Cập nhật mới

Khác Sưu Tầm Sử Việt

Sưu Tầm Sử Việt
.


Là hậu thế, hẳn không mấy ai vui khi biết sự thật của tấn thảm kịch giữa Quang Trung và Gia Long.

Cả hai, đối với chúng ta, đều có chỗ đáng tôn vinh lẫn chỗ bất cập.

Vua Quang Trung mất, nhà Tây Sơn suy yếu, Nguyễn Ánh tiến đánh tiêu diệt và lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Gia Long.

Mối hận xưa có dịp được trả, ông tuyên bố: "Trẫm vì chín đời mà trả thù".

Sau khi bắt sống vua Bảo Hưng Nguyễn Quang Toản, xa giá của Hoàng đế Gia Long từ Thăng Long trở về Phú Xuân và đã “tận pháp trừng trị” vua quan Tây Sơn…

Sách Đại Nam thực lục chính biên chép: Quang Toản và những người con khác của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ là Quang Duy, Quang Thiệu và Quang Bàn bị 5 voi xé xác, đầu bị bỏ vào vò và giam trong ngục.

Quang Tự, Quang Điện, Nguyễn Văn Trị, rồi các con của Nguyễn Nhạc gồm Thanh, Hán, Dũng bị giết ngay sau khi bị bắt; chưa kể 31 người có quan hệ huyết thống với Nguyễn Huệ đều bị xử lăng trì.

Lăng mộ nhà Tây Sơn như các lăng của Vua Thái Đức và Vua Quang Trung bị quật lên, hài cốt bị giã nát quăng đi, đầu ba vua Tây Sơn (Thái Đức, Quang Trung và Cảnh Thịnh) và bài vị vợ chồng Nguyễn Huệ thì bị giam trong ngục tối.

Theo Quốc sử quán triều Nguyễn, ba đầu lâu được bỏ vào 3 cái vò, đậy nắp kỹ, niêm khằng, quấn xích sắt, chú bùa để giam vĩnh viễn trong Nhà Đồ ngoại (sau đổi thành Vũ Khố) vào tháng 11 năm Nhâm Tuất (1802)...

Theo tài liệu của Bissachère, trước khi lãnh nhận cái chết thảm khốc, anh em vua Cảnh Thịnh còn bị bắt phải chứng kiến cảnh lính tráng tiểu tiện vào sọt đựng hài cốt của cha (Nguyễn Huệ) và bác (Nguyễn Nhạc) trước khi hài cốt bị đem “giã nát rồi vất đi”.

Thế nhưng chúng ta cũng nên thử tự đặt mình vào địa vị của vua Gia Long lúc bây giờ để có nhiều thông cảm và có lời phẩm bình phải chăng hơn.

"Trẫm vì chín đời mà trả thù".

Trong văn hóa Việt Nam, phận làm con cháu là phải lo gìn giữ mồ mả tiên tổ cha ông.

Khi Quang Trung lên ngôi hoàng đế năm 1788, ông đã đào hết lăng tẩm của 8 đời chúa Nguyễn tại Thừa Thiên, lấy hài cốt ném xuống sông.

Việc này cộng với việc giết chết vị chúa thứ 9 là Định Vương Nguyễn Phúc Thuần tại Long Xuyên năm 1777 thì quả nhiên vua Gia Long tính sổ 9 đời không sai chậy chút nào.

Vì vậy có thể nói được rằng chữ 9 đời có một ý nghĩa rất cụ thể.

Đây là 8 đời chúa Nguyễn:

Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613);

Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635);

Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648);

Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687)

Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1687-1691);

Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725);

Chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ (1725-1738);

Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765);

Về ông tổ Nguyễn Kim, có lẽ vì không biết đích xác mộ phần nẳm ở đâu trong cái bát ngát của núi Triệu Tường ở Thanh Hóa, nên vua Quang Trung đành phải cho qua mà không tính sổ.

Tám đời chúa Nguyễn này không có hận thù gì với anh em Tây Sơn, đã có công rất lớn đối với dân tộc và đất nước khi kế tục nhau mở nước về phương Nam, đến tận Cà Mau, Châu Đốc, cống hiến cho tổ quốc non một nửa nước, trài dài từ Phú Yên trở vào Nam, với đất đai trù phú, nguồn lợi dồi dào, rộng hơn lãnh thổ nam tiến của các triều Lý, Trần, Hồ và Hậu Lê cộng lại.

Không có sự nghiệp này thì hậu thế ngày nay lấy chi để khoe với thế giới rằng “nước ta hình cong như chữ S” với “rừng vàng biển bạc”?!

Vua Gia Long đã phải trá một cái giá rất đắt, đó là 5 mạng người ruột thịt và 9 ngôi mộ cha ông tiên tổ tanh bành với xương cốt không biết tìm đâu để đối đầu với Tây Sơn, phục hồi cơ nghiệp của ông cha đã tốn công xây dựng.

Ở đời, có vay thì có trả.

Nợ nào cũng có tính lãi suất, chỉ có khác là nặng hay nhẹ, không hình thức này cũng hình thức khác.

Nếu Quang Trung Nguyễn Huệ không tạo nhân ác thì có thể đã không gặp quả ác.

Hận thù luôn luôn vẫy gọi thù hận là chuyện thường của thế gian, huống chi lại có yếu tố tranh giành quyền lực trong đó, tham lam và sân hận hẳn phải bốc lên ngùn ngụt.

Thành hay bại, được hay mất, tất cả đã là lịch sử.

Nhưng lịch sử cũng cần được đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau

Chúng ta không phủ nhận những đóng góp của nhà Tây Sơn cho lịch sử đất nước, nhưng cũng nên nhìn vào những mặt tối của phong trào Tây Sơn, đồng thời cũng nhắc lại công lao rất lớn của nhà Nguyễn – triều đại quân chủ cuối cùng – đối với đất nước.

Chúng ta không thể vì thần tượng vua Quang Trung để rồi che đi những cuộc thảm sát của nhà Tây Sơn khiến người dân miền Nam điêu đứng, khiến những khu kinh tế tầm cỡ thế giới của Đàng Trong suy sụp, khiến chính bản thân vua Quang Trung không tài nào đặt nền móng vững chắc cho nhà Tây Sơn ở miền Nam.

Ngược lại, chúng ta cũng không thể vì vua Gia Long mượn quân Xiêm, hay nhờ sự trợ giúp của chính phủ Pháp không thành, mà che đi những công lao của 8 đời chúa Nguyễn, cũng như của bản thân vua Gia Long và hậu duệ của ông đối với việc mở mang bờ cõi đất nước.

Công và tội của hai vị vương ấy vẫn sẽ là một đề tài tranh cãi trong lịch sử.

Nhưng chắc chắn, dù ít, vẫn có những người yêu mến vua Gia Long, giống như tình cảm của những người khác dành cho vua Quang Trung vậy.

Âu đó cũng là việc bình thường.

Tổng hợp nhiều bài viết.
 
Sưu Tầm Sử Việt
gia long


[HOÀNG ĐẾ GIA LONG NÓI VỀ NỘI CUNG CỦA NGÀI: "TRẪM GẶP PHẢI...

MỘT LŨ QUỶ SỨ THẬT SỰ"!]

Theo sách Nguyễn Phước tộc Thế phả, suốt cuộc đời, Gia Long Hoàng đế đã có tổng cộng 15 Hoàng tử và 18 Hoàng nữ, nội cung của Hoàng đế được ghi lại có 21 người là những Hậu phi, tần ngự có con, ngoài ra những phi tần, cung nhân trong nội cung mà không có con không được ghi lại.

Như vậy, tính ra nội cung của Hoàng đế không mấy đông đúc như thời Minh Mạng (hơn 41 người), Thiệu Trị (hơn 31 người) Tự Đức (khoảng 103 người), thế mà có vẻ chỉ với khoảng hơn 20 người phụ nữ, tâm trí của vị Hoàng đế khai quốc nhà Nguyễn đã bị làm phiền đến cực độ...

_______________

Michel Đức Chaigneau có vẻ không còn là một cái tên quá xa lạ với người yêu thích nghiên cứu về thời Nguyễn.Bài báo của Michel Đức Chaigneau đăng trong tờ "Lemonniteur de la Flotte" xuất bản năm 1858 tường thuật như sau:

...

"Khanh sẽ không ngờ rằng cái gì đợi Trẫm ở đây kia (ngài chỉ vào hậu cung của Ngài) khi Trẫm rời khỏi nơi đây.

Ở đây, trẫm được hài lòng vì Trẫm nói chuyện với những người xứng đáng, họ lắng nghe Trẫm, họ hiểu biết Trẫm, và khi cần họ vâng lệnh Trẫm răm rấp, còn ở đằng kia Trẫm gặp phải một lũ quỉ sứ thật sự.

Chúng cãi vả nhau, ngược đãi nhau, phỉ báng nhau và

sau đó tất cả cũng chạy đến cầu xin Trẫm phân xử.

Nếu làm đúng thì Trẫm sẽ luôn luôn khiển trách tất cả.

Vì Trẫm không biết ai sẽ nhường nhịn ai trong cơn giận dữ."

Sau một lúc im lặng Ngài tiếp: "Chốc nữa trẫm sẽ ở giữa một đám yêu phụ làm Trẫm điếc tai, nhức óc!".

Vừa giả giọng và điệu bộ của một người đàn bà trong cơn giận dữ, Ngài vừa thét lên: "Muôn tâu Bệ hạ, Bệ hạ phải phân xử, bà ta đã sỉ nhục thần thiếp, người ta ngược đãi thần thiếp, thần thiếp xin phân xử ".

Hoàng đế phì cười, rồi nhìn vị đối thoại của Ngài như để gơi ý.

Vị quan Pháp cũng cười ngất, nhất là bản kịch câm của Hoàng đế và những tiếng la hét của Ngài để bắt chước sự giận dữ của các cung phi.

Ông tâu: "Việc đó rất dễ, Hoàng thượng có thể giảm bớt mối sầu khổ của họ bằng cách hạn chế số cung phi lại!".

Hoàng đế ngắt lời: "Suỵt !

Hãy nói khẽ!

Nói khẽ!".

Ngài cho những lính vệ và những hộ vệ quân đã theo Ngài khắp nơi được phép lui ra và nói tiếp ; "Ồ!

Ông Chaingneau, nếu các quan đồng liêu của khanh nghe được điều khanh vừa mới nói ra đó, họ sẽ trở thành những kẻ thù vĩnh viễn của khanh, khanh không biết rằng các cung phi hầu hết đều là con gái của các quan ư?

Này, mặc dù số tuổi của Trẫm đã đáng kể, nhưng không bao lâu nữa, một vị quan sẽ dâng hiến cho Trẫm con gái của ông ta.

Trẫm không thể từ chối được, vì như thế, Trẫm sẽ chọc tức ông ta vô cùng đau đớn.

Ở đây chính là một vinh dự và một sự đắc ý đối với một ông quan có con gái được vào Hoàng cung, và đối với Trẫm đó là một sự bảo đảm chắc chắn nhất về lòng trung thành của ông ta.

Trẫm muốn sửa đổi lại cả thế giới, nhất là đàn bà, vì họ đều đáng ghê sợ hơn đàn ông.

Nếu Trẫm ghét bỏ một trong các cung phi của Trẫm, thì nàng ta sẽ than phiền với thân phụ ngay, và nếu không sỉ nhục to tiếng trước tuổi tác già nua của Trẫm, thì ông ta cũng khéo léo gieo rắc giữa các quan những tin đồn đại vụn vặt về Trẫm, sẽ làm cho Trẫm mang đầy sự lố bịch trước đôi mắt của thần dân".

nguồn: thiên nam lịch đại hậu phi
 
Sưu Tầm Sử Việt
Minh Mạng


Trong lịch sử Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, hiếm thấy có vị quân chủ nào sánh được Minh Mạng về chuyện phòng the lại "sung sức" như ông.

Tổng cộng suốt cuộc đời, ông có tất cả 78 Hoàng tử và 64 Hoàng nữ, cộng lại là 142 người, một con số cực kì ấn tượng.

Đệ nhất sủng phi là bà Nhất giai Hiền phi sinh cho ông đến 9 người con, Tứ giai Huệ tần là phi tần sinh nhiều con nhất cho Minh Mạng với tổng cộng 15 Hoàng tử lẫn Hoàng nữ.

Hậu cung của ông sinh nhiều đến mức, có người sinh được cả Hoàng tử lẫn Hoàng nữ nhưng địa vị vẫn là con số 0, điển hình như Cung nhân Trần Thị Nghiêm sinh đến 2 Hoàng tử là Miên Phú, Miên Tống cùng 3 Hoàng nữ: Đoan Thuận, Thục Thận và 1 người chết non - nhưng kết quả, ngay cả Cửu giai Tài nhân bà cũng không được phong, suốt đời bà chỉ là một Cung nhân không phẩm vị.

6/8 Cửu giai Tài nhân của Minh Mạng đều hạ sinh được Hoàng tử nhưng thân phận của họ vẫn cực thấp.

Thông thường ở hậu cung các nước Đông Á khác, việc sinh được một Hoàng tử/ Vương tử đã là một việc trọng đại, đưa thân phận người mẹ lên rất cao.

Danh sách trên tổng cộng có 43 người, và lưu ý một điều tất cả những phi tần được ghi chép lại tên tuổi, quê quán, chức tước đều hạ sinh cho Minh Mạng ít nhất một người con, không có ai là không có con cả.

Ngoài 43 phi tần, ngự thiếp kể trên, còn một số cung nhân khác, do không hạ sinh cho Hoàng tộc được bất kì người con nào nên tên tuổi không được ghi chép lại, tuy nhiên số lượng không nhiều.

Trong trường hợp cao nhất thì tổng số cung nhân được hầu tẩm (mà không có con) cộng với 43 người kể trên cũng chưa đến con số 100, chứ đừng nói đến con số 300 hay "ghê gớm" hơn là 500 – 600 người!

Thực chất, hậu cung đông đảo nhất dưới thời Nguyễn hoàn toàn không phải dưới triều Minh Mạng mà (trớ trêu thay) chính là dưới triều Tự Đức với "quân số" cao nhất cũng chỉ là 103 người!

Như vậy, con số 500-600 quả là một trò đùa, ngoài ý hạ nhục tiền nhân, dễ dàng gán cho Minh Mạng đế một cái danh đam mê tửu sắc.

Như vậy với 43 con người (hoặc cao nhất là 103) chia đều nhau ở trong Tử Cấm Thành thì họ vẫn sống vô cùng thoải mái, dù không phải quá rộng rãi nhưng cũng không đến cảnh chen chúc.

Qua 1 đời đế vương, họ hàng tông thất nhà Nguyễn nở ra còn nhanh hơn bùng nổ dân số.

nguồn: thiên nam lịch đại hậu phi
 
Sưu Tầm Sử Việt
vua Duy Tân


Vua Duy Tân (1900-1945) là vị Hoàng đế thứ 11 của nhà Nguyễn.

Ông lên ngôi khi chỉ mới 7 tuổi nhưng tinh thần kháng Pháp vô cùng rõ nét.

Dù sống trong Hoàng cung hay những tháng ngày bị lưu đày sang đảo Réunion, ông vẫn luôn thể hiện ý chí và tấm lòng trung kiên của một minh quân.

Vào mùa hè, Vua Duy Tân thường ra nghỉ mát ở Cửa Tùng, một cửa biển đẹp ở Quảng Trị.

Một hôm nhà vua từ bãi tắm lên, hai tay dính đầy cát, viên thị vệ bưng lại một thau nước ngọt mời vua rửa tay.

Nhà vua vừa rửa tay vừa hỏi đùa:

- Tay bẩn thì lấy nước mà rửa, còn “nước” bẩn lấy gì mà rửa?

Viên thị vệ lúng túng chưa biết trả lời sao thì Vua hỏi tiếp:

- Nước bẩn thì làm thế nào cho sạch?

Người thị vệ vẫn không trả lời được.

Vua Duy Tân bèn nói:

- Nước bẩn thì lấy máu mà rửa!

Viên thị vệ đâu có ngờ nhà vua chơi chữ, chuyển từ nước rửa tay sang một thứ nước khác ngàn lần đáng quý trọng là đất nước, là quê hương.

Khi đất nước bị dơ bẩn bởi sự chà đạp của ngoại bang thì không thể rửa sạch bằng nước mà phải rửa bằng máu.

Về sau, vua Duy Tân đã đứng lên hô hào toàn dân khởi nghĩa, lấy máu đào rửa cho sạch cái nhục vong quốc.

Với vua "Có mắt mà không thấy dân khổ là Mù - có tai mà không nghe dân than là Điếc - có miệng mà không dám lên tiếng bảo vệ dân, chống lại cường quyền là Câm!"

Tuy nhiên, khi hợp sức với tổ chức Việt Nam Quang Phục hội để bàn tính chuyện đánh Pháp, do kế hoạch bị lộ, vua bị bắt giam.

Khi toàn quyền Pháp ở Hà Nội đích thân ra gặp và dụ dỗ, vua vẫn thủy chung trả lời: “Các ngài muốn buộc tôi làm vua nước Nam, thì hãy coi tôi là một ông vua trưởng thành và có quyền tự do hành động, nhất là quyền tự do trao đổi thư tín và chính kiến với chính phủ Pháp”.

Nằm trong "bộ ba" ông vua yêu nước của thời Pháp đô hộ (Vua Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân), vua Duy Tân là điểm sáng của hậu duệ Nguyễn Phúc Ánh, và góp phần đem lại cái nhìn công tâm hơn của người đời dành cho Nguyễn triều!
 
Sưu Tầm Sử Việt
hậu cung hoàng đế Thành Thái


"Kim Long có gái mĩ miều,

Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi"

Từ Kinh thành Huế, đi xuôi về hướng thượng nguồn dòng Hương giang, tọa lạc miền đất Kim Long.

Kim Long tự bao đời đi vào thơ ca xứ Huế là một vùng đất trù phú với phong cảnh hữu tình, là miền đất lành nơi thiên nhiên ban tặng nhiều sản vật cho người dân Huế.

Bên cạnh đó, Kim Long từng là thủ phủ sầm uất của xứ Đàng Trong dưới thời Thượng Vương Nguyễn Phúc Lan, là nơi đặt dinh chúa Nguyễn, được chính giáo sĩ Alexander de Rhodes ghi nhận lại trong các ghi chép của mình.

Và cũng chính tại miền đất này đã nảy sinh một mối lương duyên, một giai thoại đẹp vô cùng đặc biệt trong lịch sử triều Nguyễn.

Hoàng đế Thành Thái là một vị Hoàng đế có cá tính cực kì mạnh mẽ, đầu óc tương đối phóng khoáng nhờ tiếp thu Tây học, giai thoại kể rằng ông rất hay thường cải trang để vi hành trong dân chúng.

Và cũng trong một lần vi hành này đã nảy sinh một câu chuyện tình cảm lãng mạn, nên thơ và cũng có phần... ngô nghê, bốc đồng.

Trong một lần "vi hành" đến vùng đất Kim Long, trời đã xế chiều, Hoàng đế bước xuống bến sông gọi đò về.

Không biết do vô tình hay sắp đặt, ngài liền ngẩn người khi thấy cô lái đò là một cô gái má hồng như màu cánh sen, dáng bộ tha thướt, dẫu ở chốn bình dân mà xem có bề quý phái khác hẳn người bình thường, cộng với khung cảnh lãng đãng trên dòng Hương giang buổi xế chiều càng khiến cho trái tim ngài thổn thức.

Và thế là bậc đế vương của Đại Nam đã trúng "tiếng sét ái tình".

Rồi trong bộ dạng của một chàng thanh niên bình thường, Hoàng đế đến bên thiếu nữ hỏi:

"O kia, có ưng làm Quý phi không?"

Sau giây phút thẹn thùng và ngỡ ngàng trước câu hỏi lạ, nửa đùa, nửa thật, cô mạnh dạn trả lời:

"Ưng !"

Cô ngỡ trả lời bâng quơ như thế cho có, cho xong, có ai ngờ rằng chàng thanh niên liền đến đầu mũi thuyền giành lấy mái chèo nói: "Hãy để trẫm chèo rước Quý phi về cung".

Rồi Hoàng đế chèo đò xuôi dòng nước đến đậu trước Nghênh Lương Đình trước Kinh đô.

Đò cập bến, Hoàng đế đường hoàng dắt tay người con gái ấy vào Đại Nội trước sự ngỡ ngàng của cả Tam cung - Lục viện.

___________________

Đó là một giai thoại nổi tiếng được lưu truyền rộng rãi trong dân gian xứ Huế, và người con gái ấy không ai khác ngoài Nhất giai Huyền phi Nguyễn Hữu Thị Nga.

Huyền phi là con gái của Nguyễn Hữu Độ, một trọng thần trong triều đình lúc bấy giờ, đồng thời là em gái ruột của Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu Nguyễn Hữu Thị Nhàn (chính thất của Hoàng đế Đồng Khánh), dòng dõi xuất thân cao quý, trong hậu cung của Hoàng đế Thành Thái, địa vị của Nhất giai Huyền phi xếp thứ hai, chỉ ngay sau Hoàng Quý phi Nguyễn Thị Vân Anh.

Huyền phi sinh hạ cho Hoàng đế Thành Thái được hai người con: Hoàng Thập nhất tử Vĩnh Giác và Hoàng Bát nữ Lương Khanh

Rõ ràng với một gia thế hiển hách như thế, việc Huyền phi lại trở thành một cô lái đò của vùng đất Kim Long không phải là ngẫu nhiên mà rõ ràng có một sự sắp đặt.

Tuy nhiên, dù vô tình hay hữu ý, chúng ta cũng có một mối lương duyên thật nên thơ, trữ tình đi vào thơ ca.

Nguồn: thiên nam lịch đại hậu phi
 
Sưu Tầm Sử Việt
Đồng Khánh


Cảnh Tông có tổng cộng 10 người con, trong đó bao gồm 7 Hoàng tử và 3 Hoàng nữ.

3 Hoàng nữ đều là con của bà Lục giai Tiệp dư Hồ thị, cả 3 đều được sách phong Công chúa và hạ giá đến nhà quyền quý, may mắn sống bình an đến già.

Ngược lại, số phận của 7 Hoàng tử mới thực sự đáng thương: Hoàng Quý phi có với Hoàng đế 2 người con trai là Bửu Nguy và Bửu Nga, cả 2 vị Hoàng đích tử (con trai của chính thất, thân phận cao quý hơn hẳn con trai của thứ thiếp sinh ra) này đều chết non khi chào đời chưa lâu.

Số phận tương tự xảy ra với Hoàng tử Bửu Tung và Bửu Quyền, con của Quan phi.

Riêng Tiệp dư Dương thị sinh được 2 Hoàng tử: Bửu Đảo và Bửu Cát, trong khi Bửu Cát tiếp tục đi theo số phận hẩm hiu với những người anh em chết yểu thì chỉ duy nhất Bửu Đảo là người con trai duy nhất của Đồng Khánh sống đến tuổi trưởng thành – đây chính là người đăng cơ sau này: Hoàng đế Khải Định.

Liệu những cái chết non đầy tức tưởi của 6 trên 7 người con trai của Hoàng đế có đơn thuần là do y học chưa phát triển hay đó là hậu quả của hậu cung tranh sủng, người đời sau chỉ có thể đặt một nghi vấn.

Chúng ta cũng nên nhớ, ở các đời Hoàng đế triều Nguyễn trước và sau thời Cảnh Tông, tỉ lệ tảo thương (mất sớm) cũng chưa bao giờ nhiều đến mức này.
 
Sưu Tầm Sử Việt
Khởi nghĩa Lam Sơn


Năm 1407, nhà Hồ thất bại, nhà Minh chiếm được nước ta, chúng đã thực hiện cải cách khủng khiếp trên diện rộng để đồng hóa nhân dân ta.

Chúng đốt hết sách vở văn tự của nước ta trong đó có cả bộ luật đầu tiên của nước ta, Hình thư.

Chưa hết, 7000 thanh niên tài năng nhất, khỏe mạnh nhất, những thợ giỏi của dân tộc ta bị bắt, hoặc bị thiến để diệt nòi giống Việt.

Trong đó có cha đẻ của súng thần công - Hồ Nguyên Trừng, và kĩ sư người Việt góp phần xây dựng Tử Cấm Thành - Nguyễn An.

Chúng còn vơ vét 235.900 voi, ngựa, trâu, bò, thóc gạo, thuyền bè. khí giới đem về phương Bắc chưa kể các sản vật quý hiếm, khoáng sản...

Đi cùng với vơ vét nhân lực và tài lực, nhà Minh còn bắt hàng chục vạn (10 vạn = 100.000) dân binh 16-60 tuổi ra các công trường khai mỏ và xuống đáy biển mò ngọc trai cho chúng.

Họ phải làm việc trong môi trường vô cùng thiếu thốn và luôn cận kề cái chết:

"Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán ngẩm thay cá mập thuồng luồng,

Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc."

Quân Minh còn liên tục đàn áp những nghĩa quân kháng Minh với những tội ác như chém giết, cướp bóc, mổ bụng đàn bà có thai, khủng bố lòng người.

"Minh sử bản mạt kỷ sự" (1 cuốn sách sử của Trung Quốc) có ghi chép về thời kỳ này rằng quân Minh đã "chôn sống hàng ngàn tù binh rồi chất xác họ thành núi, hoặc rút ruột người treo lên cây, hoặc nấu thịt người để lấy dầu".

Trong hoàn cảnh đó, ở vùng Lam Sơn, Thanh Hóa có nguời anh hùng nuôi chi lớn phục quốc, đó là Lê Lợi.

Thanh Hóa được xem là mảnh đất "đế vương chung hội", vì sản sinh ra nhiều người con kiệt xuất như: Bà Triệu, Dương Đình Nghệ, Lê Đại Hành, Hồ Quý Ly, Lê Lợi,...

1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, tự xưng là Bình Định Vương.

Đã có lần, quân minh cho người đào tro cốt tổ phụ (ông) của Lê Lợi lên, buộc Lê Lợi phải quy hàng, nhưng ông không hề nao núng.

Chính tinh thần không lùi bước ấy đã tạo nên người anh hùng rất quan trọng trong dòng chảy dân tộc.

Vị anh hùng đã xuất hiện vào lúc đất nước lâm nguy nhất, dựng cờ đánh đuổi giặc phương Bắc khỏi bờ cõi, giữ lại hồn thiêng núi sông Đại Việt.

Năm 1420 , Nguyễn Trãi gia nhập nghĩa quân Lam Sơn, đồng thời dâng Bình Ngô sách lên Lê Lợi.

Trong đó, ông vạch ra 3 kế sách lớn để đánh quân Minh, chú trọng tâm công, đánh vào lòng người để dành chiến thắng.

Nguyễn Trãi dùng nhân nghĩa, thuyết phục quân Minh đầu hàng mà không cần đổ máu, đúng như những gì ông viết trong Bình Ngô đại cáo:

"Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt

Chẳng đánh mà nguời chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công".

Trong quá trình phò tá Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, Nguyễn Trãi đã đưa ra nhiều mưu kế, sách lược có lợi cho nghĩa quân Lam Sơn.

Một trong những diệu kế đó là dùng mỡ viết lên lá cây trên rừng tám chữ "Lê Lợi vi quân, bách tính vi thần". (Lê Lợi làm vua, bách tính làm tôi)

Nhờ mùi mỡ, kiến rừng ăn và khoét thành chữ trên mặt lá.

Sau một thời gian, lá rụng theo dòng nước trôi đi khắp nơi trong vùng, mang tin Lê Lợi khởi nghĩa đến với mọi người, tạo nên lòng tin trong nhân dân và binh lính.

Đến nay, đó vẫn là một trong những diệu kế độc nhất vô nhị trong lịch sử quân sự, không chỉ ở Việt Nam mà còn với cả thế giới.

Trong suốt 10 năm của khởi nghĩa Lam sơn, Chi Lăng - Xương Giang là một trong những trận đánh có ý nghĩa quan trọng nhất.

Tổng quát

• Thời gian: 8/10- 3/11/1427• Địa điểm: Chi Lăng (Lạng Sơn) – Xương Giang (Bắc Giang)

• Hình thức:

- Vây thành, diệt viện

- Các hình thức tác chiến: phục kích, tập kích, truy kích, công thành, tác chiến trận địa, công kích địch phòng ngự dã ngoại...

=> Đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc trong nghệ thuật quân sự của nghĩa quân Lam Sơn

Ải Chi Lăng là một thung lũng hẹp nằm giữa những dãy núi cao vút...

Từ xưa ải Chi Lăng hầu như là con đường mà bất cứ đạo quân phương bắc nào cũng phải đi qua khi tiến đánh phương nam.

Phía bắc ải là Quỷ Môn Quan, nơi mà cả người phương bắc lẫn người phương nam đều ái ngại khi đi qua.

Có câu thơ của binh lính phương bắc rằng :

Quỷ Môn Quan, Quỷ Môn Quan!

Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn.

(Quỷ Môn Quan, Quỷ Môn Quan!

Mười người đi, một người về.)

Phía nam ải Chi Lăng là Ngõ Thề, nơi mà những đạo quân người Việt ở các triều đại cất lên những lời thề quyết tử rồi bước vào trận chiến với giặc xâm lăng.

Phía tây ải là các núi đá vôi nằm cạnh dòng sông Thương.

Phía đông là hai dãi núi Thái Hòa, Bảo Đài.

Bên trong ải lại có năm ngọn núi Nà Sản, Mã Yên, Phượng Hoàng, Lỳ Lân, Hàm Quỷ chia cắt ải thành những con đường, thung lũng nhỏ.

Một cửa ải đã chặn đứng bao bước chân xâm lăng của đế quốc phương Bắc, một cửa ải tôn vinh thêm cho tài năng quân sự lỗi lạc của cha ông.

Để đến hôm nay, đứng trong gió ngàn vẫy gọi, người ta như nghe thấy tiếng hò reo mừng chiến thắng của những binh đoàn áo vải.

10/1427, 15 vạn viện binh từ Trung Quốc kéo vào nước ta.

Chúng chia làm 2 đạo:

Đạo 1: Do Liễu Thăng chỉ huy, tiến vào Lạng Sơn từ Quảng Tây.

Đạo 2: Do Mộc Thạnh chỉ huy, tiến từ Vân Nam vào Hà Giang.

Trận chi lăng

Ngoài mặt trận, tướng trấn giữ biên giới là Trần Lựu giả cách thua chạy từ ải Nam Quan lui về Chi Lăng.

Liễu thăng vừa đến ải chi lăng thì nghe thấy tiếng reo hò từ 4 phương 8 hướng, phía trên đầu tên bay xuống như mưa.

Lê sát, trần lựu đổ ra chém giết, lưỡi gươm của lê sát đã chém cụt đầu liễu thăng ở chỗ này, tạo nên công tích ngàn thu còn mãi lưu truyền.

"Đánh 1 trận sạch ko kình ngạc

Đánh 2 trận tan tác chim muông."

(Bình ngô đại cáo)

Sau khi Liễu Thăng bị chém, phó tổng binh Lương Minh lên nắm quyền chỉ huy.

Nguyễn Trãi lại viết thư cho Lương Minh, vạch rõ thế thất bại không tránh khỏi của quân địch.

Nhưng Lương Minh vẫn ngoan cố, ra lệnh chấn chỉnh lại đội ngũ, tiến về phía Cần Trạm.

Mai phục Cần Trạm

• Trận đánh diễn ra trên một chiến trường dài gần 5 km, suốt từ cánh đồng phía đông bắc thành Cần Trạm đến tận phía nam thị trấn Kép.

• Phó tướng Lương Minh lên thay Liễu Thăng cũng bỏ mạng.

• Sau thất bại Cần Trạm, đô đốc Thôi Tụ lên nắm quyền chỉ huy, cùng với Lý Khánh và Hoàng Phúc, cố sức tập hợp binh sĩ, tiến về phía Xương Giang.

Đánh địch viện tại Phố Cát

• Phố Cát là vùng đồi đất giữa Cần Trạm và Xương Giang

• 18/10 quân địch tiến đến Phố Cát bị phục binh ta xông ra đánh.

• Sau trận đánh, thây địch được đưa về đồi Bổ Hóa chôn cất nên đồi này được gọi là đồi Mả Ngô.

• Binh bộ thượng thư Lý Khánh thắt cổ tự tử.

• Tuy bị thất bại nặng nề, nhưng chúng vẫn cố liều chết tiến về thành Xương Giang, hy vọng có thể phối hợp với quân thành Xương Giang rồi liên hệ với thành Đông Quan, Chí Linh hòng cứu vãn lại tình thế.

• Nhưng lại không hề hay biết rằng thành Xương Giang đã bị quân ta chiếm từ trước.

• Lúc bấy giờ, Mộc Thạnh từ Vân Nam tiến vào biên giới nước ta.

• Lê Lợi sai người mang bằng sắc, ấn tín của Liễu Thăng và một bức thư cho Mộc Thạnh.

Bức thư đề cao Mộc Thạnh là người văn võ song toàn, nhân đức, đồng thời kể lại chuyện Liễu Thăng ngoan cố không nghe lời khuyên bảo nên tự chuốc vạ vào thân, chết trong trận không biết lẫn lộn vào đâu và yêu cầu Mộc Thạnh tâu về triều Minh "cởi giáp hòa giải".

• Mộc Thạnh vô cùng khiếp sợ, đem quân tháo chạy về nước.

Quân đã chuẩn bị sẵn sàng, lập tức lao ra đuổi địch.

• Quân ta đại thắng.

Diệt thành Xương Giang

• Quân ta lập hàng rào bên tả sông Xương Giang, bao vây đợi địch kiệt sức mà ra hàng.

• Nguyễn Trãi đã 5 lần viết thư dụ địch ra hàng nhưng chúng ngoan cố không trả lời.

• Sau nhiều lần kiên trì thuyết phục không được.

Ngày 3 tháng 11 năm 1427, quân dân ta được lệnh tổng công kích như đã định trước "hẹn đến giữa tháng 10 diệt giặc".

• Từ bốn mặt, hàng vạn quân ta vừa tiến công vừa kêu gọi quân địch đầu hàng.

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn tới đây là chấm dứt, dân tộc ta giành lại độc lập sau 20 năm mất nước:

"Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Càn khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh."

(Bình Ngô đại cáo)

Ngày 14/4, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Thuận thiên, sai Nguyễn Trãi làm bài Bình Ngô đại cáo, tuyên bố kết thúc cuộc kháng chiến chống quân Minh và khẳng định sự độc lập của Đại Việt.

Đến nay, tác phẩm này không những được coi là bản "Thiên cổ hùng văn" mà còn được xem là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam sau bài Nam Quốc sơn hà thời Lý.
 
Sưu Tầm Sử Việt
Nguyễn Trãi


Nguyễn Trãi sinh năm 1380, hiệu là Ức Trai, quê ở Chí Linh, Hải Dương.

Ông có 1 tuổi thơ đau khổ khi lên 6 tuổi mẹ mất, lên 10 tuổi ông ngoại qua đời.

Năm 20 tuổi, Nguyễn Trãi đỗ Thái học sinh và theo cha ra làm quan cho nhà Hồ.

Năm 1420 , Nguyễn Trãigia nhập nghĩa quân Lam Sơn.

Trong suốt 8 năm sát cánh cùng nghĩa quân Lam Sơn, Nguyễn Trãi đã góp công lớn vào chiến thắng vẻ vang của dân tộc.

Tuy nhiên, tài năng và đức độ của ông cũng bắt đầu bị bọn quyền thần ganh ghét.

Ðặc biệt, sau vụ Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo bị bức tử, Nguyễn Trãi bị bắt giam một thời gian ngắn.

Thời kỳ này, ông bắt đầu cay đắng nhận ra sự độc ác của miệng đời:

Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn

Lòng người quanh nữa nước non quanh

(Bảo kính cảnh giới 9)

Sau đó, ông được tha nhưng không còn được tin dùng.

1433, Lê Thái Tổ mất.

Ông chán nản xin về ở ẩn tại Côn Sơn

Khi Lê Thái Tông lớn lên, hiểu rõ Nguyễn Trãi, nhà vua đã cho vời ông trở lại làm quan.Có thể thấy vua Thái Tổ và Thái Tông lần lượt đều dành cho Nguyễn Trãi sự tín nhiệm không thể thay thế được.

Vụ án "Lệ Chi viên" được xem là vụ án oan kinh hoàng nhất trong sử Việt, đằng sau việc vua Lê Thái Tông băng hà đột ngột ở tuổi 20, là án "tru di tam tộc" vô cùng thảm khốc đối với công thần, bậc hiền tài bậc nhất trong lịch sử dân tộc.

Tháng 9 năm 1442, vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, được Nguyễn Trãi đón đi thuyền vào chơi chùa Côn Sơn.

Ngày 7 tháng 9, thuyền về đến Lệ Chi Viên thì vua bị bệnh, thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi mất.

Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ bị khép vào tội phản nghịch, kết án tru di tam tộc

Ngày 19 tháng 9, Nguyễn Trãi bị giết cùng người thân 3 họ, gọi là tru di tam tộc.

Hàng chục mét khối đất vất vả đào lên lại được lấp xuống, vùi thây mấy trăm mạng người trong gia tộc Nguyễn Trãi, tiếng khóc than dậy đất.

Riêng bà Nguyễn Thị Lộ bị nhốt vào rọ, dìm chết dưới đáy Sông Hồng.

Tổng cộng xấp xỉ 400 người đã bỏ mạng sau thảm án.

22 năm sau, vua Lê Thánh Tông lên ngôi mới giải oan cho gia đình Nguyễn Trãi nhưng cũng chỉ là gỡ bỏ đi cái nỗi oan giết vua, chứ không đi vào chi tiết sự thật.

Sáu mươi năm, một đời người, Nguyễn Trãi đã đi hết con đường sấm sét của lịch sử, luôn "lo trước điều thiên hạ phải lo, vui sau cái vui của thiên hạ".

Ông sống một cuộc đời giản dị, cần kiệm liêm chính.

Nhà của ông ở Đông Kinh (Thăng Long) chỉ là một túp nhà tranh (góc thành Nam lều một gian).

Khi ông cai quản công việc quân dân ở hải đảo Đông Bắc, nhà của ông ở Côn Sơn "bốn mặt trống trải, xác xơ chỉ có sách là giàu thôi"
 
Sưu Tầm Sử Việt
Câu nói thương hiệu của các vĩ nhân lịch sử




"Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây".

(Nguyễn Trung Trực)



"Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo".

(Hồ Nguyên Trừng)



"Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc".

(Trần Bình Trọng)



"Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người".

(Bà Triệu)



Tay bẩn lấy nước mà rửa

Nước bẩn, lấy máu mà rửa

(Vua Duy Tân)



"Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo".

(Trần Thủ Độ)



"Nếu chọn người hầu hạ thần xin cử Vũ Tán Đường, còn nếu chọn người giúp việc nước thần xin chọn Trần Trung Tá."

(Tô Hiến Thành)



" Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải quyết giành cho được độc lập."

( Hồ Chí Minh, cách mạng tháng 8/1945)

"Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một.

Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi."

(Hồ Chí Minh)



"Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã"

(Trần Quốc Tuấn)



" Đoạt sóc Chương Dương độ ( Chương Dương cướp giáo giặc)

Cầm hồ Hàm Tử quan ( Hàm Tử bắt quân thù)

Thái bình tu trí lực, (Thái bình nên gắng sức)

Vạn cổ thử giang san. (Non nước ấy ngàn thu)"

(Trần Quang Khải, bài " Tụng giá hoàn kinh sư")



" Phá cường địch, báo hoàng ân."

( Trần Quốc Toản)



" Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây này bọc trong da ngựa, ta cũng vui lòng."

( Trần Hưng Đạo, Hịch Tướng Sĩ.)



"Thà làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ".

(Vua Bảo Đại)

* * *

Vị vua ở ngôi lâu nhất:

Vua Lý Nhân Tông ở ngôi 55 năm (1072- 1127).

Vua là con trưởng của Lý Thánh Tông và mẹ là thái hậu Ỷ Lan.

Lý Nhân Tông còn là ông vua có nhiều niên hiệu nhất: 8 niên hiệu, trong đó có niên hiệu Hội Tường Đại Khánh được dùng lâu nhất là 10 năm.

Nhân Tông trán dô mặt rồng, tay dài quá gối, sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân, là một vua giỏi của triều Lý, hưởng thọ 61 tuổi.



Hoàng đế đầu tiên: Lý Nam Đế (544 - 548) với niên hiệu đầu tiên là Thiên Đức

Hoàng đế cuối cùng: Bảo Đại (1925 - 1945)



Vua nhiều con nhất Minh Mệnh (Nguyễn Phúc Đảm) (1790 -1840) con chính thức là 142 gồm 78 trai, 64 gái.

Vua có nhiều vợ mà không có người con nào: Tự Đức (Nguyễn Phúc Hồng Nhậm) có 300 vợ.



Triều đại tồn tại lâu nhất: nhà hậu Lê 365 năm(1428-1527 và 1533-1788)

Triều đại tồn tại ngắn nhất: nhà Hồ 8 năm ( 1400-1407)
 
Sưu Tầm Sử Việt
Tuyên ngôn độc lập (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)


"

Hỡi đồng bào cả nước,

"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.

Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ.

Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta.

Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man.

Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học.

Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta.

Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên.

Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật.

Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật.

Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn.

Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp.

Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng.

Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật.

Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa.

Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo.

Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa.

Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.

Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập.

Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.

Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.

Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do!

Dân tộc đó phải được độc lập!

Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập.

Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy!

"
 
Sưu Tầm Sử Việt
QUY TẮC ĐẶT TÊN ĐƯỜNG PHỐ HÀ NỘI


"Nhớ đường Hà Nội là nhớ được Sử, nhớ Sử là nhớ được đường Hà Nội..."

QUY TẮC ĐẶT TÊN ĐƯỜNG PHỐ HÀ NỘI

Thật ra tên đường phố Hà Nội có quy luật cả đấy.

📖 Bối cảnh:

Thời thuộc Pháp, các phố của Hà Nội được đặt tên bằng tên Pháp - tên của những nhân vật của chính quyền bảo hộ, như Paul Bert, hay Gambetta.

Ngay cả hai tên tướng Pháp bỏ mạng trong trận Cầu Giấy là Francois Garnier và Henri Rivière cũng được dùng để đặt tên phố.

Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp.

Ngày 20/7, bác sĩ Trần Văn Lai nhậm chức Đốc lý Hà Nội.

Tới ngày 19/8 thì Cách mạng tháng Tám thành công, vì vậy nhiệm kỳ của cụ Lai kéo dài chưa được 1 tháng.

Tuy nhiên trong quãng thời gian ngắn ngủi này, cụ đã kịp đổi tên cho các con phố ở Hà Nội

Điều tuyệt diệu ở chỗ, cụ Trần Văn Lai không hề đặt tên một cách ngẫu hứng mà sắp xếp tên các tuyến phố theo cụm cực kì hợp lý (chi tiết sẽ nói ở dưới).

Đến khi Hà Nội được giải phóng, các phố của Hà Nội vẫn được giữ lại những cái tên cụ Lai đã đặt.

Sau này, với các đường phố mới, các nhà chức trách cũng noi theo cách đặt của cụ Lai.

🎉 Kết quả:

(Mình sẽ nêu tất cả các tuyến phố theo cụm, gồm các phố do cụ Lai đặt và cả các phố sau này nữa.)

Tất nhiên là trong các cụm phố không tính các địa danh tiếng Việt có sẵn từ thời xa xưa (như các phố Hàng, Tràng Thi, Lò Sũ, … không phải tên được đặt sau này)

⭐️ Cụm “truyền thuyết-cổ đại”:

🖊 Bao quanh Hồ Tây: Lạc Long Quân, Âu Cơ, An Dương Vương, Hùng Vương.

-> 4 cái tên này là những nhân vật trong truyền thuyết/lịch sử cổ đại của Việt Nam.

⭐️ Cụm “chống Bắc thuộc”:

🖊 Phía dưới Hồ Gươm: Hai Bà Trưng, Bà Triệu

🖊 Song song với đoạn phía nam Bà Triệu: Mai Hắc Đế, Triệu Việt Vương

🖊 Song song với đoạn phía bắc Bà Triệu: Triệu Quốc Đạt, Phùng Hưng, Lý Nam Đế

🖊 Song song nhưng xa hơn tẹo: Khúc Hạo (do cách một đoạn thành Hà Nội, ưu tiên đặt tên danh nhân khác, sẽ nói ở phần dưới).

-> Các danh nhân trong thời kì chống Bắc thuộc.

Hơi tiếc vì Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ sau này mới được đặt tên, và ở tít bên Cầu Giấy - quận mới sau này.

⭐️ Cụm “thời đầu tự chủ, độc lập”:

🖊 Đông Hồ Gươm: Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ, Ngô Quyền

=> 3 vị vua có công lớn trong thời kì đầu của độc lập tự chủ.

🖊 Cắt Bà Triệu ở phía dưới: Lê Đại Hành và phố này giao với Hoa Lư và Đại Cồ Việt ở hai đầu.

=> Lê Đại Hành là vua thời Tiền Lê và Hoa Lư là kinh đô của Đại Cồ Việt dưới thời Đinh-Tiền Lê.

🖊 Giao với Lý Thái Tổ và gần với ngã 6 Tràng Tiền: Lê Phụng Hiểu, Lý Đạo Thành, Tông Đản, Lý Thường Kiệt.

=> Các danh thần thời Lý.

Lý Quốc Sư cũng là một danh nhân thời Lý, phố Lý Quốc Sư tuy cũng ở gần Hồ nhưng ở phía bên kia do ở đó có Đền Lý Quốc Sư (chùa Lý Triều Quốc Sư).

⭐️ Cụm “nhà Trần”:

Lấy đường to Trần Hưng Đạo làm mốc.

🖊 Xung quanh và giao cắt Trần Hưng Đạo: Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Toản, Trần Bình Trọng, Yết Kiêu, Dã Tượng, giao với Yết Kiêu là Đỗ Hành.

🖊 Cuối Trần Hưng Đạo gần bờ đê: Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái, Chương Dương Độ, Hàm Tử Quan, Tây Kết, Vạn Kiếp, Vân Đồn, Bạch Đằng.

-> Đây là những danh nhân trong hai cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên lần 2 và 3 của nhà Trần (Trần Hưng Đạo, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Toản, Trần Bình Trọng, Yết Kiêu, Dã Tượng, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Nguyễn Khoái, Đỗ Hành), và các địa danh nổi tiếng trong hai cuộc kháng chiến (Chương Dương Độ, Hàm Tử Quan, Tây Kết, Vạn Kiếp, Vân Đồn, Bạch Đằng).

Cụm này cách đặt tên đường phố cũng dụng ý nhất.

Trần Hưng Đạo cuối đời về Vạn Kiếp, mà con đường nối với cuối đường Trần Hưng Đạo là Vạn Kiếp.

Các tướng gắn với chiến công nào thì tên cũng gần với đường phố có tên địa danh đấy: Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái với Tây Kết-Hàm Tử, Trần Khánh Dư với Vân Đồn, Trần Quang Khải với Chương Dương Độ

🖊 2 đường nối nhau rồi giao cắt với Trần Hưng Đạo: Lê Văn Hưu, Hàn Thuyên.

=> Lê Văn Hưu, Hàn Thuyên là những danh sĩ đời nhà Trần.

🖊 Giao với đoạn phía nam Nguyễn Khoái: Trần Khát Chân

=> danh tướng chống Chiêm Thành cuối đời Trần.

*Riêng tên của Trần Thái Tông, Trần Thủ Độ mãi sau này mới dùng để đặt nên hai phố này không nằm ở cụm này.

⭐️ Cụm “khởi nghĩa chống giặc Minh”:

🖊 Gần hồ Trúc Bạch: Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân, Đặng Dung, Nguyễn Biểu

=> Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân cùng nhau khởi nghĩa, tôn Trần Ngỗi lên làm minh chủ chống giặc Minh.

Khi Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân chết, Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị tôn Trần Quý Khoáng lên tiếp tục khởi nghĩa.

Nguyễn Biểu từng làm quan nhà Trần, sau theo phò Trần Quý Khoáng chống Minh.

(hơi tiếc là mãi sau này mới có phố Nguyễn Cảnh Dị, nên ở hơi xa)

⭐️ Cụm “nhà Lê”:

🖊 Chạy kề phía Tây Hồ Gươm: Lê Thái Tổ

🖊 Xung quanh hồ, hướng về Hồ Gươm là các con phố: Lê Lai, Lê Thạch, Đinh Liệt, Đinh Lễ, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Xí.

=> Lê Thái Tổ gắn với sự tích trả gươm, còn những danh nhân kia là các tướng nổi tiếng trong khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh của Lê Thái Tổ.

🖊 Gần Lê Thái Tổ: Lê Thánh Tông.

=> Lê Thánh Tông là vị vua trị nước giỏi nhất của nhà Lê nói riêng và trong lịch sử phong kiến VN nói chung.

⭐️ Cụm “Tây Sơn”:

🖊 Cụm này được hình thành sau nên hơi xen kẽ một chút với cụm “độc lập tự chủ”.

Các phố song song với nhau: Quang Trung, Lê Ngọc Hân, Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở, Bùi Thị Xuân, Phan Huy Chú.

=> Những nhân vật nổi tiếng và có đóng góp lớn cho khởi nghĩa và triều đại Tây Sơn.

🖊 Cụm này còn có một nhóm nhỏ phố khác ở xung quanh Tượng đài Quang Trung và Gò Đống Đa: Tây Sơn, Trần Quang Diệu, Đặng Tiến Đông (phường Quang Trung - quận Đống Đa)

⭐️ Cụm “Chống Pháp thời Nguyễn” - “Cần Vương”:

🖊 Quanh di tích thành Hà Nội: Hoàng Diệu và Nguyễn Tri Phương

=> 2 vị quan nhà Nguyễn thủ thành Hà Nội trong hai lần Pháp đưa quân đánh ra Bắc.

🖊 Cụm “Cần Vương”:

Khu vực Ba Đình-gần phố cổ: Tôn Thất Thiệp, Tôn Thất Đảm, Phan Đình Phùng, Cao Thắng, Tống Duy Tân, Tạ Hiện, Nguyễn Quang Bích, Mai Xuân Thưởng, Nguyễn Thiện Thuật, Đốc Ngữ, Lê Trực.

=> Tất cả ở trên đều là những nhân vật nổi dậy khởi nghĩa, hưởng ứng phong trào “Cần Vương” giúp vua Hàm Nghi chống Pháp.

Bản thân tên quận - Ba Đình cũng là tên khởi nghĩa của thời kì này.

Tuy nhiên 2 người khởi xướng “Cần Vương” là Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết mãi sau này mới được đặt tên đường nên ở phía khác.

⭐️ Cụm “bạo động chống Pháp”:

Gần cụm Cần Vương trên: Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Đội Cấn, Đội Nhân

-> Tên những người lãnh đạo các cuộc bạo động chống Pháp sau giai đoạn Cần Vương

Ngoài ra còn có ngõ Yên Thế là tên khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám.

⭐️ Cụm “Trí thức Ái quốc”:

🖊 Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Đặng Thái Thân, Ấu Triệu, Lương Văn Can, Lương Ngọc Quyến

=> Các trí thức muốn cải tổ, nâng cao tri thức cho người Việt thời Pháp thuộc.

Lương Văn Can là một trong những người khởi xướng Đông Kinh Nghĩa Thục nên ở đoạn phố đó có Quảng trường cùng tên.

⭐️ Cụm “Văn học Giáo dục”:

Gần Văn Miếu - Quốc Tử Giám, ngoài hai phố Văn Miếu, Quốc Tử Giám là các phố mang tên của:

🖊 Các nhà giáo dục, sử học: Chu Văn An, Nguyễn Như Đổ, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên

🖊 Các nhà thơ văn trung đại: Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn, Phan Văn Trị...

____________________

Sau này, những người có đóng góp to lớn với cách mạng, với chính phủ VNDCCH, cũng như kháng chiến chống Pháp-Mỹ sau này cũng được lấy tên đặt cho đường phố.

Những người đặt tên sau đó cũng noi theo quy tắc trên để đặt cho một số cụm như:

⭐️ Tiền cách mạng tháng 8:

Gần quảng trường Ba Đình là các đường Bắc Sơn (khởi nghĩa), Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ.

Đây là những người có đóng góp to lớn cho thành công của cách mạng tháng 8 sau này.

⭐️ Cụm “xây dựng VNDCCH”:

Các phố mang tên các danh nhân y khoa như Hồ Đắc Di, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Trần Hữu Tước, Phạm Ngọc Thạch, Hoàng Tích Trí quanh quanh khu vực ĐH Y - Bạch Mai.

Tên các nhà khoa học tự nhiên, xã hội cũng như kỹ sư như Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Đào Duy Anh, Lương Định Của, ...

ở quanh khu vực ĐH Bách Khoa.

Đây là những người góp phần xây dựng khoa học kĩ thuật giáo dục của nước nhà cho nước VN non trẻ.

⭐️ Cụm “nhà văn":

Quận Đống Đa - Thanh Xuân, khu vực Láng là các đường phố mang tên nhà văn như:

Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, ...

⭐️ Cụm "tướng quân đội":

Ở Trường Chinh có doanh trại quân đội, xung quanh là các phố mang tên các tướng nổi tiếng trong các cuộc kháng chiến chống Pháp-Mỹ: Vương Thừa Vũ, Nguyễn Ngọc Nại, Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái…

Và còn rất nhiều người có công với Cách Mạng, Đảng/nhà nước được đặt tên cho đường phố gần nhau nữa như Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Thanh Nghị, …

Riêng cụm này thì nhiều quá kể không xuể.

Nguồn: Giang Truong - RDVN
 
Sưu Tầm Sử Việt
Những công trình mang tên Hồ Chí Minh trên khắp thế giới


Những công trình mang tên Hồ Chí Minh trên khắp thế giới

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam mà còn là nhà lãnh đạo, người anh hùng giải phóng dân tộc được nhân dân thế giới ngưỡng mộ với tình cảm chân thành.

Rất nhiều quốc gia đã dựng tượng đài, lấy tên Người đặt cho nhiều công trình để bày tỏ sự kính ngưỡng sâu sắc dành cho người đã khai sinh ra nước Việt Nam hiện đại.

Theo thống kê, đến nay tượng và tượng đài tưởng niệm Hồ Chủ tịch đã có mặt tại khoảng 20 nước trên thế giới.

- Ấn Độ: Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thành phố Kolkata.

Ngoài ra còn nhiều "Công viên Hồ Chí Minh", "Công viên Hòa bình Hồ Chí Minh" ở nhiều bang khác.

-Argentina: Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh ở thủ đô Buenos Aires.

- Cuba: Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đồng tại Công viên Hòa Bình cạnh Đại lộ 26, một trong những công viên đẹp nhất ở trung tâm thủ đô La Havana, do kiến trúc sư Joel Diaz, Phó Chủ tịch Hội Hữu nghị Cuba Việt Nam thiết kế, được khánh thành vào năm 2003, nhân dịp 113 năm sinh nhật của Người.

- Cộng hòa Dominica: Quảng trường và Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Thủ đô Santo Dominigo, khánh thành ngày 13/9/2012.

- Hungary: Đài tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh được dựng năm 1976 tại công viên thành phố Zalaegerszey, cách thủ đô Budapest khoảng 220 km.

- Madagasca: Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt trong công viên mang tên Người ở thủ đô Antananarivo, làm bằng đồng đặt trên bệ đá hoa cương, với tổng chiều cao 3,4 m.

Phía bên dưới có tấm biển đồng khắc câu nói nổi tiếng của Người: Không có gì quý hơn độc lập tự do.

Ngoài ra, tại Antananarivo cũng có đại lộ mang tên Hồ Chí Minh.

- Mexico: Bức tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh bên bộ bàn ghế mây giản dị, đằng sau phía trên là dòng chữ vàng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” bằng tiếng Tây Ban Nha với chữ ký của Người, đặt ngày 16/01/2009 trong công viên “Tự do cho các dân tộc”, thủ đô Mexico.

Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thành phố Acapulco, thuộc bang Guerrereo (miền Nam Mexico) được đặt đối diện tượng đài người anh hùng dân tộc Mỹ Latin Simon Bolivar, tại đại lộ Miguel Aleman, đại lộ chính và lớn nhất thành phố Acapulco.

Hồ Chí Minh còn là tên của một giảng đường tại Đại học UNAM (từng nằm trong top những đại học danh giá nhất trên thế giới), tên của hệ thống trung tâm châm cứu chữa bệnh cho người nghèo tại thủ đô Mexico, thành phố Zacatecas và thành phố Monterrey.

- Mông Cổ: Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đồng cao 1,07 m, đặt trên bệ cao 3,33 m, tại trường Trung học Hồ Chí Minh, thủ đô Ulanbato.

Tại đây, ngoài bức tượng còn có nhiều tài liệu, hiện vật về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước Việt Nam-Mông Cổ.

- Nga: Quảng trường và tượng đài Hồ Chí Minh nằm ở nơi giao nhau giữa phố Dmitri Ulianov (anh trai nhà cách mạng V.

I.

Lenin) và phố “Sáu mươi năm Cách mạng Tháng Mười”, Moscow.

Đây là tác phẩm của Vladimir Efimovich Tsigal, nghệ sĩ nhân dân, Viện sĩ Viện hàn lâm Mỹ thuật Liên Xô, tác giả của hơn 40 nhóm tượng đài nổi tiếng.

- Đại lộ và tượng đài Hồ Chí Minh tại quận Zasviyazhski, thành phố Ulyanovsk, quê hương Lenin, nằm bên bờ sông Volga, cách thủ đô Moscow khoảng 893 km về phía đông.

Biển lưu niệm ghi dấu những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại nhà ga thành phố cảng Vladivostok, được khánh thành nhân dịp kỷ niệm 119 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Viện Hồ Chí Minh và bức tượng của Người được đặt trong khuôn viên khoa ngữ văn, Đại học tổng hợp quốc gia St.

Petersburg, khánh thành nhân dịp 120 năm ngày sinh nhật Bác (19/5/2010).

- Panama: Tượng Bác tại nơi đặt tượng các danh nhân thế giới như Mahatma Gandhi, Khổng Tử...

- Philippines: Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại học Bách khoa Laguna, Manila, khánh thành nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 120 của Người (19/5/2010).

Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Công viên ASEAN, trong khu phố cổ Intramuros - thủ đô Manila được khánh thành nhân dịp kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Philippines và Việt Nam (tháng 10/2011).

- Singapore: Bia tưởng niệm và tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại công viên Bảo tàng Văn minh châu Á, bên bờ sông Singapore.

Bia tưởng niệm được khánh thành tháng 5/2008 nhân kỷ niệm ngày sinh lần thứ 118 của Người và 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Singapore.

Tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh là tượng đài đầu tiên trong chương trình tôn vinh “Những người bạn đến bờ biển chúng ta” của Singapore, khánh thành năm 2011.

- Venezuela: Tượng bán thân của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt trang trọng trên bệ đá cao 2 m cùng cột cờ có quốc kỳ Việt Nam trên đại lộ Simon Bolivar của thủ đô Caracas.

Tượng và tượng đài Bác Hồ còn được xây dựng ở các nước Chile, Lào, Áo, Đức, Nhật (thành phố Osaka).

* Ngoài việc dựng tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tên của Người cũng đã được đặt cho nhiều quảng trường, trường học và đại lộ tại Nga, Pháp, Burkina Faso, Mozambique, Ấn Độ…

Đại lộ Hồ Chí Minh (Avenida Ho Chi Minh) tại thủ đô Luanda của Angola là một trong những đại lộ to, đẹp nối liền với đường Cách mạng tháng 10, hướng ra sân bay Luanda.

Tại quận Rais Hamidou, thủ đô Alger, chính quyền Algeria đã cho xây dựng Đại lộ Hồ Chí Minh (Avenue du Président Ho Chi Minh) dài 3 km, nằm trên trục Đông-Tây của Thành phố.

Ngay tại thủ đô New Delhi, Ấn Độ, có Đại lộ Hồ Chí Minh (Ho Chi Minh Marg).

Tại thành phố Kolkata, Hội đồng thành phố và Ủy ban Tây Bengal đoàn kết Đông Dương-Việt Nam cũng khánh thành đường Ho Chi Minh Sarani vào năm 1990, nhân dịp 100 năm sinh nhật Bác.

Tại thành phố Ulyanovsk (Liên bang Nga), nằm bên sông Volga, cách Moskva 893 km về phía đông, một đại lộ đã được đặt tên Hồ Chí Minh nhằm thể hiện sự quý mến và tình nghĩa của người dân địa phương nói riêng cũng như người dân Nga nói chung với Bác Hồ và Việt Nam.

Ngay sau khi độc lập, năm 1977, cố Chủ tịch đầu tiên của Cộng hòa Nhân dân Mozambique (nay là Cộng hòa Mozambique) Samora Machel đã quyết định đặt tên của Hồ Chí Minh cho một đại lộ ở Thủ đô Maputo, gọi là Đại lộ Hồ Chí Minh.

Đại lộ dài hơn 1 km đi ngang qua Tòa thị chính của Thủ đô Maputo, cắt qua một số đường phố chính như đường Karl Marx, đường Lenin.

Đặc biệt, tại Pháp, có tới 7 đường, phố mang tên Hồ Chí Minh, gồm: Allée Ho Chi Minh, Givors, nằm ở phía nam Lyon, thuộc Rhône; Allée Ho Chi Minh, Le Port, Saint-Denis, Réunion (một tỉnh hải ngoại Pháp); Avenue Ho Chi Minh, Lanester (tỉnh Bretagne); Rue Ho Chi Minh, La Possession, Saint-Denis, Réunion; Rue Ho Chi Minh, Vaulx-en-Velin (tỉnh Rhône-Alpes); Rue Ho Chi Minh, Pointe-à-Pitre, Guadeloupe (một tỉnh hải ngoại Pháp); Rue Ho Chi Minh, Vénissieux (phía nam thành phố Lyon).

Còn tại Managua, thủ đô Nicaragua, Đại lộ Hồ Chí Minh được khai trương ngày 5/9/1985, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 40 Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam.

Trụ mốc kỷ niệm Đại lộ ghi bằng tiếng Tây Ban Nha, trong đó dẫn hai câu thơ của Bác: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Đại lộ bắt đầu từ Trung tâm hội nghị César Augusto Silva, qua sân vận động Rigoberto López Pérez và kéo dài tới rạp chiếu phim Blanco.

Ngoài ra, tại những quốc gia nơi Bác Hồ từng đặt chân tới trên chặng đường hoạt động cách mạng đều có những công trình di tích tưởng niệm người, tiêu biểu như:

Anh: Khách sạn Carlton, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm việc và hoạt động cuối năm 1913 (nay là trụ sở của Đại sứ quán New Zealand, trung tâm thủ đô London).

Lào: Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở bản Xiềng Vang, huyện Noọng Bốc, tỉnh Kham Muone, khánh thành nhân dịp kỷ niệm 122 năm ngày sinh của Người (19/5/2012).

Pháp: Nhà số 9, ngõ Compoint, quận 17, thủ đô Paris, là nơi Người ở và hoạt động cách mạng từ 1921-1923: Tham gia sáng lập "Hội liên hiệp thuộc địa", thành lập tờ báo Le Paria (Người cùng khổ)...

"Không gian Hồ Chí Minh" tại bảo tàng Lịch sử sống ở thành phố Montreuil (cách Paris khoảng 15 km về phía Đông) là nơi lưu giữ những kỷ vật của Người trong thời kỳ sống tại Pháp.

Tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được dựng ngay trong khuôn viên bảo tàng.

Trung Quốc: Di tích Nhà số 248 và 250 (trước là nhà số 13 và 13/1) đường Văn Minh, thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông là nơi những Đảng viên đầu tiên - lớp cán bộ cốt cán được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp đào tạo.

Khu di tích Hồ Chí Minh tại Liễu Châu, Quảng Tây gồm: hang núi giam giữ Hồ Chí Minh, nhà trọ Nam Dương là nơi ở sau khi Người được ra tù (1943-1944), khách sạn Lạc Quần là nơi hoạt động cách mạng của các nhà lãnh đạo Việt Nam, nhà số 1 Hồng Lầu là nơi ở khi Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp và hội đàm với Thủ tướng Chu Ân Lai…

Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở phố Nam, huyện Long Châu, tỉnh Quảng Tây trưng bày và lưu giữ rất nhiều hình ảnh, tư liệu và hiện vật của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cán bộ cách mạng Việt Nam trong thời gian 18 năm hoạt động tại đây.

Văn phòng Bát lộ quân trên đường Trung Sơn Bắc, thành phố Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây là nơi Hồ Chí Minh thường đến đọc sách hoặc liên hệ công tác, hiện đang trưng bày ảnh và các hiện vật về nhà lãnh đạo của Việt Nam.

Thái Lan: Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại làng Bản Mạy, huyện Mương, tỉnh Nakhon Phanom.

Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại làng Noọng Ôn, xã Xiêng Phin, huyện Mương, tỉnh Udon Thani - nơi Người đã ở và làm việc từ năm 1928 với tên gọi Thầu Chín.

Nguồn: Hữu Hoàng - VNW
 
Sưu Tầm Sử Việt
NỮ ANH HÙNG TRẦN THỊ LÝ


NỮ ANH HÙNG TRẦN THỊ LÝ

"Giữa năm 1958, Bệnh viện Việt - Xô tiếp nhận một bệnh nhân đặc biệt.

Hồ sơ bệnh án ghi: "Trần Thị Nhâm (tức Lý), tuổi 25, quê Miền Nam, cân nặng: 26 kg.

Tình trạng bệnh: Suy kiệt, luôn lên cơn co giật, có 42 vết thương trên người liên tục rỉ máu, đầu vú bị cắt còn loét nham nhở, bộ phận sinh dục chảy máu liên tục".

Chị Trần Thị Lý sinh năm 1933 tại Quảng Nam, chị tham gia Cách Mạng từ năm 12 tuổi.

Trong giai đoạn từ 1951 – 1956, chị tham gia đường dây cán bộ nằm vùng và đã từng 2 lần bị bắt nhưng đều được tha vì không đủ chứng cứ.

Năm 1956 chị bị chính quyền VNCH bắt lần thứ 3, chị bị tra tấn với những hình thức dã man nhất như: điện giật, dùi đâm, đổ nước xà phòng, dùng dao cắt vú, dùng lửa nung bộ phận sinh dục đến nỗi bị mất khả năng sinh sản... nhưng người phụ nữ trung kiên ấy vẫn không hé răng dù chỉ một lời.

Tháng 10 năm 1958, Trần Thị Lý bị tra tấn tới kiệt sức, phía VNCH cho rằng chị không thể sống được nữa nên đem vứt chị ra ngoài nhà lao, chị may mắn thoát chết một cách hi hữu, được đồng đội bí mật đón về, chuyển sang Campuchia và được đưa ra Bắc chữa trị.

Sự kiện Trần Thị Lý bị bắt, bị tra tấn ngoài sức tưởng tượng đã làm rúng động dư luận thế giới bấy giờ và nó bắt đầu châm ngòi cho cuộc chiến truyền thông giữa hai miền Nam Bắc.

* Ngay lập tức không lâu sau đó, 17 giờ ngày 25-10-1958, Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam tại Hà Nội đã phát đi bản tin về Trần Thị Lý với nội dung:

"Chị Lý bị bọn tay chân của Diệm bắt đánh đập, "sám hối" với những nhục hình dã man như: lấy kìm sắt kẹp vào người rứt ra từng mảng thịt, dùng điện tra vào đầu vú và bộ phận sinh dục!".

* Tiếp đó, lúc 7 giờ 15 ngày 19-11-1958, Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam lại phát đi lời kêu gọi của Trần Thị Lý gửi Ủy ban Quốc tế, chị kể: "Lần thứ 3, tháng 3-1956, chúng bắt tôi về nhà lao Hội An và tra tấn vô cùng dã man, tên Phan Văn Lợi, người do Diệm cử từ Sài Gòn ra, cùng nhiều tên khác trực tiếp tra tấn.

Chúng đổ nước xà phòng và nước bẩn vào họng tôi rồi mang giày đinh thi nhau đạp lên bụng, lên ngực làm nước trào ra miệng và mũi.

Chúng lấy móc sắt xuyên bàn chân tôi rồi treo ngược lên xà nhà, dùng điện tra vào cửa mình và vú; lấy dao xẻo từng miếng thịt trên đùi, cánh tay và ngực.

Chúng dùng kìm sắt nung đỏ rồi kẹp vào bắp thịt tôi rứt ra từng mảng, dùng thước sắt thọc vào âm đạo...

Chúng bắt tôi phải nhận tội "Thân cộng" và "Chống chính phủ quốc gia" của chúng!".

* Ngày 21-11-1958, 5 bộ đội Liên khu 5 viết kiến nghị và được 2.000 đại biểu ký gửi đến Ủy ban Quốc tế phản đối sự dã man của chính quyền Sài Gòn đối với Trần Thị Lý.

Từ ngày 11 đến 21-11-1958, 39 đoàn khách quốc tế đến thăm chị Lý và 62 đoàn tiếp tục đăng ký vào thăm.

Đài Phát thanh Hà Nội cũng phát đi lời của ông Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt–Anh rằng:

"Tôi đã từng chứng kiến tội ác của bọn thực dân đối với nhân dân thuộc địa song tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy người Việt Nam nỡ đối xử với người Việt Nam tàn tệ như thế.

Với chính sách đàn áp dã man này, chính quyền Ngô Đình Diệm đã tỏ ra rất thối nát.

Ủy ban Quốc tế tại Việt Nam cần lưu ý ngay đến vấn đề này, đó là nhiệm vụ của họ!".

* Khi nhà thơ Tố Hữu đến thăm Trần Thị Lý, ông đã khóc rất nhiều vì quá xúc động.

Tháng 12-1958, bài thơ Người con gái Việt Nam của ông ra đời (sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng), gây xúc động lòng người và là tâm điểm chú ý của dư luận quốc tế:

"Em là ai?

Cô gái hay nàng tiên

Em có tuổi hay không có tuổi

Mái tóc em đây, là mây hay là suối

Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông

Thịt da em hay là sắt là đồng ?"

...

"Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

Em đã sống lại rồi em đã sống !

Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

Ko giết được em, người con gái anh hùng !"

...

" Từ cõi chết, em trở về, chói lọi

Như buổi em đi, ngọn cờ đỏ gọi

Em trở về, người con gái quang vinh

Cả nước ôm em, khúc ruột của mình."

Chồng chị là Thầy giáo Nguyễn Viết Tuấn.

Tháng 3 năm 1978, khước từ mọi mai mối, bất chấp lời khuyên của chị Lý nên xây dựng hạnh phúc với những người con gái lành lặn khác, anh Tuấn vẫn quyết tâm xây dựng đời sống gia đình với chị.

Và đám cưới của họ được tổ chức tại quê hương Đại Lộc.

Tháng 5 năm 1978, Nguyễn Viết Tuấn tốt nghiệp ĐH Bách khoa Hà Nội rồi trở về Quảng Nam- Đà Nẵng làm CB giảng dạy ở khoa điện.

Ngôi nhà 63- đường Hải Phòng giữa lòng Đà Nẵng thân thương ghi dấu biết bao nhiêu là ý chí, nghị lực của cả hai để có được hơi ấm thực sự của hạnh phúc gia đình, trong đó, có cả tương lai của đứa con gái tên gọi Thuỳ Linh.

Mọi người thường nghe nói đến những địa danh Bác Hồ hay qua lại trên con đường hoạt động cách mạng như Phan Thiết, Sài Gòn, Niu York, Pari, Hà Nội...

Đọc câu chuyện còn ít người biết tới này mới hay còn có những địa danh quê hương khác đối với Bác cũng rất thân thương...

Giữa năm 1958, sau hơn 2 năm bị giặc giam cầm và tra tấn, chị Trần Thị Lý được đưa ra Bắc chữa bệnh và là bệnh nhân đặc biệt của bệnh viện Hữu nghị Việt–Xô.

Tình trạng suy kiệt, 42 vết thương trên người liên tục rỉ máu...

Sức khỏe giảm sút nghiêm trọng (lúc ấy chị chỉ còn nặng chưa đến 26 kg).

Đến thăm chị, Bác Hồ rất cảm động.

Nhìn chị đau đớn, Bác tìm cách nói chuyện để chị nguôi đi phần nào nỗi đau thể xác.

Bác nói về con người đất Quảng kiên trung, hỏi "đố" chị về những nét độc đáo của quê hương chị.

Câu chuyện của hai bác cháu rất thú vị...

-Thói quen của người Quảng

Bác hỏi chị Lý rằng đặc điểm đáng nhớ nhất của người Quảng Nam là gì ?

Chị kê hàng loạt, nào là: Quảng Nam hay cãi, "ăn cục nói hòn" mà chất phác, hiền hậu, đảm đang...

Nhưng Bác cười và cho là chưa phải.

Bác bảo rằng: cái không lẫn vào đâu được chính là đi đâu họ cũng mang theo cái "nhiệt kế" bên mình.

Chị Lý ngỡ ngàng, nghĩ mãi không ra.

Bác cười hóm hỉnh và giải thích: Quê của con có thói quen uống nước chè xanh nấu thật đậm đặc, còn nóng hổi rồi rót ra gáo dừa, chế thêm một ít nước lạnh rồi dùng ngón tay út "đo" xem vừa độ uống chưa...

Ôi, cái "nhiệt kế" thân thuộc, tiện ích ấy mà chị (có lẽ tất cả những người Quảng cũng không nghĩ được thói quen đã ăn đậm trong mình ấy) lại không nhận ra, đúng là không lẫn vào đâu được.

Bác ơi, Bác thật tình cảm, gần gũi, nhưng cũng thật khôi hài khi ví von một cách thân thương đến vậy.

-Đặc sản của Quảng Nam

Khi được hỏi về điều này, chị Lý lại "quảng cáo" món mỳ Quảng đậm đà thương nhớ, nhất là những lúc đi xa như thế này, hương vị ấy khó mà quên cho được.

Vậy mà Bác lại mỉm cười xua tay và "tả" thật tỉ mỉ món mắm cái (cá cơm được ướp muối thật mặn, mặn đến độ con cá còn nguyên con, không bị nát) được giã ớt, tỏi thật cay, chấm với bánh tráng sắn (bánh đa làm từ bột sắn) cuốn rau muống thì số một.

Đúng rồi, chị Lý lại nhớ ra rồi, ăn món mắm vừa mặn vừa cay, uống nước chè đậm đặc thì chỉ có người Quảng mà thôi.

Chị rơi nước mắt...

Chị như thấy quê hương mình đang ở bên thật gần gũi, hiền hậu, như được tiếp thêm sức mạnh để chống lại khó khăn.

Và chị đã sống, đã mang theo về đất Quảng tình cảm của Bác: chiếc mũ sắt (bây giờ đặt ở bàn thờ chị) và chiếc vali (Viện bảo tàng Cách mạng Việt Nam) mà Bác đã tặng chị ngày ấy.

*Chị Trần Thị Lý mất ngày 20/11/1992

#PL

Cmt:

Có một nữ Anh Hùng khác cùng tên Trần Thị Lý.

Nhưng chị Lý Quảng Bình (chị mất ngày 07/5/2000)

Một số bạn hay bị nhầm 2 Chị với nhau nên mình chú thích thêm ảnh cho ae.

#PL

Cmt2: Tên chị được đặt cho cây cầu dây văng đặc biệt nhất Việt Nam, bắc qua sông Hàn.

Cầu Trần Thị Lý!

Tổ quốc ghi nhớ công ơn của chị!
 
Sưu Tầm Sử Việt
Xin gửi lời chào chiến thắng và vĩnh biệt


Vào cuối năm 2000, trong quá trình thi công nâng cấp một số hạng mục công trình tại khu di tích Thành cổ, khi xây dựng lại hệ thống cống thoát nước, công nhân phát hiện ra một hầm ngầm kiên cố, với nắp bê tông dày tới 30cm, bị sập từ lâu.

Khi các tấm bê tông được khoan cắt và cẩu lên, người ta phát hiện 7 bộ hài cốt còn nguyên vẹn.

Đặc biệt, bộ hài cốt nằm tựa vào thành hầm vẫn đeo một chiếc xắc cốt, trong đó chứa đựng những di vật và tài liệu quý giá: Sổ công tác, lý lịch đảng viên, bản Tuyên bố của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, một số tài liệu tuyên truyền do Cục Chính trị B5 ban hành, vài bức ảnh, hai lá thư của vợ anh ký tên là Biển Khơi và một lá thư anh viết cho vợ nhưng chưa kịp gửi.

Đó là những di vật của liệt sỹ Lê Binh Chủng, Trung úy, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 3, Tỉnh đội Quảng Trị.

Những cựu chiến binh đã chiến đấu giữ chốt Thành cổ kể rằng, vào cuối tháng 7/1972, trong một cuộc chiến đấu khốc liệt giữa ta và địch, một quả bom dù của địch đã đánh trúng hầm chỉ huy của Tiểu đoàn 3, còn 7 chiến sỹ bị mắc kẹt trong đó.

Khi hầm sập, 7 chiến sỹ vẫn liên lạc ra ngoài bằng máy vô tuyến.

Tiểu đoàn 3 đã huy động lực lượng cấp cứu nhưng vì lớp bê tông bịt nắp hầm quá dày và kiên cố nên không có cách nào cứu hộ được, ứa nước mắt chấp nhận hy sinh.

Trong bức điện cuối cùng, anh Chủng và đồng đội còn thông báo: “Địch đang tiến vào trận địa…

Chúng tôi nghe rất rõ bước chân của chúng…

Chúng đang đi trên nóc hầm của chúng tôi…

Yêu cầu các đồng chí dùng pháo bắn cấp tập và hãy bắn thẳng lên hầm của chúng tôi…

Xin gửi lời chào chiến thắng và vĩnh biệt…!”.

Trung úy Lê Binh Chủng sinh năm 1944 ở xã Quỳnh Mỹ, Quỳnh Lưu, Nghệ An.

Trên đường hành quân vào Nam, đơn vị anh dừng lại Đồng Cao, Bố Trạch, Quảng Bình.

Ở đây anh gặp và yêu nữ dân quân Phạm Thị Biển Khơi.

Hai bên đã báo cáo tổ chức nhưng chưa kịp làm lễ cưới thì anh Chủng nhận nhiệm vụ vào chốt giữ Thành cổ Quảng Trị.

Một lá thư chị gửi đề ngày 20/4/1972 thông báo họ đã có con trai.

Lá thư cuối cùng chị gửi cho chồng ngày 15/5/1972, hiện được trưng bày tại Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị.

Chị viết: “Cầm bút biên thư cho anh trong lúc chiến trường Trị Thiên đang thắng to.

Tin vui bay về hậu phương làm cho mọi người dân lòng đầy sung sướng.

Tự hào thay trong những người chiến thắng đó có anh, người mà em gửi gắm bao niềm thương nỗi nhớ…

Em bận lắm, vừa thu hoạch mùa vừa huấn luyện để sẵn sàng đối phó với địch.

Cho em và con gửi lời thăm sức khỏe tới các anh trong đơn vị.

Em và con gửi anh cái hôn trìu mến!

Biển Khơi”.

Không rõ anh Chủng nhận được lá thư này của vợ trong điều kiện nào.

Có thể trên đường hành quân vào Thành cổ, cũng có thể sau một trận đánh ác liệt, hoặc trước một cuộc phản công dữ dội của quân thù…

Có điều chắc chắn anh đã đọc nó không chỉ một lần, rồi nâng niu gói kỹ trong túi nilon cất vào xắc cốt, sau đó anh viết cho vợ lá thư cuối cùng, lá thư anh chưa kịp gửi đã cùng anh đi vào lòng đất: “Anh ra đi, nếu có hy sinh tính mạng cho Tổ quốc, thì em cũng phải can đảm, bớt đau khổ, đừng khóc lóc buồn nản…

Đó là lẽ dĩ nhiên trong cuộc sống của người lính chiến đấu.

Nếu anh có chết thì em nhớ nói cho con nghe về người cha của nó mà nó chưa bao giờ nhìn thấy.

Em cố gắng giữ bức thư này cho đến ngày thống nhất nếu anh còn về với mẹ con em.

Nếu không, bức thư này em sẽ giữ nó mãi mãi cho tới khi con khôn lớn, em sẽ trao lại cho con”.

Nguồn: baotinhhoa.com
 
Sưu Tầm Sử Việt
Những chuyện kinh dị chưa từng biết về nạn đói năm Ất Dậu 1945


(Báo Tinh Hoa) – “Miếng thịt bắp bò mà ông Phác mua về chính là thịt bắp chân của người chết đấy.

Nếu thịt bắp bò thì da phải dầy, khó thái.

Đằng này thịt mềm dễ thái mà da mỏng dính, không phải thịt bắp chân người chết bị cắt ra đem thui thì còn là thịt gì nữa”…

Ông Trần Hùng, là người thôn Trình Nhì (xã An Ninh, Tiền Hải, Thái Bình) đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều tư liệu về lịch sử vùng đất, con người làng Trình Nhì, tức xóm chợ Huyện xưa, gắn với trận đói lịch sử Ất Dậu 1945.

Theo đó, mảnh đất xóm chợ Huyện (Tiền Hải, Thái Bình) xưa thuộc làng Trình Phả (sau này có phố, phường, chợ họp sầm uất nên chợ gọi là Trình Phố) – thuộc tổng An Bồi, huyện Chân Định, phủ Kiến Xương.

Nơi đây đất đai trù phú, buôn bán thịnh vượng, trên bến dưới thuyền, thuận tiện đường giao thông thủy bộ, người từ mọi miền đất nước tìm về lập nghiệp sinh nhai.

Trước thế kỷ 18, huyện lỵ Chân Định chọn nơi này làm thủ phủ nên chợ họp ở đây có tên là chợ Huyện.

Chợ Huyện làng Trình Nhì lớn nhất vùng, nơi giao thương buôn bán của nhân dân các huyện Tiền Hải, Thái Thụy, Kiến Xương, thị xã Thái Bình… cho tới các huyện Xuân Trường, Giao Thủy (Nam Định), Vĩnh Bảo (Tiên Lãng – Hải Phòng).

Chợ Huyện ngày nay

Ngay trước cổng chợ là con sông có cầu gạch vắt qua, trên bến, dưới thuyền, sông sâu nước trong vắt.

Cụ Trần Duy Hứa người chợ Huyện, đã 88 tuổi, nhưng trí nhớ của cụ rất tuyệt vời.

Cụ dẫn chúng tôi ra chợ huyện làng Trình Nhì, kể chuyện nạn đói năm Ất Dậu 1945.

Cụ Hứa cho biết, năm Ất Dậu cả nước mất mùa, dân không có gì ăn, lúc đầu còn có cháo gạo, cháo cám, cháo bỗng… sau đó gạo, cám cũng hết, đến củ chuối, rau sam, rau má, bèo bồng cũng không còn.

Người từ quê đi tha phương, cầu thực các nơi, xóm làng xơ xác.

Người tứ xứ lại tràn về chợ để ăn xin.

Trong chợ trộm cắp như rươi.

Một người bán hàng thường phải có 1 – 2 người cầm gậy đứng canh.

Vì đói quá nên nhiều dân nghèo bất chấp cả sinh mạng cứ lao vào cướp.

Có người bóc tấm bánh chưa kịp đưa vào mồm thì đã bị cướp.

Người cướp được thì cố đút bánh vào mồm, còn người bị cướp và người bán thì đè xuống giằng lại.

Thế là xảy ra trận mưa gậy gộc, đấm đá lên thân xác chỉ còn da bọc xương.

Máu, đất quyện những mẩu bánh vương vãi tứ tung.

Những cảnh chém, giết nhau, tranh ăn còn tàn bạo hơn cả thời Trung cổ.

Cuối cùng, người cướp và người bị cướp cũng đều chết vì đói cả.

Thời đó, một số gia đình khá giả trong làng, trong khu vực chợ Huyện đã nấu cháo phát chẩn cứu đói nhưng không xuể, người chết nằm còng queo khắp chợ, dọc đường, sát bờ sông.

Có những trẻ nhỏ cố mút đầu vú lạnh ngắt của người mẹ đã chết từ bao giờ.

Lúc đầu còn có chiếu bó cho người chết và họ được những người còn khỏe khênh ra bãi tha ma của làng để chôn.

Nhưng sau vì có nhiều người chết quá, đưa đi chôn không xuể, nên người ta đào hố sát bờ sông, quanh chợ, rồi lấp vội đất lên.

Làng Trình Nhì khi đó có gia đình cụ Nhất Lược, buôn mật mía, mật ong, nổi tiếng đức độ, hay cứu giúp người nghèo.

Khi thấy người trong làng bị chết đói, cụ Nhất Lược đã mua chiếu cấp cho gia đình người mới mất.

Lúc đầu một người chết được bó 2 lá chiếu, nhưng sau chỉ được một lá, nên kín đầu lại bị hở chân.

Ngày ấy có chuyện, người được thuê mua chiếu và đem chôn người chết, nhưng khi đem chôn thì lại tháo chiếu ra bán để kiếm lời.

Trước năm 1945, dân chợ Huyện có gần 2.000 nhân khẩu, nhưng nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu đã cướp đi tới 70% dân số trong xóm.

Cả xóm chợ có gần 50 gia đình chết không còn một ai.

Gia đình ông Trương Ry chết 8 người.

Gia đình ông Phan Giá có 7 người, thì cả 7 người đều chết.

Gia đình ông Đồ Thực chết mất 10 người.

Gia đình ông Phan Hạnh có 13 người thì cả 13 người đều chết.

Gia đình ông Trần Duẩn, ông Đồ Tỵ, ông Đồ Trâm…

đều chết hết.

Nhiều người chết phải chôn ngay trong vườn nhà vì người sống không còn đủ sức để kéo xác đi chôn ở nơi khác.

Gia đình ông Trương Ry chết không còn người nào, xác tự thối rữa ở trong nhà, mùi thối bốc lên, dân làng mới biết.

Để đưa được những xác chết đã bị thối ở trong nhà ra ngoài, người ta phải dùng tro rơm, rạ, trải ra nền nhà rồi lăn xác người chết qua tro, sau đó mới dùng chiếu bó lại đem đi chôn.

Bờ sông chảy qua chợ Huyện vốn rất thơ mộng, bỗng nhiên trở thành nơi chôn xác của hàng trăm người chết đói.

Xung quanh ngôi miếu Bách Linh (miếu này nay không còn) la liệt hố chôn người tứ xứ bị chết đói ở chợ.
 
Sưu Tầm Sử Việt
Những chuyện kinh dị chưa từng biết về nạn đói năm Ất Dậu 1945 (P2)


Theo lời cụ Hứa, vì có nhiều người chết đói, nên cả khu chợ và đường làng mùi hôi thối nồng nặc bốc lên, ruồi nhặng, chuột bọ nhiều vô kể.

Những xác chết chưa kịp chôn bị chuột bâu vào khoét mắt, gặm cụt tai, mũi, ngón tay, ngón chân.

Ông Chén, người xóm chợ bảo rằng, vì được chứng kiến thảm cảnh đau xót này, nên ông không dám động đến món thịt chuột, dù người Thái Bình đều ăn món này.

Dân làng quá sốc trước cảnh đói kém, người chết đói nằm la liệt trong khu chợ Huyện, nên ban ngày ai có việc không đừng được mới ra ngoài, vừa đi vừa chạy như sợ ma đói đuổi.

Ban đêm cả làng vắng lặng như tờ, dẫu chó có còn sống thì cũng không còn sức để sủa.

Thi thoảng, vang đầu xóm, cuối xóm có tiếng khóc yếu ớt vọng ra.

Nhà nhà cửa kín then cài, thấp thỏm lo ma đói, lo sợ cướp đến đập cửa.

Cụ Trần Duy Hứa, chỉ vào chỗ những lùm cây xanh cạnh nơi từng có miếu Bách Linh, bảo rằng, vào cuối năm 1944 và đầu năm 1945, giữa lúc dân làng đang mất mùa, đói kém thì bão gió, mưa to, đê vỡ, sông nước dâng cao, bào mòn đất cát, làm lộ la hàng trăm xác chết, vì chôn quá nông.

Hàng ngàn con quạ về đậu kín ở cây đa, cây gạo, kêu vang tai nhức óc.

Nước tràn vào chợ, rồi rút đi, bào mòn đất cát, khiến chân, tay người chết thò lên mặt đất.

Những người sống có việc phải đi qua con đường này nhìn thấy cảnh tượng đó, có cảm giác như ma đói giơ tay bắt mình.

Những người yếu bóng vía thì hoảng hốt, vắt chân lên cổ mà chạy.

Vì thế, mới có chuyện ma đói bắt người sống lan truyền thời đó.

Cụ Trần Duy Hứa kể: “Năm Ất Dậu, tôi vừa tròn 18 tuổi.

Một hôm, mẹ bảo tôi đi cùng ông Mã Phác, lái buôn người miền núi về đây bán quế, xuống chợ Đức Cơ để mua muối.

Tôi cùng ông đi tắt cánh đồng xã Tây Giang, tránh đi đường chính vì sợ bị cướp và gặp nhiều người chết đói.

Khi đi qua ngôi miếu âm hồn ở giữa cánh đồng, tôi sững người vì nhìn thấy ba mẹ con người ăn mày vẫn thường tới xin ở chợ huyện nằm ôm nhau mà chết ở ngay cửa miếu.

Tới chợ Đức Cơ, tôi thấy người chết đói nằm la liệt từ ngoài cửa chợ cho tới trong chợ.

Mua muối xong, tôi quay lại chỗ ông Mã Phác ngồi bán quế.

Ông dẫn tôi tới hàng thịt bò, chọn mua một miếng thịt.

Thịt bò được thui đốt vàng ươm trông thật hấp dẫn.

Về đến nhà tôi, ông Phác mượn dao thớt, nồi gang để nấu thịt.

Khi ông đang thái thịt bò ở bờ ao thì mẹ tôi ra đứng xem.

Bà gọi tôi vào trong nhà.

Bà thì thào: “Con không biết đấy thôi, họ lừa người mua đấy.

Miếng thịt bắp bò mà ông Phác mua về chính là thịt bắp chân của người chết đấy.

Nếu thịt bắp bò thì da phải dầy, khó thái.

Đằng này thịt mềm dễ thái mà da mỏng dính, không phải thịt bắp chân người chết bị cắt ra đem thui thì còn là thịt gì nữa.

Nghe mẹ nói vậy, tôi vội kiếm cớ vào buồng đóng chặt cửa không dám ra nhà ngoài.

Khi thịt chín, ông Phác gọi ra ăn, tôi nằm im giả vờ ngủ mà không dám lên tiếng”.

Nói đến đây, cụ Hứa đứng nhìn xa xăm về phía bờ sông.

Dường như những ký ức đau buồn thời Ất Dậu đang tràn ngập trong lòng cụ.

Ngày 23/7/1945, mặt trận Việt Minh và Chi bộ Đảng làng Trình Nhì đã tổ chức biểu tình ở chợ Huyện để tuyên truyền chống phát xít Nhật, chuẩn bị tổng khởi nghĩa cướp chính quyền.

Mặt trận Việt Minh lãnh đạo nhân dân “cướp” các kho thóc của Nhật để cứu đói cho nhân dân.

Vụ chiêm năm 1945 được mùa.

Trong giai đoạn này lại xảy ra những cái chết thương tâm, chết không phải vì đói, mà chết vì ăn no, bội thực và dịch bệnh.

Cụ Trần Duy Hứa kể: “Tuy số người chết vì ăn no không nhiều như chết đói nhưng cũng rất thương tâm.

Khi được phát gạo, hoặc gặt lúa về, có những người rang gạo lên ăn, hoặc ăn gạo sống.

Ăn xong thì lại uống nước khiến bụng trương phềnh lên rồi chết.

Có người vì ăn cơm quá nhiều nên bị bội thực mà chết.

Mặt khác, vì môi trường sống bị ô nhiễm quá nặng nề, dịch tả lan truyền dẫn đến nhiều người bị nhiễm bệnh mà chết”.

Đặng Hùng – Thái Bình

Nguồn: baotinhhoa.com
 
Sưu Tầm Sử Việt
Công - Tội của Nguyễn Ánh


Để chốt hạ tranh cãi về công tội của Nguyễn Ánh thì mình xin tập hợp lại một số lại như sau:

Đầu tiên là về công, thì có hai công lao rõ ràng nhất:

1.

Gia Long có công thống nhất Việt Nam lại về mặt Địa lý.

2.

Có công thống nhất về Chính trị.

Vì từ hồi họ Mạc đến qua thời Lê thì đất nước dùng cùng quốc hiệu Đạt Việt, nhất là hai tập đoàn cát cứ Nguyễn- Trịnh về lý đều tự nhận là thần tử vua Lê.

Hay nói cách khác là về lý thuyết cả thiên hạ vẫn là của vua Lê, nhưng về chính trị thực tế là do các thế lực cát cứ cai quản.

Chỉ từ khi Thái Đức tự xưng Hoàng Đế thì nước mới có hai vua.

Như trong “tác phẩm văn học” Hoàng Lê Nhất Thống Chí là khi vua Tây Sơn ra bắc gặp vua Lê còn không ai cúi chào ai, Nhạc còn bảo em trẫm vua Tây Sơn lấy con gái vua Nam (đoạn này tác phẩm văn học nhưng cũng phản ảnh phần nào thế giới quan người đương thời).

Tới khi Quang Trung diệt vua Lê, về địa lý vẫn là nước Đại Việt, nhưng chính trị là 3 anh em Nhạc, Huệ, Lữ cát cứ…

Về sau Ánh diệt Lữ, rồi bắc phạt đánh bại và bắt sống Quang Toản.

Lúc này về mặt tư tưởng, chính trị mới có sự thống nhất từ Bắc chí Nam.

3.

Khẳng định lại chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa.

Lưu ý chủ quyền hai quần đảo đã được ghi nhận trong ĐVSKTT là từ thời Lê Thánh Tông và được các Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền, chủ quyền được duy trì liên tục từ đời các Chúa Nguyễn đến Tây Sơn và sau này là nhà Nguyễn.

Mình không lục thêm được cái công lao gì khác, nên nếu thiếu cứ bổ sung.

Còn về tội, từ nhẹ tới nặng, có thể nêu ra như sau:

1- Giết hại công thần.

Nếu Lê Thái Tổ chỉ vì vụ án của Phạm Văn Xảo, và vụ Trần Nguyên Hãn tự tử trước khi về triều định tội mà bị ghép vô cái khuôn sát hại công thần thì chúng ta cũng nên biết rằng, Nguyễn Ánh trong cuộc đời mình cũng đã giết hại 3 công thần.

– Người thứ nhất, Nguyễn Văn Thành tổng trấn Bắc Thành, là người đã theo Nguyễn Ánh từ rất sớm, lập nhiều công lao, khi Nguyễn Ánh đại bại ở Rạch Gầm Xoài Mút tàn quân chỉ còn lèo tèo mấy mống, Nguyễn Văn Thành là người đã cõng Nguyễn Ánh đi chạy nạn, bỏ qua thân phận đi cướp đồ ăn của dân về nuôi chúa, suýt bị dân tang chết, kết cục: chết cả cha lẫn con. (Nguồn: Đại nam thực lục hoặc google để biết chi tiết)

– Người thứ hai, Đỗ Thanh Nhơn.

Nếu nói giết Nguyễn Văn Thành chỉ là sự bạc bẽo, thì lần giết Đỗ Thành Nhơn còn thể hiện sự ngu dại của Nguyễn Ánh.

Khi dòng chính các chúa Nguyễn bị Tây Sơn giết, Nguyễn Ánh từ một đứa cháu họ xa được các thuộc tướng trong đó có Đỗ Thành Nhơn tôn lên làm Chúa thượng, địa vị thay đổi một phát lên trời.

Đỗ Thanh NHơn lúc đó là tướng của quân Đông Sơn được Nguyễn Nhạc đánh giá là đối thủ đáng gờm nhất phe Gia Định.

Nguyễn Ánh sau này khép Đỗ Thanh Nhơn vào tội mưu phản, ngầm giấu đao phủ gọi Đỗ Thanh Nhơn tới nhà rồi giết.

Việc này khiến quân Đông Sơn nổi giận tạo phản, Nguyễn Nhạc hay tin Thanh Nhơn đã chết thì mừng như bắt được vàng dẫn quân Nam hạ, rồi sau đó tới Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh đại bại phải “tẩu quốc” ôm theo cây vàng cây bạc chạy qua Xiêm xin thần phục để cầu cứu.

– Người thứ 3: Đặng Trần Thường, không thích người này cho lắm, nên chỉ liệt ra cho đầy đủ.

2- Cắt Trấn Ninh cho Lào:

Cái này được ghi nhận trong Đại Nam thực lục phần cương thổ về Trấn Ninh như sau:

“Tính ra trong vòng hơn 300 năm Trấn Ninh vẫn theo chức cống, đất rộng dân đông, đứng đầu các Man, TRình Quang là đô ấp.

Cuối đời Vĩnh Hựu tôn thất nhà Lê là Duy Mật chiếm cứ hơn 30 năm, đến năm Cảnh Hưng thứ 31 mới dẹp được, rồi cho thị tộc Cầm nối đời làm xà chánh xà phó ….

Bản triều đầu đời Gia Long, Thiệu Ấn nước Vạn Tượng có công đánh giặc (Tây Sơn), do đó đem đất này cho Vạn Tượng”

Trấn Ninh hay xứ Bồn Man vốn là đất nội thuộc Đại Việt từ đời Lê Thái Tổ, Thái Tông, đời Thánh Tông, xứ này tạo phản, Thánh Tông thân chinh dẫn quân Tây chinh đánh cả Ai Lao, Lang Xang, Lão qua lấy lại được vùng này, đây là khu vực theo nhận xét của Minh Mạng là “có vị trí chiến lược”, là lá chắn vùng đệm của nước ta với các nước phía Tây như Xiêm, Miến, Ai Lao, cũng như có tác dụng nối lại vùng đất miền Trung vốn dài và hẹp dễ bị chia cắt của nước ta, Lê Duy Mật từng dựa thế khu này mà chống lại nhà Trịnh hơn 30 năm.

Gia Long nhờ Lào góp công lớn trong việc đánh Tây Sơn nên nhẹ như lông hồng, cắt trả công cho Lào.

Ở đây một lần nữa chúng ta thấy được tác hại của việc mời quân nước ngoài vào đánh trong nước.

Chả ai đương không rảnh rỗi sẽ hao tốn sinh mạng binh sĩ, quân lương, chiến phí cho mấy vạn quân để khơi khơi giúp không công người ta cả, ngay cả nhà Thanh sau khi bị Tây Sơn đánh bại rút về, Càn Long còn gửi yêu sách đòi lấy lại đất cách 40 dặm sông Đổ Chú (Theo Việt Thanh chiến dịch) rồi mới cho Tây Sơn đầu hàng (Nguyễn Huệ từ chối), Lào chỉ là một đồng minh thuộc dạng yếu trong khu vực lúc đó, ai cũng bắt nạt được, nhưng nhờ có công đánh Tây Sơn mà phải cắt trả Trấn Ninh, thì cứ thử tưởng tượng Xiêm La với vị thế là thiên triều của Nguyễn Ánh lúc đó thành công đánh lại Gia Định thì nước ta cần trả giá cái gì ?

Tiếc Trấn Ninh quá nếu không nước mình giờ rộng thêm 40.000km vuông ấy chứ…
 
Sưu Tầm Sử Việt
Công - Tội của Nguyễn Ánh (2)


3- Kéo quân Xiêm về giết dân:

Sau đợt giết Đỗ Thanh Nhơn và bị Tây Sơn đánh phải bỏ nhà đi phượt, Nguyễn Ánh cầm theo cây vàng cây bạc biểu tượng của việc thần phục dâng lên Xiêm, chấp nhận từ bỏ chính sách đối ngoại để xin Xiêm giúp đỡ, có thể nói Gia Long đã mở ra tiền lệ chưa từng có trong lịch sử của nước ta là lần đầu tiên nước ta được vinh hạnh làm thần tử của thiên triều Xiêm La. (Nguồn: Quan hệ Việt Xiêm Nguyễn Duy Chính)

Xiêm La sau đó phái 2 (hoặc 4 vạn quân tùy theo số liệu từng nguồn) vào giúp Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn, tuy nhiên Tây Sơn chưa đánh được mấy thì dân Nam Bộ lãnh đủ đầu tiên khi quân Xiêm đi đến đâu cướp hiếp đốt phá dân chúng tan nát đến đấy, Nguyễn Ánh bất lực hoặc có cản hay không thì cũng chỉ có trời mới biết, chỉ biết trong sử nhà Nguyễn có viết Nguyễn Ánh từng than rằng: “quân Xiêm ác quá thà hãy lui binh chứ đừng làm khổ dân”

Tuy vậy, ngay mấy dòng sau, không thấy quân Nguyễn Ánh lui binh mà hợp binh của Nguyễn Ánh và quân Xiêm bị Nguyễn Huệ dần cho một trận tơi tả ở trận Rạch Gầm, tàn binh chỉ còn sót mấy mống, ôm Nguyễn Ánh trốn chạy tiếp.

Chưa dừng lại ở đó, Nguyễn Ánh vẫn tiếp tục mời quân Xiêm vào tiếp lần nữa, tuy nhiên các tướng Xiêm sợ nên tên này đùn tên kia không chịu đi, nên mới có cái câu: “Bọn chúng sợ Nguyễn Huệ như sợ cọp”, câu này vốn chẳng phải được dùng để khen Nguyễn Huệ mà chỉ là câu bực bội của Nguyễn Ánh chửi tướng Xiêm nhát gan khi mời Xiêm không được mà thôi.

Tính ra thì cái câu nói, thương cho dân, nó cũng chỉ là một câu nói mà thôi.

4- Góp gạo cho quân Thanh:

Đại Nam thực lục ghi nhận: “Nguyễn Ánh Sai Cai cơ Nguyễn Đình Đắc đi dò tình hình Bắc Hà.

Mùa hạ năm Kỷ dậu [1789], vua nghe tin người Thanh đem quân Lưỡng Quảng vì nhà Lê mà đánh giặc Tây Sơn, bèn sai sứ thần là bọn Phan Văn Trọng và Lâm Đề mang thư sang Thanh và đem 50 vạn cân gạo giúp lương cho quân.

Gặp bão đắm cả ở biển lâu không nghe tin tức.

Đến đây nghe tin quân Thanh bị giặc đánh bại, đã không đánh lại mà còn phong cho [giặc].

Vì vậy mới sai Đình Đắc đi dò tin tức vua Lê, nhân tiện chiêu dụ những hào kiệt Bắc Hà.”

Đây cũng là thời điểm mà chính sử nhà Nguyễn than thở về việc dân chúng Gia Định đói khổ do bị quân Tây Sơn cướp phá, nhưng chính ở thời điểm dân đói khổ như thế, Nguyễn Ánh vẫn không hề tiếc rẻ 50 vạn cân gạo để nhân cơ hội tạo mối quan hệ tốt đẹp với thiên triều thứ hai là nhà Thanh.

Đấy quả là tài năng ngoại giao không hề nhỏ chút nào nhỉ ?!

5- Hiệp ước Versailles

Hiệp ước này gồm 10 khoản, nội dung chính là về việc Hoàng đế Pháp cam kết cung cấp cho Nguyễn Ánh 4 chiếc tàu chiến loại frégaté cùng 1.200 bộ binh 200 pháo binh và 250 lính Cafres (lính da đen châu Phi) và các phương tiện trang bị vũ khí tương ứng; ngược lại Nguyễn Ánh chấp thuận nhường cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Côn Lôn cho Pháp, cho phép người Pháp được quyền tự do buôn bán và kiểm soát thương mại của người nước ngoài ở Việt Nam mỗi năm sẽ đóng trả cho Pháp một chiếc tàu giống với loại tàu Pháp viện trợ đồng thời cung cấp lương thực và quân nhu thiết yếu cho Pháp khi Pháp có chiến tranh với một nước khác ở khu vực Viễn Đông.

Hiệp ước này được ký khi Nguyễn Ánh giao hoàng tử Cảnh làm con tin cho Đa Bá Lộc đại diện đem qua Pháp trong tình thế tuyệt vọng khi phải đi tẩu quốc, và quân thiên triều Xiêm La cũng đã bị đánh bại, hiệp ước này sau đó không được Pháp thực thi do dính Cách Mạng Pháp năm 1789, sau này Pháp dùng để làm cớ nổ súng vào nước ta.

———————-

Nguồn: Chủ yếu trong Đại Nam thực lục, biên khảo của Nguyễn Duy Chính.

Đương nhiên nhiêu đây chỉ là những điều nổi bật nhất về Nguyễn Ánh mà mình nghĩ là rất dễ tìm thấy trong các tài liệu lịch sử, thậm chí ngay trên mạng.

Còn rất nhiều tội danh khác, nhưng mình nghĩ nhiêu đây là đã quá dài rồi, nếu có thắc mắc, hoặc bổ sung, tranh luận, mình rất sẵn sàng trao đổi dưới cmt.

Nguồn: baotinhhoa.com
 
Back
Top Bottom