Khác Trăng Nhàn.

  • Người khởi tạo Người khởi tạo [BOT] Wattpad
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Trăng Nhàn.
7. Mệnh phù Liên Hoa


Mấy ngày lưu lại Yên Sinh, Đại hoàng tử theo ngài Hưng Ninh học thiền, lại cùng ngài Hưng Đạo và các anh em họ luyện võ.

Gần đến ngày hồi kinh, việc học hành vẫn còn dang dở, Đại hoàng tử bèn xin Quan gia và Hoàng hậu cho ở lại thêm nửa tuần trăng, chờ đến kỳ đại triều mới trở về thành Long Phượng.

Lúc đầu Quan gia còn có chút chần chừ, sau được Thiên Cảm góp lời mới thuận theo.

Dẫu sao cũng là chuyện trau dồi thân tâm, chẳng phải điều gì không hay.

Nhân dịp ấy, Nhị hoàng nữ cũng được đón hồi cung.

Xa nhà đã hơn bốn năm, nàng cũng đến lúc phải quay về học lại lễ nghi, quy củ.

Xe ngựa chầm chậm lăn bánh.

Nhị hoàng nữ ngồi trong lòng Thiên Cảm, gương mặt vẫn còn phụng phịu, chưa chịu nguôi.

"Mẹ ơi, con còn được chơi với chị Trinh, với Tĩnh, với Tảng nữa không?

Trên kinh không có anh Nghiễn, ai sẽ bảo vệ con?"

"Đến những dịp lễ lạt, chúng nó đều sẽ lên kinh thăm con.

Mỗi tuần trăng vẫn sẽ gửi bánh trái, quà cáp cho con.

Có phụ hoàng, mẫu hậu ở đây, ai dám bắt nạt con chứ?"

Nhị hoàng nữ ngập ngừng, đưa mắt nhìn về phía thánh giá phía trước, rồi lại lén quay đầu về phía xe ngựa phía sau, giọng nhỏ hẳn đi:

"Chị Thiên Thuỵ lúc nào cũng cau có... hình như chị ấy không thích con.

Con sợ chị sẽ mắng con."

Thiên Cảm khẽ vuốt mái tóc mềm của con gái, giọng chậm rãi:

"Thiên Thuỵ từ nhỏ đã sống trong khuôn phép, nên nhiều lúc cứng nhắc.

Nhưng con bé cũng là lo cho con thôi.

Con về cung sẽ ở Song Hương đường cùng mẹ, còn Thiên Thuỵ ở viện Đoan Trường với Đệ nhị phi.

Nếu con không muốn gặp gỡ nhiều, mẹ cũng sẽ không ép."

Thiên Cảm nhẹ giọng dỗ dành, nhưng Nhị hoàng nữ vẫn chưa vơi buồn, chỉ lặng lẽ tựa đầu vào ngực nàng, ánh mắt rầu rĩ.

Nhị hoàng nữ được Hưng Ninh nuôi nấng từ thuở lọt lòng, sớm quen nếp sống phóng khoáng nơi dân gian, lại lớn lên cùng đám trẻ con nhà Hưng Đạo, ngày ngày lên rừng xuống ruộng, bày đủ trò chơi đùa.

Lần này trở lại chốn cung cấm, e rằng những ngày đầu khó tránh khỏi bỡ ngỡ, chẳng dễ mà quen ngay được.

.

Mùa xuân năm Thiệu Long thứ bảy, Thái sư Thủ Độ thác.

Thiên Cảm theo hầu thánh giá về Quắc Hương viếng đám.

Thủ Độ tuy có hiềm khích với Yên Sinh nhưng dù sao cũng là một bậc trung dũng, lại là người trong họ nên Hưng Ninh, Hưng Đạo và Quyên Dao cũng đến viếng thăm.

Thượng hoàng cho truyền hạ chiếu chỉ đã được soạn sẵn từ trước.

Sau khi hành khiển đọc xong văn khấn, liền tiếp tục xướng đọc chiếu thư ban xuống.

Thái sư được gia tặng tước Thượng phụ Thái sư, lại truy phong Trung Vũ Đại Vương, ân điển lan đến đời con cháu, tước vị cả nhà đều được thăng lên một bậc.

Con trai vốn giữ chức Thượng vị hầu nay được phong Vương, con gái trước là Quận chúa cũng được tấn phong Công chúa.

Lễ tế vừa dứt, giữa làn khói hương còn vương vấn, bỗng thấp thoáng một bóng phu nhân tuổi đã vào trung niên từ phía xa chậm rãi bước tới.

Người đội nón quai thao, vành nón rộng che kín dung nhan.

Bước tiếp ngay sau là Ngự sử đại phu Lê Phụ Trần.

Trong đám đông đã có kẻ ngờ ngợ đoán ra thân phận vị mệnh phụ, song mãi đến khi người ấy dừng chân, thong thả tháo nón, mọi người mới thực sự tin chắc, là Chiêu Thánh công chúa.

Không ai ngờ vị ấy lại hiện diện ở nơi đây.

Giữa làn khói hương bảng lảng, bóng người đứng lặng khiến cả khoảng sân lễ chợt lắng xuống.

Dáng vẻ điềm tĩnh và khí độ trầm ổn ấy cũng đủ khiến những người tinh ý trong đám đông bất giác nín thở.

Ngài Ngự sử và Chiêu Thánh công chúa bước lên phía trên hành lễ.

Phụ Trần chắp tay, giọng khiêm nhường,

"Thượng hoàng, Quan gia, Hoàng hậu vạn an.

Các vị vương tông mạnh khoẻ"

"Phụ Trần và Chiêu Thánh miễn lễ đi"

Quan gia bước lên phía trước, theo phép lịch sự của bậc vãn bối chào hỏi.

"Đại phu, Dì"

"Xin bệ hạ cùng các vị thứ cho phu thê thần đến trễ lễ viếng.

Ở Vĩnh Bảo [1] mưa lớn, đường sá lụt lội, chúng thần không kịp đến đúng giờ cử hành lễ tế."

Thượng hoàng khẽ khoát tay, "Đến được là mừng rồi"

Lễ viếng lại tiếp tục.

Chuông khánh ngân vang, khói trầm cuộn lên, người đến kẻ đi đều giữ vẻ nghiêm cẩn.

Chỉ đến khi nghi thức hoàn tất, khách khứa dần thưa, không khí mới chậm rãi lắng xuống.

Lúc mọi sự đã thư thả, Quan gia tiến đến chỗ Chiêu Thánh công chúa,

"Hôm nay thấy dì ở đây, con không khỏi bất ngờ."

Chiêu Thánh nhìn chàng, ánh mắt lặng lẽ, khóe môi chỉ thoảng một nụ cười nhạt, "Ngài Ngự sử muốn đến viếng," bà chậm rãi nói, "ta thân làm phu nhân, nếu không theo cùng thì lại thành ra thất lễ."

Quan gia khẽ gật đầu, giọng hạ thấp đi đôi phần thân tình:

"Dạo này dì có khỏe không?"

Chiêu Thánh khẽ thở ra, "Quan gia trăm công nghìn việc mà vẫn nhớ tới ta, thế là ta vui lắm rồi.

Con mạnh khỏe thì dì cũng coi như đã khỏe cả."

Quan gia đứng lại trò chuyện cùng công chúa, hỏi han đủ chuyện gần xa.

Chiêu Thánh công chúa vẫn luôn là bậc tiền bối mà chàng kính trọng nhất.

Có lẽ bởi chàng vẫn luôn nhìn thấy thấp thoáng bóng dáng của người mẫu thân đã khuất.

"Hình như Tông với Khuê cũng đã đến tuổi đi học rồi," Quan gia chợt hỏi.

"Dì có định đưa hai em vào kinh theo học Quốc học viện chăng?"

"Tông thì ở nhà đã có Phụ Trần tự tay dạy dỗ, dì cũng không lấy làm lo," Chiêu Thánh đáp.

"Chỉ có con bé Khuê... chắc cũng phải gửi lên kinh học lễ nghi một thời gian."

Nghe vậy, Quan gia quay sang phía Thiên Cảm đang đứng cạnh, lặng lẽ lắng nghe chuyện từ nãy đến giờ.

"Hình như em Khuê bằng tuổi Lâm Uyên nhà mình thì phải?"

"Quả đúng vậy," Thiên Cảm nhẹ giọng đáp.

Quan gia suy nghĩ một chút rồi nói tiếp,

"Khuê ở kinh thành cũng không có nhiều họ hàng thân thích.

Hay là để con bé vào cung, cùng con gái thứ của con học tập.

Con bé Lâm Uyên lớn lên ở Yên Sinh, hồi cung đã được một thời gian mà vẫn còn nghịch ngợm lắm.

Có thêm người bạn đồng trang lứa ở cạnh, vừa học vừa chơi, cũng là điều hay."

Chiêu Thánh nghe vậy thì đưa mắt nhìn sang Thiên Cảm, ánh nhìn thoáng do dự.

"Chuyện này e làm phiền đến Hoàng hậu," bà nói khẽ.

"Con bé Khuê, tính nết cũng bướng bỉnh, chỉ sợ khiến Hoàng hậu thêm nhọc lòng."

Thiên Cảm mỉm cười, giọng ôn hòa, "Vậy thì lại càng hợp với Uyên nhà con.

Hai đứa trẻ có người bầu bạn học hành, cũng đỡ cô quạnh hơn."

Quan gia gật đầu, coi như đã định, "Vậy cứ để em Khuê vào cung học tập cùng Uyên.

Có thêm tiếng trẻ con, hậu cung cũng đỡ phần quạnh quẽ"

Chiêu Thánh nhìn hai người trước mặt, nụ cười nhạt trên môi dường như được đậm lên đôi chút.

.

Theo sự sắp xếp của Thiên Cảm, Ngọc Khuê được đưa vào Song Hương đường, cùng Nhị hoàng nữ học lễ nghi.

Có thêm bạn đồng niên, Nhị hoàng nữ phấn chấn hẳn lên, thậm chí còn tự tay làm một chiếc chong chóng lá dừa to tướng để tặng bạn mới.

Lâm Uyên và Ngọc Khuê vốn đều hiếu động, chỉ qua một buổi đã thân thiết như chị em.

Cả hai từng có thời gian sống trong dân gian, những trò chơi trẻ con như bắt chắt đánh chuyền, ô ăn quan hay tập tầm vông đều quen thuộc, nói đến là có thể chơi ngay.

Thấy con gái vui vẻ trở lại, Thiên Cảm cũng nhẹ lòng.

Trước kia, mỗi lần Nhị hoàng nữ lên lớp, gương mặt lúc nào cũng uể oải, bữa cơm chỉ ăn được lưng bát.

Nay có bạn đồng hành, hai đứa trẻ chơi đùa đến mệt nhoài, ăn uống cũng ngon miệng hơn hẳn.

Sáng hôm ấy, trời vừa đổ một cơn mưa rào rồi lại hửng nắng trong trẻo.

Sau hai canh giờ học Nữ giới dài lê thê, hai đứa rủ nhau ra vườn Thượng Uyển bắt dế.

Gương mặt bừng sáng, ánh mắt long lanh, khác hẳn vẻ ngoan ngoãn, trầm lặng lúc còn trong lớp.

Ngọc Khuê cầm vợt đi trước, Lâm Uyên xách chiếc xô nhỏ theo sau.

Vừa bước ra khỏi cửa, cả hai đã gặp Đại hoàng tử trên đường vào thỉnh an hoàng hậu.

"Đi thì tránh xa ao hồ, đừng mải chơi rồi ngã xuống nước," Đại hoàng tử nhắc nhở.

Nhị hoàng nữ ngẩng cao đầu, giọng đầy tự tin: "Ai rơi thì rơi, chứ bọn em thì không đâu."

"Cảm ơn Khâm, cô và Lâm Uyên sẽ chú ý," Ngọc Khuê lễ phép đáp, vẻ mặt lộ rõ sự cảm kích.

Nói xong, cả hai vắt chân chạy đi.

Thảm cỏ xanh mướt trải dài, lấp lánh những giọt nước li ti còn đọng lại sau cơn mưa hạ.

Gió sau mưa thổi qua, mang theo mùi cỏ non và đất ẩm.

Hai đứa trẻ chạy một mạch đến góc vườn khuất sau rặng tre cảnh, nơi cỏ mọc rậm và ít người qua lại.

Tiếng dế gáy rả rích vang lên từng hồi, lúc gần lúc xa, nghe như đang trêu ngươi.

Ngọc Khuê dừng chân trước, khom người, áp tai xuống bãi cỏ ướt.

"Ở kia," nàng thì thầm, ánh mắt sáng lên, tay chỉ về phía gốc đá phủ rêu.

Lâm Uyên vội đặt chiếc xô xuống, khẽ nhấc gấu váy, rón rén bước theo.

Cả hai nín thở, chỉ còn nghe tiếng tim đập thình thịch.

Ngọc Khuê nhẹ tay vạch cỏ, đưa chiếc vợt tre chụp nhanh một cái.

Dế bị úp dưới vợt, giãy lên lách tách.

Lâm Uyên khẽ reo lên, vội úp xô lại, hai đứa hợp sức lùa con dế vào trong.

Chiếc xô nhỏ vang lên tiếng sột soạt, nghe mà khoái tai.

"Được rồi!"

Nhị hoàng nữ mừng rỡ, hai má ửng hồng vì chạy nhảy.

Cả hai tiếp tục men theo lối mòn, lội qua bãi cỏ còn đẫm nước.

Có lúc Nhị hoàng nữ trượt chân, suýt ngã, Ngọc Khuê vội nắm tay kéo lại, cả hai cùng bật cười khúc khích.

Nghịch ngợm một hồi, chiếc xô nhỏ đã đầy dế, tiếng cào cào lách tách vang lên không dứt.

Ngọc Khuê lau mồ hôi trên trán, thở ra một hơi dài, "Cô khát nước quá.

Cô cháu mình qua phương đình kia ngồi một lúc đi."

Lâm Uyên gật đầu tán thành.

Hai đứa tiện tay nhặt mấy cọng cỏ lau ven lối, vừa quẫy nghịch vừa xách theo chiếc xô dế, hướng về phương đình ẩn hiện dưới tán cây xa xa.

Từ xa nhìn lại, phương đình yên tĩnh, mái ngói cong cong in bóng xuống mặt hồ phẳng lặng.

Hai đứa trẻ đi ra từ sau hòn non bộ uốn lượn, đá tai mèo chồng lớp, rêu phủ xanh mướt.

Khi đến gần, cả hai mới nhận ra trong đình đã có người.

Một nhóm thiếu nữ vận y phục nhã nhặn đang ngồi quây quần quanh án trà, chén sứ bốc khói nhè nhẹ, bánh trái bày biện tinh xảo.

Ngọc Khuê chậm lại nửa bước, khẽ kéo tay Nhị hoàng nữ, hạ giọng thì thầm, "Hình như là mấy người trong cung nào đó..."

Nhị hoàng nữ nheo mắt nhìn kỹ hơn, nghiêng đầu một chút rồi khẽ nói, "Là chị Thiên Thuỵ.

Còn có cả Quỳnh Huy nhà chú Chiêu Minh, với Gia Huệ nhà ông Phó Duyệt nữa... với mấy người khác."

Ngọc Khuê vừa nghe đã toan lùi lại, khẽ xoay người định đi lối khác thì Nhị hoàng nữ đã nhanh tay kéo nàng lại.

"Cô trẻ đi đâu thế?

Mấy người kia cháu không quen, chứ chị Thiên Thuỵ với Quỳnh Huy thì cháu quen thân lắm.

Các chị ấy có bánh trái, cháu xin cho cô vài cái."

Ngọc Khuê vốn tinh nghịch nhưng lại rất sợ người không quen thân, vội lắc đầu nguầy nguậy, "Thôi đi.

Nhìn các bạn ấy ăn mặc quý phái thế kia, còn cô cháu mình thì lấm lem bùn đất, tới đó không phải đâu."

Nhị hoàng nữ cười, giọng nũng nịu, "Quỳnh Huy cũng thích dế lắm.

Hồi trước chính em ấy còn chỉ cháu cách bắt dế mà.

Lâu rồi cháu mặt chưa gặp, cũng muốn qua chào hỏi một tiếng."

Ngọc Khuê do dự một lát, rồi khẽ thở dài, nhượng bộ,

"Ừ... thế thì mình qua chào hỏi một lát rồi đi thôi nhé."

Nhị hoàng nữ kéo tay Ngọc Khuê bước vào phương đình.

"Chị Thiên Thuỵ, Quỳnh Huy, các chị đang ăn bánh gì thế?"

Không khí trong đình vốn yên ắng, hai đứa vừa xuất hiện liền rộn ràng hẳn.

Quỳnh Huy ngẩng đầu lên, đôi mắt sáng bừng, reo vui: "Lâm Uyên!

Em tưởng chị đang phải học cung quy nên không dám qua rủ."

Nàng vừa nói vừa liếc xuống chiếc xô Nhị hoàng nữ đang cầm, nét mặt lập tức phấn khích hơn hẳn: "Chị đi bắt dế à?

Sao em không biết để đi cùng!"

Nhị hoàng nữ cười đắc ý: "Chị bắt được nhiều lắm.

Em qua xem này."

Quỳnh Huy còn đang cầm dở chiếc bánh liền đặt vội xuống án trà, chạy một mạch tới.

Nàng cúi người, tay nôn nóng nhấc chiếc vung đậy lên.

Ngay khoảnh khắc ấy, cả đàn dế như được dịp thoát thân, bật phắt lên, nhảy loạn xạ khắp phương đình.

Tiếng dế kêu lách tách vang lên rộn ràng.

Một con nhảy vọt lên án trà, làm đổ nghiêng chén nước, nước trà sóng sánh tràn ra mặt bàn.

Vài con khác phóng xuống nền đình, chui tọt vào dưới gầm ghế.

"A!"

"Dế!

Dế kìa!"

Mấy thiếu nữ đồng loạt đứng bật dậy, có người giật mình thét khẽ, có người cuống quýt nhấc váy tránh sang một bên.

Gia Huệ hoảng hốt lùi lại, suýt vấp chân bàn trà, cung nữ vội vàng đỡ lấy.

Nhị hoàng nữ đứng sững, mắt mở to, đến lúc định úp lại cái xô thì đã chậm mất nửa nhịp.

Ngọc Khuê hốt hoảng, vội cúi xuống chụp dế, vừa luống cuống vừa xin lỗi không ngớt.

"Xin lỗi... sơ ý quá..."

Quỳnh Huy thoáng giật mình, rồi không nhịn được bật cười khanh khách.

Tiếng cười lan ra, xua bớt phần nào sự náo loạn trong phương đình.

Chỉ riêng Thiên Thuỵ vẫn ngồi yên, ánh mắt lặng lẽ dõi theo đám dế còn nhảy loạn dưới nền đá, nét mặt thoáng qua một tia khó dò.

"Lâm Uyên, em có thôi ngay đi không?"

Giọng Thiên Thuỵ cất lên, lạnh và sắc, khiến không gian vừa dịu xuống lại như chùng hẳn.

Nhị hoàng nữ giật mình, sững sờ, nhất thời không hiểu mình đã làm sai điều gì.

Thiên Thuỵ đứng dậy, phủi nhẹ tà áo, giọng nói không hề che giấu sự khó chịu: "Cứ hễ có em xuất hiện là mọi thứ lại lộn xộn, chẳng ra đâu vào đâu.

Đã hồi cung rồi thì bớt mấy trò thấp kém này lại đi, em phải chuyên tâm học hành, rèn rũa lễ nghi mới phải."

Nàng dừng lại một nhịp, ánh mắt liếc qua chiếc xô dế rồi trở về gương mặt Nhị hoàng nữ, lời nói càng thêm nặng nề: "Em nhìn lại mình xem, có chỗ nào ra dáng một hoàng nữ không?

Học hành bao lâu rồi mà vẫn cái dáng quê mùa ấy.

Thật không hiểu em đã học được gì."

Tiếng dế kêu thưa dần.

Quỳnh Huy thoáng há miệng định nói gì đó, rồi lại thôi, chỉ khẽ liếc nhìn Nhị hoàng nữ với vẻ áy náy.

Ngọc Khuê đứng sau lưng Nhị hoàng nữ, nhìn bóng nàng tay nắm chặt vạt áo, tim đập thình thịch.

Ngọc Khuê cảm nhận rõ bàn tay Lâm Uyên khẽ run lên, vừa bối rối vừa tủi thân, không biết nên đáp lại thế nào.

"Đây có phải lỗi của Lâm Uyên, sao Thiên Thuỵ phải nặng lời như vậy?"

Ngọc Khuê không kìm được, bước lên trước, giọng vừa dứt khoát.

Quỳnh Huy nghe vậy cũng vội thêm lời, giọng dịu dàng hơn, "Là lỗi của em.

Chị Thiên Thuỵ đừng mắng Lâm Uyên."

Thiên Thuỵ chau mày, càng thêm phần bực bội, "Nếu nó không bày mấy trò bẩn thỉu thế này thì làm gì có chuyện đó xảy ra!"

Đến đây Ngọc Khuê tức giận đỏ mặt, không nhịn được, đáp thẳng: "Cháu bảo trò gì là trò bẩn thỉu?

Thật đúng là kẻ kệch cỡm!"

Mọi ánh mắt trong phương đình bỗng dõi theo, không khí căng như dây đàn.

Ngọc Khuê cảm thấy cả người nóng ran, vừa tức vừa giận.

Nhưng đứng trước Nhị hoàng nữ, nàng không thể im lặng được.

"Cô là cái ngữ nào mà dám vô lễ với ta?

Bay đâu, vả miệng cho bổn công chúa!"

Thiên Thuỵ vừa ra lệnh, lập tức một đám cung hầu vội vàng xông tới, khí thế hăm dọa.

Nhị hoàng nữ thấy vậy liền xông lên, giọng vang dội khắp phương đình:

"Ai dám động vào Ngọc Khuê thì biết tay ta!"

"Các ngươi định trái mệnh sao?"

Thiên Thuỵ quát lớn, mắt sáng lên lửa giận, khiến cung hầu chần chừ, không dám tiến thêm bước nào.

Ngọc Khuê trong lúc hỗn loạn liền lập tức rút mệnh phù Liên Hoa ra, ánh vàng của án phù lấp lánh dưới nắng.

"Thấy vật như thấy chủ.

Đây là mệnh phù Liên Hoa do đích thân Thượng hoàng phong tặng.

Các ngươi dám thất lễ?"

Cung hầu lập tức đứng sững, ánh mắt nhìn nhau chần chừ, cả phương đình lặng như tờ.

Không khí giữa hai bên như bị ngưng tụ, căng đến mức ai cũng nín thở.

"Lũ bay không dám thì để ta"

Thiên Thuỵ vừa nói xong đã bước lên trước, một cái tát mạnh giáng thẳng xuống.

Năm ngón tay in hằn trên khuôn mặt trái xoan, làn da trắng ngần chợt đỏ ửng.

Chiếc mệnh phù rơi xuống đất, tiếng kim loại va vào nền đất chói tai, vang lên trong không gian tĩnh lặng của phương đình.

Ngọc Khuê choáng váng, hoang mang tột độ.

Đây là lần đầu tiên trong đời nàng bị đánh, và còn là một cú tát trời giáng như vậy.

Nước mắt không kìm được, trào ra.

Nhị hoàng nữ chứng kiến từ đầu chí cuối, tức giận sôi sục, "Quỳnh Nga, chị thật quá quắt!

Chị cứ cậy được phụ hoàng phong tước sớm hơn mọi người mà ai cũng phải răm rắp nghe theo sao?

Chị xin lỗi cô Ngọc Khuê ngay đi!"

Thiên Thuỵ hừ lạnh, giọng đầy khinh miệt, "Cô ta họ Lê chứ còn chẳng phải họ Trần.

Đã không phải quốc tính thì đều là thứ dân.

Con gái của một quan tam phẩm [2] mà dám lên mặt mắng ta sao?"

Ngọc Khuê ấm ức, cơn giận xé lòng, không còn e dè hay sợ hãi nữa.

Nàng bước thẳng tới, một cái tát đáp trả lại Thiên Thuỵ, dứt khoát:

"Ta là thứ dân thì đã sao chứ?

Ít ra ta được mẫu thân dạy dỗ lễ phép để không cư xử như cô!"

.

[*] Về xưng hô cô - cháu đối với Ngọc Khuê: Tính theo thứ tự thì Trần Khâm, Thiên Thuỵ, Nhị hoàng nữ gọi Trần Lý là kị; Lê Tông, Ngọc Khuê gọi Trần Lý là cụ, Ngọc Khuê tuy sinh muộn nhưng vẫn là bậc trên.

Trần Lý => Thái Tổ => Thái Tông/ Khâm Minh => Thánh Tông/ Chiêu Minh => Nhân Tông/ Thiên Thuỵ/ Bảo Kính (Nhị hoàng nữ sau này)

Trần Lý => Linh Từ => Thuận Thiên/ Chiêu Thánh => Bảo Nghĩa/ Ứng Thuỵ.

[1] Vĩnh Bảo: địa điểm hư cấu, quê nhà Lê Phụ Trần.

[2] Quan tam phẩm: Lê Phụ Trần lúc này giữ chức Ngự sử Đại phu, thuộc văn gia, Chánh tam phẩm.

Sau này ông được thăng làm Thủy quân đại tướng quân cùng Thiếu sư kiêm Trừ cung giáo thụ, đều thuộc Chánh nhị phẩm.

Các chức quan lớn đầu triều (Tòng nhất phẩm): đều sẽ được giao cho vương thất trong họ Trần.

Những chức quan quan trọng như: Thái sư, Thái uý, Thái phó, Thái bảo, gần như không bao giờ giao cho người ngoài.

Điều này để đảm bảo quyền lực tối cao tập trung trong hoàng tộc, còn người ngoài, dù có tài năng hay công cao cỡ như Lê Phụ Trần cũng chỉ giữ các chức nhị, tam phẩm, không thể trực tiếp nắm các chức quan đầu triều.
 
Trăng Nhàn.
8. Mành châu khuất gió


Thiên Cảm ngồi trên sập lớn, Nhị phi ngồi ở ghế dưới, không ngừng sùi sụp khóc lóc trông rất đáng thương.

Thiên Cảm nâng nhẹ tách trà, một ngụm uống hết rồi mới nhẹ nói,

"Em là người thông minh.

Em tự hiểu được Quỳnh Nga đã gây ra việc gì.

Em có cần chị phải giải thích rõ sự tình không?"

"Em biết Quỳnh Nga đã hành sự lỗ mãng.

Nhưng con bé cũng chỉ là không hiểu đầu đuôi sự tình.

Thực sự không đánh trách"

Thiên Cảm vừa nghe xong câu này thì lập tức mạnh tay đặt thẳng chén trà xuống án gỗ,

"Em hầu Quan gia nhường nấy năm rồi mà vẫn không hiểu lưỡng cung coi trọng ngoại thích Lê Lý, nhất là Chiêu Thánh công chúa lại đặc biệt để tâm sao?

Chiêu Thánh công chúa cô quạnh hơn nửa đời, mãi đến tuổi xế chiều mới có hai mụn con, trong họ có bao nhiêu con gái của vương hầu tông thất, cớ sao có duy nhất Ngọc Khuê là được Quan gia đích thân nâng đỡ, đưa vào Song Hương đường học lễ nghi?

Nếu để Thượng hoàng biết chuyện Quỳnh Nga ra tay đánh Ngọc Khuê một bạt tai, em nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra?"

Không gian trong điện lặng ngắt.

Nhị phi nghe đến đây đã đủ ý thức được độ nghiêm trọng của vấn đề.

Nàng vội đáp,

"Đều là lỗi của em dạy bảo con cái không kĩ.

Hậu giơ cao đánh khẽ, dù sao Quỳnh Nga cũng là công chúa, nếu bị bẽ mặt thì sau này trong cung ai còn kính nể con bé nữa?"

"Chuyện này không còn là chuyện của bổn cung nữa rồi.

Giờ chỉ mong chuyện không đến tai thượng hoàng thôi."

Thiên Cảm vừa dứt lời, Hồng vội vã đi vào tẩm điện, ghé vào tai nàng vài chữ.

Vừa nghe dứt câu nàng đã lập tức quay lại phía Nhị phi,

"Quan gia biết chuyện rồi.

Bệ hạ đang trên đường tới viện Đoan Trường."

Nhị phi nghe xong thì vô cùng sợ hãi, vội bước chân tới, nắm chặt lấy tay Thiên Cảm,

"Hậu... xin hậu rủ lòng thương xót.

Quỳnh Nga còn nhỏ tuổi, chưa hiểu chuyện.

Em khẩn cầu chị gỡ gạc cho con bé lần này.

Em xin thề, từ nay sẽ dạy dỗ con bé cẩn thận, không dám để xảy ra sai sót nữa."

Lời khẩn cầu ấy khiến Thiên Cảm rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan.

Nếu cố bênh Thiên Thuỵ sẽ bị trách tội dạy dỗ không nghiêm, vậy chỉ còn cách ra tay trước một bước.

Cuối cùng, Thiên Cảm chậm rãi đứng dậy.

Ánh mắt nàng trầm xuống,

"Bay đâu," nàng cất giọng lạnh lẽo, "mang roi mây đến cho ta."

...

Khi Quan gia vừa đặt chân tới viện Đoan Trường, sắc mặt đã tức giận đến tím tái, gân xanh nổi rõ nơi thái dương.

Nhưng vừa bước vào trong, nhìn thấy cảnh tượng trước mắt, trong lòng lại không khỏi dâng lên một cơn xót xa nặng trĩu.

Thiên Cảm cầm roi mây trong tay, thẳng tay đánh xuống lòng bàn tay Thiên Thuỵ.

Tiếng roi xé gió vang lên khô khốc trong không gian tĩnh lặng.

Quan gia đứng trước thềm, ánh mắt lướt qua cánh tay cô con gái còn in hằn vết roi.

Thoáng chốc, nét giận dữ ban nãy trên gương mặt dịu đi đôi phần.

Dẫu sao, Thiên Thuỵ cũng chỉ là một đứa trẻ, chưa thể hiểu hết những mối dây ràng buộc sâu xa trong hàng thất.

Sau khi tất cả đã hành lễ, Quan gia cất tiếng, hỏi,

"Con đã biết tội chưa?"

Thiên Thuỵ quỳ thẳng lưng, hai tay đặt trước gối.

Giọng nàng non nớt nhưng rõ ràng, từng chữ đều cố nén run rẩy,

"Bẩm phụ hoàng, con biết tội.

Con ngang ngược, cậy được phụ hoàng yêu thương mà tự phụ làm càn.

Mẫu hậu đã dạy bảo, nữ nhi xin ghi nhớ."

Nàng ngẩng đầu lên, đôi mắt hoe đỏ nhưng quyết không để giọt nước mắt rơi xuống, "Sau khi nhận đủ roi, con sẽ đến Song Hương đường xin lỗi cô Ngọc Khuê, không dám để phụ hoàng và mẫu hậu vì con mà mất mặt."

Lời vừa dứt, trong điện rơi vào một khoảng tĩnh lặng nặng nề.

Quan gia nhìn con gái hồi lâu, ánh mắt phức tạp, giận dữ chưa tan, xót xa chưa dứt, lại pha lẫn một tầng trầm tư khó gọi tên.

Cuối cùng, chàng cất giọng,

"Trẫm cắt bổng lộc của con nửa năm, cấm túc trong viện Đoan Trường ba tuần trăng."

Bờ vai bé nhỏ của Thiên Thuỵ khẽ run lên, nhưng vẫn cúi đầu nhận thánh lệnh.

"Chuyện lần này khiến trẫm vô cùng thất vọng.

Trẫm sớm ngày phong con làm công chúa, không phải để con sinh lòng kiêu căng, cậy thế mà ức hiếp người khác.

Con đã là công chúa, theo lễ đáng lẽ phải rời cung, ra phủ riêng chờ ngày hạ giá.

Nhưng trẫm cho phép con ở lại hậu cung, cùng các anh chị em học tập, tu dưỡng, là mong con trở thành bậc hiền quyên, biết trên biết dưới.

Không phải để con thành một đứa con gái đanh đá, đem thân phận ra thị uy với những chị em còn chưa được phong tước, chưa nhận bổng lộc.

Giọng Quan gia trầm xuống, từng chữ vang rõ trong điện:

"Trẫm hy vọng đây là lần đầu tiên, cũng là lần cuối cùng trẫm phải nghe đến sự tình như vậy.

Từ nay về sau, bất kỳ vương tông nào cậy quyền thế mà bắt nạt kẻ dưới, không biết tự soi xét thân phận và đức hạnh của mình, trẫm sẽ xử phạt ngày càng nghiêm khắc."

Ánh mắt chàng lạnh hẳn lại,

"Dẫu có phải cắt hết bổng lộc cả đời, cũng đừng mong trẫm nương tay."

.

Sau sự việc ấy, Quan gia cho triệu Lễ bộ vào nghị bàn, định soạn lại quy chế dành cho hàng kim chi ngọc diệp.

Thế nhưng việc chưa kịp triển khai thì triều đình đã bị cuốn vào một mối đại sự khác, đành tạm gác lại.

Trung Vũ đại vương thác đã tròn hai tháng, ghế Thái sư vì thế cũng bỏ trống ngần ấy thời gian.

Tam công vốn là trụ cột của triều đình, đứng đầu bách quan, việc định người kế nhiệm không thể chậm trễ thêm được nữa.

Theo ý của Thượng hoàng, Khâm Thiên đại vương là người được chọn để giữ chức Thái sư.

Thế nhưng trong triều không thiếu kẻ độc mồm độc miệng, nhân đó khơi lại chuyện cũ: năm xưa Khâm Thiên từng viết hai chữ "Nhập Tống" lên mạn thuyền, quân sĩ dưới trướng lòng dạ hoang mang, người người chùn bước, chẳng ai muốn xông pha trận mạc.

Nếu chỉ xét công lao chiến trận năm ấy, người xứng đáng nhất lẽ ra phải là Phụ Trần - Hưng Đạo.

Nhưng ai cũng hiểu rõ, hiện giờ người giữ chức Tam công, yếu tố tiên quyết phải là người gần họ với vua nhất.

Phụ Trần - Hưng Đạo dẫu tài cao đến đâu, cũng chẳng đến lượt nắm chức Ngũ tư - Tam thiếu, nói gì đến Tam công.

Phụ Trần không phải người trong họ; Hưng Đạo rốt cuộc vẫn là con cháu nhà Yên Sinh.

Không có Khâm Thiên, trong số những người đủ tư cách, vẫn còn Chiêu Minh cùng các con trai khác của Thượng hoàng.

Sau cùng, vì áp lực dư luận trong ngoài triều, Khâm Thiên đại vương dâng biểu từ chối, không nhận chức Thái sư.

Thượng hoàng đối với người em trai ấy vẫn hết mực cảm thông, thường cho vời vào cung Thánh Từ an ủi, khuyên nhủ, tỏ rõ lòng tin cậy không hề suy giảm.

Về sau, Khâm Thiên tuy vẫn giữ chức Thái uý, song được Thượng hoàng đặc biệt ban cho hai chữ Tướng Quốc, cùng đứng ra gánh vác việc nước, quyền trách chẳng kém Tam công.

Chỉ riêng chiếc ghế Thái sư, triều đình vẫn để trống vậy.

.

Thường lệ, mỗi khi tiền triều mở đại triều, hậu cung cũng sẽ bày một tiểu yến, mời gia quyến các vương hầu, tông thất đến dự.

Tiểu yến hôm ấy tan từ lúc xế chiều, song Thiên Cảm biết Quan gia và Chiêu Minh sau mỗi bận triều chính thường cùng nhau thư thả đàm đạo, nên giữ Phụng Dương ở lại Song Hương đường trò chuyện thêm.

Thiên Cảm và Phụng Dương vốn là chị em họ, lại cùng được gả vào hoàng thất, nên giữa hai người có không ít điều khó nói với người ngoài mà chỉ có thể giãi bày cùng nhau.

Phụ vương của Phụng Dương vừa được thăng quan tiến chức, các mệnh phụ vì thế hết lời tâng bốc, quà cáp đưa tới không dứt, xếp dài cả hành lang Song Hương đường.

Nhà mẹ đẻ có chuyện vui là vậy, song trong lòng Phụng Dương lại nặng trĩu u sầu.

Thiên Cảm cũng loáng thoáng hiểu được sự tình bên phủ Chiêu Minh.

Phụng Dương gả cho Chiêu Minh vương cùng năm với nàng, vậy mà suốt sáu năm qua, quan hệ phu thê vẫn lạnh nhạt, khó gọi là hoà thuận.

Đến mức có dạo, Vũ Thái phi còn phải nhiều lần triệu Chiêu Minh vào cung, kín đáo nhắc nhở chuyện gia quyến.

Nghe lời kẻ dưới truyền tai, Chiêu Minh hết mực yêu chiều một người thiếp.

Nàng ấy vốn là con gái tộc trưởng người Man ở vùng Đà Giang, từng thuận hàng dưới trướng chàng.

Về sau, vị tộc trưởng ấy lại gả con gái cho Chiêu Minh, được chàng hết mực nâng niu, che chở.

Thiên Cảm hiểu được tâm tư Phụng Dương nên cho Nhị hoàng nữ vào hầu chuyện cho nàng bớt nỗi u buồn.

Nhị hoàng nữ bình thường học hành chểnh mảng nhưng riêng chuyện lấy lòng, mua vui người khác thì lại rất giỏi.

Ngồi một lúc mà trong gian phòng đã không ngớt tiếng cười.

Câu chuyện đang dở dang, bỗng có Ngự trù lạy bên ngoài gặp mặt.

Thiên Cảm khẽ liếc mắt về phía Phụng Dương, hai người lập tức chỉnh lại dáng ngồi, vuốt thẳng vạt áo, thu lại vẻ thân tình ban nãy, trở về dáng vẻ mẫu mực thường ngày của bậc nữ chủ hậu cung.

"Hoàng hậu, Vương phi mạnh khỏe."

"Miễn lễ.

Có việc gì thì tâu đi."

"Bẩm hậu, Quan gia cùng Chiêu Minh vương đánh cờ tại cung Quan Triều đã hai canh giờ.

Hai vị chỉ cho dâng trà bánh, vẫn chưa truyền chỉ dùng dạ thiện.

Dạ thiện trong ngự thiện phòng đã chuẩn bị xong, nhưng chúng thần không dám gõ cửa quấy nhiễu.

Nay thời điểm dùng thiện đã qua một tuần hương, chậm trễ e ảnh hưởng đến long thể, nên thần mạo muội đến xin hậu chỉ dạy."

Thiên Cảm nghe xong liền nghiêng mắt nhìn chiếc đồng hồ nước đặt bên cạnh.

Đã sang đầu giờ Dậu, quả thực không thể trì hoãn thêm.

"Bổn cung sang cung Quan Triều truyền lời," nàng nói, giọng điềm đạm.

"Bên ngự thiện các ngươi cũng chuẩn bị dâng thiện lên dần đi là vừa."

Ngự trù nghe vậy như trút được gánh nặng, vội vàng dập đầu tạ ơn rồi cáo lui.

Thiên Cảm quay sang Phụng Dương, giọng dịu đi,

"Em cũng ở lại đây, tiện thể sang bên ấy cùng đi."

Phụng Dương gật đầu, đứng dậy chỉnh lại y phục, theo phượng giá rời Song Hương đường, hướng về cung Quan Triều.

Ngày trước, mỗi khi Thiên Cảm đến cung Quan Triều đều phải sai người đưa lời cho nội quan bẩm báo, đợi đến khi Quan gia truyền triệu mới được vào điện.

Nhưng nay thì khác, trong cung chẳng còn ai dám để Hoàng hậu đứng chờ bên ngoài, nàng theo thói quen ung dung bước thẳng vào trong.

Phụng Dương thoáng chần chừ, song được Thiên Cảm nắm tay dẫn đi, cuối cùng cũng theo vào.

Vừa đứng ngoài gian điện, hai người đã nghe loáng thoáng cuộc trò chuyện bên trong.

"Phụ hoàng quả thật trọng tình trọng nghĩa," giọng Chiêu Minh vương vang lên rành rọt, "Ngày xưa Khâm Minh phạm tội khi quân, phụ hoàng cũng chỉ nhắm mắt cho qua, lại còn cắt cả vùng Ngũ Yên trù phú cho làm đất thang mộc, an nhàn hưởng lộc trời.

Nay Khâm Thiên cầm quân thất trách, người chẳng hề giáng tội, còn tiếp tục trọng dụng.

Em thực không hiểu nổi dụng ý của phụ hoàng."

Những lời ấy không khiến Thiên Cảm chạnh lòng bao nhiêu, nàng vốn chẳng mấy hòa hợp với vị vương tử này.

Nhưng nàng hiểu, có lẽ Phụng Dương ít nhiều cũng có suy nghĩ.

Thiên Cảm liếc mắt sang.

Gương mặt Phụng Dương vốn đã phảng phất u sầu, giờ lại càng trầm xuống, đôi mắt như phủ một lớp sương mỏng.

"Phụ hoàng trọng tình nghĩa, nên mới được người dưới hết mực kính yêu.

Thiên hạ này là của tổ tông, đều là người trong họ, thì cùng nhau gánh vác.

Hoàng huynh biết chú là người sảng khoái, nói lời ngay thẳng.

Nhưng những lời ấy, nói với anh thì được, truyền ra ngoài, e rằng sẽ dấy thị phi..."

Thiên Cảm nghe đến đây liền khẽ ho một tiếng, cố ý tạo ra động tĩnh.

Nàng lo nếu còn đứng chờ thêm chút nữa, tối nay Chiêu Minh và Phụng Dương sẽ thật sự mỗi người một ngả.

"Quan gia," nàng cất giọng từ ngoài gian điện, "thần thiếp mạo muội đến dâng thiện.

Xin mời Quan gia dùng bữa."

Nghe giọng Thiên Cảm, Quan gia lập tức đứng dậy, đi về phía rèm tre.

Chàng vén rèm, đỡ lấy cánh tay nàng đang cúi người hành lễ.

"Hậu đến từ lúc nào mà không báo trẫm hay?"

Thiên Cảm từ tốn đứng thẳng lên, ánh mắt vừa chạm vào ánh nhìn của Quan gia liền khẽ liếc về phía sau.

Theo hướng mắt nàng, Quan gia mới để ý đến Phụng Dương đang đứng nép bên ngoài, không khỏi sững người, rồi trừng mắt nhìn Thiên Cảm.

Hiểu được ý tứ của chàng, Thiên Cảm chỉ khẽ gật đầu, đủ để Quan gia biết rằng cuộc đối thoại ban nãy đã không còn là chuyện riêng trong phòng.

"Phụng Dương cũng ở đây sao?"

Quan gia ho nhẹ một tiếng, giọng dịu đi.

"Chắc là trẫm giữ Quang Khải lâu quá, khiến Vương phi phải sốt ruột rồi.

Thôi, trẫm trả Quang Khải về cho khanh vậy.

Hai khanh về dùng bữa tối cho sớm sủa đi."

Chiêu Minh và Phụng Dương cùng nhau cáo lui.

Bước chân sóng đôi, nhưng ánh mắt lại thoáng mang theo vẻ gượng gạo, khó gọi thành lời.

Trong điện chỉ còn lại hai người.

Thiên Cảm theo thói quen ở bên hầu Quan gia dùng bữa.

Nàng vừa xắn tay áo giúp chàng rửa tay, vừa chậm rãi cất tiếng,

"Chú Chiêu Minh lấy vợ rồi mà tính tình vẫn thẳng thắn như xưa.

Phụng Dương là người kín kẽ, hành sự cẩn thận, tâm tư lại nhạy cảm, ở cạnh một người vô tư như chú ấy, e là chịu không ít thiệt thòi."

Quan gia đưa tay cho nàng lau khô, giọng hạ thấp,

"Vừa rồi là Quang Khải ỷ trẫm thiên vị, nên mới nói năng vô tư như thế..."

Chàng còn chưa dứt lời, Thiên Cảm đã khẽ chêm vào, dịu dàng,

"Thiếp biết chú ấy là người em ruột thịt của Quan gia.

Với thiếp, chú ấy cũng như em trai trong nhà, chẳng khác gì các anh, các chị dưới Yên Sinh cả.

Chàng không cần bận lòng vì thiếp."

Nàng ngước mắt lên nhìn chàng, "Lòng thiếp chỉ có Quan gia.

Dù thế nào, thiếp cũng chỉ để tâm đến một mình chàng."

Quan gia nghe vậy thì gật đầu không dụ thêm gì nữa.
 
Trăng Nhàn.
9. Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ [*]


Hậu cung Thuý Hoa không lớn cũng chẳng nhỏ, song nếu đem so với triều trước thì quả thực có phần vắng vẻ.

Về chuyện này, Thiên Cảm luôn bị đặt vào thế khó xử.

Quan gia từng dụ nàng rằng không cần tuyển nhiều phi tần, công việc triều chính bộn bề, chàng cũng không có bao nhiêu tâm sức đặt vào chuyện hậu cung; trái lại, Vũ Thái phi thì luôn một mực thúc giục, mong hậu cung ngày một đông đúc để sớm có thêm hoàng tử, hoàng tông nối dõi.

Sau mấy lần bị Vũ Thái phi trách cứ, Thiên Cảm cũng mấy phen thuận theo ý, tuyển thêm vài vị cung phi.

Đến nay Tam phi đã đủ, bên dưới lại có nữ quan phân công hầu việc trong ngoài, lễ chế cũng được xem như là hòm hòm.

Thuở ban đầu, nàng từng lo sợ thiên hạ dị nghị, cho rằng mình là độc hậu, không làm tròn bổn phận của bậc mẫu nghi.

Nhưng về sau thấy hậu cung vốn chẳng lớn, mà Quan gia cũng hiếm khi để tâm, nàng dần sinh ra một tâm niệm khác: thà mang tiếng với người đời, còn hơn vì danh nghĩa mà nạp thêm nhiều người.

Ở dưới Thiên Cảm có Nguyên phi Ngọc Lan, kế đó là Hiền phi Tố Liên và Đức phi Hoài Khương.

Nguyên phi là người đầu tiên hầu hạ Quan gia khi chàng còn ở trữ cung, lại là cháu gái của Vũ Thái phi, do chính bà đích thân đề xuất.

Nàng công dung ngôn hạnh đều vẹn toàn, lời nói hiền hòa, cử chỉ đoan trang, sinh hạ cho Quan gia hai vị Trưởng công chúa cùng Tam hoàng nữ, lại có công nuôi nấng Nghĩa nam Khánh Dư.

Bởi vậy nàng càng được Quan gia yêu thương, sau khi sinh hạ Tam hoàng nữ thì được tấn phong làm Nguyên phi, đứng đầu các tần phi.

Hiền phi Tố Liên là nữ nhi của Hàn Lâm viện học sĩ, xuất thân thế gia nho học, tinh thông thi thư, ca phú.

Nàng vừa hạ sinh Tứ công chúa, hiện vẫn đang trong thời gian ở cữ, thân thể còn yếu nên rất ít khi ra khỏi viện Đoan Hoà.

Đức phi Hoài Khương thì xuất thân dân gian, thấu hiểu sinh kế bách tính, đối với những nghề như nuôi tằm, dệt tơ, đan lát đều rất tinh thông.

Năm vừa rồi, phụ thân của Đức phi bạo bệnh qua đời.

Thiên Cảm chuẩn cho nàng hồi hương viếng tang, lại đặc cách cho phép để tang, miễn việc thỉnh an các Thái phi để lên chùa đọc kinh Phật, làm tròn đạo hiếu.

Thiên Cảm nắm quyền quản lý lục cung, đối đãi với các phi tần luôn khoan hậu.

Trong cung có việc lớn nhỏ, nàng hỏi han cẩn thận, mọi phần phân chia đều công bằng, không để cung nào thiệt thòi.

Nếu nhà ngoại của các nàng gặp chuyện khó khăn, nàng sẵn sàng xuất tiền riêng giúp đỡ.

Bởi vậy Tam phi đều hết mực kính trọng Thiên Cảm, hậu cung trong ngoài hòa thuận, hiếm khi sảy sự không hợp ý nhau.

Nghĩa nam của Quan gia là Khánh Dư vừa được ban chức Phiêu kỵ tướng quân, sắp sửa xuất lĩnh trấn giữ Vân Đồn.

Khánh Dư tuổi trẻ tài cao, lại lập được không ít công lao, nên rất được Thượng hoàng cùng Quan gia yêu quý.

Nhân dịp sắp phải rời kinh đi xa đảm nhiệm trọng trách, Quan gia cho mở một yến tiệc trong điện Diên Hồng để tiễn đưa, vừa là ban ân, vừa là khích lệ.

Theo lệ thường, việc thiết yến đều do Hoàng hậu đứng ra chủ trì, nhưng đúng lúc ấy Thiên Cảm lại không được khỏe, đành giao việc này cho bên viện Đoan Trường phụ trách.

Sự sắp xếp ấy cũng vừa khéo hợp ý của Nguyên phi.

Khánh Dư vốn do Nguyên phi nuôi nấng, nay con nuôi trưởng thành, sắp gánh vác việc lớn nơi biên trấn, nàng cũng muốn tự tay lo liệu tiệc tiễn, coi như góp một phần tâm ý.

Nói Thiên Cảm không khoẻ thì cũng đúng, mà bảo là bệnh nặng thì lại chưa đến mức ấy.

Nàng chỉ thấy đầu óc choáng váng, bụng dạ nôn nao, ăn uống gì cũng mồm nhạt miệng, nhưng tuyệt nhiên không phải bạo bệnh phải nằm liệt giường.

Phần nhiều, vẫn là vì nàng cố ý lùi lại một bước, để Nguyên phi được danh chính ngôn thuận đứng ra lo liệu yến tiệc cho Khánh Dư.

Thiên Cảm ngồi nơi tiền viện, tay nâng chén nước lê ấm nóng, chậm rãi nhấp từng ngụm.

Hơi nước mỏng manh phảng phất trước mặt, tan dần trong làn gió heo may cuối thu đầu đông đang lùa qua hành lang dài hun hút.

Bỗng một cung nhân bước vội đến, cúi mình ghé sát bên tai Hồng thì thầm mấy câu.

Hồng khẽ gật đầu, liền tiến đến cạnh Thiên Cảm, hạ giọng bẩm báo:

"Thưa Hậu, buổi yến hôm nay hội tụ không ít vương hầu trẻ tuổi.

Mấy đứa cung nữ trong điện bàn tán rộn ràng lắm, lại đặc biệt ngưỡng mộ Phiêu Kỵ tướng quân."

Thiên Cảm khẽ cụp mi, ánh mắt rơi xuống mặt nước trong chén.

"Khánh Dư vốn chẳng phải hoàng tử, vậy mà được phong đến chức Phiêu Kỵ, đủ biết lưỡng cung đối với y ưu ái dường nào.

Ngay cả Khâm cũng thường lui tới phủ y, đàm luận binh thư, trong lời nói chẳng giấu vẻ khâm phục.

Huống hồ dung mạo y tuấn dật, phong thái tiêu sái, lại mang tiếng đa tình đào hoa, thử hỏi nữ tử xuân thì nào mà chẳng động tâm?"

Thiên Cảm nhấp một ngụm nước lê, giọng nói nhàn nhạt như gió lướt qua mái hiên.

"Chuyện ấy... cũng là thường tình."

Bỗng đâu, một viên đá từ xa vút tới, làm con sẻ đang đậu trên mái hiên rơi xuống bên dưới.

Chưa cần biết ai ném, Thiên Cảm thoáng liếc qua đã đoán ra thủ phạm.

Nhị công chúa vẫn giữ cái tính ham chơi, nghĩ gì làm nấy.

Dáng vẻ lanh lợi, mồng miệng ngọt sớt giúp nàng được lòng Quan gia, còn về thơ ca, Nữ giới thì chẳng thuộc lấy một chữ.

Nhị hoàng nữ nhất quyết không chịu học cầm, kỳ, thi, hoạ, cứ nghe tới là tìm cớ lảng tránh.

Nhưng với lục nghệ, lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số, nàng lại vô cùng hứng thú.

Đặc biệt là môn bắn cung, tay chắc mắt tinh, bắn cung hiếm khi trượt đích.

Thiên Cảm giọng vừa nghiêm vừa đùa:

"Phụ hoàng chiều con quá nên mới thành ra dáng vẻ này.

Học hành thì kém cỏi, chỉ toàn bày trò vui chơi là giỏi thôi."

Nhị hoàng nữ biết thân thế đã lộ liền nhảy từ trên cành cây nhảy xuống đất, bĩu môi, cãi lại:

"Mẹ cũng đâu giỏi mấy môn ấy mà vẫn được cha yêu thương còn gì!"

"Ta không hay đánh đàn, ngâm thơ phú, chứ ít ra vẫn am hiểu để đối đáp người ta.

Con thì tốt rồi, cái gì cũng chẳng biết, suốt ngày đi giương oai diễu võ."

Nhị hoàng nữ hất cằm, đáp:

"Mẹ đừng nói, con bắn cung còn giỏi hơn cả Dã Tượng nhà bác Hưng Đạo đấy!"

Thiên Cảm khẽ hừ một tiếng, liếc đứa con gái, "Người ta kính con là hoàng nữ nên nhường nhịn, thế mà cứ tưởng mình tài."

Nhị hoàng nữ không phục, "Con bắn cung bách chiến bách trúng, chưa từng trật một lần nào đâu!"

"Được rồi, được rồi..."

Thiên Cảm xoa trán, "Con nói nữa là ta đau hết cả đầu.

Mau đi sửa soạn đi, tối nay còn dự yến.

Bác cả với bác hai của con đều sẽ tới dự đấy.

Mặc cái thường màu lam mới đưa đến hôm nọ, ta sai người là phẳng cho con rồi.

Ta để sẵn cái trâm hình hoa đào trong hộp đồng cạnh hũ phần ngọc đó, nhớ đeo cái trâm đó..."

Thiên Cảm dặn dò, còn chưa nói hết câu Nhị hoàng nữ đã vội vã hỏi,

"Cả hai bác đều đến ạ?

Vậy anh Nghiễn có đến không mẹ?"

Thiên Cảm đáp, giọng chậm rãi, "Quốc Nghiễn hiện đang phụ bác hai con quản lý gia binh.

Phụ hoàng con cũng rất vừa mắt thằng bé, đích thân truyền dụ Nghiễn dự yến hôm nay."

Nhị hoàng nữ tròn xoe mắt, đôi mắt long lanh ánh lên niềm tự hào nho nhỏ, không giấu được kinh ngạc, "Cha... cha đích thân dụ sao?"

"Cha con xưa nay coi trọng người có tài.

Kẻ không đủ năng lực thì chỉ cho hưởng bổng lộc an thân, tuyệt nhiên chẳng giao việc lớn; còn người có thực lực thì luôn được khích lệ, giao phó trọng trách, tỏ rõ kỳ vọng.

Bởi thế mà Ích Tắc, Nhật Duật, Quốc Toại, Trung Thành, Chiêu Thành...

đều ganh đua lập công, đến lứa sau lại có Khánh Dư, Quốc Nghiễn, Quốc Hiện, rồi cả Lê Tông... ai nấy đều được cha con ưu ái"

"Bảo sao con hiếm khi thấy mặt mũi anh Khâm," Nhị hoàng nữ bĩu môi, "chẳng phải suốt ngày bị cha bắt đi học hết thứ này đến thứ nọ đó sao..."

Nàng ngừng một lát rồi lại nói tiếp: "Nhưng học như anh Khâm mới thú vị chứ!

Con cũng học được.

Cớ sao con không được đọc binh thư, không được học đạo quân tử, cứ suốt ngày phải chép Nữ giới?

Bà họ Ban ấy đã chết bảy đời rồi, vậy mà sách của người Tàu vẫn phải học mãi."

"Con thích học gì thì học, từ nay ta không quản nữa.

Ngày mai mang sách vở sang chỗ Khâm, ta cũng không phản đối."

"Mẹ nói đấy nhé!

Quân tử nhất ngôn cửu đỉnh!"

Vừa nói Nhị hoàng nữ nhảy cẫng lên vui sướng rồi chạy tót đi không thấy mặt mũi đâu.

Thiên Cảm dõi theo bóng lưng con gái khuất dần, khẽ thở ra một hơi rồi đưa tay xoa nhẹ thái dương.

Đứa trẻ ấy dường như gom góp cả tính tình của năm chị em nhà nàng, mỗi người một chút, để rồi hợp thành một Nhị hoàng nữ vừa khiến nàng đau đầu, lại vừa không sao ngừng nuông chiều.

.

Buổi yến hôm ấy, cô Hai Ý Ninh xin phép Vũ Thái phi sang Song Hương đường thăm Thiên Cảm đang cáo bệnh.

Danh nghĩa là thăm hỏi, song thực chất nàng chỉ muốn cùng em gái ngồi đối ẩm trà thơm, chuyện trò đôi câu cho khuây khỏa chứ cũng chẳng muốn ngồi trong buổi yến khách sáo qua lại với mấy bà mệnh phụ.

Ý Ninh gả cho Vũ Uy vương đã ngót sáu năm, vậy mà trong vương phủ vẫn vắng bóng tiếng trẻ thơ.

Nàng sớm đã sai Hồng âm thầm dò hỏi, biết được đôi chuyện bên phủ Vũ Uy, vì thế, nàng muốn chính tai nghe Ý Ninh tự mình giãi bày, để hiểu rõ đầu đuôi, cũng là để xem có thể vì chị mà tính toán.

Xưa nay Thiên Cảm vốn không muốn xen sâu vào chuyện phu thê của các anh chị, song lần này trong lòng vẫn không khỏi lo lắng.

"Việc trong phủ chị, em cũng đã nghe qua đôi chút rồi.

Có chuyện gì xảy ra giữa chị và Vũ Uy chăng?"

"Cô Năm đúng là đã quen với thân phận hoàng hậu rồi, chuyện gì cũng khó qua được tai em..."

Ý Ninh nửa đùa nửa thật mà trêu.

"Chị..."

Nghe Thiên Cảm nghiêm túc, Ý Ninh mới khẽ thu lại ý cười, giọng chùng xuống, "Thật ra cũng chẳng có gì ghê gớm, chỉ là phu thê khác quan điểm, mỗi người giữ một ý, không ai chịu lùi một bước.

Không giải quyết được mâu thuẫn thì lâu dần thành xa cách thôi."

"Nhưng rốt cuộc là chuyện gì mới được?"

Thiên Cảm khẽ hỏi, "trên đời này nào có việc gì lại không thể tìm cách tháo gỡ?"

Ý Ninh lặng nhìn nàng hồi lâu, ánh mắt xa xăm, rồi khe khẽ thở dài:

"Thực ra chị vẫn luôn ngưỡng mộ em.

Trong mấy chị em nhà mình, cô Năm là người hiền hòa, thấu đáo nhất."

"Chị... chị nói gì em không hiểu?"

Ý Ninh im lặng hồi lâu, ánh mắt nàng rời chén trà đã nguội, dường như đang đo đếm từng lời trong lòng.

Mãi một lúc sau, nàng mới quay sang nhìn Thiên Cảm, không còn né tránh, giọng chậm rãi mà thẳng thắn:

"Chị không thể chấp nhận được chuyện phu quân có thê thiếp."

Lời vừa thoát ra, Ý Ninh khẽ siết chặt tay áo, như bao nỗi niềm giấu kín bấy lâu cuối cùng tìm được lối thoát.

Hơi thở nàng khẽ dồn, mắt lộ nét trầm tư.

Thiên Cảm ngồi bên cạnh, bất ngờ đến mức ngẩn người, chẳng ngờ nguyên do lại là điều ấy.

Ánh mắt nàng đăm chiêu, trán nhíu lại.

"Thầy u chị ngày trước chỉ còn một mình đối phương, thầy chị bị hại, u cũng chẳng thiết sống.

Chị không thể trọn vẹn yêu thương một người, khi bên cạnh y lại có năm thê bảy thiếp.

Chị cũng chẳng thể hiểu làm sao y có thể yêu thương chị khi vẫn còn năm, bảy cô khác ở cạnh.

Y là hoàng tử, Thượng hoàng có bao nhiêu phi tử, làm sao y thấu hiểu được.

Rồi cứ như vậy đến khi giữa hai người chỉ còn khoảng trống."

Ý Ninh khẽ cười, nụ cười mỏng như sương sớm, vừa hiện đã tan vào hư không.

"Chị cả xem Ngũ Yên như sinh mệnh; em Ba chỉ mong một đời tự do tự tại; em Tư lại say mê kinh sử, lấy sách vở làm tri kỷ.

Còn chị..."

Nàng khẽ dừng, hàng mi rũ xuống, đáy mắt thoảng nét thu phong hiu hắt.

"...chỉ cầu một tình phu thê trước sau như một, tương kính như tân, tựa thầy u, anh tư chị dâu năm xưa.

Nghĩ đi nghĩ lại, cả nhà, chắc chỉ có mình anh hai và em là người dung hòa được mọi bề, chẳng thiên về tình, cũng không lệch về lý..."

Thiên Cảm nghe vậy, lòng khẽ động.

Bấy lâu nay nàng vẫn cho rằng chị Hai là người cứng cỏi nhất trong năm chị em, nào ngờ sau vẻ điềm nhiên ấy lại giấu một nỗi niềm sâu nặng đến vậy.

Kỳ thực nghĩ kỹ cũng chẳng khó hiểu.

Ý Ninh chưa từng màng binh quyền, cũng chẳng thiết uy thế từ Vũ Uy.

Còn Thiên Cảm thì khác.

Dẫu đoạn tình nghĩa phu thê của nàng có trọn vẹn hay không, nàng vẫn phải là một hoàng hậu, vẫn phải có được thánh tâm và tín nhiệm của Quan gia.

Bởi phía sau nàng còn có Ngũ Yên, có cả nhà Yên Sinh bao năm chịu cảnh thiên bạc.

Giữa tình riêng và đại cục, với nàng, vốn dĩ chẳng thể phân tách.

Thiên Cảm khẽ hạ giọng, "Chuyện giữa chị và Vũ Uy... là từ năm nay mới sinh biến sao?"

Ý Ninh im lặng một thoáng, rồi đáp, giọng bình thản đến lạ:

"Đầu năm nay, Lê Thái phi nạp cho Vũ Uy mấy thiếp thất.

Người nói không muốn chị phải hao tâm tổn lực vì chuyện sinh dưỡng, nên tìm thêm vài người san sẻ.

Lời nói là vậy... nhưng chị cũng hiểu."

Nàng khẽ cười nhạt, "Chị chậm muộn con cái.

Thái phi thân là mẫu phi của y, lo chuyện con cái nối dòng cũng là lẽ thường."

Nói đến đây, giọng nàng thấp dần, "Có lẽ... bao năm ở quân doanh, chinh chiến nơi sa trường, sát khí quá nặng.

Thái phi e rằng chị khó lòng sinh nở."

"Chị!"

Thiên Cảm đột ngột cất tiếng, thanh âm không giấu được tức giận.

"Chớ nói những lời như vậy."

Nàng nhìn thẳng vào Ý Ninh, ánh mắt rắn rỏi hiếm thấy, "Các huynh trưởng làm tướng, chinh chiến nơi sa trường, vậy mà con cái vẫn đầy đàn.

Con cái là của trời cho, sao lại đổ lên đầu chị?

Mà chị sao có thể tin vào mấy lời ấy được?"

"Chị không tin, nhưng lời đồn truyền lâu ngày, người người đều cho là thật.

Đến khi ấy... có tin hay không, cũng chẳng còn quan trọng nữa"

"Chuyện này, chị đã từng nói rõ với Vũ Uy chưa?"

Ý Ninh khẽ lắc đầu.

"Nói ra... y cũng chẳng hiểu."

"Chị chưa nói, sao biết y không hiểu?"

Thiên Cảm bất giác cao giọng, hàng mi khẽ nhíu lại.

"Ngày thường chị thống lĩnh quân doanh, hiệu lệnh ban ra, trên dưới không ai dám trái.

Vậy mà đến chuyện của chính mình, lại nhẫn nhịn đến thế sao?"

Một người quen tung hoành giữa sa trường, quyết liệt, mạnh mẽ; vậy mà đứng trước chuyện riêng thì lại chẳng thể giải quyết được.

Sau cùng, Thiên Cảm sai Hồng sang điện Diên Hồng thỉnh Vũ Uy đến hồ Kính Thủy một chuyến.

Kỳ thực, nàng chỉ muốn hai người có dịp đối diện nhau, nói cho tỏ tường những điều còn vướng mắc.

Còn nàng thì lánh mình lên lầu Vọng Nguyệt.

Từ nơi cao ấy, bóng hai người bên hồ hiện ra mờ ảo dưới ánh đèn thuỷ đăng.

Xa xa vẫn thấy họ đối diện, lời qua tiếng lại, tay áo khẽ động theo từng cơn gió lạnh.

Vũ Uy dường như thực lòng thương Ý Ninh, chỉ tiếc lời nói chẳng thuận lòng, câu chữ không khéo xếp đặt, nên giữa phu thê mới sinh hiểu lầm.

Qua một hồi lâu, không khí dần lắng xuống.

Hai bóng người thôi giằng co, khoảng cách cũng thu ngắn lại.

Cuối cùng, Vũ Uy đưa tay kéo Ý Ninh vào lòng.

Dưới ánh trăng non, hình ảnh ấy dịu xuống như mặt nước yên sau cơn gió.

Thiên Cảm đứng trên lầu nhìn xuống, lòng cũng nhẹ đi vài phần.

Bỗng từ phía sau, có người vòng tay ôm lấy nàng.

Hơi ấm quen thuộc cùng hương trầm nhè nhẹ quyện với mùi rượu gạo thoảng qua, khiến nàng không cần ngoảnh lại cũng biết là ai.

Nàng khẽ thả lỏng, rồi xoay người, nắm tay Quan gia kéo chàng vào chỗ khuất gió.

"Quan gia đã tan tiệc rồi sao?"

Chàng khẽ mỉm cười, hơi rượu còn vấn vít nơi khóe môi, ánh mắt pha chút nồng ấm.

"Tiệc vẫn chưa tan," chàng nói, "nhưng trẫm nhớ nàng.

Thấy nàng sai người đến thỉnh Vũ Uy, trẫm cũng muốn tự mình đến xem hoàng hậu của trẫm đã bình phục ra sao."

Thiên Cảm khẽ mỉm cười, "Thần thiếp đã khỏe, chỉ là... có một chuyện, muốn bẩm với Quan gia."

Giọng nàng thấp thoáng hơi bí ẩn, vừa mềm mại, dường như sắp kể đến một chuyện trọng đại.

Nàng nghiêng người ghé sát tai chàng nói một câu không dài cũng chẳng ngắn.

Tóc mai mềm khẽ chạm vào cổ áo long bào, hương mộc từ túi thơm bên hông nàng thoảng qua.

Nghe xong, Quan gia thoáng khựng lại, trong mắt vừa có vui mừng, lại xen lẫn lo lắng.

"Là thật sao?

Nàng đã chắc chắn chưa?"

Thiên Cảm cúi đầu, giọng nhỏ, "Nếu thần thiếp chưa nắm chắc vài phần, sao dám tâu với Quan gia."

Ánh trăng cuối thu lặng lẽ rải bạc trên mái ngói mũi sen, gió đêm khẽ lay vạt áo chàng.

Quan gia bỗng siết nàng vào lòng, vòng tay mạnh đến mức như muốn che chắn cả gió sương cho nàng.

Giọng chàng trầm xuống, lẫn chút khản đặc,

"Nhưng mỗi lần nàng lâm bồn, chẳng khác nào đem thân đặt trước điện Diêm La.

Tim gan trẫm như bị ai xé lấy."

Chàng cúi đầu, trán khẽ chạm vào mái tóc nàng, hơi thở nóng vương nơi vành tai.

"Đứa này xong rồi thôi nhé..."

Thiên Cảm khẽ bật cười, tiếng cười mềm như nước chảy dưới trăng.

Nàng ngẩng đầu nhìn chàng, ánh mắt long lanh mà tinh nghịch, "Thiếp lại muốn sinh năm sáu đứa cơ."

Nàng khẽ tựa vào ngực chàng, giọng thấp xuống, nửa đùa nửa thật, "Quan gia chẳng lẽ không nỡ cùng thiếp cố thêm hai đứa nữa sao?"

"Không được."

Chàng đáp gần như ngay tức khắc, giọng trầm mà kiên quyết.

"Lần trước sinh xong Lâm Uyên, nàng thuốc thang không dứt.

Thái y viện thay phiên chầu trực, trẫm đêm nào cũng mất ngủ."

Bàn tay chàng siết nhẹ hơn, như sợ làm đau nàng "Sức nàng vốn đã yếu.

Đứa này bình an, từ nay không nhắc đến chuyện thêm con nữa."

Thiên Cảm khẽ ngẩng đầu, ánh mắt ánh lên tia bất mãn dịu dàng.

Chàng cúi xuống nhìn nàng, "Giang sơn này, trẫm giữ.

Xã tắc này, trẫm gánh.

Cả nàng... trẫm không thể đem ra đánh cược được."

Gió thu lặng lại giữa mái hiên.

Nàng im lặng hồi lâu, rồi khẽ vòng tay ôm lại chàng, nghiêng đầu tựa sát vào lồng ngực ấm nóng ấy.

"Thần thiếp... tuân mệnh."

Bỗng chốc Quan gia khẽ khựng lại, ánh mắt hướng về phía hành lang xa.

Chàng nắm tay nàng, bước ra mép lầu, vén màn chướng để nhìn cho kĩ.

"Kia... chẳng phải Quỳnh Nga sao?

Nam tử đứng cạnh con bé là ai vậy?"

Thiên Cảm theo ánh mắt Quan gia nhìn xuống.

Dưới ánh đèn điện vũ, Thiên Thuỵ đứng giữa hành lang, cạnh đó là bóng một thiếu niên cao lớn đang quay lưng lại.

Nàng nheo mắt, lông mi khẽ rung trước ánh trăng thu nhạt, rồi thầm thì:

"Bóng lưng ấy... có lẽ là Quốc Nghiễn"

Quan gia bật cười khẽ, tiếng cười trầm ấm vang trong đêm tĩnh, "Quả thật... hai đứa nhỏ đứng cạnh nhau, nhìn tựa tiên đồng ngọc nữ.

Nếu giao Quỳnh Nga cho Quốc Nghiễn, trẫm cũng rất vừa ý."

Thiên Cảm nghe vậy liền quay sang, giọng thoáng nghiêm lại:

"Quan gia, Quỳnh Nga mới bảy tuổi.

Chuyện chung thân đại sự, để thêm ba bốn năm nữa rồi bàn cũng chưa muộn."

Quan gia nhìn nàng một thoáng, rồi khẽ gật đầu.

"Hoàng hậu nói chí phải..."

.

[*] "Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ": câu thơ trích trong bài Nguyệt của Trần Nhân Tông.

Nguyệt

Bán song đăng ảnh mãn sàng thư,

Lộ trích thu đình dạ khí hư.

Thuỵ khởi châm thanh vô mịch xứ,

Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ.

Dịch nghĩa:

Bóng đèn soi nửa cửa sổ, sách đầy giường,

Móc rơi trên sân thu, hơi đêm thoáng mát.

Tỉnh giấc không biết tiếng chày nện vải ở nơi nào,

Trên chùm hoa quế trăng vừa mọc.
 
Trăng Nhàn.
Hồi 3: Hoa đường yểu điệu lưu bóng xa


Hoa đường yểu điệu lưu bóng xa,

Gió Bắc lay sen ngát hương hoa.

.

.

.

Hạ cảnh

Yểu điệu hoa đường trú ảnh trường,

Hà hoa xuy khởi bắc phong lương.

Viên lâm vũ quá lục thành ác,

Tam lưỡng thiền thanh náo tịch dương.

- Trần Thánh Tông -
 
Trăng Nhàn.
1. Ngũ Đế quan thiên hạ


Năm Thiệu Long thứ chín, Thượng hoàng cho mở khoa thi tuyển chọn học trò, tổ chức lần lượt qua các kỳ thi Hương, Đình và Hội để tìm ra người tài.

Kỳ thi Hội được tổ chức long trọng, nhằm chọn ra ngôi tam khôi.

Trong số các thí sinh, có hai người được chọn làm Trạng Nguyên.

Một người họ Trần, tên Cố, quê ở kinh sư, từ nhỏ đã được cha mẹ gửi tiền cho học ở Quốc học viện cùng các con em quý tộc và quan chức, nay đỗ đạt Kinh Trạng Nguyên.

Người còn lại quê ở Nghệ An, họ Bạch, tên Liêu, được chọn làm Trại Trạng Nguyên.

Hồi quốc sơ, cử người chưa phân kinh trại, người đỗ đầu chỉ đơn giản ban cho danh hiệu Trạng Nguyên.

Từ ngày Thanh Hóa, Nghệ An được chia làm trại mới có phân biệt kinh - trại như vậy.

Trần Cố là người cương trực, phẩm hạnh quân tử, nếu không muốn nói là có phần cứng nhắc, nhưng cũng vì thế mà rất được Quan gia quý mến.

Y được bổ nhiệm vào cung Quan Triều, phân công công tác tại Thanh Hình Hiến Sát Sứ Ty [1], cơ quan chuyên trách về tư pháp và hành pháp, chịu trách nhiệm xét xử các sai phạm của triều đình.

Khi trao áo mũ, Quan gia còn đặc biệt ban cho y một cây roi mây, khẳng định sự kỳ vọng về việc y giữ vững chính trực, thi hành công vụ nghiêm minh.

Bạch Liêu thì thông minh, nhớ lâu, đọc sách ngàn dòng mà vành vạch không sai một chữ.

Liêu tâu lên xin được làm môn khách của Chiêu Minh đại vương mà không làm quan.

Chiêu Minh đang trấn giữ vùng Nghệ An nên Liêu mong muốn vinh quy bái tổ, về lại quê hương.

Thượng hoàng hiểu được lòng trung thành và nguyện vọng của Bạch Liêu, nên đã đồng ý cho ông trở về quê.

Vậy là chọn được hai người Trạng nguyên, một người Quan gia dùng, một người về phục vụ Chiêu Minh, ai nấy đều vui vẻ.

[1] Thanh Hình Hiến Sát Sứ Ty, gọi tắt là hiến ty, thuộc tam ty gồm thừa ty phụ trách hành chính, tài chính, dân sự; đô ty trông coi việc quân, phụ trách các vấn đề về quân sự và hiến ty có chức năng xét xử và giám sát các ty trên cũng như giám sát các công việc để tâu lên triều đình.

.

Tiết Hưng Thiên [2], cả nước được ban lộc của thiên tử, nơi nào nơi ấy tổ chức lễ hội rất náo nhiệt.

Hoàng cung cũng không phải ngoại lệ, yến tiệc tổ chức linh đình, các vương hầu, công chúa khắp nơi về lại kinh sư để cung chúc Quan gia.

[2] Tiết Hưng Thiên: ngày sinh nhật của Thánh Tông.

Thái Đường công chúa cũng nhân dịp này cùng phò mã về kinh sư.

Thái Đường đã hạ giá được một thời gian, nàng kết duyên cùng trưởng tử nhà họ Vũ ở Lục Ngạn, xứ Kinh Bắc.

Nhà họ Vũ vốn là gia tộc lâu đời ở đất này, cha ông có công lớn trong việc xây dựng đường xá, mở mang ruộng đồng, đợt trước quân Hồ vào đánh, gia nô tích cực trợ thủ cho quân triều đình bảo vệ đất đai, vì thế sau đợt luận công bạn thưởng Vũ ông được Thượng hoàng ban cho tước hầu, được phép truyền lại cho con cháu.

Thuở thiếu nữ, tính tình Thái Đường vốn phóng khoáng, hay ngao du sơn thuỷ.

Không hiểu nhân duyên thế nào mà nàng lại gặp được con trưởng của Vũ ông, rồi cuối cùng quyết định hạ giá gả cho chàng.

Thái Đường vừa trở về liền lập tức đến thăm Thiên Cảm tại Song Hương đường.

Nhị hoàng tử mới chỉ được tám tháng tuổi, mọi việc trong hậu cung đều do Nguyên phi và Đức phi quán xuyến, Thiên Cảm chỉ chuyên tâm chăm sóc con nhỏ.

Thấy Thái Đường đến thăm, nàng không giấu nổi niềm vui, khuôn mặt sáng lên niềm hân hoan.

"Từ ngày cô Thư hạ giá, chị chẳng thấy bóng dáng đâu, hôm nay mới gặp lại.

Nhìn nàng kìa, được phu quân chăm sóc, sắc diện tươi tắn hơn nhiều."

"Chị cứ trêu em!"

Thái Đường đỏ mặt, rồi nhìn vào trong lòng Thiên Cảm trông Nhị hoàng tử, "Chị cho em xin chút vía đi, Đức Việp trộm vía mặt phúng phính thế này!"

Nói rồi, nàng nhẹ nhàng đỡ tay Thiên Cảm, đón lấy Nhị hoàng tử, hết sức cưng nựng.

"Việp trộm vía ngoan ngoãn lắm, chẳng như Uyên đâu.

Ngày con bé sinh ra, nó hành chị lên bờ xuống ruộng, cứ đặt lưng xuống là khóc, phải bế suốt đêm.

May sao gửi con nó về ngoại, chị cũng đỡ vất vả hơn.

Còn Việp thì chỉ cần ru vài câu là ngủ ngoan, ăn uống dễ chịu, chẳng phải dỗ dành gì..."

"Mẹ!

Mẹ lại nói xấu con rồi!"

Tiếng Nhị hoàng nữ từ ngoài vọng vào, giọng đầy bất mãn.

Thiên Cảm nghe vậy liền đưa mắt sang Thái Đường cười trừ.

Thái Đường cũng bật cười.

"Cháu gái chào cô Thái Đường ạ"

"Em chào hoàng hậu; chào chị Thái Đường"

Ngọc Khuê đi theo sau Nhị hoàng nữ, tay cầm một bọc sách, dường như hai đứa vừa tan học về.

Hôm nay là tiết Hưng Thiên, chắc hẳn các hoàng tử, hoàng nữ đều được thầy cho về sớm.

Ngày xưa, khi Chiêu Thánh công chúa ở Vĩnh Bảo, ngài Ngự sử phải đi đi lại lại, mỗi khi dự xong triều, lại lên thuyền xuống Vĩnh Bảo cùng phu nhân.

Nhưng giờ đây, phu thê họ đã về kinh sư để tiện cho việc thượng triều của Đại phu, cũng là để thuận cho việc học hành của Tông và Khuê.

Tuy Ngọc Khuê cũng không còn ở lại trong cung Thuý Hoa nữa, Nhị hoàng nữ và Ngọc Khuê vẫn dính nhau như sam.

Nàng được đặc cách đi lại trong hậu cung, cùng Nhị hoàng nữ học tập.

Thái Đường vừa nhìn thấy Ngọc khuê đã cao hứng, hỏi ngay, "Dì Chiêu Thánh dạo này khoẻ không Khuê?"

"Mẹ em khoẻ lắm ạ, em thay mẹ cảm ơn chị Thái Đường hỏi thăm"

"Dăm hôm nữa chị qua thăm dì.

Chị mua được chục bánh gai đấy, hai đứa tự đi ăn đi."

"Vâng ạ" Hai đứa đồng thanh đáp.

Nhị hoàng nữ vừa nghe thấy bánh gai đã chạy tót đi ăn trước.

Trong cung của ngon vật lạ nhưng Nhị hoàng nữ lại chỉ thích mấy thứ quà ngoài dân gian.

Thấy hai đứa đã chạy đi, Thiên Cảm và Thái Đường lại có thời gian trò chuyện riêng.

"Hôm nọ chị nghe Quan gia nhắc đến chuyện điền trang, chuyện này là do cô đề xuất phỏng?"

Thiên Cảm hỏi, ánh mắt nhìn Thái Đường.

Các vương hầu được ban thái ấp sẽ chú trọng vào việc xây dựng gia binh, nâng cao sức mạnh quân sự, ít ai để ý đến chuyện lập điền trang, khai hoang đất trống.

Thái Đường vốn đi đây đi đó, mắt thấy tai nghe đủ chuyện thế gian, ngoài nàng là người đề xuất chuyện khai hoang, lập trại, nên Thiên Cảm không nghĩ ra ai khác.

"Ngày bé, mẫu hậu mất sớm, phụ hoàng lại bận rộn với triều chính, em được nhị lang và tam lang che chở.

Nhị lang sớm phải gánh vác trọng trách, tam lang cũng hết lòng phò trợ anh hai.

Thấy hai anh ngày đêm vất vả, em cũng muốn đỡ đần các anh.

Nhưng em là phận nữ nhi, rồi cũng sẽ có ngày phải gả chồng, không thể như các anh có thái ấp, dựng gia binh, lập hương binh phòng khi quốc gia xảy sự.

Nhưng điều đó đâu có nghĩa là em không thể giúp đỡ, không có sức, em sẽ góp công..."

Thái Đường nói, giọng nàng trầm xuống, nhưng mỗi lời nói lại đầy kiên quyết, "Em sớm ngày ngao du, không chỉ để thoả chí khám phá, mà còn để nghiên cứu đất đai.

Em lên rừng xuống biển, đi qua nhiều vùng đất, muốn biết thổ nhưỡng từng nơi, xem ở đó trồng được cây gì, nuôi được con gì, nơi nào có nhiều tiềm năng phát triển nhất.

Em muốn mở mang ruộng đồng để dân chúng có cuộc sống đủ đầy, ấm no.

Đại Việt ta đất đai màu mỡ, nhưng dân chúng lại chỉ tập trung ở vài vùng phố thị, còn các vùng khác dân cư thưa thớt, không có nguồn lực để tối ưu tài nguyên.

Nếu không thể phát huy hết tài nguyên của đất đai, làm sao quốc gia có thể phát triển?

Không phát triển, làm sao có thể đánh ngoại xâm?

Dân giàu thì đất nước mới mạnh, em giúp được phần giàu, còn phần mạnh, để các anh lo liệu."

"Chị cũng là phận nữ nhi, thấy được tấm lòng của cô Thái Đường dành cho Quan gia, cho Đại Việt, quả thật có phần hổ thẹn."

"Chị chớ nói lời vậy, lòng của chị bao năm nay, nhị lang đã thấu hiểu hết.

Nữ nhân chúng ta tuy sức không bằng, nhưng mỗi người đều có cách riêng để đóng góp cho quốc gia."

"Vậy cô đã tìm được nơi nào thích hợp để lập điền trang chưa?"

Thiên Cảm hỏi.

"Quê chồng em ở vùng Lục Ngạn, đất đai phù sa màu mỡ, bao năm nay nhà họ Vũ đã dụng công xây dựng.

Trước mắt, em sẽ bắt đầu nâng cao sản xuất, tổ chức dân binh, thúc đẩy lao động ở nơi đó.

Cách đó không xa, tầm một ngày thuyền đi về phía ven sông Đào là làng Thị Liệu, phù sa bồi lên phì nhiêu, nhưng dân cư lại thưa thớt.

Em dự tính sẽ lo liệu để chuyển người ra đó khai hoang, dần dần sẽ thu hút dân cư đến làm ăn."

Thiên Cảm nghe vậy thì gật gù, nàng tiếp lời, "Phụ vương chị trước lập ấp An Lạc ven sông Châu, lại có ấp A Sào trên sông Hoá, cả hai vùng đều ngay gần nhánh sông Đào.

Đi thuyền xuôi dòng, chắc chưa đầy nửa ngày là đã đến Thị Liệu.

A Sào và An Lạc từ thời phụ vương chị, đến nay anh cả Hưng Ninh chăm chút bao năm dân cư cũng đã đông đúc.

Nếu có ngày em cần dùng sức người, đừng ngại báo chị, chị sẽ phân người đến góp sức."

Thái Đường nghe được lời này của Thiên Cảm, không kìm được xúc động.

"Có được lời này của chị, em còn lo lắng gì nữa?"

"Cô Thư chớ có khách sáo.

Chị ngưỡng mộ chí hướng của cô.

Chỉ mong sau này các hoàng nữ có thể học hỏi được một phần tính toán của cô, chị đã rất mãn nguyện rồi"

.

Đêm yến hôm ấy diễn ra rất long trọng.

Không gian rộng lớn được trang trí với những tấm rèm lụa màu vàng nhạt, mềm mại buông dài, nhẹ nhàng lay động trong làn gió thổi.

Lưỡng cung ngồi ngồi ở trên, Thiên Cảm ngồi ngay bên cạnh Quan gia, ghế dưới một hàng.

Khách khứa đều ngồi theo cấp bậc cao thấp, từ trên xuống dưới kỷ cương.

Tiếng đàn tranh trong trẻo, tiếng đàn bầu du dương, hòa vào nhau, tạo ra một giai điệu thanh thoát.

Âm thanh dịu dàng ấy lan tỏa khắp không gian.

Công chúa Thiên Thuỵ cũng nhân dịp này chuẩn bị một tiết mục biểu diễn rất kì công.

Nàng đã sắp sang tuổi đậu khấu [3], gương mặt đã không còn nét ngây thơ, mà thay vào đó là vẻ chững chạc.

Mái tóc đen mượt được cuốn thành búi tóc cao, trang phục quý phái nhưng không làm mất đi nét nhẹ nhàng, tao nhã, càng làm tôn lên vẻ đẹp kiêu sa của nàng.

Thiên Thuỵ bước ra giữa sân khấu, mỗi bước đi đầy tự tin, ánh mắt sáng lên phong thái của bậc thuyền quyên.

[3] Đậu khấu: độ mười hai, mười ba tuổi, ví như hoa đậu khấu đầu hạ, tươi non mà chưa trọn thì.

"Thiên Thuỵ càng lớn càng thêm phần diễm lệ," Tĩnh Quốc nâng chén rượu, mỉm cười hướng về phía Quan gia mà nói, "chú hai e cũng đến lúc phải lo liệu chuyện hôn sự cho ái nữ rồi."

Quan gia nghe vậy mới khẽ bật cười, gật đầu trầm ngâm, "Anh nhắc, trẫm mới chợt để tâm.

Quả thực cũng đã đến lúc nên suy tính..."

Thượng hoàng ngồi cạnh bỗng nhớ ra điều gì,

"Vợ chồng Uy Văn Thuỵ Bảo đang ngồi đâu rồi?"

Thượng hoàng cất giọng hỏi, ánh mắt đảo qua hàng yến khách.

Vừa nghe xướng đến tên mình, Uy Văn liền rời chỗ, chỉnh lại y quan, bước ra giữa điện, cúi mình hành lễ.

Thuỵ Bảo theo sát phía sau phu quân, dáng vẻ đoan trang, cũng cúi đầu bái lạy, lễ nghi không chút sơ suất.

"Bẩm bệ hạ, thần và công chúa ở đây ạ"

Thượng hoàng trông thấy hai người bước ra, thần sắc liền giãn ra, yên tâm được phần nào.

Thuỵ Bảo mới hạ giá gả cho Uy Văn chưa bao lâu, mà Thượng hoàng lại ở hành cung Thiên Trường, hiếm khi hồi triều, đến hôm nay mới có dịp trông thấy con gái.

Có lẽ vừa rồi nghe Tĩnh Quốc nhắc đến chuyện công chúa xuất giá, Thượng hoàng chợt sinh hoài niệm, bèn gọi hỏi đến vợ chồng Uy Văn.

"Các con dùng bữa cho no đủ.

Trẫm thấy Toại sắc mặt không được tốt lắm?"

"Con hổ thẹn, đã khiến Thượng hoàng phải bận lòng"

Thượng hoàng nghe vậy liền xua tay, ý bảo không đáng ngại, thần sắc vẫn ôn hòa, khoan dung như thường.

Quan gia thấy Uy Văn bước ra thì trong lòng càng thêm phấn khởi, mỉm cười nói:

"Chú Uy Văn gần đây cho khắc in tập Sẩm Lâu, trẫm đã xem qua, văn chương ý tứ đều tinh diệu, trẫm rất thích."

"Được Quan gia ngự lãm ban lời khen, ấy là phúc phần của Toại."

Quan gia chợt như nảy ra một ý nghĩ, quay sang Uy Văn, giọng trầm lại nhưng đầy hứng thú,

"Chú Uy Văn thử nói trẫm nghe, cớ sao thiên hạ lại quen miệng gọi trẫm là Quan gia?"

Uy Văn khẽ khom mình đáp:

"Thần từng nghe lời các bậc tiền nhân nói rằng: năm đời đế lấy thiên hạ làm của công, gọi là quan; ba đời vương lấy thiên hạ làm của nhà, gọi là gia.

Hai chữ ấy hợp lại, vừa tỏ rõ thiên hạ là của chung muôn dân, vừa nhắc những người đứng đầu phải coi thiên hạ như gia thất, coi vạn dân như con cái"

Thượng hoàng cùng Quan gia nghe vậy đều gật đầu tán thưởng.

"Sẩm Lâu quả là người học rộng hiểu sâu."

Quan gia hết lời khen ngợi.

Lời khen vừa dứt, Quan gia đã quay sang phía Thiên Cảm.

Nàng đang bế Nhị hoàng tử trong tay, nhưng ánh mắt vẫn chăm chú lắng nghe từng lời, thần sắc sáng bừng niềm ngưỡng phục.

Hai chữ Quan gia kia, lấy thiên hạ làm gia thất, lặng lẽ khắc sâu vào lòng nàng.

Quan gia chợt đưa tay nắm lấy tay nàng.

Thiên Cảm khẽ giật mình, ngước mắt nhìn sang.

Ánh mắt hai người vừa chạm, không cần lời nói, mà ý tứ đã tự thấu hiểu.

Trong khoảnh khắc, lòng nàng như có gió xuân lướt qua, êm đềm mà ấm áp đến lạ.

Tháng mười năm ấy, Quan gia đích thân viết chiếu, truyền xuống vương hầu, công chúa, phò mã cùng các cung tần, cho phép chiêu tập dân chúng phiêu tán không có sản nghiệp, thu nhận làm nô tỳ để khai khẩn ruộng đất bỏ hoang, dựng lập điền trang.

Từ đó, chế độ trang thực của vương hầu chính thức bắt đầu.

Ruộng hoang dần có người cày cấy, dân cư theo đó mà tụ họp, sinh cơ dần mở bắt đầu từ đây.
 
Trăng Nhàn.
2. Cư trần lạc đạo [*]


Mùa xuân, lưỡng cung lệnh cho Lễ bộ xét lại phép tắc cũ cùng nhánh dòng chính của Quan gia để định việc phong ấm cho các hoàng tử, hoàng nữ trong tông thất.

Hai năm trước Quan gia đã từng dụ Lễ bộ để ý chuyện này, nhưng trong triều còn nhiều việc quan trọng nên đành gác lại.

Nay việc lớn đã yên, trong ngoài tạm ổn mới có thể dốc lòng sửa sang lại phép cũ cho rành mạch.

Trong số hoàng tử, hoàng nữ của Thượng hoàng, vài vị đã yên bề gia thất nên được ban tước, cấp ấm từ trước, còn lại thì vẫn chưa được phong tước.

Cũng đợt này Quan gia lần lượt cân nhắc từng người.

Tứ hoàng tử, Ngũ hoàng tử và Lục hoàng tử đều lần lượt được ban vương vị, thứ tự là Chiêu Đạo, Chiêu Quốc, Chiêu Văn, còn các vị khác còn trẻ tuổi nên vẫn chưa xét tới.

Mùa thu Thượng hoàng cho xuống chiếu định quân ngũ, mỗi quân 30 đô, mỗi đô 80 người, ba vị vương tử mới được phong trước đó, thêm cả Vũ Uy vương, mỗi người được giao cho một đô để chỉ huy.

Đến mùa đông, Đại hoàng tử độ ngột đổ bệnh nặng.

Ban đầu ai nấy chỉ ngỡ cảm gió nhiễm lạnh, nghỉ dăm bữa nửa tháng ắt sẽ qua.

Nào hay chàng sốt mãi không dứt, da dẻ nổi ban đỏ, hơn nửa tuần trăng vẫn chưa hề thuyên giảm.

Ngự y thay nhau chạy chữa, thuốc thang không thiếu bữa nào, vậy mà bệnh tình vẫn giằng dai chẳng dứt.

Thái y chẩn là bệnh đậu mùa, nhưng để hậu cung không bị hoang mang, Thiên Cảm cho người giấu bệnh của Đại hoàng tử, chỉ cho truyền ra là cảm lạnh thông thường.

Nàng đóng kín cửa, thức suốt ngày đêm bên giường bệnh của con trai.

Ánh nến leo lét hắt xuống tấm lưng người mẹ.

Hương thuốc bắc ngai ngái vương trong không gian, len vào tận hốc mũi.

Thiên Cảm cầm chiếc khăn mềm, khẽ lau mồ hôi trên trán chàng, từng động tác nhẹ nhàng như sợ làm chàng đau thêm.

Trong gian phòng tĩnh lặng chỉ còn tiếng thở nặng nhọc của Đại hoàng tử và tiếng nến tí tách cháy.

Đại hoàng tử bỗng giật mình tỉnh giấc.

Thấy mẹ vẫn còn mặc bộ y phục của ngày hôm qua, ánh mắt lờ đờ mệt mỏi, chàng thoáng đoán được rằng có lẽ mẹ chàng đã ở cạnh bên chàng suốt cả đêm.

"Mẹ... con đã đỡ nhiều rồi.

Mẹ đừng lo lắng"

"Con dậy rồi à?"

Thiên Cảm khẽ đáp.

"Mẹ nấu cháo hành rồi đây.

Ăn lúc còn nóng rồi uống thuốc, xong thay áo ra, mẹ bôi thuốc cho."

"Mẹ đi nghỉ đi" Đại hoàng tử nhìn Thiên Cảm, trong lòng không khỏi đau xót.

Ánh mắt chàng ánh lên nỗi tự trách vì không chăm sóc bản thân, để mẫu thân phải nhọc lòng đến vậy.

"Con mau dậy ăn bát cháo cho ấm bụng," Thiên Cảm nói, "Rồi hai mẹ con ra chùa Cổ Châu ở một thời gian cho thoáng đãng."

Chàng thoáng ngạc nhiên, xong cũng thu chút cảm xúc ấy lại, khẽ đáp, "Vâng"

Bỗng ngoài hiên vang lên tiếng bước chân gấp gáp, mỗi lúc một gần.

Từ xa, Thiên Cảm đã nhận ra.

Nhịp bước đều đặn, không vội vã mà cũng chẳng chậm rãi, mỗi bước dứt khoát, vững vàng, trong chốn cung son này, chỉ có một người mang dáng đi ấy.

Thiên Cảm từ bên trong nói vọng ra ngoài, "Bệ hạ giữ gìn long thể, chớ nên vào đây."

Ngoài cửa lặng đi một thoáng.

Rồi một giọng nói trong trẻo vang lên:

"Mẹ... con với cha đến thăm mẹ và anh Khâm này."

"Khâm đã đỡ hơn nhiều rồi," Thiên Cảm nói.

"Quan gia đừng để Uyên vào đây."

"Đỡ hơn rồi sao còn chuẩn bị xe ngựa để xuất cung?"

Quan gia hỏi, không giấu được sự lo lắng.

"Trong cung ngột ngạt, Khâm lại mắc bệnh đậu mùa, ở lâu trong cung e rằng sẽ lây cho cung nhân.

Ở chùa Cổ Châu các vị tăng sư từng mắc bệnh này, sẽ không bị tái nhiễm.

Nơi cửa chùa linh thiêng, Khâm ắt sẽ chóng khỏe lại."

Thiên Cảm dừng một chút, rồi nói thêm, "Trong triều đang chỉnh đốn hàng quan văn, quan võ, Quan gia bận rộn ngày đêm.

Thiếp không muốn vì chuyện này mà làm chàng thêm phân tâm nên không dám thông báo."

"Khâm mắc đậu mùa sao?"

Quan gia sửng sốt.

Bệnh này tuy không phải lúc nào cũng nguy kịch, nhưng phải dưỡng bệnh rất cẩn thận.

"Bệnh tình của Khâm đã thuyên giảm," Thiên Cảm điềm tĩnh đáp để trấn an chàng, "Thái y nói khi ban đã nổi thì chỉ chừng nửa tuần trăng là sẽ khỏi hẳn.

Thiếp đã dặn nhũ nương chăm sóc Việp, tỳ nữ của Uyên cũng đã được sắp xếp ổn thỏa.

Mẹ con thiếp chỉ xuất cung một thời gian, đợi Khâm khỏe hẳn ắt sẽ trở về."

Quan gia đứng lặng hồi lâu.

Dẫu trong lòng không nỡ, cuối cùng chàng vẫn đành thuận theo sự sắp xếp của Thiên Cảm.

.

Thiên Cảm đưa Đại hoàng tử xuất cung đến chùa Cổ Châu, chỉ mang theo một thái y cùng ba thị nữ tâm phúc để tránh rềnh rang.

Thái ấp của Uy Văn vương nằm ngay gần Cổ Châu.

Nghe tin Thiên Cảm sắp đưa Đại hoàng tử đến đây dưỡng bệnh, Thụy Bảo lập tức sang chùa thăm hỏi.

Từ nhỏ nàng từng mắc đậu mùa một lần, nên không cần phải kiêng tránh.

Thuỵ Bảo cố tình ghé qua trước khi mẹ con Thiên Cảm tới nơi.

Nàng tự tay sắp xếp chỗ ở trong chùa đâu ra đấy, còn để riêng hai thị nữ trong phủ Uy Văn ở lại hầu hạ.

Bữa cơm chay cũng đã chuẩn bị sẵn, nàng lại đốt ít thảo dược mùi già, giềng, sả để xông phòng, tẩy khí lạnh trước khi mẹ con Thiên Cảm đến nơi.

Khi xe ngựa dừng trước cổng chùa, trời đã chập tối.

Thuỵ Bảo cùng các vị tăng ni đều đã đứng bên ngoài đón mẹ con hai người.

Bước vào trong, thấy mọi việc đã được Thuỵ Bảo thu xếp chu toàn, cơm canh bày sẵn còn bốc khói nghi ngút, Thiên Cảm không khỏi xúc động.

Đại hoàng tử khẽ lên tiếng: "Về đến đây lại còn nhọc lòng cô Thụy Bảo.

Khâm quả thật hổ thẹn."

Thiên Cảm nhìn nàng, ánh mắt dịu lại: "Thuỵ Bảo chu đáo quá rồi."

Thuỵ Bảo khẽ cười, lắc đầu:

"Điện hạ khách sáo vậy làm chi.

Năm ngoái chị mất bao tâm sức ngày em hạ giá, chút này có là gì"

Thuỵ Bảo ngồi ăn bữa tối cùng mẹ con Thiên Cảm.

Ba người không khỏi nhắc tới chuyện gần xa,

"Ngày bé cũng là cô Thuỵ Bảo bồng bế Khâm, đến nay Khâm ốm cô cũng hết lòng lo lắng.

Sau này Khâm lớn, nhất định phải đền đáp công sức cùng tâm sức của cô Thuỵ Bảo" Thiên Cảm ngồi bên, cảm thán.

"Cô Thuỵ Bảo lo toan cho Khâm, Khâm xin ghi nhớ"

Thuỵ Bảo cười, nói, đưa tay véo nhẹ má của Đại hoàng tử, "Ai bảo chị Thiên Cảm sinh được đứa trẻ đáng yêu thế này.

Em sao mà không yêu quý cho được chứ"

"Chuyện nhà cô thế nào rồi?

Chú Uy Văn được Quan gia khen ngợi suốt, muốn chiêu dụ chú ấy vào làm quan mà vẫn chưa được cái gật đầu của chú.

Cô xem góp vài lời giúp Quan gia có được người tài đi"

Thụy Bảo nghe vậy chỉ khẽ lắc đầu, "Phu quân em vốn không ham phú quý.

Chàng thích đọc sách, mê thơ phú, còn chốn quan trường thì lại chẳng mấy hứng thú.

Nếu có thể dùng chút tài học mà phân ưu cùng Quan gia thì ấy đã là tâm nguyện của chàng rồi.

Còn công danh, quan lộc... chàng thật không để trong lòng."

Thiên Cảm nghe vậy bật cười khẽ, "Chị chỉ mới dò hỏi em đôi câu, vậy mà bao tâm tư của Sầm Lâu đã bị em nói ra hết cả rồi."

Nàng dừng một chút rồi nói tiếp, giọng chậm rãi: "Quan gia cũng hiểu chú ấy.

Năm nay trong triều có nhiều quan văn, quan võ được thăng chức.

Quan gia có nhắc qua với chị về chuyện của chú Uy Văn, nên chị mới tiện kể lại với em."

Rồi như chợt nhớ ra điều gì, Thiên Cảm lại nói thêm: "Còn bên chú Chiêu Quốc, hình như chú ấy đang mở học đường.

Nghe nói học trò tìm đến theo học rất đông."

"Nhắc đến Chiêu Quốc, em không thể chịu được anh ấy."

Thuỵ Bảo đột ngột thay đổi thái độ, nét khó chịu lộ rõ trên gương mặt vốn hiền hoà.

Thiên Cảm nghe vậy cũng không mấy bất ngờ.

Uy Văn và Chiêu Quốc vốn là hai vị vương tông nổi tiếng thông minh, hiếu học, văn chương xuất chúng trong thế hệ vương thất trẻ tuổi.

Vì thế mà từ lâu hai người thường bị đem ra so sánh, nhất là về tính cách khác biệt.

Uy Văn giỏi văn chương, thích sách vở, nhưng lại không mặn mà với chốn quan trường, nhiều lần từ chối vào triều làm quan.

Chiêu Quốc thì trái lại: tính tình xông xáo, chuyện triều chính việc gì cũng để tâm, lại luôn muốn lập công để góp sức cho triều đình.

Xét về thân phận, Chiêu Quốc là hoàng tử, còn Uy Văn là cháu ruột của Thượng hoàng.

Nay Thụy Bảo hạ giá lấy Uy Văn, chàng lại kiêm cả chức phò mã nên càng được lưỡng cung ưu ái.

Chuyện này khiến Chiêu Quốc không ít lần bị nghe những lời so sánh từ những kẻ ác ý cố tình gây bất hoà.

Huống hồ giữa Trương Thái phi và Nguyễn Thái phi xưa nay vốn bằng mặt mà chẳng bằng lòng, trong cung không ai không biết.

Có lần chính Thượng hoàng còn phải khuyên hai người nếu có điều gì bất hòa thì nên ngồi lại nói chuyện, đừng để liên lụy đến con cái.

Hai vị nghe thì nghe vậy, nhưng lòng vẫn chẳng mấy ưa nhau, thành ra con cái hai bên đã nhiều lần có khúc mắc.

Gộp cả những chuyện ấy lại, Thiên Cảm thoáng đoán rằng có lẽ Chiêu Quốc đã làm điều gì đó liên luỵ đến Uy Văn.

Nàng khẽ hỏi: "Có chuyện gì mà chị chưa biết sao?"

Thụy Bảo khẽ thở ra một hơi, "Cũng là chuyện Chiêu Quốc mở học đường được phụ hoàng và nhị lang khen ngợi.

Lưỡng cung khen thì em cũng mừng cho anh ấy.

Ai ngờ trong buổi đại triều, anh ấy lại cố tình tâu với nhị lang, xin cho Uy Văn đến dạy học ở học đường vài buổi.

Phu quân em nể mặt anh ấy nên nhận lời.

Ai ngờ mới dạy được vài hôm, tứ lang với ngũ lang lại bày tiệc chuốc rượu.

Phu quân em sức khỏe vốn yếu, trong họ ai cũng biết chàng không uống được rượu, vậy mà hai người vẫn cố ép cho bằng được.

Kết quả là vừa về đến nhà, phu quân say đến mềm oặt người, nôn mửa, ốm mất hơn nửa tuần trăng.

Thật quá quắt!"

Nàng tiếp lời, gương mặt bực bội, "Em còn lạ gì tính tứ lang với ngũ lang.

Thể nào chẳng đem mấy thứ kỳ trân dị bảo ra khoe khoang, rồi lại lôi chuyện văn chương ra để làm khó Uy Văn."

Thiên Cảm nghe vậy chỉ khẽ lắc đầu.

"Hai chú ấy làm vậy quả thật không phải."

Nàng chậm rãi nói.

"Đợt tới chị sẽ viết thư nhắc nhở.

Uống rượu vốn đã không tốt cho thân thể, sao lại có thể ép người khác uống đến mức ấy được."

Thụy Bảo thấy Đại hoàng tử đã dùng xong bữa, liền quay sang chàng, khẽ ra hiệu cho thị nữ bưng bát thuốc đến, "Cô đã dặn người dưới sắc thuốc rồi," nàng nói.

"Khâm uống thuốc đi."

"Cháu xin" Đại hoàng tử lễ phép đáp, hai tay nhận lấy bát thuốc.

Thụy Bảo nhìn chàng uống thuốc xong, lại chợt nhớ đến câu chuyện ban nãy, khẽ xua tay:

"Thôi, không nhắc đến tứ lang với ngũ lang nữa.

Càng nói em càng bực mình."

Nàng quay sang Thiên Cảm, giọng dịu lại:

"Đức Việp mới hơn một tuổi.

Chị xuất cung như vậy, nhị hoàng tử liệu có quấy khóc không?"

Thiên Cảm nghe vậy cũng khẽ thở dài, "Chị nào có nỡ xuất cung.

Để Việp ở lại trong cung, lòng chị cũng chẳng yên.

Chỉ là Khâm có bệnh, chị không còn cách nào khác."

Nàng khẽ nói tiếp: "Chị đã dặn nhũ mẫu cẩn thận rồi, mong là sẽ không có việc gì."

Đại hoàng tử ngồi bên cạnh, vừa uống thuốc xong, cũng nghe cuộc trò chuyện giữa hai người.

Chàng khẽ cúi đầu, trong lòng không khỏi dâng lên một nỗi áy náy.

"Cũng tại con" Chàng buồn rầu, lý nhí nói.

Thiên Cảm nghe vậy vuốt nhẹ lưng Đại hoàng tử, khẽ khàng, "Uyên và Việp đều có nhũ mẫu chăm sóc, giờ mẹ chỉ mong Khâm mau khoẻ, rồi hai mẹ con mình về nhà với cha và các em.

Được không?"

Ngưng lại, nàng tiếp, "Con đi vào xông người đi, rồi mẹ bôi thuốc cho"

Đại hoàng tử nghe theo lời của nàng, đi vào bên gian trong thay y phục.

.

Đại hoàng tử nhanh chóng hồi phục, nhưng Thiên Cảm lại lây bệnh từ con trai nên hai mẹ con vẫn ở lại chùa thêm hơn một tuần trăng.

Trong những ngày ấy, Đại hoàng tử tận dụng cơ hội thỉnh giáo trụ trì cùng các tăng ni trong chùa.

Chàng vốn đã mộ đạo, nay được gần gũi cửa thiền, lắng nghe kinh luận, làm tâm chàng thêm say mê và tinh tấn.

Chiều dần buông xuống sân chùa Cổ Châu.

Tiếng chuông vãn từ chính điện ngân dài trong gió, từng hồi trầm lắng lan ra khắp khoảng sân tĩnh mịch.

Đại hoàng tử khoác áo mỏng, ngồi dưới gốc bồ đề trước sân.

Lá bồ đề xào xạc rơi theo gió chiều, ánh hoàng hôn lặng lẽ phủ lên những bậc đá rêu phong.

Một lão tăng chậm rãi bước đến, tay lần tràng hạt.

Thấy Đại hoàng tử, ông khẽ dừng lại.

Đại hoàng tử vội đứng dậy, chắp tay hành lễ.

"Đệ tử bái kiến đại sư."

Lão tăng khẽ gật đầu, ánh mắt ôn hoà.

"Điện hạ xem chừng đã hồi phục rồi?"

"Đa tạ đại sư.

Đệ tử đã đỡ nhiều."

Đại hoàng tử ngừng một chút rồi nói tiếp, "Chỉ là nằm bệnh mấy ngày, đệ tử bỗng thấy lòng mình sinh ra nhiều điều nghĩ ngợi."

"Ồ?"

Lão tăng mỉm cười.

"Điện hạ nghĩ đến điều chi?"

"Trước đây đệ tử vẫn cho rằng thân thể khỏe mạnh là điều hiển nhiên.

Nay chỉ một cơn bệnh đã khiến đệ tử nằm liệt hơn hai tuần trăng, mới hiểu thân này mong manh đến nhường nào.

Chỉ là thân con đau yếu, lại khiến phụ mẫu phải nhọc lòng, huynh đệ trong nhà cũng vì thế mà liên luỵ.

Nghĩ đến đó, đệ tử càng thấy thân người này dường như mang theo quá nhiều ràng buộc."

"Điện hạ thấy thân này ràng buộc, là vì trong thân này đã mang theo vô số nhân duyên."

Đại hoàng tử ngẩng lên.

"Nhân duyên?"

"Đúng vậy."

Lão tăng gật đầu.

"Con người sinh ra không phải chỉ có một mình.

Từ khi cất tiếng khóc chào đời đã có phụ mẫu dưỡng dục, có huynh đệ nương tựa, có muôn người trong thiên hạ cùng chung một cõi.

Bởi vậy, một niềm vui hay một nỗi đau của ta, đều có thể động đến lòng người khác."

Đại hoàng tử trầm ngâm:

"Nhưng nếu đã có nhiều duyên tình như vậy, chẳng phải càng khó thoát khỏi khổ hạnh sao?"

Lão tăng khẽ lắc đầu.

"Khổ không phải do duyên, mà do tam độc cùng vô minh.

Khi ta có chấp ngã và chấp pháp, mong cầu mọi sự đều theo ý mình thì ắt sinh ra phiền não, khổ đau.

Nhưng nếu hiểu rằng mọi sự đều do duyên mà đến, rồi cũng theo duyên mà đi, vậy thì sẽ không còn khổ nạn nữa."

Đại hoàng tử không đáp lời, ngẫm nghĩ câu nói ấy của lão tăng.

Thấy vậy, ông đưa tay chỉ tán bồ đề phía trên:

"Điện hạ có biết vì sao lá trên cành kia mọc rồi lại rụng không?"

Đại hoàng tử nhìn lên tán cây lay động,

"Vì đó là lẽ tự nhiên."

"Đúng vậy."

Lão tăng gật đầu.

"Thân người cũng như cây cỏ.

Hễ đã sinh thì ắt sẽ có diệt.

Duyên hợp thì sinh, duyên tan thì diệt.

Đó gọi là vô thường."

Đại hoàng tử trầm ngâm, "Nếu mọi thứ đều vô thường, vậy công danh, quyền thế, hay cả tình thân... chẳng phải cũng sẽ tan biến sao?"

Lão tăng nhìn chàng, khẽ lắc đầu.

"Điện hạ nói hiểu, nhưng e rằng mới chỉ hiểu được một nửa."

Đại hoàng tử ngạc nhiên, "Xin đại sư chỉ giáo."

Lão tăng chậm rãi nhặt chiếc lá bồ đề vừa rơi xuống trước mặt, đặt lên lòng bàn tay chàng.

"Điện hạ thấy chiếc lá này rơi xuống vì duyên của nó đã hết.

Nhưng khi còn trên cành, lá vẫn che nắng, vẫn nuôi cây."

Rồi ông khẽ thổi, chiếc lá nhẹ nhàng rơi xuống nền đất.

"Khi rơi xuống, nó hóa thành dinh dưỡng, tiếp tục vòng luân hồi, nuôi dưỡng thân mẹ.

Hiểu vô thường không phải để trốn tránh thế gian, mà để không bị trói buộc bởi thế gian."

Lão tăng nhấn giọng: "Người hiểu vô thường mà chỉ cầu giải thoát cho riêng mình, ấy là tâm Tiểu thừa.

Người hiểu vô thường mà vẫn quay lại giúp đời, ấy là tâm Bồ Tát."

Rồi ông nhìn thẳng vào chàng, "Điện hạ sinh ra nơi vương thất, sau này gánh vác thiên hạ.

Nếu vì thấy đời là vô thường mà buông bỏ trách nhiệm, ấy là trốn tránh."

Gió chiều thổi qua, lá cây lại rơi lác đác.

Đại hoàng tử cúi đầu thật sâu.

Lão tăng mỉm cười, rồi từ từ bước đi, bỏ lại một câu nói bay theo tiếng gió.

"Thế gian vô thường, Quốc độ nguy thúy.

Tứ đại khổ không, Ngũ ấm vô ngã.' [1]"

Đại hoàng tử vẫn ngồi yên, im lặng hồi lâu.

Tiếng chuông vãn từ chính điện ngân lên trầm ấm, vọng lên trong không gian tĩnh lặng.

Gió chiều thổi qua sân chùa, làm lá cây khẽ xào xạc.

Chàng chợt nhận ra bốn câu kệ vừa nghe, hình như đã từng nghe đâu đó, quen thuộc đến lạ lùng.

.

[*] Trích câu đầu " Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên" trong Kệ vân của Trần Nhân Tông.

[1] Bài kệ của Trần Thái Tông trong Khóa Hư Lục.

"Thế gian vô thường,

Quốc độ nguy thúy.

Tứ đại khổ không,

Ngũ ấm vô ngã"

Thế gian không gì là thường còn, Quốc độ mong manh.

Dễ tan rã Bốn đại (đất, nước, lửa, gió) là khổ và trống rỗng, Năm ấm (thân tâm) không có cái tôi cố định.
 
Trăng Nhàn.
3. Các sao hướng bắc, nước về đông. [*]


Đến tháng Chạp, Thiên Cảm đã khỏi hẳn bệnh.

Nhưng nàng vẫn e mầm bệnh chưa dứt nên chưa vội hồi cung.

Thấy Đại hoàng tử ở chùa ngày ngày chăm chỉ học hỏi các vị tăng lữ, nàng cũng muốn chàng ở lại thêm ít lâu để chàng được thỉnh giáo nhiều hơn.

Ngài Hưng Ninh vốn đang ở lộ Hồng.

Từ lúc hay tin Thiên Cảm và Đại hoàng tử mắc bệnh, ngài vốn đã gửi thư để đến thăm mẹ con nàng nhưng bị nàng ngăn lại.

Đến nay nàng và con đã khỏi bệnh ngài lập tức khởi hành đến Cổ Châu xem tình hình mẹ con nàng thế nào.

Hôm Hưng Ninh tới chùa, các tăng ni đã đứng sẵn trước cổng nghênh đón.

Vừa xuống ngựa, Hưng Ninh không nói nhiều lời, lập tức bước thẳng tới trước vị đại sư, chắp tay cúi mình vái lạy rất nghiêm cẩn.

"Đệ tử không biết sư phụ đang trú tại cửa chùa này.

Hôm nay đến vốn để thăm em gái cùng cháu trai, lễ nghĩa sơ sài, mong sư phụ thứ lỗi."

Vị đại sư thấy vậy chỉ mỉm cười, thần sắc ung dung:

"Bần tăng du phương tứ xứ.

Lần này hạnh ngộ gặp được Hoàng hậu cùng Đại hoàng tử ở đây, cũng không ngờ lại cũng có duyên gặp lại Tuệ Trung nơi cửa thiền này."

Nghe đến đó, Thiên Cảm và Đại hoàng tử mới nhận ra, vị đại sư suốt hai tuần trăng qua tận tình giảng giải Phật pháp cho mẹ con nàng, hóa ra chính là bậc cao tăng nổi tiếng vốn mai danh ẩn tích bấy lâu.

Ngài chính là thiền sư Tiêu Dao, người mà nhiều lần Thượng hoàng thỉnh vào thành Long Phượng mà vẫn bị khước từ.

Thiên Cảm vội bước lên một bước, cúi mình vái, "Bấy lâu nay mẹ con ta nương nhờ đại sư mà vẫn không rõ thân phận của người.

Thật là thất lễ."

Đại hoàng tử cũng theo Thiên Cảm cúi đầu thật sâu, trong lòng vừa kính phục vừa xúc động.

Vị đại sư chỉ khẽ xua tay, giọng ôn hòa,

"Thiện tai, thiện tai.

Có duyên gặp gỡ, giúp nhau lúc hoạn nạn, vậy đã là thiện duyên.

Bầm tăng được cùng Đại hoàng tử trò chuyện, luận bàn đôi điều Phật pháp, ấy cũng là duyên phần của bần tăng."

.

Thiền sư Tiêu Dao, Hưng Ninh cùng Đại hoàng tử đàm đạo trong thiền quán cả một buổi.

Trên mái ngói mũi sen phía trước, gió đông thổi qua làm chiếc chuông gió khẽ rung, phát ra âm thanh trong trẻo.

Từ bên trong, tiếng nói của Thiên sư Tiêu Dao đôi khi vang ra, xen lẫn cả giọng của Hưng Ninh và Đại hoàng tử.

Thiên Cảm muốn để ba người có không gian riêng nên đã lánh mặt từ trước để sắp xếp vài việc lặt vặt chuẩn bị hồi cung.

Khi mọi chuyện chuẩn bị hồi cung đã tạm xong xuôi, nàng lại ra vườn tưới nước, nhặt cỏ như thường lệ.

Các vị tăng ni trong chùa có một vườn rau rất rộng, trồng đủ thứ rau cỏ theo mùa.

Từ ngày khỏi bệnh, rảnh rang đôi chút, Thiên Cảm cũng thường ra đó phụ các vị chăm sóc.

Chốn cửa thiền vốn không phân sang hèn.

Nàng dặn các tăng ni không cần đa lễ, chỉ coi nàng như một người mẹ gửi con nương nhờ cửa chùa ít bữa.

Bởi vậy mọi người đối đãi với nàng rất chân thành, nàng muốn làm gì cũng không ai câu nệ.

Vốn từ nhỏ đã quen tay việc vườn tược, trồng cây nhổ cỏ, những việc trong vườn rau nàng đều tranh làm.

Thiên Cảm cầm chiếc gáo tre, thong thả tưới lên từng luống rau.

Nước từ gáo rơi xuống, thấm dần vào lớp đất mềm.

Những cây cải non, rau tần, rau dền sau mấy ngày gió lạnh vừa được tưới nước liền rung rinh trong gió, lá xanh mơn mởn.

Nàng tiện tay hái thêm vài ngọn rau non, định bụng lát nữa đem vào bếp làm bữa cơm chay.

Vì đang bận việc nên nàng xắn tay áo đến tận khuỷu tay.

Nắng đông ấm áp khiến nàng cũng chẳng để ý đến cái lạnh, chỉ khi từng cơn gió lùa qua mới khẽ rùng mình một thoáng.

Bỗng nhiên, một chiếc áo bông được khoác lên vai nàng.

Thiên Cảm giật mình.

Hương trầm quen thuộc thoảng qua khiến lòng nàng chợt động.

Nàng khựng lại cảm nhận độ ấm của chiếc áo bông dày trên vai vẫn còn vương hơi của người chủ nhân.

Thiên Cảm khẽ nắm lấy vạt áo, vội quay đầu lại.

Người đứng sau quả nhiên là chàng.

"Trời lạnh thế này mà vẫn không biết giữ gìn thân thể."

Chàng nói, giọng vừa trách vừa lo.

"Hay là cố ý không muốn về cung gặp trẫm?"

Ánh nắng mùa đông nghiêng xuống vườn rau, phủ lên bạch bào của chàng một màu vàng nhạt.

Thiên Cảm khẽ cúi đầu,

"Thiếp chỉ ra đây làm chút việc vặt.

Vừa nắng ấm, không ngờ trời lại bỗng trở gió lạnh."

Quan gia nhìn nàng từ đầu đến chân một lượt.

Nàng mặc tấm áo thâm giản dị, đầu đội nón quai thao, đôi hài vải đã lấm chút bùn đất.

Tay áo còn xắn cao đến khuỷu, bên cạnh là chiếc rổ đựng đầy rau vừa hái.

Nhìn thoáng qua, chẳng ai nghĩ đó là bậc quyền quý trong cung, càng không ai nhận ra đó lại là Hoàng hậu của Đại Việt.

Chàng khẽ nhíu mày,

"Hoàng hậu của trẫm đến cửa thiền dưỡng bệnh, vậy mà vẫn không bỏ được cái trò nghịch đất sao?"

Thiên Cảm nghe vậy chỉ khẽ cười.

"Các vị tăng ni ngày ngày chăm sóc mẹ con thiếp đã nhọc lòng.

Thiếp chỉ muốn phụ giúp đôi chút."

Quan gia không đáp ngay.

Chàng cúi xuống nhìn đôi bàn tay nàng lấm lem bùn đất, đầu ngón tay hơi đỏ lên vì gió lạnh.

Chàng lấy qua khăn tay, cẩn thận nâng đôi tay nàng lên, lau đi vết bẩn rồi nắm chặt lấy tay nàng để hơi ấm chàng truyền cho nàng.

Quan gia khẽ thở dài, giọng trầm xuống.

"Những ngày nàng và Khâm bị bệnh, trẫm không đêm nào ngủ ngon."

Chàng dừng lại một lát rồi nói tiếp, giọng chậm hơn: "Uyên nhớ nàng, ngày nào con bé cũng chạy sang cung Quan Triều, nhất định không chịu theo nhũ nương.

Hễ không thấy trẫm là lại khóc.

Có hôm trẫm lên triều, cũng phải để nó ngồi ở gian trong chờ, nếu không thì cả buổi chẳng yên với nó.

Trẫm còn gọi Khuê vào cung chơi với Uyên cho đỡ buồn.

Nhưng hai đứa không thấy nàng, cũng chỉ ngồi một chỗ, hết nhìn trời lại nhìn đất, chẳng còn hứng thú gì."

Nói đến đây, ánh mắt chàng dịu lại, "Việp thì còn nhỏ, chưa hiểu chuyện.

Nhưng đến đêm lại quấy khóc mãi.

Không có hơi nàng bên cạnh nên mới vậy."

Chàng ngừng lời, nhìn nàng thêm một lần nữa, trong mắt vừa trách vừa thương,

"Vậy mà nàng lại ở đây vẫn có thể thảnh thơi tưới rau, nhặt cỏ..."

Thiên Cảm hơi cúi đầu, "Thiếp sợ mầm bệnh vẫn còn nên chưa dám hồi cung ngay.

Xa con đã lâu, trong lòng thiếp cũng nôn nao không dứt."

Quan gia nhìn nàng, ánh mắt thoáng dịu lại.

"Trẫm biết."

Gió đông lướt qua vườn rau.

Chiếc chuông gió treo trên mái thiền quán phía xa khẽ ngân lên một tiếng thanh mảnh.

Chàng bỗng nhìn nàng, khóe môi hơi nhếch lên,

"Vậy là nàng chỉ nhớ các con thôi sao?

Còn phu quân của nàng thì quên mất rồi?"

Thiên Cảm bật cười.

Nàng bước lại gần, vòng tay ôm lấy chàng, khẽ tựa mặt vào ngực chàng, hít lấy mùi trầm quen thuộc,

"Lòng thiếp lúc nào cũng hướng về quan gia."

Quan gia thoáng khựng lại, đưa tay kéo lại vạt áo bông trên vai nàng cho kín hơn rồi ôm trọn nàng vào trong vòng tay.

Giọng chàng vẫn còn chút trách móc, nhưng đã dịu đi nhiều:

"Dù thế nào cũng phải biết giữ gìn thân thể trước đã."

Thiên Cảm khẽ tựa vào người chàng, giọng thủ thỉ:

"Vâng."

Một lúc sau, nàng hỏi khẽ:

"Mà bệ hạ đến chùa từ lúc nào?"

Quan gia nhìn về phía thiền quán, nơi Thiên sư Tiêu Dao, Hưng Ninh và Đại hoàng tử vẫn còn đang đàm đạo.

"Đủ lâu để thấy nàng xắn tay áo tưới hết nửa vườn rau."

Thiên Cảm nghe vậy không khỏi bật cười.

Quan gia cũng lắc đầu, rồi đưa tay lấy chiếc gáo tre từ tay nàng để sang một bên.

"Đi thôi."

Chàng nói.

"Trẫm đến đón nàng và Khâm hồi cung."

.

Gió đông cuốn theo từng đợt hương trầm bay vào bên trong gian phòng nhỏ.

Gian phòng khách của chùa Cổ Châu không lớn cũng chẳng nhỏ, nhưng để đem so với Song Hương đường của hoàng hậu hay Tư Thiện đường của Đại hoàng tử thì quả thực có phần đạm bạc.

Tuy vậy nhưng đồ đạc đều được chăm chút gọn gàng, tuy đơn giản nhưng lại chẳng sơ sài.

Quan gia và Thiên Cảm bước vào trong thiền quán.

Hưng Ninh và Đại hoàng tử vừa thấy Quan gia đã lập tức đứng dậy hành lễ, gương mặt cũng không khỏi ngỡ ngàng,

"Tham kiến bệ hạ"

"Tham kiếm phụ hoàng"

Thiền sư Tiêu Dao nghe vậy cũng đứng dậy, chắp tay, "Bần tăng bái kiến bệ hạ"

"Không cần đa lễ."

Quan gia khẽ xua tay, dáng vẻ như đã quá quen với những nghi lễ như vậy.

"Hôm nay trùng hợp gặp được đạo huynh nơi đây, quả thực là duyên hiếm."

Chàng nói tiếp, giọng ôn hòa.

Hưng Ninh chắp tay đáp,

"Thần nghe tin lệnh bà và Đại hoàng tử mắc bệnh, trong lòng lo lắng nên đến hỏi thăm."

Quan gia khẽ gật đầu, rồi quay sang thiền sư Tiêu Dao đang đứng bên cạnh.

"Trẫm đã nhiều lần nghe đạo huynh nhắc đến Tiêu Dao đại sư, nay mới có dịp diện kiến.

Quả là hạnh ngộ."

Thiền sư Tiêu Dao chỉ khẽ mỉm cười.

"Đức lượng của Thượng hoàng và Quan gia sâu dày, nên Đại hoàng tử mới có được giáo dưỡng như vậy."

Ông nói chậm rãi.

"Đại hoàng tử lễ phép, hiếu học, quả thật đáng khen, cũng là nhờ công dưỡng dục của phụ mẫu."

Thiên Cảm nghe vậy khẽ mỉm cười.

Nàng đưa tay ra hiệu cho Đại hoàng tử bước lại gần.

Chàng tiến tới, Thiên Cảm nhẹ nắm lấy tay con, giọng không giấu được niềm tự hào,

"Được thầy khen như vậy, Khâm lại càng phải chăm chỉ hơn nữa."

Quan gia ngồi ở ghế trên, hai vị Hưng Ninh và Tiêu Dao an tọa bên cạnh.

Một chú tiểu bưng lên ấm chè tươi vừa hãm, đặt nhẹ lên án kỷ.

Từng làn khói mỏng bay lên, hương trà thanh dịu lan tỏa trong gian phòng kín gió, khiến không gian càng thêm ấm cúng.

Đại hoàng tử đứng bên cạnh, lặng lẽ lắng nghe Hưng Ninh chậm rãi đọc bài kệ.

Giọng đọc của ngài trầm ấm, từng câu từng chữ thong thả buông xuống, như thấm dần vào khoảng tĩnh lặng của thiền quán.

"Từ "không" mà hiện ra "có", "có" với "không" thông suốt,

Có có, không không rốt cuộc là đồng nhất.

Phiền não và bồ-đề vốn chẳng phải là hai,

Chân như và vọng niệm hết thảy đều là không.

"Thân" như gương ảo, "nghiệp" như bóng,

"Tâm" như gió mát, "tính" như cỏ hồng.

Thôi đừng hỏi sống, chết, ma và Phật nữa,

Các ngôi sao đều hướng về Bắc, nước vẫn chảy về Đông." [1]

Quan gia khẽ nhíu mày, trầm ngâm lặp lại câu kệ,

"'Chân như và vọng niệm, tất cả đều là không'...

Cũng như mặt trời và bóng tối, mặt trời ló dạng, bóng tối tan biến; mặt trời khuất, bóng tối lại hiện.

Nhưng mặt trời không tạo ra bóng tối, bóng tối cũng không làm mất mặt trời.

Ánh sáng và bóng tối luân chuyển, còn bầu trời vẫn nguyên vẹn.

Bài kệ của đạo huynh thật khiến người ta thấm ngộ."

Thiền sư mỉm cười, "Mê và giác vốn không thể tách rời.

Phiền não khởi lên khi nghiệp sinh, che khuất bản tánh thanh tịnh.

Nhận ra phiền não, hiểu được bản chất của nó, ấy là giác ngộ, là Bồ-đề.

Không mê, không giác, cũng chính là tâm chân như.

Đạo hành của Tuệ Trung giờ đây quả thực thâm sâu"

Tuệ Trung mỉm cười, tay chỉ vào bài kệ, nói, "Không sinh cũng không diệt, không mất mà cũng không có."

Quan gia nhíu mày, giọng chậm rãi, "Nếu tất cả đều không, thì ngã và nhân quả còn ý nghĩa chăng?"

Thiền sư đáp, giọng trầm ấm mà chắc khoẻ, "Ngã chỉ là huyễn.

Khi huyễn được nhận ra, nghiệp không còn trói buộc.

Nhân quả như dòng nước chảy, không ai điều khiển, cũng không ai đứng ngoài.

Hiểu được điều này, chính là thấy thấu nhân duyên - sinh tử, mà vẫn an nhiên giữa đời."

Quan gia thở ra một hơi, "Trẫm đã hiểu...

Mê muội hay giác ngộ, sống hay chết, tất cả chỉ như gió thoảng qua mái hiên, lòng vẫn thanh tịnh như trăng không mây.

Bước qua hết thảy thời cuộc, sao Bắc Đẩu vẫn hướng Bắc, nước vẫn chảy về phía Đông..."

Chững lại một lúc, chàng ngước nhìn lên trần quán, rồi bỗng mỉm cười, thốt lên:

"Hay... thật hay..."

.

Nói lời từ biệt với Hưng Ninh và Thiền sư Tiêu Dao, một nhà ba người lên thuyền xuôi theo dòng Nhị Hà, trở về thành Long Phượng.

Những ngày cuối năm, trong cung thường bận rộn chuẩn bị tất niên và lễ tết, hiếm khi có được khoảng lặng bình yên như thế này.

Thiên Cảm ngồi trong khoang thuyền, tay thoăn thoắt gọt từng miếng hồng xiêm, chia cho phu quân và con trai.

Nàng nhìn dòng nước lững lờ trôi ngoài cửa sổ thuyền rồi không kìm được mà cảm thán:

"Khâm lần này bị bệnh, tưởng là chuyện không may.

Không ngờ lại có dịp gặp được đại sư, học hỏi được bao điều..."

Quan gia ngồi bên cạnh, khẽ nghiêng mắt nhìn Đại hoàng tử.

Sau hai tháng ở chùa, phong thái của chàng quả thực đã khác trước.

Thần sắc ung dung, dáng người cũng nhẹ nhõm.

Quan gia gật đầu, giọng trầm tĩnh:

"Triều ta vốn coi trọng tam giáo.

Phật pháp dạy người thanh tịnh tâm, biết quay về bản thiện, bớt tham sân si.

Nho học lại dạy đạo làm người, từ hiếu kính trong gia thất đến trung nghĩa với quốc gia, để trị thân rồi mới trị quốc.

Còn Đạo giáo thì hiểu lẽ vận hành của trời đất, âm dương thuận nghịch, giúp con người biết thuận theo tự nhiên mà giữ thân dưỡng tính."

Chàng dừng lại một chút, như cân nhắc lời nói, rồi tiếp:

"Ba đạo tuy khác đường, nhưng kỳ thực đều hướng con người đến chỗ hòa hợp với đạo lý.

Phật khiến tâm người tĩnh, Nho khiến lòng người ngay, Đạo khiến thân người thuận.

Có tĩnh thì không loạn, có ngay thì không tà, có thuận thì không nghịch.

Nếu chỉ hiểu một mà bỏ hai, e rằng khó thấy trọn lẽ.

Con là hoàng tử, sau này phải gánh vác xã tắc.

Cho nên tam giáo đều phải học, đều phải suy ngẫm"

Nói đến đây, Quan gia trầm ngâm một chút rồi tiếp:

"Ít lâu nữa, trẫm sẽ chọn thêm vài người thầy vào cung để dạy học cho Khâm"

Đại hoàng tử khẽ cúi đầu, giọng cung kính:

"Nhi thần tuân lệnh."

Ngoài thuyền, nước sông Nhị Hà vẫn lặng lẽ chảy.

Xa xa, bóng thành Long Phượng dần hiện ra trong làn sương mỏng của buổi chiều cuối năm.

[*], [1] Vạn sự quy như của Tuệ Trung Thượng sĩ.
 
Trăng Nhàn.
4. Chẳng hay xuân đã về [*]


Thiên Cảm vừa trở lại thành, Nhị hoàng nữ đã bỏ cả buổi học, chạy ra tận cổng thành đợi từ lúc nào.

Vừa thấy bóng mẫu thân, con bé đứng sẵn đó, mắt đỏ hoe, nước mắt lưng tròng, nước mũi gần như sắp rơi xuống.

Nhìn bộ dạng ấy, Thiên Cảm vừa xót xa lại vừa không nhịn được buồn cười.

Nhị hoàng nữ vừa thấy nàng đã chạy ù tới, ôm chặt lấy chân, khóc òa:

"Con nhớ mẹ lắm!

Mẹ không thương Uyên nữa rồi... mẹ chỉ thương anh Khâm thôi..."

Nghe con nói, lòng Thiên Cảm khẽ thắt lại.

Nàng vội cúi xuống, lấy khăn tay lau nước mắt cho con, giọng dịu dàng:

"Mẹ mang nhiều quà về cho Uyên đây, con xem này..."

Nói rồi nàng mở chiếc rổ tre mang theo.

Bên trong là đủ loại bánh trái, đồ chơi, chong chóng, lồng đèn, lại còn có cả tò he nặn bao nhiêu là hình thù sinh động.

Nhị hoàng nữ vừa thấy đã quên bẵng cả khóc, reo lên một tiếng "Oà!", rồi vội vàng cầm lấy tò he hình con trâu, đưa lên ngắm nghía không rời mắt.

Quan gia bước đến, cúi người bế bổng con gái lên, để con bé ngồi trên vai mình.

Nhị hoàng nữ cười khúc khích, tay vẫn giữ chặt món đồ chơi mới.

Chàng nhìn sang Thiên Cảm và Đại hoàng tử, hô to,

"Về thôi."

Thiên Cảm nắm lấy tay Đại hoàng tử.

Một nhà bốn người chậm rãi bước vào trong thành, dáng chiều buông xuống phủ dài bóng lưng.

...

Nhị hoàng nữ ngồi dưới chiếu, ngay cạnh mẫu thân, chăm chú khám phá từng món đồ chơi mới được Thiên Cảm mang về.

Cô bé nâng chong chóng lên ngắm nghía, rồi lại nắm lấy con tò he, ánh mắt sáng lên không rời lấy một khắc.

Từ hôm qua đến hôm nay, nàng vẫn mê mẩn với những món quà dân gian này, rõ ràng là vô cùng yêu thích chúng.

Trước bàn trang điểm, Thiên Cảm lặng yên để mặc thị nữ dặm phấn, điểm son, rồi chải lại mái tóc.

Đã lâu không trang điểm, nay nhìn bóng mình trong gương, gương mặt được tô son điểm phấn bỗng thấy vừa lạ vừa quen.

Nàng chỉ nhìn thoáng qua, rồi lại quay sang chơi đùa, trò chuyện với con gái, dường như chẳng mấy bận tâm.

Vừa hồi cung mới được một ngày, các phi tần đã xin đến thỉnh an.

Dẫu trong lòng không muốn, nàng vẫn sửa soạn tươm tất, lo cho xong lễ nghi.

Chợt nhớ ra điều gì, Thiên Cảm khẽ đưa tay chạm lên mái tóc, hẫng giọng,

"Búi kiểu vỏ ốc là được rồi...Với lại...sợi dây cột tóc đỏ thêu chỉ vàng của ta đâu rồi?"

Thị nữ nghe vậy vội tâu, "Bẩm hậu, đợt vừa rồi hậu xuất cung, Quan gia có qua Song Hương đường vài bận, mỗi bận đều lấy đi vài món đồ bà hay dùng.

Sợi dây cột tóc ấy cũng bị bệ hạ cầm đi rồi."

Nàng nghe vậy ngạc nhiên, "Bệ hạ lấy đi rồi?

Người còn lấy thêm đồ gì không?"

"Bẩm, còn một lọ phấn thơm, một hộp trầm hương, hai bộ y phục, và sợi dây cột tóc ấy ạ"

Nàng thoáng giật mình.

Quan gia lại qua lấy nhiều đồ vậy.

"Thôi được rồi.

Ngươi cứ đính ngọc trai là được"

"Dạ vâng"

.

Khách sáo với mấy vị tần phi một hồi lâu, Thiên Cảm lấy cớ đi đường xa vừa về, thân thể còn mệt nhọc nên cho các vị lui xuống.

Lúc này, tiếng trống canh đã điểm sang giờ Thân.

Nàng sai Ngự Thiện chuẩn bị đồ ăn nhẹ, đợi khi mọi thứ xong xuôi liền tự mình mang sang cung Quan Triều, tiện thể hỏi chuyện mấy món đồ bị ai đó lấy mất.

Băng qua hành lang điện vũ, nàng đến trước thư phòng của Quan gia.

Nội quan cúi đầu bẩm rằng chàng từ trưa đến giờ vẫn ở trong thư phòng xem tấu chương, chưa từng rời đi nửa bước.

Thiên Cảm đứng bên ngoài, thận trọng cất tiếng,

"Quan gia, thần thiếp mang đồ ăn nhẹ đến cho người."

Bên trong lập tức vang ra giọng nói trầm ổn, "Hậu vào đi."

Nàng đẩy cửa bước vào, trên tay là bát chè ngô còn bốc hơi nghi ngút cùng đĩa bỏng gạo thơm lừng.

Thư phòng của Quan gia vẫn như trước, ngăn nắp mà trang nghiêm.

Bốn bức tường kín đặc sách vở, trên án ngự tấu chương chất cao như núi, lớp này chồng lên lớp khác.

Những năm trước, quốc sự phần nhiều do Thượng hoàng định đoạt.

Nhưng mấy năm gần đây, người đã lui về phủ Thiên Trường chuyên tâm tu thiền, dần dần giao lại chính vụ cho Quan gia.

Đến năm vừa rồi, việc xét lại tông thất, ban phong tước vị, cũng chính là để Thượng hoàng hoàn toàn rút khỏi triều chính, trao trọn quyền quyết định vào tay Quan gia.

Giờ đây, mọi chuyện trong triều đều do mình Quan gia gánh vác, khiến chàng ngày đêm bận rộn không ngơi.

Trong năm hậu cung lại phát sinh biến cố, Đại hoàng tử lâm bệnh, nội cung rối ren.

Trong ngoài đều có việc, chồng lên nhau như sóng dồn, có lẽ đã khiến Quan gia khó lòng thảnh thơi.

Nàng khẽ bước tới trước án, động tác nhẹ đến mức gần như không phát ra tiếng.

Bát chè ngô được đặt xuống một góc, làn hơi ấm lặng lẽ lan ra, quyện cùng mùi mực mới và hương trầm thoang thoảng trong thư phòng.

Quan gia dường như vẫn còn chăm chú vào tấu chương trước mắt.

Mãi một lúc sau, chàng mới đặt bút xuống, khẽ day trán, rồi ngẩng đầu lên.

Thiên Cảm thấy chàng đã ngơi tay, liền nhẹ giọng, "Quan gia nghỉ một lát.

Ngồi lâu không tốt cho long thể."

Nói rồi, nàng bước ra sau lưng chàng, đưa tay xoa bóp cổ vai.

Động tác thuần thục, lực tay vừa phải, khiến người đối diện dần thả lỏng.

Quan gia khẽ nghiêng đầu, áp má vào lòng bàn tay nàng.

Gương mặt chàng còn vương hơi nóng, chạm vào làn da mát dịu của nàng liền như được xoa dịu đi phần nào.

Được một lúc, Thiên Cảm định thu tay, nhưng chàng khẽ lên tiếng:

"Nàng bóp đầu cho trẫm đi...

Trẫm đau đầu quá."

Nàng nghe vậy liền đổi tay, nhẹ nhàng xoa hai bên thái dương cho chàng.

Đầu ngón tay chậm rãi di chuyển, từng chút một làm dịu đi cơn nhức mỏi.

Quan gia khẽ nhắm mắt, thần sắc dần giãn ra, dường như càng lúc càng hưởng thụ.

Một lát sau, chàng bỗng thở nhẹ:

"Không được... trẫm phải nằm một lúc"

Nói rồi, chàng đưa tay nắm lấy tay nàng, kéo về phía trường kỉ.

Chàng ấn nàng ngồi xuống, thuận thế ngả lưng, gối đầu lên đùi nàng như thể đó là điều hết sức tự nhiên.

Thiên Cảm thoáng khựng lại, nhưng rồi cũng không nói gì, chỉ khẽ thở ra một hơi, thuận theo ý chàng.

Nàng lấy chút dầu gió, xoa nhẹ lên thái dương chàng rồi tiếp tục xoa bóp.

Một lúc lâu sau, Thiên Cảm mới khẽ lên tiếng,

"Quan gia đã đỡ đau đầu chưa?

Tay thiếp mỏi rồi, hay để thiếp gọi thị nữ vào hầu bóp đầu cho người."

Nghe đến đó, Quan gia lập tức mở mắt, bật dậy như chưa từng có chuyện gì:

"Trẫm hết đau đầu rồi."

Thiên Cảm xoa lòng bàn tay mỏi nhừ vì dùng lực quá lâu.

Quan gia thấy vậy liền nắm lấy tay nàng, nhẹ nhàng xoa nắn từng ngón, giọng trầm xuống:

"

Sau này nàng sang đây nhiều hơn một chút.

Chỉ cần thấy nàng, trẫm cũng không còn thấy mệt nữa."

Thiên Cảm khẽ cúi đầu, "Thần thiếp xin vâng."

Nàng ngập ngừng định hỏi về mấy món đồ bị chàng lấy đi mất.

Nhưng ngay lúc ấy, ánh mắt nàng chợt dừng lại nơi án ngự.

Sợi dây buộc tóc đỏ của nàng đang được treo ngay cạnh chân đèn.

Bên cạnh nghiên mực, hộp phấn thơm cũng nằm gọn gàng, dường như đã được ai đó đặt ở đó từ lâu.

Thiên Cảm thoáng khựng lại, rồi khẽ nhướng mày,

"Quan gia nếu ưa những đồ vật này, chỉ cần nói với thiếp một tiếng.

Thiếp sẽ cho người tuyển chọn loại thượng hạng dâng lên người."

Quan gia theo ánh mắt nàng nhìn qua, rồi lại chậm rãi thu về trên gương mặt nàng.

Khóe môi chàng khẽ nhếch,

"Trẫm chỉ thích những thứ của nàng."

Giọng chàng trầm thấp, như có như không.

"Không cần sai người khác."

Nói rồi, chàng chuyển sang chuyện khác, thần sắc cũng theo đó mà nghiêm lại,

"Trẫm đăng cơ đến nay vừa tròn mười năm.

Phụ hoàng thì một lòng hướng thiền, năm vừa qua việc triều chính đã giao lại cho trẫm định đoạt.

Nhân dịp tết đến sắp tới, trẫm định mở một buổi đại yến, triệu tập toàn bộ tông thất, có vài điều muốn nhân dịp này mà dặn dò."

Ánh nhìn của chàng lại đặt lên người nàng, giọng nói chậm rãi mà mang theo vài phần tín nhiệm,

"Có nàng ở đây trẫm cũng muốn dặn luôn, nàng làm việc chu toàn, việc lần này trẫm nhất định giao cho nàng chuẩn bị"

Thiên Cảm nhìn sâu vào gương mặt bỗng nghiêm lại của chàng, đáp,

"Thần thiếp tuân mệnh"

Ngoài hiên, gió đông khe khẽ lùa qua, mang theo cái lạnh cắt da, lẫn thêm cả chút hơi ẩm của mưa phùn sắp tới.

Ánh đèn trong thư phòng nhè nhẹ lay động, hắt bóng hai người lên vách, một cao một thấp, nhưng lại kề cận chẳng rời.

Quan gia chậm rãi đặt chén chè xuống, giọng trầm thấp,

"Nàng đã vất vả rồi."

Thiên Cảm khẽ lắc đầu, ánh mắt dịu lại,

"Quan gia mới là người vất vả.

Thần thiếp chỉ mong có thể cùng người san sẻ."

Quan gia không nói gì thêm, chỉ lặng lẽ nhìn nàng, ánh mắt đong đầy ý vị khó gọi thành lời.

Ngoài khung cửa sổ, vầng trăng cuối năm chậm rãi treo lên mái ngói, ánh sáng thanh lạnh phủ xuống cung vàng điện ngọc.

Trong khoảnh khắc yên tĩnh ấy, mọi ồn ào của triều đình như tan biến cả, chỉ còn lại hai con người bên nhau, cùng chia sẻ khoảng lặng giữa chốn vàng son bộn bề.

.

[*] Lấy ý từ trong bài "Xuân hiểu" của Trần Nhân Tông,

Nguyên văn

睡起啟窗扉

不知春已歸

一雙白蝴蝶

拍拍趁花飛

Phiên âm Hán Việt

Thụy khởi khải song phi

Bất tri xuân dĩ quy

Nhất song bạch hồ điệp

Phách phách sấn hoa phi.

Bản dịch của Ngô Tất Tố

Ngủ dậy ngỏ song mây,

Xuân về vẫn chửa hay.

Song song đôi bướm trắng,

Phất phất sấn hoa bay.
 
Back
Top Dưới