Khác Tâm lý học

  • Người khởi tạo Người khởi tạo [BOT] Wattpad
  • Ngày bắt đầu Ngày bắt đầu

[BOT] Wattpad

Administrator
25/9/25
59,383
0
0
288785736-256-k479599.jpg

Tâm Lý Học
Tác giả: gghfhjfht
Thể loại: Bí ẩn
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Cre : https://tamlyhoctoipham.com/
Cre : Rubi



tâmlýhọc​
 
Có thể bạn cũng thích
  • (Tạm Drop)|Cảm hứng Lịch Sử Việt Nam|Nữ chiến sĩ năm ấy
  • [TẤM CÁM - NGOẠI TRUYỆN]
  • [Edit] Game Hoa Diệc Sơn Tâm Chi Nguyệt - Cốt...
  • Sưu Tầm Sử Việt
  • Bạch Linh Tâm
  • Thượng Bát Ly Tâm[ Đam Mỹ]
  • Tâm Lý Học
    10 dấu hiệu cho thấy bạn đang gặp phải một người ngoan cố bệnh lý


    Nếu đời bạn chưa từng gặp ai đó cứng đầu đến mức nguy hiểm thì thật khó mà tin rằng tính ngoan cố và không nhượng bộ là một bệnh lý.

    Tình cũ của tôi là một người ngoan cố bệnh lý, và ý tôi là theo ý nghĩa lâm sàng.

    Anh ta rất cứng nhắc đòi mọi việc phải theo ý mình, nó thực sự gây tổn thương anh ta và khả năng quan hệ của anh với mọi người.

    Chết tiệt, nó thậm chí còn là nguyên nhân khiến chúng tôi đường ai nấy đi!

    Nếu đời bạn chưa từng gặp ai đó cứng đầu đến mức nguy hiểm thì thật khó mà tin rằng tính ngoan cố và không nhượng bộ là một bệnh lý.

    Nhưng, hãy tin tôi đi, điều đó có thể xảy ra và trong nhiều trường hợp, nó là kẻ hủy diệt.

    Hầu như ai cũng có một người bạn, thành viên gia đình hay người yêu cũ phù hợp với các tiêu chí về một người từ chối nhượng bộ hoặc thỏa hiệp mà điều này gây hại cho họ.

    Bạn đã bao giờ tự hỏi liệu mình có đang đối mặt với một người ngoan cố bệnh lý chưa?

    Một số dấu hiệu cho thấy bạn đang gặp phải người như vậy ...

    Họ không thừa nhận mình sai, ngay cả khi sự thật rành rành trước mặt.

    Điều dễ nhất cần tìm kiếm để biết liệu bạn có đang gặp phải người ngoan cố bệnh lý hay không là xem cách họ phản ứng khi họ được chứng minh là sai.

    Một người cứng đầu nhưng sống thực tế thì sẽ nhân nhượng khi họ được cho thấy bằng chứng rằng họ đã sai.

    Trái lại, một người ngoan cố bệnh lý sẽ lẩn tránh và không chấp nhận bằng chứng.

    Trong nhiều trường hợp, họ sẽ trích dẫn nguồn bằng chứng kém chất lượng hoặc không đáng tin.

    Đôi lúc, họ sẽ kết thúc cuộc trò chuyện.

    Họ tức giận trước dấu hiệu bất đồng quan điểm dù là nhỏ nhất.

    Đối với người ngoan cố bệnh lý, sự bất đồng bị xem là công kích cá nhân họ.

    Vậy nên họ có xu hướng hung hãn bất cứ khi nào có người bất đồng ý kiến với họ.

    Một người ngoan cố bệnh lý hầu như luôn luôn tự ái trước bất kỳ dạng thức bất đồng quan điểm nào—dù đó là chuyện đơn giản như yêu cầu thỏa hiệp với một đơn đặt bánh pizza.

    Đây chỉ đơn giản là một trong rất nhiều điều rất có khả năng sẽ xảy ra khi bạn đương đầu với một người ái kỷ hay người ngoan cố bệnh lý.

    Nếu bạn thấy họ không thể giữ bình tĩnh khi được bảo rằng họ sai thì có lẽ bạn đang phải ứng phó với một người đang có vấn đề này.

    Nếu họ nổi nóng và hằn học thì khả năng cao là hành vi ngoan cố là một triệu chứng của một chứng rối loạn nhân cách nào đó chưa được điều trị.

    Mọi người có xu hướng xa lánh họ, và cảnh báo bạn về con người họ.

    Một trong những dấu hiệu đáng chú ý khác cho thấy bạn đang gặp phải người ngoan cố bệnh lý đó là cách những người khác hành xử xung quanh họ.

    Mặc nhiên, những ai ngoan cố bệnh lý là những người vô cùng khó chịu và đáng ghét trong quan hệ xã hội.

    Rất có thể bạn không phải người duy nhất nhận ra khuyết điểm tính cách này ở họ—tin tôi đi, đa số những người phát hiện ra nét tính cách này đều có xu hướng lảng tránh họ.

    Họ thậm chí còn cảnh báo cho bạn biết về những khuynh hướng của người ấy nếu đó là trường hợp nghiêm trọng.

    Người đó có những niềm tin cực đoan.

    Đừng hỏi lý do tại sao, những người có niềm tin cực đoan thường cũng có xu hướng là người có mức độ ngoan cố độc hại.

    Bởi lối tư duy "trắng và đen" của họ, nên hầu hết những kẻ cực đoan đều không bao giờ chịu thỏa hiệp trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

    Thật kỳ lạ, chủ nghĩa cực đoan cũng có khuynh hướng là một dấu hiệu của những vấn đề nghiêm trọng khác đối với tình trạng hạnh phúc của một người.

    Tuy nhiên, tại sao việc họ không có khả năng hợp tác hoặc thỏa thiệp lại gắn chặt với niềm tin cực đoan thì vẫn cần phải xem xét thêm.

    Bạn không thể khuyên họ dùng đến lý lẽ, logic.

    Logic là công cụ số một khi giao thiệp với một người lý trí.

    Còn một người bị mắc kẹt một cách phi lý trí vào những niềm tin, quan điểm sống của họ thì sẽ không chịu nghe phải trái, cũng như họ sẽ không nghe bất cứ điều gì không xác nhận thành kiến của họ.

    Bạn đã từng thử dùng lý lẽ logic tranh luận với ai đó chưa, để rồi họ bảo rằng họ không đồng tình với bạn, ngay cả khi bạn đã dùng lập luận hợp logic, công bằng để thuyết phục họ?

    Nếu vậy thì bạn đang gặp phải một người ngoan cố bệnh lý, họ có thể đã bị tẩy não.

    Bạn thường thấy phát điên khi nói chuyện với người này, đơn giản vì họ liên tục bác bỏ bất cứ quan điểm nào không phù hợp với quan điểm của họ.

    Khi bạn gặp phải một người ngoan cố bệnh lý thì bạn rất dễ cảm thấy thất vọng.

    Bạn cũng dễ có cảm giác như mình đang sắp tâm thần đến nơi khi cố gắng giải thích mọi chuyện với họ.

    Người ngoan cố bệnh lý có một cách thức để thao túng ý kiến của người khác cho đến khi ngay cả người tỉnh táo và lý trí nhất cũng phải tự vấn bản thân.

    Một số người ngoan cố thậm chí còn đi xa tới mức lặp đi lặp lại cùng một câu nói cho đến khi bạn xem đó là sự thật.

    Khi đã xem xét mọi khía cạnh thì bạn đang đối mặt với một người ngoan cố bệnh lý nếu bạn thấy mình tự hỏi, "Mình có bị điên không?

    Tại sao thằng cha này lại không chịu hiểu điều này vậy?"

    Bất cứ khi nào họ bị chứng minh là sai thì họ lại viện ra lý do để giải thích tại sao họ vẫn đúng trong chừng mực nào đó.

    Tình cũ của tôi, khi bị buộc phải thừa nhận rằng anh ta sai, thì lại nói, "Ờ, 50 năm trước thì thông tin của anh là đúng đó."

    Đa số những người ngoan cố sẽ nói những điều tương tự, bất luận điều đó có mang tính hạ nhục bạn hay không, hay là thông tin rườm rà, không cần thiết chỉ nhằm để khiến đối phương cảm thấy tệ vì đã đúng.

    Tại sao?

    Bởi vì họ thực sự ghét cay ghét đắng việc mình là người sai.

    Bạn khá chắc rằng mình đang bị gaslit.

    Bạn đã từng có cảm giác rằng một ai đó đang tìm cách khiến bạn cảm thấy như mình đang nhớ lại điều gì đó chưa từng xảy ra, hoặc như thể anh ta đang cố làm bạn cảm thấy mình bị điên hay chưa?

    Nếu vậy thì bạn có thể là nạn nhân của kẻ đang tìm cách truyền sự bệnh hoạn đó vào hành vi của bạn để khiến bạn cảm thấy mình bị điên.

    Gaslight là một kỹ thuật mà những kẻ bạo hành và người ngoan cố bệnh lý sử dụng để khiến nạn nhân cảm thấy như họ bị mất trí.

    Nó thường đi cùng với việc người đó liên tục quả quyết rằng họ đúng, hoặc khiến cho nạn nhân phải nghi ngờ trí nhớ của họ.

    Nghe quen không?

    [Tìm đọc cuốn sách về gaslighting: Hiệu Ứng Đèn Gas - tác giả Robin Stern]

    Dù có chuyện gì xảy ra, bạn sẽ không bao giờ nhận được lời xin lỗi từ họ.

    Theo kinh nghiệm cá nhân thì những người có bệnh lý này không bao giờ thừa nhận hành vi sai trái hoặc thông tin thiếu chính xác.

    Bất luận bạn đưa ra bằng chứng nào, họ cũng không bao giờ nhận sai.

    Đấy là bởi người ngoan cố thường có nhu cầu lúc nào cũng phải đúng 100 phần trăm.

    Nếu họ bị buộc phải nhận sai thì họ xem bản thân là đang thừa nhận thất bại—và đó là việc mà họ không bao giờ làm được.

    Bạn khá chắc chắn rằng họ đang mắc phải một chứng rối loạn nhân cách nghiêm trọng.

    Bạn có tin không, rất nhiều chứng rối loạn nhân cách thường đi kèm với tính ngoan cố bệnh lý—hoặc một triệu chứng của chính chứng rối loạn đó.

    Chẳng hạn như rối loạn nhân cách ái kỷ () hầu như đồng nghĩa với việc bạn đang đối mặt với một người ngoan cố bệnh lý.

    Thật không may, bạn chẳng thể làm được gì để thay đổi một ai đó có tính cách này, cũng như thay đổi một chứng rối loạn nhân cách.

    Vì vậy nếu bạn vô tình chạm mặt một ai đó mắc phải vấn đề này thì tốt nhất là bạn nên tránh xa họ bằng mọi giá.

    [Tìm hiểu về chứng Ái kỷ trong cuốn sách Kẻ Ái Kỉ Cô Độc - Đi Vào Thế Giới Ẩn Giấu Trong Trái Tim (The Narcissist You Know)

    Nguồn


    Cer : Rubi
     
    Tâm Lý Học
    Nghiện kỹ thuật số đang nhấn chìm chúng ta trong Dopamine


    Tỷ lệ trầm cảm và lo lắng gia tăng ở các quốc gia giàu có như Hoa Kỳ có thể là do não bộ của chúng ta bị cuốn vào chất dẫn truyền thần kinh liên quan đến khoái lạc.

    Một bệnh nhân của tôi, là chàng trai trẻ khôi ngô, sáng sủa mới hơn 20 tuổi, đến gặp tôi vì chứng lo âu và trầm cảm gây suy nhược cơ thể.

    Cậu đã bỏ học đại học và hiện đang sống cùng bố mẹ.

    Cậu từng nghĩ tới việc tự sát.

    Hầu như ngày nào cậu cũng chơi điện tử và chơi đến tận đêm khuya.

    20 năm trước, việc đầu tiên mà tôi làm cho bệnh nhân như thế này là kê ngay thuốc chống trầm cảm.

    Còn ngày nay, tôi đã khuyến nghị một cách hoàn toàn khác: nhịn dopamine.

    Tôi đề nghị cậu ấy tránh xa tất cả các thể loại màn hình, bao gồm videogame, trong vòng một tháng.

    Trong suốt quá trình hành nghề bác sĩ tâm thần, tôi đã chứng kiến ngày càng nhiều bệnh nhân bị lo âu và trầm cảm, bao gồm cả những người trẻ khỏe, được sống trong gia đình yêu thương, được hưởng nền giáo dục tốt và tương đối giàu có.

    Vấn đề của họ không phải là sang chấn tâm lý, lệch lạc xã hội hay đói nghèo.

    Mà vấn đề ở chỗ quá nhiều dopamine, một hóa chất được sản xuất trong não bộ, có chức năng như một chất dẫn truyền thần kinh, gắn liền với những cảm giác vui vẻ, khoái lạc và phần thưởng.

    Khi chúng ta làm những việc mà ta thích—như với bệnh nhân của tôi là chơi videogame—thì não bộ tiết ra một chút dopamine và chúng ta cảm thấy vui.

    Nhưng một trong những khám phá quan trọng nhất trong lĩnh vực khoa học thần kinh trong 75 năm qua đó là khoái lạc và đau đớn được xử lý ở cùng những vùng não bộ và não bộ cố gắng hết sức để giữ cho chúng ở trạng thái cân bằng.

    Bất cứ khi nào nó nghiêng theo một hướng thì não bộ sẽ tìm cách khôi phục lại sự cân bằng, cái mà các nhà khoa học thần kinh gọi là homeostasis (cân bằng nội môi), bằng cách nghiêng về hướng khác.

    Ngay khi dopamine được tiết ra, não bộ sẽ thích ứng với điều này bằng cách giảm bớt số lượng các thụ thể dopamine được kích thích.

    Điều này làm cho não bộ level out bằng cách nghiêng về phía nỗi đau, đó là lý do tại sao khoái lạc thường đi cùng với cảm giác nôn nao hoặc sa sút.

    Nếu chúng ta có thể đợi đủ lâu thì cảm giác đó sẽ trôi qua và trạng thái trung tính được lập lại.

    Nhưng có một xu hướng tự nhiên để chống lại nó bằng cách quay trở lại với nguồn khoái lạc khác.

    Đọc thêm loạt bài viết liên quan:

    Khoa học thần kinh về Khoái lạc

    Theo đuổi hạnh phúc: Tại sao nỗi đau giúp chúng ta cảm thấy vui thích

    Nguồn:


    Cer : Rubi
     
    Tâm Lý Học
    Điều gì khiến một người trở nên lì lợm


    Bạn đã bao giờ tự hỏi tại sao lại có những người quá lì lợm hay chưa?

    Điều gì tạo ra tính lì lợm ở con người?

    Lì lợm là một nét tính cách mà người đó từ chối thay đổi quan điểm của họ về điều gì đó hoặc từ chối thay đổi quan điểm của họ về một quyết định mà họ đưa ra.

    Người lì lợm kiên quyết làm theo ý mình.

    Ngoài ra, họ cũng chống lại sự thay đổi một cách kịch liệt, đặc biệt khi người khác bắt họ phải thay đổi.

    Một người lì lợm mang theo thái độ "Không, tôi sẽ không thay đổi, và anh cũng không đời nào bắt tôi thay đổi được."

    Tại sao người ta lại lì lợm?

    Người lì lợm không phải lúc nào cũng lì lợm.

    Có thể có một số sự việc hoặc những tương tác xã hội cụ thể kích hoạt tính lì lợm của họ.

    Để hiểu được lý do tại sao người ta lại lì lợm, trước tiên chúng ta phải nhắc nhở mình về sự thật rằng hầu hết hành vi của con người đều tìm kiếm-phần thưởng hoặc né tránh-đau đớn.

    Năm người lì lợm có thể lì lợm vì 5 nguyên do hoàn toàn khác nhau, tôi sẽ cố gắng giúp bạn hiểu rõ hơn và có thể tìm ra lý do đằng sau tính lì lợm của một ai đó.

    Những phần thưởng khiến con người trở nên lì lợm

    Đôi lúc một người lì lợm chỉ vì họ hiểu rằng sự lì lợm giúp họ đạt được thứ mình muốn.

    Ví dụ, một đứa trẻ có động lực để bộc lộ sự lì lợm khi nó biết rằng tỏ ra lì lợm là một cách hay để khiến bố mẹ chiều ý chúng.

    Đứa bé xem sự lì lợm như một công cụ để đạt được điều nó muốn.

    Những đứa trẻ hư thường hành xử theo cách này.

    Nếu một đứa trẻ không có được thứ nó muốn chỉ đơn giản bằng việc đề nghị hoặc những cách dễ thương khác, thì sau đó đứa bé có khả năng sẽ dùng đến hành vi lì lợm, trừ khi cha mẹ của bé không chấp nhận hành vi này.

    Nếu điều đó hiệu quả với đứa bé thì nó sẽ tiếp tục thực hiện hành vi đó để giành được phần thưởng.

    Ngược lại, khi các bậc phụ huynh tỏ ra kiểm soát, chiếm hữu và đưa ra mọi quyết định cho đứa trẻ thì đứa trẻ sẽ cho rằng quyền tự do của nó đang bị đe dọa.

    Những bậc phụ huynh kiểm soát quá mức thường thấy mình phải đối mặt với đứa con lì lợm.

    Đây là một lý do phổ biến giải thích tại sao, vào cuối thời thơ ấu hoặc ở độ tuổi niên thiếu, một số đứa trẻ trở nên bướng bỉnh và nổi loạn.

    Trong trường hợp này, lì lợm là một cơ chế phòng vệ mà một người sử dụng để tránh nỗi đau bị người khác kiểm soát.

    Chúng ta cũng nhìn thấy kiểu lì lợm này trong các mối quan hệ.

    Chẳng hạn, nếu ai đó nói với một người rằng vợ của anh ta có tính kiểm soát và đòi hỏi nhiều thì khi ấy anh ta đột nhiên trở nên lì lợm ngay cả khi trước giờ anh ta cư xử rất bình thường.

    Điều này khiến người vợ chẳng hiểu tại sao hành vi của chồng mình lại thay đổi như vậy.

    Lì lợm và danh tính

    Người lì lợm khư khư ôm chặt lấy những niềm tin, quan điểm, ý tưởng và sở thích của họ.

    Họ không thể chịu nổi ai bất đồng với họ vì bất đồng với họ có nghĩa là không chấp nhận con người họ.

    Họ trở nên lì lợm tới mức không thèm quan tâm đến ý kiến của người khác vì họ cảm thấy bị đe dọa bởi những người bất đồng quan điểm với họ.

    Vì vậy, theo cách nào đó thì đây cũng là một kiểu né tránh-nỗi đau.

    Kiểu lì lợm này có thể cản trở sự phát triển của người đó và ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ của họ với mọi người.

    Một số người thậm chí còn đi xa hơn bằng cách từ mặt những ai bất đồng quan điểm với họ để họ có thể sống trong thế giới của những tư tưởng và quan điểm của mình.

    Cảm giác thù địch đang giấu kín

    Một số người hành xử lì lợm chỉ để chọc tức người khác.

    Trước kia bạn có thể đã gây ra cho họ nỗi đau nào đó và bây giờ họ trả đũa bạn bằng cách gây hấn-thụ động ().

    Sự lì lợm cho phép họ giải tỏa cảm giác căm ghét và thù địch bị che giấu đối với bạn.

    Ứng phó với người lì lợm

    Ta có thể gặp nhiều khó khăn trong việc giao tế với người lì lợm vì họ có xu hướng suy nghĩ hẹp hòi và thiếu linh hoạt.

    Tuy nhiên, nếu bạn thử đào sâu và tìm kiếm nguyên do thực sự bên dưới tính lì lợm của họ thì việc ứng xử với họ sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.

    Bạn thậm chí cũng có thể thử hỏi thẳng họ rằng tại sao họ lại lì lợm đến thế.

    Điều này có thể buộc họ phải tự ý thức về bản thân và suy ngẫm về hành vi của họ.

    Hãy nhớ rằng người lì lợm ghét bị kiểm soát.

    Vì vậy bạn không nên làm họ cảm thấy bạn đang kiểm soát họ theo bất kỳ cách nào.

    Nếu mục tiêu của bạn là thay đổi hành vi của họ thì bạn cần nhắm đến nhu cầu sâu kín của họ mà không tỏ ra kiểm soát.

    Nguồn:

    Cer : Rubi
     
    Tâm Lý Học
    Ngôn ngữ và những cách sử dụng chúng


    Khi mọi người sử dụng ngôn ngữ để miêu tả một trải nghiệm, suy nghĩ và cảm xúc của họ được định hình sâu sắc bởi cách mà họ sử dụng ngôn ngữ nhiều hơn là cảm xúc của họ trong trải nghiệm gốc.

    Con người có khả năng sử dụng những ngôn ngữ phức tạp tốt hơn bất kỳ loài động vật nào trên Trái Đất.

    Ngôn ngữ thường xuyên được chúng ta sử dụng để giao tiếp với nhau, hay thậm chí là để xây dựng và duy trì xã hội loài người.

    Việc sử dụng ngôn ngữ cùng với tính xã hội của loài người là hai nhân tố không thể tách rời của Homo sapiens với tư cách một loài động vật sinh học.

    Mục tiêu bài viết

    Xác định những thuật ngữ cơ bản để miêu tả việc sử dụng ngôn ngữ.Miêu tả quá trình chúng ta trao đổi thông tin thông qua việc sử dụng ngôn ngữ.Mô tả một số đặc điểm tiêu biểu của một cuộc hội thoại và ý nghĩa xã hội của chúng.Mô tả các hệ quả về mặt tâm lí của việc sử dụng ngôn ngữ và các ví dụ.Giới thiệu

    Hãy tưởng tượng hai người đàn ông tầm 30 tuổi, Adam và Ben, đang rảo bước trên hành lang.

    Phán đoán dựa vào phong cách ăn mặc, họ là những danh nhân trẻ tuổi, đang trong giờ nghỉ trưa.

    Hai người sau đó có một cuộc trò chuyện như sau:

    Adam: Anh biết không, Gary vừa mua một chiếc nhẫn đấy.

    Ben: Oh?

    Cho Mary đúng không? (Adam gật đầu)

    Nếu bạn đang tưởng tượng cảnh tượng trên và lắng nghe cuộc đối thoại của họ, bạn có thể suy ra được gì?

    Đầu tiên, bạn hẳn sẽ đoán được rằng Gary đã mua một chiếc nhẫn cho Mary, không cần biết Gary và Mary là ai.

    Có thể bạn dễ dàng suy ra là Gary và Mary sắp kết hôn.

    Ngoài ra còn gì nữa?

    Có khả năng Adam và Ben là đồng nghiệp khá thân thiết với nhau, và cả hai người đều biết khá rõ về Gary và Marry.

    Nói cách khác, bạn có thể đoán được mối quan hệ xã hội của những người đang tham gia cuộc đối thoại và những người được nhắc đến trong cuộc đối thoại đó.

    Ngôn ngữ được sử dụng trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.

    Nếu tâm lí học là ngành khoa học về hành vi, thì nghiên cứu về việc sử dụng ngôn ngữ phải là một trong những chủ đề quan trọng nhất - do việc sử dụng ngôn ngữ cực kì phổ biến.

    Mỗi cộng đồng con người đều có một ngôn ngữ, trẻ sơ sinh (trừ những trẻ không may bị khuyết tật) học được ít nhất một ngôn ngữ mà không cần được dạy một cách bài bản.

    Thậm chí khi những đứa trẻ không có một vốn ngôn ngữ hoàn chỉnh được tập hợp lại với nhau, chúng có thể tự tạo ra và sử dụng ngôn ngữ riêng của chúng.

    Có một ví dụ trên thực tế về việc nhiều đứa trẻ với vốn từ hạn chế được tập hợp lại và bắt đầu phát triển một ngôn ngữ một cách tự nhiên với rất ít sự can thiệp từ người lớn.

    Tại Nicaragua những năm 1980, một nhóm trẻ khiếm thính được nuôi dưỡng ở nhiều nơi khác nhau được đưa đến trường học lần đầu tiên.

    Các giáo viên đã cố gắng dạy chúng tiếng Tây Ban Nha nhưng không thành công.

    Tuy nhiên, họ bắt đầu chú ý khi những đứa trẻ dùng tay và những cử chỉ, dường như để giao tiếp với nhau.

    Khi các nhà ngôn ngữ học vào cuộc để tìm hiểu về hiện tượng này - hóa ra những đứa trẻ đã tự sáng tạo ngôn ngữ ký hiệu của riêng chúng.

    Và đó là sự ra đời của một ngôn ngữ hoàn toàn mới, ngôn ngữ ký hiệu Nicaragua.

    Ngôn ngữ có ở khắp mọi nơi, và con người chúng ta được sinh ra để sử dụng chúng.

    Chúng ta sử dụng ngôn ngữ như thế nào?

    Nếu ngôn ngữ phổ biến đến vậy, thế chúng ta thực sự sử dụng chúng như thế nào?

    Một điều chắc chắn, một số người sử dụng chúng để viết nhật kí và làm thơ, nhưng hình thức cơ bản và quan trọng nhất của việc sử dụng ngôn ngữ là để giao tiếp giữa những cá thể với nhau.

    Đó là cách mà chúng ta học ngôn ngữ và cách mà chúng ta sử dụng chúng.

    Giống với Adam và Ben, chúng ta trao đổi từ ngữ và lời nói để giao tiếp với những người khác.

    Hãy lấy một ví dụ đơn giản nhất giữa hai người, Adam và Ben, đang nói chuyện với nhau.

    Theo Clark (1999), để có thể duy trì một cuộc đối thoại, những người tham gia phải nắm được cơ sở chung của cuộc trò chuyện.

    Cơ sở chung là nền tảng kiến thức chung của người nói và người nghe và họ nghĩ, họ cho rằng, hoặc mặc định là người còn lại có chung một hiểu biết với họ.

    Giống như khi Adam nói, " Gary vừa mua một chiếc nhẫn," anh ta mặc định là Ben hiểu ý nghĩa của những từ anh vừa nói, hiểu Gary là ai, và mua một chiếc nhẫn có nghĩa là gì.

    Khi Ben đáp, "Cho Mary đúng không," anh ta cũng mặc định là Adam hiểu nghĩa những gì anh vừa nói, hiểu Mary là ai, và việc mua một chiếc nhẫn cho ai đó nghĩa là gì.

    Tất cả những hiểu biết trên được gọi là cơ sở chung của cuộc trò chuyện.

    Lưu ý rằng, khi Adam nêu thông tin rằng Gary đã mua một chiếc nhẫn, Ben đáp lại bằng cách nêu lên suy đoán của anh ta về việc người nhận chiếc nhẫn là ai, cụ thể là Mary.

    Theo thuật ngữ đàm thoại, thì lời nói của Ben là minh chứng cho việc anh ấy hiểu những gì Adam nói__"Ừ, tôi đã hiểu là Gary đã mua một chiếc nhẫn"__ và hành động gật đầu của Adam là minh chứng cho việc anh cũng hiểu những gì Ben nói__"Ừ, tôi đã hiểu là anh hiểu ý của tôi là Gary đã mua một chiếc nhẫn".

    Thông tin mới này ngay lập tức được thêm vào cơ sở chung giữa hai người.

    Do đó, cặp đối thoại giữa Adam và Ben (adjacency pair) cùng với cái gật đầu xác nhận đã hoàn thành một mệnh đề, "Gary mua một chiếc nhẫn cho Mary," và điều này bổ sung thông tin cho cơ sở chung giữa hai người.

    Bằng cách này, cơ sở chung quyết định cách mà chúng ta nói, nhận vào thông tin mà cả hai đồng ý và minh chứng cho sự hiểu biết chung giữa hai người.

    Cơ sở chung phát triển khi những người tham gia cuộc hội thoại thay phiên nhau giữ vai trò người nói và người nghe, và tích cực trao đổi nói chuyện với nhau.

    Cơ sở chung giúp điều chỉnh cách mọi người sử dụng ngôn ngữ.

    Ví dụ, nếu một người nói điều gì đó với người còn lại, anh ấy hoặc cô ấy sẽ điều chỉnh lời nói dựa vào cơ sở chung, nghĩa là những gì người nói nghĩ người nghe biết.

    Adam nói những gì anh đã nói bởi vì anh biết Ben sẽ biết Gary là ai.

    Nếu người nghe là một đồng nghiệp khác không biết gì về Gary, anh sẽ nói "Một người bạn của tôi sắp kết hôn".

    Hiện tượng trên gọi là điều chỉnh khán giả (Audience design); người nói thiết kế lời nói cho những người nghe dựa vào hiểu biết của họ.

    Nếu những người nghe được người nói nhìn nhận là có vốn hiểu biết về một đối tượng được nhắc tới (Ben biết Gary), người nói có xu hướng sử dụng một nhãn mác ngắn gọn cho đối tượng ấy (Gary); đối với người nghe có ít hiểu biết về đối tượng, người nói có xu hướng dùng nhiều từ miêu tả hơn (Một người bạn của tôi) để giúp người nghe hiểu được ý của họ (Box 1).

    Box 1.

    Điều chỉnh cách dùng từ bằng phương pháp điều chỉnh khán giả

    Trong một nghiên cứu có hệ thống về điều chỉnh khán giả, Fussell và Krauss (1992) phát hiện rằng khi nói về những người của công chúng, người nói thường thêm vào nhiều thông tin miêu tả (ngoại hình, địa vị) khi nói về những người kém nổi (Kevin Kline, Carl Icahn) hơn là những người nổi tiếng (Woody Allen, Clint Eastwood) để người nghe có thể hiểu là họ đang nói về ai.

    Một thí nghiệm tương tự từ Isaacs và Clark (1987) chỉ ra rằng những người quen thuộc với New York có thể nhanh chóng dự đoán mức độ thân thuộc với thành phố của người nghe và điều chỉnh cách giới thiệu về địa danh thành phố như cầu Brooklyn và sân vận động Yankee để người nghe dễ hiểu hơn.

    Nói chung, Grice (1975) đề xuất rằng người nói thường tuân theo một vài quy tắc giao tiếp nhất định bằng cách cố gắng cung cấp thông tin, thành thật, hữu ích, rõ ràng và rành mạch.

    Ta đã biết sử dụng ngôn ngữ là một hành động mang tính phối hợp, nhưng ta làm thế nào để điều chỉnh việc sử dụng ngôn ngữ của mình trong bối cảnh hội thoại?

    Giả sử chúng ta có một cuộc trò chuyện trong một nhóm người nhỏ với số người tham gia cuộc trò chuyện hiếm khi vượt quá 4 người.

    Theo một số thống kê, hơn 90 phần trăm những cuộc hội thoại diễn ra trong một nhóm với 4 người hoặc ít hơn.

    Một điều chắc chắn là phối hợp trong một cuộc hội thoại giữa 4 người sẽ dễ dàng hơn một cuộc hội thoại giữa 10 người.

    Nhưng thậm chí ngay cả khi chỉ giữa 4 người với nhau, nếu chúng ta nghĩ về nó, cuộc trò chuyện mỗi ngày gần như là một thành tựu phi thường.

    Chúng ta thường có những cuộc trò chuyện chớp nhoáng bằng cách trao đổi từ và câu ở thời gian thực trong môi trường ồn ào.

    Hãy nghĩ về những cuộc trò chuyện của bạn ở nhà, ở trạm xe bus, ở trung tâm mua sắm.

    Làm thế nào mà chúng ta có thể theo dõi cơ sở chung trong những trường hợp như vậy?

    Pickering và Garrod (2004) cho rằng chúng ta có thể phối hợp cuộc trò chuyện là nhờ khả năng sắp xếp tương tác hành động của nhau ở các cấp độ sử dụng ngôn ngữ khác nhau: vốn từ (lexicon), cú pháp (syntax), cũng như tốc độ nói và trọng âm.

    Ví dụ, khi một người sử dụng một lối diễn đạt nhất định để chỉ một đối tượng trong cuộc trò chuyện, người còn lại có xu hướng sử dụng cùng một lối diễn đạt đó.

    Thú vị hơn, nếu một người nói "chàng cao bồi tặng một quả chuối cho tên cướp" thay vì "chàng cao bồi tặng tên cướp một quả chuối", những người còn lại có xu hướng sử dụng những cấu trúc ngữ pháp tương tự ("cô gái đưa quyển sách cho chàng trai" thay vì "cô gái đưa chàng trai quyển sách") ngay cả khi dùng những từ khác nhau.

    Cuối cùng, những người trong cuộc trò chuyện có xu hướng thể hiện cùng một giọng và tốc độ nói, và chúng thường gắn liền với danh tính xã hội của mọi người.

    Do đó, nếu bạn đã từng sống ở nhiều khu vực nơi mà mọi người có giọng hơi khác nhau (vd nước Mỹ và nước Anh), bạn có thể nhận thấy rằng khi bạn dùng giọng Mỹ khi nói chuyện với người Mỹ và dùng giọng Anh khi nói chuyện với người Anh.

    Pickering và Garrod (2004) cho rằng liên kết giữa các cá nhân ở các cấp độ sử dụng ngôn ngữ khác nhau có thể kích hoạt các mô hình tình huống (situation models) tương tự trong đầu của những người tham gia cuộc trò chuyện.

    Mô hình tình huống đại diện cho chủ đề của cuộc trò chuyện.

    Nếu bạn đang nói về Gary và Mary với bạn bè của bạn, bạn có thể có một mô hình tình huống về Gary đưa cho Mary một chiếc nhẫn diễn ra trong đầu của bạn.

    Theo lí thuyết của Pickering và Garrod, khi bạn miêu tả tình huống này bằng cách sử dụng ngôn ngữ, những người khác trong cuộc trò chuyện sẽ bắt đầu sử dụng từ vựng và cú pháp tương tự và nhiều khía cạnh khác của ngôn ngữ được tập hợp lại.

    Khi các bạn làm vậy, các mô hình tình huống giống nhau bắt đầu được xây dựng trong tâm trí của tất cả mọi người thông qua một cơ chế có tên mồi (primming).

    Mồi xuất hiện khi bạn nghĩ về một khái niệm (nhẫn) gợi cho bạn về một khái niệm liên quan khác (hôn nhân, lễ cưới).

    Vậy nếu tất cả mọi người trong cuộc trò chuyện biết về Gary, Mary và chuỗi sự kiện có liên quan đến một chiếc nhẫn - đính hôn, đám cưới, hôn nhân, vân vân - tất cả đều có khả năng xây dựng một mô hình tình huống chung về Gary và Mary.

    Nhờ sử dụng khả năng bắt chước các cá nhân khác phát triển và kĩ năng nhận thức để để suy luận, con người chúng ta phối hợp dựa trên cơ sở chung, chia sẻ mô hình tình huống và giao tiếp với nhau.

    Chúng ta nói về những gì?

    Con người chúng ta làm gì khi đang nói chuyện?

    Chắc chắn, chúng ta có thể giao tiếp về những thứ tầm thường như tối nay ăn món gì, nhưng cũng nói về những điều phức tạp và trừu tượng hơn như ý nghĩa của sự sống và cái chết, tự do, bình đẳng, tình bạn, và rất nhiều những suy nghĩ triết học khác.

    Thực ra, khi quan sát những cuộc trò chuyện diễn ra một cách tự nhiên, tận 60%-70% những cuộc trò chuyện hàng ngày của cả nam giới và nữ giới, hóa ra là chuyện phiếm - mọi người thường nói về bản thân họ và những người họ biết.

    Cũng như Adam và Ben, con người sử dụng ngôn ngữ đề giao tiếp về thế giới xã hội của họ nhiều hơn để nói về những chủ đề khác.

    Song việc ngồi lê đôi mách nghe có vẻ tầm thường và hạ thấp khả năng ngôn ngữ cao quý của chúng ta, không nghi ngờ gì là một trong những khả năng nổi bật của con người giúp phân biệt chúng ta với những loài động vật khác.

    Ngược lại, một số người lại cho rằng tám chuyện - hành động suy nghĩ và giao tiếp về thế giới xã hội của con người - là một trong những ứng dụng quan trọng nhất của ngôn ngữ.

    Dunbar (1996) phỏng đoán rằng hành vi tám chuyện ở con người tương tự như chải chuốt ở khỉ và các loài linh trưởng, khi hành vi quan tâm lẫn nhau được thể hiện qua việc chải chuốt, làm sạch bộ lông của nhau.

    Ông cho rằng đó là hành động mang tính xã hội, thể hiện rằng đối tác quan trọng như thế nào đối với một cá nhân.

    Hơn nữa, thông qua việc nói chuyện phiếm, con người có thể giao tiếp và chia sẻ góc nhìn của của bản thân về vòng tròn xã hội của họ, bạn bè và kẻ thù của họ là ai, nên làm gì trước những hoàn cảnh nhất định, vân vân.

    Bằng cách đó, họ có thể điều chỉnh vòng tròn xã hội của họ, kết bạn nhiều hơn và mở rộng nội nhóm (ingroup, hội nhóm hay cộng động mà một người thuộc về) để chống lại những nhóm khác (outgroups) có khả năng trở thành kẻ thù của họ.

    Dunbar lập luận rằng chính những tác động xã hội trên đã mang lại cho con người lợi thế tiến hóa và bộ não lớn hơn, từ đó giúp con người suy nghĩ được những vấn đề phức tạp và trừu tượng hơn và quan trọng hơn là giúp duy trì nội nhóm lớn hơn.

    Dunbar (1993) đã phát minh một phương trình ước tính quy mô trung bình của cộng đồng của loài linh trưởng từ kích thước vỏ não của chúng (phần não chịu trách nhiệm cho những hoạt động nhận thức bậc cao).

    Dựa trên thuyết bộ não xã hội của bản thân (social brain hypothesis), Dunbar chỉ ra rằng những chi linh trưởng có bộ não lớn hơn có xu hướng sống trong những cộng đồng lớn hơn.

    Xa hơn nữa, nhờ áp dụng phương trình trên, ông có thể ước tính được quy mô cộng đồng trung bình mà một người có thể có, kết quả là 150 người - xấp xỉ quy mô của một cộng đồng săn bắn hái lượm hiện đại.

    Dunbar lập luận rằng ngôn ngữ, bộ não và cộng đồng tiến hóa cùng nhau, ngôn ngữ và tập tính xã hội của con người là không thể tách rời.

    Lý thuyết của Dunbar gây ra nhiều tranh cãi.

    Tuy nhiên, dù ông có đúng hay không, việc sử dụng ngôn ngữ hàng ngày của chúng ta thường góp phần không nhỏ để duy trì cấu trúc hiện tại của các mối quan hệ xã hội.

    Cách chúng ta sử dụng ngôn ngữ có thể định hình cách chúng ta nhìn nhận thế giới xã hội của bản thân.

    Một điều thú vị là, có những dấu hiệu tinh tế trong ngôn ngữ mà mọi người dùng để truyền đạt mức độ mà hành động của ai đó chỉ là một trường hợp đặc biệt trong một bối cảnh nhất định hoặc là một khuôn mẫu đã xảy ra trên nhiều bối cảnh, hay nói cách khác là một đặc điểm tính cách của người đó.

    Theo Semin và Fiedle (1988), hành động của một người có thể được miêu tả bằng động từ thường để chỉ một hành động cụ thể (anh ta đang chạy), động từ trạng thái để chỉ trạng thái tâm lí (anh ta thích chạy), tính từ để chỉ tính cách, đặc điểm (anh ta rất khỏe), hoặc danh từ để chỉ vai trò (anh ta là một vận động viên).

    Tùy thuộc vào động từ hoặc tính từ (hoặc danh từ) được sử dụng, người nói có thể truyền đạt tính thường xuyên và ổn định của xu hướng hành động theo một cách nhất định của một cá nhân, giống như động từ truyền đạt tính cụ thể, trong khi tính từ truyền đạt tính lâu đài.

    Thú vị hơn, mọi người có xu hướng miêu tả một hành động tích cực của thành viên trong nội nhóm của họ bằng tính từ (anh ấy rất hào phóng) hơn là bằng động từ (anh ấy cho một người mù tiền), và một hành động tiêu cực của người ngoài nhóm bằng tính từ (hắn ta rất độc ác) hơn là bằng động từ (thằng ấy đá một con chó).

    Maass, Salvi, Arcuri, và Semin (1989) gọi đây là sự thiên vị bằng ngôn ngữ giữa các nhóm (linguistic intergroup bias), thiên kiến này có thể tạo ra hình ảnh đại diện cho mối quan hệ giữa các nhóm bằng cách cách tô vẽ hình ảnh đẹp cho nhóm của bản thân.

    Điều này có nghĩa là các thành viên trong nhóm đều là người tốt, và nếu họ có làm gì sai, đó là ngoại lệ trong bối cảnh đặc biệt, người ngoài nhóm đều là người xấu, và nếu họ có làm gì tốt, đó cũng là ngoại lệ.

    Box 2.

    Cảm xúc và lời nói

    Con người có xu hướng kể những câu chuyện mang tính khơi gợi cảm xúc mãnh liệt.

    Những câu chuyện trên có thể lan truyền đến nhiều nơi nhờ mạng lưới xã hội của con người.

    Khi một nhóm gồm 33 sinh viên tâm lí tham quan một nhà xác trong thành phố (rõ ràng là một trải nghiệm đáng nhớ với nhiều người), họ chia sẻ trải nghiệm của bản thân với trung bình 6 người; từng người được nghe kể lại kể cho một người khác, người đó tiếp tục kể cho một người khác nữa.

    Đến lần thứ ba câu chuyện được kể lại, 881 người đã nghe về câu chuyện này trong khu dân cư chỉ trong vòng 10 ngày.

    Nếu mỗi người trong cộng đồng được liên kết với 6 người khác, và nếu một chuỗi câu chuyện được truyền đi hàng trăm bước thông qua Internet, khả năng một câu chuyện phiếm đầy cảm xúc chu du qua một mạng lưới xã hội khổng lồ không phải là không có khả năng.

    Không thể phủ nhận, truyền thuyết đô thị khơi gợi những cảm xúc sợ hãi và kinh tởm có xu hướng lan truyền thông qua không gian mạng và trở nên phổ biến trên Internet.

    Bên cạnh đó, khi mọi người trao đổi những câu chuyện phiếm của họ, nó có thể lan truyền qua những mạng lưới xã hội rộng hơn nữa.

    Nếu câu chuyện được truyền từ một người sang người thứ hai, người thứ hai có thể truyền cho người thứ ba, người này sau đó tiếp tục truyền cho người thứ tư, và cứ như vậy thông qua một chuỗi giao tiếp.

    Điều này hay xuất hiện ở những câu truyện khơi gợi cảm xúc (Box 2).

    Nếu những câu chuyện phiếm được kể lại nhiều lần và truyền miệng, nó có thể đến tai rất nhiều người.

    Khi các câu chuyện được truyền qua nhiều chuỗi giao tiếp, chúng có xu hướng bị quy ước hóa.

    Có một truyền thuyết của người Mỹ bản địa về "Cuộc chiến của những hồn ma" kể lại câu chuyện về cuộc gặp gỡ của một chiến binh với những hồn ma trên ca nô và trận chiến quỷ dị của anh với chúng.

    Anh bị trúng tên nhưng không chết, sống sót trở về để kể lại câu chuyện.

    Tuy nhiên, ngay sau khi thuật lại xong câu chuyện, anh ta trở nên đông cứng, một thứ đen kịt tuôn ra từ miệng anh, và anh mất.

    Khi câu chuyện được kể lại cho sinh viên ở Anh những năm 1920 và được kể lại bằng trí nhớ cho nhiều người khác, những người ấy tiếp tục kể cho nhiều người khác nữa, cứ như thế qua nhiều chuỗi giao tiếp, câu truyện trở thành chuyện về một chiến binh trên chiến trường, ca nô trở thành những chiếc thuyền, và thứ đen kịt từ miệng anh đơn giản trở thành linh hồn của anh.

    Nói cách khác, thông tin được thuật lại nhiều lần đã biến tấu thành một thứ dễ hiểu hơn cho nhiều người, tức là thông tin đã được đồng hóa vào cơ sở chung được hiểu bởi hầu hết những người trong cộng đồng ngôn ngữ.

    Gần đây hơn, Kashima (2000) đã tiến hành thí nghiệm tương tự bằng cách sử dụng một câu chuyện chứa một chuỗi sự kiện miêu tả sự tương tác của một cặp đôi trẻ bao gồm cả hành động mang tính định kiến và phản định kiến (Vd một người đàn ông xem thể thao trên tv vào chủ nhật và một người đàn ông hút bụi trong nhà).

    Sau khi được thuật lại nhiều lần, một lượng lớn thông tin phản định kiến bị loại bỏ, và thông tin mang tính định kiến có nhiều khả năng được giữ lại hơn.

    Vì định kiến là một phần của cơ sở chung trong cộng đồng, phát hiện này cũng cho thấy các câu chuyện được kể lại có nhiều khả năng tái tạo và giữ lại những nội dung thường thấy trong xã hội.

    Những hệ quả tâm lí của việc sử dụng ngôn ngữ

    Những hệ quả tâm lí của việc sử dụng ngôn ngữ là gì?

    Khi mọi người sử dụng ngôn ngữ để miêu tả một trải nghiệm, suy nghĩ và cảm xúc của họ được định hình sâu sắc bởi cách mà họ sử dụng ngôn ngữ nhiều hơn là cảm xúc của họ trong trải nghiệm gốc.

    Ví dụ, Halberstadt (2003) cho những người tham gia xem bức ảnh một người thể hiện một cảm xúc không rõ ràng và quan sát những người tham gia đánh giá cảm xúc ấy.

    Khi mọi người giải thích lí do người trong hình mang một nét mặt như thế, họ có xu hướng nhớ tới hình ảnh người trong ảnh cảm nhận về cảm xúc đó như thế nào hơn là chỉ đơn giản gắn nhãn cho cảm xúc.

    Do đó, nói về cảm xúc của ai đó dường như làm sai lệch trí nhớ của người nói về cảm xúc của người đó.

    Hơn nữa, việc tự gắn nhãn trải nghiệm cảm xúc của chính mình dường như làm thay đổi quá xử lí thần kinh của người nói.

    Khi mọi người gắn nhãn những hình ảnh tiêu cực, hạch hạnh nhân - một bộ phận não chịu trách nhiệm xử lí các cảm xúc tiêu cực như sợ hãi - được kích hoạt ít hơn so với khi họ không có cơ hội để gắn nhãn chúng.

    Nhờ những tác động của việc diễn đạt cảm xúc bằng lời nói, việc nói ra các sự kiện tiêu cực trong cuộc sống có thể có tác dụng tích cực với những người phải chịu đựng nhiều trải nghiệm đau thương (Pennebaker & Seagal, 1999).

    Các nhà tâm lí học Lyubomirsky, Sousa và Dickerhoof (2006) phát hiện rằng viết và nói về những sự kiện tiêu cực trong cuộc sống giúp cải thiện sức khỏe tinh thần của chúng ta, trong khi chỉ nghĩ về điều đó thôi lại khiến tình hình tồi tệ hơn.

    Box 3.

    Giả thuyết Sapir-Whorf

    Một ví dụ của giả thuyết Sapir-Whorf đến từ sự so sánh giữa người nói tiếng Anh và tiếng Trung.

    Trong tiếng Anh, thời gian thường được miêu tả ẩn dụ theo hướng trước và sau.

    Ví dụ "good times are ahead of us" hoặc "hardship can be left behind us".

    Chúng ta có thể "move a meeting forward or backward".

    Tiếng Trung cũng sử dụng phép ẩn dụ trước và sau nhưng cũng sử dụng phép ẩn dụ trên và dưới.

    Ví dụ, tháng trước được gọi là shang ge yue hoặc tháng ở dưới, và tháng sau được gọi là xia ge yue hoặc tháng ở trên.

    Nói cách khác, dòng thời gian trôi theo hàng ngang trong tiếng Anh nhưng lại trôi theo cả hàng ngang lẫn hàng dọc trong tiếng Trung?

    Liệu điều này có ảnh hưởng gì đến nhận thức của người nói tiếng Anh và người nói tiếng Trung không?

    Đây là những gì Boroditsky (2000) phát hiện.

    Đầu tiên, người nói tiếng Anh và người nói tiếng Trung nhận biết những câu dùng phép hàng ngang (vd tháng 6 đến trước tháng 8) không có nhiều khác biệt.

    Khi họ được cho xem những bức hình thể hiện vị trí hàng ngang (vd con sâu đen ở trước con sâu trắng), họ dễ dàng đọc và hiểu nhanh hơn khi được xem những bức hình thể hiện vị trí hàng dọc (vd quả bóng đen ở trên quả bóng trắng).

    Đều này ngụ ý rằng nghĩ về vị trí hàng ngang (trước và sau) đã mồi (gợi nhắc) người nói tiếng Anh và tiếng Trung về phép ẩn dụ hàng ngang dùng để miêu tả thời gian.

    Tuy nhiên, nhận thức của người nói tiếng Anh và tiếng Trung lại khác nhau đối với những câu không dùng phép ẩn dụ không gian như "August is later than June".

    Khi được mồi bởi những câu chỉ vị trí hàng dọc trong không gian, người nói tiếng Trung hiểu câu nói nhanh hơn trong khi người nói tiếng Anh thì chậm hơn, khác với khi họ được mồi bởi vị trí hàng ngang.

    Dường như những người nói tiếng Anh không quen với việc suy nghĩ về ngày tháng theo hàng dọc, trên và dưới.

    Chắc chắn, nếu được rèn luyện để làm thể, khả năng hiểu của họ sẽ tương tự như người nói tiếng Trung.

    Một ảnh hưởng khác của ngôn ngữ, nếu một kiểu sử dụng ngôn ngữ (linguistic practice) được lặp lại nhiều lần bởi một lượng lớn người trong cộng đồng, nó có thể ảnh hưởng sâu sắc đến cách mọi người nghĩ và hành động.

    Khái niệm này được gọi là giả thuyết Sapir Whorf (box 3).

    Ví dụ, nếu bạn được đưa bảng mô tả về một người đàn ông tên Steven, người có nhiều trải nghiệm hơn mức trung bình của thế giới (ví dụ đi dụ lịch nhiều, kinh nghiệm việc làm đa dạng), có nền tảng gia đình tốt và kĩ năng xã hội nổi trội, bạn sẽ miêu tả Steven như thế nào?

    Bạn nghĩ bạn có thể nhớ được tính cách của anh sau 5 ngày không?

    Chắc là không.

    Nhưng nếu bạn biết tiếng Trung và đọc mô tả của Steven trong tiếng Trung, như Hoffman, Lau, và Johnson (1986) đã mô tả, khả năng cao là bạn sẽ nhớ anh ta khá rõ.

    Điều này là do tiếng Anh không có từ nào để miêu tả loại tính cách này, trong khi tiếng Trung có từ shì gù.

    Bằng cách này, ngôn ngữ mà bạn sử dụng có thể ảnh hưởng đến nhận thức của bạn.

    Thậm chí một số người khẳng định ngôn ngữ quyết định suy nghĩ, nhưng điều này là sai.

    Ngôn ngữ không hoàn toàn quyết định cách mà chúng ta nghĩ - suy nghĩ của chúng ta quá linh hoạt để bị điều khiển như thế - nhưng thói quen sử dụng ngôn ngữ có tác động đến thói quen suy nghĩ và hành động của chúng ta.

    Ví dụ, một số dạng ngôn ngữ dường như gắn liền với các giá trị văn hóa và thể chế xã hội.

    Lược bỏ đại từ là một ví dụ điển hình.

    Những đại từ như "I" và "you" được dùng để chỉ người nói và người nghe trong tiếng Anh.

    Trong một câu tiếng Anh, những đại từ này không thể được lược bỏ nếu chúng đóng vai trò là chủ ngữ trong câu.

    Nên câu "I went to the movie last night" là đúng, nhưng "Went to the movie last night" không phải là tiếng Anh tiêu chuẩn.

    Tuy nhiên trong những ngôn ngữ khác như tiếng Nhật, đại từ được phép, thậm chí là thường xuyên bị lược bỏ khỏi câu.

    Hóa ra những người sống tại các quốc gia nơi mà việc lược bỏ đại từ trong ngôn ngữ được chấp nhận có xu hướng đề cao giá trị tập thể hơn (vd nhân viên trung thành hơn với công ty) những người sử dụng ngôn ngữ không lược bỏ đại từ như tiếng Anh.

    Nhiều người cho rằng chính sự phân biệt rõ ràng giữa "I" và "you" nhắc nhở người nói về khác biệt giữa bản thân và người khác và sự khác biệt giữa các cá nhân.

    Những lối dùng từ như vậy đóng vai trò như lời nhắc nhở thường xuyên về giá trị văn hóa, do đó thúc đẩy mọi người hành động dựa trên cách họ nói.

    Kết luận

    Ngôn ngữ và hành động sử dụng ngôn ngữ là nhân tố thiết yếu trong tâm lí con người.

    Ngôn ngữ là công cụ thiết yếu cấu thành nên thế giới mà chúng ta đang sống ngày hôm nay.

    Liệu bạn có tưởng tượng một thế giới nơi mà máy móc được lắp ráp, những nông trại được cày cấy, và hàng hóa và dịch vụ được vận chuyển đến hộ gia đình của chúng ta mà không có ngôn ngữ?

    Liệu chúng ta có thể tạo ra luật lệ, đàm phán hợp đồng, thực thi các thỏa thuận và giải quyết tranh chấp mà không nói một từ nào?

    Phần lớn nền văn minh đương đại của con người sẽ không tồn tại nếu thiếu đi khả năng phát triển và sử dụng ngôn ngữ của con người.

    Giống như tháp Babel, ngôn ngữ có thể chia rẽ nhân loại, tuy nhiên cốt lõi chung của xã hội loài người bao gồm khả năng sử dụng ngôn ngữ bẩm sinh.

    Liệu chúng ta có thể sử dụng công cụ này một cách khôn ngoan hay không là một thách thức trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay.

    Dịch: Hồng Ngọc

    Nguồn: https://nobaproject.com/modules/lan...o_6iAM26AJYsQ1C_zPT3w6LE_22GbJptQj9Sg#content

    Cer : Rubi
     
    Tâm Lý Học
    Nếu muốn hủy hoại một con người, hãy cho anh ta làm công việc vô dụng nhất


    Dostoevsky đã từng nói: "Nếu muốn đè bẹp và tiêu diệt hoàn toàn một con người, nếu muốn anh ta phải chịu sự trừng phạt khủng khiếp nhất, ta chỉ cần bắt anh ta làm một công việc hoàn toàn vô dụng và vô nghĩa".

    "Công việc là một con quỷ, nhưng vì quá cần thiết nên không thể tránh được."

    - Mark Twain.

    Đừng nên đi tìm một thiên chức, hãy cứ cười, chịu đựng và làm đúng công việc của mình.

    Dostoevsky đã từng nói: "Nếu muốn đè bẹp và tiêu diệt hoàn toàn một con người, nếu muốn anh ta phải chịu sự trừng phạt khủng khiếp nhất, ta chỉ cần bắt anh ta làm một công việc hoàn toàn vô dụng và vô nghĩa".Thật vậy, công cuộc tìm kiếm một công việc bạn yêu thích mà vẫn kiếm đủ thu nhập cho sinh hoạt luôn là một câu hỏi hóc búa của cuộc sống hiện đại.

    Trong tác phẩm "Công việc thỏa mãn" thuộc series bài viết của "The School of Life", triết gia Roman Krznaric sẽ giúp chúng ta tìm hiểu gốc rễ của vấn đề này và chỉ cho ta cách giải quyết hiệu quả.

    Khao khát tìm được một công việc viên mãn - một công việc mà ta ý thức sâu sắc về mục đích, và phản ánh giá trị, niềm đam mê và tính cách của ta - là một sản phẩm của thời hiện đại. ...

    Trong suốt nhiều thế kỷ, hầu hết người dân phương Tây thường quá bận rộn với việc cơm áo gạo tiền nên khó có thể bận tâm đến chuyện kiếm một sự nghiệp hấp dẫn, vừa tận dụng được tài năng của họ, vừa nuôi sống được họ.

    Nhưng ngày nay, đời sống đã trở nên thịnh vượng hơn, giúp giải phóng tâm trí họ và khiến họ kì vọng nhiều hơn vào một cuộc sống mạo hiểm và phiêu lưu.

    Chúng ta đã bước vào một kỷ nguyên mới của đam mê, trong đó ta mơ mộng về việc có thể bỏ tiền ra để mua một ý nghĩa nào đó.

    Krznaric đã chỉ ra hai nỗi nhức nhối của một môi trường làm việc hiện đại - "một đại dịch về sự bất mãn với công việc" và "sự mông lung về lựa chọn nghề nghiệp" - từ đó định hình vấn đề:

    Chưa bao giờ có nhiều người cảm thấy không thỏa mãn với công việc của mình, và không chắc chắn phải làm gì với nó đến vậy.

    Hầu hết các cuộc điều tra ở phương Tây tiết lộ rằng ít nhất một nửa lực lượng lao động không hài lòng với công việc của họ.

    Một nghiên cứu ở châu Âu cho biết 60% người lao động sẽ chọn nghề khác nếu họ có thể bắt đầu lại một lần nữa.

    Tại Hoa Kỳ, chỉ số hài lòng với công việc xuống mức thấp nhất - 45% - kể từ khi họ bắt đầu theo dõi chỉ số này từ hơn hai thập kỷ trước đây.

    Tất nhiên, Krznaric chỉ ra rằng vẫn còn nhiều điểm nghi vấn cần phải xem xét xoay quanh câu hỏi: Liệu một người có khả năng tìm được một công việc khiến họ thỏa mãn hay không?.

    Ông đưa ra lời giải như sau:

    "Có hai cách phổ quát để suy nghĩ về những câu hỏi này.

    Đầu tiên là cách tiếp cận "cười và chịu đựng".

    Chúng ta nên biết rằng, đối với phần lớn thế giới, bao gồm cả bản thân chúng ta, hầu hết công việc luôn được mặc định là nhàm chán.

    Hãy quên đi giấc mơ nồng về việc tìm được một công việc toại nguyện và ghi nhớ câu châm ngôn của Mark Twain.

    "Công việc là một con quỷ, cần kíp nên không thể tránh." ...

    Chính bản thân từ ngữ cũng phản ánh điều này.

    Trong tiếng Latin, "labor" có nghĩa là nhàm chán hay mệt nhọc, trong khi từ tiếng Pháp "travail" xuất phát từ thetripalium, một nhạc cụ cổ La Mã dùng để tra tấn. ...

    Thông điệp của "cười và chịu đựng" là về việc chúng ta cần phải chấp nhận những điều không thể tránh khỏi và chung sống với công việc của mình, miễn là nó đáp ứng nhu cầu tài chính của chúng ta và giúp chúng ta có đủ thời gian để theo đuổi đam mê đích thực sau những giờ làm việc.

    Cách tốt nhất để bảo vệ chính mình là hình thành tư tưởng vững chắc về việc chấp nhận, hay nhượng bộ, và không đặt nặng lòng mình vào việc tìm kiếm một sự nghiệp có ý nghĩa.

    Tôi đặt kỳ vọng và đây, đồng thời mở rộng hướng tiếp cận: đó là liệu có thể tìm thấy công việc có ý nghĩa với cuộc sống hơn, một công việc giúp mở rộng tầm mắt của chúng ta và làm cho chúng ta cảm thấy nhân tính hơn hay không.

    [...]

    Đây là cuốn sách dành cho những ai đang tìm kiếm một công việc đủ đáp ứng về tinh thần cho họ, một điều gì đó đặc biệt hơn là một công việc hàng ngày, thứ chỉ có chức năng chính là thanh toán các hóa đơn hàng tháng."

    Chưa bao giờ có nhiều người cảm thấy không thỏa mãn với công việc của mình, và không chắc chắn phải làm gì với nó đến vậy.

    Cũng trong cuốn sách này, Krznaric nhắc nhở chúng ta về việc giải phóng phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong quan niệm về văn hóa làm việc hiện đại:

    "Nếu việc phổ cập giáo dục đại chúng là sự kiện nổi bật trong câu chuyện về việc lựa chọn nghề nghiệp ở thế kỷ XIX, thì ở hai thế kỉ XX điều quan trọng là ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia lực lượng lao động và được trả lương.

    Năm 1950, Mỹ có khoảng 30% phụ nữ có việc làm, nhưng đến cuối thế kỷ, con số này đã tăng hơn gấp đôi, và diễn biến tương tự cũng xảy ra ở khắp phương Tây.

    Sự thay đổi này một phần là kết quả của cuộc đấu tranh giành quyền bầu cử và quyền được công nhận hợp pháp từ công nhân nhà máy trong hai cuộc thế chiến.

    Nhưng có lẽ, điều quan trọng hơn là sự tác động của các phương pháp tránh thai.

    Chỉ trong vòng 15 năm, kể từ khi thuốc tránh thai được phát minh (năm 1955), hơn hai mươi triệu phụ nữ đã sử dụng loại thuốc này, và hơn mười triệu người sử dụng bao cao su.

    Bằng cách giành quyền kiểm soát đối với cơ thể mình, phụ nữ bấy giờ đã có tiếng nói hơn trong việc theo đuổi ngành nghề mình chọn mà không chịu sự gián đoạn của việc có thai ngoài ý muốn và buộc phải sinh đẻ.

    Tuy nhiên, chiến thắng của việc giải phóng phụ nữ đi kèm theo một hệ lụy khó xử cho cả phụ nữ và nam giới khi họ cố gắng để tìm sự cân bằng giữa nhu cầu của đời sống gia đình và tham vọng nghề nghiệp."

    Mô hình giáo dục công nghiệp là một nguyên nhân khác làm chúng ta băn khoăn trong việc tìm một công việc lý tưởng.

    Krznaric lập luận:

    Nếu như chúng ta có thể tự quyết về sở thích hay tính cách trong tương lai của mình, hẳn chúng ta sẽ không gặp rắc rối với việc bị giáo dục khóa cứng vào một lựa chọn nghề nghiệp, hay ít nhất là bị áp đặt lộ trình phải đi.Nhưng chúng ta dường như không thể.

    Khi bạn 16 tuổi, hoặc thậm chí ở lứa tuổi đôi mươi, bạn có chắc chắn về nghề nghiệp mà ở đó bạn sẽ phát triển hết năng lực và cho bạn một thiên chức thật cao cả hay không?

    Thậm chí, bạn có biết ngoài kia đang có những loại công việc nào không?

    Hầu hết chúng ta đều thiếu kinh nghiệm của cuộc sống - và về chính bản thân chúng ta - để có thể đưa ra một quyết định khôn ngoan ở độ tuổi đó, ngay cả với sự giúp đỡ của các cố vấn nghề nghiệp.

    Krznaric đưa ra năm yếu tố quyết định cho một sự nghiệp có ý nghĩa - làm ra tiền, có địa vị, tạo ra sự khác biệt, theo đuổi đam mê, và phát huy tài năng của chúng ta - nhưng không phải cả năm yếu tố đều có vai trò như nhau.

    Đặc biệt, vào những năm 1970 Alan Watts và các nhà khoa học hiện đại đã đặt ra vấn đề - tiền, nếu đứng một mình thì chỉ là một động lực rất yếu:

    "Schopenhauer đã đúng khi nói rằng ham muốn có tiền là rất phổ biến, nhưng ông đã sai lầm khi nói rằng tiền tương đương với hạnh phúc.

    Các bằng chứng được chỉ rõ trong hai thập kỷ qua rằng việc theo đuổi sự giàu có là con đường khó để đạt được mục tiêu về hạnh phúc.

    Việc thiếu một tương quan rõ ràng giữa việc gia tăng thu nhập và gia tăng hạnh phúc đã trở thành một trong những phát hiện lớn trong ngành khoa học xã hội hiện đại.

    Nếu thu nhập đạt đến một số tiền đủ để đáp ứng hết mọi nhu cầu cơ bản, thì điều gì sẽ gia tăng mức độ hài lòng của chúng ta về cuộc sống?."

    Sai lầm thứ hai về việc tìm một công việc thỏa đáng đó là:

    Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy bản thân mình đang theo đuổi sự nghiệp mà xã hội cho là đáng ngưỡng mộ, nhưng mà sự nghiệp đó lại không thực sự phù hợp dành cho chúng ta - đó là một trong những thứ không làm chúng ta thỏa mãn khi làm việc mỗi ngày

    Krznaric cho rằng "ngoài việc tìm kiếm sự thỏa mãn trong công việc, chúng ta nên tìm kiếm một công việc mà không chỉ cho ta địa vị tốt, mà còn phải cho ta tương lai rộng mở."

    Thay vì hy vọng có thể hài hòa giữa việc theo đuổi tiền và theo đuổi giá trị bản thân, nếu may mắn chúng ta có thể kết hợp giá trị với tài năng.

    Nhưng những trường hợp đó thường hiếm đến mức mà Aristotle đã từng thốt lên rằng "Nơi giao nhau giữa điều thế giới cần và điều bạn thực sự có khả năng chính là sứ mệnh của bạn".

    Krznaric đã trích dẫn câu nói nổi tiếng của nhà văn Pháp François-René de Chateaubriand - câu nói nổi tiếng từ hơn một thế kỷ trước:

    "Bậc thầy trong nghệ thuật sống là người không phân biệt rạch ròi giữa công việc và thú vui; giữa lao động và giải trí; giữa tâm trí và cơ thể; giữa giáo dục và thư giãn.

    Ông dường như không biết được cái nào là cái nào.

    Ông chỉ đơn giản là theo đuổi viễn cảnh về sự xuất chúng thông qua bất cứ điều gì ông làm, và để những người khác quyết định ông đang làm việc hay đang chơi.

    Với bản thân ông, ông luôn nghĩ rằng ông đang làm cả hai thứ cùng lúc."

    Bức họa của Leonardo, biểu tượng của một người đạt thành tựu

    Chưa hết, Krznaric lập luận, một nguyên nhân khác nữa dẫn đến sự bất mãn đối với công việc là cuộc Cách mạng công nghiệp.

    Với kết quả là hoạt động chuyên môn hóa, chúng ta bị mắc vào niềm tin rằng cách tốt nhất để thành công là trở thành chuyên gia trong một lĩnh vực nhất định.

    Krznaric cho rằng, chuyên môn hóa đã cướp đi của chúng ta một phần thiết yếu của con người, đó là sự linh hoạt của mỗi cá nhân.

    Đi chuyên về một thứ là điều rất tốt nếu bạn có mọi kỹ năng đặc biệt phù hợp với công việc đó, hoặc nếu bạn thực sự có đam mê với một lĩnh vực đặc biệt, và tất nhiên bạn cũng sẽ cảm giác tự hào về bản thân nếu được xem là một chuyên gia.

    Nhưng có điều, bạn cũng phải chấp nhận đối mặt với nguy cơ trở nên bất mãn với chuyên ngành của mình, bởi sự lặp đi lặp lại khi thực hiện một công việc nhất định.

    ...Chúng ta thường tự đấu tranh tư tưởng khi có quá nhiều luồng suy nghĩ khác nhau và phải quyết định nên chọn suy nghĩ nào, đó chính là vì mỗi chúng ta có nhiều bản thể. ...

    Bản thân mỗi chúng ta rất phức tạp, chúng ta có kinh nghiệm trên nhiều phương diện khác nhau, nhiều sở thích, giá trị và tài năng, điều đó có nghĩa rằng chúng ta có thể tìm thấy sự thỏa mãn với công việc ở nhiều vị trí như là một người thiết kế web, một cảnh sát, hay là chủ một tiệm cà phê sạch.

    Giải phóng bản thân mỗi con người làm tăng cơ hội khám phá công việc đam mê của chúng ta, bằng cách thoát khỏi sự hạn chế về chuyên môn và phát triển bản thân sang những lĩnh vực khác ... và cho phép những cánh hoa tài năng khác nhau nở rộ trong mỗi người.

    Krznaric ủng hộ việc tìm kiếm mục đích như một khát vọng tích cực hơn là một món quà thụ động:

    "Nếu không làm việc, cuộc sống sẽ là một đống mục nát, nhưng khi làm việc một cách vô hồn, cuộc sống sẽ dần lụi tàn, dập tắt và chấm hết," Albert Camus viết.

    Làm việc với cả tâm hồn trở thành một trong những khát vọng lớn trong thời đại chúng ta. ...

    Chúng ta phải nhận ra rằng sự nghiệp không phải là cái gì đó chúng ta tìm kiếm, đó là cái gì đó mà chúng ta nuôi dưỡng - và trưởng thành cùng nó.

    Người ta thường nghĩ rằng sự nghiệp chính là nghề nghiệp mà bạn cảm thấy bạn được sinh ra để làm.

    Tôi lại có một định nghĩa khác về sự nghiệp: sự nghiệp là nghề nghiệp không chỉ mang lại sự thỏa mãn - về ý nghĩa, về sự tự do, về dòng chảy - nhưng sự nghiệp cũng đồng thời phải đi kèm với mục tiêu dứt khoát hay mục đích rõ ràng, như thế bạn mới có động lực để phấn đấu, mới tràn đầy nhuệ khí mỗi sáng mai thức dậy.

    Krznaric đưa ra một ví dụ khác về Marie Curie:

    Curie hoàn toàn đam mê sự nghiệp của mình.

    Bà sống những năm đầu đời trong một tu viện ở Paris, bà sống một cuộc sống thiếu thốn, dẫn đến bệnh thiếu máu và thường xuyên ngất xỉu vì đói.

    Curie không bận tâm đến danh tiếng của mình, không quan tâm đến tiện nghi và vật chất, bà thích sống trong một ngôi nhà đơn giản và có ít đồ đạc: địa vị và tiền bạc hầu như không ảnh hưởng lớn đối với bà.

    Khi một người họ hàng đề nghị mua cho bà một chiếc váy cưới cho lễ cưới của bà, bà nhấn mạnh rằng: "Chị hãy chọn cho em chiếc váy nào đơn giản và tối màu để em có thể mặc nó khi đến phòng thí nghiệm".

    Trước khi qua đời vào năm 1934 ở tuổi 67, Marie Curie đã tóm tắt triết lý công việc của mình: "Cuộc sống là không hề dễ dàng cho bất cứ ai.

    Như thế thì sao?

    Chúng ta phải có lòng kiên trì và trên tất cả là sự tự tin vào chính mình.

    Chúng ta phải tin rằng chúng ta có năng khiếu về một cái gì đó, và bằng mọi giá phải đạt được điều đó".

    Marie Curie

    Tuy rằng câu chuyện của Curie có những yếu tố về việc tìm được ý nghĩa cho sự nghiệp của mình: bà đã làm được công việc phát huy hết khả năng, Krznaric đã đập tan cái tư tưởng cho rằng thiên chức đó là hệ quả của giây phút bộc phát.

    Ông chỉ ra rằng Marie Curie đã tìm thấy thiên chức của mình dần dần qua thời gian, và bà tự cho phép mình giữ tâm thế cởi mở, thay vì cứ khư khư trong chuyên môn của mình.

    Bà nhận thức được tâm quan trọng của những thứ kiến thức tưởng chừng không cần thiết:

    Marie Curie chưa bao giờ đột nhiên có một giây phút "khai sáng" nào, không phải tự dưng bà biết bà phải tận hiến cuộc đời cho việc nghiên cứu chất phóng xạ.

    Trên thực tế, mục tiêu này âm thầm len lỏi và lớn dần lên trong bà qua nhiều năm nghiên cứu khoa học đích thực. ...

    Niềm đam mê của bà tăng lên theo từng giai đoạn, mà chẳng phải là do Đấng bề trên thôi thúc gì cả.

    Và đó là cách mọi chuyện thường xảy ra: mặc dù đôi khi chúng ta vẫn thi thoảng có những giây phút bộc phát, thì thiên chức vẫn là thứ dần dần kết tinh trong chúng ta, mà chúng ta không hề nhận thức được điều đó.

    Vì vậy, sau những chuyện này chẳng có bí ẩn nào cả.

    Nếu chúng ta muốn có một công việc như ý, chúng ta không nên chờ đợi một cách thụ động đến khi nó xuất hiện.

    Thay vào đó chúng ta nên hành động và nỗ lực để phát triển nó như Marie Curie.

    Nhưng bằng cách nào?

    Đơn giản là nỗ lực làm việc hết mình, để cảm thấy ý nghĩa công việc, để cảm thấy được tuôn trào trong dòng chảy của hạnh phúc và tự do. ...

    Theo thời gian, một mục tiêu rõ rệt và đầy cảm hứng có thể âm thầm nảy mầm, phát triển lớn hơn, và cuối cùng nở thành những bông hoa to đầy màu sắc và ngát hương thơm trong khu vườn mang tên cuộc sống.

    Trạm Đọc (Read Station)

    Cer : Rubi
     
    Tâm Lý Học
    Hiệu ứng kiến lười


    Những người nhìn có vẻ chăm chỉ thật ra lại đang lười suy nghĩ, chỉ muốn làm những việc lặt vặt, còn những người nhìn bề ngoài đang nhàn rỗi, nhưng họ lại đang tập trung suy nghĩ, tìm ra hướng đi tốt hơn cho bản thân, tập thể.

    Hiệu ứng kiến lười là gì?

    Một nhóm nghiên cứu sự tiến hóa của sinh vật tại trường đại học Hokkaido, Nhật Bản đã tiến hành một thí nghiệm.

    Bọn họ phân 30 con kiến đen thành 3 nhóm rồi tiến hành theo chân chúng, quan sát tình trạng phân công công việc của chúng.

    Kết quả phát hiện, đa số kiến đều rất chăm chỉ , dọn sạch tổ kiến, vận chuyển đồ ăn, chăm sóc kiến con... hầu như không nghỉ ngơi chút nào.

    Thế nhưng có một số nhỏ lại không làm gì, chúng luôn ở trong đàn kiến nhìn ngang nhìn dọc.

    Những nhà sinh vật học gọi số kiến này là kiến lười, đánh kí hiệu lên trên người chúng.

    Điều thú vị là, khi nhóm nghiên cứu cắt nguồn lương thực của đàn kiến trong một khoảng thời gian, những con kiến chăm chỉ kia lập tức loạn hết lên.

    Mà những con kiến lười lại không hề hoảng loạn, chúng đã dẫn bầy kiến đi tới nơi có nguồn thức ăn mới.

    Thì ra những con kiến lười đó không hề lười biếng, mà chúng dùng phần lớn thời gian để quan sát xung quanh.

    Nhìn bề ngoài chúng có vẻ nhàn nhã nhưng trong đầu chúng đang không ngừng suy nghĩ, đây được gọi là hiệu ứng kiến lười.

    Tác dụng của hiệu ứng kiến lười là gì?

    Không chịu tư duy, suy nghĩ kĩ càng, tất cả sự chăm chỉ cần cù đều không có tác dụng

    Năm tốt nghiệp, anh A và anh B cùng nhau thực tập trong một công ty.

    Vì muốn để lại ấn tượng tốt cho ông chủ, mỗi ngày A đều là người tới công ty đầu tiên, người cuối cùng rời khỏi công ty.

    Trong thời gian thực tập, gần như ngày nào anh A cũng tăng ca tới 12 giờ.

    Còn anh B ngày nào cũng chỉ làm việc có một chút, nhìn có vẻ cực kỳ nhàn rỗi.

    Hai tháng sau, công ty tiến hành đánh giá, anh A cứ nghĩ mình được nhận chắc rồi.

    Kết quả, anh ấy không hề được nhận, còn anh B lại thành công được giữ ở lại công ty.

    Anh A rất giận, anh đăng một dòng trạng thái lên trên mạng xã hội: "Sự cố gắng chăm chỉ suốt 60 ngày chẳng qua chỉ là một câu chuyện đùa!"

    Sau khi lãnh đạo bộ phận ở công ty đó nhìn thấy liền gửi cho anh hai bản báo cáo nghiệp vụ, một bản là của A, bản còn lại là của B.

    Báo cáo của A chi chít hàng nghìn chữ nhưng nội dung lại rất chung chung.

    Còn báo cáo của B mặc dù chỉ có mấy một hai nghìn chữ nhưng lại vô cùng có logic, rõ ràng, luận điểm hiện rất rõ, khiến người ta hiểu ngay khi nhìn vào.

    Điều quan trọng nhất là, ở mục phân tích chiến lược, A chỉ viết bừa vào một câu.

    Còn B lại rất chú tâm vào phần đó, chỉ ra ưu thế và cơ hội, nguy hiểm tiềm ẩn của công ty trên thị trường.

    Thì ra, khi A bận rộn với mấy việc vặt vãnh thì B đã nghiên cứu triệt để những vấn đề chiến lược, chính sách của công ty.

    Nhìn bề ngoài A có vẻ rất chăm chỉ, nhưng thật ra não lại đang lười vận động.

    Điểm khác biệt lớn nhất giữa người với người không phải mức độ nỗ lực mà là sự tư duy.

    Không chịu tư duy, suy nghĩ kĩ càng, tất cả sự chăm chỉ cần cù đều không có tác dụng.

    Việc chăm chỉ, cần cù là phương pháp sáng tạo, thế nhưng việc suy nghĩ, tổng kết mới là bước để nâng cao trình độ mỗi người

    Ở một thị trấn nhỏ tại Canada, có một người thanh niên cực kì thích viết lách.

    Mỗi ngày anh ấy đều không ngừng sáng tác, dần dần trở thành một tiểu thuyết gia xuất sắc.

    Nhưng tiểu thuyết mà anh ấy viết ra đều không bán chạy, không ai quan tâm.

    Anh ấy rất buồn phiền nên đã đi hỏi thầy của mình, mong thầy cho biết nguyên do.

    Thầy đã hỏi anh ấy: "Mỗi sáng sớm con đã làm những gì?"

    Anh ấy không hiểu lắm: "Con viết tiểu thuyết."

    Thầy lại hỏi: "Vậy buổi trưa thì sao?"

    Anh ấy trả lời: "Cũng viết tiểu thuyết."

    Thầy lại tiếp tục hỏi: "Buổi chiều thì sao?"

    Nghe tới đây, người thanh niên không còn kiên nhẫn nữa: "Mỗi ngày, ngoại trừ ăn cơm và ngủ nghỉ ra, thời gian còn lại con đều viết tiểu thuyết."

    "Vậy khi nào thì con suy nghĩ?"

    Thấy anh thanh niên không hiểu gì, thầy giáo lại nói tiếp: "Sự chăm chỉ của con chẳng qua chỉ là bận rộn không ngừng trong khoảng thời gian dài, nó chẳng có gì là khó làm cả.

    Chỉ cần điều kiện cho phép, ai cũng có thể làm được.

    Điều khó làm chính là suy ngĩ, không có suy nghĩ thì tiểu thuyết của con sẽ không có linh hồn, không có suy nghĩ thì sự cần cù của con chẳng có ý nghĩa gì cả.

    Những người nhìn có vẻ chăm chỉ đó, thật ra họ đang lười chỉ đạo trên mặt tư duy.

    Việc chăm chỉ cần cù là phương pháp sáng tạo, thế nhưng không suy nghĩ tổng kết lại thì sao có thể nâng cao trình độ được?

    Những người nhìn có vẻ chăm chỉ đó, thật ra họ đang lười chỉ đạo trên mặt tư duy.

    Việc thức đêm đọc sách tới sáng, mấy ngày liền chỉ ngủ có vài tiếng, lâu lắm rồi không nghỉ ngơi, nếu như những việc này đều xứng đáng để khoe khoang thì ai cũng có thể nỗ lực hơn bạn gấp trăm lần.

    Một người lười suy nghĩ thì chắc chắn sẽ rơi vào cảnh ngày càng thụt lùi.

    Thế nên bạn hãy từ bỏ những sự cần cù không mang lại hiệu quả cao, nuôi dưỡng thói quen suy nghĩ, đó mới là bước đầu tiên giúp cuộc đời bạn thăng tiến.

    Mức độ suy nghĩ, tư duy quyết định chỗ đứng của bạn trong xã hội

    MacArthur từng nói: "Với bất kì một tổ chức nào, giữ lại một khoảng thời gian nghỉ ngơi là điều rất quan trọng, nó không phải là sự lãng phí tài nguyên mà là đang khiến hệ thống có năng suất cao hơn.

    Với cá nhân cũng như vậy, chúng ta cần phải cho bản thân thời gian nghỉ ngơi, dùng thời gian đó để suy nghĩ, nạp lại năng lượng, nâng cao bản thân."

    Có một câu chuyện như này, một người đàn ông vào năm cuối cùng mà anh ấy làm việc tại công ty, anh đã nói với ông chủ một yêu cầu: không làm việc vào buổi tối cuối tuần.

    Đồng nghiệp khuyên anh làm như vậy thì tiền lương một tháng sẽ rất ít.

    Nhưng anh ấy vẫn kiên trì với yêu cầu của mình

    Về sau, mỗi tối cuối tuần, khi đồng nghiệp của anh ấy đang bận rộn kiếm tiền ở công ty, anh ấy lại ở nhà đọc sách, xem TV, viết sách, suy nghĩ về giá trị và phương hướng của bản thân mình.

    Kết quả, hiện nay, khi công ty giảm biên chế, đồng nghiệp vẫn đang thất nghiệp, không xoay chuyển được tình thế.

    Còn anh ấy đã trở thành một tác giả nổi tiếng, thu nhập vài trăm triệu.

    Bất kể bạn bận cỡ nào đều phải cho bản thân thời gian rảnh rỗi.

    Khoảng thời gian này phải để cho bản thân nghỉ ngơi, mà hãy suy nghĩ phương hướng tốt hơn cho mình, con đường có lợi hơn cho mình.

    Trong một nhóm, lúc nào cũng có hai người lãnh đạo, một người nhàn rỗi, là bởi vì anh ấy phụ trách việc suy nghĩ, phụ trách quyết định hướng đi tốt hơn cho nhóm."

    Mức độ suy nghĩ, tư duy quyết định chỗ đứng của anh ấy trong xã hội.

    Từ những câu chuyện kể trên, có thể thấy chúng ta nên trở thành những con kiến lười, rèn cho bản thân cách tư duy, suy nghĩ, chứ không nên chỉ mù quáng, tập trung vào sự cần cù không phương hướng, mục đích!

    Theo Aboluowang

    Phương Thu - Link bài gốc: http://nhipsongkinhte.toquoc.vn/hie...cang-tro-nen-binh-thuong-4202125919223039.htm

    Cer : Rubi
     
    Tâm Lý Học
    Người nói nhiều, là dấu hiệu của bệnh tâm lý hay là do tính cách?


    Đã có ai bảo rằng bạn là người nói 'quá nhiều' hay chưa?

    Có thể đó chỉ là tính cách của bạn.

    Lắm mồm.

    Ba hoa.

    Dài dòng.

    Chỉ thích nghe giọng nói của chính mình (chỉ thích nghe mình nói, thích làm trung tâm của sự chú ý).

    Nếu bạn là người nói nhiều thì có lẽ bạn từng nghe ai đó nói đến một hoặc hai từ ở trên.

    Những lời nhận xét thẳng thắn như thế này có thể khiến bạn lo lắng rằng mình nói hơi nhiều.

    Có thể bạn sẽ thử thách mình giữ im lặng trong một hoặc hai ngày, nhưng thật khó vì bạn có quá nhiều điều muốn chia sẻ.

    Chưa tính đến việc khi bạn không góp chuyện thì mọi người sẽ lấy làm ngạc nhiên và tự hỏi tại sao bữa nay bạn lại không nói gì.

    Nói nhiều không phải là xấu.

    Trên thực tế, đó là một nét tính cách được đánh giá cao trong nhiều ngành nghề.

    Nhưng khi nào thì nói nhiều trở thành một lời nguyền?

    Bao nhiêu là quá nhiều?

    "Nói quá nhiều" không phải mang cùng một nghĩa đối với tất cả mọi người.

    Không phải ai cũng thích chuyện trò, nên với một số người thì chỉ nói vài ba câu đã là quá nhiều.

    Nhưng với những người thích nghe một câu chuyện hay ho thì họ có thể hào hứng nghe bất cứ điều gì mà bạn muốn chia sẻ.

    Đôi lúc người ta bảo bạn nói quá nhiều đơn giản vì họ không thích nghe bạn nói mà thôi.

    Thay vì chú ý đến số lượng từ bạn nói, hãy thử khám phá xem bạn chiếm bao nhiêu không gian trò chuyện và nó ảnh hưởng đến người khác ra sao?

    Bạn có ngắt lời đồng nghiệp không?

    Nói át luôn cả tiếng bạn bè?

    Giành nói hết trong bữa cơm tối gia đình?

    Nói những điều mà người khác xem là cay nghiệt, thiếu tử tế hoặc mang tính xúc phạm?

    Dưới đây là một số thông tin về thuật ngữ y học về tính nói nhiều có thể giúp bạn đánh giá thói quen ăn nói của mình:

    Áp lực giao tiếp bằng lời nói (Pressured speech)

    Kiểu nói chuyện này thường bao gồm việc nói rất nhanh và hùng hồn, thường khó dừng lại, ngay cả khi người khác tìm cách để chen ngang một câu.

    Bạn nói nhiều hơn bình thường, với tốc độ nhanh hơn nhiều, thậm chí âm lượng lời nói cao hơn.

    Bạn có cảm giác như thể mình không thể kiểm soát được ngôn từ phát ra khi bạn nhảy từ ý tưởng này sang ý tưởng khác, xâu chuỗi các suy nghĩ lại với nhau nhanh đến mức người nghe phải cố gắng lắm mới theo được bạn.

    Hyperverbal (Nói nhanh)

    Hyperverbal chỉ về lối nói rất nhanh.

    Có lẽ bạn phát hiện thấy mình nói nhanh để giãi bày hết mọi thứ mà bạn cần nói.

    Bạn có thể gặp khó khăn trong việc đợi đến lượt mình nói và thấy mình thường xuyên ngắt lời người khác.

    Điều này cũng không quá khác biệt so với Áp lực giao tiếp bằng lời nói, và một số chuyên gia có thể dùng 2 thuật ngữ này thay thế cho nhau được.

    Tuy nhiên, hyperverbal không nhất thiết liên quan đến sự chuyển đổi nhanh giữa các ý nghĩ hoặc việc sử dụng các vần điệu hoặc cách chơi chữ để kết nối những suy nghĩ, như Áp lực giao tiếp bằng lời nói thường làm.

    Ngôn ngữ vô tổ chức (Disorganized speech)

    Kiểu nói chuyện này thường bao gồm việc nhanh chóng chuyển đổi giữa các chủ đề, không có sự kết nối rõ ràng nào giữa các chủ đề.

    Bạn có thể trả lời câu hỏi bằng những câu trả lời mà người khác xem là chả liên quan gì nhau.

    Đôi khi, ngôn ngữ vô tổ chức bao gồm các chuỗi từ ngẫu nhiên dường như thiếu sự kết nối rõ ràng.

    Ngôn ngữ vô tổ chức có thể không nhanh hơn so với ngôn ngữ bình thường, nhưng nó vẫn có thể gây khó hiểu cho người khác.

    Nếu nghiêm trọng thì nó có thể cản trở việc giao tiếp bình thường.

    Thôi thúc nói chuyện cưỡng chế (Compulsive communication)

    Các nhà nghiên cứu đã mô tả khuôn mẫu này là thôi thúc nói chuyện cưỡng chế hay "nghiện nói - talkaholism," có vài dấu hiệu chính sau đây:

    nói rất nhiều, thường là nói nhiều hơn bất cứ ai, trong hầu hết các tình huốngphải cố gắng lắm mới nói ít được, ngay cả khi đang làm việc, trong giờ học, hay vào những khoảng thời gian "yên tĩnh" quan trọng khác nhận ra bạn nói rất nhiều, thường là bởi vì người ta bảo với bạn như thếkhó giữ im lặng, ngay cả khi việc tiếp tục nói chuyện sẽ khiến bạn gặp nhiều rắc rối

    khác chỉ ra những người có thôi thúc nói chuyện cưỡng bức có khả năng:

    không nhận ra họ đang nói quá nhiều có khuynh hướng tranh cãicó thói quen giành nói hếtchẳng quan tâm đến sự chỉ trích hay nhận xét tiêu cực của người khác

    Nhìn chung là, những người có thôi thúc nói chuyện cưỡng chế gặp khó khăn trong việc kiểm soát lời ăn tiếng nói của mình, ngay cả khi họ rất cố gắng.

    Điều gì đang diễn ra

    Thường thì sự nói nhiều không khác gì một .

    Ví dụ, những thường có kỹ năng giao tiếp tuyệt vời.

    Nhiều người có thể thích thú với một cuộc gặp riêng tư với bạn bè (hay khách lạ) mà vẫn nhận ra khi nào thì giữ im lặng có thể là phản ứng tốt nhất.

    Nếu bạn có thể dễ dàng ngừng nói khi cần thì tính nói nhiều, ưa tán gẫu có khả năng chỉ là một khía cạnh của cá tính độc đáo của bạn.

    Điều đó nói lên rằng, nhiều dạng thức khác nhau của việc nói nhiều có thể xuất hiện như một triệu chứng của một số bệnh tâm thần:

    Áp lực giao tiếp bằng lời nói (Pressured speech) thường xảy ra như một phần của hoặc các .Ngôn ngữ vô tổ chức có thể xuất hiện như một triệu chứng chính của bệnh và các chứng tâm thần khác, cùng với chứng .Nói lan man hoặc nói quá nhiều có thể xuất hiện cùng với chứng .

    Bạn sợ nói sai hoặc sợ bị người khác đánh giá, nhưng cuối cùng bạn lại nói nhiều hơn dự tính nhằm để bù đắp cho sự lo lắng của bạn và giúp xoa dịu những lo âu xoay quanh việc người khác nghĩ gì về bạn.Hyperverbal (lối nói nhanh) có thể xuất hiện như một triệu chứng của - tăng động giảm chú ý hoặc lo âuNếu bạn đang lo âu thì bạn có thể nói nhiều hơn bình thường hoặc nói rất nhanh khi bạn cảm thấy căng thẳng nhất.Nói quá nhiều về bản thân.

    Người mắc chứng thường thao thao bất tuyệt về những thành tựu, mục tiêu hay kế hoạch của họ trong cơn hưng cảm.

    Cách nói năng này của họ thường có vẻ hoành tráng hoặc thiếu thực tế.

    Người mắc chứng rối loạn nhân cách ái kỷ () có thể nói rất nhiều về tài năng, những thành tựu của họ hay những người quan trọng mà họ quen biết để thu hút sự chú ý.Tôi có nên đi khám bác sĩ không?

    Hãy nhớ rằng những tình trạng nói trên đều có liên quan đến các triệu chứng khác.

    Nhìn chung thì các triệu chứng sẽ trở nên khá rõ ràng và chúng thường sẽ bắt đầu ảnh hưởng đến các mối quan hệ và cuộc sống thường ngày của bạn.

    Dưới đây là một số triệu chứng chính khác của những chứng bệnh đó:

    Các cơn hưng cảm trong rối loạn lưỡng cực thường liên quan đến mức năng lượng tăng lên, ít cần ngủ, suy nghĩ dồn dập và quá nhanh, năng suất lao động tăng lên ở trường học hoặc nơi làm việc.

    Bạn cũng có thể cảm thấy bồn chồn và dễ phân tâm.Lo lắng và lo âu xã hội liên quan đến những lo âu thường trực và dai dẳng về nhiều khía cạnh khác nhau trong cuộc sống hằng ngày của bạn.

    Với chứng lo âu xã hội thì những nỗi lo lắng đó gắn chặt với môi trường xã hội và suy nghĩ của người khác về bạn.

    Những tình trạng này cũng có thể bao gồm các triệu chứng thể chất như đau đớn và căng thẳng, đau dạ dày và khó ngủ.Những triệu chứng khác bao gồm tính hay quên, khó quản lý thời gian, mất tập trung hoặc khó tập trung, bồn chồn hoặc tăng động.Với chứng rối loạn nhân cách ái kỷ, bạn sẽ có một niềm tin mãnh liệt vào tầm quan trọng của bản thân, khó hiểu được nhu cầu và cảm xúc của người khác, và khát khao nhận được sự khen ngợi và ngưỡng mộ.

    Tâm thần phân liệt thường bao gồm ảo giác, ảo tưởng và những triệu chứng khác khiến bạn mất kết nối với thực tại.

    Khi việc nói nhiều không đi cùng với bất kỳ sự căng thẳng nào về cảm xúc hoặc gây ra những cảm xúc không thoải mái nào thì có thể đó chỉ là một phần của con người bạn.

    Làm sao để nói chuyện có ý thức hơn

    Ngay cả khi một người thích tán gẫu không có bất kỳ vấn đề tiềm ẩn nào thì nó vẫn có thể gây ra một số khó khăn trong những tương tác hằng ngày.

    Vào lúc này hay lúc khác, bạn có lẽ từng nghe nói rằng giao tiếp là con đường 2 chiều.

    Bạn không thể chỉ lo bày tỏ ý kiến của riêng mình.

    Việc lắng nghe cũng rất cần thiết.

    Trừ khi bạn dành thời gian để làm cả hai điều này, bằng không thì bạn vẫn chưa thực sự biết giao tiếp.

    Nếu có người từng phàn nàn rằng, "Hãy để người khác nói vài lời," hoặc "Ừ, cậu đã kể câu chuyện đó cả triệu lần rồi," thì rất đáng để bạn xem xét lại những cuộc trò chuyện gần đây của mình để cân nhắc về thời gian mà bạn dành để nói so với thời gian để lắng nghe.

    Những mẹo này có thể giúp bạn giao tiếp có ý thức hơn.

    Chú ý đến phản ứng của người khác

    Bạn thường học được rất nhiều điều về phong cách trò chuyện và âm lượng giọng nói của mình bằng cách để ý đến phản ứng của người khác.

    Hãy thử hỏi mình những câu sau:

    Người khác có xu hướng bắt đầu cuộc trò chuyện bằng cách nhanh chóng đáp rằng "Mình chỉ có vài phút để nói chuyện" hay "Mình đang vội, liệu chúng ta có thể nói ngắn gọn được không"?Liệu mọi người có vẻ miễn cưỡng bắt đầu một cuộc trò chuyện?

    Họ có thể vẫy tay và rời khỏi phòng khi bạn bước vào hoặc trả lời các cuộc gọi điện thoại bằng một tin nhắn ngắn gọn.Mọi người thường tỏ ra lơ đễnh hoặc không hứng thú với những điều bạn nói?

    Họ có thể gật đầu hoặc lướt điện thoại khi bạn đang nói, hoặc kết thúc cuộc chuyện trò bằng rất nhiều từ "Wow," "Yeah," và "Huh."

    Tất nhiên là những phản hồi này không được lịch sự cho lắm, nhưng khi hầu hết những người mà bạn nói chuyện đều phản ứng theo cách này thì bạn cần nên xem lại.Bạn từng phát hiện thấy mình từng cắt lời hoặc xen ngang lời người khác chưa?Đôi lúc bạn có nói nhiều hơn dự định hoặc tiết lộ thông tin mà người khác yêu cầu bạn giữ kín hay không?

    Nếu câu trả lời của bạn đa số là có thì hãy xem xét đến việc tạm để qua một bên những kỹ năng trò chuyện được phát triển khá tốt của bạn và tận dụng cơ hội để trau dồi kỹ năng lắng nghe tích cực của mình.

    Giữ cho cuộc trò chuyện được cân bằng

    Ngay cả khi bạn là một người nói nhiều, bạn không cần phải câm như hến.

    Trên thực tế, bạn có thể thấy mình đang ở trong những tình huống mà nói nhiều là một lợi thế.

    Có lẽ bạn thường xuyên dành thời gian cho một người bạn hướng nội, hoàn toàn vui vẻ lắng nghe khi bạn dẫn dắt cuộc trò chuyện.

    Tuy nhiên, trong một nhóm hỗn hợp hoặc những người bạn cũng nói nhiều khác, bạn có thể muốn cố gắng hơn để dành cơ hội được nói cho tất cả mọi người.

    Sau đây là vài gợi ý để giữ cân bằng:

    Hãy đặt câu hỏi thay vì lấp đầy khoảng trống bằng những kinh nghiệm của riêng bạn.Hãy lắng nghe khi người khác trả lời thay vì nghĩ đến những điều bạn muốn nói tiếp.Tránh cắt ngang ngay khi cuộc trò chuyện tạm dừng.

    Một số người cần nhiều thời gian hơn người khác để thu thập quan điểm của họ, và khoảng thời gian tạm lắng ngắn ngủi cho người khác cơ hội để suy xét về những điều người khác đã nói trước khi nói.Tránh cắt ngang lời khi người khác đang nói.

    Nếu bạn có câu hỏi hay muốn làm rõ ràng vấn đề gì, hãy chờ họ nói hết và dừng lại một cách tự nhiên trước khi bạn hỏi.

    Thoải mái với sự im lặng

    Con người thường cảm thấy không thoải mái khi cuộc trò chuyện tự dưng im lặng.

    Có lẽ bạn nói nhiều vì bạn lo mình trông có vẻ nhàm chán.

    Bạn thậm chí còn lo sợ những khoảnh khắc im lặng với người yêu có nghĩa là hai người chẳng có gì để nói với nhau và cho rằng đây là dấu hiệu cho thấy mối quan hệ của bạn sẽ không kéo dài.

    Im lặng không phải điều xấu, và một số người thậm chí còn thích sự im lặng.

    Nó cho ta cơ hội để suy ngẫm và sắp xếp suy nghĩ.

    Tham gia một cách tích cực và tôn trọng vào cuộc trò chuyện sẽ ngốn khá nhiều năng lượng—ngay cả khi bạn chỉ lắng nghe.

    Người yêu của bạn, hoặc bất cứ ai khác, có thể không có cùng mức độ năng lượng dành cho trò chuyện giống như bạn.

    Hãy giữ một cuốn nhật ký để ghi lại các suy nghĩ xuất hiện trong những lúc yên tĩnh.

    Đôi lúc, viết chúng ra giấy có thể làm dịu bớt nhu cầu nói ra, còn nếu không—bạn vẫn còn lần sau để nói!

    Suy nghĩ trước khi nói

    Chắc chắn đó là một câu nói xưa như trái đất, nhưng điều đó không làm giảm đi sự thông thái của nó.

    Chẳng có gì sai khi tập thói quen cân nhắc điều bạn muốn nói trước khi mở lời.

    Hãy tự hỏi bản thân, "Điều này có gì mới mẻ hay không?" hoặc "Mình có nên chia sẻ điều này với mọi người không?"

    Có lẽ bạn trở nên nói nhiều để bù đắp cho người yêu ít nói trong mối quan hệ, hoặc tính nói nhiều của bạn phát triển do tuổi thơ cô đơn.

    Cũng có thể nỗi lo hay sự căng thẳng thúc đẩy bạn giảm bớt lo lắng bằng cách lấp đầy không gian chết trong cuộc trò chuyện.

    Hãy thử hít thở sâu, làm các bài tập chánh niệm và những kỹ thuật nền tảng để kiểm tra bản thân trước khi bạn nói và bỏ thói quen nói ra mọi suy nghĩ có trong đầu.

    Đặc biệt là những kỹ thuật chánh niệm có thể giúp bạn học cách tập trung vào hiện tại và ưu tiên cho những điều quan trọng nhất và phù hợp nhất trong môi trường hiện tại của bạn.

    Kết luận

    Không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận ra ranh giới giữa "nói quá nhiều" và "nói vừa đủ."

    Bạn có lẽ không nên lo lắng về mức độ nói chuyện của mình nếu bạn nói rất nhiều mà người khác dường như vẫn thích trò chuyện với bạn hay hay tìm đến bạn.

    Tuy nhiên, nếu mọi người có vẻ chủ động tránh trò chuyện với bạn thì bạn cần cố gắng nói ít lại và lắng nghe nhiều hơn.

    Nếu việc bỏ thói quen nói thao thao bất tuyệt là thách thức đối với bạn thì một nhà trị liệu tâm lý có thể giúp bạn tìm hiểu nguyên do của thôi thúc nói chuyện mang tính cưỡng bách và giúp bạn xây dựng kỹ năng giao tiếp tỉnh thức hơn.

    Nguồn

     
    Tâm Lý Học
    10 nghiên cứu thú vị về hạnh phúc


    Hạnh phúc "nằm" ở đâu trong cơ thể của chúng ta?

    Nó ảnh hưởng đến di truyền của chúng ta như thế nào?

    Tại sao nó lại thay đổi theo tuổi tác? ... cùng nhiều thông tin thú vị khác về hạnh phúc sẽ được tóm tắt trong 10 nghiên cứu dưới đây.

    1.

    Hạnh phúc kích hoạt toàn bộ cơ thểKhông giống suy nghĩ, cảm xúc không chỉ nằm trong đầu óc, chúng còn gắn liền với cảm giác cơ thể.

    Nhờ vào một nghiên cứu mới mà lần đầu tiên, chúng ta có được bản đồ về liên hệ giữa cảm xúc và cảm giác cơ thể.

    Các nhà nghiên cứu ở Phần Lan đã kích thích những cảm xúc khác nhau của 701 người tham gia nghiên cứu và cho họ tô màu vào sơ đồ cơ thể những khu vực họ cảm thấy tăng hoặc giảm hoạt động.

    Đây là .

    Sơ đồ cơ thể về cảm xúc Màu vàng cho thấy mức hoạt động cao nhất, sau đó là đến đỏ.

    Màu đen thể hiện trung tính trong khi xanh và xanh nhạt thể hiện mức độ hoạt động thấp và rất thấp.

    Thú vị ở chỗ hạnh phúc là cảm xúc duy nhất khiến cơ thể tràn ngập hoạt động, bao gồm cả chân, có thể ám chỉ việc hạnh phúc khiến chúng ta sẵn sàng lao vào hành động hay khiến ta muốn "nhảy cẫng lên".

    2.

    Hạnh phúc làm thay đổi mã di truyền không chỉ khiến bạn cảm thấy thoải mái, nó còn mang lại những ích lợi cho cơ thể, tác động đến cả mã di truyền của chúng ta.

    Một nghiên cứu đã tìm hiểu mô hình biểu hiện gene trong các tế bào chịu trách nhiệm cho việc chống trả các bệnh truyền nhiễm và bảo vệ cơ thể trước những ngoại chất.

    Kết quả cho thấy nhóm người cảm giác mức độ hạnh phúc "ý nghĩa" cao có biểu hiện gene kháng thể và kháng virus mạnh hơn.

    Như vậy, dù hạnh phúc "hưởng thụ" (hedonic happiness: cảm giác hài lòng bạn có khi trực tiếp thỏa mãn bản thân, như mua sắm hay một bữa ăn ngon) hay hạnh phúc "ý nghĩa" (eudomonic happiness: cảm giác hài lòng khi bạn hướng đến một mục tiêu cao quý, khi đi tìm ý nghĩa cuộc sống) đều khiến chúng ta hạnh phúc, thì chỉ có hạnh phúc "ý nghĩa" mới mang lại lợi ích cho chúng ta ở mức độ di truyền.

    3.

    Chúng ta hạnh phúc hơn khi sống tử tếChuyện gì xảy ra với hạnh phúc của con người khi họ phải đối mặt với khủng hoảng kinh tế?

    Chúng ta phản ứng với thất nghiệp, khó khăn, thất vọng và cảm giác bất lực trước cơn ác mộng triền miên này ra sao?

    Câu trả lời: Sự đoàn kết.

    Dữ liệu từ 255 khu vực đô thị trên khắp nước Mỹ cho thấy những cộng đồng tập hợp lại với nhau – bằng cách làm những việc tử tế nhỏ nhặt cho nhau như tình nguyện hay trợ giúp láng giềng – sẽ trở nên .

    Gắn kết xã hội có tác dụng phòng ngừa: chúng ta hạnh phúc hơn khi biết làm việc tử tế.4.

    Hãy cư xử như người hướng ngoại – ngay cả khi bạn là người hướng nội.Cư xử như người hướng ngoại – ngay cả khi bạn là người hướng nội – giúp chúng ta cảm thấy hạnh phúc hơn.

    Kết luận này đến từ khảo sát được thực hiện trên hàng trăm người ở Mỹ, Venezuela, Philippines, Trung Quốc và Nhật Bản.

    Những người tham gia cho biết họ cảm thấy cảm xúc tích cực nhiều hơn trong các sự kiện thường nhật khi họ hành động hay cảm nhận nghiêng về hướng ngoại.Trước đó, các nghiệm thể được yêu cầu hành xử theo hướng cởi mở trong vòng 10 phút và sau đó ghi nhận việc đó khiến họ cảm thấy như thế nào.

    Ngay cả với những người hướng nội – những người đặc biệt thích các hoạt động làm việc cá nhân – .

    5.

    Hạnh phúc lây lan trên mạng

    Một nghiên cứu vừa kết luận, những cảm xúc được thể hiện trên mạng – cả tích cực và tiêu cực – đều có khả năng lây lan.

    Một trong những đã tìm hiểu nội dung cảm xúc của một tỉ bài đăng trong vòng 2 năm.

    Phần mềm đã được sử dụng nhằm giúp phân tích nội dung cảm xúc của mỗi bài đăng.

    Kết quả cho thấy các cảm xúc tích cực lan truyền mạnh mẽ hơn những cảm xúc tiêu cực, với những thông điệp tích cực sẽ lây lan nhanh hơn các thông điệp tiêu cực.

    6.

    Tuổi tác thay đổi nguyên nhân khiến chúng ta hạnh phúcKhi tuổi càng cao, chúng ta càng .

    Một nghiên cứu vừa khảo sát 200 người từ 19 đến 79 tuổi về những trải nghiệm hạnh phúc, cả bình thường và khác thường, mà họ có được.

    Trên khắp các nhóm tuổi, mọi người tìm thấy niềm vui thích nơi nhiều kiểu trải nghiệm khác nhau.

    Nhưng nhóm người cao tuổi là những người có được nhiều niềm vui nhất từ những trải nghiệm diễn ra hàng ngày.

    Họ thích thú khi giành thời gian với gia đình, từ việc gặp mặt ai đó cho đến một vòng tản bộ trong công viên.

    Trong khi đó, những người trẻ lại tự xác định mình bằng những trải nghiệm "phi thường" nhiều hơn.

    7.

    Tại sao người sống vật chất lại ít hạnh phúc hơn?Lý do là vì khi bạn tập trung vào thứ bạn muốn – những thứ bạn chưa có – bạn sẽ khó trân trọng những thứ bạn đang có hơn. vừa phát hiện rằng những người vật chất thường ít có lòng biết ơn và điều này liên hệ tới mức độ hài lòng với cuộc sống thấp.

    Nghiên cứu trích dẫn câu nói của nhà hiền triết Hy Lạp Epicurus: "Đừng làm hỏng những gì bạn đang có bằng cách khao khát những gì bạn chưa có; hãy nhớ rằng những thứ bạn hiện có đã từng là những thứ bạn mong có."

    Câu nói này xem ra cần phải có mặt trên tất cả các thẻ tín dụng.

    8.

    Sức mạnh của kết nối xã hộiMột nghiên cứu cho thấy mối tương quan có liên hệ đến hạnh phúc mạnh hơn cả thành tích học tập.

    Trong khi mối liên hệ giữa thành tích học tập với hạnh phúc không cao thì liên kết xã hội chặt chẽ ở tuổi nhỏ và vị thành niên gắn với mức độ hạnh phúc cao hơn trong tuổi trưởng thành.

    Có vẻ như tất cả những gì bạn được dạy trong trường là chưa đủ để giúp bạn hiểu được như thế nào là hạnh phúc, cả về ý nghĩa cảm xúc lẫn thể lý.

    9.

    Những mục tiêu hướng đến hạnh phúc Điều bất ngờ là chúng ta thường sai lầm về .

    Một nghiên cứu mới cho thấy một vài mục tiêu hạnh phúc cụ thể sẽ có hiệu quả hơn những mục tiêu trừu tượng.

    Nghiên cứu tìm ra rằng những hành động giúp vươn tới một mục tiêu cụ thể (như khiến người khác cười) sẽ khiến chủ thể cảm thấy hạnh phúc hơn so với một mục tiêu trừu tượng (khiến ai đó hạnh phúc).

    Bằng cách suy nghĩ những mục tiêu hạnh phúc theo hướng cụ thể, chúng ta có thể giảm thiểu khoảng cách giữa kỳ vọng và những điều thực sự khả thi.

    10.

    Hạnh phúc bất ngờ từ những khoảnh khắc nhỏ nhặt, những điều "tầm thường", những trải nghiệm thường nhật có thể mang đến những niềm vui bất ngờ.

    Trong một nghiên cứu, 135 sinh viên được yêu cầu viết một số nội dung vào đầu mùa hè, sau đó sẽ được niêm phong trong 3 tháng, bao gồm:Một cuộc trò chuyện mới diễn ra;Sự kiện xã hội cuối cùng họ vừa tham gia;Một trích đoạn trong bài làm họ mới viết;Và ba bài hát họ yêu thích.Khi đó, họ cũng được yêu cầu dự đoán họ sẽ cảm thấy như thế nào về những điều trên khi họ đọc lại những thông điệp này trong 3 tháng sau.

    Dù đây là những thứ khá "tầm thường" nhưng các sinh viên đều đã đánh giá thấp mức độ họ sẽ bất ngờ và tò mò ra sao khi họ xem lại những điều này.

    Nghiên cứu nhắc nhớ về cách thức chúng ta thường đánh giá thấp mức độ hạnh phúc ta có được từ những sự kiện thường nhật.

    Vậy, tại sao bạn không thử viết cho mình một thông điệp ngay từ ngày hôm nay? (Hành Lang Tâm Lý dịch) http://hanhlangtamly.blogspot.com/2015/02/nghien-cuu-thu-vi-ve-hanh-phuc.html

    Cre : Rubi
     
    Tâm Lý Học
    Yêu là gì?


    Hiểu rõ về điều tốt đẹp ở người mình yêu, đồng nghĩa ta đã tặng cho bản thân những khoảnh khắc hạnh phúc tột độ và nguồn cảm hứng không pha tạp.

    YÊU LÀ GÌ? – là Quan tâm Có một cách để có thể hiểu được tại sao tình yêu lại quan trọng đến vậy, tại sao có thể coi tình yêu như lẽ sống, đó chính là nhìn sâu vào những thách thức của sự cô đơn.

    Cô đơn là chủ đề mà ta thường hay lảng tránh: người chưa có ai thì cảm thấy xấu hổ, kẻ đã có đôi có cặp thì (ở mức độ nhất định) cảm thấy tội lỗi.

    Song, những đau khổ từ sự cô đơn là một hiện tượng phổ quát và không có gì phải xấu hổ.

    Trên hết thảy, ta không nên cảm thấy cô đơn vì mình cô đơn.

    Một cách vô tình, sự cô đơn lại mang lại cho chúng ta hiểu biết thuyết phục nhất, rằng vì sao tình yêu lại quan trọng đến vậy.

    Có một số ít người từng trải, hiểu biết về tầm quan trọng của tình yêu hơn là những người chẳng có ai để thương nhớ.

    Thật khó để hiểu được tình yêu cho đến khi – và chỉ khi – một người đã, lúc nào đó trên đường đời, trải qua những cung bậc chua xót bên một ai đó.

    Khi ta cô đơn, mọi người có thể nỗ lực chỉ cho ta thấy lòng tốt giữa người với người, có thể bằng những lời mời, hoặc những cử chỉ động chạm.

    Song rất khó để con người thoát ra được nhận thức cơ bản về điều kiện của sự quan tâm hay chăm sóc.

    Ta có trách nhiệm phải xác định các giới hạn về khả năng đáp ứng của những người thân sẵn tình thương nhất, và cảm nhận được ta có thể đòi hỏi ở một người nào đó được đến đâu.

    Thường thì ta nghĩ đến điều này quá sớm, hoặc quá muộn.

    Trong những khoảnh khắc ảm đạm nhất, ta thậm chí có cảm tưởng rằng dù mình có biến mất khỏi Trái đất này cũng chẳng có ai nhận ra hoặc quan tâm.

    Trong một mối quan hệ thông thường, ta không thể cứ đơn giản chia sẻ mọi điều ta đang nghĩ: phần lớn các cuộc độc thoại nội tâm của chúng ta đều không đáng quan tâm, hoặc quá phức tạp, vu vơ, cả nghĩ để có thể thành chuyện khiến người khác hứng thú.

    Một cách dễ hiểu, những người thân quen với ta đều có kỳ vọng nhất định, mà sẽ không khôn ngoan, nếu ta cố làm cho họ phải nghĩ rằng bạn của họ không là người bình thường, giống như bao người khác trong xã hội.

    Ngoài ra, ta cũng phải duy trì một mức độ lịch thiệp nhất định.

    Chẳng có ai có thể cảm thấy cuồng nộ, ám ảnh, quái dị hoặc thù ghét là tính cách đặc biệt hấp dẫn.

    Ta không thể làm quá hoặc to tiếng.

    Một phiên bản cá nhân đã được đẽo gọt một cách lý trí là cái giá ta phải trả cho tình hữu nghị.

    Ta cũng phải chấp nhận rằng đa phần những gì về con người của ta đều không dễ hiểu.

    Nhiều nỗi bận tâm sâu sắc nhất của ta khi nói ra sẽ gặp phải thái độ khó hiểu, chán nản hoặc sợ hãi.

    Phần lớn mọi người sẽ chẳng ai để ý.

    Nhiều suy nghĩ từ sâu thẳm của ta ít được quan tâm.

    Ta sẽ phải tồn tại như những đoạn văn dễ hiểu nhưng được viết tắt hoàn toàn trong tâm trí của hầu hết mọi người.

    Những khía cạnh âm thầm tàn phá tâm hồn ta từ cuộc sống độc thân này, tình yêu cam kết sẽ khắc phục tất cả.

    Với người ta yêu, ta được cam kết dường như không giới hạn về mức độ lo lắng, chăm sóc, quan tâm và nguyện ý.

    Ta được chấp nhận nhiều hơn hoặc ít hơn bản chất của ta; song ta chẳng còn áp lực phải chứng tỏ bản thân mãi nữa.

    Chẳng hề gì nếu ta bộc lộ những yếu điểm, những khao khát cực đoan, ngớ ngẩn, vô lý và cứ thế mà sống.

    Vẫn sẽ ổn thôi nếu ta làm toáng lên, hát dở ẹc hay khóc lóc.

    Ta sẽ được bao dung nếu có một lúc nào đấy kém hấp dẫn hoặc tệ hại.

    Ta có thể đánh thức người yêu vào giữa đêm để chia sẻ nỗi buồn hoặc sự phấn khích.

    Từng vết trầy xước nhỏ nhất của ta cũng sẽ được quan tâm.

    Ta có thể khơi ra chủ đề ngộ nghĩnh vụn vặt nào đó (chẳng còn những điều như vậy kể từ hồi ta còn nhỏ xíu – như lần gần nhất ai đó nghiêm túc tiêu tốn năng lượng để tranh cãi xem có nên cài chiếc cúc áo Cardigan trên cùng hay không).

    Với người yêu, mọi đánh giá về ta sẽ chẳng còn quá nhanh chóng và đầy hoài nghi.

    Người yêu ta chẳng ngại tiêu tốn thời gian.

    Khi ta ướm lời bóng gió về điều gì đó, họ sẽ háo hức và sôi nổi.

    Họ sẽ nói 'tiếp tục đi' khi ta loạng choạng và ngập ngừng.

    Họ chấp nhận rằng sẽ phải mất nhiều kiên nhẫn để chậm rãi lật mở câu chuyện viết về quá trình ta trở thành con người như hiện tại.

    Họ sẽ chẳng buông thõng câu 'khổ thân' rồi quay lưng đi.

    Họ sẽ kiếm tìm từng chi tiết xác đáng; ghép thành một bức tranh hoàn chỉnh để làm sáng tỏ một cách công tâm về cuộc sống nội tâm của ta.

    Và khi ta thú nhận điều gì đó, thay vì nhìn ta như một kẻ lập dị, họ sẽ dịu dàng đáp 'anh/em cũng vậy.' Những phần mong manh về con người của ta sẽ an toàn trong đôi tay họ.

    Ta sẽ thấy biết ơn người đó – người đã làm những điều ta vốn nghĩ không thể: hiểu rõ về ta và vẫn yêu ta không chút sứt mẻ.

    Ta sẽ thoát được ra khỏi thứ suy nghĩ trái ngược, chi phối và khắc nghiệt, rằng cách duy nhất để người khác thích mình là giấu cho kỹ phần lớn nội tâm ta trong một vỏ bọc.

    Ta bắt đầu cảm thấy rằng mình đang tồn tại.

    Bản dạng của ta được an toàn, ta sẽ chẳng còn phải là người duy nhất canh giữ câu chuyện về bản thân.

    Khi sự thờ ơ của cả thế giới khiến ta ớn lạnh và hao mòn, ta còn có thể quay về với người ta yêu để được hàn gắn, được soi chiếu bản thân bằng những điều có thể trấn an và xoa dịu.

    Bị cô lập tứ phía bởi đủ loại lạnh nhạt, cuối cùng ta cũng nhận ra rằng, trong vòng tay của một người phi thường, kiên nhẫn và tử tế đủ để nhận một sự biết ơn vô hạn, ta thực sự quý giá. – là Cảm phục Trong đoạn đối thoại của Plato, tác phẩm The Symposium, nhà viết kịch Aristophanes cho rằng nguồn gốc của tình yêu là khao khát được lấp đầy bản thân bằng việc tìm kiếm 'nửa còn lại' đã mất từ lâu.

    Ông mạo hiểm đưa ra một ước đoán thú vị: vào thuở hồng hoang, con người đều lưỡng tính, có hai lưng, hai hông, bốn tay, bốn chân, một đầu với hai khuôn mặt nhìn về hai hướng đối diện.

    Những cá thể lưỡng tính này rất mạnh mẽ và lòng kiêu hãnh của họ lớn đến nỗi thần Zeus buộc phải tách họ làm đôi – một nửa nam, một nửa nữ.

    Và kể từ ngày đó, mỗi chúng ta đều có khát khao sầu lụy được gặp lại nửa còn lại đã bị chia cắt.

    Ta không nhất thiết phải tin vào câu chuyện đó để nhận ra một sự thực mang tính biểu tượng: ta sẽ đem lòng yêu một người, bằng những cách nào đó, khiến ta cảm thấy trọn vẹn.

    Giữa cảm xúc hưng phấn của những ngày mới yêu là sự biết ơn vì đã tìm được một người dường như hoàn hảo để bổ khuyết cho những phẩm chất và khuynh hướng của ta.

    Họ có thể là người kiên nhẫn một cách đáng ghi nhận với các thủ tục hành chính rườm rà, hoặc giữ quan điểm sục sôi chống lại chính quyền.

    Họ cũng có thể là người có khả năng giữ mọi thứ cân bằng và tránh hiềm khích.

    Hoặc, họ là người có thiên hướng u sầu và nhạy cảm, mà qua đó, họ có thể kết nối với những dòng suy nghĩ và cảm xúc sâu sắc hơn.

    Chúng ta yêu những người khác nhau bởi chúng ta thiếu những điều khác nhau.

    Những khía cạnh đáng mong muốn của bạn đời chính là những điều chúng ta ngưỡng mộ song bản thân ta không có.

    Ta có thể bị hấp dẫn mãnh liệt bởi một người sành sỏi, bởi ta biết cuộc sống của mình bị hạn chế thế nào bởi sự thiếu tự tin và thường hoảng loạn với các rắc rối hành chính quan liêu.

    Hoặc ta chỉ quan tâm tính cách hài hước ở bạn đời, bởi ta biết rõ rằng mình hay rơi vào xu hướng thất vọng và hoài nghi.

    Hay phong thái của một người có khả năng tập trung trầm tư suy nghĩ cao độ sẽ cuốn hút ta, nếu ta coi nó là lối thoát cho tâm trí hay lo âu quá đà và bay bổng thái quá của bản thân.

    Cơ chế này cũng áp dụng với đặc điểm ngoại hình: ta ưa thích nụ cười đó bởi nó là dấu hiệu cho thấy sự chấp nhận vô cùng cần thiết con người thật của ta (từ đó chống đỡ các hành động trừng phạt đáng lo ngại hoặc quan điểm thẳng thắn không nhân nhượng của ta).

    Ngay cả một nụ cười mỉa mai trâng tráo cũng có thể là nét quyến rũ bởi nó mang lại sự cân bằng cho cái nhìn quá mức cam chịu về cuộc sống của ta.

    Những thiếu sót cá nhân là lý giải cho xu hướng chọn bạn đời của mỗi người.

    Khi yêu, ít nhất ta cũng hy vọng phần nào sẽ được người mình yêu giúp đỡ và bù đắp.

    Đây chính là mong muốn tiềm thức về sự giáo dục và trưởng thành.

    Ta mong có thể có một chút thay đổi bản thân với sự xuất hiện của họ – nhờ những giúp đỡ từ họ – trở thành một phiên bản 'ta' tốt hơn.

    Tình yêu, từ sâu thẳm, là kỳ vọng về một sự cứu chuộc cá nhân: giải pháp cho một số bế tắc và băn khoăn.

    Ta không nên mong rằng mình có khả năng tự giải quyết được mọi chuyện.

    Mà ta có thể, trong một chừng mực nào đó, là học sinh; và bạn đời là thầy cô giáo.

    Ta thường nghĩ giáo dục là một thứ gì đó khắc nghiệt, buộc ta chống lại ý chí của chính ta.

    Tình yêu hứa hẹn sẽ mang 'giáo dục' đến với một ý nghĩa rất khác.

    Qua người mình yêu, sự trưởng thành của ta có thể bắt đầu theo một cách đáng mong đợi và giàu năng lượng hơn: với sự phấn khích và khát khao sâu sắc.

    Hiểu rõ về điều tốt đẹp ở người mình yêu, đồng nghĩa ta đã tặng cho bản thân những khoảnh khắc hạnh phúc tột độ và nguồn cảm hứng không pha tạp.

    Sự hưng phấn của tình yêu hoàn toàn đối lập với sự thất vọng và hoài nghi thông thường của ta về người khác; ta nhận ra những sai sót ở một người là một trò chơi quen thuộc, chóng hết màn và đau đớn thay, dù thắng cũng chẳng có thưởng.

    Giờ đây, tình yêu cho ta nguồn năng lượng để xây dựng và gìn giữ những câu chuyện tuyệt vời nhất về ai đó.

    Ta trở về với lòng biết ơn ban sơ nhất.

    Ta ngây ngất trước những chi tiết tưởng chừng nhỏ nhất: cách họ gọi tên ta, chiếc áo thun họ hay mặc, dáng họ chống cằm, vết sẹo nhỏ trên ngón trỏ trái hay một từ họ luôn phát âm kỳ cục...

    Thật bất thường khi quan tâm một đồng loại đến như vậy, để ý đến từng điều nhỏ nhặt, cảm động, hoàn mỹ hoặc xót xa ở một người đến vậy.

    Đây có lẽ là điều chỉ có bậc cha mẹ, các nghệ sĩ và Chúa mới làm.

    Ta không thể và không cần ở trong trạng thái này mãi, sự phấn khích của những ngày mới yêu cũng không luôn luôn ổn định, nhưng đây là một trong những thú vui quý giá nhất và mang tính xây dựng nhất – một môn nghệ thuật theo cách của riêng nó – cho phép bản thân mình vào một lúc nào đó đánh giá chính xác sự phức tạp, vẻ đẹp và đức hạnh thực sự của một ai đó. – là Khao khát Một trong những khía cạnh đáng ngạc nhiên và phức tạp hơn về tình yêu chính là ta không chỉ mong muốn ngưỡng mộ đối tác của mình, mà còn bị khát khao mãnh liệt được sở hữu thân thể của họ.

    Mọi câu chuyện tình thường được đánh dấu bởi một hành động, trên thực tế, vô cùng kỳ quặc: hai cơ quan vốn được dùng để ăn uống và trò chuyện được cọ sát và áp vào nhau với một lực tăng dần, cùng với đó là quá trình tiết nước bọt.

    Lưỡi, cơ quan trên cơ thể người đóng vai trò thực hiện việc phát âm, hoặc để đẩy khoai tây nghiền cùng bông cải xanh ra phía sau vòm miệng, nay chuyển động để gặp đối tác của nó, và đầu lưỡi nhịp nhịp như những nốt nhạc ngắn lặp đi lặp lại.

    Ta chỉ có thể hiểu vai trò của tình dục trong tình yêu khi ta chấp nhận rằng ta không chỉ cần – từ quan điểm thuần thể xác – trải nghiệm thỏa mãn với chính bản thân.

    Không phải lúc nào tình dục cũng là xúc cảm dễ chịu như cảm giác khi được mát xa da đầu hay ăn một con hàu.

    Tuy nhiên, làm tình với người mình yêu vẫn có thể là một trong những điều tuyệt vời nhất ta từng trải nghiệm.

    Lý do là bởi tình dục đem tới cho ta một khoái cảm tâm lý vô cùng quan trọng.

    Sự thỏa mãn của ta bắt nguồn từ việc được chấp thuận cho làm một điều gì đó cực kỳ riêng tư với người khác.

    Cơ thể người khác luôn là một nơi tư mật được bảo vệ kỹ càng.

    Sẽ cực kỳ xâm phạm khi đụng chạm một người lạ, vờn tay vào má họ hoặc chạm vào khu vực giữa chân họ.

    Sự cho phép lẫn nhau được chạm đến ranh giới cuối cùng là một điều gì đó rất xúc động và lớn lao.

    Khi bỏ hết các lớp phòng vệ và trao cho người kia bản thể của chính mình, ta đang ngầm truyền tới cho người kia thông điệp rằng họ là mẫu người ít ỏi được lòng ta bảo vệ nghiêm mật, rằng ta chấp thuận trao cho họ một đặc quyền quý giá nhất.

    Hưng phấn tình dục mang tính tâm lý.

    Kích thích không hẳn chỉ đến từ những gì diễn ra với thân thể chúng ta, mà xuất phát từ chính tâm trí: một sự chấp nhận là tâm điểm của những trải nghiệm chúng ta thường gọi chung là 'bị kích thích'.

    Thân thể chúng ta cảm nhận được rõ ràng – huyết áp tăng, trao đổi chất tăng, da thịt nóng bỏng; nhưng đằng sau đó là một một sự chuyển biến rất khác biệt: cảm giác chấm dứt sự cô đơn của ta.

    Nói tóm lại, nền văn minh đòi hỏi chúng ta phải thể hiện phần bản thân đã qua một phiên bản chỉnh sửa nghiêm ngặt với những người khác.

    Nó đòi hỏi chúng ta phải là bản thanh sạch hơn, trong sáng hơn, lịch thiệp hơn con người thật của mình.

    Đòi hỏi này khiến ta phải trả một cái giá nội tâm lớn, khi những khía cạnh quan trọng trong nhân cách của ta bị đẩy vào bóng tối.

    Nhân loại từ lâu đã bị cuốn theo – và gặp rắc rối nghiêm trọng – với sự mâu thuẫn giữa những lý tưởng cao đẹp nhất với nhu cầu tính dục khẩn thiết và kích thích nguyên thủy.

    Vào đầu thế kỷ thứ III, Origen, một vị thánh và là học giả Kitô giáo, đã tịnh thân bởi Ngài quá kinh hoàng trước khoảng cách giữa hình mẫu Ngài muốn trở thành (nghiêm cẩn, hiền hòa và nhẫn nại) với phần con người mà Ngài cảm thấy do dục tính tạo thành (tục tĩu, dâm đãng và không thể kiềm chế).

    Ngài là đại diện cho phái cực đoan dị thường với những buồn khổ, trên thực tế, rất thông thường và phổ biến.

    Ta cũng có thể gặp những người – một cách vô ý – đang củng cố sự chia tách này.

    Một người yêu ta về cả khía cạnh dục tính cũng mang lại điều gì đó mang tính hàn gắn rõ ràng: họ chấm dứt việc phân tách giữa 2 nhân dạng trong ta.

    Họ nhìn nhận ta như một cá nhân duy nhất vào mọi thời điểm, và sự tốt đẹp hay phẩm hạnh của ta không phải là giả dối chỉ vì những gì ta thể hiện ra trên giường và ngược lại.

    Chính nhờ dục tính trong tình yêu, ta có cơ hội được khắc phục vấn đề trong sâu thẳm cô đơn của bản chất con người: làm sao để có thể được chấp nhận con người chân thật của mình.

    Cer : Rubi
     
    Tâm Lý Học
    Có vẻ như các nhà khoa học và các triết gia


    Chúng ta là những bản ngã có ý thức vì chúng ta cũng là những cỗ máy thú vật – những cái túi thịt tự duy trì, quan tâm đến sự tồn tại của chúng.

    Đâu là cách tốt nhất để hiểu được Ý thức?

    Trong triết học, theo René Descartes, các cuộc tranh luận kéo dài hàng thế kỷ vẫn tiếp tục diễn ra gay gắt về việc liệu Vũ trụ có bị phân chia thành 'mặt tinh thần' và 'mặt vật chất' hay không.

    Nhưng sự trỗi dậy của khoa học thần kinh hiện đại đã chứng kiến một cách tiếp cận thực dụng hơn đang thắng thế: một cách tiếp cận được dẫn dắt bởi triết học nhưng lại không dựa vào nghiên cứu triết học để đưa ra câu trả lời.

    Điểm mấu chốt của nó là nhận ra việc lý giải tại sao ý thức tồn tại là không cần thiết để đạt được sự tiến bộ trong việc tiết lộ nền tảng vật chất của nó – để bắt đầu xây dựng các cầu nối giải thích từ chủ quan và phi thường đến khách quan và có thể đo lường được.

    Trong công việc của tôi tại Trung tâm Khoa học ý thức ở Đại học Sussex, Brighton, tôi cộng tác với các nhà khoa học nhận thức, nhà khoa học thần kinh, bác sĩ tâm thần, người chụp ảnh não, những phù thủy thực tế ảo và nhà toán học–có cả triết gia nữa–cố gắng để làm điều này.

    Rồi cùng với các phòng thí nghiệm khác, chúng tôi đang thu được những hiểu biết mới mẻ đầy thú vị về ý thức–những hiểu biết tạo nên những khác biệt thực sự trong y học, và rồi điều này lại làm nảy sinh những thách thức mới về trí tuệ và đạo đức.

    Trong nghiên cứu của riêng tôi, một bức tranh mới đang hình thành trong đó trải nghiệm có ý thức được xem là nền tảng sâu sắc về cách thức mà não bộ và cơ thể hoạt động cùng với nhau để duy trì tính toàn vẹn về mặt sinh lý – tức là còn tồn tại.

    Trong câu chuyện này, chúng ta là những 'cỗ máy-thú vật' có ý thức, và tôi hy vọng sẽ giúp bạn hiểu được lý do tại sao.

    Hãy bắt đầu với sự phân biệt có sức ảnh hưởng lớn của David Chalmers, kế thừa từ Descartes, giữa 'vấn đề dễ' và 'vấn đề khó'.

    'Vấn đề dễ' là hiểu được cách mà não bộ (và cơ thể) tạo ra tri giác, nhận thức, sự học hỏi và hành vi.

    Vấn đề 'khó' là hiểu được tại sao và làm thế nào mà mấy thứ này lại gắn kết với ý thức: Tại sao chúng ta không phải chỉ là những robot, hoặc thây ma biết nói chuyện triết lý, mà không hề có thế giới nội tâm?

    Thật hấp dẫn khi nghĩ rằng việc giải quyết vấn đề dễ (bất kể điều này có nghĩa là gì) sẽ chẳng đưa chúng ta đi đến đâu cả trong việc giải quyết vấn đề khó, khiến cho cơ sở não bộ của ý thức trở thành một điều bí ẩn.

    Nhưng có một giải pháp thay thế, mà tôi muốn gọi là Vấn đề chính: làm thế nào để giải thích về các thuộc tính khác nhau của ý thức về cơ chế sinh học; mà không phải vờ vịt rằng nó không tồn tại (vấn đề dễ) và không quá lo lắng về chuyện giải thích sự tồn tại của nó ngay từ đầu (vấn đề khó). (Ai quen với 'hiện tượng học thần kinh--' sẽ nhận ra một số điểm tương đồng với cách sắp đặt này–nhưng cũng có những điểm khác biệt, mà chúng ta sẽ thấy.)

    Có một vài điểm tương đồng về mặt lịch sự với cách tiếp cận này, ví dụ như trong nghiên cứu về cuộc sống.

    Có lần, các nhà hóa sinh đã ngờ rằng các cơ chế sinh học có thể giải thích được thuộc tính của sự sống.

    Ngày này, dù hiểu biết của chúng ta còn chưa đầy đủ, song cảm giác bí ẩn ban đầu này phần lớn đã tan biến.

    Các nhà sinh học đơn giản là bắt đầu với công việc lý giải về các thuộc tính khác nhau của các hệ thống sống về các cơ chế cơ bản: trao đổi chất, cân bằng nội môi, sinh sản v.v...

    Một bài học quan trọng ở đây là cuộc sống không phải là 'một thứ'–mà đúng hơn là nó tiềm ẩn nhiều khía cạnh tách biệt.

    Cũng vậy, giải quyết vấn đề chính của ý thức phụ thuộc vào việc phân biệt các khía cạnh khác nhau của ý thức, và lập bản đồ các thuộc tính hiện tượng học của chúng (mô tả chủ quan ở ngôi thứ nhất về trải nghiệm có ý thức là như thế nào) về các cơ chế sinh học cơ bản (mô tả khách quan ở ngôi thứ ba).

    Một điểm khởi đầu tốt là phân biệt được giữa mức độ ý thức, nội dung ý thức và bản ngã có ý thức.

    Mức độ ý thức có liên quan đến việc có ý thức–sự khác nhau giữa trạng thái ngủ mà không mộng mị (hoặc được gây mê toàn thân) và trạng thái tỉnh táo, nhận thức rõ ràng.

    Nội dung ý thức là cái chứa đựng những trải nghiệm có ý thức của bạn khi bạn đang ý thức–cảnh tượng, âm thanh, mùi, cảm xúc, suy nghĩ và niềm tin tạo nên thế giới bên trong của bạn.

    Và trong số những nội dung có ý thức này là trải nghiệm cụ thể của việc đang là bạn.

    Đây là bản ngã có ý thức, và có lẽ là khía cạnh của ý thức mà chúng ta bám chặt nhất.

    Đâu là các cơ chế não bộ cơ bản làm cơ sở cho khả năng ý thức của chúng ta?

    Điều quan trọng là, mức độ ý thức khác với sự tỉnh táo.

    Khi bạn mơ, bạn vẫn có trải nghiệm ý thức mặc dù bạn đang ngủ.

    Và trong một số trường hợp bệnh lý, chẳng hạn như trạng thái sống thực vật, bạn có thể hoàn toàn không có ý thức, nhưng vẫn trải qua các chu kỳ ngủ và thức.

    Vậy điều gì làm nền tảng cho việc có ý thức một cách cụ thể, trái ngược với tình trạng tỉnh táo?

    Chúng ta biết rằng điều đó không chỉ là số lượng các nơ-ron có liên quan.

    Tiểu não (cái gọi là 'bộ não bé' treo đằng sau vỏ não) có số lượng nơ-ron nhiều gấp bốn lần phần còn lại của não, nhưng hầu như không tham gia vào việc duy trì mức độ ý thức.

    Đó thậm chí không phải là mức độ hoạt động thần kinh tổng thể–não của bạn gần như vẫn hoạt động trong giấc ngủ không mộng mị cũng như khi bạn đang có ý thức tỉnh táo.

    Đúng hơn là, có vẻ như ý thức phụ thuộc vào cách mà các phần khác nhau của não bộ trao đổi với nhau, theo những cách cụ thể.

    Một loạt các nghiên cứu của nhà thần kinh học Marcello Massimini tại Đại học Milan đưa ra bằng chứng mạnh mẽ cho quan điểm này.

    Trong những nghiên cứu này, não bộ được kích thích bởi những xung năng lượng ngắn–sử dụng một kỹ thuật gọi là kích thích từ trường xuyên sọ (TMS)–và 'tiếng vang' điện của nó được ghi lại bằng EEG.

    Trong giấc ngủ không chiêm bao và gây mê toàn thân, thì những tiếng vang này rất đơn giản, tựa như những làn sóng được tạo ra bằng cách ném một hòn đá vào mặt nước tĩnh lặng.

    Nhưng trong các trạng thái có ý thức, một tiếng vang điển hình phân bố rộng khắp bề mặt vỏ não, biến mất rồi trở lại dưới những dạng phức tạp.

    Thật thú vị, hiện giờ chúng ta có thể định lượng độ phức tạp của những tiếng vang này bằng cách tính toán độ chịu nén của chúng, tương tự như cách các thuật toán đơn giản nén ảnh kỹ thuật số thành tệp JPEG.

    Khả năng làm được điều này thể hiện bước đầu tiên hướng tới một 'máy đo ý thức' hữu ích về mặt thực tế và được thúc đẩy về mặt lý thuyết.

    Các phép đo phức tạp của ý thức đã được sử dụng để theo dõi mức độ ý thức thay đổi qua các trạng thái ngủ và gây mê.

    Chúng thậm chí được dùng để kiểm tra sự tồn tại của ý thức sau chấn thương não, khi mà những chẩn đoán dựa trên hành vi của bệnh nhân đôi lúc có thể sai lầm.

    Tại Trung tâm Sackler, chúng tôi đang nỗ lực cải thiện tính thực tiễn của các phép đo này bằng cách tính toán 'độ phức tạp của não bộ' trên cơ sở hoạt động thần kinh tự phát–'tiếng vọng' liên tục của não bộ–mà không cần kích thích não.

    Lời hứa là khả năng đo lường ý thức, để định lượng sự xuất hiện và biến mất của nó, sẽ thay đổi hiểu biết khoa học của chúng ta giống hệt như hiểu biết vật lý của chúng ta về nhiệt (như động năng phân tử trung bình) phụ thuộc vào sự phát triển, ở thế kỷ 18, của những nhiệt kế đáng tin cậy đầu tiên.

    Lord Kelvin đã nói như thế này: 'Trong khoa học vật lý, bước thiết yếu đầu tiên theo hướng học bất kỳ chủ đề nào là tìm ra các nguyên tắc của sự tính toán bằng số và các phương pháp khả thi để đo lường một số đặc tính liên quan đến nó.' Đơn giản hơn là: 'Đo được là biết được.'

    Nhưng 'đặc tính' nào mà những phép đo độ phức tạp của não bộ đang muốn đo lường?

    Đây là lúc mà những ý tưởng lý thuyết mới về ý thức nhập cuộc.

    Chúng bắt đầu vào cuối những năm 1990, khi Gerald Edelman (thầy cũ của tôi tại Viện Khoa học Thần kinh ở San Diego) và Giulio Tononi – hiện đang làm việc tại Đại học Wisconsin ở Madison–cho rằng những trải nghiệm có ý thức là độc nhất vô nhị vì vừa giàu 'thông tin' và đồng thời lại 'gắn kết' chặt chẽ với nhau.

    Ý thức giàu thông tin theo nghĩa là mọi trải nghiệm đều khác biệt với mọi trải nghiệm khác mà bạn từng có, hoặc có thể có.

    Lướt qua cái bàn trước mặt tôi qua cửa sổ bên kia, tôi chưa bao giờ trải nghiệm chính xác hình dạng này trước đây của tách cà phê, máy tính và những đám mây–một trải nghiệm thậm chí còn khác biệt hơn khi được kết hợp với tất cả các tri giác, cảm xúc và suy nghĩ khác đang đồng thời hiện diện.

    Mọi trải nghiệm có ý thức liên quan rất nhiều đến việc giảm thiểu sự bất định–bất cứ lúc nào, chúng ta có một kinh nghiệm trong số rất nhiều kinh nghiệm có thể xảy ra–và giảm thiểu sự bất định là những gì chúng ta muốn nói tới 'thông tin' về mặt toán học.

    Ý thức có tính thống nhất theo nghĩa là mọi trải nghiệm có ý thức biểu hiện ra như một cảnh thống nhất.

    Chúng ta không trải nghiệm về màu sắc tách biệt với hình dạng của chúng, cũng không trải nghiệm các vật thể một cách biệt lập với bối cảnh của chúng.

    Nhiều yếu tố khác nhau của trải nghiệm có ý thức của tôi ngay lúc này–máy tính và tách cà phê, cũng như âm thanh nhẹ nhàng của Bach cùng những lo lắng của tôi nên viết gì tiếp theo–dường như gắn kết với nhau theo cách sâu sắc, như các khía cạnh của một trạng thái ý thức bao trùm.

    Hóa ra toán học nắm bắt sự cùng-tồn tại và tích hợp này của thông tin và áp vào những phép đo lường độ phức tạp-não bộ mới xuất hiện mà tôi đã miêu tả ở trên.

    Đây không phải là sự ngẫu nhiên–nó là một ứng dụng của chiến lược 'vấn đề chính'.

    Chúng ta đang mô tả ý thức ở cấp độ trải nghiệm chủ quan và áp nó vào những mô tả khách quan về các cơ chế não bộ.

    Một số nhà nghiên cứu đưa những ý tưởng này đi xa hơn, để đương đầu với bản thân vấn đề khó.

    Tononi, người đi tiên phong trong cách tiếp cận này, cho rằng ý thức chỉ đơn giản là thông tin tích hợp.

    Đây là một đề xuất hấp dẫn và mạnh mẽ, nhưng nó dẫn đến việc phải thừa nhận rằng ý thức có thể hiện hữu ở khắp mọi nơi và mọi thứ, một quan điểm triết học được gọi là toàn tâm luận () (ND: Toàn tâm luận là quan điểm cho rằng vạn vật đều có ý thức).

    Các biến đổi toán học bổ sung cần thiết cũng có nghĩa là, trong thực tế, thông tin tích hợp trở nên không thể đo lường được đối với bất kỳ hệ thống phức tạp nào.

    Đây là một ví dụ để làm bài học về cách nhắm vào vấn đề khó, hơn là vấn đề chính, có thể làm chậm hay thậm chí ngăn chặn tiến trình thử nghiệm.

    Khi chúng ta có ý thức, thì chúng ta đang có ý thức về điều gì đó.

    Cái gì trong não bộ quyết định nội dung của ý thức?

    Phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn cho câu hỏi này là tìm kiếm cái được gọi là 'những tương quan thần kinh của ý thức' (NCCs).

    Vào những năm 1990, Francis Crick và Christof Koch đã định nghĩa một NCC là 'tập hợp tối thiểu của các sự kiện và cơ chế thần kinh đủ cho một kết quả tri giác có ý thức cụ thể'.

    Định nghĩa này đóng vai trò quan trọng trong một phần tư thế kỷ qua vì nó dẫn thẳng đến các thử nghiệm.

    Chúng ta có thể so sánh nhận thức có ý thức với nhận thức vô thức và tìm kiếm sự khác biệt trong hoạt động não bộ, (ví dụ) bằng cách sử dụng EEG và MRI chức năng.

    Có nhiều cách để làm việc này.

    Một trong những cách phổ biến nhất là sự cạnh tranh hai mắt (), mà trong đó những hình ảnh khác nhau được hiển thị cho mỗi mắt để tri giác có ý thức chuyển từ mắt này sang mắt kia (trong khi thông tin đầu vào cảm giác thì vẫn không thay đổi).

    Cách khác là , mà trong đó một hình ảnh lóe lên nhanh chóng được theo sau bởi một khuôn mẫu vô nghĩa.

    Ở đây, liệu hình ảnh đầu tiên có được tri giác có ý thức hay không thì còn phụ thuộc vào độ trễ giữa hình ảnh và mặt nạ.

    Các thí nghiệm như vậy đã xác định các vùng não luôn gắn liền với nhận thức có ý thức, không phụ thuộc vào việc nhận thức đó là thị giác, thính giác hay thuộc một số phương thức cảm giác khác.

    Vấn đề gần đây nhất trong câu chuyện này liên quan đến các thí nghiệm tìm cách phân biệt được giữa các vùng não bộ tham gia vào việc báo cáo về một tri giác có ý thức (ví dụ, nói rằng: 'Tôi nhìn thấy một khuôn mặt!') với các vùng não bộ tham gia vào việc tạo ra tri giác có ý thức.

    Nhưng cho dù các thử nghiệm đó rất mạnh mẽ thì chúng vẫn chưa thực sự giải quyết được vấn đề 'chính' của ý thức.

    Nói rằng một 'điểm nóng' vỏ não sau (ví dụ) được kích hoạt một cách đáng tin cậy trong lúc nhận thức có ý thức thì cũng vẫn chưa giải thích được tại sao hoạt động trong vùng não đó lại có liên quan đến ý thức.

    Bởi thế mà chúng ta cần có một lý thuyết tổng quát về nhận thức, mô tả những hoạt động của não bộ, chứ không chỉ vị trí của những hoạt động ấy.

    Vào thế kỷ 19, học giả người Đức Hermann von Helmholtz đề xuất rằng não bộ là một cỗ máy dự đoán, và những gì chúng ta nhìn thấy, nghe thấy và cảm nhận không gì khác hơn là những phán đoán tốt nhất của bộ não về nguyên nhân của các thông tin đầu vào cảm giác của nó.

    Cứ nghĩ như thế này.

    Bộ não bị nhốt bên trong một hộp sọ.

    Tất cả những gì nó nhận được là những tín hiệu cảm giác mơ hồ và ồn ào chỉ liên quan gián tiếp đến các vật thể trong thế giới.

    Do đó, tri giác phải là một quá trình suy luận, mà trong đó những tín hiệu cảm giác mập mờ được kết hợp với những kỳ vọng hay 'niềm tin' trước đó về cách thức mà thế giới này vận hành, để hình thành nên các giả thiết tối ưu của não bộ về nguyên nhân của các tín hiệu cảm giác này–của những tách cà phê, máy tính và đám mây.

    Những gì chúng ta thấy là 'phán đoán tốt nhất' của bộ não về những thứ đang ở ngoài kia.

    Ta có thể dễ dàng tìm được những ví dụ về tri giác dự đoán, cả trong phòng thí nghiệm và trong cuộc sống hằng ngày.

    Khi bước ra ngoài vào một buổi sáng đầy sương mù, nếu chúng ta định gặp một người bạn tại một trạm xe buýt, chúng ta có thể trông thấy cô ấy đang đứng ở đó cho đến khi nhìn kỹ hơn thì hóa ra là người lạ.

    Chúng ta cũng có thể nghe thấy những từ trong các luồng tạp âm vô nghĩa, nếu chúng ta đang mong đợi được nghe những từ này (hãy mở ngược lại bài hát 'Stairway to Heaven' và bạn có thể nghe được bài thơ ma quỷ).

    Ngay cả những yếu tố rất cơ bản của tri giác cũng được định hình bởi những niềm tin vô thức được mã hóa trong hệ thống thị giác của chúng ta.

    Bộ não của chúng ta được tiến hóa để đưa ra giả định (tin) rằng ánh sáng đến từ trên cao, ảnh hưởng đến cách chúng ta tri giác các hình dạng trong bóng tối.

    Quan điểm cổ điển về tri giác là não bộ xử lý thông tin cảm giác theo hướng từ dưới lên hoặc 'từ ngoài vào trong': các tín hiệu cảm giác đi qua các thụ thể (ví dụ, võng mạc) rồi sau đó tiến sâu hơn vào não bộ, với mỗi giai đoạn lại ngày càng chiêu mộ thêm quá trình xử lý trừu tượng và phức tạp.

    Theo quan điểm này, tri giác 'hạng nặng' được thực hiện bởi các kết nối từ dưới--lên này.

    Còn quan điểm của Helmholtzian thì đảo ngược khuôn khổ này, ông cho rằng các tín hiệu đi vào não bộ từ thế giới bên ngoài chỉ truyền tải những lỗi dự đoán–những khác biệt giữa điều mà bộ não kỳ vọng và điều mà nó nhận được.

    Nội dung tri giác được thực hiện bởi những dự đoán tri giác đi theo hướng ngược lại (từ trên xuống), từ sâu bên trong não bộ ra bên ngoài theo hướng các bề mặt cảm giác.

    Tri giác liên quan đến việc giảm bớt lỗi dự đoán diễn ra đồng thời trên nhiều cấp độ xử lý trong hệ thống cảm giác của não bộ, bằng cách liên tục cập nhật các dự đoán của não bộ.

    Theo quan điểm này, thường được gọi là 'mã hóa dự đoán' hay 'xử lý dự đoán', thì tri giác là một ảo giác được kiểm soát, mà trong đó các giả thuyết của bộ não liên tục được kiểm soát bởi các tín hiệu cảm giác đến từ thế giới và cơ thể.

    'Một ảo tưởng trùng khớp với thực tế,' như nhà tâm lý học Chris Frith đã nói thật hùng hồn trong cuốn sách Making Up the Mind (2007).

    Được trang bị lý thuyết này về tri giác, chúng ta có thể quay lại với ý thức.

    Bây giờ, thay vì hỏi những vùng não bộ nào có tương quan với tri giác có ý thức (đối lập với vô thức), thì ta có thể hỏi: những khía cạnh nào của tri giác dự đoán đi cùng với ý thức?

    Một số thí nghiệm hiện tại chỉ ra rằng ý thức phụ thuộc nhiều vào các dự đoán tri giác, hơn là những lỗi dự đoán.

    Năm , Alvaro Pascual-Leone và Vincent Walsh tại trường Y Harvard yêu cầu người tham gia báo cáo hướng chuyển động được tri giác của những đám mây có các chấm trôi.

    Họ dùng TMS để ngắt các tín hiệu từ trên xuống qua vỏ não thị giác, và họ phát hiện thấy điều này đã loại bỏ tri giác có ý thức về chuyển động, mặc dù các tín hiệu từ dưới--lên vẫn còn nguyên.

    Gần đây, trong phòng thí nghiệm của tôi, chúng tôi đã thăm dò các cơ chế dự đoán của tri giác có ý thức một cách chi tiết hơn.

    Trong một vài thí nghiệm–sử dụng những biến thể của phương pháp Cạnh tranh hai mắt được đề cập ở trên–chúng tôi phát hiện thấy con người nhìn thấy những thứ mà họ mong đợi, hơn là những thứ không như mong đợi của họ.

    Chúng tôi cũng khám phá ra bộ não áp đặt những dự đoán tri giác của nó tại những điểm ưa thích (hay các pha) trong cái được gọi là 'nhịp alpha', đó là một dao động trong tín hiệu EEG ở khoảng 10 Hz đặc biệt nổi bật trên các vùng thị giác của não bộ.

    Điều này rất thú vị vì nó cho ta thoáng thấy được cách thức não bộ có thể thực sự thực hiện một việc gì đó như nhận thức dự đoán, và bởi vì nó làm sáng tỏ một hiện tượng hoạt động não bộ nổi tiếng, nhịp alpha, mà chức năng của nó cho đến nay vẫn còn khó nắm bắt.

    Quá trình dự đoán cũng có thể giúp chúng ta hiểu được những dạng trải nghiệm thị giác khác thường, chẳng hạn như ảo giác có thể đi cùng với chứng loạn thần hay những chuyến 'trip' do dùng chất thức thần.

    Ý tưởng cơ bản là ảo giác xuất hiện khi não bộ ít chú ý đến những tín hiệu cảm giác đầu vào, do đó tri giác bị chi phối một cách bất thường bởi những kỳ vọng trước đó của não bộ.

    Những dạng ảo giác khác nhau–từ những trải nghiệm hình học đơn giản về đường nét, hoa văn và kết cấu cho đến những câu chuyện ảo giác phong phú đầy rẫy những vật thể và con người – có thể được giải thích bởi sự háo hức quá mức của não bộ trong việc xác nhận các dự đoán của nó ở các cấp độ khác nhau trong hệ thống cấp bậc vỏ não.

    Nghiên cứu này có nhiều hứa hẹn về mặt lâm sàng vì nó tìm ra các cơ chế làm nền tảng cho các triệu chứng của bệnh tâm thần, giống như cách mà thuốc kháng sinh giải quyết căn nguyên gây ra nhiễm trùng trong khi thuốc giảm đau thì không.

    Trong nhiều trải nghiệm đặc biệt trong thế giới nội tâm của chúng ta, có một trải nghiệm vô cùng đặc biệt.

    Đây là trải nghiệm là chính bạn.

    Người ta có xu hướng xem nhẹ những trải nghiệm của bản ngã, vì chúng có vẻ như luôn hiện diện, và chúng ta thường có một cảm giác về tính liên tục trong sự tồn tại chủ quan của chúng ta (tất nhiên là ngoại trừ khi thoát khỏi tình trạng gây mê toàn thân).

    Nhưng cũng giống như ý thức không đơn thuần là một thứ (one thing), bản ngã có ý thức tốt nhất cũng được hiểu như một cấu trúc phức tạp được sinh ra bởi não bộ.

    Lại có bản ngã cơ thể, đó là trải nghiệm là một cơ thể và đang sở hữu một cơ thể riêng biệt.

    Rồi lại có bản ngã quan điểm ( self), đó là trải nghiệm về việc nhận biết thế giới từ góc nhìn ở ngôi thứ nhất.

    Bản ngã ý chí ( self) bao gồm những trải nghiệm về ý định và quyền tự quyết – về những thôi thúc phải làm việc này hay việc kia, và về những nguyên nhân của sự việc đang xảy ra.

    Ở cấp độ cao hơn, chúng ta bắt gặp bản ngã xã hội và kể chuyện (narrative and social selves).

    Bản ngã kể chuyện là nơi mà 'cái tôi' xuất hiện, như trải nghiệm của việc là một con người riêng biệt và liên tục theo thời gian, được xây dựng từ một loạt ký ức tự truyện phong phú.

    Và bản ngã xã hội là khía cạnh của trải nghiệm-bản thân được khúc xạ qua tâm trí nhận biết của những người khác, được định hình bởi hoàn cảnh xã hội độc đáo của chúng ta.

    Trong cuộc sống thường ngày, có thể khó mà phân biệt những chiều kích ấy của bản ngã.

    Chúng ta đi qua cuộc đời như những tổng thể tưởng chừng thống nhất, trải nghiệm của chúng ta về bản ngã cơ thể được hợp nhất liền mạch với những ký ức của chúng ta từ quá khứ, và với những trải nghiệm của chúng ta về ý chí và quyền tự quyết.

    Nhưng sự xem xét nội tâm có thể là một hướng dẫn tồi.

    Nhiều thí nghiệm và nghiên cứu trường hợp tâm thần kinh lại kể một câu chuyện khác, một thí nghiệm trong số đó là bộ não chủ động và liên tục tạo ra và điều phối các khía cạnh đa dạng này của kinh nghiệm-bản thân.

    Hãy lấy ví dụ về bản ngã cơ thể.

    Trong 'ảo giác bản tay cao sư' nổi tiếng, tôi yêu cầu bạn hãy tập trung vào một bàn tay giả trong lúc bàn tay thật của bạn nằm ngoài tầm mắt của bạn.

    Sau đó nếu tôi cùng lúc vuốt ve bàn tay thật và bàn tay giả của bạn bằng một cây cọ vẽ mềm thì bạn có thể xuất hiện cảm giác kỳ lạ rằng bàn tay giả giờ đây, bằng cách nào đó, đã là một phần cơ thể của bạn.

    Điều này tiết lộ tính linh hoạt đáng ngạc nhiên trong cách chúng ta trải nghiệm về 'quyền sở hữu' cơ thể mình và dấy lên một câu hỏi: làm thế nào bộ não quyết định được phần nào của thế giới là cơ thể của nó, và phần nào không?

    Để trả lời câu hỏi này, chúng ta có thể khơi gợi cùng một quá trình làm nền tảng cho những dạng tri giác khác.

    Bộ não đưa ra 'dự đoán tốt nhất' của nó dựa trên những niềm tin hay kỳ vọng trước đây của nó, và dữ liệu cảm giác có sẵn.

    Trong trường hợp này, dữ liệu cảm giác thích hợp bao gồm các tín hiệu đặc trưng với cơ thể, cũng như các giác quan cổ điển như thị giác và xúc giác.

    Những cảm giác cơ thể đó bao gồm proprioceptive (sự nhận cảm trong cơ thể – khả năng cảm nhận được vị trí, chuyển động và hành động của cơ thể), báo hiệu hình dạng của cơ thể trong không gian và interoception (cảm giác về trạng thái bên trong của cơ thể), bao gồm một loạt các đầu vào truyền tải thông tin từ bên trong cơ thể, chẳng hạn như huyết áp, áp lực dạ dày, nhịp tim v.v...

    Trải nghiệm về bản ngã hiện thân phụ thuộc vào những dự đoán về những nguyên nhân liên quan đến cơ thể của các tín hiệu cảm giác qua các kênh interoceptive và proprioceptive, cũng như qua các giác quan cổ điển.

    Những trải nghiệm của chúng ta về việc là một cơ thể và có một cơ thể là 'những ảo giác được kiểm soát' của một kiểu ảo giác rất khác biệt.

    Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm của tôi cũng đang ủng hộ quan điểm này.

    Trong một thí nghiệm, chúng tôi đã dùng cái gọi là thực tế ảo tăng cường để phát triển một phiên bản mới của ảo giác bàn tay cao su, được thiết kế để kiểm tra tác động của các tín hiệu nhận cảm trong lên quyền sở hữu cơ thể.

    Những người tham gia quan sát môi trường xung quanh họ thông qua một màn hình được gắn trước mặt, tập trung nhìn một phiên bản thực tế ảo của bàn tay họ, xuất hiện trước mặt họ.

    Bàn tay ảo này được lập trình để nhấp nháy màu đỏ nhẹ, cùng nhịp tim hoặc không cùng nhịp tim của họ.

    Chúng tôi đã dự đoán rằng mọi người sẽ trải nghiệm cảm giác nhân dạng (identity) tốt hơn với bàn tay ảo khi nó có xung nhịp đồng bộ với nhịp tim của họ, và đây là phát hiện của chúng tôi.

    Những phòng thí nghiệm khác phát hiện thấy các nguyên tắc tương tự cũng áp dụng được cho những khía cạnh khác của bản ngã ý thức.

    Ví dụ, chúng ta trải nghiệm về quyền tự quyết đối với các sự kiện khi dữ liệu cảm giác đầu vào khớp với những hậu quả của hành động đã được dự đoán–và sự thất bại trong quyền tự quyết, điều này có thể xuất hiện ở những chứng bệnh như tâm thần phân liệt–có thể truy nguyên từ những sự bất thường trong quá trình dự đoán này.

    Các phát hiện này đưa chúng ta quay trở lại với Descartes.

    Thay vì nói 'Tôi tư duy nên tôi tồn tại' chúng ta có thể nói: 'Tôi dự đoán (bản thân tôi) nên tôi tồn tại.' Trải nghiệm cụ thể về chính bản thân mình (hoặc bản thân tôi) không khác gì hơn là sự phỏng đoán tốt nhất của não bộ về nguyên nhân của các tín hiệu cảm giác liên quan đến bản thân.

    Có một bước ngoặt cuối cùng cho câu chuyện này.

    Các mô hình dự đoán là tốt không chỉ để tìm ra nguyên nhân của các tín hiệu cảm giác mà còn cho phép não bộ kiểm soát hoặc điều chỉnh những nguyên nhân này, bằng cách thay đổi dữ liệu cảm giác để phù hợp với các dự đoán hiện có (đôi lúc điều này được gọi là 'suy luận tích cực').

    Khi nói đến bản ngã, đặc biệt là những khía cạnh mẫu mực sâu sắc của nó, sự điều chỉnh hiệu quả được cho là quan trọng hơn tri giác chính xác.

    Miễn là nhịp tim, huyết áp và những số lượng sinh lý khác của chúng ta vẫn nằm trong những giới hạn có thể sống được, thì nếu chúng ta thiếu những biểu tượng tri giác chi tiết thì cũng không thành vấn đề.

    Điều này có thể liên quan đến đặc trưng riêng biệt của trải nghiệm 'là một cơ thể', khi so sánh với những trải nghiệm về các vật thể/đối tượng trong thế giới–hoặc trải nghiệm về cơ thể như một đối tượng.

    Và điều này lại đưa chúng ta quay lại với Descartes một lần cuối.

    Khi tách rời tâm trí ra khỏi cơ thể, ông cho rằng những loài động vật không phải-con người không khác gì 'những cỗ máy thú vật' mà không có thế giới nội tâm.

    Theo quan điểm của ông, những quá trình cơ bản của sự điều chỉnh sinh lý ít hoặc không có liên quan gì đến tâm trí hay ý thức.

    Tôi thì lại nghĩ ngược lại.

    Tôi cho rằng những khía cạnh cơ bản của trải nghiệm về bản ngã có ý thức của chúng ta có thể phụ thuộc vào tri giác dự đoán theo định hướng-kiểm soát của mớ sinh lý hỗn độn của chúng ta, của dòng máu động vật và cảm tính của chúng ta.

    Chúng ta là những bản ngã có ý thức vì chúng ta cũng là những cỗ máy thú vật – những cái túi thịt tự duy trì, quan tâm đến sự tồn tại của chúng.

    Dịch bởi Chó béo cute

    Nguồn: https://aeon.co/essays/the-hard-problem-of-consciousness-is-a-distraction-from-the-real-one

    Cre ; Rubi
     
    Tâm Lý Học
    Trầm cảm, những bí mật được sẻ chia


    "Tôi cảm thấy có một đám tang đang diễn ra trong đầu, người ta than khóc, đi đi lại lại cho tới khi tôi thấy cảm xúc ấy bị phá vỡ.

    Khi tất cả đã yên vị, một nghi thức, như tiếng trống, cứ đánh liên tục, liên tục, cho tới khi đầu tôi trở nên đờ đẫn.

    "

    "Tôi cảm thấy có một đám tang đang diễn ra trong đầu, người ta than khóc, đi đi lại lại cho tới khi tôi thấy cảm xúc ấy bị phá vỡ.

    Khi tất cả đã yên vị, một nghi thức, như tiếng trống, cứ đánh liên tục, liên tục, cho tới khi đầu tôi trở nên đờ đẫn.

    Rồi tôi nghe thấy họ nâng một cái hộp tạo tiếng cót két trong tâm trí tôi tiếng giày đinh lại vang lên nặng trịch, và không gian bắt đầu rung lên, như thể thiên đường là một cái chuông và con người là một cái tai, và tôi, với sự tĩnh lặng, giống nòi xa lạ bị sụp đổ, cô độc, ở đây.

    Và rồi, tấm ván trong suy nghĩ gãy đôi, tôi ngã xuống vực sâu đâm sầm xuống, và không còn biết gì nữa."

    Chúng ta biết về trầm cảm qua các ẩn dụ.

    Emily Dickinson đã mô tả nó bằng ngôn ngữ, Goya thì mô tả qua tranh.

    Một nửa mục đích của nghệ thuật là mô tả những trạng thái như vậy.

    Đối với tôi, tôi từng luôn nghĩ mình là người cứng rắn, là một trong những người sẽ sống sót nếu bị gửi tới một trại tập trung.

    Năm 1991, tôi phải gánh chịu một loạt các mất mát.

    Mẹ tôi mất, tan vỡ tình yêu, tôi trở lại Mỹ sau nhiều năm sống ở nước ngoài, và tôi dễ dàng trải qua tất cả những biến cố đó.

    Nhưng năm 1994, 3 năm sau, tôi thấy mình đang mất dần sự hứng thú với mọi thứ.

    Tôi không muốn làm những điều trước đây mình từng thích thú, mà không biết lý do tại sao.

    Đối lập với trầm cảm không phải là hạnh phúc, mà là sinh lực, và chính là sinh lực là thứ tôi đang mất dần vào thời điểm đó.

    Tất cả những thứ phải làm dường như quá sức.

    Tôi về nhà, và thấy nút đỏ nhấp nháy trên máy trả lời tự động thay vì hồi hộp muốn nghe tin từ bạn bè, tôi nghĩ, "Sao có nhiều người mình phải gọi lại đến vậy."

    Hoặc tôi sẽ quyết định mình nên ăn trưa, và rồi tôi nghĩ, ôi, lại phải lấy thức ăn ra, còn cho vào đĩa nữa chứ rồi còn cắt, nhai, và nuốt, và tôi thấy chuyện đó như cực hình với mình.

    Và một trong những điều thường được đề cập trong các cuộc thảo luận về trầm cảm đó là, bạn biết điều đó thật ngớ ngẩn.

    Bạn biết điều mình đang trải qua thật ngớ ngẩn vô cùng.

    Bạn biết hầu hết mọi người đều xoay xở được vừa nghe tin nhắn vừa ăn trưa, tự sắp xếp để tắm táp, và mở cửa đi ra ngoài, đó là việc chả có gì quá sức, thế nhưng bạn lại cảm thấy nặng nề khổ sở và không sao tìm cách thoát ra được.

    Và rồi tôi bắt đầu thấy mình hoạt động ít dần suy nghĩ ít dần cảm nhận ít dần.

    Giống như người vô dụng.

    Và rồi, nỗi lo âu xâm chiếm.

    Nếu bạn nói tôi sẽ bị trầm cảm vào tháng tới, tôi sẽ nói: "Miễn là biết sẽ hết vào tháng 11, tôi chịu được."

    Nhưng nếu bạn bảo tôi, "Bạn sẽ cực kỳ lo lắng trong tháng tới", tôi thà cắt đứt cổ tay còn hơn là chịu đựng nó.

    Tôi luôn cảm thấy thế, thấy như thể đang đi rồi bị trượt hoặc vấp ngã và mặt đất đâm sầm vào người, thường thì nó chỉ kéo dài một giây, nhưng đây, không, nó lại kéo dài 6 tháng.

    Đó là cảm giác lúc nào cũng sợ hãi nhưng lại không biết mình sợ cái gì.

    Và đó là lúc, tôi bắt đầu nghĩ, sao sống lại khổ sở đau đớn thế, và lý do duy nhất để không tự giết chính mình là vì không muốn làm đau người khác.

    Và cuối cùng, một ngày nọ, tôi thức dậy và tôi nghĩ, hình như, mình đột quỵ rồi, vì tôi nằm trên giường, hoàn toàn không cử động được, nhìn cái điện thoại, nghĩ, "Không ổn rồi, phải cầu cứu thôi." nhưng tôi không thể nào với tay nhấc điện thoại lên và bấm số.

    Cuối cùng, sau 4 giờ nằm nhìn trân trân vào điện thoại, điện thoại reo, bằng cách nào đó, tôi nhấc được điện thoại lên, đó là cha tôi.

    Tôi nói: "Con đang nguy kịch.

    Chúng ta cần làm điều gì đó thôi ba ạ."

    Ngày hôm sau, tôi bắt đầu uống thuốc và trị liệu.

    Tôi cũng bắt đầu nghĩ tới câu hỏi đáng sợ này: Nếu tôi không phải là một người gan góc người có thể sống sót ở trại tập trung, thì tôi là ai?

    Và nếu tôi phải uống thuốc, liệu thuốc đó có làm cho tôi trở thành chính mình hay nó sẽ biến tôi thành một người nào khác?

    Và tôi sẽ cảm thấy thế nào nếu nó biến tôi thành người khác?

    Tôi có hai lợi thế khi bước vào cuộc chiến.

    Thứ nhất tôi biết rằng, nói một cách khách quan, tôi có một cuộc đời tốt đẹp và nếu chỉ cần khỏe lên được thôi, sẽ có điều gì đó chờ tôi ở cuối con đường, điều gì đó đáng để sống.

    Và lợi thế thứ hai đó là tôi được chữa trị tốt

    Nhưng tôi lại cứ trồi lên rồi lại tụt xuống, và lại cứ trồi lên, rồi lại tụt xuống, lên xuống thất thường, và cuối cùng hiểu ra rằng tôi sẽ phải sống dựa vào thuốc và trị liệu mãi mãi.

    Tôi băn khoăn: "Đây là vấn đề về hóa học, hay là vấn đề tâm lý?

    Bệnh này cần hóa trị hay là chữa trị tâm lý?

    Và tôi không thể nào tìm ra câu trả lời.

    Và rồi tôi hiểu ra rằng, thật ra, ta chẳng đủ tiến bộ trong cả hai lĩnh vực để giải thích tường tận mọi vấn đề.

    Chữa trị bằng hóa chất và chữa trị tâm lý, cả hai đều đóng vai trò nhất định, và tôi cũng nhận ra rằng trầm cảm là thứ gì đó được bện rất chặt rất sâu trong chúng ta, không thể nào tách rời nó khỏi tính cách và nhân cách của chúng ta.

    Tôi muốn nói rằng: phương pháp chữa trị cho bệnh trầm cảm hiện rất kinh khủng.

    Chúng không hiệu quả cho lắm.

    Lại cực kỳ mắc tiền.

    Đi kèm với vô số tác dụng phụ.

    Chúng là một thảm họa.

    Nhưng tôi cũng biết ơn vì tôi sống ở thời này, chứ không phải 50 năm trước, khi người ta gần như chẳng làm được gì.

    Tôi hy vọng rằng 50 năm sau, khi nghe về cách chữa trị cho tôi, họ sẽ kinh sợ khi biết có người phải chịu thứ khoa học nguyên thủy như vậy.

    Trầm cảm là một khiếm khuyết trong tình yêu.

    Nếu bạn kết hôn với ai đó và nghĩ, "Nếu vợ mình mà chết, mình sẽ cưới người khác" thì đó chẳng phải là tình yêu mà hằng thân thuộc với ta.

    Chẳng có cái gọi là tình yêu nếu không có cảm nhận về mất mát, và cái bóng ma tuyệt vọng có thể là động cơ khiến càng thêm khắng khít gắn bó.

    Có 3 điều con người ta hay bị nhầm lẫn: trầm cảm, đau thương và buồn bã.

    Đau thương là phản ứng hiển lộ.

    Nếu qua một mất mát nào đó, bạn cảm thấy cực kỳ buồn bã, và rồi 6 tháng sau, bạn vẫn buồn vô cùng, nhưng dần hoạt động lại bình thường, đó chắc chắn là đau buồn, và chắc nó sẽ tự hết thôi theo chừng mực nào đó.

    Nếu bạn phải chịu một mất mát vô cùng lớn, và cảm thấy kinh khủng, 6 tháng sau hầu như chẳng thể quay trở lại bình thường, đó chắc chắn là trầm cảm xuất phát từ những tình huống thảm khốc.

    Quỹ đạo này cho chúng ta thấy nhiều điều.

    Người ta cứ nghĩ trầm cảm là buồn.

    Thực ra, nó là rất rất rất buồn, quá nhiều đau thương, dù nguyên nhân có khi lại vô cùng nhỏ nhặt.

    Khi tôi bắt đầu hiểu trầm cảm, và phỏng vấn những người đã từng mắc bệnh, Tôi nhận thấy, có những người nhìn bề ngoài có vẻ như là bị trầm cảm tương đối nhẹ, tuy nhiên họ lại hoàn toàn bị bất lực do trầm cảm.

    Và có những người, qua lời lẽ mà họ mô tả, nghe như chịu trầm cảm nặng nhưng lại là những người có lúc đã có cuộc sống tốt đẹp giữa các giai đoạn trầm cảm.

    Và tôi bắt đầu tìm hiểu điều đã làm cho một số người kiên cường hơn người khác.

    Cơ chế nào cho phép họ sống sót?

    Tôi đã phỏng vấn không biết bao nhiêu người từng bị trầm cảm.

    Một trong những người đầu được phỏng vấn đã mô tả trầm cảm là cảm giác chết từ từ, may mà, tôi nghe điều này từ sớm bởi vì nó nhắc tôi rằng chết từ từ có thể dẫn tới cái chết thiệt, và đây là một vấn đề nghiêm trọng.

    Đây là nguyên nhân lớn gây khuyết tật trên thế giới, người ta chết vì nó mỗi ngày.

    Một trong những người tôi trò chuyện khi tôi cố tìm hiểu về điều này, là một người bạn dễ thương tôi đã biết lâu rồi, chị ấy đã có giai đoạn bị loạn thần trong năm đầu đại học, và rồi diễn biến thành trầm cảm rất tồi tệ.

    Chị ấy bị rối loạn lưỡng cực, hay khi ấy còn gọi là hưng-trầm cảm.

    Nhưng rồi chị ấy đã khá lên, nhờ dùng lithium và rồi cuối cùng, không còn uống lithium nữa, để xem không có thuốc sẽ thế nào, nhưng chị ấy đã bị loạn thần lại rồi sa sút tinh thần thành cơn trầm cảm nặng nhất tôi từng thấy.

    Khi ấy chị ngồi trong căn hộ của bố mẹ, trương căng lực, không động tĩnh, hết ngày này sang ngày khác.

    Vài năm sau, khi tôi phỏng vấn chị, chị đã là một nhà thơ và nhà tâm lí trị liệu tên là Maggie Robbins.

    Khi tôi phỏng vấn, chị nói: "Tôi đã hát bài "Hoa bay hết đi đâu" ('Where Have All The Flowers Gone') hát đi hát lại để chiếm lấy tâm trí mình.

    Tôi đã hát để xóa đi điều tâm trí mình đang nói: "Mày chả là gì cả Mày chả là ai, Mày thậm chí không đáng sống nữa." khi tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện tự sát."

    Khi trầm cảm, người ta không nghĩ rằng mình đã mang lên một tấm mạng đen và nhìn thế giới qua lớp sương mù của những cảm xúc tiêu cực.

    Người ta nghĩ rằng, một tấm mạng đã bị cất đi, tấm mạng ấy là niềm hạnh phúc, và giờ đây, người ta phải nhìn mọi thứ trần trụi.

    Giúp đỡ người tâm thần phân liệt thì dễ hơn, vì họ biết có gì đó rất lạ ở trong mình, cần phải được xua đuổi đi, nhưng với người trầm cảm thì rất khó vì chúng ta tin là mình đang nhìn thấy sự thật.

    Nhưng sự thật nói dối.

    Tôi bị ám ảnh bởi câu nói: "Nhưng sự thật nói dối."

    Khi nói chuyện với người trầm cảm, tôi phát hiện ra họ có rất nhiều cảm nhận, tri giác ảo.

    Họ nói: "Không ai yêu tôi."

    Bạn nói: "Tôi yêu anh, vợ anh yêu anh mẹ anh yêu anh."

    Bạn có thể trả lời ngay như vậy, với hầu hết mọi người.

    Nhưng những người trầm cảm cũng nói: "Bất luận chúng ta làm gì, rồi cuối cùng cũng chết cả thôi."

    Hoặc nói: "Chả còn sự gắn kết thực sự giữa hai con người nữa đâu.

    Mỗi chúng ta bế tắc trong cơ thể của chính mình."

    Khi đó bạn cần trả lời: "Đúng thế, nhưng tôi nghĩ giờ ta nên tập trung về chuyện sáng nay ta sẽ ăn gì đây." (haha)

    Nhiều lần, điều họ biểu lộ không phải là bệnh lý mà là quan điểm và nghĩ rằng, điều thực sự nổi bật là đa số ai cũng biết những câu hỏi về sự tồn tại và họ sẽ không khiến chúng ta bối rối.

    Tôi thích một nghiên cứu trong đó có một nhóm người bị trầm cảm, và một nhóm người không bị, cả hai phải chơi video game trong 1 tiếng và cuối giờ chơi, họ được hỏi họ đã giết được bao nhiêu quái vật.

    Nhóm bị trầm cảm nói khá chính xác, xê dịch trong 10% nhưng nhóm không bị trầm cảm đưa con số gấp khoảng 15 đến 20 lần so với số quái vật họ thực sự đã giết (haha)

    Khi tôi chọn viết về trầm cảm, nhiều người hỏi chắc rất là khó để lộ mình ra cho người khác thấy.

    Họ hỏi: "Mỗi người kể với anh một khác không?"

    Tôi nói: "Vâng, họ kể khác nhau.

    Họ kể mỗi khác khi họ bắt đầu kể về kinh nghiệm của họ, về kinh nghiệm của chị em họ, hoặc bạn bè họ.

    Mọi thứ khác biệt bởi giờ tôi biết trầm cảm, đó là bí mật gia đình mà mỗi người có.

    Vài năm trước tôi có dự một hội thảo.

    Vào ngày Thứ Sáu trong hội thảo dài 3 ngày ấy, một trong những người tham dự gọi tôi ra và nói: "Tôi bị trầm cảm và xấu hổ về nó nhưng tôi đang uống thuốc và muốn hỏi xin ý kiến của anh" Và tôi đưa ra lời khuyên mà tôi cho là tốt nhất.

    Rồi chị ấy nói: "Anh ạ, chồng tôi sẽ chẳng bao giờ hiểu được điều này.

    Anh ấy là kiểu người không hiểu được chuyện này, cho nên chuyện này chỉ anh và tôi biết thôi nhé."

    Tôi nói: "Được mà."

    Vào ngày Chủ Nhật vẫn trong hội thảo đó, chồng cô ấy kéo tôi ra, ông ấy nói: "Vợ tôi sẽ nghĩ tôi không phải là đàn ông nếu cô ấy biết điều này nhưng tôi đang bị trầm cảm và tôi phải uống thuốc không biết anh nghĩ sao về chuyện này?"

    Họ đều đang giấu cùng chữa trị ở hai nơi khác nhau trong cùng một căn phòng.

    Tôi trả lời tôi nghĩ rằng giờ mà họ nói chuyện với nhau thì chắc sẽ nổ ra một vài vấn đề đấy.

    Nhưng tôi đã sốc bởi cái gánh nặng của những sự giấu giếm ấy.

    Trầm cảm khiến ta kiệt quệ.

    Nó gặm nhấm hết thời giờ và sức lực của ta, và im không nói gì về nó có thể khiến nó tệ hơn.

    Sau đó, tôi bắt đầu nghĩ về các cách giúp người ta cảm thấy khá hơn.

    Ban đầu tôi rất bảo thủ trong việc dùng thuốc.

    Tôi tin có những liệu pháp sẽ có tác dụng, rõ ràng chúng có tác dụng– có thuốc, có các phương pháp trị liệu, cũng có thể có phương pháp sốc điện, còn lại là nhảm nhí hết.

    Nhưng rồi tôi nhận ra nếu bị ung thư não, và bạn nói rằng trồng cây chuối 20 phút vào mỗi buổi sáng khiến bạn khá hơn, thì chắc nó khiến khá hơn thật, nhưng vẫn bị ung thư não, vẫn có thể chết vì bệnh này.

    Nhưng nếu bạn nói bạn bị trầm cảm và mỗi sáng trồng cây chuối 20 phút khiến bạn thấy khá hơn, thì đúng là nó có tác dụng, bởi trầm cảm là bệnh trong cảm giác của bạn, và nếu bạn cảm thấy tốt hơn, thì kết quả là, bạn sẽ không còn trầm cảm nữa.

    Bởi vậy tôi trở nên cởi mở hơn với những phương pháp chữa trị khác với Tây y.

    Tôi nhận được thư, hàng trăm lá, họ viết để kể tôi nghe những điều đã giúp cho họ.

    Ở hậu trường, hôm nay một người hỏi tôi về thiền.

    Một lá thư mà tôi rất quý là của một chị này viết rằng chị đã thử nghiệm các liệu pháp chị ấy thử thuốc cái gì cũng đã thử, và rồi tìm ra một giải pháp và mong chia sẻ với mọi người, đó là ngồi tết vòng.

    Chị ấy cũng gửi cho tôi một số sợi vòng chị ấy đã làm l.

    Nhưng hôm nay tôi lại không đeo.

    Tôi gợi ý chị ấy thử tra cứu chứng rối loại ám ảnh cưỡng chế trên DSM.

    Nhưng khi tôi xem xét phương pháp chữa trị phi chính thống, tôi cũng học được cách nhìn các phương pháp chữa trị khác.

    Tôi đã thử phép trừ tà của một bộ lạc ở Senegal nghi lễ dùng nhiều huyết chiên, giờ tôi sẽ không mô tả chi tiết nhưng vài năm sau tôi có dịp đến Rwanda làm việc trong một dự án. tôi đã kể về kinh nghiệm ấy của mình với một người nọ, anh ấy nói: "Anh biết không, đấy là Tây Phi còn Đông Phi chúng tôi, các nghi lễ hơi khác một chút, nhưng cũng có những nghi lễ giống như anh mô tả." – Thế ư? – Đúng vậy!

    "Chúng tôi có nhiều rắc rối với bác sĩ tâm thần phương Tây, đặc biệt những người xuất hiện sau nạn diệt chủng."

    Tôi hỏi: "Những phiền phức kiểu gì?"

    Anh ấy nói: "Họ làm những điều kì cục là không cho người ta ra nắng trong khi ra nắng thì mới khỏe lên.

    Họ cũng không cho nghe trống để khiến mạch máu lưu thông.

    Họ cũng chẳng cho giao tiếp xã hội.

    Họ không cho rằng trầm cảm là bị một thần nhập vào.

    Ngược lại, họ đưa người ta lần lượt từng người vào một căn phòng nhỏ tối tăm cho họ nói suốt một tiếng về những chuyện tồi tệ từng xảy đến với họ."

    Anh ấy nói tiếp: Chúng tôi phải trục xuất họ.

    Khép lại trình bày về cách chữa phi chính thống, tôi muốn kể về Frank Russakoff.

    Anh ấy đã bị trầm cảm rất nặng có lẽ là trường hợp nặng nhất tôi từng gặp ở nam giới.

    Anh ấy thường xuyên bị trầm cảm.

    Khi gặp tôi , anh ấy đang trong tình trạng mỗi tháng đều phải sốc điện.

    Sau đó một tuần, anh ấy thấy mất phương hướng, rồi một tuần lại thấy ổn, rồi tuần sau, tinh thần lại xuống tuần sau nữa, lại đi sốc điện.

    Khi gặp, anh ấy bảo tôi: "Sống từng ngày thế này thật không sao chịu nổi Tôi không thể tiếp tục thế này tôi vừa tìm ra cách để kết thúc mọi chuyện nếu tôi không cảm thấy khá hơn. nhưng," – anh ấy nói- "tôi nghe nói về một dự thảo ở Bệnh viện Massachuset về một quy trình gọi là cingulotomy, tức là phẫu thuật não tôi nghĩ tôi sẽ thử."

    Lúc đó, tôi đã rất kinh ngạc khi thấy rằng một người chắc chắn đã có vô vàn trải nghiệm tồi tệ với các phương pháp chữa trị vẫn còn đâu đó trong mình đủ niềm lạc quan để thử thêm một cách nữa.

    Anh ấy đã phẫu thuật não kết quả thành công đến kinh ngạc.

    Giờ anh ấy là bạn của tôi, có một người vợ dễ thương hai đứa con xinh đẹp.

    Sau cuộc phẫu thuật, anh ấy viết thư cho tôi vào Giáng Sinh anh nói: "Năm nay cha tôi gửi tặng hai món quà, Một là cái giá CD lưu động, cái này tôi không cần lắm, nhưng tôi biết ông tặng để tôi ăn mừng việc giờ tôi đang sống tự lập và có một công việc mình yêu thích.

    Món quà kia, là bức ảnh của bà tôi, bà đã chết vì tự sát.

    Khi tôi mở nó ra, tôi bật khóc, mẹ tôi đến và hỏi: "Con khóc vì có một người thân mà con chưa từng được gặp mặt ư?"

    Tôi trả lời: "Bà cũng mang căn bệnh của con, mẹ ạ."

    Giờ khi đang viết cho anh, tôi cũng khóc.

    Không phải vì tôi buồn mà vì đang xúc động mạnh, tôi mới nghĩ, tôi đã có nguy cơ tự sát, nhưng ba mẹ đã giúp tôi tiếp tục, cả các bác sĩ cũng thế. rồi tôi được phẫu thuật.

    Giờ tôi còn sống và đầy biết ơn.

    Chúng ta đang sống đúng thời mặc dù nhiều khi ta không hề thấy thế."

    Tôi đã sốc bởi vì đa số coi trầm cảm là một thứ thuộc tầng lớp trung lưu, hiện đại, du nhập từ phương Tây, và tôi đã xem xét sự chi phối của bệnh này trong nhiều bối cảnh khác nhau.

    Một trong những điều tôi lưu tâm nhất là căn bệnh trầm cảm ở những người nghèo.

    Thế là, tôi đã ra đi, để xem người ta làm gì được cho người nghèo trầm cảm.

    Tôi phát hiện ra là phần lớn người nghèo không được điều trị trầm cảm.

    Trầm cảm là hệ quả của sự mềm yếu được di truyền được cho là có thể có trong bất kì ai; và là do hoàn cảnh kích động, yếu tố này, dường như hệ trọng hơn đối với những người nghèo khổ.

    Thế nhưng, nó lại thế này: nếu bạn có cuộc sống tươi đẹp nhưng lại thấy sầu thảm, bạn tự hỏi: "Tại sao tôi cảm thấy thế?

    Tôi ắt hẳn bị trầm cảm."

    Và bạn đi chữa trị.

    Nhưng nếu bạn thực sự sống một đời thảm hại và cảm thấy luôn sầu thảm, cảm giác này hoàn toàn tương xứng với đời sống của bạn, bạn sẽ không nghĩ rằng "Bệnh này chữa được."

    Và thế là đất nước này, có một thứ dịch bệnh: trầm cảm ở người nghèo.

    Bệnh này, không ai để mắt tới, không ai chữa, không ai giải quyết, bệnh này là một thảm họa trên diện rộng.

    Tôi tìm được một cô học giả nọ, bấy giờ đang làm nghiên cứu ở khu ổ chuột rìa D.C., Ở đó, cô ấy gặp những phụ nữ thực ra đến khám những bệnh khác, nhưng lại được chẩn đoán trầm cảm.

    Cô trình dự thảo thí nghiệm sáu tháng.

    Lolly, một phụ nữ đã đồng ý tham gia.

    Hôm vào làm thí nghiệm, chị ta đã nói như vầy.

    Chị ấy là một phụ nữ, có 7 con.

    Chị nói: "Trước tôi có đi làm, nhưng giờ thì không bởi tôi không bước nổi ra khỏi nhà.

    Tôi không nói nổi câu nào với các con.

    Sáng ra, tôi chỉ đợi chúng nó ra khỏi nhà, rồi lên giường, trùm chăn kín mít.

    Đến 3 giờ, bọn trẻ về.

    Thời gian trôi nhanh quá là nhanh."

    Chị còn nói: "Tôi uống nhiều thuốc ngủ Tylenol, tôi uống đủ thứ, miễn sao ngủ thêm được.

    Chồng tôi luôn nói là tôi ngu và xấu xí.

    Tôi ước chi mình có thể chấm dứt cơn đau".

    Lolly được đưa vào chương trình thí nghiệm nói trên.

    Sáu tháng sau, tôi có dịp phỏng vấn chị.

    Lúc ấy, chị đã đi trông trẻ cho hải quân Mỹ.

    Chị đã bỏ người chồng bạo hành kia.

    Chị nói với tôi: "Các con tôi giờ vui hơn nhiều.

    Trong nhà có một phòng cho bọn con trai, một phòng cho bọn con gái.

    Nhưng cứ đến tối, bảy đứa trèo lên giường mẹ.

    8 mẹ con làm bài tập và những thứ khác cùng nhau.

    Một đứa muốn mai sau đi giảng đạo, một đứa muốn làm lính cứu hỏa.

    Một đứa con gái lại muốn sau làm luật sư.

    Giờ bọn nó không còn hay khóc như trước, không hay đánh nhau như trước.

    Tôi giờ chỉ cần các con.

    Mọi thứ, cách tôi ăn mặc và hành xử, cũng như cảm giác của tôi – không ngừng thay đổi.

    Giờ tôi ra ngoài mà chẳng sợ gì nữa.

    Tôi nghĩ những cảm giác buồn sẽ không quay lại.

    Nếu không có bác sĩ Miranda, giờ đây chắc tôi vẫn ở nhà trùm chăn kín mít, nếu còn sống.

    Tôi xin Chúa ban cho tôi một thiên sứ, và Ngài đã lắng nghe lời tôi."

    Tôi hết sức cảm động vì những điều này và quyết định dựa trên đó mà viết, không chỉ cuốn sách dang dở, mà còn viết một bài báo.

    Thế là tôi được tạp chí New York Times đặt hàng viết về chứng trầm cảm ở người nghèo.

    Viết xong tôi gửi đi, biên tập viên gọi tôi, nói: "Chúng tôi không thể đăng bài này."

    Tôi hỏi: "Tại sao vậy?"

    Chị ta trả lời: "Chuyện nghe như bịa.

    Những người ở đáy xã hội ấy, sau vài tháng chữa trị, lại có thể sẵn sàng quản lí Morgan Stanley ư?

    Thế thì hão huyền quá."

    Chị ấy nói chưa bao giờ nghe chuyện như vậy.

    Tôi nói: "Việc chị chưa bao giờ nghe chuyện như vậy có nghĩa là đây đúng là tin nóng đấy!

    Mà quý tòa soạn đây lại là cơ quan đưa tin".

    Sau một hồi thương lượng, họ đồng ý đăng bài.

    Tôi nghĩ, nhiều điều họ nói lại liên quan một cách kỳ lạ đến cái ghẻ lạnh của người đời đối với việc chữa trị trầm cảm.

    Đó là ý niệm cho rằng nếu đi chữa bệnh cho nhiều người ở những cộng đồng nghèo khó, thì chúng ta như đang bóc lột, đơn giản chỉ vì ta sẽ thay đổi họ.

    Có sự áp đặt đạo đức sai lầm dường như đang lởn vởn quanh ta.

    Đó là ý kiến cho rằng điều trị trầm cảm, thuốc men, và những thứ đại loại thế, chỉ là thứ nhân tạo, không tự nhiên.

    Tôi nghĩ đó là, một ý nghĩ sai lạc.

    Răng cỏ, nếu cứ để tự nhiên, sẽ rụng, thế nhưng, chẳng có ai phản đối thuốc đánh răng, ít nhất là, trong vòng những người tôi biết.

    Thế rồi, người ta lại nói: "Trầm cảm phải chăng là một phần của những thứ ai cũng phải đi qua?

    Tiến hóa lên thì đi qua trầm cảm mà?

    Đó chẳng phải là một phần của nhân cách ư?"

    Tôi xin trả lời: tâm trạng có thể thích nghi.

    Biết chịu đựng nỗi sợ, nỗi buồn hay biết vui hưởng khoái lạc và xử lí tất cả các loại tâm trạng khác, là một điều quý giá.

    Trầm cảm diễn ra khi hệ thống bị hư hỏng, và không còn khả năng thích nghi.

    Người ta đến nói với tôi rằng: "Tôi nghĩ nếu mình chịu đựng thêm một năm nữa, tôi có thể vượt qua khó khăn này".

    Tôi sẽ luôn trả lời: "Anh có thể sẽ vượt qua, nhưng anh không bao giờ trở lại tuổi 37.

    Đời thì ngắn, mà đó lại là một năm giời.

    Anh đang định bỏ phí một năm đấy.

    Nghĩ cho kỹ đi".

    Có một sự nghèo nàn trong Tiếng Anh, cũng như nhiều ngôn ngữ khác: chúng ta dùng cùng một chữ "trầm cảm" để mô tả tâm trạng của một đứa bé thấy trời mưa đúng hôm sinh nhật, và để tả tâm trạng của một người trước khi anh ta tự sát.

    Người ta hỏi: "Trầm cảm diễn tiến theo nỗi buồn thông thường không?"

    Tôi trả lời rằng, về một mặt nào đó thì có.

    Có một độ tiếp diễn nhất định, cũng như có sự tiếp diễn giữa việc có một hàng rào sắt quanh nhà, hơi han gỉ, khiến bạn phải đánh giấy ráp và sơn lại, với việc bạn có một cái nhà trăm năm tuổi, với hàng rào sắt đã han gỉ hết, thành một đống bụi sắt.

    Và chính cái vết gỉ sét ấy, chính cái vấn đề han gỉ kia, là cái chúng ta đang bắt đầu xử lý.

    Giờ có người hỏi: "Anh uống thuốc trợ thần, vậy anh thấy vui lên không?".

    Tôi không.

    Nhưng mặt khác, tôi không thấy buồn vì phải ăn trưa, tôi không buồn vì trả lời điện thoại, và không còn buồn khi nghĩ đến đi tắm.

    Tôi cảm thấy, mà thực ra, là tôi nghĩ, vì tôi cảm nhận được nỗi buồn khi không trống rỗng.

    Tôi có thể buồn vì thất vọng trong công việc, những mối quan hệ tan vỡ, trái đất nóng lên.

    Đó là những điều giờ đây khiến tôi buồn.

    Tôi tự hỏi, đâu là kết luận.

    Làm sao những người đã từng bị trầm cảm nặng có thể vượt lên, và có cuộc sống tốt đẹp hơn?

    Đâu là cơ chế giúp người ta dẻo dai về mặt tinh thần?

    Điều tôi nhận ra qua năm tháng là, những người chối bỏ kinh nghiệm của mình, những người nói rằng: "Tôi bị trầm cảm lâu rồi và không bao giờ muốn nghĩ về nó nữa, sẽ không bao giờ nhìn vào nó và chỉ tiếp tục sống đời mình thôi." trớ trêu thay, chính là những người bị làm nô lệ cho thứ bệnh họ mang.

    Chối bỏ bệnh trầm cảm chỉ làm cho nó nặng thêm.

    Người ta càng lẩn tránh, nó càng phát triển.

    Còn những người khá lên là những người có thể chấp nhận rằng họ có bệnh.

    Người nào thừa nhận bị trầm cảm, người nấy trở nên dẻo dai về mặt tinh thần.

    Frank Russakoff nói với tôi:

    "Nếu được làm lại, ắt tôi không chọn những thứ này.

    Thế nhưng, điều kỳ lạ là, tôi biết ơn những gì mình đã trải nghiệm.

    Mừng vì đã nhập viện 40 lần.

    Kinh nghiệm ấy đã dạy tôi rất nhiều về tình thương.

    Mối quan hệ giữa tôi và bố mẹ cũng như các bác sĩ, đã và mãi quý giá."

    Maggie Robbins nói:

    "Tôi từng tình nguyện ở phòng khám AIDS, tới đó, chỉ nói, nói và nói.

    Những người tôi phải tham vấn lại đáp ứng kém, và tôi nghĩ 'Họ chẳng thân thiện hay hợp tác gì mấy.' Và rồi tôi hiểu ra, rằng họ sẽ chẳng làm gì hơn là lí nhí vài câu trong những phút đầu.

    Lý do đơn giản, là tôi không bị AIDS, không chờ chết nhưng tôi có thể chấp nhận rằng họ bị AIDS và đang chờ chết.

    Nhu cầu là tài sản lớn nhất của ta.

    Hóa ra, tôi đã học được cách cho đi tất cả những gì tôi cần."

    Tôn trọng sự trầm cảm của người khác không ngăn được nó tái phát, nhưng có thể khiến nguy cơ của căn bệnh và bản thân căn bệnh, trở nên dễ chịu đựng hơn.

    Vấn đề ở đây không phải là tìm ra ý nghĩa và cho rằng trầm cảm có ý nghĩa lớn với cuộc đời mình.

    Vấn đề là tìm ra ý nghĩa của nó và khi nó trở lại, thì nghĩ rằng: "Quả này là địa ngục đây, nhưng ta sẽ học điều gì đó từ nó."

    Tôi đã học từ nỗi trầm cảm của chính mình rằng một cảm xúc có thể lớn đến chừng nào, rằng nó có thể thật hơn cả sự thật.

    Và tôi thấy rằng, kinh nghiệm ấy đã giúp tôi trải nghiệm những cảm xúc tích cực một cách sâu sắc hơn.

    Đối lập với trầm cảm không phải là niềm vui, mà là sức sống, Ngày nay, tôi phải sống, kể cả vào những ngày tôi buồn.

    Tôi đã cảm nhận sự tang chế trong tinh thần, tôi ngồi cạnh tên khổng lồ bên lề trái đất, và tôi đã nhận ra rằng một điều gì đó trong tôi, cái mà tôi gọi là linh hồn cái tôi chỉ mới thấy rõ 20 năm trước, khi địa ngục bất ngờ viếng thăm tôi.

    Tôi nghĩ, dù mình ghét sự trầm cảm, và biết mình sẽ lại trầm cảm, tôi đã tìm được cách yêu nỗi trầm cảm.

    Tôi yêu nó, vì nó đã bắt tôi phải tìm và bám lấy niềm vui.

    Tôi yêu nó, vì mỗi ngày, mình quyết định, đôi khi một cách hơi mạo hiểm, và đôi khi một cách ngược đời, rằng mình phải bám vào những lẽ sống.

    Và tôi nghĩ, trầm cảm là hạnh phúc tôi vinh hạnh có.

    Đọc thêm

    Bản dịch Chương 1 cuốn sách Atlas về trầm cảm của tác giả Andrew Solomon

    Nguồn: Rubi
     
    Tâm Lý Học
    5 cách để bỏ lại quá khứ về người yêu cũ mà bạn vẫn còn yêu


    Tại sao chúng ta cần phải buông bỏ mộng tưởng

    Những điểm chính

    Quên đi một người yêu cũ mà bạn từng yêu bắt đầu bằng việc cắt đứt liên lạc và buông bỏ mối quan hệ mà bạn nghĩ rằng mình có thể có.Các mối quan hệ trong quá khứ luôn sống mãi trong ký ức của chúng ta, trong cảm nhận của chúng ta khi ta nghĩ về chúng, và trong những bài học mà chúng dạy cho ta.Rời bỏ một mối quan hệ không còn tốt đẹp là biết thương lấy chính mình, mà việc này có thể rất khó khăn.

    Không gì có thể ngăn cản bạn có được một tương lai hạnh phúc hơn là một vết thương lòng vì mối quan hệ vẫn còn dai dẳng.

    Tất cả chúng ta đều từng như thế: Một tình yêu đẹp đẽ trở nên tệ đi quả thực là rất đau lòng.

    Không quan trọng tình huống là gì, hoặc ai đúng ai sai.

    Điểm mấu chốt là nó gây tổn thương và nỗi đau đang ngăn cản bạn tiếp tục tiến lên.

    Mặc dù thời gian là người chữa lành tốt nhất, song vẫn có 5 bước cụ thể mà bạn có thể tiến hành để tạo thuận lợi cho quá trình này:

    1.

    Cắt đứt mọi liên lạc

    Hãy làm việc này ít nhất là trong một thời gian.

    Không, bạn không cần phải là bạn bè với nhau.

    Vẫn ôm ấp hình bóng của tình cũ trong cuộc sống của bạn tự nó không phải là một dấu hiệu của sự trưởng thành; mà biết cách chăm sóc cho bản thân và sức khỏe tinh thần, cảm xúc của bạn mới là dấu hiệu của trưởng thành.

    Nhiều người vẫn bám vào cái suy nghĩ rằng duy trì tình bạn với ex như một cách để giữ cho khả năng mối quan hệ còn tồn tại vì cái ý nghĩ buông bỏ hẳn dường như quá khó khăn.

    Mặc dù, tùy thuộc vào hoàn cảnh, một tình bạn vẫn có thể có được, nhưng việc là bạn bè của nhau không thể diễn ra theo cách chân thật cho đến khi bạn đã chữa lành hầu hết, nếu không nói là mọi tổn thương, đau khổ, mà điều này thì cần có thời gian.

    Trở thành bạn tốt của chính mình là điều quan trọng nhất trong suốt một cuộc chia tay khó khăn và điều đó có nghĩa là không đặt mình vào trong những tình huống không làm bạn cảm thấy vui vẻ.

    Khi bạn đang tổn thương thì bạn là người mong manh dễ bị tổn thương.

    Bảo vệ bản thân bằng ranh giới lành mạnh là một phần thiết yếu của việc biết chăm sóc tốt cho bản thân.

    Hãy lịch sự cho người yêu cũ của bạn biết rằng bạn cần có không gian riêng và không muốn liên lạc trong thời gian này. (Đừnghọ: hiện tượng bơ toàn tập ai đó bằng cách dừng liên lạc mà không có lời giải thích nào.)

    Nếu bạn phải giữ liên lạc vì con cái hay những bổn phận chung khác thì cần biết rằng có sự khác biệt rõ rệt giữa trở nên thân thiện và là bạn bè của nhau.

    Tình bạn đích thực nghĩa là hai người quan tâm đến hạnh phúc của nhau và hết lòng quan tâm và giúp đỡ đối phương.

    Nhưng đến lúc nhiều mối quan hệ chấm dứt thì người ta thường tự hỏi liệu hai bên có thể chân thành dành cho nhau kiểu quan tâm và hỗ trợ này được không.

    Mong đợi rằng một ai đó đã không đối xử tử tế với bạn khi hai người còn bên nhau lại có khả năng trở thành một người bạn đích thực sau khi chia tay sẽ khiến bạn tiếp tục bị tổn thương hơn mà thôi.

    Nhưng chọn cách trở nên thân thiện với nhau nghĩa là bạn có thể, mà không gắn liền với kỳ vọng, thừa nhận tình yêu mà bạn đã chia sẻ và tôn trọng khoảng thời gian đó trong cuộc đời bạn bằng cách đối xử tử tế và tôn trọng người khác.

    2.

    Buông bỏ mộng tưởng

    Nhiều người không nhận ra rằng phần lớn nỗi đau mà họ trải qua khi chia tay chẳng liên quan gì đến mối quan hệ mà họ có.

    Các mối quan hệ không phải lúc nào cũng kết thúc vì một nguyên do.

    Nó hiếm khi là một việc hoàn toàn bất ngờ vì mọi chuyện thường không diễn ra tốt đẹp trong một thời gian rồi.

    Thường có một danh sách dài về những việc mà mỗi người đã làm hoặc không làm, dẫn tới chuyện gây gổ, tranh cãi và cảm giác tổn thương.

    Hầu hết mọi người đều không muốn quay lại với mối quan hệ mà họ từng có.

    Cái mà họ thương tiếc chính là mối quan hệ mà họ tin rằng họ có thể có được nếu mọi chuyện trở nên khác đi.

    Nhưng sự thật là, mối quan hệ đó không còn tồn tại nữa.

    Buông bỏ một giấc mơ có thể rất khổ sở.

    Khi mối quan hệ mới bắt đầu, người ta đã đặt ra những kỳ vọng cho nó dựa trên những điều tốt đẹp dường như đang được biểu lộ lúc bấy giờ.

    Khởi đầu của gần như mọi mối quan hệ đều luôn tuyệt vời—bằng không thì người ta sẽ không bao giờ bắt đầu mối quan hệ—nhưng toàn bộ mối quan hệ là tất cả những gì diễn ra từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc.

    Bởi vì tâm trí chúng ta đang cố gắng chữa lành trái tim mình nên những ký ức đau đớn thường chuyển thành nền và chúng ta thấy mình đang nhớ lại và khao khát những khoảng thời gian tuyệt vời.

    Chúng ta quên mất con người thực sự của đối phương và lý tưởng hóa về con người mà chúng ta muốn họ là.

    Một chiến lược hay để vượt qua được những khoảnh khắc này chỉ đơn giản là viết ra tất cả những điều đau lòng mà bạn có thể nhớ được, từng xảy ra trong suốt mối quan hệ và đọc nó cho bản thân nghe trong khi đang cố nhớ lại rõ ràng những ký ức đó cho đến khi cảm xúc đau đớn lắng xuống.

    Vấn đề ở đây là đừng tức giận, mà hãy nhớ lại toàn bộ sự thật về lý do tại sao mối quan hệ lại chấm dứt.

    Cuối cùng thì việc buông bỏ những sự việc ấy sẽ là một phần quan trọng của quá trình tha thứ và chữa lành, nhưng để từ bỏ một điều gì đó thì trước tiên bạn phải thừa nhận và chấp nhận rằng nó đã xảy ra.

    3.

    Làm hòa với quá khứ

    Khi ai đó đối xử tệ với bạn hoặc làm việc gì đó gây tổn thương thì cảm thấy tức giận là một phản ứng tự nhiên và lành mạnh.

    Tức giận giúp bạn ý thức được tình huống bất lợi cho mình và có thể tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cắt đứt khỏi một mối quan hệ không lành mạnh.

    Nhưng khi chúng ta giữ mãi sự giận dữ và oán hận từ những kinh nghiệm trong quá khứ thì chúng ta sẽ mang chúng theo mình vào tương lai.

    Không gì đau hơn khi một ai đó mà bạn yêu đã làm việc gì đó khiến bạn phải đánh giá lại con người mà bạn tin tưởng.

    Khi ai đó phản bội lại niềm tin mà bạn trao gửi, điều đó mới đau đớn làm sao.

    Nhưng để hành vi của người khác hạn chế khả năng tiến lên phía trước của bạn đồng nghĩa với anh (cô) ấy vẫn có khả năng kiểm soát cuộc đời bạn.

    Tha thứ không phải là về việc để cho người khác không phải chịu trách nhiệm về hành vi xấu của anh (cô) ta; mà đó là về sự tự do cảm xúc/tình cảm của bạn.

    Học cách tha thứ và làm hòa với những chuyện đã xảy ra trong quá khứ có thể diễn ra một cách dễ dàng hơn khi bạn không tập trung vào những biến cố cụ thể đã xảy ra mà thay vào đó hãy thử nhìn nhận quan điểm của những người có liên quan.

    Hầu hết mọi người không hành xử với ý định gây tổn thương trực tiếp cho người khác; nói chung, họ đưa ra những lựa chọn nhằm mục đích làm bản thân họ cảm thấy vui hơn, hạnh phúc hơn.

    Dù gì đi nữa, bản chất của loài người chúng ta là hoạt động theo quan điểm tư lợi cho bản thân và ảnh hưởng của hành động của chúng ta lên người khác thường là một mối bận tâm thứ yếu.

    Dù không thể sửa chữa được chuyện này, nhưng đôi khi nhìn nhận theo quan điểm của người khác có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về những sự việc đã diễn ra và bớt đổ lỗi cho bạn.

    Bạn cũng có thể dễ dàng tha thứ cho một ai đó khi bạn xem họ như một con người toàn diện.

    Nếu bạn thấy mình đang ấp ủ cơn giận trong lòng về những chuyện mà người khác đã làm hay không làm thì hãy thử lùi lại và nhớ lại những phẩm chất tốt đẹp mà bạn nhìn thấy ở người đó khi bạn gặp lần đầu tiên, và nhận ra ai cũng có khuyết điểm và tất cả chúng ta đều mắc sai lầm.

    4.

    Hiểu rằng chẳng sao cả khi bạn vẫn còn yêu họ

    Tình yêu không bao giờ sai.

    Khi ai đó bước vào cuộc đời bạn, cho bạn cơ hội để trải nghiệm tình yêu thì điều đó luôn luôn là một món quà quý.

    Tuy nhiên, một phần của sự trưởng thành là nhận ra bản thân tình yêu không phải lúc nào cũng là đủ để làm cho mối quan hệ trở nên tốt đẹp.

    Nhiều yếu tố và hoàn cảnh khác, chẳng hạn như thời gian, những giá trị xung khắc hay những lựa chọn của chúng ta đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu mối quan hệ có thể phát triển được hay không.

    Nhưng từ bỏ một mối quan hệ không còn tốt đẹp không hẳn là phải chấm dứt tình yêu mà bạn đang có.

    Đôi khi, cách duy nhất để buông bỏ là yêu ai đó đủ để mong muốn điều tốt đẹp nhất cho anh (cô) ấy ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với việc không ở bên nhau.

    Có nhiều dạng tình yêu, và nó có khả năng chuyển đổi, phát triển và thay đổi theo thời gian.

    Hãy để cho tình yêu lãng mạn trong bạn phát triển thành một kiểu tình yêu khác, bao gồm sự quan tâm và lòng trắc ẩn dành cho một người từng đóng vai trò quan trọng trong cuộc đời bạn.

    Điều này sẽ giúp quá trình chữa lành được diễn ra thuận lợi.

    Phần lớn nỗi đau mà chúng ta cảm nhận khi một mối quan hệ kết thúc có liên quan đến sự mất mát mà chúng ta nhìn nhận.

    Hãy xem nó như một sự chuyển tiếp thay vì là một mát mát có thể giúp xoa dịu tổn thương trong chúng ta.

    Sự thật là: Các mối quan hệ mà ta có trong đời luôn sống mãi.

    Chúng tồn tại trong ký ức của chúng ta, trong cảm xúc của chúng ta khi ta nghĩ về họ, trong con người hiện tại của chúng ta vì họ, và trong những bài học mà ta học được từ họ.

    5.

    Yêu bản thân nhiều hơn

    Sau cùng, việc rời bỏ một mối quan hệ không còn tốt đẹp chính là biết thương lấy chính mình.

    Đối với một số người thì đây là phần khó nhất.

    Tin rằng bạn xứng đáng có được một mối quan hệ yêu thương với một ai đó cùng chung giá trị với bạn và đối xử tốt với bạn đòi hỏi bạn phải biết nhìn nhận về mình ở góc độ tích cực.

    Nếu chỉ nội việc nghĩ đến chuyện này dường như là một thử thách vì cuộc độc thoại nội tâm của bạn đầy ắp sự thiếu tự tin, tự chỉ trích hay chán ghét bản thân thì có thể bạn cần phải nhờ đến sự trợ giúp của một nhà tham vấn tâm lý chuyên nghiệp.

    Bạn không thể mong đợi người khác đối xử với bạn tử tế hơn bạn đối xử với chính mình.

    Tha thứ cho bản thân là một phần quan trọng của yêu-bản thân.

    Khi nhìn lại, bạn có thể cảm thấy rằng có những chuyện mà đáng lẽ bạn có thể làm khác đi, nhưng bạn không thể nào biết được những kết quả khác ấy là gì.

    Đổ lỗi cho bản thân theo cách tự trách móc chỉ lãng phí năng lượng một cách vô ích, mang lại cảm xúc tiêu cực và làm chậm trễ quá trình chữa lành.

    Thay vào đó, hãy chọn biến nỗi đau thành một điều lợi lạc.

    Mọi mối quan hệ, nếu chúng ta sẵn sàng chấp nhận, có thể dạy cho ta điều gì đó về bản thân và giúp ta hiểu rõ hơn những điều mình cần để có được hạnh phúc.

    Thừa nhận vai trò của bạn trong những chuyện không ổn với một mối quan hệ có thể là một phần quan trọng của quá trình học hỏi.

    Khi hai người ở trong một mối quan hệ, họ tạo ra một động năng và bất cứ điều gì đã xảy ra thì cả hai đều góp phần vào nó theo một cách nào đó.

    Khi bạn có sự sáng suốt để hiểu được vai trò của mình, bạn sẽ ở vị thế tốt để làm việc gì đó khác đi.

    Nếu bạn tin rằng có thể hữu ích khi thực hiện một số thay đổi trong hành vi của riêng bạn, chẳng hạn như học cách thiết lập ranh giới tốt hơn hay cải thiện kỹ năng giao tiếp của mình, thì khi ấy hãy nắm lấy cơ hội làm việc này để mối quan hệ sau của bạn có thể trở nên tuyệt vời hơn.

    Chúng ta cần có mối quan hệ với người khác để nhìn nhận bản thân một cách rõ ràng hơn.

    Mọi mối quan hệ chúng ta có phản chiếu lại cho ta biết những gì chúng ta đang mang vào thế giới.

    Cần hiểu rằng một mối quan hệ không phải là một sự thất bại chỉ vì nó đã chấm dứt.

    Nếu bạn trưởng thành lên và học hỏi được điều gì đó để đưa cuộc sống của mình tiến lên thì khi ấy nó thực sự đã là thành công rồi.

    Tác giả: Tiến sĩ Jennice Vilhauer là một nhà tâm lý học ở Los Angeles, nhà phát triển của Liệu pháp Định hướng Tương lai Future Directed Therapy (FDT), và là tác giả của cuốn sách bán chạy Think Forward to Thrive.

    Dịch bởi Thợ săn tiền thưởng

    Nguồn ảnh: Iakov Filimonov/ Shutterstock

    Nguồn


    Cre : Rubi
     
    Tâm Lý Học
    Khoe và khoe khoang giữa đại dịch


    Khoe "nghị lực vượt nghịch cảnh", khoe "tủ lạnh đầy ắp ăn làm sao hết?" hoặc khoe "sự thanh thản ngắm chồi non mới nhú ở bancông" nhưng khoe khoang giữa lúc đại dịch là không nên giữa "bể khổ" của những người đang mất mát ngoài kia.

    Khoe thường và khoe khéo

    Jonathan Berman giảng dạy tại Trường Thương mại London, chuyên nghiên cứu về hành vi của khách hàng, về lý do họ ra quyết định abc trước một nhãn hàng...

    Ông là tác giả của khái niệm "braggart's dilemma", tức "thế khó xử của người ".

    Lấy thí dụ: vừa làm được một cái bánh vô cùng đẹp, bạn có muốn "cõi mạng" biết về việc này không?

    Bạn tự nhủ: "Muốn chứ!

    Nhưng mình không muốn họ nghĩ mình khoe khoang!".

    Chụp ảnh đưa lên, có nguy cơ bạn bị cho là khoe.

    Nhưng không đưa lên thì thật bất công, ai mà biết bạn mới làm được một việc mà chính bạn cũng phải khâm phục bạn?

    Theo Berman, cân bằng được hai đòi hỏi mâu thuẫn ấy là cả một nghệ thuật, bởi động lực căn bản trong hành vi của con người là muốn được ưa nhìn trong mắt kẻ khác, nhưng quá lên một tí thì lại thành kẻ khó ưa.

    Berman thấy ngày nay "nhờ" mạng xã hội mà ta được gặp cảnh khoe khoang nhiều hơn.

    Cũng con người bình thường ngồi đối diện đây, không nói gì nhiều về bản thân, về sở thích; nhưng trên tài khoản mạng xã hội của họ lại đầy những thứ khoe: nào nhà to, nào hoa đẹp, nào con học giỏi, nào chồng galăng...

    Thế rồi đến một lúc, bản thân người khoe cũng thấy "chướng" nên vô tình hay hữu ý mà dùng tới cách "khoe khiêm tốn".

    Berman lấy ví dụ một ai đó than thở đêm qua bước trên thảm đỏ mà đạp trúng miếng bã kẹo cao su.

    Theo ông, người ta thấy kiểu khoe khiêm tốn này đáng ghét vì có kẻ đã đạt được mức độ thành công mà kẻ khác không có, rồi lại (giả vờ) than thở về việc ấy.

    Khoe khiêm tốn hay "khoe khéo", theo định nghĩa là "việc khoe khoang được che đậy bằng một lời than thở hoặc sự khiêm tốn".

    Trong một bài viết, Jamie Ducharme nói có hai loại rõ rệt.

    Loại đầu là một lời than, chiếm đến 60% của thể loại khoe khiêm tốn ("Mình ghét mình trông cứ trẻ mãi, đến nỗi thằng 19 tuổi còn xông vào tán!").

    Loại thứ hai là một vẻ khiêm tốn ("Không hiểu sao mình kém cỏi mà cứ bị giao làm những tác vụ quan trọng nhất?").

    Các nhà nghiên cứu bèn tiến hành các thí nghiệm xem người ta sẽ phản ứng ra sao với người "khoe khéo", có thấy họ đáng yêu và giỏi giang hơn không.

    Kết quả: khoe theo lối "truyền thống" ăn điểm về cả hai khía cạnh ấy, ít nhất là do nó "thật".

    Ovul Sezer, một thành viên của đội nghiên cứu khuyên rằng nếu muốn khoe một điều gì đó thì ta cứ khoe thôi, ít nhất là mình tự khen mình, rồi sau đó còn nhận được phần thưởng của thành thật, còn hơn là dùng đến "khoe khéo" để cuối cùng mất mọi đằng.

    Khoe trong đại dịch có gì sai không?

    Khi đại dịch COVID-19 mới diễn ra, trên mạng có phong trào thử thách lúc cách ly: số lượng sách đã đọc, các bài thể dục khó đã chinh phục...

    Iris Casiano là một nhà tư vấn tâm lý, bà nhận thấy đi kèm với phong trào vui vẻ kia là một nhãn dán có phần hằn học: "Khoe khoang lúc cách ly".

    Bà cũng nhận thấy một số khách hàng mang tâm lý "có lỗi" và "xấu hổ" khi phát hiện ra những khía cạnh tích cực của cách ly (khi ấy không ai nghĩ đại dịch sẽ đi lâu, đi xa tới tận hôm nay và cứ ngỡ rằng thời gian cách ly ấy chỉ là ngắn ngủi vài tuần).

    Họ thấy do cách ly mà thành ra thiết tha hơn với việc kết nối người thân yêu, biết quay lại chăm sóc bản thân như ngủ đúng giờ, tập thể dục chăm chỉ, sắp xếp lại nhà cửa, máy tính... toàn những thứ khiến họ thêm tự tin vào khả năng "dám thay đổi" của chính mình.

    Họ không dám thổ lộ điều này với ai, chỉ dám nói với Iris những cảm xúc hân hoan đó.

    Bà bảo họ rằng rất nên tự hào vì những thay đổi tích cực như vậy, và rằng là con người, chúng ta phải chấp nhận một sự thực: có những thời điểm khó khăn cho tất cả mọi người: có người mất rất nhiều, thậm chí mất hết, nhưng lại có những người biến chính lúc này thành cơ hội để phát hiện ra sự kiên cường đáng kinh ngạc của loài người.

    Kiên cường là khả năng đối đầu về cảm xúc và tâm thần trước hoàn cảnh khó khăn.

    Đứng từ góc độ này, theo Iris, những gì bị gọi là "khoe khoang" nên được coi là "sự phản ánh tính kiên cường và nguồn sống tích cực của cá nhân trước nghịch cảnh".

    Điều đó là có lợi, và Hội Tâm lý học Hoa Kỳ đã chỉ ra rằng: tư tưởng lành mạnh, hy vọng và tích cực là yếu tố chủ chốt để xây dựng nên sự kiên cường và hồi phục tốt.

    Iris nói giữa một cuộc hỗn độn mà bản thân vẫn làm được việc này việc kia để tự hào thì cứ nên vui.

    Bà cho một thí dụ nhỏ là lục trong tủ lạnh chỉ còn vài thứ vớ vẩn sót lại mà vẫn nấu được nồi xúp ngon thì cứ nên chụp ảnh mà chia sẻ trên Instagram, rồi sẽ có những người đón nhận nó như một biểu tượng của sự kiên cường và uyển chuyển, và đến lượt "quỹ kiên cường" của họ cũng được đánh thức mà bắt chước theo.

    Chống chọi sự khoe khoang của kẻ khác

    Bất kể lý do gì, khoe khoang giữa lúc đại dịch cũng là không nên, dù là khoe "nghị lực vượt nghịch cảnh", khoe "tủ lạnh đầy ắp ăn làm sao hết?" hoặc khoe "sự thanh thản ngắm chồi non mới nhú ở bancông".

    Khi số đông đang mất mát vì đại dịch, người ta không nên chia sẻ những thứ mà họ thấy là "lợi ích từ đại dịch", bởi vì cái "lợi ích" ấy với họ có thể là lớn lao, giúp họ tìm lại được con người đích thực của họ, nhưng nó chỉ là hạt cát chìm lỉm giữa "bể khổ" của những người đang mất mát ngoài kia.

    "Hạt cát lợi ích" ấy nếu có thì nên giữ trong lòng, hãy nhìn vượt ra khỏi đó nhận lấy bức tranh toàn cảnh.

    Trong một bài viết, bác sĩ tâm lý học Amy Morin cho rằng những hình ảnh đáng ghen tị trên Instagram, Facebook... chỉ khiến người ta thêm tiêu cực.

    "Chỉ cần quẹt màn hình vài phút là đủ đi từ tệ tới tệ hơn.

    Không cẩn thận, sự khoe khoang của người khác có thể làm hại đến sức khỏe tâm thần bạn".

    Đặc biệt là với những người đang sống trong phong tỏa, cách ly, căng thẳng; việc nhìn vào những bức ảnh "an nhiên" trên mạng của những người khoe mình hạnh phúc hơn, mạnh khỏe hơn, giàu có hơn sẽ làm nảy sinh sự so sánh vô lý mà không cưỡng lại được.

    Nghiên cứu đã chỉ ra độ ganh tị với người trên mạng là có liên quan tới độ trầm cảm, và càng trầm cảm người ta lại càng ngồi một chỗ, thụ động lướt mạng, tạo thành một cái vòng luẩn quẩn tiêu cực khó phá bỏ.

    Phải làm sao?

    Theo Amy Morin, bạn không thể khiến người khác bớt khoe họ giàu có và bình an ra sao giữa đại dịch, bạn cũng không thể nói họ là đừng có "khoe khéo", "khoe khiêm tốn" nữa, nghe ghét lắm, nhưng bạn có thể tự bảo vệ mình khỏi sự tấn công cùng lúc của cả đại dịch lẫn sự khoe khoang của kẻ khác, nhất là khi sự khoe ấy nhắm tới... bạn.

    Theo Morin, bạn chỉ cần:

    - Ít vào mạng xã hội lại.

    Tốt nhất là không theo dõi những ai làm mình nghĩ tiêu cực, xấu xí đi.

    Chỉ đọc những gì làm mình vui, mình tốt lên.

    Nhưng nói chung hãy bớt đi thời gian cho mạng xã hội.

    - Không so sánh vớ vẩn nữa.

    Đừng mất năng lượng chỉ để so sánh giữa đời thực của mình với cảnh đời hư ảo mà kẻ khác muốn mình nghĩ là của họ.

    Nhớ rằng rất nhiều thứ bạn thấy trên mạng xã hội không hề phản ánh chính xác cuộc sống của người khác.

    Và cho dù có chính xác đi chăng nữa, tức người ta giàu hơn, bình an hơn bạn giữa đại dịch thì cũng là... việc của người ta.

    Nếu đã quyết so thì hãy so luôn với những cảnh đời còn khổ hơn bạn.

    - Hãy tự yêu mình.

    Ganh tị là khi ta tự xỉ vả mình vì đã không được như kẻ khác.

    Giờ là lúc hãy tập thương lấy mình, coi mình là bạn thân mình, cùng nhau lèo lái "có ít dùng ít có nhiều dùng nhiều" qua khó khăn.

    Lời khuyên cho kẻ hay khoe

    Theo chuyên gia Sezer, nếu không kiềm chế được sự khoe thì xử sự tốt nhất lúc này là chớ có tự khoe, hãy dùng người khác khoe hộ mình.

    Một người khác khen bạn làm bánh đẹp, một người khác khen nhà bạn sao mà đẹp..., khi đó bạn sẽ thoát khỏi việc bị coi là kẻ khoe khoang.

    Nhưng rốt cuộc, nếu phải vất vả thế thì để làm gì?

    Để làm khổ người khác à?

    Để trêu tức ai đó à?

    Hay để như nhà văn Richelle E.

    Goodrich từng nói: "Một tràng khoe khoang chẳng thu hút được người bạn thật sự nào.

    Nó chỉ đặt ta lên một bục kê, khiến ta trở thành một mục tiêu dễ nhắm hơn"?

    Một động cơ khác của khoe khoang

    Trái với Iris, trong một bài viết trên trang Magdalen, Sebastian Partogi thành thật nhìn nhận bản thân mình có hơi khoe khoang, không phải về vật chất mà về thành tựu trong nghề nghiệp.

    Lý do: đó chính là thứ khiến anh bất an nhất.

    Partogi nhận thấy trong đại dịch, khi cảm giác mình tệ hại hơn vì mất kết nối người thực với người thực, anh lại muốn khoe về kỹ năng viết và dịch của mình hơn bao giờ hết.

    Thế rồi đột nhiên anh thấy hình như người đọc đang mất cảm tình vì sự khoe này quá đà.

    Anh dừng lại, nhận ra bên dưới ham muốn khoe khoang tài giỏi là một cảm thức khốn khổ về cô độc, vô tích sự.

    Dịch COVID-19 càng khốc liệt, tài chính cá nhân càng kiệt quệ, công việc càng bất ổn, cảm thức ấy càng tăng khiến anh càng muốn nói to với mọi người rằng tôi còn sống, tôi đọc nhiều sách lắm, tôi không sao, tôi vẫn là người được việc, và hơn tất cả, tôi vẫn đáng yêu.

    Partogi nhìn quanh, bạn bè anh cũng nhiều người như thế.

    Họ khoe nhiều thứ khác nhau nhưng đều là để che đậy cảm giác đang gặp khó, đang thiếu thốn.

    Partogi kết luận: khoe khoang trên mạng xã hội thực chất là một tiếng kêu cứu của những người đang tuyệt vọng vì buồn chán.

    Nguồn: Rubi
     
    Tâm Lý Học
    Những điểm tương đồng giữa khoa học thần kinh và đạo Phật


    Bài viết của tác giả BS.

    Trịnh Nguyên Phước

    Bài viết của tác giả BS.

    Trịnh Nguyên Phước Xét ra thì có rất nhiều điểm tương đồng giữa khoa học thần kinh và đạo Phật.

    Đó là: 1) Sự hiếm có của thân phận làm ngườiTrong đạo Phật có câu: "Nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn" (Thân người khó được, Phật pháp khó nghe).

    Trong Kinh Pháp Hoa, đức Phật dùng ẩn dụ con rùa mù và bọng cây để so sánh sự khó khăn, hi hữu khi được làm người: "Như một bọng cây ở giữa có một lỗ hổng nhỏ, nổi trên mặt biển, trôi dạt khắp nơi.

    Có một con rùa mù nằm dưới đáy biển, một trăm năm mới trồi lên một lần.

    Như vậy thì chừng nào con rùa mới chui đầu được vào lỗ hổng của bọng cây?"

    Sanh ra làm người cũng khó khăn, hi hữu như vậy, và chỉ có con người mới có khả năng trí huệ (pađđa), đưa tới giác ngộ (bodhi).

    Khoa học cũng quan niệm rằng mỗi sự sống là một điều vô cùng hi hữu: từ sự kết hợp của một tinh trùng (trên hàng chục triệu tinh trùng) và một noãn, trở thành trứng rồi phát triển qua những giai đoạn phôi-thai, đến khi sinh ra thành một con người, đã trải qua bao nhiêu là thử thách.

    Đó cũng là kết quả của hàng tỉ năm tiến hóa, qua bao nhiêu thế hệ truyền thừa và thay đổi gen.

    Trong các loài vật, con người may mắn được sinh ra với cơ quan tinh vi nhất của sự sống là não bộ loài người, một mạng lưới khổng lồ gồm 100 tỉ nơ-ron, hơn 1 triệu tỉ xinap, không ngừng hoạt động, với tính chất mềm dẻo và khả năng gần như vô hạn...

    2) Tất cả đều liên đới với nhauĐiểm nổi bật lên trong vũ trụ quan của đạo Phật là lý "duyên khởi", hay "vòng nhân duyên" (paticca-samuppada).

    "Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt, v.v.".

    Đó cũng là sự tương quan, tương tác, tương hữu ("inter-être") của mọi sự vật.

    Không có gì không có liên hệ, hay biệt lập với những cái khác.

    Trong khoa học dù là vật lý hay thần kinh cũng vậy, tất cả đều liên đới, liên kết với nhau ("interconnecté").

    Hệ thần kinh được tổ chức dưới hình thức những mạng lưới, với các tế bào, nhân, bó sợi, chất truyền, cơ quan nhận, ảnh hưởng lẫn nhau, đưa những thông tin ngang cũng như dọc đan díu vào nhau.

    Như vậy, đạo Phật và khoa học chia sẻ với nhau một cái nhìn tổng thể (holistique) về thế giới.

    3) Tất cả chúng sanh đều thân thiết với nhauĐạo Phật chủ trương đem lòng từ bi (metta, karuna) rải tới mọi chúng sanh, như lời đức Phật dạy trong Kinh Từ Bi: "Như mẹ hiền thương yêu con một, Dám hy sinh bảo vệ cho con, Với muôn loài ân cần không khác, Lòng ái từ như bể như non", và Kinh Kim Cương: "Có bao nhiêu chúng sinh trong vũ trụ, dù chúng sinh ra từ trứng, từ thai, từ nơi ẩm thấp, hay hóa sinh, dù chúng thuộc loài hữu sắc hay vô sắc, dù chúng thuộc loài có tri giác hay không có tri giác, tất cả đều phải được ta dẫn vào Niết Bàn".

    Lòng từ bi phát xuất từ trực giác là loài người cũng như các loài vật đều là những chúng sinh hữu tình, thân thiết với nhau.

    Khoa học đã chứng minh rằng trong sự tiến hóa trên trái đất, từ lúc xuất hiện tế bào đầu tiên thủy tổ của sự sống (khoảng 3 tỷ năm), các bộ gen biến đổi dần, đưa tới sự hình thành của các loài vật và cuối cùng là loài người.

    Nhìn kỹ, thì chúng ta thấy sự khác biệt gen giữa các loài vật và loài người thật ra không nhiều: về số lượng, thì các loài có vú, trong đó có loài người, đều có khoảng 30000 gen.

    Về sự khác biệt gen, thì loài người chia sẻ với nhiều loài vật đa số các gen (hơn 98 %).

    Thí dụ như người và chuột chỉ khác nhau 300 gen; người và các loài khỉ lớn (như tinh tinh, khỉ đột) giống nhau 99 % gen.

    Như vậy, có thể nói rằng loài người với các loài vật là bà con, họ hàng với nhau.

    Và chính vì loài người có nhiều nơ-ron hơn, có trí thông minh hơn, có khả năng ảnh hưởng đến thiên nhiên hơn, cho nên chúng ta phải có trách nhiệm nhiều hơn đối với các loài khác, và đối với trái đất.

    4) Tâm-não là điều quan trọng nhấtĐối với đạo Phật, tất cả ở tại tâm, cũng như những câu: "Tâm (mano) dẫn đầu tất cả, tâm là chủ, tâm tạo tác tất cả" (Pháp Cú, 1)."

    Dĩ tâm vi tông, dĩ vô môn vi pháp môn" (Lấy tâm làm chủ, lấy cửa không làm cửa Pháp)(Kinh Lăng Già)."

    Tâm địa là bản nguyên của vạn pháp" (Kinh Lăng Nghiêm).

    Theo khoa học thần kinh, sự liên hệ giữa các động vật có hệ thần kinh (trong đó có con người) và thế giới, sự sinh tồn của chúng, đều cần đến sự hoạt động của não.

    Sự chết được định nghĩa là sự ngưng hoạt động vĩnh viễn của não, do sự hủy diệt của toàn bộ nơ ron.

    5) Tất cả chuyển đổi không ngừngĐối với đạo Phật, mọi hiện tượng đều vô thường (anicca), nghĩa là không có gì không thay đổi từng sát na (phần nhỏ của giây) một.

    Khoa học thần kinh cũng cho biết rằng hoạt động của não không bao giờ ngưng nghỉ (ngay cả trong giấc ngủ), do những xinap luôn luôn đổi thay.

    Và chính nhờ những đổi thay không ngừng đó, tâm-não mới có được tính chất mềm dẻo (plasticité), linh động.

    Ngay cả các biểu hiện của gen cũng có thể đổi thay, từ thế hệ này qua thế hệ khác.

    6) Không có cái ta, chỉ có cảm tưởng có cái taĐối với đạo Phật, tất cả đều vô ngã (anatta), không có tự tính biệt lập.

    Cái "ta" chỉ là một cảm tưởng, một sự tụ họp tạm thời của 5 uẩn (khanda, agrégats), là sắc (rupa, forme), thọ (vedana, sensations), tưởng (sađđa, perception), hành (sankhara, volitions), và thức (viđđana, conscience).

    Theo khoa học thần kinh, các cảm giác (sensations), tri giác (perception), ý muốn (volitions), cảm xúc (émotions), ngôn ngữ (langage), ký ức (mémoire),v.v.

    đều nảy sinh từ sự kích hoạt của các vùng não khác nhau, ngay cả trạng thái tỉnh thức cũng do sự kích hoạt của tổ chức hình lưới (formation réticulaire) trong thân não.

    Nhưng tuyệt nhiên không có vùng nào có thể gọi là cái "ta" (ego, self), không có một trung tâm nào trong não có thể gọi là trung tâm của cái "ta".

    7) Cảm nhận của con người về sự thật dễ sai lầmTheo đạo Phật, con người hay bị ảo tưởng, vọng tưởng, tà kiến, do vô minh (avijja) làm vẩn đục cái tự tánh trong sáng sẵn có.

    Do đó, con người phải luôn luôn tự nhắc nhở mình rằng tất cả mọi hiện tượng là hư vọng, là mộng huyễn, không có thực thể hay cố định.

    "Sắc tức thị không [...] thọ tưởng hành thức diệc phục như thị" (Bát Nhã Tâm Kinh) "Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng" [...] "Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện, ưng tác như thị quán" (Kinh Kim Cương).

    Theo khoa học thần kinh, sự tri giác của con người về thế giới luôn luôn là ảo giác, vì mọi thông tin phải truyền qua các mạng lưới thần kinh, và phụ thuộc vào hoạt động của chúng.

    Ngay cả ký ức cũng bị đổi thay, bóp méo, ảnh hưởng bởi cảm xúc.

    Ngoài những ảo ảnh (illusions optiques) vẫn thường xuyên xẩy ra, thì các cảm giác luôn luôn được biểu tượng (interprété) bởi não.

    Về thời gian, từ hình ảnh trên võng mạc đi tới vỏ não nhìn, rồi tới khi nhận thức ra hình ảnh là gì, thì đã có mấy trăm ms trôi qua.

    Ý thức về sự vật không còn là sự vật.

    Héraclite đã từng nói: " Người ta không bao giờ tắm hai lần ở một dòng sông ".

    Thật ra, một lần người ta cũng không bao giờ tắm, bởi vì vừa mới mặc đồ tắm xong, thì dòng sông đã là dòng sông khác rồi; và cũng không bao giờ tắm cùng một dòng sông, vì mỗi làn nước trôi trên da đã là một làn nước khác, và chính mình cũng đã đổi thay...

    Như vậy, không thể nào "nhìn được sự thật như là sự thật".

    Chỉ có một sự thật trực tiếp cảm nhận được bởi tâm-não, chính là sự hoạt động của nó.

    8.

    Tầm quan trọng của cảm xúc (émotions) trong đời sống nội tâmĐối với đạo Phật, cảm xúc chính yếu thúc đẩy con người đi tìm con đường giải thoát là khổ đau (dukkha).

    Người ta khổ vì những phiền não, lậu hoặc (kilesa), mang lại bởi những cảm xúc không tốt (akusala), tiêu cực, trong đó có ba cái rễ (mula) là tham (lobha), sân (dosa), và si (moha).

    Đối với khoa học thần kinh, cảm xúc vô cùng quan trọng vì là động cơ thúc đẩy hành động, và gây ảnh hưởng không nhỏ lên trí thức (intelligence émotionnelle).

    9) Điều quan trọng là ý muốn (volitions)Theo đạo Phật, ý muốn hành động tạo nghiệp (kamma-cetana) mới là quan trọng, chứ không phải là hành động.

    Điều này khác hẳn Ấn Độ giáo, vì theo tôn giáo này, một hành động dù không cố ý, vẫn tạo nghiệp.

    Theo khoa học thần kinh, hành động là một hoạt động phức tạp của não, cần sự phối hợp của nhiều vùng não: cảm giác, vận động, kế hoạch, điều phối...

    Do hiện tượng "nơ ron gương", tri giác hành động đã là có ý muốn hành động, và tri giác cảm xúc đã tự nó gây nên cảm xúc.

    10) Khả năng thay đổi tâm-não của con ngườiTheo lời dạy của đức Phật, người nào cũng có thể tự giải thoát, cũng có khả năng giác ngộ, dù là khởi đầu với một tâm địa đầy rẫy tham, sân, si.

    "Tu là chuyển nghiệp" là tựa đề của một cuốn sách viết bởi HT Thanh Từ.

    Nó có nghĩa là sự tu tập của con người có khả năng chuyển đổi được nghiệp của chính mình.

    "Chuyển hóa" cũng là một từ hay được dùng bởi Thiền sư Nhất Hạnh.

    Khoa học thần kinh ngày nay cũng nhấn mạnh vào một đặc điểm của não, là sự mềm dẻo do sự thay đổi các xinap nhờ sự luyện tập.

    Ngay cả người lớn tuổi vẫn còn có thể nhân tăng nơ-ron, và trau dồi tâm não.

    11) Năng lượng có mặt trong vật chấtBài kệ của thiền sư Khuông Việt nói rõ lên điều này: "Mộc trung nguyên hữu hỏa, Hữu hỏa, hỏa hoàn sanh.

    Nhược vị mộc vô hỏa, Toản toại hà do manh?"(Trong cây vốn có lửa, Có lửa, lửa mới bừng, Nếu bảo cây không lửa, Cọ xát do đâu bừng?).

    Đạo Phật không phân biệt vật chất và năng lượng, cũng như trong câu nổi tiếng của Bát Nhã Tâm Kinh "Sắc bất dị không, không bất dị sắc.

    Sắc tức thị không, không tức thị sắc".

    Trong khoa học cũng vậy.

    Vật lý học cho thấy rõ rằng năng lượng có sẵn trong vật chất, dù là trong than, dầu lửa, hơi, nước, trọng lượng, động năng (E = mc²) hay dưới khía cạnh vi mô, các lực hấp dẫn, điện từ, hạt nhân mạnh và yếu.

    Khoa học thần kinh cũng chứng minh rằng điện lực, là năng lượng đưa tới sự vận hành của não, phát xuất từ chính các nơ-ron, qua những phản ứng lý hóa phân tử.

    12) Tâm (mental) với não (cerveau) là hai hay là một?Như đã nói trên, đạo Phật quan niệm có một cái "ta" tạm thời, do sự tụ họp của năm uẩn.

    Người ta vẫn quen phân chia con người ra làm hai phần: tinh thần và vật chất, và cho rằng uẩn đầu (sắc) thuộc về vật chất, và bốn uẩn sau (thọ, tưởng, hành, thức) thuộc về tinh thần.

    Như vậy thì tâm thuộc vào tinh thần và não thuộc về vật chất, hai cái đó dường như hoàn toàn khác nhau.

    Nhưng thật ra, nếu đi sâu vào cốt tuỷ của giáo lý đạo Phật, một khi hiểu được hai khía cạnh của sự thật, sự thật tương đối (tục đế) và sự thật tuyệt đối (chân đế), thì chúng ta thấy rõ rằng sự phân chia thành năm uẩn, tinh thần và vật chất, chỉ là một giả lập, một phương tiện trình bày tiện lợi.

    Lý "vô ngã", "duyên khởi" của đạo Phật chỉ có thể đưa tới một cái nhìn tổng thể, vượt khỏi nhị biên.

    Như vậy, tâm hay não chỉ là hai cách gọi, hai khía cạnh của một sự thực thể.

    Và thực thể đó cũng có thể gọi là tâm-não.

    Trong khoa học thần kinh, đã nảy lên một sự đồng thuận rõ rệt hơn.

    Ngay từ 1802, nhà bác sĩ và sinh lý học Pháp Cabanis đã tuyên bố: "Não tiết ra tư tưởng cũng như gan tiết ra mật".

    Ngày nay, ngoại trừ Sir John Eccles (Giải Nobel Y học 1963), hầu hết tất cả các nhà khoa học thần kinh đều cho rằng tâm là sự vận hành của não, và không trú ngụ ở một vùng đặc biệt nào.

    Nói một cách ngắn gọn như Derek Denton (ĐH Melbourne), "Tâm là cái gì não làm" (The mind is what the brain does).

    Đối với đạo Phật cũng như đối với khoa học, sự sống là một thực thể đồng nhất, không thể phân chia được, mặc dù nó đa dạng và luôn luôn biến đổi.

    Tuy nhiên, khi câu hỏi này được đặt ra cho quần chúng, dù là Phật tử hay không là Phật tử, thì đa số vẫn nghĩ rằng tâm và não khác nhau, hoặc là tâm không chỉ nằm trong não, không thể "đơn giản hóa" là não, mặc dù cả hai liên quan chặt chẽ với nhau.

    Có người cho rằng đó là một câu hỏi không thể nào trả lời được, hoặc là không cần thiết.

    Và có người còn dùng cách phủ định của ngài Long Thụ (Nagarjuna): "bất nhất, bất dị", tức là tâm và não không phải là một, mà cũng không khác nhau; hay của ngài Na Tiên (Nagasena): "na ca so, na ca añño" (không như vậy, không khác vậy).

    Có thể quan niệm theo "trung đạo" này phù hợp với đạo Phật hơn cả.

    Dù sao, đó chỉ là những quan điểm, không có gì là quan trọng.

    Cre : Rubi
     
    Tâm Lý Học
    Mất kết nối: Những điều cần biết về căng thẳng, trầm cảm


    Phần đầu cuốn sách thu hút sự chú ý của nhiều chuyên gia trong ngành khi mà tác giả đưa ra những câu chuyện và chi tiết chứng mình thuốc chống trầm cảm không có tác dụng như quảng cáo.

    Nếu mình có trao giải Sách Hay thì vị trí số một năm nay (2019) thuộc về cuốn của Johann Hari.

    Cuốn sách mang lại cho một người không biết gì về lĩnh vực này như mình những kiến thức về căng thẳng và trầm cảm.

    Dù có nhiều nhận xét trái chiều về tác giả lẫn sách, mình vẫn thích những câu chuyện được kể trong đó.

    Bài viết này chia sẻ với những người đã, đang gặp căng thẳng và trầm cảm những điều mình tâm đắc trong sách.

    Không nhằm mục đích "chẩn đoán, khám chữa bệnh".

    "Nó" trông như thế nào?

    Căng thẳng ấy.

    Qua lời kể của Johann và những người được anh phỏng vấn, "căng thẳng, trầm cảm" hiện ra trong rất nhiều hình dạng.

    "Luôn có một cuộc độc thoại căng thẳng", khó chịu dài lê thê xuất hiện hoài ở trong đầu.

    Những suy nghĩ như một dòng nước lớn, càng muốn chặn đứng thì nó lại càng mạnh mẽ hơn.

    Dần dần, "họ bắt đầu hoài nghi về chính những suy nghĩ của mình".

    Người duy nhất để đổ lỗi lên là chính bản thân họ.

    Rằng "tất cả chỉ diễn ra ở trong đầu mày thôi.

    Đứng có yếu đuối nữa.

    Vượt qua nó đi."

    Đầy cố gắng, họ tiếp tục nghĩ về những việc từng mang lại niềm vui.

    Biết đâu làm những việc đó chắc sẽ khiến tâm trạng khá hơn.

    Thế rồi họ điểm qua từng thứ một trong đầu, nhưng niềm vui cũng không còn ở đó nữa.

    Tuy muốn chia sẻ với người khác nhưng tự hỏi: liệu có nên nói ra không, người ta có hiểu không, có nghĩ khác về mình không?

    "Họ cảm thấy xấu hổ vì ý nghĩ "phải nói ra" đó nên càng ẩn mình hơn và không muốn phải chịu đựng thứ cảm xúc này" thêm nữa.

    Về tác giả Johann Hari

    Từng là một phóng viên của nhiều tờ báo lớn và giờ, một tác giả sách về chứng nghiện và trầm cảm.

    Johann đã mang những suy nghĩ tương tự như trên từ khi còn là một đứa trẻ.

    Năm 18 tuổi, lần đầu đi khám, bác sĩ giải thích với Johann rằng do mất cân bằng serotonin trong não khiến nó bị rối loạn chức năng.

    Xong, chứng bệnh đã có cách chữa trị.

    Hạnh phúc vô cùng, trong vòng 10 phút, Johann ra về với một toa thuốc trong tay nhắc anh phải uống mỗi khi cảm thấy căng thẳng.

    13 năm sau đó, khi không thể tăng liều hơn được nữa, anh mới dừng uống thuốc.

    Thuốc chống trầm cảm dưới những tên gọi khác nhau, do các bác sĩ khác nhau kê toa, hình như không có nhiều tác dụng với anh.

    Cuốn sách kể lại câu chuyện của những con người mà Jo gặp trong hành trình đi tìm câu trả lời cho chính mình.

    Điều gây tranh cãi nhất

    Phần đầu cuốn sách thu hút sự chú ý của nhiều chuyên gia trong ngành khi mà tác giả đưa ra những câu chuyện và chi tiết chứng mình thuốc chống trầm cảm không có tác dụng như quảng cáo.

    Rằng các công ty thuốc lớn tài trợ tiền trong những nghiên cứu về tác dụng của thuốc để bóp méo sự thật.

    Dù trong thực tế, chúng không hơn gì giả dược (placebo) và ngủ nghỉ điều độ.

    Trong khi mô hình (tạm dịch: sinh học – tâm lý – xã hội) đã được chấp nhận từ những năm 70 và đưa vào giảng dạy y tế chính thức được khoảng 20 năm.

    Đến thời tác giả (đâu đó năm 1997 – 2010), thuốc chống trầm cảm vẫn là đề nghị duy nhất của các bác sỹ khám cho Jo.

    Không ai hỏi anh đã gặp những chuyện gì trong cuộc sống để đến nỗi bị như vậy cả.

    Theo tác giả, hai nguyên nhân sinh học (gene và sự thay đổi của não bộ – neuroplasticity) được cho là chịu tác động đáng kể bởi những thứ xoanh quanh cuộc sống mỗi người.

    Chính môi trường sẽ kích hoạt gene gây căng thẳng.

    Còn não bộ thay đổi để thích ứng với những nỗi đau xảy tới với bạn như một cơ chế phòng vệ.

    Có một bức tranh chung cho 07 nguyên nhân xã hội gây ra căng thẳng và trầm cảm mình liệt kê dưới đây.

    Đó là mất kết nối.

    Tuy nhiên, những câu chuyện dẫn đến chúng trong sách mang tới nhiều điều thú vị hơn.

    Nếu quan tâm bạn hãy đọc sách nhé.

    Mất kết nối với một công việc ý nghĩa

    "Bạn cần được biết là tiếng nói của bạn được chấp nhận.

    Nếu bạn có một ý tưởng ngon lành, bạn có thể lên tiếng, và thay đổi điều gì đó".

    Người lao động cần được có quyền kiểm soát một phần nào đó trong công việc của mình.

    Mất kết nối với người khác

    Nhiều nghiên cứu chứng minh sự cô đơn dẫn đến căng thẳng và trầm cảm.

    Có một giả thuyết, rằng từ xưa, loài người sinh tồn được là nhờ sinh sống và săn bắt, hái lượm theo bầy đàn.

    Các nhà khoa học cho rằng chính lối sống cá nhân, tách biệt như hiện nay khiến con người mất đi cảm giác an toàn sâu bên trong bản năng và trở nên cô đơn hơn.

    Để chứng minh, người ta làm nhiều thí nghiệm, khảo sát, cũng như nghiên cứu trên những cộng đồng sống gắn bó với nhau.

    "Có bao nhiêu người bạn có thể chia sẻ khi gặp khủng hoảng hay những điều tốt đẹp xảy đến với mình?"

    Cô đơn không hẳn là thiếu vắng hơi người một cách vật lý, mà đó là cảm giác bạn không thể chia sẻ những điều có ý nghĩa với một ai khác.

    "Không ai giúp được bạn ngoài chính bạn.

    Tôi sẽ tự chăm lo cho tôi, người khác cũng nên tự chăm lo cho họ."

    Nhưng mất người xung quanh mình thì đã sao, lên facebook là có tới 700 bạn bè cơ mà.

    "Ám ảnh Internet là một trong những cách thoát khỏi căng thẳng nhờ ... mất tập trung."

    Mọi người có bạn bè trên Internet để thay thế cho hàng xóm của họ.

    Tuy nhiên, có thể "mỗi status đăng lên mang một thông điệp ngầm duy nhất: ai đó làm ơn công nhận (acknowledge) tôi đi."

    Có thể cái chúng ta cần là kết nối kiểu face-to-face cơ.

    Mất kết nối với những giá trị ý nghĩa

    "Chúng ta đang sống trong một xã hội không cổ vũ những giá trị bên trong (intrinsic values)."

    Theo đuổi những giá trị bên ngoài (extrinsic) và vật chất có thể khiến bạn gặp nhiều căng thẳng và trầm cảm hơn.

    "Càng quan tâm đến vật chất và sự hào nhoáng bên ngoài, những mối quan hệ quanh bạn càng ngắn ngủi."

    "Chủ nghĩa vật chất khiến bạn khốn khổ hoài trong một thế giới vượt khỏi tầm kiểm soát của bạn."

    Rằng bạn thiếu món này để chăm tập thể dục hơn, thiếu món kia để kết nối nhanh hơn.

    Bạn quan tâm người ta đánh giá mình như thế nào qua những thứ mà bạn sở hữu.

    "Không có quảng cáo nào nói bạn đủ rồi cả", bạn phải có cái này cái nọ mới vui vẻ, hạnh phúc hơn.

    Nguồn: 99percentinvisible.org

    Mất kết nối với một tuổi thơ bi kịch

    Câu chuyện về những bệnh nhân bị béo phì và trầm cảm mang lại cho người đọc nhiều điều ẩn sâu trong quá khứ của họ.

    Nguyên nhân thực sự đằng sau sự ghét bỏ bản thân là gì?

    Liệu chỉ định họ uống thuốc, ăn uống ép cân có phải là giải pháp tận gốc chưa?

    Mất kết nối với danh dự và sự kính trọng

    Nghiên cứu tập tính của nhứng con khỉ đầu chó đầu đàn thì có liên hệ gì với trầm cảm ở người?

    Well, những người ở những bậc thang thấp trong một xã hội merit-based (nếu tài năng – dựa vào đâu?, bạn sẽ được đánh giá cao) có nhiều khả năng mắc căng thẳng và trầm cảm.

    Có cách nào để mọi người được đối xử công bằng hơn, bất kể công việc họ làm không?

    Mất kết nối với thế giới tự nhiên

    Phần này tóm tắt khá nhiều thí nghiệm về vai trò của tự nhiên đối với tâm lý con người.

    Mình từng viết bài trích dẫn một số thí nghiệm tương tự.

    "Đừng quên chúng ta là động vật, cơ thể này được làm ra để vận động."

    Thay đổi môi trường tự nhiên và tăng cường vận động có lẽ là một trong những cách cần được khuyến nghị hơn cả.

    Mất kết nối với một tương lai "an toàn"

    Những người trầm cảm nặng không có một cảm giác rõ ràng về tương lai.

    Vậy nếu phải sống và làm việc trong bất định, không biết tuần sau hay, thậm chí, ngày mai làm gì và ở đâu, có dẫn đến căng thẳng, trầm cảm không?

    Nghiên cứu về cộng động bản địa thiểu số ở Canada cho người đọc nhiều thông tin thú vị.

    Tóm lại

    Cuốn sách gặp nhiều ý kiến trái chiều bởi các chuyên gia vì tác giả quá hạ thấp vai trò của bác sĩ và thuốc chống trầm cảm.

    Việc chữa trị bệnh không dễ gì tìm ra mối quan hệ nhân – quả vì có quá nhiều tác động.

    Ngoài ra, tác giả là một phóng viên chứ không phải người trong ngành nên cuốn sách nên được hiểu qua góc nhìn chủ quan nhiều hơn.

    Theo mình, cuốn sách tổng hợp nhiều điều khiến người đọc hiểu thêm về trầm cảm.

    Khi biết rằng có những người khác cũng đang phải đối mặt với nó, chính họ sẽ cảm thấy được chia sẻ và đồng cảm hơn.

    Ít ra, nếu biết thêm nhiều nguyên nhân sâu xa không chắc gì đến từ bộ não của mình (không phải bẩm sinh chẳng hạn), họ có thể nhiều hi vọng hơn trong việc chữa trị.

    Gần cuối sách, có đoạn nếu bạn trầm cảm và nghe thấy tiếng nói bảo rằng bạn không thể đương đầu với chúng được đâu, nên dừng lại và nhận ra đấy là một suy nghĩ do trầm cảm thôi.

    Hãy tìm kiếm sự giúp đỡ và đừng vượt qua nó một mình.

    Những ý kiến trái chiều

    Cre : Rubi

    Cảm ơn bạn đã đọc bài,
     
    Tâm Lý Học
    Cuộc sống đức hạnh: Sự quyết tâm


    Sự quyết tâm chính là việc bạn luôn kiên định cho đến khi có thể hoàn thành được những gì mà bạn đã lên kế hoạch thực hiện trước đó.

    Nếu như bạn thật sự muốn trở thành một người đàn ông thành công, bạn cần rèn luyện được cho mình đức tính quyết tâm.

    Sự quyết tâm chính là việc bạn luôn kiên định cho đến khi có thể hoàn thành được những gì mà bạn đã lên kế hoạch thực hiện trước đó.

    Benjamin Franklin đã liệt kê đây như là một trong bốn đức tính nổi bật của con người ông.

    Bởi vì khi tự rèn luyện được đức tính này có nghĩa là ông sẽ chắc chắn rằng bản thân luôn làm việc hết sức có thể.

    Tôi đã gặp không biết bao nhiều người lên cho mình cả tá kế hoạch nghe qua thì rất hay ho, nhưng cuối cùng lại chẳng thể thực hiện nổi bởi bản thân không đủ quyết tâm.

    Nhưng tôi cũng đã gặp không ít người khác đã thành công mặc cho có bao nhiêu khó khăn; và bí quyết không có gì khác ngoài lòng quyết tâm của họ.

    Có một tấm gương tiêu biểu cho sự quyết tâm này từ vị tướng Macedonia, Alexander Đại đế và trận chiến ở đảo Tyre.

    Quyết tâm của Alexander Đại đế trong trận vây hãm đảo Tyre

    Alexander Đại đế, một trong số những người đàn ông vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới, lên kế hoạch cho những năm đầu tuổi 20 của mình bằng mục tiêu đánh chiếm vương quốc Ba Tư.

    Trong suốt quá trình theo đuổi nhiệm vụ tưởng như bất khả thi này, ông đã chiếm đóng hết thành phố này đến thành phố khác.

    Trong số đó có thành phố của người Phoenic trên đảo Tyre, nơi được xem như căn cứ hải quân hùng mạnh của Ba Tư.

    Chiến thắng ở đảo Tyre là một bước đi chiến lược trong kế hoạch của Alexander.

    Tuy nhiên, thực tế Tyre là một thành trì được bảo vệ quá sức vững chắc và việc đánh chiếm dường như không thể.

    Thành phố nằm cách ngoài khơi bờ biển của Lebanon khoảng một mile (1,6 km).

    Hơn thế nữa, nó lại còn được bao quanh bởi dãy tường thành cao 200 feet (khoảng 60m) và dày 150 feet (khoảng 45m).

    Đánh chiếm một pháo đài như thế tưởng như là bất khả thi với tất cả mọi người, nhưng Alexander lại có thể.

    Với trí thông minh, lòng dũng cảm và sự tự tin, ông chưa từng chùn bước trước bất kỳ thử thách khó khăn nào.

    Để thực hiện ý định, Alexander ra lệnh cho đội quân của mình xây dựng một con đường nối từ đất liền tới hòn đảo để có thể tiến hành bao vây được hòn đảo này.

    Công trình bắt đầu vào khoảng tháng một năm 332.

    Hải quân trên đảo Tyre ra sức ngăn cản việc thi công bằng cách bắn hàng loạt mũi tên lửa.

    Tưởng rằng sự tấn công đó gần như đã cản đường thành công việc xây dựng, nhưng Alexander vẫn không hề nao núng.

    Ông cho đặt hai toà tháp được trang bị máy bắn đá ở nơi xây dựng để bảo vệ binh lính của ông trước những đợt tấn công từ thuyền của đối thủ.

    Đáp trả lại hành động này, binh sỹ trên đảo đã tấp đầy thuyền của họ bằng những vật dễ cháy, đốt chúng lên và để chúng lao về phía con đường.

    Hàng tháng trời công sức tan thành tro cùng ngọn lửa.

    Thay vì từ bỏ, Alexander luôn động viên binh lính của mình và bắt đầu một chiến lược mới.

    Ông xây dựng con đường rộng hơn.

    Kế hoạch xây dựng đúng như dự kiến trước đó và chỉ còn cách thành lũy của đảo Tyre không xa nữa.

    Trong khi việc xây dựng con đường dẫn ra đảo vẫn đang tiến triển tốt đẹp, Alexander bắt đầu lên kế hoạch cho cuộc tấn công bằng thủy quân vào thành phố.

    Ông tập trung thuyền từ những nơi vừa đánh chiếm được và bao vây cảng ra vào của đảo Tyre.

    Bằng cách lợi dụng mũi nhọn ở đầu tàu đâm liên tục vào tường thành, Alexander tìm cách cố phá hủy chúng.

    Nhưng những người dân trên đảo Tyre đã lăn những phiến đã lớn xuống biển để cản trở những con thuyền.

    Hành động đó đương nhiên vẫn không ngăn nỗi ý chí quyết tâm của Alexander.

    Ông đặt những cần trục khổng lồ lên thuyền để dỡ từng tảng đá một ra khỏi đường đi của mình.

    Vào rạng sáng một ngày tháng Bảy năm 332, Alexander đã tập hợp sẵn sàng đội quân và vũ khí của mình cho một cuộc vây hãm táo bạo nhất trong lịch sử.

    Binh sỹ của ông tấn công từ những con đường được đắp cao và bắn từng cơn mưa tên vào phía trong thành.

    Trong lúc đó, thuyền chiến không ngừng phá hủy bức tường thành.

    Những chiếc máy lăng đá ra sức ném từng tảng đá lớn về phía thành trì kiên cố của đối phương.

    Khi quân Macedonia tiến được vào thành phố, họ nhanh chóng chiếm các cứ điểm và khuất phục thành trì không thể bị đánh bại Tyre.

    Alexander mất chin tháng để hoàn thành mục tiêu của mình.

    Nhưng trong chín tháng đó, chưa một lần ông nghi ngờ về thắng lợi tất yếu cuối cùng.

    Rèn luyện tính quyết tâm của bạn

    Muốn trở thành một người quyết tâm, trước hết bạn cần suy nghĩ sâu sắc và tìm được ý chí có thể giúp bạn vượt qua hết những trở ngại trên con đường chinh phục mục tiêu mà bản thân đặt ra.

    Không ai có thể giúp đỡ bạn, nói cách khác, bạn phải tự làm lấy tất cả những điều này.

    Nhưng dưới đây, tôi có một vài lời khuyên mà tôi nghĩ có thể bổ ích và giúp bạn phần nào trong quá trình trở thành người đàn ông không biết nao núng trước khó khăn.

    Quyết định xem bạn sẽ phản ứng như thế nào khi đối mặt với khó khăn,trước khi bạn thật sự phải đối mặt với chúng.

    Có những vấn đề đạo đức mà chắc chắn bạn sẽ phải đối mặt trong đời.

    Đừng để chúng bị quyết định bởi những khoảnh khắc hoảng hốt.

    Nếu không, nhiều khả năng bạn sẽ mềm yếu và chọn cách dễ dàng, có thể là lựa chọn sai lầm.

    Hãy quyết định ngay bây giờ những điều bạn sẽ làm và sẽ không làm, để không bao giờ phải phân vân về chúng nữa.Hoàn toàn tin tưởng.Ngay trước cuộc vây hãm đảo Tyre, Vua Darius đệ Tam của Ba Tư đã đề nghị đình chiến, đổi lại bằng đất đai và con gái của ông.

    Alexander từ chối và buộc Darius phải gọi ông là "Vua của cả Châu Á", chứ không phải ngang hàng.

    Ông đáp lại thêm, "Ta sẽ truy đuổi ngươi, dù ngươi ở đâu."

    Không bao giờ nghi ngờ khả năng thành công của mình và không thỏa hiệp.Viết ra mục tiêu của mình mỗi ngày.

    Bằng cách này, bạn sẽ tập trung hoàn toàn vào mục tiêu bạn muốn đạt được.

    Biết chính xác đích đến của mình sẽ tạo động lực cho bạn giữ sự kiên định ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn.Thay đổi chiến lược.Người ta thường mất đi sự kiên định bởi chưa thành công.

    Nhưng thất bại đến thường không phải bởi mục tiêu là bất khả thi, mà bởi chiến lược áp dụng chưa đúng.

    Albert Einstein từng nói, "Kẻ điên là kẻ làm đi làm lại một việc mà lại mong chờ kết quả khác đi."

    Nếu có gì bạn cảm thấy không ổn, hãy thay đổi.

    Bạn cần phải linh hoạt để thành công.

    Đó là điều mà Alexander đã làm.

    Ông bắt đầu với con đường, và khi chỉ con đường là chưa đủ, ông thêm vào máy bắn đá và các chiến thuyền.

    5.

    Tự thưởng bản thân.

    Nếu mục tiêu bạn đề ra là rất lớn, hãy chia chúng thành những bước đi nhỏ và tự thưởng bản thân mình với mỗi bước đi thành công.

    Binh lính của Alexander nổi tiếng là tuyệt đối trung thành với ông.

    Ông tạo ra long trung thành này và giữ sự kiên định của binh lính bằng cách ghi nhận và tưởng thưởng cho sự dũng cảm trong chiến trận của họ.

    Hãy áp dụng nguyên tắc tương tự vào bản thân bạn.

    Với mỗi bước đi thành công, hãy ra ngoài và chiếu chuộng bản thân một chút.

    Không cần phải đắt tiền.

    Mua một cuốn tạp chí bạn thích và một bữa ăn ngon cho mỗi công việc hoàn thành sẽ tạo động lực cho bạn làm việc không ngừng nghỉ.

    Cre :Rubi
     
    Tâm Lý Học
    Tại sao sang chấn có thể dẫn đến nghiện ngập


    Sang chấn tâm lý thời thơ ấu làm tăng nguy cơ nghiện ngập khi trưởng thành, nhưng nguyên nhân do đâu?

    Những điểm chính

    Có một mối tương quan chặt chẽ trong tài liệu khoa học giữa sang chấn và nghiện ngậpSang chấn và căng thẳng mãn tính có thể khiến cho hệ thống phản ứng đối với căng thẳng bị rối loạn, có thể làm cho con người dễ rơi vào những hành vi nghiện ngập.Sang chấn có thể dẫn đến chứng giải thể nhân cách (depersonalization) và tình trạng tê liệt, vô cảm, có thể khiến con người càng dễ sa vào hành vi nghiện ngập.Một lối tiếp cận nhận thức về-sang chấn là rất cần thiết cho việc khái niệm hóa và điều trị nghiện.

    Nhiều nghiên cứu xác nhận mối liên hệ giữa trải nghiệm đau thương thời thơ ấu và hành vi nghiện ngập ở tuổi trưởng thành.

    Một trong những nghiên cứu đáng chú ý nhất là nghiên cứu gốc về Trải nghiệm tuổi thơ bất trắc (ACEs) bởi Felitti và các đồng nghiệp (1998).

    ACEs bao gồm những trải nghiệm đau thương trong vòng 18 năm đầu đời như bạo hành thể xác, cảm xúc và tình dục, bị bỏ rơi, mất cha/mẹ, chứng kiến hành vi bạo lực bạn đời, và sống với một thành viên trong gia đình mắc bệnh tâm thần.

    Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng khi điểm số ACEs tăng thì nguy cơ nghiện rượu và các chất kích thích/gây nghiện khác cũng tăng ở tuổi trưởng thành (Felitti và cộng sự, 1998).

    Sau hơn 20 năm nghiên cứu liên quan đến ACEs, các tài liệu khoa học đưa ra mối liên hệ chặt chẽ giữa điểm số ACE và sự nghiện ngập (Zarse và cộng sự, 2019).

    Ví dụ, những người lớn xác nhận từ bốn mục ACEs trở lên có nguy cơ gặp vấn đề về rượu cao gấp ba lần ở tuổi trưởng thành (Dube và cộng sự, 2002), và những người xác nhận từ ba mục ACE trở lên có nguy cơ dính vào tệ nạn cờ bạc cao hơn gấp ba lần (Poole và cộng sự, 2017).

    Vậy mối liên kết giữa sang chấn tâm lý đầu đời và chứng nghiện ngập ở người trưởng thành là gì?

    Câu trả lời phức tạp hơn bạn tưởng.

    Ảnh hưởng của Sang chấn tâm lý thời thơ ấu

    Những trải nghiệm sang chấn thời thơ ấu có thể để lại một loạt tác động bất lợi đến một người, tùy thuộc vào loại sang chấn, khoảng thời gian của trải nghiệm sang chấn, giai đoạn phát triển mà sang chấn xảy ra, cấu trúc gen và giới tính của cá nhân trải qua sang chấn, và sự hiện diện hay vắng mặt của một người chăm sóc chu đáo, biết hỗ trợ (De Bellis & Zisk, 2014; Levin và cộng sự, 2021; Nakazawa, 2015).

    Tác động cụ thể của sang chấn thời thơ ấu mang nhiều sắc thái và rất phức tạp, nhưng một kết cuộc chung là sự rối loạn chức năng của hệ thống phản ứng đối với căng thẳng (Burke Harris, 2018; Moustafa và cộng sự, 2021).

    Hệ thống phản ứng đối với căng thẳng của chúng ta phần lớn được điều chỉnh bởi Trục hạ đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận [HPA], chuẩn bị cho chúng ta phản ứng một cách hiệu quả trước nguy hiểm (Moustafa và cộng sự, 2021; Nakazawa, 2015; van der Kolk, 2014).

    Khi một tác nhân gây căng thẳng được xác định, trục HPA (phối hợp với các hệ thống khác) chuẩn bị cho ta "chiến đấu hay bỏ chạy" bằng cách tiết ra các hoc-mon gây căng thẳng chẳng hạn như adrenaline và glucocorticoids.

    Khi phản ứng với stress của chúng ta được kích hoạt, chúng ta cảm thấy bị kích động mạnh, huyết áp tăng, nhịp tim nhanh, thở nhanh và hoảng sợ (Burke Harris, 2018; Nakazawa, 2015; van der Kolk, 2014).

    Máu và năng lượng được chuyển hướng đưa đến những cấu trúc não có thể hỗ trợ ngay lập tức, thay vì được đưa đến vỏ não trước trán hoạt động chậm hơn, nơi kiểm soát chức năng điều hành và tự điều tiết (De Bellis & Zisk, 2014).

    Những phản ứng tự động này giúp chúng ta ứng phó với nguy hiểm cho đến khi giải quyết xong mối đe dọa.

    Tuy nhiên, có những lúc mà hệ thống phản ứng đối với căng thẳng chống lại chúng ta.

    Hãy xem xét các tình huống mà trong đó sự việc gây chấn động tâm lý cứ kéo dài dai dẳng và mối đe dọa không bao giờ giải quyết được.

    Căng thẳng mãn tính do sang chấn tâm lý tuổi thơ kéo dài (ví dụ như, bạo hành cảm xúc lặp đi lặp lại) có thể làm trầm trọng thêm tình trạng rối loạn chức năng của hệ thống phản ứng đối với căng thẳng.

    Cụ thể là, trục HPA bị kích hoạt thường xuyên, dẫn đến việc các hoc-mon căng thẳng tăng cao và cùng với nó là phản ứng căng thẳng cấp tính (Nakazawa, 2015).

    Do đó, những đứa trẻ phải chịu đựng sang chấn tâm lý kéo dài có thể bị kích thích, lo lắng, hoảng sợ và cảnh giác liên tục (De Bellis & Zisk, 2014).

    Tình trạng rối loạn này của hệ thống phản ứng đối với căng thẳng, đặc biệt trong những năm phát triển đầu đời, có thể dẫn đến những tác động có hại đến hệ miễn dịch, kỹ năng điều chỉnh cảm xúc, phát triển nhận thức, chức năng điều hành và có thể làm tăng nguy cơ mắc phải các bệnh thoái hóa thần kinh (De Bellis & Zisk, 2014; Dunlavey et al., 2018).

    Hơn nữa, sang chấn đầu đời có thể làm gián đoạn việc điều chỉnh (một loại hoc-mon liên quan đến sự gắn bó và thân mật cảm xúc) và serotonin (một chất dẫn truyền thần kinh liên quan đến tâm trạng), dẫn đến các vấn đề về sự gắn bó và trầm cảm (De Ballis & Zisk, 2014).

    Mối liên hệ giữa Sang chấn và Nghiện ngập

    Vậy tất cả những chuyện gì có liên quan gì đến nghiện ngập?

    Lý do chính mà người ta dùng ma túy là do những tác động tâm lý tức thì của chúng.

    Rượu và các chất gây nghiện khác (ngoài các hành vi tạo phần thưởng) thay đổi cảm xúc ở con người bằng cách tạo ra khoái cảm (tức là, củng cố tích cực) và giảm dysphoria (dysphoria là trạng thái nói chung của sự buồn bã bao gồm sự bồn chồn, thiếu sức sống, lo âu và một sự khó chịu rất mơ hồ) (tức là, củng cố tiêu cực; Goodman, 2001; Griffiths, 2005).

    Đối với những cá nhân có hệ thống phản ứng đối với căng thẳng bị rối loạn do sang chấn tâm lý thì việc lạm dụng ma túy có thể giúp giảm phản ứng căng thẳng cấp tính và lo âu mãn tính.

    Rượu, benzodiazepines, opioids, và những sản phẩm từ cần sa có tác dụng gây ra trạng thái say sưa ngây ngất, một số chất trong đó thậm chí còn được dùng để làm hệ thần kinh trung ương chậm lại (ví dụ, các chất gây êm dịu, gây ức chế chức năng của hệ thần kinh trung ương).

    Ngoài ra, đánh bạc (đặc biệt là với máy đánh bạc điện tử) khiến người chơi chìm đắm vào một trạng thái xuất thần mà trong đó họ quên hết thảy mọi thứ trên đời ngoại trừ máy đánh bạc (Schull, 2012).

    Những người có tiền sử bị sang chấn có thể dễ sa vào nghiện ngập như một phương tiện để điều chỉnh tâm trạng của họ, làm dịu những suy nghĩ quấy rầy và dập tắt trạng thái kích động do hóc-mon stress tăng cao (Levin và cộng sự, 2021; van der Kolk, 2014).

    Lạm dụng ma túy hay những hành vi nghiện ngập khác có thể tạo điều kiện thuận lợi cho tình trạng tê liệt vô cảm, mặc dù chỉ là tạm thời (và đồng thời gây ra tình trạng thích nghi-thần kinh làm kéo dài, thay vì giải quyết vấn đề gốc ban đầu).

    Những cá nhân khác từng trải qua sang chấn có thể có một lối phản ứng khác (một lần nữa, do loại sang chấn, khoảng thời gian kéo dài sang chấn, độ tuổi gặp sang chấn, và đặc điểm sinh học của cá nhân đó).

    Thay vì phản ứng căng thẳng cấp tính, một số người tự bảo vệ mình trong những trải nghiệm sang chấn kéo dài bằng cách phân ly hoặc sử dụng cách chiến lược giải thể nhân cách -- depersonalization (van der Kolk, 2014).

    Những cá nhân này có thể thường xuyên cảm thấy tê liệt, không cảm xúc, không hứng thú.

    Cocaine, amphetamines, ma túy tổng hợp và nicotine có tác dụng gây ra trạng thái ngất ngây tạo ra năng lượng và sự tỉnh táo.

    Ngoài ra, những hoạt động như tự gây thương tích cho bản thân nhưng không phải là tự sát, tình dục và đánh bạc có thể đưa cá nhân thoát khỏi trạng thái vô cảm tê liệt và mang lại chút cảm giác cho họ (dù chỉ là tạm thời và cũng làm trầm trọng thêm vấn đề gốc ban đầu; van der Kolk, 2014).

    Vì vậy, những người có tiền sử bị sang chấn tâm lý dễ rơi vào nghiện ngập vì đặc tính điều chỉnh-tâm trạng của ma túy/các chất gây nghiện và hành vi tưởng thưởng.

    Quả thực, hành vi nghiện ngập có thể là nỗ lực hết sức của một người để đương đầu với những tác động về mặt sinh học và sinh học thần kinh của sang chấn tâm lý tuổi thơ, có thể bao gồm cả phản ứng căng thẳng cấp tính hoặc giải thể nhân cách (Dube et al., 2003; Felitti, 1998; Poole et al., 2017; van der Kolk, 2014).

    Do mối quan hệ phức tạp này mà, việc khái niệm hóa và điều trị nghiện đòi hỏi một góc nhìn nhận thức-về sang chấn tâm lý nhằm giải quyết đồng thời cả trải nghiệm sang chấn tâm lý và hành vi nghiện ngập.

    Tham khảo

    Burke Harris, N. (2018).

    The deepest well: Healing the long-term effects of childhood adversity.

    Bluebird.

    De Bellis, M.

    D., & Zisk, A. (2014).

    The biological effects of childhood trauma.

    Child and Adolescent Psychiatric Clinics of North America, 23, 185-222.

    Dube, S.

    R., Anda, R.

    F., Felitti, V.

    J., Edwards, V.

    J., & Croft, J.

    B. (2002).

    Adverse childhood experiences and personal alcohol abuse as an adult.

    Addictive Behaviors, 27, 713-725.

    Cre : Rubi
     
    Tâm Lý Học
    12 dấu hiệu bạn đang hồi phục khỏi một tuổi thơ bị tổn thương


    Làm thế nào để biết được bạn đang có những tiến triển tâm lý khả quan (và đang dần hồi phục) sau một tuổi thơ không mấy hạnh phúc?

    Tác giả Peg Streep viết về kinh nghiệm của bà đối với những người trưởng thành thực sự bỏ lại được quá khứ ở sau lưng.

    Làm thế nào để biết được bạn đang có những tiến triển tâm lý khả quan (và đang dần hồi phục) sau một tuổi thơ không mấy hạnh phúc?

    Tác giả Peg Streep viết về kinh nghiệm của bà đối với những người trưởng thành thực sự bỏ lại được quá khứ ở sau lưng.

    Có hai câu hỏi tôi thường nhận được từ bạn đọc về cuốn sách tôi đã viết, Daughter Detox: Recovering from an Unloving Mother and Reclaiming Your Life (tạm dịch: Hồi phục từ thương tổn do không nhận được tình thương của cha mẹ và cách tìm lại cuộc sống của chính mình).

    Câu hỏi đầu tiên đi thẳng vào trọng tâm của vấn đề, trẻ không được yêu thương mang trong mình nỗi lo lắng sâu sắc vì bế tắc trong suy nghĩ và thường có cảm giác tồi tệ vì nhiều lý do: "những vết thương lòng thuở ấu thơ liệu có thể chữa lành?"

    Câu hỏi thứ hai nghe có vẻ hơi lạ nếu bạn không nằm trong số những người có tuổi thơ bất hạnh: "Làm thế nào để biết được bạn đang bắt đầu hồi phục?"

    Câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất là: có thể chữa lành, dù trong hoàn cảnh này, hồi phục không có nghĩa là làm cho quá khứ ấy như chưa từng xảy ra hay giúp bạn có những lợi thế như một đứa trẻ được yêu thương và hỗ trợ vốn đã lớn khôn trong cảm giác tin tưởng và biết mình xứng đáng được như thế.

    Khi trưởng thành, mỗi người trong chúng ta cần phải tìm và có được sự gắn bó an toàn mà chúng ta thiếu thốn.

    Trong việc chữa lành vết thương lòng do trải nghiệm không tốt đẹp thời thơ ấu, trở ngại lớn nhất là cái nhìn thiếu thực tế của chính chúng ta về sự hồi phục, nó trông như thế nào và mang lại cảm giác ra sao.

    Chữa lành tổn thương từ thời thơ ấu là như thế nào?

    Như tôi đã đề cập trong cuốn sách của mình, văn hóa phương Tây cho rằng chữa trị là phục hồi hoàn toàn một thứ hay một ai đó khỏi tình trạng tổn hại, ví dụ: thứ có giá trị như một bức tranh hoặc món đồ cổ bị hư hại, chúng ta thường cố gắng phục chế sao cho nó trở lại hiện trạng ban đầu, như thể những hư hại chưa bao giờ tồn tại.

    Chúng ta có xu hướng mang lối suy nghĩ trên vào việc chữa lành các tổn thương tinh thần ở quá khứ, nhưng tất nhiên, đó là điều không thể.

    Chính vì lẽ đó mà tôi nghĩ nghệ thuật khôi phục đồ gốm của người Nhật, có tên gọi là Kintsugi sẽ là một ví dụ điển hình nhất để bạn có thể hiểu.

    Khi món đồ gốm bị hư hại, người Nhật dùng sơn trộn với kim loại quý như vàng, bạc, đồng để phục chế, như thế, chỗ bị hư hại không những không mất đi mà còn trở thành điểm nhấn trang trí trên món đồ, là minh chứng cho tính lịch sử của nó sau khi được phục chế.

    Quá trình này không làm mất đi vẻ đẹp nguyên thủy của món đồ mà còn biến nó trở thành một biểu tượng của sự phục hồi cùng với những nét mới mẻ.

    Nguồn: Photograph by Denys Nevozhai.

    Copyright free.

    Unsplash.

    Bạn đang cần chữa lành khỏi điều gì?

    Hầu hết những đứa trẻ có tuổi thơ không hạnh phúc đều có một niềm tin sai lệch rằng chúng cần chữa lành từ những mất mát khi thiếu thốn tình yêu thương, nhưng sự thật thì đó chỉ là một phần rất nhỏ.

    Điều quan trọng hơn nhiều, đó là biết được rằng cách đối xử của cha mẹ dù là trong việc lớn hay nhỏ, tất cả đều ảnh hưởng đến cuộc sống sau này của con cái.

    Đây là điều mà nhiều khi chính bạn cũng không nhận ra.

    Nhiều khả năng bạn sẽ cho rằng cách đối xử không tốt của cha mẹ, khiến bạn không hạnh phúc cũng như gây cản trở cho khả năng phát triển của bạn là do tính cách bẩm sinh của họ, nhưng không phải thế đâu.

    Một vài kỹ năng ứng xử mà bạn có được là do học từ thuở nhỏ, ví dụ như bỏ qua hoặc phủ nhận cảm xúc của mình, cố gắng không gây sự chú ý về mình, không bao giờ cho phép nói ra suy nghĩ của bản thân hay luôn nỗ lực làm hài lòng mọi người...

    Tuy nhiên, có những kỹ năng nhất định mà bạn đã không học được khi còn nhỏ vì việc này đòi hỏi một người cha/mẹ ân cần, quan tâm đến nhu cầu cảm xúc của con mình, một trong số các kỹ năng có thể kể đến như: biết giữ bình tĩnh khi gặp căng thẳng, biết trò chuyện và hiểu rõ cảm xúc của mình, cảm thấy thoải mái khi được trải lòng và chấp nhận rủi ro.

    Thật là sai lầm khi tất cả những đứa trẻ không được yêu thương chỉ chăm chăm vào sự thiếu thốn tình thương của cha mẹ và tin rằng đó là cái chúng cần được bù đắp.

    Nhưng vấn đề nằm ở chỗ bạn nhận thức được điều gì bạn nên học hỏi và điều gì thì không vì nó chỉ gây cản trở và hạn chế khả năng của bạn.

    Cách tốt nhất là tìm đến nhà trị liệu giỏi, mặc dù các phương pháp tự lực cũng có thể giúp nâng cao sự thừa nhận và phát triển bản thân.

    Tổn thương do thiếu thốn tình cảm sẽ bắt đầu được lấp đầy khi bạn trưởng thành, thay đổi và khôn lớn.

    Tôi không tin nó sẽ hoàn toàn biến mất, nó chỉ trở nên thật nhỏ bé trong thế giới rộng lớn và muôn vẻ khi bạn trưởng thành, được lấp đầy bởi những kinh nghiệm mới và sự liên kết với người xung quanh, như những phần hư hại được phục chế bằng kỹ thuật Kintsugi.

    12 dấu hiệu cho thấy bạn đang bắt đầu hồi phục

    Tất nhiên với mỗi trường hợp khác nhau thì nỗi đau họ chịu đựng và kỹ năng sống mà họ thiếu sẽ là khác nhau, dưới đây chỉ là nhưng dấu hiệu chung nhất để bạn có thể lựa chọn xem cái nào phù hợp nhất với mình.

    Mặc dù không phù hợp cho tất cả các trường hợp nhưng rất nhiều người vẫn có thể sử dụng các dấu hiệu bên dưới để đánh giá quá trình hồi phục của bản thân.

    Hãy nhớ rằng, việc chữa lành là cả một quá trình, việc bỏ đi cái cũ và học cái mới cũng không phải là hàm tuyến tính; sẽ có lúc bạn đạt được bước tiến tốt, có lúc lại là một bước lùi vì bạn dễ quay về với nền thói cũ, nhưng tất cả đều rất đỗi bình thường.

    Đừng quá hà khắc phán xét bản thân và nhớ rằng đây là cuộc đua đường dài, không phải nước rút.

    Hiểu được cảm nhận của bản thân

    Sự thiếu hụt về trí tuệ cảm xúc là chuyện rất thường tình, đặc biệt là đối với những ai lớn lên trong môi trường nơi mà họ bị chế giễu hay cười cợt khi thể hiện cảm xúc của mình, nơi không ai xem trọng cảm giác của họ hoặc họ bị cho là dối trá khi bộc lộ cảm xúc thật của mình.

    Vì những đứa trẻ thiếu thốn tình thương không được học cách kiểm soát các cảm xúc tiêu cực, chúng có xu hướng chạy trốn khỏi các cảm xúc đó một cách có chủ ý, điều này khiến việc nhận biết chính xác cảm xúc của bản thân lại càng trở nên khó khăn.

    May thay, trí tuệ cảm xúc là tập hợp các kỹ năng có thể trau dồi, rèn luyện và mài dũa.

    Khi có chuyện gì đó không ổn, bạn không tự đổ lỗi cho bản thân

    Tự trách và tự phê phán bản thân có thể nói đã trở thành thói quen cố hữu, khó thay đổi, có xu hướng trở thành hành vi mặc định của rất nhiều đứa trẻ không được lớn lên trong yêu thương.

    Đôi khi, thói quen tự trách đơn thuần là dư âm của quá khứ khi đứa trẻ bị những người trong gia đình mình đổ lỗi, đặc biệt là trong những gia đình có thói quen đổ thừa.

    Nhưng đó cũng có thể là cách để bạn tránh né nói ra cảm nghĩ của bản thân và "ngậm bồ hòn làm ngọt" vì bạn sợ phải đối mặt với người khác.

    Khi bạn bắt đầu có khả năng nhìn nhận những thất bại, sai lầm theo cách phức tạp hơn, nhận thức được vai trò của người khác, của chính bạn cũng như các yếu tố khác, thì đó là dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy bạn đã có bước tiến triển tốt.

    Bạn trở nên tự tin và không còn quá đắn đo

    Vâng, nó được gọi là tự tin, sẽ bắt đầu như mầm chồi nhỏ và tiếp tục phát triển nếu bạn không ngừng bồi dưỡng cho nó.

    Đây là phương thuốc hữu hiệu cho thói quen hay trằn trọc đắn đo suy nghĩ về các lựa chọn, ngay cả lúc nửa đêm.

    Thói quen này sẽ thách thức mỗi khi bạn đưa ra quyết định, và khiến bạn ngần ngại liệu mình có lựa chọn nào đúng trong đời hay không.

    Bạn có thể nói ra ý kiến của mình mà không phải lo lắng gì

    Cho dù là vì nhiều lý do khác nhau, rất nhiều người không dám nói lên suy nghĩ và cảm xúc của mình.

    Vì họ đã học cách lẩn tránh và không gây sự chú ý về mình, hoặc do cha mẹ họ là những người hiếu chiến, luôn sẵn sàng tranh cãi hoặc quá yêu bản thân mình (ái kỷ).

    Trong cuốn sách có tựa đề Rethinking Narcissism (tạm dịch: Nghĩ lại về chứng ái kỷ), giáo sư tâm lý học Craig Malkin đã gọi người có đặc tính này là "echoist" – người quá chú trọng đến việc làm hài lòng người khác nên không dám nói lên suy nghĩ và nhu cầu của bản thân mình.

    Họ sợ làm phiền người khác, sợ lời khen và không muốn thu hút sự chú ý về phía mình.

    Giải pháp cho vấn đề này là người đó cần có tiếng nói cho riêng mình.

    Trong câu chuyện cổ về chàng trai ái kỷ Narcissus, vị thần nữ Echo đã yêu say đắm anh.

    Cô đã bị nguyền phải luôn lặp lại một vài từ mà cô nghe thấy.

    Như cái tên của họ, những echoist luôn vất vả để tìm tiếng nói riêng cho mình.

    Bạn không còn quá nhạy cảm khi bị từ chối hoặc xem nhẹ

    Dấu hiệu xác nhận cho tình trạng lo âu mà nhiều trẻ thiếu thốn tình thương hay mắc phải đó là chúng cực kỳ cảnh giác và nhạy cảm trước những dấu hiệu bị bỏ rơi hoặc từ chối (dù nhỏ nhoi).

    Nhưng thật buồn là, điều này là một dạng "lời tiên tri trở thành hiện thực", chính cách phản ứng đầy cảm tính sẽ đẩy người khác ra xa bạn; bạn quá nhạy cảm và gây căng thẳng trong các mối quan hệ với người khác.

    Dấu hiệu cho thấy sự tiến bộ thật sự là khi bạn biết được đâu là kỷ niệm không vui, đâu là những dấu hiệu từ quá khứ khiến bạn có suy nghĩ sai lệch rằng người khác không xem trọng bạn.

    Bạn nhận biết, gọi tên được và không còn che đậy những tổn thương

    Đúng thế, không chỉ loại bỏ sự nhạy cảm bị từ chối mà còn các yếu tố trong vô thức nhưng đang thể hiện ra vấn đề mà bạn dần dần nhận thức được.

    Tin tốt là: không còn như thuở nhỏ nữa mà chính bạn sẽ trở thành người lèo lái cuộc đời mình.

    Bạn tôn trọng người khác và tạo lập ranh giới của riêng mình

    Những người thuộc dạng lo âu thái quá có cái nhìn sai về ranh giới cá nhân (boundary), họ xem đó là sự từ chối; còn những người thuộc dạng né tránh thái quá lại nhầm lẫn ranh giới cá nhân với các bức tường ngăn cách họ với người khác.

    Bạn cần phát triển khả năng nhận biết rằng giữa người và người cần có ranh giới nhất định, ai cũng cần có ranh giới riêng.

    Đây là dấu hiệu cho thấy bạn đã có thể giao kết tốt hơn với người khác.

    Khi bạn bắt đầu nhìn mình như một cá thể hoàn chỉnh, bạn cũng sẽ dễ dàng nhìn thấy được điều đó ở người khác.

    Tự hào về những gì mình làm tốt và đối mặt với những gì chưa tốt

    Biết vui và ăn mừng về những tiến bộ cũng như đối mặt với những vấp ngã, lầm lỗi và thất bại là một cách đo lường bước tiến của bạn.

    Biết thương cảm cho chính mình, đặc biệt khi bị tổn thương, là điểm quan trọng, dù khả năng này đến theo cách khá chậm.

    Bạn sẽ cần một khoảng thời gian nhất định để có thể thay đổi lối suy nghĩ tự làm tổn thương chính mình về mặt cảm xúc cũng như tinh thần.

    Bạn bắt đầu hiểu rõ bản thân hơn

    Một trong số những hậu quả của tuổi thơ không hạnh phúc đó là đứa trẻ không thể hiểu được chính mình; một mặt tạo ra thói quen tự phê phán bản thân vì những lỗi nhỏ nhặt, mặt khác khiến chúng không thấy được điểm mạnh và tích cực của mình.

    Hiểu rõ bản thân là khi đứa trẻ bắt đầu bỏ đi những suy nghĩ tiêu cực về cơ thể và ngoại hình của mình; đây cũng là vấn đề mà các bậc cha mẹ hiếu chiến, lạnh lùng, hay kiểm soát gây tác động lớn đến con trẻ và cần được giải quyết.

    Bạn không còn ngượng ngùng nữa

    Một bước ngoặt lớn là khi đứa trẻ nhận ra rằng: nguyên nhân khiến cha mẹ cư xử không tốt hoàn toàn không liên quan gì đến chúng, tất cả là ở bản thân người cha mẹ.

    Xấu hổ khi không được yêu thương, cảm giác đơn độc và cô lập sẽ dần biến mất khi đứa trẻ biết hướng về bản thân mình ngày càng nhiều hơn.

    Hiểu rằng mình không đơn độc và rằng có rất nhiều người cũng đang đối mặt với những khủng hoảng tương tự, trẻ sẽ dễ vượt qua vấn đề này hơn.

    Đây vốn là do người khác gây ra chứ chưa từng bao giờ xuất phát từ bản thân chúng.

    Lập mục tiêu cho chính mình

    Đây thật sự là một vấn đề lớn vì trẻ không được thương yêu thường cảm thấy mình là kẻ kém cỏi, đặc biệt trong việc phát triển bản thân.

    Thường thì chúng dễ bị ảnh hưởng bởi lời bình phẩm của người khác về mình từ khi còn nhỏ hay khi đã là vị thành niên, khiến bản thân cảm thấy bất lực.

    Những suy nghĩ đó có thể không được thể hiện ra một cách có ý thức nhưng chúng lại xem đó là "sự thật" về bản thân con người mình.

    Lạ lùng thay, việc tự đánh giá này hoàn toàn có thể tồn tại song hành ngay cả ở những người thành đạt, các nhà nghiên cứu gọi nó là "hội chứng kẻ maọ danh" (luôn nghĩ rằng mình không xứng đáng với những gì mình đạt được, không tài giỏi như mọi người nghĩ), họ cho mình là kẻ lừa gạt sắp bị người khác phát hiện ra chân tướng.

    Đặt cho mình một mục tiêu và bắt đầu thực hiện, từng bước từng bước một, là dấu hiệu của sự tiến bộ thực sự.

    Bạn bắt đầu kiểm soát được cảm xúc của mình

    Dù là khi bạn thường tràn ngập xúc cảm hoặc khi bạn có thể khéo léo đẩy lùi cảm xúc trong quá khứ, khi bạn bắt đầu áp dụng các phương pháp để kiểm soát cảm xúc của mình, bạn sẽ nhận thấy sự thay đổi nhỏ nhưng ngày một lớn dần.

    Bạn sẽ thấy mình có thể lường trước các tình huống căng thẳng và có chiến thuật hẳn hoi để xử lý, và rằng bạn ngày càng giỏi trong việc lấy bình tĩnh hơn là chỉ đơn thuần phản ứng lại trước các tình huống.

    Lúc nào cũng thế, nhiều bước nhỏ qua thời gian tích cóp sẽ tạo thành bước sải lớn.

    Việc hồi phục và chữa lành là cả một quá trình dài và chậm nhưng vẫn luôn có các dấu hiệu cho thấy sự thay đổi và tiến triển.

    Hãy nhớ bạn phải là người cổ động cho chính mình và tự thương lấy mình khi bạn có xu hướng quay trở lại với nền thói cũ.

    Mọi ý niệm trong bài viết này đều được lấy từ cuốn sách Daughter Detox: Hồi phục từ thương tổn do không nhận được tình thương của cha mẹ và cách tìm lại cuộc sống của chính mình.\

    Cre : Rubi
     
    Tâm Lý Học
    Thói quen nhỏ nhưng rất quan trọng để duy trì hôn nhân bền chặt


    Nhiều người tin rằng tình yêu trong hôn nhân được thể hiện qua những hành động lớn lao như mua cho vợ viên kim cương to bằng quả trứng (dù là phải thế chấp tài sản tới lần thứ hai) hoặc "xây" cho nàng một ngôi đền Taj Mahal bằng Lego trong sân nhà.

    Nhiều người tin rằng tình yêu trong hôn nhân được thể hiện qua những hành động lớn lao như mua cho vợ viên kim cương to bằng quả trứng (dù là phải thế chấp tài sản tới lần thứ hai) hoặc "xây" cho nàng một ngôi đền Taj Mahal bằng Lego trong sân nhà.

    Source: Ryan McGuire, Gratisography

    Tuy nhiên, một mối quan hệ hạnh phúc thật sự lại được xây dựng bởi hàng tá những điều nhỏ nhặt hàng ngày thể hiện sự quan tâm của mình dành cho đối phương.

    Đôi khi chỉ là những cử chỉ tầm thường như một lời đáp, một nụ cười, một cái gật đầu.

    Đó là những gì mà hai nhà nghiên cứu về hôn nhân John Gottman và Janice Driver gọi là "lời mời tương tác".

    Bao gồm rất nhiều những nỗ lực nhỏ để gây chú ý, để có được sự yêu thương hoặc chia sẻ cảm xúc từ đối phương.

    Có thể chỉ là những câu hỏi như "khi nào thì các con tập đá banh xong" hay kéo tay bạn và nói "nhìn mấy cái nón quái gở mấy gã kia đang đội kìa".

    Hầu hết các hành động này nghe chẳng có gì là lãng mạn cả.

    Và có lẽ bạn sẽ phản ứng theo một trong ba cách sau: phớt lờ ("quay đi"), hơi khó chịu ("phản kháng"), hoặc đáp lại một cách tình cảm ("tương tác").

    Tương tác ở đây không có nghĩa là đáp lại bằng những lời nói hoa mỹ văn vẻ.

    Mà chỉ là những cử chỉ đơn giản thể hiện sự quan tâm bạn dành cho đối phương, ví dụ như một nụ cười, một cái gật đầu hoặc một cái ôm khi họ không vui.

    Những hành động này tuy nhỏ bé nhưng khiến họ cảm nhận được họ là người quan trọng đối với bạn.

    Trong nghiên cứu của Gottman và Driver, họ quan sát sự tương tác của các cặp đôi mới cưới cũng như 5-6 năm sau ngày cưới.

    Cặp mới cưới nào có tỷ lệ "tương tác" trung bình 86% vẫn duy trì được quan hệ hôn nhân tới năm thứ 6.

    Còn những cặp ly hôn sau vài năm thì tỷ lệ này chỉ đạt 33%.

    Phát hiện của họ gợi cho chúng ta nhớ đến câu nói của nhà tâm lý học Erich Fromm "tình yêu là một hành động" (chứ không phải cảm xúc).

    Yêu là một động từ.

    Nhân tiện, đây cũng là một tin rất tốt vì điều đó nghĩa là bạn có quyền kiểm soát mức độ tình cảm trong mối quan hệ của mình.

    Nếu mối quan hệ của bạn có dấu hiệu thiếu vắng tình thương, sự quan tâm, niềm vui, hãy trao đổi với đối phương để tái lập mối dây liên kết.

    Hai người sẽ cùng cố gắng thực hiện trong vòng một tuần: bất kể hai người làm gì, bất kể mệt mỏi thế nào sau một ngày dài, hai bạn vẫn sẽ thêm chút yêu thương vào hành động "tương tác" của mình khi đối phương cần đến.

    Sau một tuần hãy cùng nhìn lại xem các bạn cảm thấy thế nào.

    Hãy cân nhắc liệu đó có phải là thói quen bạn muốn có hay không.

    Khi làm được vậy, cho dù là hai người cùng dọn dẹp nhà để xe hoặc đứng xếp hàng ở tiệm thuốc hay bưu điện, tất cả đều là cơ hội để thể hiện tình cảm dành cho nhau.

    Vì thế, đối với những cặp đôi này, ngày lễ tình nhân hạnh phúc nhất chỉ là một ngày ngớ ngẩn được thương mại hóa chứ không phải hy vọng cuối cùng để chữa lành cho tình yêu.

    Chúng ta không nên xem những ngày lễ như ngày tình nhân, sinh nhật hay ngày kỷ niệm là dịp để bù đắp cho sự thờ ơ của mình với đối phương trong suốt cả một năm dài.

    Bạn có thể bày ra nhiều trò lãng mạn trong ngày hôm đó, nhưng sẽ chỉ giống như "học để ôn thi" trong tình cảm – khiến cho sự việc trông cực kỳ thái quá và lạ lùng.

    Theo như Gootman và Driver đã chứng minh trong nghiên cứu về "nhu cầu tương tác", thì tình yêu không phải là "Em bên anh trong căn biệt thự trên một hòn đảo" mà là "Em được bên anh, cả ngày, hàng ngày" với vô số hành động nhỏ bé biểu hiện tình cảm nhưng lại rất quan trọng.

    Tài liệu tham khảo

    Driver, Janice and John Mordechai Gottman.

    "Daily marital interactions and positive affect during marital conflict among newlywed couples."

    Family process 43 3 (2004): 301-14.

    Fromm, Erich. .

    Harper Perennial Modern Classics; Anniversary edition (August 6, 2019).

    Cre : Rubi
     
    Back
    Top Dưới