Khác Tâm lý học

  • Người khởi tạo Người khởi tạo [BOT] Wattpad
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Tâm Lý Học
10 tuýp trai 30 còn FA, bạn là kiểu nào?


Tụi con trai ở độ tuổi 30 là một lũ rất lạ lùng (ý mình là kỳ dị).

Trong một nhóm những thằng con trai 30 tuổi này, thể nào cũng sẽ có:

[Bài viết có sử dụng ngôn từ hơi... chợ búa, và có chút phóng tác, mong các bạn thông cảm cho người dịch 😀]

Tụi con trai ở độ tuổi 30 là một lũ rất lạ lùng (ý mình là kỳ dị).

Trong một nhóm những thằng con trai 30 tuổi này, thể nào cũng sẽ có:

Một kiểu công tử bột "đầu to óc trái nho" nhưng sống chết vì những người bạn của mình;Một kiểu người rơi vào vòng xoáy của việc đưa đón con đi học;Một vài người thì tập trung vào sự nghiệp của họ;Một số người lại đang loay hoay tìm việc với "hội chứng" tự vấn lương tâm "Ta là ai?", "Ta đang làm gì?"...;Trong số đó, một số sẽ cho bạn biết rằng cuối cùng họ đã tìm ra mục đích của cuộc đời, còn một số khác sẽ nói rằng họ cảm thấy mất hy vọng vào cuộc sống này.

Nhìn chung, đó là một bè lũ đủ các hạng người khác nhau!

Nhưng có lẽ phần lớn bọn họ vẫn là một nhóm những anh chàng 30 tuổi độc thân đang trong giai đoạn từng bước trưởng thành và hoàn thiện mình.

Nếu bạn muốn một trường hợp điển hình, hãy xem xét một số loại phổ biến dưới đây:

[Hết ngôn từ chợ búa 😀]

1) Một anh chàng hoàn hảo (The Total Package)

Đây là những anh chàng thông minh – xuất thân từ những trường đại học hàng đầu.

Đó có thể là một vận động viên, một nhạc sĩ, hay một du khách cuồng chân.

Họ đẹp trai — và bạn tốt hơn nên tin rằng anh ta rất "mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao" (theo nghĩa tích cực).

Đây là những người có một sự nghiệp ổn định, nhưng họ không thuộc dạng nghiện làm việc.

Họ là những người đàn ông trong gia đình.

Chỉ là họ có một khuyết điểm duy nhất là khó tìm kiếm được một cô gái xứng đáng với sự nghiệp... vĩ đại của mình.

Bởi đó sẽ phải là một cô gái hoàn hảo giống như họ: Đẹp, quyến rũ và lôi cuốn, là một ngôi sao đang lên trong sự nghiệp của mình và được nhiều người yêu mến.

Chưa kể, ở nhà cô ấy còn phải là người tình tuyệt vời... trên giường, một đầu bếp thượng hạng, biết yêu thương, tràn đầy lòng vị tha và sự tận tâm.

Còn nữa, cô ấy còn phải giỏi ngoại ngữ, biết chơi tennis, hát hay, đọc giỏi và nhiều nhiều yêu cầu khác nữa...

Không có gì ngạc nhiên, đây là những anh chàng siêu phàm với những tiêu chuẩn cũng siêu phàm.

Rất có khả năng họ sẽ vẫn độc thân cho đến tuổi 40!

2) Một anh chàng "Khởi đầu mới"

Đây là kiểu người một khi đã hẹn hò với bạn gái của mình thì sẽ sống chết với mối quan hệ đó.

Họ thường sẽ không bao giờ cảm thấy hạnh phúc trong các mối quan hệ yêu đương của mình, nhưng hầu như tất cả mọi người khi nhìn vào thì lại chắc chắn rằng họ sẽ kết hôn.

Để rồi, sau một cuộc chia tay đầy khó khăn, họ sẽ trở lại "lợi hại hơn xưa" và đột nhiên cư xử cứ như vừa mới được gọi xuống từ trò chơi Hãy Chọn Giá Đúng.

Họ không thực sự chắc chắn họ đã trở nên độc thân như thế nào, nhưng nói chung là họ rất vui, cứ như vừa được bước ra khỏi cánh cửa địa ngục vậy.

3) Người "Hoặc chọn kết hôn với..., hoặc sẽ bị cha mẹ từ bỏ"

Thật khó để tìm ra một ai đó làm người bạn đời của mình, mà cha mẹ lại còn là rào cản.

Những anh chàng thuộc loại này thường sẽ cố gắng nổi loạn trong một thời gian ngắn, nhưng sau khi người bạn gái anh chọn không được phép bước vào nhà, anh ta sẽ chọn từ bỏ cô gái, mặc kệ cô gái ấy có khóc lóc hay đau khổ cỡ nào.

Thậm chí, những anh chàng này còn thực sự cảm kích nếu cha mẹ không cho anh ta hẹn hò nữa.

4) Anh chàng ghét phụ nữ

Đây là kiểu người rất ghét phụ nữ.

Họ có thể không biết nhiều về vấn đề giới tính, nhưng họ có thể cho bạn biết chính xác số lượng phụ nữ mà họ ngủ cùng.

Một dạng người "khốn nạn" và chỉ có những người phụ nữ có lòng tự trọng thấp mới dễ bị hút về phía những người này.

5) Chàng trai thành công quá sớm

Đây là kiểu người mà một cô gái 17 tuổi có thể mơ ước.

Sự tự tin, cao ngạo khiến những anh chàng này dễ dàng thành công trong sự nghiệp và không ai ngạc nhiên khi anh ta có ngay một cô bạn gái thông minh, ngọt ngào, xinh đẹp trong những tháng ngày thanh xuân tươi trẻ.

Nhưng những anh chàng thành công quá sớm như thế này thường không lâu dài.

Và họ thường sẽ chia tay với bạn gái của mình khi chỉ mới...

24 tuổi.

Thậm chí nhiều năm về sau, khi nhìn lại người bạn gái cũ, họ sẽ bất giác thấy thở dài.

6) Chàng trai cuối cùng xứng đáng làm chồng

Những chàng trai này thường sẽ bị coi thường trong 30 năm đầu cuộc đời.

Nhưng sau khoảng thời gian này, khi họ trở nên hoàn hảo hơn, và có thành công trong sự nghiệp, họ sẽ được chú ý nhiều hơn và trở nên đáng yêu trong mắt những cô gái bằng sự khiêm nhường của mình, cũng như khả năng ứng xử rất đàn ông với những người con trai khác.

7) Kiểu người chưa tìm được cô gái phù hợp

Họ đương nhiên là đang độc thân, chỉ vì chưa tìm được người con gái phù hợp.

Và mong muốn duy nhất của họ là mọi người hãy dừng nhìn và phán xét họ với đôi mắt thương hại nếu không muốn bị chửi kiểu:

Ah! &^*%R*()QUKJHKAHJUG(#TT))OU^%!

Họ chỉ đơn giản là đang tận hưởng cuộc sống của mình, yêu thích công việc, thích tụ tập bạn bè, và yêu mến cuộc sống độc thân.

Họ không vội vã muốn có một mối quan hệ và cảm thấy hoàn toàn tự tin rằng vào một thời điểm nào đó, họ sẽ gặp được cô gái phù hợp với mình và kết hôn.

8) Người tích cực với các cuộc hẹn hò trực tuyến

Những chàng trai này thực sự không tin rằng tại sao tới độ tuổi này rồi mà mình lại vẫn chưa kết hôn.

Họ vốn là những chàng trai rất có sức hấp dẫn và thu hút người khác phái, nhưng không hiểu sao họ vẫn mãi làm bạn với những người bạn độc thân của mình, để rồi không biết bằng cách nào, họ 30 tuổi và vẫn độc thân.

Những người này không có lịch sử hẹn hò hoành tráng nhưng lại có những hồ sơ hẹn hò trực tuyến khá ấn tượng, và khi mọi người hỏi họ rằng vì sao không hẹn hò với ai, họ sẽ giải thích rằng vì quá bận rộn với sự nghiệp của mình.

9) Anh chàng ... cù lần

Kiểu người này gần với kiểu người hoàn hảo - đẹp trai, ăn mặc đẹp, và có một công việc tuyệt vời.

Họ vui tính và rất rõ ràng, chừng mực.

Sự bất tiện nhỏ bé duy nhất là họ dường như không bị thu hút bởi phụ nữ nào.

Có nhiều khả năng cho rằng họ là kiểu người đồng tính, nhưng cơ bản là họ rất thẳng thắn khi thừa nhận họ chưa gặp cô gái phù hợp cũng như thực sự thấy ổn khi là người độc thân.

10) Chàng trai đầu hàng trước nghịch cảnh

Kiểu người này thường không bao giờ cố gắng trước những khó khăn, nhưng lại hay làm ra vẻ rất nỗ lực.

Họ không thích đi vào các quán bar, từ chối thử qua phương pháp hẹn hò trực tuyến, bất cứ cách gì mà người ta có thể gợi ý ra.

Cơ bản là họ khá sợ hãi về rất nhiều thứ, nhưng nỗi sợ đó lại chỉ thể hiện qua sự phủ nhận thờ ơ, và sự thụ động đón nhận.

Chỉ có một cách khả dĩ hợp lý dành cho những anh chàng này là để họ gặp những cô gái thích theo đuổi và theo đuổi không ngừng.

Chỉ có như vậy, vấn đề của họ mới được giải quyết.

Còn bạn, nếu bạn là một chàng trai, và bạn độc thân, thì bạn có thuộc kiểu người nào trên đây không?

Nguồn dịch: https://www.noron.vn/post/101-tuyp-trai-30-con-fa-ban-la-kieu-nao-40dxlt3eunry

Nguồn:

Rubi
 
Tâm Lý Học
Bi quan hơn để bình tĩnh hơn: Bí mật trong tính cách những người cáu kỉnh


Hóa ra căn nguyên của sự nóng giận không phải những suy nghĩ tiêu cực, mà hoàn toàn ngược lại!

Những người nóng tính nhìn qua thì có vẻ như họ hay bi quan với cuộc sống.

Chúng ta thường không nghĩ họ là những người lạc quan – thế nhưng, ẩn sâu dưới bộ mặt thô ráp, họ thực sự lại là những người đầy hy vọng, xuất phát từ chính những trải nghiệm tồi tệ của mình.

Hãy làm quen với Nam.

Anh ta thường xuyên cáu gắt.

Anh đã cưới vợ được 15 năm.

Anh thường yêu cầu cô không được làm phiền trong lúc đọc báo.

Cô vợ khó chịu với sự cấm đoán đó, hiển nhiên rồi.

Vậy nên tối nay cô hỏi thẳng Nam liệu mấy giờ anh mới bắt đầu đứng lên nấu bữa tối.

Giờ thì Nam cáu gắt – bởi vì ẩn sâu bên trong – anh mang rất nhiều kỳ vọng!

Nam thường đánh mất những thứ đồ linh tinh.

Hôm nay anh đánh mất chìa khóa xe.

Anh ta tức giận.

Chúng biến đâu mất rồi! anh hỏi mọi người trong cơn tức giận.

Nam tức giận – bởi vì ẩn sâu bên trong – anh mang rất nhiều kỳ vọng!

Nam đến sân bay.

Chuyến bay của anh bị hoãn bốn tiếng.

Thật là không thể chấp nhận nổi!

Đặc biệt khi anh lại là một khách hàng hạng VIP.

Anh đi tới cô nhân viên tại quầy check-in và bày tỏ nỗi bức xúc.

Nam lại hét lên – bởi vì ẩn sâu bên trong – anh mang rất nhiều kỳ vọng!

Dù có bao nhiêu thực tế anh gặp phải, Nam vẫn kiên quyết và hết lòng giữ niềm tin vào một thế giới mà trong đó:

người bạn đời luôn thấu hiểu anhnhững thứ đồ linh tinh không bao giờ lạc mấtgiờ của chuyến bay không chỉ mang tính chất tham khảo.

Tất cả những trải nghiệm trong cả chục năm cuộc đời không làm xói mòn mức độ kỳ vọng có phần ảo tưởng của Nam – và mỗi khi gặp vấn đề, anh lại hét lên.

Nam sẽ chẳng bao giờ có thể loại bỏ hết nỗi chán nản trong cuộc sống.

Nhưng anh ta có thể, nếu là một người có học thức, cùng với sự giúp đỡ của triết học, anh ta có thể nhận ra được ý nghĩa của những trải nghiệm đó.

Anh có thể học cách chấp nhận rằng thực tế đáng buồn hơn kỳ vọng.

Anh ta có thể thấu hiểu một loạt những thực tế đen tối của việc tồn tại, từ việc:

người bạn đời sẽ chẳng bao giờ có thể hoàn toàn thấu hiểu anhta thường đánh mất những thứ vụn vặt nhưng quan trọng mỗi ngàynhững chuyến bay vẫn thường xuyên bị hoãn

Và, nói rộng ra, cuộc sống ngoại trừ đôi lúc có khoảng trời nắng đẹp, thì phần còn lại là một chuỗi những thất vọng và hiểu nhầm, những đau buồn và hối hận, và rốt cục thì cuối cùng vẫn là thảm họa.

Nam có thể tập cho bản thân mình ít cáu gắt hơn – nếu như anh biết cách kìm nén những kỳ vọng một cách hiệu quả.

Đa số chúng ta nhiều khi cũng giống Nam.

Nhưng nỗi khó chịu của chúng ta sẽ không tồn tại lâu dài hay khó thay đổi.

Đó chỉ là kết quả khi những kỳ vọng bị đột ngột thất bại.

Vậy thì, để trở nên bình tĩnh hơn, ta cần giảm bớt niềm lạc quan thái quá vào cuộc sống.

Một chút bi quan lại là cách chữa bệnh nóng tính.
 
Tâm Lý Học
Đang vật vã vì thất tình? Bạn không đau như bạn tưởng đâu


Tưởng tượng về tương lai giàu có, tươi sáng sẽ làm bạn hạnh phúc?

Nhầm, nhầm hết rồi!

Nếu đúng theo quan điểm của Daniel Gilbert - giáo sư khoa Tâm lý học tại trường Đại học Harvard, thì niềm tin rằng một chiếc xe mới có thể khiến bạn hạnh phúc là một niềm tin hoàn toàn sai lầm.

Bạn sai khi tin rằng chừng nào bạn còn tưởng tượng về một căn bếp mới thì chừng ấy bạn vẫn thấy hạnh phúc.

Bạn sai khi bạn nghĩ rằng một trở ngại lớn tạm thời (như khi bị gãy cổ tay hay thất tình) thì sẽ khiến bạn đau khổ hơn là một trở ngại lâu dài nhưng qui mô nhỏ hơn (như bị trật khớp, hoặc hôn nhân lục đục).

Bạn sai khi cho rằng thất bại trong công việc sẽ rất nhục nhã ê chề.

Bạn sai nếu nghĩ rằng sự ra đi mãi mãi của một thành viên trong gia đình sẽ khiến bạn thấy mất mát trong suốt quãng đời còn lại.

Và bạn thậm chí cũng sai luôn khi nghĩ rằng chiếc bánh mì kẹp pho mát bạn gọi trong nhà hàng - trong tuần này, tuần tới, một năm tới, thời gian không thành vấn đề – chắc chắn sẽ ngon nghẻ.

Nguyên nhân của tất cả những điều này là khi bạn đoán chắc những chuyện của tương lai thì hầu như bạn sẽ đoán toàn sai.

Gilbert thích nói với mọi người rằng mình đang nghiên cứu về Hạnh Phúc.

Chính xác hơn thì phải nói rằng, ông cùng với ba người khác đó là nhà tâm lý học Tim Wilson đến từ Trường Đại học Virginia, nhà kinh tế học George Loewenstein của Đại học Carnegie Mellon, và cuối cùng là nhà tâm lý học từng đoạt giải Nobel Kinh tế Daniel Kahneman từ Đại học Princeton – đã và đang đi đầu trong việc nghiên cứu mô hình dự đoán cảm xúc và hành vi con người.

Trong vài năm qua, bốn người đã bắt đầu đặt câu hỏi về quá trình ra quyết định tác động đến cảm giác hạnh phúc: Làm sao có thể đoán định được một việc bất kỳ nào đó sẽ khiến ta hạnh phúc hay đau khổ - Và thực sự thì ta sẽ cảm thấy như thế nào sau khi trải qua việc đó?

Thí dụ, thử dự đoán về phản ứng của bạn về trận đấu, và sau đó xem cảm xúc thực sự của bạn khi trận đấu kết thúc như thế nào.

Hay chúng ta đoán rằng chúng ta sẽ cảm thấy ra sao khi mua trang sức mới, có con, tậu nhà và trở nên giàu có - và đến khi ta thực sự làm được những điều ấy thì sao?

Một phần của nghiên cứu này đã chỉ ra gần như tất cả các hành động (như việc đưa ra quyết định mua đồ trang sức, có con, mua một ngôi nhà lớn hoặc làm việc đến kiệt sức để nhận số tiền lương béo bở hơn) đều dựa trên các dự đoán về hệ quả cảm xúc của những hành động này.

Cho đến gần đây, đây vẫn còn là một lĩnh vực bỏ ngỏ.

Làm thế nào con người dự đoán được cảm xúc của chính mình, và liệu những dự đoán đó có đúng với những cảm xúc thực sự ở tương lai không chưa bao giờ được đưa vào nghiên cứu.

Trong khuôn khổ thử nghiệm, Gilbert, Wilson, Kahneman and Loewenstein đã thực hiện hàng loạt các quan sát và kết luận loại bỏ một số giả định cơ bản.

Sự thực là, con người không bao giờ hiểu được điều họ muốn, không biết làm thế nào để cải thiện tình trạng bản thân, và hoàn toàn mù tịt về cách tối đa hóa lợi ích.

Hơn thế, công trình nghiên cứu của họ dấy lên một số câu hỏi đáng quan ngại và có phần riêng tư hơn.

Muốn tìm hiểu về "Dự báo cảm xúc", như Gilbert đã gọi những nghiên cứu này, bạn phải tự hỏi rằng liệu có phải tất cả những gì bạn từng nghĩ về các quyết định trong đời hay về hạnh phúc có ngây thơ nhất và sai lầm nhất không.

Gilbert và đồng sự của mình đã khám phá một vấn đề là chúng ta không ổn định khi tưởng tượng mình sẽ cảm nhận như thế nào ở thì tương lai.

Đó không phải là sai lầm lớn nhất.

Chúng ta đánh giá quá cao tác động của cảm xúc tới các sự kiện trong tương lai, về khoảng thời gian và cường độ.

Nói cách khác, chúng ta tin rằng chiếc xe BMW mới sẽ làm cho cuộc sống hoàn hảo hơn.

Nhưng khi chuyện đó thực sự diễn ra thì niềm vui ngắn chẳng tày gang và cũng không hạnh phúc như tưởng tượng.

Phần lớn những người tham gia thử nghiệm của Gilbert qua nhiều năm trước sau vẫn mắc sai lầm kể cả trong phòng thí nghiệm lẫn trong cuộc sống.

Và mặc dù cho họ đã đang cố gắng dự đoán tương lai họ cảm thấy như thế nào về một đĩa mì Spaghetii với nước sốt thịt, sự thất bại của một ứng cử viên hay tình trạng sợ yêu thì họ cũng không dự đoán được như ý.

Gilbert và cộng sự Tim Wilson gọi khoảng cách giữa điều chúng ta dự đoán và những gì chúng ta trải nghiệm cuối cùng là thiên kiến tác động – chúng ta có thiên kiến về những tác động của cảm xúc (về cường độ và thời gian ảnh hưởng) lên chúng ta, và thường thiên kiến đó là sai lầm.

Cụm từ này không chỉ đúng trong trường hợp của chiếc BMW, mà với bất cứ thứ gì có thể tạo cho bạn cảm giác hạnh phúc.

Những sai lầm trong kỳ vọng có thể dẫn đến những sai lầm khi lựa chọn điều mà ta nghĩ có thể đem lại cho ta hạnh phúc

Gilbert giải thích: 'Một người bình thường sẽ nói, 'Tôi biết mình sẽ hạnh phúc vì một chiếc xe hơi của Porsche hơn xe của Chevy,' hoặc trở thành bác sĩ thì vui hơn làm việc của một thợ sửa ống nước.' Điều đó rõ như ban ngày.

Vấn đề là, tôi không thể vào học trường y hoặc đủ khả năng mua Porsche.

Bởi vậy với một người bình thường, việc không thể có được chính xác cái tương lai mà ta mong muốn chính là điều ngăn cản ta có được hạnh phúc.

Nhưng những nghiên cứu của chúng tôi cho thấy vấn đề thực sự là trong tất cả những tương lai đó, tương lai nào có thể đền đáp bạn xứng đáng nhất và đem lại cho bạn sự thỏa mãn cao nhất

Không phải lúc nào bạn cũng có được điều mình muốn.

Nhưng đó không phải là vấn đề.

Vấn đề thực sự nằm ở chỗ không phải lúc nào bạn cũng biết mình muốn gì.

Có phải con người thậm chí không biết điều gì làm họ cảm thấy hạnh phúc?

Và nếu giờ ta khó có thể tìm ra chìa khóa để hạnh phúc, làm thế nào chúng ta có thể đoán được điều khiến ta hạnh phúc trong tương lai?

Gilbert đã thực hiện một thí nghiệm trong lớp nhiếp ảnh tại Harvard, ông đã cho các sinh viên chọn hai bức ảnh họ thích nhất trong số ảnh đã chụp rồi đưa lại một bức cho ông.

Một vài sinh viên nói họ đã chọn chắc như đinh đóng cột, một số khác lại nói họ sẽ đổi lại ảnh sau một vài ngày.

Hóa ra, những người có thời gian để thay đổi tâm trí ít hài lòng với quyết định của mình hơn so với những người lựa chọn dứt khoát.

Phần lớn các nghiên cứu của Gilbert đi theo hướng này.

Một nghiên cứu khác gần đây khảo sát liệu hành khách quá cảnh tại Boston suýt trễ tàu có tự đổ lỗi cho mình như họ tưởng rằng họ sẽ cảm thấy vậy không (Câu trả lời là Không).

Một báo cáo sắp được công bố nghiên cứu tại sao chúng ta hi vọng một vấn đề lớn sẽ thu bé đúng bằng một mối ưu sầu nhỏ xíu.

"Khi những điều thực sự tồi tệ xảy ra với chúng ta, chúng ta sẽ phản kháng chúng," Gilbert giải thích.

"Con người, dĩ nhiên, dự đoán hoàn toàn trái ngược.

Nếu bạn hỏi, 'Nếu phải chọn giữa bị gãy chân hoặc bị trật khớp thì bạn sẽ chọn cái nào?', họ có thể nói, 'bị trật khớp'.

Tuy nhiên, nếu mục tiêu của bạn là tích lũy hạnh phúc tối đa trong suốt cuộc đời, bạn vừa lựa chọn sai.

Bị trật khớp là một điều tồi tệ.''

Tất cả của những nghiên cứu tạo nên mối liên kết giữa việc dự đoán, ra quyết định và sự hạnh phúc.

Thí nghiệm bức ảnh của các sinh viên Harvard mâu thuẫn với nhận định phổ biến là chúng ta sẽ hạnh phúc hơn khi được tự do thay đổi ý định trong khi thực tế quyết định dứt khoát mới làm ta hạnh phúc hơn.

Còn thí nghiệm hành khách quá cảnh cho thấy rằng chúng ta có xu hướng sai lầm khi dự đoán mình sẽ tiếc những cơ hội bị bỏ lỡ.

Thí nghiệm việc nào tệ hơn cho thấy sự thất bại khi tưởng tượng những kích thích nghiêm trọng hủy hoại tâm trạng ta như thế nào.

Cảm giác phòng bị biến thành hành động khi ta đối mặt với một vụ li hôn hoặc một căn bệnh nhưng không áp dụng với những vấn đề không nghiêm trọng bằng.

Chúng ta sửa cái mái nhà dột, nhưng về lâu về dài, cánh cửa ra vào bị vỡ không được sửa chữa sẽ làm căn nhà hư hại nặng nề hơn.

Gilbert không tin rằng tất cả các dự báo sai lầm đều dẫn đến kết quả tương tự nhau; cái chết của một thành viên trong gia đình; một thành viên mới của phòng tập gym và một người chồng mới là những yếu tố không giống nhau, nhưng lại tác động đến niềm hạnh phúc của ta theo cùng một cách.

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ đơn giản nói lên rằng cho dù một điều gì đó có tác động hay không tác động đến bạn thì tác động đó cũng không lớn như bạn tưởng.

Những điều xảy ra với bạn hoặc khi bạn mua/sở hữu vật chất – bạn càng nghĩ chúng tạo ra sự khác biệt với bạn thì bạn đã sai trong một phạm trù nhất định.

Không gì trong số chúng tạo nên sự khác biệt bạn nghĩ.

Điều đó đúng với cả những điều tích cực và tiêu cực.

Phần lớn nghiên cứu của Kahneman, Loewenstein, Gilbert và Wilson bắt nguồn từ khái niệm thích nghi.

George Loewenstein tóm tắt khả năng này như sau: ''Hạnh phúc là một tín hiệu bộ não sử dụng để kích thích chúng ta làm những việc nhất định.

Và tương tự như cách mắt thích nghi với cường độ ánh sáng khác nhau, chúng ta được hướng về điểm bắt đầu của hạnh phúc.

Não không cố gắng để được hạnh phúc.

Nó đang cố gắng để điều khiển ta.'' Trong khía cạnh này, xu hướng thích ứng cho thấy lý do tại sao các thiên kiến tác động là quá phổ biến.

Như Tim Wilson cho biết: ''Chúng tôi không nhận ra ngay mình đã thích ứng với một sự kiện hay ho và biến nó thành một nền tảng của cuộc sống nhanh như thế nào.

Khi có bất kỳ sự kiện xảy ra với chúng ta, chúng ta làm cho nó trở nên bình thường giống các sự kiện trước đó.

Và vì quá trình đó, chúng ta đánh mất niềm vui của chính mình."

Thật dễ dàng để bỏ qua yếu tố mới và thiết yếu trong câu chữ của Wilson.

Không phải là chúng ta mất đi sự hứng thú với những gì nổi bật, chói sáng theo thời gian mà là con người thường không thể nhận ra rằng chúng ta đang thích nghi với hoàn cảnh mới và do đó không dung nhập được thực tế này vào các quyết định của mình.

Vì vậy, chúng ta sẽ thích ứng với BMW và TV plasma vì chúng ta thích ứng với hầu hết mọi thứ.

Nhưng Wilson và các đồng sự đã chỉ ra rằng chúng ta dường như không thể dự đoán rằng mình sẽ thích nghi.

Vì vậy, khi mỗi người bớt hào hứng với một sự vật hiện tượng, chúng ta chuyển sang sự vật hoặc sự kiện nào đó tiếp theo và gần như chắc chắn lại đoán sai tiếp, và sai lầm nối tiếp vô số lần.

Gilbert đã chỉ ra sai lầm này cũng quan trọng khi nhắc đến các sự kiện tiêu cực như thất nghiệp hoặc chứng kiến cái chết của một người nào đó chúng ta yêu thương, ta tạo ra một tương lai đau buồn khôn nguôi để phản ứng lại.

"Điều tôi quan tâm nhất và đã dành phần lớn thời gian để nghiên cứu, là con người không nhận ra cơ chế phòng vệ tâm lí mạnh cỡ nào khi chúng được kích hoạt"

Gilbert nói: ''Chúng tôi đã sử dụng các phép ẩn dụ của "hệ thống miễn dịch tâm lý" - nó chỉ là một phép ẩn dụ, nhưng cái tên lại rất chuẩn cho hệ thống phòng vệ giúp bạn cảm thấy tốt hơn khi những sự kiện xấu xảy ra.

Đã có nhiều nhà nghiên cứu biết đến sự tồn tại của cơ chế này.

Nhưng đáng ngạc nhiên là mọi người dường như không nhận ra cơ chế phòng vệ đó và sự thật là cơ chế sẽ được kích hoạt bởi những sự kiện tiêu cực".

Khi một người bạn thân qua đời, Gilbert cho biết: "Tôi cũng nghĩ như mọi người, rằng tôi sẽ không thể nào vượt qua mất mát này và cuộc đời sẽ không còn gì đáng nói nữa.

Nhưng vì có nghiên cứu của mình, trong đầu tôi luôn có một giọng nói cổ vũ: "Có, có mà, anh sẽ ổn thôi".

Tôi biết rằng giọng nói đó đúng."

Tuy nhiên, tranh luận về việc chúng ta không định hình hoàn hảo những gì chúng ta muốn và chúng ta sẽ xử sự như thế nào là sai hướng.

Một mặt, chúng ta có thể tiếc nuối khi đưa ra những quyết định trọng đại.

Tại sao tôi lại cho là làm việc 100 giờ một tuần để kiếm được nhiều hơn sẽ làm cho tôi hạnh phúc?

Tại sao tôi nghĩ nghỉ hưu đi nghỉ dưỡng sẽ làm tôi vui vẻ?

Mặt khác, bạn có thể được giải thoát.

Không nghi ngờ gì, một món đồ mới không làm tôi hạnh phúc như tôi tưởng.

Dù như thế nào, dự đoán chuyện chúng ta sẽ cảm nhận như thế nào ở thì tương lai vẫn là một điều bí ẩn.

Một phần lớn của nghiên cứu cho thấy mức độ giàu có trên mức trung lưu ít tác động đến hạnh phúc của chúng ta.

Con người thường khao khát một ngôi nhà rộng rãi, biệt lập (một yếu tố dễ thích ứng), trong khi, trên thực tế, nhà biệt lập có thể làm ta ít hạnh phúc hơn vì nó ngăn cách ta với hàng xóm láng giềng. (Tương tác xã hội và tình bạn đã được chứng minh là tạo nên niềm vui lâu dài).

Loewenstein đã mua một ngôi nhà như vậy và rồi phàn nàn: "Tôi đã rơi vào cái bẫy mà lẽ ra tôi không bao giờ rơi vào."

Trong thử nghiệm gần đây, Loewenstein cố gắng tìm hiểu mọi người có chấp nhận nhảy đơn trước mặt đám đông không.

Nhiều người đồng ý làm như vậy vì được tiền rồi một tuần sau chối bay chối biến không lên sân khấu.

Điều này nghe có vẻ giống như một trò hề, nhưng nó ám chỉ sự khác biệt cơ bản giữa cách chúng ta ứng xử trong trạng thái ''trái tim nóng'' (những khi lo âu, can đảm, sợ hãi, thèm thuốc, kích thích tình dục và đại loại như vậy) và trạng thái ''cái đầu tỉnh'', bình tĩnh có lý trí.

Khoảng cách giữa suy nghĩ và hành vi – con người dường như không thể dự đoán chúng ta sẽ cư xử trong khi cảm xúc dao động khi chúng ta đang ở trong một trạng thái tỉnh táo - ảnh hưởng rất nhiều đến nhưng có phần không được nhất quán như ảnh hưởng của thiên kiến tác động.

Loewenstein nói ''Vì vậy, nhiều thứ liên quan đến việc ra quyết định ảnh hưởng tới tương lai.

Nếu việc ra quyết định của chúng ta bị ảnh hưởng bởi những trạng thái tình cảm và tâm lý thoáng qua, thì chúng ta biết rằng mình đã không đưa ra quyết định tính đến những hậu quả trong tương lai.'' Điều này có thể đơn giản như một lời tỏ tình đến không đúng lúc, hoặc một cái gì đó tồi tệ hơn, như tự sát.

Cuộc điều tra đã khiến Loewenstein hợp tác với các chuyên gia y tế để tìm hiểu lý do tại sao mọi người chấp nhận quan hệ tình dục không an toàn trong khi họ sẽ không bao giờ làm như vậy khi lý trí tỉnh táo.

Dữ liệu từ các cuộc khảo sát trong đó các tình nguyện viên được hỏi họ sẽ cư xử như thế nào trong các tình huống "trái tim nóng" - quan hệ tình dục với trẻ vị thành niên, hay vẫn tiếp tục khi bạn tình yêu cầu dừng lại – đều cho thấy những trạng thái hưng phấn khác nhau có thể khiến câu trả lời thay đổi đáng kể.

''Các loại trạng thái khác nhau có khả năng thay đổi chúng ta sâu sắc đến nỗi trong những trường hợp khác nhau, ta hành xử khác hẳn ta của lúc bình thường còn hơn là ta khác người khác."

Sự tò mò về hai loại trạng thái này đến với Loewenstein khi ông gặp phải những tình huống cảm xúc chống đối lại đầu óc và dù đã cố gắng kìm chế cảm xúc thì ông vẫn mắc sai lầm.

Một thế giới mà không có dự báo sai lầm sẽ tốt hơn chăng?

Một cuộc sống không có dự báo sai lầm sẽ giàu sang hơn chăng?

Trong số các học giả nghiên cứu dự báo cảm xúc, rất ít người nghi ngờ rằng những loại câu hỏi như thế rồi sẽ thoát khỏi sách vở và đi vào thực tế.

Daniel Kahneman nói: ''Nếu mọi người không biết những gì sẽ làm cho họ tốt hơn hoặc mang đến cho họ niềm vui thì sẽ đáng nghi ngại khi bạn thuyết phục mọi người làm những việc có thể khiến họ hạnh phúc.''

Với Kahneman, dự báo cảm xúc có thể ảnh hưởng rất nhiều kế hoạch nghỉ hưu, ví dụ, dự đoán sai lầm khó có thể thay đổi được (tiền tiết kiệm được từng nào, chi tiêu bao nhiêu,...).

Ông thấy dự báo cảm xúc có ích trong việc tính toán chi tiêu của người tiêu dùng, khi một khoảng thời gian giảm nhiệt sẽ giúp họ bớt tội lỗi.

Quan trọng nhất, ông thấy dự đoán cảm xúc có thể áp dụng trong việc chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là về vấn đề thỏa thuận khi trị liệu.

''Chúng tôi xem xét những người có khả năng kí vào phiếu thỏa thuận trị liệu khi họ được biết những tác động phụ của quá trình điều trị.

Nhưng mọi người có thể dự đoán họ và những người khác sẽ phản ứng như thế nào khi phẫu thuật thông ruột hoặc cắt bỏ các dây thanh quản của của họ?

Các nghiên cứu về dự báo cảm xúc cho thấy con người khó thể dự đoán những phản ứng thích nghi từ những giai đoạn đầu.''

Loewenstein, cùng với cộng sự của ông, Tiến sĩ Peter Ubel, đã thực hiện rất nhiều công trình cho thấy không phải bệnh nhân mà là những người nhìn vào sẽ phóng đại nỗi bất hạnh khi mất đi một chi.

Loewenstein nói nếu sử dụng dự báo cảm xúc để chứng minh rằng con người thích nghi với những khó khăn thể chất nghiêm trọng tốt hơn và sẽ hạnh phúc hơn họ tưởng tượng là không có căn cứ.

Tuy nhiên, có vài nhược điểm khi công bố nghiên cứu ra bên ngoài.

Loewenstein nói với tôi là ông không thấy ai nghiên cứu về hạnh phúc và không theo khuynh hướng chính trị cánh tả ủng hộ công bằng xã hội, phản đối phân tầng và bất bình đẳng xã hội.

Dữ liệu cho thấy nâng cao tiêu chuẩn sống của những người đã sống dễ chịu sẵn rồi, ví dụ như giảm thuế cho họ, không làm thay đổi mức độ giàu có của họ nhiều. trong khi đó nâng cao đời sống cho người nghèo lại tạo nên sự khác biệt rõ rệt.

Tuy nhiên, ông và Gilbert dường như không theo phe nào.

"Chúng ta rất lo lắng nếu nghiên cứu bị áp dụng sai cách.

Vì chúng tôi phát hiện ra rằng yếu tố X khiến người ta hạnh phúc và họ đang chọn điều Y, chúng tôi không muốn áp đặt X lên họ.

Tôi không thích thói gia trưởng và sử dụng kết quả nghiên cứu để áp đặt quyết định của người khác."

Với Loewenstein, cuộc sống không có dự báo sai lầm sẽ là một cuộc sống tốt đẹp và vui vẻ hơn.

"Nếu bạn hiểu sâu về thiên kiến tác động và bạn hành động theo nó, dù không phải lúc nào cũng dễ dàng nhưng bạn sẽ có xu hướng đầu tư những nguồn lực cho những thứ khiến bạn hạnh phúc."

Điều này có nghĩa là bạn sẽ đi chơi cùng bạn bè thay vì dành thời gian để kiếm tiền.

Ông cũng bổ sung thêm là hiểu biết về khoảng cách giữa trạng thái "trái tim nóng" và "cái đầu tỉnh" có thể giúp bạn không đưa ra nhiều quyết định đáng tiếc.

Gilbert rất lạc quan về tương lai áp dụng nghiên cứu vào phát triển "bản đánh giá thể chế" – chúng ta có thể dành tiền chăm sóc sức khỏe nhưng không dùng để đánh giá bản thân.

Gilbert thừa nhận rằng mình bị ảnh hưởng rất nhiều từ nghiên cứu, ví dụ nghiên cứu về hệ thống miễn dịch tâm lí khiến ông nghĩ rằng mình có thể thích nghi với những sự kiện xấu nhất.

Hơn nữa, ông nói rằng giờ mình có nhiều cơ hội hơn, một sự thật nằm trong nghiên cứu của Tim Wilson.

"Lẽ ra tôi đã học được rất nhiều thứ từ công trình nghiên cứu của mình.

Tôi sẽ kết hôn xuân này vì tôi biết rằng vợ chưa cưới của tôi sẽ làm tôi hạnh phúc."

Cho dù vậy, Gilbert hiện đang làm một thí nghiệm trong đó dự báo cảm xúc bị loại bỏ.

Nhóm của Gilbert sẽ yêu cầu thành viên nhóm A đoán xem họ sẽ cảm thấy như thế nào nếu nhận được phản hồi tiêu cực về mình.

Đương nhiên thiên kiến tác động xuất hiện và họ đa phần đoán rằng mình sẽ thấy rất tệ, trong khi thực tế là họ vẫn ổn.

Nhưng nếu Gilbert cho nhóm B biết rằng nhóm A nhận được phản hồi tương tự và cuối cùng vẫn Ok thì thành viên nhóm B cũng đoán rằng mình cũng sẽ Ok thôi.

Thiên kiến tác động biến mất và thành viên nhóm B đã đưa ra dự đoán chính xác.

Gilbert rất vui vì điều này.

Nhưng đồng thời, đây là kĩ thuật ông muốn đưa vào một cuốn sách phát triển bản thân.

"Hi vọng và sợ hãi là những đặc tính lâu dài của trải nghiệm, con người không có khả năng chối bỏ chúng chỉ vì các nhà tâm lí học bảo họ nên làm thế."

Trên thực tế, ông băn khoăn liệu dự báo sai lầm có thể phục vụ mục đích nào khác mà ông vẫn chưa hiểu hết không.

Lợi ích của việc không dự báo sai lầm là bạn có thể hạnh phúc hơn chút nữa.

Khi phải chọn giữa hai công việc, bạn sẽ không nghĩ nhiều vì bạn sẽ nói: Bạn biết đấy, tôi hài lòng với cả hai.

Hoặc là tôi sẽ thích nghi với công việc hoặc là có muốn băm chết mình vào tuần tới cũng chẳng ích gì.

Tuy nhiên có thể bức tranh biếm họa về tương lai chỉ là tưởng tượng khiến chúng ta đi theo một hướng chứ không phải là hướng khác.

Có thể chúng ta không muốn một xã hội ai cũng nhún vai và nói: "Sẽ chẳng có khác biệt gì đâu"

"Có thể điều quan trọng ở đây là dù chỉ là tưởng tượng thì chúng vẫn là củ cà rốt và cây gậy và ta sẽ nhích về phía cà rốt và tránh xa cái gậy"
 
Tâm Lý Học
4 nguyên nhân dẫn đến mọi loại định kiến


Có bốn nhân tố làm hạn chế trí nhận thức của chúng ta và hiểu biết về mọi cá nhân, tập thể, cơ quan bộ phận, máy móc, người ngoài hành tinh hay các vị thần viễn tưởng.

Có bốn nhân tố làm hạn chế trí nhận thức của chúng ta và hiểu biết về mọi cá nhân, tập thể, cơ quan bộ phận, máy móc, người ngoài hành tinh hay các vị thần viễn tưởng.

Tất cả 200 loại định kiến mà chúng ta đã biết đều xoay quanh bốn vấn đề này!

1.

Có quá nhiều thông tin

Vấn đề đầu tiên gây ra định kiến nhận thức là có quá nhiều thông tin khiến bất cứ một cá nhân nào cũng khó có thể lĩnh hội hết.

Chúng ta có năm giác quan (hoặc hơn chục giác quan, tùy theo cách phân loại), và chúng ta quá bé nhỏ trước sự rộng lớn của thế giới

Do đó, có rất nhiều thông tin bên ngoài (ngoài căn nhà của bạn, trên đường, ở bán cầu bên kia của thế giới, trong thiên hà, trong quá khứ) mà chúng ta đã và sẽ bỏ qua.

Khi chúng ta nói về trí tuệ siêu nhân tạo, nó sẽ làm suy giảm, thậm chí hạn chế khả năng của não bộ con người.

Trí tuệ nhân tạo vẫn có thể lắp đặt và kết nối mạng lưới của máy quay với số lượng không tưởng, và các thiết bị cảm biến khác trên thế giới, có thể phóng tên lửa để tiếp tục xây dựng bản đồ hệ mặt trời và còn hơn thế nữa.

Nhưng sự hạn chế của vật chất, nhiên liệu, tốc độ ánh sáng và sự bất khả thi của việc du hành thời gian khiến toàn bộ thông tin không bao giờ được biết đến đầy đủ.

2.

Không có đủ ý nghĩa

Vấn đề thứ hai là quá trình chuyển hóa thông tin thô thành thông tin hữu dụng đòi hỏi sự kết nối giữa lượng thông tin hạn chế bạn thu nhận được và các hình mẫu tinh thần, niềm tin, biểu tượng, những mối giao thiệp/ liên hệ mà bạn từng thu lượm trong các trải nghiệm trước.

Kết nối thông tin là một quá trình không chính xác và mang tính chủ quan, dẫn đến kết quả cuối cùng là một sự kết hợp của thông tin cũ và mới.

Câu chuyện mới của bạn được xây dựng từ những viên gạch của những câu chuyện cũ, và do đó nó luôn chứa ẩn những tính chất và những tình tiết quá khứ không thực sự đúng với thực tế.

Ví dụ, chiếc xe ô tô đầu tiên được gọi là xe không ngựa kéo vì phương tiện gần nhất trước đó là xe có ngựa kéo.

Nếu trí tuệ siêu nhân đạo được nạp dữ liệu về mọi biểu tượng, sự việc trên mạng cũng và cả trong trí tuệ chung của con người, nó cũng không có khả năng đưa ra một thông tin mới mà không dùng đến các ý tưởng cũ (và nhiều ý tưởng cũ đó có thể khá thiếu tin cậy và không hữu ích...

Chẳng báu bở gì khi trí tuệ nhân tạo phải kiểm duyệt tất cả mớ thông tin đó)

3.

Không có đủ thời gian và nguồn lực

Vấn đề thứ ba là sự thiếu thời gian tại thời điểm/ trong ngày/ trong cả cuộc đời để cân nhắc và phân tích toàn diện mọi khả năng nhằm đảm bảo chúng ta đang đưa ra quyết định và hành động đúng.

Kể cả quyết định món ăn cho bữa trưa cũng có thể tốn nhiều thời gian hơn tuổi thọ của cả vũ trụ nếu bạn thực sự cân nhắc đến mọi lựa chọn.

Một trí tuệ siêu nhân tạo cũng gặp phải vấn đề tương tự, và cho đến gần đây nó đã là một "bằng chứng" chứng minh rằng máy tính không bao giờ có thể trở thành nhà vô địch thế giới cờ vây vì có đến 129.960 vị trí khả thi chỉ sau lượt đi đầu tiên và số vị trí tăng theo cấp số nhân sau mỗi lượt mới.

Sau đó, người ta đã xây dựng nên chương trình máy tính, làm những gì con người làm và quan sát và lựa chọn bước đi tốt nhất dựa trên trực giác, hình thành từ việc xem hàng triệu trò chơi nên cũng phải đầu hàng trước vấn đề thời gian và nguồn lực.

4.

Không đủ bộ nhớ

Vấn đề thứ tư là sự thiếu dung lượng trong não bộ hoặc trong mọi vật chất của vụ trụ để lưu trữ mọi thông tin thô, mọi ý tưởng và sự diễn đạt cũng như mọi quyết định chúng ta từng đưa ra trong quá khứ.

Chúng ta phải có chiến lược lựa chọn những gì cần phải ghi nhớ và những gì cần loại bỏ khỏi não bộ

Chúng ta có thể cố tổng hợp, hoặc đồng nhất các thông tin tiết kiệm dung lượng, nhưng những việc này cũng gây ra vấn đề.

Một trí tuệ siêu nhân tạo nhớ được mọi thứ nó từng nhìn thấy và tiếp thu có thể tạo ra một tình huống trong đó cả bốn vấn đề kể trên được áp dụng để phục hồi kí ức của chính nó.

Dưới đây là 1 bảng tổng hợp nhỏ của tác giả

Dịch: DK Linh

Hiệu đính: Thiên Thanh

Nguồn: http://www.businessinsider.com/4-ba...tive-biases-that-screw-up-our-judgment-2017-3
 
Tâm Lý Học
Tư duy như tội phạm - Kỹ năng số 1 của kẻ săn mồi thành công


Tại sao chúng có thể nhanh chóng thích ứng với trở ngại và thách thức

Nội dung chính

Nghiên cứu về tính linh hoạt trong nhận thức đưa ra vài quan điểm để tạo ra một bản đánh giá tiêu chuẩn về trí thông minh tội phạm săn mồi.Khả năng thích ứng và phục hồi của những kẻ săn mồi thành công cho thấy mức độ cao về sự linh hoạt nhận thức, hay khả năng thay đổi định kiến tâm trí của chúng.Việc đo lường và đánh giá khả năng chuyển đổi nhiệm vụ (set-shifting) của kẻ săn mồi có thể tiết lộ những cách thức để giúp chúng ta tự vệ.

Nguồn: Bức vẽ của tiến sĩ Katherine Ramsland

5 năm trước, tôi từng viết một bài báo nói về việc cần phải có một thước đo tiêu chuẩn về độ ranh mãnh của những kẻ săn mồi.

Chúng ta đã có những phương pháp như vậy cho chứng thái nhân cách (), trách nhiệm hình sự, nhân cách lệch lạc và mức độ sa đọa.

Nhưng chúng ta cũng cần tập trung vào trí khôn đường phố (street smart) của những kẻ săn mồi thành công—cái mà tôi gọi là C-IQ của chúng.

Những thành phần riêng biệt của nó là gì?

Một yếu tố mà tôi nhiều lần phát hiện ra từ nghiên cứu của mình về nhóm gian manh này, chính là sự linh hoạt trong nhận thức (CF).

Nghĩa là, chúng có thể nhanh chóng chuyển đổi giữa các khía cạnh tâm trí khác nhau và điều chỉnh hành vi của chúng để đạt được mục tiêu.

Loài người chúng ta là những sinh vật có xu hướng làm theo thói quen, điều đó có thể dẫn tới sự cứng nhắc hay ù lì, nhưng kẻ săn mồi nhanh nhạy không để cho những định kiến tâm trí đó cản trở mình.

Chúng sẵn sàng chuyển sang một cái gì đó mới nếu hoàn cảnh đòi hỏi.

Nói ngắn gọn, chúng có những chiến lược ra-quyết định ưu việt.

Khả năng linh hoạt về nhận thức hỗ trợ kẻ săn mồi như thế nào

Một phụ nữ bị bắt quả tang xâm nhập gia cư bất hợp pháp khi chủ đi vắng nói rằng cô ả đang chạy bộ gần đó và nghe thấy tiếng chuông báo động.

Thấy lo lắng nên cô ả vào nhà để xem giúp gì được không.

Nhưng cô ả không phải là bạn hay hàng xóm của gia chủ.

Cô ả mặc sẵn bộ trang phục chạy bộ để chứng minh cho lời khai có lợi cho mình trong trường hợp kế hoạch B&E của ả thất bại.

Khi chuông báo động vang lên và cảnh sát đến, cô ta đã nhập vai khác.

Họ không thể chứng minh điều ngược lại nên đã cho cô ả đi.

Các nhà nghiên cứu Laureiro-Martinez và Brusoni cho biết rằng, kiểu thông minh này không phải là kiểu thông minh cứng (crystalized) được đo lường bằng các công cụ đánh giá IQ.

Mà thay vào đó, "khả năng chuyển đổi nhiệm vụ" là một khía cạnh của trí thông minh mềm (fluid intelligence).

Đó là sự giao cắt giữa tư duy tự do và tư duy có chủ định cho phép một ai đó hành động theo một kế hoạch, đồng thời vẫn tính đến những kế hoạch khác.

Các doanh nhân cũng là bậc thầy về loại thông minh này.

Và bọn săn mồi thành công cũng thế.

Bọn chúng cũng có năng khiếu—hay đã rèn luyện được—khả năng nhìn nhận một tình huống từ nhiều góc độ.

Trong tay chúng có nhiều chiến lược sẵn sàng để xài.

Khi bị chặn bởi một chướng ngại bất ngờ, chúng có thể giải quyết vấn đề giống như một tay đua xe máu lửa để tiếp tục cuộc đua.

Một số kẻ săn mồi cũng sở hữu khả năng ngắt kết nối cảm xúc giống như bọn thái nhân cách.

Chúng không vướng bận trước cam kết phải trở nên chính trực, đạo đức hay sự thật.

Khi ít bận tâm đến việc gây hại cho người khác thì việc so sánh bất cứ chiến lược nào giúp chúng đạt mục tiêu sẽ dễ dàng hơn.

Trên thực tế, sự linh hoạt trong nhận thức được dùng làm công cụ trong "nhận thức 'lạnh'—cold ," hay tư duy lý trí; do đó, nó hỗ trợ kẻ săn mồi trong việc thao túng người khác mà không bị phân tâm bởi những bận tâm tình cảm.

Hình ảnh thần kinh chỉ ra rằng năng lực linh hoạt nhận thức xuất phát từ một mạng lưới các kết nối não bộ trong vùng trán và vùng vân.

Một vùng có liên quan đến các quá trình nhận thức bậc cao, như việc ra quyết định, còn vùng kia thì gắn liền với động lực, cụ thể là, phần thưởng.

Laureiro-Martinez và Brusoni cho rằng, sự linh hoạt trong nhận thức càng lớn thì hiệu suất ra quyết định càng tốt, bao gồm cả tốc độ ra quyết định.

Các nhà tư duy-siêu đẳng này càng có thể nhanh chóng chuyển sang những hành động hiệu quả thì họ càng thành công.

Vậy, chúng ta làm cách nào để tạo ra được một bản đánh giá trí khôn đường phố (C-IQ), bao gồm các mức độ của sự linh hoạt nhận thức?

Những kẻ săn mồi có sức mê hoặc chúng ta nhiều nhất chắc chắn bộc lộ khả năng thích ứng và phục hồi này.

Chúng sở hữu tài năng phục hồi ngoạn mục sau thất bại.

Điều đó bắt nguồn từ cảm giác hơn người của chúng, vì thế tính ái kỷ () là chìa khóa.

Chúng tin rằng chúng "được bảo vệ" và thứ gì đó—có lẽ là trí thông minh kiểu MacGyver của chúng—sẽ luôn giải cứu chúng.

Điều này mang lại cho chúng sự tự tin để mạo hiểm.

Một thiết bị đánh giá cho năng lực này sẽ phải dựa trên kết quả.

Nó có thể bao gồm các chiến lược giải quyết vấn đề, nhưng chúng ta cũng cần phải tính đến một mục tiêu hấp dẫn.

Cơ chế phần thưởng có vẻ là điều thiết yếu đối với sự linh hoạt nhận thức của kẻ săn mồi.

Chúng cần một phần thưởng.

Về bản chất, một công cụ đánh giá C-IQ phải nắm bắt được khả năng mường tượng và hành động theo các chiến lược hướng đến mục tiêu đa dạng kết hợp với tốc độ của trực giác và cấu trúc của tư duy có chủ định.

Đó là một yêu cầu khá cao!

Nhưng nếu chúng ta có thể xác định được những đặc tính cụ thể của kỹ năng này giúp bọn săn mồi ra sao thì ta sẽ được trang bị tốt hơn để tìm được cách bảo vệ chính mình.

Tác giả: Tiến sĩ
 
Tâm Lý Học
Lý giải hiện tượng "yêu tội phạm"


Kẻ sát nhân hàng loạt Charles Manson người Mỹ vừa qua đời ở tuổi 83 khi đang thụ án trong tù tại California.

Manson vốn khét tiếng với giáo phái "Gia đình", gây ra hàng loạt vụ giết người chấn động nước Mỹ những năm 1960 nhưng điều lạ lùng là một số phụ n

Kẻ sát nhân hàng loạt Charles Manson người Mỹ vừa qua đời ở tuổi 83 khi đang thụ án trong tù tại California.

Manson vốn khét tiếng với giáo phái "Gia đình", gây ra hàng loạt vụ giết người chấn động nước Mỹ những năm 1960 nhưng điều lạ lùng là một số phụ nữ lại coi hắn là "bạn trai hoàn hảo".

Hiện tượng lạ này là gì?

Hiện tượng lạ

Sau khi bị kết án vì tội giết người hàng loạt, trong đó có nữ diễn viên Sharon Tate, Charles Manson vẫn được phụ nữ yêu và theo đuổi.

Cách đây ba năm, Manson đã đính hôn với Afton Elaine Burton, một phụ nữ 26 tuổi có biệt danh Star và điều hành một trang web mang tên "Hãy thả Charles Manson ngay bây giờ".

Charles Manson có nhiều phụ nữ hâm mộ.

Mối quan hệ này đã khiến dư luận xôn xao.

Giấy phép cử hành hôn nhân của cặp đôi đã hết hạn từ tháng 2/2015.

Báo lá cải đồn rằng Burton muốn lấy kẻ giết người để mình có thể trưng bày xác ông ta và kiếm tiền sau khi ông ta chết.

Cáo buộc này đã bị bố mẹ của Burton bác bỏ.

Cho dù lý do mà Burton theo đuổi mối quan hệ với Manson là gì thì khi tin tức về cuộc đính hôn giữa hai người rò rỉ, mạng internet liên tục tràn ngập những câu chuyện về hiện tượng tình dục mới gọi là hybristophilia (yêu tội phạm) hoặc hội chứng Bonnie và Clyde.

Bà Katherine Ramsland, giáo sư tâm lý học pháp lý thuộc Đại học DeSales và tác giả cuốn "Tâm lý pháp lý của tội phạm", giải thích: "Hybristophilia là một rối loạn tình dục mà trong đó cảm xúc nảy sinh khi ở cùng một đối tác đã phạm tội như giết người, tra tấn, cưỡng hiếp".

Tuy nhiên, hybristophilia không phải lúc nào cũng khiến phụ nữ và đàn ông cảm thấy bị kẻ giết người hấp dẫn.

Theo giáo sư Ramsland, có nhiều động cơ khác nữa.

Một số phụ nữ muốn tìm kiếm sự nổi tiếng hoặc tin rằng họ có thể thuần hóa con thú hoang dại trong một người đàn ông bạo lực.

Ted Bundy nhận được cả tá thư tình trong tù.

Một số phụ nữ hẹn hò với sát nhân hàng loạt đã tiến tới kết hôn.

Ted Bundy, tên sát nhân hàng loạt khét tiếng, kẻ đã cưỡng hiếp và giết hơn 30 phụ nữ, từng nhận được hàng tá thư từ người hâm mộ nữ khi ở trong tù.

Trong thư từ có cả ảnh khỏa thân, thậm chí lời cầu hôn dành cho hắn.

Trong quá trình xét xử Bundy, phụ nữ hâm mộ hắn thường xuất hiện trong phòng xử án, ăn mặc, để tóc như những phụ nữ mà hắn đã giết hại.

Năm 1980, khi vẫn còn bị xét xử, Bundy đã kết hôn với một trong những người hâm mộ mình là một bà mẹ hai con đã ly dị hai lần tên là Carole Anne Boone.

Năm 1989, Richard Ramirez hay còn gọi là "sát thủ bóng đêm" bị kết án tử hình vì gây ra 13 vụ giết người.

Điều đó không ngăn cản Doreen Lioy, biên tập viên tạp chí tự do, kết hôn với hắn 7 năm sau đó.

Lioy coi Ramirez là người tốt bụng, hài hước và hấp dẫn.

Gần đây hơn, tên Anders Breivik, kẻ khủng bố đã giết 77 người ở Na Uy năm 2011, chủ yếu là trẻ em, đã nhận được thư tình từ các cô gái, có người chỉ mới 16 tuổi.

Đi tìm nguyên nhân

Mặc dù không có một khuôn mẫu chung cho loại phụ nữ yêu một kẻ sát nhân hàng loạt nhưng họ có điểm chung là đều có một tuổi thơ rắc rối.

Đó là nhận định của bà Sheila Isenberg, một giáo sư người Anh và là tác giả cuốn "Phụ nữ yêu đàn ông giết người".

Bà Isenberg giải thích: "Không có ngoại lệ nào cả, những phụ nữ tôi đã phỏng vấn để viết sách đều có một mối quan hệ bị lạm dụng thời nhỏ.

Gia đình họ, bạn trai đầu tiên, chồng hoặc một ai đó đã lạm dụng họ về tình cảm, thể xác, tình dục".

Khi có quan hệ với một tội phạm bị tống tù, những người phụ nữ này cảm thấy một điều gì đó giống như quyền lực.

Họ có cơ hội được tự kiểm soát, thường là lần đầu tiên trong đời họ.

Họ tự ra quyết định, họ là người tự do được đến và được đi theo ý muốn.

Nghe có vẻ khác thường nhưng khi có quan hệ với một kẻ giết người bị kết án, phụ nữ từng có quá khứ bị lạm dụng cảm thấy an toàn hơn vì anh ta ở sau song sắt còn mình thì không.

Do đó, một tội phạm bị kết án sẽ là "bạn trai hoàn hảo" với những phụ nữ này.

Theo giáo sư Ramsland, người phụ nữ luôn biết anh ta ở đâu và khi người phụ nữ có thể tuyên bố rằng có người yêu mình, cô ấy không phải chịu đựng những vấn đề hàng ngày trong phần lớn mối quan hệ tình cảm.

Cô ấy có thể giữ được cảm xúc lâu hơn mà không phải lo nấu nướng, dọn dẹp hay trình bày với một ai đó.

Cảm xúc đó có cả niềm tin rằng chỉ có họ mới biết bạn trai mình thực sự là người như thế nào.

Nhà tâm lý học Oren Amitay ở Toronto, Canada phân tích: "Nhiều người trong số những phụ nữ này tin rằng họ là người duy nhất có thể chạm vào con người thực ẩn sau con quái vật mà dư luận đang khắc họa sai lầm.

Chỉ có họ mới có thể trao cho bạn trai tình yêu và sự ủng hộ mà anh ta xứng đáng, chỉ có họ mới có thể biết 'cái tôi thực sự' và chứng minh rằng anh ta vô tội, hay ít nhất là bị công chúng hiểu lầm".

Tuy vậy, tham vọng nổi tiếng của họ cũng không thể bị đánh giá thấp.

Nếu người phụ nữ tìm kiếm sự nổi tiếng nhanh chóng thì họ có thể làm điều đó bằng cách hẹn hò với một kẻ sát nhân bị kết án.

Bà Ramsland nói: "Những người này xuất hiện trên chương trình trò chuyện để tuyên bố tình yêu của mình và khăng khăng rằng kẻ sát nhân bị kết án bị đối xử bất công hoặc hiện giờ anh ta đã khác.

Họ thậm chí có thể nhận rằng mình có công 'cải tạo' anh ta, như thể là tình yêu của họ là tất cả những gì anh ta cần để thay đổi, một liều thuốc thần".

Trong trường hợp yêu người bị kết án tử hình, câu chuyện của người phụ nữ vẫn tiếp tục sau khi kẻ sát nhân bị tử hình.

Những phụ nữ này tham gia vào quá trình xét xử và kháng cáo, thậm chí là lúc hành hình.

Đối với trường hợp Burton, hồi tháng 1, bố mẹ cô gái nói rằng Burton tìm cách gặp Manson khi hắn bệnh nặng nhưng bị bệnh viện ngăn cản.

Theo lời cha Burton, hai người "vẫn là bạn bè".

Nhật Minh - Theo Cand.com.vn
 
Tâm Lý Học
Hiệu Ứng Quỷ Dữ - The Lucifer Effect


Với nỗ lực tìm ra nguồn gốc của phần xấu xa trong mỗi con người, "Hiệu ứng quỷ dữ" tập trung đào sâu vào những góc tối trong tâm hồn chúng ta.

Bản tóm tắt cuốn sách Hiệu Ứng Quỷ Dữ - The Lucifer Effect, Philip Zimbardo, dịch bởi (Chuyên trang chia sẻ hàng trăm tóm tắt sách tinh gọn, miễn phí, có bản quyền)

Với nỗ lực tìm ra nguồn gốc của phần xấu xa trong mỗi con người, "Hiệu ứng quỷ dữ" tập trung đào sâu vào những góc tối trong tâm hồn chúng ta.

Cuốn sách chỉ ra cách mà con người cân bằng giữa "thiện" và "ác" trong chính bản thân mình.

Tuy nhiên, không phải bản chất con người chúng ta, mà là những tác động từ hoàn cảnh mới là thứ quyết định xem ta sẽ thiên về bên nào.

Cuốn sách sẽ giúp bạn mở mang kiến thức nếu:

Bạn hứng thú với tâm lý học và muốn hiểu hơn về bản chất con người

Bạn muốn đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Tại sao những người tốt đôi khi lại làm việc xấu?

Người tặng bạn những thông tin tuyệt vời này là

Philip Zimbardo, giáo sư ngành Tâm lý học ở đại học Stanford, ông được biết đến rộng rãi với Thí nghiệm nhà tù Stanford.

Ông đồng thời cũng là cựu chủ tịch của Hiệp hội Tâm lý học Mỹ. người gần như đã cống hiến cả đời để nghiên cứu về ranh giới giữa thiện và ác, những yếu tố nào có thể khiến một người chính trực làm những điều xấu xa.

Một vài cuốn sách nổi tiếng khác của ông gồm Shyness và Psychology and Life (đồng tác giả).

Tại sao người viết lại muốn giới thiệu cuốn sách này đến bạn

Cuốn sách là thành quả sau quá trình nghiên cứu kéo dài 30 năm về nguồn gốc cái ác của giáo sư Zimbardo.

"Hiệu ứng quỷ dữ" chứa đựng rất nhiều những nghiên cứu động trời về tâm lý học, đi sâu vào những phần đen tối nhất của con người, nhưng trên tất cả, lý thuyết mà tác giả muốn nhấn mạnh đó là những nhân tố làm biến đổi tâm lý, từ đó thay đổi hành vi của con người.

Đồng thời qua đó, ông cũng thể hiện một cái nhìn đầy thấu hiểu và nhân văn.

Chương 1.

Bạn sẽ được lợi ích gì khi tìm ra lí do tồn tại của phần đen tối trong con người mình?

Bạn đã từng nghe câu chuyện của Lucifer chưa?

Lucifer từng là một trong những thiên thần được Thượng đế yêu quý nhất.

Tuy nhiên, trong một lần lỡ phạm thượng, ông đã bị phạt đày xuống địa ngục cùng với những thiên thần phạm tội khác.

Sau đó, ông dần dần trở thành Satan, hiện thân của mọi loài quỷ dữ trên hành tinh.

Khi thậm chí một người thánh thiện có thể trở nên xấu xa khi ở trong những hoàn cảnh tốt hoặc xấu thì đó được gọi là hiệu ứng Lucifer (hiệu ứng quỷ dữ).

Tuy nhiên, không chỉ có duy nhất kinh thánh mới kể những câu chuyện về một thiên thần trở thành ác quỷ.

Trong cuộc sống hàng ngày, dù là vùng chiến tranh hay hòa bình, chúng ta cũng đã đọc rất nhiều về trường hợp người bình thường gây nên những điều vô nhân đạo.

Xu hướng này vận hành như thế nào?

Có phải nó chỉ đơn giản xảy ra như thế hay không?

Bản tóm tắt này sẽ soi chiếu đến những phần sâu thẳm nhất trong tâm hồn con người, nghiên cứu về những cơ chế, hoàn cảnh, và điều kiện gây nên hiệu ứng Lucifer.

Chương 2.

Bất cứ ai đều có thể trở thành "ác quỷ"

Hãy nghĩ lại xem bạn đã từng lấy đồ của người khác lúc không ai để ý hay chưa?

Hầu hết mọi người đều đã từng làm như vậy.

Mặc dù đó không hẳn là hành vi xấu xa nhất, nhưng nó đã thể hiện rằng chúng ta rất dễ phát sinh những hành động mà bình thường bản thân không bao giờ làm nếu hoàn cảnh cho phép.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn luôn cho rằng một số người sinh ra đã là thiên thần, trong khi có người sinh ra để trở thành một ác nhân.

Nhưng sự thật rằng, ranh giới giữa cái thiện và cái ác hoàn toàn có thể bị vượt qua.

Trường hợp của Ivan "Chip" Frederick, cựu sỹ quan quân đội Mỹ là một ví dụ điển hình.

Anh ta từng là quản ngục ở nhà tù Abu Ghraib, nơi sau này được biết đến là "địa ngục" lạm dụng và tra tấn những tù nhân Iraqi ở đó.

Liệu rằng có phải trước khi làm việc ở Abu Ghraib thì Frederick đã là một người xấu?

Không hề, thậm chí là ngược lại.

Anh ta bình thường như bao người khác, yêu nước, thích bóng chày, có chỉ số IQ trung bình và hoàn toàn không có biểu hiện của vấn đề tâm lý.

Nhưng khi làm việc ở nhà tù Abu Ghraib, anh ta trở thành một tên ác nhân độc địa.

Điều gì đã dẫn đến sự thay đổi khủng khiếp ấy?

Khi một ai đó phạm phải tội ác, chúng ta thường cho rằng bản chất của họ đã là một quỷ dữ rồi.

Và cách quan điểm trên cũng được áp dụng với trường hợp của nhà tù Abu Ghraib, nghĩa là vấn đề nằm ở bản chất của những người cai ngục.

Cả nhà tâm lý học và tâm thần học đều tập trung vào thứ gọi là "nguyên nhân từ bản chất con người" – những yếu tố dẫn đến hành động của chúng ta.

Người ta tin rằng di truyền, tính cách, bệnh lý đều là những thứ chúng ta sẵn có trong mình

Trong trường hợp của Frederick, mọi người thường dùng "nguyên nhân từ bản chất" để lí giải cho hành động của anh ta.

Hay nói cách khác, anh ta sinh ra đã là một "ác nhân".

Tuy nhiên, những nguyên nhân từ hoàn cảnh mới thực sự là thứ có thể giải thích cho hành vi của anh ta chứ không phải bất kì yếu tố bẩm sinh nào khác.

Theo những gì bạn thấy ở phần tiếp theo, Frederick không phải sinh ra đã là một ác quỷ hay thiên thần.

Nguyên nhân thực sự cho hành vi dã man ấy nằm hoàn toàn ở khía cạnh khác.

Chương 3.

Tính cách của chúng ta không phải là thứ ổn định, nó thay đổi phụ thuộc vào hoàn cảnh

Cùng với những lầm tưởng về bản chất thiện hay ác bẩm sinh của con người, hầu hết mọi người đều nghĩ rằng tính cách chúng ta là thứ sẽ không bao giờ thay đổi.

Đã đến lúc ta phải bỏ ngay tư tưởng sai lầm này.

Ví dụ, hãy so sánh cách bạn đối xử với bạn thân của mình với những đứa trẻ xung quanh.

Chắc chắn rằng chúng hoàn toàn khác nhau.

Nhưng tại sao lại như vậy?

Tính cách của con người không phải thứ cố định.

Bạn là người như thế nào và hành động ra sao phụ thuộc vào từng bối cảnh xã hội và từng trường hợp khác nhau.

Quan điểm này gọi là "tư duy tình huống" để hiểu về hành vi của người khác.

Nó cho rằng những gì bạn làm phụ thuộc vào tình huống mà bạn đang phải xử lý.

Theo "tư duy tình huống", bạn là một người với những người bạn yêu thương, nhưng lại là một người hoàn toàn khác khi nói chuyện với sếp của bạn.

Thí nghiệm Milagram là một minh chứng rõ nét nhất cho quan điểm này.

Những người tham gia thí nghiệm được cho biết rằng họ đang tham gia vào một nghiên cứu thúc đẩy trí nhớ.

Những người chủ trì có vai trò như là thầy giáo, những diễn viên sẽ đóng vai học sinh ở trong một căn phòng kín.

Thầy giáo sẽ giúp học trò nhớ những cặp từ ngữ, mỗi lần nhớ sai, họ sẽ bị thầy phạt bằng cách sốc điện.

Mức độ sốc điện sẽ tăng theo từng lỗi, bắt đầu từ nỗi đau đớn vừa phải ở 15V tăng dần đến mức chết người là 450V.

Khi điện áp và nỗi đau đớn thể xác tăng lên, những học sinh mắc càng nhiều lỗi sai và bắt đầu la hét, từ chối trả lời.

Bất chấp nỗi đau đớn của học trò, hầu hết thầy giáo tiếp tục tăng mức độ sốc điện.

Nếu họ miễn cưỡng không muốn làm, một người thứ ba – "người nghiên cứu" sẽ khuyên họ tiếp tục tăng lên và nói rằng đây là một phần nguyên tắc của thí nghiệm, và anh ra chỉ đang thực hiện nhiệm của mình thôi.

Kết quả là, có đến 65% trong số những người thầy giáo dùng mức sốc điện cao nhất với học trò.

Lẽ nào họ đều là ác quỷ?

Không hề, nhưng trong trường hợp điều kiện cho phép, có thể họ buộc phải làm những hành động dã man.

Chương 4.

Thí nghiệm nhà tù Stanford đã biến những người bình thường thành "ác nhân"

Thí nghiệm Milgram đặc biệt ở chỗ những người chủ trì không thể nhìn thấy nạn nhân đáng thương của họ.

Nhưng điều gì xảy ra nếu nạn nhân không được ẩn nấp đi mà đứng ngay trước mắt chúng ta?

Vào tháng 8 năm 1971, tác giả đã thực hiện một thí nghiệm, trong đó ông đưa những sinh viên trẻ tuổi vào một nhà tù giả ở đại học Stanford và phân cho họ đóng vai "quản ngục" và "tù nhân" một cách ngẫu nhiên.

Để làm cho mọi thứ giống thật nhất có thể, thí nghiệm chỉ sử dụng những sinh viên không có hành vi nào đáng chú ý trước đó.

Cả 24 người tham gia đều là người da trắng, thuộc tầng lớp trung lưu, không có vấn đề về tâm lý hay sức khỏe và không có tiền án phạm tội.

Những bài kiểm tra tính cách cũng không chỉ ra bất cứ đặc điểm tính cách khác thường nào.

Những người trong vai quản ngục được trang bị gậy gỗ, đồng phục và một cặp kính.

Còn những người đóng vai tù nhân bị bắt bởi cảnh sát thật sự, bị lột sạch quần áo và đưa cho một con số để thay tên gọi.

Mỗi tù nhân đều được nhốt riêng trong một căn buồng chật hẹp.

Thí nghiệm nhanh chóng vượt quá tầm kiểm soát.

Ban đầu, tù nhân từ chối tuân theo quy định của quản ngục, kết quả là họ bị trả thù qua những trận đánh bằng máy dập lửa.

Quản ngục bắt đầu nghĩ ra rất nhiều cách khác nhau để trù dập và phạt tù nhân, ví dụ như việc bắt họ đi vệ sinh và tự dọn sạch ngay trong căn buồng chật hẹp của mình.

Ngoài ra, tù nhân bị lấy đi quần áo, đệm nằm và bị bắt ngủ ở sàn đất lạnh.

Với những tù nhân muốn tuyệt thực, họ sẽ bị nhốt vào căn phòng tối và thường xuyên bị quát mắng.

Vào những ngày sau đó, những người tham gia ngày càng độc ác và bạo lực hơn những gì người thực hiện thí nghiệm nghĩ.

Chỉ sau sáu ngày ngắn ngủi, ông đã phải dừng cuộc nghiên cứu này lại.

Trong những tình huống bình thường, không ai tưởng tượng những sinh viên hiền lành có thể đột nhiên biến thành những kẻ ác nhân.

Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi mạnh mẽ này?

Bạn sẽ tìm thấy câu trả lời ở phần tiếp theo.

"Khi sức mạnh gắn liền với nỗi sợ thường trực, nó sẽ trở nên vô cùng dữ dội"

Chương 5.

Sự phục tùng và những hành động xấu xa luôn có mối liên kết với nhau

Bên cạnh những hoàn cảnh đặc biệt, có một số yếu tố cụ thể khác cũng có khả năng biến một "thiên thần" thành "ác quỷ".

Một trong những nguyên nhân quan trọng của quá trình biến đổi này là sự phục tùng người cầm quyền – đó có thể là con người, tổ chức hay những quy định.

Trong thí nghiệm Milgram, người dẫn dắt thí nghiệm chính là hiện thân của "người cầm quyền".

Anh ta trông có vẻ rất đáng tin và thực sự hứng thú tìm hiểu về cách để cải thiện trí nhớ của con người.

Những người tham gia thí nghiệm cũng phải ký vào một bản thỏa thuận sẽ chấp hành theo quy định của thí nghiệm này.

Khi họ không muốn phải chịu thêm những cơn sốc điện áp cao hơn nữa, những người có thẩm quyền sẽ nhắc nhở rằng họ đã ký vào bản thỏa thuận đó nên phải tiếp tục thực hiện thí nghiệm.

Như những gì thí nghiệm đã chứng minh, đa số người tham gia đã chọn sự phục tùng thay vì sự cảm thông với người khác.

Sự biến đổi từ thiện đến ác cũng có thể xảy ra ở những người có thẩm quyền.

Mặc dù đôi khi khá lúng túng trước sự thay đổi này, nhưng những người "dưới quyền" họ cũng rất ít khi không tuân theo.

Một trong những minh chứng điển hình cho luận điểm này là vụ tàn sát kinh hoàng ở Jonestown.

Cùng với hơn 900 tín đồ của mình, thủ lĩnh Jim Jones đã tìm thấy một vùng đất hoang vu ở Guyana để lập nên cộng đồng đoàn kết và khoan dung.

Nhưng từ một người cha ân cần, John đã trờ thành một kẻ chuyên chế độc tài và vô cùng ích kỷ, kẻ đã bóc lột lao động và yêu cầu vệ sĩ riêng cho mình.

Khi nghị sĩ Leo Ryan và giới truyền thông đến điều tra khu vực này, họ đã bị sát hại ngay lập tức.

Sự kiện bi thương này đã dẫn đến một cú sốc lớn hơn cho toàn thế giới.

Jones nghĩ rằng đây chính là kết cục cho đế chế của mình, hắn đã có một bài phát biểu dài để thuyết phục những người phục tùng hắn tự cho bản thân và gia đình uống thuốc độc.

Sự phục tùng mù quáng của họ đã dẫn đến vụ tự tử hàng loạt đau thương nhất lịch sử thế giới.

"Khả năng chọn lựa của chúng ta trong việc quyết định có đi theo những chuẩn mực đạo đức hay không sẽ giải thích tại sao một người có thể hành động xấu xa tại thời điểm này rồi lại trở thành người tốt trong một thời điểm khác"

Chương 6.

Nếu không chịu trách nhiệm cho những hành động của mình, thì sau đó bạn sẽ rất dễ bị cám dỗ bởi quỷ dữ

Những hành dộng đen tối không chỉ được gây ra bởi sự phục tùng mù quáng với bề trên.

Đôi khi, việc thiếu tinh thần tránh nhiệm có thể là thứ mở lối cho những điều xấu xa tiến vào.

Một lần nữa, chúng ta hãy cùng phân tích thí nghiệm Milgram.

Những người dùng hình phạt sốc điện lên "học trò" của mình nói rằng, những nhà khoa học dẫn dắt cuộc thí nghiệm mới là những người sẽ chịu trách nhiệm cho bất cứ rủi ro nào xảy ra chứ không phải họ.

Trong những trường hợp thế này, hành vi chống lại xã hội được phóng đại lên bởi một thứ được gọi là "sự giấu mặt", nhờ đó mà những người thực hiện hành vi tội ác có thể hoàn toàn lẩn trốn đi.

Có thể kết luận rằng, con người dễ có xu hướng bị dụ dỗ vào những hành vi đen tối nếu họ tin rằng sẽ không một ai nhận ra mình.

Có hai cách để tạo nên cảm giác được "giấu mặt", cách đầu tiên là che giấu đi vẻ bề ngoài.

Quay lại với thí nghiệm nhà tù Stanford, những người cai ngục được cấp cho đồng phục và kính mặt gương để tránh sự tương tác bằng ánh nhìn, từ đó sẽ giảm đi cảm giác tội lỗi, phải chịu trách nhiệm của họ.

Cách thứ hai là hành động trong một khu vực mà khả năng bị nhận ra là rất thấp.

Để miêu tả chân thực nhất cho điều này, trong một thí nghiệm, tác giả đặt một chiếc xe hơi trong khu vực hẻo lánh ở quận Bronx của thành phố New York.

Sau một vài giờ đồng hồ, những kẻ phá hoại bắt đầu xuất hiện và tháo rời chiếc xe, ăn trộm hộp điện.

Sau khi những bộ phận có giá trị đã bị lấy đi, mọi người bắt đầu phá hủy chiếc xe.

Tác giả cũng đặt một chiếc xe khác ở vùng dân cư của Palo Alto, California, nơi có cộng đồng sinh sống đông đúc.

Và kết quả là, không một ai chạm vào chiếc xe.

Trong thực tế, thậm chí đã có ba người dân gọi cảnh sát.

Tại sao lại có sự khác biệt này ở hai vùng?

Bởi vì quận Bronx có một bối cảnh đủ kín đáo cho sự giấu mặt có thể xảy ra, trong khi vùng dân cư Palo Alto lại khá đông đúc.

Chương 7.

Chúng ta thường có xu hướng đối xử tệ bạc với người khác nếu ta coi thường họ

Hầu hết mọi người đều nghĩ rằng mình có nhân cách hoàn toàn ngay thẳng, chính trực.

Tuy nhiên, lịch sử đã ghi nhận quá nhiều trường hợp những người đối xử tệ bạc, vô nhân đạo với chính những người xung quanh mình.

Bằng cách nào mà điều đó có thể xảy ra?

Một sự giải thích quan trọng cho những hành động độc ác của con người là việc tước đi nhân cách của người khác, hay nói cách khác là không coi ai đó như một con người.

Quá trình tâm lý này đã được chỉ ra qua nghiên cứu của nhà tâm lý học Đại học Stanford, Albert Bandura.

Những học sinh tình nguyện tham gia thí nghiệm được yêu cầu giám sát và phạt nhóm sinh viên khác dựa trên những quyết định mà nhóm sinh viên đó đưa ra.

Hình phạt sẽ rất đa dạng, tùy thuộc vào quyết định của họ.

Những quyết định càng bị đánh giá tồi tệ, thì hình phạt sẽ càng nặng thêm.

Trước khi những học sinh tình nguyện bắt đầu đánh giá những quyết định, họ được yêu cầu phải nghe lỏm cuộc trò chuyện của các chuyên gia về những nhóm sinh viên đưa ra quyết định.

Một nhóm bị miêu tả như là một lũ cầm thú, "mất nhân tính", trong khi nhóm kia lại được nói là những sinh viên biết nhận thức và hiểu chuyện.

Những hình phạt cũng rất đa dạng dựa vào cách đánh giá của các nhà nghiên cứu.

Những sinh viên tình nguyện tham gia đã quyết định áp dụng hình phạt với nhóm người mất nhân tính nặng hơn rất nhiều so với nhóm "có tính người" hơn.

Sự am hiểu kỹ càng về việc "tước đi nhân cách con người" rất quan trọng trong việc hiểu về cơ chế của sự định kiến, phân biệt chủng tộc và phân biệt đối xử.

Khi có ai đó bị "gắn mác" đồi bại, mất nhân tính, họ sẽ bị coi như những kẻ hoàn toàn không có đạo đức và trở thành mục tiêu của những hành động độc ác.

Chúng ta hãy cùng phân tích những ví dụ trong lịch sử, một trong số đó là vụ "thảm sát Nam Kinh".

Trong suốt cuộc xâm lăng của Nhật Bản và Trung Quốc, binh lính Nhật đã giết hại rất nhiều người dân nơi đây.

Một người nhật giải thích rằng đó là do họ coi người Trung Quốc là vật, không phải người.

"Cảm nhận về năng lực bản thân sẽ rõ ràng và sống động hơn khi ta đánh bại một người thay vì giành được sự yêu mến của người ấy"

Chương 8.

Sự kết hợp của uyển ngữ và ý thức hệ mạnh mẽ sẽ cho chúng ta cách để biện minh cho những hành động xấu xa của mình

Chúng ta đã thấy cách mà sự phục tùng, giấu mặt hay mất nhân phẩm đã dẫn con người vào con đường tội ác như thế nào.

Nhưng còn một yếu tố khác có thể làm điều đó – đó chính là khả năng che giấu những hành vi xấu xa bằng những từ ngữ khiến chúng nghe có vẻ là một việc làm tốt đẹp.

Trong những nghiên cứu tâm lý học thông qua việc đánh giá hành vi con người cho thấy, luôn có một cách để biện minh những hành động tội ác, vô đạo đức.

Ví dụ như trong thí nghiệm Milgram, những người tham gia được nói rằng, hay chính họ cũng tin rằng thực ra họ đang góp phần làm nên lịch sử của y khoa chứ không phải đang gây hại hay thậm chí là giết chết người khác.

Có thể thấy, cách để biện minh trong thí nghiệm Milgram là những cú sốc điện sẽ giúp các nhà khoa học thu thập thông tin về phương pháp cải thiện trí nhớ con người.

Sự biện minh trong tâm lý học được gọi là "ý thức hệ" trong cuộc sống hàng ngày.

Với một ý thức hệ mạnh mẽ, những người xấu xa sẽ nhìn nhận hành vi của họ như là một hành động đáng khen hay thậm chí là đáng ngưỡng mộ.

Chúng ta hãy cùng xét đến cuộc xâm lăng của Mỹ đến Iraq và những sự tra tấn đi kèm ở nhà tù Abu Ghraib.

Lời biện minh được đưa ra là sự đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia khiến chiến tranh chống khủng bố là điều vô cùng cần thiết.

Lời biện minh về sự đe dọa ấy đã cho phép tổng thống Bush tái hợp pháp hóa những hành động tra tấn, bằng cách đó cung cấp cho binh lính đầy đủ thông tin họ cần để bảo vệ an ninh quốc gia.

Vì vậy, những thứ ban đầu tưởng như là tội ác thực tế hóa ra lại là một phần của ý thức hệ – rằng việc tra tấn sẽ bảo vệ an ninh của Mỹ.

Với lời biện minh đó, binh lính Mỹ cảm thấy yên tâm khi tra tấn tù nhân ở nhà tù Abu Ghraib.

Với rất nhiều cám dỗ của quỷ dữ như vậy, bạn có thể sẽ băn khoăn rằng làm thế nào để trở thành người tốt.

Phần cuối cùng của bản tóm tắt sẽ chỉ dẫn bạn.

Chương 9.

Bạn vẫn có thể chống lại "quỷ dữ" và hành động một cách dũng cảm, có đạo đức

Như bạn đã thấy, trong tất cả mọi trường hợp, ta đều cảm thấy phần "đen tối" trong con người mình.

Nhưng không ai muốn trở thành người xấu cả.

Vậy phải làm sao để chống lại sức mạnh của quỷ dữ?

Điều đầu tiên và quan trọng nhất, bạn phải luôn chịu trách nhiệm cho hành vi của mình và loại bỏ ngay lập tức những lời biện minh nảy ra trong đầu.

Người khác không thể nhìn thấu tâm tư của bạn không có nghĩa là trách nhiệm của bạn đã biến mất.

Thứ hai, hãy dừng lại ngay nếu bạn cảm thấy mình đang phục tùng cho một thế lực đen tối.

Hãy quay lại với thí nghiệm Milgram, không phải tất cả những người tham gia đều mù quáng gây ra những hành động độc ác như yêu cầu.

Có một số người đã chống lại người điều hành và quyết định dừng cuộc thí nghiệm.

Bạn cũng có khả năng trở thành một người như thế.

Cuối cùng, hãy soi xét kỹ càng những lời biện minh cho hành động tội ác.

Ví dụ, nếu việc xâm lăng được gán mác "mang lại tự do bác ái cho con người" hay "chiến tranh chống khủng bố", hãy cân nhắc xem liệu rằng những hành động đó có thật sự phục vụ cho sứ mệnh đó không.

Đó là cách để chống lại quỷ dữ, nhưng nó cũng là cách để trở thành một anh hùng.

Nhưng điều gì làm nên một anh hùng?

Có hai yếu tố chính làm nên những anh hùng.

Đầu tiên, họ hành động trong khi mọi người đều bị động.

Thứ hai, họ ưu tiên người khác hơn bản thân mình.

Autrey Wesley, người đường mệnh danh như "Anh hùng xe điện ngầm" của New York, là một nguồn cảm hứng bất tận cho thuật ngữ "người hùng".

Khi anh nhìn thấy một chàng trai trẻ đang lên cơn động kinh bị ngã xuống đường ray và không còn thời gian để kéo anh ấy lên nữa, Wesley liền nhảy xuống và kéo chàng trai vào khoảng giữa các đường ray, nhờ đó mạng sống của anh ta đã được bảo toàn.

Trong khi mọi người xung quanh chỉ đứng nhìn, Wesley ngay lập tức hành động, bất chấp sự đe dọa tính mạng của chính bản thân mình.

Chúng ta đều có thể trở thành một anh hùng hay một kẻ xấu xa.

Vì vậy, hãy tập trung vào suy nghĩ muốn trở thành một anh hùng, khi phải đối mặt với khó khăn, bạn sẽ hành động theo cách suy nghĩ ấy.

Kết luận

Không ai sinh ra đã là một ác quỷ.

Thay vào đó, họ trở thành ác quỷ qua những tình huống mà họ thấy mình trong đó.

Trên thực tế, những chuẩn mực đạo đức khắt khe dễ bị phá hủy hơn chúng ta nghĩ rất nhiều.

Cuối cùng, việc trở thành một người xấu xa hay một anh hùng hoàn toàn phụ thuộc vào chính bản thân bạn.

"Thời gian và sự áp bức chính là cha đẻ của những cuộc nổi loạn"
 
Tâm Lý Học
Hạnh phúc vs. Khoái lạc: Nguồn cơn của bất mãn?


Khoái lạc là một cạm bẫy.

Nội dung chính

Chúng ta nhầm lẫn khoái lạc với hạnh phúc vì cả hai đều mang lại cảm giác sung sướng.Văn hóa đóng một vai trò quan trọng trong sự nhầm lẫn này, thúc đẩy chúng ta tìm kiếm cái này trong khi ta thực sự muốn cái kia.Khoái lạc và hạnh phúc có những nền tảng sinh lý khác nhau.Khoái lạc được thúc đẩy bởi dopamine và có thể gây ra nghiện ngập; còn hạnh phúc thì liên quan đến serotonin và sự gắn kết.

Hiểu được cảm xúc của chúng ta có thể là một thách thức, nhưng nó cần thiết cho sức khỏe và hạnh phúc của chúng ta.

Việc sử dụng ngôn ngữ để mô tả những cảm giác và cảm xúc mà chúng ta gọi là feeling còn đang hạn chế, vì những cảm xúc của chúng ta rất chủ quan và trừu tượng về bản chất của chúng.

Tuy nhiên, các khái niệm khoa học thần kinh cung cấp một cách để mô tả những sự khác biệt trong cảm xúc của chúng ta và cuối cùng là mang đến hiểu biết tốt hơn về các mục tiêu đối với sức khỏe và hạnh phúc của chúng ta.

Việc xem xét cảm giác của chúng ta về hạnh phúc và khoái lạc có thể giúp làm sáng tỏ cách thức mà chúng ta có thể trở nên hạnh phúc hơn và khỏe mạnh hơn với tư cách cá nhân và xã hội.

Hạnh phúc và các chất dẫn truyền thần kinh

Về mặt sinh lý, hạnh phúc khác với khoái lạc, nhưng người ta rất dễ nhầm lẫn hai điều này, vì chúng đều mang lại cảm giác sung sướng, tốt đẹp.

Hạnh phúc chủ yếu được điều chỉnh bới chất dẫn truyền thần kinh acetylcholine và hệ thần kinh phó giao cảm.

Hạnh phúc có thể gắn liền với nồng độ cao của chất dẫn truyền thần kinh serotonin (kết nối) cũng như gamma amino butyric acid (GABA, thư giãn).

Đáng chú ý là, hạnh phúc có thể hiện diện ngay cả khi không có , không có nhu cầu di chuyển, làm gì đó hay tìm kiếm.

Hạnh phúc chỉ xảy ra trong trạng thái an toàn.

Sự hài lòng và thỏa mãn là những mô tả hay về hạnh phúc hơn là Khoái lạc.

Khoái lạc và các chất dẫn truyền thần kinh

Ngược lại, khoái lạc chủ yếu được điều chỉnh bởi dopamine, một chất dẫn truyền thần kinh được biết đến nhiều nhất với việc huy động, tiếp cận, động lực, tò mò và phần thưởng, mục tiêu và tìm kiếm khoái lạc.

Dopamine là một tín hiệu chính trong hệ thần kinh giao cảm.

Ở trạng thái an toàn, dopamine có thể thúc đẩy chúng ta hướng đến sự tự tin và kết nối.

Tuy nhiên, ở trạng thái bị đe dọa, dopamine có thể đưa chúng ta đến xung đột và gây hấn.

Nếu chúng ta đạt được điều mình muốn khi ở một trong những trạng thái sinh lý đó thì ta sẽ nhận thêm được một chút dopamine và đôi chút khoái lạc.

Cảm xúc và hành vi của chúng ta được củng cố; Chúng ta sẽ tìm cách nhân rộng các chiến lược mà ta đã triển khai.

Buồn, Đau, và các chất dẫn truyền thần kinh

Nỗi buồn được xem là đối lập với hạnh phúc.

Nỗi buồn có nồng độ acetylcholine, serotonin, GABA và dopamine thấp.

Nỗi buồn chỉ xảy ra trong tình trạng bị đe dọa.

Còn đau thường bị coi là đối nghịch với khoái lạc.

Đau cũng có nồng độ dopamine thấp.

Trong cơn đau, glutamate và noradrenaline chiếm ưu thế, còn acetylcholine, serotonin và GABA thì xuống thấp.

Đau đớn cũng chỉ xảy ra trong tình trạng bị đe dọa.

Hồ sơ của nỗi buồn và đau đớn trông rất giống nhau—và thực tế là như vậy.

Đau và Buồn thường được trải nghiệm cùng nhau, vì chúng xuất phát từ cùng một nguồn sinh lý.

Một mô hình của Nghiện ngập

Điều đáng chú ý nhất là hạnh phúc chỉ xuất hiện trong trạng thái an toàn (còn đau và buồn chỉ có trong trạng thái bị đe dọa), nhưng khoái lạc thì lại theo bối cảnh: Nó có thể xuất hiện ở cả trạng thái an toàn lẫn bị đe dọa.

Điều này có ý nghĩa lớn lao cho mỗi chúng ta nói riêng, cũng như cho xã hội nói chung.

Chúng ta thường lẫn lộn giữa hạnh phúc và khoái lạc.

Trong điều kiện an toàn thì cả hai trông na ná nhau về mặt hóa học thần kinh, mặc dù không giống hệt nhau (dopamine đóng vai trò chủ đạo trong khoái lạc hơn là hạnh phúc).

Sự tương đồng này có thể khiến chúng ta nhầm lẫn giữa hạnh phúc và khoái lạc.

Tuy nhiên, văn hóa có thể góp phần nhiều hơn vào sự nhầm lẫn này hơn là những điểm tương đồng về mặt hóa chất thần kinh.

Chúng ta nhận được 'tiếp thị' để tin rằng cuộc đời này chỉ xoay quanh khoái lạc, và để sống hạnh phúc thì ta phải chạy theo và tìm kiếm những thứ khiến ta hài lòng nhất.

Chúng ta là một nền văn hóa của những người tìm kiếm khoái lạc.

Trong những câu chuyện và cơ chế này, chúng ta đánh mất khả năng phân biệt để cảm nhận được sự khác biệt giữa khoái lạc và hạnh phúc.

Kết cục là chúng ta theo đuổi khoái lạc vì nghĩ rằng mình đang trên con đường đi đến hạnh phúc.

Nhưng con đường này có thể đầy nguy hiểm.

Tìm kiếm khoái lạc, thèm khát-khoái lạc và khoái lạc làm tăng cường các chứng nghiện ngập, trong khi hạnh phúc lại không hề chứa đựng nguy hiểm hay mối đe dọa nào.

Những chứng nghiện chúng ta mắc phải thì rất nhiều—nghiện sự mới lạ, hồi hộp, du lịch, mua sắm, thức ăn, rượu, đường và những chất khác, và tình dục nữa.

Ai cũng biết rõ những thứ này.

Thứ còn chưa được miêu tả đúng là việc nghiện ngập thú vui gây hấn của chúng ta (aggression).

Khi gây hấn/hung hãn là một chiến lược thành công thì nó được củng cố bằng dopamine và do đó được lặp lại.

Sự gây hấn không chỉ được đánh dấu bằng hành vi thể chất của chúng ta, mà còn được đánh dấu bởi hành vi xã hội và cảm xúc của ta nữa.

Đánh bại ai đó bằng một cú đấm vào mặt có thể khiến ta cảm thấy khoái chí, nhưng ta cũng có thể hạ gục người khác bằng một cú đấm xã hội hoặc cảm xúc.

Gây hấn, dopamine, và khoái lạc được tìm thấy trong hành vi chế nhạo, hạ nhục, bắt nạt, và bạo hành.

Gây hấn, dopamine, và khoái lạc cũng được tìm thấy trong việc so sánh, gièm pha, phán xét, gây xấu hổ, và đổ lỗi.

Cuối cùng, gây hấn, dopamine, và khoái lạc được tìm thấy trong nhiều câu chuyện tiêu cực và giả dối của chúng ta—những lời nói dối của chúng ta.

Chúng ta có thể nhận được sự thỏa mãn to lớn từ ý nghĩ và hành vi gây hấn, và chúng ta có thể trở thành "con nghiện" với những suy nghĩ và hành vi gây hấn.

Do tác dụng của dopamine mà chúng ta bị lôi cuốn nhiều lần vào những câu chuyện và hành vi gây hấn đó, ngay cả khi chúng không còn tốt cho ta, đặc biệt nếu những hậu quả bất lợi không đến ngay và rõ ràng.

Hành vi tồn tại dai dẳng bất chấp những hậu quả tiêu cực luôn tái diễn chính là nghiện; điều này cũng có thể áp dụng cho hành vi gây hấn.

Ai là người bán loại 'ma túy' này?

Đa số chúng ta.

Ai là người nghiện loại 'ma túy' này?

Đa số chúng ta.

Có những phân khúc của ngành công nghiệp được hưởng lợi từ khía cạnh khoái lạc của sự gây hấn.

Sự thèm muốn của chúng ta đối với lạc thú gây hấn trở nên quan trọng đối với điểm cốt yếu của họ.

Nhu cầu nhiều hơn của chúng ta được đáp ứng bằng việc sản xuất thêm nhiều hơn.

Chúng ta có thể thấy chiến lược này được sử dụng và khuếch đại như thế nào trong các khía cạnh của mạng xã hội, phương tiện truyền thông, giải trí, trò chơi điện tử, thể thao, và tại thời điểm lịch sử này, nó trở nên đặc biệt nan giải trong chính trị, với việc sản sinh ra nhiều xung đột hơn hơn.

Sự hung hăng/gây hấn trở thành một chứng nghiện.

"Làm ơn, thưa ngài, xin hãy cho tôi thêm nhiều lạc thú xấu xa này."

Nghiện chính là đang bị mắc bẫy.

Chính khi ta đang bị mắc bẫy thì ta mới đau khổ.

"Nghiện" các hành vi vĩ mô, vi mô, và gây hấn-thụ động có thể khiến tất cả chúng ta bị mắc kẹt trong đau khổ.

Trong tình trạng "nghiện" gây hấn này, chúng ta mắc phải nhiều tật bệnh về thể chất, tinh thần, cảm xúc, xã hội và tâm linh hơn tất thảy các chứng nghiện khác cộng lại.

Quả thực, thói nghiện gây hấn và đe dọa của chúng ta có thể là căn nguyên của mọi thói nghiện ngập khác.

Cuộc đào thoát vĩ đại

Việc thoát khỏi chứng nghiện này khá đơn giản — hãy tìm kiếm sự thỏa mãn, hài lòng và hạnh phúc, chứ không phải là khoái lạc; khoái lạc có hai mặt và dễ trở nên nguy hiểm và đe dọa.

Hãy để khoái lạc đến một cách tự nhiên, đừng né tránh nó, nhưng cũng đừng thèm khát hay tìm kiếm nó.

Hạnh phúc được tìm thấy trong trạng thái an toàn.

Nếu chúng ta mang lại sự an toàn cho bản thân và người khác thì ta sẽ tìm thấy hạnh phúc.

Thực hành này nên là ưu tiên đối với các cá nhân cũng như tổ chức.

Tôi không có ý nói rằng việc tức giận và gây hấn là sai.

Tức giận và gây hấn là một phần của chức năng sinh lý chúng ta.

Tức giận và gây hấn giúp ta sinh tồn.

Nó là cách khá tốt để bảo vệ bản thân và người khác.

Nó là cách tốt để khiến bản thân ta và người khác chịu trách nhiệm về hành vi sai trái.

Có sự an toàn trong sự bảo vệ và trách nhiệm giải trình.

Chúng ta không cần phải trở thành kẻ nhút nhát để tạo ra sự an toàn trên thế giới này, nhưng chúng ta cũng không cần dùng đến sự tức giận và gây hấn như một nguồn kinh niên mang lại lạc thú, và một nguồn thay thế cho hạnh phúc, chỉ tạo thêm nhiều mối đe dọa hơn trong cuộc đời.

Khi chúng ta an toàn, tự nhiên chúng ta sẽ thấy hạnh phúc, và ít thèm khát khoái lạc hơn, và ít có khuynh hướng chế nhạo, hạ thấp, gây tổn thương, bắt nạt, bạo hành, gièm pha, phán xét, gây mất mặt, đổ lỗi và nói dối, huống chi là đấm vào mặt ai đó.

Sinh lý học của chúng ta quyết định điều này.

"Đừng bao giờ coi thường bất cứ ai, trừ khi bạn đang nâng đỡ họ." – Jesse Jackson
 
Tâm Lý Học
Chứng Ái Kỷ - The Narcissist You Know


"Bệnh ái kỷ" (Hội chứng quá yêu bản thân) đã trở thành một từ thông dụng và là căn bệnh được nhanh chóng chẩn đoán, nhưng chúng ta thực sự hiểu về tình trạng này đến đâu?

Bản tóm tắt cuốn sách The Narcissist You Know (2015), dịch bởi (Chuyên trang chia sẻ hàng trăm tóm tắt sách tinh gọn, miễn phí, có bản quyền)

Bản tiếng Việt:

"Bệnh ái kỷ" (Hội chứng quá yêu bản thân) đã trở thành một từ thông dụng và là căn bệnh được nhanh chóng chẩn đoán, nhưng chúng ta thực sự hiểu về tình trạng này đến đâu?

Ái kỷ (2015) sẽ mở ra những câu chuyện bí ẩn và cả sự thực.

Ái kỉ không chỉ là một bệnh rối loạn tâm thần nghiêm trọng, nó còn là một phần của cuộc sống – tất cả chúng ta đều có một vài xu hướng như thế.

Bằng việc phân tích những bệnh nhân ái kỉ – rất nhiều trong số họ là người nổi tiếng – Joseph Burgo đã tiết lộ những hổ thẹn che giấu đằng sau tất cả những nỗi đau của họ.

Cuốn sách này dành cho bất cứ ai quan tâm đến tâm lý học và đặc biệt là muốn học cách giải quyết vấn đề với những người quá yêu bản thân.

Về tác giả

Tác giả của cuốn sách này là tiến sĩ Joseph Burgo, một nhà tâm lý học trị liệu, nhà phân tích tâm lí và đồng thời là nhà văn.

Ông đã làm trong ngành hơn 30 năm và là tác giả của nhiều cuốn sách khác như Tại sao tôi làm như vậy?

Những bộ máy tâm lí tự vệ và cách bí mật mà chúng tác động cuộc sống của chúng ta.

Học cách chỉ điểm những người mắc bệnh ái kỷ

Khi tin tức rộ lên vào năm 2009 rằng người vợ của Tiger Woods đã đuổi anh ra khỏi nhà với một cây gậy đánh golf và sau đó tiết lộ hàng loạt sự dối trá của anh ta, rất nhiều người đã sốc và vô cùng ngạc nhiên.

Tại sao một người đàn ông thành đạt có tất cả mọi thứ và có vẻ tử tế lại làm một điều như vậy?

Có lẽ chúng ta không nên quá ngạc nhiên, bởi vì đằng sau tâm lý chiến thắng, động lực không ngừng nghỉ và uy tín của những người thành công như Tiger Woods, Donald Trump và Madonna luôn là căn bệnh ái kỷ ẩn giấu.

Và tâm lý học chỉ ra rằng ái kỷ có thể gây ra những hành động thậm chí không đáng ca ngợi cho lắm.

Vậy tại sao một số người lại mắc căn bệnh đó?

Bạn sẽ tìm được câu trả lời sau khi đọc cuốn sách này.

Ái kỷ không chỉ là một căn bệnh mà còn là một chuỗi rối loạn liên tục.

Ái kỷ được nhắc đến rất nhiều ngày nay.

Với sự gia tăng của các phương tiện truyền thông xã hội và trào lưu selfie, dường như việc quá yêu bản thân trở nên bình thường.

Nhưng ái kỷ không chỉ là một từ bình thường để buột miệng nói ra.

Nó thực sự là một xu hướng nguy hiểm tồn tại trong tất cả chúng ta.

Ai rồi cũng có lúc thiếu sự cảm thông đối với người khác và hành động chỉ vì cái tôi của mình.

Và trong khi xu hướng này chỉ tồn tại một chút trong chúng ta, có rất nhiều bệnh nhân ái kỉ ngoài kia – một vài trong số họ rất nguy hiểm.

Thực tế, có một chứng rối loạn tâm thần đã chính thức được nhận biết gọi là "rối loạn nhân cách ái kỷ".

Chứng bệnh này đã khẳng định 1% dân số thế giới mắc bệnh ái kỷ.

Đó là những kiểu người thường bị bỏ tù vì những tội ác như giết người hay hiếp dâm.

Nhưng cũng có một phần khác của thế giới thường vượt qua bộ lọc: 4% được xem là những người yêu bản thân thái quá (Extreme Narcissists) – họ không phù hợp với định nghĩa của tâm thần học nhưng vẫn nguy hiểm hơn rất nhiều so với những người có mức độ ái kỷ thấp hơn như bạn và tôi.

Trong khi họ có thể không phạm tội, nhóm người này thường sợ hãi khi bị coi là thua kém người khác và sử dụng những mưu mẹo xấu xa và tinh vi để gìn giữ hình ảnh tốt đẹp hơn của bản thân.

Rất nhiều người nổi tiếng thành công thuộc nhóm người yêu bản thân thái quá.

Bạn cũng có thể biết một vài người như thế.

Đó là lý do tại sao học cách nhận diện và đối xử với những người tự yêu bản thân rất quan trọng: bạn cần phải bảo vệ mình.

Nhưng không chỉ vậy – bạn cũng cần nhận diện được những xu hướng ái kỷ của bản thân.

Tại sao?

Bởi vì chỉ cần một chút ái kỷ có thể kích động xu hướng ái kỷ của người khác.

Ví dụ, hãy tưởng tượng bạn sống trong một ngôi nhà với người khác.

Nếu bạn hành động một cách ích kỷ và ăn hết đồ ăn trong nhà mà không mua thêm, người khác sẽ bắt đầu hành động tương tự.

Kết cục là, mọi người đều càng ngày càng ích kỷ.

Chúng ta sẽ hiểu thêm về những người yêu bản thân thái quá trong những chương sau.

Nhưng trước khi đánh giá họ quá khắt khe, hãy nhớ rằng họ luôn sợ trở thành kẻ thua cuộc.

Đằng sau sự ái kỷ là nỗi xấu hổ.

Chúng ta nói về những cảm xúc như xấu hổ suốt ngày, nhưng khi được hỏi ta thường không thể diễn tả chúng.

Xấu hổ không chỉ là một cảm giác tồi tệ khi chúng ta cảm thấy mình vừa làm một điều sai trái.

Đó là một cảm xúc sâu sắc hơn nhắc nhở rằng chúng ta đang bị lộ và gặp nguy hiểm.

Một loại xấu hổ đặc biệt nằm ở trung tâm của sự ái kỷ: "Sự xấu hổ trong thâm tâm" (core shame).

Sự xấu hổ trong thâm tâm được tạo ra khi điều gì đó xảy ra trong mối quan hệ giữa đứa trẻ và bố mẹ chúng.

Theo nhà tâm lý học người Anh D.W.

Winnicott, những đứa trẻ bẩm sinh đã cảm giác được bố mẹ nên chăm sóc chúng như thế nào – ví dụ bằng việc chú ý đến nhu cầu và cảm xúc của chúng.

Khi bố mẹ thờ ơ và vắng mặt, những đứa trẻ nghĩ rằng cơ bản là có gì đó không đúng với chúng.

Chúng cảm thấy không được yêu thương, và nếu không hiểu được tại sao, chúng nghĩ rằng đó là lỗi của chúng.

Đây là nguồn gốc của sự xấu hổ sâu trong thâm tâm.

Sự xấu hổ sâu bên trong này được đánh thức bất cứ lúc nào một người ái kỷ trải nghiệm tổn thương: nỗi đau ta cảm nhận khi lòng tự tôn bị lung lay bởi sự chỉ trích của người khác.

Chúng ta trải nghiệm điều này bởi vì chúng ta đều là những động vật xã hội, xây dựng cảm giác về bản thân theo cách mà người khác nhìn chúng ta.

Nhưng trong khi lòng tự tôn trở nên mạnh mẽ hơn qua thời gian, những người yêu bản thân thái quá lại mắc kẹt với sự xấu hổ trong thâm tâm của họ.

Điều này có nghĩa là sự chỉ trích nhẹ nhàng nhất cũng gây hại sâu sắc đến lòng tự tôn của họ.

Một sự xúc phạm nhỏ cũng có thể gây ra nỗi đau lớn lao và một sự kiện lớn hơn, như ly dị hay sự nhục nhã là không thể chấp nhận được.

Vậy nên những người yêu bản thân thái quá phát triển những bộ máy phòng vệ mạnh mẽ để bảo vệ chính họ khỏi sự tổn thương.

Họ đổ lỗi những người khác cho sai lầm của họ, thuyết phục bản thân tin rằng họ hoàn hảo và tạo ra một hình ảnh hoàn hảo hơn của bản thân để che giấu bản chất thật trước những người khác.

"Bởi vì sự xấu hổ của họ sâu sắc hơn và đau đớn hơn, những người ái kỷ sẽ bằng mọi giá tránh việc cảm nhận nó."

Những ông bố bà mẹ ái kỷ và quá nuông chiều thường khiến con cái mắc bệnh tương tự.

Chúng ta đã biết rằng những ông bố bà mẹ thờ ơ thì nuôi dạy nên những đứa trẻ ái kỷ.

Nhưng có tới hai nhóm riêng biệt khi tìm hiểu về bố mẹ của trẻ ái kỷ: loại ái kỷ, không quan tâm đến con cái và loại quá nuông chiều, không biết chăm sóc con cái thế nào cho phù hợp.

Hãy xem xét loại quá nuông chiều trước.

Những bậc cha mẹ này thường có mục đích tốt, nhưng không nhận ra rằng quá nhiều sự chú ý tích cực thực sự rất xấu cho đứa trẻ.

Trong khi những đứa bé cần tình yêu để não bộ phát triển, chúng cũng cần những giới hạn để tự hình thành cái nhìn thực tế về bản thân và thế giới.

Điều này là một thử thách, bởi vì bố mẹ cần phải vừa yêu thương con cái vô điều kiện, vừa phạt chúng khi chúng làm điều sai trái.

Nhưng điều nguy hiểm là nếu không có giới hạn phù hợp, những đứa trẻ sẽ tin rằng thế giới chỉ xoay quanh chúng, và dần dần chúng trở thành những người tự yêu bản thân thái quá.

Trong khi những ông bố bà mẹ nuông chiều điển hình quan tâm đến con cái của họ, những bậc cha mẹ ái kỷ lại sử dụng con cái để tăng lòng tự tôn mong manh của họ.

Một vài bố mẹ điều khiển con cái, ép chúng vào khuôn khổ để phù hợp lí tưởng của họ để họ cảm thấy tốt hơn những cha mẹ khác.

Nhưng khi đứa trẻ không thể sống như kì vọng quá xa vời của họ, một cảm giác xấu hổ dần phát triển trong thâm tâm – điều này lại dẫn tới sự ái kỷ.

Những đứa trẻ này thường cuối cùng sẽ có những sự nghiệp đặt chúng vào con mắt của công chúng, để cả bố mẹ và đứa trẻ có thể nhấn chìm sự xấu hổ không nhận thức được trong một bầu không khí chú ý tích cực.

Tiger Woods là một ví dụ điển hình của một đứa con trai tự yêu bản thân thái quá do ảnh hưởng bởi bố của mình.

Người bố thích cạnh tranh biểu hiện lòng kiêu hãnh của ông qua người con trai bằng việc tạo ra một vận động viên thể thao nổi tiếng thế giới – và cũng là một trường hợp ái kỷ nổi tiếng thế giới.

Những bậc cha mẹ ái kỷ khác thì giữ gìn hình ảnh bản thân bằng cách luôn nhấn chìm con cái họ, để họ có được cảm giác chiến thắng.

Điều này khiến cho đứa trẻ cảm thấy vô dụng, và nó lại dẫn đến sự xấu hổ trong thâm tâm.

Trong cả hai trường hợp, những bố mẹ không nâng con mình lên với tình yêu và sự cảm thông một đứa trẻ cần.

Thay vào đó, họ tận dụng con cái như những công cụ để cảm thấy tốt hơn về bản thân.

Bây giờ chúng ta đã hiểu sự ái kỷ đến từ đâu, tiếp theo chúng ta sẽ xem xét những kiểu người tự yêu bản thân khác nhau.

Những kẻ ái kỷ bạo lực là kiểu hung hăng nhất.

Tất cả những bệnh nhân ái kỉ đều chia thế giới ra thành người thắng cuộc và kẻ thua cuộc.

Nhưng những người có xu hướng bạo lực ám ảnh nhất với việc tranh đấu – và với việc luôn luôn muốn thắng cuộc.

Họ chỉ có thể gìn giữ được hình tượng tự mãn của mình bằng cách luôn luôn trở thành người đứng đầu.

Sự ám ảnh với chiến thắng này khiến họ săn lùng bất kỳ ai yếu đuối để bắt nạt.

Họ tìm kiếm những người yếu đuối họ có thể hạ bệ để tự cảm thấy mạnh hơn.

Nhưng thú vị là những kẻ ái kỷ bạo lực và các nạn nhân của họ rất giống nhau: một cách vô thức, họ đều cảm thấy cực kỳ không an toàn và yếu thế.

Những giai đoạn sau đó, nhu cầu để trở thành người thắng cuộc quá mạnh đến nỗi những kẻ ái kỷ bạo lực tấn công cả những người thành công hơn họ.

Những người thành công hơn khiến họ cảm thấy như mình thua cuộc khi so sánh – vậy nên họ tấn công để giữ hình tượng kẻ chiến thắng.

Thực tế, sự ám ảnh của họ quá mạnh mẽ đến nỗi họ sẽ sử dụng bất kì cách nào để giữ ảo tưởng về chiến thắng.

Lance Armstrong là một ví dụ.

Sự xấu hổ trong thâm tâm ông bắt nguồn từ việc lớn lên trong nghèo đói, không thể mua được những thứ người khác dễ dàng chi trả.

Vậy nên ông đã làm mọi cách để trở thành người thắng cuộc – bao gồm sử dụng thuốc để gian lận – và bào chữa cho hình ảnh của ông với những lời nói dối và cả bạo lực.

Khi những thành viên trong đội buộc tội ông sử dụng thuốc, ông nói rằng họ là những kẻ thua cuộc đáng thương, ghen tị với tài năng của ông.

Và khi báo chí viết về sức mạnh đáng nghi của ông, ông đã lợi dụng sự giàu có của mình để kiện những nhà báo giám chỉ trích ông.

Những kẻ ái kỷ quyến rũ lôi cuốn bạn để tăng lòng tự tôn của họ.

Trong khi những kẻ ái kỷ bạo lực cố gắng dìm bạn xuống để cảm thấy tốt hơn, những kẻ ái kỷ quyến rũ lại mang đến cho bạn sự chú ý, không phải bởi vì họ yêu bạn, mà bởi vì họ muốn bạn yêu họ.

Những người lôi cuốn này lợi dụng sự ái kỷ của bạn để nuôi lớn lòng tự tôn của bản thân.

Họ tôn thờ bạn, vờ như lắng nghe bạn sâu sắc, khiến bạn cảm thấy được khao khát và quan trọng, nhưng chỉ cần thế bạn cũng sẽ làm điều tương tự.

Và khi bạn yêu họ, họ sẽ kiểm soát bạn.

Họ khen ngợi bạn chỉ khi nào bạn làm điều họ muốn, và luôn khiến bạn cảm thấy không an toàn và phụ thuộc vào họ.

Một khi bạn bị vướng vào lưới của họ, bạn sẽ theo đuổi họ bởi vì bạn sợ hãi sự xấu hổ trong thâm tâm khi tình yêu không được đáp trả.

Thực sự thì những người không được yêu thương trọn vẹn hay đánh mất tình yêu hoặc đã từng yêu thường trở thành những kẻ ái kỷ quyến rũ.

Trải nghiệm của họ khi đánh mất người yêu thương (hoặc không được yêu thương đủ) quá đau đớn đến nỗi họ thề sẽ không bao giờ yêu lần nữa.

Xu hướng chống lại này khiến họ ngại phải gắn bó với người khác, nhưng họ vẫn cần sự chú ý.

Vậy nên họ khiến người ta yêu họ mà không được hứa hẹn.

Madonna là một ví dụ điển hình của trường hợp này: cô mất mẹ khi vừa mới 5 tuổi.

Lớn lên, cô trở thành một kẻ quyến rũ hàng loạt, bắt đầu những mối quan hệ mà không thực sự có cảm xúc.

Và mặc dù cô rất yếu đuối, cô giấu điều đó đằng sau một vẻ ngoài đầy tự tin – điển hình của những người ái kỷ.

Cách tốt nhất để đối mặt với những người này là hãy nghi ngờ những người say mê bạn ngay từ giây phút đầu họ gặp bạn.

Hãy tự hỏi: Họ thực sự muốn gì từ mình?

Những người ái kỷ phô trương tin rằng họ đặc biệt; những người ái kỷ biết tuốt nghĩ rằng họ đã tìm ra sự thật được che giấu.

Tất cả những người yêu bản thân thái quá thường mắc kẹt trong thế giới kì diệu của chính họ và nghĩ rằng mình là giỏi nhất.

Nhưng những kẻ ái kỷ phô trương sống trong một không gian hoàn toàn khác.

Họ tin rằng họ quá đặc biệt đến nỗi họ không phải tuân theo những lề lối của xã hội như chúng ta.

Một vài người trong số đó nhìn việc nổi tiếng như một cơ hội để phô diễn những hình ảnh tưởng tượng bởi họ biết rằng xã hội rất khoan dung với hành vi xấu xa của người nổi tiếng.

Khi họ xuất hiện trước công chúng, họ có thể diễn một cảnh, đánh nhau, phạm luật – và thu hút sự chú ý.

Những con người ấy quá chìm đắm trong thế giới tưởng tượng của họ đến nỗi họ nghĩ rằng mình đặc biệt thậm chí ngay cả khi chẳng đạt được gì cả.

Những người ái kỷ phô trương này thường là những kẻ cô đơn, tin rằng mình là những thiên tài chưa được công nhận, mặc dù họ không có thành tựu nào để bàn đến.

Mặc dù kết cục khác nhau, cả người ái kỷ thành công và người ái kỷ phô trương đều có vài điểm chung: Họ đều có một nỗi sợ hãi sâu sắc về sự tầm thường tiềm tàng trong họ.

Để chống lại sự tầm thường của mình, họ tạo cho bản thân hình ảnh về một người có vị trí quan trọng.

Julian Assange là một ví dụ hoàn hảo của một kẻ ái kỷ phô trương.

Mặc dù anh ta có vẻ là một chiến binh quên mình, anh ta thực ra bị ám ảnh với hình ảnh công chúng của mình và một cách kiêu ngạo không chịu chia sẻ danh tiếng cho tổ chức Wikileaks của anh ta.

Liên quan mật thiết với những kẻ ái kỷ phô trương là những kẻ biết tuốt.

Họ luôn luôn khoe khoang kiến thức hơn người của họ với thế giới.

Trong khi việc chia sẻ kiến thức có thể đáng giá, những kẻ ái kỷ này sử dụng nó để khai thác người khác – trên diện rộng.

Họ lợi dụng nhu cầu của chúng ta đối với những người dẫn đầu về học thức và tinh thần để hình thành tôn giáo và đảng phái.

Bằng việc sử dụng lượng kiến thức uyên thâm của mình, họ có thể thuyết phục nhiều người rằng chỉ có họ biết sự thực.

Hãy xem xét Bikram Choudhury, người sáng lập nên Bikram Yoga.

Những người đi theo ông, có cả người nổi tiếng như George Clooney xem ông như Chúa – như điều hư ảo.

Nhưng trong những năm gần đây, ông đã bị vướng vào lời buộc tội về lạm dụng tình dục từ những người phụ nữ trong tổ chức của ông.

Những người ái kỷ ngoan đạo tin rằng họ có đạo đức hơn cả, còn những người ái kỷ thù hằn không biết đến giới hạn của việc trả thù.

Trong khi hầu hết chúng ta tin rằng chúng ta đều có những quan niệm đạo đức của riêng mình, những người ái kỷ ngoan đạo tin chắc rằng họ là người duy nhất biết điều gì là sai và điều gì là đúng.

Họ tin rằng bạn hoặc đứng về phía họ, hoặc là một kẻ thù của tất cả những điều linh thiêng và tốt đẹp.

Và bất cứ khi nào bạn tranh cãi với họ, lỗi luôn thuộc về bạn và họ là kẻ vô tội.

Khi bạn gặp họ lần đầu tiên, họ thường có vẻ là những người có đạo đức.

Họ có thể tham gia vào một tôn giáo có tổ chức hoặc chiến đấu vì những vấn đề xã hội.

Nhưng đằng sau mặt nạ của đạo đức là ước muốn thực sự của họ: luôn được cảm thấy có đạo đức hơn người khác.

Bằng cách đó, họ có thể duy trì ảo tưởng rằng mình hơn những người khác.

Hãy xem xét một số người ăn chay.

Cái nhìn đen trắng của họ về thế giới chia con người ra bên tốt và bên xấu – và họ chắc chắn thuộc bên lẽ phải.

Họ không hứng thú với việc tranh cãi hay sự thật – như sự thật rằng việc trồng cây giết chết nhiều động vật không ăn được hơn là việc nuôi gia súc thịt đỏ – và đánh giá bạn gay gắt nếu bạn không đồng ý với quan điểm của họ.

Dĩ nhiên điều này không áp dụng đối với tất cả những người ăn chay, hầu hết họ có những niềm tin chân thành.

Những người ái kỷ thù hằn còn đi xa hơn khi bạn bất đồng với họ: họ xem đó là sự tấn công cá nhân – và tìm cách trả thù.

Họ phản ứng dữ dội với sự mâu thuẫn dù là nhỏ nhất.

Và một khi bạn trở thành kẻ thù của họ, họ sẽ làm mọi cách để hủy hoại bạn – thậm chí là nói dối trong phiên tòa.

Sarah Palin là một ví dụ điển hình.

Khi chị gái cô ấy Molly li dị với người chồng đi lính Mike Wooten, Sarah tìm mọi cách để anh ta bị sa thải.

Cô bắt đầu một chiến dịch bôi nhọ danh dự anh ta và nói dối trước tòa về hành vi cố ý ngược đãi của anh ta.

Vậy nên nếu bạn gặp một kẻ ái kỷ thù hằn, hãy chắc chắn đừng tham dự vào khi họ tranh luận.

Bạn không bao giờ biết họ sẽ đi tới đâu để trả thù.

Ái kỷ và nghiện ngập liên quan mật thiết với nhau.

Bạn có thể uống một ly khi lòng tự tôn của bạn bị động chạm, như sau khi chia tay người yêu.

Ngày tiếp theo bạn cảm thấy tốt hơn và tiếp tục với cuộc sống của mình.

Nhưng khi ai đó có lòng tự tôn mong manh – như một người ái kỷ – tìm đến chất có cồn và chất kích thích để giảm nỗi đau, nó có thể nhanh chóng dẫn đến cơn nghiện.

Khi một người tự yêu bản thân chịu một cú đánh vào lòng tự trọng, sự tủi hổ trong thâm tâm họ thức giấc.

Và họ lại xoa dịu sự xấu hổ đó bằng chất kích thích – thường là quá nhiều.

Ngày tiếp theo, họ cảm thấy xấu hổ vì đã dùng quá nhiều thuốc, và họ lại dùng thêm nữa để bớt cảm giác tội lỗi.

Và thế là vòng tròn xấu xa bắt đầu.

Khi sự nghiện ngập tăng dần, họ ngày càng coi bản thân là trung tâm và tập trung để tiếp tục sửa chữa.

Thực tế, những kẻ nghiện ngập và người ái kỷ rất giống nhau: cả hai đều thiếu sự cảm thông và nghĩ rằng nhu cầu của họ là quan trọng hơn những người khác.

Có một hiện tượng mới liên quan mật thiết với chứng ái kỷ: nghiện chơi game nhập vai online (MMORPGs).

Trong những trò chơi này, người chơi có thể tạo ra một cái tôi ảo biến đổi, và nếu họ chơi đủ, họ có thể tạo ra nhân vật mạnh nhất trong thế giới trò chơi đó.

Điều này hấp dẫn đối với những người gặp khó khăn trong cuộc sống thực tế.

Nhưng cũng như những người ám ảnh về thành công trong thế giới thực, nhiều người chơi game nhập vai đang cố gắng xây dựng một hình ảnh vĩ đại về bản thân để thoát khỏi cảm giác xấu hổ của kẻ tầm thường.

Và khi họ đã chơi đủ lâu, họ sẽ cảm thấy cuộc sống ảo tốt hơn thực tế.

Trong khi một vài người nghiện cái tôi ảo có thể biến đổi, những người khác như Michael Jackson nghiện biến đổi bản thân qua phẫu thuật thẩm mỹ.

Ông bị đánh đập bởi cha và những người anh trai, và trở nên xấu hổ vì cơ thể của mình.

Sự tủi hổ trong thâm tâm này dẫn đến sự ám ảnh với phẫu thuật thẩm mỹ.

Ông đã thay đổi hình dáng gương mặt, miệng, mắt và mũi.

Nếu bạn lo lắng rằng bạn đang nghiện thứ gì đó, hay đang lún sâu vào chứng tự yêu bản thân thái quá, tốt nhất là hãy tìm sự giúp đỡ.

Mặc dù khó khăn nhưng sự ái kỷ cũng như nghiện ngập đều có thể vượt qua.

Và bước đầu tiên là nhận biết được vấn đề.

Kết luận

Ái kỷ không chỉ là rối loạn nhân cách mà là một đặc điểm tất cả chúng ta đều có.

Tất cả chúng ta đều chịu đựng sự xấu hổ và cố gắng chiến thắng để bù đắp, nhưng một vài người – những người ái kỷ – chịu đựng sự tủi hổ trong thâm tâm.

Điều này khiến họ sẵn sàng làm bất cứ điều gì để không cảm giác là kẻ thua cuộc.

Nhưng thay vì kết án những người ái kỷ, chúng ta nên thấu hiểu và học cách đối mặt với họ.

"Bạn sẽ học được cách cảm thông và yêu thương nhiều hơn khi khám phá được bí mật đằng sau những người có vẻ như ích kỷ, vô tâm, xấu xa mà bạn thấy ở bất cứ nơi đâu."
 
Tâm Lý Học
Những người siêu nhạy cảm


Một số người đang phải vật lộn để đối phó với mùi, tiếng ồn và hình ảnh.

Nhưng thay vì là điểm yếu, nhạy cảm cao độ lại trở thành một sức mạnh tiềm ẩn.

Một số người đang phải vật lộn để đối phó với mùi, tiếng ồn và hình ảnh.

Nhưng thay vì là điểm yếu, nhạy cảm cao độ lại trở thành một sức mạnh tiềm ẩn.

"Tôi cảm thấy mình quá nhạy cảm với thế giới này", Lena, người không thể đối diện với đám đông hay ánh đèn rực rỡ, nói.

Thậm chí khi các con đưa cháu về thăm, bà phải trốn sang phòng khác vì không thể chịu nổi tiếng cười đùa của lũ trẻ trong nhà.

Còn Lucia nói bản thân cảm nhận được từng sợi quần áo chạm vào cơ thể khiến cô nhột đến khó chịu.

Lena và Lucia là những người mắc hội chứng nhạy cảm cao.

Có khoảng 20% dân số thế giới thuộc nhóm này, theo nhà tâm lý học Elaine Aron ở Mỹ.

Chuyên gia bắt đầu nghiên cứu về độ nhạy cảm cao từ đầu những năm 90 và công bố trong cuốn sách cùng tên vào năm 1996.

Genevieve von Lob, nhà tâm lý học lâm sàng Anh, từng làm việc với nhiều người nhạy cảm, đặc biệt là trẻ em, giải thích khi tiếp nhận thông tin, kiểu người này sẽ xử lý sâu và công phu hơn.

"Họ có xu hướng tiếp nhận nhiều thông tin một cách kỹ càng hơn.

Và đây là lý do khiến bản thân bị sốc", Genevieve nói.

Rất khó để giải thích tiếng ồn và ánh sáng của TV lại tạo cảm giác khó chịu với mọi người.

Ảnh minh họa: Nathalie Lees/The Guardian

Tờ Guardian (Anh) đã yêu cầu độc giả chia sẻ kinh nghiệm về độ nhạy cảm cao của họ và nhận được hơn 300 câu trả lời.

Có những người viết hơn 40.000 từ chỉ để tả về cảm giác kiệt quệ khi phải hoà mình vào cảm xúc của người khác; kiệt sức khi phải làm việc trong không gian mở; bị xúc động mạnh bởi những quảng cáo hoặc bị ảnh hưởng sâu sắc bởi các sự kiện xã hội.

Để cải thiện tâm trạng, một số người cho biết phải đeo tai nghe để ngăn chặn tin tức và tránh các phương tiện truyền thông vì sợ ảnh hưởng đến tâm trạng.

"Tôi ước mình không phải là người nhạy cảm, điều khiến cuộc sống của tôi trở nên khó khăn hơn", một người viết.

Kết quả là, nhiều người nhạy cảm cao thường gặp vô số thiệt thòi trong xã hội.

"Họ dễ bị bắt nạt ở trường học.

Xã hội có xu hướng coi đó là một điểm yếu và gán cho những người này những cái mác như mong manh hoặc quá khích", Genevieve nói.

Chuyên gia cho rằng những người nhạy cảm cao dễ cảm thấy cô đơn, bị hiểu lầm và bị coi là không bình thường.

Họ thấy thế giới này quá khắc nghiệt, ồn ào.

Nhưng chấp nhận bản thân là chìa khoá quan trọng.

Nhạy cảm cao là bẩm sinh, không phải là căn bệnh cần chẩn đoán hay điều trị.

Nhưng họ cần phải điều chỉnh tốc độ tiếp nhận của bản thân vì khả năng xử lý thông tin và cảm xúc mãnh liệt nhiều hơn hơn người thường.

Do đó, thay vì nhốt mình trong bốn bức tường, họ nên tham gia các hoạt động thể chất như đi bộ, đấm bốc, khiêu vũ, yoga hay bất kỳ môn thể thao nào để giúp cải thiện tâm trạng.

Đặc biệt, việc đơn giản hoá cuộc sống, sắp xếp các lịch trình giúp người nhạy cảm có cuộc sống thoải mái hơn.

Nhạy cảm cao là một thế mạnh.

"Ưu điểm của nó khiến tôi trở thành người biết lắng nghe, giỏi trò chuyện.

Tôi rất trực quan, có đời sống nội tâm phong phú cùng vốn từ vựng giàu cảm xúc", Samira nói và cho biết người nhạy cảm cao có xu hướng chú ý đến những tiểu tiết và lắng nghe.

Louise, một nhà nghiên cứu từng tin rằng "quá nhạy cảm không tốt".

Chỉ khi nghỉ việc ở độ tuổi 30 vì không thấy hạnh phúc, cô bắt đầu học điêu khắc và kết nối lại tình yêu với nghệ thuật.

"Tôi đã gặp những người nhạy cảm giống mình và lần đầu nhận ra nhạy cảm rất ổn", Louise nói.

Cô bắt đầu học tiến sĩ, điều khiến cuộc đời cô thay đổi sau vài năm.

Sự nhạy cảm dần trở thành thế mạnh và khiến nghiên cứu liên quan đến những người dễ bị tổn thương của cô thành công.

"Công việc ấy dựa vào tư duy sâu sắc giữa con người với nhau", Louis kể.

Nhưng nhạy cảm cao có phải là dấu hiệu của chứng tự kỷ?

Giáo sư tâm lý học phát triển, nhà nghiên cứu về sự nhạy cảm tại Đại học Queen Mary (Anh), Michael Pluess nói rằng: "Cả hai đều có hệ thống giác quan nhạy bén.

Nhưng nhạy cảm và tự kỷ là hai điều riêng biệt".

Một số người cho rằng nhạy cảm là một đặc điểm khác, dù các nhà nghiên cứu khác lại xem xét chúng dưới góc độ sinh học hoặc sinh lý học.

Pluess không thích thuật ngữ "tính cách nhạy cảm cao".

"Mọi người đều nhạy cảm.

Chúng ta sẽ không thể tồn tại nếu không nhạy cảm với môi trường.

Nhưng số khác lại nhạy cảm với chính con người.

Đặc biệt, độ nhạy cảm càng cao sẽ đi kèm với lợi ích và thách thức", giáo sư phân tích.

Von Lob muốn mọi người hiểu rằng, nhạy cảm cao không phải là điểm yếu và hy vọng xã hội có thể nhận ra, "nuôi dưỡng" những người có đặc điểm này.

"Ít ai biết những người nhạy cảm thường là người sáng tạo, họ có khả năng đồng cảm tuyệt vời.

Họ ý thức mạnh mẽ về sự công bằng và công lý.

Họ tận tâm, biết lắng nghe...

Và thế giới đang cần chính những kỹ năng và nhận thức như vậy", bà nói.

Isadora thường đeo nút tai mỗi khi ra ngoài để làm giảm tiếng ồn.

Cô cũng không chịu được mùi của sản phẩm tẩy rửa, mùi nấu nướng hay nhạc ồn ào trong hàng quán.

Nhưng bất chấp sự khó chịu, Isadora rất vui khi biết thế giới đang hưởng lợi từ những người như cô.

"Sự cảm nhạy cảm của tôi khiến mọi người để tâm và có những cách thay đổi cho phù hợp.

Thay vì vô cảm thái quá", cô nói.
 
Tâm Lý Học
Tẩy trắng tâm trí đã nhuốm đen


Thử nghĩ mình là quản lý một nhà hàng nhỏ.

Nơi đây mở cửa đến khuya và...

Not Doing (Spiderum) Dịch từ bài trên Aeon của Lauren Gravitz

Thử nghĩ mình là quản lý một nhà hàng nhỏ.

Nơi đây mở cửa đến khuya và khi ta khóa cửa cũng là lúc hàng xóm đã lặng thinh.

Ta cho chỗ tiền kiếm được tối hôm đó vào một giỏ ngân hàng, nhét vào balô, rồi đi về nhà.

Quãng đường ngắn ngủi băng qua một công viên âm u.

Và ở đó, ngay cạnh hồ nước, ta nhận ra từ nãy đã nghe tiếng bước chân khua sau lưng.

Trước khi kịp quay lưng nhìn, một gã lao tới gần và lụi ta một nhát vào bụng.

Khi ta ngã xuống đất, hắn ta còn đá thêm, giật phăng chiếc giỏ, và chạy đi.

May thay một người đi đường đã gọi cấp cứu đưa ta, đầm đìa máu và run rẩy, tới bệnh viện gần nhất.

Bác sĩ cấp cứu khâu vết thương lại và bảo với ta rằng, ngoài cơn đau và mất một ít máu ra, ta vẫn ổn.

Rồi bà ta ngồi xuống và nhìn vào mắt ta.

Bà kể rằng những người từng trải qua một sự kiện chấn thương như vừa rồi thường hình thành rối loạn hậu chấn thương (PTSD).

Tình trạng này có thể khiến ta suy nhược, từ những hồi tưởng khiến ta sống lại rất nhiều lần chấn thương vừa qua.

Nó thể khiến ta thấy cáu bẳn, âu lo, có những cơn bực tức, và phản xạ quá trớn với nỗi sợ.

Nhưng bà cũng có một loại thuốc ta có thể uống ngay lập tức để làm giảm bớt những lần hồi tưởng sắp tới - và do đó cũng làm giảm nỗi đau cùng những cảm xúc kèm theo - và có thể ngăn chặn những hệ quả do PTSD mà không nhất thiết phải xóa đi hẳn ký ức đó.

Bạn thử chăng?

Khi Elizabeth Loftus, một bác sĩ tâm lý tại ĐH California, Irvine, hỏi gần 1000 người cùng một câu hỏi giống nhau, hơn 80% trả lời là "không".

Họ thà giữ lại hết mọi ký ức và cảm xúc của ngày hôm đó, thậm chí khi phải trả giá.

Đáng kinh ngạc hơn chính là tới 46% họ không hề tin rằng chúng ta nhẽ ra nên có lựa chọn xóa hay giữ lại ký ức này ngay từ đầu.

Hàng ngày, khoa học càng đưa chúng ta tới gần hơn với cái hình thái xóa ký ức mà mãi gần đây hẵng còn thuộc vào lãnh địa của nhà văn viễn tưởng Philip K Dick.

Các nghiên cứu ngày nay chỉ ra rằng một số loại thuốc, bao gồm thuốc chống tăng huyết áp tên gọi propranolol, có thể thực hiện khả năng mà vị bác sĩ cấp cứu trong ví dụ trên đã mô tả - không chỉ đối với các chấn thương mới xảy ra, mà còn cả các chấn thương ngày cũ.

Dù vậy, tương lai kia vẫn hãy còn xa xăm đâu đó.

Chủ yếu, con người chúng ta vẫn giỏi giang hơn bất kỳ công nghệ mới mẻ nào trong khoản biên tập những hồi tưởng trong tiềm thức.

Nhưng khi các nhà nghiên cứu đang ra sức tìm ra những kỹ thuật có thể cắt tỉa, tái tạo và xua đi ký ức cuộc sống, câu hỏi thiết yếu nên đặt ra là: chúng ta có thật sự cần ký ức thực tế hay không?

Điều gì khiến chúng ta tin rằng ký ức là thứ bất khả xâm phạm?

Và liệu ký ức có thật sự khiến chúng ta là chính chúng ta hay không?

Nhiều người sẽ bác bỏ bằng cách cho rằng con người được dìu dắt bởi câu chuyện của chính mình.

Chúng ta tạo ra những tự sự riêng từ những ký ức mà ta lưu giữ và cả những ký ức chúng ta chọn xóa đi.

Chúng ta sử dụng ký ức để tạo xây nên một thấu hiểu về bản thân.

Chúng ta dựa vào ký ức để đưa ra quyết định và điều chỉnh cuộc đời mình.

Nhưng điều gì xảy ra với nhận thức của chúng ta về bản thể, giả như chúng ta xua đi những ký ức xấu xí nhất và chỉ tuyển lựa những ký ức tốt đẹp mà thôi?

Khi một số ký ức trở nên khó nghĩ, hoặc chứa chất tổn thương với hình ảnh bản thân, có nên chăng tạo ra một lịch sử nơi chúng chẳng hề tồn tại?

Và nếu làm vậy, chúng ta có lặp lại hay không những lỗi lầm cũ khi chẳng thể ngộ ra bài học nào, đấu mãi trong những cuộc chiến giống nhau lần này đến lần khác?

Khi tìm cách xóa đi ký ức, có phải chúng ta cũng đang xóa đi chính mình?

Ký ức của chúng ta không hề cố định.

Chúng ta đã và luôn điều chỉnh nó: đôi lúc chủ đích, có lúc lại không.

Có khi do chính chúng ta, và khi khác do những hồi tưởng của người khác lem sang thành của chính chúng ta.

Chúng ta quên.

Chúng ta "nhớ lại" sai bét.

Chúng ta thậm chí có thể tập cho bộ não nhớ những sự kiện và khoảnh khắc với độ chính xác hơn hẳn.

Hãy nghĩ về nụ hôn đầu đời.

À không, hãy lui sâu hơn nữa về quá khứ, về lần đầu tiên ta đi xe đạp.

Ký ức ấy rõ rệt tới đâu?

Nó có sắc nét như ảnh chụp hay đã nhuốm lên một sắc sepia và các mép đã sờn đi nhiều ít?

Lần đầu tiên tôi tập thăng bằng trên xe đạp là trước một ngôi nhà kiểu trang trại nhỏ nhắn của gia đình ở một con phố yên ắng miền Nam California.

Tôi chễm chệ, dẫu còn tần ngần, trên chiếc yên dài in hoa của một chiếc Schwinn màu tím sáng mà cha tôi vừa tháo bánh phụ.

"Đừng buông tay ra," tôi nói với mẹ trước khi cùng tiến lên.

Mẹ gật đầu và tôi bắt đầu đạp trong lúc mẹ giữ thanh chrome đầu tròn phía sau yên.

"Đừng buông tay nha!"

Tôi lại ré lên, và ngoảnh lại thì thấy thực ra bà đã buông tay và đã cách tôi cả nửa dãy nhà, cười lớn và vẻ đầy hãnh diện.

Tôi nhanh chóng ngã tòm.

Và rồi, vì đã trầy gối, tôi bắt đầu mếu.

Mẹ chạy lại chỗ tôi và tôi nạt lại bà, cảm thấy như bị phản bội.

Chí ít thì tôi nghĩ chuyện đã xảy ra như vậy.

Ba mươi lăm năm sau tôi chẳng còn chắc chắn nữa.

Có lẽ tôi-khi-lớn đã diễn dịch lại tôi-năm-tuổi cảm thấy như thế nào.

Hoặc có lẽ, theo thời gian, mỗi lần tôi lục lại ký ức này và kể lại, tôi đã thay đổi nó chun chút, cho tới khi những gì tôi còn nhớ hiện tại mang nhiều hư cấu hơn là thực.

Suốt nhiều thập kỷ, hầu hết các nhà nghiên cứu về ký ức so sánh chúng với ảnh chụp, và bộ não của chúng ta như những quyển album hay tủ hồ sơ chứa đầy ắp ảnh.

Họ tin rằng mỗi bức ảnh cần có một quãng thời gian để tráng ban đầu - rất giống cách ảnh chụp được xử lý trong phòng tối - và rồi được cất đi để về sau sử dụng.

Nhưng cũng trong vài thập kỷ qua, các nhà khoa học phát hiện ra rằng ký ức của chúng ta uyển chuyển hơn thế rất nhiều.

Ký ức không chỉ nhòa đi như một bức ảnh bị vùi trong quyển album.

Các chi tiết khẽ chuyển biến và thay đổi.

Ký ức có thể điều chỉnh dễ dàng.

Và một số nghiên cứu còn chỉ ra rằng ký ức còn có thể xóa đi.

Các neuron thần kinh riêng lẻ giao tiếp với nhau bằng các hóa chất dẫn truyền, vốn đi từ neuron này sang neuron khác thông qua các synap - các khoảng ngắn giữa các tế bào thần kinh.

Khi ký ức hình thành, các thay đổi về protein ở các synap thần kinh buộc phải được củng cố và chuyển sang các mạch não lưu trữ dài hơi.

Nếu quá trình củng cố bị gián đoạn, ký ức sẽ tiêu biến.

Các loại ký ức khác nhau được lưu giữ tại những nơi khác nhau trong não, và mỗi ký ức sẽ có một mạng lưới neuron riêng biệt.

Các ký ức ngắn hạn, chẳng hạn như danh sách mua sắm khi đi chợ hay một địa chỉ nhà, cư trú ở vùng vỏ não trước trán - khu vực đầu tiên của các chất xám cuộn xoắn bao quanh não.

Sợ hãi và các ký ức cảm xúc mãnh liệt khác hiện diện ở hạch hạnh nhân, trong khi dữ kiện có thực và các sự kiện thuộc về cuộc sống chúng ta được trữ tại thùy hải mã.

Nhưng ký ức không nằm riêng ở ba vùng vừa nêu - chúng chồng lấn và chêm xen và kết nối và phân tán ra như những nhánh chồng chéo của một cây tử đinh hương già.

Kể cả khi một ký ức về sự việc có thật phai nhạt nó vẫn để lại đằng sau một vệt cảm xúc, rất giống với cách hoa tử đinh hương vẫn biết nở ra thế nào sau khi bị bứt khỏi cành.

Rất giống cách mùi hương hoa ngay lập tức đưa chúng ta về lại một vùng nào đó và vào một thời gian nào đó, kể cả khi ta không còn nhớ mình đã làm gì và vì sao lại có mặt ở nơi này.

Năm 2000, hai nhà khoa học thần kinh tại ĐH New York, Karim Nader và Joseph LeDoux trong lúc nghiên cứu về ký ức ở loài chuột đã phát hiện ra chính hành động nhớ lại một ký ức là thứ khiến cho ký ức đó có nguy cơ bị thay đổi hoặc xóa sổ.

Khi chuột sợ, nó co rúm lại.

Nader huấn luyện các con chuột liên hệ một giai điệu cụ thể với một cú sốc điện nhẹ - mỗi lần ông mở nhạc, chúng sẽ co rúm lại.

Một năm sau, chúng vẫn co rúm lại mỗi khi nghe câu nhạc, bằng chứng rằng ký ức đã được củng cố và không bị suy suyển.

Rồi, ông tiêm một thứ thuốc ngăn cản hình thành protein vào hạch hạnh nhân, vùng điều phối cảm xúc của bộ não từng con chuột, và mở lại đúng âm thanh đó nhưng lần này không kèm theo cú sốc điện.

Ngày hôm sau, đàn chuột không tỏ ra có phản ứng gì với điệu nhạc kia.

Kết quả này nằm trong số những kết quả đầu tiên chứng minh rằng có thể thay đổi ký ức từng được lưu giữ, theo Nader hiện đang công tác tại ĐH McGill, Montreal.

"Chúng tôi đã chỉ ra rằng bằng cách nhớ lại một ký ức cách đó một năm, mạch não có thể quay trở lại trạng thái chưa được lưu giữ và buộc phải lưu giữ một lần nữa."

Với mỗi lần nhớ lại, ký ức được củng cố thêm lần nữa - một quá trình tương tự với việc lôi một bức ảnh ra khỏi quyển album, kể một câu chuyện liên quan, sau đó tìm cách đưa nó vào lại đúng vị trí cũ.

Nhưng thứ thuốc trên làm gián đoạn quá trình này, như ai đó đã đóng quyển album và hô biến mất trước khi ta kịp thay bức ảnh.

Lúc đó, chẳng còn gì để củng cố lại ký ức của chuột sau mỗi lần hồi tưởng, các ký ức giống như bị bốc hơi, như chưa từng tồn tại trước đó.

Khi hay tin về nghiên cứu của Nader, một đồng nghiệp của ông tại McGill, nhà tâm lý Alain Brunet bắt đầu tìm xem liệu kết quả này có thể áp dụng với những cá nhân bị PTSD hay không.

Tình trạng PTSD không phải thuộc về khả năng nhớ mà là sự không-thể-quên, khi tâm trí lặp đi lặp lại chuỗi sự kiện đau đớn từng xảy ra, mỗi lần như vậy tạo ra đúng những cảm giác sợ hãi và lo lắng từng xuất hiện vào thời điểm nó từng xảy ra.

Thứ thuốc mà Nader tiêm vào chuột vẫn chưa được phê duyệt sử dụng trên con người.

Nhưng bất cứ thứ thuốc nào ngăn chặn việc hình thành protein ở hạch hạnh nhân đều không hề đắt đỏ, an toàn, và sẵn dùng: thuốc hạ huyết áp, propranolol.

Hiện Brunet đã tiến hành nhiều lượt thử thuốc trên bệnh nhân bị PTSD - dao động từ một tới sáu lượt - và chứng kiến những kết quả khác thường.

Cho người tham gia thí nghiệm dùng thuốc, chờ một giờ, sau đó yêu cầu người này viết lại câu chuyện thương tâm chi tiết hết mức có thể, Brunet phát hiện ra rằng một số bệnh nhân mắc PTSD suốt nhiều năm bắt đầu nhìn lại sự kiện đã qua và nhớ lại hầu hết những chi tiết, mà vẫn cảm thấy... thực sự là chẳng cảm thấy gì mấy nữa.

Các nhà khoa học nghĩ rằng thuốc công hiệu như sau: norepinephrine là một hormone giảm căng thẳng, một chất dẫn truyền làm gia tăng quá trình học tập cảm xúc trong não.

Propranolol ngăn cản công hiệu của norepinephrine, ngăn không cho hormone này tham gia vào quá trình tái củng cố ký ức được truy hồi.

"Sự ngăn chặn củng cố có tiềm năng trở thành biện pháp chữa trị toàn cầu dành cho PTSD.

Và PTSD là một thứ xảy ra trên toàn cầu," Brunet chia sẻ với tôi.

Các nhà nghiên cứu khác tìm cách lặp lại thí nghiệm của Brunet, với thành công hoặc hơn hoặc kém.

Trong hai nghiên cứu riêng lẻ, do Brunet và nhà trị liệu Harvard Roger Pitman, bệnh nhân cấp cứu dùng propranolol trong vòng sáu giờ sau sang chấn có biểu hiện được bảo vệ không gặp phải các phản ứng dữ dội khi nhớ lại sự việc nhiều tháng sau đó.

Chính Loftus nhắc lại các nghiên cứu này khi bà tạo nên thí nghiệm giả định - và các đối tượng tham gia thí nghiệm tin rằng nó không nên được khuyến khích tiến hành xa hơn nữa.

Bởi propranolol có vẻ như có thể xóa đi nỗi sợ cảm xúc mà không ảnh hưởng tới ký ức thực, chất này cũng hứa hẹn chữa được các rối loạn liên quan tới lo âu.

Năm ngoái, Merel Kindt, một nhà nghiên cứu tâm lý tại ĐH Amsterdam, đã sử dụng propranolol để giúp những người sợ nhện vượt qua chứng sợ này.

Dù rõ là họ còn nhớ mình đã từng sợ, các đối tượng nghiên cứu giờ đây có thể chạm và thậm chí cầm một con nhện độc trên tay.

Các nghiên cứu mới tiếp tục chỉ ra những cách thức hữu ích của quá trình tái củng cố ký ức, và những cơ chế khác nhau có thể khai thác thêm để biên tập lại ký ức.

Bằng cách tách lìa ký ức phê pha ra khỏi các cảm xúc phấn chấn của người nghiện, các nhà khoa học đã nhìn về tiềm năng chữa nghiện rượu của propranolol ở con người, và thậm chí còn thử công dụng của chất đối với nghiện heroin và cocaine ở chuột.

Số khác đang quan tâm tới một loại thuốc khác, gọi là Blebb, để tách thửa các ký ức phụ thuộc vào methamphetamine.

Nếu cùng thứ thuốc hãm lại ký ức này có thể dùng để giúp đỡ người nghiện, thì cớ gì các đối tượng tham gia thí nghiệm của Loftus lại nhìn nhận về giá trị của propranolol khác đi?

Liệu một thẩm phán có thể ra lệnh áp dụng cách điều trị này đối với các con nghiện thâm niên một cách đạo đức hay không?

Khi nào thì một ký ức có thể xóa bỏ lại giúp ích cho một cá nhân hay một xã hội?

Vì sao việc dùng thuốc để xóa sổ hay áp chế một ký ức thay vì phụ thuộc vào cơ năng của bộ não lại khiến nhiều người khó lòng chấp nhận?

Bộ não con người linh hoạt lạ kỳ.

Khả năng tùy chọn những nhánh trồi khác biệt của ký ức là một sự thích nghi thiết yếu.

Nếu như chúng ta nhớ hết tất cả mọi khoảnh khắc hàng ngày, hầu hết chúng ta sẽ bị chới với trong chính tâm trí của mình tới mức không còn làm được gì khác.

Các nhà tâm lý tin rằng bộ não của con người đã tiến hóa theo hướng quên đi những thứ vụn vặt và giữ lại những giai đoạn thật sự quan trọng, kể cả khi chúng tiêu cực, để chúng ta có thể dự đoán hiệu quả hơn về các sự kiện sắp xảy ra trong tương lai và biết cách ứng phó với chúng.

Cách làm này có thể khiến chấn thương trở nên khó xóa dứt, kể cả vì lý do chính đáng.

"Các trải nghiệm đau thương trao cho chúng ta cơ hội để nghĩ xem mình là ai trong khoảnh khắc đó, là lúc cuộc sống thật khiến ta đứt gãy.

Chúng khiến bạn đặt câu hỏi: "Mình là loại người nào?

Làm sao có thể thoát ra khỏi việc này?"

Kate McLean, một nhà tâm lý chuyên về bản dạng tự thuật tại ĐH Tây Washington ở Bellingham cho biết.

"Đối phó với chấn thương cũng giống như gia cường một cơ bắp.

Nếu đã khiến chuột nhô lên, lượt sau khi nhấc một chiếc hộp nặng ta có thể thực hiện dễ dàng hơn nhiều," Kate cho biết.

"Những người không đối mặt hoặc quên đi chấn thương không nhất thiết kém hạnh phúc hơn, nhưng liệu họ có thật sự đối mặt với những thách thức sau này hay không?"

Cô nghĩ rằng họ có thể.

Nhưng chính cô cũng cho rằng, có lẽ họ sẽ phát hiện ra rằng cái chiến thuật đối phó tức thời này cũng có nhiều lợi ích về lâu dài.

Tôi không cần phải nhớ đã dùng món gì buổi trưa thứ Tư vừa rồi, hay đã mặc áo gì tới buổi hòa nhạc của REM năm 1995 (và có lẽ chẳng muốn nhớ lại).

Tuy nhiên tôi lại nhớ rất rõ lần tôi bước hụt lối vào ga tàu phố 57 và rơi oành xuống một dãy bậc thang trước khi tiếp đất ướt mem và thẹn chín người.

Tôi sẽ không bao giờ quên đi cảnh các bậc kim loại kia trở nên trơn trượt trong mưa.

Bối rối dường ấy, vậy mà với tôi trải nghiệm kia chẳng hề giống với một chuyện gì đó tôi muốn xóa khỏi tâm trí.

Kể cả những thời khắc ngượng chín, xí hổ nhất trong đời tôi cũng chẳng phải là những gì tôi muốn quên đi: chúng tạo nên tôi của ngày hôm nay.

Đó là những bài học cảnh tỉnh, là những nếp nhăn trên vầng trán.

Chúng giúp tôi lèo lái các mối quan hệ thuần thạo hơn và dự đoán tốt hơn những kết quả khả dĩ xảy ra trong tương lai.

Nếu có người hỏi tôi cảm thấy ra sao về chuyện gột đi ký ức đau lòng, tôi sẽ khuyên họ cân nhắc thật kỹ.

Sau rốt, đó là điều tôi cũng chọn làm, và có lẽ tôi chẳng bao giờ tha thứ cho bản thân.

Tôi đích thị là một trong những kẻ mà lời cảnh báo của McLean hướng tới, một trong số những người từng có một lúc chủ đích đưa ra quyết định không còn muốn đối đầu với các nguy nan của cuộc sống.

Tôi có một khoảng trắng trong ký ức nơi nhẽ ra dành cho cha tôi, kết quả của một nỗ lực đặc biệt hiệu quả của bộ não niên thiếu không chịu đối mặt với nó.

Cha tôi bị đa xơ cứng.

Nó chẳng phải căn bệnh mà tôi nghĩ tới quá nhiều lúc lớn lên, ngoại trừ khoản dành ra một dự án tại hội chợ khoa học năm lớp 6 để mô tả về nó.

Đó là một rối loạn tự miễn nhiễm của hệ thần kinh trung ương, khi đó chấn thương vào các vỏ thần kinh bảo vệ sẽ làm ngắt đi tín hiệu thần kinh.

Đa xơ cứng có thể gây ra đủ mọi bệnh tật từ thị giác tới tê liệt toàn thân.

Với cha tôi, thoạt đầu, nó chủ yếu là những cơn buồn nôn và đôi khi thấy yếu lả đi.

Một chiều tháng Một khi tôi 12 tuổi, lúc đang từ trường về nhà thì tôi nhìn thấy cả cha và mẹ ở nhà giữa ban ngày.

Có gì đó thực sự bất ổn.

Cha tôi đã gây ra tai nạn xe sáng nay và, dù cả ông và người bị gây tai nạn đều không chấn thương, cha tôi lại không hề có ký ức làm sao ông lại tới được đó - một khu phố nằm đối diện hướng ông tới văn phòng - và vẫn hoang mang về giới tính của người lái chiếc xe kia.

Đó là manh mối đầu tiên của chúng tôi rằng căn bệnh của ông sắp sửa có một cú bẻ lái hiếm gặp, đau đớn, và cuỗm đi không chỉ khả năng đi lại của ông mà luôn cả tâm trí ông,

Theo cách nào đó, nó cũng cuỗm đi cả tâm trí tôi nữa.

Trong vòng sáu tháng, cha tôi - một nhà độc học và dịch tễ học có học vị tiến sĩ về sinh hóa - chỉ trống rỗng nhìn ra ngoài cửa sổ văn phòng vào những ngày làm việc.

Ông chuyển từ một đối thủ biện luận sắc bén và nhanh nhảu (dẫu đôi khi có hơi chua ngoa) thành một con người chậm lục và ngây dại (dẫu dễ mến).

Ông thể hiện ra tất cả hăm hở và dỗi hờn của một cậu bé bốn tuổi và gặp khó khăn khi kết thúc cuộc nói chuyện ngoại trừ những đối thoại giản dị nhất.

Cơ thể ông chẳng mấy chốc cũng biến đổi.

Thứ thuốc ông sử dụng giúp ông đi đứng được lại gây ra những cơn co giật khiến ông run dữ dội trên sàn nhà.

Một người cả đời hút thuốc, giờ ông châm một điếu và rồi quên bẵng vẫn đang cầm, có khi còn lỡ dúi đầu thuốc vào ngón tay hay, một lần, làm rơi xuống sàn nhà tắm làm thủng một lỗ trên lớp vải linoleum.

Chỉ trong ít tháng, ông từ đi đứng bằng gậy sang xe lăn, và cuối cùng vì gặp quá nhiều khó khăn để nuốt thức ăn nên buộc phải dùng tới một ống dẫn dinh dưỡng và một chiếc cốc xốp nhổ nước bọt để không bị sặc.

Tôi nhớ hết chỗ ký ức này rất rõ.

Tôi nhớ cái cốc xốp chết tiệt, màu xanh sáng của chiếc xe lăn, cái nhìn trong suốt trong mắt ông.

Tôi nhớ ông gần như không còn nhận ra nổi tôi nhưng vẫn bừng lên nụ cười trong trẻo nhất khi mẹ bước vào phòng.

Và ngoại trừ chuyện căn bệnh bắt đầu tàn phá cha tôi khi tôi vừa vị thành niên, ngoại trừ quãng 12 năm trước đong đầy những kỳ nghỉ cả nhà đi chơi chung, ngoại trừ truyền thống mỗi đêm sẽ đọc to The Hobbit và những quyển sách khác trước khi ngủ, tôi không còn nhớ cha tôi như thế nào trước khi ông mất trí.

Chẳng phải tôi không còn nhớ mình đã từng làm gì trước đây - nhớ chứ sao không.

Tôi chỉ không nhớ tới ông.

Vào cái ngày tôi lần đầu tiên đi xe đạp, dù cha tôi vừa mới tháo bánh phụ ra khỏi chiếc Schwinn tím, tôi hoàn toàn không biết là ông đứng cạnh mẹ lúc tôi ngã hay ông có mặt ở đó hay không.

Cứ như là tôi đã dùng một cây kéo để xén đi ký ức về ông ra khỏi những tấm ảnh.

Lúc đó, tôi làm như vậy hoàn toàn có chủ ý.

Mỗi lần mẹ bắt đầu hỏi: "Con còn nhớ lúc cha con..." tôi sẽ cắt ngang ngay lập tức.

"Con không muốn nói về chuyện đó," tôi sẽ vặn lại.

Rồi tôi buộc bộ não nhảy qua ký ức kia như một viên đá nhảy cóc trên mặt hồ và tập trung vào một chuyện nào đó ít đớn đau hơn, thường là con người của ông lúc sau này.

Thay vì nấn ná với người cha tôi đã mất đi, bộ não vị thành niên của tôi giảm nhẹ nỗi đau bằng cách thay thế người đã khuất kia với người ngồi trên chiếc xe lăn màu xanh.

Nhiều thập kỷ sau, tôi không còn nhớ gì về ông nữa, dù cố gắng tới đâu.

Theo Michael Anderson, nhà khoa học thần kinh tại ĐH Cambridge, tôi đã thực hiện một hành động gọi là "xóa bỏ hồi ức", quá trình một cá nhân chủ động sử dụng một hành động trong tâm trí nhằm ngăn lại việc nhớ tới một ký ức đau lòng - một quá trình do vùng vỏ não trước trán tạo ra.

Tới nay, thành trì cảm xúc của hạch hạnh nhân có được sự tìm hiểu sâu sắc nhất từ các nhà khoa học liên quan tới việc xóa đi ký ức.

Nhưng chính thùy hải mã của tôi, vùng não nơi ký ức có thực trú ngụ, mới dường như có những lỗ hổng (theo nghĩa bóng).

Việc cố ý xóa bỏ diễn ra bởi chúng ta dùng tới vùng vỏ não trước trán để giúp ta tạm thời gián đoạn chức năng của thùy hải mã, do đó ngăn không cho nó mã hóa hoặc không cho nó củng cố ký ức.

Các nhà tâm lý từ lâu đã cho rằng cách xóa ký ức này cũng đi kèm nhiều tổn thất.

Theo Freud, những ký ức bị dồn sâu vào tiềm thức sẽ tiếp tục ảnh hưởng tư duy và hành động của cá nhân về lâu về dài trong tương lai.

Nhưng Anderson phát hiện ra rằng xóa đi một ký ức cũng xóa đi ảnh hưởng tiềm thức của nó gây ra đối với hành vi.

Ông sử dụng một quy trình gọi là "nghĩ/không nghĩ" để hiểu rõ hơn quá trình xóa ký ức này ở các đối tượng xung phong tham gia nghiên cứu: trước tiên ông cho họ xem một bức ảnh hay một từ, rồi ông lái họ sang hoặc nghĩ về nó hoặc ngăn chặn quá trình truy lại.

Để quan sát cụ thể tác động lên hành vi, ông cùng các đồng nghiệp yêu cầu các tình nguyện viên học một bộ các cặp đôi từ ngữ-hình vẽ để từ này sẽ khiến họ nghĩ tới vật thể trong hình ảnh kia (dù là một chiếc xe máy hay một chậu cây).

Nhưng nếu từ ngữ kia màu đỏ, nhóm nghiên cứu sẽ bảo tình nguyện viên chủ ý xóa đi bất kỳ ý nghĩ nào dành cho đồ vật liên quan mỗi khi nó nảy ra trong đầu.

Về sau khi các nhà nghiên cứu cho họ xem hình các vật thể kia, các đối tượng nghiên cứu gặp đôi chút khó khăn mới nhận ra được chúng.

Một số nhà lâm sàng chọn quan điểm cho rằng xóa đi ký ức có thể không tốt cho chúng ta, nhưng có thể điều này cũng dựa trên các giả định sai lầm, theo Anderson.

"Có lẽ việc xóa đi ký ức cũng chẳng phải là một ý quá tệ.

Khi trao các ký ức không hay quá nhiều quan tâm, ta có thể đoan chắc chúng sẽ còn lởn vởn xung quanh."

Hồi đầu năm nay, sử dụng cùng kỹ thuật nghĩ/không-nghĩ, ông phát hiện sự chủ động xóa đi ký ức tạo ra theo cách ông gọi một "bóng quên lãng", một cái cái bóng phủ khắp lên ký ức đau thương như một gốc cây bị tỉa tót hơi chút quá tay.

Những đối tượng tham gia thí nghiệm của Anderson nhận ra rằng họ không chỉ không thể nhớ các đồ vật họ đang tìm cách xóa bỏ, mà họ cũng ít có thể nhớ những đồ vật mà họ biết ít lâu trước hoặc sau khi chúng phai nhạt đi.

Đó là kết quả góp phần giải thích vì sao một số người trải qua các vụ tai nạn xe kinh hoàng hoặc những sự kiện đau thương khác thường không nhớ chuyện gì đã xảy ra ngay trước chấn thương.

Nó cũng giải thích vì sao tôi còn giữ rất ít ký ức về những gì tôi thực hiện với cha mình.

Những ký ức này không mất đi vĩnh viễn.

Một nghiên cứu mới đây trên loài sên biển có hệ thần kinh đơn giản chỉ ra rằng gián cách quá trình tái củng cố ký ức có thể không làm xóa đi ký ức, mà trái lại chỉ chặn lại việc chúng ta tiếp cận chúng.

David Glanzman, một nhà sinh học thần kinh tại ĐH California, Los Angeles, vừa phát hiện rằng khi chuyển các neuron của loài thỏ biển, tên khoa học aplysia californica, vào một đĩa petri, chúng có thể được huấn luyện như kiểu đàn chuột của Nader.

Và cũng như đàn chuột, khi Glanzman và đồng nghiệp gợi lại ký ức của cú sốc điện rồi cho chúng một thứ thuốc ngăn cản hình thành protein, một số synap biến mất.

Nhưng biến mất một cách ngẫu nhiên - chúng không nhất thiết có liên quan tới cú sốc.

Khi các nhà nghiên cứu quay trở lại với đàn chuột để kiểm tra xem chúng có tái hiện trở lại ký ức cú sốc hay không, thì phát hiện rằng chỉ một vài cú sốc đã đủ để khôi phục lại ký ức nhẽ ra đã bị xóa sổ hoàn toàn.

Dữ kiện này cho họ biết rằng ký ức được bố trí bên ngoài các synap; họ truy dấu được ký ức tại nhân tế bào, một phần của neuron không bị ảnh hưởng cho dù các synap có thể hiện hữu hoặc mất đi.

Sâu bên trong bộ não, hay ít nhất sâu bên trong các tế nào não của một con thỏ biển, ký ức vẫn hiện diện.

Thế nhưng khi biết được điều này, khi biết rằng ai đó có thể một ngày kia nói với tôi rằng họ đã tìm ra được cách cho tôi liên kết trở lại với các ký ức của cha tôi, tôi không còn chắc chắn mình sẽ thử hay không.

Tôi mất nhiều năm cố sức tìm lại những ký ức ấy.

Tôi hỏi han họ hàng và bạn bè để nghe các câu chuyện.

Tôi nhìn vào những bức ảnh gia đình úa màu để trao vào chúng tính cách lẫn hơi ấm thường chỉ xảy ra kèm với hành vi hồi tưởng.

Nhưng có lẽ suốt thời gian qua tôi đã tìm kiếm sai thứ.

Có lẽ để yên cho ký ức trôi đi vẫn chẳng sao.

Theo thời gian, những ký ức bị tách gọt của tôi đã định hình nên hiểu biết của tôi về bản thân và, một cách dần dà, đã trở thành một phần của cái tự sự mà tôi không còn chắc mình còn muốn thay đổi nữa hay không.

Quả thật, gốc cây bị tỉa tót quá đà của tôi đã thiếu đi đôi cành lá và có vẻ không khỏi trọi trơ.

Hoa của nó chẳng lúc nào cũng nở ra theo cách nó lẽ ra nên nở.

Nhưng ở đôi chỗ khác nó cũng đơm thêm cành mới mà tôi chẳng hề mong chờ, và hình ảnh cong oằn kia cũng giản đơn là một phần của con người tôi.

Thay vì cố sức lấp trám hết những hốc khuyết kia, giờ đây tôi có thể nhìn vào những không gian trống và xem chúng - tất cả chúng - cũng là một phần của chính mình.
 
Tâm Lý Học
Tại sao kẻ 'ngáo đá' dễ giết người hàng loạt?


Người sử dụng ma túy đá sau một thời gian mà ngưng đột ngột thường bị ảo giác, rối loạn nhận thức, dễ kích động, chỉ cần một lời nói tưởng chừng vô hại cũng có thể khiến họ bị kích động và ra tay giết người.

Ảnh minh họa: Health.

Ma túy đá (hay chấm đá, hàng đá) là tên thường gọi của loại ma túy tổng hợp có chứa methamphetamine, chất này có nguồn gốc từ amphethamine.

Amphethamine là chất kích thích thần kinh trung ương, lần đầu tiên được tổng hợp thành công ở Đức vào năm 1887.

Đến năm 1920 nó được dùng để điều trị hen phế quản.

Năm 1932 amphethamine được cho vào thuốc xịt mũi với tác dụng làm thông mũi, họng.

Các nghiên cứu cho thấy amphethamine gây tác hại đến hệ thần kinh trung ương nên Cục quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) đã cấm amphethamin dạng hít vào năm 1954.

Từ đây người ta bào chế ra methamphethamin (viết tắt là meth) được sản xuất theo công thức có độ tinh khiết cao hơn.

Chất này ở dạng tinh thể có màu trắng trong giống như thủy tinh nên được gọi là đá, đây chính là ma túy đá.

Meth được tạo ra từ phản ứng methy hóa amphethamin, với tác dụng kích thích thần kinh trung ương mạnh, kéo dài và độc hơn rất nhiều so với amphethamin.

Meth dễ tan trong nước, có thể sử dụng đường hít và tiêm.

Chất này cũng dễ tan trong lipid nên hấp thụ vào cơ thể nhanh, dễ dàng xuyên qua hàng rào máu não.

Cơ chế tác động của 2 chất này cũng có sự khác nhau: Amphethamin gián tiếp ức chế tái hấp thu các chất dẫn truyền thần kinh làm cho các chất dẫn truyền tồn tại lâu hơn tại các khe synapse (điểm giao giữa các tế bào thần kinh với nhau hoặc với tế bào khác).

Trong khi đó, meth có tác dụng kích thích mạnh và trực tiếp lên hệ thống thần kinh trung ương.

Meth có tính chất gây nghiện mạnh vì nó phóng thích gần như ngay lập tức chất dopamine tại não, đây là chất trung gian hóa học tạo ra cảm giác sảng khoái.

Theo cơ chế thông thường, khi con người vui vẻ, não sẽ tiết ra hormone nội sinh dopamine đem lại cảm giác hưng phấn, hoặc khi buồn phiên, căng thẳng, chất này cũng được tiết ra để xoa dịu hệ thần kinh, giúp cơ thể cân bằng.

Sau đó, dopamine sẽ được tái hấp thu trở lại não để dự trữ cho lầu sau.

Tuy nhiên ở những người sử dụng ma túy đá, chất meth kích hoạt cơ chế giải phóng dopamine ồ ạt vào hệ thần kinh làm cho cơ thể sảng khoái cao độ mà ngăn chặn sự hấp thu trở lại.

''Đập đá'' một thời gian dài sẽ làm cho cơ thể cạn kiệt dopamine.

Nghiên cứu cho thấy khi sử dụng meth, lượng dopamine được phóng thích nhiều gấp 3 lần cocain, gấp 4 lần so với heroin.

Ngoài ra meth còn giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh khác thuộc nhóm catetrolamin (như epinephrine, norepinephrine) và serotomin (liên quan đến tác động gây ảo giác).

Không chỉ ngăn chặn tái hấp thu các chất dẫn truyền thần kinh, meth còn làm đảo ngược hoạt động của các chất này và làm ngưng hoạt động của dopamine tại các điểm tiếp nhận.

Hiệu ứng cấp tính do sử dụng meth xảy ra khi có tình trạng dư thừa nhóm chất dẫn truyền thần kinh catetrolamin và serotomin trong não.

Lúc này, người sử dụng cảm thấy kích thích và sảng khoái cao độ làm tăng sự tỉnh táo và tập trung chú ý, tăng động lực, khí sắc, năng lượng, giảm sự thèm ăn.

Các rối loạn tức thời có thể gồm lo âu, bồn chồn, mất ngủ.

Chỉ trong vòng vài ngày tiếp xúc với đá, con nghiện đã bị thay đổi sinh lý não và giảm chất dẫn truyền thần kinh trung ương dopamine.

Sử dụng meth càng nhiều càng làm cạn kiệt catetrolamin và serotomin, gây mệt mỏi, trầm cảm, hôn mê, mất sảng khoái, phá vỡ tính toàn vẹn của hệ thống thần kinh trung ương, tế bào thần kinh và hệ thống dẫn truyền thần kinh.

Meth làm thay đổi trạng thái cân bằng sinh hóa và cấu trúc của não, suy giảm chức năng nhận thức, lời nói và hình ảnh, suy giảm trí nhớ.

Sử dụng kéo dài có thể bị trầm cảm, mất khoái cảm, lo âu, hoang tưởng, ảo thanh và ảo thị.

Tùy theo thể trạng và đặc điểm của mỗi cá nhân sử dụng meth sẽ gây ra các loại ảo giác, hoang tưởng khác nhau.

Chẳng hạn, sợ bị giết nên luôn mang theo dao bên mình để tự vệ hoặc nhìn chân người khác lại tưởng là con rắn nên dùng hung khí cắt đứt chân để ''giết rắn''...

Hiện nay, meth thường được sử dụng theo hình thức nuốt hoặc hít.

Nó còn được pha trộn với các loại ma túy khác và bán ra thị trường với tên gọi là ''thuốc lắc" gây ảo giác, thường được sử dụng tại các địa điểm vui chơi.

Nhiều nghiên cứu cho thấy meth dạng tinh thể có tác hại tâm lý và gây nghiện cao hơn các dạng khác.

Qua một thời gian sử dụng mà ngưng đột ngột sẽ dẫn đến sự thiếu hụt dopamine và serotomin trầm trọng gây ra tình trạng rối loạn nhận thức, ảo giác, dễ kích động.

Thời gian vừa qua xảy ra nhiều vụ án nghiêm trọng liên quan đến đối tượng sử dụng ma túy đá.

Mới đây nhất là vụ nghi phạm sát hại 4 bà cháu ở Quảng Ninh chỉ vì câu nói tưởng chừng như vô hại của một đứa trẻ.
 
Back
Top Dưới