Khác Trục Ngọc Quyển 2

  • Người khởi tạo Người khởi tạo [BOT] Wattpad
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Trục Ngọc Quyển 2 (Edit)
Chương 232: Ngoại Truyện Lý Hoài An


Đầu năm Vĩnh Bình thứ mười tám, hai phe Lý, Ngụy mưu nghịch thất bại, tất cả đều bị xử theo luật.

Những người trong tộc bị phán chém đầu thì tạm giam trong thiên lao, chờ sau thu hành hình.

Kẻ bị lưu đày thì đầu tháng ba đã bị quan sai áp giải lên đường.

Tội của Lý gia là mưu phản, tru di cửu tộc.

Nhưng gia tộc lớn, có quan hệ thông gia đan xen chằng chịt, liên lụy cực rộng, gần như kéo theo nửa triều đình và không ít đại nho đã cáo lão.

Tân Đế lên ngôi, để tỏ lòng khoan dung, ban lệnh đại xá thiên hạ.

Cuối cùng hai nhà Lý, Ngụy chỉ bị tru tam tộc, gồm một mạch huyết thống trực hệ và hôn thân trực tiếp, một mạch bên ngoại, một mạch bên nội.

Ngoài tam tộc nhưng vẫn trong cửu tộc thì đều bị lưu đày ba ngàn dặm.

Lý Hoài An là cháu nội của Lý Thái phó, không thuộc tam tộc.

Sau khi rơi vào tay Tạ Chinh tại Kế Châu, hắn bị giam giữ suốt một thời gian dài, trong lúc đó cũng từng chịu hình.

Thoạt nhìn chỉ là một thư sinh yếu ớt, vậy mà miệng lại cứng đến lạ, ngay cả Công Tôn Ngân đích thân thẩm vấn, cũng không moi ra được điều gì.

Khi ấy, hắn mình đầy thương tích, nằm trên đống rơm khô trong ngục.

Giữa mùa đông giá rét, mỗi hơi thở phun ra đều hóa thành một làn sương trắng.

Đối diện Công Tôn Ngân đến khuyên nhủ, hắn chỉ cười khổ: "Danh tiếng tiên sinh lừng lẫy bên ngoài, Hoài An sớm đã nghe qua.

Chỉ không ngờ lần đầu gặp tiên sinh, lại là trong hoàn cảnh thế này.

Tội Lý gia là tội trời không dung đất không tha.

Trên đời này, ai cũng có thể mắng Lý gia, ai cũng có thể đẩy thêm một tay khiến bức tường mục nát ấy sụp đổ.

Nhưng Hoài An thì không thể.

Hơn hai mươi năm qua, Hoài An được hưởng ân che chở của gia tộc.

Nay lầu cao sắp đổ, Hoài An thà tan xương nát thịt dưới tổ, cũng không thể trở thành người làm sụp đổ nó.

Hoài An biết mình là tội nhân, chết rồi cũng cam nguyện xuống A Tì địa ngục, chỉ mong tiên sinh... thành toàn."

Công Tôn Ngân nhìn nam nhân mặc thanh bào nhuốm đầy vết máu trước mặt, chậm rãi nói: "Lý gia đã vứt bỏ huynh rồi.

Như vậy, còn đáng hay không?"

Lý Hoài An cười nhạt: "Hai mươi năm dưỡng dục chi ân, như vậy là đủ rồi."

Hắn một lòng cầu chết, mà thân thể lại không cường kiện như người luyện võ, cuối cùng không thể tiếp tục dùng hình bức hỏi.

Sau khi Lý gia bị định tội, hắn cùng những người khác bị giải đến giam tại Đại Lý Tự.

Mùa xuân năm ấy, thiên tử vừa kế vị chưa lâu, Lý Hoài An liền cùng hơn ba tộc người Lý gia, bước lên con đường lưu đày.

Một đám người sinh ra đã quen cẩm y ngọc thực, khi bị tịch biên gia sản, áp vào thiên lao, còn tưởng như trời đã sập.

Đến khi thật sự bước lên đường lưu đày, mới biết thế gian này còn lắm khổ ải, những gì họ từng chịu trước kia, chẳng đáng là bao.

Quan sai nghiêm khắc, mỗi ngày đi bao nhiêu dặm đều có quy định chặt chẽ.

Đi chậm là ăn roi.

Roi làm từ thứ da không biết là gì, dùng qua nhiều năm, bóng loáng trơn trượt.

Chỉ một roi quất xuống, nửa lưng vai liền sưng vọt lên, mấy ngày mới tan.

Còn ở trong lao, chỉ cần lén đưa cho ngục tốt chút tiền, ít nhiều cũng ăn được một bữa ra hồn.

Trên đường lưu đày, điều kiện khắc nghiệt, số tiền tư tàng phòng thân của họ đã bị ép vét sạch trong ngục, chẳng còn bao nhiêu để hiếu kính quan sai.

Mỗi ngày ăn uống chỉ là bánh ngô đen cứng ngắc, cắn không nổi, phần lớn thời gian còn chẳng được ăn no.

Chỉ mấy ngày trôi qua, người trong Lý gia bị lưu đày ai nấy đều gầy rộc đi một vòng, sắc mặt tiều tụy, dáng vẻ hốc hác, không còn chút nào phong thái kim tôn ngọc quý ngày trước.

Trẻ nhỏ tuổi còn bé, không đi nổi đường dài, dọc đường đều phải để người lớn thay phiên cõng.

Giày dép mòn rách cũng không có cái mới.

Vài ngày liền lên đường, trên chân Lý Hoài An đã mài ra mấy bọng máu, huống chi là những nữ quyến cùng bị lưu đày.

Hắn tận mắt nhìn mấy đứa cháu còn nhỏ lần lượt ngã bệnh, mà bản thân lại bất lực.

Trên người hắn đã không còn nổi một đồng tiền.

Hắn cố thuyết phục những thân tộc còn giấu tiền phòng thân, xin góp chút ít mua thuốc cho bọn trẻ, nhưng đáp lại chỉ là tiếng than vãn, trách móc và chửi rủa.

Con cái Lý Thái phó đều đã bị phán chém đầu.

Lý Hoài An, trưởng tôn của Lý gia, trở thành dòng chính duy nhất còn lại.

Những chi thứ, thân thích trong phạm vi năm tộc từng nương dựa vào đại thụ Lý gia, nay cây đã bị nhổ tận gốc, đối diện kết cục tịch biên và lưu đày, ai nấy đều trút oán hận lên đầu Lý gia.

Khi Lý Hoài An quỳ xuống dập đầu, khẩn cầu thân tộc góp tiền cứu mấy đứa cháu đang sốt cao không dứt, hắn không chỉ bị khạc nhổ, mà còn bị những người ôm hận với chủ mạch Lý gia xông vào đấm đá.

Nếu không có quan sai kịp thời can ngăn, e rằng hắn cũng phải nằm liệt mấy ngày không đi nổi đường.

Đêm xuân ấy lạnh buốt.

Hắn cởi chiếc áo bông rách duy nhất trên người, quấn cho đứa cháu đang sốt mê man để giữ ấm.

Bản thân thì ôm đứa trẻ, tựa lưng vào cánh cửa gỗ mục của trạm dịch, nhìn qua khe cửa ra bầu trời đêm đen kịt bên ngoài mà ngẩn người.

Đứa cháu nhỏ rúc trong lòng hắn, rõ ràng hai má nóng đỏ vì sốt, vậy mà vẫn liên tục thì thào kêu lạnh.

Lý Hoài An vô lực kéo áo bông quấn chặt thêm cho đứa trẻ.

Sắc mặt hắn đã lạnh đến xanh tái, dưới lớp áo mỏng, xương bả vai nhô lên rõ rệt, gầy gò như một thân trúc sắp khô héo.

Hắn khẽ vỗ lưng cháu, thấp giọng dỗ dành.

Đứa bé gắng sức mở mí mắt nặng trĩu, khẽ hỏi hắn: "Tiểu thúc đang nhìn gì vậy?"

Giọng Lý Hoài An khàn đặc: "Nhìn tội nghiệt của Lý gia."

Thanh âm đứa trẻ yếu ớt, mong manh như mèo con sắp chết, mí mắt chầm chậm khép lại: "Đó là gì vậy ạ?"

Ngực Lý Hoài An nghẹn cứng, cổ họng đắng chát.

Hắn nhìn màn đêm u buồn, chậm rãi nói: "Lý gia từng làm sai rất nhiều chuyện, hại chết rất nhiều người vô tội.

Tiểu thúc nghĩ... những bá tánh vì Lý gia mà gặp họa, khi trải qua sinh ly tử biệt, có phải cũng thê lương và bất lực như thế này không..."

Hắn không nói tiếp được nữa.

Cúi đầu xuống, mới phát hiện đứa cháu trong lòng đã tắt thở.

Cuối cùng, hắn không còn kìm nén được nỗi bi thương trong lòng, vùi mặt vào trước ngực đứa trẻ, bật khóc nức nở.

"Người đáng chết là ta...

Người nên chịu báo ứng là ta mới đúng..."

Đêm ấy, trong phòng chứa củi của trạm dịch, tiếng khóc bị dồn nén đến tột cùng vang lên đứt quãng suốt đêm.

Sau khi đứa cháu nhỏ qua đời, Lý Hoài An cũng lâm bệnh nặng một trận.

Người gầy rộc, chỉ còn da bọc xương, hai mắt vô hồn, hoàn toàn không còn thấy đâu bóng dáng vị công tử Lý gia thanh quý, đoan nhã năm xưa.

Đám quan sai áp giải đều cho rằng hắn không trụ nổi nữa.

Nhưng Lý Hoài An vẫn sống, vẫn từng bước lê đến được Túc Châu.

Hắn trở nên cực kỳ ít nói, thường cả ngày không nói với ai một câu.

Thế nhưng, hắn lại lặng lẽ làm rất nhiều việc.

Trên đường lưu đày, chính phạm nhân còn ăn không đủ no, để tránh đói, một chiếc bánh ngô cũng phải bẻ đôi, giấu nửa còn lại trong ngực, đợi khi đói lả mới dám ăn.

Vậy mà mỗi khi gặp ăn mày, hắn thường đem nửa chiếc bánh ngô mà chính mình cũng không nỡ ăn bố thí cho họ.

Thỉnh thoảng gặp kẻ gan dạ dám bắt chuyện, hắn còn dạy họ vài chữ, thậm chí giúp mấy người ăn mày đặt tên.

Quan sai và đám phạm nhân đi cùng chỉ xem hắn như trò cười, cho rằng hắn đúng là Bồ Tát đất qua sông, tự thân còn khó giữ, lại rảnh hơi đi thương hại ăn mày.

Lý Hoài An không giải thích, vẫn cố chấp làm những việc ấy.

Có thân tộc thấy hắn lúc nào cũng để dành nửa chiếc bánh ngô, chờ đến chặng sau bố thí cho ăn mày, liền thẳng tay cướp mất.

Hắn bị đánh một trận.

Khi ra bờ sông rửa máu trên mặt, quan sai trông giữ thấy bộ dạng bình thản của hắn thì khó chịu, buông lời mỉa mai: "Lý đại công tử, ngài sa sút đến mức này rồi, còn giả nhân giả nghĩa cho ai xem?

Năm đó nạn hạn lớn Quan Trung, lũ lụt Giang Nam, án tham ô, rồi vụ Lư Thành cấu kết phản tặc đẫm máu... chẳng phải đều do Lý gia các ngài một tay thúc đẩy sao?"

Tiếng nước róc rách chảy.

Lú Hoài An nhìn bóng mình mờ nhạt trong dòng nước, cúi đầu, mái tóc bẩn thỉu che khuất nét mặt đượm buồn: "Quan gia nói không sai.

Tội của Lý gia liên lụy đến hàng ngàn, hàng vạn sinh mạng, có chuộc cả đời cũng không hết.

Nhưng trong lòng kẻ mang tội này vẫn còn áy náy.

So với chết đi là xong, ta vẫn muốn thay Lý gia làm chút việc cho những bá tánh từng bị phụ bạc, coi như trả lại phần nào tội nghiệt."

Quan sai nghe xong thì sững người, rồi bật cười châm chọc.

Còn Lý Hoài An vẫn thờ ơ với mọi lời cười nhạo, lặng lẽ làm việc của mình.

Ban đầu, quan sai và phạm nhân còn xem hắn như trò vui, về sau có lẽ thấy hắn chẳng phản ứng gì, cũng lười đem những lời ấy ra chọc ghẹo nữa.

Đường lưu đày gian khổ.

Giày vải của Lý Hoài An chưa đầy hai tháng đã rách nát không thể mang.

Hắn theo một lão già làm việc vặt ở trạm dịch học đan giày rơm.

Đôi chân từng quen giày cẩm ủng, sau khi phồng rộp, chai sạn chồng chất, nay mang giày rơm cũng chẳng còn thấy đau.

Đôi tay từng cầm bút vẽ tranh từ lâu đã thô ráp, nứt nẻ không còn hình dạng.

Trên đường đi, hắn cũng giúp không ít thân tộc đan giày rơm.

Thế nhưng, khi thân tộc Lý gia rốt cuộc tới được Túc Châu vào tháng Chạp năm ấy, hơn trăm mạng người xuất phát, sống sót chỉ còn lác đác vài người.

Đó chính là: "Tội chết tuy tha, sống chết khó lường."

Túc Châu nằm nơi biên tây bắc, hoang vu lạnh lẽo.

Phóng mắt nhìn ra chỉ toàn sa mạc, chỉ ở nơi có nguồn nước mới đắp đất vàng làm thành, tụ cư dân chúng.

Trong thành, phần lớn là quân biên ải và phạm nhân bị lưu đày, người bản địa vốn đã ít, nay lại càng thưa thớt.

Tân Đế vừa kế vị, Vũ An Hầu trấn thủ quan ngoại hồi kinh phò tá ấu Đế, giữ quyền Nhiếp Chính Vương, các bộ tộc man di ngoài biên lại bắt đầu rục rịch.

Sau nhiều lần bị quấy nhiễu, Túc Châu hạ lệnh gia cố thành phòng.

Đám phạm nhân vừa bị lưu đày tới, trong đó có Lý Hoài An, lập tức bị bắt đi xây tường thành.

Lý Hoài An là thư sinh yếu ớt, tay không xách nổi, vai không gánh nổi.

Ngày đầu tiên đã bị roi quất thẳng tay, lưng chi chít vết roi.

Sang ngày thứ hai, vẫn bị lùa đi tiếp.

Lưng gầy không kham nổi những khối gạch đá nặng nề.

Chỉ sơ ý làm rơi, mẻ một viên gạch, binh lính trông coi liền nổi cơn hung ác, roi da trút xuống như mưa.

Mỗi roi quất trúng, đau rát như bị bò cạp độc chích.

Có lúc Lý Hoài An cũng từng nghĩ mình sẽ chết ngay tại đây, nhưng trong lòng hắn lại không dấy lên chút oán hận nào.

Đêm đông đứa cháu chết vì bệnh, hắn đã hiểu rõ, những bá tánh năm xưa vì Lý gia mà tan cửa nát nhà, bất lực đến nhường nào.

Khổ trên đời này, chỉ khi tự mình nếm qua, mới biết là mùi vị gì.

So với chết dưới loạn đao và vó ngựa khi thành bị phá, thì cái khổ xây tường thành này, rốt cuộc cũng chẳng đáng là bao.

Nhưng chính nơi địa ngục nhân gian mang tên chiến tranh ấy, Lý gia từng đích thân nhúng tay thao túng một lần.

Năm xưa, khi Lý Hoài An theo quân ra tiền tuyến với thân phận Giám quân, tận mắt chứng kiến cảnh chiến trường tàn khốc, trong lòng hắn cũng từng dao động, từng sinh thương xót.

Nhưng mỗi lần nhớ đến lời tổ phụ từng nói lật đổ Ngụy Nghiêm là để thiên hạ có thêm nhiều bá tánh được sống những ngày yên ổn, hắn lại ép mình trở nên lạnh lùng, làm ngơ trước những hy sinh ấy.

Cho đến hôm nay, khi chính tay mình xây từng viên gạch, từng tảng đá nơi biên thành, hắn mới thật sự cảm nhận được những bá tánh và tướng sĩ từng bị Lý gia coi nhẹ, bị ép hy sinh, đã phải trải qua bao nhiêu vùng vẫy khổ sở đến bất lực.

Cũng từ đó, hắn mới hiểu vì sao năm xưa Trường Ngọc và Tạ Chinh, khi biết mọi chuyện đều do Lý gia đứng sau thao túng, lại phẫn nộ đến vậy.

Một người xuất thân từ tầng đáy dân gian, một người từ thiếu niên đã lăn lộn trong quân ngũ, không ai rõ hơn họ việc bá tánh cùng binh lính tầng dưới cùng sống những ngày tháng ra sao.

Những toan tính của Lý gia, chỉ trong chớp mắt đã hủy hoại không biết bao nhiêu gia đình đang gắng gượng tồn tại trong khổ cực.

Càng hiểu rõ những điều ấy, gánh nặng tội nghiệt trên người Lý Hoài An càng đè nén đến nghẹt thở.

Chỉ là, hắn tỉnh ngộ quá muộn.

Chết ở nơi này cũng chẳng thể giảm đi dù chỉ một phần vạn tội lỗi trong lòng hắn, nhưng lại là nơi an nghỉ tốt nhất mà hắn từng nghĩ tới.

Song rốt cuộc, hắn vẫn không chết.

Viên tiểu tướng trấn thành nghe nói hắn là cháu của Lý Thái phó, tuy sắc mặt lạnh nhạt, nhưng xét thấy trong cả biên thành, người biết chữ đếm trên đầu ngón tay, nên ngoài việc xây thành, còn gọi hắn đến giúp chỉnh lý danh sách phạm nhân lưu đày cùng binh lính dưới quyền.

Viên tiểu đầu mục thân hình cao lớn, thô kệch, tính tình nóng nảy, chỉ thẳng vào đống giấy tờ mà nói: "Ngươi lo chỉnh cho tử tế.

Dưới tay lão tử, bất kể là quân tốt hay tội nhân, chỉ cần dám chết trên thành lầu khi mọi rợ tới, đều xứng đáng được ghi lại tên!"

Sau chặng đường lưu đày đầy khổ nạn, Lý Hoài An từng nghĩ mình sẽ không còn xúc động vì bất cứ điều gì nữa.

Thế nhưng chỉ một câu nói ấy, lại khiến một luồng cay chát xen lẫn kính trọng dâng thẳng từ ngực lên cổ họng.

Hắn trịnh trọng cúi người thi lễ, khi ngẩng đầu lên, hốc mắt đã ươn ướt: "Tiểu dân mang tội, nhất định không phụ trọng thác."

Đó là áy náy.

Trận Lư Thành năm xưa, mưu kế của Lý gia đã hại chết không biết bao nhiêu tướng lĩnh binh sĩ như vậy.

-.-

Đầu năm Vĩnh Hưng thứ hai, Túc Châu biên thành bất ngờ bị tập kích.

Đó là lần đầu tiên Lý Hoài An trực diện với lưỡi đao lạnh lẽo và tiếng gào thét hung tợn của man di.

Tay chân hắn tê cứng, cả người sững sờ đứng trên thành lầu, không biết trốn, cũng không biết cầm đao.

Dù viên tiểu đầu mục gào khàn cả cổ, đám phạm nhân lưu đày như hắn vẫn không nhúc nhích nổi.

Máu bắn tung như mưa.

Người vừa còn sống sờ sờ, chớp mắt đã thành xác chết dưới lưỡi đao.

Tường thành còn dang dở không thể ngăn nổi thế công dữ dội.

Viên tiểu đầu mục nóng nảy cuối cùng cũng nhận ra thành nhỏ bằng đất vàng này không giữ nổi, liền gào lên, ra lệnh cho binh sĩ chặn phía trước, để những người còn lại dẫn bá tánh rút về Túc Châu phía sau.

Trận tập kích kết thúc khi viện quân Túc Châu kịp thời tới nơi.

Man di chiếm được thành nhỏ cũng không dừng lại lâu, cướp chút tiền, lương thực rồi rút lui.

Nhưng viên tiểu đầu mục đã chết trên thành lầu.

Tên quan binh từng quất roi Lý Hoài An khi xây thành cũng tử trận dưới chân cổng.

Còn vô số binh sĩ khác có người hắn quen, có người không, đều dùng mạng sống mình để cầm cự, chờ viện quân tới.

Từ đêm đứa cháu chết vì bệnh trên đường lưu đày, đây là lần thứ hai Lý Hoài An khóc đến không thành tiếng.

Lần này không phải vì máu mủ ruột thịt, mà vì xương trắng đầy đất.

Không chỉ áy náy lần đầu tiên trong đời, hắn hối hận sâu sắc đến vậy về những gì mình từng làm.

Bao sinh mạng đổi lấy một chút yên ổn này, sao có thể vì tranh đấu trong triều mà lại khơi mào binh đao?

Trong trận chiến ấy, Lý Hoài An bị man di chém què một chân, nhưng đã liều mạng cứu được một nhi tử thay cho một đại nương.

Người đại nương chết dưới đao giặc.

Trước khi trút hơi thở cuối cùng, bà ấy chỉ kịp nói một câu: "Phụ thân đứa trẻ đang trong quân, họ Trình..."

Sau khi viện quân tới, Lý Hoài An che chở đứa bé giữ được mạng sống.

Khi tìm đến phụ thân đứa trẻ trong quân, mới hay người ấy cũng đã tử trận trên thành lầu.

Đứa trẻ trở thành cô nhi.

Lý Hoài An nhận nuôi đứa bé, đặt tên là Trình Lang.

Lang (琅) là mỹ ngọc.

Người ta vẫn nói quân tử như ngọc.

Hắn mong đứa trẻ sau này có thể trưởng thành thành một người chính trực, đường đường quân tử.

Bắc Quyết ngày càng rục rịch.

Năm ấy, không chỉ Túc Châu, mà cả Cẩm Châu và Yến Châu cũng liên tiếp bị quấy nhiễu.

Đến mùa thu, Đại Tướng quân Đường Bồi Nghĩa nắm ấn soái tiến quân trấn áp dị tộc ngày càng hung hãn, Đại Tướng quân Mạnh Trường Ngọc áp giải lương thảo theo sau.

Trường Ngọc... lần nữa nghe tin Phàn Trường Ngọc, Lý Hoài An bỗng có cảm giác như đã cách một đời.

Nghe nói nàng đã thành thân với Tạ Chinh, trong lòng hắn thoáng chua xót rồi lại nhẹ nhõm.

Trên đời này, ngoài Vũ An Hầu, hắn quả thật không nghĩ ra ai khác xứng với nàng.

Hai người ấy, tựa như sinh ra đã bị số mệnh buộc chặt, đúng là một đôi do trời đất tác thành.

Ở biên thành nhỏ Túc Châu, Lý Hoài An giúp viên tiểu đầu mục mới tới chỉnh lý công văn, bàn bạc việc xây dựng phòng thủ.

Lời lẽ hắn thực tế, học vấn lại rộng, dù vẫn mang thân phận tội nhân, nhưng tiểu đầu mục vẫn đặc biệt cất nhắc hắn làm chủ bộ.

Thấy chân hắn không tiện, cũng không bắt hắn đi làm việc nặng nữa.

Thế nhưng sau khi tạ ơn, Lý Hoài An vẫn ngày nào cũng đều đặn ra cửa thành, hoặc khuân gạch đắp tường, hoặc làm phụ việc cho thợ thủ công.

Chỉ khi thân xác cùng tinh thần đều mệt mỏi rã rời, lòng hắn mới được yên đôi phần, mới cảm thấy mình thực sự đang chuộc tội.

Từ đó về sau, suốt quanh năm, Lý Hoài An đều ở lại biên thùy nhỏ bé ấy.

Hết lượt tiểu tướng này đến lượt tiểu tướng khác được điều tới trấn giữ.

Ai nấy đều nhờ hắn phụ tá rất nhiều, khi sắp rời nhiệm sở đều muốn đưa hắn theo, giữ lại làm phụ tá lâu dài.

Nhưng lần nào cũng vậy, Lý Hoài An đều khéo léo từ chối.

Hắn chỉ nói một câu: "Hắn là tội nhân, đến nơi này là để chuộc tội."

Về sau, khi chiến sự lắng xuống, vị nữ Đại Tướng quân một mình trấn giữ tây bắc suốt nhiều năm ấy đã nhiều lần đánh lui Bắc Quyết.

Thậm chí đến mức, về sau chỉ cần man di nhìn thấy soái kỳ của nàng là không dám xâm phạm nữa.

Cuối cùng, nàng ấy cũng nhờ quân công hiển hách mà được phong Hầu.

Biên thành yên ắng, tường lũy đã xây xong.

Lý Hoài An dựng một gian tư thục nhỏ trong sân nhà đơn sơ của mình, không thu quà nhập học, dạy lũ trẻ địa phương đọc sách, biết chữ.

Vị nữ Hầu năm xưa cùng phu quân của nàng, khi đang ở đỉnh cao vinh quang, đã cùng nhau từ quan, trở về tây bắc, trấn giữ con đường trọng yếu của Đại Dận.

Túc Châu và Huy Châu chỉ cách nhau mấy trăm dặm, vậy mà Lý Hoài An rốt cuộc vẫn chưa từng gặp lại hai người ấy.

Hắn không còn mặt mũi để gặp cố nhân.

Nhưng hắn nghe rất nhiều chuyện về họ.

Nghe nói năm Vĩnh Hưng thứ sáu, nữ Hầu sinh một đôi long phượng thai, trưởng nữ đặt tên Tạ Từ Uẩn, đích tử đặt tên Mạnh Hành Xuyên.

Huyết mạch của hai gia tộc từng chết oan nơi Cẩm Châu năm ấy, cuối cùng cũng được nối tiếp, vĩnh viễn không đứt đoạn.

Lý Hoài An còn nghe nói, họ nhận nuôi rất nhiều côi nhi là con em tướng sĩ.

Đứa nào biết gốc gác thì giữ nguyên họ cũ, đứa nào không rõ thì đổi họ Tạ, họ Phàn, họ Mạnh, tất cả đều được nuôi dạy như ruột thịt.

-.-

Mười sáu năm phong sương mưa tuyết, trôi qua như chớp mắt.

Lý Hoài An vừa bước sang tuổi ngoại tứ tuần thì bệnh tật đã quấn thân.

Hai bên tóc mai bạc trắng, dáng dấp chẳng khác gì một lão già ngoài sáu mươi.

Mấy ngày liền tuyết lớn.

Đầu đông hắn nhiễm phong hàn, nằm liệt trên giường nửa tháng mà không hề thuyên giảm.

Đứa trẻ năm xưa hắn nhận nuôi, nay đã gần tuổi lập thành gia thất.

Khi Trình Lang bưng nước vào lau mặt cho hắn, Lý Hoài An tỉnh táo nhưng suy nhược, chậm rãi dặn dò hậu sự: "Sau khi ta đi, con không cần lo tang lễ.

Chỉ cần chôn sơ sài ở sau núi là được."

Hốc mắt Trình Lang cay xè, cố tỏ ra bình thản: "Tiên sinh nói linh tinh gì vậy.

Chỉ là cảm lạnh thôi, uống thêm mấy thang thuốc là sẽ khỏi mà."

Lý Hoài An chưa từng cho Trình Lang gọi mình là nghĩa phụ.

Hắn nói, mình chỉ là một kẻ mang tội, sống đến hôm nay là để chuộc lỗi, chỉ xứng đáng được gọi là tiên sinh.

"Thân thể ta... ta tự hiểu rõ... khụ, khụ..."

Chưa nói xong, hắn đã sặc ho dữ dội.

Thân hình gầy gò khom xuống, như một ngọn đèn dầu trong đêm lạnh, chỉ chực tắt trước gió bấc.

Trình Lang vỗ lưng giúp hắn dễ thở, kìm nén vành mắt đỏ hoe: "Đầu xuân năm nay, trong thành còn nhiều đứa nhỏ muốn tới chỗ tiên sinh học vỡ lòng.

Tiên sinh thân thể cứng cáp, nhất định sẽ sớm khỏe lại thôi!"

Như sợ hắn lại nhắc đến hậu sự, Trình Lang vội nói tiếp: "Hôm nay phủ Thành chủ tiếp đãi hai vị khách quý.

Trong đó có một vị là nữ, vậy mà Lưu đại nhân lại gọi cả hai là tiểu Hầu gia, cũng thật hiếm thấy.

Nghĩ chắc là người Tạ gia Huy Châu.

Vị cô nương ấy nghe Lưu đại nhân nhắc đến chuyện tiên sinh hơn mười năm nay dạy học miễn phí cho dân làng, còn nói sau này muốn đến thăm tiên sinh..."

Trình Lang vẫn còn thao thao kể chuyện ở phủ Thành chủ, nhưng Lý Hoài An đã không nghe rõ nữa.

Hai mươi năm bị lưu đày nơi đất lạnh này, hắn chưa từng gặp lại cố nhân.

Thời gian chẳng còn bao nhiêu, vậy mà con cái của cố nhân lại tìm đến.

Trong lòng hắn ngổn ngang áy náy, bỗng dâng lên một nỗi bi thương khó kìm.

Đúng lúc ấy, ngoài viện vang lên tiếng gõ cửa.

"Lý phu tử có ở nhà không?"

Trình Lang đặt khăn xuống: "Con ra mở cửa nha."

Cửa viện mở ra.

Người ở phủ Thành chủ cùng một nhóm thiếu nam thiếu nữ đứng bên ngoài.

Cặp song sinh dẫn đầu, Trình Lang đã gặp lúc ban sáng ở phủ Thành chủ, chính là hai vị khách quý kia.

Dù là sinh đôi, dung mạo và khí chất của họ lại hoàn toàn khác nhau.

Nữ thiếu niên mặc kỵ trang đỏ, mắt hạnh mũi cao, rực rỡ như nắng sớm.

Nam thiếu niên khoác huyền y, thần sắc trầm tĩnh, chín chắn hơn tuổi.

Trình Lang làm việc ở phủ Thành chủ đã lâu, nhưng cũng chưa từng gặp người nào tôn quý như vậy, nhất thời không biết nên tiếp đón ra sao.

Công tử phủ Thành chủ vội giải thích: "Trình huynh, sau khi huynh rời đi, hai vị tiểu Hầu gia nghe nói tiên sinh bệnh nặng, nên đặc biệt tới thăm."

Nữ thiếu niên hồng y lập tức ôm quyền: "Là chúng ta đến đột ngột, mong được thứ lỗi."

Trình Lang vội nói không sao, rồi dẫn hai người vào viện.

Trong phòng, Lý Hoài An đã nghe thấy động tĩnh.

Khi Trình Lang đưa hai người bước vào, ánh mắt hắn dừng lại rất lâu trên nữ thiếu niên hồng y.

Thật sự quá giống.

Giống hệt vị nữ Hầu năm xưa, như được khắc ra từ cùng một khuôn.

Hai thiếu niên cùng chắp tay hành lễ: "Đã quấy rầy lão tiên sinh."

Lý Hoài An chỉ nhìn họ cười.

Cười đến khi đôi mắt đã vẩn đục ánh lên những giọt nước mắt, giọng khàn khàn: "Tội của Lý gia...

Lão già ta chuộc không nổi nữa rồi..."

Nữ thiếu niên hồng y dường như đã biết thân phận hắn, nhẹ giọng nói: "Tai họa năm xưa không phải do một mình lão tiên sinh gây nên.

Lão tiên sinh ở lại nơi này hơn hai mươi năm, hễ gặp chiến sự liền đến cửa thành đốc chiến, bày mưu hiến kế, nhiều năm qua dốc lòng vì dân trong thành mở đường sinh kế, lại dạy vô số trẻ nghèo biết chữ.

Những việc ấy không thể xóa đi sai lầm của Lý gia, nhưng đủ để lão tiên sinh không thẹn với lòng mình."

Lý Hoài An nhìn sang nam thiếu niên huyền y bên cạnh.

Đôi mày ấy cũng giống hệt vị Vũ An Hầu từng uy hiếp Bắc Quyết hơn hai mươi năm.

Nam thiếu niên khẽ gật đầu với hắn.

Qua hai người trước mắt, Lý Hoài An như nhìn thấy cố nhân.

Nước mắt vẫn rơi, nhưng trên môi lại nở nụ cười nụ cười nhẹ nhõm, giải thoát.

Đêm ấy, người chuộc tội suốt nửa đời, mỉm cười rời khỏi nhân gian.

Hậu sự làm đúng theo di ngôn, hết sức giản lược.

Dân trong vùng biết hắn cả đời sám hối, không ai ca tụng công đức.

Chỉ có những học trò từng được hắn dạy dỗ, mỗi người trồng một gốc đào hoặc gốc mận trên ngọn đồi sau núi, nơi hắn yên nghỉ.

Mùa xuân năm sau, khắp sườn núi, đào mận nở hoa, rực rỡ sắc màu.
 
Trục Ngọc Quyển 2 (Edit)
Chương 233: Ngoại Truyện Ngụy Nghiêm


Đầu xuân, trời vẫn còn rét buốt, băng tuyết mới tan chưa bao lâu.

Trong đêm tối trầm lặng như nước, thư phòng Ngụy phủ vẫn le lói một đốm đèn dầu.

Quản gia khẽ gõ cửa, đứng ngoài bẩm báo: "Tướng gia, biểu thiếu gia lại bị mộng yểm*, khóc lóc không ngừng..."

*Mộng yểm: thời hiện đại gọi là bóng đè.

Bên trong thư phòng vắng lặng, án thư gỗ lê đặt một giá nến đồng hình hạc.

Trong khay đồng trên đỉnh hạc đã đọng không ít vết nến chảy loang lổ.

Ngọn nến chỉ còn non nửa, ánh sáng vàng nhạt tỏa ra mờ mịt.

Ngụy Nghiêm ngồi sau án thư, đường cằm thanh mảnh dưới ánh nến hắt lên vẫn hiện rõ vẻ lạnh lẽo cứng rắn.

Ông như đang đọc sách, nghe tiếng bẩm mới ngẩng đầu lên khỏi trang giấy, nghiêng mắt nhìn đoạn nến sắp tàn trên giá đồng, trầm mặc một lúc lâu mới lạnh giọng nói: "Đám người hầu phía dưới làm việc kiểu gì?

Đến cả một đứa trẻ cũng không dỗ nổi sao?"

Quản gia do dự chốc lát rồi đáp: "Biểu thiếu gia khóc đòi tiểu thư.

Nhớ ra tiểu thư đã theo cô gia rời đi, lại càng khóc, đòi gặp cữu cữu...

Lão nô bất đắc dĩ mới dám tới bẩm với Tướng gia."

Nghe hai chữ "cữu cữu", trên mặt Ngụy Nghiêm thoáng qua một tia dữ tợn xen lẫn đau đớn.

Ông nhắm mắt, điều chỉnh lại hơi thở một lúc lâu, rồi đứng dậy kéo cửa thư phòng.

Khi bước ra ngoài, gương mặt đã hoàn toàn không còn chút cảm xúc nào: "Đi theo ta xem thử."

Hộ Quốc Đại Tướng quân Tạ Lâm Sơn cùng Thái Tử Thừa Đức đã tử trận ở Cẩm Châu.

Không lâu sau đó, Tạ phu nhân vì không chịu nổi cú sốc phu quân chết trận mà chọn cách tuẫn tình, để lại đứa nhi tử duy nhất mới tròn bốn tuổi, giao phó cho huynh trưởng Ngụy Nghiêm nuôi dưỡng.

Tiểu công tử họ Tạ được đón về Ngụy phủ chăm sóc, ở tại Lân Hiên Các.

Ngụy Nghiêm vừa bước vào viện đã nghe thấy trong phòng vọng ra tiếng khóc trẻ con: "Cữu cữu... con muốn cữu cữu..."

Tiếng gọi đứt quãng, nghẹn ngào, yếu ớt như con thú non bị thương.

Quản gia nghe vậy, đáy mắt cũng không giấu được vẻ xót xa.

Ngụy Nghiêm thì vẫn lạnh nhạt như cũ, gương mặt nghiêng dưới ánh trăng lạnh lẽo, tựa như phủ một tầng sương giá.

Ông đưa tay đẩy cửa.

Đứa trẻ trong phòng vừa thấy ông thì lập tức nín khóc, vẻ mặt đầy lệ thuộc, dang tay muốn được ôm: "Cữu cữu..."

Mấy ma ma đang dỗ dành vội vàng cúi người hành lễ: "Tướng gia."

Ai nấy đều cúi đầu, vừa hoảng sợ vừa căng thẳng, như sợ Ngụy Nghiêm trách tội vì không chăm sóc được biểu thiếu gia.

Ngụy Nghiêm lạnh lùng nhìn đứa ngoại tôn khóc đến sưng cả mắt, mở miệng đã là lời răn nghiêm khắc: "Là nam nhi, khóc lóc cái gì?"

Tiểu Tạ Chinh bị giọng nói lạnh cứng ấy dọa cho giật mình, bàn tay đang vươn ra liền rụt lại, luống cuống nắm chặt chăn dưới người.

Đôi mắt to đen láy ngấn nước ngơ ngác nhìn người cữu cữu trước mặt, môi mím chặt, không dám khóc thành tiếng nữa.

Thế nhưng nước mắt vẫn không sao kìm được, từng giọt lớn rơi xuống, thấm ướt mặt chăn.

Sợ bị trách, cậu vội cúi đầu, dùng cánh tay nhỏ trắng như củ sen vụng về lau nước mắt.

Phụ thân đã chết, mẫu thân không cần cậu nữa, đến cả người cữu cữu từng thương cậu nhất, giờ đây cũng không thích cậu...

Một ma ma chăm sóc Tạ Chinh thấy vậy không đành lòng, nhỏ giọng nói đỡ: "Biểu thiếu gia là do gặp ác mộng, lại bị mộng yểm nên..."

Ánh mắt Ngụy Nghiêm lạnh như dao quét qua.

Ma ma lập tức im bặt, cúi đầu không dám nói thêm nửa lời.

Ông lạnh giọng phân phó: "Toàn bộ người hầu ở Lân Hiên Các đổi hết thành nam sai vặt.

Nuôi dạy trong tay đàn bà, sau này khó thành tài."

Mấy ma ma trong phòng vội vàng quỳ xuống cầu xin.

Tiểu Tạ Chinh hiểu ra điều gì đó, cũng chẳng kịp sợ hãi, vội nắm lấy một góc tay áo Ngụy Nghiêm, sụt sịt cầu xin: "Cữu cữu...

đừng đuổi các ma ma đi.

Chinh Nhi sau này sẽ không khóc nữa..."

Ngụy Nghiêm cúi mắt nhìn ngoại tôn, ánh nhìn lạnh lẽo như băng: "Đến cả ác mộng cũng khóc lóc giữa đêm.

Phụ thân ngươi bị người Bắc Quyết moi bụng, treo xác trên thành, mối thù máu ấy, ngươi lấy gì để báo?

Tạ gia không sinh ra đồ hèn nhát, Ngụy gia ta cũng vậy!"

Ánh mắt sắc như mũi tên nhọn ghim thẳng vào đứa trẻ: "Nếu ngươi cả đời chỉ có cái dạng yếu đuối này, dựa vào quân công phụ thân ngươi để lại, triều đình cũng có thể nuôi ngươi như nuôi chó, nuôi heo đến già.

Cuộc đời này của ngươi, cũng coi như chẳng thiếu ăn thiếu mặc gì."

Dứt lời, ông quay người, đóng sầm cửa bỏ đi.

Quản gia nghe xong lời ấy liền cau mày, nhìn theo bóng lưng Ngụy Nghiêm rảo bước rời đi, rồi lại nhìn đứa trẻ đang ngồi trên giường, tựa như bị mấy câu nói kia mắng đến ngây người.

Lão khẽ thở dài, dịu giọng nói với tiểu Tạ Chinh: "Biểu thiếu gia đừng để trong lòng.

Tướng gia... chỉ là vì tiểu thư vừa rời đi, trong lòng không dễ chịu.

Ngài ấy mong biểu thiếu gia sớm trưởng thành, sau này ra bắc chinh phạt, đoạt lại Cẩm Châu, thay Tạ Đại Tướng quân báo thù."

Đứa trẻ bốn tuổi cúi đầu, đôi vai gầy gò non nớt run lên vì nén khóc, trông như một cánh cung làm bằng cành non, chỉ cần thêm chút lực nữa là gãy lìa.

"Cữu cữu... hận con..."

Hàm răng cậu cắn chặt, giọng nói non nớt mà khàn đặc, như nghẹn cả máu: "Nếu hôm đó con không chạy ra ngoài ăn bánh quế hoa, không rời khỏi mẫu thân... thì mẫu thân đã không ở một mình trong phòng mà... tự vẫn..."

Cậu nghẹn đến không thốt nổi lời: "Là con không trông chừng mẫu thân... cữu cữu hận con..."

Sắc mặt quản gia càng thêm phức tạp, lão nhẹ giọng an ủi: "Đó là con đường do tiểu thư tự chọn, không trách biểu thiếu gia.

Tướng gia... cũng không trách ngài đâu."

Tiểu Tạ Chinh chỉ lắc đầu, quay người cuộn tròn lại trên giường.

Thân hình nhỏ bé ấy khiến người nhìn không khỏi lo lắng.

Quản gia thở dài, kéo lại góc chăn cho cậu, rồi bước ra ngoài với bước chân nặng nề.

-.-

Cuối hành lang, có người khoanh tay đứng trong gió lạnh, bóng dáng cô độc.

Quản gia tiến lên thưa: "Biểu thiếu gia còn quá nhỏ, Tướng gia nghiêm khắc như vậy, chỉ khiến đứa trẻ thêm đau lòng.

Biểu thiếu gia vẫn luôn tự trách chuyện ngày đó không trông chừng tiểu thư, cảm thấy... ngài vì thế mà hận nó."

Ngụy Nghiêm nhìn bóng trúc lay động trong gió đêm, giọng nói thản nhiên: "Vậy cứ để nó nghĩ như thế đi."

Quản gia lộ vẻ khổ sở: "Tướng gia, ngài làm vậy, rốt cuộc là vì điều gì?"

Đèn lồng dưới hành lang bị gió thổi nghiêng ngả, ánh sáng mờ nhạt chao đảo, hắt lên vạt áo sẫm màu ôm gió như cánh buồm.

Càng làm nổi bật thân hình cao gầy, thẳng tắp của Ngụy Nghiêm.

Ông chậm rãi nói: "Triều đình này là vũng nước đục, hố sâu hiểm độc, sóng ngầm chằng chịt.

Nếu tương lai nó chỉ muốn làm một kẻ phú quý nhàn hạ, ta có thể buông tay.

Nhưng nếu nó muốn ra chiến trường, muốn bước vào triều cục, mà ta không mài giũa nó, chẳng khác nào đẩy nó ra cho người khác làm bia tập bắn."

"Ngụy Toàn, nó không đủ tàn nhẫn, sau này không thể ngồi vào vị trí của ta."

"Ta không ép nó, người khác sẽ nương tay với nó sao?"

Quản gia hiểu được nỗi khổ tâm của chủ tử, trầm mặc hồi lâu, cuối cùng mới buồn bã thở dài: "Ngài để biểu thiếu gia oán ngài như vậy sao?"

Ngụy Nghiêm khẽ cười nhạt: "Nó hận ta, oán ta, như vậy mới tốt."

Quản gia sững người nhìn ông.

Chỉ nghe Ngụy Nghiêm rất khẽ nói thêm một câu: "Rồi sẽ có một ngày, nó tra ra được những chuyện ấy."

Từng chuyện một, từ khi Tiên Đế còn tại vị, đều bị đổ lên người ông, những tội lỗi lớn đến mức ông có dùng cả đời này cũng không cách nào xóa sạch.

Quản gia nghĩ đến cái chết của Ngụy Oản, đáy mắt càng thêm ảm đạm.

Đại tiểu thư đến chết vẫn oán Tướng gia, tin chắc rằng chính Tướng gia là kẻ đứng sau hại chết Tạ Đại Tướng quân và Thái Tử...

-.-

Canh tư, gió nổi dữ dội, thổi đến cửa sổ khép chưa kín va đập lạch cạch vào khung.

Đứa trẻ trên giường dường như lại rơi vào bóng đè, vô thức nắm chặt chăn, miệng mơ hồ gọi: "Phụ thân... mẫu thân..."

Nam nhân ngồi ở ghế thái sư nơi góc phòng không biết đã bao lâu đứng dậy, đi đến đóng chặt cửa sổ.

Ông mượn ánh đèn dầu đặt ngoài giường chiếu vào một quầng sáng mỏng, lặng lẽ nhìn đứa trẻ mồ hôi lạnh túa đầy trán.

Ông cầm khăn, như muốn tiến lên lau mồ hôi cho cậu, nhưng đứa trẻ bỗng phát ra một tiếng thét ngắn, rồi giật mình ngồi bật dậy, thở dốc từng hơi.

Ngụy Nghiêm thu tay cầm khăn về sau lưng, đứng bên giường, vẫn dùng ánh mắt lạnh băng nhìn đứa ngoại tôn ướt đẫm mồ hôi, trông như vừa bị vớt lên khỏi nước.

Đứa trẻ nhìn ông, há miệng định gọi, nhưng thấy sắc mặt ấy thì lại nín bặt.

Trong ánh mắt hướng về ông, chỉ còn mờ mịt, dè chừng và kính sợ, không còn chút ỷ lại nào như trước.

Giống hệt một con thú non bị xua đuổi.

Giọng Ngụy Nghiêm lạnh cứng: "Ta sẽ tìm võ sư cho ngươi.

Ngày mai bắt đầu, vào Tinh Võ Viện học võ."

Vừa bước ra khỏi phòng, thân vệ canh gác bên ngoài liền đưa áo choàng, khoác lên vai hắn, hạ giọng hỏi: "Tướng gia canh biểu thiếu gia suốt đêm không chợp mắt, có cần về phòng nghỉ một lát không?"

Ngụy Nghiêm liếc nhìn sắc trời: "Chuẩn bị triều phục.

Đến giờ vào cung rồi."

Đi đến cửa thùy hoa, đầu mục tử sĩ là Ngụy Thắng vội vàng chạy tới bẩm báo: "Tướng gia, nửa đêm lại bắt được mấy kẻ lén xông vào Tướng phủ.

Đều là hạ nhân cũ của Tạ gia.

Có giải vào địa lao như trước không?"

Trong mắt Ngụy Nghiêm lóe lên một tia tàn khốc: "Hạ nhân cũ Tạ gia không phải đã bị đưa hết về Huy Châu rồi sao?"

Ngụy Thắng chắp tay đáp: "Là người dòng chi của Tạ gia.

Không biết nghe được tin tức từ đâu.

Sau khi bị bắt còn lớn tiếng chửi mắng Tướng gia, nói rằng...

Tướng gia nhất định sẽ khiến biểu thiếu gia nhận giặc làm cha."

Động tác chỉnh lại áo choàng của Ngụy Nghiêm khựng lại một nhịp, sắc mặt càng lạnh lẽo: "Tra cho rõ ai đã để lộ tin tức cho bọn chúng.

Hỏi ra rồi thì... không cần giữ lại người sống."

Ngụy Thắng hơi sững lại.

Trước đây bắt được những kẻ này, chủ tử luôn chỉ hạ lệnh giam giữ, nay vì sao lại đột ngột muốn diệt khẩu, cắt đứt hậu họa.

Nhưng khi nghĩ đến việc bọn người này tiếp cận biểu thiếu gia, mà đại tiểu thư cũng chính vì từ miệng bọn họ biết được "chân tướng", lại gặp Giả gia mật thám nhân cơ hội đẩy biểu thiếu gia xuống hồ sen, dựng nên vở kịch giả rằng Tướng gia muốn giết biểu thiếu gia, khiến đại tiểu thư vì bảo vệ biểu thiếu gia và cắt đứt liên hệ với Tạ gia cũ bộ mà để lại di thư, thắt cổ tự vẫn...

Ngụy Thắng liền hiểu được nỗi hận trong lòng chủ tử.

Chủ tử hận những kẻ đứng sau xúi giục hạ nhân cũ Tạ gia, hận Giả gia, cũng hận đám người cầm cái gọi là "chân tướng" để ép đại tiểu thư vào đường chết.

Đại tiểu thư đã mất, chủ tử tuyệt đối không cho phép bọn họ tiếp cận biểu thiếu gia thêm lần nào nữa.

Đám hạ nhân cũ trực hệ của Tạ gia đã sớm bị đại tiểu thư đưa về Huy Châu trước khi tự vẫn.

Việc làm ấy vừa là để giữ lại chút thế lực cuối cùng cho Tạ gia, vừa là trải sẵn con đường sau này cho biểu thiếu gia.

Còn những kẻ dòng chi nay tự tìm đến cửa, không khác gì đâm thẳng vào nơi sát khí trong lòng chủ tử.

Ngụy Thắng lĩnh mệnh lui xuống.

Ngụy Nghiêm sải bước về phía cổng phủ.

Quản gia theo ra tiễn, đến khi Ngụy Nghiêm chuẩn bị lên quan kiệu, ông bỗng dặn thêm một câu: "Cho đứa trẻ ở Mộc Tê Uyển dọn sang Lân Hiên Các."

Quản gia gật đầu đáp lời, hiểu rõ dụng ý, lại cười đáp: "Tuyên thiếu gia tính tình ồn ào, biểu thiếu gia vừa mất song thân, có người bầu bạn, chắc cũng dễ khuây khỏa hơn, không đến nỗi đêm nào cũng bị bóng đè."

Ngụy Nghiêm không đáp.

Ông buông rèm kiệu.

Đám kiệu phu xuất thân tử sĩ đồng loạt nhấc kiệu, quan kiệu vững vàng rời đi, con trường nhai trước cửa đã phủ màu nắng sớm.

Hai bên kiệu theo sau hơn mười phủ vệ đeo trường kiếm, mỗi người hơi thở đều dài, thân hình vững chắc, đều là sát thủ được tuyển chọn kỹ càng từ đám tử sĩ.

Ấu Đế kế vị, Ngụy Nghiêm nắm quyền Nhiếp Chính.

Phía nam Cẩm Châu chiến sự căng thẳng, Tùy gia tuy dẫn quân chặn Bắc Quyết tiến xuống, nhưng cũng nhân cơ hội này đòi triều đình tiền lương không ngừng.

Trong kinh thành, Giả gia như con rết trăm chân chết mà chưa cứng, lúc nào cũng chờ thời cắn lại Ngụy Nghiêm một nhát, đoạt quyền từ tay ông.

Từ ngày Ngụy Nghiêm ngồi lên vị trí Thừa tướng, thay mặt giám quốc, những vụ ám sát nhằm vào ông đã không dưới mười lần.

Tất cả đều đang chờ ông phạm sai lầm, tìm tử huyệt của ông.

Chỉ cần ông bước lệch một bước, cả Ngụy gia lẫn Tạ gia đều sẽ rơi vào vực sâu vạn kiếp không quay đầu.

Quan kiệu vừa đến phố Khổng Tước, mũi tên tẩm độc liền theo gió mạnh lao thẳng vào trong kiệu.

Hơn mười bóng đen từ hai bên lầu cao nhảy xuống, lưỡi dao trong tay phản chiếu ánh đèn kiệu, hắt ra một mảng lạnh lẽo.

Phủ vệ hộ kiệu rút kiếm, múa lên một tấm lưới kiếm kín không kẽ hở, chặn toàn bộ mũi tên độc, rồi trực diện giao chiến với đám hắc y nhân từ trên cao lao xuống.

Máu tươi văng tung tóe, nhuộm đỏ lớp sương mỏng phủ trên mặt đá xanh của đường Khổng Tước.

Một tên hắc y nhân thừa lúc tử sĩ quanh kiệu bị cuốn chân, vung đao đâm thẳng về phía quan kiệu.

Đao phong dữ dội xuyên thủng rèm gấm, nhưng lưỡi đao lại không thể tiến thêm dù chỉ một tấc.

Gân xanh trên thái dương ông nổi lên vì gắng sức.

Trong kiệu, bàn tay nắm lấy lưỡi đao chỉ nhẹ xoay cổ tay, cả người tên hắc y nhân liền bị kéo theo xoay một vòng giữa không trung.

Thân đao không chịu nổi lực, "keng" một tiếng gãy đôi.

Tên kia vừa rơi xuống đất, đã bị nửa đoạn lưỡi đao từ trong kiệu phóng ra kết liễu tính mạng.

Bên ngoài, tử sĩ cũng chém ngã kẻ cuối cùng, máu tươi bắn lên nửa bên rèm kiệu.

Ngụy Nghiêm vén rèm bước ra, giày gấm giẫm lên vũng máu đã sẫm đặc.

Mặt trời sớm từ hừng đông dâng lên, sắc đỏ phá tầng mây xám hòa cùng màu máu trên đất, nhuộm vàng rực những mái ngói cung điện nguy nga nơi xa.

Ngụy Nghiêm đứng ngược ánh sáng ngàn trượng, trên gương mặt tuấn mỹ chỉ còn lại vẻ lạnh lùng u tối.

Ông nhấc chân, giẫm lên nắng sớm pha màu máu, từng bước tiến về phía hoàng cung sừng sững.

Chuyến đi đó, thấm thoát mà đã qua mười tám năm.

Mối thù năm xưa, ông đã trả từng món một.

Dẹp loạn non sông, trừ gian diệt tặc, rèn nên lưỡi đao sắc nhất thế gian không ai có thể bẻ gãy, cũng không còn ai lay chuyển được.

Lần này đi gặp cố nhân, ông không thẹn với lòng.

Về sau là pháp trường hay địa ngục, lòng ông đều chấp nhận.

Một đời công tội vinh nhục, để hậu nhân phán xét.

Khi cát bụi về với cát bụi, xương khô chẳng còn thốt lời, thì những điều ấy... chẳng còn liên quan gì đến ông nữa.
 
Trục Ngọc Quyển 2 (Edit)
Chương 234: Ngoại Truyện Làm Lại Từ Đầu


Tuyết lớn bay mù trời, gió rít lên từng hồi như tiếng quỷ khóc sói tru.

Ngụy Nghiêm nằm trên đống cỏ khô trong ngục, khẽ cười trong lòng.

Người già rồi hay nhớ chuyện cũ, tiếng gió ngoài thiên lao đêm nay lại khiến ông thoáng tưởng mình đang ở tây bắc năm nào.

Khi ấy, ông bị lão già nhà mình trói giải vào doanh trại Thích gia quân, cùng Tạ Lâm Sơn rong ruổi nơi biên ải phương bắc, tất cả đều là chuyện của bao nhiêu năm trước.

Chỉ là... khi đó thật sự rất tốt.

Thích lão Đại Tướng quân còn khỏe mạnh, Dung Âm chưa nhập cung, Lâm Sơn và Thái Tử cũng chưa chết ở Cẩm Châu...

Nửa đời khoái chí của ông, đều nằm trọn trong quãng thời gian ấy.

Mi mắt dần trĩu xuống, Ngụy Nghiêm cứ mặc cho bản thân chìm vào giấc ngủ giữa tiếng gió tuyết gào thét từng hồi.

Trong cơn mơ màng, dường như có người tiến lại gần, khoác thứ gì đó lên người ông, che bớt cơn gió lạnh tưởng chừng có thể lột cả da thịt.

Ngụy Nghiêm thầm nghĩ: chẳng lẽ là ngục tốt trong thiên lao?

Nhưng ông chỉ là một kẻ mang tội, ngục tốt nào lại rảnh tay thêm áo đắp chăn cho ông.

Hay là được Đào Thái phó hoặc Chinh Nhi ngầm sai bảo?

Đang miên man suy nghĩ, người khoác áo cho ông lại không rời đi, còn do dự đưa tay ra, như muốn chạm vào ông.

Ngụy Nghiêm mơ hồ ngửi thấy một mùi hương nhè nhẹ, tựa hoa lan u, lại phảng phất như hoa sơn trà.

Cảnh giác được hun đúc qua bao năm đi trên băng mỏng khiến ông gần như theo bản năng giơ tay chộp lấy cổ tay kia, đôi mắt phượng lạnh lẽo bỗng bật mở.

Trước mắt ông hiện ra một người mà chỉ trong những giấc mộng khuya mới có thể gặp lại.

Nữ nhân khoác áo bông thêu ngàn cánh sen màu trắng lê, vai thanh mảnh, eo thon gọn, dung mạo tựa bức họa sơn thủy cuộn tròn.

Cổ tay nàng vẫn bị ông nắm chặt, trên gương mặt trắng nõn nửa là hoảng hốt, nửa là ngượng ngùng vì bị bắt gặp, nàng cắn nhẹ môi dưới, nhỏ giọng: "Ta thấy tam ca ngủ ở đây, nên mang áo choàng tới......"

Ngụy Nghiêm có một người huynh trưởng chết yểu, phía trên còn một thứ huynh, trong nhà hắn xếp hàng thứ ba.

Ngụy gia và Thích gia giao tình tốt, Thích Dung Âm từ nhỏ đã gọi ông là tam ca.

Ông lặng lẽ nhìn nàng rất lâu, rồi mới chậm rãi lên tiếng: "Đã nhiều năm rồi muội không vào mộng gặp ta.

Tối nay biết ta sắp chết, nên đặc biệt đến thăm sao?"

Thích Dung Âm khẽ nhíu mày, mặc kệ cổ tay bị Ngụy Nghiêm nắm chặt đến đỏ lên, nàng dùng chút sức, đặt bàn tay mềm mại lên trán hắn, lẩm bẩm: "Tam ca nói mê sảng gì vậy?

Chẳng lẽ nhiễm phong hàn rồi, đầu có nóng không?"

Lòng bàn tay vừa chạm da, nóng rực đến giật mình.

Sắc mặt Thích Dung Âm lập tức thay đổi, quay sang gọi hộ vệ đứng canh ở góc tường thành: "Lãm Nguyệt, mau gọi quân y!

Tam ca bị phong hàn rồi!"

Ngụy Nghiêm ngước mắt, trông thấy bầu trời đầy sao, cùng lá cờ trên thành lâu được ánh lửa từ chậu than hắt sáng, chữ "Thích" hiện rõ ràng.

Đến lúc này ông mới phát hiện mình đang tựa vào chân tường thành mà ngủ, xung quanh còn không ít tướng sĩ ôm đao kích chợp mắt, máu trên mặt và trên người vẫn chưa khô hẳn, rõ ràng vừa trải qua một trận ác chiến.

Ông chỉ cảm thấy giấc mộng này quá chân thực, giống hệt những gì từng trải qua năm ấy nơi đất bắc.

Thích Dung Âm vừa định đứng dậy, đã bị Ngụy Nghiêm kéo chặt tay lại.

Nàng khó hiểu nhìn người vừa tỉnh dậy đã có phần khác lạ, nhẹ giọng hỏi: "Tam ca?"

Ngụy Nghiêm chậm rãi, chừng chừ: "Đừng đi.

Để ta nhìn nàng thêm một chút.

Mười tám năm rồi, mỗi lần nàng vào mộng gặp ta, đều chưa từng chịu nói chuyện với ta cho đàng hoàng..."

"Tam ca nói gì vậy?

Mười tám năm gì chứ?"

Trong mắt Thích Dung Âm đầy vẻ nghi hoặc, nhưng giọng vẫn dịu dàng trấn an "Ta không đi đâu.

Ta chỉ đi múc nước, lau mặt cho tam ca thôi."

Vì nhiễm phong hàn, đầu Ngụy Nghiêm lúc này đau nhói từng hồi, ông giơ tay còn lại ấn lên thái dương.

Thấy vậy, Thích Dung Âm rút tay khỏi tay ông, xoay người bước xuống thành lâu đi múc nước.

Ánh mắt Ngụy Nghiêm vô thức dõi theo nàng, sợ nàng vừa rời đi liền tan biến.

Bên cạnh, một vị tướng quân mặt mày lấm máu và bụi đất đang chợp mắt bỗng mở mắt cười: "Ngụy trung lang, e là chuyện tốt sắp đến rồi?"

Ngụy Nghiêm nhớ rõ khi còn ở Thích gia quân doanh, ông từng giữ chức trung lang tướng, trong quân không ít người quen gọi ông là "Ngụy trung lang".

Người trước mặt trông rất xa lạ, ông nheo mắt nhìn kỹ hồi lâu mới nhận ra, đối phương chính là vị Đô Hộ Sứ Thiểm Tây sau này.

Khi còn ở Thích gia quân doanh, ông và người này quả thật từng có tình nghĩa đồng đội.

Chỉ là về sau đã sớm đoạn tuyệt.

Thật kỳ lạ.

Mơ thấy Thích Dung Âm thì thôi, cớ sao lại còn mơ thấy cả người này?

Trong cơn mơ hồ, Ngụy Nghiêm dần nhận ra, giấc mộng đêm nay khác hẳn những lần trước.

Ông chống tay vào tường định ngồi dậy, lòng bàn tay bỗng truyền đến cơn đau nhói.

Cúi đầu nhìn xuống, mới phát hiện bàn tay mình đã quấn một vòng băng gạc thấm máu.

Khi nãy vừa mở mắt đã nhìn thấy Thích Dung Âm, tinh thần bị chiếm trọn, đến cả cơn đau trên tay cũng không hay biết.

Giờ đây ông siết nhẹ lòng bàn tay, cảm giác đau nhói dày đặc như kim châm lại truyền đến, khiến Ngụy Nghiêm rốt cuộc nhận ra có điều không ổn.

Trong mộng... cảm giác đau cũng rõ ràng đến vậy sao?

Thích Dung Âm bưng chậu nước, dẫn quân y lên thành lâu, giọng ôn hòa: "Ngụy tam ca sốt cao rồi.

Phụ thân và huynh ta còn đang truy kích địch chưa về, tam ca tuyệt đối không thể ngã bệnh lúc này.

Làm phiền quân y xem giúp."

Nghe đến đây, Ngụy Nghiêm không khỏi nhíu mày.

Thích lão Đại Tướng quân và Thích Tướng quân đều đang truy địch chưa về?

Trong ký ức của ông, chỉ có duy nhất một lần Thích lão Đại Tướng quân phán đoán sai quân tình, khiến phụ tử hai người cùng nhau đuổi theo tàn địch.

Cũng chính lần truy kích ấy, Thích gia phụ tử đều chết trận nơi sa mạc.

Quân y bắt mạch cho Ngụy Nghiêm, còn ông thì vẫn chìm trong mớ suy nghĩ hỗn loạn, nhất thời chưa thể hoàn hồn.

Chờ bắt mạch xong, quân y lấy từ túi châm bên người ra một cây ngân châm, giọng lẩm bẩm: "Trong thành, dược trị thương hàn đã sớm cạn sạch.

Trung lang sốt cao không lui, lão y chỉ có thể dùng phương pháp chích máu huyệt Thương Dương để tạm thời hạ nhiệt cho ngài."

Ngân châm đâm vào đầu ngón tay, cơn đau rõ ràng đến tận óc.

Quái thật... chẳng giống đang nằm mơ chút nào!

Một suy đoán dần hình thành trong lòng Ngụy Nghiêm, như lưỡi kiếm sắc xé toang màn sương mù trong đầu.

Một cơn mừng như điên ập đến, khiến tim ông run lên.

Ngay lúc quân y rút ngân châm, ông mặc kệ cơn đau nơi đầu ngón tay, siết chặt tay Thích Dung Âm.

Trong đôi mắt vốn luôn lạnh lẽo, lần đầu tiên ánh mắt lộ rõ vẻ mừng rỡ, ánh nước lấp lánh hiện ra: "Dung Âm...

Dung Âm... thật sự là muội..."

Lực tay ông quá mạnh, nắm đến mức xương tay nàng cũng thấy đau.

Hàng mày cong như núi xa của Thích Dung Âm khẽ cau lại: "Tất nhiên là ta rồi.

Tam ca rốt cuộc làm sao vậy?

Chỉ nghỉ trên thành lâu một lát, tỉnh lại liền toàn nói mê sảng..."

Thích gia là trụ cột nơi biên ải.

Lần này Bắc Quyết xâm phạm, Thích Dung Âm đích thân dẫn quân y đến cửa thành cứu chữa thương binh.

Ngụy Nghiêm bật cười, giọng cười đã khàn khàn, vừa chật vật vừa vui mừng.

Thích Dung Âm cùng các tướng sĩ trên thành lâu đều ngơ ngác nhìn nhau.

Chẳng bao lâu sau, Ngụy Nghiêm chống tường đứng dậy, trầm giọng nói với nàng: "Giờ ta không kịp giải thích nhiều.

Mau điểm ba nghìn tinh binh, theo ta ra khỏi thành!"

Nếu ông thật sự đã trùng sinh, thì đây chính là lúc Thích lão Đại Tướng quân và Thích Tướng quân thấy Vương Tử Bắc Quyết tháo chạy liền đuổi theo, muốn bắt sống đối phương, cuối cùng lại trúng mai phục, chết trong trận chiến nơi đại mạc!

Thích Dung Âm theo phụ thân và bào huynh chinh chiến nơi quan ngoại đã lâu, đối quân vụ cực kỳ nhạy bén, lập tức nhận ra điều bất ổn: "Phụ thân cùng huynh ta gặp nguy hiểm?"

Ngụy Nghiêm chịu đựng cơn đau đầu do ký ức hỗn loạn, không trả lời mà hỏi ngược lại: "Họ rời thành đã bao lâu?"

Thích Dung Âm đáp: "Đã hơn một canh giờ."

Sắc mặt Ngụy Nghiêm lập tức trầm hẳn xuống.

Chuyến đi này chưa chắc đã kịp xoay chuyển số mệnh phụ tử Thích gia, nhưng trời cao đã cho ông sống lại một lần, dù thế nào cũng phải liều mạng đánh cược.

Ông trầm giọng ra lệnh: "Điểm binh, chuẩn bị ngựa!"

Tim Thích Dung Âm đập loạn nhịp, như thể có điều gì đó đang trượt khỏi quỹ đạo vốn định sẵn.

Trên chiến trường, đôi khi chỉ cần sớm hơn mười lăm phút nửa khắc, cũng đủ quyết định thắng bại của một trận đánh.

Liên quan đến an nguy của phụ thân cùng bào huynh, nàng không dám hỏi thêm, vội sai phó tướng trấn thủ trong thành đi điểm số quân còn có thể chiến đấu.

Nhưng các tướng sĩ trong thành vừa trải qua ác chiến, tinh nhuệ đều đã theo phụ tử Thích gia truy địch.

Kể cả gom luôn những thương binh còn miễn cưỡng cầm được vũ khí, cũng chỉ vừa đủ ba nghìn người, mà phần lớn đều đã kiệt sức.

Chuyến bôn tập đường dài này, dù có kịp cứu viện phụ tử Thích gia, đối mặt với Bắc Quyết man di hung hãn như sói, rốt cuộc là cứu người hay tự đưa mình vào hiểm địa, còn chưa biết được.

Nhưng Ngụy Nghiêm nhớ rất rõ kiếp trước, vào lúc này Tạ Lâm Sơn đã nhận được tin Yến Châu bị vây, đang dẫn thiết kỵ Tạ gia từ Huy Châu gấp rút tiếp viện.

Đời trước, chính vì trận phong hàn này mà ông đổ bệnh.

Chờ Tạ Lâm Sơn dẫn quân đến nơi, nghe nói Yến Châu đã thắng, phụ tử Thích gia truy kích tàn địch, bắt sống Vương Tử Bắc Quyết.

Nhưng đợi mãi không thấy Thích lão Đại Tướng quân quay về, mới lần theo dấu vết đại quân vòng đường, cuối cùng tại sườn núi Mã Vương nhìn thấy cờ chữ "Thích" nhuốm máu cùng thi thể ngổn ngang.

Nơi Bắc Quyết bố trí mai phục chính là sườn núi Mã Vương.

Nếu ông hành quân hết tốc lực, có thể tiết kiệm rất nhiều thời gian dò dấu vó ngựa.

Chỉ cần kéo dài thêm được nửa khắc, rồi phái trinh sát tìm đến quân của Tạ Lâm Sơn, chờ thiết kỵ Tạ gia kéo tới, âm mưu của Bắc Quyết sẽ hoàn toàn thất bại.

Khi Ngụy Nghiêm thúc ngựa ra khỏi thành, ông gọi thân binh tới, sai người phi ngựa theo con đường từ Huy Châu đến Yến Châu, nhất định phải chặn được Tạ Lâm Sơn, bảo hắn lập tức chuyển hướng đến sườn núi Mã Vương.

Thân binh nghe lệnh, không nhịn được hỏi: "Chủ tử, sao ngài biết Tạ Tướng quân sẽ dẫn viện quân tới?"

Ngụy Nghiêm liếc mắt lạnh lẽo, người kia lập tức thấy sống lưng lạnh buốt, không dám hỏi thêm, vội ôm quyền: "Thuộc hạ lập tức đi truyền tin!"

Nói xong liền vỗ mạnh mông ngựa, phóng thẳng về hướng yếu đạo Huy Châu.

Ngụy Nghiêm giữ cương, chợt thất thần trong chốc lát.

Phải rồi trước thảm án Cẩm Châu, những người bên cạnh ông vẫn còn dám nói chuyện tùy tiện như vậy.

Về sau, những người đi theo ông đều chết sạch.

Người được tuyển đến sau này, không ai còn dám nói với ông nửa câu dư thừa.

Nghĩ nhiều chỉ thêm đắng lòng.

Ngụy Nghiêm thu lại tâm trí, đang định ra lệnh xuất phát, thì nghe từ cửa thành vọng đến một tiếng gọi gấp gáp: "Tam ca!"

Ông ghìm ngựa quay đầu, liền thấy Thích Dung Âm khoác áo hồ ly trắng, giẫm lên tuyết bùn chạy như bay về phía mình.

Chạy gấp quá, hai má nàng bị gió thổi đỏ hồng.

Ngụy Nghiêm kéo mạnh dây cương, quay ngựa lao về phía nàng.

Chiến mã bị ghìm lại khi còn cách nàng năm bước, vó trước dựng cao, hất tung một mảng tuyết vụn.

Thích Dung Âm đưa cho ông một sợi dây đeo có treo bùa bình an: "Tam ca, mang theo bùa này đi.

Nhất định phải bình an trở về!"

Nàng không biết vì sao tam ca đột ngột điều binh rời thành, nhưng nàng cảm nhận rất rõ chuyến đi này vô cùng hung hiểm.

Ngụy Nghiêm cúi người nhận bùa, đồng thời nắm chặt bàn tay lạnh đỏ vì tuyết của nàng.

Trên mặt ông vẫn còn vết máu từ trận chiến trước, ánh mắt nhìn nàng sâu thẳm, pha lẫn đau đớn và bi thương mà nàng không sao hiểu được: "Dung Âm, chờ đánh xong trận này... chúng ta thành thân được không?"

Thiếu nữ vừa tròn đôi tám đứng sững tại chỗ, rất lâu sau mới cong môi cười, đáp khẽ: "Được."

Gió thổi tạt lên gương mặt nàng, cái lạnh khiến hai má ửng hồng, vừa che đi ngượng ngùng.

Ngụy Nghiêm siết chặt tay nàng thêm lần nữa, rồi mới nắm lấy bùa bình an.

Ông giật cương quay đầu ngựa, cất giọng quát lớn: "Tiến thẳng đến sườn núi Mã Vương, hành quân hết tốc lực!"

Hộ vệ bung dù giấy che cho Thích Dung Âm, chắn những bông tuyết lớn như lông ngỗng đang bay mịt trời, nhẹ giọng khuyên: "Tiểu thư, về thành trước đi."

Thích Dung Âm đặt bàn tay trắng nõn lên ngực mình, nhìn theo bóng Ngụy Nghiêm dẫn ba nghìn tàn quân trong thành dần khuất xa.

Giữa hàng mày nàng vương lên nét lo lắng: "Lãm Nguyệt, không hiểu vì sao, từ lúc tam ca nói muốn điểm binh ra khỏi thành, tim ta cứ bồn chồn không yên.

Tam ca tỉnh lại liền khác lạ hẳn... huynh ấy nhất định đang giấu ta chuyện gì đó."

-.-

Đại quân vừa tới gần sườn núi Mã Vương, đã thấy xác chết ngổn ngang khắp nơi.

Các tướng sĩ theo sau nhìn cảnh tượng rõ ràng vừa trải qua một trận ác chiến, ai nấy đều sững sờ.

Đội quân truy kích đã rơi vào phục kích sao?

Ngụy Nghiêm nhìn thấy cảnh này, máu trong người như đông cứng lại.

Nhưng mười mấy năm ở vị trí cao đã rèn cho ông sự trấn tĩnh, trên mặt không lộ cảm xúc, chỉ trầm giọng ra lệnh: "Tìm soái kỳ!"

Thuộc hạ vội vàng tỏa ra khắp chiến trường đầy tử thi để tìm kiếm.

Chốc lát sau quay lại bẩm báo: "Trung lang, không thấy soái kỳ Thích gia!

Cũng không tìm thấy Đại Tướng quân và Tướng quân!"

Tảng đá nặng đè trong ngực Ngụy Nghiêm lập tức nhẹ đi không ít.

Soái kỳ không ở đây, phụ tử Thích gia cũng không ở đây, nghĩa là bọn họ rất có thể vẫn còn sống.

Chỉ e là sau khi phá vòng vây, lại tiếp tục bị Bắc Quyết bám theo.

Ông trầm giọng quát: "Toàn bộ trinh sát, tìm quanh chiến trường, dò dấu vó ngựa bỏ chạy!"

Trinh sát trong quân lập tức phi ngựa tản ra điều tra.

Rất nhanh, một trinh sát cưỡi ngựa lao về: "Trung lang, phía bên kia núi có dấu vó ngựa hỗn loạn!"

Ngụy Nghiêm ghì mạnh bụng ngựa, gương mặt lạnh lẽo đến mức dữ tợn: "Đuổi theo!"

Vượt qua một dải sườn dốc, từ phía bên kia núi đã mơ hồ vang lên tiếng chém giết rung trời.

Đại quân tăng tốc vượt đỉnh núi.

Ngụy Nghiêm đứng trên sườn cao nhìn xuống, thấy quân Thích gia đang bị Bắc Quyết không ngừng thu hẹp vòng vây, liều chết chống đỡ.

Đại quân khi xuất thành vốn có hơn vạn người, giờ đây nhìn lại, chỉ còn lại vài trăm.

Quân kỳ chữ "Thích" được bảo vệ ở trung tâm, vẫn sừng sững chưa ngã.

Nhưng quân Bắc Quyết cưỡi ngựa bao quanh theo thế trận Thái Cực, vừa chạy vòng vừa mượn đà ngựa chém giết, từng tầng từng tầng giết sạch những tướng sĩ bảo vệ bên ngoài.

Bị dồn đến mức này, Thích gia quân đã kiệt sức, lại biết không còn đường sống, gần như không còn khả năng phản kích, mặc cho đối phương tàn sát.

Phó Tướng đứng bên nóng ruột như lửa đốt, vội nói với Ngụy Nghiêm: "Trung lang, mau đi cứu Đại Tướng quân bọn họ!"

Ngụy Nghiêm cắn chặt hàm răng, ánh mắt khóa chặt đội quân Bắc Quyết đang dần khép vòng vây phía dưới, quát lớn: "Điều chỉnh quân trận!

Ba nghìn người này, chiếm hết toàn bộ đỉnh núi phía trước cho ta!

Phía sau rừng cây, cắm kín quân kỳ!

Toàn bộ trống trận, bày ra!"

Ba nghìn tàn quân này nếu xông thẳng xuống, chỉ là tự tìm cái chết.

Chỉ có cách tạo thanh thế, dọa lui tinh thần quân Bắc Quyết, mới còn chút cơ hội.

Phó Tướng nghe lệnh, lập tức chạy đi bố trí.

Thấy trống trận đã được dựng xong, Ngụy Nghiêm lại ra lệnh: "Thổi giác!"*

*Giác (角): một loại kèn thuộc nhạc cụ, thường được làm từ sừng thú (như sừng trâu) hoặc gỗ, sau này được làm bằng đồng, thường dùng trong chiến trận bên cạnh trống, chiên, kẻng, để tạo thanh thế.

Trong tiếng Hán, chữ "Giác" vốn có nghĩa là sừng, do hình dáng của kèn giống như chiếc sừng.

Tên lính đeo thú giác bằng đồng bên hông lập tức nâng giác, hít sâu rồi thổi: "Ô —— Ô ——"

Tiếng giác trầm hùng, vang dội, lập tức lan khắp chiến trường phía dưới.

May mà địa thế nơi khe núi này giống như chiếc hộp âm đàn trống, tiếng giác bị gió bắc cuốn đi, dội lại từ bốn phương tám hướng, như thể viện quân trùng trùng kéo tới.

Quân Bắc Quyết đang thu hẹp vòng vây cũng chững lại, đồng loạt quay đầu nhìn lên sườn núi.

"Nổi trống!"

Ngụy Nghiêm lại gầm lên.

Tên lính đứng trước trống lớn cao ngang người lập tức vung dùi giáng mạnh.

"Đông —"

"Thùng thùng "

Tiếng trống dày nặng, như sấm rền giáng xuống mặt đất.

Quân trận Bắc Quyết phía dưới rõ ràng xôn xao.

Chỉ nhìn thoáng qua, cả sườn núi dường như đều là viện quân Đại Dận, sau rừng cây quân kỳ san sát, không biết có bao nhiêu binh mã kéo tới, khiến Bắc Quyết quân không khỏi chấn động.

Thanh thế đã tạo đủ.

Giờ chỉ còn một con đường.

Tử chiến.

Ngụy Nghiêm siết mạnh bụng ngựa, dẫn đầu lao xuống sườn núi.

Trong tay ông là thanh đao Yển Nguyệt bằng tinh thiết, chém rách gió lạnh tái bắc, tiếng thét xé trời: "Giết—!"

Ba nghìn binh sĩ phía sau theo sát, từ sườn núi Mã Vương phóng ngựa lao xuống.

Ba nghìn người không thể tạo ra thế rung trời như thiên quân vạn mã, nhưng có tiếng trống như sấm làm yểm hộ, cũng đủ khiến không ít quân Bắc Quyết kinh hồn bạt vía.

Nhờ phần tiên cơ ấy, Ngụy Nghiêm nhanh chóng xé toạc vòng vây Bắc Quyết, tạo một lỗ hổng.

Chỉ là ba nghìn binh mã đã kiệt sức, sát thương tạo ra vô cùng hạn chế.

Chiêu hư trương thanh thế tuy đánh Bắc Quyết trở tay không kịp, nhưng khi tướng lĩnh Bắc Quyết nhận ra quân số viện binh không nhiều như tưởng tượng, lập tức điều chỉnh trận hình.

Đội quân ban đầu bị đánh tan rút về phía sau, hai cánh tả hữu hợp lại từ hai bên, toan tính bao vây cả đội viện binh vừa xuất hiện, vùi chết họ trong vòng vây mới.

Phó Tướng nhìn ra ý đồ của Bắc Quyết, trong lúc giao chiến ác liệt liền nói gấp với Ngụy Nghiêm: "Trung lang, đám mọi rợ này định phong tỏa luôn chúng ta trong này!"

Ở phía xa, quân Thích gia bị Bắc Quyết vây siết chặt, cũng có người khàn giọng hét lớn: "Ngụy trung lang!

Đại tướng quân có lệnh, bảo ngài dẫn viện quân rút lui!"

Ngụy Nghiêm vung đao, chém ngã một tiểu tướng Bắc Quyết chặn đường, ánh mắt lóe lên tia sắc lạnh, tiếp tục liều chết xông về phía trước.

Phó tướng nghiến răng khuyên: "Ngụy trung lang, rút đi!

Đừng để cảm xúc chi phối!

Giữ lại mạng cho những huynh đệ này, sau này còn lo gì không bắt Bắc Quyết trả món nợ máu này?

Đợi chúng khép kín hết chỗ hở, thì chúng ta chỉ còn đường chết!"

Ngụy Nghiêm đã giết đến đỏ mắt, quay đầu gào lên với Phó Tướng: "Có viện quân!

Cố thêm một khắc nữa!"

Phó Tướng sững người.

Ngụy Thích hai nhà là thế gia, quan hệ sâu dày, hắn ta chỉ cho rằng Ngụy Nghiêm vì muốn cứu Thích lão Đại Tướng quân nên mới bịa ra lời này, trong lòng gấp đến mức suýt mắng người.

Ngay lúc ấy, mặt đất dưới vó ngựa lại rung lên, đá vụn khắp núi bật tung, lần này thực sự là long trời lở đất.

Tiếng trống trầm hùng từ phía sau vang tới, hòa cùng tiếng gào như dời non lấp biển: "Giết—!"

Chỉ một tiếng hô đã đủ làm tai người đau nhói.

Phó Tướng kinh hãi ngoái đầu nhìn lại, liền thấy một đội hắc thiết kỵ mênh mông cuồn cuộn, như nước lũ vỡ đê, từ sườn núi Mã Vương lao thẳng xuống.

Giữa trời tuyết mênh mang, một lá đại kỳ chữ "Tạ" phấp phới trong gió, theo dòng hắc thiết kỵ cuồn cuộn tiến tới.

Người dẫn đầu là một vị tướng quân trẻ tuổi cưỡi bạch mã, giáp bạc sáng lóa, dung mạo như thần, khí thế tựa Tu La.

Áo choàng đỏ tươi sau lưng tung bay trong gió lạnh, chấn động lòng người.

Quân Bắc Quyết dưới chân núi còn đang định thu hẹp vòng vây, nghe tiếng chém giết gầm rú phía sau liền quay đầu lại.

Vừa trông thấy cảnh tượng ấy, ai nấy đều sợ đến run rẩy, chưa kịp chỉnh đốn đội hình nghênh chiến thì đã bị mũi nhọn thiết kỵ Tạ gia từ trên núi đâm thẳng xuống, xé toạc toàn bộ trận tuyến.

Quân Thích gia bị vây ở trung tâm, đã kiệt quệ cả tinh thần lẫn thể lực, nhìn thấy lá cờ chữ "Tạ" thì mừng đến rơi nước mắt: "Thiết kỵ Tạ gia!

Là Tạ Tướng quân dẫn viện quân tới!"

Không biết ai là người hét lên đầu tiên.

Dù hai tay đã tê rã vì cầm đao chém giết quá lâu, vẫn cố gắng giơ binh khí, tiếp tục chiến đấu, vừa đánh vừa dần dần di chuyển về phía viện quân.

Ngụy Nghiêm nhìn thấy quân kỳ Tạ gia, tảng đá lớn đè nặng trong lòng cuối cùng cũng rơi xuống.

Sốt cao lại trải qua mấy trận đại chiến, thân thể đã kiệt sức đến cực hạn, choáng váng trong khoảnh khắc.

Phó Tướng kinh ngạc hỏi: "Trung lang, sao ngài biết Tạ Tướng quân dẫn quân ở phía sau?"

Ngụy Nghiêm không đáp, chỉ xách đao tiếp tục xông vào vòng vây quân Thích gia.

Khi hai cánh quân hội hợp, liếc mắt đã thấy Thích lão Đại Tướng quân được thân binh bảo vệ ở trung tâm.

Lão dùng tay che eo bụng, mu bàn tay đã nhuốm đầy máu tươi.

Rõ ràng là trọng thương.

Ngụy Nghiêm tim thắt lại, thúc ngựa tiến lên, gọi lớn: "Đại tướng quân!"

Thích lão Đại Tướng quân râu tóc bạc phơ, dáng vẻ uy nghi, nhưng lúc này môi đã trắng bệch, phải nhờ trưởng tử đỡ mới đứng vững.

Nhìn thấy người tới là Ngụy Nghiêm, sắc mặt lão dịu đi đôi chút, sững lại một giây rồi nói: "Ngươi... cùng Lâm Sơn đến rồi."

Ngụy Nghiêm nhảy xuống ngựa, nhìn vết thương đang không ngừng chảy máu nơi eo bụng Thích lão Đại Tướng quân, cuối cùng không kìm được vẻ đau đớn hiện rõ trên mặt, hốc mắt cũng cay xè: "Người... sao lại bị thương nặng thế này?"

Với Ngụy Nghiêm mà nói, Thích lão tướng quân vừa là thầy, vừa như cha.

Đời trước, cũng chính vì một câu nói vô ý của mình, khiến lão Hoàng Đế vốn đã kiêng kỵ Thích gia nổi sát tâm.

Để chặt đứt cánh tay Thái Tử, ông ta ra tay trước với Thích gia.

Mãi đến khi Bắc Quyết lần nữa tấn công Cẩm Châu, lão Hoàng Đế bất đắc dĩ phải giao binh quyền Thích gia cho Tạ Lâm Sơn, bọn họ mới dần tra ra cái chết của phụ tử Thích gia cũng là do lão Hoàng Đế gây nên.

Lại một lần nữa... vẫn không cứu được Thích gia quân sao?

Trưởng tử Thích gia là Thích Hiến Hồn đỡ phụ thân, hai mắt đỏ ngầu: "Mối thù Từ Sách đâm phụ thân một kiếm, dù tên chó đẻ đó có ngã ngựa bị giẫm chết giữa loạn vó, thì ta cũng không nuốt trôi mối thù này!"

Ngụy Nghiêm đột ngột ngẩng đầu: "Là Từ Sách làm Đại Tướng quân bị thương?"

Thích Hiến Hồn nghiến răng: "Chính tên chó đẻ phản tặc đó đánh lén phụ thân!"

Hắn ta nhìn sắc mặt Thích lão Đại Tướng quân dần xám lại vì mất máu quá nhiều, giận đến môi run rẩy, quay mặt đi chỗ khác để cố nén nước mắt.

Kiếp trước, Ngụy Nghiêm chỉ điều tra ra rằng Từ Sách cấu kết với lão Hoàng Đế, bịa đặt quân tình, trong lúc biết rõ Bắc Quyết có phục binh vẫn dụ phụ tử Thích gia truy kích.

Nhưng không ngờ, vết thương chí mạng trên người Thích lão Đại Tướng quân cũng là do chính Từ Sách gây ra.

Cơn giận cuộn trào khiến máu trong người sôi sục, nhưng Ngụy Nghiêm vẫn cố ép mình bình tĩnh: "Trước hết về thành Yến Châu.

Thương thế của Đại Tướng quân cần được trị liệu ngay."

Quân Bắc Quyết cũng biết tiến thoái đúng lúc.

Thấy viện quân Đại Dận đã tới, thiết kỵ Tạ gia lại quá sắc bén, biết không thể vây giết Thích gia quân, liền lập tức thu binh rút lui.

-.-

Tạ Lâm Sơn khoác bộ huyết giáp đi tới, vừa thấy sắc mặt Thích lão Đại Tướng quân như đất xám, thần sắc cũng biến đổi: "Đại Tướng quân... bị thương rồi sao?"

Ngụy Nghiêm ngẩng mắt nhìn vị tướng quân trẻ tuổi khí phách sáng ngời kia.

Gió bắc thổi tung bạch mao, làm mắt cay rát, hiện lên chút đỏ hoe.

Ngụy Nghiêm gọi khẽ: "Lâm Sơn?"

Mười tám năm, đông hàn rồi xuân ấm, con người đổi thay.

Ngụy Nghiêm gần như đã không nhớ rõ dung mạo bằng hữu cũ năm xưa, chỉ nhớ thi thể được đưa từ Yến Châu về, khắp người đầy vết đao rìu, lỗ tên đã thâm đen, ngực bụng bị mổ ra rồi khâu lại bằng kim chỉ...

Ngay cả Thích lão Đại Tướng quân cũng từng tiếc nuối mà nói, người này nếu rèn giũa thêm vài năm, thành tựu chắc chắn sẽ vượt qua lão.

Vậy mà cuối cùng lại rơi vào kết cục thê thảm như thế.

Giờ đây, quả thực là cách một đời người mới gặp lại.

Tạ Lâm Sơn thấy mắt Ngụy Nghiêm đỏ lên, cho rằng bằng hữu lo lắng cho Thích lão Đại Tướng quân, liền hỏi: "Dĩ Khuê, Đại Tướng quân bị ai gây thương tích?"

Ngụy Nghiêm gắng thu lại tâm trạng, đáp: "Trong quân Thích gia có phản tặc.

Chuyện này nói ra thì dài, mà thương thế của Đại Tướng quân không thể chậm trễ, về thành rồi hãy nói."

Tạ Lâm Sơn hiểu rõ tình thế liền gật đầu.

-.-

Khi Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn hộ tống tàn quân Thích gia trở về thành Yến Châu, trời đã ngả hoàng hôn.

Trên thành lâu, Thích Dung Âm thấy đại quân khải hoàn liền chạy vội xuống.

Vừa nhìn thấy huynh trưởng mặt mũi đầy máu, lại thấy phụ thân được thân binh dùng cành cây và dây mây kết thành cáng khiêng về, sắc mặt nàng lập tức trắng bệch.

Nàng chạy tới, cố giữ bình tĩnh hỏi: "Phụ thân sao rồi?"

Cổ họng Thích Hiến Hồn nghẹn lại, đối diện với bào muội cũng không nói nổi một lời an ủi, chỉ quay mặt đi chỗ khác, cố kìm bi thương.

Vẫn là Ngụy Nghiêm lên tiếng: "Đại Tướng quân bị phản tặc Từ Sách gây thương tích.

Trước để quân y xem xét."

Mọi người đưa Thích lão Đại Tướng quân vào phủ Thành chủ.

Khi quân y tiến hành trị thương, Thích Dung Âm và huynh trưởng một bước cũng không rời, túc trực bên giường.

Gia nhân bưng nước vào, chẳng bao lâu lại bưng từng chậu nước nhuốm máu đi ra.

Không ai nói một lời, không khí trong phòng nặng nề đến ngột ngạt.

Ai cũng hiểu, thương thế của Thích lão Đại Tướng quân không mấy lạc quan.

Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn khoanh tay đứng ngoài cửa.

Tạ Lâm Sơn liếc nhìn huynh muội Thích gia trong phòng, rồi nói với Ngụy Nghiêm: "Dĩ Khuê, có thể mượn một khắc nói chuyện không?"

Ngụy Nghiêm hiểu Tạ Lâm Sơn muốn hỏi gì, gật đầu theo hắn rời đi.

Đến chỗ yên tĩnh, Tạ Lâm Sơn đi thẳng vào vấn đề: "Dĩ Khuê, sao huynh biết ta sẽ dẫn quân tới Yến Châu?

Lại biết Bắc Quyết phục kích Đại Tướng quân ở sườn núi Mã Vương?

Khi về thành, ta đã cho trinh sát dò lại địa hình, Đại Tướng quân là bị Bắc Quyết dẫn đi một vòng rất lớn mới tới đó."

Trận cứu viện lần này tuy kịp thời, nhưng Tạ Lâm Sơn rất rõ, nếu không phải Ngụy Nghiêm sớm sai người báo tin, để hắn trực tiếp kéo quân tới sườn núi Mã Vương, thì dù lần theo dấu hành quân tìm kiếm, cũng tuyệt đối không kịp.

Ngụy Nghiêm nhìn bằng hữu cũ, trong mắt lướt qua bao cảm xúc khó gọi tên.

Cuối cùng chỉ nói: "Lâm Sơn, huynh biết ta xưa nay không tin quỷ thần.

Nhưng trên người ta... quả thực đã xảy ra chuyện không thể giải thích.

Ta chỉ là sau một trận ác chiến, mệt quá mà chợp mắt trên thành lâu một lát, vậy mà như cưỡi ngựa xem hoa, nhìn thấy hết nửa đời sau.

Hôm nay phụ tử Thích lão Đại Tướng quân lâm vào hiểm cảnh... thật sự chỉ là do một mình Từ Sách mưu tính sao?"

Tạ Lâm Sơn nghe ra hàm ý trong lời nói, ánh mắt thoáng lạnh đi: "Là do Giả gia?"

Giả Quý Phi đang lúc được sủng ái nhất, Giả gia theo đó mà phất lên.

Thập Lục Hoàng Tử có ý tranh ngôi với Thái Tử, Giả gia và Thích gia trong tối ngoài sáng đối đầu đã không phải chuyện một ngày hai ngày.

Ngụy Nghiêm lại lắc đầu.

Cách hai đời người, rốt cuộc cũng đem nỗi day dứt dằn vặt mình hơn nửa đời nói ra với cố nhân: "Là do câu 'nhường ngôi' của ta... truyền đến tai bệ hạ."

Đồng tử Tạ Lâm Sơn co rút lại, lập tức quay sang nhìn Ngụy Nghiêm: "Người muốn Thích gia chết... là bệ hạ?"

Ngụy Nghiêm nhắm mắt, giọng trầm hẳn xuống: "Thích gia nắm trọng binh.

Trong cung, người kia vốn đã kiêng kỵ Thái Tử, lại thêm có người ở Đông Cung tiết lộ câu 'nhường ngôi' của ta.

Muốn đối phó Thái Tử, việc đầu tiên phải trừ bỏ, chính là Thích gia.

Không còn binh quyền, dù Thái Tử có danh vọng cao đến đâu, rốt cuộc cũng chỉ là một Thái Tử mà thôi."

Tạ Lâm Sơn nghe xong liền trầm mặc, sắc mặt nghiêm nghị đến mức khiến người ta thấy lạnh sống lưng.

Ngụy Nghiêm tiếp lời: "Nếu mọi chuyện đúng như những gì ta đã thấy trong mộng, thì việc Thích gia chết trận chỉ mới là khởi đầu.

Đợi đến ngày Thái Tử tra ra chân tướng, Thái Tử, Tạ gia, cả Ngụy Nghiêm ta...

đều sẽ bị kẻ ngồi trên long ỷ kia, một tay nhổ sạch."

Tạ Lâm Sơn cau mày: "Thái Tử từ khi được lập đến nay vẫn luôn nhân hậu, khoan dung.

Dù nhiều lần bị Thập Lục Hoàng Tử và Giả gia chèn ép, cũng chưa từng làm chuyện vượt khuôn.

Cho dù câu nói lỗ mãng của huynh truyền vào cung khiến bệ hạ sinh nghi, thì lão ta lấy cớ gì để một tay vặn ngã Đông Cung cùng Ngụy, Tạ hai nhà ta?"

Liên tưởng đến những gì lão Hoàng Đế đã làm với Thích gia, sắc mặt Tạ Lâm Sơn lạnh hẳn: "Hay là... gán cho Thái Tử tội mưu nghịch?"

Từ xưa đến nay, chỉ có tội mưu nghịch mới đủ để diệt trừ hoàn toàn thế lực của một vị trữ quân.

Ngụy Nghiêm cười khổ: "Còn tàn nhẫn hơn lời huynh nói."

Tạ Lâm Sơn sững người, nhất thời không nghĩ ra còn tội danh nào lớn hơn mưu nghịch.

Ngụy Nghiêm chậm rãi nói: "Không bao lâu nữa, Bắc Quyết sẽ tái đánh Cẩm Châu.

Thích gia không còn người cầm quân, huynh thay Thích gia trấn thủ Cẩm Châu, kẻ ngồi trên long ỷ kia bất đắc dĩ phải giao binh quyền Thích gia cho huynh.

Thích Hoàng Hậu lâm bệnh nặng, lo sợ mình không qua khỏi, Thích gia từ đó mất hẳn thế lực trong hậu cung.

Thái Tử thế cô lực mỏng, một mình chống đỡ không nổi, đành triệu Dung Âm vào cung."

"Thập Lục Hoàng Tử ghen ghét danh vọng của Thái Tử trong dân gian, xúi giục bá tánh xây đền từ cho Thái Tử.

Kẻ kia liền mượn chuyện này làm cớ, phát tác lên Thái Tử, tước luôn quyền giám quốc."

"Thái Tử để tìm đường sống, tự xin bắc thượng thân chinh.

Trong quân Thích gia, điện hạ tra ra được chân tướng cái chết của phụ tử Thích gia.

Kẻ kia chó cùng rứt giậu, vì che giấu tội ác của mình, bày kế giữ chân viện quân và lương thảo.

Cuối cùng Cẩm Châu thất thủ, huynh và điện hạ đều chết dưới đao Bắc Nhung.

Còn tội đưa lương chậm trễ, tội mất thành... tất cả đều bị đổ lên đầu ta."

Tạ Lâm Sơn nghe đến mức da đầu tê dại, quát lên: "Hoang đường!".

Im lặng một lúc, mới trầm giọng hỏi tiếp: "Có chứng cứ không?

Chứng cứ cho thấy Từ Sách chịu sự sai khiến ở trong cung."

Ngụy Nghiêm đáp: "Từ Sách đã chết ngoài chiến trường.

Nhưng năm nay kỳ thi mùa xuân, nhi tử hắn lọt vào hạng mười bảng giáp.

Nhi tử Từ Sách vốn không phải là đứa có tài.

Nếu Lâm Sơn có lòng, chỉ cần xem những bài thơ văn nó từng viết, sẽ biết rõ học vấn tên này sâu hay cạn."

Lão Hoàng Đế hành sự kín kẽ.

Đời trước, Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn cũng không thể dễ dàng tra ra manh mối từ Từ Sách.

Dù sao thì Từ Sách cùng phụ tử Thích gia và hơn vạn tướng sĩ ngày hôm đó đều chết trong ổ phục kích của Bắc Quyết, lại còn được truy phong danh hiệu trung liệt.

Mãi về sau, Thái Tử bị lão Hoàng Đế chèn ép đến mức không còn đường lui, tự xin tới Cẩm Châu.

Những người trấn thủ kinh thành của Đông Cung dần mất thánh tâm, buộc phải tìm cách móc nối lại vài vị thuần thần trong triều để làm "tai mắt" ở kinh thành.

Khi đó, họ mới để ý đến nhi tử Từ Sách.

Thi đỗ hạng mười bảng giáp, ở đâu cũng được xem là nhân vật có tên tuổi.

Lúc ấy, nhi tử Từ Sách tuy chỉ là Hàn Lâm Viện biên tu, nhưng nếu có chí tiến thủ, tương lai không thiếu cơ hội thăng tiến.

Lại thêm thân phận con của một vị trung tướng Thích gia, họ cho rằng người này là lựa chọn thích hợp.

Không ngờ khi tra kỹ, mới phát hiện tài học người này bình thường, hoàn toàn không xứng với thứ hạng ấy.

Lần theo manh mối đó, họ mới lần ra chân tướng cái chết của phụ tử Thích gia.

-.-

Còn một tháng nữa mới tới ngày niêm yết bảng thi mùa xuân.

Sau khi bàn bạc, Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn tạm thời giấu chuyện này với Thích Hiến Hồn, người có tính nóng như lửa.

Thích lão Đại Tướng quân bị thương nặng, tuy giữ được mạng nhưng từ nay không thể cầm binh động võ.

Lo sợ khiến lão càng thêm lạnh lòng, lại chưa có chứng cứ xác thực, trước khi mọi việc ngã ngũ, hai người cũng chưa nói cho lão biết.

Nhưng việc điều tra nhi tử Từ Sách đã âm thầm bắt đầu.

Đến ngày yết bảng, thánh chỉ triệu họ vào kinh cũng theo đó ban xuống.

Thích lão Đại Tướng quân vì mang thương tích, không thể đi xa, liền để trưởng tử Thích Hiến Hồn thay mình vào kinh.

Biết mình đã già, lão còn giao cả hổ phù cho con trai, bảo hắn ta thay mình nộp lại cho Hoàng Đế.

Lão Hoàng Đế năm xưa ngồi được lên ngôi, hoàn toàn nhờ vào binh quyền Thích gia.

Nay dù Thích lão Đại Tướng quân không thể ra chiến trường, nhưng Thích Hiến Hồn vẫn còn đứng đó.

Nếu thật sự thu lại hổ phù, chẳng khác nào để toàn bộ triều thần nhìn rõ ý đồ vắt chanh bỏ vỏ.

Lão Hoàng Đế sẽ không nóng vội đến mức tự làm mất lòng người.

Vì thế, hổ phù hơn phân nửa vẫn sẽ nằm trong tay Thích Hiến Hồn.

-.-

Ba người vào kinh, Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn thường xuyên kết bạn ra vào các tửu lâu, khiến Thích Hiến Hồn vô cùng khó chịu.

Trước kia ở trong quân, ba người là huynh đệ thân thiết.

Vậy mà về kinh chưa bao lâu, bỗng nhiên lại có phân biệt thân sơ, đến uống rượu cũng không gọi hắn ta?

Thích Hiến Hồn bực bội mấy ngày liền, nhưng hai người kia dường như chẳng hề nhận ra.

Tức quá, lúc luyện thương hắn ta đâm vỡ mấy viên đá xanh trong Tiến Tấu viện.

Quan sát thêm vài ngày, hắn ta càng thấy Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn có vấn đề.

Hai người ra ngoài còn nửa đường đổi xe ngựa, lén lút vô cùng.

Thích Hiến Hồn dứt khoát âm thầm theo dõi, mới phát hiện hai người lại là rủ nhau đi thanh lâu.

Cơn giận bốc lên tận óc, hắn ta xông thẳng vào thanh lâu, đá văng cửa phòng.

Theo Thích lão Đại Tướng quân, Thích Hiến Hồn sinh ra cao lớn vạm vỡ.

Một cú đá đầy sức, cả cánh cửa lẫn khung đều bị phá tung.

Giọng hắn ta thô lỗ vang dội, làm cả bàn trà rung lên: "Họ Ngụy, ta nói cho ngươi biết!

Muốn cưới muội muội ta mà còn dám đi thanh lâu?

Thật coi mười vạn nam nhân Thích gia không chọn nổi cho bào muội một phu quân tử tế sao?

Bảo sao mấy ngày nay hai người các ngươi trốn tránh ta, hóa ra là đi tìm hoa hỏi liễu!"

Đang lúc âm thầm điều tra và bố trí kế hoạch, Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn bị mắng cho một trận như trời giáng, cũng chẳng kịp giải thích.

Một người vội kéo Thích Hiến Hồn vào trong phòng để tránh làm ầm ĩ, người kia thì bịt miệng hắn ta lại.

Kéo kéo đẩy đẩy một hồi, cuối cùng cũng nhét được Thích Hiến Hồn vào phòng.

Quản sự thanh lâu thấy tình hình không ổn liền ra dàn xếp, đuổi hết người xem náo nhiệt, còn cười nói rằng đại cữu ca bắt gặp vị hôn phu tương lai đi thanh lâu nên nổi trận lôi đình.

Đồng thời sai gã sai vặt lanh lẹ canh giữ mấy lối lên lầu, đề phòng có kẻ nghe lén.

Ngụy Nghiêm quay lại dựng tấm cửa vừa bị tháo xuống.

Tạ Lâm Sơn thì giữ chặt Thích Hiến Hồn, vẫn che miệng hắn ta lại.

Thích Hiến Hồn ưỡn cổ gào lên: "Các ngươi đừng hòng kéo lão tử vào chuyện bại hoại!

Lão tử là người có gia thất!

Lão tử phải giữ mình trong sạch!"

Tạ Lâm Sơn dứt khoát rút khăn trải bàn nhét kín miệng hắn ta.

Thích Hiến Hồn chỉ còn ú ớ trong cổ họng, đôi mắt trừng lên như muốn phun lửa.

Tạ Lâm Sơn khuyên bảo: "Hiến Hồn huynh, đắc tội.

Ta và Dĩ Khuê đến đây không phải để tìm hoa hỏi liễu, mà là có việc hệ trọng cần bàn.

Tiến Tấu viện tai mắt quá nhiều, bất đắc dĩ mới phải dùng hạ sách này."

Nói rồi, hắn đặt một chồng thư văn xuống trước mặt Thích Hiến Hồn: "Hiến Hồn huynh xem thử đi."

Thích Hiến Hồn vừa lật hai trang đã kêu lên: "Lão tử ghét nhất là đọc sách, các ngươi đem mấy thứ thi văn này cho lão tử xem làm gì?"

Ngụy Nghiêm chỉ chỉ vào trang giấy: "Tên này ngày thường chỉ viết được mấy câu thô kệch, chẳng ra dáng gì, vậy mà kỳ thi mùa xuân năm nay lại đứng trong mười người đầu bảng giáp nhất.

Hiến Hồn huynh không thấy kỳ lạ sao?"

Thích Hiến Hồn nhíu mày: "Gian lận khoa cử?"

Ngụy Nghiêm đáp: "Tên này là nhi tử Từ Sách."

Sắc mặt Thích Hiến Hồn lập tức trở nên dữ tợn: "Từ Sách cho đẻ!

Lão tử đã thay phụ thân viết chiến báo trình lên bệ hạ rồi.

Con của tội nhân mà cũng dám mơ dựa vào khoa cử gian lận để nhập sĩ?"

Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn liếc nhìn nhau, nhất thời đều im lặng.

Tạ Lâm Sơn lên tiếng: "Thi đình do chính bệ hạ giám sát, không thể có chuyện gian lận."

Phải chậm nửa nhịp, Thích Hiến Hồn mới phản ứng lại: "Là bệ hạ giúp tên khốn giành được thứ hạng này?"

Kết quả này vượt quá nhận thức của hắn ta.

Hắn ta ngẩng đầu nhìn hai người, hỏi dồn: "Vì sao?

Vì sao bệ hạ lại giúp nhi tử của phản tặc gian lận?"

Lúc này Ngụy Nghiêm mới nói: "Phong cáo trạng buộc tội Từ Sách trong chiến báo hiện đang bị Thái Tử giữ lại, vẫn chưa trình lên bệ hạ."

Trong đầu Thích Hiến Hồn rối như tơ vò.

Bệ hạ chưa biết Từ Sách là phản tặc, lại còn ra tay giúp nhi tử phản tặc gian lận...

Một luồng lạnh buốt bò dọc sống lưng, Thích Hiến Hồn hỏi khẽ: "Từ Sách là người của bệ hạ?"

Tạ Lâm Sơn và Ngụy Nghiêm đều không đáp, xem như ngầm thừa nhận.

Thích Hiến Hồn đập mạnh xuống bàn bát tiên, chửi lớn: "Hoang đường!

Thích gia chúng ta vì lão vào sinh ra tử, lão dựa vào cái gì."

Hắn ta còn định lớn tiếng gào lên, đã bị Ngụy Nghiêm kịp thời che miệng: "Ta biết Hiến Hồn huynh uất hận trong lòng, nhưng Hàm Yên Lâu này cũng không phải nơi không có tai mắt, nói chuyện vẫn nên cẩn trọng."

Thích Hiến Hồn cuối cùng cũng bình tĩnh lại.

Thấy hắn ta không giãy giụa nữa, Ngụy Nghiêm mới buông tay.

Gân xanh nơi thái dương Thích Hiến Hồn giật giật, hắn ta nén giận hỏi: "Các ngươi tính toán thế nào?"

Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn nhìn nhau rồi nói: "Điện hạ đã biết chuyện huynh và Đại Tướng quân suýt chết ở Yến Châu.

Huynh nắm trong tay hổ phù mười vạn binh mã của Thích gia, Lâm Sơn cũng có quân Huy Châu của Tạ gia.

Giờ chỉ chờ điện hạ gật đầu."

Gật đầu làm gì, không nói cũng rõ.

Lão Hoàng Đế đã không còn dung được Thích gia, muốn giết cả nhà Thích gia để thu lại binh quyền.

Không có Thích gia, Thái Tử chẳng là gì cả.

Thanh đao của Hoàng Đế đã đặt lên cổ Thái Tử.

Ngụy Nghiêm biết, với tính tình mềm mỏng của Thái Tử, quyết định này sẽ khiến điện hạ giằng co rất lâu.

Nhưng sau khi giằng co xong, điện hạ vẫn chỉ có một con đường duy nhất.

Bởi nếu tiếp tục chần chừ, chẳng khác nào lần nữa đẩy Đông Cung và Thích gia vào đường chết.

Thích Hiến Hồn vừa bị tin Hoàng Đế muốn diệt cả nhà Thích gia, kích động đến phẫn nộ, nhưng khi nghe Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn bình thản nói ra kế hoạch, tay chân hắn ta vẫn lạnh toát.

Mưu nghịch là trọng tội tru di cửu tộc, chỉ cần sơ sẩy một bước là cả gia tộc bị chém.

Nhưng nghĩ đến những Thích gia quân đã chết trên chiến trường, nghĩ đến việc bản thân và phụ thân đều từ Quỷ Môn Quan nhặt về một mạng, Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn đã dám liều, Thích gia ta còn sợ gì nữa?

Thích Hiến Hồn nắm chặt hai nắm tay, dứt khoát: "Hôn quân như vậy, không xứng để Thích gia ta đổ máu ngoài sa trường!"

Hắn ta nhìn sang Ngụy Nghiêm: "Trong kinh ngoài Ngũ Quân Doanh ra, Thần Cơ Doanh cũng là một ổ khó chơi."

Ngụy Nghiêm đáp: "Việc đó giao cho ta và Lâm Sơn."

-.-

Sau mưu này, chuyện ép lão Hoàng Đế "nhường ngôi", ba nhà Tạ, Ngụy, Thích về cơ bản đã đứng chung một chiến tuyến.

Chỉ là vì hôm đó Thích Hiến Hồn gào lên quá lớn, chuyện Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn dạo thanh lâu vẫn lan ra ngoài.

Trong kinh không ít quý nữ vì thế khóc đỏ mắt, khó tin hai người được gọi là "song bích" của kinh thành, hóa ra cũng là hạng phong lưu trụy lạc!

Ngày hôm sau, Ngụy Nghiêm gặp Thích Dung Âm ở Tiến Tấu viện, vừa định lên tiếng, nàng đã lạnh mặt, liếc cũng không liếc ông một cái, cầm quạt tròn bỏ đi.

Tạ Lâm Sơn đến tìm Ngụy Nghiêm, trong tay còn ôm một bó lớn hải đường Tây Phủ.

Vừa thấy Ngụy Nghiêm, hắn xấu hổ sờ mũi: "A Oản nghe chuyện ta đi thanh lâu, không chịu gặp ta.

Bó hải đường này... huynh giúp ta đưa cho nàng, tiện thể nói giúp ta vài lời đi, được không?"

Ngụy Nghiêm lắc đầu: "Huynh nhắc mới nhớ, ta nên để Hiến Hồn đến chỗ Dung Âm nói đỡ giúp vậy."

Đến khi Ngụy Nghiêm tìm được Thích Hiến Hồn, nói rõ ý định, Thích Hiến Hồn mặt mày đau khổ: "Đồ đạc của ta bị nội tử ném sạch ra ngoài rồi, đến thư hòa ly cũng viết sẵn để ta ký tên."

Tạ Lâm Sơn: "..."

Ngụy Nghiêm: "..."

Ba người bỗng dưng sinh ra cảm giác đồng bệnh tương liên.

Thích Hiến Hồn đau đầu nói tiếp: "Dung Âm tối qua khóc cả đêm với nội tử ta, còn nói muốn hủy hôn.

Chuyện lớn chưa thành, ta cũng không dám nói cho các nàng biết tình hình thật.

Hôm nay Khánh Quốc Công phủ mở bách hoa yến, nội tử dẫn Dung Âm ra ngoài, còn hẹn Ngụy cô nương, nói là cùng nhau đến yến hội chọn rể như ý."

Sắc mặt Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn đồng loạt xám xịt, cùng lúc ôm quyền: "Cáo từ."

-.-

Cuối xuân năm Khải Thuận thứ mười sáu, lão Hoàng Đế nhiễm "trọng bệnh".

Thập Lục Hoàng Tử cấu kết với Giả gia mưu phản, bị Thái Tử Thừa Đức dẫn Ngụy Nghiêm, Tạ Lâm Sơn, Thích Hiến Hồn cùng các trọng tướng bắt giữ.

Lão Hoàng Đế chịu không nổi cú sốc khi sủng phi và Hoàng Tử được sủng ái nhất đều mang lòng lang dạ sói, một hơi không gượng nổi mà băng hà.

Trữ quân Thái Tử Thừa Đức danh chính ngôn thuận được bá quan quỳ thỉnh, đăng cơ làm Hoàng Đế, đổi niên hiệu thành Khánh Hòa.

Cùng năm, tân Đế ban hôn cho Ngụy Nghiêm và Tạ Lâm Sơn, còn đích thân làm chủ hôn cho cả hai.

Không lâu sau, Bắc Quyết lại xâm phạm.

Tạ Lâm Sơn đưa thê tử Ngụy Oản đến Cẩm Châu trấn thủ biên cương, Ngụy Nghiêm ở lại kinh thành.

Nhưng thương bào muội, hắn điều Ngụy Kỳ Lâm, gia tướng đắc lực, sang dưới trướng Tạ Lâm Sơn, lệnh bảo vệ Ngụy Oản chu toàn.

Ba năm sau, Bắc cảnh yên ổn, bốn bể thái bình.

Tạ Lâm Sơn đưa thê tử về kinh thăm nhà, còn mang theo một đứa trẻ mày thanh mắt sáng.

Đứa trẻ là Ngụy Oản sinh trong lúc Tạ Lâm Sơn chinh chiến bên ngoài.

Một đạo sĩ trên đường nói đứa nhỏ mệnh cách cực cứng, tên gọi tầm thường e là không đè nổi, nên Tạ Lâm Sơn lấy chữ "Chinh" làm tên cho nhi tử.

Khi Ngụy Oản về Ngụy phủ ở tạm, Ngụy Kỳ Lâm đến cầu Ngụy Nghiêm: "Chủ tử, mạt tướng có lòng với một vị cô nương, muốn nhờ chủ tử đứng ra làm mối."

Khi đó Ngụy Nghiêm mặc nho bào thanh nhã, đang vẽ tranh trong thư phòng.

Nghe vậy, đầu bút khựng lại: "Là quý nữ nhà ai?"

Ngụy Kỳ Lâm bẽn lẽn gãi đầu: "Là đích nữ của Mạnh lão Tướng quân, Thường Sơn Tướng quân dưới trướng Tạ Đại Tướng quân."

Ngụy Nghiêm ngước mắt, mang theo ý cười: "Muốn cưới người ta?"

Vị tướng quân vụng về cười: "Mạt tướng muốn ở rể."

Gió xuân lùa qua cửa sổ mở rộng, thổi lay tờ giấy Tuyên Thành trên án thư.

Ngụy Nghiêm cuối cùng cũng đã cười: "Được!

Được!

Hahaha!"
 
Trục Ngọc Quyển 2 (Edit)
Chương 235: Ngoại Truyện Nếu... (1)


Gió thu nhè nhẹ thổi qua, hương đan quế lan khắp sân.

Tạ Chinh mới tròn bốn tuổi, tay cầm một thanh kiếm gỗ nhỏ, đứng giữa viện tập đâm chém.

Kiếm vung hết lần này đến lần khác, cánh tay đã mỏi nhừ mà vẫn không chịu dừng.

Nắng đứng bóng.

Khuôn mặt non nớt của đứa trẻ đỏ hồng vì nóng, trán lấm tấm mồ hôi.

Trong đôi mắt ấy là sự bướng bỉnh và nghiêm túc hoàn toàn không hợp với tuổi tác.

Ngụy Oản ngồi dưới hành lang, tựa người vào ghế mỹ nhân, tay cầm chiếc quạt tròn tua ngọc xanh chậm rãi phe phẩy.

Nàng có phần bất lực nói với Mạnh Lệ Hoa đang ngồi cạnh: "Hai hôm trước bị phụ thân nó chê chiêu thức kiếm chưa vững, mấy ngày nay ngoài ăn cơm, đọc sách, ngủ nghỉ ra, hễ rảnh là ôm kiếm gỗ tập luyện.

Tính bướng từ bé đã vậy, thật chẳng giống ta, cũng chẳng giống phụ thân nó, ngược lại giống cữu cữu của nó."

Ngụy Kỳ Lâm là người Ngụy Nghiêm phái đến bên cạnh Ngụy Oản, xem như người nhà ruột thịt.

Cậu ta được Tạ Lâm Sơn trọng dụng, lại cưới con gái của lão Tướng quân Mạnh Thúc Viễn dưới trướng Tạ Lâm Sơn, khiến quan hệ hai nhà Tạ Mạnh thân càng thêm thân.

Lần này Ngụy Kỳ Lâm theo Tạ Lâm Sơn đi tuần tra biên phòng, mấy tháng không về.

Mạnh Lệ Hoa lại đang mang thai, Ngụy Oản sợ nàng ở nhà buồn bực nên mời đến phủ ở tạm, cùng trò chuyện giải khuây, tiện thể bàn chuyện nuôi dạy con cái.

Qua lại dần dà, hai người thành tri kỷ chốn khuê phòng.

Nghe Ngụy Oản nói xong, Mạnh Lệ Hoa cười: "Người ta thường nói nhi tôn giống cữu cữu, cũng thật là có lý."

Nàng xoa nhẹ bụng tròn của mình, nói tiếp: "Đứa nhỏ trong bụng muội lại lười biếng lắm, tới tháng này rồi mà hiếm khi động đậy, chắc là một cô nương ngoan hiền đây.

Vậy mà mỗi lần phụ thân nó trêu chọc, nó lại động mạnh vô cùng, dọa phụ thân nó cả đêm không ngủ.

Sáng hôm sau còn cau mày hỏi muội, lỡ là tiểu tử thì làm sao."

Ngụy Oản bật cười theo: "Ngụy Tướng quân ấy vậy mà quý nữ nhi hơn à?"

Trong mắt Mạnh Lệ Hoa thoáng chút bất đắc dĩ: "Từ lúc mới bắt được hỉ mạch là chàng đã nghĩ tên rồi.

Chữ nghĩa chẳng biết bao nhiêu, nên chàng bắt đám chủ bộ dưới tay lật sách mấy ngày liền.

Xong xuôi thì đắc ý nói với muội, nếu là con gái thì đặt tên Trường Ngọc.

Quần áo từ lúc đầy tháng đến một tuổi, chàng cũng lục đục sắm cả mấy rương."

Ngụy Oản cười hỏi: "Thế nếu là tiểu tử thì sao?"

Sắc mặt Mạnh Lệ Hoa trở nên khó nói thành lời: "Chàng bảo nhi tử thì khỏe mạnh, cứ gọi đại là Thiết Đản, Thiết Ngưu, đợi lớn rồi để ngoại tổ phụ nó đặt tên."

Ngụy Oản không ngờ người ngày thường trầm ổn như Ngụy Kỳ Lâm lại có mặt như vậy, dựa vào ghế cười đến rưng rưng nước mắt: "Xem ra Ngụy Tướng quân thật lòng quý nữ nhi."

Nàng xoay mắt nhìn ra ngoài hành lang, nơi nhi tử mình đang tập kiếm, lại thì thầm: "Ta nghe dân gian có cách, trẻ chưa đầy năm tuổi có thể đoán được trong bụng thai phụ là nam hay nữ."

Mạnh Lệ Hoa ngạc nhiên: "Có chuyện vậy sao?"

Ngụy Oản mỉm cười: "Hai ta thử xem?"

Nói rồi nàng gọi: "Chinh Nhi, lại đây với mẫu thân."

Tạ Chinh nghe gọi, quay đầu thấy mẫu thân đang vẫy tay dưới hành lang, liền thu kiếm gỗ, chạy lại: "Mẫu thân gọi con?"

Ngụy Oản dùng khăn lau mồ hôi trên mặt con, dịu giọng: "Nắng thế này, không sợ nóng sao?

Xem mồ hôi kìa."

Tạ Chinh giơ tay áo lau mặt qua loa: "Không sợ."

Ngụy Oản sai gia nhân rót cho con một chén trà mật ong, rồi hỏi: "Chinh Nhi muốn có đệ đệ hay muội muội không?"

Tạ Chinh đáp rất gọn: "Không muốn."

Ngụy Oản hỏi tiếp: "Vì sao?"

Cậu cau mày, nghiêm túc: "Khóc nhiều, phiền lắm."

Mấy năm nay, các trọng tướng dưới trướng Tạ Lâm Sơn lần lượt thành gia lập thất.

Vì thường xuyên phải ra trận, mà vùng biên lại không có học đường tử tế, Tạ Lâm Sơn liền cho những đứa trẻ cùng độ tuổi đến Tạ phủ mở lớp tư thục học vỡ lòng.

Trong học đường, Tạ Chinh nghe nhiều nhất chính là tiếng trẻ con khóc, khóc một cái là cả buổi không dứt.

Cậu thật sự không muốn trong nhà cũng có thêm một cái kèn như vậy, nếu ngày nào cũng gào khóc thì e rằng ngủ cũng không yên.

Ngụy Oản chỉ hỏi vui, không ngờ con lại trả lời như thế, không nhịn được bật cười.

Nàng dỗ con: "Vậy nếu sau này Mạnh di sinh đệ đệ hay muội muội, cho chơi với con được không?

Con đoán xem trong bụng Mạnh di là đệ đệ hay muội muội?"

Tạ Chinh nghiêng đầu nhìn cái bụng tròn căng dưới váy của Mạnh Lệ Hoa, nét mặt nghiêm túc: "Muội muội."

Cậu chẳng biết thai nhi là nam hay nữ, chỉ nghĩ nếu là muội muội thì chắc sẽ không phiền như mấy tiểu tử.

Như con trai của Lưu tham tướng, suốt ngày chọc cậu, bị cậu đánh thì khóc om sòm chạy về mách phụ thân, hại cậu bị phụ thân mình trách phạt.

Mạnh Lệ Hoa vuốt bụng, cười hiền: "Cô cũng mong là khuê nữ."

Ngụy Oản trêu con: "Nếu thật là muội muội, sau này con cưới làm tức phụ cho mẫu thân nhé?"

Cậu còn chưa hiểu chuyện cưới gả, nhíu mày: "Vì sao phải làm tức phụ cho mẫu thân?"

Ngụy Oản và Mạnh Lệ Hoa đều bật cười vì lời nói hồn nhiên ấy.

Ngụy Oản véo nhẹ má con: "Vì mẫu thân thích con bé."

Tạ Chinh nghiêm túc nghĩ một lát, rồi gật đầu: "Dạ được."

Lời vừa dứt, Ngụy Oản và Mạnh Lệ Hoa lại càng dở khóc dở cười.

-.-

Ba tháng sau, Mạnh Lệ Hoa quả nhiên sinh hạ một nữ nhi.

Tin truyền đến Tạ phủ, Ngụy Oản thoáng sững người, rồi lập tức vui mừng khôn xiết, sai người chuẩn bị không ít lễ vật đưa sang Mạnh phủ chúc mừng.

Tạ Chinh ngồi bên cửa sổ đọc sách, thấy mẫu thân tất bật ra vào, bỗng hỏi: "Mẫu thân, Mạnh di sinh rồi ạ?"

"Đúng rồi."

Ngụy Oản cười, cố ý trêu con, "Chinh Nhi nhớ tiểu tức phụ à?"

Tạ Chinh mím môi, bàn tay nhỏ siết lấy quyển sách, không nói lời nào.

Đêm ấy trở về phòng, cậu lôi từ ngăn bàn nhỏ của mình ra một quyển vở trắng, tự tay mài mực, rồi ở trang đầu tiên nắn nót viết một hàng chữ nhỏ: Sinh nhật, ngày mười một, tháng giêng, Khánh Hòa năm thứ năm.

-.-

Mãi đến tiệc trăm ngày, Tạ Chinh mới chính thức gặp muội muội từng ở trong bụng Mạnh di suốt mười tháng.

Trong đại sảnh ồn ào náo nhiệt, các phu nhân vây quanh đứa bé còn quấn tã mà trêu ghẹo không ngớt.

Tạ Chinh theo sát bên mẫu thân, chán đến mức chỉ biết lặng lẽ nhìn.

Nhìn một lúc, cậu phát hiện đứa bé kia đúng là lười thật, dung mạo trắng trẻo xinh xắn, nhưng mí mắt lúc nào cũng sụp xuống, như chỉ chực ngủ, ai bế cũng không khóc.

Các phu nhân đều khen bé ngoan ngoãn, dễ nuôi, rồi lại thi nhau kể khổ con nhà mình quậy phá đến mức nào.

Mạnh Lệ Hoa mỉm cười đáp chuyện.

Thấy nữ nhi không mấy tỉnh táo, nàng cho rằng bé buồn ngủ.

Bản thân lại bận tiếp khách, không tiện rời đi, liền giao con cho ma ma chăm trẻ, dặn bế sang phòng bên ngủ.

Tạ Chinh lại cảm thấy đứa bé này không phải buồn ngủ, mà là lười.

Thấy bé được bế đi, cậu cũng lặng lẽ rời đại sảnh, định ra ngoài đi dạo.

Ma ma trông thấy cậu, cười hỏi: "Tiểu công tử theo ra xem tiểu muội muội à?

Bên ngoài gió lạnh, công tử vào phòng xem đi."

Tạ Chinh thấy nếu từ chối thì giống như mình nói một đằng nghĩ một nẻo, suy nghĩ chốc lát, cuối cùng vẫn bước chân ngắn vào gian phòng bên.

Đứa bé được đặt lên giường đu đưa.

Nghe có động tĩnh, bé chỉ mở to đôi mắt lờ đờ, lặng lẽ nhìn cậu.

Ma ma đắp chăn lụa cho bé, rồi xếp mấy món đồ chơi như túi vải đầu hổ, trống bỏi sang một bên.

Thấy Tạ Chinh đứng cạnh giường, bà đưa cho cậu chiếc trống bỏi: "Tiểu công tử cầm cái này trêu tiểu thư đi."

Tạ Chinh nhớ rõ hồi ba tuổi, mẫu thân cũng từng dùng thứ này dỗ mình.

Trong ký ức của cậu, tiếng lách cách kia chỉ ồn ào đến mức khó chịu, cậu cứ với tay chộp lấy để bà đừng lắc nữa.

Nhưng người lớn thấy cậu chộp thì lại tưởng cậu thích, càng lắc hăng hơn.

Đó thật sự không phải kỷ niệm dễ chịu.

Cậu không nhận trống bỏi, chỉ nói: "Con nhìn thôi."

Cậu nhìn bé, bé cũng nhìn cậu.

Ma ma cười bảo: "Tiểu thư tính nết hiền lắm, rất ít khi khóc, chỉ ham ngủ.

Lát nữa tiểu thư ngủ rồi, tiểu công tử đừng làm ồn nhé."

Tạ Chinh đáp: "Muội ấy không buồn ngủ."

Cậu đưa tay khẽ vẫy trước mặt bé.

Có lẽ từ lúc sinh ra đến giờ chỉ thấy toàn người lớn, bỗng dưng có một đứa nhỏ thấp hơn đến trêu, nữ nhi trên giường đu đưa bất ngờ giơ tay, nắm chặt lấy ngón tay cậu.

Tạ Chinh thử rút ra, không rút được.

Sợ làm đau khối bông mềm mềm kia, cậu cũng không dám dùng sức.

Bàn tay nhỏ nắm lấy ngón tay cậu mềm như đậu phụ, nhưng lực lại không hề yếu, nắm rất chặt.

Cậu thấy mới lạ, không rút tay nữa, còn nhẹ nhàng bóp bóp mu bàn tay béo mập kia.

Đứa bé dường như cũng vui vẻ, đạp chân nhỏ mấy cái, duỗi tay còn lại, miệng cong lên cười.

Ma ma bật cười: "Tiểu thư thích tiểu công tử rồi đấy!"

Ngay sau đó, bé gái bất ngờ kéo thẳng ngón tay Tạ Chinh nhét vào miệng.

Sắc mặt Tạ Chinh lập tức biến đổi.

Cậu rút mạnh tay ra, nhìn đầu ngón tay dính đầy nước dãi, mặt trầm xuống, quay sang chậu nước rửa tay.

Đứa bé trên giường không biết là bị giật mình hay vì mất "đồ chơi", bỗng òa khóc.

Tiếng khóc không the thé như trẻ sơ sinh bình thường, mà là dồn sức khóc lớn, vang và lanh lảnh.

Ma ma dùng trống bỏi, túi vải đầu hổ cũng không dỗ được.

Bà bế bé đi vòng quanh phòng, vẫn không nín.

Tạ Chinh rửa sạch tay, đứng trầm mặt nhìn bé một lúc, cuối cùng như nhận mệnh, lại bước tới, đưa ngón tay vừa rửa sạch vào miệng bé.

Đứa bé lập tức nín khóc.

Hàng mi dài còn đọng nước mắt, nhưng đã bắt đầu mút ngón tay hắn ra chiều rất say sưa.

Tạ Chinh sững người, rồi quay sang nói với ma ma: "Muội ấy đói."

Ma ma cũng ngẩn ra: "Phu nhân mới cho tiểu thư bú chưa đầy nửa canh giờ, chắc chưa đói nhanh vậy đâu."

Nói vậy, bà vẫn sai người ra bếp hâm nóng một bát sữa dê.

Thỉnh thoảng Mạnh Lệ Hoa không được khỏe, không thể cho con bú, sẽ dùng sữa dê ấm thay thế.

Hôm nay khách khứa đông, ma ma biết phu nhân không rảnh, nên tạm thời dùng sữa dê dỗ bé.

Nha hoàn rất nhanh bưng bát sữa dê đã hâm tới.

Ma ma múc một thìa đưa tới miệng bé, nữ nhi lập tức nhả ngón tay, với theo thìa sữa.

Ma ma kinh ngạc:

"Tiểu thư thật sự đói rồi."

Bà đút hơn nửa bát sữa dê, bé mới quay đầu né thìa, không chịu uống nữa.

Ma ma dùng khăn lụa lau miệng cho bé, cười nói: "Ăn khỏe mới tốt, lớn lên thân thể mới rắn rỏi.

Tiểu thư này đây tay chân nhỏ mà khỏe lắm."

Đứa bé trên giường đu đưa dường như hiểu người lớn đang khen mình, rất "nể mặt", liền đạp đạp chân dưới lớp chăn lụa, tay nhỏ mũm mĩm khua mấy cái.

Tạ Chinh thấy lần này tiểu hài nữ đúng là buồn ngủ thật rồi.

Cái tay mập mạp khua khua một hồi liền hết sức, mí mắt cũng từ từ sụp xuống.

Ăn no là ngủ, cậu nghĩ con nhóc này đúng là lười biếng thật.

Nhưng mà... lúc nó khóc, hình như cũng không đến mức khiến người ta khó chịu?

Hôm ấy trở về, Tạ Chinh lại ghi thêm một trang trong quyển sổ nhỏ của mình: tham ăn, tham ngủ, lười.

Ngẫm một lát, lại viết thêm một dòng: nuôi cũng dễ.

-.-

Thời gian trôi nhanh như chớp, thoáng cái Tạ Chinh đã mười một tuổi.

Con nhà quan lại bình thường, tới tuổi này đã bị thúc ép đi thi sinh đồ, thi vài năm có được tư cách học sinh, rồi tiếp tục thi lên cao hơn.

Tú tài, cử nhân, tiến sĩ, từng nấc một đều bày sẵn ngay trước mắt.

Sau này Tạ Chinh muốn theo đường quân ngũ, không cần thi khoa cử.

Nhưng ở chuyện đọc sách, Tạ Lâm Sơn vẫn quản cậu rất nghiêm.

May là từ nhỏ cậu đã ham học, các phu tử trong thư viện luôn chỉ có lời khen.

Ngoài biên quan không có đại nho, Tạ Lâm Sơn còn bàn với Ngụy Oản, tính chờ thêm hai năm nữa, hoặc đưa cậu đến thư viện Lộc Nguyên, hoặc cho cậu về kinh thành vào Quốc Tử Giám học tiếp.

Tạ Chinh chẳng mấy để tâm.

Với cậu, học ở đâu cũng vậy.

Năm mười tuổi, cậu đã dẫn theo mấy thân vệ, cưỡi ngựa rong ruổi mấy tháng trời dọc theo tuyến phòng thủ Bắc Cảnh của Đại Dận.

Mẫu thân cậu sốt ruột đến khóc.

Đến lúc cậu lấm lem như con khỉ bùn chạy về, chưa kịp ăn nổi một miếng cơm đã bị phụ thân phạt quỳ từ đường.

Mấy năm nay, vì gây ra đủ thứ họa lớn nhỏ, không ít lần cậu bị phụ thân giáo huấn.

Phụ thân cậu thường nói với mẫu thân rằng: thằng này chủ ý lớn, tính tình hoang dã, không giữ nổi.

Đợi nó cao bằng lưng ngựa, sẽ ném thẳng vào quân doanh mà rèn luyện.

Thật ra Tạ Chinh rất muốn vào quân doanh ngay bây giờ.

Trong quân tuy gian khổ, nhưng lại có một thứ tự do rộng lớn mà cậu yêu thích.

Chỉ là hiện giờ cậu còn nhỏ, nếu vào quân, thuộc hạ cũng chỉ coi cậu là nhi tử của Tạ Lâm Sơn mà đối đãi.

Tạ Chinh không muốn dựa vào thân phận đó, cậu muốn tự mình xông ra một con đường.

Vì vậy chỉ đành chờ thêm hai năm nữa, đợi vóc dáng trông chẳng khác gì binh sĩ thường, mới tiện giấu thân phận, bắt đầu từ một tên lính cưỡi ngựa bình thường.

Hiện tại cậu ở thư viện, chẳng qua chỉ để giết thời gian.

Chiều tan học hôm ấy, cậu bị người gọi lại: "Tạ đại ca, giúp đệ một chuyện."

Tạ Chinh lười biếng nhấc mí mắt lên, liếc qua cái gã đầu thì to mà óc như trái nho kia.

Người gọi là Lưu Tuyên, nhi tử của Lưu tham tướng.

Nói ra thì Lưu tham tướng vốn là thuộc hạ của cữu cữu.

Sau này cữu cữu ở lại kinh thành làm quan văn, liền điều Lưu tham tướng sang dưới trướng Tạ gia.

Lưu Tuyên từ nhỏ đã thích gây chuyện, ở thư viện làm thành tiểu bá vương.

Mấy năm trước thấy Tạ Chinh không sợ mình như những người khác, nó tìm đến gây phiền không ít lần, nhưng lần nào cũng bị Tạ Chinh đánh cho sưng mặt mũi, nước mũi nước mắt tèm lem, rồi bị phụ mẫu lôi về nhà.

Nó phục thì phục, nhưng lại rất giữ thể diện.

Bị đánh nhiều rồi, dứt khoát tự nguyện theo Tạ Chinh làm chân chạy vặt.

Tạ Chinh biết chắc nó lại gây chuyện, chỉ thản nhiên đáp hai chữ: "Không rảnh."

Lưu Tuyên vội vàng đuổi theo, nói dồn dập: "Tạ đại ca, đệ thật sự hết cách rồi mới tìm đại ca.

Bào đệ đệ bị người ta đánh, hai mắt thâm sì mấy ngày vẫn chưa tan.

Mẫu thân đệ đã dặn không cho đệ gây chuyện nữa.

Vậy mà vừa nãy nó lại khóc lóc chạy tới, nói bị đánh tiếp, máu mũi chảy đầy cả khăn.

Sao có người bắt nạt quá đáng như vậy chứ?

Đệ hỏi nó là ai đánh, nó ấp úng bảo người kia có liên quan tới Tạ gia, không chịu nói rõ.

Đệ nghĩ chắc chắn là đứa không biết sống chết nào đó mượn danh Tạ gia ở thư viện tác oai tác oái!"

Tạ Chinh vốn không muốn dính vào chuyện này.

Nháo không khéo lại truyền tới tai Tạ Lâm Sơn, thế nào cũng bị phạt.

Nhưng nghe tới đây, cậu mới nhướng mày, lười biếng nói: "Ta đi xem."

Cậu không thích chủ động gây phiền, nhưng nếu có người dám treo cờ Tạ gia để bắt nạt học sinh, cậu nhất định phải quản.

Bọn họ tìm tới đệ đệ tám tuổi của Lưu Tuyên, bảo nó dẫn đường đi chỉ người đã đánh mình.

Thằng nhỏ túm chặt vạt áo, sống chết không chịu.

Sau đó lại nói người kia là người Tạ gia, sợ bị trả thù, đến khi Lưu Tuyên chỉ thẳng vào Tạ Chinh nói người Tạ gia đang đứng đây, nó lại bảo giờ này người kia đã đi mất rồi.

Lưu Tuyên tức đến đá cho nó một cước vào mông: "Sao ta lại có đệ đệ vô dụng như mày chứ!"

Lưu Tuyên kéo thằng bé tới khóa xá của nó, đá văng cửa ra, hung hăng hỏi: "Tao hỏi tụi bây, ai tự xưng là người Tạ gia, đánh đệ đệ tao?"

Thằng bé bị lôi theo nghe huynh trưởng gào ầm lên, đầu cúi rạp xuống, hai dòng máu mũi vẫn còn chảy, chẳng kịp lau, mặt đỏ bừng vì xấu hổ.

Trong gian khóa xá này đều là trẻ bảy tám tuổi.

Nghe vậy, bọn nhỏ nhìn nhau.

Thấy Lưu Tuyên hung dữ, đứa nhát gan liền chỉ về phía bàn dài sát cửa sổ, nơi có một tiểu cô nương đang cầm bút lông chép sách rất nghiêm túc, lông mày hơi nhíu như đang so đo điều gì đó.

Trường Ngọc đang bực vì cây bút trong tay.

Bút lông thỏ quá mềm.

Tay nhẹ thì phu tử chê chữ không có lực, thường phạt chép lại.

Nhưng mỗi lần bé dùng lực mạnh hơn, đầu bút lông lại tòe cả ra, cả trang giấy chỉ viết được vài chữ to thô.

Tiếng Lưu Tuyên đá cửa gào lên làm đứa ngồi trước giật mình, va vào bàn của Trường Ngọc.

Trang chữ vừa viết xong liền bị kéo thành một vệt mực xấu xí.

Trường Ngọc nhìn chằm chằm vệt mực ấy rất lâu, rồi mới trầm mặt ngẩng lên nhìn kẻ vừa xông vào.

Ngoài hành lang phía sau, dựa bên lan can gỗ, là một thiếu niên mặc áo màu đỏ sẫm, chừng mười một mười hai tuổi, dung mạo thanh tú, khí chất quý phái.

Tạ Chinh vốn đã cao ráo hơn hẳn bạn cùng tuổi, đứng giữa đám trẻ con càng như hạc giữa bầy gà.

Khi bị Lưu Tuyên kéo tới gian khóa xá của lũ trẻ, cậu đã thấy có gì đó không ổn.

Đến lúc nhìn rõ tiểu cô nương họ Mạnh, mí mắt cậu càng giật mạnh.

Dù thế nào cậu cũng không ngờ, người đánh đệ đệ Lưu Tuyên lại là con bé này.

Lưu Tuyên cũng sững sờ.

Tiểu cô nương trông ngoan ngoãn dễ thương, còn thấp hơn đệ đệ nó nửa cái đầu, sao có thể đánh Lưu Thành đến bầm dập như vậy?

Nó lập tức quay sang gào thằng bé chỉ điểm: "Mày mù à?

Chỉ bừa cái gì thế?

Tin hay không lão tử..."

Tiểu cô nương trông ngoan như búp bê sứ kia bỗng lên tiếng: "Là ta đánh."

Nửa câu còn lại của Lưu Tuyên nghẹn cứng trong cổ.

Nó nhìn tiểu cô nương thấp hơn đệ đệ mình nửa cái đầu, lập tức đập mạnh một cái lên đầu đệ đệ, quát: "Mày nói đứa đánh mày là thằng cao to hổ báo cơ mà?

Dám nói dối làm tao mất mặt?"

Thằng bé ôm đầu, máu mũi vẫn chảy, oa một tiếng khóc to: "Em đánh không lại nó, mà huynh cứ hỏi mãi, nên đệ mới nói dối..."

Lưu Tuyên lại tặng thêm một cái gõ đầu: "Đánh không lại một tiểu cô nương thì biết xấu hổ, còn nói dối thì không xấu hổ à?"

Thằng bé chỉ ôm đầu khóc, không nói nữa.

Tạ Chinh đứng ngoài hỏi: "Vì sao muội ấy đánh ngươi?"

Thằng bé ấp úng, không chịu đáp.

Trường Ngọc trừng mắt nhìn Tạ Chinh.

Dường như hiểu cậu tới là để chống lưng cho hai huynh đệ kia, liền nói:

"Nó kéo tóc muội, bôi bẩn sách của muội.

Muội gặp một lần đánh một lần."

Sắc mặt Lưu Tuyên biến hẳn, quay sang tát thằng em một cái: "Đồ vô dụng!

Bắt nạt nữ nhi còn dám về nói dối?"

Tạ Chinh nhìn búi tóc trên đầu Trường Ngọc rõ ràng bị giật rối, mày cậu vô thức nhíu lại.

Cậu cúi mắt nhìn thằng bé, nói chậm rãi: "Đây là muội muội ta."

Lưu Thành sợ đến đờ người, mắt ngấn nước nhìn Tạ Chinh.

Lưu Tuyên cũng cứng người, ngập ngừng hỏi: "Tạ phu nhân sinh thêm cho đại ca một muội muội khi nào vậy?"

Tạ Chinh không đáp, chỉ nhìn thẳng Lưu Thành: "Xin lỗi."

Thằng nhỏ vừa khóc vừa sụt sịt, nước mũi nước mắt lem luốc, quay sang Trường Ngọc nói: "Ta xin lỗi... sau này ta không dám nữa..."

Tạ Chinh bước tới, nửa ngồi xổm bên bàn của Trường Ngọc, hỏi cô bé: "Muội có chấp nhận lời xin lỗi của nó không?"

Trường Ngọc mím môi nhìn chằm chằm Tạ Chinh, khuôn mặt trẻ con mũm mĩm đầy vẻ không vui: "Có phải huynh hùa với bọn nó tới dạy dỗ muội không?"

Trong lòng Tạ Chinh lúc này chỉ muốn lôi tên Lưu Tuyên ngu ngốc kia ra ngoài sân cho ngựa giẫm một trận.

Cậu liếc Lưu Tuyên một cái.

Lưu Tuyên cũng biết điều, lập tức dẫn đám nhóc trong lớp ra ngoài.

Đợi người đi hết, Tạ Chinh mới nói: "Ta không biết bọn họ nói là muội..."

Trường Ngọc căng mặt, cắt ngang lời cậu : "Huynh cùng một bọn với tụi nó, khinh nam bá nữ ở thư viện.

Muội sẽ nó cho Tạ bá bá biết!"

Tạ Chinh xoa trán: "Kinh nam bá nữ không phải dùng như vậy."

Trường Ngọc thở hồng hộc, trừng mắt nhìn cậu.

Tạ Chinh hết cách, đành mềm giọng: "Thật sự không phải như muội nghĩ.

Chuyện hôm nay đừng nói cho phụ thân ta."

Trường Ngọc đáp ngay: "Huynh có tật giật mình rồi chứ gì!"

Tạ Chinh nghe mà vừa buồn cười vừa đau đầu: "Học hành thì không biết thế nào, mà mấy từ này dùng giỏi thật.

Hôm nay đúng là hiểu lầm.

Hay lát nữa ta dẫn muội đi Từ Ký mua giò kho, được không?"

Trường Ngọc hừ một tiếng, quay mặt đi.

Tạ Chinh tiếp tục nhượng bộ: "Bánh phù dung của Đường Ký cho muội luôn."

Cuối cùng, bé con trắng như bông tuyết ấy mới đưa tay chỉ vào tờ giấy Tuyên Thành bị dây mực trên bàn, đôi mắt to đen láy nhìn cậu: "Muội còn phải chép lại bài tiên sinh giao..."

Tạ Chinh biết ngay sẽ tới đoạn này, thở dài: "Ta viết giúp muội."

-.-

Một lớn một nhỏ rời thư viện, mua một đống bánh phù dung, kẹo đường hồ lô , kẹo quế, rồi mới đến tửu lâu Từ Ký.

Trường Ngọc ôm miếng giò kho vừa ra lò, gặm đến bóng nhẫy cả miệng.

Tạ Chinh ngồi bên cạnh, cam chịu chép bài giúp cô bé.

Trước khi về, thấy búi tóc hoa của Trường Ngọc bung ra một bên, cậu sợ Mạnh di hỏi tới lại lòi chuyện bị Lưu Tuyên kéo vào rắc rối, bèn loay hoay hồi lâu, cố buộc lại cho Trường Ngọc một búi tóc tử tế.

Đáng tiếc tay nghề vụng về, cuối cùng chỉ cột ra một búi tóc méo mó.

Trường Ngọc đưa tay sờ thử, nói thẳng: "Xấu."

Tạ Chinh tức đến mức không biết nên nổi giận hay không, nhéo má cô bé: "Ta lần đầu buộc tóc cho người khác, được vậy là khá lắm rồi.

Muội từng thấy nam nhi nhà nào biết buộc tóc chưa?"

Trường Ngọc không phục: "Phụ thân muội buộc đẹp lắm."

Tạ Chinh cười khẩy: "Phụ thân muội có nữ nhi.

Ta lại không có nữ nhi, luyện buộc tóc làm gì?"

Trường Ngọc nghĩ một lúc, thấy cũng có lý.

Đưa Trường Ngọc về gần tới cửa nhà, Tạ Chinh còn dặn: "Chuyện hôm nay nhớ giữ kín, không thì sau này khỏi mua giò kho cho muội nữa."

Trường Ngọc vẫy tay với cậu: "Biết rồi biết rồi."

Cậu im lặng một lúc, rồi nói thêm: "

Sau này ở thư viện, ai còn dám bắt nạt muội, phải nói với ta."

Trường Ngọc ngơ ngác: "Nói với huynh làm gì?"

Tạ Chinh xoa loạn mái tóc trên đỉnh đầu cô bé: "Để ta giúp muội trút giận."

Trường Ngọc rất thành thật: "Muội tự đánh tụi nó được rồi mà."

"..."

Cậu thiếu niên đang tuổi lớn véo nhẹ hai má cô bé: "Đánh xong cũng phải nói với ta."
 
Trục Ngọc Quyển 2 (Edit)
Chương 236: Ngoại Truyện Nếu... (2)


Một ngày khác, Tạ Chinh tan học, chán chường đi ra ngoài.

Lưu Tuyên lẽo đẽo theo sau như con chó ngốc, chỉ thiếu nước vẫy đuôi quanh cậu.

"Tạ đại ca, lần trước huynh ném thẻ vào bình rượu trúng phóc, thắng luôn phần thưởng khai trương của Cẩm Tú Lâu, làm thằng con nhà Hồ tham tướng nhìn mà há hốc.

Lần này đi săn huynh có đi không?"

Trời xuân sáng rỡ, nắng xuyên qua tán lá rơi lốm đốm lên gương mặt thiếu niên.

Hàng mi đen như cánh quạ dường như phủ một lớp ánh sáng nhạt, đôi mắt đen dưới nắng trông nhạt màu hơn, nhưng vẻ lười nhác trong đó vẫn không đổi.

Tạ Chinh thản nhiên đáp hai chữ: "Không đi."

Một đám cậu ấm đi săn, phần lớn chỉ quanh quẩn ngoài bãi, bắn vài con gà rừng thỏ hoang cho có, khác gì chơi trò giả vờ.

Tạ Chinh lười chẳng buồn góp vui.

Lưu Tuyên gãi đầu, lúng túng nói: "Nhưng đệ đã cược với thằng Hồ tiểu tử rồi.

Tạ đại ca không đi, đệ thua ở bãi săn thì hai mươi lượng bạc riêng dành dụm coi như mất sạch..."

Tạ Chinh nhìn cũng chẳng buồn nhìn nó: "Đó là chuyện của ngươi."

"Ai, Tạ đại ca, huynh..."

Lưu Tuyên còn định năn nỉ thì thấy Tạ Chinh nhìn về phía trước, chợt nheo mắt, rồi sải bước đi thẳng sang bên kia.

Lưu Tuyên nhìn theo, thấy cô bé lần trước từng gặp đang đứng dưới bóng cây trước cổng thượng viện, đeo túi vải đựng sách.

Đôi mắt to đen láy viền bởi hàng mi cong dày, hai má phúng phính trắng hồng, mềm như búp bánh nếp.

Chỉ là lần này hai búi tóc trên đầu gần như bung hết, khóe mắt còn có một vết trầy dài, trông như bị móng tay cào.

Tim Lưu Tuyên chợt thót lại, thầm nghĩ chẳng lẽ lại do bào đệ vô dụng của mình gây ra?

Nó phân vân giữa việc chạy tới hỏi cho rõ và làm như không biết, cuối cùng vẫn cắn răng theo sau.

Vừa lại gần đã nghe Tạ Chinh hỏi: "Sao ra nông nỗi này?"

Giọng cậu lạnh nhạt quá mức.

Lưu Tuyên len lén nhìn sắc mặt Tạ Chinh.

Nó thấy Tạ Chinh hơi cúi mắt nhìn cô bé thấp hơn mình cả một cái đầu, vẻ mặt không rõ là kiên nhẫn hay mất kiên nhẫn, nhưng xem ra tâm trạng không tốt.

Lưu Tuyên càng thêm thấp thỏm.

Cô bé thì chẳng sợ chút nào, đáp: "Đánh nhau với đứa mới chuyển tới lớp."

Tạ Chinh nhíu mày: "Ai?"

Trường Ngọc cúi nửa đầu, dùng mũi giày vẽ vòng trên đất: "Hình như họ Tề.

Muội nghe gia nhân nó gọi nó là Thế Tử."

Mày Tạ Chinh nhíu chặt hơn.

Họ Tề?

Gần đây chỉ có Cung Thân Vương làm khâm sai đến tây bắc, mang theo thánh chỉ phong Tạ Lâm Sơn làm Quan Sơn Hầu.

Cậu ngồi xổm xuống hỏi: "Người đánh nhau với muội là Thế Tử Cung Thân Vương?"

Trường Ngọc nắm chặt vạt áo, cúi đầu đáp khô khốc: "Không biết... chắc là vậy."

Nghe không phải do bào đệ mình gây ra, Lưu Tuyên lập tức xắn tay áo: "Mặc kệ hoàng thân quốc thích gì, bắt nạt nữ nhi là không được.

Đi, Tạ đại ca, chúng ta đi đòi công bằng cho muội muội Trường Ngọc!"

Trường Ngọc đứng im không nhúc nhích.

Tạ Chinh vốn hiểu rõ cô bé, mí mắt giật giật: "Muội đánh nó thành thế nào?"

Trường Ngọc nhỏ giọng đáp: "Chảy máu... rụng một cái răng."

Tạ Chinh đưa tay day giữa trán.

Lưu Tuyên cũng không ngờ cô bé trông mềm yếu lại ra tay ác vậy, lắp bắp nói: "Tạ đại ca...

Cung Thân Vương là thúc thúc của hoàng thượng, muội muội huynh đánh... là biểu đệ hoàng thượng đó..."

Tạ Chinh đang nghĩ cách đối phó, nghe Lưu Tuyên lải nhải càng bực, ngẩng lên quát: "Im miệng!"

Lưu Tuyên lập tức ngậm miệng, còn làm động tác dán kín môi.

Tạ Chinh không rảnh để ý nó, hỏi tiếp: "Muội cãi nhau với Thế Tử Cung Thân Vương vì chuyện gì?"

Trường Ngọc mím môi không nói.

Vì cúi đầu nên hàng mi dài che nửa ánh mắt, nắng rơi trên mi, đổ xuống mí mắt một vệt bóng cong cong.

Tạ Chinh nhíu mày: "Chẳng lẽ muội ra tay trước?"

Trường Ngọc lắc đầu.

Tạ Chinh cố kiên nhẫn: "Gây chuyện rồi thì cũng phải nói ta biết vì sao muội đánh người, ta mới giúp muội dàn xếp được.

Nếu xử lý không khéo, phụ mẫu muội phải dẫn muội đi xin lỗi Thế Tử cũng chưa chắc xong."

Cô bé vẫn mím môi cứng đầu, nhưng trong hốc mắt đã ửng đỏ.

Một lúc lâu sau mới nói: "Chỉ nói cho một mình huynh thôi."

Tạ Chinh liếc Lưu Tuyên một cái.

Lưu Tuyên hiểu ý, lùi ra xa.

Tạ Chinh nhìn cô bé, nói: "Nói đi."

Hai tay Trường Ngọc siết chặt vạt áo hơn, cuối cùng mở miệng: "Nó muốn lột quần muội."

Đầu Tạ Chinh như nổ tung, quát lên: "Cái gì?"

Cậu không kìm được âm lượng, khiến học sinh đi ngang và cả Lưu Tuyên đứng xa cũng quay đầu nhìn.

Tạ Chinh cố nén cơn giận, nhìn bộ hồ phục trên người cô bé, chậm giọng hỏi: "Chuyện thế nào?"

Mắt Trường Ngọc đỏ hơn, nhưng vẫn cứng đầu không khóc: "Muội theo phụ thân tập võ nên mặc hồ phục.

Nó cười muội mặc đồ nam nên chắc cũng là nam.

Muội đi nhà xí thay đồ, nó dẫn người chặn lại, muốn lột quần muội xem rốt cuộc có phải là nam không..."

Giọng cô bé nghẹn lại: "Muội sợ quá... nên đánh mạnh tay."

Tạ Chinh dùng ngón tay lau giọt nước mắt nơi khóe mắt cô bé, dịu giọng nói: "Đánh hay lắm."

Trường Ngọc ngẩng lên nhìn thiếu niên trước mặt, ngơ ngác.

Gió xuân ấm thổi lay mái tóc đen và vạt áo cậu.

Tạ Chinh hỏi: "Có bao nhiêu người biết chuyện này?"

Trường Ngọc đáp: "Muội bỏ dở giờ bắn cung đi thay đồ, chỉ có nó với hai đứa theo hầu."

Giọng Tạ Chinh vẫn ôn hòa, nhưng mang theo chút lạnh lẽo: "Nó có lột được không?"

Trường Ngọc lắc đầu: "Chúng nó vừa xô muội vào góc, muội đã đấm cho khóc rồi."

Tạ Chinh vén mấy sợi tóc rối sau tai cô bé, nói: "Vậy thì tốt.

Nếu nó thật sự lột được, ta móc mắt nó ra."

Cậu lại vỗ nhẹ vai Trường Ngọc: "Đừng sợ, không sao đâu."

Có lẽ vì nãy giờ cố nhịn, được an ủi xong Trường Ngọc mới bật khóc: "Nhưng...

Phụ thân nó là Vương gia... có phải muội gây họa rồi không?"

Tạ Chinh vừa lau nước mắt cho cô bé vừa lạnh giọng: "Phụ thân nó có là Hoàng Đế cũng không được làm chuyện khốn nạn như vậy."

Cơn giận trong lòng cậu vẫn chưa tan, chỉ dặn: "Chuyện này không được nói cho ai khác biết.

Nếu người ngoài biết nó từng định lột quần muội, dù có lột được hay không, sau này muội cũng chỉ có thể gả cho cái đồ khốn đó."

Cô bé như bị dọa, môi mím chặt hơn, nước mắt lưng tròng.

Tạ Chinh mềm lòng, dịu giọng: "Đừng sợ, để ta xử lý."

Cậu gọi Lưu Tuyên: "Ngươi trông muội muội ta giúp ta.

Dẫn muội ấy tới tửu lầu Từ Ký trước, ta có việc phải làm."

Lưu Tuyên gãi đầu: "Tạ đại ca, lúc này rồi huynh còn đi đâu?"

Tạ Chinh chỉ nói: "Đừng hỏi."

-.-

Cuối cùng Lưu Tuyên dẫn Trường Ngọc tới tửu lầu Từ Ký.

Hai mươi lượng bạc nó chưa kịp thua ở bãi săn thì đã tiêu trước vào món giò kho ở tửu lầu.

Nó gọi cả bàn món ngon của quán, nhưng cô bé chẳng ăn miếng nào, chỉ tì bên cửa sổ, mong ngóng nhìn về phía thư viện.

Lưu Tuyên an ủi: "Đừng lo cho Tạ đại ca.

Dù bên kia là Thế Tử Cung Thân Vương, nhưng trước mắt Tạ Đại Tướng quân với Ngụy đại nhân mới là trọng thần cạnh bệ hạ.

Tạ Đại Tướng quân lại được phong Quan Sơn Hầu, chỉ cần Tạ đại ca nói muội là muội muội huynh ấy, nếu Cung Thân Vương biết điều thì sẽ không làm lớn chuyện đâu."

Tiểu cô nương không nói gì, chỉ vịn bệ cửa sổ, tiếp tục nhìn xuống dưới.

Lưu Tuyên tò mò hỏi thử: "Muội đẩy Thế Tử Cung Thân Vương một cái, làm nó té rụng răng à?"

Tiểu cô nương lắc đầu.

Lưu Tuyên càng thêm mơ hồ: "Vậy là...

đâm?"

Tiểu cô nương giơ nắm tay nhỏ không lớn, thành thật đáp: "Đấm."

Lưu Tuyên: "????"

Một lúc lâu sau, nó bỗng nói: "Cái kia...

Trường Ngọc muội muội, muội đánh ta một quyền thử xem."

Trường Ngọc lắc đầu.

Lưu Tuyên không tin là thật, tiếp tục năn nỉ: "Không sao đâu, ta chịu được, muội cứ đánh thử ta xem!"

-.-

Đợi Tạ Chinh bước vào tửu lầu Từ Ký, liền thấy Trường Ngọc ngoan ngoãn ngồi trên ghế, còn Lưu Tuyên thì nửa khuôn mặt đã sưng vù như đầu heo, đang lấy khăn thấm nước lạnh đắp lên mặt.

Thấy Tạ Chinh, nó mới lắp bắp nói: "Tạ đại ca... huynh tới rồi à..."

Tạ Chinh nhíu mày nhìn nửa gương mặt sưng phù của nó, hỏi: "Ngươi... lại đánh nhau với ai dọc đường à?"

Lưu Tuyên cười khổ: "Không...

Đệ nghe Trường Ngọc muội muội nói muội ấy một quyền đánh rớt răng Thế Tử Cung Thân Vương, nên đệ kêu muội ấy đánh thử một cái..."

Tạ Chinh lập tức liếc nó bằng ánh mắt nhìn kẻ ngốc.

Lưu Tuyên đau đến nhe răng, dùng khăn ướt che nửa bên mặt, vừa hít hơi lạnh vừa nói nhỏ: "Đệ cũng không ngờ...

Trường Ngọc muội muội lại khỏe dữ vậy... gần bằng Tạ đại ca luôn rồi..."

Tạ Chinh kéo ghế ngồi xuống bên cạnh Trường Ngọc.

Cô bé xoắn ngón tay, lúng túng nói: "Muội... không phải cố ý..."

Đối phương cứ bắt bé đánh, bé mới đánh đó chứ.

Tạ Chinh hừ nhẹ một tiếng, nhìn Lưu Tuyên: "Không cần áy náy, đấy là do nó muốn mà."

Lưu Tuyên sợ Trường Ngọc áy náy theo, vội nói phụ họa, dù đau đến méo cả miệng: "Đúng đó, cũng không đau lắm đâu, mai là xẹp thôi..."

Có lẽ thật sự đau không chịu nổi, nó lắp bắp nói với Tạ Chinh: "Tạ đại ca, huynh tới rồi thì đệ về trước nha..."

Nó phải về bôi thuốc, đau chết đi được.

Tạ Chinh liếc bàn đồ ăn, tháo túi tiền bên hông ném cho nó: "Qua y quán khám đi."

Lưu Tuyên bắt lấy túi tiền, cảm nhận được trọng lượng, lập tức cười toe toét.

Chỉ là nửa khuôn mặt sưng khiến một con mắt híp lại thành khe, trông vừa buồn cười vừa thảm:

"Cảm ơn đại ca."

-.-

Lưu Tuyên đi rồi, Tạ Chinh mới hỏi Trường Ngọc: "Một bàn đồ ăn mà muội không ăn miếng nào, không muốn ăn sao?"

Trường Ngọc gật đầu.

Tạ Chinh đứng dậy: "Vậy ta dẫn muội đi dạo chợ phía tây."

Trường Ngọc nắm chặt dây buộc túi vải, ngồi yên trên ghế không nhúc nhích.

Tạ Chinh cúi xuống, bóp nhẹ má cô bé: "Còn giận à?"

Trường Ngọc lắc đầu, mím môi nói: "Thế Tử Cung Thân Vương..."

Tay Tạ Chinh từ má cô bé trượt lên đỉnh đầu, xoa loạn hai búi tóc vốn đã bung ra: "Yên tâm, ta xử lý xong rồi."

Trường Ngọc bán tín bán nghi nhìn cậu.

Tạ Chinh cười: "Không tin ta sao?"

Trường Ngọc lại lắc đầu.

Mái tóc mảnh vì động tác đó khẽ quệt qua mu bàn tay cậu.

Tạ Chinh khẽ khựng lại, nói: "Quên buộc tóc lại cho muội rồi..."

Cậu tùy tiện buộc lại hai búi tóc méo mó, rồi đưa tay ra: "Đi thôi."

Trường Ngọc nắm tay cậu nhảy xuống ghế.

Hai búi tóc xấu xí theo bước chân lắc lư qua lại, trông lại ngốc nghếch đáng yêu.

Chợ phía tây chủ yếu bán trâu ngựa, cùng đủ thứ đồ dùng như yên cương, roi ngựa, đao kiếm, cung nỏ.

Trường Ngọc trước giờ chỉ dạo chợ phía đông, xem hoa chim với quầy ăn vặt, đây là lần đầu cô bé tới chợ phía tây.

Bắn tên, ném thẻ vào bình rượu, trò nào Tạ Chinh cũng dẫn Trường Ngọc chơi một lượt.

Ban đầu cô bé còn chìm trong tâm sự, rầu rĩ không vui, về sau thì bị kéo theo chơi đến quên hết mọi chuyện.

Diều, tượng sứ, trống nhỏ thắng được cả đống, còn được Tạ Chinh cưỡi ngựa chở chạy mấy vòng trong trại nuôi ngựa.

Lúc trở về, trời đã ngả về tây.

Trường Ngọc chơi mệt rã rời, buồn ngủ lại đau chân, đi được một đoạn liền ngồi phịch xuống trụ đá ven đường: "Muội nghỉ chút nữa rồi đi."

Tạ Chinh nhìn cái đầu gật gà gật gù của cô bé, sờ túi áo, bất lực nói: "Ta hết sạch tiền rồi, không thuê được xe đưa muội về."

Trường Ngọc buồn ngủ đến không mở nổi mắt, vẫn lẩm bẩm: "Muội tự đi về được..."

Tạ Chinh vừa buồn cười vừa xót, nghĩ tới những chuyện cô bé gặp hôm nay, xoa xoa đầu bé rồi ngồi xổm xuống trước mặt: "Lên đi, ta cõng muội về."

Trường Ngọc nhìn tấm lưng rộng rãi của thiếu niên, do dự trong cơn buồn ngủ một lát, cuối cùng vẫn trèo lên.

Tạ Chinh cõng cô bé, đi dưới ánh hoàng hôn phủ đầy mặt đất.

Sau lưng truyền đến nhịp thở đều đều, cậu khẽ thở dài: "

Sau này ta vào quân doanh rồi, cái phiền phức nhỏ như muội phải làm sao đây?"

-.-

Trường Ngọc ngủ một giấc thẳng tới sáng hôm sau.

Lúc ăn cơm, mẫu thân vẫn dịu dàng như thường, phụ thân chỉ nói với mẫu thân vài chuyện trong quân doanh, tuyệt nhiên không nhắc đến Thế Tử Cung Thân Vương.

Trường Ngọc khẽ thở phào.

Xem ra phụ mẫu không biết chuyện cô bé đánh rụng răng Thế Tử Cung Thân Vương, cũng không biết Tạ Chinh đã xử lý chuyện này thế nào.

Đến thư viện, Trường Ngọc học tiết sớm mà chẳng tập trung, chỉ mong tan học sớm để lên thượng viện tìm Tạ Chinh, hỏi cậu hôm qua đã làm gì.

Vừa tan tiết, Trường Ngọc đang định lên thượng viện thì bị đồng môn ngồi cùng kéo lại: "Trường Ngọc, ngươi biết chưa?

Tên Thế Tử Cung Thân Vương kiêu căng hôm qua bị tiểu Hầu gia đánh cho một trận, còn bị lột sạch quần áo với hai tên theo hầu, ném thẳng ra đường!

Mất mặt tới mức đó, chắc nó cũng không dám quay lại thư viện nữa đâu nhỉ?"

Trường Ngọc sững người, chưa kịp đáp câu nào đã nắm chặt tay, xoay người chạy thẳng lên thượng viện.

Cửa sổ thượng viện cao, cô bé phải kiễng chân mới nhìn vào được.

Mấy học sinh lớn tuổi bên trong thấy bóng người lấp ló ngoài cửa sổ, liếc qua một cái, nhận ra không phải phu tử tuần tra tiết sớm liền thở phào, gọi:

"Nhà ai có muội muội đứng ngoài kia vậy?"

Thư viện này do Tạ gia dựng nên, con cháu các tướng lĩnh trong quân đều được đưa tới học, học sinh thượng viện và hạ viện không ít người là huynh đệ tỷ muội.

Chỗ Tạ Chinh ngồi trống không.

Lưu Tuyên nhìn thấy Trường Ngọc, bước ra hỏi:

"Tìm Tạ đại ca hả?"

Trường Ngọc gật đầu.

Vết sưng trên mặt Lưu Tuyên đã bớt đi chút, nhưng vẫn còn bầm tím.

Nó nói: "Tạ đại ca hôm nay không tới thư viện.

Chuyện Thế Tử Cung Thân Vương, ta cũng nghe rồi."

Nó khó hiểu nhìn Trường Ngọc: "Rốt cuộc tên đó bắt nạt muội kiểu gì?

Muội đánh rụng răng nó rồi, Tạ đại ca còn đánh cho nó mặt mũi bầm dập, lột sạch ném ra đường.

Nghe nói chiều hôm qua Cung Thân Vương Phi khóc lóc tới Tạ gia thưa chuyện.

Ta đoán...

Tạ đại ca khó tránh bị phạt một trận."

Nghe tới đó, Trường Ngọc xoay người chạy thẳng về.

Lưu Tuyên gọi theo sau: "Muội đi đâu vậy?"

"Muội đi về!"

Trường Ngọc đáp.

Khi cô bé chạy về hạ viện, phu tử đã đứng trong phòng học, tay cầm sách Luận Ngữ.

"Hôm nay chúng ta học thiên Học nhi."

Quay đầu thấy Trường Ngọc đứng ở cửa, phu tử ôn hòa nói: "Mau về chỗ ngồi đi."

Trường Ngọc xưa nay rất ngoan, ngoài chữ viết chưa đẹp lắm thì chưa từng bỏ học hay trốn tiết, các phu tử đều rất quý tiểu cô nương ngây thơ nhưng kiên định này.

Trường Ngọc ôm bụng, cố làm vẻ mặt đau đớn: "Phu tử, con đau bụng..."

Bé rất ít khi nói dối.

Phu tử nhìn dáng vẻ trắng trẻo đáng yêu của bé, lại nhớ tới thành tích thường ngày, hoàn toàn không nghi ngờ, lập tức nói: "Vậy để ta cho người đưa con về phủ."

Trường Ngọc gật đầu, xách túi vải nhỏ của mình, theo phu tử dẫn đường ra khỏi thư viện.

Ngồi trên xe ngựa về phủ, khi xe đi ngang qua Tạ phủ, Trường Ngọc bảo xa phu thả mình xuống tại đây là được.

Xa phu hơi lúng túng: "Cái này... tiểu nhân phải đưa tiểu thư về tận phủ mới được."

Trường Ngọc lễ phép đáp: "Mẫu thân con đang làm khách ở nhà Tạ bá bá, con qua tìm mẫu thân."

Xa phu lúc này mới yên tâm, nhìn bé vào tới cổng lớn Tạ phủ rồi mới quay xe đi.

Trường Ngọc và mẫu thân vốn là khách quen của Tạ phủ, người gác cổng đều nhận ra bé.

Thấy bé đeo túi nhỏ bước vào, người gác cổng cười hỏi: "Mạnh tiểu thư tới chơi à?"

Trường Ngọc nắm chặt dây buộc túi, đáp: "Con tới tìm Tạ ca ca."

Người gác cổng cười theo: "Tiểu Hầu gia gây chuyện, đang bị Hầu gia phạt roi, quỳ trong từ đường.

Hay là hôm khác tiểu thư hãy tới?"

Nghe vậy, môi Trường Ngọc vô thức mím chặt lại: "Con muốn qua xem huynh ấy."

Người gác cổng lộ vẻ khó xử: "Hầu gia đã dặn gia nhân, không cho ai tới gần từ đường.

Mạnh tiểu thư đừng làm khó tiểu nhân."

Trường Ngọc lập tức đổi lời: "Vậy con muốn gặp Tạ bá mẫu."

Lần này người gác cổng không cản nữa, còn ân cần hỏi: "Để tiểu nhân cho người dẫn đường nhé?"

Trường Ngọc đã xách túi đi về phía trước: "Không cần, con nhớ đường."

Qua cổng thuỳ hoa có hai lối nhỏ, một lối vào nội viện, lối kia vòng sang tây sương, đi thêm một đoạn là tới từ đường Tạ gia.

Trường Ngọc đã tới Tạ phủ nhiều lần, những con đường này đều quen thuộc.

Bé vòng lối tây, tới gần từ đường.

Trước cửa lớn có người canh giữ, bé liền men ra phía sau tường, gỡ túi vải xuống, đẩy túi qua lỗ chó trước, rồi cúi người chui theo vào trong.

-.-

Trời xuân vẫn còn lạnh.

Tạ Chinh đêm qua vừa về phủ đã bị Tạ Lâm Sơn đánh mười roi, chưa kịp uống một ngụm nước, lại chỉ mặc áo mỏng quỳ trong từ đường suốt một đêm, đến sáng thì lên cơn sốt cao.

Đầu óc choáng váng, quỳ quá lâu, hai đầu gối đau nhức âm ỉ.

Trong cơn mê man, cậu mơ hồ nghe thấy phía sau có tiếng cửa gỗ kẽo kẹt rất nhẹ.

Tạ Lâm Sơn đã hạ lệnh, không cho bất kỳ ai tới thăm, cũng không cho đưa cơm nước.

Mẫu thân vì chuyện cậu đánh Thế Tử Cung Thân Vương quá nghiêm trọng, cũng không đứng ra xin xỏ.

Vậy thì còn ai tới từ đường thăm cậu?

Trong cơn mê, Tạ Chinh nhếch khóe môi tự giễu, đến mí mắt cũng lười mở.

Tiếng bước chân lại vang lên phía sau, rồi dừng ngay trước mặt cậu.

Một bàn tay nhỏ áp lên trán cậu, lòng bàn tay lạnh mát mà mềm mại.

Tạ Chinh mở mắt, liền thấy tiểu cô nương lẽ ra phải đang ở thư viện đang cau mày nhìn mình: "Huynh sốt rồi, muội đi gọi người!"

Trường Ngọc vừa nhấc chân định chạy ra ngoài thì bị cậu nắm lấy cổ tay: "Đừng đi."

Giọng Tạ Chinh khàn khàn vì sốt, gương mặt vốn tuấn tú cũng lộ vẻ mệt mỏi.

Trường Ngọc cuống lên: "Huynh bị bệnh rồi!"

Cô bé cố gỡ bàn tay nóng như bàn ủi đang giữ chặt cổ tay mình: "Tạ bá bá phạt huynh là vì huynh đánh Thế Tử Cung Thân Vương phải không?

Muội đi nói với Tạ bá bá, là nó bắt nạt muội trước!"

Bàn tay thiếu niên vẫn không hề nới, nhịn đau đầu và mệt mỏi, nghiêm giọng nói: "Tiểu muội ngốc, chẳng phải ta đã dặn rồi sao?

Chuyện này không được nói với ai."

Trường Ngọc ngơ ngác: "Cả Tạ bá bá và Tạ bá mẫu cũng không được nói ạ?"

Thiếu niên không trả lời câu đó, chỉ nói tiếp: "Tên béo xấu xí kia với hai tên theo hầu của nó, ta đều đã dạy cho một bài học.

Chúng không dám làm lớn chuyện.

Ta đánh nó một trận, lột sạch quần áo ném ra đường, coi như thay muội trút giận.

Chút hình phạt này, không đáng gì."

Trường Ngọc nhìn thấy trên lưng cậu, áo quần bị roi quất rách toạc, dính đầy vết máu, sống mũi chợt cay xè: "Huynh nên nói rõ với Tạ bá bá đi mà."

Tạ Chinh thật sự đã kiệt sức, mí mắt dần khép lại, chỉ lẩm bẩm: "Tiểu muội ngốc...

đã nói không được nói thì là không được nói."

"Để Vương gia, Vương phi Cung Thân Vương biết chuyện, chưa chắc họ không trở mặt bắt muội đính ước từ bé với cái tên đầu heo đó.

Như vậy chỉ làm tổn hại thanh danh của muội, được ít mất nhiều.

Trận phạt này, ta buộc phải nhận cho bên kia thấy.

Nói ra, chỉ khiến mẫu thân ta với người lớn trong nhà khó xử."

Trường Ngọc nhìn những vết roi dữ tợn trên lưng cậu, cố nén nước mắt hỏi: "Huynh có đau không?

Muội mang theo thuốc, để muội bôi cho huynh."

Từ khi bắt đầu học võ, trên người Trường Ngọc không thiếu vết trầy xước.

Trong túi nhỏ, ngoài sách vở, còn có cả Kim Sang Dược.

Cô bé lấy bình thuốc ra.

Khi giúp Tạ Chinh rửa vết thương, vì máu đã khô, vải rách dính chặt vào da thịt, mỗi lần gỡ ra đều đau đến xé da.

Bé dùng nước ấm thấm ướt phần vải dính, rồi cẩn thận tách ra.

Dù vậy, vẫn nghe thấy tiếng Tạ Chinh khẽ rên.

Trường Ngọc luống cuống: "Đau lắm phải không?

Muội... muội sẽ nhẹ tay hơn..."

Gò má Tạ Chinh vì sốt mà đỏ bừng, trán đã lấm tấm mồ hôi.

Cậu mở mắt, nói khàn khàn: "Muội cởi áo chậm như bò, đang lột vỏ ốc à?"

Nói xong, cậu tự tay kéo mạnh mảnh áo dính máu xuống, vết thương lại rịn máu.

Cậu chẳng để tâm, chỉ nói: "Bôi thuốc đi."

Khi Trường Ngọc rắc thuốc bột lên lưng cậu, môi nàng mím chặt: "Chảy máu nhiều quá..."

Tạ Chinh nhắm mắt, cắn răng chịu đau, mồ hôi đổ ướt cả người, từ kẽ răng bật ra hai chữ: "Không đau."

Bôi thuốc xong, có lẽ vì ra mồ hôi rồi bị lạnh, cơn sốt của cậu còn nặng hơn.

Cậu vẫn không cho Trường Ngọc đi gọi người.

Cả người nóng hầm hập như than hồng, ý thức đã mơ hồ, miệng vẫn lặp đi lặp lại chữ "lạnh".

Trường Ngọc khoác áo choàng nhỏ của mình lên người Tạ Chinh, nhưng dường như vẫn không đỡ.

Cô bé tám tuổi không biết làm sao để hạ sốt.

Nghe Tạ Chinh kêu lạnh, bé ngồi xổm bên cạnh, nâng một bàn tay cậu lên, hà hơi vào lòng bàn tay rồi xoa xoa giúp cậu sưởi ấm.

Khi Tạ phu nhân tới thăm con bị phạt quỳ từ đường, liền thấy hai đứa trẻ dựa sát vào nhau, đã ngủ say.

Sau này Tạ phu nhân lấy chuyện đó trêu nhi tử, nói ăn một trận đòn mà có tức phụ tương lai trốn học tới thăm, cũng đáng.

Lần đầu tiên Tạ Chinh nghiêm mặt nói với mẫu thân: "Mẫu thân, Trường Ngọc giờ cũng lớn rồi, những lời đó sau này xin đừng đem ra đùa nữa.

Con chỉ coi Trường Ngọc như muội muội."

Khi còn nhỏ, cậu không hiểu chuyện, cũng không biết thế nào là thành thân thê thất.

Lúc mẫu thân trêu đùa, cậu chỉ nghĩ sau này trong phủ có thêm một muội muội để mình chăm sóc.

Giờ đã hiểu chuyện, lại nhìn cô bé ấy lớn lên từng ngày, cậu càng không thể coi mấy lời đùa của hai vị trưởng bối là thật.

Tạ phu nhân không ngờ mấy câu trêu ghẹo lại khiến con trai nghiêm túc đến vậy, sững người một lát rồi nói: "Được, được, mẫu thân nhớ rồi."

Khi Tạ phu nhân bưng bát thuốc đi ra, liền thấy Trường Ngọc đứng bên cửa, ôm một hộp nhỏ trong tay.

Bà không rõ cô bé đã nghe được bao nhiêu, nhưng nghĩ bé còn nhỏ, chưa hiểu chuyện, liền mỉm cười hỏi: "Trường Ngọc tới thăm Tạ Chinh ca ca à?"

Tiểu cô nương ngoan ngoãn gật đầu.

Tạ phu nhân nói: "Nó vừa uống thuốc xong, ở trong phòng.

Con vào nói chuyện với nó đi."

Trường Ngọc "dạ" một tiếng, ôm hộp bước qua ngưỡng cửa, vào trong.

Tạ Chinh tựa lưng trên gối, ho khan.

Thấy cô bé, cậu yếu ớt nói: "Ngồi bên bàn kia thôi, đừng lại gần.

Ta bị phong hàn, coi chừng lây bệnh cho muội."

Trường Ngọc không nghe, đặt hộp lên bàn nhỏ bên giường, rồi lùi lại vài bước: "Nghe nói huynh ăn uống không được, muội mua cho huynh một hộp kẹo trần bì."

Tạ Chinh khẽ cười, hỏi: "Hiếm thật, muội còn biết mua đồ cho ta."

Trường Ngọc không đáp, ngồi trên ghế đẩu một lúc, rồi bỗng nói một câu không đầu không đuôi: "Cảm ơn."

Nụ cười nơi khóe môi Tạ Chinh chợt tắt: "Muội cũng sốt rồi à?

Sốt tới mức nói năng lạ lùng thế này?"

Trường Ngọc hạ giọng nói: "Huynh còn mắng muội nữa, muội sẽ đi nói với Tạ bá mẫu."

Tạ Chinh liếc bé một cái: "Không muốn bị mắng thì cái miệng đó đừng nói bừa."

Trường Ngọc lẩm bẩm: "Muội nói lời cảm ơn thôi mà cũng sai..."

Tạ Chinh cười lạnh:

"Ta dọn dẹp đống rắc rối cho muội bao nhiêu lần rồi, có lần nào muội nói cảm ơn ta chưa?

Mạnh Trường Ngọc, muội khách sáo với ai vậy?"

Tiểu cô nương cúi đầu ngồi trên ghế thêu, im lặng hồi lâu, mãi sau mới ồm ồm hỏi: "Tạ Chinh... huynh sẽ làm ca ca của muội cả đời chứ?"

Tạ Chinh chỉ thấy hôm nay con bé này có gì đó là lạ, liền đáp: "Trừ khi phụ mẫu ta sinh thêm cho ta một muội muội nữa, bằng không ngoài muội ra, ta còn có thể có ai khác làm muội muội?"

Trường Ngọc khảy khảy tua áo của mình, trầm mặc một lúc.

Khi ngẩng đầu lên lần nữa, gương mặt đã nở nụ cười: "Vậy quyết định thế nhé!

Huynh làm ca ca của muội cả đời!"

Tạ Chinh còn tưởng con bé bị chuyện của Thế Tử Cung Thân Vương dọa sợ, ho khan hai tiếng rồi cười nói: "Được thôi."

Từ trước tiểu cô nương này vốn không mấy khi để ý người khác, vậy mà hôm nay lúc về, đi tới cửa còn quay đầu lại, cười với cậu, vẫy tay nói: "Tạ Chinh ca ca, tạm biệt!"

Tạ phu nhân bưng chén thuốc vừa sắc xong đi tới, thấy Trường Ngọc đã rời đi, liền cười với Tạ Chinh: "Ta thấy Trường Ngọc hình như thân thiết với con hơn hẳn trước kia, từ trước chưa từng thấy con bé gọi con thân mật như vậy."

Tạ Chinh nhìn theo bóng dáng tiểu nha đầu đi xa, không nói gì.

Con bé này... có gì đó không ổn.

Nhưng Tạ Chinh cũng không kịp nghĩ lâu.

Ngoài quan lại nổi chiến sự, Tạ Lâm Sơn và Ngụy Kỳ Lâm phải nhổ trại đi trong đêm.

Bắc Quyết đã thay tân Vương.

Để nhanh chóng lập công, trấn áp những thủ lĩnh trong bộ lạc không phục, tân Vương Bắc Quyết dẫn quân đánh lén Cẩm Châu.

Chiến sự đến dồn dập.

Tạ Lâm Sơn lên đường còn dặn phải sơ tán bách tính trong thành, lại sai gia tướng hộ tống Tạ phu nhân về kinh trước.

Không may hôm đó lại gặp một trận mưa xuân.

Xe ngựa đi trên đường vô cùng khó khăn, có một chiếc xe chở hàng còn bị lún bánh vào bùn.

Các hộ vệ đội nón lá, khoác áo tơi, vừa hò vừa đẩy bánh xe.

Tạ phu nhân và Mạnh Lệ Hoa đều xuống xe xem xét.

Trường Ngọc nghe tiếng sấm mưa, cuộn mình trong xe, mơ màng sắp ngủ.

Bỗng một tia chớp trắng lóe lên, soi rõ một bóng người vén rèm xe, đang nhìn cô bé.

Trường Ngọc dụi dụi mắt, còn tưởng mình hoa mắt.

Khi nhận ra không phải ảo giác, nàng vội nói: "Huynh đang bị phong hàn, không chịu được mưa đâu, mau vào xe đi..."

Thiếu niên cắt ngang lời cô bé: "Giúp ta nói với mẫu thân một tiếng, ta đi Cẩm Châu."

Trường Ngọc sững người: "Cẩm Châu đang đánh giặc mà..."

Thiếu niên mỉm cười, giơ cây kích bạc trong tay lên: "Chính vì đang đánh giặc nên ta mới phải đi."

Cậu hơi nghiêng đầu, nhờ ánh đèn lưu li mờ mờ trong xe, nhìn Trường Ngọc thật kỹ, nói một câu: "Ta đi đây."

Ngay sau đó, cậu giật dây cương, mang theo trường kích, biến mất trong màn mưa đêm.

-.-

Trường Ngọc trở về kinh thành, đến ba tháng sau mới nhận được thư của Tạ Chinh.

Trong thư cậu nói, chiến sự ở Cẩm Châu tiến triển thuận lợi, chỉ là lần này Bắc Quyết thế công quá dữ dội.

Hai bên đã ngừng binh gần mười năm, trận chiến này e là sẽ kéo dài.

Lại nói trong quân gặp được một người thợ giỏi, chuyên làm cung sừng.

Cậu đã nhờ người đó làm cho nàng một cây cung nhỏ, chờ sang thu có thể nhờ người mang về kinh.

Hạ qua đông đến, trong hộp thư gửi từ phương Bắc về, giấy viết thư chất lên ngày một dày.

Cây cung gỗ đỏ tinh xảo ấy Trường Ngọc đã nhận được.

Nhưng từ năm thứ hai trở đi, thư từ bé nhận được ngày càng ít.

Nhiều tin tức về Tạ Chinh, bé chỉ còn nghe được qua miệng Tạ phu nhân.

Ví dụ như cậu lại lập thêm chiến công, chém giết một vị đại tướng Bắc Quyết nào đó, suýt bắt sống một vị Vương tử...

Năm tháng trôi đi như nước chảy về đông, khoảng cách giữa thiếu niên và thiếu nữ cũng dần dần xa ra.

-.-

Năm Trường Ngọc mười tuổi, nhờ thánh thượng anh minh, coi trọng cả văn lẫn võ, lại đề xướng nữ học, nên Quốc Tử Giám mở thêm khóa dành cho nữ tử.

Để làm gương, Hoàng Đế cho các Hoàng Tử Công Chúa đều vào Quốc Tử Giám đọc sách.

Văn thần võ tướng phía dưới tất nhiên không thể để thiên tử mất mặt, liền đồng loạt đưa những nữ nhi vừa độ tuổi của mình vào học.

Tạ phu nhân biết Trường Ngọc cũng sẽ đến Quốc Tử Giám, trong lòng vô cùng vui mừng.

Bà không có con gái, Trường Ngọc lại là đứa trẻ bà nhìn lớn lên, thương yêu chẳng khác gì con ruột.

Nhắc chuyện này với Mạnh Lệ Hoa, bà không tiếc lời khen: "Vị tế tửu Quốc Tử Giám lần này là một nhân vật ghê gớm, chính là Công Tôn lão tiên sinh.

Nghe nói bệ hạ từng mấy lần phái khâm sai trọng thần đến mời, đều bị khéo léo từ chối.

Sau đó bệ hạ nam tuần, đích thân đến Hà Giang bái phỏng Công Tôn gia, lúc ấy lão tiên sinh mới chịu rời núi."

"Hà Giang Công Tôn gia là gia thế thế nào chứ?

Sách độc bản tuyệt tích trên đời đều có thể tìm thấy ở Tàng Thư Lâu nhà họ.

Bệ hạ chiêu nạp được hiền tài như vậy, đúng là phúc của Đại Dận."

Trường Ngọc cứ thế học ở Quốc Tử Giám mấy năm.

Nhờ cưỡi ngựa bắn cung luôn đứng hạng giáp, Tề Xu cùng đám quý nữ đến kéo cung còn không nổi, thường tội nghiệp nhìn nàng cầu cứu.

Mấy năm trôi qua, quý nữ khắp kinh thành đều coi nàng là khuê trung tri kỷ.

Hễ có thơ hội, yến tiệc gì, đều không quên gửi thiếp mời cho nàng.

Chỉ là Trường Ngọc học bao nhiêu năm, hễ làm thơ là đau đầu, phần lớn đều tìm cách thoái thác thì thôi.

Hôm nay cũng không ngoại lệ, nàng đang định từ chối thiếp mời ngắm hoa của phủ Tấn Văn Công, thì Tề Xu lại nhất quyết phải đi, nói trong yến hội không quen ai, bắt Trường Ngọc đi cùng cho có bạn.

Mạnh Lệ Hoa nghe nữ nhi chịu đi, liền vui vẻ, còn trêu chọc: "Cũng tốt.

Sang năm con cập kê rồi, cũng đến lúc xem xét một chút."

Trường Ngọc đưa tay véo má phúng phính của ấu muội, cười nói: "Còn sớm lắm, mẫu thân ơi."

Mạnh Lệ Hoa nhìn hai tỷ muội một lớn một nhỏ, cười nói: "Không còn sớm đâu.

Hồi trước con cũng chỉ cỡ tuổi Ninh Ninh, suốt ngày gây chuyện, bắt tiểu Hầu gia phải theo sau thu dọn.

Chớp mắt một cái, con đã thành đại cô nương rồi."

Có Trường Ngọc dỗ Trường Ninh chơi,

Mạnh Lệ Hoa liền đứng dậy, bắt đầu sắp xếp lại rương áo quần: "Mấy hôm trước phụ thân các con gửi thư về, nói trận này lại đại thắng, chiến sự Bắc Cảnh coi như đã yên.

Danh tiếng tiểu Hầu gia mấy năm nay vang khắp triều dã, lần này còn thay Tạ bá bá vào kinh nhận phong thưởng."

Động tác lật dây hoa của Trường Ngọc khựng lại một chút, nàng thất thần "ừ" một tiếng.

Trường Ninh không vui, chu môi lên: "A tỷ, a tỷ, tỷ lật sai rồi!"

Mạnh Lệ Hoa nhìn vậy liền cười:

"Lát nữa mẫu thân chơi cùng Ninh Ninh.

A tỷ con hôm nay phải đi dự hội hoa ở phủ Tấn Văn Công, để a tỷ con đi thay đồ đi."

Mắt Trường Ninh lập tức sáng lên: "Ninh Ninh cũng được đi sao?"

Mạnh Lệ Hoa lắc đầu.

Khuôn mặt nhỏ của Trường Ninh xị xuống: "Vì sao ạ?"

Mạnh Lệ Hoa nửa ngồi xuống, chấm nhẹ lên chóp mũi cô bé: "Đợi Ninh Ninh lớn thêm chút nữa, con sẽ được đi..."

-.-

Hội hoa ở phủ Tấn Văn Công quả nhiên náo nhiệt như dự đoán.

Tài tử giai nhân nâng chén, hành tửu lệnh, ngâm thơ làm phú, không khí vô cùng tao nhã.

Tề Xu vào yến hội tìm người mà không thấy, suốt buổi không mấy hứng thú, cuối cùng dứt khoát kéo Trường Ngọc trốn vào một góc, ngồi xem các quý nữ biểu diễn tài nghệ.

Nàng ta tuổi còn nhỏ, lại là cùng bối với đương kim thiên tử, đến Hoàng Hậu gặp còn phải gọi một tiếng "Điện hạ".

Trong phủ không ai dám thất lễ với nàng ta.

Chỉ là hôm nay Tấn Văn Công phu nhân mang tâm tư mai mối rất rõ ràng, bèn đề nghị các quý nữ viết nửa khuyết thơ từ lên thẻ gỗ, không ghi tên, rồi để thị nữ mang sang khu nam khách, cho các tài tử chọn điền nửa sau.

Cách này được các quý nữ tán đồng.

Dù sao chỉ đưa thẻ gỗ, không ai điền thơ của mình thì cũng chẳng mất mặt, lại còn có thể dựa vào thơ văn và chữ viết trên thẻ để đánh giá tài học, thư pháp của các tài tử.

Đã là chủ mẫu phủ Tấn Văn Công mở lời, Tề Xu cũng không tiện vắng mặt.

Nàng ta vốn không giỏi làm thơ, cùng Trường Ngọc vò đầu bứt tai hồi lâu, hai người nhìn nhau, cuối cùng miễn cưỡng ghép được hai câu.

Lúc giao thẻ cho thị nữ phủ Tấn Văn Công, nàng ta cố ý làm bộ kiêu căng: "Lát nữa thu thẻ thì mang tới cho bổn cung trước để ta tìm thẻ của mình."

Thị nữ liên tục đáp vâng.

Đợi thị nữ đi xa, Tề Xu mới thở dài, vai rũ xuống, nói với Trường Ngọc: "Một lát lấy thẻ trước, dù không ai viết tiếp thơ của chúng ta, thì sẽ đỡ mất mặt hơn là lấy sau cùng."

Khi thẻ gỗ được truyền trả lại, Tề Xu nhận được thẻ của mình, lập tức hết buồn bực, khóe mắt chân mày đều giấu không nổi ý cười.

Trường Ngọc nhìn hai hàng chữ miễn cưỡng coi được của mình, bên dưới là nét chữ thanh nhã tú khí, không khỏi nhíu mày.

Tề Xu ghé đầu nhìn qua rồi cười trêu: "Chữ này thanh nhã đoan chính, bài từ cũng không phải bịa bừa, chắc người viết là một tài tử lớn đấy.

Ta thấy A Ngọc cũng nên gặp thử đi."

Trường Ngọc nhíu mày nói: "Thôi bỏ đi, ta không có thiên phú văn chương bút mực..."

Tề Xu lại nhìn chằm chằm nửa khúc từ kia, vẻ mặt chợt trở nên kỳ quái: "Sao ta thấy chữ này giống của Lý Hoài An vậy nhỉ?"

Trường Ngọc "a" một tiếng.

Tề Xu cầm thẻ gỗ lên nhìn kỹ rồi nói: "Không sai đâu.

Ta hay mượn bài tập của hắn, đúng là chữ hắn!"

Tề Xu nhìn Trường Ngọc, nụ cười mang theo ý trêu chọc: "A Ngọc, chữ của ngươi cũng nổi tiếng trong đám quý nữ đấy!

Biết đâu cái tên Lý Hoài An kia cố ý chọn thẻ của ngươi để viết tiếp."

Trường Ngọc bất đắc dĩ nói: "Chắc cũng giống chúng ta thôi, bị ép quá nên phải viết.

Hắn có tên trên bảng tài tử kinh thành, nếu không viết chắc sẽ bị người ta thúc giục.

Viết cho người khác lại sợ sinh hiểu lầm.

Hắn quen hai chúng ta hơn, ngươi lại có người viết rồi, nên mới nhặt thẻ của ta."

Lời này làm Tề Xu giật mình, nàng ta gật đầu: "Nghe cũng có lý."

Theo lệ, sau khi hoàn thành nửa sau thơ từ, nếu quý nữ nào có ý kết giao với người đã điền thơ cho mình, sẽ sai hạ nhân cầm thẻ sang khu nam khách dò hỏi thân phận người đó.

Bên nữ khách biết được danh tính, cân nhắc tài mạo và gia thế, nếu bằng lòng, lại để hạ nhân báo ngược thân phận của mình cho vị nam khách được chọn.

Theo quy trình như vậy, nếu hai bên đều vừa ý thì coi như một mối duyên đã thành.

Tề Xu đã biết người điền thơ cho mình là ai nên nàng ta không sai người sang hỏi.

Chưa ngồi được bao lâu, đã có gia nhân ghé sát thì thầm vài câu với nàng ta.

Trong mắt Tề Xu không giấu được vẻ vui mừng, nàng ho nhẹ một tiếng rồi quay sang Trường Ngọc: "A Ngọc, ta đi gặp một người, ngươi ở đây chơi một mình một lát nhé."

Trường Ngọc gật đầu.

Chỉ là Tề Xu vừa rời đi, liền có không ít quý nữ khác kéo tới bắt chuyện với Trường Ngọc.

Cuối cùng, nàng còn bị lôi sang sau bình phong, cùng mọi người lén nhìn mấy vị tài tử nổi danh trong kinh.

Các quý nữ xì xào: "Ta nghe nói hôm nay đến dự yến không chỉ có tài tử trong kinh, còn có mấy vị công tử vương hầu gia thế hiển hách nữa đấy!"

Trường Ngọc nghe tai này lọt tai kia, chẳng mấy để tâm.

Nàng tìm được một khoảng trống, lặng lẽ rời khỏi đám đông, trốn vào rừng hải đường trong phủ Tấn Văn Công để tìm chút yên tĩnh...

Tấn Văn Công vốn là người tao nhã, ngày thường thích pha trà ngắm cảnh, vườn trong phủ cũng được xây dựng rất có ý tứ.

Rừng hải đường uốn lượn theo dòng nước chảy, núi giả trùng điệp.

Gió thổi qua, cánh hoa hải đường rơi xuống mặt nước, trôi lững lờ, tựa như một bức tranh hoa rơi nước chảy.

Cách đó không xa có một thủy tạ.

Trường Ngọc tiện tay bẻ một chiếc lá sen, úp lên mặt, rồi nằm thẳng lên ghế mỹ nhân dựa, định chợp mắt.

Tiết trời vừa phải, nắng chiếu lên người ấm áp, thật khiến người ta buồn ngủ.

Chỉ là nàng vừa nằm xuống, đã có thứ gì đó rơi trúng chiếc lá sen che mặt.

Động tĩnh rất nhẹ, giống như nụ hoa hay hạt cây bị gió thổi rơi.

Trường Ngọc không để ý, chỉ giơ tay gãi gãi mặt, định tiếp tục ngủ.

Nào ngờ trên mặt lá sen lại vang lên một tiếng chạm khẽ nữa.

Nàng đành nhíu mày ngồi dậy, nhìn quanh đình hóng gió một vòng, vẫn không thấy bóng người.

Đang ngờ vực, một nụ hải đường lại bay thẳng về phía trán nàng.

Trường Ngọc ngẩng đầu, lúc này mới nhìn rõ người ném.

Thủy tạ dựa sát một bệ đá cao.

Xung quanh bệ trồng nhiều hoa mộc quý, xanh tốt rậm rạp, từ trong đình nhìn ra rất dễ bị che khuất.

Thiếu niên ném nụ hải đường mặc một thân huyền y, khoanh tay dựa dưới gốc hải đường.

Hoa văn chìm tinh xảo trên vạt áo lấp lánh dưới nắng.

Bên hông thắt đai gấm, treo ngọc bội và những món trang sức bằng châu ngọc, phản chiếu ánh mặt trời đến chói mắt.

Trường Ngọc đưa tay che trước mắt.

Thiếu niên dường như bật cười khẽ.

Dung mạo tuấn tú đến lạ, song vẫn có thể nhận ra vài phần bóng dáng năm xưa.

Thần sắc lười nhác vẫn y như trong ký ức.

Thấy nàng không lên tiếng, hắn hơi nhếch khóe môi, biếng nhác nói: "Mấy năm không gặp, không nhận ra ta nữa sao?"

Trường Ngọc nhìn hắn một lúc lâu, cuối cùng bật ra hai chữ: "Huynh trưởng."

Hai chữ vừa dứt, cả hai đều nhìn nhau trân trân, im lặng hai nhịp thở.

Dường như đều cảm thấy cách gọi này có chút gượng, nhưng lại chẳng có xưng hô nào thích hợp hơn.

Tạ Chinh gạt cành hoa, từ bệ đá cao nhảy xuống.

Trường Ngọc hỏi khô khốc: "Sao huynh cũng ở đây?"

Tạ Chinh liếc nhìn thẻ gỗ đặt trên ghế mỹ nhân dựa bên cạnh nàng, cười mà không cười: "Nghe nói muội đến yến hội để chọn phu quân, ta tới xem giúp muội."

Hắn một đường phong trần từ đất bắc trở về, gặp Tạ phu nhân còn nói mang theo quà cho nàng.

Từ miệng Tạ phu nhân biết nàng đang ở hội hoa phủ Tấn Văn Công, liền mượn đường cùng bằng hữu Thẩm Thận tới đây.

Trường Ngọc cảm thấy lời hắn nói hình như có gai, nhưng lại không nghĩ ra nguyên do, đành nói thật: "Cũng không xem gì nhiều..."

Thấy hắn nhìn chằm chằm thẻ gỗ trên ghế, nàng sợ hắn thấy nét chữ xấu cùng mấy câu thơ khó coi của mình rồi lại bị mắng, liền theo phản xạ giấu thẻ ra sau lưng.

Tạ Chinh vẫn cười, chỉ là nụ cười ấy như giấu dao.

Trong lòng hắn rốt cuộc là tư vị gì, chính hắn cũng nói không rõ.

Ngàn dặm xa xôi từ đất bắc vội vã trở về, mang theo bao nhiêu đồ ăn ngon đồ chơi cho nàng.

Từ xa nhìn thấy nàng trong yến hội, dường như đã cao lớn hơn không ít, hắn còn thấy vui trong lòng.

Nhưng khi thật sự đứng trước mặt nàng, nàng đối với hắn lại hoàn toàn không còn thân cận như trước.

Nhận thức này khiến Tạ Chinh bỗng dưng bực bội.

Bây giờ nhìn nàng lén giấu tấm thẻ thơ cùng người khác làm trong hội hoa, hắn thậm chí còn cảm thấy khó chịu.

Chỉ là nhiều năm lăn lộn trong quân, hắn đã học được cách thu liễm cảm xúc.

Hắn như không có việc gì, nói với cô nương đã trưởng thành trước mắt: "Không ưng thì thôi, ta đưa muội về."

Hai người sóng vai rời khỏi thủy tạ.

Suốt dọc đường không tìm được chuyện gì để nói, nên cứ im lặng.

Đến chỗ rẽ thì gặp một thiếu niên mặc nho bào màu xanh nhạt, dáng vẻ văn nhã.

Thấy Trường Ngọc, hắn ta mỉm cười chắp tay chào.

Khi nhìn sang Tạ Chinh thì hơi do dự: "Vị này là..."

Trường Ngọc nói: "Huynh trưởng của ta."

Thiếu niên kia như trút được gánh nặng, sau đó vừa căng thẳng vừa ngượng ngùng, cũng nghiêm chỉnh chắp tay chào Tạ Chinh: "Bái kiến huynh trưởng."

Tạ Chinh: "..."
 
Trục Ngọc Quyển 2 (Edit)
Chương 237: Ngoại Truyện Nếu... (3)


Rời khỏi phủ Tấn Văn Công, cho đến khi ngồi lên xe ngựa, Tạ Chinh vẫn không nói thêm một lời nào.

Trường Ngọc mấy lần muốn mở miệng phá tan bầu không khí vừa ngượng ngập vừa kỳ lạ ấy, nhưng thấy hắn ngồi ngay ngắn ở phía đối diện, tựa như đang nhắm mắt nghỉ ngơi, sợ làm phiền nên rốt cuộc cũng im lặng.

Xe ngựa đi ngang qua khu chợ sầm uất.

Chỉ cách một tấm rèm mỏng, bên ngoài ồn ào náo nhiệt, bên trong lại lặng như tờ.

Trường Ngọc ngồi ngay ngắn trên ghế phủ lụa mềm, thỉnh thoảng liếc nhìn người trước mặt.

Với người "huynh trưởng" đã biến mất khỏi cuộc sống của mình hơn năm năm rồi đột ngột xuất hiện trở lại, thật lòng nàng cũng không biết phải cư xử thế nào cho phải.

Hồi còn bé xíu, ấn tượng đầu tiên của nàng về Tạ Chinh là lúc được Tạ phu nhân bế trên tay, vừa dỗ vừa cười, chỉ vào cậu bé đang luyện kiếm trong sân mà bảo: "A Ngọc nhìn kìa, tiểu phu quân của A Ngọc đang luyện kiếm đó!"

Lớn thêm chút nữa, mỗi lần theo mẹ sang phủ họ Tạ chơi, Tạ phu nhân lại cười tủm tỉm trêu: "Tức phụ tương lai của ta lại đến thăm ta rồi à?"

Có lần nàng để mắt đến thanh kiếm gỗ nhỏ của Tạ Chinh, hai đứa mỗi người nắm một đầu, giằng co đến đỏ mặt tía tai cũng không chịu buông.

Tạ phu nhân khi ấy còn mắng yêu con trai: "Cái thằng này!

Mẫu thân còn tính sau này gả A Ngọc cho con, con lại bắt nạt tiểu tức phụ của mình vậy đó hả?"

Thế là thanh kiếm gỗ Tạ Chinh dùng luyện suốt mấy năm trời rơi vào tay nàng.

Mẫu thân nàng biết chuyện, nghiêm mặt dạy không được tùy tiện đòi đồ của người khác.

Khi nàng mang trả lại, cậu bé còn nguyên vẻ non nớt ấy quay mặt đi chỗ khác, nói: "Đã tặng cho muội thì là của muội."

Khi đó cả hai đều còn nhỏ, lại nghe Tạ phu nhân thường xuyên đùa như vậy, nên trong lòng mặc nhiên cho rằng sau này hai người cũng sẽ sống bên nhau như phụ mẫu mình.

Dù không ở chung một nhà, hắn đối tốt với nàng dường như là chuyện hiển nhiên.

Nàng gây họa, để hắn đứng ra dọn dẹp hậu quả, cũng thấy là lẽ đương nhiên.

Về sau vào thư viện, học đến những điều như hiếu, lễ, trung tín, nghĩa, liêm, sỉ, nàng mới lờ mờ hiểu ra có điều gì đó không ổn.

Nam nữ lớn rồi phải giữ chừng mực, trừ khi có phụ mẫu định đoạt, mai mối rõ ràng.

Những lời trêu đùa của Tạ phu nhân rốt cuộc có tính là "phụ mẫu định đoạt" hay không, ở cái tuổi non nớt ấy nàng không sao nghĩ thấu.

Nhưng từ đó, nàng ít làm phiền Tạ Chinh hơn.

Có chuyện gì cũng tự mình giải quyết.

Chỉ có một lần nàng chủ động tìm hắn nhờ giúp là lần nàng đánh Thế Tử Cung thân vương.

Đến giờ nàng vẫn nhớ bóng lưng mảnh mai mà cứng cỏi của cậu bé quỳ trong từ đường, nhớ vết roi rách toạc trên áo, lớp máu sẫm đã khô, nhớ ánh sáng ban ngày hắt qua cửa từ đường, phủ lên vai lưng và mái tóc đen của hắn một quầng sáng nhàn nhạt, nhớ cả chiếc cằm tái nhợt và câu nói ấy: "Coi như giúp muội hả giận.

Chút phạt này, không đáng gì."

Khoảnh khắc ấy, tim nàng như bị ai đánh một hồi trống mạnh.

Cảm giác chấn động đó, về sau không còn xuất hiện lần nào nữa.

Thế nhưng khi nàng đến thăm bệnh, lại nghe hắn nói với Tạ phu nhân rằng chỉ xem nàng như muội muội.

Đã là muội muội, nhưng giữa họ vốn không có quan hệ huyết thống.

Trường Ngọc nghĩ, vậy thì càng nên giữ lễ, giữ khoảng cách hơn.

Nàng cư xử khách sáo với hắn, hắn lại chẳng vui, thậm chí còn mắng nàng.

Phải tiếp tục ở bên hắn thế nào cho đúng mực, điều đó càng khiến nàng rối bời.

Chưa kịp tìm ra chừng mực thích hợp, nàng đã theo mẫu thân và Tạ phu nhân về kinh thành, còn Tạ Chinh thì mang một thân ngang tàng vào quân doanh.

Năm năm trôi qua, chỉ qua lại bằng thư từ thăm hỏi, cũng xem như yên ổn.

Giờ đây một người sống sờ sờ đột ngột xuất hiện ngay bên cạnh, dung mạo và khí chất đều thay đổi đến mức khó nhận ra.

Câu hỏi từng khiến nàng bối rối năm xưa, giờ lại càng thêm khó giải.

Trường Ngọc khẽ nhíu mày.

Khi ánh mắt nàng lần nữa lướt qua gương mặt Tạ Chinh, người đang nhắm mắt nghỉ chợt mở mắt.

Ánh nhìn hai người bất ngờ chạm nhau.

Nàng khẽ ho một tiếng: "Huynh ngồi xe ngựa xóc như vậy, ngủ chắc không thoải mái?"

Hắn im lặng một thoáng, không đáp mà hỏi ngược lại: "Người vừa nãy ở phủ Tấn Văn Công là ai?"

Trường Ngọc thành thật đáp: "Bạn học trong thư viện, Lý Hoài An cháu nội của Lý Đại Học sĩ."

Gió lùa làm tấm rèm bên cửa sổ lay động.

Ánh sáng lúc tỏ lúc mờ hắt lên gương mặt như ngọc của Tạ Chinh.

Hắn khẽ cụp mắt, hàng mi dài rủ xuống, che đi cảm xúc nơi đáy mắt.

Giọng hắn nghe không rõ ý tứ: "Muội với hắn thân lắm à?"

Trường Ngọc vô thức thẳng lưng hơn một chút.

Trong đầu chỉ có một ý nghĩ: nếu để hắn biết mình thường theo Tề Xu chép bài toán của Lý Hoài An, chắc chắn lại bị mắng nữa.

Nàng khẽ ho một tiếng: "Chỉ là bạn học thôi, cũng có chút tình đồng môn."

Thấy bộ dạng càng che càng lộ của nàng, Tạ Chinh khẽ nheo mắt.

Cảm giác bực bội nơi lồng ngực càng dâng lên.

Hắn nhíu mày, khó chịu nhắm mắt lại.

Thấy hắn không nói nữa, Trường Ngọc lại hỏi: "Lần này huynh về, đã gặp Tạ bá mẫu chưa?"

Tạ Chinh khẽ "ừ" một tiếng qua mũi.

Giọng điệu lạnh nhạt.

Trường Ngọc chợt nghĩ mình vừa hỏi điều thừa thãi, hắn trở về, người đầu tiên cần gặp dĩ nhiên là Tạ phu nhân.

Vậy nên suốt quãng đường còn lại, nàng cũng không nói thêm câu nào.

May mà xe ngựa đi không bao lâu đã đến phủ Mạnh gia.

Trước khi xuống xe, nàng vẫn lịch sự hỏi: "Huynh trưởng có vào phủ ngồi chơi, uống chén trà rồi hẵng đi không?"

Gọi hắn là "huynh trưởng" lần nữa, hai chữ ấy vẫn có chút gượng gạo.

Tạ Chinh cuối cùng cũng mở mắt: "Ta còn phải qua phủ cữu cữu một chuyến.

Hôm khác sẽ đến bái phỏng Mạnh di."

Trường Ngọc gật đầu.

Nhảy xuống xe, nàng còn quay lại vẫy tay: "Vậy huynh trưởng đi mạnh giỏi!"

Dường như hắn khẽ nhíu mày, nhưng không nói gì, chỉ buông rèm xe xuống rồi cho xe rời đi.

Đứng trước cổng phủ nhìn chiếc xe xa dần, Trường Ngọc có chút ngẩn ngơ: "Tính khí của huynh ấy lớn theo chiều cao luôn sao?"

Vừa bước qua cổng, một "cục tuyết" nhỏ đã lao thẳng vào nàng.

Trường Ninh ôm chặt lấy đùi nàng một cái thật chắc, rồi phấn khích dang tay ra khoa trương: "A tỷ!

A tỷ!

Trong nhà có con chim to ơi là to!"

Trường Ngọc nhìn vào sân, quả nhiên thấy một con Hải Đông Thanh bị nhốt trong lồng.

Không phải con từng mang thư cho nàng trước kia.

Con này nhỏ hơn một chút, có vẻ còn chưa trưởng thành.

Lông trắng muốt, chỉ phần đuôi hơi pha màu, rất dễ nhận ra.

Nàng mừng rỡ hỏi Mạnh Lệ Hoa: "Mẫu thân, con chim này ở đâu ra vậy?"

Mạnh Lệ Hoa cười đáp: "Tiểu Hầu gia sai người mang đến, nói là quà cho con."

Nụ cười trên môi Trường Ngọc khẽ nhạt đi.

Nàng tiến lại gần lồng, đưa tay định xoa đầu con chim.

Không ngờ loài mãnh thú này dữ dằn vô cùng, lập tức mổ về phía nàng.

Mạnh Lệ Hoa vội kêu lên: "Đừng đụng vào!

Tiểu Hầu gia nói rồi, Hải Đông Thanh lạ người, phải dùng tiếng còi mà thuần—"

Chưa dứt lời, Trường Ngọc đã chộp lấy cổ con chim, vỗ lên đầu nó hai cái rõ mạnh.

Hải Đông Thanh kêu thảm thiết, mấy sợi lông trên cổ cũng rụng xuống.

Lần này khi nàng xoa đầu nó, nó chỉ dựng cả lông cổ lên, đứng im thin thít không dám động đậy.

Nàng quay sang nói với Mạnh Lệ Hoa: "Nó hiền rồi."

Mạnh Lệ Hoa: "..."

Chơi với Hải Đông Thanh một lúc, Trường Ngọc trở về viện của mình, leo lên mái nhà, nằm dài trên lớp ngói xanh, ngẩng nhìn bầu trời trong vắt mà thẫn thờ.

Thật ra nàng chẳng thích kinh thành chút nào.

Ở đây quy củ nhiều, lòng vòng rắc rối cũng lắm.

Khi mới vào Quốc Tử Giám, Thế Tử Cung Thân Vương cũng học ở đó.

Hắn ta không dám công khai gây sự với nàng nữa, nhưng lại âm thầm không cho những cô nương cùng tuổi chơi với nàng.

Quý nữ một vị chủ bộ thân với nàng hơn một chút liền bị hắn dẫn theo đám tay chân trêu chọc bắt nạt.

Nàng tức quá, lại đánh Thế Tử một trận nữa.

Cuối cùng phải nhờ Tạ phu nhân đứng ra nói đỡ, rồi phụ mẫu dẫn nàng đến tận phủ Cung Thân Vương xin lỗi thì chuyện mới coi như xong.

Mẫu thân phạt nàng quỳ trên nền đá để suy ngẫm.

Nàng nói mình không sai.

Khi ấy vẻ mặt mẫu thân rất buồn, nhưng vẫn nói: "A Ngọc, trên đời này, có lúc, bản lĩnh chưa đủ mà làm chuyện vượt quá khả năng của mình, cũng là sai."

Lúc đó nàng không hiểu lắm.

Cho đến khi quay lại Quốc Tử Giám, phát hiện tất cả các cô nương đều tránh né mình, ngay cả quý nữ vị chủ bộ kia cũng lánh xa, nàng mới thực sự thấy tủi thân và ấm ức.

Nàng dần hiểu ra: ở nơi này, chân thành và thẳng thắn là không cần thiết.

Phải tuân theo bộ quy tắc do người ở đây đặt ra, nếu không sẽ bị xem là kẻ dị loại mà xa lánh.

Sau này, nàng tình cờ kết giao với Tề Xu.

Những cô nương cùng học trước kia tránh nàng như tránh tà, dần dần lại tìm đến bắt chuyện.

Nàng biết rõ nguyên do trong đó, thân phận của Tề Xu cao quý hơn Thế Tử Cung Thân Vương.

Tiếp cận nàng sẽ không còn bị Thế Tử nhằm vào, ngược lại còn có thể kết giao với Tề Xu.

Nói cho cùng, chỉ là bốn chữ: tìm lợi tránh hại.

Nàng không thích nơi này.

Ai ai cũng mang mặt nạ mà sống.

Suốt năm năm qua, mỗi khi tâm trạng không tốt, nàng lại đi luyện đao.

Chỉ trong những nhát chém dốc hết sức lực ấy, nàng mới cảm thấy mình thật sự được tự do.

Có lúc, nàng thậm chí còn ngưỡng mộ Tạ Chinh.

Hắn thông minh như vậy, có phải đã sớm biết sau khi quay về kinh thành sẽ phải đối mặt với những thứ này, nên thà ở lại ngoài quan ải?

Thiếu nữ tuổi cập kê gối đầu lên cánh tay mình, cắn một cọng cỏ đuôi chó, khép mắt lại dưới ánh nắng ấm áp.

Giá như nàng cũng có thể quay về phương bắc thì tốt biết mấy.

-.-

Ngụy Phủ.

Tạ Chinh bước vào tiền viện, theo chân quản gia đi dọc một dãy hành lang uốn khúc, vừa đi vừa thấy một nam nhân trẻ tuổi mặc quan bào đỏ sẫm đi tới từ phía đối diện.

Nhìn qua chỉ chừng hơn hai mươi, nhưng giữa hàng mày đã có nét trầm tĩnh của người từng lăn lộn chốn quan trường.

Dung mạo hắn ta rất tuấn tú, song chỉ cần liếc mắt cũng đủ nhận ra đây là người tính tình cực nhạt.

Tạ Chinh từ xa gọi: "Biểu huynh ra ngoài đấy à?"

Ngụy Sơ Bạch khẽ gật đầu: "Giang Nam bị lũ, bệ hạ giao việc này cho Thái Tử.

Đông Cung phải sớm đưa ra phương án, e rằng phải để muộn chút nữa mới bày tiệc tẩy trần cho đệ được."

Mười bảy tuổi đã đỗ tiến sĩ, nay đã là Khách khanh Thái Tử.

Tạ Chinh cười: "Chính sự quan trọng.

Lần này ta về kinh chưa vội đi đâu, thời gian gặp mặt còn nhiều."

Ngụy Sơ Bạch đáp một tiếng, lại nói: "Mẫu thân và cô cô đang bận trong bếp, phụ thân ở thư phòng.

Đệ cứ qua thẳng đó là được."

Tháng ba đầu xuân, cây cỏ trong sân xanh non mơn mởn.

Tạ Chinh ngồi trên chiếc ghế tròn kê sát chân tường, nhìn nam nhân trung niên cách đó không xa đang cầm bút xử lý công văn, nói: "Năm năm nay, phụ thân vẫn cầm chân Bắc Quyết, dùng quân phí chỉ nhỉnh hơn quân trấn thủ bình thường hai phần mà giằng co lâu đến vậy, cuối cùng cũng khiến quốc lực Bắc Quyết hao hụt.

Giờ chỉ cần triều đình cấp thêm đủ lương thảo tiền bạc, chúng ta có thể đánh thẳng vào sào huyệt của chúng Vậy mà đám lão thần trên triều lúc này lại đề nghị đình chiến, chẳng phải là cho Bắc Quyết thời gian dưỡng sức, vài năm sau quay lại hay sao?"

"Lần này con thay phụ thân vào kinh, cũng là muốn thuyết phục bệ hạ tiếp tục phát binh, đánh thẳng vào căn cơ của Bắc Quyết, dứt hẳn hậu hoạn."

Nam nhân trung niên vừa phê xong phần công văn cuối cùng mới đặt bút xuống.

Khi ngẩng đầu lên, đôi mắt phượng sắc lạnh giống hệt Tạ Chinh, chỉ là nơi khóe mắt đã hằn thêm vài nếp nhăn của năm tháng.

"Con thật sự cho rằng," Ông nhìn thẳng vào tôn nhi, giọng trầm lại.

"Những kẻ phản đối tiếp tục cuộc chiến này... chỉ là đám lão thần kia thôi sao?"

Thần sắc Tạ Chinh chợt siết lại, ánh mắt bỗng trở nên sắc bén.

Ngụy Nghiêm đặt tờ công văn đã phê sang một bên, vẻ mặt phức tạp: "Ta biết phụ thân con cố ý đánh chậm để kéo Bắc Quyết suy kiệt.

Mấy năm nay chiến sự giữ mức vừa phải, khiến chúng tưởng mình còn nuốt nổi miếng mồi béo, cứ thế không cam lòng mà liên tục xâm phạm, hao tổn quốc lực.

Nhưng trong mắt bệ hạ... e chưa chắc đã nhìn nhận như vậy."
 
Trục Ngọc Quyển 2 (Edit)
Chương 238: Ngoại Truyện Nếu... (HẾT)


Bàn tay đặt trên tay vịn ghế của Tạ Chinh vô thức siết chặt lại.

Hắn trầm giọng: "Phụ thân con một lòng trung thành với bệ hạ."

Ngụy Nghiêm lại đổi sang chuyện khác: "Đông Cung đến giờ vẫn chưa lập Thái Tử Phi, con có biết vì sao không?"

Tạ Chinh hơi nhíu mày: "Nghe dân gian đồn rằng Thái Tử rất sủng ái một thiếp thất, Hoàng Thái Tôn cũng do người đó sinh."

Ngụy Nghiêm nhấp một ngụm trà, hỏi lại: "Con tin sao?"

Mày Tạ Chinh càng nhíu chặt: "Thái tử vốn hiền minh, hẳn không phải kẻ vì sắc mà mê muội.

Đông Cung chậm lập Thái Tử Phi... lẽ nào cũng liên quan đến bệ hạ?"

Ánh mắt Ngụy Nghiêm trở nên phức tạp: "Ngồi ở vị trí ấy lâu rồi, e là người đã quên mất mình từng như thế nào rồi."

Tạ Chinh im lặng chờ ông nói tiếp.

Ngụy Nghiêm đứng dậy khỏi ghế, chắp tay sau lưng, bước đến bên cửa sổ.

Ông nhìn ra vườn cúc dại trước sân, giọng trầm xuống: "Hai mươi năm trước, bệ hạ cũng giống Thái Tử bây giờ, nhân hậu, khoang dung, biết thương dân.

Khi ấy Tiên Đế đề phòng Thích gia và Đông Cung, lại sủng ái mẫu tử Giả gia để chèn ép.

Bệ hạ sống từng ngày như đi trên băng mỏng.

Sau biến cố ở điện Thái Càn, phải nhờ ba gia tộc Thích, Tạ, Ngụy dốc sức, mới đưa được người lên ngôi."

"Bệ hạ ghi nhớ công phò tá của ba gia tộc, nhưng nhìn cách người đối xử với Đông Cung những năm gần đây, có thể thấy người cũng đề phòng chuyện cũ lặp lại.

Ngoại tổ của Hoàng Hậu là dòng văn thần.

Bà muốn tìm cho Thái Tử một mối thông gia có binh quyền, nhưng mấy năm qua liên tiếp gặp trở ngại, thậm chí còn mất cả thánh sủng.

Có lẽ Hoàng Hậu chưa nhìn thấu tâm ý bệ hạ, nhưng Thái Tử thì hiểu.

Vì thế bao năm nay chỉ giữ một thiếp thất bên cạnh, tuyệt nhiên không nhắc đến chuyện lập Thái Tử Phi."

Ngụy Nghiêm quay lại nhìn Tạ Chinh: "Ngay cả ruột thịt mà còn bị đề phòng đến vậy, thì sao bệ hạ có thể tin tưởng một Hầu gia không thân thích nắm trong tay mấy chục vạn quân, đóng quân nơi tây bắc?

Thế lực của Tạ gia giờ đã vượt cả Thích gia.

Nếu chuôi đao vẫn nằm trong tay bệ hạ, người có thể mặc sức sử dụng.

Nhưng nếu người cảm thấy lưỡi đao ấy không còn nghe lời... con đã từng nghĩ đến kết cục của Tạ gia chưa?"

Tạ Chinh ngồi lặng trên ghế, sắc mặt lạnh đi.

Ngụy Nghiêm chậm rãi nói: "Chuyện phản công Bắc Quyết, tạm gác lại đã.

Khi bệ hạ triệu kiến con, dù con có đề xuất, thì với nạn lũ ở Giang Nam trước mắt, ngài cũng có thể lấy đó làm cớ thoái thác."

Tạ Chinh đứng dậy, trịnh trọng ôm quyền: "Đa tạ cữu cữu chỉ điểm.

Con hiểu rồi."

Ngụy Nghiêm chắp tay sau lưng, nhìn theo bóng tôn nhi rời khỏi thư phòng.

Nếp nhăn nơi khóe mắt in dấu hai mươi năm bỗng thoáng vẻ ngậm ngùi.

Ở kiếp trước, vào thời điểm này, đứa trẻ ấy đã sớm trở mặt với ông.

Khi cúi xuống nhìn tấu chương về lũ lụt Giang Nam đặt nơi góc bàn, ánh mắt ông thêm phần trầm tư.

Trên đời này, khó lường nhất quả thật là lòng người.

Ai có thể ngờ, Thái Tử Thừa Đức năm xưa nổi danh khắp nơi, sau hai mươi năm ngồi trên long ỷ, cũng bắt đầu dè chừng cả Thái Tử lẫn võ tướng?

Chỉ là tính bệ hạ vốn mềm lòng, lại quá coi trọng danh tiếng.

Dù trong lòng đã có phòng bị, trước mắt cũng chưa chắc đã có thủ đoạn gì quyết liệt.

Ngược lại, người ở Đông Cung kia...

Ngụy Nghiêm nhớ đến thủ đoạn không chút nương tay của vị Hoàng Thái Tôn từng liên thủ với Lý gia ở kiếp trước.

Ngón tay ông khẽ gõ lên bệ cửa sổ.

-.-

Tạ Chinh cũng không ngờ, lần này vào kinh chưa kịp diện kiến Hoàng Đế, lại gặp Thái Tử trước.

Đêm ấy, Ngụy Sơ Bạch trở về phủ khi trời đã khuya.

Nhìn nam nhân giả làm tùy tùng của Ngụy Sơ Bạch, sau khi cửa nẻo được đóng kín, Tạ Chinh ôm quyền hành lễ: "Tạ Chinh tham kiến Thái Tử điện hạ."

Tề Mân mặc thường phục, nhưng phong thái vẫn không che giấu được vẻ cao quý.

Hắn ta đỡ nhẹ Tạ Chinh dậy: "Tiểu Hầu gia miễn lễ.

Sớm đã nghe danh tiểu Hầu gia dũng mãnh, hôm nay gặp mặt, quả nhiên không tầm thường."

Tạ Chinh chỉ đáp: "Điện hạ quá khen."

Tề Mân ra hiệu cho hắn ngồi xuống.

Khi Ngụy Sơ Bạch cũng an tọa, hắn mới mỉm cười nhã nhặn: "Là Cô nóng lòng muốn kết giao anh tài, nên mới nhờ Sơ Bạch đưa đến đây, chưa kịp báo trước với tiểu Hầu gia.

Mong tiểu Hầu gia chớ trách Cô đường đột."

Tạ Chinh khẽ cười.

Giữa đôi mày sáng sủa là khí phách của tuổi trẻ: "Điện hạ làm vậy, thật khiến thần thụ sủng nhược kinh."

Những lời khách sáo qua lại xong, thái độ của đôi bên cũng coi như đã rõ.

Tề Mân nói: "Cô biết lần này tiểu Hầu gia vào kinh là vì chuyện quân lương đánh Bắc Quyết.

Phụ hoàng nhân đức, không muốn chiến sự tái diễn, định chấp nhận nghị hòa.

Nhưng theo Cô, hòa đàm lúc này chẳng khác nào thả hổ về rừng.

Đại Dận nghỉ ngơi dưỡng sức đã nhiều năm.

Năm năm qua Quan Sơn Hầu kìm chân Bắc Quyết mà không hao binh tổn tướng quá lớn.

Với quốc lực hiện tại, đánh một trận quyết liệt cũng chưa hẳn là không thể."

Tạ Chinh nghiêm mặt: "Điện hạ có kế sách gì?"

Tề Mân mỉm cười: "Không dám nói là cao kiến.

Quan Sơn hầu danh chấn bốn phương, tiểu Hầu gia lại nổi danh từ sớm, triều đình ai cũng biết.

Cô nghĩ, Quan Sơn Hầu trấn thủ tây bắc cho Đại Dận, còn tiểu Hầu gia nếu ở lại kinh thành nhận một chức vụ, dạy dỗ đám công tử trẻ không biết trời cao đất dày kia, phụ tử cùng tận lực vì triều đình, phụ hoàng hẳn sẽ rất vui."

Tạ Chinh nghe ra hàm ý trong lời ấy, nụ cười trên môi nhạt đi: "Đa tạ điện hạ chỉ điểm.

Thần sẽ suy nghĩ kỹ đề nghị này."

Lời đã nói đến đó, Tề Mân đứng dậy cáo từ.

Khoác áo choàng, đi gần tới cửa, hắn ta lại quay đầu nhìn Tạ Chinh: "Hôm nay Cô mạo hiểm đến đây gặp tiểu Hầu gia, quả thật là vì muốn kết giao anh tài.

Hoàn cảnh của Cô... chưa chắc đã dễ hơn tiểu Hầu gia."

Chờ Ngụy Sơ Bạch tiễn Tề Mân ra ngoài, Tạ Chinh mới thả lỏng người tựa vào lưng ghế, cánh tay che ngang mắt, môi mím chặt.

Ý của Thái Tử rất rõ: danh tiếng của phụ tử Tạ gia trong triều lẫn quân đội quá thịnh.

Nếu hắn ở lại kinh thành giữ một chức nhàn, coi như làm "con tin", có lẽ Hoàng Đế sẽ yên tâm với Tạ Lâm Sơn hơn.

Khi Ngụy Sơ Bạch quay lại, hắn vẫn giữ nguyên tư thế ấy.

Ngụy Sơ Bạch ngồi xuống bên cửa sổ, mở một cuốn sách đặt lên đầu gối, vừa lật vừa hỏi: "Giận ta rồi sao?"

Tạ Chinh hạ tay xuống, đáp hờ hững: "Không."

Ngụy Sơ Bạch nói: "Thái Tử sẽ là minh quân.

Giới thiệu hai người quen biết, ta cũng không sợ đệ trách ta."

Nhớ lại những lời Ngụy Nghiêm nói ban ngày, Tạ Chinh ngước mắt hỏi: "Thái Tử còn âm thầm tiếp xúc với bao nhiêu võ tướng nữa?"

Ngụy Sơ Bạch rời mắt khỏi trang sách, thoáng bất ngờ: "Đệ tinh thật.

Ngoài đệ ra, ở kinh thành chỉ còn nhà Thẩm gia là đáng để điện hạ chủ động kết giao."

Tạ Chinh nhìn hắn, ý hỏi kết quả ra sao.

Ngụy Sơ Bạch thở nhẹ: "Thẩm Quốc Công là bậc thuần thần.

Nhưng ông ấy đã trải qua ba triều, nhìn xa trông rộng.

Mấy năm trước Thẩm Thận từng nổi danh ngang đệ, sau đó chỉ còn tiếng ăn chơi.

Nguyên do là bị một kỹ nữ phụ bạc, từ đó chán nản."

Tạ Chinh lộ vẻ khó nói: "Thẩm Thận... không đến mức vậy đâu."

Ngụy Sơ Bạch liếc hắn: "Hôm nay khi các mưu sĩ của Thái Tử bàn cách cho chuyện của đệ và cô phụ, có người còn đề xuất đệ giả vờ vì tình mà sa sút, làm kẻ phong lưu lêu lổng để bệ hạ yên tâm.

Ta nói không ổn.

Nhà họ Thẩm đã dùng chiêu ấy rồi, đệ dùng lại sẽ lộ.

Hơn nữa, nếu đệ thật sự có cô nương trong lòng, để người ta hiểu lầm, e là đệ lại nổi giận..."

Tạ Chinh cắt lời: "Đệ ở quân doanh năm năm, tìm đâu cô nương để thích?"

Ngụy Sơ Bạch cười: "Ta nghe cô cô hay nhắc chuyện đệ với quý nữ Mạnh Tướng quân, cứ tưởng hai người là thanh mai trúc mã."

Nhớ tới cô nương hôm nay cứ một tiếng "huynh trưởng" hai tiếng "huynh trưởng" gọi mình, trong lòng Tạ Chinh bỗng nghẹn lại.

Nghe vậy càng thấy khó chịu.

Hắn cau mày: "Nói linh tinh gì vậy?

Con bé mới biết đi đã biết gây họa, chỉ có mẫu thân đệ quý nó, thân thiết với nó hơn chút thôi."

Ngụy Sơ Bạch nhìn hắn, cười như có ý khác: "Ta lại thấy Mạnh cô nương lòng dạ thẳng thắn, rất đáng quý."

Hình ảnh cô bé năm xưa và thiếu nữ hiện tại chồng lên nhau trong đầu Tạ Chinh, khiến hắn càng bứt rứt.

Hắn cáu gắt: "Đệ xem nó như muội muội thôi."

Ngụy Sơ Bạch "ừm" một tiếng: "Thế thì hợp ý mẫu thân ta rồi.

Bà vẫn thường bàn với cô cô, muốn tìm cho Mạnh cô nương một nhà chồng tốt.

Là cô cô nói không nỡ, muốn chờ xem mấy năm nữa đệ về thì có sáng mắt ra không.

Nếu đệ vẫn không thì cô cô đành nhìn con dâu nuôi từ bé gả sang nhà khác."

Tạ Chinh nhíu mày: "Đệ đã nói với mẫu thân rồi, chỉ coi nó như muội muội."

Nhưng lời vừa dứt, lòng lại càng rối.

Hắn bực bội: "Hôm nay biểu huynh sao vậy, cứ nói mấy chuyện này?"

Ngụy Sơ Bạch cười: "Đệ sắp mười chín, sang năm cập quan, cũng nên nghĩ đến chuyện thành gia đi."

Tạ Chinh liếc hắn: "Biểu huynh còn chưa gấp, đệ gấp làm gì?"

Thấy hắn chuyển hướng sang mình, Ngụy Sơ Bạch biết đủ thì dừng: "Thôi, không nói nữa.

Đêm đã khuya, về phòng nghỉ đi."

Ngụy Sơ Bạch tay áo rộng phất phơ rời đi, còn Tạ Chinh thì trằn trọc không sao ngủ được.

Hắn bước ra ngoài, ngồi tựa cột nơi thủy tạ phủ Ngụy, một chân chống lên lan can gỗ.

Nhìn vầng trăng tròn in dưới mặt nước, không hiểu sao lại nhớ đến cảnh gặp Trường Ngọc ở thủy tạ phủ Tấn Văn Công ban ngày.

Thiếu nữ vóc dáng cao ráo, tay chân thon dài.

Nằm trên ghế mỹ nhân, váy đỏ lựu xòe ra, tà váy chạm đất.

Lá sen xanh che nửa khuôn mặt, chỉ còn mái tóc đen xõa dài trên ghế, như một con cá chép đỏ mắc cạn.

Bóng trăng dưới nước dường như hóa thành gương mặt nàng, mày mắt rực rỡ, lại cười với hắn bằng vẻ hơi ngây ngô.

Tạ Chinh cau mày, nhặt một viên đá ném xuống.

Mặt nước gợn sóng, bóng trăng cùng gương mặt kia cũng tan biến.

-.-

Lần sau Trường Ngọc gặp lại Tạ Chinh là trong buổi học bắn cung ở Quốc Tử Giám.

Khi thay trang phục cưỡi ngựa bắn cung, đám quý nữ đã ríu rít bàn tán về vị võ phu tử mới.

Trường Ngọc vốn không để tâm mấy chuyện ấy, đến khi xếp hàng ngoài thao trường nhìn thấy người, nàng mới sững sờ.

Vị võ phu tử cũ với bộ râu rậm nghiêm mặt giới thiệu: "Tạ phu tử từng giết giặc Bắc Quyết ngoài biên ải, lập công lớn.

Cung thuật lại có thể trăm bước xuyên liễu.

Từ nay do Tạ phu tử dạy các con bắn cung, tuyệt đối không được lười biếng!"

Học sinh đồng thanh đáp lời, nhưng rõ ràng tiếng của nữ sinh vang hơn hẳn.

Suốt quá trình, Tạ Chinh không biểu lộ cảm xúc.

Sau khi vị phu tử cũ dặn dò xong, hắn mới lạnh nhạt nói câu đầu tiên: "Chạy mười vòng quanh thao trường."

Cả đám ngơ ngác, tiếng "hả?" vang lên khắp nơi, còn tưởng hắn nói nhầm.

Nhưng Tạ Chinh không hề sửa lời.

Thế là đám thiếu niên quý nữ đành cắn răng chạy.

Hôm nay Tề Xu xin nghỉ.

Các Hoàng Tử thấy quý nữ đều chạy, không nỡ nói mình chạy không nổi.

Quý nữ thấy Hoàng Tử còn chưa kêu ca, lại càng không dám than mệt.

Đến vòng thứ tư, đã có Hoàng Tử sắc mặt trắng bệch, nói không chịu nổi, được Thái giám bên ngoài dẫn đi.

Thấy cả Hoàng Tử cũng bỏ cuộc, quý nữ lần lượt xin dừng.

Tiết bắn cung đầu tiên với phu tử mới, cuối cùng số người trụ lại luyện cung chưa đến một phần mười ban đầu.

Khi giảng kỹ thuật bắn cung, Tạ Chinh dường như chẳng quan tâm còn bao nhiêu người.

Giảng xong, hắn cho họ tự luyện nửa khắc, rồi lần lượt kiểm tra bắn bia.

Trường Ngọc còn nghe hai Hoàng Tử lẩm bẩm: "Một Diêm Vương sống thế này, sao không ở chiến trường giết giặc, lại đến dạy chúng ta, đúng là uổng tài!"

Nàng cũng thấy Tạ Chinh đến Quốc Tử Giám làm phu tử thật uổng.

Một người phóng khoáng như hắn, lẽ ra nên ở nơi biên ải rộng lớn kia mới phải.

Cớ sao lại nhận công việc này?

Vì lơ đãng một chút như thế, đến lượt nàng bắn, mũi tên lại chệch hẳn, không trúng bia.

Sắc mặt Tạ Chinh lập tức tối sầm, nặng nề đến mức khiến người ta thấy lạnh sống lưng.

Hắn cho những người khác tiếp tục luyện tập, còn mình đứng đó nhìn chằm chằm Trường Ngọc.

Mấy Hoàng Tử và con cháu quan lại chưa đến lượt bắn lập tức ném cho nàng ánh mắt biết ơn như được cứu mạng.

Trường Ngọc giương cung, nhắm bia, cũng thấy sau lưng lành lạnh.

Đến khi ba mũi tên sau đều trúng hồng tâm, nàng mới quay đầu nhìn Tạ Chinh, chờ hắn lên tiếng.

Hắn mở miệng, giọng lạnh như mưa đá: "Mắt không mù, tay cũng không gãy.

Vậy mũi tên vừa rồi là bắn kiểu gì?"

Trường Ngọc thành thật: "Lúc đó muội... lơ đãng."

Ánh mắt hắn càng lạnh hơn: "Giương cung mà cũng có thể lơ đãng?

Trong đầu đang nghĩ gì?"

Mấy quý nữ đứng gần đó, ảo tưởng về vị phu tử mới hoàn toàn tan vỡ, nhìn Trường Ngọc đầy thương cảm.

"Tạ phu tử dữ quá đi, Trường Ngọc dù sao cũng là cô nương mà, có cần nặng lời vậy không?"

"Mẹ ta nói đúng, nam nhân không thể nhìn mặt mà chọn.

Tạ phu tử trông thì tuấn tú thật đấy, nhưng tính khí thế kia, lại còn là võ tướng, lỡ chọc giận hắn, ai biết có đánh người không?"

Nghe vậy, mấy cô nương đứng xa xa sắc mặt càng tái, vô thức lùi thêm mấy bước.

Trên bãi bắn, Trường Ngọc bị hắn dồn dập chất vấn cũng thấy khó chịu.

Đến khi hắn hỏi lại lần nữa, nàng ngoan ngoãn đáp: "Muội đang nghĩ đến huynh..."

Tiếng chuông đồng vang lên, hết giờ học.

Câu nói của nàng bị ngắt ngang.

Nàng còn định nói nốt nửa câu sau, thì đã thấy Tạ Chinh khựng lại.

Cơn giận trên mặt như đông cứng, tựa hồ bị nửa câu kia làm cho sững sờ, thần sắc trở nên rất lạ.

Hắn chỉ buông một câu: "Không được nghĩ linh tinh."

Trường Ngọc nhận ra hắn hiểu lầm, vội nói: "Muội không..."

Nhưng hẳn đã giơ tay ngăn lại, dường như không muốn nghe thêm, lạnh lùng tuyên bố: "Hôm nay đến đây thôi."

Nàng đứng nhìn hắn mặt lạnh như băng đi xa.

Đến lúc bước xuống bậc thềm ngoài bãi bắn, hắn còn suýt trượt chân ngã sấp mặt.

Trường Ngọc gãi đầu:

"Có cần giận đến vậy không?"

Nàng vốn định nói: "Muội đang nghĩ đến huynh vì sao lại đến đây."

-.-

Vì chuyện trên lớp bắn cung, cả ngày hôm đó Trường Ngọc buồn bực không thôi.

Nàng nghĩ Tạ Chinh hẳn đã hiểu lầm câu nói kia.

Hắn giận dữ như vậy, nàng phải tìm cơ hội giải thích cho rõ mới được.

Đồng môn thấy nàng ủ rũ, đều cho rằng nàng bị Tạ phu tử mắng nặng quá, lần lượt bênh vực: "Tạ phu tử nghiêm quá mức rồi, chẳng nể mặt cô nương gì cả!"

"Đúng đó, mẫu thân ta nói rồi, nam nhân xuất thân quân ngũ phần lớn đều thô lỗ."

"Trường Ngọc, ta có bánh hạnh nhân đây, ăn đi cho đỡ buồn."

"Ta có mứt mơ!"

"Ta có bánh hạt thông!"

-.-

Kết quả là Trường Ngọc ngơ ngác ôm về cả một túi đầy ắp điểm tâm.

Lý Hoài An học ở giáp viện bên cạnh.

Có lẽ cũng nghe chuyện nàng bị mắng, hôm nay Tề Xu xin nghỉ, hắn ta liền chủ động đứng chờ ngoài thư viện.

Vừa thấy nàng, hắn ta đưa ngay quyển bài tập toán tới, giọng quen thuộc: "Bài hôm nay phu tử giao, ta làm xong rồi."

Trường Ngọc nhận lấy, theo phép có qua có lại, móc trong túi sách ra một nắm kẹo các quý nữ vừa cho, đưa cho hắn ta, rất chân thành: "Cảm ơn."

Lý Hoài An cầm nắm kẹo, nhất thời không biết làm sao, chỉ đành cười bất đắc dĩ: "Đa tạ Mạnh cô nương."

Nàng xua tay: "Không có gì."

Vừa quay đầu lại, nàng đã thấy nơi cổng hoa thùy có một người đứng từ lúc nào.

Mặt lạnh như ngọc, mày đậm như mực, ánh mắt sắc như lưỡi dao, thẳng thừng ghim lên hai người.

Da đầu Trường Ngọc tê rần, chỉ thấy như mình lén chép bài bị bắt quả tang.

Lý Hoài An thì cảm thấy ánh mắt kia như muốn chặt phăng luôn đôi tay đang cầm kẹo của mình, vừa lạnh vừa âm trầm.

Nàng đang loay hoay không biết mở lời sao cho bớt ngượng, thì Tạ Chinh đã lạnh lùng liếc nàng một cái rồi quay người bỏ đi.

Nàng sợ hắn về Mạch gia mách tội, mẫu thân chắc chắn sẽ nổi giận.

Trong nhà còn có Ninh Ninh, nếu để con bé biết nàng chép bài thì càng mất mặt.

Thế là nàng vội trả lại quyển bài toán cho Lý Hoài An: "Xin lỗi, huynh trưởng ta thấy rồi, ta không mang về được nữa."

Trả xong, nàng xách túi sách vội vàng đuổi theo Tạ Chinh.

Chạy một mạch ra khỏi thư viện vẫn không thấy bóng người, nàng đang dáo dác nhìn quanh thì nghe bên cạnh vang lên một giọng lạnh: "Ở đây."

Quay đầu lại, thấy Tạ Chinh khoanh tay dựa vào con sư tử đá bên cạnh cổng, nàng mới thở phào, bước tới: "Muội còn tưởng huynh đi thẳng rồi."

Hắn liếc nàng: "Đi rồi thì đỡ làm phiền hai người?"

Trường Ngọc nổi giận, cau mày: "Huynh nói bậy gì vậy?

Muội không chép bài toán của hắn nữa là được chứ gì?

Có cần mỉa mai muội mãi thế không?"

Tạ Chinh cũng biết mình bị cơn giận vô cớ làm mất bình tĩnh, nên mới buột miệng nói vậy.

Hắn im lặng một lát rồi hỏi: "Bao lâu rồi?"

Chút bực dọc vừa dấy lên trong nàng lập tức tan biến, nàng cúi đầu, lấy mũi chân vẽ vòng tròn dưới đất: "Năm ngoái học phần 'Thương công' trong Cửu chương toán thuật, muội tính hoài không đúng, bị phu tử mắng mấy lần, nên theo Công Chúa điện hạ chép bài của hắn..."

Tề Xu thấy mình là Công Chúa mà còn bị mắng thì mất mặt, nên kéo nàng cùng chép.

Trường Ngọc nghĩ nếu mình không chép thì chẳng khác nào làm Tề Xu khó xử, nên đành theo.

Tạ Chinh nhìn nàng: "Cái tốt không học..."

Nàng không giải thích thêm.

Dù sao cũng là nàng chép thật, nên chỉ rũ đầu nhận lỗi: "Muội biết sai rồi, huynh đừng nói với mẫu thân muội."

Nàng cúi đầu ngoan ngoãn, như đứa trẻ chờ bị phạt, còn hắn đứng đó mặt lạnh, trông chẳng khác gì kẻ ác, khiến người qua đường đều nhìn họ.

Hai bên thái dương hắn giật giật, rồi lạnh giọng hỏi: "Không biết tính phần 'Thương công'?"

Trường Ngọc lí nhí: "Giờ còn thêm 'Phương trình' với 'Câu cổ' nữa..."

Tạ Chinh: "..."

Cuối cùng hắn day trán.

Theo thói quen ở đất Bắc trước kia, vốn định dẫn nàng đi tửu lâu trước, nhưng chẳng hiểu sao lại dừng bước, hỏi: "Bình thường hai người chép bài ở đâu?"

Nàng thành thật đáp: "Ở thư viện sợ bị nhìn thấy, nên thường cùng Công Chúa điện hạ ra tửu lâu Như Ý ở đầu phố thuê một phòng riêng."

Sắc mặt hắn lại lạnh thêm vài phần: "Tiện thể gặm thêm cái giò heo, phải không?"

Một nỗi tức giận kỳ lạ dâng lên trong lòng Tạ Chinh cảm giác như có ai đó đã đánh cắp quãng thời gian chỉ thuộc về hắn và nàng.

Chính hắn cũng không hiểu vì sao mình lại nổi giận đến vậy.

Chỉ cần nghĩ đến năm năm hắn vắng mặt, có người thay thế vị trí vốn thuộc về mình, ngực hắn lại nghẹn cứng.

Thậm chí còn sinh ra ác cảm dữ dội với kẻ ấy.

Như thể người kia là một tên trộm, lấy mất thứ hắn trân quý nhất.

Giờ hắn và Trường Ngọc xa cách thế này, cũng đều vì "tên trộm" đó.

Trường Ngọc lại tưởng hắn giận vì nàng chép bài toán của Lý Hoài An, còn ra tửu lâu ăn uống, nên vội giải thích: "Muội không ăn."

Tề Xu vốn thanh nhã, cùng lắm chỉ gọi một ấm trà, thêm vài món điểm tâm.

Tạ Chinh hừ khẽ, cuối cùng không móc mỉa nàng nữa.

Nhưng hắn cũng không dẫn nàng vào tửu lâu.

Trên đường quay về, đi ngang một đoạn đê ven sông có hàng liễu rủ và một đình nhỏ, trong đình đặt bàn ghế đá, hắn dừng lại.

"Ngồi đây làm," hắn khoanh tay nói.

"Chỗ nào không biết thì hỏi."

Trường Ngọc ngoan ngoãn bày bút mực giấy nghiên ra.

Trước khi viết, nàng do dự nhìn hắn một cái.

"Gì nữa?" hắn nhíu mày.

"Nếu... chỗ nào cũng không biết thì sao?"

Hắn hít sâu, cố nén bực: "Mấy năm nay ở Quốc Tử Giám muội học cái gì vậy?"

Nàng lí nhí: "Lúc học phần Thương công, có một buổi muội không hiểu.

Sau đó... thì buổi nào cũng không hiểu..."

Tạ Chinh nhìn nàng: "Không hiểu hết mà còn dám chép bài người ta?"

Nàng vừa xấu hổ vừa tủi thân: "Chính vì không hiểu nên mới phải chép..."

Hắn trừng mắt: "

Sau này bớt qua lại với thằng họ Lý đó.

Muội không hiểu, nó còn đưa bài cho chép, bụng dạ chẳng tốt lành gì.

Trước đây ta chép thơ giúp muội, là vì muội đã thuộc lòng hết rồi, ta chỉ viết ra dùm muội thôi."

Lý Hoài An cũng bị mắng lây.

Trường Ngọc trong lòng áy náy, nhưng lúc này bị hắn nắm thóp, chẳng dám cãi, chỉ cúi đầu nghe răn dạy, trông hiền lành đến mức có phần đáng thương.

Tạ Chinh nhìn nàng một lúc, rốt cuộc ngừng trách móc: "Lấy sách ra.

Hôm nay ta giảng lại từ phần Thương công."

Nàng đưa sách.

Hắn không cần nhìn, trực tiếp nói: "'Thương' là ước lượng, 'công' là công việc và thời gian.

Thương công là phép tính kích thước, dùng để tính nhân lực trong công trình.

Ví dụ ở đất bắc chiến sự liên miên, tường thành năm nào cũng phải tu sửa.

Cần bao nhiêu thợ, bao nhiêu đất đá, đều phải dùng phép này mà tính."

Trường Ngọc vốn ủ rũ, nghe hắn nhắc đến chuyện chiến sự và xây thành, ánh mắt lập tức sáng lên.

Giọng hắn đều đều tiếp tục giảng giải.

Từ lúc mặt trời đứng bóng cho đến khi xế chiều, nàng cuối cùng cũng hiểu thông phần Thương công, còn giải đúng toàn bộ bài phu tử giao.

Tâm trạng nàng phấn chấn hẳn.

Thấy hắn nói đến khô cả cổ, lại đúng lúc có lão chèo thuyền bán nhãn đi ngang, nàng hào phóng mua hẳn một chùm đưa cho hắn.

Hắn quay mặt đi: "Ta không thích đồ ngọt."

Nàng tiếc rẻ: "Vậy muội ăn giúp huynh vậy."

Nàng tách một quả, dùng hai tay bóp nhẹ, phần thịt nhãn trong veo bật ra.

Cắn một miếng, vị ngọt thanh lan đầy miệng.

Tạ Chinh ngồi trên lan can đình, co một chân, tựa lưng vào cột, như đang ngắm mặt sông uốn lượn dưới ánh hoàng hôn.

Nhưng ánh mắt thỉnh thoảng lại liếc sang, dừng rất lâu nơi cô nương đang ngồi xổm trên ghế đá, ăn nhãn đến dính đầy tay.

Nàng há miệng đón phần thịt quả bật ra, khóe môi vô tình chạm vào vỏ, dính chút bụi mỏng, trông như mọc thêm một nốt ruồi nhỏ.

Hắn nhìn càng thấy khó chịu.

Không biết là khó chịu vì vết bụi kia, hay vì thứ cảm giác như có chiếc móc vô hình câu vào tim hắn, khiến lòng ngứa ngáy.

Lần nữa liếc sang, hắn cuối cùng lên tiếng: "Khóe môi muội dính bẩn này."

"Hả?"

Nàng đưa tay quệt, quay lại hỏi: "Giờ thì sao?"

Hắn nhìn: "Vẫn còn."

Nàng lại lau mạnh hơn, đến mức khóe môi đỏ ửng.

"Lại đây," hắn nói.

Trường Ngọc ngoan ngoãn bước lại gần.

Khi ngón tay hắn chạm vào khóe môi nàng, cả hai cùng khựng lại.

Hoàng hôn nhuộm đỏ cả mặt sông.

Gương mặt nàng cũng ửng hồng.

Chỉ riêng khóe môi, vì ăn nhiều nhãn, khi đầu ngón tay hắn lướt qua, còn đọng chút ẩm mềm.

Hắn ngửi thấy mùi ngọt thanh của nhãn chín.

"Được rồi."

Thu tay về, hắn giấu bàn tay ra sau lưng.

Lần đầu tiên không dám nhìn thẳng nàng.

Tim đập dồn dập như trống trận, giống hệt ngày đầu tiên hắn ra chiến trường.

-.-

Đêm đó về phủ, Tạ Chinh mơ một giấc mộng quái đản.

Vẫn là đình bên bờ sông.

Trường Ngọc ôm chùm nhãn ăn, môi đỏ dính nước quả trong veo, như cánh đào tháng ba còn đẫm sương sớm.

Nàng mở to đôi mắt hạnh, hỏi hắn: "Trên môi muội có gì à?"

Hắn nhìn khóe môi sạch sẽ của nàng, muốn nói không có.

Nhưng không hiểu sao lại bắt đầu thở gấp.

Tay vô thức giữ sau gáy nàng, cúi xuống hôn một cách gần như thô bạo.

Tỉnh dậy giữa đêm, sắc mặt hắn khó coi vô cùng.

Hắn hất chăn, đi thẳng sang gian bên cạnh tắm nước lạnh.

-.-

Mấy ngày liền sau đó, Trường Ngọc không gặp lại Tạ Chinh.

Nàng cũng không còn theo Tề Xu đến tửu lâu Như Ý chép bài toán của Lý Hoài An nữa.

Tề Xu nghe nói bị "huynh trưởng" nàng phát hiện, còn tỏ ra rất thương cảm.

Nhưng chẳng bao lâu, chính Tề Xu cũng không chép bài nữa.

Trường Ngọc thấy lạ.

Tề Xu vốn chẳng sợ trời sợ đất, ngoài Hoàng Quý Phi ra chẳng ai quản nổi.

Vậy mà nàng đỏ mặt ấp úng nói: phu tử biết chuyện nên không vui.

Phu tử mà Tề Xu để tâm, cũng chỉ có vị tiểu phu tử nhà họ Công Tôn hai năm trước đỗ Thám hoa, hiện được điều về Quốc Tử Giám giảng học.

Công Tôn phu tử phát hiện Tề Xu chép bài bằng cách nào, Trường Ngọc không rõ.

Chỉ biết giờ mỗi ngày tan học, Tề Xu đều đến tìm Công Tôn phu tử học bù toán.

Nghĩ vậy, Trường Ngọc không khỏi thấy hơi... ghen tị.

Không biết có phải vì chê nàng quá ngốc hay không, mà sau đó Tạ Chinh lại bắt đầu tránh mặt nàng, như thể sợ phải tiếp tục dạy nàng vậy.

Lý Hoài An nghe nói Trường Ngọc muốn học bù toán thì rất nhiệt tình, nói sẵn sàng dạy nàng.

Trường Ngọc nghĩ, đợi khi mình học thông rồi, cũng coi như có thể nở mày nở mặt trước Tạ Chinh.

Chỉ là xui xẻo thay, ngay buổi đầu Lý Hoài An dạy nàng, Tạ Chinh lại đến đón nàng tan học.

Lý Hoài An vừa thấy Tạ Chinh đứng ở cửa, ánh mắt lạnh đến mức như có thể kết băng, liền nuốt nước bọt, ôm chặt quyển sách trong tay: "Mạnh...

Mạnh cô nương, huynh trưởng đến rồi...

Hay là... hôm khác ta dạy tiếp nhé?"

Trường Ngọc nhìn sắc mặt Tạ Chinh có vẻ cực kỳ không vui.

Vốn hắn đã không ưa Lý Hoài An, nàng sợ liên lụy người vô tội nên gật đầu.

Đợi Lý Hoài An đi rồi, nàng mới mím môi nói: "Muội không chép bài của hắn nữa.

Muội đang học phần Quân thâu."

"Ồ?

Học đến đâu rồi?"

Tạ Chinh nhìn nàng, giọng nghe qua thì bình thản, nhưng chính sự bình thản ấy lại khiến người ta sợ.

"Vẫn chưa hiểu lắm."

"Về đi.

Ta dạy."

Nàng ngẩng lên, hơi ngạc nhiên: "Muội còn tưởng huynh chê muội ngốc, không muốn dạy nữa nên mới tránh muội."

Hắn cười lạnh: "Đúng là ngốc.

Sau này đừng tự cho mình là đúng nữa."

Trường Ngọc: "..."

Nàng tức quá, bật lại: "Muội mang quà đến, huynh cũng không chịu gặp.

Không phải tránh muội thì là gì?"

Tạ Chinh khựng bước.

Nàng suýt nữa đâm vào lưng hắn.

Hắn quay lại.

Nàng ngẩng đầu nhìn thẳng, chỉ thấy đôi mắt hắn sâu hun hút.

"Ta đang nghĩ một vài chuyện.

Nghĩ thông rồi thì đến gặp muội."

"Nghĩ chuyện gì?"

"Giờ muội sẽ không muốn biết đâu."

Trường Ngọc thấy hắn thật khó hiểu.

Dù vậy, dưới sự "chỉ dạy tận tình" của Tạ Chinh, đến cuối năm học, môn toán của nàng cũng đạt hạng Giáp nhất.

-.-

Chuyện triều đình, Trường Ngọc chỉ nghe mẫu thân và bạn học bàn tán đôi ba câu.

Đại khái là ngoài quan ải sắp có một trận đánh lớn.

Tạ bá bá sẽ dẫn phụ thân nàng và ngoại tổ phụ xuất chinh đánh Bắc Quyết.

Năm nay phụ thân nàng không kịp về kinh đón Tết cùng gia đình nữa.

Mùng một, Tạ phu nhân mới về nhà ngoại.

Đêm giao thừa liền mời Mạnh Lệ Hoa dẫn hai chị em Trường Ngọc sang phủ họ Tạ đón Tết.

Những năm trước, nếu Ngụy Kỳ Lâm không về kinh ăn Tết, họ cũng đón Tết như vậy.

Chỉ là năm nay có thêm Tạ Chinh, không khí dường như rộn ràng hơn hẳn.

Trường Ninh nằng nặc đòi xem pháo hoa.

Tạ phu nhân và Mạnh Lệ Hoa còn đang trò chuyện bên bàn tiệc, thì Trường Ngọc và Tạ Chinh đã dắt Trường Ninh ra sân đốt pháo.

Hai người lớn dẫn theo một đứa nhỏ, chơi ầm ĩ một hồi.

Trường Ninh như heo con, mệt là buồn ngủ.

Trường Ngọc lấy chăn dày quấn em lại, đặt nằm trên sập mềm trong noãn các.

Nàng uống hơi nhiều rượu trái cây lúc ăn tối.

Lúc nãy còn chạy nhảy ngoài sân giữa gió tuyết, không biết do gió lạnh hay men rượu ngấm chậm, mà mặt nàng đỏ bừng, đầu óc cũng lâng lâng.

Noãn các không còn chăn thừa.

Dưới bàn thấp có đặt lò than, nàng liền gục xuống bàn chợp mắt một lát, đợi mẫu thân và Tạ phu nhân trò chuyện xong sẽ cùng về.

Khi Tạ Chinh tìm đến, đã thấy một lớn một nhỏ đều ngủ rồi.

Bên ngoài gió tuyết mịt mù.

Hắn cởi áo choàng trên vai, nhẹ nhàng phủ lên vai Trường Ngọc.

Nàng lẩm bẩm gì đó, nhưng vì say ngủ nên không tỉnh.

Hắn cúi xuống nhìn gương mặt ửng đỏ dưới ánh nến.

Ánh mắt dừng lại trên đôi môi đầy đặn của nàng.

Bóng nến lay động.

Hắn khẽ thở gấp, đứng thẳng dậy, lại quay nhìn cô nương vẫn ngủ say bên bàn.

Sau đó khép cửa noãn các, rời đi.

Khi cánh cửa vừa đóng, hàng mi dài khép chặt của nàng khẽ run.

Đôi môi vốn đã đỏ, giờ đây dường như còn hơi sưng và ướt át.

-.-

Qua năm mới chưa bao lâu, Trường Ngọc còn chưa kịp làm lễ cập kê, ngoài quan ải đã truyền tin dữ.

Ngoại tổ phụ nàng trọng thương nơi chiến trường.

Mạnh Lệ Hoa nóng như lửa đốt.

Nhưng từ quan ải về kinh thành xa nghìn dặm, bà lại là phụ nhân yếu ớt, con út chưa đầy năm tuổi, nhất thời không thể bỏ hết mà đi.

Trường Ngọc xin thay mẫu thân lên phương bắc thăm ngoại tổ phụ.

Mạnh Lệ Hoa biết nữ nhi từ nhỏ đã theo phụ thân luyện võ.

Về kinh rồi cũng chưa từng bỏ tập đao pháp, còn thường xuyên so chiêu với thị vệ trong phủ.

Sau một hồi cân nhắc, bà gật đầu đồng ý.

Ngày Trường Ngọc lên đường, Tạ Chinh cưỡi ngựa tiễn nàng hơn mười dặm ngoài thành.

Lúc chia tay, hắn đưa cho nàng một tấm lệnh bài: "Lệnh bài này có thể điều động thân binh của ta.

Trên đường nếu gặp khó, cứ tìm đến họ."

Trường Ngọc cầm lệnh bài, hỏi: "Huynh đưa muội rồi, còn huynh thì sao?"

Gió tuyết thổi mạnh.

Tạ Chinh ngồi trên lưng ngựa, nghiêng mặt nhìn về phía kinh thành: "Ta tạm thời không về được."

Nàng chỉ hiểu lờ mờ.

Nhưng cũng đoán ra, lần này Tạ Lâm Sơn có thể xuất binh đánh Bắc Quyết, chắc có liên quan đến việc hắn vào Quốc Tử Giám làm võ phu tử.

Hắn không nói thêm.

Chỉ nhờ lợi thế tay dài, từ trên lưng ngựa cúi người xuống, xoa đầu nàng như thuở nhỏ: "Gặp Mạnh lão Tướng quân, thay ta vấn an ông."

"Ừm."

Hắn lại lấy từ trong ngực ra một hộp gấm, đưa cho nàng: "Vài ngày nữa là sinh nhật muội.

Vốn định đợi đến lễ cập kê mới tặng, giờ đành đưa trước."

Trường Ngọc mở ra.

Bên trong là một cây trâm ngọc tinh xảo.

Toàn thân trắng như tuyết, chỉ ở đuôi ánh lên một vệt đỏ như máu bồ câu, giống tia nắng đầu ngày rực lên giữa nền trắng, chính vệt đỏ ấy khiến cả cây trâm như có linh hồn.

Nàng nhíu mày: "Thứ này... quý quá."

Chỉ nhìn sắc ngọc cũng biết là bảo vật hiếm có.

Tạ Chinh khẽ khịt mũi: "Lễ cập kê của muội, chẳng lẽ ta lại tặng thứ tầm thường?"

Không biết nàng nghĩ đến điều gì, bỗng im lặng.

Hắn nhìn nàng rất nghiêm túc: "Đợi muội cập kê rồi, ta có chuyện muốn nói."

Trường Ngọc cụp mắt, khẽ gật đầu.

Hắn giật dây cương cho ngựa lùi lại một chút: "Đi đi.

Trên đường cẩn thận."

Cỗ xe đi rất xa trên con đường phủ đầy tuyết.

Khi Trường Ngọc vén rèm nhìn lại, vẫn thấy bóng Tạ Chinh cưỡi ngựa đứng trên triền đất thấp.

Dáng người thẳng tắp, sừng sững như cây tùng trước gió.

-.-

Tạ Chinh không ngờ rằng, lần chia tay ấy suýt khiến hắn mất nàng mãi mãi.

Cuối tháng hai, chiến báo từ phương bắc lại được truyền về kinh thành theo đường khẩn cấp.

Hoàng Đế đọc xong thì nổi giận lôi đình, triều đình chấn động.

Chinh Viễn Tướng quân Tùy Thác bất mãn việc Tạ Lâm Sơn giữ mình lại trong quan nội, vì muốn tranh công mà tự ý dẫn quân đuổi sâu vào sa mạc.

Một cánh quân Bắc Quyết bị dồn đến đường cùng, cạn lương mấy ngày liền, ôm ý định liều chết quay sang tấn công Cẩm Châu.

Không ngờ phòng thủ Cẩm Châu lại mỏng.

Đám quân Bắc Quyết như sói đói gặp mồi, điên cuồng mở đợt tấn công dữ dội hơn.

Mạnh Thúc Viễn đang trọng thương vẫn hạ lệnh sơ tán dân trong thành, tự mặc giáp định lên thành tử thủ.

Nào ngờ ngoại tôn của ông đang dưỡng bệnh trong quân, không biết từ đâu lấy ra một khối lệnh bài, được một đội tinh binh ủng hộ, ra lệnh cho thân binh đưa ông rút lui, còn mình khoác chiến giáp của ông lên thành chỉ huy.

Khi thế trận không giữ nổi, để tranh thủ thêm thời gian cho dân chúng rút đi, nàng dẫn tàn quân bỏ chạy theo hướng ngược lại dụ địch.

Cuối cùng bị quân Bắc Quyết ép xuống vực, sống chết không rõ.

Tạ Lâm Sơn kịp thời dẫn đại quân quay lại cứu viện.

Cẩm Châu giữ được, dân trong thành có đủ thời gian rút lui nên thương vong không nhiều.

Chỉ là phái người đi tìm ngoại tôn của Mạnh Thúc Viễn khắp nơi, đến nay vẫn chưa có tin tức.

Mạnh Lệ Hoa vừa nghe tin dữ đã suýt khóc ngất.

Ngụy Oản ở bên cạnh không rời nửa bước.

Còn Tạ Chinh nghe tin liền thúc ngựa vào cung.

Không ai biết hắn đã nói gì với Hoàng Đế.

Ra khỏi cung, hắn không về nhà, chỉ sai tùy tùng truyền lời rồi lập tức lên đường đi đất bắc.

Con đường tám trăm dặm khẩn cấp vốn phải mất ba năm ngày mới đi hết, Tạ Chinh ngày đêm không nghỉ, chỉ hai ngày rưỡi đã đến nơi Trường Ngọc rơi xuống vực.

May thay phía dưới là một con sông lớn.

Hắn men theo bờ sông xuôi dòng tìm kiếm, gặp ai cũng hỏi.

Nửa tháng sau, cuối cùng tìm được nàng ở một trấn nhỏ tên Lâm An.

Một cặp vợ chồng già họ Triệu phát hiện nàng bên bờ sông đóng băng.

Tưởng nàng đã chết cóng, họ định chôn cất cho tử tế.

Nào ngờ khi nhấc lên mới biết nàng vẫn còn thoi thóp.

Ông lão trước đây từng làm thú y, thử liều cho nàng uống một thang thuốc, không ngờ cô nương ấy mạng lớn, vậy mà gắng gượng qua được.

Sau nửa tháng dãi gió dầm sương, Tạ Chinh trong bộ dạng tiều tụy đứng trước cổng nhà họ Triệu.

Con Hải Đông Thanh trắng như tuyết vỗ cánh đậu trên mái nhà.

Dưới mái hiên, một ô cửa gỗ cũ mở hé.

Bên cửa sổ, cô nương khoác chiếc áo bông chắp vá ngồi trên giường, cầm bát thuốc mẻ miệng, cau mày uống từng ngụm với vẻ khổ sở.

Mắt Tạ Chinh bỗng đỏ lên.

Hắn bước tới một bước.

Nhưng khi vừa thả lỏng hơi thở, sự mệt mỏi tích tụ suốt nửa tháng không ngủ cùng cơn phong hàn ập tới.

Trước mắt hắn tối sầm, ngã xuống.

Nghe "rầm" một tiếng, Trường Ngọc quay đầu nhìn nam nhân ngất trước cửa, tay vẫn cầm bát thuốc, ngơ ngác nhìn đại nương đứng bên giường.

Khi Tạ Chinh tỉnh lại, bên giường chỉ có ông lão họ Triệu chăm sóc.

Hắn khẽ ho khan, giọng khàn khàn: "Cô nương ta tìm...

đâu rồi?"

Ông lão đáp: "Cô nương ấy bị thương ở chân, chưa xuống giường được, đang nghỉ bên phòng đối diện."

Tạ Chinh nghiêng đầu nhìn ra ngoài.

Tuyết rơi liên tiếp mấy ngày, hôm nay hiếm hoi có nắng.

Ánh sáng xuyên qua cửa sổ dán giấy, không mấy ấm áp, nhưng khiến lòng người dịu lại.

Ông lão ra ngoài làm mộc, Tạ Chinh gắng gượng khoác áo bước ra.

Cửa sổ phòng đối diện vẫn mở.

Con Hải Đông Thanh đậu bên khung cửa.

Cô nương dưới nắng nhẹ, dùng ngón tay còn đóng vảy thương khẽ vuốt bộ lông trắng của nó, thỉnh thoảng mỉm cười thì thầm điều gì đó.

Tạ Chinh tựa vào khung cửa nhìn rất lâu.

Trường Ngọc cuối cùng cũng nhận ra hắn, quay đầu nói: "Huynh tỉnh rồi à?

Cảm lạnh còn chưa khỏi, đừng ra gió.

Tối lại sốt thì khổ."

Tạ Chinh vẫn nhìn nàng, giọng trầm xuống: "Ta suýt nữa tưởng không tìm được muội."

Trường Ngọc khựng lại một chút rồi cười: "Nếu thật sự không tìm được thì sao?"

Hắn đáp: "Thế nào cũng phải tìm.

Sống phải thấy người, chết phải thấy xác."

Nàng vẫn cười: "Vậy giờ tìm được rồi thì sao?"

Tạ Chinh nói: "Muốn hỏi muội có chịu gả cho ta không."

Trường Ngọc nghiêng đầu: "Đó là điều huynh nói hôm tiễn muội, bảo chờ muội cập kê rồi sẽ nói sao?"

Nam nhân thân cao bách tùng tựa cửa, sắc mặt nhợt nhạt vì bệnh, chậm rãi đáp: "Phải."

Ánh mắt kiên định đến cố chấp.

"Nếu muội nói không thì sao?"

"Nhân lúc muội bị thương chân chưa chạy được, trói về thành thân."

Trường Ngọc bật cười: "Có ai bá đạo như huynh không?"

Hắn nói thản nhiên: "Ta vốn đâu phải người tốt."

Nàng khẽ nhíu mày, gõ nhẹ lên đầu mình: "Kỳ lạ thật, câu này hình như huynh từng nói với muội rồi."

Nàng lại cười: "Lúc hôn mê muội còn mơ một giấc mơ rất thú vị.

Trong mơ người rơi xuống đây là huynh, còn muội lại thành nữ nhi nhà đồ tể."

Tạ Chinh chỉ nói: "Nếu thật như giấc mơ của muội, ta cũng cam lòng thay muội chịu khổ."

Nàng lắc đầu: "Trong mơ khổ lắm.

Huynh mất phụ mẫu, muội cũng thành côi nhi.

Vẫn là bây giờ tốt hơn."

Hắn khẽ nói: "Ngốc.

Mơ thì đều là giả."

Nàng gật đầu: "Đúng, chắc chắn là giả.

Trong mơ huynh còn ở rể cho muội nữa, lạ ghê..."

Tạ Chinh im lặng một thoáng, ánh mắt có chút khó tả: "Bình thường trong đầu muội nghĩ những gì vậy?"

Trường Ngọc vội giơ ba ngón tay: "Thề có trời đất, muội thật sự không hề mơ tưởng huynh ở rể cho muội..."

Hắn cắt ngang: "Trong mơ có Lý Hoài An không?"

Trường Ngọc vốn thật thà, gật đầu: "Có."

Thấy sắc mặt hắn sa sầm, nàng nói thêm: "Nhưng trong mơ muội không chép bài của hắn.

Trong mơ là huynh dạy muội học."

Tạ Chinh vừa thấy lòng dịu lại, đã nghe nàng lí nhí: "Chỉ là trong mơ muội còn có một vị hôn phu..."

Gân xanh trên trán hắn giật giật.

Hắn lạnh lùng ra lệnh cho ai đó: "Lập tức chuẩn bị xe, trói người về phủ!"

Trường Ngọc thấy mấy ám vệ từ trên mái nhà nhảy xuống, vội bám chặt khung cửa: "Huynh định làm gì?"

Hắn nghiến răng: "Trói muội về thành thân!"

Kéo dài thêm chỉ tổ sinh chuyện.

Trời cao mây nhạt, gió xuân hiền hòa.

Trường Ngọc bám cửa kêu lên: "Không!

Muội còn phải ra trận giết địch, còn muốn làm tướng quân nữa!"

-HẾT-

〜⁠(⁠꒪⁠꒳⁠꒪⁠)⁠〜〜⁠(⁠꒪⁠꒳⁠꒪⁠)⁠〜〜⁠(⁠꒪⁠꒳⁠꒪⁠)⁠〜

Hết thiệt rồi!
 
Back
Top Dưới