Khác Tâm lý học

  • Người khởi tạo Người khởi tạo [BOT] Wattpad
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu
Tâm Lý Học
Bẻ gãy nhiều thói quen xấu của bạn nhờ 1 thói quen tốt này


Muốn đánh bại những thói quen cũ ngoan cố của mình, bạn chỉ cần hình thành một thói quen mới này.

Có bao giờ bạn hừng hực quyết tâm không lặp lại một thói quen xấu tệ nhưng chưa được bao lâu thì đâu lại vào đó?

Có thể là sau khi bạn lỡ ăn đồ ngọt quá nhiều, mua một đôi giày đắt tiền dù không cần, tiệc tùng "chè chén" quá trớn hay thô lỗ với ai đó...

Danh sách những thói quen xấu trong cuộc sống của bạn ngày một dài hơn.

Điều đáng nói là bạn gần như nhận ra chúng ngay lập tức nhưng lại phải "vật lộn" trong thời gian dài cũng chưa chắc thoát khỏi chúng.

Thật may là căn bệnh này vẫn còn thuốc chữa, hơn nữa lại khá rõ ràng.

Muốn đánh bại những thói quen cũ ngoan cố của mình, bạn chỉ cần hình thành một thói quen mới này.

Và để học được điều ấy, trước tiên bạn cần phải hiểu được cơ chế điều khiển hành vi của não bộ.

Thói quen của con người đến từ đâu?

Một nghiên cứu mới phát hiện rằng .

Đây là những nhân tố về sinh học và môi trường nhưng có khả năng điều khiển hành động của con người trong vô thức.

Nói cách khác, rất nhiều việc chúng ta làm, bao gồm cả những thói quen được chúng ta dưỡng thành đều không phải là kết quả của quá trình suy ngẫm và cân nhắc cẩn thận từ phía chúng ta.

Phát hiện này có lẽ khiến bạn cảm thấy hoang mang.

Nhưng một khi giải mã được những cơ chế tinh vi đằng sau đang thật sự thao túng hành vi của mình từ trong tiềm thức, thì bạn có thể phơi bày chúng ra.

Từ đó lấy lại vị thế làm chủ bộ não và đưa ra những quyết định thông minh hơn.

Nếu không thì chúng ta vẫn mãi đánh lừa chính mình, những tưởng rằng ta đang cầm lái những đâu biết bản thân chỉ là tên tài xế bất lực ngồi ghế sau, còn bộ não đã giao cho những thứ khác điều khiển rồi.

Bộ não con người là một kỳ quan của quá trình tiến hóa, nhưng không phải là nó không có lỗ hổng.

Cơ quan điều khiển tư duy của chúng ta là một kẻ cắp năng lượng đáng sợ, trung bình 1 ngày tiêu thụ đến , ngay cả khi bạn đang ngủ.

Và trong nỗ lực tiết kiệm năng lượng, não bộ phải dựa vào những phím tắt tinh thần mà các nhà tâm lý học gọi là "cơ chế phán đoán tự động" ().

Theo cơ chế này, não bộ sẽ làm việc cật lực để tìm ra các mô hình hay các quy luật của tư duy dựa trên những hành vi thường xuyên lặp lại, rồi tự ý đưa ra những giả định dựa trên các mô hình đó.

Những giả định tự ý này của não bộ thao túng hành vi của chúng ta trong vô thức.

Vì phải dành nỗ lực rất lớn để phát triển các thuật toán cho cơ chế phán đoán tự động, nên bộ não không thích dành thêm năng lượng để xem xét lại các giả định của mình.

Đây là lý do tại sao con người chúng ta thường bướng bỉnh, có lúc còn ngoan cố bảo vệ những nhận thức sai lầm ngay cả khi đã có bằng chứng rõ ràng.

Bộ não tận dụng các mô hình mà nó tự xây dựng bất cứ khi nào có thể.

Việc này giúp tiết kiệm năng lượng cho cơ thể nhưng nó dẫn đến sự tái phát của các thói quen xấu.

Chúng ta làm mọi việc mà không cần suy nghĩ.

Chúng ta dễ dàng đặt niềm tin mà không cần cân nhắc sâu hơn.

Chúng ta trở nên thiên vị và hình thành những quan niệm cố hữu chứ không chịu nhìn nhận hoàn cảnh và suy xét trên nhiều phương diện.

Những thói quen xấu và những quyết định phi lý này có thể của não bộ.

Bẻ gãy những thói quen xấu

Để phá vỡ những cơ chế này, chúng ta phải liên tục nhắc nhở bản thân thoát ra bằng được khỏi hàng ghế sau và nắm chặt tay lái điều khiển não bộ của mình, trở thành một người tài xế thông minh.

Chúng ta chính là nạn nhân của một bộ não lười biếng đang phụ thuộc quá nhiều vào các phím tắt tinh thần.

Bí quyết để được tự do là hãy chú ý đến những hành vi của chúng ta, dù chúng có vẻ nhỏ nhặt thế nào.

Hãy tự hỏi mình những câu hỏi như: "Tại sao mình lại muốn ăn chiếc bánh ngọt đó?"; "Tại sao mình có thể nói ra những lời tàn nhẫn như vậy?"; "Mình đang ngáp dài ngáp ngắn, nhưng tại sao lại muốn thức tiếp để xem một tập phim nữa?"; "Tại sao lại dán mắt vào điện thoại thay vì thưởng thức bữa ăn?"

Chiến lược này nghe có vẻ dễ hiểu nhưng thực hành lại không dễ chút nào.

Người ta thường không đủ tỉnh giác để nhận thức được mình đang làm gì, nhất là những hành vi nhỏ đã thành thói quen.

Điều này được giải thích bởi 2 nguyên nhân: bộ não của chúng ta quá lạm dụng các phím tắt tinh thần và sau đó dồn năng lượng tiết kiệm được để lo lắng về những gì chưa xảy ra.

Đối với những thói quen hằng ngày của bạn, bộ não hoạt động chủ yếu dựa vào cơ chế phán đoán tự động, chứ không muốn cân nhắc thêm.

Tiết kiệm được bao nhiêu năng lượng nó sẽ phung phí cho điều nó yêu thích: tưởng tượng ra các kịch bản trong tương lai mà ở đó bạn thường là diễn viên chính.

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, , điều này rõ ràng mang lại lợi ích giúp bạn giảm căng thẳng và áp lực.

Tuy nhiên, nhược điểm của sự mải mê này là chúng ta không thể nào sống trong thực tại một cách tỉnh thức.

Chúng ta không giỏi dập tắt những ham muốn bất tận sản sinh liên tục từ bộ não.

Do đó chúng ta cũng không giỏi nhận ra và biết ơn những gì mình đang có.

Tin vui là bạn vẫn có cách nuôi dưỡng một thói quen mới để tâm trí đạt đến tĩnh lặng.

Hãy quan sát thật kỹ những hành vi dù nhỏ của mình.

Thưởng ngoạn từng cành cây, chiếc lá trên đường bạn đi.

Hãy làm chủ từng ngóc ngách trong mạch tư duy của não bộ thay vì để tâm trí hoàn toàn bị thôi miên bởi những giả định trong tiềm thức.

Có một cách tiếp cận hữu ích là thúc đẩy mong muốn thành công mặc định của bộ não: hãy đưa cho nó một bài kiểm tra, đề bài là hãy nhận thức thật rõ ràng từng khoảnh khắc và hành vi trong hiện tại.

Thách thức bộ não xem nó có thể vượt qua bài kiểm tra hay không.

Bộ não vốn ghét thất bại và sẽ tạo ra những cảm xúc như cảm giác tội lỗi và xấu hổ để khuyến khích bạn không thất bại lần nữa.

Tương tự như thế, bộ não cũng có cơ chế tự thưởng cho thành công, có thể là cảm giác vui sướng hoặc mãn nguyện.

Nếu bạn có thể hoàn toàn tỉnh thức trong thực tại, quan sát được từng hành vi của bạn ảnh hưởng đến cơ thể mình hay cảm xúc của người khác như thế nào, thì chúc mừng bạn đã tìm được đúng sức mạnh để bẻ gãy những thói quen xấu hình thành do cơ chế phán đoán tự động của não bộ.

Hãy thúc đẩy bản thân dành năng lượng để thử thách trí não của bạn.

Nếu gặp khó khăn, hãy học cách nhận diện các tín hiệu kích hoạt những thói quen xấu và sắp xếp lại hành vi của mình để không lặp lại chúng.

Đôi lúc bạn vẫn có thể cho phép tâm trí được thoải mái đi lang thang về những miền đất và bối cảnh tương lai.

Nhưng chỉ nên làm như vậy vào những thời điểm nghỉ ngơi được chỉ định, không phải là khi bạn đang cần tập trung vào thực tại.

Chúc bạn may mắn trong bài kiểm tra tiếp theo dành cho bộ não của mình.

Cre : Rubi
 
Tâm Lý Học
Làm Thế Nào Để Phát Triển Tâm Không Dính Mắc


Chúng ta hãy tưởng tượng sở hữu được một cái tâm như thế - tâm không dính mắc, tâm không cần mọi vật phải theo một cách nào, tâm không cần người khác phải cư xử theo một cách đặc biệt nào.

Leo Babauta - Chuyển Ngữ:

Nguồn: zenhabits.net

(Hình: omswami.com)

Người ta nói rằng một trong những vị tổ sư lớn của truyền thống Thiền là tổ Huệ Năng (Hui Neng), đã giác ngộ khi ngài nghe một câu kệ trong Kinh Kim Cương (một trong những bài giảng dạy chính yếu của Đức Phật).

Câu kệ đó có thể được dịch bằng nhiều lối khác nhau, tuy nhiên, một dòng chính yếu trong đó nói rằng, "Hãy phát triển tâm không dính mắc."

Chúng ta hãy tưởng tượng sở hữu được một cái tâm như thế - tâm không dính mắc, tâm không cần mọi vật phải theo một cách nào, tâm không cần người khác phải cư xử theo một cách đặc biệt nào.

Đấy là một cái tâm ở khắp mọi nơi (xem đâu cũng là nhà), bởi vì cái tâm nầy không cần phải ở một nơi chốn nhất định nào cả.

Tất cả các khó khăn của chúng ta sẽ vơi bớt đi, và nhẹ nhàng hơn:

- Nếu người nào làm cho bạn khó chịu, bởi vì bạn dính mắc vào ý tưởng là bạn muốn người đó hành xử theo cách bạn muốn, và khi bạn khộng thấy họ làm như thế, bạn không vui.

Nếu tâm bạn không dính mắc vào những gì bạn muốn, bạn sẽ cảm thấy vui vẻ với cách họ hành động.

Thật thế, bạn có thể phát sinh lòng từ bi đối với họ, bởi vì bạn nhìn thấy họ đang đau khổ.

- Nếu bạn bị kẹt xe, hoặc bạn đứng sắp hàng trong một hàng dài chờ mua bán ở đâu đó, bạn có thể trở nên phiền muộn, và bạn mong muốn cuộc sống của bạn không giống như hiện tại (vì bị kẹt xe, vì bị sắp hàng).

Tâm bạn đang dính mắc vào các mong muốn, do đó tâm bạn không muốn bị vật gì ngăn cản, chặn đường.

- Khi người nào nổi nóng với bạn, bạn có thể trở nên phòng thủ, hoặc là giận dữ vì họ hành xử như vậy, bởi vì bạn đang dính mắc vào sự mong muốn là họ sẽ đối xử với bạn theo một cách khác.

Nếu bạn buông xả sự dính mắc, không có nghĩa là bạn tha thứ hành vi xấu của họ - cũng không có nghĩa là bạn cho phép người kia lạm dụng bạn.

Tuy nhiên, bạn không cần phải nổi nóng, mà bạn chỉ cần tự bảo vệ mình (để bạn khỏi bị lạm dụng, nếu cần thiết).

Và một lần nữa, bạn có thể hiểu được nỗi đau khổ của họ.

Nhiều khó khăn gây ra do sự dính mắc nầy: như sự căng thẳng khi bạn bị quá tải (vì có nhiều việc phải làm), như sự trì hoãn khi bạn không muốn làm một việc khó khăn, hoặc như khi làm một động tác thể dục khó làm, như sự cô đơn, như thiếu đi sự cảm thông trong các cuộc tranh cãi, như ăn quá nhiều, như thói quen xấu về tài chánh, và nhiều thứ khác nữa.

Trước hết hãy nhìn vào cách chúng ta phản ứng trong một tình huống, mà chúng ta xử dụng tâm không dính mắc.

Sau đó, chúng ta hãy nhìn vào cách mà chúng ta có thể phát triển tâm không dính mắc nầy.

THÍ DỤ: ĐỐI PHÓ VỚI MỘT TÌNH HUỐNG KHÓ KHĂN BẰNG TÂM KHÔNG DÍNH MẮC

Thí dụ bạn có người thân đang bị nghiện ma túy, và bạn thật sự muốn giúp họ.

Tuy nhiên, bạn bị căng thẳng về phương cách giúp họ, khuyến khích họ làm một hành động cụ thể, và thậm chí bạn không biết bạn có thể giúp họ được không.

Sự căng thẳng là do sự dính mắc - bạn muốn họ hành xử theo cách của bạn, bạn muốn mọi chuyện xảy ra theo cách bạn muốn xảy ra.

Bạn có lòng thương yêu, bạn có ý tốt, nhưng đồng thời sự dính mắc gây cho bạn ít nhiều nỗi khổ đau.

Họ nghiện ma túy là do họ dính mắc.

Họ vướng phải ma túy vì họ muốn tránh xa các khó khăn của họ, mà nguyên nhân cũng là sự dính mắc.

Họ thích cảm giác như bay lên mây, và họ cảm thấy các khó khăn của họ như vơi bớt đi, từ đó họ dính mắc vào cảm giác nầy.

Theo thời gian, sự dính mắc này trở thành sự nghiện ngập, và sự dính mắc này làm cho họ không thoát ra được cơn nghiện.

Họ đang đau khổ, và chúng ta có thể thấy được điều này, và chúng ta thật lòng mong muốn sự nghiện ngập của họ chấm dứt (mà chúng ta không cần phải dính mắc vào kết quả sẽ xảy ra cho họ như thế nào).

Vì vậy, khi nhìn thấy tất cả các điều nầy, bạn bắt đầu buông xả.

Bạn không cần hành vi của họ phải như thế nào, mà bạn chỉ cần thương yêu họ.

Bạn chỉ cần đến gặp họ, chấp nhận họ, với lòng từ bi.

Bạn mở lòng ra với họ, và bạn không cần họ phải thay đổi.

Và dĩ nhiên, bạn hiến tặng họ sự giúp đỡ.

Bạn chia sẻ những ý tưởng như họ hãy đi tìm sự tư vấn, hãy thiền định, hãy sử dụng những phương cách cai nghiện, và sử dụng các trung tâm điều trị.

Tuy nhiên, bạn đừng dính mắc vào chuyện họ có thật sự làm những điều này không - họ được bạn hiến tặng một món quà, với lòng thương yêu.

Đấy là một là phương cách đối phó với một tình huống khó khăn bằng tâm không dính mắc.

Còn có nhiều tình huống khác, tuy nhiên, bạn có thể thấy rằng tâm không dính mắc rất hữu ích để sử dụng trong bất cứ tình huống nào.

PHƯƠNG CÁCH PHÁT TRIỂN TÂM KHÔNG DÍNH MẮC

Tôi sẽ không giả vờ nói rằng tôi chẳng bao giờ dính mắc, cũng như sự phát triển tâm không dính mắc là một chuyện dễ dàng.

Đấy là chuyện tôi hãy còn đang học hỏi và thực hành, và tôi sẽ không dính mắc vào chuyện, chỉ sau một đêm ngắn ngủi thì phương cách nầy phát triển xong xuôi (hoặc là tôi có bao giờ đạt được mục đích nầy, trong tương lai hay không).

Các điều sau đây tôi biết sẽ hữu ích, nếu chúng ta thực hành.

Vì thế, đây là cách tôi sẽ thực hành:

- Bước đầu tiên, chỉ là nhận ra khi bạn đang dính mắc.

Ban đầu, chúng ta rất khó nhận ra, tuy nhiên, một khi bạn đã nhận ra rồi, bạn sẽ nhận ra bất cứ giây phút nào sau đó.

Khi bạn không thích mùi vị của một món ăn, đấy là sự dính mắc.

Khi bạn cần phải uống cà phê, đấy là sự dính mắc.

Khi bạn ăn quá nhiều, hoặc có sự trì hoãn, hoặc có sự rối trí, hoặc bạn đánh và đá người khác hoặc vật gì đó, hoặc bạn chạy vào những nơi giải trí điên cuồng mà bạn thích, hoặc bạn nghỉ chơi với người bạn mà không cần cho họ biết lý do ...

đó là những sự dính mắc.

Chỉ cần nhận ra sự dính mắc là đủ, mà không cần phải phán xét.

- Chú ý đến cảm giác khi bạn đang dính mắc.

Tâm bạn nhận thấy điều gì?

Bạn có cảm xúc gì trên thân thể bạn.

Bạn hãy ham thích học hỏi, và chú tâm nhận ra những chi tiết nhỏ nhặt nhất.

- Thực tập thiền định mỗi ngày, từ 5-10 phút vào buổi sáng, trong vòng ít nhất là một tháng.

Sau một tháng, bạn tăng lên từ 10-15 phút.

Hãy lưu ý những điều sau đây: khi bạn trì hoãn việc thiền định (bạn dính mắc vì mong muốn kiểm tra điện thoại), hoặc khi bạn đang muốn rời khỏi chỗ ngồi trước khi giờ thiền kết thúc, hoặc khi bạn đang dính mắc vào bất cứ điều gì trong lúc ngồi thiền.

- Thực hành sự buông xả.

Đấy là một cách thư giãn cho thân và tâm bạn vơi bớt đi sự căng thẳng.

Đấy là sự thư giản về những gì bạn đang nắm chặt lấy.

Đầu tiên hãy thực hành trong những tình huống dễ dàng, về những điều gì bạn không có nhiều quan tâm.

Hãy nói với chính bạn, "Tôi không cần mọi thứ xảy ra theo cách của tôi.

Tôi không cần mọi thứ phải giống như thế nào.

Tôi hài lòng theo cách nầy hoặc cách kia (cả hai cách), bởi vì cho dù chuyện gì sẽ xảy ra, thế giới nầy cũng trên cả tuyệt vời."

- Chú ý đến trọng-tâm là cái-tôi của sự dính mắc.

Khi bạn dính mắc vào một cái gì đó, bởi vì bạn nghĩ bạn là trung tâm của vũ trụ.

Bạn muốn mọi thứ đi theo con đường của bạn, để đáp ứng sự mong muốn của bạn (hoặc để tránh đi những gì bạn không ưa thích), theo lối bạn thích.

Đấy là khi chúng ta đặt mình vào trung tâm của mọi vật.

Đấy không phải là sự phán xét, mà chỉ là sự nhận biết về quan điểm.

- Hãy mở rộng quan điểm của bạn, vượt ra khỏi cái nhìn tự-chú-tâm vào mình, để thoát ra khỏi sự dính mắc.

Hãy đặt mình vào quan điểm của người khác, để hiểu rằng họ đang đau khổ và dính mắc, và bạn cũng như họ, từ đó bạn kết nối với họ.

Hãy nhận ra rằng bạn và những người khác kết nối với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau, và nếu bạn có thể làm cho người kia không còn đau khổ, điều nầy sẽ có ích lợi cho chính bạn.

Hãy mở rộng trái tim của bạn, mong muốn người khác chấm dứt được sự dính mắc và sự đau khổ, và bạn đừng lo lắng quá nhiều về sự ham muốn của mình, và sự tự bảo vệ chính mình.

Đây là một điều hữu ích khi nói về sự dính mắc, bởi vì khi chúng ta mở rộng tấm lòng, chúng ta thấy không còn cần thiết, mọi thứ phải xảy ra theo cách của chúng ta nữa.

- Chúng ta hãy nhìn ra vẻ đẹp trong mọi vật, sự bao la vô hạn, sự sắc sảo tuyệt vời trong mọi vật nhỏ bé.

Khi chúng ta dính mắc vào mọi vật phải theo một cách nào đó, chúng ta quên đi sự tuyệt vời của những gì xung quanh chúng ta, bởi vì nếu chúng ta nhìn thấy những điều kỳ diệu đó, chúng ta sẽ không cần mọi thứ phải theo một cách nào.

Tất cả mọi cách đều tuyệt vời, theo một lối riêng của nó.

Sự trân quý điều nầy thì hữu ích cho chúng ta.

Các điều nầy sẽ không giúp bạn trở nên không dính mắc, tuy nhiên, chúng sẽ giúp bạn đến gần sự không dính mắc, hơn trước kia rất nhiều.

Cách thật sự để phát triển tâm không dính mắc, đầu tiên là bạn hãy tiếp tục tập buông xả.

Từ giây phút nầy sang giây phút khác, bạn hãy nhận ra sự dính mắc, và sau đó bạn buông xả.

Bạn cứ tiếp tục lặp đi lặp lại như thế.

Rồi sau đó chúng ta mở rộng tấm lòng, để vượt thoát ra ngoài cái nhìn hẹp hòi của chúng ta, để nhìn thấy được sự kết nối với tất cả mọi vật, để chúng ta trân quý vẻ đẹp của mọi vật xung quanh, và chúng ta không nhìn thấy mình tách biệt ra khỏi mọi thứ khác, mà chúng ta chính là một phần của mọi thứ khác, cùng với nhau trong đó, và chúng ta thương yêu sâu sắc qua sự thật này.

Cre : Rubi
 
Tâm Lý Học
Não trạng nạn nhân - Victim syndrome


Những người mang chứng "Não trạng nạn nhân" luôn than phiền về những điều bất hạnh trong cuộc sống của chính mình.

Lời nói đầu

Những người mang chứng "Não trạng nạn nhân" luôn than phiền về những điều bất hạnh trong cuộc sống của chính mình.

Họ tin rằng họ không kiểm soát được cách thức các sự kiện ập đến nên hiển nhiên cảm thức trách nhiệm đối với bản thân ở những người như vậy khá mơ hồ, hầu như không hiện hữu.

Khoảnh khắc trước họ đang vào vai một nạn nhân với bao nỗi niềm cùng cực, khoảnh khắc sau họ quay ngoắt lại và làm tổn thương kẻ cố gắng giúp đỡ mình, để mặc kẻ-ngỡ-là-người-giúp-đỡ ấy đắm chìm trong hoang mang, thất vọng cùng cực.

Người có tâm thức nạn nhân bộc lộ sự giận dữ tiềm tàng- gây hấn thụ động- ẩn sâu bên trong họ khi tương tác với xã hội.

Hành vi của những người này gây tổn thương chính mình và gần với sự bạo dâm vốn có động thái, màu sắc tự hoại bản thân, lấy đau đớn làm niềm vui, khoái lạc.

Dạng thức nạn nhân này trở thành một mô hình tương tác xã hội- một lối sống định hướng hành vi: Tôi chịu bao khốn khổ thế nên tôi là kẻ đáng thương.

Trong bài này, tác giả nêu ra ba ví dụ điển hình của người mang chứng "não trạng nạn nhân" và đề ra một danh sách các mục để nhận biết "người khốn khổ".

Đồng thời, tác giả cũng sẽ bàn luận về lợi ích một người có thể có được-mối lợi thứ cấp– thông qua viêc kéo dài dai dẳng nỗi khốn khổ bản thân và nguồn gốc phát sinh của dạng tâm thức nạn nhân.

Kết thúc bài sẽ là những lời khuyên làm thế nào để có thể giúp đỡ người mang chứng "não trạng nạn nhân".

"Thương hại bản thân là loại thuốc phiện phi dược tính mang tính tàn hủy dễ dàng, mạnh mẽ nhất.

Nó gây nghiện, đem lại khoái lạc nhất thời nhưng đủ để tách rời nạn nhân khỏi thực tại"

_ John Gardner_

"Nếu vấn đề chẳng phải lỗi của ta, ta chẳng bao giờ chịu trách nhiệm về nó.

Nếu ta không thể chịu trách nhiệm cho những gì đã xảy ra, ta sẽ chỉ là nạn nhân của vấn đề ấy."

_ Richard Bach_

"Tự mình kiểm soát cuộc sống của bản thân và điều gì sẽ tới?

Một điều đáng sợ: chẳng có ai mà ta có thể đổ tội cho."

_ Erica Jong_

MỞ ĐẦU

Bạn đã bao giờ để ý đến những người luôn hành xử như thể họ là nạn nhân mọi sự?

Những người luôn đổ tội cho kẻ khác khi điều xấu xảy ra trong cuộc sống?

Những người trách cứ, than vãn, đổ tội cho gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và vô vàn thứ không tên mà họ cho đang giày vò họ?

Thế giới những người này sống đơn thuần được phân thành nạn nhân, kẻ gieo rắc thống khổ, và ít ỏi lắm người cứu giúp.

Và nếu có bao giờ bạn đã từng giúp đỡ họ, bạn có nhận ra rằng cứu giúp họ khỏi chất chồng rắc rối bủa vây xung quanh dường như còn làm mọi thứ tồi tệ thêm?

Liệu bạn có cảm thấy bất bình, phẫn uất với cái cách mà từng lời khuyên của mình bị gạt sang một bên, bị từ chối thẳng thừng không thèm cân nhắc?

Nếu bất cứ kết quả quan sát nào đúng trong trường hợp của bạn, có lẽ bạn đang phải đối mặt với người mang "não trạng nạn nhân" (Fenichel, 1945; Zur, 1994).

Đây là loại người luôn than thở, phiền muộn về những điều không may ập đến trong cuộc sống, bởi lẽ hoàn cảnh vượt quá tầm kiểm soát của chính họ.

Chẳng bao giờ họ cảm thấy ổn, thấy cuộc sống diễn ra như mình mong muốn.

Bất kì nơi đâu họ đến, rắc rối luôn ùn ùn kéo theo.

Vấn đề này được đặt ra không phải để nói rằng những người này là kẻ dựng chuyện.

Ngược lại, luôn luôn có sự thật trong câu chuyện họ mang bên mình.

Thực tế là xui rủi xảy ra với tất cả chúng ta, nhưng đó mới là cuộc sống.

Cuộc đời nào phải vườn hồng trải thảm bao giờ.

Nhưng luôn có nhiều cách khác nhau để giải quyết những rắc rối nảy sinh trong cuộc sống.

Đa phần chúng ta, khi đối diện với các rào cản, thách thức trong đời, sẽ làm một điều gì đó và trở nên quen thuộc, không còn hoang mang, bực dọc với thứ cản đường như trước.

Nhưng người với "não trạng nạn nhân" không có khả năng làm như vậy.

Cách nhìn đời tiêu cực của họ về thế giới bên ngoài thường sẽ biến mọi thất bại thành một tấn bi kịch.

Thậm chí ngay cách họ tiếp nhận, xử lí thông tin cũng dẫn đến nhiều rối rắm, căng thẳng.

Để làm phức tạp thêm phương trình vốn dĩ đã mang quá nhiều biến số, người chịu chứng này có xu hướng làm đống hổ lốn chất ngất đang bủa vây quanh họ rối rắm, tệ hại hơn.

Nghe có vẻ lạ lùng nhưng họ thường tự khiến mình thành nạn nhân.

Và mỉa mai thay, những nạn nhân này luôn thành công trong việc tìm thấy kẻ cố tình gieo rắc thống khổ cho cuộc đời mình.

Tệ hại hơn cả, rất khó để có thể giúp đỡ, thỏa hiệp với người mang chứng "não trạng nạn nhân".

Họ luôn mang trong mình cái nhìn u ám, cùng cực về cuộc sống, con người.

Bởi vì không tin rằng mình có thể kiểm soát, giải quyết những điều run rủi diễn ra trong đời, họ mang nơi mình cảm thức trách nhiệm rất nghèo nàn.

Mọi yếu tố khi đi ngược lại với nguyện vọng, mong muốn của họ chẳng qua do con người, hoàn cảnh bên ngoài gây nên- thứ họ không tài nào kiểm soát được.

Mọi nỗ lực đặt ra để giúp đỡ họ, hay thậm chí để đề xuất cách thức giải quyết cho tình trạng họ đang đối mặt phải luôn vượt qua một nòng đại bác cỡ bự đầy lý do rằng tại sao chẳng có gì mang tính thực tiễn, chẳng có gì có thể thực hiện được, và thực tế là nhiều lý do trong đó khá thuyết phục.

Chính vì vậy mà hóa ra những rắc rối họ ở vào là độc nhất, là không lối thoát.

Những người này có xu hướng cố gắng chứng minh người giúp đỡ sai lầm nghiệm trọng.

Dường như bất kì ai đã từng chuẩn bị để giúp họ đều bị bỏ mặc trong nỗi ấm ức, bất bình.

XU HƯỚNG TÍNH CÁCH

Người với tâm thức nạn nhân luôn thường có sự giận dữ thụ động, tiềm tàng trong cách tương tác với xã hội.

Xu hướng giận dữ thụ động tiềm tàng là cách thức mơ hồ, gián tiếp để đạt được điều cá nhân mong muốn và sẽ khi sự giận dữ được bộc lộ ra thì cá nhân cũng không nhận thức được, không dám thừa nhận hay thậm chí không đối diện được với nó. (APA, 2000; Millon, 2004).

Ai hay mang cảm giác bất lực thường sử dụng cơ chế giận dữ thụ động tiềm tàng này như phương thức cuối cùng.

Khi cá nhân gặp khó khăn trong việc nhận thức, đối diện được với cơn giận dữ nơi chính bản thân mình (vốn là kết quả của việc nhìn nhận bản thể mình ra sao), khả năng thông cảm, thấu hiểu cho nhu cầu người khác của cá nhân ấy hầu như nông cạn, nhưng ngược lại, cá nhân ấy là chuyên gia của hình thức kháng cự thụ động.

Đổ tội là một phần trong điều người với "não trạng nạn nhân" có thể làm, có thể phô diễn.

Dù rằng hành động là lời giải thích cho tình trạng họ rơi vào nhưng họ rất giỏi trong việc bao biện vì đâu mọi thứ không diễn ra theo cách họ mong muốn, không thể nào khắc phục thay đổi được.

Cách thức thường thấy để đạt được điều những người này mong chờ là khiến người khác cảm thấy tội lỗi thông qua việc gửi đi các dạng thức tác động vào xúc cảm (Simon, 1996).

"Nạn nhân" sẽ hờn dỗi, bĩu môi, bỏ ngang mọi thứ, phá đám, bao biện và nói dối.

Khả năng của họ trong việc tác động vào cảm giác của người khác làm cho đối tượng họ nhắm vào trở nên thiếu cẩn trọng, không được phòng vệ và dễ bị tổn thương.

Với những người mang tâm thức nạn nhân như thế, ta không bao giờ có thể chắc chắn được một trăm phần trăm điều gì đã được họ đề cập hay ta nên mong đợi ở họ điều gì.

Hành vi của những người này mang dạng gây tổn thương chính mình, khá gần với bạo dâm.

Nó như thể bất kì ai trải qua vòng xoáy của tâm thức nạn nhân sẽ chờ mong cảm giác đớn đau, giày vò hoặc có thể thích thú, có thể bị cuốn vào những mối quan hệ đầy sóng gió, rối ren.

Họ thất bại trong việc hoàn thành trách nhiệm cần thiết với đời sống thể chất, tinh thần của bản thân.

Họ đặt kỳ vọng bản thân lên cao chỉ để khiến mình rơi xuống.

Cái hẫng hụt vốn đang cồn cào man dại sau những cú rơi kia liên quan mật thiết đến xã hội, đến những tình huống kết thúc trong tuyệt vọng, thất bại, trong sự ngược đãi, dù rằng luôn tồn tại đó cho họ nhiều lựa chọn tốt đẹp hơn.

Họ chối từ những cơ hội được nhẹ lòng, thỏa mãn, hay rụt rè, ngần ngại trong việc nhận thức rằng họ đang hài lòng với chính bản thân mình.

Hi sinh bản thân là điều đúng với họ hơn, dù có thể người được nhận lấy sự hi sinh ấy chẳng hề đòi hỏi nơi họ điều gì (Millon, 2004).

Những người mang "não trạng nạn nhân" có cách thức hành xử quyết liệt và dường như mang tính hủy hoại cao.

Và theo cách nói, cách thể hiện tiêu cực nhất, hành xử của họ bao gồm cả việc chơi trò Russian Roulette(*), lái xe khi đã say mèm, nghiện hút thuốc nặng, lạm dụng ma túy, bài bạc quá độ, ham muốn tình dục cực độ, dùng dao khắc lên da, và thậm chí là tự tử.

(*) Russian Roulette: một trò chơi nguy hiểm.

Người chơi cho một viên đạn vào khẩu súng đã được lên nòng, xoay ổ đạn rồi chĩa khẩu súng vào đầu mình và chờ xem liệu rằng súng có nổ hay không, viên đạn duy nhất ấy có kết liễu đời họ không.

BỘ BA "NẠN NHÂN- KẺ GIEO RẮC THỐNG KHỔ- NGƯỜI CỨU GIÚP"

Cuộc sống, thế giới này là một nơi đầy rẫy hiểm nguy cho kẻ mang tâm thức nạn nhân.

Họ luôn phải chuẩn bị, đề phòng những tình huống xấu nhất bởi luôn có nhung nhúc người cố gắng làm tổn thương họ.

Thực tế thì đây là môi trường khắc nghiệt của cả nạn nhân lẫn kẻ đem lại tai họa, người cứu khổ.

Trung tâm kiểm soát của nạn nhân thường có vẻ như chỉ quẩn quanh vòng ngoài, điều này cũng có nghĩa là họ tin rằng những gì xảy ra với con người tùy thuộc vào sự kiện diễn ra ngoài họ, ngoài khả năng họ có thể làm chủ kiểm soát tình hình.

Trong mắt họ, tầng lớp xã hội quyền lực, định mệnh số phận, hay cơ hội là các yếu tố cơ bản tác động đến sự kiện xảy ra trong cuộc sống con người (Rotter, 1966).

Hệ thống niềm tin này có thể nói khá phù hợp với dạng tâm thức nạn nhân.

Phối hợp với cách nhìn đời tiêu cực, người mang não trạng nạn nhân biết rõ làm thế nào để khiến người khác phát điên lên hay khiến người khác rơi vào thế bị động phòng thủ (mặc dù họ có thể không tự ý thức được).

Họ khéo léo cuốn kẻ khác vào mớ bòng bong hỗn độn do chính mình tạo ra và rồi khiến những kẻ ấy chênh vênh nhờ vào sự thiên biến vạn hóa nỗi lòng của họ.

Phút giây trước họ hãy còn là kẻ đáng thương, phút sau họ vứt bỏ bộ da cũ mà mang vai vai trò gieo rắc đau khổ, làm tổn hại đến bất kì ai cố gắng giúp đỡ bản thân họ.

Nạn nhân- kẻ mang đau thương- người cứu giúp: đây hóa ra cũng chỉ là một mớ hỗn mang, mối quan hệ đầy rẫy biến động.

Ngoài ra, người có não trạng nhân còn là bậc thầy điều khiển, kiểm soát và điều này khiến cho mối liên hệ với người khác trở nên mệt mỏi, mang nhiều nỗi bực dọc.

Ta có thể ví von rằng "nạn nhân" gần như thể mời hẳn người khác đến giúp đỡ họ chỉ để cuối cùng chứng minh rằng nỗ lực giải thoát bỏ ra cũng chỉ là vô ích.

Để khiến cho nỗ lực giải thoát kia trở nên thê thảm, đáng khinh hơn, "nạn nhân" đảo lộn mọi thứ, khăng khăng khẳng định thực chất sự giúp đỡ bỏ ra kia có chăng cũng chỉ làm mọi chuyện tệ hại hơn trước đây.

Điều này tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi của họ, tạo nên thói quen khó bỏ.

Khi được hỏi tại sao họ lại phải hành động như thế, họ sẽ nói rằng "tất cả đều có lý do của nó".

Và khi ta đòi hỏi một lý do rõ ràng, thuyết phục, những lý do cho cách ứng xử vô nghĩa kia (lắm khi cũng nông cạn, ngớ ngẩn) thường lại rất mù mờ, khó hiểu.

Ngay đến người mang não trạng nạn nhân cũng không biết được vì sao họ làm thế và chỉ có trong tâm trí mình một góc nhìn hạn chế về lý do cho việc tự hủy hoại, làm hại đến bản thân.

Thậm chí khi lý do đã được phơi bày ra ánh sáng, khi cách để vượt qua khỏi thống khổ tự tạo kia đã rõ ràng, họ chẳng để tâm mà ủ mình lại vào trong đám bùn bầy nhầy của chính mình.

Có thể coi chính điều này là thứ làm cho hành vi, cách ứng xử của họ trở nên mơ hồ, rối loạn và gây khó chịu ảnh hưởng đến mối quan hệ xã hội xung quanh.

Cũng cần nhìn nhận rằng sự tiêu cực, thái quá của họ lại rất thu hút người khác.

Nhờ vào trạng thái nghiêm túc, nghiêm trọng của tâm thức nạn nhân, lòng trắc ẩn quan tâm đồng loại được khơi gợi lên nơi tâm hồn kẻ khác.

Vì chẳng ai nỡ lòng chối bỏ làm ngơ trước những lời thở than cầu cứu.

Tuy nhiên trong đa số trường hợp, sự tình nguyện giúp đỡ ấy cũng chỉ có hiệu lực thời gian ngắn.

Như thiêu thân lao vào ngọn lửa, sớm muộn thì thiêu thân cũng bị chết trụi.

Dường như chẳng nỗ lực nào, chẳng gì có thể cải thiện tình trạng thảm thương, thống khổ của nạn nhân.

Mà điều ấy bắt nguồn khi mọi nỗ lực bỏ ra đều bị làm ngơ, đánh giá thấp hay phải đối diện với sự bùng nổ xúc cảm, ức chế.

Tất nhiên, câu hỏi quan trọng mà ta cần đặt ra phải là tại sao những nạn nhân dạng này lại đòi hỏi sự giúp đỡ buổi ban đâu?

Họ có thực chất muốn được giúp đỡ hay chăng?

Được trao tặng, tạo điều kiện đầy đủ, điều họ quan tâm, dự định sẽ làm khi ấy là làm sao để bản thân nổi bật.

Ít ra thì có một viễn cảnh tiêu cực vẫn tốt hơn là chẳng biết điều, chẳng có lấy ý chí tự thân.

Chúng tôi để ý rằng dạng thức nạn nhân này trở thành một mô hình tương tác xã hội- một lối sống định hướng hành vi: Tôi chịu bao khốn khổ thế nên tôi là kẻ đáng thương.

Ví dụ sau đây có thể xem là một viễn cảnh thông thường đối với người mang xu hướng của bệnh này.

John, giám đốc điều hành của một công ty năng lượng bền vững, đang phải phân vân đau đầu tìm cách giải quyết đối với trường hợp của vị phó chủ tịch Amelia.

Mặc dù không thể phủ nhận những đức tính tốt nhưng Amelia lại quá chi li, tiểu tiết đòi hỏi sự hoàn hảo tuyệt đối.

Khi làm việc cùng nhau, Amelia tốn thời gian của anh nhiều hơn cả và hiếm khi nào cô hài lòng- những lúc như vậy cô hóa thành nữ hoàng kịch và dựng đủ loại kịch bản nếu mọi thứ không đi đúng theo ý mình.

Và thực tế thì chẳng có thứ gì đáp ứng được tiêu chí của Amelia cả.

John cảm thấy thắc mắc trước câu hỏi vì đâu mà một người chuyên nghiệp được đánh giá cao như Amelia lại luôn phải vào vai một nạn nhân chịu bao điều thống khổ, bất công.

Làm thế nào để một người sáng giá, tài năng như vậy lại không nhận thức được hành vi thiếu đứng đắn, thiếu cả sự chuyên nghiệp của mình?

Những câu hỏi này lâu nay vẫn làm phiền John- người bào chữa, biện hộ nhằm đảm bảo sự đa dạng cân bằng giới tính trong công ty- mỗi khi Amelia vướng vào rắc rối cô lại đổ tội cho hệ thống chỉ toàn đàn ông bảo thủ, nhân viên cũ.

John nhận ra rằng đây có chăng cũng chỉ lời ngụy biện yếu ớt bởi chẳng có bất kì người nữ nhân viên nào từng đề cập hay than phiền vấn đề tương tự.

Anh thậm chí còn tham gia vào những chuyện bên lề ngoài công việc chỉ để hiểu cách nhìn nhận, suy nghĩ của những nữ quản lí cấp cao trong công ty mình.

Và cái ý tưởng chính vì hệ thống bảo thủ, trì trệ của Amelia đã làm giảm năng suất lao động của nhân viên, đặc biệt là nhân viên nữ quả thực quá nực cười, vô nghĩa với anh.

Gặp mặt bàn bạc với Amelia chẳng khác gì trò xiếc đi trên dây mà không đồ bảo hiểm.

Tệ hơn cả là mỗi kì báo cáo hai năm một lần với cô.

Chẳng bao giờ có thể biết được cô sẽ phản ứng ra sao thế nên John ngán ngẩm với những kì như thế.

Với anh, khuyên nhủ cô về việc lẽ ra cô có thể giải quyết tình huống, công việc hiệu quả hơn ra sao là phương thức ngoại giao chính.

Nhưng thực tế thì giờ đây khi đến lượt Amelia nhận xét nội bộ công ty, John đã phải trải qua nhiều đêm trằn trọc lo âu.

Ký ức về việc Amelia đã bùng nổ, phát điên lên như thế nào khi anh đưa ra một số đóng góp, khuyên nhủ mang tính xây dựng vẫn còn ám ảnh anh trong tâm trí.

Khi anh đề cập đến chuyện lẽ ra tình huống ấy có thể được giải quyết hiệu quả hơn ra sao, cô trở nên mất kiểm soát và mở màn cuộc tranh cãi nảy lửa đầy công kích về trình độ chuyên môn của anh cũng như phủ nhận hoàn toàn mọi chi tiết vượt ra ngoài tầm kiểm soát.

Tại sao Amelia không để ý được rằng mỗi khi xảy ra chuyện thì sai lầm chỉ xoay quanh kẻ khác ngoài cô?

Lần này John trở nên kiên quyết hơn và cố gắng cho cô thấy rằng cô đã không là người quan sát công minh, liêm chính trong vấn đề anh đặt ra thì Amelia đả kích anh hơn, khoác lên mình vai trò của một người bị hại đáng thương, vô tội.

Sau chuyện này, anh cảm thấy bản thân ngớ ngẩn, thảm hại khi thực hiện phương thức ngoại giao này.

Anh thầm tưởng mình như thể đã ngược đãi Amelia vậy.

Anh nhận ra rằng lần nào cũng vậy, bất kì khi nào kết thúc buổi gặp mặt bàn bạc anh lại thấy thương cảm cho cô và cố gắng làm cô bình tĩnh lại.

Anh thắc mắc vì đâu mà cách tiếp cận vấn đề, tình huống ấy của Amelia có thể hiệu quả đến thế, lặp lại liên tục được như thế.

Ngoài cuộc sống vẫn có rất nhiều Amelia chuyên nghiệp như thế, những người đóng vai trò nạn nhân cả trong đời sống cá nhân lẫn trong cộng đồng.

Trong vòng một tiếng đồng hồ tiếp theo, Victor giám đốc điều hành của một ngân hàng quốc tế sẽ gặp mặt Adam, một trong những người Victor đánh giá cao thuộc bộ phận giao dịch.

Ông đoán rằng Adam sẽ muốn hỏi về phó giám đốc chi nhánh mới được bổ nhiệm gần đây vì người tiền nhiệm đã nghỉ hưu.

Thực tế thì Victor cho rằng Adam chưa sẵn sàng để đảm đương một trách nhiệm lớn như phó giám đốc như vậy và lo lắng liệu rằng anh ta có thể giải quyết mọi rắc rối, khó khăn êm thắm hay chăng khi nó xuất hiện.

Victor đánh giá Adam như một người có phần thiếu chững chạc và không làm chủ được cảm xúc- điều anh cần luyện tập nếu muốn làm việc, hợp tác với các đối tác sau này.

Có nhiều lý do để Victor tin vào sự hoài nghi của mình.

Trước nhất là việc chưa bao giờ Adam nhận trách nhiệm khi có rắc rối xảy ra.

Tất cả những gì anh làm chỉ là bao biện và đổ tội cho người khác.

Adam thường cố gắng tránh đi những việc lẽ ra anh phải làm trên cương vị bản thân.

Tiếp sau đó là sự lươn lẹo, thù dai nhớ lâu của anh.

Bất kì ai làm trái ý anh, làm anh chệch khỏi con đường đã định ra sẵn sẽ chẳng bao giờ anh quên được.

Thậm chí anh còn đưa ra một danh sách dài đầy những cái tên và hồ như chưa bao giờ danh sách ấy được rút bớt.

Trong một dịp trước đó, khi Adam không được thăng chức như anh đã mong đợi, anh lao vào phòng ông để vặn hỏi xem liệu có phải một đồng nghiệp đã nói xấu anh.

Ông trả lời không phải và nêu lý do anh không được thăng chức bởi lỗi lầm ngớ ngẩn gần đây nhưng anh lại chẳng thèm để tai nghe lấy.

Anh chối bay việc thừa nhận rằng chính lỗi lầm của mình đã dẫn đến tình trạng trì trệ trong một thời gian khá dài.

Và đó chẳng phải là lần duy nhất Adam tự hại mình.

Với thiên hướng đặt mình vào những tình huống thuận lợi để có thể dễ đạt được thành công, anh có thể trở thành kẻ thù lớn nhất của chính bản thân mình.

Kì đó, Victor đã phải làm anh bình tĩnh lại bằng cách thuyết phục anh rằng vị trí kia chỉ là nhất thời mà thôi.

Song Victor cảm thấy bối rối vô cùng phải làm sao để kéo Adam ra khỏi tầng lớp những nghĩ suy lươn lẹo, nham hiểm, làm sao để ngăn được Adam không tự quăng mình vào những tình huống sẽ để lại hậu quả khôn lường.

Tâm trạng ủ ê, mơ màng của Adam thật sự là một rắc rối bởi lẽ nó chẳng hề phù hợp khi bạn là nhân viên của một ngân hàng quốc tế hay thậm chí là bất kì ngân hàng nào.

Và anh vẫn còn nhiều thứ để học bởi cuộc tiếp xúc gần đây nhất của họ đã chứng minh điều đó.

Adam gửi mail cho Victor, mời ông đi ăn trưa cùng với anh.

Victor đã hồi đáp ngay, từ chối lời mời do phải vắng mặt cả tuần ở nước ngoài để giải quyết một số công chuyện cá nhân.

Victor những tưởng mọi thứ sẽ lắng xuống sau đó song chẳng có gì đúng như suy nghĩ của ông.

Hôm trở về, thông qua viên thư kí của mình Victor biết được lời từ chối hôm nào nay trở thành tấn kịch đầy căng thẳng.

Hóa ra Adam đã đổ lỗi cho Victor vì đã không ở đó cùng với anh, thuyết phục hết thảy rằng ông chẳng quan tâm gì anh hay bất kì ai khi có vấn đề ập đến (mặc cho mọi lời phản bác có chứng minh).

Adam có thể có nhiều đức tính song điều đó chẳng khiến Victor bớt chán ngán về anh, về những màn kịch anh tự mình đạo diễn.

Tại sao mọi thứ lại phải được thổi phồng đến thế?

Tại sao Adam lại phải biến mình thành đối tượng cho những công kích tinh thần của chính bản thân?

Ông cảm thấy bị vây hãm khi Adam mang tâm thức nạn nhân, khi anh bộc lộ quá rõ mức tiêu cực nơi tinh thần mình.

Liệu rằng tình trạng xúc cảm ấy của anh có trở thành hình mẫu sai lệch và ảnh hưởng đến nhóm anh ta nói chung và những nhân viên trong nhóm ấy nói riêng không?

Thế giới vẫn còn đó rất nhiều các nạn nhân đang phải vật lộn với khó khăn, thống khổ cực cùng.

Song khi ta không phủ định tác động thực tế của việc ngược đãi, não trạng nạn nhân trở thành một tâm thức hiển nhiên của cá nhân.

Chúng ta có thể chủ động giải quyết những tình huống khó khăn trong cuộc sống hay điều chỉnh lại tâm thức nạn nhân của mình.

Luôn luôn có đó sự lựa chọn để biến những chông gai thử thách thành điều hiển nhiên trong đời, thành một vết hằn quá khứ thử thách ta.

Tuy nhiên bất cứ khi nào ta chối bỏ trách nhiệm cho cách ứng xử, hành vi của bản thân, ta sẽ luôn vào vai nạn nhân mà chẳng hề hay biết.

Cảm giác bị phản bội hay thua kém người khác là những cung bậc dai dẳng, ăn mòn tâm hồn của ta.

Mặc dù khía cạnh tích cực của những cảm giác này ở chỗ ta chẳng phải chịu trách nhiệm gì nhưng mặt tiêu cực mới lại là các yếu tố gây ra bao náo loạn: tức giận, sợ hãi, tội lỗi, hay hoang mang chênh vênh.

LIỆU RẰNG BẠN CÓ TÂM THỨC NẠN NHÂN NƠI MÌNH?

Phần lớn chúng ta không thoải mái khi chứng kiến người khác gặp rắc rối và muốn giúp đỡ họ.

Nhưng khi tình nguyện giúp đỡ của ta không được hồi đáp hay gặp phải sự khinh bỉ, khó chịu, dù rằng ta đã nỗ lực thế nào thì điều cần thiết lúc ấy là tự lo lắng, bảo vệ, xem xét lại bản thân.

Nếu bạn làm việc với vai trò là người giúp đỡ, người hướng dẫn những ai đang phải chật vật với các vấn đề cá nhân hay chuyên môn, bạn nên giữ bản thân nhạy cảm, cẩn trọng với dấu hiệu cảnh báo về tâm thức nạn nhân.

Sử dụng bảng kiểm tra này để xét xem người bạn đang cố gắng giúp đỡ thuộc vào đâu trên thang đo não trạng nạn nhân.

Câu trả lời bạn đưa ra cho những câu hỏi dưới đây càng chắc chắn nhường nào thì đối tượng giúp đỡ của bạn càng có xu hướng mang não trạng nạn nhân.

Bạn có đang đối mặt với người chẳng hài lòng bất kì điều gì cả?

Có phải mọi cuộc đối thoại đều xoay quanh và rồi kết thúc ở rắc rối của họ?

Họ có xu hướng lật bài "hãy thông cảm, thấu hiểu cho thân phận này"?

Họ chăm chú, dành sự tập trung cao độ vào những vấn đề mang tính tiêu cực, những vấn đề hướng nhiều về bản thân?

Liệu lúc nào họ cũng mong chờ điều tồi tệ nhất?

Họ bị ám ảnh bởi quan niệm thế giới này tự thân vận động, tự thân điều chỉnh để đạt tới cân bằng và rằng họ chẳng thể làm gì đổi thay những thứ đã rồi ấy?

Tin rằng hết thảy mọi người trừ họ đều có một cuộc sống hạnh phúc, giản đơn?

Chỉ chăm chăm soi mói những mặt thiếu sót, tiêu cực?

Họ chẳng bao giờ cảm thấy hối tiếc, tội lỗi vì hành vi tiêu cực, thiếu trách nhiệm?

Nỗi niềm thống khổ của họ có lan truyền, tác động đến người khác?

Dường như họ bị lôi cuốn, đắm chìm mình thế hỗn mang, tiêu cực, đầy những tấn bi kịch?

Đổ tội cho người khác có khiến não bộ của họ hoạt động nhanh lẹ, hiệu quả hơn chăng?

Họ có hay không xu hướng nhờ người khác lánh cả phần trách nhiệm, nhiệm vụ của mình?

Họ rất giỏi trong việc tìm ra, tạo ra người cứu giúp và kẻ rắc gieo độc ác?

VÀO VAI MỘT NẠN NHÂN THÚ VỊ RA SAO?

Với não trạng nạn nhân, "nạn nhân" được lợi như thế nào?

Đâu là mặt tích cực khi vào vai một nạn nhân?

Và vì đâu mà mặc cho việc tự chuốc vào thân mỏi mệt những người này vẫn tiếp tục đeo lên bộ mặt này?

Để trả lời được những câu hỏi này, chúng ta cần phải có cái nhìn rộng hơn, xa hơn điều hiển hiện trước mắt, phải thấy được rừng chứ không chỉ dừng lại ở cây.

Đồng xu nào cũng có mặt phải mặt trái, vấn đề nào cũng có lấy điểm tích cực nếu ta biết khai thác, tận dụng.

Để hiểu được tường tận vấn đề, ta phải cân nhắc đến mọi khía cạnh tích cực khi cá nhân quyết định vào vai nạn nhân.

Tạm bỏ qua những điểm tiêu cực của nỗi niềm thống khổ, luôn có đó những lợi ích gắn liền với vai trò nạn nhân.

Mối lợi thứ cấp

Trong giai đoạn nạn nhân, mối lợi thứ cấp luôn tồn tại như một câu hỏi, một nghi vấn rất quen thuộc với bất kì ai là người giúp đỡ, người hướng dẫn.

Mối lợi thứ cấp là những lợi thế bên lề mà nạn nhân vô tình có được thông qua những lời kể thống khổ của mình dù rằng bản thân họ không nhận thức được chúng (Freud, 1926 và 1959; Fenichel, 1945, Leahy, 2001).

Mối lợi thứ cấp trong trường hợp này được hiểu như lợi thế cá nhân nhận được nhờ vào thất bại khi giải quyết vấn đề vừa nảy sinh.

Chúng nảy sinh khi khó khăn mà cá nhân phải đối mặt vẫn tồn tại đó, gắn liền với những tác động mạnh mẽ đến từ mục tiêu, động lực xúc cảm, thù lao, điều kiện tiếp cận với các nguồn hỗ trợ, và rất nhiều yếu tố thúc đẩy khác.

Đôi lúc họ vẫn nhận thức được lờ mờ nguồn cơn của các mối lợi thứ cấp, song đa phần họ chẳng ý thức được quá trình tâm lý làm nảy sinh mối lợi đang diễn ra trong tâm trí của họ.

Người mang não trạng nạn nhân thường lấy những mối lợi thứ cấp để xác định con đường, đạt được mục tiêu cho bản thân nhưng thường thì điều họ chọn lựa để làm chẳng hề được suy tính, suy xét trước sau cẩn thận.

Thế nhưng khách quan mà nói, mối lợi thứ cấp chẳng thể giải quyết vấn đề, nâng tầm hay làm cuộc sống này dễ chịu thoải mái hơn, có thể điều này ngược lại hoàn toàn nếu xét theo góc nhìn chủ quan song đó cũng chỉ nhờ lợi ích trước đó được tích lũy dần đến thời điểm hiện tại.

Đây được coi như một cơ chế quan trọng trong việc giải thích, đánh giá vì đâu mà nhiều người mắc chứng rối loạn chức năng hành vi, vì đâu họ khăng khăng ủ mình trong thống khổ mà chẳng thèm vùng vẫy hướng đến sự giải thoát.

Một số người khác lại lấy làm thỏa mãn từ những rối loạn cảm xúc trong mình.

Nhưng đa phần nạn nhân không tự nhận thức được mối lợi thứ cấp.

Họ không chủ đích thao túng hay ngụy tạo vấn đề mình đối mặt, vì lẽ những gì trải qua thực chất với cá nhân họ đầy rẫy xót xa, đau đớn để rồi với cơ chế phòng vệ họ không nhận ra lý do tại sao lại làm vậy.

Sự kiểm soát của vô thức mạnh mẽ vô cùng, thậm chí nó còn ngăn cản, gây khó khăn cho người đó trong quá trình quan sát, tự thức rằng thay đổi đáng giá hơn nhiều so với việc giữ khư khư thách thức bản thân đang đối mặt.

Mối lợi thứ cấp có thể coi như yếu tố thiết yếu lâu dài trong giai đoạn "nạn nhân".

Không may khi hiện tại nó vẫn bị hiểu nhầm, lẫn lộn với sự giả vờ, ngụy trang.

Bởi lẽ trong tâm lý học nền tảng ban đầu, có một quy tắc nhỏ ngầm hiểu với nhau rằng khi một người lặp đi lặp lại một hành vi riêng biệt nào đó, chúng ta có thể chắc chắn rằng họ luôn nhận được một cái gì đó, một điều gì đó về sau.

Những lợi ích có được

Vào vai nạn nhân có thể làm thỏa mãn những nhu cầu vô thức.

Cách thức "đáng thương quá tôi ơi" của họ sẽ dấy lên niềm thương cảm và sẵn sàng giúp đỡ không chút chần chừ nơi người khác.

Không thể làm ngơ rằng được để ý, được đánh giá cao là khát khao tự thân của mỗi cá nhân thế nên sẽ vô cùng dễ chịu khi được người khác quan tâm, chú ý, khi sự dựa dẫm đòi hỏi được làm ngơ, xem như điều hiển nhiên, cần thiết.

Làm nạn nhân là cách thức lảng tránh hữu hiệu những vấn đề khó khăn, mông lung trong cuộc sống.

Khi ấy chúng ta có thể ở yên một chỗ mà chẳng cần phải lo lắng sẽ chịu trách nhiệm ra sao cho hành động, vai trò của mình.

Khi ấy chúng ta có thể lấy vai trò này làm lá chắn cho mình đồng thời có thể buộc người khác phải giải quyết hậu họa lẽ ra thuộc về bản thân ta.

Nói cách khác, những thứ mà vai trò nạn nhân mang lại đánh vào góc khuất của con người, rất khó để có thể cưỡng lại bởi lẽ đổ tội cho người khác, né tránh những khó khăn quả thực tác động mạnh vào nhu cầu, khát khao lẩn khuất trong mỗi cá nhân.

Đừng bao giờ đánh giá thấp cái cảm giác nhẹ nhõm, thảnh thơi đi cùng với việc đặt khó khăn, thống khổ của bản thân lên vai người khác, điều khác.

Trong thực tế thì đây thường là phương án cuối cùng với rất ít ngụy họa, ít sự mạo hiểm và chúng ta lại không nhất thiết phải đợi thời cơ, nắm bắt cơ hội nào ngoài việc nhẹ nhàng vào vai.

Liên tục khẳng định nỗi thống khổ của bản thân tạo nên vỏ bọc hiệu quả cho xu hướng gây hấn tiềm tàng.

Trò đổ tội mang trong mình cả sự bất lực lẫn sự tự vệ, nói cách khác là cả sự thụ động cũng như chủ động ở những người mang não trạng nạn nhân.

Bởi lẽ thế giới này được coi như là địa ngục trần gian với bao sự tình khốn nạn, người mang não trạng nạn nhân thường đẩy lùi, giải thoát mình khỏi hoàn cảnh bằng cách thức như vậy có chăng là để bảo vệ họ khỏi sự tức giận, việc đổ lỗi không thể không tránh được đến từ người khác.

Còn có vô vàn các lợi thế khác khi thả mình xuôi dòng trên đại dương thống khổ.

Thống khổ, đớn đau luôn hiện hữu cùng với sự đồng hành.

Điều đó cũng có nghĩa là những người mang nỗi niềm thường sẽ tìm thấy sự đồng cảm với những ai giống họ.

Những người mang não trạng nạn nhân thu hút người khác rất nhiều.

Cảm giác cá nhân chẳng hề cô độc tạo nên chút gì đó của sự hỗ trợ, đồng lòng, thấu cảm nhau.

Dường như ai trong chúng ta cũng nuôi dưỡng, nhâm nhi lấy mùi vị, hương thơm, tiếng lòng nơi nỗi niềm đau khổ của cá nhân có chăng cũng để chờ lấy vị cứu tinh nào đó giải thoát mình khỏi chính bản thân mình, dẫu rằng sự giải thoát này chỉ là tạm thời cho đến khi vòng xoay nạn nhân-kẻ gieo rắc đau khổ- người cứu giúp lại lặp lại lần nữa.

Thế nên ta có thể nhìn nhận được rằng vào vai nạn nhân có thể làm tổng hòa của sự sao chép chiến thuật, hình thức đọa đày, và cả nỗ lực tìm kiếm phương tiện, cách thức thực hiện.

Điều hiển nhiên là vẫn còn những giới hạn mà một người có thể chịu đựng và giúp đỡ "nạn nhân" của mình bởi lẽ lời than thở liên tục khiến kẻ đối diện cũng mệt mỏi, thở than không kém.

Cuối cùng thì nạn nhân cũng sẽ bị thua thiệt nếu tình hình chẳng đổi thay, trở nên khá khẩm hơn dù rằng cách thức giải quyết vẫn còn đó, vẫn có thể mang lại hiệu quả; còn không thì kẻ giúp đỡ cứu tinh kia rồi sẽ rơi vào sự kiểm soát của nạn nhân.

NÃO TRẠNG NẠN NHÂN KHỞI NGUỒN TỪ ĐÂU?

Sự phát triển nhân cách có thể đa dạng như giọt nước nơi đại dương, như cát trên bờ biển.

Dù rằng chúng ta đều là con người, dù rằng chúng ta đều mang những trải nghiệm độc nhất, luôn có đó những mảng phân tranh trong sự phát triển cá nhân mà phần lớn mang màu sắc gần tựa nhau.

Sự phát triển nhân cách cá nhân là kết quả bộc lộ ra bên ngoài của bản chất tự nhiên lẫn môi trường giáo dục.

Dựa vào nền tảng của sơ đồ gen ta có thể nói rằng nhân cách của ta thành hình qua rất nhiều quá trình phát triển.

Phần lớn yếu tố tạo nên não trạng nạn nhân có nguồn gốc từ phía gia đình.

Vai diễn nạn nhân tuy thế lại chẳng hề mang chút gì của tư chất mà thật ra được dạy dỗ trước đó (Hawker và Boulton, 2000; Mullings, Marquart và Hartley, 2004; Harris, 2009).

Nếu xui rủi xảy ra trong quá trình trưởng thành lớn khôn, những người ấy thường có thái độ, cách nhìn bi quan về nhân thế, về cuộc sống này.

Tùy thuộc vào cảm nhận về vai diễn nạn nhân mà phụ huynh có thể hoặc mang lại cho con cái một môi trường phát triển thân thiện, nhiều động lực thúc đẩy, hoặc tạo ra những tình cảnh ngược ngạo, những tình huống để lại ấn tượng xấu trong tiềm thức.

Bên cạnh đó họ có thể mang lại những yếu tố tích cực cho cả một thế hệ, những yếu tố mà mối lợi thứ cấp chiếm ưu thế hơn cả.

Đối với những đứa trẻ lớn lên trong hoàn cảnh ngược ngạo, chịu đựng là cách thức đòi hỏi sự quan tâm cũng như lảng tránh sự hững hờ, lời phê bình đay nghiến đến từ cha mẹ.

Điều này tạo nên nhiều nghịch lý trong mối quan hệ mà ở đó đời sống dường như được cải thiện khi gặp xui rủi, rắc rối.

Khi ấy các bậc phụ huynh trở nên hòa thuận hơn mỗi khi con mình trải qua những cung bậc cảm xúc tồi tệ.

Một khi vấn đề của con trẻ được mọi người sẻ chia, đứa trẻ sẽ nhẹ nhõm hơn ngược lại hẳn với những trẻ phải chịu đựng không khí gia đình lạnh nhạt, hằn học.

Đáng tiếc thay, những gia đình có bầu không khí như vậy lại mang rối loạn chức năng trong mối quan hệ của mình.

Cha mẹ trong những gia đình này không hề nhận thức được sự tiêu cực mà họ mang lại cho con cái mình cũng như trước kia cha mẹ họ chẳng hề quan tâm đến.

Nhưng một quá khứ xám xịt không là lời bào chữa, ngụy xảo được cho quá trình dưỡng dục bàng quan, vô tâm vô ý.

Sự tăng tiến, kéo dài liên tục của rối loạn phát triển (dysfunctional developmental cycle) chẳng phải tự nhiên mà có và rằng đã là mẹ cha thì cần phải ý thức được bổn phận, trách nhiệm của mình.

Chúng ta không thể làm ngơ những nhu cầu căn bản của con cái mình.

Chúng ta đợi chờ từ phía những con người trưởng thành sẽ đứng lên, chống lại sự ngược đãi và góp phần tạo nên sự phát triển hoàn toàn khác cho trẻ nhỏ.

Điều khiến cho vấn đề vừa được bàn tới trở nên cấp thiết, quan trọng ở chỗ những người mang não trạng nạn nhân, trong cuộc sống của mình, đã và đang chịu sự ngược đãi về thể chất, tinh thần, lẫn tình dục.

Song trẻ em lại chưa đủ khả năng nhận thức, khả năng thấu hết xúc cảm để nhận ra những ngược đãi này, chưa bàn đến việc chúng có thể thoát khỏi hay không.

Chúng bị buộc vào thế tiến thoái lưỡng nạn để rồi có thể cuối cùng coi những rối loạn phát triển kia là điều hiển nhiên chẳng hạn như hành vi bảo vệ bản thân quá mức, vượt ngoài tầm kiểm soát.

Hoàn cảnh, quá khứ gia đình nay lại trở thành động lực, thành tác nhân khiến chúng tìm kiếm những tình huống ủ men và gặm nhấm nỗi đau khổ, chịu đựng.

Cuối cùng họ tự nhủ với bản thân, đem thông báo đến tất thảy mọi người, "Thấy tôi khổ sở đến nhường nào chưa?

Yêu tôi nhé, thương tôi nhé!".

Đây thực chất là nỗi ám ảnh, nỗi sợ sẽ bị bỏ rơi.

Những người mang não trạng nạn nhân chỉ cảm thấy được tình yêu khi họ rơi vào trong sự khổ sở.

Thậm chí khi đau đớn không hiện hữu một thời gian, khi không còn nữa những ràng buộc kiểm soát, họ có thể cảm thấy chênh vênh, thiếu thốn, kém an toàn.

Chính quá khứ, hoàn cảnh đã khiến họ lao mình vào loại người đày đọa kẻ khác chỉ vì đó là hình thức yêu thương họ biết rõ.

Họ dành cả cuộc đời mình, từ hiện tại đến tương lai, để tìm kiếm những trải nghiệm quá khứ đã qua.

Dẫu cho trải nghiệm có được làm mới, được nghiệm ra nhiều khía cạnh khác nhau thế nào đi chăng nữa, tủi nhục luôn nổi going nổi bão trong lòng đứa trẻ bị ngược đãi.

Bởi lẽ chúng bất lực, chưa đủ khả năng, tinh thần chưa đủ vững để có thể đứng lên và phản lại sự đày ải mình đang chịu đựng hay có thể cầu cứu giúp đỡ từ người khác.

Trải qua năm tháng, chúng cố nhiên mặc định thế giới này đầy rẫy bất công, cố nhiên tự mình vực dậy bảo vệ bản thân để có thể chung sống, tồn tại được.

Con người mang một cách thức phản ứng đầy lý trí ở chỗ lặp lại nguyên y những gì kẻ khác làm với mình.

Dù rằng để ngâm ủ những chát chúa, xót xa với con người chẳng dễ dàng gì, dư vị còn lại của đau thương mới chính là yếu tố dấy lên sự căm ghét, làm hoang tàn cảm thông để rồi chỉ độc khát khao đáp trả.

Trải nghiệm cảm xúc sai lạc ấy cũng dẫn đến vấn đề trong khả năng kiểm soát, kìm nén cơn giận.

Nhưng cốt lõi ở chỗ sự trả thù kia chẳng qua chỉ để tìm kiếm, đạt được công bằng, sự công nhận từ phía mẹ cha.

Xét về khía cạnh bạo lực, nếu hành vi gây hấn đối với họ là bình thường thì khi vào vai kẻ gieo rắc đớn đau thống khổ, cách thức họ phản ứng cũng tương tự, chẳng khác là bao.

Rất nhiều trẻ nhỏ trong thực tế đã ẩn đi sự căm hận với cha mẹ mình khiến cho chúng vô thức giữ lấy nơi mình những rối loạn chức năng kia như một cách để thu hút sự chú ý, để đọa đày chính bản thân mình.

Rối loạn chức năng là cách thức họ chuyện trò cùng cha mẹ, để cha mẹ thấy được họ đã phá hỏng đời mình như thế nào; là cách thức tự hoại bản thân nhằm giải quyết vấn đề trước mắt, cách thức mà ngay cả họ cũng không tự ý thức được.

Khát khao trả thù trong vô thức là yếu tố tác động, kiểm soát mọi hành vi.

Điều này càng rõ ràng hơn cả thông qua việc trong khi họ chối bay chối biến họ hoang mang, không ổn định đến độ nào, họ đang cố tình không để bản thân hiểu được nỗi cay đắng mình tạo dựng phóng đại nên về cuộc sống, hay nỗi niềm mà mình chủ động muốn quên đi.

Những đứa trẻ thấy mình trong hoàn cảnh như vậy sẽ luôn tự vấn rằng vì đâu điều ấy lại chỉ xảy ra với mình mà thôi.

Khi chúng hiểu được rằng đổ lỗi cho thế giới, xã hội này chẳng mang lại chút gì khả quan, thay đổi, chúng sẽ quay ngoắt lại và đay nghiến bản thân không đủ tốt.

Cật vấn, đổ lỗi, trừng phạt chính mình là cách thức mang lại hiệu quả ngay lập tức, dễ dàng kiểm soát lại tạo được cảm giác thỏa mãn bản thân.

Chưa nói đến việc chúng có chủ động làm những điều như thế hay không, thường thì trẻ con không thể thấy rằng những nỗi đau kia bắt nguồn từ chính chúng dù chúng hi vọng rằng sẽ làm tổn thương người khác được.

Song, bằng cách đày đọa, đay nghiến bản thân như thế nào đi chăng nữa thì cảm giác sai lạc, không vừa lòng với bản thân vẫn quẩn quanh, bị đẩy lùi vào phần vô thức bên trong và liên tục tác động đến hành xử bên ngoài.

Kết quả là những người tạo dựng cho chính mình bộ lọc tình huống, lọc lấy cuộc sống đáng mong chờ chỉ ngày càng khiến mình tin vào sự bất lực của bản thân (Seligman, 1975; Abraham, Seligman và Teasdale, 1978).

Cảm giác vô thức kia, mặc cho con người có chối bỏ bao nhiêu, vẫn liên tục đổ màu vào các mối quan hệ cá nhân của họ.

Và rồi một đứa trẻ bị ngược đãi sẽ lớn lên thành một kẻ cay nghiệt dưới tác động của bất công trong thế giới này.

Bất lực như thế, họ rồi sẽ tìm được sự dễ dàng, tìm được ý nghĩa của hành vi tự hoại vô thức; rồi sẽ lại khẳng định "Nhìn đi, cuộc đời này vốn dĩ làm gì có công bằng trong nó."

Có thể thấy rằng, đây là cách thức tự hoại dưới dạng sao chép: khi chỉ ra những góc khuất của cuộc đời, họ cũng đồng thời dự báo, tuyên án chính mình.

Những người mang xu hướng tự hoại là bậc thầy trong việc khơi nên thất bại, nhục nhã, sự trừng phạt mà họ cảm thấy họ đáng phải trải qua và phá hủy bất kì điều tốt đẹp may mắn nào xuất hiện trên con đường của họ.

Điều duy nhất có nghĩa với họ là cảm giác phải thỏa mãn được bản thân mình.

Nỗi đau khổ thường thúc giục sự độ lượng, thương cảm mãnh liệt từ phía đối diện để rồi khao khát giúp đỡ, khao khát đồng hành chia sẻ trỗi dậy.

Những người mang não trạng nạn nhân có xu hướng bi kịch hóa, phóng đại rắc rối, run rủi của mình, làm cho lời cầu cứu van xin giúp đỡ từ phía họ càng trở nên khẩn thiết, cấp bách hơn.

Tuy vậy thỏa mãn lời van xin ấy chẳng phải là thuốc chữa hay con đường giải thoát khỏi thống khổ.

Có thể thấy rằng, chính sự thương cảm của kẻ khác dành cho họ lại là nguyên do khiến cho họ mãi lặn ngụp, quẩn quanh trong tâm thức nạn nhân nơi mình.

Tệ hơn, như đã đề cập trước đó, điều này cuối cùng có thể dẫn đến việc tự dự báo, tuyên án chính mình bởi người có não trạng nạn nhân sẽ bắt đầu hủy hoại đi hạnh phúc, thành công gầy dựng của bản thân để làm sao cho mọi điều xấu chỉ quay quanh chính họ.

Và rồi những kẻ giúp đỡ phải tự nghi hoặc vì sao phải cố gắng giúp đỡ họ làm gì.

Cơ chế tự hoại này trở thành một phản ứng phòng vệ gắn liền với việc thỏa mãn nhu cầu vô thức bằng cách cáo buộc gánh nặng lên vai người khác để người khác nhận ra mình đã làm gì không phải với họ.

Đây là cách trả thù tinh tế, khéo léo những ai đã gây ra tổn hại.

Dù được thể hiện ở phương diện hình thức nào sự gây hấn quá mức hay im lặng tự hoại bản thân, trả thù mới là điểm cốt lõi của những cách thức, quá trình này, sự trả thù ám đầy những mong đợi đen tối, hiểm độc được phủ lên kẻ khác sự khốn khổ mà mình đã phải chịu đựng.

Sau đây là một ví dụ minh họa cho điều này.

Ngày còn nhỏ, Peter luôn vướng vào không vấn đề này cũng đến vấn đề khác.

Điều đó dường như trở nên hiển nhiên, khó có thể tránh khỏi và là điềm báo tương lai chẳng mấy xán lạn.

Mẹ anh phải đối mặt với thời kì khó khăn, đấu tranh để giữ được người đàn ông của đời mình còn cha anh, một gã nát rượu, vũ phu đã bỏ bà sang thành phố khác sinh sống và kết hôn lần nữa.

Peter cùng người anh của mình, người đã cùng anh chịu đựng sự hành hạ ngược đãi của ông bố vũ phu, ngoài mừng vui nhẹ gánh họ chẳng tiếc rẻ, đoái hoài gì đến sự ra đi, biến mất ấy.

Mẹ Peter nổi tiếng là một nữ hoàng diễn xuất, luôn thổi tung mọi thứ bất cứ khi nào bà có cơ hội.

Hỗn loạn cùng bi kịch theo sau bà mọi nơi và giả như rắc rối, thống khổ thiếu mất, bà biết chính xác làm thế nào để gieo rắc nên.

Thường thì bà chính là đạo diễn kiêm biên kịch cho chính những vở diễn, vai diễn của mình.

Đa số những người cố gắng giúp đỡ bà thường bỏ cuộc đầu hàng trong mỏi mệt.

Thế nên chẳng lạ gì khi bà luôn gặp khó khăn để giữ được một công việc nào đó và vì đó mà kinh tế của gia đình ngày Peter còn nhỏ bấp bênh khôn cùng.

Đàn ông đến rồi đi qua cuộc đời bà, để lại cho Peter cùng người anh của mình một người anh, một người chị cùng mẹ khác cha.

Nhìn lại phần đời đã qua này, Peter tự thừa nhận trong tiềm thức rằng thật chẳng dễ dàng gì để có thể trưởng thành trong căn nhà ấy, dưới sự nuôi dưỡng của mẹ mình.

Dẫu vậy một số người bạn của anh đã nhận xét rằng anh không hay anh giống bà ấy đến nhường nào.

Ngay từ những ngày đầu, Peter đã phải đối mặt với vô vàn khó khăn trong trường học.

Anh mắc chứng khó đọc, khả năng tập trung kém và thường xuyên bị xao nhãng thế nên anh thường xuyên bỏ học với lý do không khỏe trong người.

Sự tin tưởng tuyệt đối và có phần ngớ ngẩn của mẹ anh lại là điều kiện thuận lợi để anh trốn học, đó là chưa kể lắm lúc cả hai cùng bao che lẫn cho nhau.

Giúp Peter tìm ra lời biện chữa, thông báo về sự vắng mặt nơi trường lớp mang bà trở lại cảm thức về giai đoạn nạn nhân.

Bất cứ khi nào Peter vướng vào rắc rối, bà luôn làm mọi điều bà cho là cần thiết để có thể giúp đỡ, giải thoát cho anh.

Mặc dù bà có thể nghiêm khắc phê bình hay chỉ trích, cuối cùng bà cũng cứu anh ra khỏi mớ bòng bong.

Nhưng chính việc tước đoạt Peter khỏi phải chịu đựng những hậu quả hiển nhiên đến từ lựa chọn của chính anh, mẹ anh đã tước đoạt anh khỏi rất nhiều cơ hội để anh có thể học được sai lầm trong quá khứ.

Cách thức đối diện đầy rối loạn, biến động với cuộc đời của Peter khiến anh ngày càng bị phụ thuộc vào người khác.

Sự giúp đỡ đầy nhã ý của mẹ tuy thế đã từng bước gửi tới tước khỏi anh khả năng kiểm soát, tạo cho anh một tâm thức, não trạng nạn nhân.

Thời gian trôi qua, mọi thứ lại càng trở nên tồi tệ.

Khi đang ở trong độ tuổi thanh thiếu niên, Peter tìm đến chất gây nghiện và dần dần kết quả trường học của anh càng tụt dốc không phanh.

Ngoại trừ môn toán, môn học mà anh yêu thích nhất, Peter không hề tìm ra được ý nghĩa của trường học hay của việc đi đến trường nhưng ít ra anh tìm được niềm tin, ý nghĩa từ toán học.

Với sự giúp đỡ từ giáo viên có tâm của mình, anh đã cố gắng vực được bản thân tốt nghiệp ra trường và đậu vào một cao đẳng địa phương.

Trong suốt quãng thời gian ở trường cao đẳng, Peter tìm đến phụ nữ.

Ban đầu, anh kiếm tìm những cô gái cùng tình yêu có thể bỏ rơi, làm tổn thương anh để rồi cuối cùng anh dừng chân với người con gái lo lắng quan tâm cho anh hết mình.

Có thể thấy được rằng tất cả đều bắt nguồn từ những rối loạn, những vấn đề gia đình và như chính cha mẹ của anh, mối quan hệ của Peter với người con gái này dần trở nên khó khăn, đầy xích mích, là định hình tiêu biểu cho bộ ba nạn nhân- người gieo rắc khổ đau- người cứu giúp.

Nhìn lại thời kì này, Peter hiểu rằng cả hai đều đang vô thức lặp lại những bi kịch tuổi thơ bằng cách làm tổn thương người đối diện qua niềm tin, chỉ trích cá nhân mình.

Anh sẽ đổ tội cho cô ấy và cô ấy đổ tội cho anh, tất cả chỉ nhằm giúp cho đôi bên thoát khỏi mớ hỗn độn mà bản thân đang vùng vẫy thoát ra.

Đấu đá, tranh cãi dường như là cách thức gắn kết họ lại, là cách thức lạ lùng cho một mối quan hệ yêu đương để rồi Peter nhận ra anh có xu hướng chối từ những ai đối xử tốt với mình, khiến cho mọi giúp đỡ từng có trở nên vô ích.

Trưởng thành cùng tâm thức não trạng nạn nhân, ngày qua ngày Peter nhận ra bản thân càng trở nên nóng nảy.

Ở nhà anh bộc lộ sự giận dữ mang màu sắc tự hoại bản thân cho con trẻ.

Thậm chí anh còn làm điều này ở chỗ làm việc.

Ví dụ như khi anh được đề cử để đảm nhận một vị trí cao hơn trong công ty, anh trở nên lo lắng cùng cực và chính năng suất giảm của anh đã thu hút sự chú ý tất cả mọi người.

Dường như anh tôi luyện được cho bản thân mình tài năng khiến cho bản thân trở đi khiếm khuyết và tạo ra vô vàn chướng ngại cho màn thể hiện được diễn ra tốt đẹp.

Khi mọi chuyện vượt quá tầm kiểm soát, ấy là do lỗi của người khác chứ không phải anh.

Và khoảnh khắc anh mất việc, vợ anh đâm đơn li dị, Peter nhận ra cần phải có gì đó thay đổi.

Mọi thứ không thể cứ tiếp diễn như thế này.

Với hoàn cảnh gia đình, Peter lớn lên trong dự đoán, trong nỗi ám ảnh rằng anh sẽ hóa thành nạn nhân, bị ngược đãi, đối xử không hề thương tiếc.

Để hoàn thành những "kì vọng" ấy, một lần nữa anh bọc mình lại trong những rối loạn và cảm giác bất lực, không giúp gì được mà anh từng trải nghiệm trong quá khứ.

Đây là điều anh biết, điều khiến anh cho rằng một mối quan hệ nên như thế.

Tức là nên nhận biết, ám ảnh thất vọng tương lai, hủy hoại mọi thứ khi chúng đang trên đà tốt đẹp.

Tức là nên khuyến khích người khác hãy lợi dụng, hãy khai thác anh đi.

Đồng thời anh vô hiệu mọi sự cứu giúp đang tìm đến bản thân mình.

Như khi được thăng chức, Peter không ngừng ngược đãi bản thân, chỉ đến khi anh bị đuổi việc và nhận lấy một vị trí khác thấp hơn nhiều, anh mới cảm thấy yên lòng, thỏa mãn.

Nạn nhân của bạo hành gia đình thời thơ ấu có thể sẽ trở thành kẻ gây đau khổ, nạn nhân hoặc cả hai.

Nỗi đau cùng sự giận dữ bắt nguồn từ bạo hành, bội phản sẽ chuyển hướng, ẩn sâu vào trong tâm khảm sau đó tự hủy hoại bản thân mình hoặc cũng có thể hướng ra bên ngoài, biểu lộ theo cách gây hấn thụ động với mọi người.

Đổ lỗi cho hết thảy từ con người đến hoàn cảnh cho những khó khăn của mình là cách thức quen thuộc, thông thường nhất.

Thêm vào đó, nạn nhân thường bị thu hút bởi những ai có xu hướng bị cuốn vào các mối quan hệ hành hạ, ngược đãi nhau.

Luôn có ở đó sự bất lực do học hỏi được trong hành vi của họ.

Hồ sơ tâm lý của việc hành hạ nạn nhân bao gồm cả cảm thức thụ động vô cùng phổ biến, mất kiểm soát, suy nghĩ tiêu cực, không thấu đáo cẩn thận cũng như cảm giác tội lỗi, xấu hổ, trầm uất.

Tất cả những điều này đều có thể dẫn đến sự bất lực và tuyệt vọng khôn cùng.

Câu chuyện của Peter cho thấy rằng người mang não trạng nạn nhân có thể đóng góp một phần mắt xích trong việc truyền lại chứng rối loạn này từ đời này sang đời khác.

Thậm chí nhiều bậc phụ huynh còn áp dụng với con em mình nhiều hình thức dạy dỗ đã được dùng lên họ khi xưa.

SỐNG THEO HOẠCH ĐỊNH

Liệu rằng người mang não trạng nạn nhân có thể thoát khỏi quá trình tự hủy hoại bản thân mình hay chăng?

Làm thế nào để có thể giúp họ thay đổi tâm thức chính mình?

Có cách nào ngăn họ không hủy hoại chính mình không?

Liệu rằng họ có thể sống theo hoạch định, kế hoạch?

Người thích vào vai nạn nhân phải thử thách niềm tin lâu dài của họ, phải học cách nhận lấy trách nhiệm về mình, và chăm sóc bản thân hơn thay vì tìm kiếm sự giúp đỡ từ một nơi nào vô định.

Khi giúp đỡ người mang triệu chứng nạn nhân có thể sống một cuộc sống do chính họ hoạch định, điều cần thiết là đặt câu hỏi liệu rằng họ nhận được lợi lộc gì khi cứ ôm khư khư vào mình những vấn đề không thể giải quyết.

Họ có mất gì không giả như họ giải quyết chúng?

Điều này có thể khiến họ thất thần phần nào bởi câu hỏi lạ lùng như thế, song khi cố gắng trả lời chúng họ sẽ nhận ra được sự chịu đựng nay đã biến thành một phần quan trọng trong cách họ tương tác.

Giả như họ từ bỏ việc xây dựng mối quan hệ theo cách ấy, cuộc đời họ có đổi khác gì hay không?

Nhận thức được những mối lợi thứ cấp gắn liền với tình trạng hiện tại của một người là bước đầu tiên trên con đường nhận thức, phát triển bản thân.

Người mang não trạng nạn nhân cần biết được chính họ là kẻ gây ra nỗi thống khổ của mình.

Hiếm khi nào họ ý thức được thứ họ gầy dựng nên tác động rộng đến độ nào.

Đã bao giờ họ dừng lại để nghĩ tại sao họ tự khoác lên mình vai diễn nạn nhân, tại sao lại phải tìm kiếm kẻ rắc gieo đau khổ hay mời mọc sự ngược đãi tới bản thân mình?

Rất thường xuyên khi họ đã nhận ra được những mối lợi thứ cấp từ những câu hỏi ấy, nó mất đi giá trị ban đầu.

Giúp đỡ người khác vượt quá não trạng nạn nhân đòi hỏi sự phân tích kỹ lượng về bản chất cũng như chất lượng những mối quan hệ cá nhân của họ (Ochberg và Willis, 1991).

Một khi nạn nhân đã có thể hiểu được và nhận thức được rõ ràng cơ chế của mối lợi thứ cấp khi chúng hoạt động, sẽ dễ dàng hơn cho họ rất nhiều để nhận ra rằng những cơ chế vô thức kia chính là yếu tố cốt lỗi cho vấn đề, rắc rối của họ.

Nhìn nhận rõ ràng, đào sâu chi tiết giúp họ hiểu rằng chính mối lợi thứ cấp là tất cả những gì nương kéo, tạo điều kiện cho sự phòng vệ, sự thất bại cá nhân.

Đây là bước đầu trên con đường nhìn nhận, thấu hiểu, học hỏi các cách thức sao chép và tìm kiếm cách riêng, hơn là trầm mình mãi trong vòng xoáy tự diệt chính mình.

Tuy nhiên cách giúp đỡ người mang não trạng nạn nhân tốt nhất là tạo lập nên cách nhìn nhận cuộc đời, lý tưởng sống tích cực, lạc quan khỏe khoắn.

Họ cần trở nên thấu suốt hình ảnh nạn nhân nơi bản thân mình và biến đổi nó thành một điều gì khác, một vai khác có tính xây dựng hơn.

Sự chuyển biến này cần lấy trước hết sự thay đổi trong nhận thức-tình cảm của cá nhân, cách nghĩ mới về bản thân họ.

Họ cần đào sâu để tìm thấy một cái tôi mới mẻ nơi mình bởi cá tính dựng xây trên nền tảng của sự bất lực giờ đây chẳng còn được chấp nhận nữa.

Họ cần cảm thấy hài lòng về bản thân mình trước nhất.

Tuy vậy, điều hiển nhiên là để hình thành một cái tôi, một thái độ khác biệt tốn chẳng ít thời gian, công sức.

Người mang não trạng nạn nhân cũng cần phải học được cách dừng khiến cho kẻ khác khiến mình thêm khổ sở.

Họ nên nhận ra rằng chính sự gây hấn thụ động, hành vi kiểm soát của họ thường gây nên những phản ứng thù địch trong người khác ra sao.

Thay cho những hành vi sẽ tạo điều kiện để não trạng nạn nhân ngày càng phát triển, họ cần chú ý tìm cho mình nhiều phương thức giao tiếp khác nhau mà ở đó vẫn có khoảng không cần thiết cho cá nhân.

Họ cần phải hiểu được rằng các mối quan hệ không nhất thiết, không cần xây dựng trên nền tảng của vai diễn nạn nhân.

Đối với người đang cố gắng giúp đỡ các cá nhân mang não trạng nạn nhân, điều cần chú ý là phải phân biệt rõ đâu là giúp đỡ, đâu là cưu mang cứu giúp.

Với sự cứu giúp, sẽ chẳng có bất cứ một kế hoạch, tiến triển nào và nạn nhân vẫn loay hoay trong tình trạng phụ thuộc, dựa dẫm vào yếu tố bên ngoài như cũ.

Sự cứu giúp tạo điều kiện để nạn nhân giao phó tất thảy sự kiểm soát, trách nhiệm của mình cho người khác dù rằng ngay từ đầu họ đã biến cuộc sống của mình theo ước vọng nào xa xôi, lạ lẫm bên ngoài.

Vả chăng cũng chẳng có gì khó hiểu vì đâu họ lại làm như thế.

Chẳng hạn như Peter lộ ra những khuyết điểm tinh thần như không tin, không cảm, chẳng hề quan tâm điều gì là ý nghĩa, để rồi anh ấy nghi ngờ cả năng lực của chính mình.

Anh mắc kẹt trong vòng xoáy không lối thoát của sự bất lực, sự vô vọng bắt nguồn từ bản thân.

Để rồi ta có thể thấy được rằng nếu một người bị ám ảnh bởi những điều như vậy, sẽ rất khó khăn cho người ấy để có thể thật sự là chính mình, không ai khác ngoài mình thôi.

Lo lắng, sợ hãi, nghi ngờ bản thân, tất cả đều biến con người ta thành nạn nhân đến khi nào ta có thể thấu hiểu, nắm bắt, kiểm soát được cảm xúc nơi mình.

Trong mọi trường hợp mà sự thay đổi sẽ diễn ra, kể cả thay đổi vì lợi ích tốt đẹp hơn, tiếp thu cách nhìn khác biệt về cuộc đời về con người chưa hề dễ dàng bao giờ.

Rất nhiều người chấp nhận thà tiếp tục làm nạn nhân bởi họ lường thấy quá nhiều khó khăn khi phải làm lành vết thương lòng, phải sống một cuộc sống chủ động, tích cực hơn.

Nếu giai đoạn nạn nhân kia đã và đang trở thành chủ đề chủ đạo trong cuộc sống của một người thì ý chí duy trì nó không thể gạt bỏ trong ngày một ngày hai.

Nó có thể dễ chịu, thoải mái hơn nhiều cho người mang não trạng nạn nhân khi họ tiếp tục được đổ lỗi cho các yếu tố bên ngoài, không kiểm soát được bất cứ lúc nào có điều gì không diễn ra như ý.

Đây là cách hữu hiệu để chuyển hóa cơn giận của họ về những thứ diễn ra trong cuộc sống và biến nó thành ký ức, thành trải nghiệm cá nhân, nhưng chính vì thế đã dẫn đến quan niệm chẳng gì có thể thay đổi, kiểm soát được số phận mình.

Để giải quyết vấn đề ấy, người mang não trạng nạn nhân cần phải thực hành các dạng thức khác nhau của việc tương tác xã hội, song sự tương tác này đòi hỏi nâng cao được ý thức cá nhân về chính trở ngại tự tạo, trở ngại họ đang phải gánh.

Nếu họ không thể nhìn nhận bản thân mình khác đi, họ sẽ rơi ngày một sâu hơn vào vũng lầy của tuyệt vọng, mất niềm tin.

Thay bằng sự khước từ được những lợi ích đến từ việc vào vai diễn nạn nhân như lời biện chữa cho những khi họ vô tình hay cố ý đổ lỗi cho kẻ khác là chịu trách nhiệm cho hành vi của bản thân mình.

Có như vậy họ mới hoàn toàn làm chủ được cuộc sống cá nhân, làm chủ cuộc sống ấy cũng có nghĩa là chân thật với chính bản thân mình, hiểu rõ mình đã kiểm soát người khác ra sao, đã vào vai nạn nhân, đã sử dụng những câu chuyện thương tâm để khơi nên lòng cảm thông, thấu hiểu ở người khác như thế nào.

Họ cần nhận ra được rằng họ đã chẳng không còn bất lực như thời thơ ấu nữa.

Người mang não trạng nạn nhân phải học được rằng thay vì để sự vô thức dẫn đường, quyết định thay cho mình tốt hơn hết là đưa ra lựa chọn kỹ lưỡng, cẩn thận.

Điều này cũng đồng nghĩa với việc phá bỏ đi sự bất lực, nâng cao hơn lòng tự trọng của mình cũng như hoàn toàn thành thật với bản thân.

Họ cần từ bỏ đi cách học lấy sự bất lực, đánh đổi một cuộc sống khác mà ở đó chẳng còn nữa sự lệ thuộc kẻ khác để có được bình yên an toàn (Abrahamson, Seligman và Teasdale, 1978).

Khi con người ý thức được quyền uy tự thân của mình, con người cũng bắt đầu chấp nhận chỉ có mình, không ai khác ngoài mình có thể điều khiển, thay đổi cuộc sống cá nhân này.

Với lòng tự trọng cùng sự tự tin mà quyền uy tự thân mang lại, họ sẽ có được lòng dũng cảm để đối mặt với vô vàn chông gai, thử thách trên đường đời, để tự mình tìm ra được cách riêng mà vượt qua.

Từ đó họ sẽ vượt thoát khỏi vai diễn nạn nhân của mình, khỏi nỗi sầu thương quỵ lụy chính mình để rồi sẽ không cần nữa tự hủy hoại mình hay đổ lỗi cho mọi người xung quanh.

Chúng ta đừng bao giờ đánh giá thấp việc từ bỏ đi một phần quan trọng tính cách của họ.

Chính những thống khổ, tổn thương là điều định hình nên con người họ một thời và rằng họ đã đóng vai diễn nạn nhân vốn dĩ quá lâu.

Sự ác ý, thâm cay trong ngôn từ của họ hồ như chẳng hại được ai ngoài chính bản thân họ.

Khao khát trả thù vắt kiệt sức lực con người và trong những trường hợp tồi tệ nhất nó khiến cá nhân trở thành nô lệ, nạn nhân của chính khao khát này.

Nhưng tất thảy đều có thể được cân bằng khi họ có thể từ bỏ những cảm xúc mãnh liệt kia và nâng cao hơn lòng vị tha, độ lượng.

Và mặc dù họ có thể thứ tha cho những tổn thương, những xúc phạm, không có nghĩa là họ có thể hòa giải được với những ai dày vò họ.

Bởi lẽ hòa giải đòi hỏi người ngoài nhận thấy được những vết thương gây ra bởi đau khổ rắc gieo, đòi hỏi sự ăn năn cũng như tìm thấy được phương hướng giải quyết, sửa chữa.

Chỉ khi chân thành, thấu hiểu được cảm xúc bản thân cá nhân mới đủ khả năng để có thể vượt qua não trạng nạn nhân.

Tuy vậy rất nhiều người chẳng nắm bắt được bao nhiêu những cung bậc dao động, những cảm giác cá nhân trong đời sống và phải tìm kiếm sự giúp đỡ từ người khác để có thể nhận ra được chuyển biến tinh tế nơi xúc cảm của mình.

Đối với các tình trạng này, chuyên gia từ nhiều lĩnh vực như nhà tâm lý học, nhà phân tâm học, hay thậm chí là huấn luyện viên có thể giúp họ đối mặt với đớn đau, thương tổn bắt nguồn từ não trạng này.

Trên con đường tìm kiếm phương thức, cơ hội để có thể chịu trách nhiệm toàn vẹn cho hành động của mình, họ sẽ nhận ra rằng dẫu cho họ chẳng thể nào kiểm soát được những nguy cơ xảy đến nhưng họ luôn có thể chọn lựa, kiểm soát lấy phản hồi, tương tác của bản thân.

Khi đã chấp nhận được điều này, hoàn cảnh cuộc sống sẽ chẳng thể nào ràng buộc, kiềm giữ được tinh thần họ bởi họ đã tự đưa ra lựa chọn, phản ứng riêng.

Có thể, chịu trách nhiệm cho cuộc sống này là công việc nặng nhọc, vất vả bao gồm cả việc đưa ra bao nhiêu quyết định quan trọng, ảnh hưởng đến cả hiện tại tương lai song nếu ta luyện tập điều hòa, làm chủ, ta sẽ dần quen thuộc với cuộc sống này mà thôi.

Chúng ta cũng cần phải nhắc nhở bản thân rằng chịu trách nhiệm không chỉ dừng lại với những việc ta làm mà còn với cả việc ta chẳng hề động chân tay.

Bởi như tiểu thuyết gia Joan Didion từng nói: "Sẵn lòng sẻ chia trách nhiệm với cuộc sống kẻ khác là nguồn gốc để lòng tự trọng được thăng hoa."

Chịu trách nhiệm cho những trách nhiệm cá nhân là điều hiển nhiên, bắt buộc.

Và rằng chúng ta chẳng thể thay đổi được hoàn cảnh, mùa màng hay thời tiết song chúng ta luôn có thể thay đổi chính bản thân này.

Cre : Rubi
 
Tâm Lý Học
Yêu thương bản thân thực sự nghĩa là gì?


Chúng ta đều biết yêu thương bản thân là việc quan trọng.

Nhưng yêu thương và chăm sóc bản thân thật sự nghĩa là gì?

Đối với một số người, yêu thương bản thân là chăm sóc thân thể, chẳng hạn như thư giãn trong bồn tắm, mát-xa hoặc chăm chút cho bộ móng tay của mình.

Nhưng "yêu thương bản thân" mà chúng tôi đề cập ở đây mang nghĩa sâu xa hơn so với những việc mà bạn có thể "làm" cho chính mình.

Yêu thương bản thân là tìm thấy sự bình yên trong chính mình, thoải mái thật sự trong sâu lắng của chính con người chúng ta.

Có thể chúng ta tìm thấy sự thư thái tạm thời khi làm gì đó để chăm sóc bản thân.

Nhưng bình an trong sâu thẳm tâm hồn đòi hỏi sự tu dưỡng nhất định trong cách nhìn nhận bản thân – thái độ ấm áp và vun bồi với những trải nghiệm bên trong nội tâm.

Những đề xuất trong bài viết này được chắt lọc dựa theo viện quốc tế Focusing được phát triển bởi giáo sư Eugene Gendlin.

Đôi khi được gọi là tư duy tập trung, nó đơn giản là thái độ tử tế không phán xét, tập trung vào hiện tại và để tâm đến các trải nghiệm mà chúng ta có.

Giáo sư Gendlin từng nói: "Thái độ và phản ứng của mỗi người đối với các cảm xúc nội tâm cần phải giống như một nhà trị liệu để tâm tới bệnh nhân của mình."

Chúng ta cần phải có sự cảm thông và tích cực vô điều kiện đối với những điều xảy ra trong nội tâm.

Nguồn: Flickr image by Joe Bart

Hãy yêu thương và nhẹ nhàng với bản thân

Tử tế và mềm mỏng với người khác luôn dễ hơn là với chính mình.

Tiếng nói phán xét từ quá khứ có thể đã để lại nỗi hổ thẹn vô hình khiến chúng ta không tôn trọng, thậm chí phớt lờ cảm xúc thật mà chúng ta cảm nhận được.

Mềm mỏng với chính mình nghĩa là tiếp nhận và thoải mái hơn với những cảm xúc nảy sinh trong chúng ta.

Việc con người cảm thấy buồn khổ, tổn thương và sợ hãi là rất đỗi bình thường.

Đó chính là dấu hiệu của sức mạnh chứ không phải yếu đuối, để chúng ta lưu tâm nhiều hơn và cởi mở tiếp nhận những cảm xúc này.

Khi đối phương nhận thấy trong lòng họ các cảm giác khó chịu, tôi sẽ hỏi: "Bạn có chấp nhận được cảm giác hiện tại này không?

Bạn có thể tiếp nhận một cách mềm mỏng và để tâm đến nó không?"

Tôi sẽ giúp họ tạo ranh giới với những cảm xúc đau khổ để họ không bị chúng lấn át.

Biết cách chấp nhận nhẹ nhàng với các cảm xúc, chúng ta sẽ có thêm không gian ở quanh chúng.

Chúng ta có thể "ở chung" với các cảm xúc thay vì bị chúng lấn át.

Nhà trị liệu tâm lý Laury Rappaport đưa ra một số câu hỏi tinh tế về cảm xúc trong cuốn sách "Liệu pháp nghệ thuật" định hướng vào khả năng tập trung.

- Bạn có thể thân thiện với cảm xúc của mình?

- Bạn có thể nói lời chào với cảm xúc đó bên trong?

- Hãy tưởng tượng mình đang ngồi cạnh chúng.

Bạn có thể chấp nhận sự tồn tại của chúng như thể chúng là những đứa trẻ yếu ớt không?

Chấp nhận tử tế với những cảm xúc tồn tại trong bạn chính là liều thuốc xóa bỏ nỗi hổ thẹn vô hình.

Điều này tốt hơn so với việc đấu tranh nội tâm hay cố gắng sửa đổi bản thân mình.

Chúng ta sẽ có được sự bình yên trong tâm hồn chỉ bằng cách đơn giản là tiếp nhận các trải nghiệm nội tâm khi chúng lộ diện.

Cho phép các trải nghiệm nội tâm được triển hiện

Khi tôi mở lời muốn đối phương chú ý đến cảm xúc của họ, đôi khi họ hỏi ngược lại: "Tại sao tôi cần phải cảm nhận điều đó?"

Tôi giải thích rằng khi chúng ta chối bỏ cảm xúc của mình, chúng thường sẽ trở nên dữ dội hơn.

Hoặc chúng sẽ khiến chúng ta gây hại đến chính mình hoặc người khác, ví dụ như uống rượu bia, các cách khác để làm tê liệt bản thân hoặc chuyển nỗi đau sang cho người khác bằng cách nổi giận hay đổ lỗi.

Yêu thương bản thân là đối mặt và tiếp nhận thành thực các cảm xúc.

Trong nhiều trường hợp, chúng ta cố đẩy xa những cảm xúc không vui và bám víu lấy những gì vui vẻ.

Nhưng theo giáo lý nhà Phật, nếu cứ bám vào những cảm xúc vui vẻ, ghét bỏ cảm giác đau đớn thì chúng ta chỉ càng tạo ra nhiều khổ đau hơn cho chính mình.

Thường thì một nỗi sợ hãi và xấu hổ mơ hồ có thể ngăn cản chúng ta thừa nhận những trải nghiệm trong thế giới nội tâm.

Ví dụ, nếu chúng ta cảm thấy (hoặc thể hiện) cảm xúc buồn đau, tổn thương hay lo lắng, ta có thể cho đó là biểu hiện của sự yếu đuối.

Hoặc có lẽ chúng ta tự đưa ra thông điệp cho mình rằng không được có cảm xúc đó, chúng ta sợ bị người khác đánh giá.

Sự khôn ngoan của việc "không biết"

Khi thành thật với chính mình, có thể chúng ta sẽ nhận ra mình thường không hiểu rõ cảm xúc mà bản thân đang có là gì.

Chúng thường rất mờ nhạt và không rõ ràng.

Nếu chúng ta có thể cho phép mình dừng lại, cho phép sự mơ hồ và kiên nhẫn chào đón, khám phá cảm giác không rõ ràng đó, thì dần dần chúng sẽ hiện ra rõ nét hơn (ở đây tôi dùng thuật ngữ "lấy nét" – focusing).

Giả dụ, ẩn sau cơn giận dữ của chúng ta với người khác là một điều gì đó mà ta chưa biết rõ.

Chúng ta chỉ nhìn thấy được bề nổi của tảng băng, nhưng nếu muốn biết cái gì nằm bên dưới thì cần phải quan sát kỹ hơn.

Xã hội chúng ta luôn đánh giá cao kiến thức và sự quyết đoán.

Nhưng thường thì chúng ta lại không rõ cảm xúc thật sự mà mình trải nghiệm là gì.

Các chính trị gia nếu không có tài hùng biện, không có ý kiến rõ ràng về một vấn đề thì sẽ bị xem là thiếu chính kiến.

Để nói được câu "Tôi không chắc về việc này.

Để tôi xem lại." quả thực phải có năng lực và trí huệ .

Cảm xúc của con người là một món quà đáng để đón nhận.

Chúng ta cần tìm cách hòa hợp với chúng để biến chúng thành đồng minh chứ không phải kẻ thù.

Các xúc cảm như đau buồn cho phép chúng ta giải tỏa nỗi đau để có thể bước tiếp về phía trước.

Còn các cảm giác về thể lý khác có thể hơi mơ hồ như: bụng đau quặn hay ngực thắt lại.

Khi chúng ta có một thái độ mềm mỏng tiếp nhận các cảm xúc của mình, chúng ta sẽ cảm nhận được chúng có liên kết với điều gì đó quan trọng, có lẽ là chúng ta đã không xem trọng bản thân hay sợ tỏ ra ngốc nghếch trước mặt người khác.

Cảm xúc thường hàm chứa các thông điệp tinh tế, chỉ cần chúng ta biết cách giải mã nội hàm của chúng.

Và nếu chúng ta có thể nuôi dưỡng một thái độ ấm áp và thân thiện với các cảm xúc của mình, chúng sẽ trở thành những bạn đồng hành với chúng ta trên đường đời.

Điều này sẽ mang tới các ý nghĩa mới, hiểu biết mới, cơ hội mới giúp cuộc sống của chúng ta trọn vẹn hơn.
 
Tâm Lý Học
10 dấu hiệu phổ biến của chứng 'trầm cảm thầm lặng'


(Perfectly Hidden Depression)

Có nhiều loại trầm cảm, nhưng trong đó có một loại đặc biệt khó nhận thấy và thường nấp dưới vỏ bọc "tính cầu toàn", gọi là "trầm cảm thầm lặng" (Perfectly Hidden Depression) – một thuật ngữ do tiến sĩ tâm lý Margaret Rutherford đặt ra.

Có nhiều loại trầm cảm, nhưng trong đó có một loại đặc biệt khó nhận thấy và thường nấp dưới vỏ bọc "tính cầu toàn", gọi là "trầm cảm thầm lặng" () – một thuật ngữ do tiến sĩ tâm lý Margaret Rutherford đặt ra.

Dưới đây là bài viết của bà mô tả các dấu hiệu của loại vấn đề tâm lý này.

Câu hỏi thú vị khi khám phá và tìm hiểu về trầm cảm thầm lặng (perfectly hidden depression – viết tắt là PHD) đó là: nếu bạn không biết cách bộc lộ nỗi đau ẩn chứa trong lòng thì người khác làm sao có thể giúp bạn?

Làm thế nào bạn có thể tự nhận ra điều đó?

Chúng ta cần nhận biết được đâu là dấu hiệu của chứng trầm cảm thầm lặng (thuật ngữ này do tôi đặt tên).

Triệu chứng của nó là gì?

Đó là một nhóm các cách ứng xử hoặc niềm tin thường đi kèm với nhau, giống như muối hay đi với tiêu vậy.

Khi bạn thấy một dấu hiệu này, bạn cũng sẽ thấy dấu hiệu khác đi kèm.

Hy vọng rằng việc nhận biết các dấu hiệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn rõ ràng hơn cho chính mình hay với tư cách là bác sĩ, nhà trị liệu, giáo viên hay một người bạn.

Tôi nghĩ nên ngừng phần giới thiệu về hội chứng trầm cảm thầm lặng tại đây – một triệu chứng tâm lý không giống với trầm cảm thông thường nhưng mang những mối nguy hại tiềm ẩn.

10 dấu hiệu thường thấy ở người mắc chứng trầm cảm thầm lặng

Sau đây là 10 dấu hiệu cơ bản của hội chứng PHD.

Không phải ai có hội chứng này cũng đều có đủ 10 dấu hiệu đó.

Nhưng nhìn chung dấu hiệu của các trường hợp khá nhất quán.

Bạn có tính cầu toàn cao, tiếng nói nội tâm luôn hiện hữu, chỉ trích và đay nghiến

Tính cầu toàn là một phần trong tính cách của bạn.

Bạn luôn cố gắng hết sức trong mọi việc, bạn nghĩ "nếu việc đó đáng để làm, thì nó phải được làm cho thật tốt".

Nhưng lúc nào cũng vậy, bạn hay mắng nhiếc bản thân nếu bạn không đạt thành tích cao.

Bạn có thể vẫn cho phép bản thân mình không giỏi ở một lĩnh vực nào đó, ví dụ cười to và nói rằng có chết mình không biết trượt băng.

Nhưng nếu đó là việc bạn đang theo đuổi hoặc có ý nghĩa với bạn, thì bạn đòi hỏi nó phải xuất hiện dưới hai chữ "hoàn hảo", đặc biệt là khi được người khác nhìn vào và đánh giá.

Bạn cần phải là người cha/mẹ hoàn hảo, một luật sư thành công nhất, là lớp trưởng, hoặc một người bạn tuyệt vời nhất.

Bạn không ngừng đánh giá bản thân, và nếu không đạt được những gì mình mong đợi thì áp lực sẽ đè nặng lên bạn.

Sự xấu hổ tồn tại trong nội tâm sẽ chi phối các lựa chọn và cuộc đời bạn.

Bạn thể hiện tinh thần trách nhiệm cực kỳ cao

Bạn có tính tự giác rất cao về trách nhiệm, nghĩa vụ, sự trung thành và là người có thể tin cậy trong những tình huống khó khăn.

Bạn là người phát hiện ra những điều bất ổn và tìm kiếm các giải pháp.

Bạn là một người lãnh đạo tốt mặc dù không hẳn là người đại diện tuyệt vời.

Tinh thần trách nhiệm cao có thể khiến bạn khổ sở, thay vì dành thời gian để có cái nhìn toàn diện, bạn lại trách móc bản thân mình.

Điều này có thể khiến bạn dễ bị lợi dụng.

Khó khăn trong việc chấp nhận và bộc lộ nỗi đau

Khi tôi ngồi đối diện với một người, họ đang thổ lộ về những mất mát và nỗi thất vọng nhưng trên môi lại nở nụ cười tươi rói, tôi biết còn một con người khác đang trốn sau vỏ bọc đó.

Chuyện này không thường xuyên xảy ra nhưng khiến tôi tự đặt câu hỏi cho mình với tư cách là một nhà trị liệu.

Họ sẽ né tránh và chối bỏ cơn giận.

Nỗi buồn sẽ được chôn sâu.

Sự thất vọng chỉ dành cho kẻ hay than vãn.

Có lẽ trong từ điển của bạn không có từ nào để thể hiện các cảm xúc này.

Bạn quẩn quanh với suy nghĩ lý trí mà thiếu đi sự kết nối với trái tim – bạn chỉ quen phân tích, giải mã và suy nghĩ thông qua mọi việc.

Bạn hay lo lắng và tránh né những tình huống bạn không thể kiểm soát

Bạn không phải là người quen với kiểu "sống trong thực tại".

Ví dụ như khi tập yoga, bạn sẽ thường ghét tư thế cuối cùng, vốn yêu cầu bạn thở và thư giãn.

Bạn thích nấu nướng nhưng lại không thích ngồi thưởng thức món ăn cùng những vị khách.

Nhu cầu kiểm soát của bạn khá mạnh, vì thế mà bạn tốn nhiều thời gian lo lắng về những rắc rối có thể xảy ra, gây ảnh hưởng đến quyền kiểm soát của bạn.

Trớ trêu thay, bạn lại rất muốn che giấu những lo lắng đó.

Vì vậy người khác không nhận ra được bạn đang lo lắng.

Mọi người sẽ lắc đầu và tự hỏi "bạn dường như chẳng bao giờ quan tâm đến điều gì.

Những thứ nhỏ nhặt không khiến bạn phải để tâm."

Bạn sẽ vờ như mọi thứ diễn ra suôn sẻ mà không cần phải nỗ lực quá nhiều, nỗi lo được giấu kín, sau những nụ cười.

Bạn tập trung cao độ vào nhiệm vụ, lấy thành tích làm thước đo giá trị của mình

"Thành công sẽ nói lên tài năng của bạn."

Bạn tập trung vào hành động và thành tích để hướng sự chú ý của mình ra khỏi cảm giác bất an trong nội tâm hay sự sợ hãi đang tìm cách bộc lộ ra ngoài.

Xét một khía cạnh nào đó, chúng ta đều hành động như vậy.

Nếu bạn có một ngày tệ hại, bạn sẽ thấy tâm trạng tốt hơn khi hoàn thành một việc mà trước đó bạn bỏ dở.

Hoặc bạn được thăng tiến trong công việc.

Hay một ai đó gửi mail cảm ơn sự tử tế đầy ý nghĩa của bạn đối với họ.

Mục đích tốt đẹp và các nỗ lực thực sự mang đến giá trị.

Nhưng bạn lại đẩy nó đi quá xa.

Có lẽ bạn không biết điều gì mang lại cho bạn cảm giác tự tin ngoại trừ thành quả và nhiệm vụ.

Và đó chính là vấn đề.

Bạn thường quan tâm chân thành đến hạnh phúc của người khác, nhưng ít khi cho ai biết thế giới nội tâm của mình

Sự quan tâm của bạn là chân thành, không phải là giả tạo.

Bạn rất giỏi trong việc quan tâm người khác.

Tuy nhiên, bạn không để người khác cảm nhận được sự bất ổn trong bạn.

Bạn giấu kín nỗi đau trong quá khứ.

Có thể vợ/chồng bạn biết quá khứ đó nhưng nó không bao giờ là đề tài trong các cuộc nói chuyện, chia sẻ.

Bạn sẽ dựng lên một bức tường phòng thủ trước những ai khám phá ra nỗi cô đơn, mệt mỏi, trống rỗng hay những cảm xúc lẫn lộn tràn ngập trong bạn.

Điều đó đặc biệt trở nên đáng sợ khi ý định tự tử xuất hiện.

Và bạn không để ai bước vào thế giới riêng của bạn.

Nghiệt ngã thay, ngay cả khi bạn cho phép, người đó cũng không tin, họ sẽ nghĩ "Cái gì?

Anh ư?

Trầm cảm sao?

Sao có thể như thế, anh có mọi thứ trên thế giới này còn gì".

Và điều đó có thể dẫn đến một kết quả tàn khốc.

Bạn xem nhẹ hoặc gạt bỏ tổn thương, sự lạm dụng mà bạn phải chịu trong quá khứ cũng như hiện tại

Tách biệt cảm xúc là một kỹ năng.

Nó là khả năng cho phép bị tổn thương, buồn bã, thất vọng, tiếc nuối, giận dữ và gác lại cảm giác đó qua một bên cho đến khi bạn có thể đối mặt với những cảm giác đó tốt hơn.

Người có sức khỏe tinh thần tốt cũng thường làm thế suốt.

Thậm chí có thể làm điều đó trong sự vui vẻ và thoải mái.

Nhưng cũng có lúc kỹ năng này gây hại.

Nếu bạn mắc hội chứng PHD, bạn tách biệt một cách quá cứng nhắc.

Bạn tạo một chiếc hộp kiên cố nơi bạn khóa giữ những cảm xúc đau đớn, vô thức hay cố ý, rồi để nó vào nơi bí mật tăm tối nhất trong tâm trí.

Điều đó cho phép bạn xem nhẹ, chối bỏ hoặc phớt lờ tác động của những trải nghiệm mang lại nỗi đau trong quá khứ hay hiện tại.

Một người phụ nữ có hội chứng PHD gần đây có gửi mail cho tôi, nói rằng cô ấy được chẩn đoán là mắc bệnh rối loạn căng thẳng sau sang chấn (gọi tắt là PTSD), và cô ấy hoàn toàn không quan tâm đến nó.

Cô ấy viết "Điều này chẳng có gì to tát cả.

Người khác còn gặp những chuyện tệ hơn thế nhiều."

Suy nghĩ này có thể đúng hoặc không, nhưng nỗi đau vẫn sẽ là nỗi đau.

Bạn có một số vấn đề về sức khỏe tinh thần, bao gồm kiểm soát hoặc trốn tránh nỗi lo

Cuộc đời bạn được đặt dưới sự kiểm soát và điều khiển chặt chẽ.

Vì thế, các chẩn đoán về tâm thần thường đi cùng hội chứng PHD cũng sẽ có liên quan đến việc kiểm soát, như hội chứng rối loạn ăn uống, rối loạn ám ảnh cưỡng chế.

Rượu bia hoặc thuốc an thần có thể là một cách bạn dùng để giải tỏa lo lắng.

Bạn có niềm tin mạnh mẽ rằng may mắn là nền tảng của hạnh phúc

Tôi tin vào những điều may bạn có được.

Bạn thì cho rằng: những may mắn đó là điều tốt đẹp, chúng giúp bạn luôn giữ được tinh thần lạc quan và biết ơn.

Tuy nhiên nếu đã đọc đến đây và bạn có hội chứng PHD, có lẽ bạn sẽ có chút cảm giác áy náy hay thậm chí xấu hổ khi cả cuộc đời bạn luôn tích cực một cách thường hằng.

Thấy thương cảm cho chính mình sao?

Câu hỏi đó hơi lạc đề mất rồi, bạn có quá nhiều may mắn.

Và bất kỳ điều gì liên quan đến lòng trắc ẩn đều được xem là dành cho những kẻ hay than vãn.

Đó là điều không thể chấp nhận.

Bạn gặp khó khăn về cảm xúc trong các mối quan hệ cá nhân, nhưng lại thể hiện những thành công đáng ngưỡng mộ

Sự bất ổn và tổn thương trong một mối quan hệ tình cảm thật sự khó khăn đối với bạn.

Mặc dù là người làm việc hiệu quả cao và có thành quả, bạn lại khó có thể tiến đến một mức độ thân thiết nhất định.

Và bạn có thể sẽ chọn người mà thực ra không chấp nhận sự tổn thương tình cảm, hay không có khả năng đó.

Mối quan hệ hai người cơ bản sẽ dựa trên những gì mà các bạn làm cho nhau, chứ không phải con người thật của mỗi người dành cho nhau thế nào, và bạn tập trung vào con cái, sự nghiệp và cố thể hiện hai người là một cặp đôi hoàn hảo.

Cer : Rubi
 
Tâm Lý Học
7 cách bộ não vẫn tự đánh lừa chính chúng ta trong cuộc sống hàng ngày


Bộ não là bộ phận vô cùng quan trọng trong cơ thể người, nhưng cơ quan này vẫn thường xuyên "đánh lừa" chính chúng ta trong cuộc sống hàng ngày.

Bộ não là bộ phận vô cùng quan trọng trong cơ thể người, nhưng cơ quan này vẫn thường xuyên "đánh lừa" chính chúng ta trong cuộc sống hàng ngày.

Thị giác có thể đánh lừa cảm nhận về hương vị đồ ăn

Nghiên cứu cho thấy màu sắc của thực phẩm và bát đĩa có thể tác động cảm nhận về hương vị của thực phẩm.

Ví dụ chocolate nóng sẽ có vẻ ngon hơn khi để trong cốc màu cam hoặc màu kem, thạch dâu tây có vẻ hấp dẫn hơn khi được bày trong đĩa trắng thay vì đĩa tối màu.

Dưới đây là một số sự thật thú vị về tác động của màu sắc đến cảm nhận hương vị của con người:

Đĩa màu vàng khiến mùi chanh có vẻ mạnh hơnNước lạnh có vẻ ngon hơn khi để trong ly màu mátĐồ ăn có vẻ ngọt hơn khi để trên đĩa màu hồngTay phải thường có vẻ dài hơn tay trái

Nghiên cứu cho thấy những người thuận tay phải thường có cảm giác tay phải dài hơn tay trái ít nhất 1 inch (2,54 cm).

Do đó chúng ta thường có ảo giác rằng bạn có thể với đồ vật nhanh hơn nếu dùng tay phải.

Tuy nhiên người thuận tay trái lại không có ảo giác này.

Chúng ta thường tưởng tượng về bản thân trong tương lai như đang tưởng tượng về một người xa lạ

Có thể bạn thấy quen thuộc với cảm giác này: ngày mai là một ngày quan trọng, bạn cần chuẩn bị cho nó, thế nhưng bạn đang mải mê xem tập phim yêu thích hay đi loanh quanh trong nhà uống trà.

Vì sao chúng ta lại làm như vậy?

Lý do là khi chúng ta nghĩ về tương lai của chính mình, bộ não chúng ta sẽ tưởng tượng ra một người xa lạ mà ta không biết.

Bộ não nghĩ rằng ai đó sẽ giải quyết những vấn đề xảy ra do sự trì hoãn hôm nay.

Và người lạ này có khả năng giải quyết vấn đề, không phải bạn.

Đó cũng là lý do vì sao nhiều người có lối sống không lành mạnh, làm những việc trái đạo đức hay trì hoãn việc điều trị bệnh mặc dù biết mình có thể nhận hậu quả.

Bộ não không nhận ra những thay đổi hiển nhiên nhất

Hiện tượng này trong tâm lý học được gọi là "mù thoáng qua" (change blindness).

Đây là cơ chế tự vệ của bộ não để nó không phải xử lý tất thông tin mà nó không ngừng tiếp nhận trong ngày.

Ví dụ, khi bạn nhìn vào một bức ảnh trong thời gian ngắn rồi bị xao nhãng, đến khi nhìn lại bạn có thể không nhận ra sự thay đổi dù là hiển nhiên nhất.

Các nhà khoa học đã tiến hành một thí nghiệm, trong đó các sinh viên đến phỏng vấn việc làm và được tiếp tân A hướng dẫn điền đơn thông tin cần thiết.

Các sinh viên không được biết rằng còn một tiếp tân B đang trốn dưới gầm bàn, khi tiếp tân A giả vờ cúi xuống lấy đồ và trốn bên dưới, tiếp tân B sẽ đứng lên thay thế.

Tiếp tân A và B không hề giống nhau, thậm chí trang phục còn khác màu, nhưng các sinh viên không hề nhận ra sự thay đổi đó.

Thí nghiệm này được tiến hành rất nhiều lần và kết quả đều giống nhau.

Điều đó cho thấy bộ não chúng ta bỏ qua rất nhiều sự việc hiển nhiên ngay trước mắt mỗi ngày.

Thành công là lý do khiến chúng ta nuông chiều bản thân

Nghiên cứu được thử nghiệm như sau.

Các nhà khoa học chia 2 nhóm tình nguyện viên, yêu cầu họ theo chế độ ăn kiêng trong một thời gian dài và nhận được một vài kết quả rõ rệt.

Nhóm đầu tiên được khen, còn nhóm thứ hai không được biểu dương về những thay đổi.

Sau đó cả hai nhóm được cho lựa chọn phần thưởng: một quả táo hoặc một thanh chocolate.

Kết quả 85% nhóm đầu tiên chọn choocolate trong khi con số này ở nhóm 2 chỉ là 58%.

Bộ não của chúng ta thường tìm kiếm biện hộ cho sự nuông chiều bản thân, điều đó có thể dẫn tới thất bại.

Ví dụ với một người bị nghiện nặng thứ gì đó, khi bạn khen họ, họ rất có khả năng mắc lại thói quen xấu đã bỏ.

Bộ não luôn thích những hoạt động hay cách làm ít hao tốn năng lượng hơn, cho dù điều đó làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bạn.

Bạn càng tự ti thì càng thấy người khác đẹp

Một thí nghiệm đơn giản đã được tiến hành: các tình nguyện viên được đưa 3 bức ảnh của người nổi tiếng, một bức ảnh gốc, bức thứ 2 được chỉnh sửa cho mập lên, bức thứ 3 được chỉnh sửa cho thon gọn hơn.

Các tình nguyện viên được yêu cầu tìm bức ảnh thật.

Kết quả khá thú vị: bất kể giới tính nào, những người hài lòng với thân hình của mình sẽ dễ dàng nhận ra bức ảnh gốc.

Trong khi đó những người lo lắng mình quá mập hoặc quá gầy sẽ lựa chọn bức ảnh trái ngược với thể trạng của họ.

Thí nghiệm này cho thấy cái nhìn của chúng ta về sự vật, hiện tượng thường bị bóp méo tùy theo sự tự ti của chúng ta, vì chúng ta cho rằng những người khác không gặp vấn đề như mình.

Bộ não không thể phân biệt thực tế và tưởng tượng

Bộ não phản ứng tương tự trước những việc bạn tưởng tượng trong đầu và những việc bạn làm.

Các nhà khoa học đã tiến hành một thí nghiệm trong đó một nhóm người được yêu cầu chơi piano, nhóm thứ hai được yêu cầu tưởng tưởng là mình đang chơi piano.

Kết quả, phản ứng của bộ não ở hai nhóm là giống nhau.

Một thí nghiệm khác, các nhà khoa học yêu cầu họ tưởng tượng ra một món ăn và ăn nó.

Tình nguyện viên giả vờ nhai và nuốt thức ăn trong tưởng tượng.

Kết quả họ đã thấy bớt đói bụng.

Suy nghĩ và cảm nhận của chúng ta có liên quan đến nhau.

Phản ứng cơ thể xảy ra tương tự bất kể tình huống đó là thực tế hay tưởng tượng.

Ví dụ nếu bạn lo âu quá nhiều, cơ thể sẽ tăng tiết cortisol (hormone căng thẳng) trong máu.

Ngược lại nếu bạn tưởng tượng mình đang vui vẻ, cơ thể sẽ tiết ra hormone serotonin (hormone vui vẻ), khiến bạn cải thiện tâm trạng của mình.

Cre : Rubi
 
Tâm Lý Học
9 hiệu ứng tâm lý khiến chúng ta rơi vào những tình huống trớ trêu


Thiên kiến nhận thức (cognitive bias) là những sai sót có tính hệ thống trong nhận thức một người do ở trong môi trường nhất định.

Nắm được chúng giúp chúng ta tránh được tình huống trớ trêu.

Các marketer và nhân viên kinh doanh cũng thường sử dụng những và hiệu ứng tâm lý này với khách hàng.

Dưới đây là những thường khiến bộ não đánh lừa chính chúng ta và làm chúng ta rơi vào những tình huống trớ trêu.

1.

Quy luật Yerkes-Dodson

Ngoài các yếu tố khác thì động lực tác động lớn đến sự thành công của chúng ta.

Nếu không có động lực, chúng ta khó lòng đạt được kết quả tốt, điều đó là tất nhiên.

Tuy nhiên theo quy luật Yerkes-Dodson, nếu chúng ta có quá nhiều động lực thì hiệu quả công việc cũng sẽ giảm xuống.

Ví dụ, một vận động viên có quá nhiều động lực bởi giải thưởng lớn có thể thi đấu không tốt.

Một cô gái muốn giảm cân để được chàng trai yêu thích, có thể sẽ ăn uống thoải mái trở lại sau khi ngừng ăn kiêng.

Những căng thẳng và áp lực cao độ khiến bạn càng khó đạt được kết quả mình mong muốn.

Các nhà khoa học cũng tính toán mức độ động lực tối ưu cho các nhiệm vụ khác nhau: với nhiệm vụ khó, bạn chỉ cần động lực mức 2-3/10, với độ khó trung bình là 5/10, với nhiệm vụ đơn giản là 7-8/10.

2.

Hiệu ứng Irwin

Chúng ta thường nghĩ điều tốt có khả năng xảy ra với mình hơn là điều xấu.

Năm 1998, một nhà tâm lý học người Mỹ là Scott Plous đã làm thí nghiệm như sau: các sinh viên được phát một danh sách gồm 42 sự kiện cả tích cực và tiêu cực (như bị bệnh, mua nhà, được tăng lương,...)

Mỗi người được yêu cầu ước tính phần trăm cơ hội những điều này sẽ xảy ra trong đời họ mà không xảy ra vơi snguoiwf khác.

Kết quả là mọi người cho rằng khả năng xảy ra các sự kiện tốt đẹp với mình cao hơn 15% so với những sự kiện xấu - và thấp hơn 20& đối với những người khác.

Do đó, khi chúng ta đưa ra những quyết định, hiệu ứng này khiến chúng ta không thể nhìn rõ bức tranh toàn cảnh.

Đó là lý do vì sao chúng ta thường không tiết kiệm tiền bạc phòng khi có việc cần, vì chúng ta không nghĩ điều đó sẽ đến.

Hoặc là chúng ta không rời bỏ một mối quan hệ tệ hại, vì chúng ta quá tin rằng người ấy có thể sẽ thay đổi.

3.

Hiệu ứng tiến sĩ Fox

Người ta thường cho rằng, muốn trở thành thầy giáo hay diễn giả giỏi, những người này nhất thiết phải có một trình độ kiến thức đáng ngưỡng mộ.

Dù gì đi nữa, muốn dạy một cái gì đó cho người khác – dù học trò là người có chuyên môn hay không – thì ít nhất những người đứng lớp dù ít dù nhiều phải hiểu về cái mình đang dạy.

Thế nhưng, sự thật không phải như vậy.

Việc đánh giá cao trình độ của người thầy đứng lớp là do tác động của một hiện tượng tâm lý gọi là hiệu ứng tiến sĩ Fox.

Khi tìm hiểu về hiệu ứng này, bạn sẽ không thể ngờ khi biết rằng, những người không biết gì có thể đứng lớp và giảng cho các chuyên gia, và các chuyên gia ngồi dưới vẫn không thể phát hiện ra rằng mình đang nghe những thứ rỗng tuếch.

Thậm chí người nghe còn nghĩ rằng mình đã học được rất nhiều điều!

Năm 1970, tại trường y ĐH California, các nhà nghiên cứu đã làm một thí nghiệm: họ nhờ một diễn viên chuyên nghiệp đóng giả là "tiến sĩ Fox" đọc một bài viết khoa học.

Những gì anh ta đọc hầu như không liên quan đến chủ đề, gây tranh cãi và chưa hoàn thiện, nhưng người diễn viên đã đọc rất cảm xúc và vẫn lấy được niềm tin của người nghe.

Hiệu ứng tiến sĩ Fox thường được sử dụng bởi các chuyên gia tư vấn, diễn giả không có trình độ học vấn thích hợp.

Họ bán các khóa học, hội thảo, hứa hẹn dạy cách phát triển con người và trở nên giàu có.

4.

Hiệu ứng ít hơn là tốt hơn (Less-is-better effect)

Khi được đưa hai đồ vật mà không có sự so sánh trực tiếp giữa cả hai, chúng ta sẽ có xu hướng chọn cái ít giá trị hơn.

Ví dụ khi cô gái được một chàng trai tặng một giỏ quà là mỹ phẩm bình dân, cô ta sẽ nghĩ anh chàng này không hào phóng bằng người tặng cô ta một thỏi son Chanel, dù cho anh chàng số 1 đã phải chi nhiều tiền hơn.

Khái niệm less-is-better (ít hơn là tốt hơn) do Christopher Hsee, giáo sư khoa học hành vi và marketing tại Trường Kinh doanh Booth, ĐH Chicago.

Ông đã làm thí nghiệm đưa cho mọi người những đồ vật riêng biệt và yêu cầu họ chọn món quà giá trị nhất:

Một chiếc khăn đắt tiền 45 USD so với một chiếc áo khoác bình dân 55 USDMột bộ 24 chiếc đĩa so với một bộ 31 chiếc đĩa (trong đó có 24 chiếc đĩa giống bộ trước) và vài chiếc đĩa vỡMột cuốn từ điển nhỏ và một cuốn từ điển to bìa cũ

Kết quả chiếc khăn, bộ 24 đĩa và cuốn từ điển nhỏ được ưa thích hơn.

5.

Hiệu ứng mệnh giá tiền

Hiệu ứng mệnh giá tiền (denomination effect) là một dạng thiên kiến nhận thức liên quan đến tiền tệ, trong đó con người có xu hướng ít tiêu tiền mệnh giá lớn hơn so với những đồng tiền mệnh giá nhỏ có tổng giá trị tương đương.

Do đó, nếu không muốn tiêu quá nhiều tiền khi đi mua sắm, bạn chỉ nên mang theo tiền chẵn mệnh giá lớn.

6.

Hiệu ứng buột miệng (Foot-in-the-mouth)

Hiệu ứng này là khi một người đã đáp lại một số câu hỏi bình thương (như Bạn có khỏe không?) với một câu trả lời bình thường (như Tôi khỏe) thì sau đó sẽ có khả năng đồng ý nếu được nhờ việc gì.

Đặc biệt nếu người hỏi nói rằng "Tôi rất vui khi nghe điều đó" thì người được hỏi sẽ càng chịu áp lực lớn hơn.

Hiện tượng này có thể được sử dụng để thao túng tâm lý của bạn.

Chẳng hạn với các cuộc họi tiếp thị, khi người gọi đã biết tên chúng ta và cố gắng tiếp thị sản phẩm.

Bạn nên nhắc nhở điều này với người già vì họ có thể là đối tượng khách hàng dễ bị lợi dụng.

7.

Hiệu ứng tương phản

Hiệu ứng tương phản là cách chúng ta nhìn nhận, cảm nhận sự việc khi nó được tách riêng và khi được so sánh với những thứ khác.

Vào thế kỷ 17, giáo viên, nhà triết học John Locke đã phát hiện rằng nếu bạn đặt tay vào nước ấm, bạn bạn thấy nó nóng hay lạnh còn tùy vào trước đó tay bạn đang để trong nước như thế nào.

Trong tâm lý học, hiệu ứng này có tác dụng cả với so sánh những người đối lập hoặc so sánh chính chúng ta với người khác.

Ví dụ một cô gái không chơi thể thao nhưng biết ăn uống lành mạnh có thể thấy mình không đủ hấp dẫn khi lần đầu đến phòng tập gym.

Tuy nhiên cô ấy có thể cảm thấy thoải mái và tự tin hơn khi đi biển và so sánh mình với những người phụ nữ bình thường khác.

8.

Hiệu ứng quá tự tin (Overconfidence effect)

Hiệu ứng quá tự tin tức là chúng ta có xu hướng đánh giá quá cao khả năng của mình, xếp mình vào nhóm trên mức bình thường.

Chúng ta cũng dễ dàng tin vào những lời nói có cánh.

Ví dụ một giáo viên luôn có rằng mình đúng sẽ không chịu nghe ý kiến của học sinh một cách nghiêm túc vì nghĩ rằng học sinh ít tuổi và trình độ giáo dục không bằng mình.

9.

Hiệu ứng "ném bóng thấp" (Low-ball effect)

Đây là hiện tượng khi chúng ta đồng ý một việc nào đó, thì sau đó dù điều kiện đã thay đổi, chúng ta vẫn có khả năng cao chấp nhận.

Hiệu ứng này thường được sử dụng trong kinh doanh.

Năm 1978, các nhà tâm lý học Robert Cialdini, John T.

Cacioppo, và cộng sự đã làm một thí nghiệm.

Một nhóm sinh viên được yêu cầu tham gia một thí nghiệm lúc 7 giờ sáng.

Chỉ 24% đồng ý.

Nhóm còn lại không được biết trước mấy giờ cần đến, và có 56% đồng ý.

Sau khi 56% này đã đồng ý, họ mới được báo về thời gian thí nghiệm.

Kết quả là không ai trong 56% đó từ chối, và đến ngày hẹn 95% đã có mặt.

Chắc hẳn nhiều người đã gặp tình huống này khi mua sắm, bạn thanh toán thì mới biết chương trình khuyến mại đã hết và giá hiện tại cao hơn rất nhiều, nhưng vẫn đồng ý mua sản phẩm.

Kỹ thuật bán hàng này cũng được gọi là kỹ thuật "ném bóng thấp".

Kỹ thuật "ném bóng thấp" - Những sản phẩm tưởng rẻ nhưng hóa ra cực đắt

Để thực hiện thành công kỹ thuật này, người bán phải chuẩn bị "kịch bản" cực kỳ chi tiết và rõ ràng, bao gồm 4 bước cốt lõi như sau:

1.

Đưa ra lời chào cực kỳ hấp dẫn, phô bày tất cả điểm mạnh của sản phẩm/dịch vụ (sẽ hiệu quả hơn khi sử dụng các cụm từ như "khủng nhất năm", "có một không hai", "sắp hết hạn", "chỉ dành riêng cho anh/chị trong ngày hôm nay" ...).

2.

Khi khách hàng đã bị thuyết phục, lập tức "chốt" bằng một hành động xác nhận nhanh – gọn (đặt cọc hoặc bắt tay).

Bước này khiến thương vụ trở nên nghiêm túc hơn.

3.

Tiến hành giải thích thêm về sản phẩm và dịch vụ, mục đích chính là để khách hàng an tâm hơn, loại bỏ mọi áp lực, xua tan những hoài nghi đang có trong lòng.

4.

Ngay tại phút 89, nhanh chóng thông báo tới khách hàng sự hiện diện của một loạt chi phí phát sinh trong hợp đồng.

Sẵn sàng lắng nghe nhiều lời phàn nàn, tuy nhiên, nếu 3 bước trên đã được thực hiện chính xác, người mua sẽ nhanh chóng nguôi ngoai và tiến hành thanh toán.

Cre : Rubi
 
Tâm Lý Học
3 cách tiềm năng để huấn luyện não bộ tiết ra Dopamine theo nhu cầu


Những điểm chính

Dopamine là một chất dẫn truyền thần kinh hạnh phúc, còn được gọi là "phân tử phần thưởng."

Con đường Dopaminergic được kích hoạt bởi hành vi nhắm đến-mục tiêu.Từ lâu các nhà khoa học thần kinh đã biết rằng việc đạt được những mục tiêu bên ngoài hay giành được phần thưởng sẽ làm nồng độ dopamine tăng vọt.Nghiên cứu mới dựa trên-máy tập chạy bộ (2021) cho thấy những con chuột được huấn luyện có thể học cách điều chỉnh các xung lực dopamine theo ý muốn để nhận được một phần thưởng.

Nguồn ảnh: Fer Gregory/Shutterstock

"Gấp xếp chăn màn vào buổi sáng có thể là một nguồn giải phóng dopamine nếu bạn công nhận điều đó.

Hãy thiết lập sân chơi mỗi ngày cho mình để tiết ra dopamine bằng cách đặt ra nhiều mục tiêu-nhỏ và đạt được chúng.

Đặt mục tiêu và đạt được chúng đảm bảo cho bạn một nguồn cung cấp dopamine liên tục, dopamine được giải phóng trong hành vi nhắm đến mục tiêu và khi đạt được một mục tiêu.

Hãy hoàn thành những việc mà bạn đã xắn tay vào làm, rồi bạn sẽ tiết ra dopamine."

—Christopher Bergland, (2007)

Khi tôi nghiên cứu và viết cuốn sách The 's Way: Sweat and the Biology of Bliss (Con đường của Vận động viên: Mô hồi và Sinh học của niềm hạnh phúc), tôi luôn tìm kiếm bằng chứng dựa trên khoa học, cung cấp cho chúng ta manh mối mới về cách kích hoạt việc giải phóng các chất dẫn truyền thần kinh hạnh phúc theo nhu cầu thông qua việc tập thể dục và những thói quen lối sống hằng ngày.

Một nghiên cứu mới dựa trên-máy tập chạy bộ trên chuột báo cáo rằng ngoài việc dopamine được tiết ra sau khi đạt được một mục tiêu, hoạt động dopaminergic có thể được "tăng lên" theo ý muốn khi một con chuột đang chạy trên máy tập chạy bộ được huấn luyện để nhận được một phần thưởng vì đã học được cách điều chỉnh "các xung tự phát" của dopamine của nó theo nhu cầu.

Những phát hiện này đã được công bố vào ngày 23 tháng 7 trên tạp chí có kèm đánh giá Current Biology.

Chủ động kích hoạt việc giải phóng Dopamine, bản thân nó có thể trở thành một phần thưởng

Trong thí nghiệm đầu tiên này, Conrad Foo của UC San Diego, cùng với các đồng nghiệp đến từ trường Y Icahn tại Mount Sinai ở New York, đã nghiên cứu xem liệu những con chuột thí nghiệm có thể chủ động kiểm soát các xung dopamine tự phát thường xuất hiện trong não bộ khi chuột dùng các chuyển động tự khởi xướng để điều hướng tìm phần thưởng hay không.

Trung bình, các nhà nghiên cứu phát hiện thấy "các xung động tự phát của dopamine xảy ra trong vỏ não của chuột với tốc độ khoảng chừng 0.01 mỗi giây."

Mục tiêu cuối cùng của Foo và cộng sự là trả lời câu hỏi nghiên cứu: "Liệu những con chuột có thể được huấn luyện để thay đổi biên độ và/hoặc chọn đúng thời điểm của các sự kiện dopamine được kích hoạt bởi những động năng não bộ bên trong, nhiều như chúng có thể thay đổi biên độ và chọn đúng thời điểm của các xung dopamine dựa theo một tín hiệu từ bên ngoài?"

Để trả lời câu hỏi này, họ đã thiết kế một chiếc máy chạy bộ độc đáo được thiết lập trong phòng thí nghiệm nghiên cứu cho phép các nhà khoa học thần kinh theo dõi mức dopamine trong vỏ não của chuột khi nó đang di chuyển.

Các nhà nghiên cứu đã củng cố một mô hình học tập để thưởng cho những con chuột-đang chạy trên máy chạy bộ khi dùng ý chí để tăng mức dopamine trong não của chúng.

Trong thí nghiệm này, việc cố ý tăng dopamine trong lúc đang chạy trên máy chạy bộ được củng cố bằng phần thưởng là một "giọt nước đường."

Phản hồi tức thì về cách não bộ chuột phản ứng trước những phần thưởng đó tạo ra khả năng dạy cho chuột cách tự điều chỉnh mức độ dopamine ở vỏ não của chúng.

Chỉ sau một vài buổi thực hành, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những con chuột được huấn luyện có thể điều chỉnh xung lực dopamine tự phát theo ý muốn trong khi đang di chuyển trên máy chạy bộ.

"Các kết quả của chúng tôi nêu bật vai trò tiềm năng của những động lực bên trong não bộ trong việc điều chỉnh cũng như tạo ra các sự kiện dopamine tự phát," Foo và cộng sự kết luận.

"Theo quan sát của chúng tôi, học tăng cường (reinforcement learning) có thể được dùng để huấn luyện động vật bắt đầu các xung dopamine ngoài synap để đổi lấy một phần thưởng."

3 mẹo để kiểm soát dopamine của bạn

1.

Kiến thức dựa trên khoa học là sức mạnh.

Khi hiểu rằng bộ não động vật có vú có thể chủ động điều chỉnh các xung dopamine tự phát của vỏ não giúp bạn dễ hình dung rằng bạn cũng có thể tự sản xuất dopamine trong vỏ não theo nhu cầu của mình. (Nếu chuột có thể làm được điều đó thì bạn cũng vậy!) Ngay cả khi lúc đầu đây chỉ là hiệu ứng (giả dược), nhưng cứ tin rằng bạn đang chủ động gia tăng nồng độ dopamine cũng có thể tạo ra một lời tiên tri tự ứng nghiệm khi tiếp tục luyện tập.

2.

Đặt ra các mục tiêu nhỏ, và đạt được chúng.

Đặt ra các mục tiêu nhỏ có thể dễ dàng đạt được bằng cách chia nhỏ các nhiệm vụ lớn thành các phần nhỏ có thể thực hiện được có thể biến não của bạn thành một nhà máy sản xuất dopamine tăng áp.

Một lần nữa, biết rằng việc hoàn thành từng mục tiêu nhỏ sẽ mang đến cho bạn một "liều" dopamine có thể củng cố khả năng kiểm soát các xung dopamine tự phát trong vỏ não của bạn theo ý muốn.

3.

Ăn mừng chiến thắng nhỏ.

Tự chúc mừng bản thân sau mỗi "chiến thắng nhỏ" và nói "PHẢI!

Mình đã làm được" có thể củng cố cho việc học được cá nhân hóa liên kết với việc kiểm soát việc tạo ra "các liều" dopamine theo ý muốn —đặc biệt là nếu bạn biến việc giải phóng dopamine thành một mục tiêu (và một phần thưởng).

Từ nhiều thập niên qua, mặc dù các nhà khoa học thần kinh đã biết rằng việc đạt được một mục tiêu và có thể nói "PHẢI!

Tôi đã làm được rồi!" mang lại cho con người cái cảm giác hân hoan tựa như trúng giải jackpot, song nghiên cứu mới nhất (2021) ở chuột cho thấy bộ não của loài động vật có vú cũng có thể cố tình kích hoạt một đợt tăng dopamine khi việc gia tăng dopamine (tự nó) đã là phần thưởng.

Do đó, ngoài việc đặt ra nhiều mục tiêu nhỏ trong ngày và đạt được từng cái một—như vậy bạn sẽ nhận được rất nhiều đợt dâng trào dopamine hạnh phúc—bạn cũng có thể xem việc tạo ra những cơn dâng trào dopamine đó như một điều gì đó mà bạn đang làm theo ý muốn bản thân sẽ khiến bạn thấy vui vẻ.

Biết rằng việc có được một liều dopamine là nằm trong tầm kiểm soát của bạn sẽ ban cho bạn sức mạnh để tự sản xuất ra các hóa chất thần kinh nội sinh của hạnh phúc theo yêu cầu, mà không cần đến các loại thuốc ngoại sinh.

Luyện tập cường độ cao ngắt quãng giúp dễ dàng tạo ra "những liều dopamine nhỏ"

Khi cấu trúc các buổi tập luyện cardio hằng ngày của bạn (cardio là các bài tập có liên quan đến tim mạch), thay vì chỉ tập liên tục ở mức độ vừa phải (CME) mà có thể chỉ đem lại cho bạn một lượng lớn dopamine vào cuối buổi tập dài, thì việc chia nhỏ buổi tập thành một số bài tập aerobic ngắt quãng với cường độ từ trung bình-đến-mạnh (AIT) hoặc luyện tập cường độ cao ngắt quãng (HIIT); cả AIT và HIIT sẽ giải phóng nhiều liều dopamine nhỏ trong suốt một buổi tập cardio.

Nghiên cứu dựa trên bằng chứng cho thấy bạn còn có thể tạo ra "mô hình học tập tăng cường" của riêng mình bằng cách tưởng tượng về cảm giác sung sướng hạnh phúc của việc hoàn thành mỗi bài tập AIT hoặc HIIT ngắt quãng đi cùng với lượng dopamine tăng vọt mà các nhà khoa học thần kinh có thể nhìn thấy nếu bạn đang được theo dõi trong phòng thí nghiệm.

Ví dụ, hãy thử sáu lần tập 3 phút của bài luyện tập cường độ cao, theo sau là những khoảng nghỉ ngơi cường độ thấp dài 2 phút trong suốt một buổi tập AIT hoặc HIIT kéo dài 30 phút.

Bằng cách này, bạn sẽ nhận được 6 liều dopamine được điều chỉnh theo ý muốn, khiến bạn có cảm giác như mình là nhà vô địch và liên tục tiếp thêm động lực cho bạn trong suốt nửa giờ tập luyện.

Ngược lại, nếu bạn tập cardio ở cùng một nhịp độ hoặc mức độ ráng sức trong toàn bộ buổi tập CME dài 30 phút—mà không chủ ý tạo ra "những chiến thắng nhỏ" giúp tiết ra-dopamine—thì bạn chỉ sẽ nhận được một "liều dopamine bự" khi hoàn tất buổi tập dài nửa tiếng.

Ngoài ra, trạng thái đều đều, đơn điệu về tâm lý-sinh lý thần kinh này có thể khiến bạn đánh mất nghị lực của mình khi mới tập nửa chừng và bắt đầu biếng nhác sau 15 phút.

Khi được trang bị kiến thức rằng loài chuột có thể chủ ý gây ra một đợt dâng trào dopamine khi chúng được thưởng vì làm vậy, thì dường như khả năng cao là con người cũng có thể "kiểm soát các xung tự phát" của dopamine theo ý muốn.

Điều đó nói lên rằng, cần có thêm nhiều nghiên cứu để xác thực chính xác cách mà "việc học tăng cường liên kết các xung dopamine tự phát của vỏ não với phần thưởng" ở con người.
 
Tâm Lý Học
Nguồn cơn của những đau khổ hiện sinh


Sự đau khổ hiện sinh có thể được tìm thấy trong những câu hỏi như: "Ý nghĩa của điều này là gì?", "Mục đích của tất cả là gì?", "Mọi thứ là để làm gì vậy?",...

Đó là cảm giác làm một người xa lạ ở một vùng đất xa lạ.

Cảm giác lạc lõng, tựa như linh hồn của

Sự đau khổ hiện sinh có thể được tìm thấy trong những câu hỏi như: "Ý nghĩa của điều này là gì?", "Mục đích của tất cả là gì?", "Mọi thứ là để làm gì vậy?",...

Đó là cảm giác làm một người xa lạ ở một vùng đất xa lạ.

Cảm giác lạc lõng, tựa như linh hồn của bạn không ở trong cơ thể.

Cảm giác không biết điều gì là chân thật trong một thế giới dường như được xây nên từ giả dối.

Khi CDC (Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống Dịch bệnh) công bố tỉ lệ tự sát đã tăng trong hai thập kỷ qua ở hầu hết tiểu bang của Hoa Kỳ - ở một nửa số bang tỉ lệ này tăng đến 1/3 – nhiều cuộc tranh luận đã diễn ra nhằm tìm được chính xác điều gì dẫn đến số liệu thống kê như vậy.

Một số người cho rằng những gì chúng ta đang chứng kiến là kết quả của một sự khủng hoảng hiện sinh đang ám ảnh xã hội của chúng ta.

Những giả thuyết phổ biến nhất được dùng để giải thích cuộc khủng hoảng này là: 1.

Sự suy tàn của tôn giáo.

2.

Sự thiếu hụt tính cộng đồng và 3.

Sự khan hiếm những công việc thực sự có mục đích.

Tất cả những yếu tố này đều có tính thuyết phục cao và góp phần rất lớn vào cuộc khủng hoảng hiện sinh thời hiện đại, nhưng tôi không hoàn toàn tán đồng với những lời giải thích ấy: chúng không phù hợp với những trải nghiệm cá nhân của tôi.

Tôi theo Đạo, tôi thực hành những nghi lễ đức tin giúp tôi trả lời những câu hỏi lớn trong cuộc sống.

Nhà thờ mà tôi tham gia đáp ứng mọi tiêu chuẩn về một cộng động lành mạnh.

Tôi có một gia đình hạnh phúc, một nhóm bạn thân và trò chuyện với họ thường xuyên.

Tôi cũng rất hài lòng với công việc của mình và cảm thấy rằng nó là một công việc có mục đích.

Đáng lý cuộc sống của tôi sẽ là hình mẫu chuẩn của một cuộc sống có ý nghĩa... nhưng tôi vẫn trải qua nỗi đau tột cùng của đau khổ hiện sinh.

Tôi không nói về chứng trầm cảm hay những bất hạnh.

Những trăn trở hiện sinh có thể dẫn đến trầm cảm hay tự tử, nhưng nghịch lý là nó cũng có thể song hành cùng hạnh phúc.

Thực tế, hạnh phúc có thể làm trầm trọng hóa vấn đề của khủng hoảng hiện sinh: "Tôi khá là hạnh phúc... vì sao tôi vẫn cảm thấy bất mãn?"

Sự đau khổ hiện sinh có thể được tìm thấy trong những câu hỏi như: "Ý nghĩa của điều này là gì?", "Mục đích của tất cả là gì?", "Mọi thứ là để làm gì vậy?",...

Đó là cảm giác làm một người xa lạ ở một vùng đất xa lạ.

Cảm giác lạc lõng, tựa như linh hồn của bạn không ở trong cơ thể.

Cảm giác không biết điều gì là chân thật trong một thế giới dường như được xây nên từ giả dối.

Nếu sự suy tàn của tôn giáo, cộng đồng và mục đích không giải thích được những vấn đề trên, thì điều gì có thể?

Chúng tôi có một vài giả thuyết như sau:

Nguồn cơn của đau khổ hiện sinh bắt nguồn:Từ cộng động và lối sống

Lý do mà các cộng đồng hiện đại, giàu có với các giá trị truyền thống và tập quán chung không phải là liều thuốc giúp làm dịu đau khổ hiện sinh là vì chúng là không gian mở.

Bạn có thể cảm thấy gắn kết với nền văn hóa được chia sẻ trong cộng đồng của mình, nhưng bạn luôn ý thức được rằng hàng triệu người ở bên ngoài cộng đồng không cùng sẻ chia điều đó.

Có những lựa chọn khác, những lựa chọn thay thế, những nguyên tắc và niềm tin khác giúp bạn xây dựng cuộc sống.

Ở đâu có sự lựa chọn, ở đó có FOMO (Fear of missing out – Nỗi sợ bị bỏ lại).

Bạn có chắc mình đã chọn đúng không?

Khi quyết định mình có nên thuộc về một cộng đồng tôn giáo hay không, chúng ta cảm thấy mình đang ở trong một "thời điểm đa dạng và áp lực", James K.A.

Smith viết, "nơi tín đồ bị bao vây bởi sự nghi ngờ và những kẻ nghi ngờ, và lâu lâu lại cảm thấy tin những điều đó."

Bởi vì tín đồ và những người không thật sự có đức tin sống trong cùng một địa phương, những lối sống và hệ thống đức tin khác nhau liên tục ảnh hưởng qua lại, nên mỗi nhóm thường xuyên phải chịu những "áp lực chéo".

Những người theo đạo bị vây quanh bởi những người không có nhu cầu về đức tin và những ràng buộc đi kèm với đức tin.

Họ buộc phải tự hỏi liệu những kẻ ngoại đạo này có thật sự kém hạnh phúc hơn vì cuộc sống của họ xoay quanh những dự án cá nhân thay vì Chúa hay không.

"Dù tôn giáo đã tồn tại từ lâu," Smith viết, "niềm tin không xuất hiện dễ dàng.

Đức tin bị thách thức liên tục.

Chúng ta không nghi ngờ, mà chúng ta không tin, hoặc vừa tin vừa nghi ngờ."

Những người không theo đạo cũng trải nghiệm điều tương tự.

Ngay cả những người vô thần cũng thi thoảng muốn một điều gì siêu việt hơn.

Anh ta có thể thừa nhận một cách lý trí một số lợi ích mà đức tin mang lại, nhưng sẽ không thay đổi suy nghĩ của mình để trải nghiệm chúng.

Ernest Hemingway có một giai đoạn không còn tin vào tôn giáo.

Một nhà viết tiểu sử miêu tả ông lúc ấy như sau: "Ông ấy nhung nhớ sự ủi tinh thần của tôn giáo như một người đàn ông vừa lạnh vừa ướt đang muốn uống một cốc whiskey ngon."

Tất nhiên những áp lực chéo này không chỉ diễn ra giữa tín đồ và những người không có đức tin.

Mạng xã hội cho phép chúng ta thấy một cách đủ đầy và sống động những phong cách sống khác.

Bạn nên tập thể dục kiểu đó hay kiểu này?

Ăn kiêng kiểu một hay kiểu hai?

Sống ở đây hay ở đó?

Làm chủ hay làm nhân viên?

Dù bạn chọn con đường nào, chúng ta đều trông thấy những dấu hiệu đang vẫy gọi ta ở những con đường khác.

Chúng ta bị ám ảnh bởi những khả năng, bởi câu hỏi liệu chúng ta có sống đúng hay không và liệu người khác có đang sống tốt hơn hay không.

Cỏ bên kia đồi luôn xanh hơn và trong thời hiện đại, dường như cỏ ở mọi hướng đều tươi tốt.

Anomie: trạng thái vô chuẩn mực

Vào đầu thế kỷ 20, nhà xã hội học người Pháp Emile Durkheim đã thực hiện một cuộc khảo sát nhằm tìm ra những yếu tố nào gây ảnh hưởng nhất đến tỉ lệ tự tử tại một quốc gia.

Ông phát hiện ra chỉ số này bị ảnh hưởng rất nhiều bởi một sự hiện diện trong xã hội mà ông gọi là anomie.

Anomie, nghĩa là "không luật lệ" trong tiếng Đức và tiếng Pháp, được Durkheim định nghĩa là trạng thái "vô chuẩn mực" – sự không có quy tắc chung, tiêu chuẩn chung hay giá trị chung.

Đó là một khái niệm mô tả rất rõ bối cảnh của xã hội hiện đại.

Trong một cộng đồng nhỏ, dường như tất cả mọi người đều có chung một nền văn hóa.

Nhưng khi nhìn rộng ra thế giới, không có giá trị chung nào được sẻ chia cả.

Hậu quả nguy hiểm của trạng thái vô chuẩn mực có thể là tự sát, nhưng nó cũng khiến những người đang sống liên tục cảm thấy lo lắng và trống rỗng.

Có hai lý do cho việc này:

Chuẩn mực tạo nên một hệ quy chiếu để bạn đánh giá mình đang ở đâu.

Tự do cá nhân mà không có bất kỳ hướng dẫn, tiêu chuẩn hoặc kỳ vọng nào mang đến cảm giác trôi nổi trong không gian sâu thẳm.

Sự không trọng lượng ban đầu sẽ mang lại cảm giác phấn thích đấy, nhưng khi không có hệ quy chiếu để biết mình ở đâu, trên dưới trái phải đều vô nghĩa.

Bạn có nhiệm vụ tạo ra các quy tắc, giá trị và kỳ vọng của riêng bạn – ý nghĩa cá nhân của bạn đối với thế giới.

Tuy nhiên, dựa vào những tiêu chuẩn do chính bạn định ra để định hướng cuộc sống là một chuyện vô cùng khó khăn.

Chúng bắt nguồn từ chính bạn chứ không được thừa nhận bởi những người khác.

Sự thiếu vắng chuẩn mực không chỉ xóa đi những khuôn mẫu để bạn đánh giá cách sống của mình mà còn loại bỏ rào cản để bạn chống lại.

Một xã hội có chuẩn mực không chỉ cung cấp ý nghĩa tồn tại cho những người tuân theo nó mà còn cho cả những người chống lại nó.

Việc đẩy lùi tiêu chuẩn xã hội mang đến cảm giác có ý nghĩa to lớn – điều chỉnh kỳ vọng, trở thành cá thể độc nhất, tạo nên một nền văn hóa ngầm,...

Nhưng ngày nay có rất ít văn hóa chính thống để bạn nổi dậy chống lại.

Vẫn có một số kỳ vọng đấy, nhưng tư tưởng ngự trị là "sống và hãy sống."

Bạn có thể kết hôn ở tuổi 20 hoặc 40 hoặc ở giá đến cuối đời.

Bạn có thể sống với ai đó cả đời mà không cần hôn thú, có 9 đứa con hoặc không có đứa nào, mặc bất kỳ thứ gì bạn thích mà không ai ý kiến, hẹn hò với một người không cùng sắc tộc, xỏ khuyên bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể, có một đứa con ngoài giá thú mà không bị xa lánh, đi làm, không đi làm, hoặc bắt đầu học đại học ở tuổi 50.

Bạn gần như có thể làm bất cứ điều gì bạn muốn, miễn là không vi phạm pháp luật và tuân theo một số quy tắc xã hội tối thiểu.

Mặt phải của anomie là không ai quan tâm bạn làm gì.

Và đương nhiên đó cũng là mặt trái.

Cố ý quan trọng hóa vấn đề

Thời kỳ hiện đại ngày nay không chỉ gây "khó khăn" dưới dạng những chuẩn mực xã hội, mà còn dưới dạng những thử thách hiện sinh thực sự.

Cuộc sống ở phương Tây nhìn chung rất yên bình và thoải mái.

Chúng ta không bị lôi kéo vào chiến tranh thế giới.

Nghèo đói vẫn hiện diện, nhưng nó không phải vấn đề lớn của thập kỷ vừa qua.

Nhiều loại bệnh đã được diệt trừ.

Số lượng phạm tội giảm xuống.

Công nghệ khiến việc kết nối trở nên dễ dàng hơn và mang lại rất nhiều tiện ích khác.

Như Stephen Pinker lập luận, thời hiện đại đã "mang lại nhiều tiến bộ vượt bậc cho sự hưng thịnh của loài người."

Trong bối cảnh hòa bình và thịnh vượng này, nhiều vấn đề lớn đã được giải quyết, và chúng ta có "sự xa xỉ" để tập trung vào những điều nhỏ hơn.

Thế nên ta mới có nền văn hóa bắt chẹt từ ngữ để xác định dùng từ như thế nào là xúc phạm và các hành vi gây hấn nhỏ.

Chúng ta tham gia vào những cuộc chiến nhỏ hơn chiến tranh nhưng gây ra những hậu quả xã hội nghiêm trọng chẳng kém.

Có một khoảng cách lớn giữa việc chúng ta muốn cuộc chiến như thế nào và cảm giác nó thật sự mang lại.

Chúng ta khao khát được thực hiện một thử thách hoành tráng nhưng cuối cùng nhận ra chúng ta đang quá an toàn để thực hiện điều đó.

Kết quả là ta tự mình nâng cao cảm giác ấy – bóp méo câu chuyện thành một thứ gì nguy hiểm và có tính đe dọa hơn, hấp dẫn hơn nó vốn có.

Do đó ta có trào lưu sách và phim về ngày tận thế và xuất hiện niềm tin rằng chúng ta đang sống trong một thời kỳ hỗn loạn chưa từng có.

Có một niềm vui ẩn sau niềm tin rằng mình đang sống trong thời kỳ tồi tệ nhất.

Dường như sống trong một thời đặc biệt khiến một cá nhân trở nên đặc biệt.

Tuy nhiên ảo tưởng này không đủ để tạo ra một ý nghĩa lâu dài.

Như hình ảnh phản chiếu biến dạng của nhà gương, trông chúng vui đấy, nhưng chỉ giúp bạn giải trí được một lát thôi.

Sự tự ý thức một cách méo mó

Từ nhiều thế kỷ trước, Shakespeare đã nói: "Mọi thế giới là một vở tuồng."

Từ lâu mọi người đã nhận thức được là họ luôn bị người khác theo dõi.

Nhưng chưa bao giờ sân khấu ấy có sức lan tỏa mạnh mẽ như bây giờ.

Đã từng có một thời bạn chỉ thấy một phần rất nhỏ của những người trong vòng xã hội của bạn.

Bạn chỉ thấy họ ở nơi làm việc hoặc ở những buổi tụ tập, cuộc sống cá nhân của họ như một chiếc hộp bí ẩn.

Bạn hiếm khi thấy ảnh đi chơi của đồng nghiệp hoặc của những người họ hàng xa.

Bạn cũng không thấy ảnh họ đi chơi với con, ăn tối bên bạn đời, ảnh cả bố và mẹ bên đứa trẻ mới sinh,...

Đã từng có một thời như thế.

Những bức ảnh nằm trong album cá nhân và chỉ một số ít người trong gia đình mới có thể nhìn thấy.

Vì thế bạn không cần phải tạo dáng hoặc cố tỏ ra hoàn hảo trong mỗi khung hình.

Ngày này là một câu chuyện rất khác.

"Album cá nhân" của bất kỳ ai cũng để mở cho mọi người trên mạng xã hội.

Nó tạo áp lực rằng bạn phải "diễn", phải "chỉnh sửa" để có thước phim hoàn hảo nhất và rực rỡ nhất.

Ngay khi vừa sinh con xong, một người mẹ phải cười và tạo dáng cho bức ảnh bế con mà cô ấy sắp sửa đăng Instagram.

Ngay cả khi bạn không đăng những tấm ảnh đẹp nhất của mình thì việc xem ảnh chụp của người khác cũng phần nào thay đổi cách nhìn của bạn về bản thân.

Bạn không thể không tự hỏi cuộc sống của mình được đo đạc như thế nào.

Bạn không thể không nghĩ về cách nó trông như thế nào với những người quan sát bên ngoài.

Càng ngày ta càng nhìn bản thân từ góc độ của một người đứng xem.

Chúng ta bắt đầu để ý xem cuộc sống của mình trông có thú vị và mạo hiểm trong mắt người khác hay không.

Ý thức này chỉ mới xuất hiện từ đầu thế kỷ này, thứ mà chúng tôi gọi là "sự tự ý thức méo mó."

Hình ảnh phản chiếu không chân thật

Trong phần lớn lịch sử, phương tiện truyền thông nằm trong tay những người ưu tú.

Nếu bạn muốn ý kiến của mình được công khai rộng rãi, bạn phải đạt được những thành tựu nhất định.

Nếu bạn muốn xuất hiện trên radio hoặc TV, bạn phải được chương trình mời.

Nếu bạn muốn xuất bản sách, bạn phải ký được hợp đồng với nhà xuất bản.

Có thể những việc này đi ngược tính dân chủ, nhưng chúng đảm bảo rằng nội dung được truyền bá đã được kiểm duyệt trước.

Thời nào cũng có tin rác cả thôi, tuy nhiên những bộ lọc này phần nào đảm bảo những gì ta được xem, được nghe, được đọc đã được kiểm tra bởi những người có năng lực, có giáo dục, có kinh nghiệm,...

Kết quả là nội dung cộng đồng mang đến cho khán giả một cái nhìn truyền cảm hứng về tiềm năng của con người.

Họ tạo nên một tấm gương phản chiếu những hình ảnh đẹp đẽ mà Shakespeare có thể nói rằng:

"Con người là một tuyệt tác!

Lý trí mới cao quý làm sao!

Các khả năng là vô tận!

Những hình thức và chuyển động thật đáng khâm phục.

Hành động giống một thiên thần.

Sự lĩnh hội lại như một vị thánh."

Chính khách người Anh William Gladstone bổ sung thêm:

"Con người là kỳ quan của tạo hóa.

Nghiên cứu về loài người cũng là nghiên cứu cao quý nhất."

Và bộ trưởng Theodore Parker nói:

"Con người là sản phẩm đáng giá nhất trong tiến trình lịch sử của mình.

Một nhà khám phá sẽ tìm ra không có gì cao cả và vĩ đại bằng chính anh ta, không có gì đáng giá bằng anh ta.

Ngôi sao vĩ đại nhất là ngôi sao khó thấy nhất bằng kính thiên văn, ngôi sao đang nhìn bạn, chứ không phải bị bạn nhìn."

Thời đại kỹ thuật số xóa bỏ mọi rào cản, tiếng nói của bất kỳ ai đều có thể được lắng nghe.

Chúng ta bị vây quanh bởi một loạt nhận xét, phản hồi và ý kiến chói tai – rất ít trong số đó được kiểm tra, nghiên cứu và cân nhắc kỹ trước khi đăng tải.

Thay vào đó, nó là sản phẩm của những cảm xúc nhất thời theo kiểu phản xạ.

Nó là sản phẩm từ ID chứ không phải từ bản ngã của chúng ta.

Giờ đây hình ảnh phản chiếu của con người trong tấm gương xã hội không phải là một hình ảnh đẹp đẽ, thậm chí còn là một hình ảnh có thể làm ta bất giác lùi lại.

Thay vì phản chiếu độ cao mà con người có thể đạt đến, nó lại phản chiếu hố sâu mà anh ta có thể rơi vào.

Đây là con người với những gì nguyên sơ và bản năng nhất.

Một lượng lớn thông tin nhưng không có đòn bẩy cho hành động

Một hệ quả khác của việc sống trong một thế giới không có bộ lọc là lượng thông tin nhỏ giọt được kiểm duyệt năm xưa đã trở thành cơn đại hồng thủy thông tin không thể kiểm soát.

Như chúng tôi đã nói ở trên, có rất nhiều thông tin về lối sống bạn có thể theo đuổi – về nơi đi du lịch, nơi sống và nghề nghiệp tiềm năng.

Có vô số danh sách ưu và nhược điểm của hình thức tập thể dục này và chế độ ăn kiêng nọ.

Có sẵn lập luận và phản biện đầy đủ cho mọi niềm tin.

Tuy nhiên, không có sự thúc đẩy mang tính hành động nào đối với những thông tin này cả.

Bạn có thể tìm thấy nguồn tài nguyên thông tin vô tận, nhưng ít ai có thể chỉ cho bạn rằng bạn nên chọn thế nào.

Bạn có thể tìm thấy những mẹo và thủ thuật để cải thiện cuộc sống của mình nhưng lại khó mà áp dụng chúng để thành công trong thực tế.

Trong khi thông tin có sẵn đang bùng nổ theo cấp số nhân thì việc bắt tay thực hiện – một vấn đề thuộc bản chất cơ bản của con người – vẫn không thay đổi.

Nhiều thông tin hơn không có nghĩa là hành động dễ dàng hơn.

Do có sự không khớp giữa suy nghĩ và hành động, cảm giác FOMO tăng lên và càng làm ta bồn chồn khủng khiếp.

Sống với đau khổ hiện sinh

Không có lý do nào trong những gì chúng tôi vừa liệt kê là xấu xa về mặt bản chất.

Những gì tạo nên chúng là sự pha trộn giữa tốt và xấu.

Nhưng dù là tích cực hay tiêu cực, chúng khiến việc trả lời cho những câu hỏi lớn – Tôi là ai?

Tôi đang đi đâu?

Tại sao tôi lại ở đây?

- trở nên khó khăn hơn.

Vì thế cuộc sống hiện đại ở phương Tây chúng ta có một nghịch lý.

Chất lượng cuộc sống của ta tăng lên, nhưng sức khỏe tinh thần lại giảm xuống.

Cuộc sống trở nên an toàn hơn, lành mạnh hơn và dễ dàng hơn – nhưng tỉ lệ trầm cảm, rối loạn lo âu và tự tử lại không ngừng gia tăng.

Nghe có vẻ mâu thuẫn, nhưng sự thật là mọi người muốn nhiều hơn sự thoải mái và sự tiện nghi – họ muốn một cuộc đời có ý nghĩa và có giá trị, những phẩm chất khó mà định nghĩa được trong thời đại của chúng ta.

Vậy ta nên làm gì?

Chà, mặc dù tôi không nghĩ những thứ như tôn giáo, cộng đồng và mục đích (kể cả mục đích nghề nghiệp và những mục đích khác) mang trong mình câu trả lời, nhưng chúng có thể bảo vệ ta khỏi sự trống rỗng của đau khổ hiện sinh thời hiện đại.

Trong một thế giới tưởng chừng vô nghĩa chúng giúp ta cảm thấy có ý nghĩa phần nào.

Tham gia một vài thử thách cũng là một giải pháp.

Dù cuối cùng chúng không đáp ứng được mong muốn thực hiện một nhiệm vụ vẻ vang, chúng vẫn tạo nên những điểm nhấn lành mạnh trong cuộc sống – những cột mốc trong trạng thái vô trọng lượng.

Bạn nên làm một điều gì đó hơn là để tất cả mọi thứ tê liệt.

Dù bạn có làm gì cũng không có cách nào xoa dịu sự đau khổ hiện sinh.

Nó có thể đẩy người ta đến mức từ bỏ cuộc sống này, nhưng chính bản thân nó cũng là một thử thách.

Mong muốn liệu bạn có đang sống đúng hay không, tìm ra bạn là ai và bạn đang ở đâu, và ý nghĩa của con người là gì,... tất cả đều là đặc quyền của sự sống.

Cre : Rubi
 
Tâm Lý Học
Tại sao một số người lại bực bội khi thấy kẻ khác tốt bụng hơn mình


Một hành động cao đẹp có thể khiến con người xem như sự sỉ nhục đối với cá nhân h

Một bài báo gần đây trên Thời báo New York có tựa đề (Ai là kẻ đạo văn?) mô tả cuộc chiến pháp lý giữa hai nhà văn.

Một bên là người hiến thận vô vụ lợi đăng tải trải nghiệm của cô trong một nhóm Facebook riêng tư.

Còn bên kia thì đăng một câu chuyện ngắn bị cáo buộc là ăn cắp một số ý tưởng từ những bài đăng của người hiến thận kia.

Câu hỏi trọng tâm được nêu lên trong bài báo có vẻ là một nhà văn có quyền rút ra từ cuộc sống của người khác trong chừng mực nào.

Song nhiều độc giả lại chẳng mấy quan tâm đến chuyện đạo văn, mà họ hứng thú với người hiến thận nhiều hơn.

Một số người bày tỏ lòng ngưỡng mộ hoặc cảm thông, trong khi kẻ khác lại có cảm giác người hiến thận quá phô trương và thích thu hút sự chú ý, khiến cho hành động hào phóng của cô ấy bị giảm giá trị.

Một nhóm người, bao gồm một số nhà văn nổi tiếng, thậm chí còn đưa quan điểm này đi xa hơn, khi dùng những từ như "quái vật," "đáng ghê tởm," "Kẻ ái kỷ," và "thái nhân cách" để mô tả về cô ấy trên .

Mặc dù câu chuyện trên NYT chứa đựng những yếu tố có thể định hình nhận thức của người hiến tách biệt với cách mà cô ấy tiếp cận với việc hiến tặng, song những người hiến thận khác cũng thấy mình cũng gặp phải phản ứng tiêu cực (bên cạnh những người ủng hộ họ) khi hiến tặng thận.

Nghiên cứu cho rằng chuyện mọi người nhìn nhận về hành động tốt bụng bằng thái độ hoài nghi và thù địch là khá phổ biến, bất luận người có hành động tốt đó là ai.

Điều gì giúp lý giải về những phản ứng tiêu cực đó?

4 yếu tố sau đây có thể đóng một vai trò trong chuyện này.

1.

Hiểu lầm về động cơ

Thật khó để những người không hiến thận hiểu được động cơ đằng sau hành vi của người hiến tặng.

Nếu chúng ta không thể hình dung nổi việc muốn thực hiện một hành động vô cùng nhân đạo chỉ vì chính nó, thì ta hay giả định rằng hẳn phải có động cơ mờ ám nào ở đây.

Nhưng bộ não con người lại hoạt động theo những cách khác nhau, và những gì có vẻ kỳ lạ đối với người này có thể là điều bình thường đối với người khác.

Đối với nhiều người hiến thận, nỗi đau khổ của những người xa lạ thực sự khiến họ cảm nhận khác, kích hoạt những phản ứng thấu cảm trong não bộ của họ theo những cách giống như cách mà người khác có thể phản ứng trước nỗi đau của người thân yêu.

Vì vậy khi người hiến thận giải thích động cơ của họ là muốn giúp người đang khổ sở, chúng ta có thể tin lời của họ.

Nếu họ chỉ đang tìm cách thu hút sự chú ý hay sự tán dương thì họ có thể tìm ra nhiều cách ít gây tổn thất cho mình.

Cho nên, ngay cả khi một người vị tha cảm thấy tuyệt vời về bản thân thì điều đó cũng không có nghĩa rằng hành động của họ là ích kỷ.

Sự thật là một hành động bác ái có thể đem đến lợi ích cá nhân là một điều tốt—cảm giác càng tốt đẹp thì con người càng có nhiều khả năng làm việc đó, và họ càng ít có khả năng xem đấy là gánh nặng hoặc gây kiệt quệ.

2.

Cho rằng hành động nhân ái nên được thực hiện âm thầm và giấu kín danh tính.

Những ai chưa quen với một loại hình vị tha cụ thể nào đó có thể giữ quan điểm sai lầm về những việc liên quan đến nó.

Ví dụ, họ có thể chưa biết rằng việc chia sẻ thông tin về một ca hiến thận thường được khuyến khích như một cách để giáo dục và truyền cảm hứng cho người khác—cũng như mời gọi sự giúp đỡ.

Nếu không hiểu được bối cảnh rộng này, người ta có thể diễn giải những bài đăng trên mạng xã hội hoặc những sự kiện công khai là một nỗ lực đầy toan tính ích kỷ để tìm kiếm sự công nhận của xã hội, trong khi thực tế thì việc nâng cao nhận thức và tuyên dương những người hiến thận là một cách quan trọng để gia tăng số ca hiến thận.

Rất nhiều người đang cần ghép thận ngoài kia so với số lượng thận hiến tặng vô cùng ít ỏi.

3.

Cảm thấy bị phán xét hoặc cảm giác kém cỏi bất lực

Người ta có thể mang cảm giác rằng những kẻ tốt bụng vị tha kia đang xem thường họ vì họ không thể đưa ra lựa chọn tương tự, ngay cả khi điều này không đúng.

Nghiên cứu phát hiện thấy cảm giác kém cỏi khi so sánh với một "người làm được việc tốt"có thể đe dọa đến lòng tự trọng của con người, điều đó có thể khiến cho họ chê bai, gièm pha người làm việc tốt hòng vô hiệu hóa mối đe dọa và cảm thấy tốt đẹp hơn về bản thân.

Có một lý do mà thuật ngữ "người làm việc tốt" thường được dùng theo nghĩa xúc phạm.

Một cách khác để vô hiệu hóa mối đe dọa đó có thể là cần nhận ra có nhiều cách khác nhau để làm người tốt, và hành động vị tha của người khác không làm chúng ta trông tệ hại kém cỏi—quả thực nó không nhắm đến chúng ta.

4.

Những người vị lợi đa nghi

Nghiên cứu cho rằng con người có thể ít tin tưởng vào một số kiểu người bác ái nào đó—những người tập trung vào việc tối đa hóa lợi ích cho số đông—vì họ sợ rằng mình sẽ trở thành người bạn hay người yêu không trung thành.

Những kiểu người vị tha này có thể bỏ ra khá nhiều thời gian và nguồn lực để phục vụ cho những người xa lạ, trái ngược với việc dành ưu tiên cho các mối quan hệ thân thiết, một quyết định mà người ta có thể phản đối.

Nhưng trước khi chúng ta phán xét nặng nề những con người tốt bụng ấy, chúng ta nên cân nhắc đến cảm giác của mình nếu như ta đang cần thứ gì đó mà mối quan hệ gần gũi của ta không thể mang lại (chẳng hạn như quả thận phù hợp); những lúc đó, một người xa lạ mà hào hiệp có thể thay đổi mọi thứ, và chúng ta sẽ thấy biết ơn vì họ có mặt trên đời.

Bài học rút ra là gì?

Lần tới nếu bạn thấy mình hơi ngờ vực khi ai đó dường như có chút thỏa mãn với hành động nhân ái của họ, hãy hỏi bản thân chuyện đó làm bạn bực mình như thế nào.

Họ đang gây hại thay vì giúp đỡ?

Hay họ chỉ đang giúp đỡ theo cách mà bạn còn chưa hiểu được?

Họ có khiến bạn cảm thấy xấu hổ vì không làm được như họ, hay chỉ là đang chia sẻ điều gì đó mà họ đam mê?

Chúng ta không cần phải bắt chước hay ca ngợi mọi hành động tốt đẹp mà ta thấy, nhưng ý thức về quan niệm sai lầm làm nền tảng cho sự khó chịu của ta, có thể giúp chúng ta suy ngẫm và cảm kích những con người giàu lòng nhân ái theo một cách khác.
 
Tâm Lý Học
Giá trị của sự bất định


Trong tiểu thuyết, nó thu hút chúng ta.

Trong cuộc sống, nó có thể giúp ta sáng tỏ mọi chuyện.

Nhưng làm sao để bộ não nghiện sự chắc chắn tận dụng được phần đối nghịch của nó?

* Đọc bài này khá nhức não nhưng mà hay lắm!

Tôi có thể sống cùng với sự hoài nghi, sự bất định và những điều còn chưa tỏ tường.

Tôi tin rằng việc sống mà chưa tỏ tường thì thú vị hơn nhiều so với có câu trả lời nhưng chúng có thể sai ...

Để tiến bộ, người ta phải để ngỏ cửa cho sự bất định.

– trích từ 'The Uncertainty of Science' (Sự bất định của Khoa học) (1963) của Richard P Feynman

[Chúng ta] đòi hỏi phải có một định nghĩa chặt chẽ đối với những lãnh vực của sự hoài nghi và bất định!

― trích từ The Hitchhiker's Guide to the Galaxy (Đường tới dải ngân hà) (1979) của Douglas Adams

Quán bar và nhà hàng nướng Noonan's North nằm trong một tòa nhà được đóng bằng những tấm ván màu xanh đơn giản, ngay gần phố Main Street ở thị trấn Holy Cross, Iowa.

Ở địa phương, nơi này nổi tiếng với món sườn nướng BBQ và những đêm ăn tôm thỏa thích.

Đây không phải là nơi mà một người có xu hướng lái xe hàng trăm dặm để đến ăn.

Nhưng điện thoại của Max Hawkins đã yêu cầu anh đi đến đó – và anh đã làm theo.

Hawkins là một nhà khoa học máy tính (nay đã thành nghệ sĩ) dành hơn 2 năm để 'sống theo cách ngẫu nhiên'.

Câu chuyện của anh ấy bắt đầu khi đang làm kỹ sư tại Google (công việc mơ ước của anh) ở San Francisco (thành phố mơ ước của anh), anh ấy nhận ra mình đã tối ưu hóa cuộc sống để phù hợp với sở thích của bản thân đến mức mà anh đột nhiên thấy đó là điều đáng báo động.

Mỗi ngày của anh bắt đầu lúc 7 giờ sáng, đến quán cafe ngon nhất, sau đó đạp xe đi làm theo lộ trình tối ưu trong 15 phút.

Một thuật toán đơn giản, được cung cấp thông tin từ dữ liệu GPS (hệ thống định vị toàn cầu) của anh ấy từ một tuần, có thể dự đoán với độ chính xác cao chỗ ở và chuyển động của anh ấy vào tuần tiếp theo vào cùng một thời điểm trong ngày.

Anh nhận thấy điều này có phần thiếu tự chủ cá nhân.

Bất chấp việc đã làm cho cuộc sống phù hợp gần như chính xác với sở thích của bản thân, anh vẫn thấy tù túng – như thể anh ấy đã tối ưu hóa cuộc sống của mình đến độ vai trò của chính anh đã bị thay thế.

Hawkins đáp lại bằng cách sử dụng các công nghệ mới để đưa nhiều sự đa dạng vào cuộc sống của mình.

Trong hai năm, anh sống cuộc đời của mình theo một loạt các thuật toán ngẫu nhiên.

Một chương trình tạo lập về chế độ ăn bảo anh nên ăn gì, một đại lý du lịch theo thuật toán đã lựa chọn thành phố – mà anh đã chuyển sang làm freelance – sẽ sống trong 2 tháng tới, một danh sách phát Spotify ngẫu nhiên cung cấp những bản nhạc cho cuộc hành trình và một công cụ lựa chọn sự kiện-Facebook ngẫu nhiên báo cho tài xế Uber biết nơi đón anh ta khi anh đến chỗ đó.

Các thuật toán đã đưa anh đến các lớp yoga nhào lộn ở Mumbai và đến một trang trại chăn nuôi dê ở Slovenia, nhưng chúng cũng đưa anh ta đến quán rượu ở thị trấn nhỏ Holy Cross, Iowa, và một buổi biểu diễn độc tấu sáo lớp tám, và đến chơi Noel với một gia đình nhỏ ở Fresno, California.

Bất cứ nơi nào có thể giúp anh thoát khỏi lối mòn tiện nghi dễ đoán của một dân công nghệ giàu có ở San Francisco.

Khi báo cáo lại kết quả từ biên giới của sự không chắc chắn trong các buổi nói chuyện với tựa đề như 'Nương cậy vào Entropy', Hawkins nói rằng các thuật toán không chỉ quyết định đi đâu, ăn gì và những hoạt động giải trí mà anh ta nên tham gia, mà thậm chí cả quần áo và kiểu tóc (cuối cùng anh ấy cần thêm vài bộ tóc giả) mà anh nên theo.

Anh ấy thậm chí còn có một hình xăm ở ngực được chọn ngẫu nhiên từ những hình ảnh trên web.

Hawkins cho biết mình đã tìm được niềm hạnh phúc tuyệt vời theo nhiều cách bất ngờ và (ngược đời thay) cảm thấy mình sống trong hiện tại nhiều hơn do thoát khỏi thứ mà anh coi là chế độ độc tài theo sở thích bản thân và lối sống tối ưu hóa theo-sở thích.

Anh nói về việc thoát khỏi 'những bong bóng' tí xíu của những nơi chốn ăn uống và những việc cần làm cứ liên tục lôi anh trở lại nhiều lần.

Nhìn ở góc độ nào đó thì sự khó chịu của Hawkins có vẻ kỳ lạ, thậm chí là ngược đời.

Bộ não của chúng ta–theo một lý thuyết khoa học thần kinh quan trọng được gọi là 'quy trình dự đoán'– được thiết kế để giải quyết một vấn đề cơ bản: làm thế nào để giảm đến mức tối đa những điều bất ngờ trung bình dài hạn (dự báo sai) của chúng trong những tương tác của chúng ta với thế giới.

Môi trường càng biến động thì chiến lược cốt lõi này càng trở nên kém hấp dẫn, dẫn đến lo âu, stress và cảm giác mất quyền kiểm soát.

Nhưng Hawkins rõ ràng lại đang đưa rất nhiều thứ bất ngờ vào cuộc đời anh.

Tuy nhiên, ngay cả khi đứng từ góc độ quy trình dự đoán, sống trong phạm vi của những điều đã được dự kiến chỉ là một phần của một câu chuyện phức tạp hơn nhiều.

Đối với những bộ não dự đoán giống hệt nhau được thiết kế để điều khiển những sinh vật có khả năng chuyển động và tò mò như bản thân chúng ta.

Những sinh vật này phải lướt được qua những con sóng của sự bất định.

Để làm điều đó, chúng thăm dò và thử thế giới theo những cách thức nhằm phát hiện ra những điều bất định mấu chốt đang nằm ở đâu, để qua các hành động trong tương lai mà chúng có thể xử lý được chúng và tiếp tục sống.

Chúng tìm kiếm thông tin mới, và chúng tham gia vào các nghi thức phức tạp như nghệ thuật và khoa học mà vai trò của chúng phần nào nhằm để tiết lộ một cách an toàn và thách thức những giả định sâu kín nhất của chúng.

Hawkins quả thực đang làm một việc gì đó na ná như thế – kiểm tra những giả định sâu kín nhất của anh về bản thân và những việc muốn làm để khám phá trọn vẹn hơn một không gian của tiềm năng con người.

Các phương pháp của anh ấy rất cực đoan, nhưng kế hoạch chung của anh ấy vừa quen thuộc lại vừa mang nét độc đáo của con người.

Dường như những sinh vật như chúng ta đã thêm một số lớp mới toanh vào mối quan hệ của chúng ta với không gian của những dự đoán, của lỗi lầm và sự không chắc chắn của mình, biến không gian đó thành một đấu trường cụ thể mang đến những cuộc khám phá sâu sắc hơn và nhiều thử thách hơn so với những cuộc khám phá do phần lớn các sinh vật sống khác thực hiện.

Chúng ta đã khám phá ra những cách để biến các mô hình tốt nhất của chúng ta (kể cả mô hình–về bản ngã của chúng ta) thành những đối tượng phù hợp cho việc điều tra nghiên cứu một cách rõ ràng.

Chúng tôi cho rằng cuộc sống con người–đã được–xem xét phản ánh cho một loại quan hệ mới với những kỳ vọng và sự bất định của chúng ta.

Nhưng đó lại là thứ mà chúng ta bằng cách nào đó đã xây dựng trong phạm vi bất khả xâm phạm của một động lực nền tảng về mặt sinh học để giảm đến mức tối đa những dự báo sai dài hạn.

Làm thế nào mà chiêu đơn giản này có thể thực hiện được?

Hiểu mối quan hệ của chúng ta với sự bất định chưa bao giờ quan trọng hơn lúc này, vì chúng ta đang sống trong những thời điểm đầy thử thách bất thường.

Biến đổi khí hậu, COVID-19 và trật tự mới của chủ nghĩa tư bản giám sát (công ty công nghệ thu lợi nhuận từ việc giám sát hành vi của con người) làm cho chúng ta cảm thấy như thể mình đang bước vào một thời đại bất ổn toàn cầu mới.

Nơi mà với nhiều người ở phương Tây từng chỉ là những cái túi chứa đựng sự bất ổn (sự khó đoán định sâu sắc) trong một biển của những điều đáng tin cậy – mặc dù đôi lúc trong những kỳ vọng và cấu trúc bất như ý – thì gần đây có vẻ như nó chỉ là những cái túi chứa đựng sự ổn định trong một biển xoáy của sự thay đổi khó-mà-làm chủ được.

Bằng cách hiểu rõ hơn về trạng thái muôn màu muôn vẻ và giá trị của sự bất định, và nhận ra giá trị gia tăng to lớn của việc biến những điều không chắc chắn và kỳ vọng của chúng ta thành những đối tượng cụ thể phù hợp với việc kiểm tra và thử thách, chúng ta có thể tận dụng tốt hơn sức mạnh của bộ não dự đoán của mình.

Sự bất định theo dự kiến (Expected uncertainty)

Mong muốn thoát khỏi một cuộc sống dễ đoán là chủ đề quen thuộc trong văn chương.

Thủy thủ lang thang Ishmael trong tác phẩm Moby Dick (Cá voi trắng), và Harry Haller trong tiểu thuyết Steppenwolf (Sói thảo nguyên) khẳng định rằng ông 'thà chịu đựng cảm giác bị quỷ dữ thiêu đốt trong tôi còn hơn là sự ấm áp của một căn phòng được sưởi ấm tốt'.

Trong tác phẩm kinh điển phản văn hóa The Dice Man (Kẻ chơi xúc xắc) (1971), bác sĩ tâm thần chán đời Luke Rhinehart đã giao các quyết định của mình cho việc tung xúc xắc, truyền cảm hứng cho độc giả bắt chước theo.

Tuy nhiên quyết định mở lòng đón nhận sự bất định, chỉ vì lợi ích của chính nó, hoàn toàn trái với lẽ thường.

Loài người là sinh vật làm theo thói quen.

Chúng ta ăn cùng một món cho bữa sáng, đi cùng một con đường đến nơi làm việc, và gặp cùng những con người đó tại cùng một quán rượu sau giờ làm việc.

Năm 2010, một nhóm các nhà khoa học máy tính đã phân tích mô hình di chuyển của 50,000 người dùng điện thoại di động ẩn danh, và phát hiện thấy có thể dự đoán được vị trí trong tương lai của họ với độ chính xác 93% dựa trên hành vi trong quá khứ.

Tuy nhiên, khi chúng ta thương lượng với thế giới dễ đoán hằng ngày của mình, chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải lướt qua từng con sóng bất định.

Tuy nhiên, không phải mọi thứ bất định đều ngang nhau.

Một phép phân loại tiện dụng phân biệt giữa Sự bất định theo dự kiến, sự bất định bất ngờ, và sự biến động.

Sự bất định theo dự kiến là sự không chắc chắn nổi bật, dễ thấy đã được dự đoán bởi một mô hình tinh thần (sinh mẫu) hiện có – một tập hợp các kiến thức theo cấu trúc cho phép chúng ta đưa ra những dự đoán cục bộ theo những cách khác nhau tùy theo bối cảnh và nhiệm vụ hiện tại.

Sự bất định bất ngờ nảy sinh khi – ví dụ – một sự thay đổi về môi trường khiến chúng ta trở nên không chắc chắn về mô hình sinh mẫu của mình.Còn sự biến động thì lại khác biệt một cách tinh tế: nó chỉ về một tình huống mà trong đó tần suất của những thay đổi trong những thứ ngẫu nhiên thuộc môi trường thay đổi chóng vánh.

Do đó, sự biến động là loại bất định có khả năng gây ra nhiều lo lắng nhất.

Đó là sự bất định về không gian của bản thân sự bất định.

Hãy bắt đầu với một trường hợp đơn giản về sự bất định theo dự kiến.

Một nhân viên biết đường về nhà mình từ một địa điểm nào đó có thể định hình vị trí đó ngay cả khi biết rằng ngôi nhà trên thực tế nằm ở hướng khác.

Bằng cách đến vị trí quen thuộc, cô ấy phá bỏ được sự bất định liên quan tới nhiệm vụ và có thể tiến hành một cách trôi chảy để giải quyết vấn đề của mình.

Hành động can thiệp, được thiết kế để cải thiện tình trạng thông tin của cô, đôi lúc được gọi là 'epistemic' (tìm kiếm kiến thức) trái ngược với sự thực dụng (giải quyết-vấn đề).

Quy trình dự đoán hiểu được những hành động epistemic là các hành động được chọn để giảm thiểu sự bất ngờ theo dự kiến trong tương lai.

Điều này gợi ý về sự liên tục sâu sắc và bất ngờ giữa các chiến lược đơn giản chẳng hạn như quay trở lại điểm quen thuộc đó, và những chiến lược phức tạp và độc đáo của con người, ví dụ như dùng Google Maps để giúp ta tìm thấy điểm đến của mình từ bất kỳ nơi đâu.

Thứ hợp nhất những chiến lược mà bên ngoài trông có vẻ rất khác nhau này đó là mỗi chiến lược có thể được xem, theo những cách khác nhau và tại các khoảng thời gian khác nhau, như một cách để giảm bớt sự bất định theo dự kiến (và do đó là dự báo sai trong tương lai) bằng cách thu thập thông tin từ môi trường cục bộ.

Khả năng của các hệ thống giảm thiểu lỗi-dự đoán để tìm ra giải pháp thuộc loại này cũng đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu mô phỏng, bao gồm một nghiên cứu mà trong đó những con chuột mô phỏng đã phối hợp giữa những hành động thực dụng và hành động trí tuệ để tìm thấy đường về nhà, trước tiên là dò những cột mốc quen thuộc trước khi khai thác kiến thức đang có của chúng để tìm đường về nhà.

Nhiều trường hợp thú vị hơn của loại rộng tương tự nảy sinh khi những hành động tinh thần thuần túy được thực hiện để 'suy nghĩ thấu đáo' trước khi hành động.

Tất cả những hành động như vậy đều mang tính trí tuệ, và tìm cách cải thiện tình trạng thông tin của chúng ta trước khi hành động – nhưng lần này là bằng việc tận dụng những gì chúng ta đã biết.

Ví dụ, tôi có thể tính ra số lượng bộ tản nhiệt mà mình cần mua để thay thế những bộ tản nhiệt trong phòng khách nhà mình bằng cách dùng mắt để đếm chúng.

Trí tưởng tượng, đặc trưng bởi cách sử dụng sự chú ý có chọn lọc, là một phương tiện chính mà nhờ đó chúng ta tham gia vào quá trình 'thử và sai thay thế', vai trò của nó là giảm thiểu sự bất định theo dự kiến ở tương lai bằng cách thúc bách thông tin mới từ mô hình hiện có.

Sự bất định bất ngờ (Unexpected uncertainty)

Sự bất định theo dự kiến là bất cứ khi nào mà chúng ta biết được những điểm yếu trong trạng thái thông tin của mình, và chúng ta có thể thực hiện các hành động khắc phục cho phù hợp.

Nếu tôi biết rằng mình không biết đường đi về nhà từ nơi mà tôi đang đứng, và biết cách lọt vào vị trí mà từ đó tôi có thể đạt được thành công một cách đáng tin cậy, thì khi ấy sự bất định của tôi là hoàn toàn theo dự kiến, và (trong trường hợp đó) có thể khắc phục được.

Hoặc nếu tôi biết rằng con xúc xắc là công bằng thì khi ấy tôi cũng hiểu là không có người chơi nào, kể cả tôi, có thể tự tin về kết quả của một lần tung xúc xắc không thiên vị.

Đây là điều đã được dự kiến và là sự bất định không khoan nhượng của một loại quen thuộc.

Ngược lại, sự bất định bất ngờ thường xảy ra khi môi trường (cấu trúc quy tắc) thay đổi mà chúng ta không có khả năng dự đoán sự thay đổi đó.

Ví dụ, giả sử có ai đó (mà tôi không biết) đã đổi con xúc xắc thành một con xúc xắc gian lận, và bắt đầu chơi.

Bây giờ thì ước đoán của tôi về sự bất định của tay chơi khác đột nhiên trở nên không chính xác, và tôi sẽ bắt đầu mất một khoản tiền lớn.

Hoặc giả sử (mượn một ví dụ từ nhà khoa học thần kinh Amy Bland và Alexandre Schaefer) tôi biết rằng một nhà hàng nào đó có những món ăn mà tôi yêu thích khoảng 80% tổng số lần, nghĩa là tám trong 10 lần đến nhà hàng sẽ có xu hướng mang lại một kết quả tốt đẹp.

Sự bất định về các món ăn của ngày hôm đó khi ấy là một sự bất định theo dự kiến: một sự bất định mà tôi có thể xử lý khi tôi lên kế hoạch cho những cuộc đi chơi của mình.

Trái lại, nếu nhà hàng đột ngột thay đổi đầu bếp, vậy thì các ước đoán của tôi ngay lập tức trở nên không đáng tin cậy.

Tôi đang bị đẩy vào vùng lãnh thổ của sự bất định bất ngờ – vùng đất đáng sợ mà Hawkins lại thấy vô cùng thỏa mãn.

Khi đối mặt với sự bất định bất ngờ, bộ não phản ứng lại bằng cách tăng tốc độ học hỏi của nó, khuyến khích các kiểu thay đổi chất dẻo (thần kinh) cần thiết để cập nhật mô hình dự đoán – ví dụ, bằng cách bắt đầu tìm hiểu về những thực đơn điển hình của đầu bếp mới.

Theo thời gian, kết quả sẽ là một mô hình được sửa đổi, mà trong đó (bạn hãy tưởng tượng) tôi kỳ vọng các món ăn mà tôi thích sẽ chỉ được phục vụ khoảng 5 lần trong 10 lần đến nhà hàng.

Đây có thể là tín hiệu của tôi để chuyển sang chế độ khám phá và thử ăn ở nhà hàng khác.

Dạng bất định này trên thực tế có thể rất có lợi cho những sinh vật như chúng ta.

Đây là kiểu bất định có thể giúp chúng ta thoát khỏi những thói quen xấu và thoát khỏi 'các giá trị cực tiểu cục bộ - local minima'–những giải pháp đủ tốt nhưng vẫn kém hơn so với những gì mà ta có thể đạt được nhờ 'cố gắng khắc phục'.

Sự biến động

Kiểu bất định tiếp theo (và cuối cùng) này là thách thức nhất trong tất cả.

Để nắm bắt được nó, hãy lưu ý rằng sự bất định theo dự kiến và sự bất định bất ngờ xuất hiện ở dạng bậc nhất và bậc hai.

Những dạng bậc nhất là về những đối tượng đơn giản, chẳng hạn như cơ hội được ăn món chúng ta thích.

Những dạng bậc hai là về bản thân những ước đoán với dạng bậc nhất.

Tôi có thể tự tin hoặc không tự tin về phỏng đoán của mình rằng hầu hết những lần ghé đến nhà hàng sẽ mang lại một bữa ăn mà tôi yêu thích – ví dụ, nếu tôi chỉ được ăn món mình thích vài lần, hoặc nếu những người khác có cùng khẩu vị giống như tôi dường như có được những trải nghiệm rất khác biệt.

Nhưng cũng có những môi trường mang đến một thách thức đặc biệt cho bộ óc dự đoán của chúng ta.

Những môi trường như vậy làm cho những ước đoán bậc hai trở nên không đáng tin.

Chúng là 'những môi trường biến động' mà trong đó bản thân các quy tắc thống kê, khi được thăm dò theo cách thông thường của tôi, là không vững chắc.

Vào tháng 6 năm 2020, các vấn đề liên quan đến COVID-19 gây ảnh hưởng đến thế giới đi cùng với hoàng loạt cuộc biểu tình và bất ổn sau khi George Floyd bị giết ở Minneapolis –những thay đổi đột ngột gây biến động mạnh là một mô hình có độ biến động cao.

Ví dụ của Bland và Schaefer về một quản lý nhà hàng quyết định thay đổi thực đơn nhiều lần theo mỗi mùa thì ít kịch tính hơn, ngay cả khi vẫn giữ nguyên đầu bếp.

Việc học hỏi diễn ra sau đó – khi tôi bắt đầu nhận thấy rằng các món ăn yêu thích của tôi ít có sẵn hơn, hoặc khi tôi bắt đầu thích nghi với cuộc khủng hoảng COVID-19 – bản thân nó không đáng tin cậy.

Điều này giống như chơi xúc xắc mà con xúc xắc có lúc thì công bằng, có lúc lại gian lận theo cách này hay cách kia, v.v...

Đó là một thế giới mà tần suất của sự thay đổi trong 'cấu trúc nguyên tắc' nền tảng là cao.

Đây là một thế giới kháng lại việc học hỏi thông tin rất cao, ngoại trừ việc học được rằng nó quả thực là một thế giới như vậy – và do đó chỉ định độ tin cậy thấp hơn cho tất cả các ước đoán của chúng ta về trạng thái mục tiêu.

Những môi trường như vậy đặc biệt khó khăn.

Không kiểm soát được sự bất định theo dự kiến (bậc một) lúc đầu sẽ thúc đẩy chúng ta hướng đến sự linh hoạt dẻo dai và học hỏi, và có lẽ là chuyển sang một chế độ khám phá khi chúng ta tìm kiếm môi trường tốt hơn và ổn định hơn.

Nhưng sự biến động đồng nghĩa với bản thân chiến lược này bị nghi ngờ, vì có rất ít điều hữu ích để học hỏi ở cấp độ đối tượng/mục tiêu ngoại trừ những thứ dễ thay đổi.

Đây là một tình huống mà tâm trí con người và động vật thường thấy cực kỳ khó chịu.

Trên thực tế, không chắc môi trường chuẩn (và đặc biệt là môi trường xã hội) trông như thế nào với những ai đang mắc chứng tự kỷ, từng được lập luận rằng có liên quan đến việc đánh giá quá mức tầm quan trọng của các sai lệch cảm giác nhỏ so với các khuôn mẫu được mong đợi, và do đó ước đoán rằng bản thân thế giới này cực kỳ bất ổn và khó đoán.

Chúng ta tin rằng, kinh nghiệm của con người phản ánh sự vận hành của những dự đoán và những ước đoán về sự bất định cùng nhiều chiều kích và ở nhiều cấp độ xử lý.

Khi mọi việc suôn sẻ, một loạt các dự đoán và ước tính về độ tin cậy của chúng (sự không chắc chắn) cho phép chúng ta tận dụng mọi thứ mà ta đã trải qua, cả cuộc đời trải nghiệm và học hỏi, để nhanh chóng phát hiện ra những mẫu hình thuộc giác quan quan trọng đối với ta, đánh giá độ tin cậy của những kỳ vọng của chúng ta so với bằng chứng giác quan hiện tại, và để hành xử theo những cách giúp mang lại những mô hình có lợi mà ta mong muốn.

Nhưng ở đây cũng có nhiều mối nguy hiểm.

Những dự đoán của chúng ta về thế giới có thể bị nhầm lẫn hoặc lầm lạc theo nhiều cách khác nhau.

Những thành kiến bị che giấu của chúng ta có thể khắc tạc cách mà ta nhận thức và hành xử trong thế giới theo những cách khiến cho thế giới phù hợp theo quan điểm sai lầm của chúng ta.

Trên thực tế, biến sai lầm của chúng ta thành hiện thực chỉ củng cố thêm cho niềm tin của chúng ta vào thành kiến đó.

Trên thực tế, cái vòng luẩn quẩn như vậy đặc trưng cho nhiều dạng bệnh lý về chức năng ('tâm thần') và một số dạng rối loạn tâm thần.

Đói khát, vô gia cư, cô đơn và đau mãn tính đều là những ví dụ về những hoàn cảnh và trạng thái liên tục gây ra sự biến động (những chuyện bất ngờ–tiêu cực–khó quản lý).

Tiếp xúc liên tục với những môi trường và tình huống biến động như vậy – nơi mà kết quả của hành động vốn dĩ không thể đoán trước – chắc chắn dẫn đến sự giảm sút niềm tin vào khả năng mang lại kết quả mà họ mong đợi.

Đến lúc đó, bộ não dự đoán của chúng ta bắt đầu suy luận rằng mình không có khả năng kiểm soát thành công, và sau đó điều này tạo thành một phần có hại của mô hình dẫn dắt các hành vi của chúng ta trong tương lai.

Điều này có thể dẫn đến tình trạng bất lực tập nhiễm (learned helplessness).

Bất lực tập nhiễm xảy ra khi con vật phải tiếp xúc với một kết quả bất lợi mà không thể tránh được.

Nhiều nghiên cứu (khá tàn nhẫn) làm cho lũ chuột bị điện giật mà không có cơ hội trốn thoát.

Điều đáng chú ý là, ngay cả khi có sẵn một lối thoát hiểm (một cái cửa), thì sau một thời điểm nào đó con chuột cũng chẳng buồn chạy trốn.

Nó đã học được rằng nó thực sự bất lực, rằng nó không có khả năng hành động theo cách sẽ giúp nó tránh được những kết quả bất lợi này.

Nền tảng tính toán của những trạng thái chẳng hạn như sự bất lực tập nhiễm được hiểu trong quá trình xử lý dự đoán (trong lĩnh vực 'tâm thần điện toán') như một kỳ vọng thâm căn cố đế (đã ăn sâu vào tâm thức) về sự mất khả năng kiểm soát kết quả, do môi trường biến động đến mức không thể dự đoán và định hình được.

Niềm tin về mức độ kiểm soát và khả năng tránh được những kết quả bất lợi có thể làm nền tảng cho hành vi mang tính thích nghi trong một môi trường (khi cánh cửa đóng) không nhất thiết là chuyển sang những môi trường khác (khi cánh cửa mở).

Các chất gây nghiện thì khai thác một điểm dễ tổn thương khác, một lần nữa lại cho phép các chu kỳ không tối ưu chiếm lĩnh.

Opioids 'chiếm quyền điều khiển' mạch phần thưởng trong não bộ mà các nhà nghiên cứu xử lý dự đoán thực hiện để ước tính những ước lượng về tỷ lệ giảm thiểu lỗi dự đoán – tức là, bộ não ước đoán xem nó hoạt động tốt ra sao trong việc làm giảm dự báo sai so với tỷ lệ giảm được theo kỳ vọng của nó trong bối cảnh hiện tại.

Chiếm quyền kiểm soát quá trình này có nghĩa là não bộ bị lừa khi ước đoán rằng nó đang hoạt động tốt hơn nhiều so với kỳ vọng trong việc làm giảm lỗi dễ thấy (độ chính xác cao).

Điều quan trọng là, bất kỳ bối cảnh nào mà điều này xảy ra đều được đánh dấu là bối cảnh mà chúng ta sẽ tìm cách để sống.

Theo thời gian, khả năng lặp đi lặp lại của chất gây nghiện để tạo ra tác dụng này dẫn đến một (gọi chung là) 'thói quen' sử dụng – một thói quen mà gọng kìm không được nới lỏng chỉ đơn giản bằng việc con người nhận ra rằng trên thực tế, ma túy, chất gây nghiện không mang đến khoái lạc, thành công hay hạnh phúc.

Đấy là tại vì, bất chấp phán đoán cao cấp đó, trong thời điểm sử dụng, mọi ước đoán bị ẩn giấu về việc giảm-sai sót tốt bất ngờ được kích hoạt.

Điều quan trọng cần lưu ý là bộ não dự đoán ở đây không hề bị loạn chức năng, mà nó chỉ đang làm những việc mà nó được tiến hóa để làm – giảm sự bất định.

Tuy nhiên, não bộ chưa được tiến hóa để kiểm soát những loại tín hiệu do chất gây nghiện tạo ra.

Dường như quá khó để hiểu được tại sao những thói quen rõ ràng là nguy hại lại có thể tự tồn tại mãi như vậy.

Nghiện opioid rõ ràng là bất lợi cho sự phát triển của con người.

Làm sao mà một bộ não dự đoán (không bị trục trặc) lại tiếp tục duy trì một mô hình dung dưỡng cho thói quen này, ở bất kì cấp độ nào, xem nó là điều tích cực, bất chấp vô số bằng chứng trái ngược?

Đâu là lợi ích tiến hóa của chiến lược dự đoán nếu nó cho phép các mô hình của chúng ta liên tục ngắt kết nối với hoàn cảnh bên ngoài của chúng ta?

Để hiểu đầy đủ về sức mạnh tự củng cố của những thói quen như vậy, chúng ta cần một lần nữa nhìn xa hơn bộ não.

Chúng ta cần quan tâm đến cách mà quá trình hoạt động nhằm giảm thiểu sự bất ngờ lại gài bẫy môi trường của chúng ta vào quá trình giảm thiểu-lỗi toàn diện.

Ở cấp độ đơn giản nhất, những hành động như vậy có thể chỉ liên quan đến việc bỏ qua các nguồn lỗi ngay lập tức – như khi người nghiện rượu giữ vững niềm tin rằng họ đang sống tốt bằng cách không quan tâm đến số tiền họ thường xuyên chi tiêu cho rượu.

Nhưng hành động của chúng ta cũng có thể có ảnh hưởng lâu dài đến cấu trúc của chính môi trường của chúng ta, bằng cách nhào nặn nó thành hình dạng của mô hình nhận thức của chúng ta.

Thông qua quá trình này, những yếu tố dự báo trước sự nghiện ngập có thể tạo ra một thị trường cá nhân trong đó các yếu tố không tương thích với mô hình của họ bị loại trừ hoàn toàn–chẳng hạn, bằng cách chỉ chơi với những kẻ nghiện ngập giống họ, và do đó sẽ không thách thức hành vi nghiện ngập của họ.

Sự tuần hoàn của thói quen và môi trường sống được củng cố lẫn nhau này không phải là một đặc điểm độc đáo, riêng biệt của chứng nghiện chất kích thích.

Năm 2010, nhà hoạt động internet Eli Pariser đưa ra thuật ngữ 'bong bóng lọc tin – filter bubble' nhằm mô tả sự phân mảnh của internet đang ngày càng gia tăng khi các cá nhân càng ngày càng chỉ tương tác với một tập hợp con hạn chế các nguồn tin phù hợp với thành kiến đã có từ trước của họ.

Pariser đổ lỗi vấn đề bong bóng lọc tin cho các công ty công nghệ lớn ngày càng sử dụng các thuật toán dự đoán để cung cấp chính xác loại nội dung mà một cá nhân đã tương tác trong quá khứ.

Từ quan điểm của bộ não dự đoán, những công nghệ cá nhân hóa như vậy không giống như một sự phát triển mới triệt để hơn là một sự mở rộng cho các thuật toán dự đoán mà trong tiềm thức chúng ta đang cài đặt cho bản thân với nỗ lực giữ cho các tương tác với môi trường của chúng ta nằm trong giới hạn dễ lường trước.

Quả thực, sự bành trướng của các vùng kỹ thuật số ở thế kỷ 21 có thể ít bị quy cho những áp đặt công nghệ mới hơn là do sự suy yếu của những ràng buộc về mặt địa lý, xã hội và chính trị đã giải phóng cho mỗi người để tạo dựng một môi trường cá nhân theo những cách cụ thể hơn bao giờ hết.

Như nhà báo Bill Bishop đã tranh luận trong The Big Sort (2008), bằng cách vẽ biểu đồ di chuyển của công dân Hoa Kỳ đến những khu dân cư ngày càng có chung tư tưởng trong thế kỷ qua, động lực duy trì mối quan hệ với những người giống mình này từ lâu đã định hướng hành động của chúng ta thông qua không gian vật lý.

Trong thế giới trực tuyến, hiện tại nó xảy ra thông qua hơn một triệu subreddits và vô số cộng đồng Tumblr, phục vụ tất cả mọi người từ dân trượt ván kỳ dị đến incels (những người độc thân không tự nguyện), những người tin rằng Trái đất là phẳng và những người thuộc cộng đồng furries (những sinh vật giống người nhưng lại mang những đặc điểm nhận dạng và hình dáng của thú vật).

Môi trường mà mỗi bộ não-giảm thiểu-sự bất ngờ tương tác không phải là lĩnh vực của những quy tắc chung và ổn định mà ta có thể dựa vào như một phép kiểm tra trung lập để kiểm soát được tất cả các mô hình dự đoán của chúng ta.

Mà thay vào đó, nó được viết lại như một nguồn linh hoạt để trích xuất và tạo ra những quy tắc mà chúng ta dự đoán đó.

Điều éo le là, môi trường càng trở nên linh hoạt hơn thì càng dẫn đến sự xuất hiện của những bong bóng tự vệ và những ngóc ngách-siêu nhỏ tự vệ, và do đó tạo điều kiện cho sự cố thủ của những mô hình cứng nhắc.

Có nhiều cách mà chúng ta có thể rơi vào cạm bẫy của bộ não dự đoán của chính mình tương ứng với nhiều cách mà chúng ta có thể bị mắc kẹt bởi những ước đoán của ta về độ tin cậy của những dự đoán khác nhau.

Hawkins cảm thấy bị mắc kẹt bởi những thứ được tối ưu hóa của chính mình–những dự đoán chính xác ở cấp độ cao rằng anh ấy sẽ sống một kiểu cuộc đời nào đó.

Nhưng bằng cách nhận ra dạng thức hạn chế của cuộc sống đó, cuối cùng anh ấy đã có thể thoát khỏi vòng kiểm soát của mô hình–về bản ngã của chính mình.

Điều này cho thấy rằng có nhiều cách để hack bộ não dự đoán của mình để chí ít cũng thoát khỏi một số cạm bẫy mà chúng ta đã kiểm tra.

Điều này là đúng trong trường hợp mà mọi người khao khát một cuộc sống đa dạng hơn và hấp dẫn hơn.

Nhưng các nguyên tắc tương tự cũng làm nền tảng cho một số chứng bệnh tâm thần khủng khiếp nhất, giống như trong trường hợp của sự bất lực tập nhiễm, những kỳ vọng đã ăn sâu vào tâm khảm về sự biến động và không thể đoán định được của môi trường có khả năng chống lại sự thay đổi ngay cả khi đối tượng thấy mình đang ở trong những hoàn cảnh môi trường thuận lợi hơn.

Một loạt các chứng rối loạn tâm lý và cảm xúc như trầm cảm, lo âu, nghiện ngập và rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) có thể được hiểu thấu đáo trong những thuật ngữ đó.

Một phương tiện cấp tiến hơn để nới lỏng các mô hình dự đoán đã hằn sâu vào tâm thức con người, đã được dùng hàng ngàn năm qua ở nhiều nền văn hóa trên khắp thế giới, đó là chất thức thần.

Sau nhiều năm ngăn chặn nghiên cứu về chất thức thần–được Michael Pollan ghi nhận trong How to Change Your Mind (2018)– chỉ trong thập kỷ qua thì nghiên cứu như vậy mới được tiến hành.

Bằng chứng đang xuất hiện cho thấy chất thức thần có thể cung cấp một phương tiện mới mạnh mẽ để điều trị một loạt chứng rối loạn cảm xúc, bao gồm nghiện ngập, rối loạn ám ảnh cưỡng chế, PTSD, trầm cảm kháng–điều trị, cũng như có hiệu quả trong việc xoa dịu 'nỗi đau đớn hiện sinh' của việc chăm sóc cuối đời.

Những quần thể dân số phi-lâm sàng cũng được hưởng lợi ích–với sự gia tăng của cảm giác 'liên hệ với tự nhiên', ý thức sinh thái và giảm lo âu.

Những loại thuốc này được cho là tạo ra sự biến đổi sâu sắc trong hiện tượng học, từ nhận biết cảm giác, tâm trạng và suy nghĩ (bao gồm cả nhận thức về thực tại), và thậm chí 'làm tan biến' nhận thức thông thường về bản ngã theo cách rất giống với sự mất đi bản ngã trong quan điểm Phật giáo về niết bàn.

Nhà văn, triết gia và người tiên phong về chất thức thần Aldous Huxley đã viết thế này trong tác phẩm The Doors of Perception (Những cánh cửa nhận thức) (1954):

Rũ sạch những lối mòn của nhận thức bình thường, được nhìn thấy thế giới bên trong và bên ngoài trong vài giờ vô tận, không giống như thế giới được nhìn thấy qua đôi mắt của một con vật ám ảnh với chuyện sinh tồn hay một con người bị ám ảnh với ngôn từ và ý niệm ... [đây là] một trải nghiệm vô giá ...

Huxley khái niệm hóa về chất thức thần bằng cách dùng một phép ẩn dụ mà hiện tại có vẻ mang tính tiên tri đầy ấn tượng.

Ông xem bộ não như một 'van giảm áp'– loại bỏ một lượng lớn các dữ liệu đầu vào thuộc cảm giác xuống chỉ còn một tia nước nhỏ cho phép việc tương tác thích nghi với môi trường.

Khi dùng chất thức thần, van này được mở ra và quá trình lọc bị tạm hoãn.

Xử lý dự đoán chính thức hóa linh cảm này.

Trên góc độ xử lý dự đoán, những dự đoán về cơ bản là bị nén, nơi mà các cấp độ cao hơn của hệ thống phân cấp – xử lý với những đặc điểm trừu tượng hơn hoặc bất biến của thực tại, và theo dõi khoảng thời gian lâu hơn – loại bỏ tín hiệu cảm giác về sự dư thừa: tức là, bất cứ điều gì không liên quan đến hành động thích nghi.

Dưới ảnh hưởng của chất thức thần, 'van giảm áp' được mở ra.

Từ góc độ xử lý dự đoán, những loại thuốc này có thể được hiểu là nới lỏng sự kìm kẹp của những kỳ vọng cứng nhắc và thâm căn cố đế về cách mà các tín hiệu cảm giác được tạo ra, cho phép não bộ tạo ra những giả thuyết mới lạ về thế giới và cách chúng ta quan hệ với nó.

Chất thức thần có thể được xem là tạm thời đưa não bộ vào 'trạng thái nóng' dễ uốn dẻo

Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy những loại thuốc này, nếu dùng đúng – và chú ý nhiều đến việc 'sắp đặt và bố trí'– có thể cung cấp một phương tiện lâu dài để nuôi dưỡng một phương thức giao tiếp mới với thế giới cho cả nhóm dân số–lâm sàng và phi–lâm sàng.

'Sự nới lỏng' của những niềm tin–cấp cao vốn gò ép và kiến tạo nhận thức thông thường dẫn đến sự tồn tại ở cấp độ thấp, ở mức độ nào đó, 'được giải thoát' khỏi ảnh hưởng hạn chế của các dự đoán nén.

Hiệu ứng tri giác gây ấn tượng sâu sắc này ('tripping') có thể được hiểu là những dự đoán (nhiễu hoặc sai số ngẫu nhiên) phát triển ồ ạt ở cấp độ thấp trước dòng cảm giác phong phú nhưng mới mẻ và khó hiểu này do ít bị hạn chế và ràng buộc bởi ảnh hưởng cấp cao – giống như thể não bộ đảo qua nhiều giả thuyết hơn để lý giải tín hiệu cảm giác đến và hiểu thấu đáo dòng cảm giác hiện tại.

Nói một cách ẩn dụ thì các chất thức thần có thể được xem là tạm thời đưa não bộ vào 'trạng thái nóng'.

Ta có thể dùng một phép so sánh tượng tự về việc ủ kim loại – nung nóng để tạo ra một trạng thái dễ uốn tạm thời.

Khi được đưa vào trạng thái nóng do dùng chất thức thần, não bộ trở nên dễ uốn đủ để các mô hình–đưa ra–dự đoán của nó được nhào nặn lại.

Trong điều kiện thích hợp–cùng với sự cân nhắc phù hợp về bối cảnh và tính toàn vẹn hậu-trải nghiệm–điều này có tiềm năng điều trị sâu sắc.

Suy nghĩ về điều này trên phương diện đưa não bộ vào một trạng thái nhạy cảm và cực kỳ dẻo dai, gợi ra ý tưởng về cách mà chất thức thần có thể làm nền tảng cho những trải nghiệm mang tính trị liệu sâu sắc, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng rất lớn đối với việc sử dụng và sắp đặt có trách nhiệm.

Ví dụ, hiện có nhiều bằng chứng cho thấy các chất thức thần như lysergic acid diethylamide (LSD), psilocybin (yếu tố hoạt hóa trong nấm ma thuật) và ngay cả dimethyltryptamine (DMT– 'nguyên tố tâm linh' được tìm thấy trong ayahuasca) khi được dùng một cách thận trọng, có thể đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết nhiều dạng trầm cảm mãn tính kháng-điều trị.

Để xem điều này phù hợp ra sao với bức tranh của chúng ta, cần lưu ý rằng những người bị trầm cảm nặng thường đã tạo nên một kỳ vọng chính xác về hành vi và lối phản ứng của họ – một mô hình–về bản ngã mang tính dự đoán, chủ động hạn chế cuộc khám phá thế giới đầy vui tươi, và đóng vai trò như một lời tiên đoán tự ứng nghiệm về tình trạng bất lực và muốn sống thu mình của họ.

Bằng cách tạo ra một trạng thái 'nóng' tạm thời, chất thức thần dường như có khả năng can thiệp vào mô hình–về bản ngã cấp độ cao của chúng ta, cởi trói cho chúng ta để tiếp xúc với thế giới và cảm nhận về sự tồn tại của ta theo những cách thức mới mẻ và thường là hữu ích.

Những cánh cửa sổ mở ra cho ta thấy những cách tồn tại khác không bị mất đi khi những tác dụng trực tiếp của thuốc giảm bớt mà thay vào đó có thể đóng vai trò trung gian để chúng ta xem xét lại cuộc đời mình, những mục tiêu và ý thức về bản ngã của chúng ta, về người khác và tự nhiên.

Chất thức thần mang đến một phương tiện để chỉnh sửa lại những kỳ vọng thâm căn cố đế về – ví dụ– sự biến động trong môi trường của chúng ta.

Những cách khác để hack bộ não dự đoán của chúng ta bao gồm việc cố tình cài đặt những kỳ vọng hữu ích, như ta thấy ở trường hợp dùng 'giả dược thành thật' (khi bệnh nhân biết rằng viên thuốc mà họ uống là giả dược).

Trong những trường hợp đó, những dự đoán về khả năng giảm đau dường như được kích hoạt, bất chấp việc người đó hoàn toàn biết rõ rằng chẳng có thành phần hoạt chất nào trong thuốc cả.

Những viên giả dược thành thật (hay 'nhãn mở') đã được chứng minh là có hiệu quả trong nhiều trường hợp từ hội chứng ruột kích thích cho đến tình trạng mệt mỏi do ung thư.

Và ước đoán về công dụng của chúng càng cao thì ảnh hưởng càng lớn–các chất trơ được đưa vào cơ thể bằng bơm tiêm thường hiệu quả hơn so với đưa vào bằng dạng viên thuốc uống, có lẽ tại vì chúng ta tự động ước đoán rằng đây là một hình thức can thiệp mạnh hơn.

Tuy nhiên, tất cả những điều này đều là những dạng can thiệp khá sống sượng lên những dự đoán và kỳ vọng (bản ngã) của chúng ta.

Còn những dạng can thiệp ít sống sượng hơn bao gồm những thực tập có quy củ như thiền định và chánh niệm, nhằm để huấn luyện lại những kỳ vọng bị bó hẹp của chúng ta (ví dụ, về sự thường hằng).

Một công cụ hữu ích ở đây là huấn luyện sự chú ý để chủ động buông bỏ việc lấy mẫu của chúng ta đối với các thông tin cảm giác, và rời xa những niềm tin đã thiết lập của chúng ta, từ bỏ kỳ vọng về sự ổn định ở cấp độ cao.

Khi việc này thành công, chúng ta có thể sống trong khoảnh khắc hiện tại trong khi vẫn ứng phó với những tình huống bất trắc của cuộc sống hằng ngày.

Những thực hành như vậy phản ánh điều gì đó quan trọng mà ta dễ bỏ qua – năng lực rất người của chúng ta để biến những trạng thái tinh thần của chúng ta thành những đối tượng để suy ngẫm và hành động.

Điều này dẫn chúng ta đi thẳng đến vấn đề cốt yếu của Hawkins, và mấu chốt trong quá trình đó khiến anh ấy phải cố gắng cực độ để nhìn vượt ra ngoài mạng lưới những kỳ vọng bình thường về cuộc sống hằng ngày của anh.

Các thuật toán của Hawkins là những công cụ thiết kế nhằm đẩy anh ra khỏi lề thói sinh hoạt hằng ngày của mình và cho phép những khuôn mẫu và trải nghiệm mới xuất hiện.

Anh cố ý tạo ra chúng nhằm để đạt được một mục tiêu nhất định – mục tiêu phá vỡ khuôn mẫu của lối sống đã được tối ưu hóa rất cao của anh.

Mấu chốt của loại hành động triệt để cấp tiến này nằm ở một quá trình, mặc dù hiếm khi được nhắc đến, đối với chúng ta dường như lại nằm ở trung tâm của những gì tạo nên thứ rất đỗi con người về mối quan hệ của chúng ta với không gian của sự không chắc chắn.

Quy trình 2 bước bắt đầu bằng cách hiển thị các mô hình dự đoán và các kỳ vọng có liên quan của chúng ta, biến chúng thành các đối tượng có thể kiểm tra, xem xét được bởi bản thân ta và người khác.

Sau đó nó tiếp tục bằng cách nghĩ ra các thủ thuật, những kế hoạch và mánh khóe để nhấn mạnh, thách thức và đôi khi phá vỡ các mô hình đó một cách hiệu quả.

Bước đầu tiên đến 'miễn phí' với văn hóa biểu tượng.

Ngôn ngữ nói, văn bản viết và một loạt các thực hành liên quan biến các khía cạnh của mô hình sinh mẫu của riêng chúng ta thành những đối tượng (vật chất) cộng đồng – từ ngữ, sách, những sơ đồ – thích hợp để chia sẻ, tinh chỉnh và lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Khi Hawkins nói về cảm giác bị mắc kẹt bởi tính dễ đoán của các thói quen hằng tuần được tối ưu hóa cao của mình, anh ấy làm rõ cái cách mà mô hình của anh ấy về 'một cuộc đời tốt đẹp' đang mang đến một loạt các lựa chọn và trải nghiệm mà giờ đây anh cảm thấy không hài lòng.

Đây là một chiến công đáng chú ý, và đáng để chúng ta suy ngẫm.

Những mã biểu tượng linh hoạt, một khi đã có, cho phép chúng ta lùi ra khỏi các mô hình sinh mẫu và những dự đoán dựa theo-mô hình của mình, biến chúng thành các đối tượng công khai thích hợp để xem xét, đặt câu hỏi, thử thách và chủ ý 'phá bỏ'.

Một điều ta có thể gần như chắc chắn rằng đa số những con vật không bao giờ thành công trong việc nhìn nhận ra mô hình cuộc sống của chúng.

Các mô hình của chúng chỉ dẫn cho hành động, nhưng bản thân chúng không phải là đối tượng của hành động.

Nhưng một khi nắm được quyền chỉ huy đối với các mã biểu tượng thì ta đã tháo cũi xổ lồng, và các mô hình của chúng ta cùng những kỳ vọng dựa trên–mô hình của ta có thể trở thành đối tượng để xem xét kỹ.

Đây có thể là phần thưởng tri thức duy nhất mang tính chuyển hóa được trao tặng bởi nền văn hóa vật chất.

Nhưng còn nhiều điều nữa.

Một khi các mô hình tốt nhất của chúng ta xuất hiện ở dạng đối tượng/vật thể thì chúng ta có thể làm được nhiều thứ chứ không chỉ đơn giản là xem xét chúng.

Chúng ta có thể thực hiện các hành động được thiết kế nhằm phá bỏ và xây dựng lại các mô hình.

Việc cố ý dùng chất thức thần để nới lỏng vòng kìm kẹp của mô hình-về bản thân cấp cao của chúng ta thuộc về loại này.

Và một số dạng thực hành thiền định nhằm mục tiêu nới lỏng sự chuyên chế bạo tàn của những kỳ vọng về sự thường hằng của chúng ta.

Việc tạo ra tất cả các thuật toán ngẫu nhiên trong cuộc sống của Hawkins cũng vậy.

Có lẽ đáng chú ý nhất là, các hoạt động nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật của chúng ta thường đóng loại vai trò này.

Ví dụ, những sơ đồ, những bản miêu tả và mô hình cho phép chúng ta thao tác độc lập các khía cạnh khác nhau của một thiết kế, và chú ý có chọn lọc đến những yếu tố khác nhau.

Điều này cho phép chúng ta khám phá những kết quả khác nhau tùy thuộc vào những lựa chọn khác nhau theo những cách làm giảm bớt sự gắn bó của những kỳ vọng dựa trên–mô hình của chúng ta – giống như việc xáo trộn một đống chữ cái trong trò chơi sắp chữ để giúp ta khám phá ra các từ mới.

Để thực hiện những hoạt động như vậy, những niềm tin và mô hình hiện tại của tôi cần tồn tại vượt lên trên những xu hướng xác suất theo cách mà tôi định hình thế giới trên cơ sở những kiến thức đã được lưu trữ.

Chúng cần tồn tại dưới dạng các đối tượng cụ thể để thu hút sự chú ý, chia sẻ và đặt câu hỏi.

Nghệ thuật cũng thường nằm trong nhiệm vụ tiết lộ–mô hình/phá bỏ–mô hình này.

Đó có thể là một cách hiện thực hóa và đối mặt với những giả định cấp cao của chính chúng ta, về bản thân, thế giới và những thứ khác, nhưng làm vậy trong một khuôn khổ lùi ra xa khỏi những mối bận tâm hằng ngày (hãy nghĩ đến việc đang ngồi ở rạp hát xem vở Death of a Salesman) và do đó không bị xem như mối đe dọa thực sự, ngay cả khi nó mang tính lật đổ.

Khoa học lý thuyết, hay rõ ràng hơn, nhằm mục đích hệ thống hóa những mô hình tốt nhất của chúng ta về cách vận hành của tâm trí và thế giới, chuyển giao chúng như những đối tượng để chia sẻ, giám sát và 'phá vỡ một cách hiệu quả'.

Dù câu chuyện là gì, tâm trí con người có thể đi đến những nơi mà không có tâm trí động vật nào làm được.

Chúng ta có thể bắt gặp các mô hình dự đoán của riêng ta như những đối tượng.

Hawkins bắt đầu tìm cách thoát khỏi vòng kìm kẹp của mô hình–cuộc đời của anh.

Nhưng điều đáng chú ý là vẫn có một chế độ có thể dự đoán trước, và một chế độ mà bản thân anh ấy hiểu (quả thật, là một chế độ do anh ấy thiết kế).

Ví dụ, anh ấy biết rằng thuật toán sẽ đưa anh đến một nơi nào đó mới mẻ cứ mỗi hai tháng, chứ nó sẽ không đột ngột đưa anh đến ở một thị trấn hay thành phố mới mỗi tuần, sau đó (ngẫu nhiên) mỗi ngày, sau đó (ngẫu nhiên) không phải trong 10 năm.

Thật thú vị khi suy đoán rằng nhờ thiếu sự biến động mà anh ấy mới thu được nhiều điều từ thực nghiệm của mình, đồng thời tránh được những loại lo lắng và sợ hãi mà gần đây nhiều người trong chúng ta đang trải qua khi đại dịch COVID-19 lần đầu tiên bắt đầu đảo lộn hoàn toàn mô hình cuộc sống của chúng ta.

Bộ não dự đoán mong đợi sự kiểm soát, nếu nó thất bại trong việc kiểm soát thì nó sẽ thúc đẩy việc học hỏi.

Thường thì việc phát hiện ra sự biến động cao trong môi trường sẽ thúc đẩy việc học hỏi và khám phá.

Thế nhưng trong tình trạng phong tỏa, chúng ta lại được khuyên ở yên một chỗ và không làm gì.

Chuyện này rất kỳ lạ với chúng ta.

Phản ứng của chúng ta là cố gắng kiểm soát thế giới nhỏ bé của mình – nướng bánh, những trò xếp hình, tập thể dục.

Điều này rất giống với một phản ứng được thấy ở những cá nhân mắc chứng tự kỷ, đó là tạo ra và sống trong một môi trường được kiểm soát tốt hơn.

Và đó là một phản ứng tốt, một cách để khôi phục chút cảm giác làm chủ khi đối mặt với sự biến động lớn.

Nhiều công trình ấn tượng trong 'tâm thần học điện toán' hiện đang được dành cho việc hiểu rõ hơn về mối quan hệ của chúng ta với sự bất định, và có nhiều cách mà nó có thể trở nên sai lầm.

Dường như loài người chúng ta là những hệ thống quản lý sự bất định–và khi việc kiểm soát sự bất định gặp trục trặc, cho dù là do những xáo trộn bên ngoài hay bên trong, chúng ta đều có thể dễ dàng mất khả năng kiểm soát bản thân, thế giới và những thứ khác.

Có lẽ bình luận tiết lộ nhiều điều nhất trong nhiều cuộc nói chuyện của Hawkins là một nhận xét được nói ở cuối buổi 'Nương cậy vào Entropy'.

Anh ấy nhận xét về những tình huống và nơi chốn xa lạ nhất và 'chẳng phải-là-anh' trở thành thứ 'bình thường mới' nhanh ra sao, đến nỗi anh ấy có thể dễ dàng tưởng tượng về cuộc sống như một con người ở nơi chốn xa lạ đó.

Chúng tôi phỏng đoán rằng, đây là bộ não dự đoán đang tái khẳng định bản thân nó, cải cách những khía cạnh của mô hình-về bản thân cao cấp của chúng ta để kiểm soát được cái bình thường mới.

Thông điệp rút ra từ Hawkins rất đơn giản: đừng để cho những sở thích riêng của bạn biến thành một cái bẫy.

Tuy nhiên, ở một loại siêu cấp độ, anh vẫn bị mắc kẹt (theo chiều hướng tốt)– thuật toán ngẫu nhiên của anh chỉ đơn giản là đang thỏa mãn ưu tiên lựa chọn cấp cao mới nhất của anh theo những cách nhằm tránh được cấu trúc ưu tiên bậc nhất của anh ấy.

Chúng ta không thể không cảm nhận được giá trị gì đó trong thử nghiệm này.

Giống như nghệ thuật và khoa học, nó làm cho những thứ vô hình trở nên cụ thể hữu hình, tiết lộ lực hấp dẫn mạnh mẽ của những kỳ vọng của chúng ta.

Nó cũng là một bài học thực tế về giá trị bất ngờ của sự bất định bị kiểm soát.

Cre : Rubi
 
Tâm Lý Học
Bản chất của việc thích một người là gì?


Mọi loại tình cảm trên đời này, thật ra đều là "Hiệu ứng Franklin."

Người dịch: Tú Trân - weibo

Tác giả: Tử Hiệp Lang

Mọi loại tình cảm trên đời này, thật ra đều là "Hiệu ứng Franklin."

Dẫn đề: Nguyên nhân cơ bản để một người yêu một người là gì?

Vì vẻ bề ngoài của người đó sao?

Vì phẩm giá?

Vì địa vị?

Vì danh tiếng?

Hay là vì tài sản?

Tất cả đều không phải!

Vậy rốt cuộc là vì điều gì?

1.

Để kể một câu chuyện nổi tiếng trước đã:

Khi thế chiến thứ hai diễn ra, người Do Thái bị Đức Quốc Xã đàn áp nặng nề.

Có hai anh em người Do Thái nọ đã bàn bạc với nhau xem nên nhờ ai giúp đỡ, tuy nhiên hai người họ lại bất đồng trong quan điểm.

Người em thì muốn nhờ đến sự giúp đỡ của một ngân hàng mà cha của họ đã từng tài trợ, hơn nữa, chính ngân hàng này cũng đã nhiều lần bày tỏ rằng khi có cơ hội họ nhất định sẽ trả ơn.

Người anh thì một mực cho rằng nên nhờ đến sự giúp đỡ của một hãng gỗ trước đây đã giúp đỡ cho gia tộc của họ khởi nghiệp.

Hai người không ai thuyết phục được ai thế nên họ quyết định mạnh ai nấy làm, cũng từ đó mà mất liên lạc.

Nhiều năm sau, người anh đã thành công chạy trốn đến Nhật bản dưới sự giúp đỡ của hãng gỗ, quay trở về nước để tìm em trai thì phát hiện cả nhà người em đã chết thảm ở Trại tập trung Auschwitz.

Sau này, người anh đã phát hiện bản ghi cuộc gọi tiết lộ nơi trốn của người em trong kho lưu trữ của Đức Quốc Xã, mà người gọi điện thoại chính là từ ngân hàng đó.

Người anh nhìn lên bầu trời thở dài ngao ngán:

Người đã từng giúp đỡ ta so với người mà ta từng giúp đỡ đáng tin hơn nhiều.

2.

Có một tiền lệ kinh điển trong ngành Marketing.

Vào thế kỉ trước, có một nhân viên là quán quân bán hàng của một công ty máy hút bụi ở Mỹ, trước khi nghỉ hưu một ngày đã nói với các nhân viên khác rằng:

Đám ngốc mấy người, khi chào hàng chỉ biết gõ cửa rồi hỏi: "Chào bà, bà có thể dành ra 3 phút để chúng tôi giới thiệu về sản phẩm của công ty mình không thưa bà?"

Mỗi lần như vậy chưa nói hết câu thì "rầm" một tiếng đã bị ăn một quả cửa vào mặt rồi.

Mấy người nói xem đây chẳng phải là hành vi quấy rối người ta rành rành ra sao?

Khách hàng không gọi báo cảnh sát là may rồi.

Nghe vậy, các nhân viên khác tò mò hỏi "Vậy ngài làm thế nào để chào hành khách?"

Vị nhân viên già sắp nghỉ hưu trả lời:

"Tôi sẽ nói, chào bà, tôi là một nhân viên bán hàng đi ngang qua đây và tôi khát quá.

Bà có thể cho tôi một cốc nước không thưa bà?"

Sau đó, khi vào nhà khách hàng tôi sẽ quan sát sơ qua hoàn cảnh.

Rồi khi khách hàng đi lấy nước, tôi sẽ trò chuyện với khách về các việc vặt vãnh trong nhà rồi mới như có như không mà nói về sản phẩm "máy hút bụi" bản thân muốn quãng bá.

Khách hàng không có áp lực, tất nhiên sẽ tiếp lời.

Như vậy xem ra, tỷ lệ quảng bá sản phẩm thành công có thể tăng đến những 60-70%.

Các nhân viên nghe xong cảm thấy như mặt trời chân lý chói qua tim, liên tục vỗ tay cho vị nhân viên già đó.

Thực ra án lệ này có một thuật ngữ tâm lý để hình dung gọi là: "Hiệu ứng Franklin"

Hiệu ứng này có nguồn gốc từ một câu nói của một trong những người thành lập nước Mỹ- Benjamin Franklin vào khoảng thế kỷ XVIII.

Franklin nói rằng:

"So với những người từng được bạn giúp, những người từng giúp bạn khả năng cao mới là người nguyện ý giúp bạn thêm lần nữa."

Tại sao ông ấy biết được điều này?

Vì ông ấy đã từng làm một việc mà việc này ảnh hưởng đến ngành Tâm lý học của cả thế giới.

Câu chuyện này được ghi chép lại sớm nhất trong cuốn [How to Win Friends and Influence People] của Carnegie.

Sau đó, vào năm 1993, nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ- Eliot Aronson lần nữa mang câu chuyện này vào tác phẩm [Social Psychology] của mình.

Cơ bản thì câu chuyện là như này:

Năm 1736, một hôm Franklin đang đọc bài diễn thuyết tại Thượng viện bang Pennsylvania.

Có một vị nghị sĩ kịch liệt phản đối quan điểm của ông, thế nên vị nghị sĩ đó cũng phát biểu một bài diễn thuyết kịch liệt phê bình Franklin.

Franklin có chút trở tay không kịp thế nhưng ông vẫn muốn giành được sự tán đồng của vị nghị sĩ này.

Nhưng phải thực hiện việc đó như thế nào đây?

Sau đó, Franklin vô tình nghe ngóng được trong nhà vị nghị sĩ này có một quyển sách vô cùng quý hiếm.

Thế nên, ông đã viết một lá thư hết sức cung kính, mặt dày mượn sách của vị nghị sĩ.

Không ngờ, vị nghị sĩ đó ấy vậy mà lại đồng ý rồi.

Qua một khoảng thời gian, Franklin trả sách cho vị nghị sĩ, đồng thời cũng trịnh trọng thể hiện sự biết ơn của mình.

Vài ngày sau khi họ gặp lại nhau ở sảnh Nghị viện, Franklin đã miêu tả thế này:

"Ông ấy thế mà lại chủ động chào hỏi tôi (trong khi trước giờ chưa từng làm vậy bao giờ), sau này khi chúng tôi trò chuyện nhau, ông ấy vẫn luôn bày tỏ rằng bất kì lúc nào ông ấy cũng sẵn sàng vì tôi mà cống hiến sức lực."

Từ đó, hai người họ hóa thù thành bạn, duy trì tình bạn đến cuối đời.

Cũng nhờ vậy mà các nhà tâm lý học thế hệ sau này đã đúc kết được một kết luận rằng:

Cách tốt nhất để một người thích bạn không phải là lúc nào cũng giúp đỡ họ mà là tạo cơ hội để họ giúp đỡ bạn.

Đây cũng chính là nguồn gốc của "Hiệu ứng Franklin" nổi tiếng.

3.

Một thế kỷ sau, Lincoln- một vị tổng thống Mỹ khác cũng đã được "Hiệu ứng Franklin" truyền cảm hứng sâu sắc.

Trong một lần, Lincoln đang định nhờ một đối thủ chính trị của mình giúp đỡ một việc nhỏ.

Một vị nghị sĩ bèn chỉ trích ông: "Tại sao ngài lại muốn làm bạn với đối thủ của mình, lý ra ngài nên tiêu diệt họ chứ?"

Lincoln chỉ nhẹ nhàng đáp: "Chẳng phải tôi đang tiêu diệt kẻ địch của mình sao?

Nhất là khi chúng tôi trở thành bạn của nhau."

Xin sự giúp đỡ từ người khác lại có thể hóa thù thành bạn, biến súng đạn thành hoa hồng.

Việc này thực sự đáng tin, thực sự khả thi sao?

4.

Năm 1969, các nhà tâm lý học Joan Jack và Randy Davis đã quyết định tự mình kiểm tra xem "Hiệu ứng Franklin" đã có thâm niên 200 năm lịch sử này liệu có bị lỗi thời ở thế kỷ XX không?

Do vậy, họ đã tổ chức một cuộc thi kiểm tra về kiến thức mà bất kì ai tham gia cũng đều sẽ nhận được một ít tiền.

Sau khi cuộc thi kết thúc, một nghiên cứu viên đã nói với một phần ba số người tham gia rằng:

"Ông ấy đã tự dùng tiền riêng của mình để tổ chức cuộc thi và giờ thì ông ấy hết tiền rồi, liệu có thể xin lại tiền từ những người tham gia không?"

Còn một người thư ký, cũng đã nói với một phần ba số người tham gia khác rằng:

"Đây là cuộc thi do phòng thực nghiệm tâm lý học tài trợ và giờ thì phòng thực nghiệm đang bị thiếu kinh phí, liệu có thể xin lại tiền từ những người tham gia không?"

Thí nghiệm kết thúc, người tham dự được yêu cầu điền vào bảng điều tra, lần lượt đánh giá và cho điểm nghiên cứu viên và người thư ký.

Kết quả chứng minh:

Điểm của nghiên cứu viên cao hơn nhiều so với người thư ký.

Hơn nữa, số người sẵn lòng trả lại tiền cao hơn nhiều so với số người không muốn trả lại.

Nói cách khác, "Hiệu ứng Franklin" vượt qua kiểm tra, giữ được sự chất lượng.

5.

Đại văn hào Leo Tolstoy cũng đối với hiệu ứng này tán đồng sâu sắc:

Ông đã từng viết trong tác phẩm Chiến tranh và Hoà bình rằng:

"Chúng ta không yêu họ vị họ tốt với ta, mà vì ta yêu họ nên ta đối tốt với họ."

Mà cái "tốt" trong câu của Tolstoy thực chất chính là trao sự giúp đỡ.

Vì hãng gỗ trước đây đã từng giúp đỡ gia tộc người Do Thái đó và do vậy mà nảy sinh hảo cảm, nguyện ý bất chấp rủi ro, nguy hiểm để giúp thêm lần nữa.

Vì người khách đó giúp mang cho nhân viên bán hàng một cốc nước do vậy mà nảy sinh hảo cảm, nguyện ý mua hàng.

Vì vị đối thủ chính trị đó đã cho Franklin mượn sách do vậy mà nảy sinh hảo cảm, nguyện ý hóa giải hận thù.

Cũng chính vì lẽ này, những người tham dự cuộc thi kiến thức đó có cảm tình với nhà nghiên cứu đã tự bỏ tiền của mình để tổ chức hơn là vị thư ký dùng tiền của công ty.

Thực tế không dừng lại ở đây, hiệu ứng này còn liên quan đến một hiện tượng tâm lý khác:

Khi bạn giúp đỡ người khác, ngay cả khi bạn không thích người đó lắm.

Não của bạn cũng sẽ tự điều chỉnh nhận thức rằng người đó là một người đáng được nhận sự giúp đỡ và điều bạn làm là hoàn toàn đúng đắn.

Do vậy, bạn sẽ như hình thành một loại "Sự phụ thuộc lối mòn"(Path Dependence)

Rồi khi đối phương lại một lần nữa nhờ bạn giúp đỡ, bạn sẽ còn nhiệt tình giúp hơn cả lần đầu tiên và bạn cũng sẽ thích họ hơn rất nhiều.

Nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ- Douglas North nhờ vào việc phát hiện ra định lý quán tính này trong tính cách con người mà giải thích được thành công diễn tiến của hệ thống kinh tế, đạt được giải Nobel Kinh tế vào năm 1993.

Thế nhưng, tại sao con người có tính cách như vậy?

6.

Để trả lời câu hỏi này thì trước hết phải trả lời được một câu hỏi khác đã.

Đó là:

Nguyên nhân cơ bản để một người yêu một người là gì?

Vì vẻ bề ngoài của người đó sao?

Vì phẩm giá?

Vì địa vị?

Vì danh tiếng?

Hay là vì tài sản?

Tất cả đều không phải!

Vậy rốt cuộc là vì điều gì?

Không ấy chúng ta cùng nghe thử một câu chuyện trong tác phẩm "Hoàng tử bé" của nhà văn Pháp Exupery:

Hoàng tử bé sống trên một hành tinh nhỏ, vào một ngày nọ, một bông hoa hồng đẹp vô cùng nở rộ trên hành tinh.

Hoàng tử bé trước giờ chưa từng thấy qua bông hoa nào đẹp như vậy, thế nên vô cùng nâng niu, chăm sóc nó.

Lúc đó cậu ấy cho rằng đây là bông hoa hồng duy nhất trong vụ trũ và đẹp hơn mọi loại hoa trên đời.

Cho đến một hôm cậu đến trái đất và thấy 5000 bông hồng trông y hệt nhau chỉ trong một khu vườn.

Khoảng khắc đó cậu chợt nhận ra rằng, bông hoa mà cậu có cũng chỉ là một bông hoa bình thường thôi.

Nhận thức được điều đó khiến hoàng tử bé rất buồn

Nhưng dù có như vậy đi nữa, không biết tại sao thâm tâm cậu vẫn luôn nghĩ đến bông hoa hồng của mình.

Cho đến một ngày nọ, một chú cáo nhỏ đến nói với cậu rằng:

"Chính vì cậu đã dành thời gian và tâm huyết để chăm sóc đóa hoa cho nên nó mới nở đẹp như thế"

Hoàng tử bé đột nhiên tỉnh ngộ, cuối cùng cậu cũng hiểu ra rằng:

Dù cho thế giới có bao nhiêu hoa hồng đi chăng nữa, thì đóa hoa trên hành tinh của cậu vẫn là độc nhất vô nhị.

Vì đóa hoa đó là do chính cậu tưới nước, chăm sóc, bảo vệ, đóa hoa mà cậu thường cùng trò chuyện hay cùng nhau im lặng.

Do vậy, bông hoa hồng của cậu chỉ có một trên đời.

7.

Cũng tương tự, con người trên trái đất này nhiều như sao trên trời, hằng hà sa số.

Thử hỏi:

Ai trong chúng ta không phải là một con người nhỏ bé, bình thường trong hàng triệu con người?

Ai trong chúng ta có người mình yêu không phải là một bông hoa nhỏ bé, bình thường trong hàng ngàn bông hoa khác?

Điều khiến bông hoa trên tay ta trở nên nổi bật, độc nhất không phải vì nó đẹp đẽ, rực rỡ đến đâu mà là vì ta chỉ đặt toàn bộ ánh mắt của mình vào nó.

Điều khiến người ta yêu nhất tiếu khuynh thành không phải vì người ấy quyến rũ đến đâu mà là vì đó là người mà ta đã dành toàn bộ tình cảm cho họ.

8.

Vì sao người không có được luôn dễ bị ảnh hưởng cảm xúc trong khi người được yêu chiều thì luôn vô tư chẳng cần phải lo lắng?

Vì người này vẫn cứ tiếp tục "cho đi" còn người kia thì gần như chẳng bỏ ra gì cả.

Vì sao bậc cha mẹ vẫn luôn dễ bất an trong khi người làm con vẫn luôn vô tư, ung dung?

Vì cha mẹ vẫn cứ tiếp tục "cho đi" còn con cái gần như chẳng cần phải bỏ ra gì cả.

Vì sao một đứa trẻ ngoan dễ bị ảnh hưởng cảm xúc còn một đứa trẻ hư lại không?

Vì đứa trẻ hư sẽ khiến cha mẹ phải lo lắng, hy sinh nhiều hơn còn đứa trẻ ngoan sẽ luôn mong cha mẹ được an lòng.

Vì sao thường thì tình mẫu tử sẽ sâu đậm hơn tình phụ tử?

Vì người mẹ mang thai 9 tháng 10 ngày, phải trải qua biết bao khó khăn, nguy hiểm, "cho đi" nhiều hơn nên tình cảm cũng nhiều hơn so với người cha.

Hiệu ứng này có thể ứng dụng tại nơi làm việc, trong tình bạn hoặc các phương diện khác.

Cái gọi là "Đứa trẻ biết khóc sẽ có sữa uống", "Mối quan hệ rộng rãi cùng là nhờ vào những rắc rối mà có" v.v...

đều là những quy tắc vàng do hiệu ứng này mà sinh ra.

Vì vậy, ta yêu ai đó là vì ta bỏ ra, ta cho đi.

Không có "cho đi" thì sẽ không thể có tình yêu.

Thật lòng mà nói, thì trên đời này vốn không có cái gọi là tình yêu sét đánh (nhất kiến chung tình).

9.

Nếu có ai đó nói với bạn rằng anh ta chỉ trong vài giây đã yêu một cô gái.

Bạn chỉ cần hỏi anh ta một câu: "Vậy trong vài giây đó, anh có nguyện ý vì cô ấy mà chết không?"

Anh ta chắc chắn sẽ không đồng ý, cũng giống như việc chúng ta không thể chết vì một minh tinh mà ta yêu thích vậy.

Vì ta không thể yêu một người chỉ trong một vài giây được.

Tất nhiên, điều này cũng tương tự với phụ nữ.

10.

Vậy một người đàn ông vì gì mà yêu một người phụ nữ?

Tình huống như sau:

Anh ta sau khi gặp mặt cô ấy thì ngày nghĩ đêm mong, ăn cũng nhớ, uống cũng nhớ, không có lúc nào mà không nghĩ, không nhớ đến cô, thậm chí ngay cả nằm mơ cũng nhớ.

Vì vậy, trong một ngày trừ thời gian ngủ, thời gian anh nhớ cô, nghĩ đến cô có thể lên đến 16 tiếng.

Mà một chàng trai khác cũng thích cô gái đó giống vậy nhưng mỗi ngày chỉ có thể nghĩ đến cô ấy trong 1 tiếng.

Giả sử rằng, cần phải mất 160 tiếng nhớ thương để yêu một ai đó:

Vậy thì người nam đầu tiên chỉ cần 10 ngày trong khi người còn lại cần 160 ngày.

Đây chính là sự thật về cái gọi là nhất kiến chung tình.

"Chung" (trong nhất kiến chung tình) vốn để biểu thị thời gian nên cái gọi là nhất kiến chung tình:

Là hai người gặp nhau kích thích tiết hormone, sau khi đôi bên có hảo cảm với nhau thì vẫn cần phải có thời gian mới có thể nảy sinh tình cảm được.

Trong một khoảng thời gian nhất định:

Nếu hai bên cùng "cho đi" thì gọi là tình yêu.

Nếu chỉ một bên "cho đi" thì gọi là tình đơn phương.

Nếu cả hai bên đều không "cho đi" thì họ cùng lắm là có mối quan hệ tốt với nhau thôi.

Do đó, nếu không "cho đi" đủ thì đừng nói là mới quen vài giây dù cho có quen biết cả thế kỉ bạn cũng không thể nào yêu người đó được.

11.

Nhớ nhung, là cách mà một người cho đi tình cảm.

Đương nhiên, có rất nhiều thứ để cho đi:

Thời gian, tiền bạc, bồi bạn, tinh thần và sức lực v.v...

Nhưng suy cho cùng tất cả nhưng sự cho đi đều sẽ dần dần âm thầm biến hóa, trở thành cho đi tình cảm.

Trong khoảng thời gian cho đi ấy, những hồi ức đẹp đẽ sẽ âm thầm hình thành, hòa vào trong máu và dần trở thành một phần trong cuộc sống của bạn.

Hồi xửa hồi xưa, một cô con gái đã hỏi cha của mình rằng, làm thế nào để chàng trai mà cô ấy thích cũng thích cô ấy?

Người cha trả lời rằng: "Hãy để cậu ta mua một que kem cho con."

Người con gái lại hỏi: "Rồi sao nữa ạ?"

Người cha trả lời: "Để cậu ta mua thêm một que nữa"

Tất nhiên cái tôi nói ở đây chỉ là phương pháp luận, tình huống cụ thể cần cách xử lý cụ thể, người khác nhau cần dùng những kiểu khác nhau, chớ nên rập khuôn theo như này nhé.

Nói tóm lại, đúc kết được một câu như sau:

Trong lúc bạn "cho đi" thì cũng phải dẫn dắt đối phương cũng vì bạn mà "cho đi".

Người cha này hẳn là bậc thầy về bản chất của con người và cũng rất am hiểu "Hiệu ứng Franklin"

Vì việc chàng trai kia mua kem, nghe thì có vẻ đơn giản nhưng thật ra đó cũng là một kiểu âm thầm "cho đi".

Cậu ta sẽ phải nghĩ:

Con gái thích ăn kem gì?

Vị dâu hay vị sữa?

Size lớn hay size nhỏ?

Mua tiệm này hay tiệm kia?

Trong lúc vô tình, chàng trai đã vì cô gái mà "cho đi" thời gian, tiền bạc và một chút sức lực.

Dần dần, chàng trai sẽ tự hỏi bản thân rằng, tại sao mình lại mua kem cho cô ấy?

Vì cô ấy dễ thương, hiểu chuyện, khi cười rất ngọt ngào v.v... cho dù cả thế giới có cảm thấy cô gái đó không tốt thì dù thế nào chàng trai vẫn sẽ tự tìm trăm lý do để thuyết phục bản thân mình.

Có lẽ bạn sẽ thắc mắc:

Tại sao chàng trai lại khờ như vậy?

Thật ra không chỉ có mỗi chàng trai này, bản chất con người chúng ta vốn là khờ như thế đấy.

12.

Không sai, cái này nó còn liên quan đến một thuyết gọi là: "Bất hòa nhận thức" (Cognitive dissonance)

Đơn giản mà nói:

Khi con người phát hiện ra hiện thức khách quan trái ngược với nhận thức của họ, thì sẽ sinh ra cảm giác khó chịu.

Thuyết này được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 1956 trong cuốn [When Prophecy Fails] của nhà tâm lý học xã hội Leon Festinger.

Vì ông đã phát hiện rằng thành viên của những tà giáo tin vào ngày tận thế luôn kiên trì tin vào một tín ngưỡng kì lạ, không thể hiểu nổi.

Cho dù lời dự đoán về ngày trái đất diệt vong của giáo chủ bọn họ là sai họ vẫn một mực tin rằng giáo chủ không lừa bọn họ.

Thế nhưng suy cho cùng việc "hy vọng bị tan vỡ" cũng sẽ dẫn đến việc bất hòa nhận thức trong họ, vậy phải làm sao đây?

Trông mong vào việc họ biết sai mà sửa, quay đầu là bờ?

Công khai thừa nhận là do mình ngu ngốc?

Thôi đừng đùa nữa.

Cái việc thừa nhận sai lầm trái với bản chất bình thường của con người như vậy, từ xưa đến nay chả có mấy ai làm được.

Giải thích một chút:

"Thừa nhận sai lầm" nói ở đây là chỉ việc từ trong thâm tâm cảm thấy cách suy nghĩ của mình sai chứ không phải kiểu chỉ nhận sai ngoài mặt cho có.

Thế nên, về cơ bản cách mà những tín đồ này chọn để giải quyết việc "bất hòa nhận thức" này không phải là nhận mình sai mà là đi tin vào một lời dự đoán, tiên tri khác rằng:

Người ngoài hành tinh đã tha thứ cho trái đất vì sự thành kính, ngoan đạo của họ.

13.

Bây giờ chúng ta cùng quay lại trường hợp ban nãy một chút:

Chàng trai trước tiên là rơi vào bẫy của "Hiệu ứng Franklin", sau đó là bị nhiễm quán tính "Sự phụ thuộc lối mòn" (Path Dependency) rồi kế tiếp lại rơi vào bẫy của "Bất hòa nhận thức", cuối cùng là bị "Chi phí chìm" (Sunk Cost) "liếc mắt đưa tình".

Bạn nghĩ rằng anh ta có thể bỏ qua người phụ nữ mà ngày nào anh ta cũng mua kem cho sao?

Gần như là không thể nào!

Trừ khi có trường hợp ngoài ý muốn xảy ra

Ngược lại, chàng trai sẽ vì sự "cho đi" của mình mà cảm thấy cô gái này siêu phàm, thoát tục, khác hẳn với những người khác.

Lâu dần, chàng trai sẽ yêu cô gái lúc nào mà cả bản thân cậu cũng không hay.

Tình yêu, thực chất đơn giản như vậy đấy.

14.

Cái gọi là tình yêu chính là tổng hợp sự "cho đi" của một người.

Cre : Rubi
 
Tâm Lý Học
Bạn có đang bị người yêu bạo hành tinh thần?


Bạo hành thể xác là thứ dễ thấy, nhưng bạo hành tinh thần trong một mối quan hệ có thể "âm ỉ" hơn nhiều.

Nó thường không được bạn bè, gia đình, hay thậm chí cả chính nạn nhân nhìn nhận được.

"Không giống như bạo hành thể xác hay bạo hành tình dục, bạo hành tinh thần có thể rất *ngấm ngầm*" - Lisa Frenentz, một nhà hoạt động xã hội về y tế với chuyên môn về khủng hoảng tinh thần, đã trả lời phỏng vấn của HuffPost.

"Điều này càng trở nên khó hiểu đối với nạn nhân, khi bạo hành tinh thần thường đi cùng với những hành vi được cho là "quan tâm" hay "yêu cho roi cho vọt"

Khi bắt đầu một mối quan hệ, người có xu hướng bạo hành thường sẽ trông rất tốt bụng và quan tâm.

Ferentz cho rằng thời kì "tử tế" này là một phần trong quá trình "định hướng tâm lý" của người bạo hành.

"Bằng việc đó, họ có được sự tin tưởng và thoải mái của nạn nhân, từ đó khiến nạn nhân dễ bị tổn thương bởi những bạo hành sau này," chị cho biết thêm.

Bạo hành tinh thần, với mục đích là giành lấy quyền lực và sự điều khiển trong một mối quan hệ, thường có nhiều hình thái khác nhau, một số ví dụ như: sỉ nhục, phán xét, đe doạ, thao túng tinh thần (gaslighting), lăng mạ, doạ nạt, chửi mắng, nói dối, vv...

Những vết thương mà bạo hành tinh thần mang lại có thể không nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng hậu quả mà nó để lại cho nạn nhân là rất lớn.

Những người từng bị bạo hành tinh thần có thể sẽ dẫn đến rối loạn lo âu, trầm cảm, đau mãn tính, rối loạn stress sau sang chấn (PTSD), vv...

Để hiểu hơn về bạo hành tinh thần, chúng tôi đã nhờ đến sáu chuyên gia để chia sẻ về một vài dấu hiệu cho thấy có thể bạn đang ở trong một mối quan hệ độc hại.

1.

Bạn làm mọi cách để không làm đối tác của mình thất vọng

"Bạn tự nghi ngờ và tự bắt lỗi bản thân, đồng nghĩa với việc bạn đã nội hoá việc bạo hành này và tự áp lên mình, không cần chờ đối tác phải "ra tay" bạo hành bạn" - Steven Stosny, nhà tâm lý học và tác giả của .

2.

Đối tác thao túng tinh thần bạn để "ngồi chiếu trên" trong mối quan hệ

"Đối tác của bạn vẽ ra một thực tế khác cho bạn, từ chối hay xáo trộn sự vật sự việc để tạo ra chứng cứ giả rằng họ mới là người đúng.

Một cách thường thấy của thao túng tinh thần là nói: "Em nhớ nhầm rồi", "Em đâu có nói vậy", "Anh đâu có làm việc đó".

Họ suy diễn rằng bạn đang "vô lý đùng đùng", cách nhìn nhận vấn đề của bạn là sai trái cho dù bạn không sai.

Vì cách nói này khiến bạn dần tự nghi ngờ bản thân mình, khả năng cao là bạn sẽ thuận theo sự thao túng này của người kia.

Dần dần, sự tự hoài nghi này sẽ dẫn đến mất niềm tin vào bản thân, khiến bạn càng dễ rơi vào vòng kiểm soát của đối tác hơn."

- Carol A.Lambert, nhà tâm lý học và tác giả của cuốn ""

3.

Đối tác của bạn yêu cầu phải được "giám sát" bạn 24/7

"Tưởng chừng như chỉ là lo lắng nhất thời, nhưng đây lại thường là cách mà người hay bạo hành tinh thần dùng để kiểm soát nhất cử nhất động của người khác.

Nhắn vài tin một ngày để hỏi thăm hoàn toàn có thể trở thành quấy rối không ngừng nghỉ.

Việc liên tục đòi hỏi phải được người khác báo cáo nơi họ đang đi, người họ nói chuyện, việc họ làm, chưa kể đến việc đặt giới hạn cho những điều trên, là ví dụ rất điển hình cho bạo hành tinh thần."

- Lisa Fernentz, tác giả cuốn

4.

Đối tác nói những điều về bạn khiến bạn tổn thương nhưng lại coi như trò đùa

"Và khi bạn than phiền, họ nói rằng họ chỉ đang giỡn thôi và bạn đang nhạy cảm quá.

Không phải tự nhiên mà người ta nói rằng sau mỗi câu đùa đều ẩn chứa một sự thật nào đó."

- Sharie Stines, bác sĩ tâm lý và tư vấn mối quan hệ, chuyên môn về hồi phục sau khi bị bạo hành.

5.

Bạn xin lỗi cho dù bạn biết mình không làm gì sai

"Người bị bạo hành tinh thần thường tin rằng mình ngu ngốc, khinh suất và ích kỷ vì họ đã bị đối tác cáo buộc những điều đó quá thường xuyên rồi."

- Beverly Engel, nhà tâm lý học và tác giả của cuốn ""

6.

Đối tác của bạn lúc "nóng" lúc "lạnh"

"Vài giây trước, đối tác của bạn còn đang dịu dàng nhưng vài giây sau thì ngược lại.

Dù bạn có cố gắng thế nào để tìm ra lý do, bạn vẫn không thể hiểu được.

Họ không chịu cởi mở với bạn, và bạn bắt đầu hoảng lên, tìm cách để họ vui vẻ trở lại.

Bạn bắt đầu tự đổ lỗi cho bản thân mình.

Nếu điều này xảy ra quá thường xuyên, từ một người độc lập, bạn có thể trở thành một người lo âu hay cung phụng người khác, và đó chính là thứ mà đối tác muốn ở bạn."

- Peg Streep, tác giả của cuốn "".

7.

Đối tác của bạn không thừa nhận năng lực, điểm mạnh của bạn và coi thường những thành tựu của bạn

"Bình luận mang tính hạ thấp và coi thường thường khó nhìn nhận lúc đầu, nhưng chúng không phải là những lời tự nhiên mà có.

Chúng thường có chủ đích nhắm đến những điểm mạnh của bạn mà có thể khiến đối tác cảm thấy mất vị trí "chiếu trên" hay "mất giá".

Một cách để nhận ra cảm giác này của đối tác là nhìn vào phản ứng của họ trước những thành công của bạn.

Người đó tỏ ra hứng thú hay lờ bạn đi?

Họ có đánh giá thấp một hoặc vài điểm trong câu chuyện của bạn không?

Hay người đó có chuyển chủ đề và bắt đầu phán xét những điểm xấu, những việc bạn chưa làm được?

Qua thời gian, những phản hồi tiêu cực và gây tổn thương này sẽ khiến bạn dần mất đi cảm giác tự tin vào khả năng của mình."

- Lambert.

8.

Đối tác từ chối sex, tiền bạc và sự thân mật để điều khiển bạn

"Hoặc biến chúng trở thành "phần thưởng" khi bạn phục tùng họ.

Bất kỳ mối quan hệ mang tính ràng buộc như vậy mang rất nhiều vấn đề.

Người ta thường không nhận ra việc hạn chế thân mật hay trợ cấp tài chính là một dạng bạo hành.

Họ chỉ gắn những việc gây tổn thương đến nạn nhân với bạo hành mà thôi.

Nhưng trong trường hợp này, sự kìm nén hoặc thiếu vắng hành động, cử chỉ và sự quan tâm mà một đối tác xứng đáng hoặc trông đợi nhận được trong một mối quan hệ chính là một dạng bạo hành."

- Ferentz

9.

Bạn không còn cảm thấy hứng thú tình dục với đối tác

"Điều này thường xảy ra đối với những người cần cảm giác tin tưởng và thân mật với đối tác để có thể cảm thấy hấp dẫn về mặt tình dục.

Nếu họ cảm thấy tổn thương, sợ hãi hoặc tức giận với đối tác của mình, họ sẽ không thấy an toàn hay cởi mở khi ở gần đối tác của mình, và cơ thể họ cũng sẽ phản ứng tương tự."

- Engel

10.

Bạn luôn thấy có lỗi với đối tác, cho dù họ là người tổn thương bạn

"Những kẻ bạo hành tinh thần là bậc thầy trong việc thao túng người khác.

Họ có thể vừa "chơi xấu" bạn, vừa làm bạn cảm thấy đó là lỗi của mình, hoặc khiến bạn nghĩ việc họ làm là không thể tránh khỏi bởi một ký ức tồi tệ nào đó, hoặc do bạn đã nói hay làm gì đó để họ phải làm vậy.

Nạn nhân của bạo hành tinh thần thường bỏ qua những hành vi của người bạo hành nếu họ chỉ tập trung vào phần "tổn thương", phần "tốt" của người bạo hành."

- Stines

11.

Đối tác luôn đổi kế hoạch vào phút chót để "làm bạn ngạc nhiên"

"Những hành động mang tính điều khiển (như đòi hỏi phải làm theo điều của họ mà không có sự đồng thuận qua bàn bạc) thì khá dễ thấy, tuy nhiên theo Tiến sĩ Craig Malkin, "điều khiển ngầm" (stealth control) thì khác.

Việc này có thể là tự ý thay đổi kế hoạch mà hai bạn đã đồng ý từ trước với lý lẽ để làm bạn "ngạc nhiên" với một cái gì đó mà họ cho là "tốt hơn".

Đương nhiên, làm bạn ngạc nhiên không phải là chủ đích; chủ đích của họ là có quyền điều khiển mà không cần phải đối thoại.

Và chao ôi!

Bạn thấy họ "lãng mạn" đến mức quên đi rằng nhu cầu của mình bị bỏ qua, quan điểm của mình bị coi thường và dần dần những thứ đó không còn quan trọng nữa."

- Streep
 
Tâm Lý Học
Khi người mẹ đóng vai nạn nhân


Những điểm chính

Đóng vai nạn nhân là một hình thức kiểm soát khác của người mẹ và thường liên quan đến việc biến một đứa trẻ thành 'dê tế thần' trong gia đình, nhận lãnh mọi tội lỗi.Việc người mẹ đóng vai nạn nhân có ảnh hưởng trực tiếp lên đứa trẻ, để lại tổn thương to lớn và lâu dài.Những đứa trẻ có mẹ đóng vai nạn nhân thường cảm thấy bất lực, khiếm khuyết và khó duy trì ranh giới (lành mạnh), khó nhận ra hành vi bạo hành và nói ra nhu cầu của chúng.

Nguồn: fizkes/Shutterstock

"Celia" 52 tuổi, hiện là một người mẹ và người bà, nhưng mẹ cô 71 tuổi vẫn cứ kể mãi một câu chuyện đời bà.

Theo lời Celia: "Tôi là nguyên nhân khiến mẹ không bao giờ thực hiện được ước mơ của bà, và niềm tin đó của bà chưa từng lung lay, mãi mãi.

Tôi đã làm gì?

Tôi được sinh ra khi đáng nhẽ bà phải hoàn thành xong năm hai đại học, nhưng thay vì vậy bà đã bỏ học.

Và không bao giờ quay lại trường."

Để tôi nhắc bạn nhé, mẹ của Celia chưa bao giờ cố gắng quay lại trường học mà thay vào đó, bà tiếp tục sinh thêm hai đứa con nữa, song bà vẫn tin chắc ai mới là người có lỗi: "Bạn sẽ nghĩ, sau ngần ấy năm, bà ấy sẽ nhận ra chuyện này thật ngớ ngẩn, nhưng không.

Hồi còn nhỏ và lúc trẻ, tôi chấp nhận rằng cách đối xử của bà với tôi khác với anh chị em của mình và tôi biết đó là vì tôi đã phá hỏng cuộc đời bà ấy.

Tôi tiếp nhận mọi điều bà ấy nói về tôi và tin chúng.

Tôi đang phục hồi dần dần, nhưng khi gặp bà—việc này không thường xuyên—hiếm khi nào tôi thấy bà không vào vai nạn nhân.

Tôi nghĩ mẹ thích nhận được sự cảm thông—từ cha tôi, từ các anh chị em của tôi và những người khác.

Ôi, Celia xấu xa, Bà Mẹ tội nghiệp."

Nhìn từ bên ngoài, một người trưởng thành có vẻ khá dễ dàng chặn đứng trò thao túng này, nhưng đối với một ai đó bị nói suốt nhiều năm rằng cô/anh ấy là nguyên nhân gây ra khổ đau cho mẹ mình, thì việc này hoàn toàn không thể.

Trớ trêu thay, trong khi nguyên nhân được cho là thứ yếu, không quan trọng, thì những người còn lại trong gia đình được xích lại với nhau bởi một câu chuyện chung.

Đóng vai nạn nhân: một dạng hành vi độc hại khác của người mẹ

Đóng vai nạn nhân thường bao gồm việc biến một (hay nhiều) đứa trẻ thành 'con dê tế thần' trong gia đình, song đôi lúc nó chủ yếu là một dạng đổ lỗi và là một cách để thu hút sự chú ý.

Đó là trường hợp của gia đình "John", người mẹ bên ngoài trông hiền lành nhưng bên trong thì che đậy sự hung hăng.

Khi người con trai 35 tuổi này lên tiếng: "Trong khi hầu hết các bậc cha mẹ đều muốn khoe về con cái, thậm chí còn thổi phồng sự thật để khiến bọn trẻ trông tốt đẹp hơn thực tế, thì mẹ tôi làm ngược lại, hạ thấp và xem thường mọi điều chúng tôi đã làm và đạt được khi gặp gia đình và bạn bè.

Tôi không hiểu nổi chuyện này, nhưng sau đó thì tin rằng mẹ mình thích nhận được sự cảm thương nhiều hơn là khiến người khác ngưỡng mộ hay ganh tỵ.

Bản tính được che giấu của mẹ khiến bố tôi luôn muốn bảo vệ bà, và ông thường xem bà như nạn nhân bị mọi người bắt nạt."

Trong gia đình này, người cha trở thành người thực thi của người mẹ nạn nhân.

Không có gì ngạc nhiên khi John đã cố gắng rất nhiều để làm hài lòng mẹ và "sửa chữa mọi thứ" nhưng cũng hoài công vô ích.

Khi một người mẹ đóng vai nạn nhân, một đứa trẻ thường bị ép vào vai người giải cứu, dù nó có muốn hay không.

Điều đó đúng đối với "Daniel," người con giữa, với một anh trai hơn 3 tuổi và một em gái nhỏ hơn 6 tuổi.

Hiện tại anh ấy 45 tuổi, là cha của hai đứa con:

"Mẹ tôi không yêu cái vai nào hơn vai Cô bé Lọ lem trước khi hoàng tử xuất hiện.

Nói chung, qua lời kể của bà thì bà ấy luôn bị cuộc đời ngáng trở và bà luôn thất vọng trước tất cả mọi người, 'Dù tôi có cố gắng đến đâu.' Tất cả mọi người bao gồm bạn bè, người thân, người lạ, hàng xóm, anh tôi, cha tôi, và tôi.

Cái câu—'Dù tôi có cố gắng đến đâu'—đã tổng kết lại hơn 20 năm mà tôi chịu đựng trong nhà với mẹ.

Phải, Người mẹ tội nghiệp đáng thương."

Daniel được chỉ định làm "người giải cứu" như anh ấy kể, người phải an ủi Mẹ, theo phe bà ấy, và "nâng đỡ bà" khi bà gặp chuyện thất vọng: "Trong con mắt của bà, anh tôi là đứa nghịch phá, gây rối, vì vậy tôi đổ lỗi cho anh mình vì nỗi bất hạnh của mẹ; tôi thậm chí còn chẳng hiểu thế nào là 'dê tế thần', tôi được nuôi dạy để đổ lỗi lên đầu anh ấy giống như cha mẹ tôi đã làm.

Chuyện này lặp lại với Em gái bé nhỏ của tôi kể từ khi anh trai tôi đã rời khỏi nhà khi con bé mới 9 tuổi.

Tôi không hiểu tất cả những chuyện này tệ hại ra sao cho đến khi gần tuổi đôi mươi và tôi nhận ra nhìn chung thì các cậu bé trai không có trách nhiệm phải chăm sóc cho mẹ chúng, hay cam kết trấn an mẹ và 'sửa chữa' mọi thứ.

"Rốt cuộc thì bố tôi và tôi phải trở thành người cứu giúp mẹ, trong khi đó, chẳng ai để tâm đến những lo lắng hay vấn đề của tôi.

Tôi nghĩ mình chẳng đáng để được quan tâm chú ý.

Nhờ may mắn mà người cố vấn cho sinh viên năm nhất đại học của tôi đủ sắc sảo để nhận ra vấn đề của tôi, tôi cũng vô cùng rối trí và không biết làm gì khác ngoại trừ làm một cậu con trai hiếu thảo ...

Khi nhà trị liệu hỏi tôi mong muốn điều gì, tôi gần như á khẩu.

Tôi không nghĩ ra.

Tôi chỉ biết làm những gì mình được bảo để giữ hòa thuận và đảm bảo là mình không làm cho mẹ thất vọng."

4 hậu quả lâu dài khi có mẹ đóng vai nạn nhân

Mặc dù chưa đầy đủ, danh sách này là giai thoại, được rút ra từ hàng trăm cuộc phỏng vấn mà tôi đã thực hiện cho các cuốn sách của mình, gồm có cuốn và cuốn sách sắp phát hành của tôi về chủ đề bạo hành lời nói, cũng như những câu chuyện mà tôi chia sẻ trên Facebook của mình.

Khó nhận ra ranh giới lành mạnh

Bằng cách đóng vai nạn nhân và bắt đứa trẻ phải chịu trách nhiệm về cuộc sống và hành động của mình, người mẹ đã làm cho hai danh tính này vướng mắc với nhau.

Giao cho đứa trẻ vai trò người giải cứu—hoặc khuyến khích trẻ đảm nhận cái vai đó—cũng sẽ làm dính mắc và mất đi ranh giới lành mạnh lẽ ra cần có giữa cha mẹ và con cái.

Vấn đề này có thể kéo dài đến tận khi trưởng thành.

Tiếp thu sự đổ lỗi của mẹ và biến nó thành sự tự chỉ trích bản thân

Than ôi, đó là lẽ hiển nhiên trong việc bạo hành trẻ em, ở đó đứa trẻ tiếp nhận những điều người ta nói với chúng và xem đó là sự thật bất khả xâm phạm; điều này thường tiếp thêm năng lượng cho quá trình tự chỉ trích bản thân như một vị thế mặc định trong vô thức dựa trên những thứ được gọi là tính xấu mà không thể thay đổi được.

Khó nhận ra việc đóng vai nạn nhân của người mẹ chính là hành vi bạo hành

Trẻ em bình thường hóa hành vi và cách đối xử của cha mẹ chúng, và rất có thể đứa con khi trưởng thành phải mất nhiều năm để hiểu được đóng vai nạn nhân là một cách để giữ quyền lực và sự kiểm soát.

Cần phải nói rằng đứa trẻ cũng có khả năng tin rằng mẹ nó không chỉ là người khốn khổ mà thật sự còn là nạn nhân.

Người con (khi trưởng thành) có thể vẫn tiếp tục mang theo cảm giác tội lỗi hoặc đồng lõa.

Không thể thừa nhận nhu cầu của mình hoặc bày tỏ chúng

Hành vi của người mẹ đẩy đứa trẻ vào một vai trò được định nghĩa chặt chẽ—như là nguyên nhân gây ra khổ đau cho mẹ hoặc xoa dịu nó—do đó mà sự quan tâm chú ý bị chệch hướng khỏi nhu cầu và mong muốn của đứa trẻ.

Trên thực tế, việc trẻ bộc lộ nhu cầu của mình có thể gặp phải sự phản đối hay thậm chí là trừng phạt.

Đứa trẻ học cách đè chặt những suy nghĩ và cảm xúc của mình, và tách khỏi chúng; điều này tiếp tục đến tận khi lớn lên.

Những bà mẹ ghẻ lạnh miêu tả mình là nạn nhân của đứa con đã trưởng thành

Điều này hoàn toàn khác với việc đóng vai thụ động-xung hấn của những bà mẹ năng nổ nuôi dạy con nhưng tôi thật tắc trách nếu không đề cập đến nó vì nó là chuyện thường hay xảy ra.

Điều thú vị là trong khi hầu hết sự ghẻ lạnh giữa người con trưởng thành—bố mẹ thường do đứa con khởi xướng, việc người mẹ tự miêu tả về mình như một nạn nhân cũng diễn ra khi cô ấy bắt đầu ghẻ lạnh với con cái.

Những huyền thoại văn hóa liên quan đến tình mẫu tử—rằng mọi phụ nữ đều biết chăm sóc con, rằng làm mẹ là bản năng, và mẹ nào cũng yêu con vô điều kiện—cùng với một điều răn trong Kinh thánh là tấm khiên che đỡ cho hành vi của người mẹ, được củng cố bởi một xã hội sẵn sàng chê trách con cái bất hiếu và vô ơn thay vì đối đầu với hành vi bạo hành của người mẹ.

Câu chuyện sau đây là điển hình nhưng đỡ hung hãn hơn so với một số người mẹ tự coi mình là nạn nhân.

"Lara" là một góa phụ ngoài 70 tuổi, người mà tôi gần như không quen biết, giống như bất kỳ ai gặp bà lâu hơn 1 nano giây, tôi sớm nhận ra bà ấy là nạn nhân của hai người con vô ơn, chúng không chỉ cắt đứt liên lạc với bà mà còn không cho phép bà gặp cháu—"chẳng vì lý do nào cả" như cái cách mà bà sẽ nói đi nói lại với bạn.

Theo quan điểm của bà thì bà là một người mẹ tốt, một người mẹ phi thường, đã mang đến "tất cả mọi thứ" cho gia đình và con cái.

Diễn biến tiếp theo là một danh sách bắt đầu bằng những cái tên trường tư thục và kết thúc bằng những đối đãi và chuyến du lịch đắt đỏ cho mọi người.

Quan trọng nhất là, bà "chẳng làm gì sai" để phải chịu đựng cách đối xử kinh khủng này từ hai đứa con mà lẽ ra chúng nên yêu thương bà.

Bà khăng khăng cho rằng chúng thậm chí còn không cho bà biết lý do tại sao lại cắt đứt liên lạc.

Sự thật là hiếm có người trưởng thành nào lại muốn tự biến mình thành kẻ mồ côi mà không có lý do chính đáng.

Nhưng than ôi, đóng vai nạn nhân thì dễ hơn là nhìn nhận những hành vi khiến con cái bạn muốn trốn thoát khỏi bạn ngay từ đầu.
 
Tâm Lý Học
Bản chất của việc yêu thích một người là gì?


Mọi loại tình cảm trên đời này, thật ra đều là "Hiệu ứng Franklin."

Người dịch: LinG (Bài này mình dịch và post trên Weibo nhưng xét thấy nội dung về tâm lý học và các tips có thể ứng dụng khá cao cho nên share rộng hơn)

Tác giả: Tử Hiệp Lang

Mọi loại tình cảm trên đời này, thật ra đều là "Hiệu ứng Franklin."

Tiêu đề: Lý do cơ bản cho việc một người yêu một người khác là gì?

Do ngoại hình của đối phương?

Phẩm cách của đối phương?

Địa vị của đối phương?

Danh tiếng của đối phương?

Hay tài sản của đối phương?

Tất cả đều không phải.

Vậy cuối cùng là tại sao?

1.

Đầu tiên phải kể đến một câu chuyện nổi tiếng:

Giai đoạn chiến tranh thế giới thứ 2, người Do Thái bị quốc xã Đức đàn áp.

Hai người anh em Do Thái đã thảo luận về việc nhờ ai giúp đỡ và ý kiến của bọn họ không giống nhau.

Người em trai muốn yêu cầu ngân hàng mà bố của họ đã từng tài trợ giúp đỡ, và ngân hàng ấy cũng đã rất nhiều lần bày tỏ sẽ báo ơn nếu có cơ hội.

Người anh lại nhận định rằng, nên tìm sự giúp đỡ của một người thương gia đã từng tài trợ tiền cho gia đình họ khi mới bắt đầu kinh doanh.

Không ai chấp nhận ý kiến của ai, vì vậy họ chia nhau ra làm theo ý bản thân và mất liên lạc.

Nhiều năm sau, người anh trai – nhận được sự giúp đỡ của thương nhân buôn gỗ trốn đến Nhật Bản, quay về nước tìm em trai mình, phát hiện em trai đã chết ở Auschwitz.

Sau đó, người anh đã tìm thấy trong kho lưu trữ của quốc xã Đức về hồ sơ điện thoại báo nơi ẩn náu của em trai mình mà người gọi chính là nhân viên ngân hàng.

Người anh thở dài: "Người đã từng giúp đỡ bạn, đáng tin cậy hơn người bạn từng giúp đỡ."

2.

Có một ví dụ cực kì điển hình trong Marketing hiện đại.

Thế kỉ trước, có một nhân viên công ty máy hút bụi ở Mỹ được mệnh danh "quán quân ngành Marketing".

Trước khi nghỉ hưu, ông nói với tất cả nhân viên khác: "Mấy đứa thật là ngu ngốc, mời gọi mua hàng chỉ biết gõ cửa hỏi: "Chào bà, có thể cho tôi 3 phút để giới thiệu về sản phẩm của công ty chúng tôi không?"

Mỗi lần nói xong, "rầm" một tiếng đóng cửa ngay trước mặt.

Mấy đứa nói đây không phải là quấy rối thì là gì?

Khách hàng không báo cảnh sát là đã khách khí lắm rồi."

Thế rồi các nhân viên hiếu kỳ hỏi ông: "Thế ông làm cách nào để giới thiệu sản phẩm cho khách hàng?".

Vị nhân viên già sắp về hưu liền trả lời: "Tôi sẽ nói, chào bà, tôi là một người bán hàng đi ngang qua đây, khát nước quá.

Bà có thể cho tôi xin một cốc nước được không?"

Sau đó, tôi có thể vào trong nhà khách hàng và quan sát xung quanh.

Rồi trong lúc khách hàng đi rót nước, nói qua loa về chuyện gia đình, rồi nói vài lời về "máy hút bụi" mà tôi quảng bá.

Khách hàng không có áp lực, tất nhiên sẽ tiếp lời của tôi rồi.

Cứ như thế, tỉ lệ giới thiệu sản phẩm thành công có thể tăng đến 60%.

Các nhân viên khác nghe đến đây như tỉnh mộng, vỗ tay khen ngợi vị nhân viên già.

Trong thực tế, trường hợp này có một thuật ngữ tâm lý gọi là "Hiệu ứng Franklin."

Hiệu ứng này dựa theo một câu nói của Benjamin Franklin – một trong những người thành lập ra nước Mỹ vào thế kỉ 18.

Franklin từng nói: "So với người đã được bạn giúp đỡ, những người đã giúp đỡ bạn sẽ sẵn sàng giúp đỡ bạn một lần nữa."

Tại sao ông lại nói vậy?

Bởi vì ông đã từng làm một chuyện ảnh hưởng đến tâm lý học thế giới.

Câu chuyện như sau:

Năm 1736, một ngày nọ, Franklin đã có bài phát biểu ở Pennsylvania.

Một nghị sĩ khác hoàn toàn phản đối quan điểm của ông, đồng thời phát biểu một bài khác, chỉ trích Franklin rất quyết liệt.

Franklin có phần trở tay không kịp, nhưng lại mong giành được sự đồng ý của vị nghị sĩ này.

Nên làm sao đây?

Trong lúc vô tình ông biết được trong nhà của nghị sĩ này có một bộ sách rất hiếm.

Vì vậy, ông đã viết một bức thư rất trân trọng mong được mượn bộ sách này.

Thật bất ngờ, vị nghị sĩ này đã đồng ý.

Sau một thời gian, Franklin đã long trọng bày tỏ lòng biết ơn của mình khi trả lại bộ sách.

Khi họ gặp nhau ở hội trường Quốc hội vài ngày sau đó, Franklin đã nói rằng: "Ông ấy thậm chí còn chủ động chào hỏi tôi (chuyện chưa từng có trước đây), và sau khi chúng tôi trò chuyện, ông ấy còn bày tỏ, bất cứ lúc nào cũng có thể vì tôi mà góp sức."

Từ đó hai người chuyển thù thành bạn, duy trì tình hữu nghị suốt đời.

Vì vậy, các nhà tâm lý học của các thế hệ sau đưa ra kết luận:" Cách tốt nhất để khiến người khác thích bạn không phải là giúp đỡ họ, mà là để họ giúp đỡ bạn."

Đây là nguồn gốc của "hiệu ứng Franklin" nổi tiếng.

3.

Một thế kỉ sau, Lincoln, một tổng thống Mỹ khác, đã được truyền cảm hứng sâu sắc bởi "hiệu ứng Franklin".

Vào dịp nọ, Lincoln nhờ đối thủ chính trị làm một việc nhỏ.

Một nghị sĩ chỉ trích: "Tại sao lại cố gắng làm bạn với kẻ thù?

Không phải nên loại bỏ hắn sao?"

Lincoln nhẹ nhàng trả lời: "Không phải tôi đã tiêu diệt kẻ thù của mình rồi sao?

Đặc biệt là khi chúng tôi còn trở thành bạn bè."

Nhờ một người thù ghét mình giúp một việc nhỏ, có thể biến thù thành bạn, biến vũ khí thành tơ lụa.

Biện pháp này có tin được không?

Có thể xảy ra không?

4.

Năm 1969, nhà tâm lý học Joan Jack và David Randy đã quyết định trực tiếp kiểm tra xem "hiệu ứng Franklin" 200 năm tuổi đã hết hạn sử dụng trong thế kỉ 20 hay chưa.

Họ sắp xếp một cuộc thi kiến thức và để tất cả người tham gia giành được một khoản tiền nhỏ.

Sau cuộc thi, nhà nghiên cứu đã nói với 1/3 người tham gia: "Ông ấy tổ chức cuộc thi bằng tiền riêng của mình, bây giờ ông ấy hết sạch tiền rồi, mọi người có thể trả lại tiền cho ông ấy không?"

Một thư ký nói với 1/3 số người tham gia khác: "Đây là một cuộc thi được tài trợ bởi phòng thí nghiệm, hiện tại vốn của phòng thí nghiệm không còn nhiều, có thể mong mọi người trả lại tiền cho phòng thí nghiệm được không?"

Sau cuộc thí nghiệm, tất cả người tham gia đều phải điền một tờ khảo sát, đưa cho nhà nghiên cứu và thư ký chấm điểm.

Kết quả của cuộc thí nghiệm chứng minh rằng:

- Nhà nghiên cứu được cho điểm cao hơn nhiều so với người thư ký.

- Người tình nguyện trả tiền lại có số điểm cao hơn nhiều so với những người không đồng ý trả tiền lại.

Cũng có thể nói, "hiệu ứng Franklin" vẫn còn đủ tiêu chuẩn và giữ được chất lượng của nó.

5.

Đại văn hào Tolstoy cũng đồng ý với hiệu ứng này.

Ông từng viết trong cuốn "Chiến tranh và Hòa bình":

"Chúng ta không yêu họ vì họ tốt với ta, mà vì ta yêu họ nên ta đối tốt với họ."

Mà cái "tốt" trong câu của Tolstoy thực chất chính là trao sự giúp đỡ.

Bởi vì người thương nhân đã cho gia đình Do Thái một khoản tiền để giúp đỡ họ, nên sinh ra hảo cảm, vẫn bất chấp nguy hiểm giúp đỡ lần nữa.

Bởi vì khách hàng cho người bán hàng một cốc nước, nên sinh ra hảo cảm, tiếp nhận việc chào hàng.

Bởi vì người nghị sĩ cho Franklin mượn bộ sách quý, nên sinh ra hảo cảm, nguyện cởi bỏ thù hận.

Cũng bởi như vậy, những người tham gia cuộc thi kiến thức mới thích nhà nghiên cứu tự bỏ tiền ra hơn là thư ký chi tiền cho công ty.

Thực tế hơn, hiệu ứng này còn liên quan đến một hiện tượng tâm lý khác:

Khi bạn giúp đỡ một người, ngay cả khi không thích đối phương, đại não của bạn sẽ tự động điều chỉnh nhận thức, nói với bạn rằng đối phương là người đáng để giúp đỡ, trong lòng bạn sẽ càng hình thành nên một loại "phụ thuộc tuyến" (Path dependence).

Khi đối phương xin trợ giúp lần hai, bạn sẽ càng vui vẻ giúp đỡ, sẽ càng thích đối phương hơn.

Nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ - Douglas North, người dựa vào định luật "Franklin" phát hiện định luật quán tính (law of inertia) của con người, giải thích thành công sự phát triển của hệ thống kinh tế và giành Nobel về kinh tế năm 1993.

Nhưng tại sao bản chất con người lại như vậy?

6.

Chúng ta có thể thử tìm hiểu về câu chuyện "Hoàng tử bé" của nhà văn Pháp Exupery:

"Hoàng tử bé sống trên một hành tinh nhỏ, và một ngày nọ, một bông hồng xinh đẹp nở rộ lên trên hành tinh này.

Hoàng tử bé chưa bao giờ nhìn thấy một bông hồng đẹp như vậy, vì thế mỗi ngày cậu đều chăm sóc và bảo vệ bông hoa ấy.

Cậu nghĩ đó là bông hoa hồng duy nhất trong vũ trụ, đẹp hơn tất cả các loài hoa.

Rồi một ngày nọ, cậu đến trái đất và thấy rằng có 5000 bông hồng gần như giống hệt nhau trong một khu vườn.

Ngay lúc đó cậu cuối cùng cũng biết rằng tất cả những gì cậu có là một bông hoa bình thường.

Phát hiện này khiến Hoàng tử bé rất buồn.

Nhưng mặc dù vậy, không biết tại sao, cậu vẫn không thể bỏ xuống bông hoa hồng của mình.

Cho đến tận một ngày một con hồ ly nói với cậu :"Bởi vì cậu bỏ thời gian và tâm huyết của mình đi chăm sóc bông hoa ấy, mới làm cho bông hoa của cậu trở nên đẹp hơn."

Hoàng tử bé chợt nhận ra, dù trên thế giới có vô số bông hoa hồng, nhưng bông hoa ở trên hành tinh của cậu ấy là độc nhất vô nhị.

Bởi vì cậu từng tưới nước cho nó, từng bảo vệ nó, nói chuyện với nó, cùng nó yên lặng,...

Thế nên nó là bông hoa độc nhất vô nhị trong cậu.

Cũng như vậy, con người trên trái đất, nhiều hơn sao trên trời, cũng nhiều hơn cát bụi trên sông Hằng.

Thử hỏi, có người nào trong chúng ta không phải một người thường trong trăm nghìn đồng loại?

Có người nào chúng ta yêu không bình thường như một bông hoa trong trăm nghìn đóa?

Bông hoa trong tay chúng ta có thể nổi bật như vậy, chẳng phải vì bông hoa ấy vốn dĩ nổi bật, mà vì chúng ta đặt hết tất cả ánh nhìn vào bông hoa ấy.

Người mà chúng ta đặt trong tim, một nụ cười khuynh thành, chẳng phải vì bản thân họ có bao nhiêu mị lực, mà bởi chúng ta đặt tất cả tình cảm bản thân vào đối phương.

7.

Vậy tại sao người đơn phương lúc nào cũng rối loạn, người được chiều chuộng lại chẳng sợ được mất?

Bởi người trước luôn luôn bỏ ra, còn người sau lại gần như không có.

Tại sao cha mẹ luôn luôn lo lắng cho con cái, mà đứa con bất hiếu lại chẳng hề quan tâm?

Bởi cha mẹ không ngừng cho đi, mà con cái lại gần như chẳng phải trả giá.

Tại sao đứa con ngoan luôn bị bỏ bê, đứa con hư lại được quan tâm lo lắng?

Bởi đứa con hư đòi hỏi cha mẹ phải chú ý, phải bỏ ra nhiều hơn.

Đứa con ngoan làm cha mẹ yên tâm, cũng bớt đi một phần lo lắng.

Tại sao tình thương của mẹ thường lớn hơn tình thương của cha?

Bởi người mẹ mang thai gần mười tháng, trăm khó ngàn nguy, bỏ ra cho con cái nhiều hơn người cha.

Hiệu ứng này đều được áp dụng ở nơi làm việc, trong tình bạn hoặc các lĩnh vực khác.

Cái gọi là "con khóc mẹ mới cho bú", "mối quan hệ đều từ phiền phức tạo thành" ...

đều là những quy tắc vàng được sinh ra bởi hiệu ứng này.

Do đó, chúng ta yêu một người vì chúng ta cho đi.

Nếu không có sự cho đi thì sẽ không có tình yêu.

Nói một cách nghiêm túc, thế giới này không có cái gọi là "yêu từ cái nhìn đầu tiên".

Nếu có một người nói với bạn anh ta chỉ mất vài giây để yêu một cô gái.

Bạn chỉ cần hỏi anh ấy một câu: "Chỉ trong vài giây, anh có nguyện ý vì cô ấy mà hi sinh tính mạng không?"

Anh ta chắc chắn không đồng ý, cũng như chúng ta rất ít người đồng ý vì một thần tượng mà từ bỏ mạng sống bản thân.

Bởi vì ngắn ngủi vài giây, không thể nào yêu được một người.

Đương nhiên, nam hay nữ cũng vậy.

8.

Vậy anh ta làm sao để có tình cảm với một người?

Tình hình như sau:

Sau khi gặp mặt, anh ta ngày nhớ đêm mong, ăn uống đều nhớ đến, mọi thời khắc đều nghĩ đến, thậm chí trong mơ cũng không thoát được.

Thế nên một ngày của anh ta ngoại trừ đi ngủ, có thể nhớ một người đến 16 tiếng.

Mà một người con trai khác cũng thích cô gái ấy, mỗi ngày có thể chỉ nhớ đến cô ấy trong 1 tiếng.

Chúng ta ví dụ yêu một người cần nhớ đến đối phương 160 tiếng, vậy người con trai đầu tiên chỉ cần đến 10 ngày, trong khi người thứ 2 cần đến 160 ngày.

Đây là chân tướng của "vừa gặp đã yêu".

Nó thể hiện rằng 2 người lần đầu gặp đã có chút cảm giác với đối phương, nhưng vẫn cần thời gian mới có thể sinh tình.

Trong một khoảng thời gian nhất định, nếu cả hai đều cho đi, gọi là tình yêu, nếu chỉ có một bên cho đi, gọi là đơn phương, mà cả hai bên đều không muốn cho đi, cùng lắm chỉ có thể gọi là bạn bè.

Thế nên, nếu không có đủ thời gian cho đi, đừng nói vài giây, có khi quen biết cả đời cũng không thể gọi là yêu.

9.

Nhớ nhung, là sự cho đi của một người trong tình cảm.

Tất nhiên cho đi cũng có nhiều loại: thời gian, tiền bạc, bầu bạn, tinh thần ...

Nhưng suy cho cùng, tất cả các loại cho đi đều theo thời gian quy về một mối, cuối cùng biến thành vì tình cảm mà cho đi.

Bởi vì đoạn thời gian mà chúng ta cho đi ấy, trở thành những hồi ức tốt đẹp, hòa vào máu của chúng ta, biến thành một phần trong sinh mạng của chúng ta.

Trước đây có một người con gái hỏi cha mình, làm sao để khiến chàng trai cô ấy thích động lòng?

Cha cô ấy trả lời:"Để khiến anh ta mua cho con một cây kem."

"Sau đó thì sao?"

"Để anh ta mua thêm một cây nữa."

Tất nhiên, câu chuyện này chỉ là một loại lý luận, tình huống cụ thể cần có cách ứng phó cụ thể, mỗi một kiểu người cần sử dụng các mẹo khác nhau, tùy bệnh mà kê đơn thuốc.

Tổng kết lại, phương pháp tốt nhất chỉ có một câu :"Trong lúc bạn bỏ ra, cũng phải dẫn dắt đối phương bỏ ra vì bạn."

Người cha trong câu chuyện trên là một bậc thầy về bản chất con người, cũng rất thành thạo "hiệu ứng Franklin".

Bởi vì việc mua kem nhìn thì có vẻ rất đơn giản, nhưng lại cần sự cho đi một cách tinh tế.

Anh ta sẽ nghĩ, cô ấy thích ăn kem gì?

Dâu hay sữa?

To hay nhỏ?

Ở tiệm này hay ở tiệm kia?

Trong vô thức, chàng trai đã bỏ ra thời gian, tiền bạc và tinh thần cho cô gái ấy.

Dần dần, người con trai sẽ hỏi bản thân, tại sao phải mua kem cho cô ấy chứ?

Bởi vì cô ấy đáng yêu, cô ấy hiểu chuyện, tiếng cười của cô ấy thật ngọt,...

Dù cho người ngoài nhìn vào chẳng thấy cô ấy có gì đặc biệt, nhưng chúng ta cũng có thể yên tâm rồi.

Bởi vì bằng mọi cách, anh chàng ấy sẽ tự tìm 100 lý do thuyết phục bản thân.

Có thể bạn sẽ hỏi, tại sao các bạn nam lại ngốc nghếch đến vậy?

Tôi chỉ có thể trả lời, không phải chỉ các bạn nam, mà con người ai cũng đều như vậy.

Không sai, đây lại là một phản ứng tâm lý học gọi là "Bất hòa nhận thức" (Cognitive Dissonance).

Đơn giản như thế này:

Khi con người phát hiện khách quan và hiện thực mà bản thân nhận thức có sự bất đồng thì sẽ tạo ra một loại cảm giác không phối hợp, không thoải mái.

Nó được đề cập lần đầu tiên bởi nhà tâm lý học xã hội người Mỹ - Leon Festinger vào năm 1956 trong cuốn "Khi lời tiên tri mất linh nghiệm".

Bởi vì ông ấy phát hiện ra rằng những thành viên của giáo phái Doomsday có một niềm tin bất diệt vào những lời tiên tri.

Ngay cả khi lời tiên tri của họ về tận thế đã không xảy ra, nhưng họ không hề nghĩ rằng nhà thuyết giáo đang lừa dối họ.

Tuy nhiên, sau tất cả, sự sụp đổ niềm tin này dẫn đến nhận thức không đồng bộ, vậy nên làm sao đây?

Hi vọng bọn họ biết sai biết sửa, quay đầu là bờ?

Đừng đùa nữa đi.

Thừa nhận sai sót là làm trái với bản năng con người, trên thế giới từ trước đến nay chẳng mấy ai có thể làm được. (Thanh minh một chút: Nhận sai ở đây là từ nội tâm nhận định rằng logic của bản thân là sai, chứ không phải cái năng lực ngoài mặt miễn cưỡng nhận sai.) Cho nên, cơ bản những người này điều chỉnh sự không đồng bộ trong nhận thức không phải bằng cách nhận sai, mà là tiếp nhận một lời tiên tri mới:"Người ngoài hành tinh bởi vì biết được lời tiên tri của chúng ta mà tha cho trái đất".

10.

Vậy bây giờ, quay về vấn đề cũ:

Anh chàng này đầu tiên rơi vào cái bẫy "hiệu ứng Franklin", sau đó hình thành thói quen "phụ thuộc tuyến", sau đó lại đạp phải cái bẫy của "bất hòa nhận thức", cuối cùng còn có "chi phí chìm - sunk cost" (một loại chi phí đã xảy ra không thể nào thay đổi) lượn lờ trước mắt anh ta, bạn cảm thấy anh ta sẽ dễ dàng bỏ qua người con gái mà ngày nào anh ta cũng mua kem cho không?

Gần như không thể.

Trừ khi xảy ra trạng thái bất thường không thể dự tính trước.

Ngược lại, bạn nam sẽ vì những gì mình bỏ ra mà dần dần cảm thấy bạn nữ "thoát tục", "không giống người thường".

Tích trữ qua ngày tháng, anh ta sẽ yêu cô gái ấy trong vô thức.

Tình yêu, thực ra chỉ đơn giản như vậy.

Cái gọi là tình yêu, chính là tất cả những thứ mà bạn nguyện dâng tặng đối phương.
 
Tâm Lý Học
13 dấu hiệu cho thấy bạn thông minh hơn mình nghĩ


Tất cả chúng ta đều không muốn huênh hoang thể hiện bản thân mình trước mặt người khác, nhưng nếu bạn thật sự là người thông minh thì bạn xứng đáng được công nhận.

Mặc dù trí thông minh rất khó để đánh giá chính xác và cho tới nay các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra được phương thức để "đo lường" trí thông minh chuẩn xác nhất.

Nhưng các nhà khoa học cũng đã tìm ra những đặc điểm chứng tỏ một người thông minh, có chỉ số IQ cao thường có những đặc điểm cụ thể nhất định.

Theo những bằng chứng khoa học đăng trên trang Quora, dưới đây là 13 đặc điểm và hành vi chung của những người thông minh.

Hãy cùng xem điều nào đúng với bạn nhé.

1.

Bạn không dễ bị phân tâm

"Những người có thể tập trung trong một khoảng thời gian dài và điều khiển sự phiền nhiễu là những người có trí thông minh cao". này đăng trên Current Biology 2013 đã mô tả hai thí nghiệm nhỏ cho thấy những người có số điểm cao trong bài kiểm tra IQ nhận ra các chuyển động nền lớn trong một hình ảnh chậm hơn.

Đó là bởi vì họ có khả năng tập trung vào những thông tin quan trọng và lược bỏ những chi tiết thừa còn lại.

2.

Bạn là một con cú đêm

Theo nghiên cứu, bạn càng thông minh thì bạn càng có (từ 0 giờ đến khi mặt trời mọc).

Tạp chí Personality and Individual Differences 2009 đăng tải một theo dõi sự liên kết giữa IQ lúc nhỏ và thói quen ngủ của hàng ngàn thanh niên.

Theo đó, những người thông minh có xu hướng ngủ trễ và thức dậy trễ hơn trong các ngày trong tuần và cuối tuần.

Kết quả tương tự trong một thí nghiệm khác đối với 400 ứng viên Không Quân Mỹ.

3.

Bạn có khả năng thích nghi cao

"Những người thông minh thích ứng bằng cách thể hiện những gì họ có thể làm được, bất kể phức tạp đến đâu, hay bất kể hạn chế gì", theo , một trong nhiều người cho rằng những người thông minh có thể linh hoạt, phát triển tốt trong các môi trường khác nhau.

Thật vậy, những cũng ủng hộ ý tưởng này: sự thông minh phụ thuộc vào việc có thể thay đổi hành vi của bản thân để phù hợp với môi trường của bạn hay là thay đổi môi trường bạn đang ở để phù hợp với hành vi của chính mình.

4.

Bạn hiểu rõ những thiếu sót của mình là bao nhiêu

Những người thông minh có thể thừa nhận rằng họ không quen với một khái niệm cụ thể nào đó. , "Người thông minh không sợ nói câu: 'tôi không biết'.

Nếu họ không biết, họ có thể học."

Quan điểm này được chứng minh qua một thí nghiệm kinh điển của Justin Kruger và David Dunning (Personality and Social Psychology), cho thấy những người càng đánh giá cao khả năng nhận thức của mình, thì càng kém thông minh.

Trong một thí nghiệm khác, phần tư sinh viên có điểm số bài kiểm tra thấp nhất đã đánh giá quá cao số câu hỏi họ làm đạt (gần 50%).

Trong khi phần tư sinh viên có điểm số cao nhất lại đánh giá thấp số lượng câu hỏi mà họ đạt được.

5.

Bạn có sự tò mò vô hạn

Albert Einstein từng nói: "Tôi không có tài năng gì đặc biệt, tôi chỉ có sự tò mò hiếu kỳ".

Tạp chí Individual Differences 2016 đã công bố một nghiên cứu cho rằng có sự liên kết giữa trí thông minh bẩm sinh và sự sẵn sàng trải nghiệm trong đó có cả trí tò mò ở tuổi trưởng thành.

Những nhà khoa học theo dõi 1.000 người sinh ra ở Anh trong 50 năm và kết luận là những đứa trẻ 11 tuổi có điểm số cao trong bài kiểm tra IQ, họ càng cởi mở hơn để trải nghiệm ở tuổi 50.

6.

Bạn cởi mở

Norm Hall/Getty Images

Người thông minh không tự đóng mình lại với những ý tưởng mới hay cơ hội. , tác giả những bài viết về người thông minh cho rằng: "những người thông minh là luôn sẵn lòng chấp nhận và xem xét góc nhìn khác với giá trị và tư duy rộng và họ cũng xem xét những giải pháp thay thế khác."

cho rằng những người có tư tưởng cởi mở – những người luôn tìm kiếm quan điểm thay thế – có xu hướng đạt điểm cao trong kì thi SAT hay những bài kiểm tra trí thông minh khác.

Nhưng đồng thời, người thông minh cũng cân nhắc cẩn thận về những ý tưởng hay quan điểm mà họ sử dụng.

7.

Bạn thích sự độc lập cá nhân

rằng những người thông minh có xu hướng "rất cá nhân".

Thật thú vị, nghiên cứu gần đây từ một cho thấy những người thông minh có khuynh hướng ít thỏa mãn hơn so với hầu hết mọi người khi giao tiếp với bạn bè.

8.

Bạn có khả năng tự kiểm soát cao

Thomson Reuters

Zoher Ali viết: người thông minh có thể vượt qua sự bốc đồng bằng cách "lập kế hoạch, làm rõ mục tiêu, khám phá các chiến lược thay thế, cũng như lường trước hậu quả trước khi bắt đầu."

Các nhà khoa học đã tìm ra mối liên kết giữa việc kiểm soát bản thân và trí thông minh.

Trên tạp chí Tâm lý Khoa học 2009 mô tả một thí nghiệm: những người tham gia phải chọn giữa hai phần thưởng hiện kim: một khoản thanh toán nhỏ ngay lập tức hoặc một khoản thanh toán lớn vào một ngày sau đó.

Kết quả cho thấy rằng những người tham gia chọn khoản thanh toán lớn hơn vào một ngày sau đó có khả năng kiểm soát bản thân tốt – thường đạt điểm cao trong các bài kiểm tra trí tuệ.

Các nhà nghiên cứu phụ trách thí nghiệm đó nói rằng phần não ở trán đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp con người giải quyết những vấn đề khó khăn và luôn tự chủ khi làm việc có mục tiêu.

9.

Bạn là người hài hước

và một số nhà khoa học thuộc Đại Học New Mexico nhận định là những người thông minh thường có khiếu hài hước.

Trong các nghiên cứu của họ: những người viết những chú thích hoạt hình hài hước ghi điểm cao hơn trong các bài đo lường sự thông minh trong ăn nói.

Một nghiên cứu khác cũng phát hiện rằng những diễn viên hài có số điểm cao hơn mức trung bình trong các bài đo lường sự thông minh trong lời nói.

10.

Bạn nhạy cảm với trải nghiệm của người khác

Người thông minh dường như có thể cảm nhận được người nào đó đang có suy nghĩ hay cảm nhận gì.

Một số nhà tâm lý học chỉ rõ rằng sự đồng cảm, đồng điệu với nhu cầu, cảm xúc của người khác và hành động tinh tế đáp ứng nhu cầu đó, cũng chính là một phần cốt lõi của trí tuệ cảm xúc (EQ).

Những người có EQ tốt thường thích bắt chuyện và tìm hiểu người khác.

11.

Bạn có thể kết nối những khái niệm dường như không liên quan

Người thông minh nhìn ra được quy luật hoặc kiểu mẫu mà người khác không thể thấy.

Đó là bởi vì họ có thể nối các điểm tương đồng giữa hai ý tưởng dường như không giống nhau.

"Bạn nghĩ không có mối liên hệ gì giữa sashimi và dưa hấu?

Bạn sai rồi.

Cả hai đều được ăn sống và lạnh", April Astoria nói.

Dughigg đã nghiên cứu quá trình mà Disney tạo nên bộ phim gây bão "Frozen" và cho rằng bộ phim này có vẻ thông minh và độc đáo bởi vì nó "lấy ý tưởng cũ và ghép chúng lại với nhau theo những cách mới".

Kết luận thú vị là những loại kết nối này là một dấu hiệu của sự sáng tạo.

12.

Bạn trì hoãn rất nhiều

Mahesh Garkoti nói rằng những người thông minh thường trì hoãn những công việc hằng ngày, ngay cả những công việc có ý nghĩa với họ, do chủ yếu họ phải nhường chỗ cho những thứ quan trọng hơn.

Một phát biểu thú vị của nhà khoa học Adam Grant: "Trì hoãn là chìa khoá của sự đổi mới, và Steve Jobs sử dụng nó rất chiến lược".

13.

Bạn suy ngẫm những câu hỏi lớn

Theo Ram Kumar, một người thông minh thường tự hỏi rất nhiều về vũ trụ, về ý nghĩa của cuộc sống và họ cũng luôn luôn hỏi vấn đề của mọi thứ là gì?

Đó cũng là một lý do tại sao người thông minh thường trở nên lo lắng.

Trong báo cáo khoa học của David Wilson, những người thông minh thường có sự chuẩn bị tốt hơn để xem xét các tình huống từ nhiều góc độ, nghĩa là họ nhận thức được những rủi ro.

Có lẽ sự lo ngại của họ bắt đầu khi cân nhắc các trải nghiệm thực tế và tự hỏi: Sao lại có vẻ bận tâm vấn đề này đầu tiên nhỉ?
 
Tâm Lý Học
Để vượt qua trầm cảm, hãy suy nghĩ một cách linh hoạt, chứ không phải tích cực


Nghiên cứu mới xem xét các lỗi suy nghĩ ở người trầm cảm

Những điểm chính

So với những người khác, người trầm cảm thường có ít thiên kiến tích cực và nhiều thiên kiến diễn dịch tiêu cực hơn.Có những diễn dịch tiêu cực không phải là dấu hiệu của rối loạn chức năng [dysfunctional]; mà cái thực sự rối loạn chức năng chính là sự thiếu linh hoạt trong việc xử lý thông tin.Những thiên kiến diễn dịch có thể bào mòn cảm xúc tích cực và/hoặc làm mức độ cảm xúc tiêu cực tăng cao.Việc sửa đổi thiên kiến nhận thức làm tăng tính linh hoạt trong cách diễn giải, do đó nâng cao khả năng điều hòa cảm xúc và cũng cải thiện tâm trạng.

Bài viết này tóm tắt những phát hiện chính từ một bài báo của J.

Everaert, xuất bản trên tạp chí Current Opinion in Psychology vào tháng Mười 2021, trong đó thảo luận về nghiên cứu đối với những diễn dịch sự việc ở người trầm cảm.

Nguồn ảnh: whoismargot/Pixabay

Những méo mó về nhận thức, thiên kiến diễn dịch và bệnh trầm cảm

Giả sử bạn sắp rời khỏi một bữa tiệc, đột nhiên bạn thấy một vị khách đang cau mày nhìn bạn.

Tại sao người đó lại cau mày?

Có thể ông ta thấy buồn khi mọi người đang ra về.

Có lẽ ông ấy đang mệt mỏi về thể xác và tinh thần.

Nhưng vị khách có thể tức giận khi nghe bạn nói hay làm điều gì đó tại bữa tiệc.

Cố gắng lý giải những điều còn mơ hồ là một phần quan trọng của cuộc sống.

Bởi suy cho cùng thì nhiều người trong cuộc sống của chúng ta—ví dụ đồng nghiệp, bạn bè, bạn học cùng lớp, người bạn đời, con cái, cha mẹ—đôi lúc họ nói năng hay hành xử theo kiểu để ngỏ cho nhiều cách diễn giải.

Cách một người diễn dịch về những điều mơ hồ đó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bao gồm tính cách và tình trạng sức khỏe tâm thần.

Chẳng hạn, nhiều người mắc chứng lo âu và trầm cảm thì có xu hướng bóp méo nhận thức hoặc phạm phải các lỗi suy nghĩ.

Những kiểu bóp méo nhận thức thường gặp bao gồm:

Suy luận tùy tiện: Hấp tấp đi đến kết luận (ví dụ, vì một người bạn không gọi cho bạn như đã hứa, hẳn anh/cô ấy ghét bạn).Thảm họa hóa: Gán khả năng xảy ra cao nhất cho tình huống xấu nhất (ví dụ, chia tay nghĩa là sau này bạn sẽ chết cô độc).Những tuyên bố "Phải/Nên": Có kỳ vọng vô lý (ví dụ, một giáo viên giỏi không bao giờ được phạm sai lầm).Cá nhân hóa: Đổ lỗi cho bản thân vì một hậu quả tiêu cực không hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của người đó (ví dụ, bạn đổ lỗi cho mình vì bố mẹ ly hôn).Tư duy Đen-và-Trắng (Tư duy nhị nguyên): Xem các trải nghiệm hoặc là toàn tốt hoặc toàn xấu (ví dụ, vì bạn đã mắc một lỗi chính tả trong lá thư tình đã gửi, nên lá thư ấy vô giá trị).Dán nhãn: Dán nhãn bản thân dựa trên một hành vi (ví dụ, vì bạn thua một trò chơi nên bạn là kẻ thua cuộc và thất bại).

Những lối bóp méo nhận thức được thách thức trong trị liệu tâm lý bằng cách sử dụng các kỹ thuật như tái cấu trúc nhận thức, một thành phần điển hình của liệu pháp nhận thức hành vi (CBT).

Người trầm cảm diễn dịch về điều mơ hồ như thế nào?

So với những người khác, người trầm cảm thường ít có thiên kiến diễn dịch tích cực (ví dụ, không diễn dịch một nụ cười như dấu hiệu của tán tỉnh) mà thường hay có những diễn dịch tiêu cực hơn (ví dụ, diễn dịch một cái cau mày là dấu hiệu chắc chắn của sự phản đối và từ chối).

Các cơ chế đằng sau những khuynh hướng diễn dịch trong bệnh trầm cảm có thể liên quan đến những quá trình nhận thức bậc cao, vốn dựa vào quá trình nhận thức cơ bản hơn như chú ý, trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn.

Lý thuyết giản đồ (schema theory) của Beck cho rằng người trầm cảm lưu giữ những niềm tin tiêu cực về bản thân (ví dụ, "Tôi là kẻ thất bại") trong ký ức của họ.

Những giản đồ tiêu cực này dẫn dắt những thứ mà người trầm cảm sẽ chú ý tới, cách họ diễn dịch những thông tin mơ hồ, và những điều họ nhớ lại.

Và những điều này lại củng cố thêm cho giản đồ kém thích nghi.

Chẳng hạn, người trầm cảm có nhiều khả năng diễn dịch một vấn đề như là dấu hiệu cho thấy sự kém cỏi ở bản thân và dùng nó để xác nhận cho quan điểm tiêu cực của họ về mình.

Trước khi tiếp tục, tôi muốn làm rõ vài điều: Chú ý đến hậu quả tiêu cực tiềm tàng của hành động hoặc đưa ra những diễn giải tiêu cực không phải lúc nào cũng là kém thích nghi và rối loạn chức năng.

Trong một số trường hợp, sự bi quan là có tính thích nghi, còn lạc quan thái quá lại là không thích nghi.

Trên thực tế, suy nghĩ tiêu cực có thể có lợi khi mục tiêu là để chuẩn bị cho những điều bất ngờ.

Cái gọi là rối loạn chức năng không phải là có ít diễn giải tiêu cực hơn, mà chính là sự thiếu linh hoạt trong việc điều chỉnh cách diễn giải tiêu cực khi cần (ví dụ, khi được cung cấp bằng chứng phủ nhận).

Cách diễn dịch mang thành kiến gây ra trầm cảm như thế nào?

Những diễn dịch tiêu cực, thiếu linh hoạt về điều mơ hồ gây ra trầm cảm có lẽ thông qua những tác động của chúng đến việc điều chỉnh cảm xúc.

Những diễn dịch mang thành kiến tiêu cực có thể bào mòn cảm xúc tiêu cực và/hoặc gia tăng mức độ phiền muộn và những cảm xúc tiêu cực khác như sợ hãi và tức giận.

Những diễn dịch mang đầy thành kiến cũng ảnh hưởng đến các mối quan hệ.

Chúng góp phần vào các mối quan hệ liên-cá nhân, những hành vi thù địch và tranh cãi, và làm giảm hành vi tham gia vào cộng động.

Tại sao lại thế?

Có lẽ vì Sự bóp méo nhận thức và cách diễn dịch mang thành kiến khiến cho ai đó diễn dịch lời nhận xét hoặc hành vi của người khác theo nghĩa tiêu cực, và kết quả là, đáp lại theo cách bất lợi cho việc giao tiếp xã hội (ví dụ, chỉ trích một người hoặc từ chối thân thiết với họ).

Những phản ứng này gợi ra phản ứng tiêu cực ở người khác, làm suy yếu mối quan hệ và do đó làm chứng trầm cảm trở nên tệ hơn.

Nguồn: Engin_Akyurt/Pixabay

Điều trị trầm cảm và các khuynh hướng diễn dịch ở người trầm cảm

Tóm lại, người trầm cảm thường diễn dịch những tình huống mơ hồ theo cách tiêu cực, cá nhân và thiếu linh hoạt.

Chẳng hạn, khi một người trầm cảm làm kiểu tóc mới, và có ai đó bảo "Nay trông cậu khác quá," anh/cô ấy có thể diễn giải câu ấy thành "Mình thật xấu xí," hay "Mình chẳng làm được gì ra hồn cả."

Những cách diễn dịch ấy là "dễ hiểu" đối với người có đánh giá tiêu cực về bản thân (ví dụ, không quyến rũ, không ai ưa, bất tài, vô giá trị).

Những diễn dịch thiên lệch và thiếu linh hoạt (ví dụ như nhận xét về kiểu tóc) củng cố những quan điểm tiêu cực đó về bản thân, do đó càng làm chứng trầm cảm thêm nghiêm trọng.

Như đã lưu ý ở trên, không có gì sai khi chú ý đến những tín hiệu tiêu cực hay xem xét những cách diễn dịch tiêu cực về sự việc.

Vấn đề nằm ở lối suy nghĩ cứng nhắc, tự động, thiếu linh hoạt và tư duy đen-và-trắng.

Cùng với việc không có khả năng thay đổi niềm tin của bản thân sau khi thu được bằng chứng mâu thuẫn với cách diễn dịch của họ.

Vi dụ, tin rằng trượt một khóa học có nghĩa là người đó kém cỏi hay ngu ngốc, và tiếp tục tin điều đó ngay cả khi biết được tỷ lệ sinh viên trượt khóa học đó rất cao, cho thấy sự hiện diện của một thiên kiến diễn dịch.

Không bất ngờ khi các phương pháp điều trị trầm cảm hiệu quả nhất không chỉ mang đến những trải nghiệm nhằm thách thức niềm tin thiếu tính thích nghi và trục trặc, mà còn thúc đẩy sự linh hoạt trong khả năng chú ý, và đặc biệt là xử lý thông tin.

Mục tiêu điều trị là giúp bệnh nhân trầm cảm:

Chú ý đến cả thông tin tích cực lẫn tiêu cực (ví dụ, chú ý đến thông tin tích cực không đồng tình với những niềm tin cốt lõi tiêu cực của họ).Tích hợp linh hoạt thông tin tích cực vào những niềm tin tiêu cực của họ, để phát triển một lối hiểu biết phong phú và chính xác hơn về bản thân và thế giới của họ.

Tin vui là việc sửa đổi các khuynh hướng diễn dịch có thể cải thiện chứng trầm cảm.

Quả thật, một cuộc nghiên cứu về những người mắc trầm cảm và rối loạn lo âu lan tỏa phát hiện thấy việc thay đổi thiên kiến nhận thức cho cách diễn dịch (CBM-I) tạo ra một khuynh hướng diễn dịch tích cực hơn và dẫn đến giảm lo âu, trầm cảm và nghiền ngẫm. (Nghiền ngẫm - Rumination chỉ về những suy nghĩ lặp đi lặp lại, thường mang tính thụ động và tập trung vào tâm trạng của một người và những triệu chứng, nguyên nhân và tác động của nó, v.v...).

Sửa đổi thiên kiến nhận thức thúc đẩy quá trình xử lý thông tin linh hoạt và hiệu quả, đưa bạn đến những khả năng mới cho hạnh phúc bền vững.
 
Tâm Lý Học
13 điều nên biết về tính lần lữa


Có nhiều cách để lảng tránh thành công trong cuộc đời, nhưng anh bạn nối khố, tri âm nhất chính là tính lần lữa (Procrastination).

Những người hay lần lữa sẽ tự họ hủy hoại bản thân.

Tự họ dựng lên những trắc trở trên bước đường đời.

Họ thực sự chọn những lối mòn khiến cho khả năng trình diễn của bản thân bị tổn thương rất nhiều.

Nhưng tại sao phần đông mọi người lại mắc phải tính này?

Sau đây là lý giải của hai trong số những nhà tâm lý học hàng đầu trên thế giới nghiên cứu về tính cách này: Tiến sĩ Joseph Ferrari, phó giáo sư khoa tâm lý của De Paul University ở Chicago, và Tiến sĩ Timothy Pychyl, phó giáo sư khoa tâm lý của Carleton University ở Ottawa, Canada.

13.

20% dân số thế giới được xem là những người mắc "bệnh chờ" kinh niên.

Với họ, sự chần chừ ấy được xem như một phong cách sống dù cho biết nó là không tốt.

Và thói xấu này ảnh hưởng lên hầu hết những sinh hoạt thường ngày của họ.

Họ không thanh toán các hóa đơn đúng hạn.

Họ bỏ lỡ dịp mua vé nghe hòa nhạc.

Họ giải quyết công việc được giao thường chậm hơn hạn định khá nhiều...

12.

Tính lần lữa thuộc về những rắc rối nội tại liên quan đến tính kỷ luật của mỗi cá nhân (dù vậy cũng có khá nhiều điều đáng quan tâm nếu chẳng may bạn lại rơi vào một phòng ban hay một tập thể gồm toàn những người thích chờ, nó sẽ ảnh hưởng ít nhiều lên lối sống của bạn).

11.

Sự chần chừ không phải do gặp rắc rối về quản lý thời gian hay lập kế hoạch.

Những người hay chần chừ không khác người về khả năng lượng định thời gian, mặc dù họ xem chừng lạc quan hơn người khác khá nhiều.

"Khuyên một người có tính lần lữa lên kế hoạch làm việc trong tuần, cũng như bạn bảo một người trầm cảm mãn tính hãy vui lên," Tiến sĩ Ferrari nhấn mạnh.

10.

Việc không rõ ràng trong thiết lập các ưu tiên sẽ tạo nên tính chần chừ.

Một người luôn cho rằng mọi thứ đều cần phải giải quyết ngay cuối cùng sẽ chẳng giải quyết được gì cả ngoài việc tiếp tục chờ đợi.

9.

Trầm cảm có thể dẫn đến hoặc làm tăng thêm thói trì hoãn và ngược lại.

Bởi vì những người mắc bệnh trầm cảm không thể tìm thấy nhiều niềm vui (hoặc chẳng có niềm vui nào cả) nên mọi lựa chọn trong công việc hay nghĩa vụ đều ảm đạm như nhau, nói cách khác, hoàn tất sớm hay muộn cũng rứa cả.

Điều này dẫn đến việc gặp khó khăn trong sự khởi đầu cũng như viễn cảnh mất phương hướng giải quyết là rất lớn.

8.

Tính cầu toàn quá đáng cũng góp phần tạo nên tính lần lữa.

Những ai cố hết sức mình vì khát khao chiến thắng sẽ không có tính chần chừ, nhưng những ai luôn tìm kiếm sự tuyệt đối để làm hài lòng người khác thì lại thường trì hoãn.

7.

Những người hay chần chừ được tạo thành chứ không phải sinh ra.

Tính chần chừ ấy thường được học từ môi trường gia đình, nhưng không phải là trực tiếp.

Đó được xem như sự đáp trả lại phong cách giáo dục độc đoán của cha mẹ.

Việc có một người cha khắc nghiệt, luôn tìm cách kiểm soát đứa con sẽ dần khiến cho đứa trẻ ấy mất đi sự phát triển khả năng tự điều chỉnh lấy hành vi của chính mình, mất đi khả năng tư duy độc lập và sau đó là mất đi khả năng học hỏi cách hành xử dựa trên những thông tin thu thập được.

Sự chần chừ thậm chí có thể được coi như một dạng của sự nổi loạn.

6.

Với tính cách này những người hay trì hoãn luôn xé rào trong việc tiêu thụ chất cay nhiều hơn là hàm lượng họ dự tính sẽ tiêu thụ - đây thực chất cũng chỉ là những rắc rối chung thường thấy ở những người gặp trục trặc trong việc tự điều chỉnh hành vi.

5.

Những người thích trì hoãn này sẽ khó tránh khỏi việc lừa dối chính bản thân.

Ví dụ: "Tôi cảm thấy nhiều hứng khởi hơn khi làm việc này vào ngày mai" hoặc "Tôi sẽ làm việc hiệu quả nhất dưới một áp lực dữ dội".

Nhưng thực tế, tất nhiên, thường ngược lại: họ chẳng gấp rút hay hứng khởi gì cả vào ngày hôm sau; khả năng chịu áp lực phi thường cũng chẳng hề ló dạng.

4.

Những người hay chần chừ cũng thường là những người rất kém trong việc dám chấp nhận và đương đầu với thất bại.

Và vì thế, họ cần phải tìm cách đánh lạc hướng người khác và ngay bản thân mình bằng những giải thích, lý giải này nọ.

3.

Có hơn một khẩu vị trì hoãn.

Người ta thường trì hoãn vì nhiều lý do khác nhau.

Tiến sĩ Ferrari nêu lên ba dạng người trì hoãn thường bắt gặp:

Dạng thích tìm... cảm giác mạnh.

Đây là những người luôn để mọi việc nước đến chân mới nhảy.Dạng lẩn tránh.

Đây là những người không dám đối mặt với thất bại hoặc nhiều khi là áp lực của sự thành công.

Với những người thuộc dạng này nhận xét mà người khác dành cho họ là thiếu nỗ lực nhiều hơn là thiếu khả năng.Dạng chờ thời.

Đây là những người không thể tự mình ra quyết định.

Việc không ra quyết định tự bản thân sẽ khiến cho họ dường như tránh được mọi trách nhiệm liên quan đến kết cục của việc đó.

Nhìn chung, dạng này có nét tương đồng với dạng thứ hai ở chỗ cùng lẩn tránh trách nhiệm.

2.

Những ai thích trì hoãn sẽ thường phải trả giá đắt.

Sức khỏe là vấn đề đáng quan ngại đầu tiên.

Những học sinh – sinh viên nào có tính chần chừ đều có những bằng chứng của việc suy giảm hệ miễn dịch như thường xuyên bị cảm lạnh và cúm, các vấn đề thuộc dạ dày.

Và họ cũng bị mất ngủ.

Bên cạnh đó, tính chần chừ còn tạo tác động xấu đến những người khác, nó khiến đè nặng thêm gánh nặng trách nhiệm của họ, dần dà không tránh khỏi sự căm phẫn trong lòng.

Như vậy, những người hay chần chừ sẽ dần đi đến chỗ hủy hoại môi trường làm việc chung và những quan hệ riêng tư của họ.

1.

Những ai hay chần chừ vẫn có thể thay đổi thói tật này – nhưng đòi hỏi phải tiêu hao nhiều năng lượng tinh thần.

Nhưng tất nhiên không thể chỉ nói (về mặt tinh thần) là hoàn toàn ổn thỏa.

Nó chỉ thay đổi được bằng liệu pháp nhận thức hành vi có tính kết cấu cao.
 
Tâm Lý Học
8 điểm chung của những bà mẹ độc hại


Một khi nhận ra chúng, bạn sẽ được trang bị tốt hơn để ứng phó.

Cách đây không lâu, tôi nhận được tin nhắn này từ một độc giả:

"Phải, mọi chuyện xong rồi.

Sau 1 năm ngừng liên lạc, tôi cảm thấy xuống tinh thần và tôi đã gọi cho mẹ.

Nghe giọng bà cũng rất vui khi nói chuyện với tôi.

Ngay lập tức tôi như bị mất trí và đến gặp bà vào thứ Bảy.

Sao tôi lại ngu ngốc đến thế?

Chưa cần đến hơn 15 phút để mọi chuyện quay trở lại như cũ, vẫn y như cũ.

Có phải bà ấy đã thuộc lòng kịch bản đó rồi không?

Tôi rời đi sau 1 giờ, hoàn toàn thất vọng.

Chuyện này có phải là do tôi quá ngu xuẩn, hay ai đó đã gây ra chuyện này?"

Nếu bạn tò mò về câu trả lời của tôi, thì tôi đã bảo cô ấy rằng chuyện này xảy ra thường xuyên tới mức quả thực tôi đã dùng một cụm từ để chỉ về nó trong bài viết của mình: quay về với cái giếng.

Cụm từ này truyền tải sự cách biệt giữa những gì bạn biết về mặt lý trí—rằng đây là cái giếng khô cạn—và những điều bạn vô cùng khao khát về tình cảm, đó là một cái giếng đầy tình mẹ luôn được bổ sung và lấp đầy.

Nếu bạn thấy mình đặt ra ranh giới rồi lại phá bỏ chúng, giảm liên lạc hoặc không liên lạc rồi một lần nữa lại khôi phục việc liên lạc chỉ để rồi phải đối mặt với kịch bản như ngày xưa, hãy nhớ rằng bạn không cô độc.

Nếu thông tin này giúp được gì cho bạn, tôi muốn tiết lộ rằng tôi đã làm chuyện này gần 20 năm, từ năm 20 đến 40 tuổi.

Trên thực tế, nghiên cứu cho thấy việc 'đi tới đi lui' này—thoát khỏi quỹ đạo của mẹ bạn rồi quay trở lại—là việc thường gặp.

Vấn đề lớn hơn ở đây là đang có một kịch bản được viết bởi mẹ bạn, và bạn là một người chơi.

Vâng, có một nhà viết kịch/đạo diễn, và bà ấy làm chủ sân khấu.

Nguồn: Ảnh bởi Eli Difaria.

Copyright free.

Unsplash.

Quyền lực và Mối quan hệ giữa Mẹ—Con gái

Cũng dễ hiểu khi chúng ta thích tin vào tình mẹ—một huyền thoại lan tràn khắp nền văn hoá—chúng ta né tránh việc nhận ra quyền lực vốn có của một bậc cha/mẹ và khả năng lạm dụng quyền lực; chúng ta thích nghĩ về mẹ như người cai trị nhân từ và biết quan tâm, người bảo vệ của một vương quốc hòa bình, nhưng điều đó không phải lúc nào cũng đúng.

Như Deborah Tannen đã nói đầy thuyết phục trong cuốn sách của bà, , một bậc phụ huynh không chỉ tạo ra thế giới cho một đứa trẻ sinh sống mà còn chỉ đạo cách diễn giải về thế giới ấy.

Hồi còn bé, chúng ta hiểu chuyện gì xảy ra trong gia đình mình—những điều mọi người nói và làm, cách mọi người cư xử và phản ứng—vì mẹ phân tích mọi việc cho chúng ta.

Và, ta không bất ngờ khi thậm chí những tương tác và hành vi [bạo hành và độc hại]—được bình thường hoá; lúc bé, chúng ta giả định rằng mọi gia đình đều khá giống với gia đình ta, và ta dần dần mới phát hiện ra những gia đình khác sống khác biệt với gia đình mình.

Thêm nữa, sự nhận biết đó hoàn toàn có thể cùng tồn tại với sự chấp nhận của chúng ta về cách mọi việc diễn ra trong gia đình chúng ta.

Chúng ta bào chữa cho mẹ khi bà ấy quát mắng ta: Chúng ta hư hỏng hay quá cẩu thả hay không biết nghe lời.

Chúng ta chấp nhận bị gọi bằng những cái tên đó, vì chúng ta đã tin tưởng một cách sai lầm rằng những lời lẽ ấy phản ánh con người thật của chúng ta—"khó ưa," "lười biếng," "không vâng lời," "ngu ngốc."

Chúng ta nghĩ rằng những người anh/chị em của mình được đối xử khác với ta, vì họ ngoan ngoãn, đáng ngưỡng mộ, và đáng yêu, còn ta thì không.

Sự nhận biết này đến cực kỳ chậm.

Tuổi trưởng thành và xung đột trung tâm

Hầu hết những cô con gái không được yêu thương đều tin rằng tuổi trưởng thành sẽ giải thoát họ khỏi nỗi đau vì không được yêu thương, như tôi đã từng; chẳng có gì bất ngờ khi bước vào thế giới rộng lớn ngoài kia, thoát khỏi căn phòng tuổi thơ của họ, song gần như chẳng thể dập tắt được nỗi tổn thương hay khát khao nhận được tình yêu và sự hỗ trợ từ người mẹ của họ.

Đây là cái mà tôi gọi là "xung đột trung tâm" trong cuốn sách của tôi, xung đột giữa sự nhận biết ngày càng tăng của đứa con gái rằng cô ấy từng bị mẹ mình làm tổn thương, và khao khát nhận được tình yêu và sự chấp nhận của mẹ.

Chừng nào cô con gái còn xung đột thì khả năng cao là cô ấy vẫn tiếp tục bình thường hóa, bào chữa, biện hộ cho mẹ hoặc phủ nhận cách đối xử của mẹ và cố hết sức để dập tắt nhận thức của cô ấy về hành vi của mẹ.

Đây là một phần của cái mà tôi gọi là "vũ điệu của sự phủ nhận."

Vũ điệu này có thể tiếp diễn năm này qua năm khác, hoặc chừng nào cô con gái vẫn còn tiếp tục xung đột.

Tôi có những độc giả mà họ sống trong xung đột suốt 60 và 70 năm cuộc đời mình.

8 loại hành vi độc hại phổ biến của người mẹ

Hãy nhớ rằng thứ có thể ngăn bạn nhận ra những hành vi độc hại ấy là mức độ quen thuộc của chúng đối với bạn; phép ẩn dụ mà tôi luôn sử dụng là đống giày, ủng bị bỏ lại trước cửa nhà trong mùa đông.

Chẳng mất bao lâu mà bạn trở nên quen thuộc với đống rác đó đến nỗi không còn để ý đến nó.

Than ôi, hành vi ngược đãi quả thực cũng chẳng khác gì mấy.

Để giữ hòa khí, hòa hợp để được gia đình chấp nhận, để có cảm giác an toàn và thuộc về gia đình.

Hoặc nếu bạn vẫn không chắc nên xử lý thế nào với hoàn cảnh gia đình mình, bạn cũng có thể hợp lý hóa những hành vi của mẹ mình bằng cách tự nhủ "Bà ấy thực sự không có ý đó," hoặc "Mẹ mình là vậy đó."

Các thành viên khác trong gia đình cũng có thể khuyến khích bạn làm điều đó, bọn họ cũng đang cố gắng duy trì hiện trạng và không làm đắm thuyền.

Có nghĩa là, chúng đều là những hành vi bạo hành và độc hại.

Xin đừng xem thường.

1.

Làm bẽ mặt và đổ lỗi

Chuyện này có thể bắt đầu từ thời thơ ấu, chuyện bé xé to trước mặt mọi người hoặc đổ lỗi cho những lỗi lầm của đứa con gái là do bản chất hư hỏng; hành vi gây bẽ mặt mang tính công kích cá nhân cao độ và thường được thể hiện như "Mày lúc nào cũng" hoặc "Mày không bao giờ."

Khi lặp lại đủ nhiều, những thông điệp đó được nội tâm hoá bởi đứa trẻ dưới dạng những lời tự chỉ trích bản thân, một thói quen của tâm trí quy kết lỗi lầm hay thất bại cho những khiếm khuyết cố định trong tính cách; thói quen này trở thành một thuộc tính cố định kéo dài tới tận tuổi trưởng thành cho đến khi nó được nhận diện và xử lý.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, sự chỉ trích bản thân và sức khỏe tâm thần kém, đặc biệt là trầm cảm, song hành với nhau.

2.

Khiến trẻ cảm thấy có lỗi

Đây là người mẹ đóng vai nạn nhân và đứa trẻ luôn bị nhắc nhở rằng nó đã bỏ rơi bà ấy, thường là sau "tất cả những gì" mẹ đã làm cho cô ấy.

Dù điều này bắt nguồn từ thời thơ ấu của đứa con gái, những vẫn được tiếp tục sử dụng và thậm chí có tác động mạnh hơn khi cô gái ở tuổi trưởng thành, đặc biệt nếu cô ấy đang tìm cách thiết lập ranh giới hoặc điều chỉnh việc liên lạc với cha mẹ mình.

Trải nghiệm của "Adele" khi cô thuật lại chuyện này, làm liên tưởng đến trải nghiệm của nhiều cô con gái khác:

"Lần nào cũng vậy, khi tôi cãi lại hay cố gắng chỉ ra điểm sai trái của mẹ, bà ấy đều cúp máy.

Vài ngày sau, sẽ có ai đó trong gia đình báo tin—có thể là dì tôi, cha tôi hay một người anh/em họ—rằng mẹ đang bệnh và quẫn trí, lỗi là tại tôi.

Sau đó người báo tin chỉ trích tôi tàn nhẫn, đặt nền tảng cho bài ca 'tội nghiệp đáng thương' của mẹ tôi.

Thật điên rồ.

Vâng, một phần trong tôi luôn mang cảm giác tội lỗi.

Dù tôi biết mình đang bị 'chơi'."

Câu chuyện của Adele khá điển hình, vì tội lỗi được củng cố bởi những kỳ vọng văn hóa và một điều răn trong Kinh thánh; đó là một điểm dễ bị thao túng.

3.

Chơi trò So sánh

Sự thiên vị trong gia đình không chỉ giới hạn ở những bà mẹ—nữ hoàng bi kịch; việc này thậm chí cũng diễn ra trong các gia đình lành mạnh và yêu thương, đủ nhiều để việc Điều trị tâm lý do cha mẹ thiên vị tình cảm có một từ viết tắt là PDT để tiện sử dụng.

Nhưng PDT thường không cố tình, dù nó ảnh hưởng đến những đứa trẻ trong gia đình; đôi lúc, nó liên quan đến "mức độ phù hợp" của người mẹ với đứa con này hơn đứa con khác (chẳng hạn, người mẹ thấy dễ nuôi dạy đứa con nào có tính tình giống mình hơn) hoặc cảm thấy thoải mái với đứa trẻ cần ít hỗ trợ hơn đứa cần nhiều hỗ trợ (hoặc ngược lại).

Người mẹ độc hại chơi trò thiên vị để duy trì sự kiểm soát của bà ta với con cái—thao túng nhu cầu được mẹ yêu của đứa con—và để định hình mối quan hệ mẹ con và giữa các anh chị em.

Đó là hành động cố ý và thường được hợp lý hóa. (Bà ấy chỉ trích bạn một cách tàn nhẫn để bạn đừng trở nên quá tự mãn, bà ấy so sánh bạn với anh chị em để thúc đẩy bạn, v.v... ) À, nhân tiện, việc là con một cũng không miễn trừ cho bạn khỏi chuyện này; lúc nào cũng có những người anh em họ, hàng xóm hay thậm chí ngôi sao nổi tiếng để đưa ra so sánh tiêu cực ("Tại sao con không giống cô bé đó?

Tại sao con không thể làm mẹ tự hào như mẹ của cô bé đó?").

4.

Xung hấn Thụ động hoặc ngấm ngầm

Người mẹ có thể có hành vi xung hấn thụ động hoặc ngấm ngầm đối với đứa con—hầu hết những hành vi được liệt kê ở đây không bao gồm hành vi la hét hay quát mắng—nhưng tôi vẫn đưa điều này vào đây vì sự phát triển của trẻ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi cách mà cha mẹ tương tác với nhau và với những thành viên khác trong gia đình.

Một nghiên cứu theo chiều dọc bởi Patrick T.

Davies và các cộng sự đã xem xét trẻ em ở ba khoảng thời gian—mẫu giáo, lớp hai và lớp bảy—và so sánh những tác động của cuộc xung đột công khai và bí mật giữa cha và mẹ ở các độ tuổi khác nhau.

Những khác biệt được tiết lộ và đáng lưu ý khi bạn xem xét cách cha mẹ bạn giải quyết những khác biệt, bất hòa của họ và điều đó có thể ảnh hưởng đến bạn ra sao.

Trong khi những đứa trẻ tiếp xúc với bạo lực công khai, bao gồm tiếp xúc với sự thù địch công khai, bao gồm giận dữ biểu lộ thành lời, từ chối giao tiếp, cơn giận không biểu lộ thành lời, và gây hấn thể chất, những triệu chứng được nội tâm hóa ở lớp hai và bộc lộ sự rối loạn kiểm soát hành vi và né tránh xung đột, đứa trẻ tiếp xúc với sự thù địch ngấm ngầm đã ngoại hiện [bộc lộ] những triệu chứng của chúng tại cùng những khoảng thời gian đó, có phản ứng cảm xúc và thấy bản thân cũng dính mắc vào cuộc xung đột.

Những cô cậu bé tiếp xúc với sự thù địch công khai thì tiếp tục nội tâm hóa ở lớp bảy và lo âu, thu mình, mất ngủ, khó ngủ và trầm cảm.

Những thanh thiếu niên tiếp xúc với kiểu xung đột ngấm ngầm giữa cha và mẹ thì gặp khó khăn trong việc điều chỉnh hành vi, như tập trung chú ý trong lớp học, trở nên hung hăng và có xu hướng vi phạm nội quy.

5.

Mặc dù hành vi thao túng gaslight luôn gắn với những mối quan hệ giữa người lớn với nhau, song sự thật đáng buồn là các bậc cha mẹ cũng gaslight con mình.

Gaslight một đứa trẻ cực dễ và vô cùng hiệu quả, vì cha mẹ là những người nắm quyền lực về mọi mặt, và khi họ nói với bạn rằng việc gì đó chưa từng xảy ra thì khả năng cao là bạn sẽ tin theo. (Tôi có thể là ngoại lệ đối với quy tắc này, vì ở độ tuổi 6 hay 7 tôi đã biết rằng những ký ức của tôi về sự kiện hay sự việc mà người ta nói với tôi vẫn ổn.

Thật không may, nó khiến tôi tin rằng hoặc là mẹ, hoặc là tôi bị điên, và cái ý nghĩ tôi có thể bị điên thì vô cùng đáng sợ.)

Gaslighting cực kỳ nguy hiểm đối với đứa trẻ, trong một thế giới lý tưởng, đáng lẽ đứa trẻ nên học được cách tin tưởng vào cảm xúc và suy nghĩ của mình và rèn luyện khả năng đọc được suy nghĩ của người khác; thì gaslight đóng vai trò như một mã tấu, đốn sạch những nỗ lực ban đầu của cô bé và thay vào đó là nỗi hoài nghi và tự đổ lỗi bản thân.

Đó là kinh nghiệm của Robyn:

"Mẹ tôi sẽ đưa ra lời hứa hẹn, nuốt lời và sau đó nói với tôi rằng bà chưa từng hứa.

Giờ đây tôi đã biết đó chính là gaslight.

Khi anh tôi đánh tôi, bà ấy đổ lỗi cho tôi vì đã xúi anh ấy, và khi tôi không chịu nhận, bà ấy sẽ bảo đó là lỗi tại tôi.

Đó cũng là gaslight.

Hoặc bà ấy phủ nhận chuyện gì đó đã xảy ra.

Thỉnh thoảng.

Bà ấy đứng trong bếp, hai tay chống nạnh và nói tôi là đứa nói dối, hoặc hỏi lý do tại sao tôi lại trở thành đứa dối trá.

Wow.

Trị liệu tâm lý đã làm tôi sáng mắt."

Tin vui về hành vi gaslight của cha mẹ—trái ngược với hành vi gaslight người bạn đời—đó là khi lớn lên, bạn sẽ nhận ra nó.

6.

Xem thường hoặc giễu cợt bạn

Những bà mẹ có mức độ kiểm soát cao hoặc có tính ái kỷ thì hay dàn dựng các mối quan hệ giữa mẹ và con cái và giữa những người con với nhau trong gia đình—đó là một phần của sự thiên vị—nhưng biến một đứa con trở thành nạn nhân bị chế nhạo trong gia đình là một phương cách khác để kiểm soát mọi người.

Chế giễu cảm xúc hay suy nghĩ của trẻ, thông qua những cử chỉ hay lời nói khinh thường như cười nhạo hay trợn mắt, không chỉ tàn nhẫn mà còn là hành vi bạo hành, vâng, nó còn khiến cho sự hoài nghi bản thân và thậm chí căm ghét chính mình của đứa con gái phát triển mạnh.

Ngay cả người trưởng thành, việc luôn bị nói rằng ý kiến của bạn thật ngu ngốc hay ngớ ngẩn hay "Chả ai quan tâm đến suy nghĩ của bạn", tất cả đều là quyền lực và thao túng và điều này không thể bào chữa hay khoan thứ.

Sự quan tâm phải bao hàm cả sự tôn trọng lẫn nhau.

7.

'Dê tế thần'

Theo quan điểm của tôi, một nhận định gây tiếng vang nhất về 'dê tế thần' được Gary Gemmill đưa ra, ông đã lưu ý rằng sự hiện diện của một 'con dê tế thần' cho phép một nhóm hay một gia đình và các thành viên của nó tin rằng họ lành mạnh hơn thực tế.

Có ai đó để đổ lỗi—dù đó là một vai diễn cố định lâu dài được ấn định cho một người hay một vai luân phiên thay đổi—cho phép bạn tin rằng mọi chuyện sẽ hoàn hảo nếu người đó biến đi.

Khi ấy, dê tế thần cho phép người mẹ thích kiểm soát và cần đánh bóng hình ảnh của bà ta luôn có sẵn trong tay một lời giải thích yên tâm.

Chẳng có gì bất ngờ khi những bà mẹ ái kỷ (narcissistic mother) hay dựa vào trò này.

8.

Không giao tiếp

Hành xử như thể một ai đó chưa từng nói và từ chối trả lời là cách trực tiếp thể hiện sự khinh bỉ tột cùng, và đối với người lớn đó là một trải nghiệm đau đớn và nhục nhã thì với đứa trẻ hành vi này còn khủng khiếp hơn, đặc biệt nếu nó đến từ một người cha/người mẹ.

Một độc giả chia sẻ trải nghiệm của cô thế này:

"Chiêu 'im lặng' của mẹ tôi vô cùng kinh khủng; nó có thể kéo dài trong nhiều ngày, tưởng như vô tận khi bạn mới 6 hay 7 tuổi.

Bà ấy sẽ nhìn thẳng vào bạn, giống như bạn không có mặt ở đó, và cảm giác như thể tôi đã biến mất khỏi cuộc đời này.

Tôi cố hết sức để không chọc giận bà ấy và tránh xa tầm mắt của bà; tôi nói ít và làm ít đi vì sợ hãi.

Những cơn hoảng loạn của tôi bắt đầu từ thời phổ thông khi giáo viên gọi tên, và nhờ một nhà trị liệu tâm lý đã kết nối nỗi sợ hãi của tôi khi nói chuyện trước đám đông hay thể hiện bản thân với cách đối xử của mẹ khi tôi vào đại học."

Một khi bạn đã nhận diện được những hành vi đó và tác động của chúng đến mình, bạn sẽ phải tìm ra cách thiết lập ranh giới lành mạnh với mẹ.

Bạo hành không bao giờ ĐƯỢC CHẤP NHẬN.
 
Tâm Lý Học
Hai phương pháp thông minh giúp bạn làm chủ cảm xúc


Nhà thần kinh học Lisa Feldman Barrett cho biết, bằng cách xác định rõ ràng hoặc phân loại cảm xúc, bạn có thể xoa dịu nỗi đau và tăng cảm giác hạnh phúc của mình.

Tác giả: Lisa Feldman Barrett, giáo sư tại Đại học Northeastern, Hoa Kỳ.

Bà hiện là một trong những nhà tâm lý và khoa học thần kinh xuất chúng nhất thế giới, nằm trong top 1% những tác giả có nghiên cứu được trích dẫn nhiều nhất hành tinh.

Từ trước đến nay, chúng ta vẫn tin rằng lý trí là sản phẩm của não bộ còn cảm xúc là vấn đề của con tim, nhưng sự thật không phải vậy.

Sau nhiều thập kỷ nghiên cứu tại Đại học Northeastern, nhà thần kinh học Lisa Feldman Barrett đã đưa ra một kết luận khác: "Công việc quan trọng nhất của bộ não con người không phải là suy nghĩ, cảm nhận hay thậm chí là quan sát, mà là để duy trì sự sống và giúp cơ thể phát triển.

Giống như một nhà tiên tri tinh vi, bộ não liên tục tiên đoán và biến những dự đoán thành cảm xúc dựa trên trải nghiệm và biểu hiện mà bạn cảm nhận được từ mọi người xung quanh".

Đây có thể là một tín hiệu đáng mừng: Về bản chất, bộ não xây dựng cảm xúc.

Nếu hiểu được cơ chế hoạt động của não bộ, chúng ta có thể khiến nó nhận thức một cách chính xác hơn, đồng thời sử dụng thông tin chi tiết để điều hướng cảm xúc và hành động theo mong muốn.

Nghiên cứu cũng cho thấy, những người có thể xây dựng các trải nghiệm cảm xúc một cách chi tiết thường ít phải gặp bác sĩ, ít sử dụng thuốc và cũng dành ít ngày trong bệnh viên hơn.

Nói cách khác, càng hiểu rõ và làm chủ cảm xúc, con người càng đạt được trạng thái tinh thần tốt cho sức khỏe.

1.

Hiểu các khái niệm cảm xúc

Một trong những cách tốt nhất để làm chủ cảm xúc là hiểu rõ những khái niệm về cảm xúc.

Không nhiều người biết rằng mức độ chi tiết và phức tạp của các cung bậc cảm xúc đều do bản thân mỗi người quy định.

Giả sử, bạn chỉ biết hai khái niệm "cảm thấy tuyệt vời" hoặc "cảm thấy tồi tệ", bạn sẽ chỉ phân loại cảm xúc của mình vào hai khái niệm trên và dẫn đến các phản ứng mang tính cực đoan.

Nhưng nếu bạn dựa vào trải nghiệm và phân tách các sắc thái của "tuyệt vời" thành hạnh phúc, hồi hộp, thư giãn, vui vẻ, hy vọng, cảm hứng, kiêu ngạo, tôn kính, biết ơn... và các sắc thái của "tồi tệ" thành tức giận, bất bình, gắt gỏng, hối hận, u ám, buồn bã, khó chịu, sợ hãi, oán giận, ghen tị, u sầu... thì bộ não của bạn sẽ có nhiều lựa chọn hơn để dự đoán, phân loại và cảm nhận cảm xúc, từ đó cung cấp công cụ để phản ứng linh hoạt hơn.

Học từ mới là cách để tiếp cận các khái niệm

Thí nghiệm của Lisa chỉ ra rằng người trưởng thành đều sẽ trải qua toàn bộ các phạm vi cảm xúc có mức độ từ thấp đến cao.

Vì vậy, chìa khóa của chính là trau dồi khái niệm cảm xúc sẵn có và hiểu rõ những khái niệm mới.

Có thể bạn sẽ chẳng bao giờ nghĩ rằng việc học từ mới là một con đường dẫn đến sự tiến bộ trong .

Các từ ngữ nảy sinh khái niệm, khái niệm thúc đẩy bạn dự đoán, và dự đoán điều chỉnh khả năng của bản thân (đó cũng là cách bộ não đoán trước và đáp ứng nhu cầu năng lượng của cơ thể), từ đó quyết định bạn cảm thấy như thế nào.

Phân loại các cung bậc cảm xúc

Như đã nói ở trên, "tồi tệ" có rất nhiều sắc thái.

Những người cảm nhận được cảm giác "không hài lòng" sẽ linh hoạt hơn 30% so với người chỉ cảm nhận "tồi tệ".

Họ cũng có khả năng điều chỉnh cảm xúc, giảm nhu cầu sử dụng bia rượu khi căng thẳng và ít có suy nghĩ trả đũa những người làm họ tổn thương.

Đừng cảm thấy hài lòng với "hạnh phúc", thay vào đó hãy sử dụng những từ ngữ cụ thể hơn như "ngất ngây", "sung sướng" hay "đầy cảm hứng".

Hãy cố gắng nhận thức sự khác nhau giữa "chán nản" hay "thất vọng" so với "buồn" nói chung.

Và đừng gò bó bản thân trong việc sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ.

Chọn một ngôn ngữ khác và tìm kiếm những khái niệm mà ngôn ngữ của bạn không thể diễn đạt cũng là một cách thú vị.

Phát minh các khái niệm của riêng bạn

Một người có trí tuệ cảm xúc cao không những sở hữu nhiều khái niệm cảm xúc mà còn biết được khi nào cần sử dụng khái niệm đó, thậm chí là sáng tạo những khái niệm mới.

Hãy nhắm mắt lại và mường tượng chính mình đang ở trong một chiếc xe rời khỏi thành phố với ý nghĩ không bao giờ trở lại.

Cảm giác của bạn bây giờ là gì?

Bạn có thể mô tả cảm giác đó được không?

Bạn có bao giờ trải qua cảm giác nôn nao như thể có hàng ngàn con bướm bay dập dìu trong lòng?

Còn khi trời mưa và trong tay bạn là một cốc cacao nóng, bạn sẽ gọi cảm giác đó là gì?

Nếu bạn có thể hình tượng hóa cảm xúc bằng cách mô tả không gian, bối cảnh xung quanh, nhận thức về cảm xúc của bạn sẽ trở nên nhạy bén và tinh tế hơn.

Tập luyện phương pháp này mỗi ngày có thể giúp bạn ứng phó linh hoạt với những hoàn cảnh khác nhau, tăng khả năng đồng cảm với người khác cũng như cải thiện được kỹ năng đàm phán khi có xung đột.

2.

Tái phân loại cảm xúc

Tái phân loại cảm xúc có thể hiểu là phương pháp đánh lừa não bộ một cách tinh tế.

Sau khi phân tách các nhóm cảm xúc thành nhiều khái niệm riêng biệt, chúng ta có thể đảo ngược vị trí, đặt khái niệm của nhóm cảm xúc này vào nhóm cảm xúc khác để khiến não bộ dự đoán phản ứng theo chiều ngược lại.

Thay đổi sắc thái của khái niệm

Khi một người chuẩn bị diễn thuyết trước công chúng, nếu sự "lo lắng" được đặt vào nhóm "phấn khích", hệ thống thần kinh giao cảm vẫn sẽ tạo ra sự bồn chồn nhưng với ít cytokine hơn (phân tử điều hòa các hoạt động chức năng của tế bào), từ đó, cơ thể được giữ ở trạng thái có thể kiểm soát, giúp người này thể hiện tốt hơn.

Tương tự, bạn có thể tái phân loại "thất bại" vào nhóm "kinh nghiệm", "hối hận" vào nhóm "thức tỉnh", "bất bình" vào nhóm "đấu tranh"...

Việc bổ sung các sắc thái tích cực vào khái niệm cảm xúc tiêu cực giúp não bộ có cái nhìn khác về vấn đề, kích thích cảm giác tin yêu bản thân và đưa ra nhiều lựa chọn hành động phù hợp hơn.

Lợi ích hữu hình của việc tái phân loại cảm xúc

Bất cứ khi nào bạn cảm thấy khổ sở và mệt mỏi nghĩa là bạn đang trải qua những cơ chế phản vệ tự nhiên của cơ thể trước các dấu hiệu cảm xúc mà não bộ nhận diện.

Ví dụ, khi não dự đoán bạn đang ở trong trạng thái "lo lắng", "căng thẳng", não sẽ kích thích sản sinh hormone cortisol (hormone giảm stress, làm tăng huyết áp, tăng đường huyết, có tác động ức chế miễn dịch), thúc đẩy chuyển giao năng lượng đến các hệ cơ, hoạt động của thận và hệ tuần hoàn để hình thành phản ứng fight-or-flight (chiến hay chạy) – một phản ứng sinh lý có nguồn gốc cổ xưa khi cơ thể đứng trước sự đe dọa, tấn công.

Thế nhưng, khi cơ thể đã sẵn sàng để "chiến đấu" nhưng bạn lại không có bất kỳ hoạt động giải phóng năng lượng nào, các chất hóa học tiết ra trong cơ thể sẽ tích lũy và tạo ra ngộ độc, nếu kéo dài có thể dẫn đến tổn thương các mô cơ và suy đa tạng.

Như vậy, để đảo ngược quá trình, chúng ta phải giúp não hiểu được thế nào là "lo lắng" và "căng thẳng".

Nếu bạn có nhiều khái niệm trong đầu, bạn có thể xây dựng nhiều trường hợp để não dự đoán nguyên nhân và tiên đoán phản ứng, khiến cho việc quản lý cảm xúc và điều chỉnh hành vi trở nên hiệu quả hơn.

Những cá nhân có thể tái phân loại "bồn chồn" thành "hưng phấn" cho thấy ảnh hưởng tích cực, với sự thể hiện tốt hơn và ít có triệu chứng lo lắng khi nói chuyện trước đám đông.

Đôi khi, đánh lừa bản thân cũng là việc cần thiết, nhất là với một khái niệm mang tính tương đối như cảm xúc.

Câu hỏi là chìa khóa của hiểu biết

Bất cứ khi nào cảm thấy đau khổ hoặc bị xúc phạm nặng nề, hãy tự hỏi bản thân một số câu hỏi: Bạn có đang thực sự gặp nguy hiểm?

Vấn đề này có làm thay đổi bản chất của bạn không, hay nó chỉ tác động đến cái nhìn của xã hội?

Cảm giác này có bắt nguồn từ nào không?

Đối phương có ý định tổn thương bạn hay do bạn quá nhạy cảm?

Sự khác biệt về lối sống và cách nghĩ của bạn so với mọi người là gì?

Bạn đã làm gì sai và điều đó gây ảnh hưởng đến người khác như thế nào?...

Thay vì phản ứng ngay lập tức và "xù lông" với người (có vẻ như) đang công kích bạn, bạn có thể lùi lại để quan sát cảm xúc của mình, phân tích nguyên nhân và tìm ra gốc rễ của vấn đề.

Nhận chân bản chất của cảm xúc sẽ giúp bạn tránh được những tranh cãi không đáng có và hạn chế hành động "giận quá mất khôn" có thể khiến bạn hối hận về sau.

Càng tự vấn bản thân và đi tìm câu trả lời, bạn sẽ càng đạt đến sự thông thái trong trí tuệ cảm xúc.
 
Back
Top Dưới