Cập nhật mới

Khác Sưu Tầm Sử Việt

Sưu Tầm Sử Việt
thiên tình sử để đời hay vụ cướp vợ đình đám


Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn là con trai thứ ba của An Sinh vương Trần Liễu.

An Sinh vương Trần Liễu là con trai trưởng của Thái Tổ Hoàng đế Trần Thừa trong khi Thái Tông Hoàng đế Trần Cảnh là con trai thứ của Thái Tổ Trần Thừa, nên xét về vai vế trong hoàng tộc, Hưng Đạo vương gọi Thái Tông là chú ruột.

Là con trai của An Sinh vương, người đứng đầu dòng Vạn Kiếp, tuy nhiên ông không lớn lên ở quê nhà Tức Mặc, Nam Định mà trưởng thành tại Kinh thành Thăng Long với con cháu hoàng thất.

Có thể thấy, ngay từ khi mới chào đời, Hưng Đạo vương đã trở thành một dạng "con tin" ở Thăng Long để thông qua đó, triều đình có thể dễ dàng khống chế Vạn Kiếp.

Thông tin về năm sinh lẫn mẹ ruột của Hưng Đạo vương vẫn còn rất nhiều nghi vấn, theo Trần triều Thế phả Hành trạng thì mẹ ruột của ông là Thiện Đạo Quốc mẫu, huý là Nguyệt, một người phụ nữ trong tôn thất nhà Trần.

Hưng Đạo vương lớn lên dưới sự chăm sóc và nuôi dưỡng của người mẹ nuôi, đồng thời là cô ruột của mình - Thuỵ Bà Công chúa cùng với các con cháu hoàng thất tại Thăng Long.

Trong suốt thời gian ấu thơ đến khi thành niên, Hưng Đạo vương đã trót đem lòng yêu mến Thiên Thành Trưởng Công chúa.

Thân thế của Thiên Thành Trưởng Công chúa đến nay vẫn chưa thật sự rõ ràng tuy nhiên dựa theo Đại Việt Sử kí Toàn thư, các sử gia vẫn nghiêng về giả thiết Thiên Thành Công chúa là con gái đầu của Thái Tông Hoàng đế - xét trên vai vế thì Thiên Thành Công chúa chính là em họ của Hưng Đạo vương.

Bên cạnh đó, nếu xét trên danh hiệu bà được phong thì Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục lại cho rằng bà phải là con gái của Thái Tổ Hoàng đế và là chị em gái của Thái Tông Hoàng đế.

Từ trước đến nay, quả thật Trưởng Công chúa là danh hiệu chỉ dành để phong cho chị em gái của đương kim Hoàng đế chứ không phong cho Hoàng nữ.

Nếu trường hợp này xảy ra thì Hưng Đạo vương đã đem lòng yêu cả cô ruột của mình, tuy nhiên đó là một điều hoàn toàn có thể chấp nhận được trong nội tộc họ Trần.

Mặc dù cả hai đã có tình cảm với nhau từ khá lâu song chưa kịp định ước thì đã bị một người khác trong tôn thất nhà Trần đi trước một bước.

Thái Tông Hoàng đế do không rõ chuyện nên đã ban hôn Thiên Thành Công chúa cho Trung Thành vương, con trai của Nhân Đạo vương.

Vị trí của Nhân Đạo vương cùng con trai Trung Thành vương trong họ Trần không được ghi chép lại, chỉ biết thuộc tôn thất nhà Trần.

Ngậm ngùi vâng theo ý ban hôn của Hoàng đế, Thiên Thành Công chúa đành phải dọn trước đến ở phủ Nhân Đạo vương, chờ đến ngày rằm tháng Hai làm lễ "kết tóc", chính thức gả cho Trung Thành vương.

Ngày rằm tháng Hai năm ấy (tức tháng 2, năm Nguyên Phong thứ 1 – 1251), Hoàng đế nhân sự việc trên mà mở hội lớn bảy ngày bảy đêm.

Hoàng đế cho bày các món đồ quý báu trong triều đình để mọi người chiêm ngưỡng; còn lệnh bày nhiều trò vui náo nhiệt trong và ngoài cung để từ triều đình đến nhân gian đều cùng tham dự đông vui.

Trong lúc cả Kinh thành đang hồi náo nhiệt thì đêm hôm ấy, chàng thanh niên Quốc Tuấn vương đã lẻn vào phủ Nhân Đạo vương với dự định cướp Thiên Thành Công chúa về.

Chỉ đơn giản là sự việc cướp Công chúa, nhưng nhân gian về sau đã thêu dệt thêm lắm chuyện li kì về đêm ấy.

"Biết không thể theo vào bằng cửa chính, Quốc Tuấn đã tìm cách trèo tường, vượt qua hàng toán lính tuần tra có phần lỏng lẻo, mò mẫm trong đêm đen và cuối cùng cũng tìm được chính xác phòng Công chúa.

Nhưng sự liều lĩnh này của Quốc Tuấn sẽ trở thành một vụ thảm án thực sự nếu sự vụ bại lộ.

Ngược lại, nếu sự vụ không bại lộ thì kể từ sáng mai, Hưng Đạo vương cũng sẽ mất đi vĩnh viễn người con gái mình đã yêu từ thuở niên thiếu vào tay kẻ khác.

Để tránh khỏi tai ương đó, Trần Quốc Tuấn đã đi tiếp một bước cờ cao minh, dồn Hoàng đế và cả triều đình vào thế đã rồi.

Ngay sau khi đột nhập thành công vào khuê phòng và gặp lại người con gái của đời mình, Quốc Tuấn liền sau đó ra lệnh cho thị tì của Thiên Thành Công chúa về báo cho Thụy Bà Công chúa biết tin đầu tiên.

Sau khi nhận được tin báo, lấy thân phận cao quý là em gái ruột của Thái Tông Hoàng đế, Thụy Bà Công chúa dễ dàng vào cung ngay lập tức và than khóc với ông:

"Không ngờ Quốc Tuấn càn rỡ đang đêm lẻn vào chỗ của Thiên Thành.

Nhân Đạo vương đã bắt giữ hắn rồi, e sẽ giết hắn mất.

Xin bệ hạ rủ lòng thương, sai người đến cứu".

Lời nói của Thụy Bà Công chúa như sét đánh ngang tai Hoàng đế, ông đã nhận đủ lễ vật của Nhân Đạo vương, đã cho Thiên Thành Công chúa dọn đến phủ Nhân Đạo vương chỉ còn chờ ngày chính thức hạ giá, sao có thể để Trần Quốc Tuấn cả gan làm việc vô pháp vô thiên đến như vậy?

Nhưng Thụy Bà Công chúa tiếp tục kiên trì van xin.

Thương tình người em gái, lại nghĩ đó là huyết mạch của anh trai Trần Liễu, một khi đã phạm vào thì chắc chắn sẽ gây nên sóng gió trong gia tộc, Hoàng đế đã đã sai người vây phủ Nhân Đạo Vương.

Nội thị theo lệnh nhà vua, xông thẳng tới hoa viên vắng lặng, vào phòng công chúa Thiên Thành để áp giải, thực chất là hộ tống Trần Quốc Tuấn ra ngoài một cách an toàn.

Đến lúc đó, cả phủ Nhân Đạo Vương mới ngỡ ngàng nhận ra Trần Quốc Tuấn đã vào phủ "tư thông" với công chúa Thiên Thành."

Sự việc động trời trên quả thật từ trước đến giờ chưa bao giờ có thể chấp nhận được.

Để nhanh chóng khoả lấp sự việc để giữ thể diện Hoàng thất và tránh các xung đột nảy sinh, ngay ngày hôm sau, Thuỵ Bà Công chúa mang vội 10 mâm vàng sống đến dâng cho Hoàng đế để đường đường chính chính hỏi cưới Thiên Thành Công chúa về cho Hưng Đạo vương.

Thuỵ Bà Công chúa cũng biện minh vì thời gian quá gấp gáp, sự việc quá đột ngột nên bà không thể chuẩn bị lễ vật đầy đủ.

Để đền bù lại cho phủ Nhân Đạo vương trước "mất mát", Hoàng đế cũng cấp cho phủ thêm 2,000 mẫu ruộng tốt tại xã Ứng Thiên xem như an ủi.

Sau khi gả về phủ Hưng Đạo vương, cả hai đã có một cuộc sống êm ấm.

Thiên Thành Công chúa lại góp công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông lần 2 và 3 (1285, 1288 – 1287) khi giúp triều đình quản lý, hướng dẫn các gia đình quý tộc lánh nạn và vận động nhân dân làm kế thanh dã.

Thiên Thành Công chúa còn trực tiếp phụ trách hậu phương, khai phá đất đai, trồng nhiều cây lương thực và chăn nuôi gia súc, gia cầm, tập trung lương thực phục vụ quân doanh đóng tại Vạn Kiếp.

Hưng Đạo vương và Thiên Thành Công chúa có với nhau bốn con trai và hai con gái, tất cả đều đạt được địa vị cực kì cao quý, góp phần củng cố, thắt chặt mối liên kết giữa hai chi tộc, đồng thời đưa địa vị của phủ Hưng Đạo vương trở nên ngày càng tôn quý, vượt xa các tôn thất nhà Trần.

Sau khi Công chúa mất được dâng thuỵ hiệu là Nguyên Từ Quốc mẫu, địa vị tương đương với Linh Từ Quốc mẫu.

Hậu duệ nổi bật của họ có thể kể đến:

- Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn trở thành phò mã của Thánh Tông Hoàng đế, được ban hôn với Thiên Thuỵ Công chúa.

- Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng sau này lại trở thành cha vợ của Anh Tông Hoàng đế khi đem con gái của mình gả cho Anh Tông Hoàng đế, tức Bảo Từ Thuận Thánh Hoàng hậu.

- Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng hậu Trần Trinh, chính cung Hoàng hậu của Nhân Tông Hoàng đế, mẹ đẻ của Anh Tông Hoàng đế.

__________________

Mình chỉ muốn bàn ngắn gọn thôi: Yêu nhau thì cưới liền, đừng chờ đợi, đêm dài lắm mộng...

nguồn: thiên nam lịch đại hậu phi
 
Sưu Tầm Sử Việt
Trần Thủ Độ


TRẦN THỦ ĐỘ - quyền thần hai triều đại

Cụ Trần Thủ Độ mới hỏi Ad là sao mày toàn bô bô khuyết điểm của cụ, còn ưu điểm thì thủ tiêu sạch.

Ad vội vàng giải thích với cụ rằng con không có thủ tiêu á, post kia là của bà Lý Chiêu Hoàng nên bà ấy có quyền được nịnh bợ.

Cụ cười bảo, thế mày nịnh bợ cụ coi.

Không biết cụ đùa hay thật nhưng Ad vẫn vội vàng gật đầu thưa, dạ ok cụ.

Thế là chúng ta có bài này. 🙂

Nhưng trước khi tuyên dương thì Ad vẫn sẽ tóm tắt ngắn gọn bản tội trạng của cụ Trần Thủ Độ với con cháu nhà Lý.

1.

Ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh.

2.

Bức tử vua Lý Huệ Tông khi ông đã phát điên (không biết điên đùa cho vui hay điên thật).

3.

Chôn sống mấy trăm mạng người trong tông thất nhà Lý. (Nghi vấn do họ Lý tự đào hố âm mưu ám sát vợ chồng Cảnh Kim, bị cụ Độ phát hiện nên chơi lại).

4.

Ép Trần Cảnh bỏ Chiêu Thánh, lập công chúa Thuận Thiên làm hoàng hậu.

5.

Lấy bà Trần Thị Dung, vốn là hoàng hậu của vua Lý Huệ Tông, mẹ của Lý Chiêu Hoàng.

Nghe đến đây cụ Độ trừng mắt quát, tình yêu không có lỗi nha mày.

Ad sợ xanh lè mắt mũi nên màn kể tội sẽ khép lại tại đây.

Trong bài nịnh bợ bà Chiêu Hoàng, Ad đã nói người dẫn nhà Lý bước đi hùng dũng trên con đường dẫn đến họa diệt vong là vua Lý Cao Tông.

Vậy ông nội của bà Chiêu Hoàng đã làm cái quần què gì nên tội?

Thưa, cụ cố Cao Tông cũng có đầu óc sáng láng và rất hiểu lễ độ cho tới khi cụ được đặt mông lên bệ rồng.

Cụ cố ăn chơi sa đọa, thích giương cung bắn chim cò, thú kiểng.

Giặc dã, cướp bóc, nhân dân đói kém cụ xem như chuyện nhà hàng xóm.

Cụ khoái xây cung điện, đền chùa vô tội vạ, hao tốn tiền của và sức lao dịch vô số kể.

Nói chung Đại Việt dưới thời cụ cố Cao Tông đã trở thành một mớ bầy hầy nát bét, vô tổ chức, vô kỉ luật.

Trong tình cảnh đó, họ Trần xuất hiện như một thiên thần; phò trợ thái tử Sảm (tức bố bà Chiêu Hoàng), dẹp yên loạn Quách Bốc lẫn nội loạn trong triều.

Và cuối cùng, cụ Trần Thủ Độ đã rắn tay làm một cuộc thay máu uyển chuyển để chấm dứt hoàn toàn những chuỗi ngày bi đát của Đại Việt.

Con đường làm quyền thần hô mưa gọi gió suốt bốn mươi năm của cụ Trần Thủ Độ cũng bắt đầu từ đây.

Ad cũng chẳng hiểu vì cái quái gì mà cụ không lên làm vua luôn cho tiện.

Nhưng theo một suy đoán ngu si thì có lẽ cụ cảm thấy để Trần Cảnh làm vua thì triều đình trông có vẻ trẻ trung và chuyên nghiệp hơn. 🙂

Năm 1257, triều đình non trẻ lần đầu tiên phải đối mặt với kẻ thù bá đạo nhất thế giới lúc bấy giờ là đế quốc Mông Cổ.

Thiết nghĩ nếu dạo trước cụ Độ không rắn tay thì cái mớ bầy hầy nát bét mà cụ cố Cao Tông để lại làm gì đủ tuổi mà cân kèo với vó ngựa Mông Nguyên.

Trong chiến tranh Mông Nguyên - Đại Việt lần thứ nhất, cụ Độ còn hùng hồn để lại một phát ngôn đi vào huyền thoại:

- Đầu thần vẫn đung đưa trên cổ thì bệ hạ đừng lo gì hén.

(Nguyên văn là: "Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo.")

Cụ Thủ Độ tuy làm quyền thần nhưng được cái cực kì nghiêm minh và chính trực. (Viết đến đây, Ad lại trộm nghĩ cứ bợ ass cụ công khai thế này thì có khi nào cụ sẽ ghim mặt Ad rồi đem hoạn không. :| )

Một lần cụ bà Trần Thị Dung muốn đi qua cấm cung, bị một anh lính gan vãi cả to chặn lại.

Cụ bà nổi cơn tam bành về ton hót với cụ ông.

Anh lính sợ xanh lè mắt mũi, nghĩ thôi hỏng, quả này không giết thì cũng hoạn cả nhà.

Chẳng ngờ cụ Độ nghe xong liền ban thưởng hậu hĩnh làm cụ bà giận dỗi mất mấy ngày.

Một lần khác cụ Độ lại thây kệ tình yêu trời bể, không ngần ngại trát trấu lên mặt cụ bà khi cụ bà tỉ tê xin việc cho thằng cha nào đó trong họ.

Ban đầu cụ cũng giả bộ đồng ý.

Xong khi cụ bà dắt thằng cha đó đến thì cụ bảo:

- Nhà anh nhờ có bà đây xin cho mới được làm quan, nên không thể giống với người thường được.

Cắt một ngón chân để đánh dấu hén.

Thằng cha sợ xanh lè mắt mũi, chạy không kịp nhặt dép.

Ad to gan hỏi cụ Độ, sau vụ này cụ phải nằm đất bao lâu.

Cụ chỉ tủm tỉm cười chứ không đáp. 🙂

Mùa xuân năm 1264, mưa phùn bay bay, cụ Trần Thủ Độ qua đời, thọ 71 tuổi.

Được vua Trần Thái Tông tôn thụy Thượng phụ Thái sư Trung Vũ đại vương.

#việt_nam_một_lịch_sử

Nguồn: Săn Mộ
 
Sưu Tầm Sử Việt
Trần Liễu


TRẦN LIỄU_Một đời ôm hận

Cậu cả Trần Liễu sinh năm 1211, trong hoàn cảnh nhà họ Trần bắt đầu rục rịch bỏ nghề đánh bắt thủy hải sản, bán sạch tàu cá để chuyển sang đầu tư trang bị vũ khí hạng nặng, tham gia chính trường.

Năm 1224, Chiêu Hoàng lên ngôi, ông chú Trần Thủ Độ muốn đưa cháu trai vào cung làm bạn với nữ đế.

Cậu cả Liễu khi ấy đã 14, hơn Chiêu Hoàng những 7 tuổi, quá lứa lỡ thì nặng nên người phải vào cung làm con sen là cậu hai Cảnh, trạc bằng tuổi Chiêu Hoàng.

Một năm sau, cậu hai Cảnh được Chiêu Hoàng nhường ngôi, trở thành hoàng đế.

Trong khi đó, tuổi thơ của cậu cả Liễu vẫn cứ lững lờ trôi qua trong sung sướng và bình lặng.

Tới tuổi cập kê, cậu cả Liễu cũng hớn hở lập gia đình như ai, lấy về một cô vợ tên là Trần Thị Nguyệt, sinh ra thằng cu đầu lòng là Trần Quốc Tuấn.

Sau đó, cậu cả Liễu lại được ban hôn với công chúa Thuận Thiên, chị ruột của Lý Chiêu Hoàng.

Năm 1228, cậu cả Liễu mới 17 tuổi đã được phong tận Thái úy, chức quan cao ngất ngưởng, làm như sợ không ai biết cậu đây là anh ruột của hoàng đế.

Tới năm 1234, cậu cả Liễu lại được phong làm Hiển Hoàng, chính thức ra tám chuyện chính sự cùng với cậu hai Cảnh và ông chú Độ.

Được cậu hai Cảnh vô cùng trọng dụng, cậu cả Liễu đâm ra cảm thấy mình hình như có thể cầm đầu thiên hạ, nên sinh ra hơi đổ đốn.

Một đêm trăng thanh gió mát năm 1236, cậu cả Liễu sinh lực dồi dào đi gạ gẫm một cung nữ triều Lý cũ cùng nhau xoạc xã giao.

Chưa thỏa thuận xong xuôi mà cậu cả Liễu đã sốt ruột làm tới, nên thành ra cung nữ này một mực quay ra tố cáo cậu cưỡng bức.

Cậu cả Liễu bị giáng xuống thành Hoài Vương.

Cuộc đời trải toàn hoa hồng của cậu cả Liễu lần đầu tiên xuất hiện một cái ổ gà to chà bá khiến cậu té sấp mặt lợn.

Ông chú Độ bao năm nay dốc lòng viết kịch bản cho cuộc đời của cậu hai Cảnh, giờ đột nhiên lại nhớ ra đã quên béng mất cậu cả Liễu, khiến cuộc đời cậu thiếu tí sóng gió, nhàm chán không thể tả.

Khi ấy, vợ chồng cậu hai Cảnh thực hiện kế hoạch sinh sản đã được vài năm, lại bị ông chú Độ hiểu lầm thành tịt đường sinh sản.

Trong một diễn biến khác, công chúa Thuận Thiên vợ cậu cả Liễu lại mang thai đứa con thứ hai, đã được ba tháng.

Cảm thấy đường sinh sản của công chúa Thuận Thiên rất có triển vọng, ông chú Độ lập liền ép cậu hai Cảnh phế Chiêu Thánh xuống thành công chúa và lập Thuận Thiên làm hoàng hậu.

Sau khi bình tĩnh ngồi xuống uống miếng nước ăn miếng bánh, cặn kẽ phân tích tình hình, cậu cả Liễu bàng hoàng nhận ra mình vừa mất cả vợ lẫn con.

Cậu cả Liễu sung sướng từ nhỏ tới lớn, thiếu kinh nghiệm đối mặt với sóng gió cuộc đời.

Nay vập phải cơn sóng gió như tát vào mặt thì chịu không nổi, manh động đi chiêu tập binh mã làm phản trên sông Cái.

Về phần cậu hai Cảnh, sau một hồi làm mình làm mẩy bỏ lên Yên Tử để phản đối thì cũng phải theo ông chú Độ trở về.

Sau vài tháng tung hoành trên sông Cái, cậu cả Liễu lại bình tĩnh ngồi xuống uống miếng nước ăn miếng bánh.

Lần phân tích tình hình này khiến cậu cả Liễu nhận thấy binh lực của mình thực ra yếu đuối vô cùng.

Thế là cậu bèn nuốt hận vào lòng, tự nhủ quân tử báo thù chục năm, à không, vài chục năm cũng chưa muộn.

Nhân một lần cậu hai Cảnh đi du lịch sông nước, cậu cả Liễu bèn đóng giả một người đánh cá, đột nhập lên thuyền gặp cậu hai Cảnh xin tha thứ.

Trong lúc anh em ôm nhua mừng mừng tủi tủi thì thằng mất dạy nào đó đã chạy đi ton hót với ông chú Độ.

Ông chú Độ rất tỉnh và đẹp trai, biết cậu cả Liễu không dễ dàng nuốt hận nên quyết tâm xách đao đi xin cậu cả Liễu cái đầu.

Cậu hai Cảnh không tỉnh bằng ông chú Độ, nhưng vẫn rất đẹp trai nhảy ra che chắn cho cậu cả Liễu.

Ông chú Độ đành tha cho cậu cả Liễu, nhưng những người theo cậu cả tung hoành trên sông Cái thì đều bị giết sạch.

Để an ủi tâm trái tim tổn thương sâu sắc của cậu cả Liễu, cậu hai Cảnh phong cho cậu cả Liễu làm Yên Sinh Vương và ban cho khu công nghiệp mới ở vùng Quảng Ninh ngày nay làm đất dưỡng già.

Năm 1251, cậu cả Liễu ốm thập tử nhất sinh.

Sống bình yên suốt mười lăm năm, tới lúc sắp xuống lỗ cậu cả Liễu mới sực nhớ ra còn mối thù chưa báo.

Cậu bèn gọi đứa con trai nom có triển vọng nhất là Trần Quốc Tuấn đến giường nghe trăng trối.

Cậu cả Liễu dốc sạch hơi tàn dặn đi dặn lại con trai phải cướp ngôi nhà Trần, báo thù thay cha.

Thấy hơi tàn đã dốc cạn rồi mà cha vẫn chưa chịu chết, thanh niên Quốc Tuấn cũng thấy buồn bực thay.

Ngó lên tờ lịch, thấy hôm nay là ngày 1/4 , thanh niên Quốc Tuấn bèn tự nhủ đây cũng có thể coi như là ngày quốc tế bốc phét, liền gật đầu hứa bừa cho cha yên lòng nhắm mắt xuôi tay.

Năm 1251, Yên Sinh vương Trần Liễu qua đời, thọ 41 tuổi.

#việt_nam_một_lịch_sử

#trần_liễu
 
Sưu Tầm Sử Việt
Lý Thánh Tông


~ Lý Thánh Tông, và tuổi thơ bị đánh cắp của đế vương

Năm 1028, hoàng tử Lý Nhật Tôn (Lý Thánh Tông) 5 tuổi được phong làm thái tử, bắt đầu quãng đời bị phụ hoàng bóc lột sức lao động trẻ em.

Năm 1033, thái tử 10 tuổi, được giao giám quốc lúc phụ hoàng ngự giá thân chinh.

Năm 1037, thái tử 14 tuổi, được phụ hoàng phong làm đại nguyên soái, mang quân đi đánh các châu Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên.

Năm 1039, thái tử 16 tuổi, được giao giám quốc lúc phụ hoàng ngự giá thân chinh.

Năm 1040, thái tử 17 tuổi, được giao xử kiện ở điện Quảng Vũ, phàm nhân dân trong nước ai có việc kiện tụng gì đều giao cho thái tử xử đoán rồi tâu lên.

Từ nhỏ đã lao động chăm chỉ như thế, chả trách về sau rất thích đánh đông đánh tây, đi đây đi đó.
 
Sưu Tầm Sử Việt
Đại Việt thời Trần


#Su_Viet

#Dai_Viet_thoi_Tran

Tiếp tục chương trình chuyện cười hoàng tộc:

Thượng hoàng (Trần Nhân Tông) có lần ngự cung Trùng Quang, vua (Trần Anh Tông) đến chầu, quốc công Quốc Tuấn đi theo.

Thượng hoàng nói:

"Nhà ta vốn là người hạ lưu (thủy tổ người Hiền Khánh), đời đời chuộng dũng cảm, thường xăm hình rồng vào đùi.

Nếp nhà theo nghề võ, nên xăm rồng vào đùi để tỏ là không quên gốc."

Bấy giờ thợ xăm đã đợi mệnh ở ngoài cửa cung.

Vua rình lúc thượng hoàng quay nhìn chỗ khác, về ngay cung Trùng Hoa.

Một lúc lâu, thượng hoàng hỏi quan gia đâu rồi, các quan tả hữu thưa là đã về cung Trùng Hoa.

Thượng hoàng bảo: "Quan gia đã trốn rồi chăng?

Thế thì xăm cho Huệ Vũ vương Quốc Chẩn vậy".

...

Vua thích vi hành, cứ đêm đến, lại lên kiệu, cùng với hơn chục thị vệ đi khắp trong kinh kỳ, gà gáy mới trở về cung.

Có đêm, ra đến quân phường, bị bọn vô lại ném gạch trúng vào đầu vua.

Người theo hầu thét lên: "Kiệu vua đấy!".

Bọn chúng biết nhà vua, mới tan chạy cả.

Một hôm, thượng hoàng thấy đầu vua có vết thương, vặn hỏi, vua cứ thực mà thưa.

Thượng hoàng giận dữ hồi lâu.

=> Đầu thời Trần, tối tối ra đường có vẻ dễ gặp vua. :v

P/S: Từ đoạn trên có thể suy ra các tai to mặt lớn đầu thời Trần như Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Chiêu Minh vương Trần Quang Khải, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn... có lẽ đều xăm mình cả.

Văn võ song toàn, gốc giai miền biển, xăm hình, thế nên ít nhiều gì ngoại hình cũng được cái vừa rắn rỏi vừa ngăm ngăm vừa phong trần chuẩn nam tính ạ.
 
Sưu Tầm Sử Việt
Đại Việt thời Trần


#Su_Viet #Dai_Viet_thoi_Tran

~ Một trong những đoạn sử thời Trần ấn tượng nhất mà mình đã đọc

Uy Túc công (Trần Văn Bích, con trai Trần Đạo Tái, cháu nội của Trần Quang Khải) có vợ là công chúa Thiên Trân.

Công chúa Thiên Trân chẳng may mất sớm, vua Trần Anh Tông thương xót lắm, thân đến đưa tang.

Uy Túc công lăn ra đất, khóc lóc rất thảm thiết, Vua đến cũng không dậy nổi, phải hai người dìu mới ra tiếp được.

Bấy giờ, phần vì thấy Uy Túc công có vẻ thương vợ quá, phần vì thời ấy có lệ định rằng, những ai lấy công chúa, nếu công chúa mất trước hoặc giả là bỏ nhau thì không được lấy vợ khác, nên ai cũng tin là Uy Túc công nhất định sẽ ở vậy đến hết đời.

Ấy vậy mà sau đó chẳng bao lâu, Uy Túc công lại lấy công chúa Huy Thánh.

Văn Huệ công (Trần Quang Triều, con của Hưng Nhượng Đại vương Trần Quốc Tảng, cháu nội Trần Quốc Tuấn) có vợ là công chúa Thượng Trân.

Công chúa Thượng Trân cũng chẳng may mất sớm, vua Trần Minh Tông cũng thân đến đưa tang như trước đó vua cha đã đến đưa tang công chúa Thiên Trân vậy.

Khi vua đến, Văn Huệ công ra đón tiếp, tâu bày mọi việc rành mạch, xem bề ngoài như chẳng hề có đau buồn gì.

Mọi người thấy vậy, ai cũng cho là chẳng bao lâu nữa Văn Huệ công sẽ lấy vợ khác.

Nào ngờ, về sau Văn Huệ công lại đi tu đến suốt đời.
 
Sưu Tầm Sử Việt
Chuyện phiếm lịch sử


#Su_Viet #Chuyện_phiếm_lịch_sử

Sau một đêm rảnh rỗi nằm đọc sử, thị Bí phải thừa nhận: “Thiên mệnh” là có thật các mẹ ạ.

Đa số triều đại đều kết thúc bằng đói khổ, từ đói khổ mới sinh ra bất mãn, vì bất mãn nên mới gia nhập quân khởi nghĩa hay đầu quân cho các thế lực chống đối triều đình khác, với mong muốn được đổi đời, hay đơn giản hơn chỉ là để được trả lương củ khoai con cá, thậm chí là để cướp được vài nắm gạo về nuôi thân nuôi vợ nuôi con cho qua ngày qua tháng.

Sống cái đã, hậu quả tính sau.

Mà dân đen, một khi đã đói rồi thì không rảnh ngồi phân tích cụ thể xem cái khổ của mình do ngọn gió nào đưa đến đâu.

Vỡ đê do tham quan hay do lũ quá lớn không chống được thì cũng là vỡ đê, tham quan còn nhởn nhơ hay tham quan bị trừng phạt thì đê cũng vỡ rồi.

Cứu trợ không kịp do tham quan, do thời tiết, hay do cướp bóc thì cũng là cứu trợ không kịp.

Phạt ông này chém ông kia thì nếu không cứu trợ bổ sung kịp, dân vẫn đói.

Túm cái váy lại vẫn là triều đình sai, và mặc kệ vua 40 tuổi hay 4 tuổi, vua và triều đình là một thể, nếu không thể xoa dịu cơn đói của dân hay thành công đàn áp bằng vũ lực, thì vua chỉ còn cầu nguyện cho số dân đói ít một chút, nếu lỡ có nhiều thì... ngu một chút.

Mà cũng không được, dân ngu quá, đám quý tộc/ tướng lĩnh/ hào trưởng thông minh chiêu mộ họ để phản lại triều đình càng dễ.

Vẫn phải trông vào phe bảo hoàng thôi, mà quân lính phe này muốn đánh cũng cần có gạo, có tiền, nếu không lực lượng này đánh nhiều ăn ít bất mãn mà phản lại chắc vua càng THE END sớm.

Được mùa mất giá như thời nay mà dân còn khổ, còn oán chính quyền, thì vào thời điểm mất mùa, đói rét chết như rơm như rạ hồi xưa bảo dân đừng oán hơi khó đấy.

Đến cả giới sĩ phu luôn miệng tụng “trung quân ái quốc”, thế mà đến khi có ngoại xâm vào, hay có thế lực mạnh hơn chiêu mộ vẫn nhảy phe ngon lành hàng đàn hàng đống nhé, nên đừng bắt dân ăn không khí để trung quân.

Ngày trước cứ nhắc đến thiên tai nhân hoạ thị Bí đều có thói quen đổ cho triều đình hết, ví dụ như dung dưỡng tham quan vì cân bằng quyền lực này, xây dựng hệ thống hành chính không hiệu quả này, điều hành kinh tế kém này, dùng người không đúng chỗ này...

Cơ mà thật ra những thứ này không phải ngày một ngày hai gặp quả báo ngay, cũng không gây hậu quả lớn đến nỗi hình thành một lực lượng dân đen bất mãn đủ lớn mạnh, phát triển rộng khắp, quy tụ cùng lật đổ triều đình, hoặc buông tay từ bỏ triều đình.

Thường thì khi ngôi truyền được mấy đời, nếu thằng cháu mất nước, dễ có khả năng do đời ông, hay gần hơn cả là đời cha nó ăn mặn, nó chỉ gánh thôi.

Và rồi bùm một phát, tự dưng thằng ngoại bang A có được ông vua và dàn quan tướng giỏi xuất sắc đầy tham vọng, thằng láng giềng B phát hiện ra kho đồng/ bạc/ gia vị gì đấy, khai thác nhiệt tình và cạnh tranh tơi tả hàng nội địa của chúng ta, hay ông trời mưa ào ào liền tù tì vài tháng, nắng liền tù tì vài năm, châu chấu rợp trời như bất tử...

Lúc ấy, thằng cháu có triệu hồi tổ tiên khai quốc của nó về cũng khó mà giải quyết được bao nhiêu, vì vua không phải ba đầu sáu tay, cũng phải có nhân tài mới làm việc được.

Mà triệu hồi linh hồn các anh tài nối khố của tổ tiên năm xưa cũng chưa chắc được việc, vì tài năng của họ thích hợp với hoàn cảnh năm một ngàn không trăm hồi đó chứ chưa chắc hợp với hoàn cảnh hôm nay.

Vâng, vậy nên là nó đã tiêu tùng, vì những trận mưa, những đợt hạn hán, những anh láng giềng bỗng dưng giàu mạnh, chả hiểu sao không xuất hiện vào đời ông nó, cha nó, hay con nó, mà lại xuất hiện vào đời nó.

Không phải do trời định là gì?

Mà nói chứ, cùng cái số không may mất nước, nhưng thái độ trước thời thế của kẻ làm vua vong quốc sẽ tạo nên những dấu ấn khác nhau trong sử sách làng nước ạ.

Nên có người được gọi là đáng tiếc, có người được xem là đáng thương, cũng có kẻ được cho là đáng khinh là vì vậy.
 
Sưu Tầm Sử Việt
Đại Việt thời Trần


#Su_Viet #Dai_Viet_thoi_Tran

~ Đàn ông hoàng thất họ Trần là thế đấy!

Có lẽ vì giữ quyền lực trong thân tộc, nên nhà Trần có khả năng duy trì “truyền thống gia đình” khá tốt.

Truyền thống ấy tóm gọn trong 4 chữ: Thích thì làm thôi.

Tạm không tính đến thế hệ đầu, với vụ Trần Thủ Độ đường đường chính chính cưới chị họ là thái hậu tiền triều ngay sau khi vừa bức tử “kẻ cản đường”, vì việc này phần nhiều có liên quan chính trị, không hẳn là vì “thích”.

Vậy nên, thị Bí chỉ điểm qua mấy vị từ Trần Thái Tông trở về sau.

~ F1:

Trần Thái Tông (Trần Cảnh)

Năm 19 tuổi, bị buộc bỏ vợ cưới chị dâu, phẫn hận rời cung, toan thoái vị lên Yên Tử tu hành, người này người kia khuyên răn mãi mới về.

Sau khi vượt qua cơn giông bão đầu đời, Thái Tông tương đối giữ mình trong khuôn phép.

Cho đến vài năm sau, lúc chừng 25, 26 tuổi gì gì đấy, khi ra bắc đánh mấy châu biên giới, đánh xong chợt nổi hứng phiêu lưu, bỏ thuyền lớn, đổi thuyền nhỏ, giả danh đi thuyền vào sâu đất Tống.

Đến khi bị phát hiện rồi ngăn lại, chả hiểu nghĩ gì, nhổ mấy chục cái neo của người ta mang về làm kỷ niệm.

~ F2:

Trần Quốc Tuấn: Màn cướp dâu trong đêm quá nổi tiếng rồi, hẳn là không cần kể lại làm gì.

Trần Thánh Tông: Tuy đã lên ngôi, đã 30 tuổi, nhưng vẫn tranh múa điệu người Hồ với anh trai để xin cái áo đẹp của vua cha.

Đây cũng là người chủ trì việc giữ gìn và phát huy bản sắc họ Trần, với những màn vua cùng các anh em trải chiếu ngủ cạnh nhau cho ấm, cứ tiệc tùng lại cùng dang tay ca hát, lâu lâu đổi hứng lấy mo nang làm mặt nạ cho phong cách.

Vũ Uy vương: Thời này, vương hầu xem việc dùng tay không để đánh nhau và đi cướp là chuyện vẻ vang, vị thân vương này cũng không ngoại lệ.

Rủi thay, hôm nọ, đang đánh nhau hăng say ngoài bến thuyền thì vị này bị vua cha đang vi hành bắt gặp, lại còn troll: “Đứa béo trắng kia là ai, mau bắt lại đây để ta sai bảo.”, đành vội vàng chạy trốn.

Mà nhắc đến troll, người bị vua cha troll đầu tiên trong triều đại có lẽ là Chiêu Minh vương Trần Quang Khải.

Vừa lọt lòng, vừa qua sinh tử đã bị phụ hoàng troll.

Thương cụ.

À, mà nếu lúc vi hành kia không phải Trần Thái Tông đã 40 tuổi, thị Bí sẽ rất nghi ngờ có phải ngài cũng lấy cớ vi hành để ra đường đánh nhau tay không như đám nhỏ nhà mình không.

Trần Quang Khải: Có lẽ do thương tổn tinh thần từ cú troll của vua cha lúc mới chào đời, nên dù về sau văn võ toàn tài, giỏi nghệ thuật, quyền cao chức trọng vợ đẹp con ngoan gì gì đấy, nói chung là hoàn hảo, ngài vẫn kiên quyết lười tắm, lười đến lưu danh sử sách ngàn năm.

Đám hậu thế hư hỏng có thể mù mờ lịch sử, không biết ngài có công gì trong kháng chiến, nhưng hễ biết đến Trần Quốc Tuấn, là phần lớn sẽ nhớ đến ngài với đặc điểm “ông nào đấy rất có quyền trong triều, lười tắm, được Trần Quốc Tuấn tắm cho.”

F3:

Trần Nhân Tông: Thường được nhắc đến như tấm gương mẫu mực, đạo mạo, vân vân và vũ vũ.

Cơ mà ai cũng có một thời tuổi trẻ.

Theo dã sử, năm 16 tuổi, vì mộ Phật, mà xin vua cha đi tu không được, ngài trốn nhà lên Yên Tử tu luôn.

Dĩ nhiên, số ngài cũng giống số ông nội ngài lần trước, Phật duyên chưa đến, lại phải trở về.

Mãi đến lúc già mới thực hiện được ước mơ.

Trần Khánh Dư: Cháu Trần Thủ Độ, lắm tài nhiều tật.

Thế gian có thiếu gì mỹ nữ, vậy mà lại đi chọn người đã có chồng, người chồng ấy còn là con trai Trần Quốc Tuấn.

Suýt nữa là vì tình mất mạng.

Độ ngông khỏi bàn, đọc Toàn thư sẽ thấy.

F4:

Trần Anh Tông

Tuy đã lên ngôi, nhưng đường đường là một thanh niên 18 tuổi, lại sinh ra trong hoàng thất họ Trần, sao có thể an phận trong cung được?

Phải vi hành thôi.

Thế là theo truyền thống lâu đời, ngài chọn bóng tối làm nơi nương náu, dắt theo vài tên hầu ra chợ, khi thì say rượu quên trời quên đất, lúc thì bị người ta ném đá vỡ đầu, đến nỗi phụ noàng phải doạ truất ngôi.

May mà không để lại di chứng, cũng có thể xem như một minh quân.

Mấy cái này đều đúc kết từ chính sử trong Toàn thư cả, thị Bí không hư cấu dìm hàng nhé.

Xưa nay thị chỉ có gan dìm mỗi một người thôi.
 
Sưu Tầm Sử Việt
Cách đặt tên con của hoàng tộc nhà Trần


#DL_chuyenxua_thoi_Tran

~ CÁCH ĐẶT TÊN CON CỦA HOÀNG TỘC NHÀ TRẦN

Dù cái tên do cha ông gửi gắm và dung mạo, tính cách một người thật ra chẳng mấy liên quan, nhưng đã là fan, ai lại chẳng muốn liên tưởng những điều tốt nhất cho thần tượng?

Cái tên “Quốc Tuấn” ấy, cùng bốn chữ “khôi ngô tuấn tú” tràn ngập khắp văn thơ, phim ảnh dễ khiến người ta có ấn tượng rằng chắc cụ Tuấn cũng đẹp như tên cụ, không nhiều thì ít.

Tính ra điều ấy cũng chẳng sai, vì đàn ông hơn thua nhau ở “khí chất”, chứ không phải ở việc mắt ai to hơn, mi ai dài hơn, môi ai chúm chím hơn.

Có những giai soi ngũ quan thì xấu, nhưng lại nhiều gái thích, nhiều fangirl là vì vậy.

Người vừa có thân phận cao quý, vừa quyền uy, vừa trí dũng song toàn như cụ Tuấn thì không cần phải nghi ngờ gì về khí chất.

Cơ mà cái tên “Tuấn” của cụ lại chả lan quyên gì nhan sắc cả.

Chữ tuấn trong tuấn tú là chữ này 俊, theo bộ nhân (người).

Chữ tuấn trong tên Trần Quốc Tuấn lại là chữ này 峻, theo bộ sơn (núi), có nghĩa là cao lớn.

Anh cả của cụ, Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung (嵩) cũng có cái tên mang bộ sơn như thế, và tên này cũng có nghĩa là cao.

Xem ra An Sinh vương Trần Liễu yêu những gì hùng dũng, nên đặt tên con mình như vậy.

Thế còn “đối thủ” của họ, các hoàng tử chân chính của dòng Trần Cảnh?

Các con trai của Trần Thái Tông (Trần Cảnh), như Trần Hoảng, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Nhật Duy, Trần Quang Xưởng đa số đều có tên theo bộ nhật (mặt trời), hoặc ý nghĩa xoay quanh ánh sáng.

Trong đó tên của Trần Hoảng (Tức vua Trần Thánh Tông sau này) có nghĩa là sáng chói.

Quả là thích hợp để mặc long bào, thứ y phục chói nhất vịnh bắc bộ ngày ấy nhỉ?

À, tiện thể mình cũng tra cả tên vua Lê Thánh Tông, vị hoàng đế nổi tiếng nhất triều Lê, nhân vật xuất hiện nhiều nhất với vai trò nam chính trong giới truyện dã sử online.

Quả là tên sao người vậy làng nước ạ.

Lê Tư Thành (黎思誠), “tư” của “tương tư”, “thành” của “chân thành”, đúng là người đàn ông sinh ra với trái tim trung trinh và tấm lòng ngay thẳng.

- Bí Bứt Bông -
 
Sưu Tầm Sử Việt
.


#Su_Viet

#Lam_nham_luc_nua_dem

~ Hôn nhân giữa các triều đại quân chủ Việt Nam

- Công chúa Phất Ngân triều [TIỀN LÊ] theo dã sử là vợ vua Lý Thái Tổ mở đầu triều [LÝ]

- Công chúa Chiêu Thánh, Thuận Thiên triều [LÝ] là vợ vua Trần Thái Tông mở đầu triều [TRẦN]

- Công chúa Huy Ninh triều [TRẦN] là vợ vua Hồ Quý Ly mở đầu triều [HỒ]

- Công chúa/ quận chúa Huy Chân triều [TRẦN] theo dã sử là vợ vua Lê Thái Tổ mở đầu triều [LÊ]

- Công chúa Ngọc Hân triều [LÊ] là vợ vua Quang Trung triều Tây Sơn

- Công chúa Ngọc Bình triều [LÊ] là vợ vua Gia Long mở đầu triều Nguyễn

* Ngoài ra:

- Chị gái chúa Tiên triều [CHÚA NGUYỄN] là vợ chúa Trịnh Kiểm người mở đầu triều [CHÚA TRỊNH]

- Cháu gái vua Mạc Thái Tông triều [MẠC] là vợ chúa Sãi triều [CHÚA NGUYỄN]

Liệt kê xong, thị Bí thấy lịch sử Việt Nam xuyên suốt như một dòng sông.

Ngai vàng không tự dưng sinh ra, cũng không tự dưng mất đi, nó chỉ chuyển từ họ nội sang họ ngoại, từ tay cha vợ sang tay con rể.

Nguồn: Vy Huỳnh| bibutbong
 
Sưu Tầm Sử Việt
Đại Việt thời Lê


#Su_Viet

#Dai_Viet_thoi_Le

#Lam_Son_co_nguyet

Một đời vua, một đời thần.

Mình nghe câu này lâu rồi, nhưng mãi đến khi đọc sử triều Lê mới thấy một câu đơn giản ấy ám ảnh thế nào.

Từ lúc Lê Thái Tổ lên ngôi đến khi Lê Thánh Tông kế vị, ba mươi năm, bốn đời vua, và cán cân quyền lực cứ nghiêng qua ngả lại theo mỗi lần ngai vàng đổi chủ.

Những năm tháng ấy, dấn thân vào quan trường cũng giống như đặt sinh mạng mình vào canh bạc.

Những con người từng lừng lẫy nhất, vinh quang nhất hoàn toàn có thể kết thúc một cách cay đắng nhất và thê thảm nhất.

Như Trần Nguyên Hãn, như Lê Sát, như Nguyễn Trãi, như Trịnh Khả.

Những công thần dũng tướng bậc nhất của khởi nghĩa Lam Sơn hầu hết đều sống sót sau mười năm chinh chiến sa trường, và chết đi bởi ba mươi năm sóng gió chính trường.

Họ chết vào thời đại gọi là thái bình – thời đại do chính họ đã lập nên, và chết trong tay những người gọi là đồng đội - những người từng cùng họ kề vai sát cánh, đồng cam cộng khổ.

Họ nhanh chóng quên đi lý tưởng thuở ban đầu, nhanh chóng quên đi những ngày tháng bên nhau, và họ sa ngã, tha hoá vì tiền tài và quyền lực cũng nhanh không kém.

Ai thiện ai ác, ai trung ai gian, nhiều lúc rất khó cân đo đong đếm.

Trong Vạn Dặm Xuân, mình gọi thời đại này là “Nơi trắng đen theo thế sự xoay vần, thuở anh hùng chết chẳng vì chiến trận” là do vậy.

Trí nhớ cá vàng, chả biết lúc nãy đang làm gì mà tự dưng đọc lại đoạn này trong ĐVSKTT:

>
 
Sưu Tầm Sử Việt
Đại Việt thời Lê


#Su_Viet #Dai_Viet_thoi_Le #Lam_Son_co_nguyet

Khởi nghĩa Lam Sơn bắt đầu bằng một hội thề vào mùa đông năm 1416, nơi đất trại Thanh Hoa của phương nam.

Kết thúc bằng một hội thề vào mùa đông năm 1427, chốn kinh kỳ Thăng Long phương bắc.

Bắt đầu bằng một toán quân vài ngàn người, kết thúc bằng một đoàn quân vài chục vạn người.

Bắt đầu bằng những người luôn biết rõ nhau, kết thúc bằng những người thấy mặt thì không nhớ rõ tên, nhớ rõ tên thì đã không còn thấy mặt.

Có người lưu được vài dòng trong sách sử, trên bia đá, giữa vô vàn cái tên trong lịch sử mấy ngàn năm.

Có người chết tha hương, không ai tưởng nhớ, mãi mãi chìm vào cát bụi.
 
Sưu Tầm Sử Việt
Đại Việt thời Lê


#Su_Viet #Dai_Viet_thoi_Le

~ Các hoàng đế khai quốc

Hồi trước mình thích đọc những giai đoạn được xem là "thịnh thế", quốc thái dân an, vàng bạc ngập tràn, chinh nam phạt bắc gì gì đấy.

Và như một quy luật, giai đoạn này luôn ứng với thời gian trị vì của vị vua thứ 3, 4 triều đại ấy, như Lý Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông.

Về sau, khi tình cờ tìm hiểu... triều Minh, mình lại có hứng thú với các hoàng đế khai quốc hơn, những người đứng lên từ loạn lạc, đặt nền móng cho một triều đại mới.

Điểm chung của những người này là bị hậu thế ném đá rất nhiệt tình, vì họ luôn lạnh lùng và thủ đoạn, như Lê Lợi, Trần Tự Khánh/ Trần Thủ Độ, và cả Lý Công Uẩn (Hiện tại đang có phong trào xét lại).

Ai thích ai ghét mặc ai, mình chả quan tâm lắm, những vị này đã dám làm những việc như thế thì cũng thuộc loại chả sợ miệng đời, nói chi là miệng đám hậu thế nghìn năm không biết mặt.

Huống hồ mình "thưởng thức" họ, chứ cũng không hẳn là "thích" họ.

Mấy vị họ Trần và họ Lý sẽ nói sau, đang đọc thời Lê nên nói họ Lê trước đã.

Lịch sử là thứ càng đọc nhiều càng thấy hay.

Cái hay này cũng giống như một câu chuyện càng đọc nhiều lần càng ngộ ra những chi tiết thú vị mà năm xưa mình chưa đủ khả năng "thấm" vậy.

Đọc một giai đoạn 10 năm, bạn thấy sự kiện này, hành động này, quyết định này của ông này hay quá, nhưng đọc 30 năm, 50 năm... nhìn thấy cả NHÂN và QUẢ của "cái hay" cũ, đấy mới là cái hay hơn cả.

Thậm chí có nhiều thứ dây mơ rễ má đến mấy trăm năm, người trong cuộc chưa chắc nhìn thấy được, chỉ đám hậu thế chúng ta có cơ hội đọc và phát hiện ra thôi.

Đó cũng là nguyên nhân chính khiến thị Bí chuyển tầm mắt từ các cụ văn nhã ngọc ngà sang các cụ hung hãn giáo gươm.

Nghĩa vụ của những vị hung hãn giáo gươm này không chỉ là dọn dẹp hậu quả thuở loạn ly, làm tốt vai trò hoàng đế của bản thân, mà quan trọng hơn cả là phải đặt nền móng, tạo điều kiện để đám con cháu mình cai trị sao cho tốt.

Nếu ai từng đọc về những vị khi còn sống huy hoàng lừng lẫy, nhưng đời con, đời cháu lại cạp đất mà ăn thì chắc hẳn sẽ rõ ý mình. ^_^

Với những người thay triều đổi đại, thường là thừa kinh nghiệm chiến trường nhưng thiếu kinh nghiệm chính trường, hay cụ thể là trị quốc, thì đây là một việc vô cùng khó.

Chắc mỗi người cũng có cái số, nên có kẻ nổi dậy rồi thành "giặc", có kẻ nổi dậy rồi thành "vua", lại có "vua" truyền được một hai đời, cũng có "vua" truyền được bảy tám đời.

Mà thôi, cái đấy muốn nói thì cả ngày cũng nói chả xong, không bàn nữa, quay lại thời Lê.

Hai mươi năm Bắc thuộc lần này tuy ngắn ngủi, nhưng vì nhiều nguyên nhân, sức tàn phá lại vô cùng nghiêm trọng.

Nghiêm trọng thế nào nhiều người đã biết, mình không bàn nữa, chỉ nói đến cái khó của vị vua "từ rừng sâu mới ra" Lê Thái Tổ aka Lê Lợi.

- Từ rừng sâu mới ra, thực lực lẫn uy thế thì cao nhưng cái "danh" không đủ.

Sự phân hóa vùng miền ngày xưa sâu sắc hơn ngày nay rất nhiều, vai trò "dòng dõi" cũng không kém phần quan trọng.

- Dân số thiếu, do hậu quả của chiến tranh.

- Nhân tài thiếu, hay cụ thể là chảy máu chất xám, do nhà Minh chiêu mộ/ lùng bắt số lượng lớn nhân tài đủ loại mang về nước trong thời gian cai trị.

- Số nhân tài còn lại, ngoài những người đã theo khởi nghĩa (Số lượng cũng cực kỳ khiêm tốn, vì theo khởi nghĩa đa số là võ tướng và binh sĩ), thì những người có học còn lại hầu hết học trường quân Minh mở, có người còn làm quan cho quân Minh, dùng thì được nhưng phải cẩn trọng.

- Những việc nhìn thì nhỏ nhưng thật ra không nhỏ, như thiếu tư liệu, kiến thức do sách vở tiền triều bị quân Minh tiêu hủy; phân bố quyền lực các khai quốc công thần sao cho yên ổn, phân chia lại hành chính, thuế má các loại...

Nghĩ lại, với năng lực và tính cách của thị Bí đây, nếu lỡ vượt thời gian, vào vai vua chúa, hẳn sẽ trở thành... hôn quân thiên cổ.

Trái ôm phải ấp, nam nữ không tha, ca vũ thâu đêm, đủ trò phóng túng.

Muaaaaahaaaaaaa!!!!!!!!!

Nguồn: Vy Huỳnh| bibutbong
 
Sưu Tầm Sử Việt
lê uy mục


[LÊ UY MỤC VÀ MỐI TÌNH KHÁ ....

NÊN THƠ]

Có lẽ các bạn không còn lạ lẫm gì với cái tên Lê Uy Mục, một trong những vị bạo chúa khét tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam.

Lê Uy Mục chính là người chịu trách nhiệm chính cho sự suy tàn của nhà Lê, là người đã phá tan nền thịnh trị mà ông nội của mình (Hoàng đế Lê Thánh Tông) gầy dựng và đưa nước Đại Việt vào một cục diện rối ren và tăm tối.

Tuy nhiên ít ai biết được rằng, Lê Uy Mục lại là một người khá nặng tình khi ông có một sủng phi đầu ấp tay gối suốt cả cuộc đời mình.

Đó chính là Quý phi Lê thị.

Tạm thời gác lại những tội ác không thể biện hộ được của Uy Mục đế thì câu chuyện tình giữa Lê Uy Mục và Quý phi Lê thị khá... nên thơ và đáng yêu.

Uy Mục đế Quý phi Lê thị, không rõ tên gọi, là người xã Sa Lung, châu Minh Linh (nay là hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh thuộc tỉnh Quảng Trị).

Theo Phả hệ họ Lê làng Sa Lung viết từ năm 1663, cha bà tên Lê Viết Thức, nguyên người huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, sau di cư đến châu Minh Linh và khai khẩn ra làng Sa Lung.

Ông có một người em trai tên là Lê Quang Phú, sau khi ông Thức mất thì người chú này phụ dưỡng cả 3 anh chị em nhà bà.

Tuy nhiên, không rõ vì lý do vì sao mà về sau bà lại trở thành quan tì ở kinh sư.

Lê Uy Mục, tên húy là Lê Tuấn, ông là con trai thứ 2 của Hoàng đế Lê Hiến Tông, sinh vào khoảng năm 1488, mẹ đẻ là cung tì Nguyễn Thị Cẩn, người Phù Chẩn (sau này được con trai truy tôn là Chiêu Nhân Hoằng Ý Hoàng Thái hậu - 昭仁弘懿皇太后).

Mẹ ông qua đời ngay sau khi sinh ra ông, nên từ nhỏ ông được Kính phi Nguyễn thị nuôi dưỡng theo di nguyện của mẹ mình.

Do thân phận tiện tì của mẹ ruột, Lê Tuấn không được bà nội là Trường Lạc Hoàng Thái hậu lẫn phụ hoàng Lê Hiến Tông yêu thương.

Khi ấy, Hoàng Trưởng tử Lê Tuân thiếu đức độ (sử ghi ông thích.. mặc quần áo phụ nữ), Hoàng Nhị tử Lê Tuấn không được xem trọng, nên Lê Hiến Tông đã bất chấp cả lễ, lập Hoàng Tam tử Lê Thuần làm Thái tử.

Sau khi Hiến Tông băng hà vào năm 1504, Lê Thuần lên ngôi, tức là Lê Túc Tông, trở thành vị quân chủ thứ 7 của nhà Lê sơ.

Tuy nhiên, Túc Tông từ nhỏ yếu ớt, trị vì chưa được hơn nửa năm đã qua đời.

Trước khi mất, Túc Tông di chiếu lập anh trai mình là Lê Tuấn kế thừa ngai vàng.

Trường Lạc Thái hoàng Thái hậu lúc đó thế lực rất lớn trong triều, bà không vừa ý vì xuất thân hèn kém của Lê Tuấn nên ra sức ngăn cản và muốn lập một người khác trong Hoàng tộc Lê lên ngôi.

Nguyễn Kính phi cùng Nguyễn Nhữ Vy câu kết quan viên, lừa Thái hoàng Thái hậu ra khỏi kinh sư để cuối cùng đưa Lê Tuấn lên ngôi vào ngày 18 tháng 12 năm 1504, sử xưng Lê Uy Mục.

Ít lâu sau, Lê Uy Mục hạ lệnh giết chính bà nội của mình và truy phong bà nội mình là Huy Gia Tĩnh Mục Ôn Cung Như Thuận Thái hoàng Thái hậu (徽嘉靜穆溫恭柔順太皇太后) để tạm xoa dịu mâu thuẫn từ triều thần.

Chuyện kể rằng, khi Hoàng nhị tử Lê Tuấn đến tuổi vào thư phòng, theo học quan vương phó (không rõ họ tên), thì Lê phi cũng theo đó mà vào cùng học.

Tương truyền, Lê Tuấn thấy bà lấy làm vừa ý, hai bên trở nên quyến luyến nhau.

Một hôm, hoàng tử dùng chân khèo chân bà, khi về bà đem chuyện ấy kể lại với nữ quan, bà nói rằng: "Vậy là ngài thử lòng con, sau này nếu con thấy ngài làm như thế thì dùng hai tay che chân của ngài lại để tỏ ý thân".

Hôm sau bà làm đúng như kế của nữ quan đã bày, Hoàng tử rất vừa lòng, từ đó về sau không cố ý chọc ghẹo nữa.

Riêng bà cũng giữ kín mối tình đẹp chẳng hề lộ ra.

Sử chép rằng ngay khi vừa lên ngôi, Uy Mục đế đã cho vời Lê thị vào cung.

Vốn là người thông minh, lại quen biết Uy Mục từ lâu, nên bà rất được sủng ái, dần dần lên đến bậc Quý phi.

Về sau, Uy Mục nạp hai chị em Trần thị vào cung, lập người chị là Trần Thị Tùng làm Hoàng hậu, đây là một sự kiện đặc biệt.

Vốn từ thời Lê Thái Tổ cho đến đời Lê Túc Tông, các vị quân chủ nhà Lê sơ vốn không lập Hoàng hậu mà chỉ lập đến bậc Quý phi là cao nhất, xem là chính thê.

Lê Uy Mục là người phá vỡ truyền thống này và đã lập một Hoàng hậu khi mình còn tại vị.

Quý phi Lê thị là người có địa vị cao thứ hai trong hậu cung của Lê Uy Mục, địa vị chỉ kém Hoàng hậu.Tuy nhiên Đại Việt Thông sử vẫn nhận định vị trí của Quý phi Lê thị không lung lay, bà nắm trọn mọi tình yêu của Uy Mục trong hậu cung và chịu nhiều sự thù ghét từ Hoàng hậu Trần thị và người em của mình.

Thời đại của Lê Uy Mục bị chi phối bởi cả 3 thế lực ngoại thích: thế lục Phù Chẩn (quê mẹ đẻ - Chiêu Nhân Duệ Hoàng hậu), thế lực Hoa Lăng (quê mẹ nuôi – Kính phi Nguyễn thị) và thế lực Nhân Mục (quê Hoàng hậu Trần thị).

Bên cạnh đó, gia đình Quý phi Lê thị cũng được hiển quý không kém.

Anh trai bà là Lê Viết Đáo được ban là Hiệu lệnh Xá nhân Tư mã chỉ huy sứ, sau làm Cai tri bản châu Minh Linh.

Do giỏi ứng xử công việc nên được phong tước Tấn Trung tử.

Người em trai (không rõ họ tên) làm Kinh lược sứ, chuyên lo việc khẩn hoang lập làng mới.

Về sau, Giản Tu công Lê Oánh khởi binh chống lại sự tàn bạo của Uy Mục đế, giết và để xác vào họng súng đại bác để bắn tan tành.

Lê Oanh lên ngôi, tức Lê Tương Dực.

Các họ ngoại Phù Chẩn và Hoa Lăng bị bãi chức, còn Hoàng hậu Trần thị cùng gia tộc họ Trần tại Nhân Mục bị tru sát hết cả.

Số phận Quý phi cũng không rõ, theo Đại Việt thông sử thì bà bị Vũ Tá hầu Phùng Mại bắt vào dâng lên cho Tương Dực đế, còn theo câu chuyện dân gian làng Sa Lung thì bà trở về cố hương và sống hết đời giúp dân chúng khai khẩn đất hoang.

Quý phi Lê thị với một cuộc đời khá kì lạ: là sủng phi của (có thể) hai vị hôn quân khét tiếng của nhà Lê sơ nhưng bà vẫn giữ được tính mạng của mình chứng tỏ rằng bà là một người đức độ, khôn khéo và biết giữ chừng mực.

Nhưng tiếc thay bà đã sinh ra ngay thời đại loạn lạc và tăm tối nhất của triều Lê sơ nên vinh sủng của bà có cả nước mắt và máu của nguời dân.

nguồn: thiên nam lịch đại hậu phi
 
Sưu Tầm Sử Việt
nhà Lê


- Thái Tông : cái chết bí ẩn lằng nhằng liên quan với một phụ nữ đã có tuổi + mấy vị cung phi.

- Thánh Tông : bị vợ mình khiến cho chết nhanh hơn.

- Hiến Tông : ham sắc qua độ mà bạo bệnh qua đời.

- Uy Mục đế : quá chén thì lôi cung nhân ra giết.

- Tương Dực đế : hoang dâm vô độ đến nỗi được gắn mác vua Lợn.

=> Hậu duệ trực hệ của Lê Thái Tổ dính phốt với phụ nữ nhiều thật !!!!
 
Sưu Tầm Sử Việt
Đàm Thái Hậu


[ĐÀM THÁI HẬU - MỘT TRONG NHỮNG HOÀNG THÁI HẬU TÀN ĐỘC NHẤT TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM]

.

An Toàn Hoàng hậu (安全皇后) Đàm thị - Hoàng hậu của Lý Cao Tông, mẹ sinh Lý Huệ Tông, nội tổ mẫu của Lý Chiêu Hoàng và Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng hậu; một trong những tổ tiên của các Hoàng đế nhà Trần, Đàm Thái hậu vào thời kì của mình là người phụ nữ rất có danh vọng và quyền thế.

Và từng hành vi của bà đều chứng minh như vậy.

Không rõ quê quán và xuất thân, bà là con gái của Đại tướng quân Đàm Thì Phụng.

Ban đầu bà không phải Hoàng hậu mà sơ phong Nguyên phi.

Năm Giáp Dần (1194), hạ sinh Hoàng tử Lý Hạo Sảm, con trai thứ 3 của Cao Tông, tiến phong Hoàng hậu.

Năm Mậu Thìn (1208), sách lập Sảm làm Hoàng Thái tử.

Đại Việt Sử lược ghi nhận thực tế Lý Hạo Sảm là con thứ 3, trong khi Đại Việt Sử kí Toàn thư lại ghi là “trưởng tử”, đến năm 14 tuổi thì Sảm mới được phong làm Hoàng Thái tử, điều này chứng minh trước đó có 2 vị hoàng tử nhưng đều chết sớm, và Sảm là người được chọn.

Ngoài ra, bà còn có hai công chúa, một người có phong hiệu là Thiên Trinh Công chúa.

Lên được vị trí Hoàng hậu, bà tìm cách tạo thế lực cho mình khi đưa người trong họ là người chú Đàm Dĩ Mông lần lượt nắm hết các chức vụ quan trọng.

Khi Thái tử Sảm kế vị, tức Huệ Tông Hoàng đế, bà thân là Hoàng Thái hậu, cùng lâm triều nghe chính sự.

Có thể nói ngoài Thượng Dương cung Hoàng Thái hậu, Linh Nhân Hoàng Thái hậu, Đàm Thái hậu là người phụ nữ được chính thức ghi nhận tham dự triều chính.

[Canh Ngọ, Trị Bình Long Ứng năm thứ 6 (1210), (Tống Gia Định năm thứ 3), mùa đông, tháng 10, Đế (Cao Tông) không khỏe, gọi Đỗ Kính Tu và nhận mệnh ký thác.

Ngày 28 Nhâm Ngọ, Đế băng ở cung Thánh Thọ.

Hoàng thái tử Sảm lên ngôi ở trước linh cữu, bấy giờ mới 16 tuổi.

Tôn mẹ là Đàm thị làm Hoàng Thái hậu, cùng nghe chính sự.]

Khi loạn Quách Bốc xảy ra, Huệ Tông từng chạy đến Lưu Gia nương nhờ đại gia tộc họ Trần đang làm chủ vùng này, và Huệ Tông đã nghênh thú Trần Nhị Nương làm Phi.

Tuy nhiên điều này khiến Đàm hậu rất chướng mắt vì rõ ràng là nhà họ Trần lợi dụng thời cơ, ngoài ra con dâu có thế lực lớn sẽ đe dọa tiền tài của dòng họ bà, nên Đàm hậu bắt buộc Trần thị ở lại nhà mẹ đẻ khi Huệ Tông được đón về kinh sư.

Khi Huệ Tông lên ngôi, cho đón Trần thị, Đàm Thái hậu lại gây khó dễ khiến Trần thị chỉ được sắc phong làm Nguyên phi.

Điều này không đơn thuần chỉ là việc bà phủ nhận cuộc hôn nhân năm xưa, mà còn vì bản thân bà cũng chỉ là phi thiếp nhập cung, sau mới phong Hoàng hậu, nên việc nhìn con dâu có thể phong Hoàng hậu khiến Đàm Thái hậu có phần ghen ghét và đố kị.

Sau khi Tô Trung Từ qua đời, Trần Tự Khánh trở thành lãnh đạo họ Trần, gây xích mích với Hồng Châu Đoàn thị nên bị họ Đoàn tấu sớ hạch tội, bên trong Đàm Thái hậu dèm pha, Huệ Tông tức giận giáng Nguyên phi làm Ngự nữ.

Lãnh đạo Hồng Châu là Đoàn Thượng và Đoàn Văn Lôi đem binh về kinh sư, Huệ Tông hạ chiếu tấn phong tước hầu cho Đoàn Thượng, và kêu gọi các chư hầu tiêu diệt Trần Tự Khánh.

Lúc bấy giờ, Trần Tự Khánh dẫn quân đi đánh khắp nơi, thu phục được nhiều đất, đặc biệt chiếm được Hồng châu, vùng từ Lạng châu đến núi Tam Trĩ hết thảy đều là đất của họ Trần.

Tự Khánh do lo sợ Trần Nhị Nương ở trong kinh sư bị hãm hại, kéo binh đến bến Tế Giang, sát ngay Thăng Long.

Đàm Thái hậu ngờ vực Tự Khánh có ý phế lập ngôi vị, bèn đem ba Hoàng tử; Nhân Quốc vương, Lục hoàng tử và Thất hoàng tử con của Cao Tông với các thị thiếp khác dìm đầu chết ở sau giếng trong cung.

Thế là ngôi vị của Huệ Tông được giữ vững mà không sợ bị phế lập.

Thái hậu sai đem xác cả ba ngươi vứt ra ngoài cửa Lâm Quang cung.

Quần thần đều sợ Thái hậu không ai dám nhìn, chỉ có vị quan viên bất bình với sự tàn độc của Thái hậu mà thốt lên: "Tiên quân đi đâu mà khiến cho ba người con bị hại như thế này!”

Sự độc ác của Đàm Thái hậu dâng lên đỉnh điểm khi nghe tin Trần Nhị Nương có thai.

Do tin hỉ, Huệ Tông lập phong Trần thị làm Thuận Trinh Phu nhân, và điều này khiến Đàm Thái hậu gần như phát điên.

Bất chấp đứa con trong bụng Trần thị là cháu nội của mình, Thái hậu ép Trần thị tự vẫn, suýt nữa mất mạng nếu Trần thị không quyết liệt phản kháng và Huệ Tông không đến kịp.

Sau hôm đó, Huệ Tông đưa Trần thị đến bên Tự Khánh, và quyết định công nhận sự bảo hộ của họ Trần.

Có thể nói, sự tàn bạo và tham trọng vinh dự của Đàm Thái hậu đã tiếp tay cho họ Trần thâu tóm nhà Lý vậy.

Sau đó bà gần như biến mất trong lịch sử.

ĐVSL ghi nhận khi Huệ Tông xuất gia đi tu ở Chân Giáo tự, Đàm Thái hậu cũng cắt tóc đi theo.

Sau khi Huệ Tông qua đời, có lẽ bà chết cùng tông tộc nhà Lý trong sự kiện Thái Đường, Hoa Lâm. (Toàn thư chép:” Mùa đông năm ấy, nhân người họ Lý làm lễ tế các vua Lý ở Thái Đường, Hoa Lâm, Thủ Độ ngầm đào hố sâu, làm nhà lên trên, đợi khi mọi người uống rượu say, giật máy chôn sống hết.

Xét thời Trần Anh Tông còn có người họ Lý làm tướng, hơn nữa Phan Phu Tiên không ghi lại, việc này chưa chắc đã có thực, hãy tạm chép vào đây.”)
 
Sưu Tầm Sử Việt
=))


Tình cờ đọc được vài bài báo mạng, toàn giật tít "Chú vợ vua Gia Long...", "Cha vợ vua Minh Mạng...", "Vợ vua Tự Đức..."

Chả biết người viết cố tình gây chú ý hay thiếu kiến thức thật.

Nghe thì tưởng đối tượng được nhắc đến cũng bậc hoàng hậu, hoàng quý phi, những người thống lĩnh hậu cung.

Hoá ra chỉ là cung phi bậc thấp, bậc trung, những thứ bậc mà nếu vua gọi cha mẹ họ là "cha mẹ vợ", chắc vua phải gọi hàng chục, thậm chí hàng trăm người như vậy.

Khổ thân vua!

-----

Ngự sử Trường Thọ: "Bệ hạ, cha vợ người lại tham ô phạm pháp, ức hiếp dân đen, xin người theo phép công mà xử!"

Vua: "Trẫm chưa lập hoàng quý phi, đào đâu ra cha vợ?"

Ngự sử Trường Thọ: "Bẩm, là cha của Hà mỹ nhân đấy ạ."

Vua: "Hà mỹ nhân là ai?"

-----

Ngự sử Trường Thọ: "Bệ hạ, Đỗ tài nhân dù sao cũng mang tiếng vợ vua, cung nữ theo hầu lại chỉ có mười người, bệ hạ không thấy ít quá sao?

Thể nào cũng phải ba mươi người chứ ạ!"

Vua: "Ngươi giúp trẫm mở mang bờ cõi gấp đôi đi đã."

Ngự sử Trường Thọ: "Ơ, sao thế ạ?"

Vua: "Trẫm có đến hàng trăm bà "vợ", nếu đối xử công bằng thì ngươi cứ lấy con số ba mươi cung nữ ấy nhân lên, tính tiền lương thưởng và diện tích phòng.

Nếu theo đúng cấp bậc hậu cung thì bên trên tài nhân còn hàng chục bậc, mỗi bậc năm bảy người, bậc càng cao càng phải nhiều người hầu hạ.

Ngươi lại tính lương thưởng và diện tích phòng cho trẫm.

Đấy là chưa kể nam vào cung làm nội thị, nữ vào cung làm cung nữ, ai ở ngoài cày ruộng, dệt vải và đóng thuế?"

Cmt bên dưới

ơ bậy nào, ngoài bố vợ, mẹ vợ, còn phải có hàng em vợ, chú vợ, bác vợ, ông ngoại ông nội của vợ, abc của vợ =)) Nửa nước họ hàng, nửa nước là tổ tiên=))))

Nguồn: Vy Huỳnh| bibutbong
 
Sưu Tầm Sử Việt
ngoài lề=))


"Trong tam phi, chỉ có ái khanh chưa từng sinh con trai cho trẫm."

Nàng cúi đầu, giọng như tan vào hương trà nhạt buổi hoàng hôn: "Thần thiếp vô phúc, đã phụ thánh ân."

"Con trai là nơi nương tựa nửa đời sau."

Hắn hướng ánh mắt ra khu vườn ngoài cửa sổ, tay nghiêng nhẹ chén trà đã cạn, lẳng lặng đẩy về phía nàng.

"Xem ra, cả đời này ái khanh chỉ có thể nương tựa trẫm."

~ Ngoại truyện "Duyên mảnh" | Bí Bứt Bông
 
Sưu Tầm Sử Việt
Vua nhà Nguyễn


Gia Long

Minh Mạng

Thiệu Trị

Tự Đức

Dục Đức

Hiệp Hòa

Kiến Phúc

Hàm Nghi

Đồng Khánh

Thành Thái

Duy Tân

Khải Định

Bảo Đại
 
Back
Top Bottom