Khác Tâm lý học

  • Người khởi tạo Người khởi tạo [BOT] Wattpad
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Tâm Lý Học
Đây là cách não bộ tạo ra "bạn", tâm trí hay linh hồn của bạn


Suy cho cùng, chúng ta chẳng có tâm trí nào cả.

Cơ thể chúng ta chỉ đang tồn tại như một sinh vật bậc cao, một cỗ máy tự lái phức tạp với vô vàn cảm biến mà thôi.

Bạn là ai?

Hay bạn là gì?

Có vô vàn cách để định nghĩa bản thân mỗi con người chúng ta.

Trong đó, phổ biến nhất mọi người hay chia mình thành hai phần, cơ thể và tâm trí.

Có thể tưởng tượng cơ thể chúng ta như một cỗ máy, một phần cứng, còn tâm trí giống như hệ điều hành, chứa các phần mềm được cài đặt để điều khiển phần cứng ấy.

Nhưng các liên kết thần kinh và hoạt động của não bộ chúng ta thực sự phức tạp hơn nhiều so với cách một cỗ máy vận hành, ngay cả khi chúng đã có trí tuệ nhân tạo.

Điều này khiến nhiều người chưa thể thoát khỏi các quan niệm tâm linh cổ điển cho rằng chúng ta được chia thành hai phần là phần hồn và phần xác.

Trong đó, linh hồn mới là thứ định nghĩa bản thân bạn là ai và nó có thể tồn tại độc lập với cơ thể.

Lisa Feldman Barrett, một giáo sư tại Đại học Northeastern, Hoa Kỳ hoàn toàn không nghĩ vậy.

Bà hiện là một trong những nhà tâm lý và khoa học thần kinh xuất chúng nhất thế giới, nằm trong top 1% những tác giả có nghiên cứu được trích dẫn nhiều nhất hành tinh.

Theo Lisa Barrett, tâm trí và cơ thể chúng ta là hai bộ phận không thể tách rời, và não bộ là thứ cuối cùng đang tạo ra bản thân bạn.

Một cách liên tục không ngừng nghỉ, hoạt động của não bộ đang định nghĩa bạn là ai, hoặc bạn là gì.

Không thể có một "bạn" mà không có não bộ hoặc cơ thể.

Bài viết dưới đây là cách mà giáo sư Barrett giải thích những khái niệm này, theo một cách dễ hiểu nhất mà chúng ta có thể tiếp cận.

Tâm trí của bạn là gì?

Có lẽ đó là một câu hỏi kỳ lạ, nhưng nếu thực sự nghiêm túc trả lời, bạn có thể mô tả nó như một phần của bản thân tạo nên con người của bạn — nơi chứa đựng ý thức, ước mơ, cảm xúc và ký ức của bạn.

Trong một thời gian dài, các nhà khoa học đã tin rằng những khía cạnh như vậy của tâm trí có những vị trí cụ thể trong não bộ, chẳng hạn như một mạch các neuron kết nối với nhau dành riêng cho nỗi sợ hãi, một vùng dành cho trí nhớ, ham muốn, mơ ước...

Nhưng trong những năm gần đây, các nghiên cứu mới ngày càng tiết lộ một sự thật rằng bộ não con người thực sự là bậc thầy của sự lừa dối, những trải nghiệm và hành động của bạn không tiết lộ hoạt động bên trong của nó.

Trên thực tế, tâm trí của bạn là một quá trình xây dựng liên tục của não bộ, cơ thể bạn và thế giới xung quanh.

Mỗi khoảnh khắc bạn nhìn, suy nghĩ, cảm nhận và điều hướng thế giới xung quanh mình, nhận thức của bạn sẽ được xây dựng dựa trên 3 thành tố.

Một là những tín hiệu mà bạn nhận được từ thế giới bên ngoài, ví dụ như sóng ánh sáng đi vào nhãn cầu cho phép bạn nhìn thấy một khu vườn đầy hoa, sóng âm làm rung màng nhĩ cho phép bạn nghe thấy âm thanh, áp lực trên da khi bạn ôm người mình yêu thương, các chất hóa học có mùi vị chạm vào các thụ thể trong mũi hoặc lưỡi cho phép bạn ngửi và nếm.

Tất cả các tín hiệu này được gọi chung là dữ liệu giác quan.

Thành tố thứ hai tạo nên trải nghiệm của bạn là các dữ liệu giác quan xuất phát từ ngay trong cơ thể bạn, chẳng hạn như máu chảy trong mạch, lồng ngực bạn nở ra khi bạn hít một hơi làm căng phồng phổi, dạ dày của bạn sôi lên những lúc bạn đói...

Tuy nhiên, hầu hết các dữ liệu giác quan từ bên trong cơ thể đều xảy ra một cách âm thầm mà bạn không mấy để ý đến chúng.

Cơ thể của chúng ta cũng không phát triển các cơ chế cảm nhận vào bên trong cơ thể, chẳng hạn như trong não bộ của bạn không có các dây thần kinh cảm nhận áp lực hoặc đau – đó là lý do tại sao các ca mổ não có thể được thực hiện ngay trong khi bệnh nhân đang tỉnh táo.

Đây là một chiến lược sinh tồn, vì các loài sinh vật cần cảm nhận thế giới bên ngoài tốt hơn nếu muốn sống sót trong một môi trường đầy hiểm nguy.

Cuối cùng thành tố thứ ba ảnh hưởng đến trải nghiệm nhận thức của chúng ta chính là những kinh nghiệm trong quá khứ mà chúng ta từng trải nghiệm.

Không có kinh nghiệm quá khứ, tất cả các dữ liệu giác quan mà bạn nhận được sẽ chỉ là những tín hiệu vô nghĩa.

Giống như bạn không thể nghe và hiểu được ngoại ngữ nếu chưa từng học chúng.

Bạn cũng sẽ không hiểu được chính tiếng mẹ đẻ của mình nếu não bộ không sử dụng kinh nghiệm của nó với những lần tiếp xúc trước đó khi bạn học nói, học đọc hoặc học viết.

Bộ não của chúng ta luôn luôn đối soát để nhớ lại những gì nó đã thấy, đã nghe, đã cảm nhận được trong quá khứ để giải thích những dữ liệu giác quan mà nó nhận được ở hiện tại.

Sau đó, nó sử dụng giải thích này để giúp bạn ra các quyết định hoặc dự đoán điều gì sẽ xảy ra trong tương lai.

Tất cả các quá trình này được bộ não của bạn xử lý hoàn toàn trong vô thức, và nhanh đến nỗi bạn không thể nhận ra chúng nếu không cố gắng để ý kỹ hoặc thiền định để làm chậm và quan sát tâm trí của mình.

Thế nhưng, ba thành phần nhận thức có thể chưa phải là toàn bộ câu chuyện.

Chúng ta còn cần một trục thứ tư đó là thời gian.

Theo đó, tâm trí con người giống như bộ não và cơ thể chúng ta luôn được nhúng vào những hoạt động giao tiếp liên tục, trong từng khoảnh khắc với thế giới bên ngoài.

Chẳng hạn như khi bộ não của bạn ghi nhớ, nó sẽ tạo lại các mảnh vụn của quá khứ và kết hợp chúng một cách liền mạch.

Chúng ta gọi quá trình này là "ghi nhớ", nhưng những gì mà não bộ đang thực sự làm là lắp ghép các mảnh ký ức đó vào một bức tranh đã có và vẫn đang hoàn thiện từng khoảnh khắc.

Trên thực tế, bộ não của bạn có thể xây dựng cùng một kí ức theo những cách khác nhau, ở từng thời điểm khác nhau.

Chẳng hạn như khi bạn xem một bộ phim tới lần thứ ba và nhận ra những ý nghĩa mới trong từng khung cảnh của nó.

Và sự thay đổi nhận thức theo thời gian này thậm chí còn có thể xảy ra ở cấp độ vô thức, một cách tự động mà bạn không thể nhận ra.

Mọi hành động tái nhận thức này đều là một quá trình xây dựng qua thời gian liên tục.

Kết quả là bạn không chỉ nhìn mọi thứ xung quanh mình bằng mắt, mà còn bằng não bộ hay tâm trí của mình.

Tương tự vậy cho tất cả các giác quan khác của bạn.

Bộ não của bạn so sánh dữ liệu giác quan mà bạn có ở hiện tại với những dữ liệu giác quan mà bạn có trước đây trong cùng một tình huống tương tự, khi bạn có mục tiêu tương tự.

Những so sánh này kết hợp tất cả các giác quan của bạn cùng một lúc, bởi vì não của bạn tạo ra tất cả các cảm giác cùng một lúc và thể hiện chúng như những mô hình hoạt động thần kinh tổng hợp, cho phép bạn trải nghiệm và hiểu thế giới xung quanh mình.

Bộ não cũng có một khả năng tuyệt vời là kết hợp các mảnh ghép của quá khứ theo những cách mới lạ.

Chúng không chỉ phục hồi nội dung cũ, chúng còn tự tạo ra nội dung mới.

Ví dụ: bạn có thể nhận ra những thứ bạn chưa từng gặp trước đây, chẳng hạn như hình ảnh một con ngựa với một đôi cánh.

Có thể bạn chưa bao giờ nhìn thấy Pegasus trong đời thực, nhưng giống như những người Hy Lạp cổ đại, bạn có thể xem một bức tranh vẽ Pegasus lần đầu tiên và hiểu ngay nó là gì, bởi vì - thật kỳ diệu - bộ não của bạn có thể tập hợp những ý tưởng quen thuộc như "ngựa", "cánh chim" và "bay" thành một hình ảnh tinh thần nhất quán.

Và bạn biết khi con ngựa có cánh thì nó là một sinh vật thần thoại có thể bay được.

Bộ não của bạn thậm chí có thể áp đặt cho một đối tượng quen thuộc các chức năng mới không thuộc bản chất vật lý của đối tượng.

Chẳng hạn hãy nhìn vào bức ảnh dưới đây.

Máy tính ngày nay có thể sử dụng trí tuệ nhân tạo và máy học để dễ dàng phân loại vật thể và biết nó là một chiếc lông vũ.

Nhưng đó không phải tất cả những gì mà bộ não con người có thể làm được.

Nếu bạn tìm thấy vật thể này trên mặt đất trong rừng thì chắc chắn đó là một chiếc lông vũ.

Nhưng nếu bạn quay ngược thời gian và trở về thế kỷ 18, nó có thể được coi là một cây bút.

Đối với một chiến binh của bộ tộc Cheyenne, nó là một biểu tượng của danh dự.

Đối với một đứa trẻ giả làm mật vụ, đó là một bộ ria mép giả tiện dụng.

Bộ não của bạn phân loại các đối tượng không chỉ dựa trên các thuộc tính vật lý của chúng mà còn theo chức năng của chúng, hay cách mà đối tượng được sử dụng.

Quá trình này sẽ diễn ra mỗi khi bạn nhìn vào một tờ giấy có khuôn mặt của một nhà lãnh đạo trên đó và thấy những con số được ghi tượng trưng cho giá trị hàng hóa mà bạn có thể dùng nó để đổi lấy.

Đến đây, còn ai chưa thể nhận ra chúng ta đang nói về những tờ tiền?

Khả năng đáng kinh ngạc của não bộ này được gọi là xây dựng danh mục đặc biệt.

Trong nháy mắt, bộ não của bạn sử dụng kinh nghiệm trong quá khứ để xây dựng một danh mục, chẳng hạn như "biểu tượng của danh dự" gắn với chiếc lông vũ đó trong cùng một thư mục.

Để gom hai đối tượng vào một thư mục, chúng ta không chỉ dựa vào những điểm tương đồng về mặt vật lý của chúng, mà còn dựa trên những điểm tương đồng về chức năng — cách bạn sử dụng đối tượng trong một tình huống cụ thể.

Những phạm trù như vậy được gọi là trừu tượng.

Máy tính không thể "nhận ra" một chiếc lông như một phần thưởng cho sự dũng cảm, bởi vì thông tin đó không nằm trong thư mục mà một chiếc lông đang được liệt kê.

Đó là một phạm trù trừu tượng chỉ được xây dựng trong não của người có nhận thức.

Máy tính không thể làm điều này.

Hoặc có thể nói thận trọng là vẫn chưa làm được.

Chúng có thể gán các đối tượng cho các thư mục có sẵn dựa trên các ví dụ trước đó (một quy trình được gọi là học máy có giám sát) và chúng có thể phân cụm các đối tượng thành các thư mục mới dựa trên các tính năng được xác định trước, thường là các đối tượng vật lý (học máy không giám sát).

Nhưng máy móc không tạo ra các thư mục trừu tượng như "lông vũ dùng để giả vờ làm mật vụ".

Và chúng chắc chắn không làm điều đó đủ nhiều để hiểu và hành động trong một thế giới xã hội vô cùng phức tạp.

Giống như trí nhớ của bạn là một công trình, các giác quan của bạn cũng vậy.

Mọi thứ bạn nhìn, nghe, ngửi, nếm và cảm nhận đều là kết quả của sự kết hợp giữa những yếu tố bên ngoài và bên trong đầu bạn.

Trong quá trình xử lý các dữ liệu đó, bộ não luôn luôn phải quyết định dữ liệu nào phù hợp và dữ liệu nào không, tách tín hiệu có ý nghĩa ra khỏi các tín hiệu gây nhiễu.

Các nhà kinh tế học và các nhà khoa khác gọi quyết định này là vấn đề của "giá trị".

Bản thân giá trị là một tính năng trừu tượng được bộ não xây dựng lên.

Nó không thuộc về bản chất của dữ liệu giác quan phát ra từ thế giới, vì vậy, nó không thể được phát hiện và đo lường trực tiếp từ bên ngoài thế giới.

Giá trị là một thuộc tính của thông tin liên quan đến trạng thái của sinh vật đang nhận thức, ở đây là chính bản thân bạn.

Tầm quan trọng của giá trị được thấy rõ nhất trong các bối cảnh sinh thái.

Giả sử bạn là một con vật đi lang thang trong rừng và bạn nhìn thấy một hình ảnh mờ nhạt ở phía xa.

Bạn sẽ nghĩ đó là thức ăn hay chỉ là một tín hiệu nhiễu?

Bộ não bạn sẽ phải ra quyết định rằng có đáng để mạo hiểm hoặc tiêu tốn sức lực chạy ra đó xem hình ảnh mờ nhạt đó thực chất là gì hay không?

Câu trả lời phụ thuộc một phần vào tình trạng cơ thể của bạn: Nếu bạn không đói, hình dạng mờ nhạt đó có ít giá trị hơn.

Nó cũng phụ thuộc vào việc liệu bộ não của bạn có dự đoán đó là một con thú muốn ăn thịt lại bạn hay không?

Con người không tìm kiếm thức ăn một cách thường xuyên như các loài vật, ngoại trừ khi chúng ta đi vào một khu chợ.

Nhưng quy trình ước tính giá trị tương tự cũng áp dụng cho mọi việc bạn làm trong cuộc sống.

Người đang tiến đến gần là bạn bè, một người vô hại hay kẻ thù có thể làm tổn thương bạn?

Một bộ phim mới vừa mới ra rạp, bạn có nên đi xem hay không?

Bạn có nên làm việc vào cuối tuần hay đi café với bạn bè của mình, hoặc có thể bạn cần ngủ nướng một chút?

Mỗi phương án là một kế hoạch cho hành động và bản thân mỗi kế hoạch đó là một ước tính giá trị mà bạn đang thực hiện.

Cùng một mạch não liên quan đến việc ước tính giá trị cũng sẽ mang lại cho chúng ta cảm giác cơ bản nhất của chúng ta, mà bạn gọi là tâm trạng, còn các nhà khoa học gọi là "affect".

"Affect" không phải là ảnh hưởng mà để chỉ những trải nghiệm tiềm ẩn của cảm giác hoặc tâm trạng bên trong bạn.

Nó chỉ có 2 chiều kích rất đơn giản: bạn đang cảm thấy dễ chịu hay khó chịu, có động lực hay mất cảm hứng.

Tâm trạng không phải cảm xúc (Cảm xúc là cấu trúc phạm trù phức tạp hơn).

Theo đó, tâm trạng chỉ là một bản tóm tắt ngắn gọn về niềm tin của não bộ về trạng thái trao đổi chất của cơ thể, giống như nó đang đọc một cái khí áp kế vậy.

Mọi người sử dụng tâm trạng của mình để cho biết liệu điều gì đó có liên quan đến họ hay không - nghĩa là liệu thứ đó có giá trị hay không.

Ví dụ: nếu bạn cảm thấy bài báo này hoàn toàn xuất sắc, hoặc tác giả của nó thật điên rồ, hoặc ngay cả khi bạn đã dành năng lượng để đọc đến đây, thì nó có giá trị đối với bạn.

Đến đây, khi đã hiểu được tất cả các khái niệm như "giá trị" và "affect", bạn có thể bắt đầu hiểu bộ não đang điều khiển cơ thể mình theo cơ chế sinh tồn đơn giản nhất.

Theo đó, bộ não giống như một trung tâm chỉ huy các hệ thống phức tạp bên trong cơ thể, phối hợp và làm việc với nhau.

Nó điều khiển quá trình vận chuyển, phân phối các nguồn tài nguyên cần thiết như nước, muối, glucose và oxy tới từng vị trí và từng thời gian mà nó nghĩ rằng cơ thể bạn đang cần tới.

Quá trình điều khiển này được gọi là "allostasis": liên quan quan đến việc dự đoán nhu cầu của cơ thể và cố gắng đáp ứng nhu cầu đó trước khi chúng phát sinh.

Nếu bộ não của bạn làm tốt công việc này thông qua quá trình allostasis, các hệ thống trong cơ thể bạn sẽ nhận được những gì chúng cần vào đúng thời điểm.

Và để làm tốt được điều đó, não bộ của bạn cần duy trì một mô hình cơ thể bạn và nhúng nó vào trong thế giới mà nó đang cố gắng tìm hiểu.

Mô hình này bao gồm những thứ có ý thức, như những gì bạn nhìn thấy, suy nghĩ và cảm nhận; hành động bạn thực hiện mà không cần suy nghĩ, như đi bộ; và những thứ vô thức bên ngoài nhận thức của bạn.

Ví dụ, não của bạn mô hình hóa nhiệt độ cơ thể của bạn.

Mô hình này điều chỉnh nhận thức của bạn về việc nóng hay lạnh, các hành động tự động như đi vào bóng râm và các quá trình vô thức như thay đổi lưu lượng máu và mở lỗ chân lông.

Trong mọi khoảnh khắc, bộ não của bạn đoán (dựa trên kinh nghiệm trong quá khứ và dữ liệu từ các giác quan) điều gì có thể xảy ra tiếp theo bên trong và bên ngoài cơ thể bạn.

Sau đó, nó sẽ phân phối các nguồn lực xung quanh, khởi động các hành động của bạn, tạo ra cảm giác của bạn và quay trở lại cập nhật mô hình của nó.

Có thể coi mô hình này chính là một dạng tâm trí cơ bản nhất của bạn – như một sinh vật bậc cao.

Quá trình allostasis là cốt lõi của mô hình đó.

Bộ não của bạn không phát triển để suy nghĩ, cảm nhận và nhìn.

Nó phát triển để điều chỉnh cơ thể của bạn.

Suy nghĩ, cảm xúc, giác quan và các năng lực tinh thần khác của bạn chỉ là hệ quả của quá trình allostasis mà thôi.

Vì allostasis là yếu tố cơ bản của tâm trí bạn, hãy xem xét điều gì sẽ xảy ra nếu bạn không có cơ thể.

Các nhà khoa học đang cố gắng tạo ra và nuôi lớn những bộ não trong ống nghiệm.

Câu hỏi đặt ra là khi không có cơ thể, không có các giác quan, allostasis sẽ vận hành như thế nào?

Khi không có allostasis, bộ não ấy sẽ không thể tạo ra những khái niệm như giá trị hoặc tâm trạng.

Do đó, một bộ não ở trong ống nghiệm sẽ không thực sự có tâm trí như cách chúng ta đang có.

Cuối cùng, cơ thể chính là một phần của tâm trí bạn – không phải theo lối nói ẩn dụ, rườm rà nào cả, mà theo đúng nghĩa đen dựa trên nguyên lý hoạt động của não bộ.

Suy nghĩ và ước mơ của bạn, cảm xúc của bạn, thậm chí là trải nghiệm của bạn ngay bây giờ khi bạn đọc những từ này chỉ đơn thuần là hệ quả của sứ mệnh trung tâm allostasis, thứ giữ cho bạn tồn tại.

Rất có thể, bạn chưa từng trải nghiệm tâm trí của mình theo cách nào tương tự như thế này, nhưng dưới lớp vỏ bọc (bên trong hộp sọ), đó chính xác là những gì đang diễn ra.
 
Tâm Lý Học
Tâm lý học hiện đại - Nhìn thấu tâm can, thay đổi tâm trí


Thực tế cho thấy, cuộc sống ngày càng phát triển nhanh chóng, tâm lý con người cũng biến đổi không ngừng và vô cùng phức tạp.

Cùng với âm nhạc chữa lành, các tựa sách tâm lý đang được không ít độc giả quan tâm trong thời gian dịch bệnh Covid-19 vẫn đang hoành hành.

Đọc sách về tâm lý, nghiên cứu tâm lý đem lại rất nhiều lợi ích trong cuộc sống, từ việc hiểu hơn bản thân cùng những người xung quanh cho đến việc thành công trong công việc.

Tuy nhiên, Tâm lý học cũng chính là bộ môn khoa học rất dễ bị hiểu nhầm.

Thực tế cho thấy, cuộc sống ngày càng phát triển nhanh chóng, tâm lý con người cũng biến đổi không ngừng và vô cùng phức tạp.

Do đó, những hiểu biết sâu sắc nhất về bản chất con người chưa hẳn đã nằm trong tác phẩm của các bậc tiền nhân, mà có thể đang được các nhà tâm lý học đương đại khám phá, phát hiện thông qua các thử nghiệm, dự án nghiên cứu, ...

Vì thế thay vì những bộ sách tâm lý học kinh điển, lĩnh vực tâm lý học hiện đại sẽ giúp bạn thay đổi diện mạo của mình để phù hợp với sự phát triển của thời đại.

Cuốn sách "Tâm lý học hiện đại - Nhìn thấu tâm can, thay đổi tâm trí" do Tiến sĩ Tâm lý học - Nguỵ Tri Siêu cùng Thạc sĩ Tâm lý học Ứng dụng - Vương Hiểu Vy chắp bút sẽ mang đến những giá trị sâu sắc, cũng như thể hiện thái độ cầu thị, không ngừng tiến lên phía trước của tâm lý học.

Cuốn sách trình bày hàng loạt kiến thức mới của các nhà tâm lý học thông qua ba yếu tố cốt lõi cấu thành nên tâm trí con người gồm: tri (tư duy và kiến thức), tình (cảm xúc và tình cảm), ý (ý chí và hành động).

Sau từng phần, độc giả sẽ được tìm hiểu rõ hơn về cách điều chỉnh cảm xúc, cách khiến tư duy trở nên linh hoạt hơn thông qua phương pháp chuyển đổi tư duy, hay chiến lược giúp nâng cao hiệu quả giao tiếp xã hội,... dưới góc nhìn tâm lý học.

Chẳng hạn, tác giả đề cập đến cơ chế tâm lý "yêu cái cũ" và cơ chế tâm lý "thích cái mới" của con người.

Từ đó lý giải quy luật, điều kiện, cũng như rút ra một "công thức chung" liên quan đến hoạt động sáng tạo đó là sự kết hợp cái cũ và cái mới.

Nhờ vậy mà khi bạn cầm bản thảo một sản phẩm sáng tạo, bạn có thể đánh giá chất lượng của nó dựa theo quan điểm trên.

Chưa hết, các thông tin trong "Tâm lý học hiện đại - Nhìn thấu tâm can, thay đổi tâm trí" được hai tác giả truyền tải một cách dễ hiểu, trực quan nhằm giúp ai cũng có thể tiếp thu một cách dễ dàng.

Qua đó, bạn đọc sẽ thích thú nhận thấy rằng, hoá ra tâm lý học "hiện đại" đang giúp con người cải thiện cuộc sống hiệu quả và liên tục khám phá tiềm năng của con người.

Hy vọng những kiến thức khoa học "kiểu mới" được giới thiệu trong cuốn sách này có thể giúp bạn thích nghi với cuộc sống và làm chủ bản thân tốt hơn.
 
Tâm Lý Học
Đắc nhân tâm, năng lực ý chí và khả năng khắc kỷ


Khả năng đắc nhân tâm chính là biểu hiện cá nhân của lực thu hút vô hình mãnh liệt và bất khả kháng trong con người, thứ giúp cho một người nào đó phát huy một sức ảnh hưởng phi thường lên những người khác.

*Lưu ý của người dịch: Bài viết mang hơi hướng tâm linh

Khả năng đắc nhân tâm chính là biểu hiện cá nhân của lực thu hút vô hình mãnh liệt và bất khả kháng trong con người, thứ giúp cho một người nào đó phát huy một sức ảnh hưởng phi thường lên những người khác.

Hẳn tất cả những người trong chúng ta đều từng tiếp xúc với những con người thuộc dạng này.

Họ mang trong mình những năng lực đáng kinh ngạc, nếu không muốn nói là màu nhiệm, trong việc gây ảnh hưởng, thuyết phục, thu hút, truyền cảm, lãnh đạo và khiến những người thuộc nhiều tầng bậc nhận thức và tính khí khác nhau tuân theo ý chí của họ.

Số đông dường như phải rời bỏ con đường họ đang đi để làm hài lòng những người kia.

Họ thu phục quần chúng khác mà chẳng cần gắng sức chút nào và những người khác cảm thấy bị kéo về phía họ mặc cho bản ngã của mình.

Những ví dụ về năng lực đặc biệt này đã không ít lần được ghi nhận trong suốt chiều dài lịch sử.

Vậy năng lực này đến từ đâu?

Làm sao để phát triển nó bên trong bạn?

Liệu ai cũng có thể đạt được nó chăng?

Liệu năng lực này đã từng hoặc có thể được sử dụng vào những mục đích cao thượng và tốt đẹp hơn việc dùng nó để sai sử tâm trí của kẻ khác để khiến họ quy tùng theo những mục đích ích kỷ phục vụ cho sự sinh tồn?

Nếu có thể, vậy cách vận dụng cao thượng đó là gì?

Tôi từng biết một quý ông theo đạo Công Giáo, ông tên là K, người đã dành sự quan tâm đặc biệt đến người lãnh đạo trẻ tuổi tại Benares.

Ông K này tìm đến người sinh viên đại học trẻ tuổi, người có tài lãnh đạo bẩm sinh và được yêu quý, trọng vọng và được toàn thể sinh viên, giáo viên và các vị giáo sư dành cho sự cảm phục.

"Tôi hy vọng cậu có thể dạy tôi Thuật thôi miên để tôi có thể gây ấn tượng với người phụ nữ nọ"—đây chính là cách áp dụng của ông K.

Kết quả đó là ông K nhận lại những lời quở trách thậm tệ và nghiêm khắc bởi nhà lãnh đạo trẻ kia, người sinh ra là một nhà Yogi và chưa bao giờ màng đến những con đường thấp kém, những suy nghĩ ti tiện và những truy cầu thế tục trong thế giới này.

Tôi nhận thấy rằng gần như tất cả những cây bút hiện đại phương Tây và cả những người thầy viết về chủ đề này rất thường xuyên, hoặc độc đoán, chọn lối viết cảm tính về Thần bí học (Occultism), thực trạng này đầy rẫy đến mức khi một người thực sự có tư duy tìm hiểu về những văn phẩm của họ, anh ta cảm thấy mười phần chán ghét, bài xích và hoảng hốt trước chính cái tên Thần bí học.

"Trau dồi quyền lực là một tội lỗi," Vivekananda từng nói.

Người nào học Yoga và Thần bí học mà chỉ nhắm đến việc phát triển, phô diễn và thể hiện những năng lực tâm linh siêu phàm và thần thông (Siddhies) thường chôn vùi đời mình trong dục vọng và bị mắc kẹt vào quy luật của máy cỗ máy tâm linh và những lực tư tưởng mang tính huỷ hoại cuối cùng sẽ nghiền nát anh ta thành tro bụi.

Sự tiến bộ tâm linh của anh ta bị tụt lại một quãng đường dài và anh ta buộc phải cất lại từng bước đi chậm rãi và đau đớn.

Tôi không thể lên án quá gay gắt khuynh hướng của con người hiện đại muốn "gây ấn tượng" với người khác, muốn "đánh vào tâm lý" người khác, muốn "nắm thóp tâm can" của đối phương để đạt được những thành tựu hoặc mục đích cá nhân của mình.

Nếu bạn là một người như vậy, làm ơn hãy to đôi mắt để nhìn thấy sự ngu xuẩn nông cạn và thiên hướng thấp hèn của mình, nếu không thì cũng đừng ngạc nhiên nếu một ngày bạn chợt nhận ra mình đang đối diện với một kẻ vô lại đầy quyền lực, kẻ sẽ không ngần ngại nghiền nát bạn theo mọi cách mà hắn có thể làm.

"Gieo nhân nào gặt quả nấy."

Tiếp theo tôi sẽ giới thiệu cho bạn những điều kiện tạo nên sứ mệnh chân chính phía sau tính cách "Đắc nhân tâm"—thứ mà một khi đã chín mùi sẽ tạo ra một thánh nhân từ bất kỳ con người yếu đuối nào.

Quyền năng này chẳng hề là sở hữu đặc biệt và duy biệt của một số cá nhân với thiên tư vượt bực.

Mọi người đều có thể huân tập nó.

Nó nằm bên trong bạn và cần một sức khuấy động mạnh mẽ như là nhân tố xúc tác để thức tỉnh nó.

Có những con người sinh ra đã vĩ đại; những người khác đạt được điều đó nhờ vào những sự kiện bất ngờ; hạng người thứ ba trở nên vĩ đại thông qua nỗ lực một cách thông minh và có chủ ý.

Vậy, những tác nhân nào phía sau Sức ảnh hưởng cá nhân?

(1) Một số người nói rằng đó chính là sự kiểm soát đúng đắn năng lượng tình dục hay sự Trinh khiết chính là nguyên nhân.

(2) Những người khác nói rằng con đường thuần chay dẫn đến điều đó.

(3) Lại có người nói điều đó dựa vào năng lượng thể chất và sức mạnh tinh thần.

(4) Hạng người thứ tư tin rằng có một dòng từ trường phát ra từ cơ thể con người và ảnh hưởng đến tất cả những người bước vào "Vùng từ trường" này.

Xét đến quan điểm cuối cùng trước hết, cùng với những nhà khoa học thần kinh hàng dầu, tôi có thể nói rằng lực sống của con người khác với "lực từ trường" vì khi nói về lực từ trường ta liên hệ ngay đến nam châm.

Lại nữa, theo quan sát cá nhân và những chứng minh của người khác, tôi có thể nhận định rằng mặc dù những nhân cách có "lực hút như nam châm" đã rèn luyện năng lực thể chất của họ rất gắt gao và có kỷ luật, nhưng hiếm khi nào hoặc không bao giờ thân mình vạm vỡ với khối cơ bắp cuồn cuộn có phần khó coi kia có thể phát huy ra thứ năng lực này.

Không, đó hẳn phải là một thứ gì khác ngoài năng lượng thể chất và sức mạnh cơ bắp đơn thuần.

Một thể hình cân đối, năng động và đầy sức sống là đủ và mọi người đều có thể đạt được.

Lại nữa, giá trị cốt lõi của một chế độ ăn không có thịt dựa vào nguyên lý rằng trái cây, các loại hạt, các loại ngũ cốc và rau xanh chứa những đặc tính phối hợp giúp xây dựng nên một sức khoẻ dẻo dai và phản xạ tốt, đem lại sức bền và năng lực tinh thần bền vững hơn những gì 'xác chết' động vật có thể đem lại.

Vật chất cũng ảnh hưởng đến ý thức trong những giai đoạn thấp của quá trình tiến hoá hữu cơ nhưng quá trình này phần lớn bị đảo ngược hoàn toàn ngay khi sự tiến hoá CÓ Ý THỨC bắt đầu.

Do đó, mặc dù chế độ thuần chay rất được khuyến khích, nhưng từ góc nhìn nghiêm khắc của khoa học đối với sự phát triển của một sinh thể đã được cải hoá, tràn đầy sức sống và năng lượng, nó vẫn không thể là một điều kiện thiết yếu trong vấn đề này.

Trên thực tế, những cá nhân có 'trường lực' lớn nhất cũng có 'bao tử của mình là mồ chôn động vật' như một nhà thần kinh học mô tả.

Xét đến quan điểm cuối cùng, Con đường của Thượng Đế (Bramhacharya) hay Tinh khiết đạo, những con đường mà những người xuất gia ở Ấn Độ tu tập, mang một tầm quan trọng trong tâm linh, nếu không muốn nói là tiên quyết đối với khả năng Đắc nhân tâm.

Đối với một người bình thường, tôi sẽ nói rằng:

"Hãy hướng tới sự TIẾT DỤC, tinh khiết và sự kiểm soát theo hướng này."

Chẳng cần phải 'tự hoạn' vì đó là lãng phí nguồn lực.

Thứ lực này phải càng mạnh mẽ càng tốt.

Những người xuất gia ở Ấn Độ đã học cách chuyển hoá có ý thức và vô thức thứ năng lượng dục này vào trong năng lực tinh thần và tâm linh của họ, và tâm trí của họ an trú tại tầng bậc nỗ lực của tinh thần và tâm linh, nơi chẳng hề tồn tại một mảy may tính dục hay sự thô lậu.

Họ đã hoàn toàn vượt thoát khỏi những điều này, nhận định tương tự cũng đúng với những nhà tư tưởng, những triết gia và những người cống hiến xuất sắc cho xã hội, bất kể là đã kết hôn hay độc thân.

Đối với tôi, chính cái tên triết học mang trong mình khí chất Tinh khiết, Trang nghiêm, và Thiêng liêng vậy.

Mặc dù có một mức độ sự thật tương đối ở trong bốn nhận định trên, tất cả đều bỏ qua một điều tiên quyết nhất.

Câu hỏi được giới hạn lại đó là: "Điều gì làm cho một người vượt trội hơn người khác?"

Nghiên cứu về tự nhiên cho chúng ta câu trả lời rằng hình thái trí thông minh cao hơn sẽ thống trị hình thái thấp hơn.

Tất cả những nhà lãnh đạo của nhân loại như Napoleon, Alexander,...

đều bỏ xa thời đại của mình.

Nhưng họ lại nhắm tới những điều thấp thỏi và 'thành công' của họ vẫn là một dấu hỏi đứng từ góc độ của chúng ta.

Ta hãy bước lên một tầng bậc cao hơn.

Đức Phật, Đức Chúa, Đức Zoroaster,... những bậc thầy trong thời xa xưa, Vivekananda và một số ít những cá nhân khác trong thời hiện đại đã thể hiện ra những oai lực khủng khiếp trong việc thu nhiếp con người.

Các bạn hãy tìm hiểu về cuộc đời và những ghi chép về họ để cố gắng tìm ra những tác nhân tựu thành phẩm chất siêu phàm trong họ.

Nếu được yêu cầu tổng kết lại những bí mật trong Quyền năng của họ, tôi xin nói rằng:

"Trí tuệ và Năng lực tinh thần của họ.

2.

Ý chí và năng lực khắc kỷ đã thức tỉnh."

(Chính nhờ vào trí tuệ của họ mà họ có thể không ngần ngại nắm cả thế giới trong lòng bàn tay, lãnh đạo cả đàn ông và phụ không có chút khó nhọc, thấu triệt bản chất con người chỉ trong một cái nhìn và "tuỳ hiện tính cách theo căn cơ mỗi người," chỉ ra những nhu cầu tâm linh, tinh thần và thể chất cho từng hạng người khác nhau và nâng đỡ từng người tuỳ theo cấp bậc trên nấc thang tiến hoá.)

Nhờ vào lực tinh thần đã tràn đầy mà họ có thể thu rút cả thế giới về phía mình.

Nhà tư tưởng với "cực dương" tạo ra một thứ lực thu hút đối với tất cả những thứ thuộc "cực âm" về phía ông.

Gần như toàn bộ thế giới này đều thuộc "cực âm" so với những Bậc Đạo Sư và do đó họ bị thu hút về phía những bậc thầy kia.

Những Bậc thầy này cũng chính là những viên đá thử vàng của nhân loại vậy.Nhờ vào Năng lực ý chí mạnh mẽ, có phần siêu phàm nhập thánh của họ mà họ truyền đạt những lời răn của mình vào trong tâm trí của người khác và đạt được uy quyền ngay lập tức đối với bất kỳ môi trường nào mà họ được đặt vào.

Toàn bộ nhân loại hoàn toàn bị thu vào Ý chí của họ.

Mọi năng lực khác của con người đều quy phục trước thứ Ý chí này.

Và cho dù bạn có tranh luận thế nào đi nữa, chúng ta cũng phải chấp nhận rằng chính năng lực này chứ không phải thứ năng lực nào khác làm chúng ta sinh lòng kính trọng đối với người khác.

Đây chính là cột trụ trong nhân cách chúng ta.

Trí tuệ là năng lượng định hướng.

Ý chí là năng lượng thúc đẩy.

Và Ý chí một khi được vận dụng dưới sự dẫn dắt của trí tuệ sẽ biến người phàm thành một 'Vị thánh' bằng xương bằng thịt.Nhờ vào năng lực Khắc kỷ phi thường mà họ có thể làm một người 'đầu đội trời, chân đạp đất', không hề bị lung lay trước những đợt sóng của những ý kiến trái chiều và những cuộc tấn công hiểm độc không ngừng nhắm đến họ.

Hãy làm chủ chính mình, nói cách khác là làm chủ cái bản ngã ích kỷ, bất định và thấp thỏi của mình, và vượt ra khỏi bóng tối của sự nghi hoặc, lúc đó quyền làm chủ kẻ khác đã nằm sẵn trong tay bạn.

Nhưng thế giới sẽ dạy cho bạn bài học nghiệt ngã và nghiền nát bạn thành tro bụi nếu bạn cố ý kiểm soát thế giới này trong khi vẫn còn là kẻ tôi tớ cho bản ngã thấp hèn của mình.

Hãy trở nên vĩ đại.

Hướng đến Chân, Thiện, Mỹ.

Rồi sẽ có ngày cuộc đời sẽ nhìn nhận bạn.

Thánh Francis

Và dựa theo năng lượng thượng tầng của quy luật tối cao chi phối sự hiện hữu của chúng ta, chính sự nâng cao của ý thức, sự thành tựu và sự khởi phát của một Lý tưởng cao thượng chiếu sáng chân trời trí tuệ của chúng ta là những điều mang lại Sức mạnh và sự an định chứ nào phải nhờ vào sự công nhận của kẻ khác.

Thật sai lầm khi người ta chú trọng đến danh vọng, những lời tán dương và ngưỡng mộ.

Bạn chỉ thực sự đạt được những điều đó khi bạn chẳng hề màng đến chúng, khi tâm hồn bạn đã trưởng thành vượt khỏi tất cả những sự bám chấp vào những thứ tương đối nhờ vào ánh sáng của Tư duy vô hạn, khi bạn đã vươn tới cái Tuyệt đối và học được cách đọc được mật nghĩa của "THẾ GIỚI RỘNG LỚN HƠN" của cuộc sống.

Đừng vội bỏ qua điều này.

Đây chính là chìa khoá dẫn đến sự Thanh thản, Sức mạnh và An định.

Tất cả những thứ Chân thật và Thường hằng, chính nằm tại cảnh giới của sự Tuyệt đối.

Giờ thì chúng ta hãy đến với phần thực hành của bài học này.

Bốn điểm trụ cột mà bạn xin vui lòng ghi nhớ đó là: (1) Trí tuệ. (2) Năng lực tư duy. (3) Sức mạnh ý chí. (4) Sự tự kiểm.

Bạn có thể thấy bất ngờ về việc tôi truyền giảng về "lịch sử cổ đại" thay vì dạy bạn cách để tiếp cận một người rồi biến anh ta thành nô lệ của bạn và khiến anh ta quỳ mọp dưới chân bạn và vâng theo những lời sai bảo.

Cũng có thể bạn kỳ vọng tôi nói cho bạn cách lướt đi giữa hư không, bước xuyên qua những bức tường rắn chắc, thao túng vật chất theo ý muốn và như Apollonius xứ Tyana có thể biến mất trong chớp mắt khỏi phiên toà của Dinonysius và xuất hiện ở một nơi khác cách đó 19,000 dặm trong tích tắc.

Không, không.

Tôi mạo muội suy diễn rằng bạn được sinh ra vì một mục đích khác và bạn là một người truy tìm chân lý với một trái tim nhiệt thành.

Nếu bạn nỗ lực xây dựng bản thân trên nền tảng của những quy tắc đơn giản được nêu ra trong chuỗi bài học này, sớm muộn bạn sẽ vươn đến Bản ngã thượng tầng và cuối cùng trở thành một với nó.

Hơn nữa, cuộc sống hằng ngày của bạn sẽ trở thành cơ hội để bạn thực hành những nguyên tắc này, qua đó cho phép bạn theo đuổi con đường của mình trong suốt cuộc đời một cách bình thản, nhiệt thành, độc lập và với sự chân chính của một con người, "người biết mình sinh ra để làm gì".

Tôi không thể và cũng không nói ra những phương pháp "làm giàu nhanh chóng" trong công cuộc phát triển bản thân bởi vì đó là những thứ thối nát nhất mà con người tưởng tượng ra.

Vậy: (1) Trí tuệ và (2) Năng lực tư duy là kết quả tự nhiên của một bộ não có tổ chức.

Sự tập trung chính là chìa khóa cho sự phát triển này.

Sự tập trung được giải thích đầy đủ trong Bài học 1.

Qua bài thực hành sự tập trung không gián đoạn, theo cách chủ quan và khách quan, trong cuộc sống thường nhật của bạn, trong thời gian ngắn bạn sẽ nhận ra được Sức mạnh đang dần lớn lên của mình.

Những bài tập mà tôi giao cho bạn trong bài học về Sự tự kiểm, Nuôi dưỡng ý chí và Nuôi dưỡng trí nhớ nếu được thực hành với sự bền chí sẽ giúp khả năng Tập trung tiến xa hơn nữa.

Trên thực tế, chuỗi bài học này đòi hỏi Nỗ lực và sự Tập trung.

"La Mã không được xây trong một ngày"—bạn cũng không thể đạt được sự vĩ đại thật sự trong một vài tháng ngắn ngủi.

Không.

Tất cả những gì tôi có thể làm là vạch ra con đường và chỉ ra bản chất của nỗ lực mà bạn phải dành ra và nếu bạn theo đuổi con đường này một cách thuần nhất, quá trình Tiến bộ và Sinh trưởng sẽ bắt đầu từ ngày đầu tiên.

Trong vấn đề này, việc liên hệ đến những kiến thức ngoài lề là điều cần thiết.

Một vị Thần bí sư từng nói rằng: Thiên tư nếu không được tương trợ ắt sẽ chuốc lấy thất bại.

Mục đích của Tánh Linh, thứ triển hiện vào tự nhiên thông qua quá trình tiến hoá, đó là hiện hữu trong trung tâm của tất cả cá thể, nhưng cách duy nhất để sự biểu hiện đó được khai mở hoàn toàn đó là khi những trung tâm đã tiến hoá hơn của sinh thể hợp tác một cách có ý thức với sự triển hiện đó.

Sự tiến hoá chỉ bắt đầu và xảy ra thông qua quá trình tạo tác ra những trung tâm bên trong THỨC HẢI (GREAT CONCIOUSNESS) và bảo tồn cũng như mở rộng hoặc khuếch đại những trung tâm này.

Cho nên chừng nào nhân loại chưa đạt đến sự "TỰ Ý THỨC", những thế lực vô thức của tự nhiên vẫn chi phối hoàn toàn quá trình tiến hoá, nhưng giai đoạn này đã được con người đạt đến dựa theo LUẬT QUÂN BÌNH (LAW OF AVERAGES) trong thế kỷ 17 và bây giờ bạn phải tự nắm sự tiến bộ vào tay mình và dùng ý thức để định hướng những tiềm lực nội tại theo những con đường này tuỳ theo từng giai đoạn thăng tiến của bạn.

Do đó việc nghiên cứu độc lập và suy nghiệm thường xuyên chính là bí mật của một trí tuệ tinh tường và quảng đại.

Bạn sẽ nhận thấy rằng người có uy lực hơn bạn và có thể sai khiến bạn theo ý chí của anh ta luôn sở hữu một trí thông minh và sự hiểu biết vượt xa bạn và anh ta có thể đọc được bản tính của bạn như là đọc một cuốn sách mở toang, mặc dù bạn chẳng hiểu gì về anh ta.

Hãy học cách thực tâm quan sát những diễn biến của những tâm thức khác nhau xung quanh bạn.

Hãy suy xét tận tình những động cơ phía sau mỗi tính cách.

Hãy học cách phản ứng nhanh chóng với những Tư duy và Cảm nhận của một người hơn là lời nói và hành động bên ngoài của anh ta.

Những biểu hiện bên ngoài chỉ là biểu hiện khách thể của cái tôi chủ thể.

Nghiên cứu về Tướng số học và Nhân tướng học là điểm khởi đầu tuyệt vời để nắm bắt được hiểu biết về bản chất con người.

Tâm thức là Một nhưng cùng lúc cũng là Nhiều.

Trên góc độ chủ thể, nó chỉ là Một.

Xét về khách thể, nó là Nhiều.

Cho nên bằng cách nhìn nhận một cách công bình vào "bản thân mình" dưới ánh sáng an bình của trí tuệ và qua sự tự phản tỉnh trong yên lặng, bạn sẽ luôn tìm ra được dấu vết của những nền tảng hoạt động của tâm thức khác.

Mỗi con người đều là một câu đố và quan trọng hơn hết chính BẠN lại của câu đố dành cho bạn.

Giải được một trong hai cũng chính là đã giải được cả hai vậy.

"CON NGƯỜI, HÃY BIẾT LẤY CHÍNH MÌNH."

Bí ẩn của năng lực ý chí

Năng lực ý chí chính là sức mạnh ủng hộ phía sau hành động.

Nó có thể biến tất cả những chức năng tinh thần khác thành bất động hoặc sống động.

Nó chính là khả năng mang tính quyết định và chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi lý trí xét đoán.

Trong tầng bậc thấp của tâm thức, năng lực ý chí biểu hiện thành Tham vọng và ảnh hưởng qua lại với những thu hút ngoại cảnh cũng như các lực thúc đẩy.

Trong tầng bậc này, ý chí không hề tự do.

Nhưng khi nó thu hồi ý muốn hướng ngoại mà quay vào bên trong theo sự soi sáng của ánh sáng Trí tuệ xuất thế gian, chỉ lúc đó nó mới thực sự là Quyền năng ý chí.

Trên bình diện vật chất, ý chí con người không thể thoát được kiếp nô lệ; trên tầng bậc tâm linh, ý chí chính là quyền lực tối cao.

Có thể gọi đó là ý chí "đã thức tỉnh".

Tôi tin rằng màn tranh đấu muôn thuở giữa người nhiệt huyết và người phóng khoáng chỉ có thể chấm dứt bởi một sự thấu hiểu về cấu tạo tâm linh của con người, nếu không những tranh luận của hai phe sẽ luôn là kẻ tám lạng nửa cân.

Mỗi phe chỉ nắm giữ một nửa sự thật, duy chỉ có ánh sáng của Siêu tâm thức học mới có thể cho phép ta nhìn ra toàn bộ sự thật.

Tuy nhiên, điểm mà tôi muốn hướng đến đó là ý chí của bạn chỉ được tự do khi nó tự quyết định, khi nó đã vượt lên trên những thôi thúc của Bản thể cá nhân thấp kém và hành động dưới sự dẫn dắt của Bản thể vô ngã cao vượt.

Chớ vội mà bỏ qua việc này để nó trở nên mục rỗng.

Không ai sẽ hoặc có thể tôn tạo nên thứ Năng lực ý chí đích thực của một con người tâm linh siêu việt nếu họ không hiểu được ý thức về cái "TÔI LÀ".

Cho nên xin hãy lắng nghe thật chăm chú và chiêm nghiệm về những điều sau đây.

Ý THỨC VỀ CÁI "TÔI LÀ"

Nếu bạn vừa xoay vào nội tâm và xem xét bản báo cáo từ ý thức của mình về thế giới nội tâm bên trong, bạn sẽ nhìn ra được "cái TÔI" của mình.

Nhưng nếu bạn chịu xem xét sâu hơn nữa bạn sẽ thấy rằng "cái Tôi" này sẽ chia ra làm hai phương diện khác nhau, tuy chúng làm việc một cách thống nhất và nhịp nhàng nhưng vẫn có thể được tách biệt rạch ròi.

Chức năng "cái Tôi chủ tể " ("I" ngôi thứ nhất) và chức năng "cái Tôi thụ động" ("me" ngôi thứ ba), cặp song sinh tâm thức này sản sinh ra những hiện tượng khác khác nhau.

"Cái Tôi chủ thể" chính là lý "DƯƠNG", "cái Tôi thụ động" chính là lý "ÂM".

Trong Tâm lý học hiện đại, "cái Tôi chủ tể" được mô tả với những thuật ngữ như Ý thức, Tâm thức chủ động, Tâm thức chi phối, Tâm thức ngoại vi.

Và "cái Tôi thụ động" chính là Vô thức, Tâm thức bị động, Tâm thức nội hàm.

Chín mươi phần trăm con người nói về "me" khi họ nói "I".

Bây giờ ta hãy suy xét xem "cái Tôi thụ động" này mang nghĩa gì.

Nó chủ yếu bao hàm ý thức của chúng ta, về cơ thể và các giác cảm vật lý liên quan đến thanh, hương, vị, xúc, giác.

Ý thức của con người chúng ta phần lớn bị giới hạn trong phần vật lý và phần thân thể của cuộc sống.

Chúng ta "sống ở đó."

Có một số người cho rằng "y phục" (xác thân) của họ cũng là một phần của họ.

Nhưng khi ý thức thăng tiến trên nấc thang tiến hoá, con người bắt đầu buông xả ý niệm "cái tôi" gắn liền với thân xác và anh ta bắt đầu xem cơ thể của mình như là một người bạn đường đáng mến và như một phần "sở hữu" của anh ta.

Sau đó anh ta lại nhận trạng thái tâm, cảm xúc, cảm giác, yêu ghét, thói quen, phẩm chất và tính cách làm bản thân mình.

Nhưng dần dà anh ta bắt đầu ngộ ra rằng ngay cả những tâm trạng này cũng không ngừng biến đổi, không ngừng sinh diệt và chịu sự chi phối của Nguyên lý Cung bậc và Nguyên lý Thái cực (Đọc thêm về 7 Nguyên lý của Hermes).

Anh ta mù mờ nhận ra rằng anh ta có thể thay đổi chúng bằng nỗ lực ý chí nhất định và chuyển hoá chúng thành những trạng thái tâm hoàn toàn đối nghịch.

Khi đó anh ta lại buông xả sự bám chấp của mình với cảm xúc và cảm nhận thông qua quá trình kiểm điểm nội tâm, tự chiêm nghiệm và tập trung cao độ, rồi anh ta xếp chúng vào bộ sưu tập "không phải là ta".

Sau đó anh ta bắt đầu nhận ra rằng mình là thứ gì đó vượt ngoài cơ thể và cảm xúc này.

Thứ gì đó như vậy với đầy đủ chức năng nhận thức.

Người thông minh rất dễ có suy nghĩ rằng mặc dù cái tôi thuộc về vật lý và cảm xúc này là thứ gì đó tách biệt với anh ta và chịu sự điều khiển của anh ta, nhưng anh vẫn coi trí khôn kia là chính mình.

Đây chính là giai đoạn của "Sự tự ý thức."

"Ta điều khiển cơ thể và cảm xúc này."

Nhưng khi ý thức được khai mở người thông minh kia nhận ra rằng anh ta thực sự có thể đứng sang một bên và quan sát tâm thức của anh ta diễn tiến qua hàng loạt những quá trình tư duy.

Việc nghiên cứu về Tâm lý học và Logic học sẽ cho phép bạn có thể đem quá trình hoạt động của tư duy ra để xem xét, phân tích, phân loại và bàn luận cũng dễ dàng như cách một vị giáo sư nói về trạng thái rắn, lỏng và khí của vật chất trong phòng thí nghiệm của ông.

Cho nên người kia cuối cùng nhận ra rằng ngay cả những năng lực phi thường của trí thông minh cũng đành phải bị xếp vào bộ sưu tập "không phải là ta."

Thường thì đây chính là ngưỡng tri kiến mà một người bình thường có thể chạm đến.

Bạn có thể nhận ra và nói "Ta chẳng phải thân xác này, cảm xúc này, trí khôn này."

Cho nên các bạn có thể thấy phần ý thức bao hàm những chức năng vật lý, cảm xúc và trí thông minh được chứa trong "cái Tôi thụ động" hay nguyên lý tâm thức Âm.

Thứ có thể tách biệt chính mình khỏi tất cả những điều trên chính là "cái Tôi chủ tể" hay phần Dương năng của tâm thức.

Nhưng để điều này xảy ra đòi hỏi một bước tiến nữa.

Ngay cả thứ mà bạn được dạy là Ý thức Tâm linh cuối cùng cũng phải bị xếp vào danh mục "không phải ta".

Nói tóm gọn lại, phần tâm thức tâm linh là thứ chứa tất cả những điều thiện lành, cao quý và vĩ đại trong trường ý thức.

Tạm thời có thể cho nó là "Siêu ý thức".

Nhưng, hãy nhớ điều này, thông qua quá trình tiến hoá vượt bậc, "cái tôi chủ tể" đã làm chủ trường ý thức này và nó xem thứ "Siêu ý thức" này là vật phẩm cuối cùng để xếp vào bộ sự tập "không phải là ta", dẫn đến việc nó tiêu trừ dần phần tri giác tương đối và tách biệt, khi đó Thể tính chân thực, ý thức về cái "TÔI LÀ", sẽ được ngộ nhập.

Ý tôi ở đây là gì?

Cái "TÔI LÀ" này không phải sự tự áp đặt ngu xuẩn của bản ngã tương đối.

"Cái tôi chủ tể" tương đương với Ý THỨC THƯỢNG ĐẾ, toàn Thiện, toàn Giác và toàn Tri.

Đó chính là sự giác ngộ ra Bản ngã vô cùng vô tận hay Thể tính.

"Kẻ đã đánh mất tiểu ngã để đạt đến Đại Ngã".

Sau đây là lời giải thích: bản ngã nhỏ bé hay "cái tôi chủ tể" khi còn bị giam giữ bởi cá tính (sản phẩm của tầng thức "cái tôi thụ động") thì nó vẫn còn bị cầm tù trong cảnh giới tương đối.

Nó chỉ có thể suy nghĩ qua một bộ não, hưởng lạc qua một thân xác bởi sự khoái lạc mà nó đạt được thực sự rất tạm bợ, ngắn ngủi và vô thường bởi thế giới tương đối này vốn mang bản chất thay đổi khôn cùng.

Thứ chắc chắn duy nhất của thế giới này là sự vô thường vậy.

Nên khi "cái tôi chủ tể" còn tư duy và tồn tại vì lợi ích của bản ngã cá nhân thì suy nghĩ và ý chí của nó sẽ còn bị hạn chế và không được tự do.

Nhưng khi nó đã kết nối thành công với tầng thức tâm linh và dành tâm huyết cũng như sự ngưỡng vọng dành cho Đại Ngã—cái "TÔI LÀ" —nó sẽ phải buông xả hay cắt đứt mình khỏi bản ngã cá nhân và hoạt động dưới sự dẫn dắt của Đại ngã không tư lợi.

"Ta không chấp nhận chịu nhốt mình trong mũ và giày của ta," Walt Whitman từng cảm thán.

Khi một nhà tu theo kinh Vệ Đà thốt lên "Aham Brahmasmo" —"Ta là cái tuyệt đối" —ông ta không ám chỉ cái tôi nhỏ bé.

Không, không đúng.

Ông ta không chấp nhận con đường đó.

Đối với ông ta mỏ neo của ý thức đã không còn tồn tại nữa.

Ông ta đã đánh mất tất cả tri giác về "cái tôi" tương đối và vị kỷ và đã tự mình thể nhập làm một với cái "TÔI LÀ" tuyệt đối—Đại Ngã vô tư kỷ, thường hằng, bất tử và toàn năng thuộc về vạn hữu và bao trùm vạn hữu.

Cái "TÔI LÀ" này là Chân linh hay Atma.

Chỉ tồn tại duy nhất một Thể tính—Thể tính của cái Tuyệt đối.

Nó triển hiện một cách khách quan trong con người dưới dạng Biển ý thức mênh mông.

Còn dạng chủ quan của nó chính là Thượng Đế.

Giờ thì bạn đã biết được phần nào về Tầng ý thức "TÔI LÀ".

Hãy theo sát nó.

Nó chính là Bản ngã chân thật và cao thượng của bạn.

Trong việc hiểu biết và thực hành Năng lực ý chí, "Cái Tôi chủ tể" hay Lý dương của tâm thức chính là nhân tố chủ chốt.

Để vận dụng được bất kì phần bản ngã nào bạn phải thấu hiểu về phần kia.

Ý chí là năng lực của tâm hồn.

"Cái tôi chủ tể" này có một lời hứa xa xôi với cái "TÔI LÀ".

Quả thật nó sẽ đánh mất chính mình trên con đường đi tìm Đại Ngã, nhưng đứa trẻ cũng phải đánh mất mình để trưởng thành đến độ tuổi chững chạc.

Đức Chúa Jesus đã hoà làm một với Cha ở trên trời (trong cảnh giới tâm linh) và do đó ngài có thể triển hiện những thần tích như dừng những cơn sóng dữ và hồi sinh người đã khuất.

Thế nhưng bạn chỉ đang xem xét đến bản chất Năng lực ý chí của ngài.

Hãy chiêm nghiệm về sự ẩn dật của ngài trong sự Tịch diệt để nhận chân được cảm hứng đối với công trình của ngài trong vũ trụ khách quan này.

Lại nữa, ta hãy chú ý đến sự lãnh đạm và sự kiểm soát hoàn toàn của ngài đối với bản ngã cá nhân của mình.

Ngài có quan tâm xác thân ngài chết hay sống hay không?

Ngài có sống vì khoái lạc của nhục dục hay không?

Ngài có chiều theo thị chúng và hành động cũng như phát biểu để đạt được thành tựu thế gian hay sự công nhận thấp kém hay không?

Không!

Ngài đã lãng quên lợi lạc cho thân xác trong sự nhiệt huyết chân thành với sứ mệnh của Linh hồn Vĩnh cửu.

Ngài chưa từng bị lung lay bởi thứ cảm giác đáng nguyền rủa của tị hiềm và nghi hoặc.

Ngài lấy động lực để tiếp sức cho Năng lực ý chí của mình từ thế giới nội tâm.

Chẳng có thứ gì bên ngoài cả, chẳng có thứ gì từ thế giới của dục vọng thấp hèn có thể xoay chuyển được quyết tâm bên trong của ngài hay làm tinh thần ngài nhiễu loạn.

Bạn có đang hay có thể tự chuẩn bị cho mình để nối gót theo chân ngài không?

Điều đầu tiên mà tôi muốn nói và cũng là một phương pháp không thể sai chạy có thể giúp bạn đánh thức Tiềm năng ý chí của mình đó là:

(a) Hãy dạy cho Ý chí của mình cách "Kháng cự và viễn ly."

Hãy làm mạnh Năng lực ý chí của mình bằng hạnh viễn ly.

Kháng cự không có nghĩa là sự chống cự hay sự thô bạo bên ngoài.

Tôi nhận thấy rằng tất cả những người thầy Thôi miên học thời hiện đại đều khuyên học trò của họ phát triển Năng lực ý chí bằng cách thực hành nó lên người khác.

Điều này giống như việc đặt chiếc xe trước con ngựa.

Người Hindu chúng tôi có sự hiểu biết thấu đáo hơn.

Kháng cự và Khắc chế bản năng dục vọng thấp hèn có nghĩa là để cho lựa chọn khó khăn hơn phát huy sức mạnh áp chế và cưỡng bách của nó đối với lựa chọn dễ dãi kia.

Sơ Nivedita đã nói rằng: "Lý tưởng của người Ấn đó là con người phải chế ngự được bản tâm thấp kém của mình thuần thục đến mức họ lúc nào cũng có thể thâm nhập vào biển tư duy của mình và an trú tại đó mà không thể nào bị ngắt quãng hay đột ngột bị kéo lại với thế giới của tri giác."

(b) Đúng, những mối quan tâm của bạn phải hướng vào bên trong chứ không phải bên ngoài.

Bạn phải vượt ra khỏi tất cả những thôi thúc ích kỷ.

Ngay cả trong thế giới này, bạn có thể nhận ra rằng những con người xuất sắc, có danh vọng và tiếng tăm cũng đã đạt được sự thừa nhận đó bằng việc thực hành một chút sự khước từ bản thân, đó là một hình thức "nhẹ nhàng" hơn của con đường xuất thế rốt ráo được thực hành bởi các nhà tu Sannyasa (Người xuất gia ở đạo Hindu).

Người nào có thể làm việc mà luôn nhắm thẳng đến mục tiêu của anh ta với sự kiên định và chối bỏ ý muốn phóng dật giữa mớ hỗn độn của thú vui hiện tại để nhìn về thành tựu của tương lai ắt sẽ phát triển được năng lực ý chí của mình.

Cho nên trong quá trình rèn luyện Ý chí 'kháng cự', bước đầu tiên bạn phải nghiêm khắc khước từ những thôi thúc nuông chiều bản thân hay bất kỳ tham vọng và khuynh hướng tức thời nào mà không hoà âm với tiếng gọi của Bản ngã thượng tầng.

Bạn phải thực sự bước khỏi lối mòn và "phủ nhận" bản thân mình để bỏ đi những "sự thoải mái" mà bạn đang hoặc đã từng cảm thấy quen thuộc.

(c) Người có ý chí mạnh mẽ nhất là người có sự kiểm soát chặt chẽ nhất đối với ý muốn của anh ta, và người có thể bắt mình làm những việc cần làm như thể đó là việc mà tự thân anh ta muốn làm.

Đây chính là tính cách không thể phát triển trong ngày một ngày hai.

Có những đứa trẻ và cả những người đàn ông và phụ nữ trưởng thành lầm tưởng tính bướng bỉnh của mình là Năng lực ý chí.

Họ muốn một thứ gì đó và khi họ không đạt được họ liền vò đầu bứt tai, nghiến răng, dậm chân và nổi cơn tam bành.

Người ta ngộ nhận rằng những 'sinh vật' bất kham này là những cá nhân với ý chí mạnh mẽ, trong khi tất cả những gì bạn có thể nói về họ đó là họ đích thị là những kẻ tôi tớ cho chính dục vọng của mình không hơn kém.

Bạn phải thực hành khước từ bản thân trong vô vàn cách khác nhau và tự buộc mình làm một số chuyện nào đó, từ nhỏ cho đến lớn, mỗi ngày một cách chuyên nhất để phát triển năng lực Kháng cự.

Chẳng có lối tắt nào để đến được đó cả.

Một số đứa trẻ vô tình phát triển đức tính này qua việc buộc mình phải học khi chúng có thể chơi, và bằng cách ép mình vào khuôn khổ học tập khô khan và nhàm chán, qua đó chúng đã huân tập được khả năng tập trung có chủ ý.

Hãy luyện tập khước từ bản thân trong mọi cơ hội có thể.

Hãy cắt bỏ những tiện nghi mà bạn nghĩ rằng "bạn phải có."

"Hãy tắm nước lạnh khi bạn muốn tắm nước nóng.

Hãy rời khỏi giường nhanh chóng vào buổi sáng.

Hãy đến gặp những người mà bạn thường né tránh.

Hãy đứng khi đi tàu điện khi như bạn muốn ngồi; hãy đi bộ khi bạn cảm thấy lái xe sẽ dễ chịu hơn.

Hãy tạo ra những giao kèo với bản thân và thực hiện chúng."

Hãy tự hứa với mình rằng khi bạn thấy điều gì mình cần phải làm, ngay lập tức bạn sẽ bắt tay làm điều đó cho dù ý muốn trì hoãn nó có mạnh đến nhường nào, và sau tất cả điều này hãy tạo cho mình một thói quen suy nghĩ tự động rằng: "Ta đang làm tất cả những điều khó khăn này để huân tập Năng lực ý chí và mỗi khi ta thành công trong việc buộc tâm trí của ta làm hoặc không làm một việc, ta đã khiến cho thành công tiếp theo của ta dễ dàng hơn và Ý chí của ta mạnh mẽ hơn."

Dĩ nhiên suy nghĩ trên chỉ là một gợi ý cho việc thực hành của bạn.

(b) Bạn không được đưa ra cho mình những nhiệm vụ quá khó khăn như Phát triển bản thân vì điều đó có thể quá nặng nề và vượt ngoài sức mạnh của Ý chí bạn hiện tại.

Qua việc khước từ bản thân, bạn phát triển khả năng tự kiềm chế.

Qua việc buộc mình làm những điều nào đó bạn phát triển khả năng tự khẳng định bản thân.

Một con đường đi theo lối phủ định.

Một con đường theo lối khẳng định.

Cả hai đều cần thiết.

Kẻ không thể kiểm soát và lãnh đạo bảo thân thì không bao giờ có thể phát triển và khẳng định được mình.

Nhưng hãy chắc rằng bạn bắt đầu với những điều dễ dàng và sau đó khi bạn dần có được sự tự tin bạn có thể dành nỗ lực cho những nhiệm vụ khó khăn hơn.

(c) Năng lực của Dũng khí và sự Tự tin là những điều cực kì cần thiết.

Chẳng có thứ gì làm suy yếu ý chí nhiều như Nỗi sợ và sự Tự ti.

Sự tự tin không phải là lời tự huyễn sáo rỗng.

Thứ bên trong bạn nói rằng "TÔI CÓ THỂ" và được tương trợ một cách từ tốn và kiên định bởi suy nghĩ "Tôi sẽ làm" rồi dần chuyển sang hành động thực tế, quá trình này sẽ phát triển Năng lực Ý chức và mang lại những kết quả không thể ngờ tới.

(d) Hãy luôn giữ những từ này trước tâm trí thụ động của bạn:

Nhiệt thành.

2.

Quyết tâm.

3.

Dũng khí.

4 Tự tin.Theo-tới-cùng.

6.

Kiên nhẫn.

7.

Tôi có thể và tôi sẽ làm.

(e) Khuynh hướng chức năng Dương trong tâm trí của bạn hướng về sự phóng xuất, thể hiện hay phóng chiếu năng lượng; khuynh hướng chức năng Âm là tạo tác và hoài thai ra sản phẩm tâm thức như suy nghĩ, năng lượng tinh thần, thói quen mới,....

Đó là lý do tại sao Nguyên lý Âm còn được các nhà triết học cổ đại gọi là "tử cung của tâm trí".

Nó cũng bao gồm khả năng tưởng tượng.

Chức năng Dương thực hiện công việc của 'Ý chí' trong nhiều giai đoạn của nó.

Chức năng Âm nhận về những niệm tưởng và hoài thai ra đứa con tinh thần trong dạng thức của những suy nghĩ, ý tưởng, khái niệm, thói quen tư duy, vân vân.

Những năng lực của năng lượng tạo tác của nó cực kỳ phi thường và đã được chứng minh và thực nghiệm trong những thí nghiệm Tâm lý học được thực hiện bởi những nhà khoa học thần kinh lững lẫy nhất của thời đại.

Nhưng năng lượng tinh thần "dương" phải được phóng ra bởi "Cái tôi chủ tể" đến Tâm thức thụ động thông qua sự tập trung, sự đề xuất có chủ đích trước khi Tâm thức thụ động có thể bắt đầu hoạt động theo một đường lối để sản sinh ra nỗ lực tạo tác.

Sự đề xuất này có thể được bạn đưa ra cho vô thức của mình hoặc nó có thể đến như một ý niệm từ bên ngoài.

Trừ khi bạn kiểm soát được Tâm thức thụ động của mình, nó sẽ luôn bị kiểm soát bởi những kẻ khác.

Lúc đó bạn chẳng khác nào một tên nô bộc.

Để huân tập được bảy đức tính này, bạn phải chọn ra một từ và để hình dạng của nó chìm vào tâm trí bạn.

Hãy đặt mình vào một trạng thái bất động và thoải mái.

Hãy nhắm mắt lại và hình dung hình dạng của chữ đó, ví dụ như: Q-U-Y-Ế-T-T-Â-M.

Hãy sử dụng trí tưởng tượng quan sát nó bằng tinh thần.

Khi thực hiện xong, tức là khi hình ảnh của từ được chụp lại trong tâm trí của bạn và nó được cố định lại một chỗ, bước tiếp theo đó là tưởng tượng ra những ý tưởng, tính chất, tính cách vật lý và tinh thần có liên quan đến từ dó.

Bước thứ ba của bạn đó là ra lệnh cho Tâm thức thụ động của mình một cách bình tĩnh, tập trung và tự tin phải tạo ra đức tính kia.

Hãy nhớ rằng, tâm trí của bạn sẽ nổi loạn thời gian đầu, nhưng một chút kiên định sẽ đem lại thành công cho bạn.

Hãy lặp lại những lời khuyên tự động mỗi ngày vào cùng một khung giờ.

Hãy xem nó biểu hiện thành hành động.

Hãy thực hành nhiều nhất có thể.

Dĩ nhiên nỗ lực ban đầu của bạn sẽ rất bất toàn, nhưng đừng quá quan tâm, hãy đi tiếp, nắm chặt lấy câu thần chú "Tôi có thể và tôi sẽ làm" bất kể điều gì xảy ra và thành công là điều chắc chắn.

Một khi bạn phát triển được bảy đức tính này, bạn có thể làm được mọi thứ.

(f) Chớ để bạn bè hay bất cứ ai—cho dù là ai đi nữa!—làm bạn chệch hướng khỏi mục tiêu của mình.

"Đừng để tay trái biết việc tay phải làm."

Đừng bao giờ thể hiện ra.

Hãy để kết quả trả lời.

Thiên Chúa luôn giỏi ẩn mình và tuyệt tác của Ngài là không thể nghĩ bàn!

Bạn bè và người thân của bạn sẽ khinh thường bạn vì thiếu đi những đức tính này.

Đừng bao giờ áp đặt ý chí của mình lên người khác, nhưng cũng chớ để người khác áp đặt điều gì trái với nhận định của chính bạn.

Trên thực tế, không ai có thể làm điều đó trừ khi bạn là một kẻ yếu đuối với tâm trí bạc nhược.

(g) Hãy thường xuyên giao du với những người chân chính và có ý chí, bạn sẽ không còn cách nào khác ngoài việc trở nên mạnh hơn.

(h) Hãy đọc những tác phẩm văn học về chủ đề này và tiếp nhận tất cả những sự hỗ trợ từ kiến thức.

(i) Nếu trí tưởng tượng và lý tưởng duy tâm của bạn không phát triển, hãy huân tập chúng, bởi chính những thứ này biến con người trở thành thánh nhân.

Những triết gia, học giả, nhà thơ và nhạc sĩ đều phát triển tốt những khả năng này.

Nhưng khi trí tưởng tượng không được kiểm soát bởi trí tuệ cao hơn và khi lý tưởng duy tâm không được ủng hộ bởi một ý chí mạnh mẽ, khi đó bạn trở thành một kẻ ngồi không "mơ ngàn giấc mộng" và trạng thái tâm thức như vậy thực sự rất đáng trách và đáng thương hại!

(j) Năng lực ý chí trưởng thành nhờ vào niềm tin vào năng lực của mình, nhờ vào thực hành, và nhờ vào lòng tận tâm hướng về CHÂN HỒN UYÊN NGUYÊN.

(k) Trong nỗ lực vực dậy Ý chí của mình, đừng e sợ rằng sức khoẻ của mình sẽ đi xuống.

Thực ra, Sức khoẻ hoàn hảo là thành quả của Ý chí hoàn hảo.

Hãy phủ nhận quyền lực của bệnh tật và đau ốm đối với bạn.

"Ta sẽ không bệnh tật.

Cơ thể ta là nô bộc của ta.

Ta sẽ luôn phát ra hào quang của sức khoẻ hoàn hảo."

Hãy thuyết phục tâm thức thụ động của bạn—thứ chịu trách nhiệm cho cơ thể bạn—bằng những câu lệnh lặp đi lặp lại này, hãy yêu cầu và quả quyết.

Hãy luôn nghĩ về cơ thể mình như một thứ mạnh mẽ và kiên cố.

Đừng bao giờ nói về sức khỏe, bệnh tật hay điểm yếu.

Bạn phải vượt ra ngoài những mối quan tâm này.

Đó là quyền tự nhiên của bạn.

Chỉ khi nào bạn tự hạ thấp mình thì chúng mới có quyền lực làm phiền bạn.

Hãy vượt ra ngoài bản ngã thấp kém của mình.

Việc của bạn là chăm lo cho Bản ngã thượng tầng—đó là nơi "bạn" sống, di chuyển và lưu giữ bản thể của mình.

Cũng nên dạy dỗ và rèn luyện ý chí của mình để nó bám sát con đường phủ định của sự tự kiềm chế bản thân cũng như theo con đường khẳng định của sự tự khẳng định bản thân.

Hãy cân bằng cả hai.

Cái sau đi theo cái trước.

Bây giờ tôi sẽ chuyển sang chủ đề sự tự kiểm, hãy biết thật rõ ràng rằng Sự tự kiểm và Năng lực ý chí có mối liên hệ mật thiết với nhau.

Bạn sẽ được giao những công việc thực sự khi thực hành Sự tự kiểm.

SỰ TỰ KIỂM

Rõ ràng việc nói và viết về chủ đề này thì thật dễ dàng nhưng để đạt được nó thì muôn trùng gian nan.

Sự tự kiểm hoàn hảo đồng nghĩa với quyền lực vô hạn.

Chỉ có Đức Phật Và Đức Chúa trong thế giới này mới có được sự Tự kiểm tuyệt đối.

"Bất kì việc gì mà thiếu đi sự kiểm suy nghĩ thật sát sao thì lời nói và hành động chỉ giống như gieo những hạt yến mạch hoang dại mà thôi," Vivekananda nói.

Tôi tiếp cận chủ đề này không giống như những cây bút viết về chủ đề này theo kiểu "Hãy làm như tôi nói chứ đừng như tôi làm."

Bạn có thể đạt được tiến bộ đáng trân quý theo hướng này bằng cách thành thạo những lời chỉ dẫn, thực hiện đầy đủ các bài tập và cuối cùng cũng là quan trọng nhất đó là "luôn mang theo những nguyên tắc này trong đầu" và áp dụng chúng hết sức có thể trong cuộc sống thường nhật.

Không có gì có thể đưa bạn đến sự phát triển và tiến bộ nhanh chóng bằng việc thực hành trong những chuyện từ nhỏ đến lớn trong cuộc sống thường nhật, đó chính là dịp để những lý tưởng của bạn thể hiện trong cả hành động và ý thức.

Chúng ta đều phạm sai lầm khi phân tách những giờ thực hành lý tưởng cao đẹp với việc sống một cuộc sống thấp kém trong khi ôm ấp những lý tưởng hoàn toàn trái ngược trong cuộc sống đời thường.

Quá trình tự nhiên, như bạn có thể thấy, đó là sống với những lý tưởng cao đẹp nhất của bạn trong từng giây phút của cuộc sống.

Không có gì quan trọng hơn những công việc hàng ngày của một người và nếu họ không thể đem lý tưởng của mình vào ngay những điều nhỏ nhặt này thì thành công sẽ không bao giờ đến với họ.

Một nhà khoa học thần kinh đã tóm gọn bí mật của việc Xây dựng nhân cách trong lời khuyên quý giá này về chủ đề Tập trung vào nhiệm vụ: nhiệm vụ đơn giản của việc tập trung tinh thần vào bất kỳ tác vụ, công việc hay nghề nghiệp nào mà một người thực hiện chính là bước đầu để đạt được sự tập trung hoàn hảo.

Cho dù bạn đang làm gì, hãy làm chủ công việc của mình.

Nếu bạn là một người thợ giày, hãy sửa giày với một tay nghề thật tinh xảo; nếu bạn là một thợ cắt tóc, hãy giữ dao cạo và kéo của mình sáng bóng đến mức làm khách hàng phải tấm tắc ngợi khen; nếu là một thợ may hãy may những bộ áo vừa vặn như một chiếc găng tay; nếu là một người thủ ngân hãy giữ sổ sách của mình thật gọn gàng, ngăn nắp; nếu là một thợ xây, hãy xây ngôi nhà chắc chắn đến mức những chú chuột cũng phải ghét bạn; nếu là một ca sĩ, hãy mê hoặc thính giả với những âm điệu du dương; nếu là một diễn viên, hãy nhập vào linh hồn của nhân vật và khiến khán giả cảm nhận điều đó.

"Toàn thế giới là một sân khấu

Và tất cả đàn ông và đàn bà chỉ là những kịch sĩ,

Họ vào vai diễn rồi ra khỏi vai diễn

Và một người trong quãng đời của mình đóng rất nhiều vai."

Nếu bạn là lãnh đạo trong bất cứ lĩnh vực nào dù là tư tưởng hay quyết sách, hãy nhớ rằng cống hiến phải ngang bằng với bổng lộc, bởi vì cuộc sống và hạnh phúc của những người xung quanh bạn là thứ trách nhiệm nặng nề mà bạn phải gánh vác, cho dù bạn có biết hay không, hàng ngàn người có thể đang thầm chửi rủa sự yếu kém và tắc trách của bạn.

Làm một người thợ giày giỏi còn tốt hơn vạn lần so với làm một nhà lãnh đạo tệ hại.

Tôi tin rằng nếu bạn tận tâm làm theo những lời khuyên trên chúng sẽ giúp bạn dần tiến gần hơn đến ngưỡng cửa của những giai đoạn cao hơn của địa vị chủ nhân.

Hãy tâm huyết với công cuộc này.

Hãy vững tin, kẻ mơ mộng về những quả ngọt trong thời gian ngắn và con đường nhung lụa dẫn đến sự tinh thông trong khoa học tinh thần sẽ phải sụt nhào vào sự thất vọng không hồi kết mỗi khi anh ta thất bại, và kẻ nào xao nhãng với nhiệm vụ hàng ngày của mình sẽ không bao giờ tiến xa.

Thật ra chính sự thiếu kiên nhẫn của anh ta sẽ dẫn anh ta đến thất bại.

Không có đời sống cá nhân nào là trọn vẹn trừ khi những công việc có ý nghĩa góp phần xây dựng nên cuộc sống đó.

Một bậc thầy yogi, người đã viễn lý thế giới này, đã hoàn thành đại nghiệp của mình và vượt xa thời đại của ông ta.

Những bậc ẩn sĩ và bậc thánh thật sự chính là Trụ cột Sức mạnh nâng đỡ thế giới này.

Tôi nhắc lại điều này bao nhiêu lần cũng không đủ.

Sự thật đơn giản rằng các bậc thánh này đang hít thở chung một bầu không khí với chúng ta chính là một ân phước và một sự lợi lạc vô hạn đối với toàn thể nhân loại vậy.
 
Tâm Lý Học
Điều gì dẫn dắt ta đưa ra quyết định?


Trước tiên chúng ta hãy cùng xem xét một thí nghiệm tâm lý học tiến hóa kinh điển: Nhà nghiên cứu tìm những đối tượng tình nguyện tham gia thí nghiệm, chia thành hai nhóm ngẫu nhiên và cho họ xem một bộ phim.

Trong đó một nhóm xem bộ phim kinh dị nổi tiếng The Shining của Stanley Kubrick, nhóm còn lại xem bộ phim lãng mạn kinh điển Trước lúc bình minh.

Khi hai bộ phim chiếu đến đoạn cao trào, cảnh phim đột nhiên dừng lại, chuyển sang quảng cáo viện bảo tàng.

Có hai loại quảng cáo, các tình nguyện viên sẽ xem ngẫu nhiên.

Khẩu hiệu của quảng cáo đầu tiên là "mỗi năm bảo tàng đón hơn 1 triệu lượt khách tham quan", nhấn mạnh mức độ nổi tiếng, đông khách tham quan.

Khẩu hiệu của quảng cáo thứ hai: Bảo tàng này "vô cùng độc đáo, khác lạ", nhấn mạnh rằng nó khác biệt với những nơi khác.

Sau khi kết thúc bộ phim, tình nguyện viên sẽ điền vào phiếu trả lời, đánh giá mức độ muốn đến thăm viện bảo tàng.

Kết quả là những người xem phim kinh dị sẽ ấn tượng với quảng cáo "mỗi năm bảo tàng đón hơn một triệu lượt khách tham quan", người xem phim tình cảm lãng mạn thì ấn tượng hơn với quảng cáo bảo tàng này "vô cùng độc đáo, khác biệt".

Trong thí nghiệm trước, những hình ảnh mang tính đe dọa trong phim kinh dị đã kích hoạt "mô-đun tự bảo vệ".

Dưới tác động của mô- đun này, chúng ta sẽ có xu hướng muốn đến nơi đông người vì ở đó an toàn hơn.

Đây là lý do vì sao những người xem phim kinh dị ấn tượng mạnh với quảng cáo "Mỗi năm có hơn 1 triệu lượt khách tham quan".

Trong khi đó cảnh phim tình cảm lãng mạn lại kích hoạt "mô-đun chọn vợ/chồng".

Mô-đun này đã khiến chúng ta hy vọng mình trở nên đặc biệt, dễ dàng thu hút được nửa còn lại.

Lúc này quảng cáo "Mỗi năm có hơn 1 triệu lượt khách tham quan" trở nên thật tầm thường.

Cái mà chúng ta muốn là điều gì đó nổi bật, khác lạ nên quảng cáo về bảo tàng "vô cùng độc đáo, khác biệt" khiến họ thấy thích thú hơn.

Do đó, cách bạn suy nghĩ, đưa ra quyết định và sở thích của bạn gần như bị chi phối hoàn toàn bởi các mô-đun chiếm giữ não bộ vào thời điểm đó.

- Và còn rất nhiều kiến thức Tâm lý học "mới lạ", có giá trị sâu sắc được đề cập đến trong cuốn "Tâm lý học hiện đại - Nhìn thấu tâm can, thay đổi tâm trí" của 2 tác giả gồm: Tiến sĩ Tâm lý học - Nguỵ Tri Siêu và Thạc sĩ Tâm lý học Ứng dụng - Vương Hiểu Vy.

Hy vọng những tri thức khoa học "kiểu mới" được giới thiệu trong cuốn sách này có thể giúp bạn thích nghi với cuộc sống và làm chủ bản thân tốt hơn để phù hợp với sự phát triển của xã hội.
 
Tâm Lý Học
Bộ não không hoạt động như cách mà bạn vẫn tưởng


Một cuộc trò chuyện với nhà khoa học thần kinh Lisa Feldman Barrett về cách xử lý thực tại lạ thường của tâm trí—và tại sao hiểu được điều này có thể giúp bạn bớt đi vài phần lo âu.

Ngay phần đầu cuốn sách mới của bà, (tạm dịch: Bảy bài học rưỡi về Não bộ), giáo sư tâm lý Lisa Feldman Barrett viết rằng mỗi chương sẽ trình bày "một vài thông tin khoa học hấp dẫn về bộ não của bạn và xem xét những thứ mà chúng tiết lộ về bản chất con người."

Cũng tựa như nâng nắp ca-po xe hơi lên để quan sát động cơ, ngoại trừ việc chiếc xe hơi là bạn và bạn phát hiện thấy động cơ không vận hành như cách bạn vẫn nghĩ.

Chẳng hạn, khi xét bài học thứ tư, Your Brain Predicts (Almost) Everything You Do [Bộ não dự đoán (hầu như) mọi việc bạn làm].

"Các nhà khoa học thần kinh muốn nói rằng trải nghiệm hằng ngày của bạn là một ảo giác được kiểm soát cẩn thận, bị ràng buộc bởi thể giới và cơ thể bạn, nhưng rốt cuộc đều bị não bộ dàn dựng," tiến sĩ Barrett viết, bà là giáo sư danh dự tại Đại học Northeastern và có các cuộc hẹn nghiên cứu tại trường Y Harvard và Bệnh viện Đa khoa Massachusetts.

"Đó là một loại ảo giác hằng ngày tạo ra mọi trải nghiệm của bạn và dẫn dắt mọi hành động của bạn.

Đó là cách thông thường mà não bộ mang đến ý nghĩa cho các thông tin đầu vào cảm giác đến từ cơ thể bạn và từ thế giới (được gọi là "dữ liệu giác quan"), và bạn hầu như không ý thức được điều đó đang diễn ra."

Con người có khuynh hướng nghĩ rằng chúng ta đang phản ứng lại những gì đang diễn ra trên thực tế.

Nhưng điều thực sự đang diễn ra là não bộ của bạn đang dựa vào khối lượng kinh nghiệm và ký ức dự trữ sâu kín của bạn, tạo dựng nên thứ mà nó tin là thực tại của bạn, kiểm tra-chéo nó với các dữ liệu giác quan đến từ tim, phổi, trao đổi chất, hệ miễn dịch, cũng như thế giới xung quanh và điều chỉnh nếu cần.

Nói cách khác, trong một quá trình mà ngay cả tiến sĩ Barrett cũng thừa nhận là "trái lẽ thường," bạn hầu như luôn hành động dựa theo những dự đoán mà não bộ đưa ra về những gì sẽ xảy ra tiếp theo, không phải là phản ứng trước trải nghiệm khi nó đang diễn ra. (trình bày tỉ mỉ tiến trình thần kinh tương tự trong cuốn sách của ông How to Change Your Mind.)

"Những dự đoán biến đổi những tia sáng thành những đối tượng mà bạn nhìn thấy.

Chúng biến những thay đổi trong áp suất không khí thành các âm thanh dễ nhận biết, và dấu vết của các chất hóa học thành mùi và vị.

Các dự đoán cho phép bạn đọc được những nét chữ nguệch ngoạc trên trang này và hiểu được chúng như các chữ cái, từ ngữ và ý tưởng," Barrett viết.

Trong cuốn sách đầu tiên của bà, (tạm dịch: Cách cảm xúc được tạo thành), Barrett trích dẫn nghiên cứu cho thấy một điều gì đó tương tự cũng xảy ra với cảm xúc.

Chúng ta trải nghiệm những thứ như tức giận hay lo âu là cảm giác do các sự kiện bên ngoài gây ra.

Nhưng thực tế thì, theo tiến sĩ Barrett, "Cảm xúc không xảy đến với bạn—mà chúng được não bộ tạo ra khi bạn cần chúng."

Nghe thật rối rắm, nhưng hệ quả thì khá sâu sắc: bạn càng hiểu về cảm xúc, bộ não của bạn càng có thể tạo ra chúng chính xác hơn, vì vậy bạn sẽ cảm nhận và hành xử theo những cách thức rất đặc thù với tình huống.

Chúng ta hay nói đến việc "xử lý" cảm xúc sau khi chúng nảy sinh (điều này được gọi là điều chỉnh cảm xúc), nhưng hiểu về cảm xúc như một thứ mà bạn tạo dựng được cho phép bạn ảnh hưởng đến cách chúng phát sinh ngay từ đầu.

Tất nhiên, điều này làm đảo lộn quan điểm về cách chúng ta trải nghiệm thực tại và đưa đến một số câu hỏi thú vị.

Tại sao chuyện này xảy ra?

Nếu chúng ta tạo dựng nên thực tại xung quanh mình, bao gồm cả cảm xúc của chúng ta, vậy nghĩa là chúng ta có thể thay đổi được cách mà ta cảm nhận ư?

Chúng ta nên làm gì với nỗi âu lo và căng thẳng do coronavirus gây ra?

Nếu hành động của chúng ta phụ thuộc vào kinh nghiệm quá khứ, liệu chúng ta có kiểm soát được những việc mình làm không?

Chúng ta có suy nghĩ gì về trách nhiệm—chẳng hạn, trong cuộc trò chuyện được nối lại xoay quanh vấn nạn bạo lực ở cảnh sát—trong một thế giới như thế?

Làm sao ta có thể áp dụng bảy bài học rưỡi này để sống tốt hơn trong cuộc đời?

Tạp chí GQ đã phỏng vấn tiến sĩ Barrett để hỏi về những câu đó và thêm nhiều điều nữa.

GQ: Bài học đầu tiên của bà, mà thực ra là nửa bài học, đó là: não bộ không phải dành để suy nghĩ.

Thế thì: não bộ dành để làm gì?

Lisa Feldman Barrett: Nhiệm vụ quan trọng nhất của não bộ không phải để suy nghĩ, hay nhìn ngắm, hay cảm nhận, hay làm bất cứ điều gì mà chúng ta cho là quan trọng với con người.

Nhiệm vụ chính của nó là điều hành một ngân sách dành cho cơ thể bạn—giữ cho bạn còn sống, và sống khỏe mạnh.

Vì vậy, từng ý nghĩ của bạn, từng cảm xúc của bạn, từng hành động của bạn cuối cùng đều nhằm phục vụ cho việc kiểm soát cơ thể bạn.

Chúng ta không trải nghiệm đời sống tinh thần theo cách này, nhưng đây là thứ đang diễn ra 'dưới nắp ca-po'.

Thuật ngữ chuyên môn cho ngân sách cơ thể là allostasis.

Về cơ bản có nghĩa: công việc của não bộ là dự đoán những nhu cầu của cơ thể bạn và đáp ứng chúng trước khi chúng đến.

Lập ngân sách các nguồn lực như glucose, oxy, muối và tất cả các chất dinh dưỡng mà cơ thể bạn cần để bạn có thể thực hiện công việc quan trọng nhất theo quan điểm tiến hóa: truyền lại gen của bạn cho thế hệ sau.

Đó là những nguồn lực có hạn [trong cơ thể bạn] và mỗi hành động mà bạn thực hiện—mọi cử động bạn thực hiện, mọi điều mới mẻ bạn học—đều phải trả một cái giá nào đó.

Vì vậy mỗi khi não bộ chuẩn bị để di chuyển cơ thể bạn hay học điều gì mới mẻ, não bộ đang tự hỏi chính nó, theo nghĩa bóng, đây có phải là một khoản đầu tư tốt không?

Có đáng bõ công không?

Đây là một trong những tiết lộ gây bất ngờ nhất, và cũng gây lo ngại trong cuốn sách, quan điểm cho rằng bộ não là một cỗ máy dự đoán.

Thay vì thụ động quan sát thực tại—trong những thứ mà chúng ta xem như là một mô hình kích thích-phản ứng—nó quả thực đang xây dựng thực tại của chúng ta sao?

Chúng ta có thể dùng một ví dụ về bóng chày.

Người đập bóng đi vào gôn.

Anh ta vào thế cùng cây gậy bóng chày.

Một cầu thủ ném bóng ném với vận tốc từ 80 đến 100 dặm/giờ, khiến người đập bóng chỉ có 400 đến 500 mili giây để phản ứng.

Như vậy không đủ thời gian để nhìn thấy bóng, rồi quyết định vung gậy, lên kế hoạch hành động và thực hiện.

Nhưng một bộ não hoạt động bằng cách dự đoán lại đủ nhanh để biến môn bóng chày thành một trò chơi.

Đây là những gì thực tế đang diễn ra: dựa trên mọi thông tin mà cầu thủ đánh bóng có về tình huống, bộ não anh ta tự động tính toán cú xoay người, đưa ra một dự đoán, ngay lúc này, về vị trí của trái bóng.

Và trong chớp mắt, bộ não anh ta dự đoán hành động, rồi sau đó dự đoán về những cảm giác của anh ta.

Nói theo nghĩa bóng thì bộ não anh ta đang dự đoán: "Ngay lúc này, tôi sẽ làm gì?

Và lần cuối cùng tôi hành động theo cách này trong tình huống này, tôi đã thấy điều gì?

Tôi sẽ có cảm giác gì ở các khớp?

Khi cây gậy đánh trúng bóng, tôi sẽ nghe tiếng gì?"

Bộ não anh ta đang tự động thay đổi việc bắn điện của các nơ-ron của nó nhằm dự đoán những thay đổi về cảm giác do âm thanh va chạm của quả bóng với cây gậy.

Vậy chuyện gì xảy ra?

Thông tin đang đến thông qua tai mắt và các giác quan còn lại của anh ấy.

Nếu thông tin mới phù hợp với dự đoán thì khi ấy phản ứng vận động của anh được hoàn tất, anh vung gậy theo kế hoạch và có thể đánh bóng.

Tuy nhiên, nếu có sự khác biệt, nếu não bộ của anh không dự đoán gì, giả sử có một cơn gió mạnh hay chuyện gì đó xảy ra với gân chân của anh, thì não bộ của anh có thể tiếp nhận thông tin mới đó và tự động điều chỉnh dự đoán của nó.

Nhưng việc điều chỉnh đó có thể kéo dài khá lâu đến mức anh bỏ lỡ quả bóng.

Dự đoán và chỉnh sửa là một cách hiệu quả hơn nhiều để điều hành một hệ thống hơn là lúc nào cũng phản ứng.

Vậy những việc não bộ của bạn thường làm đó là dự đoán, rồi sau đó so sánh chúng với dữ liệu giác quan đến từ cơ thể bạn và từ thế giới liên tục đến, như một cách để giảm sự bất định/không chắc chắn, mà hóa ra, đó lại là việc hiệu quả nhất xét về mặt trao đổi chất.

Ví dụ khiến tôi tò mò trong sách đó là thực tế phải mất 20 phút để nước ngấm vào máu của bạn, vì vậy khi bạn uống một ly nước và có cảm giác cơn khát của mình ngay lập tức tan biến, thì đó không phải là một thực tế sinh học, mà chỉ là một trò lừa của thần kinh.

Đây lại là một điều khác mà tôi học được.

Bạn biết cảm giác khi trời sắp mưa như thế nào, và bạn có thể cảm nhận được một giọt nước trên da mình, và bạn có thể biết trời sắp mưa hay không?

Bạn không có cảm biến độ ẩm trên da.

Vậy làm sao bạn cảm nhận được những giọt nước ấy?

Làn da của bạn có các cảm ứng chạm và cảm biến nhiệt độ, và bộ não của bạn đang thực hiện động tác tính toán bên trong này, tích hợp thông tin về xúc chạm với thông tin về nhiệt độ để tạo ra một dự đoán về nước trên da bạn.

Cho nên khi bạn cảm thấy ẩm ướt ở nách hay bạn cảm thấy ẩm ướt trên da vì bất cứ lý do gì, về cơ bản thì nó là một sự xây dựng của não bộ của bạn, đang lấy hai nguồn thông tin đó và kết hợp chúng với nhau.

Mọi điều bạn làm và mọi điều bạn cảm nhận và suy nghĩ—về cơ bản là mọi thứ mà bạn trải nghiệm—là sự kết hợp giữa những gì đang diễn ra trong não bộ và những gì đang diễn ra bên ngoài hộp sọ của bạn.

Bộ não không biết chắc được những gì đang diễn ra trong cơ thể bạn.

Nó chỉ nhận dữ liệu giác quan mà thôi.

Dữ liệu giác quan đó là kết quả của một vài tập hợp nguyên nhân đang diễn ra trong cơ thể bạn.

Nhưng bộ não không biết nguyên nhân là gì.

Nó phải đoán.

Cũng như thế, bộ não của bạn không biết điều gì đang diễn ra ở thế giới bên ngoài.

Tất cả những gì nó nhận được là những bước sóng ánh sáng, những thay đổi trong áp suất không khí, nồng độ hóa chất, v.v...

Một lần nữa, chúng là những kết quả của một vài tập hợp nguyên nhân.

Đây là cái mà các triết gia gọi là một vấn đề suy luận đảo ngược.

Vậy bộ não của bạn đang sử dụng thứ gì để giải quyết vấn đề suy luận đảo ngược, để đoán các nguyên nhân của dữ liệu giác quan sẽ đến trong khoảnh khắc này?

Những kinh nghiệm trong quá khứ.

Khi bộ não tìm cách giải quyết vấn đề suy luận đảo ngược, nó không tự hỏi chính mình, nói theo nghĩa bóng, rằng "Cái gì đây?"

Thay vào đó, nó hỏi câu giống với "Cái này giống với thứ gì?"

"Điều này tương tự với điều gì trong kinh nghiệm quá khứ của tôi?"

Bộ não của bạn đang phỏng đoán về những chuyện sẽ xảy ra tiếp theo, vì vậy nó biết tiếp theo nên hành động như thế nào để giữ cho bạn còn sống và khỏe mạnh.

Nó liên tục dựa vào những kinh nghiệm trong quá khứ để tạo ra hiện tại của bạn.

Điều thú vị về chuyện này là gì?

Con người rất khó để thay đổi quá khứ của họ.

Nhưng, bằng cách thay đổi hiện tại của bạn, bạn đang vun trồng một tương lai khác.

Bằng cách thay đổi những gì bạn nói và làm, và cảm nhận, bạn đang gieo mầm mống cho não bộ của mình dự đoán khác đi trong tương lai.

Điều này khiến chúng ta phải đối mặt với đủ loại câu hỏi hóc búa về trách nhiệm và tự do ý chí

Điểm mấu chốt là chúng ta có trách nhiệm với bản thân nhiều hơn ta tưởng, và như tôi đã thảo luận trong cuốn sách, chúng ta cũng có trách nhiệm với người khác nhiều hơn ta nghĩ.

Hoặc muốn.

Bạn biết đấy, đôi lúc bạn có trách nhiệm với điều gì đấy không phải vì tình huống nào đó là lỗi của bạn—bạn chịu trách nhiệm cho điều gì đó vì bạn là người duy nhất có thể thay đổi tình hình.

Đó không phải là vấn đề có tội hay vô tội.

Những hành động và trải nghiệm mà bộ não của bạn tạo ra ngày hôm nay trở thành những dự đoán của bộ não bạn cho ngày mai.

Vì vậy, nỗ lực trau dồi kinh nghiệm mới và học hỏi những điều mới ngày hôm nay là một khoản đầu tư vào con người bạn của ngày mai.

Một số người có thể kiểm soát nhiều thứ trong cuộc sống của họ, nhưng một số khác thì lại có ít quyền kiểm soát hơn vì hoàn cảnh sống của họ, nhưng ai ai cũng có thể kiểm soát được điều gì đó.

Có một ví dụ trong sách của chị về người đàn ông nhầm cậu bé chăn chiên đang cầm một cây gậy chăn gia súc thành một chiến binh du kích đang cầm súng trường, và suýt bắn cậu bé.

Trong thực tại chủ quan của anh ta, do bộ não của anh dựng nên, anh ấy đang nhắm bắn một chiến binh.

Trong thực tại khách quan, anh ta đang nhắm bắn một đứa trẻ cùng mấy con bò.

Chúng ta nghĩ như thế nào về việc quy trách nhiệm cho anh ta?

Trong trường hợp này, vấn đề trách nhiệm rất phức tạp vì anh ta bị chính phủ gọi nhập ngũ.

Song những gì đúng với anh ta thì cũng đúng với tất cả chúng ta: những gì chúng ta nhìn thấy là một sự kết hợp của những gì đang diễn ra ở thế giới bên ngoài và bên trong cơ thể chúng ta, cũng như những gì đang diễn ra trong đầu chúng ta.

Tôi đã viết về điều này trên .

Theo như tôi biết, đây là những gì mà bằng chứng khoa học cho thấy: Một người hoàn toàn có thể nhìn thấy một khẩu súng ở nơi không hề có súng.

Do đó, nếu não bộ của người lính dự đoán rằng kẻ khác đang cầm súng, và tim anh ta đang đập với tốc độ 180 nhịp mỗi phút thì bộ não anh ta sẽ gặp khó khăn trong việc lấy mẫu thông tin thị giác từ thế giới một cách hiệu quả.

Và kết quả là bộ não anh ta sẽ đi theo dự đoán của anh ta—và anh ta nhìn thấy súng—thay vì chỉnh sửa lại dự đoán với thông tin truyền từ thị giác của một cây gậy, đến từ thế giới.

Hãy nghĩ về ý nghĩa của điều này đối với cơn sóng thần của những vấn đề về cảnh sát mà chúng ta đang phải đương đầu lúc này.

Một xem xét quan trọng ở đây là: những dự đoán của não bộ đến từ đâu?

Những dự đoán đó không chỉ đến từ kinh nghiệm trong quá khứ của bạn, mà còn từ những gì bạn đọc và xem trên tivi, báo chí và mạng xã hội.

Những dự đoán của bạn đến từ đó—từ một thế giới mà người khác sắp xếp cho bạn.

Khi bạn lớn tuổi hơn, bạn có một số lựa chọn trong việc kiểm duyệt thế giới đó bằng những gì mà bạn cho phép mình tiếp xúc (và không tiếp xúc).

Chúng ta đi đến Bài học thứ bảy trong sách: chúng ta là những động vật xã hội và chúng ta học hỏi lẫn nhau.

Chúng ta không chỉ học bằng cách làm, mà ta còn học bằng cách kể những câu chuyện và lắng nghe câu chuyện của người khác.

Chúng ta truyền đạt kinh nghiệm của mình cho người khác và người khác cũng học hỏi từ những kinh nghiệm đó.

Vì vậy chúng ta không cần phải trải qua quá trình đau thương của việc tự mình học hỏi mọi thứ.

Việc học tập xã hội này có những lợi ích lớn, nhưng cũng tiềm ẩn một vài rủi ro.

Đây là một khía cạnh của ý chí tự do mà ít ai nói đến: Bạn có thể mở rộng trải nghiệm của mình ngày hôm nay để dự đoán khác đi vào ngày mai.

Việc kiểm soát hiệu quả hành vi của bạn đòi hỏi bạn phải mở rộng chân trời thời gian.

Kiểm soát được những hành động của bạn không chỉ là về khả năng tránh né một số hành động nào đó "trong lúc nóng giận"—mà đó còn là gieo mầm mống cho não bộ trở nên linh hoạt hơn trong việc tạo dựng những dự đoán của bạn trước 'lúc nóng giận.'

Điều quan trọng là hiểu được bằng chứng khoa học nào liên quan đến cách não bộ kiểm soát các hành động của bạn.

Bạn không nhìn mọi thứ trong cuộc đời này rồi sau đó rút súng.

Căn cứ theo hiểu biết tốt nhất của não bộ của bạn về nhân sinh cuộc đời vào lúc này, bộ não chuẩn bị cho những hành động tiếp theo của bạn, như rút súng ra, nhắm vào mục tiêu v.v... và điều đó khiến bạn có nhiều khả năng sẽ nhìn thấy một số thứ theo nghĩa đen, như một khẩu súng, nếu bộ não của bạn đã học được những mối liên kết đó trong quá khứ.

Đó là cách não bộ của bạn hoạt động.

Rõ ràng thì đây là thời điểm đầy lo âu với việc bầu cử và đại dịch coronavirus.

Tôi tò mò muốn biết chị nhìn nhận về nghiên cứu của mình trong cuốn sách đầu tiên, , giao thoa ra sao với thời điểm đầy căng thẳng này.

Để hiểu rõ hơn về cảm giác lo lắng, căng thẳng, chúng ta cần quay lại với nhiệm vụ quan trọng nhất của bộ não: kiểm soát các hệ thống trong cơ thể bạn theo cách hiệu quả, tiết kiệm năng lượng.

Bạn có thể nghĩ về sự tiết kiệm năng lượng giống như một ngân sách.

Một ngân sách tài chính theo dõi dòng tiền thu và chi.

Một ngân sách cho cơ thể bạn cũng tương tự thế, theo dõi các nguồn lực như nước, muối và glucose khi bạn nạp vào và mất đi.

Mỗi lần não bộ phải học điều gì mới lạ thì cũng giống như một lần rút tiền từ ngân sách cơ thể của bạn.

Những hành động bổ sung nguồn lực, như ăn uống và ngủ nghỉ, cũng giống như 'gửi tiền'.

Stress là gì?

Đó là khi não bộ của bạn rút một khoản tiền từ ngân sách cơ thể.

Căng thẳng/stress tích cực là sau 'rút tiền' là 'nạp tiền'.

Căng thẳng/stress mãn tính là khi bộ não của bạn cứ liên tục chi tiêu và chi tiêu, mà nạp tiền thì không đủ, đẩy ngân sách cơ thể rơi vào tình trạng thâm hụt.

Đây là một giải thích được giản lược, nhưng nó nắm bắt được quan điểm then chốt đó là việc vận hành một cơ thể đòi hỏi các nguồn lực sinh học.

Mỗi hành động bạn thực hiện (hoặc không thực hiện) là một lựa chọn về kinh tế—bộ não của bạn đang dự đoán khi nào thì chi tiêu nguồn lực và khi nào nên tiết kiệm chúng.

Cũng như trên, đối với mọi thứ bạn học (hoặc không học). (Thuật ngữ khoa học để chỉ việc lập ngân sách cơ thể là allostasis.)

Mọi điều bạn suy nghĩ, cảm nhận và hành động là một hệ quả của sứ mệnh trọng yếu của não bộ là giữ cho bạn còn sống và khỏe mạnh bằng cách quản lý ngân sách cơ thể của bạn.

Chúng ta không xem từng ý nghĩ của mình, từng cảm giác lo âu, vui vẻ, hay tức giận, hay kinh ngạc của mình, từng cái ôm mà ta cho đi hay nhận lại, từng cử chỉ tử tế ta nhận được, và từng câu xúc phạm mà ta phải chịu đựng như một lần 'nạp tiền' hay 'rút tiền' trong ngân sách trao đổi chất của ta, nhưng 'dưới nắp ca-po' thì đó là những gì đang diễn ra.

Khi bộ não của bạn không thể dự đoán tốt—ví dụ, khi có quá nhiều thứ bất định, thiếu chắc chắn—bộ não của bạn có thể cố gắng học hỏi những điều mới lạ để nó có thể dự đoán tốt hơn vào lần sau.

Việc học hỏi bao gồm việc giải phóng một loạt hóa chất, một số chất trong đó có thể khiến bạn cảm thấy bồn chồn lo lắng.

Trong ngắn hạn, học tập là một sự đầu tư năng lượng tốt, vì nó có thể 'trả cổ tức' trong tương lai.

Mấu chốt là bổ sung những 'khoản tiền' bạn đã chi tiêu, để giữ cho ngân sách cơ thể của bạn có thể trả được nợ.

Nếu sự bất định tiếp tục kéo dài quá lâu, có thể do nỗi sợ hãi trước COVID, hay sự bất định của kinh tế— nếu ngân sách cơ thể của bạn đang bị rút cạn—kết cuộc là bạn có thể điều hành một ngân sách thâm hụt, khiến bạn cảm thấy liên tục bức bối và khó chịu.

Trong nền văn hóa của chúng ta, chúng ta đã học cách lý giải về những cảm xúc như lo âu.

Cố gắng hiểu được kích thích tăng cao, không thoải mái như lo âu có thể khiến chúng ta hành xử theo những cách chỉ làm tăng thêm gánh nặng cho ngân sách cơ thể của chúng ta, hơn là tìm cách trả nợ bằng cách ngủ đủ giấc, ăn uống lành mạnh, cho đi và nhận lại sự hỗ trợ từ những người yêu thương v.v...

Cuối cùng, điều này đôi lúc có thể dẫn đến vấn đề lớn hơn.

Ý tôi là, bạn sẽ làm gì khi tài khoản ngân hàng của bạn đang bị thâm hụt?

Dừng tiêu tiền.

Đúng vậy.

Điều này có ý nghĩa gì với một bộ não?

Nó có nghĩa là bạn dừng vận động cơ thể và bạn ngừng học hỏi.

Hãy nghĩ về thực trạng xã hội hiện nay.

Tại sao người ta cảm thấy tốt hơn khi ở bên những người có cùng tư tưởng với họ trong một buồng vang thông tin (echo chamber)?

Mạng xã hội có thể giúp xây dựng buồng vang đó, nhưng đó không phải là toàn bộ câu chuyện.

Tại sao không có nhiều người tìm kiếm thông tin mới lạ nhưng mâu thuẫn với niềm tin của họ?

Có lẽ vì nó tốn kém, đắt đỏ về phương diện trao đổi năng lượng.

Và khi ngân sách cơ thể của bạn vốn đã trĩu nặng vì bạn thiếu ngủ hay vì gặp nhiều bất ổn kinh tế hay bạn lo sợ mình không đủ khả năng nuôi con, hay bạn lo mình bị ốm, ...

Kết cuộc là theo thời gian, bạn đang rút ra nhiều khoản tiền nhỏ mà không được bù lại bằng những khoản tiền gửi vào—nó cũng tựa như việc phải thanh toán rất nhiều khoản thuế nho nhỏ cộng dồn theo thời gian.

Và cuối cùng, bạn có thể đạt đến một điểm mà bạn đang bơi trong một biển những điều bất định/không chắc chắn hoặc đang lướt qua cơn sóng thần căng thẳng.

Đối với hệ thần kinh của con người thì sự không chắc chắn kéo dài dai dẳng rất kinh khủng.

Quan điểm về "mức độ chi tiết về cảm xúc" bù đắp cho điều đó như thế nào?

Ý tưởng cho rằng nếu chúng ta hiểu thế giới của mình thông qua những khái niệm mà ta có, thì khi ấy, chúng ta càng có nhiều khái niệm, chúng ta càng hiểu rõ hơn cảm xúc của mình.

Một cảm xúc là một giai đoạn mà trong đó não bộ sử dụng những điều bạn biết về cảm xúc – các khái niệm về cảm xúc – để hiểu được những thay đổi trong cơ thể bạn (những thay đổi về nhịp tim, hơi thở v.v...) bằng cách liên kết những dữ liệu cảm giác đó và những cảm xúc mà chúng làm nảy sinh với những gì đang diễn ra xung quanh bạn trong thế giới.

Đây là cách mà bạn có thể xem một cơn tức ngực chính là cảm giác lo lắng, xung huyết, hoặc những triệu chứng thể chất của bệnh nhiễm trùng đường hô hấp.

Bạn càng biết nhiều khái niệm, bộ não của bạn càng có khả năng dự đoán một cách linh hoạt về nguyên nhân gây ra dữ liệu cảm giác đến từ cơ thể của bạn trong một tình huống cụ thể.

Chắc chắn là các khái niệm giúp bạn hiểu được cảm xúc sau khi chúng xuất hiện, nhưng chúng cũng là một thành phần chính của việc tạo ra cảm xúc ngay từ đầu.

Cảm xúc không xảy đến với bạn—mà chúng được bộ não tạo ra khi bạn cần.

Chúng không được tích hợp sẵn trong não bộ của bạn khi mới sinh.

Chúng được tạo ra bởi bộ não của bạn bằng cách sử dụng những khái niệm về cảm xúc mà bạn đã học.

Sử dụng các khái niệm về cảm xúc, bộ não điều hành ngân sách cơ thể của bạn bằng cách dự đoán nguyên nhân của những sự kiện sắp xảy ra trong cơ thể bạn theo cách được liên kết với tình huống mà bạn đang có mặt trong đó, với mục đích hành động theo một cách cụ thể.

Vậy rốt cuộc, các khái niệm là công cụ để tạo ra cảm xúc.

Nói chung, các khái niệm là công cụ để tạo ra ý nghĩa mới về những cảm giác vật lý đến từ cơ thể bạn, trong bối cảnh mà bạn đang hiện diện, để hướng dẫn bạn hành động theo một cách riêng.

Và kết quả đôi lúc là một cảm xúc.

Vì vậy mức độ chi tiết về cảm xúc không chỉ là nhận biết rõ hơn về cảm xúc của mình.

Mà nó còn có nghĩa là bạn xây dựng những cảm xúc của mình một cách phù hợp chính xác hơn với tình huống mà bạn đang có mặt trong đó.

Vậy điều đó làm thay đổi kinh nghiệm của chúng ta về thế giới ra sao?

Ví dụ, nếu tôi nói, "Tôi không buồn, mà tôi đang thất vọng."

Để trả lời câu hỏi của bạn, chúng ta cần nói về tâm trạng (affect).

Bộ não liên tục kiểm soát ngân sách cơ thể của bạn, còn cơ thể bạn thì liên tục gửi dữ liệu cảm giác về bộ não.

Điều này đang xảy ra ngay lúc này, dù bạn có lẽ không nhận ra.

Và đó là vì bạn không được thiết lập để trải nghiệm có ý thức về bản giao hưởng liên tục này của dữ liệu giác quan.

Tuy nhiên, Tiến hóa đã cho bạn một giải pháp: những cảm giác đơn giản như thoải mái hoặc dễ chịu, không thoải mái hoặc khó chịu, cảm giác căng thẳng hoặc mệt mỏi.

Bạn có thể gọi những cảm giác đơn giản đó là tâm trạng.

Các nhà khoa học gọi chúng là affect.

Giả sử bạn đang điều hành một ngân sách cơ thể đang thâm hụt.

Bạn cảm thấy tồi tệ.

Rồi giả sử bạn không phải là một người rất tỉ mỉ chi tiết, đối với bạn thì tức giận, buồn phiền, sợ hãi đều đồng nghĩa với "Tôi thấy chán như c*t."

Vậy tiếp theo bạn nên làm gì để đối phó với tình huống này?

Bộ não của bạn chưa đưa ra một phỏng đoán cụ thể nào.

Bạn đã uống nước chưa?

Bạn có quát tháo ai đó không?

Bạn có chạy bộ không?

Thật khó mà biết được vì bộ não của bạn chưa tạo ra một khái niệm cho phép nó dự đoán một hành động cụ thể.

Nhưng nếu bộ não của bạn học được rằng buồn bã có nghĩa là bạn đã đánh mất thứ gì đó quý giá với mình, còn thất vọng có nghĩa là những hy vọng hay kỳ vọng của bạn đã vỡ tan—tức là, khi bạn biết rằng buồn bã và thất vọng không đồng nghĩa với nhau, mà là những khái niệm riêng biệt bao hàm những hành động khác biệt—khi ấy làm cho tâm trạng của bạn trở nên ý nghĩa với một khái niệm về sự buồn bã sẽ dẫn đến những hành động khác biệt so với nếu bộ não tạo ra một khái niệm về nỗi thất vọng.

Đây là một ví dụ nhỏ: giống như nhiều người ở quốc gia này, tôi cũng thấy mệt mỏi và căng thẳng.

Dưới nắp ca-po, bộ não của tôi đang xây dựng các khái niệm để dự đoán và hiểu những gì đang diễn ra trong cơ thể tôi liên quan đến tình huống mà tôi đang có mặt.

Bộ não của tôi có thể tạo ra một trải nghiệm lo lắng, hay trầm cảm, hoặc tuyệt vọng.

Nhưng thay vào đó, nó xây dựng một khái niệm về ngân sách cơ thể đang đầy gánh nặng.

Và điều này chỉ dẫn hành động của tôi.

Tôi cần đảm bảo rằng mình ngủ đủ giấc và uống đủ nước.

Tôi cần đảm bảo rằng mình có tập thể dục, dù không thích.

Tôi cần đảm bảo giữ liên lạc với những người thân yêu.

Mức độ chi tiết về cảm xúc cũng biết khi nào thì không nên tạo ra một cảm xúc.

Thay vào đó, bộ não của tôi đang tạo ra ý nghĩa về dữ liệu giác quan, và những cảm xúc tâm trạng mà chúng gây ra, như một hiện tượng vật lý.

Và mức độ chi tiết này giúp gì cho bạn?

Nó giúp bạn có được sự linh hoạt uyển chuyển để lý giải về những cảm giác của mình và hành động theo chúng một cách khác biệt tùy thuộc vào ngữ cảnh, điều chỉnh hành động của bạn cho phù hợp với tình huống mà bạn đang hiện diện.
 
Tâm Lý Học
Chữa lành tuổi thơ độc hại? Hai từ bạn cần nhất


Làm sao để thoát khỏi vướng mắc và tiến lên phía trước.

Tôi cá là bạn đang tự hỏi hai từ đó là gì, và bộ não của bạn đang đưa ra vài gợi ý như: Hãy gác lại chuyện buồn mà bước tiếp.

Hãy tha thứ cho họ.

Sống tử tế hơn.

Hãy tỉnh táo.

Hãy tập thấu hiểu.

Giữ khoảng cách.

Hãy tỉnh thức.

Hãy hy vọng vào tương lai.

Đó là chuyện quá khứ rồi.

Mạnh mẽ lên.

Không.

Hai từ đó là buông bỏ (let go).

Hai từ nhỏ ấy—tổng cộng năm chữ cái—cực kỳ quan trọng, vì trái với quan điểm thông thường, luôn khuyên chúng ta cần nỗ lực để tiếp tục cố gắng và cố gắng, trạng thái mặc định đối với con người là kiên trì.

Buông bỏ mới là việc khó.

Nguyên do thì vừa đơn giản mà cũng phức tạp.

Chúng ta có khuynh hướng ở yên tại chỗ hơn là tiến lên, vì chúng ta thích duy trì nguyên trạng—ngay cả khi mọi việc thật tệ hại và đau đớn—hơn những điều ta chưa biết.

Loài người nổi tiếng là ghét rủi ro—Daniel Kahneman đã đoạt giải Nobel vì cho thấy chính xác điều đó—và tâm trí có đủ mọi thói quen khiến con người dễ dàng bị mắc kẹt.

Chúng ta được thúc đẩy mạnh mẽ bởi Củng cố Gián đoạn—thỉnh thoảng có được thứ mà ta mong muốn—hơn là luôn luôn có được thứ ta muốn, hay thậm chí là không bao giờ có được.

Điều này đặc biệt có liên quan nếu bạn lớn lên trong cảnh thiếu thốn tình thương, sự ủng hộ và chấp nhận.

Khi mẩu phần thưởng thi thoảng mới đến—hay thậm chí những lời chỉ trích bất tận tạm lắng yên—sẽ có tác dụng tương tự như một bữa ăn có năm món.

Ngoài ra, chúng ta có xu hướng dùng lăng kính màu hồng và xem một lần mất mát như một "chiến thắng hụt"; đó là thứ níu chân con người tại máy đánh bạc khi các biểu tượng gần khớp và, tích cực hơn, khiến chúng ta tiếp tục dốc sức mà chơi.

Một lần nữa, khi mẩu phần thưởng đó được đưa ra—có lẽ mẹ bạn nghe có vẻ quan tâm đến việc bạn đang làm, hay anh chị của bạn thực sự dành tặng bạn một lời khen ngợi—lòng bạn tràn đầy hy vọng, chắc mẩm rằng chiến thắng đang gần kề: "Rồi họ sẽ nhận ra họ đã hiểu sai về tôi"; "Cuối cùng rồi mẹ sẽ nhìn nhận đúng con người tôi"; "Có lẽ chuyện điên rồ này sắp kết thúc và gia đình tôi sẽ bình thường trở lại."

Tương tự, thói quen nghiền ngẫm—thường thấy rõ ở phụ nữ nhiều hơn đàn ông—khiến chúng ta cứ tập trung mãi vào những tình huống và tương tác khó khăn và khổ não, quá khứ và hiện tại, và khiến chúng ta có khuynh hướng tái diễn lịch sử và tự phán xét bản thân, thay vì hành động và tiến về trước.

Nguồn ảnh: Alliance/Shutterstock

Buông bỏ không phải là ...

Nhưng buông bỏ không có nghĩa là vờ như quá khứ chưa từng xảy ra, rằng bạn không bị tổn thương hay bị ảnh hưởng, hoặc cha mẹ bạn phần nào đó được tha tội và không phải chịu trách nhiệm.

Nó có nghĩa là học cách phân biệt giữa những lối suy nghĩ mà bạn phải từ bỏ và những cảm xúc cần phải gạt sang một bên khiến bạn mắc kẹt, và những cách suy tư và cảm nhận giúp bạn tiến lên và chữa lành.

Cái tên ưa thích dành cho kiểu buông bỏ mà tôi đang nói đến là Buông bỏ mục tiêu.

Đây không phải là việc chỉ có 1 bước, tựa như hình ảnh xuất hiện trong tâm trí bạn khi bạn nghĩ đến chữ "buông bỏ"—bạn có khả năng hình dung về sợi dây rời khỏi tay bạn và quả bong bóng bay vào không trung, hay khoảnh khắc bạn trượt tay và thứ bạn đang cầm rớt bịch xuống đất—mà là một quá trình phức tạp.

Buông bỏ mục tiêu

Về cơ bản thì đó là một quá trình gồm 4 bước bao gồm việc buông bỏ những lối tư duy duy trì tình trạng hiện tại (buông bỏ nhận thức), kiểm soát cảm xúc đi cùng với việc từ bỏ (buông bỏ cảm xúc), từ bỏ mục tiêu trước đó (buông bỏ động lực), và bắt đầu thực hiện các kế hoạch nhắm đến một mục tiêu mới (buông bỏ hành vi).

Từng bước đòi hỏi một bộ kỹ năng hơi khác biệt: Buông bỏ Nhận thức đòi hỏi bạn ngừng suy nghĩ về lý do tại sao bạn lại không đạt được mục tiêu mà bạn đề ra và lo lắng và/hoặc nghiền ngẫm về nó, dừng phát những kịch bản "điều gì xảy ra nếu" trong đầu bạn có thể đang thuyết phục bạn rằng lẽ ra bạn không nên buông bỏ.

Buông bỏ cảm xúc đòi hỏi bạn xử lý mọi cảm xúc nảy sinh khi bạn không đạt được những gì đề ra; bao gồm cảm giác tội lỗi, nản lòng, hay đổ lỗi cho bản thân.

Buông bỏ động lực đòi hỏi bạn dừng nghĩ về mục tiêu đó và bắt đầu lên kế hoạch cho những mục tiêu mới, bao gồm nơi bạn muốn đến lúc này và những việc bạn muốn thử.

Cuối cùng, buông bỏ hành vi đòi hỏi bạn hành động và bắt đầu lên kế hoạch cho việc bạn sẽ thay đổi tương lai của mình ra sao.

Áp dụng điều này như thế nào cho tuổi thơ độc hại

Trong trường hợp điều này nghe quá trừu tượng, hãy cho phép tôi đưa các thuật ngữ trên vào bối cảnh ứng phó với một tuổi thơ độc hại.

Ở đây tôi đang suy luận từ nhiều cuộc phỏng vấn mà tôi thực hiện cho cuốn sách của tôi, và đúc kết các hoàn cảnh một cách tổng quát.

Bạn cảm nhận tuổi thơ của mình không được yêu thương, sống như kẻ vô hình ở bên lề, và là đối tượng hứng chịu sự chỉ trích bất tận và có thể bị chọn làm '' gánh chịu mọi tội lỗi trong gia đình.

Bạn đã làm những gì có thể để bảo vệ mình, hoặc có lẽ bạn phải an ủi xoa dịu người khác; dù thế nào đi nữa, bạn đã làm những gì trong khả năng để đối phó cho đến khi bạn dọn khỏi nhà, bắt đầu cuộc sống trưởng thành của mình.

Đó là thời điểm bạn bắt đầu đưa ra lựa chọn của riêng mình về nơi sống, bạn bè, con đường mưu sinh, hỗ trợ bản thân, bạn đời và người yêu, cũng như cách đối phó với gia đình gốc của bạn.

Hầu hết những cô con gái không được yêu thương—thích thú với thực tế là họ đang thoát khỏi sự ảnh hưởng trực tiếp của mẹ—không làm gì để thách thức tình trạng hiện tại và làm những gì có thể để kiểm soát tình hình.

Đó là khi những nỗ lực kiểm soát của họ bắt đầu thất bại—họ vẫn cảm thấy tổn thương khi gặp bố mẹ hay anh chị em của mình, và không thể kiểm soát được cảm xúc của mình, vẫn còn cảm giác lạc lối, và không thể đặt ra ranh giới lành mạnh—họ nhận ra họ đang mắc kẹt, phải buông bỏ và tìm một cách tương tác mới với gia đình họ.

Buông bỏ nhận thức lại càng khó khăn, vì những ẩn ý văn hóa về gia đình nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp tục chịu đựng và cố gắng ("Bà ấy là mẹ cô," "Gia đình ai cũng có vấn đề," "Bạn sẽ ổn thôi, mọi chuyện không quá tệ"), và bởi vì cô con gái không được yêu thương có khả năng nghi ngờ sự phán đoán của mình sau nhiều năm bị khuyên nhủ rằng cô ấy còn nhiều khiếm khuyết và có xu hướng tự phán xét bản thân ("Có lẽ bà ấy đúng, Còn tôi thì quá nhạy cảm," "Bà ấy đã làm hết sức rồi, và có lẽ tôi đã sai khi đòi hỏi quá nhiều").

Buông bỏ cảm xúc là việc khó không chỉ vì nỗi đau trong quá khứ, làm khơi dậy mọi cung bậc cảm xúc, từ giận dữ đến sầu muộn, cũng như cảm giác tội lỗi, xấu hổ và phản bội khi suy nghĩ đến việc quản lý mối quan hệ của bạn với gia đình.

Rồi sau đó là nỗi sợ rằng họ đúng về bạn, còn bạn thì sai về mọi phương diện.

Thêm vào đó là thực tế những đứa trẻ không nhận được sự quan tâm mà chúng cần khi còn bé thì gặp khó khăn trong việc điều chỉnh cảm xúc, bạn có thể thấy tại sao phần này của quá trình buông bỏ lại cực kỳ khó.

Buông bỏ động lực bị ngăn cản bởi cái mà tôi gọi là "xung đột trung tâm"—căng thẳng giữa việc bạn ý thức được rằng bạn cần kiểm soát mối quan hệ của bạn với mẹ và gia đình gốc của bạn và bạn vẫn luôn khao khát tình yêu và sự hỗ trợ của mẹ và ấp ủ hy vọng rằng sẽ giành được nó.

Xung đột này giữ cô con gái bị mắc kẹt trong tình trạng hiện tại.

Và chừng nào xung đột trung tâm này còn tiếp diễn thì hành động là bất khả thi, do đó giai đoạn của buông bỏ hành vi—đặt ra mục tiêu mới cho cuộc sống và các mối quan hệ của bạn—không thể diễn ra.

Những bước nhỏ để buông bỏ

Nếu bạn thấy mình đang bị mắc kẹt, những chiến lược sau có thể giúp bạn thoát khỏi bế tắc.

Tất nhiên, làm việc với một nhà trị liệu giỏi là phương án tốt nhất, nhưng có những thứ mà bạn có thể làm để tự cứu giúp bản thân.

1.

Nhận ra đó không phải lỗi của bạn

Tự đổ lỗi cho bản thân, là một trạng thái mặc định, đang cản trở bạn, và nghĩ rằng có một vai sai sót ở bản thân bạn mà bạn có thể sửa chữa và mọi chuyện sẽ tốt đẹp.

Nhận ra bạn không đáng trách cùng với việc thừa nhận rằng bạn không thể tự mình khắc phục điều này; bố [mẹ] của bạn phải hợp tác.

2.

Đừng bình thường hóa hành vi bạo hành

Trẻ em bình thường hóa hành vi trong gia đình gốc của chúng, và không hiếm trường hợp họ sẽ tiếp tục làm vậy khi trưởng thành.

Đừng bào chữa hay thờ ơ trước hành vi bạo hành lời nói; hãy ghi nhận rằng chuyện đó đang diễn ra, và điềm tĩnh đáp lại một cách thẳng thắn.

Bạn có quyền đưa ra quy tắc về cách bạn muốn được mọi người đối xử, ngay cả với cha/mẹ hoặc họ hàng.

3.

Thiết lập ranh giới

Bạn sẽ cần tạo lập không gian tinh thần để tìm ra cách quản lý mối quan hệ.

Hãy làm bất cứ việc gì bạn cần—cắt liên lạc hoặc hạn chế liên lạc—để có thể làm vậy.

4.

Xây dựng bộ kỹ năng cảm xúc của bạn.

Cố gắng nhận diện các cảm xúc của bạn càng chính xác càng tốt—một phần quan trọng của trí tuệ cảm xúc— và thử xem liệu bạn có thể truy tìm nguồn gốc của cảm xúc của mình hay không, đặc biệt khi bạn nghĩ về mối quan hệ của mình với mẹ và các thành viên khác trong gia đình.

Ví dụ, cố gắng phân biệt được cảm giác tội lỗi với xấu hổ, cũng như những cảm xúc tiêu cực về bản thân như đáng bị bạc đãi hay không xứng đáng được yêu thương.

5.

Kiểm soát suy nghĩ của bạn

Nghiền ngẫm và lo lắng có thể khiến bạn bị mắc kẹt.

Nghiên cứu về những suy nghĩ ám ảnh bởi Daniel Wegner cho thấy việc cố kìm nén suy nghĩ chỉ càng khiến chúng kéo dài dai dẳng, vì vậy bạn cần thử kỹ thuật khác.

Một kỹ thuật mà ông đề xuất là ấn định một khoảng thời gian để lo lắng cho bản thân; một kỹ thuật khác là cho phép bản thân đối mặt với những ý nghĩ xâm nhập đó và nghĩ về tình huống xấu hơn nếu những lo lắng ấy trở thành sự thật, và bạn phải giải quyết chúng.

Buông bỏ là một nghệ thuật khó học, nhưng bạn có thể thành thục
 
Tâm Lý Học
14 sự thật thú vị quyết định ý chí của bạn


Nhà tâm lý học xã hội Roy Baumeister đã phát hiện ra rằng sức mạnh ý chí cũng giống như cơ bắp vậy - nó có thể mạnh lên hoặc yếu đi tùy thuộc vào cách nó được sử dụng.

Tổng thống Obama chỉ mặc vest có màu xanh hoặc màu xám.

Và theo lời của vị tổng thống này khi ông chia sẻ với tạp chí Vanity Fair thì đó là cách để ông tiết kiệm sức mạnh ý chí.

Tổng thống Obama nói: "Tôi đang cố gắng để không phải đưa ra nhiều quyết định.

Tôi không muốn phải mất thời gian cho những lựa chọn như nên ăn gì hay mặc gì.

Bởi còn có quá nhiều việc ngoài kia cần tới sự quyết định của tôi".

Việc dành sự tập trung cho những công việc quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của Obama đã được chứng minh trong thực tế.

Nhà tâm lý học xã hội Roy Baumeister đã phát hiện ra rằng sức mạnh ý chí cũng giống như cơ bắp vậy - nó có thể mạnh lên hoặc yếu đi tùy thuộc vào cách nó được sử dụng như thế nào.

Đây là một phát hiện cực kỳ quan trọng, bởi theo một nghiên cứu được thực hiện năm 2011 với 1 triệu người trên toàn thế giới thì hầu hết mọi người đều nghĩ rằng khả năng tự chủ là điểm yếu hay khiếm khuyết lớn nhất trong tính cách của họ.

Cuốn sách "Ý chí - Hành trình tái khám phá sức mạnh lớn nhất của con người" - của Giáo sư Tâm lý học Roy Baumeister và nhà báo John Tierney

Trong cuốn sách "Ý chí - Hành trình tái khám phá sức mạnh lớn nhất của con người" (Willpower: The Greatest Human Strength) của Baumeister và theo một câu chuyện trên trang bìa của tờ New York Times, sức mạnh ý chí và việc ra quyết định liên quan mật thiết với nhau.

Nhưng bạn lại không hề biết rằng ngay cả ngôi nhà nơi bạn đã lớn lên, số lần bạn đưa ra quyết định trong một ngày, hay những gì bạn bè đang làm đều có thể ảnh hưởng tới việc đưa ra quyết định của bạn.

Và dưới đây là những lý giải cho điều đó.

Hãy ra quyết định quan trọng nhất vào buổi sáng, trước khi bạn lâm vào trạng thái "suy yếu cái tôi" (Ego depletion)

Trên tờ New York Times: "Freud cho rằng cái tôi, hay bản ngã, phụ thuộc vào các hoạt động tinh thần được thực hiện dựa trên quá trình chuyển giao năng lượng".

Các thí nghiệm của Freud đã chứng minh rằng nguồn năng lượng tinh thần dự trữ giúp con người duy trì được khả năng tự chủ chỉ tồn tại trong thời gian hữu hạn".

Nghĩa là càng về cuối ngày thì năng lượng tinh thần dự trữ của bạn sẽ càng cạn kiệt đi.

Não của bạn cần gluco để có thể đưa ra quyết định sáng suốt

Trên tờ Times, Baumeister đã chia sẻ rằng "ngay cả những người thông thái nhất cũng không thể đưa ra quyết định sáng suốt khi họ mệt mỏi và hàm lượng glu-cô trong cơ thể họ bị giảm xuống mức thấp.

Điều này giải thích tại sao những người thực sự thông minh thường tránh đưa ra những quyết định có tầm ảnh hưởng lớn đến công ty họ vào lúc 4 giờ chiều.

Tương tự, họ cũng không ký hay cam kết điều gì quan trọng trong khi uống cocktail chờ bữa tối.

Nhưng nếu bị bắt buộc phải đưa ra quyết định vào những thời điểm muộn trong ngày, chắc chắn họ sẽ không bao giờ để dạ dày của mình trống rỗng mà phải ăn trước cái gì đó."

Và điều này thì đã được các cửa hàng bán lẻ đồ tạp hóa phát hiện ra từ nhiều thập niên trước.

Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy, "khi người mua đã cảm thấy mệt mỏi với những quyết định mua sắm phải đưa ra lúc đi dọc các kệ hàng thì sức mạnh ý chí của họ sẽ giảm đi, và khi đó, họ sẽ càng có xu hướng đầu hàng trước mọi cám dỗ.

Tuy nhiên, người mua sẽ đặc biệt bị thu hút bởi các loại bánh kẹo và nước giải khát hay bất cứ sản phẩm nào khác có chứa đường".

Chúng ta sẽ kiệt sức nếu phải đưa ra quá nhiều quyết định

Điều này sẽ giải thích tại sao việc mua sắm lại trở nên mệt mỏi đến vậy.

Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy những người mua sắm "trước đó đã đưa ra nhiều quyết định nhất trong các cửa hàng là những người bỏ cuộc nhanh nhất" trong một bài kiểm tra toán.

Khi tinh thần kiệt quệ, bạn sẽ có xu hướng đưa ra quyết định kém

Theo như tờ Times: "Thỏa hiệp là một khả năng phức tạp của con người và do đó là một trong những khả năng đầu tiên bị suy giảm khi sức mạnh ý chí dần cạn kiệt".

Vào cuối ngày, khi cơ thể đã mệt mỏi cả về thể lực lẫn tinh thần, chúng ta có xu hướng nghỉ tập gym sau giờ làm hoặc uống rượu nhiều hơn trong thời gian xả hơi.

Xây dựng những thói quen có lợi sẽ giúp bạn loại bỏ căng thẳng và tiết kiệm năng lượng cho các quyết định quan trọng

Theo tờ Times: "Baumeister và các đồng nghiệp của ông đã phát hiện ra rằng những người thành công không sử dụng sức mạnh ý chí của họ như một biện pháp cứu cánh để tránh gặp phải rắc rối ".

"Thay vào đó, họ giữ gìn sức mạnh ý chí bằng cách rèn luyện những thói quen có lợi khi học tập và làm việc để có thể giảm căng thẳng trong cuộc sống.

Họ sử dụng khả năng tự chủ của mình để tránh rơi vào vào khủng hoảng chứ không phải để cố vượt qua chúng.

Điều này có thể được minh họa bằng việc họ luôn cho bản thân đủ thời gian để hoàn thành dự án hay đem xe ra tiệm sửa trước khi nó bị hỏng."

Nếu bạn muốn nâng cao sức mạnh ý chí, hãy cố ngủ đủ giấc

Các nghiên cứu cho rằng thiếu ngủ - tức là ngủ ít hơn 6 tiếng một đêm - có tác hại giống như say rượu.

Theo nhà tâm lý học sức khỏe của trường Đại học Stanford, Kelly McGonigal, thiếu ngủ làm rối loạn phần não trước trán - vùng não có mối quan hệ chặt chẽ với việc ra quyết định.

Theo bà McGonigal, khi thiếu ngủ, "vỏ não trước trán sẽ bị ảnh hưởng cực kì nặng nề dẫn đến mất khả năng kiểm soát đối với vùng não tạo ra những khao khát và các phản ứng chống lại stress.

Do không được kiểm soát, não bộ sẽ sinh ra những phản ứng quá mức với các căng thẳng và cám dỗ thông thường hàng ngày."

Vô thức đóng vai trò quan trọng trong việc giúp bạn đưa ra các quyết định sáng suốt

Việc tổng thống Obama ra quyết định bằng cách "trì hoãn việc ra quyết định ngay lập tức" để có thời gian suy xét kỹ lưỡng là lời khuyên mà các nhà tâm lý học đề xuất khi bạn phải đứng trước quá nhiều quyết định phức tạp.

Theo tờ Havard Business Review "bởi lẽ khả năng tập trung có chủ đích của con người là có hạn, nên sẽ có lợi hơn nếu bạn vận dụng được cả năng lực vô thức của bản thân".

Thậm chí nếu bạn không có quyền lựa chọn để trì hoãn quyết định của mình trong thời gian dài, thì việc tham gia vào các hoạt động khác sẽ giúp tâm trí của bạn thoát khỏi tình trạng khó xử, và tạo điều kiện cho năng lực tiềm thức phát huy tác dụng.

Bạn bè và gia đình cũng phần nào ảnh hưởng đến các quyết định của bạn

Những phát hiện đột phá trong khoa học mạng – một ngành nghiên cứu về các nhóm xã hội - đã chỉ ra rằng nhiều người trong chúng ta có điểm chung là thường nghĩ về các vấn đề có tính cá nhân như việc tăng cân hay là bỏ thuốc lá.

Tương tự, James Fowler đến từ Đại học California của bang San Diego, và Nick Christakis của Trường Y Harvard cũng cho biết, các hành vi của chúng ta đều có khả năng lan truyền.

Nếu người bạn thân nhất của bạn bỗng trở nên béo phì, thì khả năng bạn mắc phải chứng bệnh này cũng sẽ tăng thêm 57%.

Còn nếu một đồng nghiệp thân thiết bỏ hút thuốc, khả năng bạn cũng sẽ bỏ thuốc sẽ tăng thêm 34%.

Đôi khi, sẽ khôn ngoan hơn nếu để người khác thực hiện ý tưởng của bạn

Khoa học mạng cũng đã thực hiện những nghiên cứu sâu về vấn đề năng suất.

Khi các nhà nghiên cứu tìm hiểu sự thành công của các kỹ sư trong một công ty hàng không vũ trụ, họ đã dựa trên những đánh giá về các bằng sáng chế và sản phẩm mà những người này đã tung ra thị trường.

Các nhà nghiên cứu thấy rằng những người thân thiết với mỗi cá nhân kỹ sư kể trên đều đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong thành công của họ.

Mối quan hệ của một cá nhân là yếu tố có khả năng dự báo lớn nhất về thành công của người đó, chỉ đứng sau kinh nghiệm.

Trong một công ty, những người có mối quan hệ rộng rãi ở mọi cấp bậc và với các phòng ban sẽ là những người có nhiều khả năng thành công nhất.

Tại sao lại như vậy?

Bởi vì khi có mối quan hệ tốt với mọi người, bạn sẽ có thể kết hợp ý tưởng cũng như tiếp nhận phản hồi từ nhiều nguồn khác nhau, và nhận được sự đồng tình cho các dự án của mình – đây là cũng chính là một trong những yếu tố giúp cho những người rộng lượng trở nên thành công.

Đôi khi, việc chịu khuất phục và nói "có" với "những lựa chọn sai lầm" lại có ích

Theo tờ Times, đôi khi việc chịu khuất phục trước những ham muốn cá nhân có thể giúp bạn cảm thấy thoải mái hơn bởi điều đó giúp bạn tránh khỏi tình trạng luôn cảm thấy kiệt sức.

Không những vậy, nó còn giúp bạn giữ được phong độ trong thời gian dài.

Đây chính là lý do tại sao người ta lại ăn mừng lễ Mardi Gras trước khi Mùa Chay đến.

Việc đưa ra quyết định sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu có sự tham gia của người thứ hai

Có quyết định nào mà bạn không cần phải đưa ra ngay bây giờ, hoặc bạn có thể nhờ ai đó làm giúp hay không?

Theo tờ Times, "Thay vì quyết định mỗi buổi sáng có nên ép bản thân tập thể dục hay không, [những người thông minh] sẽ lên lịch hẹn thường xuyên để tập luyện cùng với một người bạn".

Biết cách tránh những "phút yếu lòng", bạn có thể đưa ra các quyết định sáng suốt

Baumeister nói: "Khả năng đưa ra quyết định đúng đắn không phải là một đặc điểm của con người hay luôn tồn tại trong mỗi chúng ta.

Ngược lại khả năng này là một trạng thái luôn biến động".

Tờ The Times viết:

Nghiên cứu của Baumeister cho thấy rằng người có khả năng tự chủ tốt nhất là những người biết sắp xếp các vấn đề trong cuộc sống nhằm đảm bảo sức mạnh ý chí của họ luôn được giữ ở mức độ cao.

Họ không lên lịch hàng loạt cho các cuộc họp liền nhau.

Họ tránh không để bị cám dỗ bởi những bữa buffet ăn tẹt ga, và họ hình thành các thói quen nhằm loại bỏ những sự mệt mỏi khi đưa quyết định. ...

Thay vì lầm tưởng rằng sức mạnh ý chí có thể duy trì suốt cả ngày, những người biết tự chủ luôn có ý thức giữ gìn nó để đề phòng cho các trường hợp khẩn cấp và khi phải đưa ra quyết định quan trọng.

Baumeister nói: "Những người giỏi nhất trong việc đưa ra quyết định có khả năng nhận biết được khi nào thì không nên tin vào chính bản thân mình."

Các nghiên cứu chỉ ra việc rèn luyện sức mạnh ý chí sẽ giúp bạn có nhiều khả năng thành công hơn

Trong một thí nghiệm nổi tiếng với kẹo dẻo do trường Đại học Stanford thực hiện năm 1972, các em học sinh được yêu cầu ngồi vào bàn và trước mặt mỗi em là một chiếc kẹo dẻo, nhưng lại không được phép ăn kẹo.

Nếu vượt qua được khoảng thời gian 15 phút đầy "giằng xé" này, các em sẽ nhận được một phần thưởng rất ngọt ngào là một chiếc kẹo dẻo thứ hai.

Theo báo cáo của thí nghiệm, những em học sinh có thể kiên nhẫn đợi để nhận được chiếc kẹo thứ hai có điểm SAT cao hơn và có mức độ lạm dụng chất thấp hơn so với những bạn không đủ kiên nhẫn như mình.

Nhưng trò chơi thử thách sự kiên nhẫn này chưa chắc đã nói lên tất cả ...

Tuy nhiên, đôi khi sự yếu đuối của sức mạnh ý chí có thể là phẩm chất cần thiết cho việc ra quyết định

Nếu bạn nhận thấy cơ hội hành động sắp biến mất, thì đừng chần chừ mà hãy "ra tay" luôn.

Năm 2012, nhà nghiên cứu Celeste Kidd tại Đại học Rochester đã công bố một nghiên cứu phản biện lại thí nghiệm kẹo dẻo nói trên.

Khi còn nhỏ, Kidd đã dành thời gian làm việc tại những khu người vô gia cư - cô nhớ lại việc mình từng thắc mắc nếu lớn lên trong hoàn cảnh bấp bênh như vậy thì khả năng đưa ra quyết định sẽ bị ảnh hưởng như thế nào.

Cô tin rằng những đứa trẻ sống ở đó sẽ ăn chiếc kẹo dẻo ngay lập tức.

Nhưng những đứa trẻ hành động như vậy không phải là vì chúng không có đủ sức mạnh ý chí, mà do chúng lớn lên trong hoàn cảnh mà ở đó người lớn thường không giữ lời hứa.

Kidd nói: "Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chắc chắn sẽ làm giảm sức thuyết phục của quan niệm phổ biến rằng những thí nghiệm tương tự với thí nghiệm kẹo dẻo như trên sẽ là thước đo phù hợp nhất cho khả năng tự kiểm soát.

Việc trì hoãn sự thỏa mãn chỉ đơn giản là một lựa chọn dựa trên lý trí nếu đứa trẻ tin rằng chiếc kẹo dẻo thứ hai sẽ được mang ra sau khi phải chờ đợi trong một khoảng thời gian ngắn hợp lý".

Trong nghiên cứu của Kidd, trẻ em đã bị tác động để chúng tin rằng những người thực hiện nghiên cứu hoặc đáng tin hoặc không đáng tin.

Trong một phần của nghiên cứu, lũ trẻ được đưa cho một mảnh giấy và bút sáp màu, và được đề nghị hoặc sử dụng những vật dụng này luôn hay là ngồi chờ để nhận được những thứ tốt hơn.

Ở đây, điểm nút của thí nghiệm là: với một nhóm học sinh, người thực hiện thí nghiệm đã đem cho chúng bút màu dạ và bút sáp màu; nhưng với nhóm còn lại, người thực hiện thí nghiệm đã trở lại và xin lỗi, nói rằng không có dụng cụ vẽ nào tốt hơn.

Sau đó, đến bài kiểm tra kẹo dẻo.

Chín trong số 14 đứa trẻ của nhóm "cho rằng người thực hiện thí nghiệm là đáng tin cậy" đã đợi được 15 phút để nhận chiếc kẹo dẻo thứ hai, nhưng chỉ có một trong 14 em thuộc nhóm còn lại có thể đợi đến khi chiếc kẹo dẻo thứ hai xuất hiện.

Vậy kết luận về bài học rút ra được từ thí nghiệm này là: lòng tin cũng có thể là một thành tố tạo nên sức mạnh ý chí.
 
Tâm Lý Học
12 nỗi đau thể xác cho thấy nội tâm bạn đang gặp vấn đề


Có những lúc thân thể chúng ta không có chấn thương, hay là vận động quá sức, nhưng lại thường xuyên cảm thấy đau đớn?

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chúng có liên quan đến trạng thái tinh thần.

Nhà tâm lý học Susanne Babbel trong quá trình nghiên cứu đã phát hiện rằng mức độ của những áp lực trong nội tâm có thể đưa đến những đau đớn trên thể xác!

Nói cách khác, nếu thân thể còn có chỗ nào không thoải mái, chính là do tâm lý của họ còn những vướng bận không thể buông bỏ!

Rốt cuộc tại sao bả vai luôn cảm thấy rất đau?

Cũng không phải là tổn thương do vận động?

Thực ra, hết thảy đều có nguyên nhân của nó!

1.

Nếu nhức đầu, bạn đã chịu quá nhiều áp lực

Căng thẳng và cảm xúc thăng trầm thường là nguyên nhân gây ra chứng đau nửa đầu, nếu bạn đang trong tình huống tương tự, hãy dành một ngày đi chơi cho thoải mái, hoặc thậm chí là đi SPA để thư giãn các dây thần kinh của bạn.

2.

Cổ đau nhức, bạn cần khoan dung với chính mình

Cổ giữ vai trò kiểm soát và suy xét lỗi lầm của chính mình.

Mỗi người dù ít hay nhiều đều luôn cảm thấy hối lỗi, nhưng có phải bạn đối với chính mình quá mức khắc nghiệt rồi không?

Bây giờ hãy cầm giấy bút lên, viết xuống những ưu điểm của bản thân mình, học cách yêu bản thân mình.

Ngoài ra, nếu như bạn vẫn luôn giữ trong lòng những ân hận, vậy thì hãy sớm xin lỗi hoặc giải quyết nó đi!

3.

Bờ vai đau nhức, trong lòng bạn có gánh nặng quá lớn

Bờ vai chính là khu vực chịu trách nhiệm gồng gánh cho thân thể, mà điều này cũng gián tiếp phản ánh trong tâm lý, khiến thân thể đau đớn.

Nếu như bạn cảm thấy gánh nặng quá lớn, đè nén đến mức thở không nổi, hãy nhờ đến sự giúp đỡ của những người bên cạnh!

Điều này cũng không có gì là sai trái cả, ai cũng cần được trợ giúp!

4.

Nếu đau phần lưng trên, bạn đang khao khát tình yêu

Phần lưng trên phản ánh khao khát của nội tâm mà sinh ra xao động.

Do vậy đã đến lúc rồi, hãy mở lòng mình, tiến về phía người bạn thích và nói chuyện một chút đi!

Nếu là người độc thân, có lẽ đây là một cơ hội tốt, khi ngươi cần yêu mà được yêu, như vậy đau đớn sẽ tan thành mây khói.

5.

Đau phần lưng dưới, bạn có áp lực về kinh tế

Nếu như phần lưng trên xuất phát từ sự mong cầu về tinh thần, thì phần hạ lưng lại đại biểu cho niềm mong mỏi vật chất, cũng chính là kim tiền.

Hoặc là đến thời điểm cần nhắc nhở ông chủ tăng lương?

Hoặc là đến thời điểm phải thanh toán các khoản chi phí.

Nếu bạn có thể buông bỏ chúng thì cơn đau sẽ tự rời xa bạn.

6.

Cùi chỏ đau nhức, bạn cần mở rộng tấm lòng

Cùi chỏ đau đớn có thể do bạn quá bảo thủ, trong mắt người khác, có phải bạn rất hay cố chấp với ý kiến của mình không?

Có lẽ đã đến thời điểm lắng nghe ý kiến của người khác.

Học được cách thỏa hiệp, chính là bước đầu tiên cho cuộc sống tốt đẹp!

7.

Bàn tay đau đớn, bạn cần nhiều hơn sự giúp đỡ

Nếu như tại thời điểm hiện tại bạn không có quan hệ với một người nào đó, điều này cũng có thể sẽ khiến bàn tay của bạn đau đớn.

Bạn luôn cảm giác mình rất độc lập, không cần bất kỳ người bạn nào.

Đừng quá đè nén bản thân mình, hãy học cách kết giao bạn bè hay hàng xóm mới, có lẽ nó sẽ thay đổi trạng thái hiện tại!

8.

Đau mông, bạn cần bước ra để thay đổi

Đối với hành động sợ hãi có thể biểu hiện ra trạng thái mông cứng nhắc hoặc đau đớn.

Có lẽ gần đây bạn đang phải đối mặt với một lựa chọn trọng đại nhưng lại đang giẫm chân tại chỗ!

Sợ hành động, sợ thay đổi, sẽ dẫn đến mông bạn bị đau nhức; lúc này có lẽ cuộc sống của bạn cần một chút thay đổi, hãy dũng cảm bước ra đi!

9.

Nếu đầu gối đau đớn, bạn cần khiêm tốn hơn

Khi bạn thường thấy đầu gối đau đớn, hãy suy nghĩ một chút, có phải gần đây bạn quá cao ngạo rồi hay không?

Tự tin tất nhiên là chuyện tốt, có lẽ thời điểm này bạn nên học cách khiêm tốn, thay đổi tâm tính, đi khích lệ người khác thử xem!

10.

Nếu bắp chân đau nhức, bạn cần buông bỏ

Thần kinh tại bắp chân thật ra rất dễ bị ảnh hưởng bởi tâm lý.

Sự ghen tỵ hoặc oán hận mãnh liệt sẽ tích lũy ở bắp chân mà tạo thành đau đớn!

Suy nghĩ xem gần đây bạn có một số vấn đề không buông bỏ được chăng?

Hãy nghe một bản nhạc và thư giãn đi nào.

11.

Đau mắt cá chân, bạn cần một chút phóng khoáng

Mắt cá chân đại biểu khả năng tiếp nhận hạnh phúc, vui vẻ.

Có lẽ từ trước tới giờ, bạn đối với mình quá nghiêm khắc cũng không chừng.

Đây là thời điểm buông lỏng tinh thần, hưởng thụ cuộc sống tốt đẹp!

Hãy đem đến cho cuộc sống của bạn một chút gia vị tuyệt vời.

12.

Nếu đau bàn chân, bạn cần phóng thích những suy nghĩ tiêu cực

Chân là nơi chống đỡ toàn bộ cơ thể, nếu không phóng thích những áp lực sâu thẳm, thoát khỏi những suy nghĩ tiêu cực, sẽ khiến cho bàn chân đã đau đớn lại càng thêm nặng nề!

Cuộc sống vốn thăng trầm, hãy dũng cảm đối mặt với khó khăn, học cách thích nghi với áp lực, quan trọng nhất chính là buông bỏ đi những ràng buộc để hưởng thụ cuộc sống!
 
Tâm Lý Học
Tính trì hoãn có thể phản ánh điều gì về thời thơ ấu


Thói quen thường xuyên trì hoãn mọi việc không tồn tại riêng biệt

Những điểm chính

Thi thoảng ai cũng mắc bệnh lần lữa, nhưng tính trì hoãn kinh niên có thể ngăn chặn sự phát triển của con người.Đôi khi tính trì hoãn phát triển vì nỗi sợ thất bại và sợ bị chỉ trích từ thời thơ ấu.Làm việc với nhà trị liệu tâm lý hoặc đặt ra những câu hỏi để suy ngẫm có thể giúp người ta hiểu được nguyên do tại sao họ trì hoãn và vượt qua thói quen này.

Nguồn: ảnh bởi Magnet me.

Copyright free.

Unsplash.

Nghiên cứu làm sáng tỏ nhiều điều về lý do trì hoãn của con người—và hầu như ai cũng trì hoãn vào lúc này hay lúc khác.

Ví dụ, người ta ước tính rằng sinh viên đại học, khoảng 80 đến 95 phần trăm hay lần lữa, với khoảng 50 phần trăm có tính lần lữa "thường xuyên và có vấn đề," theo một do Piers Steel thực hiện.

Có ý kiến cho rằng khuynh hướng trì hoãn đủ ổn định để được xem là một nét tính cách ở một số người.

Bạn có biết một người nào đó—thậm chí có thể là chính bạn—luôn gặp khó khăn để hoàn thành công việc, ít việc nào hoàn thành đúng giờ hay không?

Nhưng trì hoãn một công việc đáng ghét—sắp xếp mã số thuế của bạn, trả lời email lấp lửng từ một đồng nghiệp, hay dọn dẹp gác xép—là một chuyện, còn liên tục trì hoãn đến nỗi gây hại cho bản thân lại là chuyện khác.

Nguồn gốc thời thơ ấu của tính trì hoãn

Tất cả chúng ta đều miễn cưỡng không muốn làm khi gặp phải một tình huống khó chịu hoặc nguy hiểm, một nhiệm vụ tẻ nhạt, hoặc có một nghĩa vụ mà chúng ta thực lòng không muốn hoàn thành, nhưng có những người thường xuyên đình trệ.

Một số có liên quan đến nỗi sợ thất bại, dù chả ai thích thất bại, nhưng không phải ai cũng sợ nó.

Những đứa trẻ lớn lên trong gia đình được đáp ứng nhu cầu tình cảm và được yêu thương, hỗ trợ và khích lệ đón nhận mạo hiểm thì không sợ thất bại.

Những người gắn bó-an toàn này nhìn cuộc đời được tô điểm bởi những chướng ngại và nguy cơ thất bại; vì thật thiếu thực tế khi tin rằng ai cũng đạt được thành công trong tất cả mọi thứ.

Điều này không có nghĩa là họ không cảm thấy tổn thương khi sẩy chân lầm bước, vì quả thực thất bại gây tổn thương, nhưng người thuộc kiểu gắn bó an toàn có khả năng phục hồi.

Và bởi vì họ luôn coi thất bại là một khả năng, nên họ không bị hạ gục.

Một số nhà tâm lý học gọi những người đó là "khuynh hướng-tiếp cận."

Trái lại, nếu bạn lớn lên trong một gia đình nơi mà bạn phải cố gắng để giành được tình yêu, còn sự hỗ trợ thì rất ít, thì bạn có nhiều khả năng tin rằng bất kỳ thất bại nào cũng đều phản ánh con người kém cỏi của bạn, thay vì là một lỗi lầm hay tính sai (nước cờ).

Phản ứng của bạn trước một thất bại có thể lặp lại những điều bạn từng được dạy dỗ hồi còn bé, bao gồm cả tư tưởng cho rằng thế giới này được chia thành những người chiến thắng và kẻ thất bại, và bạn không đời nào muốn mình bị coi là kẻ thất bại.

Các nghiên cứu cho thấy nỗi sợ thất bại được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Những người này được gọi bằng thuật ngữ "khuynh hướng-né tránh" vì không 'trèo cao' dường như an toàn hơn là bẽ mặt vì 'té đau'; kết quả là họ giữ chặt hàng rào bảo vệ và né tránh thử thách, để lại những hậu quả trong đời thực.

Không khó nhận ra tính trì hoãn được nuôi dưỡng bởi nỗi sợ thất bại như thế nào; suy cho cùng, bạn không thể thất bại với việc gì đó mà bạn chưa làm.

Điều này có vẻ trái lẽ thường, vì bạn chỉ hoán đổi thất bại này thành thất bại khác, nhưng đối với những đứa con trai và con gái lớn lên trong một gia đình với những tiêu chuẩn—không thể—đáp ứng được và bố mẹ rất khắt khe, hay bắt bẻ lỗi vụn vặt thì việc né tránh vấn đề có thể dễ dàng hơn là mạo hiểm làm rồi bị sỉ nhục.

Tương tự thế, có giả thuyết cho rằng tính trì hoãn có thể là một dạng "tự chấp (self-handicapping)"—một cách để bảo vệ tự tôn bằng cách tạo ra những trở ngại trong quá trình thực hiện một nhiệm vụ, do đó tạo cho mình một lời bào chữa khi gặp thất bại, thay vì phải đối mặt với thất bại như sự phản ánh con người bạn hoặc năng lực của bạn.

Đối với một người hay trì hoãn, từ yêu thích của họ là "Lát nữa/Làm sau"

Một thú vị năm 2018 được thực hiện ở Thụy Điển đã xem xét liệu những hành vi trong đời sống hàng ngày có thể tiết lộ một người nào đó có phải là kẻ thường xuyên trì hoãn hay không.

Họ quan sát mọi người trong nhiều bối cảnh khác nhau, rồi sau đó đưa ra một bảng hỏi được thiết kế để đo lường tính trì hoãn.

Các bối cảnh bao gồm liệu một người nào đó đang đứng yên hay đi lên một thang cuốn tại một trung tâm thương mại, liệu một người nào đó chọn đăng ký một lớp tập thể dục sớm hay muộn, liệu các sinh viên chọn tham gia một buổi hội thảo sớm hay muộn, liệu một ai đó mang theo bữa trưa đã chuẩn bị ở nhà hay mua bữa ăn trưa vào phút cuối, và một bản tự báo cáo về việc mang theo đồ ăn trưa ở nhà và mua một suất ăn trưa đắt tiền.

Điều mà các nhà nghiên cứu phát hiện ra là sự thiếu chuẩn bị và hành động—dấu hiệu của một người hay trì hoãn—đã tự bộc lộ trong cả hành vi và bảng hỏi.

Đối với người hay trì hoãn thì từ "lát nữa/làm sau" luôn được ưa thích hơn là "làm sớm/làm trước" dù họ có thể nhận được nhiều lợi ích thiết thực nếu không trì hoãn. (Vâng, những người hay trì hoãn thì đứng trên thang cuốn.)

Nên làm gì nếu bạn là người trì hoãn kinh niên

Nếu bạn liên tục trì hoãn hoặc tránh né thử thách bằng cách chờ đợi cho đến khi quá muộn để bắt tay vào làm thì việc tốt nhất mà bạn có thể làm là xem xét những lý do cá nhân khiến bạn trì hoãn.

Khả năng cao là tính trì hoãn đang cản trở bạn có được cuộc sống tốt đẹp, giờ đã đến lúc xử lý.

Làm việc với một nhà trị liệu giỏi là cách tốt nhất, nhưng bạn có thể bắt đầu bằng cách hỏi bản thân những câu sau đây và trả lời thành thật nhất có thể:

Bạn có bị thúc đẩy bởi nỗi sợ thất bại hơn là sự thu hút của thành công?Có những nhiệm vụ cụ thể nào mà bạn thường trì hoãn?Bạn có cảm thấy lo lắng khi trì hoãn không?

Hay việc trì hoãn một công việc mang lại cảm giác nhẹ nhõm cho bạn?Bạn nghĩ tại sao mình lại trì hoãn hành động?Tính trì hoãn đã ảnh hưởng đến bạn như thế nào trong cuộc sống hằng ngày?

Trong công việc?

Trong các mối quan hệ của bạn?Những lúc nào mà bạn có khả năng trì hoãn hơn người khác?

Bạn có nhận ra một khuôn mẫu nào không?Bạn có ý kiến gì về những người hay trì hoãn?

Bạn có xếp mình vào nhóm đó không?

Bạn có thể quên đi những gì đã được học.
 
Tâm Lý Học
Những gia đình độc hại chọn đứa con nào làm 'dê tế thần'


Với nhiều chủ đề khác nhau, nhưng điểm chung luôn là kiểm soát và chi phối.

Những điểm chính'Dê tế thần' là một dạng bạo hành lời nói thường gặp ở các bậc phụ huynh.

Nghiên cứu cho thấy việc chọn một đứa con 'làm dê tế thần' trong gia đình cho phép một người cha/mẹ tin rằng gia đình của họ lành mạnh hơn thực tế.'Dê tế thần' cho phép một người cha/mẹ giảm thiểu trách nhiệm và bao biện cho những hậu quả tiêu cực, tăng cảm giác kiểm soát.

Vai 'dê tế thần' trong gia đình có thể thay đổi luân phiên, hoặc có thể nhắm vào một đứa trẻ cụ thể.

Trong những buổi phỏng vấn cho quyển sách sắp tới của tôi viết về bạo hành lời nói, chủ đề 'dê tế thần' (scapegoating) liên tục xuất hiện; trong những hình thức bạo hành lời nói được các bậc cha mẹ sử dụng, gần như luôn có hành vi đổ lỗi.

Trong gia đình có một vị phụ huynh hay kiểm soát, hiếu chiến, hay ái kỷ nắm quyền thì đổ lỗi là công cụ hữu ích để duy trì vị thế kiểm soát, không chỉ trong tương tác và hành vi của những thành viên khác trong gia đình, mà còn trong câu chuyện của gia đình đó.

Như nhà nghiên cứu Gary Gemmill đã chỉ ra, đổ lỗi cho phép người phụ huynh tin rằng gia đình mình sẽ lành mạnh và vận hành tốt hơn thực tế; nếu như không có một cá nhân đó — đúng, chính là 'con dê tế thần'— gia đình này sẽ trở nên hoàn hảo, và cuộc sống sẽ thật nhiệm màu.

Đây là một điểm quan trọng vì nó giúp người phụ huynh đó biên tập câu chuyện gia đình một cách rất cụ thể.

Một nghiên cứu khác của Zachary R.

Rothschild và đồng nghiệp đặt giả thuyết và sau đó chứng minh rằng hành vi đổ lỗi cho phép một người giảm thiểu tội lỗi và trách nhiệm đối với một kết quả tiêu cực và khiến họ cảm thấy được củng cố quyền lực vì lúc nào cũng có một lý do cho mọi kết quả xấu.

Ví dụ tôi thường dùng là chiếc xe hơi gia đình được đỗ trên đường vào gara và bị kẻ gian phá hoại trong đêm.

Nếu điều này xảy ra với bạn, có thể bạn sẽ quan ngại đến mức gọi cảnh sát, nhưng nhiều khả năng bạn sẽ coi đây là một sự việc ngẫu nhiên.

Nhưng người cha mẹ có thói quen đổ lỗi sẽ không tiếp cận vấn đề như thế; thay vào đó, họ sẽ chăm chăm vào việc Jack là người cuối cùng đỗ xe, và cậu ấy không khóa xe, khiến nó dễ dàng bị phá hoại.

Ngoài ra, Jack không mở đèn soi đường vào gara và cổng nhà, giúp bọn phá hoại tùy nghi trong bóng tối.

Ngạc nhiên chưa!

Trong câu chuyện gia đình đã được biên tập, Jack là người có lỗi khi chiếc xe bị phá hoại.

Hành vi đổ lỗi hoạt động như thế.

Nguồn: fizkes/Shutterstock

Ai sẽ trở thành 'dê tế thần' trong gia đình?

Ở một số gia đình giống như Tim, cái vai 'dê tế thần' được thay đổi luân phiên, là bất kỳ ai khiến bố cậu ấy truyền đi một thông điệp đanh thép:

"Thất bại là không chấp nhận được.

Trả treo là làm phản.

Nói là phải làm, phạt là phải chịu, nếu không sẽ bị phớt lờ và đổ lỗi.

Người con không nghe lời sẽ trở thành 'dê tế thần' cho đến khi sửa đổi và "nhận được bài học", và rồi kẻ lười biếng tiếp theo sẽ là mục tiêu.

Điều này tiếp diễn từ thời thơ ấu đến khoảng một thập niên đầu tiên của tuổi trưởng thành cho đến khi tôi cuối cùng cũng rời khỏi cái nhà đó."

Với nhiều gia đình thì 'dê tế thần' là một cái vai cố định, như trường hợp của Alisha:

"Em trai thứ của tôi, Tom, là 'dê tế thần' vì em ấy cãi lời và kháng cự sự khống chế của mẹ.

Éo le là trong bốn anh chị em, em ấy là người thành công nhất — học giỏi và có năng khiếu thể thao — nhưng mẹ tôi lại khó chịu khi bà không thể kiểm soát được em ấy như với tôi và hai đứa em còn lại.

Mẹ đổ hết mọi lỗi lầm lên Tom và điều đó khiến bố tôi tức giận vì ông luôn tin mọi lời mẹ nói dối về Tom.

Còn ba chị em tôi thì trở nên rụt rè và ít nói nhất có thể, cố tỏ ra trung lập hết mức để mẹ không chĩa mũi dùi sang chúng tôi.

Tom rời khỏi nhà năm 18 tuổi, đi học đại học và sau đó là trường luật, rồi ngừng nói chuyện với bố mẹ từ 10 năm trước.

Em ấy chắc hẳn là chú cừu đen thành công nhất trong lịch sử.

Tôi vẫn hay gặp em ấy, nhưng em gái và em trai tôi dù đã trưởng thành vẫn rất sợ làm phật ý mẹ.

Dù không bị hàm oan, tôi vẫn có hàng tỷ vấn đề phải giải quyết bằng trị liệu.

Tôi dành cả tuổi thơ cuộn tròn như trái bóng phòng vệ."

Lạ đời thay, không cần phải có nhiều anh chị em thì mới bị 'làm dê tế thần', con một cũng có thể bị cha mẹ đổ lỗi.

Đây là lời Dora kể lại:

"Trong lời kể của mẹ tôi, mọi vấn đề trong cuộc sống của bà đều có thể truy ngược về tôi.

Việc tôi chào đời đã khiến bố xa cách mẹ và cuối cùng là đệ đơn ly dị.

Tất nhiên đó không phải câu chuyện từ phía bố, và bố rời đi khi tôi đã 7 tuổi.

Mẹ không bao giờ tái hôn vì không ai muốn một người phụ nữ mang theo gánh nặng, và gánh nặng chính là tôi.

Hài hước là bố kết hôn với một người phụ nữ đã có hai con nhưng mẹ còn chẳng xem đó là lời nói đùa.

Tương tự với công việc và lý do mẹ không bao giờ lên chức; vâng, là tại Dora.

Năm 30 tuổi, tôi tìm đến phòng khám trị liệu và đối mặt với người mẹ luôn chối bay biến mọi việc.

Bác sĩ trị liệu của tôi chỉ ra rằng, bà đã chuyển từ đổ lỗi sáng bóp méo sự thật.

Dạo này lâu lâu tôi vẫn liên lạc nhưng tôi đang dần lánh hẳn vì bà ấy không chịu thừa nhận hành vi và lời nói của mình khiến tôi phát điên."

Không nhận trách nhiệm chính là "lợi thế sân nhà" của hành vi đổ lỗi.

'Dê tế thần' được lựa chọn như thế nào

Dù khoa học đã lý giải động cơ đổ lỗi của kẻ bạo hành, nhưng không có nghiên cứu nào cho thấy mục tiêu được lựa chọn như thế nào, vì thế tôi đã tổng hợp từ hàng trăm câu chuyện được chia sẻ với dự án này và quyển sách Daughter Detox: Recovering from an Unloving Mother and Reclaiming Your Life (tạm dịch: Phương pháp giải độc cho con gái: Hồi phục thương tổn từ người mẹ thiếu tình thương và Giành lại cuộc sống của bạn) đưa ra một số khuôn mẫu phi khoa học nhưng có thể lại hữu ích.

Một số khuôn mẫu có vẻ hiển nhiên hơn so với phần còn lại.

Người kháng cự hoặc nổi loạn

Vì bạo hành lời nói luôn là về sự kiểm soát và chênh lệch quyền lực, nên không ngạc nhiên khi đứa trẻ không tuân thủ chương trình — dù có là chương trình gì đi nữa — sẽ bị cô lập và cho ra rìa.

Khuôn mẫu này là trường hợp Alisha kể về người em trai Tom, và cũng có thể là động lực xoay chuyển vị trí 'dê tế thần' trong những gia đình khác.

Người nhạy cảm

Đổ lỗi và bắt nạt đều có chung mục đích, và cả hai đều khiến kẻ bạo hành cảm thầy tràn đầy quyền lực; và sẽ còn thỏa mãn hơn nếu đứa trẻ được chọn dám phản ứng.

Ngoài ra, điều này cho phép người bố/mẹ bao biện hành vi đổ lỗi là cần thiết để đứa trẻ "mạnh mẽ lên" hoặc "đừng có quá nhạy cảm như vậy".

Thật không may, điều này xảy ra với cả con trai lẫn con gái và là tình trạng rất dễ thấy ở nhiều gia đình.

Những đứa trẻ còn lại sẽ cố hết sức để kìm nén tất cả phản ứng cảm xúc, bảo vệ bản thân trước hành vi bạo hành nhưng gây ra một dạng thương tổn khác.

Người cá biệt

Tôi nhận thấy ở những bà mẹ hay đổ lỗi, việc tin rằng con mình là đứa cá biệt thường là cách để họ thích nghi; đứa trẻ quá khác biệt so với bản thân người mẹ và những đứa con khác khiến bất kỳ kỹ năng nuôi dạy nào của bà cũng trở nên hoàn toàn quá sức, và bà phản ứng bằng cách đổ hết mọi lời quở trách vào đứa con.

Trong câu chuyện của gia đình, đứa trẻ này thường mang gánh nặng trách nhiệm cho việc gia đình gặp khó khăn hay bất kỳ vấn đề gì mà người mẹ gặp phải.

Người gợi nhớ

Điều này thường xảy ra nhất sau khi ly dị và những đứa trẻ có ngoại hình giống hoặc "kế thừa" hành vi nào đó của người vợ/chồng cũ, nhưng nó cũng xuất hiện ở những gia đình hoàn chỉnh với đứa trẻ được cho là giống với một người họ hàng bị ghét, khó ưa, hoặc là cừu đen trong gia đình hoặc tổ hợp tất cả yếu tố.

Đổ lỗi có thể được thể hiện công khai—"Mày giống y như bố mày, vô trách nhiệm và lười biếng"— hoặc ẩn ý, như trường hợp của Dina, cũng là một nhà tâm lý học:

"Khi còn nhỏ, tôi không hiểu tại sao tôi luôn là người sai trong khi em gái tôi luôn là người tuyệt vời.

Tôi đi học luôn được điểm A, gặt hái được nhiều thành công, còn em tôi không có gì cả.

Nhưng có một câu chuyện đằng sau.

Bố tôi đã phạm phải lỗi lầm bỏ rơi mẹ và tái hôn hạnh phúc.

Tôi phạm phải lỗi lầm vì trông giống bố — cao, gầy, tóc nâu, và thông thái.

Em gái tôi có ngoại hình giống mẹ — tóc vàng và nhỏ con — và không thật sự nghiêm túc với điều gì.

Phải đến khi tiến hành trị liệu, một phần của chương trình huấn luyện, thì tôi mới nhìn ra được điều hiển nhiên ấy."

Đổ lỗi là bạo hành ngôn từ, dù cho nó có được bình thường hóa hay hợp thức hóa như thế nào.

Và không quan trọng bố mẹ lựa chọn nạn nhân ra sao, điều quan trọng là họ đã thực hiện hành vi ấy.
 
Tâm Lý Học
6 lý do tệ hại để sinh con


Vì ai đó mong bạn sinh con (không quan trọng là ai).

Tôi từng dành một thập kỷ để phỏng vấn những cô con gái trưởng thành của những bà mẹ không biết yêu thương và câu hỏi nhức nhối thứ hai—sau câu hỏi "Tại sao bà ấy không thương tôi?"— luôn là câu "Vậy tại sao bà ấy lại sinh ra tôi?"

Đôi lúc, câu hỏi này hơi cường điệu.

Nhưng nó cứ luôn nặng nề, lơ lửng ở đó, chờ đợi một câu trả lời sẽ không bao giờ có, một câu trả lời có thể bắt đầu lý giải tại sao một người mẹ lại đối xử với con gái của bà ta như vậy.

Tất nhiên, lý do sinh con của mọi người rất phức tạp.

Trong hàng ngàn năm, mặc dù đã có những nỗ lực được ghi nhận trong việc tránh thai ở mọi xã hội bắt đầu từ thời Ai Cập cổ đại, con người vẫn có con vì mấy ai dám không sinh con.

Trong các xã hội nông nghiệp và bộ tộc, trẻ em không chỉ là một lực lượng lao động tiềm năng mà còn là thành viên của thị tộc.

Đẻ con trai là một cách để bảo vệ của cải từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Còn con gái, đặc biệt là những cô gái có giá trị hôn nhân cao, mang đến cách thiết lập các mối liên kết mới và củng cố, thu tóm quyền lực và của cải.

Vâng, ngay cả như thế, người ta sinh con chỉ vì họ khao khát có con.

Việc sinh con có làm bạn hạnh phúc hơn hay không thì vẫn còn nhiều tranh cãi, như các nghiên cứu trái ngược chỉ ra.

Dù hầu hết nghiên cứu đều chỉ ra mức độ hạnh phúc chủ quan tụt giảm ở những người có con, nhưng gần đây Angus Deaton và Arthur A.

Stone lại cho rằng những kết quả đó bị sai lệch.

Dù những người đang sống với con nhỏ cho biết gặp nhiều stress hơn, song họ cũng thông báo rằng hạnh phúc hơn.

Có lẽ không phải ngẫu nhiên, họ cũng có xu hướng là những người có học vấn cao hơn, khỏe mạnh hơn, nhiều khả năng lập gia đình, mộ đạo hơn—tất cả những yếu tố đó cũng góp phần vào hạnh phúc.

Tương tự thế, Chris Herbst và John Ifcher nghiên cứu xem liệu "khoảng cách hạnh phúc khi làm cha mẹ" được báo cáo trên các phương tiện truyền thông có tồn tại hay không.

Họ phát hiện thấy trong khi mức độ hạnh phúc chủ quan đã suy giảm ở những người không con cái, chúng được cải thiện ở các bậc cha mẹ trong những năm gần đây.

Họ phỏng đoán rằng có thể con trẻ đã mang đến một tấm đệm chống lại những xu hướng tiêu cực, trong số đó có sự bất ổn về kinh tế và sự thiếu kết nối xã hội trong một xã hội ngày càng ái kỷ.

Hơn nữa, nhờ biện pháp tránh thai đáng tin cậy và nhiều tập quán đang thay đổi, việc làm cha mẹ ngày nay chủ yếu là lựa chọn.

Theo Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, 47.6% phụ nữ trong độ tuổi từ 15 đến 44 không có con trong năm 2014, tỷ lệ cao nhất kể từ khi theo dõi bắt đầu vào năm 1976.

Chỉ dưới một nửa (49.6%) phụ nữ trong độ tuổi từ 25 đến 29 là hiếm muộn, cũng như 28.9% ở những người từ 30 đến 34 tuổi.

Khi lựa chọn không sinh con dần được chấp nhận hơn ở thế kỷ 21—vâng, ngày nay họ gọi điều đó là childfree (lựa chọn tự nguyện không sinh con), chứ không phải là childless (hiếm muộn)—ngày càng nhiều người đang có sự lựa chọn ấy.

Tôi không chắc về thuật ngữ "childfree" bởi ngụ ý của nó về "gánh nặng" của việc nuôi dạy con.

Ngoài ra, nó có chút phóng đại.

Ví dụ, tôi biết nhiều đàn ông và phụ nữ không có con vì nhiều lý do, nhưng tất cả bọn họ đều có mối quan hệ gần gũi với trẻ em—các cháu trai và cháu gái, con cái của bạn bè và hàng xóm.

Theo tôi, đó hoàn toàn không phải là childfree.

Thật thú vị, sự thay đổi trong nền văn hóa—đang rời xa thái độ của những năm 1950 khi giả định về một cặp vợ chồng không con cái là nếu họ không sinh con thì tức là họ bị vô sinh—phần nào đã thúc đẩy một cuộc đối thoại cởi mở về việc làm cha mẹ. (Tôi nói "phần nào" một cách thận trọng vì phần lớn những cuộc thảo luận về việc làm mẹ vẫn được cổ vũ bởi huyền thoại văn hóa rằng mọi phụ nữ trên đời đều có bản năng làm mẹ và chăm sóc con cái.) Cả đàn ông lẫn phụ nữ đều thú nhận [công khai lẫn riêng tư] có hơi thất vọng với trẻ em và với việc nuôi dạy con.

Với tư cách là một người cha của hai đứa con đang ngoài ba mươi tuổi, mà ông đã hạn chế liên lạc, phát biểu rằng: "Tôi nghĩ nếu mình được làm lại, tôi sẽ không sinh con.

Nếu hồi đó tôi thành thật với chính mình, tôi đã nhận ra việc có con là vì tôi được mọi người kỳ vọng phải sinh con và vợ tôi muốn có con."

Cũng tương tự vậy, một phụ nữ ở tuổi 80, là mẹ của một người con trai và con gái, cho rằng bà ước gì mình có được lựa chọn không sinh con, vì rốt cuộc, bà thấy thế giới công việc ngày nay thú vị hơn rất nhiều so với 20 năm bà dành để làm một người vợ nội trợ và làm mẹ.

Tôi từng có những buổi trò chuyện mà các bậc làm cha mẹ, nghe giọng khá ganh tị, nhận thấy những người bạn và người quen không có con cái của họ trông trẻ hơn và ít căng thẳng hơn, lại còn có nhiều tiền bạc và nguồn lực hơn họ.

Tất nhiên điều này không có nghĩa là họ không thương con mình, nhưng nó phản ánh về lựa chọn làm cha mẹ có thể đóng vai trò chủ động ra sao.

Tôi sẵn sàng thú nhận rằng mình đóng một phần trong cuộc thảo luận này và tin chắc rằng quyết định làm cha làm mẹ là một quyết định quan trọng nên được đưa ra một cách ý thức nhất có thể.

Tôi nói điều đó không chỉ trên tư cách là một người con gái không được yêu thương đã nghe hàng trăm câu chuyện [chân thật nhất] của những đứa trẻ không được cha/mẹ yêu thương, mà còn với tư cách của một người quyết định không sinh con, nhưng rồi khi ngấp nghé tuổi 40, đã thay đổi quan điểm.

Giờ đây tôi coi việc làm mẹ là thành tựu cao quý nhất đời mình—và đối với một nhà nữ quyền thì đây là một tuyên bố khá mạnh mẽ.

Điều này không có ý nói rằng tôi lúc nào cũng thành công trong việc làm mẹ (chỉ cần hỏi con gái tôi) hay tôi không bao giờ phạm sai lầm.

Tôi có mắc sai lầm, và tôi nhận ra những điều tôi làm sai chắc chắn đã định hình cuộc đời con tôi, và có lẽ là nhiều hơn những điều mà tôi đã làm đúng.

Nghiên cứu luôn xác nhận rằng tổn thương mà bạn gây ra luôn nhiều hơn , có sức nặng lớn hơn và ảnh hưởng nhiều hơn những điều tốt đẹp mà bạn mang lại.

Điều đó đơn giản là một phần của sự lập trình ở con người: "Cái xấu luôn mạnh hơn cái tốt."

Nguồn: Monkey Business Images/Shutterstock

Tuy nhiên, có những lý do chính đáng cũng như tồi tệ để sinh con.

Dưới đây là một số lý do thực sự tồi tệ mà tôi lượm lặt được từ nhiều cuộc trò chuyện với những bà mẹ và con gái, các ông bố và con trai:

1.

Để có người yêu bạn

Tôi có một số nữ thân chủ, tất cả đều có con nhỏ, đã thú nhận điều này.

Trong hầu hết trường hợp, họ giải thích rằng việc có con dường như giúp họ xoa dịu nỗi đau vì không được bố mẹ yêu thương hay từ chối mối quan hệ với người yêu/người bạn đời.

Một phụ nữ nhớ lại quyết định cô từng đưa ra cách đây nhiều thập kỷ để làm mẹ đơn thân mà không cần đến người cha, về cơ bản thì đó là tình một đêm.

Cô gọi đó "là việc ích kỷ nhất tôi từng làm."

Một người khác thì nhận xét "trẻ con thì không nên sinh ra trẻ con," thừa nhận rằng cô chưa chín chắn về mặt cảm xúc cũng như đủ trưởng thành để làm mẹ.

Tất nhiên, vấn đề thực sự chính là gánh nặng của việc mang đến yêu thương bị đẩy sang đứa trẻ được cho là người sơ cứu tinh thần cho cha mẹ.

Đó là một yếu tố dẫn đến thảm họa.

2.

Vì ai đó mong bạn sinh con

Không quan trọng đó là ai—bố mẹ, người bạn đời, hay áp lực xã hội.

Sinh con là một quyết định mà bạn cần làm chủ trên mọi phương diện vì đó là một cam kết to lớn.

Việc nuôi dạy con tốt đòi hỏi rất cao và cần được truyền cảm hứng bởi những kỳ vọng của chính bạn chứ không phải ai khác.

Những người vô tình trở thành cha mẹ theo kiểu này thường làm cha làm mẹ mà không thực hiện một cuộc đánh giá cá nhân về nhu cầu của họ hoặc, quan trọng hơn, khả năng của họ để chăm sóc và chịu trách nhiệm cho một con người phụ thuộc hoàn toàn vào họ.

Những đứa trẻ của các bậc phụ huynh đó thường nói rằng mặc dù chúng được chăm lo về mặt vật chất—vâng, chúng có mái nhà che mưa che nắng, quần áo để mặc, thức ăn để sống—song nhu cầu tình cảm của chúng phần lớn bị bỏ qua.

3.

Để hòa nhập.

Một số phụ nữ thú nhận rằng họ sợ người khác sẽ xa lánh hay kỳ thị nếu họ quyết định không sinh con.

Có lẽ họ trông "kém giá trị hơn" so với phụ nữ đã có con.

Nếu chúng ta thành thật với bản thân về cái gọi là "những chuẩn mực" văn hóa, ta sẽ nhận ra đây thực sự là nỗi lo chính đáng của nhiều người.

Tuy nhiên, đó không phải là động cơ lành mạnh để cam kết làm cha mẹ.

Một phụ nữ cùng với chồng đã quyết định không sinh con, đưa ra nhận định rằng: "Tôi là một trong bốn chị em gái và là người duy nhất không sinh con.

Điều đó khiến tôi trở nên khác biệt, nhưng không phải theo cách tích cực, đặc biệt vì tôi có khả năng sinh con.

Cả bố mẹ và chị em tôi đều coi sự lựa chọn của tôi là 'bằng chứng' cho thấy tôi ích kỷ và chỉ biết đến mình.

Khi bố mẹ qua đời, tôi được thừa kế gia tài ít hơn các chị em của mình và di chúc thậm chí còn ghi rằng tôi không cần nhiều tiền của vì chỉ có một mình tôi."

4.

Để mang lại mục đích cho đời bạn.

Mặc dù đúng là việc nuôi dạy một đứa trẻ có thể mang lại ý nghĩa và mục đích cho cuộc đời bạn, nhưng đó vẫn là một lý do tệ hại để sinh con.

Bạn là người duy nhất có thể định nghĩa điều gì mang lại ý nghĩa cho cuộc đời mình.

Đó không phải là một bổn phận được thực hiện bởi một ai khác, ngay cả với đứa trẻ do bạn sinh ra.

Lý do này (cùng với lý do tiếp theo) có thể dễ dàng trở thành sự vướng mắc—bao gồm sự khước từ không gian mà đứa trẻ cần để được là chính nó và hoàn toàn phớt lờ ranh giới cảm xúc của trẻ—hoặc kiểm soát nhất cử nhất động.

Nhiệm vụ của một đứa trẻ không phải để giúp cuộc đời bạn trông tốt đẹp hơn hay phong phú hơn so với thực tế.

5.

Tạo dựng di sản của bạn.

Về phương diện lịch sử, triều đại, bảo vệ của cải vật chất và cần để lại thứ gì đó sau khi từ giã cuộc đời, tất cả đều từng là lý do để sinh con.

Nhưng điều đó không khiến chúng có giá trị về mặt cảm xúc và tâm lý.

Cũng giống như những người có con để đời họ có mục đích sống, những bà mẹ quan tâm đến di sản thường xem con cái là sự mở rộng của bản thân họ và, như nhiều cô con gái cho biết, gây áp lực rất lớn lên con cái để mẹ được nở mày nở mặt.

Trong trường hợp này, mong muốn của đứa trẻ—và, suy nghĩ và cảm nhận của chúng cũng vậy—phần lớn đều bị bỏ qua.

Một cô con gái từng chia sẻ với tôi "Điều cực kỳ quan trọng với mẹ tôi là tôi được thiên hạ ngưỡng mộ, nhờ đó mà bà cũng được nể phục vì đã nuôi dạy tôi.

Bà chọn quần áo cho tôi, chọn bạn bè cho tôi, thậm chí trường đại học, dựa theo mức độ 'đáng ghen tị' của nó đối với mối quan hệ xã hội của bà.

Tôi trở thành luật sư vì bà ấy muốn thế.

Khi tôi nhận ra mình ghét nghề luật, mẹ đã hoảng sợ, đặc biệt khi tôi bỏ cái nghề danh giá thu nhập cao này—theo quan điểm của bà—để làm công việc dạy học hèn mọn ở trường công.

Bà ấy cứ nhắc mãi chuyện này và coi thường tôi vì lựa chọn đó."

Các ông bố cũng có con vì lý do tương tự, như lời kể của một người con trai đã trưởng thành, một trong số năm người con: "Áp lực phải thành công đối với tất cả những đứa con trai của cha tôi là rất lớn vì bất cứ sai phạm nào, bất cứ điều gì không phải là 'hạng nhất', đều làm xấu mặt ông.

Điều này đúng trên lĩnh vực thể thao, trong lớp học, ngoài xã hội, và khi chúng tôi đều trưởng thành, về phương diện kiếm tiền.

Ông ấy không yêu tôi vì con người của tôi; ông ấy chỉ quan tâm đến vẻ vang do con cái mang lại.

Tôi nguyện sẽ không bao giờ làm điều này với con mình, những người mà tôi yêu vì chính con người chúng."

Trong thế giới , những bậc cha mẹ đó thường được dán cho cái nhãn là Ái kỷ (narcissist).

Nhưng bất kể bạn dán cái nhãn nào thì những vết thương tình cảm mà họ gây ra cho con cái là rất nhiều.

6.

Để giúp hôn nhân tránh đổ vỡ (hay để khiến đối phương kết hôn với bạn).

Bất chấp tất cả các bài báo trên truyền thông đại chúng, tất cả các nghiên cứu và những câu chuyện cảnh báo được nói đến trong tiểu thuyết và phim ảnh, người ta vẫn tin rằng một em bé có thể hàn gắn một mối quan hệ vốn đã gặp nhiều căng thẳng.

Tất nhiên, không gì sai lệch sự thật hơn là giả thuyết này.

Và mặc dù những bất đồng trong việc nuôi dạy con không nằm trong ba lý do hàng đầu khiến mọi người ly hôn—ba vấn đề đó là ngoại tình, lạm dụng ma túy hay rượu, và tiền bạc—chúng cực kỳ phổ biến.

Vấn đề là thế này: Cũng như những người yêu nhau nhầm tưởng rằng họ sẽ vượt qua được bất đồng về tiền bạc, các cặp vợ chồng có xu hướng không bàn bạc quan điểm của họ về việc nuôi dạy con trước đó.

Một người đàn ông kể với tôi: "Tôi không nói rằng những xích mích của chúng tôi về con trai là nguyên nhân chính dẫn đến ly hôn, nhưng tôi muốn nói rằng chúng là giọt nước tràn ly.

Vợ cũ của tôi luôn từ chối áp dụng các biện pháp kỷ luật thằng bé hồi còn nhỏ và sau này ở độ tuổi thiếu niên, và trong giai đoạn đầu tuổi trưởng thành, thằng bé không có khả năng chịu trách nhiệm cho hành vi của mình, nhưng cô ấy chỉ nhắm mắt làm ngơ.

Tôi không thể chấp nhận điều đó."

Một phụ nữ trẻ ngoài 40, hiện tại đã 'ly dị' người mẹ ruột 80 của cô, ngẫm lại: "Những căng thẳng trong cuộc hôn nhân của chúng tôi đã quá rõ ràng, nhưng khi nhìn lại, tôi không nghĩ rằng cả hai chúng tôi thực sự sẵn sàng trung thực về những gì đang diễn ra.

Chúng tôi đã kết hôn được 7 năm nhưng đang ngày càng sống như hai đường thẳng song song.

Chúng tôi không gây gổ, nhưng cũng chẳng gắn kết được với nhau, và tôi không nghĩ rằng chúng tôi hiểu được điều đó.

Khi con trai của chúng tôi chào đời, tôi ngày càng ít quan tâm đến cuộc hôn nhân mà dồn hết quan tâm cho con trai.

Chỉ mất vài năm để mọi việc sáng tỏ."

Tất nhiên, cũng vì đứa trẻ đó mà cha mẹ "phải" kết hôn.

Một người con gái đã trưởng thành chia sẻ câu chuyện sau:

"Dù cha mẹ tôi đã lấy nhau và tiếp tục sinh thêm ba người con khác, thái độ của họ đối với tôi vẫn luôn khác.

Tôi là đứa đã 'cướp đi' tuổi trẻ và tấm bằng đại học của mẹ khi bà mang bầu tôi vào năm thứ ba đại học.

Tôi là đứa gây áp lực quá lớn lên cha trong khi ông chưa sẵn sàng gánh vác trách nhiệm.

Hiện giờ tôi đã ngoài 40 mà họ vẫn chưa 'tha thứ' cho tôi vì một chuyện mà tôi chẳng liên quan.

Dĩ nhiên, trừ khi bạn có thể bị đổ lỗi vì đã ra đời."

Tất nhiên, tin tốt là động lực ban đầu của bạn để sinh con không nhất thiết phải chi phối cách bạn nuôi dạy con cái nếu bạn sẵn sàng trung thực với bản thân và nỗ lực nhận ra cách mà những nhu cầu trong vô thức và chưa được thừa nhận của bạn—không phải của con bạn—đang ảnh hưởng đến hành vi của bạn ra sao.

Như Daniel Siegel và Mary Hartzell, tác giả cuốn Parenting from the Inside Out (theo tôi là cuốn sách hay nhất về chủ đề tế nhị này) viết:

"Khi chúng ta làm cha mẹ một cách toàn tâm toàn ý, khi chúng ta tỉnh thức, thì nó cho phép con cái chúng ta trải nghiệm trọn vẹn bản thân chúng vào lúc đó.

Trẻ em học được về bản thân chúng qua cách chúng ta giao tiếp với chúng.

Khi chúng ta bận tâm về quá khứ hay lo lắng về tương lai, chúng ta chỉ đang hiện diện với con mình về mặt vật lý nhưng vắng mặt về tinh thần.

Trẻ không cần chúng ta luôn có mặt mọi lúc mọi nơi, mà chúng cần ta hiện diện trong các tương tác kết nối.

Làm cha mẹ tỉnh thức nghĩa là có ý định tốt trong những hành động của bạn."

Để cho lý do khiến bạn quyết định có con—đặc biệt nếu tất cả đều vì bản thân bạn, như sáu động cơ trên—chi phối hành vi của bạn là chọn vắng mặt.

Bất kể lý do tại sao bạn quyết định trở thành một người cha/người mẹ, hãy cố gắng hiện diện nhiều nhất có thể trong những tương tác của bạn với đứa trẻ mà bạn mang đến với cuộc đời là một bài học quan trọng cần khắc ghi và luôn phải thường trực trong tâm trí.
 
Tâm Lý Học
Nền văn minh đã hủy hoại bộ não của ta như thế nào?


Xã hội săn bắt hái lượm có thể dạy chúng ta điều gì về công việc, thời gian và hạnh phúc?

Vài tháng trước, tôi và đồng nghiệp cùng thảo luận xem cảm giác sợ hãi vào ngày chủ nhật – sự lo lắng mà nhiều người chúng ta trải qua khi cuối tuần sắp kết thúc và một tuần làm việc mới đang đến gần - bắt nguồn từ đâu.

Đồng nghiệp của tôi nói rằng anh quá rõ thủ phạm là ai.

Anh cho rằng đó là sự căng thẳng hiệu suất và cảm giác mất an toàn trong công việc mà chủ nghĩa tư bản mang lại và đang ngày một bào mòn chúng ta.

Nhưng chủ nghĩa tư bản cũng có mặt từ thứ hai đến thứ bảy, vậy vì sao chỉ có ngày chủ nhật gây ra nỗi lo lắng đặc biệt như thế?

Tôi nghĩ nguyên nhân sâu xa hơn liên quan đến tâm lý học hiện đại về nhận thức thời gian.

Một công dân của thế kỷ 21 có hai chế độ tư duy: tư duy năng suất và tư duy giải trí.

Khi chúng ta đang sử dụng kiểu tư duy đầu tiên, chúng ta luôn cố gắng để tối ưu hóa thời gian và kết quả, chứng minh năng suất của chúng ta đối với thế giới và trên hết là đối với chính bản thân mình.

Ở chế độ giải trí, nhịp điệu này sẽ chậm lại và cho phép chúng ta xem một bộ phim hay thưởng thức một ly rượu mà không cần đắn đo xem hành động của chúng ta có gây ảnh hưởng gì đến danh tiếng hay khiến ta bị đánh giá về hiệu suất hay không.

Trong những giờ phút cuối cùng của một tối chủ nhật, hai trạng thái tâm lý này chơi kéo co trong đầu ta.

Khi tư duy năng suất bắt đầu hoạt động, cảm giác tội lỗi vì đã buông lỏng cả ngày trỗi dậy.

Sự lo lắng về áp lực làm việc tăng dần khi tư duy giải trí dần rút lui.

Giá như ta có thể điều hướng cuộc sống của mình một cách dễ dàng.

Tuy nhiên, liệu sự dễ dàng có phải là điều mà đa số chúng ta thật sự muốn?

Vào năm 2012, nhà xã hội học John P.

Robinson xem lại những khảo sát kéo dài hơn 40 năm nghiên cứu về hạnh phúc của người Mỹ và hỏi xem họ thường cảm thấy "vội vã" và "dư thừa thời gian" vào những lúc nào.

Ông kết luận những người hạnh phúc nhất là nhóm người "không bao giờ và không bao giờ" – những người nói họ hiếm khi cảm thấy vội vã và buồn chán, và điều này không có nghĩa là họ lười biếng.

Lịch làm việc của họ đáp ứng nhu cầu năng lượng của họ.

Sự chú ý mà họ bỏ ra cho công việc không khiến họ mệt mỏi.

Trong một bài luận tóm tắt nghiên cứu của mình cho Scientific American, Robinson đưa ra một phương trình hạnh phúc: "Hạnh phúc có nghĩa là vội vàng vừa đủ."

Tuy bài viết của ông tập trung vào hạnh phúc, nhưng phát hiện đáng chú ý nhất của ông lại là về sự bất mãn của người Mỹ.

Chúng ta có thể liên tục phàn nàn về lịch làm việc rối ren của mình, nhưng thứ có thể bóp chết niềm vui dường như lại là việc không làm gì cả.

Ông nói người ít hạnh phúc hơn hẳn nhóm người "vội vàng vừa đủ" là những người có quá nhiều thời gian dư thừa.

Ông nhận thấy, đồng thời những nghiên cứu về nơi làm việc khác cũng chỉ ra, rằng người Mỹ cảm thấy lo lắng trầm trọng khi không hoàn thành nhiệm vụ, dù họ có được trả lương hay không.

Đứng cuối bảng xếp hạng - được miêu tả là "sự bất hạnh không thể nào so sánh được" – là nhóm người khá khó hiểu: những người dù lịch trình không kín nhưng luôn cảm thấy vội vã.

Đó là nỗi khổ về mặt tâm lý của một người không có định hướng nhưng lại mong muốn lấp đầy sự nhàn rỗi của mình – để tìm một mục đích – và nó trở thành nguồn cơn của sự căng thẳng.

Tôi nhận ra tình trạng "luôn luôn và luôn luôn" chính là sự lo âu lạ kỳ nhất của thời hiện đại: những ngày chủ nhật đáng sợ bị kéo dài cả tuần.

Nhu cầu kỳ lạ để được bận, hoặc có kế hoạch rõ ràng dù ta đang nằm dài trên ghế vào một buổi chiều cuối tuần này bắt nguồn từ đâu?

Liệu nó được khắc trong DNA của chúng ta hay nó là một phát minh của nền văn hóa công nghiệp như kẹp giấy và vi mạch?

Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta phải hiểu về cuộc sống của loài người trong phần lớn chiều dài lịch sử, trước khi nền văn minh và khái niệm "tuần làm việc" xuất hiện.

Chúng ta cần quan sát những người săn bắt hái lượng và mối quan hệ của họ với công việc, thời gian và niềm vui.

Nhà nhân chủng học James Suzman đã dành 30 năm để nghiên cứu người Ju/'hoansi – một bộ tộc sống biệt lập ở Namibia và Botswana đến tận cuối thế kỷ 20 trước khi cuộc xâm lược của chính quyền địa phương phá hủy lối sống của họ.

Trong cuốn sách Work: A Deep History, From the Stone Age to the Age of Robots (Công việc: Một lịch sử sâu xa, từ thời kỳ đồ đá đến thời đại robot), Suzman miêu tả người Ju/'hoansi là một tộc người khỏe mạnh và vui vẻ, hoàn toàn hài lòng với chuyện làm ít việc nhất có thể và tất nhiên có những phong tục hạn chế cạnh tranh và hướng đến địa vị.

Bằng cách kết hợp nghiên cứu nhân chủng học, xã hội học và tâm lý học, ông đặt câu hỏi tại sao chúng ta cảm thấy cuộc sống đang ngày một khó khăn hơn – và dường như ít hạnh phúc hơn – so với những cộng đồng nhỏ nơi nền văn minh chưa xuất hiện.

Nếu có cách nào có thể giải quyết được những áp lực của thời hiện đại, có thể người Ju/'hoansi có câu trả lời.

Công việc, theo nhận xét của Suzman, là thứ giúp phân biệt sự sống, nhất là con người, so với vật chất vô cơ.

"Chỉ sinh vật sống mới tích cực tìm kiếm và thu nhận năng lượng để sống, phát triển và sinh sản".

Tuy nhiên, chính lịch sử hàng triệu năm của lao động và sự nhàn rỗi mới là chìa khóa tạo nên sự khác biệt của loài người - nó đem đến những bước tiến vượt bậc và kéo theo những bất mãn đi kèm.

Khoảng 2.5 triệu năm trước, tổ tiên của chúng ta, người Australopithecus, có cách sống khá gần với loài linh trưởng hiện đại, ví dụ như tinh tinh.

Họ dành khoảng 8 giờ mỗi ngày để kiếm ăn và ăn.

Những khi không cần ăn và tiêu hóa những thực phẩm thô sơ thời ấy, ví dụ như thân cây và rễ cây, khỉ đột và tinh tinh ngủ từ 9-12 tiếng mỗi ngày.

Với thói quen như vậy chúng không có nhiều thời gian trống vào ban ngày để thực hiện bất kỳ hoạt động giải trí nào khác ngoài chải chuốt một cách lười biếng.

Lửa thay đổi mọi thứ.

Các nhà nhân chủng học không biết bằng cách nào mà một triệu năm trước con người chế tạo ra lửa rồi sử dụng nó, nhưng rõ ràng lửa đóng một vai trò lớn trong việc định hình nên con người.

Bằng cách làm mềm thịt và rau, lửa sơ chế thức ăn giúp việc ăn và nạp năng lượng ít tốn thời gian hơn.

Bằng cách xua đuổi thú săn mồi, lửa giúp tổ tiên chúng ta trèo khỏi ngọn cây và có thể an tâm ngủ ngon trên mặt đất; nhiều giấc ngủ REM hơn còn giúp cải thiện trí nhớ và tăng khả năng tập trung.

Lửa cũng giúp não bộ con người phát triển.

Giờ đây chúng ta tiêu tốn 1/5 năng lượng toàn cơ thể cho não – một mức lớn hơn nhiều so với những loài linh trưởng khác.

Lửa tăng thể tích não và thời gian rảnh rỗi của loài người, khiến chúng ta buồn chán và từ đó tạo ra các hoạt động giải trí, nghề thủ công và nghệ thuật.

Tổ tiên Homo sapiens đã sử dụng từ phút giây rảnh rỗi với niềm hân hoan.

Người Ju/'hoansi dành trung bình 17 giờ một tuần để tìm thức ăn – chừng 2.140 calorie mỗi ngày – và dành thêm 20 giờ nữa để làm việc nhà, theo Suzman thu thập dữ liệu từ những nhà dân tộc học khác và từ chính tay ông nghiên cứu.

Họ có nhiều thời gian chết hơn hẳn so với một nhân viên toàn thời gian phổ thông ở Hoa Kỳ, những người dành 44 tiếng/tuần để làm việc – không bao gồm thời gian làm việc nhà và chăm sóc trẻ em.

Trong khoảng thời gian rảnh rỗi, hàng thế kỷ qua người Ju/'hoansi hoàn toàn tự do, không bị thôi thúc phải nhồi nhét nó bằng những hoạt động mà chúng ta xem là "hiệu quả".

Vào ban ngày, họ đi dạo với trẻ em để dạy chúng cách đọc dấu vết trên sa mạc và tìm dấu chân động vật.

Nhưng họ cũng la cà, buôn chuyện và tán tỉnh.

Vào những buổi tối vây quanh đống lửa, họ ca hát, nhảy múa và kể chuyện.

Năm 1960, một nhà nhân chủng học nghiên cứu về các bộ tộc săn bắn hái lượm khác - người Hadza ở miền bắc Tanzania – miêu tả rằng họ chỉ có một thú tiêu khiển duy nhất: một trò đánh cược giúp họ thắng hoặc thua vài mũi tên.

Vậy vì sao chúng ta lại chuyển từ lối sống đó sang nền văn hóa nơi các hoạt động giải trí tồn tại vì lợi ích công việc – các hoạt động dùng trong thời gian chết (ví dụ như dùng mạng xã hội) có thể được đo đếm bằng các chỉ số hiệu suất và những trò chơi dành cho trẻ em (như thể thao) trở thành điểm cộng cho hồ sơ xin việc?

Suzman không có câu trả lời cho câu hỏi này.

Tuy nhiên ý tưởng của ông làm nổi bật một vấn đề cấp độ vĩ mô về cuộc sống cá nhân: Cuộc sống hiện đại khiến người Mỹ khó mà quên đi công việc của họ.

Suzman kêu gọi thay đổi tính chất của công việc.

Ông dựa trên bài viết của nhà xã hội học người Pháp Émile Durkheim, người đã chỉ ra một điểm khác biệt quan trọng giữa xã hội nguyên thủy và xã hội phức tạp được gọi là "khả năng thay thế".

Đối với những người săn bắt hái lượm, các tù trưởng và thầy pháp cũng có thể là người lượm hoa quả và thợ săn.

Nhiệm vụ chồng chéo lên nhau giúp việc bảo toàn ý thức cộng đồng trở nên mạnh mẽ hơn đồng thời củng cố những phong tục tập quán giảm nhẹ sự khác biệt cá nhân về sức mạnh, kỹ năng và tham vọng.

San sẻ lao động là san sẻ giá trị.

Nhưng trong một nền kinh tế công nghiệp, luật sư không làm phẫu thuật não và nhân viên sửa chữa thì không thu hoạch lúa mì – những công việc khác nhau mà chúng ta làm yêu cầu những kỹ năng khác nhau, những mệnh lệnh khác nhau và mức lương khác nhau.

Khi sự chuyên môn hóa được nâng cao và hiệu suất vượt trội được tưởng thưởng, một niềm tin cần phải cạnh tranh xuất hiện: Những người đạt thành tích cao tin rằng họ có thể và luôn phải nỗ lực để có mức lương cao hơn, ngôi nhà lớn hơn, có nhiều thể diện hơn hoặc đột phá điều gì to lớn hơn.

Cảm giác thong thả khi nghỉ ngơi bị thay thế bởi sự bồn chồn.

Sự năng suất tăng lên – dù nó đã mang lại những tiến bộ vượt bậc về khoa học và công nghệ - những nó cũng chịu trách nhiệm cho thứ Durkheim gọi là "bệnh khát vọng vô hạn", một căn bệnh mãn tính.

Một khảo sát gần đây do Trung tâm nghiên cứu Pew thực hiện đã khảo sát xem người Mỹ ở mọi độ tuổi nghĩ bí mật của hạnh phúc là gì và "một công việc họ thích" xếp hạng cao hơn hôn nhân, con trẻ hay bất kỳ mối quan hệ xã hội nào khác.

Sự nghiệp, chứ không phải cộng đồng, là một cột mốc quan trọng trong cuộc sống của chúng ta.

Bạn có thể nghĩ rằng tư duy giải trí đã không còn cơ hội để lật ngược tình thế, nhưng Suzman nhấn mạnh một sự thay đổi có thể giúp chúng ta: mối quan hệ của chúng ta với thời gian, cụ thể là tương lai.

Suzman cho biết người săn bắt hái lượm nhỏ ở vùng khí hậu nhiệt đới hiếm khi dự trữ thực phẩm quá vài ngày.

Tin tưởng vào môi trường nơi họ sống.

Người Ju/'hoansi chỉ làm đủ để đáp ứng nhu cầu cơ bản của họ, sau đó dừng lại để nghỉ ngơi thay vì lập kế hoạch cho tương lai.

Ngược lại, chúng ta – người văn minh hiện đại - rất rõ ràng về chuyện cần làm trong tương lai.

Sự thay đổi này bắt nguồn từ cuộc cách mạng nông nghiệp khi con người phải tuân theo chu kỳ canh tác giữa gieo giống và thu hoạch và sau đó là sự trỗi dậy của tiền tệ.

Tuy nhiên ngày nay một tương lai đảm bảo đã không còn là một vụ mùa hay một khoản vay dài hạn.

Nó là trọng tâm của nền giáo dục và là sự phát triển của các doanh nghiệp.

Nó giả định rằng sinh viên và công nhân trẻ sẵn sàng dành nhiều thập kỷ để trau dồi các kỹ năng mà họ sẽ được đền bù xứng đáng sau này.

Các giá trị được tôn vinh tại Mỹ gần đây là tầm quan trọng của sự gan dạ, hy vọng sự tiến bộ và ước mơ về một xã hội chuyển dịch – cho rằng tương lai luôn luôn thay đổi và chúng ta luôn mong muốn những điều tốt đẹp hơn.

Trong khi đó, suy nghĩ tiêu cực về tương lai là đặc điểm phổ biến của chứng rối loạn lo âu với khoảng 20% người Mỹ mắc phải.

Nhìn từ góc độ lớn hơn, kỳ vọng cao về tương lai chắc chắn đã khiến thế giới trở nên tốt đẹp hơn.

Dù cư dân thế kỷ 21 vẫn thường xuyên phàn nàn, nền văn minh hiện đại đã tạo ra rất nhiều phát minh có ích.

Tôi rất thích vaccine, nước rửa tay và máy lạnh.

Nhưng ở cấp độ cá nhân Suzman cho rằng người Ju/'hoansi có thể dạy cho ta - những người bị nền văn minh làm cho chóng mặt – nhiều điều.

Hóa ra những người săn bắt hái lượm đã phải nghĩ ra cách để ngăn chặn các tác nhân dẫn đến tình trạng làm việc quá sức – sự đố kỵ về địa vị, sự bất bình đẳng và tình trạng thiếu thốn.

Khi một thợ săn Ju/'hoansi trở về với một con thú săn béo bở, bộ tộc đối mặt với nguy hiểm rằng anh ta có thể nghĩ rằng mình mạnh mẽ và vượt trội hơn những người khác.

"Chúng tôi không chấp nhận điều đó," một tộc nhân nói, "Nên chúng tôi luôn nói rằng chiến lợi phẩm của anh ta là vô giá trị.

Điều này giúp trái tim của anh ta dịu lại và khiến anh trở nên dịu dàng."

Tập tục này được các nhà nghiên cứu gọi là "xúc phạm miếng thịt của người thợ săn."

Đó không phải là phong tục duy nhất nhằm ngăn cản sự cạnh tranh gây bất ổn về địa vị và hạn chế tập trung quyền lực.

Suzman cho biết bộ lạc cũng nhấn mạnh rằng "chủ nhân thật sự của số thịt, người chịu trách nhiệm phân phối chúng, không phải là người thợ săn, mà là người sở hữu mũi tên giết chết con mồi."

Bằng cách tưởng tượng một cách ngẫu nhiên cho người đóng góp mũi tên, bộ tộc Ju/'hoansi làm yên lòng những người thợ săn của mình và bảo vệ được chủ nghĩa quân bình trong bộ lạc.

Một kết quả đáng hoan nghênh là "lâu lâu những người già, cận thị, có tật ở chân hay lười biếng cũng có thể trở thành tâm điểm của sự chú ý".

Đọc về những chiến lược này khiến tôi cảm nhận được nhiều điều cùng một lúc – ngạc nhiên trước sự khéo léo của người Ju/'hoansi, bất ngờ vì họ chế giễu những ai có thành tích xuất sắc, và lo rằng tôi thất bại trong việc tưởng tượng những nỗi đau tôi cần chịu đứng để đảm bảo sự hài hòa hiện có nghĩa là não của tôi đã phải ở quá lâu trong chế độ năng suất, quá nhiều tối chủ nhật không an lòng.

Tuy nhiên một điều mà Suzman đã phát hiện ra về cha ông chúng ta là giải trí chưa bao giờ là chế độ mặc định sẵn, thậm chí ở nền văn hóa buồn chán nhất.

Cái giá phải trả của nền văn minh, nguồn cơn của những ngày chủ nhật sợ hãi và bài học từ người Ju/'hoansi dạy chúng ta rằng: Bảo vệ sự nhàn rỗi của mình cũng là một công việc.

Vì sự tiến bộ phụ thuộc vào việc chúng ta đặt hy vọng vào một thế giới ở tương lai xa, những người không thể ngừng lên kế hoạch sẽ lao động cả đời cho một cuộc sống không cách nào trọn vẹn.
 
Tâm Lý Học
Trẻ hay bị quát mắng có IQ thấp hơn


Trẻ thường xuyên bị cha mẹ quát mắng có chỉ số thông minh (IQ) thấp hơn 12 điểm so với trẻ không phải chịu bạo lực lời nói.

Bạo lực ngôn ngữ có thể ảnh hưởng đến của trẻ

Các nhà khoa học đã làm một thí nghiệm.

Họ tìm hai đứa trẻ 3 tuổi thực hiện quét não.

Một trẻ hay được khen, trẻ còn lại hay bị quát mắng.

Kết quả là hình ảnh thu được rất khác nhau.

Những đứa trẻ hay bị la mắng có não nhỏ hơn đáng kể.

Khi thể tích não càng nhỏ thì sự phát triển trí tuệ càng giảm.

Tiến sỹ Martin Techer từ Trường y khoa Harvard cũng phát hiện ra: "Trẻ em thường xuyên bị cha mẹ la mắng, xúc phạm, chửi bới có chỉ số IQ trung bình khi lớn lên là 112, thấp hơn 12 điểm so với những trẻ không bị bạo lực bằng lời nói".

Trong tâm lý học có một hiện tượng gọi là "hiệu ứng gợi ý".

Khi cha mẹ quát mắng con cái, họ sẽ mang đến những gợi ý tâm lý tiêu cực tới con cái.

Nếu cứ tiếp tục như vậy, trẻ dần nội tâm hóa những nhận định tiêu cực này thành đánh giá của bản thân, cho đến khi chúng trở thành "đứa trẻ hư", "đứa trẻ ngốc nghếch" giống như nhận định của .

Đứa trẻ lớn lên trong sự la mắng, cần cả đời để chữa lành

Một cuộc khảo sát của nhà xã hội học người Mỹ Mori Strauss cho thấy gần 90% cha mẹ đã quát mắng con cái.

Nhiều người nghĩ rằng "la lối" là một cách giáo dục, chỉ cần không bạo lực thì sẽ chẳng ảnh hưởng đến trẻ.

Nhưng thực tế, trái tim của trẻ đang phải chịu áp lực vô cùng lớn.

Trong chương trình "Cha mẹ siêu phàm", có một bà mẹ "nóng tính" như vậy, thường giao tiếp với con bằng cách "gầm rú".

Sau đó, ê-kíp chương trình đã đưa bà mẹ đến một nơi trải nghiệm và yêu cầu nghe một đoạn âm thanh thu sẵn.

Khi tiếng la hét của chính mình phát ra từ loa, người mẹ ngay lập tức gục xuống.

Cô quỳ và bịt chặt tai, người không ngừng run rẩy.

Cô không thể tin được giọng nói cuồng loạn đáng sợ này thực sự là bản thân thường ngày của mình.

Người lớn không thể chịu được năng lượng tiêu cực do la mắng mang lại, huống chi là trẻ em?

Trong chương trình "Cha mẹ siêu phàm" của Trung Quốc, khi tiếng la hét của chính mình phát ra từ loa, người mẹ ngay lập tức gục xuống.

Ảnh: qq.

Giáo sư Stapen của Hiệp hội Giáo dục Anh quốc tin rằng: trẻ, đặc biệt là khiển trách lặp đi lặp lại, trẻ sẽ bị tổn thương nghiêm trọng hơn là bị đánh đòn.

Những đứa trẻ sống trong sự quát nạt của cha mẹ sẽ không tin tưởng vào người khác và không đề cao cá nhân mình.

Nếu sự việc cứ tiếp diễn như vậy, trẻ sẽ ngày càng ít muốn bộc lộ bản thân, sẽ gặp các vấn đề tâm lý như ủ rũ, tự ti, thậm chí tự kỷ.

Tôi nên dạy con như thế nào để không quát mắng?

Nhà tâm lý học Marshall Luxemburg từng đưa ra bộ quy tắc giao tiếp hài hòa trong "Giao tiếp bất bạo động", rất thích hợp để sử dụng trong việc giáo dục con của nhiều bậc cha mẹ.

1.

Có thể phê bình, nhưng không nên chỉ trích.

Hãy nói sự thật nhưng đừng vu khống

Một bà mẹ vì con ném đồ chơi lung tung đã mắng con: "Nói với con cả trăm lần rồi, đồ chơi thì phải thu dọn, sao không biết nghe lời hả?".

Có lần đứa nhỏ không nhịn được nói lại: "Ngày nào con chơi xong cũng đều biết dọn dẹp mà mẹ".

Người mẹ thấy con cãi nên đã mắng té tát.

Từ đó trở đi đứa trẻ không thu dọn đồ chơi nữa.

Đối với hành vi sai trái của trẻ, hãy đánh giá một cách khách quan, công bằng và đừng có thái độ chỉ trích.

Bố mẹ hoàn toàn có thể đánh giá trẻ theo một cách khác.

"Hôm nay con chưa thu dọn đồ chơi.

Hôm qua con đã làm rất tốt, dọn dẹp rất gọn gàng.

Mẹ mong con tiếp tục phát huy trong hôm nay và những lần sau nữa".

Quát mắng trẻ, đặc biệt là khiển trách lặp đi lặp lại, trẻ sẽ bị tổn thương nghiêm trọng hơn là bị đánh.

2.

Lắng nghe nhu cầu của trẻ, không phải là "Mẹ nghĩ", mà là "Con nghĩ gì"

Một người mẹ đưa con đi siêu thị, đứa nhỏ nhìn thấy một cái lều đồ chơi đòi mua cho bằng được, còn nằm lăn lộn trên đất ăn vạ.

Người mẹ hỏi tại sao muốn mua chiếc lều, đứa trẻ nói: "Bố luôn ngủ trong ngày nghỉ.

Có lều, bố có thể ra ngoài đưa con đi cắm trại và chơi với con".

Hóa ra, nhu cầu thực sự của đứa trẻ không phải là cái lều mà là được bầu bạn với người cha.

Đằng sau mỗi hành vi của trẻ đều có một động lực tương ứng.

Khi trẻ có những hành vi "có vấn đề", bố mẹ nên tự đặt câu hỏi: "Tại sao đứa trẻ làm vậy?", "Trẻ thực sự muốn gì?"

Chỉ bằng cách lắng nghe tiếng nói bên trong trẻ và hiểu được nhu cầu thực sự, bố mẹ mới có thể "kê đơn" thuốc phù hợp và giải quyết vấn đề một cách cơ bản.

3.

Giao tiếp bằng ngôn ngữ dễ hiểu cho trẻ, trẻ sẽ sẵn sàng "nghe lời" hơn

Nhà tâm lý học Jane Nielsen nói về một trường hợp trong cuốn "Kỷ luật tích cực".

Một đứa trẻ từ 6 tuổi có thể xếp chăn gọn gàng và thậm chí vượt qua kỳ kiểm tra quân sự.

Nhiều người thắc mắc: "Dù làm thế nào, con tôi cũng không chịu gấp chăn.

Tại sao con bạn không những ngoan ngoãn mà còn có thể làm được những việc đó".

Người mẹ trả lời: "Thực tế con tôi cũng không thực hiện sau lần dạy dỗ ban đầu.

Sau này tôi phát hiện không phải do cháu không nghe lời mà theo cách tôi nói cháu không hiểu.

Sau này tôi đổi ga trải giường, chăn thành kẻ caro và yêu cầu con gấp lại theo những dòng kẻ trên đó.

Việc này rất dễ thực hiện và cháu sẵn sàng nghe theo hướng dẫn của mẹ".

Trẻ em luôn là trẻ em.

Những điều đơn giản đối với người lớn có thể là điều mới lạ, xa lạ với trẻ.

Do đó khi trẻ mắc lỗi, đừng lo lắng.

Trước hết hãy quan sát xem phương pháp giáo dục của bản thân có nằm ngoài phạm vi hiểu biết của trẻ hay không.

Nếu vậy, hãy hướng dẫn cụ thể đơn giản và dễ hiểu hơn để trẻ "sẵn sàng" ngoan ngoãn.

Tất nhiên, "Cai quát mắng" là một quá trình lâu dài.

Dù có thử cách nào trong những cách trên thì vẫn có những khoảnh khắc bạn sẽ tức giận đến mức muốn nổ tung.

Điều này là bình thường.

Đừng tạo áp lực quá lớn cho bản thân khi bạn không thể kìm nén cơn tức giận của mình.

Giao tiếp là một cách học, đỏi hỏi cha mẹ và con cái cần liên tục thử, sửa sai và học tập lẫn nhau.

Chỉ cần cha mẹ luôn duy trì tình yêu thương thì một ngày nào đó họ có thể thoát khỏi tính khí xấu và cho con mình một nền giáo dục tốt nhất.
 
Tâm Lý Học
Ý chí - Hành trình tái khám phá sức mạnh lớn nhất của con người


Ý chí, sức mạnh ý chí và nghị lực tinh thần đã bị tâm lý học hiện đại xa lánh.

Roy Baumeister, nhà tâm lý học xã hội thực nghiệm xuất sắc nhất trên thế giới và John Tierney, một nhà báo nổi tiếng, đã hợp tác để đưa ý chí trở lại vị trí trung tâm chính đán

"Ý chí - Hành trình tái khám phá sức mạnh lớn nhất của con người" - của bộ đôi tác giả Giáo sư Tâm lý học Roy Baumeister và nhà báo John Tierney - là cuốn sách bán chạy nhất của tờ báo New York Times năm 2011.

Cuốn sách cũng nhận được rất nhiều đánh giá tích cực từ các chuyên gia và các tờ báo uy tín khác như: Sunday Book Review, NPR, The Daily Beast...

"Sức mạnh ý chí" là khái niệm được người Victoria thế kỷ 19 coi trọng và đó là một dạng năng lượng tinh thần giúp con người tránh xa cám dỗ và vững vàng trong cuộc sống.

Tuy nhiên, mối quan tâm của các nhà nghiên cứu đến yếu tố này bị trồi sụt theo thời gian.

Ngay cả Baumeister ban đầu cũng có "một chút gì đó hoài nghi" về sự tồn tại của ý chí.

Nhưng sau rất nhiều thí nghiệm được tiến hành, Baumeister đã bị thuyết phục "ý chí" thực sự tồn tại.

Nó mang lại cho con người sức mạnh để kiên trì, khiến họ mất tự chủ khi nó bị cạn kiệt; và năng lượng tinh thần này được thúc đẩy bởi glucose trong máu của cơ thể.

Quan trọng hơn thế, ông phát hiện ra ý chí giống như cơ bắp, bị cạn kiệt khi sử dụng nhiều, nhưng cũng có thể được tăng cường qua luyện tập.

Và đây chính là lý do khiến cuốn sách "Ý chí - Hành trình tái khám phá sức mạnh lớn nhất của con người" được các chuyên gia và độc giả nhiều hơn trên thế giới đánh giá cao như vậy.

Thực tế, khi được yêu cầu kể ra những phẩm chất tốt nhất của mình, người ta thường nói đến thành thật, tốt bụng, hài hước, sáng tạo, dũng cảm và các phẩm chất khác - thậm chí cả khiêm tốn.

Nhưng chẳng mấy ai nhắc đến tự chủ.

Ngược lại, khi được hỏi về những thiếu sót của họ, thiếu tự chủ lại nằm ở đầu danh sách.

Trong khi đó, các vấn đề lớn nhất của cá nhân cũng như xã hội hiện tại, đều xoay quanh sự thiếu vắng của tự chủ: học hành sa sút, công việc trì hoãn, tiêu xài hoang phí, lạm dụng rượu và thuốc, ăn uống không lành mạnh, không tập thể dục, sức khỏe yếu kém, luôn lo lắng và dễ nóng giận, bộ phát bạo lực... dẫn đến các tổn thương: bị sa thải, sự nghiệp bị phá hủy, bạn bè xa lánh, ly hôn hay thậm chí là ngồi tù...

Các nghiên cứu của Baumeister tập trung vào ý chí - yếu tố tạo ra sự tự chủ, lựa chọn và ra quyết định.

Ông cũng nghiên cứu cách mọi người điều chỉnh cảm xúc của họ, chống lại sự cám dỗ, phá vỡ những thói quen xấu và phát huy hết khả năng của họ - và cả nguyên nhân tại sao họ thường không làm như vậy.

Thí nghiệm cho 2 nhóm sinh viên, một nhóm được ăn bánh quy nướng và một nhóm chỉ được nhìn bánh quy rồi phải ăn củ cải sống trước khi giải các bài tập hình học hóc búa, giúp Baumeister phát hiện ra sự sụt giảm của ý chí khi bị sử dụng.

Cụ thể, nhóm sinh viên không phải sử dụng ý chí khi ăn bánh quy nướng có thể ngồi trung bình trong 20 phút để giải các bài toán hình khó giải; trong khi nhóm buộc phải sử dụng ý chí để củ cải sống thì chỉ có thể kiên trì trong 8 phút để làm bài tập.

Kết quả này cũng được chứng thực trong hơn 100 thí nghiệm tiếp theo của Baumeister.

Điều thú vị hơn nữa là Baumeister đã phát hiện ra khi các đối tượng được cho uống đồ uống có đường, khả năng tự kiểm soát thực sự được cải thiện.

Rõ ràng, đường đã cung cấp nhiên liệu để não hoạt động trở lại và phục hồi sức mạnh ý chí của con người (Tất nhiên sau đó tác giả khuyên độc giả hãy bổ sung glucose cho não bộ bằng thức ăn tiêu hóa chậm, để đảm bảo cho cơ thể được khỏe mạnh).

Khi các đối tượng được yêu cầu thực hiện những thay đổi vừa phải trong lối sống, chẳng hạn như tập thể dục hoặc theo dõi thói quen ăn kiêng, cuối cùng họ đã thể hiện khả năng tự chủ tốt hơn trong tổng thể cuộc sống của mình; Baumeister đã nhận ra: sức mạnh ý chí có thể được củng cố giống như một cơ bắp.

Đây là những phát hiện mới mẻ và vô cùng quan trọng đối với lĩnh vực này, đúng như ông đã giải thích trong cuốn sách.

Điều đáng nói, trong cuốn sách "Ý chí - Hành trình tái khám phá sức mạnh lớn nhất của con người", bộ đôi tác giả không chỉ trình bày hiểu biết và đưa ra các đề xuất, bài tập cải thiện ý chí cho độc giả thông qua các thí nghiệm khoa học chính xác của mình; mà họ còn mang đến nhiều câu chuyện hấp dẫn về ý chí của các nhân vật nổi tiếng như vận động viên sức bền nổi tiếng David Blaine, hành trình khám phá hạ nguồn châu Phi nguy hiểm của nhà thám hiểm Henry Morton Stanley, câu chuyện cai nghiện của Eric Clapton và Mary Karr... khiến cuốn sách càng thêm thu hút.

Và "Ý chí - Hành trình tái khám phá sức mạnh lớn nhất của con người" xứng đáng là cuốn sách nên có với bất kỳ ai muốn khám phá và làm chủ sức mạnh của ý chí, từ đó làm chủ được cuộc sống của mình, trở nên khác biệt, mạnh mẽ, thành công và hạnh phúc hơn.

Nhận xét về cuốn sách, Martin Seligman, cựu chủ tịch Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ viết: "(Trong một thời gian dài) Ý chí, sức mạnh ý chí và nghị lực tinh thần đã bị tâm lý học hiện đại xa lánh.

Roy Baumeister, nhà tâm lý học xã hội thực nghiệm xuất sắc nhất trên thế giới và John Tierney, một nhà báo nổi tiếng, đã hợp tác để đưa ý chí trở lại vị trí trung tâm chính đáng của nó.

Cuốn sách tuyệt vời này là tác phẩm phải đọc cho tất cả chúng ta, những người muốn tập thể dục, ăn kiêng, quản lý thời gian, tiết kiệm và chống lại sự cám dỗ.

"
 
Tâm Lý Học
Làm sao để đánh lừa bộ não thích làm việc khó


Bạn có xu hướng cảm thấy mệt mỏi và chán nản khi tăng cường hoạt động trong não bộ.

Bạn đã bao giờ tự hỏi tại sao người khác làm việc năng suất một cách dễ dàng đến thế?

Bạn từng cảm thấy hừng hực khí thế làm việc gì đó, nhưng chỉ sau vài ngày là bạn lại rơi vào tình trạng uể oải?

Bạn từng cảm thấy chán nản hay thất vọng khi mọi người xung quanh bàn luận về mục tiêu của họ và cách mà họ đọc được 75 cuốn sách và viết 9 bài về chủ đề duy trì một cơ thể khỏe mạnh?

Còn bạn thì đang chật vật để đọc hết chương 3 của cuốn sách mà bạn đang cố 'nuốt cho xong' 2 tháng qua?

Nếu bạn trả lời "có" cho những câu trên thì bạn đang ở đúng chỗ rồi.

Trong một của trên tờ The New York Times, bà nói rằng bạn có xu hướng cảm thấy mệt mỏi và chán nản khi tăng cường hoạt động trong não bộ.

Chẳng hạn, hãy nghĩ về lần cuối bạn làm một bài kiểm toán hay vượt qua giới hạn thể chất của mình.

Bạn cảm thấy thế nào?

Nỗ lực thường khiến bạn cảm thấy tệ vào lúc đó; bạn thường tự nhủ, "Mình sẽ không bao giờ làm lại việc này.

Khó quá đi."

Thay vì thách thức bộ não, bạn bắt đầu làm những chuyện mà bạn cảm thấy thoải mái hay những việc dễ dàng.

Rồi sau đó bạn lại thắc mắc tại sao mình thiếu khả năng tập trung vào công việc hằng ngày.

Bạn đang tập cho não bộ thích sự dễ chịu, nhưng cảm giác khó chịu mới là thứ giúp bạn tiến bộ.

Xác định căn nguyên vấn đề

Bạn kiểm tra Instagram bao nhiêu lần?

Hay Twitter?

Việc này có dễ không?

Bạn có cảm thấy việc này đòi hỏi nhiều cố gắng không?

Chắc là không.

Tôi có thể ngồi lướt Instagram hàng giờ liền.

Tôi tải lại bảng tin nhiều lần.

Còn khi làm những việc khác, như đọc sách hay viết lách—Tôi rất chật vật.

Tôi thấy mình không thể tập trung hay thậm chí là mệt mỏi.

Tôi thấy thất vọng.

Tại sao những người mà tôi theo dõi dường như lúc nào cũng tràn đầy động lực làm việc hay đọc hơn 100 cuốn sách mỗi năm?

Còn tôi thì khổ sở để đọc xong một cuốn.

Tôi đang thiếu thứ gì?

Làm sao tôi có thể khiến việc làm những điều khó khăn, như tập trung vào việc kinh doanh của tôi, trở nên dễ dàng?

Tôi có được câu trả lời từ một video trên YouTube: dopamine.

Dopamine là thứ khiến bạn thèm muốn mọi thứ.

Nó là thứ khiến bạn với lấy điện thoại với đôi mắt còn ngái ngủ vào buổi sáng để kiểm tra Facebook đầu tiên.

Nó nâng cao tinh thần, động lực và sự chú ý của bạn.

Tôi nhanh chóng nhận ra các thụ thể dopamine của tôi bị lệch lạc.

Lý do tôi cảm thấy mất động lực làm việc không phải vì lười biếng (có thể là tôi hơi lười), mà chủ yếu vì tôi đã phát triển một ngưỡng chịu đựng dopamine cực cao.

Những việc đơn giản như đọc sách hay viết lách không mang đến cho tôi mức dopamine tương đương như những việc khác như xem TV, lướt lướt Instagram, v.v...

Bộ não của bạn không quan tâm đến mức độ dopamine mà bạn đang tiêu thụ có thể gây hại cho bạn ra sao; nó chỉ muốn nhiều hơn nữa mà thôi.

Có gì sai khi có quá nhiều dopamine?

Cơ thể chúng ta có một hệ thống sinh học gọi là cân bằng nội môi (Homeostasis); nghĩa là cơ thể thích tạo ra sự cân bằng về vật lý và hóa học bên trong.

Bất cứ khi nào xảy ra sự mất cân bằng, cơ thể sẽ thích nghi với điều đó.

Về cơ bản thì khi não bộ đã quen với mức dopamine cao thì mức độ đó sẽ trở thành BÌNH THƯỜNG MỚI của bạn, điều đó buộc bạn tạo ra một ngưỡng chịu đựng dopamine.

Làm những công việc hằng ngày chắc chắn sẽ trở nên bất khả thi đối với bạn.

Nhưng trên hết, đọc sách, viết lách, làm việc hay cải thiện bản thân thậm chí còn khó khăn hơn.

Đã bao giờ bạn tự hỏi tại sao mình không thể dừng xem Netflix khi bạn biết mình phải đi làm việc chưa?

Đã bao giờ bạn tự hỏi tại sao người nghiện ma túy không thể cai chưa?

Nhân tiện nói luôn, trong một bài báo trên Healthline,

Một số loại thuốc có thể tương tác với dopamine theo cách tạo lập--thói quen.

Nicotine, alcohol, hay những loại thuốc khác có tính gây nghiện kích hoạt chu kỳ dopamine.

Những loại chất này có thể tạo ra dopamine nhanh và mạnh hơn rất nhiều so với lượng dopamine bạn nhận được khi ăn hai bánh quy socola chip.

Đó quả là một dòng dopamine mãnh liệt mà bạn chỉ muốn nhiều hơn—ngay và luôn.

Khi một thói quen được hình thành, não bộ đáp lại bằng cách giảm bớt dopamine.

Bây giờ, bạn cần nhiều chất gây nghiện hơn để có được mức khoái cảm tương tự.

Sự kích thích quá mức cũng ảnh hưởng đến các thụ thể dopamine theo cách khiến bạn mất đi hứng thú với những việc khác.

Điều đó có thể khiến bạn hành xử bốc đồng hơn.

Bạn ngày càng ít có khả năng kháng cự việc dùng những chất gây nghiện đó.

Điều này về cơ bản có thể áp dụng với bất kỳ loại nghiện ngập nào—video game, phim khiêu dâm, mạng xã hội ...

Một khi ngưỡng chịu đựng dopamine của bạn tăng cao thì bạn không thể làm những việc không mang đến cho bạn mức dopamine tương tự.

Tôi cảm thấy bất lực khi bắt đầu xâu chuỗi vấn đề lại với nhau.

Tôi cảm thấy như mình không có tí kiểm soát nào đối với tâm trí cũng như cơ thể mình.

Tôi muốn thay đổi, và thay đổi thật nhanh.

Như đã nói, sau đây là vài chiến lược mà tôi đã và đang dùng để cân bằng mức độ dopamine của tôi và đặc biệt là đánh lừa bộ não để yêu thích làm việc khó trở lại.

Cắt tất cả mạng xã hội 1 lần mỗi tuần

Mỗi sáng thức dậy, tôi đều lên Instagram.

Tôi kiểm tra bảng tin, đi tắm, đánh răng, kiểm tra Instagram, pha cafe, kiểm tra Instagram, ngồi làm việc, kiểm tra Instagram, bắt đầu viết viết, giữa chừng lại kiểm tra Instagram—vâng, bạn hiểu rồi đó.

Viết lách không vui bằng xem Instagram.

Các video trên YouTube thật buồn tẻ.

Khi đọc sách, tôi lại nghĩ đến những tấm ảnh mới nào sẽ hiện trên bảng tin Instagram của mình.

Nếu cuốn sách được dựng thành phim, tôi sẽ theo dõi các diễn viên trên Instagram.

Theo một bài báo của nhà nghiên cứu Trevor Haynes thuộc Đại học Harvard,

Khi bạn nhận được một thông báo từ mạng xã hội, não bộ gửi đi một chất truyền tin hóa học gọi là dopamine dọc theo một con đường phần thưởng, khiến bạn cảm thấy hưng phấn.

Dopamine gắn liền với thức ăn, tập thể dục, tình yêu, tình dục, đánh bạc, ma túy ... và bây giờ là mạng xã hội nữa.

Khi phần thưởng được phân phối ngẫu nhiên (như với máy đánh bạc hay một tương tác tích cực trên mạng xã hội), và kiểm tra phần thưởng thật dễ dàng thì hành vi kích hoạt—dopamine trở thành thói quen.

Nghiện mạng xã hội liên quan đến việc làm hỏng con đường phần thưởng trong não bộ chúng ta.

Mạng xã hội mang đến phần thưởng ngay tức thì—dưới dạng sự chú ý từ mạng lưới của bạn—với nỗ lực tối thiểu từ một cái chạm nhanh.

Do đó, não bộ tự thiết lập lại chính nó, khiến bạn thèm muốn những cái like, retweet, biểu tượng cảm xúc vỗ tay, v.v...

Năm đến 10 phần trăm người dùng internet bị nghiện về mặt tâm lý và không thể kiểm soát lượng thời gian trực tuyến của họ.

Ảnh chụp não của những người nghiện mạng xã hội tương tự với não bộ của người nghiện ma túy: Có một sự thay đổi rõ ràng ở các vùng não bộ kiểm soát cảm xúc, sự chú ý và ra quyết định.

Kết luận?

Dùng mạng xã hội quá nhiều sẽ làm thay đổi hóa chất não bộ của bạn.

Tôi chưa từng nghĩ đến điều này trước đây; tôi không ý thức được việc dùng mạng xã hội của mình.

Tôi hay bào chữa rằng, "Mọi người đều lên mạng xã hội, và họ đều sống tốt ..." hay, "Tôi cần nó cho việc kinh doanh của mình."

Tôi hiểu.

Bỏ mạng xã hội rất khó vì nó có quá nhiều lợi ích.

Bạn có thể dùng nó để thiết lập mạng lưới, kết nối với gia đình, thúc đẩy công việc kinh doanh, cùng nhiều điều khác.

Vấn đề là chúng ta không biết tới tác động tiêu cực đi cùng với nền tảng này, và trong khi việc cắt bỏ hoàn toàn không phải là giải pháp, song bạn vẫn có thể hạn chế dùng nó.

Bạn có thể giải quyết chuyện này theo 2 cách.

Phương án 1: Bạn có thể phải tiến hành một cuộc cai nghiện 'tàn nhẫn', về cơ bản là xóa hết mọi thú vui trong ngày của mình.

Bạn không được truy cập bất kỳ mạng xã hội nào, hoàn toàn không dùng điện thoại, không TV, không âm nhạc, không internet.

Loại bỏ mọi nguồn vui, lạc thú bên ngoài.

Những việc bạn có thể làm: ngồi thiền, viết nhật ký, đi bộ, uống nước, ăn uống lành mạnh (không dùng thức ăn nhanh).

Bạn sẽ bỏ đói bản thân tất cả những việc từng làm bạn thích thú, và nó sẽ khiến cho những việc kém thú vị—vui vẻ trở lại.

Phương án 2: Chọn một ngày trong tuần kiềm chế những hành vi tạo ra nhiều dopamine.

Với tôi thì tôi sẽ không xem Instagram vào thứ Hai hằng tuần.

Cách dễ dàng nhất để làm điều này là xóa ứng dụng khỏi điện thoại, viết "Không xem IG hôm nay" vào một mẩu giấy ghi nhớ và đặt nó ở nơi bạn có thể nhìn thấy.

Hoặc bạn có thể nhờ người bạn đời giúp bạn việc này.

Ngày đầu tiên sẽ rất khó khăn nhưng càng làm, bạn sẽ càng thấy dễ dàng.

Hãy suy xét cái giá của việc không hành động

Khi bạn cố thúc đẩy bản thân làm việc gì đó, bạn thường nghĩ tới những kết quả mình sẽ đạt được.

Ví dụ, khi tôi căng mình đi tập gym, tôi tự nhủ rằng luyện tập sẽ tốt cho tôi.

Tôi ngồi cả ngày và cơ thể tôi cần phải vận động, và nhắc bản thân rằng nếu tôi chịu tập thì tôi có thể ăn đồ ngọt (thứ luôn luôn dụ dỗ được tôi).

Tuy nhiên, tôi bắt đầu cân nhắc về những hậu quả nếu không làm những việc lẽ ra phải làm.

Nếu không tập tành và chăm sóc bản thân, sức khỏe của tôi sẽ sa sút.

Nếu không ăn đủ chất, tôi sẽ không suy nghĩ được sáng suốt.

Tôi sẽ cảm thấy chậm chạp, uể oải.

Nếu tôi bỏ một buổi tập, tôi sẽ có cảm giác tồi tệ suốt những ngày còn lại trong tuần.

Nếu tôi không tập trung cho việc kinh doanh thì tôi sẽ không đạt được thành công.

Bằng cách suy xét về những hậu quả khi không làm việc bạn cần làm, dù là trong cuộc sống cá nhân (như để tâm vào mối quan hệ, chăm sóc sức khỏe bản thân) hay thậm chí công việc (cập nhật thông tin mới nhất về các dự án, đi làm đúng giờ), bạn đang tập trung vào những thiệt hại phát sinh mà bạn có thể gặp phải.

Nhờ đó mà tăng cường động lực hoàn thành công việc của bạn.

Nhà tâm lý học Ana Sofia Batista nói rằng mục tiêu được tạo bởi hai phần: những điều bạn muốn và những điều bạn không muốn.

Hãy luôn ghi nhớ những điều bạn không muốn (thất bại, không có những mối quan hệ tuyệt vời trong cuộc sống, không thể tự nuôi sống bản thân, không theo đuổi ước mơ của mình) có thể là động lực mạnh mẽ cho bạn.

Tôi thực hành điều này hằng ngày.

Khi tôi sa vào một lối tư duy tiêu cực và muốn từ bỏ, tôi sẽ đi dạo và xem xét những điều tôi có thể từ bỏ nếu tôi không áp dụng nó cho bản thân mình mỗi ngày.

Đó là một cách kỷ luật khắc nghiệt nhưng rất hiệu quả.

Tôi mất một thời gian để chấp nhận rằng những thứ nhỏ nhặt như mạng xã hội không chỉ ảnh hưởng tới đạo đức nghề nghiệp mà còn khả năng đối mặt với thử thách của tôi nữa.

Thật đáng thất vọng khi nghĩ rằng bạn ít có khả năng kiểm soát được tâm trí mình, nhưng đạt được sự tự nhận thức đó là bước đầu tiên để đảo ngược tình thế.

Việc này sẽ không dễ dàng, nhưng nếu bạn muốn nhìn thấy một sự thay đổi mạnh mẽ và tích cực trong cuộc sống của mình thì bạn phải bước ra khỏi vùng an toàn thoải mái của bản thân và cắt bỏ tất cả những thứ đang cản trở bạn.
 
Tâm Lý Học
Chữa lành tuổi thơ độc hại? Hai từ bạn cần nhất


Làm sao để thoát khỏi vướng mắc và tiến lên phía trước.

Tôi cá là bạn đang tự hỏi hai từ đó là gì, và bộ não của bạn đang đưa ra vài gợi ý như: Hãy gác lại chuyện buồn mà bước tiếp.

Hãy tha thứ cho họ.

Sống tử tế hơn.

Hãy tỉnh táo.

Hãy tập thấu hiểu.

Giữ khoảng cách.

Hãy tỉnh thức.

Hãy hy vọng vào tương lai.

Đó là chuyện quá khứ rồi.

Mạnh mẽ lên.

Không.

Hai từ đó là buông bỏ (let go).

Hai từ nhỏ ấy—tổng cộng năm chữ cái—cực kỳ quan trọng, vì trái với quan điểm thông thường, luôn khuyên chúng ta cần nỗ lực để tiếp tục cố gắng và cố gắng, trạng thái mặc định đối với con người là kiên trì.

Buông bỏ mới là việc khó.

Nguyên do thì vừa đơn giản mà cũng phức tạp.

Chúng ta có khuynh hướng ở yên tại chỗ hơn là tiến lên, vì chúng ta thích duy trì nguyên trạng—ngay cả khi mọi việc thật tệ hại và đau đớn—hơn những điều ta chưa biết.

Loài người nổi tiếng là ghét rủi ro—Daniel Kahneman đã đoạt giải Nobel vì cho thấy chính xác điều đó—và tâm trí có đủ mọi thói quen khiến con người dễ dàng bị mắc kẹt.

Chúng ta được thúc đẩy mạnh mẽ bởi Củng cố Gián đoạn—thỉnh thoảng có được thứ mà ta mong muốn—hơn là luôn luôn có được thứ ta muốn, hay thậm chí là không bao giờ có được.

Điều này đặc biệt có liên quan nếu bạn lớn lên trong cảnh thiếu thốn tình thương, sự ủng hộ và chấp nhận.

Khi mẩu phần thưởng thi thoảng mới đến—hay thậm chí những lời chỉ trích bất tận tạm lắng yên—sẽ có tác dụng tương tự như một bữa ăn có năm món.

Ngoài ra, chúng ta có xu hướng dùng lăng kính màu hồng và xem một lần mất mát như một "chiến thắng hụt"; đó là thứ níu chân con người tại máy đánh bạc khi các biểu tượng gần khớp và, tích cực hơn, khiến chúng ta tiếp tục dốc sức mà chơi.

Một lần nữa, khi mẩu phần thưởng đó được đưa ra—có lẽ mẹ bạn nghe có vẻ quan tâm đến việc bạn đang làm, hay anh chị của bạn thực sự dành tặng bạn một lời khen ngợi—lòng bạn tràn đầy hy vọng, chắc mẩm rằng chiến thắng đang gần kề: "Rồi họ sẽ nhận ra họ đã hiểu sai về tôi"; "Cuối cùng rồi mẹ sẽ nhìn nhận đúng con người tôi"; "Có lẽ chuyện điên rồ này sắp kết thúc và gia đình tôi sẽ bình thường trở lại."

Tương tự, thói quen nghiền ngẫm—thường thấy rõ ở phụ nữ nhiều hơn đàn ông—khiến chúng ta cứ tập trung mãi vào những tình huống và tương tác khó khăn và khổ não, quá khứ và hiện tại, và khiến chúng ta có khuynh hướng tái diễn lịch sử và tự phán xét bản thân, thay vì hành động và tiến về trước.

Nguồn ảnh: Alliance/Shutterstock

Buông bỏ không phải là ...

Nhưng buông bỏ không có nghĩa là vờ như quá khứ chưa từng xảy ra, rằng bạn không bị tổn thương hay bị ảnh hưởng, hoặc cha mẹ bạn phần nào đó được tha tội và không phải chịu trách nhiệm.

Nó có nghĩa là học cách phân biệt giữa những lối suy nghĩ mà bạn phải từ bỏ và những cảm xúc cần phải gạt sang một bên khiến bạn mắc kẹt, và những cách suy tư và cảm nhận giúp bạn tiến lên và chữa lành.

Cái tên ưa thích dành cho kiểu buông bỏ mà tôi đang nói đến là Buông bỏ mục tiêu.

Đây không phải là việc chỉ có 1 bước, tựa như hình ảnh xuất hiện trong tâm trí bạn khi bạn nghĩ đến chữ "buông bỏ"—bạn có khả năng hình dung về sợi dây rời khỏi tay bạn và quả bong bóng bay vào không trung, hay khoảnh khắc bạn trượt tay và thứ bạn đang cầm rớt bịch xuống đất—mà là một quá trình phức tạp.

Buông bỏ mục tiêu

Về cơ bản thì đó là một quá trình gồm 4 bước bao gồm việc buông bỏ những lối tư duy duy trì tình trạng hiện tại (buông bỏ nhận thức), kiểm soát cảm xúc đi cùng với việc từ bỏ (buông bỏ cảm xúc), từ bỏ mục tiêu trước đó (buông bỏ động lực), và bắt đầu thực hiện các kế hoạch nhắm đến một mục tiêu mới (buông bỏ hành vi).

Từng bước đòi hỏi một bộ kỹ năng hơi khác biệt: Buông bỏ Nhận thức đòi hỏi bạn ngừng suy nghĩ về lý do tại sao bạn lại không đạt được mục tiêu mà bạn đề ra và lo lắng và/hoặc nghiền ngẫm về nó, dừng phát những kịch bản "điều gì xảy ra nếu" trong đầu bạn có thể đang thuyết phục bạn rằng lẽ ra bạn không nên buông bỏ.

Buông bỏ cảm xúc đòi hỏi bạn xử lý mọi cảm xúc nảy sinh khi bạn không đạt được những gì đề ra; bao gồm cảm giác tội lỗi, nản lòng, hay đổ lỗi cho bản thân.

Buông bỏ động lực đòi hỏi bạn dừng nghĩ về mục tiêu đó và bắt đầu lên kế hoạch cho những mục tiêu mới, bao gồm nơi bạn muốn đến lúc này và những việc bạn muốn thử.

Cuối cùng, buông bỏ hành vi đòi hỏi bạn hành động và bắt đầu lên kế hoạch cho việc bạn sẽ thay đổi tương lai của mình ra sao.

Áp dụng điều này như thế nào cho tuổi thơ độc hại

Trong trường hợp điều này nghe quá trừu tượng, hãy cho phép tôi đưa các thuật ngữ trên vào bối cảnh ứng phó với một tuổi thơ độc hại.

Ở đây tôi đang suy luận từ nhiều cuộc phỏng vấn mà tôi thực hiện cho cuốn sách của tôi, và đúc kết các hoàn cảnh một cách tổng quát.

Bạn cảm nhận tuổi thơ của mình không được yêu thương, sống như kẻ vô hình ở bên lề, và là đối tượng hứng chịu sự chỉ trích bất tận và có thể bị chọn làm '' gánh chịu mọi tội lỗi trong gia đình.

Bạn đã làm những gì có thể để bảo vệ mình, hoặc có lẽ bạn phải an ủi xoa dịu người khác; dù thế nào đi nữa, bạn đã làm những gì trong khả năng để đối phó cho đến khi bạn dọn khỏi nhà, bắt đầu cuộc sống trưởng thành của mình.

Đó là thời điểm bạn bắt đầu đưa ra lựa chọn của riêng mình về nơi sống, bạn bè, con đường mưu sinh, hỗ trợ bản thân, bạn đời và người yêu, cũng như cách đối phó với gia đình gốc của bạn.

Hầu hết những cô con gái không được yêu thương—thích thú với thực tế là họ đang thoát khỏi sự ảnh hưởng trực tiếp của mẹ—không làm gì để thách thức tình trạng hiện tại và làm những gì có thể để kiểm soát tình hình.

Đó là khi những nỗ lực kiểm soát của họ bắt đầu thất bại—họ vẫn cảm thấy tổn thương khi gặp bố mẹ hay anh chị em của mình, và không thể kiểm soát được cảm xúc của mình, vẫn còn cảm giác lạc lối, và không thể đặt ra ranh giới lành mạnh—họ nhận ra họ đang mắc kẹt, phải buông bỏ và tìm một cách tương tác mới với gia đình họ.

Buông bỏ nhận thức lại càng khó khăn, vì những ẩn ý văn hóa về gia đình nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp tục chịu đựng và cố gắng ("Bà ấy là mẹ cô," "Gia đình ai cũng có vấn đề," "Bạn sẽ ổn thôi, mọi chuyện không quá tệ"), và bởi vì cô con gái không được yêu thương có khả năng nghi ngờ sự phán đoán của mình sau nhiều năm bị khuyên nhủ rằng cô ấy còn nhiều khiếm khuyết và có xu hướng tự phán xét bản thân ("Có lẽ bà ấy đúng, Còn tôi thì quá nhạy cảm," "Bà ấy đã làm hết sức rồi, và có lẽ tôi đã sai khi đòi hỏi quá nhiều").

Buông bỏ cảm xúc là việc khó không chỉ vì nỗi đau trong quá khứ, làm khơi dậy mọi cung bậc cảm xúc, từ giận dữ đến sầu muộn, cũng như cảm giác tội lỗi, xấu hổ và phản bội khi suy nghĩ đến việc quản lý mối quan hệ của bạn với gia đình.

Rồi sau đó là nỗi sợ rằng họ đúng về bạn, còn bạn thì sai về mọi phương diện.

Thêm vào đó là thực tế những đứa trẻ không nhận được sự quan tâm mà chúng cần khi còn bé thì gặp khó khăn trong việc điều chỉnh cảm xúc, bạn có thể thấy tại sao phần này của quá trình buông bỏ lại cực kỳ khó.

Buông bỏ động lực bị ngăn cản bởi cái mà tôi gọi là "xung đột trung tâm"—căng thẳng giữa việc bạn ý thức được rằng bạn cần kiểm soát mối quan hệ của bạn với mẹ và gia đình gốc của bạn và bạn vẫn luôn khao khát tình yêu và sự hỗ trợ của mẹ và ấp ủ hy vọng rằng sẽ giành được nó.

Xung đột này giữ cô con gái bị mắc kẹt trong tình trạng hiện tại.

Và chừng nào xung đột trung tâm này còn tiếp diễn thì hành động là bất khả thi, do đó giai đoạn của buông bỏ hành vi—đặt ra mục tiêu mới cho cuộc sống và các mối quan hệ của bạn—không thể diễn ra.

Những bước nhỏ để buông bỏ

Nếu bạn thấy mình đang bị mắc kẹt, những chiến lược sau có thể giúp bạn thoát khỏi bế tắc.

Tất nhiên, làm việc với một nhà trị liệu giỏi là phương án tốt nhất, nhưng có những thứ mà bạn có thể làm để tự cứu giúp bản thân.

1.

Nhận ra đó không phải lỗi của bạn

Tự đổ lỗi cho bản thân, là một trạng thái mặc định, đang cản trở bạn, và nghĩ rằng có một vai sai sót ở bản thân bạn mà bạn có thể sửa chữa và mọi chuyện sẽ tốt đẹp.

Nhận ra bạn không đáng trách cùng với việc thừa nhận rằng bạn không thể tự mình khắc phục điều này; bố [mẹ] của bạn phải hợp tác.

2.

Đừng bình thường hóa hành vi bạo hành

Trẻ em bình thường hóa hành vi trong gia đình gốc của chúng, và không hiếm trường hợp họ sẽ tiếp tục làm vậy khi trưởng thành.

Đừng bào chữa hay thờ ơ trước hành vi bạo hành lời nói; hãy ghi nhận rằng chuyện đó đang diễn ra, và điềm tĩnh đáp lại một cách thẳng thắn.

Bạn có quyền đưa ra quy tắc về cách bạn muốn được mọi người đối xử, ngay cả với cha/mẹ hoặc họ hàng.

3.

Thiết lập ranh giới

Bạn sẽ cần tạo lập không gian tinh thần để tìm ra cách quản lý mối quan hệ.

Hãy làm bất cứ việc gì bạn cần—cắt liên lạc hoặc hạn chế liên lạc—để có thể làm vậy.

4.

Xây dựng bộ kỹ năng cảm xúc của bạn.

Cố gắng nhận diện các cảm xúc của bạn càng chính xác càng tốt—một phần quan trọng của trí tuệ cảm xúc— và thử xem liệu bạn có thể truy tìm nguồn gốc của cảm xúc của mình hay không, đặc biệt khi bạn nghĩ về mối quan hệ của mình với mẹ và các thành viên khác trong gia đình.

Ví dụ, cố gắng phân biệt được cảm giác tội lỗi với xấu hổ, cũng như những cảm xúc tiêu cực về bản thân như đáng bị bạc đãi hay không xứng đáng được yêu thương.

5.

Kiểm soát suy nghĩ của bạn

Nghiền ngẫm và lo lắng có thể khiến bạn bị mắc kẹt.

Nghiên cứu về những suy nghĩ ám ảnh bởi Daniel Wegner cho thấy việc cố kìm nén suy nghĩ chỉ càng khiến chúng kéo dài dai dẳng, vì vậy bạn cần thử kỹ thuật khác.

Một kỹ thuật mà ông đề xuất là ấn định một khoảng thời gian để lo lắng cho bản thân; một kỹ thuật khác là cho phép bản thân đối mặt với những ý nghĩ xâm nhập đó và nghĩ về tình huống xấu hơn nếu những lo lắng ấy trở thành sự thật, và bạn phải giải quyết chúng.

Buông bỏ là một nghệ thuật khó học, nhưng bạn có thể thành thục.
 
Tâm Lý Học
14 sự thật thú vị quyết định ý chí của bạn


Nhà tâm lý học xã hội Roy Baumeister đã phát hiện ra rằng sức mạnh ý chí cũng giống như cơ bắp vậy - nó có thể mạnh lên hoặc yếu đi tùy thuộc vào cách nó được sử dụng.

Tổng thống Obama chỉ mặc vest có màu xanh hoặc màu xám.

Và theo lời của vị tổng thống này khi ông chia sẻ với tạp chí Vanity Fair thì đó là cách để ông tiết kiệm sức mạnh ý chí.

Tổng thống Obama nói: "Tôi đang cố gắng để không phải đưa ra nhiều quyết định.

Tôi không muốn phải mất thời gian cho những lựa chọn như nên ăn gì hay mặc gì.

Bởi còn có quá nhiều việc ngoài kia cần tới sự quyết định của tôi".

Việc dành sự tập trung cho những công việc quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của Obama đã được chứng minh trong thực tế.

Nhà tâm lý học xã hội Roy Baumeister đã phát hiện ra rằng sức mạnh ý chí cũng giống như cơ bắp vậy - nó có thể mạnh lên hoặc yếu đi tùy thuộc vào cách nó được sử dụng như thế nào.

Đây là một phát hiện cực kỳ quan trọng, bởi theo một nghiên cứu được thực hiện năm 2011 với 1 triệu người trên toàn thế giới thì hầu hết mọi người đều nghĩ rằng khả năng tự chủ là điểm yếu hay khiếm khuyết lớn nhất trong tính cách của họ.

Cuốn sách "Ý chí - Hành trình tái khám phá sức mạnh lớn nhất của con người" - của Giáo sư Tâm lý học Roy Baumeister và nhà báo John Tierney

Trong cuốn sách "Ý chí - Hành trình tái khám phá sức mạnh lớn nhất của con người" (Willpower: The Greatest Human Strength) của Baumeister và theo một câu chuyện trên trang bìa của tờ New York Times, sức mạnh ý chí và việc ra quyết định liên quan mật thiết với nhau.

Nhưng bạn lại không hề biết rằng ngay cả ngôi nhà nơi bạn đã lớn lên, số lần bạn đưa ra quyết định trong một ngày, hay những gì bạn bè đang làm đều có thể ảnh hưởng tới việc đưa ra quyết định của bạn.

Và dưới đây là những lý giải cho điều đó.

Hãy ra quyết định quan trọng nhất vào buổi sáng, trước khi bạn lâm vào trạng thái "suy yếu cái tôi" (Ego depletion)

Trên tờ New York Times: "Freud cho rằng cái tôi, hay bản ngã, phụ thuộc vào các hoạt động tinh thần được thực hiện dựa trên quá trình chuyển giao năng lượng".

Các thí nghiệm của Freud đã chứng minh rằng nguồn năng lượng tinh thần dự trữ giúp con người duy trì được khả năng tự chủ chỉ tồn tại trong thời gian hữu hạn".

Nghĩa là càng về cuối ngày thì năng lượng tinh thần dự trữ của bạn sẽ càng cạn kiệt đi.

Não của bạn cần gluco để có thể đưa ra quyết định sáng suốt

Trên tờ Times, Baumeister đã chia sẻ rằng "ngay cả những người thông thái nhất cũng không thể đưa ra quyết định sáng suốt khi họ mệt mỏi và hàm lượng glu-cô trong cơ thể họ bị giảm xuống mức thấp.

Điều này giải thích tại sao những người thực sự thông minh thường tránh đưa ra những quyết định có tầm ảnh hưởng lớn đến công ty họ vào lúc 4 giờ chiều.

Tương tự, họ cũng không ký hay cam kết điều gì quan trọng trong khi uống cocktail chờ bữa tối.

Nhưng nếu bị bắt buộc phải đưa ra quyết định vào những thời điểm muộn trong ngày, chắc chắn họ sẽ không bao giờ để dạ dày của mình trống rỗng mà phải ăn trước cái gì đó."

Và điều này thì đã được các cửa hàng bán lẻ đồ tạp hóa phát hiện ra từ nhiều thập niên trước.

Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy, "khi người mua đã cảm thấy mệt mỏi với những quyết định mua sắm phải đưa ra lúc đi dọc các kệ hàng thì sức mạnh ý chí của họ sẽ giảm đi, và khi đó, họ sẽ càng có xu hướng đầu hàng trước mọi cám dỗ.

Tuy nhiên, người mua sẽ đặc biệt bị thu hút bởi các loại bánh kẹo và nước giải khát hay bất cứ sản phẩm nào khác có chứa đường".

Chúng ta sẽ kiệt sức nếu phải đưa ra quá nhiều quyết định

Điều này sẽ giải thích tại sao việc mua sắm lại trở nên mệt mỏi đến vậy.

Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy những người mua sắm "trước đó đã đưa ra nhiều quyết định nhất trong các cửa hàng là những người bỏ cuộc nhanh nhất" trong một bài kiểm tra toán.

Khi tinh thần kiệt quệ, bạn sẽ có xu hướng đưa ra quyết định kém

Theo như tờ Times: "Thỏa hiệp là một khả năng phức tạp của con người và do đó là một trong những khả năng đầu tiên bị suy giảm khi sức mạnh ý chí dần cạn kiệt".

Vào cuối ngày, khi cơ thể đã mệt mỏi cả về thể lực lẫn tinh thần, chúng ta có xu hướng nghỉ tập gym sau giờ làm hoặc uống rượu nhiều hơn trong thời gian xả hơi.

Xây dựng những thói quen có lợi sẽ giúp bạn loại bỏ căng thẳng và tiết kiệm năng lượng cho các quyết định quan trọng

Theo tờ Times: "Baumeister và các đồng nghiệp của ông đã phát hiện ra rằng những người thành công không sử dụng sức mạnh ý chí của họ như một biện pháp cứu cánh để tránh gặp phải rắc rối ".

"Thay vào đó, họ giữ gìn sức mạnh ý chí bằng cách rèn luyện những thói quen có lợi khi học tập và làm việc để có thể giảm căng thẳng trong cuộc sống.

Họ sử dụng khả năng tự chủ của mình để tránh rơi vào vào khủng hoảng chứ không phải để cố vượt qua chúng.

Điều này có thể được minh họa bằng việc họ luôn cho bản thân đủ thời gian để hoàn thành dự án hay đem xe ra tiệm sửa trước khi nó bị hỏng."

Nếu bạn muốn nâng cao sức mạnh ý chí, hãy cố ngủ đủ giấc

Các nghiên cứu cho rằng thiếu ngủ - tức là ngủ ít hơn 6 tiếng một đêm - có tác hại giống như say rượu.

Theo nhà tâm lý học sức khỏe của trường Đại học Stanford, Kelly McGonigal, thiếu ngủ làm rối loạn phần não trước trán - vùng não có mối quan hệ chặt chẽ với việc ra quyết định.

Theo bà McGonigal, khi thiếu ngủ, "vỏ não trước trán sẽ bị ảnh hưởng cực kì nặng nề dẫn đến mất khả năng kiểm soát đối với vùng não tạo ra những khao khát và các phản ứng chống lại stress.

Do không được kiểm soát, não bộ sẽ sinh ra những phản ứng quá mức với các căng thẳng và cám dỗ thông thường hàng ngày."

Vô thức đóng vai trò quan trọng trong việc giúp bạn đưa ra các quyết định sáng suốt

Việc tổng thống Obama ra quyết định bằng cách "trì hoãn việc ra quyết định ngay lập tức" để có thời gian suy xét kỹ lưỡng là lời khuyên mà các nhà tâm lý học đề xuất khi bạn phải đứng trước quá nhiều quyết định phức tạp.

Theo tờ Havard Business Review "bởi lẽ khả năng tập trung có chủ đích của con người là có hạn, nên sẽ có lợi hơn nếu bạn vận dụng được cả năng lực vô thức của bản thân".

Thậm chí nếu bạn không có quyền lựa chọn để trì hoãn quyết định của mình trong thời gian dài, thì việc tham gia vào các hoạt động khác sẽ giúp tâm trí của bạn thoát khỏi tình trạng khó xử, và tạo điều kiện cho năng lực tiềm thức phát huy tác dụng.

Bạn bè và gia đình cũng phần nào ảnh hưởng đến các quyết định của bạn

Những phát hiện đột phá trong khoa học mạng – một ngành nghiên cứu về các nhóm xã hội - đã chỉ ra rằng nhiều người trong chúng ta có điểm chung là thường nghĩ về các vấn đề có tính cá nhân như việc tăng cân hay là bỏ thuốc lá.

Tương tự, James Fowler đến từ Đại học California của bang San Diego, và Nick Christakis của Trường Y Harvard cũng cho biết, các hành vi của chúng ta đều có khả năng lan truyền.

Nếu người bạn thân nhất của bạn bỗng trở nên béo phì, thì khả năng bạn mắc phải chứng bệnh này cũng sẽ tăng thêm 57%.

Còn nếu một đồng nghiệp thân thiết bỏ hút thuốc, khả năng bạn cũng sẽ bỏ thuốc sẽ tăng thêm 34%.

Đôi khi, sẽ khôn ngoan hơn nếu để người khác thực hiện ý tưởng của bạn

Khoa học mạng cũng đã thực hiện những nghiên cứu sâu về vấn đề năng suất.

Khi các nhà nghiên cứu tìm hiểu sự thành công của các kỹ sư trong một công ty hàng không vũ trụ, họ đã dựa trên những đánh giá về các bằng sáng chế và sản phẩm mà những người này đã tung ra thị trường.

Các nhà nghiên cứu thấy rằng những người thân thiết với mỗi cá nhân kỹ sư kể trên đều đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong thành công của họ.

Mối quan hệ của một cá nhân là yếu tố có khả năng dự báo lớn nhất về thành công của người đó, chỉ đứng sau kinh nghiệm.

Trong một công ty, những người có mối quan hệ rộng rãi ở mọi cấp bậc và với các phòng ban sẽ là những người có nhiều khả năng thành công nhất.

Tại sao lại như vậy?

Bởi vì khi có mối quan hệ tốt với mọi người, bạn sẽ có thể kết hợp ý tưởng cũng như tiếp nhận phản hồi từ nhiều nguồn khác nhau, và nhận được sự đồng tình cho các dự án của mình – đây là cũng chính là một trong những yếu tố giúp cho những người rộng lượng trở nên thành công.

Đôi khi, việc chịu khuất phục và nói "có" với "những lựa chọn sai lầm" lại có ích

Theo tờ Times, đôi khi việc chịu khuất phục trước những ham muốn cá nhân có thể giúp bạn cảm thấy thoải mái hơn bởi điều đó giúp bạn tránh khỏi tình trạng luôn cảm thấy kiệt sức.

Không những vậy, nó còn giúp bạn giữ được phong độ trong thời gian dài.

Đây chính là lý do tại sao người ta lại ăn mừng lễ Mardi Gras trước khi Mùa Chay đến.

Việc đưa ra quyết định sẽ trở nên dễ dàng hơn nếu có sự tham gia của người thứ hai

Có quyết định nào mà bạn không cần phải đưa ra ngay bây giờ, hoặc bạn có thể nhờ ai đó làm giúp hay không?

Theo tờ Times, "Thay vì quyết định mỗi buổi sáng có nên ép bản thân tập thể dục hay không, [những người thông minh] sẽ lên lịch hẹn thường xuyên để tập luyện cùng với một người bạn".

Biết cách tránh những "phút yếu lòng", bạn có thể đưa ra các quyết định sáng suốt

Baumeister nói: "Khả năng đưa ra quyết định đúng đắn không phải là một đặc điểm của con người hay luôn tồn tại trong mỗi chúng ta.

Ngược lại khả năng này là một trạng thái luôn biến động".

Tờ The Times viết:

Nghiên cứu của Baumeister cho thấy rằng người có khả năng tự chủ tốt nhất là những người biết sắp xếp các vấn đề trong cuộc sống nhằm đảm bảo sức mạnh ý chí của họ luôn được giữ ở mức độ cao.

Họ không lên lịch hàng loạt cho các cuộc họp liền nhau.

Họ tránh không để bị cám dỗ bởi những bữa buffet ăn tẹt ga, và họ hình thành các thói quen nhằm loại bỏ những sự mệt mỏi khi đưa quyết định. ...

Thay vì lầm tưởng rằng sức mạnh ý chí có thể duy trì suốt cả ngày, những người biết tự chủ luôn có ý thức giữ gìn nó để đề phòng cho các trường hợp khẩn cấp và khi phải đưa ra quyết định quan trọng.

Baumeister nói: "Những người giỏi nhất trong việc đưa ra quyết định có khả năng nhận biết được khi nào thì không nên tin vào chính bản thân mình."

Các nghiên cứu chỉ ra việc rèn luyện sức mạnh ý chí sẽ giúp bạn có nhiều khả năng thành công hơn

Trong một thí nghiệm nổi tiếng với kẹo dẻo do trường Đại học Stanford thực hiện năm 1972, các em học sinh được yêu cầu ngồi vào bàn và trước mặt mỗi em là một chiếc kẹo dẻo, nhưng lại không được phép ăn kẹo.

Nếu vượt qua được khoảng thời gian 15 phút đầy "giằng xé" này, các em sẽ nhận được một phần thưởng rất ngọt ngào là một chiếc kẹo dẻo thứ hai.

Theo báo cáo của thí nghiệm, những em học sinh có thể kiên nhẫn đợi để nhận được chiếc kẹo thứ hai có điểm SAT cao hơn và có mức độ lạm dụng chất thấp hơn so với những bạn không đủ kiên nhẫn như mình.

Nhưng trò chơi thử thách sự kiên nhẫn này chưa chắc đã nói lên tất cả ...

Tuy nhiên, đôi khi sự yếu đuối của sức mạnh ý chí có thể là phẩm chất cần thiết cho việc ra quyết định

Nếu bạn nhận thấy cơ hội hành động sắp biến mất, thì đừng chần chừ mà hãy "ra tay" luôn.

Năm 2012, nhà nghiên cứu Celeste Kidd tại Đại học Rochester đã công bố một nghiên cứu phản biện lại thí nghiệm kẹo dẻo nói trên.

Khi còn nhỏ, Kidd đã dành thời gian làm việc tại những khu người vô gia cư - cô nhớ lại việc mình từng thắc mắc nếu lớn lên trong hoàn cảnh bấp bênh như vậy thì khả năng đưa ra quyết định sẽ bị ảnh hưởng như thế nào.

Cô tin rằng những đứa trẻ sống ở đó sẽ ăn chiếc kẹo dẻo ngay lập tức.

Nhưng những đứa trẻ hành động như vậy không phải là vì chúng không có đủ sức mạnh ý chí, mà do chúng lớn lên trong hoàn cảnh mà ở đó người lớn thường không giữ lời hứa.

Kidd nói: "Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chắc chắn sẽ làm giảm sức thuyết phục của quan niệm phổ biến rằng những thí nghiệm tương tự với thí nghiệm kẹo dẻo như trên sẽ là thước đo phù hợp nhất cho khả năng tự kiểm soát.

Việc trì hoãn sự thỏa mãn chỉ đơn giản là một lựa chọn dựa trên lý trí nếu đứa trẻ tin rằng chiếc kẹo dẻo thứ hai sẽ được mang ra sau khi phải chờ đợi trong một khoảng thời gian ngắn hợp lý".

Trong nghiên cứu của Kidd, trẻ em đã bị tác động để chúng tin rằng những người thực hiện nghiên cứu hoặc đáng tin hoặc không đáng tin.

Trong một phần của nghiên cứu, lũ trẻ được đưa cho một mảnh giấy và bút sáp màu, và được đề nghị hoặc sử dụng những vật dụng này luôn hay là ngồi chờ để nhận được những thứ tốt hơn.

Ở đây, điểm nút của thí nghiệm là: với một nhóm học sinh, người thực hiện thí nghiệm đã đem cho chúng bút màu dạ và bút sáp màu; nhưng với nhóm còn lại, người thực hiện thí nghiệm đã trở lại và xin lỗi, nói rằng không có dụng cụ vẽ nào tốt hơn.

Sau đó, đến bài kiểm tra kẹo dẻo.

Chín trong số 14 đứa trẻ của nhóm "cho rằng người thực hiện thí nghiệm là đáng tin cậy" đã đợi được 15 phút để nhận chiếc kẹo dẻo thứ hai, nhưng chỉ có một trong 14 em thuộc nhóm còn lại có thể đợi đến khi chiếc kẹo dẻo thứ hai xuất hiện.

Vậy kết luận về bài học rút ra được từ thí nghiệm này là: lòng tin cũng có thể là một thành tố tạo nên sức mạnh ý chí.
 
Tâm Lý Học
Kiểm tra "mức độ xấu xa" của bạn thông qua Tâm lý học


Các nhà nghiên cứu đặt tên cho hệ số này là hệ số D (hệ số chung đặc trưng cho nhân cách đen tối - general dark factor of personality), gồm 9 đặc điểm tính cách sau

Các nhà tâm lý học đã tổng kết các nghiên cứu lịch sử về "nhân cách đen tối" (các đặc điểm tính cách khác nhau của người xấu) và phát hiện ra rằng hầu như tất cả các loại tính cách đen tối đều có liên quan đến nhau.

Do đó, từ các kiểu tính cách đen tối có thể tìm ra một hệ số chung, chỉ cần dùng hệ số này là có thể đo được "mức độ xấu xa" của một người.

Các nhà nghiên cứu đặt tên cho hệ số này là hệ số D (hệ số chung đặc trưng cho nhân cách đen tối - general dark factor of personality), gồm 9 đặc điểm tính cách sau:

Đặc điểm 1: Xu hướng vị kỷ (egoism)

Quan tâm quá mức đến hạnh phúc hoặc lợi ích của bản thân (cái giá phải trả thường là hy sinh lợi ích tập thể).

Đặc điểm 2: Xu hướng xảo quyệt (machiavellianism)

Hay được gọi là chủ nghĩa Machiavellianism.

Thao túng người khác, máu lạnh và giỏi tùy cơ ứng biến, xảo quyệt.

Đặc điểm 3: Xu hướng buông thả đạo đức (moral disengagement)

Một dạng định hướng nhận thức, định nghĩa lại hành vi của bản thân để làm cho hành vi đó gây hại ít hơn, giảm thiểu tối đa trách nhiệm của bản thân đối với hậu quả của hành vi và giảm bớt sự thừa nhận về sự đau khổ của nạn nhân.

Đó cũng chính là kiểu "không phải việc của tôi, không phải lỗi của ông đây".

Đặc điểm 4: Xu hướng ái kỷ (narcissism)

Quá yêu bản thân, một trong những xu hướng thuộc kiểu thờ ơ trong giao tiếp.

Đặc điểm 5: Xu hướng tâm lý quyền lợi (psychological entitlement)

Một xu hướng tâm lý cho rằng bản thân mình xứng đáng và có quyền được nhận nhiều hơn những người khác, tức là "cái gì cũng muốn còn phải đúng theo ý mình".

Đặc điểm 6: Xu hướng thái nhân cách

Cũng là một xu hướng thuộc kiểu thờ ơ trong giao tiếp.

Thiếu sự đồng cảm, tàn nhẫn, vô tình.

Đặc điểm 7: Xu hướng bạo dâm (sadism)

Cố ý làm cho người khác chịu đau đớn về thể xác, tình dục hoặc tâm lý để duy trì quyền lực và địa vị thống trị hoặc để đạt được sự vui vẻ và hưởng thụ.

Đặc điểm 8: Xu hướng tư lợi (self-interest)

Theo đuổi lợi ích trong lĩnh vực giá trị xã hội, bao gồm của cải vật chất, địa vị xã hội, được người khác công nhận về thành tích học tập hoặc thành tựu nghề nghiệp và hạnh phúc.

Đặc điểm 9: Xu hướng cố tình gây hại (spitefulness)

Có xu hướng làm hại người khác một cách ác ý.

Loại tổn hại này có thể là về mặt xã hội hoặc thể chất (đôi khi để làm hại người khác còn không ngại tổn hại đến chính bản thân mình).

Trên đây là một nghiên cứu tâm lý học công bố vào năm 2018 và được đề cập lại trong cuốn sách "Tâm lý học hiện đại - Nhìn thấu tâm can, thay đổi tâm trí".

Cuốn sách cung cấp nhiều kiến thức mới lạ, có giá trị sâu sắc, đồng thời thể hiện thái độ cầu thị, không ngừng tiến lên phía trước của bộ môn tâm lý học.
 
Tâm Lý Học
2 kiểu làm mẹ độc hại: Người mẹ Ái kỷ và Thích Kiểm soát


Những bà mẹ có tính ái kỷ cao và những bà mẹ có nhu cầu kiểm soát con gái thường xem con cái như sự mở rộng của bản thân họ, chứ không phải như một cá nhân độc lập.

"Mẹ tôi rất quan tâm đến thể diện bên ngoài.

Thiên hạ nghĩ gì.

Thiên hạ nói gì.

Ai được bàn tán ở nhà thờ, trên báo địa phương, ai đoạt giải thưởng.

Hồi bé, cả anh trai và tôi đều chấp nhận điều này như chuyện thường tình ở đời; bạn là ai không quan trọng, quan trọng là những gì bạn làm và có ai ngưỡng mộ bạn hay không.

Tôi từng là một đứa trẻ xinh xắn, nhưng theo mẹ thì tôi đã biến thành đứa hậu đậu khi học tiểu học và sau này.

Tôi quá béo, quá vụng về, và tôi chỉ có vậy thôi.

Tôi lớn lên cùng nỗi xấu hổ về bản thân mình, chị biết đấy.

Anh trai tôi chơi đá banh, nhưng học thì toàn bị điểm kém; ở thị trấn nhỏ của chúng tôi, điều đó đã biến anh thành một ngôi sao.

Còn tôi đi học được điểm tốt, nhưng bà ấy thì dừng chụp ảnh tôi khi tôi lên 10.

Mấy bức hình tôi có là do họ hàng và bạn bè chụp.

Thật kinh khủng làm sao!"

Những đứa trẻ không được yêu thương chia sẻ một vài kinh nghiệm trong số đó.

Đứa trẻ bị bỏ bê và ít được quan tâm thường sống trong bóng tối, nhưng không hiểu được nỗi khổ khi sống dưới vầng mặt trời chói lòa của một người mẹ có tính ái kỷ cao.

Đứa con của một bà mẹ lạnh lùng luôn chịu áp lực phải thành công và thu hút sự chú ý, vì cô ấy cần cố gắng giành được tình yêu của mẹ, nhưng nó xuất phát từ bên trong, trái ngược với đứa con gái của một bà mẹ thích kiểm soát, liên tục thúc đẩy và uốn nắn con cái.

Đứa con gái bị kiểm soát thiếu không gian để hành động, suy tư, cảm nhận, và được là chính mình.

Người mẹ hiếu chiến dạy con mình tự vệ, tránh xung đột bằng mọi giá, và không trở thành trung tâm thu hút sự chú ý—chiến thuật ngược lại của những cô con gái có mẹ lạnh lùng.

Mặc dù tất cả những bà mẹ ấy đều không thương con, song con gái của họ lại xây dựng những chiến lược đối phó kém thích nghi khác nhau, có những phản ứng cảm xúc riêng biệt, và bị tổn thương theo những cách riêng.

Những điểm chung giữa hai bà mẹ

Những bà mẹ có tính ái kỷ cao và những bà mẹ có nhu cầu kiểm soát con gái thường xem con cái như sự mở rộng của bản thân họ, chứ không phải như một cá nhân độc lập.

Mức độ mà đứa con nhận được sự hỗ trợ, quan tâm và chú ý—nói thẳng, tôi không dùng từ "yêu thương" ở đây—hoàn toàn phụ thuộc vào việc chúng thỏa mãn những kỳ vọng của mẹ tốt đến đâu.

Những bà mẹ này phóng chiếu nhu cầu của mình sang con gái, và không hiểu rằng con cái cũng có nhu cầu của chúng.

Cả hai bà mẹ thích kiểm soát và ái kỷ đều tỏ ra, ít nhất là dưới con mắt của người ngoài, là rất tài năng và thậm chí hoàn hảo, dù cả hai kiểu này trong sâu thẳm có thể mang cảm giác bất an về bản thân, sợ bị lột mặt nạ hoặc bị chỉ ra điểm thiếu sót.

Những cảm xúc thầm kín đó đơn giản là tăng lên khi bàn đến cuộc sống của họ trông ra sao, và cả hai có xu hướng là những người cầu toàn về mọi thứ, kể cả con gái của họ.

Tham vọng của họ—được mọi người nể phục và săn lùng—được chuyển sang con cái của họ.

Họ yêu cầu đứa con phải trông thật ngon lành trước mặt mọi người cũng như được người khác ngưỡng mộ.

Vì những đứa con của bà ấy chỉ được xem như sự phản chiếu về bản thân bà, cho nên bất cứ thiếu sót nào ở đứa trẻ đều trở thành dự án 'tự tay làm lấy' của người mẹ, một thứ gì đó cần phải giải quyết hay khắc phục để phù hợp với khu vườn được chăm chút hoàn mỹ và thể diện được kiểm duyệt cẩn thận mà bà ấy phô bày trước thiên hạ.

"Ngày xưa mẹ tôi tuyên bố tôi không được thân thiện với tất cả mọi người.

Có những người sẽ ảnh hưởng xấu đến tôi, làm xấu mặt gia đình chúng tôi, và đó là những đứa trẻ mà tôi không được mời tới nhà chơi.

Những người bạn mà bà chọn cho tôi là những đứa trẻ mà tôi cảm thấy không thoải mái khi ở bên, vì vậy tôi dừng nỗ lực kết bạn.

Nhưng điều đó vẫn chưa vừa lòng bà—có một đứa con gái mọt sách chỉ thích đọc sách mà không tham gia thể thao hay kịch nghệ ở trường quả là một điều đáng xấu hổ.

Bà ấy dồn sức sang em gái tôi, vì nó ngoan, dễ bảo hơn tôi, và trút hết mọi tội lỗi lên đầu tôi (dê tế thần).

Tôi hiện đã 39 tuổi, và điều đó vẫn là câu chuyện không hồi kết."

ÁI kỷ hay Kiểm soát: Đôi lúc đan xen với nhau, đôi lúc không

Dù hai kiểu làm mẹ này dường như có quan hệ thân thuộc và thậm chí hoán đổi được cho nhau—người ái kỷ có thể thích kiểm soát, còn kẻ kiểm soát cũng có thể có tính ái kỷ—song họ lại có những động cơ khác nhau, cũng như những cách riêng để bao biện cho hành vi của mình.

Cách đối xử với con cái của bà mẹ ái kỷ bị thúc đẩy bởi mong muốn liên tục trở thành trung tâm thu hút chú ý.

Cách đối xử với con cái của bà ấy không thấu đáo về bất kỳ phương diện nào, và sự thật là bà ấy không ý thức được điều gì thúc đẩy hành vi của mình.

Con cái của bà phải mang lại tiếng tốt cho mẹ, hoặc không; không có lựa chọn thứ ba.

Chúng sẽ làm mẹ vui lòng hoặc không, và nếu là cái sau thì đứa trẻ sẽ là 'dê tế thần' (scapegoated) và trở thành đối tượng duy nhất hứng chịu chỉ trích.

Người mẹ này tham gia vào rất nhiều trò chơi và thao túng tinh thần để mọi người luôn phải chú ý đến bà; đó là mục tiêu của bà ta.

Bà mẹ thích kiểm soát thì lại quan tâm đến một vấn đề quan trọng khác.

Bà ta cũng quan tâm đến thể diện bên ngoài, giống như bà mẹ ái kỷ, nhưng lại bị thúc đẩy bởi nỗi sợ và sự bất an của mình, và không phó mặc cho may rủi.

Bà ta cần được người khác cần đến mình, cần được khen ngợi và đề cao.

Khi nói đến chuyện nuôi dạy con cái, bà ta không tin tưởng vào sự thất thường của số phận hay vận may.

Trong khi bà mẹ ái kỷ hứng thú với việc có quyền lực lên những người khác, kể cả con cái của bà, bà mẹ hay kiểm soát thì lại tin rằng nếu không có sự can thiệp của bà thì đứa trẻ gần như sẽ đụng đâu hỏng đó.

Bà ấy bị thúc đẩy bởi nỗi sợ, nhưng lại ngụy trang cho sự kiểm soát của mình như một dạng sức mạnh.

Bà ấy là một người mẹ độc đoán—đó là thông điệp 24/7 "một là theo ý tao, hai là ra khỏi nhà"—nhưng thực sự tin rằng đó là một điều cần thiết.

Phải nói là, những thông điệp mà bà ấy gửi đến con gái mình nhấn mạnh thực tế rằng, nếu không có sự giúp đỡ của bà thì đứa con gái sẽ thất bại.

Gắn bó không an toàn như một cơ chế đối phó

Những đứa trẻ không được đáp ứng nhu cầu tình cảm thời thơ ấu—khi người mẹ không đủ hòa hợp, phớt lờ hoặc không trao cho cô sự hỗ trợ và không gian để khám phá—được cho là sẽ có kiểu gắn bó không an toàn.

Có 3 kiểu gắn bó không an toàn: lo lắng/bận tâm, né tránh-xua đuổi, và né tránh-lo sợ.

Những cô con gái thuộc kiểu gắn bó lo lắng /bận tâm thực lòng muốn có mối quan hệ thân mật, nhưng cô ấy luôn trong tâm trạng đề phòng bị người ta hắt hủi hoặc từ chối; cô cực kỳ nhạy cảm trước thái độ khinh thường và tình cảm thất thường.

Người né tránh-xua đuổi thì không tìm kiếm mối quan hệ thân mật; cô ấy xem người khác là quá đeo bám/lệ thuộc và lấy làm tự hào về khả năng sống độc lập và kiên cường của bản thân.

Người né tránh-lo sợ thì thực sự muốn gắn kết, nhưng tính dễ bị tổn thương về mặt tình cảm khiến cô luôn phải tự vệ; cô bị thúc đẩy bởi nỗi sợ.

Khi trưởng thành, những cô con gái của bà mẹ ái kỷ và hay kiểm soát có thể bộc lộ bất kỳ kiểu gắn bó nào trong số trên hoặc kết hợp của vài kiểu gắn bó.

Những cô con gái của bà mẹ ái kỷ và bà mẹ thích kiểm soát có điểm chung nàoKhó kiểm soát cảm xúc.

Điều này, cùng với trí tuệ cảm xúc bị suy giảm, là điển hình của mọi đứa con gái không được đáp ứng nhu cầu tình cảm thời thơ ấu, bất kể kiểu làm mẹ nào.

Đứa trẻ học cách kiểm soát cảm xúc buồn phiền và tổn thương thông qua tương tác với một người lớn hòa hợp, thường là mẹ, trong giai đoạn thơ ấu.

Theo lý giải của thuyết gắn bó, khi quá trình này không diễn ra, đứa trẻ hoặc là sẽ xua đuổi cảm xúc của chúng để né tránh (kiểu gắn bó né tránh—avoidant attachment) hoặc ngập chìm và choáng ngợp bởi cảm xúc (kiểu gắn bó lo âu—anxious attachment).

Thiếu khả năng nhìn nhận rõ ràng về bản thân.

Vì cả hai kiểu làm mẹ trên đều tập trung vào những thứ bên ngoài—đứa con gái được định nghĩa bởi những việc mà cô ấy làm, chứ không phải con người của cô ấy—nên đứa con gái dễ quên đi những suy nghĩ, cảm xúc, nhu cầu, khát khao và tham vọng của mình.

Nhiều cô con gái khi bước vào tuổi trưởng thành nhưng lại mù tịt về bản ngã thật sự của mình, vốn đã bị chôn vùi rất sâu.

Quan niệm méo mó về tình yêu

Những bà mẹ đó dạy con họ rằng tình yêu luôn đi cùng với một thứ gì đó có qua có lại hoặc những điều kiện ràng buộc, và quan niệm đó có thể khiến cô con gái gặp trắc trở suốt cuộc đời.

Cô ấy có khả năng bị thu hút trước những người đối xử với cô y hệt như mẹ—chúng ta đều bị thu hút trước sự quen thuộc, ngay cả khi điều đó làm cho đời ta bất hạnh—và những người định nghĩa về tình yêu theo cách tương tự.

Ảnh hưởng của Bà mẹ Ái kỷ

Vì bà mẹ này là một tay chơi và kẻ thao túng sành sỏi, luôn tìm cách trở thành trung tâm của sự chú ý, ảnh hưởng của bà lên con gái phần nào phụ thuộc vào sự phục tùng của đứa trẻ.

Một đứa con cưng thuận theo kế hoạch của mẹ, quên mất chính mình; nếu cô ấy đủ tách biệt, bản thân cô ấy có thể bộc lộ những nét tính cách ái kỷ.

Còn một đứa con gái bị chọn làm 'dê tế thần' thì nhận ra sự độc hại, nhưng cô ấy có thể trải qua khủng hoảng tinh thần nặng nề.

Nên làm gì: Chú ý đến cảm xúc và nhận thức của chính cô, hay là ở lại cuộc chơi nhằm cố gắng giành được tình yêu của Mẹ?

Bất kể vị trí của cô ấy là gì—dù là con cưng hay đứa con bị ghẻ lạnh—con gái của bà mẹ ái kỷ sẽ bị ảnh hưởng theo một số cách đặc thù.

Thói quen tự phán xét và chỉ trích bản thân.

Những thách thức đối với trí năng của đứa con gái, cho dù thông qua hành vi thao túng gaslighting hoặc liên tục nhắc đi nhắc lại về những thiếu sót của cô ấy, đều để lại dấu ấn.

Dù bên ngoài cô ấy có thể là người thành đạt nhưng trong lòng thì đầy ắp sự hoài nghi về bản thân.

Chí ít thì có một giai thoại cho rằng dường như không có sự trung lập khi xét về phương diện thành công: các cô con gái sẽ loạng choạng và không thể đề ra hoặc đạt được mục tiêu, hoặc họ đang làm rất tốt trong cuộc sống.

Bình thường hóa hành vi ái kỷ

Mọi đứa trẻ đều tin rằng thế giới bé nhỏ của gia đình mà chúng đang sống cũng giống như những gia đình khác; chúng tin rằng những chuyện đang diễn ra trong nhà chúng cũng đang diễn ra ở khắp mọi nơi.

Đứa con gái của một bà mẹ ái kỷ có thể tin rằng bị sỉ nhục hay gạt sang bên lề là chuyện thường tình trong cuộc sống, và bạn phải giành từng chút quan tâm chú ý hoặc nếu cô ấy là đứa con cưng hoặc đứa con được mẹ ưu ái, rằng tình yêu đòi hỏi bạn che giấu bản chất thật của mình và trở thành bất cứ điều gì mà mẹ bạn mong muốn.

Khả năng cao là cô ấy sẽ bị thu hút trước những người bạn và người yêu có tính ái kỷ, và sẽ phải mất rất nhiều thời gian thì cô mới nhận ra mình từng bị tổn thương nhiều như thế nào vì cách đối xử của mẹ, vì sự chấp nhận ngầm của bà ấy.

Gặp nhiều khó khăn với sự thân mật và gắn kết

Dù cô con gái này có thể mong muốn những mối quan hệ mật thiết, nhưng việc cô ấy thiếu khả năng kiểm soát nỗi sợ và sự bất an của mình đồng thời lại thu hút những kẻ đối xử với cô giống như mẹ cô đã (hoặc đang làm) sẽ ngáng đường cô.

Ảnh hưởng của Bà mẹ thích Kiểm soát

Buồn thay thuật ngữ "cha mẹ trực thăng" lại lẻn được vào cuộc bàn luận này, vì nó nghe có vẻ nhân đức hơn rất nhiều so với từ "kiểm soát"—và kiểu làm mẹ này chẳng có gì nhân từ hay tốt đẹp cả.

Những cô con gái này có một chế độ 'ăn' 24/7 liên tục khiến cô cảm thấy mình kém cỏi, cùng một thông điệp nhất quán sau: "Mày chẳng làm nên cơm cháo gì nếu không có mẹ."

Lớn lên theo cách này khiến họ gặp phải nhiều vấn đề và thiếu hụt cụ thể.

Nhầm lẫn sự kiểm soát với sức mạnh.

Cách cô con gái hợp lý hóa cho hành vi của mẹ mình—"Bà ấy hơi độc đoán, nhưng bà luôn quan tâm đến tôi," "Bà ấy thực sự có ý tốt," "Bà ấy không biết việc đó khiến tôi tổn thương thế nào"—thường khiến cô lẫn lộn không phân biệt được giữa mạnh mẽ và bị kiểm soát.

Than ôi, cô ấy có thể cảm thấy thoải mái khi ở cạnh những người luôn chỉ đạo cô, ngay cả khi họ khiến cô bất hạnh và bỏ qua những nhu cầu và suy tư của cô, giống như mẹ cô ấy.

Thiếu kiên cường.

Thói quen tự chỉ trích bản thân đã ăn sâu vào tâm khảm của nhiều cô con gái đến nỗi họ chủ yếu bị thúc đẩy bởi việc né tránh thất bại bằng mọi giá.

Tất nhiên, tất cả chúng ta đều phải chịu đựng nhiều thất bại và phạm sai lầm, nhưng con gái của một bà mẹ thích kiểm soát xem những lúc như vậy là biểu hiện cho lý do tại sao cô là người vô giá trị và rất khó vực dậy.

Có kỳ vọng thấp, hoặc không có tham vọng thường là một khuôn mẫu kéo dài suốt đời cô ấy.

Cuộc sống tù túng do sức ì

Một bà mẹ hay kiểm soát tước đi của đứa con gái không gian để đưa ra lựa chọn và tin tưởng vào tư duy và trực giác của cô ấy.

Khi trưởng thành, những cô con gái đó hay sợ hãi và thường thiếu khả năng tự hành động, và kết cuộc là họ làm theo những điều người khác kỳ vọng.

Thiếu sự dẫn dắt định hướng, họ có nhiều khả năng vẫn ở lại trong những tình cảnh—cả trong công việc lẫn đời sống cá nhân của họ—khiến họ đau khổ.
 
Tâm Lý Học
Làm sao để đánh lừa bộ não thích làm việc khó


Bạn có xu hướng cảm thấy mệt mỏi và chán nản khi tăng cường hoạt động trong não bộ.

Bạn đã bao giờ tự hỏi tại sao người khác làm việc năng suất một cách dễ dàng đến thế?

Bạn từng cảm thấy hừng hực khí thế làm việc gì đó, nhưng chỉ sau vài ngày là bạn lại rơi vào tình trạng uể oải?

Bạn từng cảm thấy chán nản hay thất vọng khi mọi người xung quanh bàn luận về mục tiêu của họ và cách mà họ đọc được 75 cuốn sách và viết 9 bài về chủ đề duy trì một cơ thể khỏe mạnh?

Còn bạn thì đang chật vật để đọc hết chương 3 của cuốn sách mà bạn đang cố 'nuốt cho xong' 2 tháng qua?

Nếu bạn trả lời "có" cho những câu trên thì bạn đang ở đúng chỗ rồi.

Trong một của trên tờ The New York Times, bà nói rằng bạn có xu hướng cảm thấy mệt mỏi và chán nản khi tăng cường hoạt động trong não bộ.

Chẳng hạn, hãy nghĩ về lần cuối bạn làm một bài kiểm toán hay vượt qua giới hạn thể chất của mình.

Bạn cảm thấy thế nào?

Nỗ lực thường khiến bạn cảm thấy tệ vào lúc đó; bạn thường tự nhủ, "Mình sẽ không bao giờ làm lại việc này.

Khó quá đi."

Thay vì thách thức bộ não, bạn bắt đầu làm những chuyện mà bạn cảm thấy thoải mái hay những việc dễ dàng.

Rồi sau đó bạn lại thắc mắc tại sao mình thiếu khả năng tập trung vào công việc hằng ngày.

Bạn đang tập cho não bộ thích sự dễ chịu, nhưng cảm giác khó chịu mới là thứ giúp bạn tiến bộ.

Xác định căn nguyên vấn đề

Bạn kiểm tra Instagram bao nhiêu lần?

Hay Twitter?

Việc này có dễ không?

Bạn có cảm thấy việc này đòi hỏi nhiều cố gắng không?

Chắc là không.

Tôi có thể ngồi lướt Instagram hàng giờ liền.

Tôi tải lại bảng tin nhiều lần.

Còn khi làm những việc khác, như đọc sách hay viết lách—Tôi rất chật vật.

Tôi thấy mình không thể tập trung hay thậm chí là mệt mỏi.

Tôi thấy thất vọng.

Tại sao những người mà tôi theo dõi dường như lúc nào cũng tràn đầy động lực làm việc hay đọc hơn 100 cuốn sách mỗi năm?

Còn tôi thì khổ sở để đọc xong một cuốn.

Tôi đang thiếu thứ gì?

Làm sao tôi có thể khiến việc làm những điều khó khăn, như tập trung vào việc kinh doanh của tôi, trở nên dễ dàng?

Tôi có được câu trả lời từ một video trên YouTube: dopamine.

Dopamine là thứ khiến bạn thèm muốn mọi thứ.

Nó là thứ khiến bạn với lấy điện thoại với đôi mắt còn ngái ngủ vào buổi sáng để kiểm tra Facebook đầu tiên.

Nó nâng cao tinh thần, động lực và sự chú ý của bạn.

Tôi nhanh chóng nhận ra các thụ thể dopamine của tôi bị lệch lạc.

Lý do tôi cảm thấy mất động lực làm việc không phải vì lười biếng (có thể là tôi hơi lười), mà chủ yếu vì tôi đã phát triển một ngưỡng chịu đựng dopamine cực cao.

Những việc đơn giản như đọc sách hay viết lách không mang đến cho tôi mức dopamine tương đương như những việc khác như xem TV, lướt lướt Instagram, v.v...

Bộ não của bạn không quan tâm đến mức độ dopamine mà bạn đang tiêu thụ có thể gây hại cho bạn ra sao; nó chỉ muốn nhiều hơn nữa mà thôi.

Có gì sai khi có quá nhiều dopamine?

Cơ thể chúng ta có một hệ thống sinh học gọi là cân bằng nội môi (Homeostasis); nghĩa là cơ thể thích tạo ra sự cân bằng về vật lý và hóa học bên trong.

Bất cứ khi nào xảy ra sự mất cân bằng, cơ thể sẽ thích nghi với điều đó.

Về cơ bản thì khi não bộ đã quen với mức dopamine cao thì mức độ đó sẽ trở thành BÌNH THƯỜNG MỚI của bạn, điều đó buộc bạn tạo ra một ngưỡng chịu đựng dopamine.

Làm những công việc hằng ngày chắc chắn sẽ trở nên bất khả thi đối với bạn.

Nhưng trên hết, đọc sách, viết lách, làm việc hay cải thiện bản thân thậm chí còn khó khăn hơn.

Đã bao giờ bạn tự hỏi tại sao mình không thể dừng xem Netflix khi bạn biết mình phải đi làm việc chưa?

Đã bao giờ bạn tự hỏi tại sao người nghiện ma túy không thể cai chưa?

Nhân tiện nói luôn, trong một bài báo trên Healthline,

Một số loại thuốc có thể tương tác với dopamine theo cách tạo lập--thói quen.

Nicotine, alcohol, hay những loại thuốc khác có tính gây nghiện kích hoạt chu kỳ dopamine.

Những loại chất này có thể tạo ra dopamine nhanh và mạnh hơn rất nhiều so với lượng dopamine bạn nhận được khi ăn hai bánh quy socola chip.

Đó quả là một dòng dopamine mãnh liệt mà bạn chỉ muốn nhiều hơn—ngay và luôn.

Khi một thói quen được hình thành, não bộ đáp lại bằng cách giảm bớt dopamine.

Bây giờ, bạn cần nhiều chất gây nghiện hơn để có được mức khoái cảm tương tự.

Sự kích thích quá mức cũng ảnh hưởng đến các thụ thể dopamine theo cách khiến bạn mất đi hứng thú với những việc khác.

Điều đó có thể khiến bạn hành xử bốc đồng hơn.

Bạn ngày càng ít có khả năng kháng cự việc dùng những chất gây nghiện đó.

Điều này về cơ bản có thể áp dụng với bất kỳ loại nghiện ngập nào—video game, phim khiêu dâm, mạng xã hội ...

Một khi ngưỡng chịu đựng dopamine của bạn tăng cao thì bạn không thể làm những việc không mang đến cho bạn mức dopamine tương tự.

Tôi cảm thấy bất lực khi bắt đầu xâu chuỗi vấn đề lại với nhau.

Tôi cảm thấy như mình không có tí kiểm soát nào đối với tâm trí cũng như cơ thể mình.

Tôi muốn thay đổi, và thay đổi thật nhanh.

Như đã nói, sau đây là vài chiến lược mà tôi đã và đang dùng để cân bằng mức độ dopamine của tôi và đặc biệt là đánh lừa bộ não để yêu thích làm việc khó trở lại.

Cắt tất cả mạng xã hội 1 lần mỗi tuần

Mỗi sáng thức dậy, tôi đều lên Instagram.

Tôi kiểm tra bảng tin, đi tắm, đánh răng, kiểm tra Instagram, pha cafe, kiểm tra Instagram, ngồi làm việc, kiểm tra Instagram, bắt đầu viết viết, giữa chừng lại kiểm tra Instagram—vâng, bạn hiểu rồi đó.

Viết lách không vui bằng xem Instagram.

Các video trên YouTube thật buồn tẻ.

Khi đọc sách, tôi lại nghĩ đến những tấm ảnh mới nào sẽ hiện trên bảng tin Instagram của mình.

Nếu cuốn sách được dựng thành phim, tôi sẽ theo dõi các diễn viên trên Instagram.

Theo một bài báo của nhà nghiên cứu Trevor Haynes thuộc Đại học Harvard,

Khi bạn nhận được một thông báo từ mạng xã hội, não bộ gửi đi một chất truyền tin hóa học gọi là dopamine dọc theo một con đường phần thưởng, khiến bạn cảm thấy hưng phấn.

Dopamine gắn liền với thức ăn, tập thể dục, tình yêu, tình dục, đánh bạc, ma túy ... và bây giờ là mạng xã hội nữa.

Khi phần thưởng được phân phối ngẫu nhiên (như với máy đánh bạc hay một tương tác tích cực trên mạng xã hội), và kiểm tra phần thưởng thật dễ dàng thì hành vi kích hoạt—dopamine trở thành thói quen.

Nghiện mạng xã hội liên quan đến việc làm hỏng con đường phần thưởng trong não bộ chúng ta.

Mạng xã hội mang đến phần thưởng ngay tức thì—dưới dạng sự chú ý từ mạng lưới của bạn—với nỗ lực tối thiểu từ một cái chạm nhanh.

Do đó, não bộ tự thiết lập lại chính nó, khiến bạn thèm muốn những cái like, retweet, biểu tượng cảm xúc vỗ tay, v.v...

Năm đến 10 phần trăm người dùng internet bị nghiện về mặt tâm lý và không thể kiểm soát lượng thời gian trực tuyến của họ.

Ảnh chụp não của những người nghiện mạng xã hội tương tự với não bộ của người nghiện ma túy: Có một sự thay đổi rõ ràng ở các vùng não bộ kiểm soát cảm xúc, sự chú ý và ra quyết định.

Kết luận?

Dùng mạng xã hội quá nhiều sẽ làm thay đổi hóa chất não bộ của bạn.

Tôi chưa từng nghĩ đến điều này trước đây; tôi không ý thức được việc dùng mạng xã hội của mình.

Tôi hay bào chữa rằng, "Mọi người đều lên mạng xã hội, và họ đều sống tốt ..." hay, "Tôi cần nó cho việc kinh doanh của mình."

Tôi hiểu.

Bỏ mạng xã hội rất khó vì nó có quá nhiều lợi ích.

Bạn có thể dùng nó để thiết lập mạng lưới, kết nối với gia đình, thúc đẩy công việc kinh doanh, cùng nhiều điều khác.

Vấn đề là chúng ta không biết tới tác động tiêu cực đi cùng với nền tảng này, và trong khi việc cắt bỏ hoàn toàn không phải là giải pháp, song bạn vẫn có thể hạn chế dùng nó.

Bạn có thể giải quyết chuyện này theo 2 cách.

Phương án 1: Bạn có thể phải tiến hành một cuộc cai nghiện 'tàn nhẫn', về cơ bản là xóa hết mọi thú vui trong ngày của mình.

Bạn không được truy cập bất kỳ mạng xã hội nào, hoàn toàn không dùng điện thoại, không TV, không âm nhạc, không internet.

Loại bỏ mọi nguồn vui, lạc thú bên ngoài.

Những việc bạn có thể làm: ngồi thiền, viết nhật ký, đi bộ, uống nước, ăn uống lành mạnh (không dùng thức ăn nhanh).

Bạn sẽ bỏ đói bản thân tất cả những việc từng làm bạn thích thú, và nó sẽ khiến cho những việc kém thú vị—vui vẻ trở lại.

Phương án 2: Chọn một ngày trong tuần kiềm chế những hành vi tạo ra nhiều dopamine.

Với tôi thì tôi sẽ không xem Instagram vào thứ Hai hằng tuần.

Cách dễ dàng nhất để làm điều này là xóa ứng dụng khỏi điện thoại, viết "Không xem IG hôm nay" vào một mẩu giấy ghi nhớ và đặt nó ở nơi bạn có thể nhìn thấy.

Hoặc bạn có thể nhờ người bạn đời giúp bạn việc này.

Ngày đầu tiên sẽ rất khó khăn nhưng càng làm, bạn sẽ càng thấy dễ dàng.

Hãy suy xét cái giá của việc không hành động

Khi bạn cố thúc đẩy bản thân làm việc gì đó, bạn thường nghĩ tới những kết quả mình sẽ đạt được.

Ví dụ, khi tôi căng mình đi tập gym, tôi tự nhủ rằng luyện tập sẽ tốt cho tôi.

Tôi ngồi cả ngày và cơ thể tôi cần phải vận động, và nhắc bản thân rằng nếu tôi chịu tập thì tôi có thể ăn đồ ngọt (thứ luôn luôn dụ dỗ được tôi).

Tuy nhiên, tôi bắt đầu cân nhắc về những hậu quả nếu không làm những việc lẽ ra phải làm.

Nếu không tập tành và chăm sóc bản thân, sức khỏe của tôi sẽ sa sút.

Nếu không ăn đủ chất, tôi sẽ không suy nghĩ được sáng suốt.

Tôi sẽ cảm thấy chậm chạp, uể oải.

Nếu tôi bỏ một buổi tập, tôi sẽ có cảm giác tồi tệ suốt những ngày còn lại trong tuần.

Nếu tôi không tập trung cho việc kinh doanh thì tôi sẽ không đạt được thành công.

Bằng cách suy xét về những hậu quả khi không làm việc bạn cần làm, dù là trong cuộc sống cá nhân (như để tâm vào mối quan hệ, chăm sóc sức khỏe bản thân) hay thậm chí công việc (cập nhật thông tin mới nhất về các dự án, đi làm đúng giờ), bạn đang tập trung vào những thiệt hại phát sinh mà bạn có thể gặp phải.

Nhờ đó mà tăng cường động lực hoàn thành công việc của bạn.

Nhà tâm lý học Ana Sofia Batista nói rằng mục tiêu được tạo bởi hai phần: những điều bạn muốn và những điều bạn không muốn.

Hãy luôn ghi nhớ những điều bạn không muốn (thất bại, không có những mối quan hệ tuyệt vời trong cuộc sống, không thể tự nuôi sống bản thân, không theo đuổi ước mơ của mình) có thể là động lực mạnh mẽ cho bạn.

Tôi thực hành điều này hằng ngày.

Khi tôi sa vào một lối tư duy tiêu cực và muốn từ bỏ, tôi sẽ đi dạo và xem xét những điều tôi có thể từ bỏ nếu tôi không áp dụng nó cho bản thân mình mỗi ngày.

Đó là một cách kỷ luật khắc nghiệt nhưng rất hiệu quả.

Tôi mất một thời gian để chấp nhận rằng những thứ nhỏ nhặt như mạng xã hội không chỉ ảnh hưởng tới đạo đức nghề nghiệp mà còn khả năng đối mặt với thử thách của tôi nữa.

Thật đáng thất vọng khi nghĩ rằng bạn ít có khả năng kiểm soát được tâm trí mình, nhưng đạt được sự tự nhận thức đó là bước đầu tiên để đảo ngược tình thế.

Việc này sẽ không dễ dàng, nhưng nếu bạn muốn nhìn thấy một sự thay đổi mạnh mẽ và tích cực trong cuộc sống của mình thì bạn phải bước ra khỏi vùng an toàn thoải mái của bản thân và cắt bỏ tất cả những thứ đang cản trở bạn.
 
Back
Top Dưới