạo chút áp lực lên Thuận Thiên phủ, kết cục của Tiết Văn Viễn chắc chắn khó thoát.

Nhưng chuyện giữ gìn huyết mạch của Tiết gia thì vẫn có thể xoay xở.

Nếu phản bội, kéo theo một dây người dính líu, Tiết Văn Viễn chẳng được lợi lộc gì, con cháu lại càng dễ bị vứt bỏ.

Trái lại, nếu ngoan ngoãn nhận tội, Tằng Thái Bảo chí ít cũng sẽ bảo toàn được tính mạng của con cháu hắn.

“Nếu Tằng Lăng dám liều mạng hòa ly, có khi Tiết Văn Viễn sẽ hoảng sợ, nhưng khổ nỗi Tằng Lăng lại chẳng có chút khí phách nào.” Lục Niệm lắc đầu, “Dù nàng ta có cạo đầu đi làm ni cô, cũng chẳng đủ sức nặng để Tiết Văn Viễn bận tâm.”

Nói đến đây, Lục Niệm chợt nghĩ, bấy nhiêu năm qua, nàng đã gặp biết bao dạng người khác nhau rồi.

Có những kẻ ngu ngốc, chỉ cần khích nhẹ là mắc câu; có kẻ nhát gan, tự mình dọa chết chính mình; cũng có những kẻ già đời gian xảo, khó lòng đối phó.

Tằng Lăng không phải là người nhát gan nhất, cũng không phải kẻ dễ bị lừa nhất, nhưng ngay cả khi tức giận muốn trút giận, nàng cũng dè dặt do dự.

“Chúng ta chỉ nói vài câu thôi,” Lục Niệm dùng đầu ngón tay móc nhẹ sợi chỉ đỏ, xoay một vòng, liền đưa dây trò chơi từ tay Tiểu Nan trở lại tay mình, “nếu có thể khiến Tằng gia bực bội thì càng tốt, không được thì cũng chẳng mất mát gì.”

A Vi khẽ đáp một tiếng.

Ở một nơi khác.

Tằng Lăng trở về phủ Thái Bảo.

Người gác cổng thấy nàng lập tức bẩm báo: “Cô nương, cô gia đã tới đón cô về, hiện đang nói chuyện trong thư phòng của Thái Bảo đại nhân.”

Đầu Tằng Lăng như vang lên một tiếng ong ong, nàng cúi đầu, lặng lẽ bước về khuê phòng nơi từng ở trước khi xuất giá.

Thái Bảo phu nhân nghe tin nàng về, sắc mặt âm trầm, bước đi đầy giận dữ, vừa đi vừa nói với mẫu thân Tằng Lăng: “Nó là do bị nuông chiều quá mức mà thành ra thế này, chẳng có chút chủ kiến nào.

Con gái của bà, nên khuyên bảo thế nào, bà tự biết lấy.”

“Vâng…”

Hai mẹ con, mỗi người một suy nghĩ trong lòng, lúc vào phòng vẫn giữ vẻ bình tĩnh.

Nhưng khi vòng qua bình phong, trông thấy Tằng Lăng đang cầm kéo cắt tóc, sắc mặt cả hai lập tức thay đổi.

“Con làm gì vậy!” Mẫu thân Tằng Lăng nhào tới định giật lấy cây kéo.

Nhưng đã muộn, trên sàn nhà đầy những lọn tóc đen dài ngắn lộn xộn.

Tóc của Tằng Lăng bị nàng cắt xén lởm chởm như chó gặm.

“Không cho con hòa ly thì con đi làm ni cô cũng được chứ gì!” Tằng Lăng vừa khóc vừa hét lên.

Thái Bảo phu nhân tức đến run cả người.

Bà ta thừa biết Tằng Lăng là kẻ vô dụng.

Nhưng một kẻ vô dụng lại dám cắt tóc đoạn tuyệt như thế sao?

“Con bé đã đi đâu?” Thái Bảo phu nhân nghiến răng hỏi nha hoàn, “Gặp ai rồi?”

Tiểu nha hoàn sợ hãi đến phát khóc, lắp bắp: “Gặp… gặp người của Định Tây hầu phủ…”

“Con mụ điên Lục Niệm?” Thái Bảo phu nhân rùng mình, quay sang quát Tằng Lăng: “Sao con có thể nghe lời con mụ điên đó?!”

Tằng Lăng nước mắt đầm đìa, vừa run rẩy vừa gào lên: “Trước đây con mắng bà ta là đồ điên, con nguyền rủa bà ta, ghét bỏ bà ta, nhưng quay đầu nhìn lại, chính con mới là con quái vật xấu xí!

Cô mẫu thực sự đã giết người!

Vậy con là gì?

Con là đồng phạm sao?!”

Mẫu thân Tằng Lăng hoang mang và bất an, há miệng định nói gì đó với mẹ chồng.

Thái Bảo phu nhân sải bước tới, giơ tay tát mạnh một cái “bốp!” vào mặt Tằng Lăng, khiến đầu nàng lệch sang một bên: “Chỉ nghe lời một phía mà vội vàng định tội cho cô mẫu con à?

Đồ ngu ngốc!”

Tằng Lăng choáng váng.

Từ nhỏ đến lớn, nàng chưa từng bị tát bao giờ.

Nàng ôm lấy má nóng rát, giật lại cây kéo, tiếp tục cắt tóc, vừa khóc vừa gào: “Vậy người nói đi, sự thật là gì?

SỰ THẬT LÀ GÌ?!”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 97: Định qua cầu rút ván sao?


Xuân Huy viên.

A Vi đang chuẩn bị đồ ăn trong tiểu trù phòng.

Định Tây hầu đến Quảng Khách Lai nhưng không gặp ai, biết mẹ con họ đang ở phủ, bèn vội vàng quay lại.

Cửa chính của chính phòng đóng kín, rèm bông buông chặt, không một khe hở.

Định Tây hầu trước tiên đi về phía tiểu trù phòng, vừa đến đã thấy A Vi đứng bên bàn thái thịt.

Mao bà tử nhìn thấy ông, vội vàng đứng dậy hành lễ.

A Vi nghe tiếng, ngẩng đầu liếc nhìn một cái, khẽ gọi:

“Ngoại tổ phụ.”

Rồi lại cúi đầu tiếp tục công việc.

Định Tây hầu chắp tay sau lưng, bước tới gần, nhìn lên bàn:

“Thịt thỏ à?”

“Vâng,” A Vi động tác vững vàng, nói chuyện cũng không ảnh hưởng gì đến việc tay thái thịt, “Sáng nay có thợ săn mang hàng ra bán ở Tây Nhai.

Trước kia khi tiếp quản Quảng Khách Lai, người cũng biết rồi, tửu quán bị các tửu quán khác trên phố chèn ép, rất khó thu mua được đồ rừng.

Nay khai trương lại, món ăn định cũng chỉ là các món thường nhật.

Chỉ có vào tháng Chạp, tuyết lớn phong sơn, không phải mùa săn bắn tốt, nên thợ săn nào gan lớn, cẩn thận và gặp may mới bắt được chút đồ tươi sống, tranh thủ mùa đông bán được giá cao hơn, chứ bình thường chưa chắc đến lượt chúng ta Quảng Khách Lai.”

Định Tây hầu cũng rõ điều này.

Lần trước A Niệm và Tằng thị đập bàn tính sổ, đập luôn Thu Bích viên, cũng từng nhắc đến chuyện này.

“Món thường nhật thì ổn định,” Định Tây hầu nói, “Nhưng dã vị lúc nào cũng hiếm lạ hơn.”

“Đúng vậy,” A Vi giọng nhàn nhạt, “Dù có thợ săn quen thân, cũng chẳng có tửu quán nào đảm bảo quanh năm suốt tháng, khách muốn ăn gì là có ngay thứ đó.

Nhưng có thể mua được chút ít, khác hoàn toàn với việc cầm bạc mà bị chém giá như kẻ ngốc.”

Định Tây hầu, kẻ suýt nữa bị chém giá làm kẻ ngốc suốt ba mươi năm, mặt già đỏ bừng.

Ông không để tâm đến bạc, nhưng bị ngoại tôn nữ châm chọc thẳng thừng thế này, quả thực mất mặt.

“Cho nên,” A Vi tay trái giữ miếng thịt, tay phải cầm dao thái mỏng đều, “Ông nương tử không định giá được, cũng không muốn cắt đứt mối mua bán này, bèn nhờ con đi xem thử.

Con vừa nhìn đã để ý đến hai con thỏ béo mập này.

Đồ nhà ăn, con cũng không ép giá, mua hết luôn.

Đợi thái xong ướp chút, tối nay làm món Bát Hạ Cống.”

“Ăn Bát Hạ Cống thì quá chuẩn,” Định Tây hầu tán thưởng, “Trời tối nay lạnh đấy, ta nhìn trời có vẻ lại sắp có tuyết.

Trời tuyết ăn món này, hâm bình rượu, thật là hợp cảnh.”

A Vi bật cười:

“Không phải vì hợp cảnh, mà vì mẫu thân rất thích món Bát Hạ Cống.”

“Vậy sao…” Định Tây hầu quả thực không biết điều này, nhưng nghe đến chữ “thích”, ông lập tức ghi nhớ trong lòng, “Thỏ rừng trên núi khó bắt, sang xuân ta sẽ chọn một trang viên, bảo người nuôi, muốn ăn lúc nào thì mang tới.”

“Thỏ gặp gió là lớn, chớp mắt đếm không xuể,” A Vi nói, “Mà xuân đến ăn không hợp mùa, cũng không ăn hết nổi.”

“Nhà mình ăn không hết thì cung ứng cho tửu quán,” Định Tây hầu vội đáp, “Bát Hạ Cống không hợp mùa thì đổi cách nấu khác.

Nói mới nhớ, hồi trước ở Đông Việt, trên núi bắt thỏ dễ lắm.

Ngoại tổ phụ từng bắt vài lần, thỏ đó ướp gia vị rồi nướng, mùi vị cũng không tệ.

Đợi hè tới, ngoại tổ phụ sẽ nướng cho con và mẫu thân con ăn thử.”

A Vi đặt dao xuống.

Cô phân loại thịt thỏ theo từng bộ phận để ướp gia vị cho phù hợp.

Đổ tương, hoa tiêu, rượu hoàng tửu vào, A Vi nói:

“Đợi hè tới hẵng nói chuyện mùa hè, ai biết được có thành hay không.”

Định Tây hầu định lên tiếng cam đoan thêm vài câu, nhưng nghĩ lại lời A Vi liền ngừng lại.

Cũng đúng.

Nói nhiều đến đâu cũng không bằng đến lúc đó thực sự nướng lên mang tới.

A Vi ướp thịt xong, rửa sạch tay, lúc này mới nghiêm mặt nói:

“Ngoại tổ phụ có gì thì cứ nói thẳng.”

Định Tây hầu khẽ ho hai tiếng.

Mao bà tử lanh lợi, không cần ai nhắc cũng lặng lẽ rời đi.

Lúc này Định Tây hầu mới nói:

“Ban ngày Tằng thái bảo tìm ta, muốn nhân ngày nghỉ mai lên trang viên thăm Tằng thị.”

A Vi nhướng mày:

“Vì sao?”

“A Vi, ta nói với ông ấy rằng Tằng thị đã giết người.

Dù ông ấy là bá phụ của Tằng thị, dù biết rõ sự tình, nhưng cũng không thể chỉ nghe lời từ một phía là nhà ngoại tổ phụ.”

Trước khi tới đây, Định Tây hầu đã suy nghĩ kỹ, cố gắng nói bằng cách con dễ chấp nhận nhất.

Dù sao, A Vi cũng dễ nói chuyện hơn một chút.

Nếu là A Niệm, với tính khí của con bé, dù lý lẽ có vững vàng thế nào, chỉ sợ cũng bị nó đá văng một cái.

Định Tây hầu nghĩ đến cũng thấy sờ sợ, dù sao ông cũng không muốn gây xung đột với A Niệm.

“Trước đó, Tằng thái bảo nói đợi sau khi nha môn phong ấn xong mới đi trang trại.

Dù cho ông ấy đưa ra câu trả lời thế nào, chuyến này sớm muộn cũng phải đi.

Nhưng sáng nay ông ấy đột nhiên đổi ý, nói là phu nhân nhà ông ấy nhớ Tằng thị, nhân dịp nghỉ ngơi thì tiện qua thăm.

Ngày mai, ngoại tổ phụ sẽ đi cùng.

Dù sao đó cũng là trang trại của nhà ta, lại liên quan đến chuyện nhân mạng quan trọng, không thể thiếu người nhà mình ở đó.

Nên vừa tan nha môn ta liền đến báo với con, lát nữa cũng sẽ nói với mẫu thân con, để tránh việc hai mẹ con nghe từ miệng người khác lại nghĩ ngoại tổ phụ lén lút thương lượng với nhà họ Tằng sau lưng.”

A Vi bình thản nhìn Định Tây hầu.

Việc nhà họ Tằng muốn đi chuyến này, hoàn toàn nằm trong dự đoán của nàng.

Chỉ là vẻ cẩn trọng dè dặt của Định Tây hầu mới khiến nàng thấy bất ngờ đôi chút.

Nàng bật cười khẽ:

“Người nhà mình?

Ngài chắc ngài là người nhà mình?”

Định Tây hầu lúng túng:

“Tất nhiên là thế rồi.”

A Vi cười nhạt, không nói tin hay không tin, chỉ bảo:

“Con biết vì sao ông ta đổi ý.

Hôm qua đại nhân Viện Mã Tự là Tiết đại nhân bị Thuận Thiên phủ giữ lại, nghe nói Vạn Thông tiêu cục cũng bị phong tỏa rồi.

Tằng Lăng sốt ruột đến Quảng Khách Lai cãi nhau với mẫu thân con, bị mấy câu của bà ấy dội ngược lại, về nhà chắc cũng làm loạn một trận.

Trong ngoài đều rối ren, nếu chuyện Tằng thị giết người lại bùng lên lần nữa, thì cái Tết này của ông ta chắc chẳng yên ổn nổi đâu.”

Định Tây hầu cười gượng.

Sự thay đổi thái độ của Tằng thái bảo, ông nhìn ra rõ ràng.

Đối phương muốn đi sớm để gặp Tằng thị, ông cũng không thể ngang ngược từ chối.

Đúng như ông đã nói với A Vi, chuyến này kiểu gì cũng phải đi một lần.

“Ông ta đi xong rồi thì sao?” A Vi hỏi, “Nếu Tằng thị tự miệng thừa nhận đã giết người, nhà họ Tằng có định bồi mạng cho ngoại tổ mẫu không?”

“Cái đó…”

A Vi không truy hỏi thêm, chỉ nói:

“Con sẽ đi cùng ngài.”

Định Tây hầu nghe vậy, quay đầu liếc nhìn về phía chính phòng:

“Còn mẫu thân con…”

“Bà ấy sẽ không đi,” A Vi nói thẳng, “Con sẽ thuyết phục mẫu thân, không để bà đi.

Con sợ bà đến đó lại bị kích động.

Khí uất tích tụ chẳng có lợi cho mẫu thân đâu.

Người cãi nhau với Tằng thị thì cùng lắm rút dao đâm thôi, ba nhát là đâm, bốn nhát cũng là đâm, chẳng khác gì cả.

Nhưng khổ nỗi lại có Tằng thái bảo và phu nhân của ông ta ở đó.

Nhà họ Tằng thì đồng tâm hiệp lực, bảo vệ lẫn nhau, ngài lại không hưu thê, không cáo trạng, còn phải đứng giữa dàn xếp, mẫu thân con nhìn càng thêm bực.

Nếu mẫu thân thật sự đâm Tằng thái bảo, ngài tính sao?”

Định Tây hầu: ……

“A Vi, không phải là…” Định Tây hầu thở dài, nhất thời không biết nên giải thích thế nào cho rõ lòng mình, “Tằng thái bảo không giống Tiết Văn Viễn, đâu phải cứ cầm đơn kiện ra là xong chuyện…”

“Con biết,” A Vi ngắt lời ông, nghiêm túc nói, “Con biết.

Cho nên chỉ cần kéo Tằng thái bảo xuống được, là có thể xóa tên Tằng thị khỏi gia phả, để bà ta đền mạng rồi.

Ngoại tổ phụ, hôm đó mẫu thân con đã nói rõ với ngài rồi, dù bà ấy có thành quỷ thành ma cũng sẽ không tha cho Tằng thị.

Ngài chỉ cần đừng kéo chân sau là được.

Giữa chúng ta với nhà họ Tằng, là không đội trời chung.”

Định Tây hầu im lặng.

Ông dõi mắt theo ánh nhìn của A Vi ra ngoài cửa sổ, bóng đêm đã buông xuống, nơi tận cùng của những tầng mây tuyết là vệt ánh hoàng hôn nhàn nhạt nhuộm chút sắc vàng sau đám mây.

Chẳng bao lâu sau, ánh vàng ấy cũng nhạt dần, cuối cùng chỉ còn lại bóng tối đen kịt.

Trong viện, những chiếc lồng đèn lần lượt được thắp sáng.

A Vi đun sôi nước suối đã chuẩn bị sẵn, lại nhanh tay cắt thêm ít rau gia vị.

Văn ma ma nghe tiếng bước vào, giúp cô bưng thịt và rau lên chính phòng.

A Vi lấy một chiếc bát nhỏ:

“Tỏi băm, dầu mè, lạc rang giã nhỏ, cho nhiều dầu ớt một chút, nhỏ vài giọt giấm thơm.

Mẫu thân con thích nhất vị này.”

Pha xong, cô lại lấy thêm một bát, quay đầu hỏi Định Tây hầu:

“Còn ngài?”

Định Tây hầu sững người.

Tưởng sẽ bị “tiễn khách” tiếp, không ngờ món Bát Hạ Cống lần này lại có phần của ông.

“Giống vậy đi,” Định Tây hầu vội nói, “Giống mẫu thân con là được rồi.”

Nước đã sôi lăn tăn, A Vi múc vào nồi nhỏ.

Định Tây hầu không nói thêm lời nào, chủ động bưng nồi đi trước, A Vi theo sau, tay bưng bếp nhỏ đặt nồi lên trên.

Lục Niệm liếc nhìn Định Tây hầu, chậm rãi từ chiếc ghế bập bênh đứng dậy, tay áo khẽ chắp lại trước ngực, lặng lẽ quan sát A Vi đang nhóm bếp.

Lửa đã ổn định, nước sôi lăn tăn, A Vi gắp một lát thịt thỏ ướp sẵn, thả vào nồi nước nóng sôi ùng ục.

Định Tây hầu cũng gắp một miếng, lát thịt mỏng như cánh ve, khi chín hẳn thì màu sắc hồng hào óng ánh, tựa như ánh hoàng hôn nhạt nhòa ông vừa nhìn thấy không lâu trước đó.

Đối diện ông, Lục Niệm ăn uống ngon lành, vẻ mặt đầy thích thú.

A Vi thì mỉm cười dịu dàng, giới thiệu:

“Đĩa này là thịt đùi sau,” nàng chỉ vào đĩa bên cạnh, “Còn đĩa này là phần thịt bụng và ức.”

Tiếng nói nhẹ nhàng, nụ cười ấm áp, hai mẹ con trò chuyện ríu rít, bầu không khí giữa họ tràn ngập sự ấm cúng và thân thiết.

Rõ ràng cùng ngồi chung một bàn ăn, nhưng Định Tây hầu lại không cảm nhận được sự hòa hợp ấy.

Ông lặng lẽ gắp một lát thịt, nhúng vào bát nước chấm, rồi bỏ vào miệng.

Hương vị đậm đà, thịt mềm ngọt, rất ngon.

Chỉ là… cay quá.

Vị cay tê lan thẳng lên cổ họng, khiến ông hơi khó chịu, cảm giác như từng luồng lửa nhỏ châm chích.

Ông liếc sang Lục Niệm và A Vi lần nữa.

Hai mẹ con ấy hoàn toàn không bị ảnh hưởng gì.

Bình thản, thản nhiên, giống như vị cay kia chỉ là một cơn gió nhẹ lướt qua, không để lại dấu vết.

Thôi vậy.

Ông cũng chẳng nói thêm điều gì nữa.

Giống như món thịt thỏ nướng ông từng hứa hẹn cho mùa hè sang năm.

Ông có kéo chân sau hay không, có đáng bị trách hay không—đợi mọi chuyện kết thúc rồi, A Vi và Lục Niệm tự khắc sẽ hiểu rõ.

Sáng hôm sau, bầu không khí lạnh buốt sau trận tuyết lớn bao trùm khắp nơi.

Trước cổng thành, xe ngựa của phủ Định Tây hầu đã đợi sẵn.

Nửa khắc sau, xe ngựa của nhà họ Tằng cũng đến nơi.

Thời tiết rét mướt, không ai muốn xuống xe, chỉ khẽ vén rèm chào hỏi nhau qua loa, rồi một trước một sau cùng lên đường tới trang trại nơi Tằng thị đang dưỡng thương.

Trang trại nằm khá xa, lại thêm đường sá trơn trượt vì tuyết đọng, mãi đến gần trưa bọn họ mới đến nơi.

A Vi nhẹ nhàng đặt chân xuống bậc xe, ngẩng đầu nhìn Tằng thái bảo và phu nhân của ông ta.

Nói đúng ra, đây không phải lần đầu tiên nàng gặp Tằng thái bảo.

Văn ma ma từng kể rằng, khi A Vi còn nhỏ ở kinh thành, Tằng thái bảo đã từng tới Thái sư phủ.

Cùng là tam công, tổ tiên nhà họ Kim vốn đã “phú quý”, nội tổ phụ của nàng lại là dòng dõi quan lại nên càng có địa vị cao hơn.

Trong khi đó, Tằng thái bảo xuất thân từ nhà dân thường, nhờ tài học và vận may mới đạt được vị trí ngày hôm nay.

Con đường thăng tiến của hai người khác biệt hoàn toàn, nhưng quan hệ lại không tệ.

Tằng thái bảo từng đến phủ uống rượu, nội tổ phụ của nàng cũng từng đến thăm nhà họ Tằng.

Nhưng đã nhiều năm trôi qua, A Vi khi đó còn quá nhỏ, chỉ nhớ mang máng từng được bế ra chào hỏi, nên giờ nhìn lại, gương mặt ấy đã trở nên xa lạ.

Tằng thái bảo dường như sợ lạnh, khoác áo choàng dày cộm, sắc mặt tái nhợt.

Phu nhân của ông ta bước theo phía sau, tinh thần có vẻ không tốt, giống như bị mệt mỏi sau chặng đường dài ngồi xe.

Nhưng khi A Vi quan sát kỹ hơn, nàng phát hiện dưới mắt bà ta được bôi một lớp phấn dày, cố gắng che đi quầng thâm xanh xám.

A Niệm từng giới thiệu với A Vi về vị phu nhân này.

Bà ta họ Tống, là vợ cả của Tằng thái bảo.

Phu nhân Tống chỉ bắt đầu học chữ sau khi Tằng thái bảo đỗ đạt cao.

Bà ta tuy bắt đầu muộn nhưng rất nỗ lực, sau nhiều năm, dù không đến mức làm thơ viết văn, nhưng đủ để ứng phó trong các cuộc giao tiếp xã hội.

“Tiếc là tính cách bà ấy quá yếu đuối, chẳng có chủ kiến gì, chuyện gì cũng nghe theo Tằng thái bảo.”

Đó là nhận xét của A Niệm sau khi tiếp xúc với bà ta nhiều năm trước.

Giờ đây, hơn chục năm trôi qua, A Vi nhìn người phụ nữ trung niên ấy bước theo sát phía sau Tằng thái bảo, gương mặt không vui không buồn, không biểu lộ cảm xúc gì rõ rệt.

Xem ra, dường như chẳng có gì thay đổi.

Bọn họ cùng nhau bước vào phòng của Tằng thị.

Trang trại rộng rãi, các viện xây dựng thoáng đãng nhưng cũng chỉ có bề ngoài là vậy.

Dù có đốt lò sưởi nhưng bên trong vẫn lạnh lẽo, bàn ghế tuy đầy đủ nhưng trống trải, không có chút hơi ấm của gia đình.

Vết thương trên chân Tằng thị vẫn chưa lành, bà ta không thể rời giường, chỉ có thể nằm đó tĩnh dưỡng.

Nhưng có lẽ vì những tội ác chôn giấu bấy lâu nay đã bị phơi bày, không cần phải tiếp tục giả vờ che đậy nữa, nên tinh thần bà ta lại tốt hơn khi còn ở hầu phủ.

Biết trước Tằng thái bảo và phu nhân sẽ đến, Tằng thị giấu sự chán nản trong lòng, không muốn để họ thấy bộ dạng sa sút của mình nên đã sửa soạn kỹ càng.

Tóc chải gọn gàng, vấn khăn màu nâu đỏ, sắc mặt thậm chí còn hồng hào hơn cả Tống phu nhân.

Tống Phu nhân nhìn thấy bộ dạng như vậy chỉ biết quay sang nhìn chồng mình.

Bà ta biết phải trách nhà họ Lục hành hạ người nhà mình thế nào đây, khi mà rõ ràng trông Tằng thị chẳng giống người bị hành hạ chút nào cả?

Định Tây hầu là người mở lời trước:

“Ngươi có đầu độc Bạch thị và sát hại vị hôn phu trước kia của mình hay không, hãy tự nói cho Tằng thái bảo nghe.”

Tằng thị cười lạnh:

“Không phải đã kết tội rồi sao?”

“Vậy ta có oan uổng ngươi không?” Định Tây hầu hỏi tiếp.

Tằng thị liếc mắt nhìn A Vi đang đứng cạnh:

“Lục Niệm đâu?”

“Đang mài dao,” A Vi nhếch môi cười, ánh mắt đầy thách thức, “Chuẩn bị lần sau sẽ đâm bà thêm vài nhát nữa.”

“Nghe kìa!” Tằng thị đập tay lên giường, “Cứ nhất định phải đâm chết ta mới xong.

Vậy ta nói gì chẳng giống nhau sao?!”

“Tinh thần tốt đấy, khí thế cũng mạnh,” A Vi chậm rãi bước lên vài bước, ánh mắt sắc lạnh nhìn chằm chằm vào Tằng thị, “Trông có vẻ khỏe hơn hồi ở hầu phủ.

Sao vậy? Ở đây dưỡng thương làm bà ‘có bản lĩnh’ hơn rồi à?”

“Khụ khụ!” Tằng thái bảo ho khan hai tiếng, tay nắm lại che trước miệng, “Được rồi, ta muốn nghe rõ ràng chuyện này.

Hầu gia, trẻ con nóng nảy là chuyện thường, đưa nó ra ngoài hóng gió đi, để ta nói chuyện riêng với A Nghiên.”

Định Tây hầu rõ ràng không muốn rời đi.

Nhưng A Vi lại thẳng tay kéo lấy tay áo ông, làm bộ như muốn lôi ông ra ngoài:

“Cứ từ từ bịa đi, ta muốn xem thử làm sao mà có thể thêu hoa dệt gấm từ tội giết người đây.”

Thấy nàng kiên quyết như vậy, Định Tây hầu đành miễn cưỡng bước theo.

Ra khỏi phòng, ông chau mày quay đầu liếc lại một cái.

A Vi thì chẳng bận tâm, đi thẳng vào căn phòng bên cạnh, nhóm bếp sưởi ấm.

Chó cắn chó thôi mà.

Nàng và Lục Niệm chỉ việc chờ xem Tằng thị với Tằng thái bảo kẻ giấu diếm, người toan tính, rồi tự lôi nhau xuống bùn.

Không cho bọn chúng một mảnh đất để đứng, xem bọn chúng còn cắn nhau thế nào được nữa?

Đôi tay trắng trẻo của A Vi đưa lại gần bếp lửa, hơi nóng bốc lên rần rần, nàng khẽ động đậy các ngón tay, rồi thở dài một tiếng.

Bên trong phòng kia, phu nhân Tằng thái bảo kéo một chiếc ghế ngồi xuống cạnh bếp than, ánh mắt cụp xuống, im lặng không nói gì.

Hơi ấm sưởi nóng đôi chân nhưng lại khiến lòng bà thêm nặng nề, mệt mỏi.

Cuối cùng bà ta nhắm mắt lại, tháo chuỗi hạt Phật trên cổ tay xuống, lặng lẽ lần tràng hạt, miệng không ngừng niệm kinh.

Những chuyện khác không liên quan đến bà.

Tranh chấp giữa chồng và cháu gái cũng chẳng liên quan gì đến bà.

Không tới lượt bà lên tiếng.

Bên cạnh giường, Tằng thái bảo nheo mắt nhìn chằm chằm Tằng thị, ánh mắt sâu thẳm:

“Ta đã từng nói với ngươi rồi, phải biết giấu cái đuôi của mình đi!” Ông ta nghiến răng nghiến lợi, từng chữ như tạc vào không khí lạnh lẽo, “Ta không ngờ ngươi lại kém cỏi đến mức này, mới gặp chút chuyện đã để người ta tóm được tận tay!

Ba mươi năm, chuyện từ ba mươi năm trước lẽ ra đã rửa sạch từ lâu, vậy mà ngươi không biết vùng vẫy, không biết che đậy, lại để người ta tìm tới tận đây!

Thật khiến ta quá thất vọng rồi!”

Tằng thị bật cười lạnh lùng.

Đúng là bà ta thất bại từ sự sơ suất của bản thân, nhưng điều thực sự khiến bà ta rơi vào cảnh thất thế, không thể xoay chuyển tình thế, chính là do Lý ma ma!

Tằng thái bảo chẳng mảy may quan tâm đến diễn biến sự việc, không biết Lục Niệm điên cuồng đến mức nào, mở miệng ra chỉ toàn là những lời “thất vọng”.

Thực ra, người khiến bà ta thất vọng nhất chính là vị bá phụ này!

“Ngài trách ta à?” Tằng thị lạnh lùng hỏi lại.

“Ngươi là kẻ bị bắt vì hai mạng người,” Tằng thái bảo chỉ thẳng vào mặt bà ta, “Vì một ả phụ nhân chẳng ra gì, vừa chẳng phải vợ cả, cũng chẳng phải thiếp, mà lôi cả nhà họ Tiết xuống nước cũng là ngươi!

Giờ thì hay rồi, không chỉ Tiết Ba, đến cả Tiết Văn Viễn cũng bị tống vào ngục!

A Lăng thì làm loạn, khóc lóc đòi đi tu, cắt tóc đòi làm ni cô!

Ta – Tằng Văn Tuyên – lại có một đứa cháu gái đòi đi tu đây này!

Như thế vẫn chưa đủ à?

Ta còn phải quay lại dọn đống rác mà ngươi để lại cho nhà họ Tiết!”

Hôm qua thực sự là một màn kịch lố bịch!

Ông ta vừa mới bàn bạc xong với Tiết Thành Thu, hứa hẹn một câu chắc nịch rằng: dù mọi chuyện không thể cứu vãn, cũng sẽ bảo đảm an toàn cho những người còn lại của nhà họ Tiết.

Kết quả là, Tằng Lăng ném thẳng vào mặt ông ta một cú sốc trời giáng.

Nhìn thấy mái tóc cắt nham nhở của Tằng Lăng, Tằng thái bảo như muốn bốc hỏa, suýt chút nữa tức đến ngất đi.

Tóc da là do cha mẹ ban tặng, Tằng Lăng lại dám không biết tôn trọng, còn dùng việc cắt tóc để uy h**p cha mẹ và trưởng bối?

Nghĩ tới đây, Tằng thái bảo nheo mắt, chất vấn tiếp:

“Xảy ra chuyện lớn như thế, ngươi không báo cho ta một tiếng.

Ngươi nói xem, ta phải mở lời với Lục Ích thế nào để lôi ngươi ra ngoài đây?!”

Tằng thị bật cười khinh bỉ.

Bà ta ngồi thẳng dậy, ánh mắt lạnh lẽo đối diện với Tằng thái bảo, không hề e dè:

“Ngài muốn biết vì sao ta bị tóm à?

Chẳng phải tất cả cũng bắt đầu từ năm ngàn lượng bạc đó sao?!”

Vừa nhắc tới đây, cơn giận trong lòng Tằng thị lại bùng lên.

“Từ khi ta nắm quyền quản lý hầu phủ đến nay, cũng gần ba mươi năm, ta đã đưa cho ngài bao nhiêu bạc rồi?”

“Không dám nói là đủ để ngài sống phè phỡn cả đời, nhưng ít nhất lần nào cũng ổn thỏa, chưa từng có sơ suất gì.”

“Bao nhiêu lợi ích như thế, ngài vẫn thấy chưa đủ, lại còn đột nhiên đòi thêm năm ngàn lượng!”

“Đó là năm ngàn lượng bạc đấy, không phải năm mươi hay năm trăm!

Ngài bảo ta lấy đâu ra số bạc đó chỉ trong chớp mắt?”

“Cũng là do số trời định sẵn, đúng lúc hầu gia và nhà họ Bạch chuẩn bị gửi năm ngàn lượng bạc cùng ba rương dược liệu tới Thục địa, ta mới cắn răng tìm cách nhúng tay vào số bạc đó.”

“Ngài có biết ta đã khổ sở thế nào không?

Mệt mỏi đến mức đổ bệnh, mất cả quyền quản lý gia đình vào tay cái mụ con dâu giả vờ đoan trang kia!

Thế nhưng ta vẫn làm xong việc, năm ngàn lượng bạc đã đưa đến tay ngài, ba rương dược liệu ấy chỉ cần lật tay bán cũng đáng giá không ít.”

“Giờ thì sao?

Quyền kiểm soát gia đình đổi chủ, hai năm nay không thể cung cấp bạc cho ngài như trước nữa, ngài thấy bực trong lòng.

Nhưng nếu ngài không ép ta phải đưa ra số bạc đó, ta đã không bệnh nặng đến vậy, cũng đâu có chuyện ‘giết gà lấy trứng’ để xảy ra!”

“Lục Niệm là kẻ tính toán chi li, khi phát hiện mất năm ngàn lượng bạc và số dược liệu, nàng ta lại không liều mạng à?”

“Nói thẳng ra nhé, nếu số bạc và dược liệu kia đến được Thục địa, Lục Niệm giàu có trong tay, biết đâu nàng ta chẳng buồn quay lại kinh thành nữa!

Nàng ta không về, hầu phủ sẽ yên ổn, nhà họ Tiết cũng bình yên vô sự!”

“Ta đã dốc hết lòng hết sức vì nhà họ Tằng, giờ gặp nạn, ngài không nghĩ cách cứu ta, lại còn mở miệng trách móc.

Vậy là sao?

Muốn qua cầu rút ván à?”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 98: Chúng Ta Rất Sẵn Lòng Phụng Sự


Tằng thị ngẩng cao cằm, ánh mắt tràn đầy khiêu khích nhìn Tằng Thái Bảo.

Tằng Thái Bảo mím chặt đôi môi, cặp mắt đục ngầu nửa phần trắng dán chặt vào bà ta.

Trong khoảnh khắc ấy, cả hai không ai lên tiếng, bầu không khí trong phòng nặng nề đến ngột ngạt, chỉ còn tiếng Thái Bảo phu nhân lần chuỗi hạt Phật chậm rãi vang lên.

Tĩnh lặng đến mức khiến người ta bất an.

Nhưng kẻ đầu tiên không giữ nổi sự bình tĩnh lại không phải hai người đang căng thẳng đối diện kia, mà là Tống lão phu nhân đang lặng lẽ tụng kinh.

Như không khống chế được sức lực nơi đầu ngón tay, hai hạt châu va mạnh vào nhau phát ra âm thanh nặng nề.

Bàn tay bà khẽ run lên, những câu kinh vô thanh bỗng có tiếng.

“Nam Mô A Di Đà Phật…” âm thanh tụng niệm lặp đi lặp lại không ngừng.

Trong tiếng tụng kinh ấy, Tằng Thái Bảo dần trấn tĩnh lại, ông nhẹ nhàng ho khan một tiếng.

Thái Bảo phu nhân dường như mới nhận ra mình đã phát ra âm thanh, lập tức ngậm chặt miệng, tiếp tục lần từng hạt châu.

Hít sâu một hơi, Tằng Thái Bảo giữ giọng trầm ổn, ngữ khí mang theo sự trách cứ đầy tức giận:
“A Nghiên, ngươi đang nói gì vậy?

Giờ là lúc chúng ta tranh cãi sao?”

Vừa dứt lời, ông thấy Tằng thị nhếch môi cười lạnh.

Xét về diện mạo, hai người bọn họ có phần tương đồng.

Chân mày hiền hòa, ánh mắt dễ tạo cảm giác tin cậy – đó là ưu thế trời sinh của ngũ quan, giúp họ dễ dàng chiếm được thiện cảm từ người khác.

So với vẻ nho nhã tuấn tú của những kẻ trẻ tuổi, Tằng Thái Bảo lại thích kiểu diện mạo tạo cảm giác an toàn, đáng tin cậy này hơn.

Tằng thị trước kia cũng như vậy, nhưng giờ đã khác hẳn.

Lớp da thịt trên khuôn mặt không còn căng tràn như trước, chùng xuống làm cho đôi mắt tròn trịa ngày nào trở thành hình tam giác ngược, mang theo một nét hung tợn khó giấu.

Tằng Thái Bảo vuốt nhẹ chòm râu.

Nói cho cùng, ông lớn hơn Tằng thị một thế hệ, nhiều hơn hai mươi tuổi.

Dù ngồi ở vị trí tam công cao quý, nhưng triều đình đâu phải nơi nhàn hạ.

Những năm qua, ông cũng lao tâm khổ tứ, thế mà diện mạo vẫn chưa thay đổi mấy.

Ngược lại, Tằng thị còn trẻ mà đã già nua, tiều tụy đến mức khó coi.

Thẳng thắn mà nói, là vô dụng!

Không chịu nổi sóng gió, tự khiến bản thân hao mòn đến thê thảm.

Trong lòng Tằng Thái Bảo đầy chán ghét và trách móc, nhưng cuối cùng vẫn kiềm chế, không nặng lời thêm:
“Hôm nay ta và bá mẫu ngươi đến đây để bàn bạc chuyện sau này, không phải để bất hòa nội bộ.

Người một nhà không nên đánh nhau trước mặt người ngoài.

Lục Niệm và con nhóc kia còn đang ở phòng bên, nếu chúng ta cãi vã, chẳng phải khiến bọn họ vui mừng đón năm mới à?”

Vừa nói, Tằng Thái Bảo vừa giơ tay chỉ ra ngoài, nhắc nhở Tằng thị phải biết phân biệt nặng nhẹ.

Tằng thị dựa lưng ra sau, lấy gối tựa làm điểm tựa, khí thế cũng bớt phần hùng hổ.

Bà ta chẳng lẽ không hiểu chuyện gì quan trọng sao?

Nhưng muốn phân rõ nặng nhẹ, trước tiên phải ném đi thứ nặng nhất, đập vỡ một cái, phần còn lại mới trở nên nhẹ nhàng.

Nếu không có cú đập này, bá phụ sao chịu nhượng bộ?

Tằng thị thừa hiểu ý nghĩa câu “lau sạch hậu quả cho nhà Tiết” của Tằng Thái Bảo, đó chẳng khác nào vứt bỏ Tiết Văn Viễn để bảo toàn những kẻ còn lại trong nhà họ Tiết.

Nếu phán tội nặng, thì trên đường lưu đày sẽ có nhà họ Tằng đứng sau lo liệu; nếu phán nhẹ, chỉ cần rời kinh hồi hương, có tiền bạc và mối quan hệ, vẫn sống nhàn nhã như một hào tộc địa phương.

Một “tương lai tươi sáng” biết bao!

Chỉ cần Tiết Văn Viễn không ngu ngốc, hắn sẽ hiểu cách bảo vệ gia tộc.

Nhưng Tằng thị lại khác.

Điều bà ta muốn giữ chính là mạng sống của mình, chứ không phải hy sinh bản thân để đổi lấy sự yên ổn cho con cái.

Với tính cách của Định Tây hầu, hắn sẽ không trút giận lên Lục Trì và những người khác, nhưng bá phụ thì chưa chắc sẽ không tuyệt tình cắt đứt quan hệ với bà ta.

Tằng thị sao có thể chấp nhận điều đó?

Bà ta phải trói chặt vận mệnh của mình với nhà họ Tằng, đó mới là con đường sống duy nhất.

Bà ta dùng Lục Niệm làm lá cờ mở đường.

Không lấy năm ngàn lượng bạc và dược liệu kia, Lục Niệm sẽ không quay về kinh thành liều mạng sao?

Không thể nào!

Chỉ cần có một tia hy vọng, Lục Niệm nhất định sẽ quay lại kinh thành, gây nên sóng gió long trời lở đất.

Năm ngàn lượng bạc và bánh quế hoa trong ngày giỗ chẳng qua chỉ là cái cớ để “mượn cớ làm lớn chuyện” mà thôi.

Nhưng điều đó thì đã sao?

Lục Ích dùng bà ta làm cái cớ, Tằng thị cũng có thể cầm lấy thứ đó ném thẳng vào mặt bá phụ, để ông ta cũng phải “giải bài toán”!

Xem kìa, chỉ cần ném một cái, bá phụ chẳng phải cũng sẵn lòng “thương lượng” rồi sao?

Tất nhiên, Tằng thị chẳng bao giờ tin Tằng Thái Bảo thực lòng nhượng bộ, cũng như bà ta không hề ngây thơ nghĩ rằng bá mẫu vì sợ hãi mà tụng A Di Đà Phật thành tiếng – tất cả chỉ là màn kịch mà thôi.

“Bá phụ không muốn qua sông đoạn cầu là tốt rồi,” Tằng thị lạnh nhạt nói, “Cháu gái và thông gia không giống nhau, tấm chiếu này không dễ cắt đứt như vậy đâu.”

Tằng Thái Bảo khẽ giật giật chân mày, gân xanh nổi lên.

Những năm gần đây, ông thực sự cảm thấy mình dần lực bất tòng tâm.

Tinh lực không còn như trước, tiền đồ dĩ nhiên cũng không thể rực rỡ như xưa.

Nói trắng ra, chính là “đã đến hồi kết.”

Hoàng thượng những năm gần đây ngày càng ưa chuộng những quan viên trẻ tuổi.

Đám lão thần trên triều nhiều khi phải đoán ý thánh thượng, nhường bước cho lớp trẻ.

Nếu trong nhà có hậu bối tài giỏi, Tằng Thái Bảo có lẽ sẽ yêu thích kiểu “truyền thừa” này.

Nhưng khổ nỗi, nhà họ Tằng lại không có người kế tục xứng đáng!

Một khi ông rời khỏi vị trí Thái Bảo, nhà họ Tằng chắc chắn sẽ lao dốc không phanh.

Tằng Thái Bảo sao có thể cam lòng?

Đặc biệt là khi ông ngày càng cảm nhận rõ ràng mình đang dần mất đi sự sủng ái của thánh thượng.

Không có chứng cứ cụ thể, chỉ là một loại cảm giác.

Nhưng với kinh nghiệm làm quan bao năm và trực giác nhạy bén, ông buộc phải chú ý đến điều này.

Quyền thế lung lay, lòng khao khát tiền bạc tự nhiên cũng trở nên mãnh liệt hơn.

Những năm trước, ông đã có ý định đầu tư vào các hiệu cầm đồ và chùa chiền, nhưng mỗi chỗ đều có ưu và nhược điểm riêng, cũng như không ít rắc rối kèm theo.

Cách đây hai ba năm, Tằng Thái Bảo cuối cùng cũng hạ quyết tâm, chọn Đại Từ Tự làm nơi đầu tư.

Đại Từ Tự xưa nay chưa từng thu lợi từ việc gom góp tiền hương hỏa, muốn khai thác được nguồn lợi này, tất nhiên không thể thiếu bạc để “mở đường.”

Người của ông đã mua chuộc được vị Điển tọa trong chùa.

Nhưng không ai ngờ, một trận lũ lớn đột ngột ập đến, vị điển tọa kia không kịp thoát thân, bị cuốn trôi trong dòng nước lũ, mọi nỗ lực trước đó cũng theo đó mà tan biến.

Tuy nhiên, việc Đại Từ Tự thiếu tiền để tái thiết lại vô tình tạo cơ hội khác cho Tằng Thái Bảo—ông tài trợ chùa xây dựng lại, đổi lấy việc chùa sẽ bắt đầu thu tiền hương hỏa sau khi vượt qua khó khăn.

Trong chùa, không ít người cũng đã xiêu lòng.

Nhưng khi mọi việc còn chưa đi đến thỏa thuận cuối cùng, Thánh Thượng đột nhiên ban chiếu cứu trợ thiên tai, các quan viên cũng đồng loạt quyên góp bạc.

Chuyện này khiến Tằng Thái Bảo vừa bực vừa buồn cười.

Ông lập tức ra lệnh cho người giấu nhẹm chuyện với các vị hòa thượng, đồng thời gấp rút thúc ép để đạt được thỏa thuận, thậm chí không tiếc đưa ngân phiếu tới Đại Từ Tự trước hạn.

Chỉ tiếc rằng việc tái thiết Đại Từ Tự tốn kém vượt ngoài dự liệu.

Tằng Thái Bảo nhất thời không xoay xở kịp bạc vụn, buộc phải tìm đến Tằng thị vay gấp năm nghìn lượng.

Nhưng khi bạc vừa tới tay, Đại Từ Tự đã nhận được khoản quyên góp lớn từ triều đình, đặc biệt là các tín đồ trong thành, đua nhau gửi bạc vào chùa.

Đám hòa thượng đầu óc cứng nhắc xúc động không thôi, một lòng chỉ muốn xây tháp lâm, cầu phúc cho người đã khuất, mong trở thành ngôi chùa có nhiều bài vị thờ cúng nhất, hoàn toàn không màng tới việc kinh doanh hương hỏa để kiếm lời.

Tằng Thái Bảo cầm bạc trên tay mà không thể đầu tư vào đâu, cơn giận dữ khi ấy, cho tới giờ nghĩ lại vẫn cảm thấy nghẹn ứ trong lòng!

Ông cố gắng điều chỉnh tâm trạng, nói với Tằng thị:
“Không nhắc đến mấy chuyện đó nữa, kể rõ ta nghe đầu đuôi sự việc.”

Tằng thị nửa giấu nửa kể.

“Lần trước về tham dự lễ Quan tẩy tam lễ, ta đã nói với bá phụ rồi, mẫu tử Lục Niệm đã đập phá tan tành cả viện ta đang ở.”

“Ta phải dọn đến chỗ khác, lớn tuổi rồi khó ngủ nơi lạ, giấc ngủ chẳng được ngon.”

“Ta bị bệnh suốt một thời gian, mấy huynh đệ A Trì thay phiên nhau thức đêm trông chừng, hôm đó lúc rạng sáng, ta mê sảng trong mơ, đúng lúc A Tuấn nghe thấy.”

“Ta còn giữ được A Tuấn lại, nhưng tên ngốc đó giấu không nổi cảm xúc trên mặt, bị người khác phát hiện, thế là chuyện bùng nổ.”

“Lý ma ma bị Lục Niệm vừa lừa vừa dọa, hoảng hốt mà buột miệng nói ra chuyện cái chết của Bạch thị.”

“Không hiểu sao bọn họ còn biết được Đào Vũ Xuyên chết vì ăn hạt tùng, chắc nịch như đinh đóng cột, đòi phải khai quật quan tài.”

“Bá phụ nghĩ ta không muốn tranh luận sao?

Lý ma ma trở mặt thì thôi đi, nhưng Lục Niệm là loại biết nghe giải thích chắc?”

“Nàng ta hận không thể g**t ch*t ta cơ mà!”

Nói đến đây, Tằng thị nghiến răng ken két, bất chợt vén chăn, kéo ống quần trung y lên cao, để lộ băng vải quấn kín trên chân.

“Nàng ta đâm ta ba nhát liền!” Tằng thị giận dữ run rẩy cả người, “Máu chảy đầy nửa tấm đệm, ta nhìn ba cái lỗ đẫm máu suýt ngất đi!

Nàng ta điên cuồng như thế, không chừa đường sống cho ai, nếu không phải vì thế, ta sao phải trốn về đây?

Nói nghe cho hay là để tránh mũi nhọn, nói thẳng ra là ta sợ nó lại đâm ta thêm vài nhát nữa!

Vừa rồi chẳng phải A Vi cũng nói đấy sao?

Con điên đó còn đang mài dao kìa!”

Tằng Thái Bảo nhìn chằm chằm vào băng vải, trong lòng chấn động.

Cả đời ông đã từng sử dụng đủ mọi thủ đoạn, nhưng dù liên quan đến mạng người thì cũng là cách gián tiếp, chỉ cần nghĩ kế, không cần tự ra tay.

Ông từng chứng kiến cảnh trắng dao vào, đỏ dao ra thế này bao giờ đâu?

“Lục Ích cứ thế mà làm ngơ chắc?” Tằng Thái Bảo tức giận hỏi.

“Thấy hết chứ,” Tằng thị hậm hực đáp, “Giờ Lục Niệm là bảo bối trong lòng ông ta, không ai sánh kịp.

Chỉ cần nó chưa đâm chết ta thật, ông ta chỉ biết đứng một bên bênh vực cho nó thôi!”

Tằng Thái Bảo nhíu mày chặt hơn.

Dao kiếm trong tối ngoài sáng đều có cách đối phó, nhưng điên cuồng như Lục Niệm thì…

Nếu thực sự kéo Tằng thị rời khỏi trang viện này, tìm cách ém nhẹm chuyện cái chết của Bạch thị, e rằng lưỡi dao của Lục Niệm sẽ không ngần ngại nhắm thẳng vào ông.

Nhưng mặc kệ Tằng thị thì rõ ràng cũng không ổn.

Tằng Thái Bảo trầm ngâm suy nghĩ, không đưa ra câu trả lời ngay, chỉ nhắc nhở:
“Con bé A Vi đó, có phải gần đây đi lại khá thân với Thành Chiêu Quận Vương không?

Ta nghe nói lần khai quật quan tài, nàng ta cũng có mặt.”

Tằng thị cụp mắt, khinh miệt phun ra một câu:
“Nàng ta chỉ là con cá chạch trơn tuột!

Chuyện gì cũng muốn nhúng tay vào!”

Tằng Thái Bảo lại nói:
“Quận vương gần đây điều tra vụ án của Phùng Chính Bân, người của Trấn Phủ Ty mấy lần đến Thuận Thiên Phủ.

Dương Văn Tập dám bắt giữ Tiết Văn Viễn, ta đoán sau lưng không thiếu phần quận vương chỉ đạo!”

Nghe vậy, Tằng thị ngẩng đầu, cố ý nói:
“Ngài là tam công, chẳng lẽ còn sợ hắn sao?”

“Sao lại không sợ?” Tằng Thái Bảo lườm bà ta một cái, hoàn toàn không bị khích tướng, “Ta là thần tử, hắn là con trai ruột của Thánh Thượng!”

“Xuất tự rồi thì tính gì là con trai ruột!” Tằng thị cười nhạt.

Huyết thống thì có ích gì chứ?

A Tuấn là con ruột của Bạch thị, nhưng bà ta đã nuôi dạy nó nên người, thì nó là con bà ta.

Muốn dạy thành thế nào, chẳng phải do bà ta quyết định sao?

Càng nhỏ càng dễ uốn nắn, Lục Niệm chỉ vì lớn hơn hai tuổi mà khó trị thôi!

Thành Chiêu Quận Vương vừa sinh ra đã do Tiên hoàng hậu nuôi dưỡng, tròn một tuổi thì xuất tự, thực chất là trưởng thành dưới tay của Trưởng công chúa và phò mã.

Giữa Thánh Thượng và hắn, liệu có bao nhiêu tình cha con?

Huống hồ, đế vương là người vô tình nhất!

Thánh Thượng có rất nhiều con trai, ngài từng hạ chỉ giết con, giam cầm con, thậm chí lưu đày con…

Con trai trong mắt ngài chẳng là gì cả!

“Nói mới nhớ, A Mục sắp tham gia khoa cử đầu xuân đúng không?” Tằng thị đảo mắt, nở nụ cười gian xảo, “Nếu A Mục có thể kim bảng đề danh, bá phụ cũng bớt đi một mối lo.

Phải bảo nó cố gắng phát huy đấy.”

Đột ngột nhắc đến chuyện này, tim Tằng Thái Bảo chợt đập mạnh, bản năng cảm thấy không ổn:
“Nhắc đến chuyện này làm gì?”

“Không có gì, chỉ là làm cô mẫu thì quan tâm đến cháu thôi mà,” Tằng thị kéo ống quần xuống, đắp chăn lại như cũ, “Mấy ngày Tết, mong bá phụ cho người đến thăm ta, tiện mang ít thuốc bổ huyết dưỡng khí đến nhé.”

“Ở đây tin tức bế tắc, có người đến thăm thì ta mới biết nhà mình có thật sự bỏ rơi ta hay không.”

Tằng thị khẽ nhắm mắt, giọng nói lẫn chút mỉa mai và thất vọng.

Tằng Thái Bảo nhẹ vuốt chòm râu, giọng bình thản nhưng ẩn chứa sự toan tính sâu xa:
“Yên tâm đi, sẽ không để ngươi phải tự sinh tự diệt ở đây đâu.

Nhưng cả ngươi và ta đều phải có sự chuẩn bị sẵn sàng.

Giờ mọi chuyện vừa mới bùng lên, nếu ta làm mạnh tay quá, chưa nói đến tâm tư của Lục Ích ra sao, chỉ riêng Lục Niệm thôi cũng đủ nguy hiểm, nó nói đâm người là đâm thật.

Trước mắt đừng cứng đối cứng, cứ giữ vững thế trận đã.

Ta sẽ nghĩ cách khác để gây rối cho mẹ con nhà họ Lục, khiến họ không có thời gian mà để mắt tới ngươi.

Đợi qua cơn sóng gió này, nếu muốn ta ra tay thật, thì nhất định phải tìm cách điều Lục Ích rời khỏi kinh thành.

Khi hắn không còn ở đây, mẹ con Lục Niệm mới dễ chịu tổn thất nặng nề.

Nhớ kỹ, đừng nóng vội, trước hết phải dưỡng thương cho tốt.

Nhìn ta đây này, chân ta là vì năm xưa cứu giá bị thương không dưỡng kỹ, giờ về già phiền phức vô cùng.

Ngươi bảo ngươi già rồi, nhưng trong mắt bá phụ, ngươi vẫn chỉ là lớp hậu bối thôi!

Đời người còn dài lắm!”

Tằng Thái Bảo nói xong, cười nhạt, vẻ mặt hiền từ nhưng ánh mắt lại lóe lên tia tính toán thâm sâu.

Hiện tại, điều quan trọng nhất là phải ổn định tình hình—giữ chặt Lục Ích, cũng phải kiểm soát được A Nghiên.

Về chuyện muốn điều Lục Ích ra khỏi kinh thành, e rằng không dễ như nói.

Những ngày gần đây, ông ta không còn được Thánh Thượng trọng dụng như trước, nhưng điều đó không cần thiết phải để A Nghiên biết.

Chỉ cần A Nghiên nhớ rõ—ông ta từng có công cứu giá, ông ta có năng lực xoay chuyển cục diện.

Miễn là bà ta ngoan ngoãn nghe lời, thế là đủ.

Hai bên tạm coi như đạt được sự đồng thuận.

Tằng Thái Bảo chắp tay sau lưng, thong thả rời khỏi phòng.

Vừa hay Định Tây hầu và A Vi cũng chú ý đến, lần lượt bước ra.

Tằng Thái Bảo xoa xoa đôi tay, thở dài bất đắc dĩ:
“Chuyện xảy ra đột ngột thế này, dù bọn trẻ có giận đến đâu thì cũng không nên rút dao đâm người chứ.”

Định Tây hầu bước lên một bước, ánh mắt sắc bén:
“Nói vậy nghĩa là Tằng thị đã thừa nhận với ngài rằng bà ta đầu độc Bạch thị rồi sao?”

“Bà ta nói trong cơn giận dữ thôi, lời nói lúc đó làm sao tin hoàn toàn được?”

Tằng Thái Bảo thở dài, tỏ vẻ bất lực.

“Tất nhiên, ta không phải là không tin chút nào, nhưng thử nghĩ xem, đột nhiên bảo ta rằng cháu gái ta dính đến hai mạng người, ta cũng choáng váng chứ!

Ngươi muốn một lời giải thích cũng là điều dễ hiểu, nhưng hãy cho ta chút thời gian để suy xét kỹ lưỡng.

Chuyện này nếu nói nhẹ thì không xong, mà làm lớn lên thì thực sự…

Ngươicũng biết, dạo này Thánh Thượng tâm trạng không tốt.

Năm hết Tết đến rồi, đừng khiến ngài ấy bực bội thêm nữa.

Đợi sau Tết, chúng ta sẽ đưa ra một kết luận rõ ràng.

Tết đến nơi rồi, ta không muốn mình trở thành đề tài bàn tán trong các cuộc trò chuyện ngày Tết, mà chắc hẳn hầu gia cũng chẳng thích đâu, đúng không?”

Định Tây hầu nghe vậy, gương mặt thoáng vẻ khó xử, ánh mắt bất giác liếc nhìn A Vi.

A Vi nhìn chằm chằm Tằng Thái Bảo, nhếch môi ném ra bốn chữ:
“Kế hoãn binh.”

Nói xong, cô xoay người bước vào phòng của Tằng thị.

Trong phòng.

A Vi đứng cách Tằng thị không xa, ánh mắt bình thản nhưng lại sắc bén như dao:
“Tằng Thái Bảo muốn kéo dài thời gian, bà không định từ chối chứ?

Ông ta vì giữ vững vị trí của ngoại tổ phụ ta mà chủ động hứa sau Tết sẽ xử lý bà, cho chúng ta một lời giải thích.”

Tằng thị nhắm mắt dưỡng thần, giọng lạnh nhạt:
“Không cần ngươi phải chia rẽ quan hệ của ta và bá phụ.”

A Vi bật cười nhẹ nhàng, giọng nói như mũi kim sắc nhọn đâm vào lòng tự tôn của đối phương:
“Chia rẽ?

Ta đâu cần tốn công như thế.

Chính bà mới rõ nhất trong lòng mình.

Mẫu thân ta đang rất bực bội, bà ấy không có kiên nhẫn đâu.

Biết đâu một ngày nào đó nổi nóng, bà ấy sẽ đâm thẳng vào tim bà đấy.

Bà chết ở đây, trên trang viên của nhà họ Lục, chẳng phải quá hợp lý sao?

Ai chẳng biết bà đang ở đây để dưỡng bệnh cơ chứ?

Bà chết vì bệnh cũng là chuyện bình thường thôi.

Bà chết rồi, ai sẽ đòi lại công bằng cho bà?

Con trai bà liệu có dám vì mẫu thân mà xé rách mặt với cha mình, với huynh đệ của mình không?

Ta thật sự rất mong chờ xem hắn có dám không.

Nếu hắn dám làm vậy, bí mật bà giết người sẽ không thể che giấu nữa, sự thật sẽ phơi bày!

Có thể hắn sẽ không thể khiến mẫu thân ta đền mạng, nhưng con cháu hắn sẽ chẳng còn chỗ đứng nào nữa đâu.

Bà nghĩ xem, con dâu của bà liệu có chấp nhận để chồng mình làm chuyện ngu ngốc như thế, chỉ để báo thù cho một bà mẹ chồng giết người không?

Kết quả là bà không thể trông cậy vào con trai, cũng chẳng dựa vào nhà mẹ đẻ được.

Bà chết dưới tay mẫu thân ta, mối thù của bà ấy coi như đã trả xong, Tằng Thái Bảo cũng xem như đã cho chúng ta một lời giải thích.

Nghĩ kỹ mà xem, kế hoãn binh này, người được lợi nhất chỉ có ông ta thôi.”

A Vi cười rạng rỡ, nhưng trong đôi mắt lại là sự lạnh lùng tàn nhẫn.

“Với bản lĩnh của bà, chắc chắn bà cũng hiểu rõ điều đó.

Bà miễn cưỡng đồng ý kéo dài thời gian, chắc hẳn cũng nắm giữ trong tay một vài bí mật khiến Tằng Thái Bảo không thể không quan tâm đến bà, đúng không?”

Tằng thị mở mắt, ánh mắt u ám đầy căm hận nhìn chằm chằm A Vi.

A Vi khẽ nhún vai, tiếp tục cười nói:
“Ta khuyên bà nên để lại nhiều manh mối hơn, viết sẵn vài lá thư tuyệt mệnh chẳng hạn.

Phòng khi mẫu thân ta mất kiên nhẫn, trực tiếp lấy mạng bà, nếu Tằng Thái Bảo thực sự mặc kệ bà, những lá thư đó vẫn có thể khiến ông ta không yên ổn.

Đừng nói là bà cam lòng hy sinh mạng sống để bảo vệ nhà mẹ đẻ—bà không phải loại người như thế đâu.

Bà đã cống hiến cả đời cho nhà mẹ đẻ, thậm chí còn để lại chứng cứ để mẹ tôi lật tẩy.

Nói thật nhé, nếu năm xưa bà cứ an phận làm hầu phu nhân, không quá bận tâm chuyện nhà mẹ đẻ, họ cũng chẳng đến mức chết đói.

Bà sẽ chẳng bao giờ bị kéo vào chuyện này.

Mẫu thân ta bị gả xa, bà chỉ cần bớt lại một phần mười số bạc mà bà đã dâng cho nhà họ Tằng làm của hồi môn cho Mẫu thân ta, mỗi năm gửi thêm vài tờ ngân phiếu đến Thục địa, bà ấy cũng chẳng thể bắt bẻ bà được gì.

Bằng cách đó, bà vẫn có thể làm hầu phu nhân thêm nhiều năm nữa.”

Nghe đến đây, Tằng thị bật cười lớn, nước mắt chảy ra vì cười quá mức:
“Ngươi đánh giá thấp ta quá rồi!

Ta sao có thể mắc bẫy của ngươi chứ?

Lục Niệm là hạng người nào?

Nếu muốn giết ta, nó chỉ cần rút dao là đủ, cần gì cái cớ!”

“Đúng vậy, giết bà để trả thù, chẳng cần lý do gì cả,”

A Vi chậm rãi đáp, ánh mắt sắc như dao, “Nhưng mà đáng tiếc thay, ngoại tổ phụ ta và cữu cữu ngốc của ta lại không hiểu điều đó.

Bọn họ buộc phải giữ mạng cho bà, đợi đến ngày sự thật phơi bày mới dám rút dao.

Nhưng giờ đây, bà đã mất giá trị lợi dụng, có thể bị giết bất cứ lúc nào.

Ta khuyên bà thêm lần nữa, nếu đã sớm oán hận nhà mẹ đẻ, hãy nhớ để lại di thư.”

Nói xong, A Vi nhấc tay lên, làm động tác cắt cổ, nụ cười rực rỡ như ánh nắng mùa xuân nhưng lại lạnh lẽo thấu xương:
“Bạc không phải lấy không, muốn gây rắc rối cho ai, chúng ta rất sẵn lòng phụng sự.”

Đúng lúc đó, Định Tây hầu bước vào, vừa hay nghe được câu “ngoại tổ phụ ngốc nghếch, cữu cữu ngốc nghếch”, vẻ mặt lập tức trở nên khó xử, không biết nên vào hay lùi ra, cảm giác lúng túng tràn ngập.

A Vi không nói thêm gì, xoay người rời đi, chẳng thèm ở lại nghe Tằng thị biện bạch những lời dối lòng.

Định Tây hầu cũng đi theo ra ngoài, dặn dò người vào canh chừng Tằng thị cẩn thận.

“A Vi,”

Định Tây hầu ngập ngừng rồi lên tiếng, “Ngoại tổ phụ con không phải là không biết ông ta đang cố tình kéo dài thời gian đâu…”

“Không sao,”

A Vi cắt ngang lời ông, giọng điệu lạnh nhạt, “Ai bảo ông ta là Thái Bảo chứ?

Khi chưa thể kéo ông ta xuống ngựa, chẳng lẽ còn mong ông ta đại nghĩa diệt thân sao?”

Định Tây hầu nghẹn lời.

Lý lẽ đúng là như vậy.

Nhưng nghe từ miệng A Vi nói ra, ông lại cảm thấy có chút… chua chát khó tả.
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 99: Đợi Bị Ngự Sử Hạch Tội Đi!


Chiếc xe ngựa lăn bánh trên quan đạo dẫn vào thành.

Sau trận tuyết, đường xá lầy lội, tốc độ di chuyển chậm lại nhưng vẫn không tránh khỏi xóc nảy.

Thái Bảo phu nhân lần tràng hạt, thân thể bị lắc lư sang trái rồi sang phải.

Ma ma cố gắng đỡ bà, nhưng không tránh khỏi vài lần để chân bà va vào Thái Bảo Tằng đang ngồi đối diện.

Tằng Thái Bảo mặt không biểu cảm, chỉ nhàn nhạt nói:
“Trên xe thì đừng niệm kinh nữa.”

Tay Thái Bảo phu nhân khựng lại, khẽ hỏi:
“Chuyện của A Nghiên phải làm thế nào đây?”

Tằng Thái Bảo đáp gọn:
“Bà không cần bận tâm.”

Vừa dứt lời, ông liền nghe thấy tiếng thở dài khe khẽ của lão bà bên cạnh.

Tiếng thở dài ấy khiến ông càng thêm bực bội.

Nói trắng ra, nếu con cháu xuất sắc thì nhà họ Tằng đã không ra nông nỗi này; nếu lũ cháu có thể gánh vác được, ông cũng chẳng phải lo lắng nhiều khi tuổi tác ngày càng cao.

Nghĩ vậy, Tằng Thái Bảo dặn dò:
“A Mục mấy tháng nữa sẽ đi thi, cần phải dành nhiều tâm sức cho nó.

Trong đám trẻ ở nhà, chỉ có nó là giống ta nhất.”

Thái Bảo phu nhân nhíu mày nhưng rồi lại thả lỏng, chậm rãi nói:
“Khi còn trẻ, ông vẫn nói rằng học vấn phải kiên trì bền bỉ, công phu nằm ở chỗ tích lũy từng chút một, không thể trông chờ vào việc ôn gấp trước kỳ thi.

A Mục nếu có thể đỗ đạt cao, ấy là nhờ vào sự chăm chỉ từ trước, chứ hai ba tháng cuối cùng có cố gắng mấy cũng chẳng thể xoay chuyển càn khôn.

Thật ra tôi không lo chuyện học hành của A Mục, ông là người coi trọng nó nhất, luôn đốc thúc nghiêm khắc, nền tảng cũng vững chắc rồi.

Ta lo chuyện khác cơ.

Vừa nãy, cái cách A Nghiên nói chuyện…

Ông nghĩ xem, liệu nó có biết gì không?”

Tằng Thái Bảo mím môi, giọng lạnh lùng:
“A Mục thì có chuyện gì chứ?

Nó và A Nghiên nào có qua lại gì nhiều, A Nghiên biết được cái gì?

Đừng lo chuyện bao đồng, kỳ thi mùa xuân mới là việc quan trọng nhất.”

Thái Bảo phu nhân cụp mi mắt, chậm rãi quấn tràng hạt lại quanh cổ tay, chỉ đáp một tiếng:
“Vâng.”

Sau đó, bà quay mặt sang chỗ khác, lưng hướng về phía Tằng Thái Bảo, khép hờ đôi mắt, hít sâu một hơi rồi từ từ thở ra, cố nén sự khinh bỉ trong lòng.

Bà chẳng hề thích A Mục chút nào.

Trời chập choạng tối, xe ngựa trở về phủ Thái Bảo.

Tằng Thái Bảo vừa xuống xe đã thấy A Mục đứng chờ sẵn bên ngoài, liền hỏi:
“Con cũng vừa mới về à?

Đi đâu vậy?”

A Mục lễ phép đáp:
“Nghe nói đại tỷ tâm trạng không tốt, nên con mua ít bánh ngọt mà tỷ ấy thích về cho tỷ ấy.”

Tằng Thái Bảo nghe xong lập tức cau mày:
“Đừng để ý đến nó!

Nó chỉ là đứa hồ đồ thôi!”

Nhắc tới Tằng Lăng, ông không kìm được cơn bực bội, nhưng khi nhìn sang cháu trai lại dịu giọng hơn nhiều:
“Lát nữa vào thư phòng, tổ phụ sẽ kiểm tra bài vở của con.

Kỳ thi mùa xuân sắp tới rồi, không được lơ là.”

A Mục cúi đầu đáp vâng, sau đó lễ phép hành lễ với Thái Bảo phu nhân vừa bước xuống xe:
“Tổ mẫu.”

Thái Bảo phu nhân liếc nhìn hắn.

A Mục hơn hai mươi tuổi, dáng người không cao, ngũ quan và nét mặt có nhiều điểm giống Tằng Thái Bảo, nụ cười dịu dàng khiến người khác dễ sinh thiện cảm.

Nhưng bà lại chẳng thấy ưa nổi.

Đợi A Mục theo Tằng Thái Bảo vào trong, Thái Bảo phu nhân mới để ma ma dìu mình đi về nội viện.

Đi được nửa đường, con dâu trưởng của bà nghe tin liền vội vàng tới đón, hai mẹ con cùng nhau đi tiếp.

Trong lòng đầy bực tức, Thái Bảo phu nhân không khỏi trút giận lên người con dâu, họ Dư:
“Lão gia lại gọi A Mục vào thư phòng dạy dỗ rồi đấy.

Ngươi nói xem, giờ có hối hận không?”

Dư thị cười gượng, không dám đáp lời.

Thái Bảo phu nhân nghiến răng:
“Ngươi đúng là đồ vô dụng!”

A Mục là cháu đích tôn nhưng lại là con thứ.

Nếu là con của một tiểu thiếp được cưới hỏi đàng hoàng trong phủ, dù là con thứ, Thái Bảo phu nhân cũng sẽ dành chút ít tình cảm, không thể so với cháu đích tôn nhưng cũng không đến mức chán ghét.

Thế nhưng A Mục thì khác.

A Mục là con riêng của trưởng tử Tằng Duệ.

Năm đó, mẹ hắn bế đứa trẻ chưa đầy tháng tới phủ nhận cha.

Tằng Duệ nghe vậy sững sờ, sau mới thừa nhận rằng từng có mối quan hệ ngắn ngủi chừng mười ngày nửa tháng với người phụ nữ ấy, nhưng đã chấm dứt từ lâu, không hề biết nàng ta có thai, lại càng không biết nàng ta sẽ sinh con.

Chuyện như vậy vốn dĩ theo ý Thái Bảo phu nhân, chỉ cần đuổi thẳng ra khỏi phủ là xong.

Thế nhưng nàng ta lại ầm ĩ vô cùng, mồm năm miệng mười đòi kéo nhau lên nha môn tố cáo, nói rằng con trai Thái Bảo bạc tình bạc nghĩa, không nhận cả con ruột, khiến Thái Bảo phu nhân đau đầu nhức óc.

Cuối cùng, chính Tằng Thái Bảo đứng ra dàn xếp, không muốn sự việc lan rộng gây thêm rắc rối.

Ông nói đã từng có quan hệ thì cứ nhận.

Thái Bảo phu nhân đành phải nín nhịn, chấp nhận đứa cháu ngoài ý muốn này.

“Đã nhận rồi thì chẳng thay đổi được gì,”

Thái Bảo phu nhân không ngừng cằn nhằn, “Còn ngươi thì sao?

Chỉ vì chuyện đó mà sinh bệnh không dậy nổi!

Hồ ly tinh ôm con đến cửa, không biết đường dạy dỗ nó, lại để bản thân ốm yếu đến mức suýt mất cả chỗ đứng trong phủ!

Thật tức chết mà!”

Dư thị chỉ biết cúi đầu im lặng.

Lúc nàng và Tằng Duệ đính hôn, cha chồng mới bắt đầu bước chân vào quan trường, khi ấy hai nhà môn đăng hộ đối, chẳng ai nợ ai điều gì.

Trong những gia đình quan lại thông thường, việc đính hôn diễn ra rất sớm.

Hai người lớn lên bên nhau, tình cảm từ thuở thanh mai trúc mã, ai nấy đều nghĩ rằng sau khi thành thân sẽ hòa thuận hạnh phúc.

Nào ngờ mới qua sáu, bảy năm, lại có một cô gái trẻ bồng đứa con nhỏ tìm tới tận cửa.

Tin ấy khiến Dư thị như sét đánh ngang tai, cả người bàng hoàng, không thể chấp nhận nổi sự thật.

Sau khi sinh A Chiêm, thân thể nàng vốn đã không được khoẻ mạnh, nay lại ôm một bụng oán khí, càng thêm bệnh nặng, u uất không phát tiết được, phải nằm liệt giường suốt hơn mười năm.

Chỉ mấy năm gần đây, khi con cái đã trưởng thành, thành thân yên bề gia thất, nàng mới dần buông bỏ, tâm trạng thư thái hơn và sức khoẻ cũng khá lên phần nào.

“Mẫu thân dạy phải,”

Dư thị cúi đầu nói, “Năm đó con chấp mê không buông, giờ nghĩ lại mới hiểu ra, chẳng có gì quan trọng bằng con cái.

Năm ấy con đổ bệnh, liên luỵ đến bọn trẻ, cũng khiến mẫu thân vất vả.

Nếu không có người che chở chăm sóc, không biết ba huynh muội chúng nó đã phải sống ra sao.”

Nhắc tới chuyện này, Thái Bảo phu nhân cũng đau lòng không thôi.

Thật đáng thương cho ba đứa cháu đích tôn của bà!

Tuổi còn nhỏ xíu suýt chút nữa đã mồ côi mẹ!

Phụ thân thì bị người phụ nữ kia nắm thóp, còn mẹ ruột lại bệnh nặng chẳng thể chăm sóc bọn trẻ.

Thái Bảo phu nhân thương xót, nhưng bản thân bà cũng chẳng giúp được gì nhiều.

Khi ấy, bà vừa sinh con út, chỉ lớn hơn trưởng tôn Tằng Đồng bốn tuổi.

Bà vừa phải chăm sóc con út, vừa lo cho A Đồng và A Lăng, còn có A Chiêm mới tròn một tuổi.

Bốn đứa trẻ, lớn bé không đều, ríu rít không ngừng, chưa già đã bị bọn trẻ “hành hạ” đến bạc cả tóc!

Những năm đó, phu quân bà vừa nhậm chức Thái Bảo, công việc bận rộn, mọi việc trong nhà đều đổ lên vai Thái Bảo phu nhân.

Đã vậy, khi gia đình thăng tiến, giao thiệp xã hội cũng nhiều lên.

Thái Bảo phu nhân không thể không tham gia các buổi tiệc tùng, xã giao.

Tuy chẳng ai dám làm khó bà, nhưng phải luôn giữ lễ nghi, mỉm cười tiếp đón khách khứa suốt cả ngày dài cũng đủ mệt mỏi rồi.

Bà đã vượt qua những năm tháng ấy một cách khó khăn.

“Ta vất vả thì có đáng gì?”

Thái Bảo phu nhân lau khóe mắt, thở dài, “Điều ta đau lòng là những đứa trẻ tốt đẹp như vậy lại bị chậm trễ!

Những năm tháng đáng ra phải có người dạy dỗ sát sao nhất lại bị bỏ lỡ!

Con tự nghĩ mà xem, nếu năm đó con không đổ bệnh, tự mình chăm lo dạy dỗ A Đồng và A Chiêm, việc học hành của chúng có kém gì A Mục không?

A Lăng cũng vậy, cái tính nghe gió thành bão, dễ dàng bị Lục Niệm xoay vòng vòng như thế, chẳng phải là do thiếu vắng sự chỉ dẫn của mẹ ruột từ nhỏ hay sao?

Ta chỉ là một bà tổ mẫu bận rộn trăm công nghìn việc, dù có thêm mấy nha hoàn và ma ma phụ giúp thì làm sao so được với tình thương và sự dạy dỗ của chính mẫu thân chứ!”

Dư thị thuận theo lời mẹ chồng:
“Là lỗi của con, đã làm chậm trễ A Đồng và A Chiêm, cũng liên lụy đến tiểu thúc.

Nếu năm đó người có thể tập trung toàn bộ tinh thần vào việc chăm sóc tiểu thúc…”

“Nó bây giờ cũng đâu có tệ,” nhắc đến con út, Thái Bảo phu nhân cũng cảm thấy an ủi phần nào, “Được làm phò mã của An Quốc công phủ, tuy thê tử nó là con thứ nhưng lại rất được Quốc công phu nhân yêu thương, không thua kém gì con đích.

Có nhà thông gia như vậy, nó chẳng lo chịu thiệt.

Chỉ tiếc là A Đồng và A Chiêm lại bị A Mục vượt mặt.

Nếu năm sau A Mục đỗ đạt, e rằng tâm tư của lão gia lại càng nghiêng hẳn về phía nó!”

Mới chỉ có chút thành tích mà lão gia đã đưa ra kết luận “chỉ có A Mục là giống ta nhất”, thật sự khiến người ta tức đến nghẹn lời!

“Tất cả sách vở của nó cũng chỉ là công cốc!”

Thái Bảo phu nhân hừ lạnh, “Biết làm bài văn thì ích gì?

Toàn bị con tiện nhân kia dạy dỗ thành kẻ lắm mưu nhiều kế, chẳng ra làm sao cả!”

Đừng tưởng bà không biết, lão gia đã phải giải quyết không ít rắc rối cho A Mục đâu.

“Con nhớ khuyên bảo A Lăng,”

Thái Bảo phu nhân dặn dò, “Con bé nông nổi, hành động bốc đồng không chỉ ảnh hưởng đến nhà họ Tiết mà còn liên luỵ cả A Đồng và A Chiêm.

Nó không thể chỉ biết lo cho bản thân mà mặc kệ hai đứa em trai được.”

Dư thị khẽ gật đầu:
“Con sẽ nói chuyện với nó.”

Ở một nơi khác.

Tằng Thái Bảo cũng đang dặn dò A Mục:
“Dồn hết tâm sức vào việc học.

Con thông minh, lại không thiếu chăm chỉ, đọc sách là đạt được hiệu quả gấp đôi.

Không phải ta không cho con thư giãn, nhưng con cần tập trung hơn.

Con cũng thấy đấy, dạo này nhà mình nhiều chuyện, nếu con lại phạm phải sai lầm như lần trước thì e rằng không dễ gì che giấu nổi đâu.

Kỳ thi mùa xuân là quan trọng nhất.

Nhân lúc tổ phụ còn chống đỡ được vài năm, ta sẽ giúp con dọn đường cho dễ đi hơn.

Mấy đệ đệ của con chẳng đứa nào có khiếu đọc sách, sau này cái nhà này phải trông cậy vào con.”

A Mục lập tức gật đầu đồng ý, sau đó hỏi:
“Tổ phụ và tổ mẫu đi thăm cô mẫu, tình hình cô ấy thế nào rồi ạ?

Khi nào cô gia mới đón cô mẫu về kinh thành?

Con nghe nói là cô gia thiên vị con gái và cháu ngoại, cho nên mới…”

“Chuyện đó không cần con bận tâm,”

Tằng Thái Bảo phẩy tay, “Con chỉ cần chuyên tâm học hành.

Con nhớ lấy, chỉ cần con có địa vị vững vàng, cô mẫu con mới càng có chỗ dựa.”

Khi ngày phong ấn cuối năm càng tới gần, các nha môn đều bận rộn tổng kết sổ sách, một số nơi thì chẳng buồn làm việc nghiêm túc nữa, chỉ chờ nghỉ Tết.

Riêng Thuận Thiên phủ vẫn bận rộn không ngừng.

Phủ doãn Dương tất nhiên không thể để Tiết Văn Viễn ăn Tết một cách nhàn nhã trong thư phòng hậu nha.

Đang bận rộn, sư gia tới bẩm báo:
“Thế tử Định Tây hầu cùng Liễu nương tử tới rồi.”

Dương phủ doãn hiểu sơ qua mục đích của họ nhưng vẫn quyết định:
“Ngươi giúp ta xử lý nốt công việc này.

Thôi, để ta tự đi gặp họ.”

Hai bên chạm mặt ở tiền sảnh.

Dương phủ doãn hành lễ với Lục Tuấn, sau đó liếc nhìn Liễu nương tử, thầm nghĩ:
“Bảo sao hầu gia không thể buông bỏ nổi.”

Lục Tuấn vẫn chưa hoàn toàn nguôi ngoai sau những biến cố vừa qua, nhưng việc đổi họ cho Cửu nương và lấy lại tiêu cục cho Liễu nương tử là điều hắn cho là hiển nhiên, chẳng có lý do gì để thoái thác nên đích thân đi cùng.

Việc đổi hộ tịch của Cửu nương được xử lý rất nhanh, từ hôm nay nàng không còn mang họ Vương nữa.

Liễu nương tử không bận tâm chuyện đổi tên, nhưng khi cầm lấy khế ước của tiêu cục, tay nàng không khỏi run lên.

Cái tên “Quảng Nguyên” quen thuộc đã trở lại.

Năm xưa nàng từng bất đắc dĩ bán đi sản nghiệp này, nay cuối cùng cũng lấy lại được…

Không kìm nén được, khóe mắt Liễu nương tử đỏ lên, tầm nhìn dần trở nên mờ nhòe.

Nàng không muốn rơi lệ trước mặt người khác, bèn bảo Lục Tuấn tiếp tục bàn chuyện với Dương đại nhân, còn mình thì ra ngoài hít thở không khí để điều chỉnh lại cảm xúc.

Ở nha môn, Liễu nương tử không dám đi lung tung, chỉ đứng dưới hành lang, cố gắng trấn tĩnh lại.

Từ xa, vang lên những tiếng bước chân lộn xộn, chậm chạp, Liễu nương tử theo phản xạ quay đầu nhìn, liền thấy vài nha dịch đang áp giải một nhóm phạm nhân ra ngoài.

Giữa đám người ấy, nàng trông thấy Vương Khánh Hổ.

Vương Khánh Hổ cũng nhận ra nàng, đột nhiên khựng lại, đôi mắt trũng sâu đầy hung tợn trừng trừng nhìn chằm chằm vào nàng.

Nha dịch quát lớn:
“Ngây ra đó làm gì?

Còn không đi mau!”

Tiếng quát khiến những phạm nhân khác cũng ngoái đầu nhìn.

Vương Đại Thanh lập tức nhận ra Liễu nương tử, nhe răng cười nhạo:
“Xem kìa, vị phu nhân cài trâm vàng, mặc xiêm y quý giá ấy là ai vậy?

Đại ca, chẳng phải đó là đại tẩu tốt của huynh sao?

Khi huynh lừa lấy tiêu cục, đuổi mẹ con họ ra khỏi nhà, huynh có nghĩ đến ngày hôm nay không?”

Vương Khánh Hổ tức đến run cả người, nếu không bị gông cùm trói chặt, hẳn hắn đã xông lên đấm cho Vương Đại Thanh vài cú.

Châu Như Hải, kẻ cũng bị Vương Khánh Hổ hại thê thảm, nheo mắt cười lạnh:
“Kìa, phủ doãn đại nhân ra rồi, bên cạnh ông ấy là thế tử Định Tây Hầu đấy.

Hê, đường đường là thế tử, vậy mà còn khách sáo với một tiểu nương tử.

Ta hiểu rồi, chắc họ đến lấy lại tiêu cục đây.

Vương Khánh Hổ, ngươi nói xem, con gái rẻ tiền của ngươi đã đổi họ chưa?”

Vương Khánh Hổ trừng mắt nhìn hắn, gằn giọng:
“Ngươi thì biết cái quái gì!”

Trước đây, Cô phu nhân của Định Tây Hầu từng nói, Cửu nương là con gái ruột của hắn, sau này có thể sống tốt trong hầu phủ, là thiên kim tiểu thư của phủ hầu gia.

Hắn đã vui mừng…

Vui mừng cái quái gì chứ!

Rõ ràng là con gái của hắn, cớ gì lại phải mang họ người khác?

Gia đình hắn vốn có thể sống yên ổn.

Nếu không vì bị Châu Như Hải xúi giục, làm sao hắn dám nuốt trọn tiêu cục?

Nếu không vì đuổi mẹ con Cửu nương ra khỏi nhà, hắn đâu cần phải cưới Phương thị, còn coi đứa con hoang giữa Phương thị và Vương Đại Thanh như bảo bối?

Chính bọn chúng đã hủy hoại cuộc đời hắn!

Vương Khánh Hổ tức điên, vùng vẫy định dạy dỗ Vương Đại Thanh và Châu Như Hải, nhưng bị nha dịch đá cho mấy cú, lôi thẳng ra ngoài.

Đứng từ xa, Lục Tuấn chỉ nhìn thấy cảnh náo loạn nhưng không nghe rõ họ nói gì, bèn hỏi Liễu nương tử:
“Di nương nhận ra họ à?”

Liễu nương tử quay đầu, không giấu giếm:
“Cha ruột trước đây của Cửu nương.”

Lục Tuấn khẽ chạm tay lên sống mũi, suy nghĩ một chút rồi nhận xét:
“Trông không giống một người cha tốt.”

“Trong lòng ông ta luôn nghĩ rằng Cửu nương vẫn còn một người cha khác, nên mãi vướng mắc không dứt được,”

Liễu nương tử nhìn thẳng vào Lục Tuấn, chậm rãi nói, “Thế tử cũng có hai người mẹ, chắc hẳn cũng có người cảm thấy vướng mắc như vậy.”

Lục Tuấn: …

Lần này, hắn hiểu rồi.

Mẹ ruột đã qua đời thì không thể gây ra rắc rối gì, chỉ có mẹ kế là còn tồn tại sự “vướng mắc” ấy.

Những khúc mắc trong lòng, nếu không giải quyết triệt để, sớm muộn gì cũng thành vấn đề—huống hồ khúc mắc ấy lại là chuyện “hạ độc giết người”.

Trước mặt Dương đại nhân, Lục Tuấn không tiện bàn sâu thêm với Liễu nương tử, chỉ hỏi:
“Dương đại nhân, mấy kẻ kia sẽ bị xử lý thế nào?”

Dương phủ doãn đáp:
“Vương Khánh Hổ cùng đồng bọn vì muốn cướp tiêu cục đã cấu kết với hải tặc, gây ra vụ cướp tàu, khiến nhiều tiêu sư rơi xuống biển mà mất mạng.

Tội danh đã định, sẽ bị xử trảm ngay lập tức.

Còn vụ án thất thoát bạc và dược liệu liên quan đến Vạn Thông tiêu cục và Tiết Văn Viễn, hiện đang được thẩm vấn khẩn trương.

Kính xin thế tử chuyển lời tới lệnh tỷ, nhẫn nại chờ thêm một thời gian nữa.”

Lục Tuấn gật đầu.

Dạo này tâm tư của Lục Niệm đều dồn vào Quảng Khách Lai và tìm cách gây khó dễ cho Tằng thị.

Vụ bạc và dược liệu kia, nàng đã từng dùng làm đòn bẩy, nhưng bây giờ không còn mấy quan tâm nữa.

Dù vậy, Lục Tuấn vẫn mang tin này về báo cho Lục Niệm.

Ngày 25 tháng Chạp.

Các nha môn đóng niêm phong hồ sơ cuối năm.

Việc kinh doanh của Quảng Khách Lai khá thuận lợi.

Một số quan viên đặt phòng riêng để tiếp đãi khách trong dịp Tết.

A Vi xuống bếp kiểm tra một vòng, sau đó bưng một bát cháo tôm nõn và bào ngư nóng hổi lên lầu tìm Lục Niệm.

“Tươi ngon quá,”

Lục Niệm nếm thử một miếng, rất hài lòng, cảm thán:
“Xem ra năm nay đến đây là kết thúc rồi.”

“Con đã bảo cữu mẫu đưa Lý ma ma ra trang trại, để bà ta cùng Tằng thị đón một cái Tết ‘vui vẻ’,”

A Vi cười nói, “Sang năm chúng ta lại cố gắng thêm chút nữa, mọi chuyện rồi sẽ tốt lên thôi.”

Có vẻ như một năm bận rộn sắp khép lại, dù trên triều đình có bao nhiêu cuộc đấu đá ngầm thì cũng tạm thời lắng xuống để dưỡng sức chờ sang năm mới.

Chẳng ai ngờ được rằng—

Chiều tối hôm đó, những đám mây đỏ rực trên bầu trời thu hút ánh mắt của dân chúng.

Nhưng chẳng bao lâu sau, sự chú ý của họ lập tức chuyển hướng khi Trấn Phủ Ty bất ngờ ập vào khám xét phủ Tân Ninh Bá Hoàng Trấn mà không có bất kỳ dấu hiệu báo trước nào.

Cảnh tượng chấn động ấy khiến mọi người kinh ngạc đến nỗi suýt vặn cả cổ để nhìn cho rõ.

Chỉ riêng trong phủ Thái Bảo, Tằng Thái Bảo tức giận đến mức suýt đánh rơi chén rượu trên tay.

“Sao hắn dám làm vậy?”

“Phủ Bá tước mà nói lục soát là lục soát ngay được sao?

Hắn tính ăn nói thế nào với Thánh thượng đây?”

“Đúng là to gan lớn mật!”

“Cứ chờ mà xem, sớm muộn gì cũng bị Ngự sử hạch tội thôi!”
 
Back
Top Bottom