Cập nhật mới

Khác [THUẦN VIỆT, TÌNH TRAI] NGHIÊNG VÀNH NÓN LÁ DỆT MẢNH TÌNH SEN.

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
387296154-256-k447175.jpg

[Thuần Việt, Tình Trai] Nghiêng Vành Nón Lá Dệt Mảnh Tình Sen.
Tác giả: lylacdi
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Đây là truyện dài thuần Việt đầu tiên mà tớ viết, sẽ có hơi nhiều sai sót mong các bạn thông cảm.

Truyện SE, lưu ý trước khi đọc.

Tốc độ ra chuyện rất là lâu nhưng Lạc sẽ cố gắng, mọi người ủng hộ Lạc để Lạc có động lực nhe.

Chúc các bạn đọc truyện vv, luv u 3



truyendai​
 
[Thuần Việt, Tình Trai] Nghiêng Vành Nón Lá Dệt Mảnh Tình Sen.
Chương 1


P/S: Bối cảnh hiện tại vào năm 1958

______________________

"Thưa cậu, cậu mới về làng phải không?"

- Một người đàn bà chừng ngoài bốn mươi, vai gánh hai bó lúa to vàng óng, dừng lại hỏi.

Giữa trưa nắng chang chang, trời như đổ lửa, chị vẫn gánh lúa đi qua đường làng, đầu chỉ đội cái nón lá bạc màu.

Mồ hôi ướt đẫm lưng áo, thấm cả vạt trước.

Vậy mà vừa thấy người lạ, chị vẫn dừng lại hỏi han.

"Dạ vâng, tôi là thầy giáo mới về làng.

Chị có thể chỉ giúp tôi đường về nhà tôi không ạ?"

"Ủa, thầy giáo mới về đó hả!

Trời ơi, nắng nôi vầy đứng đây không được đâu, theo tui về nghỉ một chút đã!"

- Gương mặt sạm nắng bỗng rạng lên.

Chị vừa gánh vừa hối thầy đi theo, chân bước thoăn thoắt như không hề biết mệt.

Trời trưa, nắng hắt xuống như thiêu.

Con đường làng chạy dài giữa những thửa ruộng vàng ươm, lúa trổ bông nặng trĩu.

Gió lay những tán cây cao lớn, bầy chim giật mình bay loạn xạ.

Nắng hắt vào mặt rát rạt, thầy An phải nheo mắt lại, nhìn không rõ đằng trước.

Cả ngày ngồi xe kéo, người mỏi rã rời, tay chân ê ẩm, cổ họng khô khốc.

Nhưng nhìn sang chị gánh lúa đi bên, thầy thấy mình còn may mắn lắm.

Chị đội nắng vác gánh lúa to hơn cả người, đường thì xa mà chân bước vẫn đều.

So ra, cái mệt của thầy chẳng đáng là bao.

Đi một quãng nữa, một ngôi nhà nhỏ hiện ra ở cuối đường làng.

Chị reo lên:

"Kìa, nhà thầy đó!"

Chị đặt gánh lúa xuống sân, mời thầy vô nghỉ.

Nhà nhỏ thôi, nhưng đủ ấm cúng cho một người ở.

Thầy đặt túi đồ lên cái ghế đẩu rồi ngồi xuống.

Chị cũng ngồi bên, rót nước, vừa đưa ly mời vừa hỏi:

"Thầy mới về chắc còn lạ nước lạ cái, có gì thầy cứ hỏi nghe.

Mà, thầy tên chi?"

"Tôi tên Thế An.

Chị cứ gọi tôi là thầy An cho quen.

Còn chị?"

"Tôi hả… tôi tên Hợi."

- Chị gãi đầu, cười ngượng.

"Tên đẹp mà chị, có gì đâu phải ngại.

Nhà chị ở đâu?

Trưa rồi, không về nghỉ sao?"

Nghe thầy nhắc, chị Hợi giật mình, bật dậy:

"Chết, còn đám nhỏ ở nhà!

Nhà tôi cách đây hai căn à.

Có chi thầy ghé chơi nghe.

Thôi, tôi xin phép về."

"Dạ, chị về."

Chẳng đợi thầy tiễn, chị Hợi quay lại gánh lúa rồi khuất dần trong cái nắng oi ả của buổi trưa.

Thầy An đứng nhìn theo, bóng chị xa dần, rồi quay vào nhà.

Giờ đây, chỉ còn mình thầy trong sân đất lạ, lặng yên.

______________________

Thế An là con trai một nhà buôn tơ lụa lớn ở Mã Châu, xứ Huế.

Gia đình giàu có, ăn trên ngồi trước, kẻ hầu người hạ ra vô như hội.

Đáng lẽ ra, cậu có thể sống an nhàn, hưởng thụ như bao công tử khác, nhưng bản tính hiền lành, không đua đòi nên chẳng mấy khi cậu ham vui.

Thấy bạn bè ăn chơi, xài sang, sống phóng túng, cậu chẳng thấy phục.

Nhiều lần thử hòa nhập, nhưng càng gần gũi càng thấy chán ngán.

Cái đám suốt ngày rượu chè, son phấn, lời nói thì sáo rỗng, đỏng đảnh như con nít - thật không hợp với người ưa đọc sách như cậu.

Ngay từ nhỏ, Thế An đã mê sách vở.

Cha cũng không ép buộc, chỉ mong con sống đúng với lòng mình.

Khi cậu nói muốn về quê làm thầy giáo, dạy chữ cho đám trẻ nghèo, cha cậu không ngăn, còn hết lòng ủng hộ.

_________________________

Thế An về làng đã hơn hai tháng.

Lớp học của thầy ngày càng đông.

Không chỉ con cái nhà nghèo, mà cả mấy nhà có chức quyền cũng đem con đến gửi.

Thầy An tính tình điềm đạm, giảng dạy rõ ràng, không roi vọt mà học trò đứa nào cũng nể phục, nghe lời.

Có mấy cậu ấm trước nổi tiếng quậy phá, vậy mà vào lớp thầy lại ngoan ngoãn hẳn ra.

Nhiều học trò nghèo không có tiền đóng học, thầy không bắt, còn dúi cho vài đồng mua bút mực, có khi mua cả bánh kẹo cho mấy đứa nhỏ ăn chơi.

Lúc đầu thầy không chịu nhận cá, thịt bà con mang tới, nhưng người ta cứ để trước cửa, không nhận cũng không được.

Lâu dần, người trong làng thương thầy, quý thầy, tiếng lành đồn xa, cả làng bên cũng đem con đến học.

Thầy bận suốt từ sáng đến khuya.

Sáng dạy học, trưa ăn vội chén cơm rồi ra đồng phụ dân làng, tối lại chấm bài đến tận canh ba, có khi tới canh tư.

Vất vả là vậy, nhưng thầy thấy lòng mình thanh thản.

Ở nơi này, dù không có đèn hoa rực rỡ, không tiệc tùng linh đình, nhưng với thầy, là đủ, là yên.
 
[Thuần Việt, Tình Trai] Nghiêng Vành Nón Lá Dệt Mảnh Tình Sen.
Chương 2


Thế An dừng lại trước một tiệm nón lá Tây Hồ tấp nập người vào ra.

Ai ai cũng cầm một chiếc nón lá với những dải lụa tơ đầy màu sắc ra vào trong tiệm, đông đúc như chùa Thiên Mụ ngày hội.

Cậu nghe nói tiệm nón này nổi danh khắp cố đô Huế, không vị tiểu thư nào là không biết tiệm nón này.

Nón lá nhiều chỗ bán, giá như nào cũng có.

Nhưng nón lá mềm mại, thanh thoát không phải chỗ nào cũng làm ra được.

Nón lá tuy đơn giản nhưng muốn làm được chiếc nón đẹp đòi hỏi người thợ phải thật tỉ mỉ và công phu.

Một chiếc nón lá đạt tiêu chuẩn phải nhẹ, mặt lá phải bóng, hiện rõ gân lá còn màu xanh nhạt.

Cái hay của người làm nón chính là chồng nhiều lớp lên nón nhưng lớp lá không được xộc xệch, phải giữ được độ mỏng và nhẹ nhàng của chiếc nón Tây Hồ.

Thế An cầm một chiếc nón lá được bày trên bàn lên xem.

Chiếc nón nhẹ tênh, trên mặt thêu hình hoa mai rất tỉ mỉ.

Trong số những chiếc nón được bày ra, chỉ có chiếc này có hình thêu vàng bắt mắt nhưng lại bị để khuất vào trong.

Cậu mân mê dải lụa vàng làm quai nón một lúc lâu, lụa mềm, lướt trên tay rất thoải mái.

"Vị công tử này mới đến đây chọn nón lá lần đầu à?"

Đằng sau cậu, một vị công tử bận một bộ veston được may đứng dáng, thân rộng không ôm và có một hàng khuy, cách mặc rất lịch sự và chỉnh tề lên tiếng.

Trông vị công tử này cứ như một người mới đi nước ngoài về.

"Vâng, lần đầu tôi đến chọn nón."

Vị công tử đó cầm lấy chiếc nón lá trên tay Thế An, mân mê hình hoa mai vàng trên mặt nón:

"Chiếc nón này rất đẹp, cả hình thuê và nhôi nón đều được thêu rất tỉ mỉ và công phu.

Nhưng cậu quên mất rằng, hoa mai, đào thêu trên nón lá chỉ phổ biến vào mùa xuân, đầu năm.

Bây giờ đã là tháng tư, giữa trời oi bức thế này, cậu chọn hình hoa mai này có phải trễ không?

Thế An sững người, cậu quên mất chọn nón lá cũng phải theo mùa, tiết trời hay theo xu thế của giới tiểu thư bây giờ.

Người chọn nón hay phụ kiện không kịp "mạch" của những vị tiểu thư quyền quý sẽ bị coi là quê mùa.

Chẳng trách chiếc nón thêu mai vàng này đẹp nhưng lại bị để khuất vào góc.

Cậu thoáng hơi căng thẳng, cầm chiếc nón lá bên cạnh lên xem.

Vị công tử nhẹ nhàng đặt chiếc nón lá thêu bông mai xuống, quay sang ngỏ lời:

"Tôi thấy cậu lần đầu chọn nón lá để tặng, hay tôi giúp cậu chọn nhé?"

"Vâng, nhờ anh chọn giúp" .

- Thế An gật đầu tỏ ý cảm ơn.

Thành thật mà nói, cậu chỉ chuyên tâm chuyện đèn sách chỉ chẳng hiểu mô tê gì về gấm vóc lụa là của đám tiểu thư nhà giàu.

"Nón này cậu đem tặng cho ai?

Tiểu thư hay lệnh bà?"

- Vị công tử ấy nheo nheo đuôi mắt, khóe miệng nhếch lên tỏ ý châm chọc.

"Cho kế mẫu của tôi.

Tôi không rõ bà ấy thích gì, thôi anh cứ chọn đại cái nón nào hợp thời là được."

- Thế An không hề biết vị công tử kia đang châm chọc mình.

Cậu chỉ chăm chăm lựa nón, cầm một chiếc lên, ngắm vài vòng rồi lại bỏ xuống.

"Nếu là kế mẫu, vậy là lệnh bà.

Cậu theo tôi, tôi biết một mẫu nón thêu hoa sẽ rất hợp để cậu mang tặng."

Vị công tử đó đi qua các hàng nón lá đựơc bày trong tiệm.

Bao nhiêu mẫu nón thêu tên, thêu cảnh rất đẹp nhưng chẳng có cái nào lọt vào "mắt xanh" của anh.

Anh dừng lại trước quầy nón thêu hoa sen, chọn một chiếc nón có mẫu sen hồng phấn lá xanh lên đưa Thế An:

"Cậu thấy thế nào, mẫu sen này đẹp chứ?"

Chiếc nón trong tay Thế An là chiếc nón thêu cảnh sen trong đầm.

Đóa sen có màu hồng phớt, từng lớp cánh hoa được thêu khum khum như bàn tay trẻ nhỏ, nâng đỡ chiếc nhụy vàng nhỏ xíu ở giữa.

Lá sen chồi trên mặt nước, xanh thẫm, được thêu khéo đến mức tựa hồ thấy được giọt nước đọng lại trên mặt lá.

Màu hồng của sen không rực rỡ nhưng cũng chẳng nhợt nhạt, nó mang lại cho người thưởng một cảm giác thuần khiết, thanh tao mà chẳng loài hoa nào mang lại được.

"Chiếc nón này đựơc thêu tỉ mỉ thật, chiếc nón mai vàng kia chưa chắc gì đã được chăm chút như chiếc nón lá sen này."

- Mân mê chiếc nón lá trong tay, Thế An buộc miệng cảm thán.

Cậu lướt tay xuống chiếc quai nón hồng, so với quai nón của chiếc nón mai vàng, quai lụa này mềm hơn rất nhiều.

"Quai nón này làm từ lụa tơ tằm cao cấp à?

Chỉ là quai nón thôi, có cần chọn loại vải tốt thế không?"

Loại vải lụa dùng để làm quai nón là loại vải được dệt từ sợi tơ tự nhiên, rất mỏng và mịn.

Đây chẳng phải loại vải được dùng trong cung nhưng cũng chẳng phải loại mà giới tiểu thư công tử có thể sử dụng làm quần áo hàng ngày.

Loại vải tốt này chỉ dùng làm quần áo tiệc, những bộ quần áo cầu kì trong những dịp hội.

Vị công tử kia cười phá lên, giải thích cho Thế An về loại vải dùng làm quai nón:

"Cậu đây lần đầu đi chọn nón nên không biết thôi.

Nón lá cũng như quần áo, chia thành loại bình dân và cao cấp.

Lọai bình dân không phải không đẹp, chỉ là chất liệu làm quai, hình thêu không được tỉ mỉ như loại cao cấp, không toát lên được vẻ thùy mị của người mang.

Cậu xem, một vị tiểu thư khoác lên người một bộ áo dài làm từ lụa tơ tằm thượng hạng mà lại mang một chiếc nón lá bình dân, có phải sẽ làm mất đi đôi phần vẻ duyên dáng, sang trọng của chiếc áo dài không?"

Thế An nghệch mặt ra một lát.

Cậu không ngờ chọn nón lá cũng cầu kì đến thế.

Chẳng trách mỗi lần mẫu kế của cậu may một bộ áo dài mới lại nhất quyết đi chọn thêm chiếc nón lá khác để bận.

Săm soi chiếc nón lá thêu hoa sen trong tay, Thế An càng khâm phục tay nghề làm nón tỉ mỉ của nghệ nhân làm nón lá Tây Hồ.

Thế An mân mê chiếc nón lá thêu cảnh sen trong tay, cậu quên bẵng mất vị công tử đang đứng cạnh cậu.

Thấy cậu say đắm với chiếc nón lá sen, anh khẽ lên tiếng:

"Sao, cậu có lấy chiếc nón này không?"

Thế An giật bắn người, quay sang ngượng nghịu đáp lời:

"À...

à, ừ, tôi lấy chiếc nón lá này.

Còn anh, anh không xem nón à?"

"Không, tôi không mua nón.

- Vị công tử nheo mắt, tỏ vẻ thần bí pha chút trêu chọc nhìn cậu.

"Anh không mua nón thì vào đây làm gì?"

- Thế An chớp mắt khó hiểu.

Lạ lùng, bây giờ có người rảnh rỗi đến độ đến tiệm nón lá để giúp người khác chọn nón à?

Vị công tử kia cầm chiếc nón lá thêu hoa bên cạnh lên xem, xoa xoa chóp nón rồi mới trả lời:

"Đây là tiệm nón nhà tôi, tôi vào khi nào chẳng đựơc?"

Thế An ngây người.

Cậu nghe nói ông chủ tiệm nón lá Tây Hồ này làm gì có con trai.

Vị công tử kia thấy cậu nhìn mình với vẻ khó hiểu, hiểu lí do vì sao, anh bất chợt cười lớn:

"Ha ha, cậu cần gì nhìn tôi kỳ lạ thế?

Đựơc, khi nào có dịp tôi kể cậu nghe chuyện của tôi.

Cái nón lá sen này coi như tôi tặng cậu, quà làm quen.

Nhà cậu ở đâu thế?"

"Nhà tôi cách tiệm nón này hai cái ngã ba, cứ đi thẳng sẽ đến."

Vị công tử kia gật đầu, xoay người chuẩn bị rời tiệm:

"Đựơc, có dịp tôi sẽ ghé.

Bây giờ tôi có việc, gặp cậu hôm khác."

Thế An nghe anh có việc phải rời tiệm, liền gọi gọi giật lại:

"Khoan đã, còn cái nón lá này..."

"Tặng cậu, coi như quà gặp mặt."

- Vị công tử kia ghé đầu ra khỏi cửa kính xe ô tô, mỉm cười đáp lại.

Chiếc xe chuyển bánh, anh vẫy tay chào Thế An đang còn ngơ ngác trong tiệm nón.

Thế An cầm chặt chiếc nón lá thêu cảnh sen trong tay, nhìn theo chiếc xe khuất sau ngã rẽ.
 
[Thuần Việt, Tình Trai] Nghiêng Vành Nón Lá Dệt Mảnh Tình Sen.
Chương 3


“Cậu An về, cậu An về kìa.

Ra đón cậu chủ nhanh lên!”

Tiếng người hầu hối hả vang lên từ cổng lớn, kéo theo một loạt tiếng bước chân rộn ràng.

Thế An vừa bước xuống xe, chưa kịp nói câu nào, cả đám người làm trong nhà đã ùa ra như nước vỡ bờ.

Người thì xách túi, người đỡ cậu xuống xe, kẻ đứng hai bên cúi chào lễ phép.

Cảnh tượng náo loạn cả đầu đường, khiến người đi ngang phải ngoái nhìn.

Thế An vốn là người hiền lành, không vênh váo kiêu căng như nhiều công tử con nhà giàu khác.

Cậu chỉ chăm chú học hành, sống kín đáo, lễ độ nên đám gia nhân trong nhà ai nấy đều quý mến.

Mỗi dịp Tết nhất, cậu đều cho người hầu thêm chút tiền mang về quê sắm sửa.

Có khi còn dúi thêm vải vóc, áo mới, đồ ăn - những món quà nhỏ nhưng chan chứa tình nghĩa.

Người làm cảm kích, trong lòng sinh ra thương kính.

Hễ nghe ai nói đến cậu An, là miệng cười tươi, mắt sáng rỡ.

Suốt ngày "vâng dạ" cậu như thể kính trọng một vị chủ tử thấu tình đạt lý.

Thế An vừa đặt chân vào nhà, chưa kịp ngồi nghỉ, thì hình ảnh đầu tiên đập vào mắt là mẹ kế - bà Hương - đang ngồi chễm chệ trên ghế tràng kỷ bằng gỗ hương quý, bóng loáng như vừa được lau dầu bóng.

Trên tay bà là tờ báo sáng, tay còn lại thì cầm hạt dưa cắn "tách tách", miệng nhai thong thả.

Đằng sau, một con hầu đứng quạt phe phẩy, thỉnh thoảng lại bị bà quát:

"Quạt mạnh tay lên coi, đứng đó làm gì!"

Thế An bước tới gần, nhẹ nhàng cất giọng, lễ phép như bao lần:

"Thưa mẹ, con mới về đến."

Nghe tiếng người, bà Hương dừng nhai, bỏ tờ báo xuống bàn.

Miệng ngừng cắn hạt dưa, mắt lướt nhìn cậu, giọng chua chát cất lên:

"Còn biết mò mặt về à?"

" Vâng."

- Biết bà đang giận, Thế An không dám cãi, chỉ cúi mặt đáp nhỏ, dáng vẻ ngoan ngoãn như mọi khi.

Bà hừ nhẹ một tiếng, rồi lại nhíu mày nhìn cậu, nói như ra lệnh:

"Có mang khoai lang về không?

Đem vô bếp cho đám người làm luộc lên, chấm muối cho mẹ ăn coi."

Thấy cậu đứng im không nói gì, bà thở dài thất vọng.

Nhưng Thế An chỉ cười nhẹ, rồi lấy mấy củ khoai trong túi ra, bảo người hầu đem đi nướng cho bà ăn - vì cậu biết bà vẫn thích ăn khoai nướng hơn là khoai luộc, vị thơm hơn, dẻo hơn, gợi chút hoài niệm quê cũ.

________________________

Bà Hương là mẹ kế của Thế An.

Mẹ ruột cậu - một người phụ nữ hiền hậu, đoan trang - đã mất từ khi sinh ra cậu.

Người trong nhà kể lại: Bà bị băng huyết sau sinh.

Bà mụ đỡ không cứu được.

Cả nhà còn chưa kịp chọn tên cho đứa trẻ thì bà đã ra đi.

Lúc nhắm mắt xuôi tay, bà chỉ kịp nhìn con trai một lần, nước mắt còn đọng trên khóe mi - rồi lặng lẽ rời khỏi cõi đời.

Cha của Thế An - ông Phúc - từng là một người đàn ông giàu nghị lực và yêu vợ đến điên dại.

Bà là người mà ông đã quyết từ bỏ cả cơ ngơi, sản nghiệp của dòng họ để cưới về.

Khi ấy, ông mặc kệ sự phản đối gay gắt của bên nội - những người luôn cho rằng bà không "môn đăng hộ đối", là kẻ chỉ biết làm thơ dệt mộng, chẳng phù hợp với người kế nghiệp.

Họ chì chiết, mắng nhiếc, thậm chí đòi từ mặt.

Nhưng ông vẫn bất chấp, dẫn bà rời khỏi quê hương, bắt đầu lại từ hai bàn tay trắng nơi xứ lạ.

Vậy mà lạ thay, trời dường như cũng thương cho mối duyên thâm tình đó.

Sự nghiệp ông Phúc lên như diều gặp gió.

Mảnh đất mới trở thành nơi dựng nên cả cơ đồ, tiền tài lẫn tình yêu.

Cuộc sống tưởng chừng viên mãn - cho đến ngày bà sinh cậu.

Ngày bà mất, ông Phúc như người phát điên.

Người ta nói ông gào khóc suốt một ngày đêm, ôm lấy thi thể lạnh ngắt của vợ, gọi tên bà như thể chỉ cần gọi mãi thì bà sẽ tỉnh lại.

Ngoài trời hôm ấy mưa to, sấm sét đì đùng, như trời đất cũng thấu hiểu nỗi đau xé lòng của người chồng mất vợ.

Cậu còn chưa mở mắt, đã chịu kiếp mồ côi mẹ.

Bên xác người vợ là đứa trẻ đỏ hỏn cất tiếng khóc oe oe giữa đêm giông gió.

Cảnh tượng đau lòng đến nỗi ai chứng kiến cũng phải nghẹn ngào – một mối tình yêu thương hết mực, vượt qua bao khốn khó, rốt cuộc vẫn không thắng được số mệnh nghiệt ngã.

Dẫu đau đến tột cùng, ông Phúc vẫn cắn răng mà sống.

Bởi giờ đây, ông còn lại Thế An - giọt máu duy nhất nối liền với người ông yêu.

Ông không xem cậu là nghiệp chướng như nhiều người lẽ ra sẽ nghĩ vậy.

Ngược lại, ông xem Thế An là món quà mà người vợ quá cố để lại.

Là sợi dây duyên, là kết tinh của tình yêu ông từng bất chấp tất cả để có được.

Ông cưng chiều cậu hết mực.

Việc gì của cậu, ông cũng đứng sau ủng hộ.

Ông không muốn con trai bước lên lại con đường đầy tang thương mà mình từng đi.

Thuở còn thanh niên, ông Phúc từng là một chàng trai sáng láng.

Cao lớn, mạnh mẽ, phong độ như bao võ sinh ngoài trận.

Dù trải qua nhiều biến cố, tuổi tác không làm lu mờ vẻ ngoài tuấn tú.

Gương mặt ông càng về sau càng đượm buồn, nét trầm mặc khiến người khác không dám lại gần nhưng những ai nhìn sâu thì không thể rời mắt.

Chính cái nét u sầu ấy lại khiến nhiều cô tiểu thư mê như điếu đổ.

____________________________

Bà Hương - người mẹ kế hiện tại của Thế An - lại là một bức tranh trái ngược.

Bà là tiểu thư đài các của một gia tộc lâu đời xứ Huế, nổi tiếng với nét đẹp kiêu sa, quý phái như sen đầu mùa.

Nhan sắc khuynh quốc khuynh thành, tính tình thông minh, học rộng hiểu sâu.

Nhưng chính một người như bà lại từng rơi vào mối tình bị coi là ngang trái.

Bà từng yêu một cô hầu trong nhà.

Tình yêu đó kín đáo, lặng lẽ như nước ngầm, nhưng mãnh liệt vô cùng.

Bà biết thiên hạ sẽ không tha cho mối duyên đó.

Lưỡi người đời là lưỡi dao - cứa không đứt da thịt thì cũng rạch nát trái tim.

Nhưng bà vẫn yêu, vẫn chờ.

Chỉ tiếc, thời gian không đứng lại vì ai.

Cô hầu ngày ấy đến tuổi phải lấy chồng, buộc phải gả đi.

Ngày tiễn cô theo chồng, bà Hương đứng lặng giữa sân sau, không khóc, chỉ lẩm bẩm thề với lòng - cả đời này, bà sẽ không thương thêm ai nữa.

Sau này, bà Hương gặp ông Phúc qua một buổi xem mắt do người lớn sắp đặt.

Nói chuyện qua lại, họ chợt nhận ra - mỗi người đều có một mối tình không thể quên.

Thứ tình cảm không còn hiện diện, nhưng in hằn như một cái bóng lớn không ai dám bước qua.

Thế rồi, từ tri kỷ thành bạn đời.

Bà Hương cần làm tròn bổn phận làm con - không thể cãi lời cha mẹ.

Ông Phúc thì cần một người phụ nữ vững vàng để cùng chăm sóc con trai nhỏ.

Hai người đến với nhau - không vì yêu, mà vì nghĩa.

Dưới danh nghĩa vợ chồng, họ chưa từng can thiệp đời sống riêng tư của nhau.

Có những đêm, ông uống rượu lặng thinh bên hiên, bà nằm nghe tiếng mưa rơi như tiếng lòng mình nứt vỡ.

Cả hai đều có người không thể quên - và đều chấp nhận sống phần đời còn lại trong một thứ gắn bó không gọi tên.

Tuy vậy, bà Hương vẫn hết lòng yêu thương Thế An.

Cậu càng lớn càng ngoan, ánh mắt sáng, tính tình hòa nhã.

Nhìn cậu, bà nhiều lần thấy lòng chùng xuống - một đứa trẻ hiểu chuyện đến vậy, tại sao lại phải sinh ra giữa những mất mát quá lớn?

Thế An cũng vậy.

Cậu không bao giờ gọi bà là "kế mẫu" - trong tim cậu, bà là người mẹ thật sự.

Không sinh cậu ra, nhưng đã yêu cậu bằng tất cả chân tình.

Đối với Thế An, được bà Hương nuôi nấng, chở che cũng là một ân phúc.

Cậu nghĩ, ông trời không quá nhẫn tâm - ít nhất, vẫn để cho cậu có được một người mẹ như bà.
 
[Thuần Việt, Tình Trai] Nghiêng Vành Nón Lá Dệt Mảnh Tình Sen.
Chương 4


Bữa cơm tối hôm ấy trong nhà ông Phúc vẫn giản dị như mọi ngày.

Mâm cơm chỉ có tô canh bí hầm xương, đĩa rau muống luộc xanh mướt, chén nước mắm ớt xắt đỏ au, thêm con cá bống kho tiêu thơm nức.

Vậy mà ai cũng ăn ngon lành, vui vẻ, tiếng muỗng đũa chạm nhau nghe đều đều, xen lẫn tiếng gió xào xạc ngoài hàng cau.

Thế An ngồi cạnh đầu bàn, ăn chậm rãi.

Cậu không nói nhiều, chỉ lặng lẽ gắp thêm miếng cá bống vào chén cho bà Hương.

Thi thoảng cậu gật đầu cười nhẹ khi bà nói điều gì đó vui.

Hôm nay, bà Hương có vẻ khoan khoái, sắc mặt hồng hào hơn mọi khi.

Tay bà vẫn run đôi chút mỗi khi gắp, nhưng cử chỉ tao nhã, chỉn chu, không khác gì hồi còn ở kinh kỳ Huế.

Sau bữa cơm, đám người làm lặng lẽ thu dọn.

Thế An dọn giúp một tay, rồi theo bà Hương ra hiên trước.

Bà ngồi xuống chiếc ghế gỗ dài, tay phe phẩy chiếc quạt nan nhỏ, còn cậu ngồi kế bên, rót trà vào hai chén sành nhỏ đặt trên chiếc bàn con.

Gió chiều lùa nhẹ, đưa theo mùi hoa cau thoang thoảng.

Một lúc lâu sau, bà Hương nghiêng đầu nhìn cậu:

"An này, nay con cũng đã hai mươi tuổi rồi đó.

Có khi nào nghĩ đến chuyện lấy vợ chưa?"

Câu hỏi chẳng bất ngờ, nhưng vẫn khiến Thế An thoáng sững người.

Cậu cúi đầu, đưa mắt nhìn đôi bàn tay đang đặt lên đùi, rồi đáp nhỏ:

"Dạ, con… chưa nghĩ tới chuyện đó."

Bà gật đầu, ánh mắt đượm chút xa xăm:

"Mẹ hỏi vậy thôi, chứ không ép.

Nhưng mà con trai tới tuổi thì cũng nên có gia thất.

Mẹ chẳng lo chuyện nối dõi tông đường đâu, chỉ sợ con đi sớm về khuya, không có ai bên cạnh chăm sóc."

Cậu cười nhẹ, gật đầu, rồi cúi xuống:

"Dạ, con hiểu.

Nhưng… chưa gặp người nào thật sự hợp, mẹ ạ."

"Vậy là con kén chọn?"

- Bà hỏi nửa đùa nửa thật.

"Dạ… cũng không hẳn.

Có người mới nói vài câu đã biết không nên duyên được.

Có người nhìn thấy là biết sẽ không sống chung cả đời.

Con nghĩ lấy vợ là chuyện cả đời, không thể vì cho có mà cưới."

Bà Hương mỉm cười, ánh mắt lấp lánh trong ánh hoàng hôn:

"Cũng giống cha con hồi xưa.

Kén tới mức người ta bảo hâm.

Vậy mà tới lúc thương thì cưới cho bằng được, mặc kệ ai phản đối.

Yêu là vậy, chẳng có lý do gì cả."

Rồi bà khẽ chép miệng:

"Nhưng mẹ hiểu con.

Thời nay, người ta vội vàng quá.

Mẹ không muốn con cũng vội.

Chỉ mong con gặp được người con có thể nhìn vào mà thấy yên lòng."

Thế An ngước nhìn bà, ánh mắt có chút xúc động.

Cậu rót thêm trà, rồi như sực nhớ điều gì:

"À, cái nón lá bữa trước con đưa mẹ, mẹ còn dùng không?"

"Có chớ!"

- Bà Hương nở nụ cười hiếm hoi - "Nón đó đẹp lắm.

Mẹ đội đi chợ, mấy bà ngoài đó hỏi hoài.

Nhẹ đầu, mát, lại có cái quai mềm, thêu hoa sen, dịu dàng lắm."

Thế An cười vui:

"Con thấy ngoài chợ có tiệm bán nón lá Tây Hồ, con nhớ mẹ hay đi chợ đội nón mà nón cũ thì mục hết rồi.

Con mới lựa cái thiệt đẹp đem về.

Đâu có rách gì, mẹ mà đội nón rách ra đường người ta cười chết."

"Tưởng đâu mẹ không để ý hả?"

- Bà chọc, rồi mắt dịu lại - "Thằng nhỏ này.

Mẹ không sinh, mà thương mẹ như ruột thịt vậy.

Mẹ thấy…

đời mình cũng còn may mắn."

Gió cuối chiều thoảng qua, mấy tà áo lụa nhẹ phất.

Trời dần ngả tối, tiếng côn trùng bắt đầu râm ran dưới gốc cau, hòa cùng tiếng lá xào xạc.

Hai mẹ con ngồi đó, không nói thêm gì nữa, nhưng lòng lại lặng yên đến lạ.

Mỗi người giữ trong lòng một miền ký ức - bà với mối tình cũ chưa bao giờ tắt, cậu với tuổi thơ không mẹ và tình thương lặng lẽ dành cho người đàn bà không sinh nhưng đầy ắp yêu thương.

Trong khoảng không ấy, chẳng ai nói ra điều gì, nhưng tất cả đều hiểu.

Không phải cứ cùng huyết thống mới gọi là thân tình.

Có những thứ tình cảm được tạo nên từ năm tháng ở cạnh nhau, từ những bữa cơm chung, những lần ốm đau có người đắp chăn, những cái nón được lựa kỹ để đội dưới nắng chiều.

Thế An hiểu rằng, hạnh phúc không phải lúc nào cũng đến từ nơi ta trông đợi.

Có khi, nó ở ngay bên cạnh, dưới mái hiên nhà, trong ánh mắt của một người đã xem ta là máu mủ ruột rà từ lúc nào không hay.

Và bà Hương cũng vậy.

Bà đã từng không có con, không có tình yêu trọn vẹn.

Nhưng nhờ có Thế An, bà lại có được điều mà nhiều người có con đẻ cũng chưa chắc đã có: Một người con biết yêu thương và biết nghĩ.

Đêm hôm đó, trời đầy sao.

Trăng non mới nhú sau ngọn cau.

Ánh sáng dịu dàng như sợi tơ bạc rơi xuống bậc hiên nơi hai mẹ con vẫn ngồi.

Trên bàn, chén trà đã nguội nhưng lòng ai cũng ấm.
 
[Thuần Việt, Tình Trai] Nghiêng Vành Nón Lá Dệt Mảnh Tình Sen.
Chương 5


Thế An đặt cây bút xuống bàn, bàn tay còn dính chút mực tím, cậu đứng dây, khẽ vươn vai.

Ngoài kia, đêm đã sâu.

Làng quê yên ả chìm trong màn đêm, tiếng côn trùng rả rích vọng từ vườn chuối sau nhà.

Giờ này chắc đã canh hai.

Cả xóm đều tắt đèn từ lâu, chỉ còn ánh đèn dầu leo lét hắt qua khe cửa nhà cậu, le lói như con đom đóm cố bám trụ giữa trời đêm.

Cậu bước ra trước sân, hít một hơi thật sâu.

Gió đêm lành lạnh lùa vào mái tóc, thổi tung vạt áo dài màu chàm bạc phếch theo năm tháng.

Trăng non lấp ló phía sau mấy cụm mây.

Cái lạnh đêm khuya thấm vào da thịt khiến Thế An khẽ rùng mình.

Cậu định quay vào nhà thì bất ngờ nghe tiếng xe vọng lại từ đầu ngõ.

Không phải tiếng xe đạp thường ngày, mà là tiếng động cơ - âm thanh xa xỉ, lạ lẫm vào thời buổi này.

Chiếc Peugeot 203 màu đen cũ kỹ dừng lại trước cổng.

Nghe tiếng động cơ máy nổ lạch cạch quen quen, Thế An đoán chắc ai đó đi xe thuê từ thị xã về khuya.

Ánh đèn pha vừa tắt, cửa xe mở ra, một người thanh niên dáng cao, tay xách cái va-li nhỏ, mặc âu phục sẫm màu bước xuống.

Dù quần áo đã có phần nhăn do ngồi đường dài, nhưng vẫn toát lên vẻ chững chạc, gọn ghẽ.

Anh ta bước về phía Thế An, khẽ cúi đầu, giọng nhẹ nhàng mà rành rẽ:

“Chào cậu.

Tôi đi công chuyện dưới tỉnh, xe chạy đường dài quá mà giờ này chưa tìm được chỗ trọ.

Thấy nhà cậu còn sáng đèn, tôi mạo muội ghé xin nghỉ tạm một đêm, có phiền không?”

Thế An ngẩn người.

Trong ánh sáng lờ mờ, gương mặt người thanh niên ấy có gì đó quen quen, mà nhất thời không nhớ ra.

Cậu hơi nghiêng đầu, nheo mắt nhìn kỹ hơn, rồi chậm rãi đáp:

“À…

ừm, được thôi.

Anh là… con trai ông chủ tiệm nón lá Tây Hồ, phải không?”

Người kia thoáng sững lại, rồi nhoẻn miệng cười, nụ cười có phần ấm áp:

“À, vâng.

Cậu đây là người hôm trước ghé tiệm mua cái nón lá có thêu hoa sen, đúng chứ?”

Thế An gật đầu, giọng nhẹ hẳn đi:

“Đúng, là tôi.

Thôi, khuya rồi, mời anh vào nhà.

Chuyện trò gì thì để vô trong rồi nói.”

Cậu mở cửa, bước vào trước, khách lặng lẽ theo sau.

Căn nhà nhỏ, vách ván tre, nền đất nện, mùi dầu lạc cháy cũ vẫn còn phảng phất trong không gian.

Thế An thắp thêm một ngọn đèn dầu, ánh sáng lập lòe soi rõ gương mặt người khách - sống mũi cao, nét mặt điềm đạm, ánh mắt trầm tĩnh, sâu và sáng như thể chứa đựng cả một quãng đời xa xứ.

Đôi mắt ấy không quá sắc sảo, nhưng lại có nét từng trải, vương chút ưu tư - thứ ưu tư của người đã đi qua những thành phố rực rỡ mà lòng vẫn cồn cào nhớ về hương khói quê nhà. .

Người khách ngồi xuống chiếc ghế đẩu gần bàn.

Thế An rót nước, đưa mời, rồi chậm rãi hỏi:

“Không biết anh tên chi?”

“Tôi tên Văn Khôi.

Còn cậu?”

“Tôi tên Thế An.”

- Vừa nói, cậu vừa ngồi xuống đối diện.

Ánh mắt Văn Khôi liếc qua tập bài trên bàn, rồi cất giọng dò hỏi:

“Cậu An đây là thầy giáo à?”

“Vâng… tôi mới về làng dạy học hồi vài tháng trước.”

Văn Khôi nheo mắt nhìn cậu, ánh nhìn có phần khó đoán:

“Hôm gặp cậu ở tiệm nón, tôi cứ ngỡ là công tử nhà quan hay phú hộ nào chứ…”

Thế An khẽ cười, giọng vẫn bình thản:

“Ừm… tôi là con trai của một nhà thương nhân buôn lụa tơ tằm Mã Châu.”

“Ồ… vậy sao cậu không ở lại cố đô, sống yên ấm trong nhung lụa, lại về làng nhỏ làm giáo làng?”

Thế An nhìn về phía khung cửa sổ, nơi ánh trăng đã nhô cao khỏi tán tre.

Giọng cậu chậm rãi, như nói với chính mình:

“Tôi không quen kiểu sống tiêu xài trác táng.

Ở làng, sống ít mà thật.

Tôi thích thế.”

Văn Khôi khẽ nhướng mày, rồi cười nhẹ, như vừa phát hiện ra điều thú vị:

“Cậu An đây… nhìn xa trông rộng thật.”

Thế An không đáp lại câu đùa, mà hỏi thẳng, giọng đằm xuống:

“Tôi nghe ông chủ tiệm nói không có con trai… cậu đây là…?”

Văn Khôi bật cười, tiếng cười trầm mà không kém phần thoải mái:

“Ha ha… hồi nhỏ tôi được cha cho sang Pháp học, ở mãi bên ấy, cậu không biết cũng đúng thôi.”

Thế An hơi ngạc nhiên:

“Thế… sao cậu lại về đây?”

“Nối nghiệp.”

“Nối nghiệp?”

“Ừ.

Tôi đi xa bao nhiêu năm, cuối cùng vẫn chỉ muốn trở về làm nón.

Cái nón lá Tây Hồ ấy, tưởng đơn giản, mà duyên dáng không đâu sánh bằng.

Ở bên Tây, người ta có đủ thứ lộng lẫy, thời thượng… nhưng cái mộc mạc, cái duyên thầm lặng của nón quê mình… thì không ai bắt chước nổi.”

“Cậu Khôi đây cũng nhìn xa trông rộng thật đấy.”

- Thế An bật cười khẽ.

- “Nói đi cũng phải nói lại, nón lá nhà cậu duyên dáng thật.

Hôm trước tôi đem cái nón thêu hoa sen về tặng kế mẫu, bà cứ cầm lên ngắm mãi, miệng thì khen không dứt.

Bảo rằng cái nón đẹp mà lại có hồn, như thể tay người làm ra nó biết thổi hồn quê vào từng đường kim mũi chỉ.”

Văn Khôi nghe vậy liền bật cười sảng khoái, nụ cười không chỉ là khách sáo mà còn mang chút tự hào chân thành.

Ánh mắt anh ánh lên vẻ rạng rỡ - không phải thứ vui mừng phô trương, mà là niềm vui lặng lẽ của người làm nghề thấy cái tâm mình được người khác nhận ra.

“Ha ha, cảm ơn cậu An nhiều lắm.

Nghe thế tôi mừng lắm.

Hôm nào cậu ghé lại tiệm, tôi biếu cậu thêm vài cái nón nữa.

Gọi là chút quà thôi.”

Thế An cũng cười, ánh mắt dịu lại, như thể trong khoảnh khắc ấy, hai người không còn là khách và chủ, mà là người cùng chuyện trò râm ran giữa đêm khuya vắng.

Cứ như ông trời xui khiến cho hai kẻ xa lạ hóa thân quen lúc nào chẳng hay:

“Vâng, có dịp tôi lại ghé.

Mà cậu Khôi nhớ giữ lời đó nghe.

Đừng để tôi hỏi, rồi lại bảo quên.”

Văn Khôi nghiêng đầu, ánh nhìn như đọng lại trên gương mặt An, giọng anh nhỏ hơn một chút, nhưng rõ ràng:

“Tôi sẽ không quên đâu.”

Ánh đèn dầu chao nghiêng trong cơn gió lùa qua khe vách.

Hai người đàn ông trẻ ngồi đối diện nhau, một người vừa từ trời Tây trở về, một người rời bỏ nhung gấm để chọn bụi phấn bảng làng.

Trong khoảng lặng của đêm, câu chuyện về chiếc nón lá, về lụa tơ tằm, về quê hương, về những chọn lựa giữa thời cuộc… cứ thế nối dài ra mãi.
 
[Thuần Việt, Tình Trai] Nghiêng Vành Nón Lá Dệt Mảnh Tình Sen.
Chương 6


Trời Huế vào thu, gió từ sông Hương lùa qua những con ngõ nhỏ, xuyên qua hàng chè tàu, mang theo cái se lạnh dịu dàng của miền đất cố đô.

Mặt trời mới chớm lên sau rặng tre bên chùa Thiên Mụ, ánh nắng mỏng manh như tấm lụa mới nhuộm còn vương mùi hồ.

Cả làng nhỏ chìm trong tĩnh lặng, chỉ còn tiếng gà gáy vọng lại từ xa, hòa cùng tiếng chuông chùa ngân nga như gọi giấc mộng đêm qua trở về.

Thế An đã dậy từ canh năm.

Cậu nhóm bếp, đun ấm chè xanh, rồi ra sân quét tàu cau rụng, xếp lại mấy bó củi cho ngay ngắn bên bếp.

Căn nhà ngói ba gian mộc mạc nằm nép mình ở rìa làng, cách sông Hương không xa, giờ này đã thơm nồng mùi khói bếp và tiếng lửa reo lách tách.

Tiếng bước chân nhẹ vang lên trên nền đất nện.

Văn Khôi xuất hiện nơi bậc cửa, áo sơ mi trắng hơi nhăn, mái tóc còn rối vì đêm nằm trằn trọc.

Anh đứng đó một lúc, nhìn dáng Thế An lom khom bên bếp, ánh mắt như mang theo điều chưa nói.

"Cậu dậy sớm thật."

Anh lên tiếng, giọng trầm khàn vì gió sớm.

Thế An quay lại, nở một nụ cười mộc mạc:

"Làng này nhỏ, sáng lên là gà gáy, học trò tới trường.

Tôi mà dậy trễ là bọn nhỏ nó nghỉ học hết trơn."

Văn Khôi ngồi xuống bậc thềm, đón lấy chén chè Thế An đưa:

"Chè quê ngon, đậm và mộc như chính con người nơi đây.

Uống vô ấm cả lòng."

Hai người im lặng một lúc.

Bên ngoài, nắng đầu ngày dịu nhẹ rọi qua vòm cau, những tia sáng vàng nhạt rơi xuống nền sân lốm đốm như vảy bạc.

Văn Khôi chậm rãi đặt chén chè xuống, giọng chừng như đã đắn đo từ lâu:

"Tôi nghĩ... tôi muốn ở lại đây một thời gian."

Thế An quay sang, lông mày khẽ nhíu:

"Ở lại?

Có chuyện chi?"

Văn Khôi chống hai tay lên gối, cúi mặt, giọng nhỏ:

"Tôi muốn tìm lại cái hồn xưa cho những chiếc nón Tây Hồ.

Ở thị xã, người ta làm nón đẹp lắm, thêu cả chim phượng hoa mai nhưng hình như mất đi điều gì đó...

Tôi nghĩ cái đó nằm ở đây - trong hơi thở của làng quê, trong dáng ngồi của các bà cụ bên bếp, trong tiếng guốc của chị hàng xén đi qua con ngõ nhỏ."

Thế An gật đầu nhẹ, giọng trầm:

"Muốn thêu được nỗi lòng con người, phải sống cùng người ta.

Mà sống, thì phải thật lòng."

Văn Khôi ngẩng lên, ánh mắt ánh lên sự biết ơn:

"Cho tôi tá túc một thời gian nhé, Thế An?

Chỉ cần một chỗ nhỏ là đủ."

Thế An đứng dậy, phủi tay áo:

"Nhà tôi còn buồng bên kia trống.

Cậu cứ ở lại.

Thêm một người, nhà bớt quạnh."

Buổi sáng, anh theo Thế An đến trường làng - một căn nhà tranh lợp lá, nép mình sau rặng tre, giữa tiếng chim líu lo.

Trẻ con lấm lem đất, quần áo vá vai, nhưng ánh mắt sáng như sao.

Văn Khôi ngồi cuối lớp, lặng lẽ nghe Thế An giảng bài.

Giọng cậu dịu dàng, có lúc nghiêm khắc, có lúc như đang kể chuyện cổ tích.

Giờ ra chơi, anh ra sân cùng lũ trẻ, xem tụi nó nhảy ô, đánh chuyền, hay xếp lá chuối thành con thuyền.

Có đứa tò mò hỏi:

"Chú là bạn thầy An hả?

Chú có vợ chưa?"

Văn Khôi bật cười, gật đầu:

"Bạn thôi, chú chưa có vợ."

Lũ trẻ ồ lên, trêu ghẹo rộn cả sân.

Chiều về, anh theo mấy bà mấy chị ra chợ bên kia cầu.

Dáng thiếu nữ Huế thướt tha trong tà áo dài lam, đội nón lá cũ mèm, bước chậm rãi trên con đường sình lầy mà sao vẫn giữ được nét thanh tao.

Anh vẽ từng dáng người vào sổ tay, từng nếp gấp áo, từng vệt nắng chiếu trên má.

Những ngày sau đó, Văn Khôi bắt đầu một nếp sống hoàn toàn khác với cái nhịp thị thành mà anh đã quen.

Buổi sáng, anh theo Thế An ra chợ phiên đầu làng, nơi những bà mẹ bồng con, gánh hàng, đội nón đi chợ từ sớm.

Anh ngồi dưới gốc đa đầu đình, quan sát cách họ buộc quai nón, cách họ che nắng, che gió, che cả giọt nước mắt khi nhớ người thân nơi xa.

Chiều về, anh ra đồng cùng lũ trẻ.

Có hôm, anh theo một nhóm chị em ra bờ sông giặt áo, chụm đầu nói chuyện, những vành nón khẽ đụng vào nhau, in bóng xuống mặt nước trong veo.

Những lúc như vậy, Văn Khôi luôn mang theo sổ tay nhỏ, ghi chép từng dáng đi, từng câu chuyện, từng mảnh đời anh tình cờ bắt gặp.

Một buổi tối, khi trăng đã lên cao, hai người ngồi trong nhà, chỉ có ánh đèn dầu le lói.

Văn Khôi lật quyển sổ, chỉ cho Thế An xem từng bản vẽ.

"Cậu xem, đây là dáng bà cụ đội nón đưa cháu đi học.

Còn đây là thiếu nữ mặc áo tứ thân, ngồi quạt nan dưới gốc thị.

Tôi muốn thêu những hình ấy lên nón.

Không chỉ là hoa sen, hoa cúc, mà là hình bóng người Việt."

Thế An chăm chú nhìn từng nét bút, ánh mắt đăm chiêu:

"Những chiếc nón ấy... không phải để bán, mà để gìn giữ."

Văn Khôi khẽ gật đầu:

"Ừ, tôi cũng nghĩ vậy.

Có thể sẽ không có ai mua.

Nhưng nếu không làm, thì sau này, sẽ chẳng ai nhớ rằng nón luôn in bóng quê hương."

______________________

Một chiều mưa lất phất, Thế An đưa Văn Khôi tới nhà mệ Hòe - người thợ làm nón giỏi nhất làng.

Căn nhà tranh nằm khuất sau bụi tre già, bên hiên treo đầy nón chưa khô.

Mệ Hòe đã ngoài sáu mươi, lưng còng, tóc bạc như mây, nhưng đôi tay vẫn thoăn thoắt uốn vành, rút lá.

Mệ nhìn Văn Khôi rồi cười móm mém:

"Thanh niên thành thị mà biết quý cái nón lá là mừng cho cái nghề rồi."

Văn Khôi lễ phép chào bà, rồi ngồi xuống, học cách phơi lá, cách khâu vòng.

Những ngày sau, mệ Hòe còn chỉ cho anh cách pha thuốc nhuộm màu thiên nhiên: Màu nâu từ vỏ bàng, màu xanh từ lá chàm, đỏ từ củ nâu...

Văn Khôi thích thú như đứa trẻ lần đầu biết đến màu nước.

Mệ nói:

"Nón không chỉ để che nắng.

Nó che cả nỗi lòng người ta.

Làm nón phải biết nghe - nghe lá khô kể chuyện, nghe kim chỉ đi đâu mà không đứt."

Tối đó, dưới ánh đèn dầu leo lét, Văn Khôi ngồi lặng lẽ bên bàn gỗ, tay thoăn thoắt phác từng nét bút.

Anh vẽ dáng một thầy giáo trẻ đang giảng bài - đôi mắt sáng, tay cầm viên phấn trắng, đứng giữa đám học trò nhỏ chăm chú lắng nghe.

Ánh đèn dầu hắt xuống, phủ lên trang giấy một lớp sáng vàng dịu.

Dưới tay Văn Khôi, nét bút dần hiện hình thầy giáo đang giảng bài cho lũ học trò.

Tranh chưa đầy nhưng đã có hồn - như người trong đó sắp bước ra mà cười nói.

Bức vẽ ấy, anh cất lại, định bụng mai này sẽ thêu lên vành nón, để giữ lại một phần ký ức của làng quê.

Thế An bước tới, nhìn một lúc rồi hỏi:

"Cậu vẽ ai đó?"

Văn Khôi không ngẩng lên:

"Người tôi quý nhất ở đây."

Thế An im lặng.

Ngoài hiên, tiếng mưa lẫn với tiếng dế gọi mùa.

Ánh đèn dầu chập chờn, hắt lên tường cái bóng dài của hai người đàn ông ngồi bên nhau, không ai nói thêm điều gì.

"Ở lại" - có khi chỉ vì một ánh mắt, một buổi sáng yên bình, hay một góc nhà nhỏ có khói bếp tỏa.

Và giữa làng quê nghèo bên bờ sông Hương năm ấy, có một người tìm lại hồn của nón lá, và một người tìm thấy người tri kỷ.
 
Back
Top Bottom