[BOT] Wattpad
Administrator
- 25/9/25
- 177,795
- 0
- 0
Trục Ngọc Quyển 2 (Edit)
Chương 232: Ngoại Truyện Lý Hoài An
Chương 232: Ngoại Truyện Lý Hoài An
Đầu năm Vĩnh Bình thứ mười tám, hai phe Lý, Ngụy mưu nghịch thất bại, tất cả đều bị xử theo luật.
Những người trong tộc bị phán chém đầu thì tạm giam trong thiên lao, chờ sau thu hành hình.
Kẻ bị lưu đày thì đầu tháng ba đã bị quan sai áp giải lên đường.
Tội của Lý gia là mưu phản, tru di cửu tộc.
Nhưng gia tộc lớn, có quan hệ thông gia đan xen chằng chịt, liên lụy cực rộng, gần như kéo theo nửa triều đình và không ít đại nho đã cáo lão.
Tân Đế lên ngôi, để tỏ lòng khoan dung, ban lệnh đại xá thiên hạ.
Cuối cùng hai nhà Lý, Ngụy chỉ bị tru tam tộc, gồm một mạch huyết thống trực hệ và hôn thân trực tiếp, một mạch bên ngoại, một mạch bên nội.
Ngoài tam tộc nhưng vẫn trong cửu tộc thì đều bị lưu đày ba ngàn dặm.
Lý Hoài An là cháu nội của Lý Thái phó, không thuộc tam tộc.
Sau khi rơi vào tay Tạ Chinh tại Kế Châu, hắn bị giam giữ suốt một thời gian dài, trong lúc đó cũng từng chịu hình.
Thoạt nhìn chỉ là một thư sinh yếu ớt, vậy mà miệng lại cứng đến lạ, ngay cả Công Tôn Ngân đích thân thẩm vấn, cũng không moi ra được điều gì.
Khi ấy, hắn mình đầy thương tích, nằm trên đống rơm khô trong ngục.
Giữa mùa đông giá rét, mỗi hơi thở phun ra đều hóa thành một làn sương trắng.
Đối diện Công Tôn Ngân đến khuyên nhủ, hắn chỉ cười khổ: "Danh tiếng tiên sinh lừng lẫy bên ngoài, Hoài An sớm đã nghe qua.
Chỉ không ngờ lần đầu gặp tiên sinh, lại là trong hoàn cảnh thế này.
Tội Lý gia là tội trời không dung đất không tha.
Trên đời này, ai cũng có thể mắng Lý gia, ai cũng có thể đẩy thêm một tay khiến bức tường mục nát ấy sụp đổ.
Nhưng Hoài An thì không thể.
Hơn hai mươi năm qua, Hoài An được hưởng ân che chở của gia tộc.
Nay lầu cao sắp đổ, Hoài An thà tan xương nát thịt dưới tổ, cũng không thể trở thành người làm sụp đổ nó.
Hoài An biết mình là tội nhân, chết rồi cũng cam nguyện xuống A Tì địa ngục, chỉ mong tiên sinh... thành toàn."
Công Tôn Ngân nhìn nam nhân mặc thanh bào nhuốm đầy vết máu trước mặt, chậm rãi nói: "Lý gia đã vứt bỏ huynh rồi.
Như vậy, còn đáng hay không?"
Lý Hoài An cười nhạt: "Hai mươi năm dưỡng dục chi ân, như vậy là đủ rồi."
Hắn một lòng cầu chết, mà thân thể lại không cường kiện như người luyện võ, cuối cùng không thể tiếp tục dùng hình bức hỏi.
Sau khi Lý gia bị định tội, hắn cùng những người khác bị giải đến giam tại Đại Lý Tự.
Mùa xuân năm ấy, thiên tử vừa kế vị chưa lâu, Lý Hoài An liền cùng hơn ba tộc người Lý gia, bước lên con đường lưu đày.
Một đám người sinh ra đã quen cẩm y ngọc thực, khi bị tịch biên gia sản, áp vào thiên lao, còn tưởng như trời đã sập.
Đến khi thật sự bước lên đường lưu đày, mới biết thế gian này còn lắm khổ ải, những gì họ từng chịu trước kia, chẳng đáng là bao.
Quan sai nghiêm khắc, mỗi ngày đi bao nhiêu dặm đều có quy định chặt chẽ.
Đi chậm là ăn roi.
Roi làm từ thứ da không biết là gì, dùng qua nhiều năm, bóng loáng trơn trượt.
Chỉ một roi quất xuống, nửa lưng vai liền sưng vọt lên, mấy ngày mới tan.
Còn ở trong lao, chỉ cần lén đưa cho ngục tốt chút tiền, ít nhiều cũng ăn được một bữa ra hồn.
Trên đường lưu đày, điều kiện khắc nghiệt, số tiền tư tàng phòng thân của họ đã bị ép vét sạch trong ngục, chẳng còn bao nhiêu để hiếu kính quan sai.
Mỗi ngày ăn uống chỉ là bánh ngô đen cứng ngắc, cắn không nổi, phần lớn thời gian còn chẳng được ăn no.
Chỉ mấy ngày trôi qua, người trong Lý gia bị lưu đày ai nấy đều gầy rộc đi một vòng, sắc mặt tiều tụy, dáng vẻ hốc hác, không còn chút nào phong thái kim tôn ngọc quý ngày trước.
Trẻ nhỏ tuổi còn bé, không đi nổi đường dài, dọc đường đều phải để người lớn thay phiên cõng.
Giày dép mòn rách cũng không có cái mới.
Vài ngày liền lên đường, trên chân Lý Hoài An đã mài ra mấy bọng máu, huống chi là những nữ quyến cùng bị lưu đày.
Hắn tận mắt nhìn mấy đứa cháu còn nhỏ lần lượt ngã bệnh, mà bản thân lại bất lực.
Trên người hắn đã không còn nổi một đồng tiền.
Hắn cố thuyết phục những thân tộc còn giấu tiền phòng thân, xin góp chút ít mua thuốc cho bọn trẻ, nhưng đáp lại chỉ là tiếng than vãn, trách móc và chửi rủa.
Con cái Lý Thái phó đều đã bị phán chém đầu.
Lý Hoài An, trưởng tôn của Lý gia, trở thành dòng chính duy nhất còn lại.
Những chi thứ, thân thích trong phạm vi năm tộc từng nương dựa vào đại thụ Lý gia, nay cây đã bị nhổ tận gốc, đối diện kết cục tịch biên và lưu đày, ai nấy đều trút oán hận lên đầu Lý gia.
Khi Lý Hoài An quỳ xuống dập đầu, khẩn cầu thân tộc góp tiền cứu mấy đứa cháu đang sốt cao không dứt, hắn không chỉ bị khạc nhổ, mà còn bị những người ôm hận với chủ mạch Lý gia xông vào đấm đá.
Nếu không có quan sai kịp thời can ngăn, e rằng hắn cũng phải nằm liệt mấy ngày không đi nổi đường.
Đêm xuân ấy lạnh buốt.
Hắn cởi chiếc áo bông rách duy nhất trên người, quấn cho đứa cháu đang sốt mê man để giữ ấm.
Bản thân thì ôm đứa trẻ, tựa lưng vào cánh cửa gỗ mục của trạm dịch, nhìn qua khe cửa ra bầu trời đêm đen kịt bên ngoài mà ngẩn người.
Đứa cháu nhỏ rúc trong lòng hắn, rõ ràng hai má nóng đỏ vì sốt, vậy mà vẫn liên tục thì thào kêu lạnh.
Lý Hoài An vô lực kéo áo bông quấn chặt thêm cho đứa trẻ.
Sắc mặt hắn đã lạnh đến xanh tái, dưới lớp áo mỏng, xương bả vai nhô lên rõ rệt, gầy gò như một thân trúc sắp khô héo.
Hắn khẽ vỗ lưng cháu, thấp giọng dỗ dành.
Đứa bé gắng sức mở mí mắt nặng trĩu, khẽ hỏi hắn: "Tiểu thúc đang nhìn gì vậy?"
Giọng Lý Hoài An khàn đặc: "Nhìn tội nghiệt của Lý gia."
Thanh âm đứa trẻ yếu ớt, mong manh như mèo con sắp chết, mí mắt chầm chậm khép lại: "Đó là gì vậy ạ?"
Ngực Lý Hoài An nghẹn cứng, cổ họng đắng chát.
Hắn nhìn màn đêm u buồn, chậm rãi nói: "Lý gia từng làm sai rất nhiều chuyện, hại chết rất nhiều người vô tội.
Tiểu thúc nghĩ... những bá tánh vì Lý gia mà gặp họa, khi trải qua sinh ly tử biệt, có phải cũng thê lương và bất lực như thế này không..."
Hắn không nói tiếp được nữa.
Cúi đầu xuống, mới phát hiện đứa cháu trong lòng đã tắt thở.
Cuối cùng, hắn không còn kìm nén được nỗi bi thương trong lòng, vùi mặt vào trước ngực đứa trẻ, bật khóc nức nở.
"Người đáng chết là ta...
Người nên chịu báo ứng là ta mới đúng..."
Đêm ấy, trong phòng chứa củi của trạm dịch, tiếng khóc bị dồn nén đến tột cùng vang lên đứt quãng suốt đêm.
Sau khi đứa cháu nhỏ qua đời, Lý Hoài An cũng lâm bệnh nặng một trận.
Người gầy rộc, chỉ còn da bọc xương, hai mắt vô hồn, hoàn toàn không còn thấy đâu bóng dáng vị công tử Lý gia thanh quý, đoan nhã năm xưa.
Đám quan sai áp giải đều cho rằng hắn không trụ nổi nữa.
Nhưng Lý Hoài An vẫn sống, vẫn từng bước lê đến được Túc Châu.
Hắn trở nên cực kỳ ít nói, thường cả ngày không nói với ai một câu.
Thế nhưng, hắn lại lặng lẽ làm rất nhiều việc.
Trên đường lưu đày, chính phạm nhân còn ăn không đủ no, để tránh đói, một chiếc bánh ngô cũng phải bẻ đôi, giấu nửa còn lại trong ngực, đợi khi đói lả mới dám ăn.
Vậy mà mỗi khi gặp ăn mày, hắn thường đem nửa chiếc bánh ngô mà chính mình cũng không nỡ ăn bố thí cho họ.
Thỉnh thoảng gặp kẻ gan dạ dám bắt chuyện, hắn còn dạy họ vài chữ, thậm chí giúp mấy người ăn mày đặt tên.
Quan sai và đám phạm nhân đi cùng chỉ xem hắn như trò cười, cho rằng hắn đúng là Bồ Tát đất qua sông, tự thân còn khó giữ, lại rảnh hơi đi thương hại ăn mày.
Lý Hoài An không giải thích, vẫn cố chấp làm những việc ấy.
Có thân tộc thấy hắn lúc nào cũng để dành nửa chiếc bánh ngô, chờ đến chặng sau bố thí cho ăn mày, liền thẳng tay cướp mất.
Hắn bị đánh một trận.
Khi ra bờ sông rửa máu trên mặt, quan sai trông giữ thấy bộ dạng bình thản của hắn thì khó chịu, buông lời mỉa mai: "Lý đại công tử, ngài sa sút đến mức này rồi, còn giả nhân giả nghĩa cho ai xem?
Năm đó nạn hạn lớn Quan Trung, lũ lụt Giang Nam, án tham ô, rồi vụ Lư Thành cấu kết phản tặc đẫm máu... chẳng phải đều do Lý gia các ngài một tay thúc đẩy sao?"
Tiếng nước róc rách chảy.
Lú Hoài An nhìn bóng mình mờ nhạt trong dòng nước, cúi đầu, mái tóc bẩn thỉu che khuất nét mặt đượm buồn: "Quan gia nói không sai.
Tội của Lý gia liên lụy đến hàng ngàn, hàng vạn sinh mạng, có chuộc cả đời cũng không hết.
Nhưng trong lòng kẻ mang tội này vẫn còn áy náy.
So với chết đi là xong, ta vẫn muốn thay Lý gia làm chút việc cho những bá tánh từng bị phụ bạc, coi như trả lại phần nào tội nghiệt."
Quan sai nghe xong thì sững người, rồi bật cười châm chọc.
Còn Lý Hoài An vẫn thờ ơ với mọi lời cười nhạo, lặng lẽ làm việc của mình.
Ban đầu, quan sai và phạm nhân còn xem hắn như trò vui, về sau có lẽ thấy hắn chẳng phản ứng gì, cũng lười đem những lời ấy ra chọc ghẹo nữa.
Đường lưu đày gian khổ.
Giày vải của Lý Hoài An chưa đầy hai tháng đã rách nát không thể mang.
Hắn theo một lão già làm việc vặt ở trạm dịch học đan giày rơm.
Đôi chân từng quen giày cẩm ủng, sau khi phồng rộp, chai sạn chồng chất, nay mang giày rơm cũng chẳng còn thấy đau.
Đôi tay từng cầm bút vẽ tranh từ lâu đã thô ráp, nứt nẻ không còn hình dạng.
Trên đường đi, hắn cũng giúp không ít thân tộc đan giày rơm.
Thế nhưng, khi thân tộc Lý gia rốt cuộc tới được Túc Châu vào tháng Chạp năm ấy, hơn trăm mạng người xuất phát, sống sót chỉ còn lác đác vài người.
Đó chính là: "Tội chết tuy tha, sống chết khó lường."
Túc Châu nằm nơi biên tây bắc, hoang vu lạnh lẽo.
Phóng mắt nhìn ra chỉ toàn sa mạc, chỉ ở nơi có nguồn nước mới đắp đất vàng làm thành, tụ cư dân chúng.
Trong thành, phần lớn là quân biên ải và phạm nhân bị lưu đày, người bản địa vốn đã ít, nay lại càng thưa thớt.
Tân Đế vừa kế vị, Vũ An Hầu trấn thủ quan ngoại hồi kinh phò tá ấu Đế, giữ quyền Nhiếp Chính Vương, các bộ tộc man di ngoài biên lại bắt đầu rục rịch.
Sau nhiều lần bị quấy nhiễu, Túc Châu hạ lệnh gia cố thành phòng.
Đám phạm nhân vừa bị lưu đày tới, trong đó có Lý Hoài An, lập tức bị bắt đi xây tường thành.
Lý Hoài An là thư sinh yếu ớt, tay không xách nổi, vai không gánh nổi.
Ngày đầu tiên đã bị roi quất thẳng tay, lưng chi chít vết roi.
Sang ngày thứ hai, vẫn bị lùa đi tiếp.
Lưng gầy không kham nổi những khối gạch đá nặng nề.
Chỉ sơ ý làm rơi, mẻ một viên gạch, binh lính trông coi liền nổi cơn hung ác, roi da trút xuống như mưa.
Mỗi roi quất trúng, đau rát như bị bò cạp độc chích.
Có lúc Lý Hoài An cũng từng nghĩ mình sẽ chết ngay tại đây, nhưng trong lòng hắn lại không dấy lên chút oán hận nào.
Đêm đông đứa cháu chết vì bệnh, hắn đã hiểu rõ, những bá tánh năm xưa vì Lý gia mà tan cửa nát nhà, bất lực đến nhường nào.
Khổ trên đời này, chỉ khi tự mình nếm qua, mới biết là mùi vị gì.
So với chết dưới loạn đao và vó ngựa khi thành bị phá, thì cái khổ xây tường thành này, rốt cuộc cũng chẳng đáng là bao.
Nhưng chính nơi địa ngục nhân gian mang tên chiến tranh ấy, Lý gia từng đích thân nhúng tay thao túng một lần.
Năm xưa, khi Lý Hoài An theo quân ra tiền tuyến với thân phận Giám quân, tận mắt chứng kiến cảnh chiến trường tàn khốc, trong lòng hắn cũng từng dao động, từng sinh thương xót.
Nhưng mỗi lần nhớ đến lời tổ phụ từng nói lật đổ Ngụy Nghiêm là để thiên hạ có thêm nhiều bá tánh được sống những ngày yên ổn, hắn lại ép mình trở nên lạnh lùng, làm ngơ trước những hy sinh ấy.
Cho đến hôm nay, khi chính tay mình xây từng viên gạch, từng tảng đá nơi biên thành, hắn mới thật sự cảm nhận được những bá tánh và tướng sĩ từng bị Lý gia coi nhẹ, bị ép hy sinh, đã phải trải qua bao nhiêu vùng vẫy khổ sở đến bất lực.
Cũng từ đó, hắn mới hiểu vì sao năm xưa Trường Ngọc và Tạ Chinh, khi biết mọi chuyện đều do Lý gia đứng sau thao túng, lại phẫn nộ đến vậy.
Một người xuất thân từ tầng đáy dân gian, một người từ thiếu niên đã lăn lộn trong quân ngũ, không ai rõ hơn họ việc bá tánh cùng binh lính tầng dưới cùng sống những ngày tháng ra sao.
Những toan tính của Lý gia, chỉ trong chớp mắt đã hủy hoại không biết bao nhiêu gia đình đang gắng gượng tồn tại trong khổ cực.
Càng hiểu rõ những điều ấy, gánh nặng tội nghiệt trên người Lý Hoài An càng đè nén đến nghẹt thở.
Chỉ là, hắn tỉnh ngộ quá muộn.
Chết ở nơi này cũng chẳng thể giảm đi dù chỉ một phần vạn tội lỗi trong lòng hắn, nhưng lại là nơi an nghỉ tốt nhất mà hắn từng nghĩ tới.
Song rốt cuộc, hắn vẫn không chết.
Viên tiểu tướng trấn thành nghe nói hắn là cháu của Lý Thái phó, tuy sắc mặt lạnh nhạt, nhưng xét thấy trong cả biên thành, người biết chữ đếm trên đầu ngón tay, nên ngoài việc xây thành, còn gọi hắn đến giúp chỉnh lý danh sách phạm nhân lưu đày cùng binh lính dưới quyền.
Viên tiểu đầu mục thân hình cao lớn, thô kệch, tính tình nóng nảy, chỉ thẳng vào đống giấy tờ mà nói: "Ngươi lo chỉnh cho tử tế.
Dưới tay lão tử, bất kể là quân tốt hay tội nhân, chỉ cần dám chết trên thành lầu khi mọi rợ tới, đều xứng đáng được ghi lại tên!"
Sau chặng đường lưu đày đầy khổ nạn, Lý Hoài An từng nghĩ mình sẽ không còn xúc động vì bất cứ điều gì nữa.
Thế nhưng chỉ một câu nói ấy, lại khiến một luồng cay chát xen lẫn kính trọng dâng thẳng từ ngực lên cổ họng.
Hắn trịnh trọng cúi người thi lễ, khi ngẩng đầu lên, hốc mắt đã ươn ướt: "Tiểu dân mang tội, nhất định không phụ trọng thác."
Đó là áy náy.
Trận Lư Thành năm xưa, mưu kế của Lý gia đã hại chết không biết bao nhiêu tướng lĩnh binh sĩ như vậy.
-.-
Đầu năm Vĩnh Hưng thứ hai, Túc Châu biên thành bất ngờ bị tập kích.
Đó là lần đầu tiên Lý Hoài An trực diện với lưỡi đao lạnh lẽo và tiếng gào thét hung tợn của man di.
Tay chân hắn tê cứng, cả người sững sờ đứng trên thành lầu, không biết trốn, cũng không biết cầm đao.
Dù viên tiểu đầu mục gào khàn cả cổ, đám phạm nhân lưu đày như hắn vẫn không nhúc nhích nổi.
Máu bắn tung như mưa.
Người vừa còn sống sờ sờ, chớp mắt đã thành xác chết dưới lưỡi đao.
Tường thành còn dang dở không thể ngăn nổi thế công dữ dội.
Viên tiểu đầu mục nóng nảy cuối cùng cũng nhận ra thành nhỏ bằng đất vàng này không giữ nổi, liền gào lên, ra lệnh cho binh sĩ chặn phía trước, để những người còn lại dẫn bá tánh rút về Túc Châu phía sau.
Trận tập kích kết thúc khi viện quân Túc Châu kịp thời tới nơi.
Man di chiếm được thành nhỏ cũng không dừng lại lâu, cướp chút tiền, lương thực rồi rút lui.
Nhưng viên tiểu đầu mục đã chết trên thành lầu.
Tên quan binh từng quất roi Lý Hoài An khi xây thành cũng tử trận dưới chân cổng.
Còn vô số binh sĩ khác có người hắn quen, có người không, đều dùng mạng sống mình để cầm cự, chờ viện quân tới.
Từ đêm đứa cháu chết vì bệnh trên đường lưu đày, đây là lần thứ hai Lý Hoài An khóc đến không thành tiếng.
Lần này không phải vì máu mủ ruột thịt, mà vì xương trắng đầy đất.
Không chỉ áy náy lần đầu tiên trong đời, hắn hối hận sâu sắc đến vậy về những gì mình từng làm.
Bao sinh mạng đổi lấy một chút yên ổn này, sao có thể vì tranh đấu trong triều mà lại khơi mào binh đao?
Trong trận chiến ấy, Lý Hoài An bị man di chém què một chân, nhưng đã liều mạng cứu được một nhi tử thay cho một đại nương.
Người đại nương chết dưới đao giặc.
Trước khi trút hơi thở cuối cùng, bà ấy chỉ kịp nói một câu: "Phụ thân đứa trẻ đang trong quân, họ Trình..."
Sau khi viện quân tới, Lý Hoài An che chở đứa bé giữ được mạng sống.
Khi tìm đến phụ thân đứa trẻ trong quân, mới hay người ấy cũng đã tử trận trên thành lầu.
Đứa trẻ trở thành cô nhi.
Lý Hoài An nhận nuôi đứa bé, đặt tên là Trình Lang.
Lang (琅) là mỹ ngọc.
Người ta vẫn nói quân tử như ngọc.
Hắn mong đứa trẻ sau này có thể trưởng thành thành một người chính trực, đường đường quân tử.
Bắc Quyết ngày càng rục rịch.
Năm ấy, không chỉ Túc Châu, mà cả Cẩm Châu và Yến Châu cũng liên tiếp bị quấy nhiễu.
Đến mùa thu, Đại Tướng quân Đường Bồi Nghĩa nắm ấn soái tiến quân trấn áp dị tộc ngày càng hung hãn, Đại Tướng quân Mạnh Trường Ngọc áp giải lương thảo theo sau.
Trường Ngọc... lần nữa nghe tin Phàn Trường Ngọc, Lý Hoài An bỗng có cảm giác như đã cách một đời.
Nghe nói nàng đã thành thân với Tạ Chinh, trong lòng hắn thoáng chua xót rồi lại nhẹ nhõm.
Trên đời này, ngoài Vũ An Hầu, hắn quả thật không nghĩ ra ai khác xứng với nàng.
Hai người ấy, tựa như sinh ra đã bị số mệnh buộc chặt, đúng là một đôi do trời đất tác thành.
Ở biên thành nhỏ Túc Châu, Lý Hoài An giúp viên tiểu đầu mục mới tới chỉnh lý công văn, bàn bạc việc xây dựng phòng thủ.
Lời lẽ hắn thực tế, học vấn lại rộng, dù vẫn mang thân phận tội nhân, nhưng tiểu đầu mục vẫn đặc biệt cất nhắc hắn làm chủ bộ.
Thấy chân hắn không tiện, cũng không bắt hắn đi làm việc nặng nữa.
Thế nhưng sau khi tạ ơn, Lý Hoài An vẫn ngày nào cũng đều đặn ra cửa thành, hoặc khuân gạch đắp tường, hoặc làm phụ việc cho thợ thủ công.
Chỉ khi thân xác cùng tinh thần đều mệt mỏi rã rời, lòng hắn mới được yên đôi phần, mới cảm thấy mình thực sự đang chuộc tội.
Từ đó về sau, suốt quanh năm, Lý Hoài An đều ở lại biên thùy nhỏ bé ấy.
Hết lượt tiểu tướng này đến lượt tiểu tướng khác được điều tới trấn giữ.
Ai nấy đều nhờ hắn phụ tá rất nhiều, khi sắp rời nhiệm sở đều muốn đưa hắn theo, giữ lại làm phụ tá lâu dài.
Nhưng lần nào cũng vậy, Lý Hoài An đều khéo léo từ chối.
Hắn chỉ nói một câu: "Hắn là tội nhân, đến nơi này là để chuộc tội."
Về sau, khi chiến sự lắng xuống, vị nữ Đại Tướng quân một mình trấn giữ tây bắc suốt nhiều năm ấy đã nhiều lần đánh lui Bắc Quyết.
Thậm chí đến mức, về sau chỉ cần man di nhìn thấy soái kỳ của nàng là không dám xâm phạm nữa.
Cuối cùng, nàng ấy cũng nhờ quân công hiển hách mà được phong Hầu.
Biên thành yên ắng, tường lũy đã xây xong.
Lý Hoài An dựng một gian tư thục nhỏ trong sân nhà đơn sơ của mình, không thu quà nhập học, dạy lũ trẻ địa phương đọc sách, biết chữ.
Vị nữ Hầu năm xưa cùng phu quân của nàng, khi đang ở đỉnh cao vinh quang, đã cùng nhau từ quan, trở về tây bắc, trấn giữ con đường trọng yếu của Đại Dận.
Túc Châu và Huy Châu chỉ cách nhau mấy trăm dặm, vậy mà Lý Hoài An rốt cuộc vẫn chưa từng gặp lại hai người ấy.
Hắn không còn mặt mũi để gặp cố nhân.
Nhưng hắn nghe rất nhiều chuyện về họ.
Nghe nói năm Vĩnh Hưng thứ sáu, nữ Hầu sinh một đôi long phượng thai, trưởng nữ đặt tên Tạ Từ Uẩn, đích tử đặt tên Mạnh Hành Xuyên.
Huyết mạch của hai gia tộc từng chết oan nơi Cẩm Châu năm ấy, cuối cùng cũng được nối tiếp, vĩnh viễn không đứt đoạn.
Lý Hoài An còn nghe nói, họ nhận nuôi rất nhiều côi nhi là con em tướng sĩ.
Đứa nào biết gốc gác thì giữ nguyên họ cũ, đứa nào không rõ thì đổi họ Tạ, họ Phàn, họ Mạnh, tất cả đều được nuôi dạy như ruột thịt.
-.-
Mười sáu năm phong sương mưa tuyết, trôi qua như chớp mắt.
Lý Hoài An vừa bước sang tuổi ngoại tứ tuần thì bệnh tật đã quấn thân.
Hai bên tóc mai bạc trắng, dáng dấp chẳng khác gì một lão già ngoài sáu mươi.
Mấy ngày liền tuyết lớn.
Đầu đông hắn nhiễm phong hàn, nằm liệt trên giường nửa tháng mà không hề thuyên giảm.
Đứa trẻ năm xưa hắn nhận nuôi, nay đã gần tuổi lập thành gia thất.
Khi Trình Lang bưng nước vào lau mặt cho hắn, Lý Hoài An tỉnh táo nhưng suy nhược, chậm rãi dặn dò hậu sự: "Sau khi ta đi, con không cần lo tang lễ.
Chỉ cần chôn sơ sài ở sau núi là được."
Hốc mắt Trình Lang cay xè, cố tỏ ra bình thản: "Tiên sinh nói linh tinh gì vậy.
Chỉ là cảm lạnh thôi, uống thêm mấy thang thuốc là sẽ khỏi mà."
Lý Hoài An chưa từng cho Trình Lang gọi mình là nghĩa phụ.
Hắn nói, mình chỉ là một kẻ mang tội, sống đến hôm nay là để chuộc lỗi, chỉ xứng đáng được gọi là tiên sinh.
"Thân thể ta... ta tự hiểu rõ... khụ, khụ..."
Chưa nói xong, hắn đã sặc ho dữ dội.
Thân hình gầy gò khom xuống, như một ngọn đèn dầu trong đêm lạnh, chỉ chực tắt trước gió bấc.
Trình Lang vỗ lưng giúp hắn dễ thở, kìm nén vành mắt đỏ hoe: "Đầu xuân năm nay, trong thành còn nhiều đứa nhỏ muốn tới chỗ tiên sinh học vỡ lòng.
Tiên sinh thân thể cứng cáp, nhất định sẽ sớm khỏe lại thôi!"
Như sợ hắn lại nhắc đến hậu sự, Trình Lang vội nói tiếp: "Hôm nay phủ Thành chủ tiếp đãi hai vị khách quý.
Trong đó có một vị là nữ, vậy mà Lưu đại nhân lại gọi cả hai là tiểu Hầu gia, cũng thật hiếm thấy.
Nghĩ chắc là người Tạ gia Huy Châu.
Vị cô nương ấy nghe Lưu đại nhân nhắc đến chuyện tiên sinh hơn mười năm nay dạy học miễn phí cho dân làng, còn nói sau này muốn đến thăm tiên sinh..."
Trình Lang vẫn còn thao thao kể chuyện ở phủ Thành chủ, nhưng Lý Hoài An đã không nghe rõ nữa.
Hai mươi năm bị lưu đày nơi đất lạnh này, hắn chưa từng gặp lại cố nhân.
Thời gian chẳng còn bao nhiêu, vậy mà con cái của cố nhân lại tìm đến.
Trong lòng hắn ngổn ngang áy náy, bỗng dâng lên một nỗi bi thương khó kìm.
Đúng lúc ấy, ngoài viện vang lên tiếng gõ cửa.
"Lý phu tử có ở nhà không?"
Trình Lang đặt khăn xuống: "Con ra mở cửa nha."
Cửa viện mở ra.
Người ở phủ Thành chủ cùng một nhóm thiếu nam thiếu nữ đứng bên ngoài.
Cặp song sinh dẫn đầu, Trình Lang đã gặp lúc ban sáng ở phủ Thành chủ, chính là hai vị khách quý kia.
Dù là sinh đôi, dung mạo và khí chất của họ lại hoàn toàn khác nhau.
Nữ thiếu niên mặc kỵ trang đỏ, mắt hạnh mũi cao, rực rỡ như nắng sớm.
Nam thiếu niên khoác huyền y, thần sắc trầm tĩnh, chín chắn hơn tuổi.
Trình Lang làm việc ở phủ Thành chủ đã lâu, nhưng cũng chưa từng gặp người nào tôn quý như vậy, nhất thời không biết nên tiếp đón ra sao.
Công tử phủ Thành chủ vội giải thích: "Trình huynh, sau khi huynh rời đi, hai vị tiểu Hầu gia nghe nói tiên sinh bệnh nặng, nên đặc biệt tới thăm."
Nữ thiếu niên hồng y lập tức ôm quyền: "Là chúng ta đến đột ngột, mong được thứ lỗi."
Trình Lang vội nói không sao, rồi dẫn hai người vào viện.
Trong phòng, Lý Hoài An đã nghe thấy động tĩnh.
Khi Trình Lang đưa hai người bước vào, ánh mắt hắn dừng lại rất lâu trên nữ thiếu niên hồng y.
Thật sự quá giống.
Giống hệt vị nữ Hầu năm xưa, như được khắc ra từ cùng một khuôn.
Hai thiếu niên cùng chắp tay hành lễ: "Đã quấy rầy lão tiên sinh."
Lý Hoài An chỉ nhìn họ cười.
Cười đến khi đôi mắt đã vẩn đục ánh lên những giọt nước mắt, giọng khàn khàn: "Tội của Lý gia...
Lão già ta chuộc không nổi nữa rồi..."
Nữ thiếu niên hồng y dường như đã biết thân phận hắn, nhẹ giọng nói: "Tai họa năm xưa không phải do một mình lão tiên sinh gây nên.
Lão tiên sinh ở lại nơi này hơn hai mươi năm, hễ gặp chiến sự liền đến cửa thành đốc chiến, bày mưu hiến kế, nhiều năm qua dốc lòng vì dân trong thành mở đường sinh kế, lại dạy vô số trẻ nghèo biết chữ.
Những việc ấy không thể xóa đi sai lầm của Lý gia, nhưng đủ để lão tiên sinh không thẹn với lòng mình."
Lý Hoài An nhìn sang nam thiếu niên huyền y bên cạnh.
Đôi mày ấy cũng giống hệt vị Vũ An Hầu từng uy hiếp Bắc Quyết hơn hai mươi năm.
Nam thiếu niên khẽ gật đầu với hắn.
Qua hai người trước mắt, Lý Hoài An như nhìn thấy cố nhân.
Nước mắt vẫn rơi, nhưng trên môi lại nở nụ cười nụ cười nhẹ nhõm, giải thoát.
Đêm ấy, người chuộc tội suốt nửa đời, mỉm cười rời khỏi nhân gian.
Hậu sự làm đúng theo di ngôn, hết sức giản lược.
Dân trong vùng biết hắn cả đời sám hối, không ai ca tụng công đức.
Chỉ có những học trò từng được hắn dạy dỗ, mỗi người trồng một gốc đào hoặc gốc mận trên ngọn đồi sau núi, nơi hắn yên nghỉ.
Mùa xuân năm sau, khắp sườn núi, đào mận nở hoa, rực rỡ sắc màu.